Bản dịch
PS 1.2 — Giảng về Kiến
1.2. Diṭṭhikathā
Kiến là gì? Có bao nhiêu cơ sở của kiến? Có bao nhiêu cơ sở xâm nhập của kiến? Có bao nhiêu loại kiến? Có bao nhiêu sự cố chấp của kiến? Điều gì là sự tiêu diệt cơ sở của kiến?
1. Kiến là gì? Sự cố chấp và bám víu là kiến.
2. Có bao nhiêu cơ sở của kiến? Có tám cơ sở của kiến.
3. Có bao nhiêu cơ sở xâm nhập của kiến? Có mười tám cơ sở xâm nhập của kiến.
4. Có bao nhiêu loại kiến? Có mười sáu loại kiến.
5. Có bao nhiêu sự cố chấp của kiến? Có ba trăm sự cố chấp của kiến.
6. Điều gì là sự tiêu diệt cơ sở của kiến? Đạo Nhập Lưu là sự tiêu diệt cơ sở của kiến.
Sự cố chấp và bám víu là kiến là (có ý nghĩa) thế nào?
Sự cố chấp và bám víu về sắc rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến. Sự cố chấp và bám víu về thọ rằng: ‘Cái này là của tôi … về tưởng rằng: ‘Cái này là của tôi … về các hành rằng: ‘Cái này là của tôi … về thức rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu về mắt rằng: ‘Cái này là của tôi … về tai rằng: ‘Cái này là của tôi … về mũi rằng: ‘Cái này là của tôi … về lưỡi rằng: ‘Cái này là của tôi … về thân rằng: ‘Cái này là của tôi … về ý rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến. Sự cố chấp và bám víu về cảnh sắc rằng: ‘Cái này là của tôi … về cảnh thinh rằng: ‘Cái này là của tôi … về cảnh khí rằng: ‘Cái này là của tôi … về cảnh vị rằng: ‘Cái này là của tôi … về cảnh xúc rằng: ‘Cái này là của tôi … về cảnh pháp rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu về nhãn thức rằng: ‘Cái này là của tôi … về nhĩ thức rằng: ‘Cái này là của tôi … về tỷ thức rằng: ‘Cái này là của tôi … về thiệt thức rằng: ‘Cái này là của tôi … về thân thức rằng: ‘Cái này là của tôi … về ý thức rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu về nhãn xúc rằng: ‘Cái này là của tôi … về nhĩ xúc rằng: ‘Cái này là của tôi … về tỷ xúc rằng: ‘Cái này là của tôi … về thiệt xúc rằng: ‘Cái này là của tôi … về thân xúc rằng: ‘Cái này là của tôi … về ý xúc rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu về thọ sanh ra từ nhãn xúc rằng: ‘Cái này là của tôi … về thọ sanh ra từ nhĩ xúc … về thọ sanh ra từ tỷ xúc … về thọ sanh ra từ thiệt xúc … về thọ sanh ra từ thân xúc … về thọ sanh ra từ ý xúc rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu về sắc tưởng rằng: ‘Cái này là của tôi … về thinh tưởng rằng: ‘Cái này là của tôi … về khí tưởng … về vị tưởng … về xúc tưởng … về pháp tưởng rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu về sắc tư rằng: ‘Cái này là của tôi … về thinh tư rằng: ‘Cái này là của tôi … về khí tư rằng: ‘Cái này là của tôi … về vị tư rằng: ‘Cái này là của tôi … về xúc tư rằng: ‘Cái này là của tôi … về pháp tư rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu về sắc ái rằng: ‘Cái này là của tôi … về thinh ái rằng: ‘Cái này là của tôi… về khí ái rằng: ‘Cái này là của tôi … về vị ái … về xúc ái … về pháp ái rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu về sắc tầm rằng: ‘Cái này là của tôi … về thinh tầm rằng: ‘Cái này là của tôi … về khí tầm rằng: ‘Cái này là của tôi … về vị tầm rằng: ‘Cái này là của tôi … về xúc tầm rằng: ‘Cái này là của tôi … về pháp tầm rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu về sắc tứ rằng: ‘Cái này là của tôi … về thinh tứ rằng: ‘Cái này là của tôi … về khí tứ rằng: ‘Cái này là của tôi … về vị tứ … về xúc tứ … về pháp tứ rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu về địa giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về thủy giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về hỏa giới … về phong giới … về hư không giới … về thức giới rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu về đề mục đất rằng: ‘Cái này là của tôi … về đề mục nước rằng: ‘Cái này là của tôi … về đề mục lửa … về đề mục gió … về đề mục xanh … về đề mục vàng … về đề mục đỏ … về đề mục trắng … về đề mục hư không rằng: ‘Cái này là của tôi … về đề mục thức rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu về tóc rằng: ‘Cái này là của tôi … về lông rằng: ‘Cái này là của tôi … về móng rằng: ‘Cái này là của tôi … về răng rằng: ‘Cái này là của tôi … về da rằng: ‘Cái này là của tôi … về thịt rằng: ‘Cái này là của tôi … về gân … về xương … về tủy xương … về thận … về tim rằng: ‘Cái này là của tôi … về gan rằng: ‘Cái này là
của tôi … về cơ hoành rằng: ‘Cái này là của tôi … về lá lách rằng: ‘Cái này là của tôi … về phổi rằng: ‘Cái này là của tôi … về ruột rằng: ‘Cái này là của tôi … về màng ruột rằng: ‘Cái này là của tôi … về thực phẩm chưa tiêu rằng: ‘Cái này là của tôi … về phân rằng: ‘Cái này là của tôi … về mật rằng: ‘Cái này là của tôi … về đàm rằng: ‘Cái này là của tôi … về mủ rằng: ‘Cái này là của tôi … về máu rằng: ‘Cái này là của tôi … về mồ hôi rằng: ‘Cái này là của tôi … về mỡ … về nước mắt … về nước mỡ (huyết tương) … về nước miếng … về nước mũi … về nước ở khớp xương … về nước tiểu… về tủy não rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu về nhãn xứ rằng: ‘Cái này là của tôi … về sắc xứ rằng: ‘Cái này là của tôi … về nhĩ xứ rằng: ‘Cái này là của tôi … về thinh xứ rằng: ‘Cái này là của tôi … về tỷ xứ rằng: ‘Cái này là của tôi … về khí xứ rằng: ‘Cái này là của tôi … về thiệt xứ rằng: ‘Cái này là của tôi … về vị xứ rằng: ‘Cái này là của tôi … về thân xứ rằng: ‘Cái này là của tôi … về xúc xứ rằng: ‘Cái này là của tôi … về ý xứ rằng: ‘Cái này là của tôi … về pháp xứ rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu về nhãn giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về sắc giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về nhãn thức giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về nhĩ giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về thinh giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về nhĩ thức giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về tỷ giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về khí giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về tỷ thức giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về thiệt giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về vị giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về thiệt thức giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về thân giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về xúc giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về thân thức giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về ý giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về pháp giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về ý thức giới rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu về nhãn quyền rằng: ‘Cái này là của tôi … về nhĩ quyền … về tỷ quyền … về thiệt quyền … về thân quyền … về ý quyền … về mạng quyền … về nữ quyền … về nam quyền … về lạc quyền … về khổ quyền … về hỷ quyền … về ưu quyền … về xả quyền … về tín quyền … về tấn quyền … về niệm quyền … về định quyền … về tuệ quyền rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu về dục giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về sắc giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về vô sắc giới rằng: ‘Cái này là của tôi … về dục hữu rằng: ‘Cái này là của tôi … về sắc hữu rằng: ‘Cái này là của tôi … về vô sắc hữu rằng: ‘Cái này là của tôi … về tưởng hữu rằng: ‘Cái này là của tôi … về phi tưởng hữu rằng: ‘Cái này là của tôi … về phi tưởng phi phi tưởng hữu rằng: ‘Cái này là của tôi … về nhất uẩn hữu rằng: ‘Cái này là của tôi … về tứ uẩn hữu rằng: ‘Cái
này là của tôi … về ngũ uẩn hữu rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu về sơ thiền rằng: ‘Cái này là của tôi … về nhị thiền rằng: ‘Cái này là của tôi … về tam thiền rằng: ‘Cái này là của tôi … về tứ thiền rằng: ‘Cái này là của tôi … về từ tâm giải thoát rằng: ‘Cái này là của tôi … về bi tâm giải thoát rằng: ‘Cái này là của tôi … về hỷ tâm giải thoát rằng: ‘Cái này là của tôi … về xả tâm giải thoát rằng: ‘Cái này là của tôi … về sự chứng đạt không vô biên xứ rằng: ‘Cái này là của tôi … về sự chứng đạt thức vô biên xứ rằng: ‘Cái này là của tôi … về sự chứng đạt vô sở hữu xứ rằng: ‘Cái này là của tôi … về sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu về vô minh rằng: ‘Cái này là của tôi … về các hành rằng: ‘Cái này là của tôi … về thức … về danh sắc … về sáu xứ … về xúc … về thọ … về ái … về thủ … về hữu … về sanh rằng: ‘Cái này là của tôi … về lão tử rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.
Sự cố chấp và bám víu là kiến là (có ý nghĩa) như thế.
Tám cơ sở của kiến là gì?
Uẩn là cơ sở của kiến, vô minh cũng là cơ sở của kiến, xúc cũng là cơ sở của kiến, tưởng cũng là cơ sở của kiến, tầm cũng là cơ sở của kiến, tác ý không đúng đắn cũng là cơ sở của kiến, bạn xấu cũng là cơ sở của kiến, lời nói của kẻ khác cũng là cơ sở của kiến.
Các uẩn là nhân, các uẩn là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi; như thế các uẩn là cơ sở của kiến.
Vô minh là nhân, vô minh là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi; như thế vô minh cũng là cơ sở của kiến.
Xúc là nhân, xúc là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi; như thế xúc cũng là cơ sở của kiến.
Tưởng là nhân, tưởng là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi; như thế tưởng cũng là cơ sở của kiến.
Tầm là nhân, tầm là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi; như thế tầm cũng là cơ sở của kiến.
Tác ý không đúng đắn là nhân, tác ý không đúng đắn là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi; như thế tác ý không đúng đắn cũng là cơ sở của kiến.
Bạn xấu là nhân, bạn xấu là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi; như thế bạn xấu cũng là cơ sở của kiến.
Lời nói của kẻ khác là nhân, lời nói của kẻ khác là duyên, có liên quan đến cơ sở của kiến theo ý nghĩa nguồn sanh khởi; như thế lời nói của kẻ khác cũng là cơ sở của kiến.
Đây là tám cơ sở của kiến.
Mười tám cơ sở xâm nhập của kiến là gì?
Kiến (tạo nên) thiên lệch, kiến (tạo nên) nắm giữ, kiến (tạo nên) hiểm độc, kiến (tạo nên) mâu thuẫn, kiến (tạo nên) dao động, kiến (tạo nên) ràng buộc, kiến (tạo nên) xuyên suốt, kiến (tạo nên) áp chế, kiến (tạo nên) vướng bận, kiến (tạo nên) trói buộc, kiến (tạo nên) sa đọa, kiến (tạo nên) ngủ ngầm, kiến (tạo nên) thiêu đốt, kiến (tạo nên) thống khổ, kiến (tạo nên) khúc mắc, kiến (tạo nên) chấp thủ, kiến (tạo nên) cố chấp, kiến (tạo nên) bám víu.
Đây là mười tám cơ sở xâm nhập của kiến.
Mười sáu loại kiến là gì?
Khoái lạc kiến, tùy ngã kiến, tà kiến, thân kiến, thường kiến lấy thân làm nền tảng, đoạn kiến lấy thân làm nền tảng, hữu biên kiến, quá khứ hữu biên kiến, vị lai hữu biên kiến, kiến có sự ràng buộc, kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi,’ kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi,’ kiến có liên hệ đến luận thuyết về tự ngã, kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới, hữu kiến, phi hữu kiến.
Đây là mười sáu loại kiến.
Ba trăm sự cố chấp của kiến là gì?
Do khoái lạc kiến, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?
Do tùy ngã kiến, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?
Do tà kiến, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?
Do thân kiến, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?
Do thường kiến lấy thân làm nền tảng, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?
Do đoạn kiến lấy thân làm nền tảng, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?
Do hữu biên kiến, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?
Do quá khứ hữu biên kiến, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?
Do vị lai hữu biên kiến, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?
Do kiến có sự ràng buộc, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?
Do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi,’ có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?
Do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi,’ có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?
Do kiến có liên hệ đến luận thuyết về tự ngã, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?
Do kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?
Do hữu kiến, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?
Do phi hữu kiến, có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?
Do khoái lạc kiến, có sự cố chấp với 35 biểu hiện.
Do tùy ngã kiến, có sự cố chấp với 20 biểu hiện.
Do tà kiến, có sự cố chấp với 10 biểu hiện.
Do thân kiến, có sự cố chấp với 20 biểu hiện.
Do thường kiến lấy thân làm nền tảng, có sự cố chấp với 15 biểu hiện.
Do đoạn kiến lấy thân làm nền tảng, có sự cố chấp với 5 biểu hiện.
Do hữu biên kiến, có sự cố chấp với 50 biểu hiện.
Do quá khứ hữu biên kiến, có sự cố chấp với 18 biểu hiện.
Do vị lai hữu biên kiến, có sự cố chấp với 44 biểu hiện.
Do kiến có sự ràng buộc, có sự cố chấp với 18 biểu hiện.
Do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi,’ có sự cố chấp với 18 biểu hiện.
Do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi,’ có sự cố chấp với 18 biểu hiện.
Do kiến có liên hệ đến luận thuyết về tự ngã, có sự cố chấp với 20 biểu hiện.
Do kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới, có sự cố chấp với 8 biểu hiện.
Do hữu kiến, có sự cố chấp với 1 biểu hiện.
Do phi hữu kiến, có sự cố chấp với 1 biểu hiện.
1. Khoái Lạc Kiến
Do khoái lạc kiến, có sự cố chấp với 35 biểu hiện gì?
Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Lạc và hỷ tâm sanh lên tùy thuộc vào sắc là sự khoái lạc đối với sắc’ là kiến. Kiến không phải là sự khoái lạc, sự khoái lạc không phải là kiến; kiến là điều khác, sự khoái lạc là điều khác; (cả hai) kiến và sự khoái lạc được gọi là Khoái Lạc Kiến.
Khoái lạc kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến, người có sự hư hỏng về kiến ấy là (người) bị hư hỏng về kiến. Không nên tiếp cận, không nên kết thân, không nên gần gũi người bị hư hỏng về kiến. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì kiến của người này là ác. Ái nào do kiến, ái ấy không phải là kiến, kiến không phải là ái, kiến là điều khác, ái là điều khác, (cả hai) kiến và ái được gọi là ái do kiến. Người có kiến ấy và ái ấy là (người) bị nhiễm ái do kiến. Vật thí cho đến người bị nhiễm ái do kiến không có quả báu lớn, không có lợi ích lớn. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì kiến của người này là ác.
Khoái lạc kiến là tà kiến. Có hai cảnh giới (tái sanh) đối với người có tà kiến là địa ngục hoặc loài súc sanh. Thân nghiệp nào bị tác động toàn diện bởi kiến như thế ấy, khẩu nghiệp nào …, ý nghiệp nào bị tác động toàn diện bởi kiến như thế ấy, ý định nào, ước muốn nào, nguyện vọng nào, và các hành nào của người có tà kiến, tất cả các pháp ấy đều đưa đến điều không muốn, không thích, không vừa ý, không tốt đẹp, khổ đau. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì kiến của người này là ác. Cũng giống như hạt giống cây nimba hoặc hạt giống cây kosātakī, hoặc hạt giống cây tittakālābu được gieo xuống đất ẩm. Vị nào của đất đã được tiếp thâu và vị nào của nước đã được tiếp thâu, tất cả (các) vị ấy đều đưa đến tính chất chát, tính chất cay, tính chất không dịu ngọt. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì hạt giống của cây ấy là ác. Tương tợ như thế, thân nghiệp nào bị tác động toàn diện bởi kiến như thế ấy, khẩu nghiệp nào …, ý nghiệp nào bị tác động toàn diện bởi kiến như thế ấy, ý định nào, ước muốn nào, nguyện vọng nào, và các hành nào của người có tà kiến, tất cả các pháp ấy đều đưa đến điều không muốn, không thích, không vừa ý, không tốt đẹp, khổ đau. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì kiến của người này là ác.
Khoái lạc kiến là tà kiến, tà kiến là kiến (tạo nên) thiên lệch, kiến (tạo nên) nắm giữ, kiến (tạo nên) hiểm độc, kiến (tạo nên) mâu thuẫn, kiến (tạo nên) dao động, kiến (tạo nên) ràng buộc, kiến (tạo nên) xuyên suốt, kiến (tạo nên) áp đặt, kiến (tạo nên) vướng bận, kiến (tạo nên) trói buộc, kiến (tạo nên) sa đọa, kiến (tạo nên) ngủ ngầm, kiến (tạo nên) thiêu đốt, kiến (tạo nên) thống khổ, kiến (tạo nên) khúc mắc, kiến (tạo nên) chấp thủ, kiến (tạo nên) cố chấp, kiến (tạo nên) bám víu.
Có những ràng buộc là kiến, và có những ràng buộc không phải là kiến.
Những ràng buộc nào là kiến? Thân kiến, sự cố chấp vào giới và nghi thức; những điều này vừa là sự ràng buộc vừa là kiến.
Những ràng buộc nào không phải là kiến? Sự ràng buộc với ái dục, sự ràng buộc với bất bình, sự ràng buộc với ngã mạn, sự ràng buộc với hoài nghi, sự ràng buộc với hữu ái, sự ràng buộc với ganh tỵ, sự ràng buộc với bỏn xẻn, sự ràng buộc với tình quyến luyến, sự ràng buộc với vô minh; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Lạc và hỷ tâm nào sanh lên tùy thuộc vào thọ, …(như trên)… tùy thuộc vào tưởng, …(như trên)… tùy thuộc vào các hành, …(như trên)… tùy thuộc vào thức, …(như trên)… tùy thuộc vào mắt, …(như trên)… tùy thuộc vào tai, …(như trên)… tùy thuộc vào mũi, …(như trên)… tùy thuộc vào lưỡi, …(như trên)… tùy thuộc vào thân, …(như trên)… tùy thuộc vào ý, …(như trên)… tùy thuộc vào các sắc, …(như trên)… tùy thuộc vào các thinh, …(như trên)… tùy thuộc vào các khí, …(như trên)… tùy thuộc vào các vị, …(như trên)… tùy thuộc vào các xúc, …(như trên)… tùy thuộc vào các pháp, …(như trên)… tùy thuộc vào nhãn thức, …(như trên)… tùy thuộc vào nhĩ thức, …(như trên)… tùy thuộc vào tỷ thức, …(như trên)… tùy thuộc vào thiệt thức, …(như trên)… tùy thuộc vào thân thức, …(như trên)… tùy thuộc vào ý thức, …(như trên)… tùy thuộc vào nhãn xúc, …(như trên)… tùy thuộc vào nhĩ xúc, …(như trên)… tùy thuộc vào tỷ xúc, …(như trên)… tùy thuộc vào thiệt xúc, …(như trên)… tùy thuộc vào thân xúc, …(như trên)… tùy thuộc vào ý xúc, …(như trên)… tùy thuộc vào thọ sanh ra từ nhãn xúc, …(như trên)… tùy thuộc vào thọ sanh ra từ nhĩ xúc, …(như trên)… tùy thuộc vào thọ sanh ra từ tỷ xúc, …(như trên)… tùy thuộc vào thọ sanh ra từ thiệt xúc, …(như trên)… tùy thuộc vào thọ sanh ra từ thân xúc, …(như trên)… tùy thuộc vào thọ sanh ra từ ý xúc, điều ấy là sự khoái lạc đối với thọ sanh ra từ ý xúc’ là kiến. Kiến không phải là sự khoái lạc, sự khoái lạc không phải là kiến; kiến là điều khác, sự khoái lạc là điều khác; (cả hai) kiến và sự khoái lạc được gọi là Khoái Lạc Kiến.
Khoái lạc kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. Người có sự hư hỏng về kiến ấy là (người) bị hư hỏng về kiến. Không nên tiếp cận, không nên kết thân, không nên gần gũi người bị hư hỏng về kiến. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì kiến của người này là ác. Ái nào do kiến, ái ấy không phải là kiến, kiến không phải là ái, kiến là điều khác, ái là điều khác; (cả hai) kiến và ái được gọi là ái do kiến. Người có kiến ấy và ái ấy là (người) bị nhiễm ái do kiến. Vật thí cho đến người bị nhiễm ái do kiến không có quả báu lớn, không có lợi ích lớn. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì kiến của người này là ác.
Khoái lạc kiến là tà kiến. Có hai cảnh giới (tái sanh) đối với người có tà kiến là địa ngục hoặc loài súc sanh. Thân nghiệp nào bị tác động toàn diện bởi kiến như thế ấy, khẩu nghiệp nào …(như trên)…, ý nghiệp nào bị tác động toàn diện bởi kiến như thế ấy, ý định nào, ước muốn nào, nguyện vọng nào, và các hành nào của người có tà kiến, tất cả các pháp ấy đều đưa đến điều không muốn, không thích, không vừa ý, không tốt đẹp, khổ đau. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì kiến của người này là ác. Cũng giống như hạt giống cây nimba hoặc hạt giống cây kosātakī, hoặc hạt giống cây tittakālābu được gieo xuống đất ẩm. Vị nào của đất đã được tiếp thâu và vị nào của nước đã được tiếp thâu, tất cả (các) vị ấy đều đưa đến tính chất chát, tính chất cay, tính chất không dịu ngọt. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì hạt giống của cây ấy là ác. Tương tợ như thế, thân nghiệp nào bị tác động toàn diện bởi kiến như thế ấy, khẩu nghiệp nào …(như trên)…, ý nghiệp nào bị tác động toàn diện bởi kiến như thế ấy, ý định nào, ước muốn nào, nguyện vọng nào, và các hành nào của người có tà kiến, tất cả các pháp ấy đều đưa đến điều không muốn, không thích, không vừa ý, không tốt đẹp, khổ đau. Điều ấy có nguyên nhân thế nào? Bởi vì kiến của người này là ác. Khoái lạc kiến là tà kiến. Tà kiến là kiến (tạo nên) thiên lệch, kiến (tạo nên) nắm giữ, …(như trên)…, kiến (tạo nên) cố chấp, kiến (tạo nên) bám víu. Có sự ràng buộc đối với tâm đã bị xâm nhập với 18 biểu hiện này.
Có những ràng buộc là kiến, và có những ràng buộc không phải là kiến. Những ràng buộc nào là kiến? Thân kiến, sự cố chấp vào giới và nghi thức; những điều này vừa là sự ràng buộc vừa là kiến.
Những ràng buộc nào không phải là kiến? Sự ràng buộc với ái dục, sự ràng buộc với bất bình, sự ràng buộc với ngã mạn, sự ràng buộc với hoài nghi, sự ràng buộc với hữu ái, sự ràng buộc với ganh tỵ, sự ràng buộc với bỏn xẻn, sự ràng buộc với tình quyến luyến, sự ràng buộc với vô minh; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Do khoái lạc kiến, có sự cố chấp với 35 biểu hiện này.
2. Tùy Ngã Kiến
Do tùy ngã kiến, có sự cố chấp với 20 biểu hiện gì?
Ở đây, kẻ phàm phu không lắng nghe, không có sự nhận thức của các bậc Thánh, không rành rẽ Thánh pháp, không được huấn luyện về Thánh pháp, không có sự nhận thức của các bậc chân nhân, không rành rẽ pháp chân nhân, không được huấn luyện về pháp chân nhân nhận thấy sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc; nhận thấy thọ … nhận thấy tưởng … nhận thấy các hành … nhận thấy thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức.
Nhận thấy sắc là tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy đề mục đất là tự ngã rằng: “Cái gì là đề mục đất, cái ấy là tôi; cái gì là tôi, cái ấy là đề mục đất,” (vị ấy) nhận thấy đề mục đất và tự ngã chỉ là một. Cũng giống như đối với ngọn đèn dầu đang cháy sáng (nghĩ rằng): “Cái gì là ngọn lửa, cái ấy là ánh sáng; cái gì là ánh sáng, cái ấy là ngọn lửa,” (vị ấy) nhận thấy ngọn lửa và ánh sáng chỉ là một. Tương tợ như thế, có người nhận thấy đề mục đất là tự ngã rằng: “Cái gì là đề mục đất, cái ấy là tôi; cái gì là tôi, cái ấy là đề mục đất,” (vị ấy) nhận thấy đề mục đất và tự ngã chỉ là một. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có sắc là nền tảng—thứ nhất. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(như trên)… Tùy ngã kiến là tà kiến. Đối với người có tùy ngã kiến, có hai cảnh giới (tái sanh) …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Ở đây, có người nhận thấy đề mục nước … đề mục lửa … đề mục gió … đề mục xanh … đề mục vàng … đề mục đỏ … đề mục trắng là tự ngã rằng: “Cái gì là đề mục trắng, cái ấy là tôi; cái gì là tôi, cái ấy là đề mục trắng,” (vị ấy) nhận thấy đề mục trắng và tự ngã chỉ là một. Cũng giống như đối với ngọn đèn dầu đang cháy sáng (nghĩ rằng): “Cái gì là ngọn lửa, cái ấy là ánh sáng; cái gì là ánh sáng, cái ấy là ngọn lửa,” (vị ấy) nhận thấy ngọn lửa và ánh sáng chỉ là một. Tương tợ như thế, có người …(như trên)… nhận thấy đề mục trắng và tự ngã chỉ là một. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có sắc là nền tảng—thứ nhất. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy sắc là tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy tự ngã có sắc là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy thọ, tưởng, các hành, thức là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật có sắc bởi vì sắc này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã có sắc. Cũng giống như cội cây là có bóng cây, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là cội cây, cái này là bóng cây, cội cây là cái khác, bóng cây là cái khác. Hơn nữa, cội cây này đây quả thật là có bóng cây bởi vì bóng cây này;” (vị ấy) nhận thấy cội cây là có bóng cây. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy thọ, tưởng, các hành, thức là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật có sắc bởi vì sắc này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã có sắc. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có sắc là nền tảng—thứ nhì. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã có sắc là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy sắc ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy thọ, tưởng, các hành, thức là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, sắc này là ở trong tự ngã này;” (vị ấy) nhận thấy sắc ở trong tự ngã. Cũng giống như bông hoa là có mùi thơm, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là bông hoa, cái này là mùi thơm; bông hoa là cái khác, mùi thơm là cái khác; hơn nữa, mùi thơm này đây là ở trong bông hoa này;” (vị ấy) nhận thấy mùi thơm ở trong bông hoa. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy thọ, tưởng, các hành, thức là tự ngã. Vị ấy …(nt)… nhận thấy sắc ở trong tự ngã. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có sắc là nền tảng—thứ ba. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(nt)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy sắc ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy tự ngã ở trong sắc là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy thọ, tưởng, các hành, thức là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật là ở trong sắc này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã ở trong sắc. Cũng giống như viên ngọc ma-ni được đặt trong cái hộp, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là viên ngọc ma-ni, cái này là cái hộp; viên ngọc ma-ni là cái khác, cái hộp là cái khác; hơn nữa, viên ngọc ma-ni này đây quả thật là ở trong cái hộp này;” (vị ấy) nhận thấy viên ngọc ma-ni ở trong cái hộp. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy thọ, tưởng, các hành, thức là tự ngã. Vị ấy …(như trên)… nhận thấy tự ngã ở trong sắc. Sự cố chấp và bám víu là kiến. …(như trên)… (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có sắc là nền tảng—thứ tư. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã ở trong sắc là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy thọ là tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy thọ sanh ra từ nhãn xúc … thọ sanh ra từ nhĩ xúc … thọ sanh ra từ tỷ xúc … thọ sanh ra từ thiệt xúc … thọ sanh ra từ thân xúc … thọ sanh ra từ ý xúc là tự ngã rằng: “Cái gì là thọ sanh ra từ ý xúc, cái ấy là ta; cái gì là ta, cái ấy là thọ sanh ra từ ý xúc,” (vị ấy) nhận thấy thọ sanh ra từ ý xúc và tự ngã chỉ là một. Cũng giống như đối với ngọn đèn dầu đang cháy sáng (nghĩ rằng): “Cái gì là ngọn lửa, cái ấy là ánh sáng; cái gì là ánh sáng, cái ấy là ngọn lửa,” (vị ấy) nhận thấy ngọn lửa và ánh sáng chỉ là một. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy thọ sanh ra từ ý xúc là tự ngã rằng: “Cái gì là thọ sanh ra từ ý xúc, cái ấy là ta; cái gì là ta, cái ấy là thọ sanh ra từ ý xúc,” (vị ấy) nhận thấy thọ sanh ra từ ý xúc và tự ngã chỉ là một. Sự cố chấp và bám víu là kiến. …(nt)… (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có thọ là nền tảng—thứ nhất. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(nt)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy thọ là tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy tự ngã có thọ là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy tưởng, các hành, thức, sắc là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật là có thọ bởi vì thọ này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã có thọ. Cũng giống như cội cây là có bóng cây, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là cội cây, cái này là bóng cây; cội cây là cái khác, bóng cây là cái khác. Hơn nữa, cội cây này đây quả thật là có bóng cây bởi vì bóng cây này;” (vị ấy) nhận thấy cội cây là có bóng cây. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy tưởng, các hành, thức, sắc là tự ngã. Vị ấy …(như trên)… nhận thấy tự ngã có thọ. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có thọ là nền tảng—thứ nhì. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã có thọ là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy thọ ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy tưởng, các hành, thức, sắc là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, thọ này ở trong tự ngã này;” (vị ấy) nhận thấy thọ ở trong tự ngã. Cũng giống như bông hoa là có mùi thơm, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là bông hoa, cái này là mùi thơm; bông hoa là cái khác, mùi thơm là cái khác. Hơn nữa, mùi thơm này đây là ở trong bông hoa này;” (vị ấy) nhận thấy mùi thơm ở trong bông hoa. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy tưởng, các hành, thức, thọ là tự ngã. Vị ấy …(nt)… nhận thấy thọ ở trong tự ngã. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có thọ là nền tảng—thứ ba. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(nt)… những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy thọ ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy tự ngã ở trong thọ là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy tưởng, các hành, thức, sắc là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật là ở trong thọ này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã ở trong thọ. Cũng giống như viên ngọc ma-ni được đặt trong cái hộp, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là viên ngọc ma-ni, cái này là cái hộp; viên ngọc ma-ni là cái khác, cái hộp là cái khác. Hơn nữa, viên ngọc ma-ni này đây quả thật là ở trong cái hộp này;” (vị ấy) nhận thấy viên ngọc ma-ni ở trong cái hộp. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy tưởng, các hành, thức, sắc là tự ngã. Vị ấy …(như trên)… nhận thấy tự ngã ở trong thọ. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có thọ là nền tảng—thứ tư. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(nt)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã ở trong thọ là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy tưởng là tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy tưởng sanh ra từ nhãn xúc … tưởng sanh ra từ nhĩ xúc … tưởng sanh ra từ tỷ xúc … tưởng sanh ra từ thiệt xúc … tưởng sanh ra từ thân xúc … tưởng sanh ra từ ý xúc là tự ngã rằng: “Cái gì là tưởng sanh ra từ ý xúc, cái ấy là ta; cái gì là ta, cái ấy là tưởng sanh ra từ ý xúc,” (vị ấy) nhận thấy tưởng sanh ra từ ý xúc và tự ngã chỉ là một. Cũng giống như đối với ngọn đèn dầu đang cháy sáng (nghĩ rằng): “Cái gì là ngọn lửa, cái ấy là ánh sáng; cái gì là ánh sáng, cái ấy là ngọn lửa,” (vị ấy) nhận thấy ngọn lửa và ánh sáng chỉ là một. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy …(như trên)… tưởng sanh ra từ ý xúc và tự ngã chỉ là một. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có tưởng là nền tảng—thứ nhất. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tưởng là tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy tự ngã có tưởng là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy các hành, thức, sắc, thọ là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta là có tưởng bởi vì tưởng này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã có tưởng. Cũng giống như cội cây là có bóng cây, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là cội cây, cái này là bóng cây; cội cây là cái khác, bóng cây là cái khác. Hơn nữa, cội cây này đây quả thật là có bóng cây bởi vì bóng cây này;” (vị ấy) nhận thấy cội cây là có bóng cây. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy …( như trên)… tự ngã có tưởng. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có tưởng là nền tảng—thứ nhì. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã có tưởng là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy tưởng ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy các hành, thức, sắc, thọ là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tưởng này ở trong tự ngã này;” (vị ấy) nhận thấy tưởng ở trong tự ngã. Cũng giống như bông hoa là có mùi thơm, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là bông hoa, cái này là mùi thơm; bông hoa là cái khác, mùi thơm là cái khác. Hơn nữa, mùi thơm này đây là ở trong bông hoa này;” (vị ấy) nhận thấy mùi thơm ở trong bông hoa. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy …(như trên)… tưởng ở trong tự ngã. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có tưởng là nền tảng—thứ ba. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tưởng ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy tự ngã ở trong tưởng là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy các hành, thức, sắc, thọ là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật là ở trong tưởng này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã ở trong tưởng. Cũng giống như viên ngọc ma-ni được đặt trong cái hộp, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là viên ngọc ma-ni, cái này là cái hộp; viên ngọc ma-ni là cái khác, cái hộp là cái khác. Hơn nữa, viên ngọc ma-ni này đây quả thật là ở trong cái hộp này;” (vị ấy) nhận thấy viên ngọc ma-ni ở trong cái hộp. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy các hành, thức, sắc, thọ là tự ngã. Vị ấy …(nt)… nhận thấy tự ngã ở trong tưởng. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có tưởng là nền tảng—thứ tư. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(nt)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã ở trong tưởng là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy các hành là tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy tư sanh ra từ nhãn xúc … tư sanh ra từ nhĩ xúc … tư sanh ra từ tỷ xúc … tư sanh ra từ thiệt xúc … tư sanh ra từ thân xúc … tư sanh ra từ ý xúc là tự ngã rằng: “Cái gì là tư sanh ra từ ý xúc, cái ấy là ta; cái gì là ta, cái ấy là tư sanh ra từ ý xúc,” (vị ấy) nhận thấy tư sanh ra từ ý xúc và tự ngã chỉ là một. Cũng giống như đối với ngọn đèn dầu đang cháy sáng (nghĩ rằng): “Cái gì là ngọn lửa, cái ấy là ánh sáng; cái gì là ánh sáng, cái ấy là ngọn lửa,” (vị ấy) nhận thấy ngọn lửa và ánh sáng chỉ là một. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy …(như trên)… tư sanh ra từ ý xúc và tự ngã chỉ là một. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có hành là nền tảng—thứ nhất. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy các hành là tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy tự ngã có hành là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy thức, sắc, thọ, tưởng là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật là có hành bởi vì các hành này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã có hành. Cũng giống như cội cây là có bóng cây, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là cội cây, cái này là bóng cây; cội cây là cái khác, bóng cây là cái khác. Hơn nữa, cội cây này đây quả thật là có bóng cây bởi vì bóng cây này;” (vị ấy) nhận thấy cội cây là có bóng cây. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy …(như trên)… tự ngã có hành. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có hành là nền tảng—thứ nhì. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã có hành là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy các hành ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy thức, sắc, thọ, tưởng là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, các hành này là ở trong tự ngã này;” (vị ấy) nhận thấy các hành ở trong tự ngã. Cũng giống như bông hoa là có mùi thơm, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là bông hoa, cái này là mùi thơm; bông hoa là cái khác, mùi thơm là cái khác. Hơn nữa, mùi thơm này đây là ở trong bông hoa này;” (vị ấy) nhận thấy mùi thơm ở trong bông hoa. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy …(như trên)… các hành ở trong tự ngã. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có hành là nền tảng—thứ ba. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy các hành ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy tự ngã ở trong các hành là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy thức, sắc, thọ, tưởng là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật là ở trong các hành này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã ở trong các hành. Cũng giống như viên ngọc ma-ni được đặt trong cái hộp, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là viên ngọc ma-ni, cái này là cái hộp; viên ngọc ma-ni là cái khác, cái hộp là cái khác. Hơn nữa, viên ngọc ma-ni này đây quả thật là ở trong cái hộp này;” (vị ấy) nhận thấy viên ngọc ma-ni ở trong cái hộp. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy …(như trên)… tự ngã ở trong các hành. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có hành là nền tảng—thứ tư. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã ở trong các hành là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy thức là tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy nhãn thức … nhĩ thức … tỷ thức … thiệt thức … thân thức … ý thức là tự ngã rằng: “Cái gì là ý thức, cái ấy là ta; cái gì là ta, cái ấy là ý thức,” (vị ấy) nhận thấy ý thức và tự ngã chỉ là một. Cũng giống như đối với ngọn đèn dầu đang cháy sáng (nghĩ rằng): “Cái gì là ngọn lửa, cái ấy là ánh sáng; cái gì là ánh sáng, cái ấy là ngọn lửa,” (vị ấy) nhận thấy ngọn lửa và ánh sáng chỉ là một. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy nhãn thức … nhĩ thức … tỷ thức … thiệt thức … thân thức … ý thức là tự ngã rằng: “Cái gì là ý thức, cái ấy là ta. Cái gì là ta, cái ấy là ý thức,” (vị ấy) nhận thấy ý thức và tự ngã chỉ là một. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có thức là nền tảng—thứ nhất. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy thức là tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy tự ngã có thức là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy sắc, thọ, tưởng, các hành là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật là có thức bởi vì thức này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã có thức. Cũng giống như cội cây là có bóng cây, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là cội cây, cái này là bóng cây; cội cây là cái khác, bóng cây là cái khác. Hơn nữa, cội cây này đây quả thật là có bóng cây bởi vì bóng cây này;” (vị ấy) nhận thấy cội cây là có bóng cây. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy …(như trên)… tự ngã có thức. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có thức là nền tảng—thứ nhì. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã có thức là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy thức ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy sắc, thọ, tưởng, các hành là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, thức này là ở trong tự ngã này;” (vị ấy) nhận thấy thức ở trong tự ngã. Cũng giống như bông hoa là có mùi thơm, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là bông hoa, cái này là mùi thơm; bông hoa là cái khác, mùi thơm là cái khác. Hơn nữa, mùi thơm này đây là ở trong bông hoa này;” (vị ấy) nhận thấy mùi thơm ở trong bông hoa. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy …(như trên)… thức ở trong tự ngã. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có thức là nền tảng—thứ ba. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy thức ở trong tự ngã là (có ý nghĩa) như thế.
Nhận thấy tự ngã ở trong thức là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy sắc, thọ, tưởng, các hành là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật là ở trong thức này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã ở trong thức. Cũng giống như viên ngọc ma-ni được đặt trong cái hộp, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là viên ngọc ma-ni, cái này là cái hộp; viên ngọc ma-ni là cái khác, cái hộp là cái khác. Hơn nữa, viên ngọc ma-ni này đây quả thật là ở trong cái hộp này;” (vị ấy) nhận thấy viên ngọc ma-ni ở trong cái hộp. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy …(như trên)… tự ngã ở trong thức. Sự cố chấp và bám víu là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tùy ngã kiến có thức là nền tảng—thứ tư. Tùy ngã kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã ở trong thức là (có ý nghĩa) như thế.
Do tùy ngã kiến, có sự cố chấp với 20 biểu hiện này.
3. Tà Kiến
Do tà kiến, có sự cố chấp với 10 biểu hiện gì?
Nói rằng: “Không có bố thí,” luận thuyết như thế có sự cố chấp và bám víu vào sai trái là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tà kiến có nền tảng sai trái—thứ nhất. Tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Nói rằng: “Không có cúng dường” …(như trên)… Nói rằng: “Không có tế lễ,” …(nt)… Nói rằng: “Không có quả thành tựu của các hành động được làm tốt hoặc được làm xấu,” …(nt)… Nói rằng: “Không có đời này,” …(nt)… Nói rằng: “Không có đời sau,” …(nt)… Nói rằng: “Không có mẹ,” …(nt)… Nói rằng: “Không có cha,” …(nt)… Nói rằng: “Không có sự sanh ra từ nhân của nghiệp,” …(nt)… Nói rằng: “Ở đời, không có các Sa-môn, Bà-la-môn sống chân chánh, thực hành chân chánh, sau khi tác chứng nhờ vào thắng trí của bản thân, sẽ công bố về đời này và đời sau,” luận thuyết như thế có sự cố chấp và bám víu vào sai trái là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—tà kiến có nền tảng sai trái—thứ mười. Tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(nt)… Đối với người có tà kiến, có hai cảnh giới (tái sanh) …(nt)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Do tà kiến, có sự cố chấp với 10 biểu hiện này.
4. Thân Kiến
Do thân kiến, có sự cố chấp với 20 biểu hiện gì?
Ở đây, kẻ phàm phu không lắng nghe, không có sự nhận thức của các bậc Thánh, không rành rẽ Thánh pháp, không được huấn luyện về Thánh pháp, không có sự nhận thức của các bậc chân nhân, không rành rẽ pháp chân nhân, không được huấn luyện về pháp chân nhân nhận thấy sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc; nhận thấy thọ …(nt)…; nhận thấy tưởng …(nt)…; nhận thấy các hành …(nt)…; nhận thấy thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức.
Nhận thấy sắc là tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy đề mục đất …(như trên)… đề mục trắng là tự ngã rằng: “Cái gì là đề mục trắng, cái ấy là tôi; cái gì là tôi, cái ấy là đề mục trắng,” (vị ấy) nhận thấy đề mục trắng và tự ngã chỉ là một. Cũng giống như đối với ngọn đèn dầu đang cháy sáng …(như trên)… Tương tợ như thế, có người nhận thấy đề mục trắng là tự ngã. Sự cố chấp và bám víu là kiến. …(nt)… Đây là—thân kiến có sắc là nền tảng—thứ nhất. Thân kiến là tà kiến, …(nt)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy sắc là tự ngã là (có ý nghĩa) như thế. …(nt)… Do thân kiến, có sự cố chấp với 20 biểu hiện này.
5. Thường Kiến lấy Thân làm Nền Tảng
Do thường kiến lấy thân làm nền tảng, có sự cố chấp với 15 biểu hiện gì?
Ở đây, kẻ phàm phu không lắng nghe, không có sự nhận thức của các bậc Thánh, không rành rẽ Thánh pháp, không được huấn luyện về Thánh pháp, không có sự nhận thức của các bậc chân nhân, không rành rẽ pháp chân nhân, không được huấn luyện về pháp chân nhân nhận thấy tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc; nhận thấy tự ngã có thọ …(như trên)…; nhận thấy tự ngã có tưởng …(nt)…; nhận thấy tự ngã có các hành …(nt)…; nhận thấy tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức.
Nhận thấy tự ngã có sắc là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy thọ, tưởng, các hành, thức là tự ngã. Vị ấy khởi ý như vầy: “Cái này quả thật là tự ngã của ta. Hơn nữa, tự ngã này đây của ta quả thật có sắc bởi vì sắc này;” (vị ấy) nhận thấy tự ngã có sắc. Cũng giống như cội cây là có bóng cây, vị này có thể nói về điều ấy như vầy: “Cái này là cội cây, cái này là bóng cây; cội cây là cái khác, bóng cây là cái khác. Hơn nữa, cội cây này đây quả thật là có bóng cây bởi vì bóng cây này;” (vị ấy) nhận thấy cội cây là có bóng cây. Tương tợ như thế, ở đây có người nhận thấy thọ …(như trên)… Đây là—thường kiến lấy thân làm nền tảng—thứ nhất. Thường kiến là tà kiến, …(như trên)… những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy tự ngã có sắc là (có ý nghĩa) như thế. …(như trên)… Do thường kiến lấy thân làm nền tảng, có sự cố chấp với 15 biểu hiện này.
6. Đoạn Kiến lấy Thân làm Nền Tảng
Do đoạn kiến lấy thân làm nền tảng, có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì?
Ở đây, kẻ phàm phu không lắng nghe, không có sự nhận thức của các bậc Thánh, không rành rẽ Thánh pháp, không được huấn luyện về Thánh pháp, không có sự nhận thức của các bậc chân nhân, không rành rẽ pháp chân nhân, không được huấn luyện về pháp chân nhân nhận thấy sắc là tự ngã, nhận thấy thọ là tự ngã, nhận thấy tưởng là tự ngã, nhận thấy các hành là tự ngã, nhận thấy thức là tự ngã.
Nhận thấy sắc là tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy đề mục đất …(như trên)… đề mục trắng là tự ngã rằng: “Cái gì là đề mục trắng, cái ấy là tôi; cái gì là tôi, cái ấy là đề mục trắng,” (vị ấy) nhận thấy đề mục trắng và tự ngã chỉ là một. Cũng giống như đối với ngọn đèn dầu đang cháy sáng …(nt)… Đây là—đoạn kiến lấy thân làm nền tảng—thứ nhất. Đoạn kiến là tà kiến, …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Nhận thấy sắc là tự ngã là (có ý nghĩa) như thế. …(như trên)… Do đoạn kiến lấy thân làm nền tảng, có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.
7. Hữu Biên Kiến
Do hữu biên kiến, có sự cố chấp với 50 biểu hiện gì?
Do hữu biên kiến ‘Thế giới là thường còn,’* có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện? Do hữu biên kiến ‘Thế giới là không thường còn,’ … ‘Thế giới là có giới hạn,’ … ‘Thế giới là không có giới hạn,’ … ‘Mạng sống ấy, thân thể ấy,’ … ‘Mạng sống khác, thân thể khác,’ … ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ … ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ … ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ … ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với bao nhiêu biểu hiện?
Do hữu biên kiến ‘Thế giới là thường còn,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện. … Do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện.
Do hữu biên kiến ‘Thế giới là thường còn,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Sắc là thế giới và là thường còn’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—hữu biên kiến về ‘Thế giới là thường còn’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, … những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Thọ là thế giới và là thường còn’ …(như trên)… ‘Tưởng là thế giới và là thường còn’ …(như trên)… ‘Hành là thế giới và là thường còn’ …(như trên)… ‘Thức là thế giới và là thường còn’ …(như trên)… là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—hữu biên kiến về ‘Thế giới là thường còn’—thứ năm. Hữu biên kiến là tà kiến, …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Do hữu biên kiến ‘Thế giới là thường còn,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.
Do hữu biên kiến ‘Thế giới là không thường còn,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Sắc là thế giới và là không thường còn’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. …(như trên)… là—hữu biên kiến về ‘Thế giới là không thường còn’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, tà kiến là sự hư hỏng về kiến. …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Thọ là thế giới và là không thường còn’ …(như trên)… ‘Tưởng là thế giới và là không thường còn’ … ‘Hành là thế giới và là không thường còn’ … ‘Thức là thế giới và là không thường còn’ … là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. Hữu biên kiến là tà kiến, …(nt)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Do hữu biên kiến ‘Thế giới là không thường còn,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.
Do hữu biên kiến ‘Thế giới là có giới hạn,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Ở đây, có người quan niệm bầu trời là hạn hẹp và có màu xanh. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Thế giới này là có giới hạn, được bao quanh’ là có suy tưởng về giới hạn. Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Quan niệm về vật gì, vật ấy vừa là nền tảng vừa là thế giới. Quan niệm nhờ vào vật gì, vật ấy vừa là tự ngã vừa là thế giới’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—hữu biên kiến về ‘Thế giới là có giới hạn’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Ở đây, có người quan niệm bầu trời là hạn hẹp và có màu vàng. … có màu đỏ … có màu trắng … có màu ánh sáng. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Thế giới này là có giới hạn, được bao quanh’ là có suy tưởng về giới hạn. Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Quan niệm về vật gì, vật ấy vừa là nền tảng vừa là thế giới. Quan niệm nhờ vào vật gì, vật ấy vừa là tự ngã vừa là thế giới’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. …(như trên)… Do hữu biên kiến ‘Thế giới là có giới hạn,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.
Do hữu biên kiến ‘Thế giới là không có giới hạn,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Ở đây, có người quan niệm bầu trời là bao la và có màu xanh. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Thế giới này là không có giới hạn, không được bao quanh’ là có suy tưởng về không có giới hạn. Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Quan niệm về vật gì, vật ấy vừa là nền tảng vừa là thế giới. Quan niệm nhờ vào vật gì, vật ấy vừa là tự ngã vừa là thế giới’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. …(như trên)… là—hữu biên kiến về ‘Thế giới là không có giới hạn’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Ở đây, có người quan niệm bầu trời là bao la và có màu vàng … có màu đỏ … có màu trắng … có màu ánh sáng. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Thế giới này là không có giới hạn, không được bao quanh’ là có suy tưởng về không có giới hạn. Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Quan niệm về vật gì, vật ấy vừa là nền tảng vừa là thế giới. Quan niệm nhờ vào vật gì, vật ấy vừa là tự ngã vừa là thế giới’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. …(nt)… Do hữu biên kiến ‘Thế giới là không có giới hạn,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.
Do hữu biên kiến ‘Mạng sống ấy, thân thể ấy,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Sắc vừa là mạng sống vừa là thân thể, cái gì là mạng sống cái ấy là thân thể, cái gì là thân thể cái ấy là mạng sống’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. …(như trên)… là—hữu biên kiến về ‘Mạng sống ấy, thân thể ấy’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Sắc vừa là mạng sống vừa là thân thể. … ‘Thọ vừa là mạng sống vừa là thân thể. … ‘Tưởng vừa là mạng sống vừa là thân thể. … ‘Các hành vừa là mạng sống vừa là thân thể. … ‘Thức vừa là mạng sống vừa là thân thể, cái gì là mạng sống cái ấy là thân thể, cái gì là thân thể cái ấy là mạng sống’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. …(như trên)… Do hữu biên kiến ‘Mạng sống ấy, thân thể ấy,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.
Do hữu biên kiến ‘Mạng sống khác, thân thể khác,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Sắc là thân thể, không phải là mạng sống, mạng sống không phải là thân thể, Mạng sống khác, thân thể khác’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. …(như trên)… là hữu biên kiến về ‘Mạng sống khác, thân thể khác’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Thọ là thân thể không là mạng sống. … ‘Tưởng là thân thể không là mạng sống. … ‘Các hành là thân thể không là mạng sống. … ‘Thức là thân thể không là mạng sống, mạng sống không phải là thân thể, Mạng sống khác, thân thể khác’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. …(như trên)… Do hữu biên kiến ‘Mạng sống khác, thân thể khác,’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.
Do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Chính ở đây, sắc là pháp tử. Từ sự tan rã của thân, đức Như Lai cũng còn hiện hữu, cũng còn tồn tại, cũng còn sanh lên, và cũng còn tái tạo’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. …(như trên)… là—hữu biên kiến về ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Chính ở đây, thọ là pháp tử. … ‘Chính ở đây, tưởng là pháp tử. … ‘Chính ở đây, các hành là pháp tử. … ‘Chính ở đây, thức là pháp tử. Từ sự tan rã của thân, đức Như Lai cũng còn hiện hữu, cũng còn tồn tại, cũng còn sanh lên, và cũng còn tái tạo’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. …(như trên)… Do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.
Do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Chính ở đây, sắc là pháp tử. Từ sự tan rã của thân, đức Như Lai bị phân hoại, bị diệt vong’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—hữu biên kiến về ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Chính ở đây, thọ là pháp tử. … ‘Chính ở đây, tưởng là pháp tử. … ‘Chính ở đây, các hành là pháp tử. … ‘Chính ở đây, thức là pháp tử. Từ sự tan rã của thân, đức Như Lai bị phân hoại, bị diệt vong’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. …(như trên)… Do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.
Do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Chính ở đây, sắc là pháp tử. Từ sự tan rã của thân, đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—hữu biên kiến về ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Chính ở đây, thọ là pháp tử. … ‘Chính ở đây, tưởng là pháp tử. … ‘Chính ở đây, các hành là pháp tử. … ‘Chính ở đây, thức là pháp tử. Từ sự tan rã của thân, đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. …(như trên)… Do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.
Do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện gì? Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Chính ở đây, sắc là pháp tử. Từ sự tan rã của thân, đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—hữu biên kiến về ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Chính ở đây, thọ là pháp tử. … ‘Chính ở đây, tưởng là pháp tử. … ‘Chính ở đây, các hành là pháp tử. … ‘Chính ở đây, thức là pháp tử. Từ sự tan rã của thân, đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết’ là kiến. Do kiến ấy, ‘giới hạn ấy được chấp nhận’ là hữu biên kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—hữu biên kiến về ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’—thứ nhất. Hữu biên kiến là tà kiến, …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến. Do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có sự cố chấp với 5 biểu hiện này.
Do hữu biên kiến, có sự cố chấp với 50 biểu hiện này.
8. Quá Khứ Hữu Biên Kiến
Do quá khứ hữu biên kiến, có sự cố chấp với 18 biểu hiện gì?
Có bốn luận thuyết về thường còn, bốn liên quan đến thường còn là phiến diện, bốn liên quan đến có giới hạn và không có giới hạn, bốn liên quan đến trườn uốn như lươn, hai liên quan đến ngẫu nhiên sanh lên.
Do quá khứ hữu biên kiến, có sự cố chấp với 18 biểu hiện này.
9. Vị Lai Hữu Biên Kiến
Do vị lai hữu biên kiến, có sự cố chấp với 44 biểu hiện gì?
Có mười sáu luận thuyết về tưởng, tám luận thuyết về phi tưởng, tám luận thuyết về phi tưởng phi phi tưởng, bảy luận thuyết về đoạn tận, năm luận thuyết về hiện tại Niết Bàn.
Do vị lai hữu biên kiến, có sự cố chấp với 44 biểu hiện này.
10. Kiến có sự Ràng Buộc
Do kiến có sự ràng buộc, có sự cố chấp với 18 biểu hiện gì?
Loại kiến nào là kiến (tạo nên) thiên lệch, kiến (tạo nên) nắm giữ, …(như trên)…, kiến (tạo nên) cố chấp, kiến (tạo nên) bám víu.
Do kiến có sự ràng buộc, có sự cố chấp với 18 biểu hiện này.
11. Kiến có sự Tự Hào và Gắn Bó về ‘Tôi’
Do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi,’ có sự cố chấp với 18 biểu hiện gì?
Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Mắt là tôi’ là kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi.’ Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi’—thứ nhất. Kiến có sự tự hào và gắn bó là tà kiến …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Tai là tôi.’ …(như trên)… ‘Mũi là tôi.’ …(như trên)… ‘Lưỡi là tôi.’ …(như trên)… ‘Thân là tôi.’ …(như trên)… ‘Ý là tôi.’ …(như trên)… ‘Các sắc là tôi.’ …(như trên)… ‘Các pháp là tôi.’ …(như trên)… ‘Nhãn thức là tôi.’ …(như trên)… ‘Ý thức là tôi’ là kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi.’ Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi’—thứ mười tám. Kiến có tự hào và gắn bó là tà kiến …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi,’ có sự cố chấp với 18 biểu hiện này.
12. Kiến có sự Tự Hào và Gắn Bó về ‘Của Tôi’
Do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi,’ có sự cố chấp với 18 biểu hiện gì?
Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Mắt là của tôi’ là kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi.’ Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi’—thứ nhất. Kiến có sự tự hào và gắn bó là tà kiến …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Sự cố chấp và bám víu rằng: ‘Tai là của tôi.’ …(như trên)… ‘Mũi là của tôi.’ …(như trên)… ‘Lưỡi là của tôi.’ …(như trên)… ‘Thân là của tôi.’ …(như trên)… ‘Ý là của tôi.’ …(như trên)… ‘Các sắc là của tôi.’ …(như trên)… ‘Các pháp là của tôi.’ …(như trên)… ‘Nhãn thức là của tôi.’ …(như trên)… ‘Ý thức là của tôi’ là kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi.’ Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; kiến là điều khác, nền tảng là điều khác; (cả hai) kiến và nền tảng là—kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi’—thứ mười tám. Kiến có sự tự hào và gắn bó là tà kiến …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi,’ có sự cố chấp với 18 biểu hiện này.
13. Kiến có liên hệ đến Luận Thuyết về Tự Ngã
Do kiến có liên hệ đến luận thuyết về tự ngã, có sự cố chấp với 20 biểu hiện gì?
Ở đây, kẻ phàm phu không lắng nghe, không có sự nhận thức của các bậc Thánh, không rành rẽ Thánh pháp, không được huấn luyện về Thánh pháp, không có sự nhận thức của các bậc chân nhân, không rành rẽ pháp chân nhân, không được huấn luyện về pháp chân nhân nhận thấy sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc; nhận thấy thọ …(như trên)… tưởng …(như trên)… các hành …(như trên)… thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức. …(như trên)…
Nhận thấy sắc là tự ngã là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, có người nhận thấy đề mục đất …(như trên)… đề mục trắng là tự ngã rằng: “Cái gì là đề mục trắng, cái ấy là tôi; cái gì là tôi, cái ấy là đề mục trắng,” (vị ấy) nhận thấy đề mục trắng và tự ngã chỉ là một. Cũng giống như đối với ngọn đèn dầu đang cháy sáng (nghĩ rằng): “Cái gì là ngọn lửa, cái ấy là ánh sáng; cái gì là ánh sáng, cái ấy là ngọn lửa,” (vị ấy) nhận thấy ngọn lửa và ánh sáng chỉ là một. Tương tợ như thế, có người nhận thấy đề mục trắng là tự ngã …(như trên`)… là—kiến có liên hệ đến luận thuyết về tự ngã có sắc là nền tảng—thứ nhất. Kiến có liên hệ đến luận thuyết về tự ngã là tà kiến, …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Do kiến có liên hệ đến luận thuyết về tự ngã, có sự cố chấp với 20 biểu hiện này.
14. Kiến có liên hệ đến Luận Thuyết về Thế Giới
Do kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới, có sự cố chấp với 8 biểu hiện gì?
Sự cố chấp và bám víu rằng: “Tự ngã và thế giới là thường còn” là kiến. Kiến không phải là nền tảng, nền tảng không phải là kiến; …(nt)…; (cả hai) kiến và nền tảng là—kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới—thứ nhất. Kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới là tà kiến, …(nt)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Sự cố chấp và bám víu rằng: “Tự ngã và thế giới là không thường còn” … “Tự ngã và thế giới là thường còn và không thường còn” … “Tự ngã và thế giới không phải là thường còn và không phải là không thường còn” … “Tự ngã và thế giới là có giới hạn” … “Tự ngã và thế giới là không có giới hạn” … “Tự ngã và thế giới là có giới hạn và không có giới hạn” … “Tự ngã và thế giới không phải là có giới hạn và không phải là không có giới hạn” là kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới. …(như trên)… là—kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới—thứ tám. Kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới là tà kiến, …(như trên)…; những điều này là sự ràng buộc, không phải là kiến.
Do kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới, có sự cố chấp với 8 biểu hiện này.
15–16. Giải về Hữu Kiến & Phi Hữu Kiến
Cố chấp vào sự nắm giữ lại là hữu kiến, cố chấp vào sự vượt quá là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 35 biểu hiện do khoái lạc kiến có bao nhiêu là hữu kiến, có bao nhiêu là phi hữu kiến? Sự cố chấp với 20 biểu hiện do tùy ngã kiến có bao nhiêu là hữu kiến, có bao nhiêu là phi hữu kiến? …(như trên)… Sự cố chấp với 8 biểu hiện do kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới có bao nhiêu là hữu kiến, có bao nhiêu là phi hữu kiến?
Sự cố chấp với 35 biểu hiện do khoái lạc kiến có thể là hữu kiến, có thể là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 20 biểu hiện do tùy ngã kiến có 15 là hữu kiến, có 5 là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 10 biểu hiện do tà kiến có tất cả đều là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 20 biểu hiện do thân kiến có 15 là hữu kiến, có 5 là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 15 biểu hiện do thường kiến lấy thân làm nền tảng có tất cả đều là hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do đoạn kiến lấy thân làm nền tảng có tất cả đều là phi hữu kiến.
Sự cố chấp với 5 biểu hiện do hữu biên kiến ‘Thế giới là thường còn’ có tất cả đều là hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do hữu biên kiến ‘Thế giới là không thường còn’ có tất cả đều là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do hữu biên kiến ‘Thế giới là có giới hạn’ có thể là hữu kiến, có thể là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do ‘Thế giới là không có giới hạn’ có thể là hữu kiến, có thể là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do hữu biên kiến ‘Mạng sống ấy, thân thể ấy’ có tất cả đều là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do hữu biên kiến ‘Mạng sống khác, thân thể khác’ có tất cả đều là hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có tất cả đều là hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có tất cả đều là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có thể là hữu kiến, có thể là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 5 biểu hiện do hữu biên kiến ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ có thể là hữu kiến, có thể là phi hữu kiến.
Sự cố chấp với 18 biểu hiện do quá khứ hữu biên kiến có thể là hữu kiến, có thể là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 44 biểu hiện do vị lai hữu biên kiến có thể là hữu kiến, có thể là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 18 biểu hiện do kiến có sự ràng buộc có thể là hữu kiến, có thể là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 18 biểu hiện do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘tôi’ có tất cả đều là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 18 biểu hiện do kiến có sự tự hào và gắn bó về ‘của tôi’ có tất cả đều là hữu kiến.
Sự cố chấp với 20 biểu hiện do kiến có liên hệ đến luận thuyết về tự ngã có 15 là hữu kiến, có 5 là phi hữu kiến. Sự cố chấp với 8 biểu hiện do kiến có liên hệ đến luận thuyết về thế giới có thể là hữu kiến, có thể là phi hữu kiến.
Tất cả các kiến ấy là khoái lạc kiến. Tất cả các kiến ấy là tùy ngã kiến. Tất cả các kiến ấy là tà kiến. Tất cả các kiến ấy là thân kiến. Tất cả các kiến ấy là hữu biên kiến. Tất cả các kiến ấy là kiến có sự ràng buộc. Tất cả các kiến ấy là kiến có liên quan đến luận thuyết về tự ngã.
Kiến về sự hiện hữu → và kiến về phi hữu,
luận lý đều nương tựa ở cả hai điều này,
ở tại thế giới này có tưởng bị sai lệch
không có trí biết được sự diệt tận của chúng.
Này các tỳ khưu, chư thiên và nhân loại bị xâm nhập bởi hai loại thiên kiến (hữu và phi hữu), một số nắm giữ lại, một số vượt quá, và những người có mắt nhìn thấy.
Và này các tỳ khưu, một số nắm giữ lại là (có ý nghĩa) thế nào? Này các tỳ khưu, có chư thiên và nhân loại ưa thích hữu, khoái lạc trong hữu, hoan hỷ trong hữu. Khi Giáo Pháp về sự diệt tận của hữu đang được thuyết giảng đến họ, tâm của họ không tiếp thu, không đặt niềm tin, không an trú, không xác quyết. Này các tỳ khưu, một số nắm giữ lại là (có ý nghĩa) như vậy.
Và này các tỳ khưu, một số vượt quá là (có ý nghĩa) thế nào? Này các tỳ khưu, tuy nhiên có một số (chư thiên và nhân loại) trong khi chịu khổ sở, trong khi bị hổ thẹn, trong khi ghê tởm đối với hữu, họ thích thú phi hữu: “Này quý vị, nghe rằng tự ngã này, do sự tan rã của thân, bị phân hoại, bị diệt vong, không có đời sống khác sau khi chết; điều này là tịch tịnh, điều này là tuyệt vời, điều này là hiển nhiên.” Này các tỳ khưu, một số vượt quá là (có ý nghĩa) như thế.
Và này các tỳ khưu, những ngưòi có mắt nhìn thấy là (có ý nghĩa) thế nào? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu nhìn thấy hiện hữu là hiện hữu. Sau khi nhìn thấy hiện hữu là hiện hữu, vị ấy đạt đến sự nhàm chán, sự ly tham ái, sự tịch diệt đối với hữu. Này các tỳ khưu, những ngưòi có mắt nhìn thấy là (có ý nghĩa) như thế.
Sau khi nhìn thấy được → hiện hữu là hiện hữu
cùng với sự vượt qua đối với điều hiện hữu,
người nào xác quyết được đúng theo bản thể thật
(người ấy) thời đoạn tận tham ái đối với hữu.
Vị ấy biết toàn diện → đối với điều hiện hữu
có ái được xa lìa khỏi hữu và phi hữu,
do phi hữu của hữu vị tỳ khưu (như thế)
thời không còn đi đến sự tái sanh lần nữa.
Có 3 hạng người có kiến bị hư hỏng, có 3 hạng người có kiến được thành tựu.
Ba hạng người nào có kiến bị hư hỏng? Ngoại đạo, đệ tử của ngoại đạo, và người có tà kiến; 3 hạng người này có kiến bị hư hỏng.
Ba hạng người nào có kiến được thành tựu? Đức Như Lai, đệ tử của đức Như Lai, và người có chánh kiến.
Người giận dữ, oán hận, → xấu xa, và quỷ quyệt,
kiến hư hỏng, ngu muội, biết là kẻ hạ tiện.
Không giận dữ, không oán, thanh tịnh, hành Đạo Quả,
kiến thành tựu, sáng suốt, biết được là bậc Thánh.
Có ba kiến bị hư hỏng, có ba kiến được thành tựu.
Ba kiến nào bị hư hỏng? ‘Cái này là của tôi’ là kiến bị hư hỏng, ‘Cái này là tôi’ là kiến bị hư hỏng, ‘Cái này là tự ngã của tôi’ là kiến bị hư hỏng. Đây là 3 kiến bị hư hỏng.
Ba kiến nào được thành tựu? ‘Cái này không phải là của tôi’ là kiến được thành tựu, ‘Cái này không phải là tôi’ là kiến được thành tựu, ‘Cái này không phải là tự ngã của tôi’ là kiến được thành tựu. Đây là 3 kiến được thành tựu.
‘Cái này là của tôi’ là kiến gì? Có bao nhiêu kiến? Các kiến ấy liên đới với giới hạn (thời gian) nào? ‘Cái này là của tôi’ là kiến gì? Có bao nhiêu kiến? Các kiến ấy liên đới với giới hạn (thời gian) nào? ‘Cái này là tự ngã của tôi’ là kiến gì? Có bao nhiêu kiến? Các kiến ấy liên đới với giới hạn (thời gian) nào?
‘Cái này là của tôi’ là quá khứ hữu biên kiến. Có 18 kiến. Các kiến ấy liên đới với giới hạn (thời gian) quá khứ. ‘Cái này là của tôi’ là vị lai hữu biên kiến. Có 44 kiến. Các kiến ấy liên đới với giới hạn (thời gian) vị lai. ‘Cái này là tự ngã của tôi’ là tùy ngã kiến với 20 nền tảng, là thân kiến với 20 nền tảng, là 62 thiên kiến có thân kiến đứng đầu, các kiến ấy liên đới với giới hạn (thời gian) quá khứ và vị lai.
Này các tỳ khưu, những người nào hướng đến sự thành toàn ở Ta những người ấy được thành tựu về kiến. Đối với những người được thành tựu về kiến ấy, có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng, có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng.
Có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng nào? Đối với (vị tái sanh) tối đa bảy lần, đối với (vị tái sanh) trong các gia tộc danh giá, đối với vị có một chủng tử (chỉ còn một lần tái sanh),* đối với vị Nhất Lai, và vị nào là A-la-hán ngay trong kiếp hiện tại này, có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng này.
Có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng nào? Đối với vị viên tịch Niết Bàn vào giai đoạn đầu của đời kế tiếp, đối với vị viên tịch Niết Bàn vào giai đoạn cuối của đời kế tiếp, đối với vị Vô Hành viên tịch Niết Bàn, đối với vị Hữu Hành viên tịch Niết Bàn, đối với vị ngược giòng đi đến cõi Sắc Cứu Cánh, có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng này.
Này các tỳ khưu, những người nào hướng đến sự thành toàn ở Ta những người ấy được thành tựu về kiến. Đối với những người được thành tựu về kiến ấy, có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng này, có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng này.
Này các tỳ khưu, những người nào đặt niềm tin hoàn toàn ở nơi Ta, những người ấy là các vị Nhập Lưu. Đối với các vị Nhập Lưu ấy, có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng, có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng.
Có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng nào? Đối với (vị tái sanh) tối đa bảy lần, đối với (vị tái sanh) trong các gia tộc danh giá, đối với vị có một chủng tử (chỉ còn một lần tái sanh), đối với vị Nhất Lai, và vị nào là A-la-hán ngay trong kiếp hiện tại này, có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng này.
Có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng nào? Đối với vị viên tịch Niết Bàn vào giai đoạn đầu của đời kế tiếp, đối với vị viên tịch Niết Bàn vào giai đoạn cuối của đời kế tiếp, đối với vị Vô Hành viên tịch Niết Bàn, đối với vị Hữu Hành viên tịch Niết Bàn, đối với vị ngược giòng đi đến cõi Sắc Cứu Cánh, có sự thành toàn sau khi rời nơi đây đối với năm hạng này.
Này các tỳ khưu, những người nào đặt niềm tin hoàn toàn ở nơi Ta những người ấy là các vị Nhập Lưu. Đối với các vị Nhập Lưu ấy, có sự thành toàn ở nơi đây đối với năm hạng này, có sự thành toàn sau khi rời bỏ nơi đây đối với năm hạng này.
Phần giảng về Kiến được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
[1] Kā diṭṭhīti abhinivesaparāmāso diṭṭhi. [2] Kati diṭṭhiṭṭhānānīti aṭṭha diṭṭhiṭṭhānāni. [3] Kati diṭṭhipariyuṭṭhānānīti aṭṭhārasa diṭṭhipariyuṭṭhānāni. [4] Kati diṭṭhiyoti soḷasa diṭṭhiyo. [5] Kati diṭṭhābhinivesāti tīṇi sataṃ diṭṭhābhinivesā. [6] Katamo diṭṭhiṭṭhānasamugghātoti sotāpattimaggo diṭṭhiṭṭhānasamugghāto.
[1] What is a view? Adherence and misapprehension is a view. [2] How many are the grounds for views? There are eight grounds for views. [3] How many are the obsessions with views? There are eighteen obsessions with views. [4] How many are the views? There are sixteen views. [5] How many are the adherences to views? There are three hundred adherences to views. [6] What is the eradication of the grounds for views? The path of stream-entry is the eradication of the grounds for views.
[1] Tà kiến là gì? Sự cố chấp và nắm giữ sai lầm là tà kiến. [2] Có bao nhiêu cơ sở của tà kiến? Có tám cơ sở của tà kiến. [3] Có bao nhiêu sự ám ảnh của tà kiến? Có mười tám sự ám ảnh của tà kiến. [4] Có bao nhiêu loại tà kiến? Có mười sáu loại tà kiến. [5] Có bao nhiêu sự cố chấp vào tà kiến? Có ba trăm sự cố chấp vào tà kiến. [6] Sự nhổ bật gốc rễ cơ sở của tà kiến là gì? Đạo Tu-đà-hoàn là sự nhổ bật gốc rễ cơ sở của tà kiến.
123. Kathaṃ abhinivesaparāmāso diṭṭhi? † Rūpaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Vedanaṃ etaṃ mama…pe… saññaṃ etaṃ mama… saṅkhāre etaṃ mama… viññāṇaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Cakkhuṃ etaṃ mama…pe… sotaṃ etaṃ mama… ghānaṃ etaṃ mama… jivhaṃ etaṃ mama… kāyaṃ etaṃ mama… manaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Rūpe † etaṃ mama…pe… sadde etaṃ mama… gandhe etaṃ mama… rase etaṃ mama… phoṭṭhabbe etaṃ mama… dhamme etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Cakkhuviññāṇaṃ etaṃ mama…pe… sotaviññāṇaṃ etaṃ mama… ghānaviññāṇaṃ etaṃ mama… jivhāviññāṇaṃ etaṃ mama… kāyaviññāṇaṃ etaṃ mama… manoviññāṇaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Cakkhusamphassaṃ etaṃ mama…pe… sotasamphassaṃ etaṃ mama… ghānasamphassaṃ etaṃ mama… jivhāsamphassaṃ etaṃ mama… kāyasamphassaṃ etaṃ mama… manosamphassaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Cakkhusamphassajaṃ vedanaṃ…pe… sotasamphassajaṃ vedanaṃ… ghānasamphassajaṃ vedanaṃ… jivhāsamphassajaṃ vedanaṃ… kāyasamphassajaṃ vedanaṃ… manosamphassajaṃ vedanaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi.
123. How is dogmatic adherence and grasping a view? ‘This form is mine, this I am, this is my self’—this dogmatic adherence and grasping is a view. ‘This feeling is mine… this perception is mine… these formations are mine… this consciousness is mine, this I am, this is my self’—this dogmatic adherence and grasping is a view. ‘This eye is mine… this ear is mine… this nose is mine… this tongue is mine… this body is mine… this mind is mine, this I am, this is my self’—this dogmatic adherence and grasping is a view. ‘These forms are mine… these sounds are mine… these smells are mine… these tastes are mine… these tangibles are mine… these mental phenomena are mine, this I am, this is my self’—this dogmatic adherence and grasping is a view. ‘This eye-consciousness is mine… this ear-consciousness is mine… this nose-consciousness is mine… this tongue-consciousness is mine… this body-consciousness is mine… this mind-consciousness is mine, this I am, this is my self’—this dogmatic adherence and grasping is a view. ‘This eye-contact is mine… this ear-contact is mine… this nose-contact is mine… this tongue-contact is mine… this body-contact is mine… this mind-contact is mine, this I am, this is my self’—this dogmatic adherence and grasping is a view. ‘This feeling born of eye-contact… this feeling born of ear-contact… this feeling born of nose-contact… this feeling born of tongue-contact… this feeling born of body-contact… this feeling born of mind-contact is mine, this I am, this is my self’—this dogmatic adherence and grasping is a view.
123. Thế nào là sự cố chấp và nắm giữ sai lầm là tà kiến? Đối với sắc, ‘đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’ – sự cố chấp và nắm giữ sai lầm này là tà kiến. Đối với thọ... cho đến... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức, ‘đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’ – sự cố chấp và nắm giữ sai lầm này là tà kiến. Đối với mắt... cho đến... tai... mũi... lưỡi... thân... ý, ‘đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’ – sự cố chấp và nắm giữ sai lầm này là tà kiến. Đối với sắc... cho đến... thanh... hương... vị... xúc... pháp, ‘đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’ – sự cố chấp và nắm giữ sai lầm này là tà kiến. Đối với nhãn thức... cho đến... nhĩ thức... tỷ thức... thiệt thức... thân thức... ý thức, ‘đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’ – sự cố chấp và nắm giữ sai lầm này là tà kiến. Đối với nhãn xúc... cho đến... nhĩ xúc... tỷ xúc... thiệt xúc... thân xúc... ý xúc, ‘đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’ – sự cố chấp và nắm giữ sai lầm này là tà kiến. Đối với thọ sanh từ nhãn xúc... cho đến... thọ sanh từ nhĩ xúc... thọ sanh từ tỷ xúc... thọ sanh từ thiệt xúc... thọ sanh từ thân xúc... đối với thọ sanh từ ý xúc, ‘đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’ – sự cố chấp và nắm giữ sai lầm này là tà kiến.
Rūpasaññaṃ etaṃ mama…pe… saddasaññaṃ etaṃ mama… gandhasaññaṃ etaṃ mama… rasasaññaṃ etaṃ mama… phoṭṭhabbasaññaṃ etaṃ mama… dhammasaññaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Rūpasañcetanaṃ etaṃ mama…pe… saddasañcetanaṃ etaṃ mama… gandhasañcetanaṃ etaṃ mama… rasasañcetanaṃ etaṃ mama… phoṭṭhabbasañcetanaṃ etaṃ mama… dhammasañcetanaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Rūpataṇhaṃ etaṃ mama…pe… saddataṇhaṃ etaṃ mama… gandhataṇhaṃ etaṃ mama… rasataṇhaṃ etaṃ mama… phoṭṭhabbataṇhaṃ etaṃ mama… dhammataṇhaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Rūpavitakkaṃ etaṃ mama…pe… saddavitakkaṃ etaṃ mama… gandhavitakkaṃ etaṃ mama… rasavitakkaṃ etaṃ mama… phoṭṭhabbavitakkaṃ etaṃ mama… dhammavitakkaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Rūpavicāraṃ etaṃ mama…pe… saddavicāraṃ etaṃ mama… gandhavicāraṃ etaṃ mama… rasavicāraṃ etaṃ mama… phoṭṭhabbavicāraṃ etaṃ mama… dhammavicāraṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi.
'This perception of form is mine… this perception of sound is mine… this perception of smell is mine… this perception of taste is mine… this perception of tangibles is mine… this perception of mental phenomena is mine, this I am, this is my self'—this dogmatic adherence and grasping is wrong view. 'This intention regarding form is mine… this intention regarding sound is mine… this intention regarding smell is mine… this intention regarding taste is mine… this intention regarding tangibles is mine… this intention regarding mental phenomena is mine, this I am, this is my self'—this dogmatic adherence and grasping is wrong view. 'This craving for form is mine… this craving for sound is mine… this craving for smell is mine… this craving for taste is mine… this craving for tangibles is mine… this craving for mental phenomena is mine, this I am, this is my self'—this dogmatic adherence and grasping is wrong view. 'This thought of form is mine… this thought of sound is mine… this thought of smell is mine… this thought of taste is mine… this thought of tangibles is mine… this thought of mental phenomena is mine, this I am, this is my self'—this dogmatic adherence and grasping is wrong view. 'This examination of form is mine… this examination of sound is mine… this examination of smell is mine… this examination of taste is mine… this examination of tangibles is mine… this examination of mental phenomena is mine, this I am, this is my self'—this dogmatic adherence and grasping is wrong view.
Đối với sắc tưởng... cho đến... thanh tưởng... hương tưởng... vị tưởng... xúc tưởng... pháp tưởng, ‘đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’ – sự cố chấp và nắm giữ sai lầm này là tà kiến. Đối với sắc tư... cho đến... thanh tư... hương tư... vị tư... xúc tư... pháp tư, ‘đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’ – sự cố chấp và nắm giữ sai lầm này là tà kiến. Đối với sắc ái... cho đến... thanh ái... hương ái... vị ái... xúc ái... pháp ái, ‘đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’ – sự cố chấp và nắm giữ sai lầm này là tà kiến. Đối với sắc tầm... cho đến... thanh tầm... hương tầm... vị tầm... xúc tầm... pháp tầm, ‘đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’ – sự cố chấp và nắm giữ sai lầm này là tà kiến. Đối với sắc tứ... cho đến... thanh tứ... hương tứ... vị tứ... xúc tứ... pháp tứ, ‘đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi’ – sự cố chấp và nắm giữ sai lầm này là tà kiến.
Pathavīdhātuṃ etaṃ mama…pe… āpodhātuṃ etaṃ mama… tejodhātuṃ etaṃ mama… vāyodhātuṃ etaṃ mama… ākāsadhātuṃ etaṃ mama… viññāṇadhātuṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Pathavīkasiṇaṃ etaṃ mama…pe… āpokasiṇaṃ… tejokasiṇaṃ… vāyokasiṇaṃ … nīlakasiṇaṃ… pītakasiṇaṃ… lohitakasiṇaṃ… odātakasiṇaṃ… ākāsakasiṇaṃ… viññāṇakasiṇaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi.
'This earth element is mine… this water element is mine… this fire element is mine… this air element is mine… this space element is mine… this consciousness element is mine, this I am, this is my self'—this dogmatic adherence and grasping is wrong view. 'This earth kasina is mine… this water kasina… this fire kasina… this air kasina… this blue kasina… this yellow kasina… this red kasina… this white kasina… this space kasina… this consciousness kasina is mine, this I am, this is my self'—this dogmatic adherence and grasping is wrong view.
Đối với địa đại, (cho rằng) ‘đây là của ta’... cho đến... đối với thủy đại, ‘đây là của ta’... đối với hỏa đại, ‘đây là của ta’... đối với phong đại, ‘đây là của ta’... đối với không đại, ‘đây là của ta’... đối với thức đại, (cho rằng) ‘đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta’ – sự chấp thủ cố chấp như vậy là tà kiến. Đối với biến xứ đất, (cho rằng) ‘đây là của ta’... cho đến... đối với biến xứ nước... đối với biến xứ lửa... đối với biến xứ gió... đối với biến xứ xanh... đối với biến xứ vàng... đối với biến xứ đỏ... đối với biến xứ trắng... đối với biến xứ hư không... đối với biến xứ thức, (cho rằng) ‘đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta’ – sự chấp thủ cố chấp như vậy là tà kiến.
Kesaṃ etaṃ mama…pe… lomaṃ etaṃ mama… nakhaṃ etaṃ mama… dantaṃ etaṃ mama… tacaṃ etaṃ mama… maṃsaṃ etaṃ mama… nhāruṃ etaṃ mama… aṭṭhiṃ etaṃ mama… aṭṭhimiñjaṃ etaṃ mama… vakkaṃ etaṃ mama… hadayaṃ etaṃ mama… yakanaṃ etaṃ mama… kilomakaṃ etaṃ mama… pihakaṃ etaṃ mama… papphāsaṃ etaṃ mama… antaṃ etaṃ mama… antaguṇaṃ etaṃ mama… udariyaṃ etaṃ mama… karīsaṃ etaṃ mama… pittaṃ etaṃ mama… semhaṃ etaṃ mama… pubbaṃ etaṃ mama … lohitaṃ etaṃ mama… sedaṃ etaṃ mama… medaṃ etaṃ mama… assuṃ etaṃ mama… vasaṃ etaṃ mama … kheḷaṃ etaṃ mama… siṅghāṇikaṃ etaṃ mama… lasikaṃ etaṃ mama… muttaṃ etaṃ mama… matthaluṅgaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi.
‘This hair is mine… this body hair is mine… this nail is mine… this tooth is mine… this skin is mine… this flesh is mine… this sinew is mine… this bone is mine… this bone marrow is mine… this kidney is mine… this heart is mine… this liver is mine… this membrane is mine… this spleen is mine… this lung is mine… this intestine is mine… this mesentery is mine… this undigested food is mine… this feces is mine… this bile is mine… this phlegm is mine… this pus is mine… this blood is mine… this sweat is mine… this solid fat is mine… this tear is mine… this liquid fat is mine… this saliva is mine… this nasal mucus is mine… this synovial fluid is mine… this urine is mine… this brain is mine, this I am, this is my self’—this adherence and grasping is a view.
Đối với tóc, (cho rằng) ‘đây là của ta’... cho đến... đối với lông, ‘đây là của ta’... đối với móng, ‘đây là của ta’... đối với răng, ‘đây là của ta’... đối với da, ‘đây là của ta’... đối với thịt, ‘đây là của ta’... đối với gân, ‘đây là của ta’... đối với xương, ‘đây là của ta’... đối với tủy xương, ‘đây là của ta’... đối với thận, ‘đây là của ta’... đối với tim, ‘đây là của ta’... đối với gan, ‘đây là của ta’... đối với màng phổi, ‘đây là của ta’... đối với lá lách, ‘đây là của ta’... đối với phổi, ‘đây là của ta’... đối với ruột già, ‘đây là của ta’... đối với ruột non, ‘đây là của ta’... đối với thức ăn mới, ‘đây là của ta’... đối với phân, ‘đây là của ta’... đối với mật, ‘đây là của ta’... đối với đờm, ‘đây là của ta’... đối với mủ... đối với máu, ‘đây là của ta’... đối với mồ hôi, ‘đây là của ta’... đối với mỡ đặc, ‘đây là của ta’... đối với nước mắt, ‘đây là của ta’... đối với mỡ lỏng... đối với nước bọt, ‘đây là của ta’... đối với nước mũi, ‘đây là của ta’... đối với dịch khớp, ‘đây là của ta’... đối với nước tiểu, ‘đây là của ta’... đối với não, (cho rằng) ‘đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta’ – sự chấp thủ cố chấp như vậy là tà kiến.
Cakkhāyatanaṃ etaṃ mama…pe… rūpāyatanaṃ etaṃ mama… sotāyatanaṃ etaṃ mama… saddāyatanaṃ etaṃ mama… ghānāyatanaṃ etaṃ mama… gandhāyatanaṃ etaṃ mama… jivhāyatanaṃ etaṃ mama… rasāyatanaṃ etaṃ mama… kāyāyatanaṃ etaṃ mama… phoṭṭhabbāyatanaṃ etaṃ mama… manāyatanaṃ etaṃ mama… dhammāyatanaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi.
‘This eye base is mine… this form base is mine… this ear base is mine… this sound base is mine… this nose base is mine… this odor base is mine… this tongue base is mine… this taste base is mine… this body base is mine… this tangible base is mine… this mind base is mine… this mental phenomena base is mine, this I am, this is my self’—this adherence and grasping is a view.
Đối với nhãn xứ, (cho rằng) ‘đây là của ta’... cho đến... đối với sắc xứ, ‘đây là của ta’... đối với nhĩ xứ, ‘đây là của ta’... đối với thanh xứ, ‘đây là của ta’... đối với tỷ xứ, ‘đây là của ta’... đối với hương xứ, ‘đây là của ta’... đối với thiệt xứ, ‘đây là của ta’... đối với vị xứ, ‘đây là của ta’... đối với thân xứ, ‘đây là của ta’... đối với xúc xứ, ‘đây là của ta’... đối với ý xứ, ‘đây là của ta’... đối với pháp xứ, (cho rằng) ‘đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta’ – sự chấp thủ cố chấp như vậy là tà kiến.
Cakkhudhātuṃ etaṃ mama…pe… rūpadhātuṃ etaṃ mama… cakkhuviññāṇadhātuṃ etaṃ mama… sotadhātuṃ etaṃ mama… saddadhātuṃ etaṃ mama… sotaviññāṇadhātuṃ etaṃ mama… ghānadhātuṃ etaṃ mama… gandhadhātuṃ etaṃ mama… ghānaviññāṇadhātuṃ etaṃ mama… jivhādhātuṃ etaṃ mama… rasadhātuṃ etaṃ mama… jivhāviññāṇadhātuṃ etaṃ mama… kāyadhātuṃ etaṃ mama… phoṭṭhabbadhātuṃ etaṃ mama… kāyaviññāṇadhātuṃ etaṃ mama… manodhātuṃ etaṃ mama… dhammadhātuṃ etaṃ mama… manoviññāṇadhātuṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi.
‘This eye element is mine… this form element is mine… this eye-consciousness element is mine… this ear element is mine… this sound element is mine… this ear-consciousness element is mine… this nose element is mine… this smell element is mine… this nose-consciousness element is mine… this tongue element is mine… this taste element is mine… this tongue-consciousness element is mine… this body element is mine… this tangible element is mine… this body-consciousness element is mine… this mind element is mine… this mental-object element is mine… this mind-consciousness element is mine, this I am, this is my self’—this adherence and grasping is wrong view.
Đối với nhãn giới, (cho rằng) ‘đây là của ta’... cho đến... đối với sắc giới, ‘đây là của ta’... đối với nhãn thức giới, ‘đây là của ta’... đối với nhĩ giới, ‘đây là của ta’... đối với thanh giới, ‘đây là của ta’... đối với nhĩ thức giới, ‘đây là của ta’... đối với tỷ giới, ‘đây là của ta’... đối với hương giới, ‘đây là của ta’... đối với tỷ thức giới, ‘đây là của ta’... đối với thiệt giới, ‘đây là của ta’... đối với vị giới, ‘đây là của ta’... đối với thiệt thức giới, ‘đây là của ta’... đối với thân giới, ‘đây là của ta’... đối với xúc giới, ‘đây là của ta’... đối với thân thức giới, ‘đây là của ta’... đối với ý giới, ‘đây là của ta’... đối với pháp giới, ‘đây là của ta’... đối với ý thức giới, (cho rằng) ‘đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta’ – sự chấp thủ cố chấp như vậy là tà kiến.
Cakkhundriyaṃ etaṃ mama…pe… sotindriyaṃ etaṃ mama… ghānindriyaṃ etaṃ mama… jivhindriyaṃ etaṃ mama… kāyindriyaṃ etaṃ mama… manindriyaṃ etaṃ mama… jīvitindriyaṃ etaṃ mama… itthindriyaṃ etaṃ mama… purisindriyaṃ etaṃ mama… sukhindriyaṃ etaṃ mama… dukkhindriyaṃ etaṃ mama… somanassindriyaṃ etaṃ mama… domanassindriyaṃ etaṃ mama… upekkhindriyaṃ etaṃ mama… saddhindriyaṃ etaṃ mama… vīriyindriyaṃ etaṃ mama… satindriyaṃ etaṃ mama… samādhindriyaṃ etaṃ mama… paññindriyaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi.
‘This eye faculty is mine… this ear faculty is mine… this nose faculty is mine… this tongue faculty is mine… this body faculty is mine… this mind faculty is mine… this life faculty is mine… this female faculty is mine… this male faculty is mine… this happiness faculty is mine… this pain faculty is mine… this joy faculty is mine… this sorrow faculty is mine… this equanimity faculty is mine… this faith faculty is mine… this energy faculty is mine… this mindfulness faculty is mine… this concentration faculty is mine… this wisdom faculty is mine, this I am, this is my self’—this adherence and grasping is wrong view.
Đối với nhãn quyền, (cho rằng) ‘đây là của ta’... cho đến... đối với nhĩ quyền, ‘đây là của ta’... đối với tỷ quyền, ‘đây là của ta’... đối với thiệt quyền, ‘đây là của ta’... đối với thân quyền, ‘đây là của ta’... đối với ý quyền, ‘đây là của ta’... đối với mạng quyền, ‘đây là của ta’... đối với nữ quyền, ‘đây là của ta’... đối với nam quyền, ‘đây là của ta’... đối với lạc quyền, ‘đây là của ta’... đối với khổ quyền, ‘đây là của ta’... đối với hỷ quyền, ‘đây là của ta’... đối với ưu quyền, ‘đây là của ta’... đối với xả quyền, ‘đây là của ta’... đối với tín quyền, ‘đây là của ta’... đối với tấn quyền, ‘đây là của ta’... đối với niệm quyền, ‘đây là của ta’... đối với định quyền, ‘đây là của ta’... đối với tuệ quyền, (cho rằng) ‘đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta’ – sự chấp thủ cố chấp như vậy là tà kiến.
Kāmadhātuṃ etaṃ mama…pe… rūpadhātuṃ etaṃ mama… arūpadhātuṃ etaṃ mama… kāmabhavaṃ etaṃ mama… rūpabhavaṃ etaṃ mama… arūpabhavaṃ etaṃ mama… saññābhavaṃ etaṃ mama… asaññābhavaṃ etaṃ mama… nevasaññānāsaññābhavaṃ etaṃ mama… ekavokārabhavaṃ etaṃ mama… catuvokārabhavaṃ etaṃ mama… pañcavokārabhavaṃ etaṃ mama… paṭhamajjhānaṃ etaṃ mama… dutiyajjhānaṃ etaṃ mama… tatiyajjhānaṃ etaṃ mama… catutthajjhānaṃ etaṃ mama… mettaṃ cetovimuttiṃ etaṃ mama… karuṇaṃ cetovimuttiṃ etaṃ mama… muditaṃ cetovimuttiṃ etaṃ mama… upekkhaṃ cetovimuttiṃ etaṃ mama… ākāsānañcāyatanasamāpattiṃ etaṃ mama… viññāṇañcāyatanasamāpattiṃ etaṃ mama… ākiñcaññāyatanasamāpattiṃ etaṃ mama… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi.
‘This realm of sensual desire is my self… this realm of form is my self… this formless realm is my self… this sensual existence is my self… this form existence is my self… this formless existence is my self… this existence with perception is my self… this existence without perception is my self… this existence with neither perception nor non-perception is my self… this existence with one aggregate is my self… this existence with four aggregates is my self… this existence with five aggregates is my self… this first jhāna is my self… this second jhāna is my self… this third jhāna is my self… this fourth jhāna is my self… this liberation of mind through loving-kindness is my self… this liberation of mind through compassion is my self… this liberation of mind through sympathetic joy is my self… this liberation of mind through equanimity is my self… this attainment of the base of infinite space is my self… this attainment of the base of infinite consciousness is my self… this attainment of the base of nothingness is my self… this attainment of the base of neither perception nor non-perception is mine, this I am, this is my self’—this dogmatic adherence and grasping is a view.
Đối với dục giới, (cho rằng) ‘đây là của ta’... cho đến... đối với sắc giới, ‘đây là của ta’... đối với vô sắc giới, ‘đây là của ta’... đối với dục hữu, ‘đây là của ta’... đối với sắc hữu, ‘đây là của ta’... đối với vô sắc hữu, ‘đây là của ta’... đối với tưởng hữu, ‘đây là của ta’... đối với vô tưởng hữu, ‘đây là của ta’... đối với phi tưởng phi phi tưởng hữu, ‘đây là của ta’... đối với nhất uẩn hữu, ‘đây là của ta’... đối với tứ uẩn hữu, ‘đây là của ta’... đối với ngũ uẩn hữu, ‘đây là của ta’... đối với sơ thiền, ‘đây là của ta’... đối với nhị thiền, ‘đây là của ta’... đối với tam thiền, ‘đây là của ta’... đối với tứ thiền, ‘đây là của ta’... đối với từ tâm giải thoát, ‘đây là của ta’... đối với bi tâm giải thoát, ‘đây là của ta’... đối với hỷ tâm giải thoát, ‘đây là của ta’... đối với xả tâm giải thoát, ‘đây là của ta’... đối với không vô biên xứ định, ‘đây là của ta’... đối với thức vô biên xứ định, ‘đây là của ta’... đối với vô sở hữu xứ định, ‘đây là của ta’... đối với phi tưởng phi phi tưởng xứ định, (cho rằng) ‘đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta’ – sự chấp thủ cố chấp như vậy là tà kiến.
Avijjaṃ etaṃ mama…pe… saṅkhāre etaṃ mama… viññāṇaṃ etaṃ mama… nāmarūpaṃ etaṃ mama… saḷāyatanaṃ etaṃ mama… phassaṃ etaṃ mama… vedanaṃ etaṃ mama… taṇhaṃ etaṃ mama… upādānaṃ etaṃ mama… bhavaṃ etaṃ mama … jātiṃ etaṃ mama… jarāmaraṇaṃ etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Evaṃ abhinivesaparāmāso diṭṭhi.
‘Ignorance is my self… formations are my self… consciousness is my self… name-and-form is my self… the six sense bases are my self… contact is my self… feeling is my self… craving is my self… clinging is my self… existence is my self… birth is my self… aging and death are mine, this I am, this is my self’—this dogmatic adherence and grasping is a view. Thus, dogmatic adherence and grasping is a view.
Đối với vô minh, (cho rằng) ‘đây là của ta’... cho đến... đối với các hành, ‘đây là của ta’... đối với thức, ‘đây là của ta’... đối với danh sắc, ‘đây là của ta’... đối với sáu xứ, ‘đây là của ta’... đối với xúc, ‘đây là của ta’... đối với thọ, ‘đây là của ta’... đối với ái, ‘đây là của ta’... đối với thủ, ‘đây là của ta’... đối với hữu... đối với sanh, ‘đây là của ta’... đối với lão tử, (cho rằng) ‘đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta’ – sự chấp thủ cố chấp như vậy là tà kiến. Như vậy, sự chấp thủ cố chấp là tà kiến.
124. Katamāni aṭṭha diṭṭhiṭṭhānāni? Khandhāpi diṭṭhiṭṭhānaṃ, avijjāpi diṭṭhiṭṭhānaṃ, phassopi diṭṭhiṭṭhānaṃ, saññāpi diṭṭhiṭṭhānaṃ, vitakkopi † diṭṭhiṭṭhānaṃ, ayoniso manasikāropi diṭṭhiṭṭhānaṃ, pāpamittopi diṭṭhiṭṭhānaṃ, paratoghosopi diṭṭhiṭṭhānaṃ.
124. What are the eight bases for views? The aggregates are also a basis for views, ignorance is also a basis for views, contact is also a basis for views, perception is also a basis for views, thought is also a basis for views, unwise attention is also a basis for views, a bad friend is also a basis for views, and the voice of another is also a basis for views.
124. Tám nền tảng của tà kiến là những gì? Các uẩn cũng là nền tảng của tà kiến, vô minh cũng là nền tảng của tà kiến, xúc cũng là nền tảng của tà kiến, tưởng cũng là nền tảng của tà kiến, tầm cũng là nền tảng của tà kiến, tác ý không như lý cũng là nền tảng của tà kiến, bạn xấu cũng là nền tảng của tà kiến, tiếng nói của người khác cũng là nền tảng của tà kiến.
Khandhā hetu khandhā paccayo diṭṭhiṭṭhānaṃ upādāya samuṭṭhānaṭṭhena – evaṃ khandhāpi diṭṭhiṭṭhānaṃ. Avijjā hetu avijjā paccayo diṭṭhiṭṭhānaṃ upādāya samuṭṭhānaṭṭhena – evaṃ avijjāpi diṭṭhiṭṭhānaṃ. Phasso hetu phasso paccayo diṭṭhiṭṭhānaṃ upādāya samuṭṭhānaṭṭhena – evaṃ phassopi diṭṭhiṭṭhānaṃ. Saññā hetu saññā paccayo diṭṭhiṭṭhānaṃ upādāya samuṭṭhānaṭṭhena – evaṃ saññāpi diṭṭhiṭṭhānaṃ. Vitakko hetu vitakko paccayo diṭṭhiṭṭhānaṃ upādāya, samuṭṭhānaṭṭhena – evaṃ vitakkopi diṭṭhiṭṭhānaṃ. Ayoniso manasikāro hetu ayoniso manasikāro paccayo diṭṭhiṭṭhānaṃ upādāya samuṭṭhānaṭṭhena – evaṃ ayoniso manasikāropi diṭṭhiṭṭhānaṃ. Pāpamitto hetu pāpamitto paccayo diṭṭhiṭṭhānaṃ upādāya, samuṭṭhānaṭṭhena – evaṃ pāpamittopi diṭṭhiṭṭhānaṃ. Paratoghoso hetu paratoghoso paccayo diṭṭhiṭṭhānaṃ upādāya samuṭṭhānaṭṭhena – evaṃ paratoghosopi diṭṭhiṭṭhānaṃ. Imāni aṭṭha diṭṭhiṭṭhānāni.
The aggregates are a cause, the aggregates are a condition; it is a basis for views in the sense of being a cause of arising through dependence. Thus, the aggregates are also a basis for views. Ignorance is a cause, ignorance is a condition; it is a basis for views in the sense of being a cause of arising through dependence. Thus, ignorance is also a basis for views. Contact is a cause, contact is a condition; it is a basis for views in the sense of being a cause of arising through dependence. Thus, contact is also a basis for views. Perception is a cause, perception is a condition; it is a basis for views in the sense of being a cause of arising through dependence. Thus, perception is also a basis for views. Thought is a cause, thought is a condition; it is a basis for views in the sense of being a cause of arising through dependence. Thus, thought is also a basis for views. Unwise attention is a cause, unwise attention is a condition; it is a basis for views in the sense of being a cause of arising through dependence. Thus, unwise attention is also a basis for views. An evil friend is a cause, an evil friend is a condition; it is a basis for views in the sense of being a cause of arising through dependence. Thus, an evil friend is also a basis for views. The voice of another is a cause, the voice of another is a condition; it is a basis for views in the sense of being a cause of arising through dependence. Thus, the voice of another is also a basis for views. These are the eight bases for views.
Các uẩn là nhân, các uẩn là duyên, là nơi trú của tà kiến do nương tựa và do có ý nghĩa là nơi sanh khởi – như vậy, các uẩn cũng là nơi trú của tà kiến. Vô minh là nhân, vô minh là duyên, là nơi trú của tà kiến do nương tựa và do có ý nghĩa là nơi sanh khởi – như vậy, vô minh cũng là nơi trú của tà kiến. Xúc là nhân, xúc là duyên, là nơi trú của tà kiến do nương tựa và do có ý nghĩa là nơi sanh khởi – như vậy, xúc cũng là nơi trú của tà kiến. Tưởng là nhân, tưởng là duyên, là nơi trú của tà kiến do nương tựa và do có ý nghĩa là nơi sanh khởi – như vậy, tưởng cũng là nơi trú của tà kiến. Tầm là nhân, tầm là duyên, là nơi trú của tà kiến do nương tựa và do có ý nghĩa là nơi sanh khởi – như vậy, tầm cũng là nơi trú của tà kiến. Tác ý không như lý là nhân, tác ý không như lý là duyên, là nơi trú của tà kiến do nương tựa và do có ý nghĩa là nơi sanh khởi – như vậy, tác ý không như lý cũng là nơi trú của tà kiến. Bạn ác là nhân, bạn ác là duyên, là nơi trú của tà kiến do nương tựa và do có ý nghĩa là nơi sanh khởi – như vậy, bạn ác cũng là nơi trú của tà kiến. Tiếng nói của người khác là nhân, tiếng nói của người khác là duyên, là nơi trú của tà kiến do nương tựa và do có ý nghĩa là nơi sanh khởi – như vậy, tiếng nói của người khác cũng là nơi trú của tà kiến. Tám pháp này là những nơi trú của tà kiến.
125. Katamāni aṭṭhārasa diṭṭhipariyuṭṭhānāni? Yā diṭṭhi diṭṭhigataṃ, diṭṭhigahanaṃ, diṭṭhikantāraṃ, diṭṭhivisūkaṃ, diṭṭhivipphanditaṃ, diṭṭhisaññojanaṃ, diṭṭhisallaṃ, diṭṭhisambādho, diṭṭhipalibodho, diṭṭhibandhanaṃ, diṭṭhipapāto, diṭṭhānusayo, diṭṭhisantāpo, diṭṭhipariḷāho, diṭṭhigantho, diṭṭhupādānaṃ, diṭṭhābhiniveso, diṭṭhiparāmāso – imāni aṭṭhārasa diṭṭhipariyuṭṭhānāni.
125. What are the eighteen manifestations of views? A resort of views, a thicket of views, a wilderness of views, a thorn of views, an agitation of views, a fetter of views, a dart of views, a constriction of views, an obstruction of views, a bondage of views, a precipice of views, an underlying tendency to views, a torment of views, a burning of views, a knot of views, a clinging to views, an adherence to views, and a misapprehension of views. These are the eighteen manifestations of views.
125. Mười tám sự ám ảnh của tà kiến là những gì? Tà kiến nào là sự đi vào tà kiến, rừng rậm tà kiến, hoang địa tà kiến, mũi nhọn tà kiến, sự rung động của tà kiến, kiết sử tà kiến, mũi tên tà kiến, sự chật hẹp của tà kiến, sự chướng ngại của tà kiến, sự trói buộc của tà kiến, vực thẳm tà kiến, tùy miên tà kiến, sự thiêu đốt của tà kiến, sự thiêu cháy của tà kiến, thân kết tà kiến, thủ trước tà kiến, sự cố chấp tà kiến, sự chấp thủ sai lầm của tà kiến – mười tám pháp này là những sự ám ảnh của tà kiến.
126. Katamā soḷasa diṭṭhiyo? Assādadiṭṭhi, attānudiṭṭhi, micchādiṭṭhi, sakkāyadiṭṭhi, sakkāyavatthukā sassatadiṭṭhi, sakkāyavatthukā ucchedadiṭṭhi, antaggāhikādiṭṭhi, pubbantānudiṭṭhi, aparantānudiṭṭhi, saññojanikā diṭṭhi, ahanti mānavinibandhā diṭṭhi, mamanti mānavinibandhā diṭṭhi, attavādapaṭisaṃyuttā diṭṭhi, lokavādapaṭisaṃyuttā diṭṭhi, bhavadiṭṭhi, vibhavadiṭṭhi – imā soḷasa diṭṭhiyo.
126. What are the sixteen views? The view of gratification, the view that follows after a self, wrong view, identity view, the eternalist view with identity as its basis, the annihilationist view with identity as its basis, the view that grasps at an extreme, the view that follows after the prior end, the view that follows after the latter end, the view that is a fetter, the view bound by the conceit ‘I am,’ the view bound by the conceit ‘this is mine,’ the view connected with the doctrine of self, the view connected with the doctrine of the world, the view of becoming, and the view of non-becoming—these are the sixteen views.
126. Mười sáu loại tà kiến là những gì? Vị ngọt kiến, ngã kiến, tà kiến, thân kiến, thường kiến có thân kiến làm đối tượng, đoạn kiến có thân kiến làm đối tượng, biên chấp kiến, tà kiến liên quan đến quá khứ, tà kiến liên quan đến tương lai, tà kiến là kiết sử, tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn 'ta là', tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn 'của ta là', tà kiến tương ưng với thuyết về tự ngã, tà kiến tương ưng với thuyết về thế gian, hữu kiến, vô hữu kiến – đây là mười sáu loại tà kiến.
127. Katame tīṇi sataṃ diṭṭhābhinivesā? Assādadiṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti? Attānudiṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti? Micchādiṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti? Sakkāyadiṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti? Sakkāyavatthukāya sassatadiṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti? Sakkāyavatthukāya ucchedadiṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti? Antaggāhikāya diṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti? Pubbantānudiṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti? Aparantānudiṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti? Saññojanikāya diṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti? Ahanti mānavinibandhāya diṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti? Mamanti mānavinibandhāya diṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti? Attavādapaṭisaṃyuttāya diṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti? Lokavādapaṭisaṃyuttāya diṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti? Bhavadiṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti? Vibhavadiṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti?
127. What are the three hundred adherences to views? In how many ways does adherence to the view of gratification occur? In how many ways does adherence to the view that follows after a self occur? In how many ways does adherence to wrong view occur? In how many ways does adherence to identity view occur? In how many ways does adherence to the eternalist view with identity as its basis occur? In how many ways does adherence to the annihilationist view with identity as its basis occur? In how many ways does adherence to the view that grasps at an extreme occur? In how many ways does adherence to the view that follows after the prior end occur? In how many ways does adherence to the view that follows after the latter end occur? In how many ways does adherence to the view that is a fetter occur? In how many ways does adherence to the view bound by the conceit ‘I am’ occur? In how many ways does adherence to the view bound by the conceit ‘this is mine’ occur? In how many ways does adherence to the view connected with the doctrine of self occur? In how many ways does adherence to the view connected with the doctrine of the world occur? In how many ways does adherence to the view of becoming occur? In how many ways does adherence to the view of non-becoming occur?
127. Ba trăm sự cố chấp tà kiến là những gì? Có sự cố chấp đối với vị ngọt kiến bằng bao nhiêu phương diện? Có sự cố chấp đối với ngã kiến bằng bao nhiêu phương diện? Có sự cố chấp đối với tà kiến bằng bao nhiêu phương diện? Có sự cố chấp đối với thân kiến bằng bao nhiêu phương diện? Có sự cố chấp đối với thường kiến có thân kiến làm đối tượng bằng bao nhiêu phương diện? Có sự cố chấp đối với đoạn kiến có thân kiến làm đối tượng bằng bao nhiêu phương diện? Có sự cố chấp đối với biên chấp kiến bằng bao nhiêu phương diện? Có sự cố chấp đối với tà kiến liên quan đến quá khứ bằng bao nhiêu phương diện? Có sự cố chấp đối với tà kiến liên quan đến tương lai bằng bao nhiêu phương diện? Có sự cố chấp đối với tà kiến là kiết sử bằng bao nhiêu phương diện? Có sự cố chấp đối với tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn 'ta là' bằng bao nhiêu phương diện? Có sự cố chấp đối với tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn 'của ta là' bằng bao nhiêu phương diện? Có sự cố chấp đối với tà kiến tương ưng với thuyết về tự ngã bằng bao nhiêu phương diện? Có sự cố chấp đối với tà kiến tương ưng với thuyết về thế gian bằng bao nhiêu phương diện? Có sự cố chấp đối với hữu kiến bằng bao nhiêu phương diện? Có sự cố chấp đối với vô hữu kiến bằng bao nhiêu phương diện?
Assādadiṭṭhiyā pañcatiṃsāya ākārehi abhiniveso hoti. Attānudiṭṭhiyā vīsatiyā ākārehi abhiniveso hoti. Micchādiṭṭhiyā dasahākārehi abhiniveso hoti. Sakkāyadiṭṭhiyā vīsatiyā ākārehi abhiniveso hoti. Sakkāyavatthukāya sassatadiṭṭhiyā pannarasahi ākārehi abhiniveso hoti. Sakkāyavatthukāya ucchedadiṭṭhiyā pañcahākārehi abhiniveso hoti. Antaggāhikāya diṭṭhiyā paññāsāya ākārehi abhiniveso hoti. Pubbantānudiṭṭhiyā aṭṭhārasahi ākārehi abhiniveso hoti. Aparantānudiṭṭhiyā catucattālīsāya ākārehi abhiniveso hoti. Saññojanikāya diṭṭhiyā aṭṭhārasahi ākārehi abhiniveso hoti. Ahanti mānavinibandhāya diṭṭhiyā aṭṭhārasahi ākārehi abhiniveso hoti. Mamanti mānavinibandhāya diṭṭhiyā aṭṭhārasahi ākārehi abhiniveso hoti. Attavādapaṭisaṃyuttāya diṭṭhiyā vīsatiyā ākārehi abhiniveso hoti. Lokavādapaṭisaṃyuttāya diṭṭhiyā aṭṭhahi ākārehi abhiniveso hoti. Bhavadiṭṭhiyā ekena ākārena † abhiniveso hoti. Vibhavadiṭṭhiyā ekena ākārena abhiniveso hoti.
There is adherence in thirty-five ways with regard to the view of gratification. There is adherence in twenty ways with regard to the view of self. There is adherence in ten ways with regard to wrong view. There is adherence in twenty ways with regard to identity view. There is adherence in fifteen ways with regard to the eternalist view based on identity. There is adherence in five ways with regard to the annihilationist view based on identity. There is adherence in fifty ways with regard to the view grasping at extremes. There is adherence in eighteen ways with regard to the view concerning the past. There is adherence in forty-four ways with regard to the view concerning the future. There is adherence in eighteen ways with regard to the view that is a fetter. There is adherence in eighteen ways with regard to the view bound by the conceit 'I am'. There is adherence in eighteen ways with regard to the view bound by the conceit 'mine'. There is adherence in twenty ways with regard to the view connected with the doctrine of self. There is adherence in eight ways with regard to the view connected with the doctrine of the world. There is adherence in one way with regard to the view of becoming. There is adherence in one way with regard to the view of non-becoming.
Có sự cố chấp đối với vị ngọt kiến bằng ba mươi lăm phương diện. Có sự cố chấp đối với ngã kiến bằng hai mươi phương diện. Có sự cố chấp đối với tà kiến bằng mười phương diện. Có sự cố chấp đối với thân kiến bằng hai mươi phương diện. Có sự cố chấp đối với thường kiến có thân kiến làm đối tượng bằng mười lăm phương diện. Có sự cố chấp đối với đoạn kiến có thân kiến làm đối tượng bằng năm phương diện. Có sự cố chấp đối với biên chấp kiến bằng năm mươi phương diện. Có sự cố chấp đối với tà kiến liên quan đến quá khứ bằng mười tám phương diện. Có sự cố chấp đối với tà kiến liên quan đến tương lai bằng bốn mươi bốn phương diện. Có sự cố chấp đối với tà kiến là kiết sử bằng mười tám phương diện. Có sự cố chấp đối với tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn 'ta là' bằng mười tám phương diện. Có sự cố chấp đối với tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn 'của ta là' bằng mười tám phương diện. Có sự cố chấp đối với tà kiến tương ưng với thuyết về tự ngã bằng hai mươi phương diện. Có sự cố chấp đối với tà kiến tương ưng với thuyết về thế gian bằng tám phương diện. Có sự cố chấp đối với hữu kiến bằng một phương diện. Có sự cố chấp đối với vô hữu kiến bằng một phương diện.
1. Assādadiṭṭhiniddeso
1. Exposition of the View of Gratification
1. Phần giải thích về vị ngọt kiến.
128. Assādadiṭṭhiyā katamehi pañcatiṃsāya ākārehi abhiniveso hoti? Yaṃ rūpaṃ paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ, ayaṃ rūpassa assādoti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na assādo, assādo na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, añño assādo. Yā ca diṭṭhi yo ca assādo – ayaṃ vuccati assādadiṭṭhi.
128. What are the thirty-five ways in which there is adherence with regard to the view of gratification? The adherent grasping of the idea that 'whatever pleasure and joy arises dependent on form is the gratification of form' is 'view'. View is not gratification; gratification is not view. View is one thing, gratification is another. Both that which is the view and that which is the gratification—this is called the view of gratification.
128. Có sự cố chấp đối với vị ngọt kiến bằng ba mươi lăm phương diện nào? Lạc và hỷ nào sanh khởi do duyên sắc, (cho rằng) ‘đây là vị ngọt của sắc’ – sự cố chấp và chấp thủ sai lầm (như vậy) là tà kiến. Tà kiến không phải là vị ngọt, vị ngọt không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, vị ngọt là khác. Tà kiến ấy và vị ngọt ấy – điều này được gọi là vị ngọt kiến.
Assādadiṭṭhi micchādiṭṭhi diṭṭhivipatti. Tāya diṭṭhivipattiyā samannāgato puggalo diṭṭhivipanno. Diṭṭhivipanno puggalo na sevitabbo na bhajitabbo na payirupāsitabbo. Taṃ kissa hetu? Diṭṭhi hissa pāpikā. Yo diṭṭhiyā rāgo †, so na diṭṭhi. Diṭṭhi na rāgo. Aññā diṭṭhi, añño rāgo. Yā ca diṭṭhi yo ca rāgo – ayaṃ vuccati diṭṭhirāgo. Tāya ca diṭṭhiyā tena ca rāgena samannāgato puggalo diṭṭhirāgaratto. Diṭṭhirāgaratte puggale dinnaṃ dānaṃ na mahapphalaṃ hoti na mahānisaṃsaṃ. Taṃ kissa hetu? Diṭṭhi hissa pāpikā assādadiṭṭhi micchādiṭṭhi.
The view of gratification is wrong view, a corruption of view. A person endowed with this corruption of view is one whose view is corrupted. A person whose view is corrupted should not be associated with, followed, or attended upon. For what reason? Because his view is evil. The lust that is in relation to view is not the view. View is not lust. View is one thing, lust is another. Both the view and the lust—this is called lust-for-view. A person endowed with that view and that lust is one who delights in lust-for-view. A gift given to a person who delights in lust-for-view is not of great fruit, nor of great benefit. For what reason? Because his view is evil—the view of gratification, the wrong view.
Vị kiến là tà kiến, là sự hư hoại của tri kiến. Hạng người có đầy đủ sự hư hoại của tri kiến ấy được gọi là người có tri kiến hư hoại. Không nên gần gũi, không nên thân cận, không nên lui tới hạng người có tri kiến hư hoại. Vì sao vậy? Vì tri kiến của người ấy là xấu ác. Tham ái nào ở trong tri kiến, cái ấy không phải là tri kiến. Tri kiến không phải là tham ái. Tri kiến là khác, tham ái là khác. Tri kiến nào và tham ái nào, điều này được gọi là kiến ái. Hạng người có đầy đủ tri kiến ấy và tham ái ấy là người say đắm trong kiến ái. Sự bố thí được dâng cúng đến hạng người say đắm trong kiến ái không có quả lớn, không có phúc lợi lớn. Vì sao vậy? Vì tri kiến của người ấy là xấu ác, (đó là) vị kiến, tà kiến.
Micchādiṭṭhikassa purisapuggalassa dveva gatiyo – nirayo vā tiracchānayoni vā. Micchādiṭṭhikassa purisapuggalassa yañceva kāyakammaṃ yathādiṭṭhi samattaṃ samādinnaṃ, yañca vacīkammaṃ…pe… yañca manokammaṃ yathādiṭṭhi samattaṃ samādinnaṃ, yā ca cetanā yā ca patthanā yo ca paṇidhi ye ca saṅkhārā, sabbe te dhammā aniṭṭhāya akantāya amanāpāya ahitāya dukkhāya saṃvattanti. Taṃ kissa hetu? Diṭṭhi hissa pāpikā. Seyyathāpi nimbabījaṃ vā kosātakībījaṃ vā tittakālābubījaṃ vā allāya pathaviyā nikkhittaṃ yaṃ ceva pathavirasaṃ upādiyati, yañca āporasaṃ upādiyati, sabbaṃ taṃ tittakattāya kaṭukattāya asātattāya † saṃvattati. Taṃ kissa hetu? Bījaṃ hissa pāpikaṃ. Evamevaṃ micchādiṭṭhikassa purisapuggalassa yañceva kāyakammaṃ yathādiṭṭhi samattaṃ samādinnaṃ, yañca vacīkammaṃ…pe… yañca manokammaṃ yathādiṭṭhi samattaṃ samādinnaṃ, yā ca cetanā yā ca patthanā yo ca paṇidhi ye ca saṅkhārā, sabbe te dhammā aniṭṭhāya akantāya amanāpāya ahitāya dukkhāya saṃvattanti. Taṃ kissa hetu? Diṭṭhi hissa pāpikā assādadiṭṭhi micchādiṭṭhi.
For a person with wrong view, there are only two destinations: hell or the animal realm. For a person with wrong view, whatever bodily action is undertaken and completed in accordance with that view, whatever verbal action... whatever mental action is undertaken and completed in accordance with that view, whatever volition, aspiration, resolution, and formations there are—all those things lead to what is undesirable, unloved, disagreeable, unbeneficial, and for suffering. For what reason? Because his view is evil. Just as a neem seed, a bitter sponge gourd seed, or a bitter bottle gourd seed, planted in moist earth, whatever earth-essence it takes up, and whatever water-essence it takes up, all that leads to bitterness, pungency, and unpleasantness. For what reason? Because its seed is bad. In the same way, for a person with wrong view, whatever bodily action is undertaken and completed in accordance with that view, whatever verbal action... whatever mental action is undertaken and completed in accordance with that view, whatever volition, aspiration, resolution, and formations there are—all those things lead to what is undesirable, unloved, disagreeable, unbeneficial, and for suffering. For what reason? Because his view is evil—the view of gratification, wrong view.
Đối với hạng nam nhân có tà kiến, chỉ có hai cõi đi về: hoặc là địa ngục, hoặc là loài bàng sanh. Đối với hạng nam nhân có tà kiến, thân nghiệp nào được thực hiện và chấp nhận trọn vẹn theo tri kiến, khẩu nghiệp nào... cho đến... ý nghiệp nào được thực hiện và chấp nhận trọn vẹn theo tri kiến, và tư tâm sở nào, sự mong cầu nào, sự quyết định nào, và các hành nào, tất cả các pháp ấy đều đưa đến điều không mong muốn, không đáng ưa, không vừa lòng, không lợi ích, và đau khổ. Vì sao vậy? Vì tri kiến của người ấy là xấu ác. Ví như hạt cây sầu đâu, hoặc hạt cây mướp đắng, hoặc hạt cây bầu đắng được gieo vào đất ẩm, nó hấp thụ vị đất nào và hấp thụ vị nước nào, tất cả những thứ ấy đều đưa đến vị đắng, vị cay, vị không ngon. Vì sao vậy? Vì hạt giống của nó là xấu. Tương tự như thế, đối với hạng nam nhân có tà kiến, thân nghiệp nào được thực hiện và chấp nhận trọn vẹn theo tri kiến, khẩu nghiệp nào... cho đến... ý nghiệp nào được thực hiện và chấp nhận trọn vẹn theo tri kiến, và tư tâm sở nào, sự mong cầu nào, sự quyết định nào, và các hành nào, tất cả các pháp ấy đều đưa đến điều không mong muốn, không đáng ưa, không vừa lòng, không lợi ích, và đau khổ. Vì sao vậy? Vì tri kiến của người ấy là xấu ác, (đó là) vị kiến, tà kiến.
Micchādiṭṭhi diṭṭhigataṃ, diṭṭhigahanaṃ, diṭṭhikantāraṃ, diṭṭhivisūkaṃ, diṭṭhivipphanditaṃ, diṭṭhisaññojanaṃ, diṭṭhisallaṃ, diṭṭhisambādho, diṭṭhipalibodho, diṭṭhibandhanaṃ, diṭṭhipapāto, diṭṭhānusayo, diṭṭhisantāpo, diṭṭhipariḷāho, diṭṭhigantho, diṭṭhupādānaṃ, diṭṭhābhiniveso, diṭṭhiparāmāso – imehi aṭṭhārasahi ākārehi pariyuṭṭhitacittassa saññogo.
Wrong view is a holding of a view, a jungle of views, a wilderness of views, a contortion of views, an agitation of views, a fetter of views, a dart of views, a constriction of views, an obstruction of views, a bondage of views, a precipice of views, a latent tendency of views, a torment of views, a fever of views, a knot of views, a clinging to views, an adherence to views, a misapprehension of views—this is the bondage for a mind assailed by these eighteen aspects.
Tà kiến là kiến chấp, là rừng rậm tri kiến, là hoang địa tri kiến, là sự mâu thuẫn của tri kiến, là sự dao động của tri kiến, là tri kiến kiết sử, là mũi tên tri kiến, là sự chật hẹp của tri kiến, là sự chướng ngại của tri kiến, là sự trói buộc của tri kiến, là vực thẳm tri kiến, là tri kiến tùy miên, là sự phiền não của tri kiến, là sự thiêu đốt của tri kiến, là tri kiến thân kết, là tri kiến thủ, là sự cố chấp vào tri kiến, là sự chấp thủ tri kiến. Đối với người có tâm bị ám ảnh bởi mười tám phương diện này, có sự tương ưng (với khổ).
129. Atthi saññojanāni ceva diṭṭhiyo ca, atthi saññojanāni na ca diṭṭhiyo. Katamāni saññojanāni ceva diṭṭhiyo ca? Sakkāyadiṭṭhi, sīlabbataparāmāso – imāni saññojanāni ceva diṭṭhiyo ca. Katamāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo? Kāmarāgasaññojanaṃ, paṭighasaññojanaṃ, mānasaññojanaṃ, vicikicchāsaññojanaṃ, bhavarāgasaññojanaṃ, issāsaññojanaṃ, macchariyasaññojanaṃ, anunayasaññojanaṃ, avijjāsaññojanaṃ – imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo.
129. There are states that are both fetters and views, and there are states that are fetters but not views. Which are both fetters and views? Self-identity view and clinging to rules and observances—these are both fetters and views. Which are fetters but not views? The fetter of sensual desire, the fetter of aversion, the fetter of conceit, the fetter of doubt, the fetter of craving for existence, the fetter of envy, the fetter of stinginess, the fetter of attachment, the fetter of ignorance—these are fetters but not views.
129. Có những pháp vừa là kiết sử vừa là tri kiến, có những pháp là kiết sử nhưng không phải là tri kiến. Những pháp nào vừa là kiết sử vừa là tri kiến? Thân kiến, giới cấm thủ – những pháp này vừa là kiết sử vừa là tri kiến. Những pháp nào là kiết sử nhưng không phải là tri kiến? Dục ái kiết sử, sân kiết sử, mạn kiết sử, nghi kiết sử, hữu ái kiết sử, tật kiết sử, xan kiết sử, thuận ái kiết sử, vô minh kiết sử – những pháp này là kiết sử nhưng không phải là tri kiến.
Yaṃ vedanaṃ paṭicca…pe… yaṃ saññaṃ paṭicca…pe… yaṃ saṅkhāre † paṭicca…pe… yaṃ viññāṇaṃ paṭicca… yaṃ cakkhuṃ paṭicca… yaṃ sotaṃ paṭicca… yaṃ ghānaṃ paṭicca… yaṃ jivhaṃ paṭicca… yaṃ kāyaṃ paṭicca… yaṃ manaṃ paṭicca… yaṃ rūpe paṭicca… yaṃ sadde paṭicca… yaṃ gandhe paṭicca … yaṃ rase paṭicca… yaṃ phoṭṭhabbe paṭicca… yaṃ dhamme paṭicca… yaṃ cakkhuviññāṇaṃ paṭicca… yaṃ sotaviññāṇaṃ paṭicca… yaṃ ghānaviññāṇaṃ paṭicca… yaṃ jivhāviññāṇaṃ paṭicca… yaṃ kāyaviññāṇaṃ paṭicca… yaṃ manoviññāṇaṃ paṭicca … yaṃ cakkhusamphassaṃ paṭicca… yaṃ sotasamphassaṃ paṭicca… yaṃ ghānasamphassaṃ paṭicca… yaṃ jivhāsamphassaṃ paṭicca… yaṃ kāyasamphassaṃ paṭicca… yaṃ manosamphassaṃ paṭicca… yaṃ cakkhusamphassajaṃ vedanaṃ paṭicca… yaṃ sotasamphassajaṃ vedanaṃ paṭicca… yaṃ ghānasamphassajaṃ vedanaṃ paṭicca… yaṃ jivhāsamphassajaṃ vedanaṃ paṭicca… yaṃ kāyasamphassajaṃ vedanaṃ paṭicca… yaṃ manosamphassajaṃ vedanaṃ paṭicca uppajjati sukhaṃ somanassaṃ, ayaṃ manosamphassajāya vedanāya assādoti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na assādo, assādo na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, añño assādo. Yā ca diṭṭhi yo ca assādo – ayaṃ vuccati assādadiṭṭhi.
Dependent on feeling... dependent on perception... dependent on formations... dependent on consciousness... dependent on the eye... dependent on the ear... dependent on the nose... dependent on the tongue... dependent on the body... dependent on the mind... dependent on forms... dependent on sounds... dependent on smells... dependent on tastes... dependent on tactile objects... dependent on mental phenomena... dependent on eye-consciousness... dependent on ear-consciousness... dependent on nose-consciousness... dependent on tongue-consciousness... dependent on body-consciousness... dependent on mind-consciousness... dependent on eye-contact... dependent on ear-contact... dependent on nose-contact... dependent on tongue-contact... dependent on body-contact... dependent on mind-contact... dependent on feeling born of eye-contact... dependent on feeling born of ear-contact... dependent on feeling born of nose-contact... dependent on feeling born of tongue-contact... dependent on feeling born of body-contact... dependent on feeling born of mind-contact, the pleasure and mental joy that arise—the misapprehension through adherence that 'this is the gratification in feeling born of mind-contact' is a view. View is not gratification; gratification is not view. View is one thing, gratification another. That which is view and that which is gratification—this is called the view of gratification.
Duyên thọ nào... cho đến... duyên tưởng nào... cho đến... duyên các hành nào... cho đến... duyên thức nào... duyên mắt... duyên tai... duyên mũi... duyên lưỡi... duyên thân... duyên ý... duyên các sắc... duyên các tiếng... duyên các mùi... duyên các vị... duyên các vật xúc chạm... duyên các pháp... duyên nhãn thức... duyên nhĩ thức... duyên tỷ thức... duyên thiệt thức... duyên thân thức... duyên ý thức... duyên nhãn xúc... duyên nhĩ xúc... duyên tỷ xúc... duyên thiệt xúc... duyên thân xúc... duyên ý xúc... duyên thọ do nhãn xúc sanh... duyên thọ do nhĩ xúc sanh... duyên thọ do tỷ xúc sanh... duyên thọ do thiệt xúc sanh... duyên thọ do thân xúc sanh... duyên thọ do ý xúc sanh mà lạc và hỷ sanh khởi, (cho rằng) 'đây là vị ngọt của thọ do ý xúc sanh' – sự cố chấp và chấp thủ như vậy là tri kiến. Tri kiến không phải là vị ngọt, vị ngọt không phải là tri kiến. Tri kiến là khác, vị ngọt là khác. Tri kiến nào và vị ngọt nào – điều này được gọi là vị kiến.
Assādadiṭṭhi micchādiṭṭhi diṭṭhivipatti. Tāya diṭṭhivipattiyā samannāgato puggalo diṭṭhivipanno. Diṭṭhivipanno puggalo na sevitabbo na bhajitabbo na payirupāsitabbo. Taṃ kissa hetu? Diṭṭhi hissa pāpikā. Yo diṭṭhiyā rāgo, so na diṭṭhi. Diṭṭhi na rāgo. Aññā diṭṭhi, añño rāgo. Yā ca diṭṭhi yo ca rāgo, ayaṃ vuccati diṭṭhirāgo. Tāya ca diṭṭhiyā tena ca rāgena samannāgato puggalo diṭṭhirāgaratto. Diṭṭhirāgaratte puggale dinnaṃ dānaṃ na mahapphalaṃ hoti na mahānisaṃsaṃ. Taṃ kissa hetu? Diṭṭhi hissa pāpikā assādadiṭṭhi micchādiṭṭhi.
The view of gratification is wrong view, a corruption of view. A person endowed with this corruption of view is one whose view is corrupted. A person whose view is corrupted should not be associated with, followed, or attended upon. For what reason? Because their view is evil. The lust that is associated with view is not the view. View is not lust. View is one thing, lust is another. That which is view and that which is lust—this is called lust for views. A person endowed with that view and that lust is attached to lust for views. A gift given to a person attached to lust for views is not of great fruit, nor of great benefit. For what reason? Because their view is evil—the view of gratification, wrong view.
Vị kiến là tà kiến, là sự hư hoại của tri kiến. Hạng người có đầy đủ sự hư hoại của tri kiến ấy được gọi là người có tri kiến hư hoại. Không nên gần gũi, không nên thân cận, không nên lui tới hạng người có tri kiến hư hoại. Vì sao vậy? Vì tri kiến của người ấy là xấu ác. Tham ái nào ở trong tri kiến, cái ấy không phải là tri kiến. Tri kiến không phải là tham ái. Tri kiến là khác, tham ái là khác. Tri kiến nào và tham ái nào, điều này được gọi là kiến ái. Hạng người có đầy đủ tri kiến ấy và tham ái ấy là người say đắm trong kiến ái. Sự bố thí được dâng cúng đến hạng người say đắm trong kiến ái không có quả lớn, không có phúc lợi lớn. Vì sao vậy? Vì tri kiến của người ấy là xấu ác, (đó là) vị kiến, tà kiến.
Micchādiṭṭhikassa purisapuggalassa dveva gatiyo – nirayo vā tiracchānayoni vā. Micchādiṭṭhikassa purisapuggalassa yañceva kāyakammaṃ yathādiṭṭhi samattaṃ samādinnaṃ, yañca vacīkammaṃ…pe… yañca manokammaṃ yathādiṭṭhi samattaṃ samādinnaṃ, yā ca cetanā yā ca patthanā yo ca paṇidhi ye ca saṅkhārā, sabbe te dhammā aniṭṭhāya akantāya amanāpāya ahitāya dukkhāya saṃvattanti. Taṃ kissa hetu? Diṭṭhi hissa pāpikā. Seyyathāpi nimbabījaṃ vā kosātakībījaṃ vā tittakālābubījaṃ vā allāya pathaviyā nikkhittaṃ yañceva pathavirasaṃ upādiyati yañca āporasaṃ upādiyati, sabbaṃ taṃ tittakattāya kaṭukattāya asātattāya saṃvattati. Taṃ kissa hetu? Bījaṃ hissa pāpikaṃ. Evamevaṃ micchādiṭṭhikassa purisapuggalassa yañceva kāyakammaṃ yathādiṭṭhi samattaṃ samādinnaṃ yañca vacīkammaṃ…pe… yañca manokammaṃ yathādiṭṭhi samattaṃ samādinnaṃ, yā ca cetanā yā ca patthanā yo ca paṇidhi ye ca saṅkhārā, sabbe te dhammā aniṭṭhāya akantāya amanāpāya ahitāya dukkhāya saṃvattanti. Taṃ kissa hetu? Diṭṭhi hissa pāpikā assādadiṭṭhi micchādiṭṭhi.
For a person with wrong view, there are only two destinations: either hell or the animal realm. For a person with wrong view, whatever bodily action is undertaken and completed in accordance with their view, whatever verbal action... whatever mental action is undertaken and completed in accordance with their view, whatever volition, whatever aspiration, whatever resolution, and whatever formations there are—all these phenomena conduce to what is undesirable, unloved, disagreeable, unbeneficial, and to suffering. For what reason? Because their view is evil. Just as a neem seed, or a bitter sponge gourd seed, or a bitter bottle gourd seed, sown in moist earth, absorbs whatever earth-essence and whatever water-essence it takes up, all of it conduces to bitterness, pungency, and unpleasantness. For what reason? Because its seed is bad. In the same way, for a person with wrong view, whatever bodily action is undertaken and completed in accordance with their view, whatever verbal action... whatever mental action is undertaken and completed in accordance with their view, whatever volition, whatever aspiration, whatever resolution, and whatever formations there are—all these phenomena conduce to what is undesirable, unloved, disagreeable, unbeneficial, and to suffering. For what reason? Because their view is evil—the view of gratification, wrong view.
Đối với người nam có tà kiến, chỉ có hai cõi đi đến – hoặc là địa ngục, hoặc là loài súc sanh. Đối với người nam có tà kiến, bất cứ thân nghiệp nào được thực hiện và chấp nhận một cách trọn vẹn theo tà kiến, bất cứ khẩu nghiệp nào... bất cứ ý nghiệp nào được thực hiện và chấp nhận một cách trọn vẹn theo tà kiến, và tư tác nào, ước muốn nào, quyết định nào, các hành nào, tất cả các pháp ấy đều dẫn đến điều không mong muốn, không đáng ưa, không vừa lòng, không lợi ích, và đau khổ. Vì cớ sao? Vì rằng tà kiến của người ấy là xấu ác. Ví như hạt cây sầu đâu, hoặc hạt mướp đắng, hoặc hạt bầu đắng được gieo xuống đất ẩm, nó hấp thụ vị của đất và vị của nước nào, tất cả những thứ ấy đều trở thành vị đắng, vị cay, vị không ngon. Vì cớ sao? Vì rằng hạt giống của nó là xấu. Cũng vậy, đối với người nam có tà kiến, bất cứ thân nghiệp nào được thực hiện và chấp nhận một cách trọn vẹn theo tà kiến, bất cứ khẩu nghiệp nào... bất cứ ý nghiệp nào được thực hiện và chấp nhận một cách trọn vẹn theo tà kiến, và tư tác nào, ước muốn nào, quyết định nào, các hành nào, tất cả các pháp ấy đều dẫn đến điều không mong muốn, không đáng ưa, không vừa lòng, không lợi ích, và đau khổ. Vì cớ sao? Vì rằng tà kiến của người ấy là xấu ác, (đó là) kiến chấp về sự khoái lạc, là tà kiến.
Micchādiṭṭhi diṭṭhigataṃ diṭṭhigahanaṃ…pe… diṭṭhābhiniveso diṭṭhiparāmāso – imehi aṭṭhārasahi ākārehi pariyuṭṭhitacittassa saññogo.
Wrong view is what is held as a view, a thicket of views... adherence to views, and grasping of views. This is the bondage for one whose mind is assailed by these eighteen aspects.
Tà kiến là điều đã đi vào (phạm vi) các tà kiến, là rừng rậm tà kiến... là sự cố chấp vào tà kiến, là sự nắm giữ tà kiến – sự trói buộc của người có tâm bị ám ảnh bởi mười tám phương diện này (xảy ra).
Atthi saññojanāni ceva diṭṭhiyo ca, atthi saññojanāni na ca diṭṭhiyo. Katamāni saññojanāni ceva diṭṭhiyo ca? Sakkāyadiṭṭhi, sīlabbataparāmāso – imāni saññojanāni ceva diṭṭhiyo ca. Katamāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo? Kāmarāgasaññojanaṃ, paṭighasaññojanaṃ, mānasaññojanaṃ, vicikicchāsaññojanaṃ, bhavarāgasaññojanaṃ, issāsaññojanaṃ, macchariyasaññojanaṃ, anunayasaññojanaṃ, avijjāsaññojanaṃ – imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Assādadiṭṭhiyā imehi pañcatiṃsāya ākārehi abhiniveso hoti.
There are both fetters and views, and there are fetters but not views. Which are both fetters and views? Identity-view and adherence to rites and rituals—these are both fetters and views. Which are fetters but not views? The fetter of sensual desire, the fetter of aversion, the fetter of conceit, the fetter of doubt, the fetter of craving for existence, the fetter of envy, the fetter of stinginess, the fetter of favour, the fetter of ignorance—these are fetters but not views. Adherence to the view of gratification occurs through these thirty-five modes.
Có những pháp vừa là kiết sử vừa là tà kiến, và có những pháp là kiết sử nhưng không phải là tà kiến. Những pháp nào vừa là kiết sử vừa là tà kiến? Thân kiến, giới cấm thủ – những pháp này vừa là kiết sử vừa là tà kiến. Những pháp nào là kiết sử nhưng không phải là tà kiến? Kiết sử dục ái, kiết sử sân, kiết sử mạn, kiết sử hoài nghi, kiết sử hữu ái, kiết sử tật đố, kiết sử xan tham, kiết sử thuận ái, kiết sử vô minh – những pháp này là kiết sử nhưng không phải là tà kiến. Đối với kiến chấp về sự khoái lạc, có sự cố chấp bởi ba mươi lăm phương diện này.
Assādadiṭṭhiniddeso paṭhamo.
The First Exposition of the View of Gratification.
Phần giải thích về kiến chấp khoái lạc là phần đầu tiên.
2. Attānudiṭṭhiniddeso
2. The Exposition of the View that Follows a Self
2. Phần giải thích về tùy kiến về tự ngã.
130. Attānudiṭṭhiyā katamehi vīsatiyā ākārehi abhiniveso hoti? Idha assutavā puthujjano ariyānaṃ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṃ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto rūpaṃ attato samanupassati rūpavantaṃ vā attānaṃ attani vā rūpaṃ rūpasmiṃ vā attānaṃ; vedanaṃ…pe… saññaṃ…pe… saṅkhāre…pe… viññāṇaṃ attato samanupassati viññāṇavantaṃ vā attānaṃ attani vā viññāṇaṃ viññāṇasmiṃ vā attānaṃ.
130. By which twenty modes does adherence to the view that follows a self occur? Here, an uninstructed ordinary person—not seeing the noble ones, unversed in the Dhamma of the noble ones, undisciplined in the Dhamma of the noble ones; not seeing true persons, unversed in the Dhamma of true persons, undisciplined in the Dhamma of true persons—regards form as self, or self as possessing form, or form as in self, or self as in form. He regards feeling as self, or self as possessing feeling, or feeling as in self, or self as in feeling. He regards perception as self, or self as possessing perception, or perception as in self, or self as in perception. He regards formations as self, or self as possessing formations, or formations as in self, or self as in formations. He regards consciousness as self, or self as possessing consciousness, or consciousness as in self, or self as in consciousness.
130. Đối với tùy kiến về tự ngã, có sự cố chấp bởi hai mươi phương diện nào? Ở đây, kẻ phàm phu ít nghe, không thấy các bậc Thánh, không thông thạo Thánh pháp, không được huấn luyện trong Thánh pháp; không thấy các bậc chân nhân, không thông thạo pháp của bậc chân nhân, không được huấn luyện trong pháp của bậc chân nhân, quán xét sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc; (quán xét) thọ...; (quán xét) tưởng...; (quán xét) các hành...; quán xét thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức.
131. Kathaṃ rūpaṃ attato samanupassati? Idhekacco pathavīkasiṇaṃ attato samanupassati – ‘‘yaṃ pathavīkasiṇaṃ, so ahaṃ; yo ahaṃ, taṃ pathavīkasiṇa’’nti. Pathavīkasiṇañca attañca advayaṃ samanupassati. Seyyathāpi telappadīpassa jhāyato ‘‘yā acci so vaṇṇo, yo vaṇṇo sā accī’’ti – acciñca vaṇṇañca advayaṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco pathavīkasiṇaṃ attato samanupassati – ‘‘yaṃ pathavīkasiṇaṃ, so ahaṃ; yo ahaṃ, taṃ pathavīkasiṇa’’nti. Pathavīkasiṇañca attañca advayaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā rūpavatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi diṭṭhivipatti…pe… attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi. Micchādiṭṭhikassa purisapuggalassa dveva gatiyo…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo.
131. How does one repeatedly regard form as self? Here, a certain person repeatedly regards the earth kasiṇa as self, thinking: “That which is the earth kasiṇa, that I am; that which I am, that is the earth kasiṇa.” They repeatedly regard the earth kasiṇa and self as non-dual. Just as when an oil lamp is burning, one repeatedly regards the flame and the color as non-dual, thinking: “The flame is the color; the color is the flame.” In the same way, here, a certain person repeatedly regards the earth kasiṇa as self, thinking: “That which is the earth kasiṇa, that I am; that which I am, that is the earth kasiṇa.” They repeatedly regard the earth kasiṇa and self as non-dual. Clinging through adherence is a view. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing, the basis is another. This view and this basis constitute the first self-view based on form. Self-view is wrong view, a corruption of view... and so on... self-view is wrong view. For an individual holding wrong view, there are only two destinations... and so on... these are fetters, and not views.
131. Quán xét sắc là tự ngã như thế nào? Ở đây, một người nào đó quán xét biến xứ đất là tự ngã – ‘Cái gì là biến xứ đất, đó là ta; cái gì là ta, đó là biến xứ đất’. Vị ấy quán xét biến xứ đất và tự ngã là không hai. Ví như đối với ngọn đèn dầu đang cháy, (người ta quán xét) ‘Cái gì là ngọn lửa, đó là màu sắc; cái gì là màu sắc, đó là ngọn lửa’ – vị ấy quán xét ngọn lửa và màu sắc là không hai. Cũng vậy, ở đây, một người nào đó quán xét biến xứ đất là tự ngã – ‘Cái gì là biến xứ đất, đó là ta; cái gì là ta, đó là biến xứ đất’. Vị ấy quán xét biến xứ đất và tự ngã là không hai. Sự cố chấp và nắm giữ là tà kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái gì là tà kiến và cái gì là đối tượng – đây là tùy kiến về tự ngã đầu tiên có sắc làm đối tượng. Tùy kiến về tự ngã là tà kiến, là sự hư hoại của tri kiến... Tùy kiến về tự ngã là tà kiến. Đối với người nam có tà kiến, chỉ có hai cõi đi đến... những pháp này là kiết sử, nhưng không phải là tà kiến.
Idhekacco āpokasiṇaṃ… tejokasiṇaṃ… vāyokasiṇaṃ… nīlakasiṇaṃ… pītakasiṇaṃ… lohitakasiṇaṃ… odātakasiṇaṃ attato samanupassati – ‘‘yaṃ odātakasiṇaṃ, so ahaṃ; yo ahaṃ, taṃ odātakasiṇa’’nti. Odātakasiṇañca attañca advayaṃ samanupassati. Seyyathāpi telappadīpassa jhāyato ‘‘yā acci, so vaṇṇo; yo vaṇṇo, sā accī’’ti – acciñca vaṇṇañca advayaṃ samanupassati. Evameva idhekacco…pe… odātakasiṇañca attañca advayaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā rūpavatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi diṭṭhivipatti…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ rūpaṃ attato samanupassati.
Here, a certain person repeatedly regards the water kasiṇa... the fire kasiṇa... the air kasiṇa... the blue kasiṇa... the yellow kasiṇa... the red kasiṇa... the white kasiṇa as self, thinking: “That which is the white kasiṇa, that I am; that which I am, that is the white kasiṇa.” They repeatedly regard the white kasiṇa and self as non-dual. Just as when an oil lamp is burning, one repeatedly regards the flame and the color as non-dual, thinking: “The flame is the color; the color is the flame.” In the same way, here, a certain person... and so on... repeatedly regards the white kasiṇa and self as non-dual. Clinging through adherence is a view. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. This view and this basis constitute the first self-view based on form. Self-view is wrong view, a corruption of view... and so on... these are fetters, and not views. Thus, one repeatedly regards form as self.
Ở đây, một người nào đó quán xét biến xứ nước... biến xứ lửa... biến xứ gió... biến xứ xanh... biến xứ vàng... biến xứ đỏ... biến xứ trắng là tự ngã – ‘Cái gì là biến xứ trắng, đó là ta; cái gì là ta, đó là biến xứ trắng’. Vị ấy quán xét biến xứ trắng và tự ngã là không hai. Ví như đối với ngọn đèn dầu đang cháy, (người ta quán xét) ‘Cái gì là ngọn lửa, đó là màu sắc; cái gì là màu sắc, đó là ngọn lửa’ – vị ấy quán xét ngọn lửa và màu sắc là không hai. Cũng vậy, ở đây, một người nào đó... quán xét biến xứ trắng và tự ngã là không hai. Sự cố chấp và nắm giữ là tà kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái gì là tà kiến và cái gì là đối tượng – đây là tùy kiến về tự ngã đầu tiên có sắc làm đối tượng. Tùy kiến về tự ngã là tà kiến, là sự hư hoại của tri kiến... những pháp này là kiết sử, nhưng không phải là tà kiến. Như vậy, vị ấy quán xét sắc là tự ngã.
Kathaṃ rūpavantaṃ attānaṃ samanupassati? Idhekacco vedanaṃ… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā iminā rūpena rūpavā’’ti. Rūpavantaṃ attānaṃ samanupassati. Seyyathāpi rukkho chāyāsampanno assa. Tamenaṃ puriso evaṃ vadeyya – ‘‘ayaṃ rukkho, ayaṃ chāyā. Añño rukkho, aññā chāyā. So kho panāyaṃ rukkho imāya chāyāya chāyāvā’’ti. Chāyāvantaṃ rukkhaṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco vedanaṃ…pe… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana ayaṃ attā iminā rūpena rūpavā’’ti. Rūpavantaṃ attānaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ dutiyā rūpavatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi diṭṭhivipatti…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ rūpavantaṃ attānaṃ samanupassati.
How does one regard the self as possessing form? Here, a certain person regards feeling... perception... formations... consciousness as self. They think: 'This is my self. And this self of mine possesses form by means of this form.' They regard the self as possessing form. Just as a tree might be endowed with shade, and a person might say of it: 'This is the tree, this is the shade. The tree is one thing, the shade is another. But this tree possesses shade by means of this shade.' They regard the tree as possessing shade. In the same way, here, a certain person regards feeling... perception... formations... consciousness as self. They think: 'This is my self. And this self of mine possesses form by means of this form.' They regard the self as possessing form. Grasping through adherence is a view. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing, the basis is another. This view and this basis constitute the second self-view that has form as its basis. The self-view is wrong view, a distortion of view... These are the fetters, and not views. Thus, one regards the self as possessing form.
Làm thế nào người ấy thường quán xét tự ngã có sắc? Ở đây, có người thường quán xét thọ... tưởng... các hành... thức là tự ngã. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta có sắc do bởi sắc này.’ (Như thế,) người ấy thường quán xét tự ngã có sắc. Ví như có cây cối có bóng mát. Một người đàn ông có thể nói về nó như vầy: ‘Đây là cây, đây là bóng. Cây là khác, bóng là khác. Và cây này có bóng do bởi bóng này.’ (Như thế,) người ấy thường quán xét cây có bóng. Tương tự y như thế, ở đây, có người thường quán xét thọ... tưởng... các hành... thức là tự ngã. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này có sắc do bởi sắc này.’ (Như thế,) người ấy thường quán xét tự ngã có sắc. Sự chấp thủ và bám víu là tà kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái nào là tà kiến và cái nào là đối tượng – đây là loại tà kiến về tự ngã thứ nhì có sắc làm đối tượng. Tà kiến về tự ngã là tà kiến, là sự hư hoại của tri kiến... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. Như thế, người ấy thường quán xét tự ngã có sắc.
Kathaṃ attani rūpaṃ samanupassati? Idhekacco vedanaṃ… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. Imasmiñca pana attani idaṃ rūpa’’nti. Attani rūpaṃ samanupassati. Seyyathāpi pupphaṃ gandhasampannaṃ assa. Tamenaṃ puriso evaṃ vadeyya – ‘‘idaṃ pupphaṃ, ayaṃ gandho; aññaṃ pupphaṃ, añño gandho. So kho panāyaṃ gandho imasmiṃ pupphe’’ti. Pupphasmiṃ gandhaṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco vedanaṃ…pe… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. Imasmiñca pana attani idaṃ rūpa’’nti. Attani rūpaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ tatiyā rūpavatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi diṭṭhivipatti…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ attani rūpaṃ samanupassati.
How does one regard form in self? Here, a certain person regards feeling... perception... formations... consciousness as self. They think thus: ‘This is my self. And this form is in my self.’ Thus, they regard form in self. Just as there might be a fragrant flower, and a person would say: ‘This is the flower, this is the fragrance; the flower is one thing, the fragrance is another. Yet this fragrance is in this flower.’ Thus, they regard the fragrance in the flower. In the same way, here, a certain person regards feeling... perception... formations... consciousness as self. They think thus: ‘This is my self. And this form is in my self.’ Thus, they regard form in self. Grasping through adherence is a view. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing, the basis is another. That which is the view and that which is the basis—this is the third self-view that has form as its basis. The self-view is wrong view, a corruption of view... these are fetters, and not views. Thus, one regards form in self.
Làm thế nào người ấy thường quán xét sắc ở trong tự ngã? Ở đây, có người thường quán xét thọ... tưởng... các hành... thức là tự ngã. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và ở trong tự ngã này có sắc này.’ (Như thế,) người ấy thường quán xét sắc ở trong tự ngã. Ví như có bông hoa có hương thơm. Một người đàn ông có thể nói về nó như vầy: ‘Đây là hoa, đây là hương; hoa là khác, hương là khác. Và hương này ở trong bông hoa này.’ (Như thế,) người ấy thường quán xét hương ở trong bông hoa. Tương tự y như thế, ở đây, có người thường quán xét thọ... tưởng... các hành... thức là tự ngã. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và ở trong tự ngã này có sắc này.’ (Như thế,) người ấy thường quán xét sắc ở trong tự ngã. Sự chấp thủ và bám víu là tà kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái nào là tà kiến và cái nào là đối tượng – đây là loại tà kiến về tự ngã thứ ba có sắc làm đối tượng. Tà kiến về tự ngã là tà kiến, là sự hư hoại của tri kiến... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. Như thế, người ấy thường quán xét sắc ở trong tự ngã.
Kathaṃ rūpasmiṃ attānaṃ samanupassati? Idhekacco vedanaṃ…pe… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā imasmiṃ rūpe’’ti. Rūpasmiṃ attānaṃ samanupassati. Seyyathāpi maṇi karaṇḍake pakkhitto assa. Tamenaṃ puriso evaṃ vadeyya – ‘‘ayaṃ maṇi, ayaṃ karaṇḍako. Añño maṇi, añño karaṇḍako. So kho panāyaṃ maṇi imasmiṃ karaṇḍake’’ti. Karaṇḍakasmiṃ maṇiṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco vedanaṃ…pe… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā imasmiṃ rūpe’’ti. Rūpasmiṃ attānaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ catutthā rūpavatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi diṭṭhivipatti…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ rūpasmiṃ attānaṃ samanupassati.
How does one regard self in form? Here, a certain person regards feeling… perception… formations… consciousness as self. They think thus: ‘This, indeed, is my self. Furthermore, that self of mine is established in this form.’ Thus, they regard self in form. Just as a jewel might be placed in a casket, and a man would say: ‘This is the jewel, this is the casket. The jewel is one thing, the casket is another. Furthermore, this jewel is established in this casket.’ Thus, one regards the jewel in the casket. In the very same way, here, a certain person regards feeling… perception… formations… consciousness as self. They think thus: ‘This, indeed, is my self. Furthermore, that self of mine is established in this form.’ Thus, they regard self in form. Adherence and grasping is a view. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing, the basis is another. That which is the view and that which is the basis—this is the fourth view of self that has form as its basis. The view of self is wrong view, a corruption of view…pe… These are called fetters, and not views. Thus, one regards self in form.
Làm thế nào người ấy thường quán xét tự ngã ở trong sắc? Ở đây, có người thường quán xét thọ... tưởng... các hành... thức là tự ngã. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta ở trong sắc này.’ (Như thế,) người ấy thường quán xét tự ngã ở trong sắc. Ví như có viên ngọc được đặt trong hộp đựng. Một người đàn ông có thể nói về nó như vầy: ‘Đây là viên ngọc, đây là hộp đựng. Viên ngọc là khác, hộp đựng là khác. Và viên ngọc này ở trong hộp đựng này.’ (Như thế,) người ấy thường quán xét viên ngọc ở trong hộp đựng. Tương tự y như thế, ở đây, có người thường quán xét thọ... tưởng... các hành... thức là tự ngã. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta ở trong sắc này.’ (Như thế,) người ấy thường quán xét tự ngã ở trong sắc. Sự chấp thủ và bám víu là tà kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái nào là tà kiến và cái nào là đối tượng – đây là loại tà kiến về tự ngã thứ tư có sắc làm đối tượng. Tà kiến về tự ngã là tà kiến, là sự hư hoại của tri kiến... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. Như thế, người ấy thường quán xét tự ngã ở trong sắc.
132. Kathaṃ vedanaṃ attato samanupassati? Idhekacco cakkhusamphassajaṃ vedanaṃ sotasamphassajaṃ vedanaṃ ghānasamphassajaṃ vedanaṃ jivhāsamphassajaṃ vedanaṃ kāyasamphassajaṃ vedanaṃ manosamphassajaṃ vedanaṃ attato samanupassati. ‘‘Yā manosamphassajā vedanā so ahaṃ, yo ahaṃ sā manosamphassajā vedanā’’ti – manosamphassajaṃ vedanañca attañca advayaṃ samanupassati. Seyyathāpi telappadīpassa jhāyato ‘‘yā acci so vaṇṇo, yo vaṇṇo sā accī’’ti – acciñca vaṇṇañca advayaṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco manosamphassajaṃ vedanaṃ attato samanupassati. ‘‘Yā manosamphassajā vedanā so ahaṃ, yo ahaṃ sā manosamphassajā vedanā’’ti – manosamphassajaṃ vedanañca attañca advayaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā vedanāvatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi diṭṭhivipatti…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ vedanaṃ attato samanupassati.
132. How does one regard feeling as self? Here, a certain person regards feeling born of eye-contact, feeling born of ear-contact, feeling born of nose-contact, feeling born of tongue-contact, feeling born of body-contact, and feeling born of mind-contact as self. “The feeling born of mind-contact is I; I am the feeling born of mind-contact”—they regard the feeling born of mind-contact and the self as non-dual. Just as when an oil lamp is burning, one might say, “The flame is the color; the color is the flame”—regarding the flame and the color as non-dual. In the same way, here, a certain person regards feeling born of mind-contact as self. “The feeling born of mind-contact is I; I am the feeling born of mind-contact”—they regard the feeling born of mind-contact and the self as non-dual. Clinging through adherence is a view. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. This view and this basis constitute the first self-view based on feeling. Self-view is wrong view, a distortion of view... these are the fetters, and not views. Thus, one regards feeling as self.
132. Làm thế nào người ấy thường quán xét thọ là tự ngã? Ở đây, có người thường quán xét thọ sanh do nhãn xúc, thọ sanh do nhĩ xúc, thọ sanh do tỷ xúc, thọ sanh do thiệt xúc, thọ sanh do thân xúc, thọ sanh do ý xúc là tự ngã. Vị ấy thường quán xét một cách không có sự khác biệt về thọ sanh do ý xúc và tự ngã rằng: ‘Cái gì là thọ sanh do ý xúc, đó là ta; cái gì là ta, đó là thọ sanh do ý xúc.’ Ví như đối với ngọn đèn dầu đang cháy, người ấy thường quán xét một cách không có sự khác biệt về ngọn lửa và màu sắc rằng: ‘Cái gì là ngọn lửa, đó là màu sắc; cái gì là màu sắc, đó là ngọn lửa.’ Tương tự y như thế, ở đây, có người thường quán xét thọ sanh do ý xúc là tự ngã. Vị ấy thường quán xét một cách không có sự khác biệt về thọ sanh do ý xúc và tự ngã rằng: ‘Cái gì là thọ sanh do ý xúc, đó là ta; cái gì là ta, đó là thọ sanh do ý xúc.’ Sự chấp thủ và bám víu là tà kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái nào là tà kiến và cái nào là đối tượng – đây là loại tà kiến về tự ngã thứ nhất có thọ làm đối tượng. Tà kiến về tự ngã là tà kiến, là sự hư hoại của tri kiến... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. Như thế, người ấy thường quán xét thọ là tự ngã.
Kathaṃ vedanāvantaṃ attānaṃ samanupassati? Idhekacco saññaṃ…pe… saṅkhāre… viññāṇaṃ… rūpaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā imāya vedanāya vedanāvā’’ti. Vedanāvantaṃ attānaṃ samanupassati. Seyyathāpi rukkho chāyāsampanno assa. Tamenaṃ puriso evaṃ vadeyya – ‘‘ayaṃ rukkho, ayaṃ chāyā. Añño rukkho, aññā chāyā. So kho panāyaṃ rukkho imāya chāyāya chāyāvā’’ti. Chāyāvantaṃ rukkhaṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco saññaṃ…pe… saṅkhāre… viññāṇaṃ… rūpaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā imāya vedanāya vedanāvā’’ti. Vedanāvantaṃ attānaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ dutiyā vedanāvatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi diṭṭhivipatti…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ vedanāvantaṃ attānaṃ samanupassati.
How does one regard the self as possessing feeling? Here, someone regards perception… volitional formations… consciousness… form as self. They think: “This is my self. And this self of mine is one who feels by means of this feeling.” They regard the self as possessing feeling. Just as a tree might be endowed with shade, and a person might say, “This is the tree, this is the shade. The tree is one thing, the shade another. But this tree is endowed with this shade”—they regard the tree as endowed with shade. In the same way, someone regards perception… volitional formations… consciousness… form as self. They think: “This is my self. And this self of mine is one who feels by means of this feeling.” They regard the self as possessing feeling. Adherence and grasping is a view. A view is not the basis, the basis is not a view. A view is one thing, the basis another. The view and the basis—this is the second self-view that has feeling as its basis. Self-view is wrong view, a corruption of view… these are fetters, but not views. Thus one regards the self as possessing feeling.
Làm thế nào người ấy thường xuyên quán xét tự ngã có cảm thọ? Ở đây, có người thường xuyên quán xét tưởng... cho đến... các hành... thức... sắc là tự ngã. Vị ấy khởi lên ý nghĩ rằng: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta có cảm thọ bởi cảm thọ này.’ (Như vậy) người ấy thường xuyên quán xét tự ngã có cảm thọ. Ví như có cây có bóng mát. Một người có thể nói về nó như sau: ‘Đây là cây, đây là bóng. Cây là khác, bóng là khác. Và cây này có bóng bởi cái bóng này.’ (Như vậy) người ấy thường xuyên quán xét cây có bóng. Tương tự như thế, ở đây, có người thường xuyên quán xét tưởng... cho đến... các hành... thức... sắc là tự ngã. Vị ấy khởi lên ý nghĩ rằng: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta có cảm thọ bởi cảm thọ này.’ (Như vậy) người ấy thường xuyên quán xét tự ngã có cảm thọ. Sự chấp thủ và bám víu là tà kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái nào là tà kiến và cái nào là đối tượng – đây là loại tự ngã kiến thứ hai có cảm thọ làm đối tượng. Tự ngã kiến là tà kiến, là sự hư hoại của tri kiến... cho đến... đây là các kiết sử, không phải là các tà kiến. Như vậy, người ấy thường xuyên quán xét tự ngã có cảm thọ.
Kathaṃ attani vedanaṃ samanupassati? Idhekacco saññaṃ…pe… saṅkhāre… viññāṇaṃ… rūpaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. Imasmiñca pana attani ayaṃ vedanā’’ti. Attani vedanaṃ samanupassati. Seyyathāpi pupphaṃ gandhasampannaṃ assa. Tamenaṃ puriso evaṃ vadeyya – ‘‘idaṃ pupphaṃ, ayaṃ gandho; aññaṃ pupphaṃ, añño gandho. So kho panāyaṃ gandho imasmiṃ pupphe’’ti. Pupphasmiṃ gandhaṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco saññaṃ…pe… saṅkhāre… viññāṇaṃ… rūpaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. Imasmiñca pana attani ayaṃ vedanā’’ti. Attani vedanaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ tatiyā vedanāvatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi diṭṭhivipatti…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ attani vedanaṃ samanupassati.
How does one repeatedly contemplate feeling in the self? Here, a certain person repeatedly contemplates perception… volitional formations… consciousness… form as self. To them, it occurs thus: “This is my self, and in this self this feeling is established.” They repeatedly contemplate feeling in the self. It is like a flower that is endowed with fragrance. A person might say of it: “This is the flower, this is the fragrance; the flower is one thing, the fragrance another. This fragrance is established in this flower.” They repeatedly contemplate the fragrance in the flower. In the same way, a certain person repeatedly contemplates perception… volitional formations… consciousness… form as self. To them, it occurs thus: “This is my self, and in this self this feeling is established.” They repeatedly contemplate feeling in the self. Grasping through adherence is a view. A view is not the basis; the basis is not a view. A view is one thing; the basis is another. That which is the view and that which is the basis—this is the third self-view that has feeling as its basis. A self-view is a wrong view, a corruption of view… these are fetters, but not views. Thus one repeatedly contemplates feeling in the self.
Làm thế nào người ấy thường xuyên quán xét cảm thọ ở trong tự ngã? Ở đây, có người thường xuyên quán xét tưởng... cho đến... các hành... thức... sắc là tự ngã. Vị ấy khởi lên ý nghĩ rằng: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và cảm thọ này ở trong tự ngã này.’ (Như vậy) người ấy thường xuyên quán xét cảm thọ ở trong tự ngã. Ví như có bông hoa có hương thơm. Một người có thể nói về nó như sau: ‘Đây là hoa, đây là hương; hoa là khác, hương là khác. Và hương này ở trong bông hoa này.’ (Như vậy) người ấy thường xuyên quán xét hương thơm ở trong bông hoa. Tương tự như thế, ở đây, có người thường xuyên quán xét tưởng... cho đến... các hành... thức... sắc là tự ngã. Vị ấy khởi lên ý nghĩ rằng: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và cảm thọ này ở trong tự ngã này.’ (Như vậy) người ấy thường xuyên quán xét cảm thọ ở trong tự ngã. Sự chấp thủ và bám víu là tà kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái nào là tà kiến và cái nào là đối tượng – đây là loại tự ngã kiến thứ ba có cảm thọ làm đối tượng. Tự ngã kiến là tà kiến, là sự hư hoại của tri kiến... cho đến... đây là các kiết sử, không phải là các tà kiến. Như vậy, người ấy thường xuyên quán xét cảm thọ ở trong tự ngã.
Kathaṃ vedanāya attānaṃ samanupassati? Idhekacco saññaṃ…pe… saṅkhāre… viññāṇaṃ… rūpaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā imāya vedanāyā’’ti. Vedanāya attānaṃ samanupassati. Seyyathāpi maṇi karaṇḍake pakkhitto assa. Tamenaṃ puriso evaṃ vadeyya – ‘‘ayaṃ maṇi, ayaṃ karaṇḍako. Añño maṇi, añño karaṇḍako. So kho panāyaṃ maṇi imasmiṃ karaṇḍake’’ti. Karaṇḍakasmiṃ maṇiṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ… rūpaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā imāya vedanāyā’’ti. Vedanāya attānaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ catutthā vedanāvatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi diṭṭhivipatti…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ vedanāya attānaṃ samanupassati.
How does one repeatedly regard the self in feeling? Here, a certain person repeatedly regards perception… volitional formations… consciousness… form as self. They think: “This very thing is my self. And this self of mine is established in this feeling.” Thus one repeatedly regards the self in feeling. Just as a gem might be placed in a casket, and a person might say, “This is the gem, this is the casket. The gem is one thing, the casket another. And this gem is established in this casket.” Thus one repeatedly regards the gem in the casket. In the same way, a certain person repeatedly regards perception… volitional formations… consciousness… form as self. They think: “This very thing is my self. And this self of mine is established in this feeling.” Thus one repeatedly regards the self in feeling. Grasping through misapprehension is the view. A view is not the basis, the basis is not the view. A view is one thing, the basis another. That which is the view and that which is the basis—this is the fourth self-view that has feeling as its basis. The self-view is wrong view, a corruption of view… these are fetters, and not views. Thus one repeatedly regards the self in feeling.
Làm thế nào người ấy thường xuyên quán xét tự ngã ở trong cảm thọ? Ở đây, có người thường xuyên quán xét tưởng... cho đến... các hành... thức... sắc là tự ngã. Vị ấy khởi lên ý nghĩ rằng: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta ở trong cảm thọ này.’ (Như vậy) người ấy thường xuyên quán xét tự ngã ở trong cảm thọ. Ví như có viên ngọc được đặt trong hộp. Một người có thể nói về nó như sau: ‘Đây là ngọc, đây là hộp. Ngọc là khác, hộp là khác. Và viên ngọc này ở trong cái hộp này.’ (Như vậy) người ấy thường xuyên quán xét viên ngọc ở trong cái hộp. Tương tự như thế, ở đây, có người thường xuyên quán xét tưởng... các hành... thức... sắc là tự ngã. Vị ấy khởi lên ý nghĩ rằng: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta ở trong cảm thọ này.’ (Như vậy) người ấy thường xuyên quán xét tự ngã ở trong cảm thọ. Sự chấp thủ và bám víu là tà kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái nào là tà kiến và cái nào là đối tượng – đây là loại tự ngã kiến thứ tư có cảm thọ làm đối tượng. Tự ngã kiến là tà kiến, là sự hư hoại của tri kiến... cho đến... đây là các kiết sử, không phải là các tà kiến. Như vậy, người ấy thường xuyên quán xét tự ngã ở trong cảm thọ.
133. Kathaṃ saññaṃ attato samanupassati? Idhekacco cakkhusamphassajaṃ saññaṃ…pe… sotasamphassajaṃ saññaṃ… ghānasamphassajaṃ saññaṃ… jivhāsamphassajaṃ saññaṃ… kāyasamphassajaṃ saññaṃ… manosamphassajaṃ saññaṃ attato samanupassati. Yā manosamphassajā saññā so ahaṃ, yo ahaṃ sā manosamphassajā saññā’’ti. Manosamphassajaṃ saññañca attañca advayaṃ samanupassati. Seyyathāpi telappadīpassa jhāyato ‘‘yā acci so vaṇṇo, yo vaṇṇo sā accī’’ti – acciñca vaṇṇañca advayaṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco manosamphassajaṃ saññaṃ attato samanupassati – ‘‘yā manosamphassajā saññā so ahaṃ, yo ahaṃ sā manosamphassajā saññā’’ti. Manosamphassajaṃ saññañca attañca advayaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā saññāvatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi diṭṭhivipatti…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ saññaṃ attato samanupassati.
133. How does one repeatedly regard perception as self? Here, a certain person repeatedly regards perception born of eye-contact… perception born of mind-contact as self. ‘That which is perception born of mind-contact is I; that which is I is the perception born of mind-contact.’ Thus, they repeatedly regard perception born of mind-contact and the self as non-dual. Just as, while an oil lamp is burning, one repeatedly regards the flame and the color as non-dual, thinking: ‘That which is the flame is the color; that which is the color is the flame.’ In this very way, here a certain person repeatedly regards perception born of mind-contact as self, thinking: ‘That which is perception born of mind-contact is I; that which is I is the perception born of mind-contact.’ Thus, they repeatedly regard perception born of mind-contact and the self as non-dual. Adherence and misapprehension are a view. A view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. That which is the view and that which is the basis—this is the first self-view that has perception as its basis. A self-view is a wrong view, a corruption of view… these are fetters, but they are not views. In this way, one repeatedly regards perception as self.
133. Làm thế nào người ấy thường xuyên quán xét tưởng là tự ngã? Ở đây, có người thường xuyên quán xét tưởng sanh do nhãn xúc... cho đến... tưởng sanh do nhĩ xúc... tưởng sanh do tỷ xúc... tưởng sanh do thiệt xúc... tưởng sanh do thân xúc... tưởng sanh do ý xúc là tự ngã. (Vị ấy nghĩ rằng:) ‘Tưởng nào sanh do ý xúc, đó là ta; ta là ai, đó là tưởng sanh do ý xúc.’ (Như vậy) người ấy thường xuyên quán xét tưởng sanh do ý xúc và tự ngã là không hai. Ví như đối với ngọn đèn dầu đang cháy, (người ấy quán xét:) ‘Cái gì là ngọn lửa, đó là màu sắc; cái gì là màu sắc, đó là ngọn lửa’ – (như vậy) người ấy thường xuyên quán xét ngọn lửa và màu sắc là không hai. Tương tự như thế, ở đây, có người thường xuyên quán xét tưởng sanh do ý xúc là tự ngã – ‘Tưởng nào sanh do ý xúc, đó là ta; ta là ai, đó là tưởng sanh do ý xúc.’ (Như vậy) người ấy thường xuyên quán xét tưởng sanh do ý xúc và tự ngã là không hai. Sự chấp thủ và bám víu là tà kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái nào là tà kiến và cái nào là đối tượng – đây là loại tự ngã kiến đầu tiên có tưởng làm đối tượng. Tự ngã kiến là tà kiến, là sự hư hoại của tri kiến... cho đến... đây là các kiết sử, không phải là các tà kiến. Như vậy, người ấy thường xuyên quán xét tưởng là tự ngã.
Kathaṃ saññāvantaṃ attānaṃ samanupassati? Idhekacco saṅkhāre…pe… viññāṇaṃ… rūpaṃ… vedanaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā imāya saññāya saññāvā’’ti. Saññāvantaṃ attānaṃ samanupassati. Seyyathāpi rukkho chāyāsampanno assa. Tamenaṃ puriso evaṃ vadeyya – ‘‘ayaṃ rukkho, ayaṃ chāyā. Añño rukkho, aññā chāyā. So kho panāyaṃ rukkho imāya chāyāya chāyāvā’’ti. Chāyāvantaṃ rukkhaṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco saṅkhāre… viññāṇaṃ… rūpaṃ… vedanaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā imāya saññāya saññāvā’’ti. Saññāvantaṃ attānaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ dutiyā saññāvatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ saññāvantaṃ attānaṃ samanupassati.
How does one regard the self as possessing perception? Here, someone regards formations… consciousness… form… feeling as self. They think: “This is my self. And this self of mine possesses perception by means of this perception.” They regard the self as possessing perception. Just as a tree might be endowed with shade, and a person might say, “This is the tree, this is the shade. The tree is one thing, the shade another. And this tree is endowed with this shade”—they regard the tree as endowed with shade. In the same way, someone regards formations… consciousness… form… feeling as self. They think: “This is my self. And this self of mine possesses perception by means of this perception.” They regard the self as possessing perception. Misapprehension through adherence is a view. A view is not the basis, the basis is not the view. A view is one thing, the basis another. The view and the basis—this is the second perception-based self-view. Self-view is wrong view… these are fetters, but not views. Thus one regards the self as possessing perception.
Làm thế nào vị ấy thường xuyên quán xét tự ngã có tưởng? Ở đây, có người thường xuyên quán xét các hành... thức... sắc... thọ là tự ngã. Vị ấy khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta có tưởng bởi tưởng này’. Vị ấy thường xuyên quán xét tự ngã có tưởng. Ví như có một cái cây có bóng mát. Một người có thể nói về nó như sau: ‘Đây là cây, đây là bóng. Cây là khác, bóng là khác. Và cây này có bóng bởi bóng này’. Vị ấy thường xuyên quán xét cái cây có bóng. Cũng vậy, ở đây, có người thường xuyên quán xét các hành... thức... sắc... thọ là tự ngã. Vị ấy khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta có tưởng bởi tưởng này’. Vị ấy thường xuyên quán xét tự ngã có tưởng. Sự chấp thủ sai lầm là tà kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Tà kiến nào và đối tượng nào – đây là ngã kiến thứ hai có tưởng làm đối tượng. Ngã kiến là tà kiến... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. Như vậy, vị ấy thường xuyên quán xét tự ngã có tưởng.
Kathaṃ attani saññaṃ samanupassati? Idhekacco saṅkhāre…pe… viññāṇaṃ… rūpaṃ… vedanaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. Imasmiñca pana attani ayaṃ saññā’’ti. Attani saññaṃ samanupassati. Seyyathāpi pupphaṃ gandhasampannaṃ assa. Tamenaṃ puriso evaṃ vadeyya – ‘‘idaṃ pupphaṃ, ayaṃ gandho. Aññaṃ pupphaṃ, añño gandho. So kho panāyaṃ gandho imasmiṃ pupphe’’ti. Pupphasmiṃ gandhaṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco saṅkhāre… viññāṇaṃ… rūpaṃ… vedanaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. Imasmiñca pana attani ayaṃ saññā’’ti. Attani saññaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ tatiyā saññāvatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ attani saññaṃ samanupassati.
How does one repeatedly observe perception in the self? Here, a certain person repeatedly observes formations… consciousness… form… feeling as self. To them, it occurs thus: 'This is indeed my self. And in this self, this perception is established.' Thus, they repeatedly observe perception in the self. Just as a flower might be endowed with fragrance, and a person might say: 'This is the flower, this is the fragrance. The flower is one thing, the fragrance another. Yet this fragrance is established in this flower.' Thus, they repeatedly observe the fragrance in the flower. In the same way, a certain person repeatedly observes formations… consciousness… form… feeling as self. To them, it occurs thus: 'This is indeed my self. And in this self, this perception is established.' Thus, they repeatedly observe perception in the self. Adherence and grasping is a view. A view is not the basis; the basis is not a view. A view is one thing; the basis is another. That which is the view and that which is the basis—this is the third, the self-view that has perception as its ground. The self-view is a wrong view… These are fetters, but they are not views. Thus, one repeatedly observes perception in the self.
Làm thế nào vị ấy thường xuyên quán xét tưởng ở trong tự ngã? Ở đây, có người thường xuyên quán xét các hành... thức... sắc... thọ là tự ngã. Vị ấy khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và trong tự ngã này, có tưởng này’. Vị ấy thường xuyên quán xét tưởng ở trong tự ngã. Ví như có một bông hoa có hương thơm. Một người có thể nói về nó như sau: ‘Đây là hoa, đây là hương. Hoa là khác, hương là khác. Và hương này ở trong bông hoa này’. Vị ấy thường xuyên quán xét hương ở trong bông hoa. Cũng vậy, ở đây, có người thường xuyên quán xét các hành... thức... sắc... thọ là tự ngã. Vị ấy khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và trong tự ngã này, có tưởng này’. Vị ấy thường xuyên quán xét tưởng ở trong tự ngã. Sự chấp thủ sai lầm là tà kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Tà kiến nào và đối tượng nào – đây là ngã kiến thứ ba có tưởng làm đối tượng. Ngã kiến là tà kiến... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. Như vậy, vị ấy thường xuyên quán xét tưởng ở trong tự ngã.
Kathaṃ saññāya attānaṃ samanupassati? Idhekacco saṅkhāre …pe… viññāṇaṃ… rūpaṃ… vedanaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā imāya saññāyā’’ti. Saññāya attānaṃ samanupassati. Seyyathāpi maṇi karaṇḍake pakkhitto assa. Tamenaṃ puriso evaṃ vadeyya – ‘‘ayaṃ maṇi, ayaṃ karaṇḍako. Añño maṇi, añño karaṇḍako. So kho panāyaṃ maṇi imasmiṃ karaṇḍake’’ti. Karaṇḍakasmiṃ maṇiṃ samanupassati. Evameva idhekacco saṅkhāre… viññāṇaṃ… rūpaṃ… vedanaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā imāya saññāyā’’ti. Saññāya attānaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ catutthā saññāvatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni na ca diṭṭhiyo. Evaṃ saññāya attānaṃ samanupassati.
How does one regard the self in perception? Here, someone regards formations... consciousness... form... feeling as self. It occurs to him: 'This is my self. And this self of mine is established in this perception.' Thus, one regards the self in perception. Just as a gem might be placed in a casket, and a person would say: 'This is the gem, this is the casket. The gem is one thing, the casket another. Yet this gem is situated in this casket.' Thus, one regards the gem in the casket. In the same way, here someone regards formations... consciousness... form... feeling as self. It occurs to him: 'This is my self. And this self of mine is established in this perception.' Thus, one regards the self in perception. Adherence and grasping is a view. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing, the basis another. Both the view and the basis—this is the fourth identity view with perception as its basis. Identity view is wrong view... These are fetters, and not views. Thus, one regards the self in perception.
Làm thế nào vị ấy thường xuyên quán xét tự ngã ở trong tưởng? Ở đây, có người thường xuyên quán xét các hành... thức... sắc... thọ là tự ngã. Vị ấy khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta ở trong tưởng này’. Vị ấy thường xuyên quán xét tự ngã ở trong tưởng. Ví như có viên ngọc được đặt trong một cái hộp. Một người có thể nói về nó như sau: ‘Đây là viên ngọc, đây là cái hộp. Viên ngọc là khác, cái hộp là khác. Và viên ngọc này ở trong cái hộp này’. Vị ấy thường xuyên quán xét viên ngọc ở trong cái hộp. Cũng vậy, ở đây, có người thường xuyên quán xét các hành... thức... sắc... thọ là tự ngã. Vị ấy khởi lên ý nghĩ như sau: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta ở trong tưởng này’. Vị ấy thường xuyên quán xét tự ngã ở trong tưởng. Sự chấp thủ sai lầm là tà kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Tà kiến nào và đối tượng nào – đây là ngã kiến thứ tư có tưởng làm đối tượng. Ngã kiến là tà kiến... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. Như vậy, vị ấy thường xuyên quán xét tự ngã ở trong tưởng.
134. Kathaṃ saṅkhāre attato samanupassati? Idhekacco cakkhusamphassajaṃ cetanaṃ sotasamphassajaṃ cetanaṃ ghānasamphassajaṃ cetanaṃ jivhāsamphassajaṃ cetanaṃ kāyasamphassajaṃ cetanaṃ manosamphassajaṃ cetanaṃ attato samanupassati. ‘‘Yā manosamphassajā cetanā, so ahaṃ; yo ahaṃ sā manosamphassajā cetanā’’ti – manosamphassajaṃ cetanañca attañca advayaṃ samanupassati. Seyyathāpi telappadīpassa jhāyato ‘‘yā acci so vaṇṇo, yo vaṇṇo sā accī’’ti – acciñca vaṇṇañca advayaṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco manosamphassajaṃ cetanaṃ attato samanupassati. ‘‘Yā manosamphassajā cetanā so ahaṃ, yo ahaṃ sā manosamphassajā cetanā’’ti – manosamphassajaṃ cetanañca attañca advayaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā saṅkhāravatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ saṅkhāre attato samanupassati.
134. How does one repeatedly regard formations as self? Here, a certain person repeatedly regards volition born of eye-contact, volition born of ear-contact, volition born of nose-contact, volition born of tongue-contact, volition born of body-contact, and volition born of mind-contact as self. ‘Whatever is the volition born of mind-contact, that I am; whatever I am, that is the volition born of mind-contact’—thus one repeatedly regards volition born of mind-contact and the self as non-dual. Just as, in the case of a burning oil lamp, one repeatedly regards the flame and the color as non-dual, thinking: ‘Whatever is the flame, that is the color; whatever is the color, that is the flame.’ In the same way, here a certain person repeatedly regards volition born of mind-contact as self. ‘Whatever is the volition born of mind-contact, that I am; whatever I am, that is the volition born of mind-contact’—thus one repeatedly regards volition born of mind-contact and the self as non-dual. Adherence and misapprehension is a view. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. That which is the view and that which is the basis—this is the first identity-view that has formations as its basis. The identity-view is a wrong view… These are fetters, and not views. Thus, one repeatedly regards formations as self.
134. Làm thế nào vị ấy thường xuyên quán xét các hành là tự ngã? Ở đây, có người thường xuyên quán xét tư tác sanh từ nhãn xúc, tư tác sanh từ nhĩ xúc, tư tác sanh từ tỷ xúc, tư tác sanh từ thiệt xúc, tư tác sanh từ thân xúc, tư tác sanh từ ý xúc là tự ngã. Vị ấy thường xuyên quán xét một cách không hai về tư tác sanh từ ý xúc và tự ngã rằng: ‘Tư tác nào sanh từ ý xúc, đó là ta; ta nào, đó là tư tác sanh từ ý xúc’. Ví như đối với ngọn đèn dầu đang cháy, vị ấy thường xuyên quán xét một cách không hai về ngọn lửa và màu sắc rằng: ‘Ngọn lửa nào, đó là màu sắc; màu sắc nào, đó là ngọn lửa’. Cũng vậy, ở đây, có người thường xuyên quán xét tư tác sanh từ ý xúc là tự ngã. Vị ấy thường xuyên quán xét một cách không hai về tư tác sanh từ ý xúc và tự ngã rằng: ‘Tư tác nào sanh từ ý xúc, đó là ta; ta nào, đó là tư tác sanh từ ý xúc’. Sự chấp thủ sai lầm là tà kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Tà kiến nào và đối tượng nào – đây là ngã kiến thứ nhất có hành làm đối tượng. Ngã kiến là tà kiến... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. Như vậy, vị ấy thường xuyên quán xét các hành là tự ngã.
Kathaṃ saṅkhāravantaṃ attānaṃ samanupassati? Idhekacco viññāṇaṃ… rūpaṃ… vedanaṃ… saññaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā imehi saṅkhārehi saṅkhāravā’’ti. Saṅkhāravantaṃ attānaṃ samanupassati. Seyyathāpi rukkho chāyāsampanno assa. Tamenaṃ puriso evaṃ vadeyya – ‘‘ayaṃ rukkho, ayaṃ chāyā. Añño rukkho, aññā chāyā. So kho panāyaṃ rukkho imāya chāyāya chāyāvā’’ti. Chāyāvantaṃ rukkhaṃ samanupassati. Evameva idhekacco viññāṇaṃ… rūpaṃ… vedanaṃ… saññaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā. Imehi saṅkhārehi saṅkhāravā’’ti. Saṅkhāravantaṃ attānaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ dutiyā saṅkhāravatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ saṅkhāravantaṃ attānaṃ samanupassati.
How does one repeatedly regard the self as possessing formations? Here, a certain person repeatedly regards consciousness... form... feeling... perception as self. It occurs to him: 'Indeed, this is my self. And this self of mine possesses formations by means of these formations.' Thus, one repeatedly regards the self as possessing formations. Just as a tree might be endowed with shade, and a person might say of it: 'This is the tree, and this is the shade. The tree is one thing, the shade another. And this tree possesses shade by means of this shade.' Thus one regards the tree as possessing shade. In the same way, here a certain person repeatedly regards consciousness... form... feeling... perception as self. It occurs to him: 'Indeed, this is my self. And this self of mine possesses formations by means of these formations.' Thus, one repeatedly regards the self as possessing formations. Adherence and misapprehension is the view. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. That which is the view and that which is the basis—this is the second view in conformity with self, which has formations as its basis. A view in conformity with self is a wrong view... These are fetters, and not views. Thus, one repeatedly regards the self as possessing formations.
Làm thế nào người ấy thường xuyên quán xét tự ngã có các hành? Ở đây, có người thường xuyên quán xét thức... sắc... thọ... tưởng là tự ngã. Vị ấy khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta có các hành bởi các hành này.’ (Vị ấy) thường xuyên quán xét tự ngã có các hành. Ví như có một cái cây có bóng mát. Một người có thể nói về nó như sau: ‘Đây là cái cây, đây là cái bóng. Cây là khác, bóng là khác. Và cái cây này có bóng là nhờ cái bóng này.’ (Người ấy) thường xuyên quán xét cái cây có bóng. Tương tự như thế, ở đây, có người thường xuyên quán xét thức... sắc... thọ... tưởng là tự ngã. Vị ấy khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta có các hành bởi các hành này.’ (Vị ấy) thường xuyên quán xét tự ngã có các hành. Sự chấp thủ sai lầm là tà kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái nào là tà kiến và cái nào là đối tượng – đây là tùy kiến về tự ngã thứ hai có các hành làm đối tượng. Tùy kiến về tự ngã là tà kiến... (v.v.)... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. Như vậy, người ấy thường xuyên quán xét tự ngã có các hành.
Kathaṃ attani saṅkhāre samanupassati? Idhekacco viññāṇaṃ… rūpaṃ… vedanaṃ… saññaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. Imasmiñca pana attani ime saṅkhārā’’ti. Attani saṅkhāre samanupassati. Seyyathāpi pupphaṃ gandhasampannaṃ assa. Tamenaṃ puriso evaṃ vadeyya – ‘‘idaṃ pupphaṃ, ayaṃ gandho; aññaṃ pupphaṃ, añño gandho. So kho panāyaṃ gandho imasmiṃ pupphe’’ti. Pupphasmiṃ gandhaṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco viññāṇaṃ… rūpaṃ… vedanaṃ… saññaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. Imasmiñca pana attani ime saṅkhārā’’ti. Attani saṅkhāre samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ tatiyā saṅkhāravatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ attani saṅkhāre samanupassati.
How does one repeatedly regard formations in the self? Here, a certain person repeatedly regards consciousness... form... feeling... perception as self. It occurs to him: 'This, indeed, is my self. And in this self, these formations are established.' Thus, one repeatedly regards formations in the self. Just as there might be a flower endowed with fragrance, and a man would say of it: 'This is the flower, this is the fragrance; the flower is one thing, the fragrance another. Yet this fragrance is established in this flower.' Thus, one repeatedly regards the fragrance in the flower. In the very same way, here a certain person repeatedly regards consciousness... form... feeling... perception as self. It occurs to him: 'This, indeed, is my self. And in this self, these formations are established.' Thus, one repeatedly regards formations in the self. Adherence and misapprehension is a view. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. That which is the view and that which is the basis—this is the third self-view that has formations as its basis. The self-view is a wrong view... These are fetters, and not views. Thus, one repeatedly regards formations in the self.
Làm thế nào người ấy thường xuyên quán xét các hành ở trong tự ngã? Ở đây, có người thường xuyên quán xét thức... sắc... thọ... tưởng là tự ngã. Vị ấy khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và trong tự ngã này có các hành này.’ (Vị ấy) thường xuyên quán xét các hành ở trong tự ngã. Ví như có một bông hoa có hương thơm. Một người có thể nói về nó như sau: ‘Đây là bông hoa, đây là hương thơm; hoa là khác, hương thơm là khác. Và hương thơm này ở trong bông hoa này.’ (Người ấy) thường xuyên quán xét hương thơm ở trong bông hoa. Tương tự như thế, ở đây, có người thường xuyên quán xét thức... sắc... thọ... tưởng là tự ngã. Vị ấy khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và trong tự ngã này có các hành này.’ (Vị ấy) thường xuyên quán xét các hành ở trong tự ngã. Sự chấp thủ sai lầm là tà kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái nào là tà kiến và cái nào là đối tượng – đây là tùy kiến về tự ngã thứ ba có các hành làm đối tượng. Tùy kiến về tự ngã là tà kiến... (v.v.)... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. Như vậy, người ấy thường xuyên quán xét các hành ở trong tự ngã.
Kathaṃ saṅkhāresu attānaṃ samanupassati? Idhekacco viññāṇaṃ… rūpaṃ… vedanaṃ… saññaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā imesu saṅkhāresū’’ti. Saṅkhāresu attānaṃ samanupassati. Seyyathāpi maṇi karaṇḍake pakkhitto assa. Tamenaṃ puriso evaṃ vadeyya – ‘‘ayaṃ maṇi, ayaṃ karaṇḍako. Añño maṇi, añño karaṇḍako. So kho panāyaṃ maṇi imasmiṃ karaṇḍake’’ti. Karaṇḍakasmiṃ maṇiṃ samanupassati. Evameva idhekacco viññāṇaṃ… rūpaṃ… vedanaṃ… saññaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā imesu saṅkhāresū’’ti. Saṅkhāresu attānaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ catutthā saṅkhāravatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ saṅkhāresu attānaṃ samanupassati.
How does one repeatedly perceive the self in formations? Here, a certain person repeatedly perceives consciousness... form... feeling... perception as self. It occurs to him: 'This indeed is my self. And this self of mine is established in these formations.' Thus, one repeatedly perceives the self in formations. Just as a gem might be placed in a casket, and a person would say: 'This is the gem, this is the casket. The gem is one thing, the casket another. And this gem is established in this casket.' Thus, one repeatedly perceives the gem in the casket. In the same way, here a certain person repeatedly perceives consciousness... form... feeling... perception as self. It occurs to him: 'This indeed is my self. And this self of mine is established in these formations.' Thus, one repeatedly perceives the self in formations. Adherence and misapprehension is a view. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing, the basis another. Both the view and the basis—this is the fourth identity-view that has formations as its basis. Identity-view is wrong view... These are fetters, not views. Thus, one repeatedly perceives the self in formations.
Làm thế nào người ấy thường xuyên quán xét tự ngã ở trong các hành? Ở đây, có người thường xuyên quán xét thức... sắc... thọ... tưởng là tự ngã. Vị ấy khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta ở trong các hành này.’ (Vị ấy) thường xuyên quán xét tự ngã ở trong các hành. Ví như có một viên ngọc được đặt trong một cái hộp. Một người có thể nói về nó như sau: ‘Đây là viên ngọc, đây là cái hộp. Viên ngọc là khác, cái hộp là khác. Và viên ngọc này ở trong cái hộp này.’ (Người ấy) thường xuyên quán xét viên ngọc ở trong cái hộp. Tương tự như thế, ở đây, có người thường xuyên quán xét thức... sắc... thọ... tưởng là tự ngã. Vị ấy khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta ở trong các hành này.’ (Vị ấy) thường xuyên quán xét tự ngã ở trong các hành. Sự chấp thủ sai lầm là tà kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái nào là tà kiến và cái nào là đối tượng – đây là tùy kiến về tự ngã thứ tư có các hành làm đối tượng. Tùy kiến về tự ngã là tà kiến... (v.v.)... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. Như vậy, người ấy thường xuyên quán xét tự ngã ở trong các hành.
135. Kathaṃ viññāṇaṃ attato samanupassati? Idhekacco cakkhuviññāṇaṃ… sotaviññāṇaṃ… ghānaviññāṇaṃ… jivhāviññāṇaṃ kāyaviññāṇaṃ… manoviññāṇaṃ attato samanupassati. ‘‘Yaṃ manoviññāṇaṃ, so ahaṃ; yo ahaṃ, taṃ manoviññāṇa’’nti – manoviññāṇañca attañca advayaṃ samanupassati. Seyyathāpi telappadīpassa jhāyato ‘‘yā acci so vaṇṇo, yo vaṇṇo sā accī’’ti – acciñca vaṇṇañca advayaṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco manoviññāṇaṃ attato samanupassati. ‘‘Yaṃ manoviññāṇaṃ, so ahaṃ; yo ahaṃ taṃ manoviññāṇa’’nti – manoviññāṇañca attañca advayaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā viññāṇavatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ viññāṇaṃ attato samanupassati.
135. How does one repeatedly regard consciousness as self? Here, a certain person repeatedly regards eye-consciousness... ear-consciousness... nose-consciousness... tongue-consciousness... body-consciousness... mind-consciousness as self. ‘That which is mind-consciousness, that I am; that which I am, that is mind-consciousness’—thus one repeatedly regards mind-consciousness and self as non-dual. Just as, in the case of a burning oil lamp, one might repeatedly regard the flame and the color as non-dual: ‘That which is the flame, that is the color; that which is the color, that is the flame.’ In the same way, here a certain person repeatedly regards mind-consciousness as self. ‘That which is mind-consciousness, that I am; that which I am, that is mind-consciousness’—thus one repeatedly regards mind-consciousness and self as non-dual. Adherence and misapprehension is a view. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. Both the view and its basis—this is the first identity-view that has consciousness as its basis. Identity-view is wrong view... These are fetters, not views. Thus, one repeatedly regards consciousness as self.
135. Làm thế nào người ấy thường xuyên quán xét thức là tự ngã? Ở đây, có người thường xuyên quán xét nhãn thức... nhĩ thức... tỷ thức... thiệt thức... thân thức... ý thức là tự ngã. (Vị ấy nghĩ rằng:) ‘Cái gì là ý thức, đó là ta; cái gì là ta, đó là ý thức.’ – (Vị ấy) thường xuyên quán xét ý thức và tự ngã là không hai. Ví như đối với ngọn đèn dầu đang cháy, (người ấy nghĩ rằng:) ‘Cái gì là ngọn lửa, đó là màu sắc; cái gì là màu sắc, đó là ngọn lửa.’ – (người ấy) thường xuyên quán xét ngọn lửa và màu sắc là không hai. Tương tự như thế, ở đây, có người thường xuyên quán xét ý thức là tự ngã. (Vị ấy nghĩ rằng:) ‘Cái gì là ý thức, đó là ta; cái gì là ta, đó là ý thức.’ – (Vị ấy) thường xuyên quán xét ý thức và tự ngã là không hai. Sự chấp thủ sai lầm là tà kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái nào là tà kiến và cái nào là đối tượng – đây là tùy kiến về tự ngã thứ nhất có thức làm đối tượng. Tùy kiến về tự ngã là tà kiến... (v.v.)... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. Như vậy, người ấy thường xuyên quán xét thức là tự ngã.
Kathaṃ viññāṇavantaṃ attānaṃ samanupassati? Idhekacco rūpaṃ… vedanaṃ… saññaṃ… saṅkhāre attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā iminā viññāṇena viññāṇavā’’ti. Viññāṇavantaṃ attānaṃ samanupassati. Seyyathāpi rukkho chāyāsampanno assa. Tamenaṃ puriso evaṃ vadeyya – ‘‘ayaṃ rukkho, ayaṃ chāyā. Añño rukkho, aññā chāyā. So kho panāyaṃ rukkho imāya chāyāya chāyāvā’’ti. Chāyāvantaṃ rukkhaṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco rūpaṃ… vedanaṃ… saññaṃ… saṅkhāre attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā iminā viññāṇena viññāṇavā’’ti. Viññāṇavantaṃ attānaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ dutiyā viññāṇavatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ viññāṇavantaṃ attānaṃ samanupassati.
How does one regard the self as possessing consciousness? Here, a certain person regards form… feeling… perception… volitional formations as self. To them, it occurs thus: ‘This is my self, and this self of mine possesses consciousness by means of this consciousness.’ Thus, they regard the self as possessing consciousness. Suppose a tree were endowed with shade. A person might say of it: ‘This is the tree, this is the shade. The tree is one thing, the shade is another, but this very tree possesses shade by means of this shade.’ Thus, they regard the tree as possessing shade. In the very same way, here, a certain person regards form… feeling… perception… volitional formations as self. To them, it occurs thus: ‘This is my self, and this self of mine possesses consciousness by means of this consciousness.’ Thus, they regard the self as possessing consciousness. Adherence and misapprehension is a view. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing, the basis is another. That which is the view and that which is the basis—this is the second self-view that has consciousness as its basis. Self-view is wrong view… these are fetters, but they are not views. Thus does one regard the self as possessing consciousness.
Thế nào là thường xuyên quán sát tự ngã có thức? Ở đây, có người thường xuyên quán sát sắc... thọ... tưởng... các hành là tự ngã. Vị ấy khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta có thức là nhờ thức này.’ Vị ấy thường xuyên quán sát tự ngã có thức. Ví như có cây cối có bóng mát. Có người nói về cây ấy như vầy: ‘Đây là cây, đây là bóng. Cây là khác, bóng là khác. Và cây này có bóng là nhờ bóng này.’ Người ấy thường xuyên quán sát cây có bóng. Cũng vậy, ở đây, có người thường xuyên quán sát sắc... thọ... tưởng... các hành là tự ngã. Vị ấy khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta có thức là nhờ thức này.’ Vị ấy thường xuyên quán sát tự ngã có thức. Sự cố chấp và nắm giữ sai lệch là kiến. Kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là kiến. Kiến là khác, đối tượng là khác. Cái nào là kiến và cái nào là đối tượng – đây là thân kiến thứ hai có thức làm đối tượng. Thân kiến là tà kiến...v.v... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các kiến. Như vậy là vị ấy thường xuyên quán sát tự ngã có thức.
Kathaṃ attani viññāṇaṃ samanupassati? Idhekacco rūpaṃ… vedanaṃ… saññaṃ… saṅkhāre attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. Imasmiñca pana attani idaṃ viññāṇa’’nti. Attani viññāṇaṃ samanupassati. Seyyathāpi pupphaṃ gandhasampannaṃ assa. Tamenaṃ puriso evaṃ vadeyya – ‘‘idaṃ pupphaṃ, ayaṃ gandho; aññaṃ pupphaṃ, añño gandho. So kho panāyaṃ gandho imasmiṃ pupphe’’ti. Pupphasmiṃ gandhaṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco rūpaṃ… vedanaṃ… saññaṃ… saṅkhāre attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. Imasmiñca pana attani idaṃ viññāṇa’’nti. Attani viññāṇaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ tatiyā viññāṇavatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ attani viññāṇaṃ samanupassati.
How does one regard consciousness as being in self? Here, a certain person regards form… feeling… perception… volitional formations as self. To them, it occurs thus: ‘This is my self. And in this self, this consciousness is established.’ Thus, they regard consciousness as being in self. Just as there might be a flower endowed with fragrance, and a person would speak thus of it: ‘This is the flower, this is the fragrance; the flower is one thing, the fragrance is another. Yet this fragrance is established in this flower.’ Thus, they regard the fragrance as being in the flower. In the very same way, a certain person here regards form… feeling… perception… volitional formations as self. To them, it occurs thus: ‘This is my self. And in this self, this consciousness is established.’ Thus, they regard consciousness as being in self. Wrongful adherence and consideration is a view. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing, the basis is another. That which is the view and that which is the basis—this is the third self-view that has consciousness as its basis. The self-view is a wrong view… These are fetters, and not views. Thus, one regards consciousness as being in self.
Thế nào là thường xuyên quán sát thức ở trong tự ngã? Ở đây, có người thường xuyên quán sát sắc... thọ... tưởng... các hành là tự ngã. Vị ấy khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và ở trong tự ngã này có thức này.’ Vị ấy thường xuyên quán sát thức ở trong tự ngã. Ví như có bông hoa có hương thơm. Có người nói về bông hoa ấy như vầy: ‘Đây là hoa, đây là hương; hoa là khác, hương là khác. Và hương này ở trong bông hoa này.’ Người ấy thường xuyên quán sát hương ở trong hoa. Cũng vậy, ở đây, có người thường xuyên quán sát sắc... thọ... tưởng... các hành là tự ngã. Vị ấy khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và ở trong tự ngã này có thức này.’ Vị ấy thường xuyên quán sát thức ở trong tự ngã. Sự cố chấp và nắm giữ sai lệch là kiến. Kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là kiến. Kiến là khác, đối tượng là khác. Cái nào là kiến và cái nào là đối tượng – đây là thân kiến thứ ba có thức làm đối tượng. Thân kiến là tà kiến...v.v... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các kiến. Như vậy là vị ấy thường xuyên quán sát thức ở trong tự ngã.
Kathaṃ viññāṇasmiṃ attānaṃ samanupassati? Idhekacco rūpaṃ… vedanaṃ… saññaṃ… saṅkhāre attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā imasmiṃ viññāṇe’’ti. Viññāṇasmiṃ attānaṃ samanupassati. Seyyathāpi maṇi karaṇḍake pakkhitto assa. Tamenaṃ puriso evaṃ vadeyya – ‘‘ayaṃ maṇi, ayaṃ karaṇḍako. Añño maṇi, añño karaṇḍako. So kho panāyaṃ maṇi imasmiṃ karaṇḍake’’ti. Karaṇḍakasmiṃ maṇiṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco rūpaṃ… vedanaṃ… saññaṃ… saṅkhāre attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā imasmiṃ viññāṇe’’ti. Viññāṇasmiṃ attānaṃ samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ catutthā viññāṇavatthukā attānudiṭṭhi. Attānudiṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ viññāṇasmiṃ attānaṃ samanupassati. Attānudiṭṭhiyā imehi vīsatiyā ākārehi abhiniveso hoti.
How does one regard self in consciousness? Here, a certain person regards form… feeling… perception… volitional formations as self. To them, the thought occurs: ‘This is my self, and that self of mine is established in this consciousness.’ Thus, they regard self in consciousness. Just as a gem might be placed in a casket, and a person would say: ‘This is the gem, this is the casket. The gem is one thing, the casket another. Yet this gem is established in this casket.’ Thus, they regard the gem in the casket. In the same way, a certain person here regards form… feeling… perception… volitional formations as self. To them, the thought occurs: ‘This is my self, and that self of mine is established in this consciousness.’ Thus, they regard self in consciousness. Adherence and grasping is a view. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing, the basis another. That which is the view and that which is the basis—this is the fourth self-view that has consciousness as its basis. A self-view is a wrong view… these are fetters, and not views. Thus, one regards self in consciousness. There is adherence in these twenty ways with respect to the self-view.
Thế nào là thường xuyên quán sát tự ngã ở trong thức? Ở đây, có người thường xuyên quán sát sắc... thọ... tưởng... các hành là tự ngã. Vị ấy khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta ở trong thức này.’ Vị ấy thường xuyên quán sát tự ngã ở trong thức. Ví như có viên ngọc được đặt trong tráp. Có người nói về nó như vầy: ‘Đây là ngọc, đây là tráp. Ngọc là khác, tráp là khác. Và viên ngọc này ở trong cái tráp này.’ Người ấy thường xuyên quán sát viên ngọc ở trong tráp. Cũng vậy, ở đây, có người thường xuyên quán sát sắc... thọ... tưởng... các hành là tự ngã. Vị ấy khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Và tự ngã này của ta ở trong thức này.’ Vị ấy thường xuyên quán sát tự ngã ở trong thức. Sự cố chấp và nắm giữ sai lệch là kiến. Kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là kiến. Kiến là khác, đối tượng là khác. Cái nào là kiến và cái nào là đối tượng – đây là thân kiến thứ tư có thức làm đối tượng. Thân kiến là tà kiến...v.v... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các kiến. Như vậy là vị ấy thường xuyên quán sát tự ngã ở trong thức. Sự cố chấp vào thân kiến xảy ra theo hai mươi cách này.
Attānudiṭṭhiniddeso dutiyo.
Here ends the Second Exposition of the Self-View.
Dứt chương thứ hai, phần giải về thân kiến.
3. Micchādiṭṭhiniddeso
3. The Exposition of Wrong View
3. Phần giải về tà kiến
136. Micchādiṭṭhiyā katamehi dasahākārehi abhiniveso hoti? ‘‘Natthi dinna’’nti – vatthu †. Evaṃvādo micchābhinivesaparāmāso † diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā micchāvatthukā micchādiṭṭhi. Micchādiṭṭhi diṭṭhivipatti…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. ‘‘Natthi yiṭṭha’’nti – vatthu…pe… ‘‘natthi huta’’nti – vatthu… ‘‘natthi sukatadukkaṭānaṃ kammānaṃ phalaṃ vipāko’’ti – vatthu… ‘‘natthi ayaṃ loko’’ti – vatthu… ‘‘natthi paro loko’’ti – vatthu… ‘‘natthi mātā’’ti – vatthu… ‘‘natthi pitā’’ti – vatthu… ‘‘natthi sattā opapātikā’’ti – vatthu… ‘‘natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā † sammāpaṭipannā, ye imañca lokaṃ, parañca lokaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedentī’’ti – vatthu. Evaṃvādo micchābhinivesaparāmāso diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ dasamā micchāvatthukā micchādiṭṭhi. Micchādiṭṭhi diṭṭhivipatti…pe… micchādiṭṭhikassa purisapuggalassa dveva gatiyo…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Micchādiṭṭhiyā imehi dasahākārehi abhiniveso hoti.
136. In what ten ways does adherence to wrong view occur? 'There is no [result of] what is given'—this is the basis. Such a tenet is wrong adherence and grasping; this is the 'view'. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. Both the view and the basis—this is the first wrong view that has a wrong basis. Wrong view is a corruption of view… these are fetters, but not views. 'There is no [result of] sacrifice'—this is the basis… 'There is no [result of] what is offered'—this is the basis… 'There is no fruit or result of good and bad deeds'—this is the basis… 'There is no this world'—this is the basis… 'There is no other world'—this is the basis… 'There is no mother'—this is the basis… 'There is no father'—this is the basis… 'There are no spontaneously arisen beings'—this is the basis… 'There are no ascetics or brahmins in the world who are rightly directed, rightly practicing, and who, having realized this world and the other world for themselves through direct knowledge, declare it'—this is the basis. Such a tenet is wrong adherence and grasping; this is the 'view'. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. Both the view and the basis—this is the tenth wrong view that has a wrong basis. Wrong view is a corruption of view… for a person holding wrong view, there are only two destinations… these are fetters, but not views. In these ten ways does adherence to wrong view occur.
136. Sự cố chấp vào tà kiến xảy ra theo mười cách nào? ‘Không có (kết quả của) sự bố thí’ – đây là đối tượng. Quan điểm như vậy, sự cố chấp và nắm giữ sai lệch là kiến. Kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là kiến. Kiến là khác, đối tượng là khác. Cái nào là kiến và cái nào là đối tượng – đây là tà kiến thứ nhất có đối tượng sai lầm. Tà kiến là sự hư hoại của tri kiến...v.v... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các kiến. ‘Không có (kết quả của) sự cúng dường’ – đây là đối tượng...v.v... ‘Không có (kết quả của) sự tế tự’ – đây là đối tượng... ‘Không có quả, không có dị thục của các nghiệp thiện ác’ – đây là đối tượng... ‘Không có đời này’ – đây là đối tượng... ‘Không có đời sau’ – đây là đối tượng... ‘Không có (công ơn) mẹ’ – đây là đối tượng... ‘Không có (công ơn) cha’ – đây là đối tượng... ‘Không có các chúng sanh hóa sanh’ – đây là đối tượng... ‘Trên đời không có các vị Sa-môn, Bà-la-môn đã đi đúng đường, thực hành đúng đắn, những vị đã tự mình chứng ngộ với thắng trí và tuyên bố về đời này và đời sau’ – đây là đối tượng. Quan điểm như vậy, sự cố chấp và nắm giữ sai lệch là kiến. Kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là kiến. Kiến là khác, đối tượng là khác. Cái nào là kiến và cái nào là đối tượng – đây là tà kiến thứ mười có đối tượng sai lầm. Tà kiến là sự hư hoại của tri kiến...v.v... người có tà kiến chỉ có hai cõi đi...v.v... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các kiến. Sự cố chấp vào tà kiến xảy ra theo mười cách này.
Micchādiṭṭhiniddeso tatiyo.
The Third Exposition of Wrong View.
Dứt chương thứ ba, phần giải về tà kiến.
4. Sakkāyadiṭṭhiniddeso
4. The Exposition of Identity View
4. Phần giải về thân kiến
137. Sakkāyadiṭṭhiyā katamehi vīsatiyā ākārehi abhiniveso hoti? Idha assutavā puthujjano ariyānaṃ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṃ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto rūpaṃ attato samanupassati rūpavantaṃ vā attānaṃ attani vā rūpaṃ rūpasmiṃ vā attānaṃ. Vedanaṃ… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ attato samanupassati viññāṇavantaṃ vā attānaṃ attani vā viññāṇaṃ viññāṇasmiṃ vā attānaṃ.
137. In what twenty ways does adherence to identity view occur? Here, an uninstructed ordinary person—who has not seen the noble ones, is unskilled in the noble Dhamma, and untrained in the noble Dhamma; who has not seen the good persons, is unskilled in the Dhamma of the good, and untrained in the Dhamma of the good—regards form as self, or self as possessing form, or form as in self, or self as in form. They regard feeling… perception… formations… and consciousness as self, or self as possessing consciousness, or consciousness as in self, or self as in consciousness.
137. Sự chấp thủ đối với thân kiến có mặt do hai mươi phương diện nào? Ở đây, kẻ phàm phu ít nghe, không thấy các bậc Thánh, không thuần thục trong Thánh pháp, không được huấn luyện trong Thánh pháp; không thấy các bậc chân nhân, không thuần thục trong pháp của bậc chân nhân, không được huấn luyện trong pháp của bậc chân nhân, người ấy thường quán sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc. (Người ấy thường quán) thọ... tưởng... các hành... thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức.
Kathaṃ rūpaṃ attato samanupassati? Idhekacco pathavīkasiṇaṃ…pe… odātakasiṇaṃ attato samanupassati. ‘‘Yaṃ odātakasiṇaṃ, so ahaṃ; yo ahaṃ, taṃ odātakasiṇa’’nti – odātakasiṇañca attañca advayaṃ samanupassati. Seyyathāpi telappadīpassa jhāyato…pe… evamevaṃ idhekacco odātakasiṇaṃ attato samanupassati. Abhinivesaparāmāso diṭṭhi…pe… ayaṃ paṭhamā rūpavatthukā sakkāyadiṭṭhi. Sakkāyadiṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ rūpaṃ attato samanupassati…pe… sakkāyadiṭṭhiyā imehi vīsatiyā ākārehi abhiniveso hoti.
How does one regard form as self? Here, someone regards the earth kasiṇa [...] the white kasiṇa as self. “The white kasiṇa is I; I am the white kasiṇa”—they regard the white kasiṇa and the self as not two. Just as with the flame of an oil lamp burning [...], so too, here someone regards the white kasiṇa as self. This adherence and grasping is a view [...]. This is the first identity view based on form. Identity view is wrong view [...]. These are fetters, and not views. Thus, one regards form as self [...]. Adherence to identity view occurs in these twenty ways.
Thế nào là thường quán sắc là tự ngã? Ở đây, có người thường quán địa biến xứ... cho đến... bạch biến xứ là tự ngã. Vị ấy thường quán bạch biến xứ và tự ngã là không hai, (nghĩ rằng): ‘Bạch biến xứ nào, đó là ta; ta nào, đó là bạch biến xứ.’ Ví như ngọn đèn dầu đang cháy... cho đến... tương tự y như thế, ở đây có người thường quán bạch biến xứ là tự ngã. Sự chấp thủ và cố chấp là tà kiến... cho đến... đây là thân kiến thứ nhất có sắc làm đối tượng. Thân kiến là tà kiến... cho đến... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. Như vậy là thường quán sắc là tự ngã... cho đến... sự chấp thủ đối với thân kiến có mặt do hai mươi phương diện này.
Sakkāyadiṭṭhiniddeso catuttho.
The Exposition of Identity View is the fourth.
Phần giải về thân kiến là thứ tư.
5. Sassatadiṭṭhiniddeso
5. The Exposition of the Eternalism View
5. Phần giải về thường kiến
138. Sakkāyavatthukāya sassatadiṭṭhiyā katamehi pannarasahi ākārehi abhiniveso hoti? Idha assutavā puthujjano ariyānaṃ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto sappurisānaṃ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto rūpavantaṃ vā attānaṃ attani vā rūpaṃ rūpasmiṃ vā attānaṃ. Vedanāvantaṃ vā attānaṃ…pe… saññāvantaṃ vā attānaṃ… saṅkhāravantaṃ vā attānaṃ… viññāṇavantaṃ vā attānaṃ attani vā viññāṇaṃ viññāṇasmiṃ vā attānaṃ.
138. In what fifteen ways does adherence to the eternalist view based on identity occur? Here, an uninstructed ordinary person—who has not seen the noble ones, is unskilled in the noble Dhamma, and untrained in the noble Dhamma; who has not seen the good persons, is unskilled in the Dhamma of the good, and untrained in the Dhamma of the good—regards self as possessing form, or form as in self, or self as in form. They regard self as possessing feeling… and so on… self as possessing perception… self as possessing formations… self as possessing consciousness, or consciousness as in self, or self as in consciousness.
138. Sự chấp thủ đối với thường kiến có thân làm đối tượng có mặt do mười lăm phương diện nào? Ở đây, kẻ phàm phu ít nghe, không thấy các bậc Thánh, không thuần thục trong Thánh pháp, không được huấn luyện trong Thánh pháp; không thấy các bậc chân nhân, không thuần thục trong pháp của bậc chân nhân, không được huấn luyện trong pháp của bậc chân nhân, (người ấy thường quán) hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc. Hoặc tự ngã có thọ... cho đến... hoặc tự ngã có tưởng... hoặc tự ngã có các hành... hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức.
Kathaṃ rūpavantaṃ attānaṃ samanupassati? Idhekacco vedanaṃ… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ attato samanupassati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘ayaṃ kho me attā. So kho pana me ayaṃ attā iminā rūpena rūpavā’’ti. Rūpavantaṃ attānaṃ samanupassati. Seyyathāpi rukkho chāyāsampanno assa. Tamenaṃ puriso evaṃ vadeyya – ‘‘ayaṃ rukkho, ayaṃ chāyā; añño rukkho, aññā chāyā. So kho panāyaṃ rukkho imāya chāyāya chāyāvā’’ti. Chāyāvantaṃ rukkhaṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco vedanaṃ…pe… ayaṃ paṭhamā sakkāyavatthukā sassatadiṭṭhi. Sassatadiṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ rūpavantaṃ attānaṃ samanupassati…pe… sakkāyavatthukāya sassatadiṭṭhiyā imehi pannarasahi ākārehi abhiniveso hoti.
How does one repeatedly regard a self as possessing form? Here, a certain person repeatedly regards feeling... perception... volitional formations... consciousness as self. To them, it occurs thus: ‘This indeed is my self. And this self of mine possesses form by means of this form.’ Thus, they repeatedly regard a self as possessing form. Just as a tree might be endowed with shade, and a person might say of it thus: ‘This is the tree, this is the shade; the tree is one thing, the shade is another. And this tree possesses shade by means of this shade.’ Thus, they repeatedly regard the tree as possessing shade. In the very same way, here a certain person regards feeling... and so on... This is the first eternalist view that has identity as its basis. The eternalist view is a wrong view... and so on... These are fetters, and not views. Thus, one repeatedly regards a self as possessing form... and so on... Adherence to the eternalist view that has identity as its basis occurs in these fifteen ways.
Thế nào là thường quán tự ngã có sắc? Ở đây, có người thường quán thọ... tưởng... các hành... thức là tự ngã. Vị ấy khởi lên ý nghĩ rằng: ‘Đây chính là tự ngã của ta. Tự ngã này của ta có sắc do sắc này.’ (Như vậy là) thường quán tự ngã có sắc. Ví như có cây có bóng mát. Có người nói về cây ấy như vầy: ‘Đây là cây, đây là bóng; cây là khác, bóng là khác. Nhưng chính cây này có bóng do bóng này.’ (Như vậy là) thường quán cây có bóng. Tương tự y như thế, ở đây có người (thường quán) thọ... cho đến... đây là thường kiến thứ nhất có thân làm đối tượng. Thường kiến là tà kiến... cho đến... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. Như vậy là thường quán tự ngã có sắc... cho đến... sự chấp thủ đối với thường kiến có thân làm đối tượng có mặt do mười lăm phương diện này.
Sassatadiṭṭhiniddeso pañcamo.
The Exposition of Eternalism is the fifth.
Phần giải về thường kiến là thứ năm.
6. Ucchedadiṭṭhiniddeso
6. The Exposition of the Annihilationist View
6. Phần giải về đoạn kiến
139. Sakkāyavatthukāya ucchedadiṭṭhiyā katamehi pañcahi ākārehi abhiniveso hoti? Idha assutavā puthujjano ariyānaṃ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto sappurisānaṃ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto rūpaṃ attato samanupassati, vedanaṃ attato samanupassati, saññaṃ attato samanupassati, saṅkhāre attato samanupassati, viññāṇaṃ attato samanupassati.
139. In which five ways does adherence to the annihilationist view that has identity as its basis occur? Here, an uninstructed ordinary person—who is not one to see the noble ones, is unskilled in the Dhamma of the noble ones, is untrained in the Dhamma of the noble ones; who is not one to see the good persons, is unskilled in the Dhamma of the good persons, is untrained in the Dhamma of the good persons—repeatedly regards form as self, repeatedly regards feeling as self, repeatedly regards perception as self, repeatedly regards volitional formations as self, and repeatedly regards consciousness as self.
139. Sự chấp thủ đối với đoạn kiến có thân làm đối tượng có mặt do năm phương diện nào? Ở đây, kẻ phàm phu ít nghe, không thấy các bậc Thánh, không thuần thục trong Thánh pháp, không được huấn luyện trong Thánh pháp; không thấy các bậc chân nhân, không thuần thục trong pháp của bậc chân nhân, không được huấn luyện trong pháp của bậc chân nhân, người ấy thường quán sắc là tự ngã, thường quán thọ là tự ngã, thường quán tưởng là tự ngã, thường quán các hành là tự ngã, thường quán thức là tự ngã.
Kathaṃ rūpaṃ attato samanupassati? Idhekacco pathavīkasiṇaṃ…pe… odātakasiṇaṃ attato samanupassati. ‘‘Yaṃ odātakasiṇaṃ, so ahaṃ; yo ahaṃ, taṃ odātakasiṇa’’nti – odātakasiṇañca attañca advayaṃ samanupassati. Seyyathāpi telappadīpassa jhāyato…pe… ayaṃ paṭhamā sakkāyavatthukā ucchedadiṭṭhi. Ucchedadiṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ rūpaṃ attato samanupassati…pe… sakkāyavatthukāya ucchedadiṭṭhiyā imehi pañcahi ākārehi abhiniveso hoti.
How does one repeatedly regard form as self? Here, a certain person repeatedly regards the earth kasiṇa… and so on… the white kasiṇa as self. ‘That which is the white kasiṇa, that I am; that which I am, that is the white kasiṇa’—thus one repeatedly regards the white kasiṇa and the self as non-dual. Just as in the case of a burning oil lamp… and so on… This is the first annihilationist view based on identity. The annihilationist view is a wrong view… and so on… These are fetters, and not views. Thus, one repeatedly regards form as self… and so on… Adherence to the annihilationist view based on identity occurs in these five ways.
Thế nào là thường quán sắc là tự ngã? Ở đây, có người thường quán địa biến xứ... cho đến... bạch biến xứ là tự ngã. Vị ấy thường quán bạch biến xứ và tự ngã là không hai, (nghĩ rằng): ‘Bạch biến xứ nào, đó là ta; ta nào, đó là bạch biến xứ.’ Ví như ngọn đèn dầu đang cháy... cho đến... đây là đoạn kiến thứ nhất có thân làm đối tượng. Đoạn kiến là tà kiến... cho đến... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. Như vậy là thường quán sắc là tự ngã... cho đến... sự chấp thủ đối với đoạn kiến có thân làm đối tượng có mặt do năm phương diện này.
Ucchedadiṭṭhiniddeso chaṭṭho.
The Exposition of the Annihilationist View is the sixth.
Phần giải về đoạn kiến là thứ sáu.
7. Antaggāhikādiṭṭhiniddeso
7. The Exposition of Views Grasping at Extremes
7. Phần giải về biên kiến
140. Antaggāhikāya diṭṭhiyā katamehi paññāsāya ākārehi abhiniveso hoti? ‘‘Sassato loko’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti? ‘‘Asassato loko’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti? ‘‘Antavā loko’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā… ‘‘anantavā loko’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā… ‘‘taṃ jīvaṃ taṃ sarīra’’nti – antaggāhikāya diṭṭhiyā… ‘‘aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīra’’nti – antaggāhikāya diṭṭhiyā… ‘‘hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti…pe… na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti… ‘‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti… ‘‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā katihākārehi abhiniveso hoti?
140. In which fifty ways does adherence to the view grasping at an extreme occur? ‘The world is eternal’—in how many ways does adherence to the view grasping at an extreme occur? ‘The world is not eternal’—in how many ways does adherence to the view grasping at an extreme occur? ‘The world is finite’—in how many ways does adherence to the view grasping at an extreme occur? ‘The world is infinite’—in how many ways does adherence to the view grasping at an extreme occur? ‘The life-principle is the same as the body’—in how many ways does adherence to the view grasping at an extreme occur? ‘The life-principle is one thing, the body another’—in how many ways does adherence to the view grasping at an extreme occur? ‘The Tathāgata exists after death’… and so on… ‘The Tathāgata does not exist after death’… ‘The Tathāgata both exists and does not exist after death’… ‘The Tathāgata neither exists nor does not exist after death’—in how many ways does adherence to the view grasping at an extreme occur?
140. Sự chấp thủ đối với biên kiến có mặt do năm mươi phương diện nào? Sự chấp thủ đối với biên kiến (cho rằng): ‘Thế gian là thường hằng’ có mặt do bao nhiêu phương diện? Sự chấp thủ đối với biên kiến (cho rằng): ‘Thế gian là không thường hằng’ có mặt do bao nhiêu phương diện? Sự chấp thủ đối với biên kiến (cho rằng): ‘Thế gian là hữu biên’... ‘Thế gian là vô biên’... ‘Sinh mạng và thân thể là một’... ‘Sinh mạng là khác, thân thể là khác’... ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’... cho đến... ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’... ‘Như Lai vừa có tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’... ‘Như Lai vừa không tồn tại vừa không không tồn tại sau khi chết’ có mặt do bao nhiêu phương diện?
‘‘Sassato loko’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā pañcahākārehi abhiniveso hoti…pe… ‘‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā pañcahākārehi abhiniveso hoti.
‘The world is eternal’—adherence to the view grasping at an extreme occurs in five ways… and so on… ‘The Tathāgata neither exists nor does not exist after death’—adherence to the view grasping at an extreme occurs in five ways.
Sự chấp thủ đối với biên kiến (cho rằng): ‘Thế gian là thường hằng’ có mặt do năm phương diện... cho đến... sự chấp thủ đối với biên kiến (cho rằng): ‘Như Lai vừa không tồn tại vừa không không tồn tại sau khi chết’ có mặt do năm phương diện.
[Ka] ‘‘sassato loko’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā katamehi pañcahākārehi abhiniveso hoti? Rūpaṃ loko ceva sassataṃ cāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā ‘‘sassato loko’’ti – antaggāhikā diṭṭhi. Antaggāhikā diṭṭhi micchādiṭṭhi …pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo.
[a] ‘The world is eternal’—in what five ways is there insistence by the view that grasps at extremes? ‘Form is both the world and eternal’—this insistence and grasping is a view. By that view, he has grasped an extreme; therefore, it is a view that grasps at extremes. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. That which is the view and that which is the basis—this is the first view that grasps at extremes, namely, ‘the world is eternal.’ A view that grasps at extremes is a wrong view… these are fetters, and not views.
[A] Do năm phương diện nào có sự chấp thủ đối với biên kiến chấp thủ rằng: ‘Thế giới là thường còn’? (Sự chấp thủ rằng:) ‘Sắc là thế giới và là thường còn’ – sự chấp thủ, sự nắm giữ sai lạc là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp thủ vào một cực đoan, nên (gọi là) biên kiến chấp thủ. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Tà kiến nào và đối tượng nào – đây là biên kiến chấp thủ thứ nhất rằng: ‘Thế giới là thường còn’. Biên kiến chấp thủ là tà kiến ... này là các kiết sử, và không phải là các tà kiến.
Vedanā loko ceva sassatā cāti…pe… saññā loko ceva sassatā cāti…pe… saṅkhārā loko ceva sassatā cāti…pe… viññāṇaṃ loko ceva sassatañcāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ pañcamī sassato lokoti – antaggāhikā diṭṭhi. Antaggāhikā diṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. ‘‘Sassato loko’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā imehi pañcahākārehi abhiniveso hoti.
‘Feeling is both the world and eternal’… ‘Perception is both the world and eternal’… ‘Formations are both the world and eternal’… ‘Consciousness is both the world and eternal’—this insistence and grasping is a view. By that view, he has grasped an extreme; therefore, it is a view that grasps at extremes. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. That which is the view and that which is the basis—this is the fifth view that grasps at extremes, namely, ‘the world is eternal.’ A view that grasps at extremes is a wrong view… these are fetters, and not views. ‘The world is eternal’—in these five ways there is insistence by the view that grasps at extremes.
(Sự chấp thủ rằng:) ‘Thọ là thế giới và là thường còn’... (Sự chấp thủ rằng:) ‘Tưởng là thế giới và là thường còn’... (Sự chấp thủ rằng:) ‘Các hành là thế giới và là thường còn’... (Sự chấp thủ rằng:) ‘Thức là thế giới và là thường còn’ – sự chấp thủ, sự nắm giữ sai lạc là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp thủ vào một cực đoan, nên (gọi là) biên kiến chấp thủ. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Tà kiến nào và đối tượng nào – đây là biên kiến chấp thủ thứ năm rằng: ‘Thế giới là thường còn’. Biên kiến chấp thủ là tà kiến... này là các kiết sử, và không phải là các tà kiến. Do năm phương diện này có sự chấp thủ đối với biên kiến chấp thủ rằng: ‘Thế giới là thường còn’.
[Kha] ‘‘asassato loko’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā katamehi pañcahākārehi abhiniveso hoti? Rūpaṃ loko ceva asassatañcāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi…pe… ayaṃ paṭhamā ‘‘asassato loko’’ti – antaggāhikā diṭṭhi. Antaggāhikā diṭṭhi micchādiṭṭhi diṭṭhivipatti…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo.
[b] ‘The world is not eternal’—in what five ways is there insistence by the view that grasps at extremes? ‘Form is both the world and not eternal’—this insistence and grasping is a view. By that view, he has grasped an extreme; therefore, it is a view that grasps at extremes… this is the first view that grasps at extremes, namely, ‘the world is not eternal.’ A view that grasps at extremes is a wrong view, a corruption of view… these are fetters, and not views.
[B] Do năm phương diện nào có sự chấp thủ đối với biên kiến chấp thủ rằng: ‘Thế giới là không thường còn’? (Sự chấp thủ rằng:) ‘Sắc là thế giới và là không thường còn’ – sự chấp thủ, sự nắm giữ sai lạc là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp thủ vào một cực đoan, nên (gọi là) biên kiến chấp thủ... này là biên kiến chấp thủ thứ nhất rằng: ‘Thế giới là không thường còn’. Biên kiến chấp thủ là tà kiến, là sự hư hỏng của tri kiến... này là các kiết sử, và không phải là các tà kiến.
Vedanā loko ceva asassatā cāti…pe… saññā loko ceva asassatā cāti…pe… saṅkhārā loko ceva asassatā cāti…pe… viññāṇaṃ loko ceva asassatañcāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi. Antaggāhikā diṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. ‘‘Asassato loko’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā imehi pañcahākārehi abhiniveso hoti.
“Feeling is the world and is not eternal”… “Perception is the world and is not eternal”… “Volitional formations are the world and are not eternal”… “Consciousness is the world and is not eternal”—adherence and grasping is a view. By that view, he grasps an extreme; therefore, it is a view that grasps at an extreme. The view that grasps at an extreme is a wrong view… These are fetters, and not views. Regarding the view that grasps at an extreme, ‘The world is not eternal,’ adherence occurs in these five ways.
(Sự chấp thủ rằng:) ‘Thọ là thế giới và là không thường còn’... (Sự chấp thủ rằng:) ‘Tưởng là thế giới và là không thường còn’... (Sự chấp thủ rằng:) ‘Các hành là thế giới và là không thường còn’... (Sự chấp thủ rằng:) ‘Thức là thế giới và là không thường còn’ – sự chấp thủ, sự nắm giữ sai lạc là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp thủ vào một cực đoan, nên (gọi là) biên kiến chấp thủ. Biên kiến chấp thủ là tà kiến... này là các kiết sử, và không phải là các tà kiến. Do năm phương diện này có sự chấp thủ đối với biên kiến chấp thủ rằng: ‘Thế giới là không thường còn’.
[Ga] ‘‘antavā loko’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā katamehi pañcahākārehi abhiniveso hoti? Idhekacco parittaṃ okāsaṃ nīlakato pharati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘antavā ayaṃ loko parivaṭumo’’ti. Antasaññī hoti. Yaṃ pharati, taṃ vatthu ceva loko ca. Yena pharati, so attā ceva loko cāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā ‘‘antavā loko’’ti antaggāhikā diṭṭhi. Antaggāhikā diṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo.
[Ga] Regarding the view that grasps at an extreme, ‘The world is finite,’ in which five ways does adherence occur? Here, a certain person pervades a limited space as blue. It occurs to him: “This world is finite and circular.” He has the perception of finitude. What he pervades is both the basis and the world. That by which he pervades is both the self and the world—adherence and grasping is a view. By that view, he grasps an extreme; therefore, it is a view that grasps at an extreme. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing, the basis is another. That which is the view and that which is the basis—this is the first view that grasps at an extreme, namely, ‘the world is finite.’ The view that grasps at an extreme is a wrong view… These are fetters, and not views.
[C] Do năm phương diện nào có sự chấp thủ đối với biên kiến chấp thủ rằng: ‘Thế giới là hữu biên’? Ở đây, có người biến mãn một không gian giới hạn với kasina xanh. Vị ấy khởi lên ý nghĩ rằng: ‘Thế giới này là hữu biên, có giới hạn xung quanh’. Vị ấy có tưởng về cái hữu biên. Cái được biến mãn, đó vừa là đối tượng vừa là thế giới. Cái dùng để biến mãn, đó vừa là tự ngã vừa là thế giới – sự chấp thủ, sự nắm giữ sai lạc là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp thủ vào một cực đoan, nên (gọi là) biên kiến chấp thủ. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Tà kiến nào và đối tượng nào – đây là biên kiến chấp thủ thứ nhất rằng: ‘Thế giới là hữu biên’. Biên kiến chấp thủ là tà kiến... này là các kiết sử, và không phải là các tà kiến.
Idhekacco parittaṃ okāsaṃ pītakato pharati… lohitakato pharati… odātakato pharati… obhāsakato pharati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘antavā ayaṃ loko parivaṭumo’’ti. Antasaññī hoti. Yaṃ pharati taṃ vatthu ceva loko ca. Yena pharati so attā ceva loko cāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi…pe… antavā lokoti – antaggāhikāya diṭṭhiyā imehi pañcahākārehi abhiniveso hoti.
Here, a certain person pervades a limited space as yellow… as red… as white… as radiance. It occurs to him: “This world is finite and circular.” He has the perception of finitude. What he pervades is both the basis and the world. That by which he pervades is both the self and the world—adherence and grasping is a view. By that view, he grasps an extreme; therefore, it is a view that grasps at an extreme… Regarding the view that grasps at an extreme, ‘The world is finite,’ adherence occurs in these five ways.
Ở đây, có người biến mãn một không gian giới hạn với kasina vàng... biến mãn với kasina đỏ... biến mãn với kasina trắng... biến mãn với kasina ánh sáng. Vị ấy khởi lên ý nghĩ rằng: ‘Thế giới này là hữu biên, có giới hạn xung quanh’. Vị ấy có tưởng về cái hữu biên. Cái được biến mãn, đó vừa là đối tượng vừa là thế giới. Cái dùng để biến mãn, đó vừa là tự ngã vừa là thế giới – sự chấp thủ, sự nắm giữ sai lạc là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp thủ vào một cực đoan, nên (gọi là) biên kiến chấp thủ... Do năm phương diện này có sự chấp thủ đối với biên kiến chấp thủ rằng: ‘Thế giới là hữu biên’.
[Gha] ‘‘anantavā loko’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā katamehi pañcahākārehi abhiniveso hoti? Idhekacco vipulaṃ okāsaṃ nīlakato pharati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘anantavā ayaṃ loko apariyanto’’ti. Anantasaññī hoti. Yaṃ pharati taṃ vatthu ceva loko ca; yena pharati so attā ceva loko cāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā ‘‘anantavā loko’’ti – antaggāhikā diṭṭhi. Antaggāhikā diṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo.
[Gha] “The world is infinite”—in what five ways is there adherence to a view that grasps at an extreme? Here, a certain person pervades a vast space as blue. To him, it occurs thus: “This world is infinite, boundless.” He has the perception of infinitude. That which he pervades is both the basis and the world; that by which he pervades is both the self and the world—this adherence and grasping is a view. By that view, he has grasped an extreme; therefore, it is a view that grasps at an extreme. The view is not the basis, and the basis is not the view. The view is one thing, and the basis is another. Both the view and the basis—this is the first view that grasps at an extreme: ‘the world is infinite.’ A view that grasps at an extreme is a wrong view… these are fetters, and not views.
[D] Do năm phương diện nào có sự chấp thủ đối với biên kiến chấp thủ rằng: ‘Thế giới là vô biên’? Ở đây, có người biến mãn một không gian rộng lớn với kasina xanh. Vị ấy khởi lên ý nghĩ rằng: ‘Thế giới này là vô biên, không có giới hạn’. Vị ấy có tưởng về cái vô biên. Cái được biến mãn, đó vừa là đối tượng vừa là thế giới; cái dùng để biến mãn, đó vừa là tự ngã vừa là thế giới – sự chấp thủ, sự nắm giữ sai lạc là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp thủ vào một cực đoan, nên (gọi là) biên kiến chấp thủ. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Tà kiến nào và đối tượng nào – đây là biên kiến chấp thủ thứ nhất rằng: ‘Thế giới là vô biên’. Biên kiến chấp thủ là tà kiến... này là các kiết sử, và không phải là các tà kiến.
Idhekacco vipulaṃ okāsaṃ pītakato pharati… lohitakato pharati… odātakato pharati… obhāsakato pharati. Tassa evaṃ hoti – ‘‘anantavā ayaṃ loko apariyanto’’ti. Anantasaññī hoti. Yaṃ pharati taṃ vatthu ceva loko ca; yena pharati so attā ceva loko cāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi…pe… anantavā lokoti – antaggāhikāya diṭṭhiyā imehi pañcahākārehi abhiniveso hoti.
Here, a certain person pervades a vast space as yellow… as red… as white… as radiance. To him, it occurs thus: “This world is infinite, boundless.” He has the perception of infinitude. That which he pervades is both the basis and the world; that by which he pervades is both the self and the world—this adherence and grasping is a view. By that view, he has grasped an extreme; therefore, it is a view that grasps at an extreme… “The world is infinite”—adherence to this view that grasps at an extreme occurs in these five ways.
Ở đây, có người biến mãn một không gian rộng lớn với kasina vàng... biến mãn với kasina đỏ... biến mãn với kasina trắng... biến mãn với kasina ánh sáng. Vị ấy khởi lên ý nghĩ rằng: ‘Thế giới này là vô biên, không có giới hạn’. Vị ấy có tưởng về cái vô biên. Cái được biến mãn, đó vừa là đối tượng vừa là thế giới; cái dùng để biến mãn, đó vừa là tự ngã vừa là thế giới – sự chấp thủ, sự nắm giữ sai lạc là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp thủ vào một cực đoan, nên (gọi là) biên kiến chấp thủ... Do năm phương diện này có sự chấp thủ đối với biên kiến chấp thủ rằng: ‘Thế giới là vô biên’.
[Ṅa] ‘‘taṃ jīvaṃ taṃ sarīra’’nti – antaggāhikāya diṭṭhiyā katamehi pañcahākārehi abhiniveso hoti? Rūpaṃ jīvañceva sarīrañca; yaṃ jīvaṃ taṃ sarīraṃ, yaṃ sarīraṃ taṃ jīvanti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā ‘‘taṃ jīvaṃ taṃ sarīra’’nti – antaggāhikā diṭṭhi. Antaggāhikā diṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo.
[Ṅa] “The life-principle is the same as the body”—in what five ways is there adherence to a view that grasps at an extreme? ‘Form is both the life-principle and the body; what is the life-principle is the body, and what is the body is the life-principle’—this adherence and grasping is a view. By that view, he has grasped an extreme; therefore, it is a view that grasps at an extreme. The view is not the basis, and the basis is not the view. The view is one thing, and the basis is another. Both the view and the basis—this is the first view that grasps at an extreme: ‘the life-principle is the same as the body.’ A view that grasps at an extreme is a wrong view… these are fetters, and not views.
[Ṅa] Do năm cách thức nào có sự chấp thủ đối với biên kiến ‘sinh mạng ấy, thân thể ấy’? Sắc vừa là sinh mạng, vừa là thân thể; cái gì là sinh mạng, cái ấy là thân thể; cái gì là thân thể, cái ấy là sinh mạng – sự chấp thủ và bám víu là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp giữ vào một cực đoan, nên gọi là biên kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái gì là tà kiến và cái gì là đối tượng – đây là biên kiến thứ nhất ‘sinh mạng ấy, thân thể ấy’. Biên kiến là tà kiến... (như trên)... đây là các kiết sử, không phải là các tà kiến.
Vedanā jīvā ceva sarīraṃ ca… saññā jīvā ceva sarīraṃ ca… saṅkhārā jīvā ceva sarīraṃ ca… viññāṇaṃ jīvañceva sarīrañca; yaṃ jīvaṃ taṃ sarīraṃ, yaṃ sarīraṃ taṃ jīvanti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi…pe… ‘‘taṃ jīvaṃ taṃ sarīra’’nti – antaggāhikāya diṭṭhiyā imehi pañcahākārehi abhiniveso hoti.
Feeling is both the life-principle and the body... Perception is both the life-principle and the body... Volitional formations are both the life-principle and the body... 'Consciousness is both the life-principle and the body; what is the life-principle is the body, and what is the body is the life-principle'—this dogmatic adherence and misapprehension is a view. By that view, one grasps an extreme; thus, it is a view that grasps at an extreme... With regard to the view that grasps at an extreme, 'that which is the life-principle is the body,' dogmatic adherence occurs in these five ways.
Thọ vừa là sinh mạng, vừa là thân thể... Tưởng vừa là sinh mạng, vừa là thân thể... Các hành vừa là sinh mạng, vừa là thân thể... Thức vừa là sinh mạng, vừa là thân thể; cái gì là sinh mạng, cái ấy là thân thể; cái gì là thân thể, cái ấy là sinh mạng – sự chấp thủ và bám víu là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp giữ vào một cực đoan, nên gọi là biên kiến... (như trên)... Do năm cách thức này có sự chấp thủ đối với biên kiến ‘sinh mạng ấy, thân thể ấy’.
[Ca] ‘‘aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīra’’nti – antaggāhikāya diṭṭhiyā katamehi pañcahākārehi abhiniveso hoti? Rūpaṃ sarīraṃ, na jīvaṃ; jīvaṃ na sarīraṃ. Aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīranti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā ‘‘aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīra’’nti – antaggāhikā diṭṭhi. Antaggāhikā diṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo.
With regard to the view that grasps at an extreme, 'the life-principle is one thing, the body another,' in which five ways does dogmatic adherence occur? 'Form is the body, not the life-principle; the life-principle is not the body. The life-principle is one thing, the body another'—this dogmatic adherence and misapprehension is a view. By that view, one grasps an extreme; thus, it is a view that grasps at an extreme. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing, the basis another. Both the view and its basis—this is the first view that grasps at an extreme, that 'the life-principle is one thing, the body another.' A view that grasps at an extreme is a wrong view... These are fetters, and not views.
[Ca] Do năm cách thức nào có sự chấp thủ đối với biên kiến ‘sinh mạng khác, thân thể khác’? Sắc là thân thể, không phải là sinh mạng; sinh mạng không phải là thân thể. Sinh mạng là khác, thân thể là khác – sự chấp thủ và bám víu là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp giữ vào một cực đoan, nên gọi là biên kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái gì là tà kiến và cái gì là đối tượng – đây là biên kiến thứ nhất ‘sinh mạng khác, thân thể khác’. Biên kiến là tà kiến... (như trên)... đây là các kiết sử, không phải là các tà kiến.
Vedanā sarīraṃ, na jīvaṃ… saññā sarīraṃ, na jīvaṃ… saṅkhārā sarīraṃ, na jīvaṃ… viññāṇaṃ sarīraṃ, na jīvaṃ; jīvaṃ na sarīraṃ. Aññaṃ jīvaṃ, aññaṃ sarīranti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi…pe… aññaṃ jīvaṃ, aññaṃ sarīranti – antaggāhikāya diṭṭhiyā imehi pañcahākārehi abhiniveso hoti.
Feeling is the body, not the life-principle... Perception is the body, not the life-principle... Volitional formations are the body, not the life-principle... 'Consciousness is the body, not the life-principle; the life-principle is not the body. The life-principle is one thing, the body another'—this dogmatic adherence and misapprehension is a view. By that view, one grasps an extreme; thus, it is a view that grasps at an extreme... With regard to the view that grasps at an extreme, 'the life-principle is one thing, the body another,' dogmatic adherence occurs in these five ways.
Thọ là thân thể, không phải là sinh mạng... Tưởng là thân thể, không phải là sinh mạng... Các hành là thân thể, không phải là sinh mạng... Thức là thân thể, không phải là sinh mạng; sinh mạng không phải là thân thể. Sinh mạng là khác, thân thể là khác – sự chấp thủ và bám víu là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp giữ vào một cực đoan, nên gọi là biên kiến... (như trên)... Do năm cách thức này có sự chấp thủ đối với biên kiến ‘sinh mạng khác, thân thể khác’.
[Cha] ‘‘hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā katamehi pañcahākārehi abhiniveso hoti? Rūpaṃ idheva maraṇadhammaṃ. Tathāgato kāyassa bhedā hotipi tiṭṭhatipi uppajjatipi nibbattatipīti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā ‘‘hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikā diṭṭhi. Antaggāhikā diṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo.
[Cha] ‘A being exists after death’—in what five ways does dogmatic clinging to the view that holds to an extreme occur? Form, in this very existence, is subject to death. ‘A being, after the breaking up of the body, exists, persists, arises, and is reborn’—this dogmatic clinging and misapprehension is a view. By that view, one is taken as holding to an extreme; thus, it is a view that holds to an extreme. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. Whatever is the view and whatever is the basis—this is the first view that holds to an extreme, namely, ‘a being exists after death’. A view that holds to an extreme is a wrong view… these are fetters, and not views.
[Cha] Do năm cách thức nào có sự chấp thủ đối với biên kiến ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’? Sắc ngay tại đây có bản chất phải chết. Như Lai sau khi thân hoại thì có tồn tại, có thường còn, có sanh khởi, có hiện hữu – sự chấp thủ và bám víu là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp giữ vào một cực đoan, nên gọi là biên kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái gì là tà kiến và cái gì là đối tượng – đây là biên kiến thứ nhất ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’. Biên kiến là tà kiến... (như trên)... đây là các kiết sử, không phải là các tà kiến.
Vedanā idheva maraṇadhammā…pe… saññā idheva maraṇadhammā… saṅkhārā idheva maraṇadhammā… viññāṇaṃ idheva maraṇadhammaṃ. Tathāgato kāyassa bhedā hotipi tiṭṭhatipi uppajjatipi nibbattatipīti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi…pe… ‘‘hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā imehi pañcahākārehi abhiniveso hoti.
Feeling, in this very existence, is subject to death… perception, in this very existence, is subject to death… formations, in this very existence, are subject to death… consciousness, in this very existence, is subject to death. ‘A being, after the breaking up of the body, exists, persists, arises, and is reborn’—this dogmatic clinging and misapprehension is a view. By that view, one is taken as holding to an extreme; thus, it is a view that holds to an extreme… ‘A being exists after death’—through these five aspects, dogmatic clinging to the view that holds to an extreme occurs.
Thọ ngay tại đây có bản chất phải chết... (như trên)... Tưởng ngay tại đây có bản chất phải chết... Các hành ngay tại đây có bản chất phải chết... Thức ngay tại đây có bản chất phải chết. Như Lai sau khi thân hoại thì có tồn tại, có thường còn, có sanh khởi, có hiện hữu – sự chấp thủ và bám víu là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp giữ vào một cực đoan, nên gọi là biên kiến... (như trên)... Do năm cách thức này có sự chấp thủ đối với biên kiến ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’.
[Ja] ‘‘na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā katamehi pañcahākārehi abhiniveso hoti? Rūpaṃ idheva maraṇadhammaṃ. Tathāgatopi kāyassa bhedā ucchijjati vinassati; na hoti tathāgato paraṃ maraṇāti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā ‘‘na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikā diṭṭhi. Antaggāhikā diṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo.
[Ja] ‘A being does not exist after death’—in what five ways does dogmatic clinging to the view that holds to an extreme occur? Form, in this very existence, is subject to death. ‘A being, too, with the breaking up of the body, is annihilated and perishes; a being does not exist after death’—this dogmatic clinging and misapprehension is a view. By that view, one is taken as holding to an extreme; thus, it is a view that holds to an extreme. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. Whatever is the view and whatever is the basis—this is the first view that holds to an extreme, namely, ‘a being does not exist after death’. A view that holds to an extreme is a wrong view… these are fetters, and not views.
[Ja] Do năm cách thức nào có sự chấp thủ đối với biên kiến ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’? Sắc ngay tại đây có bản chất phải chết. Như Lai sau khi thân hoại thì bị đoạn diệt, bị hủy hoại; Như Lai không tồn tại sau khi chết – sự chấp thủ và bám víu là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp giữ vào một cực đoan, nên gọi là biên kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái gì là tà kiến và cái gì là đối tượng – đây là biên kiến thứ nhất ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’. Biên kiến là tà kiến... (như trên)... đây là các kiết sử, không phải là các tà kiến.
Vedanā idheva maraṇadhammā…pe… saññā idheva maraṇadhammā… saṅkhārā idheva maraṇadhammā… viññāṇaṃ idheva maraṇadhammaṃ. Tathāgatopi kāyassa bhedā ucchijjati vinassati. ‘‘Na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi…pe… ‘‘na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā imehi pañcahākārehi abhiniveso hoti.
Feeling, in this very existence, is of a nature to die... perception, in this very existence, is of a nature to die... formations, in this very existence, are of a nature to die... consciousness, in this very existence, is of a nature to die. A being, too, is annihilated and perishes with the breakup of the body. 'A being does not exist after death'—this adherence and misapprehension is a view. By that view, one grasps an extreme; thus, it is a view that grasps at extremes... Regarding the view that grasps at extremes, which holds 'a being does not exist after death,' adherence occurs through these five aspects.
Thọ ngay tại đây có bản chất phải chết... (như trên)... Tưởng ngay tại đây có bản chất phải chết... Các hành ngay tại đây có bản chất phải chết... Thức ngay tại đây có bản chất phải chết. Như Lai sau khi thân hoại thì bị đoạn diệt, bị hủy hoại. ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’ – sự chấp thủ và bám víu là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp giữ vào một cực đoan, nên gọi là biên kiến... (như trên)... Do năm cách thức này có sự chấp thủ đối với biên kiến ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’.
[Jha] ‘‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā katamehi pañcahākārehi abhiniveso hoti? Rūpaṃ idheva maraṇadhammaṃ. Tathāgato kāyassa bhedā hoti ca na ca hotīti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā ‘‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikā diṭṭhi. Antaggāhikā diṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni na ca diṭṭhiyo.
[Jha] Regarding the view that grasps at extremes, which holds 'a being both exists and does not exist after death,' by which five aspects does adherence occur? Form, in this very existence, is of a nature to die. 'A being, after the breakup of the body, both exists and does not exist'—this adherence and misapprehension is a view. By that view, one grasps an extreme; thus, it is a view that grasps at extremes. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. That which is the view and that which is the basis—this is the first view that grasps at extremes, which holds 'a being both exists and does not exist after death.' A view that grasps at extremes is a wrong view... these are fetters and not views.
[Jha] Do năm cách thức nào có sự chấp thủ đối với biên kiến ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’? Sắc ngay tại đây có bản chất phải chết. Như Lai sau khi thân hoại thì vừa tồn tại vừa không tồn tại – sự chấp thủ và bám víu là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp giữ vào một cực đoan, nên gọi là biên kiến. Tà kiến không phải là đối tượng, đối tượng không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, đối tượng là khác. Cái gì là tà kiến và cái gì là đối tượng – đây là biên kiến thứ nhất ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’. Biên kiến là tà kiến... (như trên)... đây là các kiết sử, không phải là các tà kiến.
Vedanā idheva maraṇadhammā…pe… saññā idheva maraṇadhammā… saṅkhārā idheva maraṇadhammā… viññāṇaṃ idheva maraṇadhammaṃ. Tathāgato kāyassa bhedā hoti ca na ca hotīti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi…pe… ‘‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā imehi pañcahākārehi abhiniveso hoti.
Feeling, in this very existence, is of a nature to die... perception, in this very existence, is of a nature to die... formations, in this very existence, are of a nature to die... consciousness, in this very existence, is of a nature to die. 'A being, after the breakup of the body, both exists and does not exist'—this adherence and misapprehension is a view. By that view, one grasps an extreme; thus, it is a view that grasps at extremes... Regarding the view that grasps at extremes, which holds 'a being both exists and does not exist after death,' adherence occurs through these five aspects.
Thọ có bản chất phải chết ngay trong đời này ... Tưởng có bản chất phải chết ngay trong đời này ... Các hành có bản chất phải chết ngay trong đời này ... Thức có bản chất phải chết ngay trong đời này. 'Sau khi thân hoại, Như Lai vừa có vừa không có' – sự chấp thủ và bám víu này là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp giữ một cực đoan – (nên gọi là) biên kiến ... 'Sau khi chết, Như Lai vừa có vừa không có' – sự chấp thủ vào biên kiến này xảy ra theo năm cách này.
[Ña] ‘‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā katamehi pañcahākārehi abhiniveso hoti? Rūpaṃ idheva maraṇadhammaṃ. Tathāgato kāyassa bhedā paraṃ maraṇā neva hoti na na hotīti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi, aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā ‘‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikā diṭṭhi. Antaggāhikā diṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo.
[Ña] ‘A being neither becomes nor does not become after death’—by which five aspects does adherence occur with regard to the view that grasps at an extreme? Form, right here, has the nature of death. ‘A being, after the breaking up of the body, after death, neither becomes nor does not become’—this adherence and misapprehension is a view. By that view, one has grasped an extreme; thus, it is a view that grasps at an extreme. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. That which is the view and that which is the basis: this is the first view that grasps at an extreme, namely, ‘a being neither becomes nor does not become after death.’ A view that grasps at an extreme is a wrong view… these are fetters, and not views.
[Ña] 'Sau khi chết, Như Lai không phải có cũng không phải không có' – sự chấp thủ vào biên kiến này xảy ra theo năm cách nào? Sắc có bản chất phải chết ngay trong đời này. 'Sau khi thân hoại, sau khi chết, Như Lai không phải có cũng không phải không có' – sự chấp thủ và bám víu này là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp giữ một cực đoan – (nên gọi là) biên kiến. Tà kiến không phải là vật, vật không phải là tà kiến, tà kiến là khác, vật là khác. Tà kiến nào và vật nào – đây là biên kiến thứ nhất: 'Sau khi chết, Như Lai không phải có cũng không phải không có'. Biên kiến là tà kiến ... Đây là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến.
Vedanā idheva maraṇadhammā…pe… saññā idheva maraṇadhammā… saṅkhārā idheva maraṇadhammā… viññāṇaṃ idheva maraṇadhammaṃ. Tathāgato kāyassa bhedā paraṃ maraṇā neva hoti na na hotīti – abhinivesaparāmāso diṭṭhi. Tāya diṭṭhiyā so anto gahitoti – antaggāhikā diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ pañcamī ‘‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikā diṭṭhi. Antaggāhikā diṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. ‘‘Neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā imehi pañcahākārehi abhiniveso hoti. Antaggāhikāya diṭṭhiyā imehi paññāsāya ākārehi abhiniveso hoti.
Feeling, right here, has the nature of death… perception, right here, has the nature of death… formations, right here, have the nature of death… consciousness, right here, has the nature of death. ‘A being, after the breaking up of the body, after death, neither becomes nor does not become’—this adherence and misapprehension is a view. By that view, one has grasped an extreme; thus, it is a view that grasps at an extreme. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. That which is the view and that which is the basis: this is the fifth view that grasps at an extreme, namely, ‘a being neither becomes nor does not become after death.’ A view that grasps at an extreme is a wrong view… these are fetters, and not views. With regard to the view that grasps at an extreme, namely, ‘a being neither becomes nor does not become after death,’ adherence occurs by these five aspects. With regard to the view that grasps at an extreme, adherence occurs by these fifty aspects.
Thọ có bản chất phải chết ngay trong đời này ... Tưởng có bản chất phải chết ngay trong đời này ... Các hành có bản chất phải chết ngay trong đời này ... Thức có bản chất phải chết ngay trong đời này. 'Sau khi thân hoại, sau khi chết, Như Lai không phải có cũng không phải không có' – sự chấp thủ và bám víu này là tà kiến. Do tà kiến ấy, người ấy chấp giữ một cực đoan – (nên gọi là) biên kiến. Tà kiến không phải là vật, vật không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, vật là khác. Tà kiến nào và vật nào – đây là biên kiến thứ năm: 'Sau khi chết, Như Lai không phải có cũng không phải không có'. Biên kiến là tà kiến ... Đây là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. 'Sau khi chết, Như Lai không phải có cũng không phải không có' – sự chấp thủ vào biên kiến này xảy ra theo năm cách này. Sự chấp thủ vào biên kiến này xảy ra theo năm mươi cách này.
Antaggāhikādiṭṭhiniddeso sattamo.
The seventh, the Exposition of the View that Grasps at an Extreme, is concluded.
Dứt phần giải thích về biên kiến, chương thứ bảy.
8. Pubbantānudiṭṭhiniddeso
8. Exposition of Views Pertaining to the Past
8. Phần giải thích về tà kiến liên quan đến quá khứ
141. Pubbantānudiṭṭhiyā katamehi aṭṭhārasahi ākārehi abhiniveso hoti? Cattāro sassatavādā, cattāro ekaccasassatikā, cattāro antānantikā, cattāro amarāvikkhepikā, dve adhiccasamuppannikā – pubbantānudiṭṭhiyā imehi aṭṭhārasahi ākārehi abhiniveso hoti.
141. In how many ways does adherence occur regarding views pertaining to the past? Four eternalist theories, four partial-eternalist theories, four theories of the finitude and infinitude of the world, four theories of endless equivocation, two theories of fortuitous origination—adherence regarding views pertaining to the past occurs in these eighteen ways.
141. Sự chấp thủ vào tà kiến liên quan đến quá khứ xảy ra theo mười tám cách nào? Bốn thường kiến, bốn kiến chấp một phần thường còn, bốn kiến chấp hữu biên vô biên, bốn kiến chấp ngụy biện như con lươn, hai kiến chấp ngẫu nhiên sinh – sự chấp thủ vào tà kiến liên quan đến quá khứ xảy ra theo mười tám cách này.
Pubbantānudiṭṭhiniddeso aṭṭhamo.
The eighth exposition of views pertaining to the past.
Dứt phần giải thích về tà kiến liên quan đến quá khứ, chương thứ tám.
9. Aparantānudiṭṭhiniddeso
9. Exposition of Views Pertaining to the Future
9. Phần giải thích về tà kiến liên quan đến tương lai
142. Aparantānudiṭṭhiyā katamehi catucattālīsāya ākārehi abhiniveso hoti? Soḷasa saññīvādā, aṭṭha asaññīvādā, aṭṭha nevasaññīnāsaññīvādā, satta ucchedavādā, pañca diṭṭhadhammanibbānavādā – aparantānudiṭṭhiyā imehi catucattālīsāya ākārehi abhiniveso hoti.
142. In how many ways does adherence occur regarding views pertaining to the future? Sixteen theories of a conscious afterlife, eight theories of an unconscious afterlife, eight theories of a neither conscious nor unconscious afterlife, seven annihilationist theories, five theories of Nibbāna in this very life—adherence regarding views pertaining to the future occurs in these forty-four ways.
142. Sự chấp thủ vào tà kiến liên quan đến tương lai xảy ra theo bốn mươi bốn cách nào? Mười sáu kiến chấp có tưởng, tám kiến chấp không có tưởng, tám kiến chấp không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng, bảy đoạn kiến, năm kiến chấp Niết-bàn hiện tại – sự chấp thủ vào tà kiến liên quan đến tương lai xảy ra theo bốn mươi bốn cách này.
Aparantānudiṭṭhiniddeso navamo.
The ninth exposition of views pertaining to the future.
Dứt phần giải thích về tà kiến liên quan đến tương lai, chương thứ chín.
10-12. Saññojanikādidiṭṭhiniddeso
10-12. Exposition of Views Beginning with Those that are Fettering
10-12. Phần giải thích về các tà kiến như tà kiến liên quan đến kiết sử
143. Saññojanikāya diṭṭhiyā katamehi aṭṭhārasahi ākārehi abhiniveso hoti? Yā diṭṭhi diṭṭhigataṃ diṭṭhigahanaṃ…pe… diṭṭhābhiniveso diṭṭhiparāmāso – saññojanikāya diṭṭhiyā imehi aṭṭhārasahi ākārehi abhiniveso hoti.
143. In how many ways does adherence occur regarding a view that is fettering? Whatever view is a viewpoint, a jungle of views… adherence to views, grasping of views—adherence regarding a view that is fettering occurs in these eighteen ways.
143. Sự chấp thủ vào tà kiến liên quan đến kiết sử xảy ra theo mười tám cách nào? Tà kiến nào là kiến xứ, kiến trù lâm ... sự chấp thủ tà kiến, sự bám víu tà kiến – sự chấp thủ vào tà kiến liên quan đến kiết sử xảy ra theo mười tám cách này.
144. ‘‘Aha’’nti – mānavinibandhāya diṭṭhiyā katamehi aṭṭhārasahi ākārehi abhiniveso hoti? Cakkhu ahanti – abhinivesaparāmāso. Ahanti – mānavinibandhā diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā ‘‘aha’’nti – mānavinibandhā diṭṭhi. Mānavinibandhā diṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo.
144. In how many ways does adherence occur in regard to the view bound by the conceit ‘I am’? ‘The eye is I’—this is adherence and grasping. The view bound by the conceit ‘I am’. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. Whatever is the view and whatever is the basis—this is the first view bound by the conceit ‘I am’. The view bound by conceit is wrong view… these are fetters, but not views.
144. 'Tôi là' – sự chấp thủ vào tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn xảy ra theo mười tám cách nào? 'Mắt là tôi' – sự chấp thủ và bám víu. 'Tôi là' – tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn. Tà kiến không phải là vật, vật không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, vật là khác. Tà kiến nào và vật nào – đây là tà kiến thứ nhất bị trói buộc bởi ngã mạn 'tôi là'. Tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn là tà kiến ... Đây là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến.
Sotaṃ ahanti…pe… ghānaṃ ahanti…pe… jivhā ahanti…pe… kāyo ahanti…pe… mano ahanti…pe… rūpā ahanti…pe… dhammā ahanti… cakkhuviññāṇaṃ ahanti…pe… manoviññāṇaṃ ahanti – abhinivesaparāmāso. Ahanti – mānavinibandhā diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ aṭṭhārasamī ‘‘aha’’nti – mānavinibandhā diṭṭhi. Mānavinibandhā diṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. ‘‘Aha’’nti – mānavinibandhāya diṭṭhiyā imehi aṭṭhārasahi ākārehi abhiniveso hoti.
‘The ear is I’…pe… ‘The nose is I’…pe… ‘The tongue is I’…pe… ‘The body is I’…pe… ‘The mind is I’…pe… ‘Forms are I’…pe… ‘Mental objects are I’… ‘Eye-consciousness is I’…pe… ‘Mind-consciousness is I’—this is adherence and misapprehension. This is the view bound by the conceit ‘I am’. The view is not the object; the object is not the view. The view is one thing; the object is another. Whatever is the view and whatever is the object—this is the eighteenth view bound by the conceit ‘I am’. The view bound by conceit is wrong view…pe… These are fetters, but not views. With respect to the view bound by the conceit ‘I am’, adherence occurs in these eighteen ways.
'Tai là tôi' ... 'Mũi là tôi' ... 'Lưỡi là tôi' ... 'Thân là tôi' ... 'Ý là tôi' ... 'Các sắc là tôi' ... 'Các pháp là tôi' ... 'Nhãn thức là tôi' ... 'Ý thức là tôi' – sự chấp thủ và bám víu. 'Tôi là' – tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn. Tà kiến không phải là vật, vật không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, vật là khác. Tà kiến nào và vật nào – đây là tà kiến thứ mười tám bị trói buộc bởi ngã mạn 'tôi là'. Tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn là tà kiến ... Đây là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. 'Tôi là' – sự chấp thủ vào tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn xảy ra theo mười tám cách này.
145. ‘‘Mama’’nti – mānavinibandhāya diṭṭhiyā katamehi aṭṭhārasahi ākārehi abhiniveso hoti? Cakkhu mamanti – abhinivesaparāmāso. Mamanti – mānavinibandhā diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā ‘‘mama’’nti – mānavinibandhā diṭṭhi. Mānavinibandhā diṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo.
145. With respect to the view bound by the conceit ‘mine’, in which eighteen ways does adherence occur? ‘The eye is mine’—this is adherence and misapprehension. This is the view bound by the conceit ‘mine’. The view is not the object; the object is not the view. The view is one thing; the object is another. Whatever is the view and whatever is the object—this is the first view bound by the conceit ‘mine’. The view bound by conceit is wrong view…pe… These are fetters, but not views.
145. 'Của tôi' – sự chấp thủ vào tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn xảy ra theo mười tám cách nào? 'Mắt là của tôi' – sự chấp thủ và bám víu. 'Của tôi' – tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn. Tà kiến không phải là vật, vật không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, vật là khác. Tà kiến nào và vật nào – đây là tà kiến thứ nhất bị trói buộc bởi ngã mạn 'của tôi'. Tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn là tà kiến ... Đây là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến.
Sotaṃ mamanti…pe… ghānaṃ mamanti…pe… jivhā mamanti…pe… kāyo mamanti…pe… mano mamanti…pe… rūpā mamanti…pe… dhammā mamanti…pe… cakkhuviññāṇaṃ mamanti…pe… manoviññāṇaṃ mamanti abhinivesaparāmāso. Mamanti mānavinibandhā diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ aṭṭhārasamī ‘‘mama’’nti – mānavinibandhā diṭṭhi. Mānavinibandhā diṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. ‘‘Mama’’nti – mānavinibandhāya diṭṭhiyā imehi aṭṭhārasahi ākārehi abhiniveso hoti.
‘The ear is mine’…pe… ‘the nose is mine’…pe… ‘the tongue is mine’…pe… ‘the body is mine’…pe… ‘the mind is mine’…pe… ‘forms are mine’…pe… ‘mental objects are mine’…pe… ‘eye-consciousness is mine’…pe… ‘mind-consciousness is mine’—this is adherence and misapprehension. This is the view bound by the conceit ‘mine’. The view is not the object; the object is not the view. The view is one thing; the object is another. Whatever is the view and whatever is the object—this is the eighteenth view bound by the conceit ‘mine’. The view bound by conceit is wrong view…pe… These are fetters, but not views. With respect to the view bound by the conceit ‘mine’, adherence occurs in these eighteen ways.
“Tai là của ta”... (vân vân)... “mũi là của ta”... (vân vân)... “lưỡi là của ta”... (vân vân)... “thân là của ta”... (vân vân)... “ý là của ta”... (vân vân)... “các sắc là của ta”... (vân vân)... “các pháp là của ta”... (vân vân)... “nhãn thức là của ta”... (vân vân)... “ý thức là của ta”, sự chấp thủ và xem xét (như vậy) là tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn ‘của ta’. Tà kiến không phải là vật, vật không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, vật là khác. Tà kiến nào và vật nào – đây là tà kiến thứ mười tám bị trói buộc bởi ngã mạn ‘của ta’. Tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn là tà kiến... (vân vân)... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. Sự chấp thủ đối với tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn ‘của ta’ xảy ra qua mười tám phương diện này.
Saññojanikādidiṭṭhiniddeso dvādasamo.
The twelfth exposition of views beginning with those that are fettering.
Phần giải về các tà kiến liên quan đến kiết sử, v.v..., chương thứ mười hai.
13. Attavādapaṭisaṃyuttadiṭṭhiniddeso
13. Exposition of Views Connected with the Doctrine of Self
13. Phần giải về tà kiến tương ưng với ngã luận
146. Attavādapaṭisaṃyuttāya diṭṭhiyā katamehi vīsatiyā ākārehi abhiniveso hoti? Idha assutavā puthujjano ariyānaṃ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto sappurisānaṃ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto rūpaṃ attato samanupassati rūpavantaṃ vā attānaṃ attani vā rūpaṃ rūpasmiṃ vā attānaṃ…pe… vedanaṃ… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ attato samanupassati viññāṇavantaṃ vā attānaṃ attani vā viññāṇaṃ viññāṇasmiṃ vā attānaṃ…pe….
146. In what twenty ways does dogmatic clinging occur with regard to the view connected with the assertion of self? Here, an uninstructed ordinary person—who has not seen the noble ones, is unskilled in the Noble Dhamma, and is untrained in the Noble Dhamma; who has not seen true individuals, is unskilled in the Dhamma of true individuals, and is untrained in the Dhamma of true individuals—regards form as self, or self as possessing form, or form in self, or self in form… (and so on for) feeling… perception… formations… consciousness as self, or self as possessing consciousness, or consciousness in self, or self in consciousness…
146. Sự chấp thủ đối với tà kiến tương ưng với ngã luận xảy ra qua hai mươi phương diện nào? Ở đây, kẻ phàm phu ít nghe, không thấy các bậc Thánh, không thuần thục trong pháp của bậc Thánh, không được huấn luyện trong pháp của bậc Thánh, không thấy các bậc chân nhân, không thuần thục trong pháp của bậc chân nhân, không được huấn luyện trong pháp của bậc chân nhân, thường quán xét sắc là tự ngã, hoặc tự ngã có sắc, hoặc sắc ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong sắc... (vân vân)... cảm thọ... tưởng... các hành... thường quán xét thức là tự ngã, hoặc tự ngã có thức, hoặc thức ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong thức... (vân vân)...
Kathaṃ rūpaṃ attato samanupassati? Idhekacco pathavīkasiṇaṃ…pe… odātakasiṇaṃ attato samanupassati. ‘‘Yaṃ odātakasiṇaṃ, so ahaṃ; yo ahaṃ, taṃ odātakasiṇa’’nti – odātakasiṇañca attañca advayaṃ samanupassati. Seyyathāpi telappadīpassa jhāyato ‘‘yā acci, so vaṇṇo; yo vaṇṇo, sā accī’’ti – acciñca vaṇṇañca advayaṃ samanupassati. Evamevaṃ idhekacco odātakasiṇaṃ attato samanupassati…pe… ayaṃ paṭhamā rūpavatthukā attavādapaṭisaṃyuttā diṭṭhi. Attavādapaṭisaṃyuttā diṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Evaṃ rūpaṃ attato samanupassati…pe… attavādapaṭisaṃyuttāya diṭṭhiyā imehi vīsatiyā ākārehi abhiniveso hoti.
How does one regard form as self? Here, someone regards the earth kasina… the white kasina as self. ‘What the white kasina is, that is I; what I am, that is the white kasina’—thus, one regards the white kasina and self as non-dual. Just as with the flame of an oil lamp that is burning, one regards the flame and the color as non-dual: ‘The flame is the color; the color is the flame.’ In the same way, someone regards the white kasina as self… This is the first view, based on form, connected with the assertion of self. The view connected with the assertion of self is wrong view… These are fetters, but not views. Thus, one regards form as self… In these twenty ways, dogmatic clinging occurs with regard to a view connected with the assertion of self.
Làm thế nào người ấy thường quán xét sắc là tự ngã? Ở đây, một người nào đó thường quán xét biến xứ đất... (vân vân)... biến xứ trắng là tự ngã. “Biến xứ trắng nào, đó là ta; ta nào, đó là biến xứ trắng” – người ấy thường quán xét biến xứ trắng và tự ngã là không hai. Ví như đối với ngọn đèn dầu đang cháy, người ta thường quán xét “ngọn lửa nào, đó là màu sắc; màu sắc nào, đó là ngọn lửa” – ngọn lửa và màu sắc là không hai. Cũng vậy, ở đây, một người nào đó thường quán xét biến xứ trắng là tự ngã... (vân vân)... Đây là tà kiến đầu tiên có sắc làm đối tượng, tương ưng với ngã luận. Tà kiến tương ưng với ngã luận là tà kiến... (vân vân)... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. Như vậy, người ấy thường quán xét sắc là tự ngã... (vân vân)... Sự chấp thủ đối với tà kiến tương ưng với ngã luận xảy ra qua hai mươi phương diện này.
Attavādapaṭisaṃyuttadiṭṭhiniddeso terasamo.
The thirteenth exposition of the view connected with the assertion of self.
Phần giải về tà kiến tương ưng với ngã luận, chương thứ mười ba.
14. Lokavādapaṭisaṃyuttadiṭṭhiniddeso
14. Exposition of the View Connected with the Assertion of the World
14. Phần giải về tà kiến tương ưng với thế gian luận
147. Lokavādapaṭisaṃyuttāya diṭṭhiyā katamehi aṭṭhahi ākārehi abhiniveso hoti? Sassato attā ca loko cāti – abhinivesaparāmāso lokavādapaṭisaṃyuttā diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā, diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ paṭhamā lokavādapaṭisaṃyuttā diṭṭhi. Lokavādapaṭisaṃyuttā diṭṭhi micchādiṭṭhi…pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo.
147. In what eight ways does adherence arise with regard to a view connected with worldly talk? ‘The self and the world are eternal’—this adherence and grasping is a view connected with worldly talk. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. That which is the view and that which is the basis—this is the first view connected with worldly talk. A view connected with worldly talk is wrong view… these are fetters, and not views.
147. Sự chấp thủ đối với tà kiến tương ưng với thế gian luận xảy ra qua tám phương diện nào? “Tự ngã và thế gian là thường hằng” – sự chấp thủ và xem xét (như vậy) là tà kiến tương ưng với thế gian luận. Tà kiến không phải là vật, vật không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, vật là khác. Tà kiến nào và vật nào – đây là tà kiến đầu tiên tương ưng với thế gian luận. Tà kiến tương ưng với thế gian luận là tà kiến... (vân vân)... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến.
Asassato attā ca loko cāti…pe… sassato ca asassato ca attā ca loko cāti…pe… neva sassato nāsassato attā ca loko cāti… antavā attā ca loko cāti… anantavā attā ca loko cāti… antavā ca anantavā ca attā ca loko cāti… neva antavā na anantavā attā ca loko cāti abhinivesaparāmāso lokavādapaṭisaṃyuttā diṭṭhi. Diṭṭhi na vatthu, vatthu na diṭṭhi. Aññā diṭṭhi, aññaṃ vatthu. Yā ca diṭṭhi yañca vatthu – ayaṃ aṭṭhamī lokavādapaṭisaṃyuttā diṭṭhi. Lokavādapaṭisaṃyuttā diṭṭhi micchādiṭṭhi …pe… imāni saññojanāni, na ca diṭṭhiyo. Lokavādapaṭisaṃyuttāya diṭṭhiyā imehi aṭṭhahi ākārehi abhiniveso hoti.
‘The self and the world are not eternal’… ‘The self and the world are both eternal and not eternal’… ‘The self and the world are neither eternal nor not eternal’… ‘The self and the world are finite’… ‘The self and the world are infinite’… ‘The self and the world are both finite and infinite’… ‘The self and the world are neither finite nor infinite’—this adherence and grasping is a view connected with worldly talk. The view is not the basis; the basis is not the view. The view is one thing; the basis is another. That which is the view and that which is the basis—this is the eighth view connected with worldly talk. A view connected with worldly talk is wrong view… these are fetters, and not views. In these eight ways, adherence arises with regard to a view connected with worldly talk.
“Tự ngã và thế gian là vô thường”... (vân vân)... “tự ngã và thế gian vừa thường hằng vừa vô thường”... (vân vân)... “tự ngã và thế gian không thường hằng cũng không vô thường”... “tự ngã và thế gian là hữu biên”... “tự ngã và thế gian là vô biên”... “tự ngã và thế gian vừa hữu biên vừa vô biên”... “tự ngã và thế gian không hữu biên cũng không vô biên”, sự chấp thủ và xem xét (như vậy) là tà kiến tương ưng với thế gian luận. Tà kiến không phải là vật, vật không phải là tà kiến. Tà kiến là khác, vật là khác. Tà kiến nào và vật nào – đây là tà kiến thứ tám tương ưng với thế gian luận. Tà kiến tương ưng với thế gian luận là tà kiến... (vân vân)... những điều này là các kiết sử, chứ không phải là các tà kiến. Sự chấp thủ đối với tà kiến tương ưng với thế gian luận xảy ra qua tám phương diện này.
Lokavādapaṭisaṃyuttadiṭṭhiniddeso cuddasamo.
The fourteenth is the Exposition of Views Connected with Worldly Talk.
Phần giải về tà kiến tương ưng với thế gian luận, chương thứ mười bốn.
15-16. Bhava-vibhavadiṭṭhiniddeso
15-16. Exposition of the Views of Existence and Non-existence
15-16. Phần giải về thường kiến và đoạn kiến
148. Olīyanābhiniveso bhavadiṭṭhi. Atidhāvanābhiniveso vibhavadiṭṭhi. Assādadiṭṭhiyā pañcatiṃsāya ākārehi abhiniveso kati bhavadiṭṭhiyo, kati vibhavadiṭṭhiyo? Attānudiṭṭhiyā vīsatiyā ākārehi abhiniveso kati bhavadiṭṭhiyo kati vibhavadiṭṭhiyo…pe… lokavādapaṭisaṃyuttāya diṭṭhiyā aṭṭhahi ākārehi abhiniveso kati bhavadiṭṭhiyo kati vibhavadiṭṭhiyo?
148. Adherence by way of shrinking back is the view of existence. Adherence by way of overshooting is the view of non-existence. With regard to adherence in thirty-five ways to the view of gratification, how many are views of existence, and how many are views of non-existence? With regard to adherence in twenty ways to the view of self, how many are views of existence, and how many are views of non-existence?… With regard to adherence in eight ways to a view connected with worldly talk, how many are views of existence, and how many are views of non-existence?
148. Sự chấp thủ co rút là thường kiến. Sự chấp thủ vượt quá là đoạn kiến. Sự chấp thủ đối với vị kiến qua ba mươi lăm phương diện, có bao nhiêu là thường kiến, bao nhiêu là đoạn kiến? Sự chấp thủ đối với ngã tùy kiến qua hai mươi phương diện, có bao nhiêu là thường kiến, bao nhiêu là đoạn kiến?... (vân vân)... Sự chấp thủ đối với tà kiến tương ưng với thế gian luận qua tám phương diện, có bao nhiêu là thường kiến, bao nhiêu là đoạn kiến?
Assādadiṭṭhiyā pañcatiṃsāya ākārehi abhiniveso siyā bhavadiṭṭhiyo, siyā vibhavadiṭṭhiyo. Attānudiṭṭhiyā vīsatiyā ākārehi abhiniveso pannarasa bhavadiṭṭhiyo, pañca vibhavadiṭṭhiyo. Micchādiṭṭhiyā dasahi ākārehi abhiniveso sabbāva tā vibhavadiṭṭhiyo. Sakkāyadiṭṭhiyā vīsatiyā ākārehi abhiniveso pannarasa bhavadiṭṭhiyo, pañca vibhavadiṭṭhiyo. Sakkāyavatthukāya sassatadiṭṭhiyā pannarasahi ākārehi abhiniveso sabbāva tā bhavadiṭṭhiyo. Sakkāyavatthukāya ucchedadiṭṭhiyā pañcahākārehi abhiniveso sabbāva tā vibhavadiṭṭhiyo.
Adherence to the view of gratification is in thirty-five ways; some are views of existence, and some are views of non-existence. Adherence to the view of self is in twenty ways; fifteen are views of existence, and five are views of non-existence. Adherence to wrong view is in ten ways; all of them are views of non-existence. Adherence to identity view is in twenty ways; fifteen are views of existence, and five are views of non-existence. Adherence to the eternalist view based on identity is in fifteen ways; all of them are views of existence. Adherence to the annihilationist view based on identity is in five ways; all of them are views of non-existence.
Sự chấp thủ đối với vị kiến qua ba mươi lăm phương diện, có thể là các thường kiến, có thể là các đoạn kiến. Sự chấp thủ đối với ngã tùy kiến qua hai mươi phương diện, có mười lăm là thường kiến, năm là đoạn kiến. Sự chấp thủ đối với tà kiến qua mười phương diện, tất cả chúng đều là đoạn kiến. Sự chấp thủ đối với thân kiến qua hai mươi phương diện, có mười lăm là thường kiến, năm là đoạn kiến. Sự chấp thủ đối với thường kiến có thân kiến làm đối tượng qua mười lăm phương diện, tất cả chúng đều là thường kiến. Sự chấp thủ đối với đoạn kiến có thân kiến làm đối tượng qua năm phương diện, tất cả chúng đều là đoạn kiến.
‘‘Sassato loko’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā pañcahākārehi abhiniveso sabbāva tā bhavadiṭṭhiyo. ‘‘Asassato loko’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā pañcahākārehi abhiniveso sabbāva tā vibhavadiṭṭhiyo. ‘‘Antavā loko’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā pañcahākārehi abhiniveso siyā bhavadiṭṭhiyo, siyā vibhavadiṭṭhiyo. ‘‘Anantavā loko’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā pañcahākārehi abhiniveso siyā bhavadiṭṭhiyo, siyā vibhavadiṭṭhiyo. ‘‘Taṃ jīvaṃ taṃ sarīra’’nti – antaggāhikāya diṭṭhiyā pañcahākārehi abhiniveso sabbāva tā vibhavadiṭṭhiyo. ‘‘Aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīra’’nti – antaggāhikāya diṭṭhiyā pañcahākārehi abhiniveso sabbāva tā bhavadiṭṭhiyo. ‘‘Hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā pañcahākārehi abhiniveso sabbāva tā bhavadiṭṭhiyo. ‘‘Na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā pañcahākārehi abhiniveso sabbāva tā vibhavadiṭṭhiyo. ‘‘Hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā pañcahākārehi abhiniveso siyā bhavadiṭṭhiyo, siyā vibhavadiṭṭhiyo ‘‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti – antaggāhikāya diṭṭhiyā pañcahākārehi abhiniveso siyā bhavadiṭṭhiyo, siyā vibhavadiṭṭhiyo.
‘The world is eternal’—adherence in five ways to the view of grasping at extremes; all of them are views of existence. ‘The world is not eternal’—adherence in five ways to the view of grasping at extremes; all of them are views of non-existence. ‘The world is finite’—adherence in five ways to the view of grasping at extremes; some are views of existence, some are views of non-existence. ‘The world is infinite’—adherence in five ways to the view of grasping at extremes; some are views of existence, some are views of non-existence. ‘The life-principle and the body are the same’—adherence in five ways to the view of grasping at extremes; all of them are views of non-existence. ‘The life-principle is one thing, the body another’—adherence in five ways to the view of grasping at extremes; all of them are views of existence. ‘The Tathāgata exists after death’—adherence in five ways to the view of grasping at extremes; all of them are views of existence. ‘The Tathāgata does not exist after death’—adherence in five ways to the view of grasping at extremes; all of them are views of non-existence. ‘The Tathāgata both exists and does not exist after death’—adherence in five ways to the view of grasping at extremes; some are views of existence, some are views of non-existence. ‘The Tathāgata neither exists nor does not exist after death’—adherence in five ways to the view of grasping at extremes; some are views of existence, some are views of non-existence.
Sự chấp thủ theo năm cách thức đối với tà kiến chấp một bên rằng: 'Thế giới là thường hằng' -- tất cả đều là hữu kiến. Sự chấp thủ theo năm cách thức đối với tà kiến chấp một bên rằng: 'Thế giới là không thường hằng' -- tất cả đều là vô hữu kiến. Sự chấp thủ theo năm cách thức đối với tà kiến chấp một bên rằng: 'Thế giới là có cùng tận' -- có khi là hữu kiến, có khi là vô hữu kiến. Sự chấp thủ theo năm cách thức đối với tà kiến chấp một bên rằng: 'Thế giới là không có cùng tận' -- có khi là hữu kiến, có khi là vô hữu kiến. Sự chấp thủ theo năm cách thức đối với tà kiến chấp một bên rằng: 'Sinh mạng ấy là thân thể ấy' -- tất cả đều là vô hữu kiến. Sự chấp thủ theo năm cách thức đối với tà kiến chấp một bên rằng: 'Sinh mạng là khác, thân thể là khác' -- tất cả đều là hữu kiến. Sự chấp thủ theo năm cách thức đối với tà kiến chấp một bên rằng: 'Như Lai có tồn tại sau khi chết' -- tất cả đều là hữu kiến. Sự chấp thủ theo năm cách thức đối với tà kiến chấp một bên rằng: 'Như Lai không tồn tại sau khi chết' -- tất cả đều là vô hữu kiến. Sự chấp thủ theo năm cách thức đối với tà kiến chấp một bên rằng: 'Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết' -- có khi là hữu kiến, có khi là vô hữu kiến. Sự chấp thủ theo năm cách thức đối với tà kiến chấp một bên rằng: 'Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết' -- có khi là hữu kiến, có khi là vô hữu kiến.
Pubbantānudiṭṭhiyā aṭṭhārasahi ākārehi abhiniveso siyā bhavadiṭṭhiyo, siyā vibhavadiṭṭhiyo. Aparantānudiṭṭhiyā catucattārīsāya ākārehi abhiniveso siyā bhavadiṭṭhiyo, siyā vibhavadiṭṭhiyo. Saññojanikāya diṭṭhiyā aṭṭhārasahi ākārehi abhiniveso siyā bhavadiṭṭhiyo, siyā vibhavadiṭṭhiyo. Ahanti – mānavinibandhāya diṭṭhiyā aṭṭhārasahi ākārehi abhiniveso sabbāva tā vibhavadiṭṭhiyo. Mamanti – mānavinibandhāya diṭṭhiyā aṭṭhārasahi ākārehi abhiniveso sabbāva tā bhavadiṭṭhiyo. Attavādapaṭisaṃyuttāya diṭṭhiyā vīsatiyā ākārehi abhiniveso pannarasa bhavadiṭṭhiyo, pañca vibhavadiṭṭhiyo. Lokavādapaṭisaṃyuttāya diṭṭhiyā aṭṭhahi ākārehi abhiniveso siyā bhavadiṭṭhiyo, siyā vibhavadiṭṭhiyo.
As to adherence in eighteen ways to views about the past, some are views of existence, and some are views of non-existence. As to adherence in forty-four ways to views about the future, some are views of existence, and some are views of non-existence. As to adherence in eighteen ways to views that are fetters, some are views of existence, and some are views of non-existence. As to adherence in eighteen ways to the view bound by the conceit 'I am', all of them are views of non-existence. As to adherence in eighteen ways to the view bound by the conceit 'Mine', all of them are views of existence. As to adherence in twenty ways to views connected with the doctrine of self, fifteen are views of existence, and five are views of non-existence. As to adherence in eight ways to views connected with the doctrine of the world, some are views of existence, and some are views of non-existence.
Sự chấp thủ theo mười tám cách thức đối với tà kiến theo quá khứ, có khi là hữu kiến, có khi là vô hữu kiến. Sự chấp thủ theo bốn mươi bốn cách thức đối với tà kiến theo vị lai, có khi là hữu kiến, có khi là vô hữu kiến. Sự chấp thủ theo mười tám cách thức đối với tà kiến thuộc về kiết sử, có khi là hữu kiến, có khi là vô hữu kiến. Sự chấp thủ theo mười tám cách thức đối với tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn 'ta là' -- tất cả đều là vô hữu kiến. Sự chấp thủ theo mười tám cách thức đối với tà kiến bị trói buộc bởi ngã mạn 'của ta là' -- tất cả đều là hữu kiến. Sự chấp thủ theo hai mươi cách thức đối với tà kiến tương ưng với ngã luận, mười lăm là hữu kiến, năm là vô hữu kiến. Sự chấp thủ theo tám cách thức đối với tà kiến tương ưng với thế gian luận, có khi là hữu kiến, có khi là vô hữu kiến.
Sabbāva tā diṭṭhiyo assādadiṭṭhiyo. Sabbāva tā diṭṭhiyo attānudiṭṭhiyo. Sabbāva tā diṭṭhiyo micchādiṭṭhiyo. Sabbāva tā diṭṭhiyo sakkāyadiṭṭhiyo. Sabbāva tā diṭṭhiyo antaggāhikā diṭṭhiyo. Sabbāva tā diṭṭhiyo saññojanikā diṭṭhiyo. Sabbāva tā diṭṭhiyo attavādapaṭisaṃyuttā diṭṭhiyo.
All those views are views of gratification. All those views are views following the self. All those views are wrong views. All those views are identity views. All those views are views that grasp at an extreme. All those views are views that are fetters. All those views are views connected with the doctrine of self.
Tất cả các tà kiến ấy là vị kiến. Tất cả các tà kiến ấy là ngã kiến. Tất cả các tà kiến ấy là tà kiến. Tất cả các tà kiến ấy là thân kiến. Tất cả các tà kiến ấy là biên kiến. Tất cả các tà kiến ấy là kiết sử kiến. Tất cả các tà kiến ấy là tà kiến tương ưng với ngã luận.
Bhavañca diṭṭhiṃ vibhavañca diṭṭhiṃ, etaṃ dvayaṃ takkikā nissitāse;
Tesaṃ nirodhamhi na hatthi ñāṇaṃ, yatthāyaṃ loko viparītasaññīti.
Speculators resort to these two: the view of existence and the view of non-existence. They have no knowledge of that cessation wherein this world is of perverted perception.
Các nhà lý luận nương tựa vào cả hai điều này, là hữu kiến và vô hữu kiến; đối với họ, không có trí tuệ về sự đoạn diệt, nơi mà thế gian này có tưởng điên đảo.
149. ‘‘Dvīhi, bhikkhave, diṭṭhigatehi pariyuṭṭhitā devamanussā olīyanti † eke, atidhāvanti eke; cakkhumanto ca passanti. Kathañca, bhikkhave, olīyanti eke? Bhavārāmā, bhikkhave, devamanussā bhavaratā bhavasammuditā. Tesaṃ bhavanirodhāya dhamme desiyamāne cittaṃ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati. Evaṃ kho, bhikkhave, olīyanti eke.
149. “Monks, being beset by two views, some devas and humans shrink back, and some overshoot; but those with vision see. And how, monks, do some shrink back? Monks, devas and humans delight in existence, are fond of existence, and rejoice in existence. When the Dhamma is taught for the cessation of existence, their minds do not leap forward, do not become confident, do not settle down, or become resolute. Thus, monks, do some shrink back.
149. Này các Tỳ khưu, bị ám ảnh bởi hai loại tà kiến, một số chư thiên và nhân loại bị thụt lùi, một số vượt quá; và những người có mắt thì thấy. Và này các Tỳ khưu, thế nào là một số bị thụt lùi? Này các Tỳ khưu, chư thiên và nhân loại vui thích trong sự tồn tại, ham muốn sự tồn tại, hoan hỷ trong sự tồn tại. Khi Pháp về sự đoạn diệt của sự tồn tại được thuyết giảng cho họ, tâm của họ không hướng vào, không tịnh tín, không an trú, không quyết đoán. Này các Tỳ khưu, như vậy là một số bị thụt lùi.
‘‘Kathañca, bhikkhave, atidhāvanti eke? Bhaveneva kho paneke aṭṭīyamānā † harāyamānā jigucchamānā vibhavaṃ abhinandanti – ‘‘yato kira, bho, ayaṃ attā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā ucchijjati vinassati na hoti paraṃ maraṇā, etaṃ santaṃ etaṃ paṇītaṃ etaṃ yāthāvanti. Evaṃ kho, bhikkhave, atidhāvanti eke.
“And how, Bhikkhus, do some overshoot? Some, being afflicted, ashamed, and disgusted by existence itself, delight in non-existence, [thinking]: ‘Sirs, since this self, with the breaking up of the body, after death, is annihilated, perishes, and does not exist after death—this is peaceful, this is excellent, this is the truth.’ In this way, Bhikkhus, some overshoot.”
Và này các Tỳ khưu, thế nào là một số vượt quá? Lại nữa, một số người, bị phiền não, xấu hổ, ghê tởm bởi chính sự tồn tại, nên hoan hỷ trong sự không tồn tại (vô hữu) rằng: 'Thưa ngài, vì rằng tự ngã này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị đoạn diệt, bị hủy diệt, không tồn tại sau khi chết, điều này là tịch tịnh, điều này là cao thượng, điều này là chân thật.' Này các Tỳ khưu, như vậy là một số vượt quá.
‘‘Kathañca, bhikkhave, cakkhumanto ca passanti? Idha, bhikkhave, bhikkhu bhūtaṃ bhūtato passati. Bhūtaṃ bhūtato disvā bhūtassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti. Evaṃ kho, bhikkhave, cakkhumanto ca passanti.
“And how, Bhikkhus, do those with the eye [of wisdom] see? Here, Bhikkhus, a bhikkhu sees what has come to be as it has come to be. Having seen what has come to be as it has come to be, he is practicing for disenchantment with what has come to be, for dispassion towards it, for its cessation. In this way, Bhikkhus, do those with the eye [of wisdom] see.”
Và này các Tỳ khưu, thế nào là những người có mắt thì thấy? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu thấy cái đã sinh khởi đúng như nó đã sinh khởi. Sau khi thấy cái đã sinh khởi đúng như nó đã sinh khởi, vị ấy thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt cái đã sinh khởi. Này các Tỳ khưu, như vậy là những người có mắt thì thấy.
‘‘Yo † bhūtaṃ bhūtato disvā, bhūtassa ca atikkamaṃ;
Yathābhūtedhimuccati, bhavataṇhā parikkhayā.
“One who, having seen what has come to be as it has come to be, and the transcending of what has come to be, is liberated in the state of what truly is, through the destruction of craving for existence.”
Vị nào thấy cái đã sinh khởi đúng như nó đã sinh khởi, và sự vượt qua cái đã sinh khởi; vị ấy được giải thoát trong thực tại như nó là, do sự đoạn tận của hữu ái.
‘‘Sa ve bhūtapariññāto, vītataṇho bhavābhave;
Bhūtassa vibhavā bhikkhu, nāgacchati punabbhava’’nti.
“That bhikkhu, indeed, having fully understood what has come to be, is without craving for any state of existence. Through the cessation of what has come to be, he does not come to renewed existence.”
Vị Tỳ khưu ấy, người đã liễu tri cái đã sinh khởi, không còn ái trong các cõi tồn tại; do sự không tồn tại của cái đã sinh khởi, vị ấy không đi đến tái sanh nữa.
150. Tayo puggalā vipannadiṭṭhī, tayo puggalā sampannadiṭṭhī. Katame tayo puggalā vipannadiṭṭhī? Titthiyo ca, titthiyasāvako ca, yo ca micchādiṭṭhiko – ime tayo puggalā vipannadiṭṭhī.
150. There are three persons of corrupt view, and three persons of accomplished view. Who are the three persons of corrupt view? A sectarian, a disciple of a sectarian, and one who holds wrong view—these are the three persons of corrupt view.
150. Có ba hạng người có tà kiến, ba hạng người có chánh kiến. Ba hạng người có tà kiến là những ai? Là người ngoại đạo, đệ tử của người ngoại đạo, và người có tà kiến – đây là ba hạng người có tà kiến.
Katame tayo puggalā sampannadiṭṭhī? Tathāgato ca, tathāgatasāvako ca, yo ca sammādiṭṭhiko – ime tayo puggalā sampannadiṭṭhī.
Who are the three persons of accomplished view? The Tathāgata, a disciple of the Tathāgata, and one who holds right view—these are the three persons of accomplished view.
Ba hạng người có chánh kiến là những ai? Là Như Lai, đệ tử của Như Lai, và người có chánh kiến – đây là ba hạng người có chánh kiến.
‘‘Kodhano upanāhī ca, pāpamakkhī ca yo naro;
Vipannadiṭṭhi māyāvī, taṃ jaññā vasalo iti’’ †.
“A person who is angry and resentful, ungracious and of corrupt view, and deceitful—one should know him as an outcast.”
Người nào hay phẫn nộ và phẫn hận, là kẻ xấu xa và hay che giấu lỗi; có tà kiến, xảo trá, nên biết người ấy là kẻ hạ tiện.
Akkodhano anupanāhī, visuddho † suddhataṃ gato;
Sampannadiṭṭhi medhāvī, taṃ jaññā ariyo itīti.
“Not angry and not resentful, pure, having attained purity, of accomplished view and wise—one should know him as a noble one.”
Người không phẫn nộ, không phẫn hận, thanh tịnh, đã đạt đến sự thanh tịnh; có chánh kiến, có trí tuệ, nên biết người ấy là bậc Thánh.
Tisso vipannadiṭṭhiyo, tisso sampannadiṭṭhiyo. Katamā tisso vipannadiṭṭhiyo? Etaṃ mamāti – vipannadiṭṭhi. Esohamasmīti – vipannadiṭṭhi. Eso me attāti – vipannadiṭṭhi. Imā tisso vipannadiṭṭhiyo.
There are three corrupt views and three accomplished views. What are the three corrupt views? ‘This is mine’—this is a corrupt view. ‘This I am’—this is a corrupt view. ‘This is my self’—this is a corrupt view. These are the three corrupt views.
Có ba tà kiến, ba chánh kiến. Ba tà kiến là những gì? 'Cái này là của tôi' – là tà kiến. 'Đây là tôi' – là tà kiến. 'Đây là tự ngã của tôi' – là tà kiến. Đây là ba tà kiến.
Katamā tisso sampannadiṭṭhiyo? Netaṃ mamāti – sampannadiṭṭhi. Nesohamasmīti – sampannadiṭṭhi. Na meso attāti – sampannadiṭṭhi. Imā tisso sampannadiṭṭhiyo.
What are the three perfected views? 'This is not mine' is a perfected view. 'I am not this' is a perfected view. 'This is not my self' is a perfected view. These are the three perfected views.
Ba loại chánh kiến là gì? "Cái này không phải của tôi" – là chánh kiến. "Cái này không phải là tôi" – là chánh kiến. "Cái này không phải là tự ngã của tôi" – là chánh kiến. Đây là ba loại chánh kiến.
Etaṃ mamāti – kā diṭṭhi, kati diṭṭhiyo, katamantānuggahitā tā diṭṭhiyo? Esohamasmīti – kā diṭṭhi, kati diṭṭhiyo, katamantānuggahitā tā diṭṭhiyo? Eso me attāti – kā diṭṭhi, kati diṭṭhiyo, katamantānuggahitā tā diṭṭhiyo?
'This is mine'—what view is this, how many views are there, by what extreme are these views supported? 'I am this'—what view is this, how many views are there, by what extreme are these views supported? 'This is my self'—what view is this, how many views are there, by what extreme are these views supported?
"Cái này là của tôi" – là kiến nào, có bao nhiêu kiến, các kiến ấy được hỗ trợ bởi cực đoan nào? "Cái này là tôi" – là kiến nào, có bao nhiêu kiến, các kiến ấy được hỗ trợ bởi cực đoan nào? "Cái này là tự ngã của tôi" – là kiến nào, có bao nhiêu kiến, các kiến ấy được hỗ trợ bởi cực đoan nào?
Etaṃ mamāti – pubbantānudiṭṭhi. Aṭṭhārasa diṭṭhiyo. Pubbantānuggahitā tā diṭṭhiyo. Esohamasmīti – aparantānudiṭṭhi. Catucattārīsaṃ diṭṭhiyo. Aparantānuggahitā tā diṭṭhiyo. Eso me attāti – vīsativatthukā attānudiṭṭhi. Vīsativatthukā sakkāyadiṭṭhi. Sakkāyadiṭṭhippamukhāni † dvāsaṭṭhi diṭṭhigatāni. Pubbantāparantānuggahitā tā diṭṭhiyo.
'This is mine' is a view pertaining to the past. There are eighteen such views. Those views are supported by the past extreme. 'I am this' is a view pertaining to the future. There are forty-four such views. Those views are supported by the future extreme. 'This is my self' is the twenty-fold view of self. It is the twenty-fold personality view. These are the sixty-two speculative views which have the personality view as their chief. Those views are supported by the past and future extremes.
"Cái này là của tôi" – là kiến tùy thuộc quá khứ. Có mười tám loại kiến. Các kiến ấy được hỗ trợ bởi quá khứ. "Cái này là tôi" – là kiến tùy thuộc vị lai. Có bốn mươi bốn loại kiến. Các kiến ấy được hỗ trợ bởi vị lai. "Cái này là tự ngã của tôi" – là kiến tùy thuộc tự ngã có hai mươi đối tượng. Là thân kiến có hai mươi đối tượng. Là sáu mươi hai loại tà kiến với thân kiến làm đầu. Các kiến ấy được hỗ trợ bởi quá khứ và vị lai.
151. ‘‘Ye keci, bhikkhave, mayi niṭṭhaṃ gatā, sabbe te diṭṭhisampannā. Tesaṃ diṭṭhisampannānaṃ pañcannaṃ idha niṭṭhā, pañcannaṃ idha vihāya niṭṭhā. Katamesaṃ pañcannaṃ idha niṭṭhā? Sattakkhattuparamassa, kolaṃkolassa, ekabījissa, sakadāgāmissa, yo ca diṭṭheva dhamme arahā – imesaṃ pañcannaṃ idha niṭṭhā.
151. Bhikkhus, whoever has reached a final conclusion in me, all of them are perfected in view. Of those perfected in view, five attain the final end here, and five attain the final end after departing from here. Which five attain the final end here? The seven-times-at-most, the family-to-family, the one-seeder, the once-returner, and the one who is an Arahant in this very life—these five attain the final end here.
151. "Này các Tỳ khưu, những ai đã đạt đến sự xác quyết nơi ta, tất cả họ đều là người có chánh kiến. Trong số những người có chánh kiến ấy, năm hạng người đạt đến sự kết thúc ở đây, năm hạng người đạt đến sự kết thúc sau khi từ bỏ nơi đây. Năm hạng người nào đạt đến sự kết thúc ở đây? Bậc Thất lai, bậc Gia-gia, bậc Nhất chủng, bậc Nhất lai, và vị A-la-hán trong hiện tại – năm hạng người này đạt đến sự kết thúc ở đây.
‘‘Katamesaṃ pañcannaṃ idha vihāya niṭṭhā? Antarāparinibbāyissa, upahaccaparinibbāyissa, asaṅkhāraparinibbāyissa, sasaṅkhāraparinibbāyissa, uddhaṃsotassa, akaniṭṭhagāmino – imesaṃ pañcannaṃ idha vihāya niṭṭhā.
Which five attain the final end after departing from here? The one who attains parinibbāna in the interval, the one who attains parinibbāna upon landing, the one who attains parinibbāna without exertion, the one who attains parinibbāna with exertion, and the one who is bound upstream, going to the Akaniṭṭha realm—these five attain the final end after departing from here.
"Năm hạng người nào đạt đến sự kết thúc sau khi từ bỏ nơi đây? Bậc Trung gian Bát-niết-bàn, bậc Bán-thọ Bát-niết-bàn, bậc Vô hành Bát-niết-bàn, bậc Hữu hành Bát-niết-bàn, và bậc Thượng lưu đến cõi Sắc Cứu Cánh – năm hạng người này đạt đến sự kết thúc sau khi từ bỏ nơi đây.
‘‘Ye keci, bhikkhave, mayi niṭṭhaṃ gatā, sabbe te diṭṭhisampannā. Tesaṃ diṭṭhisampannānaṃ imesaṃ pañcannaṃ idha niṭṭhā, imesaṃ pañcannaṃ idha vihāya niṭṭhā.
Bhikkhus, whoever has reached a final conclusion in me, all of them are perfected in view. Of those perfected in view, for these five the final end is here, and for these five the final end is after departing from here.
"Này các Tỳ khưu, những ai đã đạt đến sự xác quyết nơi ta, tất cả họ đều là người có chánh kiến. Trong số những người có chánh kiến ấy, năm hạng người này đạt đến sự kết thúc ở đây, năm hạng người này đạt đến sự kết thúc sau khi từ bỏ nơi đây.
‘‘Ye keci, bhikkhave, mayi aveccappasannā, sabbe te sotāpannā. Tesaṃ sotāpannānaṃ pañcannaṃ idha niṭṭhā, pañcannaṃ idha vihāya niṭṭhā. Katamesaṃ pañcannaṃ idha niṭṭhā? Sattakkhattuparamassa, kolaṃkolassa, ekabījissa, sakadāgāmissa, yo ca diṭṭheva dhamme arahā – imesaṃ pañcannaṃ idha niṭṭhā.
Bhikkhus, whoever has unwavering faith in me, all of them are stream-enterers. Of those stream-enterers, for five the final attainment is here, and for five the final attainment is after having abandoned this realm. For which five is the final attainment here? For the one with a maximum of seven more existences, for the one who goes from clan to clan, for the one with a single seed, for the once-returner, and for the one who is an Arahant in this very life—for these five, the final attainment is here.
"Này các Tỳ khưu, những ai có niềm tin bất động nơi ta, tất cả họ đều là bậc Dự lưu. Trong số các bậc Dự lưu ấy, năm hạng người đạt đến sự kết thúc ở đây, năm hạng người đạt đến sự kết thúc sau khi từ bỏ nơi đây. Năm hạng người nào đạt đến sự kết thúc ở đây? Bậc Thất lai, bậc Gia-gia, bậc Nhất chủng, bậc Nhất lai, và vị A-la-hán trong hiện tại – năm hạng người này đạt đến sự kết thúc ở đây.
‘‘Katamesaṃ pañcannaṃ idha vihāya niṭṭhā? Antarāparinibbāyissa, upahaccaparinibbāyissa, asaṅkhāraparinibbāyissa, sasaṅkhāraparinibbāyissa, uddhaṃsotassa, akaniṭṭhagāmino – imesaṃ pañcannaṃ idha vihāya niṭṭhā.
For which five is the final attainment after having abandoned this realm? For the one who attains Parinibbāna in the interval, for the one who attains Parinibbāna upon landing, for the one who attains Parinibbāna without prompting, for the one who attains Parinibbāna with prompting, and for the upstream-goer, heading for the Akaniṭṭha realm—for these five, the final attainment is after having abandoned this realm.
"Năm hạng người nào đạt đến sự kết thúc sau khi từ bỏ nơi đây? Bậc Trung gian Bát-niết-bàn, bậc Bán-thọ Bát-niết-bàn, bậc Vô hành Bát-niết-bàn, bậc Hữu hành Bát-niết-bàn, và bậc Thượng lưu đến cõi Sắc Cứu Cánh – năm hạng người này đạt đến sự kết thúc sau khi từ bỏ nơi đây.
‘‘Ye keci, bhikkhave, mayi aveccappasannā, sabbe te sotāpannā. Tesaṃ sotāpannānaṃ imesaṃ pañcannaṃ idha niṭṭhā. Imesaṃ pañcannaṃ idha vihāya niṭṭhāti’’.
Bhikkhus, whoever has unwavering faith in me, all of them are stream-enterers. Of those stream-enterers, for these five the final attainment is here. For these five the final attainment is after having abandoned this realm.
"Này các Tỳ khưu, những ai có niềm tin bất động nơi ta, tất cả họ đều là bậc Dự lưu. Trong số các bậc Dự lưu ấy, năm hạng người này đạt đến sự kết thúc ở đây. Năm hạng người này đạt đến sự kết thúc sau khi từ bỏ nơi đây."
Bhavavibhavadiṭṭhiniddeso soḷasamo.
The sixteenth is the exposition of the views of being and non-being.
Phần giải về hữu kiến và phi hữu kiến, thứ mười sáu.
Diṭṭhikathā niṭṭhitā.
The Discourse on Views is concluded.
Luận về Kiến đã hoàn tất.