Bản dịch
PS 1.4 — Giảng về Quyền
1.4. Indriyakathā
1. Bài Kinh thứ nhất
Tôi đã được nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại tu viện của ông Anāthapiṇḍika, trong khu rừng (của thái tử) Jeta, ở thành Sāvatthī. Chính ở tại nơi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các vị tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu.” “Thưa ngài,” các vị tỳ khưu ấy đã đáp lại đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
- Này các tỳ khưu, đây là năm quyền. Những gì là năm? Tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền. Này các tỳ khưu, đây là năm quyền.
Năm quyền này được thanh tịnh theo bao nhiêu cách? Năm quyền này được thanh tịnh theo 15 cách: Đối với vị đang xa lánh các kẻ không có đức tin, đang xu hướng theo tiếp cận gần gũi những người có đức tin, đang quán xét lại các bài kinh khơi dậy đức tin; tín quyền được thanh tịnh bằng ba cách này.
Đối với vị đang xa lánh các kẻ biếng nhác, đang xu hướng theo tiếp cận gần gũi những người có sự ra sức tinh tấn, đang quán xét lại các sự nỗ lực đúng đắn; tấn quyền được thanh tịnh bằng ba cách này.
Đối với vị đang xa lánh các kẻ có niệm bị quên lãng, đang xu hướng theo tiếp cận gần gũi những người có niệm được thiết lập, đang quán xét lại các sự thiết lập niệm; niệm quyền được thanh tịnh bằng ba cách này.
Đối với vị đang xa lánh các kẻ không định tĩnh, đang xu hướng theo tiếp cận gần gũi những người định tĩnh, đang quán xét lại các định và giải thoát; định quyền được thanh tịnh bằng ba cách này.
Đối với vị đang xa lánh các kẻ có tuệ kém, đang xu hướng theo tiếp cận gần gũi những người có tuệ, đang quán xét lại hành vi của trí thâm sâu; tuệ quyền được thanh tịnh bằng ba cách này.
Như thế, đối với vị đang xa lánh năm hạng người này, đối với vị đang xu hướng theo tiếp cận gần gũi năm hạng người (kia), đối với vị đang quán xét lại các bài kinh khơi dậy đức tin, các quyền này được thanh tịnh theo 15 cách này.
Năm quyền được phát triển bằng bao nhiêu cách? Bằng bao nhiêu cách có được sự phát triển của năm quyền?* Năm quyền được phát triển bằng mười cách, bằng mười cách có được sự phát triển của năm quyền.
Trong khi dứt bỏ sự không có đức tin là phát triển tín quyền, trong khi phát triển tín quyền là dứt bỏ sự không có đức tin; trong khi dứt bỏ sự biếng nhác là phát triển tấn quyền, trong khi phát triển tấn quyền là dứt bỏ sự biếng nhác; trong khi dứt bỏ sự buông lung là phát triển niệm quyền, trong khi phát triển niệm quyền là dứt bỏ sự buông lung; trong khi dứt bỏ sự phóng dật là phát triển định quyền, trong khi phát triển định quyền là dứt bỏ sự phóng dật; trong khi dứt bỏ vô minh là phát triển tuệ quyền, trong khi phát triển tuệ quyền là dứt bỏ vô minh.
Năm quyền được phát triển bằng mười cách này, bằng mười cách này có được sự phát triển của năm quyền.
Năm quyền (là) được phát triển,* (là) được phát triển tốt đẹp bằng bao nhiêu cách? Năm quyền (là) được phát triển, (là) được phát triển tốt đẹp bằng mười cách.
Do trạng thái dứt bỏ, do trạng thái dứt bỏ tốt đẹp của sự không có đức tin, tín quyền được phát triển được phát triển tốt đẹp; do trạng thái đã được phát triển, do trạng thái đã được phát triển tốt đẹp của tín quyền, có sự từ bỏ, có sự từ bỏ tốt đẹp của sự không có đức tin. Do trạng thái dứt bỏ … của sự biếng nhác, tấn quyền được phát triển …; do trạng thái đã được phát triển … của tấn quyền, có sự từ bỏ … của sự biếng nhác. Do trạng thái dứt bỏ … của sự buông lung, niệm quyền được phát triển …; do trạng thái đã được phát triển … của niệm quyền, có sự từ bỏ … của sự buông lung. Do trạng thái dứt bỏ … của phóng dật, định quyền được phát triển …; do trạng thái đã được phát triển… của định quyền, có sự từ bỏ … của phóng dật. Do trạng thái dứt bỏ, do trạng thái dứt bỏ tốt đẹp của vô minh, tuệ quyền được phát triển được phát triển tốt đẹp; do trạng thái đã được phát triển, do trạng thái đã được phát triển tốt đẹp của tuệ quyền, có sự từ bỏ, có sự từ bỏ tốt đẹp của vô minh.
Năm quyền (là) được phát triển, (là) được phát triển tốt đẹp bằng mười cách này.
Năm quyền được phát triển bằng bao nhiêu cách? Năm quyền không những (là) được phát triển, mà (là) còn được phát triển tốt đẹp, được tịnh lặng, và được tịnh lặng tốt đẹp bằng bao nhiêu cách? Năm quyền được phát triển bằng bốn cách; năm quyền không những (là) được phát triển, mà (là) còn được phát triển tốt đẹp, được tịnh lặng, và được tịnh lặng tốt đẹp bằng bốn cách.
Ở sát-na Đạo Nhập Lưu, năm quyền được phát triển; ở sát-na Quả Nhập Lưu, năm quyền không những (là) được phát triển, mà (là) còn được phát triển tốt đẹp, được tịnh lặng, và được tịnh lặng tốt đẹp. Ở sát-na Đạo Nhất Lai, … ở sát-na Quả Nhất Lai, … Ở sát-na Đạo Bất Lai, … ở sát-na Quả Bất Lai, … Ở sát-na Đạo A-la-hán, năm quyền được phát triển; ở sát-na Quả A-la-hán, năm quyền không những (là) được phát triển, mà (là) còn được phát triển tốt đẹp, được tịnh lặng, và được tịnh lặng tốt đẹp.
2. Dutiyasuttaṁ
Như thế, có bốn sự thanh tịnh của Đạo, có bốn sự thanh tịnh của Quả, có bốn sự thanh tịnh của đoạn trừ, có bốn sự thanh tịnh của tịnh lặng. Bằng bốn cách này, năm quyền được phát triển; bằng bốn cách này, năm quyền không những (là) được phát triển, mà (là) còn được phát triển tốt đẹp, được tịnh lặng, và được tịnh lặng tốt đẹp.
Có sự phát triển quyền ở bao nhiêu hạng người? Bao nhiêu hạng người có quyền được phát triển? Có sự phát triển quyền ở tám hạng người, ba hạng người có quyền được phát triển.
Có sự phát triển quyền ở tám hạng người nào? Ở bảy hạng Hữu Học và phàm nhân hoàn thiện; có sự phát triển quyền ở tám hạng người này. Ba hạng người nào có quyền được phát triển? Vị Phật Thinh Văn, đệ tử của đức Như Lai, là bậc Lậu Tận có quyền được phát triển; đức Phật Độc Giác với ý nghĩa tự mình chứng ngộ có quyền được phát triển; đức Như Lai với ý nghĩa vô lượng, là bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác có quyền được phát triển; ba hạng người này có quyền được phát triển.
Như thế, có sự phát triển quyền ở tám hạng người này; ba hạng người này có quyền được phát triển.
Phần giải thích về bài Kinh thứ nhất.
2. Bài Kinh thứ nhì
[Duyên khởi ở Sāvatthī]
Này các tỳ khưu, đây là năm quyền. Những gì là năm? Tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền.
Này các tỳ khưu, chính các vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào không nhận biết đúng theo thực thể về sự sanh khởi, về sự biến mất, về sự khoái lạc, về sự tai hại, và về sự xuất ly của năm quyền này, này các tỳ khưu, đối với ta các Sa-môn hoặc Bà-la-môn ấy không được xem là Sa-môn trong số các Sa-môn, hoặc không được xem là Bà-la-môn trong số các Bà-la-môn; hơn nữa các vị tôn túc ấy ngay trong thời hiện tại không tự mình tác chứng bằng thắng trí, đạt đến và an trú vào mục đích của Sa-môn hạnh hoặc mục đích của Bà-la-môn hạnh.
Này các tỳ khưu, chính các vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào nhận biết đúng theo thực thể về sự sanh khởi, về sự biến mất, về sự khoái lạc, về sự tai hại, và về sự xuất ly của năm quyền này, này các tỳ khưu, đối với ta các Sa-môn hoặc Bà-la-môn ấy được xem là Sa-môn trong số các Sa-môn, hoặc được xem là Bà-la-môn trong số các Bà-la-môn; hơn nữa các vị tôn túc ấy ngay trong thời hiện tại tự mình tác chứng bằng thắng trí, đạt đến và an trú vào mục đích của Sa-môn hạnh hoặc mục đích của Bà-la-môn hạnh.
Sự sanh khởi của năm quyền là với bao nhiêu biểu hiện? Nhận biết sự sanh khởi của năm quyền bằng bao nhiêu biểu hiện? Sự biến mất của năm quyền là với bao nhiêu biểu hiện? Nhận biết sự biến mất của năm quyền bằng bao nhiêu biểu hiện? Sự khoái lạc của năm quyền là với bao nhiêu biểu hiện? Nhận biết sự khoái lạc của năm quyền bằng bao nhiêu biểu hiện? Sự tai hại của năm quyền là với bao nhiêu biểu hiện? Nhận biết sự tai hại của năm quyền bằng bao nhiêu biểu hiện? Sự xuất ly của năm quyền là với bao nhiêu biểu hiện? Nhận biết sự xuất ly của năm quyền bằng bao nhiêu biểu hiện?
Sự sanh khởi của năm quyền là với 40 biểu hiện, (hành giả) nhận biết sự sanh khởi của năm quyền bằng 40 biểu hiện. Sự biến mất của năm quyền là với 40 biểu hiện, (hành giả) nhận biết sự biến mất của năm quyền bằng 40 biểu hiện. Sự khoái lạc của năm quyền là với 25 biểu hiện, (hành giả) nhận biết sự khoái lạc của năm quyền bằng 25 biểu hiện. Sự tai hại của năm quyền là với 25 biểu hiện, (hành giả) nhận biết sự tai hại của năm quyền bằng 25 biểu hiện. Sự xuất ly của năm quyền là với 180 biểu hiện, (hành giả) nhận biết sự xuất ly của năm quyền bằng 180 biểu hiện.
Sự sanh khởi của năm quyền là với 40 biểu hiện gì? Nhận biết sự sanh khởi của năm quyền bằng 40 biểu hiện gì?
Sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa cương quyết là sự sanh khởi của tín quyền, sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự cương quyết là sự sanh khởi của tín quyền, sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự cương quyết là sự sanh khởi của tín quyền, sự thiết lập của nhất thể do tác động của tín quyền là sự sanh khởi của tín quyền. Sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa ra sức là sự sanh khởi của tấn quyền, sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự ra sức là sự sanh khởi của tấn quyền, sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự ra sức là sự sanh khởi của tấn quyền, sự thiết lập của nhất thể do tác động của tấn quyền là sự sanh khởi của tấn quyền. Sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa thiết lập là sự sanh khởi của niệm quyền, sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự thiết lập là sự sanh khởi của niệm quyền, sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự thiết lập là sự sanh khởi của niệm quyền, sự thiết lập của nhất thể do tác động của niệm quyền là sự sanh khởi của niệm quyền. Sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa không tản mạn là sự sanh khởi của định quyền, sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự không tản mạn là sự sanh khởi của định quyền, sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự không tản mạn là sự sanh khởi của định quyền, sự thiết lập của nhất thể do tác động của định quyền là sự sanh khởi của định quyền. Sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa nhận thức là sự sanh khởi của tuệ quyền, sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự nhận thức là sự sanh khởi của tuệ quyền, sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự nhận thức là sự sanh khởi của tuệ quyền, sự thiết lập của nhất thể do tác động của tuệ quyền là sự sanh khởi của tuệ quyền.
Sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa cương quyết là sự sanh khởi của tín quyền, sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa ra sức là sự sanh khởi của tấn quyền, sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa thiết lập là sự sanh khởi của niệm quyền, sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa không tản mạn là sự sanh khởi của định quyền, sự sanh khởi của hướng tâm theo ý nghĩa nhận thức là sự sanh khởi của tuệ quyền. Sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự cương quyết là sự sanh khởi của tín quyền, sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự ra sức là sự sanh khởi của tấn quyền, sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự thiết lập là sự sanh khởi của niệm quyền, sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự không tản mạn là sự sanh khởi của định quyền, sự sanh khởi của ước muốn do tác động của sự nhận thức là sự sanh khởi của tuệ quyền.
Sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự cương quyết là sự sanh khởi của tín quyền, sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự ra sức là sự sanh khởi của tấn quyền, sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự thiết lập là sự sanh khởi của niệm quyền, sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự không tản mạn là sự sanh khởi của định quyền, sự sanh khởi của tác ý do tác động của sự nhận thức là sự sanh khởi của tuệ quyền. Sự thiết lập của nhất thể do tác động của tín quyền là sự sanh khởi của tín quyền, sự thiết lập của nhất thể do tác động của tấn quyền là sự sanh khởi của tấn quyền. sự thiết lập của nhất thể do tác động của niệm quyền là sự sanh khởi của niệm quyền, sự thiết lập của nhất thể do tác động của định quyền là sự sanh khởi của định quyền, sự thiết lập của nhất thể do tác động của tuệ quyền là sự sanh khởi của tuệ quyền.
Sự sanh khởi của năm quyền là với 40 biểu hiện này, (hành giả) nhận biết sự sanh khởi của năm quyền bằng 40 biểu hiện này.
Sự biến mất của năm quyền là với 40 biểu hiện gì? Nhận biết sự biến mất của năm quyền bằng 40 biểu hiện gì?
Sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa cương quyết là sự biến mất của tín quyền, sự biến mất của ước muốn do tác động của sự cương quyết là sự biến mất của tín quyền, sự biến mất của tác ý do tác động của sự cương quyết là sự biến mất của tín quyền, sự không thiết lập của nhất thể do tác động của tín quyền là sự biến mất của tín quyền.
Sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa ra sức là sự biến mất của tấn quyền, sự biến mất của ước muốn do tác động của sự ra sức là sự biến mất của tấn quyền, sự biến mất của tác ý do tác động của sự ra sức là sự biến mất của tấn quyền, sự không thiết lập của nhất thể do tác động của tấn quyền là sự biến mất của tấn quyền.
Sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa thiết lập là sự biến mất của niệm quyền, sự biến mất của ước muốn do tác động của sự thiết lập là sự biến mất của niệm quyền, sự biến mất của tác ý do tác động của sự thiết lập là sự biến mất của niệm quyền, sự không thiết lập của nhất thể do tác động của niệm quyền là sự biến mất của niệm quyền.
Sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa không tản mạn là sự biến mất của định quyền, sự biến mất của ước muốn do tác động của sự không tản mạn là sự biến mất của định quyền, sự biến mất của tác ý do tác động của sự không tản mạn là sự biến mất của định quyền, sự không thiết lập của nhất thể do tác động của định quyền là sự biến mất của định quyền.
Sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa nhận thức là sự biến mất của tuệ quyền, sự biến mất của ước muốn do tác động của sự nhận thức là sự biến mất của tuệ quyền, sự biến mất của tác ý do tác động của sự nhận thức là sự biến mất của tuệ quyền, sự không thiết lập của nhất thể do tác động của tuệ quyền là sự biến mất của tuệ quyền.
Sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa cương quyết là sự biến mất của tín quyền, sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa ra sức là sự biến mất của tấn quyền, sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa thiết lập là sự biến mất của niệm quyền, sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa không tản mạn là sự biến mất của định quyền, sự biến mất của sự hướng tâm theo ý nghĩa nhận thức là sự biến mất của tuệ quyền.
Sự biến mất của ước muốn do tác động của sự cương quyết là sự biến mất của tín quyền, sự biến mất của ước muốn do tác động của sự ra sức là sự biến mất của tấn quyền, sự biến mất của ước muốn do tác động của sự thiết lập là sự biến mất của niệm quyền, sự biến mất của ước muốn do tác động của sự không tản mạn là sự biến mất của định quyền, sự biến mất của ước muốn do tác động của sự nhận thức là sự biến mất của tuệ quyền.
Sự biến mất của tác ý do tác động của sự cương quyết là sự biến mất của tín quyền, sự biến mất của tác ý do tác động của sự ra sức là sự biến mất của tấn quyền, sự biến mất của tác ý do tác động của sự thiết lập là sự biến mất của niệm quyền, sự biến mất của tác ý do tác động của sự không tản mạn là sự biến mất của định quyền, sự biến mất của tác ý do tác động của sự nhận thức là sự biến mất của tuệ quyền.
Sự không thiết lập của nhất thể do tác động của tín quyền là sự biến mất của tín quyền, sự không thiết lập của nhất thể do tác động của tấn quyền là sự biến mất của tấn quyền, sự không thiết lập của nhất thể do tác động của niệm quyền là sự biến mất của niệm quyền, sự không thiết lập của nhất thể do tác động của định quyền là sự biến mất của định quyền, sự không thiết lập của nhất thể do tác động của tuệ quyền là sự biến mất của tuệ quyền.
Sự biến mất của năm quyền là với 40 biểu hiện này, (hành giả) nhận biết sự biến mất của năm quyền bằng 40 biểu hiện này.
Sự khoái lạc của năm quyền là với 25 biểu hiện gì? Nhận biết sự khoái lạc của năm quyền bằng 25 biểu hiện gì?
Sự không thiết lập của sự không có đức tin là sự khoái lạc của tín quyền, sự không thiết lập của trạng thái bực bội do không có đức tin là sự khoái lạc của tín quyền, sự tự tín của hành vi cương quyết là sự khoái lạc của tín quyền, sự an trú và đắc chứng thanh tịnh* là sự khoái lạc của tín quyền, lạc và hỷ tâm nào sanh lên tùy thuận vào tín quyền thì điều ấy là sự khoái lạc của tín quyền.
Sự không thiết lập của biếng nhác là sự khoái lạc của tấn quyền, sự không thiết lập của trạng thái bực bội do biếng nhác là sự khoái lạc của tấn quyền, sự tự tín của hành vi ra sức là sự khoái lạc của tấn quyền, sự an trú và đắc chứng thanh tịnh là sự khoái lạc của tấn quyền, lạc và hỷ tâm nào sanh lên tùy thuận vào tấn quyền thì điều ấy là sự khoái lạc của tấn quyền.
Sự không thiết lập của buông lung là sự khoái lạc của niệm quyền, sự không thiết lập của trạng thái bực bội do buông lung là sự khoái lạc của niệm quyền, sự tự tín của hành vi thiết lập là sự khoái lạc của niệm quyền, sự an trú và đắc chứng thanh tịnh là sự khoái lạc của niệm quyền, lạc và hỷ tâm nào sanh lên tùy thuận vào niệm quyền thì điều ấy là sự khoái lạc của niệm quyền.
Sự không thiết lập của phóng dật là sự khoái lạc của định quyền, sự không thiết lập của trạng thái bực bội do phóng dật là sự khoái lạc của định quyền, sự tự tín của hành vi không tản mạn là sự khoái lạc của định quyền, sự an trú và đắc chứng thanh tịnh là sự khoái lạc của định quyền, lạc và hỷ tâm nào sanh lên tùy thuận vào định quyền thì điều ấy là sự khoái lạc của định quyền.
Sự không thiết lập của vô minh là sự khoái lạc của tuệ quyền, sự không thiết lập của trạng thái bực bội do vô minh là sự khoái lạc của tuệ quyền, sự tự tín của hành vi nhận thức là sự khoái lạc của tuệ quyền, sự an trú và đắc chứng thanh tịnh là sự khoái lạc của tuệ quyền, lạc và hỷ tâm nào sanh lên tùy thuận vào tuệ quyền thì điều ấy là sự khoái lạc của tuệ quyền.
Sự khoái lạc của năm quyền là với 25 biểu hiện này, (hành giả) nhận biết sự khoái lạc của năm quyền bằng 25 biểu hiện này.
Sự tai hại của năm quyền là với 25 biểu hiện gì? Nhận biết sự tai hại của năm quyền bằng 25 biểu hiện gì?
Sự thiết lập của sự không có đức tin là sự tai hại của tín quyền, sự thiết lập của trạng thái bực bội do không có đức tin là sự tai hại của tín quyền, theo ý nghĩa vô thường là sự tai hại của tín quyền, theo ý nghĩa khổ não là sự tai hại của tín quyền, theo ý nghĩa vô ngã là sự tai hại của tín quyền.
Sự thiết lập của sự biếng nhác là sự tai hại của tấn quyền, sự thiết lập của trạng thái bực bội do biếng nhác là sự tai hại của tấn quyền, theo ý nghĩa vô thường là sự tai hại của tấn quyền, theo ý nghĩa khổ não là sự tai hại của tấn quyền, theo ý nghĩa vô ngã là sự tai hại của tấn quyền.
Sự thiết lập của sự buông lung là sự tai hại của niệm quyền, sự thiết lập của trạng thái bực bội do buông lung là sự tai hại của niệm quyền, theo ý nghĩa vô thường là sự tai hại của niệm quyền, theo ý nghĩa khổ não là sự tai hại của niệm quyền, theo ý nghĩa vô ngã là sự tai hại của niệm quyền.
Sự thiết lập của phóng dật là sự tai hại của định quyền, sự thiết lập của trạng thái bực bội do phóng dật là sự tai hại của định quyền, theo ý nghĩa vô thường là sự tai hại của định quyền, theo ý nghĩa khổ não là sự tai hại của định quyền, theo ý nghĩa vô ngã là sự tai hại của định quyền.
Sự thiết lập của vô minh là sự tai hại của tuệ quyền, sự thiết lập của trạng thái bực bội do vô minh là sự tai hại của tuệ quyền, theo ý nghĩa vô thường là sự tai hại của tuệ quyền, theo ý nghĩa khổ não là sự tai hại của tuệ quyền, theo ý nghĩa vô ngã là sự tai hại của tuệ quyền.
Sự tai hại của năm quyền là với 25 biểu hiện này, (hành giả) nhận biết sự tai hại của năm quyền bằng 25 biểu hiện này.
Sự xuất ly của năm quyền là với 180 biểu hiện gì? Nhận biết sự xuất ly của năm quyền bằng 180 biểu hiện gì?
Với ý nghĩa cương quyết, tín quyền được xuất ly khỏi sự không có đức tin, được xuất ly khỏi trạng thái bực bội do không có đức tin, được xuất ly khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, được xuất ly khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần, từ đó được xuất ly khỏi tín quyền (thuộc thời điểm) liền trước đây nhờ sự thành tựu tín quyền thù thắng hơn.
Với ý nghĩa ra sức, tấn quyền được xuất ly khỏi sự biếng nhác, được xuất ly khỏi trạng thái bực bội do biếng nhác, được xuất ly khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, được xuất ly khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần, từ đó được xuất ly khỏi tấn quyền (thuộc thời điểm) liền trước đây nhờ sự thành tựu tấn quyền thù thắng hơn.
Với ý nghĩa thiết lập, niệm quyền được xuất ly khỏi sự buông lung, được xuất ly khỏi trạng thái bực bội do buông lung, được xuất ly khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, được xuất ly khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần, từ đó được xuất ly khỏi niệm quyền (thuộc thời điểm) liền trước đây nhờ sự thành tựu của niệm quyền thù thắng hơn.
Với ý nghĩa không tản mạn, định quyền được xuất ly khỏi sự phóng dật, được xuất ly khỏi trạng thái bực bội do phóng dật, được xuất ly khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, được xuất ly khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần, từ đó được xuất ly khỏi định quyền (thuộc thời điểm) liền trước đây nhờ sự thành tựu của định quyền thù thắng hơn.
Với ý nghĩa nhận thức, tuệ quyền được xuất ly khỏi vô minh, được xuất ly khỏi trạng thái bực bội do vô minh, được xuất ly khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, được xuất ly khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần, từ đó được xuất ly khỏi tuệ quyền (thuộc thời điểm) liền trước đây nhờ sự thành tựu của tuệ quyền thù thắng hơn.
Do nhờ năng lực của sơ thiền, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở giai đoạn trước đây. Do nhờ năng lực của nhị thiền, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sơ thiền. Do nhờ năng lực của tam thiền, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở nhị thiền. Do nhờ năng lực của tứ thiền, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở tam thiền. Do nhờ năng lực của sự chứng đạt không vô biên xứ, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở tứ thiền. Do nhờ năng lực của sự chứng đạt thức vô biên xứ, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự chứng đạt không vô biên xứ. Do nhờ năng lực của sự chứng đạt vô sở hữu xứ, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự chứng đạt thức vô biên xứ. Do nhờ năng lực của sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự chứng đạt vô sở hữu xứ. Do nhờ năng lực của sự quán xét về vô thường, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Do nhờ năng lực của sự quán xét về khổ não, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về vô thường. Do nhờ năng lực của sự quán xét về vô ngã, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về khổ não. Do nhờ năng lực của sự quán xét về sự nhàm chán, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về vô ngã. Do nhờ năng lực của sự quán xét về ly tham ái, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về sự nhàm chán. Do nhờ năng lực của sự quán xét về sự diệt tận, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về ly tham ái. Do nhờ năng lực của sự quán xét về sự từ bỏ, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về sự diệt tận. Do nhờ năng lực của sự quán xét về sự đoạn tận, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về sự từ bỏ. Do nhờ năng lực của sự quán xét về sự biến hoại, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về sự đoạn tận. Do nhờ năng lực của sự quán xét về sự chuyển biến, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về sự biến hoại. Do nhờ năng lực của sự quán xét về vô tướng, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về sự chuyển biến. Do nhờ năng lực của sự quán xét về vô nguyện, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về vô tướng. Do nhờ năng lực của sự quán xét về không tánh, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về vô nguyện. Do nhờ năng lực của sự minh sát các pháp bằng thắng tuệ, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về không tánh. Do nhờ năng lực của sự biết và thấy đúng theo thực thể, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự minh sát các pháp bằng thắng tuệ. Do nhờ năng lực của sự quán xét về sự tai hại, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự biết và thấy đúng theo thực thể. Do nhờ năng lực của sự quán xét về sự phân biệt rõ, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về sự tai hại. Do nhờ năng lực của sự quán xét về sự ly khai, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về sự phân biệt rõ. Do nhờ năng lực của Đạo Nhập Lưu, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự quán xét về sự ly khai. Do nhờ năng lực của sự chứng đạt Quả Nhập Lưu, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở Đạo Nhập Lưu. Do nhờ năng lực của Đạo Nhất Lai, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự chứng đạt Quả Nhập Lưu. Do nhờ năng lực của sự chứng đạt Quả Nhất Lai, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở Đạo Nhất Lai. Do nhờ năng lực của Đạo Bất Lai, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự chứng đạt Quả Nhất Lai. Do nhờ năng lực của sự chứng đạt Quả Bất Lai, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở Đạo Bất Lai. Do nhờ năng lực của Đạo A-la-hán, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở sự chứng đạt Quả Bất Lai. Do nhờ năng lực của sự chứng đạt Quả A-la-hán, năm quyền được xuất ly khỏi năm quyền ở Đạo A-la-hán.
Năm quyền ở sự thoát ly được xuất ly khỏi ước muốn trong các dục. Năm quyền ở sự không sân độc được xuất ly khỏi sự sân độc. Năm quyền ở sự nghĩ tưởng đến ánh sáng được xuất ly khỏi sự lờ đờ buồn ngủ. Năm quyền ở sự không tản mạn được xuất ly khỏi sự phóng dật. Năm quyền ở sự xác định pháp được xuất ly khỏi sự hoài nghi. Năm quyền ở trí được xuất ly khỏi vô minh. Năm quyền ở sự hân hoan được xuất ly khỏi sự không hứng thú.
Năm quyền ở sơ thiền được xuất ly khỏi các pháp ngăn che. Năm quyền ở nhị thiền được xuất ly khỏi tầm và tứ. Năm quyền ở tam thiền được xuất ly khỏi hỷ. Năm quyền ở tứ thiền được xuất ly khỏi lạc và khổ. Năm quyền ở sự chứng đạt không vô biên xứ được xuất ly khỏi sự nghĩ tưởng về sắc, sự nghĩ tưởng về bất bình, sự nghĩ tưởng về trạng thái khác biệt. Năm quyền ở sự chứng đạt thức vô biên xứ được xuất ly khỏi sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ. Năm quyền ở sự chứng đạt vô sở hữu xứ được xuất ly khỏi sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ. Năm quyền ở sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ được xuất ly khỏi sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ.
Năm quyền ở sự quán xét về vô thường được xuất ly khỏi sự nghĩ tưởng về thường còn. Năm quyền ở sự quán xét về khổ não được xuất ly khỏi sự nghĩ tưởng về lạc. Năm quyền ở sự quán xét về vô ngã được xuất ly khỏi sự nghĩ tưởng về ngã. Năm quyền ở sự quán xét về sự nhàm chán được xuất ly khỏi sự vui thích. Năm quyền ở sự quán xét về ly tham ái được xuất ly khỏi tham ái. Năm quyền ở sự quán xét về sự diệt tận được xuất ly khỏi nhân sanh khởi. Năm quyền ở sự quán xét về sự từ bỏ được xuất ly khỏi sự tai hại. Năm quyền ở sự quán xét về sự đoạn tận được xuất ly khỏi sự nghĩ tưởng về tiếp diễn. Năm quyền ở sự quán xét về sự biến hoại được xuất ly khỏi (nghiệp) tích lũy. Năm quyền ở sự quán xét về sự chuyển biến được xuất ly khỏi sự nghĩ tưởng về bền vững. Năm quyền ở sự quán xét về vô tướng được xuất ly khỏi hiện tướng. Năm quyền ở sự quán xét về vô nguyện được xuất ly khỏi sự nguyện ước. Năm quyền ở sự quán xét về không tánh được xuất ly khỏi sự cố chấp. Năm quyền ở sự minh sát các pháp bằng thắng tuệ được xuất ly khỏi sự cố chấp về thực chất (của thường còn, của tự ngã). Năm quyền ở sự biết và thấy đúng theo thực thể được xuất ly khỏi cố chấp vào sự lầm lẫn. Năm quyền ở sự quán xét về sự tai hại được xuất ly khỏi sự cố chấp vào sự lệ thuộc. Năm quyền ở sự quán xét về sự phân biệt rõ được xuất ly khỏi sự không phân biệt rõ. Năm quyền ở sự quán xét về sự ly khai được xuất ly khỏi sự cố chấp vào sự ràng buộc.
3. Tatiyasuttaṁ
Năm quyền ở Đạo Nhập Lưu được xuất ly khỏi các phiền não thuần về tà kiến, năm quyền ở Đạo Nhất Lai được xuất ly khỏi các phiền não thô thiển, năm quyền ở Đạo Bất Lai được xuất ly khỏi các phiền não có tính chất vi tế, năm quyền ở Đạo A-la-hán được xuất ly khỏi toàn bộ phiền não; trong mọi trường hợp, năm quyền của chính tất cả các bậc Lậu Tận không những là được xuất ly, mà còn được xuất ly tốt đẹp, được tịnh lặng, và được tịnh lặng tốt đẹp.
Sự xuất ly của năm quyền là với 180 biểu hiện này, (hành giả) nhận biết sự xuất ly của năm quyền bằng 180 biểu hiện này.
Phần giải thích về bài Kinh thứ nhì.
Tụng Phẩm thứ nhất.
3. Bài Kinh thứ ba
[Duyên khởi ở Sāvatthī]
Này các tỳ khưu, đây là năm quyền. Những gì là năm? Tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền.
Và này các tỳ khưu, tín quyền nên được quan sát ở đâu? Ở bốn chi phần của Nhập Lưu, tín quyền nên được quan sát ở đây. Và này các tỳ khưu, tấn quyền nên được quan sát ở đâu? Ở bốn chánh cần, tấn quyền nên được quan sát ở đây. Và này các tỳ khưu, niệm quyền nên được quan sát ở đâu? Ở bốn sự thiết lập niệm, niệm quyền nên được quan sát ở đây. Và này các tỳ khưu, định quyền nên được quan sát ở đâu? Ở bốn thiền, định quyền nên được quan sát ở đây. Và này các tỳ khưu, tuệ quyền nên được quan sát ở đâu? Ở bốn chân lý cao thượng, tuệ quyền nên được quan sát ở đây.
Do nhờ năng lực của tín quyền ở bốn chi phần của Nhập Lưu, năm quyền nên được quan sát theo bao nhiêu biểu hiện? Do nhờ năng lực của tấn quyền ở bốn chánh cần, năm quyền nên được quan sát theo bao nhiêu biểu hiện? Do nhờ năng lực của niệm quyền ở bốn sự thiết lập niệm, năm quyền nên được quan sát theo bao nhiêu biểu hiện? Do nhờ năng lực của định quyền ở bốn thiền, năm quyền nên được quan sát theo bao nhiêu biểu hiện? Do nhờ năng lực của tuệ quyền ở bốn chân lý cao thượng, năm quyền nên được quan sát theo bao nhiêu biểu hiện?
Do nhờ năng lực của tín quyền ở bốn chi phần của Nhập Lưu, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện. Do nhờ năng lực của tấn quyền ở bốn chánh cần, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện. Do nhờ năng lực của niệm quyền ở bốn sự thiết lập niệm, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện. Do nhờ năng lực của định quyền ở bốn thiền, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện. Do nhờ năng lực của tuệ quyền ở bốn chân lý cao thượng, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện.
Do nhờ năng lực của tín quyền ở bốn chi phần của Nhập Lưu, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?
Ở bốn chi phần của Nhập Lưu về sự thân cận bậc chân nhân, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tín quyền, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức. Ở bốn chi phần của Nhập Lưu về sự lắng nghe Chánh Pháp, …(như trên)… về sự tác ý đúng đường lối, …(như trên)… về sự thực hành đúng pháp và thuận pháp, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tín quyền, …(như trên)… tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức.
Do nhờ năng lực của tín quyền ở bốn chi phần của Nhập Lưu, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.
Do nhờ năng lực của tấn quyền ở bốn chánh cần, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?
Ở chánh cần nhằm không làm sanh khởi các pháp ác bất thiện chưa được sanh khởi, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tấn quyền, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết. Ở chánh cần nhằm dứt bỏ các pháp ác bất thiện chưa được sanh khởi, …(nt)… Ở chánh cần nhằm làm sanh khởi các pháp thiện chưa được sanh khởi, …(nt)… Ở chánh cần nhắm đến sự duy trì, sự không bị lẫn lộn, sự tăng trưởng, sự dồi dào, sự phát triển, sự làm tròn đủ các pháp thiện đã được sanh khởi, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tấn quyền, … tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết.
Do nhờ năng lực của tấn quyền ở bốn chánh cần, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.
Do nhờ năng lực của niệm quyền ở bốn sự thiết lập niệm, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?
Ở sự thiết lập niệm về quán xét thân trên thân, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của niệm quyền, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức. Ở sự thiết lập niệm về quán xét thọ trên các thọ, …(như trên)… Ở sự thiết lập niệm về quán xét tâm trên tâm, …(như trên)… Ở sự thiết lập niệm về quán xét pháp trên các pháp, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của niệm quyền, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn, …(như trên)… tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức.
Do nhờ năng lực của niệm quyền ở bốn sự thiết lập niệm, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.
Do nhờ năng lực của định quyền ở bốn thiền, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?
Ở sơ thiền, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của định quyền, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập. Ở nhị thiền, …(như trên)… Ở tam thiền, …(như trên)… Ở tứ thiền, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của định quyền, …(như trên)… niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập.
Do nhờ năng lực của định quyền ở bốn thiền, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.
Do nhờ năng lực của tuệ quyền ở bốn chân lý cao thượng, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?
Ở chân lý cao thượng về Khổ, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tuệ quyền, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn. Ở chân lý cao thượng về nhân sanh Khổ, …(như trên)… Ở chân lý cao thượng về sự diệt tận Khổ, …(như trên)… Ở chân lý cao thượng về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tuệ quyền, …(như trên)… định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn.
Do nhờ năng lực của tuệ quyền ở bốn chân lý cao thượng, năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.
Do nhờ năng lực của tín quyền ở bốn chi phần của Nhập Lưu, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo bao nhiêu biểu hiện? Do nhờ năng lực của tuệ quyền ở bốn chánh cần …(như trên)… ở bốn sự thiết lập niệm …(như trên)… ở bốn thiền …(như trên)… ở bốn chân lý cao thượng, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo bao nhiêu biểu hiện? Do nhờ năng lực của tín quyền ở bốn chi phần của Nhập Lưu, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện. Do nhờ năng lực của tuệ quyền ở bốn chánh cần …(như trên)… ở bốn sự thiết lập niệm …(như trên)… ở bốn thiền …(như trên)… ở bốn chân lý cao thượng, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện.
Do nhờ năng lực của tín quyền ở bốn chi phần của Nhập Lưu, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?
Ở bốn chi phần của Nhập Lưu về sự thân cận bậc chân nhân, hành vi của tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tín quyền, hành vi của tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức, hành vi của niệm quyền … theo ý nghĩa thiết lập, hành vi của định quyền … theo ý nghĩa không tản mạn, hành vi của tuệ quyền … theo ý nghĩa nhận thức. Ở bốn chi phần của Nhập Lưu về sự lắng nghe Chánh Pháp, …(như trên)… về sự tác ý đúng đường lối, …(như trên)… về sự thực hành đúng pháp và thuận pháp, hành vi của tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tín quyền, …(nt)… hành vi của tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức.
Ở bốn chi phần của Nhập Lưu, do nhờ năng lực của tín quyền hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.
Do nhờ năng lực của tấn quyền ở bốn chánh cần, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?
Ở chánh cần nhằm không làm sanh khởi các pháp ác bất thiện chưa được sanh khởi, hành vi của tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tấn quyền, hành vi của niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập, hành vi của định quyền … theo ý nghĩa không tản mạn, hành vi của tuệ quyền … theo ý nghĩa nhận thức, hành vi của tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết. Ở chánh cần nhằm dứt bỏ các pháp ác bất thiện chưa được sanh khởi, …(như trên)… nhằm làm sanh khởi các pháp thiện chưa được sanh khởi, …(như trên)… nhắm đến sự duy trì, sự không bị lẫn lộn, sự tăng trưởng, sự dồi dào, sự phát triển, sự làm tròn đủ các pháp thiện đã được sanh khởi, hành vi của tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tấn quyền …(như trên)… hành vi của tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết.
Do nhờ năng lực của tấn quyền ở bốn chánh cần, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.
Do nhờ năng lực của niệm quyền ở bốn sự thiết lập niệm, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?
Ở sự thiết lập niệm về quán xét thân trên thân, hành vi của niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của niệm quyền, hành vi của định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn, hành vi của tuệ quyền … theo ý nghĩa nhận thức, hành vi của tín quyền … theo ý nghĩa cương quyết, hành vi của tấn quyền … theo ý nghĩa ra sức. Ở sự thiết lập niệm về quán xét thọ trên các thọ, …(nt)… về quán xét tâm trên tâm, …(nt)… về quán xét pháp trên các pháp, hành vi của niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập là pháp chủ đạo; …(nt)…
Do nhờ năng lực của niệm quyền ở bốn sự thiết lập niệm, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.
Do nhờ năng lực của định quyền ở bốn thiền, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?
Ở sơ thiền, hành vi của định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của định quyền, hành vi của tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức, hành vi của tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết, hành vi của tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức, hành vi của niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập. Ở nhị thiền, …(như trên)… Ở tam thiền, …(như trên)… Ở tứ thiền, hành vi của định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của định quyền, …(như trên)…
Do nhờ năng lực của định quyền ở bốn thiền, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.
Do nhờ năng lực của tuệ quyền ở bốn chân lý cao thượng, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện nào?
Ở chân lý cao thượng về Khổ, hành vi của tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tuệ quyền, hành vi của tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết, hành vi của tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức, hành vi của niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập, hành vi của định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn. Ở chân lý cao thượng về nhân sanh Khổ, …(như trên)… Ở chân lý cao thượng về sự diệt tận Khổ, …(như trên)… Ở chân lý cao thượng về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ, hành vi của tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tuệ quyền, …(như trên)…
Do nhờ năng lực của tuệ quyền ở bốn chân lý cao thượng, hành vi của năm quyền nên được quan sát theo 20 biểu hiện này.
Hành vi và sự an trú là được phát hiện và được thấu triệt. Các bậc trí hành Phạm hạnh có thể xác nhận về những lãnh vực thâm sâu cho người đang hành động như thế ấy, đang an trú như thế ấy rằng: ‘Chắc chắn vị tôn túc này đã đạt đến hoặc sẽ thành tựu.’
Hành vi: Có tám hành vi: hành vi của oai nghi, hành vi của xứ, hành vi của niệm, hành vi của định, hành vi của trí, hành vi của Đạo, hành vi của sự đạt đến, và hành vi vì lợi ích của thế gian.
Hành vi của oai nghi: liên quan đến bốn oai nghi.
Hành vi của xứ: liên quan đến sáu nội ngoại xứ.
Hành vi của niệm: liên quan đến bốn sự thiết lập niệm.
Hành vi của định: liên quan đến bốn thiền.
Hành vi của trí: liên quan đến bốn chân lý cao thượng.
Hành vi của Đạo: liên quan đến bốn Thánh Đạo.
Hành vi của sự đạt đến: liên quan đến bốn Quả vị Sa-môn.
Hành vi vì lợi ích của thế gian: liên quan đến các đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác, liên quan một phần đến các vị Phật Độc Giác, liên quan một phần đến các vị Thinh Văn.
Hành vi của oai nghi là của các vị đã thành tựu nguyện vọng, hành vi của xứ là của các vị có sự hộ trì các căn,* hành vi của niệm là của các vị an trú vào sự không buông lung, hành vi của định là của các vị gắn bó vào thắng tâm, hành vi của trí là của các vị đã thành tựu sự giác ngộ, hành vi của Đạo là của các vị thực hành đúng đắn, hành vi của sự đạt đến là của các Quả vị đã được chứng đạt, hành vi vì lợi ích của thế gian là của các đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác, là một phần đối với các vị Phật Độc Giác, là một phần đối với các vị Thinh Văn; đây là tám hành vi.
Có tám hành vi khác nữa: Trong khi cương quyết là hành xử với tín, trong khi ra sức là hành xử với tấn, trong khi thiết lập là hành xử với niệm, trong khi không tản mạn là hành xử với định, trong khi nhận biết là hành xử với tuệ, trong khi nhận thức là hành xử với hành vi của thức, ‘ở vị thực hành như thế, các thiện pháp được thể hiện’ là hành xử với hành vi của xứ, ‘vị thực hành như thế chứng đắc đặc biệt’ là hành xử với hành vi của chứng đắc; đây là tám hành vi.
Có tám hành vi khác nữa: Hành vi nhận thức của chánh kiến, hành vi gắn chặt (tâm vào cảnh) của chánh tư duy, hành vi gìn giữ của chánh ngữ, hành vi nguồn sanh khởi của chánh nghiệp, hành vi trong sạch của chánh mạng, hành vi ra sức của chánh tinh tấn, hành vi thiết lập của chánh niệm, hành vi không tản mạn của chánh định; đây là tám hành vi.
Sự an trú: Trong khi cương quyết là an trú với tín, trong khi ra sức là an trú với tấn, trong khi thiết lập là an trú với niệm, trong khi hành động không tản mạn là an trú với định, trong khi là nhận biết là an trú với tuệ.
Được phát hiện: Ý nghĩa cương quyết của tín quyền là được phát hiện, ý nghĩa ra sức của tấn quyền là được phát hiện, ý nghĩa thiết lập của niệm quyền là được phát hiện, ý nghĩa không tản mạn của định quyền là được phát hiện, ý nghĩa nhận thức của tuệ quyền là được phát hiện.
Được thấu triệt: Ý nghĩa cương quyết của tín quyền là được thấu triệt, ý nghĩa ra sức của tấn quyền là được thấu triệt, ý nghĩa thiết lập của niệm quyền là được thấu triệt, ý nghĩa không tản mạn của định quyền là được thấu triệt, ý nghĩa nhận thức của tuệ quyền là được thấu triệt.
4. Catutthasuttaṁ
Đang hành động như thế ấy: đang hành động với tín như thế, đang hành động với tấn như thế, đang hành động với niệm như thế, đang hành động với định như thế, đang hành động với tuệ như thế.
Đang an trú như thế ấy: đang an trú với tín như thế, đang an trú với tấn như thế, đang an trú với niệm như thế, đang an trú với định như thế, đang an trú với tuệ như thế.
Các bậc trí: Các bậc có trí, hiểu biết, nhạy bén, khôn ngoan, đã thành tựu sự giác ngộ.
Có Phạm hạnh: có chung hành sự, có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học tập giống nhau.
Về những lãnh vực thâm sâu: các tầng thiền, các sự giải thoát, các tầng định, các sự chứng đạt, các Đạo, các Quả, các thắng trí, các (trí) phân tích được gọi là những lãnh vực thâm sâu.
Có thể xác nhận: có thể tin tưởng, có thể khẳng định.
Chắc chắn: Đây là lời nói một chiều, đây là lời nói không nghi ngờ, đây là lời nói không hoài nghi, đây là lời nói không có hai nghĩa, đây là lời nói không có hai ý, đây là lời nói quả quyết, đây là lời nói không lập lờ, đây là lời nói xác định: ‘Chắc chắn.’
Vị tôn túc: Đây là lời nói quý mến, đây là lời nói tôn trọng, đây là lời nói văn hoa có sự tôn kính và quy thuận: ‘Vị tôn túc.’
Đã đạt đến: đã chứng đắc. Hoặc sẽ thành tựu: hoặc sẽ chứng đắc.
Phần giải thích về bài Kinh thứ ba.
4. Bài Kinh thứ tư
[Duyên khởi ở Sāvatthī]
Này các tỳ khưu, đây là năm quyền. Năm (quyền) là gì? Tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền. Này các tỳ khưu, đây là năm quyền.
Năm quyền này nên được quan sát theo ý nghĩa gì với bao nhiêu biểu hiện? Năm quyền này nên được quan sát theo ý nghĩa ấy với sáu biểu hiện: theo ý nghĩa của pháp chủ đạo, theo ý nghĩa của việc làm trong sạch phần đầu, theo ý nghĩa vượt trội, theo ý nghĩa khẳng định, theo ý nghĩa chấm dứt, theo ý nghĩa tạo lập.
Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa của pháp chủ đạo là (có ý nghĩa) thế nào?
Đối với vị đang dứt bỏ sự không có đức tin, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tín quyền, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức.
Đối với vị đang dứt bỏ sự biếng nhác, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tấn quyền, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập, định quyền … theo ý nghĩa không tản mạn, tuệ quyền … theo ý nghĩa nhận thức, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết.
Đối với vị đang dứt bỏ sự buông lung, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của niệm quyền, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn, tuệ quyền … theo ý nghĩa nhận thức, tín quyền … theo ý nghĩa cương quyết, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức.
Đối với vị đang dứt bỏ phóng dật, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của định quyền, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức, tín quyền … cương quyết, tấn quyền … ra sức, niệm quyền … thiết lập.
Đối với vị đang dứt bỏ vô minh, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tuệ quyền, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết, tấn quyền … theo ý nghĩa ra sức, niệm quyền … theo ý nghĩa thiết lập, định quyền … theo ý nghĩa không tản mạn.
Đối với vị đang dứt bỏ ước muốn trong các dục, do nhờ năng lực của sự thoát ly, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết là pháp chủ đạo, tấn quyền … theo ý nghĩa ra sức, niệm quyền … thiết lập, định quyền … không tản mạn, tuệ quyền … nhận thức.
Đối với vị đang dứt bỏ ước muốn trong các dục, do nhờ năng lực của sự thoát ly, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tấn quyền, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập, định quyền … theo ý nghĩa không tản mạn, tuệ quyền … nhận thức, tín quyền … cương quyết.
Đối với vị đang dứt bỏ ước muốn trong các dục, do nhờ năng lực của sự thoát ly, niệm quyền nên được quan sát theo ý nghĩa thiết lập là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của niệm quyền, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn, tuệ quyền … theo ý nghĩa nhận thức, tín quyền … cương quyết, tấn quyền … ra sức.
Đối với vị đang dứt bỏ ước muốn trong các dục, do nhờ năng lực của sự thoát ly, định quyền nên được quan sát theo ý nghĩa không tản mạn là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của định quyền, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức, tín quyền … theo ý nghĩa cương quyết, tấn quyền … ra sức, niệm quyền … thiết lập.
Đối với vị đang dứt bỏ ước muốn trong các dục, do nhờ năng lực của sự thoát ly, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa nhận thức là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tuệ quyền, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết, tấn quyền … theo ý nghĩa ra sức, niệm quyền … thiết lập, định quyền … không tản mạn.
Đối với vị đang dứt bỏ sân độc, do nhờ năng lực của sự không sân độc, …(nt)… Đối với vị đang dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, do nhờ năng lực của sự nghĩ tưởng đến ánh sáng …(nt)… Đối với vị đang dứt bỏ toàn bộ phiền não, do nhờ năng lực của Đạo A-la-hán, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tín quyền, tấn quyền nên được quan sát theo ý nghĩa ra sức, niệm quyền … theo ý nghĩa thiết lập, định quyền … theo ý nghĩa không tản mạn, tuệ quyền … theo ý nghĩa nhận thức. …(nt)… Đối với vị đang dứt bỏ toàn bộ phiền não, do nhờ năng lực của Đạo A-la-hán, tuệ quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết là pháp chủ đạo; do nhờ năng lực của tuệ quyền, tín quyền nên được quan sát theo ý nghĩa cương quyết, tấn quyền … theo ý nghĩa ra sức, niệm quyền … thiết lập, định quyền … không tản mạn. Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa của pháp chủ đạo là (có ý nghĩa) như thế.
Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa của việc làm trong sạch phần đầu là (có ý nghĩa) thế nào?
Tín quyền theo ý nghĩa cương quyết, giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc đối với sự không có đức tin là việc làm trong sạch phần đầu của tín quyền. Tấn quyền theo ý nghĩa ra sức, giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc đối với sự không biếng nhác là việc làm trong sạch phần đầu của tấn quyền. Niệm quyền theo ý nghĩa thiết lập, giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc đối với sự không buông lung là việc làm trong sạch phần đầu của niệm quyền. Định quyền theo ý nghĩa không tản mạn, giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc đối với sự không phóng dật là việc làm trong sạch phần đầu của định quyền. Tuệ quyền theo ý nghĩa nhận thức, giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc đối với vô minh là việc làm trong sạch phần đầu của tuệ quyền.
Năm quyền ở sự thoát ly, giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc đối với ước muốn trong các dục là việc làm trong sạch phần đầu của năm quyền. Năm quyền ở sự không sân độc, giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc đối với sân độc là việc làm trong sạch phần đầu của năm quyền. …(nt)… Năm quyền ở Đạo A-la-hán, giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc đối với toàn bộ phiền não là việc làm trong sạch phần đầu của năm quyền. Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa của việc làm trong sạch phần đầu là (có ý nghĩa) như thế.
Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa vượt trội là (có ý nghĩa) thế nào?
Do sự phát triển của tín quyền, ước muốn sanh lên; do tác động của ước muốn, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do tác động của ước muốn, hân hoan sanh lên; do tác động của hân hoan, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do tác động của hân hoan, hỷ sanh lên; do tác động của hỷ, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do tác động của hỷ, tịnh sanh lên; do tác động của tịnh, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do tác động của tịnh, lạc sanh lên; do tác động của lạc, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do tác động của lạc, ánh sáng sanh lên; do tác động của ánh sáng, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do tác động của ánh sáng, sự động tâm sanh lên; do tác động của sự động tâm, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Sau khi động tâm, (hành giả) tập trung tâm; do tác động của định, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. (Vị ấy) khéo léo ra sức tâm đã được định tĩnh như vậy; do tác động của sự ra sức, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. (Vị ấy) hoàn toàn bình thản (xả) đối với tâm đã được ra sức như vậy; do tác động của sự bình thản, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do tác động của sự bình thản, tâm được phóng thích khỏi các phiền não có bản chất khác biệt; do tác động của sự phóng thích, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do trạng thái đã được phóng thích, các pháp ấy* là có nhất vị; do tác động của sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do trạng thái đã được tu tập, chúng ly khai (hướng) đến pháp thù thắng hơn thế nũa; do tác động của sự ly khai, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do trạng thái đã được ly khai, từ đó (vị ấy) xả ly; do tác động của sự xả ly, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do trạng thái đã được xả ly, từ đó chúng được diệt tận; do tác động của sự diệt tận, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. Do nhờ năng lực của sự diệt tận, có hai sự xả ly: sự xả ly do buông bỏ và sự xả ly do tiến vào. ‘Buông bỏ các phiền não và các uẩn’ là sự xả ly do buông bỏ, ‘Tâm tiến vào sự diệt tận, cảnh giới Niết Bàn’ là sự từ bỏ do tiến vào; do nhờ năng lực của sự diệt tận, có hai sự xả ly này.
Do sự dứt bỏ không có đức tin, ước muốn sanh lên; … Do sự dứt bỏ trạng thái bực bội do không có đức tin, ước muốn sanh lên; … Do sự dứt bỏ các phiền não thuần về tà kiến, ước muốn sanh lên; … Do sự dứt bỏ các phiền não thô thiển, ước muốn sanh lên; … Do sự dứt bỏ các phiền não phiền não có tính chất vi tế, ước muốn sanh lên; … Do sự dứt bỏ toàn bộ phiền não, ước muốn sanh lên; do tác động của ước muốn, do tác động của đức tin, tín quyền là vượt trội. …
Do sự phát triển tấn quyền, ước muốn sanh lên; …(nt)… Do sự dứt bỏ biếng nhác, ước muốn sanh lên; …(nt)… Do sự dứt bỏ trạng thái bực bội do biếng nhác, ước muốn sanh lên; …(nt)… Do sự dứt bỏ các phiền não thuần về tà kiến, ước muốn sanh lên; …(nt)… Do sự dứt bỏ toàn bộ phiền não, ước muốn sanh lên; …(nt)…
Do sự phát triển niệm quyền, ước muốn sanh lên; …(nt)… Do sự dứt bỏ buông lung, ước muốn sanh lên; …(nt)… Do sự dứt bỏ trạng thái bực bội do buông lung, ước muốn sanh lên; …(nt)… Do sự dứt bỏ toàn bộ phiền não, ước muốn sanh lên; …(nt)…
Do sự phát triển của định quyền, ước muốn sanh lên; …(nt)… Do sự dứt bỏ phóng dật, ước muốn sanh lên; …(nt)… Do sự dứt bỏ trạng thái bực bội do phóng dật, ước muốn sanh lên; …(nt)… Do sự dứt bỏ toàn bộ phiền não, ước muốn sanh lên; …(nt)…
Do sự phát triển của tuệ quyền, ước muốn sanh lên; …(nt)… Do sự dứt bỏ vô minh, ước muốn sanh lên; … Do sự dứt bỏ trạng thái bực bội do vô minh, ước muốn sanh lên; … Do sự dứt bỏ các phiền não thuần về tà kiến, ước muốn sanh lên; … Do sự dứt bỏ các phiền não thô thiển, ước muốn sanh lên; … Do sự dứt bỏ các phiền não có tính chất vi tế, ước muốn sanh lên; …(nt)…
Do sự dứt bỏ toàn bộ phiền não, ước muốn sanh lên; do tác động của ước muốn, do tác động của tuệ, tuệ quyền là vượt trội. Do tác động của ước muốn, hân hoan sanh lên; do tác động của hân hoan, do tác động của tuệ, tuệ quyền là vượt trội. Do tác động của hân hoan, hỷ sanh lên; do tác động của hỷ, … tuệ quyền là vượt trội. Do tác động của hỷ, tịnh sanh lên; do tác động của tịnh, … tuệ quyền là vượt trội. Do tác động của tịnh, lạc sanh lên; do tác động của lạc, … tuệ quyền là vượt trội. Do tác động của lạc, ánh sáng sanh lên; do tác động của ánh sáng, … tuệ quyền là vượt trội. Do tác động của ánh sáng, sự động tâm sanh lên; do tác động của sự động tâm, … tuệ quyền là vượt trội. Sau khi động tâm, (hành giả) tập trung tâm; do tác động của định, … tuệ quyền là vượt trội. (Vị ấy) khéo léo nắm giữ tâm đã được định tĩnh như vậy; do tác động của sự nắm giữ, … tuệ quyền là vượt trội. (Vị ấy) hoàn toàn bình thản (xả) đối với tâm đã được nắm giữ như vậy; do tác động của sự bình thản, … tuệ quyền là vượt trội. Do tác động của sự bình thản, tâm được phóng thích khỏi các phiền não có bản chất khác biệt; do tác động của sự phóng thích, … tuệ quyền là vượt trội. Do trạng thái đã được phóng thích, các pháp ấy là có nhất vị; do tác động của sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị, … tuệ quyền là vượt trội. Do trạng thái đã được tu tập, chúng ly khai (hướng) đến các pháp thù thắng hơn thế nũa; do tác động của sự ly khai, … tuệ quyền là vượt trội. Do trạng thái đã được ly khai, từ đó (vị ấy) xả ly; do tác động của sự xả ly, … tuệ quyền là vượt trội. Do trạng thái đã được xả ly, từ đó chúng được diệt tận; do tác động của sự diệt tận, do tác động của tuệ, tuệ quyền là vượt trội. Do nhờ năng lực của sự diệt tận, có hai sự xả ly: sự xả ly do buông bỏ và sự xả ly do tiến vào. ‘Buông bỏ các phiền não và các uẩn’ là sự xả ly do buông bỏ. ‘Tâm tiến vào sự diệt tận, cảnh giới Niết Bàn’ là sự từ bỏ do tiến vào. Do nhờ năng lực của sự diệt tận, có hai sự xả ly này.
Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa vượt trội là (có ý nghĩa) như thế.
Tụng Phẩm thứ nhì.
Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa khẳng định là (có ý nghĩa) thế nào?
Do sự phát triển của tín quyền, ước muốn sanh lên; do tác động của ước muốn, do tác động của đức tin, tín quyền được khẳng định. Do tác động của ước muốn, hân hoan sanh lên; do tác động của hân hoan, do tác động của đức tin, tín quyền được khẳng định. …(nt)…
Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa khẳng định là (có ý nghĩa) như thế.
Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa chấm dứt là (có ý nghĩa) thế nào?
Tín quyền theo ý nghĩa cương quyết chấm dứt sự không có đức tin, chấm dứt trạng thái bực bội do không có đức tin. Tấn quyền theo ý nghĩa ra sức chấm dứt sự biếng nhác, chấm dứt trạng thái bực bội do biếng nhác. Niệm quyền theo ý nghĩa thiết lập chấm dứt sự buông lung, chấm dứt trạng thái bực bội do buông lung. Định quyền theo ý nghĩa không tản mạn chấm dứt sự phóng dật, chấm dứt trạng thái bực bội do phóng dật. Tuệ quyền theo ý nghĩa nhận thức chấm dứt vô minh, chấm dứt trạng thái bực bội do vô minh.
Năm quyền ở sự thoát ly chấm dứt ước muốn trong các dục. Năm quyền ở sự không sân độc chấm dứt sân độc. Năm quyền ở sự nghĩ tưởng đến ánh sáng chấm dứt sự lờ đờ buồn ngủ. Năm quyền ở sự không tản mạn chấm dứt sự phóng dật. …(như trên)… Năm quyền ở Đạo A-la-hán chấm dứt toàn bộ phiền não.
Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa chấm dứt là (có ý nghĩa) như thế.
Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa tạo lập là (có ý nghĩa) thế nào?
Người có đức tin tạo lập tín quyền ở sự cương quyết, tín quyền của người có đức tin được tạo lập ở sự cương quyết. Người có sự tinh tấn tạo lập tấn quyền ở sự ra sức, tấn quyền của người có sự tinh tấn được tạo lập ở sự ra sức. Người có niệm tạo lập niệm quyền ở sự thiết lập, niệm quyền của người có niệm được tạo lập ở sự thiết lập. Người định tĩnh tạo lập định quyền ở sự không tản mạn, định quyền của người định tĩnh được tạo lập ở sự không tản mạn. Người có trí tuệ tạo lập tuệ quyền ở sự nhận thức, tuệ quyền của người có trí tuệ được tạo lập ở sự nhận thức.
Hành giả tạo lập năm quyền ở sự thoát ly, năm quyền của hành giả được tạo lập ở sự thoát ly. Hành giả tạo lập năm quyền ở sự không sân độc, …(như trên)… ở sự tưởng về ánh sáng, …(như trên)… ở sự không tản mạn, …(như trên)… ở sự nhận thức …(như trên)… Hành giả tạo lập năm quyền ở Đạo A-la-hán, năm quyền của hành giả được tạo lập ở Đạo A-la-hán.
Các quyền nên được quan sát theo ý nghĩa tạo lập là (có ý nghĩa) như thế.
Phần giải thích về bài Kinh thứ tư.
Phàm nhân trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với bao nhiêu biểu hiện? Vị Hữu Học trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với bao nhiêu biểu hiện? Vị lìa tham ái trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với bao nhiêu biểu hiện?
Phàm nhân trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với bảy biểu hiện. Vị Hữu Học trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với tám biểu hiện. Vị lìa tham ái trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với mười biểu hiện.
Phàm nhân trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với 7 biểu hiện gì? Do bản thể của việc đã được hướng tâm,* (phàm nhân) là thiện xảo về việc thiết lập đối tượng, … thiết lập hiện tướng của chỉ tịnh, … thiết lập hiện tướng của sự ra sức, … thiết lập sự không tản mạn, … thiết lập ánh sáng, … thiết lập sự hài lòng, … thiết lập sự bình thản (xả). Phàm nhân trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với 7 biểu hiện này.
Vị Hữu Học trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với 8 biểu hiện gì? Do bản thể của việc đã được hướng tâm, (vị Hữu Học) là thiện xảo về việc thiết lập đối tượng, … thiện xảo về việc thiết lập sự bình thản, thiện xảo về việc thiết lập nhất thể. Vị Hữu Học trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với 8 biểu hiện này.
Vị lìa tham ái trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với 10 biểu hiện gì? Do bản thể của việc đã được hướng tâm, (vị lìa tham ái) là thiện xảo về việc thiết lập đối tượng, …(như trên)…, thiện xảo về việc thiết lập nhất thể, thiện xảo về việc thiết lập trí, thiện xảo về việc thiết lập sự giải thoát. Vị lìa tham ái trong lúc tu tập định là thiện xảo về việc thiết lập với 10 biểu hiện này.
Phàm nhân trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với bao nhiêu biểu hiện? là thiện xảo về việc không thiết lập với bao nhiêu biểu hiện? Vị Hữu Học trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với bao nhiêu biểu hiện? là thiện xảo về việc không thiết lập với bao nhiêu biểu hiện? Vị lìa tham ái trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với bao nhiêu biểu hiện? là thiện xảo về việc không thiết lập với bao nhiêu biểu hiện?
Phàm nhân trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với 9 biểu hiện, là thiện xảo về việc không thiết lập với 9 biểu hiện. Vị Hữu Học trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với 10 biểu hiện, là thiện xảo về việc không thiết lập với 10 biểu hiện. Vị lìa tham ái trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với 12 biểu hiện, là thiện xảo về việc không thiết lập với 12 biểu hiện.
Phàm nhân trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với 9 biểu hiện gì? là thiện xảo về việc không thiết lập với 9 biểu hiện gì? Là thiện xảo về việc thiết lập (sắc, thọ, …) là vô thường, là thiện xảo về việc không thiết lập là thường còn; … việc thiết lập là khổ não … việc không thiết lập là lạc; … việc thiết lập là vô ngã, … việc không thiết lập là ngã; … việc thiết lập là đoạn tận, … việc không thiết lập là tiếp diễn; … việc thiết lập là biến hoại, … việc không thiết lập sự tích lũy (nghiệp); … việc thiết lập sự chuyển biến, … việc không thiết lập là vững bền; … việc thiết lập vô tướng, … việc không thiết lập hiện tướng; … việc thiết lập vô nguyện, … việc không thiết lập nguyện ước; … việc thiết lập không tánh, … việc không thiết lập sự cố chấp. Phàm nhân trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với 9 biểu hiện này, là thiện xảo về việc không thiết lập với 9 biểu hiện này.
Vị Hữu Học trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với 10 biểu hiện gì? là thiện xảo về việc không thiết lập với 10 biểu hiện gì? Là thiện xảo về việc thiết lập là vô thường, là thiện xảo về việc không thiết lập là thường còn; …(như trên)…; là thiện xảo về việc thiết lập không tánh, là thiện xảo về việc không thiết lập sự cố chấp; là thiện xảo về việc thiết lập trí, là thiện xảo về việc không thiết lập vô trí. Vị Hữu Học trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với 10 biểu hiện này, là thiện xảo về việc không thiết lập với 10 biểu hiện này.
Vị lìa tham ái trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với 12 biểu hiện gì? là thiện xảo về việc không thiết lập với 12 biểu hiện gì?
Là thiện xảo về việc thiết lập là vô thường, là thiện xảo về việc không thiết lập là thường còn; …(như trên)…; là thiện xảo về việc thiết lập trí, là thiện xảo về việc không thiết lập vô trí; … việc thiết lập sự không ràng buộc, … việc không thiết lập sự ràng buộc; … việc thiết lập sự diệt tận, … việc không thiết lập các hành. Vị lìa tham ái trong lúc tu tập minh sát là thiện xảo về việc thiết lập với 12 biểu hiện này, là thiện xảo về việc không thiết lập với 12 biểu hiện này.
Do bản thể của việc đã được hướng tâm, nhờ vào tác động của sự thiện xảo về việc thiết lập đối tượng, (vị ấy) liên kết các quyền, nhận biết hành xứ, và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh. … (vị ấy) liên kết các pháp, nhận biết hành xứ, và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.
Liên kết các quyền: Liên kết các quyền là (có ý nghĩa) thế nào? Liên kết tín quyền theo ý nghĩa cương quyết … nhờ vào tác động của sự thiện xảo về việc thiết lập hiện tướng của chỉ tịnh, … việc thiết lập hiện tướng của sự ra sức, … việc thiết lập sự không tản mạn, … việc thiết lập ánh sáng, … việc thiết lập sự hài lòng, … việc thiết lập sự bình thản, … việc thiết lập nhất thể, … việc thiết lập trí, … nhờ vào tác động của sự thiện xảo về việc thiết lập sự giải thoát, …
Nhờ vào tác động của sự thiện xảo về việc thiết lập là vô thường, … nhờ vào tác động của sự thiện xảo về việc không thiết lập là thường còn, … việc thiết lập là khổ não, … việc không thiết lập là lạc, … việc thiết lập là vô ngã, … việc không thiết lập là ngã, … việc thiết lập là đoạn tận, … việc không thiết lập là tiếp diễn, … việc thiết lập là biến hoại, … việc không thiết lập sự tích lũy (nghiệp), … việc thiết lập sự chuyển biến, … việc không thiết lập là vững bền, … việc thiết lập vô tướng … việc không thiết lập hiện tướng, … việc thiết lập vô nguyện, … việc không thiết lập nguyện ước, … việc thiết lập không tánh, … việc không thiết lập sự cố chấp, … việc thiết lập trí, … việc không thiết lập vô trí, … việc thiết lập sự không ràng buộc, … việc không thiết lập sự ràng buộc, … việc thiết lập sự diệt tận, nhờ vào tác động của sự thiện xảo về việc không thiết lập các hành, (vị ấy) liên kết các quyền, nhận biết hành xứ, và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.
Tuệ về chủ thể đối với ba quyền theo sáu mươi bốn biểu hiện là trí về sự đoạn tận của các lậu hoặc. Của 3 quyền nào? Của vị tri quyền, của dĩ tri quyền, của cụ tri quyền.
Vị tri quyền đi đến bao nhiêu vị thế? Dĩ tri quyền đi đến bao nhiêu vị thế? Cụ tri quyền đi đến bao nhiêu vị thế?
Vị tri quyền đi đến một vị thế là Đạo Nhập Lưu. Dĩ tri quyền đi đến sáu vị thế là Quả Nhập Lưu, Đạo Nhất Lai, Quả Nhất Lai, Đạo Bất Lai, Quả Bất Lai, Đạo A-la-hán. Cụ tri quyền đi đến một vị thế là Quả A-la-hán.
Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, đối với vị tri quyền, tín quyền có sự cương quyết là phụ trợ, tấn quyền có sự ra sức là phụ trợ, niệm quyền có sự thiết lập là phụ trợ, định quyền có sự không tản mạn là phụ trợ, tuệ quyền có sự nhận thức là phụ trợ, ý quyền có sự nhận biết là phụ trợ, hỷ quyền có sự tràn ngập là phụ trợ, mạng quyền có pháp chủ đạo trong việc duy trì sự vận hành là phụ trợ. Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, các pháp được sanh ra, ngoại trừ sắc có nguồn phát sanh là tâm, tất cả (các pháp còn lại) đều là thiện, tất cả đều không có lậu hoặc, tất cả đều có tánh dẫn xuất, tất cả đều đưa đến sự không tích lũy, tất cả đều là vượt trên thế gian, tất cả đều có cảnh là Niết Bàn. Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, đối với vị tri quyền, tám quyền này là các phụ trợ đồng sanh, là các phụ trợ có sự (tác động) qua lại, là các phụ trợ có sự nương tựa, là các phụ trợ được liên kết, là đồng hành, là đồng sanh, là kết hợp, là liên kết. Chính tám quyền này vừa là biểu hiện vừa là phụ trợ của vị tri quyền.
Vào sát-na Quả Nhập Lưu, …(như trên)… Vào sát-na Quả A-la-hán, đối với cụ tri quyền, tín quyền có sự cương quyết là phụ trợ, …(như trên)… mạng quyền có pháp chủ đạo trong việc duy trì sự vận hành là phụ trợ. Vào sát-na Quả A-la-hán, các pháp được sanh ra, ngoại trừ sắc có nguồn phát sanh là tâm, tất cả (các pháp còn lại) đều là vô ký, tất cả đều không có lậu hoặc, tất cả đều là vượt trên thế gian, tất cả đều có cảnh là Niết Bàn. Vào sát-na Quả A-la-hán, đối với cụ tri quyền, tám quyền này là các phụ trợ đồng sanh, …(như trên)… Chính tám quyền này vừa là biểu hiện vừa là phụ trợ của cụ tri quyền. Như thế, tám lần tám này là sáu mươi bốn.
Lậu hoặc: Các lậu hoặc ấy là gì? Là dục lậu, hữu lậu, tà kiến lậu, vô minh lậu.
Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đâu? Nhờ vào Đạo Nhập Lưu, toàn thể tà kiến lậu được cạn kiệt, dục lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt, hữu lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt, vô minh lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt. Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây. Nhờ vào Đạo Nhất Lai, dục lậu thô thiển được cạn kiệt, hữu lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt, vô minh lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt. Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây.
Nhờ vào Đạo Bất Lai, toàn thể dục lậu được cạn kiệt, hữu lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt, vô minh lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt. Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây. Nhờ vào Đạo A-la-hán, toàn thể hữu lậu được cạn kiệt, toàn thể vô minh lậu được cạn kiệt. Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây.
Không gì ở nơi đây → không được thấy bởi Ngài,
hoặc không nhận thức được, hoặc không thể biết đến,
Ngài biết rõ tất cả mọi điều có thể biết,
vì thế đức Như Lai là vị có Toàn Nhãn.
Toàn Nhãn: Toàn Nhãn theo ý nghĩa gì? Mười bốn Phật trí: Trí về Khổ là Phật trí. Trí về nhân sanh Khổ là Phật trí. …(nt)… Trí Toàn Giác là Phật trí. Trí không bị ngăn che là Phật trí. Đây là 14 Phật trí. Trong số 14 Phật trí, có 8 loại trí là phổ thông đến các vị Thinh Văn, 6 loại trí (sau cùng) là không phổ thông đến các vị Thinh Văn.
‘Cho đến ý nghĩa của Khổ đối với Khổ là đã được biết, không có ý nghĩa (nào) của Khổ là không được biết’ là Toàn Nhãn. Điều gì là Toàn Nhãn, điều ấy là tuệ quyền. Do nhờ năng lực của tuệ quyền, có tín quyền theo ý nghĩa cương quyết, có tấn quyền theo ý nghĩa ra sức, có niệm quyền theo ý nghĩa thiết lập, có định quyền theo ý nghĩa không tản mạn.
‘Cho đến ý nghĩa của Khổ đối với Khổ là đã được thấy, đã được biết đến, đã được tác chứng, đã được chạm đến bởi tuệ, không có ý nghĩa (nào) của Khổ là không được chạm đến bởi tuệ’ là Toàn Nhãn. Điều gì là Toàn Nhãn, điều ấy là tuệ quyền. …(như trên)…
‘Cho đến ý nghĩa của nhân sanh (Khổ) đối với nhân sanh (Khổ) … ‘Cho đến ý nghĩa của sự diệt tận (Khổ) đối với sự diệt tận (Khổ) … ‘Cho đến ý nghĩa của Đạo đối với Đạo … ‘Cho đến ý nghĩa của sự phân tích ý nghĩa đối với sự phân tích ý nghĩa … ‘Cho đến ý nghĩa của sự phân tích pháp đối với sự phân tích pháp … ‘Cho đến ý nghĩa của sự phân tích ngôn từ đối với sự phân tích ngôn từ … ‘Cho đến ý nghĩa của sự phân tích phép biện giải đối với sự phân tích phép biện giải … ‘Cho đến trí biết được khả năng của người khác … ‘Cho đến trí về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm của chúng sanh … ‘Cho đến trí song thông … ‘Cho đến trí về sự thể nhập đại bi … ‘Cho đến điều đã được thấy, đã được nghe, đã được cảm giác, đã được nhận thức, đã đạt đến, đã được tầm cầu, đã được đeo đuổi bởi tâm trí của thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người, điều ấy là được biết, đã được thấy, đã được biết đến, đã được tác chứng, đã được chạm đến bởi tuệ, không gì là không được chạm đến bởi tuệ’ là Toàn Nhãn. Điều gì là Toàn Nhãn, điều ấy là tuệ quyền. Do nhờ năng lực của tuệ quyền, có tín quyền theo ý nghĩa cương quyết, có tấn quyền theo ý nghĩa ra sức, có niệm quyền theo ý nghĩa thiết lập, có định quyền theo ý nghĩa không tản mạn.
Trong khi có đức tin vị ấy ra sức, trong khi ra sức vị ấy có đức tin; trong khi có đức tin vị ấy thiết lập, trong khi thiết lập vị ấy có đức tin; trong khi có đức tin vị ấy tập trung (tâm), trong khi tập trung (tâm) vị ấy có đức tin; trong khi có đức tin vị ấy nhận biết, trong khi nhận biết vị ấy có đức tin. Trong khi ra sức vị ấy thiết lập, trong khi thiết lập vị ấy ra sức; trong khi ra sức vị ấy tập trung (tâm) …; trong khi ra sức vị ấy nhận biết …; trong khi ra sức vị ấy có đức tin, trong khi có đức tin vị ấy ra sức. Trong khi thiết lập vị ấy tập trung (tâm), trong khi tập trung (tâm) vị ấy thiết lập; trong khi thiết lập vị ấy nhận biết, …; trong khi thiết lập vị ấy có đức tin, …; trong khi thiết lập vị ấy ra sức, trong khi ra sức vị ấy thiết lập. Trong khi tập trung (tâm) vị ấy nhận biết, trong khi nhận biết vị ấy tập trung (tâm); trong khi tập trung (tâm) vị ấy có đức tin …; trong khi tập trung (tâm) vị ấy ra sức, …; trong khi tập trung (tâm) vị ấy thiết lập, trong khi thiết lập vị ấy tập trung (tâm). Trong khi nhận biết vị ấy có đức tin, trong khi có đức tin vị ấy nhận biết; trong khi nhận biết vị ấy ra sức …; trong khi nhận biết vị ấy thiết lập …; trong khi nhận biết vị ấy tập trung (tâm), trong khi tập trung (tâm) vị ấy nhận biết.
Ra sức nhờ bản thân có đức tin, có đức tin nhờ bản thân ra sức; được thiết lập nhờ bản thân có đức tin, có đức tin nhờ bản thân được thiết lập; được định tĩnh nhờ bản thân có đức tin, có đức tin nhờ bản thân được định tĩnh; nhận biết nhờ bản thân có đức tin, có đức tin nhờ bản thân nhận biết. Được thiết lập nhờ bản thân ra sức, ra sức nhờ bản thân được thiết lập; được định tĩnh nhờ bản thân ra sức …; nhận biết nhờ bản thân ra sức …; có đức tin nhờ bản thân ra sức, ra sức nhờ bản thân có đức tin. Được định tĩnh nhờ bản thân được thiết lập, được thiết lập nhờ bản thân được định tĩnh; nhận biết nhờ bản thân được thiết lập …; có đức tin nhờ bản thân được thiết lập …; ra sức nhờ bản thân được thiết lập, được thiết lập nhờ bản thân ra sức. Nhận biết nhờ bản thân được định tĩnh, được định tĩnh nhờ bản thân nhận biết; có đức tin nhờ bản thân được định tĩnh …; ra sức nhờ bản thân được định tĩnh …; được thiết lập nhờ bản thân được định tĩnh, được định tĩnh nhờ bản thân được thiết lập. Có đức tin nhờ bản thân nhận biết, nhận biết nhờ bản thân có đức tin; ra sức nhờ bản thân nhận biết, nhận biết nhờ bản thân ra sức; được thiết lập nhờ bản thân nhận biết, nhận biết nhờ bản thân được thiết lập; được định tĩnh nhờ bản thân nhận biết, nhận biết nhờ bản thân được định tĩnh.
Điều gì là Phật Nhãn, điều ấy là Phật Trí. Điều gì là Phật Trí, điều ấy là Phật Nhãn. Nhờ vào nhãn ấy, đức Như Lai nhìn thấy các chúng sanh có mắt bị vấy bụi ít và có mắt bị vấy bụi nhiều, có giác quan sắc sảo và có giác quan cùn lụt, có tánh khí tốt và có tánh khí tồi, dễ hướng dẫn và khó hướng dẫn, một số chúng sanh thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, một số chúng sanh không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác.
Có mắt bị vấy bụi ít và có mắt bị vấy bụi nhiều: Người có đức tin là có mắt bị vấy bụi ít, người không có đức tin là có mắt bị vấy bụi nhiều. Người có sự cố gắng tinh tấn … bị vấy bụi ít, người biếng nhác … bị vấy bụi nhiều. Người có niệm được thiết lập … bị vấy bụi ít, người có niệm bị quên lãng … bị vấy bụi nhiều. Người định tĩnh … bị vấy bụi ít, người được định tĩnh … bị vấy bụi nhiều. Người có tuệ là có mắt bị vấy bụi ít, người có tuệ kém là có mắt bị vấy bụi nhiều.
Có giác quan sắc sảo và có giác quan cùn lụt: Người có đức tin là có giác quan sắc sảo, người không có đức tin là có giác quan cùn lụt. …(như trên)… Người có tuệ là có giác quan sắc sảo, người có tuệ kém là có giác quan cùn lụt.
Có tánh khí tốt và có tánh khí tồi: Người có đức tin là có tánh khí tốt, người không có đức tin là có tánh khí tồi. …(như trên)… Người có tuệ là có tánh khí tốt, người có tuệ kém là có tánh khí tồi.
Dễ hướng dẫn và khó hướng dẫn: Người có đức tin là dễ hướng dẫn, người không có đức tin là khó hướng dẫn. …(như trên)… Người có tuệ là dễ hướng dẫn, người có tuệ kém là khó hướng dẫn.
Một số chúng sanh thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, một số chúng sanh không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác: Người có đức tin thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, người không có đức tin không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác …(nt)… Người có tuệ thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, người có tuệ kém không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác.
Thế giới: Thế giới của các uẩn, thế giới của các giới, thế giới của các xứ, thế giới có sự bất hạnh, thế giới đem lại sự bất hạnh, thế giới có sự thuận lợi, thế giới đem lại sự thuận lợi.
Một thế giới là tất cả chúng sanh được tồn tại nhờ vật thực. Hai thế giới là danh và sắc. Ba thế giới là 3 thọ. Bốn thế giới là 4 loại vật thực. Năm thế giới là 5 thủ uẩn. Sáu thế giới là 6 nội xứ. Bảy thế giới là 7 trụ xứ của thức. Tám thế giới là 8 pháp thế gian. Chín thế giới là 9 nơi cư trú của chúng sanh. Mười thế giới là 10 xứ. Mười hai thế giới là 12 xứ. Mười tám thế giới là 18 giới.
Tội lỗi: Tất cả phiền não là tội lỗi, tất cả ác hạnh là tội lỗi, tất cả các hành là tội lỗi, tất cả nghiệp đưa đến hữu là tội lỗi. Như thế, tưởng đến sự kinh hãi sắc bén về thế giới này và về tội lỗi này đã được đề cập, cũng giống như (tưởng đến sự kinh hãi) về cuộc chém giết có thanh gươm đã được vung lên.
(Vị ấy) biết được, thấy được, hiểu được, thấu triệt năm quyền này thông qua 50 biểu hiện này.
Tụng Phẩm thứ ba.
Phần Giảng về Quyền được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Pañcimāni, bhikkhave, indriyāni. Katamāni pañca? Saddhindriyaṃ, vīriyindriyaṃ, satindriyaṃ, samādhindriyaṃ, paññindriyaṃ – imāni kho, bhikkhave, pañcindriyāni’’ †.
184. “Bhikkhus, there are these five faculties. What five? The faculty of faith, the faculty of energy, the faculty of mindfulness, the faculty of concentration, the faculty of wisdom. These, bhikkhus, are the five faculties.”
184. "Này các tỳ khưu, có năm quyền này. Năm quyền nào? Tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền – này các tỳ khưu, đây là năm quyền."
185. Imāni pañcindriyāni katihākārehi visujjhanti? Imāni pañcindriyāni pannarasahi ākārehi visujjhanti. Assaddhe puggale parivajjayato, saddhe puggale sevato bhajato payirupāsato, pasādanīye suttante paccavekkhato – imehi tīhākārehi saddhindriyaṃ visujjhati. Kusīte puggale parivajjayato, āraddhavīriye puggale sevato bhajato payirupāsato, sammappadhāne paccavekkhato – imehi tīhākārehi vīriyindriyaṃ visujjhati. Muṭṭhassatī puggale parivajjayato, upaṭṭhitassatī puggale sevato bhajato payirupāsato, satipaṭṭhāne paccavekkhato – imehi tīhākārehi satindriyaṃ visujjhati. Asamāhite puggale parivajjayato, samāhite puggale sevato bhajato payirupāsato, jhānavimokkhe paccavekkhato – imehi tīhākārehi samādhindriyaṃ visujjhati. Duppaññe puggale parivajjayato, paññavante puggale sevato bhajato payirupāsato, gambhīrañāṇacariyaṃ paccavekkhato – imehi tīhākārehi paññindriyaṃ visujjhati. Iti ime pañca puggale parivajjayato, pañca puggale sevato bhajato payirupāsato, pañca suttantakkhandhe paccavekkhato – imehi pannarasahi ākārehi imāni pañcindriyāni visujjhanti.
185. In how many ways are these five faculties purified? These five faculties are purified in fifteen ways. For one who avoids faithless persons, for one who associates with, frequents, and attends upon faithful persons, and for one who reflects on inspiring discourses—by these three ways the faculty of faith is purified. For one who avoids lazy persons, for one who associates with, frequents, and attends upon energetic persons, and for one who reflects on the right strivings—by these three ways the faculty of energy is purified. For one who avoids unmindful persons, for one who associates with, frequents, and attends upon mindful persons, and for one who reflects on the establishments of mindfulness—by these three ways the faculty of mindfulness is purified. For one who avoids unconcentrated persons, for one who associates with, frequents, and attends upon concentrated persons, and for one who reflects on the jhānas and liberations—by these three ways the faculty of concentration is purified. For one who avoids unwise persons, for one who associates with, frequents, and attends upon wise persons, and for one who reflects on the profound course of knowledge—by these three ways the faculty of wisdom is purified. Thus, for one who avoids these five kinds of persons, for one who associates with, frequents, and attends upon five kinds of persons, and for one who reflects on the five groups of discourses—by these fifteen ways these five faculties are purified.
Năm quyền này được thanh lọc bởi bao nhiêu phương diện? Năm quyền này được thanh lọc bởi mười lăm phương diện. Do tránh xa người không có đức tin, do thân cận, kết giao, gần gũi người có đức tin, do thẩm xét các kinh điển tạo niềm tin – bởi ba phương diện này, tín quyền được thanh lọc. Do tránh xa người lười biếng, do thân cận, kết giao, gần gũi người có tinh tấn đã được khởi lên, do thẩm xét về các chánh cần – bởi ba phương diện này, tấn quyền được thanh lọc. Do tránh xa người thất niệm, do thân cận, kết giao, gần gũi người có niệm đã được thiết lập, do thẩm xét về các niệm xứ – bởi ba phương diện này, niệm quyền được thanh lọc. Do tránh xa người không có định, do thân cận, kết giao, gần gũi người có định, do thẩm xét về các thiền và giải thoát – bởi ba phương diện này, định quyền được thanh lọc. Do tránh xa người có trí tuệ thấp kém, do thân cận, kết giao, gần gũi người có trí tuệ, do thẩm xét về sự thực hành của trí tuệ thâm sâu – bởi ba phương diện này, tuệ quyền được thanh lọc. Như vậy, do tránh xa năm hạng người này, do thân cận, kết giao, gần gũi năm hạng người, do thẩm xét năm nhóm kinh điển – bởi mười lăm phương diện này, năm quyền này được thanh lọc.
Katihākārehi pañcindriyāni bhāviyanti, katihākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ bhāvanā hoti? Dasahākārehi pañcindriyāni bhāviyanti, dasahākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ bhāvanā hoti. Assaddhiyaṃ pajahanto saddhindriyaṃ bhāveti, saddhindriyaṃ bhāvento assaddhiyaṃ pajahati; kosajjaṃ pajahanto vīriyindriyaṃ bhāveti, vīriyindriyaṃ bhāvento kosajjaṃ pajahati; pamādaṃ pajahanto satindriyaṃ bhāveti, satindriyaṃ bhāvento pamādaṃ pajahati; uddhaccaṃ pajahanto samādhindriyaṃ bhāveti, samādhindriyaṃ bhāvento uddhaccaṃ pajahati; avijjaṃ pajahanto paññindriyaṃ bhāveti, paññindriyaṃ bhāvento avijjaṃ pajahati. Imehi dasahākārehi pañcindriyāni bhāviyanti, imehi dasahākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ bhāvanā hoti.
In how many ways are the five faculties developed? In how many ways does the development of the five faculties occur? The five faculties are developed in ten ways, and the development of the five faculties occurs in ten ways. By abandoning faithlessness, one develops the faculty of faith; by developing the faculty of faith, one abandons faithlessness. By abandoning sloth, one develops the faculty of energy; by developing the faculty of energy, one abandons sloth. By abandoning heedlessness, one develops the faculty of mindfulness; by developing the faculty of mindfulness, one abandons heedlessness. By abandoning restlessness, one develops the faculty of concentration; by developing the faculty of concentration, one abandons restlessness. By abandoning ignorance, one develops the faculty of wisdom; by developing the faculty of wisdom, one abandons ignorance. In these ten ways the five faculties are developed, and in these ten ways the development of the five faculties occurs.
185. Năm quyền được tu tập bởi bao nhiêu phương diện, sự tu tập năm quyền diễn ra bởi bao nhiêu phương diện? Năm quyền được tu tập bởi mười phương diện, sự tu tập năm quyền diễn ra bởi mười phương diện. Khi từ bỏ sự không có đức tin, vị ấy tu tập tín quyền; khi tu tập tín quyền, vị ấy từ bỏ sự không có đức tin. Khi từ bỏ sự lười biếng, vị ấy tu tập tấn quyền; khi tu tập tấn quyền, vị ấy từ bỏ sự lười biếng. Khi từ bỏ sự dể duôi, vị ấy tu tập niệm quyền; khi tu tập niệm quyền, vị ấy từ bỏ sự dể duôi. Khi từ bỏ sự trạo cử, vị ấy tu tập định quyền; khi tu tập định quyền, vị ấy từ bỏ sự trạo cử. Khi từ bỏ vô minh, vị ấy tu tập tuệ quyền; khi tu tập tuệ quyền, vị ấy từ bỏ vô minh. Năm quyền được tu tập bởi mười phương diện này, sự tu tập năm quyền diễn ra bởi mười phương diện này.
Katihākārehi pañcindriyāni bhāvitāni honti subhāvitāni? Dasahākārehi pañcindriyāni bhāvitāni honti subhāvitāni. Assaddhiyassa pahīnattā suppahīnattā saddhindriyaṃ bhāvitaṃ hoti subhāvitaṃ; saddhindriyassa bhāvitattā subhāvitattā assaddhiyaṃ pahīnaṃ hoti suppahīnaṃ. Kosajjassa pahīnattā suppahīnattā vīriyindriyaṃ bhāvitaṃ hoti subhāvitaṃ; vīriyindriyassa bhāvitattā subhāvitattā kosajjaṃ pahīnaṃ hoti suppahīnaṃ. Pamādassa pahīnattā suppahīnattā satindriyaṃ bhāvitaṃ hoti subhāvitaṃ; satindriyassa bhāvitattā subhāvitattā pamādo pahīno hoti suppahīno. Uddhaccassa pahīnattā suppahīnattā samādhindriyaṃ bhāvitaṃ hoti subhāvitaṃ; samādhindriyassa bhāvitattā subhāvitattā uddhaccaṃ pahīnaṃ hoti suppahīnaṃ. Avijjāya pahīnattā paññindriyaṃ bhāvitaṃ hoti subhāvitaṃ; paññindriyassa bhāvitattā subhāvitattā avijjā pahīnā hoti suppahīnā. Imehi dasahākārehi pañcindriyāni bhāvitāni honti subhāvitāni.
In how many ways are the five faculties developed and well-developed? In ten ways are the five faculties developed and well-developed. Through the abandoning and well-abandoning of faithlessness, the faculty of faith is developed and well-developed; through the development and well-development of the faculty of faith, faithlessness is abandoned and well-abandoned. Through the abandoning and well-abandoning of sloth, the faculty of energy is developed and well-developed; through the development and well-development of the faculty of energy, sloth is abandoned and well-abandoned. Through the abandoning and well-abandoning of negligence, the faculty of mindfulness is developed and well-developed; through the development and well-development of the faculty of mindfulness, negligence is abandoned and well-abandoned. Through the abandoning and well-abandoning of restlessness, the faculty of concentration is developed and well-developed; through the development and well-development of the faculty of concentration, restlessness is abandoned and well-abandoned. Through the abandoning and well-abandoning of ignorance, the faculty of wisdom is developed and well-developed; through the development and well-development of the faculty of wisdom, ignorance is abandoned and well-abandoned. In these ten ways, the five faculties are developed and well-developed.
Năm quyền được tu tập, được khéo tu tập bởi bao nhiêu phương diện? Năm quyền được tu tập, được khéo tu tập bởi mười phương diện. Do sự đoạn trừ, khéo đoạn trừ sự không có đức tin nên tín quyền được tu tập, được khéo tu tập; do sự tu tập, khéo tu tập tín quyền nên sự không có đức tin được đoạn trừ, được khéo đoạn trừ. Do sự đoạn trừ, khéo đoạn trừ sự lười biếng nên cần quyền được tu tập, được khéo tu tập; do sự tu tập, khéo tu tập cần quyền nên sự lười biếng được đoạn trừ, được khéo đoạn trừ. Do sự đoạn trừ, khéo đoạn trừ sự phóng dật nên niệm quyền được tu tập, được khéo tu tập; do sự tu tập, khéo tu tập niệm quyền nên sự phóng dật được đoạn trừ, được khéo đoạn trừ. Do sự đoạn trừ, khéo đoạn trừ sự trạo cử nên định quyền được tu tập, được khéo tu tập; do sự tu tập, khéo tu tập định quyền nên sự trạo cử được đoạn trừ, được khéo đoạn trừ. Do sự đoạn trừ vô minh nên tuệ quyền được tu tập, được khéo tu tập; do sự tu tập, khéo tu tập tuệ quyền nên vô minh được đoạn trừ, được khéo đoạn trừ. Năm quyền được tu tập, được khéo tu tập bởi mười phương diện này.
186. Katihākārehi pañcindriyāni bhāviyanti, katihākārehi pañcindriyāni bhāvitāni ceva honti subhāvitāni ca paṭippassaddhāni ca suppaṭippassaddhāni ca? Catūhākārehi pañcindriyāni bhāviyanti catūhākārehi pañcindriyāni bhāvitāni ceva honti subhāvitāni ca paṭippassaddhāni ca suppaṭippassaddhāni ca. Sotāpattimaggakkhaṇe pañcindriyāni bhāviyanti; sotāpattiphalakkhaṇe pañcindriyāni bhāvitāni ceva honti subhāvitāni ca paṭippassaddhāni ca suppaṭippassaddhāni ca. Sakadāgāmimaggakkhaṇe pañcindriyāni bhāviyanti; sakadāgāmiphalakkhaṇe pañcindriyāni bhāvitāni ceva honti subhāvitāni ca paṭippassaddhāni ca suppaṭippassaddhāni ca. Anāgāmimaggakkhaṇe pañcindriyāni bhāviyanti; anāgāmiphalakkhaṇe pañcindriyāni bhāvitāni ceva honti subhāvitāni ca paṭippassaddhāni ca suppaṭippassaddhāni ca. Arahattamaggakkhaṇe pañcindriyāni bhāviyanti; arahattaphalakkhaṇe pañcindriyāni bhāvitāni ceva honti subhāvitāni ca paṭippassaddhāni ca suppaṭippassaddhāni ca. Iti catasso maggavisuddhiyo, catasso phalavisuddhiyo, catasso samucchedavisuddhiyo, catasso paṭippassaddhivisuddhiyo. Imehi catūhākārehi pañcindriyāni bhāviyanti; imehi catūhākārehi pañcindriyāni bhāvitāni ceva honti subhāvitāni ca paṭippassaddhāni ca suppaṭippassaddhāni ca.
186. By how many ways are the five faculties developed? By how many ways are the five faculties developed, well-developed, pacified, and well-pacified? By four ways, the five faculties are developed; by four ways, the five faculties are developed, well-developed, pacified, and well-pacified. At the moment of the stream-entry path, the five faculties are developed; at the moment of the stream-entry fruition, the five faculties are developed, well-developed, pacified, and well-pacified. At the moment of the once-returner path, the five faculties are developed; at the moment of the once-returner fruition, the five faculties are developed, well-developed, pacified, and well-pacified. At the moment of the non-returner path, the five faculties are developed; at the moment of the non-returner fruition, the five faculties are developed, well-developed, pacified, and well-pacified. At the moment of the Arahant path, the five faculties are developed; at the moment of the Arahant fruition, the five faculties are developed, well-developed, pacified, and well-pacified. Thus, there are four purifications of the path, four purifications of the fruition, four purifications of eradication, and four purifications of pacification. By these four ways, the five faculties are developed; by these four ways, the five faculties are developed, well-developed, pacified, and well-pacified.
186. Năm quyền được tu tập bởi bao nhiêu phương diện? Năm quyền được tu tập, được khéo tu tập, được làm cho an tịnh, được khéo làm cho an tịnh bởi bao nhiêu phương diện? Năm quyền được tu tập bởi bốn phương diện; năm quyền được tu tập, được khéo tu tập, được làm cho an tịnh, được khéo làm cho an tịnh bởi bốn phương diện. Trong sát-na của đạo Dự Lưu, năm quyền được tu tập. Trong sát-na của quả Dự Lưu, năm quyền được tu tập, được khéo tu tập, được làm cho an tịnh, được khéo làm cho an tịnh. Trong sát-na của đạo Nhất Lai, năm quyền được tu tập. Trong sát-na của quả Nhất Lai, năm quyền được tu tập, được khéo tu tập, được làm cho an tịnh, được khéo làm cho an tịnh. Trong sát-na của đạo Bất Lai, năm quyền được tu tập. Trong sát-na của quả Bất Lai, năm quyền được tu tập, được khéo tu tập, được làm cho an tịnh, được khéo làm cho an tịnh. Trong sát-na của đạo A-la-hán, năm quyền được tu tập. Trong sát-na của quả A-la-hán, năm quyền được tu tập, được khéo tu tập, được làm cho an tịnh, được khéo làm cho an tịnh. Như vậy, có bốn sự thanh tịnh của đạo, bốn sự thanh tịnh của quả, bốn sự thanh tịnh của sự đoạn diệt, bốn sự thanh tịnh của sự an tịnh. Năm quyền được tu tập bởi bốn phương diện này; năm quyền được tu tập, được khéo tu tập, được làm cho an tịnh, được khéo làm cho an tịnh bởi bốn phương diện này.
Katinaṃ puggalānaṃ indriyabhāvanā; kati puggalā bhāvitindriyā? Aṭṭhannaṃ puggalānaṃ indriyabhāvanā; tayo puggalā bhāvitindriyā. Katamesaṃ aṭṭhannaṃ puggalānaṃ indriyabhāvanā? Sattannañca sekkhānaṃ, puthujjanakalyāṇakassa ca – imesaṃ aṭṭhannaṃ puggalānaṃ indriyabhāvanā. Katame tayo puggalā bhāvitindriyā? Savanena buddho tathāgatassa sāvako khīṇāsavo bhāvitindriyo, sayaṃ bhūtaṭṭhena paccekasambuddho bhāvitindriyo, appameyyaṭṭhena tathāgato arahaṃ sammāsambuddho bhāvitindriyo – ime tayo puggalā bhāvitindriyā. Iti imesaṃ aṭṭhannaṃ puggalānaṃ indriyabhāvanā; ime tayo puggalā bhāvitindriyā.
For how many individuals is there the development of the faculties? How many individuals have developed faculties? For eight individuals, there is the development of the faculties; three individuals have developed faculties. For which eight individuals is there the development of the faculties? For the seven trainees and the virtuous ordinary person—for these eight individuals, there is the development of the faculties. Which three individuals have developed faculties? The disciple of the Tathāgata, an Arahant who has understood through hearing, has developed faculties; the Paccekasambuddha, by the principle of being self-arisen, has developed faculties; the Tathāgata, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, by the principle of being immeasurable, has developed faculties—these three individuals have developed faculties. Thus, for these eight individuals, there is the development of the faculties; these three individuals have developed faculties.
Sự tu tập các quyền là của bao nhiêu hạng người? Bao nhiêu hạng người có các quyền đã được tu tập? Sự tu tập các quyền là của tám hạng người; ba hạng người có các quyền đã được tu tập. Sự tu tập các quyền là của tám hạng người nào? Của bảy vị hữu học và của phàm phu thiện – sự tu tập các quyền là của tám hạng người này. Ba hạng người nào có các quyền đã được tu tập? Vị đệ tử của Như Lai, bậc lậu tận, người đã giác ngộ do nghe, là người có các quyền đã được tu tập; vị Phật Độc Giác, với ý nghĩa tự mình thành tựu, là người có các quyền đã được tu tập; vị Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, với ý nghĩa không thể đo lường, là người có các quyền đã được tu tập – ba hạng người này là những người có các quyền đã được tu tập. Như vậy, sự tu tập các quyền là của tám hạng người này; ba hạng người này là những người có các quyền đã được tu tập.
Suttantaniddeso paṭhamo.
The First Exposition of the Sutta is concluded.
Dứt phần giải thích kinh thứ nhất.
2. Dutiyasuttantaniddeso
2. The Second Exposition of the Sutta
2. Phần giải thích kinh thứ nhì
187. Sāvatthinidānaṃ. ‘‘Pañcimāni, bhikkhave, indriyāni. Katamāni pañca? Saddhindriyaṃ, vīriyindriyaṃ, satindriyaṃ, samādhindriyaṃ, paññindriyaṃ. Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā imesaṃ pañcannaṃ indriyānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṃ nappajānanti, na me te, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu † vā samaṇasammatā, brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā; na ca panete āyasmantā † sāmaññatthaṃ vā brahmaññatthaṃ vā diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti. Ye ca kho keci † bhikkhave samaṇā vā brāhmaṇā vā imesaṃ pañcannaṃ indriyānaṃ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṃ pajānanti, te kho me, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu vā samaṇasammatā, brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā; te ca panāyasmantā sāmaññatthañca brahmaññatthañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī’’ti.
187. At Sāvatthī. “Bhikkhus, there are these five faculties. What five? The faculty of faith, the faculty of energy, the faculty of mindfulness, the faculty of concentration, and the faculty of wisdom. Bhikkhus, whatever ascetics or brahmins do not truly understand the arising, the passing away, the gratification, the danger, and the escape concerning these five faculties, they are not, for me, considered ascetics among ascetics or brahmins among brahmins. And those venerable ones do not dwell having realized for themselves with higher knowledge and attained, in this very life, the goal of asceticism or the goal of brahminhood. But, bhikkhus, whatever ascetics or brahmins truly understand the arising, the passing away, the gratification, the danger, and the escape concerning these five faculties, they are, for me, considered ascetics among ascetics and brahmins among brahmins. And those venerable ones dwell having realized for themselves with higher knowledge and attained, in this very life, both the goal of asceticism and the goal of brahminhood.”
187. Nhân ở Sāvatthī. “Này các Tỳ khưu, có năm quyền này. Năm là những gì? Tín quyền, cần quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền. Này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào không tuệ tri đúng như thật về sự sanh khởi, sự diệt mất, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự xuất ly của năm quyền này, này các Tỳ khưu, đối với ta, các Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được xem là Sa-môn trong hàng Sa-môn, hay là Bà-la-môn trong hàng Bà-la-môn; và các vị tôn giả ấy không an trú sau khi đã tự mình giác ngộ, chứng đạt và thành tựu mục đích của Sa-môn hay mục đích của Bà-la-môn ngay trong hiện tại. Và này các Tỳ khưu, bất cứ Sa-môn hay Bà-la-môn nào tuệ tri đúng như thật về sự sanh khởi, sự diệt mất, vị ngọt, sự nguy hiểm, và sự xuất ly của năm quyền này, này các Tỳ khưu, đối với ta, các Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được xem là Sa-môn trong hàng Sa-môn, và là Bà-la-môn trong hàng Bà-la-môn; và các vị tôn giả ấy an trú sau khi đã tự mình giác ngộ, chứng đạt và thành tựu mục đích của Sa-môn và mục đích của Bà-la-môn ngay trong hiện tại.”
188. Katihākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ samudayo hoti; katihākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ samudayaṃ pajānāti? Katihākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ atthaṅgamo hoti; katihākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ atthaṅgamaṃ pajānāti? Katihākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ assādo hoti, katihākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ assādaṃ pajānāti? Katihākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ ādīnavo hoti; katihākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ ādīnavaṃ pajānāti? Katihākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ nissaraṇaṃ hoti; katihākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ nissaraṇaṃ pajānāti?
188. In how many aspects does the arising of the five faculties occur? In how many aspects does one understand the arising of the five faculties? In how many aspects does the passing away of the five faculties occur? In how many aspects does one understand the passing away of the five faculties? In how many aspects does the gratification in the five faculties occur? In how many aspects does one understand the gratification in the five faculties? In how many aspects does the danger in the five faculties occur? In how many aspects does one understand the danger in the five faculties? In how many aspects does the escape from the five faculties occur? In how many aspects does one understand the escape from the five faculties?
188. Sự sanh khởi của năm quyền có mặt bởi bao nhiêu phương diện? Vị ấy tuệ tri sự sanh khởi của năm quyền bởi bao nhiêu phương diện? Sự đoạn diệt của năm quyền có mặt bởi bao nhiêu phương diện? Vị ấy tuệ tri sự đoạn diệt của năm quyền bởi bao nhiêu phương diện? Vị ngọt của năm quyền có mặt bởi bao nhiêu phương diện? Vị ấy tuệ tri vị ngọt của năm quyền bởi bao nhiêu phương diện? Sự nguy hại của năm quyền có mặt bởi bao nhiêu phương diện? Vị ấy tuệ tri sự nguy hại của năm quyền bởi bao nhiêu phương diện? Sự xuất ly của năm quyền có mặt bởi bao nhiêu phương diện? Vị ấy tuệ tri sự xuất ly của năm quyền bởi bao nhiêu phương diện?
Cattārīsāya ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ samudayo hoti; cattārīsāya ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ samudayaṃ pajānāti. Cattārīsāya ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ atthaṅgamo hoti; cattārīsāya ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ atthaṅgamaṃ pajānāti. Pañcavīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ assādo hoti; pañcavīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ assādaṃ pajānāti. Pañcavīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ ādīnavo hoti; pañcavīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ ādīnavaṃ pajānāti. Asītisataṃ ākārehi † pañcannaṃ indriyānaṃ nissaraṇaṃ hoti; asītisataṃ ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ nissaraṇaṃ pajānāti.
The arising of the five faculties occurs in forty ways; one understands the arising of the five faculties in forty ways. The cessation of the five faculties occurs in forty ways; one understands the cessation of the five faculties in forty ways. The gratification in the five faculties occurs in twenty-five ways; one understands the gratification in the five faculties in twenty-five ways. The danger in the five faculties occurs in twenty-five ways; one understands the danger in the five faculties in twenty-five ways. The escape from the five faculties occurs in one hundred and eighty ways; one understands the escape from the five faculties in one hundred and eighty ways.
Sự sanh khởi của năm quyền có mặt bởi bốn mươi phương diện; vị ấy tuệ tri sự sanh khởi của năm quyền bởi bốn mươi phương diện. Sự đoạn diệt của năm quyền có mặt bởi bốn mươi phương diện; vị ấy tuệ tri sự đoạn diệt của năm quyền bởi bốn mươi phương diện. Vị ngọt của năm quyền có mặt bởi hai mươi lăm phương diện; vị ấy tuệ tri vị ngọt của năm quyền bởi hai mươi lăm phương diện. Sự nguy hại của năm quyền có mặt bởi hai mươi lăm phương diện; vị ấy tuệ tri sự nguy hại của năm quyền bởi hai mươi lăm phương diện. Sự xuất ly của năm quyền có mặt bởi một trăm tám mươi phương diện; vị ấy tuệ tri sự xuất ly của năm quyền bởi một trăm tám mươi phương diện.
Katamehi cattārīsāya ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ samudayo hoti; katamehi cattārīsāya ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ samudayaṃ pajānāti? Adhimokkhatthāya āvajjanāya samudayo saddhindriyassa samudayo hoti, adhimokkhavasena chandassa samudayo saddhindriyassa samudayo hoti, adhimokkhavasena manasikārassa samudayo saddhindriyassa samudayo hoti, saddhindriyassa vasena ekattupaṭṭhānaṃ saddhindriyassa samudayo hoti; paggahatthāya āvajjanāya samudayo vīriyindriyassa samudayo hoti, paggahavasena chandassa samudayo vīriyindriyassa samudayo hoti, paggahavasena manasikārassa samudayo vīriyindriyassa samudayo hoti, vīriyindriyassa vasena ekattupaṭṭhānaṃ vīriyindriyassa samudayo hoti; upaṭṭhānatthāya āvajjanāya samudayo satindriyassa samudayo hoti, upaṭṭhānavasena chandassa samudayo satindriyassa samudayo hoti, upaṭṭhānavasena manasikārassa samudayo satindriyassa samudayo hoti, satindriyassa vasena ekattupaṭṭhānaṃ satindriyassa samudayo hoti; avikkhepatthāya āvajjanāya samudayo samādhindriyassa samudayo hoti, avikkhepavasena chandassa samudayo samādhindriyassa samudayo hoti, avikkhepavasena manasikārassa samudayo samādhindriyassa samudayo hoti, samādhindriyassa vasena ekattupaṭṭhānaṃ samādhindriyassa samudayo hoti; dassanatthāya āvajjanāya samudayo paññindriyassa samudayo hoti, dassanavasena chandassa samudayo paññindriyassa samudayo hoti, dassanavasena manasikārassa samudayo paññindriyassa samudayo hoti, paññindriyassa vasena ekattupaṭṭhānaṃ paññindriyassa samudayo hoti. Adhimokkhatthāya āvajjanāya samudayo saddhindriyassa samudayo hoti, paggahatthāya āvajjanāya samudayo vīriyindriyassa samudayo hoti, upaṭṭhānatthāya āvajjanāya samudayo satindriyassa samudayo hoti, avikkhepatthāya āvajjanāya samudayo samādhindriyassa samudayo hoti, dassanatthāya āvajjanāya samudayo paññindriyassa samudayo hoti. Adhimokkhavasena chandassa samudayo saddhindriyassa samudayo hoti, paggahavasena chandassa samudayo vīriyindriyassa samudayo hoti, upaṭṭhānavasena chandassa samudayo satindriyassa samudayo hoti, avikkhepavasena chandassa samudayo samādhindriyassa samudayo hoti, dassanavasena chandassa samudayo paññindriyassa samudayo hoti. Adhimokkhavasena manasikārassa samudayo saddhindriyassa samudayo hoti, paggahavasena manasikārassa samudayo vīriyindriyassa samudayo hoti, upaṭṭhānavasena manasikārassa samudayo satindriyassa samudayo hoti, avikkhepavasena manasikārassa samudayo samādhindriyassa samudayo hoti, dassanavasena manasikārassa samudayo paññindriyassa samudayo hoti. Saddhindriyassa vasena ekattupaṭṭhānaṃ saddhindriyassa samudayo hoti vīriyindriyassa vasena ekattupaṭṭhānaṃ vīriyindriyassa samudayo hoti, satindriyassa vasena ekattupaṭṭhānaṃ satindriyassa samudayo hoti, samādhindriyassa vasena ekattupaṭṭhānaṃ samādhindriyassa samudayo hoti, paññindriyassa vasena ekattupaṭṭhānaṃ paññindriyassa samudayo hoti.
By what forty modes does the origination of the five faculties occur? By what forty modes does one understand the origination of the five faculties? The origination of adverting for the purpose of conviction is the origination of the faith faculty. By means of conviction, the origination of desire is the origination of the faith faculty. By means of conviction, the origination of attention is the origination of the faith faculty. By the power of the faith faculty, the unified manifestation is the origination of the faith faculty. The origination of adverting for the purpose of exertion is the origination of the energy faculty. By means of exertion, the origination of desire is the origination of the energy faculty. By means of exertion, the origination of attention is the origination of the energy faculty. By the power of the energy faculty, the unified manifestation is the origination of the energy faculty. The origination of adverting for the purpose of establishing is the origination of the mindfulness faculty. By means of establishing, the origination of desire is the origination of the mindfulness faculty. By means of establishing, the origination of attention is the origination of the mindfulness faculty. By the power of the mindfulness faculty, the unified manifestation is the origination of the mindfulness faculty. The origination of adverting for the purpose of non-distraction is the origination of the concentration faculty. By means of non-distraction, the origination of desire is the origination of the concentration faculty. By means of non-distraction, the origination of attention is the origination of the concentration faculty. By the power of the concentration faculty, the unified manifestation is the origination of the concentration faculty. The origination of adverting for the purpose of seeing is the origination of the wisdom faculty. By means of seeing, the origination of desire is the origination of the wisdom faculty. By means of seeing, the origination of attention is the origination of the wisdom faculty. By the power of the wisdom faculty, the unified manifestation is the origination of the wisdom faculty. The origination of adverting for the purpose of conviction is the origination of the faith faculty. The origination of adverting for the purpose of exertion is the origination of the energy faculty. The origination of adverting for the purpose of establishing is the origination of the mindfulness faculty. The origination of adverting for the purpose of non-distraction is the origination of the concentration faculty. The origination of adverting for the purpose of seeing is the origination of the wisdom faculty. By means of conviction, the origination of desire is the origination of the faith faculty. By means of exertion, the origination of desire is the origination of the energy faculty. By means of establishing, the origination of desire is the origination of the mindfulness faculty. By means of non-distraction, the origination of desire is the origination of the concentration faculty. By means of seeing, the origination of desire is the origination of the wisdom faculty. By means of conviction, the origination of attention is the origination of the faith faculty. By means of exertion, the origination of attention is the origination of the energy faculty. By means of establishing, the origination of attention is the origination of the mindfulness faculty. By means of non-distraction, the origination of attention is the origination of the concentration faculty. By means of seeing, the origination of attention is the origination of the wisdom faculty. By the power of the faith faculty, the unified manifestation is the origination of the faith faculty. By the power of the energy faculty, the unified manifestation is the origination of the energy faculty. By the power of the mindfulness faculty, the unified manifestation is the origination of the mindfulness faculty. By the power of the concentration faculty, the unified manifestation is the origination of the concentration faculty. By the power of the wisdom faculty, the unified manifestation is the origination of the wisdom faculty.
Bởi bốn mươi phương diện nào mà sự sanh khởi của năm quyền có mặt? Bởi bốn mươi phương diện nào mà vị ấy tuệ tri sự sanh khởi của năm quyền? Sự sanh khởi của việc hướng tâm về mục đích quyết đoán là sự sanh khởi của tín quyền, sự sanh khởi của ý muốn do năng lực của sự quyết đoán là sự sanh khởi của tín quyền, sự sanh khởi của tác ý do năng lực của sự quyết đoán là sự sanh khởi của tín quyền, sự hiện khởi của tính đồng nhất do năng lực của tín quyền là sự sanh khởi của tín quyền; sự sanh khởi của việc hướng tâm về mục đích sách tấn là sự sanh khởi của tấn quyền, sự sanh khởi của ý muốn do năng lực của sự sách tấn là sự sanh khởi của tấn quyền, sự sanh khởi của tác ý do năng lực của sự sách tấn là sự sanh khởi của tấn quyền, sự hiện khởi của tính đồng nhất do năng lực của tấn quyền là sự sanh khởi của tấn quyền; sự sanh khởi của việc hướng tâm về mục đích an trú là sự sanh khởi của niệm quyền, sự sanh khởi của ý muốn do năng lực của sự an trú là sự sanh khởi của niệm quyền, sự sanh khởi của tác ý do năng lực của sự an trú là sự sanh khởi của niệm quyền, sự hiện khởi của tính đồng nhất do năng lực của niệm quyền là sự sanh khởi của niệm quyền; sự sanh khởi của việc hướng tâm về mục đích không phân tán là sự sanh khởi của định quyền, sự sanh khởi của ý muốn do năng lực của sự không phân tán là sự sanh khởi của định quyền, sự sanh khởi của tác ý do năng lực của sự không phân tán là sự sanh khởi của định quyền, sự hiện khởi của tính đồng nhất do năng lực của định quyền là sự sanh khởi của định quyền; sự sanh khởi của việc hướng tâm về mục đích thấy rõ là sự sanh khởi của tuệ quyền, sự sanh khởi của ý muốn do năng lực của sự thấy rõ là sự sanh khởi của tuệ quyền, sự sanh khởi của tác ý do năng lực của sự thấy rõ là sự sanh khởi của tuệ quyền, sự hiện khởi của tính đồng nhất do năng lực của tuệ quyền là sự sanh khởi của tuệ quyền. Sự sanh khởi của việc hướng tâm về mục đích quyết đoán là sự sanh khởi của tín quyền, sự sanh khởi của việc hướng tâm về mục đích sách tấn là sự sanh khởi của tấn quyền, sự sanh khởi của việc hướng tâm về mục đích an trú là sự sanh khởi của niệm quyền, sự sanh khởi của việc hướng tâm về mục đích không phân tán là sự sanh khởi của định quyền, sự sanh khởi của việc hướng tâm về mục đích thấy rõ là sự sanh khởi của tuệ quyền. Sự sanh khởi của ý muốn do năng lực của sự quyết đoán là sự sanh khởi của tín quyền, sự sanh khởi của ý muốn do năng lực của sự sách tấn là sự sanh khởi của tấn quyền, sự sanh khởi của ý muốn do năng lực của sự an trú là sự sanh khởi của niệm quyền, sự sanh khởi của ý muốn do năng lực của sự không phân tán là sự sanh khởi của định quyền, sự sanh khởi của ý muốn do năng lực của sự thấy rõ là sự sanh khởi của tuệ quyền. Sự sanh khởi của tác ý do năng lực của sự quyết đoán là sự sanh khởi của tín quyền, sự sanh khởi của tác ý do năng lực của sự sách tấn là sự sanh khởi của tấn quyền, sự sanh khởi của tác ý do năng lực của sự an trú là sự sanh khởi của niệm quyền, sự sanh khởi của tác ý do năng lực của sự không phân tán là sự sanh khởi của định quyền, sự sanh khởi của tác ý do năng lực của sự thấy rõ là sự sanh khởi của tuệ quyền. Sự hiện khởi của tính đồng nhất do năng lực của tín quyền là sự sanh khởi của tín quyền, sự hiện khởi của tính đồng nhất do năng lực của tấn quyền là sự sanh khởi của tấn quyền, sự hiện khởi của tính đồng nhất do năng lực của niệm quyền là sự sanh khởi của niệm quyền, sự hiện khởi của tính đồng nhất do năng lực của định quyền là sự sanh khởi của định quyền, sự hiện khởi của tính đồng nhất do năng lực của tuệ quyền là sự sanh khởi của tuệ quyền.
Imehi cattārīsāya ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ samudayo hoti, imehi cattārīsāya ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ samudayaṃ pajānāti.
By these forty aspects, the origination of the five faculties occurs; by these forty aspects, one understands the origination of the five faculties.
Sự sanh khởi của năm quyền là có do bốn mươi trạng thái này, vị ấy biết rõ sự sanh khởi của năm quyền do bốn mươi trạng thái này.
Katamehi cattārīsāya ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ atthaṅgamo hoti; katamehi cattārīsāya ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ atthaṅgamaṃ pajānāti? Adhimokkhatthāya āvajjanāya atthaṅgamo saddhindriyassa atthaṅgamo hoti, adhimokkhavasena chandassa atthaṅgamo saddhindriyassa atthaṅgamo hoti, adhimokkhavasena manasikārassa atthaṅgamo saddhindriyassa atthaṅgamo hoti, saddhindriyassa vasena ekattaanupaṭṭhānaṃ † saddhindriyassa vasena atthaṅgamo hoti; paggahatthāya āvajjanāya atthaṅgamo vīriyindriyassa atthaṅgamo hoti, paggahavasena chandassa atthaṅgamo vīriyindriyassa atthaṅgamo hoti, paggahavasena manasikārassa atthaṅgamo vīriyindriyassa atthaṅgamo hoti, vīriyindriyassa vasena ekattaanupaṭṭhānaṃ vīriyindriyassa atthaṅgamo hoti; upaṭṭhānatthāya āvajjanāya atthaṅgamo satindriyassa atthaṅgamo hoti, upaṭṭhānavasena chandassa atthaṅgamo satindriyassa atthaṅgamo hoti, upaṭṭhānavasena manasikārassa atthaṅgamo satindriyassa atthaṅgamo hoti, satindriyassa vasena ekattaanupaṭṭhānaṃ satindriyassa atthaṅgamo hoti; avikkhepatthāya āvajjanāya atthaṅgamo samādhindriyassa atthaṅgamo hoti, avikkhepavasena chandassa atthaṅgamo samādhindriyassa atthaṅgamo hoti, avikkhepavasena manasikārassa atthaṅgamo samādhindriyassa atthaṅgamo hoti, samādhindriyassa vasena ekattaanupaṭṭhānaṃ samādhindriyassa atthaṅgamo hoti; dassanatthāya āvajjanāya atthaṅgamo paññindriyassa atthaṅgamo hoti, dassanavasena chandassa atthaṅgamo paññindriyassa atthaṅgamo hoti, dassanavasena manasikārassa atthaṅgamo paññindriyassa atthaṅgamo hoti, paññindriyassa vasena ekattaanupaṭṭhānaṃ paññindriyassa atthaṅgamo hoti.
By which forty modes does the cessation of the five faculties occur? By which forty modes does one understand the cessation of the five faculties? The cessation of attention for the sake of conviction is the cessation of the faculty of faith; the cessation of desire by way of conviction is the cessation of the faculty of faith; the cessation of mental engagement by way of conviction is the cessation of the faculty of faith; the non-establishment of unification by way of the faculty of faith is the cessation of the faculty of faith. The cessation of attention for the sake of exertion is the cessation of the faculty of energy; the cessation of desire by way of exertion is the cessation of the faculty of energy; the cessation of mental engagement by way of exertion is the cessation of the faculty of energy; the non-establishment of unification by way of the faculty of energy is the cessation of the faculty of energy. The cessation of attention for the sake of establishment is the cessation of the faculty of mindfulness; the cessation of desire by way of establishment is the cessation of the faculty of mindfulness; the cessation of mental engagement by way of establishment is the cessation of the faculty of mindfulness; the non-establishment of unification by way of the faculty of mindfulness is the cessation of the faculty of mindfulness. The cessation of attention for the sake of non-distraction is the cessation of the faculty of concentration; the cessation of desire by way of non-distraction is the cessation of the faculty of concentration; the cessation of mental engagement by way of non-distraction is the cessation of the faculty of concentration; the non-establishment of unification by way of the faculty of concentration is the cessation of the faculty of concentration. The cessation of attention for the sake of vision is the cessation of the faculty of wisdom; the cessation of desire by way of vision is the cessation of the faculty of wisdom; the cessation of mental engagement by way of vision is the cessation of the faculty of wisdom; the non-establishment of unification by way of the faculty of wisdom is the cessation of the faculty of wisdom.
Sự đoạn diệt của năm quyền là có do bốn mươi trạng thái nào? Vị ấy biết rõ sự đoạn diệt của năm quyền do bốn mươi trạng thái nào? Sự đoạn diệt của sự hướng tâm vì mục đích có sự quyết đoán là sự đoạn diệt của tín quyền, sự đoạn diệt của dục do năng lực của sự quyết đoán là sự đoạn diệt của tín quyền, sự đoạn diệt của sự tác ý do năng lực của sự quyết đoán là sự đoạn diệt của tín quyền, sự không hiện khởi ở một nơi do năng lực của tín quyền là sự đoạn diệt của tín quyền; sự đoạn diệt của sự hướng tâm vì mục đích có sự sách tấn là sự đoạn diệt của tấn quyền, sự đoạn diệt của dục do năng lực của sự sách tấn là sự đoạn diệt của tấn quyền, sự đoạn diệt của sự tác ý do năng lực của sự sách tấn là sự đoạn diệt của tấn quyền, sự không hiện khởi ở một nơi do năng lực của tấn quyền là sự đoạn diệt của tấn quyền; sự đoạn diệt của sự hướng tâm vì mục đích có sự an trú là sự đoạn diệt của niệm quyền, sự đoạn diệt của dục do năng lực của sự an trú là sự đoạn diệt của niệm quyền, sự đoạn diệt của sự tác ý do năng lực của sự an trú là sự đoạn diệt của niệm quyền, sự không hiện khởi ở một nơi do năng lực của niệm quyền là sự đoạn diệt của niệm quyền; sự đoạn diệt của sự hướng tâm vì mục đích không bị phân tán là sự đoạn diệt của định quyền, sự đoạn diệt của dục do năng lực không bị phân tán là sự đoạn diệt của định quyền, sự đoạn diệt của sự tác ý do năng lực không bị phân tán là sự đoạn diệt của định quyền, sự không hiện khởi ở một nơi do năng lực của định quyền là sự đoạn diệt của định quyền; sự đoạn diệt của sự hướng tâm vì mục đích có sự thấy biết là sự đoạn diệt của tuệ quyền, sự đoạn diệt của dục do năng lực của sự thấy biết là sự đoạn diệt của tuệ quyền, sự đoạn diệt của sự tác ý do năng lực của sự thấy biết là sự đoạn diệt của tuệ quyền, sự không hiện khởi ở một nơi do năng lực của tuệ quyền là sự đoạn diệt của tuệ quyền.
Adhimokkhatthāya āvajjanāya atthaṅgamo saddhindriyassa atthaṅgamo hoti, paggahatthāya āvajjanāya atthaṅgamo vīriyindriyassa atthaṅgamo hoti, upaṭṭhānatthāya āvajjanāya atthaṅgamo satindriyassa atthaṅgamo hoti, avikkhepatthāya āvajjanāya atthaṅgamo samādhindriyassa atthaṅgamo hoti, dassanatthāya āvajjanāya atthaṅgamo paññindriyassa atthaṅgamo hoti. Adhimokkhavasena chandassa atthaṅgamo saddhindriyassa atthaṅgamo hoti, paggahavasena chandassa atthaṅgamo vīriyindriyassa atthaṅgamo hoti, upaṭṭhānavasena chandassa atthaṅgamo satindriyassa atthaṅgamo hoti, avikkhepavasena chandassa atthaṅgamo samādhindriyassa atthaṅgamo hoti, dassanavasena chandassa atthaṅgamo paññindriyassa atthaṅgamo hoti. Adhimokkhavasena manasikārassa atthaṅgamo saddhindriyassa atthaṅgamo hoti, paggahavasena manasikārassa atthaṅgamo vīriyindriyassa atthaṅgamo hoti, upaṭṭhānavasena manasikārassa atthaṅgamo satindriyassa atthaṅgamo hoti, avikkhepavasena manasikārassa atthaṅgamo samādhindriyassa atthaṅgamo hoti, dassanavasena manasikārassa atthaṅgamo paññindriyassa atthaṅgamo hoti. Saddhindriyassa vasena ekattaanupaṭṭhānaṃ saddhindriyassa atthaṅgamo hoti, vīriyindriyassa vasena ekattaanupaṭṭhānaṃ vīriyindriyassa atthaṅgamo hoti, satindriyassa vasena ekattaanupaṭṭhānaṃ satindriyassa atthaṅgamo hoti, samādhindriyassa vasena ekattaanupaṭṭhānaṃ samādhindriyassa atthaṅgamo hoti, paññindriyassa vasena ekattaanupaṭṭhānaṃ paññindriyassa atthaṅgamo hoti.
The disappearance of adverting for the sake of conviction is the disappearance of the faculty of faith; the disappearance of adverting for the sake of exertion is the disappearance of the faculty of energy; the disappearance of adverting for the sake of establishment is the disappearance of the faculty of mindfulness; the disappearance of adverting for the sake of non-distraction is the disappearance of the faculty of concentration; the disappearance of adverting for the sake of vision is the disappearance of the faculty of wisdom. The disappearance of desire by way of conviction is the disappearance of the faculty of faith; the disappearance of desire by way of exertion is the disappearance of the faculty of energy; the disappearance of desire by way of establishment is the disappearance of the faculty of mindfulness; the disappearance of desire by way of non-distraction is the disappearance of the faculty of concentration; the disappearance of desire by way of vision is the disappearance of the faculty of wisdom. The disappearance of mental engagement by way of conviction is the disappearance of the faculty of faith; the disappearance of mental engagement by way of exertion is the disappearance of the faculty of energy; the disappearance of mental engagement by way of establishment is the disappearance of the faculty of mindfulness; the disappearance of mental engagement by way of non-distraction is the disappearance of the faculty of concentration; the disappearance of mental engagement by way of vision is the disappearance of the faculty of wisdom. The non-appearance of unification by way of the faculty of faith is the disappearance of the faculty of faith; the non-appearance of unification by way of the faculty of energy is the disappearance of the faculty of energy; the non-appearance of unification by way of the faculty of mindfulness is the disappearance of the faculty of mindfulness; the non-appearance of unification by way of the faculty of concentration is the disappearance of the faculty of concentration; the non-appearance of unification by way of the faculty of wisdom is the disappearance of the faculty of wisdom.
Sự đoạn diệt của sự hướng tâm vì mục đích có sự quyết đoán là sự đoạn diệt của tín quyền, sự đoạn diệt của sự hướng tâm vì mục đích có sự sách tấn là sự đoạn diệt của tấn quyền, sự đoạn diệt của sự hướng tâm vì mục đích có sự an trú là sự đoạn diệt của niệm quyền, sự đoạn diệt của sự hướng tâm vì mục đích không bị phân tán là sự đoạn diệt của định quyền, sự đoạn diệt của sự hướng tâm vì mục đích có sự thấy biết là sự đoạn diệt của tuệ quyền. Sự đoạn diệt của dục do năng lực của sự quyết đoán là sự đoạn diệt của tín quyền, sự đoạn diệt của dục do năng lực của sự sách tấn là sự đoạn diệt của tấn quyền, sự đoạn diệt của dục do năng lực của sự an trú là sự đoạn diệt của niệm quyền, sự đoạn diệt của dục do năng lực không bị phân tán là sự đoạn diệt của định quyền, sự đoạn diệt của dục do năng lực của sự thấy biết là sự đoạn diệt của tuệ quyền. Sự đoạn diệt của sự tác ý do năng lực của sự quyết đoán là sự đoạn diệt của tín quyền, sự đoạn diệt của sự tác ý do năng lực của sự sách tấn là sự đoạn diệt của tấn quyền, sự đoạn diệt của sự tác ý do năng lực của sự an trú là sự đoạn diệt của niệm quyền, sự đoạn diệt của sự tác ý do năng lực không bị phân tán là sự đoạn diệt của định quyền, sự đoạn diệt của sự tác ý do năng lực của sự thấy biết là sự đoạn diệt của tuệ quyền. Sự không hiện khởi ở một nơi do năng lực của tín quyền là sự đoạn diệt của tín quyền, sự không hiện khởi ở một nơi do năng lực của tấn quyền là sự đoạn diệt của tấn quyền, sự không hiện khởi ở một nơi do năng lực của niệm quyền là sự đoạn diệt của niệm quyền, sự không hiện khởi ở một nơi do năng lực của định quyền là sự đoạn diệt của định quyền, sự không hiện khởi ở một nơi do năng lực của tuệ quyền là sự đoạn diệt của tuệ quyền.
Imehi cattārīsāya ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ atthaṅgamo hoti; imehi cattārīsāya ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ atthaṅgamaṃ pajānāti.
By these forty modes there is the cessation of the five faculties; by these forty modes one understands the cessation of the five faculties.
Sự đoạn diệt của năm quyền là có do bốn mươi trạng thái này; vị ấy biết rõ sự đoạn diệt của năm quyền do bốn mươi trạng thái này.
Ka. assādaniddeso
The Exposition of Gratification
Ka. Phần giải về vị ngọt
189. Katamehi pañcavīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ assādo hoti; katamehi pañcavīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ assādaṃ pajānāti? Assaddhiyassa anupaṭṭhānaṃ saddhindriyassa assādo hoti, assaddhiyapariḷāhassa anupaṭṭhānaṃ saddhindriyassa assādo hoti, adhimokkhacariyāya vesārajjaṃ saddhindriyassa assādo hoti, santo ca vihārādhigamo saddhindriyassa assādo hoti, yaṃ saddhindriyaṃ paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ ayaṃ saddhindriyassa assādo.
189. In what twenty-five ways is there gratification of the five faculties? In what twenty-five ways does one understand the gratification of the five faculties? The non-arising of faithlessness is the gratification of the faculty of faith. The non-arising of the torment of faithlessness is the gratification of the faculty of faith. Confidence in the practice of conviction is the gratification of the faculty of faith. The attainment of a peaceful abiding is the gratification of the faculty of faith. Whatever happiness and joy arise in dependence on the faculty of faith—this is the gratification of the faculty of faith.
189. Vị ngọt của năm quyền là có do hai mươi lăm trạng thái nào? Vị ấy biết rõ vị ngọt của năm quyền do hai mươi lăm trạng thái nào? Sự không hiện khởi của sự không có đức tin là vị ngọt của tín quyền, sự không hiện khởi của sự thiêu đốt do không có đức tin là vị ngọt của tín quyền, sự dạn dĩ trong việc thực hành sự quyết đoán là vị ngọt của tín quyền, và sự chứng đạt sự an trú được an tịnh là vị ngọt của tín quyền, lạc và hỷ nào sanh lên do duyên vào tín quyền, đây là vị ngọt của tín quyền.
Kosajjassa anupaṭṭhānaṃ vīriyindriyassa assādo hoti, kosajjapariḷāhassa anupaṭṭhānaṃ vīriyindriyassa assādo hoti, paggahacariyāya vesārajjaṃ vīriyindriyassa assādo hoti, santo ca vihārādhigamo vīriyindriyassa assādo hoti, yaṃ vīriyindriyaṃ paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ ayaṃ vīriyindriyassa assādo.
The non-arising of idleness is the gratification of the faculty of energy. The non-arising of the torment of idleness is the gratification of the faculty of energy. Confidence in the practice of exertion is the gratification of the faculty of energy. The attainment of a peaceful abiding is the gratification of the faculty of energy. Whatever happiness and joy arise in dependence on the faculty of energy—this is the gratification of the faculty of energy.
Sự không hiện khởi của sự lười biếng là vị ngọt của tấn quyền, sự không hiện khởi của sự thiêu đốt do lười biếng là vị ngọt của tấn quyền, sự dõng mãnh trong việc thực hành sách tấn là vị ngọt của tấn quyền, và sự chứng đạt trú xứ an tịnh là vị ngọt của tấn quyền, lạc và hỷ nào sanh khởi do duyên tấn quyền, đây là vị ngọt của tấn quyền.
Pamādassa anupaṭṭhānaṃ satindriyassa assādo hoti, pamādapariḷāhassa anupaṭṭhānaṃ satindriyassa assādo hoti, upaṭṭhānacariyāya vesārajjaṃ satindriyassa assādo hoti, santo ca vihārādhigamo satindriyassa assādo hoti, yaṃ satindriyaṃ paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ ayaṃ satindriyassa assādo.
The non-arising of negligence is the gratification of the faculty of mindfulness. The non-arising of the torment of negligence is the gratification of the faculty of mindfulness. Confidence in the practice of establishment is the gratification of the faculty of mindfulness. The attainment of a peaceful abiding is the gratification of the faculty of mindfulness. Whatever happiness and joy arise in dependence on the faculty of mindfulness—this is the gratification of the faculty of mindfulness.
Sự không hiện khởi của sự dể duôi là vị ngọt của niệm quyền, sự không hiện khởi của sự thiêu đốt do dể duôi là vị ngọt của niệm quyền, sự dõng mãnh trong việc thực hành an trú là vị ngọt của niệm quyền, và sự chứng đạt trú xứ an tịnh là vị ngọt của niệm quyền, lạc và hỷ nào sanh khởi do duyên niệm quyền, đây là vị ngọt của niệm quyền.
Uddhaccassa anupaṭṭhānaṃ samādhindriyassa assādo hoti, uddhaccapariḷāhassa anupaṭṭhānaṃ samādhindriyassa assādo hoti, avikkhepacariyāya vesārajjaṃ samādhindriyassa assādo hoti, santo ca vihārādhigamo samādhindriyassa assādo hoti, yaṃ samādhindriyaṃ paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ ayaṃ samādhindriyassa assādo.
The non-occurrence of restlessness is the gratification of the faculty of concentration. The non-occurrence of the torment of restlessness is the gratification of the faculty of concentration. Confidence in the practice of non-distraction is the gratification of the faculty of concentration. The attainment of a peaceful abiding is the gratification of the faculty of concentration. Whatever happiness and joy arise in dependence on the faculty of concentration—this is its gratification.
Sự không hiện khởi của sự phóng dật là vị ngọt của định quyền, sự không hiện khởi của sự thiêu đốt do phóng dật là vị ngọt của định quyền, sự dõng mãnh trong việc thực hành không tán loạn là vị ngọt của định quyền, và sự chứng đạt trú xứ an tịnh là vị ngọt của định quyền, lạc và hỷ nào sanh khởi do duyên định quyền, đây là vị ngọt của định quyền.
Avijjāya anupaṭṭhānaṃ paññindriyassa assādo hoti, avijjāpariḷāhassa anupaṭṭhānaṃ paññindriyassa assādo hoti, dassanacariyāya vesārajjaṃ paññindriyassa assādo hoti, santo ca vihārādhigamo paññindriyassa assādo hoti, yaṃ paññindriyaṃ paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ ayaṃ paññindriyassa assādo.
The non-occurrence of ignorance is the gratification of the faculty of wisdom. The non-occurrence of the torment of ignorance is the gratification of the faculty of wisdom. Confidence in the practice of vision is the gratification of the faculty of wisdom. The attainment of a peaceful abiding is the gratification of the faculty of wisdom. Whatever happiness and joy arise in dependence on the faculty of wisdom—this is its gratification.
Sự không hiện khởi của vô minh là vị ngọt của tuệ quyền, sự không hiện khởi của sự thiêu đốt do vô minh là vị ngọt của tuệ quyền, sự dõng mãnh trong việc thực hành thấy biết là vị ngọt của tuệ quyền, và sự chứng đạt trú xứ an tịnh là vị ngọt của tuệ quyền, lạc và hỷ nào sanh khởi do duyên tuệ quyền, đây là vị ngọt của tuệ quyền.
Imehi pañcavīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ assādo hoti; imehi pañcavīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ assādaṃ pajānāti.
In these twenty-five ways there is gratification of the five faculties; in these twenty-five ways one understands the gratification of the five faculties.
Vị ngọt của năm quyền có được là do hai mươi lăm phương diện này; vị ấy biết rõ vị ngọt của năm quyền là do hai mươi lăm phương diện này.
Kha. ādīnavaniddeso
B. The Exposition of Disadvantage
b. Phần giải thích về sự nguy hại.
190. Katamehi pañcavīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ ādīnavo hoti; katamehi pañcavīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ ādīnavaṃ pajānāti? Assaddhiyassa upaṭṭhānaṃ saddhindriyassa ādīnavo hoti, assaddhiyapariḷāhassa upaṭṭhānaṃ saddhindriyassa ādīnavo hoti, aniccaṭṭhena saddhindriyassa ādīnavo hoti, dukkhaṭṭhena saddhindriyassa ādīnavo hoti, anattaṭṭhena saddhindriyassa ādīnavo hoti.
190. In what twenty-five ways is there a drawback of the five faculties? In what twenty-five ways does one understand the drawback of the five faculties? The arising of faithlessness is a drawback of the faculty of faith. The arising of the torment of faithlessness is a drawback of the faculty of faith. By way of impermanence, there is a drawback of the faculty of faith. By way of suffering, there is a drawback of the faculty of faith. By way of non-self, there is a drawback of the faculty of faith.
190. Do hai mươi lăm phương diện nào mà có sự nguy hại của năm quyền? Do hai mươi lăm phương diện nào mà vị ấy biết rõ sự nguy hại của năm quyền? Sự hiện khởi của sự không có đức tin là sự nguy hại của tín quyền, sự hiện khởi của sự thiêu đốt do không có đức tin là sự nguy hại của tín quyền, theo nghĩa vô thường là sự nguy hại của tín quyền, theo nghĩa khổ là sự nguy hại của tín quyền, theo nghĩa vô ngã là sự nguy hại của tín quyền.
Kosajjassa upaṭṭhānaṃ vīriyindriyassa ādīnavo hoti, kosajjapariḷāhassa upaṭṭhānaṃ vīriyindriyassa ādīnavo hoti, aniccaṭṭhena vīriyindriyassa ādīnavo hoti, dukkhaṭṭhena…pe… anattaṭṭhena vīriyindriyassa ādīnavo hoti.
The arising of laziness is a drawback of the faculty of energy. The arising of the torment of laziness is a drawback of the faculty of energy. By way of impermanence, there is a drawback of the faculty of energy; by way of suffering, there is a drawback of the faculty of energy; by way of non-self, there is a drawback of the faculty of energy.
Sự hiện khởi của sự lười biếng là sự nguy hại của tấn quyền, sự hiện khởi của sự thiêu đốt do lười biếng là sự nguy hại của tấn quyền, theo nghĩa vô thường là sự nguy hại của tấn quyền, theo nghĩa khổ ... cho đến ... theo nghĩa vô ngã là sự nguy hại của tấn quyền.
Pamādassa upaṭṭhānaṃ satindriyassa ādīnavo hoti, pamādapariḷāhassa upaṭṭhānaṃ satindriyassa ādīnavo hoti, aniccaṭṭhena satindriyassa ādīnavo hoti, dukkhaṭṭhena…pe… anattaṭṭhena satindriyassa ādīnavo hoti.
The appearance of heedlessness is a drawback for the faculty of mindfulness. The appearance of the distress of heedlessness is a drawback for the faculty of mindfulness. In the sense of impermanence, it is a drawback for the faculty of mindfulness; in the sense of suffering... in the sense of not-self, it is a drawback for the faculty of mindfulness.
Sự hiện khởi của sự dể duôi là sự nguy hại của niệm quyền, sự hiện khởi của sự thiêu đốt do dể duôi là sự nguy hại của niệm quyền, theo nghĩa vô thường là sự nguy hại của niệm quyền, theo nghĩa khổ ... cho đến ... theo nghĩa vô ngã là sự nguy hại của niệm quyền.
Uddhaccassa upaṭṭhānaṃ samādhindriyassa ādīnavo hoti, uddhaccapariḷāhassa upaṭṭhānaṃ samādhindriyassa ādīnavo hoti, aniccaṭṭhena samādhindriyassa ādīnavo hoti, dukkhaṭṭhena…pe… anattaṭṭhena samādhindriyassa ādīnavo hoti.
The appearance of restlessness is a drawback for the faculty of concentration. The appearance of the distress of restlessness is a drawback for the faculty of concentration. In the sense of impermanence, it is a drawback for the faculty of concentration; in the sense of suffering... in the sense of not-self, it is a drawback for the faculty of concentration.
Sự hiện khởi của sự phóng dật là sự nguy hại của định quyền, sự hiện khởi của sự thiêu đốt do phóng dật là sự nguy hại của định quyền, theo nghĩa vô thường là sự nguy hại của định quyền, theo nghĩa khổ ... cho đến ... theo nghĩa vô ngã là sự nguy hại của định quyền.
Avijjāya upaṭṭhānaṃ paññindriyassa ādīnavo hoti, avijjāpariḷāhassa upaṭṭhānaṃ paññindriyassa ādīnavo hoti, aniccaṭṭhena paññindriyassa ādīnavo hoti, dukkhaṭṭhena paññindriyassa ādīnavo hoti, anattaṭṭhena paññindriyassa ādīnavo hoti.
The appearance of ignorance is a drawback for the faculty of wisdom. The appearance of the distress of ignorance is a drawback for the faculty of wisdom. In the sense of impermanence, it is a drawback for the faculty of wisdom; in the sense of suffering, it is a drawback for the faculty of wisdom; in the sense of not-self, it is a drawback for the faculty of wisdom.
Sự hiện khởi của vô minh là sự nguy hại của tuệ quyền, sự hiện khởi của sự thiêu đốt do vô minh là sự nguy hại của tuệ quyền, theo nghĩa vô thường là sự nguy hại của tuệ quyền, theo nghĩa khổ là sự nguy hại của tuệ quyền, theo nghĩa vô ngã là sự nguy hại của tuệ quyền.
Imehi pañcavīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ ādīnavo hoti; imehi pañcavīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ ādīnavaṃ pajānāti.
By these twenty-five modes, there is a drawback to the five faculties; by these twenty-five modes, one discerns the drawback of the five faculties.
Sự nguy hại của năm quyền có được là do hai mươi lăm phương diện này; vị ấy biết rõ sự nguy hại của năm quyền là do hai mươi lăm phương diện này.
Ga. nissaraṇaniddeso
The Exposition of Escape
c. Phần giải thích về sự xuất ly.
191. Katamehi asītisataṃ ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ nissaraṇaṃ hoti; katamehi asītisataṃ ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ nissaraṇaṃ pajānāti? Adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ assaddhiyā nissaṭaṃ hoti, assaddhiyapariḷāhā nissaṭaṃ hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca nissaṭaṃ hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi nissaṭaṃ hoti, tato paṇītatarasaddhindriyassa paṭilābhā purimatarasaddhindriyā nissaṭaṃ hoti; paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ kosajjā nissaṭaṃ hoti, kosajjapariḷāhā nissaṭaṃ hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca nissaṭaṃ hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi nissaṭaṃ hoti, tato paṇītataravīriyindriyassa paṭilābhā purimataravīriyindriyā nissaṭaṃ hoti; upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ pamādā nissaṭaṃ hoti, pamādapariḷāhā nissaṭaṃ hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca nissaṭaṃ hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi nissaṭaṃ hoti, tato paṇītatarasatindriyassa paṭilābhā purimatarasatindriyā nissaṭaṃ hoti; avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ uddhaccā nissaṭaṃ hoti, uddhaccapariḷāhā nissaṭaṃ hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca nissaṭaṃ hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi nissaṭaṃ hoti, tato paṇītatarasamādhindriyassa paṭilābhā purimatarasamādhindriyā nissaṭaṃ hoti; dassanaṭṭhena paññindriyaṃ avijjāya nissaṭaṃ hoti, avijjāpariḷāhā nissaṭaṃ hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca nissaṭaṃ hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi nissaṭaṃ hoti, tato paṇītatarapaññindriyassa paṭilābhā purimatarapaññindriyā nissaṭaṃ hoti.
191. By how many one hundred and eighty ways is there an escape for the five faculties? By how many one hundred and eighty ways does one understand the escape for the five faculties? The faculty of faith, by way of conviction, is released from faithlessness, is released from the fever of faithlessness, is released from the defilements and aggregates that accord with it, is released from all external signs, and by the acquisition of a more excellent faculty of faith, it is released from the former faculty of faith. The faculty of energy, by way of exertion, is released from laziness, is released from the fever of laziness, is released from the defilements and aggregates that accord with it, is released from all external signs, and by the acquisition of a more excellent faculty of energy, it is released from the former faculty of energy. The faculty of mindfulness, by way of establishment, is released from heedlessness, is released from the fever of heedlessness, is released from the defilements and aggregates that accord with it, is released from all external signs, and by the acquisition of a more excellent faculty of mindfulness, it is released from the former faculty of mindfulness. The faculty of concentration, by way of non-distraction, is released from restlessness, is released from the fever of restlessness, is released from the defilements and aggregates that accord with it, is released from all external signs, and by the acquisition of a more excellent faculty of concentration, it is released from the former faculty of concentration. The faculty of wisdom, by way of seeing, is released from ignorance, is released from the fever of ignorance, is released from the defilements and aggregates that accord with it, is released from all external signs, and by the acquisition of a more excellent faculty of wisdom, it is released from the former faculty of wisdom.
191. Sự xuất ly của năm quyền là có do một trăm tám mươi phương diện nào? Vị ấy biết rõ sự xuất ly của năm quyền do một trăm tám mươi phương diện nào? Do ý nghĩa quyết đoán, tín quyền được thoát khỏi sự không có đức tin, được thoát khỏi sự thiêu đốt của việc không có đức tin, được thoát khỏi các phiền não đi theo sau điều ấy và các uẩn, và được thoát khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài, do sự chứng đắc tín quyền vi diệu hơn thế nữa nên được thoát khỏi tín quyền có trước; do ý nghĩa nỗ lực, tấn quyền được thoát khỏi sự biếng nhác, được thoát khỏi sự thiêu đốt của việc biếng nhác, được thoát khỏi các phiền não đi theo sau điều ấy và các uẩn, và được thoát khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài, do sự chứng đắc tấn quyền vi diệu hơn thế nữa nên được thoát khỏi tấn quyền có trước; do ý nghĩa an trú, niệm quyền được thoát khỏi sự dể duôi, được thoát khỏi sự thiêu đốt của việc dể duôi, được thoát khỏi các phiền não đi theo sau điều ấy và các uẩn, và được thoát khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài, do sự chứng đắc niệm quyền vi diệu hơn thế nữa nên được thoát khỏi niệm quyền có trước; do ý nghĩa không phân tán, định quyền được thoát khỏi sự trạo cử, được thoát khỏi sự thiêu đốt của việc trạo cử, được thoát khỏi các phiền não đi theo sau điều ấy và các uẩn, và được thoát khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài, do sự chứng đắc định quyền vi diệu hơn thế nữa nên được thoát khỏi định quyền có trước; do ý nghĩa thấy rõ, tuệ quyền được thoát khỏi vô minh, được thoát khỏi sự thiêu đốt của vô minh, được thoát khỏi các phiền não đi theo sau điều ấy và các uẩn, và được thoát khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài, do sự chứng đắc tuệ quyền vi diệu hơn thế nữa nên được thoát khỏi tuệ quyền có trước.
192. Pubbabhāge pañcahi indriyehi paṭhamajjhānavasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, paṭhame jhāne pañcahindriyehi dutiyajjhānavasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, dutiye jhāne pañcahindriyehi tatiyajjhānavasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, tatiye jhāne pañcahindriyehi catutthajjhānavasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, catutthe jhāne pañcahindriyehi ākāsānañcāyatanasamāpattivasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, ākāsānañcāyatanasamāpattiyā pañcahindriyehi viññāṇañcāyatanasamāpattivasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, viññāṇañcāyatanasamāpattiyā pañcahindriyehi ākiñcaññāyatanasamāpattivasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, ākiñcaññāyatanasamāpattiyā pañcahindriyehi nevasaññānāsaññāyatanasamāpattivasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā pañcahindriyehi aniccānupassanāvasena pañcindriyāni nissaṭāni honti.
192. From the five faculties in the preliminary stage, by means of the first jhāna, the five faculties are released. From the five faculties in the first jhāna, by means of the second jhāna, the five faculties are released. From the five faculties in the second jhāna, by means of the third jhāna, the five faculties are released. From the five faculties in the third jhāna, by means of the fourth jhāna, the five faculties are released. From the five faculties in the fourth jhāna, by means of the attainment of the base of infinite space, the five faculties are released. From the five faculties in the attainment of the base of infinite space, by means of the attainment of the base of infinite consciousness, the five faculties are released. From the five faculties in the attainment of the base of infinite consciousness, by means of the attainment of the base of nothingness, the five faculties are released. From the five faculties in the attainment of the base of nothingness, by means of the attainment of the base of neither perception nor non-perception, the five faculties are released. From the five faculties in the attainment of the base of neither perception nor non-perception, by means of the contemplation of impermanence, the five faculties are released.
192. Do năm quyền ở phần đầu, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của thiền thứ nhất; do năm quyền ở thiền thứ nhất, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của thiền thứ nhì; do năm quyền ở thiền thứ nhì, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của thiền thứ ba; do năm quyền ở thiền thứ ba, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của thiền thứ tư; do năm quyền ở thiền thứ tư, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự chứng đắc Không Vô Biên Xứ; do năm quyền ở sự chứng đắc Không Vô Biên Xứ, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự chứng đắc Thức Vô Biên Xứ; do năm quyền ở sự chứng đắc Thức Vô Biên Xứ, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ; do năm quyền ở sự chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ; do năm quyền ở sự chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự tùy quán vô thường.
Aniccānupassanā pañcahindriyehi dukkhānupassanāvase pañcindriyāni nissaṭāni honti, dukkhānupassanā pañcahindriyehi anattānupassanāvase pañcindriyāni nissaṭāni honti, anattānupassanā pañcahindriyehi nibbidānupassanāvasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, nibbidānupassanāya pañcahindriyehi virāgānupassanāvasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, virāgānupassanāya pañcahindriyehi nirodhānupassanāvasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, nirodhānupassanāya pañcahindriyehi paṭinissaggānupassanāvasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, paṭinissaggānupassanāya pañcahindriyehi khayānupassanāvasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, khayānupassanāya pañcahindriyehi vayānupassanāvasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, vayānupassanāya pañcahindriyehi vipariṇāmānupassanāvasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, vipariṇāmānupassanāya pañcahindriyehi animittānupassanāvasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, animittānupassanāya pañcahindriyehi appaṇihitānupassanāvasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, appaṇihitānupassanāya pañcahindriyehi suññatānupassanāvasena pañcindriyāni nissaṭāni honti suññatānupassanāya pañcahindriyehi adhipaññādhammavipassanāvasena pañcindriyāni nissaṭāni honti. Adhipaññādhammavipassanāya pañcahindriyehi yathābhūtañāṇadassanavasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, yathābhūtañāṇadassane pañcahindriyehi ādīnavānupassanāvasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, ādīnavānupassanāya pañcahindriyehi paṭisaṅkhānupassanāvasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, paṭisaṅkhānupassanāya pañcahindriyehi vivaṭṭanānupassanāvasena pañcindriyāni nissaṭāni honti. Vivaṭṭanānupassanāya pañcahindriyehi sotāpattimaggavasena pañcindriyāni nissaṭāni honti.
From the five faculties in the contemplation of impermanence, the five faculties are released by way of the contemplation of suffering. From the five faculties in the contemplation of suffering, the five faculties are released by way of the contemplation of non-self. From the five faculties in the contemplation of non-self, the five faculties are released by way of the contemplation of disenchantment. From the five faculties in the contemplation of disenchantment, the five faculties are released by way of the contemplation of dispassion. From the five faculties in the contemplation of dispassion, the five faculties are released by way of the contemplation of cessation. From the five faculties in the contemplation of cessation, the five faculties are released by way of the contemplation of relinquishment. From the five faculties in the contemplation of relinquishment, the five faculties are released by way of the contemplation of destruction. From the five faculties in the contemplation of destruction, the five faculties are released by way of the contemplation of dissolution. From the five faculties in the contemplation of dissolution, the five faculties are released by way of the contemplation of change. From the five faculties in the contemplation of change, the five faculties are released by way of the contemplation of the signless. From the five faculties in the contemplation of the signless, the five faculties are released by way of the contemplation of the undirected. From the five faculties in the contemplation of the undirected, the five faculties are released by way of the contemplation of emptiness. From the five faculties in the contemplation of emptiness, the five faculties are released by way of insight into phenomena with higher wisdom. From the five faculties in insight into phenomena with higher wisdom, the five faculties are released by way of the knowledge and vision of things as they really are. From the five faculties in the knowledge and vision of things as they really are, the five faculties are released by way of the contemplation of danger. From the five faculties in the contemplation of danger, the five faculties are released by way of the contemplation of reflection. From the five faculties in the contemplation of reflection, the five faculties are released by way of the contemplation of turning away. From the five faculties in the contemplation of turning away, the five faculties are released by way of the path of stream-entry.
Do năm quyền ở sự tùy quán vô thường, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự tùy quán khổ; do năm quyền ở sự tùy quán khổ, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự tùy quán vô ngã; do năm quyền ở sự tùy quán vô ngã, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự tùy quán về sự nhàm chán; do năm quyền ở sự tùy quán về sự nhàm chán, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự tùy quán về sự ly tham; do năm quyền ở sự tùy quán về sự ly tham, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự tùy quán về sự đoạn diệt; do năm quyền ở sự tùy quán về sự đoạn diệt, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự tùy quán về sự từ bỏ; do năm quyền ở sự tùy quán về sự từ bỏ, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự tùy quán về sự hủy diệt; do năm quyền ở sự tùy quán về sự hủy diệt, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự tùy quán về sự tan hoại; do năm quyền ở sự tùy quán về sự tan hoại, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự tùy quán về sự biến đổi; do năm quyền ở sự tùy quán về sự biến đổi, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự tùy quán vô tướng; do năm quyền ở sự tùy quán vô tướng, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự tùy quán vô nguyện; do năm quyền ở sự tùy quán vô nguyện, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự tùy quán tánh không; do năm quyền ở sự tùy quán tánh không, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự minh sát về các pháp với trí tuệ cao hơn. Do năm quyền ở sự minh sát về các pháp với trí tuệ cao hơn, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của tri kiến như thật; do năm quyền ở tri kiến như thật, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự tùy quán về sự nguy hại; do năm quyền ở sự tùy quán về sự nguy hại, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự tùy quán về sự thẩm sát; do năm quyền ở sự tùy quán về sự thẩm sát, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của sự tùy quán về sự xoay bỏ. Do năm quyền ở sự tùy quán về sự xoay bỏ, năm quyền được thoát khỏi do năng lực của đạo Tu-đà-hoàn.
Sotāpattimagge pañcahindriyehi sotāpattiphalasamāpattivasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, sotāpattiphalasamāpattiyā pañcahindriyehi sakadāgāmimaggavasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, sakadāgāmimagge pañcahindriyehi sakadāgāmiphalasamāpattivasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, sakadāgāmiphalasamāpattiyā pañcahindriyehi anāgāmimaggavasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, anāgāmimagge pañcahindriyehi anāgāmiphalasamāpattivasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, anāgāmiphalasamāpattiyā pañcahindriyehi arahattamaggavasena pañcindriyāni nissaṭāni honti, arahattamagge pañcahindriyehi arahattaphalasamāpattivasena pañcindriyāni nissaṭāni honti.
From the five faculties in the path of stream-entry, the five faculties are escaped by way of the attainment of the fruition of stream-entry. From the five faculties in the attainment of the fruition of stream-entry, the five faculties are escaped by way of the path of once-returning. From the five faculties in the path of once-returning, the five faculties are escaped by way of the attainment of the fruition of once-returning. From the five faculties in the attainment of the fruition of once-returning, the five faculties are escaped by way of the path of non-returning. From the five faculties in the path of non-returning, the five faculties are escaped by way of the attainment of the fruition of non-returning. From the five faculties in the attainment of the fruition of non-returning, the five faculties are escaped by way of the path of Arahantship. From the five faculties in the path of Arahantship, the five faculties are escaped by way of the attainment of the fruition of Arahantship.
Do năng lực của sự chứng đắc quả Dự Lưu, năm quyền được thoát ly khỏi năm quyền ở trong đạo Dự Lưu. Do năng lực của đạo Nhất Lai, năm quyền được thoát ly khỏi năm quyền ở trong sự chứng đắc quả Dự Lưu. Do năng lực của sự chứng đắc quả Nhất Lai, năm quyền được thoát ly khỏi năm quyền ở trong đạo Nhất Lai. Do năng lực của đạo Bất Lai, năm quyền được thoát ly khỏi năm quyền ở trong sự chứng đắc quả Nhất Lai. Do năng lực của sự chứng đắc quả Bất Lai, năm quyền được thoát ly khỏi năm quyền ở trong đạo Bất Lai. Do năng lực của đạo A-la-hán, năm quyền được thoát ly khỏi năm quyền ở trong sự chứng đắc quả Bất Lai. Do năng lực của sự chứng đắc quả A-la-hán, năm quyền được thoát ly khỏi năm quyền ở trong đạo A-la-hán.
Nekkhamme pañcindriyāni kāmacchandato nissaṭāni honti, abyāpāde pañcindriyāni byāpādato nissaṭāni honti, ālokasaññāya pañcindriyāni thinamiddhato nissaṭāni honti, avikkhepe pañcindriyāni uddhaccato nissaṭāni honti, dhammavavatthāne pañcindriyāni vicikicchāya nissaṭāni honti, ñāṇe pañcindriyāni avijjāya nissaṭāni honti, pāmojje pañcindriyāni aratiyā nissaṭāni honti.
In renunciation, the five faculties are escaped from sensual desire; in non-ill-will, the five faculties are escaped from ill-will; in the perception of light, the five faculties are escaped from sloth and torpor; in non-distraction, the five faculties are escaped from restlessness; in the discernment of phenomena, the five faculties are escaped from doubt; in knowledge, the five faculties are escaped from ignorance; in joy, the five faculties are escaped from discontent.
Ở trong sự xuất ly, năm quyền được thoát ly khỏi dục tham. Ở trong sự vô sân, năm quyền được thoát ly khỏi sân. Ở trong tưởng về ánh sáng, năm quyền được thoát ly khỏi hôn trầm và thụy miên. Ở trong sự không tán loạn, năm quyền được thoát ly khỏi sự trạo cử. Ở trong sự xác định các pháp, năm quyền được thoát ly khỏi hoài nghi. Ở trong trí tuệ, năm quyền được thoát ly khỏi vô minh. Ở trong sự hân hoan, năm quyền được thoát ly khỏi sự không hoan hỷ.
193. Paṭhame jhāne pañcindriyāni nīvaraṇehi nissaṭāni honti, dutiye jhāne pañcindriyāni vitakkavicārehi nissaṭāni honti, tatiye jhāne pañcindriyāni pītiyā nissaṭāni honti, catutthe jhāne pañcindriyāni sukhadukkhehi nissaṭāni honti, ākāsānañcāyatanasamāpattiyā pañcindriyāni rūpasaññāya paṭighasaññāya nānattasaññāya nissaṭāni honti, viññāṇañcāyatanasamāpattiyā pañcindriyāni ākāsānañcāyatanasaññāya nissaṭāni honti, ākiñcaññāyatanasamāpattiyā pañcindriyāni viññāṇañcāyatanasaññāya nissaṭāni honti, nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā pañcindriyāni ākiñcaññāyatanasaññāya nissaṭāni honti.
193. In the first jhāna, the five faculties are freed from the hindrances; in the second jhāna, the five faculties are freed from applied and sustained thought; in the third jhāna, the five faculties are freed from rapture; in the fourth jhāna, the five faculties are freed from pleasure and pain; in the attainment of the base of infinite space, the five faculties are freed from the perception of form, the perception of resistance, and the perception of diversity; in the attainment of the base of infinite consciousness, the five faculties are freed from the perception of the base of infinite space; in the attainment of the base of nothingness, the five faculties are freed from the perception of the base of infinite consciousness; in the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception, the five faculties are freed from the perception of the base of nothingness.
193. Ở trong thiền thứ nhất, năm quyền được thoát ly khỏi các triền cái. Ở trong thiền thứ nhì, năm quyền được thoát ly khỏi tầm và tứ. Ở trong thiền thứ ba, năm quyền được thoát ly khỏi hỷ. Ở trong thiền thứ tư, năm quyền được thoát ly khỏi lạc và khổ. Ở trong sự chứng đắc Không Vô Biên Xứ, năm quyền được thoát ly khỏi sắc tưởng, đối ngại tưởng, và các tưởng về sự đa dạng. Ở trong sự chứng đắc Thức Vô Biên Xứ, năm quyền được thoát ly khỏi tưởng về Không Vô Biên Xứ. Ở trong sự chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ, năm quyền được thoát ly khỏi tưởng về Thức Vô Biên Xứ. Ở trong sự chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, năm quyền được thoát ly khỏi tưởng về Vô Sở Hữu Xứ.
Aniccānupassanā pañcindriyāni niccasaññāya nissaṭāni honti, dukkhānupassanā pañcindriyāni sukhasaññāya nissaṭāni honti, anattānupassanā pañcindriyāni attasaññāya nissaṭāni honti, nibbidānupassanāya pañcindriyāni nandiyā nissaṭāni honti, virāgānupassanāya pañcindriyāni rāgato nissaṭāni honti, nirodhānupassanāya pañcindriyāni samudayato nissaṭāni honti, paṭinissaggānupassanāya pañcindriyāni ādānato nissaṭāni honti, khayānupassanāya pañcindriyāni ghanasaññāya nissaṭāni honti, vayānupassanāya pañcindriyāni āyūhanato nissaṭāni honti, vipariṇāmānupassanāya pañcindriyāni dhuvasaññāya nissaṭāni honti, animittānupassanāya pañcindriyāni nimittato nissaṭāni honti, appaṇihitānupassanāya pañcindriyāni paṇidhiyā nissaṭāni honti, suññatānupassanāya pañcindriyāni abhinivesato nissaṭāni honti. Adhipaññādhammavipassanāya pañcindriyāni sārādānābhinivesato nissaṭāni honti, yathābhūtañāṇadassane pañcindriyāni sammohābhinivesato nissaṭāni honti, ādīnavānupassanāya pañcindriyāni ālayābhinivesato nissaṭāni honti, paṭisaṅkhānupassanāya pañcindriyāni appaṭisaṅkhāya nissaṭāni honti, vivaṭṭanānupassanāya pañcindriyāni saññogābhinivesato nissaṭāni honti.
In the contemplation of impermanence, the five faculties are liberated from the perception of permanence; in the contemplation of suffering, the five faculties are liberated from the perception of pleasure; in the contemplation of non-self, the five faculties are liberated from the perception of self; in the contemplation of disenchantment, the five faculties are liberated from delight; in the contemplation of dispassion, the five faculties are liberated from lust; in the contemplation of cessation, the five faculties are liberated from arising; in the contemplation of relinquishment, the five faculties are liberated from grasping; in the contemplation of destruction, the five faculties are liberated from the perception of compactness; in the contemplation of passing away, the five faculties are liberated from striving; in the contemplation of change, the five faculties are liberated from the perception of permanence; in the contemplation of the signless, the five faculties are liberated from the sign; in the contemplation of the desireless, the five faculties are liberated from longing; in the contemplation of emptiness, the five faculties are liberated from adherence. In the higher wisdom of insight into phenomena, the five faculties are liberated from the adherence of grasping at substance; in the knowledge and vision of things as they really are, the five faculties are liberated from deluded adherence; in the contemplation of danger, the five faculties are liberated from adherence to attachment; in the contemplation of reflection, the five faculties are liberated from non-reflection; in the contemplation of turning away, the five faculties are liberated from adherence to fetters.
Ở trong sự quán niệm về vô thường, năm quyền được thoát ly khỏi tưởng về sự thường còn. Ở trong sự quán niệm về khổ, năm quyền được thoát ly khỏi tưởng về sự an lạc. Ở trong sự quán niệm về vô ngã, năm quyền được thoát ly khỏi tưởng về ngã. Ở trong sự quán niệm về sự nhàm chán, năm quyền được thoát ly khỏi sự hoan hỷ. Ở trong sự quán niệm về sự ly tham, năm quyền được thoát ly khỏi tham ái. Ở trong sự quán niệm về sự đoạn diệt, năm quyền được thoát ly khỏi sự tập khởi. Ở trong sự quán niệm về sự xả bỏ, năm quyền được thoát ly khỏi sự chấp thủ. Ở trong sự quán niệm về sự hoại diệt, năm quyền được thoát ly khỏi tưởng về sự kiên cố. Ở trong sự quán niệm về sự tiêu vong, năm quyền được thoát ly khỏi sự nỗ lực. Ở trong sự quán niệm về sự biến hoại, năm quyền được thoát ly khỏi tưởng về sự bền vững. Ở trong sự quán niệm về vô tướng, năm quyền được thoát ly khỏi tướng. Ở trong sự quán niệm về vô nguyện, năm quyền được thoát ly khỏi sự mong cầu. Ở trong sự quán niệm về tánh không, năm quyền được thoát ly khỏi sự chấp thủ. Ở trong sự quán xét các pháp với trí tuệ vượt trội, năm quyền được thoát ly khỏi sự chấp thủ vào cốt lõi. Ở trong sự thấy biết đúng như thật, năm quyền được thoát ly khỏi sự chấp thủ trong si mê. Ở trong sự quán niệm về sự nguy hại, năm quyền được thoát ly khỏi sự chấp thủ trong ái luyến. Ở trong sự quán xét lại, năm quyền được thoát ly khỏi sự không quán xét. Ở trong sự quán niệm về sự xoay chiều, năm quyền được thoát ly khỏi sự chấp thủ vào các kiết sử.
Sotāpattimagge pañcindriyāni diṭṭhekaṭṭhehi kilesehi nissaṭāni honti, sakadāgāmimagge pañcindriyāni oḷārikehi kilesehi nissaṭāni honti, anāgāmimagge pañcindriyāni anusahagatehi kilesehi nissaṭāni honti, arahattamagge pañcindriyāni sabbakilesehi nissaṭāni honti, sabbesaññeva khīṇāsavānaṃ tattha tattha pañcindriyāni nissaṭāni ceva honti sunissaṭāni ca paṭippassaddhāni ca suppaṭippassaddhāni ca.
In the path of stream-entry, the five faculties are freed from the defilements connected with wrong view; in the path of once-returning, the five faculties are freed from the coarse defilements; in the path of non-returning, the five faculties are freed from the subtle defilements; in the path of Arahantship, the five faculties are freed from all defilements. For all those whose taints are destroyed, in each respective case, the five faculties are freed, well freed, pacified, and well pacified.
Ở trong đạo Dự Lưu, năm quyền được thoát ly khỏi các phiền não đi cùng với tà kiến. Ở trong đạo Nhất Lai, năm quyền được thoát ly khỏi các phiền não thô thiển. Ở trong đạo Bất Lai, năm quyền được thoát ly khỏi các phiền não vi tế. Ở trong đạo A-la-hán, năm quyền được thoát ly khỏi tất cả phiền não. Đối với tất cả các vị lậu tận, ở trong từng trường hợp, năm quyền vừa được thoát ly, vừa được khéo thoát ly, vừa được làm cho an tịnh, và vừa được khéo làm cho an tịnh.
Imehi asītisataṃ ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ nissaraṇaṃ hoti; imehi asītisataṃ ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ nissaraṇaṃ pajānāti.
By these one hundred and eighty aspects, the release of the five faculties occurs; by these one hundred and eighty aspects, one understands the release of the five faculties.
Sự thoát ly của năm quyền xảy ra bằng một trăm tám mươi phương diện này; vị ấy biết rõ sự thoát ly của năm quyền bằng một trăm tám mươi phương diện này.
Suttantaniddeso dutiyo.
The second exposition of the sutta is concluded.
Phần giải về bài kinh thứ nhì đã chấm dứt.
Paṭhamabhāṇavāro.
The first recitation section is concluded.
Phẩm tụng đọc thứ nhất đã chấm dứt.
3. Tatiyasuttantaniddeso
3. The Third Exposition of the Sutta.
3. Phần giải về bài kinh thứ ba.
194. Sāvatthinidānaṃ †. ‘‘Pañcimāni, bhikkhave, indriyāni. Katamāni pañca? Saddhindriyaṃ, vīriyindriyaṃ, satindriyaṃ, samādhindriyaṃ, paññindriyaṃ. Kattha ca, bhikkhave, saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ? Catūsu sotāpattiyaṅgesu – ettha saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Kattha ca, bhikkhave, vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ? Catūsu sammappadhānesu – ettha vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Kattha ca, bhikkhave, satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ? Catūsu satipaṭṭhānesu – ettha satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Kattha ca, bhikkhave, samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ? Catūsu jhānesu – ettha samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Kattha ca, bhikkhave, paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ? Catūsu ariyasaccesu – ettha paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ’’.
194. The setting is Sāvatthī. “Bhikkhus, there are these five faculties. Which five? The faculty of faith, the faculty of energy, the faculty of mindfulness, the faculty of immersion, and the faculty of wisdom. And where, bhikkhus, should the faculty of faith be seen? In the four factors of stream-entry—there the faculty of faith should be seen. And where, bhikkhus, should the faculty of energy be seen? In the four right efforts—there the faculty of energy should be seen. And where, bhikkhus, should the faculty of mindfulness be seen? In the four foundations of mindfulness—there the faculty of mindfulness should be seen. And where, bhikkhus, should the faculty of immersion be seen? In the four jhānas—there the faculty of immersion should be seen. And where, bhikkhus, should the faculty of wisdom be seen? In the four noble truths—there the faculty of wisdom should be seen.”
194. Nhân duyên ở Sāvatthī. Này các Tỳ khưu, có năm quyền này. Năm là gì? Tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền. Và này các Tỳ khưu, tín quyền cần được thấy ở đâu? Tín quyền cần được thấy ở đây, trong bốn chi phần của bậc Dự Lưu. Và này các Tỳ khưu, tấn quyền cần được thấy ở đâu? Tấn quyền cần được thấy ở đây, trong bốn chánh cần. Và này các Tỳ khưu, niệm quyền cần được thấy ở đâu? Niệm quyền cần được thấy ở đây, trong bốn niệm xứ. Và này các Tỳ khưu, định quyền cần được thấy ở đâu? Định quyền cần được thấy ở đây, trong bốn thiền. Và này các Tỳ khưu, tuệ quyền cần được thấy ở đâu? Tuệ quyền cần được thấy ở đây, trong bốn Thánh đế.
Catūsu sotāpattiyaṅgesu saddhindriyassa vasena katihākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni? Catūsu sammappadhānesu vīriyindriyassa vasena katihākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni? Catūsu satipaṭṭhānesu satindriyassa vasena katihākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni? Catūsu jhānesu samādhindriyassa vasena katihākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni? Catūsu ariyasaccesu paññindriyassa vasena katihākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni?
In the four factors of stream-entry, by way of the faculty of faith, in how many aspects should the five faculties be regarded? In the four right efforts, by way of the faculty of energy, in how many aspects should the five faculties be regarded? In the four foundations of mindfulness, by way of the faculty of mindfulness, in how many aspects should the five faculties be regarded? In the four jhānas, by way of the faculty of concentration, in how many aspects should the five faculties be regarded? In the four noble truths, by way of the faculty of wisdom, in how many aspects should the five faculties be regarded?
Trong bốn chi phần Dự lưu, do năng lực của tín quyền, năm quyền nên được thấy bằng bao nhiêu phương diện? Trong bốn chánh cần, do năng lực của tấn quyền, năm quyền nên được thấy bằng bao nhiêu phương diện? Trong bốn niệm xứ, do năng lực của niệm quyền, năm quyền nên được thấy bằng bao nhiêu phương diện? Trong bốn thiền, do năng lực của định quyền, năm quyền nên được thấy bằng bao nhiêu phương diện? Trong bốn Thánh đế, do năng lực của tuệ quyền, năm quyền nên được thấy bằng bao nhiêu phương diện?
Catūsu sotāpattiyaṅgesu saddhindriyassa vasena vīsatiyā ākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni. Catūsu sammappadhānesu vīriyindriyassa vasena vīsatiyā ākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni. Catūsu satipaṭṭhānesu satindriyassa vasena vīsatiyā ākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni. Catūsu jhānesu samādhindriyassa vasena vīsatiyā ākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni. Catūsu ariyasaccesu paññindriyassa vasena vīsatiyā ākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni.
In the four factors of stream-entry, by way of the faculty of faith, the five faculties should be regarded in twenty aspects. In the four right efforts, by way of the faculty of energy, the five faculties should be regarded in twenty aspects. In the four foundations of mindfulness, by way of the faculty of mindfulness, the five faculties should be regarded in twenty aspects. In the four jhānas, by way of the faculty of concentration, the five faculties should be regarded in twenty aspects. In the four noble truths, by way of the faculty of wisdom, the five faculties should be regarded in twenty aspects.
Trong bốn chi phần Dự lưu, do năng lực của tín quyền, năm quyền nên được thấy bằng hai mươi phương diện. Trong bốn chánh cần, do năng lực của tấn quyền, năm quyền nên được thấy bằng hai mươi phương diện. Trong bốn niệm xứ, do năng lực của niệm quyền, năm quyền nên được thấy bằng hai mươi phương diện. Trong bốn thiền, do năng lực của định quyền, năm quyền nên được thấy bằng hai mươi phương diện. Trong bốn Thánh đế, do năng lực của tuệ quyền, năm quyền nên được thấy bằng hai mươi phương diện.
Ka. pabhedagaṇananiddeso
Exposition on the Enumeration of Divisions
Ka. Phần chỉ dẫn về sự đếm các loại.
195. Catūsu sotāpattiyaṅgesu saddhindriyassa vasena katamehi vīsatiyā ākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni? Sappurisasaṃseve sotāpattiyaṅge adhimokkhādhipateyyaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, saddhindriyassa vasena paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, dassanaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ; saddhammasavane sotāpattiyaṅge… yonisomanasikāre sotāpattiyaṅge… dhammānudhammapaṭipattiyā sotāpattiyaṅge adhimokkhādhipateyyaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, saddhindriyassa vasena paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, dassanaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Catūsu sotāpattiyaṅgesu saddhindriyassa vasena imehi vīsatiyā ākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni.
195. In the four factors of stream-entry, by way of the faculty of faith, by which twenty aspects are the five faculties to be understood? In the factor of stream-entry that is associating with good people, the faculty of faith is to be understood in the sense of resolve as dominant; by way of the faculty of faith, the faculty of energy is to be understood in the sense of exertion, the faculty of mindfulness in the sense of presence, the faculty of concentration in the sense of non-distraction, and the faculty of wisdom in the sense of seeing. In the factor of stream-entry that is hearing the true Dhamma... in the factor of stream-entry that is wise attention... in the factor of stream-entry that is practicing in accordance with the Dhamma, the faculty of faith is to be understood in the sense of resolve as dominant; by way of the faculty of faith, the faculty of energy is to be understood in the sense of exertion, the faculty of mindfulness in the sense of presence, the faculty of concentration in the sense of non-distraction, and the faculty of wisdom in the sense of seeing. In the four factors of stream-entry, by way of the faculty of faith, the five faculties are to be understood by these twenty aspects.
195. Trong bốn chi phần Dự lưu, do năng lực của tín quyền, năm quyền nên được thấy bằng hai mươi phương diện nào? Trong chi phần Dự lưu là sự thân cận bậc chân nhân, tín quyền nên được thấy với ý nghĩa có sự quyết đoán làm chủ; do năng lực của tín quyền, tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa nỗ lực, niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa hiện diện, định quyền nên được thấy với ý nghĩa không phân tán, tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa thấy. Trong chi phần Dự lưu là sự lắng nghe diệu Pháp... trong chi phần Dự lưu là sự tác ý như lý... trong chi phần Dự lưu là sự thực hành pháp tùy pháp, tín quyền nên được thấy với ý nghĩa có sự quyết đoán làm chủ; do năng lực của tín quyền, tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa nỗ lực, niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa hiện diện, định quyền nên được thấy với ý nghĩa không phân tán, tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa thấy. Trong bốn chi phần Dự lưu, do năng lực của tín quyền, năm quyền nên được thấy bằng hai mươi phương diện này.
Catūsu sammappadhānesu vīriyindriyassa vasena katamehi vīsatiyā ākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni? Anuppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ anuppādāya sammappadhāne paggahādhipateyyaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, vīriyindriyassa vasena upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, dassanaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Uppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya sammappadhāne…pe… anuppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ uppādāya sammappadhāne…pe… uppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā sammappadhāne paggahādhipateyyaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, vīriyindriyassa vasena upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, dassanaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Catūsu sammappadhānesu vīriyindriyassa vasena imehi vīsatiyā ākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni.
In the four right strivings, by way of the faculty of energy, by which twenty aspects are the five faculties to be understood? For the non-arising of unarisen evil, unwholesome states, in the right striving, the faculty of energy is to be understood in the sense of dominant exertion; by way of the faculty of energy, the faculty of mindfulness is to be understood in the sense of establishment, the faculty of concentration is to be understood in the sense of non-distraction, the faculty of wisdom is to be understood in the sense of seeing, and the faculty of faith is to be understood in the sense of conviction. For the abandoning of arisen evil, unwholesome states, in the right striving… for the arising of unarisen wholesome states, in the right striving… for the maintenance, non-decline, increase, abundance, development, and fulfillment of arisen wholesome states, in the right striving, the faculty of energy is to be understood in the sense of dominant exertion; by way of the faculty of energy, the faculty of mindfulness is to be understood in the sense of establishment, the faculty of concentration is to be understood in the sense of non-distraction, the faculty of wisdom is to be understood in the sense of seeing, and the faculty of faith is to be understood in the sense of conviction. In the four right strivings, by way of the faculty of energy, the five faculties are to be understood by these twenty aspects.
Trong bốn chánh cần, do năng lực của tấn quyền, năm quyền nên được thấy bằng hai mươi phương diện nào? Trong chánh cần để các pháp ác bất thiện chưa sanh không sanh khởi, tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa có sự nỗ lực làm chủ; do năng lực của tấn quyền, niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa hiện diện, định quyền nên được thấy với ý nghĩa không phân tán, tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa thấy, tín quyền nên được thấy với ý nghĩa quyết đoán. Trong chánh cần để đoạn trừ các pháp ác bất thiện đã sanh... trong chánh cần để các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi... trong chánh cần để các pháp thiện đã sanh được duy trì, không quên lãng, tăng trưởng, quảng đại, tu tập, viên mãn, tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa có sự nỗ lực làm chủ; do năng lực của tấn quyền, niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa hiện diện, định quyền nên được thấy với ý nghĩa không phân tán, tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa thấy, tín quyền nên được thấy với ý nghĩa quyết đoán. Trong bốn chánh cần, do năng lực của tấn quyền, năm quyền nên được thấy bằng hai mươi phương diện này.
Catūsu satipaṭṭhānesu satindriyassa vasena katamehi vīsatiyā ākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni? Kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhāne upaṭṭhānādhipateyyaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, satindriyassa vasena avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, dassanaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Vedanāsu vedanānupassanāsatipaṭṭhāne…pe… citte cittānupassanāsatipaṭṭhāne… dhammesu dhammānupassanāsatipaṭṭhāne upaṭṭhānādhipateyyaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, satindriyassa vasena avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, dassanaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Catūsu satipaṭṭhānesu satindriyassa vasena imehi vīsatiyā ākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni.
In the four foundations of mindfulness, by way of the faculty of mindfulness, by which twenty aspects are the five faculties to be understood? In the foundation of mindfulness of the contemplation of the body in the body, the faculty of mindfulness is to be understood in the sense of the dominance of establishment; by way of the faculty of mindfulness, the faculty of concentration is to be understood in the sense of non-distraction, the faculty of wisdom is to be understood in the sense of seeing, the faculty of faith is to be understood in the sense of resolution, and the faculty of energy is to be understood in the sense of exertion. In the foundation of mindfulness of the contemplation of feelings in feelings… in the foundation of mindfulness of the contemplation of the mind in the mind… in the foundation of mindfulness of the contemplation of phenomena in phenomena, the faculty of mindfulness is to be understood in the sense of the dominance of establishment; by way of the faculty of mindfulness, the faculty of concentration is to be understood in the sense of non-distraction, the faculty of wisdom is to be understood in the sense of seeing, the faculty of faith is to be understood in the sense of resolution, and the faculty of energy is to be understood in the sense of exertion. In the four foundations of mindfulness, by way of the faculty of mindfulness, the five faculties are to be understood by these twenty aspects.
Trong bốn niệm xứ, do năng lực của niệm quyền, năm quyền nên được thấy bằng hai mươi phương diện nào? Trong niệm xứ quán thân trên thân, niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa có sự hiện diện làm chủ; do năng lực của niệm quyền, định quyền nên được thấy với ý nghĩa không phân tán, tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa thấy, tín quyền nên được thấy với ý nghĩa quyết đoán, tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa nỗ lực. Trong niệm xứ quán thọ trên các thọ... trong niệm xứ quán tâm trên tâm... trong niệm xứ quán pháp trên các pháp, niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa có sự hiện diện làm chủ; do năng lực của niệm quyền, định quyền nên được thấy với ý nghĩa không phân tán, tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa thấy, tín quyền nên được thấy với ý nghĩa quyết đoán, tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa nỗ lực. Trong bốn niệm xứ, do năng lực của niệm quyền, năm quyền nên được thấy bằng hai mươi phương diện này.
Catūsu jhānesu samādhindriyassa vasena katamehi vīsatiyā ākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni? Paṭhame jhāne avikkhepādhipateyyaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, samādhindriyassa vasena dassanaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Dutiye jhāne…pe… tatiye jhāne… catutthe jhāne avikkhepādhipateyyaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, samādhindriyassa vasena dassanaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Catūsu jhānesu samādhindriyassa vasena imehi vīsatiyā ākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni.
In the four jhānas, by the power of the faculty of concentration, by which twenty aspects should the five faculties be regarded? In the first jhāna, the faculty of concentration should be regarded in the sense of dominance by non-distraction; by the power of the faculty of concentration, the faculty of wisdom should be regarded in the sense of seeing, the faculty of faith in the sense of resolving, the faculty of energy in the sense of exertion, and the faculty of mindfulness in the sense of establishing. In the second jhāna... in the third jhāna... in the fourth jhāna, the faculty of concentration should be regarded in the sense of dominance by non-distraction; by the power of the faculty of concentration, the faculty of wisdom should be regarded in the sense of seeing, the faculty of faith in the sense of resolving, the faculty of energy in the sense of exertion, and the faculty of mindfulness in the sense of establishing. In the four jhānas, by the power of the faculty of concentration, the five faculties should be regarded in these twenty aspects.
Trong bốn thiền, do năng lực của định quyền, năm quyền nên được thấy bởi hai mươi phương diện nào? Trong thiền thứ nhất, định quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ sự không tán loạn; do năng lực của định quyền, tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa thấy, tín quyền nên được thấy với ý nghĩa quyết định, tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa nỗ lực, niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa hiện khởi. Trong thiền thứ hai... tóm tắt... trong thiền thứ ba... trong thiền thứ tư, định quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ sự không tán loạn; do năng lực của định quyền, tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa thấy, tín quyền nên được thấy với ý nghĩa quyết định, tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa nỗ lực, niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa hiện khởi. Trong bốn thiền, do năng lực của định quyền, năm quyền nên được thấy bởi hai mươi phương diện này.
Catūsu ariyasaccesu paññindriyassa vasena katamehi vīsatiyā ākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni? Dukkhe ariyasacce dassanādhipateyyaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, paññindriyassa vasena adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Dukkhasamudaye ariyasacce…pe… dukkhanirodhe ariyasacce… dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ariyasacce dassanādhipateyyaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, paññindriyassa vasena adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Catūsu ariyasaccesu paññindriyassa vasena imehi vīsatiyā ākārehi pañcindriyāni daṭṭhabbāni.
In the four noble truths, by the power of the faculty of wisdom, by which twenty aspects should the five faculties be regarded? In the noble truth of suffering, the faculty of wisdom should be regarded in the sense of dominance by seeing; by the power of the faculty of wisdom, the faculty of faith should be regarded in the sense of resolving, the faculty of energy in the sense of exertion, the faculty of mindfulness in the sense of establishing, and the faculty of concentration in the sense of non-distraction. In the noble truth of the origin of suffering... in the noble truth of the cessation of suffering... in the noble truth of the path leading to the cessation of suffering, the faculty of wisdom should be regarded in the sense of dominance by seeing; by the power of the faculty of wisdom, the faculty of faith should be regarded in the sense of resolving, the faculty of energy in the sense of exertion, the faculty of mindfulness in the sense of establishing, and the faculty of concentration in the sense of non-distraction. In the four noble truths, by the power of the faculty of wisdom, the five faculties should be regarded in these twenty aspects.
Trong bốn Thánh đế, do năng lực của tuệ quyền, năm quyền nên được thấy bởi hai mươi phương diện nào? Trong Khổ Thánh đế, tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ sự thấy; do năng lực của tuệ quyền, tín quyền nên được thấy với ý nghĩa quyết định, tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa nỗ lực, niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa hiện khởi, định quyền nên được thấy với ý nghĩa không tán loạn. Trong Tập Thánh đế... tóm tắt... trong Diệt Thánh đế... trong Đạo Thánh đế, tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ sự thấy; do năng lực của tuệ quyền, tín quyền nên được thấy với ý nghĩa quyết định, tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa nỗ lực, niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa hiện khởi, định quyền nên được thấy với ý nghĩa không tán loạn. Trong bốn Thánh đế, do năng lực của tuệ quyền, năm quyền nên được thấy bởi hai mươi phương diện này.
Kha. cariyavāro
B. The Section on Functioning
Kha. Phẩm Hành Tướng
196. Catūsu sotāpattiyaṅgesu saddhindriyassa vasena katihākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ cariyā daṭṭhabbā?
196. In the four factors of stream-entry, by way of the faculty of faith, in how many aspects should the functioning of the five faculties be understood?
196. Trong bốn chi phần Dự lưu, do năng lực của tín quyền, sự hành của năm quyền nên được thấy bởi bao nhiêu phương diện?
Catūsu sammappadhānesu…pe… catūsu satipaṭṭhānesu… catūsu jhānesu… catūsu ariyasaccesu paññindriyassa vasena katihākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ cariyā daṭṭhabbā? Catūsu sotāpattiyaṅgesu saddhindriyassa vasena vīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ cariyā daṭṭhabbā. Catūsu sammappadhānesu…pe… catūsu satipaṭṭhānesu… catūsu jhānesu… catūsu ariyasaccesu paññindriyassa vasena vīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ cariyā daṭṭhabbā.
In the four right strivings... and so on... in the four establishments of mindfulness... in the four jhānas... in the four noble truths, by way of the faculty of wisdom, in how many aspects should the functioning of the five faculties be understood? In the four factors of stream-entry, by way of the faculty of faith, the functioning of the five faculties should be understood in twenty aspects. In the four right strivings... and so on... in the four establishments of mindfulness... in the four jhānas... in the four noble truths, by way of the faculty of wisdom, the functioning of the five faculties should be understood in twenty aspects.
Trong bốn Chánh cần... tóm tắt... trong bốn Niệm xứ... trong bốn thiền... trong bốn Thánh đế, do năng lực của tuệ quyền, sự hành của năm quyền nên được thấy bởi bao nhiêu phương diện? Trong bốn chi phần Dự lưu, do năng lực của tín quyền, sự hành của năm quyền nên được thấy bởi hai mươi phương diện. Trong bốn Chánh cần... tóm tắt... trong bốn Niệm xứ... trong bốn thiền... trong bốn Thánh đế, do năng lực của tuệ quyền, sự hành của năm quyền nên được thấy bởi hai mươi phương diện.
Catūsu sotāpattiyaṅgesu saddhindriyassa vasena katamehi vīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ cariyā daṭṭhabbā? Sappurisasaṃseve sotāpattiyaṅge adhimokkhādhipateyyaṭṭhena saddhindriyassa cariyā daṭṭhabbā, saddhindriyassa vasena paggahaṭṭhena vīriyindriyassa cariyā daṭṭhabbā, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyassa cariyā daṭṭhabbā, avikkhepaṭṭhena samādhindriyassa cariyā daṭṭhabbā, dassanaṭṭhena paññindriyassa cariyā daṭṭhabbā. Saddhammasavane sotāpattiyaṅge…pe… yoniso manasikāre sotāpattiyaṅge… dhammānudhammapaṭipattiyā sotāpattiyaṅge adhimokkhādhipateyyaṭṭhena saddhindriyassa cariyā daṭṭhabbā, saddhindriyassa vasena paggahaṭṭhena vīriyindriyassa cariyā daṭṭhabbā, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyassa cariyā daṭṭhabbā, avikkhepaṭṭhena samādhindriyassa cariyā daṭṭhabbā, dassanaṭṭhena paññindriyassa cariyā daṭṭhabbā. Catūsu sotāpattiyaṅgesu saddhindriyassa vasena imehi vīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ cariyā daṭṭhabbā.
In the four factors of stream-entry, by way of the faculty of faith, by which twenty aspects should the functioning of the five faculties be understood? In the factor of stream-entry that is associating with the virtuous, the functioning of the faculty of faith should be understood in the sense of predominance in resolution; by way of the faculty of faith, the functioning of the faculty of energy should be understood in the sense of uplifting; the functioning of the faculty of mindfulness should be understood in the sense of establishment; the functioning of the faculty of concentration should be understood in the sense of non-distraction; the functioning of the faculty of wisdom should be understood in the sense of seeing. In the factor of stream-entry that is listening to the true Dhamma... and so on... in the factor of stream-entry that is wise attention... in the factor of stream-entry that is practicing in accordance with the Dhamma, the functioning of the faculty of faith should be understood in the sense of predominance in resolution; by way of the faculty of faith, the functioning of the faculty of energy should be understood in the sense of uplifting; the functioning of the faculty of mindfulness should be understood in the sense of establishment; the functioning of the faculty of concentration should be understood in the sense of non-distraction; the functioning of the faculty of wisdom should be understood in the sense of seeing. In the four factors of stream-entry, by way of the faculty of faith, the functioning of the five faculties should be understood by these twenty aspects.
Trong bốn chi phần Dự lưu, do năng lực của tín quyền, sự hành của năm quyền nên được thấy bởi hai mươi phương diện nào? Trong chi phần Dự lưu là thân cận bậc chân nhân, sự hành của tín quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ sự quyết định; do năng lực của tín quyền, sự hành của tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa nỗ lực, sự hành của niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa hiện khởi, sự hành của định quyền nên được thấy với ý nghĩa không tán loạn, sự hành của tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa thấy. Trong chi phần Dự lưu là nghe diệu pháp... tóm tắt... trong chi phần Dự lưu là như lý tác ý... trong chi phần Dự lưu là thực hành pháp tùy pháp, sự hành của tín quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ sự quyết định; do năng lực của tín quyền, sự hành của tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa nỗ lực, sự hành của niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa hiện khởi, sự hành của định quyền nên được thấy với ý nghĩa không tán loạn, sự hành của tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa thấy. Trong bốn chi phần Dự lưu, do năng lực của tín quyền, sự hành của năm quyền nên được thấy bởi hai mươi phương diện này.
Catūsu sammappadhānesu vīriyindriyassa vasena katamehi vīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ cariyā daṭṭhabbā? Anuppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ anuppādāya sammappadhāne paggahādhipateyyaṭṭhena vīriyindriyassa cariyā daṭṭhabbā, vīriyindriyassa vasena upaṭṭhānaṭṭhena satindriyassa cariyā daṭṭhabbā, avikkhepaṭṭhena samādhindriyassa cariyā daṭṭhabbā, dassanaṭṭhena paññindriyassa cariyā daṭṭhabbā, adhimokkhaṭṭhena saddhindriyassa cariyā daṭṭhabbā. Uppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya sammappadhāne…pe… anuppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ uppādāya sammappadhāne…pe… uppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā sammappadhāne paggahādhipateyyaṭṭhena vīriyindriyassa cariyā daṭṭhabbā…pe… catūsu sammappadhānesu vīriyindriyassa vasena imehi vīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ cariyā daṭṭhabbā.
In the four right efforts, by way of the energy faculty, in what twenty aspects should the functioning of the five faculties be seen? In the right effort for the non-arising of unarisen, evil, unwholesome states, the functioning of the energy faculty should be seen in the sense of exertion and mastery; by way of the energy faculty, the functioning of the mindfulness faculty should be seen in the sense of presence; the functioning of the concentration faculty should be seen in the sense of non-distraction; the functioning of the wisdom faculty should be seen in the sense of seeing; the functioning of the faith faculty should be seen in the sense of conviction. In the right effort for the abandoning of arisen, evil, unwholesome states…pe… in the right effort for the arising of unarisen wholesome states…pe… in the right effort for the maintenance, non-confusion, increase, expansion, development, and fulfillment of arisen wholesome states, the functioning of the energy faculty should be seen in the sense of exertion and mastery…pe… in the four right efforts, by way of the energy faculty, in these twenty aspects the functioning of the five faculties should be seen.
Trong bốn Chánh cần, do năng lực của tấn quyền, sự hành của năm quyền nên được thấy bởi hai mươi phương diện nào? Trong Chánh cần về việc không cho sanh khởi các pháp ác bất thiện chưa sanh, sự hành của tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ sự nỗ lực; do năng lực của tấn quyền, sự hành của niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa hiện khởi, sự hành của định quyền nên được thấy với ý nghĩa không tán loạn, sự hành của tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa thấy, sự hành của tín quyền nên được thấy với ý nghĩa quyết định. Trong Chánh cần về việc đoạn trừ các pháp ác bất thiện đã sanh... tóm tắt... trong Chánh cần về việc làm sanh khởi các pháp thiện chưa sanh... tóm tắt... trong Chánh cần về việc duy trì, không quên lãng, tăng trưởng, quảng đại, tu tập, viên mãn các pháp thiện đã sanh, sự hành của tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ sự nỗ lực... tóm tắt... Trong bốn Chánh cần, do năng lực của tấn quyền, sự hành của năm quyền nên được thấy bởi hai mươi phương diện này.
Catūsu satipaṭṭhānesu satindriyassa vasena katamehi vīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ cariyā daṭṭhabbā? Kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhāne upaṭṭhānādhipateyyaṭṭhena satindriyassa cariyā daṭṭhabbā, satindriyassa vasena avikkhepaṭṭhena samādhindriyassa cariyā daṭṭhabbā, dassanaṭṭhena paññindriyassa cariyā daṭṭhabbā, adhimokkhaṭṭhena saddhindriyassa cariyā daṭṭhabbā, paggahaṭṭhena vīriyindriyassa cariyā daṭṭhabbā. Vedanāsu vedanānupassanāsatipaṭṭhāne…pe… citte cittānupassanāsatipaṭṭhāne…pe… dhammesu dhammānupassanāsatipaṭṭhāne upaṭṭhānādhipateyyaṭṭhena satindriyassa cariyā daṭṭhabbā…pe… catūsu satipaṭṭhānesu satindriyassa vasena imehi vīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ cariyā daṭṭhabbā.
In the four foundations of mindfulness, by way of the faculty of mindfulness, in what twenty aspects should the functioning of the five faculties be known? In the foundation of mindfulness of contemplation of the body, the functioning of the faculty of mindfulness should be known in the sense of predominance in establishment; by way of the faculty of mindfulness, the functioning of the faculty of concentration should be known in the sense of non-distraction; the functioning of the faculty of wisdom should be known in the sense of seeing; the functioning of the faculty of faith should be known in the sense of resoluteness; the functioning of the faculty of energy should be known in the sense of exertion. In the foundation of mindfulness of contemplation of feelings... in the foundation of mindfulness of contemplation of mind... in the foundation of mindfulness of contemplation of dhammas, the functioning of the faculty of mindfulness should be known in the sense of predominance in establishment... In the four foundations of mindfulness, by way of the faculty of mindfulness, in these twenty aspects the functioning of the five faculties should be known.
Trong bốn niệm xứ, do năng lực của niệm quyền, sự tác hành của năm quyền nên được thấy bởi hai mươi phương diện nào? Trong niệm xứ quán thân trên thân, sự tác hành của niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ trong sự hiện diện; do năng lực của niệm quyền, sự tác hành của định quyền nên được thấy với ý nghĩa không phân tán, sự tác hành của tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa thấy, sự tác hành của tín quyền nên được thấy với ý nghĩa quyết định, sự tác hành của tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa sách tấn. Trong niệm xứ quán thọ trên các thọ... (tương tự)... trong niệm xứ quán tâm trên tâm... (tương tự)... trong niệm xứ quán pháp trên các pháp, sự tác hành của niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ trong sự hiện diện... (tương tự)... Trong bốn niệm xứ, do năng lực của niệm quyền, sự tác hành của năm quyền nên được thấy bởi hai mươi phương diện này.
Catūsu jhānesu samādhindriyassa vasena katamehi vīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ cariyā daṭṭhabbā? Paṭhame jhāne avikkhepādhipateyyaṭṭhena samādhindriyassa cariyā daṭṭhabbā, samādhindriyassa vasena dassanaṭṭhena paññindriyassa cariyā daṭṭhabbā, adhimokkhaṭṭhena saddhindriyassa cariyā daṭṭhabbā, paggahaṭṭhena vīriyindriyassa cariyā daṭṭhabbā, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyassa cariyā daṭṭhabbā. Dutiye jhāne…pe… tatiye jhāne…pe… catutthe jhāne avikkhepādhipateyyaṭṭhena samādhindriyassa cariyā daṭṭhabbā…pe… catūsu jhānesu samādhindriyassa vasena imehi vīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ cariyā daṭṭhabbā.
In the four jhānas, by way of the faculty of concentration, in what twenty aspects should the functioning of the five faculties be known? In the first jhāna, the functioning of the faculty of concentration should be known in the sense of predominance in non-distraction; by way of the faculty of concentration, the functioning of the faculty of wisdom should be known in the sense of seeing; the functioning of the faculty of faith should be known in the sense of resoluteness; the functioning of the faculty of energy should be known in the sense of exertion; the functioning of the faculty of mindfulness should be known in the sense of establishment. In the second jhāna... in the third jhāna... in the fourth jhāna, the functioning of the faculty of concentration should be known in the sense of predominance in non-distraction... In the four jhānas, by way of the faculty of concentration, in these twenty aspects the functioning of the five faculties should be known.
Trong bốn thiền, do năng lực của định quyền, sự tác hành của năm quyền nên được thấy bởi hai mươi phương diện nào? Trong thiền thứ nhất, sự tác hành của định quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ trong sự không phân tán; do năng lực của định quyền, sự tác hành của tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa thấy, sự tác hành của tín quyền nên được thấy với ý nghĩa quyết định, sự tác hành của tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa sách tấn, sự tác hành của niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa hiện diện. Trong thiền thứ nhì... (tương tự)... trong thiền thứ ba... (tương tự)... trong thiền thứ tư, sự tác hành của định quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ trong sự không phân tán... (tương tự)... Trong bốn thiền, do năng lực của định quyền, sự tác hành của năm quyền nên được thấy bởi hai mươi phương diện này.
Catūsu ariyasaccesu paññindriyassa vasena katamehi vīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ cariyā daṭṭhabbā? Dukkhe ariyasacce dassanādhipateyyaṭṭhena paññindriyassa cariyā daṭṭhabbā, paññindriyassa vasena adhimokkhaṭṭhena saddhindriyassa cariyā daṭṭhabbā, paggahaṭṭhena vīriyindriyassa cariyā daṭṭhabbā, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyassa cariyā daṭṭhabbā, avikkhepaṭṭhena samādhindriyassa cariyā daṭṭhabbā. Dukkhasamudaye ariyasacce…pe… dukkhanirodhe ariyasacce… dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ariyasacce dassanādhipateyyaṭṭhena paññindriyassa cariyā daṭṭhabbā, paññindriyassa vasena adhimokkhaṭṭhena saddhindriyassa cariyā daṭṭhabbā, paggahaṭṭhena vīriyindriyassa cariyā daṭṭhabbā, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyassa cariyā daṭṭhabbā, avikkhepaṭṭhena samādhindriyassa cariyā daṭṭhabbā. Catūsu ariyasaccesu paññindriyassa vasena imehi vīsatiyā ākārehi pañcannaṃ indriyānaṃ cariyā daṭṭhabbā.
In the four noble truths, by way of the faculty of wisdom, in what twenty aspects should the functioning of the five faculties be understood? In the noble truth of suffering, the functioning of the faculty of wisdom should be understood in the sense of predominance in seeing; by way of the faculty of wisdom, in the sense of conviction, the functioning of the faculty of faith should be understood; in the sense of exertion, the functioning of the faculty of energy should be understood; in the sense of establishment, the functioning of the faculty of mindfulness should be understood; in the sense of non-distraction, the functioning of the faculty of concentration should be understood. In the noble truth of the origin of suffering... and so on... in the noble truth of the cessation of suffering... in the noble truth of the path leading to the cessation of suffering, the functioning of the faculty of wisdom should be understood in the sense of predominance in seeing; by way of the faculty of wisdom, in the sense of conviction, the functioning of the faculty of faith should be understood; in the sense of exertion, the functioning of the faculty of energy should be understood; in the sense of establishment, the functioning of the faculty of mindfulness should be understood; in the sense of non-distraction, the functioning of the faculty of concentration should be understood. In the four noble truths, by way of the faculty of wisdom, in these twenty aspects the functioning of the five faculties should be understood.
Trong bốn Thánh đế, do năng lực của tuệ quyền, sự tác hành của năm quyền nên được thấy bởi hai mươi phương diện nào? Trong Thánh đế về Khổ, sự tác hành của tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ trong sự thấy; do năng lực của tuệ quyền, sự tác hành của tín quyền nên được thấy với ý nghĩa quyết định, sự tác hành của tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa sách tấn, sự tác hành của niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa hiện diện, sự tác hành của định quyền nên được thấy với ý nghĩa không phân tán. Trong Thánh đế về Tập... (tương tự)... trong Thánh đế về Diệt... trong Thánh đế về Đạo đưa đến sự diệt khổ, sự tác hành của tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ trong sự thấy; do năng lực của tuệ quyền, sự tác hành của tín quyền nên được thấy với ý nghĩa quyết định, sự tác hành của tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa sách tấn, sự tác hành của niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa hiện diện, sự tác hành của định quyền nên được thấy với ý nghĩa không phân tán. Trong bốn Thánh đế, do năng lực của tuệ quyền, sự tác hành của năm quyền nên được thấy bởi hai mươi phương diện này.
Ga. cāravihāraniddeso
Ga. Exposition on Conduct and Dwelling
Ga. Phần giải thích về hành và trú.
197. Cāro ca vihāro ca anubuddho hoti paṭividdho, yathācarantaṃ yathāviharantaṃ viññū sabrahmacārī gambhīresu ṭhānesu okappeyyuṃ – ‘‘addhā, ayamāyasmā patto vā pāpuṇissati vā’’.
197. Conduct and dwelling are understood and penetrated: wise companions in the holy life, observing one acting and dwelling thus, would place confidence in profound matters, thinking: "Surely, this venerable one has attained or will attain."
197. Hành và trú được giác ngộ, được thâm nhập. Vị nào hành xử như thế nào, trú ngụ như thế nào, các vị đồng phạm hạnh có trí nên tin tưởng ở những trạng thái sâu xa rằng: ‘Chắc chắn, vị tôn giả này đã đắc chứng hoặc sẽ đắc chứng.’
Cariyāti aṭṭha cariyāyo – iriyāpathacariyā, āyatanacariyā, saticariyā, samādhicariyā, ñāṇacariyā, maggacariyā, patticariyā, lokatthacariyāti. Iriyāpathacariyāti catūsu iriyāpathesu. Āyatanacariyāti chasu ajjhattikabāhiresu āyatanesu. Saticariyāti catūsu satipaṭṭhānesu. Samādhicariyāti catūsu jhānesu. Ñāṇacariyāti catūsu ariyasaccesu. Maggacariyāti catūsu ariyamaggesu. Patticariyāti catūsu sāmaññaphalesu. Lokatthacariyāti tathāgatesu arahantesu sammāsambuddhesu, padese paccekabuddhesu, padese sāvakesu. Iriyāpathacariyā ca paṇidhisampannānaṃ, āyatanacariyā ca indriyesu guttadvārānaṃ, saticariyā ca appamādavihārīnaṃ, samādhicariyā ca adhicittamanuyuttānaṃ, ñāṇacariyā ca buddhisampannānaṃ, maggacariyā ca sammāpaṭipannānaṃ, patticariyā ca adhigataphalānaṃ, lokatthacariyā ca tathāgatānaṃ arahantānaṃ sammāsambuddhānaṃ, padese paccekabuddhānaṃ, padese sāvakānaṃ. Imā aṭṭha cariyāyo.
As for conduct, there are eight conducts: conduct in postures, conduct in the sense bases, conduct in mindfulness, conduct in concentration, conduct in knowledge, conduct in the path, conduct in attainment, and conduct for the welfare of the world. Conduct in postures is conduct in the four postures. Conduct in the sense bases is conduct in the six internal and external sense bases. Conduct in mindfulness is conduct in the four foundations of mindfulness. Conduct in concentration is conduct in the four jhānas. Conduct in knowledge is conduct in the four noble truths. Conduct in the path is conduct in the four noble paths. Conduct in attainment is conduct in the four fruits of recluseship. Conduct for the welfare of the world is conduct in the Tathāgatas, Arahants, and Perfectly Enlightened Ones; in part, in the Paccekabuddhas; and in part, in the disciples. And conduct in postures is of those endowed with aspiration; conduct in the sense bases is of those with guarded doors in their faculties; conduct in mindfulness is of those who dwell diligently; conduct in concentration is of those devoted to the higher mind; conduct in knowledge is of those endowed with wisdom; conduct in the path is of those who practice rightly; conduct in attainment is of those who have attained the fruit; and conduct for the welfare of the world is of the Tathāgatas, Arahants, and Perfectly Enlightened Ones; in part, of the Paccekabuddhas; and in part, of the disciples. These are the eight conducts.
Về ‘hành,’ có tám sự hành: oai nghi hành, xứ hành, niệm hành, định hành, trí hành, đạo hành, chứng đắc hành, và thế lợi hành. Oai nghi hành là (sự hành) trong bốn oai nghi. Xứ hành là (sự hành) trong sáu xứ nội và ngoại. Niệm hành là (sự hành) trong bốn niệm xứ. Định hành là (sự hành) trong bốn thiền. Trí hành là (sự hành) trong bốn Thánh đế. Đạo hành là (sự hành) trong bốn Thánh đạo. Chứng đắc hành là (sự hành) trong bốn quả Sa-môn. Thế lợi hành là (sự hành) đối với các bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; một phần đối với các vị Độc Giác Phật; một phần đối với các vị Thinh Văn. Và oai nghi hành là của những vị có nguyện đầy đủ; xứ hành là của những vị có các căn được phòng hộ; niệm hành là của những vị sống không dể duôi; định hành là của những vị chuyên tâm vào tăng thượng tâm; trí hành là của những vị có trí tuệ đầy đủ; đạo hành là của những vị thực hành chân chánh; chứng đắc hành là của những vị đã chứng đắc quả; thế lợi hành là của các bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; một phần của các vị Độc Giác Phật; một phần của các vị Thinh Văn. Đây là tám sự hành.
Aparāpi aṭṭha cariyāyo. Adhimuccanto saddhāya carati, paggaṇhanto vīriyena carati, upaṭṭhāpento satiyā carati, avikkhepaṃ karonto samādhinā carati, pajānanto paññāya carati, vijānanto viññāṇacariyāya carati, evaṃ paṭipannassa kusalā dhammā āyāpentīti āyatanacariyāya carati, evaṃ paṭipanno visesamadhigacchatīti visesacariyāya carati – imā aṭṭha cariyāyo.
Furthermore, there are another eight conducts. One practices with faith by resolving; one practices with energy by exerting effort; one practices with mindfulness by establishing it; one practices with concentration by bringing about non-distraction; one practices with wisdom by discerning; one practices with the conduct of consciousness by knowing. Since for one practicing thus wholesome states increase, one practices with the conduct of the sense bases. Since one practicing thus attains distinction, one practices with the conduct of distinction. These are the eight conducts.
Lại nữa, có tám sự hành khác. Người quyết định là hành bằng tín; người sách tấn là hành bằng tấn; người làm cho hiện diện là hành bằng niệm; người thực hành không phân tán là hành bằng định; người biết rõ là hành bằng tuệ; người nhận biết là hành bằng thức hành; đối với người thực hành như vậy, các thiện pháp tăng trưởng, nên gọi là hành bằng xứ hành; người thực hành như vậy đạt được sự thù thắng, nên gọi là hành bằng thù thắng hành. Đây là tám sự hành.
Aparāpi aṭṭha cariyāyo. Dassanacariyā ca sammādiṭṭhiyā, abhiniropanacariyā ca sammāsaṅkappassa, pariggahacariyā ca sammāvācāya, samuṭṭhānacariyā ca sammākammantassa, vodānacariyā ca sammāājīvassa, paggahacariyā ca sammāvāyāmassa, upaṭṭhānacariyā ca sammāsatiyā, avikkhepacariyā ca sammāsamādhissa – imā aṭṭha cariyāyo.
Furthermore, there are eight practices: the practice of seeing of right view, the practice of application of right thought, the practice of encompassing of right speech, the practice of originating of right action, the practice of cleansing of right livelihood, the practice of exertion of right effort, the practice of establishing of right mindfulness, and the practice of non-distraction of right concentration—these are the eight practices.
Lại nữa, có tám sự hành khác. Kiến hành là của chánh kiến, hướng tâm hành là của chánh tư duy, bao quát hành là của chánh ngữ, khởi nguyên hành là của chánh nghiệp, thanh tịnh hành là của chánh mạng, sách tấn hành là của chánh tinh tấn, hiện diện hành là của chánh niệm, không phân tán hành là của chánh định. Đây là tám sự hành.
Vihāroti adhimuccanto saddhāya viharati, paggaṇhanto vīriyena viharati, upaṭṭhāpento satiyā viharati, avikkhepaṃ karonto samādhinā viharati, pajānanto paññāya viharati.
Regarding 'dwelling': one dwells resolved through faith, one dwells exerting through energy, one dwells establishing through mindfulness, one dwells bringing about non-distraction through concentration, one dwells discerning through wisdom.
Về 'sự trú': Người có sự quyết đoán trú ngụ bằng tín; người có sự nỗ lực trú ngụ bằng tinh tấn; người có sự an trú trú ngụ bằng niệm; người thực hành sự không tán loạn trú ngụ bằng định; người có sự liễu tri trú ngụ bằng tuệ.
Anubuddhoti saddhindriyassa adhimokkhaṭṭho anubuddho hoti, vīriyindriyassa paggahaṭṭho anubuddho hoti, satindriyassa upaṭṭhānaṭṭho anubuddho hoti, samādhindriyassa avikkhepaṭṭho anubuddho hoti, paññindriyassa dassanaṭṭho anubuddho hoti.
Regarding 'understood': The characteristic of resolution of the faculty of faith is understood. The characteristic of exertion of the faculty of energy is understood. The characteristic of establishment of the faculty of mindfulness is understood. The characteristic of non-distraction of the faculty of concentration is understood. The characteristic of seeing of the faculty of wisdom is understood.
Về 'đã giác ngộ theo': Ý nghĩa về sự quyết đoán của tín quyền được xem là đã giác ngộ theo. Ý nghĩa về sự nỗ lực của tấn quyền được xem là đã giác ngộ theo. Ý nghĩa về sự an trú của niệm quyền được xem là đã giác ngộ theo. Ý nghĩa về sự không tán loạn của định quyền được xem là đã giác ngộ theo. Ý nghĩa về sự thấy của tuệ quyền được xem là đã giác ngộ theo.
Paṭividdhoti saddhindriyassa adhimokkhaṭṭho paṭividdho hoti, vīriyindriyassa paggahaṭṭho paṭividdho hoti, satindriyassa upaṭṭhānaṭṭho paṭividdho hoti, samādhindriyassa avikkhepaṭṭho paṭividdho hoti, paññindriyassa dassanaṭṭho paṭividdho hoti. Yathācarantanti evaṃ saddhāya carantaṃ, evaṃ vīriyena carantaṃ, evaṃ satiyā carantaṃ, evaṃ samādhinā carantaṃ, evaṃ paññāya carantaṃ. Yathāviharantanti evaṃ saddhāya viharantaṃ, evaṃ vīriyena viharantaṃ, evaṃ satiyā viharantaṃ, evaṃ samādhinā viharantaṃ, evaṃ paññāya viharantaṃ. Viññūti viññū vibhāvī medhāvī paṇḍitā buddhisampannā. Sabrahmacārīti ekakammaṃ ekuddeso samasikkhatā. Gambhīresu ṭhānesūti gambhīrāni ṭhānāni vuccanti jhānā ca vimokkhā ca samādhī ca samāpattiyo ca maggā ca phalāni ca abhiññāyo ca paṭisambhidā ca. Okappeyyunti saddaheyyuṃ adhimucceyyuṃ. Addhāti ekaṃsavacanametaṃ nissaṃsayavacanametaṃ nikkaṅkhavacanametaṃ advejjhavacanametaṃ adveḷhakavacanametaṃ niyogavacanametaṃ apaṇṇakavacanametaṃ avatthāpanavacanametaṃ – addhāti. Āyasmāti piyavacanametaṃ garuvacanametaṃ sagāravasappatissādhivacanametaṃ – āyasmāti. Patto vāti adhigato vā. Pāpuṇissati vāti adhigamissati vā.
Penetrated: The meaning of resolution of the faculty of faith is penetrated. The meaning of exertion of the faculty of energy is penetrated. The meaning of establishment of the faculty of mindfulness is penetrated. The meaning of non-distraction of the faculty of concentration is penetrated. The meaning of seeing of the faculty of wisdom is penetrated. ‘Acting accordingly’ means acting thus with faith, thus with energy, thus with mindfulness, thus with concentration, and thus with wisdom. ‘Dwelling accordingly’ means dwelling thus with faith, thus with energy, thus with mindfulness, thus with concentration, and thus with wisdom. ‘The wise’ refers to those who are discerning, insightful, intelligent, learned, and endowed with wisdom. ‘Fellow practitioners of the holy life’ means having the same actions, the same recitation, and the same training. ‘In profound states’: the jhānas, the liberations, the concentrations, the attainments, the paths, the fruits, the direct knowledges, and the analytical insights are called profound states. ‘They would place trust’ means they would have faith, they would be resolved. ‘Certainly’ is a word expressing definiteness, a word expressing absence of doubt, a word expressing absence of uncertainty, a word expressing non-ambiguity, a word expressing non-equivocation, a word expressing fixedness, a word expressing infallibility, and a word expressing finality. ‘Venerable’ is a term of endearment, a term of respect, and a term of reverence and deference. ‘Has attained’ means has realized. ‘Will attain’ means will realize.
Về 'đã thông suốt': Ý nghĩa về sự quyết đoán của tín quyền được xem là đã thông suốt. Ý nghĩa về sự nỗ lực của tấn quyền được xem là đã thông suốt. Ý nghĩa về sự an trú của niệm quyền được xem là đã thông suốt. Ý nghĩa về sự không tán loạn của định quyền được xem là đã thông suốt. Ý nghĩa về sự thấy của tuệ quyền được xem là đã thông suốt. Về 'vị đang thực hành đúng như vậy': Vị đang thực hành như vậy bằng tín, vị đang thực hành như vậy bằng tinh tấn, vị đang thực hành như vậy bằng niệm, vị đang thực hành như vậy bằng định, vị đang thực hành như vậy bằng tuệ. Về 'vị đang trú ngụ đúng như vậy': Vị đang trú ngụ như vậy bằng tín, vị đang trú ngụ như vậy bằng tinh tấn, vị đang trú ngụ như vậy bằng niệm, vị đang trú ngụ như vậy bằng định, vị đang trú ngụ như vậy bằng tuệ. Về 'bậc trí': Bậc trí, bậc sáng suốt, bậc có trí tuệ, bậc học thức, bậc thành tựu trí tuệ. Về 'vị đồng phạm hạnh': Có chung hành động, có chung sự thuyết giảng, có sự học tập giống nhau. Về 'trong các trạng thái thâm sâu': Các trạng thái thâm sâu được nói đến là: các tầng thiền, các sự giải thoát, các định, các sự chứng đắc, các đạo, các quả, các thắng trí, và các vô ngại giải. Về 'nên tin tưởng': Nên có đức tin, nên quyết đoán. Về 'chắc chắn': Đây là lời nói chắc chắn, đây là lời nói không nghi ngờ, đây là lời nói không do dự, đây là lời nói không phân hai, đây là lời nói không lưỡng lự, đây là lời nói có sự xác định, đây là lời nói không thể bác bỏ, đây là lời nói có sự thiết lập. Về 'hiền giả': Đây là lời nói thân ái, đây là lời nói tôn trọng, đây là lời nói có sự kính trọng và tuân phục. Về 'đã đạt được': Hoặc đã chứng đắc. Về 'sẽ đạt được': Hoặc sẽ chứng đắc.
Suttantaniddeso tatiyo.
The third Suttanta exposition is finished.
Kết thúc phần giải thích Kinh thứ ba.
4. Catutthasuttantaniddeso
4. Exposition of the Fourth Suttanta
4. Phần giải thích Kinh thứ tư.
198. Purimanidānaṃ †. ‘‘Pañcimāni, bhikkhave, indriyāni. Katamāni pañca? Saddhindriyaṃ, vīriyindriyaṃ, satindriyaṃ, samādhindriyaṃ, paññindriyaṃ – imāni kho, bhikkhave, pañcindriyāni. Imāni pañcindriyāni katihākārehi kenaṭṭhena daṭṭhabbāni? Imāni pañcindriyāni chahākārehi tenaṭṭhena daṭṭhabbāni – ādhipateyyaṭṭhena ādivisodhanaṭṭhena adhimattaṭṭhena, adhiṭṭhānaṭṭhena, pariyādānaṭṭhena, patiṭṭhāpakaṭṭhena’’.
198. The preceding introduction. 'Monks, there are these five faculties. Which five? The faculty of faith, the faculty of energy, the faculty of mindfulness, the faculty of concentration, and the faculty of wisdom. These, monks, are indeed the five faculties. In how many aspects and in what sense should these five faculties be regarded? These five faculties should be regarded in six aspects and in that sense: in the sense of sovereignty, in the sense of initial purification, in the sense of abundance, in the sense of resolution, in the sense of exhaustion, and in the sense of establishing.'
198. Phần nidāna như trước. 'Này các tỳ khưu, có năm quyền này. Thế nào là năm? Tín quyền, tấn quyền, niệm quyền, định quyền, tuệ quyền – này các tỳ khưu, đó là năm quyền. Năm quyền này nên được thấy theo bao nhiêu phương diện, với ý nghĩa nào? Năm quyền này nên được thấy theo sáu phương diện, với ý nghĩa ấy là: với ý nghĩa làm chủ, với ý nghĩa thanh lọc ban đầu, với ý nghĩa vượt trội, với ý nghĩa làm nền tảng, với ý nghĩa làm cho cạn kiệt, với ý nghĩa làm cho an lập.'
Ka. ādhipateyyaṭṭhaniddeso
Ka. Exposition on the Sense of Sovereignty
a. Phần giải thích về ý nghĩa làm chủ.
199. Kathaṃ ādhipateyyaṭṭhena indriyāni daṭṭhabbāni? Assaddhiyaṃ pajahato adhimokkhādhipateyyaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, saddhindriyassa vasena paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, dassanaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Kosajjaṃ pajahato paggahādhipateyyaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, vīriyindriyassa vasena upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, dassanaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Pamādaṃ pajahato upaṭṭhānādhipateyyaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, satindriyassa vasena avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, dassanaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Uddhaccaṃ pajahato avikkhepādhipateyyaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, samādhindriyassa vasena dassanaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Avijjaṃ pajahato dassanādhipateyyaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, paññindriyassa vasena adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, dassanaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ.
199. How should the faculties be regarded in the sense of dominance? For one who abandons lack of faith, the faculty of faith should be regarded in the sense of resolution-dominance. By the power of the faculty of faith, the faculty of energy should be regarded in the sense of exertion, the faculty of mindfulness should be regarded in the sense of establishment, the faculty of concentration should be regarded in the sense of non-distraction, and the faculty of wisdom should be regarded in the sense of seeing. For one who abandons laziness, the faculty of energy should be regarded in the sense of exertion-dominance. By the power of the faculty of energy, the faculty of mindfulness should be regarded in the sense of establishment, the faculty of concentration should be regarded in the sense of non-distraction, the faculty of wisdom should be regarded in the sense of seeing, and the faculty of faith should be regarded in the sense of resolution. For one who abandons heedlessness, the faculty of mindfulness should be regarded in the sense of establishment-dominance. By the power of the faculty of mindfulness, the faculty of concentration should be regarded in the sense of non-distraction, the faculty of wisdom should be regarded in the sense of seeing, the faculty of faith should be regarded in the sense of resolution, and the faculty of energy should be regarded in the sense of exertion. For one who abandons restlessness, the faculty of concentration should be regarded in the sense of non-distraction-dominance. By the power of the faculty of concentration, the faculty of wisdom should be regarded in the sense of seeing, the faculty of faith should be regarded in the sense of resolution, the faculty of energy should be regarded in the sense of exertion, and the faculty of mindfulness should be regarded in the sense of establishment. For one who abandons ignorance, the faculty of wisdom should be regarded in the sense of seeing-dominance. By the power of the faculty of wisdom, the faculty of faith should be regarded in the sense of resolution, the faculty of energy should be regarded in the sense of exertion, the faculty of mindfulness should be regarded in the sense of establishment, the faculty of concentration should be regarded in the sense of non-distraction, and the faculty of wisdom should be regarded in the sense of seeing.
199. Các quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ như thế nào? Đối với vị đang từ bỏ sự không có đức tin, tín quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ trong sự quyết đoán; tùy theo năng lực của tín quyền, tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa nỗ lực, niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa an trú, định quyền nên được thấy với ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa thấy. Đối với vị đang từ bỏ sự lười biếng, tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ trong sự nỗ lực; tùy theo năng lực của tấn quyền, niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa an trú, định quyền nên được thấy với ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa thấy, tín quyền nên được thấy với ý nghĩa quyết đoán. Đối với vị đang từ bỏ sự dể duôi, niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ trong sự an trú; tùy theo năng lực của niệm quyền, định quyền nên được thấy với ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa thấy, tín quyền nên được thấy với ý nghĩa quyết đoán, tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa nỗ lực. Đối với vị đang từ bỏ sự trạo cử, định quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ trong sự không tán loạn; tùy theo năng lực của định quyền, tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa thấy, tín quyền nên được thấy với ý nghĩa quyết đoán, tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa nỗ lực, niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa an trú. Đối với vị đang từ bỏ vô minh, tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa làm chủ trong sự thấy; tùy theo năng lực của tuệ quyền, tín quyền nên được thấy với ý nghĩa quyết đoán, tấn quyền nên được thấy với ý nghĩa nỗ lực, niệm quyền nên được thấy với ý nghĩa an trú, định quyền nên được thấy với ý nghĩa không tán loạn, tuệ quyền nên được thấy với ý nghĩa thấy.
Kāmacchandaṃ pajahato nekkhammavasena adhimokkhādhipateyyaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, saddhindriyassa vasena paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, dassanaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Kāmacchandaṃ pajahato nekkhammavasena paggahādhipateyyaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, vīriyindriyassa vasena upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, dassanaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Kāmacchandaṃ pajahato nekkhammavasena upaṭṭhānādhipateyyaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, satindriyassa vasena avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, dassanaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Kāmacchandaṃ pajahato nekkhammavasena avikkhepādhipateyyaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, samādhindriyassa vasena dassanaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Kāmacchandaṃ pajahato nekkhammavasena dassanādhipateyyaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, paññindriyassa vasena adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ.
For one who abandons sensual desire by means of renunciation, the faculty of faith should be regarded in the sense of resolution-dominance. By the power of the faculty of faith, the faculty of energy should be regarded in the sense of exertion. The faculty of mindfulness should be regarded in the sense of establishment. The faculty of concentration should be regarded in the sense of non-distraction. The faculty of wisdom should be regarded in the sense of seeing. For one who abandons sensual desire by means of renunciation, the faculty of energy should be regarded in the sense of exertion-dominance. By the power of the faculty of energy, the faculty of mindfulness should be regarded in the sense of establishment. The faculty of concentration should be regarded in the sense of non-distraction. The faculty of wisdom should be regarded in the sense of seeing. The faculty of faith should be regarded in the sense of resolution. For one who abandons sensual desire by means of renunciation, the faculty of mindfulness should be regarded in the sense of establishment-dominance. By the power of the faculty of mindfulness, the faculty of concentration should be regarded in the sense of non-distraction. The faculty of wisdom should be regarded in the sense of seeing. The faculty of faith should be regarded in the sense of resolution. The faculty of energy should be regarded in the sense of exertion. For one who abandons sensual desire by means of renunciation, the faculty of concentration should be regarded in the sense of non-distraction-dominance. By the power of the faculty of concentration, the faculty of wisdom should be regarded in the sense of seeing. The faculty of faith should be regarded in the sense of resolution. The faculty of energy should be regarded in the sense of exertion. The faculty of mindfulness should be regarded in the sense of establishment. For one who abandons sensual desire by means of renunciation, the faculty of wisdom should be regarded in the sense of seeing-dominance. By the power of the faculty of wisdom, the faculty of faith should be regarded in the sense of resolution. The faculty of energy should be regarded in the sense of exertion. The faculty of mindfulness should be regarded in the sense of establishment. The faculty of concentration should be regarded in the sense of non-distraction.
Đối với người từ bỏ tham dục, do năng lực của sự xuất ly, nên thấy tín quyền với ý nghĩa làm chủ sự quyết định; do năng lực của tín quyền, nên thấy tấn quyền với ý nghĩa sách tấn, nên thấy niệm quyền với ý nghĩa hiện khởi, nên thấy định quyền với ý nghĩa không phân tán, nên thấy tuệ quyền với ý nghĩa thấy rõ. Đối với người từ bỏ tham dục, do năng lực của sự xuất ly, nên thấy tấn quyền với ý nghĩa làm chủ sự sách tấn; do năng lực của tấn quyền, nên thấy niệm quyền với ý nghĩa hiện khởi, nên thấy định quyền với ý nghĩa không phân tán, nên thấy tuệ quyền với ý nghĩa thấy rõ, nên thấy tín quyền với ý nghĩa quyết định. Đối với người từ bỏ tham dục, do năng lực của sự xuất ly, nên thấy niệm quyền với ý nghĩa làm chủ sự hiện khởi; do năng lực của niệm quyền, nên thấy định quyền với ý nghĩa không phân tán, nên thấy tuệ quyền với ý nghĩa thấy rõ, nên thấy tín quyền với ý nghĩa quyết định, nên thấy tấn quyền với ý nghĩa sách tấn. Đối với người từ bỏ tham dục, do năng lực của sự xuất ly, nên thấy định quyền với ý nghĩa làm chủ sự không phân tán; do năng lực của định quyền, nên thấy tuệ quyền với ý nghĩa thấy rõ, nên thấy tín quyền với ý nghĩa quyết định, nên thấy tấn quyền với ý nghĩa sách tấn, nên thấy niệm quyền với ý nghĩa hiện khởi. Đối với người từ bỏ tham dục, do năng lực của sự xuất ly, nên thấy tuệ quyền với ý nghĩa làm chủ sự thấy rõ; do năng lực của tuệ quyền, nên thấy tín quyền với ý nghĩa quyết định, nên thấy tấn quyền với ý nghĩa sách tấn, nên thấy niệm quyền với ý nghĩa hiện khởi, nên thấy định quyền với ý nghĩa không phân tán.
Byāpādaṃ pajahato abyāpādavasena…pe… thinamiddhaṃ pajahato ālokasaññāvasena…pe… sabbakilese pajahato arahattamaggavasena adhimokkhādhipateyyaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, saddhindriyassa vasena paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, dassanaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ…pe… sabbakilese pajahato arahattamaggavasena dassanādhipateyyaṭṭhena paññindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, paññindriyassa vasena adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ daṭṭhabbaṃ, avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ daṭṭhabbaṃ. Evaṃ ādhipateyyaṭṭhena indriyāni daṭṭhabbāni.
For one abandoning ill will by way of non-ill will… for one abandoning sloth and torpor by way of the perception of light… for one abandoning all defilements by way of the path of arahantship, the faculty of faith should be regarded in the sense of resolution-dominance. Through the power of the faculty of faith, the faculty of energy should be regarded in the sense of exertion. The faculty of mindfulness should be regarded in the sense of establishment. The faculty of concentration should be regarded in the sense of non-distraction. The faculty of wisdom should be regarded in the sense of seeing… For one abandoning all defilements by way of the path of arahantship, the faculty of wisdom should be regarded in the sense of seeing-dominance. Through the power of the faculty of wisdom, the faculty of faith should be regarded in the sense of resolution. The faculty of energy should be regarded in the sense of exertion. The faculty of mindfulness should be regarded in the sense of establishment. The faculty of concentration should be regarded in the sense of non-distraction. Thus, the faculties should be regarded in the sense of dominance.
Đối với người từ bỏ sân, do năng lực của vô sân... v.v... Đối với người từ bỏ hôn trầm thụy miên, do năng lực của quang tưởng... v.v... Đối với người từ bỏ tất cả phiền não, do năng lực của A-la-hán đạo, nên thấy tín quyền với ý nghĩa làm chủ sự quyết định; do năng lực của tín quyền, nên thấy tấn quyền với ý nghĩa sách tấn, nên thấy niệm quyền với ý nghĩa hiện khởi, nên thấy định quyền với ý nghĩa không phân tán, nên thấy tuệ quyền với ý nghĩa thấy rõ... v.v... Đối với người từ bỏ tất cả phiền não, do năng lực của A-la-hán đạo, nên thấy tuệ quyền với ý nghĩa làm chủ sự thấy rõ; do năng lực của tuệ quyền, nên thấy tín quyền với ý nghĩa quyết định, nên thấy tấn quyền với ý nghĩa sách tấn, nên thấy niệm quyền với ý nghĩa hiện khởi, nên thấy định quyền với ý nghĩa không phân tán. Như vậy, nên thấy các quyền với ý nghĩa làm chủ.
Kha. ādivisodhanaṭṭhaniddeso
Kha. The Exposition of the Mode of Initial Purification
Kha. Giải thích về ý nghĩa thanh lọc ban đầu
200. Kathaṃ ādivisodhanaṭṭhena indriyāni daṭṭhabbāni? Adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ, assaddhiyasaṃvaraṭṭhena † sīlavisuddhi – saddhindriyassa ādivisodhanā. Paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ, kosajjasaṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi – vīriyindriyassa ādivisodhanā. Upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ, pamādasaṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi – satindriyassa ādivisodhanā. Avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ, uddhaccasaṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi – samādhindriyassa ādivisodhanā. Dassanaṭṭhena paññindriyaṃ, avijjāsaṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi – paññindriyassa ādivisodhanā. Nekkhamme pañcindriyāni, kāmacchandasaṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi – pañcannaṃ indriyānaṃ ādivisodhanā. Abyāpāde pañcindriyāni, byāpādasaṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi – pañcannaṃ indriyānaṃ ādivisodhanā…pe… arahattamagge pañcindriyāni, sabbakilesasaṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi – pañcannaṃ indriyānaṃ ādivisodhanā. Evaṃ ādivisodhanaṭṭhena indriyāni daṭṭhabbāni.
200. How should the faculties be regarded in the sense of initial purification? The faculty of faith is in the sense of resolution; the purification of virtue in the sense of restraint from faithlessness—this is the initial purification of the faculty of faith. The faculty of energy is in the sense of exertion; the purification of virtue in the sense of restraint from sloth—this is the initial purification of the faculty of energy. The faculty of mindfulness is in the sense of presence; the purification of virtue in the sense of restraint from negligence—this is the initial purification of the faculty of mindfulness. The faculty of concentration is in the sense of non-distraction; the purification of virtue in the sense of restraint from restlessness—this is the initial purification of the faculty of concentration. The faculty of wisdom is in the sense of seeing; the purification of virtue in the sense of restraint from ignorance—this is the initial purification of the faculty of wisdom. In renunciation, the five faculties; the purification of virtue in the sense of restraint from sensual desire—this is the initial purification of the five faculties. In non-ill will, the five faculties; the purification of virtue in the sense of restraint from ill will—this is the initial purification of the five faculties… and so on… in the path to Arahantship, the five faculties; the purification of virtue in the sense of restraint from all defilements—this is the initial purification of the five faculties. Thus, the faculties should be regarded in the sense of initial purification.
200. Làm thế nào nên thấy các quyền với ý nghĩa thanh lọc ban đầu? Tín quyền với ý nghĩa quyết định, giới thanh tịnh với ý nghĩa phòng hộ sự không có đức tin – là sự thanh lọc ban đầu của tín quyền. Tấn quyền với ý nghĩa sách tấn, giới thanh tịnh với ý nghĩa phòng hộ sự lười biếng – là sự thanh lọc ban đầu của tấn quyền. Niệm quyền với ý nghĩa hiện khởi, giới thanh tịnh với ý nghĩa phòng hộ sự dể duôi – là sự thanh lọc ban đầu của niệm quyền. Định quyền với ý nghĩa không phân tán, giới thanh tịnh với ý nghĩa phòng hộ sự trạo cử – là sự thanh lọc ban đầu của định quyền. Tuệ quyền với ý nghĩa thấy rõ, giới thanh tịnh với ý nghĩa phòng hộ vô minh – là sự thanh lọc ban đầu của tuệ quyền. Năm quyền trong sự xuất ly, giới thanh tịnh với ý nghĩa phòng hộ tham dục – là sự thanh lọc ban đầu của năm quyền. Năm quyền trong vô sân, giới thanh tịnh với ý nghĩa phòng hộ sân – là sự thanh lọc ban đầu của năm quyền... v.v... Năm quyền trong A-la-hán đạo, giới thanh tịnh với ý nghĩa phòng hộ tất cả phiền não – là sự thanh lọc ban đầu của năm quyền. Như vậy, nên thấy các quyền với ý nghĩa thanh lọc ban đầu.
Ga. adhimattaṭṭhaniddeso
Ga. The Exposition of the Mode of Dominance.
Ga. Giải thích về ý nghĩa mức độ cao
201. Kathaṃ adhimattaṭṭhena indriyāni daṭṭhabbāni? Saddhindriyassa bhāvanāya chando uppajjati – chandavasena saddhāvasena saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Chandavasena pāmojjaṃ uppajjati – pāmojjavasena saddhāvasena saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Pāmojjavasena pīti uppajjati – pītivasena saddhāvasena saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Pītivasena passaddhi uppajjati – passaddhivasena saddhāvasena saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Passaddhivasena sukhaṃ uppajjati – sukhavasena saddhāvasena saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Sukhavasena obhāso uppajjati – obhāsavasena saddhāvasena saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Obhāsavasena saṃvego uppajjati – saṃvegavasena saddhāvasena saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Saṃvejetvā cittaṃ samādahati – samādhivasena saddhāvasena saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Tathā samāhitaṃ cittaṃ sādhukaṃ paggaṇhāti – paggahavasena saddhāvasena saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Tathāpaggahitaṃ cittaṃ sādhukaṃ ajjhupekkhati – upekkhāvasena saddhāvasena saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Upekkhāvasena nānattakilesehi cittaṃ vimuccati – vimokkhavasena saddhāvasena saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Vimuttattā te dhammā ekarasā honti – ekarasaṭṭhena bhāvanāvasena saddhāvasena saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Bhāvitattā tato paṇītatare vivaṭṭanti – vivaṭṭanāvasena saddhāvasena saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Vivaṭṭitattā tato vosajjati † – vosaggavasena saddhāvasena saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Vosajjitattā tato nirujjhanti – nirodhavasena saddhāvasena saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Nirodhavasena dve vosaggā – pariccāgavosaggo ca, pakkhandanavosaggo ca. Kilese ca khandhe ca pariccajatīti – pariccāgavosaggo. Nirodhanibbānadhātuyā cittaṃ pakkhandatīti – pakkhandanavosaggo. Nirodhavasena ime dve vosaggā.
201. How should the faculties be seen by way of dominance? For the development of the faculty of faith, desire arises; through desire and faith, the faculty of faith becomes dominant. Through desire, gladness arises; through gladness and faith, the faculty of faith becomes dominant. Through gladness, rapture arises; through rapture and faith, the faculty of faith becomes dominant. Through rapture, tranquility arises; through tranquility and faith, the faculty of faith becomes dominant. Through tranquility, happiness arises; through happiness and faith, the faculty of faith becomes dominant. Through happiness, illumination arises; through illumination and faith, the faculty of faith becomes dominant. Through illumination, spiritual urgency arises; through spiritual urgency and faith, the faculty of faith becomes dominant. Having been stirred to spiritual urgency, one concentrates the mind; through concentration and faith, the faculty of faith becomes dominant. One well exerts the mind thus concentrated; through exertion and faith, the faculty of faith becomes dominant. One well regards with equanimity the mind thus exerted; through equanimity and faith, the faculty of faith becomes dominant. Through equanimity, the mind is freed from diverse defilements; through liberation and faith, the faculty of faith becomes dominant. Because of being liberated, those phenomena become of one function; by way of one function, through development and faith, the faculty of faith becomes dominant. Because of being developed, they turn away from that towards a more sublime state; by way of turning away and faith, the faculty of faith becomes dominant. Because of having turned away, one relinquishes from there; by way of relinquishment and faith, the faculty of faith becomes dominant. Because of having relinquished, they cease from there; by way of cessation and faith, the faculty of faith becomes dominant. By way of cessation, there are two kinds of relinquishment: the relinquishment of abandonment and the relinquishment of plunging. One abandons defilements and aggregates; this is the relinquishment of abandonment. The mind plunges into the element of cessation, Nibbāna; this is the relinquishment of plunging. By way of cessation, these are the two kinds of relinquishment.
201. Các quyền nên được thấy theo ý nghĩa vượt trội như thế nào? Do sự tu tập tín quyền, dục được sanh khởi – do năng lực của dục, do năng lực của đức tin, tín quyền trở nên vượt trội. Do năng lực của dục, hân hoan được sanh khởi – do năng lực của hân hoan, do năng lực của đức tin, tín quyền trở nên vượt trội. Do năng lực của hân hoan, hỷ được sanh khởi – do năng lực của hỷ, do năng lực của đức tin, tín quyền trở nên vượt trội. Do năng lực của hỷ, khinh an được sanh khởi – do năng lực của khinh an, do năng lực của đức tin, tín quyền trở nên vượt trội. Do năng lực của khinh an, lạc được sanh khởi – do năng lực của lạc, do năng lực của đức tin, tín quyền trở nên vượt trội. Do năng lực của lạc, quang minh được sanh khởi – do năng lực của quang minh, do năng lực của đức tin, tín quyền trở nên vượt trội. Do năng lực của quang minh, sự xúc động được sanh khởi – do năng lực của sự xúc động, do năng lực của đức tin, tín quyền trở nên vượt trội. Sau khi xúc động, tâm được định tĩnh – do năng lực của định, do năng lực của đức tin, tín quyền trở nên vượt trội. Vị ấy khéo sách tấn tâm đã được định tĩnh như vậy – do năng lực của sự sách tấn, do năng lực của đức tin, tín quyền trở nên vượt trội. Vị ấy khéo xả đối với tâm đã được sách tấn như vậy – do năng lực của xả, do năng lực của đức tin, tín quyền trở nên vượt trội. Do năng lực của xả, tâm được giải thoát khỏi các loại phiền não khác nhau – do năng lực của sự giải thoát, do năng lực của đức tin, tín quyền trở nên vượt trội. Do đã được giải thoát, các pháp ấy có cùng một phận sự – theo ý nghĩa có cùng một phận sự, do năng lực của sự tu tập, do năng lực của đức tin, tín quyền trở nên vượt trội. Do đã được tu tập, chúng thoát ly khỏi điều ấy đến điều vi diệu hơn – do năng lực của sự thoát ly, do năng lực của đức tin, tín quyền trở nên vượt trội. Do đã thoát ly, vị ấy từ bỏ điều ấy – do năng lực của sự từ bỏ, do năng lực của đức tin, tín quyền trở nên vượt trội. Do đã từ bỏ, chúng đoạn diệt khỏi điều ấy – do năng lực của sự đoạn diệt, do năng lực của đức tin, tín quyền trở nên vượt trội. Do năng lực của sự đoạn diệt, có hai sự từ bỏ: sự từ bỏ do xả ly và sự từ bỏ do hướng nhập. ‘Vị ấy từ bỏ các phiền não và các uẩn’ – đó là sự từ bỏ do xả ly. ‘Tâm hướng nhập vào giới đoạn diệt, Niết-bàn’ – đó là sự từ bỏ do hướng nhập. Do năng lực của sự đoạn diệt, có hai sự từ bỏ này.
Assaddhiyassa pahānāya chando uppajjati…pe… assaddhiyapariḷāhassa pahānāya chando uppajjati… diṭṭhekaṭṭhānaṃ kilesānaṃ pahānāya chando uppajjati… oḷārikānaṃ kilesānaṃ pahānāya chando uppajjati… anusahagatānaṃ kilesānaṃ pahānāya chando uppajjati… sabbakilesānaṃ pahānāya chando uppajjati – chandavasena saddhāvasena saddhindriyaṃ adhimattaṃ hoti…pe… vīriyindriyassa bhāvanāya chando uppajjati…pe… kosajjassa pahānāya chando uppajjati… kosajjapariḷāhassa pahānāya chando uppajjati… diṭṭhekaṭṭhānaṃ kilesānaṃ pahānāya chando uppajjati…pe… sabbakilesānaṃ pahānāya chando uppajjati… satindriyassa bhāvanāya chando uppajjati…pe… pamādassa pahānāya chando uppajjati… pamādapariḷāhassa pahānāya chando uppajjati…pe… sabbakilesānaṃ pahānāya chando uppajjati… samādhindriyassa bhāvanāya chando uppajjati…pe… uddhaccassa pahānāya chando uppajjati uddhaccapariḷāhassa pahānāya chando uppajjati…pe… sabbakilesānaṃ pahānāya chando uppajjati… paññindriyassa bhāvanāya chando uppajjati…pe… avijjāya pahānāya chando uppajjati… avijjāpariḷāhassa pahānāya chando uppajjati… diṭṭhekaṭṭhānaṃ kilesānaṃ pahānāya chando uppajjati… oḷārikānaṃ kilesānaṃ pahānāya chando uppajjati… anusahagatānaṃ kilesānaṃ pahānāya chando uppajjati… sabbakilesānaṃ pahānāya chando uppajjati – chandavasena paññāvasena paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Chandavasena pāmojjaṃ uppajjati – pāmojjavasena paññāvasena paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Pāmojjavasena pīti uppajjati – pītivasena paññā vasena paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Pītivasena passaddhi uppajjati – passaddhivasena paññāvasena paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Passaddhivasena sukhaṃ uppajjati – sukhavasena paññāvasena paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Sukhavasena obhāso uppajjati – obhāsavasena paññāvasena paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Obhāsavasena saṃvego uppajjati – saṃvegavasena paññāvasena paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Saṃvejetvā cittaṃ samādahati – samādhivasena paññāvasena paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Tathāsamāhitaṃ cittaṃ sādhukaṃ paggaṇhāti – paggahavasena paññāvasena paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Tathāpaggahitaṃ cittaṃ sādhukaṃ ajjhupekkhati – upekkhāvasena paññāvasena paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Upekkhāvasena nānattakilesehi cittaṃ vimuccati – vimokkhavasena paññāvasena paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Vimuttattā te dhammā ekarasā honti – bhāvanāvasena † paññāvasena paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Bhāvitattā tato paṇītatare vivaṭṭanti – vivaṭṭanāvasena paññāvasena paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Vivaṭṭitattā tato vosajjati – vosaggavasena paññāvasena paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Vosajjitattā tato nirujjhanti – nirodhavasena paññāvasena paññindriyaṃ adhimattaṃ hoti. Nirodhavasena dve vosaggā – pariccāgavosaggo ca, pakkhandanavosaggo ca. Kilese ca khandhe ca pariccajatīti – pariccāgavosaggo. Nirodhanibbānadhātuyā cittaṃ pakkhandatīti – pakkhandanavosaggo. Nirodhavasena ime dve vosaggā. Evaṃ adhimattaṭṭhena indriyāni daṭṭhabbāni.
Desire arises for abandoning lack of faith… for abandoning the torment of lack of faith… for abandoning defilements that have a basis similar to wrong view… for abandoning gross defilements… for abandoning defilements accompanied by attachment and aversion… for abandoning all defilements—by the power of desire and by the power of faith, the faculty of faith becomes pre-eminent… Desire arises for developing the faculty of energy… for abandoning laziness… for abandoning the torment of laziness… for abandoning defilements that have a basis similar to wrong view… for abandoning all defilements… Desire arises for developing the faculty of mindfulness… for abandoning heedlessness… for abandoning the torment of heedlessness… for abandoning all defilements… Desire arises for developing the faculty of concentration… for abandoning restlessness… for abandoning the torment of restlessness… for abandoning all defilements… Desire arises for developing the faculty of wisdom… for abandoning ignorance… for abandoning the torment of ignorance… for abandoning defilements that have a basis similar to wrong view… for abandoning gross defilements… for abandoning defilements accompanied by attachment and aversion… for abandoning all defilements—by the power of desire and by the power of wisdom, the faculty of wisdom becomes pre-eminent. By the power of desire, joy arises—by the power of joy and by the power of wisdom, the faculty of wisdom becomes pre-eminent. By the power of joy, rapture arises—by the power of rapture and by the power of wisdom, the faculty of wisdom becomes pre-eminent. By the power of rapture, tranquility arises—by the power of tranquility and by the power of wisdom, the faculty of wisdom becomes pre-eminent. By the power of tranquility, happiness arises—by the power of happiness and by the power of wisdom, the faculty of wisdom becomes pre-eminent. By the power of happiness, illumination arises—by the power of illumination and by the power of wisdom, the faculty of wisdom becomes pre-eminent. By the power of illumination, a sense of urgency arises—by the power of a sense of urgency and by the power of wisdom, the faculty of wisdom becomes pre-eminent. Having been stirred to urgency, one concentrates the mind—by the power of concentration and by the power of wisdom, the faculty of wisdom becomes pre-eminent. One well exerts the mind thus concentrated—by the power of exertion and by the power of wisdom, the faculty of wisdom becomes pre-eminent. One well regards with equanimity the mind thus exerted—by the power of equanimity and by the power of wisdom, the faculty of wisdom becomes pre-eminent. By the power of equanimity, the mind is liberated from diverse defilements—by the power of liberation and by the power of wisdom, the faculty of wisdom becomes pre-eminent. Because of being liberated, those phenomena have a single function. By the power of development and by the power of wisdom, the faculty of wisdom becomes pre-eminent. Because of being developed, they turn away from that towards what is more sublime—by the power of turning away and by the power of wisdom, the faculty of wisdom becomes pre-eminent. Because of having turned away, one relinquishes—by the power of relinquishment and by the power of wisdom, the faculty of wisdom becomes pre-eminent. Because of having relinquished, they cease—by the power of cessation and by the power of wisdom, the faculty of wisdom becomes pre-eminent. By the power of cessation, there are two relinquishments: relinquishment by abandonment and relinquishment by plunging. ‘One abandons defilements and aggregates’; this is relinquishment by abandonment. ‘The mind plunges into the Nibbāna-element, which is cessation’; this is relinquishment by plunging. By the power of cessation, these are the two relinquishments. Thus, the faculties should be understood in the sense of being pre-eminent.
Dục sanh khởi để đoạn trừ sự không có đức tin… cho đến… dục sanh khởi để đoạn trừ sự nhiệt não do không có đức tin… dục sanh khởi để đoạn trừ các phiền não có cùng lập trường với tà kiến… dục sanh khởi để đoạn trừ các phiền não thô thiển… dục sanh khởi để đoạn trừ các phiền não đi kèm… dục sanh khởi để đoạn trừ tất cả phiền não – do năng lực của dục, do năng lực của đức tin, tín quyền trở nên vượt trội… cho đến… dục sanh khởi để tu tập tấn quyền… cho đến… dục sanh khởi để đoạn trừ sự biếng nhác… dục sanh khởi để đoạn trừ sự nhiệt não do biếng nhác… dục sanh khởi để đoạn trừ các phiền não có cùng lập trường với tà kiến… cho đến… dục sanh khởi để đoạn trừ tất cả phiền não… dục sanh khởi để tu tập niệm quyền… cho đến… dục sanh khởi để đoạn trừ sự dể duôi… dục sanh khởi để đoạn trừ sự nhiệt não do dể duôi… cho đến… dục sanh khởi để đoạn trừ tất cả phiền não… dục sanh khởi để tu tập định quyền… cho đến… dục sanh khởi để đoạn trừ sự trạo cử, dục sanh khởi để đoạn trừ sự nhiệt não do trạo cử… cho đến… dục sanh khởi để đoạn trừ tất cả phiền não… dục sanh khởi để tu tập tuệ quyền… cho đến… dục sanh khởi để đoạn trừ vô minh… dục sanh khởi để đoạn trừ sự nhiệt não do vô minh… dục sanh khởi để đoạn trừ các phiền não có cùng lập trường với tà kiến… dục sanh khởi để đoạn trừ các phiền não thô thiển… dục sanh khởi để đoạn trừ các phiền não đi kèm… dục sanh khởi để đoạn trừ tất cả phiền não – do năng lực của dục, do năng lực của trí tuệ, tuệ quyền trở nên vượt trội. Do năng lực của dục, hân hoan sanh khởi – do năng lực của hân hoan, do năng lực của trí tuệ, tuệ quyền trở nên vượt trội. Do năng lực của hân hoan, hỷ sanh khởi – do năng lực của hỷ, do năng lực của trí tuệ, tuệ quyền trở nên vượt trội. Do năng lực của hỷ, khinh an sanh khởi – do năng lực của khinh an, do năng lực của trí tuệ, tuệ quyền trở nên vượt trội. Do năng lực của khinh an, lạc sanh khởi – do năng lực của lạc, do năng lực của trí tuệ, tuệ quyền trở nên vượt trội. Do năng lực của lạc, ánh sáng sanh khởi – do năng lực của ánh sáng, do năng lực của trí tuệ, tuệ quyền trở nên vượt trội. Do năng lực của ánh sáng, sự kinh cảm sanh khởi – do năng lực của sự kinh cảm, do năng lực của trí tuệ, tuệ quyền trở nên vượt trội. Sau khi kinh cảm, vị ấy định tâm – do năng lực của định, do năng lực của trí tuệ, tuệ quyền trở nên vượt trội. Vị ấy khích lệ tốt đẹp tâm đã được định như vậy – do năng lực của sự khích lệ, do năng lực của trí tuệ, tuệ quyền trở nên vượt trội. Vị ấy xả quan tốt đẹp tâm đã được khích lệ như vậy – do năng lực của sự xả quan, do năng lực của trí tuệ, tuệ quyền trở nên vượt trội. Do năng lực của sự xả quan, tâm được giải thoát khỏi các phiền não khác nhau – do năng lực của sự giải thoát, do năng lực của trí tuệ, tuệ quyền trở nên vượt trội. Do đã được giải thoát, các pháp ấy trở thành có cùng một vị – do năng lực của sự tu tập, do năng lực của trí tuệ, tuệ quyền trở nên vượt trội. Do đã được tu tập, chúng quay khỏi từ trạng thái ấy đến trạng thái vi diệu hơn – do năng lực của sự quay khỏi, do năng lực của trí tuệ, tuệ quyền trở nên vượt trội. Do đã quay khỏi, chúng từ bỏ trạng thái ấy – do năng lực của sự từ bỏ, do năng lực của trí tuệ, tuệ quyền trở nên vượt trội. Do đã từ bỏ, chúng được đoạn diệt từ trạng thái ấy – do năng lực của sự đoạn diệt, do năng lực của trí tuệ, tuệ quyền trở nên vượt trội. Do năng lực của sự đoạn diệt, có hai sự từ bỏ: từ bỏ do xả ly và từ bỏ do hướng đến. ‘Từ bỏ do xả ly’ là vì từ bỏ các phiền não và các uẩn. ‘Từ bỏ do hướng đến’ là vì tâm hướng đến yếu tố đoạn diệt, Niết Bàn. Do năng lực của sự đoạn diệt, có hai sự từ bỏ này. Cần phải thấy rõ các quyền theo ý nghĩa vượt trội là như vậy.
Dutiyabhāṇavāro.
End of the Second Recitation Section.
Dứt Phẩm Tụng Thứ Hai.
Gha. adhiṭṭhānaṭṭhaniddeso
Gha. The Exposition on the Meaning of Determination
Gha. Phần giải về ý nghĩa quyết định
202. Kathaṃ adhiṭṭhānaṭṭhena indriyāni daṭṭhabbāni? Saddhindriyassa bhāvanāya chando uppajjati – chandavasena saddhāvasena saddhindriyaṃ adhiṭṭhāti. Chandavasena pāmojjaṃ uppajjati – pāmojjavasena saddhāvasena saddhindriyaṃ adhiṭṭhāti…pe… evaṃ adhiṭṭhānaṭṭhena indriyāni daṭṭhabbāni.
202. How are the faculties to be regarded in the sense of determination? For the development of the faculty of faith, desire arises. By means of desire and by means of faith, the faculty of faith is determined. By means of desire, joy arises. By means of joy and by means of faith, the faculty of faith is determined… Thus, the faculties are to be regarded in the sense of determination.
202. Cần phải thấy rõ các quyền theo ý nghĩa quyết định như thế nào? Dục sanh khởi để tu tập tín quyền – do năng lực của dục, do năng lực của đức tin, vị ấy quyết định tín quyền. Do năng lực của dục, hân hoan sanh khởi – do năng lực của hân hoan, do năng lực của đức tin, vị ấy quyết định tín quyền… cho đến… Cần phải thấy rõ các quyền theo ý nghĩa quyết định là như vậy.
Ṅa. pariyādānaṭṭhaniddeso
Ṅa. The Exposition on the Meaning of Consuming
Ṅa. Phần giải về ý nghĩa bao trùm
Kathaṃ pariyādānaṭṭhena indriyāni daṭṭhabbāni? Adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ assaddhiyaṃ pariyādiyati, assaddhiyapariḷāhaṃ pariyādiyati. Paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ kosajjaṃ pariyādiyati, kosajjapariḷāhaṃ pariyādiyati. Upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ pamādaṃ pariyādiyati, pamādapariḷāhaṃ pariyādiyati. Avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ uddhaccaṃ pariyādiyati, uddhaccapariḷāhaṃ pariyādiyati. Dassanaṭṭhena paññindriyaṃ avijjaṃ pariyādiyati, avijjāpariḷāhaṃ pariyādiyati. Nekkhamme pañcindriyāni kāmacchandaṃ pariyādiyanti. Abyāpāde pañcindriyāni byāpādaṃ pariyādiyanti. Ālokasaññāya pañcindriyāni thinamiddhaṃ pariyādiyanti. Avikkhepe pañcindriyāni uddhaccaṃ pariyādiyanti…pe… arahattamagge pañcindriyāni sabbakilese pariyādiyanti. Evaṃ pariyādānaṭṭhena indriyāni daṭṭhabbāni.
How are the faculties to be regarded in the sense of consuming? In the sense of resolving, the faculty of faith consumes faithlessness; it consumes the torment of faithlessness. In the sense of exertion, the faculty of energy consumes laziness; it consumes the torment of laziness. In the sense of establishment, the faculty of mindfulness consumes negligence; it consumes the torment of negligence. In the sense of non-distraction, the faculty of concentration consumes restlessness; it consumes the torment of restlessness. In the sense of seeing, the faculty of wisdom consumes ignorance; it consumes the torment of ignorance. In renunciation, the five faculties consume sensual desire. In non-ill will, the five faculties consume ill will. In the perception of light, the five faculties consume sloth and torpor. In non-distraction, the five faculties consume restlessness… In the path to Arahantship, the five faculties consume all defilements. Thus, the faculties are to be regarded in the sense of consuming.
Các quyền nên được thấy như thế nào theo ý nghĩa làm cho cạn kiệt? Theo ý nghĩa quyết định, tín quyền làm cho cạn kiệt sự không có đức tin, làm cho cạn kiệt sự thiêu đốt của việc không có đức tin. Theo ý nghĩa nỗ lực, tấn quyền làm cho cạn kiệt sự biếng nhác, làm cho cạn kiệt sự thiêu đốt của sự biếng nhác. Theo ý nghĩa an trú, niệm quyền làm cho cạn kiệt sự dể duôi, làm cho cạn kiệt sự thiêu đốt của sự dể duôi. Theo ý nghĩa không phân tán, định quyền làm cho cạn kiệt sự trạo cử, làm cho cạn kiệt sự thiêu đốt của sự trạo cử. Theo ý nghĩa thấy, tuệ quyền làm cho cạn kiệt vô minh, làm cho cạn kiệt sự thiêu đốt của vô minh. Ở trong sự xuất ly, năm quyền làm cho cạn kiệt dục tham. Ở trong sự không sân hận, năm quyền làm cho cạn kiệt sự sân hận. Ở trong tưởng về ánh sáng, năm quyền làm cho cạn kiệt sự hôn trầm và thụy miên. Ở trong sự không phân tán, năm quyền làm cho cạn kiệt sự trạo cử... cho đến... ở trong Thánh đạo A-la-hán, năm quyền làm cho cạn kiệt tất cả các phiền não. Như vậy, các quyền nên được thấy theo ý nghĩa làm cho cạn kiệt.
Ca. patiṭṭhāpakaṭṭhaniddeso
Ca. The Exposition on the Meaning of Establishing
Ca. Phần giải thích về ý nghĩa thiết lập.
203. Kathaṃ patiṭṭhāpakaṭṭhena indriyāni daṭṭhabbāni? Saddho saddhindriyaṃ adhimokkhe patiṭṭhāpeti, saddhassa saddhindriyaṃ adhimokkhe patiṭṭhāpeti. Vīriyavā vīriyindriyaṃ paggahe patiṭṭhāpeti, vīriyavato vīriyindriyaṃ paggahe patiṭṭhāpeti. Satimā satindriyaṃ upaṭṭhāne patiṭṭhāpeti, satimato satindriyaṃ upaṭṭhāne patiṭṭhāpeti. Samāhito samādhindriyaṃ avikkhepe patiṭṭhāpeti, samāhitassa samādhindriyaṃ avikkhepe patiṭṭhāpeti. Paññavā paññindriyaṃ dassane patiṭṭhāpeti, paññavato paññindriyaṃ dassane patiṭṭhāpeti. Yogāvacaro pañcindriyāni nekkhamme patiṭṭhāpeti, yogāvacarassa pañcindriyāni nekkhamme patiṭṭhāpenti. Yogāvacaro pañcindriyāni abyāpāde patiṭṭhāpeti, yogāvacarassa pañcindriyāni abyāpāde patiṭṭhāpenti. Yogāvacaro pañcindriyāni ālokasaññāya patiṭṭhāpeti, yogāvacarassa pañcindriyāni ālokasaññāya patiṭṭhāpenti. Yogāvacaro pañcindriyāni avikkhepe patiṭṭhāpeti, yogāvacarassa pañcindriyāni avikkhepe patiṭṭhāpenti…pe… yogāvacaro pañcindriyāni arahattamagge patiṭṭhāpeti, yogāvacarassa pañcindriyāni arahattamagge patiṭṭhāpenti. Evaṃ patiṭṭhāpakaṭṭhena indriyāni daṭṭhabbāni.
203. How should the faculties be regarded in the sense of establishing? A faithful person establishes the faculty of faith in conviction; for a faithful person, the faculty of faith is established in conviction. An energetic person establishes the faculty of energy in exertion; for an energetic person, the faculty of energy is established in exertion. A mindful person establishes the faculty of mindfulness in presence; for a mindful person, the faculty of mindfulness is established in presence. A concentrated person establishes the faculty of concentration in non-distraction; for a concentrated person, the faculty of concentration is established in non-distraction. A wise person establishes the faculty of wisdom in seeing; for a wise person, the faculty of wisdom is established in seeing. A yogāvacara establishes the five faculties in jhāna; for a yogāvacara, the five faculties are established in jhāna. A yogāvacara establishes the five faculties in non-ill will; for a yogāvacara, the five faculties are established in non-ill will. A yogāvacara establishes the five faculties in the perception of light; for a yogāvacara, the five faculties are established in the perception of light. A yogāvacara establishes the five faculties in non-distraction; for a yogāvacara, the five faculties are established in non-distraction… and so on… a yogāvacara establishes the five faculties in the path to arahantship; for a yogāvacara, the five faculties are established in the path to arahantship. Thus, the faculties should be regarded in the sense of establishing.
203. Nên được thấy các quyền theo ý nghĩa thiết lập là như thế nào? Người có đức tin thiết lập tín quyền trong sự quyết đoán, tín quyền của người có đức tin được thiết lập trong sự quyết đoán. Người có tinh tấn thiết lập tấn quyền trong sự nỗ lực, tấn quyền của người có tinh tấn được thiết lập trong sự nỗ lực. Người có chánh niệm thiết lập niệm quyền trong sự hiện khởi, niệm quyền của người có chánh niệm được thiết lập trong sự hiện khởi. Người có định tĩnh thiết lập định quyền trong sự không phân tán, định quyền của người có định tĩnh được thiết lập trong sự không phân tán. Người có trí tuệ thiết lập tuệ quyền trong sự thấy, tuệ quyền của người có trí tuệ được thiết lập trong sự thấy. Vị hành giả thiết lập năm quyền trong sự xuất ly, năm quyền của vị hành giả được thiết lập trong sự xuất ly. Vị hành giả thiết lập năm quyền trong vô sân, năm quyền của vị hành giả được thiết lập trong vô sân. Vị hành giả thiết lập năm quyền trong quang tưởng, năm quyền của vị hành giả được thiết lập trong quang tưởng. Vị hành giả thiết lập năm quyền trong sự không phân tán, năm quyền của vị hành giả được thiết lập trong sự không phân tán ... vân vân ... vị hành giả thiết lập năm quyền trong A-la-hán đạo, năm quyền của vị hành giả được thiết lập trong A-la-hán đạo. Như vậy, các quyền nên được thấy theo ý nghĩa thiết lập.
Suttantaniddeso catuttho.
The fourth exposition of the Suttanta.
Dứt phần giải thích kinh thứ tư.
5. Indriyasamodhānaṃ
5. 5. The Combination of the Faculties
5. Sự kết hợp các quyền.
204. Puthujjano samādhiṃ bhāvento katihākārehi upaṭṭhānakusalo hoti? Sekkho samādhiṃ bhāvento katihākārehi upaṭṭhānakusalo hoti? Vītarāgo samādhiṃ bhāvento katihākārehi upaṭṭhānakusalo hoti? Puthujjano samādhiṃ bhāvento sattahi ākārehi upaṭṭhānakusalo hoti. Sekkho samādhiṃ bhāvento aṭṭhahi ākārehi upaṭṭhānakusalo hoti. Vītarāgo samādhiṃ bhāvento dasahi ākārehi upaṭṭhānakusalo hoti.
204. In how many ways is an ordinary person skilled in manifestation when developing concentration? In how many ways is a trainee skilled in manifestation when developing concentration? In how many ways is one who is free from passion skilled in manifestation when developing concentration? An ordinary person developing concentration is skilled in manifestation in seven ways. A trainee developing concentration is skilled in manifestation in eight ways. One who is free from passion developing concentration is skilled in manifestation in ten ways.
204. Vị phàm phu khi tu tập định, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng bao nhiêu cách thức? Vị hữu học khi tu tập định, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng bao nhiêu cách thức? Bậc đã ly tham khi tu tập định, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng bao nhiêu cách thức? Vị phàm phu khi tu tập định, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng bảy cách thức. Vị hữu học khi tu tập định, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng tám cách thức. Bậc đã ly tham khi tu tập định, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng mười cách thức.
Puthujjano samādhiṃ bhāvento katamehi sattahākārehi upaṭṭhānakusalo hoti? Āvajjitattā ārammaṇūpaṭṭhānakusalo hoti, samathanimittūpaṭṭhānakusalo hoti, paggahanimittūpaṭṭhānakusalo hoti, avikkhepūpaṭṭhānakusalo hoti, obhāsūpaṭṭhānakusalo hoti, sampahaṃsanūpaṭṭhānakusalo hoti, upekkhūpaṭṭhānakusalo hoti – puthujjano samādhiṃ bhāvento imehi sattahi ākārehi upaṭṭhānakusalo hoti.
In what seven ways is an ordinary person skilled in manifestation when developing concentration? By adverting, one is skilled in the manifestation of the object; skilled in the manifestation of the sign of serenity; skilled in the manifestation of the sign of exertion; skilled in the manifestation of non-distraction; skilled in the manifestation of illumination; skilled in the manifestation of gladdening; skilled in the manifestation of equanimity—an ordinary person developing concentration is skilled in manifestation in these seven ways.
Vị phàm phu khi tu tập định, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng bảy cách thức nào? Do đã hướng tâm nên là người thiện xảo trong sự hiện khởi của đối tượng, là người thiện xảo trong sự hiện khởi của tướng tịnh chỉ, là người thiện xảo trong sự hiện khởi của tướng sách tấn, là người thiện xảo trong sự hiện khởi của sự không phân tán, là người thiện xảo trong sự hiện khởi của ánh sáng, là người thiện xảo trong sự hiện khởi của sự hân hoan, là người thiện xảo trong sự hiện khởi của sự xả ly – vị phàm phu khi tu tập định, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng bảy cách thức này.
Sekkho samādhiṃ bhāvento katamehi aṭṭhahi ākārehi upaṭṭhānakusalo hoti? Āvajjitattā ārammaṇūpaṭṭhānakusalo hoti, samathanimittūpaṭṭhānakusalo hoti, paggahanimittūpaṭṭhānakusalo hoti, avikkhepūpaṭṭhānakusalo hoti, obhāsūpaṭṭhānakusalo hoti, sampahaṃsanūpaṭṭhānakusalo hoti, upekkhūpaṭṭhānakusalo hoti, ekattūpaṭṭhānakusalo hoti – sekkho samādhiṃ bhāvento imehi aṭṭhahi ākārehi upaṭṭhānakusalo hoti.
In what eight ways is a trainee skilled in manifestation when developing concentration? By adverting, one is skilled in the manifestation of the object; skilled in the manifestation of the sign of serenity; skilled in the manifestation of the sign of exertion; skilled in the manifestation of non-distraction; skilled in the manifestation of illumination; skilled in the manifestation of gladdening; skilled in the manifestation of equanimity; skilled in the manifestation of oneness—a trainee developing concentration is skilled in manifestation in these eight ways.
Vị hữu học khi tu tập định, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng tám cách thức nào? Do đã hướng tâm nên là người thiện xảo trong sự hiện khởi của đối tượng, là người thiện xảo trong sự hiện khởi của tướng tịnh chỉ, là người thiện xảo trong sự hiện khởi của tướng sách tấn, là người thiện xảo trong sự hiện khởi của sự không phân tán, là người thiện xảo trong sự hiện khởi của ánh sáng, là người thiện xảo trong sự hiện khởi của sự hân hoan, là người thiện xảo trong sự hiện khởi của sự xả ly, là người thiện xảo trong sự hiện khởi của sự nhất tâm – vị hữu học khi tu tập định, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng tám cách thức này.
Vītarāgo samādhiṃ bhāvento katamehi dasahi ākārehi upaṭṭhānakusalo hoti? Āvajjitattā ārammaṇūpaṭṭhānakusalo hoti…pe… ekattūpaṭṭhānakusalo hoti, ñāṇūpaṭṭhānakusalo hoti, vimuttūpaṭṭhānakusalo hoti – vītarāgo samādhiṃ bhāvento imehi dasahi ākārehi upaṭṭhānakusalo hoti.
In what ten ways is one who is free from passion skilled in manifestation when developing concentration? By adverting, one is skilled in the manifestation of the object… skilled in the manifestation of oneness; skilled in the manifestation of knowledge; skilled in the manifestation of liberation—one who is free from passion developing concentration is skilled in manifestation in these ten ways.
Bậc đã ly tham khi tu tập định, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng mười cách thức nào? Do đã hướng tâm nên là người thiện xảo trong sự hiện khởi của đối tượng ... vân vân ... là người thiện xảo trong sự hiện khởi của sự nhất tâm, là người thiện xảo trong sự hiện khởi của trí tuệ, là người thiện xảo trong sự hiện khởi của sự giải thoát – bậc đã ly tham khi tu tập định, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng mười cách thức này.
205. Puthujjano vipassanaṃ bhāvento katihākārehi upaṭṭhānakusalo hoti, katihākārehi anupaṭṭhānakusalo hoti? Sekkho vipassanaṃ bhāvento katihākārehi upaṭṭhānakusalo hoti, katihākārehi anupaṭṭhānakusalo hoti? Vītarāgo vipassanaṃ bhāvento katihākārehi upaṭṭhānakusalo hoti, katihākārehi anupaṭṭhānakusalo hoti?
205. When an ordinary person is developing insight, in how many ways is he skilled in attending, and in how many ways is he unskilled in attending? When a trainee is developing insight, in how many ways is he skilled in attending, and in how many ways is he unskilled in attending? When one who is free from lust is developing insight, in how many ways is he skilled in attending, and in how many ways is he unskilled in attending?
205. Vị phàm phu khi tu tập minh sát, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng bao nhiêu cách thức, là người thiện xảo trong sự không hiện khởi bằng bao nhiêu cách thức? Vị hữu học khi tu tập minh sát, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng bao nhiêu cách thức, là người thiện xảo trong sự không hiện khởi bằng bao nhiêu cách thức? Bậc đã ly tham khi tu tập minh sát, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng bao nhiêu cách thức, là người thiện xảo trong sự không hiện khởi bằng bao nhiêu cách thức?
Puthujjano vipassanaṃ bhāvento navahi ākārehi upaṭṭhānakusalo hoti, navahi ākārehi anupaṭṭhānakusalo hoti. Sekkho vipassanaṃ bhāvento dasahi ākārehi upaṭṭhānakusalo hoti, dasahi ākārehi anupaṭṭhānakusalo hoti. Vītarāgo vipassanaṃ bhāvento dvādasahi ākārehi upaṭṭhānakusalo hoti, dvādasahi ākārehi anupaṭṭhānakusalo hoti.
When an ordinary person is developing insight, he is skilled in attending in nine ways, and he is unskilled in attending in nine ways. When a trainee is developing insight, he is skilled in attending in ten ways, and he is unskilled in attending in ten ways. When one who is free from lust is developing insight, he is skilled in attending in twelve ways, and he is unskilled in attending in twelve ways.
Vị phàm phu khi tu tập minh sát, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng chín cách thức, là người thiện xảo trong sự không hiện khởi bằng chín cách thức. Vị hữu học khi tu tập minh sát, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng mười cách thức, là người thiện xảo trong sự không hiện khởi bằng mười cách thức. Bậc đã ly tham khi tu tập minh sát, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng mười hai cách thức, là người thiện xảo trong sự không hiện khởi bằng mười hai cách thức.
Puthujjano vipassanaṃ bhāvento katamehi navahi ākārehi upaṭṭhānakusalo hoti, katamehi navahi ākārehi anupaṭṭhānakusalo hoti? Aniccato upaṭṭhānakusalo hoti, niccato anupaṭṭhānakusalo hoti. Dukkhato upaṭṭhānakusalo hoti, sukhato anupaṭṭhānakusalo hoti. Anattato upaṭṭhānakusalo hoti, attato anupaṭṭhānakusalo hoti. Khayato upaṭṭhānakusalo hoti, ghanato anupaṭṭhānakusalo hoti. Vayato upaṭṭhānakusalo hoti, āyūhanānupaṭṭhānakusalo hoti. Vipariṇāmūpaṭṭhānakusalo hoti, dhuvato anupaṭṭhānakusalo hoti. Animittūpaṭṭhānakusalo hoti, nimittānupaṭṭhānakusalo hoti. Appaṇihitūpaṭṭhānakusalo hoti, paṇidhianupaṭṭhānakusalo † hoti. Suññatūpaṭṭhānakusalo hoti, abhinivesānupaṭṭhānakusalo hoti – puthujjano vipassanaṃ bhāvento imehi navahi ākārehi upaṭṭhānakusalo hoti, imehi navahi ākārehi anupaṭṭhānakusalo hoti.
When an ordinary person is developing insight, in which nine ways is he skilled in attending, and in which nine ways is he unskilled in attending? He is skilled in attending to impermanence, unskilled in attending to permanence; skilled in attending to suffering, unskilled in attending to happiness; skilled in attending to non-self, unskilled in attending to self; skilled in attending to destruction, unskilled in attending to solidity; skilled in attending to vanishing, unskilled in attending to accumulation; skilled in attending to change, unskilled in attending to stability; skilled in attending to the signless, unskilled in attending to the sign; skilled in attending to the desireless, unskilled in attending to aspiration; skilled in attending to emptiness, unskilled in attending to adherence. When an ordinary person is developing insight, he is skilled in attending in these nine ways, and he is unskilled in attending in these nine ways.
Vị phàm phu khi tu tập minh sát, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng chín cách thức nào, là người thiện xảo trong sự không hiện khởi bằng chín cách thức nào? Là người thiện xảo trong sự hiện khởi theo khía cạnh vô thường, là người thiện xảo trong sự không hiện khởi theo khía cạnh thường còn. Là người thiện xảo trong sự hiện khởi theo khía cạnh khổ, là người thiện xảo trong sự không hiện khởi theo khía cạnh lạc. Là người thiện xảo trong sự hiện khởi theo khía cạnh vô ngã, là người thiện xảo trong sự không hiện khởi theo khía cạnh tự ngã. Là người thiện xảo trong sự hiện khởi theo khía cạnh hủy diệt, là người thiện xảo trong sự không hiện khởi theo khía cạnh kiên cố. Là người thiện xảo trong sự hiện khởi theo khía cạnh hoại diệt, là người thiện xảo trong sự không hiện khởi của sự tích lũy. Là người thiện xảo trong sự hiện khởi của sự biến đổi, là người thiện xảo trong sự không hiện khởi theo khía cạnh thường hằng. Là người thiện xảo trong sự hiện khởi của vô tướng, là người thiện xảo trong sự không hiện khởi của tướng. Là người thiện xảo trong sự hiện khởi của vô nguyện, là người thiện xảo trong sự không hiện khởi của sự mong cầu. Là người thiện xảo trong sự hiện khởi của tính không, là người thiện xảo trong sự không hiện khởi của sự chấp thủ – vị phàm phu khi tu tập minh sát, là người thiện xảo trong sự hiện khởi bằng chín cách thức này, là người thiện xảo trong sự không hiện khởi bằng chín cách thức này.
206. Sekkho vipassanaṃ bhāvento katamehi dasahi ākārehi upaṭṭhānakusalo hoti, katamehi dasahi ākārehi anupaṭṭhānakusalo hoti? Aniccato upaṭṭhānakusalo hoti, niccato anupaṭṭhānakusalo hoti…pe… suññatūpaṭṭhānakusalo hoti, abhinivesānūpaṭṭhānakusalo hoti. Ñāṇūpaṭṭhānakusalo hoti, añāṇaanupaṭṭhānakusalo hoti – sekkho vipassanaṃ bhāvento imehi dasahi ākārehi upaṭṭhānakusalo hoti, imehi dasahi ākārehi anupaṭṭhānakusalo hoti.
206. When a trainee is developing insight, in which ten ways is he skilled in attending, and in which ten ways is he skilled in non-attending? He is skilled in attending as impermanent; he is skilled in non-attending as permanent... he is skilled in attending as empty; he is skilled in non-attending as adherence. He is skilled in attending as knowledge; he is skilled in non-attending as ignorance. When a trainee is developing insight, he is skilled in attending in these ten ways, and he is skilled in non-attending in these ten ways.
206. Vị hữu học khi tu tập thiền minh sát, do mười phương diện nào trở nên thiện xảo trong sự hiện khởi, do mười phương diện nào trở nên thiện xảo trong sự không hiện khởi? Vị ấy thiện xảo trong sự hiện khởi theo khía cạnh vô thường, thiện xảo trong sự không hiện khởi theo khía cạnh thường hằng... v.v... thiện xảo trong sự hiện khởi theo khía cạnh tánh không, thiện xảo trong sự không hiện khởi của sự chấp thủ. Vị ấy thiện xảo trong sự hiện khởi của trí tuệ, thiện xảo trong sự không hiện khởi của vô trí. Vị hữu học khi tu tập thiền minh sát, do mười phương diện này trở nên thiện xảo trong sự hiện khởi, do mười phương diện này trở nên thiện xảo trong sự không hiện khởi.
Vītarāgo vipassanaṃ bhāvento katamehi dvādasahi ākārehi upaṭṭhānakusalo hoti, katamehi dvādasahi ākārehi anupaṭṭhānakusalo hoti? Aniccato upaṭṭhānakusalo hoti, niccato anupaṭṭhānakusalo hoti…pe… ñāṇūpaṭṭhānakusalo hoti, añāṇānupaṭṭhānakusalo hoti. Visaññogūpaṭṭhānakusalo hoti, saññogānupaṭṭhānakusalo hoti. Nirodhūpaṭṭhānakusalo hoti, saṅkhārānupaṭṭhānakusalo hoti – vītarāgo vipassanaṃ bhāvento imehi dvādasahi ākārehi upaṭṭhānakusalo hoti, imehi dvādasahi ākārehi anupaṭṭhānakusalo hoti.
When one who is free from lust is developing insight, in which twelve ways is he skilled in attending, and in which twelve ways is he skilled in non-attending? He is skilled in attending as impermanent; he is skilled in non-attending as permanent... he is skilled in attending as knowledge; he is skilled in non-attending as ignorance. He is skilled in attending as disjunction; he is skilled in non-attending as conjunction. He is skilled in attending as cessation; he is skilled in non-attending as formations. When one who is free from lust is developing insight, he is skilled in attending in these twelve ways, and he is skilled in non-attending in these twelve ways.
Bậc đã ly tham khi tu tập thiền minh sát, do mười hai phương diện nào trở nên thiện xảo trong sự hiện khởi, do mười hai phương diện nào trở nên thiện xảo trong sự không hiện khởi? Vị ấy thiện xảo trong sự hiện khởi theo khía cạnh vô thường, thiện xảo trong sự không hiện khởi theo khía cạnh thường hằng... v.v... thiện xảo trong sự hiện khởi của trí tuệ, thiện xảo trong sự không hiện khởi của vô trí. Vị ấy thiện xảo trong sự hiện khởi của sự ly hệ, thiện xảo trong sự không hiện khởi của sự tương ưng. Vị ấy thiện xảo trong sự hiện khởi của sự diệt, thiện xảo trong sự không hiện khởi của các pháp hữu vi. Bậc đã ly tham khi tu tập thiền minh sát, do mười hai phương diện này trở nên thiện xảo trong sự hiện khởi, do mười hai phương diện này trở nên thiện xảo trong sự không hiện khởi.
Āvajjitattā ārammaṇūpaṭṭhānakusalavasena indriyāni samodhāneti, gocarañca pajānāti, samatthañca paṭivijjhati…pe… dhamme samodhāneti, gocarañca pajānāti, samatthañca paṭivijjhati. Indriyāni samodhānetīti kathaṃ indriyāni samodhāneti? Adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ samodhāneti…pe… samathanimittūpaṭṭhānakusalavasena, paggahanimittūpaṭṭhānakusalavasena, avikkhepūpaṭṭhānakusalavasena, obhāsūpaṭṭhānakusalavasena, sampahaṃsanūpaṭṭhānakusalavasena, upekkhūpaṭṭhānakusalavasena, ekattūpaṭṭhānakusalavasena, ñāṇūpaṭṭhānakusalavasena, vimuttūpaṭṭhānakusalavasena.
Because of having adverted, by means of skill in attending to the object, one harmonizes the faculties, knows the range, and penetrates what is suitable... one harmonizes the dhammas, knows the range, and penetrates what is suitable. 'One harmonizes the faculties': how does one harmonize the faculties? By the meaning of conviction, one harmonizes the faculty of faith... by means of skill in attending to the sign of serenity, by means of skill in attending to the sign of exertion, by means of skill in attending to non-distraction, by means of skill in attending to radiance, by means of skill in attending to gladdening, by means of skill in attending to unification, by means of skill in attending to knowledge, by means of skill in attending to liberation.
Do đã hướng tâm, vị ấy hợp nhất các quyền bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi của đối tượng, biết rõ cảnh giới, và thâm nhập sự quân bình... v.v... vị ấy hợp nhất các pháp, biết rõ cảnh giới, và thâm nhập sự quân bình. Trong câu 'hợp nhất các quyền', vị ấy hợp nhất các quyền như thế nào? Vị ấy hợp nhất tín quyền với ý nghĩa quyết đoán... v.v... bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi của tướng tịnh chỉ, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi của tướng sách tấn, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi của sự không tán loạn, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi của ánh sáng, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi của sự hân hoan, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi của sự xả, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi của sự nhất tâm, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi của trí tuệ, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi của sự giải thoát.
Aniccato upaṭṭhānakusalavasena, niccato anupaṭṭhānakusalavasena, dukkhato upaṭṭhānakusalavasena, sukhato anupaṭṭhānakusalavasena, anattato upaṭṭhānakusalavasena, attato anupaṭṭhānakusalavasena, khayato upaṭṭhānakusalavasena, ghanato anupaṭṭhānakusalavasena, vayato upaṭṭhānakusalavasena, āyūhanānupaṭṭhānakusalavasena, vipariṇāmūpaṭṭhānakusalavasena, dhuvato anupaṭṭhānakusalavasena, animittūpaṭṭhānakusalavasena, nimittānupaṭṭhānakusalavasena, appaṇihitūpaṭṭhānakusalavasena, paṇidhianupaṭṭhānakusalavasena, suññatūpaṭṭhānakusalavasena, abhinivesānupaṭṭhānakusalavasena, ñāṇūpaṭṭhānakusalavasena, añāṇānupaṭṭhānakusalavasena, visaññogūpaṭṭhānakusalavasena, saññogānupaṭṭhānakusalavasena, nirodhūpaṭṭhānakusalavasena, saṅkhārānupaṭṭhānakusalavasena indriyāni samodhāneti, gocarañca pajānāti, samatthañca paṭivijjhati.
By skill in contemplating as impermanent, and skill in not contemplating as permanent; by skill in contemplating as suffering, and skill in not contemplating as pleasure; by skill in contemplating as non-self, and skill in not contemplating as self; by skill in contemplating as destruction, and skill in not contemplating as solidity; by skill in contemplating as perishing, and skill in not contemplating as accumulation; by skill in contemplating as change, and skill in not contemplating as stability; by skill in contemplating as the signless, and skill in not contemplating the sign; by skill in contemplating as the desireless, and skill in not contemplating desire; by skill in contemplating as emptiness, and skill in not contemplating adherence; by skill in contemplating as knowledge, and skill in not contemplating as ignorance; by skill in contemplating as disjunction, and skill in not contemplating as conjunction; by skill in contemplating as cessation, and skill in not contemplating as formations—one harmonizes the faculties, distinctly knows their range, and penetrates to competence.
Bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi theo khía cạnh vô thường, bằng phương cách thiện xảo trong sự không hiện khởi theo khía cạnh thường hằng, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi theo khía cạnh khổ, bằng phương cách thiện xảo trong sự không hiện khởi theo khía cạnh lạc, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi theo khía cạnh vô ngã, bằng phương cách thiện xảo trong sự không hiện khởi theo khía cạnh ngã, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi theo khía cạnh hoại diệt, bằng phương cách thiện xảo trong sự không hiện khởi theo khía cạnh kiên cố, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi theo khía cạnh biến mất, bằng phương cách thiện xảo trong sự không hiện khởi của sự tạo tác, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi của sự biến hoại, bằng phương cách thiện xảo trong sự không hiện khởi theo khía cạnh thường còn, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi của vô tướng, bằng phương cách thiện xảo trong sự không hiện khởi của tướng, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi của vô nguyện, bằng phương cách thiện xảo trong sự không hiện khởi của sự mong cầu, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi của tánh không, bằng phương cách thiện xảo trong sự không hiện khởi của sự chấp thủ, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi của trí tuệ, bằng phương cách thiện xảo trong sự không hiện khởi của vô trí, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi của sự ly hệ, bằng phương cách thiện xảo trong sự không hiện khởi của sự tương ưng, bằng phương cách thiện xảo trong sự hiện khởi của sự diệt, bằng phương cách thiện xảo trong sự không hiện khởi của các pháp hữu vi, vị ấy hợp nhất các quyền, biết rõ cảnh giới, và thâm nhập sự quân bình.
207. Catusaṭṭhiyā ākārehi tiṇṇannaṃ indriyānaṃ vasībhāvatāpaññā āsavānaṃ khaye ñāṇaṃ. Katamesaṃ tiṇṇannaṃ indriyānaṃ? Anaññātaññassāmītindriyassa, aññindriyassa, aññātāvindriyassa.
207. In sixty-four aspects, the wisdom that is mastery over the three faculties is the knowledge of the destruction of the taints. Which three faculties? The faculty 'I shall know the as-yet-unknown,' the faculty of final knowledge, and the faculty of one who has final knowledge.
207. Trí tuệ về sự thuần thục của ba quyền qua sáu mươi bốn phương diện là trí tuệ về sự đoạn tận các lậu hoặc. Của ba quyền nào? Của vị tri quyền, của dĩ tri quyền, của cụ tri quyền.
Anaññātaññassāmītindriyaṃ kati ṭhānāni gacchati? Aññindriyaṃ kati ṭhānāni gacchati? Aññātāvindriyaṃ kati ṭhānāni gacchati? Anaññātaññassāmītindriyaṃ ekaṃ ṭhānaṃ gacchati – sotāpattimaggaṃ. Aññindriyaṃ cha ṭhānāni gacchati – sotāpattiphalaṃ, sakadāgāmimaggaṃ, sakadāgāmiphalaṃ, anāgāmimaggaṃ, anāgāmiphalaṃ, arahattamaggaṃ. Aññātāvindriyaṃ ekaṃ ṭhānaṃ gacchati – arahattaphalaṃ.
To how many states does the faculty 'I shall know the as-yet-unknown' proceed? To how many states does the faculty of final knowledge proceed? To how many states does the faculty of one who has final knowledge proceed? The faculty 'I shall know the as-yet-unknown' proceeds to one state—the path of stream-entry. The faculty of final knowledge proceeds to six states: the fruit of stream-entry, the path of once-returning, the fruit of once-returning, the path of non-returning, the fruit of non-returning, and the path of arahantship. The faculty of one who has final knowledge proceeds to one state—the fruit of arahantship.
Vị tri quyền đi đến bao nhiêu vị trí? Dĩ tri quyền đi đến bao nhiêu vị trí? Cụ tri quyền đi đến bao nhiêu vị trí? Vị tri quyền đi đến một vị trí — đó là Dự lưu đạo. Dĩ tri quyền đi đến sáu vị trí — đó là Dự lưu quả, Nhất lai đạo, Nhất lai quả, Bất lai đạo, Bất lai quả và A-la-hán đạo. Cụ tri quyền đi đến một vị trí — đó là A-la-hán quả.
Sotāpattimaggakkhaṇe anaññātaññassāmītindriyassa saddhindriyaṃ adhimokkhaparivāraṃ hoti, vīriyindriyaṃ paggahaparivāraṃ hoti, satindriyaṃ upaṭṭhānaparivāraṃ hoti, samādhindriyaṃ avikkhepaparivāraṃ hoti, paññindriyaṃ dassanaparivāraṃ hoti, manindriyaṃ vijānanaparivāraṃ hoti, somanassindriyaṃ abhisandanaparivāraṃ hoti, jīvitindriyaṃ pavattasantatādhipateyyaparivāraṃ hoti. Sotāpattimaggakkhaṇe jātā dhammā, ṭhapetvā cittasamuṭṭhānaṃ rūpaṃ, sabbeva kusalā honti, sabbeva anāsavā honti, sabbeva niyyānikā honti, sabbeva apacayagāmino honti, sabbeva lokuttarā honti, sabbeva nibbānārammaṇā honti. Sotāpattimaggakkhaṇe anaññātaññassāmītindriyassa imāni aṭṭhindriyāni sahajātaparivārā honti, aññamaññaparivārā honti, nissayaparivārā honti, sampayuttaparivārā honti, sahagatā honti, sahajātā honti, saṃsaṭṭhā honti, sampayuttā honti. Teva tassa ākārā ceva honti parivārā ca.
At the moment of the path of stream-entry, of the faculty of "I shall know the as yet unknown," the faculty of faith is accompanied by conviction, the faculty of energy is accompanied by exertion, the faculty of mindfulness is accompanied by establishment, the faculty of concentration is accompanied by non-distraction, the faculty of wisdom is accompanied by seeing, the faculty of mind is accompanied by knowing, the faculty of joy is accompanied by suffusion, and the faculty of life is accompanied by sovereignty over the continuity of occurrence. At the moment of the path of stream-entry, all phenomena that have arisen—except for mind-produced form—are wholesome, taintless, leading to liberation, leading to non-accumulation, supramundane, and have Nibbāna as their object. At the moment of the path of stream-entry, these eight faculties are co-arisen accompaniments of the faculty of "I shall know the as yet unknown"; they are mutual accompaniments, dependence accompaniments, associated accompaniments; they are co-existent, co-arisen, conjoined, and associated. These are both its aspects and its accompaniments.
Trong khoảnh khắc của Dự lưu đạo, đối với vị tri quyền, tín quyền có sự quyết đoán làm tùy tùng, tấn quyền có sự sách tấn làm tùy tùng, niệm quyền có sự hiện khởi làm tùy tùng, định quyền có sự không tán loạn làm tùy tùng, tuệ quyền có sự thấy làm tùy tùng, ý quyền có sự biết làm tùy tùng, hỷ quyền có sự tràn ngập làm tùy tùng, mạng quyền có sự chủ trì dòng tương tục làm tùy tùng. Trong khoảnh khắc của Dự lưu đạo, các pháp đã sanh khởi, ngoại trừ sắc do tâm sanh, tất cả đều là thiện, tất cả đều là vô lậu, tất cả đều là pháp đưa ra khỏi (vòng luân hồi), tất cả đều hướng đến sự không tích lũy, tất cả đều là siêu thế, tất cả đều lấy Niết-bàn làm đối tượng. Trong khoảnh khắc của Dự lưu đạo, đối với vị tri quyền, tám quyền này có sự đồng sanh làm tùy tùng, có sự tương hỗ làm tùy tùng, có sự y chỉ làm tùy tùng, có sự tương ưng làm tùy tùng, chúng là đồng hành, đồng sanh, hòa trộn, tương ưng. Chính chúng vừa là các phương diện của quyền ấy, vừa là các tùy tùng.
Sotāpattiphalakkhaṇe…pe… arahattaphalakkhaṇe aññātāvindriyassa saddhindriyaṃ adhimokkhaparivāraṃ hoti…pe… jīvitindriyaṃ pavattasantatādhipateyyaparivāraṃ hoti. Arahattaphalakkhaṇe jātā dhammā sabbeva abyākatā honti, ṭhapetvā cittasamuṭṭhānaṃ rūpaṃ sabbeva anāsavā honti, sabbeva lokuttarā honti, sabbeva nibbānārammaṇā honti. Arahattaphalakkhaṇe aññātāvindriyassa imāni aṭṭhindriyāni sahajātaparivārā honti. Teva tassa ākārā ceva honti parivārā ca. Iti imāni aṭṭha aṭṭhakāni catusaṭṭhi honti.
At the moment of the fruit of stream-entry... up to the moment of the fruit of arahantship, of the faculty of the knower, the faculty of faith is accompanied by conviction... up to the life faculty, which is accompanied by sovereignty over the continuity of occurrence. At the moment of the fruit of arahantship, all arisen phenomena are indeterminate; except for mind-produced form, all are without taints, all are supramundane, all have Nibbāna as their object. At the moment of the fruit of arahantship, these eight faculties are co-arisen accompaniments of the faculty of the knower. These are both its aspects and its accompaniments. Thus, these eight octads are sixty-four.
Trong sát-na quả Dự lưu... cho đến... trong sát-na quả A-la-hán, đối với tận tri quyền, tín quyền là tùy tùng về sự quyết đoán... cho đến... mạng quyền là tùy tùng về sự làm chủ dòng tương tục đang diễn tiến. Trong sát-na quả A-la-hán, các pháp đã sanh khởi tất cả đều là vô ký. Ngoại trừ sắc do tâm sanh, tất cả đều là vô lậu, tất cả đều là siêu thế, tất cả đều lấy Niết-bàn làm đối tượng. Trong sát-na quả A-la-hán, đối với tận tri quyền, tám quyền này là tùy tùng đồng sanh. Chính chúng vừa là trạng thái của quyền ấy, vừa là tùy tùng. Như vậy, tám nhóm tám này là sáu mươi bốn.
Āsavāti katame te āsavā? Kāmāsavo, bhavāsavo, diṭṭhāsavo, avijjāsavo. Katthete āsavā khīyanti †? Sotāpattimaggena anavaseso diṭṭhāsavo khīyati. Apāyagamanīyo kāmāsavo khīyati, apāyagamanīyo bhavāsavo khīyati, apāyagamanīyo avijjāsavo khīyati. Etthete āsavā khīyanti. Sakadāgāmimaggena oḷāriko kāmāsavo khīyati, tadekaṭṭho bhavāsavo khīyati, tadekaṭṭho avijjāsavo khīyati. Etthete āsavā khīyanti. Anāgāmimaggena anavaseso kāmāsavo khīyati, tadekaṭṭho bhavāsavo khīyati, tadekaṭṭho avijjāsavo khīyati. Etthete āsavā khīyanti. Arahattamaggena anavaseso bhavāsavo khīyati, anavaseso avijjāsavo khīyati. Etthete āsavā khīyanti.
Regarding the taints, what are those taints? The taint of sensual desire, the taint of existence, the taint of views, and the taint of ignorance. Where are these taints destroyed? By the path of stream-entry, the taint of views is completely destroyed. The taint of sensual desire that leads to the lower realms is destroyed, the taint of existence that leads to the lower realms is destroyed, and the taint of ignorance that leads to the lower realms is destroyed. Herein these taints are destroyed. By the path of once-returning, the gross taint of sensual desire is destroyed, the taint of existence co-existent with it is destroyed, and the taint of ignorance co-existent with it is destroyed. Herein these taints are destroyed. By the path of non-returning, the taint of sensual desire is completely destroyed, the taint of existence co-existent with it is destroyed, and the taint of ignorance co-existent with it is destroyed. Herein these taints are destroyed. By the path of Arahantship, the taint of existence is completely destroyed, and the taint of ignorance is completely destroyed. Herein these taints are destroyed.
Về lậu hoặc, các lậu hoặc ấy là gì? Dục lậu, hữu lậu, kiến lậu, vô minh lậu. Các lậu hoặc này được đoạn tận ở đâu? Do đạo Dự lưu, kiến lậu được đoạn tận không còn dư sót. Dục lậu dẫn đến đọa xứ được đoạn tận, hữu lậu dẫn đến đọa xứ được đoạn tận, vô minh lậu dẫn đến đọa xứ được đoạn tận. Tại đây, các lậu hoặc này được đoạn tận. Do đạo Nhất lai, dục lậu thô thiển được đoạn tận, hữu lậu có cùng nền tảng với nó được đoạn tận, vô minh lậu có cùng nền tảng với nó được đoạn tận. Tại đây, các lậu hoặc này được đoạn tận. Do đạo Bất lai, dục lậu được đoạn tận không còn dư sót, hữu lậu có cùng nền tảng với nó được đoạn tận, vô minh lậu có cùng nền tảng với nó được đoạn tận. Tại đây, các lậu hoặc này được đoạn tận. Do đạo A-la-hán, hữu lậu được đoạn tận không còn dư sót, vô minh lậu được đoạn tận không còn dư sót. Tại đây, các lậu hoặc này được đoạn tận.
208.
208.
208.
Na tassa addiṭṭhamidhatthi kiñci, atho aviññātamajānitabbaṃ;
Sabbaṃ abhiññāsi yadatthi neyyaṃ, tathāgato tena samantacakkhūti.
There is nothing unseen by him here, nor anything unknown or to be known; He has directly known all that is to be known, thus the Tathāgata is the All-Seeing Eye.
Đối với vị ấy, ở đây không có gì là chưa thấy, hơn nữa không có gì là chưa biết, không thể biết; tất cả những gì cần được biết, Ngài đã thắng tri, do đó Như Lai được gọi là Toàn nhãn.
Samantacakkhūti kenaṭṭhena samantacakkhu? Cuddasa buddhañāṇāni – dukkhe ñāṇaṃ buddhañāṇaṃ, dukkhasamudaye ñāṇaṃ buddhañāṇaṃ…pe… sabbaññutañāṇaṃ buddhañāṇaṃ, anāvaraṇañāṇaṃ buddhañāṇaṃ. Imāni cuddasa buddhañāṇāni. Imesaṃ cuddasannaṃ buddhañāṇānaṃ aṭṭha ñāṇāni sāvakasādhāraṇāni, cha ñāṇāni asādhāraṇāni sāvakehi.
Regarding 'the All-Seeing Eye,' in what sense is he the All-Seeing Eye? The fourteen Buddha-knowledges are the All-Seeing Eye: knowledge in suffering is Buddha-knowledge, knowledge in the origin of suffering is Buddha-knowledge... and so on... the knowledge of omniscience is Buddha-knowledge, the unobstructed knowledge is Buddha-knowledge. These are the fourteen Buddha-knowledges. Of these fourteen Buddha-knowledges, eight knowledges are common to disciples, while six knowledges are not common to disciples.
Về Toàn nhãn, do ý nghĩa nào gọi là Toàn nhãn? Mười bốn Phật trí – trí về khổ là Phật trí, trí về tập khởi của khổ là Phật trí... cho đến... nhất thiết trí là Phật trí, vô ngại trí là Phật trí. Đây là mười bốn Phật trí. Trong mười bốn Phật trí này, tám trí là chung với các vị Thinh văn, sáu trí là không chung với các vị Thinh văn.
Yāvatā dukkhassa dukkhaṭṭho ñāto, aññāto dukkhaṭṭho natthīti – samantacakkhu. Yaṃ samantacakkhu taṃ paññindriyaṃ. Paññindriyassa vasena adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ, paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ, avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ. Yāvatā dukkhassa dukkhaṭṭho diṭṭho vidito sacchikato phassito paññāya; aphassito paññāya dukkhaṭṭho natthīti – samantacakkhu. Yaṃ samantacakkhu taṃ paññindriyaṃ. Paññindriyassa vasena adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ, paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ, avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ. Yāvatā samudayassa samudayaṭṭho…pe… yāvatā nirodhassa nirodhaṭṭho… yāvatā maggassa maggaṭṭho… yāvatā atthapaṭisambhidāya atthapaṭisambhidaṭṭho… yāvatā dhammapaṭisambhidāya dhammapaṭisambhidaṭṭho… yāvatā niruttipaṭisambhidāya niruttipaṭisambhidaṭṭho… yāvatā paṭibhānapaṭisambhidāya paṭibhānapaṭisambhidaṭṭho… yāvatā indriyaparopariyatte ñāṇaṃ… yāvatā sattānaṃ āsayānusaye ñāṇaṃ… yāvatā yamakapāṭihīre ñāṇaṃ… yāvatā mahākaruṇāsamāpattiyā ñāṇaṃ… yāvatā sadevakassa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya diṭṭhaṃ sutaṃ mutaṃ viññātaṃ pattaṃ pariyesitaṃ anuvicaritaṃ manasā, taṃ ñātaṃ diṭṭhaṃ viditaṃ sacchikataṃ phassitaṃ paññāya. Aphassitaṃ paññāya natthīti – samantacakkhu. Yaṃ samantacakkhu taṃ paññindriyaṃ. Paññindriyassa vasena adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ, paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ, avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ.
Inasmuch as the characteristic of suffering is known, there is no characteristic of suffering that is unknown—this is the all-seeing eye. Whatever is the all-seeing eye, that is the faculty of wisdom. By means of the faculty of wisdom, in the sense of conviction, it is the faculty of faith; in the sense of exertion, it is the faculty of energy; in the sense of establishment, it is the faculty of mindfulness; in the sense of non-distraction, it is the faculty of concentration. Inasmuch as the characteristic of suffering is seen, understood, realized, and contacted by wisdom; there is no characteristic of suffering uncontacted by wisdom—this is the all-seeing eye. Whatever is the all-seeing eye, that is the faculty of wisdom. By means of the faculty of wisdom, in the sense of conviction, it is the faculty of faith; in the sense of exertion, it is the faculty of energy; in the sense of establishment, it is the faculty of mindfulness; in the sense of non-distraction, it is the faculty of concentration. Inasmuch as the characteristic of the origin… and so on… inasmuch as the characteristic of cessation… inasmuch as the characteristic of the path… inasmuch as the meaning of the analytical knowledge of meaning… inasmuch as the meaning of the analytical knowledge of the Dhamma… inasmuch as the meaning of the analytical knowledge of language… inasmuch as the meaning of the analytical knowledge of eloquence… inasmuch as the knowledge of the superiority and inferiority of faculties… inasmuch as the knowledge of the dispositions and underlying tendencies of beings… inasmuch as the knowledge of the twin miracle… inasmuch as the knowledge of the attainment of great compassion… Inasmuch as, for this world with its devas, Māra, and Brahmā, for this generation with its ascetics and brahmins, with its devas and humans—whatever is seen, heard, sensed, cognized, attained, sought after, and mentally investigated—all that is known, seen, understood, realized, and contacted by wisdom. There is nothing uncontacted by wisdom—this is the all-seeing eye. Whatever is the all-seeing eye, that is the faculty of wisdom. By means of the faculty of wisdom, in the sense of conviction, it is the faculty of faith; in the sense of exertion, it is the faculty of energy; in the sense of establishment, it is the faculty of mindfulness; in the sense of non-distraction, it is the faculty of concentration.
Trong chừng mực nào ý nghĩa về khổ của khổ đã được biết, không có ý nghĩa về khổ nào chưa được biết – (do đó gọi là) Toàn nhãn. Cái gì là Toàn nhãn, cái đó là tuệ quyền. Tùy theo năng lực của tuệ quyền, do ý nghĩa quyết đoán là tín quyền, do ý nghĩa nỗ lực là tấn quyền, do ý nghĩa hiện diện là niệm quyền, do ý nghĩa không phân tán là định quyền. Trong chừng mực nào ý nghĩa về khổ của khổ đã được thấy, được biết, được chứng ngộ, được xúc chạm bằng trí tuệ; không có ý nghĩa về khổ nào không được xúc chạm bằng trí tuệ – (do đó gọi là) Toàn nhãn. Cái gì là Toàn nhãn, cái đó là tuệ quyền. Tùy theo năng lực của tuệ quyền, do ý nghĩa quyết đoán là tín quyền, do ý nghĩa nỗ lực là tấn quyền, do ý nghĩa hiện diện là niệm quyền, do ý nghĩa không phân tán là định quyền. Trong chừng mực nào ý nghĩa về tập khởi của tập khởi... cho đến... trong chừng mực nào ý nghĩa về diệt của diệt... trong chừng mực nào ý nghĩa về đạo của đạo... trong chừng mực nào ý nghĩa về nghĩa vô ngại giải của nghĩa vô ngại giải... trong chừng mực nào ý nghĩa về pháp vô ngại giải của pháp vô ngại giải... trong chừng mực nào ý nghĩa về từ vô ngại giải của từ vô ngại giải... trong chừng mực nào ý nghĩa về biện tài vô ngại giải của biện tài vô ngại giải... trong chừng mực nào trí về các căn của chúng sanh cao thấp... trong chừng mực nào trí về khuynh hướng và tùy miên của chúng sanh... trong chừng mực nào trí về song thông thần biến... trong chừng mực nào trí về đại bi định... trong chừng mực nào đối với thế gian cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, đối với chúng sanh cùng với sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, những gì đã được thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức, đạt được, tìm cầu, được tâm quán sát, những điều đó đã được biết, được thấy, được liễu tri, được chứng ngộ, được xúc chạm bằng trí tuệ. Không có gì không được xúc chạm bằng trí tuệ – (do đó gọi là) Toàn nhãn. Cái gì là Toàn nhãn, cái đó là tuệ quyền. Tùy theo năng lực của tuệ quyền, do ý nghĩa quyết đoán là tín quyền, do ý nghĩa nỗ lực là tấn quyền, do ý nghĩa hiện diện là niệm quyền, do ý nghĩa không phân tán là định quyền.
Saddahanto paggaṇhāti, paggaṇhanto saddahati. Saddahanto upaṭṭhāpeti, upaṭṭhāpento saddahati. Saddahanto samādahati, samādahanto saddahati. Saddahanto pajānāti, pajānanto saddahati. Paggaṇhanto upaṭṭhāpeti, upaṭṭhāpento paggaṇhāti. Paggaṇhanto samādahati, samādahanto paggaṇhāti. Paggaṇhanto pajānāti, pajānanto paggaṇhāti. Paggaṇhanto saddahati, saddahanto paggaṇhāti. Upaṭṭhāpento samādahati, samādahanto upaṭṭhāpeti. Upaṭṭhāpento pajānāti, pajānanto upaṭṭhāpeti. Upaṭṭhāpento saddahati, saddahanto upaṭṭhāpeti. Upaṭṭhāpento paggaṇhāti, paggaṇhanto upaṭṭhāpeti. Samādahanto pajānāti, pajānanto samādahati. Samādahanto saddahati, saddahanto samādahati. Samādahanto paggaṇhāti, paggaṇhanto samādahati. Samādahanto upaṭṭhāpeti, upaṭṭhāpento samādahati. Pajānanto saddahati, saddahanto pajānāti. Pajānanto paggaṇhāti, paggaṇhanto pajānāti. Pajānanto upaṭṭhāpeti, upaṭṭhāpento pajānāti. Pajānanto samādahati, samādahanto pajānāti.
One who has faith exerts, one who exerts has faith. One who has faith establishes mindfulness, one who establishes mindfulness has faith. One who has faith concentrates, one who concentrates has faith. One who has faith understands, one who understands has faith. One who exerts establishes mindfulness, one who establishes mindfulness exerts. One who exerts concentrates, one who concentrates exerts. One who exerts understands, one who understands exerts. One who exerts has faith, one who has faith exerts. One who establishes mindfulness concentrates, one who concentrates establishes mindfulness. One who establishes mindfulness understands, one who understands establishes mindfulness. One who establishes mindfulness has faith, one who has faith establishes mindfulness. One who establishes mindfulness exerts, one who exerts establishes mindfulness. One who concentrates understands, one who understands concentrates. One who concentrates has faith, one who has faith concentrates. One who concentrates exerts, one who exerts concentrates. One who concentrates establishes mindfulness, one who establishes mindfulness concentrates. One who understands has faith, one who has faith understands. One who understands exerts, one who exerts understands. One who understands establishes mindfulness, one who establishes mindfulness understands. One who understands concentrates, one who concentrates understands.
Do có đức tin nên nỗ lực, do nỗ lực nên có đức tin. Do có đức tin nên thiết lập niệm, do thiết lập niệm nên có đức tin. Do có đức tin nên định tĩnh, do định tĩnh nên có đức tin. Do có đức tin nên biết rõ, do biết rõ nên có đức tin. Do nỗ lực nên thiết lập niệm, do thiết lập niệm nên nỗ lực. Do nỗ lực nên định tĩnh, do định tĩnh nên nỗ lực. Do nỗ lực nên biết rõ, do biết rõ nên nỗ lực. Do nỗ lực nên có đức tin, do có đức tin nên nỗ lực. Do thiết lập niệm nên định tĩnh, do định tĩnh nên thiết lập niệm. Do thiết lập niệm nên biết rõ, do biết rõ nên thiết lập niệm. Do thiết lập niệm nên có đức tin, do có đức tin nên thiết lập niệm. Do thiết lập niệm nên nỗ lực, do nỗ lực nên thiết lập niệm. Do định tĩnh nên biết rõ, do biết rõ nên định tĩnh. Do định tĩnh nên có đức tin, do có đức tin nên định tĩnh. Do định tĩnh nên nỗ lực, do nỗ lực nên định tĩnh. Do định tĩnh nên thiết lập niệm, do thiết lập niệm nên định tĩnh. Do biết rõ nên có đức tin, do có đức tin nên biết rõ. Do biết rõ nên nỗ lực, do nỗ lực nên biết rõ. Do biết rõ nên thiết lập niệm, do thiết lập niệm nên biết rõ. Do biết rõ nên định tĩnh, do định tĩnh nên biết rõ.
Saddahitattā paggahitaṃ, paggahitattā saddahitaṃ. Saddahitattā upaṭṭhāpitaṃ, upaṭṭhāpitattā saddahitaṃ. Saddahitattā samādahitaṃ, samādahitattā saddahitaṃ. Saddahitattā pajānitaṃ, pajānitattā saddahitaṃ. Paggahitattā upaṭṭhāpitaṃ, upaṭṭhāpitattā paggahitaṃ. Paggahitattā samādahitaṃ, samādahitattā paggahitaṃ. Paggahitattā pajānitaṃ pajānitattā paggahitaṃ. Paggahitattā saddahitaṃ, saddahitattā paggahitaṃ. Upaṭṭhāpitattā samādahitaṃ, samādahitattā upaṭṭhāpitaṃ. Upaṭṭhāpitattā pajānitaṃ, pajānitattā upaṭṭhāpitaṃ. Upaṭṭhāpitattā saddahitaṃ, saddahitattā upaṭṭhāpitaṃ. Upaṭṭhāpitattā paggahitaṃ, paggahitattā upaṭṭhāpitaṃ. Samādahitattā pajānitaṃ, pajānitattā samādahitaṃ. Samādahitattā saddahitaṃ, saddahitattā samādahitaṃ. Samādahitattā paggahitaṃ, paggahitattā samādahitaṃ. Samādahitattā upaṭṭhāpitaṃ, upaṭṭhāpitattā samādahitaṃ. Pajānitattā saddahitaṃ, saddahitattā pajānitaṃ. Pajānitattā paggahitaṃ, paggahitattā pajānitaṃ. Pajānitattā upaṭṭhāpitaṃ, upaṭṭhāpitattā pajānitaṃ. Pajānitattā samādahitaṃ, samādahitattā pajānitaṃ.
Because of being believed, it is exerted; because of being exerted, it is believed. Because of being believed, it is established; because of being established, it is believed. Because of being believed, it is concentrated; because of being concentrated, it is believed. Because of being believed, it is discerned; because of being discerned, it is believed. Because of being exerted, it is established; because of being established, it is exerted. Because of being exerted, it is concentrated; because of being concentrated, it is exerted. Because of being exerted, it is discerned; because of being discerned, it is exerted. Because of being exerted, it is believed; because of being believed, it is exerted. Because of being established, it is concentrated; because of being concentrated, it is established. Because of being established, it is discerned; because of being discerned, it is established. Because of being established, it is believed; because of being believed, it is established. Because of being established, it is exerted; because of being exerted, it is established. Because of being concentrated, it is discerned; because of being discerned, it is concentrated. Because of being concentrated, it is believed; because of being believed, it is concentrated. Because of being concentrated, it is exerted; because of being exerted, it is concentrated. Because of being concentrated, it is established; because of being established, it is concentrated. Because of being discerned, it is believed; because of being believed, it is discerned. Because of being discerned, it is exerted; because of being exerted, it is discerned. Because of being discerned, it is established; because of being established, it is discerned. Because of being discerned, it is concentrated; because of being concentrated, it is discerned.
Do có sự tin tưởng nên có sự sách tấn, do có sự sách tấn nên có sự tin tưởng. Do có sự tin tưởng nên có sự an lập, do có sự an lập nên có sự tin tưởng. Do có sự tin tưởng nên có sự định tĩnh, do có sự định tĩnh nên có sự tin tưởng. Do có sự tin tưởng nên có sự tuệ tri, do có sự tuệ tri nên có sự tin tưởng. Do có sự sách tấn nên có sự an lập, do có sự an lập nên có sự sách tấn. Do có sự sách tấn nên có sự định tĩnh, do có sự định tĩnh nên có sự sách tấn. Do có sự sách tấn nên có sự tuệ tri, do có sự tuệ tri nên có sự sách tấn. Do có sự sách tấn nên có sự tin tưởng, do có sự tin tưởng nên có sự sách tấn. Do có sự an lập nên có sự định tĩnh, do có sự định tĩnh nên có sự an lập. Do có sự an lập nên có sự tuệ tri, do có sự tuệ tri nên có sự an lập. Do có sự an lập nên có sự tin tưởng, do có sự tin tưởng nên có sự an lập. Do có sự an lập nên có sự sách tấn, do có sự sách tấn nên có sự an lập. Do có sự định tĩnh nên có sự tuệ tri, do có sự tuệ tri nên có sự định tĩnh. Do có sự định tĩnh nên có sự tin tưởng, do có sự tin tưởng nên có sự định tĩnh. Do có sự định tĩnh nên có sự sách tấn, do có sự sách tấn nên có sự định tĩnh. Do có sự định tĩnh nên có sự an lập, do có sự an lập nên có sự định tĩnh. Do có sự tuệ tri nên có sự tin tưởng, do có sự tin tưởng nên có sự tuệ tri. Do có sự tuệ tri nên có sự sách tấn, do có sự sách tấn nên có sự tuệ tri. Do có sự tuệ tri nên có sự an lập, do có sự an lập nên có sự tuệ tri. Do có sự tuệ tri nên có sự định tĩnh, do có sự định tĩnh nên có sự tuệ tri.
Yaṃ buddhacakkhu taṃ buddhañāṇaṃ, yaṃ buddhañāṇaṃ taṃ buddhacakkhu, yena cakkhunā tathāgato satte passati apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye appekacce paralokavajjabhayadassāvino †, appekacce naparalokavajjabhayadassāvino.
That which is the Buddha-eye, that is the Buddha-knowledge; that which is the Buddha-knowledge, that is the Buddha-eye. With this eye, the Tathāgata sees beings with little dust, with much dust; with keen faculties, with dull faculties; of good disposition, of bad disposition; easy to instruct, difficult to instruct; some who are accustomed to seeing danger in faults concerning the next world, and some who are not.
Cái gì là Phật nhãn, cái đó là Phật trí; cái gì là Phật trí, cái đó là Phật nhãn. Với nhãn ấy, đức Như Lai thấy các chúng sanh: hạng ít bụi trong mắt, hạng nhiều bụi trong mắt; hạng có căn tánh lanh lợi, hạng có căn tánh đần độn; hạng có tướng trạng tốt, hạng có tướng trạng xấu; hạng dễ lãnh hội, hạng khó lãnh hội; một số người thấy lỗi lầm ở đời sau là đáng sợ, và một số người không thấy lỗi lầm ở đời sau là đáng sợ.
Apparajakkhe mahārajakkheti saddho puggalo apparajakkho, assaddho puggalo mahārajakkho. Āraddhavīriyo puggalo apparajakkho, kusīto puggalo mahārajakkho. Upaṭṭhitassati puggalo apparajakkho, muṭṭhassati puggalo mahārajakkho. Samāhito puggalo apparajakkho, asamāhito puggalo mahārajakkho. Paññavā puggalo apparajakkho, duppañño puggalo mahārajakkho.
Regarding 'one with little dust of defilements' and 'one with much dust of defilements': a person with faith is one with little dust of defilements; a person without faith is one with much dust of defilements. A person with aroused effort is one with little dust of defilements; a lazy person is one with much dust of defilements. A person with established mindfulness is one with little dust of defilements; a person with lapsed mindfulness is one with much dust of defilements. A person who is concentrated is one with little dust of defilements; a person who is unconcentrated is one with much dust of defilements. A wise person is one with little dust of defilements; an unwise person is one with much dust of defilements.
Về ‘hạng ít bụi, hạng nhiều bụi’: người có đức tin là hạng ít bụi, người không có đức tin là hạng nhiều bụi. Người có tinh tấn đã được khởi xướng là hạng ít bụi, người lười biếng là hạng nhiều bụi. Người có niệm an trú là hạng ít bụi, người thất niệm là hạng nhiều bụi. Người có tâm định tĩnh là hạng ít bụi, người không có tâm định tĩnh là hạng nhiều bụi. Người có trí tuệ là hạng ít bụi, người không có trí tuệ là hạng nhiều bụi.
Tikkhindriye mudindriyeti saddho puggalo tikkhindriyo, assaddho puggalo mudindriyo…pe… paññavā puggalo tikkhindriyo, duppañño puggalo mudindriyo. Svākāre dvākāreti saddho puggalo svākāro, assaddho puggalo dvākāro…pe… paññavā puggalo svākāro, duppañño puggalo dvākāro. Suviññāpaye duviññāpayeti saddho puggalo suviññāpayo, assaddho puggalo duviññāpayo…pe… paññavā puggalo suviññāpayo, duppañño puggalo duviññāpayo.
Regarding 'one with keen faculties' and 'one with dull faculties': a person with faith is one with keen faculties; a person without faith is one with dull faculties... and so on... a wise person is one with keen faculties; an unwise person is one with dull faculties. Regarding 'one of good demeanor' and 'one of bad demeanor': a person with faith is one of good demeanor; a person without faith is one of bad demeanor... and so on... a wise person is one of good demeanor; an unwise person is one of bad demeanor. Regarding 'one who is easy to instruct' and 'one who is difficult to instruct': a person with faith is one who is easy to instruct; a person without faith is one who is difficult to instruct... and so on... a wise person is one who is easy to instruct; an unwise person is one who is difficult to instruct.
Về ‘hạng có căn tánh lanh lợi, hạng có căn tánh đần độn’: người có đức tin là hạng có căn tánh lanh lợi, người không có đức tin là hạng có căn tánh đần độn... cho đến... người có trí tuệ là hạng có căn tánh lanh lợi, người không có trí tuệ là hạng có căn tánh đần độn. Về ‘hạng có tướng trạng tốt, hạng có tướng trạng xấu’: người có đức tin là hạng có tướng trạng tốt, người không có đức tin là hạng có tướng trạng xấu... cho đến... người có trí tuệ là hạng có tướng trạng tốt, người không có trí tuệ là hạng có tướng trạng xấu. Về ‘hạng dễ lãnh hội, hạng khó lãnh hội’: người có đức tin là hạng dễ lãnh hội, người không có đức tin là hạng khó lãnh hội... cho đến... người có trí tuệ là hạng dễ lãnh hội, người không có trí tuệ là hạng khó lãnh hội.
Appekacce paralokavajjabhayadassāvino, appekacce naparalokavajjabhayadassāvinoti saddho puggalo paralokavajjabhayadassāvī, assaddho puggalo naparalokavajjabhayadassāvī. Āraddhavīriyo puggalo paralokavajjabhayadassāvī, kusīto puggalo naparalokavajjabhayadassāvī…pe… paññavā puggalo paralokavajjabhayadassāvī, duppañño puggalo naparalokavajjabhayadassāvī.
Regarding 'some are accustomed to seeing danger in faults concerning the next world, while some are not accustomed to seeing danger in faults concerning the next world': a person with faith is one who is accustomed to seeing danger in faults concerning the next world; a person without faith is one who is not accustomed to seeing danger in faults concerning the next world. A person with aroused effort is one who is accustomed to seeing danger in faults concerning the next world; a lazy person is one who is not accustomed to seeing danger in faults concerning the next world... and so on... a wise person is one who is accustomed to seeing danger in faults concerning the next world; an unwise person is one who is not accustomed to seeing danger in faults concerning the next world.
Về ‘một số người thấy lỗi lầm ở đời sau là đáng sợ, và một số người không thấy lỗi lầm ở đời sau là đáng sợ’: người có đức tin là người thấy lỗi lầm ở đời sau là đáng sợ, người không có đức tin là người không thấy lỗi lầm ở đời sau là đáng sợ. Người có tinh tấn đã được khởi xướng là người thấy lỗi lầm ở đời sau là đáng sợ, người lười biếng là người không thấy lỗi lầm ở đời sau là đáng sợ... cho đến... người có trí tuệ là người thấy lỗi lầm ở đời sau là đáng sợ, người không có trí tuệ là người không thấy lỗi lầm ở đời sau là đáng sợ.
Lokoti khandhaloko dhātuloko āyatanaloko vipattibhavaloko vipattisambhavaloko sampattibhavaloko sampattisambhavaloko.
The term 'world' refers to: the world of aggregates, the world of elements, the world of sense-bases, the world of existence in misfortune, the world of the arising of misfortune, the world of existence in good fortune, and the world of the arising of good fortune.
Về thế giới: có uẩn thế giới, giới thế giới, xứ thế giới, thế giới của sự tồn tại bất hạnh, thế giới của sự phát sinh bất hạnh, thế giới của sự tồn tại thành tựu, thế giới của sự phát sinh thành tựu.
Eko loko – sabbe sattā āhāraṭṭhitikā. Dve lokā – nāmañca rūpañca. Tayo lokā – tisso vedanā. Cattāro lokā – cattāro āhārā. Pañca lokā – pañcupādānakkhandhā. Cha lokā – cha ajjhattikāni āyatanāni. Satta lokā – satta viññāṇaṭṭhitiyo. Aṭṭha lokā – aṭṭha lokadhammā. Nava lokā – nava sattāvāsā. Dasa lokā – dasāyatanāni. Dvādasa lokā – dvādasāyatanāni. Aṭṭhārasa lokā – aṭṭhārasa dhātuyo.
One world—all beings are sustained by nutriment. Two worlds—name and form. Three worlds—the three feelings. Four worlds—the four nutriments. Five worlds—the five aggregates of clinging. Six worlds—the six internal sense bases. Seven worlds—the seven stations of consciousness. Eight worlds—the eight worldly conditions. Nine worlds—the nine abodes of beings. Ten worlds—the ten sense bases. Twelve worlds—the twelve sense bases. Eighteen worlds—the eighteen elements.
Một thế giới – tất cả chúng sanh tồn tại nhờ vật thực. Hai thế giới – danh và sắc. Ba thế giới – ba thọ. Bốn thế giới – bốn vật thực. Năm thế giới – năm thủ uẩn. Sáu thế giới – sáu nội xứ. Bảy thế giới – bảy thức trú. Tám thế giới – tám pháp thế gian. Chín thế giới – chín chúng sanh trú. Mười thế giới – mười xứ. Mười hai thế giới – mười hai xứ. Mười tám thế giới – mười tám giới.
Vajjanti sabbe kilesā vajjā, sabbe duccaritā vajjā, sabbe abhisaṅkhārā vajjā, sabbe bhavagāmikammā vajjā. Iti imasmiñca loke imasmiñca vajje tibbā bhayasaññā paccupaṭṭhitā honti, seyyathāpi ukkhittāsike vadhake. Imehi paññāsāya ākārehi imāni pañcindriyāni jānāti passati aññāti paṭivijjhatīti.
All defilements are faults, all misconduct is a fault, all volitional formations are a fault, all actions leading to becoming are a fault. Thus, in this world and in this fault, intense perceptions of danger are present, like an executioner with a drawn sword. By these fifty aspects, one knows, sees, discerns, and penetrates these five faculties.
Về lỗi lầm: tất cả phiền não là lỗi lầm, tất cả ác hạnh là lỗi lầm, tất cả các hành là lỗi lầm, tất cả nghiệp dẫn đến tái sanh là lỗi lầm. Như vậy, trong thế giới này và trong lỗi lầm này, tưởng về sự đáng sợ mãnh liệt được hiện khởi, giống như kẻ đao phủ với thanh gươm đã giương lên. Vị ấy biết, thấy, thắng tri, thông đạt năm căn này với năm mươi phương diện này.
Indriyasamodhāno pañcamo.
The fifth, on the combination of the faculties.
Phần thứ năm là sự hợp nhất các căn.
Tatiyabhāṇavāro.
The third recitation section.
Hết tụng phẩm thứ ba.
Indriyakathā niṭṭhitā.
The discourse on the faculties is concluded.
Dứt phần luận về các căn.