Bản dịch
PS 1.5 — Giảng về Giải Thoát
1.5. Vimokkhakathā
[Duyên khởi ở Sāvatthī]
Này các tỳ khưu, đây là ba giải thoát. Ba là gì? Không tánh giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát. Này các tỳ khưu, đây là ba giải thoát.
Và còn có 68 giải thoát: không tánh giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát, giải thoát có sự ly khai nội phần, giải thoát có sự ly khai ngoại phần, giải thoát có sự ly khai cả hai (nội ngoại phần), bốn giải thoát có sự ly khai nội phần, bốn giải thoát có sự ly khai ngoại phần, bốn giải thoát có sự ly khai cả hai (nội ngoại phần), bốn giải thoát thuận theo các sự ly khai nội phần, bốn giải thoát thuận theo các sự ly khai ngoại phần, bốn giải thoát thuận theo các sự ly khai cả hai (nội ngoại phần), bốn giải thoát tịnh do sự ly khai nội phần, bốn giải thoát tịnh do sự ly khai ngoại phần, bốn giải thoát tịnh do sự ly khai cả hai (nội ngoại phần), ‘Có sắc, (vị ấy) thấy các sắc’ là giải thoát, ‘Có tưởng vô sắc ở nội phần, (hành giả) thấy các sắc thuộc ngoại phần’ là giải thoát, ‘Khuynh hướng thuần về điều tốt đẹp’ là giải thoát, sự chứng đạt không vô biên xứ là giải thoát, sự chứng đạt thức vô biên xứ là giải thoát, sự chứng đạt vô sở hữu xứ là giải thoát, sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ là giải thoát, sự chứng đạt sự diệt tận thọ tưởng là giải thoát, giải thoát có thời hạn, giải thoát vô thời hạn, giải thoát phụ thuộc thời hạn, giải thoát không phụ thuộc thời hạn, giải thoát có thể chuyển đổi, giải thoát không thể chuyển đổi, giải thoát thuộc thế gian, giải thoát vượt trên thế gian, giải thoát còn lậu hoặc, giải thoát không còn lậu hoặc, giải thoát còn hệ lụy vật chất, giải thoát không còn hệ lụy vật chất, giải thoát không còn hệ lụy vật chất và vượt trên không còn hệ lụy vật chất, ước nguyện giải thoát, vô nguyện giải thoát, an tịnh ước nguyện giải thoát, giải thoát bị ràng buộc, giải thoát không bị ràng buộc, giải thoát có bản chất giống nhau, giải thoát có bản chất khác nhau, giải thoát do tưởng, giải thoát do trí, giải thoát có sự bình lặng, giải thoát do thiền, giải thoát của tâm không chấp thủ.
Phần giải thích về Giải Thoát.
Không tánh giải thoát là gì? Ở đây, vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng suy nghiệm rằng: “Điều này là không đối với tự ngã hoặc đối với vật phụ thuộc vào tự ngã.” ‘Vị ấy không cố chấp vào điều ấy’ là không tánh giải thoát. Đây là không tánh giải thoát.
Vô tướng giải thoát là gì? Ở đây, vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng suy nghiệm rằng: “Điều này là không đối với tự ngã hoặc đối với vật phụ thuộc vào tự ngã.” ‘Vị ấy không tạo ra hiện tướng’ là vô tướng giải thoát. Đây là vô tướng giải thoát.
Vô nguyện giải thoát là gì? Ở đây, vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng suy nghiệm rằng: “Điều này là không đối với tự ngã hoặc đối với vật phụ thuộc vào tự ngã.” ‘Vị ấy không ước nguyện điều ấy’ là vô nguyện giải thoát. Đây là vô nguyện giải thoát.
Giải thoát có sự ly khai nội phần là gì? Là bốn thiền. Đây là giải thoát có sự ly khai nội phần.
Giải thoát có sự ly khai ngoại phần là gì? Là bốn sự chứng đạt (thiền) vô sắc. Đây là giải thoát có sự ly khai ngoại phần.
Giải thoát có sự ly khai cả hai (nội ngoại phần) là gì? Là bốn Thánh Đạo. Đây là giải thoát có sự ly khai cả hai (nội ngoại phần).
Bốn giải thoát có sự ly khai nội phần là gì? Sơ thiền thoát ra khỏi các pháp ngăn che, nhị thiền thoát ra khỏi tầm và tứ, tam thiền thoát ra khỏi hỷ, tứ thiền thoát ra khỏi lạc và khổ. Đây là bốn giải thoát có sự ly khai nội phần.
Bốn giải thoát có sự ly khai ngoại phần là gì? Sự chứng đạt không vô biên xứ thoát ra khỏi sự nghĩ tưởng về sắc, sự nghĩ tưởng về bất bình, sự nghĩ tưởng về khác biệt; sự chứng đạt thức vô biên xứ thoát ra khỏi sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ; sự chứng đạt vô sở hữu xứ thoát ra khỏi sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ; sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ thoát ra khỏi sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ. Đây là bốn giải thoát có sự ly khai ngoại phần.
Bốn giải thoát có sự ly khai cả hai (nội ngoại phần) là gì? Đạo Nhập Lưu thoát ra khỏi sự nhận thức sai trái về thân, sự hoài nghi, sự bám víu vào giới và nghi thức, tà kiến ngủ ngầm, hoài nghi ngủ ngầm, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Đạo Nhất Lai thoát ra khỏi sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, ái dục ngủ ngầm, bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Đạo Bất Lai thoát ra khỏi sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần.
Đạo A-la-hán thoát ra khỏi ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ngã mạn ngủ ngầm, ái hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Đây là bốn giải thoát có sự ly khai cả hai (nội ngoại phần).
Bốn giải thoát thuận theo các sự ly khai nội phần là gì? Tầm tứ hỷ lạc và sự chuyên nhất của tâm nhằm mục đích thành tựu sơ thiền, …(như trên)… nhằm mục đích thành tựu nhị thiền, …(như trên)… nhằm mục đích thành tựu tam thiền, tầm tứ hỷ lạc và sự chuyên nhất của tâm nhằm mục đích thành tựu tứ thiền. Đây là bốn giải thoát thuận theo các sự ly khai nội phần.
Bốn giải thoát thuận theo các sự ly khai ngoại phần là gì? Tầm tứ hỷ lạc và sự chuyên nhất của tâm nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt không vô biên xứ, …(như trên)… nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt thức vô biên xứ, …(như trên)… nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt vô sở hữu xứ, tầm tứ hỷ lạc và sự chuyên nhất của tâm nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đây là bốn giải thoát thuận theo các sự ly khai ngoại phần.
Bốn giải thoát thuận theo các sự ly khai cả hai (nội ngoại phần) là gì? Quán xét về vô thường, quán xét về khổ não, quán xét về vô ngã nhằm mục đích thành tựu Đạo Nhập Lưu, …(như trên)… nhằm mục đích thành tựu Đạo Nhất Lai, …(như trên)… nhằm mục đích thành tựu Đạo Bất Lai, quán xét về vô thường, quán xét về khổ não, quán xét về vô ngã nhằm mục đích thành tựu Đạo A-la-hán. Đây là bốn giải thoát thuận theo các sự ly khai cả hai (nội ngoại phần).
Bốn giải thoát tịnh do sự ly khai nội phần là gì? Sự thành tựu hoặc nghiệp quả của sơ thiền, …(như trên)… của nhị thiền, …(như trên)… của tam thiền, sự thành tựu hoặc nghiệp quả của tứ thiền. Đây là bốn giải thoát tịnh do sự ly khai nội phần.
Bốn giải thoát tịnh do sự giải thoát có sự ly khai ngoại phần là gì? Sự thành tựu hoặc nghiệp quả của sự chứng đạt không vô biên xứ, …(như trên)… của sự chứng đạt thức vô biên xứ, …(như trên)… của sự chứng đạt vô sở hữu xứ, sự thành tựu hoặc nghiệp quả của sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đây là bốn giải thoát tịnh do sự giải thoát có sự ly khai ngoại phần.
Bốn giải thoát tịnh do sự giải thoát có sự ly khai cả hai (nội ngoại phần) là gì? Quả Nhập Lưu của Đạo Nhập Lưu, Quả Nhất Lai của Đạo Nhất Lai, Quả Bất Lai của Đạo Bất Lai, Quả A-la-hán của Đạo A-la-hán. Đây là bốn giải thoát tịnh do sự giải thoát có sự ly khai cả hai (nội ngoại phần).
‘Có sắc, (vị ấy) thấy các sắc’ là giải thoát là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây có người tác ý về hiện tướng màu xanh ở nội phần thuộc bản thân và thành tựu sự nghĩ tưởng về màu xanh. Vị ấy làm cho hiện tướng ấy khéo được nắm giữ, lưu lại hiện tướng đã khéo được lưu lại, nhận định hiện tướng đã khéo được nhận định. Sau khi làm cho hiện tướng ấy đã khéo được nắm giữ, lưu lại hiện tướng đã khéo được lưu lại, nhận định hiện tướng đã khéo được nhận định, vị ấy chuyên chú tâm vào hiện tướng màu xanh ở ngoại phần và thành tựu sự nghĩ tưởng về màu xanh. Vị ấy làm cho hiện tướng ấy khéo được nắm giữ, lưu lại hiện tướng đã khéo được lưu lại, nhận định hiện tướng đã khéo được nhận định. Sau khi đã làm cho hiện tướng ấy khéo được nắm giữ, lưu lại hiện tướng đã khéo được lưu lại, nhận định hiện tướng đã khéo được nhận định, vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn. Vị ấy khởi ý như vầy: “Sắc này thuộc cả hai nội phần và ngoại phần” là có sự nghĩ tưởng về sắc.
Ở đây có người tác ý về hiện tướng màu vàng …(nt)… hiện tướng màu đỏ …(nt)… hiện tướng màu trắng ở nội phần thuộc bản thân và thành tựu sự nghĩ tưởng về màu trắng. Vị ấy làm cho hiện tướng ấy khéo được nắm giữ, …(nt)… Sau khi làm cho hiện tướng ấy đã khéo được nắm giữ, …(nt)… vị ấy chuyên chú tâm vào hiện tướng màu trắng thuộc ngoại phần và thành tựu sự nghĩ tưởng về màu trắng. Vị ấy làm cho hiện tướng ấy khéo được nắm giữ, …(nt)… Sau khi đã làm cho hiện tướng ấy khéo được nắm giữ, …(nt)… vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn hiện tướng ấy. Vị ấy khởi ý như vầy: “Sắc này thuộc cả hai nội phần và ngoại phần” là có sự nghĩ tưởng về sắc. ‘Có sắc, (vị ấy) thấy các sắc’ là giải thoát là (có ý nghĩa) như thế.
‘Có tưởng vô sắc ở nội phần, (hành giả) thấy các sắc thuộc ngoại phần’ là giải thoát là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây có người không tác ý về hiện tướng màu xanh ở nội phần thuộc bản thân và không thành tựu sự nghĩ tưởng về màu xanh. Vị ấy chuyên chú tâm vào hiện tướng màu xanh thuộc ngoại phần và thành tựu sự nghĩ tưởng về màu xanh. Vị ấy làm cho hiện tướng ấy khéo được nắm giữ, …(nt)… Sau khi đã làm cho hiện tướng ấy khéo được nắm giữ, …(nt)… vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn hiện tướng ấy. Vị ấy khởi ý như vầy: “Vô sắc thuộc nội phần, sắc này thuộc ngoại phần” là có sự nghĩ tưởng về sắc.
Ở đây có người không tác ý về hiện tướng màu vàng …(nt)… hiện tướng màu đỏ …(nt)… hiện tướng màu trắng ở nội phần thuộc bản thân và không thành tựu sự nghĩ tưởng về màu trắng. Vị ấy chuyên chú tâm vào hiện tướng màu trắng thuộc ngoại phần và thành tựu sự nghĩ tưởng về màu trắng. Vị ấy làm cho hiện tướng khéo được nắm giữ, …(nt)… Sau khi đã làm cho hiện tướng ấy khéo được nắm giữ, …(nt)… vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn hiện tướng ấy. Vị ấy khởi ý như vầy: “Vô sắc thuộc nội phần, sắc này thuộc ngoại phần.” ‘Có tưởng vô sắc ở nội phần, (hành giả) thấy các sắc thuộc ngoại phần’ là giải thoát là (có ý nghĩa) như thế.
‘Khuynh hướng thuần về điều tốt đẹp’ là giải thoát là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, vị tỳ khưu lan tỏa một phương với tâm từ ái rồi an trú, như vậy phương thứ nhì, như vậy phương thứ ba, như vậy phương thứ tư. Như thế vị ấy lan tỏa với tâm từ ái, bao la, lớn mạnh, vô lượng, không thù nghịch, không sân độc ở phía trên, ở phía dưới, ở phương ngang, ở khắp các nơi, khắp cả thế gian một cách trọn vẹn rồi an trú. Nhờ trạng thái phát triển của tâm từ ái, chúng sanh không có chống báng nhau. Ở đây, vị tỳ khưu lan tỏa một phương với tâm bi mẫn …(như trên)… Nhờ trạng thái phát triển của tâm bi mẫn, chúng sanh không có chống báng nhau. Ở đây, vị tỳ khưu lan tỏa một phương với tâm hỷ …(như trên)… Nhờ trạng thái phát triển của tâm hỷ, chúng sanh không có chống báng nhau. Ở đây, vị tỳ khưu lan tỏa một phương với tâm xả rồi an trú, …(như trên)… Nhờ trạng thái phát triển của tâm xả, chúng sanh không có chống báng nhau. ‘Khuynh hướng thuần về điều tốt đẹp’ là giải thoát là (có ý nghĩa) như thế.
Sự chứng đạt không vô biên xứ là giải thoát gì? Ở đây, do sự hoàn toàn vượt qua các tưởng về sắc, do sự biến mất của các tưởng về bất bình, do không tác ý đến các tưởng về khác biệt một cách trọn vẹn, vị tỳ khưu chứng đạt không vô biên xứ ‘Không gian là không có giới hạn’ rồi an trú. Sự chứng đạt không vô biên xứ là giải thoát này.
Sự chứng đạt thức vô biên xứ là giải thoát gì? Ở đây, sau khi hoàn toàn vượt qua không vô biên xứ một cách trọn vẹn, vị tỳ khưu chứng đạt thức vô biên xứ ‘Thức là không có giới hạn’ rồi an trú. Sự chứng đạt thức vô biên xứ là giải thoát này.
Sự chứng đạt vô sở hữu xứ là giải thoát gì? Ở đây, sau khi hoàn toàn vượt qua thức vô biên xứ một cách trọn vẹn, vị tỳ khưu chứng đạt thức vô biên xứ ‘Không có bất cứ gì’ rồi an trú. Sự chứng đạt vô sở hữu xứ là giải thoát này.
Sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ là giải thoát gì? Ở đây, sau khi hoàn toàn vượt qua vô sở hữu xứ một cách trọn vẹn, vị tỳ khưu chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ rồi an trú. Sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ là giải thoát này.
Sự chứng đạt sự diệt tận thọ tưởng là giải thoát gì? Ở đây, sau khi hoàn toàn vượt qua phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách trọn vẹn, vị tỳ khưu chứng đạt sự diệt tận thọ tưởng rồi an trú. Sự chứng đạt diệt tận thọ tưởng là giải thoát này.
Giải thoát có thời hạn là gì? Bốn thiền và bốn sự chứng đạt vô sắc; đây là giải thoát có thời hạn.
Giải thoát vô thời hạn là gì? Bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị của Sa-môn, và Niết Bàn; đây là giải thoát vô thời hạn.
Giải thoát phụ thuộc thời hạn là gì? Bốn thiền và bốn sự chứng đạt vô sắc; đây là giải thoát phụ thuộc thời hạn.
Giải thoát không phụ thuộc thời hạn là gì? Bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị của Sa-môn, và Niết Bàn; đây là giải thoát không phụ thuộc thời hạn.
Giải thoát có thể chuyển đổi là gì? Bốn thiền và bốn sự chứng đạt vô sắc; đây là giải thoát có thể chuyển đổi.
Giải thoát không thể chuyển đổi là gì? Bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị của Sa-môn, và Niết Bàn; đây là giải thoát không thể chuyển đổi.
Giải thoát thuộc thế gian là gì? Bốn thiền và bốn sự chứng đạt vô sắc; đây là giải thoát thuộc thế gian.
Giải thoát vượt trên thế gian là gì? Bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị của Sa-môn, và Niết Bàn; đây là giải thoát vượt trên thế gian.
Giải thoát còn lậu hoặc là gì? Bốn thiền và bốn sự chứng đạt vô sắc; đây là giải thoát còn lậu hoặc.
Giải thoát không còn lậu hoặc là gì? Bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị của Sa-môn, và Niết Bàn; đây là giải thoát không còn lậu hoặc.
Giải thoát còn hệ lụy vật chất là gì? Giải thoát gắn liền với (đề mục) sắc; đây là giải thoát còn hệ lụy vật chất.
Giải thoát không còn hệ lụy vật chất là gì? Giải thoát gắn liền với (đề mục) vô sắc; đây là giải thoát không còn hệ lụy vật chất.
Giải thoát không còn hệ lụy vật chất và vượt trên không còn hệ lụy vật chất là gì? Bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị của Sa-môn, và Niết Bàn; đây là giải thoát không còn hệ lụy vật chất và vượt trên không còn hệ lụy vật chất.
Ước nguyện giải thoát là gì? Bốn thiền và bốn sự chứng đạt vô sắc; đây là ước nguyện giải thoát.
Vô nguyện giải thoát là gì? Bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị của Sa-môn, và Niết Bàn; đây là vô nguyện giải thoát.
An tịnh ước nguyện giải thoát là gì? Sự thành tựu hoặc nghiệp quả của sơ thiền, …(như trên)… Sự thành tựu hoặc nghiệp quả của sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ; đây là an tịnh ước nguyện giải thoát.
Giải thoát bị ràng buộc là gì? Bốn thiền và bốn sự chứng đạt vô sắc; đây là giải thoát bị ràng buộc.
Giải thoát không bị ràng buộc là gì? Bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị của Sa-môn, và Niết Bàn; đây là giải thoát không bị ràng buộc.
Giải thoát có bản chất giống nhau là gì? Bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị của Sa-môn, và Niết Bàn; đây là giải thoát có bản chất giống nhau.
Giải thoát có bản chất khác nhau là gì? Bốn thiền và bốn sự chứng đạt vô sắc; đây là giải thoát có bản chất khác nhau.
Giải thoát do tưởng là gì? Có thể có 1 giải thoát do tưởng thì (sẽ) có 10 giải thoát do tưởng, có 10 giải thoát do tưởng thì (sẽ) có 1 giải thoát do tưởng bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức.
Có thể có: Có thể có là thế nào? ‘Trí do sự quán xét về vô thường giải thoát khỏi nghĩ tưởng về thường’ là giải thoát do tưởng. ‘Trí do sự quán xét về khổ não giải thoát khỏi nghĩ tưởng về lạc’ là giải thoát do tưởng. ‘Trí do sự quán xét về vô ngã giải thoát khỏi nghĩ tưởng về ngã’ là giải thoát do tưởng. ‘Trí do sự quán xét về nhàm chán giải thoát khỏi nghĩ tưởng về vui thích’ là giải thoát do tưởng. ‘Trí do sự quán xét về ly tham ái giải thoát khỏi nghĩ tưởng về tham ái’ là giải thoát do tưởng. ‘Trí do sự quán xét về diệt tận giải thoát khỏi nghĩ tưởng về nhân sanh khởi’ là giải thoát do tưởng. ‘Trí do sự quán xét về từ bỏ giải thoát khỏi nghĩ tưởng về sự nắm giữ’ là giải thoát do tưởng. ‘Trí do sự quán xét về vô tướng giải thoát khỏi nghĩ tưởng về hiện tướng’ là giải thoát do tưởng. ‘Trí do sự quán xét về vô nguyện giải thoát khỏi nghĩ tưởng về nguyện ước’ là giải thoát do tưởng. ‘Trí do sự quán xét về không tánh giải thoát khỏi nghĩ tưởng về cố chấp’ là giải thoát do tưởng.
Có thể có 1 giải thoát do tưởng thì (sẽ) có 10 giải thoát do tưởng, có 10 giải thoát do tưởng thì (sẽ) có 1 giải thoát do tưởng bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.
‘Trí do sự quán xét về vô thường ở sắc giải thoát khỏi nghĩ tưởng về thường’ là giải thoát do tưởng. …(như trên)… ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở sắc giải thoát khỏi nghĩ tưởng về cố chấp’ là giải thoát do tưởng. Có thể có một giải thoát do tưởng thì (sẽ) có mười giải thoát do tưởng, có mười giải thoát do tưởng thì (sẽ) có một giải thoát do tưởng bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.
‘Trí do sự quán xét về vô thường ở thọ … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt … ở lão tử giải thoát khỏi nghĩ tưởng về thường’ là giải thoát do tưởng. …(như trên)… ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở lão tử giải thoát khỏi nghĩ tưởng về cố chấp’ là giải thoát do tưởng. Có thể có một giải thoát do tưởng thì (sẽ) có mười giải thoát do tưởng, có mười giải thoát do tưởng thì (sẽ) có một giải thoát do tưởng bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế. Đây là giải thoát do tưởng.
Giải thoát do trí là gì? Có thể có một giải thoát do trí thì (sẽ) có mười giải thoát do trí, có mười giải thoát do trí thì (sẽ) có một giải thoát do trí bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức.
Có thể có: Có thể có là thế nào? ‘Trí do sự quán xét về vô thường đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về thường’ là giải thoát do trí. ‘Trí do sự quán xét về khổ não đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về lạc’ là giải thoát do trí. ‘Trí do sự quán xét về vô ngã đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về ngã’ là giải thoát do trí. ‘Trí do sự quán xét về nhàm chán đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về vui thích’ là giải thoát do trí. ‘Trí do sự quán xét về ly tham ái đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về tham ái’ là giải thoát do trí. ‘Trí do sự quán xét về diệt tận đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về nhân sanh khởi’ là giải thoát do trí. ‘Trí do sự quán xét về từ bỏ đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về sự nắm giữ’ là giải thoát do trí. ‘Trí do sự quán xét về vô tướng đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về hiện tướng’ là giải thoát do trí. ‘Trí do sự quán xét về vô nguyện đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về nguyện ước’ là giải thoát do trí. ‘Trí do sự quán xét về không tánh đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về cố chấp’ là giải thoát do trí.
Có thể có một giải thoát do trí thì (sẽ) có mười giải thoát do trí, có mười giải thoát do trí thì (sẽ) có một giải thoát do trí bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.
‘Trí do sự quán xét về vô thường ở sắc đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về thường’ là giải thoát do trí. …(như trên)… ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở sắc đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về cố chấp’ là giải thoát do trí. Có thể có một giải thoát do trí thì (sẽ) có mười giải thoát do trí, có mười giải thoát do trí thì (sẽ) có một giải thoát do trí bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.
‘Trí do sự quán xét về vô thường ở thọ … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt … ở lão tử đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về thường’ là giải thoát do trí. …(như trên)… ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở lão tử đúng theo thực thể giải thoát khỏi sự lầm lẫn vô trí về cố chấp’ là giải thoát do trí. Có thể có một giải thoát do trí thì (sẽ) có mười giải thoát do trí, có mười giải thoát do trí thì (sẽ) có một giải thoát do trí bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế. Đây là giải thoát do trí.
Giải thoát có sự bình lặng là gì? Có thể có một giải thoát có sự bình lặng thì (sẽ) có mười giải thoát có sự bình lặng, có mười giải thoát có sự bình lặng thì (sẽ) có một giải thoát có sự bình lặng bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức.
Có thể có: Có thể có là thế nào? ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về vô thường, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về thường’ là giải thoát có sự bình lặng. ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về khổ não, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về lạc’ là giải thoát có sự bình lặng. ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về vô ngã, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về ngã’ là là giải thoát có sự bình lặng ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về nhàm chán, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về vui thích’ là … ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về ly tham ái, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về tham ái’ là … ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về diệt tận, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về nhân sanh khởi’ là … ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về từ bỏ, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về sự nắm giữ’ là … ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về vô tướng, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về hiện tướng’ là là giải thoát có sự bình lặng ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về vô nguyện, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về nguyện ước’ là là giải thoát có sự bình lặng ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về không tánh, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về cố chấp’ là giải thoát có sự bình lặng.
Có thể có một giải thoát có sự bình lặng thì (sẽ) có mười giải thoát có sự bình lặng, có mười giải thoát có sự bình lặng thì (sẽ) có một giải thoát có sự bình lặng bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.
‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về vô thường ở sắc, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về thường’ là giải thoát có sự bình lặng. …(như trên)… ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về không tánh ở sắc, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về cố chấp’ là giải thoát có sự bình lặng. Có thể có một giải thoát có sự bình lặng thì (sẽ) có mười giải thoát có sự bình lặng, có mười giải thoát có sự bình lặng thì (sẽ) có một giải thoát có sự bình lặng bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.
‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về vô thường ở thọ … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt … ở lão tử, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về thường’ là giải thoát có sự bình lặng. …(như trên)… ‘Trí có trạng thái bình lặng tối thượng, do quán xét về không tánh ở lão tử, giải thoát khỏi sự bồn chồn, bực bội, nóng nảy về cố chấp’ là giải thoát có sự bình lặng.
Có thể có một giải thoát có sự bình lặng thì (sẽ) có 10 giải thoát có sự bình lặng, có 10 giải thoát có sự bình lặng thì (sẽ) có một giải thoát có sự bình lặng bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế. Đây là giải thoát có sự bình lặng.
Giải thoát do thiền là gì? ‘Sự thoát ly được nung nấu là thiền, ‘thiêu đốt ước muốn trong các dục’ là thiền, ‘trong khi nung nấu, được giải thoát’ là giải thoát do thiền, ‘trong khi thiêu đốt, được giải thoát’ là giải thoát do thiền, ‘nung nấu’ là các pháp, ‘thiêu đốt’ là các phiền não, ‘biết điều được nung nấu và điều được thiêu đốt’ là giải thoát do thiền. ‘Sự không sân độc được nung nấu’ là thiền, ‘thiêu đốt sân độc’ là thiền ‘trong khi nung nấu, được giải thoát’ là giải thoát do thiền, ‘trong khi thiêu đốt, được giải thoát’ là giải thoát do thiền. ‘nung nấu’ là các pháp, ‘thiêu đốt’ là các phiền não, ‘biết điều được nung nấu và điều được thiêu đốt’ là giải thoát do thiền. ‘Sự nghĩ tưởng về ánh sáng được nung nấu’ là thiền, ‘thiêu đốt sự lờ đờ buồn ngủ’ là thiền …(nt)… ‘Sự không tản mạn được nung nấu’ là thiền, ‘thiêu đốt phóng dật’ là thiền …(nt)… ‘Sự xác định pháp được nung nấu’ là thiền, ‘thiêu đốt hoài nghi’ là thiền …(nt)… ‘Trí được nung nấu’ là thiền, ‘thiêu đốt vô minh’ là thiền …(nt)… ‘Sự hân hoan được nung nấu’ là thiền, ‘thiêu đốt sự không hứng thú’ là thiền …(nt)… ‘Sơ thiền được nung nấu’ là thiền, ‘thiêu đốt các pháp ngăn che’ là thiền …(nt)… ‘Đạo A-la-hán được nung nấu’ là thiền, ‘thiêu đốt toàn bộ phiền não’ là thiền, ‘trong khi nung nấu, được giải thoát’ là giải thoát do thiền, ‘trong khi thiêu đốt, được giải thoát’ là giải thoát do thiền. ‘nung nấu’ là các pháp, ‘thiêu đốt’ là các phiền não, ‘biết điều được nung nấu và điều được thiêu đốt’ là giải thoát do thiền. Đây là giải thoát do thiền.
Giải thoát của tâm không chấp thủ là gì? Có thể có một giải thoát của tâm không chấp thủ thì (sẽ) có mười giải thoát của tâm không chấp thủ, có mười giải thoát của tâm không chấp thủ thì (sẽ) có một giải thoát của tâm không chấp thủ bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức.
Có thể có: Có thể có là thế nào? ‘Trí do sự quán xét về vô thường giải thoát khỏi chấp thủ về thường’ là giải thoát của tâm không chấp thủ. ‘Trí do sự quán xét về khổ não giải thoát khỏi chấp thủ về lạc’ là giải thoát của tâm không chấp thủ. ‘Trí do sự quán xét về vô ngã giải thoát khỏi chấp thủ về ngã’ là giải thoát của tâm không chấp thủ ‘Trí do sự quán xét về nhàm chán giải thoát khỏi chấp thủ về vui thích’ là … ‘Trí do sự quán xét về ly tham ái giải thoát khỏi chấp thủ về tham ái’ là … ‘Trí do sự quán xét về diệt tận giải thoát khỏi chấp thủ về nhân sanh khởi’ là … ‘Trí do sự quán xét về từ bỏ giải thoát khỏi chấp thủ về sự nắm giữ’ là … ‘Trí do sự quán xét về vô tướng giải thoát khỏi chấp thủ về hiện tướng’ là … ‘Trí do sự quán xét về vô nguyện giải thoát khỏi chấp thủ về nguyện ước’ là giải thoát của tâm không chấp thủ ‘Trí do sự quán xét về không tánh giải thoát khỏi chấp thủ về cố chấp’ là giải thoát của tâm không chấp thủ.
Có thể có một giải thoát của tâm không chấp thủ thì (sẽ) có mười giải thoát của tâm không chấp thủ, có mười giải thoát của tâm không chấp thủ thì (sẽ) có một giải thoát của tâm không chấp thủ bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.
‘Trí do sự quán xét về vô thường ở sắc giải thoát khỏi chấp thủ về thường’ là giải thoát của tâm không chấp thủ. …(như trên)… ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở sắc giải thoát khỏi chấp thủ về cố chấp’ là giải thoát của tâm không chấp thủ. Có thể có một giải thoát của tâm không chấp thủ thì (sẽ) có mười giải thoát của tâm không chấp thủ, có mười giải thoát của tâm không chấp thủ thì (sẽ) có một giải thoát của tâm không chấp thủ bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.
‘Trí do sự quán xét về không tánh ở thọ … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt … ở lão tử giải thoát khỏi chấp thủ về cố chấp’ là giải thoát của tâm không chấp thủ. Có thể có một … thì (sẽ) có mười …, có mười … thì (sẽ) có 1 giải thoát của tâm không chấp thủ bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.
Trí do sự quán xét về vô thường giải thoát khỏi bao nhiêu chấp thủ? Trí do sự quán xét về khổ não giải thoát khỏi bao nhiêu chấp thủ? Trí do sự quán xét về vô ngã …? Trí do sự quán xét về nhàm chán …? Trí do sự quán xét về ly tham ái …? Trí do sự quán xét về diệt tận …? Trí do sự quán xét về từ bỏ …? Trí do sự quán xét về vô tướng …? Trí do sự quán xét về vô nguyện …? Trí do sự quán xét về không tánh giải thoát khỏi bao nhiêu chấp thủ?
Trí do sự quán xét về vô thường giải thoát khỏi ba chấp thủ. Trí do sự quán xét về khổ não giải thoát khỏi một chấp thủ. Trí do sự quán xét về vô ngã giải thoát khỏi ba chấp thủ. Trí do sự quán xét về nhàm chán giải thoát khỏi một chấp thủ. Trí do sự quán xét về ly tham ái giải thoát khỏi một chấp thủ. Trí do sự quán xét về diệt tận giải thoát khỏi bốn chấp thủ. Trí do sự quán xét về từ bỏ giải thoát khỏi bốn chấp thủ. Trí do sự quán xét về vô tướng giải thoát khỏi ba chấp thủ. Trí do sự quán xét về vô nguyện giải thoát khỏi một chấp thủ. Trí do sự quán xét về không tánh giải thoát khỏi ba chấp thủ.
Trí do sự quán xét về vô thường giải thoát khỏi ba chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (tà) kiến, khỏi sự chấp thủ vào giới và nghi thức, khỏi sự chấp thủ về ngã luận thuyết; trí do sự quán xét về vô thường giải thoát khỏi ba chấp thủ này.
Trí do sự quán xét về khổ não giải thoát khỏi một chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (ngũ) dục; trí do sự quán xét về khổ não giải thoát khỏi một chấp thủ này.
Trí do sự quán xét về vô ngã giải thoát khỏi ba chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (tà) kiến, khỏi sự chấp thủ vào giới và nghi thức, khỏi sự chấp thủ về ngã luận thuyết; trí do sự quán xét về vô ngã giải thoát khỏi ba chấp thủ này.
Trí do sự quán xét về nhàm chán giải thoát khỏi một chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (ngũ) dục; trí do sự quán xét về nhàm chán giải thoát khỏi một chấp thủ này.
Trí do sự quán xét về ly tham ái giải thoát khỏi một chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (ngũ) dục; trí do sự quán xét về ly tham ái giải thoát khỏi một chấp thủ này.
Trí do sự quán xét về diệt tận giải thoát khỏi bốn chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (ngũ) dục, khỏi sự chấp thủ về (tà) kiến, khỏi sự chấp thủ vào giới và nghi thức, khỏi sự chấp thủ về ngã luận thuyết; trí do sự quán xét về diệt tận giải thoát khỏi bốn chấp thủ này.
Trí do sự quán xét về từ bỏ giải thoát khỏi bốn chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (ngũ) dục, khỏi sự chấp thủ về (tà) kiến, khỏi sự chấp thủ vào giới và nghi thức, khỏi sự chấp thủ về ngã luận thuyết; trí do sự quán xét về từ bỏ giải thoát khỏi bốn chấp thủ này.
Trí do sự quán xét về vô tướng giải thoát khỏi ba chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (ngũ) dục, khỏi sự chấp thủ vào giới và nghi thức, khỏi sự chấp thủ về ngã luận thuyết; trí do sự quán xét về vô tướng giải thoát khỏi ba chấp thủ này.
Trí do sự quán xét về vô nguyện giải thoát khỏi một chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (ngũ) dục; trí do sự quán xét về vô nguyện giải thoát khỏi một chấp thủ này.
Trí do sự quán xét về không tánh giải thoát khỏi ba chấp thủ nào? Khỏi sự chấp thủ về (tà) kiến, khỏi sự chấp thủ vào giới và nghi thức, khỏi sự chấp thủ về ngã luận thuyết; trí do sự quán xét về không tánh giải thoát khỏi ba chấp thủ này.
Trí do sự quán xét về vô thường, trí do sự quán xét về vô ngã, trí do sự quán xét về vô tướng, trí do sự quán xét về không tánh, bốn trí này giải thoát khỏi ba chấp thủ là sự chấp thủ về (tà) kiến, sự chấp thủ vào giới và nghi thức, sự chấp thủ về ngã luận thuyết. Trí do sự quán xét về khổ não, trí do sự quán xét về nhàm chán, trí do sự quán xét về ly tham ái, trí do sự quán xét về vô nguyện, bốn trí này giải thoát khỏi một chấp thủ là sự chấp thủ về (ngũ) dục. Trí do sự quán xét về diệt tận, trí do sự quán xét về từ bỏ, hai trí này giải thoát khỏi bốn chấp thủ là sự chấp thủ về (ngũ) dục, sự chấp thủ về (tà) kiến, sự chấp thủ vào giới và nghi thức, sự chấp thủ về ngã luận thuyết. Đây là sự giải thoát của tâm không chấp thủ.
Phần giảng về Giải Thoát là tụng phẩm thứ nhất .
Hơn nữa, đây là ba cánh cửa giải thoát dẫn đến lối ra khỏi thế giới. Do tính chất quán xét của vị đang phân định giới hạn các hành và do tính chất tiến vào của tâm ở trong bản thể vô tướng, do sự giao động của ý ở các hành và do tính chất tiến vào của tâm trong bản thể vô nguyện, do tính chất quán xét tất cả các pháp là sai khác và do tính chất tiến vào của tâm ở trong bản thể không tánh; đây là ba cánh cửa giải thoát dẫn đến lối ra khỏi thế giới.
Đối với vị đang tác ý vô thường, các hành hiện diện như thế nào? Đối với vị đang tác ý khổ não, các hành hiện diện như thế nào? Đối với vị đang tác ý vô ngã, các hành hiện diện như thế nào? Đối với vị đang tác ý vô thường, các hành hiện diện như là sự đoạn tận. Đối với vị đang tác ý khổ não, các hành hiện diện như là sự kinh hãi. Đối với vị đang tác ý vô ngã, các hành hiện diện như là không.
Đối với vị đang tác ý vô thường, tâm được dồi dào về điều gì? Đối với vị đang tác ý khổ não, tâm được dồi dào về điều gì? Đối với vị đang tác ý vô ngã, tâm được dồi dào về điều gì? Đối với vị đang tác ý vô thường, tâm được dồi dào về cương quyết. Đối với vị đang tác ý khổ não, tâm được dồi dào về tịnh. Đối với vị đang tác ý vô ngã, tâm được dồi dào về hiểu biết.
Trong khi tác ý vô thường, vị dồi dào về cương quyết thành đạt quyền gì? Trong khi tác ý khổ não, vị dồi dào về tịnh thành đạt quyền gì? Trong khi tác ý vô ngã, vị dồi dào về hiểu biết thành đạt quyền gì? Trong khi tác ý vô thường, vị dồi dào về cương quyết thành đạt tín quyền. Trong khi tác ý khổ não, vị dồi dào về tịnh thành đạt định quyền. Trong khi tác ý vô ngã, vị dồi dào về hiểu biết thành đạt tuệ quyền.
Đối với vị dồi dào về cương quyết đang tác ý vô thường, quyền nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Ai tu tập?
Đối với vị dồi dào về tịnh đang tác ý khổ não, quyền nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Ai tu tập?
Đối với vị dồi dào về hiểu biết đang tác ý vô ngã, quyền nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Ai tu tập?
Đối với vị dồi dào về cương quyết đang tác ý vô thường, tín quyền là chủ đạo. Trong sự tu tập, có bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Vị nào thực hành đúng đắn, vị ấy tu tập; không có sự tu tập quyền ở người thực hành sai trái.
Đối với vị dồi dào về tịnh đang tác ý khổ não, định quyền là chủ đạo. Trong sự tu tập, có bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Vị nào thực hành đúng đắn, vị ấy tu tập; không có sự tu tập quyền ở người thực hành sai trái.
Đối với vị dồi dào về hiểu biết đang tác ý vô ngã, tuệ quyền là chủ đạo. Trong sự tu tập, có bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Vị nào thực hành đúng đắn, vị ấy tu tập; không có sự tu tập quyền ở người thực hành sai trái.
Đối với vị dồi dào về cương quyết đang tác ý vô thường, quyền nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên? Vào thời điểm thấu triệt, quyền nào là chủ đạo? Trong sự thấu triệt, bao nhiêu quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Sự thấu triệt theo ý nghĩa gì?
Đối với vị dồi dào về tịnh đang tác ý khổ não, quyền nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên? Vào thời điểm thấu triệt, quyền nào là chủ đạo? Trong sự thấu triệt, bao nhiêu quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Sự thấu triệt theo ý nghĩa gì?
Đối với vị dồi dào về hiểu biết đang tác ý vô ngã, quyền nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên? Vào thời điểm thấu triệt, quyền nào là chủ đạo? Trong sự thấu triệt, bao nhiêu quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Sự thấu triệt theo ý nghĩa gì?
Đối với vị dồi dào về cương quyết đang tác ý vô thường, tín quyền là chủ đạo. Trong sự tu tập, có bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào thời điểm thấu triệt, tuệ quyền là chủ đạo. Trong sự thấu triệt, có bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Sự thấu triệt theo ý nghĩa nhận thức. Như vậy, ngay trong khi đang thấu triệt, (hành giả) tu tập; ngay trong khi đang tu tập, (hành giả) thấu triệt.
Đối với vị dồi dào về tịnh đang tác ý khổ não, định quyền là chủ đạo. Trong sự tu tập, có bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào thời điểm thấu triệt, tuệ quyền là chủ đạo. Trong sự thấu triệt, có bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Sự thấu triệt theo ý nghĩa nhận thức. Như vậy, ngay trong khi đang thấu triệt, (hành giả) tu tập; ngay trong khi đang tu tập, (hành giả) thấu triệt.
Đối với vị dồi dào về hiểu biết đang tác ý vô ngã, tuệ quyền là chủ đạo. Trong sự tu tập, có bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào thời điểm thấu triệt, tuệ quyền là chủ đạo. Trong sự thấu triệt, có bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Sự thấu triệt theo ý nghĩa nhận thức. Như vậy, ngay trong khi đang thấu triệt, (hành giả) tu tập; ngay trong khi đang tu tập, (hành giả) thấu triệt.
Đối với vị đang tác ý vô thường, quyền nào là nổi bật? Do trạng thái nổi bật của quyền nào, là được giải thoát do đức tin? Đối với vị đang tác ý khổ não, quyền nào là nổi bật? Do trạng thái nổi bật của quyền nào, là có thân chứng? Đối với vị đang tác ý vô ngã, quyền nào là nổi bật? Do trạng thái nổi bật của quyền nào, là đạt được do kiến?
Đối với vị đang tác ý vô thường, tín quyền là nổi bật; do trạng thái nổi bật của tín quyền, là được giải thoát do đức tin. Đối với vị đang tác ý khổ não, định quyền là nổi bật; do trạng thái nổi bật của định quyền, là có thân chứng. Đối với vị đang tác ý vô ngã, tuệ quyền là nổi bật; do trạng thái nổi bật của tuệ quyền, là đạt được do kiến.
‘Trong khi có đức tin, được giải thoát’ là được giải thoát do đức tin. ‘Do trạng thái chạm đến, được tác chứng’ là có thân chứng. ‘Do trạng thái đã được thấy, đã đạt được’ là đạt được do kiến. ‘Trong khi có đức tin, được giải thoát’ là được giải thoát do đức tin. ‘Trước tiên xúc chạm với sự xúc chạm của thiền, sau đó tác chứng sự tịch diệt Niết Bàn’ là có thân chứng. ‘ ‘Các hành là khổ, tịch diệt là lạc’ là điều đã được biết, được hiểu, được tác chứng, được chạm đến bởi tuệ’ là đạt được do kiến.
Đây là người được giải thoát do đức tin, là người có thân chứng, và là người đạt được do kiến, có thể ba người này vừa được giải thoát do đức tin, vừa có thân chứng, vừa đạt được do kiến bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức.
Có thể có: Có thể có là thế nào? Đối với vị đang tác ý vô thường có tín quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tín quyền là được giải thoát do đức tin; đối với vị đang tác ý khổ não có tín quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tín quyền là được giải thoát do đức tin; đối với vị đang tác ý vô ngã có tín quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tín quyền là được giải thoát do đức tin. Như vậy, ba người này được giải thoát do đức tin nhờ vào tác động của tín quyền.
Đối với vị đang tác ý khổ não có định quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của định quyền là có thân chứng; đối với vị đang tác ý vô ngã có định quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của định quyền là có thân chứng; đối với vị đang tác ý vô thường có định quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của định quyền là có thân chứng. Như vậy, ba người này là có thân chứng nhờ vào tác động của định quyền.
Đối với vị đang tác ý vô ngã có tuệ quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tuệ quyền là đạt được do kiến; đối với vị đang tác ý vô thường có tuệ quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tuệ quyền là đạt được do kiến; đối với vị đang tác ý khổ não có tuệ quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tuệ quyền là đạt được do kiến. Như vậy, ba người này là đạt được do kiến nhờ vào tác động của tuệ quyền.
Đây là người được giải thoát do đức tin, là người có thân chứng, và là người đạt được do kiến, có thể ba người này vừa được giải thoát do đức tin, vừa có thân chứng, vừa đạt được do kiến bởi tác động của nền tảng và tùy theo phương thức là (có ý nghĩa) như thế.
Đây là người được giải thoát do đức tin, là người có thân chứng, và là người đạt được do kiến, có thể ba người này một người được giải thoát do đức tin, người khác có thân chứng, và người khác nữa đạt được do kiến.
Có thể có: Có thể có là thế nào? Đối với vị đang tác ý vô thường có tín quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tín quyền là được giải thoát do đức tin; đối với vị đang tác ý khổ não có định quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của định quyền là có thân chứng; đối với vị đang tác ý vô ngã có tuệ quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tuệ quyền là được giải thoát do kiến.
Và đây là người được giải thoát do đức tin, là người có thân chứng, và là người đạt được do kiến. Có thể ba người này, một người được giải thoát do đức tin, người khác có thân chứng, và người khác nữa đạt được do kiến là (có ý nghĩa) như thế.
Đối với vị đang tác ý vô thường có tín quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tín quyền (vị ấy) thành đạt Đạo Nhập Lưu; vì thế được nói rằng: “Vị tùy tín hành.” Bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Nhờ vào tác động của tín quyền, có sự tu tập của bốn quyền. Chính các vị nào thành đạt Đạo Nhập Lưu nhờ vào tác động của tín quyền, tất cả các vị ấy là các vị tùy tín hành.
Đối với vị đang tác ý vô thường có tín quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tín quyền Quả Nhập Lưu được tác chứng; vì thế được nói rằng: “Được giải thoát do đức tin.” Bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Nhờ vào tác động của tín quyền, bốn quyền là được tu tập, là được tu tập tốt đẹp. Chính các vị nào tác chứng Quả Nhập Lưu nhờ vào tác động của tín quyền, tất cả các vị ấy là các vị được giải thoát do đức tin.
Đối với vị đang tác ý vô thường có tín quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tín quyền (vị ấy) thành đạt Đạo Nhất Lai; …(như trên)… Quả Nhất Lai được tác chứng; …(như trên)… thành đạt Đạo Bất Lai; …(như trên)… Quả Bất Lai được tác chứng; …(như trên)… thành đạt Đạo A-la-hán; …(như trên)… Quả A-la-hán được tác chứng; vì thế được nói rằng: “Được giải thoát do đức tin.” Bốn quyền là tiếp nối việc ấy, …(như trên)…, là các tương ưng duyên. Chính các vị nào tác chứng phẩm vị A-la-hán nhờ vào tác động của tín quyền, tất cả các vị ấy là các vị được giải thoát do đức tin.
Đối với vị đang tác ý khổ não có định quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của định quyền (vị ấy) thành đạt Đạo Nhập Lưu; vì thế được nói rằng: “Vị có thân chứng.” Bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Nhờ vào tác động của định quyền, có sự tu tập của bốn quyền. Chính các vị nào thành đạt Đạo Nhập Lưu nhờ vào tác động của định quyền, tất cả các vị ấy là các vị có thân chứng.
Đối với vị đang tác ý khổ não có định quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của định quyền Quả Nhập Lưu được tác chứng; …(như trên)… thành đạt Đạo Nhất Lai; …(như trên)… Quả Nhất Lai được tác chứng; …(như trên)… thành đạt Đạo Bất Lai; …(như trên)… Quả Bất Lai được tác chứng; …(như trên)… thành đạt Đạo A-la-hán; …(như trên)… Quả A-la-hán được tác chứng; vì thế được nói rằng: “Vị có thân chứng.” Bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Nhờ vào tác động của định quyền, bốn quyền là được tu tập, là được tu tập tốt đẹp. Chính các vị nào tác chứng phẩm vị A-la-hán nhờ vào tác động của định quyền, tất cả các vị ấy là các vị có thân chứng.
Đối với vị đang tác ý vô ngã có tuệ quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tuệ quyền (vị ấy) thành đạt Đạo Nhập Lưu; vì thế được nói rằng: “Vị tùy Pháp hành.” Bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Nhờ vào tác động của tuệ quyền, có sự tu tập của bốn quyền. Chính các vị nào thành đạt Đạo Nhập Lưu nhờ vào tác động của tuệ quyền, tất cả các vị ấy là các vị tùy Pháp hành.
Đối với vị đang tác ý vô ngã có tuệ quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tuệ quyền Quả Nhập Lưu được tác chứng; vì thế được nói rằng: “Vị đạt được do kiến.” Bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Nhờ vào tác động của tuệ quyền, bốn quyền là được tu tập, là được tu tập tốt đẹp. Chính các vị nào tác chứng Quả Nhập Lưu nhờ vào tác động của tuệ quyền, tất cả các vị ấy là các vị đạt được do kiến.
Đối với vị đang tác ý vô ngã có tuệ quyền là nổi bật, do trạng thái nổi bật của tuệ quyền (vị ấy) thành đạt Đạo Nhất Lai; …(nt)… Quả Nhất Lai được tác chứng; …(nt)… thành đạt Đạo Bất Lai; …(nt)… Quả Bất Lai được tác chứng; …(nt)… thành đạt Đạo A-la-hán; …(nt)… Quả A-la-hán được tác chứng; vì thế được nói rằng: “Vị tùy Pháp hành.” Bốn quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Nhờ vào tác động của tuệ quyền, bốn quyền là được tu tập, là được tu tập tốt đẹp. Chính các vị nào tác chứng phẩm vị A-la-hán nhờ vào tác động của tuệ quyền, tất cả các vị ấy là các vị đạt được do kiến.
Chính các vị nào đã tu tập, đang tu tập, hoặc sẽ tu tập, đã đắc chứng, đang đắc chứng, hoặc sẽ đắc chứng, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được, đã thành đạt, đang thành đạt, hoặc sẽ thành đạt, đã thấu triệt, đang thấu triệt, hoặc sẽ thấu triệt, đã tác chứng, đang tác chứng, hoặc sẽ tác chứng, đã chạm đến, đang chạm đến, hoặc sẽ chạm đến, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được ưu thế, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được sự toàn hảo, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được sự tự tín về thoát ly, tất cả các vị ấy là được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của tín quyền, là có thân chứng nhờ vào năng lực của định quyền, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của tuệ quyền.
Chính các vị nào đã tu tập, …(nt)… sẽ đạt được sự tự tín về không sân độc … về sự nghĩ tưởng đến ánh sáng … về không tản mạn … về sự xác định pháp … về trí … về sự hân hoan … về sơ thiền … về nhị thiền … về tam thiền … về tứ thiền … về sự chứng đạt không vô biên xứ … về sự chứng đạt thức vô biên xứ … về sự chứng đạt vô sở hữu xứ … về sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ … về sự quán xét vô thường … về sự quán xét khổ não … về sự quán xét vô ngã … về sự quán xét về nhàm chán … về sự quán xét về ly tham ái … về sự quán xét về diệt tận … về sự quán xét về từ bỏ … về sự quán xét về đoạn tận … về sự quán xét về biến hoại … về sự quán xét về chuyển biến … về sự quán xét vô tướng … về sự quán xét vô nguyện … về sự quán xét không tánh … về sự minh sát các pháp bằng thắng tuệ … về sự biết và thấy đúng theo thực thể … về sự quán xét về tai hại … về sự quán xét về phân biệt rõ … về sự quán xét về ly khai … về Đạo Nhập Lưu … về Đạo Nhất Lai … về Đạo Bất Lai … về Đạo A-la-hán … về bốn sự thiết lập niệm … về bốn Chánh Cần … về bốn nền tảng của thần thông … về năm Quyền … về bảy Giác Chi … về Thánh Đạo tám chi phần …
Chính các vị nào đã tu tập, đang tu tập, hoặc sẽ tu tập, đã đắc chứng, đang đắc chứng, hoặc sẽ đắc chứng, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được, đã thành đạt, đang thành đạt, hoặc sẽ thành đạt, đã thấu triệt, đang thấu triệt, hoặc sẽ thấu triệt, đã tác chứng, đang tác chứng, hoặc sẽ tác chứng, đã chạm đến, đang chạm đến, hoặc sẽ chạm đến, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được ưu thế, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được sự toàn hảo, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được sự tự tín về tám giải thoát, tất cả các vị ấy là được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của tín quyền, là có thân chứng nhờ vào năng lực của định quyền, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của tuệ quyền.
Chính các vị nào đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được bốn phân tích …(như trên)… tất cả các vị ấy là được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của tín quyền, là có thân chứng nhờ vào năng lực của định quyền, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của tuệ quyền.
Chính các vị nào đã thấu triệt, đang thấu triệt, hoặc sẽ thấu triệt …(nt)… về ba minh, tất cả các vị ấy là được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của tín quyền, là có thân chứng nhờ vào năng lực của định quyền, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của tuệ quyền.
Chính các vị nào đã học tập, đang học tập, hoặc sẽ học tập, đã tác chứng, đang tác chứng, hoặc sẽ tác chứng, đã chạm đến, đang chạm đến, hoặc sẽ chạm đến, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được ưu thế, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được sự toàn hảo, đã đạt được, đang đạt được, hoặc sẽ đạt được sự tự tín về ba sự học tập, tất cả các vị ấy là được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của tín quyền, là có thân chứng nhờ vào năng lực của định quyền, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của tuệ quyền.
Chính các vị nào biết toàn diện về Khổ, …(nt)… từ bỏ nhân sanh (Khổ), …(nt)… tác chứng sự diệt tận (Khổ), …(nt)… tu tập về Đạo, tất cả các vị ấy là được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của tín quyền, là có thân chứng nhờ vào năng lực của định quyền, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của tuệ quyền.
Sự thấu triệt chân lý là với bao nhiêu biểu hiện? Hành giả thấu triệt các chân lý với bao nhiêu biểu hiện? Sự thấu triệt chân lý là với bốn biểu hiện, hành giả thấu triệt các chân lý với bốn biểu hiện: Thấu triệt chân lý về Khổ với sự thấu triệt của sự biết toàn diện, thấu triệt chân lý về nhân sanh (Khổ) với sự thấu triệt của sự dứt bỏ, thấu triệt chân lý về sự diệt tận (Khổ) với sự thấu triệt của sự tác chứng, thấu triệt chân lý về Đạo với sự thấu triệt của sự tu tập. Sự thấu triệt chân lý là với bốn biểu hiện này, trong khi thấu triệt bốn chân lý với bốn biểu hiện này, (hành giả) được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của tín quyền, là có thân chứng nhờ vào năng lực của định quyền, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của tuệ quyền.
Sự thấu triệt chân lý là với bao nhiêu biểu hiện? Hành giả thấu triệt các chân lý với bao nhiêu biểu hiện? Sự thấu triệt chân lý là với chín biểu hiện, hành giả thấu triệt các chân lý với chín biểu hiện: Thấu triệt chân lý về Khổ với sự thấu triệt của sự biết toàn diện, thấu triệt chân lý về nhân sanh (Khổ) với sự thấu triệt của sự dứt bỏ, thấu triệt chân lý về sự diệt tận (Khổ) với sự thấu triệt của sự tác chứng, thấu triệt chân lý về Đạo với sự thấu triệt của sự tu tập. Và có sự thấu triệt bằng thắng trí đối với tất cả các pháp, có sự thấu triệt do biết toàn diện đối với tất cả các hành, có sự thấu triệt do từ bỏ đối với tất cả bất thiện, có sự thấu triệt do tu tập đối với bốn Đạo, và có sự thấu triệt do tác chứng đối với sự diệt tận. Sự thấu triệt chân lý là với chín biểu hiện này, trong khi thấu triệt bốn chân lý với chín biểu hiện này, (hành giả) được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của tín quyền, là có thân chứng nhờ vào năng lực của định quyền, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của tuệ quyền.
Tụng Phẩm thứ nhì.
Đối với vị đang tác ý vô thường, các hành hiện diện như thế nào? Đối với vị đang tác ý khổ não, các hành hiện diện như thế nào? Đối với vị đang tác ý vô ngã, các hành hiện diện như thế nào? (1)
Đối với vị đang tác ý vô thường, các hành hiện diện như là sự đoạn tận; đối với vị đang tác ý khổ não, các hành hiện diện như là sự kinh hãi; đối với vị đang tác ý vô ngã, các hành hiện diện như là không. (2)
Đối với vị đang tác ý vô thường, tâm được dồi dào về điều gì? Đối với vị đang tác ý khổ não, tâm được dồi dào về điều gì? Đối với vị đang tác ý vô ngã, tâm được dồi dào về điều gì? (1)
Đối với vị đang tác ý vô thường, tâm được dồi dào về cương quyết; đối với vị đang tác ý khổ não, tâm được dồi dào về tịnh; đối với vị đang tác ý vô ngã, tâm được dồi dào về hiểu biết. (2)
Trong khi tác ý vô thường, vị dồi dào về cương quyết thành đạt giải thoát gì? Trong khi tác ý khổ não, vị dồi dào về tịnh thành đạt giải thoát gì? Trong khi tác ý vô ngã, vị có sự hiểu biết dồi dào thành đạt giải thoát gì? (1)
Trong khi tác ý vô thường, vị dồi dào về cương quyết thành đạt vô tướng giải thoát. Trong khi tác ý khổ não, vị dồi dào về tịnh thành đạt vô nguyện giải thoát. Trong khi tác ý vô ngã, vị có sự hiểu biết dồi dào thành đạt không tánh giải thoát. (2)
Đối với vị dồi dào về cương quyết đang tác ý vô thường, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Ai tu tập? (1)
Đối với vị dồi dào về tịnh đang tác ý khổ não, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Ai tu tập? (2)
Đối với vị dồi dào về hiểu biết đang tác ý vô ngã, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Ai tu tập? (3)
Đối với vị dồi dào về cương quyết đang tác ý vô thường, vô tướng giải thoát là chủ đạo. Trong sự tu tập, có hai giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Vị nào thực hành đúng đắn, vị ấy tu tập; không có sự tu tập giải thoát ở người thực hành sai trái. (1)
Đối với vị dồi dào về tịnh đang tác ý khổ não, vô nguyện giải thoát là chủ đạo. Trong sự tu tập, có hai giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Vị nào thực hành đúng đắn, vị ấy tu tập; không có sự tu tập giải thoát ở người thực hành sai trái. (2)
Đối với vị dồi dào về hiểu biết đang tác ý vô ngã, không tánh giải thoát là chủ đạo. Trong sự tu tập, có hai giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Vị nào thực hành đúng đắn, vị ấy tu tập; không có sự tu tập giải thoát ở người thực hành sai trái. (3)
Đối với vị dồi dào về cương quyết đang tác ý vô thường, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên? Vào thời điểm thấu triệt, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự thấu triệt, bao nhiêu giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Sự thấu triệt theo ý nghĩa gì? (1)
Đối với vị dồi dào về tịnh đang tác ý khổ não, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên? Vào thời điểm thấu triệt, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự thấu triệt, bao nhiêu giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Sự thấu triệt theo ý nghĩa gì? (2)
Đối với vị dồi dào về hiểu biết đang tác ý vô ngã, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên? Vào thời điểm thấu triệt, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự thấu triệt, bao nhiêu giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị? Sự tu tập theo ý nghĩa gì? Sự thấu triệt theo ý nghĩa gì? (3)
Đối với vị dồi dào về cương quyết đang tác ý vô thường, vô tướng giải thoát là chủ đạo. Trong sự tu tập, có hai quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào thời điểm thấu triệt, vô tướng giải thoát là chủ đạo. Trong sự thấu triệt, có hai giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Sự thấu triệt theo ý nghĩa nhận thức. Như vậy, ngay trong khi đang thấu triệt, (hành giả) tu tập; ngay trong khi đang tu tập, (hành giả) thấu triệt. (1)
Đối với vị dồi dào về tịnh đang tác ý khổ não, vô nguyện giải thoát là chủ đạo. Trong sự tu tập, có hai giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào thời điểm thấu triệt, vô nguyện giải thoát là chủ đạo. Trong sự thấu triệt, có hai giải thoát là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Sự thấu triệt theo ý nghĩa nhận thức. Như vậy, ngay trong khi đang thấu triệt, (hành giả) tu tập; ngay trong khi đang tu tập, (hành giả) thấu triệt. (2)
Đối với vị dồi dào về hiểu biết đang tác ý vô ngã, không tánh giải thoát là chủ đạo. Trong sự tu tập, có hai quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào thời điểm thấu triệt, không tánh giải thoát là chủ đạo. Trong sự thấu triệt, có hai quyền là tiếp nối việc ấy, là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên, là có nhất vị. Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị. Sự thấu triệt theo ý nghĩa nhận thức. Như vậy, ngay trong khi đang thấu triệt, (hành giả) tu tập; ngay trong khi đang tu tập, (hành giả) thấu triệt. (3)
Đối với vị đang tác ý vô thường, giải thoát nào là nổi bật? Do trạng thái nổi bật của giải thoát nào là được giải thoát do đức tin? Đối với vị đang tác ý khổ não, giải thoát nào là nổi bật? Do trạng thái nổi bật của giải thoát nào là có thân chứng? Đối với vị đang tác ý vô ngã, giải thoát nào là nổi bật? Do trạng thái nổi bật của giải thoát nào là đạt được do kiến? (1)
Đối với vị đang tác ý vô thường, vô tướng giải thoát là nổi bật, do trạng thái nổi bật của vô tướng giải thoát là được giải thoát do đức tin; đối với vị đang tác ý khổ não, vô nguyện giải thoát là nổi bật, do trạng thái nổi bật của vô nguyện giải thoát là có thân chứng; đối với vị đang tác ý vô ngã, không tánh giải thoát là nổi bật, do trạng thái nổi bật của không tánh giải thoát là đạt được do kiến. (2)
‘Trong khi có đức tin, (hành giả) giải thoát’ là được giải thoát do đức tin. ‘Do trạng thái đã chạm đến, (hành giả) tác chứng’ là có thân chứng. ‘Do trạng thái đã được thấy, (hành giả) đạt được’ là đạt được do kiến. ‘Trong khi có đức tin, (hành giả) giải thoát’ là được giải thoát do đức tin. ‘(Hành giả) xúc chạm với sự xúc chạm của thiền trước, sau đó tác chứng sự tịch diệt Niết Bàn’ là có thân chứng. “ ‘Các hành là khổ, tịch diệt là lạc’ là điều đã được biết, được hiểu, được tác chứng, được chạm đến bởi tuệ” là đạt được do kiến. …(như trên)…
Chính các vị nào đã tu tập, đang tu tập, hoặc sẽ tu tập, …(như trên)… tất cả các vị ấy là được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của vô tướng giải thoát, là có thân chứng nhờ vào năng lực của vô nguyện giải thoát, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của không tánh giải thoát.
Chính các vị nào đã tu tập, …(nt)… về sự không sân độc …(nt)… về sự nghĩ tưởng đến ánh sáng …(nt)… về sự không tản mạn …(nt)… Chính các vị nào biết toàn diện về Khổ, … từ bỏ nhân sanh (Khổ), … tác chứng sự diệt tận (Khổ), … tu tập về Đạo, tất cả các vị ấy là được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của vô tướng giải thoát, là có thân chứng nhờ vào năng lực của vô nguyện giải thoát, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của không tánh giải thoát.
Sự thấu triệt chân lý là với bao nhiêu biểu hiện? Hành giả thấu triệt các chân lý với bao nhiêu biểu hiện? Sự thấu triệt chân lý là với bốn biểu hiện, hành giả thấu triệt các chân lý với bốn biểu hiện.
(Hành giả) thấu triệt chân lý về Khổ với sự thấu triệt của sự biết toàn diện, thấu triệt chân lý về nhân sanh (Khổ) với sự thấu triệt của sự dứt bỏ, thấu triệt chân lý về sự diệt tận (Khổ) với sự thấu triệt của sự tác chứng, thấu triệt chân lý về Đạo với sự thấu triệt của sự tu tập. Sự thấu triệt chân lý là với bốn biểu hiện này, trong khi thấu triệt bốn chân lý với bốn biểu hiện này, (hành giả) được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của vô tướng giải thoát, là có thân chứng nhờ vào năng lực của vô nguyện giải thoát, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của không tánh giải thoát.
Sự thấu triệt chân lý là với bao nhiêu biểu hiện? Hành giả thấu triệt các chân lý với bao nhiêu biểu hiện? Sự thấu triệt chân lý là với chín biểu hiện. Hành giả thấu triệt các chân lý với chín biểu hiện: Thấu triệt chân lý về Khổ với sự thấu triệt của sự biết toàn diện, …(nt)… Và có sự thấu triệt bằng thắng trí đối với tất cả các pháp, …(nt)… và có sự thấu triệt do tác chứng đối với sự diệt tận.
Sự thấu triệt chân lý là với chín biểu hiện này, trong khi thấu triệt bốn chân lý với chín biểu hiện này, (hành giả) được giải thoát do đức tin nhờ vào năng lực của vô tướng giải thoát, là có thân chứng nhờ vào năng lực của vô nguyện giải thoát, là đạt được do kiến nhờ vào năng lực của không tánh giải thoát.
Trong khi tác ý vô thường, (hành giả) biết, thấy đúng theo thực thể các pháp nào? Sự thấy đúng đắn là (có ý nghĩa) thế nào? Do tiếp nối việc ấy, các hành được thấy rõ là vô thường là (có ý nghĩa) thế nào? Hoài nghi được dứt bỏ ở đâu? (1)
Trong khi tác ý khổ não, (hành giả) biết, thấy đúng theo thực thể các pháp nào? Sự thấy đúng đắn là (có ý nghĩa) thế nào? Do tiếp nối việc ấy, các hành được thấy rõ là khổ não là (có ý nghĩa) thế nào? Hoài nghi được dứt bỏ ở đâu? (2)
Trong khi tác ý vô ngã, (hành giả) biết, thấy đúng theo thực thể các pháp nào? Sự thấy đúng đắn là (có ý nghĩa) thế nào? Do tiếp nối việc ấy, các hành được thấy rõ là vô ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Hoài nghi được dứt bỏ ở đâu? (3)
Trong khi tác ý vô thường, (hành giả) nhận biết, nhận thấy đúng theo thực thể về hiện tướng; vì thế được gọi là sự thấy đúng đắn. Như vậy, do tiếp nối việc ấy, các hành được thấy rõ là vô thường. Hoài nghi được dứt bỏ ở đây. (1)
Trong khi tác ý khổ não, (hành giả) biết, thấy đúng theo thực thể về sự vận hành; vì thế được gọi là sự thấy đúng đắn. Như vậy, do tiếp nối việc ấy, các hành được thấy rõ là khổ não. Hoài nghi được dứt bỏ ở đây. (2)
Trong khi tác ý vô ngã, (hành giả) biết, thấy đúng theo thực thể về hiện tướng và sự vận hành; vì thế được gọi là sự thấy đúng đắn. Như vậy, do tiếp nối việc ấy, tất cả các pháp được thấy rõ là vô ngã. Hoài nghi được dứt bỏ ở đây. (3)
Trí đúng theo thực thể, sự thấy đúng đắn, sự vượt qua hoài nghi, các pháp này là có ý nghĩa khác biệt và văn tự khác biệt? Hay là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác? Trí đúng theo thực thể, sự thấy đúng đắn, sự vượt qua hoài nghi, các pháp này là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác.
Đối với vị đang tác ý vô thường, điều gì hiện diện là kinh hãi? Đối với vị đang tác ý khổ não, điều gì hiện diện là kinh hãi? Đối với vị đang tác ý vô ngã, điều gì hiện diện là kinh hãi?
Đối với vị đang tác ý vô thường, hiện tướng hiện diện là kinh hãi? Đối với vị đang tác ý khổ não, sự vận hành hiện diện là kinh hãi? Đối với vị đang tác ý vô ngã, hiện tướng và sự vận hành hiện diện là kinh hãi.
Tuệ liên quan đến sự hiện diện của kinh hãi, trí liên quan đến điều tai hại, và sự nhàm chán, các pháp này là có ý nghĩa khác biệt và văn tự khác biệt? Hay là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác? Tuệ liên quan đến sự hiện diện của kinh hãi, trí liên quan đến điều tai hại, và sự nhàm chán, các pháp này là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác.
Quán xét về vô ngã và quán xét về không tánh, các pháp này là có ý nghĩa khác biệt và văn tự khác biệt? Hay là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác? Quán xét về vô ngã và quán xét về không tánh, các pháp này là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác.
Đối với vị đang tác ý vô thường, do sự phân biệt rõ điều gì khiến trí được sanh lên? Đối với vị đang tác ý khổ não, do sự phân biệt rõ điều gì khiến trí được sanh lên? Đối với vị đang tác ý vô ngã, do sự phân biệt rõ điều gì khiến trí được sanh lên?
Đối với vị đang tác ý vô thường, do sự phân biệt rõ hiện tướng khiến trí được sanh lên; đối với vị đang tác ý khổ não, do sự phân biệt rõ sự vận hành khiến trí được sanh lên; đối với vị đang tác ý vô ngã, do sự phân biệt rõ hiện tướng và sự vận hành khiến trí được sanh lên. (1)
Sự mong muốn giải thoát, sự quán xét do phân biệt rõ, và trạng thái xả đối với các pháp hữu vi, các pháp này là có ý nghĩa khác biệt và văn tự khác biệt? Hay là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác? Sự mong muốn giải thoát, sự quán xét do phân biệt rõ, và trạng thái xả đối với các pháp hữu vi, các pháp này là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác. (2)
Đối với vị đang tác ý vô thường, tâm thoát ra khỏi nơi nào? tâm tiến vào nơi nào? Đối với vị đang tác ý khổ não, tâm thoát ra khỏi nơi nào? tâm tiến vào nơi nào? Đối với vị đang tác ý vô ngã, tâm thoát ra khỏi nơi nào? tâm tiến vào nơi nào?
Đối với vị đang tác ý vô thường, tâm thoát ra khỏi hiện tướng, tâm tiến vào vô tướng; đối với vị đang tác ý khổ não, tâm thoát ra khỏi sự vận hành, tâm tiến vào sự không vận hành; đối với vị đang tác ý vô ngã, tâm thoát ra khỏi hiện tướng và sự vận hành, tâm tiến vào vô tướng, vào sự không vận hành, vào sự diệt tận là cảnh giới Niết Bàn. (3)
Tuệ liên quan đến sự thoát ra và ly khai ngoại phần, và các sự chuyển tộc, các pháp này là có ý nghĩa khác biệt và văn tự khác biệt? Hay là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác? Tuệ liên quan đến sự thoát ra và ly khai ngoại phần, và các sự chuyển tộc, các pháp này là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác. (4)
Trong khi tác ý vô thường, (hành giả) giải thoát bằng sự giải thoát nào; trong khi tác ý khổ não, giải thoát bằng sự giải thoát nào; trong khi tác ý vô ngã, giải thoát bằng sự giải thoát nào? Trong khi tác ý vô thường, (hành giả) giải thoát bằng vô tướng giải thoát; trong khi tác ý khổ não, giải thoát bằng vô nguyện giải thoát; trong khi tác ý vô ngã, giải thoát bằng không tánh giải thoát. (5)
Tuệ liên quan đến sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần), và trí liên quan đến Đạo, các pháp này là có ý nghĩa khác biệt và văn tự khác biệt? Hay là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác? Tuệ liên quan đến sự thoát ra và ly khai cả hai, và trí liên quan đến Đạo, các pháp này là có cùng một ý nghĩa và chỉ có văn tự là khác. (6)
Ba loại giải thoát ở vào sát-na khác nhau là với bao nhiêu biểu hiện, ba loại giải thoát ở vào cùng một sát-na là với bao nhiêu biểu hiện? Ba loại giải thoát ở vào sát-na khác nhau là với bốn biểu hiện, ba loại giải thoát ở vào cùng một sát-na là với bảy biểu hiện.
Ba loại giải thoát ở vào sát-na khác nhau là với bốn biểu hiện nào? Với ý nghĩa pháp chủ đạo, với ý nghĩa khẳng định, với ý nghĩa quả quyết, với ý nghĩa dẫn xuất.
Ba loại giải thoát với ý nghĩa pháp chủ đạo ở vào sát-na khác nhau là thế nào? Đối với vị đang tác ý vô thường vô tướng giải thoát là pháp chủ đạo, tác ý khổ não vô nguyện giải thoát là pháp chủ đạo, tác ý vô ngã không tánh giải thoát là pháp chủ đạo. Ba loại giải thoát với ý nghĩa pháp chủ đạo ở vào sát-na khác nhau là thế ấy. (1)
Ba loại giải thoát với ý nghĩa khẳng định ở vào sát-na khác nhau là thế nào? Trong khi tác ý vô thường, nhờ vào năng lực của vô tướng giải thoát, (hành giả) khẳng định tâm; trong khi tác ý khổ não, nhờ vào năng lực của vô nguyện giải thoát, (hành giả) khẳng định tâm; trong khi tác ý vô ngã, nhờ vào năng lực của không tánh giải thoát, (hành giả) khẳng định tâm. Ba loại giải thoát với ý nghĩa khẳng định ở vào sát-na khác nhau là thế ấy. (2)
Ba loại giải thoát với ý nghĩa quả quyết ở vào sát-na khác nhau là thế nào? Trong khi tác ý vô thường, nhờ vào năng lực của vô tướng giải thoát, (hành giả) quả quyết tâm, trong khi tác ý khổ não, nhờ vào năng lực của vô nguyện giải thoát, (hành giả) quả quyết tâm, trong khi tác ý vô ngã, nhờ vào năng lực của không tánh giải thoát, (hành giả) quả quyết tâm. Ba loại giải thoát với ý nghĩa quả quyết ở vào sát-na khác nhau là thế ấy. (3)
Ba loại giải thoát với ý nghĩa dẫn xuất ở vào sát-na khác nhau là thế nào? Trong khi tác ý vô thường, nhờ vào năng lực của vô tướng giải thoát, (hành giả) dẫn xuất đến sự diệt tận Niết Bàn, trong khi tác ý khổ não, nhờ năng lực của vô nguyện giải thoát, dẫn xuất đến sự diệt tận Niết Bàn, trong khi tác ý vô ngã, nhờ năng lực của không tánh giải thoát, dẫn xuất đến sự diệt tận Niết Bàn. Ba loại giải thoát với ý nghĩa dẫn xuất ở vào sát-na khác nhau là thế ấy. (4)
Ba loại giải thoát ở vào sát-na khác nhau là với bốn biểu hiện này.
Ba loại giải thoát ở vào cùng một sát-na là với bảy biểu hiện nào? Với ý nghĩa liên kết, với ý nghĩa đắc chứng, với ý nghĩa thành đạt, với ý nghĩa thấu triệt, với ý nghĩa tác chứng, với ý nghĩa chạm đến, với ý nghĩa lãnh hội.
Ba loại giải thoát với ý nghĩa liên kết, với ý nghĩa đắc chứng, với ý nghĩa thành đạt, với ý nghĩa thấu triệt, với ý nghĩa tác chứng, với ý nghĩa chạm đến, với ý nghĩa lãnh hội ở vào cùng một sát-na là thế nào?
‘Trong khi tác ý vô thường, (hành giả) giải thoát khỏi hiện tướng’ là vô tướng giải thoát, ‘giải thoát khỏi điều nào thì không còn nguyện ước điều ấy’ là vô nguyện giải thoát, ‘điều ấy không nguyện ước thì với điều ấy là không’ là không tánh giải thoát, ‘với điều nào là không, là vô tướng với hiện tướng ấy’ là vô tướng giải thoát. Ba loại giải thoát với ý nghĩa liên kết, với ý nghĩa đắc chứng, với ý nghĩa thành đạt, với ý nghĩa thấu triệt, với ý nghĩa tác chứng, với ý nghĩa chạm đến, với ý nghĩa lãnh hội ở vào cùng một sát-na là thế ấy. (1)
‘Trong khi tác ý khổ não, (hành giả) giải thoát khỏi nguyện ước’ là vô nguyện giải thoát, ‘điều ấy không nguyện ước thì với điều ấy là không’ là không tánh giải thoát, ‘với điều nào là không, là vô tướng với hiện tướng ấy’ là vô tướng giải thoát, ‘vô tướng với hiện tướng nào thì không còn mong mỏi điều ấy’ là vô nguyện giải thoát. Ba loại giải thoát với ý nghĩa liên kết, với ý nghĩa đắc chứng, với ý nghĩa thành đạt, với ý nghĩa thấu triệt, với ý nghĩa tác chứng, với sự chạm đến, với ý nghĩa lãnh hội ở vào cùng một sát-na là thế ấy. (2)
‘Trong khi tác ý vô ngã, (hành giả) giải thoát khỏi cố chấp’ là không tánh giải thoát, ‘với điều nào là không, là vô tướng với hiện tướng ấy’ là vô tướng giải thoát, ‘vô tướng với hiện tướng nào thì không còn mong mỏi điều ấy’ là vô nguyện giải thoát, ‘điều ấy không nguyện ước thì với điều ấy là không’ là không tánh giải thoát. Ba loại giải thoát với ý nghĩa liên kết, với ý nghĩa đắc chứng, với ý nghĩa thành đạt, với ý nghĩa thấu triệt, với ý nghĩa tác chứng, với ý nghĩa chạm đến, với ý nghĩa lãnh hội ở vào cùng một sát-na là thế ấy. (3)
Ba loại giải thoát ở vào cùng một sát-na là với bảy biểu hiện này.
Có sự giải thoát, có cánh cửa, có cánh cửa của giải thoát, có đối nghịch của giải thoát, có (pháp) phù hợp với giải thoát, có sự ly khai do giải thoát, có sự tu tập giải thoát, có sự tịnh lặng của giải thoát.
Giải thoát là gì? Không tánh giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát.
Không tánh giải thoát là gì? ‘Trí do sự quán xét về vô thường giải thoát khỏi cố chấp về thường’ là không tánh giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về khổ não giải thoát khỏi cố chấp về lạc’ là không tánh giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô ngã giải thoát khỏi cố chấp về ngã’ là
không tánh giải thoát.‘Trí do sự quán xét về nhàm chán giải thoát khỏi cố chấp về vui thích’ là không tánh giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về ly tham ái giải thoát khỏi cố chấp về tham ái’ là không tánh giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về diệt tận giải thoát khỏi cố chấp về nhân sanh khởi’ là không tánh giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về từ bỏ giải thoát khỏi cố chấp về nắm giữ’ là không tánh giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô tướng giải thoát khỏi cố chấp về hiện tướng’ là không tánh giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô nguyện giải thoát khỏi cố chấp về nguyện ước’ là không tánh giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về không tánh giải thoát khỏi tất cả các cố chấp’ là không tánh giải thoát.
‘Trí do sự quán xét về vô thường ở sắc giải thoát khỏi cố chấp về thường’ là không tánh giải thoát. …(nt)… ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở sắc giải thoát khỏi tất cả các cố chấp’ là không tánh giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô thường ở thọ … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt … ở lão tử giải thoát khỏi cố chấp về thường’ là không tánh giải thoát. …(nt)… ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở lão tử giải thoát khỏi tất cả các cố chấp’ là không tánh giải thoát. Đây là không tánh giải thoát. (1)
Vô tướng giải thoát là gì? ‘Trí do sự quán xét về vô thường giải thoát khỏi hiện tướng về thường’ là vô tướng giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về khổ não giải thoát khỏi hiện tướng về lạc’ là vô tướng giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô ngã giải thoát khỏi hiện tướng về ngã’ là … ‘Trí do sự quán xét về nhàm chán giải thoát khỏi hiện tướng về vui thích’ là … ‘Trí do sự quán xét về ly tham ái giải thoát khỏi hiện tướng về tham ái’ là … ‘Trí do sự quán xét về diệt tận giải thoát khỏi hiện tướng về nhân sanh khởi’ là … ‘Trí do sự quán xét về từ bỏ giải thoát khỏi hiện tướng về nắm giữ’ là … ‘Trí do sự quán xét về vô tướng giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng’ là … ‘Trí do sự quán xét về vô nguyện giải thoát khỏi hiện tướng về nguyện ước’ là vô tướng giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về không tánh giải thoát khỏi hiện tướng về cố chấp’ là vô tướng giải thoát.
‘Trí do sự quán xét về vô thường ở sắc giải thoát khỏi hiện tướng về thường’ là vô tướng giải thoát. …(nt)… ‘Trí do sự quán xét về vô tướng ở sắc giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng’ là vô tướng giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô nguyện ở sắc giải thoát khỏi hiện tướng về nguyện ước’ là vô tướng giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở sắc giải thoát khỏi hiện tướng về cố chấp’ là vô tướng giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô thường ở thọ … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt … ở lão tử giải thoát khỏi hiện tướng về thường’ là vô tướng giải thoát. …(nt)… ‘Trí do sự quán xét về vô tướng ở lão tử giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng’ là vô tướng giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô nguyện ở lão tử giải thoát khỏi hiện tướng về nguyện ước’ là vô tướng giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở lão tử giải thoát khỏi hiện tướng về cố chấp’ là vô tướng giải thoát. Đây là vô tướng giải thoát. (2)
Vô nguyện giải thoát là gì? ‘Trí do sự quán xét về vô thường giải thoát khỏi nguyện ước về thường’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về khổ não giải thoát khỏi nguyện ước về lạc’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô ngã giải thoát khỏi nguyện ước về ngã’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về ly tham ái giải thoát khỏi nguyện ước về tham ái’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về diệt tận giải thoát khỏi nguyện ước về nhân sanh khởi’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về từ bỏ giải thoát khỏi nguyện ước về nắm giữ’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô tướng giải thoát khỏi nguyện ước về hiện tướng’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô nguyện giải thoát khỏi tất cả cảc nguyện ước’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về không tánh giải thoát khỏi nguyện ước về cố chấp’ là vô nguyện giải thoát.
‘Trí do sự quán xét về vô thường ở sắc giải thoát khỏi nguyện ước về thường’ là vô nguyện giải thoát. …(nt)… ‘Trí do sự quán xét về vô nguyện ở sắc giải thoát khỏi tất cả các nguyện ước’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở sắc giải thoát khỏi nguyện ước về cố chấp’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về vô thường ở thọ … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt … ở lão tử giải thoát khỏi tất cả các nguyện ước’ là vô nguyện giải thoát. ‘Trí do sự quán xét về không tánh ở lão tử giải thoát khỏi nguyện ước về cố chấp’ là vô nguyện giải thoát. Đây là vô nguyện giải thoát. (3) Đây là giải thoát. (1)
Cánh cửa là gì? Những gì là không sai trái, là thiện, là các pháp dự phần giác ngộ được sanh ra ở trường hợp ấy, điều ấy là cánh cửa. (2)
Cánh cửa của giải thoát là gì? Đối tượng nào của các pháp ấy là sự diệt tận Niết Bàn, (đối tượng) ấy là cánh cửa của giải thoát, đây là cánh cửa của giải thoát. Giải thoát và cánh cửa, là cánh cửa của giải thoát, điều ấy là cánh cửa của giải thoát. (3)
(Pháp) đối nghịch của giải thoát là gì? Ba bất thiện căn là các (pháp) đối nghịch của giải thoát, ba ác hạnh là các (pháp) đối nghịch của giải thoát, tất cả các pháp bất thiện cũng là các (pháp) đối nghịch của giải thoát; điều ấy là (pháp) đối nghịch của giải thoát. (4)
(Pháp) phù hợp với giải thoát là gì? Ba thiện căn là các (pháp) phù hợp với giải thoát, ba thiện hạnh là các (pháp) phù hợp với giải thoát, tất cả các pháp thiện cũng là các (pháp) phù hợp với giải thoát; điều ấy là (pháp) phù hợp với giải thoát. (5)
Sự ly khai do giải thoát là gì? Là sự ly khai do tưởng, là sự ly khai do suy nghĩ, là sự ly khai do tâm, là sự ly khai do trí, là sự ly khai do giải thoát, là sự ly khai do chân lý.
‘Trong khi suy tưởng, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do tưởng. ‘Trong khi suy nghĩ, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do suy nghĩ. ‘Trong khi nhận biết, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do tâm. ‘Trong khi sử dụng trí, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do trí. ‘Trong khi xả ly, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do giải thoát. ‘Theo ý nghĩa của thực thể, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do chân lý.
Nơi nào có sự ly khai do tưởng, nơi ấy có sự ly khai do suy nghĩ. Nơi nào có sự ly khai do suy nghĩ, nơi ấy có sự ly khai do tưởng. Nơi nào có sự ly khai do tưởng (và) có sự ly khai do suy nghĩ, nơi ấy có sự ly khai do tâm. Nơi nào có sự ly khai do tâm, nơi ấy có sự ly khai do tưởng (và) có sự ly khai do suy nghĩ. Nơi nào có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, (và) có sự ly khai do tâm, nơi ấy có sự ly khai do trí. Nơi nào có sự ly khai do trí, nơi ấy có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, (và) có sự ly khai do tâm. Nơi nào có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm, (và) có sự ly khai do trí, nơi ấy có sự ly khai do giải thoát. Nơi nào có sự ly khai do giải thoát, nơi ấy có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm, (và) có sự ly khai do trí. Nơi nào có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm, có sự ly khai do trí, (và) có sự ly khai do giải thoát, nơi ấy có sự ly khai do sự thật. Nơi nào có sự ly khai do sự thật, nơi ấy có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm, có sự ly khai do trí, có sự ly khai do giải thoát. Đây là sự ly khai do giải thoát. (6)
Sự tu tập giải thoát là gì? Sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn sơ thiền; sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn nhị thiền; sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn tam thiền; sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn tứ thiền; sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn sự chứng đạt không vô biên xứ; … sự chứng đạt thức vô biên xứ; … sự chứng đạt vô sở hữu xứ; sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ; sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn Đạo Nhập Lưu; sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn Đạo Nhất Lai; sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn Đạo Bất Lai; sự rèn luyện, sự tu tập, sự làm cho sung mãn Đạo A-la-hán; điều này là sự tu tập giải thoát. (7)
Sự tịnh lặng của giải thoát là gì? Sự thành tựu hoặc nghiệp quả của sơ thiền, sự thành tựu hoặc nghiệp quả của nhị thiền, … của tam thiền, … của tứ thiền, … của sự chứng đạt không vô biên xứ, … của sự chứng đạt thức vô biên xứ, … của sự chứng đạt vô sở hữu xứ, sự thành tựu hoặc nghiệp quả của sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, Quả Nhập Lưu của Đạo Nhập Lưu, Quả Nhất Lai của Đạo Nhất Lai, Quả Bất Lai của Đạo Bất Lai, Quả A-la-hán của Đạo A-la-hán; điều này là sự tịnh lặng của giải thoát.
Tụng phẩm thứ ba.
Phần giảng về Giải Thoát được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
209. Purimanidānaṃ. ‘‘Tayome, bhikkhave, vimokkhā. Katame tayo? Suññato vimokkho, animitto vimokkho, appaṇihito vimokkho – ime kho, bhikkhave, tayo vimokkhā.
209. The prelude is as before. “Bhikkhus, there are these three liberations. What are the three? The liberation of emptiness, the signless liberation, and the undirected liberation. These, bhikkhus, are the three liberations.”
209. Phần giới thiệu như trước. Này các Tỳ khưu, có ba sự giải thoát này. Thế nào là ba? Không giải thoát, vô tướng giải thoát, và vô nguyện giải thoát. Này các Tỳ khưu, đây là ba sự giải thoát.
‘‘Api ca, aṭṭhasaṭṭhi vimokkhā – suññato vimokkho, animitto vimokkho, appaṇihito vimokkho; ajjhattavuṭṭhāno vimokkho, bahiddhāvuṭṭhāno vimokkho, dubhato vuṭṭhāno vimokkho; ajjhattavuṭṭhānā cattāro vimokkhā, bahiddhāvuṭṭhānā cattāro vimokkhā, dubhato vuṭṭhānā cattāro vimokkhā; ajjhattavuṭṭhānānaṃ anulomā cattāro vimokkhā, bahiddhāvuṭṭhānānaṃ anulomā cattāro vimokkhā, dubhato vuṭṭhānānaṃ anulomā cattāro vimokkhā; ajjhattavuṭṭhānapaṭippassaddhī † cattāro vimokkhā, bahiddhāvuṭṭhānapaṭippassaddhī cattāro vimokkhā, dubhato vuṭṭhānapaṭippassaddhī cattāro vimokkhā; rūpī rūpāni passatīti vimokkho, ajjhattaṃ arūpasaññī bahiddhā rūpāni passatīti vimokkho, subhaṃ teva adhimutto hotīti vimokkho; ākāsānañcāyatanasamāpatti vimokkho, viññāṇañcāyatanasamāpatti vimokkho, ākiñcaññāyatanasamāpatti vimokkho; nevasaññānāsaññāyatanasamāpatti vimokkho, saññāvedayitanirodhasamāpatti vimokkho; samayavimokkho, asamayavimokkho; sāmayiko vimokkho, asāmayiko vimokkho; kuppo vimokkho, akuppo vimokkho; lokiyo vimokkho, lokuttaro vimokkho; sāsavo vimokkho, anāsavo vimokkho; sāmiso vimokkho, nirāmiso vimokkho; nirāmisānirāmisataro vimokkho, paṇihito vimokkho, appaṇihito vimokkho, paṇihitappaṭippassaddhi vimokkho; saññutto vimokkho, visaññutto vimokkho; ekattavimokkho, nānattavimokkho, saññāvimokkho, ñāṇavimokkho; sītisiyāvimokkho †, jhānavimokkho, anupādācittassa vimokkho’’.
“Furthermore, there are sixty-eight deliverances: the emptiness deliverance, the signless deliverance, the undirected deliverance; the deliverance of internal emergence, the deliverance of external emergence, the deliverance of emergence from both; the four deliverances of internal emergence, the four deliverances of external emergence, the four deliverances of emergence from both; the four deliverances conforming to internal emergence, the four deliverances conforming to external emergence, the four deliverances conforming to emergence from both; the four deliverances of the tranquilization of internal emergence, the four deliverances of the tranquilization of external emergence, the four deliverances of the tranquilization of emergence from both; the deliverance ‘one with form sees forms,’ the deliverance ‘one internally with the perception of formlessness sees external forms,’ the deliverance ‘one is intent only on the beautiful’; the deliverance of the attainment of the base of infinite space, the deliverance of the attainment of the base of infinite consciousness, the deliverance of the attainment of the base of nothingness; the deliverance of the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception, the deliverance of the attainment of the cessation of perception and feeling; the temporal deliverance, the atemporal deliverance; the temporary deliverance, the non-temporary deliverance; the mutable deliverance, the immutable deliverance; the mundane deliverance, the supramundane deliverance; the deliverance with taints, the taintless deliverance; the material deliverance, the immaterial deliverance; the more immaterial than the immaterial deliverance, the directed deliverance, the undirected deliverance, the deliverance of the tranquilization of the directed; the conjoined deliverance, the disjoined deliverance; the deliverance of oneness, the deliverance of diversity, the deliverance of perception, the deliverance of knowledge; the deliverance of becoming cool, the jhānic deliverance, the deliverance of the mind through non-clinging.”
Lại nữa, có sáu mươi tám loại giải thoát – không giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát; nội xuất khởi giải thoát, ngoại xuất khởi giải thoát, cả hai xuất khởi giải thoát; bốn loại nội xuất khởi giải thoát, bốn loại ngoại xuất khởi giải thoát, bốn loại cả hai xuất khởi giải thoát; bốn loại giải thoát tùy thuận cho các vị nội xuất khởi, bốn loại giải thoát tùy thuận cho các vị ngoại xuất khởi, bốn loại giải thoát tùy thuận cho các vị cả hai xuất khởi; bốn loại giải thoát khinh an của nội xuất khởi, bốn loại giải thoát khinh an của ngoại xuất khởi, bốn loại giải thoát khinh an của cả hai xuất khởi; giải thoát là ‘vị có sắc thấy các sắc’, giải thoát là ‘vị có tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các sắc ở ngoại cảnh’, giải thoát là ‘vị ấy chỉ chuyên chú vào tịnh tướng’; không vô biên xứ định giải thoát, thức vô biên xứ định giải thoát, vô sở hữu xứ định giải thoát; phi tưởng phi phi tưởng xứ định giải thoát, diệt thọ tưởng định giải thoát; thời giải thoát, phi thời giải thoát; thời gian giải thoát, phi thời gian giải thoát; động giải thoát, bất động giải thoát; thế gian giải thoát, siêu thế giải thoát; hữu lậu giải thoát, vô lậu giải thoát; hữu ái giải thoát, vô ái giải thoát; vô ái và vô ái hơn giải thoát, hữu nguyện giải thoát, vô nguyện giải thoát, khinh an của hữu nguyện giải thoát; tương ưng giải thoát, bất tương ưng giải thoát; đồng nhất giải thoát, dị biệt giải thoát, tưởng giải thoát, trí giải thoát; thanh lương giải thoát, thiền giải thoát, tâm giải thoát không còn chấp thủ’.
2. Niddeso
2. The Exposition
2. Phần giải thích
210. Katamo suññato vimokkho? Idha bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati – ‘‘suññamidaṃ attena vā attaniyena vā’’ti. So tattha abhinivesaṃ na karotīti – suññato vimokkho. Ayaṃ suññato vimokkho.
210. What is the deliverance of emptiness? Here, a bhikkhu, having gone to the forest, or to the root of a tree, or to a secluded dwelling, reflects thus: 'This is void of self or of what belongs to self.' He does not form an adherence to it—this is the deliverance of emptiness. This is the deliverance of emptiness.
210. Thế nào là không giải thoát? Ở đây, vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến ngôi nhà trống rồi suy xét rằng: ‘Cái này là trống không, không phải là tự ngã hay thuộc về tự ngã.’ Vị ấy không có sự chấp trước ở nơi ấy, vì vậy gọi là không giải thoát. Đây là không giải thoát.
Katamo animitto vimokkho? Idha bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati – ‘‘suññamidaṃ attena vā attaniyena vā’’ti. So tattha nimittaṃ na karotīti – animitto vimokkho. Ayaṃ animitto vimokkho.
What is the signless deliverance? Here, a bhikkhu, having gone to the forest, or to the root of a tree, or to a secluded dwelling, reflects thus: 'This is void of self or of what belongs to self.' He does not make a sign of it—this is the signless deliverance. This is the signless deliverance.
Thế nào là vô tướng giải thoát? Ở đây, vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến ngôi nhà trống rồi suy xét rằng: ‘Cái này là trống không, không phải là tự ngã hay thuộc về tự ngã.’ Vị ấy không tạo ra tướng ở nơi ấy, vì vậy gọi là vô tướng giải thoát. Đây là vô tướng giải thoát.
Katamo appaṇihito vimokkho? Idha bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati – ‘‘suññamidaṃ attena vā attaniyena vā’’ti. So tattha paṇidhiṃ na karotīti – appaṇihito vimokkho. Ayaṃ appaṇihito vimokkho.
What is the desireless deliverance? Here, a bhikkhu, having gone to the forest, or to the root of a tree, or to a secluded dwelling, reflects thus: 'This is void of self or of what belongs to self.' He does not form a desire for it—this is the desireless deliverance. This is the desireless deliverance.
Thế nào là vô nguyện giải thoát? Ở đây, vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến ngôi nhà trống rồi suy xét rằng: ‘Cái này là trống không, không phải là tự ngã hay thuộc về tự ngã.’ Vị ấy không có sự mong cầu ở nơi ấy, vì vậy gọi là vô nguyện giải thoát. Đây là vô nguyện giải thoát.
Katamo ajjhattavuṭṭhāno vimokkho? Cattāri jhānāni – ayaṃ ajjhattavuṭṭhāno vimokkho. Katamo bahiddhāvuṭṭhāno vimokkho? Catasso arūpasamāpattiyo – ayaṃ bahiddhāvuṭṭhāno vimokkho. Katamo dubhato vuṭṭhāno vimokkho? Cattāro ariyamaggā – ayaṃ dubhato vuṭṭhāno vimokkho.
What is the deliverance of internal emergence? The four jhānas—this is the deliverance of internal emergence. What is the deliverance of external emergence? The four formless attainments—this is the deliverance of external emergence. What is the deliverance of emergence from both? The four noble paths—this is the deliverance of emergence from both.
Thế nào là nội xuất khởi giải thoát? Bốn tầng thiền – đây là nội xuất khởi giải thoát. Thế nào là ngoại xuất khởi giải thoát? Bốn định vô sắc – đây là ngoại xuất khởi giải thoát. Thế nào là cả hai xuất khởi giải thoát? Bốn Thánh đạo – đây là cả hai xuất khởi giải thoát.
Katame ajjhattavuṭṭhānā cattāro vimokkhā? Paṭhamaṃ jhānaṃ nīvaraṇehi vuṭṭhāti. Dutiyaṃ jhānaṃ vitakkavicārehi vuṭṭhāti. Tatiyaṃ jhānaṃ pītiyā vuṭṭhāti. Catutthaṃ jhānaṃ sukhadukkhehi vuṭṭhāti. Ime ajjhattavuṭṭhānā cattāro vimokkhā.
What are the four deliverances of internal emergence? The first jhāna emerges from the hindrances. The second jhāna emerges from thought and investigation. The third jhāna emerges from rapture. The fourth jhāna emerges from pleasure and pain. These are the four deliverances of internal emergence.
Thế nào là bốn loại nội xuất khởi giải thoát? Sơ thiền xuất khởi khỏi các triền cái. Nhị thiền xuất khởi khỏi tầm và tứ. Tam thiền xuất khởi khỏi hỷ. Tứ thiền xuất khởi khỏi lạc và khổ. Đây là bốn loại nội xuất khởi giải thoát.
Katame bahiddhāvuṭṭhānā cattāro vimokkhā? Ākāsānañcāyatanasamāpatti rūpasaññāya paṭighasaññāya nānattasaññāya vuṭṭhāti. Viññāṇañcāyatanasamāpatti ākāsānañcāyatanasaññāya vuṭṭhāti. Ākiñcaññāyatanasamāpatti viññāṇañcāyatanasaññāya vuṭṭhāti. Nevasaññānāsaññāyatanasamāpatti ākiñcaññāyatanasaññāya vuṭṭhāti. Ime bahiddhāvuṭṭhānā cattāro vimokkhā.
What are the four liberations of external emergence? The attainment of the base of infinite space emerges from perceptions of form, perceptions of impingement, and perceptions of multiplicity. The attainment of the base of infinite consciousness emerges from the perception of the base of infinite space. The attainment of the base of nothingness emerges from the perception of the base of infinite consciousness. The attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception emerges from the perception of the base of nothingness. These are the four liberations of external emergence.
Thế nào là bốn loại ngoại xuất khởi giải thoát? Định không vô biên xứ xuất khởi khỏi sắc tưởng, đối ngại tưởng, và các tưởng đa dạng. Định thức vô biên xứ xuất khởi khỏi tưởng không vô biên xứ. Định vô sở hữu xứ xuất khởi khỏi tưởng thức vô biên xứ. Định phi tưởng phi phi tưởng xứ xuất khởi khỏi tưởng vô sở hữu xứ. Đây là bốn loại ngoại xuất khởi giải thoát.
Katame dubhato vuṭṭhānā cattāro vimokkhā? Sotāpattimaggo sakkāyadiṭṭhivicikicchāsīlabbataparāmāsā diṭṭhānusayā vicikicchānusayā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Sakadāgāmimaggo oḷārikā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā oḷārikā kāmarāgānusayā paṭighānusayā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Anāgāmimaggo anusahagatā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā anusahagatā kāmarāgānusayā paṭighānusayā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Arahattamaggo rūparāgā arūparāgā mānā uddhaccā avijjāya mānānusayā bhavarāgānusayā avijjānusayā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Ime dubhato vuṭṭhānā cattāro vimokkhā.
What are the four liberations of emergence from both? The stream-entry path emerges from identity view, doubt, clinging to rites and rituals, the underlying tendency to views, and the underlying tendency to doubt; it emerges from the defilements and aggregates that follow them, and externally from all signs. The once-returner path emerges from the coarse fetters of sensual desire and ill will, and the coarse underlying tendencies to sensual desire and ill will; it emerges from the defilements and aggregates that follow them, and externally from all signs. The non-returner path emerges from the subtle fetters of sensual desire and ill will, and the subtle underlying tendencies to sensual desire and ill will; it emerges from the defilements and aggregates that follow them, and externally from all signs. The Arahant path emerges from desire for form, desire for the formless, conceit, restlessness, ignorance, the underlying tendency to conceit, the underlying tendency to desire for existence, and the underlying tendency to ignorance; it emerges from the defilements and aggregates that follow them, and externally from all signs. These are the four liberations of emergence from both.
Thế nào là bốn loại cả hai xuất khởi giải thoát? Đạo Tu-đà-hoàn xuất khởi khỏi thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tùy miên tà kiến, và tùy miên hoài nghi; xuất khởi khỏi các phiền não đi kèm theo chúng và khỏi các uẩn; và xuất khởi khỏi tất cả các tướng ở ngoại cảnh. Đạo Tư-đà-hàm xuất khởi khỏi kiết sử dục ái và kiết sử sân thuộc loại thô, tùy miên dục ái và tùy miên sân thuộc loại thô; xuất khởi khỏi các phiền não đi kèm theo chúng và khỏi các uẩn; và xuất khởi khỏi tất cả các tướng ở ngoại cảnh. Đạo A-na-hàm xuất khởi khỏi kiết sử dục ái và kiết sử sân đi kèm theo, tùy miên dục ái và tùy miên sân đi kèm theo; xuất khởi khỏi các phiền não đi kèm theo chúng và khỏi các uẩn; và xuất khởi khỏi tất cả các tướng ở ngoại cảnh. Đạo A-la-hán xuất khởi khỏi sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh, tùy miên mạn, tùy miên hữu ái, và tùy miên vô minh; xuất khởi khỏi các phiền não đi kèm theo chúng và khỏi các uẩn; và xuất khởi khỏi tất cả các tướng ở ngoại cảnh. Đây là bốn loại cả hai xuất khởi giải thoát.
211. Katame ajjhattavuṭṭhānānaṃ anulomā cattāro vimokkhā? Paṭhamaṃ jhānaṃ paṭilābhatthāya vitakko ca vicāro ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca, dutiyaṃ jhānaṃ paṭilābhatthāya…pe… tatiyaṃ jhānaṃ paṭilābhatthāya…pe… catutthaṃ jhānaṃ paṭilābhatthāya vitakko ca vicāro ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca – ime ajjhattavuṭṭhānānaṃ anulomā cattāro vimokkhā.
211. What are the four deliverances conforming to internal emergence? For the purpose of attaining the first jhāna, there is initial thought, sustained thought, rapture, happiness, and one-pointedness of mind; for the purpose of attaining the second jhāna... and so on...; for the purpose of attaining the third jhāna... and so on...; for the purpose of attaining the fourth jhāna, there is initial thought, sustained thought, rapture, happiness, and one-pointedness of mind. These are the four deliverances conforming to internal emergence.
211. Bốn pháp giải thoát thuận theo cho sự xuất khởi từ nội phần là gì? Để chứng đắc sơ thiền, có tầm, tứ, hỷ, lạc, và nhất tâm; để chứng đắc nhị thiền... tóm tắt... để chứng đắc tam thiền... tóm tắt... để chứng đắc tứ thiền, có tầm, tứ, hỷ, lạc, và nhất tâm. Đây là bốn pháp giải thoát thuận theo cho sự xuất khởi từ nội phần.
Katame bahiddhāvuṭṭhānānaṃ anulomā cattāro vimokkhā? Ākāsānañcāyatanasamāpattiṃ paṭilābhatthāya vitakko ca vicāro ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca, viññāṇañcāyatanasamāpattiṃ…pe… ākiñcaññāyatanasamāpattiṃ …pe… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiṃ paṭilābhatthāya vitakko ca vicāro ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca – ime bahiddhāvuṭṭhānānaṃ anulomā cattāro vimokkhā.
What are the four deliverances conforming to external emergence? For the purpose of attaining the attainment of the base of infinite space, there is initial thought, sustained thought, rapture, happiness, and one-pointedness of mind; for the purpose of attaining the attainment of the base of infinite consciousness... and so on...; for the purpose of attaining the attainment of the base of nothingness... and so on...; for the purpose of attaining the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception, there is initial thought, sustained thought, rapture, happiness, and one-pointedness of mind. These are the four deliverances conforming to external emergence.
Bốn pháp giải thoát thuận theo cho sự xuất khởi từ ngoại phần là gì? Để chứng đắc định Không Vô Biên Xứ, có tầm, tứ, hỷ, lạc, và nhất tâm; định Thức Vô Biên Xứ... tóm tắt... định Vô Sở Hữu Xứ... tóm tắt... để chứng đắc định Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, có tầm, tứ, hỷ, lạc, và nhất tâm. Đây là bốn pháp giải thoát thuận theo cho sự xuất khởi từ ngoại phần.
Katame dubhato vuṭṭhānānaṃ anulomā cattāro vimokkhā? Sotāpattimaggaṃ paṭilābhatthāya aniccānupassanā, dukkhānupassanā, anattānupassanā. Sakadāgāmimaggaṃ paṭilābhatthāya…pe… anāgāmimaggaṃ paṭilābhatthāya…pe… arahattamaggaṃ paṭilābhatthāya aniccānupassanā, dukkhānupassanā, anattānupassanā – ime dubhato vuṭṭhānānaṃ anulomā cattāro vimokkhā.
What are the four deliverances conforming to emergence from both? For the purpose of attaining the path of stream-entry, there is contemplation of impermanence, contemplation of suffering, and contemplation of non-self; for the purpose of attaining the path of once-returning... and so on...; for the purpose of attaining the path of non-returning... and so on...; for the purpose of attaining the path of arahantship, there is contemplation of impermanence, contemplation of suffering, and contemplation of non-self. These are the four deliverances conforming to emergence from both.
Bốn pháp giải thoát thuận theo cho sự xuất khởi từ cả hai phần là gì? Để chứng đắc đạo Tu-đà-hoàn, có quán vô thường, quán khổ, quán vô ngã. Để chứng đắc đạo Tư-đà-hàm... tóm tắt... để chứng đắc đạo A-na-hàm... tóm tắt... để chứng đắc đạo A-la-hán, có quán vô thường, quán khổ, quán vô ngã. Đây là bốn pháp giải thoát thuận theo cho sự xuất khởi từ cả hai phần.
Katame ajjhattavuṭṭhānapaṭippassaddhī cattāro vimokkhā? Paṭhamassa jhānassa paṭilābho vā vipāko vā, dutiyassa jhānassa…pe… tatiyassa jhānassa…pe… catutthassa jhānassa paṭilābho vā vipāko vā – ime ajjhattavuṭṭhānapaṭippassaddhī cattāro vimokkhā.
What are the four deliverances of the tranquilization of internal emergence? The attainment or the result of the first jhāna; the attainment or the result of the second jhāna... and so on...; the attainment or the result of the third jhāna... and so on...; the attainment or the result of the fourth jhāna. These are the four deliverances of the tranquilization of internal emergence.
Bốn pháp giải thoát là sự an tịnh của sự xuất khởi từ nội phần là gì? Hoặc là sự chứng đắc hoặc là quả của sơ thiền; của nhị thiền... tóm tắt... của tam thiền... tóm tắt... hoặc là sự chứng đắc hoặc là quả của tứ thiền. Đây là bốn pháp giải thoát là sự an tịnh của sự xuất khởi từ nội phần.
Katame bahiddhāvuṭṭhānapaṭippassaddhī cattāro vimokkhā? Ākāsānañcāyatanasamāpattiyā paṭilābho vā vipāko vā, viññāṇañcāyatanasamāpattiyā…pe… ākiñcaññāyatanasamāpattiyā…pe… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā paṭilābho vā vipāko vā – ime bahiddhāvuṭṭhānapaṭippassaddhī cattāro vimokkhā.
What are the four liberations of the tranquilization of external emergence? The attainment or result of the base of infinite space, the attainment or result of the base of infinite consciousness… the attainment or result of the base of nothingness… the attainment or result of the base of neither-perception-nor-non-perception—these are the four liberations of the tranquilization of external emergence.
Bốn pháp giải thoát là sự an tịnh của sự xuất khởi từ ngoại phần là gì? Hoặc là sự chứng đắc hoặc là quả của định Không Vô Biên Xứ; của định Thức Vô Biên Xứ... tóm tắt... của định Vô Sở Hữu Xứ... tóm tắt... hoặc là sự chứng đắc hoặc là quả của định Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Đây là bốn pháp giải thoát là sự an tịnh của sự xuất khởi từ ngoại phần.
Katame dubhato vuṭṭhānapaṭippassaddhī cattāro vimokkhā? Sotāpattimaggassa sotāpattiphalaṃ, sakadāgāmimaggassa sakadāgāmiphalaṃ, anāgāmimaggassa anāgāmiphalaṃ, arahattamaggassa arahattaphalaṃ – ime dubhato vuṭṭhānapaṭippassaddhī cattāro vimokkhā.
What are the four liberations of the tranquilization of emergence from both? The fruit of stream-entry for the path of stream-entry, the fruit of once-returning for the path of once-returning, the fruit of non-returning for the path of non-returning, the fruit of arahantship for the path of arahantship—these are the four liberations of the tranquilization of emergence from both.
Bốn pháp giải thoát là sự an tịnh của sự xuất khởi từ cả hai phần là gì? Quả Tu-đà-hoàn của đạo Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm của đạo Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm của đạo A-na-hàm, quả A-la-hán của đạo A-la-hán. Đây là bốn pháp giải thoát là sự an tịnh của sự xuất khởi từ cả hai phần.
212. Kathaṃ rūpī rūpāni passatīti – vimokkho? Idhekacco ajjhattaṃ paccattaṃ nīlanimittaṃ manasikaroti, nīlasaññaṃ paṭilabhati. So taṃ nimittaṃ suggahitaṃ karoti, sūpadhāritaṃ upadhāreti, svāvatthitaṃ avatthāpeti. So taṃ nimittaṃ suggahitaṃ katvā sūpadhāritaṃ † upadhāretvā svāvatthitaṃ avatthāpetvā bahiddhā nīlanimitte cittaṃ upasaṃharati, nīlasaññaṃ paṭilabhati. So taṃ nimittaṃ suggahitaṃ karoti, sūpadhāritaṃ upadhāreti, svāvatthitaṃ avatthāpeti. So taṃ nimittaṃ suggahitaṃ katvā upadhāretvā svāvatthitaṃ avatthāpetvā āsevati bhāveti bahulīkaroti. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ajjhattañca bahiddhā ca ubhayamidaṃ rūpa’’nti, rūpasaññī hoti. Idhekacco ajjhattaṃ paccattaṃ pītanimittaṃ…pe… lohitanimittaṃ…pe… odātanimittaṃ manasikaroti, odātasaññaṃ paṭilabhati. So taṃ nimittaṃ suggahitaṃ karoti, sūpadhāritaṃ upadhāreti, svāvatthitaṃ avatthāpeti. So taṃ nimittaṃ suggahitaṃ katvā sūpadhāritaṃ upadhāretvā svāvatthitaṃ avatthāpetvā bahiddhā odātanimitte cittaṃ upasaṃharati, odātasaññaṃ paṭilabhati. So taṃ nimittaṃ suggahitaṃ karoti, sūpadhāritaṃ upadhāreti, svāvatthitaṃ avatthāpeti. So taṃ nimittaṃ suggahitaṃ katvā sūpadhāritaṃ upadhāretvā svāvatthitaṃ avatthāpetvā āsevati bhāveti bahulīkaroti. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ajjhattañca bahiddhā ca ubhayamidaṃ rūpa’’nti, rūpasaññī hoti. Evaṃ rūpī rūpāni passatīti – vimokkho.
212. How is 'one who has form sees forms' a liberation? Here, a certain person internally, personally, attends to the blue sign and obtains the perception of blue. They grasp that sign well, bear it in mind well, and establish it well. Having grasped that sign well, borne it in mind well, and established it well, they direct their mind externally toward the blue sign and obtain the perception of blue. They grasp that sign well, bear it in mind well, and establish it well. Having grasped that sign well, borne it in mind well, and established it well, they resort to it, develop it, and make much of it. It occurs to them thus: 'Both this, internal and external, is form,' and they become one with the perception of form. Here, a certain person internally, personally, attends to the yellow sign... and so on... the red sign... and so on... the white sign and obtains the perception of white. They grasp that sign well, bear it in mind well, and establish it well. Having grasped that sign well, borne it in mind well, and established it well, they direct their mind externally toward the white sign and obtain the perception of white. They grasp that sign well, bear it in mind well, and establish it well. Having grasped that sign well, borne it in mind well, and established it well, they resort to it, develop it, and make much of it. It occurs to them thus: 'Both this, internal and external, is form,' and they become one with the perception of form. Thus, one who has form sees forms; therefore, it is a liberation.
212. Làm thế nào 'người có sắc thấy các sắc' là giải thoát? Ở đây, có người tác ý đến tướng xanh ở nội phần, riêng biệt, và đạt được tưởng xanh. Vị ấy nắm giữ tướng ấy một cách khéo léo, ghi nhớ một cách khéo léo, xác định một cách khéo léo. Vị ấy, sau khi đã nắm giữ tướng ấy một cách khéo léo, đã ghi nhớ một cách khéo léo, đã xác định một cách khéo léo, bèn hướng tâm đến tướng xanh ở ngoại phần, và đạt được tưởng xanh. Vị ấy nắm giữ tướng ấy một cách khéo léo, ghi nhớ một cách khéo léo, xác định một cách khéo léo. Vị ấy, sau khi đã nắm giữ tướng ấy một cách khéo léo, đã ghi nhớ, đã xác định một cách khéo léo, bèn thực hành, tu tập, làm cho sung mãn. Vị ấy khởi lên ý nghĩ rằng: 'Cả hai điều này, trong và ngoài, đều là sắc,' và vị ấy có tưởng về sắc. Ở đây, có người tác ý đến tướng vàng ở nội phần, riêng biệt... tóm tắt... tướng đỏ... tóm tắt... tác ý đến tướng trắng, và đạt được tưởng trắng. Vị ấy nắm giữ tướng ấy một cách khéo léo, ghi nhớ một cách khéo léo, xác định một cách khéo léo. Vị ấy, sau khi đã nắm giữ tướng ấy một cách khéo léo, đã ghi nhớ một cách khéo léo, đã xác định một cách khéo léo, bèn hướng tâm đến tướng trắng ở ngoại phần, và đạt được tưởng trắng. Vị ấy nắm giữ tướng ấy một cách khéo léo, ghi nhớ một cách khéo léo, xác định một cách khéo léo. Vị ấy, sau khi đã nắm giữ tướng ấy một cách khéo léo, đã ghi nhớ một cách khéo léo, đã xác định một cách khéo léo, bèn thực hành, tu tập, làm cho sung mãn. Vị ấy khởi lên ý nghĩ rằng: 'Cả hai điều này, trong và ngoài, đều là sắc,' và vị ấy có tưởng về sắc. Như vậy, 'người có sắc thấy các sắc' là giải thoát.
Kathaṃ ajjhattaṃ arūpasaññī bahiddhā rūpāni passatīti – vimokkho? Idhekacco ajjhattaṃ paccattaṃ nīlanimittaṃ na manasikaroti, nīlasaññaṃ na paṭilabhati; bahiddhā nīlanimitte cittaṃ upasaṃharati, nīlasaññaṃ paṭilabhati. So taṃ nimittaṃ suggahitaṃ karoti, sūpadhāritaṃ upadhāreti, svāvatthitaṃ avatthāpeti. So taṃ nimittaṃ suggahitaṃ katvā sūpadhāritaṃ upadhāretvā svāvatthitaṃ avatthāpetvā āsevati bhāveti bahulīkaroti. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ajjhattaṃ arūpaṃ, bahiddhā rūpamida’’nti, rūpasaññī hoti. Idhekacco ajjhattaṃ paccattaṃ pītanimittaṃ…pe… lohitanimittaṃ…pe… odātanimittaṃ na manasikaroti, odātasaññaṃ na paṭilabhati; bahiddhā odātanimitte cittaṃ upasaṃharati, odātasaññaṃ paṭilabhati. So taṃ nimittaṃ suggahitaṃ karoti, sūpadhāritaṃ upadhāreti, svāvatthitaṃ avatthāpeti. So taṃ nimittaṃ suggahitaṃ katvā sūpadhāritaṃ upadhāretvā svāvatthitaṃ avatthāpetvā āsevati bhāveti bahulīkaroti. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ajjhattaṃ arūpaṃ bahiddhā rūpamida’’nti, rūpasaññī hoti. Evaṃ ajjhattaṃ arūpasaññī bahiddhā rūpāni passatīti – vimokkho.
How is it a liberation that one, being internally perceptive of the formless, sees forms externally? Here, a certain person does not internally and personally attend to a blue sign and does not obtain the perception of blue; externally, he directs his mind toward the blue sign and obtains the perception of blue. He grasps that sign well, attends to it carefully, and establishes it firmly. Having grasped that sign well, attended to it carefully, and established it firmly, he cultivates, develops, and practices it frequently. To him, it occurs thus: 'Internally, it is formless; externally, this is form,' and he becomes one who is perceptive of form. Here, a certain person does not internally and personally attend to a yellow sign... a red sign... a white sign and does not obtain the perception of white; externally, he directs his mind toward the white sign and obtains the perception of white. He grasps that sign well, attends to it carefully, and establishes it firmly. Having grasped that sign well, attended to it carefully, and established it firmly, he cultivates, develops, and practices it frequently. To him, it occurs thus: 'Internally, it is formless; externally, this is form,' and he becomes one who is perceptive of form. In this way, being internally perceptive of the formless and viewing forms externally is a liberation.
Thế nào là giải thoát do ‘vị có tưởng về vô sắc ở nội tâm thấy các sắc ở ngoại cảnh’? Ở đây, có người không tác ý đến tướng xanh ở riêng biệt trong nội tâm, không đạt được tưởng về màu xanh; vị ấy hướng tâm đến tướng xanh ở ngoại cảnh, đạt được tưởng về màu xanh. Vị ấy nắm giữ tướng ấy thật khéo léo, ghi nhớ thật kỹ lưỡng, xác định thật vững chắc. Sau khi đã nắm giữ tướng ấy thật khéo léo, đã ghi nhớ thật kỹ lưỡng, đã xác định thật vững chắc, vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn. Vị ấy có suy nghĩ như sau: ‘Ở nội tâm là vô sắc, ở ngoại cảnh đây là sắc,’ vị ấy trở thành người có tưởng về sắc. Ở đây, có người không tác ý đến tướng vàng ở riêng biệt trong nội tâm... đến tướng đỏ... đến tướng trắng, không đạt được tưởng về màu trắng; vị ấy hướng tâm đến tướng trắng ở ngoại cảnh, đạt được tưởng về màu trắng. Vị ấy nắm giữ tướng ấy thật khéo léo, ghi nhớ thật kỹ lưỡng, xác định thật vững chắc. Sau khi đã nắm giữ tướng ấy thật khéo léo, đã ghi nhớ thật kỹ lưỡng, đã xác định thật vững chắc, vị ấy thực hành, tu tập, làm cho sung mãn. Vị ấy có suy nghĩ như sau: ‘Ở nội tâm là vô sắc, ở ngoại cảnh đây là sắc,’ vị ấy trở thành người có tưởng về sắc. Như vậy, giải thoát là do ‘vị có tưởng về vô sắc ở nội tâm thấy các sắc ở ngoại cảnh’.
Kathaṃ ‘‘subha’’nteva adhimutto hotīti – vimokkho? Idha bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṃ disaṃ pharitvā viharati, tathā dutiyaṃ, tathā tatiyaṃ, tathā catutthaṃ. Iti uddhamadho tiriyaṃ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṃ lokaṃ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena † pharitvā viharati. Mettāya bhāvitattā sattā appaṭikūlā honti. Karuṇāsahagatena cetasā…pe… karuṇāya bhāvitattā sattā appaṭikūlā honti. Muditāsahagatena cetasā…pe… muditāya bhāvitattā sattā appaṭikūlā honti. Upekkhāsahagatena cetasā ekaṃ disaṃ pharitvā viharati…pe… upekkhāya bhāvitattā sattā appaṭikūlā honti. Evaṃ ‘‘subhaṃ’’ teva adhimutto hotīti – vimokkho.
How is it called a liberation that one is resolved only upon 'the beautiful'? Here, a bhikkhu dwells pervading one direction with a mind accompanied by loving-kindness; likewise the second, likewise the third, likewise the fourth. Thus above, below, and across, everywhere, in all respects, he dwells pervading the entire world with a mind accompanied by loving-kindness that is extensive, exalted, immeasurable, without enmity, and without ill will. Because loving-kindness has been developed, beings are not repugnant. With a mind accompanied by compassion... and so on... Because compassion has been developed, beings are not repugnant. With a mind accompanied by appreciative joy... and so on... Because appreciative joy has been developed, beings are not repugnant. With a mind accompanied by equanimity, he dwells pervading one direction... and so on... Because equanimity has been developed, beings are not repugnant. In this way, because one is resolved only upon 'the beautiful', it is called a liberation.
Thế nào là giải thoát do ‘chỉ chuyên tâm vào tịnh tướng’? Ở đây, vị tỳ khưu an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, phương thứ hai cũng vậy, phương thứ ba cũng vậy, phương thứ tư cũng vậy. Như thế, cùng khắp thế giới, trên, dưới, ngang, khắp nơi, cùng khắp, vị ấy an trú biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô lượng, vô biên, không hận, không sân. Do đã tu tập tâm từ, các chúng sanh trở nên không đáng ghét. Với tâm câu hữu với bi... do đã tu tập tâm bi, các chúng sanh trở nên không đáng ghét. Với tâm câu hữu với hỷ... do đã tu tập tâm hỷ, các chúng sanh trở nên không đáng ghét. Vị tỳ khưu an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả... do đã tu tập tâm xả, các chúng sanh trở nên không đáng ghét. Như vậy, giải thoát là do ‘chỉ chuyên tâm vào tịnh tướng’.
213. Katamo ākāsānañcāyatanasamāpatti vimokkho? Idha bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṃ samatikkamā paṭighasaññānaṃ atthaṅgamā nānattasaññānaṃ amanasikārā ‘‘ananto ākāso’’ti ākāsānañcāyatanaṃ upasampajja viharati – ayaṃ ākāsānañcāyatanasamāpatti vimokkho.
213. What is the liberation of the attainment of the base of infinite space? Here, a bhikkhu, by completely transcending perceptions of form, by the cessation of perceptions of resistance, and by not attending to perceptions of diversity, thinking, 'Space is infinite,' enters and dwells in the base of infinite space. This is the liberation of the attainment of the base of infinite space.
213. Thế nào là giải thoát do chứng đạt Không Vô Biên Xứ? Ở đây, vị tỳ khưu do hoàn toàn vượt qua các sắc tưởng, do chấm dứt các đối ngại tưởng, do không tác ý đến các tưởng về sự đa dạng, với ý niệm ‘hư không là vô biên,’ chứng đạt và an trú Không Vô Biên Xứ. Đây là giải thoát do chứng đạt Không Vô Biên Xứ.
Katamo viññāṇañcāyatanasamāpatti vimokkho? Idha bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṃ samatikkamma ‘‘anantaṃ viññāṇa’’nti viññāṇañcāyatanaṃ upasampajja viharati – ayaṃ viññāṇañcāyatanasamāpatti vimokkho.
What is the liberation of the attainment of the base of infinite consciousness? Here, a bhikkhu, having entirely transcended the base of infinite space, enters and dwells in the base of infinite consciousness, thinking, 'Consciousness is infinite.' This is the liberation of the attainment of the base of infinite consciousness.
Thế nào là giải thoát do chứng đạt Thức Vô Biên Xứ? Ở đây, vị tỳ khưu do hoàn toàn vượt qua Không Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘thức là vô biên,’ chứng đạt và an trú Thức Vô Biên Xứ. Đây là giải thoát do chứng đạt Thức Vô Biên Xứ.
Katamo ākiñcaññāyatanasamāpatti vimokkho? Idha bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṃ samatikkamma ‘‘natthi kiñcī’’ti ākiñcaññāyatanaṃ upasampajja viharati – ayaṃ ākiñcaññāyatanasamāpatti vimokkho.
What is the liberation of the attainment of the base of nothingness? Here, a bhikkhu, having entirely transcended the base of infinite consciousness, enters and dwells in the base of nothingness, thinking, 'There is nothing.' This is the liberation of the attainment of the base of nothingness.
Thế nào là giải thoát do chứng đạt Vô Sở Hữu Xứ? Ở đây, vị tỳ khưu do hoàn toàn vượt qua Thức Vô Biên Xứ, với ý niệm ‘không có gì cả,’ chứng đạt và an trú Vô Sở Hữu Xứ. Đây là giải thoát do chứng đạt Vô Sở Hữu Xứ.
Katamo nevasaññānāsaññāyatanasamāpatti vimokkho? Idha bhikkhu sabbaso ākiñcaññāyatanaṃ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṃ upasampajja viharati – ayaṃ nevasaññānāsaññāyatanasamāpatti vimokkho.
What is the liberation of the attainment of the base of neither perception nor non-perception? Here, a bhikkhu, having entirely transcended the base of nothingness, enters and dwells in the base of neither perception nor non-perception. This is the liberation of the attainment of the base of neither perception nor non-perception.
Thế nào là giải thoát do chứng đạt Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ? Ở đây, vị tỳ khưu do hoàn toàn vượt qua Vô Sở Hữu Xứ, chứng đạt và an trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Đây là giải thoát do chứng đạt Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
Katamo saññāvedayitanirodhasamāpatti vimokkho? Idha bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṃ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṃ upasampajja viharati – ayaṃ saññāvedayitanirodhasamāpatti vimokkho.
What is the liberation of the attainment of the cessation of perception and feeling? Here, a bhikkhu, having entirely transcended the base of neither perception nor non-perception, enters and dwells in the cessation of perception and feeling. This is the liberation of the attainment of the cessation of perception and feeling.
Thế nào là giải thoát do chứng đạt Diệt Thọ Tưởng Định? Ở đây, vị tỳ khưu do hoàn toàn vượt qua Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng đạt và an trú Diệt Thọ Tưởng. Đây là giải thoát do chứng đạt Diệt Thọ Tưởng Định.
Katamo samayavimokkho? Cattāri ca jhānāni catasso ca arūpasamāpattiyo – ayaṃ samayavimokkho.
What is timely liberation? The four jhānas and the four formless attainments. This is timely liberation.
Thế nào là thời giải thoát? Bốn thiền và bốn định vô sắc. Đây là thời giải thoát.
Katamo asamayavimokkho? Cattāro ca ariyamaggā, cattāri ca sāmaññaphalāni, nibbānañca – ayaṃ asamayavimokkho.
What is timeless liberation? The four noble paths, the four fruits of recluseship, and Nibbāna. This is timeless liberation.
Thế nào là phi thời giải thoát? Bốn Thánh đạo, bốn quả Sa-môn, và Niết Bàn. Đây là phi thời giải thoát.
Katamo sāmayiko vimokkho? Cattāri ca jhānāni, catasso ca arūpasamāpattiyo – ayaṃ sāmayiko vimokkho.
What is temporal liberation? The four jhānas and the four formless attainments. This is temporal liberation.
Thế nào là giải thoát tùy thời? Bốn thiền và bốn định vô sắc. Đây là giải thoát tùy thời.
Katamo asāmayiko vimokkho? Cattāro ca ariyamaggā, cattāri ca sāmaññaphalāni, nibbānañca – ayaṃ asāmayiko vimokkho.
What is timeless liberation? The four noble paths, the four fruits of recluseship, and Nibbāna. This is timeless liberation.
Thế nào là giải thoát không tùy thời? Bốn Thánh đạo, bốn quả Sa-môn, và Niết Bàn. Đây là giải thoát không tùy thời.
Katamo kuppo vimokkho? Cattāri ca jhānāni, catasso ca arūpasamāpattiyo – ayaṃ kuppo vimokkho.
What is mutable liberation? The four jhānas and the four formless attainments. This is mutable liberation.
Thế nào là giải thoát có thể bị rúng động? Bốn thiền và bốn định vô sắc. Đây là giải thoát có thể bị rúng động.
Katamo akuppo vimokkho? Cattāro ca ariyamaggā, cattāri ca sāmaññaphalāni, nibbānañca – ayaṃ akuppo vimokkho.
What is unshakeable liberation? The four noble paths, the four fruits of recluseship, and Nibbāna. This is unshakeable liberation.
Thế nào là giải thoát không thể bị rúng động? Bốn Thánh đạo, bốn quả Sa-môn, và Niết Bàn. Đây là giải thoát không thể bị rúng động.
Katamo lokiyo vimokkho? Cattāri ca jhānāni, catasso ca arūpasamāpattiyo – ayaṃ lokiyo vimokkho.
What is mundane liberation? The four jhānas and the four formless attainments. This is mundane liberation.
Thế nào là giải thoát thuộc thế gian? Bốn thiền và bốn định vô sắc. Đây là giải thoát thuộc thế gian.
Katamo lokuttaro vimokkho? Cattāro ca ariyamaggā, cattāri ca sāmaññaphalāni, nibbānañca – ayaṃ lokuttaro vimokkho.
What is supramundane liberation? The four noble paths, the four fruits of recluseship, and Nibbāna. This is supramundane liberation.
Thế nào là giải thoát siêu thế? Bốn Thánh đạo, bốn quả Sa-môn, và Niết Bàn. Đây là giải thoát siêu thế.
Katamo sāsavo vimokkho? Cattāri ca jhānāni, catasso ca arūpasamāpattiyo – ayaṃ sāsavo vimokkho.
What is liberation with taints? The four jhānas and the four formless attainments. This is liberation with taints.
Thế nào là giải thoát hữu lậu? Bốn thiền và bốn định vô sắc. Đây là giải thoát hữu lậu.
Katamo anāsavo vimokkho? Cattāro ca ariyamaggā, cattāri ca sāmaññaphalāni, nibbānañca – ayaṃ anāsavo vimokkho.
What is liberation without taints? The four noble paths, the four fruits of recluseship, and Nibbāna. This is liberation without taints.
Thế nào là giải thoát vô lậu? Bốn Thánh đạo, bốn quả Sa-môn, và Niết Bàn. Đây là giải thoát vô lậu.
Katamo sāmiso vimokkho? Rūpappaṭisaññutto vimokkho – ayaṃ sāmiso vimokkho.
What is material liberation? Liberation connected with form. This is material liberation.
Thế nào là giải thoát hữu tài? Giải thoát liên quan đến sắc. Đây là giải thoát hữu tài.
Katamo nirāmiso vimokkho? Arūpappaṭisaññutto vimokkho – ayaṃ nirāmiso vimokkho.
What is immaterial liberation? Liberation connected with the formless. This is immaterial liberation.
Thế nào là giải thoát vô tài? Giải thoát liên quan đến vô sắc. Đây là giải thoát vô tài.
Katamo nirāmisā nirāmisataro vimokkho? Cattāro ca ariyamaggā, cattāri ca sāmaññaphalāni, nibbānañca – ayaṃ nirāmisānirāmisataro vimokkho.
What is the liberation that is more unworldly than the unworldly? The four noble paths, the four fruits of recluseship, and Nibbāna. This is the liberation that is more unworldly than the unworldly.
Thế nào là giải thoát phi vật chất hơn trong các giải thoát phi vật chất? Bốn Thánh đạo, bốn quả Sa-môn, và Niết-bàn – đây là giải thoát phi vật chất hơn trong các giải thoát phi vật chất.
Katamo paṇihito vimokkho? Cattāri ca jhānāni, catasso ca arūpasamāpattiyo – ayaṃ paṇihito vimokkho. Katamo appaṇihito vimokkho? Cattāro ca ariyamaggā, cattāri ca sāmaññaphalāni, nibbānañca – ayaṃ appaṇihito vimokkho.
What is the directed liberation? The four jhānas and the four formless attainments. This is the directed liberation. What is the undirected liberation? The four noble paths, the four fruits of recluseship, and Nibbāna. This is the undirected liberation.
Thế nào là giải thoát có hướng đến? Bốn thiền và bốn định vô sắc – đây là giải thoát có hướng đến. Thế nào là giải thoát không hướng đến? Bốn Thánh đạo, bốn quả Sa-môn, và Niết-bàn – đây là giải thoát không hướng đến.
Katamo paṇihitappaṭippassaddhi vimokkho? Paṭhamassa jhānassa paṭilābho vā vipāko vā …pe… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā paṭilābho vā vipāko vā – ayaṃ paṇihitappaṭippassaddhi vimokkho.
What is the liberation by the calming of the directed? The attainment of the first jhāna or its result... up to the attainment of the base of neither perception nor non-perception or its result. This is the liberation by the calming of the directed.
Thế nào là giải thoát do sự an tịnh của pháp có hướng đến? Sự chứng đắc hoặc quả dị thục của thiền thứ nhất ... cho đến ... sự chứng đắc hoặc quả dị thục của định Phi tưởng phi phi tưởng xứ – đây là giải thoát do sự an tịnh của pháp có hướng đến.
Katamo saññutto vimokkho? Cattāri ca jhānāni, catasso ca arūpasamāpattiyo – ayaṃ saññutto vimokkho.
What is the associated liberation? The four jhānas and the four formless attainments. This is the associated liberation.
Thế nào là giải thoát tương ưng? Bốn thiền và bốn định vô sắc – đây là giải thoát tương ưng.
Katamo visaññutto vimokkho? Cattāro ca ariyamaggā, cattāri ca sāmaññaphalāni, nibbānañca – ayaṃ visaññutto vimokkho.
What is the dissociated liberation? The four noble paths, the four fruits of recluseship, and Nibbāna. This is the dissociated liberation.
Thế nào là giải thoát không tương ưng? Bốn Thánh đạo, bốn quả Sa-môn, và Niết-bàn – đây là giải thoát không tương ưng.
Katamo ekattavimokkho? Cattāro ca ariyamaggā, cattāri ca sāmaññaphalāni, nibbānañca – ayaṃ ekattavimokkho.
What is the liberation of oneness? The four noble paths, the four fruits of recluseship, and Nibbāna. This is the liberation of oneness.
Thế nào là giải thoát đồng nhất? Bốn Thánh đạo, bốn quả Sa-môn, và Niết-bàn – đây là giải thoát đồng nhất.
Katamo nānattavimokkho? Cattāri ca jhānāni, catasso ca arūpasamāpattiyo – ayaṃ nānattavimokkho.
What is the liberation of diversity? The four jhānas and the four formless attainments. This is the liberation of diversity.
Thế nào là giải thoát dị biệt? Bốn thiền và bốn định vô sắc – đây là giải thoát dị biệt.
214. Katamo saññāvimokkho? Siyā eko saññāvimokkho dasa saññāvimokkhā honti, dasa saññāvimokkhā eko saññāvimokkho hoti, vatthuvasena pariyāyena. Kathañca siyā? Aniccānupassanāñāṃ niccato saññāya muccatīti – saññāvimokkho. Dukkhānupassanāñāṃ sukhato saññāya muccatīti – saññāvimokkho. Anattānupassanāñāṇaṃ attato saññāya muccatīti – saññāvimokkho. Nibbidānupassanāñāṇaṃ nandiyā saññāya muccatīti – saññāvimokkho. Virāgānupassanāñāṇaṃ rāgato saññāya muccatīti – saññāvimokkho. Nirodhānupassanāñāṇaṃ samudayato saññāya muccatīti – saññāvimokkho. Paṭinissaggānupassanāñāṇaṃ ādānato saññāya muccatīti – saññāvimokkho. Animittānupassanāñāṇaṃ nimittato saññāya muccatīti – saññāvimokkho. Appaṇihitānupassanāñāṇaṃ paṇidhiyā saññāya muccatīti – saññāvimokkho. Suññatānupassanāñāṇaṃ abhinivesato saññāya muccatīti – saññāvimokkho. Evaṃ siyā eko saññāvimokkho dasa saññāvimokkhā honti, dasa saññāvimokkhā eko saññāvimokkho hoti vatthuvasena pariyāyena.
214. What is liberation of perception? There may be one liberation of perception, and there are ten liberations of perception; the ten liberations of perception are one liberation of perception, by way of the object and by way of the mode. And how is this so? The knowledge of contemplation of impermanence is liberated from the perception of permanence—this is liberation of perception. The knowledge of contemplation of suffering is liberated from the perception of pleasure—this is liberation of perception. The knowledge of contemplation of non-self is liberated from the perception of self—this is liberation of perception. The knowledge of contemplation of disenchantment is liberated from the perception of delight—this is liberation of perception. The knowledge of contemplation of dispassion is liberated from the perception of passion—this is liberation of perception. The knowledge of contemplation of cessation is liberated from the perception of arising—this is liberation of perception. The knowledge of contemplation of relinquishment is liberated from the perception of grasping—this is liberation of perception. The knowledge of contemplation of the signless is liberated from the perception of the sign—this is liberation of perception. The knowledge of contemplation of the desireless is liberated from the perception of aspiration—this is liberation of perception. The knowledge of contemplation of emptiness is liberated from the perception of adherence—this is liberation of perception. Thus, there may be one liberation of perception, and there are ten liberations of perception; the ten liberations of perception are one liberation of perception, by way of the object and by way of the mode.
214. Thế nào là tưởng giải thoát? Có thể có một tưởng giải thoát, nhưng có mười tưởng giải thoát; mười tưởng giải thoát trở thành một tưởng giải thoát, theo phương diện đối tượng và theo phương diện phương pháp. Và thế nào là có thể có? Trí tuệ quán niệm vô thường được giải thoát khỏi tưởng về thường, vì vậy gọi là tưởng giải thoát. Trí tuệ quán niệm khổ được giải thoát khỏi tưởng về lạc, vì vậy gọi là tưởng giải thoát. Trí tuệ quán niệm vô ngã được giải thoát khỏi tưởng về ngã, vì vậy gọi là tưởng giải thoát. Trí tuệ quán niệm sự nhàm chán được giải thoát khỏi tưởng về sự hoan hỷ, vì vậy gọi là tưởng giải thoát. Trí tuệ quán niệm sự ly tham được giải thoát khỏi tưởng về tham ái, vì vậy gọi là tưởng giải thoát. Trí tuệ quán niệm sự đoạn diệt được giải thoát khỏi tưởng về sự tập khởi, vì vậy gọi là tưởng giải thoát. Trí tuệ quán niệm sự từ bỏ được giải thoát khỏi tưởng về sự chấp thủ, vì vậy gọi là tưởng giải thoát. Trí tuệ quán niệm vô tướng được giải thoát khỏi tưởng về tướng, vì vậy gọi là tưởng giải thoát. Trí tuệ quán niệm vô nguyện được giải thoát khỏi tưởng về sự mong cầu, vì vậy gọi là tưởng giải thoát. Trí tuệ quán niệm tánh không được giải thoát khỏi tưởng về sự cố chấp, vì vậy gọi là tưởng giải thoát. Như vậy, có thể có một tưởng giải thoát, nhưng có mười tưởng giải thoát; mười tưởng giải thoát trở thành một tưởng giải thoát, theo phương diện đối tượng và theo phương diện phương pháp.
Rūpe aniccānupassanāñāṇaṃ niccato saññāya muccatīti – saññāvimokkho…pe… rūpe suññatānupassanāñāṇaṃ abhinivesato saññāya muccatīti – saññāvimokkho. Evaṃ siyā eko saññāvimokkho dasa saññāvimokkhā honti, dasa saññāvimokkhā eko saññāvimokkho hoti vatthuvasena pariyāyena.
In form, the knowledge of contemplation of impermanence is liberated from the perception of permanence—this is liberation of perception… In form, the knowledge of contemplation of emptiness is liberated from the perception of adherence—this is liberation of perception. Thus, there may be one liberation of perception, and there are ten liberations of perception; the ten liberations of perception are one liberation of perception, by way of the object and by way of the mode.
Đối với sắc, trí tuệ quán niệm vô thường được giải thoát khỏi tưởng về thường, vì vậy gọi là tưởng giải thoát... cho đến... đối với sắc, trí tuệ quán niệm tánh không được giải thoát khỏi tưởng về sự cố chấp, vì vậy gọi là tưởng giải thoát. Như vậy, có thể có một tưởng giải thoát, nhưng có mười tưởng giải thoát; mười tưởng giải thoát trở thành một tưởng giải thoát, theo phương diện đối tượng và theo phương diện phương pháp.
Vedanāya…pe… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe… cakkhusmiṃ…pe… jarāmaraṇe aniccānupassanāñāṇaṃ niccato saññāya muccatīti – saññāvimokkho…pe… jarāmaraṇe suññatānupassanāñāṇaṃ abhinivesato saññāya muccatīti – saññāvimokkho. Evaṃ siyā, eko saññāvimokkho dasa saññāvimokkhā honti, dasa saññāvimokkhā eko saññāvimokkho hoti vatthuvasena pariyāyena – ayaṃ saññāvimokkho.
In feeling… and so on… in perception… in formations… in consciousness… in the eye… and so on… in aging-and-death, the knowledge of contemplating impermanence is liberated from the perception of permanence—thus, it is perception-liberation. …and so on… In aging-and-death, the knowledge of contemplating emptiness is liberated from the perception of adherence—thus, it is perception-liberation. In this way, it may be that one perception-liberation becomes ten perception-liberations, and ten perception-liberations become one perception-liberation by way of the object and by way of the mode. This is perception-liberation.
Đối với thọ... cho đến... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức... đối với mắt... cho đến... đối với già-chết, trí tuệ quán niệm vô thường được giải thoát khỏi tưởng về thường, vì vậy gọi là tưởng giải thoát... cho đến... đối với già-chết, trí tuệ quán niệm tánh không được giải thoát khỏi tưởng về sự cố chấp, vì vậy gọi là tưởng giải thoát. Như vậy, có thể có một tưởng giải thoát, nhưng có mười tưởng giải thoát; mười tưởng giải thoát trở thành một tưởng giải thoát, theo phương diện đối tượng và theo phương diện phương pháp – đây là tưởng giải thoát.
215. Katamo ñāṇavimokkho? Siyā eko ñāṇavimokkho dasa ñāṇavimokkhā honti, dasa ñāṇavimokkhā eko ñāṇavimokkho hoti vatthuvasena pariyāyena siyāti. Kathañca siyā? Aniccānupassanā yathābhūtaṃ ñāṇaṃ niccato sammohā aññāṇā muccatīti – ñāṇavimokkho. Dukkhānupassanā yathābhūtaṃ ñāṇaṃ sukhato sammohā aññāṇā muccatīti – ñāṇavimokkho. Anattānupassanā yathābhūtaṃ ñāṇaṃ attato sammohā aññāṇā muccatīti – ñāṇavimokkho. Nibbidānupassanā yathābhūtaṃ ñāṇaṃ nandiyā sammohā aññāṇā muccatīti – ñāṇavimokkho. Virāgānupassanā yathābhūtaṃ ñāṇaṃ rāgato sammohā aññāṇā muccatīti – ñāṇavimokkho. Nirodhānupassanā yathābhūtaṃ ñāṇaṃ samudayato sammohā aññāṇā muccatīti – ñāṇavimokkho. Paṭinissaggānupassanā yathābhūtaṃ ñāṇaṃ ādānato sammohā aññāṇā muccatīti – ñāṇavimokkho. Animittānupassanā yathābhūtaṃ ñāṇaṃ nimittato sammohā aññāṇā muccatīti – ñāṇavimokkho. Appaṇihitānupassanā thābhūtaṃ ñāṇaṃ paṇidhiyā sammohā aññāṇā muccatīti – ñāṇavimokkho. Suññatānupassanā yathābhūtaṃ ñāṇaṃ abhinivesato sammohā aññāṇā muccatīti – ñāṇavimokkho. Evaṃ siyā eko ñāṇavimokkho dasa ñāṇavimokkhā honti, dasa ñāṇavimokkhā eko ñāṇavimokkho hoti vatthuvasena pariyāyena.
215. What is knowledge-liberation? It may be that one knowledge-liberation becomes ten knowledge-liberations, and ten knowledge-liberations become one knowledge-liberation by way of the object and by way of the mode. And how may this be? Through the contemplation of impermanence, the knowledge of things as they actually are is liberated from delusion and ignorance regarding permanence—thus, it is knowledge-liberation. Through the contemplation of suffering, the knowledge of things as they actually are is liberated from delusion and ignorance regarding pleasure—thus, it is knowledge-liberation. Through the contemplation of non-self, the knowledge of things as they actually are is liberated from delusion and ignorance regarding self—thus, it is knowledge-liberation. Through the contemplation of disenchantment, the knowledge of things as they actually are is liberated from delusion and ignorance regarding delight—thus, it is knowledge-liberation. Through the contemplation of dispassion, the knowledge of things as they actually are is liberated from delusion and ignorance regarding passion—thus, it is knowledge-liberation. Through the contemplation of cessation, the knowledge of things as they actually are is liberated from delusion and ignorance regarding arising—thus, it is knowledge-liberation. Through the contemplation of relinquishment, the knowledge of things as they actually are is liberated from delusion and ignorance regarding grasping—thus, it is knowledge-liberation. Through the contemplation of the signless, the knowledge of things as they actually are is liberated from delusion and ignorance regarding signs—thus, it is knowledge-liberation. Through the contemplation of the desireless, the knowledge of things as they actually are is liberated from delusion and ignorance regarding aspiration—thus, it is knowledge-liberation. Through the contemplation of emptiness, the knowledge of things as they actually are is liberated from delusion and ignorance regarding adherence—thus, it is knowledge-liberation. In this way, it may be that one knowledge-liberation becomes ten knowledge-liberations, and ten knowledge-liberations become one knowledge-liberation by way of the object and by way of the mode.
215. Thế nào là trí giải thoát? Có thể có một trí giải thoát, nhưng có mười trí giải thoát; mười trí giải thoát trở thành một trí giải thoát, theo phương diện đối tượng và theo phương diện phương pháp. Và thế nào là có thể có? Trí tuệ như thật do quán niệm vô thường được giải thoát khỏi sự si mê và vô minh về thường, vì vậy gọi là trí giải thoát. Trí tuệ như thật do quán niệm khổ được giải thoát khỏi sự si mê và vô minh về lạc, vì vậy gọi là trí giải thoát. Trí tuệ như thật do quán niệm vô ngã được giải thoát khỏi sự si mê và vô minh về ngã, vì vậy gọi là trí giải thoát. Trí tuệ như thật do quán niệm sự nhàm chán được giải thoát khỏi sự si mê và vô minh về sự hoan hỷ, vì vậy gọi là trí giải thoát. Trí tuệ như thật do quán niệm sự ly tham được giải thoát khỏi sự si mê và vô minh về tham ái, vì vậy gọi là trí giải thoát. Trí tuệ như thật do quán niệm sự đoạn diệt được giải thoát khỏi sự si mê và vô minh về sự tập khởi, vì vậy gọi là trí giải thoát. Trí tuệ như thật do quán niệm sự từ bỏ được giải thoát khỏi sự si mê và vô minh về sự chấp thủ, vì vậy gọi là trí giải thoát. Trí tuệ như thật do quán niệm vô tướng được giải thoát khỏi sự si mê và vô minh về tướng, vì vậy gọi là trí giải thoát. Trí tuệ như thật do quán niệm vô nguyện được giải thoát khỏi sự si mê và vô minh về sự mong cầu, vì vậy gọi là trí giải thoát. Trí tuệ như thật do quán niệm tánh không được giải thoát khỏi sự si mê và vô minh về sự cố chấp, vì vậy gọi là trí giải thoát. Như vậy, có thể có một trí giải thoát, nhưng có mười trí giải thoát; mười trí giải thoát trở thành một trí giải thoát, theo phương diện đối tượng và theo phương diện phương pháp.
Rūpe aniccānupassanā yathābhūtaṃ ñāṇaṃ niccato sammohā aññāṇā muccatīti – ñāṇavimokkho…pe… rūpe suññatānupassanā yathābhūtaṃ ñāṇaṃ abhinivesato sammohā aññāṇā muccatīti – ñāṇavimokkho. Evaṃ siyā eko ñāṇavimokkho dasa ñāṇavimokkhā honti, dasa ñāṇavimokkhā eko ñāṇavimokkho hoti vatthuvasena pariyāyena.
With regard to form, the knowledge of things as they really are, through contemplation of impermanence, is liberated from delusion and ignorance concerning permanence—this is knowledge-liberation... With regard to form, the knowledge of things as they really are, through contemplation of emptiness, is liberated from delusion and ignorance concerning adherence—this is knowledge-liberation. Thus, there may be one knowledge-liberation, or there are ten knowledge-liberations; the ten knowledge-liberations are one knowledge-liberation by way of the object and by way of the mode.
Đối với sắc, trí tuệ như thật do quán niệm vô thường được giải thoát khỏi sự si mê và vô minh về thường, vì vậy gọi là trí giải thoát... cho đến... đối với sắc, trí tuệ như thật do quán niệm tánh không được giải thoát khỏi sự si mê và vô minh về sự cố chấp, vì vậy gọi là trí giải thoát. Như vậy, có thể có một trí giải thoát, nhưng có mười trí giải thoát; mười trí giải thoát trở thành một trí giải thoát, theo phương diện đối tượng và theo phương diện phương pháp.
Vedanāya …pe… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe… cakkhusmiṃ…pe… jarāmaraṇe aniccānupassanā yathābhūtaṃ ñāṇaṃ niccato sammohā aññāṇā muccatīti – ñāṇavimokkho…pe… jarāmaraṇe suññatānupassanā yathābhūtaṃ ñāṇaṃ abhinivesato sammohā aññāṇā muccatīti – ñāṇavimokkho. Evaṃ siyā eko ñāṇavimokkho dasa ñāṇavimokkhā honti, dasa ñāṇavimokkhā eko ñāṇavimokkho hoti vatthuvasena pariyāyena – ayaṃ ñāṇavimokkho.
In feeling... in perception... in formations... in consciousness... in the eye... in aging-and-death, the knowledge of things as they really are, through contemplation of impermanence, is liberated from delusion and ignorance concerning permanence—this is knowledge-liberation... In aging-and-death, the knowledge of things as they really are, through contemplation of emptiness, is liberated from delusion and ignorance concerning adherence—this is knowledge-liberation. Thus, there may be one knowledge-liberation, or there are ten knowledge-liberations; the ten knowledge-liberations are one knowledge-liberation by way of the object and by way of the mode. This is knowledge-liberation.
Ở nơi thọ... tóm tắt... ở nơi tưởng... ở nơi các hành... ở nơi thức... ở nơi mắt... tóm tắt... ở nơi già-chết, tuệ như thật (yathābhūtaṃ ñāṇaṃ) là sự quán vô thường (aniccānupassanā) được giải thoát khỏi sự si mê (sammohā) và sự vô trí (aññāṇā) do (thấy) thường hằng (niccato), vì thế gọi là trí giải thoát (ñāṇavimokkho)... tóm tắt... ở nơi già-chết, tuệ như thật là sự quán tánh không (suññatānupassanā) được giải thoát khỏi sự si mê và sự vô trí do sự chấp thủ (abhinivesato), vì thế gọi là trí giải thoát. Như vậy, có thể có một trí giải thoát, có mười trí giải thoát. Mười trí giải thoát trở thành một trí giải thoát theo phương diện đối tượng (vatthuvasena) và theo phương diện phương pháp (pariyāyena). Đây là trí giải thoát.
216. Katamo sītisiyāvimokkho? Siyā eko sītisiyāvimokkho dasa sītisiyāvimokkhā honti, dasa sītisiyāvimokkhā eko sītisiyāvimokkho hoti vatthuvasena pariyāyena siyāti. Kathañca siyā? Aniccānupassanā anuttaraṃ sītibhāvaṃ ñāṇaṃ niccato santāpapariḷāhadarathā muccatīti – sītisiyāvimokkho. Dukkhānupassanā anuttaraṃ sītibhāvaṃ ñāṇaṃ sukhato santāpapariḷāhadarathā muccatīti – sītisiyāvimokkho. Anattānupassanā anuttaraṃ sītibhāvaṃ ñāṇaṃ attato santāpapariḷāhadarathā muccatīti – sītisiyāvimokkho. Nibbidānupassanā anuttaraṃ sītibhāvaṃ ñāṇaṃ nandiyā santāpapariḷāhadarathā muccatīti – sītisiyāvimokkho. Virāgānupassanā anuttaraṃ sītibhāvaṃ ñāṇaṃ rāgato santāpapariḷāhadarathā muccatīti – sītisiyāvimokkho. Nirodhānupassanā anuttaraṃ sītibhāvaṃ ñāṇaṃ samudayato santāpapariḷāhadarathā muccatīti – sītisiyāvimokkho. Paṭinissaggānupassanā anuttaraṃ sītibhāvaṃ ñāṇaṃ ādānato santāpapariḷāhadarathā muccatīti – sītisiyāvimokkho. Animittānupassanā anuttaraṃ sītibhāvaṃ ñāṇaṃ nimittato santāpapariḷāhadarathā muccatīti – sītisiyāvimokkho. Appaṇihitānupassanā anuttaraṃ sītibhāvaṃ ñāṇaṃ paṇidhiyā santāpapariḷāhadarathā muccatīti – sītisiyāvimokkho. Suññatānupassanā anuttaraṃ sītibhāvaṃ ñāṇaṃ abhinivesato santāpapariḷāhadarathā muccatīti – sītisiyāvimokkho. Evaṃ siyā eko sītisiyāvimokkho dasa sītisiyāvimokkhā honti, dasa sītisiyāvimokkhā eko sītisiyāvimokkho hoti vatthuvasena pariyāyena.
216. What is the cooling liberation? It may be that one cooling liberation becomes ten cooling liberations, or ten cooling liberations become one cooling liberation, by way of the basis and the mode. And how may this be? By means of the contemplation of impermanence, the unsurpassed knowledge of the state of coolness is liberated from the distress, fever, and torment that arise from permanence—this is the cooling liberation. By means of the contemplation of suffering, the unsurpassed knowledge of the state of coolness is liberated from the distress, fever, and torment that arise from pleasure—this is the cooling liberation. By means of the contemplation of non-self, the unsurpassed knowledge of the state of coolness is liberated from the distress, fever, and torment that arise from self—this is the cooling liberation. By means of the contemplation of disenchantment, the unsurpassed knowledge of the state of coolness is liberated from the distress, fever, and torment that arise from delight—this is the cooling liberation. By means of the contemplation of dispassion, the unsurpassed knowledge of the state of coolness is liberated from the distress, fever, and torment that arise from passion—this is the cooling liberation. By means of the contemplation of cessation, the unsurpassed knowledge of the state of coolness is liberated from the distress, fever, and torment that arise from the origin—this is the cooling liberation. By means of the contemplation of relinquishment, the unsurpassed knowledge of the state of coolness is liberated from the distress, fever, and torment that arise from grasping—this is the cooling liberation. By means of the contemplation of the signless, the unsurpassed knowledge of the state of coolness is liberated from the distress, fever, and torment that arise from signs—this is the cooling liberation. By means of the contemplation of the desireless, the unsurpassed knowledge of the state of coolness is liberated from the distress, fever, and torment that arise from aspiration—this is the cooling liberation. By means of the contemplation of emptiness, the unsurpassed knowledge of the state of coolness is liberated from the distress, fever, and torment that arise from clinging—this is the cooling liberation. Thus, it may be that one cooling liberation becomes ten cooling liberations, or ten cooling liberations become one cooling liberation, by way of the basis and the mode.
216. Thế nào là thanh lương giải thoát (sītisiyāvimokkho)? Có thể có một thanh lương giải thoát, có mười thanh lương giải thoát. Mười thanh lương giải thoát trở thành một thanh lương giải thoát theo phương diện đối tượng và theo phương diện phương pháp. Và thế nào là có thể có? Trí về trạng thái thanh lương (sītibhāvaṃ ñāṇaṃ) vô thượng (anuttaraṃ) là sự quán vô thường (aniccānupassanā) được giải thoát khỏi sự nóng nảy, phiền muộn, bứt rứt (santāpapariḷāhadarathā) do (thấy) thường hằng (niccato), vì thế gọi là thanh lương giải thoát. Trí về trạng thái thanh lương vô thượng là sự quán khổ (dukkhānupassanā) được giải thoát khỏi sự nóng nảy, phiền muộn, bứt rứt do (thấy) an lạc (sukhato), vì thế gọi là thanh lương giải thoát. Trí về trạng thái thanh lương vô thượng là sự quán vô ngã (anattānupassanā) được giải thoát khỏi sự nóng nảy, phiền muộn, bứt rứt do (thấy) tự ngã (attato), vì thế gọi là thanh lương giải thoát. Trí về trạng thái thanh lương vô thượng là sự quán nhàm chán (nibbidānupassanā) được giải thoát khỏi sự nóng nảy, phiền muộn, bứt rứt do sự hoan hỷ (nandiyā), vì thế gọi là thanh lương giải thoát. Trí về trạng thái thanh lương vô thượng là sự quán ly tham (virāgānupassanā) được giải thoát khỏi sự nóng nảy, phiền muộn, bứt rứt do tham ái (rāgato), vì thế gọi là thanh lương giải thoát. Trí về trạng thái thanh lương vô thượng là sự quán đoạn diệt (nirodhānupassanā) được giải thoát khỏi sự nóng nảy, phiền muộn, bứt rứt do tập khởi (samudayato), vì thế gọi là thanh lương giải thoát. Trí về trạng thái thanh lương vô thượng là sự quán từ bỏ (paṭinissaggānupassanā) được giải thoát khỏi sự nóng nảy, phiền muộn, bứt rứt do sự nắm giữ (ādānato), vì thế gọi là thanh lương giải thoát. Trí về trạng thái thanh lương vô thượng là sự quán vô tướng (animittānupassanā) được giải thoát khỏi sự nóng nảy, phiền muộn, bứt rứt do tướng (nimittato), vì thế gọi là thanh lương giải thoát. Trí về trạng thái thanh lương vô thượng là sự quán vô nguyện (appaṇihitānupassanā) được giải thoát khỏi sự nóng nảy, phiền muộn, bứt rứt do sự mong cầu (paṇidhiyā), vì thế gọi là thanh lương giải thoát. Trí về trạng thái thanh lương vô thượng là sự quán tánh không (suññatānupassanā) được giải thoát khỏi sự nóng nảy, phiền muộn, bứt rứt do sự chấp thủ (abhinivesato), vì thế gọi là thanh lương giải thoát. Như vậy, có thể có một thanh lương giải thoát, có mười thanh lương giải thoát. Mười thanh lương giải thoát trở thành một thanh lương giải thoát theo phương diện đối tượng và theo phương diện phương pháp.
Rūpe aniccānupassanā anuttaraṃ sītibhāvaṃ ñāṇaṃ niccato santāpapariḷāhadarathā muccatīti – sītisiyāvimokkho…pe… rūpe suññatānupassanā anuttaraṃ sītibhāvaṃ ñāṇaṃ abhinivesato santāpapariḷāhadarathā muccatīti – sītisiyāvimokkho. Evaṃ siyā eko sītisiyāvimokkho dasa sītisiyāvimokkhā honti, dasa sītisiyāvimokkhā eko sītisiyāvimokkho hoti vatthuvasena pariyāyena.
In form, by means of the contemplation of impermanence, the unsurpassed knowledge of the state of coolness is liberated from the distress, fever, and torment that arise from [the view of] permanence; therefore, it is called the liberation of becoming cool... In form, by means of the contemplation of emptiness, the unsurpassed knowledge of the state of coolness is liberated from the distress, fever, and torment that arise from adherence; therefore, it is called the liberation of becoming cool. Thus, there may be one liberation of becoming cool. Ten liberations of becoming cool come to be. Ten liberations of becoming cool are one liberation of becoming cool by way of the basis and by way of the method.
Ở nơi sắc, trí về trạng thái thanh lương vô thượng là sự quán vô thường được giải thoát khỏi sự nóng nảy, phiền muộn, bứt rứt do (thấy) thường hằng, vì thế gọi là thanh lương giải thoát... tóm tắt... ở nơi sắc, trí về trạng thái thanh lương vô thượng là sự quán tánh không được giải thoát khỏi sự nóng nảy, phiền muộn, bứt rứt do sự chấp thủ, vì thế gọi là thanh lương giải thoát. Như vậy, có thể có một thanh lương giải thoát, có mười thanh lương giải thoát. Mười thanh lương giải thoát trở thành một thanh lương giải thoát theo phương diện đối tượng và theo phương diện phương pháp.
Vedanāya…pe… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe… cakkhusmiṃ…pe… jarāmaraṇe aniccānupassanā anuttaraṃ sītibhāvaṃ ñāṇaṃ niccato santāpapariḷāhadarathā muccatīti – sītisiyāvimokkho…pe… jarāmaraṇe suññatānupassanā anuttaraṃ sītibhāvaṃ ñāṇaṃ abhinivesato santāpapariḷāhadarathā muccatīti – sītisiyāvimokkho. Evaṃ siyā eko sītisiyāvimokkho dasa sītisiyāvimokkhā honti, dasa sītisiyāvimokkhā eko sītisiyāvimokkho hoti vatthuvasena pariyāyena – ayaṃ sītisiyāvimokkho.
In feeling... in perception... in formations... in consciousness... in the eye... in aging and death, by means of the contemplation of impermanence, the unsurpassed knowledge of the state of coolness is liberated from the distress, fever, and torment that arise from [the view of] permanence; therefore, it is called the liberation of becoming cool... In aging and death, by means of the contemplation of emptiness, the unsurpassed knowledge of the state of coolness is liberated from the distress, fever, and torment that arise from adherence; therefore, it is called the liberation of becoming cool. Thus, there may be one liberation of becoming cool. Ten liberations of becoming cool come to be. Ten liberations of becoming cool are one liberation of becoming cool by way of the basis and by way of the method—this is the liberation of becoming cool.
Ở nơi thọ... tóm tắt... ở nơi tưởng... ở nơi các hành... ở nơi thức... ở nơi mắt... tóm tắt... ở nơi già-chết, trí về trạng thái thanh lương vô thượng là sự quán vô thường được giải thoát khỏi sự nóng nảy, phiền muộn, bứt rứt do (thấy) thường hằng, vì thế gọi là thanh lương giải thoát... tóm tắt... ở nơi già-chết, trí về trạng thái thanh lương vô thượng là sự quán tánh không được giải thoát khỏi sự nóng nảy, phiền muộn, bứt rứt do sự chấp thủ, vì thế gọi là thanh lương giải thoát. Như vậy, có thể có một thanh lương giải thoát, có mười thanh lương giải thoát. Mười thanh lương giải thoát trở thành một thanh lương giải thoát theo phương diện đối tượng và theo phương diện phương pháp. Đây là thanh lương giải thoát.
217. Katamo jhānavimokkho? Nekkhammaṃ jhāyatīti † jhānaṃ. Kāmacchandaṃ jhāpetīti – jhānaṃ. Jhāyanto † muccatīti – jhānavimokkho. Jhāpento muccatīti – jhānavimokkho. Jhāyantīti – dhammā. Jhāpetīti – kilese. Jhāte ca jhāpe ca jānātīti – jhānavimokkho. Abyāpādo jhāyatīti – jhānaṃ. Byāpādaṃ jhāpetīti – jhānaṃ. Jhāyanto muccatīti – jhānavimokkho. Jhāpento muccatīti – jhānavimokkho. Jhāyantīti – dhammā. Jhāpetīti – kilese. Jhāte ca jhāpe ca jānātīti – jhānavimokkho. Ālokasaññā jhāyatīti – jhānaṃ. Thinamiddhaṃ jhāpetīti – jhānaṃ…pe… avikkhepo jhāyatīti – jhānaṃ. Uddhaccaṃ jhāpetīti – jhānaṃ. Dhammavavatthānaṃ jhāyatīti – jhānaṃ. Vicikicchaṃ jhāpetīti – jhānaṃ. Ñāṇaṃ jhāyatīti – jhānaṃ. Avijjaṃ jhāpetīti – jhānaṃ. Pāmojjaṃ jhāyatīti – jhānaṃ. Aratiṃ jhāpetīti – jhānaṃ. Paṭhamaṃ jhānaṃ jhāyatīti – jhānaṃ. Nīvaraṇe jhāpetīti – jhānaṃ…pe… arahattamaggo jhāyatīti – jhānaṃ. Sabbakilese jhāpetīti – jhānaṃ. Jhāyanto muccatīti – jhānavimokkho. Jhāpento muccatīti – jhānavimokkho. Jhāyantīti – dhammā. Jhāpetīti – kilese. Jhāte ca jhāpe ca jānātīti – jhānavimokkho – ayaṃ jhānavimokkho.
217. What is the jhāna liberation? Renunciation contemplates—this is jhāna. It burns up sensual desire—this is jhāna. Contemplating, one is liberated—this is jhāna liberation. Causing them to burn, one is liberated—this is jhāna liberation. They contemplate—these are wholesome states. It burns up—the defilements. One knows both the contemplating states and the defilements that are burned up—this is jhāna liberation. Goodwill contemplates—this is jhāna. It burns up ill will—this is jhāna. Contemplating, one is liberated—this is jhāna liberation. Causing them to burn, one is liberated—this is jhāna liberation. They contemplate—these are wholesome states. It burns up—the defilements. One knows both the contemplating states and the defilements that are burned up—this is jhāna liberation. The perception of light contemplates—this is jhāna. It burns up sloth and torpor—this is jhāna… Non-distraction contemplates—this is jhāna. It burns up restlessness—this is jhāna. The discernment of phenomena contemplates—this is jhāna. It burns up doubt—this is jhāna. Knowledge contemplates—this is jhāna. It burns up ignorance—this is jhāna. Joy contemplates—this is jhāna. It burns up discontent—this is jhāna. The first jhāna contemplates—this is jhāna. It burns up the hindrances—this is jhāna… The path of arahantship contemplates—this is jhāna. It burns up all defilements—this is jhāna. Contemplating, one is liberated—this is jhāna liberation. Causing them to burn, one is liberated—this is jhāna liberation. They contemplate—these are wholesome states. It burns up—the defilements. One knows both the contemplating states and the defilements that are burned up—this is jhāna liberation. This is the jhāna liberation.
217. Thế nào là thiền giải thoát (jhānavimokkho)? Sự xuất ly (nekkhammaṃ) thiền quán (jhāyati), vì thế gọi là thiền (jhānaṃ). Nó thiêu đốt (jhāpeti) dục tham (kāmacchandaṃ), vì thế gọi là thiền. Trong khi thiền quán (jhāyanto), vị ấy được giải thoát (muccati), vì thế gọi là thiền giải thoát (jhānavimokkho). Trong khi thiêu đốt (jhāpento), vị ấy được giải thoát, vì thế gọi là thiền giải thoát. Các pháp (dhammā) thiền quán (jhāyanti). Các phiền não (kilese) bị thiêu đốt (jhāpeti). Vị ấy biết rõ (jānāti) cả pháp thiền quán (jhāte) và pháp bị thiêu đốt (jhāpe), vì thế gọi là thiền giải thoát. Sự vô sân (abyāpādo) thiền quán, vì thế gọi là thiền. Nó thiêu đốt sân hận (byāpādaṃ), vì thế gọi là thiền. Trong khi thiền quán, vị ấy được giải thoát, vì thế gọi là thiền giải thoát. Trong khi thiêu đốt, vị ấy được giải thoát, vì thế gọi là thiền giải thoát. Các pháp thiền quán. Các phiền não bị thiêu đốt. Vị ấy biết rõ cả pháp thiền quán và pháp bị thiêu đốt, vì thế gọi là thiền giải thoát. Quang tưởng (ālokasaññā) thiền quán, vì thế gọi là thiền. Nó thiêu đốt hôn trầm-thụy miên (thinamiddhaṃ), vì thế gọi là thiền... tóm tắt... sự không phóng dật (avikkhepo) thiền quán, vì thế gọi là thiền. Nó thiêu đốt sự trạo cử (uddhaccaṃ), vì thế gọi là thiền. Sự xác định pháp (dhammavavatthānaṃ) thiền quán, vì thế gọi là thiền. Nó thiêu đốt sự hoài nghi (vicikicchaṃ), vì thế gọi là thiền. Trí tuệ (ñāṇaṃ) thiền quán, vì thế gọi là thiền. Nó thiêu đốt vô minh (avijjaṃ), vì thế gọi là thiền. Sự hân hoan (pāmojjaṃ) thiền quán, vì thế gọi là thiền. Nó thiêu đốt sự bất mãn (aratiṃ), vì thế gọi là thiền. Sơ thiền (paṭhamaṃ jhānaṃ) thiền quán, vì thế gọi là thiền. Nó thiêu đốt các triền cái (nīvaraṇe), vì thế gọi là thiền... tóm tắt... đạo A-la-hán (arahattamaggo) thiền quán, vì thế gọi là thiền. Nó thiêu đốt tất cả phiền não (sabbakilese), vì thế gọi là thiền. Trong khi thiền quán, vị ấy được giải thoát, vì thế gọi là thiền giải thoát. Trong khi thiêu đốt, vị ấy được giải thoát, vì thế gọi là thiền giải thoát. Các pháp thiền quán. Các phiền não bị thiêu đốt. Vị ấy biết rõ cả pháp thiền quán và pháp bị thiêu đốt, vì thế gọi là thiền giải thoát. Đây là thiền giải thoát.
218. Katamo anupādā cittassa vimokkho? Siyā eko anupādācittassa vimokkho dasa anupādācittassa vimokkhā honti, dasa anupādācittassa vimokkhā eko anupādācittassa vimokkho hoti vatthuvasena pariyāyena siyāti. Kathañca siyā? Aniccānupassanāñāṇaṃ niccato upādānā muccatīti – anupādācittassa vimokkho. Dukkhānupassanāñāṇaṃ sukhato upādānā muccatīti – anupādācittassa vimokkho. Anattānupassanāñāṇaṃ attato upādānā muccatīti – anupādācittassa vimokkho. Nibbidānupassanāñāṇaṃ nandiyā upādānā muccatīti – anupādācittassa vimokkho. Virāgānupassanāñāṇaṃ rāgato upādānā muccatīti – anupādācittassa vimokkho. Nirodhānupassanāñāṇaṃ samudayato upādānā muccatīti – anupādācittassa vimokkho. Paṭinissaggānupassanāñāṇaṃ ādānato upādānā muccatīti – anupādācittassa vimokkho. Animittānupassanāñāṇaṃ nimittato upādānā muccatīti – anupādācittassa vimokkho. Appaṇihitānupassanāñāṇaṃ paṇidhiyā upādānā muccatīti – anupādācittassa vimokkho. Suññatānupassanāñāṇaṃ abhinivesato upādānā muccatīti – anupādācittassa vimokkho. Evaṃ siyā eko anupādācittassa vimokkho dasa anupādācittassa vimokkhā honti, dasa anupādācittassa vimokkhā eko anupādācittassa vimokkho hoti vatthuvasena pariyāyena.
218. What is the liberation of the mind without clinging? It may be that one liberation of the mind without clinging becomes ten liberations of the mind without clinging, or ten liberations of the mind without clinging become one liberation of the mind without clinging by way of the basis and by way of the method. And how may this be? The knowledge of contemplation of impermanence is liberated from the clinging that arises as permanence—this is the liberation of the mind without clinging. The knowledge of contemplation of suffering is liberated from the clinging that arises as pleasure—this is the liberation of the mind without clinging. The knowledge of contemplation of non-self is liberated from the clinging that arises as self—this is the liberation of the mind without clinging. The knowledge of contemplation of revulsion is liberated from the clinging that arises as delight—this is the liberation of the mind without clinging. The knowledge of contemplation of dispassion is liberated from the clinging that arises as lust—this is the liberation of the mind without clinging. The knowledge of contemplation of cessation is liberated from the clinging that arises as the origin—this is the liberation of the mind without clinging. The knowledge of contemplation of relinquishment is liberated from the clinging that arises as grasping—this is the liberation of the mind without clinging. The knowledge of contemplation of the signless is liberated from the clinging that arises as a sign—this is the liberation of the mind without clinging. The knowledge of contemplation of the desireless is liberated from the clinging that arises as aspiration—this is the liberation of the mind without clinging. The knowledge of contemplation of emptiness is liberated from the clinging that arises as insistence—this is the liberation of the mind without clinging. Thus, it may be that one liberation of the mind without clinging becomes ten liberations of the mind without clinging, or ten liberations of the mind without clinging become one liberation of the mind without clinging by way of the basis and by way of the method.
218. Thế nào là sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ? Có thể có một sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ, có mười sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ; mười sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ trở thành một sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ do năng lực của đối tượng và do phương diện. Và như thế nào? Trí tuệ quán chiếu vô thường được giải thoát khỏi sự chấp thủ vào cái thường hằng, vì vậy đó là sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ. Trí tuệ quán chiếu khổ được giải thoát khỏi sự chấp thủ vào cái lạc, vì vậy đó là sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ. Trí tuệ quán chiếu vô ngã được giải thoát khỏi sự chấp thủ vào cái ngã, vì vậy đó là sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ. Trí tuệ quán chiếu sự yếm ly được giải thoát khỏi sự chấp thủ vào hỷ lạc, vì vậy đó là sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ. Trí tuệ quán chiếu sự ly tham được giải thoát khỏi sự chấp thủ vào tham ái, vì vậy đó là sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ. Trí tuệ quán chiếu sự đoạn diệt được giải thoát khỏi sự chấp thủ vào nguyên nhân sanh khởi, vì vậy đó là sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ. Trí tuệ quán chiếu sự từ bỏ được giải thoát khỏi sự chấp thủ vào sự nắm giữ, vì vậy đó là sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ. Trí tuệ quán chiếu vô tướng được giải thoát khỏi sự chấp thủ vào tướng, vì vậy đó là sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ. Trí tuệ quán chiếu vô nguyện được giải thoát khỏi sự chấp thủ vào sự mong cầu, vì vậy đó là sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ. Trí tuệ quán chiếu tánh không được giải thoát khỏi sự chấp thủ vào sự cố chấp, vì vậy đó là sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ. Như vậy, có thể có một sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ, có mười sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ; mười sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ trở thành một sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ do năng lực của đối tượng và do phương diện.
Rūpe aniccānupassanāñāṇaṃ niccato upādānā muccatīti – anupādācittassa vimokkho…pe… rūpe suññatānupassanāñāṇaṃ abhinivesato upādānā muccatīti – anupādācittassa vimokkho. Evaṃ siyā eko anupādācittassa vimokkho dasa anupādācittassa vimokkhā honti, dasa anupādācittassa vimokkhā eko anupādācittassa vimokkho hoti vatthuvasena pariyāyena.
In form, the knowledge of contemplation of impermanence is liberated from the clinging that arises as permanence—this is the liberation of the mind without clinging… and so on… In form, the knowledge of contemplation of emptiness is liberated from the clinging that arises as insistence—this is the liberation of the mind without clinging. Thus, it may be that one liberation of the mind without clinging becomes ten liberations of the mind without clinging, or ten liberations of the mind without clinging become one liberation of the mind without clinging by way of the basis and by way of the method.
Ở nơi sắc, trí tuệ quán chiếu vô thường được giải thoát khỏi sự chấp thủ vào cái thường hằng, vì vậy đó là sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ... cho đến... ở nơi sắc, trí tuệ quán chiếu tánh không được giải thoát khỏi sự chấp thủ vào sự cố chấp, vì vậy đó là sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ. Như vậy, có thể có một sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ, có mười sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ; mười sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ trở thành một sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ do năng lực của đối tượng và do phương diện.
Vedanāya…pe… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe… cakkhusmiṃ…pe… jarāmaraṇe aniccānupassanāñāṇaṃ niccato upādānā muccatīti – anupādācittassa vimokkho…pe… jarāmaraṇe suññatānupassanāñāṇaṃ abhinivesato upādānā muccatīti – anupādācittassa vimokkho. Evaṃ siyā eko anupādācittassa vimokkho dasa anupādācittassa vimokkhā honti, dasa anupādācittassa vimokkhā eko anupādācittassa vimokkho hoti vatthuvasena pariyāyena.
In feeling…pe… in perception… in formations… in consciousness… in the eye…pe… in aging-and-death, the knowledge of contemplation of impermanence is liberated from the clinging that arises as permanence; therefore, it is the liberation of the mind without clinging…pe… In aging-and-death, the knowledge of contemplation of emptiness is liberated from the clinging that arises through adherence; therefore, it is the liberation of the mind without clinging. Thus, it may be that one liberation of the mind without clinging becomes ten liberations of the mind without clinging, and ten liberations of the mind without clinging become one liberation of the mind without clinging by way of the basis and by way of the method.
Ở nơi thọ... cho đến... ở nơi tưởng... ở nơi các hành... ở nơi thức... ở nơi mắt... cho đến... ở nơi già-chết, trí tuệ quán chiếu vô thường được giải thoát khỏi sự chấp thủ vào cái thường hằng, vì vậy đó là sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ... cho đến... ở nơi già-chết, trí tuệ quán chiếu tánh không được giải thoát khỏi sự chấp thủ vào sự cố chấp, vì vậy đó là sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ. Như vậy, có thể có một sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ, có mười sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ; mười sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ trở thành một sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ do năng lực của đối tượng và do phương diện.
Aniccānupassanāñāṇaṃ katihupādānehi muccati? Dukkhānupassanāñāṇaṃ katihupādānehi muccati? Anattānupassanāñāṇaṃ katihupādānehi muccati? Nibbidānupassanāñāṇaṃ…pe… virāgānupassanāñāṇaṃ… nirodhānupassanāñāṇaṃ… paṭinissaggānupassanāñāṇaṃ… animittānupassanāñāṇaṃ… appaṇihitānupassanāñāṇaṃ… suññatānupassanāñāṇaṃ katihupādānehi muccatīti?
From how many clingings is the knowledge of contemplation of impermanence liberated? From how many clingings is the knowledge of contemplation of suffering liberated? From how many clingings is the knowledge of contemplation of not-self liberated? From how many clingings is the knowledge of contemplation of disenchantment…pe… of dispassion… of cessation… of relinquishment… of the signless… of the desireless… of emptiness liberated?
Trí tuệ quán chiếu vô thường được giải thoát khỏi bao nhiêu chấp thủ? Trí tuệ quán chiếu khổ được giải thoát khỏi bao nhiêu chấp thủ? Trí tuệ quán chiếu vô ngã được giải thoát khỏi bao nhiêu chấp thủ? Trí tuệ quán chiếu sự yếm ly... cho đến... trí tuệ quán chiếu sự ly tham... trí tuệ quán chiếu sự đoạn diệt... trí tuệ quán chiếu sự từ bỏ... trí tuệ quán chiếu vô tướng... trí tuệ quán chiếu vô nguyện... trí tuệ quán chiếu tánh không được giải thoát khỏi bao nhiêu chấp thủ?
Aniccānupassanāñāṇaṃ tīhupādānehi muccati. Dukkhānupassanāñāṇaṃ ekupādānā muccati. Anattānupassanāñāṇaṃ tīhupādānehi muccati. Nibbidānupassanāñāṇaṃ ekupādānā muccati. Virāgānupassanāñāṇaṃ ekupādānā muccati. Nirodhānupassanāñāṇaṃ catūhupādānehi muccati. Paṭinissaggānupassanāñāṇaṃ catūhupādānehi muccati. Animittānupassanāñāṇaṃ tīhupādānehi muccati. Appaṇihitānupassanāñāṇaṃ ekupādānā muccati. Suññatānupassanāñāṇaṃ tīhupādānehi muccati.
The knowledge of contemplation of impermanence is liberated from three clingings. The knowledge of contemplation of suffering is liberated from one clinging. The knowledge of contemplation of not-self is liberated from three clingings. The knowledge of contemplation of disenchantment is liberated from one clinging. The knowledge of contemplation of dispassion is liberated from one clinging. The knowledge of contemplation of cessation is liberated from four clingings. The knowledge of contemplation of relinquishment is liberated from four clingings. The knowledge of contemplation of the signless is liberated from three clingings. The knowledge of contemplation of the desireless is liberated from one clinging. The knowledge of contemplation of emptiness is liberated from three clingings.
Trí tuệ quán chiếu vô thường được giải thoát khỏi ba chấp thủ. Trí tuệ quán chiếu khổ được giải thoát khỏi một chấp thủ. Trí tuệ quán chiếu vô ngã được giải thoát khỏi ba chấp thủ. Trí tuệ quán chiếu sự yếm ly được giải thoát khỏi một chấp thủ. Trí tuệ quán chiếu sự ly tham được giải thoát khỏi một chấp thủ. Trí tuệ quán chiếu sự đoạn diệt được giải thoát khỏi bốn chấp thủ. Trí tuệ quán chiếu sự từ bỏ được giải thoát khỏi bốn chấp thủ. Trí tuệ quán chiếu vô tướng được giải thoát khỏi ba chấp thủ. Trí tuệ quán chiếu vô nguyện được giải thoát khỏi một chấp thủ. Trí tuệ quán chiếu tánh không được giải thoát khỏi ba chấp thủ.
Aniccānupassanāñāṇaṃ katamehi tīhupādānehi muccati? Diṭṭhupādānā, sīlabbatupādānā, attavādupādānā – aniccānupassanāñāṇaṃ imehi tīhupādānehi muccati. Dukkhānupassanāñāṇaṃ katamā ekupādānā † muccati? Kāmupādānā – dukkhānupassanāñāṇaṃ idaṃ ekupādānā muccati. † Anattānupassanāñāṇaṃ katamehi tīhupādānehi muccati? Diṭṭhupādānā, sīlabbatupādānā, attavādupādānā – anattānupassanāñāṇaṃ imehi tīhupādānehi muccati. Nibbidānupassanāñāṇaṃ katamā ekupādānā muccati? Kāmupādānā – nibbidānupassanāñāṇaṃ idaṃ ekupādānā muccati. Virāgānupassanāñāṇaṃ katamā ekupādānā muccati? Kāmupādānā – virāgānupassanāñāṇaṃ idaṃ ekupādānā muccati. Nirodhānupassanāñāṇaṃ katamehi catūhupādānehi muccati? Kāmupādānā, diṭṭhupādānā, sīlabbatupādānā, attavādupādānā – nirodhānupassanāñāṇaṃ imehi catūhupādānehi muccati. Paṭinissaggānupassanāñāṇaṃ katamehi catūhupādānehi muccati? Kāmupādānā, diṭṭhupādānā, sīlabbatupādānā, attavādupādānā – paṭinissaggānupassanāñāṇaṃ imehi catūhupādānehi muccati. Animittānupassanāñāṇaṃ katamehi tīhupādānehi muccati? Diṭṭhupādānā, sīlabbatupādānā, attavādupādānā – animittānupassanāñāṇaṃ imehi tīhupādānehi muccati. Appaṇihitānupassanāñāṇaṃ katamā ekupādānā muccati? Kāmupādānā – appaṇihitānupassanāñāṇaṃ idaṃ ekupādānā muccati. Suññatānupassanāñāṇaṃ katamehi tīhupādānehi muccati? Diṭṭhupādānā, sīlabbatupādānā, attavādupādānā – suññatānupassanāñāṇaṃ imehi tīhupādānehi muccati.
From which three kinds of clinging is the knowledge of contemplation of impermanence liberated? From clinging to views, clinging to rites and observances, and clinging to the doctrine of self—the knowledge of contemplation of impermanence is liberated from these three kinds of clinging. From which one kind of clinging is the knowledge of contemplation of suffering liberated? From clinging to sensual pleasures—the knowledge of contemplation of suffering is liberated from this one kind of clinging. From which three kinds of clinging is the knowledge of contemplation of non-self liberated? From clinging to views, clinging to rites and observances, and clinging to the doctrine of self—the knowledge of contemplation of non-self is liberated from these three kinds of clinging. From which one kind of clinging is the knowledge of contemplation of disenchantment liberated? From clinging to sensual pleasures—the knowledge of contemplation of disenchantment is liberated from this one kind of clinging. From which one kind of clinging is the knowledge of contemplation of dispassion liberated? From clinging to sensual pleasures—the knowledge of contemplation of dispassion is liberated from this one kind of clinging. From which four kinds of clinging is the knowledge of contemplation of cessation liberated? From clinging to sensual pleasures, clinging to views, clinging to rites and observances, and clinging to the doctrine of self—the knowledge of contemplation of cessation is liberated from these four kinds of clinging. From which four kinds of clinging is the knowledge of contemplation of relinquishment liberated? From clinging to sensual pleasures, clinging to views, clinging to rites and observances, and clinging to the doctrine of self—the knowledge of contemplation of relinquishment is liberated from these four kinds of clinging. From which three kinds of clinging is the knowledge of contemplation of the signless liberated? From clinging to views, clinging to rites and observances, and clinging to the doctrine of self—the knowledge of contemplation of the signless is liberated from these three kinds of clinging. From which one kind of clinging is the knowledge of contemplation of the desireless liberated? From clinging to sensual pleasures—the knowledge of contemplation of the desireless is liberated from this one kind of clinging. From which three kinds of clinging is the knowledge of contemplation of emptiness liberated? From clinging to views, clinging to rites and observances, and clinging to the doctrine of self—the knowledge of contemplation of emptiness is liberated from these three kinds of clinging.
Trí tuệ quán niệm vô thường được giải thoát khỏi ba thủ nào? Khỏi kiến thủ, giới cấm thủ, và ngã luận thủ – trí tuệ quán niệm vô thường được giải thoát khỏi ba thủ này. Trí tuệ quán niệm khổ được giải thoát khỏi một thủ nào? Khỏi dục thủ – trí tuệ quán niệm khổ được giải thoát khỏi một thủ này. Trí tuệ quán niệm vô ngã được giải thoát khỏi ba thủ nào? Khỏi kiến thủ, giới cấm thủ, và ngã luận thủ – trí tuệ quán niệm vô ngã được giải thoát khỏi ba thủ này. Trí tuệ quán niệm sự nhàm chán được giải thoát khỏi một thủ nào? Khỏi dục thủ – trí tuệ quán niệm sự nhàm chán được giải thoát khỏi một thủ này. Trí tuệ quán niệm sự ly tham được giải thoát khỏi một thủ nào? Khỏi dục thủ – trí tuệ quán niệm sự ly tham được giải thoát khỏi một thủ này. Trí tuệ quán niệm sự diệt được giải thoát khỏi bốn thủ nào? Khỏi dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, và ngã luận thủ – trí tuệ quán niệm sự diệt được giải thoát khỏi bốn thủ này. Trí tuệ quán niệm sự từ bỏ được giải thoát khỏi bốn thủ nào? Khỏi dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, và ngã luận thủ – trí tuệ quán niệm sự từ bỏ được giải thoát khỏi bốn thủ này. Trí tuệ quán niệm vô tướng được giải thoát khỏi ba thủ nào? Khỏi kiến thủ, giới cấm thủ, và ngã luận thủ – trí tuệ quán niệm vô tướng được giải thoát khỏi ba thủ này. Trí tuệ quán niệm vô nguyện được giải thoát khỏi một thủ nào? Khỏi dục thủ – trí tuệ quán niệm vô nguyện được giải thoát khỏi một thủ này. Trí tuệ quán niệm tánh không được giải thoát khỏi ba thủ nào? Khỏi kiến thủ, giới cấm thủ, và ngã luận thủ – trí tuệ quán niệm tánh không được giải thoát khỏi ba thủ này.
Yañca aniccānupassanāñāṇaṃ, yañca anattānupassanāñāṇaṃ, yañca animittānupassanāñāṇaṃ, yañca suññatānupassanāñāṇaṃ – imāni cattāri ñāṇāni tīhupādānehi muccanti – diṭṭhupādānā, sīlabbatupādānā, attavādupādānā. Yañca dukkhānupassanāñāṇaṃ, yaṃ ca nibbidānupassanāñāṇaṃ, yañca virāgānupassanāñāṇaṃ, yañca appaṇihitānupassanāñāṇaṃ – imāni cattāri ñāṇāni ekupādānā muccanti – kāmupādānā. Yañca nirodhānupassanāñāṇaṃ, yañca paṭinissaggānupassanāñāṇaṃ – imāni dve ñāṇāni catūhupādānehi muccanti – kāmupādānā, diṭṭhupādānā, sīlabbatupādānā, attavādupādānā – ayaṃ anupādācittassa vimokkho.
The knowledge of contemplating impermanence, the knowledge of contemplating non-self, the knowledge of contemplating the signless, and the knowledge of contemplating emptiness—these four knowledges are liberated from three kinds of clinging: clinging to views, clinging to rules and observances, and clinging to the doctrine of self. The knowledge of contemplating suffering, the knowledge of contemplating disenchantment, the knowledge of contemplating dispassion, and the knowledge of contemplating the undirected—these four knowledges are liberated from one kind of clinging: clinging to sensual pleasure. The knowledge of contemplating cessation and the knowledge of contemplating relinquishment—these two knowledges are liberated from four kinds of clinging: clinging to sensual pleasures, clinging to views, clinging to rules and observances, and clinging to the doctrine of self—this is the liberation of the mind without clinging.
Trí tuệ quán niệm vô thường, trí tuệ quán niệm vô ngã, trí tuệ quán niệm vô tướng, và trí tuệ quán niệm tánh không – bốn loại trí tuệ này được giải thoát khỏi ba thủ: kiến thủ, giới cấm thủ, và ngã luận thủ. Trí tuệ quán niệm khổ, trí tuệ quán niệm sự nhàm chán, trí tuệ quán niệm sự ly tham, và trí tuệ quán niệm vô nguyện – bốn loại trí tuệ này được giải thoát khỏi một thủ: dục thủ. Trí tuệ quán niệm sự diệt và trí tuệ quán niệm sự từ bỏ – hai loại trí tuệ này được giải thoát khỏi bốn thủ: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, và ngã luận thủ – đây là sự giải thoát của tâm không còn chấp thủ.
Vimokkhakathāya paṭhamabhāṇavāro.
The first recitation section of the Discourse on Liberation.
Chương tụng đầu tiên của Luận về Giải Thoát.
219. Tīṇi kho panimāni vimokkhamukhāni lokaniyyānāya saṃvattanti. Sabbasaṅkhāre paricchedaparivaṭumato † samanupassanatāya animittāya ca dhātuyā cittasampakkhandanatāya, sabbasaṅkhāresu manosamuttejanatāya appaṇihitāya ca dhātuyā cittasampakkhandanatāya, sabbadhamme parato samanupassanatāya suññatāya ca dhātuyā cittasampakkhandanatāya – imāni tīṇi vimokkhamukhāni lokaniyyānāya saṃvattanti.
219. Indeed, these three gateways to liberation conduce to the escape from the world. By contemplating all formations as delimited and circumscribed, and by the plunging of the mind into the signless element; by rousing the mind regarding all formations, and by the plunging of the mind into the undirected element; by contemplating all phenomena as alien, and by the plunging of the mind into the emptiness element—these three gateways to liberation conduce to the escape from the world.
219. Lại nữa, ba pháp môn giải thoát này dẫn đến sự xuất ly khỏi thế gian. Do nhờ quán xét tất cả các pháp hữu vi bằng cách phân định giới hạn và do nhờ tâm lao vào vô tướng giới; do nhờ sự khích lệ tâm đối với tất cả các pháp hữu vi và do nhờ tâm lao vào vô nguyện giới; do nhờ quán xét tất cả các pháp là cái khác (vô ngã) và do nhờ tâm lao vào không giới – ba pháp môn giải thoát này dẫn đến sự xuất ly khỏi thế gian.
Aniccato manasikaroto kathaṃ saṅkhārā upaṭṭhanti? Dukkhato manasikaroto kathaṃ saṅkhārā upaṭṭhanti? Anattato manasikaroto kathaṃ saṅkhārā upaṭṭhanti? Aniccato manasikaroto khayato saṅkhārā upaṭṭhanti, dukkhato manasikaroto bhayato saṅkhārā upaṭṭhanti, anattato manasikaroto suññato saṅkhārā upaṭṭhanti.
To one who attends as impermanent, how do formations appear? To one who attends as suffering, how do formations appear? To one who attends as non-self, how do formations appear? To one who attends as impermanent, formations appear as perishing. To one who attends as suffering, formations appear as fearful. To one who attends as non-self, formations appear as empty.
Đối với người tác ý về vô thường, các pháp hữu vi hiện khởi như thế nào? Đối với người tác ý về khổ, các pháp hữu vi hiện khởi như thế nào? Đối với người tác ý về vô ngã, các pháp hữu vi hiện khởi như thế nào? Đối với người tác ý về vô thường, các pháp hữu vi hiện khởi là sự hủy diệt. Đối với người tác ý về khổ, các pháp hữu vi hiện khởi là sự đáng sợ. Đối với người tác ý về vô ngã, các pháp hữu vi hiện khởi là tánh không.
Aniccato manasikaroto kiṃ bahulaṃ cittaṃ hoti? Dukkhato manasikaroto kiṃ bahulaṃ cittaṃ hoti? Anattato manasikaroto kiṃ bahulaṃ cittaṃ hoti? Aniccato manasikaroto adhimokkhabahulaṃ cittaṃ hoti. Dukkhato manasikaroto passaddhibahulaṃ cittaṃ hoti. Anattato manasikaroto vedabahulaṃ cittaṃ hoti.
When one attends to impermanence, what mind is preponderant? When one attends to suffering, what mind is preponderant? When one attends to non-self, what mind is preponderant? When one attends to impermanence, the mind is preponderant with conviction. When one attends to suffering, the mind is preponderant with tranquility. When one attends to non-self, the mind is preponderant with wisdom.
Đối với người tác ý về vô thường, tâm nào có nhiều? Đối với người tác ý về khổ, tâm nào có nhiều? Đối với người tác ý về vô ngã, tâm nào có nhiều? Đối với người tác ý về vô thường, tâm có nhiều sự quyết đoán. Đối với người tác ý về khổ, tâm có nhiều sự an tịnh. Đối với người tác ý về vô ngã, tâm có nhiều trí tuệ.
Aniccato manasikaronto adhimokkhabahulo katamindriyaṃ paṭilabhati? Dukkhato manasikaronto passaddhibahulo katamindriyaṃ paṭilabhati? Anattato manasikaronto vedabahulo katamindriyaṃ paṭilabhati? Aniccato manasikaronto adhimokkhabahulo saddhindriyaṃ paṭilabhati. Dukkhato manasikaronto passaddhibahulo samādhindriyaṃ paṭilabhati. Anattato manasikaronto vedabahulo paññindriyaṃ paṭilabhati.
When one attends to impermanence, preponderant in conviction, what faculty does one attain? When one attends to suffering, preponderant in tranquility, what faculty does one attain? When one attends to non-self, preponderant in wisdom, what faculty does one attain? When one attends to impermanence, preponderant in conviction, one attains the faculty of faith. When one attends to suffering, preponderant in tranquility, one attains the faculty of concentration. When one attends to non-self, preponderant in wisdom, one attains the faculty of wisdom.
Trong khi tác ý về vô thường, người có nhiều sự quyết đoán chứng đắc được quyền nào? Trong khi tác ý về khổ, người có nhiều sự an tịnh chứng đắc được quyền nào? Trong khi tác ý về vô ngã, người có nhiều trí tuệ chứng đắc được quyền nào? Trong khi tác ý về vô thường, người có nhiều sự quyết đoán chứng đắc được tín quyền. Trong khi tác ý về khổ, người có nhiều sự an tịnh chứng đắc được định quyền. Trong khi tác ý về vô ngã, người có nhiều trí tuệ chứng đắc được tuệ quyền.
Aniccato manasikaroto adhimokkhabahulassa katamindriyaṃ ādhipateyyaṃ hoti, bhāvanāya katindriyāni tadanvayā † honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti, kenaṭṭhena bhāvanā, ko bhāveti? Dukkhato manasikaroto passaddhibahulassa katamindriyaṃ ādhipateyyaṃ hoti, bhāvanāya katindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti, kenaṭṭhena bhāvanā, ko bhāveti? Anattato manasikaroto vedabahulassa katamindriyaṃ ādhipateyyaṃ hoti, bhāvanāya katindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti, kenaṭṭhena bhāvanā, ko bhāveti? Aniccato manasikaroto adhimokkhabahulassa saddhindriyaṃ ādhipateyyaṃ hoti. Bhāvanāya cattārindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti. Ekarasaṭṭhena bhāvanā. Yo sammāpaṭipanno so bhāveti; natthi micchāpaṭipannassa indriyabhāvanā. Dukkhato manasikaroto passaddhibahulassa samādhindriyaṃ ādhipateyyaṃ hoti. Bhāvanāya cattārindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti. Ekarasaṭṭhena bhāvanā. Yo sammāpaṭipanno so bhāveti; natthi micchāpaṭipannassa indriyabhāvanā. Anattato manasikaroto vedabahulassa paññindriyaṃ ādhipateyyaṃ hoti. Bhāvanāya cattārindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti. Ekarasaṭṭhena bhāvanā. Yo sammāpaṭipanno so bhāveti; natthi micchāpaṭipannassa indriyabhāvanā.
For one attending to impermanence, preponderant in conviction, which faculty is dominant? In development, how many faculties follow accordingly? Are they conascence conditions, mutuality conditions, association conditions, and of one function? In what sense is it development? Who develops it? For one attending to suffering, preponderant in tranquility, which faculty is dominant? In development, how many faculties follow accordingly? Are they conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, association conditions, and of one function? In what sense is it development? Who develops it? For one attending to non-self, preponderant in knowledge, which faculty is dominant? In development, how many faculties follow accordingly? Are they conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, association conditions, and of one function? In what sense is it development? Who develops it? For one attending to impermanence, preponderant in conviction, the faculty of faith is dominant. In development, the four faculties follow accordingly; they are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, association conditions, and of one function. Development is in the sense of having one function. One who practices rightly develops it; for one who practices wrongly, there is no development of the faculties. For one attending to suffering, preponderant in tranquility, the faculty of concentration is dominant. In development, the four faculties follow accordingly; they are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, association conditions, and of one function. Development is in the sense of having one function. One who practices rightly develops it; for one who practices wrongly, there is no development of the faculties. For one attending to non-self, preponderant in knowledge, the faculty of wisdom is dominant. In development, the four faculties follow accordingly; they are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, association conditions, and of one function. Development is in the sense of having one function. One who practices rightly develops it; for one who practices wrongly, there is no development of the faculties.
Đối với người có nhiều sự quyết đoán đang tác ý về vô thường, quyền nào là chủ đạo, trong sự tu tập có bao nhiêu quyền đi kèm theo, là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, có cùng một phận sự? Do ý nghĩa nào được gọi là sự tu tập? Ai là người tu tập? Đối với người có nhiều sự an tịnh đang tác ý về khổ, quyền nào là chủ đạo, trong sự tu tập có bao nhiêu quyền đi kèm theo, là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, có cùng một phận sự? Do ý nghĩa nào được gọi là sự tu tập? Ai là người tu tập? Đối với người có nhiều tuệ đang tác ý về vô ngã, quyền nào là chủ đạo, trong sự tu tập có bao nhiêu quyền đi kèm theo, là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, có cùng một phận sự? Do ý nghĩa nào được gọi là sự tu tập? Ai là người tu tập? Đối với người có nhiều sự quyết đoán đang tác ý về vô thường, tín quyền là chủ đạo. Trong sự tu tập, bốn quyền đi kèm theo, là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, có cùng một phận sự. Do ý nghĩa có cùng một phận sự nên được gọi là sự tu tập. Vị nào là bậc chánh hạnh, vị ấy tu tập; đối với người tà hạnh thì không có sự tu tập các quyền. Đối với người có nhiều sự an tịnh đang tác ý về khổ, định quyền là chủ đạo. Trong sự tu tập, bốn quyền đi kèm theo, là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, có cùng một phận sự. Do ý nghĩa có cùng một phận sự nên được gọi là sự tu tập. Vị nào là bậc chánh hạnh, vị ấy tu tập; đối với người tà hạnh thì không có sự tu tập các quyền. Đối với người có nhiều tuệ đang tác ý về vô ngã, tuệ quyền là chủ đạo. Trong sự tu tập, bốn quyền đi kèm theo, là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, có cùng một phận sự. Do ý nghĩa có cùng một phận sự nên được gọi là sự tu tập. Vị nào là bậc chánh hạnh, vị ấy tu tập; đối với người tà hạnh thì không có sự tu tập các quyền.
220. Aniccato manasikaroto adhimokkhabahulassa katamindriyaṃ ādhipateyyaṃ hoti? Bhāvanāya katindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti? Paṭivedhakāle katamindriyaṃ ādhipateyyaṃ hoti? Paṭivedhāya katindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti? Kenaṭṭhena bhāvanā? Kenaṭṭhena paṭivedho? Dukkhato manasikaroto passaddhibahulassa katamindriyaṃ ādhipateyyaṃ hoti? Bhāvanāya katindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti? Paṭivedhakāle katamindriyaṃ ādhipateyyaṃ hoti? Paṭivedhāya katindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti? Kenaṭṭhena bhāvanā? Kenaṭṭhena paṭivedho? Anattato manasikaroto vedabahulassa katamindriyaṃ ādhipateyyaṃ hoti? Bhāvanāya katindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti? Paṭivedhakāle katamindriyaṃ ādhipateyyaṃ hoti? Paṭivedhāya katindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti? Kenaṭṭhena bhāvanā? Kenaṭṭhena paṭivedho?
220. For one who attends to impermanence, in whom conviction is abundant, which faculty is dominant? In development, which faculties follow accordingly, are conascence conditions, are mutuality conditions, are support conditions, are association conditions? At the time of penetration, which faculty is dominant? For penetration, which faculties follow accordingly, are conascence conditions, are mutuality conditions, are support conditions, are association conditions, are of a single essence? In what sense is there development? In what sense is there penetration? For one who attends to suffering, in whom tranquility is abundant, which faculty is dominant? In development, which faculties follow accordingly, are conascence conditions, are mutuality conditions, are support conditions, are association conditions? At the time of penetration, which faculty is dominant? For penetration, which faculties follow accordingly, are conascence conditions, are mutuality conditions, are support conditions, are association conditions, are of a single essence? In what sense is there development? In what sense is there penetration? For one who attends to non-self, in whom wisdom is abundant, which faculty is dominant? In development, which faculties follow accordingly, are conascence conditions, are mutuality conditions, are support conditions, are association conditions? At the time of penetration, which faculty is dominant? For penetration, which faculties follow accordingly, are conascence conditions, are mutuality conditions, are support conditions, are association conditions, are of a single essence? In what sense is there development? In what sense is there penetration?
220. Đối với người có nhiều sự quyết đoán đang tác ý về vô thường, quyền nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu quyền đi kèm theo, là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng? Vào lúc thể nhập, quyền nào là chủ đạo? Đối với sự thể nhập, có bao nhiêu quyền đi kèm theo, là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, có cùng một phận sự? Do ý nghĩa nào được gọi là sự tu tập? Do ý nghĩa nào được gọi là sự thể nhập? Đối với người có nhiều sự an tịnh đang tác ý về khổ, quyền nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu quyền đi kèm theo, là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng? Vào lúc thể nhập, quyền nào là chủ đạo? Đối với sự thể nhập, có bao nhiêu quyền đi kèm theo, là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, có cùng một phận sự? Do ý nghĩa nào được gọi là sự tu tập? Do ý nghĩa nào được gọi là sự thể nhập? Đối với người có nhiều tuệ đang tác ý về vô ngã, quyền nào là chủ đạo? Trong sự tu tập, có bao nhiêu quyền đi kèm theo, là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng? Vào lúc thể nhập, quyền nào là chủ đạo? Đối với sự thể nhập, có bao nhiêu quyền đi kèm theo, là duyên câu sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, có cùng một phận sự? Do ý nghĩa nào được gọi là sự tu tập? Do ý nghĩa nào được gọi là sự thể nhập?
Aniccato manasikaroto adhimokkhabahulassa saddhindriyaṃ ādhipateyyaṃ hoti. Bhāvanāya cattārindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭivedhakāle paññindriyaṃ ādhipateyyaṃ hoti. Paṭivedhāya cattārindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti. Ekarasaṭṭhena bhāvanā. Dassanaṭṭhena paṭivedho. Evaṃ paṭivijjhantopi bhāveti, bhāventopi paṭivijjhati. Dukkhato manasikaroto passaddhibahulassa samādhindriyaṃ ādhipateyyaṃ hoti. Bhāvanāya cattārindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭivedhakāle paññindriyaṃ ādhipateyyaṃ hoti. Paṭivedhāya cattārindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti. Ekarasaṭṭhena bhāvanā. Dassanaṭṭhena paṭivedho. Evaṃ paṭivijjhantopi bhāveti, bhāventopi paṭivijjhati. Anattato manasikaroto vedabahulassa paññindriyaṃ ādhipateyyaṃ hoti. Bhāvanāya cattārindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paṭivedhakālepi paññindriyaṃ ādhipateyyaṃ hoti. Paṭivedhāya cattārindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti. Ekarasaṭṭhena bhāvanā. Dassanaṭṭhena paṭivedho. Evaṃ paṭivijjhantopi bhāveti, bhāventopi paṭivijjhati.
For one contemplating impermanence, preponderant in conviction, the faculty of faith becomes dominant. In development, the four faculties follow accordingly; they are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, and association conditions. At the time of penetration, the faculty of wisdom becomes dominant. For penetration, the four faculties follow accordingly; they are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, association conditions, and of one function. Development is in the sense of being of one function. Penetration is in the sense of seeing. Thus, one who penetrates also develops, and one who develops also penetrates. For one contemplating suffering, preponderant in tranquility, the faculty of concentration becomes dominant. In development, the four faculties follow accordingly; they are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, and association conditions. At the time of penetration, the faculty of wisdom becomes dominant. For penetration, the four faculties follow accordingly; they are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, association conditions, and of one function. Development is in the sense of being of one function. Penetration is in the sense of seeing. Thus, one who penetrates also develops, and one who develops also penetrates. For one contemplating non-self, preponderant in wisdom, the faculty of wisdom becomes dominant. In development, the four faculties follow accordingly; they are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, and association conditions. Even at the time of penetration, the faculty of wisdom is dominant. For penetration, the four faculties follow accordingly; they are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, association conditions, and of one function. Development is in the sense of being of one function. Penetration is in the sense of seeing. Thus, one who penetrates also develops, and one who develops also penetrates.
Đối với người có nhiều sự quyết đoán khi tác ý về vô thường, tín quyền là chủ đạo. Trong sự tu tập, bốn quyền kia đi theo sau, là duyên câu sanh, là duyên hỗ tương, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Vào lúc thể nhập, tuệ quyền là chủ đạo. Để thể nhập, bốn quyền kia đi theo sau, là duyên câu sanh, là duyên hỗ tương, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, có cùng một phận sự. Do ý nghĩa có cùng một phận sự nên gọi là sự tu tập. Do ý nghĩa thấy nên gọi là sự thể nhập. Như vậy, trong khi đang thể nhập cũng là đang tu tập, trong khi đang tu tập cũng là đang thể nhập. Đối với người có nhiều sự an tịnh khi tác ý về khổ, định quyền là chủ đạo. Trong sự tu tập, bốn quyền kia đi theo sau, là duyên câu sanh, là duyên hỗ tương, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Vào lúc thể nhập, tuệ quyền là chủ đạo. Để thể nhập, bốn quyền kia đi theo sau, là duyên câu sanh, là duyên hỗ tương, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, có cùng một phận sự. Do ý nghĩa có cùng một phận sự nên gọi là sự tu tập. Do ý nghĩa thấy nên gọi là sự thể nhập. Như vậy, trong khi đang thể nhập cũng là đang tu tập, trong khi đang tu tập cũng là đang thể nhập. Đối với người có nhiều trí tuệ khi tác ý về vô ngã, tuệ quyền là chủ đạo. Trong sự tu tập, bốn quyền kia đi theo sau, là duyên câu sanh, là duyên hỗ tương, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng. Vào lúc thể nhập cũng vậy, tuệ quyền là chủ đạo. Để thể nhập, bốn quyền kia đi theo sau, là duyên câu sanh, là duyên hỗ tương, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, có cùng một phận sự. Do ý nghĩa có cùng một phận sự nên gọi là sự tu tập. Do ý nghĩa thấy nên gọi là sự thể nhập. Như vậy, trong khi đang thể nhập cũng là đang tu tập, trong khi đang tu tập cũng là đang thể nhập.
221. Aniccato manasikaroto katamindriyaṃ adhimattaṃ hoti? Katamindriyassa adhimattattā saddhāvimutto † hoti? Dukkhato manasikaroto katamindriyaṃ adhimattaṃ hoti? Katamindriyassa adhimattattā kāyasakkhī † hoti? Anattato manasikaroto katamindriyaṃ adhimattaṃ hoti? Katamindriyassa adhimattattā diṭṭhippatto hoti?
221. When one attends to impermanence, which faculty becomes predominant? Due to the predominance of which faculty does one become faith-liberated? When one attends to suffering, which faculty becomes predominant? Due to the predominance of which faculty does one become a body-witness? When one attends to non-self, which faculty becomes predominant? Due to the predominance of which faculty does one become one who has attained to view?
221. Khi tác ý về vô thường, quyền nào là vượt trội? Do quyền nào vượt trội nên trở thành vị Tín giải thoát? Khi tác ý về khổ, quyền nào là vượt trội? Do quyền nào vượt trội nên trở thành vị Thân chứng? Khi tác ý về vô ngã, quyền nào là vượt trội? Do quyền nào vượt trội nên trở thành vị Kiến đáo?
Aniccato manasikaroto saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Saddhindriyassa adhimattattā saddhāvimutto hoti. Dukkhato manasikaroto samādhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Samādhindriyassa adhimattattā kāyasakkhī hoti. Anattato manasikaroto paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Paññindriyassa adhimattattā diṭṭhippatto hoti.
When one attends to impermanence, the faculty of faith becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of faith, one is faith-liberated. When one attends to suffering, the faculty of concentration becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of concentration, one is a body-witness. When one attends to non-self, the faculty of wisdom becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of wisdom, one is one who has attained to view.
Khi tác ý về vô thường, tín quyền là vượt trội. Do tín quyền vượt trội nên trở thành vị Tín giải thoát. Khi tác ý về khổ, định quyền là vượt trội. Do định quyền vượt trội nên trở thành vị Thân chứng. Khi tác ý về vô ngã, tuệ quyền là vượt trội. Do tuệ quyền vượt trội nên trở thành vị Kiến đáo.
Saddahanto vimuttoti – saddhāvimutto. Phuṭṭhattā sacchikatoti † – kāyasakkhī. Diṭṭhattā pattoti – diṭṭhippatto. Saddahanto vimuccatīti – saddhāvimutto. Jhānaphassaṃ paṭhamaṃ phusati, pacchā nirodhaṃ nibbānaṃ sacchikarotīti – kāyasakkhī. ‘‘Dukkhā saṅkhārā, sukho nirodho’’ti ñātaṃ hoti diṭṭhaṃ viditaṃ sacchikataṃ phassitaṃ paññāyāti – diṭṭhippatto. Yo cāyaṃ puggalo saddhāvimutto, yo ca kāyasakkhī, yo ca diṭṭhippatto, siyā ime tayo puggalā saddhāvimuttāpi kāyasakkhīpi diṭṭhippattāpi vatthuvasena pariyāyena siyāti. Kathañca siyā? Aniccato manasikaroto saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Saddhindriyassa adhimattattā saddhāvimutto hoti. Dukkhato manasikaroto saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Saddhindriyassa adhimattattā saddhāvimutto hoti. Anattato manasikaroto saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Saddhindriyassa adhimattattā saddhāvimutto hoti. Evaṃ ime tayo puggalā saddhindriyassa vasena saddhāvimuttā.
Having believed, one is liberated—thus, a faith-liberated one. Because it is realized through having been touched—thus, a body-witness. Because it is attained through having been seen—thus, one who has attained to view. Having believed, one is liberated—thus, a faith-liberated one. One first touches the contact of jhāna, and afterwards realizes cessation, Nibbāna—thus, a body-witness. ‘Formations are suffering, cessation is bliss’—this is known, seen, understood, realized, and touched by wisdom—thus, one who has attained to view. And as for this person who is faith-liberated, and this one who is a body-witness, and this one who has attained to view: it may be that these three persons are faith-liberated, body-witnesses, and ones who have attained to view by way of the basis and by way of a method. And how might that be? When one attends to impermanence, the faculty of faith becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of faith, one is faith-liberated. When one attends to suffering, the faculty of faith becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of faith, one is faith-liberated. When one attends to non-self, the faculty of faith becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of faith, one is faith-liberated. Thus, these three persons are faith-liberated by way of the faculty of faith.
Do có lòng tin nên được giải thoát – là Tín giải thoát. Do đã xúc chạm nên đã chứng ngộ – là Thân chứng. Do đã thấy nên đã đạt đến – là Kiến đáo. Do có lòng tin nên được giải thoát – là Tín giải thoát. Vị ấy trước tiên xúc chạm thiền xúc, sau đó chứng ngộ sự diệt tận là Nibbāna – là Thân chứng. ‘Các pháp hữu vi là khổ, sự diệt tận là lạc’ điều này đã được biết, được thấy, được liễu tri, được chứng ngộ, được xúc chạm bằng trí tuệ – là Kiến đáo. Vị nào là hạng người Tín giải thoát, vị nào là Thân chứng, vị nào là Kiến đáo, ba hạng người này có thể là Tín giải thoát, cũng có thể là Thân chứng, cũng có thể là Kiến đáo, theo phương diện đối tượng và theo phương diện trình bày. Và như thế nào có thể là như vậy? Khi tác ý về vô thường, tín quyền là vượt trội. Do tín quyền vượt trội nên trở thành vị Tín giải thoát. Khi tác ý về khổ, tín quyền là vượt trội. Do tín quyền vượt trội nên trở thành vị Tín giải thoát. Khi tác ý về vô ngã, tín quyền là vượt trội. Do tín quyền vượt trội nên trở thành vị Tín giải thoát. Như vậy, ba hạng người này là Tín giải thoát do năng lực của tín quyền.
Dukkhato manasikaroto samādhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Samādhindriyassa adhimattattā kāyasakkhī hoti. Anattato manasikaroto samādhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Samādhindriyassa adhimattattā kāyasakkhī hoti. Aniccato manasikaroto samādhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Samādhindriyassa adhimattattā kāyasakkhī hoti. Evaṃ ime tayo puggalā samādhindriyassa vasena kāyasakkhī.
For one who attends by way of suffering, the faculty of concentration becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of concentration, one becomes a body-witness. For one who attends by way of non-self, the faculty of concentration becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of concentration, one becomes a body-witness. For one who attends by way of impermanence, the faculty of concentration becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of concentration, one becomes a body-witness. Thus, these three persons become body-witnesses by way of the faculty of concentration.
Khi tác ý về khổ, định quyền là vượt trội. Do định quyền vượt trội nên trở thành vị Thân chứng. Khi tác ý về vô ngã, định quyền là vượt trội. Do định quyền vượt trội nên trở thành vị Thân chứng. Khi tác ý về vô thường, định quyền là vượt trội. Do định quyền vượt trội nên trở thành vị Thân chứng. Như vậy, ba hạng người này là Thân chứng do năng lực của định quyền.
Anattato manasikaroto paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Paññindriyassa adhimattattā diṭṭhippatto hoti. Aniccato manasikaroto paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Paññindriyassa adhimattattā diṭṭhippatto hoti. Dukkhato manasikaroto paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Paññindriyassa adhimattattā diṭṭhippatto hoti. Evaṃ ime tayo puggalā paññindriyassa vasena diṭṭhippattā.
For one who attends by way of non-self, the faculty of wisdom becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of wisdom, one becomes attained to view. For one who attends by way of impermanence, the faculty of wisdom becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of wisdom, one becomes attained to view. For one who attends by way of suffering, the faculty of wisdom becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of wisdom, one becomes attained to view. Thus, these three persons become attained to view by way of the faculty of wisdom.
Khi tác ý về vô ngã, tuệ quyền là vượt trội. Do tuệ quyền vượt trội nên trở thành vị Kiến đáo. Khi tác ý về vô thường, tuệ quyền là vượt trội. Do tuệ quyền vượt trội nên trở thành vị Kiến đáo. Khi tác ý về khổ, tuệ quyền là vượt trội. Do tuệ quyền vượt trội nên trở thành vị Kiến đáo. Như vậy, ba hạng người này là Kiến đáo do năng lực của tuệ quyền.
Yo cāyaṃ puggalo saddhāvimutto, yo ca kāyasakkhī, yo ca diṭṭhippatto, evaṃ siyā ime tayo puggalā saddhāvimuttāpi kāyasakkhīpi diṭṭhippattāpi vatthuvasena pariyāyena. Yo cāyaṃ puggalo saddhāvimutto, yo ca kāyasakkhī, yo ca diṭṭhippatto, siyā ime tayo puggalā…pe… aññoyeva saddhāvimutto, añño kāyasakkhī, añño diṭṭhippatto siyāti. Kathañca siyā? Aniccato manasikaroto saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Saddhindriyassa adhimattattā saddhāvimutto hoti. Dukkhato manasikaroto samādhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Samādhindriyassa adhimattattā kāyasakkhī hoti. Anattato manasikaroto paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Paññindriyassa adhimattattā diṭṭhippatto hoti. Yo cāyaṃ puggalo saddhāvimutto, yo ca kāyasakkhī, yo ca diṭṭhippatto, evaṃ siyā ime tayo puggalā saddhāvimuttāpi kāyasakkhīpi diṭṭhippattāpi vatthuvasena pariyāyena. Aññoyeva saddhāvimutto, añño kāyasakkhī, añño diṭṭhippatto.
And as to this person who is faith-liberated, and this one who is a body-witness, and this one who has attained to view: thus it might be that these three persons are faith-liberated, body-witnesses, and ones who have attained to view by way of the basis and by way of a method. And as to this person who is faith-liberated, and this one who is a body-witness, and this one who has attained to view: it might be that these three persons... and so on... or it might be that the faith-liberated one is a separate person, another is a body-witness, and another is one who has attained to view. And how might that be? When one attends by way of impermanence, the faculty of faith becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of faith, one becomes faith-liberated. When one attends by way of suffering, the faculty of concentration becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of concentration, one becomes a body-witness. When one attends by way of non-self, the faculty of wisdom becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of wisdom, one becomes one who has attained to view. And as to this person who is faith-liberated, and this one who is a body-witness, and this one who has attained to view: thus it might be that these three persons are faith-liberated, body-witnesses, and ones who have attained to view by way of the basis and by way of a method. The faith-liberated one is a separate person, another is a body-witness, and another is one who has attained to view.
Vị hành giả nào là Tín giải thoát, vị nào là Thân chứng, vị nào là Kiến đáo, có thể là như vầy: Ba vị hành giả này, Tín giải thoát, Thân chứng, và Kiến đáo, là do năng lực của vật và do phương tiện. Vị hành giả nào là Tín giải thoát, vị nào là Thân chứng, vị nào là Kiến đáo, có thể là ba vị hành giả này... cho đến... Vị Tín giải thoát là khác, vị Thân chứng là khác, vị Kiến đáo là khác. Như thế nào mà có thể là như vậy? Đối với vị tác ý về vô thường, tín quyền trở nên trội vượt. Do tín quyền trội vượt nên trở thành vị Tín giải thoát. Đối với vị tác ý về khổ, định quyền trở nên trội vượt. Do định quyền trội vượt nên trở thành vị Thân chứng. Đối với vị tác ý về vô ngã, tuệ quyền trở nên trội vượt. Do tuệ quyền trội vượt nên trở thành vị Kiến đáo. Vị hành giả nào là Tín giải thoát, vị nào là Thân chứng, vị nào là Kiến đáo, có thể là như vầy: Ba vị hành giả này, Tín giải thoát, Thân chứng, và Kiến đáo, là do năng lực của vật và do phương tiện. Vị Tín giải thoát là khác, vị Thân chứng là khác, vị Kiến đáo là khác.
Aniccato manasikaroto saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti, saddhindriyassa adhimattattā sotāpattimaggaṃ paṭilabhati; tena vuccati – ‘‘saddhānusārī’’. Cattārindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Saddhindriyassa vasena catunnaṃ indriyānaṃ bhāvanā hoti. Ye hi keci saddhindriyassa vasena sotāpattimaggaṃ paṭilabhanti, sabbe te saddhānusārino.
When one attends by way of impermanence, the faculty of faith becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of faith, one attains the path of stream-entry; therefore, one is called a 'faith-follower'. The four faculties are concordant with it; they are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, and association conditions. The development of the four faculties occurs by way of the faculty of faith. All those who attain the path of stream-entry by way of the faculty of faith are faith-followers.
Đối với vị tác ý về vô thường, tín quyền trở nên trội vượt; do tín quyền trội vượt nên chứng đắc Dự lưu đạo; do đó được gọi là ‘Tùy tín hành’. Bốn quyền đi theo sau đó, là đồng sanh duyên, là hỗ tương duyên, là y chỉ duyên, là tương ưng duyên. Do năng lực của tín quyền, sự tu tập bốn quyền được thành tựu. Bất cứ ai chứng đắc Dự lưu đạo do năng lực của tín quyền, tất cả những vị ấy là Tùy tín hành.
Aniccato manasikaroto saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti, saddhindriyassa adhimattattā sotāpattiphalaṃ sacchikataṃ hoti; tena vuccati – ‘‘saddhāvimutto’’. Cattārindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Saddhindriyassa vasena cattārindriyāni bhāvitāni honti subhāvitāni. Yehi keci saddhindriyassa vasena sotāpattiphalaṃ sacchikatā, sabbe te saddhāvimuttā.
For one who attends to impermanence, the faculty of faith becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of faith, the fruit of stream-entry is realized. Therefore, one is called 'faith-liberated.' The four faculties follow in accordance with it; they are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, and associated conditions. By the power of the faculty of faith, the four faculties are developed and well-developed. Whoever realizes the fruit of stream-entry by the power of the faculty of faith, all of them are faith-liberated.
Đối với vị tác ý về vô thường, tín quyền trở nên trội vượt; do tín quyền trội vượt nên chứng ngộ Dự lưu quả; do đó được gọi là ‘Tín giải thoát’. Bốn quyền đi theo sau đó, là đồng sanh duyên, là hỗ tương duyên, là y chỉ duyên, là tương ưng duyên. Do năng lực của tín quyền, bốn quyền được tu tập, được khéo tu tập. Bất cứ ai chứng ngộ Dự lưu quả do năng lực của tín quyền, tất cả những vị ấy là Tín giải thoát.
Aniccato manasikaroto saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti, saddhindriyassa adhimattattā sakadāgāmimaggaṃ paṭilabhati…pe… sakadāgāmiphalaṃ sacchikataṃ hoti…pe… anāgāmimaggaṃ paṭilabhati… anāgāmiphalaṃ sacchikataṃ hoti…pe… arahattamaggaṃ paṭilabhati… arahattaṃ † sacchikataṃ hoti; tena vuccati – ‘‘saddhāvimutto’’. Cattārindriyāni tadanvayā honti…pe… sampayuttapaccayā honti. Saddhindriyassa vasena cattārindriyāni bhāvitāni honti subhāvitāni. Yehi keci saddhindriyassa vasena arahattaṃ sacchikatā, sabbe te saddhāvimuttā.
For one who attends to impermanence, the faculty of faith becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of faith, one attains the path of once-returning... realizes the fruit of once-returning... attains the path of non-returning... realizes the fruit of non-returning... attains the path of Arahantship... realizes the fruit of Arahantship. Therefore, one is called 'faith-liberated.' The four faculties follow in accordance with it... they are associated conditions. By the power of the faculty of faith, the four faculties are developed and well-developed. Whoever realizes the fruit of Arahantship by the power of the faculty of faith, all of them are faith-liberated.
Đối với vị tác ý về vô thường, tín quyền trở nên trội vượt; do tín quyền trội vượt nên chứng đắc Nhất lai đạo... cho đến... chứng ngộ Nhất lai quả... cho đến... chứng đắc Bất lai đạo... chứng ngộ Bất lai quả... cho đến... chứng đắc A-la-hán đạo... chứng ngộ A-la-hán quả; do đó được gọi là ‘Tín giải thoát’. Bốn quyền đi theo sau đó... cho đến... là tương ưng duyên. Do năng lực của tín quyền, bốn quyền được tu tập, được khéo tu tập. Bất cứ ai chứng ngộ A-la-hán quả do năng lực của tín quyền, tất cả những vị ấy là Tín giải thoát.
Dukkhato manasikaroto samādhindriyaṃ adhimattaṃ hoti, samādhindriyassa adhimattattā sotāpattimaggaṃ paṭilabhati; tena vuccati – ‘‘kāyasakkhī’’. Cattārindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Samādhindriyassa vasena catunnaṃ indriyānaṃ bhāvanā hoti. Ye hi keci samādhindriyassa vasena sotāpattimaggaṃ paṭilabhanti, sabbe te kāyasakkhī.
For one who attends to suffering, the faculty of concentration becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of concentration, one attains the path of stream-entry. Therefore, one is called a 'body-witness.' The four faculties follow in accordance with it; they are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, and associated conditions. By the power of the faculty of concentration, the development of the four faculties occurs. Whoever attains the path of stream-entry by the power of the faculty of concentration, all of them are body-witnesses.
Đối với vị tác ý về khổ, định quyền trở nên trội vượt; do định quyền trội vượt nên chứng đắc Dự lưu đạo; do đó được gọi là ‘Thân chứng’. Bốn quyền đi theo sau đó, là đồng sanh duyên, là hỗ tương duyên, là y chỉ duyên, là tương ưng duyên. Do năng lực của định quyền, sự tu tập bốn quyền được thành tựu. Bất cứ ai chứng đắc Dự lưu đạo do năng lực của định quyền, tất cả những vị ấy là Thân chứng.
Dukkhato manasikaroto samādhindriyaṃ adhimattaṃ hoti, samādhindriyassa adhimattattā sotāpattiphalaṃ sacchikataṃ hoti…pe… sakadāgāmimaggaṃ paṭilabhati…pe… sakadāgāmiphalaṃ sacchikataṃ hoti…pe… anāgāmimaggaṃ paṭilabhati…pe… anāgāmiphalaṃ sacchikataṃ hoti…pe… arahattamaggaṃ paṭilabhati…pe… arahattaṃ sacchikataṃ hoti; tena vuccati – ‘‘kāyasakkhī’’. Cattārindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Samādhindriyassa vasena cattārindriyāni bhāvitāni honti subhāvitāni. Yehi keci samādhindriyassa vasena arahattaṃ sacchikatā, sabbe te kāyasakkhī.
For one who attends to suffering, the faculty of concentration becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of concentration, the fruit of stream-entry is realized... one attains the path of once-returning... the fruit of once-returning is realized... one attains the path of non-returning... the fruit of non-returning is realized... one attains the path of arahantship... the fruit of arahantship is realized. Therefore, one is called a 'body-witness.' The four faculties are concordant with it; they are conditions by way of conascence, mutuality, support, and association. By the power of the faculty of concentration, the four faculties are developed and well-developed. All those who realize the fruit of arahantship by the power of the faculty of concentration are body-witnesses.
Đối với vị tác ý về khổ, định quyền trở nên trội vượt; do định quyền trội vượt nên chứng ngộ Dự lưu quả... cho đến... chứng đắc Nhất lai đạo... cho đến... chứng ngộ Nhất lai quả... cho đến... chứng đắc Bất lai đạo... cho đến... chứng ngộ Bất lai quả... cho đến... chứng đắc A-la-hán đạo... cho đến... chứng ngộ A-la-hán quả; do đó được gọi là ‘Thân chứng’. Bốn quyền đi theo sau đó, là đồng sanh duyên, là hỗ tương duyên, là y chỉ duyên, là tương ưng duyên. Do năng lực của định quyền, bốn quyền được tu tập, được khéo tu tập. Bất cứ ai chứng ngộ A-la-hán quả do năng lực của định quyền, tất cả những vị ấy là Thân chứng.
Anattato manasikaroto paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti, paññindriyassa adhimattattā sotāpattimaggaṃ paṭilabhati; tena vuccati – ‘‘dhammānusārī’’. Cattārindriyāni tadanvayā honti…pe… sampayuttapaccayā honti. Paññindriyassa vasena catunnaṃ indriyānaṃ bhāvanā hoti. Ye hi keci paññindriyassa vasena sotāpattimaggaṃ paṭilabhanti, sabbe te dhammānusārino.
For one who attends to non-self, the faculty of wisdom becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of wisdom, one attains the path of stream-entry. Therefore, one is called a 'Dhamma-follower.' The four faculties are concordant with it... they are conditions by way of association. By the power of the faculty of wisdom, the development of the four faculties occurs. All those who attain the path of stream-entry by the power of the faculty of wisdom are Dhamma-followers.
Đối với vị tác ý về vô ngã, tuệ quyền trở nên trội vượt; do tuệ quyền trội vượt nên chứng đắc Dự lưu đạo; do đó được gọi là ‘Tùy pháp hành’. Bốn quyền đi theo sau đó... cho đến... là tương ưng duyên. Do năng lực của tuệ quyền, sự tu tập bốn quyền được thành tựu. Bất cứ ai chứng đắc Dự lưu đạo do năng lực của tuệ quyền, tất cả những vị ấy là Tùy pháp hành.
Anattato manasikaroto paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti, paññindriyassa adhimattattā sotāpattiphalaṃ sacchikataṃ hoti; tena vuccati – ‘‘diṭṭhippatto’’. Cattārindriyāni tadanvayā honti…pe… sampayuttapaccayā honti. Paññindriyassa vasena cattārindriyāni bhāvitāni honti subhāvitāni. Yehi keci paññindriyassa vasena sotāpattiphalaṃ sacchikatā, sabbe te diṭṭhippattā.
For one who attends to non-self, the faculty of wisdom becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of wisdom, the fruit of stream-entry is realized. Therefore, one is called 'one attained to view.' The four faculties are concordant with it... they are conditions by way of association. By the power of the faculty of wisdom, the four faculties are developed and well-developed. All those who realize the fruit of stream-entry by the power of the faculty of wisdom are 'ones attained to view.'
Đối với vị tác ý về vô ngã, tuệ quyền trở nên trội vượt; do tuệ quyền trội vượt nên chứng ngộ Dự lưu quả; do đó được gọi là ‘Kiến đáo’. Bốn quyền đi theo sau đó... cho đến... là tương ưng duyên. Do năng lực của tuệ quyền, bốn quyền được tu tập, được khéo tu tập. Bất cứ ai chứng ngộ Dự lưu quả do năng lực của tuệ quyền, tất cả những vị ấy là Kiến đáo.
Anattato manasikaroto paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti, paññindriyassa adhimattattā sakadāgāmimaggaṃ paṭilabhati…pe… sakadāgāmiphalaṃ sacchikataṃ hoti…pe… anāgāmimaggaṃ paṭilabhati…pe… anāgāmiphalaṃ sacchikataṃ hoti…pe… arahattamaggaṃ paṭilabhati…pe… arahattaṃ sacchikataṃ hoti; tena vuccati – ‘‘diṭṭhippatto’’. Cattārindriyāni tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti. Paññindriyassa vasena cattārindriyāni bhāvitāni honti subhāvitāni. Yehi keci paññindriyassa vasena arahattaṃ sacchikatā, sabbe te diṭṭhippattā.
For one who attends to phenomena as non-self, the faculty of wisdom becomes predominant. Due to the predominance of the faculty of wisdom, one attains the path of the once-returner... the fruit of the once-returner is realized... one attains the path of the non-returner... the fruit of the non-returner is realized... one attains the path of Arahantship... the fruit of Arahantship is realized. Therefore, one is called 'one attained to view.' The four faculties are in accordance with that; they are conascence conditions, mutuality conditions, dependence conditions, and association conditions. By means of the faculty of wisdom, the four faculties are developed and well-developed. Whoever have realized the fruit of Arahantship by means of the faculty of wisdom, all of them are 'ones attained to view.'
Đối với vị tác ý về vô ngã, tuệ quyền trở nên vượt trội. Do tuệ quyền vượt trội, vị ấy chứng đắc Nhất lai đạo... (v.v.)... chứng ngộ Nhất lai quả... (v.v.)... chứng đắc Bất lai đạo... (v.v.)... chứng ngộ Bất lai quả... (v.v.)... chứng đắc A-la-hán đạo... (v.v.)... chứng ngộ A-la-hán quả. Do đó, được gọi là ‘vị Kiến Đáo’. Bốn quyền kia đi theo sau tuệ quyền, là đồng sanh duyên, là hỗ tương duyên, là y chỉ duyên, là tương ưng duyên. Nhờ năng lực của tuệ quyền, bốn quyền được tu tập, được khéo tu tập. Bất cứ ai nhờ năng lực của tuệ quyền mà chứng ngộ quả A-la-hán, tất cả những vị ấy là bậc Kiến Đáo.
222. Ye hi keci nekkhammaṃ bhāvitā vā bhāventi vā bhāvissanti vā, adhigatā vā adhigacchanti vā adhigamissanti vā, pattā vā pāpuṇanti vā pāpuṇissanti vā, paṭiladdhā vā paṭilabhanti vā paṭilabhissanti vā, paṭividdhā vā paṭivijjhanti vā paṭivijjhissanti vā, sacchikatā vā sacchikaronti vā sacchikarissanti vā, phassitā vā phassanti vā phassissanti vā, vasippattā vā pāpuṇanti vā pāpuṇissanti vā, pāramippattā vā pāpuṇanti vā pāpuṇissanti vā, vesārajjappattā vā pāpuṇanti vā pāpuṇissanti vā, sabbe te saddhindriyassa vasena saddhāvimuttā, samādhindriyassa vasena kāyasakkhī, paññindriyassa vasena diṭṭhippattā.
222. Whoever have cultivated, are cultivating, or will cultivate jhāna; have attained, are attaining, or will attain; have reached, are reaching, or will reach; have gained, are gaining, or will gain; have penetrated, are penetrating, or will penetrate; have realized, are realizing, or will realize; have experienced, are experiencing, or will experience; have attained, are attaining, or will attain mastery; have attained, are attaining, or will attain perfection; have attained, are attaining, or will attain confidence—all of them are faith-liberated by means of the faculty of faith, body-witnesses by means of the faculty of concentration, and ones attained to view by means of the faculty of wisdom.
222. Bất cứ ai đã tu tập, đang tu tập, hay sẽ tu tập sự xuất ly; đã đạt được, đang đạt được, hay sẽ đạt được; đã đến, đang đến, hay sẽ đến; đã thọ lãnh, đang thọ lãnh, hay sẽ thọ lãnh; đã thông suốt, đang thông suốt, hay sẽ thông suốt; đã chứng ngộ, đang chứng ngộ, hay sẽ chứng ngộ; đã tiếp xúc, đang tiếp xúc, hay sẽ tiếp xúc; đã đạt đến, đang đạt đến, hay sẽ đạt đến sự thuần thục; đã đạt đến, đang đạt đến, hay sẽ đạt đến sự toàn hảo; đã đạt đến, đang đạt đến, hay sẽ đạt đến sự vô úy; tất cả những vị ấy, nhờ năng lực của tín quyền, là bậc Tín giải thoát; nhờ năng lực của định quyền, là bậc Thân chứng; nhờ năng lực của tuệ quyền, là bậc Kiến đáo.
Ye hi keci abyāpādaṃ…pe… ālokasaññaṃ… avikkhepaṃ… dhammavavatthānaṃ… ñāṇaṃ… pāmojjaṃ… paṭhamaṃ jhānaṃ… dutiyaṃ jhānaṃ… tatiyaṃ jhānaṃ… catutthaṃ jhānaṃ… ākāsānañcāyatanasamāpattiṃ… viññāṇañcāyatanasamāpattiṃ … ākiñcaññāyatanasamāpattiṃ… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiṃ… aniccānupassanaṃ… dukkhānupassanaṃ… anattānupassanaṃ… nibbidānupassanaṃ… virāgānupassanaṃ … nirodhānupassanaṃ… paṭinissaggānupassanaṃ… khayānupassanaṃ… vayānupassanaṃ… vipariṇāmānupassanaṃ… animittānupassanaṃ… appaṇihitānupassanaṃ… suññatānupassanaṃ… adhipaññādhammavipassanaṃ… yathābhūtañāṇadassanaṃ… ādīnavānupassanaṃ… paṭisaṅkhānupassanaṃ… vivaṭṭanānupassanaṃ… sotāpattimaggaṃ… sakadāgāmimaggaṃ… anāgāmimaggaṃ… arahattamaggaṃ….
Whosoever has cultivated, is cultivating, or will cultivate non-ill will... the perception of light... non-distraction... analysis of phenomena... knowledge... joy... the first jhāna... the second jhāna... the third jhāna... the fourth jhāna... the attainment of the base of infinite space... the attainment of the base of infinite consciousness... the attainment of the base of nothingness... the attainment of the base of neither perception nor non-perception... contemplation of impermanence... contemplation of suffering... contemplation of non-self... contemplation of disenchantment... contemplation of dispassion... contemplation of cessation... contemplation of relinquishment... contemplation of destruction... contemplation of vanishing... contemplation of change... contemplation of the signless... contemplation of the desireless... contemplation of emptiness... insight into phenomena with higher wisdom... knowledge and vision of things as they are... contemplation of danger... reflective contemplation... contemplation of turning away... the path of stream-entry... the path of once-returning... the path of non-returning... the path of arahantship.
Bất cứ ai (đã tu tập, v.v...) tâm vô sân... (v.v.)... quang minh tưởng... tâm không tán loạn... sự phân định các pháp... trí tuệ... sự hân hoan... sơ thiền... nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... không vô biên xứ định... thức vô biên xứ định... vô sở hữu xứ định... phi tưởng phi phi tưởng xứ định... quán vô thường... quán khổ... quán vô ngã... quán nhàm chán... quán ly tham... quán đoạn diệt... quán từ bỏ... quán tận diệt... quán hoại diệt... quán biến hoại... quán vô tướng... quán vô nguyện... quán không tánh... quán tuệ quán pháp... tri kiến như thật... quán sự nguy hại... quán thẩm sát... quán xoay đi... Tu-đà-hoàn đạo... Tư-đà-hàm đạo... A-na-hàm đạo... A-la-hán đạo...
Ye hi keci cattāro satipaṭṭhāne… cattāro sammappadhāne… cattāro iddhipāde… pañcindriyāni… pañca balāni… satta bojjhaṅge… ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ… ye hi keci aṭṭha vimokkhe bhāvitā vā bhāventi vā bhāvissanti vā, adhigatā vā adhigacchanti vā adhigamissanti vā, pattā vā pāpuṇanti vā pāpuṇissanti vā, paṭiladdhā vā paṭilabhanti vā paṭilabhissanti vā, paṭividdhā vā paṭivijjhanti vā paṭivijjhissanti vā, sacchikatā vā sacchikaronti vā sacchikarissanti vā, phassitā vā phassanti vā phassissanti vā, vasippattā vā pāpuṇanti vā pāpuṇissanti vā pāramippattā vā pāpuṇanti vā pāpuṇissanti vā, vesārajjappattā vā pāpuṇanti vā pāpuṇissanti vā, sabbe te saddhindriyassa vasena saddhāvimuttā, samādhindriyassa vasena kāyasakkhī, paññindriyassa vasena diṭṭhippattā.
All those who have cultivated, are cultivating, or will cultivate the four foundations of mindfulness... the four right exertions... the four bases of spiritual power... the five faculties... the five powers... the seven factors of enlightenment... the Noble Eightfold Path... and all those who have developed, are developing, or will develop the eight liberations; who have attained, are attaining, or will attain; who have reached, are reaching, or will reach; who have gained, are gaining, or will gain; who have penetrated, are penetrating, or will penetrate; who have realized, are realizing, or will realize; who have experienced, are experiencing, or will experience; who have attained mastery, are attaining mastery, or will attain mastery; who have attained perfection, are attaining perfection, or will attain perfection; who have attained confidence, are attaining confidence, or will attain confidence—all of them are faith-liberated by means of the faculty of faith, body-witnesses by means of the faculty of concentration, and attainers of view by means of the faculty of wisdom.
Bất cứ ai (đã tu tập, v.v...) bốn niệm xứ... bốn chánh cần... bốn như ý túc... năm quyền... năm lực... bảy giác chi... Thánh đạo tám ngành... Bất cứ ai đã tu tập, đang tu tập, hay sẽ tu tập tám giải thoát; đã đạt được, đang đạt được, hay sẽ đạt được; đã đến, đang đến, hay sẽ đến; đã thọ lãnh, đang thọ lãnh, hay sẽ thọ lãnh; đã thông suốt, đang thông suốt, hay sẽ thông suốt; đã chứng ngộ, đang chứng ngộ, hay sẽ chứng ngộ; đã tiếp xúc, đang tiếp xúc, hay sẽ tiếp xúc; đã đạt đến, đang đạt đến, hay sẽ đạt đến sự thuần thục; đã đạt đến, đang đạt đến, hay sẽ đạt đến sự toàn hảo; đã đạt đến, đang đạt đến, hay sẽ đạt đến sự vô úy; tất cả những vị ấy, nhờ năng lực của tín quyền, là bậc Tín giải thoát; nhờ năng lực của định quyền, là bậc Thân chứng; nhờ năng lực của tuệ quyền, là bậc Kiến đáo.
Ye hi keci catasso paṭisambhidā pattā vā pāpuṇanti vā pāpuṇissanti vā…pe… sabbe te saddhindriyassa vasena saddhāvimuttā, samādhindriyassa vasena kāyasakkhī, paññindriyassa vasena diṭṭhippattā.
All those who have attained, are attaining, or will attain the four analytical knowledges, and so forth—all of them are faith-liberated by means of the faculty of faith, body-witnesses by means of the faculty of concentration, and attainers of view by means of the faculty of wisdom.
Bất cứ ai đã đạt đến, đang đạt đến, hay sẽ đạt đến bốn vô ngại giải... (v.v.)... tất cả những vị ấy, nhờ năng lực của tín quyền, là bậc Tín giải thoát; nhờ năng lực của định quyền, là bậc Thân chứng; nhờ năng lực của tuệ quyền, là bậc Kiến đáo.
Ye hi keci tisso vijjā paṭividdhā vā paṭivijjhanti vā paṭivijjhissanti vā…pe… sabbe te saddhindriyassa vasena saddhāvimuttā, samādhindriyassa vasena kāyasakkhī, paññindriyassa vasena diṭṭhippattā.
All those who have penetrated, are penetrating, or will penetrate the three kinds of knowledge, and so forth—all of them are faith-liberated by means of the faculty of faith, body-witnesses by means of the faculty of concentration, and attainers of view by means of the faculty of wisdom.
Bất cứ ai đã thông suốt, đang thông suốt, hay sẽ thông suốt ba minh... (v.v.)... tất cả những vị ấy, nhờ năng lực của tín quyền, là bậc Tín giải thoát; nhờ năng lực của định quyền, là bậc Thân chứng; nhờ năng lực của tuệ quyền, là bậc Kiến đáo.
Ye hi keci tisso sikkhā sikkhitā vā sikkhanti vā sikkhissanti vā, sacchikatā vā sacchikaronti vā sacchikarissanti vā, phassitā vā phassanti vā phassissanti vā, vasippattā vā pāpuṇanti vā pāpuṇissanti vā, pāramippattā vā pāpuṇanti vā pāpuṇissanti vā, vesārajjappattā vā pāpuṇanti vā pāpuṇissanti vā, sabbe te saddhindriyassa vasena saddhāvimuttā, samādhindriyassa vasena kāyasakkhī, paññindriyassa vasena diṭṭhippattā.
All those who have trained in, are training in, or will train in the three trainings; who have realized, are realizing, or will realize; who have experienced, are experiencing, or will experience; who have attained mastery, are attaining mastery, or will attain mastery; who have attained the further shore, are attaining the further shore, or will attain the further shore; who have attained confidence, are attaining confidence, or will attain confidence—all of them are faith-liberated by means of the faculty of faith, body-witnesses by means of the faculty of concentration, and attainers of view by means of the faculty of wisdom.
Bất cứ ai đã học tập, đang học tập, hay sẽ học tập ba học; đã chứng ngộ, đang chứng ngộ, hay sẽ chứng ngộ; đã tiếp xúc, đang tiếp xúc, hay sẽ tiếp xúc; đã đạt đến, đang đạt đến, hay sẽ đạt đến sự thuần thục; đã đạt đến, đang đạt đến, hay sẽ đạt đến sự toàn hảo; đã đạt đến, đang đạt đến, hay sẽ đạt đến sự vô úy; tất cả những vị ấy, nhờ năng lực của tín quyền, là bậc Tín giải thoát; nhờ năng lực của định quyền, là bậc Thân chứng; nhờ năng lực của tuệ quyền, là bậc Kiến đáo.
Ye hi keci dukkhaṃ parijānanti samudayaṃ pajahanti nirodhaṃ sacchikaronti maggaṃ bhāventi, sabbe te saddhindriyassa vasena saddhāvimuttā, samādhindriyassa vasena kāyasakkhī, paññindriyassa vasena diṭṭhippattā.
All those who fully understand suffering, abandon the origin, realize cessation, and develop the path—all of them are faith-liberated by means of the faculty of faith, body-witnesses by means of the faculty of concentration, and attainers of view by means of the faculty of wisdom.
Bất cứ ai liễu tri khổ, đoạn tận tập, chứng ngộ diệt, tu tập đạo; tất cả những vị ấy, nhờ năng lực của tín quyền, là bậc Tín giải thoát; nhờ năng lực của định quyền, là bậc Thân chứng; nhờ năng lực của tuệ quyền, là bậc Kiến đáo.
Katihākārehi saccappaṭivedho hoti? Katihākārehi saccāni paṭivijjhati? Catūhākārehi saccappaṭivedho hoti. Catūhākārehi saccāni paṭivijjhati. Dukkhasaccaṃ pariññāpaṭivedhaṃ paṭivijjhati, samudayasaccaṃ pahānappaṭivedhaṃ paṭivijjhati, nirodhasaccaṃ sacchikiriyāpaṭivedhaṃ paṭivijjhati, maggasaccaṃ bhāvanāpaṭivedhaṃ paṭivijjhati. Imehi catūhākārehi saccappaṭivedho hoti. Imehi catūhākārehi saccāni paṭivijjhanto saddhindriyassa vasena saddhāvimutto, samādhindriyassa vasena kāyasakkhī, paññindriyassa vasena diṭṭhippatto.
In how many ways does the penetration of the truths occur? In how many ways does one penetrate the truths? The penetration of the truths occurs in four ways. One penetrates the truths in four ways. One penetrates the truth of suffering by means of the penetration of full understanding, the truth of the origin by means of the penetration of abandoning, the truth of cessation by means of the penetration of realization, and the truth of the path by means of the penetration of development. By these four ways, the penetration of the truths occurs. Penetrating the truths by these four ways, one becomes faith-liberated by the power of the faith faculty, a body-witness by the power of the concentration faculty, and one attained to view by the power of the wisdom faculty.
Sự thâm nhập các chân lý xảy ra bằng bao nhiêu phương diện? Vị ấy thâm nhập các chân lý bằng bao nhiêu phương diện? Sự thâm nhập các chân lý xảy ra bằng bốn phương diện. Vị ấy thâm nhập các chân lý bằng bốn phương diện. Vị ấy thâm nhập Khổ đế bằng sự thâm nhập do liễu tri, thâm nhập Tập đế bằng sự thâm nhập do đoạn tận, thâm nhập Diệt đế bằng sự thâm nhập do chứng ngộ, thâm nhập Đạo đế bằng sự thâm nhập do tu tập. Sự thâm nhập các chân lý xảy ra bằng bốn phương diện này. Trong khi thâm nhập các chân lý bằng bốn phương diện này, do năng lực của tín quyền, vị ấy là bậc Tín giải thoát; do năng lực của định quyền, vị ấy là bậc Thân chứng; do năng lực của tuệ quyền, vị ấy là bậc Kiến đáo.
Katihākārehi saccappaṭivedho hoti? Katihākārehi saccāni paṭivijjhati? Navahākārehi saccappaṭivedho hoti, navahākārehi saccāni paṭivijjhati. Dukkhasaccaṃ pariññāpaṭivedhaṃ paṭivijjhati, samudayasaccaṃ pahānappaṭivedhaṃ paṭivijjhati, nirodhasaccaṃ sacchikiriyāpaṭivedhaṃ paṭivijjhati, maggasaccaṃ bhāvanāpaṭivedhaṃ paṭivijjhati. Abhiññāpaṭivedho ca sabbadhammānaṃ, pariññāpaṭivedho ca sabbasaṅkhārānaṃ, pahānappaṭivedho ca sabbākusalānaṃ, bhāvanāpaṭivedho ca catunnaṃ maggānaṃ, sacchikiriyāpaṭivedho ca nirodhassa. Imehi navahākārehi saccappaṭivedho hoti. Imehi navahākārehi saccāni paṭivijjhanto saddhindriyassa vasena saddhāvimutto, samādhindriyassa vasena kāyasakkhī, paññindriyassa vasena diṭṭhippatto.
In how many ways does the penetration of the truths occur? In how many ways does one penetrate the truths? The penetration of the truths occurs in nine ways. One penetrates the truths in nine ways. One penetrates the truth of suffering by means of the penetration of full understanding, the truth of the origin by means of the penetration of abandoning, the truth of cessation by means of the penetration of realization, and the truth of the path by means of the penetration of development. And there is the penetration by direct knowledge of all phenomena, the penetration by full understanding of all formations, the penetration by abandoning of all unwholesome states, the penetration by development of the four paths, and the penetration by realization of cessation. By these nine ways, the penetration of the truths occurs. Penetrating the truths by these nine ways, one becomes faith-liberated by the power of the faith faculty, a body-witness by the power of the concentration faculty, and one attained to view by the power of the wisdom faculty.
Sự thâm nhập các chân lý xảy ra bằng bao nhiêu phương diện? Vị ấy thâm nhập các chân lý bằng bao nhiêu phương diện? Sự thâm nhập các chân lý xảy ra bằng chín phương diện, vị ấy thâm nhập các chân lý bằng chín phương diện. Vị ấy thâm nhập Khổ đế bằng sự thâm nhập do liễu tri, thâm nhập Tập đế bằng sự thâm nhập do đoạn tận, thâm nhập Diệt đế bằng sự thâm nhập do chứng ngộ, thâm nhập Đạo đế bằng sự thâm nhập do tu tập. Và sự thâm nhập do thắng tri đối với tất cả các pháp, và sự thâm nhập do liễu tri đối với tất cả các pháp hành, và sự thâm nhập do đoạn tận đối với tất cả các pháp bất thiện, và sự thâm nhập do tu tập đối với bốn đạo, và sự thâm nhập do chứng ngộ đối với sự diệt. Sự thâm nhập các chân lý xảy ra bằng chín phương diện này. Trong khi thâm nhập các chân lý bằng chín phương diện này, do năng lực của tín quyền, vị ấy là bậc Tín giải thoát; do năng lực của định quyền, vị ấy là bậc Thân chứng; do năng lực của tuệ quyền, vị ấy là bậc Kiến đáo.
Dutiyabhāṇavāro.
End of the Second Recitation Section.
Dứt phẩm tụng thứ hai.
223. Aniccato manasikaroto kathaṃ saṅkhārā upaṭṭhanti? Dukkhato manasikaroto kathaṃ saṅkhārā upaṭṭhanti? Anattato manasikaroto kathaṃ saṅkhārā upaṭṭhanti? Aniccato manasikaroto khayato saṅkhārā upaṭṭhanti. Dukkhato manasikaroto bhayato saṅkhārā upaṭṭhanti. Anattato manasikaroto suññato saṅkhārā upaṭṭhanti.
223. To one who attends as impermanent, how do formations appear? To one who attends as suffering, how do formations appear? To one who attends as non-self, how do formations appear? To one who attends as impermanent, formations appear as perishing. To one who attends as suffering, formations appear as fearful. To one who attends as non-self, formations appear as empty.
223. Đối với người tác ý theo khía cạnh vô thường, các pháp hành hiện khởi như thế nào? Đối với người tác ý theo khía cạnh khổ, các pháp hành hiện khởi như thế nào? Đối với người tác ý theo khía cạnh vô ngã, các pháp hành hiện khởi như thế nào? Đối với người tác ý theo khía cạnh vô thường, các pháp hành hiện khởi theo khía cạnh hoại diệt. Đối với người tác ý theo khía cạnh khổ, các pháp hành hiện khởi theo khía cạnh đáng sợ. Đối với người tác ý theo khía cạnh vô ngã, các pháp hành hiện khởi theo khía cạnh trống không.
Aniccato manasikaroto kiṃ bahulaṃ cittaṃ hoti? Dukkhato manasikaroto kiṃ bahulaṃ cittaṃ hoti? Anattato manasikaroto kiṃ bahulaṃ cittaṃ hoti? Aniccato manasikaroto adhimokkhabahulaṃ cittaṃ hoti. Dukkhato manasikaroto passaddhibahulaṃ cittaṃ hoti. Anattato manasikaroto vedabahulaṃ cittaṃ hoti.
To one who attends as impermanent, what mind is predominant? To one who attends as suffering, what mind is predominant? To one who attends as non-self, what mind is predominant? To one who attends as impermanent, the mind is predominant in conviction. To one who attends as suffering, the mind is predominant in tranquility. To one who attends as non-self, the mind is predominant in wisdom.
Đối với người tác ý theo khía cạnh vô thường, tâm nào có nhiều? Đối với người tác ý theo khía cạnh khổ, tâm nào có nhiều? Đối với người tác ý theo khía cạnh vô ngã, tâm nào có nhiều? Đối với người tác ý theo khía cạnh vô thường, tâm có nhiều sự quyết đoán. Đối với người tác ý theo khía cạnh khổ, tâm có nhiều sự an tịnh. Đối với người tác ý theo khía cạnh vô ngã, tâm có nhiều trí tuệ.
Aniccato manasikaronto adhimokkhabahulo katamaṃ vimokkhaṃ paṭilabhati? Dukkhato manasikaronto passaddhibahulo katamaṃ vimokkhaṃ paṭilabhati? Anattato manasikaronto vedabahulo katamaṃ vimokkhaṃ paṭilabhati? Aniccato manasikaronto adhimokkhabahulo animittaṃ vimokkhaṃ paṭilabhati. Dukkhato manasikaronto passaddhibahulo appaṇihitaṃ vimokkhaṃ paṭilabhati. Anattato manasikaronto vedabahulo suññataṃ vimokkhaṃ paṭilabhati.
Attending as impermanent, one in whom conviction is predominant, which liberation does one attain? Attending as suffering, one in whom tranquility is predominant, which liberation does one attain? Attending as non-self, one in whom wisdom is predominant, which liberation does one attain? Attending as impermanent, one in whom conviction is predominant attains the signless liberation. Attending as suffering, one in whom tranquility is predominant attains the desireless liberation. Attending as non-self, one in whom wisdom is predominant attains the emptiness liberation.
Người tác ý theo khía cạnh vô thường, có nhiều sự quyết đoán, chứng đắc được giải thoát nào? Người tác ý theo khía cạnh khổ, có nhiều sự an tịnh, chứng đắc được giải thoát nào? Người tác ý theo khía cạnh vô ngã, có nhiều trí tuệ, chứng đắc được giải thoát nào? Người tác ý theo khía cạnh vô thường, có nhiều sự quyết đoán, chứng đắc được Vô tướng giải thoát. Người tác ý theo khía cạnh khổ, có nhiều sự an tịnh, chứng đắc được Vô nguyện giải thoát. Người tác ý theo khía cạnh vô ngã, có nhiều trí tuệ, chứng đắc được Không tánh giải thoát.
224. Aniccato manasikaroto adhimokkhabahulassa katamo vimokkho ādhipateyyo hoti, bhāvanāya kati vimokkhā tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti, kenaṭṭhena bhāvanā, ko bhāveti? Dukkhato manasikaroto passaddhibahulassa katamo vimokkho ādhipateyyo hoti, bhāvanāya kati vimokkhā tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti, kenaṭṭhena bhāvanā, ko bhāveti? Anattato manasikaroto vedabahulassa katamo vimokkho ādhipateyyo hoti, bhāvanāya kati vimokkhā tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti, kenaṭṭhena bhāvanā, ko bhāveti?
224. For one who attends to impermanence, with conviction predominating, which liberation is predominant? In development, how many liberations are consequential to it? Are they conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, association conditions, and of one function? In what sense is it development? Who develops? For one who attends to suffering, with serenity predominating, which liberation is predominant? In development, how many liberations are consequential to it? Are they conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, association conditions, and of one function? In what sense is it development? Who develops? For one who attends to not-self, with discernment predominating, which liberation is predominant? In development, how many liberations are consequential to it? Are they conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, association conditions, and of one function? In what sense is it development? Who develops?
224. Đối với người tác ý theo khía cạnh vô thường, có nhiều sự quyết đoán, giải thoát nào là chủ đạo, trong sự tu tập có bao nhiêu giải thoát đi theo sau, là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, là đồng một phận sự, sự tu tập có ý nghĩa gì, ai tu tập? Đối với người tác ý theo khía cạnh khổ, có nhiều sự an tịnh, giải thoát nào là chủ đạo, trong sự tu tập có bao nhiêu giải thoát đi theo sau, là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, là đồng một phận sự, sự tu tập có ý nghĩa gì, ai tu tập? Đối với người tác ý theo khía cạnh vô ngã, có nhiều trí tuệ, giải thoát nào là chủ đạo, trong sự tu tập có bao nhiêu giải thoát đi theo sau, là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, là đồng một phận sự, sự tu tập có ý nghĩa gì, ai tu tập?
Aniccato manasikaroto adhimokkhabahulassa animitto vimokkho ādhipateyyo hoti. Bhāvanāya dve vimokkhā tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti. Ekarasaṭṭhena bhāvanā. Yo sammāpaṭipanno so bhāveti; natthi micchāpaṭipannassa vimokkhabhāvanā. Dukkhato manasikaroto passaddhibahulassa appaṇihito vimokkho ādhipateyyo hoti. Bhāvanāya dve vimokkhā tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti. Ekarasaṭṭhena bhāvanā. Yo sammāpaṭipanno so bhāveti; natthi micchāpaṭipannassa vimokkhabhāvanā. Anattato manasikaroto vedabahulassa suññato vimokkho ādhipateyyo hoti. Bhāvanāya dve vimokkhā tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti. Ekarasaṭṭhena bhāvanā. Yo sammāpaṭipanno so bhāveti; natthi micchāpaṭipannassa vimokkhabhāvanā.
For one who attends to impermanence, with conviction predominating, the signless liberation is predominant. In development, the two liberations are consequential to it; they are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, association conditions, and have one function. It is development in the sense of having one function. One who practices rightly develops it; for one who practices wrongly, there is no development of liberation. For one who attends to suffering, with serenity predominating, the desireless liberation is predominant. In development, the two liberations are consequential to it; they are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, association conditions, and have one function. It is development in the sense of having one function. One who practices rightly develops it; for one who practices wrongly, there is no development of liberation. For one who attends to non-self, with discernment predominating, the emptiness liberation is predominant. In development, the two liberations are consequential to it; they are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, association conditions, and have one function. It is development in the sense of having one function. One who practices rightly develops it; for one who practices wrongly, there is no development of liberation.
Đối với người tác ý theo khía cạnh vô thường, có nhiều sự quyết đoán, Vô tướng giải thoát là chủ đạo. Trong sự tu tập, hai giải thoát đi theo sau, là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, là đồng một phận sự. Sự tu tập có ý nghĩa là đồng một phận sự. Người nào thực hành đúng đắn, người ấy tu tập; không có sự tu tập giải thoát đối với người thực hành sai lầm. Đối với người tác ý theo khía cạnh khổ, có nhiều sự an tịnh, Vô nguyện giải thoát là chủ đạo. Trong sự tu tập, hai giải thoát đi theo sau, là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, là đồng một phận sự. Sự tu tập có ý nghĩa là đồng một phận sự. Người nào thực hành đúng đắn, người ấy tu tập; không có sự tu tập giải thoát đối với người thực hành sai lầm. Đối với người tác ý theo khía cạnh vô ngã, có nhiều trí tuệ, Không tánh giải thoát là chủ đạo. Trong sự tu tập, hai giải thoát đi theo sau, là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, là đồng một phận sự. Sự tu tập có ý nghĩa là đồng một phận sự. Người nào thực hành đúng đắn, người ấy tu tập; không có sự tu tập giải thoát đối với người thực hành sai lầm.
Aniccato manasikaroto adhimokkhabahulassa katamo vimokkho ādhipateyyo hoti, bhāvanāya kati vimokkhā tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti, paṭivedhakāle katamo vimokkho ādhipateyyo hoti, paṭivedhāya kati vimokkhā tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti, kenaṭṭhena bhāvanā, kenaṭṭhena paṭivedho? Dukkhato manasikaroto passaddhibahulassa katamo vimokkho ādhipateyyo hoti, bhāvanāya kati vimokkhā tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti, paṭivedhakāle katamo vimokkho ādhipateyyo hoti, paṭivedhāya kati vimokkhā tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti, kenaṭṭhena bhāvanā, kenaṭṭhena paṭivedho? Anattato manasikaroto vedabahulassa katamo vimokkho ādhipateyyo hoti, bhāvanāya kati vimokkhā tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti, paṭivedhakāle katamo vimokkho ādhipateyyo hoti, paṭivedhāya kativimokkhā tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti, kenaṭṭhena bhāvanā, kenaṭṭhena paṭivedho?
For one who attends to impermanence, with conviction predominating, which liberation is predominant? In development, how many liberations are consequential to it? Are they conascence conditions? Are they mutuality conditions? Are they support conditions? Are they association conditions? Are they of one function? At the time of realization, which liberation is predominant? In realization, how many liberations are consequential to it? Are they conascence conditions? Are they mutuality conditions? Are they support conditions? Are they association conditions? Are they of one function? In what sense is it called development? In what sense is it called realization? For one who attends to suffering, with serenity predominating, which liberation is predominant? In development, how many liberations are consequential to it? Are they conascence conditions? Are they mutuality conditions? Are they support conditions? Are they association conditions? Are they of one function? At the time of realization, which liberation is predominant? In realization, how many liberations are consequential to it? Are they conascence conditions? Are they mutuality conditions? Are they support conditions? Are they association conditions? Are they of one function? In what sense is it called development? In what sense is it called realization? For one who attends to non-self, with discernment predominating, which liberation is predominant? In development, how many liberations are consequential to it? Are they conascence conditions? Are they mutuality conditions? Are they support conditions? Are they association conditions? Are they of one function? At the time of realization, which liberation is predominant? In realization, how many liberations are consequential to it? Are they conascence conditions? Are they mutuality conditions? Are they support conditions? Are they association conditions? Are they of one function? In what sense is it called development? In what sense is it called realization?
Đối với người có nhiều sự quyết đoán trong khi tác ý về vô thường, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự tu tiến, có bao nhiêu giải thoát đi theo sau, là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, là đồng một phận sự? Vào lúc chứng ngộ, giải thoát nào là chủ đạo? Về sự chứng ngộ, có bao nhiêu giải thoát đi theo sau, là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, là đồng một phận sự? Do ý nghĩa nào được gọi là sự tu tiến? Do ý nghĩa nào được gọi là sự chứng ngộ? Đối với người có nhiều sự an tịnh trong khi tác ý về khổ, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự tu tiến, có bao nhiêu giải thoát đi theo sau, là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, là đồng một phận sự? Vào lúc chứng ngộ, giải thoát nào là chủ đạo? Về sự chứng ngộ, có bao nhiêu giải thoát đi theo sau, là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, là đồng một phận sự? Do ý nghĩa nào được gọi là sự tu tiến? Do ý nghĩa nào được gọi là sự chứng ngộ? Đối với người có nhiều trí tuệ trong khi tác ý về vô ngã, giải thoát nào là chủ đạo? Trong sự tu tiến, có bao nhiêu giải thoát đi theo sau, là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, là đồng một phận sự? Vào lúc chứng ngộ, giải thoát nào là chủ đạo? Về sự chứng ngộ, có bao nhiêu giải thoát đi theo sau, là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, là đồng một phận sự? Do ý nghĩa nào được gọi là sự tu tiến? Do ý nghĩa nào được gọi là sự chứng ngộ?
225. Aniccato manasikaroto adhimokkhabahulassa animitto vimokkho ādhipateyyo hoti, bhāvanāya dve vimokkhā tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti, paṭivedhakālepi animitto vimokkho ādhipateyyo hoti, paṭivedhāya dve vimokkhā tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti, ekarasaṭṭhena bhāvanā, dassanaṭṭhena paṭivedho, evaṃ paṭivijjhantopi bhāveti, bhāventopi paṭivijjhati. Dukkhato manasikaroto passaddhibahulassa appaṇihito vimokkho ādhipateyyo hoti, bhāvanāya dve vimokkhā tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti, paṭivedhakālepi appaṇihito vimokkho ādhipateyyo hoti, paṭivedhāya dve vimokkhā tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti, ekarasaṭṭhena bhāvanā, dassanaṭṭhena paṭivedho, evaṃ paṭivijjhantopi bhāveti, bhāventopi paṭivijjhati. Anattato manasikaroto vedabahulassa suññato vimokkho ādhipateyyo hoti, bhāvanāya dve vimokkhā tadanvayā honti sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti, paṭivedhakālepi suññato vimokkho ādhipateyyo hoti, paṭivedhāya dve vimokkhā tadanvayā honti, sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti, ekarasā honti, ekarasaṭṭhena bhāvanā, dassanaṭṭhena paṭivedho, evaṃ paṭivijjhantopi bhāveti, bhāventopi paṭivijjhati.
225. For one who attends to impermanence, with conviction predominating, the signless liberation is predominant. In development, the two liberations are consequential to it; they are conascent conditions, mutual conditions, support conditions, associated conditions, and are of one essence. At the time of realization, the signless liberation is also predominant. For realization, the two liberations are consequential to it; they are conascent conditions, mutual conditions, support conditions, associated conditions, and are of one essence. Development is in the sense of one essence; realization is in the sense of seeing. Thus, while realizing, one also develops; and while developing, one also realizes. For one who attends to suffering, with serenity predominating, the desireless liberation is predominant. In development, the two liberations are consequential to it; they are conascent conditions, mutual conditions, support conditions, associated conditions, and are of one essence. At the time of realization, the desireless liberation is also predominant. For realization, the two liberations are consequential to it; they are conascent conditions, mutual conditions, support conditions, associated conditions, and are of one essence. Development is in the sense of one essence; realization is in the sense of seeing. Thus, while realizing, one also develops; and while developing, one also realizes. For one who attends to non-self, with higher knowledge predominating, the emptiness liberation is predominant. In development, the two liberations are consequential to it; they are conascent conditions, mutual conditions, support conditions, associated conditions, and are of one essence. At the time of realization, the emptiness liberation is also predominant. For realization, the two liberations are consequential to it; they are conascent conditions, mutual conditions, support conditions, associated conditions, and are of one essence. Development is in the sense of one essence; realization is in the sense of seeing. Thus, while realizing, one also develops; and while developing, one also realizes.
225. Đối với người có nhiều sự quyết đoán trong khi tác ý về vô thường, vô tướng giải thoát là chủ đạo. Trong sự tu tiến, có hai giải thoát đi theo sau, là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, là đồng một phận sự. Ngay cả vào lúc chứng ngộ, vô tướng giải thoát là chủ đạo. Về sự chứng ngộ, có hai giải thoát đi theo sau, là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, là đồng một phận sự. Do ý nghĩa đồng một phận sự nên được gọi là sự tu tiến. Do ý nghĩa thấy rõ nên được gọi là sự chứng ngộ. Như vậy, trong khi đang chứng ngộ cũng tu tiến, và trong khi đang tu tiến cũng chứng ngộ. Đối với người có nhiều sự an tịnh trong khi tác ý về khổ, vô nguyện giải thoát là chủ đạo. Trong sự tu tiến, có hai giải thoát đi theo sau, là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, là đồng một phận sự. Ngay cả vào lúc chứng ngộ, vô nguyện giải thoát là chủ đạo. Về sự chứng ngộ, có hai giải thoát đi theo sau, là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, là đồng một phận sự. Do ý nghĩa đồng một phận sự nên được gọi là sự tu tiến. Do ý nghĩa thấy rõ nên được gọi là sự chứng ngộ. Như vậy, trong khi đang chứng ngộ cũng tu tiến, và trong khi đang tu tiến cũng chứng ngộ. Đối với người có nhiều trí tuệ trong khi tác ý về vô ngã, không giải thoát là chủ đạo. Trong sự tu tiến, có hai giải thoát đi theo sau, là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, là đồng một phận sự. Ngay cả vào lúc chứng ngộ, không giải thoát là chủ đạo. Về sự chứng ngộ, có hai giải thoát đi theo sau, là duyên đồng sanh, là duyên tương hỗ, là duyên y chỉ, là duyên tương ưng, là đồng một phận sự. Do ý nghĩa đồng một phận sự nên được gọi là sự tu tiến. Do ý nghĩa thấy rõ nên được gọi là sự chứng ngộ. Như vậy, trong khi đang chứng ngộ cũng tu tiến, và trong khi đang tu tiến cũng chứng ngộ.
226. Aniccato manasikaroto katamo vimokkho adhimatto hoti? Katamavimokkhassa adhimattattā saddhāvimutto hoti? Dukkhato manasikaroto katamo vimokkho adhimatto hoti? Katamavimokkhassa adhimattattā kāyasakkhī hoti? Anattato manasikaroto katamo vimokkho adhimatto hoti? Katamavimokkhassa adhimattattā diṭṭhippatto hoti?
226. When one attends to impermanence, which liberation is predominant? Due to the predominance of which liberation does one become faith-liberated? When one attends to suffering, which liberation is predominant? Due to the predominance of which liberation does one become a body-witness? When one attends to non-self, which liberation is predominant? Due to the predominance of which liberation does one become one attained-to-view?
226. Đối với người tác ý về vô thường, giải thoát nào là vượt trội? Do sự vượt trội của giải thoát nào mà trở thành bậc tín giải thoát? Đối với người tác ý về khổ, giải thoát nào là vượt trội? Do sự vượt trội của giải thoát nào mà trở thành bậc thân chứng? Đối với người tác ý về vô ngã, giải thoát nào là vượt trội? Do sự vượt trội của giải thoát nào mà trở thành bậc kiến đáo?
Aniccato manasikaroto animitto vimokkho adhimatto hoti. Animittavimokkhassa adhimattattā saddhāvimutto hoti. Dukkhato manasikaroto appaṇihito vimokkho adhimatto hoti. Appaṇihitavimokkhassa adhimattattā kāyasakkhī hoti. Anattato manasikaroto suññato vimokkho adhimatto hoti. Suññatavimokkhassa adhimattattā diṭṭhippatto hoti.
When one attends to impermanence, the signless liberation is predominant. Due to the predominance of the signless liberation, one becomes faith-liberated. When one attends to suffering, the desireless liberation is predominant. Due to the predominance of the desireless liberation, one becomes a body-witness. When one attends to non-self, the emptiness liberation is predominant. Due to the predominance of the emptiness liberation, one becomes one attained-to-view.
Đối với người tác ý về vô thường, vô tướng giải thoát là vượt trội. Do sự vượt trội của vô tướng giải thoát mà trở thành bậc tín giải thoát. Đối với người tác ý về khổ, vô nguyện giải thoát là vượt trội. Do sự vượt trội của vô nguyện giải thoát mà trở thành bậc thân chứng. Đối với người tác ý về vô ngã, không giải thoát là vượt trội. Do sự vượt trội của không giải thoát mà trở thành bậc kiến đáo.
Saddahanto vimuttoti – saddhāvimutto. Phuṭṭhattā sacchikatoti – kāyasakkhī. Diṭṭhattā pattoti – diṭṭhippatto. Saddahanto vimuccatīti – saddhāvimutto. Jhānaphassaṃ paṭhamaṃ phusati, pacchā nirodhaṃ nibbānaṃ sacchikarotīti – kāyasakkhī. ‘‘Dukkhā saṅkhārā, sukho nirodho’’ti viññātaṃ hoti diṭṭhaṃ viditaṃ sacchikataṃ phassitaṃ paññāyāti – diṭṭhippatto…pe… ye hi keci nekkhammaṃ bhāvitā vā bhāventi vā bhāvissanti vā…pe… sabbe te animittavimokkhassa vasena saddhāvimuttā, appaṇihitavimokkhassa vasena kāyasakkhī, suññatavimokkhassa vasena diṭṭhippattā.
One is liberated through believing; therefore, one is faith-liberated. It is realized because it has been touched; therefore, one is a body-witness. It is attained because it has been seen; therefore, one is attained-to-view. One becomes liberated through believing; therefore, one is faith-liberated. One first touches the contact of jhāna, and afterwards realizes cessation, Nibbāna; therefore, one is a body-witness. That ‘formations are suffering, cessation is happiness’ is known, seen, understood, realized, and touched by wisdom; therefore, one is attained-to-view. … Whosoever has developed, is developing, or will develop renunciation … all of them are faith-liberated by means of the signless liberation, body-witnesses by means of the desireless liberation, and attained-to-view by means of the emptiness liberation.
Do có lòng tin nên được giải thoát – (gọi là) Tín giải thoát. Do đã tiếp xúc nên đã chứng ngộ – (gọi là) Thân chứng. Do đã thấy nên đã đạt đến – (gọi là) Kiến đáo. Do có lòng tin nên được giải thoát – (gọi là) Tín giải thoát. Vị ấy trước tiên tiếp xúc với thiền xúc, sau đó chứng ngộ sự diệt tận là Níp-bàn – (gọi là) Thân chứng. ‘Các pháp hữu vi là khổ, sự diệt tận là an lạc’ điều này đã được liễu tri, đã được thấy, đã được biết rõ, đã được chứng ngộ, đã được tiếp xúc bằng trí tuệ – (gọi là) Kiến đáo... ... Bất cứ những vị nào đã tu tập, hoặc đang tu tập, hoặc sẽ tu tập pháp xuất ly... ... tất cả các vị ấy, do năng lực của vô tướng giải thoát, là các vị Tín giải thoát; do năng lực của vô nguyện giải thoát, là các vị Thân chứng; do năng lực của không tánh giải thoát, là các vị Kiến đáo.
Ye hi keci abyāpādaṃ… ālokasaññaṃ… avikkhepaṃ… ye hi keci dukkhaṃ parijānanti, samudayaṃ pajahanti, nirodhaṃ sacchikaronti, maggaṃ bhāventi, sabbe te animittavimokkhassa vasena saddhāvimuttā, appaṇihitavimokkhassa vasena kāyasakkhī, suññatavimokkhassa vasena diṭṭhippattā.
Whosoever develops non-ill will… the perception of light… non-distraction… Whosoever fully understands suffering, abandons its origin, realizes its cessation, and develops the path—all of them are faith-liberated by means of the signless liberation, body-witnesses by means of the desireless liberation, and attained-to-view by means of the emptiness liberation.
Bất cứ những vị nào (tu tập) tâm vô sân... tưởng về ánh sáng... tâm không tán loạn... Bất cứ những vị nào liễu tri khổ, đoạn tận tập, chứng ngộ diệt, tu tập đạo, tất cả các vị ấy, do năng lực của vô tướng giải thoát, là các vị Tín giải thoát; do năng lực của vô nguyện giải thoát, là các vị Thân chứng; do năng lực của không tánh giải thoát, là các vị Kiến đáo.
Katihākārehi saccappaṭivedho hoti? Katihākārehi saccāni paṭivijjhati? Catūhākārehi saccappaṭivedho hoti. Catūhākārehi saccāni paṭivijjhati. Dukkhasaccaṃ pariññāpaṭivedhaṃ paṭivijjhati, samudayasaccaṃ pahānapaṭivedhaṃ paṭivijjhati. Nirodhasaccaṃ sacchikiriyāpaṭivedhaṃ paṭivijjhati. Maggasaccaṃ bhāvanāpaṭivedhaṃ paṭivijjhati. Imehi catūhākārehi saccappaṭivedho hoti. Imehi catūhākārehi saccāni paṭivijjhanto animittavimokkhassa vasena saddhāvimutto, appaṇihitavimokkhassa vasena kāyasakkhī, suññatavimokkhassa vasena diṭṭhippatto.
By how many aspects does the penetration of the truths occur? By how many aspects does one penetrate the truths? The penetration of the truths occurs by four aspects. One penetrates the truths by four aspects. One penetrates the truth of suffering through the penetration of full understanding; one penetrates the truth of the origin through the penetration of abandoning; one penetrates the truth of cessation through the penetration of realization; one penetrates the truth of the path through the penetration of development. By these four aspects, the penetration of the truths occurs. By penetrating the truths through these four aspects, by means of the signless liberation, one becomes one liberated by faith; by means of the desireless liberation, one becomes a body-witness; by means of the emptiness liberation, one becomes one who has attained the view.
Sự thông suốt chân lý xảy ra qua bao nhiêu phương diện? Vị ấy thông suốt các chân lý qua bao nhiêu phương diện? Sự thông suốt chân lý xảy ra qua bốn phương diện. Vị ấy thông suốt các chân lý qua bốn phương diện. Vị ấy thông suốt khổ đế bằng sự thông suốt do liễu tri, thông suốt tập đế bằng sự thông suốt do đoạn tận. Vị ấy thông suốt diệt đế bằng sự thông suốt do chứng ngộ. Vị ấy thông suốt đạo đế bằng sự thông suốt do tu tập. Sự thông suốt chân lý xảy ra qua bốn phương diện này. Vị nào thông suốt các chân lý qua bốn phương diện này, do năng lực của vô tướng giải thoát, là vị Tín giải thoát; do năng lực của vô nguyện giải thoát, là vị Thân chứng; do năng lực của không tánh giải thoát, là vị Kiến đáo.
Katihākārehi saccappaṭivedho hoti? Katihākārehi saccāni paṭivijjhati? Navahākārehi saccappaṭivedho hoti. Navahākārehi saccāni paṭivijjhati. Dukkhasaccaṃ pariññāpaṭivedhaṃ paṭivijjhati…pe… sacchikiriyāpaṭivedho ca nirodhassa. Imehi navahākārehi saccappaṭivedho hoti. Imehi navahākārehi saccāni paṭivijjhanto animittavimokkhassa vasena saddhāvimutto, appaṇihitavimokkhassa vasena kāyasakkhī, suññatavimokkhassa vasena diṭṭhippatto.
By how many aspects does the penetration of the truths occur? By how many aspects does one penetrate the truths? The penetration of the truths occurs by nine aspects. One penetrates the truths by nine aspects. One penetrates the truth of suffering through the penetration of full understanding... and there is the penetration of cessation through realization. By these nine aspects, the penetration of the truths occurs. By penetrating the truths through these nine aspects, by means of the signless liberation, one becomes one liberated by faith; by means of the desireless liberation, one becomes a body-witness; by means of the emptiness liberation, one becomes one who has attained the view.
Sự thông suốt chân lý xảy ra qua bao nhiêu phương diện? Vị ấy thông suốt các chân lý qua bao nhiêu phương diện? Sự thông suốt chân lý xảy ra qua chín phương diện. Vị ấy thông suốt các chân lý qua chín phương diện. Vị ấy thông suốt khổ đế bằng sự thông suốt do liễu tri... ... và sự thông suốt do chứng ngộ đối với diệt đế. Sự thông suốt chân lý xảy ra qua chín phương diện này. Vị nào thông suốt các chân lý qua chín phương diện này, do năng lực của vô tướng giải thoát, là vị Tín giải thoát; do năng lực của vô nguyện giải thoát, là vị Thân chứng; do năng lực của không tánh giải thoát, là vị Kiến đáo.
227. Aniccato manasikaronto katame dhamme yathābhūtaṃ jānāti passati? Kathaṃ sammādassanaṃ hoti? Kathaṃ tadanvayena sabbe saṅkhārā aniccato sudiṭṭhā honti? Kattha kaṅkhā pahīyati? Dukkhato manasikaronto katame dhamme yathābhūtaṃ jānāti passati? Kathaṃ sammādassanaṃ hoti? Kathaṃ tadanvayena sabbe saṅkhārā dukkhato sudiṭṭhā honti? Kattha kaṅkhā pahīyati? Anattato manasikaronto katame dhamme yathābhūtaṃ jānāti passati? Kathaṃ sammādassanaṃ hoti? Kathaṃ tadanvayena sabbe dhammā anattato sudiṭṭhā honti? Kattha kaṅkhā pahīyati?
227. One who attends to things as impermanent—what phenomena does one know and see as they really are? How does right view occur? How, in accordance with that, are all formations well seen as impermanent? Wherein is doubt abandoned? One who attends to things as suffering—what phenomena does one know and see as they really are? How does right view occur? How, in accordance with that, are all formations well seen as suffering? Wherein is doubt abandoned? One who attends to things as non-self—what phenomena does one know and see as they really are? How does right view occur? How, in accordance with that, are all phenomena well seen as non-self? Wherein is doubt abandoned?
227. Vị tác ý về vô thường biết và thấy các pháp nào đúng như thật? Chánh kiến phát sanh như thế nào? Do thuận theo chánh kiến ấy, làm thế nào tất cả các pháp hữu vi được khéo thấy là vô thường? Hoài nghi được đoạn tận ở đâu? Vị tác ý về khổ biết và thấy các pháp nào đúng như thật? Chánh kiến phát sanh như thế nào? Do thuận theo chánh kiến ấy, làm thế nào tất cả các pháp hữu vi được khéo thấy là khổ? Hoài nghi được đoạn tận ở đâu? Vị tác ý về vô ngã biết và thấy các pháp nào đúng như thật? Chánh kiến phát sanh như thế nào? Do thuận theo chánh kiến ấy, làm thế nào tất cả các pháp được khéo thấy là vô ngã? Hoài nghi được đoạn tận ở đâu?
Aniccato manasikaronto nimittaṃ yathābhūtaṃ jānāti passati; tena vuccati – sammādassanaṃ. Evaṃ tadanvayena sabbe saṅkhārā aniccato sudiṭṭhā honti. Ettha kaṅkhā pahīyati. Dukkhato manasikaronto pavattaṃ yathābhūtaṃ jānāti passati; tena vuccati – sammādassanaṃ. Evaṃ tadanvayena sabbe saṅkhārā dukkhato sudiṭṭhā honti. Ettha kaṅkhā pahīyati. Anattato manasikaronto nimittañca pavattañca yathābhūtaṃ jānāti passati; tena vuccati – sammādassanaṃ. Evaṃ tadanvayena sabbe dhammā anattato sudiṭṭhā honti. Ettha kaṅkhā pahīyati.
When one attends as impermanent, one knows and sees the sign as it actually is; thus it is called right seeing. In this way, following that, all conditioned phenomena are well seen as impermanent. Herein, doubt is abandoned. When one attends as suffering, one knows and sees the continuity of existence as it actually is; thus it is called right seeing. In this way, following that, all conditioned phenomena are well seen as suffering. Herein, doubt is abandoned. When one attends as non-self, one knows and sees both the sign and the continuity of existence as they actually are; thus it is called right seeing. In this way, following that, all phenomena are well seen as non-self. Herein, doubt is abandoned.
Vị tác ý về vô thường biết và thấy tướng (hữu vi) đúng như thật; do đó được gọi là – chánh kiến. Do thuận theo chánh kiến ấy, tất cả các pháp hữu vi được khéo thấy là vô thường. Ở đây, hoài nghi được đoạn tận. Vị tác ý về khổ biết và thấy sự diễn tiến đúng như thật; do đó được gọi là – chánh kiến. Do thuận theo chánh kiến ấy, tất cả các pháp hữu vi được khéo thấy là khổ. Ở đây, hoài nghi được đoạn tận. Vị tác ý về vô ngã biết và thấy cả tướng (hữu vi) và sự diễn tiến đúng như thật; do đó được gọi là – chánh kiến. Do thuận theo chánh kiến ấy, tất cả các pháp được khéo thấy là vô ngã. Ở đây, hoài nghi được đoạn tận.
Yañca yathābhūtaṃ ñāṇaṃ yañca sammādassanaṃ yā ca kaṅkhāvitaraṇā, ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca, udāhu ekatthā, byañjanameva nānanti? Yañca yathābhūtaṃ ñāṇaṃ yañca sammādassanaṃ yā ca kaṅkhāvitaraṇā, ime dhammā ekatthā, byañjanameva nānaṃ.
The knowledge of things as they really are, right seeing, and the overcoming of doubt—are these things different in meaning and different in expression, or are they the same in meaning and only different in expression? The knowledge of things as they really are, right seeing, and the overcoming of doubt—these things are the same in meaning and only different in expression.
Trí tuệ thấy đúng như thật, chánh kiến, và sự vượt qua hoài nghi, những pháp này khác nhau về nghĩa và khác nhau về văn tự, hay chúng chỉ có một nghĩa, chỉ khác nhau về văn tự? Trí tuệ thấy đúng như thật, chánh kiến, và sự vượt qua hoài nghi, những pháp này chỉ có một nghĩa, chỉ khác nhau về văn tự.
Aniccato manasikaroto kiṃ bhayato upaṭṭhāti? Dukkhato manasikaroto kiṃ bhayato upaṭṭhāti? Anattato manasikaroto kiṃ bhayato upaṭṭhāti? Aniccato manasikaroto nimittaṃ bhayato upaṭṭhāti. Dukkhato manasikaroto pavattaṃ bhayato upaṭṭhāti. Anattato manasikaroto nimittañca pavattañca bhayato upaṭṭhāti.
To one who attends as impermanent, what appears as a danger? To one who attends as suffering, what appears as a danger? To one who attends as non-self, what appears as a danger? To one who attends as impermanent, the sign appears as a danger. To one who attends as suffering, the continuity of existence appears as a danger. To one who attends as non-self, both the sign and the continuity of existence appear as a danger.
Đối với vị tác ý về vô thường, điều gì hiện khởi là đáng sợ? Đối với vị tác ý về khổ, điều gì hiện khởi là đáng sợ? Đối với vị tác ý về vô ngã, điều gì hiện khởi là đáng sợ? Đối với vị tác ý về vô thường, tướng (hữu vi) hiện khởi là đáng sợ. Đối với vị tác ý về khổ, sự diễn tiến hiện khởi là đáng sợ. Đối với vị tác ý về vô ngã, cả tướng (hữu vi) và sự diễn tiến đều hiện khởi là đáng sợ.
Yā ca bhayatupaṭṭhāne paññā yañca ādīnave ñāṇaṃ yā ca nibbidā, ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca, udāhu ekatthā, byañjanameva nānanti? Yā ca bhayatupaṭṭhāne paññā yañca ādīnave ñāṇaṃ yā ca nibbidā, ime dhammā ekatthā, byañjanameva nānaṃ.
The wisdom in the appearance of danger, the knowledge of drawbacks, and disenchantment—are these states different in meaning and different in expression, or are they the same in meaning and only different in expression? The wisdom in the appearance of danger, the knowledge of drawbacks, and disenchantment—these states are the same in meaning and only different in expression.
Trí tuệ trong sự hiện khởi của điều đáng sợ, trí về sự nguy hại, và sự nhàm chán, những pháp này khác nhau về nghĩa và khác nhau về văn tự, hay chúng chỉ có một nghĩa, chỉ khác nhau về văn tự? Trí tuệ trong sự hiện khởi của điều đáng sợ, trí về sự nguy hại, và sự nhàm chán, những pháp này chỉ có một nghĩa, chỉ khác nhau về văn tự.
Yā ca anattānupassanā yā ca suññatānupassanā, ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca, udāhu ekatthā, byañjanameva nānanti? Yā ca anattānupassanā yā ca suññatānupassanā, ime dhammā ekatthā, byañjanameva nānaṃ.
The contemplation of not-self and the contemplation of emptiness—are these states different in meaning and different in phrasing, or are they one in meaning with only the phrasing being different? The contemplation of not-self and the contemplation of emptiness—these states are one in meaning; only the phrasing is different.
Sự tùy quán vô ngã và sự tùy quán không tánh, những pháp này khác nhau về nghĩa và khác nhau về văn tự, hay chúng chỉ có một nghĩa, chỉ khác nhau về văn tự? Sự tùy quán vô ngã và sự tùy quán không tánh, những pháp này chỉ có một nghĩa, chỉ khác nhau về văn tự.
Aniccato manasikaroto kiṃ paṭisaṅkhā ñāṇaṃ uppajjati? Dukkhato manasikaroto kiṃ paṭisaṅkhā ñāṇaṃ uppajjati? Anattato manasikaroto kiṃ paṭisaṅkhā ñāṇaṃ uppajjati? Aniccato manasikaroto nimittaṃ paṭisaṅkhā ñāṇaṃ uppajjati. Dukkhato manasikaroto pavattaṃ paṭisaṅkhā ñāṇaṃ uppajjati. Anattato manasikaroto nimittañca pavattañca paṭisaṅkhā ñāṇaṃ uppajjati.
For one who attends to impermanence, what reflective knowledge arises? For one who attends to suffering, what reflective knowledge arises? For one who attends to not-self, what reflective knowledge arises? For one who attends to impermanence, reflective knowledge of the sign arises. For one who attends to suffering, reflective knowledge of occurrence arises. For one who attends to not-self, reflective knowledge of both the sign and occurrence arises.
Đối với người tác ý về vô thường, thẩm sát trí nào sanh khởi? Đối với người tác ý về khổ, thẩm sát trí nào sanh khởi? Đối với người tác ý về vô ngã, thẩm sát trí nào sanh khởi? Đối với người tác ý về vô thường, thẩm sát trí về tướng sanh khởi. Đối với người tác ý về khổ, thẩm sát trí về sự diễn tiến sanh khởi. Đối với người tác ý về vô ngã, thẩm sát trí về tướng và về sự diễn tiến sanh khởi.
Yā ca muccitukamyatā yā ca paṭisaṅkhānupassanā yā ca saṅkhārupekkhā, ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca, udāhu ekatthā, byañjanameva nānanti? Yā ca muccitukamyatā yā ca paṭisaṅkhānupassanā yā ca saṅkhārupekkhā, ime dhammā ekatthā, byañjanameva nānaṃ.
The desire for liberation, reflective contemplation, and equanimity towards formations—are these states different in meaning and different in phrasing, or are they one in meaning with only the phrasing being different? The desire for liberation, reflective contemplation, and equanimity towards formations—these states are one in meaning; only the phrasing is different.
Trí muốn giải thoát, và trí quán thẩm sát, và trí xả hành, những pháp này có khác nhau về nghĩa và khác nhau về văn tự hay không, hay là có cùng một nghĩa, chỉ khác nhau về văn tự? Trí muốn giải thoát, và trí quán thẩm sát, và trí xả hành, những pháp này có cùng một nghĩa, chỉ khác nhau về văn tự.
Aniccato manasikaroto kuto cittaṃ vuṭṭhāti, kattha cittaṃ pakkhandati? Dukkhato manasikaroto kuto cittaṃ vuṭṭhāti, kattha cittaṃ pakkhandati? Anattato manasikaroto kuto cittaṃ vuṭṭhāti, kattha cittaṃ pakkhandati? Aniccato manasikaroto nimittā cittaṃ vuṭṭhāti, animitte cittaṃ pakkhandati. Dukkhato manasikaroto pavattā cittaṃ vuṭṭhāti, appavatte cittaṃ pakkhandati. Anattato manasikaroto nimittā ca pavattā ca cittaṃ vuṭṭhāti, animitte appavatte nirodhe nibbānadhātuyā † cittaṃ pakkhandati.
For one who attends to impermanence, from what does the mind emerge, and into what does it enter? For one who attends to suffering, from what does the mind emerge, and into what does it enter? For one who attends to not-self, from what does the mind emerge, and into what does it enter? For one who attends to impermanence, the mind emerges from the sign and enters the signless. For one who attends to suffering, the mind emerges from occurrence and enters non-occurrence. For one who attends to not-self, the mind emerges from both the sign and occurrence, and it enters the Nibbāna-element which is the signless, non-occurrence, and cessation.
Đối với người tác ý về vô thường, tâm xuất khởi từ đâu, tâm đi vào đâu? Đối với người tác ý về khổ, tâm xuất khởi từ đâu, tâm đi vào đâu? Đối với người tác ý về vô ngã, tâm xuất khởi từ đâu, tâm đi vào đâu? Đối với người tác ý về vô thường, tâm xuất khởi từ tướng, tâm đi vào vô tướng. Đối với người tác ý về khổ, tâm xuất khởi từ sự diễn tiến, tâm đi vào sự không diễn tiến. Đối với người tác ý về vô ngã, tâm xuất khởi từ tướng và từ sự diễn tiến, tâm đi vào vô tướng, sự không diễn tiến, sự đoạn diệt, là giới Niết Bàn.
Yā ca bahiddhāvuṭṭhānavivaṭṭane paññā ye ca gotrabhū dhammā, ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca, udāhu ekatthā, byañjanameva nānanti? Yā ca bahiddhāvuṭṭhānavivaṭṭane paññā ye ca gotrabhū dhammā, ime dhammā ekatthā, byañjanameva nānaṃ.
Whatever wisdom is in the external turning away from arising, and whatever are the change-of-lineage states—are these states different in meaning and different in phrasing, or are they one in meaning, with only the phrasing being different? Whatever wisdom is in the external turning away from arising, and whatever are the change-of-lineage states—these states are one in meaning, with only the phrasing being different.
Tuệ ở bên ngoài trong sự xoay chiều khỏi sự sanh khởi và các pháp chuyển tộc, những pháp này có khác nhau về nghĩa và khác nhau về văn tự hay không, hay là có cùng một nghĩa, chỉ khác nhau về văn tự? Tuệ ở bên ngoài trong sự xoay chiều khỏi sự sanh khởi và các pháp chuyển tộc, những pháp này có cùng một nghĩa, chỉ khác nhau về văn tự.
Aniccato manasikaronto katamena vimokkhena vimuccati? Dukkhato manasikaronto katamena vimokkhena vimuccati? Anattato manasikaronto katamena vimokkhena vimuccati? Aniccato manasikaronto animittavimokkhena vimuccati. Dukkhato manasikaronto appaṇihitavimokkhena vimuccati. Anattato manasikaronto suññatavimokkhena vimuccati. Yā ca dubhatovuṭṭhānavivaṭṭane paññā yañca magge ñāṇaṃ, ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca, udāhu ekatthā, byañjanameva nānanti? Yā ca dubhatovuṭṭhānavivaṭṭane paññā yañca magge ñāṇaṃ, ime dhammā ekatthā, byañjanameva nānaṃ.
One who attends by way of impermanence, by which liberation is one liberated? One who attends by way of suffering, by which liberation is one liberated? One who attends by way of non-self, by which liberation is one liberated? One who attends by way of impermanence is liberated by the signless liberation. One who attends by way of suffering is liberated by the desireless liberation. One who attends by way of non-self is liberated by the emptiness liberation. Whatever wisdom is in the turning away from both, and whatever is the knowledge in the path—are these states different in meaning and different in phrasing, or are they one in meaning, with only the phrasing being different? Whatever wisdom is in the turning away from both, and whatever is the knowledge in the path—these states are one in meaning, with only the phrasing being different.
Người tác ý về vô thường được giải thoát bằng giải thoát nào? Người tác ý về khổ được giải thoát bằng giải thoát nào? Người tác ý về vô ngã được giải thoát bằng giải thoát nào? Người tác ý về vô thường được giải thoát bằng vô tướng giải thoát. Người tác ý về khổ được giải thoát bằng vô nguyện giải thoát. Người tác ý về vô ngã được giải thoát bằng không giải thoát. Tuệ trong sự xoay chiều khỏi sự sanh khởi từ cả hai và trí trong đạo, những pháp này có khác nhau về nghĩa và khác nhau về văn tự hay không, hay là có cùng một nghĩa, chỉ khác nhau về văn tự? Tuệ trong sự xoay chiều khỏi sự sanh khởi từ cả hai và trí trong đạo, những pháp này có cùng một nghĩa, chỉ khác nhau về văn tự.
228. Katihākārehi tayo vimokkhā nānākkhaṇe † honti? Katihākārehi tayo vimokkhā ekakkhaṇe honti? Catūhākārehi tayo vimokkhā nānākkhaṇe honti. Sattahākārehi tayo vimokkhā ekakkhaṇe honti.
228. In how many aspects do the three liberations occur at different moments? In how many aspects do the three liberations occur at a single moment? In four aspects, the three liberations occur at different moments. In seven aspects, the three liberations occur at a single moment.
228. Do bao nhiêu phương diện mà ba loại giải thoát sanh khởi trong các sát-na khác nhau? Do bao nhiêu phương diện mà ba loại giải thoát sanh khởi trong cùng một sát-na? Do bốn phương diện mà ba loại giải thoát sanh khởi trong các sát-na khác nhau. Do bảy phương diện mà ba loại giải thoát sanh khởi trong cùng một sát-na.
Katamehi catūhākārehi tayo vimokkhā nānākkhaṇe honti? Ādhipateyyaṭṭhena, adhiṭṭhānaṭṭhena, abhinīhāraṭṭhena, niyyānaṭṭhena. Kathaṃ ādhipateyyaṭṭhena tayo vimokkhā nānākkhaṇe honti? Aniccato manasikaroto animitto vimokkho ādhipateyyo hoti, dukkhato manasikaroto appaṇihito vimokkho ādhipateyyo hoti, anattato manasikaroto suññato vimokkho ādhipateyyo hoti. Evaṃ ādhipateyyaṭṭhena tayo vimokkhā nānākkhaṇe honti.
By which four aspects do the three liberations occur at different moments? By the meaning of dominance, by the meaning of foundation, by the meaning of directing towards, and by the meaning of escape. How, by the meaning of dominance, do the three liberations occur at different moments? For one who attends by way of impermanence, the signless liberation is dominant. For one who attends by way of suffering, the desireless liberation is dominant. For one who attends by way of non-self, the emptiness liberation is dominant. Thus, by the meaning of dominance, the three liberations occur at different moments.
Do bốn phương diện nào mà ba loại giải thoát sanh khởi trong các sát-na khác nhau? Do ý nghĩa làm chủ, do ý nghĩa quyết định, do ý nghĩa hướng đến, do ý nghĩa xuất ly. Do ý nghĩa làm chủ, làm thế nào ba loại giải thoát sanh khởi trong các sát-na khác nhau? Đối với người tác ý về vô thường, vô tướng giải thoát làm chủ. Đối với người tác ý về khổ, vô nguyện giải thoát làm chủ. Đối với người tác ý về vô ngã, không giải thoát làm chủ. Như vậy, do ý nghĩa làm chủ, ba loại giải thoát sanh khởi trong các sát-na khác nhau.
Kathaṃ adhiṭṭhānaṭṭhena tayo vimokkhā nānākkhaṇe honti? Aniccato manasikaronto animittavimokkhassa vasena cittaṃ adhiṭṭhāti, dukkhato manasikaronto appaṇihitavimokkhassa vasena cittaṃ adhiṭṭhāti, anattato manasikaronto suññatavimokkhassa vasena cittaṃ adhiṭṭhāti. Evaṃ adhiṭṭhānaṭṭhena tayo vimokkhā nānākkhaṇe honti.
How, in the sense of establishment, do the three liberations occur at different moments? One who attends by way of impermanence establishes the mind by means of the signless liberation. One who attends by way of suffering establishes the mind by means of the desireless liberation. One who attends by way of non-self establishes the mind by means of the emptiness liberation. Thus, in the sense of establishment, the three liberations occur at different moments.
Do ý nghĩa quyết định, làm thế nào ba loại giải thoát sanh khởi trong các sát-na khác nhau? Người tác ý về vô thường quyết định tâm nhờ vào năng lực của vô tướng giải thoát. Người tác ý về khổ quyết định tâm nhờ vào năng lực của vô nguyện giải thoát. Người tác ý về vô ngã quyết định tâm nhờ vào năng lực của không giải thoát. Như vậy, do ý nghĩa quyết định, ba loại giải thoát sanh khởi trong các sát-na khác nhau.
Kathaṃ abhinīhāraṭṭhena tayo vimokkhā nānākkhaṇe honti? Aniccato manasikaronto animittavimokkhassa vasena cittaṃ abhinīharati, dukkhato manasikaronto appaṇihitavimokkhassa vasena cittaṃ abhinīharati, anattato manasikaronto suññatavimokkhassa vasena cittaṃ abhinīharati. Evaṃ abhinīhāraṭṭhena tayo vimokkhā nānākkhaṇe honti.
How, in the sense of directing forward, do the three liberations occur at different moments? One who attends by way of impermanence directs the mind forward by means of the signless liberation. One who attends by way of suffering directs the mind forward by means of the desireless liberation. One who attends by way of non-self directs the mind forward by means of the emptiness liberation. Thus, in the sense of directing forward, the three liberations occur at different moments.
Do ý nghĩa hướng đến, làm thế nào ba loại giải thoát sanh khởi trong các sát-na khác nhau? Người tác ý về vô thường hướng tâm đến nhờ vào năng lực của vô tướng giải thoát. Người tác ý về khổ hướng tâm đến nhờ vào năng lực của vô nguyện giải thoát. Người tác ý về vô ngã hướng tâm đến nhờ vào năng lực của không giải thoát. Như vậy, do ý nghĩa hướng đến, ba loại giải thoát sanh khởi trong các sát-na khác nhau.
Kathaṃ niyyānaṭṭhena tayo vimokkhā nānākkhaṇe honti? Aniccato manasikaronto animittavimokkhassa vasena nirodhaṃ nibbānaṃ niyyāti, dukkhato manasikaronto appaṇihitavimokkhassa vasena nirodhaṃ nibbānaṃ niyyāti, anattato manasikaronto suññatavimokkhassa vasena nirodhaṃ nibbānaṃ niyyāti. Evaṃ niyyānaṭṭhena tayo vimokkhā nānākkhaṇe honti. Imehi catūhākārehi tayo vimokkhā nānākkhaṇe honti.
How, in the sense of leading out, do the three liberations occur at different moments? One who attends by way of impermanence is led out to cessation, Nibbāna, by means of the signless liberation. One who attends by way of suffering is led out to cessation, Nibbāna, by means of the desireless liberation. One who attends by way of non-self is led out to cessation, Nibbāna, by means of the emptiness liberation. Thus, in the sense of leading out, the three liberations occur at different moments. By these four modes, the three liberations occur at different moments.
Do ý nghĩa xuất ly, làm thế nào ba loại giải thoát sanh khởi trong các sát-na khác nhau? Người tác ý về vô thường xuất ly đến sự đoạn diệt là Niết Bàn nhờ vào năng lực của vô tướng giải thoát. Người tác ý về khổ xuất ly đến sự đoạn diệt là Niết Bàn nhờ vào năng lực của vô nguyện giải thoát. Người tác ý về vô ngã xuất ly đến sự đoạn diệt là Niết Bàn nhờ vào năng lực của không giải thoát. Như vậy, do ý nghĩa xuất ly, ba loại giải thoát sanh khởi trong các sát-na khác nhau. Do bốn phương diện này, ba loại giải thoát sanh khởi trong các sát-na khác nhau.
Katamehi sattahākārehi tayo vimokkhā ekakkhaṇe honti? Samodhānaṭṭhena, adhigamanaṭṭhena, paṭilābhaṭṭhena paṭivedhaṭṭhena, sacchikiriyaṭṭhena, phassanaṭṭhena, abhisamayaṭṭhena. Kathaṃ samodhānaṭṭhena adhigamanaṭṭhena paṭilābhaṭṭhena paṭivedhaṭṭhena sacchikiriyaṭṭhena phassanaṭṭhena abhisamayaṭṭhena tayo vimokkhā ekakkhaṇe honti? Aniccato manasikaronto nimittā muccatīti – animitto vimokkho. Yato muccati, tattha na paṇidahatīti – appaṇihito vimokkho. Yattha na paṇidahati, tena suññoti – suññato vimokkho. Yena suñño, tena nimittena animittoti – animitto vimokkho. Evaṃ samodhānaṭṭhena adhigamanaṭṭhena paṭilābhaṭṭhena paṭivedhaṭṭhena sacchikiriyaṭṭhena phassanaṭṭhena abhisamayaṭṭhena tayo vimokkhā ekakkhaṇe honti.
By what seven aspects do the three liberations occur in a single moment? By way of unification, by way of attainment, by way of acquisition, by way of penetration, by way of realization, by way of contact, and by way of full comprehension. How, by way of unification, by way of attainment, by way of acquisition, by way of penetration, by way of realization, by way of contact, and by way of full comprehension, do the three liberations occur in a single moment? One who attends to impermanence is freed from the sign—thus, the signless liberation. From that which one is freed, therein one does not aspire—thus, the desireless liberation. Wherein one does not aspire, by that it is empty—thus, the emptiness liberation. By that which it is empty, by that sign it is signless—thus, the signless liberation. Thus, by way of unification, by way of attainment, by way of acquisition, by way of penetration, by way of realization, by way of contact, and by way of full comprehension, the three liberations occur in a single moment.
Do bảy phương diện nào mà ba loại giải thoát có mặt trong cùng một sát-na? Do ý nghĩa hội tụ, do ý nghĩa đạt đến, do ý nghĩa thành tựu, do ý nghĩa thông hiểu, do ý nghĩa chứng ngộ, do ý nghĩa tiếp xúc, do ý nghĩa thắng tri. Làm thế nào do ý nghĩa hội tụ, ý nghĩa đạt đến, ý nghĩa thành tựu, ý nghĩa thông hiểu, ý nghĩa chứng ngộ, ý nghĩa tiếp xúc, ý nghĩa thắng tri mà ba loại giải thoát có mặt trong cùng một sát-na? Vị tác ý về vô thường được giải thoát khỏi tướng trạng, nên gọi là vô tướng giải thoát. Do được giải thoát khỏi điều gì, vị ấy không mong cầu ở nơi đó, nên gọi là vô nguyện giải thoát. Do không mong cầu ở nơi nào, vị ấy trống không đối với điều ấy, nên gọi là không giải thoát. Do trống không đối với điều gì, do tướng trạng ấy nên là vô tướng, nên gọi là vô tướng giải thoát. Như vậy, do ý nghĩa hội tụ, ý nghĩa đạt đến, ý nghĩa thành tựu, ý nghĩa thông hiểu, ý nghĩa chứng ngộ, ý nghĩa tiếp xúc, ý nghĩa thắng tri mà ba loại giải thoát có mặt trong cùng một sát-na.
Dukkhato manasikaronto paṇidhiyā muccatīti – appaṇihito vimokkho. Yattha na paṇidahati, tena suññoti – suññato vimokkho. Yena suñño, tena nimittena animittoti – animitto vimokkho. Yena nimittena animitto, tattha na paṇidahatīti – appaṇihito vimokkho. Evaṃ samodhānaṭṭhena adhigamanaṭṭhena paṭilābhaṭṭhena paṭivedhaṭṭhena sacchikiriyaṭṭhena phassanaṭṭhena abhisamayaṭṭhena tayo vimokkhā ekakkhaṇe honti.
One who attends to suffering is freed from aspiration—thus, the desireless liberation. Wherein one does not aspire, by that it is empty—thus, the emptiness liberation. By that which it is empty, by that sign it is signless—thus, the signless liberation. By which sign it is signless, therein one does not aspire—thus, the desireless liberation. Thus, by way of unification, by way of attainment, by way of acquisition, by way of penetration, by way of realization, by way of contact, and by way of full comprehension, the three liberations occur in a single moment.
Vị tác ý về khổ được giải thoát khỏi sự mong cầu, nên gọi là vô nguyện giải thoát. Do không mong cầu ở nơi nào, vị ấy trống không đối với điều ấy, nên gọi là không giải thoát. Do trống không đối với điều gì, do tướng trạng ấy nên là vô tướng, nên gọi là vô tướng giải thoát. Do tướng trạng nào là vô tướng, vị ấy không mong cầu ở nơi đó, nên gọi là vô nguyện giải thoát. Như vậy, do ý nghĩa hội tụ, ý nghĩa đạt đến, ý nghĩa thành tựu, ý nghĩa thông hiểu, ý nghĩa chứng ngộ, ý nghĩa tiếp xúc, ý nghĩa thắng tri mà ba loại giải thoát có mặt trong cùng một sát-na.
Anattato manasikaronto abhinivesā muccatīti – suññato vimokkho. Yena suñño, tena nimittena animittoti – animitto vimokkho. Yena nimittena animitto, tattha na paṇidahatīti – appaṇihito vimokkho. Yattha na paṇidahati, tena suññoti – suññato vimokkho. Evaṃ samodhānaṭṭhena adhigamanaṭṭhena paṭilābhaṭṭhena paṭivedhaṭṭhena sacchikiriyaṭṭhena phassanaṭṭhena abhisamayaṭṭhena tayo vimokkhā ekakkhaṇe honti. Imehi sattahākārehi tayo vimokkhā ekakkhaṇe honti.
When one attends [to things] as non-self, one is freed from adherence—thus, it is the emptiness liberation. By that [sign] of which it is empty, by that sign it is signless—thus, it is the signless liberation. By which sign it is signless, therein one does not place an aspiration—thus, it is the desireless liberation. Wherein one does not place an aspiration, of that it is empty—thus, it is the emptiness liberation. Thus, by way of unification, by way of attainment, by way of acquisition, by way of penetration, by way of realization, by way of contact, and by way of full comprehension, the three liberations occur in a single moment. By these seven aspects, the three liberations occur in a single moment.
Vị tác ý về vô ngã được giải thoát khỏi sự chấp thủ, nên gọi là không giải thoát. Do trống không đối với điều gì, do tướng trạng ấy nên là vô tướng, nên gọi là vô tướng giải thoát. Do tướng trạng nào là vô tướng, vị ấy không mong cầu ở nơi đó, nên gọi là vô nguyện giải thoát. Do không mong cầu ở nơi nào, vị ấy trống không đối với điều ấy, nên gọi là không giải thoát. Như vậy, do ý nghĩa hội tụ, ý nghĩa đạt đến, ý nghĩa thành tựu, ý nghĩa thông hiểu, ý nghĩa chứng ngộ, ý nghĩa tiếp xúc, ý nghĩa thắng tri mà ba loại giải thoát có mặt trong cùng một sát-na. Do bảy phương diện này, ba loại giải thoát có mặt trong cùng một sát-na.
229. Atthi vimokkho, atthi mukhaṃ, atthi vimokkhamukhaṃ, atthi vimokkhapaccanīkaṃ, atthi vimokkhānulomaṃ, atthi vimokkhavivaṭṭo, atthi vimokkhabhāvanā, atthi vimokkhappaṭippassaddhi.
229. There is liberation, there is an entrance, there is an entrance to liberation, there is that which is opposed to liberation, there is that which is in conformity with liberation, there is the turning away [from the round] by liberation, there is the development of liberation, and there is the tranquillization of liberation.
229. Có sự giải thoát, có lối vào, có lối vào của sự giải thoát, có pháp đối nghịch với sự giải thoát, có pháp thuận theo sự giải thoát, có sự thoát ly nhờ giải thoát, có sự tu tập về giải thoát, có sự an tịnh của sự giải thoát.
Katamo vimokkho? Suññato vimokkho, animitto vimokkho, appaṇihito vimokkho. Katamo suññato vimokkho? Aniccānupassanāñāṇaṃ niccato abhinivesā muccatīti – suññato vimokkho. Dukkhānupassanāñāṇaṃ sukhato abhinivesā muccatīti – suññato vimokkho. Anattānupassanāñāṇaṃ attato abhinivesā muccatīti – suññato vimokkho. Nibbidānupassanāñāṇaṃ nandiyā abhinivesā muccatīti – suññato vimokkho. Virāgānupassanāñāṇaṃ rāgato abhinivesā muccatīti – suññato vimokkho. Nirodhānupassanāñāṇaṃ samudayato abhinivesā muccatīti – suññato vimokkho. Paṭinissaggānupassanāñāṇaṃ ādānato abhinivesā muccatīti – suññato vimokkho. Animittānupassanāñāṇaṃ nimittato abhinivesā muccatīti – suññato vimokkho. Appaṇihitānupassanāñāṇaṃ paṇidhiyā abhinivesā muccatīti – suññato vimokkho. Suññatānupassanāñāṇaṃ sabbābhinivesehi muccatīti – suññato vimokkho.
What is liberation? The emptiness liberation, the signless liberation, and the desireless liberation. What is the emptiness liberation? The knowledge of contemplating impermanence is freed from adherence [to things] as permanent—thus, it is the emptiness liberation. The knowledge of contemplating suffering is freed from adherence [to things] as pleasure—thus, it is the emptiness liberation. The knowledge of contemplating non-self is freed from adherence [to things] as self—thus, it is the emptiness liberation. The knowledge of contemplating disenchantment is freed from adherence [to things] as delight—thus, it is the emptiness liberation. The knowledge of contemplating dispassion is freed from adherence [to things] as lust—thus, it is the emptiness liberation. The knowledge of contemplating cessation is freed from adherence [to things] as arising—thus, it is the emptiness liberation. The knowledge of contemplating relinquishment is freed from adherence [to things] as grasping—thus, it is the emptiness liberation. The knowledge of contemplating the signless is freed from adherence [to things] as a sign—thus, it is the emptiness liberation. The knowledge of contemplating the desireless is freed from adherence [to things] as an aspiration—thus, it is the emptiness liberation. The knowledge of contemplating emptiness is freed from all adherences—thus, it is the emptiness liberation.
Sự giải thoát là gì? Là không giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát. Không giải thoát là gì? Trí tuệ quán vô thường được giải thoát khỏi sự chấp thủ về thường, nên gọi là không giải thoát. Trí tuệ quán khổ được giải thoát khỏi sự chấp thủ về lạc, nên gọi là không giải thoát. Trí tuệ quán vô ngã được giải thoát khỏi sự chấp thủ về ngã, nên gọi là không giải thoát. Trí tuệ quán sự nhàm chán được giải thoát khỏi sự chấp thủ về hỷ lạc, nên gọi là không giải thoát. Trí tuệ quán sự ly tham được giải thoát khỏi sự chấp thủ về tham ái, nên gọi là không giải thoát. Trí tuệ quán sự đoạn diệt được giải thoát khỏi sự chấp thủ về tập khởi, nên gọi là không giải thoát. Trí tuệ quán sự từ bỏ được giải thoát khỏi sự chấp thủ về nắm giữ, nên gọi là không giải thoát. Trí tuệ quán vô tướng được giải thoát khỏi sự chấp thủ về tướng trạng, nên gọi là không giải thoát. Trí tuệ quán vô nguyện được giải thoát khỏi sự chấp thủ về mong cầu, nên gọi là không giải thoát. Trí tuệ quán tánh không được giải thoát khỏi tất cả các sự chấp thủ, nên gọi là không giải thoát.
Rūpe aniccānupassanāñāṇaṃ niccato abhinivesā muccatīti – suññato vimokkho…pe… rūpe suññatānupassanāñāṇaṃ sabbābhinivesehi muccatīti – suññato vimokkho. Vedanāya…pe… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe… cakkhusmiṃ…pe… jarāmaraṇe aniccānupassanāñāṇaṃ niccato abhinivesā muccatīti – suññato vimokkho…pe… jarāmaraṇe suññatānupassanāñāṇaṃ sabbābhinivesehi muccatīti – suññato vimokkho. Ayaṃ suññato vimokkho.
In form, the knowledge of contemplation of impermanence is freed from adherence to permanence; therefore, it is the liberation through emptiness. ... In form, the knowledge of contemplation of emptiness is freed from all adherences; therefore, it is the liberation through emptiness. In feeling... in perception... in formations... in consciousness... in the eye... In aging and death, the knowledge of contemplation of impermanence is freed from adherence to permanence; therefore, it is the liberation through emptiness. ... In aging and death, the knowledge of contemplation of emptiness is freed from all adherences; therefore, it is the liberation through emptiness. This is the liberation through emptiness.
Đối với sắc, trí tuệ quán vô thường được giải thoát khỏi sự chấp thủ về thường, nên gọi là không giải thoát... cho đến... đối với sắc, trí tuệ quán tánh không được giải thoát khỏi tất cả các sự chấp thủ, nên gọi là không giải thoát. Đối với thọ... cho đến... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức... đối với mắt... cho đến... đối với già-chết, trí tuệ quán vô thường được giải thoát khỏi sự chấp thủ về thường, nên gọi là không giải thoát... cho đến... đối với già-chết, trí tuệ quán tánh không được giải thoát khỏi tất cả các sự chấp thủ, nên gọi là không giải thoát. Đây là không giải thoát.
Katamo animitto vimokkho? Aniccānupassanāñāṇaṃ niccato nimittā muccatīti – animitto vimokkho. Dukkhānupassanāñāṇaṃ sukhato nimittā muccatīti – animitto vimokkho. Anattānupassanāñāṇaṃ attato nimittā muccatīti – animitto vimokkho. Nibbidānupassanāñāṇaṃ nandiyā nimittā muccatīti – animitto vimokkho. Virāgānupassanāñāṇaṃ rāgato nimittā muccatīti – animitto vimokkho. Nirodhānupassanāñāṇaṃ samudayato nimittā muccatīti – animitto vimokkho. Paṭinissaggānupassanāñāṇaṃ ādānato nimittā muccatīti – animitto vimokkho. Animittānupassanāñāṇaṃ sabbanimittehi muccatīti – animitto vimokkho. Appaṇihitānupassanāñāṇaṃ paṇidhiyā nimittā muccatīti – animitto vimokkho. Suññatānupassanāñāṇaṃ abhinivesato nimittā muccatīti – animitto vimokkho.
What is the signless liberation? The knowledge of contemplation of impermanence is freed from the sign of permanence; therefore, it is the signless liberation. The knowledge of contemplation of suffering is freed from the sign of pleasure; therefore, it is the signless liberation. The knowledge of contemplation of non-self is freed from the sign of self; therefore, it is the signless liberation. The knowledge of contemplation of disenchantment is freed from the sign of delight; therefore, it is the signless liberation. The knowledge of contemplation of dispassion is freed from the sign of lust; therefore, it is the signless liberation. The knowledge of contemplation of cessation is freed from the sign of origination; therefore, it is the signless liberation. The knowledge of contemplation of relinquishment is freed from the sign of grasping; therefore, it is the signless liberation. The knowledge of contemplation of the signless is freed from all signs; therefore, it is the signless liberation. The knowledge of contemplation of the desireless is freed from the sign of aspiration; therefore, it is the signless liberation. The knowledge of contemplation of emptiness is freed from the sign of adherence; therefore, it is the signless liberation.
Vô tướng giải thoát là gì? Trí tuệ quán vô thường được giải thoát khỏi tướng trạng thường, nên gọi là vô tướng giải thoát. Trí tuệ quán khổ được giải thoát khỏi tướng trạng lạc, nên gọi là vô tướng giải thoát. Trí tuệ quán vô ngã được giải thoát khỏi tướng trạng ngã, nên gọi là vô tướng giải thoát. Trí tuệ quán sự nhàm chán được giải thoát khỏi tướng trạng hỷ lạc, nên gọi là vô tướng giải thoát. Trí tuệ quán sự ly tham được giải thoát khỏi tướng trạng tham ái, nên gọi là vô tướng giải thoát. Trí tuệ quán sự đoạn diệt được giải thoát khỏi tướng trạng tập khởi, nên gọi là vô tướng giải thoát. Trí tuệ quán sự từ bỏ được giải thoát khỏi tướng trạng nắm giữ, nên gọi là vô tướng giải thoát. Trí tuệ quán vô tướng được giải thoát khỏi tất cả các tướng trạng, nên gọi là vô tướng giải thoát. Trí tuệ quán vô nguyện được giải thoát khỏi tướng trạng mong cầu, nên gọi là vô tướng giải thoát. Trí tuệ quán tánh không được giải thoát khỏi tướng trạng chấp thủ, nên gọi là vô tướng giải thoát.
Rūpe aniccānupassanāñāṇaṃ niccato nimittā muccatīti – animitto vimokkho …pe… rūpe animittānupassanāñāṇaṃ sabbanimittehi muccatīti – animitto vimokkho. Rūpe appaṇihitānupassanāñāṇaṃ paṇidhiyā nimittā muccatīti – animitto vimokkho. Rūpe suññatānupassanāñāṇaṃ abhinivesato nimittā muccatīti – animitto vimokkho. Vedanāya…pe… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe… cakkhusmiṃ…pe… jarāmaraṇe aniccānupassanāñāṇaṃ niccato nimittā muccatīti – animitto vimokkho…pe… jarāmaraṇe aniccānupassanāñāṇaṃ sabbanimittehi muccatīti – animitto vimokkho. Jarāmaraṇe appaṇihitānupassanāñāṇaṃ paṇidhiyā nimittā muccatīti – animitto vimokkho. Jarāmaraṇe suññatānupassanāñāṇaṃ abhinivesato nimittā muccatīti – animitto vimokkho. Ayaṃ animitto vimokkho.
In form, the knowledge of contemplating impermanence is freed from the sign of permanence—thus, it is the signless liberation… In form, the knowledge of contemplating the signless is freed from all signs—thus, it is the signless liberation. In form, the knowledge of contemplating the undirected is freed from the sign of aspiration—thus, it is the signless liberation. In form, the knowledge of contemplating emptiness is freed from the sign of clinging—thus, it is the signless liberation. In feeling… In perception… In formations… In consciousness… In the eye… up to… In aging and death, the knowledge of contemplating impermanence is freed from the sign of permanence—thus, it is the signless liberation… In aging and death, the knowledge of contemplating the signless is freed from all signs—thus, it is the signless liberation. In aging and death, the knowledge of contemplating the undirected is freed from the sign of aspiration—thus, it is the signless liberation. In aging and death, the knowledge of contemplating emptiness is freed from the sign of clinging—thus, it is the signless liberation. This is the signless liberation.
Ở sắc, trí tuệ tùy quán vô thường được giải thoát khỏi tướng thường, vì vậy là vô tướng giải thoát... Ở sắc, trí tuệ tùy quán vô tướng được giải thoát khỏi tất cả các tướng, vì vậy là vô tướng giải thoát. Ở sắc, trí tuệ tùy quán vô nguyện được giải thoát khỏi tướng nguyện cầu, vì vậy là vô tướng giải thoát. Ở sắc, trí tuệ tùy quán không được giải thoát khỏi tướng chấp thủ, vì vậy là vô tướng giải thoát. Ở thọ... ở tưởng... ở các hành... ở thức... ở mắt... ở già-chết, trí tuệ tùy quán vô thường được giải thoát khỏi tướng thường, vì vậy là vô tướng giải thoát... ở già-chết, trí tuệ tùy quán vô tướng được giải thoát khỏi tất cả các tướng, vì vậy là vô tướng giải thoát. Ở già-chết, trí tuệ tùy quán vô nguyện được giải thoát khỏi tướng nguyện cầu, vì vậy là vô tướng giải thoát. Ở già-chết, trí tuệ tùy quán không được giải thoát khỏi tướng chấp thủ, vì vậy là vô tướng giải thoát. Đây là vô tướng giải thoát.
Katamo appaṇihito vimokkho? Aniccānupassanāñāṇaṃ niccato paṇidhiyā muccatīti – appaṇihito vimokkho. Dukkhānupassanāñāṇaṃ sukhato paṇidhiyā muccatīti – appaṇihito vimokkho. Anattānupassanāñāṇaṃ attato paṇidhiyā muccatīti – appaṇihito vimokkho. Nibbidānupassanāñāṇaṃ nandiyā paṇidhiyā muccatīti – appaṇihito vimokkho. Virāgānupassanāñāṇaṃ rāgato paṇidhiyā muccatīti – appaṇihito vimokkho. Nirodhānupassanāñāṇaṃ samudayato paṇidhiyā muccatīti – appaṇihito vimokkho. Paṭinissaggānupassanāñāṇaṃ ādānato paṇidhiyā muccatīti – appaṇihito vimokkho. Animittānupassanāñāṇaṃ nimittato paṇidhiyā muccatīti – appaṇihito vimokkho. Appaṇihitānupassanāñāṇaṃ sabbapaṇidhīhi muccatīti – appaṇihito vimokkho. Suññatānupassanāñāṇaṃ abhinivesato paṇidhiyā muccatīti – appaṇihito vimokkho.
What is the undirected liberation? The knowledge contemplating impermanence is liberated from the aspiration for permanence—thus, it is the undirected liberation. The knowledge contemplating suffering is liberated from the aspiration for happiness—thus, it is the undirected liberation. The knowledge contemplating non-self is liberated from the aspiration for self—thus, it is the undirected liberation. The knowledge contemplating disenchantment is liberated from the aspiration for delight—thus, it is the undirected liberation. The knowledge contemplating dispassion is liberated from the aspiration for lust—thus, it is the undirected liberation. The knowledge contemplating cessation is liberated from the aspiration for arising—thus, it is the undirected liberation. The knowledge contemplating relinquishment is liberated from the aspiration for grasping—thus, it is the undirected liberation. The knowledge contemplating the signless is liberated from the aspiration for signs—thus, it is the undirected liberation. The knowledge contemplating the undirected is liberated from all aspirations—thus, it is the undirected liberation. The knowledge contemplating emptiness is liberated from the aspiration for clinging—thus, it is the undirected liberation.
Thế nào là vô nguyện giải thoát? Trí tuệ tùy quán vô thường được giải thoát khỏi sự nguyện cầu về (cái) thường, vì vậy là vô nguyện giải thoát. Trí tuệ tùy quán khổ được giải thoát khỏi sự nguyện cầu về lạc, vì vậy là vô nguyện giải thoát. Trí tuệ tùy quán vô ngã được giải thoát khỏi sự nguyện cầu về ngã, vì vậy là vô nguyện giải thoát. Trí tuệ tùy quán nhàm chán được giải thoát khỏi sự nguyện cầu về hoan hỷ, vì vậy là vô nguyện giải thoát. Trí tuệ tùy quán ly tham được giải thoát khỏi sự nguyện cầu về tham, vì vậy là vô nguyện giải thoát. Trí tuệ tùy quán đoạn diệt được giải thoát khỏi sự nguyện cầu về tập khởi, vì vậy là vô nguyện giải thoát. Trí tuệ tùy quán từ bỏ được giải thoát khỏi sự nguyện cầu về chấp thủ, vì vậy là vô nguyện giải thoát. Trí tuệ tùy quán vô tướng được giải thoát khỏi sự nguyện cầu về tướng, vì vậy là vô nguyện giải thoát. Trí tuệ tùy quán vô nguyện được giải thoát khỏi tất cả sự nguyện cầu, vì vậy là vô nguyện giải thoát. Trí tuệ tùy quán không được giải thoát khỏi sự nguyện cầu về chấp thủ, vì vậy là vô nguyện giải thoát.
Rūpe aniccānupassanāñāṇaṃ niccato paṇidhiyā muccatīti – appaṇihito vimokkho…pe… rūpe appaṇihitānupassanāñāṇaṃ sabbapaṇidhīhi muccatīti – appaṇihito vimokkho. Rūpe suññatānupassanāñāṇaṃ abhinivesato paṇidhiyā muccatīti – appaṇihito vimokkho. Vedanāya…pe… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe… cakkhusmiṃ…pe… jarāmaraṇe aniccānupassanāñāṇaṃ niccato paṇidhiyā muccatīti – appaṇihito vimokkho…pe… jarāmaraṇe appaṇihitānupassanāñāṇaṃ sabbapaṇidhīhi muccatīti – appaṇihito vimokkho. Jarāmaraṇe suññatānupassanāñāṇaṃ abhinivesato paṇidhiyā muccatīti – appaṇihito vimokkho. Ayaṃ appaṇihito vimokkho. Ayaṃ vimokkho.
The knowledge of contemplation on impermanence in form is liberated from aspiration for permanence; therefore, it is the desireless liberation... The knowledge of contemplation on the desireless in form is liberated from all aspirations; therefore, it is the desireless liberation. The knowledge of contemplation on emptiness in form is liberated from aspiration due to adherence; therefore, it is the desireless liberation. In feeling... in perception... in formations... in consciousness... in the eye... in aging and death, the knowledge of contemplation on impermanence is liberated from aspiration for permanence; therefore, it is the desireless liberation... In aging and death, the knowledge of contemplation on the desireless is liberated from all aspirations; therefore, it is the desireless liberation. In aging and death, the knowledge of contemplation on emptiness is liberated from aspiration due to adherence; therefore, it is the desireless liberation. This is the desireless liberation. This is liberation.
Ở sắc, trí tuệ tùy quán vô thường được giải thoát khỏi sự nguyện cầu về (cái) thường, vì vậy là vô nguyện giải thoát... Ở sắc, trí tuệ tùy quán vô nguyện được giải thoát khỏi tất cả sự nguyện cầu, vì vậy là vô nguyện giải thoát. Ở sắc, trí tuệ tùy quán không được giải thoát khỏi sự nguyện cầu về chấp thủ, vì vậy là vô nguyện giải thoát. Ở thọ... ở tưởng... ở các hành... ở thức... ở mắt... ở già-chết, trí tuệ tùy quán vô thường được giải thoát khỏi sự nguyện cầu về (cái) thường, vì vậy là vô nguyện giải thoát... ở già-chết, trí tuệ tùy quán vô nguyện được giải thoát khỏi tất cả sự nguyện cầu, vì vậy là vô nguyện giải thoát. Ở già-chết, trí tuệ tùy quán không được giải thoát khỏi sự nguyện cầu về chấp thủ, vì vậy là vô nguyện giải thoát. Đây là vô nguyện giải thoát. Đây là sự giải thoát.
230. Katamaṃ mukhaṃ? Ye tattha jātā anavajjā kusalā bodhipakkhiyādhammā, idaṃ mukhaṃ.
230. What is the gateway? Whichever faultless, wholesome factors of enlightenment have arisen therein—this is the gateway.
230. Thế nào là cửa ngõ? Những pháp trợ Bồ-đề nào đã sanh khởi ở đó, không có tội lỗi, là thiện, đây là cửa ngõ.
Katamaṃ vimokkhamukhaṃ? Yaṃ tesaṃ dhammānaṃ ārammaṇaṃ nirodho nibbānaṃ, idaṃ vimokkhamukhaṃ. Vimokkhañca mukhañca vimokkhamukhaṃ, idaṃ vimokkhamukhaṃ.
What is the gateway to liberation? That which is the object of those dhammas, the cessation, Nibbāna—this is the gateway to liberation. It is both liberation and a gateway, thus it is the gateway to liberation. This is the gateway to liberation.
Thế nào là cửa ngõ của giải thoát? Đối tượng của những pháp ấy, là sự diệt, là Níp-bàn, đây là cửa ngõ của giải thoát. Vừa là giải thoát, vừa là cửa ngõ, (nên gọi là) cửa ngõ của giải thoát. Đây là cửa ngõ của giải thoát.
Katamaṃ vimokkhapaccanīkaṃ? Tīṇi akusalamūlāni vimokkhapaccanīkāni, tīṇi duccaritāni vimokkhapaccanīkāni, sabbepi akusalā dhammā vimokkhapaccanīkā, idaṃ vimokkhapaccanīkaṃ.
What is contrary to liberation? The three unwholesome roots are contrary to liberation, the three kinds of misconduct are contrary to liberation, all unwholesome dhammas are contrary to liberation—this is what is contrary to liberation.
Thế nào là (pháp) đối nghịch với giải thoát? Ba căn bất thiện là (pháp) đối nghịch với giải thoát, ba ác hạnh là (pháp) đối nghịch với giải thoát, tất cả các pháp bất thiện là (pháp) đối nghịch với giải thoát. Đây là (pháp) đối nghịch với giải thoát.
Katamaṃ vimokkhānulomaṃ? Tīṇi kusalamūlāni vimokkhānulomāni, tīṇi sucaritāni vimokkhānulomāni, sabbepi kusalā dhammā vimokkhānulomā, idaṃ vimokkhānulomaṃ.
What is conducive to liberation? The three wholesome roots are conducive to liberation, the three kinds of good conduct are conducive to liberation, all wholesome dhammas are conducive to liberation—this is what is conducive to liberation.
Thế nào là (pháp) thuận theo giải thoát? Ba căn thiện là (pháp) thuận theo giải thoát, ba thiện hạnh là (pháp) thuận theo giải thoát, tất cả các pháp thiện là (pháp) thuận theo giải thoát. Đây là (pháp) thuận theo giải thoát.
Katamo vimokkhavivaṭṭo? Saññāvivaṭṭo, cetovivaṭṭo, cittavivaṭṭo, ñāṇavivaṭṭo, vimokkhavivaṭṭo, saccavivaṭṭo. Sañjānanto vivaṭṭatīti – saññāvivaṭṭo. Cetayanto vivaṭṭatīti – cetovivaṭṭo. Vijānanto vivaṭṭatīti – cittavivaṭṭo. Ñāṇaṃ karonto vivaṭṭatīti – ñāṇavivaṭṭo. Vosajjanto vivaṭṭatīti – vimokkhavivaṭṭo. Tathaṭṭhena vivaṭṭatīti – saccavivaṭṭo.
What is the turning away related to liberation? The turning away through perception, the turning away through volition, the turning away through consciousness, the turning away through knowledge, the turning away through liberation, and the turning away through truth. One turns away by perceiving; therefore, it is the turning away through perception. One turns away by intending; therefore, it is the turning away through volition. One turns away by cognizing; therefore, it is the turning away through consciousness. One turns away by producing knowledge; therefore, it is the turning away through knowledge. One turns away by relinquishing; therefore, it is the turning away through liberation. One turns away by means of the true nature; therefore, it is the turning away through truth.
Thế nào là sự xoay khỏi của giải thoát? Sự xoay khỏi của tưởng, sự xoay khỏi của tư, sự xoay khỏi của tâm, sự xoay khỏi của trí, sự xoay khỏi của giải thoát, sự xoay khỏi của sự thật. Do tưởng tri nên xoay khỏi, vì vậy là sự xoay khỏi của tưởng. Do tác ý nên xoay khỏi, vì vậy là sự xoay khỏi của tư. Do thắng tri nên xoay khỏi, vì vậy là sự xoay khỏi của tâm. Do làm cho trí sanh khởi nên xoay khỏi, vì vậy là sự xoay khỏi của trí. Do từ bỏ nên xoay khỏi, vì vậy là sự xoay khỏi của giải thoát. Do (thấy) theo chân nghĩa nên xoay khỏi, vì vậy là sự xoay khỏi của sự thật.
Yattha saññāvivaṭṭo tattha cetovivaṭṭo, yattha cetovivaṭṭo tattha saññāvivaṭṭo, yattha saññāvivaṭṭo cetovivaṭṭo tattha cittavivaṭṭo, yattha cittavivaṭṭo tattha saññāvivaṭṭo cetovivaṭṭo. Yattha saññāvivaṭṭo cetovivaṭṭo cittavivaṭṭo tattha ñāṇavivaṭṭo, yattha ñāṇavivaṭṭo tattha saññāvivaṭṭo cetovivaṭṭo cittavivaṭṭo. Yattha saññāvivaṭṭo cetovivaṭṭo cittavivaṭṭo ñāṇavivaṭṭo tattha vimokkhavivaṭṭo, yattha vimokkhavivaṭṭo tattha saññāvivaṭṭo cetovivaṭṭo cittavivaṭṭo ñāṇavivaṭṭo. Yattha saññāvivaṭṭo cetovivaṭṭo cittavivaṭṭo ñāṇavivaṭṭo vimokkhavivaṭṭo tattha saccavivaṭṭo, yattha saccavivaṭṭo tattha saññāvivaṭṭo cetovivaṭṭo cittavivaṭṭo ñāṇavivaṭṭo vimokkhavivaṭṭo. Ayaṃ vimokkhavivaṭṭo.
Where there is freedom from perception, there is freedom from volition; where there is freedom from volition, there is freedom from perception. Where there is freedom from perception and volition, there is freedom from consciousness; where there is freedom from consciousness, there is freedom from perception and volition. Where there is freedom from perception, volition, and consciousness, there is freedom from knowledge; where there is freedom from knowledge, there is freedom from perception, volition, and consciousness. Where there is freedom from perception, volition, consciousness, and knowledge, there is freedom from liberation; where there is freedom from liberation, there is freedom from perception, volition, consciousness, and knowledge. Where there is freedom from perception, volition, consciousness, knowledge, and liberation, there is freedom from truth; where there is freedom from truth, there is freedom from perception, volition, consciousness, knowledge, and liberation. This is the freedom from liberation.
Nơi nào có sự xoay khỏi của tưởng, nơi đó có sự xoay khỏi của tư. Nơi nào có sự xoay khỏi của tư, nơi đó có sự xoay khỏi của tưởng. Nơi nào có sự xoay khỏi của tưởng và sự xoay khỏi của tư, nơi đó có sự xoay khỏi của tâm. Nơi nào có sự xoay khỏi của tâm, nơi đó có sự xoay khỏi của tưởng và sự xoay khỏi của tư. Nơi nào có sự xoay khỏi của tưởng, sự xoay khỏi của tư, và sự xoay khỏi của tâm, nơi đó có sự xoay khỏi của trí. Nơi nào có sự xoay khỏi của trí, nơi đó có sự xoay khỏi của tưởng, sự xoay khỏi của tư, và sự xoay khỏi của tâm. Nơi nào có sự xoay khỏi của tưởng, sự xoay khỏi của tư, sự xoay khỏi của tâm, và sự xoay khỏi của trí, nơi đó có sự xoay khỏi của giải thoát. Nơi nào có sự xoay khỏi của giải thoát, nơi đó có sự xoay khỏi của tưởng, sự xoay khỏi của tư, sự xoay khỏi của tâm, và sự xoay khỏi của trí. Nơi nào có sự xoay khỏi của tưởng, sự xoay khỏi của tư, sự xoay khỏi của tâm, sự xoay khỏi của trí, và sự xoay khỏi của giải thoát, nơi đó có sự xoay khỏi của sự thật. Nơi nào có sự xoay khỏi của sự thật, nơi đó có sự xoay khỏi của tưởng, sự xoay khỏi của tư, sự xoay khỏi của tâm, sự xoay khỏi của trí, và sự xoay khỏi của giải thoát. Đây là sự xoay khỏi của giải thoát.
Katamā vimokkhabhāvanā? Paṭhamassa jhānassa āsevanā bhāvanā bahulīkammaṃ, dutiyassa jhānassa āsevanā bhāvanā bahulīkammaṃ, tatiyassa jhānassa āsevanā bhāvanā bahulīkammaṃ, catutthassa jhānassa āsevanā bhāvanā bahulīkammaṃ, ākāsānañcāyatanasamāpattiyā āsevanā bhāvanā bahulīkammaṃ, viññāṇañcāyatanasamāpattiyā…pe… ākiñcaññāyatanasamāpattiyā… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā āsevanā bhāvanā bahulīkammaṃ, sotāpattimaggassa āsevanā bhāvanā bahulīkammaṃ, sakadāgāmimaggassa āsevanā bhāvanā bahulīkammaṃ, anāgāmimaggassa āsevanā bhāvanā bahulīkammaṃ, arahattamaggassa āsevanā bhāvanā bahulīkammaṃ, ayaṃ vimokkhabhāvanā.
What is the development of liberation? The cultivation, development, and frequent practice of the first jhāna, the second jhāna, the third jhāna, and the fourth jhāna; of the attainment of the base of infinite space, of the attainment of the base of infinite consciousness… of the attainment of the base of nothingness… of the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception; of the path of stream-entry, of the path of once-returning, of the path of non-returning, and of the path of arahantship. This is the development of liberation.
Thế nào là sự tu tập giải thoát? Sự thực hành, sự tu tập, sự làm cho thuần thục đối với thiền thứ nhất; sự thực hành, sự tu tập, sự làm cho thuần thục đối với thiền thứ hai; sự thực hành, sự tu tập, sự làm cho thuần thục đối với thiền thứ ba; sự thực hành, sự tu tập, sự làm cho thuần thục đối với thiền thứ tư; sự thực hành, sự tu tập, sự làm cho thuần thục đối với Không Vô Biên Xứ định; sự thực hành, sự tu tập, sự làm cho thuần thục đối với Thức Vô Biên Xứ định ...đối với Vô Sở Hữu Xứ định... đối với Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ định; sự thực hành, sự tu tập, sự làm cho thuần thục đối với đạo Tu-đà-hoàn; sự thực hành, sự tu tập, sự làm cho thuần thục đối với đạo Tư-đà-hàm; sự thực hành, sự tu tập, sự làm cho thuần thục đối với đạo A-na-hàm; sự thực hành, sự tu tập, sự làm cho thuần thục đối với đạo A-la-hán. Đây là sự tu tập giải thoát.
Katamā vimokkhappaṭippassaddhi? Paṭhamassa jhānassa paṭilābho vā vipāko vā, dutiyassa jhānassa paṭilābho vā vipāko vā, tatiyassa jhānassa…pe… catutthassa jhānassa… ākāsānañcāyatanasamāpattiyā… viññāṇañcāyatanasamāpattiyā… ākiñcaññāyatanasamāpattiyā… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā paṭilābho vā vipāko vā, sotāpattimaggassa sotāpattiphalaṃ, sakadāgāmimaggassa sakadāgāmiphalaṃ, anāgāmimaggassa anāgāmiphalaṃ, arahattamaggassa arahattaphalaṃ, ayaṃ vimokkhappaṭippassaddhīti.
What is the calming of liberation? It is the attainment or the result of the first jhāna, the attainment or the result of the second jhāna, the attainment or the result of the third jhāna... and so on... the attainment or the result of the fourth jhāna... the attainment of the base of infinite space... the attainment of the base of infinite consciousness... the attainment of the base of nothingness... the attainment or the result of the base of neither-perception-nor-non-perception; the fruit of stream-entry of the path of stream-entry, the fruit of once-returning of the path of once-returning, the fruit of non-returning of the path of non-returning, the fruit of Arahantship of the path of Arahantship. This is the calming of liberation.
Thế nào là sự an tịnh của giải thoát? Hoặc là sự chứng đắc, hoặc là quả của thiền thứ nhất; hoặc là sự chứng đắc, hoặc là quả của thiền thứ hai; hoặc là sự chứng đắc, hoặc là quả của thiền thứ ba ...đối với thiền thứ tư... đối với Không Vô Biên Xứ định... đối với Thức Vô Biên Xứ định... đối với Vô Sở Hữu Xứ định... đối với Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ định; quả Tu-đà-hoàn của đạo Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm của đạo Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm của đạo A-na-hàm, quả A-la-hán của đạo A-la-hán. Đây là sự an tịnh của giải thoát.
Tatiyabhāṇavāro.
The third recitation section is concluded.
Phẩm thứ ba.
Vimokkhakathā niṭṭhitā.
The discussion on liberation is concluded.
Phần giảng giải về Giải thoát đã hoàn thành.