Bản dịch
PS 1.3 — Giảng về Niệm Hơi Thở Vào Hơi Thở Ra
1.3. Ānāpānassatikathā
HƠI THỞ VÀO HƠI THỞ RA
1. Liệt Kê Số Lượng
Đối với vị đang tu tập định của niệm hơi thở vào hơi thở ra theo 16 nền tảng, có hơn 200 pháp sanh lên (ở vị ấy): 8 trí về ngăn trở và 8 trí về hỗ trợ, 18 trí về tùy phiền não, 13 trí trong việc thanh lọc, 32 trí về việc thực hành niệm, 24 trí do năng lực của định, 72 trí do năng lực của minh sát, 8 trí về nhàm chán, 8 trí thuận theo nhàm chán, 8 trí về sự tịnh lặng của nhàm chán, 21 trí về sự an lạc của giải thoát.
Phần Liệt Kê Số Lượng được đầy đủ.
2. Mười Sáu Trí Ngăn Trở & Trí Hỗ Trợ
8 trí về ngăn trở và 8 trí về hỗ trợ là gì?
Ước muốn trong các dục là sự ngăn trở của định, sự thoát ly là sự hỗ trợ của định. Sân độc là sự ngăn trở của định, không sân độc là sự hỗ trợ của định. Lờ đờ buồn ngủ là sự ngăn trở của định, sự nghĩ tưởng đến ánh sáng là sự hỗ trợ của định. Phóng dật là sự ngăn trở của định, không tản mạn là sự hỗ trợ của định. Hoài nghi là sự ngăn trở của định, sự xác định pháp là sự hỗ trợ của định. Vô minh là sự ngăn trở của định, trí là sự hỗ trợ của định. Sự không hứng thú là sự ngăn trở của định, sự hân hoan là sự hỗ trợ của định. Tất cả các pháp bất thiện cũng là các sự ngăn trở của định, tất cả các pháp thiện cũng là các sự hỗ trợ của định. Đây là 8 trí về ngăn trở và 8 trí về hỗ trợ.
Được tiếp cận, được quen thuộc với 16 biểu hiện này, tâm an trụ ở nhất thể và được thanh tịnh đối các pháp ngăn che.
Các nhất thể ấy là gì? Sự thoát ly là nhất thể, sự không sân độc là nhất thể, sự nghĩ tưởng đến ánh sáng là nhất thể, sự không tản mạn là nhất thể, sự xác định pháp là nhất thể, trí là nhất thể, sự hân hoan là nhất thể, tất cả các thiện pháp cũng là các nhất thể.
Các pháp ngăn che ấy là gì? Ước muốn trong các dục là pháp ngăn che, sân độc là pháp ngăn che, lờ đờ buồn ngủ là pháp ngăn che, phóng dật là pháp ngăn che, hoài nghi là pháp ngăn che, vô minh là pháp ngăn che, sự không hứng thú là pháp ngăn che, tất cả các bất thiện pháp cũng là các pháp ngăn che.
Pháp ngăn che: Các pháp ngăn che theo ý nghĩa gì? Các pháp ngăn che với ý nghĩa che lấp lối ra.
Các lối ra ấy là gì? Sự thoát ly là lối ra của các bậc Thánh, và do sự thoát ly ấy các bậc Thánh thoát ra; ước muốn trong các dục là sự che lấp lối ra, và do trạng thái bị bao trùm bởi ước muốn trong các dục ấy (hành giả) không nhận biết sự thoát ly là lối ra của các bậc Thánh; ước muốn trong các dục là sự che lấp lối ra. Sự không sân độc là lối ra của các bậc Thánh, và do sự không sân độc ấy các bậc Thánh thoát ra; sân độc là sự che lấp lối ra, và do trạng thái bị bao trùm bởi sân độc ấy (hành giả) không nhận biết sự không sân độc là lối ra của các bậc Thánh; sân độc là sự che lấp lối ra. Sự nghĩ tưởng đến ánh sáng là lối ra của các bậc Thánh, và do sự nghĩ tưởng đến ánh sáng ấy các bậc Thánh thoát ra; lờ đờ buồn ngủ là sự che lấp lối ra, và do trạng thái bị bao trùm bởi sự lờ đờ buồn ngủ ấy (hành giả) không nhận biết sự nghĩ tưởng đến ánh sáng là lối ra của các bậc Thánh; lờ đờ buồn ngủ là sự che lấp lối ra. Sự không tản mạn là lối ra của các bậc Thánh, và do sự không tản mạn ấy các bậc Thánh thoát ra; phóng dật là sự che lấp lối ra, và do trạng thái bị bao trùm bởi phóng dật ấy (hành giả) không nhận biết sự không tản mạn là lối ra của các bậc Thánh; phóng dật là sự che lấp lối ra. Sự xác định pháp là lối ra của các bậc Thánh, và do sự xác định pháp ấy các bậc Thánh thoát ra; hoài nghi là sự che lấp lối ra, và do trạng thái bị bao trùm bởi hoài nghi ấy (hành giả) không nhận biết sự xác định pháp là lối ra của các bậc Thánh; hoài nghi là sự che lấp lối ra. Trí là lối ra của các bậc Thánh, và do trí ấy các bậc Thánh thoát ra; vô minh là sự che lấp lối ra, và do trạng thái bị bao trùm bởi vô minh ấy (hành giả) không nhận biết trí là lối ra của các bậc Thánh; vô minh là sự che lấp lối ra. Sự hân hoan là lối ra của các bậc Thánh, và do sự hân hoan ấy các bậc Thánh thoát ra; sự không hứng thú là sự che lấp lối ra, và do trạng thái bị bao trùm bởi sự không hứng thú ấy (hành giả) không nhận biết sự hân hoan là lối ra của các bậc Thánh; không hứng thú là sự che lấp lối ra. Tất cả các thiện pháp cũng là lối ra của các bậc Thánh, và do các thiện pháp ấy các bậc Thánh thoát ra; tất cả các bất thiện pháp cũng là các sự che lấp lối ra, và do trạng thái bị bao trùm bởi các bất thiện pháp ấy (hành giả) không nhận biết các thiện pháp là lối ra của các bậc Thánh; tất cả các bất thiện pháp cũng các là sự che lấp lối ra.
Phần giải thích 16 trí được đầy đủ.
3. Các Trí về Tùy Phiền Não
Hơn nữa, đối với vị đang tu tập định của niệm hơi thở vào hơi thở ra theo 16 nền tảng có tâm đã được thanh lọc khỏi các pháp ngăn che này, do sự tập trung ngắn hạn có 18 tùy phiền não gì sanh lên (ở vị ấy)?
Tâm của vị đang theo dõi giai đoạn đầu-giữa-cuối của hơi thở vào bằng niệm đi đến tình trạng tản mạn ở nội phần là sự ngăn trở của định. Tâm của vị đang theo dõi giai đoạn đầu-giữa-cuối của hơi thở ra bằng niệm đi đến tình trạng tản mạn ở ngoại phần là sự ngăn trở của định. Do sự mong mỏi ở hơi thở vào, hành vi của ưa thích và tham ái là sự ngăn trở của định. Do sự mong mỏi ở hơi thở ra, hành vi của ưa thích và tham ái là sự ngăn trở của định. Đối với vị áp đặt hơi thở vào, do sự hứng thú trong việc đạt được hơi thở ra là sự ngăn trở của định. Đối với vị áp đặt hơi thở ra, do sự hứng thú trong việc đạt được hơi thở vào là sự ngăn trở của định.
Theo dõi hơi thở vào → theo dõi hơi thở ra,
tán nội phần, mong mỏi, tán ngoại phần, ước muốn, (1)
áp đặt hơi thở vào hứng thú đạt hơi ra,
áp đặt hơi thở ra hứng thú đạt hơi vào. (2)
Sáu tùy phiền não này định niệm hơi vào ra,
người bị chúng xáo động tâm không được giải thoát,
những ai chưa giải thoát chúng thành tựu tái sanh. (3)
Nhóm sáu thứ nhất.
Đối với hành giả hướng tâm đến hiện tướng,* tâm (đặt) ở hơi thở vào bị chao động là sự ngăn trở của định. Đối với hành giả hướng tâm đến hơi thở vào, tâm (đặt) ở hiện tướng bị chao động là sự ngăn trở của định. Đối với hành giả hướng tâm đến hiện tướng, tâm (đặt) ở hơi thở ra bị chao động là sự ngăn trở của định. Đối với hành giả hướng tâm đến hơi thở ra, tâm (đặt) ở hiện tướng bị chao động là sự ngăn trở của định. Đối với hành giả hướng tâm đến hơi thở vào, tâm (đặt) ở hơi thở ra bị chao động là sự ngăn trở của định. Đối với hành giả hướng tâm đến hơi thở ra, tâm (đặt) ở hơi thở vào bị chao động là sự ngăn trở của định.
Hướng tâm đến hiện tướng → ý buông bỏ hơi vào,
hướng tâm đến hơi vào tâm chao động hiện tướng. (4)
Hướng tâm đến hiện tướng ý buông bỏ hơi ra,
hướng tâm đến hơi ra tâm chao động hiện tướng. (5)
Hướng tâm hơi thở vào tâm buông bỏ hơi ra,
hướng tâm hơi thở ra tâm chao động hơi vào. (6)
Sáu tùy phiền não này định niệm hơi vào ra,
người bị chúng xáo động tâm không được giải thoát,
những ai chưa giải thoát chúng thành tựu tái sanh. (7)
Nhóm sáu thứ nhì.
Tâm có sự chạy theo quá khứ* bị rơi vào tản mạn là sự ngăn trở của định. Tâm có sự mong mỏi ở vị lai* bị chao động là sự ngăn trở của định. Tâm trì trệ bị rơi vào biếng nhác là sự ngăn trở của định. Tâm được ra sức quá mức bị rơi vào phóng dật là sự ngăn trở của định. Tâm quá chuyên chú bị rơi vào tham là sự ngăn trở của định. Tâm lơi là bị rơi vào sân là sự ngăn trở của định.
Tâm chạy theo quá khứ, → vọng tương lai, trì trệ,
quá ra sức, chuyên chú, tâm lơi là, không định. (8)
Sáu tùy phiền não này định niệm thở vào ra
người ô nhiễm bởi chúng không biết được thắng tâm. (9)
Nhóm sáu thứ ba.
Do tâm của vị đang theo dõi giai đoạn đầu-giữa-cuối của hơi thở vào bằng niệm đi đến tình trạng tản mạn ở nội phần, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Do tâm của vị đang theo dõi giai đoạn đầu-giữa-cuối của hơi thở ra bằng niệm đi đến tình trạng tản mạn ở ngoại phần, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Do mong mỏi ở hơi thở vào, do ưa thích, do hành vi của ái, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Do mong mỏi ở hơi thở ra, do ưa thích, do hành vi của ái, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Đối với vị áp đặt hơi thở vào, do sự hứng thú trong việc đạt được hơi thở ra, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Đối với vị áp đặt hơi thở ra, do sự hứng thú trong việc đạt được hơi thở vào, cả thân lẫn tâm …(như trên)… Đối với vị hướng tâm đến hiện tướng có tâm (đặt) ở hơi thở vào, do trạng thái bị dao động cả thân lẫn tâm …(như trên)… Đối với vị hướng tâm đến hơi thở vào có tâm (đặt) ở hiện tướng, do trạng thái bị dao động, cả thân lẫn tâm …(như trên)… Đối với vị hướng tâm đến hiện tướng có tâm (đặt) ở hơi thở ra, do trạng thái bị dao động cả thân lẫn tâm …(như trên)… Đối với vị hướng tâm đến hơi thở ra có tâm (đặt) ở hiện tướng, do trạng thái bị dao động cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Đối với vị hướng tâm đến hơi thở vào có tâm (đặt) ở hơi thở ra, do trạng thái bị dao động cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Đối với vị hướng tâm đến hơi thở ra có tâm (đặt) ở hơi thở vào, do trạng thái bị dao động cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Do có sự chạy theo quá khứ tâm bị rơi vào tản mạn, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Do có sự mong mỏi ở vị lai tâm bị dao động, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Do có sự trì trệ tâm bị rơi vào biếng nhác, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Do ra sức quá mức tâm bị rơi vào phóng dật, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Do quá chuyên chú tâm bị rơi vào tham, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động. Do lơi là tâm bị rơi vào sân, cả thân lẫn tâm trở nên xao động, loạn động, rúng động.
Đối với vị tu niệm → hơi thở vào thở ra
không toàn vẹn, không tiến, thời thân bị loạn động,
tâm cũng bị loạn động, thân tâm đều rúng động. (10)
Đối với vị tu niệm hơi thở vào thở ra
được toàn vẹn, tiến triển, thời thân không loạn động,
tâm cũng không loạn động, thân tâm không rúng động. (11)
Hơn nữa, đối với vị đang tu tập định của niệm hơi thở vào hơi thở ra theo 16 nền tảng có tâm đã được thanh lọc khỏi các pháp ngăn che ấy, thời có 18 tùy phiển não này sanh lên.
Phần giải thích trí về tùy phiền não.
4. Các Trí trong việc Thanh Lọc
13 trí gì trong việc thanh lọc? Tâm có sự chạy theo quá khứ bị rơi vào tản mạn. Sau khi ngăn ngừa việc ấy, hành giả tập trung (tâm) vào một chỗ; như vậy tâm không đi đến tản mạn. Tâm có sự mong mỏi ở vị lai bị chao động. Sau khi ngăn ngừa việc ấy, ngay tại đấy hành giả khẳng định lại; như thế tâm không đi đến tản mạn. Tâm trì trệ bị rơi vào biếng nhác. Sau khi nắm giữ điều ấy, hành giả dứt bỏ sự biếng nhác; như vậy tâm không đi đến tản mạn. Tâm ra sức quá mức bị rơi vào phóng dật. Sau khi hạn chế điều ấy, hành giả dứt bỏ phóng dật; như vậy tâm không đi đến tản mạn. Tâm quá chuyên chú bị rơi vào tham. Sau khi có sự nhận biết rõ rệt điều ấy, hành giả dứt bỏ tham; như vậy tâm không đi đến tản mạn. Tâm lơi là bị rơi vào sân. Sau khi có sự nhận biết rõ rệt điều ấy, hành giả dứt bỏ sân; như vậy tâm không đi đến tản mạn. Được hoàn toàn trong sạch với 6 trường hợp này, tâm được tinh khiết đi đến nhất thể.
Các nhất thể ấy là gì? Nhất thể trong việc thiết lập sự buông bỏ vật thí, nhất thể trong việc thiết lập hiện tướng của chỉ tịnh, nhất thể trong việc thiết lập tướng trạng của biến hoại, nhất thể trong việc thiết lập sự diệt tận.
Nhất thể trong việc thiết lập sự buông bỏ vật thí của những người đã quyết tâm xả bỏ, nhất thể trong việc thiết lập hiện tướng của chỉ tịnh của những người đã gắn bó với thắng tâm, nhất thể trong việc thiết lập tướng trạng biến hoại của những người thực hành minh sát, nhất thể trong việc thiết lập sự diệt tận của các bậc Thánh nhân. Tâm đạt đến nhất thể bằng bốn trường hợp này vừa có sự tiến đến tính chất thanh tịnh của việc thực hành, vừa được tăng cường trạng thái xả, và còn được hài lòng bởi trí nữa.
Đối với sơ thiền, cái gì là phần đầu? cái gì là phần giữa? cái gì là phần cuối? Đối với sơ thiền, sự thanh tịnh của việc thực hành là phần đầu, sự tăng cường trạng thái xả là phần giữa, sự tự hài lòng là phần cuối.
Đối với sơ thiền, sự thanh tịnh của việc thực hành là phần đầu, có bao nhiêu tướng trạng thuộc về phần đầu? Có ba tướng trạng thuộc về phần đầu: Điều gì là sự ngăn trở của thiền ấy, do điều ấy tâm được thanh tịnh; do bản thể thanh tịnh, tâm đạt đến hiện tướng của chỉ tịnh ở trung tâm; do bản thể đã được đạt đến, tâm tiến vào nơi ấy. Việc tâm được thanh tịnh do sự ngăn trở, việc tâm đạt đến hiện tướng của chỉ tịnh ở trung tâm do bản thể thanh tịnh, việc tâm tiến vào nơi ấy do bản thể đã được đạt đến, đối với sơ thiền sự thanh tịnh của việc thực hành là phần đầu, ba tướng trạng này là thuộc về phần đầu, vì thế được nói rằng: “Sơ thiền vừa là tốt đẹp ở phần đầu vừa được thành tựu về tướng trạng.”
Đối với sơ thiền, sự tăng cường trạng thái xả là phần giữa, có bao nhiêu tướng trạng thuộc về phần giữa? Có ba tướng trạng thuộc về phần giữa: Hành giả dửng dưng đối với tâm thanh tịnh, dửng dưng đối với việc đã đạt đến chỉ tịnh, dửng dưng đối với việc thiết lập nhất thể. Việc hành giả dửng dưng đối với tâm thanh tịnh, dửng dưng đối với việc đã đạt đến chỉ tịnh, dửng dưng đối với việc thiết lập nhất thể, đối với sơ thiền sự tăng cường trạng thái xả là phần giữa, ba tướng trạng này là thuộc về phần giữa, vì thế được nói rằng: “Sơ thiền vừa là tốt đẹp ở phần giữa vừa được thành tựu về tướng trạng.”
Đối với sơ thiền, sự tự hài lòng là phần cuối, có bao nhiêu tướng trạng thuộc về phần cuối? Có bốn tướng trạng thuộc về phần cuối: có sự tự hài lòng đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy theo ý nghĩa không vượt trội, sự tự hài lòng đối với các quyền theo ý nghĩa nhất vị, sự tự hài lòng theo ý nghĩa khởi động tinh tấn nhằm đạt đến Niết Bàn, sự tự hài lòng theo ý nghĩa rèn luyện. Đối với sơ thiền sự tự hài lòng là phần cuối, bốn tướng trạng này là thuộc về phần cuối, vì thế được nói rằng: “Sơ thiền vừa là tốt đẹp ở phần cuối vừa được thành tựu về tướng trạng.”
Như thế, tâm đã đạt đến ba phận sự là tốt đẹp theo ba cách,* được thành tựu mười tướng trạng,* và còn được thành tựu về tầm, thành tựu về tứ, thành tựu về hỷ, thành tựu về lạc, thành tựu về sự khẳng định tâm, thành tựu về tín, thành tựu về tấn, thành tựu về niệm, thành tựu về định, và thành tựu về tuệ.
Đối với nhị thiền, cái gì là phần đầu? cái gì là phần giữa? cái gì là phần cuối? …(như trên)… Như thế, tâm đã đạt đến ba phận sự là tốt đẹp theo ba cách, được thành tựu mười tướng trạng, và còn được thành tựu về hỷ, thành tựu về lạc, thành tựu về sự khẳng định tâm, …(như trên)…, và thành tựu về tuệ.
Đối với tam thiền, cái gì là phần đầu? cái gì là phần giữa? cái gì là phần cuối? …(nt)… Như thế, tâm đã đạt đến ba phận sự là tốt đẹp theo ba cách, được thành tựu 10 tướng trạng, và còn được thành tựu về lạc, thành tựu về sự khẳng định tâm, thành tựu về tín, thành tựu về tấn, thành tựu về niệm, thành tựu về định, và thành tựu về tuệ.
Đối với tứ thiền, cái gì là phần đầu? cái gì là phần giữa? cái gì là phần cuối? …(nt)… Như thế, tâm đã đạt đến ba phận sự là tốt đẹp theo ba cách, được thành tựu 10 tướng trạng, và còn được thành tựu về xả, thành tựu về sự khẳng định tâm, thành tựu về tín, thành tựu về tấn, thành tựu về niệm, thành tựu về định, và thành tựu về tuệ.
Đối với sự chứng đạt không vô biên xứ …(nt)… sự chứng đạt thức vô biên xứ … sự chứng đạt vô sở hữu xứ … sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, cái gì là phần đầu? cái gì là phần giữa? cái gì là phần cuối? … Như thế, tâm đã đạt đến ba phận sự là tốt đẹp theo ba cách, được thành tựu mười tướng trạng, và còn được thành tựu về xả, thành tựu về sự khẳng định tâm, …(nt)…, và thành tựu về tuệ.
Đối với sự quán xét về vô thường, cái gì là phần đầu? cái gì là phần giữa? cái gì là phần cuối? … Như thế, tâm đã đạt đến ba phận sự là tốt đẹp theo ba cách, được thành tựu 10 tướng trạng, và còn được thành tựu về tầm, thành tựu về tứ, thành tựu về hỷ, thành tựu về lạc, thành tựu về sự khẳng định tâm, thành tựu về tín, thành tựu về tấn, thành tựu về niệm, thành tựu về định, và thành tựu về tuệ.
Đối với sự quán xét về khổ não …(như trên)… Đối với sự quán xét về vô ngã …(nt)… Đối với sự quán xét về sự nhàm chán …(nt)… Đối với sự quán xét về ly tham ái … Đối với sự quán xét về sự diệt tận … Đối với sự quán xét về sự từ bỏ … Đối với sự quán xét về sự đoạn tận … Đối với sự quán xét về sự biến hoại … Đối với sự quán xét về sự chuyển biến … Đối với sự quán xét về vô tướng … Đối với sự quán xét về vô nguyện … Đối với sự quán xét về không tánh … Đối với sự minh sát các pháp bằng thắng tuệ … Đối với sự biết và thấy đúng theo thực thể … Đối với sự quán xét về sự tai hại … Đối với sự quán xét về sự phân biệt rõ … Đối với sự quán xét về sự ly khai …(như trên)…
Đối với Đạo Nhập Lưu, … Đối với Đạo Nhất Lai, … Đối với Đạo Bất Lai, … Đối với Đạo A-la-hán, cái gì là phần đầu? cái gì là phần giữa? cái gì là phần cuối? Đối với Đạo A-la-hán, sự thanh tịnh của việc thực hành là phần đầu, sự tăng cường trạng thái xả là phần giữa, sự tự hài lòng là phần cuối. Sự thanh tịnh của việc thực hành là phần đầu của Đạo A-la-hán. Có bao nhiêu tướng trạng thuộc về phần đầu? Có ba tướng trạng thuộc về phần đầu: …(như trên)…. Đối với Đạo A-la-hán sự thanh tịnh của việc thực hành là phần đầu, ba tướng trạng này là thuộc về phần đầu, vì thế được nói rằng: “Đạo A-la-hán vừa là tốt đẹp ở phần đầu vừa được thành tựu về tướng trạng.”
Đối với Đạo A-la-hán, sự tăng cường trạng thái xả là phần giữa, có bao nhiêu tướng trạng thuộc về phần giữa? Có ba tướng trạng thuộc về phần giữa: Hành giả dửng dưng đối với tâm thanh tịnh, dửng dưng đối với việc đã đạt đến chỉ tịnh, dửng dưng đối với việc thiết lập nhất thể. Việc hành giả dửng dưng đối với tâm thanh tịnh, dửng dưng đối với việc đã đạt đến chỉ tịnh, dửng dưng đối với việc thiết lập nhất thể, vì thế được nói rằng: “Đạo A-la-hán vừa là tốt đẹp ở phần giữa vừa được thành tựu về tướng trạng.”
Đối với Đạo A-la-hán, sự tự hài lòng là phần cuối, có bao nhiêu tướng trạng thuộc về phần cuối? Có bốn tướng trạng thuộc về phần cuối: có sự tự hài lòng đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy theo ý nghĩa không vượt trội, sự tự hài lòng đối với của các quyền theo ý nghĩa nhất vị, sự tự hài lòng theo ý nghĩa khởi động tinh tấn nhằm đạt đến giải thoát Niết Bàn, sự tự hài lòng theo ý nghĩa rèn luyện. Đối với Đạo A-la-hán sự tự hài lòng là phần cuối, bốn tướng trạng này là thuộc về phần cuối, vì thế được nói rằng: “Đạo A-la-hán vừa là tốt đẹp ở phần cuối vừa được thành tựu về tướng trạng.” Như thế, tâm đã đạt đến ba phận sự là tốt đẹp theo ba cách, được thành tựu mười tướng trạng, và còn được thành tựu về tầm, thành tựu về tứ, thành tựu về hỷ, thành tựu về lạc, thành tựu về sự khẳng định tâm, thành tựu về tín, thành tựu về tấn, thành tựu về niệm, thành tựu về định, và thành tựu về tuệ.
Hiện tướng, hơi vào ra → chẳng phải cảnh một tâm,
người không biết ba pháp,
tu tập không thành đạt. (1)
Hiện tướng, hơi vào ra chẳng phải cảnh một tâm,
vị nhận biết ba pháp tu tập được thành công. (2)
Ba pháp này không phải là đối tượng của một tâm, ba pháp này không phải là không được biết đến, tâm không đi đến tản mạn, sự nỗ lực được nhận biết, và (hành giả) hoàn tất việc thực hành, đạt đến sự chứng ngộ là (có ý nghĩa) thế nào?
Cũng giống như thân cây được đặt nằm ở trên mặt đất bằng, một người đàn ông có thể cắt chính nó bằng cái cưa. Niệm của người đàn ông được thiết lập theo tác động của các răng cưa chạm vào thân cây mà không chú ý ở các răng cưa tiến tới hoặc thụt lùi. Các răng cưa tiến tới hoặc thụt lùi không phải là không được biết đến, sự nỗ lực được nhận biết, và (người ấy) hoàn tất nhiệm vụ. Thân cây được đặt nằm ở trên mặt đất bằng như thế nào, hiện tướng do sự gắn liền (của niệm) là như thế ấy. Các răng cưa là như thế nào, hơi thở vào hơi thở ra là như vậy. Như thế niệm của người đàn ông được thiết lập theo tác động của các răng cưa chạm vào thân cây mà không chú ý ở các răng cưa tiến tới hoặc thụt lùi. Các răng cưa tiến tới hoặc thụt lùi không phải là không được biết đến, sự nỗ lực được nhận biết, và (người ấy) hoàn tất nhiệm vụ. Tương tợ như thế, sau khi thiết lập niệm ở chóp mũi hoặc ở môi trên, vị tỳ khưu đang ngồi, không chú ý ở hơi thở vào ra đến hoặc đi. Hơi thở vào ra đến hoặc đi không phải là không được biết đến, sự nỗ lực được nhận biết, và (hành giả) hoàn tất việc thực hành, đạt đến sự chứng ngộ.
Sự nỗ lực: Sự nỗ lực gì? Thân và tâm của vị khởi sự tinh tấn là thích hợp cho hành động; điều này là sự nỗ lực. Việc thực hành gì? Các tùy phiền não của vị khởi sự tinh tấn được dứt bỏ, các tầm được an tịnh; điều này việc thực hành. Sự chứng ngộ gì? Các sự ràng buộc của vị khởi sự tinh tấn được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt; điều này là sự chứng ngộ.
Ba pháp này không phải là đối tượng của một tâm, ba pháp này không phải là không được biết đến, tâm không đi đến tản mạn, sự nỗ lực được nhận biết, và (hành giả) hoàn tất việc thực hành, đạt đến sự chứng ngộ là (có ý nghĩa) như thế.
Vị niệm hơi vào ra → tròn đủ, khéo tu tập,
tuần tự được tích lũy, theo như lời Phật dạy,
tỏa sáng thế giới này, tợ trăng thoát mây che. (3)
Hơi thở vào: là hơi vào không phải hơi ra. Hơi thở ra: là hơi ra không phải hơi vào. Sự thiết lập qua phương tiện hơi thở vào là niệm, sự thiết lập qua phương tiện hơi thở ra là niệm. Niệm được thiết lập đến vị thở vào, niệm được thiết lập đến vị thở ra.
Tròn đủ: được tròn đủ theo ý nghĩa nắm giữ, được tròn đủ theo ý nghĩa phụ trợ, được tròn đủ theo ý nghĩa hoàn bị.
Khéo tu tập: Có bốn sự tu tập: là sự tu tập các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy theo ý nghĩa không vượt trội, là sự tu tập các quyền theo ý nghĩa nhất vị, là sự tu tập theo ý nghĩa khởi động tinh tấn nhằm đạt đến Niết Bàn, là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. Đối với vị ấy, bốn ý nghĩa tu tập này là con thuyền đã được tạo lập, là nền tảng đã được tạo lập, đã được thiết lập, đã được tích lũy, đã được khởi sự vô cùng thanh tịnh.
Con thuyền đã được tạo lập: Vị ấy đạt được ưu thế, đạt được sức mạnh, đạt được sự tự tín ở bất cứ nơi đâu vị ấy mong muốn. Đối với vị ấy, các pháp ấy là đã được gắn bó với sự hướng tâm, đã được gắn bó với lòng mong muốn, đã được gắn bó với tác ý, đã được gắn bó với sự sanh lên của tâm, vì thế được nói rằng: “Con thuyền đã được tạo lập.”
Nền tảng đã được tạo lập: Tâm đã được khẳng định chắc chắn ở nền tảng nào thì niệm được thiết lập tốt đẹp ở nền tảng ấy. Hơn nữa, niệm đã được thiết lập tốt đẹp ở nền tảng nào thì tâm được khẳng định chắn chắn ở nền tảng ấy, vì thế được nói rằng: “Nền tảng đã được tạo lập.”
Đã được thiết lập: Tâm hướng đến với điều nào thì niệm xoay vần với điều ấy, hoặc là niệm xoay vần với điều nào thì tâm hướng đến với điều ấy, vì thế được nói rằng: “Đã được thiết lập.”
Đã được tích lũy: Đã được tích lũy theo ý nghĩa nắm giữ, đã được tích lũy theo ý nghĩa phụ trợ, đã được tròn đủ theo ý nghĩa hoàn bị. Trong khi nắm giữ nhờ vào niệm, vị ấy chiến thắng các pháp ác bất thiện; vì thế được nói rằng: “Đã được tích lũy.”
Đã được khởi sự vô cùng thanh tịnh: Đã được khởi sự vô cùng thanh tịnh có bốn: đã được khởi sự vô cùng thanh tịnh theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã sanh lên trong trường hợp ấy, đã được khởi sự vô cùng thanh tịnh theo ý nghĩa nhất vị đối với các quyền, đã được khởi sự vô cùng thanh tịnh theo ý nghĩa khởi động tinh tấn nhằm đạt đến Niết Bàn, tính chất loại trừ các phiền não đối nghịch với điều ấy là ‘đã được khởi sự vô cùng thanh tịnh.’
Vô cùng thanh tịnh: Có sự thanh tịnh, có sự vô cùng thanh tịnh. Sự thanh tịnh là gì? Là các pháp thiện, không sai trái, dự phần vào giác ngộ đã sanh tại nơi ấy; điều này là sự thanh tịnh. Sự vô cùng thanh tịnh gì? Là cảnh của chính các pháp ấy, tức là sự diệt tận Niết Bàn; điều này là sự vô cùng thanh tịnh. Như thế, sự thanh tịnh này và sự vô cùng thanh tịnh này đã được biết, đã được thấy, đã được biết đến, đã được tác chứng, đã được chạm đến bởi tuệ. Tinh tấn đã được khởi sự là không thối giảm, niệm đã được thiết lập là bị không hư hoại, thân đã được an tịnh không bị trạng thái bực bội, tâm đã được định tĩnh có sự chuyên nhất, vì thế được nói rằng: “Vô cùng thanh tịnh.”
Được tuần tự tích lũy: Được tích lũy từ trước đây và được tích lũy thêm về sau này do năng lực của hơi thở vào dài, được tích lũy từ trước đây và được tích lũy thêm về sau này do năng lực của hơi thở ra dài. Được tích lũy từ trước đây và được tích lũy thêm về sau này do năng lực của hơi thở vào ngắn, được tích lũy từ trước đây và được tích lũy thêm về sau này do năng lực của hơi thở ra ngắn. …(như trên)… Được tích lũy từ trước đây và được tích lũy thêm về sau này do năng lực của hơi thở vào với việc quán xét về từ bỏ, được tích lũy từ trước đây và được tích lũy thêm về sau này do năng lực của hơi thở ra với việc quán xét về từ bỏ. Tất cả niệm hơi thở vào hơi thở ra theo 16 nền tảng không những đã được tích lũy qua lại lẫn nhau mà còn được tích lũy thêm nữa; vì thế được nói rằng: “Được tuần tự tích lũy.”
Theo như: Có mười ý nghĩa của ‘theo như’: ý nghĩa của việc thuần hóa bản thân là ý nghĩa của theo như, ý nghĩa của việc chỉ tịnh bản thân là ý nghĩa của theo như, ý nghĩa của việc làm cho bản thân viên tịch Niết Bàn là ý nghĩa của theo như, ý nghĩa của việc biết rõ là ý nghĩa của theo như, ý nghĩa của việc biết toàn diện là ý nghĩa của theo như, ý nghĩa của việc dứt bỏ là ý nghĩa của theo như, ý nghĩa của việc tu tập là ý nghĩa của theo như, ý nghĩa của việc tác chứng là ý nghĩa của theo như, ý nghĩa của sự lãnh hội chân lý là ý nghĩa của theo như, ý nghĩa của người đã trụ vững trong sự diệt tận là ý nghĩa của theo như.
Phật: Chính vị ấy là đức Thế Tôn, vị chúa tể, vị không có thầy, đã tự mình chứng ngộ các sự thật về các pháp chưa từng được nghe, từ đó đã đạt được quả vị Toàn Giác và bản thể khả năng về các lực.
Phật: Phật theo ý nghĩa gì? ‘Vị đã giác ngộ các chân lý’ là Phật, ‘vị giác ngộ dòng dõi’ là Phật, bởi tính chất biết được tất cả là Phật, bởi tính chất thấy được tất cả là Phật, bởi tính chất không do người khác hướng dẫn là Phật, bởi sự rạng danh (về nhiều đức hạnh) là Phật, bởi đã được công nhận là có các lậu hoặc đã cạn kiệt là Phật, bởi đã được công nhận là thoát khỏi các tùy phiền não là Phật, hoàn toàn lìa khỏi tham ái là Phật, hoàn toàn lìa khỏi sân là Phật, hoàn toàn lìa khỏi si là Phật, hoàn toàn xa lìa phiền não là Phật, vị đã đi đạo lộ nhất thừa là Phật, một mình chứng ngộ quả vị Chánh Đẳng Giác tối thượng là Phật, bản thân đã trừ diệt sự không giác ngộ và thành đạt sự giác ngộ là Phật. Danh hiệu ‘Phật’ không được định đặt bởi mẹ, không được định đặt bởi cha, không được định đặt bởi anh em trai, không được định đặt bởi chị em gái, không được định đặt bởi bạn bè thân hữu, không được định đặt bởi thân quyến cùng huyết thống, không được định đặt bởi các Sa-môn và Bà-la-môn, không được định đặt bởi chư thiên, sự quy định này liên quan đến điểm tận cùng của giải thoát từ sự thành đạt, từ sự tác chứng trí Toàn Giác ở cội cây Bồ Đề của chư Phật Thế Tôn; điều ấy là ‘Phật.’
Đã được giảng dạy: Theo như đã được giảng dạy bởi đức Phật, ý nghĩa của việc thuần hóa bản thân là ý nghĩa của theo như. Theo như đã được giảng dạy bởi đức Phật, ý nghĩa của việc chỉ tịnh bản thân là ý nghĩa của theo như. Theo như đã được giảng dạy bởi đức Phật, ý nghĩa của sự viên tịch Niết Bàn của bản thân là ý nghĩa của theo như. …(nt)… Theo như đã được giảng dạy bởi đức Phật, ý nghĩa của người đã trụ vững trong sự diệt tận là ý nghĩa của theo như.
Vị ấy: là người tại gia hoặc là vị đã xuất gia.
Thế giới: là thế giới của các uẩn, thế giới của các giới, thế giới của các xứ, thế giới có sự bất hạnh, thế giới đem lại sự bất hạnh, thế giới có sự thuận lợi, thế giới đem lại sự thuận lợi. Một thế giới là tất cả chúng sanh được tồn tại nhờ vật thực. …(như trên)… Mười tám thế giới là mười tám giới.
Làm tỏa sáng: Do bản thân đã được chứng ngộ về ý nghĩa của việc thuần hóa bản thân là ý nghĩa của theo như; vị ấy làm chói sáng, làm chiếu sáng, làm tỏa sáng* thế giới này. Do bản thân đã được chứng ngộ về ý nghĩa của việc chỉ tịnh bản thân là ý nghĩa của theo như; vị ấy làm chói sáng, làm chiếu sáng, làm tỏa sáng thế giới này. Do bản thân đã được chứng ngộ về ý nghĩa của sự viên tịch Niết Bàn của bản thân là ý nghĩa của theo như; vị ấy làm chói sáng, làm chiếu sáng, làm tỏa sáng thế giới này. … Do bản thân đã được chứng ngộ về ý nghĩa của người đã trụ vững trong sự diệt tận là ý nghĩa của theo như; vị ấy làm chói sáng, làm chiếu sáng, làm tỏa sáng thế giới này.
Tợ trăng thoát mây che: Đám mây che như thế nào, các phiền não là như thế. Mặt trăng như thế nào, trí của các bậc Thánh là như thế. Vị thiên tử có được mặt trăng như thế nào, vị tỳ khưu là như thế. Giống như mặt trăng được thoát ra khỏi đám mây, được thoát ra khỏi sương mù, được thoát ra khỏi bụi khói, được hoàn toàn ra khỏi hiện tượng nguyệt thực thời chiếu sáng, rạng ngời, và rực rỡ, tương tợ y như thế vị tỳ khưu được thoát ra khỏi toàn bộ phiền não thời chiếu sáng, rạng ngời, và rực rỡ; vì thế được nói rằng: “Tợ trăng thoát mây che.” Đây là mười ba trí trong việc thanh lọc.
Phần giải thích về trí trong việc thanh lọc.
5. Các Trí về việc Thực Hành Niệm
32 trí gì về việc thực hành niệm?
Ở đây, vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến nơi thanh vắng, ngồi xuống, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng và thiết lập niệm luôn hiện diện. Có niệm vị ấy thở vào, có niệm vị ấy thở ra. Hoặc trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài;’ hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra dài.’ Hoặc trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào ngắn;’ hoặc trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn.’ ‘Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập. ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của toàn thân, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘làm cho an tịnh sự tạo tác của toàn thân, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập. ‘Cảm giác hỷ, …(như trên)… ‘Cảm giác lạc, …(như trên)… ‘Cảm giác sự tạo tác của tâm, …(như trên)… ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của tâm, …(như trên)… ‘Cảm giác tâm, …(như trên)… ‘Làm cho tâm được hân hoan, …(như trên)… ‘Làm cho tâm được định tĩnh, …(như trên)… ‘Làm cho tâm được giải thoát, …(như trên)… ‘Quán xét về vô thường, …(như trên)… ‘Quán xét về ly tham, …(như trên)… ‘Quán xét về diệt tận, …(như trên)… ‘Quán xét về từ bỏ, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘quán xét về từ bỏ, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập.
Ở đây: ở quan điểm này, ở sự chấp nhận này, ở khuynh hướng này, ở sự chọn lọc này, ở Pháp này, ở Luật này, ở Pháp và Luật này, ở học thuyết này, ở Phạm hạnh này, ở lời dạy này của bậc Đạo Sư; vì thế được nói rằng: ‘Ở đây.’
Vị tỳ khưu: vị tỳ khưu là phàm nhân hoàn thiện, hoặc là Hữu Học, hoặc là A-la-hán có pháp không thể thay đổi.
Khu rừng: Sau khi đi ra khỏi bên ngoài cọc ranh, toàn bộ khoảng (đất) ấy là khu rừng.
Gốc cây: Ở nơi nào chỗ ngồi của vị tỳ khưu được sắp xếp, là giường, hoặc ghế, hoặc nệm, hoặc tấm đệm ngồi, hoặc mảnh da thú, hoặc thảm cỏ, hoặc thảm lá, hoặc thảm rơm, và vị tỳ khưu đi kinh hành, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm xuống ở tại nơi ấy.
Thanh vắng: không bị lai vãng bởi bất cứ ai, bởi những người tại gia hoặc bởi các vị xuất gia.
Nơi: là trú xá, nhà một mái, tòa nhà dài, khu nhà lớn, hang động.
Ngồi xuống, xếp chân thế kiết già: là vị đã ngồi xuống, đã xếp chân thế kiết già.
Giữ thân thẳng: Thân được duy trì được bố trí ngay thẳng.
Thiết lập niệm luôn hiện diện: ‘Luôn’ theo ý nghĩa nắm giữ, ‘Hiện diện’ theo ý nghĩa dẫn xuất, ‘Niệm’ theo ý nghĩa thiết lập; vì thế được nói rằng: “Thiết lập niệm luôn hiện diện.”
Có niệm vị ấy thở vào, có niệm vị ấy thở ra: là người thực hành có niệm theo 32 phương thức: Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy là người thực hành có niệm. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở ra dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy là người thực hành có niệm. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào ngắn, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy là người thực hành có niệm. …(như trên)… Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm có sự quán xét về từ bỏ nhờ tác động của hơi thở vào, …(như trên)… có sự quán xét về từ bỏ nhờ tác động của hơi thở ra, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy là người thực hành có niệm.
Trong khi thở vào dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào dài;’ hoặc trong khi thở ra dài, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra dài’ là (có ý nghĩa) thế nào? Vị ấy thở vào hơi thở vào dài trong thời gian được công nhận là lâu, vị ấy thở ra hơi thở ra dài trong thời gian được công nhận là lâu, vị ấy thở vào cũng như thở ra hơi thở vào hơi thở ra dài trong thời gian được công nhận là lâu, đối với vị đang thở vào cũng như đang thở ra hơi thở vào hơi thở ra dài trong thời gian được công nhận là lâu, có ước muốn sanh lên.
Do tác động của ước muốn, vị ấy thở vào hơi thở vào dài vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là lâu; do tác động của ước muốn, vị ấy thở ra hơi thở ra dài vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là lâu; do tác động của ước muốn, vị ấy thở vào cũng như thở ra hơi thở vào hơi thở ra dài vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là lâu; do tác động của ước muốn, đối với vị đang thở vào cũng như đang thở ra hơi thở vào hơi thở ra dài vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là lâu, có hân hoan sanh lên.
Do tác động của hân hoan, vị ấy thở vào hơi thở vào dài vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là lâu; do tác động của hân hoan, vị ấy thở ra hơi thở ra dài vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là lâu; do tác động của hân hoan, vị ấy thở vào cũng như thở ra hơi thở vào hơi thở ra dài vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là lâu; do tác động của hân hoan, đối với vị đang thở vào cũng như đang thở ra hơi thở vào hơi thở ra dài vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là lâu, tâm ly khai hơi thở vào hơi thở ra dài và trạng thái xả được thành lập.
Theo chín phương thức này, hơi thở vào hơi thở ra dài là thân, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, thân là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét thân ấy; vì thế được nói rằng: “Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét thân trên thân.”
Quán xét: Quán xét thân ấy là (có ý nghĩa) thế nào? Quán xét về vô thường, không phải về thường; quán xét về khổ não, không phải về lạc; quán xét về vô ngã, không phải về ngã; nhàm chán, không vui thích; ly tham ái, không tham ái; làm cho diệt tận, không làm cho sanh khởi; từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi quán xét về vô thường, (vị ấy) dứt bỏ thường tưởng; trong khi quán xét về khổ não, (vị ấy) dứt bỏ lạc tưởng; trong khi quán xét về vô ngã, (vị ấy) dứt bỏ ngã tưởng; trong khi nhàm chán, (vị ấy) dứt bỏ sự vui thích; trong khi ly tham ái, (vị ấy) dứt bỏ tham ái; trong khi làm cho diệt tận, (vị ấy) dứt bỏ sự sanh khởi; trong khi từ bỏ, (vị ấy) dứt bỏ sự nắm giữ; quán xét thân ấy là (có ý nghĩa) như thế.
Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: là sự tu tập các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy theo ý nghĩa không vượt trội, là sự tu tập các quyền theo ý nghĩa nhất vị, là sự tu tập theo ý nghĩa khởi động tinh tấn nhằm đạt đến Niết Bàn, là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra dài, các thọ sanh lên được biết đến, (các thọ) thiết lập được biết đến, (các thọ) đi đến biến hoại được biết đến, các tưởng sanh lên được biết đến, (các tưởng) thiết lập được biết đến, (các tưởng) đi đến biến hoại được biết đến, các tầm sanh lên được biết đến, (các tầm) thiết lập được biết đến, (các tầm) đi đến biến hoại được biết đến.
Các thọ sanh lên được biết đến, thiết lập được biết đến, đi đến biến hoại được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Sự sanh lên của thọ được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Sự sanh lên của thọ được biết đến theo ý nghĩa sanh khởi do duyên: ‘Do sự sanh khởi của vô minh, có sự sanh khởi của thọ.’ Sự sanh lên của thọ được biết đến theo ý nghĩa sanh khởi do duyên: ‘Do sự sanh khởi của ái, có sự sanh khởi của thọ,’ …(như trên)… ‘Do sự sanh khởi của nghiệp, có sự sanh khởi của thọ,’ …(như trên)… ‘Do sự sanh khởi của xúc, có sự sanh khởi của thọ;’ đối với vị nhìn thấy tướng trạng của sự tái tạo, sự sanh lên của thọ được biết đến. Sự sanh lên của thọ được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.
Sự thiết lập của thọ được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang tác ý về vô thường, sự thiết lập của đoạn tận được biết đến; đối với vị đang tác ý về khổ não, sự thiết lập của kinh hãi được biết đến; đối với vị đang tác ý về vô ngã, sự thiết lập của không tánh được biết đến. Sự thiết lập của thọ được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.
Sự biến mất của thọ được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Sự biến mất của thọ được biết đến theo ý nghĩa diệt tận do duyên: ‘Do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của thọ.’ Sự biến mất của thọ được biết đến theo ý nghĩa diệt tận do duyên: ‘Do sự diệt tận của ái, có sự diệt tận của thọ,’ …(như trên)… ‘Do sự diệt tận của nghiệp, có sự diệt tận của thọ,’ …(như trên)… ‘Do sự diệt tận của xúc, có sự diệt tận của thọ;’ đối với vị nhìn thấy tướng trạng của sự chuyển biến, sự biến mất của thọ được biết đến. Sự biến mất của thọ được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.
Các thọ sanh lên được biết đến, thiết lập được biết đến, đi đến biến hoại được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.
Các tưởng sanh lên được biết đến, thiết lập được biết đến, đi đến biến hoại được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Sự sanh lên của tưởng được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Sự sanh lên của tưởng được biết đến theo ý nghĩa sanh khởi do duyên: ‘Do sự sanh khởi của vô minh, có sự sanh khởi của tưởng.’ Sự sanh lên của tưởng được biết đến theo ý nghĩa sanh khởi do duyên: ‘Do sự sanh khởi của ái, có sự sanh khởi của tưởng,’ …(như trên)… ‘Do sự sanh khởi của nghiệp, có sự sanh khởi của tưởng,’ …(như trên)… ‘Do sự sanh khởi của xúc, có sự sanh khởi của tưởng;’ đối với vị nhìn thấy tướng trạng của sự tái tạo, sự sanh lên của tưởng được biết đến. Sự sanh lên của tưởng được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.
Sự thiết lập của tưởng được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang tác ý về vô thường, sự thiết lập của đoạn tận được biết đến; đối với vị đang tác ý về khổ não, sự thiết lập của kinh hãi được biết đến; đối với vị đang tác ý về vô ngã, sự thiết lập của không tánh được biết đến. Sự thiết lập của tưởng được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.
Sự biến mất của tưởng được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Sự biến mất của tưởng được biết đến theo ý nghĩa diệt tận do duyên: ‘Do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của tưởng.’ Sự biến mất của tưởng được biết đến theo ý nghĩa diệt tận do duyên: ‘Do sự diệt tận của ái, có sự diệt tận của tưởng,’ …(như trên)… ‘Do sự diệt tận của nghiệp, có sự diệt tận của tưởng,’ …(như trên)… ‘Do sự diệt tận của xúc, có sự diệt tận của tưởng;’ đối với vị nhìn thấy tướng trạng của sự chuyển biến, sự biến mất của tưởng được biết đến. Sự biến mất của tưởng được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.
Các tưởng sanh lên được biết đến, thiết lập được biết đến, đi đến biến hoại được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.
Các tầm sanh lên được biết đến, thiết lập được biết đến, đi đến biến hoại được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Sự sanh lên của các tầm được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Sự sanh lên của các tầm được biết đến theo ý nghĩa sanh khởi do duyên: ‘Do sự sanh khởi của vô minh, có sự sanh khởi của tầm.’ Sự sanh lên của các tầm được biết đến theo ý nghĩa sanh khởi do duyên: ‘Do sự sanh khởi của ái, có sự sanh khởi của tầm,’ …(như trên)… ‘Do sự sanh khởi của nghiệp, có sự sanh khởi của tầm,’ …(như trên)… ‘Do sự sanh khởi của tưởng, có sự sanh khởi của tầm;’ đối với vị nhìn thấy tướng trạng của sự tái tạo, sự sanh lên của các tầm được biết đến. Sự sanh lên của các tầm được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.
Sự thiết lập của các tầm được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang tác ý về vô thường, sự thiết lập của đoạn tận được biết đến; đối với vị đang tác ý về khổ não, sự thiết lập của kinh hãi được biết đến; đối với vị đang tác ý về vô ngã, sự thiết lập của không tánh được biết đến. Sự thiết lập của các tầm được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.
Sự biến mất của các tầm được biết đến là (có ý nghĩa) thế nào? Sự biến mất của các tầm được biết đến theo ý nghĩa diệt tận do duyên: ‘Do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của tầm.’ Sự biến mất của các tầm được biết đến theo ý nghĩa diệt tận do duyên: ‘Do sự diệt tận của ái, có sự diệt tận của tầm,’ …(nt)… ‘Do sự diệt tận của nghiệp, có sự diệt tận của tầm,’ …(nt)… ‘Do sự diệt tận của xúc, có sự diệt tận của tầm;’ đối với vị nhìn thấy tướng trạng của sự chuyển biến, sự biến mất của các tầm được biết đến. Sự biến mất của các tầm được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.
Các tầm sanh lên được biết đến, thiết lập được biết đến, đi đến biến hoại được biết đến là (có ý nghĩa) như thế.
Trong khi nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra dài, (vị ấy) liên kết các quyền, nhận biết hành xứ, và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh. …(nt)… (vị ấy) liên kết các lực, …(nt)… các giác chi …(nt)… Đạo …(nt)… các pháp, nhận biết hành xứ, và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.
Liên kết các quyền: Liên kết các quyền là (có ý nghĩa) thế nào? Liên kết tín quyền theo ý nghĩa cương quyết, liên kết tấn quyền theo ý nghĩa ra sức, liên kết niệm quyền theo ý nghĩa thiết lập, liên kết định quyền theo ý nghĩa không tản mạn, liên kết tuệ quyền theo ý nghĩa nhận thức; vì thế được nói rằng: “Liên kết các quyền.”
Nhận biết hành xứ: Điều nào là đối tượng của vị ấy, điều ấy là hành xứ của vị ấy; điều nào là hành xứ của vị ấy, điều ấy là đối tượng của vị ấy. Nhận biết: là người (nhận biết); sự nhận biết là tuệ.
Thanh tịnh: Sự thiết lập đối tượng là thanh tịnh, sự không tản mạn của tâm là thanh tịnh, sự khẳng định của tâm là thanh tịnh, sự thanh lọc của tâm là thanh tịnh. Ý nghĩa: Ý nghĩa không sai trái, ý nghĩa xa lìa phiền não, ý nghĩa thanh lọc, ý nghĩa tối thắng.
Thấu triệt: thấu triệt ý nghĩa thiết lập đối tượng, thấu triệt ý nghĩa không tản mạn của tâm, thấu triệt ý nghĩa khẳng định của tâm, thấu triệt ý nghĩa thanh lọc của tâm; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.”
Liên kết các lực: Liên kết các lực là (có ý nghĩa) thế nào? Liên kết tín lực theo ý nghĩa không dao động ở sự không có đức tin, liên kết tấn lực theo ý nghĩa không dao động ở sự biếng nhác, liên kết niệm lực theo ý nghĩa không dao động ở sự buông lung, liên kết định lực theo ý nghĩa không dao động ở sự phóng dật, liên kết tuệ lực theo ý nghĩa không dao động ở sự không sáng suốt. Người này liên kết các lực này trong đối tượng này; vì thế được nói rằng: “Liên kết các lực.” Nhận biết hành xứ: …(như trên)…; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.”
Liên kết các giác chi: Liên kết các giác chi là (có ý nghĩa) thế nào? Liên kết niệm giác chi theo ý nghĩa thiết lập, liên kết trạch pháp giác chi theo ý nghĩa suy xét, liên kết cần giác chi theo ý nghĩa ra sức, liên kết hỷ giác chi theo ý nghĩa lan tỏa, liên kết tịnh giác chi theo ý nghĩa an tịnh, liên kết định giác chi theo ý nghĩa không tản mạn, liên kết xả giác chi theo ý nghĩa phân biệt rõ. Người này liên kết các giác chi này trong đối tượng này; vì thế được nói rằng: “Liên kết các giác chi.” Nhận biết hành xứ: …(như trên)…; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.”
Liên kết Đạo: Liên kết Đạo là (có ý nghĩa) thế nào? Liên kết chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức, liên kết chánh tư duy theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh), liên kết chánh ngữ theo ý nghĩa gìn giữ, liên kết chánh nghiệp theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, liên kết chánh mạng theo ý nghĩa trong sạch, liên kết chánh tinh tấn theo ý nghĩa ra sức, liên kết chánh niệm theo ý nghĩa thiết lập, liên kết chánh định theo ý nghĩa không tản mạn; người này liên kết Đạo này trong đối tượng này; vì thế được nói rằng: “Liên kết Đạo.” Nhận biết hành xứ: …(như trên)…; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.”
Liên kết các pháp: Liên kết các pháp là (có ý nghĩa) thế nào? Liên kết các quyền theo ý nghĩa pháp chủ đạo, liên kết các lực theo ý nghĩa không dao động, liên kết các giác chi theo ý nghĩa dẫn xuất (ra khỏi luân hồi), liên kết Đạo theo ý nghĩa chủng tử, liên kết sự thiết lập niệm theo ý nghĩa thiết lập, liên kết chánh cần theo ý nghĩa nỗ lực, liên kết nền tảng của thần thông theo ý nghĩa thành tựu, liên kết chân lý theo ý nghĩa của thực thể, liên kết chỉ tịnh theo ý nghĩa không tản mạn, liên kết minh sát theo ý nghĩa quán xét, liên kết chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa nhất vị, liên kết sự kết hợp chung theo ý nghĩa không vượt trội, liên kết giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, liên kết tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tản mạn, liên kết kiến thanh tịnh theo ý nghĩa nhận thức, liên kết sự phóng thích theo ý nghĩa được giải thoát, liên kết minh theo ý nghĩa thấu triệt, liên kết sự giải thoát theo ý nghĩa buông bỏ, liên kết trí về sự đoạn tận theo ý nghĩa đoạn trừ, liên kết trí về vô sanh theo ý nghĩa tỉnh lặng, liên kết ước muốn theo ý nghĩa nguồn cội, liên kết tác ý theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, liên kết xúc theo ý nghĩa liên kết, liên kết thọ theo ý nghĩa hội tụ, liên kết định theo ý nghĩa dẫn đầu, liên kết niệm theo ý nghĩa pháp chủ đạo, liên kết tuệ theo ý nghĩa cao thượng trong các pháp thiện, liên kết sự giải thoát theo ý nghĩa cốt lỏi, liên kết Niết Bàn liên quan đến bất tử theo ý nghĩa kết thúc; người này liên kết các pháp này trong đối tượng này; vì thế được nói rằng: “Liên kết các pháp.”
Nhận biết hành xứ: Điều gì là đối tượng của vị ấy, điều ấy là hành xứ của vị ấy; điều gì là hành xứ của vị ấy, điều ấy là đối tượng của vị ấy. Nhận biết: là người (nhận biết); sự nhận biết là tuệ.
Thanh tịnh: Sự thiết lập đối tượng là thanh tịnh, sự không tản mạn của tâm là thanh tịnh, sự khẳng định của tâm là thanh tịnh, sự thanh lọc của tâm là thanh tịnh. Ý nghĩa: Ý nghĩa không sai trái, ý nghĩa xa lìa phiền não, ý nghĩa thanh lọc, ý nghĩa tối thắng. Thấu triệt: thấu triệt ý nghĩa thiết lập đối tượng, thấu triệt ý nghĩa không tản mạn của tâm, thấu triệt ý nghĩa khẳng định của tâm, thấu triệt ý nghĩa thanh lọc của tâm; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.” (1)
Trong khi thở vào ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở vào ngắn;’ trong khi thở ra ngắn, vị ấy nhận biết: ‘Tôi thở ra ngắn’ là (có ý nghĩa) thế nào?
Vị ấy thở vào hơi thở vào ngắn trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi. Vị ấy thở ra hơi thở ra ngắn trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi. Vị ấy thở vào cũng như thở ra hơi thở vào hơi thở ra ngắn trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi. Đối với vị đang thở vào cũng như đang thở ra hơi thở vào hơi thở ra ngắn trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi, có ước muốn sanh lên.
Do tác động của ước muốn, vị ấy thở vào hơi thở vào ngắn vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi; do tác động của ước muốn, vị ấy thở ra hơi thở ra ngắn vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi; do tác động của ước muốn, vị ấy thở vào cũng như thở ra hơi thở vào hơi thở ra ngắn vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi; do tác động của ước muốn, đối với vị đang thở vào cũng như đang thở ra hơi thở vào hơi thở ra ngắn vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi, có hân hoan sanh lên.
Do tác động của hân hoan, vị ấy thở vào hơi thở vào ngắn vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi; do tác động của hân hoan, vị ấy thở ra hơi thở ra ngắn vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi; do tác động của hân hoan, vị ấy thở vào cũng như thở ra hơi thở vào hơi thở ra ngắn vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi; do tác động của hân hoan, đối với vị đang thở vào cũng như đang thở ra hơi thở vào hơi thở ra ngắn vi tế hơn trước trong thời gian được công nhận là ngắn ngủi, tâm ly khai hơi thở vào hơi thở ra ngắn, có trạng thái xả được thành lập.
Theo chín phương thức này, hơi thở vào hơi thở ra ngắn là thân, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, thân là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét thân ấy; vì thế được nói rằng: “Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét thân trên thân.”
Quán xét: Quán xét thân ấy là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… quán xét thân ấy là (có ý nghĩa) như thế. Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra ngắn, các thọ sanh lên được biết đến, …(như trên)… Trong khi nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra ngắn, (vị ấy) liên kết các quyền, …(như trên)…; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.” (2)
‘Cảm giác toàn thân tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘cảm giác toàn thân tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?
Thân: Có hai loại thân: thân của danh và thân của sắc. Thân của danh là gì? Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý, danh và thân của danh, và những gì được gọi là các sự tạo tác của tâm; đây là thân của danh. Thân của sắc là gì? Tứ đại* và sắc nương vào tứ đại, hơi thở vào hơi thở ra và hiện tướng do sự gắn liền (của niệm), và những gì được gọi là các sự tạo tác của thân; đây là thân của sắc.
Các thân ấy được cảm nhận là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, các thân ấy được cảm nhận. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở ra dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, các thân ấy được cảm nhận. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào ngắn, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, các thân ấy được cảm nhận. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở ra ngắn, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, các thân ấy được cảm nhận.
Đối với vị đang hướng tâm, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang nhận biết, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang nhận thức, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang quán xét lại, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang khẳng định tâm, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang có khuynh hướng về đức tin, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang nắm giữ tinh tấn, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang thiết lập niệm, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang tập trung tâm, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang nhận biết bằng tuệ, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang biết rõ các pháp cần được biết rõ, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang biết toàn diện các pháp cần được biết toàn diện, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang dứt bỏ các pháp cần được dứt bỏ, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang tu tập các pháp cần được tu tập, các thân ấy được cảm nhận; đối với vị đang tác chứng các pháp cần được tác chứng, các thân ấy được cảm nhận; các thân ấy được cảm nhận là như vậy.
Cảm giác toàn thân, hơi thở vào hơi thở ra là thân, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, thân là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét thân ấy; vì thế được nói rằng: “Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét thân trên thân.”
Quán xét: Quán xét thân ấy là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… Quán xét thân ấy là (có ý nghĩa) như thế. Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. Cảm giác toàn thân đối với hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, là tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tản mạn, là kiến thanh tịnh theo ý nghĩa nhận thức. Trong trường hợp ấy ý nghĩa thu thúc là sự học tập về thắng giới, trong trường hợp ấy ý nghĩa không tản mạn là sự học tập về thắng tâm, trong trường hợp ấy ý nghĩa nhận thức là sự học tập về thắng tuệ. Trong khi hướng tâm đến ba sự học tập này vị ấy tập, trong khi nhận biết vị ấy tập, trong khi nhận thức vị ấy tập, trong khi quán xét lại vị ấy tập, trong khi khẳng định tâm vị ấy tập, trong khi có khuynh hướng về đức tin vị ấy tập, trong khi nắm giữ tinh tấn vị ấy tập, trong khi thiết lập niệm vị ấy tập, trong khi tập trung tâm vị ấy tập, trong khi nhận biết bằng tuệ vị ấy tập, trong khi biết rõ các pháp cần được biết rõ vị ấy tập, trong khi biết toàn diện các pháp cần được biết toàn diện vị ấy tập, trong khi dứt bỏ các pháp cần được dứt bỏ vị ấy tập, trong khi tu tập các pháp cần được tu tập vị ấy tập, trong khi tác chứng các pháp cần được tác chứng vị ấy tập.
Cảm giác toàn thân, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, các thọ sanh lên được biết đến, …(như trên)… Cảm giác toàn thân, trong khi nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, (vị ấy) liên kết các quyền, …(như trên)…; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.” (3)
‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập, là (có ý nghĩa) thế nào? Sự tạo tác của thân là (có ý nghĩa) thế nào?
Các hơi thở vào dài là thuộc về thân, các pháp này được gắn bó với thân, là các sự tạo tác của thân; trong khi làm cho an tịnh, làm cho diệt tận, làm cho bình lặng các sự tạo tác của thân ấy, vị ấy tập. Các hơi thở ra dài là thuộc về thân, các pháp này được gắn bó với thân, là các sự tạo tác của thân; trong khi làm cho an tịnh, làm cho diệt tận, làm cho bình lặng các sự tạo tác của thân ấy, vị ấy tập. Các hơi thở vào ngắn …(như trên)… Các hơi thở vào dài …(như trên)… Cảm giác toàn thân, các hơi thở vào là thuộc về thân … Cảm giác toàn thân, các hơi thở ra là thuộc về thân …(như trên)… các pháp này được gắn bó với thân, là các sự tạo tác của thân; trong khi làm cho an tịnh, làm cho diệt tận, làm cho bình lặng các sự tạo tác của thân ấy, vị ấy tập.
Với các sự tạo tác của thân có hình thức như là sự ngã lui, sự nghiêng hai bên, sự nghiêng ngã, sự ngã tới, sự loạn động, sự rúng động, sự chao động, sự chuyển động của thân, vị ấy tập như vầy: ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập như vầy: ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra.’ Với các sự tạo tác của thân có hình thức như là không có sự ngã lui, không có sự nghiêng hai bên, không có sự nghiêng ngã, không có sự ngã tới, sự không loạn động, sự không rúng động, sự không chao động, sự không chuyển động, sự an tịnh, sự nhu thuận của thân, vị ấy tập như vầy: ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập như vầy: ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra.’ Như vậy là nói rằng: ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập. Khi an tịnh như thế, không có sự tạo ra việc nhận biết làn hơi gió, không có sự tạo ra hơi thở vào hơi thở ra, không có sự tạo ra niệm về hơi thở vào hơi thở ra, không có sự tạo ra định của hơi thở vào hơi thở ra, và các bậc trí cũng không nhập vào và cũng không xuất ra khỏi chính sự chứng đạt ấy. Như vậy là nói rằng: ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập. Khi an tịnh như vậy, có sự tạo ra việc tiếp cận làn hơi gió, có sự tạo ra hơi thở vào hơi thở ra, có sự tạo ra niệm về hơi thở vào hơi thở ra, có sự tạo ra định của hơi thở vào hơi thở ra, và các bậc trí cũng thể nhập vào và cũng xuất ra khỏi chính sự chứng đạt ấy.
Như thế là (có ý nghĩa) thế nào? Cũng giống như khi tiếng cồng được đánh lên, trước tiên có các âm thanh thô tháo vận hành; hiện tướng của các âm thanh thô tháo là có tình trạng được thâu nhận rõ ràng, có tình trạng được đặc biệt lưu ý, có tình trạng được lưu lại rõ rệt. Khi âm thanh thô tháo chấm dứt, tiếp theo đó có các âm thanh êm dịu vận hành; hiện tướng của các âm thanh êm dịu có tình trạng được thâu nhận rõ ràng, có tình trạng được đặc biệt lưu ý, có tình trạng được lưu lại rõ rệt. Khi âm thanh êm dịu chấm dứt, tiếp theo đó có tâm vận hành do có hiện tướng của âm thanh êm dịu là đối tượng. Tương tợ như thế, trước tiên có các hơi thở vào hơi thở ra thô tháo vận hành; hiện tướng của các hơi thở vào hơi thở ra thô tháo là có tình trạng được thâu nhận rõ ràng, có tình trạng được đặc biệt lưu ý, có tình trạng được lưu lại rõ rệt. Khi các hơi thở vào hơi thở ra thô tháo chấm dứt, tiếp theo đó có các hơi thở vào hơi thở ra êm dịu vận hành; hiện tướng của các hơi thở vào hơi thở ra êm dịu là có tình trạng được thâu nhận rõ ràng, có tình trạng được đặc biệt lưu ý, có tình trạng được lưu lại rõ rệt. Khi các hơi thở vào hơi thở ra êm dịu chấm dứt, tiếp theo đó tâm không đi đến tản mạn do có hiện tướng hơi thở vào hơi thở ra êm dịu là đối tượng.
Khi an tịnh như vậy, có sự tạo ra việc tiếp cận làn hơi gió, có sự tạo ra hơi thở vào hơi thở ra, có sự tạo thành niệm về hơi thở vào hơi thở ra, có sự tạo ra định của hơi thở vào hơi thở ra, và các bậc trí cũng thể nhập vào và cũng xuất ra khỏi chính sự chứng đạt ấy.
Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, các hơi thở vào hơi thở ra là thân, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, thân là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét thân ấy; vì thế được nói rằng: “Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét thân trên thân.”
Quán xét: Quán xét thân ấy là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… Quán xét thân ấy là (có ý nghĩa) như thế. Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân đối với hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, là kiến thanh tịnh theo ý nghĩa nhận thức. Trong trường hợp ấy ý nghĩa thu thúc là sự học tập về thắng giới, trong trường hợp ấy ý nghĩa không tản mạn là sự học tập về thắng tâm, trong trường hợp ấy ý nghĩa nhận thức là sự học tập về thắng tuệ. Trong khi hướng tâm đến ba sự học tập này vị ấy tập, …(như trên)…; trong khi tác chứng các pháp cần được tác chứng vị ấy tập.
Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, thọ sanh lên được biết đến, …(như trên)… Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân, trong khi nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra (vị ấy) liên kết các quyền, …(như trên)…; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.” (4)
Tám trí về quán xét, tám tùy niệm về sự thiết lập, và bốn nền tảng thuộc Kinh về việc quán xét thân trên thân.
Nhóm bốn thứ nhất.
‘Cảm giác hỷ, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘cảm giác hỷ, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?
Hỷ là gì? Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào dài, hỷ và hân hoan sanh lên. Hỷ là sự hân hoan, là sự hoan hỷ, là sự thích thú, là sự vui mừng, là sự mừng rỡ, là sự phấn khởi, là sự thỏa thích của tâm. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở ra dài, …(như trên)… nhờ tác động của hơi thở vào ngắn, …(như trên)… nhờ tác động của hơi thở ra ngắn, …(như trên)… Cảm giác toàn thân nhờ tác động của hơi thở vào …(nt)… Cảm giác toàn thân nhờ tác động của hơi thở ra …(nt)… Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân nhờ tác động của hơi thở vào …(như trên)… Cảm giác toàn thân nhờ tác động của hơi thở ra, hỷ và hân hoan sanh lên. Hỷ là sự hân hoan, là sự hoan hỷ, là sự thích thú, là sự vui mừng, là sự mừng rỡ, là sự phấn khởi, là sự thỏa thích của tâm, điều này là hỷ.
Hỷ ấy được cảm nhận thế nào? Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, hỷ ấy được cảm nhận. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở ra dài …(như trên)… nhờ tác động của hơi thở vào ngắn …(nt)… nhờ tác động của hơi thở ra ngắn …(nt)… Cảm giác toàn thân nhờ tác động của hơi thở vào …(nt)… Cảm giác toàn thân nhờ tác động của hơi thở ra …(nt)… Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân nhờ tác động của hơi thở vào …(nt)… Cảm giác toàn thân nhờ tác động của hơi thở ra, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, hỷ ấy được cảm nhận. Đối với vị đang hướng tâm, hỷ ấy được cảm nhận; đối với vị đang nhận biết …(nt)… đối với vị đang nhận thức …(nt)… đối với vị đang quán xét lại …(nt)… đối với vị đang khẳng định tâm …(nt)… đối với vị đang có khuynh hướng về đức tin …(nt)… đối với vị đang nắm giữ tinh tấn …(nt)… đối với vị đang thiết lập niệm …(nt)… đối với vị đang tập trung tâm …(nt)… đối với vị đang nhận biết bằng tuệ …(nt)… đối với vị đang biết rõ các pháp cần được biết rõ …(nt)… đối với vị đang biết toàn diện các pháp cần được biết toàn diện …(nt)… đối với vị đang dứt bỏ các pháp cần được dứt bỏ …(nt)… đối với vị đang tu tập các pháp cần được tu tập …(như trên)… đối với vị đang tác chứng các pháp cần được tác chứng, hỷ ấy được cảm nhận. Hỷ ấy được cảm nhận là như vậy.
Cảm giác hỷ nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra là thọ, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, thọ là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét thọ ấy; vì thế được nói rằng: “Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét thọ trên các thọ.”
Quán xét: Quán xét thọ ấy là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… quán xét thọ ấy là (có ý nghĩa) như thế. Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Cảm giác hỷ đối với hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, …(như trên)… Cảm giác hỷ, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, …(nt)… trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.” (1)
‘Cảm giác lạc, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘cảm giác lạc, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?
Lạc: Có hai loại lạc: lạc thuộc thân và lạc thuộc tâm. Lạc gì thuộc thân? Điều gì thoải mái thuộc thân là lạc thuộc thân, sự thoải mái sanh ra từ xúc chạm của thân là lạc được cảm thọ, do sự thoải mái sanh ra từ xúc chạm của thân là lạc thọ; điều này là lạc thuộc thân. Lạc gì thuộc tâm? Điều gì thoải mái thuộc tâm là lạc thuộc tâm, sự thoải mái sanh ra từ xúc chạm của ý là lạc được cảm thọ, do sự thoải mái sanh ra từ xúc chạm của ý là lạc thọ; điều này là lạc thuộc tâm.
Các lạc ấy được cảm nhận thế nào? Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, các lạc ấy được cảm nhận. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở ra dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, các lạc ấy được cảm nhận. …(như trên)…; đối với vị đang tác chứng các pháp cần được tác chứng, các lạc ấy được cảm nhận. Các lạc ấy được cảm nhận là như vậy.
Cảm giác lạc nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra là thọ, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, thọ là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét thọ ấy; vì thế được nói rằng: “Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét thọ trên các thọ.”
Quán xét: Quán xét thọ ấy là (có ý nghĩa) thế nào? Quán xét là vô thường …(như trên)… quán xét thọ ấy là (có ý nghĩa) như thế. Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Cảm giác lạc đối với hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, …(như trên)… Cảm giác lạc, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, …(nt)… trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.” (2)
‘Cảm giác sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘cảm giác sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?
Sự tạo tác của tâm là gì? Nhờ tác động của hơi thở vào dài, (có) tưởng và thọ thuộc tâm; các pháp này được gắn bó với tâm, là các sự tạo tác của tâm. Nhờ tác động của hơi thở ra dài, (có) tưởng và thọ thuộc tâm; các pháp này được gắn bó với tâm, là các sự tạo tác của tâm. …(như trên)…. Cảm giác lạc nhờ tác động của hơi thở vào …(như trên)… Cảm giác lạc nhờ tác động của hơi thở ra là tưởng và thọ thuộc tâm; các pháp này được gắn bó với tâm, là các sự tạo tác của tâm. Đây là sự tạo tác của tâm.
Các sự tạo tác của tâm ấy được cảm nhận thế nào? Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, các sự tạo tác của tâm ấy được cảm nhận. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở ra dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, các sự tạo tác của tâm ấy được cảm nhận. …(như trên)…; đối với vị đang tác chứng các pháp cần được tác chứng, các sự tạo tác của tâm ấy được cảm nhận. Các sự tạo tác của tâm ấy được cảm nhận là như vậy.
Cảm giác sự tạo tác của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra là thọ, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, thọ là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét thọ ấy; vì thế được nói rằng: “Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét thọ trên các thọ.”
Quán xét: Quán xét thọ ấy là (có ý nghĩa) thế nào? Quán xét là vô thường …(nt)… quán xét thọ ấy là (có ý nghĩa) như thế. Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: …(nt)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Cảm giác sự tạo tác của tâm đối với hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, …(như trên)… Cảm giác sự tạo tác của tâm, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, …(như trên)… trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.” (3)
‘Làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘làm an tịnh sự tạo tác của tâm, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?
Sự tạo tác của tâm là gì? Nhờ tác động của hơi thở vào dài, (có) tưởng và thọ thuộc tâm, …(như trên)… Nhờ tác động của hơi thở ra dài, (có) tưởng và thọ thuộc tâm, các pháp này được gắn bó với tâm, là các sự tạo tác của tâm; trong khi làm cho an tịnh, làm cho diệt tận, làm cho bình lặng các sự tạo tác của tâm ấy, vị ấy tập. Cảm giác sự tạo tác của tâm nhờ tác động của hơi thở vào …(như trên)… Cảm giác sự tạo tác của tâm nhờ tác động của hơi thở ra là tưởng và thọ thuộc tâm; các pháp này được gắn bó với tâm, là các sự tạo tác của tâm; trong khi làm cho an tịnh, làm cho diệt tận, làm cho bình lặng các sự tạo tác của tâm ấy, vị ấy tập.
Làm cho an tịnh sự tạo tác của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra là thọ, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, thọ là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét thọ ấy; vì thế được nói rằng: “Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét thọ trên các thọ.”
Quán xét: Quán xét thọ ấy là (có ý nghĩa) thế nào? Quán xét là vô thường …(nt)… quán xét thọ ấy là (có ý nghĩa) như thế. Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: …(nt)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Làm cho an tịnh sự tạo tác của tâm đối với hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, …(như trên)… Làm cho an tịnh sự tạo tác của tâm, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, …(như trên)… trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.” (4)
Tám trí về quán xét, tám tùy niệm về sự thiết lập, và bốn nền tảng thuộc Kinh về việc quán xét thọ trên các thọ.
Nhóm bốn thứ nhì.
‘Cảm giác tâm, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘cảm giác tâm, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?
Tâm ấy là gì? Nhờ tác động của hơi thở vào dài, có sự nhận thức là tâm. Tâm tức là ý, là tinh thần, là tim, là sắc trắng, là ý xứ, là ý quyền, là thức, là thức uẩn, là ý thức giới sanh ra từ điều ấy. Nhờ tác động của hơi thở ra dài, …(nt)… Làm cho an tịnh sự tạo tác của tâm nhờ tác động của hơi thở vào, …(nt)… Làm cho an tịnh sự tạo tác của tâm nhờ tác động của hơi thở ra có sự nhận thức là tâm. Tâm tức là ý, là tinh thần, là tim, là sắc trắng, là ý xứ, là ý quyền, là thức, là thức uẩn, là ý thức giới sanh ra từ điều ấy; điều này là tâm.
Tâm ấy được cảm nhận thế nào? Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, tâm ấy được cảm nhận. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở ra dài, niệm được thiết lập; với niệm ấy với trí ấy, tâm ấy được cảm nhận. …(như trên)…; đối với vị đang tác chứng các pháp cần được tác chứng, tâm ấy được cảm nhận. Tâm ấy được cảm nhận là như vậy.
Cảm giác tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, có sự nhận thức là tâm, sự thiết lập là niệm, …(nt)…; vì thế được nói rằng: “Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét tâm trên tâm.”
Quán xét: Quán xét tâm ấy là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… Quán xét tâm ấy là (có ý nghĩa) như thế. Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Cảm giác tâm đối với hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, …(nt)… Cảm giác tâm, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, …(nt)… trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.” (1)
‘Làm cho tâm được hân hoan, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Làm cho tâm được hân hoan, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?
Sự hân hoan của tâm là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào dài, sự hân hoan của tâm sanh lên; điều nào là sự hoan hỷ, sự thích thú, sự vui mừng, sự mừng rỡ, sự phấn khởi của tâm là sự thỏa thích của tâm. Đối với vị đang nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở ra dài, sự hân hoan của tâm sanh lên; điều nào là sự hoan hỷ, sự thích thú, sự vui mừng, sự mừng rỡ, sự phấn khởi của tâm là sự thỏa thích của tâm. …(như trên)… Cảm giác tâm nhờ tác động của hơi thở vào …(như trên)… Cảm giác tâm nhờ tác động của hơi thở ra, sự hân hoan của tâm sanh lên; điều nào là sự hoan hỷ, sự thích thú, sự vui mừng, sự mừng rỡ, sự phấn khởi của tâm là sự thỏa thích của tâm; điều này là sự hân hoan của tâm.
Làm cho tâm được hân hoan nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, có sự nhận thức là tâm, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, tâm là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét tâm ấy; vì thế được nói rằng: “Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét tâm trên tâm.”
Quán xét: Quán xét tâm ấy là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… quán xét tâm ấy là (có ý nghĩa) như thế. Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Làm cho tâm được hân hoan đối với các hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, …(như trên)… Làm cho tâm được hân hoan, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, …(như trên)… trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.” (2)
‘Làm cho tâm được định tĩnh, tôi sẽ thở vào’vị ấy tập, ‘Làm cho tâm được định tĩnh, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?
Định là gì? Nhờ tác động của hơi thở vào dài sự chuyên nhất không tản mạn của tâm là định; điều nào là sự đứng vững, sự an trụ, sự vững vàng, sự không tán loạn, sự không tản mạn của tâm, trạng thái của ý không bị tán loạn, sự chỉ tịnh, định quyền, định lực, chánh định. Nhờ tác động của hơi thở ra dài sự chuyên nhất không tản mạn của tâm là định, …(như trên)… Làm cho tâm được định tĩnh nhờ tác động của hơi thở vào …(như trên)… Làm cho tâm được định tĩnh, nhờ tác động của hơi thở ra sự chuyên nhất không tản mạn của tâm là định; điều nào là sự đứng vững, sự an trụ, sự vững vàng, sự không tán loạn, sự không tản mạn của tâm, trạng thái của ý không bị tán loạn, sự chỉ tịnh, định quyền, định lực, chánh định; điều ấy là định.
Làm cho tâm được định tĩnh nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, sự nhận thức là tâm, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, tâm là sự thiết lập không phải là niệm; niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét tâm ấy; vì thế được nói rằng: “Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét tâm trên tâm.”
Quán xét: Quán xét tâm ấy là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… quán xét tâm ấy là (có ý nghĩa) như thế. Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Làm cho tâm được định tĩnh của các hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, …(như trên)… Làm cho tâm được định tĩnh, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, …(như trên)… trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.” (3)
‘Làm cho tâm được giải thoát, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Làm cho tâm được giải thoát, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?
‘Làm cho tâm được giải thoát khỏi tham ái, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập; ‘Làm cho tâm được giải thoát khỏi tham ái, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập; ‘Làm cho tâm được giải thoát khỏi sân hận, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập; ‘Làm cho tâm được giải thoát khỏi sân hận, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập; ‘Làm cho tâm được giải thoát khỏi si mê … khỏi ngã mạn … khỏi kiến … khỏi hoài nghi … khỏi sự lờ đờ … khỏi sự phóng dật … khỏi sự hổ thẹn (tội lỗi) … ‘Làm cho tâm được giải thoát khỏi sự ghê sợ (tội lỗi), tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập; ‘Làm cho tâm được giải thoát khỏi sự ghê sợ (tội lỗi), tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập. Làm cho tâm được giải thoát nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, có sự nhận thức là tâm, sự thiết lập là niệm, …(như trên)…
Quán xét: Quán xét tâm ấy là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… quán xét tâm ấy là (có ý nghĩa) như thế. Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Làm cho tâm được giải thoát đối với các hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, …(như trên)… Làm cho tâm được giải thoát, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, …(như trên)… trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.” (4)
Tám trí về quán xét, tám tùy niệm về sự thiết lập, và bốn nền tảng thuộc Kinh về việc quán xét tâm trên tâm.
Nhóm bốn thứ ba.
‘Quán xét về vô thường, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘quán xét về vô thường, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào? Vô thường: Cái gì là vô thường? Năm uẩn là vô thường. Vô thường theo ý nghĩa gì? Vô thường với ý nghĩa sanh diệt. Đối với 5 uẩn, trong khi nhìn thấy sự sanh (hành giả) nhìn thấy bao nhiêu tướng trạng, trong khi nhìn thấy sự diệt nhìn thấy bao nhiêu tướng trạng, trong khi nhìn thấy sự sanh diệt, nhìn thấy bao nhiêu tướng trạng? Đối với 5 uẩn, trong khi nhìn thấy sự sanh (hành giả) nhìn thấy 25 tướng trạng, trong khi nhìn thấy sự diệt nhìn thấy 25 tướng trạng; đối với năm uẩn, trong khi nhìn thấy sự sanh diệt nhìn thấy 50 tướng trạng này.
‘Quán xét về vô thường ở sắc, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘quán xét về vô thường ở sắc, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập. ‘Quán xét về vô thường ở thọ, … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt … ở lão tử, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘quán xét về vô thường ở lão tử, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập.
Quán xét về vô thường nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra là các pháp, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, các pháp là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét các pháp ấy; vì thế được nói rằng: “Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét pháp trên các pháp.”
Quán xét: Quán xét các pháp ấy là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… quán xét các pháp ấy là (có ý nghĩa) như thế. Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Quán xét về vô thường của các hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, …(như trên)… Quán xét về vô thường, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, …(như trên)… trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.” (1)
‘Quán xét về ly tham, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Quán xét về ly tham, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?
Sau khi nhìn thấy sự tai hại ở sắc, có ước muốn sanh lên về ly tham ở sắc, đức tin được hướng đến, và tâm của vị ấy được khẳng định chắc chắn: ‘Quán xét về ly tham ở sắc, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Quán xét về ly tham ở sắc, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập. Sau khi nhìn thấy sự tai hại ở sắc, có ước muốn sanh lên về việc ly tham khỏi sắc, đức tin được hướng đến, và tâm của vị ấy được khẳng định chắc chắn: ‘Quán xét về ly tham ở thọ, … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt … ở lão tử, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Quán xét về ly tham ở lão tử, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập.
Quán xét về ly tham nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra là các pháp, sự thiết lập là niệm, …(như trên)…; vì thế được nói rằng: “Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét pháp trên các pháp.”
Quán xét: Quán xét các pháp ấy là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… quán xét các pháp ấy là (có ý nghĩa) như thế. Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Quán xét về ly tham của các hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, …(như trên)… Quán xét về ly tham, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, …(như trên)… trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.” (2)
‘Quán xét về diệt tận, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Quán xét về diệt tận, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?
Sau khi nhìn thấy sự tai hại ở sắc, có ước muốn sanh lên về sự diệt tận ở sắc, đức tin được hướng đến, và tâm của vị ấy được khẳng định chắc chắn: ‘Quán xét về diệt tận ở sắc, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Quán xét về diệt tận ở sắc, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập. Sau khi nhìn thấy sự tai hại ở sắc, có ước muốn sanh lên về sự diệt tận ở sắc, đức tin được hướng đến, và tâm của vị ấy được khẳng định chắc chắn: ‘Quán xét về diệt tận ở thọ, … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt … ở lão tử, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Quán xét về diệt tận ở lão tử, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập.
Tai hại ở vô minh là với bao nhiêu biểu hiện? Vô minh được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? Tai hại ở vô minh là với năm biểu hiện. Vô minh được diệt tận với tám biểu hiện.
Tai hại ở vô minh là với năm biểu hiện gì? Tai hại ở vô minh theo ý nghĩa vô thường, tai hại ở vô minh theo ý nghĩa khổ não, tai hại ở vô minh theo ý nghĩa vô ngã, tai hại ở vô minh theo ý nghĩa thiêu đốt, tai hại ở vô minh theo ý nghĩa chuyển biến; tai hại ở vô minh là với năm biểu hiện này.
Vô minh được diệt tận với tám biểu hiện gì? Với sự diệt tận của căn nguyên, vô minh được diệt tận; với sự diệt tận của nguồn gốc sanh khởi, vô minh được diệt tận; với sự diệt tận của sanh, vô minh được diệt tận; với sự diệt tận của phát khởi, vô minh được diệt tận; với sự diệt tận của nhân, vô minh được diệt tận; với sự diệt tận của duyên, vô minh được diệt tận; với sự sanh khởi của trí, vô minh được diệt tận; với sự thiết lập của diệt tận, vô minh được diệt tận; vô minh được diệt tận với tám biểu hiện này.
Sau khi nhìn thấy sự tai hại ở vô minh với năm biểu hiện này, có ước muốn sanh lên về sự diệt tận ở vô minh với tám biểu hiện này, đức tin được hướng đến, và tâm của vị ấy được khẳng định chắc chắn: ‘Quán xét về diệt tận ở vô minh, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Quán xét về diệt tận ở vô minh, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập.
Tai hại ở các hành là với bao nhiêu biểu hiện? Các hành được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? …(như trên)… Tai hại ở thức là với bao nhiêu biểu hiện? Thức được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? …(như trên)… Tai hại ở danh sắc là với bao nhiêu biểu hiện? Danh sắc được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? …(như trên)… Tai hại ở sáu xứ là với bao nhiêu biểu hiện? Sáu xứ được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? …(như trên)… Tai hại ở xúc là với bao nhiêu biểu hiện? Xúc được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? …(như trên)… Tai hại ở thọ là với bao nhiêu biểu hiện? Thọ được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? …(như trên)… Tai hại ở ái là với bao nhiêu biểu hiện? Ái được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? …(như trên)… Tai hại ở thủ là với bao nhiêu biểu hiện? Thủ được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? …(như trên)… Tai hại ở hữu là với bao nhiêu biểu hiện? Hữu được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? …(như trên)… Tai hại ở sanh là với bao nhiêu biểu hiện? Sanh được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? …(như trên)… Tai hại ở lão tử là với bao nhiêu biểu hiện? Lão tử được diệt tận với bao nhiêu biểu hiện? Tai hại ở lão tử là với năm biểu hiện. Lão tử được diệt tận với tám biểu hiện.
Tai hại ở lão tử là với năm biểu hiện gì? Tai hại ở lão tử theo ý nghĩa vô thường, …(như trên)… theo ý nghĩa khổ não, …(như trên)… theo ý nghĩa vô ngã, …(nt)… theo ý nghĩa thiêu đốt, …(như trên)… theo ý nghĩa chuyển biến; tai hại ở lão tử là với năm biểu hiện này.
Lão tử được diệt tận với tám biểu hiện gì? Với sự diệt tận của căn nguyên, lão tử được diệt tận; với sự diệt tận của nguồn gốc sanh khởi, …(như trên)… với sự diệt tận của sanh, …(như trên)… với sự diệt tận của phát khởi, …(như trên)… với sự diệt tận của nhân, …(như trên)… với sự diệt tận của duyên, …(như trên)… với sự sanh khởi của trí, … với sự thiết lập của diệt tận, lão tử được diệt tận; lão tử được diệt tận với tám biểu hiện này.
Sau khi nhìn thấy sự tai hại ở lão tử với năm biểu hiện này, có ước muốn sanh lên về sự diệt tận ở lão tử với tám biểu hiện này, đức tin được hướng đến, và tâm của vị ấy được khẳng định chắc chắn: ‘Quán xét về diệt tận ở lão tử, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘quán xét về diệt tận ở lão tử, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập.
Quán xét về diệt tận nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra là các pháp, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, các pháp là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét các pháp ấy; vì thế được nói rằng: “Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét pháp trên các pháp.” (3)
Quán xét: Quán xét các pháp ấy là (có ý nghĩa) thế nào? …(như trên)… Quán xét các pháp ấy là (có ý nghĩa) như thế. Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: …(như trên)… là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Quán xét về diệt tận của các hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, …(như trên)… Quán xét về diệt tận, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, …(như trên)… trong khi nhận biết (vị ấy) liên kết các quyền; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.” (3)
‘Quán xét về từ bỏ, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘quán xét về từ bỏ, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập là (có ý nghĩa) thế nào?
Từ bỏ: Có hai sự từ bỏ: Sự từ bỏ do buông bỏ và sự từ bỏ do tiến vào. ‘Buông bỏ sắc’ là sự từ bỏ do buông bỏ. ‘Tâm tiến vào sự diệt tận của sắc Niết Bàn’ là sự từ bỏ do tiến vào: ‘Quán xét về từ bỏ các sắc, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Quán xét về từ bỏ các sắc, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập. ‘Buông bỏ thọ’ …(như trên)… tưởng …(như trên)… các hành …(như trên)… thức …(như trên)… mắt …(như trên)… ‘Buông bỏ lão tử’ là sự từ bỏ do buông bỏ. ‘Tâm tiến vào sự diệt tận của lão tử Niết Bàn’ là sự từ bỏ do tiến vào: ‘Quán xét về từ bỏ lão tử, tôi sẽ thở vào’ vị ấy tập, ‘Quán xét về từ bỏ lão tử, tôi sẽ thở ra’ vị ấy tập.
Quán xét về sự từ bỏ nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra là các pháp, sự thiết lập là niệm, sự quán xét là trí, các pháp là sự thiết lập không phải là niệm, niệm vừa là sự thiết lập vừa là niệm; với niệm ấy với trí ấy, vị ấy quán xét các pháp ấy; vì thế được nói rằng: “Việc tu tập sự thiết lập niệm về quán xét pháp trên các pháp.”
Quán xét: Quán xét các pháp ấy là (có ý nghĩa) thế nào? Quán xét về vô thường, không phải về thường. …(như trên)… (Vị ấy) từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi quán xét về vô thường, (vị ấy) dứt bỏ thường tưởng. …(như trên)… trong khi từ bỏ, (vị ấy) dứt bỏ sự nắm giữ. Quán xét các pháp ấy là (có ý nghĩa) như thế. Sự tu tập: Có bốn sự tu tập: là sự tu tập các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy theo ý nghĩa không vượt trội, …(như trên)…, là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Quán xét về từ bỏ đối với hơi thở vào hơi thở ra là giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc, là tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tản mạn, là kiến thanh tịnh theo ý nghĩa nhận thức. Trong trường hợp ấy ý nghĩa thu thúc là sự học tập về thắng giới, trong trường hợp ấy ý nghĩa theo ý nghĩa không tản mạn là sự học tập về thắng tâm, trong trường hợp ấy ý nghĩa nhận thức là sự học tập về thắng tuệ. Trong khi hướng tâm đến ba sự học tập này vị ấy tập; trong khi nhận biết, …(nt)… trong khi tác chứng các pháp cần được tác chứng vị ấy tập.
Có sự quán xét về từ bỏ, đối với vị nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, các thọ sanh lên được biết đến, thiết lập được biết đến, biến mất được biết đến …(như trên)… Có sự quán xét về từ bỏ, trong khi nhận biết sự chuyên nhất không tản mạn của tâm nhờ tác động của hơi thở vào hơi thở ra, (vị ấy) liên kết các quyền, nhận biết hành xứ, thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh, (vị ấy) liên kết các lực, liên kết các giác chi, liên kết Đạo, liên kết các pháp, nhận biết hành xứ, và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.
Liên kết các quyền: Liên kết các quyền là (có ý nghĩa) thế nào? Liên kết tín quyền theo ý nghĩa cương quyết. …(như trên)…; vì thế được nói rằng: “Và thấu triệt ý nghĩa của thanh tịnh.” (4)
Tám trí về quán xét, tám tùy niệm về sự thiết lập, và bốn nền tảng thuộc Kinh về việc quán xét pháp trên các pháp.
Đây là 32 trí về việc thực hành niệm.
Nhóm bốn thứ tư.
Phần giải thích trí về việc thực hành niệm.
6–11. Nhóm Sáu về Trí
(6) 24 trí gì do năng lực của định?
Nhờ tác động của hơi thở vào dài sự chuyên nhất không tản mạn của tâm là định, nhờ tác động của hơi thở ra dài sự chuyên nhất không tản mạn của tâm là định, …(như trên)… Làm cho tâm được giải thoát, nhờ tác động của hơi thở vào sự chuyên nhất không tản mạn của tâm là định, làm cho tâm được giải thoát, nhờ tác động của hơi thở ra sự chuyên nhất không tản mạn của tâm là định.
Đây là 24 trí do năng lực của định.
(7) 72 trí gì do năng lực của minh sát?
Hơi thở vào dài, theo ý nghĩa quán xét là vô thường là minh sát, theo ý nghĩa quán xét là khổ não là minh sát, theo ý nghĩa quán xét là vô ngã là minh sát. Hơi thở ra dài, theo ý nghĩa quán xét là vô thường là minh sát, theo ý nghĩa quán xét là khổ não là minh sát, theo ý nghĩa quán xét là vô ngã là minh sát. …(như trên)… Làm cho tâm được giải thoát trong khi thở vào, làm cho tâm được giải thoát trong khi thở ra, theo ý nghĩa quán xét là vô thường là minh sát, theo ý nghĩa quán xét là khổ não là minh sát, theo ý nghĩa quán xét là vô ngã là minh sát.
Đây là 72 trí do năng lực của minh sát.
(8) 8 trí về nhàm chán là gì?
‘Quán xét về vô thường, (vị ấy) biết và thấy hơi thở vào đúng theo bản thể’ là trí về nhàm chán, ‘Quán xét về vô thường, (vị ấy) biết và thấy hơi thở ra đúng theo bản thể’ là trí về nhàm chán, …(như trên)…, ‘Quán xét về từ bỏ, (vị ấy) biết và thấy hơi thở vào đúng theo bản thể’ là trí về nhàm chán, ‘Quán xét về từ bỏ, (vị ấy) biết và thấy hơi thở ra đúng theo bản thể’ là trí về nhàm chán.
Đây là 8 trí về nhàm chán.
(9) 8 trí thuận theo nhàm chán là gì?
Quán xét về vô thường trong khi thở vào, tuệ về sự thiết lập của kinh hãi là trí thuận theo nhàm chán; quán xét về vô thường trong khi thở ra, tuệ về sự thiết lập của kinh hãi là trí thuận theo nhàm chán; …(như trên)…; quán xét về từ bỏ trong khi thở vào, tuệ về sự thiết lập của kinh hãi là trí thuận theo nhàm chán; quán xét về từ bỏ trong khi thở ra, tuệ về sự thiết lập của kinh hãi là trí thuận theo nhàm chán.
Đây là 8 trí thuận theo nhàm chán.
(10) 8 trí gì về sự tịnh lặng của nhàm chán?
Quán xét về vô thường trong khi thở vào, tuệ về sự phân biệt rõ và về sự trụ vững là trí về sự tịnh lặng của nhàm chán; quán xét về vô thường trong khi thở ra, tuệ về sự phân biệt rõ và về sự trụ vững là trí về sự tịnh lặng của nhàm chán; …(nt)…; quán xét về từ bỏ trong khi thở vào, tuệ về sự phân biệt rõ và về sự trụ vững là trí về sự tịnh lặng của nhàm chán; quán xét về từ bỏ trong khi thở ra, tuệ về sự phân biệt rõ và về sự trụ vững là trí về sự tịnh lặng của nhàm chán.
Đây là 8 trí về sự tịnh lặng của nhàm chán.
(11) 21 trí gì về sự an lạc của giải thoát?
Do Đạo Nhập Lưu, trạng thái dứt bỏ, trạng thái đoạn trừ hoàn toàn đối với thân kiến sanh lên là trí về sự an lạc của giải thoát; trạng thái dứt bỏ, trạng thái đoạn trừ hoàn toàn đối với hoài nghi sanh lên là trí về sự an lạc của giải thoát; trạng thái dứt bỏ, trạng thái đoạn trừ hoàn toàn đối với sự cố chấp vào giới và nghi thức, … đối với kiến ngủ ngầm, … đối với hoài nghi ngủ ngầm sanh lên là trí về sự an lạc của giải thoát. Do Đạo Nhất Lai, trạng thái dứt bỏ, trạng thái đoạn trừ hoàn toàn đối với sự ràng buộc của ái dục, đối với sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, … đối với ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển sanh lên là trí về sự an lạc của giải thoát. Do Đạo Bất Lai, trạng thái dứt bỏ, trạng thái đoạn trừ hoàn toàn đối với sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, … đối với ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế sanh lên là trí về sự an lạc của giải thoát. Do Đạo A-la-hán, trạng thái dứt bỏ, trạng thái đoạn trừ hoàn toàn đối với ái sắc, … đối với ái vô sắc, đối với ngã mạn, đối với phóng dật, đối với vô minh, đối với ngã mạn ngủ ngầm, đối với ái hữu ngủ ngầm, đối với vô minh ngủ ngầm sanh lên là trí về sự an lạc của giải thoát.
Đây là 21 trí về sự an lạc của giải thoát.
Đối với vị đang tu tập định của niệm hơi thở vào hơi thở ra theo 16 nền tảng, có hơn 200 pháp sanh lên (ở vị ấy).
Niệm Hơi Thở Vào Hơi Thở Ra được hoàn tất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Katamāni aṭṭha paripanthe ñāṇāni, aṭṭha ca upakāre ñāṇāni? Kāmacchando samādhissa paripantho, nekkhammaṃ samādhissa upakāraṃ. Byāpādo samādhissa paripantho, abyāpādo samādhissa upakāraṃ. Thinamiddhaṃ samādhissa paripantho, ālokasaññā samādhissa upakāraṃ. Uddhaccaṃ samādhissa paripantho, avikkhepo samādhissa upakāraṃ. Vicikicchā samādhissa paripantho, dhammavavatthānaṃ samādhissa upakāraṃ. Avijjā samādhissa paripantho, ñāṇaṃ samādhissa upakāraṃ. Arati samādhissa paripantho, pāmojjaṃ samādhissa upakāraṃ. Sabbepi akusalā dhammā samādhissa paripanthā, sabbepi kusalā dhammā samādhissa upakārā. Imāni aṭṭha paripanthe ñāṇāni, aṭṭha ca upakāre ñāṇāni.
What are the eight knowledges in obstruction and the eight knowledges in assistance? Sensual desire is an obstruction to concentration; renunciation is an assistance to concentration. Ill will is an obstruction to concentration; non-ill will is an assistance to concentration. Sloth and torpor are an obstruction to concentration; the perception of light is an assistance to concentration. Restlessness is an obstruction to concentration; non-distraction is an assistance to concentration. Doubt is an obstruction to concentration; the determination of phenomena is an assistance to concentration. Ignorance is an obstruction to concentration; knowledge is an assistance to concentration. Discontent is an obstruction to concentration; joy is an assistance to concentration. All unwholesome states are obstructions to concentration; all wholesome states are assistances to concentration. These are the eight knowledges in obstruction and the eight knowledges in assistance.
Tám trí tuệ về trở ngại và tám trí tuệ về sự hỗ trợ là gì? Dục tham là trở ngại của định, ly dục là sự hỗ trợ của định. Sân là trở ngại của định, vô sân là sự hỗ trợ của định. Hôn trầm thụy miên là trở ngại của định, tưởng ánh sáng là sự hỗ trợ của định. Trạo cử là trở ngại của định, bất loạn là sự hỗ trợ của định. Hoài nghi là trở ngại của định, sự xác định pháp là sự hỗ trợ của định. Vô minh là trở ngại của định, trí tuệ là sự hỗ trợ của định. Bất mãn là trở ngại của định, hân hoan là sự hỗ trợ của định. Tất cả các pháp bất thiện là trở ngại của định, tất cả các pháp thiện là sự hỗ trợ của định. Đây là tám trí tuệ về trở ngại và tám trí tuệ về sự hỗ trợ.
Gaṇanavāro paṭhamo.
The first chapter on counting is concluded.
Tiết Đếm thứ nhất.
2. Soḷasañāṇaniddeso
2. The Exposition of the Sixteen Knowledges.
2. Phần giải về mười sáu trí tuệ
153. Imehi soḷasahi ākārehi uducittaṃ cittaṃ samuducitaṃ cittaṃ ekatte santiṭṭhati, nīvaraṇehi visujjhati. Katame te ekattā? Nekkhammaṃ ekattaṃ, abyāpādo ekattaṃ, ālokasaññā ekattaṃ, avikkhepo ekattaṃ, dhammavavatthānaṃ ekattaṃ, ñāṇaṃ ekattaṃ, pāmojjaṃ ekattaṃ, sabbepi kusalā dhammā ekattā.
153. By these sixteen aspects, the mind that is well-developed, the mind that is very well-developed, becomes established in unification and is purified from the hindrances. What are those states of unification? Renunciation is a state of unification, non-ill will is a state of unification, the perception of light is a state of unification, non-distraction is a state of unification, ascertainment of phenomena is a state of unification, knowledge is a state of unification, joy is a state of unification, and all wholesome states are states of unification.
153. Với mười sáu phương diện này, tâm được tu tập, tâm được tu tập tốt đẹp, an trú trong nhất tâm, được thanh tịnh khỏi các triền cái. Các pháp nhất tâm ấy là gì? Xuất ly là nhất tâm, vô sân là nhất tâm, tưởng ánh sáng là nhất tâm, không phóng dật là nhất tâm, sự xác định pháp là nhất tâm, trí tuệ là nhất tâm, hân hoan là nhất tâm, tất cả các pháp thiện là nhất tâm.
Nīvaraṇāti, katame te nīvaraṇā? Kāmacchando nīvaraṇaṃ, byāpādo nīvaraṇaṃ, thinamiddhaṃ nīvaraṇaṃ, uddhaccakukkuccaṃ nīvaraṇaṃ, vicikicchā nīvaraṇaṃ, avijjā nīvaraṇaṃ, arati nīvaraṇaṃ, sabbepi akusalā dhammā nīvaraṇā.
As to 'hindrances'—what are those hindrances? Sensual desire is a hindrance, ill will is a hindrance, sloth and torpor is a hindrance, restlessness and remorse is a hindrance, doubt is a hindrance, ignorance is a hindrance, discontent is a hindrance, and all unwholesome states are hindrances.
Về triền cái, các triền cái ấy là gì? Dục tham là triền cái, sân là triền cái, hôn trầm thụy miên là triền cái, trạo hối là triền cái, hoài nghi là triền cái, vô minh là triền cái, bất mãn là triền cái, tất cả các pháp bất thiện là triền cái.
Nīvaraṇāti, kenaṭṭhena nīvaraṇā? Niyyānāvaraṇaṭṭhena nīvaraṇā. Katame te niyyānā? Nekkhammaṃ ariyānaṃ niyyānaṃ. Tena ca nekkhammena ariyā niyyanti. Kāmacchando niyyānāvaraṇaṃ. Tena ca kāmacchandena nivutattā nekkhammaṃ ariyānaṃ niyyānaṃ nappajānātīti – kāmacchando niyyānāvaraṇaṃ. Abyāpādo ariyānaṃ niyyānaṃ. Tena ca abyāpādena ariyā niyyanti. Byāpādo niyyānāvaraṇaṃ. Tena ca byāpādena nivutattā abyāpādaṃ ariyānaṃ niyyānaṃ nappajānātīti – byāpādo niyyānāvaraṇaṃ. Ālokasaññā ariyānaṃ niyyānaṃ. Tāya ca ālokasaññāya ariyā niyyanti. Thinamiddhaṃ niyyānāvaraṇaṃ. Tena ca thinamiddhena nivutattā ālokasaññaṃ ariyānaṃ niyyānaṃ nappajānātīti – thinamiddhaṃ niyyānāvaraṇaṃ. Avikkhepo ariyānaṃ niyyānaṃ. Tena ca avikkhepena ariyā niyyanti. Uddhaccaṃ niyyānāvaraṇaṃ. Tena ca uddhaccena nivutattā avikkhepaṃ ariyānaṃ niyyānaṃ nappajānātīti – uddhaccaṃ niyyānāvaraṇaṃ. Dhammavavatthānaṃ ariyānaṃ niyyānaṃ. Tena ca dhammavavatthānena ariyā niyyanti. Vicikicchā niyyānāvaraṇaṃ. Tāya ca vicikicchāya nivutattā dhammavavatthānaṃ ariyānaṃ niyyānaṃ nappajānātīti – vicikicchā niyyānāvaraṇaṃ. Ñāṇaṃ ariyānaṃ niyyānaṃ. Tena ca ñāṇena ariyā niyyanti. Avijjā niyyānāvaraṇaṃ. Tāya ca avijjāya nivutattā ñāṇaṃ ariyānaṃ niyyānaṃ nappajānātīti – avijjā niyyānāvaraṇaṃ. Pāmojjaṃ ariyānaṃ niyyānaṃ. Tena ca pāmojjena ariyā niyyanti. Arati niyyānāvaraṇaṃ. Tāya ca aratiyā nivutattā pāmojjaṃ ariyānaṃ niyyānaṃ nappajānātīti – arati niyyānāvaraṇaṃ. Sabbepi kusalā dhammā ariyānaṃ niyyānaṃ. Tehi ca kusalehi dhammehi ariyā niyyanti. Sabbepi akusalā dhammā niyyānāvaraṇā. Tehi ca akusalehi dhammehi nivutattā kusale dhamme ariyānaṃ niyyānaṃ nappajānātīti – sabbepi akusalā dhammā niyyānāvaraṇā. Imehi ca pana nīvaraṇehi visuddhacittassa soḷasavatthukaṃ ānāpānassatisamādhiṃ bhāvayato khaṇikasamodhānā.
Hindrances—in what sense are they hindrances? They are hindrances in the sense of obstructing deliverance. What are those deliverances? Jhāna is the deliverance of the noble ones. Through that jhāna, the noble ones are delivered. Sensual desire obstructs deliverance. Because one is obstructed by sensual desire, one does not understand jhāna as the deliverance of the noble ones—thus, sensual desire obstructs deliverance. Non-ill will is the deliverance of the noble ones. Through that non-ill will, the noble ones are delivered. Ill will obstructs deliverance. Because one is obstructed by ill will, one does not understand non-ill will as the deliverance of the noble ones—thus, ill will obstructs deliverance. The perception of light is the deliverance of the noble ones. Through that perception of light, the noble ones are delivered. Sloth and torpor obstruct deliverance. Because one is obstructed by sloth and torpor, one does not understand the perception of light as the deliverance of the noble ones—thus, sloth and torpor obstruct deliverance. Non-distraction is the deliverance of the noble ones. Through that non-distraction, the noble ones are delivered. Restlessness obstructs deliverance. Because one is obstructed by restlessness, one does not understand non-distraction as the deliverance of the noble ones—thus, restlessness obstructs deliverance. Discernment of phenomena is the deliverance of the noble ones. Through that discernment of phenomena, the noble ones are delivered. Doubt obstructs deliverance. Because one is obstructed by doubt, one does not understand discernment of phenomena as the deliverance of the noble ones—thus, doubt obstructs deliverance. Knowledge is the deliverance of the noble ones. Through that knowledge, the noble ones are delivered. Ignorance obstructs deliverance. Because one is obstructed by ignorance, one does not understand knowledge as the deliverance of the noble ones—thus, ignorance obstructs deliverance. Joy is the deliverance of the noble ones. Through that joy, the noble ones are delivered. Discontent obstructs deliverance. Because one is obstructed by discontent, one does not understand joy as the deliverance of the noble ones—thus, discontent obstructs deliverance. All wholesome qualities are the deliverance of the noble ones. Through those wholesome qualities, the noble ones are delivered. All unwholesome qualities obstruct deliverance. Because one is obstructed by unwholesome qualities, one does not understand wholesome qualities as the deliverance of the noble ones—thus, all unwholesome qualities obstruct deliverance. Furthermore, for one whose mind is purified from these hindrances and who develops the concentration of mindfulness of breathing with its sixteen bases, there are momentary conjunctions.
Về 'triền cái', do ý nghĩa nào được gọi là triền cái? Do ý nghĩa ngăn che sự xuất ly nên được gọi là triền cái. Những pháp xuất ly ấy là gì? Sự xuất ly là pháp xuất ly của các bậc Thánh. Và nhờ sự xuất ly ấy, các bậc Thánh được xuất ly. Dục tham là pháp ngăn che sự xuất ly. Và do bị dục tham ấy che lấp, vị ấy không biết được sự xuất ly là pháp xuất ly của các bậc Thánh – do đó, dục tham là pháp ngăn che sự xuất ly. Vô sân là pháp xuất ly của các bậc Thánh. Và nhờ vô sân ấy, các bậc Thánh được xuất ly. Sân là pháp ngăn che sự xuất ly. Và do bị sân ấy che lấp, vị ấy không biết được vô sân là pháp xuất ly của các bậc Thánh – do đó, sân là pháp ngăn che sự xuất ly. Quang tưởng là pháp xuất ly của các bậc Thánh. Và nhờ quang tưởng ấy, các bậc Thánh được xuất ly. Hôn trầm thụy miên là pháp ngăn che sự xuất ly. Và do bị hôn trầm thụy miên ấy che lấp, vị ấy không biết được quang tưởng là pháp xuất ly của các bậc Thánh – do đó, hôn trầm thụy miên là pháp ngăn che sự xuất ly. Bất tán loạn là pháp xuất ly của các bậc Thánh. Và nhờ bất tán loạn ấy, các bậc Thánh được xuất ly. Trạo cử là pháp ngăn che sự xuất ly. Và do bị trạo cử ấy che lấp, vị ấy không biết được bất tán loạn là pháp xuất ly của các bậc Thánh – do đó, trạo cử là pháp ngăn che sự xuất ly. Sự xác định pháp là pháp xuất ly của các bậc Thánh. Và nhờ sự xác định pháp ấy, các bậc Thánh được xuất ly. Hoài nghi là pháp ngăn che sự xuất ly. Và do bị hoài nghi ấy che lấp, vị ấy không biết được sự xác định pháp là pháp xuất ly của các bậc Thánh – do đó, hoài nghi là pháp ngăn che sự xuất ly. Trí tuệ là pháp xuất ly của các bậc Thánh. Và nhờ trí tuệ ấy, các bậc Thánh được xuất ly. Vô minh là pháp ngăn che sự xuất ly. Và do bị vô minh ấy che lấp, vị ấy không biết được trí tuệ là pháp xuất ly của các bậc Thánh – do đó, vô minh là pháp ngăn che sự xuất ly. Sự hân hoan là pháp xuất ly của các bậc Thánh. Và nhờ sự hân hoan ấy, các bậc Thánh được xuất ly. Bất lạc là pháp ngăn che sự xuất ly. Và do bị bất lạc ấy che lấp, vị ấy không biết được sự hân hoan là pháp xuất ly của các bậc Thánh – do đó, bất lạc là pháp ngăn che sự xuất ly. Tất cả các pháp thiện cũng là pháp xuất ly của các bậc Thánh. Và nhờ các pháp thiện ấy, các bậc Thánh được xuất ly. Tất cả các pháp bất thiện là các pháp ngăn che sự xuất ly. Và do bị các pháp bất thiện ấy che lấp, vị ấy không biết được các pháp thiện là pháp xuất ly của các bậc Thánh – do đó, tất cả các pháp bất thiện là các pháp ngăn che sự xuất ly. Hơn nữa, đối với vị có tâm thanh tịnh khỏi các triền cái này, đang tu tập định niệm hơi thở vô hơi thở ra có mười sáu đối tượng, (các phiền não) được tập hợp trong khoảnh khắc.
Soḷasañāṇaniddeso dutiyo.
The Second Exposition of the Sixteen Knowledges is concluded.
Phần giải thích về mười sáu loại trí thứ hai.
3. Upakkilesañāṇaniddeso
3. The Exposition of the Knowledge of Imperfections
3. Phần giải thích về trí tuệ liên quan đến các tùy phiền não
Paṭhamacchakkaṃ
The First Hexad
Nhóm sáu pháp đầu tiên
154. Imehi ca pana nīvaraṇehi visuddhacittassa soḷasavatthukaṃ ānāpānassatisamādhiṃ bhāvayato khaṇikasamodhānā katame aṭṭhārasa upakkilesā uppajjanti? Assāsādimajjhapariyosānaṃ satiyā anugacchato ajjhattavikkhepagataṃ cittaṃ samādhissa paripantho. Passāsādimajjhapariyosānaṃ satiyā anugacchato bahiddhāvikkhepagataṃ cittaṃ samādhissa paripantho. Assāsapaṭikaṅkhanā nikanti taṇhācariyā samādhissa paripantho. Passāsapaṭikaṅkhanā nikanti taṇhācariyā samādhissa paripantho. Assāsenābhitunnassa passāsapaṭilābhe mucchanā samādhissa paripantho. Passāsenābhitunnassa assāsapaṭilābhe mucchanā samādhissa paripantho.
154. For one with a mind purified of these hindrances who develops the sixteen-based concentration of mindfulness of breathing, what eighteen imperfections arise at various moments? For one following the beginning, middle, and end of the out-breath with mindfulness, the mind that has gone to internal distraction is an obstacle to concentration. For one following the beginning, middle, and end of the in-breath with mindfulness, the mind that has gone to external distraction is an obstacle to concentration. The longing for the out-breath, which is delight, the arising of craving, is an obstacle to concentration. The longing for the in-breath, which is delight, the arising of craving, is an obstacle to concentration. For one oppressed by the out-breath, bewilderment upon obtaining the in-breath is an obstacle to concentration. For one oppressed by the in-breath, bewilderment upon obtaining the out-breath is an obstacle to concentration.
154. Hơn nữa, đối với vị có tâm thanh tịnh khỏi các triền cái này, đang tu tập định niệm hơi thở vô hơi thở ra có mười sáu đối tượng, mười tám tùy phiền não nào khởi lên do sự tập hợp trong khoảnh khắc? Đối với vị theo dõi bằng chánh niệm đoạn đầu, đoạn giữa, và đoạn cuối của hơi thở vô, tâm hướng đến sự tán loạn bên trong là chướng ngại cho định. Đối với vị theo dõi bằng chánh niệm đoạn đầu, đoạn giữa, và đoạn cuối của hơi thở ra, tâm hướng đến sự tán loạn bên ngoài là chướng ngại cho định. Sự mong mỏi, ưa thích, và ái dục đối với hơi thở vô là chướng ngại cho định. Sự mong mỏi, ưa thích, và ái dục đối với hơi thở ra là chướng ngại cho định. Đối với vị bị hơi thở vô làm cho khổ não, sự mê đắm trong việc đạt được hơi thở ra là chướng ngại cho định. Đối với vị bị hơi thở ra làm cho khổ não, sự mê đắm trong việc đạt được hơi thở vô là chướng ngại cho định.
Anugacchanā ca assāsaṃ, passāsaṃ anugacchanā;
Sati ajjhattavikkhepā, kaṅkhanā bahiddhāvikkhepapatthanā †.
And following the out-breath, following the in-breath; mindfulness longing for internal distraction, and aspiration for external distraction.
Và sự theo dõi hơi thở vô, sự theo dõi hơi thở ra; chánh niệm về sự tán loạn bên trong, sự mong mỏi và ước muốn về sự tán loạn bên ngoài.
Assāsenābhitunnassa, passāsapaṭilābhe mucchanā;
Passāsenābhitunnassa, assāsapaṭilābhe mucchanā.
For one oppressed by the out-breath, bewilderment upon obtaining the in-breath; for one oppressed by the in-breath, bewilderment upon obtaining the out-breath.
Đối với người bị hơi thở vô làm khổ não, là sự mê đắm trong việc đạt được hơi thở ra; đối với người bị hơi thở ra làm khổ não, là sự mê đắm trong việc đạt được hơi thở vô.
Cha ete upakkilesā, ānāpānassatisamādhissa;
Yehi vikkhippamānassa †, no ca cittaṃ vimuccati;
Vimokkhaṃ appajānantā, te honti parapattiyāti.
These six are the imperfections of the concentration of mindfulness of breathing. Through which, for one who is distracted, the mind is not released. Not knowing liberation, they come to be led by others.
Sáu pháp này là tùy phiền não của định niệm hơi thở vô hơi thở ra. Do chúng, tâm của người bị tán loạn không được giải thoát. Không biết được sự giải thoát, những người ấy phải tin theo người khác.
Dutiyacchakkaṃ
The Second Hexad
Nhóm sáu pháp thứ hai
155. Nimittaṃ āvajjato assāse cittaṃ vikampati – samādhissa paripantho. Assāsaṃ āvajjato nimitte cittaṃ vikampati – samādhissa paripantho. Nimittaṃ āvajjato passāse cittaṃ vikampati – samādhissa paripantho. Passāsaṃ āvajjato nimitte cittaṃ vikampati – samādhissa paripantho. Assāsaṃ āvajjato passāse cittaṃ vikampati – samādhissa paripantho. Passāsaṃ āvajjato assāse cittaṃ vikampati – samādhissa paripantho.
155. For one who adverts to the sign, the mind wavers regarding the out-breath—this is an obstacle to concentration. For one who adverts to the out-breath, the mind wavers regarding the sign—this is an obstacle to concentration. For one who adverts to the sign, the mind wavers regarding the in-breath—this is an obstacle to concentration. For one who adverts to the in-breath, the mind wavers regarding the sign—this is an obstacle to concentration. For one who adverts to the out-breath, the mind wavers regarding the in-breath—this is an obstacle to concentration. For one who adverts to the in-breath, the mind wavers regarding the out-breath—this is an obstacle to concentration.
155. Khi hướng tâm đến tướng, tâm bị dao động đối với hơi thở vô – đó là chướng ngại cho định. Khi hướng tâm đến hơi thở vô, tâm bị dao động đối với tướng – đó là chướng ngại cho định. Khi hướng tâm đến tướng, tâm bị dao động đối với hơi thở ra – đó là chướng ngại cho định. Khi hướng tâm đến hơi thở ra, tâm bị dao động đối với tướng – đó là chướng ngại cho định. Khi hướng tâm đến hơi thở vô, tâm bị dao động đối với hơi thở ra – đó là chướng ngại cho định. Khi hướng tâm đến hơi thở ra, tâm bị dao động đối với hơi thở vô – đó là chướng ngại cho định.
Nimittaṃ āvajjamānassa, assāse vikkhipate mano;
Assāsaṃ āvajjamānassa, nimitte cittaṃ vikampati.
When one attends to the sign, the mind is distracted by the out-breath; when one attends to the out-breath, the mind wavers regarding the sign.
Khi đang hướng tâm đến tướng, ý bị tán loạn nơi hơi thở vô; khi đang hướng tâm đến hơi thở vô, tâm bị dao động nơi tướng.
Nimittaṃ āvajjamānassa, passāse vikkhipate mano;
Passāsaṃ āvajjamānassa, nimitte cittaṃ vikampati.
When one attends to the sign, the mind is distracted by the in-breath; when one attends to the in-breath, the mind wavers regarding the sign.
Khi đang hướng tâm đến tướng, ý bị tán loạn nơi hơi thở ra; khi đang hướng tâm đến hơi thở ra, tâm bị dao động nơi tướng.
Assāsaṃ āvajjamānassa, passāse vikkhipate mano;
Passāsaṃ āvajjamānassa, assāse cittaṃ vikampati.
When one attends to the out-breath, the mind is distracted by the in-breath; when one attends to the in-breath, the mind wavers regarding the out-breath.
Khi đang hướng tâm đến hơi thở vô, ý bị tán loạn nơi hơi thở ra; khi đang hướng tâm đến hơi thở ra, tâm bị dao động nơi hơi thở vô.
Cha ete upakkilesā, ānāpānassatisamādhissa;
Yehi vikkhippamānassa, no ca cittaṃ vimuccati;
Vimokkhaṃ appajānantā, te honti parapattiyāti.
These six are the imperfections of the concentration of mindfulness of breathing; by which the mind of one who is distracted is not liberated. Not understanding liberation, they come to rely on others.
Sáu pháp này là tùy phiền não của định niệm hơi thở vô hơi thở ra. Do chúng, tâm của người bị tán loạn không được giải thoát. Không biết được sự giải thoát, những người ấy phải tin theo người khác.
Tatiyacchakkaṃ
The Third Hexad
Nhóm sáu pháp thứ ba
156. Atītānudhāvanaṃ cittaṃ vikkhepānupatitaṃ – samādhissa paripantho. Anāgatapaṭikaṅkhanaṃ cittaṃ vikampitaṃ – samādhissa paripantho. Līnaṃ cittaṃ kosajjānupatitaṃ – samādhissa paripantho. Atipaggahitaṃ cittaṃ uddhaccānupatitaṃ – samādhissa paripantho. Abhinataṃ cittaṃ rāgānupatitaṃ – samādhissa paripantho. Apanataṃ cittaṃ byāpādānupatitaṃ – samādhissa paripantho.
156. The mind that runs after the past falls into distraction; this is an obstacle to concentration. The mind that longs for the future is agitated; this is an obstacle to concentration. The sluggish mind falls into sloth; this is an obstacle to concentration. The overly exerted mind falls into restlessness; this is an obstacle to concentration. The mind that is excessively inclined falls into lust; this is an obstacle to concentration. The mind that is averted falls into ill will; this is an obstacle to concentration.
156. Tâm chạy theo quá khứ, rơi vào sự tán loạn – đó là chướng ngại cho định. Tâm mong mỏi tương lai, bị dao động – đó là chướng ngại cho định. Tâm co rút, rơi vào sự lười biếng – đó là chướng ngại cho định. Tâm quá tinh tấn, rơi vào sự trạo cử – đó là chướng ngại cho định. Tâm quá hướng về, rơi vào tham ái – đó là chướng ngại cho định. Tâm không hướng về, rơi vào sân hận – đó là chướng ngại cho định.
Atītānudhāvanaṃ cittaṃ, anāgatapaṭikaṅkhanaṃ līnaṃ;
Atipaggahitaṃ abhinataṃ, apanataṃ cittaṃ na samādhiyati.
The mind that runs after the past, that longs for the future, that is sluggish, that is overly exerted, that is excessively inclined, that is averted—such a mind does not become concentrated.
Tâm chạy theo quá khứ, tâm mong đợi tương lai, tâm co rút, tâm quá sách tấn, tâm quá hướng đến, và tâm không hướng đến thì không được định tĩnh.
Cha ete upakkilesā, ānāpānassatisamādhissa;
Yehi upakkiliṭṭhasaṅkappo, adhicittaṃ nappajānātīti.
These six are the imperfections of the concentration of mindfulness of breathing; by which one with defiled thoughts does not understand the higher mind.
Sáu điều này là những tùy phiền não của định niệm hơi thở; do những tùy phiền não này mà người có tư duy bị ô nhiễm không biết rõ về tăng thượng tâm.
157. Assāsādimajjhapariyosānaṃ satiyā anugacchato ajjhattaṃ vikkhepagatena cittena kāyopi cittampi sāraddhā ca honti iñjitā ca phanditā ca. Passāsādimajjhapariyosānaṃ satiyā anugacchato bahiddhāvikkhepagatena cittena kāyopi cittampi sāraddhā ca honti iñjitā ca phanditā ca. Assāsapaṭikaṅkhanāya nikantiyā taṇhācariyāya kāyopi cittampi sāraddhā ca honti iñjitā ca phanditā ca. Passāsapaṭikaṅkhanāya nikantiyā taṇhācariyāya kāyopi cittampi sāraddhā ca honti iñjitā ca phanditā ca. Assāsenābhitunnassa passāsapaṭilābhe mucchitattā kāyopi cittampi sāraddhā ca honti iñjitā ca phanditā ca. Passāsenābhitunnassa assāsapaṭilābhe mucchitattā kāyopi cittampi sāraddhā ca honti iñjitā ca phanditā ca. Nimittaṃ āvajjato assāse cittaṃ vikampitattā kāyopi cittampi sāraddhā ca honti iñjitā ca phanditā ca. Assāsaṃ āvajjato nimitte cittaṃ vikampitattā kāyopi cittampi sāraddhā ca honti iñjitā ca phanditā ca. Nimittaṃ āvajjato passāse cittaṃ vikampitattā kāyopi cittampi sāraddhā ca honti iñjitā ca phanditā ca. Passāsaṃ āvajjato nimitte cittaṃ vikampitattā kāyopi cittampi sāraddhā ca honti iñjitā ca phanditā ca. Assāsaṃ āvajjato passāse cittaṃ vikampitattā kāyopi cittampi sāraddhā ca honti iñjitā ca phanditā ca. Passāsaṃ āvajjato assāse cittaṃ vikampitattā kāyopi cittampi sāraddhā ca honti iñjitā ca phanditā ca. Atītānudhāvanena cittena vikkhepānupatitena kāyopi cittampi sāraddhā ca honti iñjitā ca phanditā ca. Anāgatapaṭikaṅkhanena cittena vikampitena kāyopi cittampi sāraddhā ca honti iñjitā ca phanditā ca. Līnena cittena kosajjānupatitena kāyopi cittampi sāraddhā ca honti iñjitā ca phanditā ca. Atipaggahitena cittena uddhaccānupatitena kāyopi cittampi sāraddhā ca honti iñjitā ca phanditā ca. Abhinatena cittena rāgānupatitena kāyopi cittampi sāraddhā ca honti iñjitā ca phanditā ca. Apanatena cittena byāpādānupatitena kāyopi cittampi sāraddhā ca honti iñjitā ca phanditā ca.
157. For one who follows the out-breath to its beginning, middle, and end with mindfulness, with a mind that has gone to internal distraction, both body and mind become agitated, shaken, and trembling. For one who follows the in-breath to its beginning, middle, and end with mindfulness, with a mind that has gone to external distraction, both body and mind become agitated, shaken, and trembling. Through longing for the out-breath, through attachment, and through the conduct of craving, both body and mind become agitated, shaken, and trembling. Through longing for the in-breath, through attachment, and through the conduct of craving, both body and mind become agitated, shaken, and trembling. For one oppressed by the out-breath, due to infatuation in obtaining the in-breath, both body and mind become agitated, shaken, and trembling. For one oppressed by the in-breath, due to infatuation in obtaining the out-breath, both body and mind become agitated, shaken, and trembling. For one who attends to the sign, due to the mind wavering regarding the out-breath, both body and mind become agitated, shaken, and trembling. For one who attends to the out-breath, due to the mind wavering regarding the sign, both body and mind become agitated, shaken, and trembling. For one who attends to the sign, due to the mind wavering regarding the in-breath, both body and mind become agitated, shaken, and trembling. For one who attends to the in-breath, due to the mind wavering regarding the sign, both body and mind become agitated, shaken, and trembling. For one who attends to the out-breath, due to the mind wavering regarding the in-breath, both body and mind become agitated, shaken, and trembling. For one who attends to the in-breath, due to the mind wavering regarding the out-breath, both body and mind become agitated, shaken, and trembling. With a mind that runs after the past and has fallen into distraction, both body and mind become agitated, shaken, and trembling. With a wavering mind that longs for the future, both body and mind become agitated, shaken, and trembling. With a sluggish mind that has fallen into sloth, both body and mind become agitated, shaken, and trembling. With an overly exerted mind that has fallen into restlessness, both body and mind become agitated, shaken, and trembling. With an inclined mind that has fallen into lust, both body and mind become agitated, shaken, and trembling. With an averted mind that has fallen into ill will, both body and mind become agitated, shaken, and trembling.
157. Đối với vị theo dõi đầu, giữa, và cuối của hơi thở ra với chánh niệm, do tâm bị tán loạn bên trong, cả thân và tâm đều bị kích động, dao động, và rung động. Đối với vị theo dõi đầu, giữa, và cuối của hơi thở vào với chánh niệm, do tâm bị tán loạn bên ngoài, cả thân và tâm đều bị kích động, dao động, và rung động. Do sự mong đợi, sự ưa thích, sự vận hành của tham ái đối với hơi thở ra, cả thân và tâm đều bị kích động, dao động, và rung động. Do sự mong đợi, sự ưa thích, sự vận hành của tham ái đối với hơi thở vào, cả thân và tâm đều bị kích động, dao động, và rung động. Đối với vị bị hơi thở ra làm cho khổ não, do sự mê đắm trong việc được hơi thở vào, cả thân và tâm đều bị kích động, dao động, và rung động. Đối với vị bị hơi thở vào làm cho khổ não, do sự mê đắm trong việc được hơi thở ra, cả thân và tâm đều bị kích động, dao động, và rung động. Đối với vị hướng tâm đến tướng, do tâm bị dao động ở hơi thở ra, cả thân và tâm đều bị kích động, dao động, và rung động. Đối với vị hướng tâm đến hơi thở ra, do tâm bị dao động ở tướng, cả thân và tâm đều bị kích động, dao động, và rung động. Đối với vị hướng tâm đến tướng, do tâm bị dao động ở hơi thở vào, cả thân và tâm đều bị kích động, dao động, và rung động. Đối với vị hướng tâm đến hơi thở vào, do tâm bị dao động ở tướng, cả thân và tâm đều bị kích động, dao động, và rung động. Đối với vị hướng tâm đến hơi thở ra, do tâm bị dao động ở hơi thở vào, cả thân và tâm đều bị kích động, dao động, và rung động. Đối với vị hướng tâm đến hơi thở vào, do tâm bị dao động ở hơi thở ra, cả thân và tâm đều bị kích động, dao động, và rung động. Do tâm chạy theo quá khứ, rơi vào tán loạn, cả thân và tâm đều bị kích động, dao động, và rung động. Do tâm mong đợi tương lai, bị dao động, cả thân và tâm đều bị kích động, dao động, và rung động. Do tâm co rút, rơi vào biếng nhác, cả thân và tâm đều bị kích động, dao động, và rung động. Do tâm quá sách tấn, rơi vào trạo cử, cả thân và tâm đều bị kích động, dao động, và rung động. Do tâm quá hướng đến, rơi vào tham ái, cả thân và tâm đều bị kích động, dao động, và rung động. Do tâm không hướng đến, rơi vào sân hận, cả thân và tâm đều bị kích động, dao động, và rung động.
Ānāpānassati yassa, paripuṇṇā abhāvitā;
Kāyopi iñjito hoti, cittampi hoti iñjitaṃ;
Kāyopi phandito hoti, cittampi hoti phanditaṃ.
For one whose mindfulness of breathing is incomplete and undeveloped, the body is agitated, the mind is agitated; the body is tremulous, the mind is tremulous.
Đối với người nào, niệm hơi thở không được tu tập một cách viên mãn, thì thân của người ấy bị dao động, tâm cũng bị dao động; thân bị rung động, tâm cũng bị rung động.
Ānāpānassati yassa, paripuṇṇā subhāvitā;
Kāyopi aniñjito hoti, cittampi hoti aniñjitaṃ;
Kāyopi aphandito hoti, cittampi hoti aphanditanti.
For one whose mindfulness of breathing is complete and well-developed, the body is unagitated, the mind is unagitated; the body is untremulous, the mind is untremulous.
Đối với người nào, niệm hơi thở được tu tập một cách viên mãn và tốt đẹp, thì thân của người ấy không bị dao động, tâm cũng không bị dao động; thân không bị rung động, tâm cũng không bị rung động.
Imehi ca pana nīvaraṇehi visuddhacittassa soḷasavatthukaṃ ānāpānassatisamādhiṃ bhāvayato khaṇikasamodhānā ime aṭṭhārasa upakkilesā uppajjanti.
Moreover, for one with a mind purified of these hindrances who develops the concentration of mindfulness of breathing with its sixteen bases, these eighteen imperfections arise through momentary conjunction.
Và đối với vị có tâm thanh tịnh khỏi những triền cái này, đang tu tập định niệm hơi thở có mười sáu đối tượng, mười tám tùy phiền não này sanh khởi do sự hợp lại trong từng sát-na.
Upakkilesañāṇaniddeso tatiyo.
The third exposition of the knowledge of imperfections is completed.
Phần giải về trí tuệ liên quan đến tùy phiền não, chương thứ ba.
4. Vodānañāṇaniddeso
4. The Exposition of the Knowledge of Purification
4. Phần giải về trí tuệ liên quan đến sự trong sạch
158. Katamāni terasa vodāne ñāṇāni? Atītānudhāvanaṃ cittaṃ vikkhepānupatitaṃ; taṃ vivajjayitvā ekaṭṭhāne samādahati – evampi cittaṃ na vikkhepaṃ gacchati. Anāgatapaṭikaṅkhanaṃ cittaṃ vikampitaṃ; taṃ vivajjayitvā tattheva adhimoceti – evampi cittaṃ na vikkhepaṃ gacchati. Līnaṃ cittaṃ kosajjānupatitaṃ; taṃ paggaṇhitvā kosajjaṃ pajahati – evampi cittaṃ na vikkhepaṃ gacchati. Atipaggahitaṃ cittaṃ uddhaccānupatitaṃ; taṃ viniggaṇhitvā uddhaccaṃ pajahati – evampi cittaṃ na vikkhepaṃ gacchati. Abhinataṃ cittaṃ rāgānupatitaṃ; taṃ sampajāno hutvā rāgaṃ pajahati – evampi cittaṃ na vikkhepaṃ gacchati. Apanataṃ cittaṃ byāpādānupatitaṃ; taṃ sampajāno hutvā byāpādaṃ pajahati – evampi cittaṃ na vikkhepaṃ gacchati. Imehi chahi ṭhānehi parisuddhaṃ cittaṃ pariyodātaṃ ekattagataṃ hoti.
158. What are the thirteen knowledges in purification? The mind, running after the past, has fallen into distraction; having abandoned that, one concentrates it on a single object—thus the mind does not go to distraction. The mind, anticipating the future, is shaken; having abandoned that, one resolves it right there—thus the mind does not go to distraction. The sluggish mind has fallen into sloth; having roused it, one abandons sloth—thus the mind does not go to distraction. The over-exerted mind has fallen into restlessness; having restrained it, one abandons restlessness—thus the mind does not go to distraction. The inclined mind has fallen into lust; having become fully aware, one abandons lust—thus the mind does not go to distraction. The averse mind has fallen into ill will; having become fully aware, one abandons ill will—thus the mind does not go to distraction. By these six instances, the mind, being purified and cleansed, becomes unified.
158. Mười ba trí tuệ trong sự trong sạch là gì? Tâm chạy theo quá khứ rơi vào tán loạn; từ bỏ điều đó, vị ấy định tâm vào một điểm – như vậy tâm không đi đến tán loạn. Tâm mong đợi tương lai bị dao động; từ bỏ điều đó, vị ấy an trú tâm ngay tại đó – như vậy tâm không đi đến tán loạn. Tâm co rút rơi vào biếng nhác; sách tấn tâm ấy lên, vị ấy từ bỏ sự biếng nhác – như vậy tâm không đi đến tán loạn. Tâm quá sách tấn rơi vào trạo cử; chế ngự tâm ấy, vị ấy từ bỏ sự trạo cử – như vậy tâm không đi đến tán loạn. Tâm quá hướng đến rơi vào tham ái; trở nên tỉnh giác, vị ấy từ bỏ tham ái – như vậy tâm không đi đến tán loạn. Tâm không hướng đến rơi vào sân hận; trở nên tỉnh giác, vị ấy từ bỏ sân hận – như vậy tâm không đi đến tán loạn. Do sáu trường hợp này, tâm trở nên thanh tịnh, trong sạch, đạt đến nhất tâm.
Katame te ekattā? Dānavosaggupaṭṭhānekattaṃ, samathanimittupaṭṭhānekattaṃ, vayalakkhaṇupaṭṭhānekattaṃ, nirodhupaṭṭhānekattaṃ. Dānavosaggupaṭṭhānekattaṃ cāgādhimuttānaṃ, samathanimittupaṭṭhānekattañca adhicittamanuyuttānaṃ, vayalakkhaṇupaṭṭhānekattañca vipassakānaṃ, nirodhupaṭṭhānekattañca ariyapuggalānaṃ – imehi catūhi ṭhānehi ekattagataṃ cittaṃ paṭipadāvisuddhipakkhandañceva hoti, upekkhānubrūhitañca, ñāṇena ca sampahaṃsitaṃ.
What are those states of being one? The state of being one through the manifestation of giving and relinquishing, the state of being one through the manifestation of the sign of serenity, the state of being one through the manifestation of the characteristic of dissolution, and the state of being one through the manifestation of cessation. The state of being one through the manifestation of giving and relinquishing is for those resolved on relinquishing; the state of being one through the manifestation of the sign of serenity is for those devoted to the higher mind; the state of being one through the manifestation of the characteristic of dissolution is for insight meditators; and the state of being one through the manifestation of cessation is for noble individuals. By these four instances, the mind that has attained singularity indeed leaps into the purity of the path, is augmented by equanimity, and is gladdened by knowledge.
Những nhất tâm ấy là gì? Nhất tâm trong sự hiện khởi của bố thí và từ bỏ, nhất tâm trong sự hiện khởi của tướng chỉ tịnh, nhất tâm trong sự hiện khởi của tướng hoại, nhất tâm trong sự hiện khởi của sự diệt. Nhất tâm trong sự hiện khởi của bố thí và từ bỏ là của những vị hướng đến sự xả ly; nhất tâm trong sự hiện khởi của tướng chỉ tịnh là của những vị chuyên tâm vào tăng thượng tâm; nhất tâm trong sự hiện khởi của tướng hoại là của những vị hành thiền minh sát; và nhất tâm trong sự hiện khởi của sự diệt là của các bậc Thánh nhân. Do bốn trường hợp này, tâm đạt đến nhất tâm vừa đi vào sự thanh tịnh của đạo lộ, vừa được tăng trưởng bởi xả, và được làm cho hoan hỷ bởi trí tuệ.
Paṭhamassa jhānassa ko ādi, kiṃ majjhe, kiṃ pariyosānaṃ? Paṭhamassa jhānassa paṭipadāvisuddhi ādi, upekkhānubrūhanā majjhe, sampahaṃsanā pariyosānaṃ. Paṭhamassa jhānassa paṭipadāvisuddhi ādi. Ādissa kati lakkhaṇāni? Ādissa tīṇi lakkhaṇāni. Yo tassa paripantho tato cittaṃ visujjhati, visuddhattā cittaṃ majjhimaṃ samathanimittaṃ paṭipajjati, paṭipannattā tattha cittaṃ pakkhandati. Yañca paripanthato cittaṃ visujjhati, yañca visuddhattā cittaṃ majjhimaṃ samathanimittaṃ paṭipajjati, yañca paṭipannattā tattha cittaṃ pakkhandati. Paṭhamassa jhānassa paṭipadāvisuddhi ādi. Ādissa imāni tīṇi lakkhaṇāni. Tena vuccati – ‘‘paṭhamaṃ jhānaṃ ādikalyāṇañceva hoti lakkhaṇasampannañca’’.
What is the beginning, what the middle, and what the end of the first jhāna? The purity of the path is the beginning, the augmenting of equanimity is the middle, and gladdening is the end. The purity of the path is the beginning of the first jhāna. How many characteristics does the beginning have? The beginning has three characteristics. The mind is purified from whatever is an obstruction; being purified, it reaches the intermediate sign of serenity; having reached it, it leaps into it. That the mind is purified from obstruction, that being purified it reaches the intermediate sign of serenity, and that having reached it, it leaps therein—these are the three characteristics of the beginning. Therefore it is said: 'The first jhāna is lovely in its beginning and endowed with characteristics.'
Cái gì là khởi đầu của Sơ thiền, cái gì là giai đoạn giữa, cái gì là giai đoạn cuối? Đối với Sơ thiền, sự thanh tịnh của lộ trình là khởi đầu, sự phát triển tâm xả là giai đoạn giữa, sự làm cho phấn khởi là giai đoạn cuối. Đối với Sơ thiền, sự thanh tịnh của lộ trình là khởi đầu. Khởi đầu có bao nhiêu đặc điểm? Khởi đầu có ba đặc điểm. Chướng ngại nào của vị ấy, tâm được thanh tịnh khỏi chướng ngại ấy; do được thanh tịnh, tâm đi đến tướng chỉ tịnh ở giữa; do đã đi đến, tâm lao vào nơi ấy. Và tâm được thanh tịnh khỏi chướng ngại, và do được thanh tịnh, tâm đi đến tướng chỉ tịnh ở giữa, và do đã đi đến, tâm lao vào nơi ấy. Sự thanh tịnh của lộ trình là khởi đầu của Sơ thiền. Đây là ba đặc điểm của khởi đầu. Do đó, được nói rằng: 'Sơ thiền vừa tốt đẹp ở khởi đầu, vừa đầy đủ đặc điểm'.
Paṭhamassa jhānassa upekkhānubrūhanā majjhe. Majjhassa kati lakkhaṇāni? Majjhassa tīṇi lakkhaṇāni. Visuddhaṃ cittaṃ ajjhupekkhati, samathapaṭipannaṃ ajjhupekkhati, ekattupaṭṭhānaṃ ajjhupekkhati. Yañca visuddhaṃ cittaṃ ajjhupekkhati, yañca samathapaṭipannaṃ ajjhupekkhati, yañca ekattupaṭṭhānaṃ ajjhupekkhati – paṭhamassa jhānassa upekkhānubrūhanā majjhe. Majjhassa imāni tīṇi lakkhaṇāni. Tena vuccati – ‘‘paṭhamaṃ jhānaṃ majjhekalyāṇañceva hoti lakkhaṇasampannañca’’.
The development of equanimity is the middle of the first jhāna. How many characteristics does the middle have? The middle has three characteristics. One regards with equanimity the purified mind, one regards with equanimity the mind that has attained serenity, and one regards with equanimity the mind established in unification. And that one regards with equanimity the purified mind, and that one regards with equanimity the mind that has attained serenity, and that one regards with equanimity the mind established in unification—this is the development of equanimity, the middle of the first jhāna. These are the three characteristics of the middle. Therefore, it is said: ‘The first jhāna is excellent in the middle and endowed with characteristics.’
Đối với Sơ thiền, sự phát triển tâm xả là giai đoạn giữa. Giai đoạn giữa có bao nhiêu đặc điểm? Giai đoạn giữa có ba đặc điểm. Vị ấy xả đối với tâm đã thanh tịnh, xả đối với tâm đã đi đến chỉ tịnh, xả đối với tâm đã hiện khởi nhất tâm. Và vị ấy xả đối với tâm đã thanh tịnh, và xả đối với tâm đã đi đến chỉ tịnh, và xả đối với tâm đã hiện khởi nhất tâm – sự phát triển tâm xả là giai đoạn giữa của Sơ thiền. Đây là ba đặc điểm của giai đoạn giữa. Do đó, được nói rằng: 'Sơ thiền vừa tốt đẹp ở giai đoạn giữa, vừa đầy đủ đặc điểm'.
Paṭhamassa jhānassa sampahaṃsanā pariyosānaṃ. Pariyosānassa kati lakkhaṇāni? Pariyosānassa cattāri lakkhaṇāni. Tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena sampahaṃsanā, indriyānaṃ ekarasaṭṭhena sampahaṃsanā, tadupagavīriyavāhanaṭṭhena sampahaṃsanā, āsevanaṭṭhena sampahaṃsanā. Paṭhamassa jhānassa sampahaṃsanā pariyosānaṃ. Pariyosānassa imāni cattāri lakkhaṇāni. Tena vuccati – ‘‘paṭhamaṃ jhānaṃ pariyosānakalyāṇañceva hoti lakkhaṇasampannañca’’. Evaṃ tivattagataṃ cittaṃ tividhakalyāṇakaṃ dasalakkhaṇasampannaṃ vitakkasampannañceva hoti vicārasampannañca pītisampannañca sukhasampannañca cittassa adhiṭṭhānasampannañca saddhāsampannañca vīriyasampannañca satisampannañca samādhisampannañca paññāsampannañca.
The gladdening is the conclusion of the first jhāna. How many characteristics does the conclusion have? The conclusion has four characteristics. Therein, there is gladdening in the sense of not overstepping the arisen states; gladdening in the sense of the faculties having a single function; gladdening in the sense of being a vehicle for the energy directed towards it; and gladdening in the sense of repeated practice. The gladdening is the conclusion of the first jhāna. These are the four characteristics of the conclusion. Therefore, it is said: ‘The first jhāna is excellent in its conclusion and endowed with characteristics.’ Thus, the mind established in three phases is threefold excellent and endowed with ten characteristics: it is endowed with applied thought, endowed with sustained thought, endowed with rapture, endowed with happiness, endowed with the mind's resolution, endowed with faith, endowed with energy, endowed with mindfulness, endowed with concentration, and endowed with wisdom.
Đối với Sơ thiền, sự làm cho phấn khởi là giai đoạn cuối. Giai đoạn cuối có bao nhiêu đặc điểm? Giai đoạn cuối có bốn đặc điểm. Sự làm cho phấn khởi với ý nghĩa không vượt qua các pháp đã sanh khởi ở đó, sự làm cho phấn khởi với ý nghĩa các căn có cùng một phận sự, sự làm cho phấn khởi với ý nghĩa mang đi tinh tấn đã đạt đến đó, sự làm cho phấn khởi với ý nghĩa thực hành. Sự làm cho phấn khởi là giai đoạn cuối của Sơ thiền. Đây là bốn đặc điểm của giai đoạn cuối. Do đó, được nói rằng: 'Sơ thiền vừa tốt đẹp ở giai đoạn cuối, vừa đầy đủ đặc điểm'. Như vậy, tâm đã trải qua ba giai đoạn, có ba sự tốt đẹp, đầy đủ mười đặc điểm, vừa đầy đủ tầm, vừa đầy đủ tứ, đầy đủ hỷ, đầy đủ lạc, đầy đủ sự quyết định của tâm, đầy đủ tín, đầy đủ tấn, đầy đủ niệm, đầy đủ định, và đầy đủ tuệ.
Dutiyassa jhānassa ko ādi, kiṃ majjhe, kiṃ pariyosānaṃ? Dutiyassa jhānassa paṭipadāvisuddhi ādi, upekkhānubrūhanā majjhe, sampahaṃsanā pariyosānaṃ…pe… evaṃ tivattagataṃ cittaṃ tividhakalyāṇakaṃ dasalakkhaṇasampannaṃ pītisampannañceva hoti sukhasampannañca cittassa adhiṭṭhānasampannañca saddhāsampannañca vīriyasampannañca satisampannañca samādhisampannañca paññāsampannañca.
What is the beginning of the second jhāna, what is its middle, what is its culmination? The beginning of the second jhāna is the purity of practice, the middle is the development of equanimity, and the culmination is gladdening... Thus, the mind that is established in three moments is endowed with threefold goodness, endowed with ten characteristics, endowed with rapture, endowed with pleasure, endowed with the mind's resolution, endowed with faith, endowed with energy, endowed with mindfulness, endowed with concentration, and endowed with wisdom.
Cái gì là khởi đầu của Nhị thiền, cái gì là giai đoạn giữa, cái gì là giai đoạn cuối? Đối với Nhị thiền, sự thanh tịnh của lộ trình là khởi đầu, sự phát triển tâm xả là giai đoạn giữa, sự làm cho phấn khởi là giai đoạn cuối... v.v... Như vậy, tâm đã trải qua ba giai đoạn, có ba sự tốt đẹp, đầy đủ mười đặc điểm, vừa đầy đủ hỷ, vừa đầy đủ lạc, đầy đủ sự quyết định của tâm, đầy đủ tín, đầy đủ tấn, đầy đủ niệm, đầy đủ định, và đầy đủ tuệ.
Tatiyassa jhānassa ko ādi, kiṃ majjhe, kiṃ pariyosānaṃ…pe… evaṃ tivattagataṃ cittaṃ tividhakalyāṇakaṃ dasalakkhaṇasampannaṃ sukhasampannañceva hoti cittassa adhiṭṭhānasampannañca saddhāsampannañca vīriyasampannañca satisampannañca samādhisampannañca paññāsampannañca.
What is the beginning of the third jhāna, what is its middle, what is its culmination?... Thus, the mind that is established in three moments is endowed with threefold goodness, endowed with ten characteristics, endowed with pleasure, endowed with the mind's resolution, endowed with faith, endowed with energy, endowed with mindfulness, endowed with concentration, and endowed with wisdom.
Cái gì là khởi đầu của Tam thiền, cái gì là giai đoạn giữa, cái gì là giai đoạn cuối?... v.v... Như vậy, tâm đã trải qua ba giai đoạn, có ba sự tốt đẹp, đầy đủ mười đặc điểm, vừa đầy đủ lạc, đầy đủ sự quyết định của tâm, đầy đủ tín, đầy đủ tấn, đầy đủ niệm, đầy đủ định, và đầy đủ tuệ.
Catutthassa jhānassa ko ādi, kiṃ majjhe, kiṃ pariyosānaṃ…pe… evaṃ tivattagataṃ cittaṃ tividhakalyāṇakaṃ dasalakkhaṇasampannañca upekkhāsampannañceva hoti cittassa adhiṭṭhānasampannañca saddhāsampannañca vīriyasampannañca satisampannañca samādhisampannañca paññāsampannañca.
What is the beginning of the fourth jhāna, what is its middle, what is its culmination?... Thus, the mind that is established in three moments is endowed with threefold goodness, endowed with ten characteristics, endowed with equanimity, endowed with the mind's resolution, endowed with faith, endowed with energy, endowed with mindfulness, endowed with concentration, and endowed with wisdom.
Cái gì là khởi đầu của Tứ thiền, cái gì là giai đoạn giữa, cái gì là giai đoạn cuối?... v.v... Như vậy, tâm đã trải qua ba giai đoạn, có ba sự tốt đẹp, đầy đủ mười đặc điểm, và vừa đầy đủ xả, đầy đủ sự quyết định của tâm, đầy đủ tín, đầy đủ tấn, đầy đủ niệm, đầy đủ định, và đầy đủ tuệ.
Ākāsānañcāyatanasamāpattiyā…pe… viññāṇañcāyatanasamāpattiyā… ākiñcaññāyatanasamāpattiyā… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā ko ādi, kiṃ majjhe, kiṃ pariyosānaṃ…pe… evaṃ tivattagataṃ cittaṃ tividhakalyāṇakaṃ dasalakkhaṇasampannaṃ upekkhāsampannañceva hoti cittassa adhiṭṭhānasampannaṃ ca…pe… paññāsampannañca.
What is the beginning, what is the middle, what is the culmination of the attainment of the sphere of infinite space... of the attainment of the sphere of infinite consciousness... of the attainment of the sphere of nothingness... of the attainment of the sphere of neither-perception-nor-non-perception?... Thus, the mind that is established in three moments is endowed with threefold goodness, endowed with ten characteristics, endowed with equanimity, endowed with the mind's resolution... and endowed with wisdom.
Đối với sự chứng đắc Không Vô Biên Xứ... v.v... đối với sự chứng đắc Thức Vô Biên Xứ... đối với sự chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ... đối với sự chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, cái gì là khởi đầu, cái gì là giai đoạn giữa, cái gì là giai đoạn cuối?... v.v... Như vậy, tâm đã trải qua ba giai đoạn, có ba sự tốt đẹp, đầy đủ mười đặc điểm, vừa đầy đủ xả, và đầy đủ sự quyết định của tâm... v.v... và đầy đủ tuệ.
Aniccānupassanāya ko ādi, kiṃ majjhe, kiṃ pariyosānaṃ…pe… evaṃ tivattagataṃ cittaṃ tividhakalyāṇakaṃ dasalakkhaṇasampannaṃ vitakkasampannañceva hoti vicārasampannañca pītisampannañca sukhasampannañca cittassa adhiṭṭhānasampannañca saddhāsampannañca vīriyasampannañca satisampannañca samādhisampannañca paññāsampannañca. Dukkhānupassanāya…pe… anattānupassanāya… nibbidānupassanāya… virāgānupassanāya… nirodhānupassanāya… paṭinissaggānupassanāya… khayānupassanāya… vayānupassanāya… vipariṇāmānupassanāya… animittānupassanāya… appaṇihitānupassanāya… suññatānupassanāya… adhipaññādhammavipassanāya… yathābhūtañāṇadassanāya… ādīnavānupassanāya… paṭisaṅkhānupassanāya… vivaṭṭanānupassanāya… paññāsampannañca.
Of the contemplation of impermanence, what is the beginning, what is the middle, and what is the end? … Thus, the mind that is established in the three phases is endowed with threefold goodness and endowed with ten characteristics; it is endowed with applied thought, sustained thought, joy, happiness, resolution of the mind, faith, energy, mindfulness, concentration, and wisdom. Of the contemplation of suffering… of the contemplation of not-self… of the contemplation of disenchantment… of the contemplation of dispassion… of the contemplation of cessation… of the contemplation of relinquishment… of the contemplation of destruction… of the contemplation of vanishing… of the contemplation of change… of the contemplation of the signless… of the contemplation of the desireless… of the contemplation of emptiness… of insight into phenomena through higher wisdom… of the knowledge and vision of things as they are… of the contemplation of danger… of the contemplation of reflection… of the contemplation of turning away.
Đối với quán vô thường, cái gì là khởi đầu, cái gì là giai đoạn giữa, cái gì là giai đoạn cuối?... v.v... Như vậy, tâm đã trải qua ba giai đoạn, có ba sự tốt đẹp, đầy đủ mười đặc điểm, vừa đầy đủ tầm, vừa đầy đủ tứ, đầy đủ hỷ, đầy đủ lạc, đầy đủ sự quyết định của tâm, đầy đủ tín, đầy đủ tấn, đầy đủ niệm, đầy đủ định, và đầy đủ tuệ. Đối với quán khổ... v.v... đối với quán vô ngã... đối với quán yếm ly... đối với quán ly tham... đối với quán đoạn diệt... đối với quán từ bỏ... đối với quán sự đoạn tận... đối với quán sự hoại diệt... đối với quán sự biến đổi... đối với quán vô tướng... đối với quán vô nguyện... đối với quán tánh không... đối với quán pháp với trí tuệ cao hơn... đối với thấy biết như thật... đối với quán sự nguy hại... đối với quán sự thẩm sát... đối với quán sự thoát ly... và đầy đủ tuệ.
Sotāpattimaggassa…pe… sakadāgāmimaggassa… anāgāmimaggassa… arahattamaggassa ko ādi, kiṃ majjhe, kiṃ pariyosānaṃ? Arahattamaggassa paṭipadāvisuddhi ādi upekkhānubrūhanā majjhe, sampahaṃsanā pariyosānaṃ. Arahattamaggassa paṭipadāvisuddhi ādi. Ādissa kati lakkhaṇāni? Ādissa tīṇi lakkhaṇāni. Yo tassa paripantho tato cittaṃ visujjhati, visuddhattā cittaṃ majjhimaṃ samathanimittaṃ paṭipajjati, paṭipannattā tattha cittaṃ pakkhandati. Yañca paripanthato cittaṃ visujjhati, yañca visuddhattā cittaṃ majjhimaṃ samathanimittaṃ paṭipajjati, yañca paṭipannattā tattha cittaṃ pakkhandati – arahattamaggassa paṭipadāvisuddhi ādi. Ādissa imāni tīṇi lakkhaṇāni. Tena vuccati – ‘‘arahattamaggo ādikalyāṇo ceva hoti lakkhaṇasampanno ca’’.
Of the path of stream-entry… of the path of once-returning… of the path of non-returning… of the path of arahantship, what is its beginning, what is its middle, and what is its end? For the path of arahantship, purity of the path is the beginning, the development of equanimity is the middle, and gladdening is the end. Purity of the path is the beginning of the path of arahantship. How many characteristics does the beginning have? The beginning has three characteristics. The mind is purified from its obstruction; being purified, the mind arrives at the middle sign of serenity; having arrived, the mind plunges into it. That the mind is purified from obstruction, that being purified it arrives at the middle sign of serenity, and that having arrived it plunges into it—this is the purity of the path, the beginning of the path of arahantship. These are the three characteristics of the beginning. Therefore, it is said: 'The path of arahantship is good in the beginning and endowed with characteristics.'
Của đạo Dự lưu... cho đến... của đạo Nhất lai... của đạo Bất lai... của đạo A-la-hán, cái gì là khởi đầu, cái gì là ở giữa, cái gì là kết thúc? Của đạo A-la-hán, sự trong sạch của pháp hành là khởi đầu, sự tăng trưởng xả là ở giữa, sự làm cho hân hoan là kết thúc. Của đạo A-la-hán, sự trong sạch của pháp hành là khởi đầu. Khởi đầu có bao nhiêu đặc tướng? Khởi đầu có ba đặc tướng. Bất cứ chướng ngại nào của vị ấy, tâm được trong sạch khỏi chướng ngại ấy; do được trong sạch, tâm đạt đến tướng tịnh chỉ ở giữa; do đã đạt đến, tâm lao vào nơi ấy. Và việc tâm được trong sạch khỏi chướng ngại, và việc do được trong sạch tâm đạt đến tướng tịnh chỉ ở giữa, và việc do đã đạt đến tâm lao vào nơi ấy – (đây là) sự trong sạch của pháp hành là khởi đầu của đạo A-la-hán. Đây là ba đặc tướng của khởi đầu. Do đó được nói rằng: ‘Đạo A-la-hán vừa tốt đẹp ở đoạn đầu, vừa đầy đủ các đặc tướng’.
Arahattamaggassa upekkhānubrūhanā majjhe. Majjhassa kati lakkhaṇāni? Majjhassa tīṇi lakkhaṇāni. Visuddhaṃ cittaṃ ajjhupekkhati, samathapaṭipannaṃ ajjhupekkhati, ekattupaṭṭhānaṃ ajjhupekkhati. Yañca visuddhaṃ cittaṃ ajjhupekkhati, yañca samathapaṭipannaṃ ajjhupekkhati, yañca ekattupaṭṭhānaṃ ajjhupekkhati. Tena vuccati – ‘‘arahattamaggo majjhekalyāṇo ceva hoti lakkhaṇasampanno ca’’.
The cultivation of equanimity is the middle of the Arahantship path. How many characteristics does the middle have? The middle has three characteristics. It regards the purified mind with equanimity; it regards the mind that has attained tranquility with equanimity; it regards the mind that appears as a single state with equanimity. Because it regards the purified mind with equanimity, because it regards the mind that has attained tranquility with equanimity, and because it regards the mind that appears as a single state with equanimity, it is therefore said: ‘The Arahantship path is both excellent in the middle and endowed with the characteristics.’
Của đạo A-la-hán, sự tăng trưởng xả là ở giữa. Ở giữa có bao nhiêu đặc tướng? Ở giữa có ba đặc tướng. Vị ấy xả đối với tâm trong sạch, xả đối với (tâm) đã đạt đến tịnh chỉ, xả đối với (tâm) hiện khởi nhất tâm. Và việc vị ấy xả đối với tâm trong sạch, và việc vị ấy xả đối với (tâm) đã đạt đến tịnh chỉ, và việc vị ấy xả đối với (tâm) hiện khởi nhất tâm. Do đó được nói rằng: ‘Đạo A-la-hán vừa tốt đẹp ở đoạn giữa, vừa đầy đủ các đặc tướng’.
Arahattamaggassa sampahaṃsanā pariyosānaṃ. Pariyosānassa kati lakkhaṇāni? Pariyosānassa cattāri lakkhaṇāni. Tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena sampahaṃsanā, indriyānaṃ ekarasaṭṭhena sampahaṃsanā, tadupagavīriyavāhanaṭṭhena sampahaṃsanā, āsevanaṭṭhena sampahaṃsanā. Arahattamaggassa sampahaṃsanā pariyosānaṃ. Pariyosānassa imāni cattāri lakkhaṇāni. Tena vuccati – ‘‘arahattamaggo pariyosānakalyāṇo ceva hoti lakkhaṇasampanno ca’’. Evaṃ tivattagataṃ cittaṃ tividhakalyāṇakaṃ dasalakkhaṇasampannaṃ vitakkasampannañceva hoti vicārasampannañca pītisampannañca sukhasampannañca cittassa adhiṭṭhānasampannañca saddhāsampannañca vīriyasampannañca satisampannañca samādhisampannañca paññāsampannañca.
The gladdening is the conclusion of the Arahantship path. How many characteristics does the conclusion have? The conclusion has four characteristics. Herein, there is gladdening in the sense of not transgressing the states that have arisen; gladdening in the sense of the faculties having a single function; gladdening in the sense of bearing the energy conducive thereto; and gladdening in the sense of repeated practice. The gladdening is the conclusion of the Arahantship path. These are the four characteristics of the conclusion. Therefore, it is said: ‘The Arahantship path is both excellent in its conclusion and endowed with the characteristics.’ Thus, the mind that has passed through three stages is of threefold excellence, endowed with ten characteristics, and is endowed with initial application, endowed with sustained application, endowed with rapture, endowed with happiness, endowed with the mind’s resolution, endowed with faith, endowed with energy, endowed with mindfulness, endowed with concentration, and endowed with wisdom.
Của đạo A-la-hán, sự làm cho hân hoan là kết thúc. Kết thúc có bao nhiêu đặc tướng? Kết thúc có bốn đặc tướng. Sự làm cho hân hoan với ý nghĩa không vượt qua các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy, sự làm cho hân hoan với ý nghĩa các căn có cùng một phận sự, sự làm cho hân hoan với ý nghĩa chuyên chở tinh tấn đã đạt đến đó, sự làm cho hân hoan với ý nghĩa thực hành lặp đi lặp lại. Sự làm cho hân hoan là kết thúc của đạo A-la-hán. Đây là bốn đặc tướng của kết thúc. Do đó được nói rằng: ‘Đạo A-la-hán vừa tốt đẹp ở đoạn kết, vừa đầy đủ các đặc tướng’. Như vậy, tâm đã đi qua ba giai đoạn là tốt đẹp theo ba cách, đầy đủ mười đặc tướng, và cũng đầy đủ tầm, đầy đủ tứ, đầy đủ hỷ, đầy đủ lạc, đầy đủ sự quyết định của tâm, đầy đủ tín, đầy đủ tấn, đầy đủ niệm, đầy đủ định, và đầy đủ tuệ.
159.
159.
159.
Nimittaṃ assāsapassāsā, anārammaṇamekacittassa;
Ajānato ca tayo dhamme, bhāvanā nupalabbhati.
The sign and the in-breaths and out-breaths are not the object of a single mind. For one who does not know these three dhammas, development is not obtained.
Tướng và hơi thở ra hơi thở vào, không phải là đối tượng của một tâm; và đối với người không biết ba pháp, sự tu tập không được thành tựu.
Nimittaṃ assāsapassāsā, anārammaṇamekacittassa;
Jānato ca tayo dhamme, bhāvanā upalabbhatīti.
The sign and the in-breaths and out-breaths are not the object of a single mind. For one who knows these three dhammas, development is obtained.
Tướng và hơi thở ra hơi thở vào, không phải là đối tượng của một tâm; và đối với người biết ba pháp, sự tu tập được thành tựu.
Kathaṃ ime tayo dhammā ekacittassa ārammaṇā na honti, na cime tayo dhammā aviditā honti, na ca cittaṃ vikkhepaṃ gacchati, padhānañca paññāyati, payogañca sādheti, visesamadhigacchati? Seyyathāpi rukkho same bhūmibhāge nikkhitto. Tamenaṃ puriso kakacena chindeyya. Rukkhe phuṭṭhakakacadantānaṃ vasena purisassa sati upaṭṭhitā hoti; na āgate vā gate vā kakacadante manasi karoti. Na āgatā vā gatā vā kakacadantā aviditā honti, padhānañca paññāyati, payogañca sādheti. Yathā rukkho same bhūmibhāge nikkhitto. Evaṃ upanibandhanā nimittaṃ. Yathā kakacadantā, evaṃ assāsapassāsā. Yathā rukkhe phuṭṭhakakacadantānaṃ vasena purisassa sati upaṭṭhitā hoti, na āgate vā gate vā kakacadante manasi karoti, na āgatā vā gatā vā kakacadantā aviditā honti, padhānañca paññāyati, payogañca sādheti. Evamevaṃ bhikkhu nāsikagge vā mukhanimitte vā satiṃ upaṭṭhapetvā nisinno hoti, na āgate vā gate vā assāsapassāse manasi karoti, na āgatā vā gatā vā assāsapassāsā aviditā honti, padhānañca paññāyati, payogañca sādheti. Visesamadhigacchati padhānañca.
How is it that these three things do not become the objects of a single mind, and yet these three things are not unknown, and the mind does not go to distraction, while exertion is apparent, endeavor is accomplished, and distinction is attained? Suppose a tree is placed on level ground. A man might cut it with a saw. By means of the saw-teeth touching the tree, the man's mindfulness is established; he does not pay attention to the coming or going of the saw-teeth. Yet the coming or going of the saw-teeth are not unknown, while exertion is apparent, and endeavor is accomplished. As the tree is placed on level ground, so is the sign for binding the mind. As the saw-teeth, so are the in-breaths and out-breaths. Just as by means of the saw-teeth touching the tree, the man's mindfulness is established, he does not pay attention to the coming or going of the saw-teeth, yet the coming or going of the saw-teeth are not unknown, while exertion is apparent, and endeavor is accomplished; in the very same way, a bhikkhu sits, having established mindfulness at the tip of the nose or at the sign of the mouth. He does not pay attention to the coming or going of the in-breaths and out-breaths. Yet the coming or going of the in-breaths and out-breaths are not unknown, while exertion is apparent, endeavor is accomplished, distinction is attained, and exertion arises.
Làm thế nào ba pháp này không phải là đối tượng của một tâm, và ba pháp này không phải là không được biết, và tâm không đi đến phân tán, và sự tinh cần được nhận rõ, và sự nỗ lực được hoàn thành, và sự đặc biệt được chứng đắc? Ví như khúc gỗ được đặt trên mặt đất bằng phẳng. Một người đàn ông có thể cưa nó bằng một cái cưa. Do sự tiếp xúc của các răng cưa trên khúc gỗ, niệm của người đàn ông được thiết lập; vị ấy không tác ý đến các răng cưa đi tới hay đi lui. Các răng cưa đi tới hay đi lui không phải là không được biết, và sự tinh cần được nhận rõ, và sự nỗ lực được hoàn thành. Giống như khúc gỗ được đặt trên mặt đất bằng phẳng, cũng vậy là tướng được buộc vào. Giống như các răng cưa, cũng vậy là hơi thở ra hơi thở vào. Giống như do sự tiếp xúc của các răng cưa trên khúc gỗ, niệm của người đàn ông được thiết lập, vị ấy không tác ý đến các răng cưa đi tới hay đi lui, các răng cưa đi tới hay đi lui không phải là không được biết, và sự tinh cần được nhận rõ, và sự nỗ lực được hoàn thành. Cũng chính như vậy, vị Tỳ khưu ngồi thiết lập niệm ở chóp mũi hay ở tướng miệng, vị ấy không tác ý đến hơi thở ra hơi thở vào đi tới hay đi lui, hơi thở ra hơi thở vào đi tới hay đi lui không phải là không được biết, và sự tinh cần được nhận rõ, và sự nỗ lực được hoàn thành, và chứng đắc sự đặc biệt và sự tinh cần.
Katamaṃ padhānaṃ? Āraddhavīriyassa kāyopi cittampi kammaniyaṃ hoti – idaṃ padhānaṃ. Katamo payogo? Āraddhavīriyassa upakkilesā pahīyanti, vitakkā vūpasamanti – ayaṃ payogo. Katamo viseso? Āraddhavīriyassa saññojanā pahīyanti, anusayā byantīhonti †. Ayaṃ viseso. Evaṃ ime tayo dhammā ekacittassa ārammaṇā na honti, na cime tayo dhammā aviditā honti, na ca cittaṃ vikkhepaṃ gacchati, padhānañca paññāyati, payogañca sādheti, visesamadhigacchati.
What is exertion? For one whose energy is aroused, both body and mind become workable—this is exertion. What is endeavor? For one whose energy is aroused, the defilements are abandoned, and thoughts are stilled—this is endeavor. What is distinction? For one whose energy is aroused, the fetters are abandoned, and the underlying tendencies are brought to an end—this is distinction. Thus, these three things do not become the objects of a single mind, and yet these three things are not unknown, and the mind does not go to distraction, while exertion is apparent, endeavor is accomplished, and distinction is attained.
Thế nào là sự tinh cần? Đối với người có tinh tấn đã được khởi lên, cả thân và tâm đều trở nên dễ sử dụng – đây là sự tinh cần. Thế nào là sự nỗ lực? Đối với người có tinh tấn đã được khởi lên, các phiền não phụ được từ bỏ, các tầm được lắng dịu – đây là sự nỗ lực. Thế nào là sự đặc biệt? Đối với người có tinh tấn đã được khởi lên, các kiết sử được từ bỏ, các tùy miên được chấm dứt – đây là sự đặc biệt. Như vậy, ba pháp này không phải là đối tượng của một tâm, và ba pháp này không phải là không được biết, và tâm không đi đến phân tán, và sự tinh cần được nhận rõ, và sự nỗ lực được hoàn thành, và sự đặc biệt được chứng đắc.
160.
160.
160.
Ānāpānassati yassa, paripuṇṇā subhāvitā;
Anupubbaṃ paricitā, yathā buddhena desitā;
So imaṃ lokaṃ pabhāseti, abbhā muttova candimāti.
For whom mindfulness of breathing is complete and well-developed, sequentially practiced as taught by the Buddha, that person illuminates this world like the moon freed from clouds.
Đối với người nào, niệm hơi thở ra vào được viên mãn, được tu tập tốt đẹp, được thực hành thuần thục tuần tự, theo như cách đã được Đức Phật thuyết giảng; vị ấy chiếu sáng thế gian này, như mặt trăng thoát khỏi mây mù.
Ānanti assāso, no passāso. Apānanti † passāso, no assāso. Assāsavasena upaṭṭhānaṃ sati, passāsavasena upaṭṭhānaṃ sati.
'Āna' is the out-breath, not the in-breath. 'Apāna' is the in-breath, not the out-breath. By means of the out-breath, mindfulness is established; by means of the in-breath, mindfulness is established.
Āna là hơi thở vào, không phải hơi thở ra. Apāna là hơi thở ra, không phải hơi thở vào. Sự thiết lập niệm do duyên hơi thở vào, sự thiết lập niệm do duyên hơi thở ra.
Yo assasati tassupaṭṭhāti, yo passasati tassupaṭṭhāti. Paripuṇṇāti pariggahaṭṭhena paripuṇṇā, parivāraṭṭhena paripuṇṇā, paripūraṭṭhena paripuṇṇā. Subhāvitāti catasso bhāvanā – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā, indriyānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā, tadupagavīriyavāhanaṭṭhena bhāvanā, āsevanaṭṭhena bhāvanā. Tassime cattāro bhāvanaṭṭhā yānīkatā honti vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā.
For one who breathes out, mindfulness is established; for one who breathes in, mindfulness is established. 'Complete' (paripuṇṇā) means complete in the sense of comprehension, complete in the sense of encompassing, and complete in the sense of fulfillment. 'Well-developed' (subhāvitā) means there are four kinds of development: development in the sense of not transgressing the states that have arisen therein; development in the sense of the faculties having a single function; development in the sense of bearing the energy that leads to that state; and development in the sense of repeated practice. For that person, these four aspects of development are made into a vehicle, made into a foundation, established, practiced repeatedly, and well undertaken.
Vị nào thở ra, niệm được an trú nơi vị ấy; vị nào hít vào, niệm được an trú nơi vị ấy. Được viên mãn (Paripuṇṇā) là viên mãn theo ý nghĩa thâu nhiếp, viên mãn theo ý nghĩa tùy tùng, viên mãn theo ý nghĩa sung mãn. Được khéo tu tập (Subhāvitā) là bốn sự tu tập: sự tu tập theo ý nghĩa không vượt qua các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy, sự tu tập theo ý nghĩa các căn có cùng một phận sự, sự tu tập theo ý nghĩa chuyên chở tinh tấn để đạt đến điều ấy, sự tu tập theo ý nghĩa thực hành. Đối với vị ấy, bốn pháp này có ý nghĩa tu tập, được làm cho thuần thục như cỗ xe, được làm cho vững chắc như vật làm nền, được làm cho đứng vững, được làm cho quen thuộc, được khéo bắt đầu.
Yānīkatāti yattha yattha ākaṅkhati tattha tattha vasippatto hoti balappatto vesārajjappatto. Tassa me te dhammā āvajjanapaṭibaddhā † honti ākaṅkhapaṭibaddhā manasikārapaṭibaddhā cittuppādapaṭibaddhā. Tena vuccati – ‘‘yānīkatā’’ti. Vatthukatāti yasmiṃ yasmiṃ vatthusmiṃ cittaṃ svādhiṭṭhitaṃ hoti, tasmiṃ tasmiṃ vatthusmiṃ sati supaṭṭhitā hoti. Yasmiṃ yasmiṃ vā pana vatthusmiṃ sati sūpaṭṭhitā † hoti, tasmiṃ tasmiṃ vatthusmiṃ cittaṃ svādhiṭṭhitaṃ hoti. Tena vuccati – ‘‘vatthukatā’’ti. Anuṭṭhitāti vatthusmiṃ yena yena cittaṃ abhinīharati tena tena sati anuparivattati. Yena yena vā pana sati anuparivattati tena tena cittaṃ abhinīharati. Tena vuccati – ‘‘anuṭṭhitā’’ti. Paricitāti pariggahaṭṭhena paricitā, parivāraṭṭhena paricitā, paripūraṭṭhena paricitā. Satiyā pariggaṇhanto jināti pāpake akusale dhamme. Tena vuccati – ‘‘paricitā’’ti. Susamāraddhāti cattāro susamāraddhā – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena susamāraddhā, indriyānaṃ ekarasaṭṭhena susamāraddhā, tadupagavīriyavāhanaṭṭhena susamāraddhā, tappaccanīkānaṃ kilesānaṃ susamūhatattā † susamāraddhā.
Made a vehicle means that wherever one wishes, there one attains mastery, power, and confidence. For that person, those states are bound to advertence, bound to intention, bound to attention, and bound to the arising of mind. Therefore, it is called 'made a vehicle.' Made a foundation means that in whatever object the mind is well-established, in that object mindfulness is well-established. And in whatever object mindfulness is well-established, in that object the mind is well-established. Therefore, it is called 'made a foundation.' Set in motion means that by whatever means the mind is directed toward an object, by that means mindfulness follows along. And by whatever means mindfulness follows along, by that means the mind is directed. Therefore, it is called 'set in motion.' Familiarized means familiarized in the sense of comprehension, familiarized in the sense of encompassing, and familiarized in the sense of fulfilling. By comprehending with mindfulness, one conquers evil, unwholesome states. Therefore, it is called 'familiarized.' Well undertaken means fourfold well undertaken: well undertaken in the sense of not transgressing the states that have arisen therein, well undertaken in the sense of the faculties having a single function, well undertaken in the sense of bearing the effort conducive to it, and well undertaken because of the thorough uprooting of the opposing defilements.
Được làm cho thuần thục như cỗ xe (Yānīkatā) là ở nơi nào, nơi nào vị ấy mong muốn thì ở nơi đó, nơi đó vị ấy đạt đến sự thuần thục, đạt đến năng lực, đạt đến sự dạn dĩ. Đối với vị ấy, các pháp ấy có liên quan đến sự hướng tâm, có liên quan đến sự mong muốn, có liên quan đến sự tác ý, có liên quan đến sự sanh khởi của tâm. Do đó, được gọi là 'được làm cho thuần thục như cỗ xe'. Được làm cho vững chắc như vật làm nền (Vatthukatā) là ở nơi vật nào, vật nào tâm được khéo an trú thì ở nơi vật đó, vật đó niệm được khéo an trú. Hoặc ở nơi vật nào, vật nào niệm được khéo an trú thì ở nơi vật đó, vật đó tâm được khéo an trú. Do đó, được gọi là 'được làm cho vững chắc như vật làm nền'. Được làm cho đứng vững (Anuṭṭhitā) là ở nơi đối tượng, vị ấy hướng tâm đến bằng cách nào thì niệm đi theo sau bằng cách ấy. Hoặc niệm đi theo sau bằng cách nào thì vị ấy hướng tâm đến bằng cách ấy. Do đó, được gọi là 'được làm cho đứng vững'. Được làm cho quen thuộc (Paricitā) là quen thuộc theo ý nghĩa thâu nhiếp, quen thuộc theo ý nghĩa tùy tùng, quen thuộc theo ý nghĩa sung mãn. Trong khi thâu nhiếp bằng niệm, vị ấy chiến thắng các pháp ác, bất thiện. Do đó, được gọi là 'được làm cho quen thuộc'. Được khéo bắt đầu (Susamāraddhā) là có bốn sự khéo bắt đầu: khéo bắt đầu theo ý nghĩa không vượt qua các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy, khéo bắt đầu theo ý nghĩa các căn có cùng một phận sự, khéo bắt đầu theo ý nghĩa chuyên chở tinh tấn để đạt đến điều ấy, khéo bắt đầu do đã diệt trừ hoàn toàn các phiền não đối nghịch.
161. Susamanti atthi samaṃ, atthi susamaṃ. Katamaṃ samaṃ? Ye tattha jātā anavajjā kusalā bodhipakkhiyā – idaṃ samaṃ. Katamaṃ susamaṃ? Yaṃ tesaṃ tesaṃ dhammānaṃ ārammaṇaṃ nirodho nibbānaṃ – idaṃ susamaṃ. Iti idañca samaṃ idañca susamaṃ ñātaṃ hoti diṭṭhaṃ viditaṃ sacchikataṃ phassitaṃ paññāya. Āraddhaṃ hoti vīriyaṃ asallīnaṃ, upaṭṭhitā sati asammūḷā †, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṃ cittaṃ ekaggaṃ. Tena vuccati – ‘‘susamāraddhā’’ti.
161. There is the even and the supremely even. What is the even? Those states that have arisen there—blameless, wholesome, and pertaining to enlightenment—this is the even. What is the supremely even? That which is the object of those very states, cessation, Nibbāna—this is the supremely even. Thus, both this even and this supremely even are known, seen, cognized, realized, and touched by wisdom. Energy is aroused and unremitting, mindfulness is established and unconfused, the body is tranquil and untroubled, the mind is concentrated and one-pointed. Therefore, it is called 'well undertaken.'
161. Về 'khéo quân bình' (Susamaṃ), có 'quân bình' (samaṃ), có 'khéo quân bình' (susamaṃ). Thế nào là 'quân bình'? Những pháp nào sanh khởi ở nơi ấy, không có tội lỗi, là thiện, thuộc về phần giác ngộ – đây là 'quân bình'. Thế nào là 'khéo quân bình'? Sự diệt tận, Niết-bàn, là đối tượng của các pháp ấy – đây là 'khéo quân bình'. Như vậy, sự 'quân bình' này và sự 'khéo quân bình' này được biết, được thấy, được hiểu rõ, được chứng ngộ, được xúc chạm bằng trí tuệ. Tinh tấn được khởi sự, không co rút; niệm được an trú, không mê mờ; thân được khinh an, không bứt rứt; tâm được định tĩnh, nhất tâm. Do đó, được gọi là 'được khéo bắt đầu'.
Anupubbaṃ paricitāti dīghaṃ assāsavasena purimā purimā paricitā, pacchimā pacchimā anuparicitā. Dīghaṃ passāsavasena purimā purimā paricitā, pacchimā pacchimā anuparicitā. Rassaṃ assāsavasena purimā purimā paricitā, pacchimā pacchimā anuparicitā. Rassaṃ passāsavasena purimā purimā paricitā, pacchimā pacchimā anuparicitā…pe… paṭinissaggānupassī assāsavasena purimā purimā paricitā, pacchimā pacchimā anuparicitā. Paṭinissaggānupassī passāsavasena purimā purimā paricitā, pacchimā pacchimā anuparicitā. Sabbāpi soḷasavatthukā ānāpānassatiyo aññamaññaṃ paricitā ceva honti anuparicitā ca. Tena vuccati – ‘‘anupubbaparicitā’’ti.
Regarding 'sequentially familiarized': By means of a long out-breath, the earlier moments are familiarized, and the later moments are repeatedly familiarized. By means of a long in-breath, the earlier moments are familiarized, and the later moments are repeatedly familiarized. By means of a short out-breath, the earlier moments are familiarized, and the later moments are repeatedly familiarized. By means of a short in-breath, the earlier moments are familiarized, and the later moments are repeatedly familiarized… and so on… Contemplating relinquishment by means of an out-breath, the earlier moments are familiarized, and the later moments are repeatedly familiarized. Contemplating relinquishment by means of an in-breath, the earlier moments are familiarized, and the later moments are repeatedly familiarized. All the sixteen-based mindfulnesses of breathing are both familiarized with one another and repeatedly familiarized. Therefore, it is called 'sequentially familiarized'.
'Được làm cho quen thuộc theo thứ tự' là: đối với hơi thở ra dài, các giai đoạn trước được làm cho quen thuộc, các giai đoạn sau được làm cho quen thuộc nhiều lần. Đối với hơi thở vào dài, các giai đoạn trước được làm cho quen thuộc, các giai đoạn sau được làm cho quen thuộc nhiều lần. Đối với hơi thở ra ngắn, các giai đoạn trước được làm cho quen thuộc, các giai đoạn sau được làm cho quen thuộc nhiều lần. Đối với hơi thở vào ngắn, các giai đoạn trước được làm cho quen thuộc, các giai đoạn sau được làm cho quen thuộc nhiều lần... (v.v.)... Quán sát sự từ bỏ đối với hơi thở ra, các giai đoạn trước được làm cho quen thuộc, các giai đoạn sau được làm cho quen thuộc nhiều lần. Quán sát sự từ bỏ đối với hơi thở vào, các giai đoạn trước được làm cho quen thuộc, các giai đoạn sau được làm cho quen thuộc nhiều lần. Tất cả mười sáu đối tượng của niệm hơi thở ra hơi thở vào đều được làm cho quen thuộc và cũng được làm cho quen thuộc nhiều lần với nhau. Do đó, được gọi là 'được làm cho quen thuộc theo thứ tự'.
Yathāti dasa yathatthā – attadamathattho yathattho, attasamathattho yathattho, attaparinibbāpanattho yathattho, abhiññattho yathattho, pariññattho yathattho, pahānattho yathattho, bhāvanattho yathattho, sacchikiriyattho yathattho, saccābhisamayattho yathattho, nirodhe patiṭṭhāpakattho yathattho.
Regarding 'yathā' (as it is), there are ten true meanings: the true meaning of taming oneself, the true meaning of calming oneself, the true meaning of the final extinguishment of defilements for oneself, the true meaning of direct knowledge, the true meaning of full understanding, the true meaning of abandoning, the true meaning of development, the true meaning of realization, the true meaning of the thorough understanding of the Truths, and the true meaning of establishing in cessation.
Về 'như thật' (yathā), có mười ý nghĩa như thật: ý nghĩa như thật là sự điều phục tự thân, ý nghĩa như thật là sự an tịnh tự thân, ý nghĩa như thật là sự tịch diệt (phiền não) của tự thân, ý nghĩa như thật là thắng trí, ý nghĩa như thật là liễu tri, ý nghĩa như thật là sự đoạn tận, ý nghĩa như thật là sự tu tập, ý nghĩa như thật là sự chứng ngộ, ý nghĩa như thật là sự thông suốt các chân lý, ý nghĩa như thật là sự an trú trong diệt tận.
Buddhoti yo so bhagavā sayambhū anācariyako pubbe ananussutesu dhammesu sāmaṃ saccāni abhisambujjhi, tattha ca sabbaññutaṃ pāpuṇi, balesu ca vasībhāvaṃ.
Regarding 'Buddha': That Blessed One who is self-arisen, without a teacher, who by himself thoroughly awakened to the Truths amidst doctrines unheard of before, and in that attainment, reached omniscience and mastery over the powers.
Về 'Đức Phật' (Buddho), đó là Đức Thế Tôn, bậc Tự Sanh, không có thầy chỉ dạy, đã tự mình giác ngộ các chân lý về những pháp chưa từng được nghe trước đây, và ở nơi ấy đã đạt đến nhất thiết trí và sự thuần thục trong các năng lực.
162. Buddhoti kenaṭṭhena buddho? Bujjhitā saccānīti – buddho. Bodhetā pajāyāti – buddho. Sabbaññutāya buddho. Sabbadassāvitāya buddho. Anaññaneyyatāya buddho. Visavitāya † buddho. Khīṇāsavasaṅkhātena buddho. Nirupalepasaṅkhātena † buddho. Ekantavītarāgoti – buddho. Ekantavītadosoti – buddho. Ekantavītamohoti – buddho. Ekantanikkilesoti – buddho. Ekāyanamaggaṃ gatoti – buddho. Eko anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddhoti – buddho. Abuddhivihatattā buddhipaṭilābhā – buddho. Buddhoti netaṃ nāmaṃ mātarā kataṃ, na pitarā kataṃ, na bhātarā kataṃ, na bhaginiyā kataṃ, na mittāmaccehi kataṃ, na ñātisālohitehi kataṃ, na samaṇabrāhmaṇehi kataṃ, na devatāhi kataṃ. Vimokkhantikametaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ bodhiyā mūle saha sabbaññutañāṇassa paṭilābhā sacchikā paññatti yadidaṃ – buddhoti. Desitāti attadamathattho yathattho yathā buddhena desito, attasamathattho yathattho yathā buddhena desito, attaparinibbāpanattho yathattho yathā buddhena desito…pe… nirodhe patiṭṭhāpakattho yathattho yathā buddhena desito.
162. By what meaning is he a 'Buddha'? Because he has understood the truths—he is 'Buddha.' Because he causes beings to know—he is 'Buddha.' Because of his omniscience, he is 'Buddha.' Because of his all-seeingness, he is 'Buddha.' Because of his being unled by others, he is 'Buddha.' Because of being free from attachment, he is 'Buddha.' Because of being known as one whose taints are destroyed, he is 'Buddha.' Because of being known as stainless, he is 'Buddha.' Because of being utterly free from lust, he is 'Buddha.' Because of being utterly free from hatred, he is 'Buddha.' Because of being utterly free from delusion, he is 'Buddha.' Because of being utterly without defilements, he is 'Buddha.' Because of having gone the one way, he is 'Buddha.' Because he alone has fully awakened to the unsurpassed perfect self-awakening, he is 'Buddha.' Because of the destruction of non-wisdom and the gaining of wisdom, he is 'Buddha.' The name 'Buddha' was not given by his mother, nor by his father, nor by his brother, nor by his sister, nor by friends and associates, nor by relatives and blood-kin, nor by ascetics and brahmins, nor by deities. This is a designation culminating in liberation, a directly realized designation for the Blessed Buddhas, attained at the root of awakening together with the acquisition of omniscient knowledge, that is to say, 'Buddha.' As for 'Taught': the true meaning of self-taming is as it was taught by the Buddha; the true meaning of self-pacification is as it was taught by the Buddha; the true meaning of self-extinguishing is as it was taught by the Buddha… and so on… the true meaning of establishing in cessation is as it was taught by the Buddha.
162. Về 'Đức Phật' (Buddho), do ý nghĩa nào mà là Phật? Vì đã giác ngộ các chân lý, nên là Phật. Vì làm cho chúng sanh giác ngộ, nên là Phật. Do nhất thiết trí, nên là Phật. Do thấy được tất cả, nên là Phật. Do không cần người khác chỉ dạy, nên là Phật. Do đã nở rộ (trí tuệ), nên là Phật. Do được gọi là bậc đã đoạn tận các lậu hoặc, nên là Phật. Do được gọi là bậc không còn ô nhiễm, nên là Phật. Vì đã hoàn toàn ly tham, nên là Phật. Vì đã hoàn toàn ly sân, nên là Phật. Vì đã hoàn toàn ly si, nên là Phật. Vì đã hoàn toàn không còn phiền não, nên là Phật. Vì đã đi trên con đường độc nhất, nên là Phật. Vì một mình Ngài đã tự chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nên là Phật. Do đã xua tan vô minh và đạt được trí tuệ, nên là Phật. Danh hiệu 'Phật' này không phải do mẹ đặt, không phải do cha đặt, không phải do anh em đặt, không phải do chị em đặt, không phải do bạn bè và các quan chức đặt, không phải do bà con huyết thống đặt, không phải do các Sa-môn, Bà-la-môn đặt, không phải do chư thiên đặt. Đây là một danh xưng tột cùng của sự giải thoát, là một sự chế định thực chứng của các Đức Phật, các Đức Thế Tôn, phát sanh cùng với sự chứng đắc nhất thiết trí tại cội Bồ-đề, gọi là 'Phật'. Về 'đã thuyết giảng' (desitā), ý nghĩa như thật là sự điều phục tự thân đã được Đức Phật thuyết giảng như thế nào, ý nghĩa như thật là sự an tịnh tự thân đã được Đức Phật thuyết giảng như thế nào, ý nghĩa như thật là sự tịch diệt (phiền não) của tự thân đã được Đức Phật thuyết giảng như thế nào... (v.v.)... ý nghĩa như thật là sự an trú trong diệt tận đã được Đức Phật thuyết giảng như thế nào.
Soti gahaṭṭho vā hoti pabbajito vā. Lokoti. Khandhaloko dhātuloko āyatanaloko vipattibhavaloko vipattisambhavaloko sampattibhavaloko sampattisambhavaloko. Eko loko – sabbe sattā āhāraṭṭhitikā…pe… aṭṭhārasa lokā – aṭṭhārasa dhātuyo. Pabhāsetīti attadamathatthaṃ yathatthaṃ abhisambuddhattā. So imaṃ lokaṃ obhāseti bhāseti pabhāseti. Attasamathatthaṃ yathatthaṃ abhisambuddhattā. So imaṃ lokaṃ obhāseti bhāseti pabhāseti. Attaparinibbāpanatthaṃ yathatthaṃ abhisambuddhattā. So imaṃ lokaṃ obhāseti bhāseti pabhāseti…pe… nirodhe patiṭṭhāpakatthaṃ yathatthaṃ abhisambuddhattā. So imaṃ lokaṃ obhāseti bhāseti pabhāseti.
He is either a householder or a renunciate. The world: the world of aggregates, the world of elements, the world of sense bases, the world of a state of misfortune, the world of the origination of misfortune, the world of a state of prosperity, the world of the origination of prosperity. The one world: all beings are sustained by nutriment… and so forth… The eighteen worlds: the eighteen elements. Regarding 'he illuminates': because he has truly awakened to the true meaning for the purpose of self-taming, that person lights up, brightens, and illuminates this world. Because he has truly awakened to the true meaning for the purpose of self-pacification, he lights up, brightens, and illuminates this world. Because he has truly awakened to the true meaning for the purpose of self-extinguishment, he lights up, brightens, and illuminates this world… and so forth… because he has truly awakened to the true meaning for the purpose of establishing in cessation, he lights up, brightens, and illuminates this world.
Vị ấy là người tại gia hoặc là người xuất gia. Thế gian là: uẩn thế gian, giới thế gian, xứ thế gian, thế gian cõi khổ, thế gian nhân sanh cõi khổ, thế gian cõi vui, thế gian nhân sanh cõi vui. Một thế gian là – tất cả chúng sanh tồn tại nhờ vật thực… cho đến… mười tám thế gian là – mười tám giới. Làm cho rực rỡ là: do đã giác ngộ đúng như thật với mục đích điều phục tự thân. Vị ấy làm cho thế gian này được chiếu sáng, được soi sáng, được rực rỡ. Do đã giác ngộ đúng như thật với mục đích tịch tịnh tự thân. Vị ấy làm cho thế gian này được chiếu sáng, được soi sáng, được rực rỡ. Do đã giác ngộ đúng như thật với mục đích viên tịch tự thân. Vị ấy làm cho thế gian này được chiếu sáng, được soi sáng, được rực rỡ… cho đến… do đã giác ngộ đúng như thật với mục đích an lập trong sự diệt. Vị ấy làm cho thế gian này được chiếu sáng, được soi sáng, được rực rỡ.
Abbhā muttova candimāti yathā abbhā, evaṃ kilesā. Yathā cando, evaṃ ariyañāṇaṃ. Yathā candimā devaputto, evaṃ bhikkhu. Yathā cando abbhā mutto mahikā mutto dhūmarajā mutto rāhugahaṇā † vippamutto bhāsate ca tapate ca virocate † ca, evamevaṃ bhikkhu sabbakilesehi vippamutto bhāsate ca tapate ca virocate ca. Tena vuccati – abbhā muttova candimāti. Imāni terasa vodāne ñāṇāni.
"Like the moon freed from clouds": just as there are clouds, so there are defilements. Just as there is the moon, so there is noble knowledge. Just as the moon is a celestial being, so is the bhikkhu. Just as the moon—freed from clouds, freed from mist, freed from smoke and dust, completely freed from the grasp of Rāhu—shines, glows, and radiates, even so the bhikkhu—completely freed from all defilements—shines, glows, and radiates. Therefore it is said: "like the moon freed from clouds." These are the thirteen knowledges of purification.
Trong câu ‘Như mặt trăng thoát khỏi mây’: như mây, cũng vậy là phiền não. Như mặt trăng, cũng vậy là Thánh trí. Như thiên tử Mặt Trăng, cũng vậy là vị tỳ khưu. Giống như mặt trăng được thoát khỏi mây, thoát khỏi sương mù, thoát khỏi khói bụi, được giải thoát khỏi sự kềm giữ của Rāhu, liền chiếu sáng, soi sáng, và rực rỡ; cũng vậy, vị tỳ khưu được giải thoát khỏi tất cả phiền não, liền chiếu sáng, soi sáng, và rực rỡ. Do đó, được nói là: ‘Như mặt trăng thoát khỏi mây’. Đây là mười ba trí tuệ trong sự trong sạch.
Vodānañāṇaniddeso catuttho.
The fourth is the exposition on the knowledge of purification.
Phần giải thích về trí trong sạch, thứ tư.
Bhāṇavāro.
End of the section for recitation.
Phẩm tụng.
5. Satokāriñāṇaniddeso
5. Exposition on the Knowledge of Mindful Action.
5. Phần giải thích về trí của người thực hành với chánh niệm
163. Katamāni bāttiṃsa satokārissa ñāṇāni? Idha bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. So satova assasati sato passasati. Dīghaṃ vā assasanto ‘‘dīghaṃ assasāmī’’ti pajānāti. Dīghaṃ vā passasanto ‘‘dīghaṃ passasāmī’’ti pajānāti. Rassaṃ vā assasanto ‘‘rassaṃ assasāmī’’ti pajānāti. Rassaṃ vā passasanto ‘‘rassaṃ passasāmī’’ti pajānāti. ‘‘Sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī’’ti sikkhati. ‘‘Sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī’’ti sikkhati. ‘‘Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī’’ti sikkhati. ‘‘Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī’’ti sikkhati. Pītipaṭisaṃvedī…pe… sukhapaṭisaṃvedī… cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī … passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ… cittapaṭisaṃvedī… abhippamodayaṃ cittaṃ… samādahaṃ cittaṃ… vimocayaṃ cittaṃ… aniccānupassī… virāgānupassī… nirodhānupassī… ‘‘paṭinissaggānupassī assasissāmī’’ti sikkhati. ‘‘Paṭinissaggānupassī passasissāmī’’ti sikkhati.
163. What are the thirty-two knowledges of a mindful practitioner? Here, a bhikkhu, having gone to the forest, or to the root of a tree, or to an empty dwelling, sits down, folding his legs crosswise, setting his body erect, and establishing mindfulness directed towards his meditation subject. Mindful, he breathes out; mindful, he breathes in. Breathing out long, he knows, 'I am breathing out long.' Breathing in long, he knows, 'I am breathing in long.' Breathing out short, he knows, 'I am breathing out short.' Breathing in short, he knows, 'I am breathing in short.' He trains, 'I will breathe out experiencing the whole body.' He trains, 'I will breathe in experiencing the whole body.' He trains, 'I will breathe out calming the bodily formation.' He trains, 'I will breathe in calming the bodily formation.' Experiencing rapture... and so forth... experiencing pleasure... experiencing the mental formation... calming the mental formation... experiencing the mind... gladdening the mind... concentrating the mind... liberating the mind... contemplating impermanence... contemplating dispassion... contemplating cessation... He trains, 'I will breathe out contemplating relinquishment.' He trains, 'I will breathe in contemplating relinquishment.'
163. Thế nào là ba mươi hai trí tuệ của người thực hành với chánh niệm? Ở đây, vị tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến ngôi nhà trống, rồi ngồi xuống, sau khi xếp chân thế kiết-già, giữ thân thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy thở vào có chánh niệm, thở ra có chánh niệm. Khi thở vào dài, vị ấy tuệ tri: ‘Tôi thở vào dài’. Hoặc khi thở ra dài, vị ấy tuệ tri: ‘Tôi thở ra dài’. Khi thở vào ngắn, vị ấy tuệ tri: ‘Tôi thở vào ngắn’. Hoặc khi thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: ‘Tôi thở ra ngắn’. ‘Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào,’ vị ấy thực hành. ‘Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra,’ vị ấy thực hành. ‘An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vào,’ vị ấy thực hành. ‘An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra,’ vị ấy thực hành. Cảm giác hỷ… cho đến… cảm giác lạc… cảm giác tâm hành… an tịnh tâm hành… cảm giác về tâm… làm cho tâm hân hoan… làm cho tâm định tĩnh… làm cho tâm giải thoát… quán vô thường… quán ly tham… quán đoạn diệt… ‘Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vào,’ vị ấy thực hành. ‘Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra,’ vị ấy thực hành.
164. Idhāti imissā diṭṭhiyā, imissā khantiyā, imissā ruciyā, imasmiṃ ādāye, imasmiṃ dhamme, imasmiṃ vinaye, imasmiṃ dhammavinaye, imasmiṃ pāvacane, imasmiṃ brahmacariye, imasmiṃ satthusāsane. Tena vuccati – ‘‘idhā’’ti. Bhikkhūti puthujjanakalyāṇako vā hoti bhikkhu sekkho vā arahā vā akuppadhammo. Araññanti nikkhamitvā bahi indakhīlā sabbametaṃ araññaṃ. Rukkhamūlanti yattha bhikkhuno āsanaṃ paññattaṃ hoti mañco vā pīṭhaṃ vā bhisi vā taṭṭikā vā cammakhaṇḍo vā tiṇasantharo † vā paṇṇasantharo vā palālasantharo † vā, tattha bhikkhu caṅkamati vā tiṭṭhati vā nisīdati vā seyyaṃ vā kappeti. Suññanti kenaci anākiṇṇaṃ hoti gahaṭṭhehi vā pabbajitehi vā. Agāranti † vihāro aḍḍhayogo pāsādo hammiyaṃ guhā. Nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvāti nisinno hoti pallaṅkaṃ ābhujitvā. Ujuṃ kāyaṃ paṇidhāyāti ujuko hoti kāyo ṭhito † supaṇihito. Parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvāti. Parīti pariggahaṭṭho. Mukhanti niyyānaṭṭho. Satīti upaṭṭhānaṭṭho. Tena vuccati – ‘‘parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā’’ti.
164. Here means: in this view, in this preference, in this liking, in this acceptance, in this Dhamma, in this discipline, in this Dhamma and discipline, in this teaching, in this holy life, in this Teacher's Dispensation. Therefore it is said, 'here.' A bhikkhu means either a virtuous worldling, a trainee, or an arahant whose attainment is unshakeable. The wilderness means, having gone out beyond the gate pillar, all of this is wilderness. The foot of a tree means wherever a seat is arranged for a bhikkhu—be it a cot, a bench, a cushion, a mat, a piece of hide, a grass covering, a leaf covering, or a straw covering; there the bhikkhu walks, stands, sits, or lies down. Secluded means unoccupied by anyone, either householders or renunciants. A dwelling means a monastery, a half-gabled house, a palatial building, a mansion, or a cave. 'He sits down, folding his legs crosswise' means he is seated, having folded his legs crosswise. 'Setting his body upright' means his body is upright and well-established. Regarding 'establishing mindfulness at the forefront': 'pari' (around) has the meaning of encompassing; 'mukha' (face) has the meaning of deliverance; 'sati' (mindfulness) has the meaning of establishment. Therefore it is said, 'establishing mindfulness at the forefront.'
164. ‘Ở đây’ là: trong quan điểm này, trong sự kham nhẫn này, trong sự ưa thích này, trong nguyên tắc này, trong Pháp này, trong Luật này, trong Pháp và Luật này, trong lời dạy này, trong phạm hạnh này, trong giáo huấn của bậc Đạo Sư. Do đó, được nói là: ‘ở đây’. ‘Tỳ khưu’ là: vị tỳ khưu là thiện phàm phu, hoặc là bậc hữu học, hoặc là bậc A-la-hán có pháp bất động. ‘Khu rừng’ là: sau khi đi ra khỏi cột cửa thành, tất cả những nơi đó là khu rừng. ‘Gốc cây’ là: nơi nào chỗ ngồi của vị tỳ khưu được sửa soạn, hoặc là giường, hoặc là ghế, hoặc là nệm, hoặc là chiếu, hoặc là mảnh da, hoặc là thảm cỏ, hoặc là thảm lá, hoặc là thảm rơm; ở nơi đó, vị tỳ khưu đi kinh hành, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm xuống. ‘Nơi trống vắng’ là: nơi không đông đúc với bất cứ ai, hoặc là người tại gia, hoặc là người xuất gia. ‘Ngôi nhà’ là: tu viện, nhà cong, nhà dài, nhà có mái nhọn, hang động. ‘Ngồi xuống, sau khi xếp chân thế kiết-già’ là: vị ấy ngồi sau khi đã xếp chân thế kiết-già. ‘Giữ thân thẳng’ là: thân được giữ thẳng, được an lập tốt. ‘An trú chánh niệm trước mặt’ là: ‘Pari’ có nghĩa là bao quát. ‘Mukhaṃ’ có nghĩa là sự xuất ly. ‘Sati’ có nghĩa là sự an trú. Do đó, được nói là: ‘an trú chánh niệm trước mặt’.
165. Satova assasati, sato passasatīti bāttiṃsāya ākārehi sato kārī hoti. Dīghaṃ assāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti. Tāya satiyā tena ñāṇena sato kārī hoti. Dīghaṃ passāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti. Tāya satiyā tena ñāṇena sato kārī hoti. Rassaṃ assāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti. Tāya satiyā tena ñāṇena sato kārī hoti. Rassaṃ passāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti. Tāya satiyā tena ñāṇena sato kārī hoti…pe… paṭinissaggānupassī assāsavasena paṭinissaggānupassī passāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti. Tāya satiyā tena ñāṇena sato kārī hoti.
165. In 'Mindful he breathes in, mindful he breathes out,' in thirty-two aspects, he is one who acts with mindfulness. When one knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of a long in-breath, mindfulness is established. With that mindfulness, with that knowledge, he is one who acts with mindfulness. When one knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of a long out-breath, mindfulness is established. With that mindfulness, with that knowledge, he is one who acts with mindfulness. When one knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of a short in-breath, mindfulness is established. With that mindfulness, with that knowledge, he is one who acts with mindfulness. When one knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of a short out-breath, mindfulness is established. With that mindfulness, with that knowledge, he is one who acts with mindfulness... (abbreviated)... When one, contemplating relinquishment by means of the in-breath and contemplating relinquishment by means of the out-breath, knows the one-pointedness and non-distraction of the mind, mindfulness is established. With that mindfulness, with that knowledge, he is one who acts with mindfulness.
165. ‘Thở vào có chánh niệm, thở ra có chánh niệm’ là: vị ấy là người thực hành với chánh niệm qua ba mươi hai phương diện. Đối với người tuệ tri sự nhất tâm và không phân tán của tâm nhờ vào hơi thở vào dài, chánh niệm được an trú. Với chánh niệm ấy, với trí tuệ ấy, vị ấy là người thực hành với chánh niệm. Đối với người tuệ tri sự nhất tâm và không phân tán của tâm nhờ vào hơi thở ra dài, chánh niệm được an trú. Với chánh niệm ấy, với trí tuệ ấy, vị ấy là người thực hành với chánh niệm. Đối với người tuệ tri sự nhất tâm và không phân tán của tâm nhờ vào hơi thở vào ngắn... Đối với người tuệ tri sự nhất tâm và không phân tán của tâm nhờ vào hơi thở ra ngắn... cho đến... Đối với người tuệ tri sự nhất tâm và không phân tán của tâm nhờ vào việc quán từ bỏ trong hơi thở vào và quán từ bỏ trong hơi thở ra, chánh niệm được an trú. Với chánh niệm ấy, với trí tuệ ấy, vị ấy là người thực hành với chánh niệm.
Paṭhamacatukkaniddeso
Exposition of the First Tetrad
Phần giải thích về nhóm bốn thứ nhất.
166. Kathaṃ dīghaṃ assasanto ‘‘dīghaṃ assasāmī’’ti pajānāti, dīghaṃ passasanto ‘‘dīghaṃ passasāmī’’ti pajānāti? Dīghaṃ assāsaṃ addhānasaṅkhāte assasati, dīghaṃ passāsaṃ addhānasaṅkhāte passasati, dīghaṃ assāsapassāsaṃ addhānasaṅkhāte assasatipi passasatipi. Dīghaṃ assāsapassāsaṃ addhānasaṅkhāte assasatopi passasatopi chando uppajjati. Chandavasena tato sukhumataraṃ dīghaṃ assāsaṃ addhānasaṅkhāte assasati, chandavasena tato sukhumataraṃ dīghaṃ passāsaṃ addhānasaṅkhāte passasati, chandavasena tato sukhumataraṃ dīghaṃ assāsapassāsaṃ addhānasaṅkhāte assasatipi passasatipi. Chandavasena tato sukhumataraṃ dīghaṃ assāsapassāsaṃ addhānasaṅkhāte assasatopi passasatopi pāmojjaṃ uppajjati. Pāmojjavasena tato sukhumataraṃ dīghaṃ assāsaṃ addhānasaṅkhāte assasati, pāmojjavasena tato sukhumataraṃ dīghaṃ passāsaṃ addhānasaṅkhāte passasati, pāmojjavasena tato sukhumataraṃ dīghaṃ assāsapassāsaṃ addhānasaṅkhāte assasatipi passasatipi. Pāmojjavasena tato sukhumataraṃ dīghaṃ assāsapassāsaṃ addhānasaṅkhāte assasatopi passasatopi dīghaṃ assāsapassāsāpi cittaṃ vivattati, upekkhā saṇṭhāti. Imehi navahākārehi dīghaṃ assāsapassāsā kāyo. Upaṭṭhānaṃ sati. Anupassanā ñāṇaṃ. Kāyo upaṭṭhānaṃ, no sati; sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena taṃ kāyaṃ anupassati. Tena vuccati – ‘‘kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānabhāvanā’’ti.
166. How, breathing out long, does one understand, “I am breathing out long”; breathing in long, does one understand, “I am breathing in long”? One breathes out a long out-breath, reckoning it by duration; one breathes in a long in-breath, reckoning it by duration; one both breathes out and breathes in a long out-breath and in-breath, reckoning them by duration. When one breathes out and breathes in a long out-breath and in-breath, reckoning them by duration, desire arises. By the power of desire, one breathes out a more subtle long out-breath, reckoning it by duration; by the power of desire, one breathes in a more subtle long in-breath, reckoning it by duration; by the power of desire, one both breathes out and breathes in a more subtle long out-breath and in-breath, reckoning them by duration. By the power of desire, when one breathes out and breathes in a more subtle long out-breath and in-breath, reckoning them by duration, delight arises. By the power of delight, one breathes out a more subtle long out-breath, reckoning it by duration; by the power of delight, one breathes in a more subtle long in-breath, reckoning it by duration; by the power of delight, one both breathes out and breathes in a more subtle long out-breath and in-breath, reckoning them by duration. By the power of delight, when one breathes out and breathes in a more subtle long out-breath and in-breath, reckoning them by duration, the mind turns away from the long out-breath and in-breath, and equanimity is established. By these nine modes, the long out-breath and in-breath is the body. Establishing is mindfulness. Contemplation is knowledge. The body is the establishing, not mindfulness; mindfulness is both the establishing and mindfulness. With that mindfulness and that knowledge, one contemplates that body. Therefore, it is called “the development of the establishment of mindfulness as contemplation of the body in the body.”
166. Làm thế nào khi thở ra dài, vị ấy tuệ tri: ‘Tôi thở ra dài’; khi thở vào dài, vị ấy tuệ tri: ‘Tôi thở vào dài’? Vị ấy thở ra hơi thở dài trong khoảng thời gian dài, vị ấy thở vào hơi thở dài trong khoảng thời gian dài, vị ấy vừa thở ra vừa thở vào hơi thở dài trong khoảng thời gian dài. Khi vừa thở ra vừa thở vào hơi thở dài trong khoảng thời gian dài, dục khởi sanh. Do năng lực của dục, vị ấy thở ra hơi thở dài vi tế hơn trong khoảng thời gian dài; do năng lực của dục, vị ấy thở vào hơi thở dài vi tế hơn trong khoảng thời gian dài; do năng lực của dục, vị ấy vừa thở ra vừa thở vào hơi thở dài vi tế hơn trong khoảng thời gian dài. Khi vừa thở ra vừa thở vào hơi thở dài vi tế hơn trong khoảng thời gian dài do năng lực của dục, sự hân hoan khởi sanh. Do năng lực của sự hân hoan, vị ấy thở ra hơi thở dài vi tế hơn trong khoảng thời gian dài; do năng lực của sự hân hoan, vị ấy thở vào hơi thở dài vi tế hơn trong khoảng thời gian dài; do năng lực của sự hân hoan, vị ấy vừa thở ra vừa thở vào hơi thở dài vi tế hơn trong khoảng thời gian dài. Khi vừa thở ra vừa thở vào hơi thở dài vi tế hơn trong khoảng thời gian dài do năng lực của sự hân hoan, tâm cũng từ bỏ hơi thở ra vào dài, xả được thiết lập. Bằng chín phương diện này, hơi thở ra vào dài là thân. Sự an trú là niệm. Sự tùy quán là trí. Thân là sự an trú, không phải là niệm; niệm vừa là sự an trú, vừa là niệm. Với niệm ấy, với trí ấy, vị ấy tùy quán thân ấy. Do đó, được gọi là ‘sự tu tập niệm xứ tùy quán thân trong thân’.
167. Anupassatīti kathaṃ taṃ kāyaṃ anupassati? Aniccato anupassati, no niccato. Dukkhato anupassati, no sukhato. Anattato anupassati, no attato. Nibbindati, no nandati. Virajjati, no rajjati. Nirodheti, no samudeti. Paṭinissajjati, no ādiyati. Aniccato anupassanto niccasaññaṃ pajahati. Dukkhato anupassanto sukhasaññaṃ pajahati. Anattato anupassanto attasaññaṃ pajahati. Nibbindanto nandiṃ pajahati. Virajjanto rāgaṃ pajahati. Nirodhento samudayaṃ pajahati. Paṭinissajjanto ādānaṃ pajahati. Evaṃ taṃ kāyaṃ anupassati.
167. How does one contemplate that body? One contemplates it as impermanent, not as permanent. One contemplates it as suffering, not as pleasure. One contemplates it as not-self, not as self. One becomes disenchanted, not delighted. One becomes dispassionate, not passionate. One causes cessation, not arising. One relinquishes, not grasps. Contemplating it as impermanent, one abandons the perception of permanence. Contemplating it as suffering, one abandons the perception of pleasure. Contemplating it as not-self, one abandons the perception of self. Being disenchanted, one abandons delight. Being dispassionate, one abandons passion. Causing cessation, one abandons arising. Relinquishing, one abandons grasping. Thus, one contemplates that body.
167. Về câu ‘vị ấy tùy quán,’ làm thế nào vị ấy tùy quán thân ấy? Vị ấy tùy quán theo phương diện vô thường, không phải theo phương diện thường. Vị ấy tùy quán theo phương diện khổ, không phải theo phương diện lạc. Vị ấy tùy quán theo phương diện vô ngã, không phải theo phương diện ngã. Vị ấy nhàm chán, không hoan hỷ. Vị ấy ly tham, không tham đắm. Vị ấy làm cho diệt, không làm cho sanh khởi. Vị ấy từ bỏ, không chấp thủ. Khi tùy quán theo phương diện vô thường, vị ấy từ bỏ thường tưởng. Khi tùy quán theo phương diện khổ, vị ấy từ bỏ lạc tưởng. Khi tùy quán theo phương diện vô ngã, vị ấy từ bỏ ngã tưởng. Khi nhàm chán, vị ấy từ bỏ sự hoan hỷ. Khi ly tham, vị ấy từ bỏ tham ái. Khi làm cho diệt, vị ấy từ bỏ sự sanh khởi. Khi từ bỏ, vị ấy từ bỏ sự chấp thủ. Như vậy, vị ấy tùy quán thân ấy.
Bhāvanāti catasso bhāvanā – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā, indriyānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā, tadupagavīriyavāhanaṭṭhena bhāvanā, āsevanaṭṭhena bhāvanā. Dīghaṃ assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato viditā vedanā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṃ gacchanti. Viditā saññā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṃ gacchanti. Viditā vitakkā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṃ gacchanti.
Regarding `bhāvanā`, there are four kinds of development: development in the sense of not transgressing the arisen phenomena; development in the sense of the single function of the faculties; development in the sense of applying the energy that leads to that state; and development in the sense of cultivation. For one who knows the mind’s unification and non-distraction by means of long in-breaths and out-breaths, feelings arise as known, are present as known, and go to cessation as known. Perceptions arise as known, are present as known, and go to cessation as known. Thoughts arise as known, are present as known, and go to cessation as known.
Về câu ‘sự tu tập,’ có bốn sự tu tập: sự tu tập theo ý nghĩa không vượt qua các pháp đã sanh khởi ở trong đó, sự tu tập theo ý nghĩa các căn có cùng một phận sự, sự tu tập theo ý nghĩa mang đến năng lực tinh tấn tương ứng, sự tu tập theo ý nghĩa thực hành lặp đi lặp lại. Đối với người tuệ tri về sự nhất tâm, không phân tán của tâm do năng lực của hơi thở ra vào dài, các cảm thọ khởi sanh được biết rõ, hiện hữu được biết rõ, đi đến hoại diệt được biết rõ. Các tưởng khởi sanh được biết rõ, hiện hữu được biết rõ, đi đến hoại diệt được biết rõ. Các tầm khởi sanh được biết rõ, hiện hữu được biết rõ, đi đến hoại diệt được biết rõ.
Kathaṃ viditā vedanā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṃ gacchanti? Kathaṃ vedanāya uppādo vidito hoti? Avijjāsamudayā vedanāsamudayoti – paccayasamudayaṭṭhena vedanāya uppādo vidito hoti. Taṇhāsamudayā vedanāsamudayoti… kammasamudayā vedanāsamudayoti… phassasamudayā vedanāsamudayoti paccayasamudayaṭṭhena vedanāya uppādo vidito hoti. Nibbattilakkhaṇaṃ passatopi vedanāya uppādo vidito hoti. Evaṃ vedanāya uppādo vidito hoti.
How do feelings arise as known, are present as known, and go to cessation as known? How does the arising of feeling become known? 'From the arising of ignorance, there is the arising of feeling'—thus, the arising of feeling becomes known in the sense of the arising of its condition. 'From the arising of craving, there is the arising of feeling'… 'From the arising of kamma, there is the arising of feeling'… 'From the arising of contact, there is the arising of feeling'—thus, the arising of feeling becomes known in the sense of the arising of its condition. For one who sees the characteristic of production, the arising of feeling also becomes known. Thus, the arising of feeling becomes known.
Làm thế nào các cảm thọ khởi sanh được biết rõ, hiện hữu được biết rõ, đi đến hoại diệt được biết rõ? Làm thế nào sự sanh khởi của cảm thọ được biết rõ? ‘Do vô minh sanh nên thọ sanh’ – theo ý nghĩa duyên sanh, sự sanh khởi của cảm thọ được biết rõ. ‘Do ái sanh nên thọ sanh’… ‘do nghiệp sanh nên thọ sanh’… ‘do xúc sanh nên thọ sanh’ – theo ý nghĩa duyên sanh, sự sanh khởi của cảm thọ được biết rõ. Đối với người thấy được đặc tính sanh khởi, sự sanh khởi của cảm thọ cũng được biết rõ. Như vậy, sự sanh khởi của cảm thọ được biết rõ.
Kathaṃ vedanāya upaṭṭhānaṃ viditaṃ hoti? Aniccato manasikaroto khayatupaṭṭhānaṃ viditaṃ hoti. Dukkhato manasikaroto bhayatupaṭṭhānaṃ viditaṃ hoti. Anattato manasikaroto suññatupaṭṭhānaṃ viditaṃ hoti. Evaṃ vedanāya upaṭṭhānaṃ viditaṃ hoti.
How is the manifestation of feeling known? To one who attends to it as impermanent, its manifestation as perishing is known. To one who attends to it as suffering, its manifestation as fear is known. To one who attends to it as not-self, its manifestation as emptiness is known. Thus, the manifestation of feeling is known.
Làm thế nào sự hiện hữu của cảm thọ được biết rõ? Đối với người tác ý theo phương diện vô thường, sự hiện hữu như là sự hủy diệt được biết rõ. Đối với người tác ý theo phương diện khổ, sự hiện hữu như là sự đáng sợ được biết rõ. Đối với người tác ý theo phương diện vô ngã, sự hiện hữu như là sự trống không được biết rõ. Như vậy, sự hiện hữu của cảm thọ được biết rõ.
Kathaṃ vedanāya atthaṅgamo vidito hoti? Avijjānirodhā vedanānirodhoti – paccayanirodhaṭṭhena vedanāya atthaṅgamo vidito hoti. Taṇhānirodhā vedanānirodhoti …pe… kammanirodhā vedanānirodhoti…pe… phassanirodhā vedanānirodhoti paccayanirodhaṭṭhena vedanāya atthaṅgamo vidito hoti. Vipariṇāmalakkhaṇaṃ passatopi vedanāya atthaṅgamo vidito hoti. Evaṃ vedanāya atthaṅgamo vidito hoti. Evaṃ viditā vedanā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṃ gacchanti.
How is the cessation of feeling known? 'With the cessation of ignorance, there is the cessation of feeling'—thus, the cessation of feeling is known in the sense of the cessation of its condition. 'With the cessation of craving, there is the cessation of feeling'… and so on… 'With the cessation of kamma, there is the cessation of feeling'… and so on… 'With the cessation of contact, there is the cessation of feeling'—thus, the cessation of feeling is known in the sense of the cessation of its condition. The cessation of feeling is also known to one who sees the characteristic of change. Thus, the cessation of feeling is known. In this way, feelings are known as they arise, known as they manifest, and known as they go to cessation.
Làm thế nào sự hoại diệt của cảm thọ được biết rõ? ‘Do vô minh diệt nên thọ diệt’ – theo ý nghĩa duyên diệt, sự hoại diệt của cảm thọ được biết rõ. ‘Do ái diệt nên thọ diệt’… v.v… ‘do nghiệp diệt nên thọ diệt’… v.v… ‘do xúc diệt nên thọ diệt’ – theo ý nghĩa duyên diệt, sự hoại diệt của cảm thọ được biết rõ. Đối với người thấy được đặc tính biến hoại, sự hoại diệt của cảm thọ cũng được biết rõ. Như vậy, sự hoại diệt của cảm thọ được biết rõ. Như vậy, các cảm thọ khởi sanh được biết rõ, hiện hữu được biết rõ, đi đến hoại diệt được biết rõ.
Kathaṃ viditā saññā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṃ gacchanti? Kathaṃ saññāya uppādo vidito hoti? Avijjāsamudayā saññāsamudayoti – paccayasamudayaṭṭhena saññāya uppādo vidito hoti. Taṇhāsamudayā saññāsamudayoti…pe… kammasamudayā saññāsamudayoti…pe… phassasamudayā saññāsamudayoti – paccayasamudayaṭṭhena saññāya uppādo vidito hoti. Nibbattilakkhaṇaṃ passatopi saññāya uppādo vidito hoti. Evaṃ saññāya uppādo vidito hoti.
How are perceptions known as they arise, known as they manifest, and known as they go to cessation? How is the arising of perception known? 'With the arising of ignorance, there is the arising of perception'—thus, the arising of perception is known in the sense of the arising of its condition. 'With the arising of craving, there is the arising of perception'… and so on… 'With the arising of kamma, there is the arising of perception'… and so on… 'With the arising of contact, there is the arising of perception'—thus, the arising of perception is known in the sense of the arising of its condition. The arising of perception is also known to one who sees the characteristic of production. Thus, the arising of perception is known.
Làm thế nào các tưởng khởi sanh được biết rõ, hiện hữu được biết rõ, đi đến hoại diệt được biết rõ? Làm thế nào sự sanh khởi của tưởng được biết rõ? ‘Do vô minh sanh nên tưởng sanh’ – theo ý nghĩa duyên sanh, sự sanh khởi của tưởng được biết rõ. ‘Do ái sanh nên tưởng sanh’… v.v… ‘do nghiệp sanh nên tưởng sanh’… v.v… ‘do xúc sanh nên tưởng sanh’ – theo ý nghĩa duyên sanh, sự sanh khởi của tưởng được biết rõ. Đối với người thấy được đặc tính sanh khởi, sự sanh khởi của tưởng cũng được biết rõ. Như vậy, sự sanh khởi của tưởng được biết rõ.
Kathaṃ saññāya upaṭṭhānaṃ viditaṃ hoti? Aniccato manasikaroto khayatupaṭṭhānaṃ viditaṃ hoti. Dukkhato manasikaroto bhayatupaṭṭhānaṃ viditaṃ hoti. Anattato manasikaroto suññatupaṭṭhānaṃ viditaṃ hoti. Evaṃ saññāya upaṭṭhānaṃ viditaṃ hoti.
How is the manifestation of perception known? To one who attends to it as impermanent, its manifestation as perishing is known. To one who attends to it as suffering, its manifestation as fear is known. To one who attends to it as not-self, its manifestation as emptiness is known. Thus, the manifestation of perception is known.
Làm thế nào sự hiện khởi của tưởng được biết rõ? Đối với vị tác ý theo trạng thái vô thường, sự hiện khởi (của tưởng) như là sự hủy diệt được biết rõ. Đối với vị tác ý theo trạng thái khổ, sự hiện khởi (của tưởng) như là sự đáng sợ được biết rõ. Đối với vị tác ý theo trạng thái vô ngã, sự hiện khởi (của tưởng) như là tánh không được biết rõ. Như vậy, sự hiện khởi của tưởng được biết rõ.
Kathaṃ saññāya atthaṅgamo vidito hoti? Avijjānirodhā saññānirodhoti – paccayanirodhaṭṭhena saññāya atthaṅgamo vidito hoti. Taṇhānirodhā saññānirodhoti…pe… kammanirodhā saññānirodhoti…pe… phassanirodhā saññānirodhoti – paccayanirodhaṭṭhena saññāya atthaṅgamo vidito hoti. Vipariṇāmalakkhaṇaṃ passatopi saññāya atthaṅgamo vidito hoti. Evaṃ saññāya atthaṅgamo vidito hoti. Evaṃ viditā saññā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṃ gacchanti.
How is the cessation of perception known? 'With the cessation of ignorance, there is the cessation of perception'—thus, in the sense of the cessation of the cause, the cessation of perception is known. 'With the cessation of craving, there is the cessation of perception'… 'with the cessation of kamma, there is the cessation of perception'… 'with the cessation of contact, there is the cessation of perception'—thus, in the sense of the cessation of the cause, the cessation of perception is known. Also for one who sees the characteristic of change, the cessation of perception is known. In this way, the cessation of perception is known. Thus, perceptions, being known, arise; being known, they are present; and being known, they go to cessation.
Làm thế nào sự biến mất của tưởng được biết rõ? ‘Do vô minh diệt nên tưởng diệt’ – theo ý nghĩa do nhân diệt, sự biến mất của tưởng được biết rõ. ‘Do ái diệt nên tưởng diệt’... v.v... ‘do nghiệp diệt nên tưởng diệt’... v.v... ‘do xúc diệt nên tưởng diệt’ – theo ý nghĩa do nhân diệt, sự biến mất của tưởng được biết rõ. Đối với vị thấy được tướng biến hoại, sự biến mất của tưởng cũng được biết rõ. Như vậy, sự biến mất của tưởng được biết rõ. Như vậy, các tưởng được biết rõ rồi sanh khởi, được biết rõ rồi hiện khởi, được biết rõ rồi đi đến chỗ biến mất.
Kathaṃ viditā vitakkā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṃ gacchanti? Kathaṃ vitakkānaṃ uppādo vidito hoti? Avijjāsamudayā vitakkasamudayoti – paccayasamudayaṭṭhena vitakkānaṃ uppādo vidito hoti. Taṇhāsamudayā vitakkasamudayoti…pe… kammasamudayā vitakkasamudayoti…pe… saññāsamudayā vitakkasamudayoti – paccayasamudayaṭṭhena vitakkānaṃ uppādo vidito hoti. Nibbattilakkhaṇaṃ passatopi vitakkānaṃ uppādo vidito hoti. Evaṃ vitakkānaṃ uppādo vidito hoti.
How are thoughts known to arise, known to be present, and known to go to cessation? How is the arising of thoughts known? 'With the arising of ignorance, there is the arising of thoughts'—thus, in the sense of the arising of the cause, the arising of thoughts is known. 'With the arising of craving, there is the arising of thoughts'… 'with the arising of kamma, there is the arising of thoughts'… 'with the arising of perception, there is the arising of thoughts'—thus, in the sense of the arising of the cause, the arising of thoughts is known. Also for one who sees the characteristic of production, the arising of thoughts is known. In this way, the arising of thoughts is known.
Làm thế nào các tầm được biết rõ rồi sanh khởi, được biết rõ rồi hiện khởi, được biết rõ rồi đi đến chỗ biến mất? Làm thế nào sự sanh khởi của các tầm được biết rõ? ‘Do vô minh sanh khởi nên tầm sanh khởi’ – theo ý nghĩa do nhân sanh khởi, sự sanh khởi của các tầm được biết rõ. ‘Do ái sanh khởi nên tầm sanh khởi’... v.v... ‘do nghiệp sanh khởi nên tầm sanh khởi’... v.v... ‘do tưởng sanh khởi nên tầm sanh khởi’ – theo ý nghĩa do nhân sanh khởi, sự sanh khởi của các tầm được biết rõ. Đối với vị thấy được tướng sanh khởi, sự sanh khởi của các tầm cũng được biết rõ. Như vậy, sự sanh khởi của các tầm được biết rõ.
Kathaṃ vitakkānaṃ upaṭṭhānaṃ viditaṃ hoti? Aniccato manasikaroto khayatupaṭṭhānaṃ viditaṃ hoti. Dukkhato manasikaroto bhayatupaṭṭhānaṃ viditaṃ hoti. Anattato manasikaroto suññatupaṭṭhānaṃ viditaṃ hoti. Evaṃ vitakkānaṃ upaṭṭhānaṃ viditaṃ hoti.
How is the presence of thoughts known? For one who attends to impermanence, their presence as decay is known. For one who attends to suffering, their presence as fear is known. For one who attends to not-self, their presence as emptiness is known. In this way, the presence of thoughts is known.
Làm thế nào sự hiện khởi của các tầm được biết rõ? Đối với vị tác ý theo trạng thái vô thường, sự hiện khởi (của tầm) như là sự hủy diệt được biết rõ. Đối với vị tác ý theo trạng thái khổ, sự hiện khởi (của tầm) như là sự đáng sợ được biết rõ. Đối với vị tác ý theo trạng thái vô ngã, sự hiện khởi (của tầm) như là tánh không được biết rõ. Như vậy, sự hiện khởi của các tầm được biết rõ.
Kathaṃ vitakkānaṃ atthaṅgamo vidito hoti? Avijjānirodhā vitakkanirodhoti – paccayanirodhaṭṭhena vitakkānaṃ atthaṅgamo vidito hoti. Taṇhānirodhā vitakkanirodhoti…pe… kammanirodhā vitakkanirodhoti…pe… saññānirodhā vitakkanirodhoti – paccayanirodhaṭṭhena vitakkānaṃ atthaṅgamo vidito hoti. Vipariṇāmalakkhaṇaṃ passatopi vitakkānaṃ atthaṅgamo vidito hoti. Evaṃ vitakkānaṃ atthaṅgamo vidito hoti. Evaṃ viditā vitakkā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṃ gacchanti.
How is the cessation of thoughts known? 'With the cessation of ignorance, there is the cessation of thought'—thus, in the sense of the cessation of the cause, the cessation of thoughts is known. 'With the cessation of craving, there is the cessation of thought'… (etc.) … 'With the cessation of kamma, there is the cessation of thought'… (etc.) … 'With the cessation of perception, there is the cessation of thought'—thus, in the sense of the cessation of the cause, the cessation of thoughts is known. For one who sees the characteristic of change, the cessation of thoughts is also known. In this way, the cessation of thoughts is known. Thus, being known, thoughts arise; being known, they appear; being known, they go to cessation.
Làm thế nào sự biến mất của các tầm được biết rõ? ‘Do vô minh diệt nên tầm diệt’ – theo ý nghĩa do nhân diệt, sự biến mất của các tầm được biết rõ. ‘Do ái diệt nên tầm diệt’... v.v... ‘do nghiệp diệt nên tầm diệt’... v.v... ‘do tưởng diệt nên tầm diệt’ – theo ý nghĩa do nhân diệt, sự biến mất của các tầm được biết rõ. Đối với vị thấy được tướng biến hoại, sự biến mất của các tầm cũng được biết rõ. Như vậy, sự biến mất của các tầm được biết rõ. Như vậy, các tầm được biết rõ rồi sanh khởi, được biết rõ rồi hiện khởi, được biết rõ rồi đi đến chỗ biến mất.
168. Dīghaṃ assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānanto indriyāni samodhāneti, gocarañca pajānāti, samatthañca paṭivijjhati…pe… maggaṃ samodhāneti, dhamme samodhāneti, gocarañca pajānāti, samatthañca paṭivijjhati.
168. Knowing the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of long in-breaths and out-breaths, one unifies the faculties, knows the object, and penetrates tranquility… (etc.) … one unifies the path, unifies the dhammas, knows the object, and penetrates tranquility.
168. Vị ấy biết rõ sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm bằng cách thở vô thở ra dài, rồi hợp nhất các quyền, biết rõ hành xứ, và thông suốt được sự an tịnh... v.v... hợp nhất đạo, hợp nhất các pháp, biết rõ hành xứ, và thông suốt được sự an tịnh.
Indriyāni samodhānetīti kathaṃ indriyāni samodhāneti? Adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ samodhāneti, paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ samodhāneti, upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ samodhāneti, avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ samodhāneti, dassanaṭṭhena paññindriyaṃ samodhāneti. Ayaṃ puggalo imāni indriyāni imasmiṃ ārammaṇe samodhāneti. Tena vuccati – ‘‘indriyāni samodhānetī’’ti.
Regarding 'one unifies the faculties,' how does one unify the faculties? In the sense of resolve, one unifies the faculty of faith. In the sense of exertion, one unifies the faculty of energy. In the sense of establishing, one unifies the faculty of mindfulness. In the sense of non-distraction, one unifies the faculty of concentration. In the sense of seeing, one unifies the faculty of wisdom. This person unifies these faculties in this object. Therefore, it is said: 'one unifies the faculties.'
Về câu ‘hợp nhất các quyền,’ làm thế nào vị ấy hợp nhất các quyền? Vị ấy hợp nhất tín quyền theo ý nghĩa quyết định, hợp nhất tấn quyền theo ý nghĩa nỗ lực, hợp nhất niệm quyền theo ý nghĩa hiện khởi, hợp nhất định quyền theo ý nghĩa không phân tán, hợp nhất tuệ quyền theo ý nghĩa thấy rõ. Vị ấy là người hợp nhất các quyền này ở trong đối tượng này. Do đó được nói là: ‘hợp nhất các quyền’.
Gocarañca pajānātīti yaṃ tassa ārammaṇaṃ, taṃ tassa gocaraṃ. Yaṃ tassa gocaraṃ, taṃ tassa ārammaṇaṃ. Pajānātīti puggalo. Pajānanā paññā.
Regarding 'and knows the object': Whatever is that person's object, that is their pasture. Whatever is that person's pasture, that is their object. 'Knows' refers to the person. The knowing is wisdom.
Về câu ‘và biết rõ hành xứ,’ cái gì là đối tượng của vị ấy, cái ấy là hành xứ của vị ấy. Cái gì là hành xứ của vị ấy, cái ấy là đối tượng của vị ấy. Về câu ‘biết rõ,’ (chủ thể) là người. Sự biết rõ là trí tuệ.
Samanti ārammaṇassa upaṭṭhānaṃ samaṃ, cittassa avikkhepo samaṃ, cittassa adhiṭṭhānaṃ samaṃ, cittassa vodānaṃ samaṃ. Atthoti anavajjaṭṭho nikkilesaṭṭho vodānaṭṭho paramaṭṭho. Paṭivijjhatīti ārammaṇassa upaṭṭhānaṭṭhaṃ paṭivijjhati, cittassa avikkhepaṭṭhaṃ paṭivijjhati, cittassa adhiṭṭhānaṭṭhaṃ paṭivijjhati, cittassa vodānaṭṭhaṃ paṭivijjhati. Tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
Regarding `samaṃ`: the presence of the object is `sama`; the non-distraction of the mind is `sama`; the resolution of the mind is `sama`; the purity of the mind is `sama`. Regarding `attha`: it is the meaning of being blameless, the meaning of being without defilements, the meaning of purity, and the supreme meaning. Regarding `paṭivijjhati`: one penetrates the nature of the presence of the object; one penetrates the nature of the non-distraction of the mind; one penetrates the nature of the resolution of the mind; one penetrates the nature of the purity of the mind. Therefore, it is said: 'And one penetrates the meaning of `sama`.'
Về từ ‘samaṃ’ (an tịnh): sự hiện khởi của đối tượng là an tịnh, sự không phân tán của tâm là an tịnh, sự quyết định của tâm là an tịnh, sự trong sạch của tâm là an tịnh. Về từ ‘attho’ (ý nghĩa): là ý nghĩa không có tội lỗi, ý nghĩa không có phiền não, ý nghĩa trong sạch, ý nghĩa cao thượng. Về từ ‘paṭivijjhati’ (thông suốt): vị ấy thông suốt ý nghĩa về sự hiện khởi của đối tượng, thông suốt ý nghĩa về sự không phân tán của tâm, thông suốt ý nghĩa về sự quyết định của tâm, thông suốt ý nghĩa về sự trong sạch của tâm. Do đó được nói là: ‘và thông suốt được sự an tịnh’.
Balāni samodhānetīti kathaṃ balāni samodhāneti? Assaddhiye akampiyaṭṭhena saddhābalaṃ samodhāneti, kosajje akampiyaṭṭhena vīriyabalaṃ samodhāneti, pamāde akampiyaṭṭhena satibalaṃ samodhāneti, uddhacce akampiyaṭṭhena samādhibalaṃ samodhāneti, avijjāya akampiyaṭṭhena paññābalaṃ samodhāneti. Ayaṃ puggalo imāni balāni imasmiṃ ārammaṇe samodhāneti. Tena vuccati – balāni samodhānetīti. Gocarañca pajānātīti…pe… tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
Regarding 'one harmonizes the powers': how does one harmonize the powers? By means of being unshakable in the face of faithlessness, one harmonizes the power of faith. By means of being unshakable in the face of laziness, one harmonizes the power of energy. By means of being unshakable in the face of heedlessness, one harmonizes the power of mindfulness. By means of being unshakable in the face of restlessness, one harmonizes the power of concentration. By means of being unshakable in the face of ignorance, one harmonizes the power of wisdom. This person harmonizes these powers in this object. Therefore, it is said: 'one harmonizes the powers.' As for 'and one knows the resort'... etc. Therefore, it is said: 'And one penetrates the meaning of `sama`.'
Về câu ‘hợp nhất các lực,’ làm thế nào vị ấy hợp nhất các lực? Vị ấy hợp nhất tín lực theo ý nghĩa không bị lay động bởi sự không có đức tin, hợp nhất tấn lực theo ý nghĩa không bị lay động bởi sự lười biếng, hợp nhất niệm lực theo ý nghĩa không bị lay động bởi sự phóng dật, hợp nhất định lực theo ý nghĩa không bị lay động bởi sự trạo cử, hợp nhất tuệ lực theo ý nghĩa không bị lay động bởi vô minh. Vị ấy là người hợp nhất các lực này ở trong đối tượng này. Do đó được nói là: ‘hợp nhất các lực.’ Về câu ‘và biết rõ hành xứ’... v.v... do đó được nói là: ‘và thông suốt được sự an tịnh’.
Bojjhaṅge samodhānetīti kathaṃ bojjhaṅge samodhāneti? Upaṭṭhānaṭṭhena satisambojjhaṅgaṃ samodhāneti, pavicayaṭṭhena dhammavicayasambojjhaṅgaṃ samodhāneti, paggahaṭṭhena vīriyasambojjhaṅgaṃ samodhāneti, pharaṇaṭṭhena pītisambojjhaṅgaṃ samodhāneti, upasamaṭṭhena passaddhisambojjhaṅgaṃ samodhāneti, avikkhepaṭṭhena samādhisambojjhaṅgaṃ samodhāneti, paṭisaṅkhānaṭṭhena upekkhāsambojjhaṅgaṃ samodhāneti. Ayaṃ puggalo ime bojjhaṅge imasmiṃ ārammaṇe samodhāneti. Tena vuccati – ‘‘bojjhaṅge samodhānetī’’ti. Gocarañca pajānātīti…pe… tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
Regarding 'one harmonizes the enlightenment factors': how does one harmonize the enlightenment factors? By means of its nature of presence, one harmonizes the enlightenment factor of mindfulness. By means of its nature of investigation, one harmonizes the enlightenment factor of investigation of phenomena. By means of its nature of exertion, one harmonizes the enlightenment factor of energy. By means of its nature of suffusion, one harmonizes the enlightenment factor of rapture. By means of its nature of calming, one harmonizes the enlightenment factor of tranquility. By means of its nature of non-distraction, one harmonizes the enlightenment factor of concentration. By means of its nature of reflection, one harmonizes the enlightenment factor of equanimity. This person harmonizes these enlightenment factors in this object. Therefore, it is said: 'one harmonizes the enlightenment factors.' As for 'and one knows the resort'... etc. Therefore, it is said: 'And one penetrates the meaning of `sama`.'
Về câu ‘hợp nhất các giác chi’, làm thế nào hợp nhất các giác chi? Vị ấy hợp nhất niệm giác chi với ý nghĩa là sự hiện khởi, hợp nhất trạch pháp giác chi với ý nghĩa là sự thẩm sát, hợp nhất tinh tấn giác chi với ý nghĩa là sự nỗ lực, hợp nhất hỷ giác chi với ý nghĩa là sự lan tỏa, hợp nhất khinh an giác chi với ý nghĩa là sự an tịnh, hợp nhất định giác chi với ý nghĩa là không tán loạn, hợp nhất xả giác chi với ý nghĩa là sự quán xét. Vị ấy hợp nhất các giác chi này trong đối tượng này. Do đó được nói là: ‘hợp nhất các giác chi’. Và biết rõ hành xứ... (v.v.)... do đó được nói là: ‘và thông suốt ý nghĩa của sự an tịnh’.
Maggaṃ samodhānetīti kathaṃ maggaṃ samodhāneti? Dassanaṭṭhena sammādiṭṭhiṃ samodhāneti, abhiniropanaṭṭhena sammāsaṅkappaṃ samodhāneti, pariggahaṭṭhena sammāvācaṃ samodhāneti, samuṭṭhānaṭṭhena sammākammantaṃ samodhāneti, vodānaṭṭhena sammāājīvaṃ samodhāneti, paggahaṭṭhena sammāvāyāmaṃ samodhāneti, upaṭṭhānaṭṭhena sammāsatiṃ samodhāneti, avikkhepaṭṭhena sammāsamādhiṃ samodhāneti. Ayaṃ puggalo imaṃ maggaṃ imasmiṃ ārammaṇe samodhāneti. Tena vuccati – ‘‘maggaṃ samodhānetī’’ti. Gocarañca pajānātīti…pe… tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
Regarding 'One harmonizes the path,' how does one harmonize the path? One harmonizes right view by the meaning of seeing. One harmonizes right intention by the meaning of directing towards. One harmonizes right speech by the meaning of encompassing. One harmonizes right action by the meaning of originating. One harmonizes right livelihood by the meaning of purifying. One harmonizes right effort by the meaning of exerting. One harmonizes right mindfulness by the meaning of being present. One harmonizes right concentration by the meaning of non-distraction. This person harmonizes this path in this object. Therefore, it is said: 'One harmonizes the path.' And one understands the pasture... and so on... Therefore, it is said: 'And one penetrates the proficiency.'
Về câu ‘hợp nhất đạo’, làm thế nào hợp nhất đạo? Vị ấy hợp nhất chánh kiến với ý nghĩa là sự thấy, hợp nhất chánh tư duy với ý nghĩa là sự hướng đến, hợp nhất chánh ngữ với ý nghĩa là sự thâu nhiếp, hợp nhất chánh nghiệp với ý nghĩa là nền tảng, hợp nhất chánh mạng với ý nghĩa là sự trong sạch, hợp nhất chánh tinh tấn với ý nghĩa là sự nỗ lực, hợp nhất chánh niệm với ý nghĩa là sự hiện khởi, hợp nhất chánh định với ý nghĩa là không tán loạn. Vị ấy hợp nhất đạo này trong đối tượng này. Do đó được nói là: ‘hợp nhất đạo’. Và biết rõ hành xứ... (v.v.)... do đó được nói là: ‘và thông suốt ý nghĩa của sự an tịnh’.
Dhamme samodhānetīti kathaṃ dhamme samodhāneti? Ādhipateyyaṭṭhena indriyāni samodhāneti, akampiyaṭṭhena balāni samodhāneti, niyyānaṭṭhena bojjhaṅge samodhāneti, hetuṭṭhena maggaṃ samodhāneti, upaṭṭhānaṭṭhena satipaṭṭhānaṃ samodhāneti, padahanaṭṭhena sammappadhānaṃ samodhāneti, ijjhanaṭṭhena iddhipādaṃ samodhāneti tathaṭṭhena saccaṃ samodhāneti, avikkhepaṭṭhena samathaṃ samodhāneti, anupassanaṭṭhena vipassanaṃ samodhāneti, ekarasaṭṭhena samathavipassanaṃ samodhāneti, anativattanaṭṭhena yuganaddhaṃ samodhāneti, saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhiṃ samodhāneti, avikkhepaṭṭhena cittavisuddhiṃ samodhāneti, dassanaṭṭhena diṭṭhivisuddhiṃ samodhāneti, vimuttaṭṭhena vimokkhaṃ samodhāneti, paṭivedhaṭṭhena vijjaṃ samodhāneti, pariccāgaṭṭhena vimuttiṃ samodhāneti, samucchedaṭṭhena khaye ñāṇaṃ samodhāneti, paṭippassaddhaṭṭhena anuppāde ñāṇaṃ samodhāneti, chandaṃ mūlaṭṭhena samodhāneti, manasikāraṃ samuṭṭhānaṭṭhena samodhāneti, phassaṃ samodhānaṭṭhena samodhāneti, vedanaṃ samosaraṇaṭṭhena samodhāneti, samādhiṃ pamukhaṭṭhena samodhāneti, satiṃ ādhipateyyaṭṭhena samodhāneti, paññaṃ tatuttaraṭṭhena samodhāneti, vimuttiṃ sāraṭṭhena samodhāneti, amatogadhaṃ nibbānaṃ pariyosānaṭṭhena samodhāneti. Ayaṃ puggalo ime dhamme imasmiṃ ārammaṇe samodhāneti. Tena vuccati – ‘‘dhamme samodhānetī’’ti.
How does one harmonize the dhammas? One harmonizes the faculties by way of sovereignty. One harmonizes the powers by way of being unshakable. One harmonizes the enlightenment factors by way of leading out. One harmonizes the path by way of cause. One harmonizes the foundations of mindfulness by way of being established. One harmonizes the right efforts by way of striving. One harmonizes the bases of psychic power by way of accomplishment. One harmonizes the truth by way of reality. One harmonizes serenity by way of non-distraction. One harmonizes insight by way of contemplation. One harmonizes serenity and insight by way of single function. One harmonizes the pair by way of non-transgression. One harmonizes the purification of virtue by way of restraint. One harmonizes the purification of mind by way of non-distraction. One harmonizes the purification of view by way of seeing. One harmonizes liberation by way of freedom. One harmonizes knowledge by way of penetration. One harmonizes release by way of abandoning. One harmonizes the knowledge of destruction by way of cutting off. One harmonizes the knowledge of non-arising by way of pacification. One harmonizes desire by way of root. One harmonizes attention by way of origin. One harmonizes contact by way of conjunction. One harmonizes feeling by way of converging. One harmonizes concentration by way of being foremost. One harmonizes mindfulness by way of sovereignty. One harmonizes wisdom by way of excellence. One harmonizes release by way of essence. One harmonizes the deathless Nibbāna by way of culmination. This person harmonizes these dhammas in this object. Therefore, it is said: 'One harmonizes the dhammas.'
Về câu ‘hợp nhất các pháp’, làm thế nào hợp nhất các pháp? Vị ấy hợp nhất các quyền với ý nghĩa là quyền chủ, hợp nhất các lực với ý nghĩa là không lay động, hợp nhất các giác chi với ý nghĩa là sự xuất ly, hợp nhất đạo với ý nghĩa là nhân, hợp nhất niệm xứ với ý nghĩa là sự hiện khởi, hợp nhất chánh cần với ý nghĩa là sự tinh cần, hợp nhất như ý túc với ý nghĩa là sự thành tựu, hợp nhất sự thật với ý nghĩa là chân thật, hợp nhất chỉ với ý nghĩa là không tán loạn, hợp nhất quán với ý nghĩa là sự tùy quán, hợp nhất chỉ-quán với ý nghĩa là một vị, hợp nhất song tu với ý nghĩa là không vượt qua, hợp nhất giới thanh tịnh với ý nghĩa là sự phòng hộ, hợp nhất tâm thanh tịnh với ý nghĩa là không tán loạn, hợp nhất kiến thanh tịnh với ý nghĩa là sự thấy, hợp nhất giải thoát (vimokkha) với ý nghĩa là sự thoát khỏi, hợp nhất minh với ý nghĩa là sự thông suốt, hợp nhất sự giải thoát (vimutti) với ý nghĩa là sự từ bỏ, hợp nhất tận trí với ý nghĩa là sự đoạn tận, hợp nhất vô sanh trí với ý nghĩa là sự lắng dịu, hợp nhất dục với ý nghĩa là căn bản, hợp nhất tác ý với ý nghĩa là nền tảng, hợp nhất xúc với ý nghĩa là sự hợp nhất, hợp nhất thọ với ý nghĩa là sự hội tụ, hợp nhất định với ý nghĩa là đứng đầu, hợp nhất niệm với ý nghĩa là quyền chủ, hợp nhất tuệ với ý nghĩa là vượt trội hơn, hợp nhất sự giải thoát (vimutti) với ý nghĩa là cốt lõi, hợp nhất Niết-bàn, nơi đi vào bất tử, với ý nghĩa là cứu cánh. Vị ấy hợp nhất các pháp này trong đối tượng này. Do đó được nói là: ‘hợp nhất các pháp’.
Gocarañca pajānātīti yaṃ tassa ārammaṇaṃ, taṃ tassa gocaraṃ. Yaṃ tassa gocaraṃ, taṃ tassa ārammaṇaṃ pajānātīti puggalo. Pajānanā paññā. Samanti ārammaṇassa upaṭṭhānaṃ samaṃ, cittassa avikkhepo samaṃ, cittassa adhiṭṭhānaṃ samaṃ, cittassa vodānaṃ samaṃ. Atthoti anavajjaṭṭho nikkilesaṭṭho vodānaṭṭho paramaṭṭho. Paṭivijjhatīti ārammaṇassa upaṭṭhānaṭṭhaṃ paṭivijjhati, cittassa avikkhepaṭṭhaṃ paṭivijjhati, cittassa adhiṭṭhānaṭṭhaṃ paṭivijjhati, cittassa vodānaṭṭhaṃ paṭivijjhati. Tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
And one understands the pasture: whatever is that one's object, that is that one's pasture. Whatever is that one's pasture, that is that one's object. In 'understands' (pajānāti), it is the person who understands. The act of understanding is wisdom. In 'calm' (samaṃ): the appearing of the object is calm, the non-distraction of the mind is calm, the resolution of the mind is calm, the purity of the mind is calm. In 'meaning' (attho): it is the blameless meaning, the stainless meaning, the meaning of purity, the ultimate meaning. In 'one penetrates' (paṭivijjhati): one penetrates the meaning of the appearing of the object, one penetrates the meaning of the mind's non-distraction, one penetrates the meaning of the mind's resolution, one penetrates the meaning of the mind's purity. Therefore, it is said: 'And one penetrates the meaning of calm.'
Về câu ‘và biết rõ hành xứ’: Cái gì là đối tượng của vị ấy, cái ấy là hành xứ của vị ấy. Cái gì là hành xứ của vị ấy, cái ấy là đối tượng của vị ấy. Về câu ‘biết rõ’: (chủ thể là) người. Sự biết rõ là tuệ. Về từ ‘an tịnh’ (sama): Sự hiện khởi của đối tượng là an tịnh, sự không tán loạn của tâm là an tịnh, sự quyết định của tâm là an tịnh, sự trong sạch của tâm là an tịnh. Về từ ‘ý nghĩa’ (attha): là ý nghĩa không có tội lỗi, ý nghĩa không có phiền não, ý nghĩa trong sạch, ý nghĩa tối thượng. Về câu ‘thông suốt’: vị ấy thông suốt ý nghĩa của sự hiện khởi của đối tượng, thông suốt ý nghĩa của sự không tán loạn của tâm, thông suốt ý nghĩa của sự quyết định của tâm, thông suốt ý nghĩa của sự trong sạch của tâm. Do đó được nói là: ‘và thông suốt ý nghĩa của sự an tịnh’.
169. Kathaṃ rassaṃ assasanto ‘‘rassaṃ assasāmī’’ti pajānāti, rassaṃ passasanto ‘‘rassaṃ passasāmī’’ti pajānāti? Rassaṃ assāsaṃ ittarasaṅkhāte assasati, rassaṃ passāsaṃ ittarasaṅkhāte passasati, rassaṃ assāsapassāsaṃ ittarasaṅkhāte assasatipi passasatipi. Rassaṃ assāsapassāsaṃ ittarasaṅkhāte assasatopi passasatopi chando uppajjati. Chandavasena tato sukhumataraṃ rassaṃ assāsaṃ ittarasaṅkhāte assasati. Chandavasena tato sukhumataraṃ rassaṃ passāsaṃ ittarasaṅkhāte passasati. Chandavasena tato sukhumataraṃ rassaṃ assāsapassāsaṃ ittarasaṅkhāte assasatipi passasatipi. Chandavasena tato sukhumataraṃ rassaṃ assāsapassāsaṃ ittarasaṅkhāte assasatopi passasatopi pāmojjaṃ uppajjati. Pāmojjavasena tato sukhumataraṃ rassaṃ assāsaṃ ittarasaṅkhāte assasati, pāmojjavasena tato sukhumataraṃ rassaṃ passāsaṃ ittarasaṅkhāte passasati, pāmojjavasena tato sukhumataraṃ rassaṃ assāsapassāsaṃ ittarasaṅkhāte assasatipi passasatipi. Pāmojjavasena tato sukhumataraṃ rassaṃ assāsapassāsaṃ ittarasaṅkhāte assasatopi passasatopi rassā assāsapassāsā cittaṃ vivattati, upekkhā saṇṭhāti. Imehi navahākārehi rassā assāsapassāsā kāyo upaṭṭhānaṃ sati anupassanā ñāṇaṃ. Kāyo upaṭṭhānaṃ, no sati; sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena taṃ kāyaṃ anupassati. Tena vuccati – ‘‘kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānabhāvanā’’ti.
169. How, breathing out short, does one understand, 'I breathe out short'; breathing in short, does one understand, 'I breathe in short'? One breathes out a short out-breath for a short duration; one breathes in a short in-breath for a short duration; one both breathes out and breathes in short out-breaths and in-breaths for a short duration. For one who breathes out and breathes in short out-breaths and in-breaths for a short duration, desire arises. Through desire, one then breathes out a subtler short out-breath for a short duration. Through desire, one then breathes in a subtler short in-breath for a short duration. Through desire, one then both breathes out and breathes in subtler short out-breaths and in-breaths for a short duration. For one who, through desire, breathes out and breathes in subtler short out-breaths and in-breaths for a short duration, joy arises. Through joy, one then breathes out a subtler short out-breath for a short duration; through joy, one then breathes in a subtler short in-breath for a short duration; through joy, one then both breathes out and breathes in subtler short out-breaths and in-breaths for a short duration. For one who, through joy, breathes out and breathes in subtler short out-breaths and in-breaths for a short duration, the mind turns away from the short out-breaths and in-breaths, and equanimity is established. By these nine modes, the short out-breaths and in-breaths are the body; establishment is mindfulness; contemplation is knowledge. The body is establishment, not mindfulness; mindfulness is both establishment and mindfulness. With that mindfulness and that knowledge, one contemplates that body. Therefore, it is said: 'The development of the establishment of mindfulness as contemplation of the body in the body.'
169. Làm thế nào khi thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: ‘Tôi thở ra ngắn’, khi hít vào ngắn, vị ấy tuệ tri: ‘Tôi hít vào ngắn’? Vị ấy thở ra hơi thở ngắn trong khoảng thời gian ngắn, vị ấy hít vào hơi thở ngắn trong khoảng thời gian ngắn, vị ấy vừa thở ra vừa hít vào hơi thở ngắn trong khoảng thời gian ngắn. Đối với người vừa thở ra vừa hít vào hơi thở ngắn trong khoảng thời gian ngắn, dục sanh khởi. Do năng lực của dục, vị ấy thở ra hơi thở ngắn vi tế hơn trong khoảng thời gian ngắn. Do năng lực của dục, vị ấy hít vào hơi thở ngắn vi tế hơn trong khoảng thời gian ngắn. Do năng lực của dục, vị ấy vừa thở ra vừa hít vào hơi thở ngắn vi tế hơn trong khoảng thời gian ngắn. Đối với người vừa thở ra vừa hít vào hơi thở ngắn vi tế hơn trong khoảng thời gian ngắn, hân hoan sanh khởi. Do năng lực của hân hoan, vị ấy thở ra hơi thở ngắn vi tế hơn trong khoảng thời gian ngắn, do năng lực của hân hoan, vị ấy hít vào hơi thở ngắn vi tế hơn trong khoảng thời gian ngắn, do năng lực của hân hoan, vị ấy vừa thở ra vừa hít vào hơi thở ngắn vi tế hơn trong khoảng thời gian ngắn. Do năng lực của hân hoan, đối với người vừa thở ra vừa hít vào hơi thở ngắn vi tế hơn trong khoảng thời gian ngắn, tâm xoay khỏi các hơi thở ra vào ngắn, và xả được an lập. Do chín phương diện này, các hơi thở ra vào ngắn là thân; sự an trú là niệm; sự tùy quán là trí. Thân là sự an trú, không phải là niệm; niệm vừa là sự an trú, vừa là niệm. Với niệm ấy, với trí ấy, vị ấy tùy quán thân ấy. Do đó được gọi là – ‘sự tu tập niệm xứ tùy quán thân trên thân’.
Anupassatīti kathaṃ taṃ kāyaṃ anupassati…pe… evaṃ taṃ kāyaṃ anupassati. Bhāvanāti catasso bhāvanā…pe… āsevanaṭṭhena bhāvanā. Rassaṃ assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato viditā vedanā uppajjanti…pe… rassaṃ assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānanto indriyāni samodhāneti…pe… tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
Regarding ‘one repeatedly contemplates’: how does one repeatedly contemplate that body?… Thus one repeatedly contemplates that body. Regarding ‘development’: there are four developments… Development in the sense of cultivation. For one who knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of short in-breaths and out-breaths, known feelings arise… One who knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of short in-breaths and out-breaths harmonizes the faculties… Therefore it is said: ‘And one penetrates proficiency.’
Về ‘tùy quán’: Làm thế nào vị ấy tùy quán thân ấy? …v.v… Như vậy, vị ấy tùy quán thân ấy. Về ‘tu tập’: Có bốn sự tu tập …v.v… Tu tập có nghĩa là thực hành lặp đi lặp lại. Đối với người tuệ tri sự nhất tâm, không phân tán của tâm nhờ vào hơi thở ra vào ngắn, các cảm thọ được biết rõ sanh khởi …v.v… người tuệ tri sự nhất tâm, không phân tán của tâm nhờ vào hơi thở ra vào ngắn, hợp nhất các căn …v.v… Do đó được gọi là – ‘và thông đạt được sự thành tựu’.
170. Kathaṃ ‘‘sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī’’ti sikkhati? Kāyoti dve kāyā – nāmakāyo ca rūpakāyo ca. Katamo nāmakāyo? Vedanā, saññā, cetanā, phasso, manasikāro, nāmañca nāmakāyo ca, ye ca vuccanti cittasaṅkhārā – ayaṃ nāmakāyo. Katamo rūpakāyo? Cattāro ca mahābhūtā, catunnañca mahābhūtānaṃ upādāyarūpaṃ, assāso ca passāso ca, nimittañca upanibandhanā, ye ca vuccanti kāyasaṅkhārā – ayaṃ rūpakāyo.
170. How does one train thus: ‘Experiencing the whole body, I shall breathe in,’ and ‘Experiencing the whole body, I shall breathe out’? Regarding ‘body’: there are two bodies—the mental body and the physical body. What is the mental body? Feeling, perception, volition, contact, attention; mentality and the mental body; and what are called mental formations—this is the mental body. What is the physical body? The four great elements, and materiality derived from the four great elements, in-breathing and out-breathing, the sign bound up therewith, and what are called bodily formations—this is the physical body.
170. Làm thế nào vị ấy thực tập: ‘Cảm nhận toàn thân, tôi sẽ thở ra’, và thực tập: ‘Cảm nhận toàn thân, tôi sẽ hít vào’? Về ‘thân’: Có hai thân – danh thân và sắc thân. Thế nào là danh thân? Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý, danh và danh thân, và những gì được gọi là các tâm hành – đây là danh thân. Thế nào là sắc thân? Bốn đại chủng, và sắc y sinh từ bốn đại chủng, hơi thở ra và hơi thở vào, và tướng được ràng buộc, và những gì được gọi là các thân hành – đây là sắc thân.
Kathaṃ te kāyā paṭividitā honti? Dīghaṃ assāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti. Tāya satiyā tena ñāṇena te kāyā paṭividitā honti. Dīghaṃ passāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti. Tāya satiyā tena ñāṇena te kāyā paṭividitā honti. Rassaṃ assāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti. Tāya satiyā tena ñāṇena te kāyā paṭividitā honti. Rassaṃ passāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti. Tāya satiyā tena ñāṇena te kāyā paṭividitā honti.
How are those bodies fully understood? For one who knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of long in-breathing, mindfulness is established. By that mindfulness and by that knowledge, those bodies are fully understood. For one who knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of long out-breathing, mindfulness is established. By that mindfulness and by that knowledge, those bodies are fully understood. For one who knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of short in-breathing, mindfulness is established. By that mindfulness and by that knowledge, those bodies are fully understood. For one who knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of short out-breathing, mindfulness is established. By that mindfulness and by that knowledge, those bodies are fully understood.
Làm thế nào các thân ấy được thông suốt? Đối với người tuệ tri sự nhất tâm, không phân tán của tâm nhờ vào hơi thở ra dài, niệm được an trú. Với niệm ấy, với trí ấy, các thân ấy được thông suốt. Đối với người tuệ tri sự nhất tâm, không phân tán của tâm nhờ vào hơi thở vào dài, niệm được an trú. Với niệm ấy, với trí ấy, các thân ấy được thông suốt. Đối với người tuệ tri sự nhất tâm, không phân tán của tâm nhờ vào hơi thở ra ngắn, niệm được an trú. Với niệm ấy, với trí ấy, các thân ấy được thông suốt. Đối với người tuệ tri sự nhất tâm, không phân tán của tâm nhờ vào hơi thở vào ngắn, niệm được an trú. Với niệm ấy, với trí ấy, các thân ấy được thông suốt.
Āvajjato te kāyā paṭividitā honti, pajānato te kāyā paṭividitā honti, passato te kāyā paṭividitā honti, paccavekkhato te kāyā paṭividitā honti, cittaṃ adhiṭṭhahato te kāyā paṭividitā honti, saddhāya adhimuccato te kāyā paṭividitā honti, vīriyaṃ paggaṇhato te kāyā paṭividitā honti, satiṃ upaṭṭhāpayato te kāyā paṭividitā honti, cittaṃ samādahato te kāyā paṭividitā honti, paññāya pajānato te kāyā paṭividitā honti, abhiññeyyaṃ abhijānato te kāyā paṭividitā honti, pariññeyyaṃ parijānato te kāyā paṭividitā honti, pahātabbaṃ pajahato te kāyā paṭividitā honti, bhāvetabbaṃ bhāvayato te kāyā paṭividitā honti, sacchikātabbaṃ sacchikaroto te kāyā paṭividitā honti. Evaṃ te kāyā paṭividitā honti. Sabbakāyapaṭisaṃvedī assāsapassāsā kāyo upaṭṭhānaṃ sati anupassanā ñāṇaṃ. Kāyo upaṭṭhānaṃ, no sati. Sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena taṃ kāyaṃ anupassati. Tena vuccati – ‘‘kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānabhāvanā’’ti.
To one who attends, those bodies are manifest; to one who knows, those bodies are manifest; to one who sees, those bodies are manifest; to one who reflects, those bodies are manifest; to one who resolves the mind, those bodies are manifest; to one who decides with faith, those bodies are manifest; to one who exerts energy, those bodies are manifest; to one who establishes mindfulness, those bodies are manifest; to one who concentrates the mind, those bodies are manifest; to one who knows with wisdom, those bodies are manifest; to one who directly knows what is to be directly known, those bodies are manifest; to one who fully understands what is to be fully understood, those bodies are manifest; to one who abandons what is to be abandoned, those bodies are manifest; to one who develops what is to be developed, those bodies are manifest; to one who realizes what is to be realized, those bodies are manifest. Thus, those bodies are manifest. Experiencing the entire body: the in-breaths and out-breaths are the body; the establishment is mindfulness; contemplation is knowledge. The body is the establishment, not mindfulness. Mindfulness is both the establishment and mindfulness. With that mindfulness and with that knowledge, one contemplates that body. Therefore, it is said: 'the development of the establishment of mindfulness by contemplating the body in the body'.
Đối với người hướng tâm, các thân ấy được thông suốt; đối với người tuệ tri, các thân ấy được thông suốt; đối với người thấy, các thân ấy được thông suốt; đối với người phản khán, các thân ấy được thông suốt; đối với người quyết định tâm, các thân ấy được thông suốt; đối với người có tín giải, các thân ấy được thông suốt; đối với người nỗ lực tinh tấn, các thân ấy được thông suốt; đối với người an trú niệm, các thân ấy được thông suốt; đối với người định tâm, các thân ấy được thông suốt; đối với người tuệ tri bằng trí tuệ, các thân ấy được thông suốt; đối với người thắng tri điều cần thắng tri, các thân ấy được thông suốt; đối với người liễu tri điều cần liễu tri, các thân ấy được thông suốt; đối với người đoạn tận điều cần đoạn tận, các thân ấy được thông suốt; đối với người tu tập điều cần tu tập, các thân ấy được thông suốt; đối với người chứng ngộ điều cần chứng ngộ, các thân ấy được thông suốt. Như vậy, các thân ấy được thông suốt. Cảm nhận toàn thân, hơi thở ra vào là thân; sự an trú là niệm; sự tùy quán là trí. Thân là sự an trú, không phải là niệm. Niệm vừa là sự an trú, vừa là niệm. Với niệm ấy, với trí ấy, vị ấy tùy quán thân ấy. Do đó được gọi là – ‘sự tu tập niệm xứ tùy quán thân trên thân’.
Anupassatīti kathaṃ taṃ kāyaṃ anupassati…pe… evaṃ taṃ kāyaṃ anupassati. Bhāvanāti catasso bhāvanā…pe… āsevanaṭṭhena bhāvanā.
Regarding 'contemplates': how does one contemplate that body? … Thus one contemplates that body. Regarding 'development': there are four developments … development in the sense of repeated practice.
Về ‘tùy quán’: Làm thế nào vị ấy tùy quán thân ấy? …v.v… Như vậy, vị ấy tùy quán thân ấy. Về ‘tu tập’: Có bốn sự tu tập …v.v… Tu tập có nghĩa là thực hành lặp đi lặp lại.
Sabbakāyapaṭisaṃvedī assāsapassāsānaṃ † saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi, avikkhepaṭṭhena cittavisuddhi, dassanaṭṭhena diṭṭhivisuddhi. Yo tattha saṃvaraṭṭho, ayaṃ adhisīlasikkhā. Yo tattha avikkhepaṭṭho, ayaṃ adhicittasikkhā. Yo tattha dassanaṭṭho, ayaṃ adhipaññāsikkhā. Imā tisso sikkhāyo āvajjanto sikkhati, jānanto sikkhati, passanto sikkhati, paccavekkhanto sikkhati, cittaṃ adhiṭṭhahanto sikkhati, saddhāya adhimuccanto sikkhati, vīriyaṃ paggaṇhanto sikkhati, satiṃ upaṭṭhapento sikkhati, cittaṃ samādahanto sikkhati, paññāya pajānanto sikkhati, abhiññeyyaṃ abhijānanto sikkhati, pariññeyyaṃ parijānanto sikkhati, pahātabbaṃ pajahanto sikkhati, bhāvetabbaṃ bhāvento sikkhati, sacchikātabbaṃ sacchikaronto sikkhati.
Experiencing the entire body, for the in-breaths and out-breaths, purity of virtue is in the sense of restraint, purity of mind is in the sense of non-distraction, and purity of view is in the sense of seeing. Therein, what is the nature of restraint is the training in higher virtue. Therein, what is the nature of non-distraction is the training in higher mind. Therein, what is the nature of seeing is the training in higher wisdom. Reflecting on these three trainings, one trains; knowing, one trains; seeing, one trains; reviewing, one trains; resolving the mind, one trains; resolving with faith, one trains; exerting energy, one trains; establishing mindfulness, one trains; concentrating the mind, one trains; understanding with wisdom, one trains; directly knowing what should be directly known, one trains; fully understanding what should be fully understood, one trains; abandoning what should be abandoned, one trains; developing what should be developed, one trains; realizing what should be realized, one trains.
Vị ấy cảm nhận toàn thân hơi thở, do ý nghĩa phòng hộ các hơi thở vô ra nên là giới thanh tịnh, do ý nghĩa không tán loạn nên là tâm thanh tịnh, do ý nghĩa thấy rõ nên là kiến thanh tịnh. Ở đây, ý nghĩa phòng hộ nào, đây là tăng thượng giới học. Ở đây, ý nghĩa không tán loạn nào, đây là tăng thượng tâm học. Ở đây, ý nghĩa thấy rõ nào, đây là tăng thượng tuệ học. Vị ấy thực hành trong khi hướng tâm đến ba pháp học này, thực hành trong khi biết, thực hành trong khi thấy, thực hành trong khi quán xét, thực hành trong khi quyết định tâm, thực hành trong khi tin tưởng với đức tin, thực hành trong khi nỗ lực tinh tấn, thực hành trong khi an lập niệm, thực hành trong khi định tĩnh tâm, thực hành trong khi biết rõ bằng trí tuệ, thực hành trong khi thắng tri điều cần thắng tri, thực hành trong khi liễu tri điều cần liễu tri, thực hành trong khi đoạn tận điều cần đoạn tận, thực hành trong khi tu tập điều cần tu tập, thực hành trong khi chứng ngộ điều cần chứng ngộ.
Sabbakāyapaṭisaṃvedī assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato viditā vedanā uppajjanti…pe… sabbakāyapaṭisaṃvedī assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānanto indriyāni samodhāneti…pe… tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
For one who, experiencing the entire body, knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of the in-breaths and out-breaths, known feelings arise... Experiencing the entire body, one who knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of the in-breaths and out-breaths harmonizes the faculties... Therefore it is said: 'And he penetrates serenity.'
Đối với vị đang biết rõ sự nhất tâm, sự không tán loạn của tâm do năng lực của hơi thở vô ra trong khi cảm nhận toàn thân hơi thở, các cảm thọ khởi lên một cách rõ ràng... cho đến... Vị đang biết rõ sự nhất tâm, sự không tán loạn của tâm do năng lực của hơi thở vô ra trong khi cảm nhận toàn thân hơi thở, vị ấy làm cho các căn hòa hợp... cho đến... Do đó, được nói là: 'Và vị ấy thâm nhập vào sự vắng lặng'.
171. Kathaṃ ‘‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī’’ti sikkhati? Katamo kāyasaṅkhāro? Dīghaṃ assāsā kāyikā. Ete dhammā kāyapaṭibaddhā kāyasaṅkhārā. Te kāyasaṅkhāre passambhento nirodhento vūpasamento sikkhati. Dīghaṃ passāsā kāyikā. Ete dhammā kāyapaṭibaddhā kāyasaṅkhārā. Te kāyasaṅkhāre passambhento nirodhento vūpasamento sikkhati. Rassaṃ assāsā rassaṃ passāsā. Sabbakāyapaṭisaṃvedī assāsā sabbakāyapaṭisaṃvedī passāsā kāyikā. Ete dhammā kāyapaṭibaddhā kāyasaṅkhārā. Te kāyasaṅkhāre passambhento nirodhento vūpasamento sikkhati.
171. How does one train thus: ‘I will breathe out, calming the bodily formation’? How does one train thus: ‘I will breathe in, calming the bodily formation’? What is the bodily formation? Long out-breaths are bodily. These phenomena, being connected with the body, are bodily formations. One trains by calming, ceasing, and pacifying these bodily formations. Long in-breaths are bodily. These phenomena, being connected with the body, are bodily formations. One trains by calming, ceasing, and pacifying these bodily formations. Short out-breaths, short in-breaths, out-breaths while experiencing the whole body, and in-breaths while experiencing the whole body are bodily. These phenomena, being connected with the body, are bodily formations. One trains by calming, ceasing, and pacifying these bodily formations.
171. Làm thế nào vị ấy thực hành: 'Ta sẽ thở ra, làm an tịnh thân hành', và thực hành: 'Ta sẽ hít vào, làm an tịnh thân hành'? Thân hành là gì? Các hơi thở ra dài thuộc về thân. Các pháp này liên quan đến thân nên là thân hành. Vị ấy thực hành trong khi làm cho an tịnh, làm cho chấm dứt, làm cho vắng lặng các thân hành ấy. Các hơi thở vào dài thuộc về thân. Các pháp này liên quan đến thân nên là thân hành. Vị ấy thực hành trong khi làm cho an tịnh, làm cho chấm dứt, làm cho vắng lặng các thân hành ấy. Các hơi thở ra ngắn, các hơi thở vào ngắn. Các hơi thở ra trong khi cảm nhận toàn thân, các hơi thở vào trong khi cảm nhận toàn thân, (tất cả) đều thuộc về thân. Các pháp này liên quan đến thân nên là thân hành. Vị ấy thực hành trong khi làm cho an tịnh, làm cho chấm dứt, làm cho vắng lặng các thân hành ấy.
Yathārūpehi kāyasaṅkhārehi yā kāyassa ānamanā vinamanā sannamanā paṇamanā iñjanā phandanā calanā pakampanā – passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmīti sikkhati, passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmīti sikkhati. Yathārūpehi kāyasaṅkhārehi yā kāyassa na ānamanā na vinamanā na sannamanā na paṇamanā aniñjanā aphandanā acalanā akampanā santaṃ sukhumaṃ passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmīti sikkhati, passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmīti sikkhati.
With those bodily formations by which there is for the body bending forward, bending sideways, contracting, bending backward, slight movement, throbbing, moving, and quivering—one trains thus: ‘I will breathe out, calming the bodily formation’; one trains thus: ‘I will breathe in, calming the bodily formation’. With those bodily formations by which there is for the body no bending forward, no bending sideways, no contracting, no bending backward, no slight movement, no throbbing, no moving, and no quivering—one trains thus: ‘I will breathe out, calming the peaceful, subtle bodily formation’; one trains thus: ‘I will breathe in, calming the bodily formation’.
Với những loại thân hành nào mà có sự cúi tới, nghiêng qua, co lại, ngả ra, sự rung, sự lay, sự động, sự chuyển của thân – vị ấy thực hành: 'Ta sẽ thở ra, làm an tịnh thân hành', và thực hành: 'Ta sẽ hít vào, làm an tịnh thân hành'. Với những loại thân hành nào mà không có sự cúi tới, không nghiêng qua, không co lại, không ngả ra, không rung, không lay, không động, không chuyển của thân, (tức là) thân hành tĩnh lặng, vi tế – vị ấy thực hành: 'Ta sẽ thở ra, làm an tịnh thân hành', và thực hành: 'Ta sẽ hít vào, làm an tịnh thân hành'.
Iti kira ‘‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī’’ti sikkhati. Evaṃ sante vātūpaladdhiyā ca pabhāvanā na hoti, assāsapassāsānañca pabhāvanā na hoti, ānāpānassatiyā ca pabhāvanā na hoti, ānāpānassatisamādhissa ca pabhāvanā na hoti; na ca naṃ taṃ samāpattiṃ paṇḍitā samāpajjantipi vuṭṭhahantipi.
Thus indeed, one trains thus: ‘I will breathe out, calming the bodily formation’; one trains thus: ‘I will breathe in, calming the bodily formation’. This being so, there is no development of perceiving the wind, no development of out-breaths and in-breaths, no development of mindfulness of breathing, and no development of concentration through mindfulness of breathing; nor do the wise enter into or emerge from that attainment.
Như vậy, người ta thực hành: 'Ta sẽ thở ra, làm an tịnh thân hành', và thực hành: 'Ta sẽ hít vào, làm an tịnh thân hành'. Khi như vậy, sự tu tập về việc chứng đắc gió không xảy ra, sự tu tập về hơi thở vô ra không xảy ra, sự tu tập về niệm hơi thở không xảy ra, và sự tu tập về định niệm hơi thở không xảy ra; và các bậc hiền trí cũng không nhập và không xuất định ấy.
Iti kira ‘‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī’’ti sikkhati. Evaṃ sante vātūpaladdhiyā ca pabhāvanā hoti, assāsapassāsānañca pabhāvanā hoti, ānāpānassatiyā ca pabhāvanā hoti. Ānāpānassatisamādhissa ca pabhāvanā hoti; tañca naṃ samāpattiṃ paṇḍitā samāpajjantipi vuṭṭhahantipi. Yathā kathaṃ viya? Seyyathāpi kaṃse ākoṭite paṭhamaṃ oḷārikā saddā pavattanti. Oḷārikānaṃ saddānaṃ nimittaṃ suggahitattā sumanasikatattā sūpadhāritattā niruddhepi oḷārike sadde, atha pacchā sukhumakā saddā pavattanti. Sukhumakānaṃ saddānaṃ nimittaṃ suggahitattā sumanasikatattā sūpadhāritattā niruddhepi sukhumake sadde, atha pacchā sukhumasaddanimittārammaṇatāpi cittaṃ pavattati. Evamevaṃ paṭhamaṃ oḷārikā assāsapassāsā pavattanti; oḷārikānaṃ assāsapassāsānaṃ nimittaṃ suggahitattā sumanasikatattā sūpadhāritattā niruddhepi oḷārike assāsapassāse, atha pacchā sukhumakā assāsapassāsā pavattanti. Sukhumakānaṃ assāsapassāsānaṃ nimittaṃ suggahitattā sumanasikatattā sūpadhāritattā niruddhepi sukhumake assāsapassāse, atha pacchā sukhumakaassāsapassāsānaṃ nimittārammaṇatāpi cittaṃ na vikkhepaṃ gacchati.
Thus indeed, one trains thus: ‘I will breathe out calming the bodily formation’; one trains thus: ‘I will breathe in calming the bodily formation.’ In this way, there is development of perceiving the wind, development of out-breaths and in-breaths, development of mindfulness of breathing, and development of concentration through mindfulness of breathing; and the wise enter into and emerge from that attainment. How is that? Just as when a bronze bowl is struck, first coarse sounds occur. When the coarse sounds cease, due to their sign being well grasped, well attended to, and well retained, then afterward subtle sounds occur. When the subtle sounds cease, due to their sign being well grasped, well attended to, and well retained, then afterward the mind also continues with the sign-object of the subtle sounds. Even so, first coarse out-breaths and in-breaths occur; when the coarse out-breaths and in-breaths cease, due to their sign being well grasped, well attended to, and well retained, then afterward subtle out-breaths and in-breaths occur. When the subtle out-breaths and in-breaths cease, due to their sign being well grasped, well attended to, and well retained, then afterward the mind, having the sign of the subtle out-breaths and in-breaths as its object, does not become distracted.
Như vậy, người ta thực hành: 'Ta sẽ thở ra, làm an tịnh thân hành', và thực hành: 'Ta sẽ hít vào, làm an tịnh thân hành'. Khi như vậy, sự tu tập về việc chứng đắc gió xảy ra, sự tu tập về hơi thở vô ra xảy ra, sự tu tập về niệm hơi thở xảy ra, và sự tu tập về định niệm hơi thở xảy ra; và các bậc hiền trí cũng nhập và xuất định ấy. Giống như thế nào? Ví như khi một cái chiêng được đánh, lúc đầu những âm thanh thô phát sinh. Do đã nắm giữ tốt, tác ý tốt, ghi nhận tốt tướng của những âm thanh thô, nên ngay cả khi âm thanh thô đã chấm dứt, sau đó những âm thanh vi tế phát sinh. Do đã nắm giữ tốt, tác ý tốt, ghi nhận tốt tướng của những âm thanh vi tế, nên ngay cả khi âm thanh vi tế đã chấm dứt, sau đó tâm vẫn duy trì với đối tượng là tướng của âm thanh vi tế. Cũng vậy, lúc đầu những hơi thở vô ra thô phát sinh; do đã nắm giữ tốt, tác ý tốt, ghi nhận tốt tướng của những hơi thở vô ra thô, nên ngay cả khi hơi thở vô ra thô đã chấm dứt, sau đó những hơi thở vô ra vi tế phát sinh. Do đã nắm giữ tốt, tác ý tốt, ghi nhận tốt tướng của những hơi thở vô ra vi tế, nên ngay cả khi hơi thở vô ra vi tế đã chấm dứt, sau đó tâm cũng không đi đến tán loạn với đối tượng là tướng của hơi thở vô ra vi tế.
Evaṃ sante vātūpaladdhiyā ca pabhāvanā hoti, assāsapassāsānañca pabhāvanā hoti, ānāpānassatiyā ca pabhāvanā hoti, ānāpānassatisamādhissa ca pabhāvanā hoti; tañca naṃ samāpattiṃ paṇḍitā samāpajjantipi vuṭṭhahantipi. Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assāsapassāsā kāyo upaṭṭhānaṃ sati anupassanā ñāṇaṃ. Kāyo upaṭṭhānaṃ, no sati; sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena taṃ kāyaṃ anupassati. Tena vuccati – ‘‘kāye kāyānupassanāsatipaṭṭhānabhāvanā’’ti.
This being so, there is development by means of obtaining the wind, there is development of in-breaths and out-breaths, there is development of mindfulness of breathing, and there is development of the concentration of mindfulness of breathing. The wise both enter and emerge from that attainment. Calming the bodily formation: the in-breaths and out-breaths are the body; establishment is mindfulness; contemplation is knowledge. The body is establishment, not mindfulness; mindfulness is both establishment and mindfulness. With that mindfulness, with that knowledge, one contemplates that body. Therefore, it is said: 'the development of the establishment of mindfulness by contemplating the body in the body.'
Khi như vậy, sự tu tập về việc chứng đắc gió xảy ra, sự tu tập về hơi thở vô ra xảy ra, sự tu tập về niệm hơi thở xảy ra, và sự tu tập về định niệm hơi thở xảy ra; và các bậc hiền trí cũng nhập và xuất định ấy. (Trong đề mục) 'làm an tịnh thân hành', hơi thở vô ra là thân, sự an lập là niệm, sự tùy quán là trí. Thân là đối tượng an lập, không phải là niệm; niệm vừa là sự an lập, vừa là niệm. Với niệm ấy, với trí ấy, vị ấy tùy quán thân ấy. Do đó, được gọi là 'sự tu tập niệm xứ tùy quán thân trên thân'.
Anupassatīti kathaṃ taṃ kāyaṃ anupassati…pe… evaṃ taṃ kāyaṃ anupassati. Bhāvanāti catasso bhāvanā…pe… āsevanaṭṭhena bhāvanā. Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ, assāsapassāsānaṃ saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi, avikkhepaṭṭhena cittavisuddhi, dassanaṭṭhena diṭṭhivisuddhi. Yo tattha saṃvaraṭṭho, ayaṃ adhisīlasikkhā; yo tattha avikkhepaṭṭho, ayaṃ adhicittasikkhā; yo tattha dassanaṭṭho ayaṃ adhipaññāsikkhā. Imā tisso sikkhāyo āvajjanto sikkhati…pe… sacchikātabbaṃ sacchikaronto sikkhati, passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato viditā vedanā uppajjanti…pe… passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānanto indriyāni samodhāneti…pe… tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
Regarding 'contemplates': how does one contemplate that body? … Thus one contemplates that body. Regarding 'development': there are four developments. … Development is in the sense of cultivation. Calming the bodily formation: purity of virtue is in the sense of restraint of in-breaths and out-breaths; purity of mind is in the sense of non-distraction; purity of view is in the sense of seeing. Whatever there is the sense of restraint, this is the training in higher virtue; whatever there is the sense of non-distraction, this is the training in higher mind; whatever there is the sense of seeing, this is the training in higher wisdom. Reflecting on these three trainings, one trains. … Realizing what is to be realized, one trains. For one who knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of calming the bodily formation through in-breaths and out-breaths, known feelings arise. … Knowing the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of calming the bodily formation through in-breaths and out-breaths, one balances the faculties. … Therefore it is said: 'and one penetrates what is effective.'
Về 'anupassati' (tùy quán), vị ấy tùy quán thân ấy như thế nào? ... (vân vân) ... Vị ấy tùy quán thân ấy như vậy. Về 'bhāvanā' (sự tu tập), có bốn sự tu tập ... (vân vân) ... Với ý nghĩa là thực hành lặp đi lặp lại, được gọi là tu tập. Làm an tịnh thân hành, với ý nghĩa là phòng hộ hơi thở vô và hơi thở ra, được gọi là giới thanh tịnh; với ý nghĩa là không phân tán, được gọi là tâm thanh tịnh; với ý nghĩa là thấy, được gọi là kiến thanh tịnh. Ở đây, ý nghĩa phòng hộ nào, đây là tăng thượng giới học; ở đây, ý nghĩa không phân tán nào, đây là tăng thượng tâm học; ở đây, ý nghĩa thấy nào, đây là tăng thượng tuệ học. Vị ấy học tập trong khi hướng tâm đến ba học xứ này ... (vân vân) ... Vị ấy học tập trong khi chứng ngộ điều cần được chứng ngộ. Làm an tịnh thân hành, đối với người biết được sự nhất tâm, không phân tán của tâm thông qua hơi thở vô và hơi thở ra, các cảm thọ được biết rõ sanh khởi ... (vân vân) ... Làm an tịnh thân hành, người biết được sự nhất tâm, không phân tán của tâm thông qua hơi thở vô và hơi thở ra, hợp nhất các căn ... (vân vân) ... Do đó, được nói là: 'Vị ấy thông suốt cả chỉ và quán'.
Aṭṭha anupassanāñāṇāni, aṭṭha ca upaṭṭhānānussatiyo, cattāri suttantikavatthūni kāye kāyānupassanāya.
In the contemplation of the body in the body, there are eight knowledges of contemplation, eight recollections of establishment, and four Suttanta topics.
Có tám tuệ tùy quán, tám tùy niệm về sự an trú, và bốn đề mục thuộc Kinh điển trong pháp tùy quán thân trên thân.
Bhāṇavāro.
The Recitation Section is concluded.
Dứt phẩm tụng đọc.
Dutiyacatukkaniddeso
The Exposition of the Second Tetrad.
Phần giải thích về bộ bốn thứ hai.
172. Kathaṃ ‘‘pītipaṭisaṃvedī assasissāmī’’ti sikkhati ‘‘pītipaṭisaṃvedī passasissāmī’’ti sikkhati? Katamā pīti? Dīghaṃ assāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato uppajjati pīti pāmojjaṃ. Yā pīti pāmojjaṃ āmodanā pamodanā hāso pahāso vitti odagyaṃ attamanatā. Cittassa dīghaṃ passāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato uppajjati pīti pāmojjaṃ…pe… rassaṃ assāsavasena, rassaṃ passāsavasena, sabbakāyapaṭisaṃvedī assāsavasena, sabbakāyapaṭisaṃvedī passāsavasena, passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assāsavasena, passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato uppajjati pīti pāmojjaṃ. Yā pīti pāmojjaṃ āmodanā pamodanā hāso pahāso vitti odagyaṃ attamanatā cittassa – ayaṃ pīti.
172. How does one train, ‘Experiencing rapture, I shall breathe out,’ and train, ‘Experiencing rapture, I shall breathe in’? What is rapture? For one who knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of a long out-breath, rapture and gladness arise. There is rapture, gladness, rejoicing, delight, cheerfulness, mirth, joy, elation, and contentment of the mind. For one who knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of a long in-breath, rapture and gladness arise… (and similarly) by means of a short out-breath, a short in-breath, experiencing the whole body with an out-breath, experiencing the whole body with an in-breath, calming the bodily formation with an out-breath, and calming the bodily formation with an in-breath, for one who knows the one-pointedness and non-distraction of the mind, rapture and gladness arise. Whatever rapture, gladness, rejoicing, delight, cheerfulness, mirth, joy, elation, and contentment of the mind there is—this is rapture.
172. Vị ấy học tập 'tôi sẽ thở vô, cảm nhận hỷ' như thế nào? Vị ấy học tập 'tôi sẽ thở ra, cảm nhận hỷ' như thế nào? Hỷ là gì? Đối với người biết được sự nhất tâm, không phân tán của tâm thông qua hơi thở vô dài, hỷ và hân hoan sanh khởi. Bất cứ điều gì là hỷ, hân hoan, sự vui mừng, sự mừng rỡ, sự vui vẻ, sự hớn hở, sự thích thú, sự phấn chấn, sự hài lòng của tâm. Đối với người biết được sự nhất tâm, không phân tán của tâm thông qua hơi thở ra dài, hỷ và hân hoan sanh khởi... (vân vân)... thông qua hơi thở vô ngắn, thông qua hơi thở ra ngắn, cảm nhận toàn thân thông qua hơi thở vô, cảm nhận toàn thân thông qua hơi thở ra, làm an tịnh thân hành thông qua hơi thở vô, làm an tịnh thân hành thông qua hơi thở ra, đối với người biết được sự nhất tâm, không phân tán của tâm, hỷ và hân hoan sanh khởi. Bất cứ điều gì là hỷ, hân hoan, sự vui mừng, sự mừng rỡ, sự vui vẻ, sự hớn hở, sự thích thú, sự phấn chấn, sự hài lòng của tâm – đây là hỷ.
Kathaṃ sā pīti paṭividitā hoti? Dīghaṃ assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti. Tāya satiyā tena ñāṇena sā pīti paṭividitā hoti. Dīghaṃ passāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti. Tāya satiyā tena ñāṇena sā pīti paṭividitā hoti. Rassaṃ assāsavasena…pe… rassaṃ passāsavasena… sabbakāyapaṭisaṃvedī assāsavasena… sabbakāyapaṭisaṃvedī passāsavasena… passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assāsavasena… passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti. Tāya satiyā tena ñāṇena sā pīti paṭividitā hoti. Āvajjato sā pīti paṭividitā hoti, jānato…pe… passato… paccavekkhato… cittaṃ adhiṭṭhahato… saddhāya adhimuccato… vīriyaṃ paggaṇhato… satiṃ upaṭṭhāpayato… cittaṃ samādahato… paññāya pajānato… abhiññeyyaṃ abhijānato… pariññeyyaṃ parijānato… pahātabbaṃ pajahato… bhāvetabbaṃ bhāvayato… sacchikātabbaṃ sacchikaroto sā pīti paṭividitā hoti. Evaṃ sā pīti paṭividitā hoti.
How is that rapture fully discerned? When one knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of a long out-breath, mindfulness is established. By that mindfulness and that knowledge, that rapture is fully discerned. When one knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of a long in-breath, mindfulness is established. By that mindfulness and that knowledge, that rapture is fully discerned. Likewise, when one knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of a short out-breath, a short in-breath, while experiencing the whole body with an out-breath, while experiencing the whole body with an in-breath, while calming the bodily formation with an out-breath, and while calming the bodily formation with an in-breath, mindfulness is established. By that mindfulness and that knowledge, that rapture is fully discerned. That rapture is fully discerned when one adverts, knows, sees, reviews, resolves the mind, becomes resolute through faith, exerts energy, establishes mindfulness, concentrates the mind, knows with wisdom, directly knows what should be directly known, fully understands what should be fully understood, develops what should be developed, and realizes what should be realized. Thus, that rapture is fully discerned.
Hỷ ấy được biết rõ như thế nào? Đối với người biết được sự nhất tâm, không phân tán của tâm thông qua hơi thở vô và hơi thở ra, niệm được an trú. Do niệm ấy, do trí ấy, hỷ ấy được biết rõ. Đối với người biết được sự nhất tâm, không phân tán của tâm thông qua hơi thở ra dài, niệm được an trú. Do niệm ấy, do trí ấy, hỷ ấy được biết rõ. Thông qua hơi thở vô ngắn... (vân vân)... thông qua hơi thở ra ngắn... cảm nhận toàn thân thông qua hơi thở vô... cảm nhận toàn thân thông qua hơi thở ra... làm an tịnh thân hành thông qua hơi thở vô... làm an tịnh thân hành thông qua hơi thở ra, đối với người biết được sự nhất tâm, không phân tán của tâm, niệm được an trú. Do niệm ấy, do trí ấy, hỷ ấy được biết rõ. Đối với người hướng tâm, hỷ ấy được biết rõ; đối với người biết... (vân vân)... thấy... xem xét lại... quyết định tâm... có lòng tin vững chắc... nỗ lực tinh tấn... an trú niệm... định tâm... biết rõ bằng trí tuệ... thắng tri điều cần thắng tri... liễu tri điều cần liễu tri... từ bỏ điều cần từ bỏ... tu tập điều cần tu tập... chứng ngộ điều cần chứng ngộ, hỷ ấy được biết rõ. Hỷ ấy được biết rõ như vậy.
Pītipaṭisaṃvedī assāsapassāsavasena vedanā upaṭṭhānaṃ sati anupassanā ñāṇaṃ. Vedanā upaṭṭhānaṃ, no sati; sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena taṃ vedanaṃ anupassati. Tena vuccati – ‘‘vedanāsu vedanānupassanāsatipaṭṭhānabhāvanā’’ti.
Experiencing rapture by means of in-breaths and out-breaths: feeling is the establishment; there is mindfulness; contemplation is knowledge. Feeling is the establishment, but not mindfulness; mindfulness is both the establishment and mindfulness. With that mindfulness, with that knowledge, one contemplates that feeling. Therefore it is said: 'the development of the establishment of mindfulness by contemplating feelings in feelings.'
Cảm nhận hỷ thông qua hơi thở vô và hơi thở ra: thọ là sự an trú (upaṭṭhāna); niệm là sự tùy quán (anupassanā); (sự tùy quán) là trí (ñāṇa). Thọ là sự an trú, không phải là niệm. Niệm vừa là sự an trú, vừa là niệm. Vị ấy tùy quán thọ ấy bằng niệm ấy, bằng trí ấy. Do đó, được gọi là 'sự tu tập niệm xứ tùy quán thọ trên các thọ'.
Anupassatīti kathaṃ taṃ vedanaṃ anupassati? Aniccato anupassati…pe… evaṃ taṃ vedanaṃ anupassati. Bhāvanāti catasso bhāvanā…pe… āsevanaṭṭhena bhāvanā. Pītipaṭisaṃvedī assāsapassāsānaṃ saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi…pe… pītipaṭisaṃvedī assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato…pe… pajānanto indriyāni samodhāneti. Tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
Regarding 'one contemplates': how does one contemplate that feeling? One contemplates it as impermanent... and so on... In this way, one contemplates that feeling. Regarding 'development': there are four kinds of development... and so on... Development is in the sense of repeated practice. Experiencing rapture: purity of virtue is in the sense of restraint over the in-breaths and out-breaths... and so on... For one who, experiencing rapture, understands the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of the in-breaths and out-breaths... and so on... understanding, one brings the faculties into balance. Therefore, it is said: 'and one penetrates tranquility.'
Về 'anupassati' (tùy quán), vị ấy tùy quán thọ ấy như thế nào? Vị ấy tùy quán theo phương diện vô thường... (vân vân)... Vị ấy tùy quán thọ ấy như vậy. Về 'bhāvanā' (sự tu tập), có bốn sự tu tập... (vân vân)... Với ý nghĩa là thực hành lặp đi lặp lại, được gọi là tu tập. Cảm nhận hỷ, với ý nghĩa là phòng hộ hơi thở vô và hơi thở ra, được gọi là giới thanh tịnh... (vân vân)... Cảm nhận hỷ, đối với người biết được sự nhất tâm, không phân tán của tâm thông qua hơi thở vô và hơi thở ra... (vân vân)... người biết (như vậy) hợp nhất các căn. Do đó, được nói là: 'Vị ấy thông suốt cả chỉ và quán'.
173. Kathaṃ ‘‘sukhapaṭisaṃvedī assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘sukhapaṭisaṃvedī passasissāmī’’ti sikkhati? Sukhanti dve sukhāni – kāyikañca sukhaṃ, cetasikañca sukhaṃ. Katamaṃ kāyikaṃ sukhaṃ? Yaṃ kāyikaṃ sātaṃ kāyikaṃ sukhaṃ, kāyasamphassajaṃ sātaṃ sukhaṃ vedayitaṃ, kāyasamphassajā sātā sukhā vedanā – idaṃ kāyikaṃ sukhaṃ. Katamaṃ cetasikaṃ sukhaṃ? Yaṃ cetasikaṃ sātaṃ cetasikaṃ sukhaṃ, cetosamphassajaṃ sātaṃ sukhaṃ vedayitaṃ, cetosamphassajā sātā sukhā vedanā – idaṃ cetasikaṃ sukhaṃ.
173. How does one train, 'Experiencing pleasure, I shall breathe out,' and train, 'Experiencing pleasure, I shall breathe in'? Regarding 'pleasure': there are two kinds of pleasure—bodily pleasure and mental pleasure. What is bodily pleasure? Whatever is bodily agreeableness, bodily pleasure; the agreeable, pleasant feeling born of bodily contact; the agreeable, pleasant sensation born of bodily contact—this is bodily pleasure. What is mental pleasure? Whatever is mental agreeableness, mental pleasure; the agreeable, pleasant feeling born of mental contact; the agreeable, pleasant sensation born of mental contact—this is mental pleasure.
173. Vị ấy học tập 'tôi sẽ thở vô, cảm nhận lạc' như thế nào? Vị ấy học tập 'tôi sẽ thở ra, cảm nhận lạc' như thế nào? Về 'lạc', có hai loại lạc: thân lạc và tâm lạc. Thân lạc là gì? Bất cứ điều gì là sự dễ chịu thuộc thân, lạc thuộc thân, sự cảm nhận lạc dễ chịu sanh từ thân xúc, thọ lạc dễ chịu sanh từ thân xúc – đây là thân lạc. Tâm lạc là gì? Bất cứ điều gì là sự dễ chịu thuộc tâm, lạc thuộc tâm, sự cảm nhận lạc dễ chịu sanh từ tâm xúc, thọ lạc dễ chịu sanh từ tâm xúc – đây là tâm lạc.
Kathaṃ te sukhā paṭividitā honti? Dīghaṃ assāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti. Tāya satiyā tena ñāṇena te sukhā paṭividitā honti. Dīghaṃ passāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti. Tāya satiyā tena ñāṇena te sukhā paṭividitā honti…pe… sacchikātabbaṃ sacchikaroto te sukhā paṭividitā honti. Evaṃ te sukhā paṭividitā honti. Sukhapaṭisaṃvedī assāsapassāsavasena vedanā upaṭṭhānaṃ sati anupassanā ñāṇaṃ. Vedanā upaṭṭhānaṃ, no sati; sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena taṃ vedanaṃ anupassati. Tena vuccati – ‘‘vedanāsu vedanānupassanāsatipaṭṭhānabhāvanā’’ti.
How are those pleasures penetrated? For one who understands the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of a long out-breath, mindfulness is established. By that mindfulness and by that knowledge, those pleasures are penetrated. For one who understands the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of a long in-breath, mindfulness is established. By that mindfulness and by that knowledge, those pleasures are penetrated... and so on... For one who is realizing that which is to be realized, those pleasures are penetrated. In this way, those pleasures are penetrated. Experiencing pleasure by means of the in-breaths and out-breaths: [this is] feeling. Establishment is mindfulness; contemplation is knowledge. Feeling is establishment, but not mindfulness. Mindfulness is both establishment and mindfulness. With that mindfulness, with that knowledge, one contemplates that feeling. Therefore, it is said: 'the development of the establishment of mindfulness by contemplating feelings in feelings.'
Làm thế nào các lạc thọ ấy được thông suốt? Đối với vị đang biết được trạng thái nhất tâm, không phân tán của tâm do năng lực của hơi thở ra dài, niệm được an trú. Do niệm ấy, do trí ấy, các lạc thọ ấy được thông suốt. Đối với vị đang biết được trạng thái nhất tâm, không phân tán của tâm do năng lực của hơi thở vào dài, niệm được an trú. Do niệm ấy, do trí ấy, các lạc thọ ấy được thông suốt... (vân vân)... Đối với vị đang thực chứng điều cần được thực chứng, các lạc thọ ấy được thông suốt. Như vậy, các lạc thọ ấy được thông suốt. Vị cảm nhận lạc thọ, do năng lực của hơi thở ra vào, thọ là sự an trú, niệm là sự tùy quán, trí là tuệ. Thọ là sự an trú, không phải là niệm; niệm vừa là sự an trú, vừa là niệm. Do niệm ấy, do trí ấy, vị ấy tùy quán thọ ấy. Do đó, được gọi là: ‘sự tu tập niệm xứ tùy quán thọ trong các thọ’.
Anupassatīti kathaṃ taṃ vedanaṃ anupassati. Aniccato anupassati…pe… evaṃ taṃ vedanaṃ anupassati. Bhāvanāti catasso bhāvanā…pe… āsevanaṭṭhena bhāvanā. Sukhapaṭisaṃvedī assāsapassāsānaṃ saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi…pe… sukhapaṭisaṃvedī assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato…pe… pajānanto indriyāni samodhāneti. Tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
Regarding 'contemplates,' how does one contemplate that feeling? One contemplates it as impermanent... Thus, one contemplates that feeling. Regarding 'development,' there are four developments... Development is in the sense of repeated practice. For one experiencing bliss, purity of virtue is in the sense of restraint regarding the in-breaths and out-breaths... For one who, experiencing bliss, understands the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of the in-breaths and out-breaths... understanding, one unifies the faculties. Therefore, it is said: 'and one penetrates what is effective.'
Về từ ‘tùy quán’, vị ấy tùy quán thọ ấy như thế nào? Vị ấy tùy quán là vô thường... (vân vân)... như vậy vị ấy tùy quán thọ ấy. Về từ ‘tu tập’, có bốn sự tu tập... (vân vân)... sự tu tập có ý nghĩa là thực hành lặp đi lặp lại. Vị cảm nhận lạc thọ, do ý nghĩa thu thúc đối với các hơi thở ra vào, là giới thanh tịnh... (vân vân)... Vị cảm nhận lạc thọ, do năng lực của hơi thở ra vào, đối với vị đang biết được trạng thái nhất tâm, không phân tán của tâm... (vân vân)... vị đang biết đã làm cho các quyền được hòa hợp. Do đó, được gọi là: ‘và đã thông suốt được điều có thể thành tựu’.
174. Kathaṃ ‘‘cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī passasissāmī’’ti sikkhati? Katamo cittasaṅkhāro? Dīghaṃ assāsavasena saññā ca vedanā ca cetasikā – ete dhammā cittapaṭibaddhā cittasaṅkhārā. Dīghaṃ passāsavasena saññā ca vedanā ca cetasikā – ete dhammā cittapaṭibaddhā cittasaṅkhārā…pe… sukhapaṭisaṃvedī assāsavasena… sukhapaṭisaṃvedī passāsavasena saññā ca vedanā ca cetasikā – ete dhammā cittapaṭibaddhā cittasaṅkhārā – ayaṃ cittasaṅkhāro.
174. How does one train, 'Experiencing the mental formation, I will breathe out,' and how does one train, 'Experiencing the mental formation, I will breathe in'? What is the mental formation? By means of a long out-breath, perception and feeling are mental factors—these phenomena, being connected with the mind, are mental formations. By means of a long in-breath, perception and feeling are mental factors—these phenomena, being connected with the mind, are mental formations... For one experiencing bliss by means of an out-breath... for one experiencing bliss by means of an in-breath, perception and feeling are mental factors—these phenomena, being connected with the mind, are mental formations. This is the mental formation.
174. Vị ấy học tập: ‘Tôi sẽ thở ra, cảm nhận tâm hành’ như thế nào? Vị ấy học tập: ‘Tôi sẽ thở vào, cảm nhận tâm hành’ như thế nào? Tâm hành là gì? Do năng lực của hơi thở ra dài, tưởng và thọ là các tâm sở – những pháp này liên hệ đến tâm là các tâm hành. Do năng lực của hơi thở vào dài, tưởng và thọ là các tâm sở – những pháp này liên hệ đến tâm là các tâm hành... (vân vân)... Vị cảm nhận lạc thọ do năng lực của hơi thở ra... vị cảm nhận lạc thọ do năng lực của hơi thở vào, tưởng và thọ là các tâm sở – những pháp này liên hệ đến tâm là các tâm hành – đây là tâm hành.
Kathaṃ te cittasaṅkhārā paṭividitā honti? Dīghaṃ assāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti. Tāya satiyā tena ñāṇena te cittasaṅkhārā paṭividitā honti. Dīghaṃ passāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti. Tāya satiyā tena ñāṇena te cittasaṅkhārā paṭividitā honti…pe… sacchikātabbaṃ sacchikaroto te cittasaṅkhārā paṭividitā honti. Evaṃ te cittasaṅkhārā paṭividitā honti. Cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī assāsapassāsavasena vedanā upaṭṭhānaṃ sati anupassanā ñāṇaṃ vedanā upaṭṭhānaṃ, no sati; sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā te ñāṇena taṃ vedanaṃ anupassati. Tena vuccati – ‘‘vedanāsu vedanānupassanāsatipaṭṭhānabhāvanā’’ti.
How are those mental formations discerned? By means of the long out-breath, for one who discerns the mind’s one-pointedness and non-distraction, mindfulness is established. With that mindfulness and that knowledge, those mental formations are discerned. By means of the long in-breath, for one who discerns the mind’s one-pointedness and non-distraction, mindfulness is established. With that mindfulness and that knowledge, those mental formations are discerned… and so on… For one who is realizing what is to be realized, those mental formations are discerned. Thus are those mental formations discerned. For one experiencing the mental formations by means of out-breaths and in-breaths: [this is called] feeling; establishment is mindfulness; contemplation is knowledge. Feeling is establishment, not mindfulness; mindfulness is both establishment and mindfulness. With that mindfulness and that knowledge, one contemplates that feeling. Therefore, it is said: “the development of the establishment of mindfulness of contemplation of feelings in feelings.”
Làm thế nào các tâm hành ấy được thông suốt? Đối với vị đang biết được trạng thái nhất tâm, không phân tán của tâm do năng lực của hơi thở ra dài, niệm được an trú. Do niệm ấy, do trí ấy, các tâm hành ấy được thông suốt. Đối với vị đang biết được trạng thái nhất tâm, không phân tán của tâm do năng lực của hơi thở vào dài, niệm được an trú. Do niệm ấy, do trí ấy, các tâm hành ấy được thông suốt... (vân vân)... Đối với vị đang thực chứng điều cần được thực chứng, các tâm hành ấy được thông suốt. Như vậy, các tâm hành ấy được thông suốt. Vị cảm nhận tâm hành, do năng lực của hơi thở ra vào, thọ là sự an trú, niệm là sự tùy quán, trí là tuệ. Thọ là sự an trú, không phải là niệm; niệm vừa là sự an trú, vừa là niệm. Do niệm ấy, do trí ấy, vị ấy tùy quán thọ ấy. Do đó, được gọi là: ‘sự tu tập niệm xứ tùy quán thọ trong các thọ’.
Anupassatīti kathaṃ taṃ vedanaṃ anupassati? Aniccato anupassati…pe… evaṃ taṃ vedanaṃ anupassati. Bhāvanāti catasso bhāvanā…pe… āsevanaṭṭhena bhāvanā. Cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī assāsapassāsānaṃ saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi…pe… cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato…pe… pajānanto indriyāni samodhāneti. Tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
Regarding 'contemplates,' how does one contemplate that feeling? One contemplates it as impermanent… and so on… thus one contemplates that feeling. Regarding 'development,' there are four kinds of development… and so on… development in the sense of cultivation. For one experiencing the mental formations, purification of virtue is in the sense of restraint of the out-breaths and in-breaths… and so on… For one experiencing the mental formations by means of out-breaths and in-breaths, for one who discerns the mind’s one-pointedness and non-distraction… and so on… Discerning, one harmonizes the faculties. Therefore, it is said: “and he penetrates serenity.”
Về từ ‘tùy quán’, vị ấy tùy quán thọ ấy như thế nào? Vị ấy tùy quán là vô thường... (vân vân)... như vậy vị ấy tùy quán thọ ấy. Về từ ‘tu tập’, có bốn sự tu tập... (vân vân)... sự tu tập có ý nghĩa là thực hành lặp đi lặp lại. Vị cảm nhận tâm hành, do ý nghĩa thu thúc đối với các hơi thở ra vào, là giới thanh tịnh... (vân vân)... Vị cảm nhận tâm hành, do năng lực của hơi thở ra vào, đối với vị đang biết được trạng thái nhất tâm, không phân tán của tâm... (vân vân)... vị đang biết đã làm cho các quyền được hòa hợp. Do đó, được gọi là: ‘và đã thông suốt được điều có thể thành tựu’.
175. Kathaṃ ‘‘passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ passasissāmī’’ti sikkhati? Katamo cittasaṅkhāro? Dīghaṃ assāsavasena saññā ca vedanā ca cetasikā – ete dhammā cittapaṭibaddhā cittasaṅkhārā. Te cittasaṅkhāre passambhento nirodhento vūpasamento sikkhati. Dīghaṃ passāsavasena saññā ca vedanā ca cetasikā – ete dhammā cittapaṭibaddhā cittasaṅkhārā. Te cittasaṅkhāre passambhento nirodhento vūpasamento sikkhati. Cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī assāsavasena… cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī passāsavasena saññā ca vedanā ca cetasikā – ete dhammā cittapaṭibaddhā cittasaṅkhārā. Te cittasaṅkhāre passambhento nirodhento vūpasamento sikkhati. Passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ assāsapassāsavasena vedanā upaṭṭhānaṃ sati anupassanā ñāṇaṃ. Vedanā upaṭṭhānaṃ, no sati; sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena taṃ vedanaṃ anupassati. Tena vuccati – ‘‘vedanāsu vedanānupassanāsatipaṭṭhānabhāvanā’’ti.
175. How does one train thus: “I will breathe in, calming the mental formation,” and “I will breathe out, calming the mental formation”? What is the mental formation? Perception and feeling, which are mental factors, associated with long in-breaths—these phenomena are bound up with the mind; they are mental formations. One trains by calming, ceasing, and stilling those mental formations. Perception and feeling, which are mental factors, associated with long out-breaths—these phenomena are bound up with the mind; they are mental formations. One trains by calming, ceasing, and stilling those mental formations. Experiencing the mental formation by means of in-breathing… experiencing the mental formation by means of out-breathing, perception and feeling, which are mental factors—these phenomena are bound up with the mind; they are mental formations. One trains by calming, ceasing, and stilling those mental formations. Calming the mental formation by means of in-breaths and out-breaths: feeling is the establishment, mindfulness is the contemplation, and this is knowledge. Feeling is the establishment, not mindfulness; mindfulness is both the establishment and mindfulness. With that mindfulness and with that knowledge, one contemplates that feeling. Therefore, it is said: “the development of the establishment of mindfulness through the contemplation of feelings in feelings.”
175. Vị ấy học tập: ‘Tôi sẽ thở ra, làm cho an tịnh tâm hành’ như thế nào? Vị ấy học tập: ‘Tôi sẽ thở vào, làm cho an tịnh tâm hành’ như thế nào? Tâm hành là gì? Do năng lực của hơi thở ra dài, tưởng và thọ là các tâm sở – những pháp này liên hệ đến tâm là các tâm hành. Vị ấy học tập trong khi làm cho an tịnh, làm cho đoạn diệt, làm cho lắng dịu các tâm hành ấy. Do năng lực của hơi thở vào dài, tưởng và thọ là các tâm sở – những pháp này liên hệ đến tâm là các tâm hành. Vị ấy học tập trong khi làm cho an tịnh, làm cho đoạn diệt, làm cho lắng dịu các tâm hành ấy. Vị cảm nhận tâm hành do năng lực của hơi thở ra... vị cảm nhận tâm hành do năng lực của hơi thở vào, tưởng và thọ là các tâm sở – những pháp này liên hệ đến tâm là các tâm hành. Vị ấy học tập trong khi làm cho an tịnh, làm cho đoạn diệt, làm cho lắng dịu các tâm hành ấy. Trong khi làm cho an tịnh tâm hành, do năng lực của hơi thở ra vào, thọ là sự an trú, niệm là sự tùy quán, trí là tuệ. Thọ là sự an trú, không phải là niệm; niệm vừa là sự an trú, vừa là niệm. Do niệm ấy, do trí ấy, vị ấy tùy quán thọ ấy. Do đó, được gọi là: ‘sự tu tập niệm xứ tùy quán thọ trong các thọ’.
Anupassatīti kathaṃ taṃ vedanaṃ anupassati…pe… evaṃ taṃ vedanaṃ anupassati. Bhāvanāti catasso bhāvanā…pe… āsevanaṭṭhena bhāvanā. Passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ assāsapassāsānaṃ saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi…pe… passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato…pe… pajānanto indriyāni samodhāneti. Tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
Regarding ‘contemplates’: How does one contemplate that feeling?… thus one contemplates that feeling. Regarding ‘development’: there are four kinds of development… development in the sense of cultivation. Calming the mental formation: purification of virtue in the sense of restraint of the in-breaths and out-breaths… Calming the mental formation: for one who discerns the mind’s one-pointedness and non-distraction by means of in-breaths and out-breaths… Discerning, one harmonizes the faculties. Therefore, it is said: “and he penetrates serenity.”
Về từ ‘tùy quán’, vị ấy tùy quán thọ ấy như thế nào?... (vân vân)... như vậy vị ấy tùy quán thọ ấy. Về từ ‘tu tập’, có bốn sự tu tập... (vân vân)... sự tu tập có ý nghĩa là thực hành lặp đi lặp lại. Trong khi làm cho an tịnh tâm hành, do ý nghĩa thu thúc đối với các hơi thở ra vào, là giới thanh tịnh... (vân vân)... trong khi làm cho an tịnh tâm hành, do năng lực của hơi thở ra vào, đối với vị đang biết được trạng thái nhất tâm, không phân tán của tâm... (vân vân)... vị đang biết đã làm cho các quyền được hòa hợp. Do đó, được gọi là: ‘và đã thông suốt được điều có thể thành tựu’.
Aṭṭha anupassanāñāṇāni aṭṭha ca upaṭṭhānānussatiyo cattāri suttantikavatthūni vedanāsu vedanānupassanāya.
For the contemplation of feelings in feelings, there are eight knowledges of contemplation, eight recollections of mindfulness establishments, and four Suttanta topics.
Tám tuệ tùy quán, tám niệm an trú, bốn đề tài thuộc Kinh Tạng ở trong phần tùy quán thọ trong các thọ.
Tatiyacatukkaniddeso
The Exposition of the Third Tetrad
Phần giải thích về nhóm bốn thứ ba.
176. Kathaṃ ‘‘cittapaṭisaṃvedī assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘cittapaṭisaṃvedī passasissāmī’’ti sikkhati? Katamaṃ taṃ cittaṃ? Dīghaṃ assāsavasena viññāṇaṃ cittaṃ. Yaṃ cittaṃ mano mānasaṃ hadayaṃ paṇḍaraṃ mano manāyatanaṃ manindriyaṃ viññāṇaṃ viññāṇakkhandho tajjā manoviññāṇadhātu. Dīghaṃ passāsavasena …pe… passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ assāsavasena… passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ passāsavasena viññāṇaṃ cittaṃ. Yaṃ cittaṃ mano mānasaṃ hadayaṃ paṇḍaraṃ mano mānayatanaṃ manindriyaṃ viññāṇaṃ viññāṇakkhandho tajjā manoviññāṇadhātu – idaṃ cittaṃ.
176. How does one train thus: ‘Experiencing the mind, I will breathe in’? How does one train thus: ‘Experiencing the mind, I will breathe out’? What is that mind? Consciousness by means of a long in-breath is the mind. That which is mind, mentation, intellect, heart, the pure one, mind, the mind-base, the mind-faculty, consciousness, the consciousness aggregate, and the corresponding mind-consciousness element. By means of a long out-breath… calming the mental formation by means of the in-breath… calming the mental formation by means of the out-breath, consciousness is the mind. That which is mind, mentation, intellect, heart, the pure one, mind, the mind-base, the mind-faculty, consciousness, the consciousness aggregate, and the corresponding mind-consciousness element—this is the mind.
176. Vị ấy thực hành như thế nào: ‘Tôi sẽ thở ra, cảm nhận về tâm’? Vị ấy thực hành như thế nào: ‘Tôi sẽ hít vào, cảm nhận về tâm’? Tâm ấy là gì? Do năng lực của hơi thở ra dài, thức là tâm. Bất cứ cái gì là tâm (citta), là ý (mano), là tâm ý (mānasa), là trái tim (hadaya), là trong trắng (paṇḍara), là ý, là ý xứ (manāyatana), là ý quyền (manindriya), là thức (viññāṇa), là thức uẩn (viññāṇakkhandha), là ý thức giới (manoviññāṇadhātu) tương ứng với điều ấy. Do năng lực của hơi thở vào dài ... (v.v.) ... làm an tịnh tâm hành, do năng lực của hơi thở ra ... làm an tịnh tâm hành, do năng lực của hơi thở vào, thức là tâm. Bất cứ cái gì là tâm (citta), là ý (mano), là tâm ý (mānasa), là trái tim (hadaya), là trong trắng (paṇḍara), là ý, là ý xứ (manāyatana), là ý quyền (manindriya), là thức (viññāṇa), là thức uẩn (viññāṇakkhandha), là ý thức giới (manoviññāṇadhātu) tương ứng với điều ấy – đây là tâm.
Kathaṃ taṃ cittaṃ paṭividitaṃ hoti? Dīghaṃ assāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti. Tāya satiyā tena ñāṇena taṃ cittaṃ paṭividitaṃ hoti. Dīghaṃ passāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti. Tāya satiyā tena ñāṇena taṃ cittaṃ paṭividitaṃ hoti…pe… sacchikātabbaṃ sacchikaroto taṃ cittaṃ paṭividitaṃ hoti. Evaṃ taṃ cittaṃ paṭividitaṃ hoti. Cittapaṭisaṃvedī assāsapassāsavasena viññāṇaṃ cittaṃ upaṭṭhānaṃ sati anupassanā ñāṇaṃ. Cittaṃ upaṭṭhānaṃ, no sati; sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena taṃ cittaṃ anupassati. Tena vuccati – ‘‘citte cittānupassanāsatipaṭṭhānabhāvanā’’ti.
How is that mind discerned? For one discerning the mind’s one-pointedness and non-distraction by means of a long in-breath, mindfulness is established. By that mindfulness and that knowledge, that mind is discerned. For one discerning the mind’s one-pointedness and non-distraction by means of a long out-breath, mindfulness is established. By that mindfulness and that knowledge, that mind is discerned… For one realizing what is to be realized, that mind is discerned. Thus is that mind discerned. Experiencing the mind by means of in-breaths and out-breaths: consciousness—the mind—is the foundation; mindfulness is the contemplation; knowledge. The mind is the foundation, not mindfulness; mindfulness is both the foundation and mindfulness. With that mindfulness and that knowledge, one contemplates that mind. Therefore, it is said: ‘the development of the establishment of mindfulness which is the contemplation of mind in the mind’.
Tâm ấy được biết đến như thế nào? Do năng lực của hơi thở ra dài, đối với vị đang biết rõ sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm, niệm được an trú. Do niệm ấy, do trí tuệ ấy, tâm ấy được biết đến. Do năng lực của hơi thở vào dài, đối với vị đang biết rõ sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm, niệm được an trú. Do niệm ấy, do trí tuệ ấy, tâm ấy được biết đến ... (v.v.) ... đối với vị đang chứng ngộ điều cần được chứng ngộ, tâm ấy được biết đến. Như vậy, tâm ấy được biết đến. Cảm nhận về tâm, do năng lực của hơi thở ra và hơi thở vào, thức là tâm, là đối tượng hiện diện (upaṭṭhāna); niệm là sự tùy quán, trí tuệ là sự hiểu biết. Tâm là đối tượng hiện diện, không phải là niệm; niệm vừa là đối tượng hiện diện, vừa là niệm. Vị ấy tùy quán tâm ấy bằng niệm ấy, bằng trí tuệ ấy. Do đó, được gọi là: ‘sự phát triển niệm xứ về tùy quán tâm trên tâm’.
Anupassatīti kathaṃ taṃ cittaṃ anupassati…pe… evaṃ taṃ cittaṃ anupassati. Bhāvanāti catasso bhāvanā…pe… āsevanaṭṭhena bhāvanā. Cittapaṭisaṃvedī assāsapassāsānaṃ saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi…pe… cittapaṭisaṃvedī assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato…pe… pajānanto indriyāni samodhāneti. Tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
How does one contemplate that mind?… thus one contemplates that mind. Regarding 'development', there are four developments… development in the sense of cultivation. Being one who experiences the mind, by the restraint of the in-breaths and out-breaths, there is purification of virtue… being one who experiences the mind by means of in-breaths and out-breaths, for one who discerns the mind’s one-pointedness and non-distraction… discerning, one harmonizes the faculties. Therefore, it is said: “and he penetrates calm.”
Về ‘tùy quán’ (anupassati), vị ấy tùy quán tâm ấy như thế nào? ... (v.v.) ... vị ấy tùy quán tâm ấy như vậy. Về ‘phát triển’ (bhāvanā), có bốn sự phát triển ... (v.v.) ... phát triển có nghĩa là thực hành lặp đi lặp lại. Cảm nhận về tâm, với ý nghĩa là sự thu thúc đối với các hơi thở ra và hơi thở vào, là giới thanh tịnh ... (v.v.) ... cảm nhận về tâm, do năng lực của hơi thở ra và hơi thở vào, đối với vị đang biết rõ sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm ... (v.v.) ... vị đang biết rõ ấy hợp nhất các quyền. Do đó, được gọi là: ‘vị ấy thông suốt cả chỉ lẫn quán’.
177. Kathaṃ ‘‘abhippamodayaṃ cittaṃ assasissāmī’’ti, ‘‘abhippamodayaṃ cittaṃ passasissāmī’’ti sikkhati? Katamo cittassa abhippamodo? Dīghaṃ assāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato uppajjati cittassa abhippamodo. Yā cittassa āmodanā pamodanā hāso pahāso vitti odagyaṃ attamanatā. Cittassa dīghaṃ assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato uppajjati cittassa abhippamodo. Yā cittassa āmodanā pamodanā hāso pahāso vitti odagyaṃ attamanatā cittassa…pe… cittapaṭisaṃvedī assāsavasena… cittapaṭisaṃvedī passāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato uppajjati cittassa abhippamodo. Yā cittassa āmodanā pamodanā hāso pahāso vitti odagyaṃ attamanatā cittassa – ayaṃ cittassa abhippamodo. Abhippamodayaṃ cittaṃ assāsapassāsavasena viññāṇaṃ cittaṃ upaṭṭhānaṃ sati anupassanā ñāṇaṃ. Cittaṃ upaṭṭhānaṃ, no sati; sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena taṃ cittaṃ anupassati. Tena vuccati – ‘‘citte cittānupassanāsatipaṭṭhānabhāvanā’’ti.
177. How does one train thus: “I will breathe in, greatly rejoicing in the mind,” and “I will breathe out, greatly rejoicing in the mind”? What is the great rejoicing of the mind? For one who, by means of a long in-breath, discerns the mind’s one-pointedness and non-distraction, the great rejoicing of the mind arises. That which is the mind’s rejoicing, delight, cheerfulness, mirth, joy, elation, and contentment. For one who, by means of a long in-breath and out-breath, discerns the mind’s one-pointedness and non-distraction, the great rejoicing of the mind arises. That which is the mind’s rejoicing, delight, cheerfulness, mirth, joy, elation, and contentment of the mind… being one who experiences the mind by means of in-breathing… being one who experiences the mind by means of out-breathing, for one who discerns the mind’s one-pointedness and non-distraction, the great rejoicing of the mind arises. That which is the mind’s rejoicing, delight, cheerfulness, mirth, joy, elation, and contentment of the mind—this is the great rejoicing of the mind. Greatly rejoicing in the mind by means of in-breaths and out-breaths: consciousness (the mind) is the establishment; mindfulness is the contemplation and knowledge. The mind is the establishment, not mindfulness; mindfulness is both the establishment and mindfulness. With that mindfulness and that knowledge, one contemplates that mind. Therefore, it is said: “the development of the establishment of mindfulness of the contemplation of the mind in the mind.”
177. Vị ấy thực hành như thế nào: ‘Tôi sẽ thở ra, làm cho tâm hân hoan’, ‘Tôi sẽ hít vào, làm cho tâm hân hoan’? Sự hân hoan của tâm là gì? Do năng lực của hơi thở ra dài, đối với vị đang biết rõ sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm, sự hân hoan của tâm khởi lên. Bất cứ sự vui thích (āmodanā), sự hân hoan (pamodanā), sự vui mừng (hāso), sự reo vui (pahāso), sự thỏa thích (vitti), sự phấn chấn (odagyaṃ), sự hài lòng (attamanatā) của tâm. Do năng lực của hơi thở ra và hơi thở vào dài của tâm, đối với vị đang biết rõ sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm, sự hân hoan của tâm khởi lên. Bất cứ sự vui thích (āmodanā), sự hân hoan (pamodanā), sự vui mừng (hāso), sự reo vui (pahāso), sự thỏa thích (vitti), sự phấn chấn (odagyaṃ), sự hài lòng (attamanatā) của tâm ... (v.v.) ... cảm nhận về tâm, do năng lực của hơi thở ra ... cảm nhận về tâm, do năng lực của hơi thở vào, đối với vị đang biết rõ sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm, sự hân hoan của tâm khởi lên. Bất cứ sự vui thích (āmodanā), sự hân hoan (pamodanā), sự vui mừng (hāso), sự reo vui (pahāso), sự thỏa thích (vitti), sự phấn chấn (odagyaṃ), sự hài lòng (attamanatā) của tâm – đây là sự hân hoan của tâm. Làm cho tâm hân hoan, do năng lực của hơi thở ra và hơi thở vào, thức là tâm, là đối tượng hiện diện; niệm là sự tùy quán, trí tuệ là sự hiểu biết. Tâm là đối tượng hiện diện, không phải là niệm; niệm vừa là đối tượng hiện diện, vừa là niệm. Vị ấy tùy quán tâm ấy bằng niệm ấy, bằng trí tuệ ấy. Do đó, được gọi là: ‘sự phát triển niệm xứ về tùy quán tâm trên tâm’.
Anupassatīti kathaṃ taṃ cittaṃ anupassati…pe… evaṃ taṃ cittaṃ anupassatīti. Bhāvanāti catasso bhāvanā…pe… āsevanaṭṭhena bhāvanā. Abhippamodayaṃ cittaṃ assāsapassāsānaṃ saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi…pe… abhippamodayaṃ cittaṃ assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato…pe… pajānanto indriyāni samodhāneti. Tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
Regarding 'contemplates': how does one contemplate that mind? … Thus one contemplates that mind. Regarding 'development': there are four kinds of development… Development in the sense of cultivation. While gladdening the mind, there is purification of virtue in the sense of restraining the in-breaths and out-breaths… To one who, while gladdening the mind, discerns the mind’s one-pointedness and non-distraction by means of the in-breaths and out-breaths… Discerning, one harmonizes the faculties. Therefore, it is said: 'He penetrates through serenity.'
Về ‘tùy quán’ (anupassati), vị ấy tùy quán tâm ấy như thế nào? ... (v.v.) ... vị ấy tùy quán tâm ấy như vậy. Về ‘phát triển’ (bhāvanā), có bốn sự phát triển ... (v.v.) ... phát triển có nghĩa là thực hành lặp đi lặp lại. Làm cho tâm hân hoan, với ý nghĩa là sự thu thúc đối với các hơi thở ra và hơi thở vào, là giới thanh tịnh ... (v.v.) ... làm cho tâm hân hoan, do năng lực của hơi thở ra và hơi thở vào, đối với vị đang biết rõ sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm ... (v.v.) ... vị đang biết rõ ấy hợp nhất các quyền. Do đó, được gọi là: ‘vị ấy thông suốt cả chỉ lẫn quán’.
178. Kathaṃ ‘‘samādahaṃ cittaṃ assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘samādahaṃ cittaṃ passasissāmī’’ti sikkhati? Katamo samādhi †? Dīghaṃ assāsavasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi, yā cittassa ṭhiti saṇṭhiti avaṭṭhiti † avisāhāro avikkhepo avisāhaṭamānasatā † samatho samādhindriyaṃ samādhibalaṃ sammāsamādhi. Dīghaṃ passāsavasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi…pe… samādahaṃ cittaṃ assāsavasena…pe… samādahaṃ cittaṃ passāsavasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi. Yā cittassa ṭhiti saṇṭhiti avaṭṭhiti avisāhāro avikkhepo avisāhaṭamānasatā samatho samādhindriyaṃ samādhibalaṃ sammāsamādhi – ayaṃ samādhi. Samādahaṃ cittaṃ assāsapassāsavasena viññāṇaṃ cittaṃ upaṭṭhānaṃ sati anupassanā ñāṇaṃ. Cittaṃ upaṭṭhānaṃ, no sati; sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena taṃ cittaṃ anupassati. Tena vuccati – ‘‘citte cittānupassanāsatipaṭṭhānabhāvanā’’ti.
178. How does one train thus: ‘Concentrating the mind, I will breathe out,’ and ‘Concentrating the mind, I will breathe in’? What is concentration? By means of the long out-breath, the one-pointedness and non-distraction of the mind is concentration—that which is the mind's stability, continuity, establishment, non-wavering, non-distraction, unscattered state of mind, serenity, the faculty of concentration, the power of concentration, and right concentration. By means of the long in-breath, the one-pointedness and non-distraction of the mind is concentration… and so on… Concentrating the mind by means of the out-breath… and so on… Concentrating the mind by means of the in-breath, the one-pointedness and non-distraction of the mind is concentration. That which is the mind's stability, continuity, establishment, non-wavering, non-distraction, unscattered state of mind, serenity, the faculty of concentration, the power of concentration, and right concentration—this is concentration. Concentrating the mind by means of the in-breaths and out-breaths: consciousness is mind, the basis of mindfulness is mindfulness, and contemplation is knowledge. The mind is the basis of mindfulness, but not mindfulness; mindfulness is both the basis of mindfulness and mindfulness itself. With that mindfulness, with that knowledge, one contemplates that mind. Therefore, it is said: 'the development of the establishment of mindfulness through the contemplation of mind in the mind.'
178. Vị ấy thực hành như thế nào: ‘Tôi sẽ thở ra, định tâm’, vị ấy thực hành như thế nào: ‘Tôi sẽ hít vào, định tâm’? Định (samādhi) là gì? Do năng lực của hơi thở ra dài, sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm là định; bất cứ sự đứng lại (ṭhiti), sự an trú (saṇṭhiti), sự vững trú (avaṭṭhiti), sự không lay động (avisāhāro), sự không phân tán (avikkhepo), trạng thái tâm không tán loạn (avisāhaṭamānasatā), sự tĩnh lặng (samatho), định quyền (samādhindriya), định lực (samādhibala), chánh định (sammāsamādhi) của tâm. Do năng lực của hơi thở vào dài, sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm là định ... (v.v.) ... định tâm, do năng lực của hơi thở ra ... (v.v.) ... định tâm, do năng lực của hơi thở vào, sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm là định. Bất cứ sự đứng lại (ṭhiti), sự an trú (saṇṭhiti), sự vững trú (avaṭṭhiti), sự không lay động (avisāhāro), sự không phân tán (avikkhepo), trạng thái tâm không tán loạn (avisāhaṭamānasatā), sự tĩnh lặng (samatho), định quyền (samādhindriya), định lực (samādhibala), chánh định (sammāsamādhi) của tâm – đây là định. Định tâm, do năng lực của hơi thở ra và hơi thở vào, thức là tâm, là đối tượng hiện diện; niệm là sự tùy quán, trí tuệ là sự hiểu biết. Tâm là đối tượng hiện diện, không phải là niệm; niệm vừa là đối tượng hiện diện, vừa là niệm. Vị ấy tùy quán tâm ấy bằng niệm ấy, bằng trí tuệ ấy. Do đó, được gọi là: ‘sự phát triển niệm xứ về tùy quán tâm trên tâm’.
Anupassatīti kathaṃ taṃ cittaṃ anupassati…pe… evaṃ taṃ cittaṃ anupassati. Bhāvanāti catasso bhāvanā…pe… āsevanaṭṭhena bhāvanā. Samādahaṃ cittaṃ assāsapassāsānaṃ saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi…pe… samādahaṃ cittaṃ assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato…pe… pajānanto indriyāni samodhāneti. Tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
How does one repeatedly contemplate that mind?… Thus one repeatedly contemplates that mind. Regarding 'development,' there are four developments… it is development in the sense of cultivating. While steadying the mind, purity of virtue is in the sense of restraint of the in-breaths and out-breaths… while steadying the mind, for one who knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of in-breaths and out-breaths… knowing, one brings the faculties into balance. Therefore it is said: “He both comprehends and penetrates.”
Về từ ‘anupassati’ (quán xét): Vị ấy quán xét tâm ấy như thế nào? … cho đến … Vị ấy quán xét tâm ấy như vậy. Về từ ‘bhāvanā’ (sự tu tập): Có bốn sự tu tập … cho đến … gọi là sự tu tập vì có ý nghĩa là thực hành lặp đi lặp lại. Trong khi định tâm, giới thanh tịnh (sīlavisuddhi) có ý nghĩa là sự phòng hộ đối với hơi thở vô, hơi thở ra … cho đến … trong khi định tâm, đối với vị đang biết rõ sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm do năng lực của hơi thở vô, hơi thở ra … cho đến … vị đang biết rõ thì hợp nhất các căn. Do đó, được nói rằng: “Và vị ấy thâm nhập được sự yên tịnh.”
179. Kathaṃ ‘‘vimocayaṃ cittaṃ assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘vimocayaṃ cittaṃ passasissāmī’’ti sikkhati? ‘‘Rāgato vimocayaṃ cittaṃ assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘rāgato vimocayaṃ cittaṃ passasissāmī’’ti sikkhati. ‘‘Dosato vimocayaṃ cittaṃ assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘dosato vimocayaṃ cittaṃ passasissāmī’’ti sikkhati. ‘‘Mohato vimocayaṃ cittaṃ assasissāmī’’ti sikkhati…pe… mānato vimocayaṃ cittaṃ… diṭṭhiyā vimocayaṃ cittaṃ… vicikicchāya vimocayaṃ cittaṃ… thinato vimocayaṃ cittaṃ… uddhaccato vimocayaṃ cittaṃ… ahirikato vimocayaṃ cittaṃ… ‘‘anottappato vimocayaṃ cittaṃ assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘anottappato vimocayaṃ cittaṃ passasissāmī’’ti sikkhati. Vimocayaṃ cittaṃ assāsapassāsavasena viññāṇaṃ cittaṃ upaṭṭhānaṃ sati…pe….
179. How does one train, ‘I will breathe out, liberating the mind,’ and train, ‘I will breathe in, liberating the mind’? One trains, ‘I will breathe out, liberating the mind from lust’; one trains, ‘I will breathe in, liberating the mind from lust.’ One trains, ‘I will breathe out, liberating the mind from hatred’; one trains, ‘I will breathe in, liberating the mind from hatred.’ One trains, ‘I will breathe out, liberating the mind from delusion’… liberating the mind from conceit… from views… from doubt… from sloth and torpor… from restlessness… from shamelessness… one trains, ‘I will breathe out, liberating the mind from lack of moral dread’; one trains, ‘I will breathe in, liberating the mind from lack of moral dread.’ Liberating the mind, by means of out-breaths and in-breaths, consciousness (which is mind) is the establishment; mindfulness is…
179. Vị ấy tu tập: ‘Tôi sẽ thở vô, trong khi giải thoát tâm’ như thế nào, tu tập: ‘Tôi sẽ thở ra, trong khi giải thoát tâm’ như thế nào? Vị ấy tu tập: ‘Tôi sẽ thở vô, trong khi giải thoát tâm khỏi tham ái,’ tu tập: ‘Tôi sẽ thở ra, trong khi giải thoát tâm khỏi tham ái.’ Vị ấy tu tập: ‘Tôi sẽ thở vô, trong khi giải thoát tâm khỏi sân hận,’ tu tập: ‘Tôi sẽ thở ra, trong khi giải thoát tâm khỏi sân hận.’ Vị ấy tu tập: ‘Tôi sẽ thở vô, trong khi giải thoát tâm khỏi si mê’ ... cho đến ... trong khi giải thoát tâm khỏi mạn ... trong khi giải thoát tâm khỏi tà kiến ... trong khi giải thoát tâm khỏi hoài nghi ... trong khi giải thoát tâm khỏi hôn trầm ... trong khi giải thoát tâm khỏi trạo cử ... trong khi giải thoát tâm khỏi vô tàm ... Vị ấy tu tập: ‘Tôi sẽ thở vô, trong khi giải thoát tâm khỏi vô úy,’ tu tập: ‘Tôi sẽ thở ra, trong khi giải thoát tâm khỏi vô úy.’ Trong khi giải thoát tâm, do năng lực của hơi thở vô, hơi thở ra, thức là tâm, là niệm xứ, niệm là ... cho đến ...
Anupassatīti kathaṃ taṃ cittaṃ anupassati…pe… evaṃ taṃ cittaṃ anupassati. Bhāvanāti catasso bhāvanā…pe… āsevanaṭṭhena bhāvanā. Vimocayaṃ cittaṃ assāsapassāsānaṃ saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi…pe… vimocayaṃ cittaṃ assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato …pe… pajānanto indriyāni samodhāneti. Tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
How does one repeatedly contemplate that mind?… Thus one repeatedly contemplates that mind. Regarding 'development,' there are four developments… it is development in the sense of cultivating. While liberating the mind, purity of virtue is in the sense of restraint of the in-breaths and out-breaths… while liberating the mind, for one who knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of in-breaths and out-breaths… knowing, one brings the faculties into balance. Therefore it is said: “He both comprehends and penetrates.”
Về từ ‘anupassati’ (quán xét): Vị ấy quán xét tâm ấy như thế nào? … cho đến … Vị ấy quán xét tâm ấy như vậy. Về từ ‘bhāvanā’ (sự tu tập): Có bốn sự tu tập … cho đến … gọi là sự tu tập vì có ý nghĩa là thực hành lặp đi lặp lại. Trong khi giải thoát tâm, giới thanh tịnh (sīlavisuddhi) có ý nghĩa là sự phòng hộ đối với hơi thở vô, hơi thở ra … cho đến … trong khi giải thoát tâm, đối với vị đang biết rõ sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm do năng lực của hơi thở vô, hơi thở ra … cho đến … vị đang biết rõ thì hợp nhất các căn. Do đó, được nói rằng: “Và vị ấy thâm nhập được sự yên tịnh.”
Aṭṭha anupassanāñāṇāni aṭṭha ca upaṭṭhānānussatiyo cattāri suttantikavatthūni citte cittānupassanāya.
In the contemplation of mind in mind, there are eight knowledges of contemplation, eight recollections of the establishment, and four Suttanta themes.
Trong pháp quán tâm trên tâm, có tám tuệ quán, tám niệm xứ và tùy niệm, và bốn đề mục thuộc kinh điển.
Catutthacatukkaniddeso
The exposition of the fourth tetrad.
Phần giải thích về nhóm bốn thứ tư
180. Kathaṃ ‘‘aniccānupassī assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘aniccānupassī passasissāmī’’ti sikkhati? Aniccanti kiṃ aniccaṃ? Pañcakkhandhā aniccā. Kenaṭṭhena aniccā? Uppādavayaṭṭhena aniccā. Pañcannaṃ khandhānaṃ udayaṃ passanto kati lakkhaṇāni passati, vayaṃ passanto kati lakkhaṇāni passati, udayabbayaṃ passanto kati lakkhaṇāni passati? Pañcannaṃ khandhānaṃ udayaṃ passanto pañcavīsati lakkhaṇāni passati, vayaṃ passanto pañcavīsati lakkhaṇāni passati. Pañcannaṃ khandhānaṃ udayabbayaṃ passanto imāni paññāsa lakkhaṇāni passati.
180. How does one train, thinking: ‘Contemplating impermanence, I will breathe in’? How does one train, thinking: ‘Contemplating impermanence, I will breathe out’? What is impermanent? The five aggregates are impermanent. In what sense are they impermanent? They are impermanent in the sense of arising and passing away. Seeing the arising of the five aggregates, how many characteristics does one see? Seeing the passing away, how many characteristics does one see? Seeing the arising and passing away, how many characteristics does one see? Seeing the arising of the five aggregates, one sees twenty-five characteristics. Seeing the passing away, one sees twenty-five characteristics. Seeing the arising and passing away of the five aggregates, one sees these fifty characteristics.
180. Vị ấy tu tập: ‘Tôi sẽ thở vô, trong khi quán vô thường’ như thế nào, tu tập: ‘Tôi sẽ thở ra, trong khi quán vô thường’ như thế nào? Về từ ‘vô thường’: Cái gì là vô thường? Năm uẩn là vô thường. Vô thường theo ý nghĩa nào? Vô thường theo ý nghĩa sanh và diệt. Trong khi thấy sự sanh của năm uẩn, vị ấy thấy bao nhiêu tướng? Trong khi thấy sự diệt, vị ấy thấy bao nhiêu tướng? Trong khi thấy sự sanh và diệt, vị ấy thấy bao nhiêu tướng? Trong khi thấy sự sanh của năm uẩn, vị ấy thấy hai mươi lăm tướng. Trong khi thấy sự diệt, vị ấy thấy hai mươi lăm tướng. Trong khi thấy sự sanh và diệt của năm uẩn, vị ấy thấy năm mươi tướng này.
‘‘Rūpe aniccānupassī assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘rūpe aniccānupassī passasissāmī’’ti sikkhati. ‘‘Vedanāya…pe… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe… cakkhusmiṃ…pe… jarāmaraṇe aniccānupassī assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘jarāmaraṇe aniccānupassī passasissāmī’’ti sikkhati. Aniccānupassī assāsapassāsavasena dhammā upaṭṭhānaṃ sati anupassanā ñāṇaṃ. Dhammā upaṭṭhānaṃ, no sati; sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena te dhamme anupassati. Tena vuccati – ‘‘dhammesu dhammānupassanāsatipaṭṭhānabhāvanā’’ti.
One trains, thinking: ‘Contemplating impermanence in form, I will breathe in.’ One trains, thinking: ‘Contemplating impermanence in form, I will breathe out.’ ‘In feeling… (etc.)… in perception… in formations… in consciousness… in the eye… (etc.)… in aging-and-death, contemplating impermanence, I will breathe in,’ thus one trains. ‘In aging-and-death, contemplating impermanence, I will breathe out,’ thus one trains. For one contemplating impermanence by means of the in-and-out breaths, phenomena are the establishment, and mindfulness is the knowledge of contemplation. Phenomena are the establishment, not mindfulness; mindfulness is both the establishment and mindfulness. With that mindfulness, with that knowledge, one contemplates those phenomena. Therefore, it is said: ‘The development of the establishment of mindfulness by contemplating phenomena in phenomena.’
Vị ấy tu tập: ‘Tôi sẽ thở vô, trong khi quán vô thường ở sắc,’ tu tập: ‘Tôi sẽ thở ra, trong khi quán vô thường ở sắc.’ ‘Ở thọ ... cho đến ... ở tưởng ... ở các hành ... ở thức ... ở mắt ... cho đến ... Vị ấy tu tập: ‘Tôi sẽ thở vô, trong khi quán vô thường ở già và chết,’ tu tập: ‘Tôi sẽ thở ra, trong khi quán vô thường ở già và chết.’ Trong khi quán vô thường, do năng lực của hơi thở vô, hơi thở ra, các pháp là niệm xứ, niệm là tuệ quán. Các pháp là niệm xứ, không phải là niệm; niệm vừa là niệm xứ, vừa là niệm. Với niệm ấy, với tuệ ấy, vị ấy quán xét các pháp ấy. Do đó, được nói rằng: “Sự tu tập niệm xứ quán pháp trên các pháp.”
Anupassatīti kathaṃ te dhamme anupassati…pe… evaṃ te dhamme anupassati. Bhāvanāti catasso bhāvanā…pe… āsevanaṭṭhena bhāvanā. Aniccānupassī assāsapassāsānaṃ saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi…pe… aniccānupassī assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato…pe… pajānanto indriyāni samodhāneti. Tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
Regarding ‘contemplates’: how does one contemplate those phenomena? … (etc.) … Thus one contemplates those phenomena. Regarding ‘development’: there are four developments … (etc.) … it is development in the sense of cultivation. For one contemplating impermanence, purity of virtue is in the sense of restraint of the in-and-out breaths … (etc.) … For one contemplating impermanence and knowing the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of the in-and-out breaths … (etc.) … so knowing, one harmonizes the faculties. Therefore it is said: ‘And one penetrates the goal.’
Về từ ‘anupassati’ (quán xét): Vị ấy quán xét các pháp ấy như thế nào? … cho đến … Vị ấy quán xét các pháp ấy như vậy. Về từ ‘bhāvanā’ (sự tu tập): Có bốn sự tu tập … cho đến … gọi là sự tu tập vì có ý nghĩa là thực hành lặp đi lặp lại. Trong khi quán vô thường, giới thanh tịnh (sīlavisuddhi) có ý nghĩa là sự phòng hộ đối với hơi thở vô, hơi thở ra … cho đến … trong khi quán vô thường, đối với vị đang biết rõ sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm do năng lực của hơi thở vô, hơi thở ra … cho đến … vị đang biết rõ thì hợp nhất các căn. Do đó, được nói rằng: “Và vị ấy thâm nhập được sự yên tịnh.”
Kathaṃ ‘‘virāgānupassī assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘virāgānupassī passasissāmī’’ti sikkhati? Rūpe ādīnavaṃ disvā rūpavirāge chandajāto hoti saddhādhimutto, cittañcassa svādhiṭṭhitaṃ. ‘‘Rūpe virāgānupassī assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘rūpe virāgānupassī passasissāmī’’ti sikkhati. Vedanāya…pe… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe… cakkhusmiṃ…pe… jarāmaraṇe ādīnavaṃ disvā jarāmaraṇavirāge chandajāto hoti saddhādhimutto, cittañcassa svādhiṭṭhitaṃ. ‘‘Jarāmaraṇe virāgānupassī assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘jarāmaraṇe virāgānupassī passasissāmī’’ti sikkhati. Virāgānupassī assāsapassāsavasena dhammā upaṭṭhānaṃ sati anupassanā ñāṇaṃ. Dhammā upaṭṭhānaṃ, no sati; sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena te dhamme anupassati. Tena vuccati – ‘‘dhammesu dhammānupassanāsatipaṭṭhānabhāvanā’’ti.
How does one train thus: ‘I shall breathe out contemplating fading away’; how does one train thus: ‘I shall breathe in contemplating fading away’? Having seen the danger in form, desire arises for the fading away of form, one is resolved by faith, and one's mind becomes well-established. One trains thus: ‘I shall breathe out contemplating fading away in form’; one trains thus: ‘I shall breathe in contemplating fading away in form.’ In feeling… (abbreviated) …in perception… in formations… in consciousness… in the eye… (abbreviated) …having seen the danger in aging and death, desire arises for the fading away of aging and death, one is resolved by faith, and one's mind becomes well-established. One trains thus: ‘I shall breathe out contemplating fading away in aging and death’; one trains thus: ‘I shall breathe in contemplating fading away in aging and death.’ Contemplating fading away, by means of the in-breath and out-breath, the phenomena are the establishment, mindfulness is mindfulness, and contemplation is knowledge. Phenomena are the establishment, not mindfulness; mindfulness is both the establishment and mindfulness itself. With that mindfulness and that knowledge, one contemplates those phenomena. Therefore, it is said: ‘the development of the establishment of mindfulness through contemplation of phenomena in phenomena.’
Vị ấy tu tập: ‘Tôi sẽ thở vô, trong khi quán sự ly tham’ như thế nào, tu tập: ‘Tôi sẽ thở ra, trong khi quán sự ly tham’ như thế nào? Sau khi thấy sự nguy hại trong sắc, vị ấy có dục sanh khởi, có lòng tin vững chắc đối với sự ly tham ở sắc, và tâm của vị ấy được khéo an trú. Vị ấy tu tập: ‘Tôi sẽ thở vô, trong khi quán sự ly tham ở sắc,’ tu tập: ‘Tôi sẽ thở ra, trong khi quán sự ly tham ở sắc.’ Ở thọ ... cho đến ... ở tưởng ... ở các hành ... ở thức ... ở mắt ... cho đến ... Sau khi thấy sự nguy hại trong già và chết, vị ấy có dục sanh khởi, có lòng tin vững chắc đối với sự ly tham ở già và chết, và tâm của vị ấy được khéo an trú. Vị ấy tu tập: ‘Tôi sẽ thở vô, trong khi quán sự ly tham ở già và chết,’ tu tập: ‘Tôi sẽ thở ra, trong khi quán sự ly tham ở già và chết.’ Trong khi quán sự ly tham, do năng lực của hơi thở vô, hơi thở ra, các pháp là niệm xứ, niệm là tuệ quán. Các pháp là niệm xứ, không phải là niệm; niệm vừa là niệm xứ, vừa là niệm. Với niệm ấy, với tuệ ấy, vị ấy quán xét các pháp ấy. Do đó, được nói rằng: “Sự tu tập niệm xứ quán pháp trên các pháp.”
Anupassatīti kathaṃ te dhamme anupassati…pe… evaṃ te dhamme anupassati. Bhāvanāti catasso bhāvanā…pe… āsevanaṭṭhena bhāvanā. Virāgānupassī assāsapassāsānaṃ saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi…pe… virāgānupassī assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato…pe… pajānanto indriyāni samodhāneti. Tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
Regarding ‘contemplates’: how does one contemplate those phenomena?… (abbreviated) …Thus, one contemplates those phenomena. Regarding ‘development’: there are four developments… (abbreviated) …development in the sense of cultivation. Contemplating fading away, the purity of virtue is in the sense of restraint of the in-breaths and out-breaths… (abbreviated) …Contemplating fading away, for one who knows the one-pointedness and non-distraction of the mind by means of the in-breath and out-breath… (abbreviated) …Knowing, one harmonizes the faculties. Therefore, it is said: ‘and one penetrates tranquility.’
Về câu ‘Vị ấy tùy quán’, làm thế nào vị ấy tùy quán các pháp ấy? … cho đến … Như vậy, vị ấy tùy quán các pháp ấy. Về câu ‘Sự tu tập’, có bốn sự tu tập … cho đến … Sự tu tập có ý nghĩa là thực hành thường xuyên. Vị tùy quán sự ly tham, do ý nghĩa phòng hộ đối với hơi thở vô, hơi thở ra nên được gọi là giới thanh tịnh … cho đến … đối với người biết được sự nhất tâm, sự không phân tán của tâm do năng lực của hơi thở vô, hơi thở ra trong khi đang tùy quán sự ly tham … cho đến … người đang biết rõ đã làm cho các căn được hòa hợp. Do đó, được nói rằng: ‘Và đã thông suốt được sự thành tựu’.
Kathaṃ ‘‘nirodhānupassī assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘nirodhānupassī passasissāmī’’ti sikkhati? Rūpe ādīnavaṃ disvā rūpanirodhe chandajāto hoti saddhādhimutto, cittañcassa svādhiṭṭhitaṃ. ‘‘Rūpe nirodhānupassī assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘rūpe nirodhānupassī passasissāmī’’ti sikkhati. Vedanāya…pe… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe… cakkhusmiṃ…pe… jarāmaraṇe ādīnavaṃ disvā jarāmaraṇanirodhe chandajāto hoti saddhādhimutto, cittañcassa svādhiṭṭhitaṃ. ‘‘Jarāmaraṇe nirodhānupassī assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘jarāmaraṇe nirodhānupassī passasissāmī’’ti sikkhati.
How does one train thus: “I will breathe out observing cessation,” and train thus: “I will breathe in observing cessation”? Having seen the drawback in form, one's desire arises for the cessation of form, one is resolved by faith, and one's mind is well established. One trains thus: “I will breathe out observing cessation in form,” and trains thus: “I will breathe in observing cessation in form.” Having seen the drawback in feeling... perception... fabrications... consciousness... the eye... aging and death, one's desire arises for the cessation of aging and death, one is resolved by faith, and one's mind is well established. One trains thus: “I will breathe out observing cessation in aging and death,” and trains thus: “I will breathe in observing cessation in aging and death.”
Vị ấy thực hành ‘Ta sẽ thở vô trong khi tùy quán sự đoạn diệt’ như thế nào, thực hành ‘Ta sẽ thở ra trong khi tùy quán sự đoạn diệt’ như thế nào? Sau khi thấy được sự nguy hại ở sắc, vị ấy có ước muốn sanh khởi, có lòng tin vững chắc ở sự đoạn diệt của sắc, và tâm của vị ấy được khéo an trú. Vị ấy thực hành ‘Ta sẽ thở vô trong khi tùy quán sự đoạn diệt ở sắc,’ vị ấy thực hành ‘Ta sẽ thở ra trong khi tùy quán sự đoạn diệt ở sắc.’ Ở thọ… cho đến… ở tưởng… ở các hành… ở thức… ở mắt… cho đến… Sau khi thấy được sự nguy hại ở sự già và sự chết, vị ấy có ước muốn sanh khởi, có lòng tin vững chắc ở sự đoạn diệt của sự già và sự chết, và tâm của vị ấy được khéo an trú. Vị ấy thực hành ‘Ta sẽ thở vô trong khi tùy quán sự đoạn diệt ở sự già và sự chết,’ vị ấy thực hành ‘Ta sẽ thở ra trong khi tùy quán sự đoạn diệt ở sự già và sự chết.’
181. Katihākārehi avijjāya ādīnavo hoti? Katihākārehi avijjā nirujjhati? Pañcahākārehi avijjāya ādīnavo hoti. Aṭṭhahākārehi avijjā nirujjhati.
181. In how many ways is there a drawback in ignorance? In how many ways does ignorance cease? There is a drawback in ignorance in five ways. Ignorance ceases in eight ways.
181. Sự nguy hại của vô minh có do bao nhiêu phương diện? Vô minh được đoạn diệt do bao nhiêu phương diện? Sự nguy hại của vô minh có do năm phương diện. Vô minh được đoạn diệt do tám phương diện.
Katamehi pañcahākārehi avijjāya ādīnavo hoti? Aniccaṭṭhena avijjāya ādīnavo hoti, dukkhaṭṭhena avijjāya ādīnavo hoti, anattaṭṭhena avijjāya ādīnavo hoti, santāpaṭṭhena avijjāya ādīnavo hoti, vipariṇāmaṭṭhena avijjāya ādīnavo hoti – imehi pañcahākārehi avijjāya ādīnavo hoti.
In which five ways is there a drawback in ignorance? There is a drawback in ignorance in the sense of impermanence. There is a drawback in ignorance in the sense of suffering. There is a drawback in ignorance in the sense of non-self. There is a drawback in ignorance in the sense of affliction. There is a drawback in ignorance in the sense of change. In these five ways, there is a drawback in ignorance.
Sự nguy hại của vô minh có do năm phương diện nào? Sự nguy hại của vô minh có do ý nghĩa vô thường, sự nguy hại của vô minh có do ý nghĩa khổ, sự nguy hại của vô minh có do ý nghĩa vô ngã, sự nguy hại của vô minh có do ý nghĩa thiêu đốt, sự nguy hại của vô minh có do ý nghĩa biến hoại. Sự nguy hại của vô minh có do năm phương diện này.
Katamehi aṭṭhahākārehi avijjā nirujjhati? Nidānanirodhena avijjā nirujjhati, samudayanirodhena avijjā nirujjhati, jātinirodhena avijjā nirujjhati, pabhavanirodhena † avijjā nirujjhati, hetunirodhena avijjā nirujjhati, paccayanirodhena avijjā nirujjhati, ñāṇuppādena avijjā nirujjhati, nirodhupaṭṭhānena avijjā nirujjhati – imehi aṭṭhahākārehi avijjā nirujjhati. Imehi pañcahākārehi avijjāya ādīnavaṃ disvā – imehi aṭṭhahākārehi avijjānirodhe chandajāto hoti saddhādhimutto, cittañcassa svādhiṭṭhitaṃ. ‘‘Avijjāya nirodhānupassī assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘avijjāya nirodhānupassī passasissāmī’’ti sikkhati.
By what eight aspects does ignorance cease? Ignorance ceases with the cessation of its source, ignorance ceases with the cessation of its origin, ignorance ceases with the cessation of its birth, ignorance ceases with the cessation of its provenance, ignorance ceases with the cessation of its cause, ignorance ceases with the cessation of its condition, ignorance ceases with the arising of knowledge, and ignorance ceases with the manifestation of cessation—by these eight aspects ignorance ceases. Having seen the danger of ignorance in these five aspects, and with these eight aspects of the cessation of ignorance, desire arises, one is resolved by faith, and one's mind is well-established. One trains, 'Contemplating the cessation of ignorance, I shall breathe out'; one trains, 'Contemplating the cessation of ignorance, I shall breathe in'.
Vô minh được đoạn diệt do tám phương diện nào? Vô minh được đoạn diệt do sự đoạn diệt của nhân duyên, vô minh được đoạn diệt do sự đoạn diệt của tập khởi, vô minh được đoạn diệt do sự đoạn diệt của sự sanh, vô minh được đoạn diệt do sự đoạn diệt của nguồn gốc, vô minh được đoạn diệt do sự đoạn diệt của nhân, vô minh được đoạn diệt do sự đoạn diệt của duyên, vô minh được đoạn diệt do sự sanh khởi của trí tuệ, vô minh được đoạn diệt do sự hiện khởi của sự đoạn diệt. Vô minh được đoạn diệt do tám phương diện này. Sau khi thấy được sự nguy hại của vô minh do năm phương diện này, vị ấy có ước muốn sanh khởi, có lòng tin vững chắc ở sự đoạn diệt của vô minh do tám phương diện này, và tâm của vị ấy được khéo an trú. Vị ấy thực hành ‘Ta sẽ thở vô trong khi tùy quán sự đoạn diệt của vô minh,’ vị ấy thực hành ‘Ta sẽ thở ra trong khi tùy quán sự đoạn diệt của vô minh.’
Katihākārehi saṅkhāresu ādīnavo hoti, katihākārehi saṅkhārā nirujjhanti…pe… katihākārehi viññāṇe ādīnavo hoti, katihākārehi viññāṇaṃ nirujjhati… katihākārehi nāmarūpe ādīnavo hoti, katihākārehi nāmarūpaṃ nirujjhati… katihākārehi saḷāyatane ādīnavo hoti, katihākārehi saḷāyatanaṃ nirujjhati… katihākārehi phasse ādīnavo hoti, katihākārehi phasso nirujjhati… katihākārehi vedanāya ādīnavo hoti, katihākārehi vedanā nirujjhati… katihākārehi taṇhāya ādīnavo hoti, katihākārehi taṇhā nirujjhati… katihākārehi upādāne ādīnavo hoti, katihākārehi upādānaṃ nirujjhati… katihākārehi bhave ādīnavo hoti, katihākārehi bhavo nirujjhati… katihākārehi jātiyā ādīnavo hoti, katihākārehi jāti nirujjhati… katihākārehi jarāmaraṇe ādīnavo hoti, katihākārehi jarāmaraṇaṃ nirujjhati? Pañcahākārehi jarāmaraṇe ādīnavo hoti, aṭṭhahākārehi jarāmaraṇaṃ nirujjhati.
In how many ways is there danger in formations, in how many ways do formations cease…? In how many ways is there danger in consciousness, in how many ways does consciousness cease…? In how many ways is there danger in name-and-form, in how many ways does name-and-form cease…? In how many ways is there danger in the six sense bases, in how many ways do the six sense bases cease…? In how many ways is there danger in contact, in how many ways does contact cease…? In how many ways is there danger in feeling, in how many ways does feeling cease…? In how many ways is there danger in craving, in how many ways does craving cease…? In how many ways is there danger in clinging, in how many ways does clinging cease…? In how many ways is there danger in becoming, in how many ways does becoming cease…? In how many ways is there danger in birth, in how many ways does birth cease…? In how many ways is there danger in aging and death, in how many ways do aging and death cease? There is danger in aging and death in five ways, and aging and death cease in eight ways.
Sự nguy hại ở các hành có do bao nhiêu phương diện, các hành được đoạn diệt do bao nhiêu phương diện? … cho đến … Sự nguy hại ở thức có do bao nhiêu phương diện, thức được đoạn diệt do bao nhiêu phương diện? … Sự nguy hại ở danh và sắc có do bao nhiêu phương diện, danh và sắc được đoạn diệt do bao nhiêu phương diện? … Sự nguy hại ở sáu xứ có do bao nhiêu phương diện, sáu xứ được đoạn diệt do bao nhiêu phương diện? … Sự nguy hại ở xúc có do bao nhiêu phương diện, xúc được đoạn diệt do bao nhiêu phương diện? … Sự nguy hại ở thọ có do bao nhiêu phương diện, thọ được đoạn diệt do bao nhiêu phương diện? … Sự nguy hại ở ái có do bao nhiêu phương diện, ái được đoạn diệt do bao nhiêu phương diện? … Sự nguy hại ở thủ có do bao nhiêu phương diện, thủ được đoạn diệt do bao nhiêu phương diện? … Sự nguy hại ở hữu có do bao nhiêu phương diện, hữu được đoạn diệt do bao nhiêu phương diện? … Sự nguy hại ở sanh có do bao nhiêu phương diện, sanh được đoạn diệt do bao nhiêu phương diện? … Sự nguy hại ở sự già và sự chết có do bao nhiêu phương diện, sự già và sự chết được đoạn diệt do bao nhiêu phương diện? Sự nguy hại ở sự già và sự chết có do năm phương diện, sự già và sự chết được đoạn diệt do tám phương diện.
Katamehi pañcahākārehi jarāmaraṇe ādīnavo hoti? Aniccaṭṭhena jarāmaraṇe ādīnavo hoti, dukkhaṭṭhena…pe… anattaṭṭhena…pe… santāpaṭṭhena…pe… vipariṇāmaṭṭhena jarāmaraṇe ādīnavo hoti – imehi pañcahākārehi jarāmaraṇe ādīnavo hoti.
In what five ways is there danger in aging and death? There is danger in aging and death in the sense of impermanence, in the sense of suffering, in the sense of not-self, in the sense of torment, and in the sense of change—in these five ways, there is danger in aging and death.
Sự nguy hại ở sự già và sự chết có do năm phương diện nào? Sự nguy hại ở sự già và sự chết có do ý nghĩa vô thường, do ý nghĩa khổ … cho đến … do ý nghĩa vô ngã … cho đến … do ý nghĩa thiêu đốt … cho đến … do ý nghĩa biến hoại. Sự nguy hại ở sự già và sự chết có do năm phương diện này.
Katamehi aṭṭhahākārehi jarāmaraṇaṃ nirujjhati? Nidānanirodhena jarāmaraṇaṃ nirujjhati, samudayanirodhena…pe… jātinirodhena…pe… pabhavanirodhena † … hetunirodhena… paccayanirodhena… ñāṇuppādena…pe… nirodhupaṭṭhānena jarāmaraṇaṃ nirujjhati – imehi aṭṭhahākārehi jarāmaraṇaṃ nirujjhati. Imehi pañcahākārehi jarāmaraṇe ādīnavaṃ disvā imehi aṭṭhahākārehi jarāmaraṇanirodhe chandajāto hoti saddhādhimutto, cittañcassa svādhiṭṭhitaṃ. ‘‘Jarāmaraṇe nirodhānupassī assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘jarāmaraṇe nirodhānupassī passasissāmī’’ti sikkhati. Nirodhānupassī assāsapassāsavasena dhammā upaṭṭhānaṃ sati anupassanā ñāṇaṃ. Dhammā upaṭṭhānaṃ, no sati; sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena te dhamme anupassati. Tena vuccati – ‘‘dhammesu dhammānupassanāsatipaṭṭhānabhāvanā’’ti.
In what eight ways does aging and death cease? Aging and death cease with the cessation of its cause, with the cessation of its origin, with the cessation of birth, with the cessation of origination, with the cessation of the root cause, with the cessation of the supporting condition, with the arising of knowledge, and with the establishment of cessation—in these eight ways, aging and death cease. Having seen the danger in aging and death in these five ways, desire arises for the cessation of aging and death in these eight ways, one is resolved through faith, and one's mind is well-established. One trains, 'Contemplating cessation in aging and death, I shall breathe out'; one trains, 'Contemplating cessation in aging and death, I shall breathe in.' For one contemplating cessation, by means of the in-breaths and out-breaths, phenomena are the establishment; mindfulness is the knowledge of contemplation. Phenomena are the establishment, but not mindfulness; mindfulness is both the establishment and mindfulness. With that mindfulness and with that knowledge, one contemplates those phenomena. Therefore, it is called: 'the development of the establishment of mindfulness through the contemplation of phenomena in phenomena.'
Sự già và sự chết được đoạn diệt do tám phương diện nào? Sự già và sự chết được đoạn diệt do sự đoạn diệt của nhân duyên, do sự đoạn diệt của tập khởi … cho đến … do sự đoạn diệt của sự sanh … cho đến … do sự đoạn diệt của nguồn gốc … do sự đoạn diệt của nhân … do sự đoạn diệt của duyên … do sự sanh khởi của trí tuệ … cho đến … do sự hiện khởi của sự đoạn diệt. Sự già và sự chết được đoạn diệt do tám phương diện này. Sau khi thấy được sự nguy hại ở sự già và sự chết do năm phương diện này, vị ấy có ước muốn sanh khởi, có lòng tin vững chắc ở sự đoạn diệt của sự già và sự chết do tám phương diện này, và tâm của vị ấy được khéo an trú. Vị ấy thực hành ‘Ta sẽ thở vô trong khi tùy quán sự đoạn diệt ở sự già và sự chết,’ vị ấy thực hành ‘Ta sẽ thở ra trong khi tùy quán sự đoạn diệt ở sự già và sự chết.’ Vị tùy quán sự đoạn diệt, do năng lực của hơi thở vô và hơi thở ra, các pháp là đối tượng của niệm, niệm là trí tuệ tùy quán. Các pháp là đối tượng của niệm, không phải là niệm; niệm vừa là đối tượng của niệm, vừa là niệm. Vị ấy tùy quán các pháp ấy bằng niệm ấy, bằng trí tuệ ấy. Do đó, được nói rằng: ‘Sự tu tập niệm xứ tùy quán pháp ở trong các pháp.’
Anupassatīti kathaṃ te dhamme anupassati…pe… evaṃ te dhamme anupassati. Bhāvanāti catasso bhāvanā…pe… āsevanaṭṭhena bhāvanā. Nirodhānupassī assāsapassāsānaṃ saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi…pe… nirodhānupassī assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato…pe… pajānanto indriyāni samodhāneti. Tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
Regarding 'contemplates': how does one contemplate those phenomena? ... Thus, one contemplates those phenomena. Regarding 'development': there are four kinds of development ... development in the sense of repeated practice. Contemplating cessation, there is purification of virtue in the sense of restraint of the in-breaths and out-breaths... Contemplating cessation by way of the in-breaths and out-breaths, for one who knows the mind's one-pointedness and non-distraction... One who knows harmonizes the faculties. Therefore, it is said: 'And one penetrates what is effective.'
Về 'anupassati' (quán xét), vị ấy quán xét các pháp ấy như thế nào? ... Tóm lại ... Vị ấy quán xét các pháp ấy như vậy. Về 'bhāvanā' (tu tập), có bốn sự tu tập ... Tóm lại ... 'Bhāvanā' có nghĩa là thực hành thường xuyên. Vị quán xét sự đoạn diệt, đối với hơi thở vô hơi thở ra, do ý nghĩa phòng hộ nên gọi là giới thanh tịnh ... Tóm lại ... Vị quán xét sự đoạn diệt, do năng lực của hơi thở vô hơi thở ra, đối với người biết rõ sự nhất tâm, không phân tán của tâm ... Tóm lại ... người biết rõ thì hợp nhất các căn. Do đó, được nói rằng: "Và vị ấy thâm nhập sự vắng lặng."
182. Kathaṃ ‘‘paṭinissaggānupassī assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’’ti sikkhati? Paṭinissaggāti dve paṭinissaggā – pariccāgapaṭinissaggo ca pakkhandanapaṭinissaggo ca. Rūpaṃ pariccajatīti – pariccāgapaṭinissaggo. Rūpanirodhe nibbāne cittaṃ pakkhandatīti – pakkhandanapaṭinissaggo. ‘‘Rūpe paṭinissaggānupassī assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘rūpe paṭinissaggānupassī passasissāmī’’ti sikkhati. Vedanaṃ…pe… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ… cakkhuṃ…pe… jarāmaraṇaṃ pariccajatīti – pariccāgapaṭinissaggo. Jarāmaraṇanirodhe nibbāne cittaṃ pakkhandatīti – pakkhandanapaṭinissaggo. ‘‘Jarāmaraṇe paṭinissaggānupassī assasissāmī’’ti sikkhati, ‘‘jarāmaraṇe paṭinissaggānupassī passasissāmī’’ti sikkhati. Paṭinissaggānupassī assāsapassāsavasena dhammā upaṭṭhānaṃ sati anupassanā ñāṇaṃ. Dhammā upaṭṭhānaṃ, no sati; sati upaṭṭhānañceva sati ca. Tāya satiyā tena ñāṇena te dhamme anupassati. Tena vuccati – ‘‘dhammesu dhammānupassanāsatipaṭṭhānabhāvanā’’ti.
182. How does one train, ‘Contemplating relinquishment, I shall breathe out,’ and train, ‘Contemplating relinquishment, I shall breathe in’? Herein, ‘relinquishment’ refers to two kinds of relinquishment: relinquishment by abandoning and relinquishment by entering. Because it abandons form, it is relinquishment by abandoning. Because the mind enters Nibbāna, the cessation of form, it is relinquishment by entering. One trains, ‘Contemplating relinquishment in form, I shall breathe out,’ and one trains, ‘Contemplating relinquishment in form, I shall breathe in.’ Feeling… perception… formations… consciousness… the eye… aging and death. Because it abandons aging and death, it is relinquishment by abandoning. Because the mind enters Nibbāna, the cessation of aging and death, it is relinquishment by entering. One trains, ‘Contemplating relinquishment in aging and death, I shall breathe out,’ and one trains, ‘Contemplating relinquishment in aging and death, I shall breathe in.’ Contemplating relinquishment, by means of in-breathing and out-breathing: phenomena are the establishment, and mindfulness is the knowledge of contemplation. Phenomena are the establishment, not mindfulness; mindfulness is both the establishment and mindfulness. With that mindfulness and with that knowledge, one contemplates those phenomena. Therefore, it is called ‘the development of the establishment of mindfulness by way of contemplating phenomena in phenomena.’
182. Vị ấy thực hành 'ta sẽ thở ra, trong khi quán xét sự từ bỏ' như thế nào, thực hành 'ta sẽ thở vô, trong khi quán xét sự từ bỏ' như thế nào? Về 'paṭinissagga' (sự từ bỏ), có hai loại từ bỏ: từ bỏ do xả ly (pariccāgapaṭinissagga) và từ bỏ do hướng nhập (pakkhandanapaṭinissagga). 'Vị ấy xả ly sắc' – đó là từ bỏ do xả ly. 'Tâm hướng nhập vào Níp-bàn, nơi sắc đoạn diệt' – đó là từ bỏ do hướng nhập. Vị ấy thực hành 'ta sẽ thở ra, trong khi quán xét sự từ bỏ đối với sắc', vị ấy thực hành 'ta sẽ thở vô, trong khi quán xét sự từ bỏ đối với sắc'. Thọ... Tóm lại... Tưởng... các hành... thức... mắt... Tóm lại... 'Vị ấy xả ly già-chết' – đó là từ bỏ do xả ly. 'Tâm hướng nhập vào Níp-bàn, nơi già-chết đoạn diệt' – đó là từ bỏ do hướng nhập. Vị ấy thực hành 'ta sẽ thở ra, trong khi quán xét sự từ bỏ đối với già-chết', vị ấy thực hành 'ta sẽ thở vô, trong khi quán xét sự từ bỏ đối với già-chết'. Vị quán xét sự từ bỏ, do năng lực của hơi thở vô hơi thở ra, các pháp là đối tượng hiện khởi, niệm là sự quán xét, trí tuệ là sự hiểu biết. Các pháp là đối tượng hiện khởi, không phải là niệm; niệm vừa là đối tượng hiện khởi, vừa là niệm. Với niệm ấy, với trí tuệ ấy, vị ấy quán xét các pháp ấy. Do đó, được nói rằng: "sự tu tập niệm xứ quán pháp trên các pháp."
Anupassatīti kathaṃ te dhamme anupassati? Aniccato anupassati, no niccato…pe… paṭinissajjati, no ādiyati. Aniccato anupassanto niccasaññaṃ pajahati…pe… paṭinissajjanto ādānaṃ pajahati. Evaṃ te dhamme anupassati. Bhāvanāti catasso bhāvanā. Tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā…pe… āsevanaṭṭhena bhāvanā. Paṭinissaggānupassī assāsapassāsānaṃ saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi, avikkhepaṭṭhena cittavisuddhi, dassanaṭṭhena diṭṭhivisuddhi. Yo tattha saṃvaraṭṭho, ayaṃ adhisīlasikkhā; yo tattha avikkhepaṭṭho, ayaṃ adhicittasikkhā; yo tattha dassanaṭṭho, ayaṃ adhipaññāsikkhā – imā tisso sikkhāyo āvajjanto sikkhati jānanto sikkhati…pe… sacchikātabbaṃ sacchikaronto sikkhati.
Regarding 'contemplation' (anupassati): how does one contemplate those phenomena? One contemplates them as impermanent, not as permanent... one relinquishes, does not grasp. Contemplating them as impermanent, one abandons the perception of permanence... relinquishing, one abandons grasping. Thus one contemplates those phenomena. Regarding 'development' (bhāvanā): there are four kinds of development. Therein, development is in the sense of not transgressing arisen phenomena... development is in the sense of cultivation. Being one who contemplates relinquishment, there is purification of virtue in the sense of restraint of in-breaths and out-breaths, purification of mind in the sense of non-distraction, and purification of view in the sense of seeing. Therein, that which is the sense of restraint is the training in higher virtue; that which is the sense of non-distraction is the training in higher mind; that which is the sense of seeing is the training in higher wisdom. One trains by adverting to these three trainings, one trains by knowing... one trains by realizing what is to be realized.
Về 'anupassati' (quán xét), vị ấy quán xét các pháp ấy như thế nào? Vị ấy quán xét theo phương diện vô thường, không phải theo phương diện thường hằng... Tóm lại... Vị ấy từ bỏ, không chấp thủ. Trong khi quán xét theo phương diện vô thường, vị ấy từ bỏ tưởng về thường hằng... Tóm lại... Trong khi từ bỏ, vị ấy từ bỏ sự chấp thủ. Vị ấy quán xét các pháp ấy như vậy. Về 'bhāvanā', có bốn sự tu tập. Trong đó, 'bhāvanā' có nghĩa là không vượt qua các pháp đã sanh khởi... Tóm lại... 'bhāvanā' có nghĩa là thực hành thường xuyên. Vị quán xét sự từ bỏ, đối với hơi thở vô hơi thở ra, do ý nghĩa phòng hộ nên là giới thanh tịnh, do ý nghĩa không phân tán nên là tâm thanh tịnh, do ý nghĩa thấy rõ nên là kiến thanh tịnh. Trong đó, ý nghĩa phòng hộ là tăng thượng giới học; ý nghĩa không phân tán là tăng thượng tâm học; ý nghĩa thấy rõ là tăng thượng tuệ học – vị ấy thực hành trong khi hướng tâm đến ba học xứ này, thực hành trong khi biết rõ... Tóm lại... thực hành trong khi chứng ngộ điều cần phải chứng ngộ.
Paṭinissaggānupassī assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato viditā vedanā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṃ gacchanti …pe… paṭinissaggānupassī assāsapassāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānanto indriyāni samodhāneti gocarañca pajānāti samatthañca paṭivijjhati; balāni samodhāneti… bojjhaṅge samodhāneti… maggaṃ samodhāneti… dhamme samodhāneti gocarañca pajānāti samatthañca paṭivijjhati.
For one who, being a contemplator of relinquishment, knows the mind's one-pointedness and non-distraction by way of in-breaths and out-breaths, feelings arise as known, are present as known, and go to cessation as known... Being a contemplator of relinquishment, knowing the mind's one-pointedness and non-distraction by way of in-breaths and out-breaths, one unifies the faculties, knows the resort, and penetrates tranquility. One unifies the powers... unifies the factors of enlightenment... unifies the path... unifies the phenomena, knows the resort, and penetrates tranquility.
Đối với người quán xét sự từ bỏ, do năng lực của hơi thở vô hơi thở ra, biết rõ sự nhất tâm, không phân tán của tâm, các cảm thọ sanh khởi một cách rõ biết, hiện khởi một cách rõ biết, đi đến hoại diệt một cách rõ biết... Tóm lại... Vị quán xét sự từ bỏ, do năng lực của hơi thở vô hơi thở ra, trong khi biết rõ sự nhất tâm, không phân tán của tâm, vị ấy hợp nhất các căn, biết rõ hành xứ, và thâm nhập sự vắng lặng; vị ấy hợp nhất các lực... hợp nhất các giác chi... hợp nhất đạo... hợp nhất các pháp, biết rõ hành xứ, và thâm nhập sự vắng lặng.
Indriyāni samodhānetīti kathaṃ indriyāni samodhāneti? Adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ samodhāneti…pe… tena vuccati – ‘‘samatthañca paṭivijjhatī’’ti.
Regarding 'unifying the faculties' (indriyāni samodhāneti): how does one unify the faculties? One unifies the faculty of faith in the sense of resolution... Therefore it is said: 'and penetrates tranquility'.
Về 'hợp nhất các căn', vị ấy hợp nhất các căn như thế nào? Vị ấy hợp nhất tín căn do ý nghĩa quyết đoán... Tóm lại... Do đó, được nói rằng: "Và vị ấy thâm nhập sự vắng lặng."
Aṭṭha anupassane ñāṇāni aṭṭha ca upaṭṭhānānussatiyo cattāri suttantikavatthūni dhammesu dhammānupassanāya. Imāni bāttiṃsa satokārissa ñāṇāni.
There are eight knowledges of contemplation, eight recollections of presence, and four discourse-related topics in the contemplation of phenomena in phenomena. These are the thirty-two knowledges of one who practices mindfulness.
Tám trí tuệ trong sự quán xét, tám sự tùy niệm về đối tượng hiện khởi, bốn đề mục theo kinh điển trong pháp quán pháp. Đây là ba mươi hai trí tuệ của người thực hành niệm.
Satokāriñāṇaniddeso pañcamo.
The fifth is the exposition of the knowledge of one who practices mindfulness.
Phần giải về trí tuệ của người thực hành niệm, chương thứ năm.
6. Ñāṇarāsichakkaniddeso
6. The Exposition of the Sixfold Aggregate of Knowledge
6. Phần giải về sáu nhóm trí tuệ.
183. Katamāni catuvīsati samādhivasena ñāṇāni? Dīghaṃ assāsavasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi, dīghaṃ passāsavasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi…pe… vimocayaṃ cittaṃ assāsavasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi, vimocayaṃ cittaṃ passāsavasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi. Imāni catuvīsati samādhivasena ñāṇāni.
183. What are the twenty-four knowledges by means of concentration? The one-pointedness of mind and non-distraction by means of a long out-breath is concentration; the one-pointedness of mind and non-distraction by means of a long in-breath is concentration... (etc.)... while liberating the mind, the one-pointedness of mind and non-distraction by means of an out-breath is concentration; while liberating the mind, the one-pointedness of mind and non-distraction by means of an in-breath is concentration. These are the twenty-four knowledges by means of concentration.
183. Hai mươi bốn trí tuệ do năng lực của định là những gì? Do năng lực của hơi thở ra dài, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là định; do năng lực của hơi thở vô dài, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là định... Tóm lại... Do năng lực của hơi thở ra trong khi giải thoát tâm, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là định; do năng lực của hơi thở vô trong khi giải thoát tâm, sự nhất tâm, không phân tán của tâm là định. Đây là hai mươi bốn trí tuệ do năng lực của định.
Katamāni dvesattati vipassanāvasena ñāṇāni? Dīghaṃ assāsaṃ aniccato anupassanaṭṭhena vipassanā, dukkhato anupassanaṭṭhena vipassanā, anattato anupassanaṭṭhena vipassanā, dīghaṃ passāsaṃ aniccato anupassanaṭṭhena vipassanā, dukkhato anupassanaṭṭhena vipassanā, anattato anupassanaṭṭhena vipassanā…pe… vimocayaṃ cittaṃ assāsaṃ, vimocayaṃ cittaṃ passāsaṃ aniccato anupassanaṭṭhena vipassanā, dukkhato anupassanaṭṭhena vipassanā, anattato anupassanaṭṭhena vipassanā. Imāni dvesattati vipassanāvasena ñāṇāni.
What are the seventy-two knowledges by means of insight? Insight is contemplating a long out-breath as impermanent; insight is contemplating it as suffering; insight is contemplating it as not-self. Insight is contemplating a long in-breath as impermanent; insight is contemplating it as suffering; insight is contemplating it as not-self... (etc.)... While liberating the mind, insight is contemplating the out-breath as impermanent; insight is contemplating it as suffering; insight is contemplating it as not-self. While liberating the mind, insight is contemplating the in-breath as impermanent; insight is contemplating it as suffering; insight is contemplating it as not-self. These are the seventy-two knowledges by means of insight.
Bảy mươi hai trí tuệ do năng lực của minh sát là những gì? Do ý nghĩa quán xét hơi thở ra dài theo phương diện vô thường nên là minh sát, do ý nghĩa quán xét theo phương diện khổ nên là minh sát, do ý nghĩa quán xét theo phương diện vô ngã nên là minh sát; do ý nghĩa quán xét hơi thở vô dài theo phương diện vô thường nên là minh sát, do ý nghĩa quán xét theo phương diện khổ nên là minh sát, do ý nghĩa quán xét theo phương diện vô ngã nên là minh sát... Tóm lại... Do ý nghĩa quán xét hơi thở ra trong khi giải thoát tâm, hơi thở vô trong khi giải thoát tâm theo phương diện vô thường nên là minh sát, do ý nghĩa quán xét theo phương diện khổ nên là minh sát, do ý nghĩa quán xét theo phương diện vô ngã nên là minh sát. Đây là bảy mươi hai trí tuệ do năng lực của minh sát.
Katamāni aṭṭha nibbidāñāṇāni? Aniccānupassī assāsaṃ yathābhūtaṃ jānāti passatīti – nibbidāñāṇaṃ, aniccānupassī passāsaṃ yathābhūtaṃ jānāti passatīti – nibbidāñāṇaṃ…pe… paṭinissaggānupassī assāsaṃ yathābhūtaṃ jānāti passatīti – nibbidāñāṇaṃ, paṭinissaggānupassī passāsaṃ yathābhūtaṃ jānāti passatīti – nibbidāñāṇaṃ. Imāni aṭṭha nibbidāñāṇāni.
What are the eight knowledges of disenchantment? One who contemplates impermanence knows and sees the out-breath as it actually is—this is the knowledge of disenchantment. One who contemplates impermanence knows and sees the in-breath as it actually is—this is the knowledge of disenchantment. … One who contemplates relinquishment knows and sees the out-breath as it actually is—this is the knowledge of disenchantment. One who contemplates relinquishment knows and sees the in-breath as it actually is—this is the knowledge of disenchantment. These are the eight knowledges of disenchantment.
Tám trí tuệ yếm ly là những gì? Vị quán xét vô thường biết và thấy hơi thở ra như thật – đó là trí tuệ yếm ly; vị quán xét vô thường biết và thấy hơi thở vô như thật – đó là trí tuệ yếm ly... Tóm lại... Vị quán xét sự từ bỏ biết và thấy hơi thở ra như thật – đó là trí tuệ yếm ly; vị quán xét sự từ bỏ biết và thấy hơi thở vô như thật – đó là trí tuệ yếm ly. Đây là tám trí tuệ yếm ly.
Katamāni aṭṭha nibbidānulome ñāṇāni? Aniccānupassī assāsaṃ bhayatupaṭṭhāne paññā nibbidānulome ñāṇaṃ, aniccānupassī passāsaṃ bhayatupaṭṭhāne paññā nibbidānulome ñāṇaṃ…pe… paṭinissaggānupassī assāsaṃ bhayatupaṭṭhāne paññā nibbidānulome ñāṇaṃ, paṭinissaggānupassī passāsaṃ bhayatupaṭṭhāne paññā nibbidānulome ñāṇaṃ – imāni aṭṭha nibbidānulome ñāṇāni.
What are the eight knowledges in conformity with disenchantment? While contemplating impermanence, the wisdom that arises regarding the out-breath in its appearance as a danger is the knowledge in conformity with disenchantment. While contemplating impermanence, the wisdom that arises regarding the in-breath in its appearance as a danger is the knowledge in conformity with disenchantment… and so on… While contemplating relinquishment, the wisdom that arises regarding the out-breath in its appearance as a danger is the knowledge in conformity with disenchantment. While contemplating relinquishment, the wisdom that arises regarding the in-breath in its appearance as a danger is the knowledge in conformity with disenchantment. These are the eight knowledges in conformity with disenchantment.
Tám trí tuệ tương ứng với sự nhàm chán là những gì? Trí tuệ ở trong sự hiện khởi như là điều đáng sợ đối với hơi thở ra trong khi đang tùy quán vô thường là trí tuệ tương ứng với sự nhàm chán, trí tuệ ở trong sự hiện khởi như là điều đáng sợ đối với hơi thở vào trong khi đang tùy quán vô thường là trí tuệ tương ứng với sự nhàm chán... (tương tự)... trí tuệ ở trong sự hiện khởi như là điều đáng sợ đối với hơi thở ra trong khi đang tùy quán sự từ bỏ là trí tuệ tương ứng với sự nhàm chán, trí tuệ ở trong sự hiện khởi như là điều đáng sợ đối với hơi thở vào trong khi đang tùy quán sự từ bỏ là trí tuệ tương ứng với sự nhàm chán – đây là tám trí tuệ tương ứng với sự nhàm chán.
Katamāni aṭṭha nibbidāpaṭippassaddhiñāṇāni? Aniccānupassī assāsaṃ paṭisaṅkhā santiṭṭhanā paññā nibbidāpaṭippassaddhiñāṇaṃ, aniccānupassī passāsaṃ paṭisaṅkhā santiṭṭhanā paññā nibbidāpaṭippassaddhiñāṇaṃ…pe… paṭinissaggānupassī assāsaṃ paṭisaṅkhā santiṭṭhanā paññā nibbidāpaṭippassaddhiñāṇaṃ, paṭinissaggānupassī passāsaṃ paṭisaṅkhā santiṭṭhanā paññā nibbidāpaṭippassaddhiñāṇaṃ – imāni aṭṭha nibbidāpaṭippassaddhiñāṇāni.
What are the eight knowledges of the calming of disenchantment? While contemplating impermanence, having reflected upon the out-breath, the wisdom that is well-established is the knowledge of the calming of disenchantment. While contemplating impermanence, having reflected upon the in-breath, the wisdom that is well-established is the knowledge of the calming of disenchantment… and so on… While contemplating relinquishment, having reflected upon the out-breath, the wisdom that is well-established is the knowledge of the calming of disenchantment. While contemplating relinquishment, having reflected upon the in-breath, the wisdom that is well-established is the knowledge of the calming of disenchantment. These are the eight knowledges of the calming of disenchantment.
Tám trí tuệ về sự lắng dịu của nhàm chán là những gì? Trí tuệ là sự an trú sau khi đã thẩm xét hơi thở ra trong khi đang tùy quán vô thường là trí tuệ về sự lắng dịu của nhàm chán, trí tuệ là sự an trú sau khi đã thẩm xét hơi thở vào trong khi đang tùy quán vô thường là trí tuệ về sự lắng dịu của nhàm chán... (tương tự)... trí tuệ là sự an trú sau khi đã thẩm xét hơi thở ra trong khi đang tùy quán sự từ bỏ là trí tuệ về sự lắng dịu của nhàm chán, trí tuệ là sự an trú sau khi đã thẩm xét hơi thở vào trong khi đang tùy quán sự từ bỏ là trí tuệ về sự lắng dịu của nhàm chán – đây là tám trí tuệ về sự lắng dịu của nhàm chán.
Katamāni ekavīsati vimuttisukhe ñāṇāni? Sotāpattimaggena sakkāyadiṭṭhiyā pahīnattā samucchinnattā uppajjati vimuttisukhe ñāṇaṃ, vicikicchāya pahīnattā samucchinnattā uppajjati vimuttisukhe ñāṇaṃ, sīlabbataparāmāsassa…pe… diṭṭhānusayassa, vicikicchānusayassa pahīnattā samucchinnattā uppajjati vimuttisukhe ñāṇaṃ, sakadāgāmimaggena oḷārikassa, kāmarāgasaññojanassa…pe… paṭighasaññojanassa, oḷārikassa kāmarāgānusayassa, paṭighānusayassa pahīnattā samucchinnattā uppajjati vimuttisukhe ñāṇaṃ, anāgāmimaggena anusahagatassa kāmarāgasaññojanassa…pe… paṭighasaññojanassa, anusahagatassa kāmarāgānusayassa, paṭighānusayassa pahīnattā samucchinnattā uppajjati vimuttisukhe ñāṇaṃ, arahattamaggena, rūparāgassa…pe… arūparāgassa, mānassa, uddhaccassa, avijjāya, mānānusayassa, bhavarāgānusayassa, avijjānusayassa pahīnattā samucchinnattā uppajjati vimuttisukhe ñāṇaṃ. Imāni ekavīsati vimuttisukhe ñāṇāni. Soḷasavatthukaṃ ānāpānassatisamādhiṃ bhāvayato samadhikāni imāni dve ñāṇasatāni uppajjanti.
What are the twenty-one knowledges in the bliss of liberation? Through the path of stream-entry, due to the abandoning and uprooting of identity view, knowledge arises in the bliss of liberation. Due to the abandoning and uprooting of doubt, knowledge arises in the bliss of liberation. Due to the abandoning and uprooting of grasping at precepts and practices… the underlying tendency to views, the underlying tendency to doubt, knowledge arises in the bliss of liberation. Through the path of once-returning, due to the abandoning and uprooting of the gross fetter of sensual lust… the fetter of aversion, the gross underlying tendency to sensual lust, the underlying tendency to aversion, knowledge arises in the bliss of liberation. Through the path of non-returning, due to the abandoning and uprooting of the subtle fetter of sensual lust… the fetter of aversion, the subtle underlying tendency to sensual lust, the underlying tendency to aversion, knowledge arises in the bliss of liberation. Through the path of arahantship, due to the abandoning and uprooting of lust for form… lust for the formless, conceit, restlessness, ignorance, the underlying tendency to conceit, the underlying tendency to lust for existence, the underlying tendency to ignorance, knowledge arises in the bliss of liberation. These are the twenty-one knowledges in the bliss of liberation. For one who develops the concentration of mindfulness of breathing with its sixteen bases, these two hundred-plus knowledges arise.
Hai mươi mốt trí tuệ trong lạc giải thoát là những gì? Do đã đoạn trừ và cắt đứt hoàn toàn thân kiến bởi Dự Lưu đạo, trí tuệ trong lạc giải thoát sanh khởi; do đã đoạn trừ và cắt đứt hoàn toàn hoài nghi, trí tuệ trong lạc giải thoát sanh khởi; do đã đoạn trừ và cắt đứt hoàn toàn giới cấm thủ... (tương tự)... tùy miên tà kiến, tùy miên hoài nghi, trí tuệ trong lạc giải thoát sanh khởi. Do đã đoạn trừ và cắt đứt hoàn toàn kiết sử tham dục ở dạng thô thiển... (tương tự)... kiết sử sân hận, tùy miên tham dục ở dạng thô thiển, và tùy miên sân hận bởi Nhất Lai đạo, trí tuệ trong lạc giải thoát sanh khởi. Do đã đoạn trừ và cắt đứt hoàn toàn kiết sử tham dục ở dạng vi tế... (tương tự)... kiết sử sân hận, tùy miên tham dục ở dạng vi tế, và tùy miên sân hận bởi Bất Lai đạo, trí tuệ trong lạc giải thoát sanh khởi. Do đã đoạn trừ và cắt đứt hoàn toàn tham ái trong cõi sắc... (tương tự)... tham ái trong cõi vô sắc, ngã mạn, trạo cử, vô minh, tùy miên ngã mạn, tùy miên hữu ái, và tùy miên vô minh bởi A-la-hán đạo, trí tuệ trong lạc giải thoát sanh khởi. Đây là hai mươi mốt trí tuệ trong lạc giải thoát. Đối với vị tu tập định niệm hơi thở có mười sáu đối tượng, hai trăm trí tuệ này cùng với phần trội hơn sanh khởi.
Ñāṇarāsichakkaniddeso chaṭṭho.
The sixth exposition of the sixfold aggregate of knowledge is concluded.
Phần giải thích về sáu nhóm trí tuệ là thứ sáu.
Ānāpānassatikathā † niṭṭhitā.
The Discourse on Mindfulness of Breathing is concluded.
Phần luận về niệm hơi thở đã được hoàn tất.