Bản dịch
PS 1.1 — Giảng về Trí
1.1. Ñāṇakathā
1. Trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe
(1)
Tuệ về sự ghi nhận ở tai là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe là (có ý nghĩa) thế nào?
Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này cần được biết rõ,’* tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.
Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này cần được biết toàn diện,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.
Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này cần được dứt bỏ,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.
Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này cần được tu tập,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.
Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này cần được tác chứng,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.
Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này đưa đến thoái hóa,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.
Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này đưa đến bền vững,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.
Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này đưa đến thù thắng,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.
Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này đưa đến thông suốt,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.
Sự nhận định ở tai là ‘Tất cả các hành là vô thường,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.
Sự nhận định ở tai là ‘Tất cả các hành là khổ não,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.
Sự nhận định ở tai là ‘Tất cả các pháp là vô ngã,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.
Sự nhận định ở tai là ‘Đây là chân lý cao thượng về Khổ,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.
Sự nhận định ở tai là ‘Đây là chân lý cao thượng về nhân sanh Khổ,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.
(2)
Sự nhận định ở tai là ‘Đây là chân lý cao thượng về sự diệt tận Khổ,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.
Sự nhận định ở tai là ‘Đây là chân lý cao thượng về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.
Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này cần được biết rõ,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe là (có ý nghĩa) thế nào?
Một pháp cần được biết rõ là: Tất cả chúng sanh được tồn tại nhờ vật thực.
Hai pháp cần được biết rõ là: Hai giới (hữu vi giới và vô vi giới ).
Ba pháp cần được biết rõ là: Ba giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới).
Bốn pháp cần được biết rõ là: Bốn Chân Lý cao thượng.
Năm pháp cần được biết rõ là: Năm yếu tố đưa đến giải thoát.*
Sáu pháp cần được biết rõ là: Sáu điều tối thượng.*
Bảy pháp cần được biết rõ là: Bảy sự việc không hạn chế.*
Tám pháp cần được biết rõ là: Tám thắng xứ (của thiền).
Chín pháp cần được biết rõ là: Chín an trú theo tuần tự.*
Mười pháp cần được biết rõ là: Mười sự việc làm thoái hóa.*
(3)
Này các tỳ khưu, tất cả cần được biết rõ. Và này các tỳ khưu, điều gì là tất cả cần được biết rõ?
Này các tỳ khưu, mắt cần được biết rõ, các sắc cần được biết rõ, nhãn thức cần được biết rõ, nhãn xúc cần được biết rõ, cảm thọ nào được sanh lên do duyên nhãn xúc dầu là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng cần được biết rõ.
Tai cần được biết rõ, các thinh cần được biết rõ, … (như trên) … Mũi cần được biết rõ, các khí cần được biết rõ. … (như trên) … Lưỡi cần được biết rõ, các vị cần được biết rõ. … (như trên) … Thân cần được biết rõ, các xúc cần được biết rõ. … (như trên) … Ý cần được biết rõ, các pháp cần được biết rõ, ý thức cần được biết rõ, ý xúc cần được biết rõ, cảm thọ nào được sanh lên do duyên ý xúc dầu là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng cần được biết rõ.
Sắc cần được biết rõ, thọ cần được biết rõ, tưởng cần được biết rõ, các hành cần được biết rõ, thức cần được biết rõ.
Mắt cần được biết rõ, tai cần được biết rõ, mũi cần được biết rõ, lưỡi cần được biết rõ, thân cần được biết rõ, ý cần được biết rõ.
Các sắc cần được biết rõ, các thinh cần được biết rõ, các khí cần được biết rõ, các vị cần được biết rõ, các xúc cần được biết rõ, các pháp cần được biết rõ.
Nhãn thức cần được biết rõ, nhĩ thức cần được biết rõ, tỷ thức cần được biết rõ, thiệt thức cần được biết rõ, thân thức cần được biết rõ, ý thức cần được biết rõ.
Nhãn xúc cần được biết rõ, nhĩ xúc cần được biết rõ, tỷ xúc cần được biết rõ, thiệt xúc cần được biết rõ, thân xúc cần được biết rõ, ý xúc cần được biết rõ.
Cảm thọ sanh lên do nhãn xúc cần được biết rõ, cảm thọ sanh lên do nhĩ xúc cần được biết rõ, cảm thọ sanh lên do tỷ xúc cần được biết rõ, cảm thọ sanh lên do thiệt xúc cần được biết rõ, cảm thọ sanh lên do thân xúc cần được biết rõ, cảm thọ sanh lên do ý xúc cần được biết rõ.
Sắc tưởng* cần được biết rõ, thinh tưởng cần được biết rõ, khí tưởng cần được biết rõ, vị tưởng cần được biết rõ, xúc tưởng cần được biết rõ, pháp tưởng cần được biết rõ.
Sắc tư* cần được biết rõ, thinh tư cần được biết rõ, khí tư cần được biết rõ, vị tư cần được biết rõ, xúc tư cần được biết rõ, pháp tư cần được biết rõ.
Sắc ái*cần được biết rõ, thinh ái cần được biết rõ, khí ái cần được biết rõ, vị ái cần được biết rõ, xúc ái cần được biết rõ, pháp ái cần được biết rõ.
Sắc tầm*cần được biết rõ, thinh tầm cần được biết rõ, khí tầm cần được biết rõ, vị tầm cần được biết rõ, xúc tầm cần được biết rõ, pháp tầm cần được biết rõ.
Sắc tứ* cần được biết rõ, thinh tứ cần được biết rõ, khí tứ cần được biết rõ, vị tứ cần được biết rõ, xúc tứ cần được biết rõ, pháp tứ cần được biết rõ.
Địa giới cần được biết rõ, thủy giới cần được biết rõ, hỏa giới cần được biết rõ, phong giới cần được biết rõ, hư không giới cần được biết rõ, thức giới cần được biết rõ.
Đề mục đất cần được biết rõ, đề mục nước cần được biết rõ, đề mục lửa cần được biết rõ, đề mục gió cần được biết rõ, đề mục xanh cần được biết rõ, đề mục vàng cần được biết rõ, đề mục đỏ cần được biết rõ, đề mục trắng cần được biết rõ, đề mục hư không cần được biết rõ, đề mục thức cần được biết rõ.
Tóc cần được biết rõ, lông cần được biết rõ, móng cần được biết rõ, răng cần được biết rõ, da cần được biết rõ, thịt cần được biết rõ, gân cần được biết rõ, xương cần được biết rõ, tủy xương cần được biết rõ, thận cần được biết rõ, tim cần được biết rõ, gan cần được biết rõ, cơ hoành cần được biết rõ, lá lách cần được biết rõ, phổi cần được biết rõ, ruột cần được biết rõ, màng ruột cần được biết rõ, thực phẩm chưa tiêu cần được biết rõ, phân cần được biết rõ, mật cần được biết rõ, đàm cần được biết rõ, mủ cần được biết rõ, máu cần được biết rõ, mồ hôi cần được biết rõ, mỡ cần được biết rõ, nước mắt cần được biết rõ, nước mỡ (huyết tương) cần được biết rõ, nước miếng cần được biết rõ, nước mũi cần được biết rõ, nước ở khớp xương cần được biết rõ, nước tiểu cần được biết rõ, não cần được biết rõ.
Nhãn xứ cần được biết rõ, sắc xứ cần được biết rõ, nhĩ xứ cần được biết rõ, thinh xứ cần được biết rõ, tỷ xứ cần được biết rõ, khí xứ cần được biết rõ, thiệt xứ cần được biết rõ, vị xứ cần được biết rõ, thân xứ cần được biết rõ, xúc xứ cần được biết rõ, ý xứ cần được biết rõ, pháp xứ cần được biết rõ.
Nhãn giới cần được biết rõ, sắc giới cần được biết rõ, nhãn thức giới cần được biết rõ, nhĩ giới …, thinh giới …, nhĩ thức giới …, tỷ giới …, khí giới …, tỷ thức giới …, thiệt giới …, vị giới …, thiệt thức giới …, thân giới cần được biết rõ, xúc giới cần được biết rõ, thân thức giới cần được biết rõ, ý giới cần được biết rõ, pháp giới cần được biết rõ, ý thức giới cần được biết rõ.
Nhãn quyền cần được biết rõ, nhĩ quyền cần được biết rõ, tỷ quyền cần được biết rõ, thiệt quyền cần được biết rõ, thân quyền cần được biết rõ, ý quyền cần được biết rõ, mạng quyền cần được biết rõ, nữ quyền cần được biết rõ, nam quyền cần được biết rõ, lạc quyền cần được biết rõ, khổ quyền cần được biết rõ, hỷ quyền cần được biết rõ, ưu quyền cần được biết rõ, xả quyền cần được biết rõ, tín quyền cần được biết rõ, tấn quyền cần được biết rõ, niệm quyền cần được biết rõ, định quyền cần được biết rõ, tuệ quyền cần được biết rõ, vị tri quyền* cần được biết rõ, dĩ tri quyền* cần được biết rõ, cụ tri quyền* cần được biết rõ.
Dục giới cần được biết rõ, sắc giới cần được biết rõ, vô sắc giới cần được biết rõ, dục hữu …, sắc hữu …, vô sắc hữu …, tưởng hữu …, phi tưởng hữu …, phi tưởng phi phi tưởng hữu …, nhất uẩn hữu cần được biết rõ, tứ uẩn hữu cần được biết rõ, ngũ uẩn hữu cần được biết rõ.
Sơ thiền cần được biết rõ, nhị thiền cần được biết rõ, tam thiền cần được biết rõ, tứ thiền cần được biết rõ. Từ tâm giải thoát cần được biết rõ, bi tâm giải thoát cần được biết rõ, hỷ tâm giải thoát cần được biết rõ, xả tâm giải thoát cần được biết rõ. Sự chứng đạt không vô biên xứ cần được biết rõ, sự chứng đạt thức vô biên xứ cần được biết rõ, sự chứng đạt vô sở hữu xứ cần được biết rõ, sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ cần được biết rõ.
Vô minh cần được biết rõ, các hành cần được biết rõ, thức cần được biết rõ, danh sắc cần được biết rõ, sáu xứ cần được biết rõ, xúc cần được biết rõ, thọ cần được biết rõ, ái cần được biết rõ, thủ cần được biết rõ, hữu cần được biết rõ, sanh cần được biết rõ, lão tử cần được biết rõ.
Khổ cần được biết rõ, nhân sanh Khổ cần được biết rõ, sự diệt tận Khổ …(nt)…, pháp hành đưa đến sự diệt tận Khổ cần được biết rõ.
Sắc cần được biết rõ, nhân sanh sắc cần được biết rõ, sự diệt tận sắc cần được biết rõ, pháp hành đưa đến sự diệt tận sắc cần được biết rõ.
Thọ cần được biết rõ …(nt)… Tưởng cần được biết rõ …(nt)… Các hành cần được biết rõ …(nt)… Thức cần được biết rõ …(nt)…
Nhãn cần được biết rõ, …(như trên)… Lão tử cần được biết rõ, nhân sanh lão tử cần được biết rõ, sự diệt tận lão tử cần được biết rõ, pháp hành đưa đến sự diệt tận lão tử cần được biết rõ.
Ý nghĩa của sự biết toàn diện về Khổ cần được biết rõ, ý nghĩa của sự dứt bỏ nhân sanh Khổ cần được biết rõ, ý nghĩa của sự tác chứng về sự diệt tận Khổ cần được biết rõ, ý nghĩa của sự tu tập pháp hành đưa đến sự diệt tận Khổ cần được biết rõ.
Ý nghĩa của sự biết toàn diện về sắc cần được biết rõ, ý nghĩa của sự dứt bỏ nhân sanh sắc cần được biết rõ, ý nghĩa của sự tác chứng về sự diệt tận sắc cần được biết rõ, ý nghĩa của sự tu tập pháp hành đưa đến sự diệt tận sắc cần được biết rõ.
Ý nghĩa của sự biết toàn diện về thọ … về tưởng … về các hành … về thức … về mắt … về lão tử cần được biết rõ, ý nghĩa của sự dứt bỏ nhân sanh lão tử cần được biết rõ, ý nghĩa của sự tác chứng về sự diệt tận lão tử cần được biết rõ, ý nghĩa của sự tu tập pháp hành đưa đến sự diệt tận lão tử cần được biết rõ.
Ý nghĩa của sự thấu triệt do biết toàn diện về Khổ cần được biết rõ, ý nghĩa của sự thấu triệt do dứt bỏ nhân sanh Khổ …, ý nghĩa của sự thấu triệt do tác chứng về sự diệt tận Khổ …, ý nghĩa của sự thấu triệt do tu tập pháp hành đưa đến sự diệt tận Khổ cần được biết rõ.
Ý nghĩa của sự thấu triệt do biết toàn diện về sắc cần được biết rõ, ý nghĩa của sự thấu triệt do dứt bỏ nhân sanh sắc …, ý nghĩa của sự thấu triệt do tác chứng về sự diệt tận sắc …, ý nghĩa của sự thấu triệt do tu tập pháp hành đưa đến sự diệt tận sắc cần được biết rõ.
Ý nghĩa của sự thấu triệt do biết toàn diện về thọ … về tưởng … về các hành … về thức … về mắt … về lão tử cần được biết rõ, ý nghĩa của sự thấu triệt do dứt bỏ nhân sanh lão tử cần được biết rõ, ý nghĩa của sự thấu triệt do tác chứng về sự diệt tận lão tử cần được biết rõ, ý nghĩa của sự thấu triệt do tu tập pháp hành đưa đến sự diệt tận lão tử cần được biết rõ.
Khổ cần được biết rõ, nhân sanh Khổ cần được biết rõ, sự diệt tận Khổ cần được biết rõ, sự diệt tận nhân sanh Khổ cần được biết rõ, sự diệt tận ước muốn và tham ái đối với Khổ cần được biết rõ, sự khoái lạc đối với Khổ cần được biết rõ, sự tai hại của Khổ cần được biết rõ, sự xuất ly đối với Khổ cần được biết rõ.
Sắc cần được biết rõ, nhân sanh sắc cần được biết rõ, sự diệt tận sắc cần được biết rõ, sự diệt tận nhân sanh sắc cần được biết rõ, sự diệt tận ước muốn và tham ái đối với sắc cần được biết rõ, sự khoái lạc đối với sắc cần được biết rõ, sự tai hại của sắc cần được biết rõ, sự xuất ly đối với sắc cần được biết rõ.
Thọ cần được biết rõ, …(như trên)… Tưởng cần được biết rõ, …(như trên)… Các hành cần được biết rõ, …(như trên)… Thức cần được biết rõ, …(như trên)… Mắt cần được biết rõ, …(như trên)… Lão tử cần được biết rõ, nhân sanh lão tử cần được biết rõ, sự diệt tận lão tử cần được biết rõ, sự diệt tận nhân sanh lão tử cần được biết rõ, sự diệt tận ước muốn và tham ái đối với lão tử cần được biết rõ, sự khoái lạc đối với lão tử cần được biết rõ, sự tai hại của lão tử cần được biết rõ, sự xuất ly đối với lão tử cần được biết rõ.
Khổ cần được biết rõ, nhân sanh Khổ cần được biết rõ, sự diệt tận Khổ cần được biết rõ, pháp hành đưa đến sự diệt tận Khổ cần được biết rõ, sự khoái lạc đối với Khổ cần được biết rõ, sự tai hại của Khổ cần được biết rõ, sự xuất ly đối với Khổ cần được biết rõ.
Sắc cần được biết rõ, nhân sanh sắc cần được biết rõ, sự diệt tận sắc cần được biết rõ, pháp hành đưa đến sự diệt tận sắc cần được biết rõ, sự khoái lạc đối với sắc cần được biết rõ, sự tai hại của sắc cần được biết rõ, sự xuất ly đối với sắc cần được biết rõ.
Thọ cần được biết rõ, …(như trên)… Tưởng cần được biết rõ, …(như trên)… Các hành cần được biết rõ, …(như trên)… Thức cần được biết rõ, …(như trên)… Mắt cần được biết rõ, …(như trên)… Lão tử cần được biết rõ, nhân sanh lão tử cần được biết rõ, sự diệt tận lão tử cần được biết rõ, pháp hành đưa đến sự diệt tận lão tử cần được biết rõ, sự khoái lạc đối với lão tử cần được biết rõ, sự tai hại của lão tử cần được biết rõ, sự xuất ly đối với lão tử cần được biết rõ.
Quán xét về vô thường cần được biết rõ, quán xét về khổ não cần được biết rõ, quán xét về vô ngã cần được biết rõ, quán xét về nhàm chán cần được biết rõ, quán xét về ly tham ái cần được biết rõ, quán xét về diệt tận cần được biết rõ, quán xét về từ bỏ cần được biết rõ.
Quán xét về vô thường ở sắc cần được biết rõ, quán xét về khổ não ở sắc cần được biết rõ, quán xét về vô ngã ở sắc cần được biết rõ, quán xét về nhàm chán ở sắc cần được biết rõ, quán xét về ly tham ái ở sắc cần được biết rõ, quán xét về diệt tận ở sắc cần được biết rõ, quán xét về từ bỏ ở sắc cần được biết rõ.
Quán xét về vô thường ở thọ …(như trên)… ở tưởng …(như trên)… ở các hành …(như trên)… ở thức …(như trên)… ở mắt …(như trên)… ở lão tử cần được biết rõ, quán xét về khổ não ở lão tử cần được biết rõ, quán xét về vô ngã ở lão tử cần được biết rõ, quán xét về nhàm chán ở lão tử cần được biết rõ, quán xét về ly tham ái ở lão tử cần được biết rõ, quán xét về diệt tận ở lão tử cần được biết rõ, quán xét về từ bỏ ở lão tử cần được biết rõ.
Sự tái sanh cần được biết rõ, sự vận hành cần được biết rõ, hiện tướng cần được biết rõ, (nghiệp) tích lũy cần được biết rõ, mầm tái sanh cần được biết rõ, cảnh giới tái sanh cần được biết rõ, sự tái tạo cần được biết rõ, sự sanh lên cần được biết rõ, sự sanh (ra) cần được biết rõ, sự già cần được biết rõ, sự bệnh cần được biết rõ, sự chết cần được biết rõ, sự sầu muộn cần được biết rõ, sự than vãn cần được biết rõ, sự thất vọng cần được biết rõ.
Sự không tái sanh cần được biết rõ, sự không vận hành cần được biết rõ, không hiện tướng …, không (nghiệp) tích lũy …, không mầm tái sanh …, không cảnh giới tái sanh …, sự không tái tạo …, sự không sanh lên …, sự không sanh (ra) …, sự không già …, sự không bệnh …, sự không chết …, sự không sầu muộn …, sự không than vãn cần được biết rõ, sự không thất vọng cần được biết rõ.
Sự tái sanh cần được biết rõ, sự không tái sanh cần được biết rõ, sự vận hành …, sự không vận hành …, hiện tướng …, không hiện tướng …, (nghiệp) tích lũy …, không (nghiệp) tích lũy …, mầm tái sanh …, không mầm tái sanh …, cảnh giới tái sanh …, không cảnh giới tái sanh …, sự tái tạo …, sự không tái tạo …, sự sanh lên …, sự không sanh lên …, sự sanh (ra) …, sự không sanh (ra) …, sự già …, sự không già …, sự bệnh …, sự không bệnh …, sự chết …, sự không chết …, sự sầu muộn …, sự không sầu muộn …, sự than vãn …, sự không than vãn …, sự thất vọng cần được biết rõ, sự không thất vọng cần được biết rõ.
‘Sự tái sanh là khổ’ cần được biết rõ, ‘sự vận hành là khổ’ cần được biết rõ, ‘hiện tướng là khổ’ …, ‘(nghiệp) tích lũy là khổ’ …, ‘mầm tái sanh là khổ’ …, ‘cảnh giới tái sanh là khổ’ …, ‘sự tái tạo là khổ’ …, ‘sự sanh lên là khổ’ …, ‘sự sanh (ra) là khổ’ …, ‘sự già là khổ’ …, ‘sự bệnh là khổ’ …, ‘sự chết là khổ’ …, ‘sự sầu muộn là khổ’ …, ‘sự than vãn là khổ’ cần được biết rõ, ‘sự thất vọng là khổ’ cần được biết rõ.
‘Sự không tái sanh là lạc’ cần được biết rõ, ‘sự không vận hành là lạc’ cần được biết rõ, ‘không hiện tướng là lạc’ …, ‘không (nghiệp) tích lũy là lạc’ …, ‘không mầm tái sanh là lạc’ …, ‘không cảnh giới tái sanh là lạc’ …, ‘sự không tái tạo là lạc’ …, ‘sự không sanh lên là lạc’ …, ‘sự không sanh (ra) là lạc’ …, ‘sự không già là lạc’ …, ‘sự không bệnh là lạc’ …, ‘sự không chết là lạc’ …, ‘sự không sầu muộn là lạc’ …, ‘sự không than vãn là lạc’ cần được biết rõ, ‘sự không thất vọng là lạc’ cần được biết rõ.
‘Sự tái sanh là khổ, sự không tái sanh là lạc’ cần được biết rõ, ‘sự vận hành là khổ, sự không vận hành là lạc’ cần được biết rõ, ‘hiện tướng là khổ, không hiện tướng là lạc’ cần được biết rõ, ‘(nghiệp) tích lũy là khổ, không (nghiệp) tích lũy là lạc’ cần được biết rõ, ‘mầm tái sanh là khổ, không mầm tái sanh là lạc’ cần được biết rõ, ‘cảnh giới tái sanh là khổ, không cảnh giới tái sanh là lạc’ cần được biết rõ, ‘sự tái tạo là khổ, sự không tái tạo là lạc’ cần được biết rõ, ‘sự sanh lên là khổ, sự không sanh lên là lạc’ cần được biết rõ, ‘sự sanh (ra) là khổ, sự không sanh (ra) là lạc’ cần được biết rõ, ‘sự già là khổ, sự không già là lạc’ cần được biết rõ, ‘sự bệnh là khổ, sự không bệnh là lạc’ cần được biết rõ, ‘sự chết là khổ, sự không chết là lạc’ cần được biết rõ, ‘sự sầu muộn là khổ, sự không sầu muộn là lạc’ cần được biết rõ, ‘sự than vãn là khổ, sự không than vãn là lạc’ cần được biết rõ, ‘sự thất vọng là khổ, sự không thất vọng là lạc’ cần được biết rõ.
‘Sự tái sanh là kinh hãi’ cần được biết rõ, ‘sự vận hành là kinh hãi’ cần được biết rõ, ‘hiện tướng là kinh hãi’ …, ‘(nghiệp) tích lũy là kinh hãi’ …, ‘mầm tái sanh là kinh hãi’ …, ‘cảnh giới tái sanh là kinh hãi’ …, ‘sự tái tạo là kinh hãi’ …, ‘sự sanh lên là kinh hãi’ …, ‘sự sanh (ra) là kinh hãi’ …, ‘sự già là kinh hãi’ …, ‘sự bệnh là kinh hãi’ …, ‘sự chết là kinh hãi’ …, ‘sự sầu muộn là kinh hãi’ …, ‘sự than vãn là kinh hãi’ cần được biết rõ, ‘sự thất vọng là kinh hãi’ cần được biết rõ.
‘Sự không tái sanh là an ổn’ cần được biết rõ, ‘sự không vận hành là an ổn’ …, ‘không hiện tướng là an ổn’ …, ‘không (nghiệp) tích lũy là an ổn’ …, ‘không mầm tái sanh là an ổn’ …, ‘không cảnh giới tái sanh là an ổn’ …, ‘sự không tái tạo là an ổn’ …, ‘sự không sanh lên là an ổn’ …, ‘sự không sanh (ra) là an ổn’ …, ‘sự không già là an ổn’ …, ‘sự không bệnh là an ổn’ …, ‘sự không chết là an ổn’ …, ‘sự không sầu muộn là an ổn’ …, ‘sự không than vãn là an ổn’ cần được biết rõ, ‘sự không thất vọng là an ổn’ cần được biết rõ.
‘Sự tái sanh là kinh hãi, sự không tái sanh là an ổn’ cần được biết rõ, ‘sự vận hành là kinh hãi, sự không vận hành là an ổn’ cần được biết rõ, ‘hiện tướng là kinh hãi, không hiện tướng là an ổn’ cần được biết rõ, ‘(nghiệp) tích lũy là kinh hãi, không (nghiệp) tích lũy là an ổn’ cần được biết rõ, ‘mầm tái sanh là kinh hãi, không mầm tái sanh là an ổn’ cần được biết rõ, ‘cảnh giới tái sanh là kinh hãi, không cảnh giới tái sanh là an ổn’ cần được biết rõ, ‘sự tái tạo là kinh hãi, sự không tái tạo là an ổn’ cần được biết rõ, ‘sự sanh lên là kinh hãi, sự không sanh lên là an ổn’ cần được biết rõ, ‘sự sanh (ra) là kinh hãi, sự không sanh (ra) là an ổn’ cần được biết rõ, ‘sự già là kinh hãi, sự không già là an ổn’ cần được biết rõ, ‘sự bệnh là kinh hãi, sự không bệnh là an ổn’ cần được biết rõ, ‘sự chết là kinh hãi, sự không chết là an ổn’ cần được biết rõ, ‘sự sầu muộn là kinh hãi, sự không sầu muộn là an ổn’ cần được biết rõ, ‘sự than vãn là kinh hãi, sự không than vãn là an ổn’ cần được biết rõ, ‘sự thất vọng là kinh hãi, sự không thất vọng là an ổn’ cần được biết rõ.
‘Sự tái sanh là hệ lụy vật chất’ cần được biết rõ, ‘sự vận hành là hệ lụy vật chất’ …, ‘hiện tướng là …’ …, ‘(nghiệp) tích lũy là …’ …, ‘mầm tái sanh là …’ …, ‘cảnh giới tái sanh là …’ …, ‘sự tái tạo là …’ …, ‘sự sanh lên là …’ …, ‘sự sanh (ra) là …’ …, ‘sự già là …’ …, ‘sự bệnh là …’ …, ‘sự chết là …’ …, ‘sự sầu muộn là …’ …, ‘sự than vãn là …’ cần được biết rõ, ‘sự thất vọng là hệ lụy vật chất’ cần được biết rõ.
‘Sự không tái sanh là không hệ lụy vật chất’ cần được biết rõ, ‘sự không vận hành là không hệ lụy vật chất’ …, ‘không hiện tướng là không …’ …, ‘không (nghiệp) tích lũy là không …’ …, ‘không mầm tái sanh là không …’ …, ‘không cảnh giới tái sanh là không …’ …, ‘sự không tái tạo là không …’ …, ‘sự không sanh lên là không …’ …, ‘sự không sanh (ra) là không …’ …, ‘sự không già là không …’ …, ‘sự không bệnh là không …’ …, ‘sự không chết là không …’ …, ‘sự không sầu muộn là không …’ …, ‘sự không than vãn là không …’ …, ‘sự không thất vọng là không hệ lụy vật chất’ cần được biết rõ.
‘Sự tái sanh là hệ lụy vật chất, sự không tái sanh là không hệ lụy vật chất’ cần được biết rõ, ‘sự vận hành là …, sự không vận hành là không …’ …, ‘hiện tướng là …, không hiện tướng là không …’ …, ‘(nghiệp) tích lũy là …, không (nghiệp) tích lũy là không …’ …, ‘mầm tái sanh là …, không mầm tái sanh là không …’ …, ‘cảnh giới tái sanh là …, không cảnh giới tái sanh là không …’ …, ‘sự tái tạo là …, sự không tái tạo là không …’ …, ‘sự sanh lên là …, sự không sanh lên là không …’ …, ‘sự sanh (ra) là …, sự không sanh (ra) là không …’ …, ‘sự già là …, sự không già là không …’ …, ‘sự bệnh là …, sự không bệnh là không …’ …, ‘sự chết là …, sự không chết là không …’ …, ‘sự sầu muộn là …, sự không sầu muộn là không …’ …, ‘sự than vãn là …, sự không than vãn là không …’ …, ‘sự thất vọng là hệ lụy vật chất, sự không thất vọng là không hệ lụy vật chất’ cần được biết rõ.
‘Sự tái sanh là pháp hữu vi’ cần được biết rõ, ‘sự vận hành là pháp hữu vi’ cần được biết rõ, ‘hiện tướng là pháp hữu vi’ …, ‘(nghiệp) tích lũy là pháp hữu vi’ …, ‘mầm tái sanh là pháp hữu vi’ …, ‘cảnh giới tái sanh là pháp hữu vi’ …, ‘sự tái tạo là pháp hữu vi’ …, ‘sự sanh lên là pháp hữu vi’ …, ‘sự sanh (ra) là pháp hữu vi’ …, ‘sự già là pháp hữu vi’ …, ‘sự bệnh là pháp hữu vi’ …, ‘sự chết là pháp hữu vi’ …, ‘sự sầu muộn là pháp hữu vi’ …, ‘sự than vãn là pháp hữu vi’ cần được biết rõ, ‘sự thất vọng là pháp hữu vi’ cần được biết rõ.
‘Sự không tái sanh là Niết Bàn’ cần được biết rõ, ‘sự không vận hành là Niết Bàn’ cần được biết rõ, ‘không hiện tướng là Niết Bàn’ …, ‘không (nghiệp) tích lũy là Niết Bàn’ …, ‘không mầm tái sanh là Niết Bàn’ …, ‘không cảnh giới tái sanh là Niết Bàn’ …, ‘sự không tái tạo là Niết Bàn’ …, ‘sự không sanh lên là Niết Bàn’ …, ‘sự không sanh (ra) là Niết Bàn’ …, ‘sự không già là Niết Bàn’ …, ‘sự không bệnh là Niết Bàn’ …, ‘sự không chết là Niết Bàn’ …, ‘sự không sầu muộn là Niết Bàn’ cần được biết rõ, ‘sự không than vãn là Niết Bàn’ cần được biết rõ, ‘sự không thất vọng là Niết Bàn’ cần được biết rõ.
‘Sự tái sanh là pháp hữu vi, sự không tái sanh là Niết Bàn’ cần được biết rõ, ‘sự vận hành là pháp hữu vi, sự không vận hành là Niết Bàn’ cần được biết rõ, ‘hiện tướng là pháp hữu vi, không hiện tướng là Niết Bàn’ …, ‘(nghiệp) tích lũy là pháp hữu vi, không (nghiệp) tích lũy là Niết Bàn’ …, ‘mầm tái sanh là pháp hữu vi, không mầm tái sanh là Niết Bàn’ …, ‘cảnh giới tái sanh là pháp hữu vi, không cảnh giới tái sanh là Niết Bàn’ …, ‘sự tái tạo là pháp hữu vi, sự không tái tạo là Niết Bàn’ …, ‘sự sanh lên là pháp hữu vi, sự không sanh lên là Niết Bàn’ …, ‘sự sanh (ra) là pháp hữu vi, sự không sanh (ra) là Niết Bàn’ …, ‘sự già là pháp hữu vi, sự không già là Niết Bàn’ …, ‘sự bệnh là pháp hữu vi, sự không bệnh là Niết Bàn’ …, ‘sự chết là pháp hữu vi, sự không chết là Niết Bàn’ …, ‘sự sầu muộn là pháp hữu vi, sự không sầu muộn là Niết Bàn’ …, ‘sự than vãn là pháp hữu vi, sự không than vãn là Niết Bàn’ cần được biết rõ, ‘sự thất vọng là pháp hữu vi, sự không thất vọng là Niết Bàn’ cần được biết rõ.
Dứt tụng phẩm thứ nhất.
Ý nghĩa của sự gìn giữ cần được biết rõ, ý nghĩa của sự phụ trợ cần được biết rõ, ý nghĩa của sự hoàn bị …, ý nghĩa của sự chuyên nhất …, ý nghĩa của sự không tản mạn …, ý nghĩa của sự ra sức …, ý nghĩa của sự không tán loạn …, ý nghĩa của sự không xao động …, ý nghĩa của sự không loạn động …, ý nghĩa của sự trụ tâm do tác động của việc thiết lập tính nhất thể …, ý nghĩa của (cảnh) đối tượng …, ý nghĩa của hành xứ …, ý nghĩa của sự dứt bỏ …, ý nghĩa của sự buông bỏ …, ý nghĩa của sự thoát ra …, ý nghĩa của sự quay lại …, ý nghĩa của tịnh …, ý nghĩa của sự cao quý .., ý nghĩa của giải thoát …, ý nghĩa của vô lậu …, ý nghĩa của sự vượt qua …, ý nghĩa của vô tướng …, ý nghĩa của vô nguyện …, ý nghĩa của không tánh …, ý nghĩa của nhất vị …, ý nghĩa của sự không vượt trội …, ý nghĩa của sự kết hợp chung…, ý nghĩa của sự dẫn xuất (ra khỏi luân hồi) …, ý nghĩa của chủng tử …, ý nghĩa của sự nhận thức cần được biết rõ, ý nghĩa của pháp chủ đạo cần được biết rõ.
Ý nghĩa không tản mạn của chỉ tịnh cần được biết rõ, ý nghĩa quán xét của minh sát …, ý nghĩa nhất vị của chỉ tịnh và minh sát …, ý nghĩa không vượt trội của sự kết hợp chung cần được biết rõ.
Ý nghĩa thọ trì của việc học tập cần được biết rõ, ý nghĩa hành xứ của (việc duy trì) đối tượng cần được biết rõ, ý nghĩa ra sức đối với tâm bị trì trệ …, ý nghĩa kiềm chế đối với tâm bị vọng động …, ý nghĩa dửng dưng (có trạng thái xả) đối với hai trạng thái (trì trệ và vọng động) đã được thanh tịnh …, ý nghĩa của sự đắc chứng thù thắng do sự tu tập …, ý nghĩa của sự thấu triệt bậc trên …, ý nghĩa của sự lãnh hội chân lý …, ý nghĩa của sự an lập Niết Bàn cần được biết rõ.
Ý nghĩa cương quyết của tín quyền cần được biết rõ, ý nghĩa ra sức của tấn quyền cần được biết rõ, ý nghĩa thiết lập của niệm quyền cần được biết rõ, ý nghĩa không tản mạn của định quyền cần được biết rõ, ý nghĩa nhận thức của tuệ quyền cần được biết rõ.
Ý nghĩa về tính chất không dao động của tín lực ở sự không có đức tin cần được biết rõ, ý nghĩa về tính chất không dao động của tấn lực ở sự biếng nhác …, ý nghĩa về tính chất không dao động của niệm lực ở sự buông lung …, ý nghĩa về tính chất không dao động của định lực ở sự phóng dật …, ý nghĩa về tính chất không dao động của tuệ lực ở sự không sáng suốt cần được biết rõ.
Ý nghĩa thiết lập của niệm giác chi cần được biết rõ, ý nghĩa suy xét của trạch pháp giác chi …, ý nghĩa ra sức của cần giác chi …, ý nghĩa lan tỏa của hỷ giác chi …, ý nghĩa an tịnh của tịnh giác chi …, ý nghĩa không tản mạn của định giác chi …, ý nghĩa phân biệt rõ của xả giác chi cần được biết rõ.
Ý nghĩa nhận thức của chánh kiến cần được biết rõ, ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh) của chánh tư duy …, ý nghĩa gìn giữ của chánh ngữ …, ý nghĩa nguồn sanh khởi của chánh nghiệp …, ý nghĩa trong sạch của chánh mạng …, ý nghĩa ra sức của chánh tinh tấn …, ý nghĩa thiết lập của chánh niệm …, ý nghĩa không tản mạn của chánh định cần được biết rõ.
Ý nghĩa chủ đạo của các quyền cần được biết rõ, ý nghĩa về tính chất không dao động của các lực …, ý nghĩa dẫn xuất (ra khỏi luân hồi) của các giác chi …, ý nghĩa chủng tử của Đạo …, ý nghĩa thiết lập của các sự thiết lập niệm …, ý nghĩa ra sức của các chánh cần …, ý nghĩa thành tựu của các nền tảng của thần thông …, ý nghĩa thực thể của các chân lý …, ý nghĩa tịnh lặng của các việc thực hành (Thánh Đạo) …, ý nghĩa tác chứng của các Quả cần được biết rõ.
Ý nghĩa đưa tâm (đến cảnh) của tầm cần được biết rõ, ý nghĩa khắn khít (vào cảnh) của tứ cần được biết rõ, ý nghĩa lan tỏa của hỷ cần được biết rõ, ý nghĩa tràn ngập của lạc cần được biết rõ, ý nghĩa chuyên nhất của tâm (định) cần được biết rõ.
Ý nghĩa của sự hướng tâm cần được biết rõ, ý nghĩa của sự nhận biết (của thức) cần được biết rõ, ý nghĩa của sự nhận biết (của tuệ) cần được biết rõ, ý nghĩa của sự nhận biết (của tưởng) cần được biết rõ, [ý nghĩa của nhất cảnh cần được biết rõ,] ý nghĩa của sự độc nhất cần được biết rõ, ý nghĩa đã được biết của sự biết rõ cần được biết rõ, ý nghĩa quyết đoán của sự biết toàn diện cần được biết rõ, ý nghĩa buông bỏ của sự dứt bỏ cần được biết rõ, ý nghĩa nhất vị của sự tu tập cần được biết rõ, ý nghĩa chạm đến của sự tác chứng cần được biết rõ, ý nghĩa tập hợp của các uẩn cần được biết rõ, ý nghĩa bản thể của các giới cần được biết rõ, ý nghĩa vị thế của các xứ cần được biết rõ, ý nghĩa tạo tác của các pháp hữu vi cần được biết rõ, ý nghĩa không tạo tác của Niết Bàn cần được biết rõ.
Ý nghĩa của tâm cần được biết rõ, ý nghĩa không gián đoạn của tâm cần được biết rõ, ý nghĩa thoát ra của tâm …, ý nghĩa ly khai của tâm …, ý nghĩa chủng tử của tâm …, ý nghĩa về duyên của tâm …, ý nghĩa vật nương của tâm …, ý nghĩa lãnh vực của tâm …, ý nghĩa cảnh (đối tượng) của tâm …, ý nghĩa hành xứ của tâm …, ý nghĩa hành vi của tâm …, ý nghĩa (cảnh) đã đạt đến của tâm …, ý nghĩa quả quyết của tâm …, ý nghĩa dẫn xuất (ra khỏi cảnh) của tâm cần được biết rõ, ý nghĩa xuất ly của tâm cần được biết rõ.
Ý nghĩa hướng tâm ở nhất thể cần được biết rõ, ý nghĩa nhận biết (của thức) ở nhất thể cần được biết rõ, ý nghĩa nhận biết (của tuệ) ở nhất thể …, ý nghĩa nhận biết (của tưởng) ở nhất thể …, ý nghĩa độc nhất ở nhất thể …, ý nghĩa bám vào nhất thể …, ý nghĩa tiến vào nhất thể (đối với sơ thiền) …, ý nghĩa hoan hỷ ở nhất thể (đối với nhị thiền) …, ý nghĩa an trụ ở nhất thể (đối với tam thiền) …, ý nghĩa giải thoát ở nhất thể (đối với tứ thiền) …, ý nghĩa của sự nhận thức ‘Đây là tịnh’ ở nhất thể …, ý nghĩa đã tạo thành phương tiện ở nhất thể …, ý nghĩa đã tạo thành nền tảng ở nhất thể …, ý nghĩa đã hiện hữu ở nhất thể …, ý nghĩa đã được tích lũy ở nhất thể …, ý nghĩa đã được khởi sự vô cùng thanh tịnh ở nhất thể …, ý nghĩa gìn giữ ở nhất thể …, ý nghĩa phụ trợ ở nhất thể …, ý nghĩa hoàn bị ở nhất thể …, ý nghĩa liên kết ở nhất thể …, ý nghĩa khẳng định ở nhất thể …, ý nghĩa rèn luyện ở nhất thể …, ý nghĩa tu tập ở nhất thể …, ý nghĩa làm cho sung mãn ở nhất thể …, ý nghĩa của sự khéo được hiện khởi ở nhất thể …, ý nghĩa của sự khéo được giải thoát ở nhất thể …, ý nghĩa của sự được giác ngộ (Sơ Đạo) ở nhất thể …, ý nghĩa của sự được giác ngộ (Nhị Đạo) ở nhất thể …, ý nghĩa của sự được giác ngộ (Tam Đạo) ở nhất thể …, ý nghĩa của sự được giác ngộ (Tứ Đạo) ở nhất thể …,ý nghĩa của sự làm cho giác ngộ (Sơ Đạo) ở nhất thể …, ý nghĩa của sự làm cho giác ngộ (Nhị Đạo) ở nhất thể …, ý nghĩa của sự làm cho giác ngộ (Tam Đạo) ở nhất thể …, ý nghĩa của sự làm cho giác ngộ (Tứ Đạo) ở nhất thể …, ý nghĩa của sự dự phần làm cho giác ngộ (Sơ Đạo) ở nhất thể …, ý nghĩa của sự dự phần làm cho giác ngộ (Nhị Đạo) ở nhất thể …, ý nghĩa của sự dự phần làm cho giác ngộ (Tam Đạo) ở nhất thể …, ý nghĩa của sự dự phần làm cho giác ngộ (Tứ Đạo) ở nhất thể …, ý nghĩa của sự phát quang (Sơ Đạo) ở nhất thể …, ý nghĩa của sự phát quang (Nhị Đạo) ở nhất thể …, ý nghĩa của sự phát quang (Tam Đạo) ở nhất thể cần được biết rõ, ý nghĩa của sự phát quang (Tứ Đạo) ở nhất thể cần được biết rõ.
Ý nghĩa làm sáng tỏ cần được biết rõ, ý nghĩa chói sáng cần được biết rõ, ý nghĩa thiêu đốt các phiền não …, ý nghĩa không nhơ bẩn …, ý nghĩa tách rời nhơ bẩn …, ý nghĩa hết nhơ bẩn …, ý nghĩa tĩnh lặng …, ý nghĩa của thời điểm …, ý nghĩa tách ly …, ý nghĩa của hành vi tách ly …, ý nghĩa ly dục …, ý nghĩa của hành vi ly dục …, ý nghĩa diệt tận …, ý nghĩa của hành vi diệt tận …, ý nghĩa xả ly …, ý nghĩa của hành vi xả ly …, ý nghĩa giải thoát cần được biết rõ, ý nghĩa của hành vi giải thoát cần được biết rõ.
Ý nghĩa của ước muốn cần được biết rõ, ý nghĩa nguồn cội của ước muốn cần được biết rõ, ý nghĩa cơ sở của ước muốn …, ý nghĩa nỗ lực của ước muốn …, ý nghĩa thành tựu của ước muốn …, ý nghĩa cương quyết của ước muốn …, ý nghĩa ra sức của ước muốn …, ý nghĩa thiết lập của ước muốn …, ý nghĩa không tản mạn của ước muốn …, ý nghĩa nhận thức của ước muốn cần được biết rõ.
Ý nghĩa của tinh tấn cần được biết rõ, ý nghĩa nguồn cội của tinh tấn …, ý nghĩa cơ sở của tinh tấn …, ý nghĩa nỗ lực của tinh tấn …, ý nghĩa thành tựu của tinh tấn …, ý nghĩa cương quyết của tinh tấn …, ý nghĩa ra sức của tinh tấn …, ý nghĩa thiết lập của tinh tấn …, ý nghĩa không tản mạn của tinh tấn cần được biết rõ, ý nghĩa nhận thức của tinh tấn cần được biết rõ.
Ý nghĩa của tâm cần được biết rõ, ý nghĩa nguồn cội của tâm cần được biết rõ, ý nghĩa cơ sở của tâm …, ý nghĩa nỗ lực của tâm …, ý nghĩa thành tựu của tâm …, ý nghĩa cương quyết của tâm …, ý nghĩa ra sức của tâm …, ý nghĩa thiết lập của tâm cần được biết rõ, ý nghĩa không tản mạn của tâm cần được biết rõ, ý nghĩa nhận thức của tâm cần được biết rõ.
Ý nghĩa của thẩm định cần được biết rõ, ý nghĩa nguồn cội của thẩm định cần được biết rõ, ý nghĩa cơ sở của thẩm định cần được biết rõ, ý nghĩa nỗ lực của thẩm định cần được biết rõ, ý nghĩa thành tựu của thẩm định cần được biết rõ, ý nghĩa cương quyết của thẩm định cần được biết rõ, ý nghĩa ra sức của thẩm định cần được biết rõ, ý nghĩa thiết lập của thẩm định cần được biết rõ, ý nghĩa không tản mạn của thẩm định cần được biết rõ, ý nghĩa nhận thức của thẩm định cần được biết rõ.
Ý nghĩa áp bức của Khổ cần được biết rõ, ý nghĩa tạo tác của Khổ cần được biết rõ, ý nghĩa nóng nảy của Khổ cần được biết rõ, ý nghĩa chuyển biến của Khổ cần được biết rõ.
Ý nghĩa tích lũy (nghiệp) của nhân sanh (Khổ) cần được biết rõ, ý nghĩa căn nguyên của nhân sanh (Khổ) cần được biết rõ, ý nghĩa ràng buộc của nhân sanh (Khổ) cần được biết rõ, ý nghĩa vướng bận của nhân sanh (Khổ) cần được biết rõ.
Ý nghĩa xuất ly của Niết Bàn cần được biết rõ, ý nghĩa viễn ly của Niết Bàn cần được biết rõ, ý nghĩa không tạo tác của Niết Bàn cần được biết rõ, ý nghĩa bất tử của Niết Bàn cần được biết rõ.
Ý nghĩa dẫn xuất của Đạo cần được biết rõ, ý nghĩa chủng tử của Đạo cần được biết rõ, ý nghĩa nhận thức của Đạo cần được biết rõ, ý nghĩa pháp chủ đạo của Đạo cần được biết rõ.
Ý nghĩa của thực thể cần được biết rõ, ý nghĩa của vô ngã …, ý nghĩa của chân lý …, ý nghĩa của thấu triệt …, ý nghĩa của biết rõ …, ý nghĩa của biết toàn diện …, ý nghĩa của hiện tượng …, ý nghĩa của bản thể …, ý nghĩa của điều đã được biết …, ý nghĩa của tác chứng …, ý nghĩa của chạm đến …, ý nghĩa của lãnh hội cần được biết rõ.
Sự thoát ly cần được biết rõ, sự không sân độc cần được biết rõ, sự nghĩ tưởng đến ánh sáng cần được biết rõ, sự không tản mạn cần được biết rõ, sự xác định pháp cần được biết rõ, trí (đối kháng vô minh) cần được biết rõ, sự hân hoan cần được biết rõ.
Sơ thiền cần được biết rõ, nhị thiền cần được biết rõ, tam thiền cần được biết rõ, tứ thiền cần được biết rõ, sự chứng đạt không vô biên xứ cần được biết rõ, sự chứng đạt thức vô biên xứ cần được biết rõ, sự chứng đạt vô sở hữu xứ cần được biết rõ, sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ cần được biết rõ.
Quán xét về vô thường cần được biết rõ, quán xét về khổ não cần được biết rõ, quán xét về vô ngã cần được biết rõ, quán xét về nhàm chán …, quán xét về ly tham ái …, quán xét về diệt tận …, quán xét về từ bỏ …, quán xét về đoạn tận …, quán xét về biến hoại …, quán xét về chuyển biến …, quán xét về vô tướng …, quán xét về vô nguyện …, quán xét về không tánh …, minh sát các pháp bằng thắng tuệ …, sự biết và thấy đúng theo thực thể …, quán xét về tai hại …, quán xét về phân biệt rõ cần được biết rõ, quán xét về ly khai cần được biết rõ.
Đạo Nhập Lưu cần được biết rõ, sự chứng đạt Quả Nhập Lưu cần được biết rõ, Đạo Nhất Lai cần được biết rõ, sự chứng đạt Quả Nhất Lai cần được biết rõ, Đạo Bất Lai cần được biết rõ, sự chứng đạt Quả Bất Lai cần được biết rõ, Đạo A-la-hán cần được biết rõ, sự chứng đạt Quả A-la-hán cần được biết rõ.
Tín quyền theo ý nghĩa cương quyết cần được biết rõ, tấn quyền theo ý nghĩa ra sức cần được biết rõ, niệm quyền theo ý nghĩa thiết lập cần được biết rõ, định quyền theo ý nghĩa không tản mạn cần được biết rõ, tuệ quyền theo ý nghĩa nhận thức cần được biết rõ.
Tín lực theo ý nghĩa không dao động ở sự không có đức tin cần được biết rõ, tấn lực theo ý nghĩa không dao động ở sự biếng nhác cần được biết rõ, niệm lực theo ý nghĩa không dao động ở sự buông lung cần được biết rõ, định lực theo ý nghĩa không dao động ở sự phóng dật cần được biết rõ, tuệ lực theo ý nghĩa không dao động ở sự không sáng suốt cần được biết rõ.
Niệm giác chi theo ý nghĩa thiết lập cần được biết rõ, trạch pháp giác chi theo ý nghĩa suy xét cần được biết rõ, cần giác chi theo ý nghĩa ra sức cần được biết rõ, hỷ giác chi theo ý nghĩa lan tỏa cần được biết rõ, tịnh giác chi theo ý nghĩa an tịnh cần được biết rõ, định giác chi theo ý nghĩa không tản mạn cần được biết rõ, xả giác chi theo ý nghĩa phân biệt rõ cần được biết rõ.
Chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức cần được biết rõ, chánh tư duy theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh) cần được biết rõ, chánh ngữ theo ý nghĩa gìn giữ …, chánh nghiệp theo ý nghĩa nguồn sanh khởi …, chánh mạng theo ý nghĩa trong sạch …, chánh tinh tấn theo ý nghĩa ra sức …, chánh niệm theo ý nghĩa thiết lập cần được biết rõ, chánh định theo ý nghĩa không tản mạn cần được biết rõ.
Các quyền theo ý nghĩa của pháp chủ đạo cần được biết rõ, các lực theo ý nghĩa không dao động …, các giác chi theo ý nghĩa dẫn xuất (ra khỏi luân hồi) …, Đạo theo ý nghĩa chủng tử …, các sự thiết lập niệm theo ý nghĩa thiết lập …, các chánh cần theo ý nghĩa nỗ lực …, các nền tảng của thần thông theo ý nghĩa thành tựu cần được biết rõ, chân lý theo ý nghĩa của thực thể cần được biết rõ.
Chỉ tịnh theo ý nghĩa không tản mạn cần được biết rõ, minh sát theo ý nghĩa quán xét …, chỉ tịnh và minh sát theo ý nghĩa của nhất vị …, sự kết hợp chung theo ý nghĩa không vượt trội cần được biết rõ.
Giới thanh tịnh theo ý nghĩa thu thúc cần được biết rõ, tâm thanh tịnh theo ý nghĩa không tản mạn cần được biết rõ, kiến thanh tịnh theo ý nghĩa nhận thức …, giải thoát theo ý nghĩa được thoát khỏi …, minh theo ý nghĩa thấu triệt …, giải thoát theo ý nghĩa buông bỏ …, trí về sự đoạn tận theo ý nghĩa đoạn trừ cần được biết rõ, trí về sự vô sanh theo ý nghĩa tĩnh lặng cần được biết rõ.
Ước muốn theo ý nghĩa của nguồn cội cần được biết rõ, tác ý theo ý nghĩa của nguồn sanh khởi cần được biết rõ, xúc theo ý nghĩa liên kết cần được biết rõ, thọ theo ý nghĩa hội tụ cần được biết rõ, định theo ý nghĩa dẫn đầu cần được biết rõ, niệm theo ý nghĩa của pháp chủ đạo cần được biết rõ, tuệ theo ý nghĩa của sự cao thượng trong các pháp thiện cần được biết rõ, sự giải thoát theo ý nghĩa của cốt lỏi cần được biết rõ, Niết Bàn liên quan đến bất tử theo ý nghĩa kết thúc cần được biết rõ.
Các pháp nào cần được biết rõ, các pháp ấy là đã được biết. Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này cần được biết rõ,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.”
Phần giải thích về ‘Cần được biết rõ.’
Tụng phẩm thứ nhì.
(1)
Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này cần được biết toàn diện,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe là (có ý nghĩa) thế nào?
Một pháp cần được biết toàn diện là: Xúc hữu lậu đưa đến thủ.
Hai pháp cần được biết toàn diện là: Danh và sắc.
Ba pháp cần được biết toàn diện là: Ba thọ.*
Bốn pháp cần được biết toàn diện là: Bốn loại vật thực.*
Năm pháp cần được biết toàn diện là: Năm thủ uẩn.*
Sáu pháp cần được biết toàn diện là: Sáu nội xứ.*
Bảy pháp cần được biết toàn diện là: Bảy trụ xứ của thức.*
Tám pháp cần được biết toàn diện là: Tám pháp thế gian.*
Chín pháp cần được biết toàn diện là: Chín trú xứ của chúng sinh.*
Mười pháp cần được biết toàn diện là: Mười xứ.*
(2)
Này các tỳ khưu, tất cả cần được biết toàn diện. Và này các tỳ khưu, điều gì là tất cả cần được biết toàn diện?
Này các tỳ khưu, mắt cần được biết toàn diện, các sắc cần được biết toàn diện, nhãn thức …, nhãn xúc …, cảm thọ nào được sanh lên do duyên nhãn xúc dầu là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng cần được biết toàn diện.
Tai cần được biết toàn diện, các thinh cần được biết toàn diện, … (như trên) … Mũi cần được biết toàn diện, các khí cần được biết toàn diện. … (như trên) … Lưỡi cần được biết toàn diện, các vị cần được biết toàn diện. … (như trên) … Thân cần được biết toàn diện, các xúc cần được biết toàn diện. … (như trên) … Ý cần được biết toàn diện, các pháp cần được biết toàn diện, ý thức …, ý xúc …, cảm thọ nào được sanh lên do duyên ý xúc dầu là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng cần được biết toàn diện.
Sắc cần được biết toàn diện, thọ …, tưởng …, các hành …, thức …, mắt …, lão tử …, Niết Bàn liên quan đến bất tử theo ý nghĩa kết thúc cần được biết toàn diện. …(như trên)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu những pháp nào, thì những pháp ấy là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, những pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành.
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự thoát ly, sự thoát ly là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành.
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự không sân độc, sự không sân độc là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành.
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự nghĩ tưởng về ánh sáng, sự nghĩ tưởng về ánh sáng là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành.
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự không tản mạn, sự không tản mạn là được thành tựu …(như trên)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự xác định pháp, sự xác định pháp là được thành tựu …(như trên)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu trí, trí là được thành tựu …(như trên)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự hân hoan, sự hân hoan là được thành tựu …(như trên)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sơ thiền, sơ thiền là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành.
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu nhị thiền, … tam thiền, … tứ thiền, tứ thiền là được thành tựu …(nt)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt không vô biên xứ, sự chứng đạt không vô biên xứ là được thành tựu …(như trên)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt thức vô biên xứ, sự chứng đạt thức vô biên xứ là được thành tựu …(nt)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt vô sở hữu xứ, sự chứng đạt vô sở hữu xứ là được thành tựu …(nt)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành.
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự quán xét về vô thường, sự quán xét về vô thường là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, pháp ấy …(nt)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự quán xét về khổ não, quán xét về khổ não là được thành tựu …(nt)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự quán xét về vô ngã, quán xét về vô ngã là được thành tựu …(nt)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự quán xét về nhàm chán, sự quán xét về nhàm chán là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành.
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự quán xét về ly tham ái, sự quán xét về ly tham ái là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành.
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự quán xét về diệt tận, sự quán xét về diệt tận là được …(nt)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự quán xét về từ bỏ, sự quán xét về từ bỏ là được thành tựu …(nt)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự quán xét về đoạn tận, sự quán xét về đoạn tận là được …(nt)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự quán xét về biến hoại, sự quán xét về biến hoại là được thành tựu …(nt)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự quán xét về chuyển biến, sự quán xét về chuyển biến là được thành tựu …(nt)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự quán xét về vô tướng, sự quán xét về vô tướng là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành.
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự quán xét về vô nguyện, sự quán xét về vô nguyện là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành.
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự quán xét về không tánh, sự quán xét về không tánh là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành.
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự minh sát các pháp bằng thắng tuệ, sự minh sát các pháp bằng thắng tuệ là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành.
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự biết và thấy đúng theo thực thể, sự biết và thấy đúng theo thực thể là được thành tựu …(nt)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự quán xét về tai hại, sự quán xét về tai hại là được thành tựu …(nt)…
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự quán xét về phân biệt rõ, sự quán xét về phân biệt rõ là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành.
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu sự quán xét về ly khai, sự quán xét về ly khai là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành.
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu Đạo Nhập Lưu, Đạo Nhập Lưu là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành.
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu Đạo Nhất Lai, Đạo Nhất Lai là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành.
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu Đạo Bất Lai, Đạo Bất Lai là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành.
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu Đạo A-la-hán, Đạo A-la-hán là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành.
Đối với (hành giả) đang tinh cần nhằm mục đích thành tựu những pháp nào, thì những pháp ấy là được thành tựu (cho vị ấy). Như vậy, những pháp ấy chẳng những được biết toàn diện mà còn được hoàn thành. Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này cần được biết toàn diện,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.”
Phần giải thích về ‘Cần được biết toàn diện.’
(3)
Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này cần được dứt bỏ,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe là (có ý nghĩa) thế nào?
Một pháp cần được dứt bỏ là: Ngã mạn.
Hai pháp cần được dứt bỏ là: Vô minh và hữu ái.
Ba pháp cần được dứt bỏ là: Ba ái.
Bốn pháp cần được dứt bỏ là: Bốn pháp cuốn trôi.*
Năm pháp cần được dứt bỏ là: Năm pháp ngăn che.*
Sáu pháp cần được dứt bỏ là: Sáu nhóm ái.*
Bảy pháp cần được dứt bỏ là: Bảy pháp ngủ ngầm.*
Tám pháp cần được dứt bỏ là: Tám tính chất sai trái.*
Chín pháp cần được dứt bỏ là: Chín pháp có nguồn cội là ái.*
Mười pháp cần được dứt bỏ là: Mười tính chất sai trái.*
(4)
Hai sự dứt bỏ: Sự dứt bỏ do đoạn trừ và sự dứt bỏ do tĩnh lặng. Sự dứt bỏ do đoạn trừ là đối với (hành giả) đang tu tập Đạo đưa đến sự đoạn tận là (Đạo) tối thượng ở đời, và sự dứt bỏ do tĩnh lặng là ở vào sát-na Quả.
Ba sự dứt bỏ: Đối với các dục sự xuất ly này tức là sự thoát ly, đối với các sắc sự xuất ly này tức là trạng thái vô sắc, hơn thế nữa bất cứ hiện hữu nào là pháp hữu vi và tùy thuận sanh khởi, sự diệt tận là sự xuất ly khỏi điều ấy. Đối với (hành giả) đã thành tựu sự thoát ly, các dục không những đã được dứt bỏ mà còn đã được buông bỏ. Đối với (hành giả) đã thành tựu trạng thái vô sắc, các sắc không những đã được dứt bỏ mà còn đã được buông bỏ. Đối với (hành giả) đã thành tựu sự diệt tận, các hành không những đã được dứt bỏ mà còn đã được buông bỏ.
Bốn sự dứt bỏ: Trong khi thấu triệt chân lý về Khổ với sự thấu triệt của biết toàn diện, (hành giả) dứt bỏ; trong khi thấu triệt chân lý về nhân sanh (Khổ) với sự thấu triệt của dứt bỏ, (hành giả) dứt bỏ; trong khi thấu triệt chân lý về sự diệt tận (Khổ) với sự thấu triệt của tác chứng, (hành giả) dứt bỏ; trong khi thấu triệt chân lý về Đạo với sự thấu triệt của tu tập, (hành giả) dứt bỏ.
Năm sự dứt bỏ: Sự dứt bỏ do áp chế, sự dứt bỏ do thay thế, sự dứt bỏ do đoạn trừ, sự dứt bỏ do tĩnh lặng, sự dứt bỏ do xuất ly. Sự dứt bỏ do áp chế đối với các pháp ngăn che của (hành giả) đang tu tập sơ thiền, sự dứt bỏ do thay thế đối với các khuynh hướng tà kiến của (hành giả) đang tu tập định đưa đến sự thấu triệt, sự dứt bỏ do đoạn trừ của (hành giả) đang tu tập Đạo tối thượng ở đời đưa đến sự đoạn tận, sự dứt bỏ do tĩnh lặng là ở vào sát-na Quả, và sự dứt bỏ do xuất ly là sự diệt tận, Niết Bàn.
Này các tỳ khưu, tất cả cần được dứt bỏ. Và này các tỳ khưu, điều gì là tất cả cần được dứt bỏ?
Này các tỳ khưu, mắt cần được dứt bỏ, các sắc cần được dứt bỏ, nhãn thức cần được dứt bỏ, nhãn xúc cần được dứt bỏ, cảm thọ nào được sanh lên do duyên nhãn xúc dầu là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng cần được dứt bỏ.
Tai cần được dứt bỏ, các thinh cần được dứt bỏ, … (như trên) … Mũi cần được dứt bỏ, các khí cần được dứt bỏ. … (như trên) … Lưỡi cần được dứt bỏ, các vị cần được dứt bỏ. … (như trên) … Thân cần được dứt bỏ, các xúc cần được dứt bỏ. … (như trên) … Ý cần được dứt bỏ, các pháp cần được dứt bỏ, ý thức cần được dứt bỏ, ý xúc cần được dứt bỏ, cảm thọ nào được sanh lên do duyên ý xúc dầu là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng cần được dứt bỏ.
Trong khi nhận thấy sắc, (hành giả) dứt bỏ. Trong khi nhận thấy thọ, (hành giả) dứt bỏ. Trong khi nhận thấy tưởng, (hành giả) dứt bỏ. Trong khi nhận thấy các hành, (hành giả) dứt bỏ. Trong khi nhận thấy thức, (hành giả) dứt bỏ. Trong khi nhận thấy mắt, …(như trên)… lão tử, …(như trên)… Niết Bàn liên quan đến bất tử theo ý nghĩa kết thúc, (hành giả) dứt bỏ.
Các pháp nào là đã được dứt bỏ, các pháp ấy là đã được buông bỏ. Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này cần được dứt bỏ,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.”
Phần giải thích về ‘Cần được dứt bỏ.’
Tụng phẩm thứ ba.
(5)
Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này cần được tu tập,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe là (có ý nghĩa) thế nào?
Một pháp cần được tu tập là: Niệm hướng đến thân có sự thoải mái đi cùng.
Hai pháp cần được tu tập là: Chỉ tịnh và minh sát.
Ba pháp cần được tu tập là: Ba định.*
Bốn pháp cần được tu tập là: Bốn sự thiết lập niệm.
Năm pháp cần được tu tập là: Chánh định năm chi phần.
Sáu pháp cần được tu tập là: Sáu tùy niệm xứ.*
Bảy pháp cần được tu tập là: Bảy giác chi.
Tám pháp cần được tu tập là: Thánh Đạo tám chi phần.
Chín pháp cần được tu tập là: Chín chi phần nỗ lực thanh tịnh.*
Mười pháp cần được tu tập là: Mười nền tảng của đề mục (thiền).
Hai sự tu tập: Sự tu tập thuộc thế gian và sự tu tập xuất thế gian.
Ba sự tu tập: Sự tu tập về các thiện pháp đưa đến cõi sắc giới, sự tu tập về các thiện pháp đưa đến cõi vô sắc giới, sự tu tập về các thiện pháp không bị lệ thuộc. Sự tu tập về các thiện pháp đưa đến cõi sắc giới có loại thấp kém, có loại trung bình, có loại cao quý. Sự tu tập về các thiện pháp đưa đến cõi vô sắc giới có loại thấp kém, có loại trung bình, có loại cao quý. Sự tu tập về các thiện pháp không bị lệ thuộc là cao quý.
Bốn sự tu tập: trong khi thấu triệt chân lý về Khổ với sự thấu triệt của sự biết toàn diện, (hành giả) tu tập; trong khi thấu triệt chân lý về nhân sanh (Khổ) với sự thấu triệt của sự dứt bỏ, (hành giả) tu tập; trong khi thấu triệt chân lý về sự diệt tận (Khổ) với sự thấu triệt của sự tác chứng, (hành giả) tu tập; trong khi thấu triệt chân lý về Đạo với sự thấu triệt của sự tu tập, (hành giả) tu tập. Đây là bốn sự tu tập.
Bốn sự tu tập khác nữa: tầm cầu là sự tu tập, thành đạt là sự tu tập, nhất vị là sự tu tập, rèn luyện là sự tu tập.
Tầm cầu gì là sự tu tập? ‘Đối với các vị đang thể nhập định thuộc mọi (đề mục), các pháp sanh khởi vào thời điểm ấy là có nhất vị.’ Tầm cầu này là sự tu tập.
Thành đạt gì là sự tu tập? ‘Đối với các vị đang thể nhập định thuộc mọi (đề mục), các pháp sanh khởi vào thời điểm nhập định ấy không vượt trội lẫn nhau.’ Thành đạt này là sự tu tập.
Nhất vị gì là sự tu tập? ‘Đối với vị đang tu tập tín quyền theo ý nghĩa cương quyết, do tác động của tín quyền bốn quyền (còn lại) là có nhất vị,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các quyền. ‘Đối với vị đang tu tập tấn quyền theo ý nghĩa ra sức, do tác động của tấn quyền … ‘Đối với vị đang tu tập niệm quyền theo ý nghĩa thiết lập, do tác động của niệm quyền … ‘Đối với vị đang tu tập định quyền theo ý nghĩa không tản mạn, do tác động của định quyền … ‘Đối với vị đang tu tập tuệ quyền theo ý nghĩa nhận thức, do tác động của tuệ quyền bốn quyền (còn lại của vị ấy) là có nhất vị,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các quyền.
‘Đối với vị đang tu tập tín lực theo ý nghĩa không dao động ở sự không có đức tin, do tác động của tín lực bốn lực (còn lại) là có nhất vị,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các lực. ‘Đối với vị đang tu tập tấn lực theo ý nghĩa không dao động ở sự biếng nhác, do tác động của tấn lực … ‘Đối với vị đang tu tập niệm lực theo ý nghĩa không dao động ở sự buông lung, do tác động của niệm lực … ‘Đối với vị đang tu tập định lực theo ý nghĩa không dao động ở sự phóng dật, do tác động của định lực … ‘Đối với vị đang tu tập tuệ lực theo ý nghĩa không dao động ở sự không sáng suốt, do tác động của tuệ lực bốn lực (còn lại) là có nhất vị,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các lực.
‘Đối với vị đang tu tập niệm giác chi theo ý nghĩa thiết lập, do tác động của niệm giác chi sáu giác chi (còn lại) là có nhất vị,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các giác chi. ‘Đối với vị đang tu tập trạch pháp giác chi theo ý nghĩa suy xét, do tác động của trạch pháp giác chi sáu giác chi (còn lại) là có nhất vị,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các giác chi. ‘Đối với vị đang tu tập cần giác chi theo ý nghĩa ra sức, do tác động của cần giác chi sáu giác chi (còn lại) … ‘Đối với vị đang tu tập hỷ giác chi theo ý nghĩa lan tỏa, do tác động của hỷ giác chi sáu giác chi (còn lại) … ‘Đối với vị đang tu tập tịnh giác chi theo ý nghĩa an tịnh, do tác động của tịnh giác chi sáu giác chi (còn lại) … ‘Đối với vị đang tu tập định giác chi theo ý nghĩa không tản mạn, do tác động của định giác chi sáu giác chi (còn lại) …(như trên)… ‘Đối với vị đang tu tập xả giác chi theo ý nghĩa phân biệt rõ, do tác động của xả giác chi sáu giác chi (còn lại) là có nhất vị,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các giác chi.
‘Đối với vị đang tu tập chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức, do tác động của chánh kiến bảy chi đạo (còn lại) là có nhất vị,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các chi đạo. ‘Đối với vị đang tu tập chánh tư duy theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh), do tác động của chánh tư duy bảy chi đạo (còn lại) …(như trên)… ‘Đối với vị đang tu tập chánh ngữ theo ý nghĩa gìn giữ, do tác động của chánh ngữ bảy chi đạo (còn lại) …(như trên)… ‘Đối với vị đang tu tập chánh nghiệp theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, do tác động của chánh nghiệp bảy chi đạo (còn lại) …(như trên)… ‘Đối với vị đang tu tập chánh mạng theo ý nghĩa trong sạch, do tác động của chánh mạng bảy chi đạo (còn lại) …(như trên)… ‘Đối với vị đang tu tập chánh tinh tấn theo ý nghĩa ra sức, do tác động của chánh tinh tấn bảy chi đạo (còn lại) …(như trên)… ‘Đối với vị đang tu tập chánh niệm theo ý nghĩa thiết lập, do tác động của chánh niệm bảy chi đạo (còn lại) …(như trên)… ‘Đối với vị đang tu tập chánh định theo ý nghĩa không tản mạn, do tác động của chánh định bảy chi đạo (còn lại) là có nhất vị,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các chi đạo. Nhất vị này là sự tu tập.
Rèn luyện gì là sự tu tập? Ở đây, vị tỳ khưu rèn luyện vào buổi sáng, rèn luyện luôn cả vào giữa trưa, rèn luyện luôn cả vào buổi tối, rèn luyện luôn cả trước bữa ăn, rèn luyện luôn cả sau bữa ăn, rèn luyện luôn cả vào canh đầu, rèn luyện luôn cả vào canh giữa, rèn luyện luôn cả vào canh cuối, rèn luyện luôn cả ban đêm, rèn luyện luôn cả ban ngày, rèn luyện luôn cả ban đêm và ban ngày, rèn luyện luôn cả trong nửa tháng đầu, rèn luyện luôn cả trong nửa tháng cuối, rèn luyện luôn cả trong mùa mưa, rèn luyện luôn cả trong mùa lạnh, rèn luyện luôn cả trong mùa nóng, rèn luyện luôn cả trong giai đoạn đầu của cuộc đời, rèn luyện luôn cả trong giai đoạn giữa của cuộc đời, rèn luyện luôn cả trong giai đoạn cuối của cuộc đời. Rèn luyện này là sự tu tập.
Đây là bốn sự tu tập.
Bốn sự tu tập khác nữa: là sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy, là sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các quyền, là sự tu tập theo ý nghĩa khởi động tinh tấn nhằm đạt đến giải thoát Niết Bàn, là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy là (có ý nghĩa) thế nào?
‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ ước muốn trong các dục, các pháp sanh lên do tác động của sự thoát ly không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sân độc, các pháp sanh lên do tác động của sự không sân độc không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, các pháp sanh lên do tác động của sự nghĩ tưởng đến ánh sáng không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ phóng dật, các pháp sanh lên do tác động của sự không tản mạn không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ hoài nghi, các pháp sanh lên do tác động của sự xác định pháp không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ vô minh, các pháp sanh lên do tác động của trí không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự không hứng thú, các pháp sanh lên do tác động của sự hân hoan không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy.
‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ các pháp ngăn che, các pháp sanh lên do tác động của sơ thiền không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ tầm tứ, các pháp sanh lên do tác động của nhị thiền không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ hỷ, các pháp sanh lên do tác động của tam thiền không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ lạc và khổ, các pháp sanh lên do tác động của tứ thiền không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy.
‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự nghĩ tưởng về sắc, sự nghĩ tưởng về bất bình, sự nghĩ tưởng về khác biệt, các pháp sanh lên do tác động của sự chứng đạt không vô biên xứ không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ, các pháp sanh lên do tác động của sự chứng đạt thức vô biên xứ không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ, các pháp sanh lên do tác động của sự chứng đạt vô sở hữu xứ không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ, các pháp sanh lên do tác động của sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy.
‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự nghĩ tưởng về thường còn, các pháp sanh lên do tác động của việc quán xét về vô thường không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự nghĩ tưởng về lạc, các pháp sanh lên do tác động của việc quán xét về khổ không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự nghĩ tưởng về ngã, các pháp sanh lên do tác động của việc quán xét về vô ngã không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự vui thích, các pháp sanh lên do tác động của việc quán xét về nhàm chán không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ tham ái, các pháp sanh lên do tác động của việc quán xét về ly tham ái không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ nhân sanh khởi, các pháp sanh lên do tác động của việc quán xét về diệt tận … ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự nắm giữ, các pháp sanh lên do tác động của việc quán xét về từ bỏ … ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự nghĩ tưởng về tiếp diễn, các pháp sanh lên do tác động của việc quán xét về đoạn tận … ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ (nghiệp) tích lũy, các pháp sanh lên do tác động của việc quán xét về biến hoại … ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự nghĩ tưởng về bền vững, các pháp sanh lên do tác động của việc quán xét về chuyển biến các pháp sanh lên không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ hiện tướng, các
pháp sanh lên do tác động của việc quán xét về vô tướng không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự nguyện ước, các pháp sanh lên do tác động của việc quán xét về vô nguyện không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự cố chấp, các pháp sanh lên do tác động của việc quán xét về không tánh không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự cố chấp về thực chất (của thường còn, của tự ngã), các pháp sanh lên do tác động của sự minh sát các pháp bằng thắng tuệ không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ cố chấp vào sự lầm lẫn, các pháp sanh lên do tác động của sự biết và thấy đúng theo thực thể không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự cố chấp vào sự lệ thuộc, các pháp sanh lên do tác động của việc quán xét về tai hại không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự không phân biệt rõ, các pháp sanh lên do tác động của việc quán xét về phân biệt rõ không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sự cố chấp vào sự ràng buộc, các pháp sanh lên do tác động của việc quán xét về ly khai không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy.
‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ các phiền não thuần về tà kiến, các pháp sanh lên do tác động của Đạo Nhập Lưu không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ các phiền não thô thiển, các pháp sanh lên do tác động của Đạo Nhất Lai không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ các phiền não có tính chất vi tế, các pháp sanh lên do tác động của Đạo Bất Lai không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ toàn bộ phiền não, các pháp sanh lên do tác động của Đạo A-la-hán không vượt trội lẫn nhau,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy.
Như vậy là sự tu tập theo ý nghĩa không vượt trội đối với các pháp đã được sanh lên trong trường hợp ấy.
Sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các quyền là (có ý nghĩa) thế nào?
‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ ước muốn trong các dục, do tác động của sự thoát ly khiến năm quyền là có nhất vị,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các quyền. ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ sân độc, do tác động của sự không sân độc …(như trên)… ‘Đối với (hành giả) đang dứt bỏ toàn bộ phiền não, do tác động của Đạo A-la-hán khiến năm quyền là có nhất vị,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các quyền.
Như vậy là sự tu tập theo ý nghĩa nhất vị đối với các quyền.
Sự tu tập theo ý nghĩa khởi động tinh tấn nhằm đạt đến giải thoát Niết Bàn là (có ý nghĩa) thế nào?
‘Trong khi dứt bỏ ước muốn trong các dục, do tác động của sự thoát ly (hành giả) khởi động sự tinh tấn,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa khởi động tinh tấn nhằm đạt đến giải thoát Niết Bàn. ‘Trong khi dứt bỏ sân độc, do tác động của sự không sân độc (hành giả) khởi động sự tinh tấn,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa khởi động tinh tấn nhằm đạt đến giải thoát Niết Bàn. …(như trên)… ‘Trong khi dứt bỏ toàn bộ phiền não, do tác động của Đạo A-la-hán (hành giả) khởi động sự tinh tấn,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa khởi động tinh tấn nhằm đạt đến giải thoát Niết Bàn. Như vậy là sự tu tập theo ý nghĩa khởi động tinh tấn nhằm đạt đến giải thoát Niết Bàn.
Sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện là (có ý nghĩa) thế nào?
‘Trong khi dứt bỏ ước muốn trong các dục, vị ấy rèn luyện sự thoát ly,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. ‘Trong khi dứt bỏ sân độc, vị ấy rèn luyện không sân độc,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. …(nt)… ‘Trong khi dứt bỏ toàn bộ phiền não, vị ấy rèn luyện Đạo A-la-hán,’ (đây là) sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện.
Như vậy là sự tu tập theo ý nghĩa rèn luyện. Đây là bốn sự tu tập.
Trong khi nhận thấy sắc, (vị ấy) tu tập; trong khi nhận thấy thọ, (vị ấy) tu tập; trong khi nhận thấy tưởng, (vị ấy) tu tập; trong khi nhận thấy các hành, (vị ấy) tu tập; trong khi nhận thấy thức, (vị ấy) tu tập. Trong khi nhận thấy mắt, …(như trên)… lão tử, …(như trên)… Niết Bàn liên quan đến bất tử theo ý nghĩa kết thúc, (vị ấy) tu tập.
Các pháp nào là đã được tu tập, các pháp ấy là có nhất vị. Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này cần được tu tập,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.”
Phần giải thích về ‘Cần được tu tập.’
Tụng phẩm thứ tư.
(6)
Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này cần được tác chứng,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe là (có ý nghĩa) thế nào?
Một pháp cần được tác chứng là: Tâm giải thoát là không chuyển đổi.
Hai pháp cần được tác chứng là: Minh và giải thoát.
Ba pháp cần được tác chứng là: Ba minh.*
Bốn pháp cần được tác chứng là: Bốn Quả vị của Sa-môn.*
Năm pháp cần được tác chứng là: Năm pháp uẩn.*
Sáu pháp cần được tác chứng là: Sáu thắng trí.*
Bảy pháp cần được tác chứng là: Bảy lực của bậc Lậu Tận.*
Tám pháp cần được tác chứng là: Tám giải thoát.*
Chín pháp cần được tác chứng là: Chín sự diệt tận theo tuần tự.*
Mười pháp cần được tác chứng là: Mười pháp của bậc Vô Học.*
(7)
Này các tỳ khưu, tất cả cần được tác chứng. Và này các tỳ khưu, điều gì là tất cả cần được tác chứng?
Này các tỳ khưu, mắt cần được tác chứng, các sắc cần được tác chứng, nhãn thức cần được tác chứng, nhãn xúc cần được tác chứng, cảm thọ nào được sanh lên do duyên nhãn xúc dầu là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng cần được tác chứng.
Tai cần được tác chứng, các thinh cần được tác chứng, … (như trên) … Mũi cần được tác chứng, các khí cần được tác chứng. … (như trên) … Lưỡi cần được tác chứng, các vị cần được tác chứng. … (như trên) … Thân cần được tác chứng, các xúc cần được tác chứng. … (như trên) … Ý cần được tác chứng, các pháp cần được tác chứng, ý thức cần được tác chứng, ý xúc cần được tác chứng, cảm thọ nào được sanh lên do duyên ý xúc dầu là lạc, hoặc là khổ, hoặc là không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng cần được tác chứng.
Trong lúc nhận thấy sắc, (hành giả) tác chứng; trong lúc nhận thấy thọ, (hành giả) tác chứng; trong lúc nhận thấy tưởng, (hành giả) tác chứng; trong lúc nhận thấy các hành, (hành giả) tác chứng; trong lúc nhận thấy thức, (hành giả) tác chứng; trong lúc nhận thấy mắt …(như trên)… lão tử …(như trên)… Niết Bàn liên quan đến bất tử theo ý nghĩa kết thúc, (hành giả) tác chứng.
Các pháp nào đã được tác chứng, các pháp ấy là đã được chạm đến. Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này cần được tác chứng,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.”
Phần giải thích về ‘Cần được tu tập.’
(8)
Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này đưa đến thoái hóa, các pháp này đưa đến bền vững, các pháp này đưa đến thù thắng, các pháp này đưa đến thông suốt,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe là (có ý nghĩa) thế nào?
Đối với vị đã đắc sơ thiền, tưởng và tác ý đi cùng với dục sanh khởi là pháp đưa đến thoái hóa, niệm có bản chất thuận theo pháp (thiền) ấy được an trụ là pháp đưa đến bền vững, tưởng và tác ý không đi cùng với tầm sanh khởi là pháp đưa đến thù thắng, tưởng và tác ý đi cùng với nhàm chán sanh khởi và tương ưng với ly tham ái là pháp đưa đến thông suốt.
Đối với vị đã đắc nhị thiền, tưởng và tác ý đi cùng với tầm sanh khởi là pháp đưa đến thoái hóa, niệm có bản chất thuận theo pháp (thiền) ấy được an trụ là pháp đưa đến bền vững, tưởng và tác ý đi cùng với xả và lạc sanh khởi là pháp đưa đến thù thắng, tưởng và tác ý đi cùng với sự nhàm chán sanh khởi và tương ưng với ly tham ái là pháp đưa đến thông suốt.
Đối với vị đã đắc tam thiền, tưởng và tác ý đi cùng với hỷ và lạc sanh khởi là pháp đưa đến thoái hóa, niệm có bản chất thuận theo pháp (thiền) ấy được an trụ là pháp đưa đến bền vững, tưởng và tác ý đi cùng với không khổ và không lạc sanh khởi là pháp đưa đến thù thắng, tưởng và tác ý đi cùng với sự nhàm chán sanh khởi và tương ưng với ly tham ái là pháp đưa đến thông suốt.
Đối với vị đã đắc tứ thiền, tưởng và tác ý đi cùng với xả và lạc sanh khởi là pháp đưa đến thoái hóa, niệm có bản chất thuận theo pháp (thiền) ấy được an trụ là pháp đưa đến bền vững, tưởng và tác ý đi cùng với không vô biên xứ sanh khởi là pháp đưa đến thù thắng, tưởng và tác ý đi cùng với sự nhàm chán sanh khởi và tương ưng với ly tham ái là pháp đưa đến thông suốt.
Đối với vị đã đắc không vô biên xứ, tưởng và tác ý đi cùng với sắc sanh khởi là pháp đưa đến thoái hóa, niệm có bản chất thuận theo pháp (thiền) ấy được an trụ là pháp đưa đến bền vững, tưởng và tác ý đi cùng với thức vô biên xứ sanh khởi là pháp đưa đến thù thắng, tưởng và tác ý đi cùng với sự nhàm chán sanh khởi và tương ưng với ly tham ái là pháp đưa đến thông suốt.
Đối với vị đã đắc thức vô biên xứ, tưởng và tác ý đi cùng với không vô biên xứ sanh khởi là pháp đưa đến thoái hóa, niệm có bản chất thuận theo pháp (thiền) ấy được an trụ là pháp đưa đến bền vững, tưởng và tác ý đi cùng với vô sở hữu xứ sanh khởi là pháp đưa đến thù thắng, tưởng và tác ý đi cùng với sự nhàm chán sanh khởi và tương ưng với ly tham ái là pháp đưa đến thông suốt.
Đối với vị đã đắc vô sở hữu xứ, tưởng và tác ý đi cùng với thức vô biên xứ sanh khởi là pháp đưa đến thoái hóa, niệm có bản chất thuận theo pháp (thiền) ấy được an trụ là pháp đưa đến bền vững, tưởng và tác ý đi cùng với phi tưởng phi phi tưởng xứ sanh khởi là pháp đưa đến thù thắng, tưởng và tác ý …(nt)… là pháp đưa đến thông suốt.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Sự nhận định ở tai là ‘Các pháp này đưa đến thoái hóa, các pháp này đưa đến bền vững, các pháp này đưa đến thù thắng, các pháp này đưa đến thông suốt,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.”
Phần giải thích nhóm bốn về ‘Đưa đến thoái hóa.’
(9)
Sự nhận định ở tai là ‘Tất cả các hành là vô thường, tất cả các hành là khổ não, tất cả các pháp là vô ngã,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe là (có ý nghĩa) thế nào?
Sự nhận định ở tai là ‘Sắc là vô thường theo ý nghĩa đoạn tận, là khổ não theo ý nghĩa kinh hãi, là vô ngã theo ý nghĩa không có cốt lỏi,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.
Sự nhận định ở tai là ‘Thọ … Tưởng … Các hành … Thức … Mắt … Lão tử là vô thường theo ý nghĩa đoạn tận, là khổ não theo ý nghĩa kinh hãi, là vô ngã theo ý nghĩa không có cốt lỏi,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Sự nhận định ở tai là ‘Tất cả các hành là vô thường, tất cả các hành là khổ não, tất cả các pháp là vô ngã,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.”
Phần giải thích nhóm ba về ‘Hiện tướng.’
(10)
Sự nhận định ở tai là ‘Đây là chân lý cao thượng về Khổ, đây là chân lý cao thượng về nhân sanh Khổ, đây là chân lý cao thượng về sự diệt tận Khổ, đây là chân lý cao thượng về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe là (có ý nghĩa) thế nào?
Ở đây, chân lý cao thượng về Khổ là (có ý nghĩa) thế nào?* Sanh là khổ, già cũng là khổ, chết cũng là khổ, sự sầu muộn-than vãn-khổ đau-ưu phiền-thất vọng cũng là khổ, sự liên hệ với những gì không yêu thích là khổ, sự xa lìa với những gì yêu thích là khổ, mong muốn mà không đạt được cũng là khổ, tóm tắt lại năm thủ uẩn là khổ.
Ở đây, sanh là (có ý nghĩa) thế nào? Là sự sanh ra, sự sanh khởi, sự hạ sanh, sự tái sanh, sự hiện khởi của các uẩn, sự thành tựu của các xứ đối với các chúng sanh ấy ở tập thể của các chúng sanh ấy, sự việc này được gọi là sanh.
Ở đây, già là (có ý nghĩa) thế nào? Là sự già nua, sự hư hoại, sự rụng răng, tình trạng bạc tóc, da nhăn, sự rút ngắn tuổi thọ, sự suy nhược các căn đối với các chúng sanh ấy ở tập thể của các chúng sanh ấy, sự việc này được gọi là già.
Ở đây, chết là (có ý nghĩa) thế nào? Là sự từ trần, sự tiêu hoại, sự phân rã, sự biến mất, sự tử, sự chết, sự hết thời kỳ, sự tan rã các uẩn, sự bỏ lại xác thân, sự gián đoạn các quyền đối với các chúng sanh ấy ở tập thể của các chúng sanh ấy, sự việc này được gọi là chết.
Ở đây, sầu muộn là (có ý nghĩa) thế nào? Là sự sầu muộn, sự buồn rầu, trạng thái buồn phiền, sự sầu muộn ở nội tâm, sự buồn thảm ở nội tâm, nỗi ưu phiền do trạng thái bực bội ở tâm, sự sầu muộn ví như mũi tên của người bị tác động bởi sự rủi ro về thân quyến, bị tác động bởi sự rủi ro về của cải, bị tác động bởi sự rủi ro về tật bệnh, bị tác động bởi sự suy giảm về giới hạnh, bị tác động bởi sự suy giảm về kiến thức, bị gặp phải sự rủi ro này hoặc rủi ro khác, bị tác động bởi sự khổ đau này hoặc sự khổ đau khác; điều này được gọi là sầu muộn.
Ở đây, than vãn là (có ý nghĩa) thế nào? Là sự phàn nàn, sự than vãn, sự kể lể, sự kêu gào, trạng thái kể lể, trạng thái kêu gào, lời nói lảm nhảm, sự lải nhải, sự rên rỉ, sự khóc than, trạng thái khóc than của người bị tác động bởi sự rủi ro về thân quyến, bị tác động bởi sự rủi ro về của cải, bị tác động bởi sự rủi ro về tật bệnh, bị tác động bởi sự suy giảm về giới hạnh, bị tác động bởi sự suy giảm về kiến thức, bị gặp phải sự rủi ro này hoặc rủi ro khác, bị tác động bởi sự khổ đau này hoặc sự khổ đau khác; điều này được gọi là than vãn.
Ở đây, khổ đau là (có ý nghĩa) thế nào? Điều nào là sự không thoải mái thuộc thân, khổ đau thuộc thân, được nhận biết là không thoải mái và khổ đau sanh lên do thân xúc, là cảm thọ không thoải mái và khổ đau sanh lên do thân xúc; điều này được gọi là khổ đau.
Ở đây, ưu phiền là (có ý nghĩa) thế nào? Điều nào là sự không thoải mái thuộc tâm, khổ đau thuộc tâm, được nhận biết là không thoải mái và khổ đau sanh lên do ý xúc, là cảm thọ không thoải mái và khổ đau sanh lên do ý xúc; điều này được gọi là ưu phiền.
Ở đây, thất vọng là (có ý nghĩa) thế nào? Điều nào là sự lo âu, sự thất vọng, sự bồn chồn, sự tuyệt vọng, trạng thái bồn chồn, trạng thái tuyệt vọng của người bị tác động bởi sự rủi ro về thân quyến, bị tác động bởi sự rủi ro về của cải, bị tác động bởi sự rủi ro về tật bệnh, bị tác động bởi sự rủi ro về giới hạnh, bị tác động bởi sự suy giảm về kiến thức, bị gặp phải sự rủi ro này hoặc rủi ro khác, bị tác động bởi khổ đau này hoặc khổ đau khác; điều này được gọi là thất vọng.
Ở đây, sự liên hệ với những gì không yêu thích là khổ là (có ý nghĩa) thế nào? Trong trường hợp này, điều nào sự giao tiếp, sự kết hợp, sự liên kết, tình trạng dính líu với các sắc, các thinh, các khí, các vị, các xúc khó chịu, khó ưa, không hợp ý, hoặc là với những người không tầm cầu điều hữu ích, không tầm cầu điều có lợi, không tầm cầu sự an lạc, không tầm cầu sự yên ổn khỏi các vướng bận; điều này được gọi là sự liên hệ với những gì không yêu thích là khổ.
Ở đây, sự xa lìa với những gì yêu thích là khổ là (có ý nghĩa) thế nào? Trong trường hợp này, điều nào là sự không giao tiếp, sự không kết hợp, sự không liên kết, tình trạng không dính líu với các sắc, các thinh, các khí, các vị, các xúc dễ chịu, đáng ưa, hợp ý, hoặc là với những người tầm cầu điều hữu ích, tầm cầu điều có lợi, tầm cầu sự an lạc, tầm cầu sự yên ổn khỏi các vướng bận, hoặc là với mẹ, với cha, với anh em trai, với chị em gái, với bạn bè, với thân hữu, với họ hàng, hay là với quyến thuộc; điều này được gọi là sự xa lìa với những gì yêu thích là khổ.
Ở đây, mong muốn mà không đạt được cũng là khổ là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với các chúng sanh là đối tượng của sự sanh có mong muốn khởi lên như vầy: “Ôi, ước sao chúng ta không là đối tượng của sự sanh! Và ước sao sự sanh không thể tác động đến chúng ta!” Tuy nhiên, điều ấy không thể đạt được do mong muốn, điều này chính là mong muốn mà không đạt được cũng là khổ. Đối với các chúng sanh là đối tượng của sự già …(như trên)… là đối tượng của sự bệnh …(như trên)… là đối tượng của sự chết …(như trên)… là đối tượng của sầu muộn-than vãn-khổ đau-ưu phiền-thất vọng, “Ôi, ước sao chúng ta không là đối tượng của sự sầu muộn-than vãn-khổ đau-ưu phiền-thất vọng! Và ước sao sự sầu muộn-than vãn-khổ đau-ưu phiền-thất vọng không thể tác động đến chúng ta!” Tuy nhiên, điều ấy không thể đạt được do mong muốn; điều này chính là mong muốn mà không đạt được cũng là khổ.
Ở đây, tóm tắt lại năm thủ uẩn là khổ là (có ý nghĩa) thế nào? Tức là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn; các điều này tóm tắt lại được gọi là năm thủ uẩn là khổ. Điều này được gọi là chân lý cao thượng về Khổ.
Phần giải thích ‘Chân lý về Khổ.’
Ở đây, chân lý cao thượng về nhân sanh Khổ là (có ý nghĩa) thế nào?
Điều này là ái đưa đến tái sanh, đi cùng với sự vui thích và tham ái, có sự thích thú nơi này nơi nọ, tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.* Vậy ái ấy khi sanh lên thì sanh lên ở đâu? Khi trụ lại thì trụ lại ở đâu? Ở đời, vật nào được yêu thích vật nào đem lại sảng khoái, ái ấy khi sanh lên thì sanh lên ở nơi ấy, khi trụ lại thì trụ lại ở nơi ấy.
Vậy ở đời, vật được yêu thích vật đem lại sảng khoái là gì? Ở đời, mắt là vật được yêu thích, là vật đem lại sảng khoái, ái ấy khi sanh lên thì sanh lên ở nơi ấy, khi trụ lại thì trụ lại ở nơi ấy. Ở đời, tai …(như trên)… Ở đời, mũi …(như trên)… Ở đời, lưỡi …(như trên)… Ở đời, thân …(như trên)… Ở đời, ý là vật được yêu thích, là vật đem lại sảng khoái, ái ấy khi sanh lên thì sanh lên ở nơi ấy, khi trụ lại thì trụ lại ở nơi ấy.
Ở đời, các sắc là vật được yêu thích, là vật đem lại sảng khoái, ái ấy khi sanh lên thì sanh lên ở nơi ấy, khi trụ lại thì trụ lại ở nơi ấy. Ở đời, các thinh …(như trên)… Ở đời, các pháp …(như trên)… Ở đời, nhãn thức …(như trên)… Ở đời, ý thức …(như trên)… Ở đời, nhãn xúc …(như trên)… Ở đời, ý xúc …(như trên)… Ở đời, cảm thọ sanh lên do nhãn xúc …(như trên)… Ở đời, cảm thọ sanh lên do ý xúc …(như trên)… Ở đời, sắc tưởng …(như trên)… Ở đời, pháp tưởng …(như trên)… Ở đời, sắc tư …(như trên)… Ở đời, pháp tư …(như trên)… Ở đời, sắc ái …(như trên)… Ở đời, pháp ái …(như trên)… Ở đời, sắc tầm …(như trên)… Ở đời, pháp tầm …(như trên)… Ở đời, sắc tứ …(như trên)… Ở đời, pháp tứ là vật được yêu thích, là vật đem lại sảng khoái, ái ấy khi sanh lên thì sanh lên ở nơi ấy, khi trụ lại thì trụ lại ở nơi ấy. Điều này được gọi là chân lý cao thượng về nhân sanh Khổ.
Phần giải thích ‘Chân lý v ề Nhân Sanh (Kh ổ) .’
Ở đây, chân lý cao thượng về sự diệt tận Khổ là (có ý nghĩa) thế nào?
Là sự ly tham ái và sự diệt tận hoàn toàn, là sự xả bỏ, là sự từ bỏ, là sự thoát khỏi, là sự không dính líu đối với chính ái ấy. Vậy ái ấy khi được dứt bỏ thì được dứt bỏ ở đâu? Khi được diệt tận thì được diệt tận ở đâu? Ở đời, vật nào được yêu thích vật nào đem lại sảng khoái, ái ấy khi được dứt bỏ thì được dứt bỏ ở nơi ấy, khi được diệt tận thì được diệt tận ở nơi ấy.
Vậy ở đời, vật được yêu thích vật đem lại sảng khoái là gì? Ở đời, mắt là vật được yêu thích, là vật đem lại sảng khoái, ái ấy khi được dứt bỏ thì được dứt bỏ ở nơi ấy, khi được diệt tận thì được diệt tận ở nơi ấy. …(như trên)… Ở đời, pháp tứ là vật được yêu thích, là vật đem lại sảng khoái, ái ấy khi được dứt bỏ thì được dứt bỏ ở nơi ấy, khi được diệt tận thì được diệt tận ở nơi ấy. Điều này được gọi là chân lý cao thượng về sự diệt tận Khổ.
Phần giải thích ‘Chân lý v ề Nhân Sanh (Kh ổ) .’
Ở đây, chân lý cao thượng về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ là (có ý nghĩa) thế nào?
Điều này chính là Thánh Đạo tám chi phần, tức là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Ở đây, chánh kiến là (có ý nghĩa) thế nào? Là trí về Khổ, trí về nhân sanh Khổ, trí về sự diệt tận Khổ, trí về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ; điều này được gọi là chánh kiến.
Ở đây, chánh tư duy là (có ý nghĩa) thế nào? Là tư duy về sự thoát ly, tư duy về không sân độc, tư duy về không hãm hại; điều này được gọi là chánh tư duy.
Ở đây, chánh ngữ là (có ý nghĩa) thế nào? Là sự ngăn ngừa việc nói láo, sự ngăn ngừa việc nói đâm thọc, sự ngăn ngừa việc nói độc ác, sự ngăn ngừa việc nói nhảm nhí; điều này được gọi là chánh ngữ.
Ở đây, chánh nghiệp là (có ý nghĩa) thế nào? Là sự ngăn ngừa việc giết hại mạng sống, sự ngăn ngừa việc trộm cắp, sự ngăn ngừa hành động sai trái trong các dục; điều này được gọi là chánh nghiệp.
Ở đây, chánh mạng là (có ý nghĩa) thế nào? Trong Giáo Pháp này, vị đệ tử Phật dứt bỏ sự nuôi mạng sai trái và duy trì mạng sống bằng sự nuôi mạng chân chánh; điều này được gọi là chánh mạng.
Ở đây, chánh tinh tấn là (có ý nghĩa) thế nào? Vị tỳ khưu trong Giáo Pháp này khởi lên ước muốn về việc không làm sanh khởi của các ác bất thiện pháp chưa được sanh khởi, (vị ấy) cần mẫn, khởi sự tinh tấn, quyết tâm, nỗ lực, khởi lên ước muốn về việc dứt bỏ các ác bất thiện pháp đã được sanh khởi …(như trên) …, khởi lên ước muốn về việc làm sanh khởi các thiện pháp chưa được sanh khởi …(như trên) …, khởi lên ước muốn về việc duy trì, về sự không tiêu hoại, về tình trạng tăng trưởng, về sự lớn mạnh, về sự phát triển, về sự toàn vẹn của các thiện pháp đã được sanh khởi, (vị ấy) cần mẫn, khởi sự tinh tấn, quyết tâm, nỗ lực; điều này được gọi là chánh tinh tấn.
Ở đây, chánh niệm là (có ý nghĩa) thế nào? Vị tỳ khưu trong Giáo Pháp này sống có sự quán xét thân trên thân, với nhiệt tâm, tỉnh giác, có niệm, (vị ấy) có thể chế ngự tham đắm và ưu phiền ở chính bản thân. … có sự quán xét thọ trên các thọ, … có sự quán xét tâm trên tâm, … có sự quán xét pháp trên các pháp, với nhiệt tâm, tỉnh giác, có niệm, (vị ấy) có thể chế ngự tham đắm và ưu phiền ở chính bản thân; điều này được gọi là chánh niệm.
Ở đây, chánh định là (có ý nghĩa) thế nào? Vị tỳ khưu trong Giáo Pháp này ngay sau khi tách ly các dục, tách ly các bất thiện pháp, (vị ấy) đạt đến và an trú sơ thiền có tầm có tứ có hỷ lạc sanh lên do sự tách ly; do sự vắng lặng của tầm và tứ, (vị ấy) đạt đến và an trú nhị thiền với nội phần tĩnh lặng, có trạng thái nhất tâm, không tầm không tứ, có hỷ lạc sanh lên do định; ly hỷ và ly tham ái (không còn tham muốn ở hỷ), (vị ấy) an trú xả, có niệm và tỉnh giác, và (vị ấy) cảm nhận lạc bằng thân, các bậc Thánh gọi điều ấy là: ‘Có xả, có niệm, trú vào lạc,’ (vị ấy) đạt đến và an trú tam thiền ấy; do sự dứt bỏ lạc và do sự dứt bỏ khổ, do sự biến mất của hỷ và ưu ngay trước đây, (vị ấy) đạt đến và an trú tứ thiền không khổ không lạc, có sự thanh tịnh của xả và niệm; điều này được gọi là chánh định. Điều này được gọi là chân lý cao thượng về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.
Phần giải thích ‘Chân lý v ề Đạo.’
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Đây là chân lý cao thượng về Khổ, đây là chân lý cao thượng về nhân sanh Khổ, đây là chân lý cao thượng về sự diệt tận Khổ, đây là chân lý cao thượng về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ,’ tuệ do sự nhận biết điều ấy là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.”
Tuệ về sự ghi nhận ở tai là trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe là (có ý nghĩa) như thế.
Phần giải thích về ‘Bốn Chân Lý.’
‘Trí về yếu tố tạo thành điều đã được nghe.’
2. Trí về yếu tố tạo thành giới
Sau khi đã nghe, tuệ về sự thu thúc là trí về yếu tố tạo thành giới là (có ý nghĩa) thế nào?
Có năm loại giới: giới có sự thanh tịnh giới hạn, giới có sự thanh tịnh không giới hạn, giới có sự thanh tịnh toàn vẹn, giới có sự thanh tịnh chưa được tuyệt đối, giới có sự thanh tịnh tĩnh lặng.
Ở đây, giới có sự thanh tịnh giới hạn là thế nào? Là đối với các điều học đã được giới hạn của những người chưa tu lên bậc trên; đây là giới có sự thanh tịnh giới hạn.
Giới có sự thanh tịnh không giới hạn là thế nào? Là đối với các điều học không được giới hạn của những người đã tu lên bậc trên; đây là giới có sự thanh tịnh không giới hạn.
Giới có sự thanh tịnh toàn vẹn là thế nào? Là của các phàm nhân hoàn thiện, gắn bó với các thiện pháp, có sự thực hành đầy đủ các phần đã được giới hạn dành cho bậc hữu học, không xem trọng thân thể và sanh mạng, có mạng sống đã được buông bỏ; đây là giới có sự thanh tịnh toàn vẹn.
Giới có sự thanh tịnh chưa tuyệt đối là thế nào? Là của bảy hạng hữu học; đây là giới có sự thanh tịnh chưa tuyệt đối.
Giới có sự thanh tịnh tĩnh lặng là thế nào? Là của các vị Thinh Văn của đức Như Lai có các lậu hoặc đã được đoạn tận, của các vị Phật Độc Giác, của các đức Như Lai A-la-hán Chánh Đẳng Giác; đây là giới có sự thanh tịnh tĩnh lặng.
Có loại giới bị hạn chế, có loại giới không bị hạn chế.
Ở đây, loại giới bị hạn chế ấy là thế nào? Có loại giới bị hạn chế vì lợi, có loại giới bị hạn chế vì danh, có loại giới bị hạn chế vì thân quyến, có loại giới bị hạn chế vì chi phần (thân thể), có loại giới bị hạn chế vì mạng sống.
Giới bị hạn chế vì lợi ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân lợi, do duyên lợi, do động cơ lợi vi phạm điều học đã được thọ trì; đây chính là giới bị hạn chế vì lợi.
Giới bị hạn chế vì danh ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân danh vọng, do duyên danh vọng, do động cơ danh vọng vi phạm điều học đã được thọ trì; đây chính là giới bị hạn chế vì danh.
Giới bị hạn chế vì thân quyến ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân thân quyến, do duyên thân quyến, do động cơ thân quyến vi phạm điều học đã được thọ trì; đây chính là giới bị hạn chế vì thân quyến.
Giới bị hạn chế vì chi phần (thân thể) ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân chi phần (thân thể), do duyên chi phần (thân thể), do động cơ chi phần (thân thể) vi phạm điều học đã được thọ trì; đây chính là giới bị hạn chế vì chi phần (thân thể).
Giới bị hạn chế vì mạng sống ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân mạng sống, do duyên mạng sống, do động cơ mạng sống vi phạm điều học đã được thọ trì; đây chính là giới bị hạn chế vì mạng sống.
Các giới có hình thức như vậy là bị sứt mẻ, bị đổ vỡ, có các vết lấm, có các đốm nhơ, không làm cho giải thoát, không được bậc trí ngợi khen, bị tiêm nhiễm, không đưa đến định, không là các nền tảng cho sự không ăn năn, không là các nền tảng cho sự hân hoan, không là các nền tảng cho hỷ, không là các nền tảng cho tịnh, không là các nền tảng cho lạc, không là các nền tảng cho định, không là các nền tảng cho sự biết và thấy đúng theo thực thể, không đưa đến sự nhàm chán toàn diện, sự ly tham ái, sự diệt tận, sự an tịnh, thắng trí, sự giác ngộ hoàn toàn, Niết Bàn; đây là giới bị hạn chế ấy.
Giới không bị hạn chế ấy là thế nào? Có giới không bị hạn chế vì lợi, có giới không bị hạn chế vì danh, có giới không bị hạn chế vì thân quyến, có giới không bị hạn chế vì chi phần (thân thể), có giới không bị hạn chế vì mạng sống.
Giới không bị hạn chế vì lợi ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân lợi, do duyên lợi, do động cơ lợi vẫn không khởi tâm vi phạm điều học đã được thọ trì, vậy vị ấy sẽ vi phạm điều gì? Đây chính là giới không bị hạn chế vì lợi.
Giới không bị hạn chế vì danh ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân danh vọng, do duyên danh vọng, do động cơ danh vọng vẫn không khởi tâm vi phạm điều học đã được thọ trì, vậy vị ấy sẽ vi phạm điều gì? Đây chính là giới không bị hạn chế vì danh.
Giới không bị hạn chế vì thân quyến ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân thân quyến, do duyên thân quyến, do động cơ thân quyến vẫn không khởi tâm vi phạm điều học đã thọ trì, vậy vị ấy sẽ vi phạm điều gì? Đây chính là giới không bị hạn chế vì thân quyến.
Giới không bị hạn chế vì chi phần (thân thể) ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân chi phần (thân thể), do duyên chi phần (thân thể), do động cơ chi phần (thân thể) vẫn không khởi tâm vi phạm điều học đã được thọ trì, vậy vị ấy sẽ vi phạm điều gì? Đây chính là giới không bị hạn chế vì chi phần (thân thể).
Giới không bị hạn chế vì mạng sống ấy là thế nào? Ở đây, có người do nhân mạng sống, do duyên mạng sống, do động cơ mạng sống vẫn không khởi tâm vi phạm điều học đã được thọ trì, vậy vị ấy sẽ vi phạm điều gì? Đây chính là giới không bị hạn chế vì mạng sống.
Các giới có hình thức như vậy là không bị sứt mẻ, không bị đổ vỡ, không có các vết lấm, không có các đốm nhơ, làm cho giải thoát, được các bậc trí ngợi khen, không bị tiêm nhiễm, đưa đến định, là các nền tảng cho sự không ăn năn, là các nền tảng cho sự hân hoan, là các nền tảng cho hỷ, là các nền tảng cho tịnh, là các nền tảng cho lạc, là các nền tảng cho định, là các nền tảng cho sự biết và thấy đúng theo thực thể, đưa đến sự nhàm chán toàn diện, sự ly tham ái, sự diệt tận, sự an tịnh, thắng trí, sự giác ngộ hoàn toàn, Niết Bàn. Đây là giới không bị hạn chế ấy.
Giới là gì? Có bao nhiêu loại giới? Giới có nguồn sanh khởi là gì? Giới có sự liên kết với bao nhiêu pháp?
Giới là gì? Sự cố ý là giới, thuộc về tâm là giới, sự thu thúc là giới, sự không vi phạm là giới.
Có bao nhiêu loại giới? Có ba loại giới: thiện giới, bất thiện giới, vô ký giới.
Giới có nguồn sanh khởi là gì? Thiện giới có nguồn sanh khởi là các tâm thiện, bất thiện giới có nguồn sanh khởi là các tâm bất thiện, vô ký giới có nguồn sanh khởi là các tâm vô ký.
Giới có sự liên kết với bao nhiêu pháp? Giới có sự liên kết với sự thu thúc, giới có sự liên kết với sự không vi phạm, giới có sự liên kết với sự cố ý đã sanh lên trong trường hợp như thế.
Sự giết hại sanh mạng theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Trộm cắp theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Hành động sai trái trong các dục theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Nói láo theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Nói đâm thọc theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Nói độc ác theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Nói nhảm nhí theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Tham ác theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Sân độc theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Tà kiến theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới.
Do sự thoát ly, sự ước muốn trong các dục theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Do sự không sân độc, sự sân độc theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới. Do sự nghĩ tưởng đến ánh sáng, sự lờ đờ buồn ngủ …(như trên)… Do sự không tản mạn, sự phóng dật …(như trên)… Do sự xác định pháp, sự hoài nghi …(như trên)… Do trí, vô minh …(như trên)… Do sự hân hoan, sự không hứng thú theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới.
Do sơ thiền, các pháp ngăn che …(như trên)… Do nhị thiền, tầm tứ …(như trên)… Do tam thiền, hỷ … Do tứ thiền, lạc và khổ … Do sự chứng đạt không vô biên xứ, sự nghĩ tưởng về sắc, nghĩ tưởng về bất bình, nghĩ tưởng về sự khác biệt … Do sự chứng đạt thức vô biên xứ, sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ … Do sự chứng đạt vô sở hữu xứ, sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ … Do sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ …(như trên)…
Do quán xét về vô thường, sự nghĩ tưởng về thường còn …(như trên)… Do quán xét về khổ, sự nghĩ tưởng về lạc …(như trên)… Do quán xét về vô ngã, sự nghĩ tưởng về ngã … Do quán xét về nhàm chán, sự vui thích … Do quán xét về ly tham ái, tham ái … Do quán xét về diệt tận, nhân sanh khởi … Do quán xét về từ bỏ, sự nắm giữ … Do quán xét về đoạn tận, sự nghĩ tưởng về sự tiếp nối … Do quán xét về biến hoại, (nghiệp) tích lũy … Do quán xét về chuyển biến, sự nghĩ tưởng về vững chắc … Do quán xét về vô tướng, hiện tướng … Do quán xét về vô nguyện, sự nguyện ước … Do quán xét về không tánh, sự cố chấp … Do minh sát các pháp bằng thắng tuệ, sự cố chấp trong việc chấp giữ mãnh lực (của lòng ham muốn là thường còn) … Do quán xét về sự biết và thấy đúng theo thực thể, sự cố chấp vào sự lầm lẫn … Do quán xét về tai hại, sự cố chấp vào sự nương tựa … Do quán xét về phân biệt rõ, sự không phân biệt rõ …(như trên)… Do quán xét về ly khai, sự cố chấp vào sự ràng buộc …(như trên)…
Do Đạo Nhập Lưu, các phiền não thuần về tà kiến …(như trên)… Do Đạo Nhất Lai, các phiền não thô thiển … Do Đạo Bất Lai, các phiền não có tính chất vi tế … Do Đạo A-la-hán, toàn bộ phiền não theo ý nghĩa thu thúc là giới, theo ý nghĩa không vi phạm là giới.
Năm loại giới: Đối với việc giết hại mạng sống, sự dứt bỏ là giới, sự ngăn ngừa là giới, sự cố ý là giới, sự thu thúc là giới, sự không vi phạm là giới. Các giới có hình thức như vậy đưa đến sự không ăn năn của tâm, đưa đến sự hân hoan, đưa đến hỷ, đưa đến tịnh, đưa đến tâm vui mừng, đưa đến sự rèn luyện, đưa đến sự tu tập, đưa đến hành động được sung mãn, đưa đến việc thực hiện được đầy đủ, đưa đến điều thiết yếu, đưa đến điều phụ trợ, đưa đến sự vẹn toàn, đưa đến sự nhàm chán toàn diện, đưa đến ly tham ái, đưa đến sự diệt tận, đưa đến sự an tịnh, đưa đến thắng trí, đưa đến sự giác ngộ hoàn toàn, đưa đến Niết Bàn.
Sự thanh tịnh do thu thúc đối với các giới có hình thức như vậy là thắng giới. Tâm trụ vào sự thanh tịnh do thu thúc không đi đến tản mạn, sự thanh tịnh do không tản mạn là thắng tâm. (Hành giả) nhận thấy một cách đúng đắn sự thanh tịnh do thu thúc, nhận thấy một cách đúng đắn sự thanh tịnh do không tản mạn, sự thanh tịnh trong sự nhận thấy là thắng tuệ. Ở đây, việc nào có ý nghĩa thu thúc, việc ấy là sự học tập về thắng giới. Ở đây, việc nào có ý nghĩa không tản mạn, việc ấy là sự học tập về thắng tâm. Ở đây, việc nào có ý nghĩa nhận thấy, việc ấy là sự học tập về thắng tuệ.
Trong khi hướng tâm đến ba sự học tập này, vị ấy học tập. Trong khi nhận biết, vị ấy học tập. Trong khi nhận thấy, vị ấy học tập. Trong khi quán xét lại, vị ấy học tập. Trong khi khẳng định tâm, vị ấy học tập. Trong khi hướng đến đức tin, vị ấy học tập. Trong khi ra sức tinh tấn, vị ấy học tập. Trong khi thiết lập niệm, vị ấy học tập. Trong khi tập trung tâm, vị ấy học tập. Trong khi nhận biết bởi tuệ, vị ấy học tập. Trong khi biết rõ điều cần được biết rõ, vị ấy học tập. Trong khi biết toàn diện điều cần được biết toàn diện, vị ấy học tập. Trong khi dứt bỏ điều cần được dứt bỏ, vị ấy học tập. Trong khi tu tập điều cần được tu tập, vị ấy học tập. Trong khi tác chứng điều cần được tác chứng, vị ấy học tập.
Năm loại giới: Đối với trộm cắp …(nt)… Đối với hành động sai trái trong các dục …(nt)… Đối với lời nói láo … Đối với lời nói đâm thọc … Đối với lời nói độc ác … Đối với lời nói nhảm nhí … Đối với tham ác … Đối với sân độc … Đối với tà kiến …(như trên)…
Do sự thoát ly, đối với ước muốn trong các dục …(như trên)… Do sự không sân độc, đối với sân độc … Do sự nghĩ tưởng đến ánh sáng, đối với sự lờ đờ buồn ngủ … Do sự không tản mạn, đối với sự phóng dật … Do sự xác định pháp, đối với sự hoài nghi … Do trí, đối với vô minh … Do sự hân hoan, đối với sự không hứng thú …(như trên)…
Do sơ thiền, đối với các pháp ngăn che …(như trên)… Do nhị thiền, đối với tầm tứ …(như trên)… Do tam thiền, đối với hỷ … Do tứ thiền, đối với lạc và khổ … Do sự chứng đạt không vô biên xứ, đối với sự nghĩ tưởng về sắc, nghĩ tưởng về bất bình, nghĩ tưởng về sự khác biệt … Do sự chứng đạt thức vô biên xứ, đối với sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ … Do sự chứng đạt vô sở hữu xứ, đối với sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ … Do sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, đối với sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ …(như trên)…
Do quán xét về vô thường, đối với sự nghĩ tưởng về thường còn …(như trên)… Do quán xét về khổ não, đối với sự nghĩ tưởng về lạc … Do quán xét về vô ngã, đối với sự nghĩ tưởng về ngã … Do quán xét về nhàm chán, đối với sự vui thích … Do quán xét về ly tham ái, đối với tham ái … Do quán xét về diệt tận, đối với nhân sanh khởi … Do quán xét về từ bỏ, đối với sự nắm giữ … Do quán xét về đoạn tận, đối với sự nghĩ tưởng về sự tiếp nối … Do quán xét về biến hoại, đối với (nghiệp) tích lũy … Do quán xét về chuyển biến, đối với sự nghĩ tưởng về sự vững chắc … Do quán xét về vô tướng, đối với hiện tướng … Do quán xét về vô nguyện, đối với sự nguyện ước … Do quán xét về không tánh, đối với sự cố chấp … Do minh sát các pháp bằng thắng tuệ, đối với sự cố chấp trong việc chấp giữ mãnh lực (của lòng ham muốn là thường còn) … Do quán xét về sự biết và thấy đúng theo thực thể, đối với cố chấp vào sự lầm lẫn … Do quán xét về tai hại, đối với sự cố chấp vào sự nương tựa … Do quán xét về phân biệt rõ, đối với sự không phân biệt rõ … Do quán xét về ly khai, đối với sự cố chấp vào sự ràng buộc …(như trên)…
Do đạo Nhập Lưu, đối với các phiền não thuần về tà kiến …(nt)… Do Đạo Nhất Lai, đối với các phiền não thô thiển …(nt)… Do Đạo Bất Lai, đối với các phiền não có tính chất vi tế …(nt)… Do Đạo A-la-hán, đối với toàn bộ phiền não sự dứt bỏ là giới, sự ngăn ngừa là giới, sự cố ý là giới, sự thu thúc là giới, sự không vi phạm là giới. Các giới có hình thức như vậy đưa đến sự không ăn năn, đưa đến sự hân hoan, đưa đến hỷ, đưa đến tịnh, đưa đến tâm vui mừng, đưa đến sự rèn luyện, đưa đến sự tu tập, đưa đến hành động được sung mãn, đưa đến việc thực hiện được đầy đủ, đưa đến điều thiết yếu, đưa đến điều phụ trợ, đưa đến sự vẹn toàn, đưa đến sự nhàm chán toàn diện, đưa đến ly tham ái, đưa đến sự diệt tận, đưa đến sự an tịnh, đưa đến thắng trí, đưa đến sự giác ngộ hoàn toàn, đưa đến Niết Bàn.
Đối với các giới có hình thức như vậy, sự thanh tịnh do thu thúc là thắng giới. Tâm đã được trụ vào sự thanh tịnh do thu thúc không đi đến tản mạn, sự thanh tịnh do không tản mạn là thắng tâm. (Hành giả) nhận thấy một cách đúng đắn sự thanh tịnh do thu thúc, nhận thấy một cách đúng đắn sự thanh tịnh do không tản mạn, sự thanh tịnh trong sự nhận thấy là thắng tuệ. Ở đây, việc nào có ý nghĩa thu thúc, việc ấy là sự học tập về thắng giới. Ở đây, việc nào có ý nghĩa không tản mạn, việc ấy là sự học tập về thắng tâm. Ở đây, việc nào có ý nghĩa nhận thấy, việc ấy là sự học tập về thắng tuệ.
Trong khi hướng tâm đến ba sự học tập này, vị ấy học tập. Trong khi nhận biết, vị ấy học tập. Trong khi nhận thấy, … Trong khi quán xét lại, … Trong khi khẳng định tâm, … Trong khi hướng đến đức tin, … Trong khi ra sức tinh tấn, … Trong khi thiết lập niệm, … Trong khi tập trung tâm, … Trong khi nhận biết bởi tuệ, … Trong khi biết rõ điều cần được biết rõ, … Trong khi biết toàn diện điều cần được biết toàn diện, … Trong khi dứt bỏ điều cần được dứt bỏ, … Trong khi tác chứng điều cần được tác chứng, vị ấy học tập. Trong khi tu tập điều cần được tu tập, vị ấy học tập.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Sau khi đã nghe, tuệ về sự thu thúc là trí về yếu tố tạo thành giới.”
Phần giải thích ‘Trí về yếu tố tạo thành giới.’
3. Trí về yếu tố tạo thành việc tu tập định
Sau khi đã thu thúc, tuệ về sự tập trung là trí về yếu tố tạo thành việc tu tập định là (có ý nghĩa) thế nào?
Một loại định: là trạng thái chuyên nhất của tâm.
Hai loại định: là định thuộc thế gian và định vượt trên thế gian.
Ba loại định: là định có tầm có tứ, định không tầm có tứ, định không tầm không tứ.
Bốn loại định: là định đưa đến sự từ bỏ, định đưa đến bền vững, định đưa đến thù thắng, định đưa đến thấu triệt.
Năm loại định: là trạng thái lan tỏa của hỷ, trạng thái lan tỏa của lạc, trạng thái lan tỏa của xả, trạng thái lan tỏa của ánh sáng, hiện tướng của sự quán xét lại.
Sáu loại định: là định có sự không tản mạn và có trạng thái chuyên nhất của tâm do năng lực của việc tưởng niệm đến (ân đức) Phật, định có sự không tản mạn và có trạng thái chuyên nhất của tâm do năng lực của việc tưởng niệm đến (ân đức) Pháp, định có sự không tản mạn và có trạng thái chuyên nhất của tâm do năng lực của việc tưởng niệm đến (ân đức) Tăng, định có sự không tản mạn và có trạng thái chuyên nhất của tâm do năng lực của việc tưởng niệm đến (đức tính của) giới, định có sự không tản mạn và có trạng thái chuyên nhất của tâm do năng lực của việc tưởng niệm đến (đức tính của) sự xả bỏ, định có sự không tản mạn và có trạng thái chuyên nhất của tâm do năng lực của việc tưởng niệm đến (đức tính của) chư thiên.
Bảy loại định: là thiện xảo trong định, thiện xảo trong việc thể nhập định, thiện xảo trong việc duy trì định, thiện xảo trong việc ra khỏi định, thiện xảo về thể chất của định, thiện xảo về hành xứ của định, thiện xảo về sự quả quyết của định.
Tám loại định: là định có sự không tản mạn và có trạng thái chuyên nhất của tâm do năng lực của đề mục đất, … do năng lực của đề mục nước, … do năng lực của đề mục lửa, … do năng lực của đề mục gió, … do năng lực của đề mục xanh, … do năng lực của đề mục vàng, … do năng lực của đề mục đỏ, … do năng lực của đề mục trắng.
Chín loại định: là định sắc giới có hạng thấp kém, có hạng trung bình, có hạng cao quý, định vô sắc giới có hạng thấp kém, có hạng trung bình, có hạng cao quý, không tánh định, vô tướng định, vô nguyện định.
Mười loại định: là định có sự không tản mạn và có trạng thái chuyên nhất của tâm do năng lực của tưởng về sự sình trương (của xác chết), … do năng lực của tưởng về sự đổi màu xanh (của xác chết), … do năng lực của tưởng về sự chảy nước vàng (của xác chết), … do năng lực của tưởng về sự nứt nẻ (của xác chết), … do năng lực của tưởng về sự bị (thú) gặm nhắm (của xác chết), … do năng lực của tưởng về sự bị hoại rã (của xác chết), … do năng lực của tưởng về sự bị cắt đứt lìa (của xác chết), … do năng lực của tưởng về máu me (của xác chết), … do năng lực của tưởng về giòi bọ (của xác chết), định có sự không tản mạn và có trạng thái chuyên nhất của tâm do năng lực của tưởng về bộ xương khô (của xác chết).
Đây là năm mươi lăm loại định.
Hơn nữa, còn có hai mươi lăm ý nghĩa về định của định: định theo ý nghĩa gìn giữ, định theo ý nghĩa phụ trợ, định theo ý nghĩa hoàn bị, định theo ý nghĩa chuyên nhất, định theo ý nghĩa không tản mạn, định theo ý nghĩa ra sức, định theo ý nghĩa không tán loạn, định theo ý nghĩa không xao động, định theo ý nghĩa không loạn động, định theo ý nghĩa giải thoát, định có sự trụ vững của tâm do năng lực thiết lập tính nhất thể, ‘tầm cầu sự thuần chủng’ là định, ‘không tầm cầu sự không thuần chủng’ là định, trạng thái đã tầm cầu sự thuần chủng là định, trạng thái đã không tầm cầu sự không thuần chủng là định, ‘nắm giữ sự thuần chủng’ là định, ‘không nắm giữ sự không thuần chủng’ là định, trạng thái đã nắm giữ sự thuần chủng là định, trạng thái đã không nắm giữ sự không thuần chủng là định, ‘thực hành sự thuần chủng’ là định, ‘không thực hành sự không thuần chủng’ là định, trạng thái đã thực hành sự thuần chủng là định, trạng thái đã không thực hành sự không thuần chủng là định, ‘tham thiền sự thuần chủng’ là định, ‘làm cho thiêu đốt sự không thuần chủng’ là định, trạng thái đã tham thiền sự thuần chủng là định, trạng thái đã làm cho thiêu đốt sự không thuần chủng là định. Đây là hai mươi lăm ý nghĩa về định của định.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Sau khi đã thu thúc, tuệ về sự tập trung là trí về yếu tố tạo thành việc tu tập định.”
Phần giải thích ‘Trí về yếu tố tạo thành việc tu tập định.’
4. Trí về sự hiện diện của các Pháp
Tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là (có ý nghĩa) thế nào?
‘Đối với các hành, vô minh là sự hiện diện của sự sanh lên, là sự hiện diện của sự vận hành, là sự hiện diện của hiện tướng, là sự hiện diện của (nghiệp) tích lũy, là sự hiện diện của sự ràng buộc, là sự hiện diện của sự vướng bận, là sự hiện diện của sự sanh khởi, là sự hiện diện của nhân, và là sự hiện diện của duyên. Do chín biểu hiện này, vô minh là duyên, các hành được sanh lên do duyên, luôn cả hai pháp này được sanh lên do duyên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.
‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai, đối với các hành, vô minh là sự hiện diện của sự sanh lên, là sự hiện diện của sự vận hành, là sự hiện diện của hiện tướng, là sự hiện diện của (nghiệp) tích lũy, là sự hiện diện của sự ràng buộc, là sự hiện diện của sự vướng bận, là sự hiện diện của sự sanh khởi, là sự hiện diện của nhân, và là sự hiện diện của duyên. Do chín biểu hiện này, vô minh là duyên, các hành được sanh lên do duyên, luôn cả hai pháp này được sanh lên do duyên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.
‘Đối với thức, các hành …(nt)… Đối với danh sắc, thức …(nt)… Đối với sáu xứ, danh sắc …(nt)… Đối với xúc, sáu xứ …(nt)… Đối với thọ, xúc …(nt)… Đối với ái, thọ …(nt)… Đối với thủ, ái …(nt)… Đối với hữu, thủ …(nt)… Đối với sanh, hữu …(nt)… Đối với lão tử, sanh là sự hiện diện của sự sanh lên, là sự hiện diện của sự vận hành, là sự hiện diện của hiện tướng, là sự hiện diện của (nghiệp) tích lũy, là sự hiện diện của sự ràng buộc, là sự hiện diện của sự vướng bận, là sự hiện diện của sự sanh khởi, là sự hiện diện của nhân, và là sự hiện diện của duyên. Do chín biểu hiện này, sanh là duyên, lão tử được sanh lên do duyên, luôn cả hai pháp này được sanh lên do duyên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.
‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai, đối với các hành, sanh là sự hiện diện của sự sanh lên, là sự hiện diện của sự vận hành, là sự hiện diện của hiện tướng, là sự hiện diện của (nghiệp) tích lũy, là sự hiện diện của sự ràng buộc, là sự hiện diện của sự vướng bận, là sự hiện diện của sự sanh khởi, là sự hiện diện của nhân, và là sự hiện diện của duyên. Do chín biểu hiện này, sanh là duyên, lão tử được sanh lên do duyên, luôn cả hai pháp này được sanh lên do duyên,’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.
‘Vô minh là nhân, các hành được sanh lên do nhân, luôn cả hai pháp này được sanh lên do nhân;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy. ‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai, vô minh là nhân, các hành được sanh lên do nhân, luôn cả hai pháp này được sanh lên do nhân;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.
‘Các hành là nhân, thức được sanh lên do nhân, … ‘Thức là nhân, danh sắc được sanh lên do nhân, … ‘Danh sắc là nhân, sáu xứ được sanh lên do nhân, … ‘Sáu xứ là nhân, xúc được sanh lên do nhân, … ‘Xúc là nhân, thọ được sanh lên do nhân, … ‘Thọ là nhân, ái được sanh lên do nhân, … ‘Ái là nhân, thủ được sanh lên do nhân, … ‘Thủ là nhân, hữu được sanh lên do nhân, … ‘Hữu là nhân, sanh được sanh lên do nhân, … ‘Sanh là nhân, lão tử được sanh lên do nhân, luôn cả hai pháp này được sanh lên do nhân;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy. ‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai, sanh là nhân, lão tử được sanh lên do nhân, luôn cả hai pháp này được sanh lên do nhân;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.
‘Tùy thuận vô minh, các hành được tùy thuận sanh lên, luôn cả hai pháp này được tùy thuận sanh lên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy. ‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai, tùy thuận vô minh, các hành được tùy thuận sanh lên, luôn cả hai pháp này được tùy thuận sanh lên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.
‘Tùy thuận các hành, thức được tùy thuận sanh lên …(như trên)… ‘Tùy thuận thức, danh sắc được tùy thuận sanh lên, …(như trên)… ‘Tùy thuận danh sắc, sáu xứ được tùy thuận sanh lên, …(như trên)… ‘Tùy thuận sáu xứ, xúc được tùy thuận sanh lên, …(như trên)… ‘Tùy thuận xúc, thọ được tùy thuận sanh lên, …(như trên)… ‘Tùy thuận thọ, ái được tùy thuận sanh lên, …(như trên)… ‘Tùy thuận ái, thủ được tùy thuận sanh lên, …(như trên)… ‘Tùy thuận thủ, hữu được tùy thuận sanh lên, …(như trên)… ‘Tùy thuận hữu, sanh được tùy thuận sanh lên, …(như trên)… ‘Tùy thuận sanh, lão tử được tùy thuận sanh lên, luôn cả hai pháp này được tùy thuận sanh lên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy. ‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai, tùy thuận sanh, lão tử được tùy thuận sanh lên, luôn cả hai pháp này được tùy thuận sanh lên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.
‘Vô minh là duyên, các hành được sanh lên do duyên, luôn cả hai pháp này được sanh lên do duyên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy. ‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai, vô minh là duyên, các hành được sanh lên do duyên, luôn cả hai pháp này được sanh lên do duyên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.
‘Các hành là duyên, thức được sanh lên do duyên. …(như trên)… ‘Thức là duyên, danh sắc được sanh lên do duyên. …(như trên)… ‘Danh sắc là duyên, sáu xứ được sanh lên do duyên. …(như trên)… ‘Sáu xứ là duyên, xúc được sanh lên do duyên. …(như trên)… ‘Xúc là duyên, thọ được sanh lên do duyên. …(như trên)… ‘Thọ là duyên, ái được sanh lên do duyên. …(như trên)… ‘Ái là duyên, thủ được sanh lên do duyên. …(như trên)… ‘Thủ là duyên, hữu được sanh lên do duyên. …(như trên)… ‘Hữu là duyên, sanh được sanh lên do duyên. …(như trên)… ‘Sanh là duyên, lão tử được sanh lên do duyên, luôn cả hai pháp này được sanh lên do duyên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy. ‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai, sanh là duyên, lão tử được sanh lên do duyên, luôn cả hai pháp này được sanh lên do duyên;’ tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp là vậy.
Về sự hiện hữu ở nghiệp quá khứ, si là vô minh, (nghiệp) tích lũy là các hành, sự ham thích là ái, sự đạt đến là thủ, sự cố ý là hữu; năm pháp này hiện diện ở nghiệp quá khứ (và) là duyên cho sự tái sanh ở thời hiện tại.
Trong thời hiện tại, sự tái sanh là thức, sự hạ sanh là danh sắc, sự hiển hiện là xứ, (hiện tượng) được chạm đến là xúc, (hiện tượng) được cảm nhận là thọ; năm pháp này hiện hữu trong sự sanh lên ở thời hiện tại (và) do duyên của nghiệp đã tạo trong quá khứ.
Do trạng thái chín muồi của các xứ trong thời hiện tại, si là vô minh, (nghiệp) tích lũy là các hành, sự ham thích là ái, sự đạt đến là thủ, sự cố ý là hữu; năm pháp này hiện diện ở nghiệp hiện tại (và) là duyên cho sự tái sanh ở thời vị lai.
Trong thời vị lai, sự tái sanh là thức, sự hạ sanh là danh sắc, sự hiển hiện là xứ, (hiện tượng) được chạm đến là xúc, (hiện tượng) được cảm nhận là thọ; năm pháp này hiện hữu trong sự sanh lên ở thời vị lai (và) do duyên của nghiệp đã tạo trong hiện tại.
Như thế (hành giả) biết, thấy, nhận biết, thấu triệt bốn phần tổng hợp này, ba thời kỳ, ba sự tiếp nối* là tùy thuận sanh khởi theo hai mươi biểu hiện.* Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về việc nắm giữ duyên là trí về sự hiện diện của các pháp.”
Phần giải thích ‘Trí về sự hiện diện của các pháp.’
5. Trí về sự thấu hiểu
Sau khi đã tổng hợp các pháp trong (ba thời) quá khứ hiện tại vị lai, tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu là (có ý nghĩa) thế nào?
Bất cứ sắc nào thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai, nội phần hoặc ngoại phần, thô hoặc tế, thấp kém hoặc cao quý, là ở xa hoặc ở gần, (hành giả) xác định toàn bộ sắc ấy là vô thường, (đây là) một sự thấu hiểu; (hành giả) xác định toàn bộ sắc ấy là khổ não, (đây là) một sự thấu hiểu; (hành giả) xác định toàn bộ sắc ấy là vô ngã, (đây là) một sự thấu hiểu.
Bất cứ thọ nào …(như trên)… Bất cứ tưỏng nào …(như trên)… Bất cứ các hành nào …(như trên)… Bất cứ thức nào thuộc quá khứ, hiện tại, hoặc vị lai, nội phần hoặc ngoại phần, thô hoặc tế, thấp kém hoặc cao quý, là ở xa hoặc gần, (hành giả) xác định toàn bộ thức ấy là vô thường, (đây là) một sự thấu hiểu; (hành giả) xác định toàn bộ thức ấy là khổ não, (đây là) một sự thấu hiểu; (hành giả) xác định toàn bộ thức ấy là vô ngã, (đây là) một sự thấu hiểu.
Mắt …(như trên)… Lão tử thuộc quá khứ, hiện tại, hoặc vị lai, (hành giả) xác định là vô thường, (đây là) một sự thấu hiểu; (hành giả) xác định là khổ não, (đây là) một sự thấu hiểu; (hành giả) xác định là vô ngã, (đây là) một sự thấu hiểu.
Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Sắc thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường theo ý nghĩa đoạn tận, là khổ não theo ý nghĩa kinh hãi, là vô ngã theo ý nghĩa không có cốt lỏi,’ tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu. Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Thọ …(như trên)… ‘Tưởng …(như trên)… ‘Các hành …(như trên)… ‘Thức …(như trên)… ‘Mắt …(như trên)… Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Lão tử thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường theo ý nghĩa đoạn tận, là khổ não theo ý nghĩa kinh hãi, là vô ngã theo ý nghĩa không có cốt lỏi,’ tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu.
Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Sắc thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp của sự đoạn tận, là pháp của sự biến hoại, là pháp của sự ly tham ái, là pháp của sự diệt tận,’ tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu. Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Thọ …(như trên)… ‘Tưởng …(như trên)… ‘Các hành …(như trên)… ‘Thức …(như trên)… ‘Mắt …(như trên)… Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Lão tử thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp của sự đoạn tận, là pháp của sự biến hoại, là pháp của sự ly tham ái, là pháp của sự diệt tận,’ tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu.
Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Lão tử do duyên là sanh, nếu không có sự sanh thì không có lão tử,’ tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu. Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Ngay cả trong thời quá khứ, ngay cả trong thời vị lai, lão tử do duyên là sanh, nếu không có sự sanh thì không có lão tử,’ tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu.
Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Sanh do duyên là hữu, nếu không có …(như trên)… ‘Hữu do duyên là thủ, nếu không có …(như trên)… ‘Thủ do duyên là ái, nếu không có …(nt)… ‘Ái do duyên là thọ, nếu không có …(nt)… ‘Thọ do duyên là xúc, nếu không có …(nt)… ‘Xúc do duyên là sáu xứ, nếu không có …(nt)… ‘Sáu xứ do duyên là danh sắc, nếu không có …(nt)… ‘Danh sắc do duyên là thức, nếu không có …(nt)… ‘Thức do duyên là các hành, nếu không có các hành …(như trên)… ‘Các hành do duyên là vô minh, nếu không có vô minh thì không có các hành,’ tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu.
Sau khi đã tổng hợp rằng: ‘Ngay cả trong thời quá khứ xa xăm, ngay cả trong thời vị lai xa xăm, các hành do duyên là vô minh, nếu không có vô minh thì không có các hành,’ tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Sau khi đã tổng hợp các pháp trong quá khứ hiện tại vị lai, tuệ về sự xác định là trí về sự thấu hiểu.”
Phần giải thích ‘Trí về sự thấu hiểu’ là phần thứ năm.
6. Trí về sự sanh diệt
Tuệ về việc quán xét sự chuyển biến của các pháp đang hiện hữu là trí quán xét sự sanh diệt là (có ý nghĩa) thế nào?
Sắc được sanh lên là đang hiện hữu, hiện tướng tái tạo của pháp ấy là sự sanh, hiện tướng chuyển biến là sự diệt, sự quán xét là trí.
Thọ được sanh lên …(như trên)… Tưởng được sanh lên …(như trên)… Các hành được sanh lên …(như trên)… Thức được sanh lên …(như trên)… Mắt được sanh lên …(như trên)… Hữu được sanh lên là đang hiện hữu, hiện tướng tái tạo của pháp ấy là sự sanh, hiện tướng chuyển biến là sự diệt, sự quán xét là trí.
Đối với năm uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy bao nhiêu hiện tướng, trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy bao nhiêu hiện tướng, trong khi nhận thấy sự sanh diệt thì nhận thấy bao nhiêu hiện tướng?
Đối với năm uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy hai mươi lăm hiện tướng, trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy hai mươi lăm hiện tướng, trong khi nhận thấy sự sanh diệt thì nhận thấy năm mươi hiện tướng.
Đối với sắc uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy bao nhiêu hiện tướng, trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy bao nhiêu hiện tướng, trong khi nhận thấy sự sanh diệt thì nhận thấy bao nhiêu hiện tướng? Đối với thọ uẩn, …(như trên)… Đối với tưởng uẩn, …(như trên)… Đối với hành uẩn, …(như trên)… Đối với thức uẩn, …(như trên)…
Đối với sắc uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy năm hiện tướng, trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy năm hiện tướng, trong khi nhận thấy sự sanh diệt thì nhận thấy mười hiện tướng. Đối với thọ uẩn, …(như trên)… Đối với tưởng uẩn, …(nt)… Đối với hành uẩn, …(nt)… Đối với thức uẩn, …(như trên)…
Đối với sắc uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy năm hiện tướng gì? (Hành giả) nhận thấy sự sanh của sắc uẩn theo ý nghĩa của sự sanh khởi là do duyên: ‘Do sự sanh khởi của vô minh, có sự sanh khởi của sắc,’ (hành giả) nhận thấy sự sanh của sắc uẩn theo ý nghĩa của sự sanh khởi là do duyên: ‘Do sự sanh khởi của ái, có sự sanh khởi của sắc,’ (hành giả) nhận thấy sự sanh của sắc uẩn theo ý nghĩa của sự sanh khởi là do duyên: ‘Do sự sanh khởi của nghiệp, có sự sanh khởi của sắc,’ (hành giả) nhận thấy sự sanh của sắc uẩn theo ý nghĩa của sự sanh khởi là do duyên: ‘Do sự sanh khởi của vật thực, có sự sanh khởi của sắc,’ (hành giả) nhận thấy sự sanh của sắc uẩn ngay cả trong khi nhận thấy hiện tướng của sự tái tạo. Đối với sắc uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy năm hiện tướng này.
(Đối với sắc uẩn), (hành giả) trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy năm hiện tướng gì? (Hành giả) nhận thấy sự diệt của sắc uẩn theo ý nghĩa của sự diệt tận là do duyên: ‘Do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của sắc,’ (hành giả) nhận thấy sự diệt của sắc uẩn theo ý nghĩa của sự diệt tận là do duyên: ‘Do sự diệt tận của ái, có sự diệt tận của sắc,’ (hành giả) nhận thấy sự diệt của sắc uẩn theo ý nghĩa của sự diệt tận là do duyên: ‘Do sự diệt tận của nghiệp, có sự diệt tận của sắc,’ (hành giả) nhận thấy sự diệt của sắc uẩn theo ý nghĩa của sự diệt tận là do duyên: ‘Do sự diệt tận của vật thực, có sự diệt tận của sắc,’ (hành giả) nhận thấy sự diệt của sắc uẩn ngay cả trong khi nhận thấy hiện tướng của sự chuyển biến. Đối với sắc uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy năm hiện tướng này.
(Đối với sắc uẩn), trong khi nhận thấy sự sanh diệt, (hành giả) nhận thấy mười hiện tướng này.
Đối với thọ uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy năm hiện tướng gì? (Hành giả) nhận thấy sự sanh của thọ uẩn theo ý nghĩa của sự sanh khởi là do duyên: ‘Do sự sanh khởi của vô minh, có sự sanh khởi của thọ,’ … ‘Do sự sanh khởi của ái, có sự sanh khởi của thọ,’ … ‘Do sự sanh khởi của nghiệp, có sự sanh khởi của thọ,’ … ‘Do sự sanh khởi của xúc, có sự sanh khởi của thọ,’ (hành giả) nhận thấy sự sanh của thọ uẩn ngay cả trong khi nhận thấy hiện tướng của sự tái tạo. Đối với thọ uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy năm hiện tướng này.
(Đối với thọ uẩn), (hành giả) trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy năm hiện tướng gì? (Hành giả) nhận thấy sự diệt của thọ uẩn theo ý nghĩa của sự diệt tận là do duyên: ‘Do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của thọ,’ … ‘Do sự diệt tận của ái, có sự diệt tận của thọ,’ … ‘Do sự diệt tận của nghiệp, có sự diệt tận của thọ,’ … ‘Do sự diệt tận của vật thực, có sự diệt tận của thọ,’ (hành giả) nhận thấy sự diệt của thọ uẩn ngay cả trong khi nhận thấy hiện tướng của sự chuyển biến. Đối với thọ uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy năm hiện tướng này.
(Đối với thọ uẩn), trong khi nhận thấy sự sanh diệt, (hành giả) nhận thấy mười hiện tướng này.
Đối với tưởng uẩn, …(như trên)… Đối với hành uẩn, …(như trên)… Đối với thức uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy năm hiện tướng gì? (Hành giả) nhận thấy sự sanh của thức uẩn theo ý nghĩa của sự sanh khởi là do duyên: ‘Do sự sanh khởi của vô minh, có sự sanh khởi của thức,’ … ‘Do sự sanh khởi của ái, có sự sanh khởi của thức,’ … ‘Do sự sanh khởi của nghiệp, có sự sanh khởi của thức,’ … ‘Do sự sanh khởi của xúc, có sự sanh khởi của thức,’ (hành giả) nhận thấy sự sanh của thức uẩn ngay cả trong khi nhận thấy hiện tướng của sự tái tạo. Đối với thức uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy năm hiện tướng này.
(Đối với thức uẩn), (hành giả) trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy năm hiện tướng gì? (hành giả) nhận thấy sự diệt của thức uẩn theo ý nghĩa của sự diệt tận là do duyên: ‘Do sự diệt tận của vô minh, có sự diệt tận của thức,’ … ‘Do sự diệt tận của ái, có sự diệt tận của thức,’ … ‘Do sự diệt tận của nghiệp, có sự diệt tận của thức,’ … ‘Do sự diệt tận của vật thực, có sự diệt tận của thức,’ (hành giả) nhận thấy sự diệt của thức uẩn ngay cả trong khi nhận thấy hiện tướng của sự chuyển biến. Đối với thức uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy năm hiện tướng này.
(Đối với thức uẩn), trong khi nhận thấy sự sanh diệt, (hành giả) nhận thấy mười hiện tướng này.
Đối với năm uẩn, (hành giả) trong khi nhận thấy sự sanh thì nhận thấy hai mươi lăm hiện tướng này, trong khi nhận thấy sự diệt thì nhận thấy hai mươi lăm hiện tướng này, trong khi nhận thấy sự sanh diệt thì nhận thấy năm mươi hiện tướng này.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về việc quán xét sự chuyển biến của các pháp đang hiện hữu là trí quán xét sự sanh diệt.”
Sắc uẩn có sự sanh khởi là vật thực. Ba uẩn thọ, tưởng, hành có sự sanh khởi là xúc. Thức uẩn có sự sanh khởi là danh sắc.
Phần giải thích ‘Trí về sự sanh diệt.’
7. Trí quán xét về sự tan rã
Sau khi đã phân biệt rõ đối tượng, tuệ về việc quán xét sự tan rã là trí về minh sát là (có ý nghĩa) thế nào?
Với sắc là đối tượng, tâm sanh lên rồi bị phân hủy. Sau khi đã phân biệt rõ đối tượng ấy, (hành giả) quán xét về sự tan rã của tâm ấy.
(Hành giả) quán xét: Quán xét là (có ý nghĩa) thế nào? Quán xét là vô thường, không phải là thường. Quán xét là khổ não, không phải là lạc. Quán xét là vô ngã, không phải là ngã. (Hành giả) nhàm chán, không vui thích. (Hành giả) ly tham ái, không tham ái. (Hành giả) làm cho diệt tận, không làm cho sanh khởi. (Hành giả) từ bỏ, không nắm giữ.
Trong khi quán xét là vô thường, (hành giả) dứt bỏ thường tưởng; trong khi quán xét là khổ não, (hành giả) dứt bỏ lạc tưởng; trong khi quán xét là vô ngã, (hành giả) dứt bỏ ngã tưởng; trong khi nhàm chán, (hành giả) dứt bỏ sự vui thích; trong khi ly tham ái, (hành giả) dứt bỏ tham ái; trong khi làm cho diệt tận, (hành giả) dứt bỏ sự sanh khởi; trong khi từ bỏ, (hành giả) dứt bỏ sự nắm giữ.
Với thọ là đối tượng, …(như trên)… Với tưởng là đối tượng, …(như trên)… Với các hành là đối tượng, …(như trên)… Với thức là đối tượng, …(như trên)… Với mắt là đối tượng, …(như trên)… Với lão tử là đối tượng, tâm sanh lên rồi bị phân hủy. Sau khi đã phân biệt rõ đối tượng ấy, (hành giả) quán xét sự tan rã của tâm ấy.
(Hành giả) quán xét, quán xét là (có ý nghĩa) thế nào? Quán xét là vô thường, không phải là thường. Quán xét là khổ não, không phải là lạc. Quán xét là vô ngã, không phải là ngã. (Hành giả) nhàm chán, không vui thích. (Hành giả) ly tham ái, không tham ái. (Hành giả) làm cho diệt tận, không làm cho sanh khởi. (Hành giả) từ bỏ, không nắm giữ.
Trong khi quán xét là vô thường, (hành giả) dứt bỏ thường tưởng; trong khi quán xét là khổ não, (hành giả) dứt bỏ lạc tưởng; trong khi quán xét là vô ngã, (hành giả) dứt bỏ ngã tưởng; trong khi nhàm chán, (hành giả) dứt bỏ sự vui thích; trong khi ly tham ái, (hành giả) dứt bỏ tham ái; trong khi làm cho diệt tận, (hành giả) dứt bỏ sự sanh khởi; trong khi từ bỏ, (hành giả) dứt bỏ sự nắm giữ.
1. Do tiếp cận sự việc, → và ly khai bằng tưởng,
với lực do hướng tâm, phân rõ là minh sát.
2. Với sự tiếp nối cảnh, xác định chung cả hai,
quyết đoán về diệt tận, minh sát tướng hoại diệt.
3. Do phân biệt rõ cảnh, quán xét sự tan rã,
và thiết lập không tánh, thắng tuệ là minh sát.
4. Thiện xảo ba quán xét, và về bốn minh sát,
thiện xảo ba thiết lập, không động vì tà kiến.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Sau khi đã phân biệt rõ đối tượng, tuệ về việc quán xét sự tan rã là trí về minh sát.”
Phần giải thích ‘Trí quán xét về sự tan rã.’
8. Trí về điều tai hại
Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi là trí về điều tai hại là (có ý nghĩa) thế nào?
Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi rằng: ‘Sự tái sanh là kinh hãi’ là trí về điều tai hại. Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi rằng: ‘Sự vận hành là kinh hãi’ … ‘Hiện tướng là kinh hãi’ … ‘(Nghiệp) tích lũy là kinh hãi’ … ‘Mầm tái sanh là kinh hãi’ … ‘Cảnh giới tái sanh là kinh hãi’ … ‘Sự tái tạo là kinh hãi’ … ‘Sự sanh lên là kinh hãi’ … ‘Sự sanh (ra) là kinh hãi’ … ‘Sự già là kinh hãi’ … ‘Sự bệnh là kinh hãi’ … ‘Sự chết là kinh hãi’ … ‘Sự sầu muộn là kinh hãi’ … ‘Sự than vãn là kinh hãi’ … ‘Sự thất vọng là kinh hãi’ là trí về điều tai hại.
Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không tái sanh là an ổn.’ Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không vận hành là an ổn.’ …(nt)… Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không thất vọng là an ổn.’
Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự tái sanh là kinh hãi, sự không tái sanh là an ổn.’ Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự vận hành là kinh hãi, sự không vận hành là an ổn.’ …(nt)… Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự thất vọng là kinh hãi, sự không thất vọng là an ổn.’
Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi rằng: ‘Sự tái sanh là khổ’ là trí về điều tai hại. Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi rằng: ‘Sự vận hành là khổ’ …(như trên)… ‘Sự thất vọng là khổ’ là trí về điều tai hại.
Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không tái sanh là lạc.’ Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không vận hành là lạc.’ …(như trên)… Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không thất vọng là lạc.’
Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự tái sanh là khổ, sự không tái sanh là lạc.’ Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự vận hành là khổ, sự không vận hành là lạc.’ …(như trên)… Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự thất vọng là khổ, sự không thất vọng là lạc.’
Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi rằng: ‘Sự tái sanh là hệ lụy vật chất’ là trí về điều tai hại. Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi rằng: ‘Sự vận hành là hệ lụy vật chất’ …(như trên)… ‘Sự thất vọng là hệ lụy vật chất’ là trí về điều tai hại.
Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không tái sanh là không hệ lụy vật chất.’ Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không vận hành là không hệ lụy vật chất.’ …(như trên)… Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không thất vọng là không hệ lụy vật chất.’
Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự tái sanh là hệ lụy vật chất, sự không tái sanh là không hệ lụy vật chất.’ Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự vận hành là hệ lụy vật chất, sự không vận hành là không hệ lụy vật chất.’ …(nt)… Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự thất vọng là hệ lụy vật chất, sự không thất vọng là không hệ lụy vật chất.’
Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi rằng: ‘Sự tái sanh là pháp hữu vi’ là trí về điều tai hại. Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi rằng: ‘Sự vận hành là pháp hữu vi’ …(như trên)… Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi rằng: ‘Sự thất vọng là pháp hữu vi’ là trí về điều tai hại.
Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không tái sanh là Niết Bàn.’ Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không vận hành là Niết Bàn.’ …(như trên)… Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự không thất vọng là Niết Bàn.’
Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự tái sanh là pháp hữu vi, sự không tái sanh là Niết Bàn.’ Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự vận hành là pháp hữu vi, sự không vận hành là Niết Bàn.’ …(như trên)… Trí về trạng thái bình yên rằng: ‘Sự thất vọng là pháp hữu vi, sự không thất vọng là Niết Bàn.’
1. Vị nhận thức tái sanh, → vận hành, tướng, tích nghiệp,
mầm tái sanh là ‘khổ,’ trí này là tai hại.
2. Không sanh, không vận hành, không tướng, không tích nghiệp,
không mầm sanh là ‘lạc,’ trí này là bình yên.
3. Đây trí về tai hại, sanh lên ở năm chốn,*
bình yên về năm nơi,* vị nhận ra mười trí.*
Người thiện xảo hai trí,* không động vì tà kiến.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự thiết lập của kinh hãi là trí về điều tai hại.”
Phần giải thích ‘Trí về điều tai hại.’
9. Trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi
Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là (có ý nghĩa) thế nào?
Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với sự tái sanh là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với sự vận hành …(như trên)… đối với hiện tướng …(như trên)… đối với (nghiệp) tích lũy …(nt)… đối với mầm tái sanh …(nt)… đối với cảnh giới tái sanh …(nt)… đối với sự tái tạo …(nt)… đối với sự sanh lên …(nt)… đối với sự sanh (ra) …(nt)… đối với sự già …(nt)… đối với sự bệnh …(nt)… đối với sự chết …(nt)… đối với sự sầu muộn …(nt)… đối với sự than vãn …(như trên)… Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với sự thất vọng là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi.
Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với ‘Sự tái sanh là khổ’ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với ‘Sự vận hành là khổ’ …(như trên)… ‘Sự thất vọng là khổ’ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi.
Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với ‘Sự tái sanh là kinh hãi’ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với ‘Sự vận hành là kinh hãi’ …(nt)… ‘Sự thất vọng là kinh hãi’ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi.
Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với ‘Sự tái sanh là hệ lụy vật chất’ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với ‘Sự vận hành là hệ lụy vật chất’ …(như trên)… ‘Sự thất vọng là hệ lụy vật chất’ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi.
Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với ‘Sự tái sanh là pháp hữu vi’ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản đối với ‘Sự vận hành là pháp hữu vi’ …(như trên)… ‘Sự thất vọng là pháp hữu vi’ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi.
‘Sự tái sanh là pháp hữu vi, (hành giả) dửng dưng đối với các pháp hữu vi ấy,’ như thế là trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. ‘Các pháp hữu vi và trạng thái xả, cả hai điều này đều là các pháp hữu vi, (hành giả) dửng dưng đối với các pháp hữu vi ấy,’ như thế là trạng thái xả đối với các pháp hữu vi.
‘Sự vận hành là pháp hữu vi, …(nt)… ‘Hiện tướng là pháp hữu vi, … ‘(Nghiệp) tích lũy … ‘Mầm tái sanh … ‘Cảnh giới tái sanh … ‘Sự tái tạo … ‘Sự sanh lên … ‘Sự sanh (ra) … ‘Sự già … ‘Sự bệnh … ‘Sự chết … ‘Sự sầu muộn … ‘Sự than vãn … ‘Sự thất vọng là pháp hữu vi, (hành giả) dửng dưng đối với các pháp hữu vi ấy,’ như thế là trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. ‘Các pháp hữu vi và trạng thái xả, cả hai điều này đều là các pháp hữu vi, (hành giả) dửng dưng đối với các pháp hữu vi ấy,’ như thế là trạng thái xả đối với các pháp hữu vi.
Sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là với bao nhiêu biểu hiện? Sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là với tám biểu hiện.
Đối với phàm nhân, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là với bao nhiêu biểu hiện? Đối với vị hữu học, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là với bao nhiêu biểu hiện? Đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là với bao nhiêu biểu hiện?
Đối với phàm nhân, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là với hai biểu hiện. Đối với vị hữu học, sự quả quyết của tâm … là với ba biểu hiện. Đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là với ba biểu hiện.
Đối với phàm nhân, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là với hai biểu hiện gì? Phàm nhân hoặc là thích thú trạng thái xả đối với các pháp hữu vi hoặc là minh sát (trạng thái ấy). Đối với phàm nhân, sự quả quyết của tâm … là với hai biểu hiện này.
Đối với vị hữu học, sự quả quyết của tâm … là với ba biểu hiện gì? Vị hữu học hoặc là thích thú, hoặc là minh sát trạng thái xả đối với các pháp hữu vi, hoặc là phân biệt rõ rồi thể nhập thiền quả. Đối với vị hữu học, sự quả quyết của tâm … là với ba biểu hiện này.
Đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm … là với ba biểu hiện gì? Vị đã lìa tham ái hoặc là minh sát trạng thái xả đối với các pháp hữu vi, hoặc là phân biệt rõ rồi thể nhập thiền quả, hoặc là dửng dưng với điều ấy rồi an trú với sự an trú không tánh, với sự an trú vô tướng, hoặc với sự an trú vô nguyện. Đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm … là với ba biểu hiện này.
Đối với phàm nhân và đối với vị hữu học, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi có cùng một bản chất là thế nào? Đối với phàm nhân, trong khi thích thú trạng thái xả đối với các pháp hữu vi, tâm sẽ bị ô nhiễm, là sự ngăn trở cho việc tu tập, là chướng ngại cho sự thấu triệt, là duyên cho mầm tái sanh trong tương lai. Ngay cả đối với vị hữu học, trong khi thích thú trạng thái xả đối với các pháp hữu vi, tâm bị sẽ ô nhiễm, là sự ngăn trở cho việc tu tập, … là duyên cho mầm tái sanh trong tương lai. Đối với phàm nhân và đối với vị hữu học, sự quả quyết của tâm … có cùng một bản chất theo ý nghĩa thích thú là như vậy.
Đối với phàm nhân, đối với vị hữu học, và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm … có cùng một bản chất là thế nào? Phàm nhân minh sát trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là vô thường, là khổ não, là vô ngã. Vị hữu học cũng minh sát … là vô thường, là khổ não, là vô ngã. Vị đã lìa tham ái cũng minh sát trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là vô thường, là khổ não, là vô ngã. Đối với phàm nhân, đối với vị hữu học, và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm … có cùng một bản chất theo ý nghĩa quả quyết là như vậy.
Đối với phàm nhân, đối với vị hữu học, và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là có bản chất khác biệt như thế nào? Đối với phàm nhân, trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là thiện. Đối với vị hữu học, trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là thiện. Đối với vị đã lìa tham ái, trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là vô ký. Đối với phàm nhân, đối với vị hữu học, và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm … là có bản chất khác biệt theo ý nghĩa thiện và vô ký là như vậy.
Đối với phàm nhân, đối với vị hữu học, và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi có bản chất khác biệt là thế nào? Đối với phàm nhân, trạng thái xả đối với các pháp hữu vi có lúc biết được rõ rệt có lúc không biết được rõ rệt. Luôn cả đối với vị hữu học, trạng thái xả … Đối với vị đã lìa tham ái, trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là biết được hoàn toàn rõ rệt. Sự quả quyết của tâm … của phàm nhân, của vị hữu học, và của vị đã lìa tham ái có bản chất khác biệt theo ý nghĩa đã được biết và theo ý nghĩa đã không được biết là như vậy.
Đối với phàm nhân, đối với vị hữu học, và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm … có bản chất khác biệt là thế nào? Phàm nhân minh sát trạng thái xả đối với các pháp hữu vi không được toàn vẹn. Vị hữu học minh sát … cũng không được toàn vẹn. Vị đã lìa tham ái minh sát trạng thái xả đối với các pháp hữu vi được toàn vẹn. Đối với phàm nhân, đối với vị hữu học, và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm … có bản chất khác biệt theo ý nghĩa được toàn vẹn và theo ý nghĩa không được toàn vẹn là như vậy.
Đối với phàm nhân, đối với vị hữu học, và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm … có bản chất khác biệt là thế nào? Phàm nhân minh sát trạng thái xả đối với các pháp hữu vi nhằm mục đích thành tựu Đạo Nhập Lưu để dứt bỏ ba sự ràng buộc. Vị hữu học minh sát … nhằm mục đích thành tựu cao hơn do trạng thái đã được dứt bỏ ba sự ràng buộc. Vị đã lìa tham ái minh sát … nhằm mục đích lạc trú trong hiện tại do trạng thái đã được dứt bỏ toàn bộ phiền não. Sự quả quyết của tâm … của phàm nhân, của vị hữu học, và của vị đã lìa tham ái là có bản chất khác biệt theo ý nghĩa đã được dứt bỏ và theo ý nghĩa chưa được dứt bỏ là như vậy.
Đối với vị hữu học và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm … có bản chất khác biệt là thế nào? Vị hữu học hoặc là thích thú, hoặc là minh sát trạng thái xả đối với các pháp hữu vi, hoặc là phân biệt rõ rồi thể nhập thiền quả. Vị đã lìa tham ái hoặc là minh sát trạng thái xả đối với các pháp hữu vi, hoặc là phân biệt rõ rồi thể nhập thiền quả, hoặc là dửng dưng đối với điều ấy rồi an trú với sự an trú không tánh, với sự an trú vô tướng, hoặc với sự an trú vô nguyện. Đối với vị hữu học và đối với vị đã lìa tham ái, sự quả quyết của tâm ở trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là có bản chất khác biệt theo ý nghĩa an trú và thể nhập là như vậy.
Có bao nhiêu trạng thái xả đối với các pháp hữu vi sanh lên do năng lực của chỉ tịnh? Có bao nhiêu trạng thái xả đối với các pháp hữu vi sanh lên do năng lực của minh sát? Có tám trạng thái xả đối với các pháp hữu vi sanh lên do năng lực của chỉ tịnh. Có mười trạng thái xả đối với các pháp hữu vi sanh lên do năng lực của minh sát.
Tám trạng thái xả đối với các pháp hữu vi sanh lên do năng lực của chỉ tịnh là gì? Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ các pháp ngăn che nhằm mục đích thành tựu sơ thiền là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ tầm tứ nhằm mục đích thành tựu nhị thiền là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ hỷ nhằm mục đích thành tựu tam thiền là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ lạc và khổ nhằm mục đích thành tựu tứ thiền là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ sự nghĩ tưởng về sắc, sự nghĩ tưởng về bất bình, sự nghĩ tưởng về khác biệt nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt không vô biên xứ là trí về các trạng thái xả … Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt thức vô biên xứ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt vô sở hữu xứ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Đây là tám trạng thái xả đối với các pháp hữu vi sanh lên do năng lực của chỉ tịnh.
Mười trạng thái xả đối với các pháp hữu vi sanh lên do năng lực của minh sát là gì? Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ sự tái sanh, sự vận hành, hiện tướng, (nghiệp) tích lũy, mầm tái sanh, cảnh giới tái sanh, sự tái tạo, sự sanh lên, sự sanh (ra), sự già, sự bệnh, sự chết, sự sầu muộn, sự than vãn, sự thất vọng nhằm mục đích thành tựu Đạo Nhập Lưu là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Tuệ do sự bình thản sau khi phân biệt rõ sự tái sanh, …(như trên)… nhằm mục đích chứng đạt Quả Nhập Lưu … nhằm mục đích thành tựu Đạo Nhất Lai … nhằm mục đích chứng đạt Quả Nhất Lai … nhằm mục đích thành tựu Đạo Bất Lai … nhằm mục đích chứng đạt Quả Bất Lai … nhằm mục đích thành tựu Đạo A-la-hán … nhằm mục đích chứng đạt Quả A-la-hán … nhằm mục đích chứng đạt sự an trú không tánh … nhằm mục đích chứng đạt sự an trú vô tướng là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi. Đây là mười trạng thái xả đối với các pháp hữu vi sanh lên do năng lực của minh sát.
Có bao nhiêu trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là thiện? Có bao nhiêu là bất thiện? Có bao nhiêu là vô ký? Có mười lăm trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là thiện. Có ba trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là vô ký. Không có trạng thái xả đối với các pháp hữu vi là bất thiện.
1. Tuệ phân biệt, bình thản, → tám hành xứ của tâm:
hai thuộc về phàm nhân, hữu học ba hành xứ,
vị lìa ái có ba, tâm ly khai với chúng.
2. Tám do duyên của định, → mười hành xứ của trí,
mười tám xả các hành là duyên ba giải thoát.*
3. Mười tám biểu hiện này, vị có tuệ hiểu rõ,
thiện xảo trong xả hành, không động vì tà kiến.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự mong muốn giải thoát, về sự phân biệt rõ, và về sự bình thản là trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi.”
‘Trí về các trạng thái xả đối với các pháp hữu vi.’
10. Trí chuyển tộc
Tuệ về sự thoát ra và ly khai ngoại phần là trí chuyển tộc là (có ý nghĩa) thế nào?
‘Vượt trên sự tái sanh’ là chuyển tộc. ‘Vượt trên sự vận hành’ là chuyển tộc. ‘Vượt trên hiện tướng’ … ‘Vượt trên (nghiệp) tích lũy’ … ‘Vượt trên mầm tái sanh’ … ‘Vượt trên cảnh giới tái sanh’ … ‘Vượt trên sự tái tạo’ … ‘Vượt trên sự sanh lên’ … ‘Vượt trên sự sanh (ra)’ … ‘Vượt trên sự già’ … ‘Vượt trên sự bệnh’ … ‘Vượt trên sự chết’ … ‘Vượt trên sự sầu muộn’ … ‘Vượt trên sự than vãn’ … ‘Vượt trên sự thất vọng’ là chuyển tộc. ‘Vượt trên hiện tướng của các hành ở ngoại phần’ là chuyển tộc.
‘Dự phần vào sự không tái sanh’ là chuyển tộc. ‘Dự phần vào sự không vận hành’ là chuyển tộc. …(như trên)… ‘Dự phần vào sự diệt tận Niết Bàn’ là chuyển tộc.
‘Sau khi đã vượt trên sự tái sanh rồi dự phần vào sự không tái sanh’ là chuyển tộc. ‘Sau khi đã vượt trên sự vận hành rồi dự phần vào sự không vận hành’ … ‘Sau khi đã vượt trên hiện tướng rồi dự phần vào không hiện tướng’ là chuyển tộc. …(như trên)… ‘Sau khi đã vượt trên hiện tướng của các hành ở ngoại phần rồi dự phần vào sự diệt tận Niết Bàn’ là chuyển tộc.
‘Thoát ra khỏi sự tái sanh’ là chuyển tộc. ‘Thoát ra khỏi sự vận hành’ là chuyển tộc. ‘Thoát ra khỏi hiện tướng’ … ‘Thoát ra khỏi (nghiệp) tích lũy’ … ‘Thoát ra khỏi mầm tái sanh’ … ‘Thoát ra khỏi cảnh giới tái sanh’ … ‘Thoát ra khỏi sự tái tạo’ … ‘Thoát ra khỏi sự sanh lên’ … ‘Thoát ra khỏi sự sanh (ra)’ … ‘Thoát ra khỏi sự già’ … ‘Thoát ra khỏi sự bệnh’ … ‘Thoát ra khỏi sự chết’ … ‘Thoát ra khỏi sự sầu muộn’ … ‘Thoát ra khỏi sự than vãn’ … ‘Thoát ra khỏi sự thất vọng’ là chuyển tộc. ‘Thoát ra khỏi hiện tướng của các hành ở ngoại phần’ là chuyển tộc.
‘Dự phần vào sự không tái sanh’ là chuyển tộc. ‘Dự phần vào sự không vận hành’ là chuyển tộc. …(như trên)… ‘Dự phần vào sự diệt tận Niết Bàn’ là chuyển tộc.
‘Sau khi thoát ra khỏi sự tái sanh rồi dự phần vào sự không tái sanh’ là chuyển tộc. ‘Sau khi thoát ra khỏi sự vận hành rồi dự phần vào sự không vận hành’ là chuyển tộc. ‘Sau khi thoát ra khỏi hiện tướng … không hiện tướng …(nt)… (nghiệp) tích lũy … không (nghiệp) tích lũy …(nt)… mầm tái sanh … không mầm tái sanh …(nt)… cảnh giới tái sanh … không cảnh giới tái sanh …(nt)… sự tái tạo … sự không tái tạo …(nt)… sự sanh lên … sự không sanh lên …(nt)… sự sanh (ra) … sự không sanh (ra) …(nt)… sự già … sự không già …(nt)… sự bệnh … sự không bệnh …(nt)… sự chết … sự không chết …(nt)… sự sầu muộn … sự không sầu muộn …(nt)… sự than vãn … sự không than vãn …(nt)… sự thất vọng … sự không thất vọng … ‘Sau khi thoát ra khỏi hiện tướng của các hành ở ngoại phần rồi dự phần vào sự diệt tận Niết Bàn’ là chuyển tộc.
‘Ly khai khỏi sự tái sanh’ là chuyển tộc. ‘Ly khai khỏi sự vận hành’ là chuyển tộc. …(như trên)… ‘Ly khai khỏi hiện tướng của các hành ở ngoại phần’ là chuyển tộc.
‘Dự phần vào sự không tái sanh’ là chuyển tộc. ‘Dự phần vào sự không vận hành’ là chuyển tộc. …(như trên)… ‘Dự phần vào sự diệt tận Niết Bàn’ là chuyển tộc.
‘Sau khi đã ly khai khỏi sự tái sanh rồi dự phần vào sự không tái sanh’ là chuyển tộc. ‘Sau khi đã ly khai khỏi sự vận hành rồi dự phần vào sự không vận hành’ là chuyển tộc. …(như trên)… ‘Sau khi đã ly khai khỏi hiện tướng của các hành ở ngoại phần rồi dự phần vào sự diệt tận Niết Bàn’ là chuyển tộc.
Có bao nhiêu sự chuyển tộc được sanh lên do năng lực của chỉ tịnh? Có bao nhiêu sự chuyển tộc được sanh lên do năng lực của minh sát? Có tám sự chuyển tộc được sanh lên do năng lực của chỉ tịnh. Có mười sự chuyển tộc được sanh lên do năng lực của minh sát.
Tám sự chuyển tộc được sanh lên do năng lực của chỉ tịnh là gì? ‘Vượt trên các pháp ngăn che nhằm mục đích thành tựu sơ thiền’ là chuyển tộc. ‘Vượt trên tầm tứ nhằm mục đích thành tựu nhị thiền’ … ‘Vượt trên hỷ nhằm mục đích thành tựu tam thiền’ … ‘Vượt trên lạc và khổ nhằm mục đích thành tựu tứ thiền’ … ‘Vượt trên sự nghĩ tưởng về sắc, sự nghĩ tưởng về bất bình, sự nghĩ tưởng về khác biệt nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt không vô biên xứ’ … ‘Vượt trên sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt thức vô biên xứ’ … ‘Vượt trên sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt vô sở hữu xứ’ … ‘Vượt trên sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ’ là chuyển tộc. Đây là tám sự chuyển tộc được sanh lên do năng lực của chỉ tịnh.
Mười sự chuyển tộc được sanh lên do năng lực của minh sát là gì? ‘Vượt trên sự tái sanh, sự vận hành, hiện tướng, (nghiệp) tích lũy, mầm tái sanh, cảnh giới tái sanh, sự tái tạo, sự sanh lên, sự sanh (ra), sự già, sự bệnh, sự chết, sự sầu muộn, sự than vãn, sự thất vọng, hiện tướng của các hành ở ngoại phần nhằm mục đích thành tựu Đạo Nhập Lưu’ là chuyển tộc. ‘Vượt trên sự tái sanh, sự vận hành, hiện tướng, (nghiệp) tích lũy, mầm tái sanh, …(như trên)… nhằm mục đích chứng đạt Quả Nhập Lưu’ …(như trên)… nhằm mục đích thành tựu Đạo Nhất Lai …(như trên)… nhằm mục đích chứng đạt Quả Nhất Lai …(như trên)… nhằm mục đích thành tựu Đạo Bất Lai …(như trên)… nhằm mục đích chứng đạt Quả Bất Lai …(như trên)… nhằm mục đích thành tựu Đạo A-la-hán’ …(như trên)… nhằm mục đích chứng đạt Quả A-la-hán …(như trên)… nhằm mục đích chứng đạt sự an trú không tánh …(như trên)… ‘Vượt trên sự tái sanh, sự vận hành, hiện tướng, (nghiệp) tích lũy, mầm tái sanh, cảnh giới tái sanh, sự tái tạo, sự sanh lên, sự sanh (ra), sự già, sự bệnh, sự chết, sự sầu muộn, sự than vãn, sự thất vọng, hiện tướng của các hành ở ngoại phần nhằm mục đích chứng đạt sự an trú vô tướng’ là chuyển tộc. Đây là mười sự chuyển tộc được sanh lên do năng lực của minh sát.
Có bao nhiêu sự chuyển tộc là thiện? Có bao nhiêu là bất thiện? Có bao nhiêu là vô ký? Có mười lăm sự chuyển tộc là thiện. Có ba sự chuyển tộc là vô ký. Không có sự chuyển tộc là bất thiện.
1. Vật chất, không vật chất, → có nguyện và vô nguyện,
ràng buộc, không ràng buộc, thoát được và không thoát.
2. Tám do duyên của định, mười hành xứ của trí,
mười tám sự chuyển tộc là duyên ba giải thoát.
3. Mười tám biểu hiện này, vị có tuệ hiểu rõ,
khéo ly khai, thoát khỏi, không động vì tà kiến.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự thoát ra và ly khai ngoại phần là trí chuyển tộc.”
11. Trí về Đạo
Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo là (có ý nghĩa) thế nào?
Vào sát-na Đạo Nhập Lưu: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, thoát ra khỏi tà kiến, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần; vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo.”
Chánh tư duy, theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh), thoát ra khỏi tà tư duy, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần; vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo.”
Chánh ngữ, theo ý nghĩa gìn giữ, thoát ra khỏi tà ngữ, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần; vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo.”
Chánh nghiệp, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, thoát ra khỏi tà nghiệp, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần; vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo.”
Chánh mạng, theo ý nghĩa trong sạch, thoát ra khỏi tà mạng, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy …
Chánh tinh tấn, theo ý nghĩa ra sức, thoát ra khỏi tà tinh tấn, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy …
Chánh niệm, theo ý nghĩa thiết lập, thoát ra khỏi tà niệm, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần; vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo.”
Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, thoát ra khỏi tà định, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần; vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo.”
Vào sát-na Đạo Nhất Lai: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, …(như trên)… Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, thoát ra khỏi sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, thoát ra khỏi ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần; vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo.”
Vào sát-na Đạo Bất Lai: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, …(như trên)… Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, thoát ra khỏi sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, thoát ra khỏi ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần; vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo.”
Vào sát-na Đạo A-la-hán: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, …(như trên)… Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, thoát ra khỏi ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, thoát ra khỏi ngã mạn ngủ ngầm, ái hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần; vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo.”
1. Sanh thiêu đốt vô sanh, → vì thế gọi tham thiền,
thiện xảo thiền, giải thoát, không động vì tà kiến.
2. Như thế định rồi quán, cũng vậy quán ở định,
khi ấy quán và chỉ hành bình đẳng tương hợp.
3. Thấy ‘Các hành là khổ, diệt tận là an lạc,’
tuệ thoát khỏi cả hai đạt được Đạo Bất Tử.
4. Vị biết hành giải thoát, rành rẽ dị và đồng,
thiện xảo về hai trí, không động vì tà kiến.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự thoát ra và ly khai cả hai (nội ngoại phần) là trí về Đạo.”
Phần giải thích ‘Trí về Đạo.’
12. Trí về Quả
Tuệ về sự tịnh lặng của việc thực hành là trí về Quả là (có ý nghĩa) thế nào?
Vào sát-na Đạo Nhập Lưu: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, thoát ra khỏi tà kiến, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh kiến được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.
Chánh tư duy, theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh), thoát ra khỏi tà tư duy, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh tư duy được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.
Chánh ngữ, theo ý nghĩa gìn giữ, thoát ra khỏi tà ngữ, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh ngữ được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.
Chánh nghiệp, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, thoát ra khỏi tà nghiệp, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh nghiệp được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.
Chánh mạng, theo ý nghĩa trong sạch, thoát ra khỏi tà mạng, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh mạng được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.
Chánh tinh tấn, theo ý nghĩa ra sức, thoát ra khỏi tà tinh tấn, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh tinh tấn được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.
Chánh niệm, theo ý nghĩa thiết lập, thoát ra khỏi tà niệm, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh niệm được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.
Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, thoát ra khỏi tà định, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh định được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.
Vào sát-na Đạo Nhất Lai: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, …(như trên)… Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, thoát ra khỏi sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, thoát ra khỏi ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh định được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.
Vào sát-na Đạo Bất Lai: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, …(như trên)… Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, thoát ra khỏi sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, thoát ra khỏi ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh định được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.
Vào sát-na Đạo A-la-hán: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, …(như trên)… Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, thoát ra khỏi ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, thoát ra khỏi ngã mạn ngủ ngầm, hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm, thoát ra khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và (ra khỏi) các uẩn, thoát ra khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Chánh định được sanh lên từ trạng thái tịnh lặng của việc thực hành ấy; điều này là Quả của Đạo.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự tịnh lặng của việc thực hành là trí về Quả.”
13. Trí về Giải Thoát
Tuệ về việc quán xét phiền não đã được cắt lìa là trí về giải thoát là (có ý nghĩa) thế nào?
Nhờ vào Đạo Nhập Lưu, sự nhận thức sai trái về thân, sự hoài nghi, sự bám víu vào giới và nghi thức, tà kiến ngủ ngầm, hoài nghi ngủ ngầm là các tùy phiền não thuộc tâm của hành giả được đoạn trừ hoàn toàn. Tâm được giải thoát, được hoàn toàn giải thoát khỏi năm tùy phiền não này và các sự xâm nhập (của chúng). Việc giải thoát ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về việc quán xét phiền não đã được cắt lìa là trí về giải thoát.”
Nhờ vào Đạo Nhất Lai, sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm là các tùy phiền não có tính chất thô thiển thuộc tâm của hành giả được đoạn trừ hoàn toàn. Tâm được giải thoát, được hoàn toàn giải thoát khỏi bốn tùy phiền não này và các sự xâm nhập (của chúng). Việc giải thoát ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về việc quán xét phiền não đã được cắt lìa là trí về giải thoát.”
Nhờ vào Đạo Bất Lai, sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế là các tùy phiền não thuộc tâm của hành giả được đoạn trừ hoàn toàn. Tâm được giải thoát, được hoàn toàn giải thoát khỏi bốn tùy phiền não này và các sự xâm nhập (của chúng). Việc giải thoát ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về việc quán xét phiền não đã được cắt lìa là trí về giải thoát.”
Nhờ vào Đạo A-la-hán, ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ngã mạn ngủ ngầm, hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm là các tùy phiền não thuộc tâm của hành giả được đoạn trừ hoàn toàn. Tâm được giải thoát, được hoàn toàn giải thoát khỏi tám tùy phiền não này và các sự xâm nhập (của chúng). Việc giải thoát ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về việc quán xét phiền não đã được cắt lìa là trí về giải thoát.”
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về việc quán xét phiền não đã được cắt lìa là trí về giải thoát.”
Phần giải thích ‘Trí về giải thoát.’
14. Trí về việc quán xét lại
Tuệ về việc nhìn thấy các pháp đã được sanh khởi vào khi ấy là trí về việc quán xét lại là (có ý nghĩa) thế nào?
Vào sát-na Đạo Nhập Lưu: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, đã được sanh khởi vào khi ấy. Chánh tư duy, theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh), đã được sanh khởi vào khi ấy. Chánh ngữ, theo ý nghĩa gìn giữ, đã được sanh khởi vào khi ấy. Chánh nghiệp, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, đã được sanh khởi vào khi ấy. Chánh mạng, theo ý nghĩa trong sạch, đã được sanh khởi vào khi ấy. Chánh tinh tấn, theo ý nghĩa ra sức, đã được sanh khởi vào khi ấy. Chánh niệm, theo ý nghĩa thiết lập, đã được sanh khởi vào khi ấy. Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, đã được sanh khởi vào khi ấy.
Niệm giác chi, theo ý nghĩa thiết lập, đã được sanh khởi vào khi ấy. Trạch pháp giác chi, theo ý nghĩa suy xét, đã được sanh khởi vào khi ấy. Cần giác chi, theo ý nghĩa ra sức, đã được sanh khởi vào khi ấy. Hỷ giác chi, theo ý nghĩa lan tỏa, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tịnh giác chi, theo ý nghĩa an tịnh, đã được sanh khởi vào khi ấy. Định giác chi, theo ý nghĩa không tản mạn, đã được sanh khởi vào khi ấy. Xả giác chi, theo ý nghĩa phân biệt rõ, đã được sanh khởi vào khi ấy.
Tín lực, theo ý nghĩa không dao động ở sự không có đức tin, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tấn lực, theo ý nghĩa không dao động ở sự biếng nhác, đã được sanh khởi vào khi ấy. Niệm lực, theo ý nghĩa không dao động ở sự buông lung, đã được sanh khởi vào khi ấy. Định lực, theo ý nghĩa không dao động ở sự phóng dật, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tuệ lực, theo ý nghĩa không dao động ở sự không sáng suốt, đã được sanh khởi vào khi ấy.
Tín quyền, theo ý nghĩa cương quyết, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tấn quyền, theo ý nghĩa ra sức, đã được sanh khởi vào khi ấy. Niệm quyền, theo ý nghĩa thiết lập, đã được sanh khởi vào khi ấy. Định quyền, theo ý nghĩa không tản mạn, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tuệ quyền, theo ý nghĩa nhận thức, đã được sanh khởi vào khi ấy.
Các quyền, theo ý nghĩa pháp chủ đạo, đã được sanh khởi vào khi ấy. Các lực, theo ý nghĩa không dao động, đã được sanh khởi vào khi ấy. Các giác chi, theo ý nghĩa dẫn xuất (ra khỏi luân hồi), đã được sanh khởi vào khi ấy. Đạo, theo ý nghĩa chủng tử, đã được sanh khởi vào khi ấy. Các sự thiết lập niệm, theo ý nghĩa thiết lập, đã được sanh khởi vào khi ấy. Các chánh cần, theo ý nghĩa nỗ lực, đã được sanh khởi vào khi ấy. Các nền tảng của thần thông, theo ý nghĩa thành tựu, đã được sanh khởi vào khi ấy. Các chân lý, theo ý nghĩa của thực thể, đã được sanh khởi vào khi ấy. Chỉ tịnh, theo ý nghĩa không tản mạn, đã được sanh khởi vào khi ấy. Minh sát, theo ý nghĩa quán xét, đã được sanh khởi vào khi ấy. Chỉ tịnh và minh sát, theo ý nghĩa nhất vị, đã được sanh khởi vào khi ấy. Sự kết hợp chung, theo ý nghĩa không vượt trội, đã được sanh khởi vào khi ấy. Giới thanh tịnh, theo ý nghĩa thu thúc, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tâm thanh tịnh, theo ý nghĩa không tản mạn, đã được sanh khởi vào khi ấy. Kiến thanh tịnh, theo ý nghĩa nhận thức, đã được sanh khởi vào khi ấy. Sự giải thoát, theo ý nghĩa được phóng thích, đã được sanh khởi vào khi ấy. Minh, theo ý nghĩa thấu triệt, đã được sanh khởi vào khi ấy. Giải thoát, theo ý nghĩa buông bỏ, đã được sanh khởi vào khi ấy. Trí về sự đoạn tận, theo ý nghĩa đoạn trừ, đã được sanh khởi vào khi ấy.
Ước muốn, theo ý nghĩa nguồn cội, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tác ý, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, đã được sanh khởi vào khi ấy. Xúc, theo ý nghĩa liên kết, đã được sanh khởi vào khi ấy. Thọ, theo ý nghĩa hội tụ, đã được sanh khởi vào khi ấy. Định, theo ý nghĩa dẫn đầu, đã được sanh khởi vào khi ấy. Niệm, theo ý nghĩa pháp chủ đạo, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tuệ, theo ý nghĩa cao thượng trong các pháp thiện, đã được sanh khởi vào khi ấy. Sự giải thoát, theo ý nghĩa cốt lỏi, đã được sanh khởi vào khi ấy. Niết Bàn liên quan đến bất tử, theo ý nghĩa kết thúc, đã được sanh khởi vào khi ấy. Sau khi đã thoát ra vị ấy quán xét lại. Đây là các pháp đã được sanh khởi vào khi ấy.
Vào sát-na Quả Nhập Lưu: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, đã được sanh khởi vào khi ấy. Chánh tư duy, theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh), đã được sanh khởi vào khi ấy. …(như trên)… Trí về sự vô sanh, theo ý nghĩa tĩnh lặng, đã được sanh khởi vào khi ấy. Ước muốn, theo ý nghĩa nguồn cội, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tác ý, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, đã được sanh khởi vào khi ấy. Xúc, theo ý nghĩa liên kết, đã được sanh khởi vào khi ấy. Thọ, theo ý nghĩa hội tụ, đã được sanh khởi vào khi ấy. Định, theo ý nghĩa dẫn đầu, đã được sanh khởi vào khi ấy. Niệm, theo ý nghĩa pháp chủ đạo, đã được sanh khởi vào khi ấy. Tuệ, theo ý nghĩa cao thượng trong các pháp thiện, đã được sanh khởi vào khi ấy. Sự giải thoát, theo ý nghĩa cốt lỏi, đã được sanh khởi vào khi ấy. Niết Bàn liên quan đến bất tử, theo ý nghĩa kết thúc, đã được sanh khởi vào khi ấy. Sau khi đã thoát ra vị ấy quán xét lại. Đây là các pháp đã được sanh khởi vào khi ấy.
Vào sát-na Đạo Nhất Lai: …(như trên)… Vào sát-na Quả Nhất Lai: …(như trên)… Vào sát-na Đạo Bất Lai: …(như trên)… Vào sát-na Quả Bất Lai: …(như trên)… Vào sát-na Đạo A-la-hán: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, đã được sanh khởi vào khi ấy. …(như trên)… Trí về sự đoạn tận, theo ý nghĩa đoạn trừ, đã được sanh khởi vào khi ấy. Ước muốn, theo ý nghĩa nguồn cội, đã được sanh khởi vào khi ấy. …(như trên)… Niết Bàn liên quan đến bất tử, theo ý nghĩa kết thúc, đã được sanh khởi vào khi ấy. Sau khi đã thoát ra vị ấy quán xét lại. Đây là các pháp đã được sanh khởi vào khi ấy.
Vào sát-na Quả A-la-hán: Chánh kiến, theo ý nghĩa nhận thức, đã được sanh khởi vào khi ấy. …(như trên)… Trí về sự vô sanh, theo ý nghĩa tĩnh lặng, đã được sanh khởi vào khi ấy. Ước muốn với nguồn cội, đã được sanh khởi vào khi ấy. …(như trên)… Niết Bàn liên quan đến bất tử, theo ý nghĩa kết thúc, đã được sanh khởi vào khi ấy. Sau khi đã thoát ra vị ấy quán xét lại. Đây là các pháp đã được sanh khởi vào khi ấy.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về việc nhìn thấy các pháp đã được sanh khởi vào khi ấy là trí về việc quán xét lại.”
Phần giải thích ‘Trí về việc quán xét lại.’
15. Trí về tính chất khác biệt của các vật nương
Tuệ về việc xác định nội phần là trí về tính chất khác biệt của các vật nương là (có ý nghĩa) thế nào?
Xác định các pháp thuộc nội phần là (có ý nghĩa) thế nào?
Xác định mắt thuộc nội phần, xác định tai thuộc nội phần, xác định mũi thuộc nội phần, xác định lưỡi thuộc nội phần, xác định thân thuộc nội phần, xác định ý thuộc nội phần.
Xác định mắt thuộc nội phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Mắt được hiện hữu do vô minh,’ xác định rằng: ‘Mắt được hiện hữu do ái,’ xác định rằng: ‘Mắt được hiện hữu do nghiệp,’ xác định rằng: ‘Mắt được hiện hữu do vật thực,’ xác định rằng: ‘Mắt nương vào tứ đại,’ xác định rằng: ‘Mắt được sanh lên,’ xác định rằng: ‘Mắt được hiện khởi,’ xác định rằng: ‘Mắt đã là không hiện hữu, sau khi hiện hữu sẽ không tồn tại,’ xác định mắt có sự hạn chế, xác định rằng: ‘Mắt là pháp không vững chắc, không thường còn, có sự chuyển biến,’ xác định rằng: ‘Mắt là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp của sự đoạn tận, là pháp của sự biến hoại, là pháp của sự ly tham ái, là pháp của sự diệt tận.’
Đối với mắt, (hành giả) xác định là vô thường, không phải là thường; (hành giả) xác định là khổ não, không phải là lạc; (hành giả) xác định là vô ngã, không phải là ngã; (hành giả) nhàm chán, không vui thích; (hành giả) ly tham ái, không tham ái; (hành giả) làm cho diệt tận, không làm cho sanh khởi; (hành giả) từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi xác định là vô thường, (hành giả) dứt bỏ thường tưởng; trong khi xác định là khổ não, (hành giả) dứt bỏ lạc tưởng; trong khi xác định là vô ngã, (hành giả) dứt bỏ ngã tưởng; trong khi nhàm chán, (hành giả) dứt bỏ sự vui thích; trong khi ly tham ái, (hành giả) dứt bỏ tham ái; trong khi làm cho diệt tận, (hành giả) dứt bỏ sự sanh khởi; trong khi từ bỏ, (hành giả) dứt bỏ sự nắm giữ. Xác định mắt thuộc nội phần là (có ý nghĩa) như thế.
Xác định tai thuộc nội phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Tai được hiện hữu do vô minh.’ …(như trên)… Xác định tai thuộc nội phần là (có ý nghĩa) như thế.
Xác định mũi thuộc nội phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Mũi được hiện hữu do vô minh.’ …(như trên)… Xác định mũi thuộc nội phần là (có ý nghĩa) như thế.
Xác định lưỡi thuộc nội phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Lưỡi được hiện hữu do vô minh,’ xác định rằng: ‘Lưỡi được hiện hữu do ái,’ xác định rằng: ‘Lưỡi được hiện hữu do nghiệp,’ xác định rằng: ‘Lưỡi được hiện hữu do vật thực,’ xác định rằng: ‘Lưỡi nương vào tứ đại,’ xác định rằng: ‘Lưỡi được sanh lên,’ xác định rằng: ‘Lưỡi được hiện khởi,’ xác định rằng: ‘Lưỡi đã là không hiện hữu, sau khi hiện hữu sẽ không tồn tại,’ xác định lưỡi có sự hạn chế, xác định rằng: ‘Lưỡi là pháp không vững chắc, không thường còn, có sự chuyển biến,’ xác định rằng: ‘Lưỡi là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp của sự đoạn tận, là pháp của sự biến hoại, là pháp của sự ly tham ái, là pháp của sự diệt tận.’
Đối với lưỡi, (hành giả) xác định là vô thường, không phải là thường; …(như trên)… (hành giả) từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi xác định là vô thường, (hành giả) dứt bỏ thường tưởng; …(như trên)… trong khi từ bỏ, (hành giả) dứt bỏ sự nắm giữ. Xác định lưỡi thuộc nội phần là (có ý nghĩa) như thế.
Xác định thân thuộc nội phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Thân được hiện hữu do vô minh,’ xác định rằng: ‘Thân được hiện hữu do ái,’ xác định rằng: ‘Thân được hiện hữu do nghiệp,’ xác định rằng: ‘Thân được hiện hữu do vật thực,’ xác định rằng: ‘Thân nương vào tứ đại,’ xác định rằng: ‘Thân được sanh lên,’ …(như trên)… Đối với thân, (hành giả) xác định là vô thường, không phải là thường; (hành giả) xác định là khổ não, không phải là lạc; …(như trên)… (hành giả) từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi xác định là vô thường, (hành giả) dứt bỏ thường tưởng; trong khi xác định là khổ não, (hành giả) dứt bỏ lạc tưởng; …(như trên)… trong khi từ bỏ, (hành giả) dứt bỏ sự nắm giữ. Xác định thân thuộc nội phần là (có ý nghĩa) như thế.
Xác định ý thuộc nội phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Ý được hiện hữu do vô minh,’ xác định rằng: ‘Ý được hiện hữu do ái,’ xác định rằng: ‘Ý được hiện hữu do nghiệp,’ xác định rằng: ‘Ý được hiện hữu do vật thực,’ xác định rằng: ‘Ý được sanh lên,’ xác định rằng: ‘Ý được hiện khởi,’ xác định rằng: ‘Ý đã là không hiện hữu, sau khi hiện hữu sẽ không tồn tại,’ xác định ý có sự hạn chế, xác định rằng: ‘Ý là pháp không vững chắc, không thường còn, có sự chuyển biến,’ xác định rằng: ‘Ý là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp của sự đoạn tận, là pháp của sự biến hoại, là pháp của sự ly tham ái, là pháp của sự diệt tận.’ Đối với ý, (hành giả) xác định là vô thường, không phải là thường; (hành giả) xác định là khổ não, không phải là lạc; (hành giả) xác định là vô ngã, không phải là ngã; (hành giả) nhàm chán, không vui thích; (hành giả) ly tham ái, không tham ái; (hành giả) làm cho diệt tận, không làm cho sanh khởi; (hành giả) từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi xác định là vô thường, (hành giả) dứt bỏ thường tưởng; trong khi xác định là khổ não, (hành giả) dứt bỏ lạc tưởng; trong khi xác định là vô ngã, (hành giả) dứt bỏ ngã tưởng; trong khi nhàm chán, (hành giả) dứt bỏ sự vui thích; trong khi ly tham ái, (hành giả) dứt bỏ tham ái; trong khi làm cho diệt tận, (hành giả) dứt bỏ sự sanh khởi; trong khi từ bỏ, (hành giả) dứt bỏ sự nắm giữ. Xác định ý thuộc nội phần là (có ý nghĩa) như thế.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về việc xác định nội phần là trí về tính chất khác biệt của các vật nương.”
‘Trí về tính chất khác biệt của các vật nương.’
16. Trí về tính chất khác biệt của các hành xứ
Tuệ về việc xác định ngoại phần là trí về tính chất khác biệt của các hành xứ là (có ý nghĩa) thế nào?
Xác định các pháp thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định các sắc thuộc ngoại phần, xác định các thinh thuộc ngoại phần, xác định các khí thuộc ngoại phần, xác định các vị thuộc ngoại phần, xác định các xúc thuộc ngoại phần, xác định các pháp thuộc ngoại phần.
Xác định các sắc thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Các sắc được hiện hữu do vô minh,’ xác định rằng: ‘Các sắc được hiện hữu do ái,’ xác định rằng: ‘Các sắc được hiện hữu do nghiệp,’ xác định rằng: ‘Các sắc được hiện hữu do vật thực,’ xác định rằng: ‘Các sắc nương vào tứ đại,’ xác định rằng: ‘Các sắc được sanh lên,’ xác định rằng: ‘Các sắc được hiện khởi,’ xác định rằng: ‘Các sắc đã là không hiện hữu, sau khi hiện hữu sẽ không tồn tại,’ xác định các sắc có sự hạn chế, xác định rằng: ‘Các sắc là pháp không vững chắc, không thường còn, có sự chuyển biến,’ xác định rằng: ‘Các sắc là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp của sự đoạn tận, là pháp của sự biến hoại, là pháp của sự ly tham ái, là pháp của sự diệt tận.’
Đối với các sắc, (hành giả) xác định là vô thường, không phải là thường; (hành giả) xác định là khổ não, không phải là lạc; (hành giả) xác định là vô ngã, không phải là ngã; (hành giả) nhàm chán, không vui thích; (hành giả) ly tham ái, không tham ái; (hành giả) làm cho diệt tận, không làm cho sanh khởi; (hành giả) từ bỏ, không nắm giữ. Trong khi xác định là vô thường, (hành giả) dứt bỏ thường tưởng; trong khi xác định là khổ não, (hành giả) dứt bỏ lạc tưởng; trong khi xác định là vô ngã, (hành giả) dứt bỏ ngã tưởng; trong khi nhàm chán, (hành giả) dứt bỏ sự vui thích; trong khi ly tham ái, (hành giả) dứt bỏ tham ái; trong khi làm cho diệt tận, (hành giả) dứt bỏ sự sanh khởi; trong khi từ bỏ, (hành giả) dứt bỏ sự nắm giữ. Xác định các sắc thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) như thế.
Xác định các thinh thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Các thinh nương vào tứ đại,’ xác định rằng: ‘Các thinh được sanh lên,’ xác định rằng: ‘Các thinh được hiện khởi,’ xác định rằng: ‘Các thinh đã là không hiện hữu, sau khi hiện hữu sẽ không tồn tại,’ xác định các thinh có sự hạn chế, xác định rằng: ‘Các thinh là pháp không vững chắc, không thường còn, có sự chuyển biến,’ xác định rằng: ‘Các thinh là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp của sự đoạn tận, là pháp của sự biến hoại, là pháp của sự ly tham ái, là pháp của sự diệt tận.’
Đối với các thinh, (hành giả) xác định là vô thường, không phải là thường; …(như trên)… Xác định các thinh thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) như thế.
Xác định các khí thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Các khí được hiện hữu do vô minh,’ xác định rằng: ‘Các khí được hiện hữu do ái.’ …(như trên)… Xác định các khí thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) như thế.
Xác định các vị thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Các vị được hiện hữu do vô minh.’ …(như trên)… Xác định các vị thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) như thế.
Xác định các xúc thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Các xúc được hiện hữu do vô minh,’ xác định rằng: ‘Các xúc được hiện hữu do ái,’ xác định rằng: ‘Các xúc được hiện hữu do nghiệp,’ xác định rằng: ‘Các xúc được hiện hữu do vật thực,’ xác định rằng: ‘Các xúc được sanh lên,’ xác định rằng: ‘Các xúc được hiện khởi.’ …(như trên)… Xác định các xúc thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) như thế.
Xác định các pháp thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) thế nào? Xác định rằng: ‘Các pháp được hiện hữu do vô minh,’ xác định rằng: ‘Các pháp được hiện hữu do ái,’ xác định rằng: ‘Các pháp được hiện hữu do nghiệp,’ xác định rằng: ‘Các pháp được hiện hữu do vật thực,’ xác định rằng: ‘Các pháp nương vào tứ đại,’ xác định rằng: ‘Các pháp được sanh lên,’ xác định rằng: ‘Các pháp được hiện khởi,’ xác định rằng: ‘Các pháp đã là không hiện hữu, sau khi hiện hữu sẽ không tồn tại,’ xác định các pháp có sự hạn chế, xác định rằng: ‘Các pháp là pháp không vững chắc, không thường còn, có sự chuyển biến,’ xác định rằng: ‘Các pháp là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp của sự đoạn tận, là pháp của sự biến hoại, là pháp của sự ly tham ái, là pháp của sự diệt tận.’
Đối với các pháp, (hành giả) xác định là vô thường, không phải là thường; (hành giả) xác định là khổ não, không phải là lạc; (hành giả) xác định là vô ngã, không phải là ngã; (hành giả) nhàm chán, không vui thích; (hành giả) ly tham ái, không tham ái; (hành giả) làm cho diệt tận, không làm cho sanh khởi; (hành giả) từ bỏ, không nắm giữ. …(như trên)… Trong khi xác định là vô thường, (hành giả) dứt bỏ thường tưởng; trong khi xác định là khổ não, (hành giả) dứt bỏ lạc tưởng; trong khi xác định là vô ngã, (hành giả) dứt bỏ ngã tưởng; trong khi nhàm chán, (hành giả) dứt bỏ sự vui thích; trong khi ly tham ái, (hành giả) dứt bỏ tham ái; trong khi làm cho diệt tận, (hành giả) dứt bỏ sự sanh khởi; trong khi từ bỏ, (hành giả) dứt bỏ sự nắm giữ. Xác định các pháp thuộc ngoại phần là (có ý nghĩa) như thế.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về việc xác định ngoại phần là trí về tính chất khác biệt của các hành xứ.”
‘Trí về tính chất khác biệt của các hành xứ.’
17. Trí về tính chất khác biệt của các hành vi
Tuệ về việc xác định hành vi là trí về tính chất khác biệt của các hành vi là (có ý nghĩa) thế nào?
Hành vi: Có ba hành vi: hành vi của thức, hành vi của vô trí, hành vi của trí.
Hành vi của thức là gì?
Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích nhìn thấy các sắc là hành vi của thức. Ý nghĩa của việc nhìn thấy các sắc, tức là nhãn thức, là hành vi của thức. Bản thể của việc đã nhìn thấy các sắc, tức là ý giới tiếp thâu kết quả việc gắn chặt (tâm vào cảnh), là hành vi của thức. Bản thể của việc đã được gắn chặt vào các sắc, tức là ý thức giới quan sát kết quả, là hành vi của thức.
Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích nghe các thinh là hành vi của thức. Ý nghĩa của việc nghe các thinh, tức là nhĩ thức, là hành vi của thức. Bản thể của việc đã nghe được các thinh, tức là ý giới tiếp thâu kết quả việc gắn chặt (tâm vào cảnh), là hành vi của thức. Bản thể của việc đã được gắn chặt vào các thinh, tức là ý thức giới quan sát kết quả, là hành vi của thức.
Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích ngửi các khí là hành vi của thức. Ý nghĩa của việc ngửi các khí, tức là tỷ thức, là hành vi của thức. Bản thể của việc đã ngửi được các khí tức là ý giới tiếp thâu kết quả việc gắn chặt (tâm vào cảnh), là hành vi của thức. Bản thể của việc đã được gắn chặt vào các khí, tức là ý thức giới quan sát kết quả, là hành vi của thức.
Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích nếm các vị là hành vi của thức. Ý nghĩa của việc nếm các vị, tức là thiệt thức, là hành vi của thức. Bản thể của việc đã nếm được các vị tức là ý giới tiếp thâu kết quả việc gắn chặt (tâm vào cảnh), là hành vi của thức. Bản thể của việc đã được gắn chặt vào các vị, tức là ý thức giới quan sát kết quả, là hành vi của thức.
Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích đụng chạm các xúc là hành vi của thức. Ý nghĩa của việc đụng chạm các xúc, tức là thân thức, là hành vi của thức. Bản thể của việc đã đụng chạm các xúc, tức là ý giới tiếp thâu kết quả việc gắn chặt (tâm vào cảnh), là hành vi của thức. Bản thể của việc đã được gắn chặt vào các xúc, tức là ý thức giới quan sát kết quả, là hành vi của thức.
Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích nhận biết các pháp là hành vi của thức. Ý nghĩa của việc nhận biết các pháp, tức là ý thức, là hành vi của thức. Bản thể của việc đã được nhận biết các pháp, tức là ý giới tiếp thâu kết quả việc gắn chặt (tâm vào cảnh), là hành vi của thức. Bản thể của việc đã được gắn chặt vào các pháp, tức là ý thức giới quan sát kết quả, là hành vi của thức.
Hành vi của thức: Hành vi của thức theo ý nghĩa gì?
‘Hành xử không có tham ái’ là hành vi của thức. ‘Hành xử không có sân’ là hành vi của thức. ‘Hành xử không có si’ là hành vi của thức. ‘Hành xử không có ngã mạn’ là hành vi của thức. ‘Hành xử không có tà kiến’ là hành vi của thức. ‘Hành xử không có phóng dật’ … ‘Hành xử không có hoài nghi’ là hành vi của thức. ‘Hành xử không có (yếu tố) ngủ ngầm’ … ‘Hành xử không có liên kết với tham ái’ … ‘Hành xử không có liên kết với sân’ … ‘Hành xử không có liên kết với si’ … ‘Hành xử không có liên kết với ngã mạn’ … ‘Hành xử không có liên kết với tà kiến’ … ‘Hành xử không có liên kết với phóng dật’ … ‘Hành xử không có liên kết với hoài nghi’ … ‘Hành xử không có liên kết với (yếu tố) ngủ ngầm’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp thiện’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp bất thiện’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp có tội’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp không có tội’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp đen’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp trắng’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp tăng trưởng lạc’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp tăng trưởng khổ’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp có kết quả lạc’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp có kết quả khổ’ … ‘Hành xử khi đã biết (cảnh)’ là hành vi của thức. ‘Hành vi có hình thức như thế của thức’ là hành vi của thức. ‘Tâm này thanh tịnh ở trạng thái tự nhiên theo ý nghĩa xa lìa phiền não’ là hành vi của thức. Đây là hành vi của thức.
Hành vi của vô trí là gì?
Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của tham ái đối với các sắc thích ý là hành vi của thức, do sự thôi thúc của tham ái là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của sân đối với các sắc không thích ý là hành vi của thức, do sự thôi thúc của sân là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của si đối với đối tượng không có sự quan tâm bởi một trong hai (tham ái hoặc sân) là hành vi của thức, do sự thôi thúc của si là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của ngã mạn cố chấp là hành vi của thức, do sự thôi thúc của ngã mạn là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của tà kiến đã tiêm nhiễm là hành vi của thức, do sự thôi thúc của tà kiến là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của phóng dật đưa đến sự tản mạn là hành vi của thức, do sự thôi thúc của phóng dật là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của hoài nghi đưa đến không quyết đoán là hành vi của thức, do sự thôi thúc của hoài nghi là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của ngủ ngầm đưa đến động lực là hành vi của thức, do sự thôi thúc của ngủ ngầm là hành vi của vô trí.
Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của tham ái đối với các thinh hợp ý …(như trên)… đối với các khí hợp ý …(như trên)… đối với các vị hợp ý …(như trên)… đối với các xúc hợp ý …(như trên)… đối với các pháp hợp ý là hành vi của thức, do sự thôi thúc của tham ái là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của sân đối với các pháp không hợp ý là hành vi của thức, do sự thôi thúc của sân là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của si đối với đối tượng không có sự quan tâm bởi một trong hai (tham ái hoặc sân) là hành vi của thức, do sự thôi thúc của si là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của ngã mạn cố chấp là hành vi của thức, do sự thôi thúc của ngã mạn là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của tà kiến đã tiêm nhiễm là hành vi của thức, do sự thôi thúc của tà kiến là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của phóng dật đưa đến sự tản mạn là hành vi của thức, do sự thôi thúc của phóng dật là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của hoài nghi đưa đến không quyết đoán là hành vi của thức, do sự thôi thúc của hoài nghi là hành vi của vô trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký bởi mục đích thôi thúc của ngủ ngầm đưa đến động lực là hành vi của thức, do sự thôi thúc của ngủ ngầm là hành vi của vô trí.
Hành vi của vô trí: Với ý nghĩa gì là hành vi của vô trí?
‘Hành xử do tham ái’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do sân’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do si’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do ngã mạn’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do tà kiến ‘ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do phóng dật’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do hoài nghi’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do (yếu tố) ngủ ngầm’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do liên kết với tham ái’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do liên kết với sân’ … ‘Hành xử do liên kết với si’ … ‘Hành xử do liên kết với ngã mạn’ … ‘Hành xử do liên kết với tà kiến’ … ‘Hành xử do liên kết với phóng dật’ … ‘Hành xử do liên kết với hoài nghi’ … ‘Hành xử do liên kết với (yếu tố) ngủ ngầm’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp thiện’ … ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp bất thiện’ … ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp có tội’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp không có tội’ … ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp đen’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp trắng’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp tăng trưởng lạc’ … ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp tăng trưởng khổ’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp có kết quả lạc’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp có kết quả khổ’ là hành vi của vô trí. ‘Hành xử khi chưa biết (cảnh)’ là hành vi của vô trí. ‘Hành vi có hình thức như thế của vô trí’ là hành vi của vô trí. Đây là hành vi của vô trí.
Hành vi của trí là gì?
Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích quán xét về vô thường là hành vi của thức, sự quán xét về vô thường là hành vi của trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích quán xét về khổ não là hành vi của thức, sự quán xét về khổ não là hành vi của trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích quán xét về vô ngã là hành vi của thức, sự quán xét về vô ngã là hành vi của trí. Hành động hướng tâm có tính chất vô ký nhằm mục đích quán xét về nhàm chán …, nhằm mục đích quán xét về ly tham ái …, nhằm mục đích quán xét về diệt tận …, nhằm mục đích quán xét về từ bỏ …, nhằm mục đích quán xét về đoạn tận …, nhằm mục đích quán xét về biến hoại …, nhằm mục đích quán xét về chuyển biến …, nhằm mục đích quán xét về vô tướng …, nhằm mục đích quán xét về vô nguyện …, nhằm mục đích quán xét về không tánh …, nhằm mục đích quán xét các pháp bằng thắng tuệ …, nhằm mục đích của sự biết và thấy đúng theo thực thể …, nhằm mục đích quán xét về sự tai hại … nhằm mục đích quán xét về phân biệt rõ là hành vi của thức, sự quán xét về phân biệt rõ là hành vi của trí. Sự quán xét về ly khai là hành vi của trí. Đạo Nhập Lưu là hành vi của trí. Sự chứng đạt Quả Nhập Lưu là hành vi của trí. Đạo Nhất Lai … Sự chứng đạt Quả Nhất Lai … Đạo Bất Lai … Sự chứng đạt Quả Bất Lai … Đạo A-la-hán là hành vi của trí. Sự chứng đạt Quả A-la-hán là hành vi của trí.
Hành vi của trí: Với ý nghĩa gì là hành vi của trí?
‘Hành xử không có tham ái’ là hành vi của trí. ‘Hành xử không có sân’ là hành vi của trí. ‘Hành xử không có si’ là hành vi của trí. ‘Hành xử không có ngã mạn’ là hành vi của trí. ‘Hành xử không có tà kiến’ là hành vi của trí. …(như trên)… ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp thiện’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp bất thiện’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp có tội’ … ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp không có tội’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp đen’ … ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp trắng’ … ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp tăng trưởng lạc’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp tăng trưởng khổ’ … ‘Hành xử do liên kết với các nghiệp có kết quả lạc’ … ‘Hành xử không có liên kết với các nghiệp có kết quả khổ’ … ‘Hành xử khi đã biết’ … ‘Hành vi có hình thức như thế của trí’ là hành vi của trí. Đây là hành vi của trí.
Như thế, hành vi của thức là loại khác, hành vi của vô trí là loại khác, hành vi của trí là loại khác (nữa). Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về việc xác định hành vi là trí về tính chất khác biệt của các hành vi.”
‘Trí về tính chất khác biệt của các hành vi.’
18. Trí về tính chất khác biệt của các lãnh vực
Tuệ về việc xác định bốn pháp là trí về tính chất khác biệt của các lãnh vực là (có ý nghĩa) thế nào? Có bốn lãnh vực: lãnh vực dục giới, lãnh vực sắc giới, lãnh vực vô sắc giới, lãnh vực không bị lệ thuộc.
Lãnh vực dục giới là gì? Lấy ranh giới bên dưới là địa ngục Vô Gián và lấy giới hạn bên trên là chư thiên Tha Hóa Tự Tại, khoảng giữa này là nơi màcác uẩn, các giới, các xứ, các sắc, các thọ, các tưởng, các hành, và thứccó sự sinh hoạt ở nơi ấy, bị giới hạn ở nơi ấy; đây là lãnh vực dục giới.
Lãnh vực sắc giới là gì? Lấy ranh giới bên dưới là thế giới Phạm Thiên và lấy giới hạn bên trên là chư thiên Sắc Cứu Cánh, khoảng giữa này là nơi màcác pháp về tâm và sở hữu tâm của vị đang thể nhập, hoặc của vị đã được sanh lên, hoặc của vị có sự an trú lạc trong hiện tạicó sự sinh hoạt ở nơi ấy, bị giới hạn ở nơi ấy; đây là lãnh vực sắc giới.
Lãnh vực vô sắc giới là gì? Lấy ranh giới bên dưới là chư thiên đạt đến Không Vô Biên Xứ và lấy giới hạn bên trên là chư thiên đạt đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, khoảng giữa này là nơi màcác pháp về tâm và sở hữu tâm của vị đang thể nhập, hoặc của vị đã được sanh lên, hoặc của vị có sự an trú lạc trong hiện tạicó sự sinh hoạt ở nơi ấy, bị giới hạn ở nơi ấy; đây là lãnh vực vô sắc giới.
Lãnh vực không bị lệ thuộc là gì? Các Đạo, các Quả của Đạo, và Niết Bàn là không bị lệ thuộc; đây là lãnh vực không bị lệ thuộc. Đây là bốn lãnh vực.
Còn có bốn lãnh vực khác nữa là bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn như ý túc, bốn thiền, bốn vô lượng (tâm), bốn sự chứng đạt vô sắc, bốn phân tích, bốn sự thực hành, bốn cảnh,* bốn truyền thống của bậc Thánh,* bốn sự việc thâu phục,bốn bánh xe (đưa đến tiến hóa),* bốn nền tảng trong pháp;* đây là bốn lãnh vực.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về việc xác định bốn pháp là trí về tính chất khác biệt của các lãnh vực.”
‘Trí về tính chất khác biệt của các lãnh vực.’
19. Trí về tính chất khác biệt của các pháp
Tuệ về việc xác định chín pháp là trí về tính chất khác biệt của các pháp là (có ý nghĩa) thế nào?
Xác định các pháp là (có ý nghĩa) thế nào? Về các pháp dục giới, (hành giả) xác định thiện, xác định bất thiện, xác định vô ký. Về các pháp sắc giới, (hành giả) xác định thiện, xác định vô ký. Về các pháp vô sắc giới, (hành giả) xác định thiện, xác định vô ký. Về các pháp không bị lệ thuộc, (hành giả) xác định thiện, xác định vô ký.
Về các pháp dục giới, xác định thiện, xác định bất thiện, xác định vô ký là (có ý nghĩa) thế nào? Về mười phương thức của nghiệp thiện, (hành giả) xác định là thiện. Về mười phương thức của nghiệp bất thiện, (hành giả) xác định là bất thiện. Về sắc, nghiệp quả, và duy tác, (hành giả) xác định là vô ký. Về các pháp dục giới, xác định thiện, xác định bất thiện, xác định vô ký là (có ý nghĩa) như thế.
Về các pháp sắc giới, xác định thiện, xác định vô ký là (có ý nghĩa) thế nào? Về bốn thiền của vị hiện ở thế gian này, (hành giả) xác định là thiện. Về bốn thiền của vị đã tái sanh đến nơi ấy, (hành giả) xác định là vô ký. Về các pháp sắc giới, xác định thiện, xác định vô ký là (có ý nghĩa) như thế.
Về các pháp vô sắc giới, xác định thiện, xác định vô ký là (có ý nghĩa) thế nào? Về bốn sự chứng đạt vô sắc giới của vị hiện ở thế gian này, (hành giả) xác định là thiện. Về bốn sự chứng đạt vô sắc giới của vị đã tái sanh đến nơi ấy, (hành giả) xác định là vô ký. Về các pháp vô sắc giới, xác định thiện, xác định vô ký là (có ý nghĩa) như thế.
Về các pháp không bị lệ thuộc, xác định thiện, xác định vô ký là (có ý nghĩa) thế nào? Về bốn Thánh Đạo, (hành giả) xác định là thiện. Về bốn Quả tương ứng và Niết Bàn, (hành giả) xác định là vô ký. Về các pháp không bị lệ thuộc, xác định thiện, xác định vô ký là (có ý nghĩa) như thế. Như vậy là xác định các pháp.
Chín cội nguồn của sự hân hoan: Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý về vô thường. Khi (hành giả) được hân hoan, hỷ sanh khởi. Khi tâm có hỷ, thân trở nên tịnh. Khi thân được tịnh, (hành giả) nhận biết lạc. Khi có lạc, tâm được định. Khi tâm được định, (hành giả) nhận biết và thấy đúng theo thực thể. Khi nhận biết và thấy đúng theo thực thể, (hành giả) nhàm chán. Khi nhàm chán, (hành giả) ly tham ái. Do ly tham ái, (hành giả) được giải thoát. Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý về khổ não, …(như trên)… Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý về vô ngã, …(như trên)…
Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý về sắc là vô thường. …(nt)… Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý về sắc là khổ não. …(nt)… Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý về sắc là vô ngã. …(nt)… Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý về thọ … tưởng … các hành … thức … mắt … lão tử là vô thường. …(nt)… Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý về lão tử là khổ não. …(nt)… Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý về lão tử là vô ngã. Khi (hành giả) được hân hoan, hỷ sanh khởi. Khi tâm có hỷ, thân trở nên tịnh. Khi thân được tịnh, (hành giả) nhận biết lạc. Khi có lạc, tâm được định. Khi tâm được định, (hành giả) nhận biết và thấy đúng theo thực thể. Khi nhận biết và thấy đúng theo thực thể, (hành giả) nhàm chán. Khi nhàm chán, (hành giả) ly tham ái. Do ly tham ái, (hành giả) được giải thoát. Đây là chín cội nguồn của sự hân hoan.
Chín cội nguồn của sự tác ý đúng đường lối: Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý đúng đường lối về vô thường. Khi (hành giả) được hân hoan, hỷ sanh khởi. Khi tâm có hỷ, thân trở nên tịnh. Khi thân được tịnh, (hành giả) nhận biết lạc. Khi có lạc, tâm được định, do tâm được định, (hành giả) nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.’
Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý đúng đường lối về khổ não. Khi (hành giả) được hân hoan, hỷ sanh khởi. Khi tâm có hỷ, thân trở nên tịnh. Khi thân được tịnh, (hành giả) nhận biết lạc. Khi có lạc, tâm được định, do tâm được định, (hành giả) nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Khổ,’ … ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ … ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.’
Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý đúng đường lối về vô ngã. …(nt)… Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý đúng đường lối về sắc là vô thường. …(nt)… Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý đúng đường lối về sắc là khổ não. …(nt)… Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý đúng đường lối về sắc là vô ngã. …(nt)… Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý đúng đường lối về thọ … tưởng … các hành … thức … mắt … lão tử là vô thường. …(nt)… Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý đúng đường lối về lão tử là khổ não. …(nt)… Hân hoan sanh khởi đến (hành giả) đang tác ý đúng đường lối về lão tử là vô ngã. Khi (hành giả) được hân hoan, hỷ sanh khởi. Khi tâm có hỷ, thân trở nên tịnh. Khi thân được tịnh, (hành giả) nhận biết lạc. Khi có lạc, tâm được định. Khi tâm được định, (hành giả) nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Khổ,’ … ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ … ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.’ Đây là 9 cội nguồn của sự tác ý đúng đường lối.
Chín tính chất khác biệt: Tùy thuận vào tính chất khác biệt của giới (như mắt, tai, v.v…), tính chất khác biệt của xúc được sanh lên. Tùy thuận vào tính chất khác biệt của xúc, tính chất khác biệt của thọ được sanh lên. Tùy thuận vào tính chất khác biệt của thọ, tính chất khác biệt của tưởng được sanh lên. Tùy thuận vào tính chất khác biệt của tưởng, tính chất khác biệt của tư được sanh lên. Tùy thuận vào tính chất khác biệt của tư, tính chất khác biệt của ước muốn được sanh lên. Tùy thuận vào tính chất khác biệt của ước muốn, tính chất khác biệt của trạng thái bực bội được sanh lên. Tùy thuận vào tính chất khác biệt của trạng thái bực bội, tính chất khác biệt của tầm cầu được sanh lên. Tùy thuận vào tính chất khác biệt của tầm cầu, tính chất khác biệt của sự thành tựu được sanh lên. Đây là chín tính chất khác biệt.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về việc xác định chín pháp là trí về tính chất khác biệt của các pháp.”
Phần giải thích ‘Trí về tính chất khác biệt của các pháp.’
20–24. Năm loại Trí
Tuệ về sự biết rõ là trí về ý nghĩa của điều đã được biết, tuệ về sự biết toàn diện là trí về ý nghĩa của quyết đoán, tuệ về sự dứt bỏ là trí về ý nghĩa của buông bỏ, tuệ về sự tu tập là trí về ý nghĩa của nhất vị, tuệ về sự tác chứng là trí về ý nghĩa của sự chạm đến là (có ý nghĩa) thế nào?
Những pháp nào đã được biết rõ, những pháp ấy là đã được biết; những pháp nào đã được biết toàn diện, những pháp ấy là đã được quyết đoán; những pháp nào đã được dứt bỏ, những pháp ấy là đã được buông bỏ; những pháp nào đã được tu tập, những pháp ấy là có nhất vị; những pháp nào đã được tác chứng, những pháp ấy là đã được chạm đến.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự biết rõ là trí về ý nghĩa của điều đã được biết, tuệ về sự biết toàn diện là trí về ý nghĩa của quyết đoán, tuệ về sự dứt bỏ là trí về ý nghĩa của buông bỏ, tuệ về sự tu tập là trí về ý nghĩa của nhất vị, tuệ về sự tác chứng là trí về ý nghĩa của sự chạm đến.”
Phần giải thích về ‘Năm loại Trí.’
25–28. Trí về sự phân tích
Tuệ về tính chất khác biệt của các ý nghĩa là trí về sự phân tích các ý nghĩa, tuệ về tính chất khác biệt của các pháp là trí về sự phân tích các pháp, tuệ về tính chất khác biệt của các ngôn từ là trí về sự phân tích các ngôn từ, tuệ về tính chất khác biệt của các phép biện giải là trí về sự phân tích các phép biện giải là (có ý nghĩa) thế nào?
Tín quyền là pháp, tấn quyền là pháp, niệm quyền là pháp, định quyền là pháp, tuệ quyền là pháp. Tín quyền là pháp khác, tấn quyền là pháp khác, niệm quyền là pháp khác (nữa), định quyền là pháp khác (nữa), tuệ quyền là pháp khác (nữa). Do trí nào các pháp khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các pháp khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về tính chất khác biệt của các pháp là trí về sự phân tích các pháp.”
Ý nghĩa của sự cương quyết là ý nghĩa, ý nghĩa của sự ra sức là ý nghĩa, ý nghĩa của sự thiết lập là ý nghĩa, ý nghĩa của sự không tản mạn là ý nghĩa, ý nghĩa của sự nhận thức là ý nghĩa. Ý nghĩa của sự cương quyết là ý nghĩa khác, ý nghĩa của sự ra sức là ý nghĩa khác, ý nghĩa của sự thiết lập là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự không tản mạn là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự nhận thức là ý nghĩa khác (nữa). Do trí nào các ý nghĩa khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các ý nghĩa khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về tính chất khác biệt của các ý nghĩa là trí về sự phân tích các ý nghĩa.”
Nói lên văn tự và ngôn từ để chỉ rõ năm pháp. Nói lên văn tự và ngôn từ để chỉ rõ năm ý nghĩa. Các ngôn từ của các pháp là khác, các ngôn từ của các ý nghĩa là khác. Do trí nào các ngôn từ khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các ngôn từ khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về tính chất khác biệt của các ngôn từ là trí về sự phân tích các ngôn từ.”
Có các trí về năm pháp, có các trí về năm ý nghĩa, có các trí về mười ngôn từ. Các trí về các pháp là khác, các trí về các ý nghĩa là khác, các trí về ngôn từ là khác (nữa). Do trí nào các trí khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các trí khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về tính chất khác biệt của các phép biện giải là trí về sự phân tích các phép biện giải.”
Tín lực là pháp, tấn lực là pháp, niệm lực là pháp, định lực là pháp, tuệ lực là pháp. Tín lực là pháp khác, tấn lực là pháp khác, niệm lực là pháp khác (nữa), định lực là pháp khác (nữa), tuệ lực là pháp khác (nữa). Do trí nào các pháp khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các pháp khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về tính chất khác biệt của các pháp là trí về sự phân tích các pháp.”
Ý nghĩa không dao động ở sự không có đức tin là ý nghĩa, ý nghĩa không dao động ở sự biếng nhác là ý nghĩa, ý nghĩa không dao động ở sự buông lung là ý nghĩa, ý nghĩa không dao động ở sự phóng dật là ý nghĩa, ý nghĩa không dao động ở sự không sáng suốt là ý nghĩa. Ý nghĩa không dao động ở sự không có đức tin là ý nghĩa khác, ý nghĩa không dao động ở sự biếng nhác là ý nghĩa khác, ý nghĩa không dao động ở sự buông lung là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa không dao động ở sự phóng dật là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa không dao động ở sự không sáng suốt là ý nghĩa khác (nữa). Do trí nào các ý nghĩa khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các ý nghĩa khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về tính chất khác biệt của các ý nghĩa là trí về sự phân tích các ý nghĩa.”
Nói lên văn tự và ngôn từ để chỉ rõ năm pháp. Nói lên văn tự và ngôn từ để chỉ rõ năm ý nghĩa. Các ngôn từ của các pháp là khác, các ngôn từ của các ý nghĩa là khác (nữa). Do trí nào các ngôn từ khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các ngôn từ khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về tính chất khác biệt của các ngôn từ là trí về sự phân tích các ngôn từ.”
Có các trí về năm pháp, có các trí về năm ý nghĩa, có các trí về mười ngôn từ. Các trí về các pháp là khác, các trí về các ý nghĩa là khác, các trí về ngôn từ là khác (nữa). Do trí nào các trí khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các trí khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về tính chất khác biệt của các phép biện giải là trí về sự phân tích các phép biện giải.”
Niệm giác chi là pháp, trạch pháp giác chi là pháp, cần giác chi là pháp, hỷ giác chi là pháp, tịnh giác chi là pháp, định giác chi là pháp, xả giác chi là pháp. Niệm giác chi là pháp khác, trạch pháp giác chi là pháp khác, cần giác chi là pháp khác (nữa), hỷ giác chi là pháp khác (nữa), tịnh giác chi là pháp khác (nữa), định giác chi là pháp khác (nữa), xả giác chi là pháp khác (nữa). Do trí nào các pháp khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các pháp khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về tính chất khác biệt của các pháp là trí về sự phân tích các pháp.”
Ý nghĩa của sự thiết lập là ý nghĩa, ý nghĩa của sự suy xét là ý nghĩa, ý nghĩa của sự ra sức là ý nghĩa, ý nghĩa của sự lan tỏa là ý nghĩa, ý nghĩa của sự an tịnh là ý nghĩa, ý nghĩa của sự không tản mạn là ý nghĩa, ý nghĩa của sự phân biệt rõ là ý nghĩa. Ý nghĩa của sự thiết lập là ý nghĩa khác, ý nghĩa của sự suy xét là ý nghĩa khác, ý nghĩa của sự ra sức là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự lan tỏa là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự an tịnh là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự không tản mạn là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự phân biệt rõ là ý nghĩa khác (nữa). Do trí nào các ý nghĩa khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các ý nghĩa khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về tính chất khác biệt của các ý nghĩa là trí về sự phân tích các ý nghĩa.”
Nói lên văn tự và ngôn từ để chỉ rõ bảy pháp. Nói lên văn tự và ngôn từ để chỉ rõ bảy ý nghĩa. Các ngôn từ của pháp là khác, các ngôn từ của ý nghĩa là khác (nữa). Do trí nào các ngôn từ khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các ngôn từ khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về tính chất khác biệt của các ngôn từ là trí về sự phân tích các ngôn từ.”
Có các trí về bảy pháp, có các trí về bảy ý nghĩa, có các trí về mười bốn ngôn từ. Các trí về các pháp là khác, các trí về các ý nghĩa là khác, các trí về ngôn từ là khác (nữa). Do trí nào các trí khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các trí khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về tính chất khác biệt của các phép biện giải là trí về sự phân tích các phép biện giải.”
Chánh kiến là pháp, chánh tư duy là pháp, chánh ngữ là pháp, chánh nghiệp là pháp, chánh mạng là pháp, chánh tinh tấn là pháp, chánh niệm là pháp, chánh định là pháp. Chánh kiến là pháp khác, chánh tư duy là pháp khác, chánh ngữ là pháp khác (nữa), chánh nghiệp là pháp khác (nữa), chánh mạng là pháp khác (nữa), chánh tinh tấn là pháp khác (nữa), chánh niệm là pháp khác (nữa), chánh định là pháp khác (nữa). Do trí nào các pháp khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các pháp khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về tính chất khác biệt của các pháp là trí về sự phân tích các pháp.”
Ý nghĩa của sự nhận thức là ý nghĩa, ý nghĩa của sự gắn chặt (tâm vào cảnh) là ý nghĩa, ý nghĩa của sự gìn giữ là ý nghĩa, ý nghĩa của nguồn sanh khởi là ý nghĩa, ý nghĩa của sự trong sạch là ý nghĩa, ý nghĩa của sự ra sức là ý nghĩa, ý nghĩa của sự thiết lập là ý nghĩa, ý nghĩa của sự không tản mạn là ý nghĩa. Ý nghĩa của sự nhận thức là ý nghĩa khác, ý nghĩa của sự gắn chặt (tâm vào cảnh) là ý nghĩa khác, ý nghĩa của sự gìn giữ là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của nguồn sanh khởi là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự trong sạch là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự ra sức là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự thiết lập là ý nghĩa khác (nữa), ý nghĩa của sự không tản mạn là ý nghĩa khác (nữa). Do trí nào các ý nghĩa khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các ý nghĩa khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về tính chất khác biệt của các ý nghĩa là trí về sự phân tích các ý nghĩa.”
Nói lên văn tự và ngôn từ để chỉ rõ tám pháp. Nói lên văn tự và ngôn từ để chỉ rõ tám ý nghĩa. Các ngôn từ của pháp là khác, các ngôn từ của ý nghĩa là khác. Do trí nào các ngôn từ khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các ngôn từ khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về tính chất khác biệt của các ngôn từ là trí về sự phân tích các ngôn từ.”
Có các trí về tám pháp, có các trí về tám ý nghĩa, có các trí về mười sáu ngôn từ. Các trí về các pháp là khác, các trí về các ý nghĩa là khác, các trí về các ngôn từ là khác (nữa). Do trí nào các trí khác biệt này được biết, cũng do chính trí ấy các trí khác biệt này được thấu triệt. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về tính chất khác biệt của các phép biện giải là trí về sự phân tích các phép biện giải.”
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về tính chất khác biệt của các ý nghĩa là trí về sự phân tích các ý nghĩa, tuệ về tính chất khác biệt của các pháp là trí về sự phân tích các pháp, tuệ về tính chất khác biệt của các ngôn từ là trí về sự phân tích các ngôn từ, tuệ về tính chất khác biệt của các phép biện giải là trí về sự phân tích các phép biện giải.”
Phần giải thích ‘Trí về sự phân tích.’
29–31. Ba loại Trí
Tuệ về tính chất khác biệt của các sự an trú là trí về ý nghĩa của các sự an trú, tuệ về tính chất khác biệt của các sự chứng đạt là trí về ý nghĩa của các sự chứng đạt, tuệ về tính chất khác biệt của các sự an trú và chứng đạt là trí về ý nghĩa của các sự an trú và chứng đạt là (có ý nghĩa) thế nào?
Trong khi nhận thấy rõ hiện tướng là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô tướng và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến; vô tướng là sự an trú. Trong khi nhận thấy rõ nguyện ước là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô nguyện và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến; vô nguyện là sự an trú. Trong khi nhận thấy rõ cố chấp là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến không tánh và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến; không tánh là sự an trú.
Trong khi nhận thấy rõ hiện tướng là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô tướng. Sau khi dửng dưng (có trạng thái xả) với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô tướng là sự chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ nguyện ước là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô nguyện. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô nguyện là sự chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ cố chấp là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến không tánh. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; không tánh là sự chứng đạt.
Trong khi nhận thấy rõ hiện tướng là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô tướng và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến. Sau khi dửng dưng (có trạng thái xả) với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô tướng là sự an trú và chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ nguyện ước là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô nguyện và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô nguyện là sự an trú và chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ cố chấp là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến không tánh và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; không tánh là sự an trú và chứng đạt.
Trong khi nhận thấy rõ hiện tướng của sắc là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô tướng và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến; vô tướng là sự an trú. Trong khi nhận thấy rõ nguyện ước về sắc là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô nguyện và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến; vô nguyện là sự an trú. Trong khi nhận thấy rõ cố chấp vào sắc là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến không tánh và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến; không tánh là sự an trú.
Trong khi nhận thấy rõ hiện tướng của sắc là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô tướng. Sau khi dửng dưng (có trạng thái xả) với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô tướng là sự chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ nguyện ước về sắc là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô nguyện. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô nguyện là sự chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ cố chấp vào sắc là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến không tánh. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; không tánh là sự chứng đạt.
Trong khi nhận thấy rõ hiện tướng của sắc là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô tướng và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến. Sau khi dửng dưng (có trạng thái xả) với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô tướng là sự an trú và chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ nguyện ước về sắc là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô nguyện và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô nguyện là sự an trú và chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ cố chấp vào sắc là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến không tánh và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; không tánh là sự an trú và chứng đạt.
Trong khi nhận thấy rõ hiện tướng của thọ …(như trên)… hiện tướng của tưởng …(nt)… hiện tướng của các hành …(nt)… hiện tướng của thức …(nt)… hiện tướng của mắt …(nt)… hiện tướng của lão tử là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô tướng và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến; vô tướng là sự an trú. Trong khi nhận thấy rõ nguyện ước về lão tử là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô nguyện và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến; vô nguyện là sự an trú. Trong khi nhận thấy rõ cố chấp vào lão tử là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến không tánh và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến; không tánh là sự an trú.
Trong khi nhận thấy rõ hiện tướng của lão tử là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô tướng. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô tướng là sự chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ nguyện ước về lão tử là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô nguyện. Sau khi … hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô nguyện là sự chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ cố chấp vào lão tử là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến không tánh. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; không tánh là sự chứng đạt.
Trong khi nhận thấy rõ hiện tướng của lão tử là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô tướng và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến. Sau khi dửng dưng với sự vận hành và hướng tâm đến vô tướng là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô tướng là sự an trú và chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ nguyện ước về lão tử là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến vô nguyện và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến. Sau khi … hướng tâm đến vô nguyện là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; vô nguyện là sự an trú và chứng đạt. Trong khi nhận thấy rõ cố chấp về lão tử là kinh hãi, tự thân (hành giả) hướng đến không tánh và nhìn thấy sự biến hoại mỗi khi đạt đến. Sau khi … hướng tâm đến không tánh là sự tịch diệt Niết Bàn, (hành giả) chứng đạt; không tánh là sự an trú và chứng đạt.
Vô tướng là sự an trú khác, vô nguyện là sự an trú khác, không tánh là sự an trú khác (nữa). Sự chứng đạt vô tướng là khác, sự chứng đạt vô nguyện là khác, sự chứng đạt không tánh là khác (nữa). Sự an trú và chứng đạt vô tướng là khác, sự an trú và chứng đạt vô nguyện là khác, sự an trú và chứng đạt không tánh là khác (nữa).
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về tính chất khác biệt của các sự an trú là trí về ý nghĩa của các sự an trú, tuệ về tính chất khác biệt của các sự chứng đạt là trí về ý nghĩa của các sự chứng đạt, tuệ về tính chất khác biệt của các sự an trú và chứng đạt là trí về ý nghĩa của các sự an trú và chứng đạt.”
Phần giải thích ‘Ba loại Trí.’
32. Trí về định không gián đoạn
Tuệ về sự đoạn trừ các lậu hoặc do tính chất hoàn toàn trong sạch của sự không tản mạn là trí về định không gián đoạn là (có ý nghĩa) thế nào?
Do tác động của sự thoát ly, có trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là định. Do tác động của định ấy, trí được sanh lên. Do trí ấy, các lậu hoặc được cạn kiệt. Như thế, trước tiên là chỉ tịnh, sau đó là trí. Do trí ấy, có sự đoạn tận của các lậu hoặc. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự đoạn trừ các lậu hoặc do tính chất hoàn toàn trong sạch của sự không tản mạn là trí về định không gián đoạn.”
Lậu hoặc: Các lậu hoặc ấy là gì? Là dục lậu, hữu lậu, (tà) kiến lậu, vô minh lậu.
Các lậu hoặc này được cạn kiệt tại đâu? Do Đạo Nhập Lưu, toàn thể (tà) kiến lậu được cạn kiệt, dục lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt, hữu lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt, vô minh lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt; các lậu hoặc này được cạn kiệt tại đây.
Do Đạo Nhất Lai, dục lậu thô thiển được cạn kiệt, hữu lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt, vô minh lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt; các lậu hoặc này được cạn kiệt tại đây.
Do Đạo Bất Lai, toàn thể dục lậu được cạn kiệt, hữu lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt, vô minh lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt; các lậu hoặc này được cạn kiệt tại đây.
Do Đạo A-la-hán, toàn thể hữu lậu được cạn kiệt, toàn thể vô minh lậu được cạn kiệt; các lậu hoặc này được cạn kiệt tại đây.
Do tác động của sự không sân độc, …(như trên)… Do tác động của sự nghĩ tưởng đến ánh sáng, … Do tác động của sự không tản mạn, … Do tác động của của sự xác định pháp, … Do tác động của trí, … Do tác động của sự hân hoan …. Do tác động của sơ thiền, … của nhị thiền, … của tam thiền, … của tứ thiền …. của sự chứng đạt không vô biên xứ, … của sự chứng đạt thức vô biên xứ, … của sự chứng đạt vô sở hữu xứ, … của sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, … của đề mục đất, … của đề mục nước, … của đề mục lửa, … của đề mục gió, … của đề mục xanh, … của đề mục vàng, … của đề mục đỏ, … của đề mục trắng, … của đề mục hư không, … của đề mục thức, … của việc tưởng niệm đến (ân đức) Phật, … của việc tưởng niệm đến (ân đức) Pháp, … của việc tưởng niệm đến (ân đức) Tăng, … của việc tưởng niệm đến (đức tính của) giới, … của việc tưởng niệm đến (đức tính của) sự xả bỏ, … của việc tưởng niệm đến (đức tính của) chư thiên … của việc niệm hơi thở ra vào, … Do tác động của việc niệm sự chết, … Do tác động của việc niệm (32 thể trược của) thân, … Do tác động của của việc niệm sự an tịnh, … Do tác động của tưởng về sự sình trương (của xác chết), … Do tác động của tưởng về sự đổi màu xanh
(của xác chết), … Do tác động của tưởng về sự chảy nước vàng (của xác chết), … của tưởng về sự nứt nẻ (của xác chết), … của tưởng về sự bị (thú) gặm nhắm (của xác chết), … của tưởng về sự bị hoại rã (của xác chết), … của tưởng về sự bị cắt đứt lìa (của xác chết), … của tưởng về máu me (của xác chết), … của tưởng về giòi bọ (của xác chết), … của tưởng về bộ xương khô (của xác chết), … Do tác động của hơi thở vào dài, … của hơi thở ra dài, … của hơi thở vào ngắn, … của hơi thở ra ngắn, … Cảm giác toàn thân do tác động của hơi thở vào, … Cảm giác toàn thân do tác động của hơi thở ra, … Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân do tác động của hơi thở vào, … Làm cho an tịnh sự tạo tác của thân do tác động của hơi thở ra, … Cảm giác hỷ do tác động của hơi thở vào, … Cảm giác hỷ do tác động của hơi thở ra, … Cảm giác lạc do tác động của hơi thở vào, … Cảm giác lạc do tác động của hơi thở ra, … Cảm giác sự tạo tác của tâm do tác động của hơi thở vào, … Cảm giác sự tạo tác của tâm do tác động của hơi thở ra, … Làm an tịnh sự tạo tác của tâm do tác động của hơi thở vào, … Làm an tịnh sự tạo tác của tâm do tác động của hơi thở ra, … Cảm giác tâm do tác động của hơi thở vào, … Cảm giác tâm do tác động của hơi thở ra, …. Làm cho tâm được hân hoan do tác động của hơi thở vào, … Làm cho tâm được hân hoan do tác động của hơi thở ra, … Làm cho tâm được định tĩnh … Làm cho tâm được giải thoát … Quán xét về vô thường … Quán xét về ly tham ái. … Quán xét về diệt tận … Quán xét về từ bỏ do tác động của hơi thở vào, … Quán xét về từ bỏ do tác động của hơi thở ra, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là định. Do tác động của định ấy, trí được sanh lên. Do trí ấy, các lậu hoặc được cạn kiệt. Như thế, trước tiên là chỉ tịnh, sau đó là trí. Do trí ấy, có sự đoạn tận của các lậu hoặc. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự đoạn trừ các lậu hoặc do tính chất hoàn toàn trong sạch của sự không tản mạn là trí về định không gián đoạn.”
Lậu hoặc: Các lậu hoặc ấy là gì? Là dục lậu, hữu lậu, (tà) kiến lậu, vô minh lậu.
Các lậu hoặc này được cạn kiệt tại đâu? Do Đạo Nhập Lưu, toàn thể (tà) kiến lậu được cạn kiệt, dục lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt, hữu lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt, vô minh lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt; các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây.
Do Đạo Nhất Lai, dục lậu thô thiển được cạn kiệt, …(như trên)…
Do Đạo Bất Lai, toàn thể dục lậu được cạn kiệt, …(như trên)…
Do Đạo A-la-hán, toàn thể hữu lậu được cạn kiệt, toàn thể vô minh lậu được cạn kiệt; các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự đoạn trừ các lậu hoặc do tính chất hoàn toàn trong sạch của sự không tản mạn là trí về định không gián đoạn.”
Phần giải thích ‘Trí về định không gián đoạn.’
33. Trí về sự an trú không uế nhiễm
Là pháp chủ đạo trong việc nhận thức và có sự an trú đắc chứng thanh tịnh, tuệ có khuynh hướng cao quý là trí về sự an trú không uế nhiễm là (có ý nghĩa) thế nào?
Pháp chủ đạo trong việc nhận thức: Quán xét về vô thường là pháp chủ đạo trong việc nhận thức, quán xét về khổ não …, quán xét về vô ngã …, quán xét về vô thường ở sắc …, quán xét về khổ não ở sắc …, quán xét về vô ngã ở sắc …, quán xét về vô thường ở thọ … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt là pháp chủ đạo trong việc nhận thức, quán xét về vô thường ở lão tử là pháp chủ đạo trong việc nhận thức, quán xét về khổ não ở lão tử …, quán xét về vô ngã ở lão tử là pháp chủ đạo trong việc nhận thức.
Sự an trú đắc chứng thanh tịnh: An trú không tánh là sự an trú đắc chứng thanh tịnh, an trú vô tướng là sự an trú đắc chứng thanh tịnh, an trú vô nguyện là sự an trú đắc chứng thanh tịnh.
Khuynh hướng cao quý: Khuynh hướng về không tánh là khuynh hướng cao quý, khuynh hướng về vô tướng là khuynh hướng cao quý, khuynh hướng về vô nguyện là khuynh hướng cao quý.
Sự an trú không uế nhiễm: Sơ thiền là sự an trú không uế nhiễm, nhị thiền là sự an trú không uế nhiễm, tam thiền là sự an trú không uế nhiễm, tứ thiền là sự an trú không uế nhiễm, sự chứng đạt không vô biên xứ là sự an trú không uế nhiễm, …(như trên)… sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ là sự an trú không uế nhiễm.
Sự an trú không uế nhiễm: Sự an trú không uế nhiễm theo ý nghĩa gì? ‘Nhờ vào sơ thiền loại bỏ các pháp ngăn che’ là sự an trú không uế nhiễm. ‘Nhờ vào nhị thiền loại bỏ tầm và tứ’ là sự an trú không uế nhiễm. ‘Nhờ vào tam thiền loại bỏ hỷ’ là sự an trú không uế nhiễm. ‘Nhờ vào tứ thiền loại bỏ lạc và khổ’ là sự an trú không uế nhiễm. ‘Nhờ vào sự chứng đạt không vô biên xứ loại bỏ sự nghĩ tưởng về sắc nghĩ tưởng về bất bình nghĩ tưởng về sự khác biệt’ là sự an trú không uế nhiễm. ‘Nhờ vào sự chứng đạt thức vô biên xứ loại bỏ sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ’ là sự an trú không uế nhiễm. ‘Nhờ vào sự chứng đạt vô sở hữu xứ loại bỏ sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ’ là sự an trú không uế nhiễm. ‘Nhờ vào sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ loại bỏ sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ’ là sự an trú không uế nhiễm. Đây là sự an trú không uế nhiễm.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Là pháp chủ đạo trong việc nhận thức và có sự an trú đắc chứng thanh tịnh, tuệ có khuynh hướng cao quý là trí về sự an trú không uế nhiễm.”
Phần giải thích ‘Trí về sự an trú không uế nhiễm.’
34. Trí về sự chứng đạt thiền diệt
Tuệ có tính chất hội đủ với hai lực và có ưu thế với sự tịnh lặng của ba hành, với mười sáu hành vi của trí, và với chín hành vi của định là trí về sự chứng đạt thiền diệt là (có ý nghĩa) thế nào?
Với hai lực: Hai lực: là lực của chỉ tịnh và lực của minh sát.
Lực của chỉ tịnh là gì? Do tác động của sự thoát ly, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh. Do tác động của sự không sân độc, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh. Do tác động của sự nghĩ tưởng đến ánh sáng trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh. …(như trên)… Quán xét về từ bỏ do tác động của hơi thở vào, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh. Quán xét về từ bỏ do tác động của hơi thở ra, trạng thái chuyên nhất không tản mạn của tâm là lực của chỉ tịnh.
Lực của chỉ tịnh: Lực của chỉ tịnh theo ý nghĩa gì? ‘Nhờ vào sơ thiền, (hành giả) không rung động đối với các pháp ngăn che’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào nhị thiền, (hành giả) không rung động đối với tầm và tứ’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào tam thiền, (hành giả) không rung động đối với hỷ’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào tứ thiền, (hành giả) không rung động đối với lạc và khổ’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào sự chứng đạt không vô biên xứ, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về sắc, đối với sự nghĩ tưởng về bất bình, đối với sự nghĩ tưởng về sự khác biệt’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào sự chứng đạt thức vô biên xứ, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào sự chứng đạt vô sở hữu xứ, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ’ là lực của chỉ tịnh. ‘Nhờ vào sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về vô sở hữu xứ’ là lực của chỉ tịnh. ‘(Hành giả) không rung động không chuyển động không chao động đối với các sự phóng dật, đối với các phiền não và các uẩn đi cùng với phóng dật’ là lực của chỉ tịnh. Đây là lực của chỉ tịnh.
Lực của minh sát là gì? Quán xét về vô thường là lực của minh sát, quán xét về khổ não là lực của minh sát, quán xét về vô ngã là lực của minh sát, quán xét về nhàm chán là lực của minh sát, quán xét về ly tham ái là lực của minh sát, quán xét về diệt tận là lực của minh sát, quán xét về từ bỏ là lực của minh sát. Quán xét về vô thường ở sắc là lực của minh sát, …(như trên)… quán xét về từ bỏ ở sắc là lực của minh sát, quán xét về từ bỏ ở thọ … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt … ở lão tử là lực của minh sát.
Lực của minh sát: Lực của minh sát theo ý nghĩa gì? ‘Do quán xét về vô thường, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về thường’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về khổ não, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về lạc’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về vô ngã, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về ngã’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về nhàm chán, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về sự vui thích’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về ly tham ái, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về tham ái’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về diệt tận, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về nhân sanh khởi’ là lực của minh sát. ‘Do quán xét về từ bỏ, (hành giả) không rung động đối với sự nghĩ tưởng về nắm giữ’ là lực của minh sát. ‘(Hành giả) không rung động không chuyển động không chao động đối với vô minh, đối với các phiền não đi cùng với vô minh, và đối với các uẩn’ là lực của minh sát. Điều này được gọi là lực của minh sát.
Với sự tịnh lặng của ba hành: Với sự tịnh lặng của ba hành nào? Đối với (hành giả) thể nhập nhị thiền, các hành của khẩu là tầm và tứ được tịnh lặng. Đối với (hành giả) thể nhập tứ thiền, các hành của thân là hơi thở ra và hơi thở vào được tịnh lặng. Đối với (hành giả) thể nhập sự diệt tận của thọ và tưởng, các hành của tâm là tưởng và thọ được tịnh lặng. Là với sự tịnh lặng của ba hành này.
Với mười sáu hành vi của trí: Với mười sáu hành vi gì của trí? Quán xét về vô thường là hành vi của trí, quán xét về khổ não là hành vi của trí, quán xét về vô ngã là hành vi của trí, quán xét về nhàm chán là hành vi của trí, quán xét về ly tham ái là hành vi của trí, quán xét về diệt tận là hành vi của trí, quán xét về từ bỏ là hành vi của trí, quán xét về ly khai là hành vi của trí, Đạo Nhập Lưu là hành vi của trí, sự chứng đạt Quả Nhập Lưu là hành vi của trí, Đạo Nhất Lai là hành vi của trí, sự chứng đạt Quả Nhất Lai là hành vi của trí, Đạo Bất Lai là hành vi của trí, sự chứng đạt Quả Bất Lai là hành vi của trí, Đạo A-la-hán là hành vi của trí, sự chứng đạt Quả A-la-hán là hành vi của trí. Là với mười sáu hành vi này của trí.
Với chín hành vi của định: Với chín hành vi gì của định? Sơ thiền là hành vi của định, nhị thiền là hành vi của định, tam thiền là hành vi của định, tứ thiền là hành vi của định, sự chứng đạt không vô biên xứ …, sự chứng đạt thức vô biên xứ …, sự chứng đạt vô sở hữu xứ …, sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ là hành vi của định, tầm tứ hỷ lạc và sự chuyên nhất của tâm nhằm mục đích thành tựu sơ thiền …(như trên)… tầm tứ hỷ lạc và sự chuyên nhất của tâm nhằm mục đích thành tựu sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ (là hành vi của định). Là với chín hành vi này của định.
Sự thuần thục: Có năm sự thuần thục: Sự thuần thục về hướng tâm, sự thuần thục về thể nhập, sự thuần thục về chú nguyện, sự thuần thục về thoát ra, sự thuần thục về quán xét lại.
(Hành giả) hướng tâm đến sơ thiền ở bất cứ đâu theo ước muốn, bất cứ khi nào theo ước muốn, và kéo dài theo ước muốn, ‘không có trạng thái bị trì trệ trong việc hướng tâm’ là sự thuần thục về hướng tâm. (Hành giả) thể nhập sơ thiền ở bất cứ đâu … ‘không có trạng thái bị trì trệ trong việc thể nhập’ là sự thuần thục về thể nhập. (Hành giả) chú nguyện sơ thiền ở bất cứ đâu … ‘không có trạng thái bị trì trệ trong việc chú nguyện’ là sự thuần thục về chú nguyện. (Hành giả) thoát ra khỏi sơ thiền ở bất cứ đâu … ‘không có trạng thái bị trì trệ trong việc thoát ra’ là sự thuần thục về thoát ra. (Hành giả) quán xét lại sơ thiền ở bất cứ đâu … ‘không có trạng thái bị trì trệ trong việc quán xét lại’ là sự thuần thục về quán xét lại.
(Hành giả) hướng tâm đến nhị thiền …(như trên)… đến sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ ở bất cứ đâu theo ước muốn, bất cứ khi nào theo ước muốn, và kéo dài theo ước muốn, ‘không có trạng thái bị trì trệ trong việc hướng tâm’ là sự thuần thục về hướng tâm. (Hành giả) thể nhập …(như trên)… chú nguyện …(như trên)… thoát ra …(như trên)… quán xét lại sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ ở bất cứ đâu theo ước muốn, bất cứ khi nào theo ước muốn, và kéo dài theo ước muốn, ‘không có trạng thái bị trì trệ trong việc quán xét lại’ là sự thuần thục về quán xét lại. Đây là năm sự thuần thục.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ có tính chất hội đủ với hai lực và có ưu thế với sự tịnh lặng của ba hành, với mười sáu hành vi của trí, và với chín hành vi của định là trí về sự chứng đạt thiền diệt.”
Phần giải thích ‘Trí về sự chứng đạt thiền diệt.’
35. Trí về sự viên tịch Niết Bàn
Tuệ về sự chấm dứt vận hành của vị có sự nhận biết rõ rệt* là trí về sự viên tịch Niết Bàn là (có ý nghĩa) thế nào?
Ở đây, (hành giả) có sự nhận biết rõ rệt rằng: Do sự thoát ly, sự vận hành của ước muốn trong các dục được chấm dứt. Do không sân độc, sự vận hành của sân độc được chấm dứt. Do sự nghĩ tưởng đến ánh sáng, sự vận hành của lờ đờ buồn ngủ được chấm dứt. Do không tản mạn, sự vận hành của phóng dật được chấm dứt. Do xác định pháp, sự vận hành của hoài nghi được chấm dứt. …(như trên)… Do trí, sự vận hành của vô minh được chấm dứt. Do hân hoan, sự vận hành của không hứng thú được chấm dứt. Do sơ thiền, sự vận hành của các pháp ngăn che được chấm dứt. …(như trên)… Do Đạo A-la-hán, sự vận hành của toàn bộ phiền não được chấm dứt.
Vả lại, đối với vị có sự nhận biết rõ rệt đang viên tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót, chính sự vận hành này của mắt được chấm dứt và sự vận hành khác của mắt không sanh lên, chính sự vận hành này của tai … của mũi … của lưỡi … của thân … của ý được chấm dứt và sự vận hành khác của ý không được sanh lên, tuệ về sự chấm dứt vận hành của vị có sự nhận biết rõ rệt điều này là trí về sự viên tịch Niết Bàn.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự chấm dứt vận hành của vị có sự nhận biết rõ rệt là trí về sự viên tịch Niết Bàn.”
Phần giải thích ‘Trí về sự viên tịch Niết Bàn.’
36. Trí về ý nghĩa
của các pháp đứng đầu được tịnh lặng
Tuệ có tính chất không thiết lập ở sự đoạn trừ hoàn toàn và ở sự diệt tận đối với tất cả các pháp là trí về ý nghĩa của các pháp đứng đầu được tịnh lặng là (có ý nghĩa) thế nào?
Đối với tất cả các pháp: là năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, các pháp thiện, các pháp bất thiện, các pháp vô ký, các pháp dục giới, các pháp sắc giới, các pháp vô sắc giới, các pháp không bị lệ thuộc.
Ở sự đoạn trừ hoàn toàn: Do sự thoát ly, (hành giả) đoạn trừ hoàn toàn ước muốn trong các dục. Do không sân độc, (hành giả) đoạn trừ hoàn toàn sân độc. Do sự nghĩ tưởng đến ánh sáng, … sự lờ đờ buồn ngủ. Do không tản mạn, … phóng dật. Do xác định pháp, … hoài nghi. Do trí, … vô minh. Do hân hoan, … không hứng thú. Do sơ thiền, (hành giả) đoạn trừ hoàn toàn các pháp ngăn che. …(nt)… Do Đạo A-la-hán, (hành giả) đoạn trừ hoàn toàn toàn bộ phiền não.
Ở sự diệt tận: Do sự thoát ly, (hành giả) diệt tận ước muốn trong các dục. Do không sân độc, (hành giả) diệt tận sân độc. Do nghĩ tưởng ánh sáng, … lờ đờ buồn ngủ. Do không tản mạn, … phóng dật. Do xác định pháp, … hoài nghi. Do trí, … vô minh. Do hân hoan, … không hứng thú. Do sơ thiền, (hành giả) diệt tận các pháp ngăn che. …(nt)… Do Đạo A-la-hán, (hành giả) diệt tận toàn bộ phiền não.
Tính chất không thiết lập: Ở vị đã thành tựu sự thoát ly, ước muốn trong các dục không thiết lập. Ở vị đã thành tựu không sân độc, sân độc không thiết lập. Ở vị đã thành tựu sự nghĩ tưởng đến ánh sáng, sự lờ đờ buồn ngủ … Ở vị đã thành tựu sự không tản mạn, sự phóng dật … Ở vị đã thành tựu sự xác định pháp, hoài nghi … Ở vị đã thành tựu trí, vô minh không thiết lập. Ở vị đã thành tựu hân hoan, sự không hứng thú không thiết lập. Ở vị đã thành tựu sơ thiền, các pháp ngăn che không thiết lập. …(như trên)… Ở vị đã thành tựu Đạo A-la-hán, toàn bộ phiền não không thiết lập.
Được tịnh lặng: Do trạng thái dứt bỏ sự ước muốn các dục, sự thoát ly được tịnh lặng. Do trạng thái dứt bỏ sân độc, không sân độc được tịnh lặng. … sự lờ đờ buồn ngủ, sự nghĩ tưởng đến ánh sáng … phóng dật, sự không tản mạn … hoài nghi, sự xác định pháp … vô minh, trí … sự không hứng thú, hân hoan … Do trạng thái dứt bỏ các pháp ngăn che, sơ thiền được tịnh lặng. …(như trên)… Do trạng thái dứt bỏ toàn bộ phiền não, Đạo A-la-hán được tịnh lặng.
Pháp đứng đầu: Có mười ba pháp đứng đầu: Đứng đầu các sự vướng bận là ái, đứng đầu các sự trói buộc là ngã mạn, đứng đầu các pháp tiêm nhiễm là tà kiến, đứng đầu các sự tản mạn là phóng dật, đứng đầu các phiền não là vô minh, đứng đầu các sự cương quyết là tín, đứng đầu các sự ra sức là tấn, đứng đầu các sự thiết lập là niệm, đứng đầu các sự không tản mạn là định, đứng đầu các sự nhận thức là tuệ, đứng đầu các sự vận hành là mạng quyền, đứng đầu các hành xứ là giải thoát, đứng đầu các hành là sự diệt tận.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ có tính chất không thiết lập ở sự đoạn trừ hoàn toàn và ở sự diệt tận đ/v tất cả các pháp là trí về ý nghĩa của các pháp đứng đầu được tịnh lặng.”
‘Trí về ý nghĩa của các pháp đứng đầu được tịnh lặng.’
37. Trí về ý nghĩa của việc dứt trừ
Tuệ về sự chấm dứt các quyền lực riêng biệt có bản chất khác nhau hoặc giống nhau là trí về ý nghĩa của việc dứt trừ là (có ý nghĩa) thế nào?
Riêng biệt: Tham ái là riêng biệt, sân là riêng biệt, si …, giận dữ …, căm hận …, gièm pha …, thù oán …, ganh ghét …, bỏn xẻn …, xảo trá …, khoác lác …, bướng bỉnh …, kiêu căng …, ngã mạn …, tự cao …, tự phụ …, buông lung …, tất cả phiền não …, tất cả ác hạnh …, tất cả các thắng hành* …, tất cả nghiệp đưa đến hữu là riêng biệt.
Có bản chất khác nhau hoặc giống nhau: Ước muốn trong các dục là khác nhau, sự thoát ly là giống nhau. Sân độc là khác nhau, sự không sân độc là giống nhau. Sự lờ đờ buồn ngủ là khác nhau, sự nghĩ tưởng đến ánh sáng là giống nhau. Phóng dật… sự không tản mạn … Hoài nghi … sự xác định pháp … Vô minh … trí … Sự không hứng thú … hân hoan … Các pháp ngăn che … sơ thiền … Tất cả phiền não là khác nhau, Đạo A-la-hán là giống nhau.
Quyền lực: Có 5 quyền lực: quyền lực của hạnh kiểm, quyền lực của đức độ, quyền lực của tuệ, quyền lực của phước, quyền lực của chánh pháp. Quyền lực của ác giới được chấm dứt do bị thiêu đốt bởi quyền lực của hạnh kiểm. Quyền lực của không đức độ … bởi quyền lực của đức độ. Quyền lực của ác tuệ … bởi quyền lực của tuệ. Quyền lực của vô phước … bởi quyền lực của phước. Quyền lực của phi pháp được chấm dứt do bị thiêu đốt bởi quyền lực của chánh pháp.
Dứt trừ: Ước muốn trong các dục là sự không dứt trừ, thoát ly là sự dứt trừ. Sân độc là sự không dứt trừ, không sân độc là sự dứt trừ. Lờ đờ buồn ngủ … nghĩ tưởng đến ánh sáng … Phóng dật… sự không tản mạn … Hoài nghi … sự xác định pháp … Vô minh … trí … Sự không hứng thú … hân hoan … Các pháp ngăn che … sơ thiền … Tất cả phiền não là sự không dứt trừ, Đạo A-la-hán là sự dứt trừ.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự chấm dứt các quyền lực riêng biệt có bản chất khác nhau hoặc giống nhau là trí về ý nghĩa của việc dứt trừ.”
Phần giải thích ‘Trí về ý nghĩa của việc dứt trừ.’
38. Trí về việc khởi sự tinh tấn
Tuệ về ý nghĩa của việc ra sức có trạng thái không thối giảm và có tính năng động là trí về việc khởi sự tinh tấn là (có ý nghĩa) thế nào?
Tuệ về ý nghĩa của việc ra sức có trạng thái không thối giảm và có tính năng động đưa đến việc không sanh khởi các pháp ác và bất thiện chưa được sanh khởi là trí về việc khởi sự tinh tấn. Tuệ về ý nghĩa của việc ra sức … đưa đến việc dứt bỏ các pháp ác và bất thiện đã được sanh khởi … đưa đến việc sanh khởi các pháp thiện chưa được sanh khởi … đưa đến việc duy trì, đưa đến sự không lẫn lộn, đưa đến trạng thái phát triển, đưa đến sự tiến triển, đưa đến sự tăng trưởng, đưa đến sự toàn vẹn của các pháp thiện đã được sanh khởi là trí về việc khởi sự tinh tấn.
Tuệ về ý nghĩa của việc ra sức có trạng thái không thối giảm và có tính năng động đưa đến việc không sanh khởi ước muốn trong các dục chưa được sanh khởi … đưa đến việc dứt bỏ ước muốn trong các dục đã được sanh khởi … đưa đến việc sanh khởi sự thoát ly chưa được sanh khởi … đưa đến việc duy trì, đưa đến sự không lẫn lộn, đưa đến trạng thái phát triển, đưa đến sự tiến triển, đưa đến sự tăng trưởng, đưa đến sự toàn vẹn của sự thoát ly đã được sanh khởi là trí về việc khởi sự tinh tấn. …(như trên)… Tuệ về ý nghĩa của việc ra sức có trạng thái không thối giảm và có tính năng động đưa đến việc không sanh khởi tất cả phiền não chưa được sanh khởi … đưa đến việc dứt bỏ tất cả phiền não đã được sanh khởi … đưa đến việc sanh khởi Đạo A-la-hán chưa được sanh khởi … đưa đến việc duy trì, đưa đến sự không lẫn lộn, đưa đến trạng thái phát triển, đưa đến sự tiến triển, đưa đến sự tăng trưởng, đưa đến sự toàn vẹn của Đạo A-la-hán đã được sanh khởi là trí về việc khởi sự tinh tấn.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về ý nghĩa của việc ra sức có trạng thái không thối giảm và có tính năng động là trí về việc khởi sự tinh tấn.”
Phần giải thích ‘Trí về việc khởi sự tinh tấn.’
39. Trí về sự trực nhận ý nghĩa
Tuệ làm sáng tỏ các pháp khác biệt là trí về sự trực nhận ý nghĩa là (có ý nghĩa) thế nào?
Các pháp khác biệt: là năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, các pháp thiện, các pháp bất thiện, các pháp vô ký, các pháp dục giới, các pháp sắc giới, các pháp vô sắc giới, các pháp không bị lệ thuộc.
Sự làm sáng tỏ: (Hành giả) làm sáng tỏ sắc là vô thường, làm sáng tỏ sắc là khổ não, làm sáng tỏ sắc là vô ngã, làm sáng tỏ thọ …(như trên)… tưởng …(như trên)… các hành …(như trên)… thức …(như trên)… mắt …(như trên)… làm sáng tỏ lão tử là vô thường, làm sáng tỏ lão tử là khổ não, làm sáng tỏ lão tử là vô ngã.
Việc trực nhận ý nghĩa: Trong khi dứt bỏ ước muốn trong các dục, hành giả trực nhận ý nghĩa của thoát ly; trong khi dứt bỏ sân độc, trực nhận ý nghĩa của không sân độc; trong khi dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, trực nhận ý nghĩa của sự nghĩ tưởng đến ánh sáng; trong khi dứt bỏ phóng dật, trực nhận ý nghĩa của sự không tản mạn; trong khi dứt bỏ hoài nghi, trực nhận ý nghĩa của sự xác định pháp; trong khi dứt bỏ vô minh, trực nhận ý nghĩa của trí; trong khi dứt bỏ sự không hứng thú, trực nhận ý nghĩa của hân hoan; trong khi dứt bỏ các pháp ngăn che, trực nhận ý nghĩa của sơ thiền; trong khi dứt bỏ tất cả phiền não, trực nhận ý nghĩa của Đạo A-la-hán.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ làm sáng tỏ các pháp khác biệt là trí về sự trực nhận ý nghĩa.”
Phần giải thích ‘Trí về sự trực nhận ý nghĩa.’
40. Trí về sự thanh tịnh trong việc nhận thức
Tuệ về sự thấu triệt tính tổng hợp chung và về bản chất khác nhau hoặc giống nhau của tất cả các pháp là trí về sự thanh tịnh trong việc nhận thức là (có ý nghĩa) thế nào?
Tất cả các pháp: là năm uẩn, mười hai xứ, …(như trên)…, các pháp không bị lệ thuộc.
Tính tổng hợp chung: Tất cả các pháp có tính tổng hợp chung là với mười hai biểu hiện: theo ý nghĩa của thực thể, theo ý nghĩa của vô ngã, theo ý nghĩa của sự thật, theo ý nghĩa của sự thấu triệt, theo ý nghĩa của sự biết rõ, theo ý nghĩa của sự biết toàn diện, theo ý nghĩa của pháp, theo ý nghĩa của sự việc, theo ý nghĩa đã được biết, theo ý nghĩa của sự tác chứng, theo ý nghĩa của sự chạm đến, theo ý nghĩa của sự lãnh hội. Tất cả các pháp có tính tổng hợp chung là với mười hai biểu hiện này.
Có bản chất khác nhau hoặc giống nhau: Ước muốn trong các dục là khác nhau, sự thoát ly là giống nhau. …(như trên)… Tất cả phiền não là khác nhau, Đạo A-la-hán là giống nhau.
Sự thấu triệt: (Hành giả) thấu triệt chân lý về Khổ với sự thấu triệt do biết toàn diện, (hành giả) thấu triệt chân lý về nhân sanh (Khổ) với sự thấu triệt do dứt bỏ, (hành giả) thấu triệt chân lý về sự diệt tận (Khổ) với sự thấu triệt do tác chứng, (hành giả) thấu triệt chân lý về Đạo với sự thấu triệt do tu tập.
Sự thanh tịnh trong việc nhận thức: Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, sự nhận thức được thanh tịnh. Vào sát-na Quả Nhập Lưu, sự nhận thức được thanh tịnh. Vào sát-na Đạo Nhất Lai, sự nhận thức được thanh tịnh. Vào sát-na Quả Nhất Lai, sự nhận thức được thanh tịnh. Vào sát-na Đạo Bất Lai, sự nhận thức được thanh tịnh. Vào sát-na Quả Bất Lai, sự nhận thức được thanh tịnh. Vào sát-na Đạo A-la-hán, sự nhận thức được thanh tịnh. Vào sát-na Quả A-la-hán, sự nhận thức được thanh tịnh.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự thấu triệt tính tổng hợp chung và về bản chất khác nhau hoặc giống nhau của tất cả các pháp là trí về sự thanh tịnh trong việc nhận thức.”
Phần giải thích ‘Trí về sự thanh tịnh trong việc nhận thức.’
41. Trí về việc chấp nhận
Tuệ với trạng thái đã được biết là trí về việc chấp nhận là (có ý nghĩa) thế nào?
Sắc là vô thường là điều đã được biết, sắc là khổ não là điều đã được biết, sắc là vô ngã là điều đã được biết, điều nào là đã được biết (hành giả) chấp nhận điều ấy, tuệ với trạng thái đã được biết là trí về việc chấp nhận. Thọ … Tưởng … Các hành … Thức … Mắt … Lão tử là vô thường là điều đã được biết, lão tử là khổ não là điều đã được biết, lão tử là vô ngã là điều đã được biết, ‘điều nào là đã được biết (hành giả) chấp nhận điều ấy,’ như thế tuệ với trạng thái đã được biết là trí về việc chấp nhận.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ với trạng thái đã được biết là trí về việc chấp nhận.”
Phần giải thích ‘Trí về việc chấp nhận.’
42. Trí về sự thâm nhập
Tuệ với trạng thái đã được chạm đến là trí về sự thâm nhập là (có ý nghĩa) thế nào?
(Hành giả) chạm đến sắc là vô thường, chạm đến sắc là khổ não, chạm đến sắc là vô ngã, ‘điều nào chạm đến, (hành giả) thâm nhập điều ấy,’ như thế tuệ với trạng thái đã được chạm đến là trí về sự thâm nhập. … thọ … tưởng … các hành … thức … mắt … (Hành giả) chạm đến lão tử là vô thường, chạm đến lão tử là khổ não, chạm đến lão tử là vô ngã, ‘điều nào chạm đến, (hành giả) thâm nhập điều ấy,’ như thế tuệ với trạng thái đã được chạm đến là trí về sự thâm nhập.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ với trạng thái đã được chạm đến là trí về sự thâm nhập.”
Phần giải thích ‘Trí về sự thâm nhập.’
43. Trí về sự an trú vào các lãnh vực
Tuệ về sự phối hợp lại là trí về sự an trú vào các lãnh vực là (có ý nghĩa) thế nào?
Do duyên tà kiến có được cảm thọ, cũng do duyên vắng lặng của tà kiến có được cảm thọ. Do duyên chánh kiến có được cảm thọ, cũng do duyên vắng lặng của chánh kiến có được cảm thọ. Do duyên tà tư duy có được cảm thọ, cũng do duyên vắng lặng của tà tư duy có được cảm thọ. Do duyên chánh tư duy có được cảm thọ, cũng do duyên vắng lặng của chánh tư duy có được cảm thọ. …(như trên)… Do duyên tà giải thoát có được cảm thọ, cũng do duyên vắng lặng của tà giải thoát có được cảm thọ. Do duyên chánh giải thoát có được cảm thọ, cũng do duyên vắng lặng của chánh giải thoát có được cảm thọ. Do duyên ước muốn có được cảm thọ, cũng do duyên vắng lặng của ước muốn có được cảm thọ. Do duyên tầm có được cảm thọ, cũng do duyên vắng lặng của tầm có được cảm thọ. Do duyên tưởng có được cảm thọ, cũng do duyên vắng lặng của tưởng có được cảm thọ.
Ước muốn là không vắng lặng, tầm là không vắng lặng, tưởng là không vắng lặng, cũng do duyên của việc ấy, có được cảm thọ. Ước muốn được vắng lặng, tầm là không vắng lặng, tưởng là không vắng lặng, … Ước muốn được vắng lặng, tầm được vắng lặng, tưởng là không vắng lặng, … Ước muốn được vắng lặng, tầm được vắng lặng, tưởng được vắng lặng, … Có sự nỗ lực nhằm đạt được điều chưa đạt được (Quả A-la-hán), khi vị trí ấy chưa được đạt đến, cũng do duyên của việc ấy có được cảm thọ.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự phối hợp lại là trí về sự an trú vào các lãnh vực.”
Phần giải thích ‘Trí về sự an trú vào các lãnh vực.’
44–49. Nhóm sáu của Trí về sự ly khai
(44. Trí về sự ly khai do tưởng)
Tuệ với tính chất chủ đạo là trí về sự ly khai do tưởng là (có ý nghĩa) thế nào?
‘Tuệ với thoát ly là tính chất chủ đạo ly khai khỏi ước muốn trong các dục do tưởng,’ như thế tuệ với tính chất chủ đạo là trí về sự ly khai do tưởng. ‘Tuệ với không sân độc là tính chất chủ đạo ly khai khỏi sân độc do tưởng,’ như thế tuệ với tính chất chủ đạo là trí về sự ly khai do tưởng. ‘Tuệ với sự nghĩ tưởng đến ánh sáng là tính chất chủ đạo ly khai khỏi sự lờ đờ buồn ngủ do tưởng,’ … ‘Tuệ với sự không tản mạn là tính chất chủ đạo ly khai khỏi phóng dật do tưởng,’ … ‘Tuệ với sự xác định pháp là tính chất chủ đạo ly khai khỏi hoài nghi do tưởng,’ … ‘Tuệ với trí là tính chất chủ đạo ly khai khỏi vô minh do tưởng,’ … ‘Tuệ với sự hân hoan là tính chất chủ đạo ly khai khỏi sự không hứng thú do tưởng,’ … ‘Tuệ với sơ thiền là tính chất chủ đạo ly khai khỏi các pháp ngăn che do tưởng,’ như thế tuệ với tính chất chủ đạo là trí về sự ly khai do tưởng. …(như trên)… ‘Tuệ với tính chất Đạo A-la-hán ly khai khỏi toàn bộ phiền não do tưởng,’ như thế tuệ với tính chất chủ đạo là trí về sự ly khai do tưởng.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ với tính chất chủ đạo là trí về sự ly khai do tưởng.”
(45. Trí về sự ly khai do suy nghĩ)
Tuệ về bản chất khác nhau là trí về sự ly khai do suy nghĩ là (có ý nghĩa) thế nào?
‘Ước muốn trong các dục là khác nhau, sự thoát ly là giống nhau. Trong khi suy nghĩ về bản chất giống nhau của sự thoát ly, tâm ly khai khỏi ước muốn trong các dục,’ như thế tuệ về bản chất khác nhau là trí về sự ly khai do suy nghĩ. ‘Sân độc là khác nhau, sự không sân độc là giống nhau. Trong khi suy nghĩ về bản chất giống nhau của không sân độc, tâm ly khai khỏi sân độc,’ như thế tuệ về bản chất khác nhau là trí về sự ly khai do suy nghĩ. ‘Sự lờ đờ buồn ngủ là khác nhau, sự nghĩ tưởng đến ánh sáng là giống nhau. Trong khi suy nghĩ về bản chất giống nhau của sự nghĩ tưởng đến ánh sáng, tâm ly khai khỏi sự lờ đờ buồn ngủ,’ như thế tuệ về bản chất khác nhau là trí về sự ly khai do suy nghĩ. …(như trên)… ‘Tất cả phiền não là khác nhau, Đạo A-la-hán là giống nhau. Trong khi suy nghĩ về bản chất giống nhau của Đạo A-la-hán, tâm ly khai khỏi tất cả phiền não,’ như thế tuệ về bản chất khác nhau là trí về sự ly khai do suy nghĩ.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về bản chất khác nhau là trí về sự ly khai do suy nghĩ.”
(46. Trí về sự ly khai do tâm)
Tuệ về sự khẳng định là trí về sự ly khai do tâm là (có ý nghĩa) thế nào?
‘Trong khi dứt bỏ ước muốn trong các dục, do tác động của sự thoát ly tâm được khẳng định,’ như thế tuệ về sự khẳng định là trí về sự ly khai do tâm. ‘Trong khi dứt bỏ sân độc, do tác động của sự không sân độc tâm được khẳng định,’ … ‘Trong khi dứt bỏ sự lờ đờ buồn ngủ, do tác động của sự nghĩ tưởng đến ánh sáng tâm được khẳng định,’ như thế tuệ về sự khẳng định là trí về sự ly khai do tâm. …(như trên)… ‘Trong khi dứt bỏ tất cả phiền não, do tác động của Đạo A-la-hán tâm được khẳng định,’ như thế tuệ về sự khẳng định là trí về sự ly khai do tâm.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự khẳng định là trí về sự ly khai do tâm.”
(47. Trí về sự ly khai do trí)
Tuệ về không tánh là trí về sự ly khai do trí là (có ý nghĩa) thế nào? ‘Trong khi biết và thấy đúng theo thực thể rằng: ‘Mắt là rỗng không về bản ngã, về sở hữu của bản ngã, về thường còn, về vững chắc, về vĩnh viễn, hoặc về pháp không chuyển biến,’ trí ly khai khỏi sự cố chấp về mắt,’ như thế tuệ về không tánh là trí về sự ly khai do trí. ‘Trong khi biết và thấy đúng theo thực thể rằng: ‘Tai là rỗng không … ‘Mũi là rỗng không … ‘Lưỡi là rỗng không … ‘Thân là rỗng không … ‘Ý là rỗng không về bản ngã, về sở hữu của bản ngã, về thường còn, về vững chắc, về vĩnh viễn, hoặc về pháp không chuyển biến,’ trí ly khai khỏi sự cố chấp về ý,’ như thế tuệ về không tánh là trí về sự ly khai do trí.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về không tánh là trí về sự ly khai do trí.”
(48. Trí về sự ly khai do giải thoát)
Tuệ về sự xả ly là trí về sự ly khai do giải thoát là (có ý nghĩa) thế nào?
‘Xả ly ước muốn trong các dục nhờ vào sự thoát ly,’ như thế tuệ về sự xả ly là trí về sự ly khai do giải thoát. ‘Xả ly sân độc nhờ vào sự không sân độc,’ … ‘Xả ly sự lờ đờ buồn ngủ nhờ vào sự nghĩ tưởng đến ánh sáng,’ … ‘Xả ly phóng dật nhờ vào sự không tản mạn,’ … ‘Xả ly hoài nghi nhờ vào sự xác định pháp,’ như thế tuệ về sự xả ly là trí về sự ly khai do giải thoát. … ‘Xả ly tất cả phiền não nhờ vào Đạo A-la-hán,’ như thế tuệ về sự xả ly là trí về sự ly khai do giải thoát.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự xả ly là trí về sự ly khai do giải thoát.”
(49. Trí về sự ly khai do sự thật)
Tuệ về ý nghĩa của thực thể là trí về sự ly khai do sự thật là (có ý nghĩa) thế nào?
‘Trong khi biết toàn diện về ý nghĩa áp bức, ý nghĩa tạo tác, ý nghĩa nóng nảy, ý nghĩa chuyển biến của khổ, (hành giả) ly khai,’ như thế tuệ về ý nghĩa của thực thể là trí về sự ly khai do sự thật. ‘Trong khi dứt bỏ ý nghĩa (nghiệp) tích lũy, ý nghĩa căn nguyên, ý nghĩa ràng buộc, ý nghĩa vướng bận của nhân sanh, (hành giả) ly khai,’ như thế tuệ về ý nghĩa của thực thể là trí về sự ly khai do sự thật. ‘Trong khi tác chứng ý nghĩa xuất ly, ý nghĩa viễn ly, ý nghĩa không tạo tác, ý nghĩa bất tử của Niết Bàn, (hành giả) ly khai,’ như thế tuệ về ý nghĩa của thực thể là trí về sự ly khai do sự thật. ‘Trong khi tu tập ý nghĩa dẫn xuất, ý nghĩa chủng tử, ý nghĩa nhận thức, ý nghĩa pháp chủ đạo của Đạo, (hành giả) ly khai, ‘ như thế tuệ về ý nghĩa của thực thể là trí về sự ly khai do sự thật.
Sự ly khai do tưởng, sự ly khai do suy nghĩ, sự ly khai do tâm, sự ly khai do trí, sự ly khai do giải thoát, sự ly khai do sự thật. ‘Trong khi suy tưởng, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do tưởng. ‘Trong khi suy nghĩ, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do suy nghĩ. ‘Trong khi nhận biết, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do tâm. ‘Trong khi sử dụng trí, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do trí. ‘Trong khi xả ly, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do giải thoát. ‘Theo ý nghĩa của thực thể, (hành giả) ly khai’ là sự ly khai do sự thật.
Nơi nào có sự ly khai do tưởng, nơi ấy có sự ly khai do suy nghĩ. Nơi nào có sự ly khai do suy nghĩ, nơi ấy có sự ly khai do tưởng. Nơi nào có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, nơi ấy có sự ly khai do tâm. Nơi nào có sự ly khai do tâm, nơi ấy có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ. Nơi nào có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm, nơi ấy có sự ly khai do trí. Nơi nào có sự ly khai do trí, nơi ấy có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm. Nơi nào có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm,, có sự ly khai do trí, nơi ấy có sự ly khai do giải thoát. Nơi nào có sự ly khai do giải thoát, nơi ấy có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm, có sự ly khai do trí. Nơi nào có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm, có sự ly khai do trí, có sự ly khai do giải thoát, nơi ấy có sự ly khai do sự thật. Nơi nào có sự ly khai do sự thật, nơi ấy có sự ly khai do tưởng, có sự ly khai do suy nghĩ, có sự ly khai do tâm, có sự ly khai do trí, có sự ly khai do giải thoát.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về ý nghĩa của thực thể là trí về sự ly khai do sự thật.”
Phần giải thích ‘Nhóm sáu của Trí về sự ly khai.’
50. Trí về các sự thành tựu
Với sự xác định cả thân lẫn tâm là một, tuệ về ý nghĩa của sự thành tựu do năng lực của sự chú nguyện lạc tưởng và khinh tưởng là trí về thể loại của thần thông là (có ý nghĩa) thế nào?
Vị tỳ khưu trong Giáo Pháp này tu tập về nền tảng của thần thông* hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn và các tạo tác do nỗ lực,* … hội đủ (các yếu tố) định do tinh tấn và các tạo tác do nỗ lực,* … hội đủ (các yếu tố) định do nhận thức và các tạo tác do nỗ lực,* tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do thẩm xét và các tạo tác do nỗ lực.* Vị ấy làm cho tâm phát triển trọn vẹn, thuần hóa toàn diện, thành nhu nhuyến, có thể sử dụng được ở bốn nền tảng của thần thông này. Sau khi đã làm cho tâm phát triển trọn vẹn, thuần hóa toàn diện, thành nhu nhuyến, có thể sử dụng được ở bốn nền tảng của thần thông này, vị ấy kết hợp thân với tâm, kết hợp tâm với thân, uốn nắn tâm theo tác động của thân, uốn nắn thân theo tác động của tâm, chú nguyện tâm theo tác động của thân, chú nguyện thân theo tác động của tâm. Sau khi đã uốn nắn tâm theo tác động của thân, sau khi đã uốn nắn thân theo tác động của tâm, sau khi đã chú nguyện tâm theo tác động của thân, sau khi đã chú nguyện thân theo tác động của tâm, vị ấy nhập vào lạc tưởng và khinh tưởng ở thân rồi an trú. Với tâm được tu tập, được hoàn toàn trong sạch, được tinh khiết như thế, vị ấy quả quyết, hướng dẫn tâm vào trí thuộc về thần thông. Vị ấy kinh nghiệm nhiều thể loại thần thông: là một hóa thành nhiều, là nhiều hóa thành một, hiện ra, biến mất, đi xuyên qua vách nhà, qua tường thành, qua núi non không bị chướng ngại như là ở khoảng không, trồi lên và chìm xuống vào trong trái đất như ở trong nước, đi ở trên nước mà không làm chao động như ở trên đất, di chuyển với thế kiết già ở trên hư không như loài chim có cánh, bằng bàn tay sờ đến chạm vào ngay cả mặt trăng và mặt trời này (là những vật) có đại thần lực như thế có đại oai lực như thế. Bằng thân vị ấy thể hiện sự tác động đến tận cõi Phạm Thiên.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Với sự xác định cả thân lẫn tâm là một, tuệ về ý nghĩa của sự thành tựu do năng lực của sự chú nguyện lạc tưởng và khinh tưởng là trí về thể loại của thần thông.”
Phần giải thích ‘Trí về các sự thành tựu.’
51. Trí thanh tịnh của nhĩ giới
Tuệ về sự thâm nhập các hiện tướng âm thanh có bản chất khác nhau hoặc giống nhau bằng cách triển khai tầm là trí thanh tịnh của nhĩ giới là (có ý nghĩa) thế nào?
Vị tỳ khưu trong Giáo Pháp này tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn … định do tinh tấn … định do nhận thức … định do thẩm xét và các tạo tác do nỗ lực. Vị ấy làm cho tâm phát triển trọn vẹn, thuần hóa toàn diện, thành nhu nhuyến, có thể sử dụng được ở bốn nền tảng của thần thông này. Sau khi đã làm cho tâm phát triển trọn vẹn, thuần hóa toàn diện, thành nhu nhuyến, có thể sử dụng được ở bốn nền tảng của thần thông này, vị ấy chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở xa, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở kề cận, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh thô tháo, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh êm dịu, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh nhỏ nhẹ, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng đông, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng tây, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng bắc, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng nam, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng đông nam, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng tây bắc, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng đông bắc, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng tây nam, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng dưới, chú ý đến hiện tướng âm thanh của các âm thanh ở hướng trên.
Với tâm được phát triển, hoàn toàn trong sạch, tinh khiết như thế, vị ấy quả quyết, hướng dẫn tâm vào trí thanh tịnh của nhĩ giới. Nhờ vào thiên nhĩ giới thanh tịnh vượt trội loài người, vị ấy nghe được cả hai loại âm thanh ở cõi trời và ở loài người, ở xa và ở kề cận.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự thâm nhập các hiện tướng âm thanh có bản chất khác nhau hoặc giống nhau bằng cách triển khai tầm là trí thanh tịnh của nhĩ giới.”
Phần giải thích ‘Trí thanh tịnh của nhĩ giới.’
52. Trí biết được tâm
Với tính chất triển khai của ba loại tâm, tuệ về sự thâm nhập các hành vi của thức có bản chất khác nhau hoặc giống nhau bằng năng lực tự tin của các quyền là trí biết được tâm là (có ý nghĩa) thế nào?
Vị tỳ khưu trong Giáo Pháp này tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn … định do tinh tấn … định do nhận thức … định do thẩm xét và các tạo tác do nỗ lực. Vị ấy làm cho tâm phát triển trọn vẹn, thuần hóa toàn diện, thành nhu nhuyến, có thể sử dụng được ở bốn nền tảng của thần thông này. Sau khi đã làm cho tâm phát triển trọn vẹn, thuần hóa toàn diện, thành nhu nhuyến, có thể sử dụng được ở bốn nền tảng của thần thông này, vị ấy biết rõ như vầy: ‘Đây là sắc được sanh khởi do hỷ quyền, đây là sắc được sanh khởi do ưu quyền, đây là sắc được sanh khởi do xả quyền.’
Với tâm được phát triển, hoàn toàn trong sạch, tinh khiết như thế, vị ấy quả quyết, hướng dẫn tâm vào trí biết được tâm. Sau khi xem xét, vị ấy nhận biết tâm của các chúng sanh khác của các cá nhân khác bằng tâm. (Vị ấy) nhận biết tâm có tham ái là: ‘Tâm có tham ái,’ hoặc nhận biết tâm lìa khỏi tham ái là: ‘Tâm lìa khỏi tham ái,’ hoặc nhận biết tâm có sân, … tâm lìa khỏi sân … tâm có si … tâm lìa khỏi si, … tâm bị thâu hẹp … tâm bị tán loạn … tâm đại hành*… tâm không đại hành* … tâm vô thượng … tâm không vô thượng … tâm định tĩnh … tâm không định tĩnh … tâm giải thoát …, hoặc nhận biết tâm không giải thoát là: ‘Tâm không giải thoát.’
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Với tính chất triển khai của ba loại tâm, tuệ về sự thâm nhập các hành vi của thức có bản chất khác nhau hoặc giống nhau bằng năng lực tự tin của các quyền là trí biết được tâm.”
Phần giải thích ‘Trí biết được tâm.’
53. Trí nhớ về các kiếp sống trước
Tuệ về sự thâm nhập bằng năng lực triển khai các nghiệp có bản chất khác nhau hoặc giống nhau đối với các pháp có sự vận hành do duyên là trí nhớ về các kiếp sống trước là (có ý nghĩa) thế nào?
Vị tỳ khưu trong Giáo Pháp này tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn …(nt)… sau khi làm thành nhu nhuyến có thể sử dụng được, vị ấy nhận biết như vầy: ‘Khi điều này hiện hữu, điều kia hiện hữu, do sự sanh lên của điều này, điều kia sanh lên, tức là các hành do duyên vô minh, thức do duyên các hành, danh sắc do duyên thức, sáu xứ do duyên danh sắc, xúc do duyên sáu xứ, thọ do duyên xúc, ái do duyên thọ, thủ do duyên ái, hữu do duyên thủ, sanh do duyên hữu, lão tử do duyên sanh, sầu muộn-than vãn-khổ đau-ưu phiền-thất vọng hiện khởi. Như thế là sự sanh khởi của toàn bộ khổ uẩn này.’
Với tâm được phát triển, hoàn toàn trong sạch, tinh khiết như thế, vị ấy quả quyết, hướng dẫn tâm đến trí nhớ về các kiếp sống trước. Vị ấy nhớ lại nhiều kiếp sống trước như là một lần sanh, hai lần sanh, ba lần sanh, bốn lần sanh, năm lần sanh, mười lần sanh, hai mươi lần sanh, ba mươi lần sanh, bốn mươi lần sanh, năm mươi lần sanh, một trăm lần sanh, một ngàn lần sanh, một trăm ngàn lần sanh, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp: ‘Vào kiếp sống ấy, ta đã có tên như vầy, dòng họ như vầy, giai cấp như vầy, thức ăn như vầy, kinh nghiệm lạc và khổ như vầy, có giới hạn tuổi thọ như vầy. Từ chỗ ấy, ta đây đã chết đi rồi đã sanh lên tại nơi này.’ Như thế, vị ấy nhớ lại nhiều kiếp sống trước với các nét cá biệt và đại cương.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về sự thâm nhập bằng năng lực triển khai các nghiệp có bản chất khác nhau hoặc giống nhau đối với các pháp có sự vận hành do duyên là trí nhớ về các kiếp sống trước.”
Phần giải thích ‘Trí nhớ về các kiếp sống trước.’
54. Trí về thiên nhãn
Tuệ về ý nghĩa của việc nhìn thấy các hiện tướng của sắc có bản chất khác nhau hoặc giống nhau nhờ vào năng lực của ánh sáng là trí về thiên nhãn là (có ý nghĩa) thế nào?
Vị tỳ khưu trong Giáo Pháp này tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn … định do tinh tấn … định do nhận thức … định do thẩm xét và các tạo tác do nỗ lực. Vị ấy làm cho tâm phát triển trọn vẹn, thuần hóa toàn diện, thành nhu nhuyến có thể sử dụng ở bốn nền tảng của thần thông này. Sau khi làm cho tâm phát triển trọn vẹn, thuần hóa toàn diện, thành nhu nhuyến có thể sử dụng ở bốn nền tảng của thần thông này, vị ấy chú ý đến tưởng về ánh sáng, chú nguyện tưởng về ban ngày: ‘Ban ngày thế nào, ban đêm thế ấy, ban đêm thế nào, ban ngày thế ấy.’ Với tâm được mở ra và không bị che lấp như thế, vị ấy phát triển tâm có ánh sáng.
Với tâm được phát triển, hoàn toàn trong sạch, tinh khiết như thế, vị ấy quả quyết, hướng dẫn tâm đến trí về sự sanh tử của chúng sanh. Bằng thiên nhãn thanh tịnh vượt trội loài người, vị ấy nhìn thấy chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại (trở thành) hạ tiện, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, và nhận biết rằng chúng sanh đều đi theo nghiệp tương ứng đến chốn an vui, (hay) đọa vào cõi khổ: ‘Quả vậy, những chúng sanh đang hiện hữu này có thân ác hạnh, có khẩu ác hạnh, có ý ác hạnh, vu khống các bậc Thánh, theo tà kiến, tán thành hành động do tà kiến, khi tan rã thân xác và chết đi, họ bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục. Trái lại, những chúng sanh đang hiện hữu này có thân thiện hạnh, có khẩu thiện hạnh, có ý thiện hạnh, không vu khống các bậc Thánh, theo chánh kiến, tán thành hành động do chánh kiến, khi tan rã thân xác và chết đi, họ được sanh vào chốn an vui, cõi trời, loài người.’ Như thế, bằng thiên nhãn thuần tịnh vượt trội loài người, vị ấy nhìn thấy chúng sanh trong khi chết đi rồi sanh lại (trở thành) hạ tiện, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, và biết rõ rằng chúng sanh đều đi theo nghiệp tương ứng đến chốn an vui, (hay) đọa vào cõi khổ.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về ý nghĩa của việc nhìn thấy các hiện tướng của sắc có bản chất khác nhau hoặc giống nhau nhờ vào năng lực của ánh sáng là trí về thiên nhãn.”
Phần giải thích ‘Trí về thiên nhãn.’
55. Trí về sự đoạn tận của các lậu hoặc
Tuệ về chủ thể đối với ba quyền theo sáu mươi bốn biểu hiện là trí về sự đoạn tận của các lậu hoặc là (có ý nghĩa) thế nào?
Của ba quyền nào? Của vị tri quyền, của dĩ tri quyền, của cụ tri quyền.
Vị tri quyền đi đến bao nhiêu vị thế? Dĩ tri quyền đi đến bao nhiêu vị thế? Cụ tri quyền đi đến bao nhiêu vị thế? Vị tri quyền đi đến một vị thế là Đạo Nhập Lưu. Dĩ tri quyền đi đến sáu vị thế là Quả Nhập Lưu, Đạo Nhất Lai, Quả Nhất Lai, Đạo Bất Lai, Quả Bất Lai, Đạo A-la-hán. Cụ tri quyền đi đến một vị thế là Quả A-la-hán.
Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, đối với vị tri quyền, tín quyền có sự cương quyết là phụ trợ, tấn quyền có sự ra sức là phụ trợ, niệm quyền có sự thiết lập là phụ trợ, định quyền có sự không tản mạn là phụ trợ, tuệ quyền có sự nhận thức là phụ trợ, ý quyền có sự nhận biết là phụ trợ, hỷ quyền có sự tràn ngập là phụ trợ, mạng quyền có pháp chủ đạo trong việc duy trì sự vận hành là phụ trợ. Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, các pháp được sanh ra, ngoại trừ sắc có nguồn phát sanh là tâm, tất cả (các pháp còn lại) đều là thiện, tất cả đều không có lậu hoặc, tất cả đều có tánh dẫn xuất, tất cả đều đưa đến sự không tích lũy, tất cả đều là vượt trên thế gian, tất cả đều có cảnh là Niết Bàn. Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, đối với vị tri quyền, tám quyền này là các phụ trợ đồng sanh, là các phụ trợ có sự (tác động) qua lại, là các phụ trợ có sự nương tựa, là các phụ trợ được liên kết, là đồng hành, là đồng sanh, là kết hợp, là liên kết. Chính tám quyền này vừa là biểu hiện vừa là phụ trợ của vị tri quyền.
Vào sát-na Quả Nhập Lưu, đối với dĩ tri quyền, tín quyền có sự cương quyết là phụ trợ, tấn quyền có sự ra sức là phụ trợ, niệm quyền có sự thiết lập là phụ trợ, định quyền có sự không tản mạn là phụ trợ, tuệ quyền có sự nhận thức là phụ trợ, ý quyền có sự nhận biết là phụ trợ, hỷ quyền có sự tràn ngập là phụ trợ, mạng quyền có pháp chủ đạo trong việc duy trì sự vận hành là phụ trợ. Vào sát-na Quả Nhập Lưu, các pháp được sanh ra, ngoại trừ sắc có nguồn phát sanh là tâm, tất cả (các pháp còn lại) đều là vô ký, tất cả đều không có lậu hoặc, tất cả đều là vượt trên thế gian, tất cả đều có cảnh là Niết Bàn. Vào sát-na Quả Nhập Lưu, đối với dĩ tri quyền, tám quyền này là các phụ trợ đồng sanh, là các phụ trợ có sự (tác động) qua lại, là các phụ trợ có sự nương tựa, là các phụ trợ được liên kết, là đồng hành, là đồng sanh, là kết hợp, là liên kết. Chính tám quyền này vừa là biểu hiện vừa là phụ trợ của dĩ tri quyền.
Vào sát-na Đạo Nhất Lai, …(như trên)… Vào sát-na Quả Nhất Lai, …(như trên)… Vào sát-na Đạo Bất Lai, …(như trên)… Vào sát-na Quả Bất Lai, …(như trên)… Vào sát-na Đạo A-la-hán, đối với dĩ tri quyền, tín quyền của có sự cương quyết là phụ trợ, …(như trên)… mạng quyền có pháp chủ đạo trong việc duy trì sự vận hành là phụ trợ.
Vào sát-na Đạo A-la-hán, các pháp được sanh ra ngoại trừ sắc có nguồn phát sanh là tâm, tất cả (các pháp còn lại) đều là thiện, tất cả đều không có lậu hoặc, tất cả đều có tánh dẫn xuất, tất cả đều đưa đến sự không tích lũy, tất cả đều là vượt trên thế gian, tất cả đều có cảnh là Niết Bàn. Vào sát-na Đạo A-la-hán, đối với dĩ tri quyền, tám quyền này* là các phụ trợ đồng sanh, là các phụ trợ có sự (tác động) qua lại, là các phụ trợ có sự nương tựa, là các phụ trợ được liên kết, là đồng hành, là đồng sanh, là kết hợp, là liên kết. Chính tám quyền này vừa là biểu hiện vừa là phụ trợ của dĩ tri quyền.
Vào sát-na Quả A-la-hán, đối với cụ tri quyền, tín quyền có sự cương quyết là phụ trợ, tấn quyền …(nt)… mạng quyền có pháp chủ đạo trong việc duy trì sự vận hành là phụ trợ. Vào sát-na Quả A-la-hán, các pháp được sanh ra, ngoại trừ sắc có nguồn phát sanh là tâm, tất cả (các pháp còn lại) đều là vô ký, tất cả đều không có lậu hoặc, tất cả đều là vượt trên thế gian, tất cả đều có cảnh là Niết Bàn. Vào sát-na Quả A-la-hán, đối với cụ tri quyền, tám quyền này là các phụ trợ đồng sanh, …(nt)… là liên kết. Chính tám quyền này vừa là biểu hiện vừa là phụ trợ của cụ tri quyền. Như thế, 8 lần 8 này* là 64.
Lậu hoặc: Các lậu hoặc ấy là gì? Là dục lậu, hữu lậu, (tà) kiến lậu, vô minh lậu.
Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đâu? Do Đạo Nhập Lưu, toàn thể (tà) kiến lậu được cạn kiệt, dục lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt, hữu lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt, vô minh lậu đưa đến khổ cảnh được cạn kiệt. Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây.
Do Đạo Nhất Lai, dục lậu thô thiển được cạn kiệt, hữu lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt, vô minh lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt. Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây.
Do Đạo Bất Lai, toàn thể dục lậu được cạn kiệt, hữu lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt, vô minh lậu có cùng ý nghĩa với điều ấy được cạn kiệt. Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây.
Do Đạo A-la-hán, toàn thể hữu lậu được cạn kiệt, toàn thể vô minh lậu được cạn kiệt. Các lậu hoặc ấy được cạn kiệt tại đây.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về chủ thể đối với ba quyền theo sáu mươi bốn biểu hiện là trí về sự đoạn tận của các lậu hoặc.”
Phần giải thích ‘Trí về sự đoạn tận của các lậu hoặc.’
56–63. Hai nhóm bốn của trí về chân lý
Tuệ về ý nghĩa biết toàn diện là trí về Khổ, tuệ về ý nghĩa dứt bỏ là trí về nhân sanh (Khổ), tuệ về ý nghĩa tác chứng là trí về sự diệt tận (Khổ), tuệ về ý nghĩa tu tập là trí về Đạo là (có ý nghĩa) thế nào?
Đối với Khổ là ý nghĩa áp bức, là ý nghĩa tạo tác, là ý nghĩa nóng nảy, là ý nghĩa chuyển biến, là ý nghĩa biết toàn diện.
Đối với nhân sanh (Khổ) là ý nghĩa (nghiệp) tích lũy, là ý nghĩa căn nguyên, là ý nghĩa ràng buộc, là ý nghĩa vướng bận, là ý nghĩa dứt bỏ.
Đối với sự diệt tận (Khổ) là ý nghĩa xuất ly, là ý nghĩa viễn ly, là ý nghĩa vô vi, là ý nghĩa bất tử, là ý nghĩa tác chứng.
Đối với Đạo là ý nghĩa dẫn xuất, là ý nghĩa chủng tử, là ý nghĩa nhận thức, là ý nghĩa pháp chủ đạo, là ý nghĩa tu tập.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Tuệ về ý nghĩa biết toàn diện là trí về Khổ; Tuệ về ý nghĩa dứt bỏ là trí về nhân sanh (Khổ); Tuệ về ý nghĩa tác chứng là trí về sự diệt tận (Khổ); Tuệ về ý nghĩa tu tập là trí về Đạo.”
Trí về Khổ, trí về nhân sanh Khổ, trí về sự diệt tận Khổ, trí về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ là (có ý nghĩa) thế nào?
Trí của vị có dự phần ở Đạo cũng là trí về Khổ, đây cũng là trí về nhân sanh Khổ, đây cũng là trí về sự diệt tận Khổ, đây cũng là trí về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.
Trong trường hợp ấy, trí về Khổ là gì? Điều gì sanh lên có liên quan đến Khổ: sự nhận biết (của trí), sự nhận biết (của tuệ), sự chọn lọc, sự tuyển lựa, sự chọn lọc pháp, sự suy xét, sự khảo cứu, sự khảo sát, sự thông thái, sự rành rẽ, sự khôn ngoan, sự sáng suốt, sự suy nghĩ, sự nghiên cứu, sự uyên thâm, sự mẫn tiệp, sự lãnh đạo, sự minh sát, sự tỉnh giác, sự sắc sảo, tuệ, tuệ quyền, tuệ lực, tuệ là vũ khí, tuệ là thành trì, tuệ là ánh sáng, tuệ là hào quang, tuệ là ngọn đèn, tuệ là báu vật, sự vô si, sự chọn lọc pháp, chánh kiến, (mỗi một) điều ấy được gọi là trí về Khổ. Điều gì sanh lên có liên quan đến nhân sanh Khổ: …(nt)… Điều gì sanh lên có liên quan đến sự diệt tận Khổ: …(nt)… Điều gì sanh lên có liên quan đến sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ: …(nt)… sự vô si, sự chọn lọc pháp, chánh kiến, (mỗi một) điều ấy được gọi là trí về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Trí về Khổ, trí về nhân sanh Khổ, trí về sự diệt tận Khổ, trí về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.”
Phần giải thích ‘Hai nhóm bốn của trí về chân lý.’
64–67. Trí về các sự phân tích thuần túy
Trí về sự phân tích ý nghĩa, trí về sự phân tích pháp, trí về sự phân tích ngôn từ, trí về sự phân tích phép biện giải là (có ý nghĩa) thế nào?
Trí về các ý nghĩa là sự phân tích ý nghĩa, trí về các pháp là sự phân tích pháp, trí về các ngôn từ là sự phân tích ngôn từ, trí về các phép biện giải là sự phân tích phép biện giải.
Tuệ về bản chất khác nhau của các ý nghĩa là trí về sự phân tích ý nghĩa, tuệ về bản chất khác nhau của các pháp là trí về sự phân tích pháp, tuệ về bản chất khác nhau của các ngôn từ là trí về sự phân tích ngôn từ, tuệ về bản chất khác nhau của các phép biện giải là trí về sự phân tích phép biện giải.
Tuệ về sự xác định ý nghĩa là trí về sự phân tích ý nghĩa, tuệ về sự xác định pháp là trí về sự phân tích pháp, tuệ về sự xác định ngôn từ là trí về sự phân tích ngôn từ, tuệ về sự xác định phép biện giải là trí về sự phân tích phép biện giải.
Tuệ về sự suy xét ý nghĩa là trí về sự phân tích ý nghĩa, tuệ về sự suy xét pháp là trí về sự phân tích pháp, tuệ về sự suy xét ngôn từ là trí về sự phân tích ngôn từ, tuệ về sự suy xét phép biện giải là trí về sự phân tích phép biện giải.
Tuệ về sự khảo cứu ý nghĩa là trí về sự phân tích ý nghĩa, tuệ về sự khảo cứu pháp là trí về sự phân tích pháp, tuệ về sự khảo cứu ngôn từ là trí về sự phân tích ngôn từ, tuệ về sự khảo cứu phép biện giải là trí về sự phân tích phép biện giải.
Tuệ về sự phân loại ý nghĩa là trí về sự phân tích ý nghĩa, tuệ về sự phân loại pháp là trí về sự phân tích pháp, tuệ về sự phân loại ngôn từ là trí về sự phân tích ngôn từ, tuệ về sự phân loại phép biện giải là trí về sự phân tích phép biện giải.
Tuệ về sự thể hiện ý nghĩa là trí về sự phân tích ý nghĩa, tuệ về sự thể hiện pháp là trí về sự phân tích pháp, tuệ về sự thể hiện ngôn từ là trí về sự phân tích ngôn từ, tuệ về sự thể hiện phép biện giải là trí về sự phân tích phép biện giải.
Tuệ về sự làm sáng tỏ ý nghĩa là trí về sự phân tích ý nghĩa, tuệ về sự làm sáng tỏ pháp là trí về sự phân tích pháp, tuệ về sự làm sáng tỏ ngôn từ là trí về sự phân tích ngôn từ, tuệ về sự làm sáng tỏ phép biện giải là trí về sự phân tích phép biện giải.
Tuệ về sự làm rõ rệt ý nghĩa là trí về sự phân tích ý nghĩa, tuệ về sự làm rõ rệt pháp là trí về sự phân tích pháp, tuệ về sự làm rõ rệt ngôn từ là trí về sự phân tích ngôn từ, tuệ về sự làm rõ rệt phép biện giải là trí về sự phân tích phép biện giải.
Tuệ về sự công bố ý nghĩa là trí về sự phân tích ý nghĩa, tuệ về sự công bố pháp là trí về sự phân tích pháp, tuệ về sự công bố ngôn từ là trí về sự phân tích ngôn từ, tuệ về sự công bố phép biện giải là trí về sự phân tích phép biện giải.
Điều ấy, theo ý nghĩa đã được biết (thì gọi) là trí, theo ý nghĩa nhận biết (thì gọi) là tuệ. Vì thế, được nói rằng: “Trí về sự phân tích ý nghĩa, trí về sự phân tích pháp, trí về sự phân tích ngôn từ, trí về sự phân tích phép biện giải.”
Phần giải thích ‘Trí về các sự phân tích thuần túy.’
68. Trí biết được khả năng của người khác
Trí biết được khả năng của người khác của đức Như Lai là (có ý nghĩa) thế nào?
Ở đây, đức Như Lai nhìn thấy các chúng sanh: có tầm nhìn bị vấy bụi ít, có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều, có giác quan sắc sảo, có giác quan cùn lụt, có tánh khí tốt, có tánh khí tồi, dễ hướng dẫn, khó hướng dẫn, một số chúng sanh thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, một số chúng sanh không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác.
Có tầm nhìn bị vấy bụi ít, có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều: Người có đức tin là có tầm nhìn bị vấy bụi ít, người không có đức tin là có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều. Người có sự cố gắng tinh tấn là có tầm nhìn bị vấy bụi ít, người biếng nhác là có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều. Người có niệm được thiết lập là có tầm nhìn bị vấy bụi ít, người có niệm bị quên lãng là có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều. Người được định tĩnh là có tầm nhìn bị vấy bụi ít, người không được định tĩnh là có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều. Người có tuệ là có tầm nhìn bị vấy bụi ít, người có tuệ kém là có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều.
Có giác quan sắc sảo, có giác quan cùn lụt: Người có đức tin là có giác quan sắc sảo, người không có đức tin là có giác quan cùn lụt. Người có sự cố gắng tinh tấn là có giác quan sắc sảo, người biếng nhác là có giác quan cùn lụt. Người có niệm được thiết lập là có giác quan sắc sảo, người có niệm bị quên lãng là có giác quan cùn lụt. Người được định tĩnh là có giác quan sắc sảo, người không được định tĩnh là có giác quan cùn lụt. Người có tuệ là có giác quan sắc sảo, người có tuệ kém là có giác quan cùn lụt.
Có tánh khí tốt, có tánh khí tồi: Người có đức tin là có tánh khí tốt, người không có đức tin là có tánh khí tồi. Người có sự cố gắng tinh tấn là có tánh khí tốt, người biếng nhác là có tánh khí tồi. Người có niệm được thiết lập là có tánh khí tốt, người có niệm bị quên lãng là có tánh khí tồi. Người được định tĩnh là có tánh khí tốt, người không được định tĩnh là có tánh khí tồi. Người có tuệ là có tánh khí tốt, người có tuệ kém là có tánh khí tồi.
Dễ hướng dẫn, khó hướng dẫn: Người có đức tin là dễ hướng dẫn, người không có đức tin là khó hướng dẫn. Người có sự cố gắng tinh tấn là dễ hướng dẫn, người biếng nhác là khó hướng dẫn. Người có niệm được thiết lập là dễ hướng dẫn, người có niệm bị quên lãng là khó hướng dẫn. Người được định tĩnh là dễ hướng dẫn, người không được định tĩnh là khó hướng dẫn. Người có tuệ là dễ hướng dẫn, người có tuệ kém là khó hướng dẫn.
Một số chúng sanh thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, một số chúng sanh không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác: Người có đức tin là thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, người không có đức tin là không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác. Người có sự cố gắng tinh tấn là thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, người biếng nhác là không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác. Người có niệm được thiết lập là thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, người có niệm bị quên lãng là không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác. Người được định tĩnh là thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, người không được định tĩnh là không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác. Người có tuệ là thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác, người có tuệ kém là không thấy được sự sợ hãi ở tội lỗi và sự (tái sanh) vào thế giới khác.
Thế giới: Thế giới của các uẩn, thế giới của các giới, thế giới của các xứ, thế giới có sự bất hạnh, thế giới đem lại sự bất hạnh, thế giới có sự thuận lợi, thế giới đem lại sự thuận lợi.
Một thế giới là tất cả chúng sanh được tồn tại nhờ vật thực. Hai thế giới là danh và sắc. Ba thế giới là ba thọ. Bốn thế giới là bốn loại vật thực. Năm thế giới là năm thủ uẩn. Sáu thế giới là sáu nội xứ. Bảy thế giới là bảy trụ xứ của thức. Tám thế giới là tám pháp thế gian. Chín thế giới là chín nơi cư trú của chúng sanh. Mười thế giới là mười xứ.* Mười hai thế giới là mười hai xứ.* Mười tám thế giới là mười tám giới.
Tội lỗi: Tất cả ô nhiễm là tội lỗi, tất cả ác hạnh là tội lỗi, tất cả các thắng hành là tội lỗi, tất cả nghiệp đưa đến hữu là tội lỗi.
Như thế, tưởng đến sự kinh hãi sắc bén về thế giới này và về tội lỗi này đã được đề cập, cũng giống như (tưởng đến sự kinh hãi) về cuộc chém giết có thanh gươm đã được vung lên. Đức Như Lai biết được, thấy được, hiểu được, thấu triệt năm quyền này thông qua năm mươi biểu hiện* này.
Đây là trí biết được khả năng của người khác của đức Như Lai.
Phần giải thích ‘Trí biết được khả năng của người khác.’
69. Trí về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm
Trí của đức Như Lai về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm của chúng sanh là (có ý nghĩa) thế nào?
Ở đây, đức Như Lai biết thiên kiến của chúng sanh, biết xu hướng ngủ ngầm, biết sở hành, biết tánh khí, biết chúng sanh có khả năng hay không có khả năng.
Thiên kiến gì của chúng sanh? ‘Thế giới là thường còn,’ ‘Thế giới là không thường còn,’ ‘Thế giới là có giới hạn,’ ‘Thế giới là không có giới hạn,’ ‘Mạng sống là vật ấy thân thể là vật ấy,’ ‘Mạng sống là vật khác thân thể là vật khác,’ ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ ‘Có phải đức Như Lai hiện hữu và không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ hay ‘Có phải đức Như Lai không hiện hữu và không phải là không hiện hữu ở nơi khác sau khi chết?’ chúng sanh nương tựa vào hữu kiến hoặc nương tựa vào phi hữu kiến là như thế.
Trái lại, có những chúng sanh không tiếp cận hai thái cực này rồi thành tựu sự chấp nhận hợp theo các pháp được tùy thuận sanh lên do tính chất của duyên ấy, hoặc (đạt được) trí đúng theo thực thể.
Ngài biết về người đang theo đuổi (ngũ) dục rằng: ‘Người này nặng về dục, có thiên kiến về dục, có tánh khí về dục;’ biết về người đang theo đuổi (ngũ) dục rằng: ‘Người này nặng về thoát ly, có thiên kiến về thoát ly, có tánh khí về thoát ly;’ biết về người đang theo đuổi thoát ly rằng: ‘Người này nặng về thoát ly, có thiên kiến về thoát ly, có tánh khí về thoát ly;’ biết về người đang theo đuổi thoát ly rằng: ‘Người này nặng về dục, có thiên kiến về dục, có tánh khí về dục.’
Ngài biết về người đang theo đuổi sân độc rằng: ‘Người này nặng về sân độc, có thiên kiến về sân độc, có tánh khí về sân độc;’ biết về người đang theo đuổi sân độc rằng: ‘Người này nặng về không sân độc, có thiên kiến về không sân độc, có tánh khí về không sân độc;’ biết về người đang theo đuổi không sân độc rằng: ‘Người này nặng về không sân độc, có thiên kiến về không sân độc, có tánh khí về không sân độc;’ biết về người đang theo đuổi không sân độc rằng: ‘Người này nặng về sân độc, có thiên kiến về sân độc, có tánh khí về sân độc.’
Ngài biết về người đang theo đuổi sự lờ đờ và buồn ngủ rằng: ‘Người này nặng về lờ đờ và buồn ngủ, có thiên kiến về lờ đờ và buồn ngủ, có tánh khí về lờ đờ và buồn ngủ;’ biết về người đang theo đuổi sự lờ đờ và buồn ngủ rằng: ‘Người này nặng về quang tưởng, có thiên kiến về quang tưởng, có tánh khí về quang tưởng;’ biết về người đang theo đuổi quang tưởng rằng: ‘Người này nặng về quang tưởng, có thiên kiến về quang tưởng, có tánh khí về quang tưởng;’ biết về người đang theo đuổi quang tưởng rằng: ‘Người này nặng về lờ đờ và buồn ngủ, có thiên kiến về lờ đờ và buồn ngủ, có tánh khí về lờ đờ và buồn ngủ.’ Đây là thiên kiến của chúng sanh.
Xu hướng ngủ ngầm gì của chúng sanh? Có bảy xu hướng ngủ ngầm: Ái dục ngủ ngầm, bất bình ngủ ngầm, ngã mạn ngủ ngầm, tà kiến ngủ ngầm, hoài nghi ngủ ngầm, ái hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm.
Ở đời, có sắc gì đáng yêu đáng mến, ái dục ngủ ngầm của chúng sanh tiềm ẩn ở sắc ấy. Ở đời, có sắc gì không đáng yêu không đáng mến, bất bình ngủ ngầm của chúng sanh tiềm ẩn ở sắc ấy. Như thế vô minh khởi lên ở hai pháp này; ngã mạn, tà kiến, và hoài nghi có cùng ý nghĩa với điều ấy cần được nhìn thấy. Đây là xu hướng ngủ ngầm của chúng sanh.
Sở hành gì của chúng sanh? Sự tạo tác đem lại phước báu, sự tạo tác không đem lại phước báu, sự tạo tác có kết quả không thay đổi có nền tảng nhỏ bé hoặc có nền tảng to lớn. Đây là sở hành của chúng sanh.
Tánh khí gì của chúng sanh? Có các chúng sanh có tánh khí thấp kém, có các chúng sanh có tánh khí cao quý. Các chúng sanh có tánh khí thấp kém giao thiệp, gần gũi, thân cận với các chúng sanh có tánh khí thấp kém, các chúng sanh có tánh khí cao quý giao thiệp, gần gũi, thân cận với các chúng sanh có tánh khí cao quý. Vào thời quá khứ xa xăm, các chúng sanh có tánh khí thấp kém cũng đã giao thiệp, gần gũi, thân cận với các chúng sanh có tánh khí thấp kém, các chúng sanh có tánh khí cao quý cũng đã giao thiệp, gần gũi, thân cận với các chúng sanh có tánh khí cao quý. Vào thời tương lai xa xăm, các chúng sanh có tánh khí thấp kém cũng sẽ giao thiệp, gần gũi, thân cận với các chúng sanh có tánh khí thấp kém, các chúng sanh có tánh khí cao quý cũng sẽ giao thiệp, gần gũi, thân cận với các chúng sanh có tánh khí cao quý. Đây là tánh khí của chúng sanh.
Chúng sanh nào không có khả năng? Những chúng sanh nào có sự chướng ngại do nghiệp, có sự chướng ngại do phiền não, có sự chướng ngại do quả thành tựu (của nghiệp), không có đức tin, không có ước muốn, tuệ kém, không chắc chắn có khả năng nhập vào bản thể chơn chánh trong các thiện pháp, những chúng sanh này đây là không có khả năng.
Chúng sanh nào có khả năng? Những chúng sanh nào không có sự chướng ngại do nghiệp, không có sự chướng ngại do phiền não, không có sự chướng ngại do quả thành tựu, có đức tin, có ước muốn, có tuệ, chắc chắn có khả năng nhập vào bản thể chơn chánh trong các thiện pháp; những chúng sanh này đây là có khả năng.
Đây là trí của đức Như Lai về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm của chúng sanh.
‘Trí về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm.’
70. Trí về song thông
Trí về song thông của đức Như Lai là (có ý nghĩa) thế nào?
Ở đây, đức Như Lai thực hiện song thông không phổ cập đến các Thinh Văn: Ngài phát ra khối lửa từ phần thân phía trên, phát ra nguồn nước từ phần thân phía dưới. Ngài phát ra khối lửa từ phần thân phía dưới, phát ra nguồn nước từ phần thân phía trên. Ngài phát ra khối lửa từ phần thân phía trước, phát ra nguồn nước từ phần thân phía sau. Ngài phát ra khối lửa từ phần thân phía sau, phát ra nguồn nước từ phần thân phía trước. Ngài phát ra khối lửa từ con mắt bên phải, phát ra nguồn nước từ con mắt bên trái. Ngài phát ra khối lửa từ con mắt bên trái, phát ra nguồn nước từ con mắt bên phải. Ngài phát ra khối lửa từ lỗ tai bên phải, phát ra nguồn nước từ lỗ tai bên trái. Ngài phát ra khối lửa từ lỗ tai bên trái, phát ra nguồn nước từ lỗ tai bên phải. Ngài phát ra khối lửa từ lỗ mũi bên phải, phát ra nguồn nước từ lỗ mũi bên trái. Ngài phát ra khối lửa từ lỗ mũi bên trái, phát ra nguồn nước từ lỗ mũi bên phải. Ngài phát ra khối lửa từ chóp vai bên phải, phát ra nguồn nước từ chóp vai bên trái. Ngài phát ra khối lửa từ chóp vai bên trái, phát ra nguồn nước từ chóp vai bên phải. Ngài phát ra khối lửa từ cánh tay phải, phát ra nguồn nước từ cánh tay trái. Ngài phát ra khối lửa từ cánh tay trái, phát ra nguồn nước từ cánh tay phải. Ngài phát ra khối lửa từ hông bên phải, phát ra nguồn nước từ hông bên trái. Ngài phát ra khối lửa từ hông bên trái, phát ra nguồn nước từ hông bên phải. Ngài phát ra khối lửa từ bàn chân phải, phát ra nguồn nước từ bàn chân trái. Ngài phát ra khối lửa từ bàn chân trái, phát ra nguồn nước từ bàn chân phải. Ngài phát ra khối lửa từ các ngón tay và ngón chân, phát ra nguồn nước từ các kẻ của các ngón tay và ngón chân. Ngài phát ra khối lửa từ các kẻ của các ngón tay và ngón chân, phát ra nguồn nước từ các ngón tay và ngón chân. Ngài phát ra khối lửa từ mỗi một sợi lông, phát ra nguồn nước từ mỗi một sợi lông. Ngài phát ra khối lửa từ từng lỗ chân lông, phát ra nguồn nước từ từng lỗ chân lông gồm có sáu màu sắc là xanh, vàng, đỏ, trắng, đỏ tía, màu ánh sáng.
Đức Thế Tôn đi kinh hành, còn hình biến hóa (của Ngài) đứng, hoặc ngồi, hoặc ở tư thế nằm; đức Thế Tôn đứng, còn hình biến hóa đi kinh hành, hoặc ngồi, hoặc ở tư thế nằm; đức Thế Tôn ngồi, còn hình biến hóa đi kinh hành, hoặc đứng, hoặc ở tư thế nằm; đức Thế Tôn ở tư thế nằm, còn hình biến hóa đi kinh hành, hoặc đứng, hoặc ngồi; hình biến hóa đi kinh hành, còn đức Thế Tôn đứng, hoặc ngồi, hoặc ở tư thế nằm; hình biến hóa đứng, còn đức Thế Tôn đi kinh hành, hoặc ngồi, hoặc ở tư thế nằm; hình biến hóa ngồi, còn đức Thế Tôn đi kinh hành, hoặc đứng, hoặc ở tư thế nằm; hình biến hóa ở tư thế nằm, còn đức Thế Tôn đứng, hoặc ngồi, hoặc đi kinh hành.
Đây là trí về song thông của đức Như Lai.
Phần giải thích ‘Trí về song thông.’
71. Trí thể nhập đại bi
Trí về sự thể nhập đại bi của đức Như Lai là (có ý nghĩa) thế nào?
Lòng đại bi đối với chúng sanh hiện khởi ở chư Phật Thế Tôn trong lúc xem xét theo nhiều phương thức. Lòng đại bi đối với chúng sanh hiện khởi ở chư Phật Thế Tôn trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị đốt cháy.’ Lòng đại bi đối với chúng sanh hiện khởi ở chư Phật Thế Tôn trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị bận rộn.’ Lòng đại bi đối với chúng sanh hiện khởi ở chư Phật Thế Tôn trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian diễn tiến.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian thực hành theo đạo lộ xấu xa.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Thế gian đưa đến (già chết) và không bền vững.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Thế gian là không có sự bảo vệ, không có chủ thể.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Thế gian là không có sở hữu chủ, mọi thứ sẽ dứt bỏ và ra đi.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Thế gian là thiếu thốn, không được thỏa mãn, là nô lệ của tham ái.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là không nơi bảo vệ.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là không nơi cư trú.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là không nơi nương tựa.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là tình trạng không có sự nương tựa.’ …
… trong lúc xem xét rằng: ‘Thế gian là hỗn độn, không bình lặng.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian có mũi tên, bị xuyên thủng bởi những mũi tên to lớn,* ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người nhổ lên những mũi tên.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian có sự che phủ bởi bóng tối của vô minh, là ở trong quả trứng, là bị ném vào ngục tù của phiền não, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người chỉ cho thấy ánh sáng.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là đi đến vô minh, là ở trong quả trứng, bị che đậy, như là ổ kén, như là tổ chim, được làm bằng các thứ cỏ dại, không vượt khỏi luân hồi là tình trạng gánh chịu đọa xứ, khổ cảnh.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là bị vấy bẩn bởi sự độc hại và xấu xa của vô minh, là vũng bùn của phiền não.’ …
… trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị quấn vào cuộn rối của tham ái sân hận si mê, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người tháo gỡ cuộn rối.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị trói chặt vào sự kết nối của ái.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị bao bọc bởi mạng lưới của ái.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị cuốn trôi bởi giòng nước của ái.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị ràng buộc bởi sự ràng buộc của ái.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị tiềm ẩn bởi xu hướng ngủ ngầm của ái.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị nung nóng bởi ngọn lửa của ái.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị thiêu đốt bởi nguồn nhiệt của ái.’ …
… trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị trói chặt vào sự kết nối của tà kiến.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị bao bọc bởi mạng lưới tà kiến.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị cuốn trôi bởi giòng nước tà kiến.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị ràng buộc bởi sự ràng buộc của tà kiến.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị tiềm ẩn bởi xu hướng ngủ ngầm của tà kiến.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị nung nóng bởi ngọn lửa của tà kiến.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị thiêu đốt bởi nguồn nhiệt của tà kiến.’
… trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị tiếp nối bởi sự sanh.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị đeo đuổi bởi sự già.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị cai trị bởi bệnh tật.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị thống trị bởi sự chết.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị thiết lập ở trong đau khổ.’
… trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị chộp lấy bởi ái.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị vây quanh bởi hàng rào của sự già.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị vây quanh bởi bẫy sập của tử thần.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị trói buộc bởi những sự trói buộc lớn là sự trói buộc của tham ái, sự trói buộc của sân, sự trói buộc của si, sự trói buộc của ngã mạn, sự trói buộc của tà kiến, sự trói buộc của phiền não, sự trói buộc của ác hạnh, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người mở ra sự trói buộc.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian đi vào sự chật chội đông đúc, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người chỉ cho thấy khoảng trống.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị vướng bận bởi sự vướng bận lớn, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người cắt đứt sự vướng bận.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị rơi vào vực thẳm lớn, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người đưa lên khỏi vực thẳm.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là đi vào khu rừng lớn, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người giúp cho vượt qua khu rừng.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là đi vào luân hồi vĩ đại, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người giúp cho giải thoát khỏi luân hồi.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị quay vòng trong pháo đài rộng lớn, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người đưa lên khỏi pháo đài.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị chìm vào vũng lầy rộng lớn, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người đưa lên khỏi vũng lầy.’
… trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là bị thống trị.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là bị thiêu đốt bởi lửa tham ái, bởi lửa sân, bởi lửa si, bởi sự sanh, bởi sự già, bởi sự chết, bởi sầu muộn, bởi than vãn, bởi khổ đau, bởi ưu phiền, bởi thất vọng, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người dập tắt.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là kẻ bị lôi kéo đi, bị giết chết, thường xuyên bị hành hạ, là kẻ trộm thọ lãnh hành phạt.’
… trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là bị trói buộc bởi sự trói buộc của tội lỗi, được tồn tại ở sự hãm hại, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người làm cho giải thoát.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là không có người cai quản, đã đạt đến trạng thái vô cùng thảm hại, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người bảo hộ.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là tràn ngập khổ đau, đã bị hành hạ thời gian dài lâu.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là đòi hỏi, thường xuyên bị đói khát.’
… trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là tối tăm không có sự nhìn thấy.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian đã bị mất người hướng dẫn, không có người lãnh đạo.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian có sự rơi vào đạo lộ sai trái, đã đi sái đường, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người đem lại đạo lộ của các bậc Thánh.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian có sự rơi vào cơn lũ lớn, ngoại trừ ta không có kẻ khác ở thế gian là người nâng lên ra khỏi cơn lũ.’
… trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị xâm nhập bởi hai (tà) kiến.’* … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian thực hành sái quấy theo ba ác hạnh.’* … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị quàng vào bởi bốn ách, bị máng vào bởi bốn ách.’* … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị bó buộc bởi bốn phược.’* … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị chấp chặt bởi bốn thủ.’* … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là bị đọa vào năm cảnh giới.’* … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị nhiễm bởi năm phần dục lạc.’ … ‘Đời sống ở thế gian bị bao bọc bởi năm sự ngăn che.’* … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian tranh cãi với sáu nguồn gốc của tranh cãi.’* … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị nhiễm bởi sáu nhóm ái.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị xâm nhập bởi sáu (tà) kiến.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị tiềm ẩn bởi bảy xu hướng ngủ ngầm.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị ràng buộc bởi bảy sự ràng buộc.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là kiêu hãnh với bảy ngã mạn.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị quay cuồng bởi tám pháp thế gian.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị dẫn dắt bởi tám sự sai trái.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị hư hỏng bởi tám sự hư hỏng của con người.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị hãm hại bởi chín nền tảng của sự hãm hại.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian là kiêu hãnh với chín cách ngã mạn.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị ái nhiễm bởi chín nguồn gốc của ái.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị ô nhiễm bởi mười nền tảng của phiền não.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị hãm hại bởi mười nền tảng của sự hãm hại.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian hội đủ mười phương thức của nghiệp bất thiện.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị ràng buộc bởi mười sự ràng buộc.’
… trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị dẫn dắt bởi mười sự sai trái.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian hội đủ tà kiến theo mười nền tảng.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian hội đủ hữu biên kiến theo mười nền tảng.’ … trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị trì hoãn bởi sự trì hoãn của một trăm lẻ tám ái.’ Lòng đại bi đối với chúng sanh hiện khởi ở chư Phật Thế Tôn trong lúc xem xét rằng: ‘Đời sống ở thế gian bị xâm nhập bởi sáu mươi hai tà kiến.’
Lòng đại bi đối với chúng sanh hiện khởi ở chư Phật Thế Tôn trong lúc xem xét rằng: ‘Ta đã vượt qua và thế gian là chưa vượt qua. Ta đã giải thoát và thế gian chưa giải thoát. Ta đã được rèn luyện và thế gian chưa được rèn luyện. Ta được an tịnh và thế gian chưa được an tịnh. Ta được tự tại và thế gian chưa được tự tại. Ta đã được hoàn toàn dập tắt và thế gian chưa được hoàn toàn dập tắt. Quả vậy, Ta đã vượt qua để làm cho vượt qua, đã giải thoát để làm cho giải thoát, đã được rèn luyện để làm cho được rèn luyện, đã được an tịnh để làm cho được an tịnh, đã được tự tại để làm cho tự tại, đã được hoàn toàn dập tắt để làm cho hoàn toàn dập tắt.’
Đây là trí về sự thể nhập đại bi của đức Như Lai.
Phần giải thích về ‘Trí thể nhập đại bi.’
72–73. Trí Toàn Giác—không bị ngăn che
Trí Toàn Giác của đức Như Lai là (có ý nghĩa) thế nào?
‘Biết tất cả (pháp) hữu vi và vô vi không có thiếu sót’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.
‘Biết tất cả việc đã qua’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.
‘Biết tất cả việc chưa đến’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.
‘Biết tất cả việc hiện tại’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.
‘Mắt và luôn cả các sắc, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che. ‘Tai và luôn cả các thinh, … ‘Mũi và luôn cả các khí, … ‘Lưỡi và luôn cả các vị, … ‘Thân và luôn cả các xúc, … ‘Ý và luôn cả các pháp, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.
‘Cho đến ý nghĩa của vô thường, ý nghĩa của khổ não, ý nghĩa của vô ngã, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che. ‘Cho đến ý nghĩa vô thường, ý nghĩa khổ não, ý nghĩa vô ngã của sắc, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che. ‘Cho đến ý nghĩa vô thường, ý nghĩa khổ não, ý nghĩa vô ngã của thọ, … của tưởng, … của các hành, … của thức, … của mắt, … của lão tử, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.
‘Cho đến ý nghĩa của sự biết rõ đối với sự biết rõ, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che. ‘Cho đến ý nghĩa của sự biết toàn diện đối với sự biết toàn diện… ‘Cho đến ý nghĩa của sự dứt bỏ đối với sự dứt bỏ … ‘Cho đến ý nghĩa của sự tu tập đối với sự tu tập … ‘Cho đến ý nghĩa của sự tác chứng đối với sự tác chứng, …
‘Cho đến ý nghĩa của uẩn đối với các uẩn, … ‘Cho đến ý nghĩa của giới đối với các giới … ‘Cho đến ý nghĩa của xứ đối với các xứ … ‘Cho đến ý nghĩa của pháp hữu vi đối với các pháp hữu vi … ‘Cho đến ý nghĩa của pháp vô vi đối với pháp vô vi, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.
‘Cho đến các pháp thiện, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che. ‘Cho đến các pháp bất thiện … ‘Cho đến các pháp vô ký, …
‘Cho đến các pháp dục giới, … ‘Cho đến các pháp sắc giới, … ‘Cho đến các pháp vô sắc giới, … ‘Cho đến các pháp không bị lệ thuộc, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.
‘Cho đến ý nghĩa của Khổ đối với Khổ, … ‘Cho đến ý nghĩa về nhân sanh (Khổ) đối với nhân sanh (Khổ), … ‘Cho đến ý nghĩa về sự diệt tận (Khổ) đối với sự diệt tận (Khổ), … ‘Cho đến ý nghĩa về Đạo của Đạo, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.
‘Cho đến ý nghĩa về sự phân tích ý nghĩa đối với sự phân tích ý nghĩa, … ‘Cho đến ý nghĩa về sự phân tích pháp đối với sự phân tích pháp, … ‘Cho đến ý nghĩa về sự phân tích ngôn từ đối với sự phân tích ngôn từ, … ‘Cho đến ý nghĩa về sự phân tích phép biện giải đối với sự phân tích phép biện giải, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.
‘Cho đến trí biết được khả năng của người khác, … ‘Cho đến trí về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm của chúng sanh, … ‘Cho đến trí về song thông, … ‘Cho đến trí về sự thể nhập đại bi, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.
‘Cho đến điều đã được thấy, đã được nghe, đã được cảm giác, đã được nhận thức, đã đạt đến, đã được tầm cầu, đã được đeo đuổi bởi tâm trí của thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người, biết tất cả điều ấy’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.
1. Không gì ở nơi đây → không được thấy bởi Ngài,
hoặc không nhận thức được, hoặc không thể biết đến.
Ngài biết rõ tất cả mọi điều có thể biết,
vì thế đức Như Lai là vị có Toàn Nhãn.
Toàn Nhãn: Toàn Nhãn theo ý nghĩa gì?
Mười bốn Phật trí: Trí về Khổ là Phật trí. Trí về nhân sanh Khổ là Phật trí. Trí về sự diệt tận Khổ là Phật trí. Trí về sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ là Phật trí. Trí về sự phân tích ý nghĩa … Trí về sự phân tích pháp … Trí về sự phân tích ngôn từ … Trí về sự phân tích phép biện giải … Trí biết được khả năng của người khác … Trí về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm của chúng sanh … Trí về song thông … Trí về sự thể nhập đại bi … Trí Toàn Giác là Phật trí. Trí không bị ngăn che là Phật trí. Đây là mười bốn Phật trí. Trong số mười bốn Phật trí này, tám loại trí là phổ thông đến các vị Thinh Văn, sáu loại trí là không phổ thông đến các vị Thinh Văn.
‘Cho đến ý nghĩa về Khổ của Khổ, tất cả đã được biết. Không có ý nghĩa về Khổ là không được biết’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.
‘Cho đến ý nghĩa về Khổ của Khổ, tất cả đã được thấy, … đã được hiểu, … đã được tác chứng, … đã được chạm đến bởi tuệ. Không có ý nghĩa về Khổ là không được chạm đến bởi tuệ’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.
‘Cho đến ý nghĩa về nhân sanh của nhân sanh, … ‘Cho đến ý nghĩa về diệt tận của diệt tận, … ‘Cho đến ý nghĩa về đạo của Đạo, … ‘Cho đến ý nghĩa về phân tích ý nghĩa của sự phân tích ý nghĩa, … ‘Cho đến ý nghĩa về phân tích pháp của sự phân tích pháp, … ‘Cho đến ý nghĩa về phân tích ngôn từ của sự phân tích ngôn từ, … ‘Cho đến ý nghĩa về phân tích phép biện giải của sự phân tích phép biện giải, tất cả đã được biết, … tất cả đã được thấy, … tất cả đã được hiểu, … tất cả đã được tác chứng, … tất cả đã được chạm đến bởi tuệ. Không có ý nghĩa của sự phân tích phép biện giải là không được chạm đến bởi tuệ’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.
‘Cho đến trí biết được khả năng của người khác, … ‘Cho đến trí về thiên kiến và xu hướng ngủ ngầm của chúng sanh, … ‘Cho đến trí về song thông, … ‘Cho đến trí về sự thể nhập đại bi, tất cả đã được biết, … tất cả đã được thấy, … tất cả đã được hiểu, … tất cả đã được tác chứng, … tất cả đã được chạm đến bởi tuệ. Không có trí về sự thể nhập đại bi là không được chạm đến bởi tuệ’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.
‘Cho đến điều đã được thấy, đã được nghe, đã được cảm giác, đã được nhận thức, đã đạt, đã tầm cầu, đã đeo đuổi bởi tâm trí của thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người, tất cả đã được biết, … tất cả đã được thấy, … tất cả đã được hiểu, … tất cả đã được tác chứng, … tất cả đã được chạm đến bởi tuệ. Không có trí về sự thể nhập đại bi là không được chạm đến bởi tuệ’ là trí Toàn Giác, ‘không có sự ngăn che về điều ấy’ là trí không bị ngăn che.
Không gì ở nơi đây → không được thấy bởi Ngài,
hoặc không nhận thức được, hoặc không thể biết đến.
Ngài biết rõ tất cả mọi điều có thể biết,
vì thế đức Như Lai là vị có Toàn Nhãn.
Phần giải thích ‘Trí Toàn Giác.’
Phần giảng về Trí được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2007. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Ime dhammā pariññeyyā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ.
The teaching, "These phenomena are to be fully understood," is 'attentive listening'. The wisdom that understands it is the knowledge born of hearing.
“Các pháp này cần được liễu tri,” đây là sự lắng nghe; trí tuệ biết rõ điều ấy là trí tuệ do văn.
‘‘Ime dhammā pahātabbā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ.
The teaching, "These phenomena are to be abandoned," is 'attentive listening'. The wisdom that understands it is the knowledge born of hearing.
“Các pháp này cần được đoạn tận,” đây là sự lắng nghe; trí tuệ biết rõ điều ấy là trí tuệ do văn.
‘‘Ime dhammā bhāvetabbā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ.
The teaching, 'These phenomena are to be developed,' is attentive listening; the wisdom in understanding that is knowledge based on learning.
“Các pháp này cần được tu tập,” đây là sự lắng nghe; trí tuệ biết rõ điều ấy là trí tuệ do văn.
‘‘Ime dhammā sacchikātabbā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ.
The teaching, 'These phenomena are to be directly experienced,' is attentive listening; the wisdom in understanding that is knowledge based on learning.
“Các pháp này cần được chứng ngộ,” đây là sự lắng nghe; trí tuệ biết rõ điều ấy là trí tuệ do văn.
‘‘Ime dhammā hānabhāgiyā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ.
The teaching, 'These phenomena are connected with decline,' is attentive listening; the wisdom in understanding that is knowledge based on learning.
“Các pháp này thuộc phần suy thoái,” đây là sự lắng nghe; trí tuệ biết rõ điều ấy là trí tuệ do văn.
‘‘Ime dhammā ṭhitibhāgiyā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ.
The teaching, 'These phenomena are connected with stability,' is attentive listening; the wisdom in understanding that is knowledge based on learning.
“Các pháp này thuộc phần tồn tại,” đây là sự lắng nghe; trí tuệ biết rõ điều ấy là trí tuệ do văn.
‘‘Ime dhammā visesabhāgiyā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ.
The teaching, 'These phenomena are connected with distinction,' is attentive listening; the wisdom in understanding that is knowledge based on learning.
Sự lắng nghe chăm chú (sotāvadhāna) là (câu): ‘Các pháp này thuộc phần đặc biệt.’ Trí tuệ hiểu biết điều ấy là trí tuệ do văn (sutamaye ñāṇaṃ).
‘‘Ime dhammā nibbedhabhāgiyā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ.
The teaching, 'These phenomena are connected with penetration,' is attentive listening; the wisdom in understanding that is knowledge based on learning.
Sự lắng nghe chăm chú (sotāvadhāna) là (câu): ‘Các pháp này thuộc phần thâm nhập.’ Trí tuệ hiểu biết điều ấy là trí tuệ do văn (sutamaye ñāṇaṃ).
‘‘Sabbe saṅkhārā aniccā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ.
The teaching, 'All conditioned phenomena are impermanent,' is attentive listening; the wisdom in understanding that is knowledge based on learning.
Sự lắng nghe chăm chú (sotāvadhāna) là (câu): ‘Tất cả các pháp hữu vi là vô thường.’ Trí tuệ hiểu biết điều ấy là trí tuệ do văn (sutamaye ñāṇaṃ).
‘‘Sabbe saṅkhārā dukkhā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ.
The teaching, 'All conditioned phenomena are suffering,' is attentive listening; the wisdom in understanding that is knowledge based on learning.
Sự lắng nghe chăm chú (sotāvadhāna) là (câu): ‘Tất cả các pháp hữu vi là khổ.’ Trí tuệ hiểu biết điều ấy là trí tuệ do văn (sutamaye ñāṇaṃ).
‘‘Sabbe dhammā anattā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ.
The teaching, 'All phenomena are not-self,' is attentive listening; the wisdom in understanding that is knowledge based on learning.
Sự lắng nghe chăm chú (sotāvadhāna) là (câu): ‘Tất cả các pháp là vô ngã.’ Trí tuệ hiểu biết điều ấy là trí tuệ do văn (sutamaye ñāṇaṃ).
‘‘Idaṃ dukkhaṃ ariyasacca’’nti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ.
The teaching, 'This is the noble truth of suffering,' is attentive listening; the wisdom in understanding that is knowledge based on learning.
Sự lắng nghe chăm chú (sotāvadhāna) là (câu): ‘Đây là Thánh đế về Khổ.’ Trí tuệ hiểu biết điều ấy là trí tuệ do văn (sutamaye ñāṇaṃ).
‘‘Idaṃ dukkhasamudayaṃ † ariyasacca’’nti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ.
The teaching, 'This is the noble truth of the origin of suffering,' is attentive listening; the wisdom in understanding that is knowledge based on learning.
Sự lắng nghe chăm chú (sotāvadhāna) là (câu): ‘Đây là Thánh đế về Tập khởi của Khổ.’ Trí tuệ hiểu biết điều ấy là trí tuệ do văn (sutamaye ñāṇaṃ).
‘‘Idaṃ dukkhanirodhaṃ † ariyasacca’’nti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ.
The teaching, 'This is the noble truth of the cessation of suffering,' is attentive listening; the wisdom in understanding that is knowledge based on learning.
Sự lắng nghe chăm chú (sotāvadhāna) là (câu): ‘Đây là Thánh đế về sự Diệt Khổ.’ Trí tuệ hiểu biết điều ấy là trí tuệ do văn (sutamaye ñāṇaṃ).
‘‘Idaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasacca’’nti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ.
The teaching, 'This is the noble truth of the path leading to the cessation of suffering,' is attentive listening; the wisdom in understanding that is knowledge based on learning.
Sự lắng nghe chăm chú (sotāvadhāna) là (câu): ‘Đây là Thánh đế về con đường đưa đến sự Diệt Khổ.’ Trí tuệ hiểu biết điều ấy là trí tuệ do văn (sutamaye ñāṇaṃ).
2. Kathaṃ ‘‘ime dhammā abhiññeyyā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ?
2. How is the teaching, 'These phenomena are to be known through higher knowledge,' attentive listening, and the wisdom in understanding that, knowledge based on learning?
2. Sự lắng nghe chăm chú (sotāvadhāna) về câu: ‘Các pháp này cần được thắng tri,’ và trí tuệ hiểu biết điều ấy là trí tuệ do văn (sutamaye ñāṇaṃ) là như thế nào?
Eko dhammo abhiññeyyo – sabbe sattā āhāraṭṭhitikā. Dve dhammā abhiññeyyā – dve dhātuyo. Tayo dhammā abhiññeyyā – tisso dhātuyo. Cattāro dhammā abhiññeyyā – cattāri ariyasaccāni. Pañca dhammā abhiññeyyā – pañca vimuttāyatanāni. Cha dhammā abhiññeyyā – cha anuttariyāni. Satta dhammā abhiññeyyā – satta niddasavatthūni. Aṭṭha dhammā abhiññeyyā – aṭṭha abhibhāyatanāni. Nava dhammā abhiññeyyā – nava anupubbavihārā. Dasa dhammā abhiññeyyā – dasa nijjaravatthūni.
One thing is to be directly known: all beings are sustained by nutriment. Two things are to be directly known: two elements. Three things are to be directly known: three elements. Four things are to be directly known: the four noble truths. Five things are to be directly known: five spheres of liberation. Six things are to be directly known: the six fields of supremacy. Seven things are to be directly known: seven grounds for exposition. Eight things are to be directly known: eight spheres of mastery. Nine things are to be directly known: nine successive states of dwelling. Ten things are to be directly known: ten grounds for wearing away.
Một pháp cần được thắng tri – tất cả chúng sanh tồn tại nhờ vật thực. Hai pháp cần được thắng tri – hai giới. Ba pháp cần được thắng tri – ba giới. Bốn pháp cần được thắng tri – bốn Thánh đế. Năm pháp cần được thắng tri – năm xứ giải thoát. Sáu pháp cần được thắng tri – sáu pháp vô thượng. Bảy pháp cần được thắng tri – bảy nền tảng chỉ dẫn. Tám pháp cần được thắng tri – tám thắng xứ. Chín pháp cần được thắng tri – chín sự an trú tuần tự. Mười pháp cần được thắng tri – mười sự việc làm cho (nghiệp) tiêu mòn.
3. ‘‘Sabbaṃ, bhikkhave, abhiññeyyaṃ. Kiñca, bhikkhave, sabbaṃ abhiññeyyaṃ? Cakkhu †, bhikkhave, abhiññeyyaṃ; rūpā abhiññeyyā; cakkhuviññāṇaṃ abhiññeyyaṃ; cakkhusamphasso abhiññeyyo; yampidaṃ † cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, tampi abhiññeyyaṃ. Sotaṃ abhiññeyyaṃ; saddā abhiññeyyā…pe… ghānaṃ abhiññeyyaṃ; gandhā abhiññeyyā… jivhā abhiññeyyā; rasā abhiññeyyā… kāyo abhiññeyyo; phoṭṭhabbā abhiññeyyā… mano abhiññeyyo; dhammā abhiññeyyā; manoviññāṇaṃ abhiññeyyaṃ, manosamphasso abhiññeyyo; yampidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, tampi abhiññeyyaṃ.’’
3. “Bhikkhus, all is to be directly known. And what, bhikkhus, is the all that is to be directly known? The eye, bhikkhus, is to be directly known; forms are to be directly known; eye-consciousness is to be directly known; eye-contact is to be directly known; and whatever feeling arises conditioned by eye-contact—whether pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant—that too is to be directly known. The ear is to be directly known; sounds are to be directly known… The nose is to be directly known; odors are to be directly known… The tongue is to be directly known; flavors are to be directly known… The body is to be directly known; tangible objects are to be directly known… The mind is to be directly known; mental phenomena are to be directly known; mind-consciousness is to be directly known; mind-contact is to be directly known; and whatever feeling arises conditioned by mind-contact—whether pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant—that too is to be directly known.”
3. Này các Tỳ khưu, tất cả cần được thắng tri. Và này các Tỳ khưu, thế nào là tất cả cần được thắng tri? Này các Tỳ khưu, con mắt cần được thắng tri; các sắc cần được thắng tri; nhãn thức cần được thắng tri; nhãn xúc cần được thắng tri; và cảm thọ nào sanh khởi do duyên nhãn xúc, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng cần được thắng tri. Lỗ tai cần được thắng tri; các tiếng cần được thắng tri... cho đến... mũi cần được thắng tri; các mùi cần được thắng tri... lưỡi cần được thắng tri; các vị cần được thắng tri... thân cần được thắng tri; các vật xúc chạm cần được thắng tri... ý cần được thắng tri; các pháp cần được thắng tri; ý thức cần được thắng tri; ý xúc cần được thắng tri; và cảm thọ nào sanh khởi do duyên ý xúc, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng cần được thắng tri.
Rūpaṃ abhiññeyyaṃ; vedanā abhiññeyyā; saññā abhiññeyyā; saṅkhārā abhiññeyyā; viññāṇaṃ abhiññeyyaṃ.
Form is to be directly known; feeling is to be directly known; perception is to be directly known; formations are to be directly known; consciousness is to be directly known.
Sắc cần được thắng tri; thọ cần được thắng tri; tưởng cần được thắng tri; các hành cần được thắng tri; thức cần được thắng tri.
Cakkhu abhiññeyyaṃ; sotaṃ abhiññeyyaṃ; ghānaṃ abhiññeyyaṃ; jivhā abhiññeyyā; kāyo abhiññeyyo; mano abhiññeyyo. Rūpā abhiññeyyā; saddā abhiññeyyā; gandhā abhiññeyyā; rasā abhiññeyyā; phoṭṭhabbā abhiññeyyā; dhammā abhiññeyyā. Cakkhuviññāṇaṃ abhiññeyyaṃ; sotaviññāṇaṃ abhiññeyyaṃ; ghānaviññāṇaṃ abhiññeyyaṃ; jivhāviññāṇaṃ abhiññeyyaṃ; kāyaviññāṇaṃ abhiññeyyaṃ; manoviññāṇaṃ abhiññeyyaṃ. Cakkhusamphasso abhiññeyyo; sotasamphasso abhiññeyyo; ghānasamphasso abhiññeyyo; jivhāsamphasso abhiññeyyo; kāyasamphasso abhiññeyyo; manosamphasso abhiññeyyo; cakkhusamphassajā vedanā abhiññeyyā; sotasamphassajā vedanā abhiññeyyā; ghānasamphassajā vedanā abhiññeyyā; jivhāsamphassajā vedanā abhiññeyyā; kāyasamphassajā vedanā abhiññeyyā; manosamphassajā vedanā abhiññeyyā. Rūpasaññā abhiññeyyā; saddasaññā abhiññeyyā; gandhasaññā abhiññeyyā; rasasaññā abhiññeyyā; phoṭṭhabbasaññā abhiññeyyā; dhammasaññā abhiññeyyā. Rūpasañcetanā abhiññeyyā; saddasañcetanā abhiññeyyā; gandhasañcetanā abhiññeyyā; rasasañcetanā abhiññeyyā; phoṭṭhabbasañcetanā abhiññeyyā; dhammasañcetanā abhiññeyyā. Rūpataṇhā abhiññeyyā; saddataṇhā abhiññeyyā; gandhataṇhā abhiññeyyā; rasataṇhā abhiññeyyā; phoṭṭhabbataṇhā abhiññeyyā; dhammataṇhā abhiññeyyā. Rūpavitakko abhiññeyyo; saddavitakko abhiññeyyo; gandhavitakko abhiññeyyo; rasavitakko abhiññeyyo; phoṭṭhabbavitakko abhiññeyyo; dhammavitakko abhiññeyyo. Rūpavicāro abhiññeyyo; saddavicāro abhiññeyyo; gandhavicāro abhiññeyyo; rasavicāro abhiññeyyo; phoṭṭhabbavicāro abhiññeyyo; dhammavicāro abhiññeyyo.
The eye is to be directly known; the ear is to be directly known; the nose is to be directly known; the tongue is to be directly known; the body is to be directly known; the mind is to be directly known. Forms are to be directly known; sounds are to be directly known; smells are to be directly known; tastes are to be directly known; tactile objects are to be directly known; mental phenomena are to be directly known. Eye-consciousness is to be directly known; ear-consciousness is to be directly known; nose-consciousness is to be directly known; tongue-consciousness is to be directly known; body-consciousness is to be directly known; mind-consciousness is to be directly known. Eye-contact is to be directly known; ear-contact is to be directly known; nose-contact is to be directly known; tongue-contact is to be directly known; body-contact is to be directly known; mind-contact is to be directly known. Feeling born of eye-contact is to be directly known; feeling born of ear-contact is to be directly known; feeling born of nose-contact is to be directly known; feeling born of tongue-contact is to be directly known; feeling born of body-contact is to be directly known; feeling born of mind-contact is to be directly known. Perception of forms is to be directly known; perception of sounds is to be directly known; perception of smells is to be directly known; perception of tastes is to be directly known; perception of tactile objects is to be directly known; perception of mental phenomena is to be directly known. Volition regarding forms is to be directly known; volition regarding sounds is to be directly known; volition regarding smells is to be directly known; volition regarding tastes is to be directly known; volition regarding tactile objects is to be directly known; volition regarding mental phenomena is to be directly known. Craving for forms is to be directly known; craving for sounds is to be directly known; craving for smells is to be directly known; craving for tastes is to be directly known; craving for tactile objects is to be directly known; craving for mental phenomena is to be directly known. Applied thought regarding forms is to be directly known; applied thought regarding sounds is to be directly known; applied thought regarding smells is to be directly known; applied thought regarding tastes is to be directly known; applied thought regarding tactile objects is to be directly known; applied thought regarding mental phenomena is to be directly known. Sustained thought regarding forms is to be directly known; sustained thought regarding sounds is to be directly known; sustained thought regarding smells is to be directly known; sustained thought regarding tastes is to be directly known; sustained thought regarding tactile objects is to be directly known; sustained thought regarding mental phenomena is to be directly known.
Mắt cần được thắng tri; tai cần được thắng tri; mũi cần được thắng tri; lưỡi cần được thắng tri; thân cần được thắng tri; ý cần được thắng tri. Các sắc cần được thắng tri; các tiếng cần được thắng tri; các mùi cần được thắng tri; các vị cần được thắng tri; các vật xúc chạm cần được thắng tri; các pháp cần được thắng tri. Nhãn thức cần được thắng tri; nhĩ thức cần được thắng tri; tỷ thức cần được thắng tri; thiệt thức cần được thắng tri; thân thức cần được thắng tri; ý thức cần được thắng tri. Nhãn xúc cần được thắng tri; nhĩ xúc cần được thắng tri; tỷ xúc cần được thắng tri; thiệt xúc cần được thắng tri; thân xúc cần được thắng tri; ý xúc cần được thắng tri. Thọ sanh do nhãn xúc cần được thắng tri; thọ sanh do nhĩ xúc cần được thắng tri; thọ sanh do tỷ xúc cần được thắng tri; thọ sanh do thiệt xúc cần được thắng tri; thọ sanh do thân xúc cần được thắng tri; thọ sanh do ý xúc cần được thắng tri. Tưởng về sắc cần được thắng tri; tưởng về tiếng cần được thắng tri; tưởng về mùi cần được thắng tri; tưởng về vị cần được thắng tri; tưởng về vật xúc chạm cần được thắng tri; tưởng về pháp cần được thắng tri. Tư về sắc cần được thắng tri; tư về tiếng cần được thắng tri; tư về mùi cần được thắng tri; tư về vị cần được thắng tri; tư về vật xúc chạm cần được thắng tri; tư về pháp cần được thắng tri. Ái về sắc cần được thắng tri; ái về tiếng cần được thắng tri; ái về mùi cần được thắng tri; ái về vị cần được thắng tri; ái về vật xúc chạm cần được thắng tri; ái về pháp cần được thắng tri. Tầm về sắc cần được thắng tri; tầm về tiếng cần được thắng tri; tầm về mùi cần được thắng tri; tầm về vị cần được thắng tri; tầm về vật xúc chạm cần được thắng tri; tầm về pháp cần được thắng tri. Tứ về sắc cần được thắng tri; tứ về tiếng cần được thắng tri; tứ về mùi cần được thắng tri; tứ về vị cần được thắng tri; tứ về vật xúc chạm cần được thắng tri; tứ về pháp cần được thắng tri.
4. Pathavīdhātu abhiññeyyā; āpodhātu abhiññeyyā; tejodhātu abhiññeyyā; vāyodhātu abhiññeyyā; ākāsadhātu abhiññeyyā; viññāṇadhātu abhiññeyyā.
4. The earth element is to be known through higher knowledge; the water element is to be known through higher knowledge; the fire element is to be known through higher knowledge; the air element is to be known through higher knowledge; the space element is to be known through higher knowledge; the consciousness element is to be known through higher knowledge.
4. Địa đại cần được thắng tri; thủy đại cần được thắng tri; hỏa đại cần được thắng tri; phong đại cần được thắng tri; không đại cần được thắng tri; thức đại cần được thắng tri.
Pathavīkasiṇaṃ abhiññeyyaṃ; āpokasiṇaṃ abhiññeyyaṃ; tejokasiṇaṃ abhiññeyyaṃ; vāyokasiṇaṃ abhiññeyyaṃ; nīlakasiṇaṃ abhiññeyyaṃ; pītakasiṇaṃ abhiññeyyaṃ; lohitakasiṇaṃ abhiññeyyaṃ; odātakasiṇaṃ abhiññeyyaṃ; ākāsakasiṇaṃ abhiññeyyaṃ; viññāṇakasiṇaṃ abhiññeyyaṃ.
The earth kasina is to be known through higher knowledge; the water kasina is to be known through higher knowledge; the fire kasina is to be known through higher knowledge; the air kasina is to be known through higher knowledge; the blue kasina is to be known through higher knowledge; the yellow kasina is to be known through higher knowledge; the red kasina is to be known through higher knowledge; the white kasina is to be known through higher knowledge; the space kasina is to be known through higher knowledge; the consciousness kasina is to be known through higher knowledge.
Biến xứ đất cần được thắng tri; biến xứ nước cần được thắng tri; biến xứ lửa cần được thắng tri; biến xứ gió cần được thắng tri; biến xứ xanh cần được thắng tri; biến xứ vàng cần được thắng tri; biến xứ đỏ cần được thắng tri; biến xứ trắng cần được thắng tri; biến xứ hư không cần được thắng tri; biến xứ thức cần được thắng tri.
Kesā abhiññeyyā; lomā abhiññeyyā; nakhā abhiññeyyā; dantā abhiññeyyā; taco abhiññeyyo, maṃsaṃ abhiññeyyaṃ; nhārū † abhiññeyyā; aṭṭhī abhiññeyyā; aṭṭhimiñjā abhiññeyyā †; vakkaṃ abhiññeyyaṃ; hadayaṃ abhiññeyyaṃ; yakanaṃ abhiññeyyaṃ; kilomakaṃ abhiññeyyaṃ; pihakaṃ abhiññeyyaṃ; papphāsaṃ abhiññeyyaṃ; antaṃ abhiññeyyaṃ antaguṇaṃ abhiññeyyaṃ; udariyaṃ abhiññeyyaṃ; karīsaṃ abhiññeyyaṃ; pittaṃ abhiññeyyaṃ; semhaṃ abhiññeyyaṃ; pubbo abhiññeyyo; lohitaṃ abhiññeyyaṃ; sedo abhiññeyyo; medo abhiññeyyo; assu abhiññeyyaṃ; vasā abhiññeyyā; kheḷo abhiññeyyo; siṅghāṇikā abhiññeyyā; lasikā abhiññeyyā; muttaṃ abhiññeyyaṃ; matthaluṅgaṃ abhiññeyyaṃ.
Hair of the head is to be known through higher knowledge; hair of the body is to be known through higher knowledge; nails are to be known through higher knowledge; teeth are to be known through higher knowledge; skin is to be known through higher knowledge; flesh is to be known through higher knowledge; sinews are to be known through higher knowledge; bones are to be known through higher knowledge; bone marrow is to be known through higher knowledge; the kidneys are to be known through higher knowledge; the heart is to be known through higher knowledge; the liver is to be known through higher knowledge; the pleura is to be known through higher knowledge; the spleen is to be known through higher knowledge; the lungs are to be known through higher knowledge; the large intestine is to be known through higher knowledge; the small intestine is to be known through higher knowledge; undigested food is to be known through higher knowledge; feces are to be known through higher knowledge; bile is to be known through higher knowledge; phlegm is to be known through higher knowledge; pus is to be known through higher knowledge; blood is to be known through higher knowledge; sweat is to be known through higher knowledge; fat is to be known through higher knowledge; tears are to be known through higher knowledge; serum is to be known through higher knowledge; saliva is to be known through higher knowledge; mucus is to be known through higher knowledge; synovial fluid is to be known through higher knowledge; urine is to be known through higher knowledge; the brain is to be known through higher knowledge.
Tóc cần được thắng tri; lông cần được thắng tri; móng cần được thắng tri; răng cần được thắng tri; da cần được thắng tri, thịt cần được thắng tri; gân cần được thắng tri; xương cần được thắng tri; tủy xương cần được thắng tri; thận cần được thắng tri; tim cần được thắng tri; gan cần được thắng tri; màng bao cần được thắng tri; lá lách cần được thắng tri; phổi cần được thắng tri; ruột già cần được thắng tri, ruột non cần được thắng tri; thức ăn mới cần được thắng tri; phân cần được thắng tri; mật cần được thắng tri; đàm cần được thắng tri; mủ cần được thắng tri; máu cần được thắng tri; mồ hôi cần được thắng tri; mỡ đặc cần được thắng tri; nước mắt cần được thắng tri; mỡ lỏng cần được thắng tri; nước miếng cần được thắng tri; nước mũi cần được thắng tri; dịch khớp cần được thắng tri; nước tiểu cần được thắng tri; óc cần được thắng tri.
Cakkhāyatanaṃ abhiññeyyaṃ; rūpāyatanaṃ abhiññeyyaṃ. Sotāyatanaṃ abhiññeyyaṃ; saddāyatanaṃ abhiññeyyaṃ. Ghānāyatanaṃ abhiññeyyaṃ; gandhāyatanaṃ abhiññeyyaṃ. Jivhāyatanaṃ abhiññeyyaṃ; rasāyatanaṃ abhiññeyyaṃ. Kāyāyatanaṃ abhiññeyyaṃ; phoṭṭhabbāyatanaṃ abhiññeyyaṃ. Manāyatanaṃ abhiññeyyaṃ; dhammāyatanaṃ abhiññeyyaṃ.
The eye base is to be known through higher knowledge; the form base is to be known through higher knowledge. The ear base is to be known through higher knowledge; the sound base is to be known through higher knowledge. The nose base is to be known through higher knowledge; the odor base is to be known through higher knowledge. The tongue base is to be known through higher knowledge; the taste base is to be known through higher knowledge. The body base is to be known through higher knowledge; the tactile base is to be known through higher knowledge. The mind base is to be known through higher knowledge; the mental-object base is to be known through higher knowledge.
Nhãn xứ cần được thắng tri; sắc xứ cần được thắng tri. Nhĩ xứ cần được thắng tri; thanh xứ cần được thắng tri. Tỷ xứ cần được thắng tri; hương xứ cần được thắng tri. Thiệt xứ cần được thắng tri; vị xứ cần được thắng tri. Thân xứ cần được thắng tri; xúc xứ cần được thắng tri. Ý xứ cần được thắng tri; pháp xứ cần được thắng tri.
Cakkhudhātu abhiññeyyā; rūpadhātu abhiññeyyā; cakkhuviññāṇadhātu abhiññeyyā. Sotadhātu abhiññeyyā; saddadhātu abhiññeyyā; sotaviññāṇadhātu abhiññeyyā. Ghānadhātu abhiññeyyā; gandhadhātu abhiññeyyā; ghānaviññāṇadhātu abhiññeyyā. Jivhādhātu abhiññeyyā; rasadhātu abhiññeyyā; jivhāviññāṇadhātu abhiññeyyā. Kāyadhātu abhiññeyyā; phoṭṭhabbadhātu abhiññeyyā; kāyaviññāṇadhātu abhiññeyyā. Manodhātu abhiññeyyā; dhammadhātu abhiññeyyā; manoviññāṇadhātu abhiññeyyā.
The eye-element should be directly known; the form-element should be directly known; the eye-consciousness-element should be directly known. The ear-element should be directly known; the sound-element should be directly known; the ear-consciousness-element should be directly known. The nose-element should be directly known; the odor-element should be directly known; the nose-consciousness-element should be directly known. The tongue-element should be directly known; the taste-element should be directly known; the tongue-consciousness-element should be directly known. The body-element should be directly known; the tangible-element should be directly known; the body-consciousness-element should be directly known. The mind-element should be directly known; the mental-object-element should be directly known; the mind-consciousness-element should be directly known.
Nhãn giới cần được thắng tri; sắc giới cần được thắng tri; nhãn thức giới cần được thắng tri. Nhĩ giới cần được thắng tri; thanh giới cần được thắng tri; nhĩ thức giới cần được thắng tri. Tỷ giới cần được thắng tri; hương giới cần được thắng tri; tỷ thức giới cần được thắng tri. Thiệt giới cần được thắng tri; vị giới cần được thắng tri; thiệt thức giới cần được thắng tri. Thân giới cần được thắng tri; xúc giới cần được thắng tri; thân thức giới cần được thắng tri. Ý giới cần được thắng tri; pháp giới cần được thắng tri; ý thức giới cần được thắng tri.
Cakkhundriyaṃ abhiññeyyaṃ; sotindriyaṃ abhiññeyyaṃ; ghānindriyaṃ abhiññeyyaṃ; jivhindriyaṃ abhiññeyyaṃ; kāyindriyaṃ abhiññeyyaṃ; manindriyaṃ abhiññeyyaṃ; jīvitindriyaṃ abhiññeyyaṃ; itthindriyaṃ abhiññeyyaṃ; purisindriyaṃ abhiññeyyaṃ; sukhindriyaṃ abhiññeyyaṃ; dukkhindriyaṃ abhiññeyyaṃ; somanassindriyaṃ abhiññeyyaṃ; domanassindriyaṃ abhiññeyyaṃ; upekkhindriyaṃ abhiññeyyaṃ; saddhindriyaṃ abhiññeyyaṃ; vīriyindriyaṃ † abhiññeyyaṃ; satindriyaṃ abhiññeyyaṃ; samādhindriyaṃ abhiññeyyaṃ; paññindriyaṃ abhiññeyyaṃ; anaññātaññassāmītindriyaṃ abhiññeyyaṃ; aññindriyaṃ abhiññeyyaṃ; aññātāvindriyaṃ abhiññeyyaṃ.
The eye-faculty should be directly known; the ear-faculty should be directly known; the nose-faculty should be directly known; the tongue-faculty should be directly known; the body-faculty should be directly known; the mind-faculty should be directly known; the life-faculty should be directly known; the feminine faculty should be directly known; the masculine faculty should be directly known; the faculty of pleasant feeling should be directly known; the faculty of painful feeling should be directly known; the faculty of joy should be directly known; the faculty of sorrow should be directly known; the faculty of equanimity should be directly known; the faculty of faith should be directly known; the faculty of energy should be directly known; the faculty of mindfulness should be directly known; the faculty of concentration should be directly known; the faculty of wisdom should be directly known; the faculty of 'I shall come to know the unknown' should be directly known; the faculty of final knowledge should be directly known; the faculty of one who has final knowledge should be directly known.
Nhãn quyền cần được thắng tri; nhĩ quyền cần được thắng tri; tỷ quyền cần được thắng tri; thiệt quyền cần được thắng tri; thân quyền cần được thắng tri; ý quyền cần được thắng tri; mạng quyền cần được thắng tri; nữ quyền cần được thắng tri; nam quyền cần được thắng tri; lạc quyền cần được thắng tri; khổ quyền cần được thắng tri; hỷ quyền cần được thắng tri; ưu quyền cần được thắng tri; xả quyền cần được thắng tri; tín quyền cần được thắng tri; tấn quyền cần được thắng tri; niệm quyền cần được thắng tri; định quyền cần được thắng tri; tuệ quyền cần được thắng tri; vị tri cụ tri quyền cần được thắng tri; dĩ tri quyền cần được thắng tri; cụ tri quyền cần được thắng tri.
5. Kāmadhātu abhiññeyyā; rūpadhātu abhiññeyyā; arūpadhātu abhiññeyyā. Kāmabhavo abhiññeyyo; rūpabhavo abhiññeyyo; arūpabhavo abhiññeyyo. Saññābhavo abhiññeyyo; asaññābhavo abhiññeyyo; nevasaññānāsaññābhavo abhiññeyyo. Ekavokārabhavo abhiññeyyo; catuvokārabhavo abhiññeyyo; pañcavokārabhavo abhiññeyyo.
5. The sense-sphere should be directly known; the form-sphere should be directly known; the formless-sphere should be directly known. Sensual existence should be directly known; form existence should be directly known; formless existence should be directly known. Existence with perception should be directly known; existence without perception should be directly known; existence with neither perception nor non-perception should be directly known. One-constituent existence should be directly known; four-constituent existence should be directly known; five-constituent existence should be directly known.
5. Dục giới cần được thắng tri; sắc giới cần được thắng tri; vô sắc giới cần được thắng tri. Dục hữu cần được thắng tri; sắc hữu cần được thắng tri; vô sắc hữu cần được thắng tri. Tưởng hữu cần được thắng tri; vô tưởng hữu cần được thắng tri; phi tưởng phi phi tưởng hữu cần được thắng tri. Nhất uẩn hữu cần được thắng tri; tứ uẩn hữu cần được thắng tri; ngũ uẩn hữu cần được thắng tri.
6. Paṭhamaṃ jhānaṃ † abhiññeyyaṃ; dutiyaṃ jhānaṃ abhiññeyyaṃ; tatiyaṃ jhānaṃ abhiññeyyaṃ; catutthaṃ jhānaṃ abhiññeyyaṃ. Mettācetovimutti abhiññeyyā; karuṇācetovimutti abhiññeyyā; muditācetovimutti abhiññeyyā; upekkhācetovimutti abhiññeyyā. Ākāsānañcāyatanasamāpatti abhiññeyyā; viññāṇañcāyatanasamāpatti abhiññeyyā; ākiñcaññāyatanasamāpatti abhiññeyyā; nevasaññānāsaññāyatanasamāpatti abhiññeyyā.
6. The first jhāna is to be known through higher knowledge; the second jhāna is to be known through higher knowledge; the third jhāna is to be known through higher knowledge; the fourth jhāna is to be known through higher knowledge. The mind-liberation of loving-kindness is to be known through higher knowledge; the mind-liberation of compassion is to be known through higher knowledge; the mind-liberation of appreciative joy is to be known through higher knowledge; the mind-liberation of equanimity is to be known through higher knowledge. The attainment of the base of infinite space is to be known through higher knowledge; the attainment of the base of infinite consciousness is to be known through higher knowledge; the attainment of the base of nothingness is to be known through higher knowledge; the attainment of the base of neither perception nor non-perception is to be known through higher knowledge.
6. Sơ thiền cần được thắng tri; nhị thiền cần được thắng tri; tam thiền cần được thắng tri; tứ thiền cần được thắng tri. Từ tâm giải thoát cần được thắng tri; bi tâm giải thoát cần được thắng tri; hỷ tâm giải thoát cần được thắng tri; xả tâm giải thoát cần được thắng tri. Không vô biên xứ định cần được thắng tri; thức vô biên xứ định cần được thắng tri; vô sở hữu xứ định cần được thắng tri; phi tưởng phi phi tưởng xứ định cần được thắng tri.
Avijjā abhiññeyyā; saṅkhārā abhiññeyyā; viññāṇaṃ abhiññeyyaṃ; nāmarūpaṃ abhiññeyyaṃ; saḷāyatanaṃ abhiññeyyaṃ; phasso abhiññeyyo; vedanā abhiññeyyā; taṇhā abhiññeyyā; upādānaṃ abhiññeyyaṃ; bhavo abhiññeyyo; jāti abhiññeyyā; jarāmaraṇaṃ abhiññeyyaṃ.
Ignorance is to be known through higher knowledge; volitional formations are to be known through higher knowledge; consciousness is to be known through higher knowledge; name-and-form is to be known through higher knowledge; the six sense bases are to be known through higher knowledge; contact is to be known through higher knowledge; feeling is to be known through higher knowledge; craving is to be known through higher knowledge; clinging is to be known through higher knowledge; becoming is to be known through higher knowledge; birth is to be known through higher knowledge; aging and death are to be known through higher knowledge.
Vô minh cần được thắng tri; các hành cần được thắng tri; thức cần được thắng tri; danh-sắc cần được thắng tri; sáu xứ cần được thắng tri; xúc cần được thắng tri; thọ cần được thắng tri; ái cần được thắng tri; thủ cần được thắng tri; hữu cần được thắng tri; sanh cần được thắng tri; già-chết cần được thắng tri.
7. Dukkhaṃ abhiññeyyaṃ; dukkhasamudayo abhiññeyyo; dukkhanirodho abhiññeyyo; dukkhanirodhagāminī paṭipadā abhiññeyyā. Rūpaṃ abhiññeyyaṃ; rūpasamudayo abhiññeyyo; rūpanirodho abhiññeyyo; rūpanirodhagāminī paṭipadā abhiññeyyā. Vedanā abhiññeyyā…pe… saññā abhiññeyyā…pe… saṅkhārā abhiññeyyā…pe… viññāṇaṃ abhiññeyyaṃ. Cakkhu abhiññeyyaṃ…pe… jarāmaraṇaṃ abhiññeyyaṃ; jarāmaraṇasamudayo abhiññeyyo; jarāmaraṇanirodho abhiññeyyo; jarāmaraṇanirodhagāminī paṭipadā abhiññeyyā.
7. Suffering is to be known through higher knowledge; the origin of suffering is to be known through higher knowledge; the cessation of suffering is to be known through higher knowledge; the path leading to the cessation of suffering is to be known through higher knowledge. Form is to be known through higher knowledge; the origin of form is to be known through higher knowledge; the cessation of form is to be known through higher knowledge; the path leading to the cessation of form is to be known through higher knowledge. Feeling is to be known through higher knowledge… perception is to be known through higher knowledge… volitional formations are to be known through higher knowledge… consciousness is to be known through higher knowledge. The eye is to be known through higher knowledge… aging and death are to be known through higher knowledge; the origin of aging and death is to be known through higher knowledge; the cessation of aging and death is to be known through higher knowledge; the path leading to the cessation of aging and death is to be known through higher knowledge.
7. Khổ cần được thắng tri; khổ tập cần được thắng tri; khổ diệt cần được thắng tri; con đường đưa đến khổ diệt cần được thắng tri. Sắc cần được thắng tri; sắc tập cần được thắng tri; sắc diệt cần được thắng tri; con đường đưa đến sắc diệt cần được thắng tri. Thọ cần được thắng tri… vân vân… tưởng cần được thắng tri… vân vân… các hành cần được thắng tri… vân vân… thức cần được thắng tri. Mắt cần được thắng tri… vân vân… già-chết cần được thắng tri; già-chết tập cần được thắng tri; già-chết diệt cần được thắng tri; con đường đưa đến già-chết diệt cần được thắng tri.
Dukkhassa pariññaṭṭho abhiññeyyo; dukkhasamudayassa pahānaṭṭho abhiññeyyo; dukkhanirodhassa sacchikiriyaṭṭho abhiññeyyo; dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya bhāvanaṭṭho abhiññeyyo. Rūpassa pariññaṭṭho abhiññeyyo; rūpasamudayassa pahānaṭṭho abhiññeyyo; rūpanirodhassa sacchikiriyaṭṭho abhiññeyyo; rūpanirodhagāminiyā paṭipadāya bhāvanaṭṭho abhiññeyyo. Vedanāya…pe… saññāya… saṅkhārānaṃ… viññāṇassa… cakkhussa…pe… jarāmaraṇassa pariññaṭṭho abhiññeyyo; jarāmaraṇasamudayassa pahānaṭṭho abhiññeyyo; jarāmaraṇanirodhassa sacchikiriyaṭṭho abhiññeyyo; jarāmaraṇanirodhagāminiyā paṭipadāya bhāvanaṭṭho abhiññeyyo.
The meaning of full understanding concerning suffering is to be directly known; the meaning of abandoning concerning the origin of suffering is to be directly known; the meaning of realization concerning the cessation of suffering is to be directly known; the meaning of development concerning the path leading to the cessation of suffering is to be directly known. The meaning of full understanding concerning form is to be directly known; the meaning of abandoning concerning the origin of form is to be directly known; the meaning of realization concerning the cessation of form is to be directly known; the meaning of development concerning the path leading to the cessation of form is to be directly known. Concerning feeling… perception… formations… consciousness… the eye… aging and death, the meaning of full understanding is to be directly known; the meaning of abandoning concerning the origin of aging and death is to be directly known; the meaning of realization concerning the cessation of aging and death is to be directly known; the meaning of development concerning the path leading to the cessation of aging and death is to be directly known.
Ý nghĩa của sự liễu tri về khổ nên được thắng tri; ý nghĩa của sự đoạn tận về tập khởi của khổ nên được thắng tri; ý nghĩa của sự chứng ngộ về sự diệt khổ nên được thắng tri; ý nghĩa của sự tu tập về con đường đưa đến sự diệt khổ nên được thắng tri. Ý nghĩa của sự liễu tri về sắc nên được thắng tri; ý nghĩa của sự đoạn tận về tập khởi của sắc nên được thắng tri; ý nghĩa của sự chứng ngộ về sự diệt sắc nên được thắng tri; ý nghĩa của sự tu tập về con đường đưa đến sự diệt sắc nên được thắng tri. Về thọ… cho đến… về tưởng… về các hành… về thức… về mắt… cho đến… ý nghĩa của sự liễu tri về già-chết nên được thắng tri; ý nghĩa của sự đoạn tận về tập khởi của già-chết nên được thắng tri; ý nghĩa của sự chứng ngộ về sự diệt của già-chết nên được thắng tri; ý nghĩa của sự tu tập về con đường đưa đến sự diệt của già-chết nên được thắng tri.
Dukkhassa pariññāpaṭivedhaṭṭho abhiññeyyo; dukkhasamudayassa pahānapaṭivedhaṭṭho abhiññeyyo; dukkhanirodhassa sacchikiriyāpaṭivedhaṭṭho abhiññeyyo; dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya bhāvanāpaṭivedhaṭṭho abhiññeyyo. Rūpassa pariññāpaṭivedhaṭṭho abhiññeyyo; rūpasamudayassa pahānapaṭivedhaṭṭho abhiññeyyo; rūpanirodhassa sacchikiriyāpaṭivedhaṭṭho abhiññeyyo; rūpanirodhagāminiyā paṭipadāya bhāvanāpaṭivedhaṭṭho abhiññeyyo. Vedanāya…pe… saññāya… saṅkhārānaṃ… viññāṇassa… cakkhussa…pe… jarāmaraṇassa pariññāpaṭivedhaṭṭho abhiññeyyo; jarāmaraṇasamudayassa pahānapaṭivedhaṭṭho abhiññeyyo; jarāmaraṇanirodhassa sacchikiriyāpaṭivedhaṭṭho abhiññeyyo; jarāmaraṇanirodhagāminiyā paṭipadāya bhāvanāpaṭivedhaṭṭho abhiññeyyo.
The meaning of penetration through full understanding concerning suffering is to be directly known; the meaning of penetration through abandoning concerning the origin of suffering is to be directly known; the meaning of penetration through realization concerning the cessation of suffering is to be directly known; the meaning of penetration through development concerning the path leading to the cessation of suffering is to be directly known. The meaning of penetration through full understanding concerning form is to be directly known; the meaning of penetration through abandoning concerning the origin of form is to be directly known; the meaning of penetration through realization concerning the cessation of form is to be directly known; the meaning of penetration through development concerning the path leading to the cessation of form is to be directly known. Concerning feeling… perception… formations… consciousness… the eye… aging and death, the meaning of penetration through full understanding is to be directly known; the meaning of penetration through abandoning concerning the origin of aging and death is to be directly known; the meaning of penetration through realization concerning the cessation of aging and death is to be directly known; the meaning of penetration through development concerning the path leading to the cessation of aging and death is to be directly known.
Ý nghĩa của sự thông đạt bằng liễu tri về khổ nên được thắng tri; ý nghĩa của sự thông đạt bằng đoạn tận về tập khởi của khổ nên được thắng tri; ý nghĩa của sự thông đạt bằng chứng ngộ về sự diệt khổ nên được thắng tri; ý nghĩa của sự thông đạt bằng tu tập về con đường đưa đến sự diệt khổ nên được thắng tri. Ý nghĩa của sự thông đạt bằng liễu tri về sắc nên được thắng tri; ý nghĩa của sự thông đạt bằng đoạn tận về tập khởi của sắc nên được thắng tri; ý nghĩa của sự thông đạt bằng chứng ngộ về sự diệt sắc nên được thắng tri; ý nghĩa của sự thông đạt bằng tu tập về con đường đưa đến sự diệt sắc nên được thắng tri. Về thọ… cho đến… về tưởng… về các hành… về thức… về mắt… cho đến… ý nghĩa của sự thông đạt bằng liễu tri về già-chết nên được thắng tri; ý nghĩa của sự thông đạt bằng đoạn tận về tập khởi của già-chết nên được thắng tri; ý nghĩa của sự thông đạt bằng chứng ngộ về sự diệt của già-chết nên được thắng tri; ý nghĩa của sự thông đạt bằng tu tập về con đường đưa đến sự diệt của già-chết nên được thắng tri.
8. Dukkhaṃ abhiññeyyaṃ; dukkhasamudayo abhiññeyyo; dukkhanirodho abhiññeyyo; dukkhassa samudayanirodho abhiññeyyo; dukkhassa chandarāganirodho abhiññeyyo; dukkhassa assādo abhiññeyyo; dukkhassa ādīnavo abhiññeyyo; dukkhassa nissaraṇaṃ abhiññeyyaṃ. Rūpaṃ abhiññeyyaṃ; rūpasamudayo abhiññeyyo; rūpanirodho abhiññeyyo; rūpassa samudayanirodho abhiññeyyo; rūpassa chandarāganirodho abhiññeyyo; rūpassa assādo abhiññeyyo; rūpassa ādīnavo abhiññeyyo; rūpassa nissaraṇaṃ abhiññeyyaṃ. Vedanā abhiññeyyā…pe… saññā abhiññeyyā… saṅkhārā abhiññeyyā… viññāṇaṃ abhiññeyyaṃ… cakkhu abhiññeyyaṃ…pe… jarāmaraṇaṃ abhiññeyyaṃ; jarāmaraṇasamudayo abhiññeyyo; jarāmaraṇanirodho abhiññeyyo; jarāmaraṇassa samudayanirodho abhiññeyyo; jarāmaraṇassa chandarāganirodho abhiññeyyo; jarāmaraṇassa assādo abhiññeyyo; jarāmaraṇassa ādīnavo abhiññeyyo; jarāmaraṇassa nissaraṇaṃ abhiññeyyaṃ.
8. Suffering should be fully understood; the origin of suffering should be fully understood; the cessation of suffering should be fully understood; the cessation of the origin of suffering should be fully understood; the cessation of desire and lust for suffering should be fully understood; the gratification in suffering should be fully understood; the danger of suffering should be fully understood; the escape from suffering should be fully understood. Form should be fully understood; the origin of form should be fully understood; the cessation of form should be fully understood; the cessation of the origin of form should be fully understood; the cessation of desire and lust for form should be fully understood; the gratification in form should be fully understood; the danger of form should be fully understood; the escape from form should be fully understood. Feeling should be fully understood… perception should be fully understood… formations should be fully understood… consciousness should be fully understood… the eye should be fully understood… aging and death should be fully understood; the origin of aging and death should be fully understood; the cessation of aging and death should be fully understood; the cessation of the origin of aging and death should be fully understood; the cessation of desire and lust for aging and death should be fully understood; the gratification in aging and death should be fully understood; the danger of aging and death should be fully understood; the escape from aging and death should be fully understood.
8. Khổ nên được thắng tri; tập khởi của khổ nên được thắng tri; sự diệt khổ nên được thắng tri; sự diệt của tập khởi của khổ nên được thắng tri; sự diệt của dục tham đối với khổ nên được thắng tri; vị ngọt của khổ nên được thắng tri; sự nguy hại của khổ nên được thắng tri; sự xuất ly khỏi khổ nên được thắng tri. Sắc nên được thắng tri; tập khởi của sắc nên được thắng tri; sự diệt sắc nên được thắng tri; sự diệt của tập khởi của sắc nên được thắng tri; sự diệt của dục tham đối với sắc nên được thắng tri; vị ngọt của sắc nên được thắng tri; sự nguy hại của sắc nên được thắng tri; sự xuất ly khỏi sắc nên được thắng tri. Thọ nên được thắng tri… cho đến… tưởng nên được thắng tri… các hành nên được thắng tri… thức nên được thắng tri… mắt nên được thắng tri… cho đến… già-chết nên được thắng tri; tập khởi của già-chết nên được thắng tri; sự diệt của già-chết nên được thắng tri; sự diệt của tập khởi của già-chết nên được thắng tri; sự diệt của dục tham đối với già-chết nên được thắng tri; vị ngọt của già-chết nên được thắng tri; sự nguy hại của già-chết nên được thắng tri; sự xuất ly khỏi già-chết nên được thắng tri.
Dukkhaṃ abhiññeyyaṃ; dukkhasamudayo abhiññeyyo; dukkhanirodho abhiññeyyo; dukkhanirodhagāminī paṭipadā abhiññeyyā; dukkhassa assādo abhiññeyyo; dukkhassa ādīnavo abhiññeyyo; dukkhassa nissaraṇaṃ abhiññeyyaṃ. Rūpaṃ abhiññeyyaṃ; rūpasamudayo abhiññeyyo; rūpanirodho abhiññeyyo; rūpanirodhagāminī paṭipadā abhiññeyyā; rūpassa assādo abhiññeyyo; rūpassa ādīnavo abhiññeyyo; rūpassa nissaraṇaṃ abhiññeyyaṃ. Vedanā abhiññeyyā…pe… saññā abhiññeyyā… saṅkhārā abhiññeyyā… viññāṇaṃ abhiññeyyaṃ… cakkhu abhiññeyyaṃ…pe… jarāmaraṇaṃ abhiññeyyaṃ; jarāmaraṇasamudayo abhiññeyyo; jarāmaraṇanirodho abhiññeyyo; jarāmaraṇanirodhagāminī paṭipadā abhiññeyyā; jarāmaraṇassa assādo abhiññeyyo; jarāmaraṇassa ādīnavo abhiññeyyo; jarāmaraṇassa nissaraṇaṃ abhiññeyyaṃ.
Suffering should be known through direct knowledge; the origin of suffering should be known through direct knowledge; the cessation of suffering should be known through direct knowledge; the path leading to the cessation of suffering should be known through direct knowledge; the gratification in suffering should be known through direct knowledge; the danger of suffering should be known through direct knowledge; the escape from suffering should be known through direct knowledge. Form should be known through direct knowledge; the origin of form should be known through direct knowledge; the cessation of form should be known through direct knowledge; the path leading to the cessation of form should be known through direct knowledge; the gratification in form should be known through direct knowledge; the danger of form should be known through direct knowledge; the escape from form should be known through direct knowledge. Feeling should be known through direct knowledge… perception should be known through direct knowledge… formations should be known through direct knowledge… consciousness should be known through direct knowledge… the eye should be known through direct knowledge… aging and death should be known through direct knowledge; the origin of aging and death should be known through direct knowledge; the cessation of aging and death should be known through direct knowledge; the path leading to the cessation of aging and death should be known through direct knowledge; the gratification in aging and death should be known through direct knowledge; the danger of aging and death should be known through direct knowledge; the escape from aging and death should be known through direct knowledge.
Khổ nên được thắng tri; tập khởi của khổ nên được thắng tri; sự diệt khổ nên được thắng tri; con đường đưa đến sự diệt khổ nên được thắng tri; vị ngọt của khổ nên được thắng tri; sự nguy hại của khổ nên được thắng tri; sự xuất ly khỏi khổ nên được thắng tri. Sắc nên được thắng tri; tập khởi của sắc nên được thắng tri; sự diệt sắc nên được thắng tri; con đường đưa đến sự diệt sắc nên được thắng tri; vị ngọt của sắc nên được thắng tri; sự nguy hại của sắc nên được thắng tri; sự xuất ly khỏi sắc nên được thắng tri. Thọ nên được thắng tri… cho đến… tưởng nên được thắng tri… các hành nên được thắng tri… thức nên được thắng tri… mắt nên được thắng tri… cho đến… già-chết nên được thắng tri; tập khởi của già-chết nên được thắng tri; sự diệt của già-chết nên được thắng tri; con đường đưa đến sự diệt của già-chết nên được thắng tri; vị ngọt của già-chết nên được thắng tri; sự nguy hại của già-chết nên được thắng tri; sự xuất ly khỏi già-chết nên được thắng tri.
9. Aniccānupassanā abhiññeyyā; dukkhānupassanā abhiññeyyā; anattānupassanā abhiññeyyā; nibbidānupassanā abhiññeyyā; virāgānupassanā abhiññeyyā; nirodhānupassanā abhiññeyyā; paṭinissaggānupassanā abhiññeyyā. Rūpe aniccānupassanā abhiññeyyā; rūpe dukkhānupassanā abhiññeyyā; rūpe anattānupassanā abhiññeyyā; rūpe nibbidānupassanā abhiññeyyā; rūpe virāgānupassanā abhiññeyyā; rūpe nirodhānupassanā abhiññeyyā; rūpe paṭinissaggānupassanā abhiññeyyā. Vedanāya…pe… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe… cakkhusmiṃ…pe… jarāmaraṇe aniccānupassanā abhiññeyyā; jarāmaraṇe dukkhānupassanā abhiññeyyā; jarāmaraṇe anattānupassanā abhiññeyyā; jarāmaraṇe nibbidānupassanā abhiññeyyā; jarāmaraṇe virāgānupassanā abhiññeyyā; jarāmaraṇe nirodhānupassanā abhiññeyyā; jarāmaraṇe paṭinissaggānupassanā abhiññeyyā.
9. The contemplation of impermanence should be fully understood; the contemplation of suffering should be fully understood; the contemplation of not-self should be fully understood; the contemplation of disenchantment should be fully understood; the contemplation of dispassion should be fully understood; the contemplation of cessation should be fully understood; the contemplation of relinquishment should be fully understood. The contemplation of impermanence in form should be fully understood; the contemplation of suffering in form should be fully understood; the contemplation of not-self in form should be fully understood; the contemplation of disenchantment in form should be fully understood; the contemplation of dispassion in form should be fully understood; the contemplation of cessation in form should be fully understood; the contemplation of relinquishment in form should be fully understood. In feeling... in perception... in formations... in consciousness... in the eye... in aging and death, the contemplation of impermanence should be fully understood; the contemplation of suffering in aging and death should be fully understood; the contemplation of not-self in aging and death should be fully understood; the contemplation of disenchantment in aging and death should be fully understood; the contemplation of dispassion in aging and death should be fully understood; the contemplation of cessation in aging and death should be fully understood; the contemplation of relinquishment in aging and death should be fully understood.
9. Vô thường tùy quán nên được thắng tri; khổ tùy quán nên được thắng tri; vô ngã tùy quán nên được thắng tri; yếm ly tùy quán nên được thắng tri; ly tham tùy quán nên được thắng tri; đoạn diệt tùy quán nên được thắng tri; xả ly tùy quán nên được thắng tri. Vô thường tùy quán ở nơi sắc nên được thắng tri; khổ tùy quán ở nơi sắc nên được thắng tri; vô ngã tùy quán ở nơi sắc nên được thắng tri; yếm ly tùy quán ở nơi sắc nên được thắng tri; ly tham tùy quán ở nơi sắc nên được thắng tri; đoạn diệt tùy quán ở nơi sắc nên được thắng tri; xả ly tùy quán ở nơi sắc nên được thắng tri. Ở nơi thọ… cho đến… ở nơi tưởng… ở nơi các hành… ở nơi thức… ở nơi mắt… cho đến… vô thường tùy quán ở nơi già-chết nên được thắng tri; khổ tùy quán ở nơi già-chết nên được thắng tri; vô ngã tùy quán ở nơi già-chết nên được thắng tri; yếm ly tùy quán ở nơi già-chết nên được thắng tri; ly tham tùy quán ở nơi già-chết nên được thắng tri; đoạn diệt tùy quán ở nơi già-chết nên được thắng tri; xả ly tùy quán ở nơi già-chết nên được thắng tri.
10. Uppādo abhiññeyyo; pavattaṃ abhiññeyyaṃ; nimittaṃ abhiññeyyaṃ; āyūhanā † abhiññeyyā; paṭisandhi abhiññeyyā; gati abhiññeyyā; nibbatti abhiññeyyā; upapatti abhiññeyyā; jāti abhiññeyyā; jarā abhiññeyyā; byādhi abhiññeyyo, maraṇaṃ abhiññeyyaṃ; soko abhiññeyyo; paridevo abhiññeyyo; upāyāso abhiññeyyo.
10. Arising should be fully understood; occurrence should be fully understood; the sign should be fully understood; striving should be fully understood; rebirth-linking should be fully understood; destiny should be fully understood; production should be fully understood; re-arising should be fully understood; birth should be fully understood; aging should be fully understood; illness should be fully understood; death should be fully understood; sorrow should be fully understood; lamentation should be fully understood; despair should be fully understood.
10. Sự sanh khởi nên được thắng tri; sự diễn tiến nên được thắng tri; tướng nên được thắng tri; sự tích lũy nên được thắng tri; sự tái sanh nên được thắng tri; thú nên được thắng tri; sự thành tựu nên được thắng tri; sự hóa sanh nên được thắng tri; sanh nên được thắng tri; già nên được thắng tri; bệnh nên được thắng tri; chết nên được thắng tri; sầu nên được thắng tri; bi nên được thắng tri; não nên được thắng tri.
Anuppādo abhiññeyyo; appavattaṃ abhiññeyyaṃ; animittaṃ abhiññeyyaṃ; anāyūhanā † abhiññeyyā; appaṭisandhi abhiññeyyā; agati abhiññeyyā; anibbatti abhiññeyyā; anupapatti abhiññeyyā; ajāti abhiññeyyā; ajarā abhiññeyyā; abyādhi abhiññeyyo; amataṃ abhiññeyyaṃ; asoko abhiññeyyo; aparidevo abhiññeyyo; anupāyāso abhiññeyyo.
Non-arising should be fully understood; non-occurrence should be fully understood; signlessness should be fully understood; non-striving should be fully understood; non-rebirth-linking should be fully understood; non-destiny should be fully understood; non-production should be fully understood; non-re-arising should be fully understood; non-birth should be fully understood; non-aging should be fully understood; non-illness should be fully understood; deathlessness should be fully understood; sorrowlessness should be fully understood; non-lamentation should be fully understood; despairlessness should be fully understood.
Cần phải thắng tri sự không sanh khởi; cần phải thắng tri sự không diễn tiến; cần phải thắng tri sự vô tướng; cần phải thắng tri sự không nỗ lực; cần phải thắng tri sự không tái sanh; cần phải thắng tri sự không có sanh thú; cần phải thắng tri sự không thành tựu; cần phải thắng tri sự không tái hiện; cần phải thắng tri sự không sanh; cần phải thắng tri sự không già; cần phải thắng tri sự không bệnh; cần phải thắng tri sự bất tử; cần phải thắng tri sự không sầu; cần phải thắng tri sự không bi; cần phải thắng tri sự không não.
Uppādo abhiññeyyo; anuppādo abhiññeyyo; pavattaṃ abhiññeyyaṃ; appavattaṃ abhiññeyyaṃ. Nimittaṃ abhiññeyyaṃ; animittaṃ abhiññeyyaṃ. Āyūhanā abhiññeyyā; anāyūhanā abhiññeyyā. Paṭisandhi abhiññeyyā; appaṭisandhi abhiññeyyā. Gati abhiññeyyā; agati abhiññeyyā. Nibbatti abhiññeyyā; anibbatti abhiññeyyā. Upapatti abhiññeyyā; anupapatti abhiññeyyā. Jāti abhiññeyyā; ajāti abhiññeyyā. Jarā abhiññeyyā; ajarā abhiññeyyā. Byādhi abhiññeyyo; abyādhi abhiññeyyo. Maraṇaṃ abhiññeyyaṃ; amataṃ abhiññeyyaṃ. Soko abhiññeyyo; asoko abhiññeyyo. Paridevo abhiññeyyo; aparidevo abhiññeyyo. Upāyāso abhiññeyyo; anupāyāso abhiññeyyo.
Arising should be fully understood; non-arising should be fully understood. Occurrence should be fully understood; non-occurrence should be fully understood. The sign should be fully understood; the signless should be fully understood. Exertion should be fully understood; non-exertion should be fully understood. Rebirth-linking should be fully understood; non-rebirth-linking should be fully understood. Destiny should be fully understood; the absence of destiny should be fully understood. Production should be fully understood; non-production should be fully understood. Re-arising should be fully understood; non-re-arising should be fully understood. Birth should be fully understood; non-birth should be fully understood. Aging should be fully understood; non-aging should be fully understood. Illness should be fully understood; non-illness should be fully understood. Death should be fully understood; the deathless should be fully understood. Sorrow should be fully understood; sorrowlessness should be fully understood. Lamentation should be fully understood; non-lamentation should be fully understood. Distress should be fully understood; non-distress should be fully understood.
Cần phải thắng tri sự sanh khởi; cần phải thắng tri sự không sanh khởi. Cần phải thắng tri sự diễn tiến; cần phải thắng tri sự không diễn tiến. Cần phải thắng tri tướng; cần phải thắng tri sự vô tướng. Cần phải thắng tri sự nỗ lực; cần phải thắng tri sự không nỗ lực. Cần phải thắng tri sự tái sanh; cần phải thắng tri sự không tái sanh. Cần phải thắng tri sanh thú; cần phải thắng tri sự không có sanh thú. Cần phải thắng tri sự thành tựu; cần phải thắng tri sự không thành tựu. Cần phải thắng tri sự tái hiện; cần phải thắng tri sự không tái hiện. Cần phải thắng tri sự sanh; cần phải thắng tri sự không sanh. Cần phải thắng tri sự già; cần phải thắng tri sự không già. Cần phải thắng tri sự bệnh; cần phải thắng tri sự không bệnh. Cần phải thắng tri sự chết; cần phải thắng tri sự bất tử. Cần phải thắng tri sự sầu; cần phải thắng tri sự không sầu. Cần phải thắng tri sự bi; cần phải thắng tri sự không bi. Cần phải thắng tri sự não; cần phải thắng tri sự không não.
Uppādo dukkhanti abhiññeyyaṃ. Pavattaṃ dukkhanti abhiññeyyaṃ. Nimittaṃ dukkhanti abhiññeyyaṃ. Āyūhanā dukkhanti abhiññeyyaṃ. Paṭisandhi dukkhanti abhiññeyyaṃ. Gati dukkhanti abhiññeyyaṃ. Nibbatti dukkhanti abhiññeyyaṃ. Upapatti dukkhanti abhiññeyyaṃ. Jāti dukkhanti abhiññeyyaṃ. Jarā dukkhanti abhiññeyyaṃ. Byādhi dukkhanti abhiññeyyaṃ. Maraṇaṃ dukkhanti abhiññeyyaṃ. Soko dukkhanti abhiññeyyaṃ. Paridevo dukkhanti abhiññeyyaṃ. Upāyāso dukkhanti abhiññeyyaṃ.
Arising is suffering—this should be fully understood. Occurrence is suffering—this should be fully understood. The sign is suffering—this should be fully understood. Exertion is suffering—this should be fully understood. Rebirth-linking is suffering—this should be fully understood. Destiny is suffering—this should be fully understood. Production is suffering—this should be fully understood. Re-arising is suffering—this should be fully understood. Birth is suffering—this should be fully understood. Aging is suffering—this should be fully understood. Illness is suffering—this should be fully understood. Death is suffering—this should be fully understood. Sorrow is suffering—this should be fully understood. Lamentation is suffering—this should be fully understood. Distress is suffering—this should be fully understood.
Cần phải thắng tri sự sanh khởi là khổ. Cần phải thắng tri sự diễn tiến là khổ. Cần phải thắng tri tướng là khổ. Cần phải thắng tri sự nỗ lực là khổ. Cần phải thắng tri sự tái sanh là khổ. Cần phải thắng tri sanh thú là khổ. Cần phải thắng tri sự thành tựu là khổ. Cần phải thắng tri sự tái hiện là khổ. Cần phải thắng tri sự sanh là khổ. Cần phải thắng tri sự già là khổ. Cần phải thắng tri sự bệnh là khổ. Cần phải thắng tri sự chết là khổ. Cần phải thắng tri sự sầu là khổ. Cần phải thắng tri sự bi là khổ. Cần phải thắng tri sự não là khổ.
Anuppādo sukhanti abhiññeyyaṃ. Appavattaṃ sukhanti abhiññeyyaṃ. Animittaṃ sukhanti abhiññeyyaṃ. Anāyūhanā sukhanti abhiññeyyaṃ. Appaṭisandhi sukhanti abhiññeyyaṃ. Agati sukhanti abhiññeyyaṃ. Anibbatti sukhanti abhiññeyyaṃ. Anupapatti sukhanti abhiññeyyaṃ. Ajāti sukhanti abhiññeyyaṃ. Ajarā sukhanti abhiññeyyaṃ. Abyādhi sukhanti abhiññeyyaṃ. Amataṃ sukhanti abhiññeyyaṃ. Asoko sukhanti abhiññeyyaṃ. Aparidevo sukhanti abhiññeyyaṃ. Anupāyāso sukhanti abhiññeyyaṃ.
Non-arising should be known through direct knowledge as happiness. Non-occurrence should be known through direct knowledge as happiness. The signless should be known through direct knowledge as happiness. Non-striving should be known through direct knowledge as happiness. Non-rebirth-linking should be known through direct knowledge as happiness. The state without a destination should be known through direct knowledge as happiness. Non-production should be known through direct knowledge as happiness. Non-reappearance should be known through direct knowledge as happiness. Non-birth should be known through direct knowledge as happiness. The unaging state should be known through direct knowledge as happiness. The state without illness should be known through direct knowledge as happiness. The deathless should be known through direct knowledge as happiness. The state without sorrow should be known through direct knowledge as happiness. The state without lamentation should be known through direct knowledge as happiness. The state without despair should be known through direct knowledge as happiness.
Cần phải thắng tri sự không sanh khởi là lạc. Cần phải thắng tri sự không diễn tiến là lạc. Cần phải thắng tri sự vô tướng là lạc. Cần phải thắng tri sự không nỗ lực là lạc. Cần phải thắng tri sự không tái sanh là lạc. Cần phải thắng tri sự không có sanh thú là lạc. Cần phải thắng tri sự không thành tựu là lạc. Cần phải thắng tri sự không tái hiện là lạc. Cần phải thắng tri sự không sanh là lạc. Cần phải thắng tri sự không già là lạc. Cần phải thắng tri sự không bệnh là lạc. Cần phải thắng tri sự bất tử là lạc. Cần phải thắng tri sự không sầu là lạc. Cần phải thắng tri sự không bi là lạc. Cần phải thắng tri sự không não là lạc.
Uppādo dukkhaṃ, anuppādo sukhanti abhiññeyyaṃ. Pavattaṃ dukkhaṃ, appavattaṃ sukhanti abhiññeyyaṃ. Nimittaṃ dukkhaṃ, animittaṃ sukhanti abhiññeyyaṃ. Āyūhanā dukkhaṃ, anāyūhanā sukhanti abhiññeyyaṃ. Paṭisandhi dukkhaṃ, appaṭisandhi sukhanti abhiññeyyaṃ. Gati dukkhaṃ, agati sukhanti abhiññeyyaṃ. Nibbatti dukkhaṃ, anibbatti sukhanti abhiññeyyaṃ. Upapatti dukkhaṃ, anupapatti sukhanti abhiññeyyaṃ. Jāti dukkhaṃ, ajāti sukhanti abhiññeyyaṃ. Jarā dukkhaṃ, ajarā sukhanti abhiññeyyaṃ. Byādhi dukkhaṃ, abyādhi sukhanti abhiññeyyaṃ. Maraṇaṃ dukkhaṃ, amataṃ sukhanti abhiññeyyaṃ. Soko dukkhaṃ, asoko sukhanti abhiññeyyaṃ. Paridevo dukkhaṃ, aparidevo sukhanti abhiññeyyaṃ. Upāyāso dukkhaṃ, anupāyāso sukhanti abhiññeyyaṃ.
Arising is suffering; non-arising should be known through direct knowledge as happiness. Occurrence is suffering; non-occurrence should be known through direct knowledge as happiness. A sign is suffering; the signless should be known through direct knowledge as happiness. Striving is suffering; non-striving should be known through direct knowledge as happiness. Rebirth-linking is suffering; non-rebirth-linking should be known through direct knowledge as happiness. A destination is suffering; the state without a destination should be known through direct knowledge as happiness. Production is suffering; non-production should be known through direct knowledge as happiness. Reappearance is suffering; non-reappearance should be known through direct knowledge as happiness. Birth is suffering; non-birth should be known through direct knowledge as happiness. Aging is suffering; the unaging state should be known through direct knowledge as happiness. Illness is suffering; the state without illness should be known through direct knowledge as happiness. Death is suffering; the deathless should be known through direct knowledge as happiness. Sorrow is suffering; the state without sorrow should be known through direct knowledge as happiness. Lamentation is suffering; the state without lamentation should be known through direct knowledge as happiness. Despair is suffering; the state without despair should be known through direct knowledge as happiness.
Cần phải thắng tri rằng sự sanh khởi là khổ, sự không sanh khởi là lạc. Cần phải thắng tri rằng sự diễn tiến là khổ, sự không diễn tiến là lạc. Cần phải thắng tri rằng tướng là khổ, sự vô tướng là lạc. Cần phải thắng tri rằng sự nỗ lực là khổ, sự không nỗ lực là lạc. Cần phải thắng tri rằng sự tái sanh là khổ, sự không tái sanh là lạc. Cần phải thắng tri rằng sanh thú là khổ, sự không có sanh thú là lạc. Cần phải thắng tri rằng sự thành tựu là khổ, sự không thành tựu là lạc. Cần phải thắng tri rằng sự tái hiện là khổ, sự không tái hiện là lạc. Cần phải thắng tri rằng sự sanh là khổ, sự không sanh là lạc. Cần phải thắng tri rằng sự già là khổ, sự không già là lạc. Cần phải thắng tri rằng sự bệnh là khổ, sự không bệnh là lạc. Cần phải thắng tri rằng sự chết là khổ, sự bất tử là lạc. Cần phải thắng tri rằng sự sầu là khổ, sự không sầu là lạc. Cần phải thắng tri rằng sự bi là khổ, sự không bi là lạc. Cần phải thắng tri rằng sự não là khổ, sự không não là lạc.
Uppādo bhayanti abhiññeyyaṃ. Pavattaṃ bhayanti abhiññeyyaṃ. Nimittaṃ bhayanti abhiññeyyaṃ. Āyūhanā bhayanti abhiññeyyaṃ. Paṭisandhi bhayanti abhiññeyyaṃ. Gati bhayanti abhiññeyyaṃ. Nibbatti bhayanti abhiññeyyaṃ. Upapatti bhayanti abhiññeyyaṃ. Jāti bhayanti abhiññeyyaṃ. Jarā bhayanti abhiññeyyaṃ. Byādhi bhayanti abhiññeyyaṃ. Maraṇaṃ bhayanti abhiññeyyaṃ. Soko bhayanti abhiññeyyaṃ. Paridevo bhayanti abhiññeyyaṃ. Upāyāso bhayanti abhiññeyyaṃ.
Arising should be fully understood as fear. Occurrence should be fully understood as fear. The sign should be fully understood as fear. Accumulation should be fully understood as fear. Rebirth-linking should be fully understood as fear. Destiny should be fully understood as fear. Production should be fully understood as fear. Re-arising should be fully understood as fear. Birth should be fully understood as fear. Aging should be fully understood as fear. Illness should be fully understood as fear. Death should be fully understood as fear. Sorrow should be fully understood as fear. Lamentation should be fully understood as fear. Distress should be fully understood as fear.
Cần phải thắng tri sự sanh khởi là sự nguy hiểm. Cần phải thắng tri sự diễn tiến là sự nguy hiểm. Cần phải thắng tri tướng là sự nguy hiểm. Cần phải thắng tri sự nỗ lực là sự nguy hiểm. Cần phải thắng tri sự tái sanh là sự nguy hiểm. Cần phải thắng tri sanh thú là sự nguy hiểm. Cần phải thắng tri sự thành tựu là sự nguy hiểm. Cần phải thắng tri sự tái hiện là sự nguy hiểm. Cần phải thắng tri sự sanh là sự nguy hiểm. Cần phải thắng tri sự già là sự nguy hiểm. Cần phải thắng tri sự bệnh là sự nguy hiểm. Cần phải thắng tri sự chết là sự nguy hiểm. Cần phải thắng tri sự sầu là sự nguy hiểm. Cần phải thắng tri sự bi là sự nguy hiểm. Cần phải thắng tri sự não là sự nguy hiểm.
Anuppādo khemanti abhiññeyyaṃ. Appavattaṃ khemanti abhiññeyyaṃ. Animittaṃ khemanti abhiññeyyaṃ. Anāyūhanā khemanti abhiññeyyaṃ. Appaṭisandhi khemanti abhiññeyyaṃ. Agati khemanti abhiññeyyaṃ. Anibbatti khemanti abhiññeyyaṃ. Anupapatti khemanti abhiññeyyaṃ. Ajāti khemanti abhiññeyyaṃ. Ajarā khemanti abhiññeyyaṃ. Abyādhi khemanti abhiññeyyaṃ. Amataṃ khemanti abhiññeyyaṃ. Asoko khemanti abhiññeyyaṃ. Aparidevo khemanti abhiññeyyaṃ. Anupāyāso khemanti abhiññeyyaṃ.
Non-arising should be fully understood as security. Non-occurrence should be fully understood as security. Signlessness should be fully understood as security. Non-accumulation should be fully understood as security. Non-rebirth-linking should be fully understood as security. Non-destiny should be fully understood as security. Non-production should be fully understood as security. Non-re-arising should be fully understood as security. Non-birth should be fully understood as security. Non-aging should be fully understood as security. Non-illness should be fully understood as security. Deathlessness should be fully understood as security. Non-sorrow should be fully understood as security. Non-lamentation should be fully understood as security. Non-distress should be fully understood as security.
Cần phải thắng tri sự không sanh khởi là sự an ổn. Cần phải thắng tri sự không diễn tiến là sự an ổn. Cần phải thắng tri sự vô tướng là sự an ổn. Cần phải thắng tri sự không nỗ lực là sự an ổn. Cần phải thắng tri sự không tái sanh là sự an ổn. Cần phải thắng tri sự không có sanh thú là sự an ổn. Cần phải thắng tri sự không thành tựu là sự an ổn. Cần phải thắng tri sự không tái hiện là sự an ổn. Cần phải thắng tri sự không sanh là sự an ổn. Cần phải thắng tri sự không già là sự an ổn. Cần phải thắng tri sự không bệnh là sự an ổn. Cần phải thắng tri sự bất tử là sự an ổn. Cần phải thắng tri sự không sầu là sự an ổn. Cần phải thắng tri sự không bi là sự an ổn. Cần phải thắng tri sự không não là sự an ổn.
Uppādo bhayaṃ, anuppādo khemanti abhiññeyyaṃ. Pavattaṃ bhayaṃ, appavattaṃ khemanti abhiññeyyaṃ. Nimittaṃ bhayaṃ, animittaṃ khemanti abhiññeyyaṃ. Āyūhanā bhayaṃ, anāyūhanā khemanti abhiññeyyaṃ. Paṭisandhi bhayaṃ, appaṭisandhi khemanti abhiññeyyaṃ. Gati bhayaṃ, agati khemanti abhiññeyyaṃ. Nibbatti bhayaṃ, anibbatti khemanti abhiññeyyaṃ. Upapatti bhayaṃ, anupapatti khemanti abhiññeyyaṃ. Jāti bhayaṃ, ajāti khemanti abhiññeyyaṃ. Jarā bhayaṃ, ajarā khemanti abhiññeyyaṃ. Byādhi bhayaṃ, abyādhi khemanti abhiññeyyaṃ. Maraṇaṃ bhayaṃ, amataṃ khemanti abhiññeyyaṃ. Soko bhayaṃ, asoko khemanti abhiññeyyaṃ. Paridevo bhayaṃ, aparidevo khemanti abhiññeyyaṃ. Upāyāso bhayaṃ, anupāyāso khemanti abhiññeyyaṃ.
Arising is fear; non-arising is security—this should be fully understood. Occurrence is fear; non-occurrence is security—this should be fully understood. The sign is fear; signlessness is security—this should be fully understood. Striving is fear; non-striving is security—this should be fully understood. Rebirth-linking is fear; non-rebirth-linking is security—this should be fully understood. Destiny is fear; non-destiny is security—this should be fully understood. Generation is fear; non-generation is security—this should be fully understood. Reappearance is fear; non-reappearance is security—this should be fully understood. Birth is fear; non-birth is security—this should be fully understood. Aging is fear; non-aging is security—this should be fully understood. Illness is fear; non-illness is security—this should be fully understood. Death is fear; deathlessness is security—this should be fully understood. Sorrow is fear; sorrowlessness is security—this should be fully understood. Lamentation is fear; non-lamentation is security—this should be fully understood. Despair is fear; non-despair is security—this should be fully understood.
Sự sanh khởi là đáng sợ, sự không sanh khởi là an ổn' nên được thắng tri. Sự tiếp diễn là đáng sợ, sự không tiếp diễn là an ổn' nên được thắng tri. Tướng là đáng sợ, vô tướng là an ổn' nên được thắng tri. Sự cố gắng là đáng sợ, sự không cố gắng là an ổn' nên được thắng tri. Sự tái sanh là đáng sợ, sự không tái sanh là an ổn' nên được thắng tri. Cõi đi là đáng sợ, sự không có cõi đi là an ổn' nên được thắng tri. Sự hiện hữu là đáng sợ, sự không hiện hữu là an ổn' nên được thắng tri. Sự sanh lên là đáng sợ, sự không sanh lên là an ổn' nên được thắng tri. Sự sanh là đáng sợ, sự vô sanh là an ổn' nên được thắng tri. Sự già là đáng sợ, sự không già là an ổn' nên được thắng tri. Bệnh là đáng sợ, sự không bệnh là an ổn' nên được thắng tri. Sự chết là đáng sợ, sự bất tử là an ổn' nên được thắng tri. Sầu là đáng sợ, sự vô sầu là an ổn' nên được thắng tri. Bi ai là đáng sợ, sự không bi ai là an ổn' nên được thắng tri. Não là đáng sợ, sự không não là an ổn' nên được thắng tri.
Uppādo sāmisanti abhiññeyyaṃ. Pavattaṃ sāmisanti abhiññeyyaṃ. Nimittaṃ sāmisanti abhiññeyyaṃ. Āyūhanā sāmisanti abhiññeyyaṃ. Paṭisandhi sāmisanti abhiññeyyaṃ. Gati sāmisanti abhiññeyyaṃ. Nibbatti sāmisanti abhiññeyyaṃ. Upapatti sāmisanti abhiññeyyaṃ. Jāti sāmisanti abhiññeyyaṃ. Jarā sāmisanti abhiññeyyaṃ. Byādhi sāmisanti abhiññeyyaṃ. Maraṇaṃ sāmisanti abhiññeyyaṃ. Soko sāmisanti abhiññeyyaṃ. Paridevo sāmisanti abhiññeyyaṃ. Upāyāso sāmisanti abhiññeyyaṃ.
Arising should be fully understood as worldly. Occurrence should be fully understood as worldly. The sign should be fully understood as worldly. Striving should be fully understood as worldly. Rebirth-linking should be fully understood as worldly. Destiny should be fully understood as worldly. Generation should be fully understood as worldly. Reappearance should be fully understood as worldly. Birth should be fully understood as worldly. Aging should be fully understood as worldly. Illness should be fully understood as worldly. Death should be fully understood as worldly. Sorrow should be fully understood as worldly. Lamentation should be fully understood as worldly. Despair should be fully understood as worldly.
'Sự sanh khởi là hữu ái' nên được thắng tri. 'Sự tiếp diễn là hữu ái' nên được thắng tri. 'Tướng là hữu ái' nên được thắng tri. 'Sự cố gắng là hữu ái' nên được thắng tri. 'Sự tái sanh là hữu ái' nên được thắng tri. 'Cõi đi là hữu ái' nên được thắng tri. 'Sự hiện hữu là hữu ái' nên được thắng tri. 'Sự sanh lên là hữu ái' nên được thắng tri. 'Sự sanh là hữu ái' nên được thắng tri. 'Sự già là hữu ái' nên được thắng tri. 'Bệnh là hữu ái' nên được thắng tri. 'Sự chết là hữu ái' nên được thắng tri. 'Sầu là hữu ái' nên được thắng tri. 'Bi ai là hữu ái' nên được thắng tri. 'Não là hữu ái' nên được thắng tri.
Anuppādo nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Appavattaṃ nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Animittaṃ nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Anāyūhanā nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Appaṭisandhi nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Agati nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Anibbatti nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Anupapatti nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Ajāti nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Ajarā nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Abyādhi nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Amataṃ nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Asoko nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Aparidevo nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Anupāyāso nirāmisanti abhiññeyyaṃ.
Non-arising should be fully understood as unworldly. Non-continuance should be fully understood as unworldly. The signless should be fully understood as unworldly. Non-accumulation should be fully understood as unworldly. Non-linking-for-rebirth should be fully understood as unworldly. Having no destination should be fully understood as unworldly. Non-generation should be fully understood as unworldly. Non-reappearance should be fully understood as unworldly. Non-birth should be fully understood as unworldly. Non-aging should be fully understood as unworldly. Non-sickness should be fully understood as unworldly. The deathless should be fully understood as unworldly. Sorrowlessness should be fully understood as unworldly. Non-lamentation should be fully understood as unworldly. Non-despair should be fully understood as unworldly.
'Sự không sanh khởi là vô ái' nên được thắng tri. 'Sự không tiếp diễn là vô ái' nên được thắng tri. 'Vô tướng là vô ái' nên được thắng tri. 'Sự không cố gắng là vô ái' nên được thắng tri. 'Sự không tái sanh là vô ái' nên được thắng tri. 'Sự không có cõi đi là vô ái' nên được thắng tri. 'Sự không hiện hữu là vô ái' nên được thắng tri. 'Sự không sanh lên là vô ái' nên được thắng tri. 'Sự vô sanh là vô ái' nên được thắng tri. 'Sự không già là vô ái' nên được thắng tri. 'Sự không bệnh là vô ái' nên được thắng tri. 'Sự bất tử là vô ái' nên được thắng tri. 'Sự vô sầu là vô ái' nên được thắng tri. 'Sự không bi ai là vô ái' nên được thắng tri. 'Sự không não là vô ái' nên được thắng tri.
Uppādo sāmisaṃ, anuppādo nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Pavattaṃ sāmisaṃ, appavattaṃ nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Nimittaṃ sāmisaṃ, animittaṃ nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Āyūhanā sāmisaṃ, anāyūhanā nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Paṭisandhi sāmisaṃ, appaṭisandhi nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Gati sāmisaṃ, agati nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Nibbatti sāmisaṃ, anibbatti nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Upapatti sāmisaṃ, anupapatti nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Jāti sāmisaṃ, ajāti nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Jarā sāmisaṃ, ajarā nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Byādhi sāmisaṃ, abyādhi nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Maraṇaṃ sāmisaṃ, amataṃ nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Soko sāmisaṃ, asoko nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Paridevo sāmisaṃ, aparidevo nirāmisanti abhiññeyyaṃ. Upāyāso sāmisaṃ, anupāyāso nirāmisanti abhiññeyyaṃ.
Arising is worldly; non-arising should be fully understood as unworldly. Continuance is worldly; non-continuance should be fully understood as unworldly. The sign is worldly; the signless should be fully understood as unworldly. Accumulation is worldly; non-accumulation should be fully understood as unworldly. Linking for rebirth is worldly; non-linking-for-rebirth should be fully understood as unworldly. A destination is worldly; having no destination should be fully understood as unworldly. Generation is worldly; non-generation should be fully understood as unworldly. Reappearance is worldly; non-reappearance should be fully understood as unworldly. Birth is worldly; non-birth should be fully understood as unworldly. Aging is worldly; non-aging should be fully understood as unworldly. Sickness is worldly; non-sickness should be fully understood as unworldly. Death is worldly; the deathless should be fully understood as unworldly. Sorrow is worldly; sorrowlessness should be fully understood as unworldly. Lamentation is worldly; non-lamentation should be fully understood as unworldly. Despair is worldly; non-despair should be fully understood as unworldly.
Sự sanh khởi là hữu ái, 'sự không sanh khởi là vô ái' nên được thắng tri. Sự tiếp diễn là hữu ái, 'sự không tiếp diễn là vô ái' nên được thắng tri. Tướng là hữu ái, 'vô tướng là vô ái' nên được thắng tri. Sự cố gắng là hữu ái, 'sự không cố gắng là vô ái' nên được thắng tri. Sự tái sanh là hữu ái, 'sự không tái sanh là vô ái' nên được thắng tri. Cõi đi là hữu ái, 'sự không có cõi đi là vô ái' nên được thắng tri. Sự hiện hữu là hữu ái, 'sự không hiện hữu là vô ái' nên được thắng tri. Sự sanh lên là hữu ái, 'sự không sanh lên là vô ái' nên được thắng tri. Sự sanh là hữu ái, 'sự vô sanh là vô ái' nên được thắng tri. Sự già là hữu ái, 'sự không già là vô ái' nên được thắng tri. Bệnh là hữu ái, 'sự không bệnh là vô ái' nên được thắng tri. Sự chết là hữu ái, 'sự bất tử là vô ái' nên được thắng tri. Sầu là hữu ái, 'sự vô sầu là vô ái' nên được thắng tri. Bi ai là hữu ái, 'sự không bi ai là vô ái' nên được thắng tri. Não là hữu ái, 'sự không não là vô ái' nên được thắng tri.
Uppādo saṅkhārāti abhiññeyyaṃ. Pavattaṃ saṅkhārāti abhiññeyyaṃ. Nimittaṃ saṅkhārāti abhiññeyyaṃ. Āyūhanā saṅkhārāti abhiññeyyaṃ. Paṭisandhi saṅkhārāti abhiññeyyaṃ. Gati saṅkhārāti abhiññeyyaṃ. Nibbatti saṅkhārāti abhiññeyyaṃ. Upapatti saṅkhārāti abhiññeyyaṃ. Jāti saṅkhārāti abhiññeyyaṃ. Jarā saṅkhārāti abhiññeyyaṃ. Byādhi saṅkhārāti abhiññeyyaṃ. Maraṇaṃ saṅkhārāti abhiññeyyaṃ. Soko saṅkhārāti abhiññeyyaṃ. Paridevo saṅkhārāti abhiññeyyaṃ. Upāyāso saṅkhārāti abhiññeyyaṃ.
Arising should be directly known as formations. Continuance should be directly known as formations. The sign should be directly known as formations. Exertion should be directly known as formations. Rebirth-linking should be directly known as formations. Destination should be directly known as formations. Production should be directly known as formations. Reappearance should be directly known as formations. Birth should be directly known as formations. Aging should be directly known as formations. Sickness should be directly known as formations. Death should be directly known as formations. Sorrow should be directly known as formations. Lamentation should be directly known as formations. Despair should be directly known as formations.
'Sự sanh khởi là các pháp hữu vi' nên được thắng tri. 'Sự tiếp diễn là các pháp hữu vi' nên được thắng tri. 'Tướng là các pháp hữu vi' nên được thắng tri. 'Sự cố gắng là các pháp hữu vi' nên được thắng tri. 'Sự tái sanh là các pháp hữu vi' nên được thắng tri. 'Cõi đi là các pháp hữu vi' nên được thắng tri. 'Sự hiện hữu là các pháp hữu vi' nên được thắng tri. 'Sự sanh lên là các pháp hữu vi' nên được thắng tri. 'Sự sanh là các pháp hữu vi' nên được thắng tri. 'Sự già là các pháp hữu vi' nên được thắng tri. 'Bệnh là các pháp hữu vi' nên được thắng tri. 'Sự chết là các pháp hữu vi' nên được thắng tri. 'Sầu là các pháp hữu vi' nên được thắng tri. 'Bi ai là các pháp hữu vi' nên được thắng tri. 'Não là các pháp hữu vi' nên được thắng tri.
Anuppādo nibbānanti abhiññeyyaṃ. Appavattaṃ nibbānanti abhiññeyyaṃ. Animittaṃ nibbānanti abhiññeyyaṃ. Anāyūhanā nibbānanti abhiññeyyaṃ. Appaṭisandhi nibbānanti abhiññeyyaṃ. Agati nibbānanti abhiññeyyaṃ. Anibbatti nibbānanti abhiññeyyaṃ. Anupapatti nibbānanti abhiññeyyaṃ. Ajāti nibbānanti abhiññeyyaṃ. Ajaraṃ nibbānanti abhiññeyyaṃ. Abyādhi nibbānanti abhiññeyyaṃ. Amataṃ nibbānanti abhiññeyyaṃ. Asoko nibbānanti abhiññeyyaṃ. Aparidevo nibbānanti abhiññeyyaṃ. Anupāyāso nibbānanti abhiññeyyaṃ.
Non-arising should be directly known as Nibbāna. Non-continuance should be directly known as Nibbāna. The signless should be directly known as Nibbāna. Non-exertion should be directly known as Nibbāna. Non-rebirth-linking should be directly known as Nibbāna. No destination should be directly known as Nibbāna. Non-production should be directly known as Nibbāna. Non-reappearance should be directly known as Nibbāna. Non-birth should be directly known as Nibbāna. Agelessness should be directly known as Nibbāna. Sicknesslessness should be directly known as Nibbāna. Deathlessness should be directly known as Nibbāna. Sorrowlessness should be directly known as Nibbāna. Non-lamentation should be directly known as Nibbāna. Non-despair should be directly known as Nibbāna.
'Sự không sanh khởi là Niết-bàn' nên được thắng tri. 'Sự không tiếp diễn là Niết-bàn' nên được thắng tri. 'Vô tướng là Niết-bàn' nên được thắng tri. 'Sự không cố gắng là Niết-bàn' nên được thắng tri. 'Sự không tái sanh là Niết-bàn' nên được thắng tri. 'Sự không có cõi đi là Niết-bàn' nên được thắng tri. 'Sự không hiện hữu là Niết-bàn' nên được thắng tri. 'Sự không sanh lên là Niết-bàn' nên được thắng tri. 'Sự vô sanh là Niết-bàn' nên được thắng tri. 'Sự không già là Niết-bàn' nên được thắng tri. 'Sự không bệnh là Niết-bàn' nên được thắng tri. 'Sự bất tử là Niết-bàn' nên được thắng tri. 'Sự vô sầu là Niết-bàn' nên được thắng tri. 'Sự không bi ai là Niết-bàn' nên được thắng tri. 'Sự không não là Niết-bàn' nên được thắng tri.
Uppādo saṅkhārā, anuppādo nibbānanti abhiññeyyaṃ. Pavattaṃ saṅkhārā, appavattaṃ nibbānanti abhiññeyyaṃ. Nimittaṃ saṅkhārā, animittaṃ nibbānanti abhiññeyyaṃ. Āyūhanā saṅkhārā, anāyūhanā nibbānanti abhiññeyyaṃ. Paṭisandhi saṅkhārā, appaṭisandhi nibbānanti abhiññeyyaṃ. Gati saṅkhārā, agati nibbānanti abhiññeyyaṃ. Nibbatti saṅkhārā, anibbatti nibbānanti abhiññeyyaṃ. Upapatti saṅkhārā, anupapatti nibbānanti abhiññeyyaṃ. Jāti saṅkhārā, ajāti nibbānanti abhiññeyyaṃ. Jarā saṅkhārā, ajarā nibbānanti abhiññeyyaṃ. Byādhi saṅkhārā, abyādhi nibbāna’’nti abhiññeyyaṃ. Maraṇaṃ saṅkhārā, amataṃ nibbānanti abhiññeyyaṃ. Soko saṅkhārā, asoko nibbānanti abhiññeyyaṃ. Paridevo saṅkhārā, aparidevo nibbānanti abhiññeyyaṃ. Upāyāso saṅkhārā, anupāyāso nibbānanti abhiññeyyaṃ.
Arising is formations; non-arising is Nibbāna—this should be fully understood. Continuance is formations; non-continuance is Nibbāna—this should be fully understood. The sign is formations; the signless is Nibbāna—this should be fully understood. Striving is formations; non-striving is Nibbāna—this should be fully understood. Rebirth-linking is formations; non-rebirth-linking is Nibbāna—this should be fully understood. The destination is formations; no destination is Nibbāna—this should be fully understood. Coming into being is formations; non-coming into being is Nibbāna—this should be fully understood. Reappearance is formations; non-reappearance is Nibbāna—this should be fully understood. Birth is formations; non-birth is Nibbāna—this should be fully understood. Aging is formations; non-aging is Nibbāna—this should be fully understood. Sickness is formations; non-sickness is Nibbāna—this should be fully understood. Death is formations; deathlessness is Nibbāna—this should be fully understood. Sorrow is formations; sorrowlessness is Nibbāna—this should be fully understood. Lamentation is formations; non-lamentation is Nibbāna—this should be fully understood. Distress is formations; non-distress is Nibbāna—this should be fully understood.
Sự sanh khởi là các pháp hành, sự không sanh khởi là Niết-bàn, cần được thắng tri. Sự diễn tiến là các pháp hành, sự không diễn tiến là Niết-bàn, cần được thắng tri. Tướng là các pháp hành, vô tướng là Niết-bàn, cần được thắng tri. Sự cố gắng là các pháp hành, sự không cố gắng là Niết-bàn, cần được thắng tri. Sự tái sanh là các pháp hành, sự không tái sanh là Niết-bàn, cần được thắng tri. Cõi đi là các pháp hành, sự không có cõi đi là Niết-bàn, cần được thắng tri. Sự hiện hữu là các pháp hành, sự không hiện hữu là Niết-bàn, cần được thắng tri. Sự hóa sanh là các pháp hành, sự không hóa sanh là Niết-bàn, cần được thắng tri. Sanh là các pháp hành, vô sanh là Niết-bàn, cần được thắng tri. Già là các pháp hành, không già là Niết-bàn, cần được thắng tri. Bệnh là các pháp hành, không bệnh là Niết-bàn, cần được thắng tri. Chết là các pháp hành, bất tử là Niết-bàn, cần được thắng tri. Sầu là các pháp hành, vô sầu là Niết-bàn, cần được thắng tri. Bi là các pháp hành, không bi là Niết-bàn, cần được thắng tri. Não là các pháp hành, không não là Niết-bàn, cần được thắng tri.
Paṭhamabhāṇavāro.
End of the First Recitation Section.
Phẩm Tụng Đọc Thứ Nhất.
11. Pariggahaṭṭho abhiññeyyo; parivāraṭṭho abhiññeyyo; paripūraṭṭho † abhiññeyyo; ekaggaṭṭho abhiññeyyo; avikkhepaṭṭho abhiññeyyo; paggahaṭṭho abhiññeyyo; avisāraṭṭho abhiññeyyo; anāvilaṭṭho abhiññeyyo; aniñjanaṭṭho abhiññeyyo; ekattupaṭṭhānavasena cittassa ṭhitaṭṭho abhiññeyyo; ārammaṇaṭṭho abhiññeyyo; gocaraṭṭho abhiññeyyo; pahānaṭṭho abhiññeyyo; pariccāgaṭṭho abhiññeyyo; vuṭṭhānaṭṭho abhiññeyyo; vivaṭṭanaṭṭho † abhiññeyyo; santaṭṭho abhiññeyyo; paṇītaṭṭho abhiññeyyo; vimuttaṭṭho abhiññeyyo; anāsavaṭṭho abhiññeyyo; taraṇaṭṭho abhiññeyyo; animittaṭṭho abhiññeyyo; appaṇihitaṭṭho abhiññeyyo; suññataṭṭho abhiññeyyo; ekarasaṭṭho abhiññeyyo; anativattanaṭṭho abhiññeyyo; yuganaddhaṭṭho † abhiññeyyo; niyyānaṭṭho abhiññeyyo; hetuṭṭho † abhiññeyyo; dassanaṭṭho abhiññeyyo; ādhipateyyaṭṭho abhiññeyyo.
11. The aspect of grasping should be fully understood; the aspect of encompassing should be fully understood; the aspect of completeness should be fully understood; the aspect of one-pointedness should be fully understood; the aspect of non-distraction should be fully understood; the aspect of uplifting should be fully understood; the aspect of non-scattering should be fully understood; the aspect of uncloudedness should be fully understood; the aspect of non-wavering should be fully understood; the aspect of the mind's stability by means of being established on a single object should be fully understood; the aspect of being an object should be fully understood; the aspect of being a resort should be fully understood; the aspect of abandoning should be fully understood; the aspect of relinquishing should be fully understood; the aspect of emergence should be fully understood; the aspect of turning away should be fully understood; the aspect of tranquility should be fully understood; the aspect of being sublime should be fully understood; the aspect of liberation should be fully understood; the aspect of freedom from the taints should be fully understood; the aspect of crossing over should be fully understood; the aspect of signlessness should be fully understood; the aspect of desirelessness should be fully understood; the aspect of emptiness should be fully understood; the aspect of having a single function should be fully understood; the aspect of non-transgression should be fully understood; the aspect of being yoked together should be fully understood; the aspect of deliverance should be fully understood; the aspect of being a cause should be fully understood; the aspect of seeing should be fully understood; the aspect of sovereignty should be fully understood.
11. Ý nghĩa của sự nắm giữ cần được thắng tri; ý nghĩa của sự tùy tùng cần được thắng tri; ý nghĩa của sự viên mãn cần được thắng tri; ý nghĩa của sự nhất tâm cần được thắng tri; ý nghĩa của sự không phân tán cần được thắng tri; ý nghĩa của sự sách tấn cần được thắng tri; ý nghĩa của sự không lan rộng cần được thắng tri; ý nghĩa của sự không vẩn đục cần được thắng tri; ý nghĩa của sự không lay động cần được thắng tri; ý nghĩa của sự an trú của tâm do năng lực an trú vào một đối tượng duy nhất cần được thắng tri; ý nghĩa của đối tượng cần được thắng tri; ý nghĩa của cảnh giới cần được thắng tri; ý nghĩa của sự từ bỏ cần được thắng tri; ý nghĩa của sự xả ly cần được thắng tri; ý nghĩa của sự xuất khởi cần được thắng tri; ý nghĩa của sự thoát ly cần được thắng tri; ý nghĩa của sự tịch tịnh cần được thắng tri; ý nghĩa của sự cao thượng cần được thắng tri; ý nghĩa của sự giải thoát cần được thắng tri; ý nghĩa của sự vô lậu cần được thắng tri; ý nghĩa của sự vượt qua cần được thắng tri; ý nghĩa của vô tướng cần được thắng tri; ý nghĩa của vô nguyện cần được thắng tri; ý nghĩa của tánh không cần được thắng tri; ý nghĩa của nhất vị cần được thắng tri; ý nghĩa của sự không vượt qua nhau cần được thắng tri; ý nghĩa của sự song hành cần được thắng tri; ý nghĩa của sự xuất ly cần được thắng tri; ý nghĩa của nhân cần được thắng tri; ý nghĩa của sự thấy cần được thắng tri; ý nghĩa của sự làm chủ cần được thắng tri.
12. Samathassa avikkhepaṭṭho abhiññeyyo; vipassanāya anupassanaṭṭho abhiññeyyo; samathavipassanānaṃ ekarasaṭṭho abhiññeyyo; yuganaddhassa anativattanaṭṭho abhiññeyyo; sikkhāya samādānaṭṭho abhiññeyyo; ārammaṇassa gocaraṭṭho abhiññeyyo; līnassa cittassa paggahaṭṭho abhiññeyyo; uddhatassa cittassa niggahaṭṭho abhiññeyyo; ubhovisuddhānaṃ ajjhupekkhanaṭṭho abhiññeyyo; visesādhigamaṭṭho abhiññeyyo; uttari paṭivedhaṭṭho abhiññeyyo; saccābhisamayaṭṭho abhiññeyyo; nirodhe patiṭṭhāpakaṭṭho abhiññeyyo.
12. The aspect of non-distraction of serenity should be fully understood; the aspect of contemplation of insight should be fully understood; the aspect of the single function of serenity and insight should be fully understood; the aspect of non-transgression of the yoked pair should be fully understood; the aspect of undertaking of the training should be fully understood; the aspect of being a resort of the object should be fully understood; the aspect of uplifting the sluggish mind should be fully understood; the aspect of restraining the agitated mind should be fully understood; the aspect of looking on with equanimity at both purities should be fully understood; the aspect of attaining distinction should be fully understood; the aspect of further penetration should be fully understood; the aspect of realizing the truths should be fully understood; the aspect of establishing in cessation should be fully understood.
12. Ý nghĩa của sự không phân tán của chỉ cần được thắng tri; ý nghĩa của sự tùy quán của quán cần được thắng tri; ý nghĩa của nhất vị của chỉ và quán cần được thắng tri; ý nghĩa của sự không vượt qua nhau của sự song hành cần được thắng tri; ý nghĩa của sự thọ trì của học giới cần được thắng tri; ý nghĩa của cảnh giới của đối tượng cần được thắng tri; ý nghĩa của sự sách tấn đối với tâm thụ động cần được thắng tri; ý nghĩa của sự chế ngự đối với tâm trạo cử cần được thắng tri; ý nghĩa của sự xả đối với cả hai sự thanh tịnh cần được thắng tri; ý nghĩa của sự chứng đắc pháp thù thắng cần được thắng tri; ý nghĩa của sự thông đạt cao hơn cần được thắng tri; ý nghĩa của sự liễu ngộ các chân lý cần được thắng tri; ý nghĩa của sự an trú trong diệt cần được thắng tri.
Saddhindriyassa adhimokkhaṭṭho abhiññeyyo; vīriyindriyassa paggahaṭṭho abhiññeyyo; satindriyassa upaṭṭhānaṭṭho abhiññeyyo; samādhindriyassa avikkhepaṭṭho abhiññeyyo; paññindriyassa dassanaṭṭho abhiññeyyo.
The aspect of resolution of the faculty of faith should be fully understood; the aspect of uplifting of the faculty of energy should be fully understood; the aspect of establishment of the faculty of mindfulness should be fully understood; the aspect of non-distraction of the faculty of concentration should be fully understood; the aspect of seeing of the faculty of wisdom should be fully understood.
Ý nghĩa của sự quyết đoán của tín quyền cần được thắng tri; ý nghĩa của sự sách tấn của tấn quyền cần được thắng tri; ý nghĩa của sự an trú của niệm quyền cần được thắng tri; ý nghĩa của sự không phân tán của định quyền cần được thắng tri; ý nghĩa của sự thấy của tuệ quyền cần được thắng tri.
Saddhābalassa assaddhiye akampiyaṭṭho abhiññeyyo; vīriyabalassa kosajje akampiyaṭṭho abhiññeyyo; satibalassa pamāde akampiyaṭṭho abhiññeyyo; samādhibalassa uddhacce akampiyaṭṭho abhiññeyyo; paññābalassa avijjāya akampiyaṭṭho abhiññeyyo.
Of the power of faith, the meaning of unshakability in the face of faithlessness should be directly known; of the power of energy, the meaning of unshakability in the face of laziness should be directly known; of the power of mindfulness, the meaning of unshakability in the face of heedlessness should be directly known; of the power of concentration, the meaning of unshakability in the face of restlessness should be directly known; of the power of wisdom, the meaning of unshakability in the face of ignorance should be directly known.
Ý nghĩa của sự không lay động bởi sự vô tín của tín lực cần được thắng tri; ý nghĩa của sự không lay động bởi sự biếng nhác của tấn lực cần được thắng tri; ý nghĩa của sự không lay động bởi sự phóng dật của niệm lực cần được thắng tri; ý nghĩa của sự không lay động bởi sự trạo cử của định lực cần được thắng tri; ý nghĩa của sự không lay động bởi vô minh của tuệ lực cần được thắng tri.
Satisambojjhaṅgassa upaṭṭhānaṭṭho abhiññeyyo; dhammavicayasambojjhaṅgassa pavicayaṭṭho abhiññeyyo; vīriyasambojjhaṅgassa paggahaṭṭho abhiññeyyo; pītisambojjhaṅgassa pharaṇaṭṭho abhiññeyyo; passaddhisambojjhaṅgassa upasamaṭṭho abhiññeyyo; samādhisambojjhaṅgassa avikkhepaṭṭho abhiññeyyo; upekkhāsambojjhaṅgassa paṭisaṅkhānaṭṭho abhiññeyyo.
Of the enlightenment factor of mindfulness, the meaning of presence should be directly known; of the enlightenment factor of investigation of phenomena, the meaning of investigation should be directly known; of the enlightenment factor of energy, the meaning of exertion should be directly known; of the enlightenment factor of rapture, the meaning of pervasion should be directly known; of the enlightenment factor of tranquility, the meaning of calming should be directly known; of the enlightenment factor of concentration, the meaning of non-distraction should be directly known; of the enlightenment factor of equanimity, the meaning of reflection should be directly known.
Ý nghĩa của sự an trú của niệm giác chi cần được thắng tri; ý nghĩa của sự thẩm sát của trạch pháp giác chi cần được thắng tri; ý nghĩa của sự sách tấn của tấn giác chi cần được thắng tri; ý nghĩa của sự biến mãn của hỷ giác chi cần được thắng tri; ý nghĩa của sự an tịnh của khinh an giác chi cần được thắng tri; ý nghĩa của sự không phân tán của định giác chi cần được thắng tri; ý nghĩa của sự quán xét của xả giác chi cần được thắng tri.
Sammādiṭṭhiyā dassanaṭṭho abhiññeyyo; sammāsaṅkappassa abhiniropanaṭṭho abhiññeyyo; sammāvācāya pariggahaṭṭho abhiññeyyo; sammākammantassa samuṭṭhānaṭṭho abhiññeyyo; sammāājīvassa vodānaṭṭho abhiññeyyo; sammāvāyāmassa paggahaṭṭho abhiññeyyo; sammāsatiyā upaṭṭhānaṭṭho abhiññeyyo; sammāsamādhissa avikkhepaṭṭho abhiññeyyo.
Of right view, the meaning of seeing should be directly known; of right thought, the meaning of directing towards should be directly known; of right speech, the meaning of restraint should be directly known; of right action, the meaning of origination should be directly known; of right livelihood, the meaning of purification should be directly known; of right effort, the meaning of exertion should be directly known; of right mindfulness, the meaning of presence should be directly known; of right concentration, the meaning of non-distraction should be directly known.
Ý nghĩa của sự thấy của chánh kiến cần được thắng tri; ý nghĩa của sự hướng đến của chánh tư duy cần được thắng tri; ý nghĩa của sự nắm giữ của chánh ngữ cần được thắng tri; ý nghĩa của sự khởi lên của chánh nghiệp cần được thắng tri; ý nghĩa của sự trong sạch của chánh mạng cần được thắng tri; ý nghĩa của sự sách tấn của chánh tinh tấn cần được thắng tri; ý nghĩa của sự an trú của chánh niệm cần được thắng tri; ý nghĩa của sự không phân tán của chánh định cần được thắng tri.
13. Indriyānaṃ ādhipateyyaṭṭho abhiññeyyo; balānaṃ akampiyaṭṭho abhiññeyyo; bojjhaṅgānaṃ niyyānaṭṭho abhiññeyyo; maggassa hetuṭṭho abhiññeyyo; satipaṭṭhānānaṃ upaṭṭhānaṭṭho abhiññeyyo; sammappadhānānaṃ padahanaṭṭho abhiññeyyo; iddhipādānaṃ ijjhanaṭṭho abhiññeyyo; saccānaṃ tathaṭṭho abhiññeyyo; payogānaṃ † paṭippassaddhaṭṭho abhiññeyyo; phalānaṃ sacchikiriyaṭṭho abhiññeyyo.
13. Of the faculties, the meaning of sovereignty should be directly known; of the powers, the meaning of unshakability should be directly known; of the enlightenment factors, the meaning of leading out should be directly known; of the path, the meaning of being the cause should be directly known; of the foundations of mindfulness, the meaning of presence should be directly known; of the right strivings, the meaning of exertion should be directly known; of the bases of spiritual power, the meaning of accomplishment should be directly known; of the truths, the meaning of truthfulness should be directly known; of the paths, the meaning of pacification should be directly known; of the fruits, the meaning of realization should be directly known.
13. Ý nghĩa của sự làm chủ của các quyền cần được thắng tri; ý nghĩa của sự không lay động của các lực cần được thắng tri; ý nghĩa của sự xuất ly của các giác chi cần được thắng tri; ý nghĩa của nhân của đạo cần được thắng tri; ý nghĩa của sự an trú của các niệm xứ cần được thắng tri; ý nghĩa của sự tinh cần của các chánh cần cần được thắng tri; ý nghĩa của sự thành tựu của các như ý túc cần được thắng tri; ý nghĩa của sự như thật của các chân lý cần được thắng tri; ý nghĩa của sự an tịnh của các sự nỗ lực cần được thắng tri; ý nghĩa của sự chứng ngộ của các quả cần được thắng tri.
Vitakkassa abhiniropanaṭṭho abhiññeyyo; vicārassa upavicāraṭṭho abhiññeyyo; pītiyā pharaṇaṭṭho abhiññeyyo; sukhassa abhisandanaṭṭho abhiññeyyo. Cittassa ekaggaṭṭho abhiññeyyo. Āvajjanaṭṭho abhiññeyyo; vijānanaṭṭho abhiññeyyo; pajānanaṭṭho abhiññeyyo; sañjānanaṭṭho abhiññeyyo; ekodaṭṭho abhiññeyyo. Abhiññāya ñātaṭṭho abhiññeyyo; pariññāya tīraṇaṭṭho abhiññeyyo; pahānassa pariccāgaṭṭho abhiññeyyo; bhāvanāya ekarasaṭṭho abhiññeyyo; sacchikiriyāya phassanaṭṭho abhiññeyyo; khandhānaṃ khandhaṭṭho abhiññeyyo; dhātūnaṃ dhātuṭṭho † abhiññeyyo; āyatanānaṃ āyatanaṭṭho abhiññeyyo; saṅkhatānaṃ saṅkhataṭṭho abhiññeyyo; asaṅkhatassa asaṅkhataṭṭho abhiññeyyo.
The meaning of thought-conception as directing towards [the object] should be specially known; the meaning of sustained thought as investigating and examining should be specially known; the meaning of rapture as pervading should be specially known; the meaning of happiness as flowing should be specially known. The meaning of the mind as one-pointedness should be specially known. The meaning of adverting should be specially known; the meaning of knowing should be specially known; the meaning of discerning should be specially known; the meaning of perceiving should be specially known; the meaning of having a single function should be specially known. The meaning of direct knowledge as being known should be specially known; the meaning of full understanding as judging should be specially known; the meaning of abandoning as relinquishing should be specially known; the meaning of development as having a single function should be specially known; the meaning of realization as contacting should be specially known. The meaning of the aggregates as being a heap should be specially known; the meaning of the elements as being void [of a self] should be specially known; the meaning of the sense bases as being a foundation should be specially known; the meaning of the conditioned as being formed [by conditions] should be specially known; the meaning of the unconditioned as not being formed [by conditions] should be specially known.
Ý nghĩa hướng đến đối tượng của tầm nên được thắng tri; ý nghĩa khảo sát của tứ nên được thắng tri; ý nghĩa lan khắp của hỷ nên được thắng tri; ý nghĩa tuôn chảy của lạc nên được thắng tri. Ý nghĩa nhất tâm của tâm nên được thắng tri. Ý nghĩa hướng tâm nên được thắng tri; ý nghĩa biết nên được thắng tri; ý nghĩa biết rõ nên được thắng tri; ý nghĩa tưởng nên được thắng tri; ý nghĩa có một phận sự duy nhất nên được thắng tri. Ý nghĩa được biết của thắng trí nên được thắng tri; ý nghĩa thẩm sát của liễu tri nên được thắng tri; ý nghĩa từ bỏ của sự đoạn tận nên được thắng tri; ý nghĩa có một phận sự duy nhất của sự tu tập nên được thắng tri; ý nghĩa xúc chạm của sự chứng ngộ nên được thắng tri; ý nghĩa là uẩn của các uẩn nên được thắng tri; ý nghĩa là giới của các giới nên được thắng tri; ý nghĩa là xứ của các xứ nên được thắng tri; ý nghĩa là hữu vi của các pháp hữu vi nên được thắng tri; ý nghĩa là vô vi của pháp vô vi nên được thắng tri.
14. Cittaṭṭho abhiññeyyo; cittānantariyaṭṭho abhiññeyyo; cittassa vuṭṭhānaṭṭho abhiññeyyo; cittassa vivaṭṭanaṭṭho abhiññeyyo; cittassa hetuṭṭho abhiññeyyo; cittassa paccayaṭṭho abhiññeyyo; cittassa vatthuṭṭho † abhiññeyyo; cittassa bhūmaṭṭho † abhiññeyyo; cittassa ārammaṇaṭṭho abhiññeyyo; cittassa gocaraṭṭho abhiññeyyo; cittassa cariyaṭṭho abhiññeyyo; cittassa gataṭṭho abhiññeyyo; cittassa abhinīhāraṭṭho abhiññeyyo; cittassa niyyānaṭṭho abhiññeyyo; cittassa nissaraṇaṭṭho abhiññeyyo.
14. The meaning of mind as knowing an object should be specially known; the meaning of the mind's immediate succession should be specially known; the meaning of the mind's emerging should be specially known; the meaning of the mind's turning away should be specially known; the meaning of the mind as a cause should be specially known; the meaning of the mind as a condition should be specially known; the meaning of the mind as a basis should be specially known; the meaning of the mind as a plane [of existence] should be specially known; the meaning of the mind as taking an object should be specially known; the meaning of the mind as a resort should be specially known; the meaning of the mind's faring should be specially known; the meaning of the mind's going should be specially known; the meaning of the mind's directing towards should be specially known; the meaning of the mind's leading out should be specially known; the meaning of the mind as an escape should be specially known.
14. Ý nghĩa là tâm nên được thắng tri; ý nghĩa vô gián của tâm nên được thắng tri; ý nghĩa xuất khởi của tâm nên được thắng tri; ý nghĩa thoát ly của tâm nên được thắng tri; ý nghĩa là nhân của tâm nên được thắng tri; ý nghĩa là duyên của tâm nên được thắng tri; ý nghĩa là vật của tâm nên được thắng tri; ý nghĩa là địa của tâm nên được thắng tri; ý nghĩa là đối tượng của tâm nên được thắng tri; ý nghĩa là hành xứ của tâm nên được thắng tri; ý nghĩa là sự diễn tiến của tâm nên được thắng tri; ý nghĩa là sự đi đến của tâm nên được thắng tri; ý nghĩa là sự hướng đến của tâm nên được thắng tri; ý nghĩa là sự xuất ly của tâm nên được thắng tri; ý nghĩa là sự thoát ra của tâm nên được thắng tri.
15. Ekatte āvajjanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte vijānanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte pajānanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte sañjānanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte ekadaṭṭho abhiññeyyo; ekatte upanibandhaṭṭho abhiññeyyo; ekatte pakkhandanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte pasīdanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte santiṭṭhanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte vimuccanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte ‘‘etaṃ santa’’nti passanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte yānīkataṭṭho abhiññeyyo; ekatte vatthukataṭṭho abhiññeyyo; ekatte anuṭṭhitaṭṭho abhiññeyyo; ekatte paricitaṭṭho abhiññeyyo; ekatte susamāraddhaṭṭho abhiññeyyo; ekatte pariggahaṭṭho abhiññeyyo; ekatte parivāraṭṭho abhiññeyyo; ekatte paripūraṭṭho abhiññeyyo; ekatte samodhānaṭṭho abhiññeyyo; ekatte adhiṭṭhānaṭṭho abhiññeyyo; ekatte āsevanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte bhāvanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte bahulīkammaṭṭho abhiññeyyo; ekatte susamuggataṭṭho abhiññeyyo; ekatte suvimuttaṭṭho abhiññeyyo; ekatte bujjhanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte anubujjhanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte paṭibujjhanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte sambujjhanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte bodhanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte anubodhanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte paṭibodhanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte sambodhanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte bodhipakkhiyaṭṭho abhiññeyyo; ekatte anubodhipakkhiyaṭṭho abhiññeyyo; ekatte paṭibodhipakkhiyaṭṭho abhiññeyyo; ekatte sambodhipakkhiyaṭṭho abhiññeyyo; ekatte jotanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte ujjotanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte anujotanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte paṭijotanaṭṭho abhiññeyyo; ekatte sañjotanaṭṭho abhiññeyyo.
15. In singularity, the meaning of adverting is to be directly known; in singularity, the meaning of discerning is to be directly known; in singularity, the meaning of understanding in detail is to be directly known; in singularity, the meaning of recognizing is to be directly known; in singularity, the meaning of steadfastness is to be directly known; in singularity, the meaning of binding is to be directly known; in singularity, the meaning of leaping into is to be directly known; in singularity, the meaning of clarity is to be directly known; in singularity, the meaning of being well-established is to be directly known; in singularity, the meaning of liberation is to be directly known; in singularity, the meaning of seeing 'this is peace' is to be directly known; in singularity, the meaning of being made a vehicle is to be directly known; in singularity, the meaning of being made a foundation is to be directly known; in singularity, the meaning of arising is to be directly known; in singularity, the meaning of being familiarized is to be directly known; in singularity, the meaning of being well-undertaken is to be directly known; in singularity, the meaning of comprehending is to be directly known; in singularity, the meaning of being surrounded is to be directly known; in singularity, the meaning of fulfillment is to be directly known; in singularity, the meaning of unification is to be directly known; in singularity, the meaning of resolve is to be directly known; in singularity, the meaning of practicing is to be directly known; in singularity, the meaning of development is to be directly known; in singularity, the meaning of frequent practice is to be directly known; in singularity, the meaning of being well-arisen is to be directly known; in singularity, the meaning of being well-liberated is to be directly known; in singularity, the meaning of awakening is to be directly known; in singularity, the meaning of awakening subsequently is to be directly known; in singularity, the meaning of re-awakening is to be directly known; in singularity, the meaning of complete awakening is to be directly known; in singularity, the meaning of causing to awaken is to be directly known; in singularity, the meaning of causing to awaken subsequently is to be directly known; in singularity, the meaning of causing re-awakening is to be directly known; in singularity, the meaning of causing complete awakening is to be directly known; in singularity, the meaning of being a factor of enlightenment is to be directly known; in singularity, the meaning of being a subsequent factor of enlightenment is to be directly known; in singularity, the meaning of being a reciprocal factor of enlightenment is to be directly known; in singularity, the meaning of being a complete factor of enlightenment is to be directly known; in singularity, the meaning of shining is to be directly known; in singularity, the meaning of shining brightly is to be directly known; in singularity, the meaning of shining subsequently is to be directly known; in singularity, the meaning of shining back is to be directly known; in singularity, the meaning of shining completely is to be directly known.
15. Trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa hướng tâm nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa biết nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa biết rõ nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa tưởng nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa nhất tâm nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa ràng buộc nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa nhảy vào nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa trong sạch nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa an trú vững chắc nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa giải thoát nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa thấy rằng 'đây là tịch tịnh' nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa được làm thành cỗ xe nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa được làm thành nền tảng nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa được thiết lập nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa được tích tập nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa được khéo tinh tấn nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa được thâu nhiếp nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa được vây quanh nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa được viên mãn nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa được kết hợp nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa được quyết định nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa được thực hành nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa được tu tập nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa được làm cho thuần thục nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa được khéo sanh khởi nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa được khéo giải thoát nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa giác ngộ nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa tùy giác nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa tỉnh giác nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa chánh đẳng giác nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa làm cho giác ngộ nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa làm cho tùy giác nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa làm cho tỉnh giác nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa làm cho chánh đẳng giác nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa thuộc phần bồ-đề nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa tùy thuộc phần bồ-đề nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa đối thuộc phần bồ-đề nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa chánh thuộc phần bồ-đề nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa chiếu sáng nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa chiếu sáng rực rỡ nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa tùy chiếu sáng nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa chiếu sáng lại nên được thắng tri; trong một đối tượng duy nhất, ý nghĩa cùng chiếu sáng nên được thắng tri.
16. Patāpanaṭṭho † abhiññeyyo; virocanaṭṭho abhiññeyyo; kilesānaṃ santāpanaṭṭho abhiññeyyo; amalaṭṭho abhiññeyyo; vimalaṭṭho abhiññeyyo; nimmalaṭṭho abhiññeyyo; samaṭṭho abhiññeyyo; samayaṭṭho abhiññeyyo; vivekaṭṭho abhiññeyyo; vivekacariyaṭṭho abhiññeyyo; virāgaṭṭho abhiññeyyo; virāgacariyaṭṭho abhiññeyyo; nirodhaṭṭho abhiññeyyo; nirodhacariyaṭṭho abhiññeyyo; vosaggaṭṭho † abhiññeyyo; vosaggacariyaṭṭho abhiññeyyo; vimuttaṭṭho abhiññeyyo; vimutticariyaṭṭho abhiññeyyo.
16. The meaning as afflicting is to be specially known; the meaning as splendor is to be specially known; the meaning as scorching the defilements is to be specially known; the meaning as stainlessness is to be specially known; the meaning as purity is to be specially known; the meaning as spotlessness is to be specially known; the meaning as evenness is to be specially known; the meaning as the conjunction of causes is to be specially known; the meaning as seclusion is to be specially known; the meaning as the practice of seclusion is to be specially known; the meaning as dispassion is to be specially known; the meaning as the practice of dispassion is to be specially known; the meaning as cessation is to be specially known; the meaning as the practice of cessation is to be specially known; the meaning as relinquishment is to be specially known; the meaning as the practice of relinquishment is to be specially known; the meaning as liberation is to be specially known; the meaning as the practice of liberation is to be specially known.
16. Ý nghĩa thiêu đốt nên được thắng tri; ý nghĩa chiếu sáng nên được thắng tri; ý nghĩa thiêu đốt các phiền não nên được thắng tri; ý nghĩa không cấu uế nên được thắng tri; ý nghĩa ly cấu uế nên được thắng tri; ý nghĩa vô cấu uế nên được thắng tri; ý nghĩa bình đẳng nên được thắng tri; ý nghĩa hội đủ nhân duyên nên được thắng tri; ý nghĩa viễn ly nên được thắng tri; ý nghĩa thực hành viễn ly nên được thắng tri; ý nghĩa ly tham nên được thắng tri; ý nghĩa thực hành ly tham nên được thắng tri; ý nghĩa đoạn diệt nên được thắng tri; ý nghĩa thực hành đoạn diệt nên được thắng tri; ý nghĩa từ bỏ nên được thắng tri; ý nghĩa thực hành từ bỏ nên được thắng tri; ý nghĩa giải thoát nên được thắng tri; ý nghĩa thực hành giải thoát nên được thắng tri.
Chandaṭṭho abhiññeyyo; chandassa mūlaṭṭho abhiññeyyo; chandassa pādaṭṭho abhiññeyyo; chandassa padhānaṭṭho abhiññeyyo; chandassa ijjhanaṭṭho abhiññeyyo; chandassa adhimokkhaṭṭho abhiññeyyo; chandassa paggahaṭṭho abhiññeyyo; chandassa upaṭṭhānaṭṭho abhiññeyyo; chandassa avikkhepaṭṭho abhiññeyyo; chandassa dassanaṭṭho abhiññeyyo.
The meaning as zeal is to be specially known; the meaning as the root of zeal is to be specially known; the meaning as the basis of zeal is to be specially known; the meaning as the pre-eminence of zeal is to be specially known; the meaning as the accomplishment of zeal is to be specially known; the meaning as the determination of zeal is to be specially known; the meaning as the uplifting of zeal is to be specially known; the meaning as the presence of zeal is to be specially known; the meaning as the non-distraction of zeal is to be specially known; the meaning as the seeing of zeal is to be specially known.
Ý nghĩa là dục nên được thắng tri; ý nghĩa là cội rễ của dục nên được thắng tri; ý nghĩa là nền tảng của dục nên được thắng tri; ý nghĩa là sự tinh cần của dục nên được thắng tri; ý nghĩa là sự thành tựu của dục nên được thắng tri; ý nghĩa là sự quyết định của dục nên được thắng tri; ý nghĩa là sự sách tấn của dục nên được thắng tri; ý nghĩa là sự hiện khởi của dục nên được thắng tri; ý nghĩa là sự không tán loạn của dục nên được thắng tri; ý nghĩa là sự thấy của dục nên được thắng tri.
Vīriyaṭṭho abhiññeyyo; vīriyassa mūlaṭṭho abhiññeyyo; vīriyassa pādaṭṭho abhiññeyyo; vīriyassa padhānaṭṭho abhiññeyyo; vīriyassa ijjhanaṭṭho abhiññeyyo; vīriyassa adhimokkhaṭṭho abhiññeyyo; vīriyassa paggahaṭṭho abhiññeyyo; vīriyassa upaṭṭhānaṭṭho abhiññeyyo; vīriyassa avikkhepaṭṭho abhiññeyyo; vīriyassa dassanaṭṭho abhiññeyyo.
The meaning as energy is to be specially known; the meaning as the root of energy is to be specially known; the meaning as the basis of energy is to be specially known; the meaning as the pre-eminence of energy is to be specially known; the meaning as the accomplishment of energy is to be specially known; the meaning as the determination of energy is to be specially known; the meaning as the uplifting of energy is to be specially known; the meaning as the presence of energy is to be specially known; the meaning as the non-distraction of energy is to be specially known; the meaning as the seeing of energy is to be specially known.
Ý nghĩa là tinh tấn nên được thắng tri; ý nghĩa là cội rễ của tinh tấn nên được thắng tri; ý nghĩa là nền tảng của tinh tấn nên được thắng tri; ý nghĩa là sự tinh cần của tinh tấn nên được thắng tri; ý nghĩa là sự thành tựu của tinh tấn nên được thắng tri; ý nghĩa là sự quyết định của tinh tấn nên được thắng tri; ý nghĩa là sự sách tấn của tinh tấn nên được thắng tri; ý nghĩa là sự hiện khởi của tinh tấn nên được thắng tri; ý nghĩa là sự không tán loạn của tinh tấn nên được thắng tri; ý nghĩa là sự thấy của tinh tấn nên được thắng tri.
Cittaṭṭho abhiññeyyo; cittassa mūlaṭṭho abhiññeyyo; cittassa pādaṭṭho abhiññeyyo; cittassa padhānaṭṭho abhiññeyyo; cittassa ijjhanaṭṭho abhiññeyyo; cittassa adhimokkhaṭṭho abhiññeyyo; cittassa paggahaṭṭho abhiññeyyo; cittassa upaṭṭhānaṭṭho abhiññeyyo; cittassa avikkhepaṭṭho abhiññeyyo; cittassa dassanaṭṭho abhiññeyyo.
The meaning as mind is to be specially known; the meaning as the root of mind is to be specially known; the meaning as the basis of mind is to be specially known; the meaning as the pre-eminence of mind is to be specially known; the meaning as the accomplishment of mind is to be specially known; the meaning as the determination of mind is to be specially known; the meaning as the uplifting of mind is to be specially known; the meaning as the presence of mind is to be specially known; the meaning as the non-distraction of mind is to be specially known; the meaning as the seeing of mind is to be specially known.
Ý nghĩa của tâm cần được thắng tri; ý nghĩa là cội rễ của tâm cần được thắng tri; ý nghĩa là nền tảng của tâm cần được thắng tri; ý nghĩa là chủ yếu của tâm cần được thắng tri; ý nghĩa là sự thành tựu của tâm cần được thắng tri; ý nghĩa là sự quyết định của tâm cần được thắng tri; ý nghĩa là sự nâng đỡ của tâm cần được thắng tri; ý nghĩa là sự hiện khởi của tâm cần được thắng tri; ý nghĩa là sự không phân tán của tâm cần được thắng tri; ý nghĩa là sự thấy của tâm cần được thắng tri.
Vīmaṃsaṭṭho abhiññeyyo; vīmaṃsāya mūlaṭṭho abhiññeyyo; vīmaṃsāya pādaṭṭho abhiññeyyo; vīmaṃsāya padhānaṭṭho abhiññeyyo; vīmaṃsāya ijjhanaṭṭho abhiññeyyo; vīmaṃsāya adhimokkhaṭṭho abhiññeyyo; vīmaṃsāya paggahaṭṭho abhiññeyyo; vīmaṃsāya upaṭṭhānaṭṭho abhiññeyyo; vīmaṃsāya avikkhepaṭṭho abhiññeyyo; vīmaṃsāya dassanaṭṭho abhiññeyyo.
The nature of investigation is to be fully understood; the nature of being the root of investigation is to be fully understood; the nature of being the basis of investigation is to be fully understood; the nature of pre-eminence of investigation is to be fully understood; the nature of accomplishment of investigation is to be fully understood; the nature of determination of investigation is to be fully understood; the nature of uplifting of investigation is to be fully understood; the nature of presence of investigation is to be fully understood; the nature of non-distraction of investigation is to be fully understood; the nature of seeing of investigation is to be fully understood.
Ý nghĩa của sự thẩm sát cần được thắng tri; ý nghĩa là cội rễ của sự thẩm sát cần được thắng tri; ý nghĩa là nền tảng của sự thẩm sát cần được thắng tri; ý nghĩa là chủ yếu của sự thẩm sát cần được thắng tri; ý nghĩa là sự thành tựu của sự thẩm sát cần được thắng tri; ý nghĩa là sự quyết định của sự thẩm sát cần được thắng tri; ý nghĩa là sự nâng đỡ của sự thẩm sát cần được thắng tri; ý nghĩa là sự hiện khởi của sự thẩm sát cần được thắng tri; ý nghĩa là sự không phân tán của sự thẩm sát cần được thắng tri; ý nghĩa là sự thấy của sự thẩm sát cần được thắng tri.
17. Dukkhaṭṭho abhiññeyyo; dukkhassa pīḷanaṭṭho abhiññeyyo; dukkhassa saṅkhataṭṭho abhiññeyyo; dukkhassa santāpaṭṭho abhiññeyyo; dukkhassa vipariṇāmaṭṭho abhiññeyyo. Samudayaṭṭho abhiññeyyo; samudayassa āyūhanaṭṭho † abhiññeyyo; samudayassa nidānaṭṭho abhiññeyyo; samudayassa saññogaṭṭho abhiññeyyo; samudayassa palibodhaṭṭho abhiññeyyo; nirodhaṭṭho abhiññeyyo; nirodhassa nissaraṇaṭṭho abhiññeyyo; nirodhassa vivekaṭṭho abhiññeyyo; nirodhassa asaṅkhataṭṭho abhiññeyyo; nirodhassa amataṭṭho abhiññeyyo. Maggaṭṭho abhiññeyyo; maggassa niyyānaṭṭho abhiññeyyo; maggassa hetuṭṭho abhiññeyyo; maggassa dassanaṭṭho abhiññeyyo; maggassa ādhipateyyaṭṭho abhiññeyyo.
17. The characteristic of suffering is to be fully understood; the characteristic of oppression of suffering is to be fully understood; the characteristic of being conditioned of suffering is to be fully understood; the characteristic of torment of suffering is to be fully understood; the characteristic of change of suffering is to be fully understood. The characteristic of origin is to be fully understood; the characteristic of accumulation of origin is to be fully understood; the characteristic of source of origin is to be fully understood; the characteristic of being a bond of origin is to be fully understood; the characteristic of impediment of origin is to be fully understood. The characteristic of cessation is to be fully understood; the characteristic of escape of cessation is to be fully understood; the characteristic of seclusion of cessation is to be fully understood; the characteristic of the unconditioned of cessation is to be fully understood; the characteristic of the deathless of cessation is to be fully understood. The characteristic of the path is to be fully understood; the characteristic of leading out of the path is to be fully understood; the characteristic of being the cause of the path is to be fully understood; the characteristic of vision of the path is to be fully understood; the characteristic of mastery of the path is to be fully understood.
17. Ý nghĩa của khổ cần được thắng tri; ý nghĩa là sự bức bách của khổ cần được thắng tri; ý nghĩa là sự hữu vi của khổ cần được thắng tri; ý nghĩa là sự thiêu đốt của khổ cần được thắng tri; ý nghĩa là sự biến hoại của khổ cần được thắng tri. Ý nghĩa của tập cần được thắng tri; ý nghĩa là sự nỗ lực tạo tác của tập cần được thắng tri; ý nghĩa là nguyên nhân của tập cần được thắng tri; ý nghĩa là sự phối hợp của tập cần được thắng tri; ý nghĩa là sự chướng ngại của tập cần được thắng tri; ý nghĩa của diệt cần được thắng tri; ý nghĩa là sự xuất ly của diệt cần được thắng tri; ý nghĩa là sự vắng lặng của diệt cần được thắng tri; ý nghĩa là sự vô vi của diệt cần được thắng tri; ý nghĩa là sự bất tử của diệt cần được thắng tri. Ý nghĩa của đạo cần được thắng tri; ý nghĩa là sự dẫn ra của đạo cần được thắng tri; ý nghĩa là nhân duyên của đạo cần được thắng tri; ý nghĩa là sự thấy của đạo cần được thắng tri; ý nghĩa là sự làm chủ của đạo cần được thắng tri.
Tathaṭṭho abhiññeyyo; anattaṭṭho abhiññeyyo; saccaṭṭho abhiññeyyo; paṭivedhaṭṭho abhiññeyyo; abhijānanaṭṭho abhiññeyyo; parijānanaṭṭho abhiññeyyo; dhammaṭṭho abhiññeyyo; dhātuṭṭho abhiññeyyo; ñātaṭṭho abhiññeyyo; sacchikiriyaṭṭho abhiññeyyo; phassanaṭṭho abhiññeyyo; abhisamayaṭṭho abhiññeyyo.
The characteristic of thusness is to be fully understood; the characteristic of non-self is to be fully understood; the characteristic of truth is to be fully understood; the characteristic of penetration is to be fully understood; the characteristic of direct knowledge is to be fully understood; the characteristic of full understanding is to be fully understood; the characteristic of Dhamma is to be fully understood; the characteristic of elements is to be fully understood; the characteristic of what is known is to be fully understood; the characteristic of realization is to be fully understood; the characteristic of contact is to be fully understood; the characteristic of comprehension is to be fully understood.
Ý nghĩa là như thật cần được thắng tri; ý nghĩa là vô ngã cần được thắng tri; ý nghĩa là sự thật cần được thắng tri; ý nghĩa là sự thông suốt cần được thắng tri; ý nghĩa là sự biết rõ cần được thắng tri; ý nghĩa là sự liễu tri cần được thắng tri; ý nghĩa là pháp cần được thắng tri; ý nghĩa là giới cần được thắng tri; ý nghĩa là sự được biết cần được thắng tri; ý nghĩa là sự chứng ngộ cần được thắng tri; ý nghĩa là sự xúc chạm cần được thắng tri; ý nghĩa là sự chứng đắc cần được thắng tri.
18. Nekkhammaṃ abhiññeyyaṃ; abyāpādo abhiññeyyo; ālokasaññā abhiññeyyā; avikkhepo abhiññeyyo; dhammavavatthānaṃ abhiññeyyaṃ; ñāṇaṃ abhiññeyyaṃ; pāmojjaṃ † abhiññeyyaṃ.
18. Renunciation is to be fully understood; non-ill will is to be fully understood; the perception of light is to be fully understood; non-distraction is to be fully understood; the determination of phenomena is to be fully understood; knowledge is to be fully understood; joy is to be fully understood.
18. Sự xuất ly cần được thắng tri; sự vô sân cần được thắng tri; tưởng về ánh sáng cần được thắng tri; sự không phân tán cần được thắng tri; sự xác định các pháp cần được thắng tri; trí tuệ cần được thắng tri; sự hân hoan cần được thắng tri.
Paṭhamaṃ jhānaṃ abhiññeyyaṃ; dutiyaṃ jhānaṃ abhiññeyyaṃ; tatiyaṃ jhānaṃ abhiññeyyaṃ; catutthaṃ jhānaṃ abhiññeyyaṃ. Ākāsānañcāyatanasamāpatti abhiññeyyā; viññāṇañcāyatanasamāpatti abhiññeyyā; ākiñcaññāyatanasamāpatti abhiññeyyā; nevasaññānāsaññāyatanasamāpatti abhiññeyyā.
The first jhāna is to be known through direct knowledge; the second jhāna is to be known through direct knowledge; the third jhāna is to be known through direct knowledge; the fourth jhāna is to be known through direct knowledge. The attainment of the base of infinite space is to be known through direct knowledge; the attainment of the base of infinite consciousness is to be known through direct knowledge; the attainment of the base of nothingness is to be known through direct knowledge; the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception is to be known through direct knowledge.
Sơ thiền cần được thắng tri; nhị thiền cần được thắng tri; tam thiền cần được thắng tri; tứ thiền cần được thắng tri. Sự chứng đắc Không Vô Biên Xứ cần được thắng tri; sự chứng đắc Thức Vô Biên Xứ cần được thắng tri; sự chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ cần được thắng tri; sự chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ cần được thắng tri.
Aniccānupassanā abhiññeyyā; dukkhānupassanā abhiññeyyā; anattānupassanā abhiññeyyā; nibbidānupassanā abhiññeyyā; virāgānupassanā abhiññeyyā; nirodhānupassanā abhiññeyyā; paṭinissaggānupassanā abhiññeyyā; khayānupassanā abhiññeyyā; vayānupassanā abhiññeyyā; vipariṇāmānupassanā abhiññeyyā; animittānupassanā abhiññeyyā; appaṇihitānupassanā abhiññeyyā; suññatānupassanā abhiññeyyā; adhipaññādhammavipassanā abhiññeyyā; yathābhūtañāṇadassanaṃ abhiññeyyaṃ; ādīnavānupassanā abhiññeyyā; paṭisaṅkhānupassanā abhiññeyyā; vivaṭṭanānupassanā abhiññeyyā.
The contemplation of impermanence is to be known through direct knowledge; the contemplation of suffering is to be known through direct knowledge; the contemplation of non-self is to be known through direct knowledge; the contemplation of disenchantment is to be known through direct knowledge; the contemplation of dispassion is to be known through direct knowledge; the contemplation of cessation is to be known through direct knowledge; the contemplation of relinquishment is to be known through direct knowledge; the contemplation of destruction is to be known through direct knowledge; the contemplation of vanishing is to be known through direct knowledge; the contemplation of change is to be known through direct knowledge; the contemplation of the signless is to be known through direct knowledge; the contemplation of the desireless is to be known through direct knowledge; the contemplation of emptiness is to be known through direct knowledge; insight into phenomena through higher wisdom is to be known through direct knowledge; knowledge and vision of things as they really are is to be known through direct knowledge; the contemplation of danger is to be known through direct knowledge; the contemplation of reflection is to be known through direct knowledge; the contemplation of turning away is to be known through direct knowledge.
Sự tùy quán vô thường cần được thắng tri; sự tùy quán khổ cần được thắng tri; sự tùy quán vô ngã cần được thắng tri; sự tùy quán yếm ly cần được thắng tri; sự tùy quán ly tham cần được thắng tri; sự tùy quán đoạn diệt cần được thắng tri; sự tùy quán từ bỏ cần được thắng tri; sự tùy quán về sự tiêu mất cần được thắng tri; sự tùy quán về sự hoại diệt cần được thắng tri; sự tùy quán về sự biến hoại cần được thắng tri; sự tùy quán vô tướng cần được thắng tri; sự tùy quán vô nguyện cần được thắng tri; sự tùy quán về tánh không cần được thắng tri; sự quán minh sát các pháp với trí tuệ cao hơn cần được thắng tri; sự thấy biết như thật cần được thắng tri; sự tùy quán về sự nguy hại cần được thắng tri; sự tùy quán duyệt xét cần được thắng tri; sự tùy quán về sự xoay bỏ cần được thắng tri.
19. Sotāpattimaggo abhiññeyyo; sotāpattiphalasamāpatti abhiññeyyā; sakadāgāmimaggo abhiññeyyo; sakadāgāmiphalasamāpatti abhiññeyyā; anāgāmimaggo abhiññeyyo; anāgāmiphalasamāpatti abhiññeyyā; arahattamaggo abhiññeyyo; arahattaphalasamāpatti abhiññeyyā.
19. The path of stream-entry is to be known through direct knowledge; the fruition attainment of stream-entry is to be known through direct knowledge; the path of once-returning is to be known through direct knowledge; the fruition attainment of once-returning is to be known through direct knowledge; the path of non-returning is to be known through direct knowledge; the fruition attainment of non-returning is to be known through direct knowledge; the path of arahantship is to be known through direct knowledge; the fruition attainment of arahantship is to be known through direct knowledge.
19. Đạo Tu-đà-hoàn cần được thắng tri; sự chứng đắc quả Tu-đà-hoàn cần được thắng tri; đạo Tư-đà-hàm cần được thắng tri; sự chứng đắc quả Tư-đà-hàm cần được thắng tri; đạo A-na-hàm cần được thắng tri; sự chứng đắc quả A-na-hàm cần được thắng tri; đạo A-la-hán cần được thắng tri; sự chứng đắc quả A-la-hán cần được thắng tri.
Adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ abhiññeyyaṃ; paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ abhiññeyyaṃ; upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ abhiññeyyaṃ; avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ abhiññeyyaṃ; dassanaṭṭhena paññindriyaṃ abhiññeyyaṃ; assaddhiye akampiyaṭṭhena saddhābalaṃ abhiññeyyaṃ; kosajje akampiyaṭṭhena vīriyabalaṃ abhiññeyyaṃ; pamāde akampiyaṭṭhena satibalaṃ abhiññeyyaṃ; uddhacce akampiyaṭṭhena samādhibalaṃ abhiññeyyaṃ; avijjāya akampiyaṭṭhena paññābalaṃ abhiññeyyaṃ; upaṭṭhānaṭṭhena satisambojjhaṅgo abhiññeyyo; pavicayaṭṭhena dhammavicayasambojjhaṅgo abhiññeyyo; paggahaṭṭhena vīriyasambojjhaṅgo abhiññeyyo; pharaṇaṭṭhena pītisambojjhaṅgo abhiññeyyo; upasamaṭṭhena passaddhisambojjhaṅgo abhiññeyyo; avikkhepaṭṭhena samādhisambojjhaṅgo abhiññeyyo; paṭisaṅkhānaṭṭhena upekkhāsambojjhaṅgo abhiññeyyo.
The faculty of faith, in the sense of resolution, is to be fully understood; the faculty of energy, in the sense of exertion, is to be fully understood; the faculty of mindfulness, in the sense of establishment, is to be fully understood; the faculty of concentration, in the sense of non-distraction, is to be fully understood; the faculty of wisdom, in the sense of seeing, is to be fully understood. The power of faith, in the sense of being unshakable in the face of lack of faith, is to be fully understood; the power of energy, in the sense of being unshakable in the face of laziness, is to be fully understood; the power of mindfulness, in the sense of being unshakable in the face of heedlessness, is to be fully understood; the power of concentration, in the sense of being unshakable in the face of restlessness, is to be fully understood; the power of wisdom, in the sense of being unshakable in the face of ignorance, is to be fully understood. The enlightenment factor of mindfulness, in the sense of establishment, is to be fully understood; the enlightenment factor of investigation of phenomena, in the sense of investigation, is to be fully understood; the enlightenment factor of energy, in the sense of exertion, is to be fully understood; the enlightenment factor of rapture, in the sense of suffusion, is to be fully understood; the enlightenment factor of tranquility, in the sense of pacification, is to be fully understood; the enlightenment factor of concentration, in the sense of non-distraction, is to be fully understood; the enlightenment factor of equanimity, in the sense of reflection, is to be fully understood.
Tín quyền cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự quyết định; tấn quyền cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự nâng đỡ; niệm quyền cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự hiện khởi; định quyền cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự không phân tán; tuệ quyền cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự thấy; tín lực cần được thắng tri theo ý nghĩa là không lay động bởi sự vô tín; tấn lực cần được thắng tri theo ý nghĩa là không lay động bởi sự biếng nhác; niệm lực cần được thắng tri theo ý nghĩa là không lay động bởi sự phóng dật; định lực cần được thắng tri theo ý nghĩa là không lay động bởi sự trạo cử; tuệ lực cần được thắng tri theo ý nghĩa là không lay động bởi sự vô minh; niệm giác chi cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự hiện khởi; trạch pháp giác chi cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự thẩm sát; tấn giác chi cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự nâng đỡ; hỷ giác chi cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự lan tràn; khinh an giác chi cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự an tịnh; định giác chi cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự không phân tán; xả giác chi cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự quán xét.
Dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi abhiññeyyā; abhiniropanaṭṭhena sammāsaṅkappo abhiññeyyo; pariggahaṭṭhena sammāvācā abhiññeyyā; samuṭṭhānaṭṭhena sammākammanto abhiññeyyo; vodānaṭṭhena sammāājīvo abhiññeyyo; paggahaṭṭhena sammāvāyāmo abhiññeyyo; upaṭṭhānaṭṭhena sammāsati abhiññeyyā; avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi abhiññeyyo.
Right view, in the sense of seeing, is to be fully understood; right intention, in the sense of directing onto the object, is to be fully understood; right speech, in the sense of restraining, is to be fully understood; right action, in the sense of origination, is to be fully understood; right livelihood, in the sense of cleansing, is to be fully understood; right effort, in the sense of exertion, is to be fully understood; right mindfulness, in the sense of establishment, is to be fully understood; right concentration, in the sense of non-distraction, is to be fully understood.
Chánh kiến cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự thấy; chánh tư duy cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự hướng đến; chánh ngữ cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự thu nhiếp; chánh nghiệp cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự làm khởi sanh; chánh mạng cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự trong sạch; chánh tinh tấn cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự nâng đỡ; chánh niệm cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự hiện khởi; chánh định cần được thắng tri theo ý nghĩa là sự không phân tán.
Ādhipateyyaṭṭhena indriyā abhiññeyyā; akampiyaṭṭhena balā abhiññeyyā; niyyānaṭṭhena bojjhaṅgā abhiññeyyā; hetuṭṭhena maggo abhiññeyyo; upaṭṭhānaṭṭhena satipaṭṭhānā abhiññeyyā; padahanaṭṭhena sammappadhānā abhiññeyyā; ijjhanaṭṭhena iddhipādā abhiññeyyā; tathaṭṭhena saccā abhiññeyyā; avikkhepaṭṭhena samatho abhiññeyyo; anupassanaṭṭhena vipassanā abhiññeyyā; ekarasaṭṭhena samathavipassanā abhiññeyyā; anativattanaṭṭhena yuganaddhaṃ abhiññeyyaṃ.
The faculties, in the sense of sovereignty, are to be fully understood; the powers, in the sense of unshakeability, are to be fully understood; the factors of enlightenment, in the sense of leading out, are to be fully understood; the path, in the sense of being the cause, is to be fully understood; the foundations of mindfulness, in the sense of establishment, are to be fully understood; the right exertions, in the sense of striving, are to be fully understood; the bases of spiritual power, in the sense of accomplishment, are to be fully understood; the truths, in the sense of factuality, are to be fully understood; serenity, in the sense of non-distraction, is to be fully understood; insight, in the sense of repeated contemplation, is to be fully understood; serenity and insight, in the sense of having a single function, are to be fully understood; the coupling, in the sense of non-transgression, is to be fully understood.
Các quyền cần được thắng tri theo nghĩa làm chủ; các lực cần được thắng tri theo nghĩa không lay động; các giác chi cần được thắng tri theo nghĩa xuất ly; đạo cần được thắng tri theo nghĩa là nhân; các niệm xứ cần được thắng tri theo nghĩa hiện diện; các chánh cần cần được thắng tri theo nghĩa tinh tấn; các như ý túc cần được thắng tri theo nghĩa thành tựu; các sự thật cần được thắng tri theo nghĩa như thật; chỉ cần được thắng tri theo nghĩa không tán loạn; quán cần được thắng tri theo nghĩa tùy quán; chỉ-quán cần được thắng tri theo nghĩa có một phận sự; song tu cần được thắng tri theo nghĩa không vượt qua.
Saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi abhiññeyyā; avikkhepaṭṭhena cittavisuddhi abhiññeyyā; dassanaṭṭhena diṭṭhivisuddhi abhiññeyyā; muttaṭṭhena vimokkho abhiññeyyo; paṭivedhaṭṭhena vijjā abhiññeyyā; pariccāgaṭṭhena vimutti abhiññeyyā; samucchedaṭṭhena khaye ñāṇaṃ abhiññeyyaṃ; paṭippassaddhaṭṭhena anuppāde ñāṇaṃ abhiññeyyaṃ.
The purification of virtue, in the sense of restraint, is to be fully understood; the purification of mind, in the sense of non-distraction, is to be fully understood; the purification of view, in the sense of seeing, is to be fully understood; liberation, in the sense of release, is to be fully understood; true knowledge, in the sense of penetration, is to be fully understood; deliverance, in the sense of relinquishment, is to be fully understood; the knowledge of destruction, in the sense of uprooting, is to be fully understood; the knowledge of non-arising, in the sense of pacification, is to be fully understood.
Giới thanh tịnh cần được thắng tri theo nghĩa phòng hộ; tâm thanh tịnh cần được thắng tri theo nghĩa không tán loạn; kiến thanh tịnh cần được thắng tri theo nghĩa thấy; giải thoát cần được thắng tri theo nghĩa giải thoát; minh cần được thắng tri theo nghĩa thông suốt; sự giải thoát cần được thắng tri theo nghĩa từ bỏ; trí về sự đoạn tận cần được thắng tri theo nghĩa đoạn tuyệt; trí về sự không sanh khởi cần được thắng tri theo nghĩa lắng dịu.
20. Chando mūlaṭṭhena abhiññeyyo; manasikāro samuṭṭhānaṭṭhena abhiññeyyo; phasso samodhānaṭṭhena abhiññeyyo; vedanā samosaraṇaṭṭhena abhiññeyyā; samādhi pamukhaṭṭhena abhiññeyyo; sati ādhipateyyaṭṭhena abhiññeyyā; paññā tatuttaraṭṭhena abhiññeyyā; vimutti sāraṭṭhena abhiññeyyā; amatogadhaṃ nibbānaṃ pariyosānaṭṭhena abhiññeyyaṃ.
20. Zeal, in the sense of being the root, is to be fully understood; attention, in the sense of origination, is to be fully understood; contact, in the sense of confluence, is to be fully understood; feeling, in the sense of convergence, is to be fully understood; concentration, in the sense of being foremost, is to be fully understood; mindfulness, in the sense of sovereignty, is to be fully understood; wisdom, in the sense of being supreme, is to be fully understood; deliverance, in the sense of being the essence, is to be fully understood; Nibbāna, the plunge into the deathless, in the sense of being the culmination, is to be fully understood.
20. Dục cần được thắng tri theo nghĩa là căn bản; tác ý cần được thắng tri theo nghĩa là khởi sanh; xúc cần được thắng tri theo nghĩa là hội hợp; thọ cần được thắng tri theo nghĩa là quy tụ; định cần được thắng tri theo nghĩa là chủ yếu; niệm cần được thắng tri theo nghĩa là làm chủ; tuệ cần được thắng tri theo nghĩa là tối thượng; giải thoát cần được thắng tri theo nghĩa là cốt lõi; Niết-bàn, sự thể nhập vào bất tử, cần được thắng tri theo nghĩa là cứu cánh.
Ye ye dhammā abhiññātā honti te te dhammā ñātā honti. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘ime dhammā abhiññeyyāti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇa’’nti.
Whatever phenomena have been fully known, those phenomena are known. It is knowledge in the sense of knowing; it is wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: ‘These phenomena are to be fully understood’ is the giving of ear; the wisdom that discerns that is knowledge based on hearing.
Những pháp nào đã được thắng tri, những pháp ấy đã được biết đến. Theo nghĩa biết được điều ấy là trí, theo nghĩa biết rõ là tuệ. Do đó có lời dạy rằng: “‘Các pháp này cần được thắng tri’ là sự lắng nghe, tuệ biết rõ điều ấy là văn sở thành trí.”
Dutiyabhāṇavāro.
End of the Second Recitation.
Dứt phẩm thứ hai.
21. Kathaṃ ‘‘ime dhammā pariññeyyā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ?
21. How is it that ‘These phenomena are to be fully comprehended’ is the giving of ear, and that the wisdom that discerns that is knowledge based on hearing?
21. Thế nào là “‘các pháp này cần được liễu tri’ là sự lắng nghe, tuệ biết rõ điều ấy là văn sở thành trí?”
Eko dhammo pariññeyyo – phasso sāsavo upādāniyo. Dve dhammā pariññeyyā – nāmañca rūpañca. Tayo dhammā pariññeyyā – tisso vedanā. Cattāro dhammā pariññeyyā – cattāro āhārā. Pañca dhammā pariññeyyā – pañcupādānakkhandhā. Cha dhammā pariññeyyā – cha ajjhattikāni āyatanāni. Satta dhammā pariññeyyā – satta viññāṇaṭṭhitiyo. Aṭṭha dhammā pariññeyyā – aṭṭha lokadhammā. Nava dhammā pariññeyyā – nava sattāvāsā. Dasa dhammā pariññeyyā – dasāyatanāni.
One dhamma is to be fully comprehended: contact that is with cankers and is an object of clinging. Two dhammas are to be fully comprehended: name and form. Three dhammas are to be fully comprehended: the three feelings. Four dhammas are to be fully comprehended: the four nutriments. Five dhammas are to be fully comprehended: the five aggregates of clinging. Six dhammas are to be fully comprehended: the six internal sense bases. Seven dhammas are to be fully comprehended: the seven stations of consciousness. Eight dhammas are to be fully comprehended: the eight worldly conditions. Nine dhammas are to be fully comprehended: the nine abodes of beings. Ten dhammas are to be fully comprehended: the ten sense bases.
Một pháp cần được liễu tri: xúc hữu lậu, thuộc thủ. Hai pháp cần được liễu tri: danh và sắc. Ba pháp cần được liễu tri: ba cảm thọ. Bốn pháp cần được liễu tri: bốn món ăn. Năm pháp cần được liễu tri: năm thủ uẩn. Sáu pháp cần được liễu tri: sáu nội xứ. Bảy pháp cần được liễu tri: bảy trú của thức. Tám pháp cần được liễu tri: tám pháp thế gian. Chín pháp cần được liễu tri: chín trú của chúng sanh. Mười pháp cần được liễu tri: mười xứ.
‘‘Sabbaṃ, bhikkhave, pariññeyyaṃ. Kiñca, bhikkhave, sabbaṃ pariññeyyaṃ? Cakkhu, bhikkhave, pariññeyyaṃ; rūpā pariññeyyā; cakkhuviññāṇaṃ pariññeyyaṃ; cakkhusamphasso pariññeyyo; yampidaṃ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, tampi pariññeyyaṃ. Sotaṃ pariññeyyaṃ; saddā pariññeyyā…pe… ghānaṃ pariññeyyaṃ, gandhā pariññeyyā… jivhā pariññeyyā; rasā pariññeyyā… kāyo pariññeyyo; phoṭṭhabbā pariññeyyā…pe… mano pariññeyyo; dhammā pariññeyyā… manoviññāṇaṃ pariññeyyaṃ; manosamphasso pariññeyyo; yampidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, tampi pariññeyyaṃ.’’ Rūpaṃ pariññeyyaṃ…pe… vedanā pariññeyyā… saññā pariññeyyā… saṅkhārā pariññeyyā… viññāṇaṃ pariññeyyaṃ… cakkhu pariññeyyaṃ…pe… jarāmaraṇaṃ pariññeyyaṃ… amatogadhaṃ nibbānaṃ pariyosānaṭṭhena pariññeyyaṃ. Yesaṃ yesaṃ dhammānaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa te te dhammā paṭiladdhā honti, evaṃ te dhammā pariññātā ceva honti tīritā ca.
“Bhikkhus, all is to be fully comprehended. And what, bhikkhus, is the all that is to be fully comprehended? The eye, bhikkhus, is to be fully comprehended; forms are to be fully comprehended; eye-consciousness is to be fully comprehended; eye-contact is to be fully comprehended; and whatever feeling arises with eye-contact as condition—pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant—that too is to be fully comprehended. The ear is to be fully comprehended; sounds are to be fully comprehended… The nose is to be fully comprehended; odors are to be fully comprehended… The tongue is to be fully comprehended; tastes are to be fully comprehended… The body is to be fully comprehended; tangible objects are to be fully comprehended… The mind is to be fully comprehended; mental phenomena are to be fully comprehended; mind-consciousness is to be fully comprehended; mind-contact is to be fully comprehended; and whatever feeling arises with mind-contact as condition—pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant—that too is to be fully comprehended. Form is to be fully comprehended… feeling is to be fully comprehended… perception is to be fully comprehended… formations are to be fully comprehended… consciousness is to be fully comprehended… the eye is to be fully comprehended… aging-and-death is to be fully comprehended… Nibbāna, which plunges into the Deathless, is to be fully comprehended as the culmination. For whatever dhammas one strives to attain, those very dhammas are attained. Thus those dhammas are both fully comprehended and determined.”
“Này các Tỳ khưu, tất cả cần được liễu tri. Và này các Tỳ khưu, thế nào là tất cả cần được liễu tri? Này các Tỳ khưu, mắt cần được liễu tri; các sắc cần được liễu tri; nhãn thức cần được liễu tri; nhãn xúc cần được liễu tri; và cảm thọ nào sanh khởi do duyên nhãn xúc, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng cần được liễu tri. Tai cần được liễu tri; các tiếng cần được liễu tri... cho đến... mũi cần được liễu tri, các mùi cần được liễu tri... lưỡi cần được liễu tri; các vị cần được liễu tri... thân cần được liễu tri; các vật xúc chạm cần được liễu tri... cho đến... ý cần được liễu tri; các pháp cần được liễu tri... ý thức cần được liễu tri; ý xúc cần được liễu tri; và cảm thọ nào sanh khởi do duyên ý xúc, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng cần được liễu tri.” Sắc cần được liễu tri... cho đến... thọ cần được liễu tri... tưởng cần được liễu tri... các hành cần được liễu tri... thức cần được liễu tri... mắt cần được liễu tri... cho đến... già-chết cần được liễu tri... Niết-bàn, sự thể nhập vào bất tử, cần được liễu tri theo nghĩa là cứu cánh. Đối với những pháp nào mà người đang cố gắng để thành tựu, những pháp ấy được vị ấy thành tựu. Như vậy, những pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát.
22. Nekkhammaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa nekkhammaṃ paṭiladdhaṃ hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Abyāpādaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa abyāpādo paṭiladdho hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Ālokasaññaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa ālokasaññā paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Avikkhepaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa avikkhepo paṭiladdho hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Dhammavavatthānaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa dhammavavatthānaṃ paṭiladdhaṃ hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Ñāṇaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa ñāṇaṃ paṭiladdhaṃ hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Pāmojjaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa pāmojjaṃ paṭiladdhaṃ hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca.
22. For one striving to attain jhāna, jhāna is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and investigated. For one striving to attain non-ill-will, non-ill-will is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and investigated. For one striving to attain the perception of light, the perception of light is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and investigated. For one striving to attain non-distraction, non-distraction is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and investigated. For one striving to attain the analysis of phenomena, the analysis of phenomena is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and investigated. For one striving to attain knowledge, knowledge is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and investigated. For one striving to attain gladness, gladness is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and investigated.
22. Người đang cố gắng để thành tựu sự xuất ly, vị ấy thành tựu được sự xuất ly. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Người đang cố gắng để thành tựu sự vô sân, vị ấy thành tựu được sự vô sân. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Người đang cố gắng để thành tựu tưởng về ánh sáng, vị ấy thành tựu được tưởng về ánh sáng. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Người đang cố gắng để thành tựu sự không tán loạn, vị ấy thành tựu được sự không tán loạn. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Người đang cố gắng để thành tựu sự xác định các pháp, vị ấy thành tựu được sự xác định các pháp. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Người đang cố gắng để thành tựu trí, vị ấy thành tựu được trí. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Người đang cố gắng để thành tựu sự hân hoan, vị ấy thành tựu được sự hân hoan. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát.
Paṭhamaṃ jhānaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa paṭhamaṃ jhānaṃ paṭiladdhaṃ hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Dutiyaṃ jhānaṃ…pe… tatiyaṃ jhānaṃ… catutthaṃ jhānaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa catutthaṃ jhānaṃ paṭiladdhaṃ hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Ākāsānañcāyatanasamāpattiṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa ākāsānañcāyatanasamāpatti paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Viññāṇañcāyatanasamāpattiṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa viññāṇañcāyatanasamāpatti paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Ākiñcaññāyatanasamāpattiṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa ākiñcaññāyatanasamāpatti paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa nevasaññānāsaññāyatanasamāpatti paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca.
For one striving to attain the first jhāna, the first jhāna is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and determined. For one striving to attain the second jhāna… the third jhāna… the fourth jhāna, the fourth jhāna is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and determined. For one striving to attain the attainment of the base of the infinity of space, the attainment of the base of the infinity of space is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and determined. For one striving to attain the attainment of the base of the infinity of consciousness, the attainment of the base of the infinity of consciousness is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and determined. For one striving to attain the attainment of the base of nothingness, the attainment of the base of nothingness is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and determined. For one striving to attain the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception, the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and determined.
Đối với người nỗ lực để chứng đắc sơ thiền, sơ thiền được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Nhị thiền... tóm tắt... tam thiền... Đối với người nỗ lực để chứng đắc tứ thiền, tứ thiền được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc Không Vô Biên Xứ, Không Vô Biên Xứ được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc Thức Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ, Vô Sở Hữu Xứ được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát.
Aniccānupassanaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa aniccānupassanā paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Dukkhānupassanaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa dukkhānupassanā paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Anattānupassanaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa anattānupassanā paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Nibbidānupassanaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa nibbidānupassanā paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Virāgānupassanaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa virāgānupassanā paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Nirodhānupassanaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa nirodhānupassanā paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Paṭinissaggānupassanaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa paṭinissaggānupassanā paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Khayānupassanaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa khayānupassanā paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Vayānupassanaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa vayānupassanā paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Vipariṇāmānupassanaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa vipariṇāmānupassanā paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Animittānupassanaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa animittānupassanā paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Appaṇihitānupassanaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa appaṇihitānupassanā paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Suññatānupassanaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa suññatānupassanā paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca.
For one striving to attain the contemplation of impermanence, the contemplation of impermanence is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and judged. For one striving to attain the contemplation of suffering, the contemplation of suffering is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and judged. For one striving to attain the contemplation of not-self, the contemplation of not-self is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and judged. For one striving to attain the contemplation of disenchantment, the contemplation of disenchantment is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and judged. For one striving to attain the contemplation of dispassion, the contemplation of dispassion is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and judged. For one striving to attain the contemplation of cessation, the contemplation of cessation is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and judged. For one striving to attain the contemplation of relinquishment, the contemplation of relinquishment is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and judged. For one striving to attain the contemplation of destruction, the contemplation of destruction is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and judged. For one striving to attain the contemplation of vanishing, the contemplation of vanishing is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and judged. For one striving to attain the contemplation of change, the contemplation of change is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and judged. For one striving to attain the contemplation of the signless, the contemplation of the signless is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and judged. For one striving to attain the contemplation of the desireless, the contemplation of the desireless is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and judged. For one striving to attain the contemplation of emptiness, the contemplation of emptiness is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and judged.
Đối với người nỗ lực để chứng đắc quán vô thường, quán vô thường được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc quán khổ, quán khổ được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc quán vô ngã, quán vô ngã được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc quán yếm ly, quán yếm ly được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc quán ly tham, quán ly tham được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc quán diệt, quán diệt được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc quán từ bỏ, quán từ bỏ được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc quán sự tận diệt, quán sự tận diệt được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc quán sự hoại diệt, quán sự hoại diệt được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc quán sự biến hoại, quán sự biến hoại được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc quán vô tướng, quán vô tướng được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc quán vô nguyện, quán vô nguyện được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc quán không, quán không được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát.
Adhipaññādhammavipassanaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa adhipaññādhammavipassanā paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Yathābhūtañāṇadassanaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa yathābhūtañāṇadassanaṃ paṭiladdhaṃ hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Ādīnavānupassanaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa ādīnavānupassanā paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Paṭisaṅkhānupassanaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa paṭisaṅkhānupassanā paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Vivaṭṭanānupassanaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa vivaṭṭanānupassanā paṭiladdhā hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca.
For one striving to attain insight into phenomena through higher wisdom, insight into phenomena through higher wisdom is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and determined. For one striving to attain the knowledge and vision of things as they really are, the knowledge and vision of things as they really are is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and determined. For one striving to attain the contemplation of danger, the contemplation of danger is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and determined. For one striving to attain the contemplation of reflection, the contemplation of reflection is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and determined. For one striving to attain the contemplation of turning away, the contemplation of turning away is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and determined.
Đối với người nỗ lực để chứng đắc quán pháp thắng tuệ, quán pháp thắng tuệ được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc thấy biết như thật, thấy biết như thật được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc quán sự nguy hại, quán sự nguy hại được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc quán thẩm xét, quán thẩm xét được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc quán sự xoay khỏi, quán sự xoay khỏi được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát.
Sotāpattimaggaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa sotāpattimaggo paṭiladdho hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Sakadāgāmimaggaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa sakadāgāmimaggo paṭiladdho hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Anāgāmimaggaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa anāgāmimaggo paṭiladdho hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca. Arahattamaggaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa arahattamaggo paṭiladdho hoti. Evaṃ so dhammo pariññāto ceva hoti tīrito ca.
For one striving to attain the path of stream-entry, the path of stream-entry is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and determined. For one striving to attain the path of once-returning, the path of once-returning is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and determined. For one striving to attain the path of non-returning, the path of non-returning is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and determined. For one striving to attain the path of arahantship, the path of arahantship is attained. Thus that Dhamma is both fully comprehended and determined.
Đối với người nỗ lực để chứng đắc Dự Lưu đạo, Dự Lưu đạo được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc Nhất Lai đạo, Nhất Lai đạo được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc Bất Lai đạo, Bất Lai đạo được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Đối với người nỗ lực để chứng đắc A-la-hán đạo, A-la-hán đạo được chứng đắc. Như vậy, pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát.
Yesaṃ yesaṃ dhammānaṃ paṭilābhatthāya vāyamantassa te te dhammā paṭiladdhā honti. Evaṃ te dhammā pariññātā ceva honti tīritā ca. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘ime dhammā pariññeyyāti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇa’’nti.
For whatever phenomena one strives to attain, those very phenomena are attained. Thus those phenomena are both fully comprehended and determined. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: ‘These phenomena are to be fully comprehended’—this is attentive listening; the wisdom that discerns that is knowledge based on learning.
Đối với người nỗ lực để chứng đắc những pháp nào, những pháp ấy được chứng đắc. Như vậy, những pháp ấy vừa được liễu tri, vừa được thẩm sát. Điều đó, với ý nghĩa là biết nên là trí; với ý nghĩa là biết rõ nên là tuệ. Do đó, được nói rằng: ‘Sự lắng nghe rằng: ‘Những pháp này cần được liễu tri,’ tuệ biết rõ điều đó là văn sở thành trí.’”
23. Kathaṃ ‘‘ime dhammā pahātabbā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ?
23. How is [the teaching], 'These dhammas are to be abandoned,' attentive listening? How is the wisdom that understands that, knowledge based on hearing?
23. Thế nào là sự lắng nghe (sotāvadhāna) về câu ‘các pháp này cần được đoạn trừ,’ và trí tuệ liễu tri điều ấy (taṃpajānanā paññā) là trí tuệ do văn (sutamaye ñāṇa)?
Eko dhammo pahātabbo – asmimāno. Dve dhammā pahātabbā – avijjā ca bhavataṇhā ca. Tayo dhammā pahātabbā – tisso taṇhā. Cattāro dhammā pahātabbā – cattāro oghā. Pañca dhammā pahātabbā – pañca nīvaraṇāni. Cha dhammā pahātabbā – cha taṇhākāyā. Satta dhammā pahātabbā – sattānusayā. Aṭṭha dhammā pahātabbā – aṭṭha micchattā. Nava dhammā pahātabbā – nava taṇhāmūlakā. Dasa dhammā pahātabbā – dasa micchattā.
One dhamma is to be abandoned: the conceit 'I am.' Two dhammas are to be abandoned: ignorance and craving for existence. Three dhammas are to be abandoned: the three cravings. Four dhammas are to be abandoned: the four floods. Five dhammas are to be abandoned: the five hindrances. Six dhammas are to be abandoned: the six bodies of craving. Seven dhammas are to be abandoned: the seven underlying tendencies. Eight dhammas are to be abandoned: the eight wrongnesses. Nine dhammas are to be abandoned: the nine things rooted in craving. Ten dhammas are to be abandoned: the ten wrongnesses.
Một pháp cần được đoạn trừ – đó là ngã mạn (asmimāna). Hai pháp cần được đoạn trừ – đó là vô minh (avijjā) và hữu ái (bhavataṇhā). Ba pháp cần được đoạn trừ – đó là ba loại ái (taṇhā). Bốn pháp cần được đoạn trừ – đó là bốn bộc lưu (oghā). Năm pháp cần được đoạn trừ – đó là năm triền cái (nīvaraṇa). Sáu pháp cần được đoạn trừ – đó là sáu thân ái (taṇhākāya). Bảy pháp cần được đoạn trừ – đó là bảy tùy miên (anusaya). Tám pháp cần được đoạn trừ – đó là tám tà tánh (micchatta). Chín pháp cần được đoạn trừ – đó là chín pháp lấy ái làm gốc (taṇhāmūlaka). Mười pháp cần được đoạn trừ – đó là mười tà tánh (micchatta).
24. Dve pahānāni – samucchedappahānaṃ, paṭippassaddhippahānaṃ. Samucchedappahānañca lokuttaraṃ khayagāmimaggaṃ bhāvayato; paṭippassaddhippahānañca phalakkhaṇe. Tīṇi pahānāni – kāmānametaṃ nissaraṇaṃ yadidaṃ nekkhammaṃ; rūpānametaṃ nissaraṇaṃ yadidaṃ āruppaṃ; yaṃ kho pana kiñci bhūtaṃ saṅkhataṃ paṭiccasamuppannaṃ, nirodho tassa nissaraṇaṃ. Nekkhammaṃ paṭiladdhassa kāmā pahīnā ceva honti pariccattā ca. Āruppaṃ paṭiladdhassa rūpā pahīnā ceva honti pariccattā ca. Nirodhaṃ paṭiladdhassa saṅkhārā pahīnā ceva honti pariccattā ca. Cattāri pahānāni dukkhasaccaṃ pariññāpaṭivedhaṃ paṭivijjhanto pajahati; samudayasaccaṃ pahānapaṭivedhaṃ paṭivijjhanto pajahati; nirodhasaccaṃ sacchikiriyāpaṭivedhaṃ paṭivijjhanto pajahati; maggasaccaṃ bhāvanāpaṭivedhaṃ paṭivijjhanto pajahati. Pañca pahānāni – vikkhambhanappahānaṃ, tadaṅgappahānaṃ, samucchedappahānaṃ, paṭippassaddhippahānaṃ, nissaraṇappahānaṃ. Vikkhambhanappahānañca nīvaraṇānaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ bhāvayato; tadaṅgappahānañca diṭṭhigatānaṃ nibbedhabhāgiyaṃ samādhiṃ bhāvayato; samucchedappahānañca lokuttaraṃ khayagāmimaggaṃ bhāvayato; paṭippassaddhippahānañca phalakkhaṇe; nissaraṇappahānañca nirodho nibbānaṃ.
24. Two abandonments: abandonment by cutting off and abandonment by tranquilization. Abandonment by cutting off occurs for one who develops the supramundane path leading to exhaustion; abandonment by tranquilization occurs at the moment of fruition. Three abandonments: renunciation is the escape from sensual pleasures; the formless attainment is the escape from forms; and for whatever has come to be, is conditioned and dependently arisen, cessation is the escape from it. For one who has attained renunciation, sensual pleasures are both abandoned and relinquished. For one who has attained the formless attainment, forms are both abandoned and relinquished. For one who has attained cessation, formations are both abandoned and relinquished. Four abandonments: one abandons by penetrating to the full understanding of the truth of suffering; one abandons by penetrating to the abandonment of the truth of the origin; one abandons by penetrating to the realization of the truth of cessation; one abandons by penetrating to the development of the truth of the path. Five abandonments: abandonment by suppression, momentary abandonment, abandonment by cutting off, abandonment by tranquilization, and abandonment by escape. Abandonment by suppression of the hindrances occurs for one who develops the first jhāna; momentary abandonment of wrong views occurs for one who develops the concentration that partakes of disenchantment; abandonment by cutting off occurs for one who develops the supramundane path leading to exhaustion; abandonment by tranquilization occurs at the moment of fruition; abandonment by escape is cessation, Nibbāna.
24. Có hai sự đoạn trừ: tuyệt trừ đoạn (samucchedappahāna) và khinh an đoạn (paṭippassaddhippahāna). Tuyệt trừ đoạn xảy ra cho người tu tập đạo siêu thế, đạo đưa đến sự tận diệt; và khinh an đoạn xảy ra trong khoảnh khắc của quả. Có ba sự đoạn trừ: sự xuất ly này, tức là sự thoát khỏi các dục; sự vô sắc này, tức là sự thoát khỏi các sắc; và sự diệt này, tức là sự thoát khỏi bất cứ cái gì đã sinh khởi, có điều kiện, do duyên sinh. Đối với người đã đạt được sự xuất ly, các dục được đoạn trừ và từ bỏ. Đối với người đã đạt được sự vô sắc, các sắc được đoạn trừ và từ bỏ. Đối với người đã đạt được sự diệt, các hành được đoạn trừ và từ bỏ. Có bốn sự đoạn trừ: người ấy đoạn trừ trong khi thâm nhập liễu tri khổ đế; người ấy đoạn trừ trong khi thâm nhập đoạn trừ tập đế; người ấy đoạn trừ trong khi thâm nhập chứng ngộ diệt đế; người ấy đoạn trừ trong khi thâm nhập tu tập đạo đế. Có năm sự đoạn trừ: trấn phục đoạn (vikkhambhanappahāna), bỉ phần đoạn (tadaṅgappahāna), tuyệt trừ đoạn (samucchedappahāna), khinh an đoạn (paṭippassaddhippahāna), và xuất ly đoạn (nissaraṇappahāna). Trấn phục đoạn các triền cái xảy ra cho người tu tập thiền thứ nhất; bỉ phần đoạn các tà kiến xảy ra cho người tu tập định thuộc phần nhàm chán; tuyệt trừ đoạn xảy ra cho người tu tập đạo siêu thế, đạo đưa đến sự tận diệt; khinh an đoạn xảy ra trong khoảnh khắc của quả; và xuất ly đoạn chính là sự diệt, Niết-bàn.
‘‘Sabbaṃ, bhikkhave, pahātabbaṃ. Kiñca, bhikkhave, sabbaṃ pahātabbaṃ? Cakkhu, bhikkhave, pahātabbaṃ; rūpā pahātabbā; cakkhuviññāṇaṃ pahātabbaṃ; cakkhusamphasso pahātabbo; yampidaṃ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, tampi pahātabbaṃ. Sotaṃ pahātabbaṃ; saddā pahātabbā…pe… ghānaṃ pahātabbaṃ; gandhā pahātabbā… jivhā pahātabbā; rasā pahātabbā… kāyo pahātabbo; phoṭṭhabbā pahātabbā… mano pahātabbo; dhammā pahātabbā… manoviññāṇaṃ pahātabbaṃ;… manosamphasso pahātabbo; yampidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, tampi pahātabbaṃ.’’ Rūpaṃ passanto pajahati, vedanaṃ passanto pajahati, saññaṃ passanto pajahati, saṅkhāre passanto pajahati, viññāṇaṃ passanto pajahati. Cakkhuṃ…pe… jarāmaraṇaṃ…pe… amatogadhaṃ nibbānaṃ pariyosānaṭṭhena passanto pajahati. Ye ye dhammā pahīnā honti te te dhammā pariccattā honti. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘ime dhammā pahātabbāti sotāvadhānaṃ, taṃ pajānanā paññā sutamaye ñāṇa’’nti.
Bhikkhus, all is to be abandoned. And what, bhikkhus, is the all that is to be abandoned? The eye, bhikkhus, is to be abandoned; forms are to be abandoned; eye-consciousness is to be abandoned; eye-contact is to be abandoned; and whatever feeling arises conditioned by eye-contact—whether pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant—that too is to be abandoned. The ear is to be abandoned; sounds are to be abandoned… The nose is to be abandoned; odors are to be abandoned… The tongue is to be abandoned; tastes are to be abandoned… The body is to be abandoned; tangible objects are to be abandoned… The mind is to be abandoned; mental phenomena are to be abandoned… mind-consciousness is to be abandoned… mind-contact is to be abandoned; and whatever feeling arises conditioned by mind-contact—whether pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant—that too is to be abandoned. Seeing form, one abandons. Seeing feeling, one abandons. Seeing perception, one abandons. Seeing formations, one abandons. Seeing consciousness, one abandons. The eye… aging-and-death… one abandons by seeing Nibbāna, which is the entry into the Deathless, as the final end. Whatever phenomena have been abandoned, those phenomena have been relinquished. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: 'These phenomena are to be abandoned'—this is giving ear; the wisdom that discerns that is knowledge born of hearing.
‘Này các Tỳ khưu, tất cả cần được đoạn trừ. Và này các Tỳ khưu, thế nào là tất cả cần được đoạn trừ? Này các Tỳ khưu, mắt cần được đoạn trừ; các sắc cần được đoạn trừ; nhãn thức cần được đoạn trừ; nhãn xúc cần được đoạn trừ; và bất cứ cảm thọ nào khởi lên do duyên nhãn xúc, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, cảm thọ ấy cũng cần được đoạn trừ. Tai cần được đoạn trừ; các âm thanh cần được đoạn trừ… Mũi cần được đoạn trừ; các mùi hương cần được đoạn trừ… Lưỡi cần được đoạn trừ; các vị cần được đoạn trừ… Thân cần được đoạn trừ; các vật xúc chạm cần được đoạn trừ… Ý cần được đoạn trừ; các pháp cần được đoạn trừ… ý thức cần được đoạn trừ;… ý xúc cần được đoạn trừ; và bất cứ cảm thọ nào khởi lên do duyên ý xúc, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, cảm thọ ấy cũng cần được đoạn trừ.’ Vị ấy đoạn trừ trong khi thấy sắc, đoạn trừ trong khi thấy thọ, đoạn trừ trong khi thấy tưởng, đoạn trừ trong khi thấy các hành, đoạn trừ trong khi thấy thức. Mắt… già và chết… vị ấy đoạn trừ trong khi thấy Niết-bàn, nơi đi vào sự bất tử, với ý nghĩa là sự kết thúc. Những pháp nào đã được đoạn trừ, những pháp ấy đã được từ bỏ. Điều đó là trí (ñāṇa) theo nghĩa là biết, là tuệ (paññā) theo nghĩa là liễu tri. Do đó, được nói rằng: ‘Sự lắng nghe về câu “các pháp này cần được đoạn trừ,” và trí tuệ liễu tri điều ấy là trí tuệ do văn.’
Tatiyabhāṇavāro.
The Third Recitation Section.
Phẩm thứ ba.
25. Kathaṃ ‘‘ime dhammā bhāvetabbā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ?
25. How is it that 'These phenomena are to be developed' is giving ear, and the wisdom that discerns that is knowledge born of hearing?
25. Thế nào là sự lắng nghe (sotāvadhāna) về câu ‘các pháp này cần được tu tập,’ và trí tuệ liễu tri điều ấy (taṃpajānanā paññā) là trí tuệ do văn (sutamaye ñāṇa)?
Eko dhammo bhāvetabbo – kāyagatāsati sātasahagatā. Dve dhammā bhāvetabbā – samatho ca vipassanā ca. Tayo dhammā bhāvetabbā – tayo samādhī. Cattāro dhammā bhāvetabbā – cattāro satipaṭṭhānā. Pañca dhammā bhāvetabbā – pañcaṅgiko samādhi †. Cha dhammā bhāvetabbā – cha anussatiṭṭhānāni. Satta dhammā bhāvetabbā – satta bojjhaṅgā. Aṭṭha dhammā bhāvetabbā – ariyo aṭṭhaṅgiko maggo. Nava dhammā bhāvetabbā – nava pārisuddhipadhāniyaṅgāni. Dasa dhammā bhāvetabbā – dasa kasiṇāyatanāni.
One thing is to be developed: mindfulness directed to the body accompanied by pleasure. Two things are to be developed: serenity and insight. Three things are to be developed: the three kinds of concentration. Four things are to be developed: the four establishments of mindfulness. Five things are to be developed: the five-factored concentration. Six things are to be developed: the six bases for recollection. Seven things are to be developed: the seven factors of enlightenment. Eight things are to be developed: the Noble Eightfold Path. Nine things are to be developed: the nine factors of striving for purification. Ten things are to be developed: the ten kasiṇa bases.
Một pháp cần được tu tập – đó là niệm thân đi kèm với sự hoan hỷ (kāyagatāsati sātasahagatā). Hai pháp cần được tu tập – đó là chỉ (samatha) và quán (vipassanā). Ba pháp cần được tu tập – đó là ba loại định (samādhi). Bốn pháp cần được tu tập – đó là bốn niệm xứ (satipaṭṭhāna). Năm pháp cần được tu tập – đó là định năm chi (pañcaṅgika samādhi). Sáu pháp cần được tu tập – đó là sáu xứ tùy niệm (anussatiṭṭhāna). Bảy pháp cần được tu tập – đó là bảy giác chi (bojjhaṅga). Tám pháp cần được tu tập – đó là Thánh đạo tám ngành (ariyo aṭṭhaṅgiko maggo). Chín pháp cần được tu tập – đó là chín chi phần tinh cần thanh tịnh (pārisuddhipadhāniyaṅga). Mười pháp cần được tu tập – đó là mười biến xứ (kasiṇāyatana).
26. Dve bhāvanā – lokiyā ca bhāvanā, lokuttarā ca bhāvanā. Tisso bhāvanā – rūpāvacarakusalānaṃ dhammānaṃ bhāvanā, arūpāvacarakusalānaṃ dhammānaṃ bhāvanā, apariyāpannakusalānaṃ dhammānaṃ bhāvanā. Rūpāvacarakusalānaṃ dhammānaṃ bhāvanā atthi hīnā, atthi majjhimā, atthi paṇītā. Arūpāvacarakusalānaṃ dhammānaṃ bhāvanā atthi hīnā, atthi majjhimā, atthi paṇītā. Apariyāpannakusalānaṃ dhammānaṃ bhāvanā paṇītā.
26. Two kinds of development: mundane development and supramundane development. Three kinds of development: development of wholesome states pertaining to the form sphere, development of wholesome states pertaining to the formless sphere, and development of unincluded wholesome states. The development of wholesome states pertaining to the form sphere can be inferior, middling, or superior. The development of wholesome states pertaining to the formless sphere can be inferior, middling, or superior. The development of unincluded wholesome states is superior.
26. Có hai sự tu tập: tu tập hiệp thế (lokiyā bhāvanā) và tu tập siêu thế (lokuttarā bhāvanā). Có ba sự tu tập: tu tập các pháp thiện sắc giới, tu tập các pháp thiện vô sắc giới, và tu tập các pháp thiện không thuộc về (tam giới). Sự tu tập các pháp thiện sắc giới có thể là hạ, trung, hoặc thượng. Sự tu tập các pháp thiện vô sắc giới có thể là hạ, trung, hoặc thượng. Sự tu tập các pháp thiện không thuộc về (tam giới) chỉ có thượng.
27. Catasso bhāvanā – dukkhasaccaṃ pariññāpaṭivedhaṃ paṭivijjhanto bhāveti, samudayasaccaṃ pahānappaṭivedhaṃ paṭivijjhanto bhāveti, nirodhasaccaṃ sacchikiriyāpaṭivedhaṃ paṭivijjhanto bhāveti, maggasaccaṃ bhāvanāpaṭivedhaṃ paṭivijjhanto bhāveti. Imā catasso bhāvanā.
27. Four kinds of development: one develops by penetrating the full understanding of the truth of suffering; one develops by penetrating the abandonment of the truth of the origin; one develops by penetrating the realization of the truth of cessation; one develops by penetrating the development of the truth of the path. These are the four kinds of development.
27. Có bốn sự tu tập: vị ấy tu tập trong khi thâm nhập liễu tri khổ đế, vị ấy tu tập trong khi thâm nhập đoạn trừ tập đế, vị ấy tu tập trong khi thâm nhập chứng ngộ diệt đế, vị ấy tu tập trong khi thâm nhập tu tập đạo đế. Đây là bốn sự tu tập.
Aparāpi catasso bhāvanā – esanābhāvanā, paṭilābhābhāvanā, ekarasābhāvanā, āsevanābhāvanā. Katamā esanābhāvanā? Sabbesaṃ samādhiṃ samāpajjantānaṃ tattha jātā dhammā ekarasā hontīti – ayaṃ esanābhāvanā. Katamā paṭilābhābhāvanā? Sabbesaṃ samādhiṃ samāpannānaṃ tattha jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – ayaṃ paṭilābhābhāvanā. Katamā ekarasābhāvanā? Adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ bhāvayato saddhindriyassa vasena cattāri indriyāni ekarasā hontīti – indriyānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ bhāvayato vīriyindriyassa vasena cattāri indriyāni ekarasā hontīti – indriyānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ bhāvayato satindriyassa vasena cattāri indriyāni ekarasā hontīti – indriyānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ bhāvayato samādhindriyassa vasena cattāri indriyāni ekarasā hontīti – indriyānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Dassanaṭṭhena paññindriyaṃ bhāvayato paññindriyassa vasena cattāri indriyāni ekarasā hontīti – indriyānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā.
There are another four kinds of development: development as searching, development as attainment, development as a single function, and development as cultivation. What is development as searching? That for all who are attaining concentration, the states that have arisen therein have a single function—this is development as searching. What is development as attainment? That for all who have attained concentration, the states that have arisen therein do not overcome one another—this is development as attainment. What is development as a single function? When one develops the faith faculty in the sense of resolution, by means of the faith faculty the four faculties become of a single function—this is development in the sense of the faculties having a single function. When one develops the energy faculty in the sense of exertion, by means of the energy faculty the four faculties become of a single function—this is development in the sense of the faculties having a single function. When one develops the mindfulness faculty in the sense of establishment, by means of the mindfulness faculty the four faculties become of a single function—this is development in the sense of the faculties having a single function. When one develops the concentration faculty in the sense of non-distraction, by means of the concentration faculty the four faculties become of a single function—this is development in the sense of the faculties having a single function. When one develops the wisdom faculty in the sense of seeing, by means of the wisdom faculty the four faculties become of a single function—this is development in the sense of the faculties having a single function.
Lại nữa, có bốn sự tu tiến: sự tu tiến tìm cầu, sự tu tiến thành tựu, sự tu tiến đồng một phận sự, sự tu tiến thực hành. Sự tu tiến tìm cầu là gì? Đối với tất cả những vị đang chứng nhập định, các pháp sanh khởi ở trong ấy có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến tìm cầu. Sự tu tiến thành tựu là gì? Đối với tất cả những vị đã chứng nhập định, các pháp sanh khởi ở trong ấy không vượt qua lẫn nhau. Đây là sự tu tiến thành tựu. Sự tu tiến đồng một phận sự là gì? Đối với vị tu tiến tín quyền về phương diện quyết đoán, do năng lực của tín quyền, bốn quyền còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các quyền về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến tấn quyền về phương diện nỗ lực, do năng lực của tấn quyền, bốn quyền còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các quyền về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến niệm quyền về phương diện an trú, do năng lực của niệm quyền, bốn quyền còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các quyền về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến định quyền về phương diện không phân tán, do năng lực của định quyền, bốn quyền còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các quyền về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến tuệ quyền về phương diện thấy rõ, do năng lực của tuệ quyền, bốn quyền còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các quyền về phương diện đồng một phận sự.
Assaddhiye akampiyaṭṭhena saddhābalaṃ bhāvayato saddhābalassa vasena cattāri balāni ekarasā hontīti – balānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Kosajje akampiyaṭṭhena vīriyabalaṃ bhāvayato vīriyabalassa vasena cattāri balāni ekarasā hontīti – balānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Pamāde akampiyaṭṭhena satibalaṃ bhāvayato satibalassa vasena cattāri balāni ekarasā hontīti – balānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Uddhacce akampiyaṭṭhena samādhibalaṃ bhāvayato samādhibalassa vasena cattāri balāni ekarasā hontīti – balānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Avijjāya akampiyaṭṭhena paññābalaṃ bhāvayato paññābalassa vasena cattāri balāni ekarasā hontīti – balānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā.
When one develops the power of faith in the sense of being unshakable by lack of faith, by means of the power of faith the four powers become of a single function—this is development in the sense of the powers having a single function. When one develops the power of energy in the sense of being unshakable by laziness, by means of the power of energy the four powers become of a single function—this is development in the sense of the powers having a single function. When one develops the power of mindfulness in the sense of being unshakable by negligence, by means of the power of mindfulness the four powers become of a single function—this is development in the sense of the powers having a single function. When one develops the power of concentration in the sense of being unshakable by restlessness, by means of the power of concentration the four powers become of a single function—this is development in the sense of the powers having a single function. When one develops the power of wisdom in the sense of being unshakable by ignorance, by means of the power of wisdom the four powers become of a single function—this is development in the sense of the powers having a single function.
Đối với vị tu tiến tín lực về phương diện không bị lay chuyển bởi sự vô tín, do năng lực của tín lực, bốn lực còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các lực về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến tấn lực về phương diện không bị lay chuyển bởi sự biếng nhác, do năng lực của tấn lực, bốn lực còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các lực về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến niệm lực về phương diện không bị lay chuyển bởi sự dễ duôi, do năng lực của niệm lực, bốn lực còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các lực về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến định lực về phương diện không bị lay chuyển bởi sự trạo cử, do năng lực của định lực, bốn lực còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các lực về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến tuệ lực về phương diện không bị lay chuyển bởi sự vô minh, do năng lực của tuệ lực, bốn lực còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các lực về phương diện đồng một phận sự.
Upaṭṭhānaṭṭhena satisambojjhaṅgaṃ bhāvayato satisambojjhaṅgassa vasena cha bojjhaṅgā ekarasā hontīti – bojjhaṅgānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Pavicayaṭṭhena dhammavicayasambojjhaṅgaṃ bhāvayato dhammavicayasambojjhaṅgassa vasena cha bojjhaṅgā ekarasā hontīti – bojjhaṅgānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Paggahaṭṭhena vīriyasambojjhaṅgaṃ bhāvayato vīriyasambojjhaṅgassa vasena cha bojjhaṅgā ekarasā hontīti – bojjhaṅgānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Pharaṇaṭṭhena pītisambojjhaṅgaṃ bhāvayato pītisambojjhaṅgassa vasena cha bojjhaṅgā ekarasā hontīti – bojjhaṅgānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Upasamaṭṭhena passaddhisambojjhaṅgaṃ bhāvayato passaddhisambojjhaṅgassa vasena cha bojjhaṅgā ekarasā hontīti – bojjhaṅgānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Avikkhepaṭṭhena samādhisambojjhaṅgaṃ bhāvayato samādhisambojjhaṅgassa vasena cha bojjhaṅgā ekarasā hontīti – bojjhaṅgānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Paṭisaṅkhānaṭṭhena upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāvayato upekkhāsambojjhaṅgassa vasena cha bojjhaṅgā ekarasā hontīti – bojjhaṅgānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā.
For one developing the enlightenment factor of mindfulness in the sense of presence, the six enlightenment factors become unified in function by the power of the enlightenment factor of mindfulness—this is the development of the enlightenment factors in the sense of their unified function. For one developing the enlightenment factor of investigation of phenomena in the sense of investigation, the six enlightenment factors become unified in function by the power of the enlightenment factor of investigation of phenomena—this is the development of the enlightenment factors in the sense of their unified function. For one developing the enlightenment factor of energy in the sense of exertion, the six enlightenment factors become unified in function by the power of the enlightenment factor of energy—this is the development of the enlightenment factors in the sense of their unified function. For one developing the enlightenment factor of rapture in the sense of pervasion, the six enlightenment factors become unified in function by the power of the enlightenment factor of rapture—this is the development of the enlightenment factors in the sense of their unified function. For one developing the enlightenment factor of tranquility in the sense of tranquility, the six enlightenment factors become unified in function by the power of the enlightenment factor of tranquility—this is the development of the enlightenment factors in the sense of their unified function. For one developing the enlightenment factor of concentration in the sense of non-distraction, the six enlightenment factors become unified in function by the power of the enlightenment factor of concentration—this is the development of the enlightenment factors in the sense of their unified function. For one developing the enlightenment factor of equanimity in the sense of reflection, the six enlightenment factors become unified in function by the power of the enlightenment factor of equanimity—this is the development of the enlightenment factors in the sense of their unified function.
Đối với vị tu tiến niệm giác chi về phương diện an trú, do năng lực của niệm giác chi, sáu giác chi còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các giác chi về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến trạch pháp giác chi về phương diện thẩm sát, do năng lực của trạch pháp giác chi, sáu giác chi còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các giác chi về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến tấn giác chi về phương diện nỗ lực, do năng lực của tấn giác chi, sáu giác chi còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các giác chi về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến hỷ giác chi về phương diện thấm nhuần, do năng lực của hỷ giác chi, sáu giác chi còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các giác chi về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến khinh an giác chi về phương diện an tịnh, do năng lực của khinh an giác chi, sáu giác chi còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các giác chi về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến định giác chi về phương diện không phân tán, do năng lực của định giác chi, sáu giác chi còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các giác chi về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến xả giác chi về phương diện quán xét, do năng lực của xả giác chi, sáu giác chi còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các giác chi về phương diện đồng một phận sự.
Dassanaṭṭhena sammādiṭṭhiṃ bhāvayato sammādiṭṭhiyā vasena satta maggaṅgā ekarasā hontīti – maggaṅgānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Abhiniropanaṭṭhena sammāsaṅkappaṃ bhāvayato sammāsaṅkappassa vasena satta maggaṅgā ekarasā hontīti – maggaṅgānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Pariggahaṭṭhena sammāvācaṃ bhāvayato sammāvācāya vasena satta maggaṅgā ekarasā hontīti – maggaṅgānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Samuṭṭhānaṭṭhena sammākammantaṃ bhāvayato sammākammantassa vasena satta maggaṅgā ekarasā hontīti – maggaṅgānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Vodānaṭṭhena sammāājīvaṃ bhāvayato sammāājīvassa vasena satta maggaṅgā ekarasā hontīti – maggaṅgānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Paggahaṭṭhena sammāvāyāmaṃ bhāvayato sammāvāyāmassa vasena satta maggaṅgā ekarasā hontīti – maggaṅgānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Upaṭṭhānaṭṭhena sammāsatiṃ bhāvayato sammāsatiyā vasena satta maggaṅgā ekarasā hontīti – maggaṅgānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Avikkhepaṭṭhena sammāsamādhiṃ bhāvayato sammāsamādhissa vasena satta maggaṅgā ekarasā hontīti – maggaṅgānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Ayaṃ ekarasābhāvanā.
For one who develops Right View by way of seeing, the seven path factors become unified in function by means of Right View—this is development by way of the unified function of the path factors. For one who develops Right Intention by way of applying, the seven path factors become unified in function by means of Right Intention—this is development by way of the unified function of the path factors. For one who develops Right Speech by way of encompassing, the seven path factors become unified in function by means of Right Speech—this is development by way of the unified function of the path factors. For one who develops Right Action by way of originating, the seven path factors become unified in function by means of Right Action—this is development by way of the unified function of the path factors. For one who develops Right Livelihood by way of purifying, the seven path factors become unified in function by means of Right Livelihood—this is development by way of the unified function of the path factors. For one who develops Right Effort by way of exerting, the seven path factors become unified in function by means of Right Effort—this is development by way of the unified function of the path factors. For one who develops Right Mindfulness by way of establishing, the seven path factors become unified in function by means of Right Mindfulness—this is development by way of the unified function of the path factors. For one who develops Right Concentration by way of non-distraction, the seven path factors become unified in function by means of Right Concentration—this is development by way of the unified function of the path factors. This is the development of unified function.
Đối với vị tu tiến chánh kiến về phương diện thấy rõ, do năng lực của chánh kiến, bảy đạo chi còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các đạo chi về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến chánh tư duy về phương diện hướng tâm đến, do năng lực của chánh tư duy, bảy đạo chi còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các đạo chi về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến chánh ngữ về phương diện thu nhiếp, do năng lực của chánh ngữ, bảy đạo chi còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các đạo chi về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến chánh nghiệp về phương diện khởi lên, do năng lực của chánh nghiệp, bảy đạo chi còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các đạo chi về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến chánh mạng về phương diện trong sạch, do năng lực của chánh mạng, bảy đạo chi còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các đạo chi về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến chánh tinh tấn về phương diện nỗ lực, do năng lực của chánh tinh tấn, bảy đạo chi còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các đạo chi về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến chánh niệm về phương diện an trú, do năng lực của chánh niệm, bảy đạo chi còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các đạo chi về phương diện đồng một phận sự. Đối với vị tu tiến chánh định về phương diện không phân tán, do năng lực của chánh định, bảy đạo chi còn lại có cùng một phận sự. Đây là sự tu tiến các đạo chi về phương diện đồng một phận sự. Đây là sự tu tiến đồng một phận sự.
Katamā āsevanābhāvanā? Idha bhikkhu pubbaṇhasamayaṃ āsevati, majjhanhikasamayampi † āsevati, sāyanhasamayampi āsevati, purebhattampi āsevati, pacchābhattampi āsevati, purimepi yāme āsevati, majjhimepi yāme āsevati, pacchimepi yāme āsevati, rattimpi āsevati, divāpi āsevati, rattindivāpi † āsevati, kāḷepi āsevati, juṇhepi āsevati, vassepi āsevati, hemantepi āsevati, gimhepi āsevati, purimepi vayokhandhe āsevati, majjhimepi vayokhandhe āsevati, pacchimepi vayokhandhe āsevati – ayaṃ āsevanābhāvanā. Imā catasso bhāvanā.
What is development by repeated practice? Here, a bhikkhu practices repeatedly in the morning, practices repeatedly at midday, practices repeatedly in the evening, practices repeatedly before the meal, practices repeatedly after the meal, practices repeatedly in the first watch of the night, practices repeatedly in the middle watch of the night, practices repeatedly in the last watch of the night, practices repeatedly at night, practices repeatedly during the day, practices repeatedly day and night, practices repeatedly in the dark fortnight, practices repeatedly in the bright fortnight, practices repeatedly in the rainy season, practices repeatedly in the winter, practices repeatedly in the summer, practices repeatedly in the early period of life, practices repeatedly in the middle period of life, practices repeatedly in the later period of life—this is development by repeated practice. These are the four kinds of development.
Sự tu tập theo cách thường xuyên thực hành là gì? Ở đây, vị tỳ khưu thường xuyên thực hành vào buổi sáng, cũng thường xuyên thực hành vào buổi trưa, cũng thường xuyên thực hành vào buổi chiều, cũng thường xuyên thực hành trước bữa ăn, cũng thường xuyên thực hành sau bữa ăn, cũng thường xuyên thực hành vào canh đầu, cũng thường xuyên thực hành vào canh giữa, cũng thường xuyên thực hành vào canh cuối, cũng thường xuyên thực hành vào ban đêm, cũng thường xuyên thực hành vào ban ngày, cũng thường xuyên thực hành cả ngày lẫn đêm, cũng thường xuyên thực hành vào những ngày trăng khuyết, cũng thường xuyên thực hành vào những ngày trăng tròn, cũng thường xuyên thực hành vào mùa mưa, cũng thường xuyên thực hành vào mùa đông, cũng thường xuyên thực hành vào mùa hè, cũng thường xuyên thực hành vào giai đoạn đầu của cuộc đời, cũng thường xuyên thực hành vào giai đoạn giữa của cuộc đời, cũng thường xuyên thực hành vào giai đoạn cuối của cuộc đời – đây là sự tu tập theo cách thường xuyên thực hành. Đây là bốn sự tu tập.
28. Aparāpi catasso bhāvanā – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā, indriyānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā, tadupagavīriyavāhanaṭṭhena bhāvanā, āsevanaṭṭhena bhāvanā. Kathaṃ tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā? Kāmacchandaṃ pajahato nekkhammavasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Byāpādaṃ pajahato abyāpādavasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Thinamiddhaṃ † pajahato ālokasaññāvasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Uddhaccaṃ pajahato avikkhepavasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Vicikicchaṃ pajahato dhammavavatthānavasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Avijjaṃ pajahato ñāṇavasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Aratiṃ pajahato pāmojjavasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Nīvaraṇe pajahato paṭhamajjhānavasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Vitakkavicāre pajahato dutiyajjhānavasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Pītiṃ pajahato tatiyajjhānavasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Sukhadukkhe pajahato catutthajjhānavasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā.
28. There are also four developments: development in the sense of non-transgression of the states that have arisen therein; development in the sense of the faculties having a single function; development in the sense of applying the energy that leads thereto; and development in the sense of repeated practice. How is there development in the sense of non-transgression of the states that have arisen therein? For one who abandons sensual desire, the states that have arisen by the power of jhāna do not transgress one another—thus, this is development in the sense of non-transgression of the states that have arisen therein. For one who abandons ill will, the states that have arisen by the power of non-ill-will do not transgress one another—thus, this is development in the sense of non-transgression of the states that have arisen therein. For one who abandons sloth and torpor, the states that have arisen by the power of the perception of light do not transgress one another—thus, this is development in the sense of non-transgression of the states that have arisen therein. For one who abandons restlessness, the states that have arisen by the power of non-distraction do not transgress one another—thus, this is development in the sense of non-transgression of the states that have arisen therein. For one who abandons doubt, the states that have arisen by the power of the determination of phenomena do not transgress one another—thus, this is development in the sense of non-transgression of the states that have arisen therein. For one who abandons ignorance, the states that have arisen by the power of knowledge do not transgress one another—thus, this is development in the sense of non-transgression of the states that have arisen therein. For one who abandons discontent, the states that have arisen by the power of gladness do not transgress one another—thus, this is development in the sense of non-transgression of the states that have arisen therein. For one who abandons the hindrances, the states that have arisen by the power of the first jhāna do not transgress one another—thus, this is development in the sense of non-transgression of the states that have arisen therein. For one who abandons applied and sustained thought, the states that have arisen by the power of the second jhāna do not transgress one another—thus, this is development in the sense of non-transgression of the states that have arisen therein. For one who abandons rapture, the states that have arisen by the power of the third jhāna do not transgress one another—thus, this is development in the sense of non-transgression of the states that have arisen therein. For one who abandons pleasure and pain, the states that have arisen by the power of the fourth jhāna do not transgress one another—thus, this is development in the sense of non-transgression of the states that have arisen therein.
28. Lại nữa, có bốn sự tu tập: sự tu tập với ý nghĩa không vượt qua lẫn nhau của các pháp đã được sanh khởi ở trong ấy, sự tu tập với ý nghĩa có cùng một phận sự của các căn, sự tu tập với ý nghĩa mang lại sự tinh tấn tương ứng với điều ấy, sự tu tập với ý nghĩa thường xuyên thực hành. Thế nào là sự tu tập với ý nghĩa không vượt qua lẫn nhau của các pháp đã được sanh khởi ở trong ấy? Đối với người từ bỏ dục tham, các pháp được sanh khởi do năng lực của sự xuất ly không vượt qua lẫn nhau – đây là sự tu tập với ý nghĩa không vượt qua lẫn nhau của các pháp đã được sanh khởi ở trong ấy. Đối với người từ bỏ sân, các pháp được sanh khởi do năng lực của vô sân không vượt qua lẫn nhau – đây là sự tu tập với ý nghĩa không vượt qua lẫn nhau của các pháp đã được sanh khởi ở trong ấy. Đối với người từ bỏ hôn trầm thụy miên, các pháp được sanh khởi do năng lực của tưởng về ánh sáng không vượt qua lẫn nhau – đây là sự tu tập với ý nghĩa không vượt qua lẫn nhau của các pháp đã được sanh khởi ở trong ấy. Đối với người từ bỏ trạo cử, các pháp được sanh khởi do năng lực của sự không phóng dật không vượt qua lẫn nhau – đây là sự tu tập với ý nghĩa không vượt qua lẫn nhau của các pháp đã được sanh khởi ở trong ấy. Đối với người từ bỏ hoài nghi, các pháp được sanh khởi do năng lực của sự xác định các pháp không vượt qua lẫn nhau – đây là sự tu tập với ý nghĩa không vượt qua lẫn nhau của các pháp đã được sanh khởi ở trong ấy. Đối với người từ bỏ vô minh, các pháp được sanh khởi do năng lực của trí tuệ không vượt qua lẫn nhau – đây là sự tu tập với ý nghĩa không vượt qua lẫn nhau của các pháp đã được sanh khởi ở trong ấy. Đối với người từ bỏ sự bất lạc, các pháp được sanh khởi do năng lực của sự hân hoan không vượt qua lẫn nhau – đây là sự tu tập với ý nghĩa không vượt qua lẫn nhau của các pháp đã được sanh khởi ở trong ấy. Đối với người từ bỏ các triền cái, các pháp được sanh khởi do năng lực của sơ thiền không vượt qua lẫn nhau – đây là sự tu tập với ý nghĩa không vượt qua lẫn nhau của các pháp đã được sanh khởi ở trong ấy. Đối với người từ bỏ tầm và tứ, các pháp được sanh khởi do năng lực của nhị thiền không vượt qua lẫn nhau – đây là sự tu tập với ý nghĩa không vượt qua lẫn nhau của các pháp đã được sanh khởi ở trong ấy. Đối với người từ bỏ hỷ, các pháp được sanh khởi do năng lực của tam thiền không vượt qua lẫn nhau – đây là sự tu tập với ý nghĩa không vượt qua lẫn nhau của các pháp đã được sanh khởi ở trong ấy. Đối với người từ bỏ lạc và khổ, các pháp được sanh khởi do năng lực của tứ thiền không vượt qua lẫn nhau – đây là sự tu tập với ý nghĩa không vượt qua lẫn nhau của các pháp đã được sanh khởi ở trong ấy.
Rūpasaññaṃ paṭighasaññaṃ nānattasaññaṃ pajahato ākāsānañcāyatanasamāpattivasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Ākāsānañcāyatanasaññaṃ pajahato viññāṇañcāyatanasamāpattivasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Viññāṇañcāyatanasaññaṃ pajahato ākiñcaññāyatanasamāpattivasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Ākiñcaññāyatanasaññaṃ pajahato nevasaññānāsaññāyatanasamāpattivasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā.
For one who abandons the perception of form, the perception of resistance, and the perception of diversity, the states that arise by virtue of the attainment of the base of infinite space do not transgress one another—this is development in the sense of the non-transgression of the states that have arisen therein. For one who abandons the perception of the base of infinite space, the states that arise by virtue of the attainment of the base of infinite consciousness do not transgress one another—this is development in the sense of the non-transgression of the states that have arisen therein. For one who abandons the perception of the base of infinite consciousness, the states that arise by virtue of the attainment of the base of nothingness do not transgress one another—this is development in the sense of the non-transgression of the states that have arisen therein. For one who abandons the perception of the base of nothingness, the states that arise by virtue of the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception do not transgress one another—this is development in the sense of the non-transgression of the states that have arisen therein.
Đối với người từ bỏ sắc tưởng, đối ngại tưởng, và các tưởng khác nhau, các pháp được sanh khởi do năng lực của sự chứng đắc Không Vô Biên Xứ không vượt qua lẫn nhau – đây là sự tu tập với ý nghĩa không vượt qua lẫn nhau của các pháp đã được sanh khởi ở trong ấy. Đối với người từ bỏ tưởng về Không Vô Biên Xứ, các pháp được sanh khởi do năng lực của sự chứng đắc Thức Vô Biên Xứ không vượt qua lẫn nhau – đây là sự tu tập với ý nghĩa không vượt qua lẫn nhau của các pháp đã được sanh khởi ở trong ấy. Đối với người từ bỏ tưởng về Thức Vô Biên Xứ, các pháp được sanh khởi do năng lực của sự chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ không vượt qua lẫn nhau – đây là sự tu tập với ý nghĩa không vượt qua lẫn nhau của các pháp đã được sanh khởi ở trong ấy. Đối với người từ bỏ tưởng về Vô Sở Hữu Xứ, các pháp được sanh khởi do năng lực của sự chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ không vượt qua lẫn nhau – đây là sự tu tập với ý nghĩa không vượt qua lẫn nhau của các pháp đã được sanh khởi ở trong ấy.
Niccasaññaṃ pajahato aniccānupassanāvasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Sukhasaññaṃ pajahato dukkhānupassanāvasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Attasaññaṃ pajahato anattānupassanāvasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Nandiṃ pajahato nibbidānupassanāvasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Rāgaṃ pajahato virāgānupassanāvasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Samudayaṃ pajahato nirodhānupassanāvasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Ādānaṃ pajahato paṭinissaggānupassanāvasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Ghanasaññaṃ pajahato khayānupassanāvasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Āyūhanaṃ pajahato vayānupassanāvasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Dhuvasaññaṃ pajahato vipariṇāmānupassanāvasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Nimittaṃ pajahato animittānupassanāvasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Paṇidhiṃ pajahato appaṇihitānupassanāvasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Abhinivesaṃ pajahato suññatānupassanāvasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Sārādānābhinivesaṃ pajahato adhipaññā dhammavipassanāvasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Sammohābhinivesaṃ pajahato yathābhūtañāṇadassanavasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Ālayābhinivesaṃ pajahato ādīnavānupassanāvasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Appaṭisaṅkhaṃ pajahato paṭisaṅkhānupassanāvasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Saññogābhinivesaṃ pajahato vivaṭṭanānupassanāvasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā.
When one abandons the perception of permanence, the states that arise by way of the contemplation of impermanence do not transgress one another—therein, development is in the sense of the non-transgression of the arisen states. When one abandons the perception of pleasure, the states that arise by way of the contemplation of suffering do not transgress one another—therein, development is in the sense of the non-transgression of the arisen states. When one abandons the perception of self, the states that arise by way of the contemplation of not-self do not transgress one another—therein, development is in the sense of the non-transgression of the arisen states. When one abandons delight, the states that arise by way of the contemplation of disenchantment do not transgress one another—therein, development is in the sense of the non-transgression of the arisen states. When one abandons lust, the states that arise by way of the contemplation of dispassion do not transgress one another—therein, development is in the sense of the non-transgression of the arisen states. When one abandons origin, the states that arise by way of the contemplation of cessation do not transgress one another—therein, development is in the sense of the non-transgression of the arisen states. When one abandons grasping, the states that arise by way of the contemplation of relinquishment do not transgress one another—therein, development is in the sense of the non-transgression of the arisen states. When one abandons the perception of compactness, the states that arise by way of the contemplation of destruction do not transgress one another—therein, development is in the sense of the non-transgression of the arisen states. When one abandons striving, the states that arise by way of the contemplation of vanishing do not transgress one another—therein, development is in the sense of the non-transgression of the arisen states. When one abandons the perception of stability, the states that arise by way of the contemplation of change do not transgress one another—therein, development is in the sense of the non-transgression of the arisen states. When one abandons the sign, the states that arise by way of the contemplation of the signless do not transgress one another—therein, development is in the sense of the non-transgression of the arisen states. When one abandons aspiration, the states that arise by way of the contemplation of the desireless do not transgress one another—therein, development is in the sense of the non-transgression of the arisen states. When one abandons adherence, the states that arise by way of the contemplation of emptiness do not transgress one another—therein, development is in the sense of the non-transgression of the arisen states. When one abandons adherence to grasping at a core, the states that arise by way of insight into phenomena with higher wisdom do not transgress one another—therein, development is in the sense of the non-transgression of the arisen states. When one abandons adherence due to delusion, the states that arise by way of the knowledge and vision of things as they have come to be do not transgress one another—therein, development is in the sense of the non-transgression of the arisen states. When one abandons adherence to attachments, the states that arise by way of the contemplation of danger do not transgress one another—therein, development is in the sense of the non-transgression of the arisen states. When one abandons non-reflection, the states that arise by way of the contemplation of reflection do not transgress one another—therein, development is in the sense of the non-transgression of the arisen states. When one abandons adherence to the fetters, the states that arise by way of the contemplation of turning away do not transgress one another—therein, development is in the sense of the non-transgression of the arisen states.
Đối với người từ bỏ thường tưởng, do năng lực của sự tùy quán vô thường, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ lạc tưởng, do năng lực của sự tùy quán khổ, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ ngã tưởng, do năng lực của sự tùy quán vô ngã, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ sự hoan hỷ, do năng lực của sự tùy quán nhàm chán, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ tham ái, do năng lực của sự tùy quán ly tham, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ tập khởi, do năng lực của sự tùy quán đoạn diệt, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ sự chấp thủ, do năng lực của sự tùy quán từ bỏ, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ khối tưởng, do năng lực của sự tùy quán tận diệt, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ sự vun bồi, do năng lực của sự tùy quán hoại diệt, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ tưởng về sự bền vững, do năng lực của sự tùy quán biến hoại, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ tướng, do năng lực của sự tùy quán vô tướng, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ sự nguyện cầu, do năng lực của sự tùy quán vô nguyện, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ sự chấp trước, do năng lực của sự tùy quán không tánh, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ sự chấp trước vào việc nắm giữ cốt lõi, do năng lực của pháp minh sát về thắng trí, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ sự chấp trước vào si mê, do năng lực của tri kiến như thật, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ sự chấp trước vào trú xứ, do năng lực của sự tùy quán sự nguy hại, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ sự không thẩm xét, do năng lực của sự tùy quán thẩm xét, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ sự chấp trước vào sự phối hợp, do năng lực của sự tùy quán sự xoay khỏi, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy.
Diṭṭhekaṭṭhe kilese pajahato sotāpattimaggavasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Oḷārike kilese pajahato sakadāgāmimaggavasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Anusahagate kilese pajahato anāgāmimaggavasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Sabbakilese pajahato arahattamaggavasena jātā dhammā aññamaññaṃ nātivattantīti – tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā. Evaṃ tattha jātānaṃ dhammānaṃ anativattanaṭṭhena bhāvanā.
For one who abandons the defilements connected with views by way of the path of stream-entry, the states that have arisen do not transgress one another—thus, development is in the sense of the non-transgression of the states that have arisen therein. For one who abandons the gross defilements by way of the path of the once-returner, the states that have arisen do not transgress one another—thus, development is in the sense of the non-transgression of the states that have arisen therein. For one who abandons the accompanying defilements by way of the path of the non-returner, the states that have arisen do not transgress one another—thus, development is in the sense of the non-transgression of the states that have arisen therein. For one who abandons all defilements by way of the path of arahantship, the states that have arisen do not transgress one another—thus, development is in the sense of the non-transgression of the states that have arisen therein. In this way, development is in the sense of the non-transgression of the states that have arisen in those respective cases.
Đối với người từ bỏ các phiền não đồng trú với tà kiến, do năng lực của đạo Tu-đà-hoàn, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ các phiền não thô thiển, do năng lực của đạo Tư-đà-hàm, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ các phiền não đi kèm, do năng lực của đạo A-na-hàm, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Đối với người từ bỏ tất cả phiền não, do năng lực của đạo A-la-hán, các pháp đã sanh khởi không vượt qua lẫn nhau – sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy. Như vậy, sự tu tiến là theo ý nghĩa không vượt qua của các pháp đã sanh khởi ở nơi ấy.
Kathaṃ indriyānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā? Kāmacchandaṃ pajahato nekkhammavasena pañcindriyāni ekarasā hontīti – indriyānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Byāpādaṃ pajahato abyāpādavasena pañcindriyāni ekarasā hontīti – indriyānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā…pe… sabbakilese pajahato arahattamaggavasena pañcindriyāni ekarasā hontīti – indriyānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā. Evaṃ indriyānaṃ ekarasaṭṭhena bhāvanā.
How is there development in the sense of the faculties having a single function? For one who abandons sensual desire, by way of renunciation the five faculties come to have a single function—thus, this is the development in the sense of the faculties having a single function. For one who abandons ill will, by way of non-ill will the five faculties come to have a single function—thus, this is the development in the sense of the faculties having a single function… and so on… For one who abandons all defilements, by way of the path of arahantship the five faculties come to have a single function—thus, this is the development in the sense of the faculties having a single function. In this way, there is development in the sense of the faculties having a single function.
Sự tu tiến theo ý nghĩa có cùng một vị của các quyền là thế nào? Đối với người từ bỏ dục tham, do năng lực của sự xuất ly, năm quyền có cùng một vị – sự tu tiến là theo ý nghĩa có cùng một vị của các quyền. Đối với người từ bỏ sân, do năng lực của vô sân, năm quyền có cùng một vị – sự tu tiến là theo ý nghĩa có cùng một vị của các quyền… vân vân… Đối với người từ bỏ tất cả phiền não, do năng lực của đạo A-la-hán, năm quyền có cùng một vị – sự tu tiến là theo ý nghĩa có cùng một vị của các quyền. Như vậy, sự tu tiến là theo ý nghĩa có cùng một vị của các quyền.
Kathaṃ tadupagavīriyavāhanaṭṭhena bhāvanā? Kāmacchandaṃ pajahato nekkhammavasena vīriyaṃ vāhetīti – tadupagavīriyavāhanaṭṭhena bhāvanā. Byāpādaṃ pajahato abyāpādavasena vīriyaṃ vāhetīti – tadupagavīriyavāhanaṭṭhena bhāvanā…pe… sabbakilese pajahato arahattamaggavasena vīriyaṃ vāhetīti – tadupagavīriyavāhanaṭṭhena bhāvanā. Evaṃ tadupagavīriyavāhanaṭṭhena bhāvanā.
How is there development in the sense of conveying the energy that leads to that? For one who abandons sensual desire, by way of renunciation one conveys energy—thus, this is development in the sense of conveying the energy that leads to that. For one who abandons ill will, by way of non-ill will one conveys energy—thus, this is development in the sense of conveying the energy that leads to that… and so on… For one who abandons all defilements, by way of the path of arahantship one conveys energy—thus, this is development in the sense of conveying the energy that leads to that. In this way, there is development in the sense of conveying the energy that leads to that.
Sự tu tiến theo ý nghĩa chuyên chở bởi nghị lực để đạt đến điều ấy là thế nào? Đối với người từ bỏ dục tham, do năng lực của sự xuất ly, nghị lực chuyên chở – sự tu tiến là theo ý nghĩa chuyên chở bởi nghị lực để đạt đến điều ấy. Đối với người từ bỏ sân, do năng lực của vô sân, nghị lực chuyên chở – sự tu tiến là theo ý nghĩa chuyên chở bởi nghị lực để đạt đến điều ấy… vân vân… Đối với người từ bỏ tất cả phiền não, do năng lực của đạo A-la-hán, nghị lực chuyên chở – sự tu tiến là theo ý nghĩa chuyên chở bởi nghị lực để đạt đến điều ấy. Như vậy, sự tu tiến là theo ý nghĩa chuyên chở bởi nghị lực để đạt đến điều ấy.
Kathaṃ āsevanaṭṭhena bhāvanā? Kāmacchandaṃ pajahanto nekkhammaṃ āsevatīti – āsevanaṭṭhena bhāvanā. Byāpādaṃ pajahanto abyāpādaṃ āsevatīti – āsevanaṭṭhena bhāvanā…pe… sabbakilese pajahanto arahattamaggaṃ āsevatīti – āsevanaṭṭhena bhāvanā. Evaṃ āsevanaṭṭhena bhāvanā.
How is there development in the sense of cultivation? Abandoning sensual desire, one cultivates renunciation—this is development in the sense of cultivation. Abandoning ill will, one cultivates non-ill will—this is development in the sense of cultivation… and so on… Abandoning all defilements, one cultivates the path to Arahantship—this is development in the sense of cultivation. In this way, there is development in the sense of cultivation.
Thế nào là sự tu tập theo ý nghĩa thực hành? Vị ấy từ bỏ dục tham, thực hành sự xuất ly – đó là sự tu tập theo ý nghĩa thực hành. Vị ấy từ bỏ sân, thực hành sự vô sân – đó là sự tu tập theo ý nghĩa thực hành... v.v... Vị ấy từ bỏ tất cả phiền não, thực hành đạo A-la-hán – đó là sự tu tập theo ý nghĩa thực hành. Như vậy là sự tu tập theo ý nghĩa thực hành.
Imā catasso bhāvanā rūpaṃ passanto bhāveti, vedanaṃ passanto bhāveti, saññaṃ passanto bhāveti, saṅkhāre passanto bhāveti, viññāṇaṃ passanto bhāveti, cakkhuṃ…pe… jarāmaraṇaṃ…pe… amatogadhaṃ nibbānaṃ pariyosānaṭṭhena passanto bhāveti. Ye ye dhammā bhāvitā honti te te dhammā ekarasā honti. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘ime dhammā bhāvetabbāti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇa’’nti.
These are the four developments: Seeing form, one develops. Seeing feeling, one develops. Seeing perception, one develops. Seeing formations, one develops. Seeing consciousness, one develops. Seeing the eye… and so on… aging-and-death… and so on… seeing Nibbāna, the entry into the Deathless, in the sense of the final end, one develops. Whatever states are developed, those states come to have a single essence. That is knowledge in the sense of knowing, and wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: ‘“These states are to be developed”—this is the giving of the ear; the wisdom that discerns that is knowledge based on learning.’
Bốn sự tu tập này: Vị ấy thấy sắc và tu tập, vị ấy thấy thọ và tu tập, vị ấy thấy tưởng và tu tập, vị ấy thấy các hành và tu tập, vị ấy thấy thức và tu tập, vị ấy thấy mắt... v.v... già và chết... v.v... thấy Niết-bàn, nơi đi vào sự bất tử, với ý nghĩa là điểm kết thúc và tu tập. Những pháp nào đã được tu tập, những pháp ấy có cùng một vị. Điều ấy là trí theo ý nghĩa biết, là tuệ theo ý nghĩa biết rõ. Do đó, được nói rằng: “‘Các pháp này cần được tu tập’ là sự lắng nghe, tuệ biết rõ điều ấy là trí do văn mà có.”
Catutthabhāṇavāro.
The Fourth Recitation Section.
Phẩm tụng thứ tư.
29. Kathaṃ ‘‘ime dhammā sacchikātabbā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ?
29. How is it that ‘These states are to be realized’ is giving ear, and the wisdom that discerns that is knowledge based on learning?
29. Thế nào là “‘Các pháp này cần được chứng ngộ’ là sự lắng nghe, tuệ biết rõ điều ấy là trí do văn mà có?”
Eko dhammo sacchikātabbo – akuppā cetovimutti. Dve dhammā sacchikātabbā – vijjā ca vimutti ca. Tayo dhammā sacchikātabbā – tisso vijjā. Cattāro dhammā sacchikātabbā – cattāri sāmaññaphalāni. Pañca dhammā sacchikātabbā – pañca dhammakkhandhā. Cha dhammā sacchikātabbā – cha abhiññā. Satta dhammā sacchikātabbā – satta khīṇāsavabalāni. Aṭṭha dhammā sacchikātabbā – aṭṭha vimokkhā. Nava dhammā sacchikātabbā – nava anupubbanirodhā. Dasa dhammā sacchikātabbā – dasa asekkhā dhammā.
One state is to be realized: the unshakable liberation of mind. Two states are to be realized: true knowledge and liberation. Three states are to be realized: the three true knowledges. Four states are to be realized: the four fruits of the ascetic life. Five states are to be realized: the five aggregates of Dhamma. Six states are to be realized: the six direct knowledges. Seven states are to be realized: the seven powers of one whose taints are destroyed. Eight states are to be realized: the eight liberations. Nine states are to be realized: the nine successive cessations. Ten states are to be realized: the ten qualities of one beyond training.
Một pháp cần được chứng ngộ – tâm giải thoát bất động. Hai pháp cần được chứng ngộ – minh và giải thoát. Ba pháp cần được chứng ngộ – ba minh. Bốn pháp cần được chứng ngộ – bốn quả Sa-môn. Năm pháp cần được chứng ngộ – năm pháp uẩn. Sáu pháp cần được chứng ngộ – sáu thắng trí. Bảy pháp cần được chứng ngộ – bảy lậu tận lực. Tám pháp cần được chứng ngộ – tám giải thoát. Chín pháp cần được chứng ngộ – chín sự diệt tuần tự. Mười pháp cần được chứng ngộ – mười pháp vô học.
‘‘Sabbaṃ, bhikkhave, sacchikātabbaṃ. Kiñca, bhikkhave, sabbaṃ sacchikātabbaṃ? Cakkhu, bhikkhave, sacchikātabbaṃ; rūpā sacchikātabbā; cakkhuviññāṇaṃ sacchikātabbaṃ; cakkhusamphasso sacchikātabbo; yampidaṃ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, tampi sacchikātabbaṃ. Sotaṃ sacchikātabbaṃ; saddā sacchikātabbā…pe… ghānaṃ sacchikātabbaṃ; gandhā sacchikātabbā… jivhā sacchikātabbā; rasā sacchikātabbā… kāyo sacchikātabbo; phoṭṭhabbā sacchikātabbā… mano sacchikātabbo; dhammā sacchikātabbā; manoviññāṇaṃ sacchikātabbaṃ; manosamphasso sacchikātabbo; yampidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, tampi sacchikātabbaṃ’’. Rūpaṃ passanto sacchikaroti, vedanaṃ passanto sacchikaroti, saññaṃ passanto sacchikaroti, saṅkhāre passanto sacchikaroti, viññāṇaṃ passanto sacchikaroti. Cakkhuṃ…pe… jarāmaraṇaṃ…pe… amatogadhaṃ nibbānaṃ pariyosānaṭṭhena passanto sacchikaroti. Ye ye dhammā sacchikatā honti te te dhammā phassitā † honti. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘ime dhammā sacchikātabbāti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇa’’nti.
“Bhikkhus, the all is to be directly realized. And what, bhikkhus, is the all that is to be directly realized? The eye, bhikkhus, is to be directly realized; forms are to be directly realized; eye-consciousness is to be directly realized; eye-contact is to be directly realized; and whatever feeling arises conditioned by eye-contact—pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant—that too is to be directly realized. The ear is to be directly realized; sounds are to be directly realized… The nose is to be directly realized; odors are to be directly realized… The tongue is to be directly realized; tastes are to be directly realized… The body is to be directly realized; tangible objects are to be directly realized… The mind is to be directly realized; mental phenomena are to be directly realized; mind-consciousness is to be directly realized; mind-contact is to be directly realized; and whatever feeling arises conditioned by mind-contact—pleasant, painful, or neither-painful-nor-pleasant—that too is to be directly realized. One directly realizes by seeing form; one directly realizes by seeing feeling; one directly realizes by seeing perception; one directly realizes by seeing formations; one directly realizes by seeing consciousness. One directly realizes by seeing the eye… aging-and-death… one directly realizes by seeing Nibbāna, the plunge into the Deathless, in the sense of the final end. Whatever phenomena are directly realized, those phenomena are contacted. That is knowledge in the sense of what is known, wisdom in the sense of thorough understanding. Therefore it is said: ‘The giving of ear is the teaching “These phenomena are to be directly realized,” and the wisdom that thoroughly understands that is knowledge born of learning.’”
“Này các Tỳ khưu, tất cả cần được chứng ngộ. Và này các Tỳ khưu, tất cả là gì cần được chứng ngộ? Này các Tỳ khưu, mắt cần được chứng ngộ; các sắc cần được chứng ngộ; nhãn thức cần được chứng ngộ; nhãn xúc cần được chứng ngộ; và cảm thọ nào sanh khởi do duyên nhãn xúc, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng cần được chứng ngộ. Tai cần được chứng ngộ; các tiếng cần được chứng ngộ... v.v... Mũi cần được chứng ngộ; các mùi cần được chứng ngộ... Lưỡi cần được chứng ngộ; các vị cần được chứng ngộ... Thân cần được chứng ngộ; các vật xúc chạm cần được chứng ngộ... Ý cần được chứng ngộ; các pháp cần được chứng ngộ; ý thức cần được chứng ngộ; ý xúc cần được chứng ngộ; và cảm thọ nào sanh khởi do duyên ý xúc, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng cần được chứng ngộ”. Vị ấy thấy sắc và chứng ngộ, vị ấy thấy thọ và chứng ngộ, vị ấy thấy tưởng và chứng ngộ, vị ấy thấy các hành và chứng ngộ, vị ấy thấy thức và chứng ngộ. Vị ấy thấy mắt... v.v... già và chết... v.v... thấy Niết-bàn, nơi đi vào sự bất tử, với ý nghĩa là điểm kết thúc và chứng ngộ. Những pháp nào đã được chứng ngộ, những pháp ấy đã được xúc chạm. Điều ấy là trí theo ý nghĩa biết, là tuệ theo ý nghĩa biết rõ. Do đó, được nói rằng: “‘Các pháp này cần được chứng ngộ’ là sự lắng nghe, tuệ biết rõ điều ấy là trí do văn mà có.”
30. Kathaṃ ‘‘ime dhammā hānabhāgiyā, ime dhammā ṭhitibhāgiyā, ime dhammā visesabhāgiyā, ime dhammā nibbedhabhāgiyā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ?
30. How is it that the giving of ear is the teaching, ‘These phenomena are conducive to decline, these phenomena are conducive to stability, these phenomena are conducive to distinction, these phenomena are conducive to penetration,’ and that the wisdom that thoroughly understands this is knowledge born of learning?
30. Thế nào là “‘Các pháp này thuộc phần thoái thất, các pháp này thuộc phần an trú, các pháp này thuộc phần thù thắng, các pháp này thuộc phần xuyên suốt’ là sự lắng nghe, tuệ biết rõ điều ấy là trí do văn mà có?”
Paṭhamassa jhānassa lābhiṃ kāmasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti – hānabhāgiyo dhammo. Tadanudhammatā sati santiṭṭhati – ṭhitibhāgiyo dhammo. Avitakkasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti – visesabhāgiyo dhammo. Nibbidāsahagatā saññāmanasikārā samudācaranti virāgūpasaṃhitā – nibbedhabhāgiyo dhammo.
For one who has attained the first jhāna, perceptions and mental applications accompanied by sensual pleasure arise—this is a phenomenon conducive to decline. Mindfulness is established in conformity with that—this is a phenomenon conducive to stability. Perceptions and mental applications not accompanied by initial thought arise—this is a phenomenon conducive to distinction. Perceptions and mental applications accompanied by disenchantment, connected with dispassion, arise—this is a phenomenon conducive to penetration.
Đối với người đã đắc Sơ thiền, các tưởng và tác ý đi kèm với dục khởi lên – đó là pháp thuộc phần thoái thất. Niệm tương ứng với pháp ấy được an lập – đó là pháp thuộc phần an trú. Các tưởng và tác ý không đi kèm với tầm khởi lên – đó là pháp thuộc phần thù thắng. Các tưởng và tác ý đi kèm với sự nhàm chán, tương ứng với sự ly tham, khởi lên – đó là pháp thuộc phần xuyên suốt.
Dutiyassa jhānassa lābhiṃ vitakkasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti – hānabhāgiyo dhammo. Tadanudhammatā sati santiṭṭhati – ṭhitibhāgiyo dhammo. Upekkhāsukhasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti – visesabhāgiyo dhammo. Nibbidāsahagatā saññāmanasikārā samudācaranti virāgūpasaṃhitā – nibbedhabhāgiyo dhammo.
For one who has attained the second jhāna, perceptions and mental applications accompanied by initial thought arise—this is a phenomenon conducive to decline. Mindfulness is established in conformity with that—this is a phenomenon conducive to stability. Perceptions and mental applications accompanied by equanimous happiness arise—this is a phenomenon conducive to distinction. Perceptions and mental applications accompanied by disenchantment, connected with dispassion, arise—this is a phenomenon conducive to penetration.
Đối với người đã đắc Nhị thiền, các tưởng và tác ý đi kèm với tầm khởi lên – đó là pháp thuộc phần thoái thất. Niệm tương ứng với pháp ấy được an lập – đó là pháp thuộc phần an trú. Các tưởng và tác ý đi kèm với xả và lạc khởi lên – đó là pháp thuộc phần thù thắng. Các tưởng và tác ý đi kèm với sự nhàm chán, tương ứng với sự ly tham, khởi lên – đó là pháp thuộc phần xuyên suốt.
Tatiyassa jhānassa lābhiṃ pītisukhasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti – hānabhāgiyo dhammo. Tadanudhammatā sati santiṭṭhati – ṭhitibhāgiyo dhammo. Adukkhamasukhasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti – visesabhāgiyo dhammo. Nibbidāsahagatā saññāmanasikārā samudācaranti virāgūpasaṃhitā – nibbedhabhāgiyo dhammo.
For one who has attained the third jhāna, perceptions and mental applications accompanied by rapture and happiness arise—this is a phenomenon conducive to decline. Mindfulness is established in conformity with that—this is a phenomenon conducive to stability. Perceptions and mental applications accompanied by neither-painful-nor-pleasant feeling arise—this is a phenomenon conducive to distinction. Perceptions and mental applications accompanied by disenchantment, connected with dispassion, arise—this is a phenomenon conducive to penetration.
Đối với người đã đắc Tam thiền, các tưởng và tác ý đi kèm với hỷ và lạc khởi lên – đó là pháp thuộc phần thoái thất. Niệm tương ứng với pháp ấy được an lập – đó là pháp thuộc phần an trú. Các tưởng và tác ý đi kèm với không khổ không lạc khởi lên – đó là pháp thuộc phần thù thắng. Các tưởng và tác ý đi kèm với sự nhàm chán, tương ứng với sự ly tham, khởi lên – đó là pháp thuộc phần xuyên suốt.
Catutthassa jhānassa lābhiṃ upekkhāsahagatā saññāmanasikārā samudācaranti – hānabhāgiyo dhammo. Tadanudhammatā sati santiṭṭhati – ṭhitibhāgiyo dhammo. Ākāsānañcāyatanasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti – visesabhāgiyo dhammo. Nibbidāsahagatā saññāmanasikārā samudācaranti virāgūpasaṃhitā – nibbedhabhāgiyo dhammo.
For one who has attained the fourth jhāna, perceptions and mental applications accompanied by equanimity arise—this is a phenomenon conducive to decline. Mindfulness is established in conformity with that—this is a phenomenon conducive to stability. Perceptions and mental applications accompanied by the base of the infinity of space arise—this is a phenomenon conducive to distinction. Perceptions and mental applications accompanied by disenchantment, connected with dispassion, arise—this is a phenomenon conducive to penetration.
Đối với người đã đắc Tứ thiền, các tưởng và tác ý đi kèm với xả khởi lên – đó là pháp thuộc phần thoái thất. Niệm tương ứng với pháp ấy được an lập – đó là pháp thuộc phần an trú. Các tưởng và tác ý đi kèm với Không vô biên xứ khởi lên – đó là pháp thuộc phần thù thắng. Các tưởng và tác ý đi kèm với sự nhàm chán, tương ứng với sự ly tham, khởi lên – đó là pháp thuộc phần xuyên suốt.
Ākāsānañcāyatanassa lābhiṃ rūpasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti – hānabhāgiyo dhammo. Tadanudhammatā sati santiṭṭhati – ṭhitibhāgiyo dhammo. Viññāṇañcāyatanasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti – visesabhāgiyo dhammo. Nibbidāsahagatā saññāmanasikārā samudācaranti virāgūpasaṃhitā – nibbedhabhāgiyo dhammo.
For one who has attained the base of the infinity of space, perceptions and attention accompanied by form arise—this is a phenomenon conducive to decline. Mindfulness is established in conformity with that—this is a phenomenon conducive to stability. Perceptions and attention accompanied by the base of the infinity of consciousness arise—this is a phenomenon conducive to distinction. Perceptions and attention accompanied by disenchantment, connected with dispassion, arise—this is a phenomenon conducive to penetration.
Đối với người đã chứng đắc Không Vô Biên Xứ, các tưởng và tác ý đi kèm với sắc khởi lên – (đó là) pháp thuộc phần thoái thất. Niệm tương ứng với pháp ấy được an lập – (đó là) pháp thuộc phần an trú. Các tưởng và tác ý đi kèm với Thức Vô Biên Xứ khởi lên – (đó là) pháp thuộc phần thù thắng. Các tưởng và tác ý đi kèm với sự nhàm chán, liên hệ đến sự ly tham khởi lên – (đó là) pháp thuộc phần xuyên suốt.
Viññāṇañcāyatanassa lābhiṃ ākāsānañcāyatanasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti – hānabhāgiyo dhammo. Tadanudhammatā sati santiṭṭhati – ṭhitibhāgiyo dhammo. Ākiñcaññāyatanasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti – visesabhāgiyo dhammo. Nibbidāsahagatā saññāmanasikārā samudācaranti virāgūpasaṃhitā – nibbedhabhāgiyo dhammo.
For one who has attained the base of the infinity of consciousness, perceptions and attention accompanied by the base of the infinity of space arise—this is a phenomenon conducive to decline. Mindfulness is established in conformity with that—this is a phenomenon conducive to stability. Perceptions and attention accompanied by the base of nothingness arise—this is a phenomenon conducive to distinction. Perceptions and attention accompanied by disenchantment, connected with dispassion, arise—this is a phenomenon conducive to penetration.
Đối với người đã chứng đắc Thức Vô Biên Xứ, các tưởng và tác ý đi kèm với Không Vô Biên Xứ khởi lên – (đó là) pháp thuộc phần thoái thất. Niệm tương ứng với pháp ấy được an lập – (đó là) pháp thuộc phần an trú. Các tưởng và tác ý đi kèm với Vô Sở Hữu Xứ khởi lên – (đó là) pháp thuộc phần thù thắng. Các tưởng và tác ý đi kèm với sự nhàm chán, liên hệ đến sự ly tham khởi lên – (đó là) pháp thuộc phần xuyên suốt.
Ākiñcaññāyatanassa lābhiṃ viññāṇañcāyatanasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti – hānabhāgiyo dhammo. Tadanudhammatā sati santiṭṭhati – ṭhitibhāgiyo dhammo. Nevasaññānāsaññāyatanasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti – visesabhāgiyo dhammo. Nibbidāsahagatā saññāmanasikārā samudācaranti virāgūpasaṃhitā – nibbedhabhāgiyo dhammo. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘ime dhammā hānabhāgiyā, ime dhammā ṭhitibhāgiyā, ime dhammā visesabhāgiyā, ime dhammā nibbedhabhāgiyāti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ’’.
For one who has attained the base of nothingness, perceptions and attention accompanied by the base of the infinity of consciousness arise—this is a phenomenon conducive to decline. Mindfulness is established in conformity with that—this is a phenomenon conducive to stability. Perceptions and attention accompanied by the base of neither-perception-nor-non-perception arise—this is a phenomenon conducive to distinction. Perceptions and attention accompanied by disenchantment, connected with dispassion, arise—this is a phenomenon conducive to penetration. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: The wisdom that discerns the giving of ear to the teaching that 'These phenomena are conducive to decline, these phenomena are conducive to stability, these phenomena are conducive to distinction, these phenomena are conducive to penetration' is knowledge born of learning.
Đối với người đã chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ, các tưởng và tác ý đi kèm với Thức Vô Biên Xứ khởi lên – (đó là) pháp thuộc phần thoái thất. Niệm tương ứng với pháp ấy được an lập – (đó là) pháp thuộc phần an trú. Các tưởng và tác ý đi kèm với Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ khởi lên – (đó là) pháp thuộc phần thù thắng. Các tưởng và tác ý đi kèm với sự nhàm chán, liên hệ đến sự ly tham khởi lên – (đó là) pháp thuộc phần xuyên suốt. Điều ấy, do ý nghĩa là biết nên là trí; do ý nghĩa là biết rõ nên là tuệ. Do đó, được nói rằng: “‘Các pháp này thuộc phần thoái thất, các pháp này thuộc phần an trú, các pháp này thuộc phần thù thắng, các pháp này thuộc phần xuyên suốt,’ đó là sự lắng nghe; tuệ biết rõ điều ấy là văn sở thành trí.”
31. Kathaṃ ‘‘sabbe saṅkhārā aniccā, sabbe saṅkhārā dukkhā, sabbe dhammā anattā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ? ‘‘Rūpaṃ aniccaṃ khayaṭṭhena, dukkhaṃ bhayaṭṭhena, anattā asārakaṭṭhenā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ. ‘‘Vedanā…pe… saññā… saṅkhārā… viññāṇaṃ… cakkhu…pe… jarāmaraṇaṃ aniccaṃ khayaṭṭhena, dukkhaṃ bhayaṭṭhena, anattā asārakaṭṭhenā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘sabbe saṅkhārā aniccā, sabbe saṅkhārā dukkhā, sabbe dhammā anattā’’ti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ.
31. How is the teaching received through hearing, ‘All conditioned things are impermanent, all conditioned things are suffering, all phenomena are not-self,’ and the wisdom that understands it, knowledge based on learning? The teaching received through hearing, ‘Form is impermanent in the sense of perishing, suffering in the sense of being fearful, not-self in the sense of being coreless,’ and the wisdom that understands it, is knowledge based on learning. The teaching received through hearing, ‘Feeling… perception… conditioned things… consciousness… the eye… aging-and-death are impermanent in the sense of perishing, suffering in the sense of being fearful, not-self in the sense of being coreless,’ and the wisdom that understands it, is knowledge based on learning. It is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of thorough understanding. Therefore it is said: The teaching received through hearing, ‘All conditioned things are impermanent, all conditioned things are suffering, all phenomena are not-self,’ and the wisdom that understands it, is knowledge based on learning.
31. Thế nào là: “‘Tất cả các hành là vô thường, tất cả các hành là khổ, tất cả các pháp là vô ngã,’ đó là sự lắng nghe; tuệ biết rõ điều ấy là văn sở thành trí?” “‘Sắc là vô thường do ý nghĩa hủy hoại, là khổ do ý nghĩa đáng sợ, là vô ngã do ý nghĩa không có cốt lõi,’ đó là sự lắng nghe; tuệ biết rõ điều ấy là văn sở thành trí.” “‘Thọ... cho đến... tưởng... các hành... thức... mắt... cho đến... già và chết là vô thường do ý nghĩa hủy hoại, là khổ do ý nghĩa đáng sợ, là vô ngã do ý nghĩa không có cốt lõi,’ đó là sự lắng nghe; tuệ biết rõ điều ấy là văn sở thành trí.” Điều ấy, do ý nghĩa là biết nên là trí; do ý nghĩa là biết rõ nên là tuệ. Do đó, được nói rằng: “‘Tất cả các hành là vô thường, tất cả các hành là khổ, tất cả các pháp là vô ngã,’ đó là sự lắng nghe; tuệ biết rõ điều ấy là văn sở thành trí.”
32. Kathaṃ ‘‘idaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ, idaṃ dukkhasamudayaṃ ariyasaccaṃ, idaṃ dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ, idaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasacca’’nti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ?
32. How is the teaching received through hearing, ‘This is the noble truth of suffering, this is the noble truth of the origin of suffering, this is the noble truth of the cessation of suffering, this is the noble truth of the path of practice leading to the cessation of suffering,’ and the wisdom that understands it, knowledge based on learning?
32. Thế nào là: “‘Đây là Thánh đế về Khổ, đây là Thánh đế về Nguồn Gốc của Khổ, đây là Thánh đế về Sự Diệt Khổ, đây là Thánh đế về Con Đường Đưa Đến Sự Diệt Khổ,’ đó là sự lắng nghe; tuệ biết rõ điều ấy là văn sở thành trí?”
33. Tattha katamaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ? Jātipi dukkhā, jarāpi dukkhā, maraṇampi dukkhaṃ, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsāpi dukkhā, appiyehi sampayogo dukkho, piyehi vippayogo dukkho, yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ; saṅkhittena pañcupādānakkhandhā † dukkhā.
33. Therein, what is the noble truth of suffering? Birth is suffering, aging is suffering, death is suffering; sorrow, lamentation, pain, grief, and despair are suffering; association with the unloved is suffering, separation from the loved is suffering; not to obtain what one desires is also suffering. In brief, the five aggregates subject to clinging are suffering.
33. Trong ấy, thế nào là Thánh đế về Khổ? Sanh cũng là khổ, già cũng là khổ, chết cũng là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não cũng là khổ, gặp gỡ những điều không ưa thích là khổ, xa lìa những điều ưa thích là khổ, mong cầu mà không được điều ấy cũng là khổ; tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.
Tattha katamā jāti? Yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhi tamhi sattanikāye jāti sañjāti okkanti abhinibbatti khandhānaṃ pātubhāvo āyatanānaṃ paṭilābho – ayaṃ vuccati jāti.
Therein, what is birth? Whatever, for those various beings in those various orders of beings, is the birth, the coming into being, the descent, the production, the manifestation of the aggregates, the acquisition of the sense bases—this is called birth.
Trong ấy, thế nào là sanh? Bất cứ sự sanh, sự xuất hiện, sự nhập thai, sự tái sanh, sự hiện khởi của các uẩn, sự thành tựu các xứ của những chúng sanh này hay những chúng sanh khác trong giới chúng sanh này hay giới chúng sanh khác – đây được gọi là sanh.
Tattha katamā jarā yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhi tamhi sattanikāye jarā jīraṇatā khaṇḍiccaṃ pāliccaṃ valittacatā āyuno saṃhāni indriyānaṃ paripāko – ayaṃ vuccati jarā.
Therein, what is aging? Whatever, for those various beings in those various orders of beings, is the aging, the decrepitude, the state of having broken teeth, the state of having gray hair, the state of having wrinkled skin, the decline of the life-span, the impairment of the sense faculties—this is called aging.
Trong ấy, thế nào là già? Bất cứ sự già, sự lão suy, sự rụng răng, sự tóc bạc, sự da nhăn, sự suy giảm tuổi thọ, sự chín muồi của các căn của những chúng sanh này hay những chúng sanh khác trong giới chúng sanh này hay giới chúng sanh khác – đây được gọi là già.
Tattha katamaṃ maraṇaṃ? Yā tesaṃ tesaṃ sattānaṃ tamhā tamhā sattanikāyā cuti cavanatā bhedo antaradhānaṃ maccu maraṇaṃ kālakiriyā † khandhānaṃ bhedo kaḷevarassa nikkhepo jīvitindriyassupacchedo – idaṃ vuccati maraṇaṃ.
Therein, what is death? Of those various beings from those various orders of beings, the falling away, the state of falling away, the breaking up, the disappearance, dying, death, the completion of time, the breaking up of the aggregates, the laying down of the carcass, and the cutting off of the life faculty—this is called death.
Trong ấy, thế nào là chết? Bất cứ sự qua đời, sự từ trần, sự tan rã, sự biến mất, sự tử vong, cái chết, sự mệnh chung, sự tan rã của các uẩn, sự vứt bỏ thân xác, sự cắt đứt mạng căn của những chúng sanh này hay những chúng sanh khác từ giới chúng sanh này hay giới chúng sanh khác – đây được gọi là chết.
Tattha katamo soko? Ñātibyasanena † vā phuṭṭhassa, bhogabyasanena vā phuṭṭhassa, rogabyasanena vā phuṭṭhassa, sīlabyasanena vā phuṭṭhassa, diṭṭhibyasanena vā phuṭṭhassa, aññataraññatarena byasanena samannāgatassa, aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa soko socanā socitattaṃ antosoko antoparisoko cetaso parijjhāyanā domanassaṃ sokasallaṃ – ayaṃ vuccati soko.
Therein, what is sorrow? For one who is afflicted by the loss of relatives, or afflicted by the loss of wealth, or afflicted by loss through illness, or afflicted by the loss of virtue, or afflicted by the loss of view, or who is endowed with some other misfortune, or afflicted with some other painful state, whatever is the sorrow, the state of sorrowing, sorrowfulness, inner sorrow, inner pervasive sorrow, burning anxiety of the mind, displeasure, and the dart of sorrow—this is called sorrow.
Trong ấy, thế nào là sầu? Đối với người bị tác động bởi sự mất mát quyến thuộc, hoặc bị tác động bởi sự mất mát tài sản, hoặc bị tác động bởi sự mất mát do bệnh tật, hoặc bị tác động bởi sự mất mát giới hạnh, hoặc bị tác động bởi sự mất mát tri kiến, hoặc người gặp phải một trong những mất mát nào đó, hoặc người bị tác động bởi một trong những pháp khổ nào đó, mà có sự sầu muộn, sự than khóc, tình trạng sầu muộn, nỗi sầu bên trong, sự sầu não bên trong, sự thiêu đốt của tâm, sự ưu phiền, mũi tên sầu muộn – đây được gọi là sầu.
Tattha katamo paridevo? Ñātibyasanena vā phuṭṭhassa, bhogabyasanena vā phuṭṭhassa, rogabyasanena vā phuṭṭhassa, sīlabyasanena vā phuṭṭhassa, diṭṭhibyasanena vā phuṭṭhassa, aññataraññatarena byasanena samannāgatassa, aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa ādevo paridevo ādevanā, paridevanā ādevitattaṃ paridevitattaṃ vācā palāpo vippalāpo lālappo lālappanā lālappitattaṃ – ayaṃ vuccati paridevo.
Therein, what is lamentation? For one who is afflicted by the loss of relatives, or afflicted by the loss of wealth, or afflicted by loss through illness, or afflicted by the loss of virtue, or afflicted by the loss of view, or who is endowed with some other misfortune, or afflicted with some other painful state, whatever is the wailing, lamenting, the act of wailing, the act of lamenting, the state of being a wailer, the state of being a lamenter, verbal prattle, incoherent talk, babbling, the state of babbling, and the state of being a babbler—this is called lamentation.
Trong ấy, thế nào là bi? Đối với người bị tác động bởi sự mất mát quyến thuộc, hoặc bị tác động bởi sự mất mát tài sản, hoặc bị tác động bởi sự mất mát do bệnh tật, hoặc bị tác động bởi sự mất mát giới hạnh, hoặc bị tác động bởi sự mất mát tri kiến, hoặc người gặp phải một trong những mất mát nào đó, hoặc người bị tác động bởi một trong những pháp khổ nào đó, mà có sự than van, sự kể lể, việc than van, việc kể lể, tình trạng than van, tình trạng kể lể, lời nói lảm nhảm, lời nói mê sảng, sự lảm nhảm, việc lảm nhảm, tình trạng lảm nhảm – đây được gọi là bi.
Tattha katamaṃ dukkhaṃ? Yaṃ kāyikaṃ asātaṃ kāyikaṃ dukkhaṃ kāyasamphassajaṃ asātaṃ dukkhaṃ vedayitaṃ, kāyasamphassajā asātā dukkhā vedanā – idaṃ vuccati dukkhaṃ.
Therein, what is pain? Whatever is bodily unpleasantness, bodily pain; and the unpleasant, painful feeling born of bodily contact—this is called pain.
Trong ấy, thế nào là khổ? Bất cứ sự khó chịu thuộc về thân, sự đau đớn thuộc về thân, cảm giác khó chịu đau đớn sanh từ thân xúc, cảm thọ khó chịu đau đớn sanh từ thân xúc – đây được gọi là khổ.
Tattha katamaṃ domanassaṃ? Yaṃ cetasikaṃ asātaṃ cetasikaṃ dukkhaṃ, cetosamphassajaṃ asātaṃ vedayitaṃ, cetosamphassajā asātā dukkhā vedanā – idaṃ vuccati domanassaṃ.
Therein, what is displeasure? Whatever is mental unpleasantness, mental pain; and the unpleasant, painful feeling born of mental contact—this is called displeasure.
Trong ấy, thế nào là ưu? Bất cứ sự khó chịu thuộc về tâm, sự đau đớn thuộc về tâm, cảm giác khó chịu sanh từ tâm xúc, cảm thọ khó chịu đau đớn sanh từ tâm xúc – đây được gọi là ưu.
Tattha katamo upāyāso? Ñātibyasanena vā phuṭṭhassa, bhogabyasanena vā phuṭṭhassa, rogabyasanena vā phuṭṭhassa, sīlabyasanena vā phuṭṭhassa, diṭṭhibyasanena vā phuṭṭhassa, aññataraññatarena byasanena samannāgatassa, aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa āyāso upāyāso āyāsanā upāyāsanā āyāsitattaṃ upāyāsitattaṃ – ayaṃ vuccati upāyāso.
Therein, what is despair? For one afflicted by the destruction of relatives, or the destruction of wealth, or the destruction that is illness, or the destruction of virtue, or the destruction of view; or for one endowed with some other destruction, or afflicted by some other state of suffering, there is trouble, great trouble, the condition of trouble, the condition of great trouble, the state of being troubled, and the state of being greatly troubled. This is called despair.
Trong ấy, phiền não (upāyāso) là gì? Đối với người bị tác động bởi sự tổn thất về quyến thuộc, hay bị tác động bởi sự tổn thất về tài sản, hay bị tác động bởi sự tổn thất do bệnh tật, hay bị tác động bởi sự tổn thất về giới hạnh, hay bị tác động bởi sự tổn thất về tri kiến, đối với người có một trong những sự tổn thất nào đó, đối với người bị tác động bởi một trong những pháp khổ nào đó, sự mệt nhọc, sự phiền não, tình trạng mệt nhọc, tình trạng phiền não, bản chất của sự mệt nhọc, bản chất của sự phiền não – đây được gọi là phiền não.
Tattha katamo appiyehi sampayogo dukkho? Idha yassa te honti aniṭṭhā akantā amanāpā rūpā saddā gandhā rasā phoṭṭhabbā, ye vā panassa te honti anatthakāmā ahitakāmā aphāsukāmā ayogakkhemakāmā, yā tehi saddhiṃ saṅgati samāgamo samodhānaṃ missībhāvo – ayaṃ vuccati appiyehi sampayogo dukkho.
Therein, what is the suffering of association with the disagreeable? Here, for a certain person, there are forms, sounds, odors, tastes, tactile objects, or mental objects that are undesirable, disagreeable, and unpleasant; or there are those who desire what is not for one's benefit, what is not for one's welfare, one's discomfort, or one's insecurity. Whatever association, coming together, meeting, or mingling there is with them—this is called the suffering of association with the disagreeable.
Trong ấy, khổ do phải chung đụng với những điều không ưa thích là gì? Ở đây, đối với người nào có những sắc, thanh, hương, vị, xúc không mong muốn, không đáng yêu, không vừa ý; hay đối với người ấy có những kẻ mong cầu điều bất lợi, mong cầu điều không hạnh phúc, mong cầu sự không an ổn, mong cầu sự không an toàn khỏi các ách; sự gặp gỡ, sự hội họp, sự tụ tập, sự hòa lẫn cùng với những điều ấy – đây được gọi là khổ do phải chung đụng với những điều không ưa thích.
Tattha katamo piyehi vippayogo dukkho? Idha yassa te honti iṭṭhā kantā manāpā rūpā saddā gandhā rasā phoṭṭhabbā, ye vā panassa te honti atthakāmā hitakāmā phāsukāmā yogakkhemakāmā mātā vā pitā vā bhātā vā bhaginī vā mittā vā amaccā vā ñātī vā sālohitā vā, yā tehi saddhiṃ asaṅgati asamāgamo asamodhānaṃ amissībhāvo – ayaṃ vuccati piyehi vippayogo dukkho.
Therein, what is the suffering of separation from the loved? Here, for a certain person, there are forms, sounds, odors, tastes, tactile objects, or mental objects that are desirable, loved, and pleasing; or there are those who desire one's benefit, welfare, comfort, and security from bondage—such as mother or father, brother or sister, friends or companions, or kinsmen or blood relatives. Whatever non-association, not coming together, not meeting, or state of not being mingled there is with them—this is called the suffering of separation from the loved.
Trong ấy, khổ do phải xa lìa những điều ưa thích là gì? Ở đây, đối với người nào có những sắc, thanh, hương, vị, xúc được mong muốn, đáng yêu, vừa ý; hay đối với người ấy có những người mong cầu lợi ích, mong cầu hạnh phúc, mong cầu sự an ổn, mong cầu sự an toàn khỏi các ách, là mẹ, hay cha, hay anh em trai, hay chị em gái, hay bạn bè, hay thân hữu, hay bà con, hay quyến thuộc; sự không gặp gỡ, sự không hội họp, sự không tụ tập, sự không hòa lẫn cùng với những điều ấy – đây được gọi là khổ do phải xa lìa những điều ưa thích.
Tattha katamaṃ yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ? Jātidhammānaṃ sattānaṃ evaṃ icchā uppajjati – ‘‘aho vata mayaṃ na jātidhammā assāma, na ca vata no jāti āgaccheyyā’’ti. Na kho panetaṃ icchāya pattabbaṃ – idampi yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ. Jarādhammānaṃ sattānaṃ…pe… byādhidhammānaṃ sattānaṃ… maraṇadhammānaṃ sattānaṃ… sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammānaṃ sattānaṃ evaṃ icchā uppajjati – ‘‘aho vata mayaṃ na sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammā assāma, na ca vata no sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā āgaccheyyu’’nti. Na kho panetaṃ icchāya pattabbaṃ – idampi yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ.
And what is the suffering of not getting what one wants? For beings subject to birth, this wish arises: ‘Oh, that we were not subject to birth! That birth would not come to us!’ But this is not to be obtained by wishing. This, too, is the suffering of not getting what one wants. For beings subject to aging… for beings subject to illness… for beings subject to death… for beings subject to sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair, this wish arises: ‘Oh, that we were not subject to sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair! That sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair would not come to us!’ But this is not to be obtained by wishing. This, too, is the suffering of not getting what one wants.
Trong ấy, cầu không được cũng là khổ là gì? Đối với các chúng sanh có sanh pháp, ý muốn như vầy khởi lên: ‘Mong sao chúng ta không có sanh pháp, mong sao sự sanh không đến với chúng ta!’ Nhưng điều này không thể đạt được do ý muốn. Đây cũng là cầu không được cũng là khổ. Đối với các chúng sanh có lão pháp... v.v... đối với các chúng sanh có bệnh pháp... đối với các chúng sanh có tử pháp... đối với các chúng sanh có sầu, bi, khổ, ưu, não pháp, ý muốn như vầy khởi lên: ‘Mong sao chúng ta không có sầu, bi, khổ, ưu, não pháp, mong sao sầu, bi, khổ, ưu, não không đến với chúng ta!’ Nhưng điều này không thể đạt được do ý muốn. Đây cũng là cầu không được cũng là khổ.
Tattha katame saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā? Seyyathidaṃ † – rūpupādānakkhandho, †, vedanupādānakkhandho saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho – ime vuccanti saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā. Idaṃ vuccati dukkhaṃ ariyasaccaṃ.
And what, in brief, are the five aggregates subject to clinging that are suffering? They are these: the form aggregate subject to clinging, the feeling aggregate subject to clinging, the perception aggregate subject to clinging, the volitional formations aggregate subject to clinging, and the consciousness aggregate subject to clinging. These, in brief, are called the five aggregates subject to clinging that are suffering. This is called the Noble Truth of Suffering.
Trong ấy, nói tóm lại năm thủ uẩn là khổ là gì? Tức là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn – những điều này được gọi là, nói tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. Đây được gọi là Khổ Thánh đế.
34. Tattha katamaṃ dukkhasamudayaṃ ariyasaccaṃ? Yāyaṃ taṇhā ponobhavikā † nandirāgasahagatā tatratatrābhinandinī, seyyathidaṃ – kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā, sā kho panesā taṇhā kattha uppajjamānā uppajjati, kattha nivisamānā nivisati? Yaṃ loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati. Kiñca loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ? Cakkhu loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati. Sotaṃ loke…pe… ghānaṃ loke… jivhā loke… kāyo loke… mano loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati. Rūpā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati. Saddā loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ…pe… dhammā loke… cakkhuviññāṇaṃ loke…pe… manoviññāṇaṃ loke… cakkhusamphasso loke…pe… manosamphasso loke… cakkhusamphassajā vedanā loke…pe… manosamphassajā vedanā loke… rūpasaññā loke…pe… dhammasaññā loke… rūpasañcetanā loke…pe… dhammasañcetanā loke… rūpataṇhā loke…pe… dhammataṇhā loke… rūpavitakko loke…pe… dhammavitakko loke… rūpavicāro loke…pe… dhammavicāro loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā uppajjamānā uppajjati, ettha nivisamānā nivisati. Idaṃ vuccati dukkhasamudayaṃ ariyasaccaṃ.
34. And what is the Noble Truth of the Origin of Suffering? It is this craving that leads to renewed existence, accompanied by delight and lust, seeking delight here and there; that is, craving for sensual pleasures, craving for existence, and craving for non-existence. And where does this craving arise when it arises? Where does it settle when it settles? Whatever in the world is endearing and agreeable, it is there that this craving arises when it arises, and there it settles when it settles. And what in the world is endearing and agreeable? The eye in the world is endearing and agreeable; it is there that this craving arises when it arises, and there it settles when it settles. The ear in the world… the nose… the tongue… the body… the mind in the world is endearing and agreeable; it is there that this craving arises when it arises, and there it settles when it settles. Forms in the world are endearing and agreeable… Sounds… Odors… Tastes… Tactile objects… Mental phenomena… Eye-consciousness… Mind-consciousness… Eye-contact… Mind-contact… Feeling born of eye-contact… Feeling born of mind-contact… Perception of forms… Perception of mental phenomena… Volition for forms… Volition for mental phenomena… Craving for forms… Craving for mental phenomena… Initial thought about forms… Initial thought about mental phenomena… Sustained thought about forms… Sustained thought about mental phenomena in the world is endearing and agreeable; it is there that this craving arises when it arises, and there it settles when it settles. This is called the Noble Truth of the Origin of Suffering.
34. Trong ấy, Khổ Tập Thánh đế là gì? Chính là ái này, là cái dẫn đến tái sanh, đi cùng với hỷ và tham, tìm thấy sự vui thích nơi này nơi kia; tức là: dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Nhưng ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu? Bất cứ cái gì ở đời có hình thức đáng yêu, hình thức dễ chịu, ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đó, khi an trú thì an trú ở đó. Và cái gì ở đời có hình thức đáng yêu, hình thức dễ chịu? Mắt ở đời có hình thức đáng yêu, hình thức dễ chịu, ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đó, khi an trú thì an trú ở đó. Tai ở đời... v.v... mũi ở đời... lưỡi ở đời... thân ở đời... ý ở đời có hình thức đáng yêu, hình thức dễ chịu, ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đó, khi an trú thì an trú ở đó. Sắc ở đời có hình thức đáng yêu, hình thức dễ chịu, ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đó, khi an trú thì an trú ở đó. Thanh ở đời... v.v... pháp ở đời... nhãn thức ở đời... v.v... ý thức ở đời... nhãn xúc ở đời... v.v... ý xúc ở đời... thọ sanh từ nhãn xúc ở đời... v.v... thọ sanh từ ý xúc ở đời... tưởng về sắc ở đời... v.v... tưởng về pháp ở đời... tư về sắc ở đời... v.v... tư về pháp ở đời... ái đối với sắc ở đời... v.v... ái đối với pháp ở đời... tầm về sắc ở đời... v.v... tầm về pháp ở đời... tứ về sắc ở đời... v.v... tứ về pháp ở đời có hình thức đáng yêu, hình thức dễ chịu, ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đó, khi an trú thì an trú ở đó. Đây được gọi là Khổ Tập Thánh đế.
35. Tattha katamaṃ dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ? Yo tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo, sā kho panesā taṇhā kattha pahīyamānā pahīyati, kattha nirujjhamānā nirujjhati? Yaṃ loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati. Kiñca loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ? Cakkhuloke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati…pe… dhammavicāro loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, etthesā taṇhā pahīyamānā pahīyati, ettha nirujjhamānā nirujjhati. Idaṃ vuccati dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ.
35. And what is the noble truth of the cessation of suffering? It is the remainderless fading away and cessation of that very craving, its abandonment, its relinquishment, freedom from it, and non-attachment to it. And where is this craving to be abandoned and where is it to cease? Whatever in the world is endearing and agreeable, it is there that this craving is to be abandoned and is to cease. And what in the world is endearing and agreeable? The eye in the world is endearing and agreeable; it is there that this craving is to be abandoned and is to cease… The investigation of phenomena in the world is endearing and agreeable; it is there that this craving is to be abandoned and is to cease. This is called the noble truth of the cessation of suffering.
35. Trong ấy, Khổ Diệt Thánh đế là gì? Chính là sự diệt tận không còn dư tàn, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ đối với chính ái ấy. Nhưng ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ ở đâu, khi được diệt tận thì được diệt tận ở đâu? Bất cứ cái gì ở đời có hình thức đáng yêu, hình thức dễ chịu, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ ở đó, khi được diệt tận thì được diệt tận ở đó. Và cái gì ở đời có hình thức đáng yêu, hình thức dễ chịu? Mắt ở đời có hình thức đáng yêu, hình thức dễ chịu, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ ở đó, khi được diệt tận thì được diệt tận ở đó... v.v... tứ về pháp ở đời có hình thức đáng yêu, hình thức dễ chịu, ái này khi được đoạn trừ thì được đoạn trừ ở đó, khi được diệt tận thì được diệt tận ở đó. Đây được gọi là Khổ Diệt Thánh đế.
36. Tattha katamaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ – sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi. Tattha katamā sammādiṭṭhi? Dukkhe ñāṇaṃ, dukkhasamudaye ñāṇaṃ, dukkhanirodhe ñāṇaṃ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ – ayaṃ vuccati sammādiṭṭhi.
36. And what is the noble truth of the path leading to the cessation of suffering? It is this very Noble Eightfold Path, namely: right view, right intention, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right concentration. And what is right view? Knowledge of suffering, knowledge of the origin of suffering, knowledge of the cessation of suffering, and knowledge of the path leading to the cessation of suffering—this is called right view.
36. Trong các sự thật ấy, Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt khổ là gì? Chính là Bát Thánh đạo này, nghĩa là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Trong đó, chánh kiến là gì? Là trí tuệ về khổ, trí tuệ về sự tập khởi của khổ, trí tuệ về sự diệt khổ, trí tuệ về con đường đưa đến sự diệt khổ – đây được gọi là chánh kiến.
Tattha katamo sammāsaṅkappo? Nekkhammasaṅkappo, abyāpādasaṅkappo, avihiṃsāsaṅkappo – ayaṃ vuccati sammāsaṅkappo.
And what is right intention? The intention of renunciation, the intention of non-ill will, and the intention of non-harming—this is called right intention.
Trong đó, chánh tư duy là gì? Là tư duy về sự xuất ly, tư duy về sự vô sân, tư duy về sự vô hại – đây được gọi là chánh tư duy.
Tattha katamā sammāvācā? Musāvādā veramaṇī †, pisuṇāya vācāya veramaṇī, pharusāya vācāya veramaṇī, samphappalāpā veramaṇī – ayaṃ vuccati sammāvācā.
And what is right speech? Abstaining from false speech, abstaining from slanderous speech, abstaining from harsh speech, and abstaining from idle chatter—this is called right speech.
Trong đó, chánh ngữ là gì? Là sự kiêng cữ nói dối, kiêng cữ nói lời đâm thọc, kiêng cữ nói lời thô ác, kiêng cữ nói lời vô ích – đây được gọi là chánh ngữ.
Tattha katamo sammākammanto? Pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, kāmesumicchācārā veramaṇī – ayaṃ vuccati sammākammanto.
And what is right action? Abstaining from the destruction of life, abstaining from taking what is not given, and abstaining from misconduct in sensual pleasures—this is called right action.
Trong đó, chánh nghiệp là gì? Là sự kiêng cữ sát sanh, kiêng cữ trộm cắp, kiêng cữ tà dâm trong các dục – đây được gọi là chánh nghiệp.
Tattha katamo sammāājīvo? Idha ariyasāvako micchāājīvaṃ pahāya sammāājīvena jīvikaṃ † kappeti – ayaṃ vuccati sammāājīvo.
And what is right livelihood? Here, a noble disciple, having abandoned wrong livelihood, earns his living by right livelihood—this is called right livelihood.
Trong đó, chánh mạng là gì? Ở đây, vị Thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, mưu sinh bằng chánh mạng – đây được gọi là chánh mạng.
Tattha katamo sammāvāyāmo? Idha bhikkhu anuppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ anuppādāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati, uppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya…pe… anuppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ uppādāya …pe… uppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati – ayaṃ vuccati sammāvāyāmo.
And what is Right Effort? Herein, in this Dispensation, a bhikkhu generates zeal, strives, arouses energy, exerts his mind, and endeavors for the non-arising of unarisen, evil, unwholesome states. He generates zeal… for the abandoning of arisen, evil, unwholesome states… for the arising of unarisen wholesome states… He generates zeal, strives, arouses energy, exerts his mind, and endeavors for the maintenance, non-confusion, increase, abundance, development, and fulfillment of arisen wholesome states. This is called Right Effort.
Trong đó, chánh tinh tấn là gì? Ở đây, vị tỳ khưu, đối với các pháp ác, bất thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, cố gắng, nỗ lực, sách tấn tâm, tinh cần; đối với các pháp ác, bất thiện đã sanh, khởi lên ý muốn để đoạn trừ...; đối với các pháp thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn để làm cho sanh khởi...; đối với các pháp thiện đã sanh, khởi lên ý muốn để duy trì, không cho lu mờ, cho tăng trưởng, cho quảng đại, cho tu tập, cho viên mãn, cố gắng, nỗ lực, sách tấn tâm, tinh cần – đây được gọi là chánh tinh tấn.
Tattha katamā sammāsati? Idha bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. Vedanāsu…pe… citte…pe… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ – ayaṃ vuccati sammāsati.
And what is Right Mindfulness? Herein, in this Dispensation, a bhikkhu dwells contemplating the body in the body, ardent, clearly comprehending, and mindful, having subdued covetousness and displeasure in regard to the world. He dwells contemplating feelings in feelings… mind in mind… dhammas in dhammas, ardent, clearly comprehending, and mindful, having subdued covetousness and displeasure in regard to the world. This is called Right Mindfulness.
Trong đó, chánh niệm là gì? Ở đây, vị tỳ khưu sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Trên các cảm thọ... trên tâm... trên các pháp, sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời – đây được gọi là chánh niệm.
Tattha katamo sammāsamādhi? Idha bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti – ‘‘upekkhako satimā sukhavihārī’’ti tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati sammāsamādhi. Idaṃ vuccati dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘idaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ, idaṃ dukkhasamudayaṃ ariyasaccaṃ, idaṃ dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ, idaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasacca’’nti sotāvadhānaṃ, taṃpajānanā paññā sutamaye ñāṇaṃ. Evaṃ sotāvadhāne paññā sutamaye ñāṇaṃ.
Herein, what is right concentration? Here, a bhikkhu, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states, enters and dwells in the first jhāna, which has applied and sustained thought, with rapture and pleasure born of seclusion. With the stilling of applied and sustained thought, he enters and dwells in the second jhāna, which has internal confidence and unification of mind, is without applied and sustained thought, and has rapture and pleasure born of concentration. With the fading away of rapture, he dwells equanimous, mindful, and clearly comprehending, and he experiences pleasure with the body; he enters and dwells in the third jhāna, of which the noble ones declare: ‘Equanimous and mindful, he dwells happily.’ With the abandoning of pleasure and pain, and with the previous passing away of joy and displeasure, he enters and dwells in the fourth jhāna, which is neither-painful-nor-pleasant and has purity of mindfulness through equanimity. This is called right concentration. This is called the noble truth of the path leading to the cessation of suffering. That, in the sense of knowing, is knowledge; in the sense of discerning, it is wisdom. Therefore it is said: ‘This is the noble truth of suffering, this is the noble truth of the origin of suffering, this is the noble truth of the cessation of suffering, this is the noble truth of the path leading to the cessation of suffering.’ This is the Dhamma that is heard. The wisdom that understands this is knowledge based on what is heard. Thus, wisdom concerning the Dhamma that is heard is knowledge based on what is heard.
Trong đó, chánh định là gì? Ở đây, vị tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Do làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ. Do ly hỷ, vị ấy trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú,’ chứng và trú thiền thứ ba. Do xả lạc, xả khổ, và diệt trừ hỷ ưu đã cảm thọ trước kia, vị ấy chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Đây được gọi là chánh định. Đây được gọi là Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt khổ. Trí tuệ (ñāṇa) là do ý nghĩa biết rõ; tuệ (paññā) là do ý nghĩa hiểu biết thấu đáo. Do đó, được nói rằng: ‘Đây là Thánh đế về khổ, đây là Thánh đế về sự tập khởi của khổ, đây là Thánh đế về sự diệt khổ, đây là Thánh đế về con đường đưa đến sự diệt khổ,’ đó là sự lắng nghe (sotāvadhānaṃ); tuệ hiểu biết điều đó là văn tuệ (sutamaye ñāṇaṃ). Như vậy, tuệ sanh khởi trong sự lắng nghe là văn tuệ.
Sutamayañāṇaniddeso paṭhamo.
The Exposition of Knowledge Based on What Is Heard is the first.
Phần giải thích về văn tuệ, chương thứ nhất.
2. Sīlamayañāṇaniddeso
2. The Exposition of Knowledge Based on Virtue
2. Phần giải thích về giới tuệ.
37. Kathaṃ sutvāna saṃvare paññā sīlamaye ñāṇaṃ? Pañca sīlāni – pariyantapārisuddhisīlaṃ, apariyantapārisuddhisīlaṃ, paripuṇṇapārisuddhisīlaṃ, aparāmaṭṭhapārisuddhisīlaṃ, paṭippassaddhipārisuddhisīlanti.
37. How, having heard, is wisdom in restraint knowledge based on virtue? There are five kinds of virtue: virtue of purity with a limit, virtue of purity without a limit, virtue of complete purity, virtue of purity free from misapprehension, and virtue of pacified purity.
37. Thế nào là tuệ trong sự thu thúc sau khi đã nghe, là giới tuệ? Có năm loại giới: giới thanh tịnh có giới hạn, giới thanh tịnh không có giới hạn, giới thanh tịnh viên mãn, giới thanh tịnh không bị chấp thủ sai lầm, và giới thanh tịnh đã được an tịnh.
Tattha katamaṃ pariyantapārisuddhisīlaṃ? Anupasampannānaṃ pariyantasikkhāpadānaṃ – idaṃ pariyantapārisuddhisīlaṃ. Katamaṃ apariyantapārisuddhisīlaṃ? Upasampannānaṃ apariyantasikkhāpadānaṃ – idaṃ apariyantapārisuddhisīlaṃ. Katamaṃ paripuṇṇapārisuddhisīlaṃ? Puthujjanakalyāṇakānaṃ kusaladhamme yuttānaṃ sekkhapariyante † paripūrakārīnaṃ kāye ca jīvite ca anapekkhānaṃ pariccattajīvitānaṃ – idaṃ paripuṇṇapārisuddhisīlaṃ. Katamaṃ aparāmaṭṭhapārisuddhisīlaṃ? Sattannaṃ sekkhānaṃ – idaṃ aparāmaṭṭhapārisuddhisīlaṃ. Katamaṃ paṭippassaddhipārisuddhisīlaṃ? Tathāgatasāvakānaṃ khīṇāsavānaṃ paccekabuddhānaṃ tathāgatānaṃ arahantānaṃ sammāsambuddhānaṃ – idaṃ paṭippassaddhipārisuddhisīlaṃ.
Herein, what is the virtue of purity with a limit? The virtue of the unordained, who have training rules with a limit—this is the virtue of purity with a limit. What is the virtue of purity without a limit? The virtue of the fully ordained, who have training rules without a limit—this is the virtue of purity without a limit. What is the virtue of complete purity? The virtue of virtuous worldlings who are endowed with wholesome qualities, who are fulfillers at the limit of a trainee, unconcerned for body and life, and have relinquished life—this is the virtue of complete purity. What is the virtue of unmisapprehended purity? The virtue of the seven trainees—this is the virtue of unmisapprehended purity. What is the virtue of tranquil purity? The virtue of the taint-free disciples of the Tathāgata, of Paccekabuddhas, and of Tathāgatas, Arahants, Perfectly Self-Enlightened Ones—this is the virtue of tranquil purity.
Trong đó, thế nào là giới thanh tịnh có giới hạn? Là giới của những người chưa thọ cụ túc giới, có các học giới hữu hạn – đây là giới thanh tịnh có giới hạn. Thế nào là giới thanh tịnh không có giới hạn? Là giới của những người đã thọ cụ túc giới, có các học giới vô hạn – đây là giới thanh tịnh không có giới hạn. Thế nào là giới thanh tịnh viên mãn? Là giới của các thiện phàm phu, những người nỗ lực trong các pháp thiện, thực hành viên mãn cho đến giới hạn của bậc hữu học, không luyến tiếc thân và mạng, đã từ bỏ mạng sống – đây là giới thanh tịnh viên mãn. Thế nào là giới thanh tịnh không bị chấp thủ sai lầm? Là giới của bảy bậc hữu học – đây là giới thanh tịnh không bị chấp thủ sai lầm. Thế nào là giới thanh tịnh đã được an tịnh? Là giới của các vị lậu tận là đệ tử của Như Lai, của các vị Độc Giác Phật, của các bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác – đây là giới thanh tịnh đã được an tịnh.
38. Atthi sīlaṃ pariyantaṃ, atthi sīlaṃ apariyantaṃ. Tattha katamaṃ taṃ sīlaṃ pariyantaṃ? Atthi sīlaṃ lābhapariyantaṃ, atthi sīlaṃ yasapariyantaṃ, atthi sīlaṃ ñātipariyantaṃ, atthi sīlaṃ aṅgapariyantaṃ, atthi sīlaṃ jīvitapariyantaṃ.
38. There is virtue that is limited, and there is virtue that is unlimited. Herein, what is that limited virtue? There is virtue limited by gain, virtue limited by fame, virtue limited by relatives, virtue limited by limbs, and virtue limited by life.
38. Có giới hữu hạn, có giới vô hạn. Trong đó, thế nào là giới hữu hạn? Có giới bị giới hạn bởi lợi lộc, có giới bị giới hạn bởi danh vọng, có giới bị giới hạn bởi quyến thuộc, có giới bị giới hạn bởi thân thể, có giới bị giới hạn bởi mạng sống.
Katamaṃ taṃ sīlaṃ lābhapariyantaṃ? Idhekacco lābhahetu lābhapaccayā lābhakāraṇā yathāsamādinnaṃ † sikkhāpadaṃ vītikkamati – idaṃ taṃ sīlaṃ lābhapariyantaṃ. Katamaṃ taṃ sīlaṃ yasapariyantaṃ? Idhekacco yasahetu yasapaccayā yasakāraṇā yathāsamādinnaṃ sikkhāpadaṃ vītikkamati – idaṃ taṃ sīlaṃ yasapariyantaṃ. Katamaṃ taṃ sīlaṃ ñātipariyantaṃ? Idhekacco ñātihetu ñātipaccayā ñātikāraṇā yathāsamādinnaṃ sikkhāpadaṃ vītikkamati – idaṃ taṃ sīlaṃ ñātipariyantaṃ. Katamaṃ taṃ sīlaṃ aṅgapariyantaṃ? Idhekacco aṅgahetu aṅgapaccayā aṅgakāraṇā yathāsamādinnaṃ sikkhāpadaṃ vītikkamati – idaṃ taṃ sīlaṃ aṅgapariyantaṃ. Katamaṃ taṃ sīlaṃ jīvitapariyantaṃ? Idhekacco jīvitahetu jīvitapaccayā jīvitakāraṇā yathāsamādinnaṃ sikkhāpadaṃ vītikkamati – idaṃ taṃ sīlaṃ jīvitapariyantaṃ. Evarūpāni sīlāni khaṇḍāni chiddāni sabalāni kammāsāni na bhujissāni na viññuppasatthāni † parāmaṭṭhāni asamādhisaṃvattanikāni † na avippaṭisāravatthukāni na pāmojjavatthukāni na pītivatthukāni na passaddhivatthukāni na sukhavatthukāni na samādhivatthukāni na yathābhūtañāṇadassanavatthukāni na ekantanibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṃvattanti – idaṃ taṃ sīlaṃ pariyantaṃ.
What is that virtue limited by gain? Here, a certain person transgresses a training rule they have undertaken for the sake of gain, because of gain, on account of gain—this is that virtue limited by gain. What is that virtue limited by renown? Here, a certain person transgresses a training rule they have undertaken for the sake of renown, because of renown, on account of renown—this is that virtue limited by renown. What is that virtue limited by relatives? Here, a certain person transgresses a training rule they have undertaken for the sake of relatives, because of relatives, on account of relatives—this is that virtue limited by relatives. What is that virtue limited by limbs? Here, a certain person transgresses a training rule they have undertaken for the sake of their limbs, because of their limbs, on account of their limbs—this is that virtue limited by limbs. What is that virtue limited by life? Here, a certain person transgresses a training rule they have undertaken for the sake of life, because of life, on account of life—this is that virtue limited by life. Such kinds of virtue are broken, flawed, spotted, and mottled; they are not freeing, not praised by the wise, are wrongly grasped, and are not conducive to concentration. They are not a basis for freedom from remorse, not a basis for joy, not a basis for rapture, not a basis for tranquility, not a basis for happiness, not a basis for concentration, not a basis for the knowledge and vision of things as they really are. They do not lead to complete disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to Nibbāna. This is that limited virtue.
Thế nào là giới có giới hạn là lợi lộc? Ở đây, có người vì lợi lộc, do duyên lợi lộc, vì nguyên nhân lợi lộc mà vi phạm học giới đã thọ trì – đây là giới có giới hạn là lợi lộc. Thế nào là giới có giới hạn là danh vọng? Ở đây, có người vì danh vọng, do duyên danh vọng, vì nguyên nhân danh vọng mà vi phạm học giới đã thọ trì – đây là giới có giới hạn là danh vọng. Thế nào là giới có giới hạn là thân quyến? Ở đây, có người vì thân quyến, do duyên thân quyến, vì nguyên nhân thân quyến mà vi phạm học giới đã thọ trì – đây là giới có giới hạn là thân quyến. Thế nào là giới có giới hạn là thân thể? Ở đây, có người vì thân thể, do duyên thân thể, vì nguyên nhân thân thể mà vi phạm học giới đã thọ trì – đây là giới có giới hạn là thân thể. Thế nào là giới có giới hạn là mạng sống? Ở đây, có người vì mạng sống, do duyên mạng sống, vì nguyên nhân mạng sống mà vi phạm học giới đã thọ trì – đây là giới có giới hạn là mạng sống. Các giới như vậy là bị bể vụn, bị thủng, bị lốm đốm, bị lang lổ, không phải là sự giải thoát, không được người trí tán thán, bị chấp thủ sai lầm, không đưa đến định, không phải là nền tảng cho sự không hối tiếc, không phải là nền tảng cho sự hoan hỷ, không phải là nền tảng cho sự phỉ lạc, không phải là nền tảng cho sự khinh an, không phải là nền tảng cho sự an lạc, không phải là nền tảng cho định, không phải là nền tảng cho tri kiến như thật, không đưa đến sự nhàm chán dứt khoát, không đưa đến sự ly tham, không đưa đến sự đoạn diệt, không đưa đến sự an tịnh, không đưa đến thắng trí, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Níp-bàn – đây là giới có giới hạn.
Katamaṃ taṃ sīlaṃ apariyantaṃ? Atthi sīlaṃ na lābhapariyantaṃ, atthi sīlaṃ na yasapariyantaṃ, atthi sīlaṃ na ñātipariyantaṃ, atthi sīlaṃ na aṅgapariyantaṃ, atthi sīlaṃ na jīvitapariyantaṃ.
What is that unlimited virtue? There is virtue not limited by gain, there is virtue not limited by renown, there is virtue not limited by relatives, there is virtue not limited by limbs, and there is virtue not limited by life.
Thế nào là giới không có giới hạn? Có giới không có giới hạn là lợi lộc, có giới không có giới hạn là danh vọng, có giới không có giới hạn là thân quyến, có giới không có giới hạn là thân thể, có giới không có giới hạn là mạng sống.
Katamaṃ taṃ sīlaṃ na lābhapariyantaṃ? Idhekacco lābhahetu lābhapaccayā lābhakāraṇā yathāsamādinnaṃ sikkhāpadaṃ vītikkamāya cittampi na uppādeti, kiṃ so vītikkamissati! Idaṃ taṃ sīlaṃ na lābhapariyantaṃ. Katamaṃ taṃ sīlaṃ na yasapariyantaṃ? Idhekacco yasahetu yasapaccayā yasakāraṇā yathāsamādinnaṃ sikkhāpadaṃ vītikkamāya cittampi na uppādeti, kiṃ so vītikkamissati! Idaṃ taṃ sīlaṃ na yasapariyantaṃ. Katamaṃ taṃ sīlaṃ na ñātipariyantaṃ? Idhekacco ñātihetu ñātipaccayā ñātikāraṇā yathāsamādinnaṃ sikkhāpadaṃ vītikkamāya cittampi na uppādeti, kiṃ so vītikkamissati! Idaṃ taṃ sīlaṃ na ñātipariyantaṃ. Katamaṃ taṃ sīlaṃ na aṅgapariyantaṃ? Idhekacco aṅgahetu aṅgapaccayā aṅgakāraṇā yathāsamādinnaṃ sikkhāpadaṃ vītikkamāya cittampi na uppādeti, kiṃ so vītikkamissati! Idaṃ taṃ sīlaṃ na aṅgapariyantaṃ. Katamaṃ taṃ sīlaṃ na jīvitapariyantaṃ? Idhekacco jīvitahetu jīvitapaccayā jīvitakāraṇā yathāsamādinnaṃ sikkhāpadaṃ vītikkamāya cittampi na uppādeti, kiṃ so vītikkamissati! Idaṃ taṃ sīlaṃ na jīvitapariyantaṃ. Evarūpāni sīlāni akhaṇḍāni acchiddāni asabalāni akammāsāni bhujissāni viññuppasatthāni aparāmaṭṭhāni samādhisaṃvattanikāni avippaṭisāravatthukāni pāmojjavatthukāni pītivatthukāni passaddhivatthukāni sukhavatthukāni samādhivatthukāni yathābhūtañāṇadassanavatthukāni ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattanti – idaṃ taṃ sīlaṃ apariyantaṃ.
What is that virtue not limited by gain? Here, a certain person does not even arouse the thought to transgress a training rule they have undertaken for the sake of gain, because of gain, on account of gain—how then could that person transgress? This is that virtue not limited by gain. What is that virtue not limited by fame? Here, a certain person does not even arouse the thought to transgress a training rule they have undertaken for the sake of fame, because of fame, on account of fame—how then could that person transgress? This is that virtue not limited by fame. What is that virtue not limited by relatives? Here, a certain person does not even arouse the thought to transgress a training rule they have undertaken for the sake of relatives, because of relatives, on account of relatives—how then could that person transgress? This is that virtue not limited by relatives. What is that virtue not limited by limbs? Here, a certain person does not even arouse the thought to transgress a training rule they have undertaken for the sake of their limbs, because of their limbs, on account of their limbs—how then could that person transgress? This is that virtue not limited by limbs. What is that virtue not limited by life? Here, a certain person does not even arouse the thought to transgress a training rule they have undertaken for the sake of life, because of life, on account of life—how then could that person transgress? This is that virtue not limited by life. Such kinds of virtue are unbroken, unflawed, unspotted, and unmottled; they are liberating, praised by the wise, ungrasped, and conducive to concentration. They are a basis for freedom from remorse, a basis for joy, a basis for rapture, a basis for tranquility, a basis for happiness, a basis for concentration, a basis for the knowledge and vision of things as they really are. They lead to complete disenchantment, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to Nibbāna. This is that unlimited virtue.
Thế nào là giới không có giới hạn là lợi lộc? Ở đây, có người vì lợi lộc, do duyên lợi lộc, vì nguyên nhân lợi lộc, cũng không khởi lên tâm niệm vi phạm học giới đã thọ trì, thì làm sao người ấy có thể vi phạm được! Đây là giới không có giới hạn là lợi lộc. Thế nào là giới không có giới hạn là danh vọng? Ở đây, có người vì danh vọng, do duyên danh vọng, vì nguyên nhân danh vọng, cũng không khởi lên tâm niệm vi phạm học giới đã thọ trì, thì làm sao người ấy có thể vi phạm được! Đây là giới không có giới hạn là danh vọng. Thế nào là giới không có giới hạn là thân quyến? Ở đây, có người vì thân quyến, do duyên thân quyến, vì nguyên nhân thân quyến, cũng không khởi lên tâm niệm vi phạm học giới đã thọ trì, thì làm sao người ấy có thể vi phạm được! Đây là giới không có giới hạn là thân quyến. Thế nào là giới không có giới hạn là thân thể? Ở đây, có người vì thân thể, do duyên thân thể, vì nguyên nhân thân thể, cũng không khởi lên tâm niệm vi phạm học giới đã thọ trì, thì làm sao người ấy có thể vi phạm được! Đây là giới không có giới hạn là thân thể. Thế nào là giới không có giới hạn là mạng sống? Ở đây, có người vì mạng sống, do duyên mạng sống, vì nguyên nhân mạng sống, cũng không khởi lên tâm niệm vi phạm học giới đã thọ trì, thì làm sao người ấy có thể vi phạm được! Đây là giới không có giới hạn là mạng sống. Các giới như vậy là không bị bể vụn, không bị thủng, không bị lốm đốm, không bị lang lổ, là sự giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ sai lầm, đưa đến định, là nền tảng cho sự không hối tiếc, là nền tảng cho sự hoan hỷ, là nền tảng cho sự phỉ lạc, là nền tảng cho sự khinh an, là nền tảng cho sự an lạc, là nền tảng cho định, là nền tảng cho tri kiến như thật, đưa đến sự nhàm chán dứt khoát, đưa đến sự ly tham, đưa đến sự đoạn diệt, đưa đến sự an tịnh, đưa đến thắng trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến Níp-bàn – đây là giới không có giới hạn.
39. Kiṃ sīlaṃ? Kati sīlāni? Kiṃ samuṭṭhānaṃ sīlaṃ? Kati dhammasamodhānaṃ sīlaṃ?
39. What is virtue? How many kinds of virtue are there? What is the origin of virtue? How many states are combined in virtue?
39. Giới là gì? Có bao nhiêu loại giới? Giới có nguồn gốc là gì? Giới là sự hợp thành của bao nhiêu pháp?
Kiṃ sīlanti cetanā sīlaṃ, cetasikaṃ sīlaṃ, saṃvaro sīlaṃ, avītikkamo sīlaṃ. Kati sīlānīti tīṇi sīlāni – kusalasīlaṃ, akusalasīlaṃ, abyākatasīlaṃ.Kiṃ samuṭṭhānaṃ sīlanti kusalacittasamuṭṭhānaṃ kusalasīlaṃ, akusalacittasamuṭṭhānaṃ akusalasīlaṃ, abyākatacittasamuṭṭhānaṃ abyākatasīlaṃ. Kati dhammasamodhānaṃ sīlanti saṃvarasamodhānaṃ sīlaṃ, avītikkamasamodhānaṃ sīlaṃ, tathābhāve jātacetanāsamodhānaṃ sīlaṃ.
What is sīla? Volition is sīla, the mental factor is sīla, restraint is sīla, non-transgression is sīla. How many kinds of sīla are there? There are three kinds of sīla: wholesome sīla, unwholesome sīla, and indeterminate sīla. What is the origin of sīla? Wholesome sīla originates from a wholesome mind, unwholesome sīla originates from an unwholesome mind, and indeterminate sīla originates from an indeterminate mind. How many dhammas are combined in sīla? Sīla is the combination of restraint, sīla is the combination of non-transgression, and sīla is the combination of the volition that has arisen in such a state.
Về câu hỏi ‘Giới là gì?’, (đáp rằng:) tác ý là giới, tâm sở là giới, sự thu thúc là giới, sự không vi phạm là giới. Về câu hỏi ‘Có bao nhiêu loại giới?’, (đáp rằng:) có ba loại giới: giới thiện, giới bất thiện, giới vô ký. Về câu hỏi ‘Giới có nguồn gốc là gì?’, (đáp rằng:) giới thiện có tâm thiện là nguồn gốc, giới bất thiện có tâm bất thiện là nguồn gốc, giới vô ký có tâm vô ký là nguồn gốc. Về câu hỏi ‘Giới là sự hợp thành của bao nhiêu pháp?’, (đáp rằng:) giới là sự hợp thành của sự thu thúc, giới là sự hợp thành của sự không vi phạm, giới là sự hợp thành của tác ý sanh khởi trong trạng thái như vậy.
40. Pāṇātipātaṃ saṃvaraṭṭhena sīlaṃ, avītikkamaṭṭhena sīlaṃ. Adinnādānaṃ saṃvaraṭṭhena sīlaṃ, avītikkamaṭṭhena sīlaṃ. Kāmesumicchācāraṃ saṃvaraṭṭhena sīlaṃ, avītikkamaṭṭhena sīlaṃ. Musāvādaṃ saṃvaraṭṭhena sīlaṃ, avītikkamaṭṭhena sīlaṃ. Pisuṇaṃ vācaṃ † saṃvaraṭṭhena sīlaṃ, avītikkamaṭṭhena sīlaṃ. Pharusaṃ vācaṃ † saṃvaraṭṭhena sīlaṃ, avītikkamaṭṭhena sīlaṃ. Samphappalāpaṃ saṃvaraṭṭhena sīlaṃ, avītikkamaṭṭhena sīlaṃ. Abhijjhaṃ saṃvaraṭṭhena sīlaṃ, avītikkamaṭṭhena sīlaṃ. Byāpādaṃ saṃvaraṭṭhena sīlaṃ, avītikkamaṭṭhena sīlaṃ. Micchādiṭṭhiṃ saṃvaraṭṭhena sīlaṃ, avītikkamaṭṭhena sīlaṃ.
40. Regarding killing living beings, there is sīla in the sense of restraint and sīla in the sense of non-transgression. Regarding taking what is not given, there is sīla in the sense of restraint and sīla in the sense of non-transgression. Regarding sexual misconduct, there is sīla in the sense of restraint and sīla in the sense of non-transgression. Regarding false speech, there is sīla in the sense of restraint and sīla in the sense of non-transgression. Regarding divisive speech, there is sīla in the sense of restraint and sīla in the sense of non-transgression. Regarding harsh speech, there is sīla in the sense of restraint and sīla in the sense of non-transgression. Regarding idle chatter, there is sīla in the sense of restraint and sīla in the sense of non-transgression. Regarding covetousness, there is sīla in the sense of restraint and sīla in the sense of non-transgression. Regarding ill will, there is sīla in the sense of restraint and sīla in the sense of non-transgression. Regarding wrong view, there is sīla in the sense of restraint and sīla in the sense of non-transgression.
40. Đối với việc sát sanh, giới là theo nghĩa thu thúc, giới là theo nghĩa không vi phạm. Đối với việc trộm cắp, giới là theo nghĩa thu thúc, giới là theo nghĩa không vi phạm. Đối với việc tà dâm trong các dục, giới là theo nghĩa thu thúc, giới là theo nghĩa không vi phạm. Đối với việc nói dối, giới là theo nghĩa thu thúc, giới là theo nghĩa không vi phạm. Đối với lời nói đâm thọc, giới là theo nghĩa thu thúc, giới là theo nghĩa không vi phạm. Đối với lời nói thô ác, giới là theo nghĩa thu thúc, giới là theo nghĩa không vi phạm. Đối với lời nói vô ích, giới là theo nghĩa thu thúc, giới là theo nghĩa không vi phạm. Đối với lòng tham, giới là theo nghĩa thu thúc, giới là theo nghĩa không vi phạm. Đối với sân hận, giới là theo nghĩa thu thúc, giới là theo nghĩa không vi phạm. Đối với tà kiến, giới là theo nghĩa thu thúc, giới là theo nghĩa không vi phạm.
41. Nekkhammena kāmacchandaṃ saṃvaraṭṭhena sīlaṃ, avītikkamaṭṭhena sīlaṃ. Abyāpādena byāpādaṃ saṃvaraṭṭhena sīlaṃ, avītikkamaṭṭhena sīlaṃ. Ālokasaññāya thinamiddhaṃ…pe… avikkhepaṭṭhena uddhaccaṃ… dhammavavatthānena vicikicchaṃ… ñāṇena avijjaṃ… pāmojjena aratiṃ….
41. By renunciation, sensual desire is restrained; this is sīla in the sense of restraint and sīla in the sense of non-transgression. By non-ill will, ill will is restrained; this is sīla in the sense of restraint and sīla in the sense of non-transgression. By the perception of light, sloth and torpor are restrained...; by non-distraction, restlessness is restrained; by the analysis of phenomena, doubt is restrained; by knowledge, ignorance is restrained; by gladness, discontent is restrained.
41. Do sự xuất ly đối với dục tham, về ý nghĩa phòng hộ là giới, về ý nghĩa không vi phạm là giới. Do vô sân đối với sân, về ý nghĩa phòng hộ là giới, về ý nghĩa không vi phạm là giới. Do tưởng về ánh sáng đối với hôn trầm thụy miên... do ý nghĩa không phóng dật đối với trạo cử... do sự xác định pháp đối với hoài nghi... do trí tuệ đối với vô minh... do sự hân hoan đối với sự bất mãn...
Paṭhamena jhānena † nīvaraṇe…pe… dutiyena jhānena vitakkavicāre… tatiyena jhānena pītiṃ… catutthena jhānena sukhadukkhaṃ… ākāsānañcāyatanasamāpattiyā rūpasaññaṃ paṭighasaññaṃ nānattasaññaṃ… viññāṇañcāyatanasamāpattiyā ākāsānañcāyatanasaññaṃ… ākiñcaññāyatanasamāpattiyā viññāṇañcāyatanasaññaṃ… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā ākiñcaññāyatanasaññaṃ.
By the first jhāna, the hindrances; by the second jhāna, initial thought and sustained thought; by the third jhāna, rapture; by the fourth jhāna, pleasure and pain; by the attainment of the base of infinite space, the perception of form, the perception of resistance, and the perception of diversity; by the attainment of the base of infinite consciousness, the perception of the base of infinite space; by the attainment of the base of nothingness, the perception of the base of infinite consciousness; by the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception, the perception of the base of nothingness.
Do thiền thứ nhất đối với các triền cái... do thiền thứ nhì đối với tầm và tứ... do thiền thứ ba đối với hỷ... do thiền thứ tư đối với lạc và khổ... do sự chứng đắc Không vô biên xứ đối với sắc tưởng, đối ngại tưởng, các tưởng đa dạng... do sự chứng đắc Thức vô biên xứ đối với tưởng Không vô biên xứ... do sự chứng đắc Vô sở hữu xứ đối với tưởng Thức vô biên xứ... do sự chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ đối với tưởng Vô sở hữu xứ.
Aniccānupassanāya niccasaññaṃ…pe… dukkhānupassanāya sukhasaññaṃ… anattā anupassanāya attasaññaṃ… nibbidānupassanāya nandiṃ… virāgānupassanāya rāgaṃ… nirodhā anupassanāya samudayaṃ… paṭinissaggānupassanāya ādānaṃ… khayānupassanāya ghanasaññaṃ… vayānupassanāya āyūhanaṃ.. vipariṇāmānupassanāya dhuvasaññaṃ… animittānupassanāya nimittaṃ…. appaṇihitānupassanāya paṇidhiṃ… suññatānupassanāya abhinivesaṃ… adhipaññādhammavipassanāya sārādānābhinivesaṃ… yathābhūtañāṇadassanena sammohābhinivesaṃ… ādīnavānupassanāya ālayābhinivesaṃ… paṭisaṅkhānupassanāya appaṭisaṅkhaṃ… vivaṭṭanānupassanāya saññogābhinivesaṃ….
By contemplation of impermanence, the perception of permanence; by contemplation of suffering, the perception of pleasure; by contemplation of not-self, the perception of self; by contemplation of disenchantment, delight; by contemplation of dispassion, lust; by contemplation of cessation, the perception of origination; by contemplation of relinquishment, grasping; by contemplation of destruction, the perception of solidity; by contemplation of vanishing, striving; by contemplation of change, the perception of stability; by contemplation of the signless, the sign; by contemplation of the undirected, aspiration; by contemplation of emptiness, adherence; by insight into phenomena with higher wisdom, adherence to grasping at a core; by the knowledge and vision of things as they are, adherence with delusion; by contemplation of danger, adherence with attachment; by contemplation of reflection, non-reflection; by contemplation of turning away, adherence to the fetters.
Do sự tùy quán vô thường đối với thường tưởng... do sự tùy quán khổ đối với lạc tưởng... do sự tùy quán vô ngã đối với ngã tưởng... do sự tùy quán yếm ly đối với sự hoan hỷ... do sự tùy quán ly tham đối với tham... do sự tùy quán diệt đối với tập... do sự tùy quán từ bỏ đối với sự chấp thủ... do sự tùy quán về sự đoạn tận đối với khối tưởng... do sự tùy quán về sự hoại diệt đối với sự tích lũy... do sự tùy quán về sự biến hoại đối với tưởng bền vững... do sự tùy quán vô tướng đối với tướng... do sự tùy quán vô nguyện đối với nguyện... do sự tùy quán tánh không đối với sự cố chấp... do tuệ quán về pháp tăng thượng tuệ đối với sự cố chấp vào việc chấp thủ cốt lõi... do sự thấy biết như thật đối với sự cố chấp trong si mê... do sự tùy quán về sự nguy hại đối với sự cố chấp trong ái luyến... do sự tùy quán thẩm sát đối với sự không thẩm sát... do sự tùy quán về sự xoay chiều đối với sự cố chấp trong liên kết...
Sotāpattimaggena diṭṭhekaṭṭhe kilese…pe… sakadāgāmimaggena oḷārike kilese… anāgāmimaggena aṇusahagate kilese… arahattamaggena sabbakilese saṃvaraṭṭhena sīlaṃ, avītikkamaṭṭhena sīlaṃ.
By the path of stream-entry, the defilements connected with views; by the path of the once-returner, the gross defilements; by the path of the non-returner, the subtle defilements; by the path of arahantship, all defilements. Virtue in the sense of restraint, virtue in the sense of non-transgression.
Do Tu-đà-hoàn đạo đối với các phiền não đi cùng với tà kiến... do Tư-đà-hàm đạo đối với các phiền não thô... do A-na-hàm đạo đối với các phiền não vi tế... do A-la-hán đạo đối với tất cả phiền não, về ý nghĩa phòng hộ là giới, về ý nghĩa không vi phạm là giới.
Pañca sīlāni – pāṇātipātassa pahānaṃ sīlaṃ, veramaṇī sīlaṃ, cetanā sīlaṃ, saṃvaro sīlaṃ, avītikkamo sīlaṃ. Evarūpāni sīlāni cittassa avippaṭisārāya saṃvattanti, pāmojjāya saṃvattanti, pītiyā saṃvattanti, passaddhiyā saṃvattanti, somanassāya saṃvattanti, āsevanāya saṃvattanti, bhāvanāya saṃvattanti, bahulīkammāya saṃvattanti, alaṅkārāya saṃvattanti, parikkhārāya saṃvattanti, parivārāya saṃvattanti, pāripūriyā saṃvattanti, ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattanti.
There are five virtues: the abandoning of the destruction of life is virtue; abstinence is virtue; volition is virtue; restraint is virtue; non-transgression is virtue. Such virtues conduce to freedom from remorse, to gladness, to rapture, to tranquility, to happiness, to cultivation, to development, to frequent practice, to adornment, to equipment, to a retinue, to fulfillment, to utter disenchantment, dispassion, cessation, peace, direct knowledge, full enlightenment, and Nibbāna.
Có năm loại giới – sự từ bỏ sát sanh là giới, sự kiêng cữ là giới, tác ý là giới, sự phòng hộ là giới, sự không vi phạm là giới. Các loại giới như vậy dẫn đến sự không hối tiếc của tâm, dẫn đến sự hân hoan, dẫn đến hỷ, dẫn đến sự khinh an, dẫn đến hỷ lạc, dẫn đến sự thực hành, dẫn đến sự tu tập, dẫn đến sự thực hành nhiều lần, dẫn đến sự trang nghiêm, dẫn đến sự hỗ trợ, dẫn đến sự tùy tùng, dẫn đến sự viên mãn, dẫn đến sự nhàm chán hoàn toàn, đến ly tham, đến đoạn diệt, đến an tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết-bàn.
Evarūpānaṃ sīlānaṃ saṃvarapārisuddhi adhisīlaṃ, saṃvarapārisuddhiyā ṭhitaṃ cittaṃ na vikkhepaṃ gacchati, avikkhepapārisuddhi adhicittaṃ saṃvarapārisuddhiṃ sammā passati, avikkhepapārisuddhiṃ sammā passati. Dassanapārisuddhi adhipaññā. Yo tattha saṃvaraṭṭho, ayaṃ adhisīlasikkhā. Yo tattha avikkhepaṭṭho, ayaṃ adhicittasikkhā. Yo tattha dassanaṭṭho, ayaṃ adhipaññāsikkhā.
Of such virtues, the purity of restraint is the higher virtue. The mind established in the purity of restraint does not become distracted; the purity of non-distraction is the higher mind. One rightly sees the purity of restraint, and one rightly sees the purity of non-distraction. The purity of vision is the higher wisdom. Herein, the state of restraint is the training in the higher virtue. The state of non-distraction is the training in the higher mind. The state of vision is the training in the higher wisdom.
Đối với các loại giới như vậy, sự trong sạch trong phòng hộ là tăng thượng giới. Tâm an trú trong sự trong sạch trong phòng hộ không đi đến phóng dật, sự trong sạch trong không phóng dật là tăng thượng tâm. Thấy đúng sự trong sạch trong phòng hộ, thấy đúng sự trong sạch trong không phóng dật. Sự trong sạch trong tri kiến là tăng thượng tuệ. Ở đây, ý nghĩa phòng hộ nào, đây là tăng thượng giới học. Ở đây, ý nghĩa không phóng dật nào, đây là tăng thượng tâm học. Ở đây, ý nghĩa tri kiến nào, đây là tăng thượng tuệ học.
Imā tisso sikkhāyo āvajjanto sikkhati, jānanto sikkhati, passanto sikkhati, paccavekkhanto sikkhati, cittaṃ adhiṭṭhahanto sikkhati, saddhāya adhimuccanto sikkhati, vīriyaṃ paggaṇhanto sikkhati, satiṃ upaṭṭhapento sikkhati, cittaṃ samādahanto sikkhati, paññāya pajānanto sikkhati, abhiññeyyaṃ abhijānanto sikkhati, pariññeyyaṃ parijānanto sikkhati, pahātabbaṃ pajahanto sikkhati, sacchikātabbaṃ sacchikaronto sikkhati, bhāvetabbaṃ bhāvento sikkhati.
Adverting to these three trainings, one trains by knowing, by seeing, by reviewing, by resolving the mind, by being resolved through faith, by exerting energy, by establishing mindfulness, by concentrating the mind, and by understanding with wisdom. One trains by directly knowing what is to be directly known, by fully understanding what is to be fully understood, by abandoning what is to be abandoned, by realizing what is to be realized, and by developing what is to be developed.
Vị ấy học tập trong khi hướng tâm đến ba học xứ này, học tập trong khi biết, học tập trong khi thấy, học tập trong khi quán xét, học tập trong khi quyết định tâm, học tập trong khi tin tưởng với đức tin, học tập trong khi nỗ lực tinh tấn, học tập trong khi thiết lập niệm, học tập trong khi định tâm, học tập trong khi hiểu rõ với trí tuệ, học tập trong khi thắng tri điều cần thắng tri, học tập trong khi liễu tri điều cần liễu tri, học tập trong khi từ bỏ điều cần từ bỏ, học tập trong khi chứng ngộ điều cần chứng ngộ, học tập trong khi tu tập điều cần tu tập.
Pañca sīlāni – adinnādānassa…pe… kāmesumicchācārassa… musāvādassa… pisuṇāya vācāya… pharusāya vācāya… samphappalāpassa… abhijjhāya… byāpādassa… micchādiṭṭhiyā… bhāvetabbaṃ bhāvento sikkhanti.
In regard to abandoning taking what is not given... sexual misconduct... false speech... divisive speech... harsh speech... idle chatter... covetousness... ill will... and wrong view... they train by developing what is to be developed.
Năm loại giới – (từ bỏ) sự lấy của không cho... tà hạnh trong các dục... lời nói dối... lời nói đâm thọc... lời nói thô ác... lời nói vô ích... tham lam... sân hận... tà kiến... họ học tập trong khi tu tập điều cần tu tập.
Nekkhammena kāmacchandassa…pe… abyāpādena byāpādassa… ālokasaññāya thinamiddhassa… avikkhepena uddhaccassa… … dhammavavatthānena vicikicchāya… ñāṇena avijjāya… pāmojjena aratiyā… bhāvetabbaṃ bhāvento sikkhati.
For overcoming sensual desire by means of renunciation... for overcoming ill will by means of non-ill will... for overcoming sloth and torpor by means of the perception of light... for overcoming restlessness by means of non-distraction... for overcoming doubt by means of the analysis of phenomena... for overcoming ignorance by means of knowledge... for overcoming discontent by means of gladness... one trains by developing what is to be developed.
Do sự xuất ly (từ bỏ) dục tham... do vô sân (từ bỏ) sân... do tưởng về ánh sáng (từ bỏ) hôn trầm thụy miên... do không phóng dật (từ bỏ) trạo cử... do sự xác định pháp (từ bỏ) hoài nghi... do trí tuệ (từ bỏ) vô minh... do sự hân hoan (từ bỏ) sự bất mãn... vị ấy học tập trong khi tu tập điều cần tu tập.
Paṭhamena jhānena nīvaraṇānaṃ…pe… dutiyena jhānena vitakkavicārānaṃ… tatiyena jhānena pītiyā… catutthena jhānena sukhadukkhānaṃ… ākāsānañcāyatanasamāpattiyā rūpasaññāya paṭighasaññāya nānattasaññāya… viññāṇañcāyatanasamāpattiyā ākāsānañcāyatanasaññāya… ākiñcaññāyatanasamāpattiyā viññāṇañcāyatanasaññāya… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā ākiñcaññāyatanasaññāya… bhāvetabbaṃ bhāvento sikkhati.
For overcoming the hindrances by means of the first jhāna... for overcoming initial and sustained application by means of the second jhāna... for overcoming rapture by means of the third jhāna... for overcoming pleasure and pain by means of the fourth jhāna... for overcoming the perception of form, the perception of resistance, and the perception of diversity by means of the attainment of the base of infinite space... for overcoming the perception of the base of infinite space by means of the attainment of the base of infinite consciousness... for overcoming the perception of the base of infinite consciousness by means of the attainment of the base of nothingness... for overcoming the perception of the base of nothingness by means of the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception... one trains by developing what is to be developed.
Do thiền thứ nhất (từ bỏ) các triền cái... do thiền thứ nhì (từ bỏ) tầm và tứ... do thiền thứ ba (từ bỏ) hỷ... do thiền thứ tư (từ bỏ) lạc và khổ... do sự chứng đắc Không vô biên xứ (từ bỏ) sắc tưởng, đối ngại tưởng, các tưởng đa dạng... do sự chứng đắc Thức vô biên xứ (từ bỏ) tưởng Không vô biên xứ... do sự chứng đắc Vô sở hữu xứ (từ bỏ) tưởng Thức vô biên xứ... do sự chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ (từ bỏ) tưởng Vô sở hữu xứ... vị ấy học tập trong khi tu tập điều cần tu tập.
Aniccānupassanāya niccasaññāya…pe… dukkhānupassanāya sukhasaññāya… anattānupassanāya attasaññāya… nibbidānupassanāya nandiyā… virāgānupassanāya rāgassa… nirodhānupassanāya samudayassa… paṭinissaggānupassanāya ādānassa… khayānupassanāya ghanasaññāya… vayānupassanāya āyūhanassa… vipariṇāmānupassanāya dhuvasaññāya… animittānupassanāya nimittassa… appaṇihitānupassanāya paṇidhiyā… suññatānupassanāya abhinivesassa… adhipaññādhammavipassanāya sārāgābhinivesassa… yathābhūtañāṇadassanena sammohābhinivesassa… ādīnavānupassanāya ālayābhinivesassa… paṭisaṅkhānupassanāya appaṭisaṅkhāya… vivaṭṭanānupassanāya saññogābhinivesassa bhāvetabbaṃ bhāvento sikkhati.
For overcoming the perception of permanence by means of contemplation of impermanence... for overcoming the perception of pleasure by means of contemplation of suffering... for overcoming the perception of self by means of contemplation of not-self... for overcoming delight by means of contemplation of disenchantment... for overcoming lust by means of contemplation of dispassion... for overcoming origination by means of contemplation of cessation... for overcoming grasping by means of contemplation of relinquishment... for overcoming the perception of solidity by means of contemplation of destruction... for overcoming accumulation by means of contemplation of vanishing... for overcoming the perception of stability by means of contemplation of change... for overcoming the sign by means of contemplation of the signless... for overcoming aspiration by means of contemplation of the undirected... for overcoming adherence by means of contemplation of emptiness... for overcoming adherence with passion by means of insight into phenomena with higher wisdom... for overcoming adherence with delusion by means of the knowledge and vision of things as they really are... for overcoming adherence with attachment by means of contemplation of danger... for overcoming non-reflection by means of contemplation of reflection... for overcoming adherence to the fetters by means of contemplation of turning away... one trains by developing what is to be developed.
Bằng quán vô thường (đoạn trừ) tưởng về thường... bằng quán khổ (đoạn trừ) tưởng về lạc... bằng quán vô ngã (đoạn trừ) tưởng về ngã... bằng quán yếm ly (đoạn trừ) sự hoan hỷ... bằng quán ly tham (đoạn trừ) tham ái... bằng quán diệt (đoạn trừ) tập khởi... bằng quán từ bỏ (đoạn trừ) sự chấp thủ... bằng quán sự tiêu hoại (đoạn trừ) tưởng về sự kiên cố... bằng quán sự biến hoại (đoạn trừ) sự cố gắng tạo tác... bằng quán sự biến đổi (đoạn trừ) tưởng về sự thường hằng... bằng quán vô tướng (đoạn trừ) tướng... bằng quán vô nguyện (đoạn trừ) sự mong cầu... bằng quán không (đoạn trừ) sự chấp chặt... bằng tuệ quán pháp tăng thượng (đoạn trừ) sự chấp chặt đi kèm với tham... bằng tri kiến như thật (đoạn trừ) sự chấp chặt đi kèm với si... bằng quán sự nguy hại (đoạn trừ) sự chấp chặt đi kèm với ái luyến... bằng quán thẩm sát (đoạn trừ) sự không thẩm sát... bằng quán sự xoay khỏi (đoạn trừ) sự chấp chặt đi kèm với sự trói buộc.
Sotāpattimaggena diṭṭhekaṭṭhānaṃ kilesānaṃ…pe… sakadāgāmimaggena oḷārikānaṃ kilesānaṃ… anāgāmimaggena anusahagatānaṃ kilesānaṃ… arahattamaggena sabbakilesānaṃ pahānaṃ sīlaṃ, veramaṇī sīlaṃ, cetanā sīlaṃ, saṃvaro sīlaṃ, avītikkamo sīlaṃ. Evarūpāni sīlāni cittassa avippaṭisārāya saṃvattanti, pāmojjāya saṃvattanti, pītiyā saṃvattanti, passaddhiyā saṃvattanti, somanassāya saṃvattanti, āsevanāya saṃvattanti, bhāvanāya saṃvattanti, bahulīkammāya saṃvattanti, alaṅkārāya saṃvattanti, parikkhārāya saṃvattanti, parivārāya saṃvattanti, pāripūriyā saṃvattanti, ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattanti.
The abandoning of the defilements established together with wrong views by means of the path of stream-entry... the abandoning of the gross defilements by means of the path of the once-returner... the abandoning of the defilements accompanied by liking and disliking by means of the path of the non-returner... the abandoning of all defilements by means of the path of arahantship is virtue; abstinence is virtue; volition is virtue; restraint is virtue; non-transgression is virtue. Such virtues conduce to freedom from remorse, to gladness, to rapture, to tranquility, to happiness, to practice, to development, to frequent practice, to adornment, to equipment, to support, to fulfillment, and to utter disenchantment, dispassion, cessation, peace, direct knowledge, full enlightenment, and Nibbāna.
Sự đoạn trừ các phiền não đồng trú với tà kiến bằng Tu-đà-hoàn đạo... sự đoạn trừ các phiền não thô thiển bằng Tư-đà-hàm đạo... sự đoạn trừ các phiền não đi kèm với (sân) bằng A-na-hàm đạo... sự đoạn trừ tất cả phiền não bằng A-la-hán đạo được gọi là giới; sự chế ngự là giới, tư là giới, sự phòng hộ là giới, sự không vi phạm là giới. Những loại giới như vậy dẫn đến sự không hối tiếc của tâm, dẫn đến sự hân hoan, dẫn đến hỷ, dẫn đến khinh an, dẫn đến lạc, dẫn đến sự thực hành, dẫn đến sự tu tập, dẫn đến sự làm cho sung mãn, dẫn đến sự trang nghiêm, dẫn đến vật dụng, dẫn đến sự tùy tùng, dẫn đến sự viên mãn, dẫn đến sự nhàm chán hoàn toàn, đến sự ly tham, đến sự đoạn diệt, đến sự an tịnh, đến thắng trí, đến sự giác ngộ, đến Niết-bàn.
42. Evarūpānaṃ sīlānaṃ saṃvarapārisuddhi adhisīlaṃ. Saṃvarapārisuddhiyā ṭhitaṃ cittaṃ avikkhepaṃ gacchati, avikkhepapārisuddhi adhicittaṃ. Saṃvarapārisuddhiṃ sammā passati, avikkhepapārisuddhiṃ sammā passati. Dassanapārisuddhi adhipaññā. Yo tattha saṃvaraṭṭho, ayaṃ adhisīlasikkhā. Yo tattha avikkhepaṭṭho, ayaṃ adhicittasikkhā. Yo tattha dassanaṭṭho, ayaṃ adhipaññāsikkhā. Imā tisso sikkhāyo āvajjanto sikkhati, jānanto sikkhati, passanto sikkhati, paccavekkhanto sikkhati, cittaṃ adhiṭṭhahanto sikkhati, saddhāya adhimuccanto sikkhati, vīriyaṃ paggaṇhanto sikkhati, satiṃ upaṭṭhapento sikkhati, cittaṃ samādahanto sikkhati, paññāya pajānanto sikkhati, abhiññeyyaṃ abhijānanto sikkhati, pariññeyyaṃ parijānanto sikkhati pahātabbaṃ pajahanto sikkhati, sacchikātabbaṃ sacchikaronto sikkhati, bhāvetabbaṃ bhāvento sikkhati. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘sutvāna saṃvare paññā sīlamaye ñāṇaṃ’’.
42. For such virtues, the purity of restraint is the higher virtue. The mind established in the purity of restraint does not go to distraction; the purity of non-distraction is the higher mind. One rightly sees the purity of restraint; one rightly sees the purity of non-distraction. The purity of vision is the higher wisdom. Herein, that which is the state of restraint is the training in higher virtue; that which is the state of non-distraction is the training in the higher mind; that which is the state of vision is the training in higher wisdom. One trains by adverting to these three trainings, by knowing, by seeing, by reviewing, by resolving the mind, by being resolved through faith, by exerting energy, by establishing mindfulness, by concentrating the mind, and by understanding discriminately with wisdom; one trains by directly knowing what is to be directly known, by fully understanding what is to be fully understood, by abandoning what is to be abandoned, by realizing what is to be realized, and by developing what is to be developed. That is knowledge in the sense of knowing, and wisdom in the sense of understanding discriminately. Therefore it is said: 'Having heard, the wisdom in restraint is knowledge founded on virtue.'
42. Đối với các loại giới như vậy, sự thanh tịnh trong phòng hộ là tăng thượng giới. Tâm an trú trong sự thanh tịnh của phòng hộ không đi đến tán loạn, sự thanh tịnh của không tán loạn là tăng thượng tâm. Vị ấy thấy rõ sự thanh tịnh của phòng hộ, thấy rõ sự thanh tịnh của không tán loạn. Sự thanh tịnh của tri kiến là tăng thượng tuệ. Ở đây, ý nghĩa phòng hộ nào, đây là tăng thượng giới học. Ở đây, ý nghĩa không tán loạn nào, đây là tăng thượng tâm học. Ở đây, ý nghĩa thấy biết nào, đây là tăng thượng tuệ học. Vị ấy học tập bằng cách hướng tâm đến ba học xứ này, học tập bằng cách biết, học tập bằng cách thấy, học tập bằng cách thẩm sát, học tập bằng cách quyết định tâm, học tập bằng cách tin tưởng với đức tin, học tập bằng cách nỗ lực tinh tấn, học tập bằng cách an lập niệm, học tập bằng cách định tâm, học tập bằng cách hiểu biết với trí tuệ, học tập bằng cách biết rõ điều cần được biết rõ, học tập bằng cách liễu tri điều cần được liễu tri, học tập bằng cách đoạn trừ điều cần được đoạn trừ, học tập bằng cách chứng ngộ điều cần được chứng ngộ, học tập bằng cách tu tập điều cần được tu tập. Pháp ấy, do ý nghĩa là biết nên là trí; do ý nghĩa là hiểu biết nên là tuệ. Do đó, được nói rằng: ‘Sau khi nghe, tuệ trong sự phòng hộ là trí tuệ phát sanh từ giới’.
Sīlamayañāṇaniddeso dutiyo.
The second is the exposition of knowledge founded on virtue.
Dứt phần giải thứ hai về trí tuệ phát sanh từ giới.
3. Samādhibhāvanāmayañāṇaniddeso
3. Exposition of the Knowledge Born of the Development of Concentration
3. Phần giải về trí tuệ phát sanh từ sự tu tập định.
43. Kathaṃ saṃvaritvā samādahane paññā samādhibhāvanāmaye ñāṇaṃ? Eko samādhi – cittassa ekaggatā. Dve samādhī – lokiyo samādhi, lokuttaro samādhi. Tayo samādhī – savitakkasavicāro samādhi, avitakkavicāramatto samādhi, avitakkaavicāro samādhi. Cattāro samādhī – hānabhāgiyo samādhi, ṭhitibhāgiyo samādhi, visesabhāgiyo samādhi, nibbedhabhāgiyo samādhi. Pañca samādhī – pītipharaṇatā, sukhapharaṇatā, cetopharaṇatā, ālokapharaṇatā, paccavekkhaṇānimittaṃ †.
43. How is the wisdom in concentration, after having restrained, knowledge born of the development of concentration? There is one concentration: one-pointedness of mind. There are two concentrations: mundane concentration and supramundane concentration. There are three concentrations: concentration accompanied by applied and sustained thought, concentration without applied thought but with only sustained thought, and concentration without applied and sustained thought. There are four concentrations: concentration partaking of decline, concentration partaking of stability, concentration partaking of distinction, and concentration partaking of penetration. There are five concentrations: pervasion by rapture, pervasion by pleasure, pervasion by equanimity, pervasion by light, and the sign for reviewing.
43. Thế nào là trí tuệ trong sự định tâm sau khi đã phòng hộ, là trí tuệ phát sanh từ sự tu tập định? Một loại định – là sự nhất tâm. Hai loại định – định hiệp thế và định siêu thế. Ba loại định – định có tầm có tứ, định chỉ có tứ không có tầm, định không tầm không tứ. Bốn loại định – định thuộc phần thối thất, định thuộc phần an trú, định thuộc phần thù thắng, định thuộc phần xuyên suốt. Năm loại định – sự biến mãn của hỷ, sự biến mãn của lạc, sự biến mãn của tâm, sự biến mãn của ánh sáng, tướng để phản khán.
Cha samādhī – buddhānussativasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi, dhammānussativasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi, saṅghānussativasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi, sīlānussativasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi, cāgānussativasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi, devatānussativasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi. Satta samādhī – samādhikusalatā, samādhissa samāpattikusalatā, samādhissa ṭhitikusalatā, samādhissa vuṭṭhānakusalatā, samādhissa kallatākusalatā †, samādhissa gocarakusalatā, samādhissa abhinīhārakusalatā. Aṭṭha samādhī – pathavīkasiṇavasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi, āpokasiṇavasena…pe… tejokasiṇavasena… vāyokasiṇavasena… nīlakasiṇavasena… pītakasiṇavasena… lohitakasiṇavasena… odātakasiṇavasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi. Nava samādhī – rūpāvacaro samādhi atthi hīno, atthi majjhomo, atthi paṇīto; arūpāvacaro samādhi atthi hīno, atthi majjhomo, atthi paṇīto; suññato samādhi, animitto samādhi, appaṇihito samādhi. Dasa samādhī – uddhumātakasaññāvasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi, vinīlakasaññāvasena…pe… vipubbakasaññāvasena… vicchiddakasaññāvasena… vikkhāyitakasaññāvasena… vikkhittakasaññāvasena… hatavikkhittakasaññāvasena… lohitakasaññāvasena… puḷavakasaññāvasena † … aṭṭhikasaññāvasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi. Ime pañcapaññāsa samādhi.
Six concentrations: unification and non-distraction of the mind by way of recollection of the Buddha is concentration; unification and non-distraction of the mind by way of recollection of the Dhamma is concentration; unification and non-distraction of the mind by way of recollection of the Saṅgha is concentration; unification and non-distraction of the mind by way of recollection of virtue is concentration; unification and non-distraction of the mind by way of recollection of generosity is concentration; unification and non-distraction of the mind by way of recollection of deities is concentration. Seven concentrations: skill in concentration, skill in the attainment of concentration, skill in the stability of concentration, skill in emergence from concentration, skill in the wieldiness of concentration, skill in the range of concentration, and skill in resolving on concentration. Eight concentrations: unification and non-distraction of the mind by way of the earth kasiṇa is concentration; …by way of the water kasiṇa… by way of the fire kasiṇa… by way of the air kasiṇa… by way of the blue kasiṇa… by way of the yellow kasiṇa… by way of the red kasiṇa… by way of the white kasiṇa is concentration. Nine concentrations: there is form-sphere concentration that is inferior, middling, and superior; there is formless-sphere concentration that is inferior, middling, and superior; emptiness concentration, signless concentration, and undirected concentration. Ten concentrations: unification and non-distraction of the mind by way of the perception of a bloated corpse is concentration; …by way of the perception of a livid corpse… by way of the perception of a festering corpse… by way of the perception of a fissured corpse… by way of the perception of a gnawed corpse… by way of the perception of a scattered corpse… by way of the perception of a hacked and scattered corpse… by way of the perception of a bloody corpse… by way of the perception of a worm-infested corpse… by way of the perception of a skeleton is concentration. These are the fifty-five concentrations.
Sáu loại định – do nhờ tùy niệm Phật, định là sự nhất tâm, không phóng dật của tâm; do nhờ tùy niệm Pháp, định là sự nhất tâm, không phóng dật của tâm; do nhờ tùy niệm Tăng, định là sự nhất tâm, không phóng dật của tâm; do nhờ tùy niệm Giới, định là sự nhất tâm, không phóng dật của tâm; do nhờ tùy niệm Thí, định là sự nhất tâm, không phóng dật của tâm; do nhờ tùy niệm Chư Thiên, định là sự nhất tâm, không phóng dật của tâm. Bảy loại định – sự thiện xảo trong định, sự thiện xảo trong việc nhập định, sự thiện xảo trong việc an trú định, sự thiện xảo trong việc xuất định, sự thiện xảo trong sự thuần thục của định, sự thiện xảo về đối tượng của định, sự thiện xảo trong việc hướng tâm của định. Tám loại định – do nhờ biến xứ đất, định là sự nhất tâm, không phóng dật của tâm; do nhờ biến xứ nước… (vân vân)… do nhờ biến xứ lửa… do nhờ biến xứ gió… do nhờ biến xứ xanh… do nhờ biến xứ vàng… do nhờ biến xứ đỏ… do nhờ biến xứ trắng, định là sự nhất tâm, không phóng dật của tâm. Chín loại định – định thuộc sắc giới có loại hạ, có loại trung, có loại thượng; định thuộc vô sắc giới có loại hạ, có loại trung, có loại thượng; định không, định vô tướng, định vô nguyện. Mười loại định – do nhờ tưởng tử thi sình trương, định là sự nhất tâm, không phóng dật của tâm; do nhờ tưởng tử thi xanh bầm… (vân vân)… do nhờ tưởng tử thi rữa nát… do nhờ tưởng tử thi bị cắt đứt… do nhờ tưởng tử thi bị loài vật ăn dở… do nhờ tưởng tử thi bị vứt tung tóe… do nhờ tưởng tử thi bị chặt và vứt tung tóe… do nhờ tưởng tử thi đẫm máu… do nhờ tưởng tử thi bị dòi bọ lúc nhúc… do nhờ tưởng xương trắng, định là sự nhất tâm, không phóng dật của tâm. Đây là năm mươi lăm loại định.
44. Api ca, pañcavīsati samādhissa samādhiṭṭhā – pariggahaṭṭhena samādhi, parivāraṭṭhena samādhi, paripūraṭṭhena samādhi, ekaggaṭṭhena samādhi, avikkhepaṭṭhena samādhi, avisāraṭṭhena samādhi, anāvilaṭṭhena samādhi, aniñjanaṭṭhena samādhi, vimuttaṭṭhena samādhi, ekattupaṭṭhānavasena cittassa ṭhitattā samādhi, samaṃ esatīti samādhi, visamaṃ nesatīti samādhi, samaṃ esitattā samādhi, visamaṃ nesitattā samādhi, samaṃ ādiyatīti samādhi, visamaṃ nādiyatīti samādhi, samaṃ ādinnattā samādhi, visamaṃ anādinnattā samādhi, samaṃ paṭipajjatīti samādhi, visamaṃ nappaṭipajjatīti samādhi, samaṃ paṭipannattā samādhi, visamaṃ nappaṭipannattā samādhi, samaṃ jhāyatīti samādhi, visamaṃ jhāpetīti samādhi, samaṃ jhātattā samādhi, visamaṃ jhāpitattā samādhi, samo ca hito ca sukho cāti samādhi. Ime pañcavīsati samādhissa samādhiṭṭhā. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘saṃvaritvā samādahane paññā samādhibhāvanāmaye ñāṇaṃ’’.
44. Furthermore, there are twenty-five principles of stability for concentration: concentration in the sense of grasping, concentration in the sense of being a retinue, concentration in the sense of fulfillment, concentration in the sense of one-pointedness, concentration in the sense of non-distraction, concentration in the sense of non-diffusion, concentration in the sense of non-turbidity, concentration in the sense of imperturbability, concentration in the sense of liberation; concentration because of the mind's stability through being established in oneness; concentration because it seeks what is balanced, concentration because it does not seek what is unbalanced; concentration because it has sought what is balanced, concentration because it has not sought what is unbalanced; concentration because it takes up what is balanced, concentration because it does not take up what is unbalanced; concentration because it has taken up what is balanced, concentration because it has not taken up what is unbalanced; concentration because it practices in a balanced way, concentration because it does not practice in an unbalanced way; concentration because it has practiced in a balanced way, concentration because it has not practiced in an unbalanced way; concentration because it illuminates what is balanced, concentration because it burns up what is unbalanced; concentration because it has illuminated what is balanced, concentration because it has burned up what is unbalanced; concentration because it is balanced, beneficial, and pleasant. These are the twenty-five principles of stability for concentration. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: 'Wisdom in concentrating, after having restrained, is the knowledge consisting of the development of concentration.'
44. Lại nữa, có hai mươi lăm ý nghĩa của định – định, với ý nghĩa là thâu nhiếp; định, với ý nghĩa là tùy tùng; định, với ý nghĩa là viên mãn; định, với ý nghĩa là nhất tâm; định, với ý nghĩa là không phóng dật; định, với ý nghĩa là không phân tán; định, với ý nghĩa là không vẩn đục; định, với ý nghĩa là không lay động; định, với ý nghĩa là giải thoát; định, vì tâm được an trú do sự hiện khởi của tính đồng nhất; định, vì tìm cầu sự quân bình; định, vì không tìm cầu sự không quân bình; định, vì đã tìm cầu sự quân bình; định, vì đã không tìm cầu sự không quân bình; định, vì tiếp nhận sự quân bình; định, vì không tiếp nhận sự không quân bình; định, vì đã tiếp nhận sự quân bình; định, vì đã không tiếp nhận sự không quân bình; định, vì thực hành sự quân bình; định, vì không thực hành sự không quân bình; định, vì đã thực hành sự quân bình; định, vì đã không thực hành sự không quân bình; định, vì thiền quán sự quân bình; định, vì thiêu đốt sự không quân bình; định, vì đã thiền quán sự quân bình; định, vì đã thiêu đốt sự không quân bình; định, vì là quân bình, là lợi ích, và là an lạc. Đây là hai mươi lăm ý nghĩa của định. Trí tuệ ấy, với ý nghĩa là biết, là trí (ñāṇa); với ý nghĩa là biết rõ, là tuệ (paññā). Do đó, được nói rằng: ‘Sau khi đã phòng hộ, tuệ trong sự định tĩnh là trí tuệ do tu tập định.’
Samādhibhāvanāmayañāṇaniddeso tatiyo.
The Exposition of the Knowledge Consisting of the Development of Concentration is the third.
Phần giải thích về trí tuệ do tu tập định là phần thứ ba.
4. Dhammaṭṭhitiñāṇaniddeso
4. Exposition of the Knowledge of the Stability of Phenomena
4. Phần giải thích về trí về sự an trú của các pháp.
45. Kathaṃ paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ? Avijjā saṅkhārānaṃ uppādaṭṭhiti ca pavattaṭṭhiti ca nimittaṭṭhiti ca āyūhanaṭṭhiti ca saññogaṭṭhiti ca palibodhaṭṭhiti ca samudayaṭṭhiti ca hetuṭṭhiti ca paccayaṭṭhiti ca. Imehi navahākārehi avijjā paccayo, saṅkhārā paccayasamuppannā. Ubhopete dhammā paccayasamuppannāti – paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ. Atītampi addhānaṃ… anāgatampi addhānaṃ avijjā saṅkhārānaṃ uppādaṭṭhiti ca pavattaṭṭhiti ca nimittaṭṭhiti ca āyūhanaṭṭhiti ca saññogaṭṭhiti ca palibodhaṭṭhiti ca samudayaṭṭhiti ca hetuṭṭhiti ca paccayaṭṭhiti ca. Imehi navahākārehi avijjā paccayo, saṅkhārā paccayasamuppannā. Ubhopete dhammā paccayasamuppannāti – paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ.
45. How is wisdom in comprehending conditions the knowledge of the stability of phenomena? Ignorance is a condition for formations as the state of arising, the state of occurrence, the state of a sign, the state of accumulation, the state of a conjunction, the state of an obstruction, the state of an origin, the state of a cause, and the state of a condition. In these nine ways, ignorance is a condition, and formations are conditionally arisen. Both these phenomena are conditionally arisen. Thus, wisdom in comprehending conditions is the knowledge of the stability of phenomena. In the past... and in the future, ignorance is a condition for formations as the state of arising... and the state of a condition. In these nine ways, ignorance is a condition, and formations are conditionally arisen. Both these phenomena are conditionally arisen. Thus, wisdom in comprehending conditions is the knowledge of the stability of phenomena.
45. Thế nào là tuệ trong việc thâu nhiếp các duyên là trí về sự an trú của các pháp? Vô minh đối với các hành là: trạng thái sanh khởi, trạng thái diễn tiến, trạng thái là nhân tướng, trạng thái là sự tích tập, trạng thái là sự liên kết, trạng thái là sự chướng ngại, trạng thái là sự tập khởi, trạng thái là nhân, và trạng thái là duyên. Với chín phương diện này, vô minh là duyên, các hành là pháp do duyên sanh. Cả hai pháp này đều là pháp do duyên sanh. Như vậy, tuệ trong việc thâu nhiếp các duyên là trí về sự an trú của các pháp. Đối với thời quá khứ cũng vậy… đối với thời vị lai cũng vậy, vô minh đối với các hành là: trạng thái sanh khởi, trạng thái diễn tiến, trạng thái là nhân tướng, trạng thái là sự tích tập, trạng thái là sự liên kết, trạng thái là sự chướng ngại, trạng thái là sự tập khởi, trạng thái là nhân, và trạng thái là duyên. Với chín phương diện này, vô minh là duyên, các hành là pháp do duyên sanh. Cả hai pháp này đều là pháp do duyên sanh. Như vậy, tuệ trong việc thâu nhiếp các duyên là trí về sự an trú của các pháp.
Saṅkhārā viññāṇassa…pe… viññāṇaṃ nāmarūpassa… nāmarūpaṃ saḷāyatanassa… saḷāyatanaṃ phassassa… phasso vedanāya… vedanā taṇhāya… taṇhā upādānassa… upādānaṃ bhavassa… bhavo jātiyā… jāti jarāmaraṇassa uppādaṭṭhiti ca pavattaṭṭhiti ca nimittaṭṭhiti ca āyūhanaṭṭhiti ca saññogaṭṭhiti ca palibodhaṭṭhiti ca samudayaṭṭhiti ca hetuṭṭhiti ca paccayaṭṭhiti ca. Imehi navahākārehi jāti paccayo, jarāmaraṇaṃ paccayasamuppannaṃ. Ubhopete dhammā paccayasamuppannāti – paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ. Atītampi addhānaṃ… anāgatampi addhānaṃ jāti jarāmaraṇassa uppādaṭṭhiti ca pavattaṭṭhiti ca nimittaṭṭhiti ca āyūhanaṭṭhiti ca saññogaṭṭhiti ca palibodhaṭṭhiti ca samudayaṭṭhiti ca hetuṭṭhiti ca paccayaṭṭhiti ca. Imehi navahākārehi jāti paccayo, jarāmaraṇaṃ paccayasamuppannaṃ. Ubhopete dhammā paccayasamuppannāti – paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ.
Formations are a condition for consciousness... and so on... consciousness for name-and-form... name-and-form for the six sense bases... the six sense bases for contact... contact for feeling... feeling for craving... craving for clinging... clinging for becoming... becoming for birth... birth is a condition for aging-and-death as the state of arising, and the state of occurrence, and the state of a sign, and the state of accumulation, and the state of a conjunction, and the state of an obstruction, and the state of an origin, and the state of a cause, and the state of a condition. By these nine aspects, birth is a condition, and aging-and-death is dependently arisen. Both these phenomena are dependently arisen. Thus, wisdom in comprehending conditions is the knowledge of the stability of phenomena. In the past... and in the future, birth is a condition for aging-and-death as the state of arising... and the state of a condition. By these nine aspects, birth is a condition, and aging-and-death is dependently arisen. Both these phenomena are dependently arisen. Thus, wisdom in comprehending conditions is the knowledge of the stability of phenomena.
Các hành (là duyên) cho thức… (vân vân)… Thức (là duyên) cho danh sắc… danh sắc (là duyên) cho sáu xứ… sáu xứ (là duyên) cho xúc… xúc (là duyên) cho thọ… thọ (là duyên) cho ái… ái (là duyên) cho thủ… thủ (là duyên) cho hữu… hữu (là duyên) cho sanh… sanh đối với già-chết là: trạng thái sanh khởi, trạng thái diễn tiến, trạng thái là nhân tướng, trạng thái là sự tích tập, trạng thái là sự liên kết, trạng thái là sự chướng ngại, trạng thái là sự tập khởi, trạng thái là nhân, và trạng thái là duyên. Với chín phương diện này, sanh là duyên, già-chết là pháp do duyên sanh. Cả hai pháp này đều là pháp do duyên sanh. Như vậy, tuệ trong việc thâu nhiếp các duyên là trí về sự an trú của các pháp. Đối với thời quá khứ cũng vậy… đối với thời vị lai cũng vậy, sanh đối với già-chết là: trạng thái sanh khởi, trạng thái diễn tiến, trạng thái là nhân tướng, trạng thái là sự tích tập, trạng thái là sự liên kết, trạng thái là sự chướng ngại, trạng thái là sự tập khởi, trạng thái là nhân, và trạng thái là duyên. Với chín phương diện này, sanh là duyên, già-chết là pháp do duyên sanh. Cả hai pháp này đều là pháp do duyên sanh. Như vậy, tuệ trong việc thâu nhiếp các duyên là trí về sự an trú của các pháp.
46. Avijjā hetu, saṅkhārā hetusamuppannā. Ubhopete dhammā hetusamuppannāti – paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ. Atītampi addhānaṃ… anāgatampi addhānaṃ avijjā hetu, saṅkhārā hetusamuppannā. Ubhopete dhammā hetusamuppannāti – paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ.
46. Ignorance is a generative cause; formations are arisen from a generative cause. Both these phenomena are arisen from a generative cause. Thus, wisdom in comprehending conditions is the knowledge of the stability of phenomena. In the past... and in the future, ignorance is a generative cause; formations are arisen from a generative cause. Both these phenomena are arisen from a generative cause. Thus, wisdom in comprehending conditions is the knowledge of the stability of phenomena.
46. Vô minh là nhân, các hành là do nhân sanh khởi. Cả hai pháp này (vô minh và hành) đều do nhân sanh khởi – trí tuệ trong việc nắm bắt các duyên được gọi là pháp trụ trí. Trong thời quá khứ... trong thời vị lai, vô minh là nhân, các hành là do nhân sanh khởi. Cả hai pháp này đều do nhân sanh khởi – trí tuệ trong việc nắm bắt các duyên được gọi là pháp trụ trí.
Saṅkhārā hetu, viññāṇaṃ hetusamuppannaṃ…pe… viññāṇaṃ hetu, nāmarūpaṃ hetusamuppannaṃ… nāmarūpaṃ hetu, saḷāyatanaṃ hetusamuppannaṃ… saḷāyatanaṃ hetu, phasso hetusamuppanno… phasso hetu, vedanā hetusamuppannā… vedanā hetu, taṇhā hetusamuppannā… taṇhā hetu, upādānaṃ hetusamuppannaṃ… upādānaṃ hetu, bhavo hetusamuppanno… bhavo hetu, jāti hetusamuppannā… jāti hetu, jarāmaraṇaṃ hetusamuppannaṃ. Ubhopete dhammā hetusamuppannāti – paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ. Atītampi addhānaṃ… anāgatampi addhānaṃ jāti hetu, jarāmaraṇaṃ hetusamuppannaṃ. Ubhopete dhammā hetusamuppannāti – paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ.
Formations are a generative cause, and consciousness is causally arisen... and so on... consciousness is a generative cause, and name-and-form is causally arisen... name-and-form is a generative cause, and the six sense bases are causally arisen... the six sense bases are a generative cause, and contact is causally arisen... contact is a generative cause, and feeling is causally arisen... feeling is a generative cause, and craving is causally arisen... craving is a generative cause, and clinging is causally arisen... clinging is a generative cause, and becoming is causally arisen... becoming is a generative cause, and birth is causally arisen... birth is a generative cause, and aging-and-death is causally arisen. Both these phenomena are causally arisen. Thus, the wisdom in comprehending conditions is the knowledge of the stability of phenomena. In the past... and in the future, birth is a generative cause, and aging-and-death is causally arisen. Both these phenomena are causally arisen. Thus, the wisdom in comprehending conditions is the knowledge of the stability of phenomena.
Các hành là nhân, thức là do nhân sanh khởi… cho đến… thức là nhân, danh sắc là do nhân sanh khởi… danh sắc là nhân, sáu xứ là do nhân sanh khởi… sáu xứ là nhân, xúc là do nhân sanh khởi… xúc là nhân, thọ là do nhân sanh khởi… thọ là nhân, ái là do nhân sanh khởi… ái là nhân, thủ là do nhân sanh khởi… thủ là nhân, hữu là do nhân sanh khởi… hữu là nhân, sanh là do nhân sanh khởi… sanh là nhân, già chết là do nhân sanh khởi. Cả hai pháp này (sanh và già chết) đều do nhân sanh khởi – trí tuệ trong việc nắm bắt các duyên được gọi là pháp trụ trí. Trong thời quá khứ... trong thời vị lai, sanh là nhân, già chết là do nhân sanh khởi. Cả hai pháp này đều do nhân sanh khởi – trí tuệ trong việc nắm bắt các duyên được gọi là pháp trụ trí.
Avijjā paṭiccā, saṅkhārā paṭiccasamuppannā. Ubhopete dhammā paṭiccasamuppannāti – paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ. Atītampi addhānaṃ… anāgatampi addhānaṃ avijjā paṭiccā, saṅkhārā paṭiccasamuppannā. Ubhopete dhammā paṭiccasamuppannāti – paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ.
Ignorance is a dependent condition, and formations are dependently arisen. Both these phenomena are dependently arisen. Thus, the wisdom in comprehending conditions is the knowledge of the stability of phenomena. In the past... and in the future, ignorance is a dependent condition, and formations are dependently arisen. Both these phenomena are dependently arisen. Thus, the wisdom in comprehending conditions is the knowledge of the stability of phenomena.
Vô minh là pháp duyên khởi, các hành là pháp do duyên sanh. Cả hai pháp này (vô minh và hành) đều là pháp do duyên sanh – trí tuệ trong việc nắm bắt các duyên được gọi là pháp trụ trí. Trong thời quá khứ... trong thời vị lai, vô minh là pháp duyên khởi, các hành là pháp do duyên sanh. Cả hai pháp này đều là pháp do duyên sanh – trí tuệ trong việc nắm bắt các duyên được gọi là pháp trụ trí.
Saṅkhārā paṭiccā, viññāṇaṃ paṭiccasamuppannaṃ…pe… viññāṇaṃ paṭiccā, nāmarūpaṃ paṭiccasamuppannaṃ… nāmarūpaṃ paṭiccā, saḷāyatanaṃ paṭiccasamuppannaṃ… saḷāyatanaṃ paṭiccā, phasso paṭiccasamuppanno… phasso paṭiccā, vedanā paṭiccasamuppannā… vedanā paṭiccā, taṇhā paṭiccasamuppannā… taṇhā paṭiccā, upādānaṃ paṭiccasamuppannaṃ… upādānaṃ paṭiccā, bhavo paṭiccasamuppanno… bhavo paṭiccā, jāti paṭiccasamuppannā… jāti paṭiccā, jarāmaraṇaṃ paṭiccasamuppannaṃ. Ubhopete dhammā paṭiccasamuppannāti – paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ. Atītampi addhānaṃ… anāgatampi addhānaṃ jāti paṭiccā, jarāmaraṇaṃ paṭiccasamuppannaṃ. Ubhopete dhammā paṭiccasamuppannāti – paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ.
With formations as condition, consciousness is dependently arisen... and so on... With consciousness as condition, name-and-form is dependently arisen... With name-and-form as condition, the six sense bases are dependently arisen... With the six sense bases as condition, contact is dependently arisen... With contact as condition, feeling is dependently arisen... With feeling as condition, craving is dependently arisen... With craving as condition, clinging is dependently arisen... With clinging as condition, existence is dependently arisen... With existence as condition, birth is dependently arisen... With birth as condition, aging-and-death is dependently arisen. 'Both these phenomena are dependently arisen'—thus, the wisdom in comprehending conditions is the knowledge of the stability of phenomena. Also in the past... also in the future, with birth as condition, aging-and-death is dependently arisen. 'Both these phenomena are dependently arisen'—thus, the wisdom in comprehending conditions is the knowledge of the stability of phenomena.
Các hành là pháp duyên khởi, thức là pháp do duyên sanh… cho đến… thức là pháp duyên khởi, danh sắc là pháp do duyên sanh… danh sắc là pháp duyên khởi, sáu xứ là pháp do duyên sanh… sáu xứ là pháp duyên khởi, xúc là pháp do duyên sanh… xúc là pháp duyên khởi, thọ là pháp do duyên sanh… thọ là pháp duyên khởi, ái là pháp do duyên sanh… ái là pháp duyên khởi, thủ là pháp do duyên sanh… thủ là pháp duyên khởi, hữu là pháp do duyên sanh… hữu là pháp duyên khởi, sanh là pháp do duyên sanh… sanh là pháp duyên khởi, già chết là pháp do duyên sanh. Cả hai pháp này (sanh và già chết) đều là pháp do duyên sanh – trí tuệ trong việc nắm bắt các duyên được gọi là pháp trụ trí. Trong thời quá khứ... trong thời vị lai, sanh là pháp duyên khởi, già chết là pháp do duyên sanh. Cả hai pháp này đều là pháp do duyên sanh – trí tuệ trong việc nắm bắt các duyên được gọi là pháp trụ trí.
Avijjā paccayo, saṅkhārā paccayasamuppannā. Ubhopete dhammā paccayasamuppannāti – paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ. Atītampi addhānaṃ… anāgatampi addhānaṃ avijjā paccayo, saṅkhārā paccayasamuppannā. Ubhopete dhammā paccayasamuppannāti – paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ.
Ignorance is a condition; formations are conditionally arisen. 'Both these phenomena are conditionally arisen'—thus, the wisdom in comprehending conditions is the knowledge of the stability of phenomena. Also in the past... also in the future, ignorance is a condition; formations are conditionally arisen. 'Both these phenomena are conditionally arisen'—thus, the wisdom in comprehending conditions is the knowledge of the stability of phenomena.
Vô minh là duyên, các hành là pháp do duyên sanh. Cả hai pháp này (vô minh và hành) đều là pháp do duyên sanh – trí tuệ trong việc nắm bắt các duyên được gọi là pháp trụ trí. Trong thời quá khứ... trong thời vị lai, vô minh là duyên, các hành là pháp do duyên sanh. Cả hai pháp này đều là pháp do duyên sanh – trí tuệ trong việc nắm bắt các duyên được gọi là pháp trụ trí.
Saṅkhārā paccayā, viññāṇaṃ paccayasamuppannaṃ…pe… viññāṇaṃ paccayo, nāmarūpaṃ paccayasamuppannaṃ… nāmarūpaṃ paccayo, saḷāyatanaṃ paccayasamuppannaṃ… saḷāyatanaṃ paccayo, phasso paccayasamuppanno… phasso paccayo, vedanā paccayasamuppannā… vedanā paccayo, taṇhā paccayasamuppannā… taṇhā paccayo, upādānaṃ paccayasamuppannaṃ… upādānaṃ paccayo, bhavo paccayasamuppanno… bhavo paccayo, jāti paccayasamuppannā… jāti paccayo, jarāmaraṇaṃ paccayasamuppannaṃ. Ubhopete dhammā paccayasamuppannāti – paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ. Atītampi addhānaṃ… anāgatampi addhānaṃ jāti paccayo, jarāmaraṇaṃ paccayasamuppannaṃ. Ubhopete dhammā paccayasamuppannāti – paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ.
Volitional formations are conditions; consciousness is conditionally arisen... and so on... Consciousness is a condition; name-and-form is conditionally arisen... Name-and-form is a condition; the six sense bases are conditionally arisen... The six sense bases are a condition; contact is conditionally arisen... Contact is a condition; feeling is conditionally arisen... Feeling is a condition; craving is conditionally arisen... Craving is a condition; clinging is conditionally arisen... Clinging is a condition; becoming is conditionally arisen... Becoming is a condition; birth is conditionally arisen... Birth is a condition; aging-and-death is conditionally arisen. Thus, both these phenomena are conditionally arisen—the wisdom in the comprehension of conditions is the knowledge of the stability of phenomena. Also in the past... also in the future, birth is a condition; aging-and-death is conditionally arisen. Thus, both these phenomena are conditionally arisen—the wisdom in the comprehension of conditions is the knowledge of the stability of phenomena.
Các hành là duyên, thức là pháp do duyên sanh… cho đến… thức là duyên, danh sắc là pháp do duyên sanh… danh sắc là duyên, sáu xứ là pháp do duyên sanh… sáu xứ là duyên, xúc là pháp do duyên sanh… xúc là duyên, thọ là pháp do duyên sanh… thọ là duyên, ái là pháp do duyên sanh… ái là duyên, thủ là pháp do duyên sanh… thủ là duyên, hữu là pháp do duyên sanh… hữu là duyên, sanh là pháp do duyên sanh… sanh là duyên, già chết là pháp do duyên sanh. Cả hai pháp này (sanh và già chết) đều là pháp do duyên sanh – trí tuệ trong việc nắm bắt các duyên được gọi là pháp trụ trí. Trong thời quá khứ... trong thời vị lai, sanh là duyên, già chết là pháp do duyên sanh. Cả hai pháp này đều là pháp do duyên sanh – trí tuệ trong việc nắm bắt các duyên được gọi là pháp trụ trí.
47. Purimakammabhavasmiṃ moho avijjā, āyūhanā saṅkhārā, nikanti taṇhā, upagamanaṃ upādānaṃ, cetanā bhavo. Ime pañca dhammā purimakammabhavasmiṃ idha paṭisandhiyā paccayā. Idha paṭisandhi viññāṇaṃ, okkanti nāmarūpaṃ, pasādo āyatanaṃ, phuṭṭho phasso, vedayitaṃ vedanā. Ime pañca dhammā idhupapattibhavasmiṃ purekatassa kammassa paccayā. Idha paripakkattā āyatanānaṃ moho avijjā, āyūhanā saṅkhārā, nikanti taṇhā upagamanaṃ upādānaṃ, cetanā bhavo. Ime pañca dhammā idha kammabhavasmiṃ āyatiṃ paṭisandhiyā paccayā. Āyatiṃ paṭisandhi viññāṇaṃ, okkanti nāmarūpaṃ, pasādo āyatanaṃ, phuṭṭho phasso, vedayitaṃ vedanā. Ime pañca dhammā āyatiṃ upapattibhavasmiṃ idha katassa kammassa paccayā. Itime catusaṅkhepe tayo addhe tisandhiṃ vīsatiyā ākārehi paṭiccasamuppādaṃ jānāti passati aññāti paṭivijjhati. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘paccayapariggahe paññā dhammaṭṭhitiñāṇaṃ’’.
47. In the previous kamma-existence, delusion is ignorance; exertion, volitional formations; delight, craving; approaching, clinging; and volition, becoming. These five phenomena in the previous kamma-existence are conditions for relinking here. Here, relinking is consciousness; descent, name-and-form; sensitivity, the sense base; what is contacted, contact; and what is felt, feeling. These five phenomena in this rebirth-existence are the result of kamma done previously. Here, owing to the maturing of the sense bases, delusion is ignorance; exertion, volitional formations; delight, craving; approaching, clinging; and volition, becoming. These five phenomena in this kamma-existence here are conditions for future relinking. In the future, relinking is consciousness; descent, name-and-form; sensitivity, the sense base; what is contacted, contact; and what is felt, feeling. These five phenomena in a future rebirth-existence are the result of kamma done here. Thus, in these four sections, across three time periods and with three links, one knows, sees, understands, and penetrates dependent origination in its twenty aspects. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of thorough understanding. Therefore it is said: 'Wisdom in the comprehension of conditions is knowledge of the stability of phenomena.'
47. Trong hữu nghiệp quá khứ, si mê là vô minh, sự cố gắng tạo tác là các hành, sự ưa thích là ái, sự bám víu là thủ, tư tâm sở là hữu. Năm pháp này trong hữu nghiệp quá khứ là duyên cho sự tái sanh trong đời này. Trong đời này, sự tái sanh là thức, sự nhập thai là danh sắc, sự trong sáng (của các căn) là xứ, sự chạm xúc là xúc, sự cảm nhận là thọ. Năm pháp này trong hữu sanh đời này là duyên của nghiệp đã làm trong quá khứ. Trong đời này, do sự chín muồi của các xứ, si mê là vô minh, sự cố gắng tạo tác là các hành, sự ưa thích là ái, sự bám víu là thủ, tư tâm sở là hữu. Năm pháp này trong hữu nghiệp đời này là duyên cho sự tái sanh trong tương lai. Trong tương lai, sự tái sanh là thức, sự nhập thai là danh sắc, sự trong sáng (của các căn) là xứ, sự chạm xúc là xúc, sự cảm nhận là thọ. Năm pháp này trong hữu sanh tương lai là duyên của nghiệp đã làm trong đời này. Như vậy, vị ấy biết, thấy, liễu tri, thâm nhập lý duyên khởi với hai mươi hành tướng, ba thời, ba mối nối, trong bốn phần tóm tắt này. Trí tuệ ấy, theo nghĩa biết rõ là trí (ñāṇa), theo nghĩa biết rõ các chi phần là tuệ (paññā). Do đó, được nói rằng: ‘Trí tuệ trong việc nắm bắt các duyên được gọi là pháp trụ trí’.
Dhammaṭṭhitiñāṇaniddeso catuttho.
The Fourth: The Exposition of the Knowledge of the Stability of Phenomena.
Dứt phần giải thích thứ tư về pháp trụ trí.
5. Sammasanañāṇaniddeso
5. Exposition of the Knowledge of Comprehension
5. Phần giải thích về biến quán trí
48. Kathaṃ atītānāgatapaccuppannānaṃ dhammānaṃ saṅkhipitvā vavatthāne paññā sammasane ñāṇaṃ?
48. How is wisdom in concisely defining past, future, and present phenomena knowledge of comprehension?
48. Thế nào là biến quán trí, là trí tuệ trong việc xác định sau khi đã tóm tắt các pháp quá khứ, vị lai, và hiện tại?
Yaṃ kiñci rūpaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ ajjhattaṃ vā bahiddhā vā oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃ vā paṇītaṃ vā yaṃ dūre santike vā, sabbaṃ rūpaṃ aniccato vavattheti ekaṃ sammasanaṃ, dukkhato vavattheti ekaṃ sammasanaṃ, anattato vavattheti ekaṃ sammasanaṃ.
Whatever form there is—past, future, or present; internal or external; gross or subtle; inferior or superior; far or near—all that form one defines as impermanent: this is one comprehension. One defines it as suffering: this is one comprehension. One defines it as non-self: this is one comprehension.
Bất cứ sắc nào, quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần; vị ấy xác định tất cả sắc ấy là vô thường, (đó là) một sự thẩm sát. Vị ấy xác định (tất cả sắc ấy) là khổ, (đó là) một sự thẩm sát. Vị ấy xác định (tất cả sắc ấy) là vô ngã, (đó là) một sự thẩm sát.
Yā kāci vedanā…pe… yā kāci saññā… ye keci saṅkhārā… yaṃ kiñci viññāṇaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ ajjhattaṃ vā bahiddhā vā oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃ vā paṇītaṃ vā yaṃ dūre santike vā, sabbaṃ viññāṇaṃ aniccato vavattheti ekaṃ sammasanaṃ, dukkhato vavattheti ekaṃ sammasanaṃ, anattato vavattheti ekaṃ sammasanaṃ.
Whatever feeling...pe... whatever perception... whatever volitional formations... whatever consciousness—past, future, or present; internal or external; gross or subtle; inferior or superior; far or near—one defines all of it as impermanent: this is one comprehension. One defines it as suffering: this is one comprehension. One defines it as non-self: this is one comprehension.
Bất cứ thọ nào... Tương tự... Bất cứ tưởng nào... Bất cứ các hành nào... Bất cứ thức nào, quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần; vị ấy xác định tất cả thức ấy là vô thường, (đó là) một sự thẩm sát. Vị ấy xác định (tất cả thức ấy) là khổ, (đó là) một sự thẩm sát. Vị ấy xác định (tất cả thức ấy) là vô ngã, (đó là) một sự thẩm sát.
Cakkhuṃ…pe… jarāmaraṇaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ aniccato vavattheti ekaṃ sammasanaṃ, dukkhato vavattheti ekaṃ sammasanaṃ, anattato vavattheti ekaṃ sammasanaṃ.
The eye...pe... aging-and-death—past, future, or present—one defines as impermanent: this is one comprehension. One defines it as suffering: this is one comprehension. One defines it as non-self: this is one comprehension.
Mắt... Tương tự... Già-chết, quá khứ, vị lai, hay hiện tại, vị ấy xác định là vô thường, (đó là) một sự thẩm sát. Vị ấy xác định là khổ, (đó là) một sự thẩm sát. Vị ấy xác định là vô ngã, (đó là) một sự thẩm sát.
Rūpaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ aniccaṃ khayaṭṭhena, dukkhaṃ bhayaṭṭhena anattā asārakaṭṭhenāti saṅkhipitvā vavatthāne paññā sammasane ñāṇaṃ. Vedanā…pe… saññā…pe… saṅkhārā…pe… viññāṇaṃ…pe… cakkhu…pe… jarāmaraṇaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ aniccaṃ khayaṭṭhena, dukkhaṃ bhayaṭṭhena, anattā asārakaṭṭhenāti saṅkhipitvā vavatthāne paññā sammasane ñāṇaṃ.
Form—past, future, or present—is impermanent in the sense of perishing, suffering in the sense of being oppressive, and non-self in the sense of being coreless. Wisdom in concisely defining this is knowledge of comprehension. Feeling...pe... perception... volitional formations... consciousness... the eye...pe... aging-and-death—past, future, or present—is impermanent in the sense of perishing, suffering in the sense of being oppressive, and non-self in the sense of being coreless. Wisdom in concisely defining this is knowledge of comprehension.
Trí tuệ trong sự xác định sau khi đã tóm tắt rằng: 'Sắc, quá khứ, vị lai, hay hiện tại, là vô thường theo ý nghĩa hủy diệt, là khổ theo ý nghĩa đáng sợ, là vô ngã theo ý nghĩa không có lõi' là thẩm sát trí. Thọ... Tương tự... Tưởng... Tương tự... Các hành... Tương tự... Thức... Tương tự... Mắt... Tương tự... Già-chết, quá khứ, vị lai, hay hiện tại, là vô thường theo ý nghĩa hủy diệt, là khổ theo ý nghĩa đáng sợ, là vô ngã theo ý nghĩa không có lõi' là thẩm sát trí.
Rūpaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ aniccaṃ saṅkhataṃ paṭiccasamuppannaṃ khayadhammaṃ vayadhammaṃ virāgadhammaṃ nirodhadhammanti saṅkhipitvā vavatthāne paññā sammasane ñāṇaṃ. Vedanā…pe… saññā… saṅkhārā… viññāṇaṃ… cakkhu…pe… jarāmaraṇaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ aniccaṃ saṅkhataṃ paṭiccasamuppannaṃ khayadhammaṃ vayadhammaṃ virāgadhammaṃ nirodhadhammanti saṅkhipitvā vavatthāne paññā sammasane ñāṇaṃ.
Form—past, future, or present—is impermanent, conditioned, dependently arisen, of a nature to perish, of a nature to vanish, of a nature to fade away, and of a nature to cease. Wisdom in concisely defining this is knowledge of comprehension. Feeling…pe… perception… volitional formations… consciousness… the eye…pe… aging-and-death—past, future, or present—is impermanent, conditioned, dependently arisen, of a nature to perish, of a nature to vanish, of a nature to fade away, and of a nature to cease. Wisdom in concisely defining this is knowledge of comprehension.
Trí tuệ trong sự xác định sau khi đã tóm tắt rằng: 'Sắc, quá khứ, vị lai, hay hiện tại, là vô thường, là pháp hữu vi, là pháp do duyên sinh, có tính chất hủy diệt, có tính chất hoại diệt, có tính chất ly tham, có tính chất đoạn diệt' là thẩm sát trí. Thọ... Tương tự... Tưởng... Các hành... Thức... Mắt... Tương tự... Già-chết, quá khứ, vị lai, hay hiện tại, là vô thường, là pháp hữu vi, là pháp do duyên sinh, có tính chất hủy diệt, có tính chất hoại diệt, có tính chất ly tham, có tính chất đoạn diệt' là thẩm sát trí.
Jātipaccayā jarāmaraṇaṃ, asati jātiyā natthi jarāmaraṇanti saṅkhipitvā vavatthāne paññā sammasane ñāṇaṃ. Atītampi addhānaṃ… anāgatampi addhānaṃ jātipaccayā jarāmaraṇaṃ, asati jātiyā natthi jarāmaraṇanti saṅkhipitvā vavatthāne paññā sammasane ñāṇaṃ. Bhavapaccayā jāti, asati…pe… upādānapaccayā bhavo, asati…pe… taṇhāpaccayā upādānaṃ, asati…pe… vedanāpaccayā taṇhā, asati…pe… phassapaccayā vedanā, asati…pe… saḷāyatanapaccayā phasso, asati…pe… nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ, asati…pe… viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ, asati…pe… saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ, asati…pe… avijjāpaccayā saṅkhārā, asati avijjāya natthi saṅkhārāti saṅkhipitvā vavatthāne paññā sammasane ñāṇaṃ. Atītampi addhānaṃ… anāgatampi addhānaṃ avijjāpaccayā saṅkhārā, asati avijjāya natthi saṅkhārāti saṅkhipitvā vavatthāne paññā sammasane ñāṇaṃ. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘atītānāgatapaccuppannānaṃ dhammānaṃ saṅkhipitvā vavatthāne paññā sammasane ñāṇaṃ’’.
With birth as condition, there is aging-and-death; when there is no birth, there is no aging-and-death. The wisdom that arises in concisely determining this is knowledge by comprehension. Also in the past... also in the future, with birth as condition, there is aging-and-death; when there is no birth, there is no aging-and-death. The wisdom that arises in concisely determining this is knowledge by comprehension. With becoming as condition, there is birth; when there is no becoming...pe... With clinging as condition, there is becoming; when there is no clinging...pe... With craving as condition, there is clinging; when there is no craving...pe... With feeling as condition, there is craving; when there is no feeling...pe... With contact as condition, there is feeling; when there is no contact...pe... With the sixfold sense base as condition, there is contact; when there is no sixfold sense base...pe... With name-and-form as condition, there is the sixfold sense base; when there is no name-and-form...pe... With consciousness as condition, there is name-and-form; when there is no consciousness...pe... With volitional formations as condition, there is consciousness; when there are no volitional formations...pe... With ignorance as condition, there are volitional formations; when there is no ignorance, there are no volitional formations. The wisdom that arises in concisely determining this is knowledge by comprehension. Also in the past... also in the future, with ignorance as condition, there are volitional formations; when there is no ignorance, there are no volitional formations. The wisdom that arises in concisely determining this is knowledge by comprehension. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of thorough understanding. Therefore it is said: 'The wisdom that arises in concisely determining past, future, and present phenomena is knowledge by comprehension.'
Trí tuệ trong sự xác định sau khi đã tóm tắt rằng: 'Do sanh làm duyên nên có già-chết, khi không có sanh thì không có già-chết' là thẩm sát trí. Cũng trong thời quá khứ... cũng trong thời vị lai, trí tuệ trong sự xác định sau khi đã tóm tắt rằng: 'Do sanh làm duyên nên có già-chết, khi không có sanh thì không có già-chết' là thẩm sát trí. Do hữu làm duyên nên có sanh, khi không có... Tương tự... Do thủ làm duyên nên có hữu, khi không có... Tương tự... Do ái làm duyên nên có thủ, khi không có... Tương tự... Do thọ làm duyên nên có ái, khi không có... Tương tự... Do xúc làm duyên nên có thọ, khi không có... Tương tự... Do sáu xứ làm duyên nên có xúc, khi không có... Tương tự... Do danh-sắc làm duyên nên có sáu xứ, khi không có... Tương tự... Do thức làm duyên nên có danh-sắc, khi không có... Tương tự... Do các hành làm duyên nên có thức, khi không có... Tương tự... Do vô minh làm duyên nên có các hành, khi không có vô minh thì không có các hành' là thẩm sát trí. Cũng trong thời quá khứ... cũng trong thời vị lai, trí tuệ trong sự xác định sau khi đã tóm tắt rằng: 'Do vô minh làm duyên nên có các hành, khi không có vô minh thì không có các hành' là thẩm sát trí. Trí ấy là trí tuệ theo ý nghĩa biết, là tuệ theo ý nghĩa hiểu rõ. Do đó, được nói rằng: 'Trí tuệ trong sự xác định sau khi đã tóm tắt các pháp quá khứ, vị lai, và hiện tại là thẩm sát trí'.
Sammasanañāṇaniddeso pañcamo.
The Fifth: The Exposition of the Knowledge of Comprehension.
Phần giải về thẩm sát trí là thứ năm.
6. Udayabbayañāṇaniddeso
6. The Exposition of the Knowledge of Arising and Passing Away
6. Phần giải về sanh diệt trí
49. Kathaṃ paccuppannānaṃ dhammānaṃ vipariṇāmānupassane paññā udayabbayānupassane ñāṇaṃ? Jātaṃ rūpaṃ paccuppannaṃ, tassa nibbattilakkhaṇaṃ udayo, vipariṇāmalakkhaṇaṃ vayo, anupassanā ñāṇaṃ. Jātā vedanā…pe… jātā saññā… jātā saṅkhārā… jātaṃ viññāṇaṃ… jātaṃ cakkhu…pe… jāto bhavo paccuppanno, tassa nibbattilakkhaṇaṃ udayo, vipariṇāmalakkhaṇaṃ vayo, anupassanā ñāṇaṃ.
49. How is the wisdom in contemplating the alteration of present phenomena the knowledge of contemplating arising and passing away? A form that has arisen is present; its characteristic of coming into being is arising, its characteristic of alteration is passing away; contemplation thereof is knowledge. A feeling that has arisen...pe... a perception that has arisen... formations that have arisen... consciousness that has arisen... the eye that has arisen...pe... becoming that has arisen is present; its characteristic of coming into being is arising, its characteristic of alteration is passing away; contemplation thereof is knowledge.
49. Làm thế nào trí tuệ trong sự tùy quán sự biến hoại của các pháp hiện tại là trí tuệ tùy quán sanh diệt? Sắc đã sanh là hiện tại, đặc tính sanh khởi của nó là sanh, đặc tính biến hoại là diệt, sự tùy quán là trí. Thọ đã sanh... Tương tự... Tưởng đã sanh... Các hành đã sanh... Thức đã sanh... Mắt đã sanh... Tương tự... Hữu đã sanh là hiện tại, đặc tính sanh khởi của nó là sanh, đặc tính biến hoại là diệt, sự tùy quán là trí.
50. Pañcannaṃ khandhānaṃ udayaṃ passanto kati lakkhaṇāni passati, vayaṃ passanto kati lakkhaṇāni passati, udayabbayaṃ passanto kati lakkhaṇāni passati? Pañcannaṃ khandhānaṃ udayaṃ passanto pañcavīsati lakkhaṇāni passati, vayaṃ passanto pañcavīsati lakkhaṇāni passati; udayabbayaṃ passanto paññāsa lakkhaṇāni passati.
50. One who sees the arising of the five aggregates, how many characteristics does one see? One who sees the passing away, how many characteristics does one see? One who sees the arising and passing away, how many characteristics does one see? One who sees the arising of the five aggregates sees twenty-five characteristics; one who sees the passing away sees twenty-five characteristics; one who sees the arising and passing away sees fifty characteristics.
50. Vị đang thấy sự sanh của năm uẩn thì thấy bao nhiêu đặc tính, vị đang thấy sự diệt thì thấy bao nhiêu đặc tính, vị đang thấy sự sanh và diệt thì thấy bao nhiêu đặc tính? Vị đang thấy sự sanh của năm uẩn thì thấy hai mươi lăm đặc tính, vị đang thấy sự diệt thì thấy hai mươi lăm đặc tính; vị đang thấy sự sanh và diệt thì thấy năm mươi đặc tính.
Rūpakkhandhassa udayaṃ passanto kati lakkhaṇāni passati, vayaṃ passanto kati lakkhaṇāni passati, udayabbayaṃ passanto kati lakkhaṇāni passati? Vedanākkhandhassa…pe… saññākkhandhassa…pe… saṅkhārakkhandhassa…pe… viññāṇakkhandhassa udayaṃ passanto kati lakkhaṇāni passati, vayaṃ passanto kati lakkhaṇāni passati, udayabbayaṃ passanto kati lakkhaṇāni passati? Rūpakkhandhassa udayaṃ passanto pañca lakkhaṇāni passati, vayaṃ passanto pañca lakkhaṇāni passati; udayabbayaṃ passanto dasa lakkhaṇāni passati. Vedanākkhandhassa…pe… saññākkhandhassa… saṅkhārakkhandhassa… viññāṇakkhandhassa udayaṃ passanto pañca lakkhaṇāni passati, vayaṃ passanto pañca lakkhaṇāni passati; udayabbayaṃ passanto dasa lakkhaṇāni passati.
One who sees the arising of the form aggregate, how many characteristics does one see? One who sees its passing away, how many characteristics does one see? One who sees its arising and passing away, how many characteristics does one see? Of the feeling aggregate... and so on... of the perception aggregate... and so on... of the formations aggregate... and so on... one who sees the arising of the consciousness aggregate, how many characteristics does one see? One who sees its passing away, how many characteristics does one see? One who sees its arising and passing away, how many characteristics does one see? One who sees the arising of the form aggregate sees five characteristics; one who sees its passing away sees five characteristics; one who sees its arising and passing away sees ten characteristics. Likewise for the feeling aggregate... and so on... for the perception aggregate, the formations aggregate, and the consciousness aggregate: one who sees the arising sees five characteristics; one who sees the passing away sees five characteristics; one who sees the arising and passing away sees ten characteristics.
Vị đang thấy sự sanh của sắc uẩn thì thấy bao nhiêu đặc tính, vị đang thấy sự diệt thì thấy bao nhiêu đặc tính, vị đang thấy sự sanh và diệt thì thấy bao nhiêu đặc tính? Của thọ uẩn... Tương tự... Của tưởng uẩn... Tương tự... Của hành uẩn... Tương tự... Của thức uẩn, vị đang thấy sự sanh thì thấy bao nhiêu đặc tính, vị đang thấy sự diệt thì thấy bao nhiêu đặc tính, vị đang thấy sự sanh và diệt thì thấy bao nhiêu đặc tính? Vị đang thấy sự sanh của sắc uẩn thì thấy năm đặc tính, vị đang thấy sự diệt thì thấy năm đặc tính; vị đang thấy sự sanh và diệt thì thấy mười đặc tính. Của thọ uẩn... Tương tự... Của tưởng uẩn... Của hành uẩn... Của thức uẩn, vị đang thấy sự sanh thì thấy năm đặc tính, vị đang thấy sự diệt thì thấy năm đặc tính; vị đang thấy sự sanh và diệt thì thấy mười đặc tính.
Rūpakkhandhassa udayaṃ passanto katamāni pañca lakkhaṇāni passati? Avijjāsamudayā rūpasamudayoti – paccayasamudayaṭṭhena rūpakkhandhassa udayaṃ passati. Taṇhāsamudayā rūpasamudayoti – paccayasamudayaṭṭhena rūpakkhandhassa udayaṃ passati. Kammasamudayā rūpasamudayoti – paccayasamudayaṭṭhena rūpakkhandhassa udayaṃ passati. Āhārasamudayā rūpasamudayoti – paccayasamudayaṭṭhena rūpakkhandhassa udayaṃ passati. Nibbattilakkhaṇaṃ passantopi rūpakkhandhassa udayaṃ passati. Rūpakkhandhassa udayaṃ passanto imāni pañca lakkhaṇāni passati.
When one sees the arising of the form aggregate, what five characteristics does one see? "With the arising of ignorance, there is the arising of form"—thus, one sees the arising of the form aggregate in the sense of the arising of the cause. "With the arising of craving, there is the arising of form"—thus, one sees the arising of the form aggregate in the sense of the arising of the cause. "With the arising of kamma, there is the arising of form"—thus, one sees the arising of the form aggregate in the sense of the arising of the cause. "With the arising of nutriment, there is the arising of form"—thus, one sees the arising of the form aggregate in the sense of the arising of the cause. Even when seeing the characteristic of production, one sees the arising of the form aggregate. When one sees the arising of the form aggregate, one sees these five characteristics.
Vị đang thấy sự sanh khởi của sắc uẩn thấy được năm tướng trạng nào? Do vô minh tập khởi nên sắc tập khởi – vị ấy thấy sự sanh khởi của sắc uẩn theo nghĩa là sự tập khởi của nhân duyên. Do ái tập khởi nên sắc tập khởi – vị ấy thấy sự sanh khởi của sắc uẩn theo nghĩa là sự tập khởi của nhân duyên. Do nghiệp tập khởi nên sắc tập khởi – vị ấy thấy sự sanh khởi của sắc uẩn theo nghĩa là sự tập khởi của nhân duyên. Do vật thực tập khởi nên sắc tập khởi – vị ấy thấy sự sanh khởi của sắc uẩn theo nghĩa là sự tập khởi của nhân duyên. Vị đang thấy tướng trạng phát sanh cũng thấy được sự sanh khởi của sắc uẩn. Vị đang thấy sự sanh khởi của sắc uẩn thấy được năm tướng trạng này.
Vayaṃ passanto katamāni pañca lakkhaṇāni passati? Avijjānirodhā rūpanirodhoti – paccayanirodhaṭṭhena rūpakkhandhassa vayaṃ passati. Taṇhānirodhā rūpanirodhoti – paccayanirodhaṭṭhena rūpakkhandhassa vayaṃ passati. Kammanirodhā rūpanirodhoti – paccayanirodhaṭṭhena rūpakkhandhassa vayaṃ passati. Āhāranirodhā rūpanirodhoti – paccayanirodhaṭṭhena rūpakkhandhassa vayaṃ passati. Vipariṇāmalakkhaṇaṃ passantopi rūpakkhandhassa vayaṃ passati. Rūpakkhandhassa vayaṃ passanto imāni pañca lakkhaṇāni passati. Udayabbayaṃ passanto imāni dasa lakkhaṇāni passati.
When seeing the dissolution, what five characteristics does one see? "With the cessation of ignorance, there is the cessation of form"—thus, one sees the dissolution of the form aggregate in the sense of the cessation of the cause. "With the cessation of craving, there is the cessation of form"—thus, one sees the dissolution of the form aggregate in the sense of the cessation of the cause. "With the cessation of kamma, there is the cessation of form"—thus, one sees the dissolution of the form aggregate in the sense of the cessation of the cause. "With the cessation of nutriment, there is the cessation of form"—thus, one sees the dissolution of the form aggregate in the sense of the cessation of the cause. Even when seeing the characteristic of alteration, one sees the dissolution of the form aggregate. When seeing the dissolution of the form aggregate, one sees these five characteristics. When seeing arising and dissolution, one sees these ten characteristics.
Vị đang thấy sự hoại diệt thấy được năm tướng trạng nào? Do vô minh diệt nên sắc diệt – vị ấy thấy sự hoại diệt của sắc uẩn theo nghĩa là sự đoạn diệt của nhân duyên. Do ái diệt nên sắc diệt – vị ấy thấy sự hoại diệt của sắc uẩn theo nghĩa là sự đoạn diệt của nhân duyên. Do nghiệp diệt nên sắc diệt – vị ấy thấy sự hoại diệt của sắc uẩn theo nghĩa là sự đoạn diệt của nhân duyên. Do vật thực diệt nên sắc diệt – vị ấy thấy sự hoại diệt của sắc uẩn theo nghĩa là sự đoạn diệt của nhân duyên. Vị đang thấy tướng trạng biến hoại cũng thấy được sự hoại diệt của sắc uẩn. Vị đang thấy sự hoại diệt của sắc uẩn thấy được năm tướng trạng này. Vị đang thấy sự sanh và diệt thấy được mười tướng trạng này.
Vedanākkhandhassa udayaṃ passanto katamāni pañca lakkhaṇāni passati? Avijjāsamudayā vedanāsamudayoti – paccayasamudayaṭṭhena vedanākkhandhassa udayaṃ passati. Taṇhāsamudayā vedanāsamudayoti – paccayasamudayaṭṭhena vedanākkhandhassa udayaṃ passati. Kammasamudayā vedanāsamudayoti – paccayasamudayaṭṭhena vedanākkhandhassa udayaṃ passati. Phassasamudayā vedanāsamudayoti – paccayasamudayaṭṭhena vedanākkhandhassa udayaṃ passati. Nibbattilakkhaṇaṃ passantopi vedanākkhandhassa udayaṃ passati. Vedanākkhandhassa udayaṃ passanto imāni pañca lakkhaṇāni passati.
When observing the arising of the aggregate of feeling, what five characteristics does one see? 'Because of the arising of ignorance, there is the arising of feeling'—thus, one sees the arising of the aggregate of feeling in the sense of arising from a cause. 'Because of the arising of craving, there is the arising of feeling'—thus, one sees the arising of the aggregate of feeling in the sense of arising from a cause. 'Because of the arising of kamma, there is the arising of feeling'—thus, one sees the arising of the aggregate of feeling in the sense of arising from a cause. 'Because of the arising of contact, there is the arising of feeling'—thus, one sees the arising of the aggregate of feeling in the sense of arising from a cause. Also, when observing the characteristic of production, one sees the arising of the aggregate of feeling. When observing the arising of the aggregate of feeling, one sees these five characteristics.
Vị đang thấy sự sanh khởi của thọ uẩn thấy được năm tướng trạng nào? Do vô minh tập khởi nên thọ tập khởi – vị ấy thấy sự sanh khởi của thọ uẩn theo nghĩa là sự tập khởi của nhân duyên. Do ái tập khởi nên thọ tập khởi – vị ấy thấy sự sanh khởi của thọ uẩn theo nghĩa là sự tập khởi của nhân duyên. Do nghiệp tập khởi nên thọ tập khởi – vị ấy thấy sự sanh khởi của thọ uẩn theo nghĩa là sự tập khởi của nhân duyên. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi – vị ấy thấy sự sanh khởi của thọ uẩn theo nghĩa là sự tập khởi của nhân duyên. Vị đang thấy tướng trạng phát sanh cũng thấy được sự sanh khởi của thọ uẩn. Vị đang thấy sự sanh khởi của thọ uẩn thấy được năm tướng trạng này.
Vayaṃ passanto katamāni pañca lakkhaṇāni passati? Avijjānirodhā vedanānirodhoti – paccayanirodhaṭṭhena vedanākkhandhassa vayaṃ passati. Taṇhānirodhā vedanānirodhoti – paccayanirodhaṭṭhena vedanākkhandhassa vayaṃ passati. Kammanirodhā vedanānirodhoti – paccayanirodhaṭṭhena vedanākkhandhassa vayaṃ passati. Phassanirodhā vedanānirodhoti – paccayanirodhaṭṭhena vedanākkhandhassa vayaṃ passati. Vipariṇāmalakkhaṇaṃ passantopi vedanākkhandhassa vayaṃ passati. Vedanākkhandhassa vayaṃ passanto imāni pañca lakkhaṇāni passati. Udayabbayaṃ passanto imāni dasa lakkhaṇāni passati.
When observing the passing away, what five characteristics does one see? 'Because of the cessation of ignorance, there is the cessation of feeling'—thus, one sees the passing away of the aggregate of feeling in the sense of the cessation of the cause. 'Because of the cessation of craving, there is the cessation of feeling'—thus, one sees the passing away of the aggregate of feeling in the sense of the cessation of the cause. 'Because of the cessation of kamma, there is the cessation of feeling'—thus, one sees the passing away of the aggregate of feeling in the sense of the cessation of the cause. 'Because of the cessation of contact, there is the cessation of feeling'—thus, one sees the passing away of the aggregate of feeling in the sense of the cessation of the cause. Also, when observing the characteristic of alteration, one sees the passing away of the aggregate of feeling. When observing the passing away of the aggregate of feeling, one sees these five characteristics. When observing arising and passing away, one sees these ten characteristics.
Vị đang thấy sự hoại diệt thấy được năm tướng trạng nào? Do vô minh diệt nên thọ diệt – vị ấy thấy sự hoại diệt của thọ uẩn theo nghĩa là sự đoạn diệt của nhân duyên. Do ái diệt nên thọ diệt – vị ấy thấy sự hoại diệt của thọ uẩn theo nghĩa là sự đoạn diệt của nhân duyên. Do nghiệp diệt nên thọ diệt – vị ấy thấy sự hoại diệt của thọ uẩn theo nghĩa là sự đoạn diệt của nhân duyên. Do xúc diệt nên thọ diệt – vị ấy thấy sự hoại diệt của thọ uẩn theo nghĩa là sự đoạn diệt của nhân duyên. Vị đang thấy tướng trạng biến hoại cũng thấy được sự hoại diệt của thọ uẩn. Vị đang thấy sự hoại diệt của thọ uẩn thấy được năm tướng trạng này. Vị đang thấy sự sanh và diệt thấy được mười tướng trạng này.
Saññākkhandhassa…pe… saṅkhārakkhandhassa…pe… viññāṇakkhandhassa udayaṃ passanto katamāni pañca lakkhaṇāni passati? Avijjāsamudayā viññāṇasamudayoti – paccayasamudayaṭṭhena viññāṇakkhandhassa udayaṃ passati. Taṇhāsamudayā viññāṇasamudayotipaccayasamudayaṭṭhena viññāṇakkhandhassa udayaṃ passati. Kammasamudayā viññāṇasamudayoti – paccayasamudayaṭṭhena viññāṇakkhandhassa udayaṃ passati. Nāmarūpasamudayā viññāṇasamudayoti – paccayasamudayaṭṭhena viññāṇakkhandhassa udayaṃ passati. Nibbattilakkhaṇaṃ passantopi viññāṇakkhandhassa udayaṃ passati. Viññāṇakkhandhassa udayaṃ passanto imāni pañca lakkhaṇāni passati.
One who observes the arising of the perception aggregate... of the formations aggregate... of the consciousness aggregate, what five characteristics does one see? 'From the arising of ignorance, consciousness arises'—thus, one sees the arising of the consciousness aggregate in the sense of arising from a cause. 'From the arising of craving, consciousness arises'—thus, one sees the arising of the consciousness aggregate in the sense of arising from a cause. 'From the arising of kamma, consciousness arises'—thus, one sees the arising of the consciousness aggregate in the sense of arising from a cause. 'From the arising of name-and-form, consciousness arises'—thus, one sees the arising of the consciousness aggregate in the sense of arising from a cause. Also, one who observes the characteristic of production sees the arising of the consciousness aggregate. One who observes the arising of the consciousness aggregate sees these five characteristics.
Về tưởng uẩn... như trên... về hành uẩn... như trên... Vị đang thấy sự sanh khởi của thức uẩn thấy được năm tướng trạng nào? Do vô minh tập khởi nên thức tập khởi – vị ấy thấy sự sanh khởi của thức uẩn theo nghĩa là sự tập khởi của nhân duyên. Do ái tập khởi nên thức tập khởi – vị ấy thấy sự sanh khởi của thức uẩn theo nghĩa là sự tập khởi của nhân duyên. Do nghiệp tập khởi nên thức tập khởi – vị ấy thấy sự sanh khởi của thức uẩn theo nghĩa là sự tập khởi của nhân duyên. Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi – vị ấy thấy sự sanh khởi của thức uẩn theo nghĩa là sự tập khởi của nhân duyên. Vị đang thấy tướng trạng phát sanh cũng thấy được sự sanh khởi của thức uẩn. Vị đang thấy sự sanh khởi của thức uẩn thấy được năm tướng trạng này.
Vayaṃ passanto katamāni pañca lakkhaṇāni passati? Avijjānirodhā viññāṇanirodhoti – paccayanirodhaṭṭhena viññāṇakkhandhassa vayaṃ passati. Taṇhānirodhā viññāṇanirodhoti – paccayanirodhaṭṭhena viññāṇakkhandhassa vayaṃ passati. Kammanirodhā viññāṇanirodhoti – paccayanirodhaṭṭhena viññāṇakkhandhassa vayaṃ passati. Nāmarūpanirodhā viññāṇanirodhoti – paccayanirodhaṭṭhena viññāṇakkhandhassa vayaṃ passati. Vipariṇāmalakkhaṇaṃ passantopi viññāṇakkhandhassa vayaṃ passati. Viññāṇakkhandhassa vayaṃ passanto imāni pañca lakkhaṇāni passati. Udayabbayaṃ passanto imāni dasa lakkhaṇāni passati.
One who observes the passing away, what five characteristics does one see? 'From the cessation of ignorance, consciousness ceases'—thus, one sees the passing away of the consciousness aggregate in the sense of the cessation of the cause. 'From the cessation of craving, consciousness ceases'—thus, one sees the passing away of the consciousness aggregate in the sense of the cessation of the cause. 'From the cessation of kamma, consciousness ceases'—thus, one sees the passing away of the consciousness aggregate in the sense of the cessation of the cause. 'From the cessation of name-and-form, consciousness ceases'—thus, one sees the passing away of the consciousness aggregate in the sense of the cessation of the cause. Also, one who observes the characteristic of change sees the passing away of the consciousness aggregate. One who observes the passing away of the consciousness aggregate sees these five characteristics. One who observes arising and passing away sees these ten characteristics.
Vị đang thấy sự hoại diệt thấy được năm tướng trạng nào? Do vô minh diệt nên thức diệt – vị ấy thấy sự hoại diệt của thức uẩn theo nghĩa là sự đoạn diệt của nhân duyên. Do ái diệt nên thức diệt – vị ấy thấy sự hoại diệt của thức uẩn theo nghĩa là sự đoạn diệt của nhân duyên. Do nghiệp diệt nên thức diệt – vị ấy thấy sự hoại diệt của thức uẩn theo nghĩa là sự đoạn diệt của nhân duyên. Do danh sắc diệt nên thức diệt – vị ấy thấy sự hoại diệt của thức uẩn theo nghĩa là sự đoạn diệt của nhân duyên. Vị đang thấy tướng trạng biến hoại cũng thấy được sự hoại diệt của thức uẩn. Vị đang thấy sự hoại diệt của thức uẩn thấy được năm tướng trạng này. Vị đang thấy sự sanh và diệt thấy được mười tướng trạng này.
Pañcannaṃ khandhānaṃ udayaṃ passanto imāni pañcavīsati lakkhaṇāni passati, vayaṃ passanto imāni pañcavīsati lakkhaṇāni passati, udayabbayaṃ passanto imāni paññāsa lakkhaṇāni passati. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘paccuppannānaṃ dhammānaṃ vipariṇāmānupassane paññā udayabbayānupassane ñāṇaṃ’’. Rūpakkhandho † āhārasamudayo. Vedanā, saññā, saṅkhārā – tayo † khandhā phassasamudayā. Viññāṇakkhandho nāmarūpasamudayo.
One who sees the arising of the five aggregates sees these twenty-five characteristics. One who sees the passing away sees these twenty-five characteristics. One who sees arising and passing away sees these fifty characteristics. That is knowledge in the sense of knowing; it is wisdom in the sense of discerning. Therefore, it is said: 'The wisdom in the contemplation of the alteration of present phenomena is the knowledge of the contemplation of arising and passing away.' The aggregate of form has nutriment as its cause of arising. Feeling, perception, and formations—these three aggregates have contact as their cause of arising. The aggregate of consciousness has name-and-form as its cause of arising.
Vị đang thấy sự sanh khởi của năm uẩn thấy được hai mươi lăm tướng trạng này, vị đang thấy sự hoại diệt thấy được hai mươi lăm tướng trạng này, vị đang thấy sự sanh và diệt thấy được năm mươi tướng trạng này. Điều ấy, theo nghĩa biết là trí, theo nghĩa biết rõ là tuệ. Do đó, được nói rằng: ‘Tuệ trong việc tùy quán sự biến hoại của các pháp hiện tại là trí trong việc tùy quán sanh diệt’. Sắc uẩn có vật thực là nhân sanh. Thọ, tưởng, hành – ba uẩn này có xúc là nhân sanh. Thức uẩn có danh sắc là nhân sanh.
Udayabbayañāṇaniddeso chaṭṭho.
The sixth is the exposition on the Knowledge of Arising and Passing Away.
Phần giải về trí sanh diệt là thứ sáu.
7. Bhaṅgānupassanāñāṇaniddeso
7. Exposition on the Knowledge of the Contemplation of Dissolution
7. Phần giải về trí tùy quán sự hoại diệt
51. Kathaṃ ārammaṇaṃ paṭisaṅkhā bhaṅgānupassane paññā vipassane ñāṇaṃ? Rūpārammaṇatā cittaṃ uppajjitvā bhijjati. Taṃ ārammaṇaṃ paṭisaṅkhā tassa cittassa bhaṅgaṃ anupassati. Anupassatīti, kathaṃ anupassati? Aniccato anupassati, no niccato. Dukkhato anupassati, no sukhato. Anattato anupassati, no attato. Nibbindati, no nandati, virajjati, no rajjati. Nirodheti, no samudeti. Paṭinissajjati, no ādiyati.
51. How, by reflecting on an object, is the wisdom in the contemplation of dissolution knowledge in insight? A mind with form as its object, having arisen, breaks up. Reflecting on that object, one contemplates the dissolution of that mind. As for 'contemplates,' how does one contemplate? One contemplates it as impermanent, not as permanent. One contemplates it as suffering, not as pleasant. One contemplates it as not-self, not as self. One becomes disenchanted, one does not delight. One becomes dispassionate, one is not impassioned. One brings it to cessation, one does not bring it to origination. One relinquishes, one does not grasp.
51. Làm thế nào trí tuệ trong sự tùy quán hoại diệt sau khi thẩm sát đối tượng là tuệ minh sát? Do có sắc làm đối tượng, tâm sanh lên rồi hoại diệt. Vị ấy thẩm sát đối tượng ấy rồi tùy quán sự hoại diệt của tâm ấy. Nói là tùy quán, tùy quán như thế nào? Vị ấy tùy quán theo phương diện vô thường, không phải theo phương diện thường. Vị ấy tùy quán theo phương diện khổ, không phải theo phương diện lạc. Vị ấy tùy quán theo phương diện vô ngã, không phải theo phương diện ngã. Vị ấy nhàm chán, không hoan hỷ; ly tham, không tham đắm; làm cho diệt, không làm cho sanh khởi; từ bỏ, không chấp thủ.
52. Aniccato anupassanto niccasaññaṃ pajahati. Dukkhato anupassanto sukhasaññaṃ pajahati. Anattato anupassanto attasaññaṃ pajahati. Nibbindanto nandiṃ pajahati. Virajjanto rāgaṃ pajahati. Nirodhento samudayaṃ pajahati. Paṭinissajjanto ādānaṃ pajahati.
52. By contemplating as impermanent, one abandons the perception of permanence. By contemplating as suffering, one abandons the perception of pleasure. By contemplating as not-self, one abandons the perception of self. By becoming disenchanted, one abandons delight. By becoming dispassionate, one abandons passion. By bringing to cessation, one abandons origination. By relinquishing, one abandons grasping.
52. Vị tùy quán theo phương diện vô thường thì từ bỏ thường tưởng. Vị tùy quán theo phương diện khổ thì từ bỏ lạc tưởng. Vị tùy quán theo phương diện vô ngã thì từ bỏ ngã tưởng. Vị đang nhàm chán thì từ bỏ sự hoan hỷ. Vị đang ly tham thì từ bỏ tham ái. Vị đang làm cho diệt thì từ bỏ sự sanh khởi. Vị đang từ bỏ thì từ bỏ sự chấp thủ.
Vedanārammaṇatā…pe… saññārammaṇatā… saṅkhārārammaṇatā… viññāṇārammaṇatā… cakkhu…pe… jarāmaraṇārammaṇatā cittaṃ uppajjitvā bhijjati. Taṃ ārammaṇaṃ paṭisaṅkhā tassa cittassa bhaṅgaṃ anupassati. Anupassatīti, kathaṃ anupassati? Aniccato anupassati, no niccato. Dukkhato anupassati, no sukhato. Anattato anupassati, no attato. Nibbindati, no nandati. Virajjati, no rajjati. Nirodheti, no samudeti. Paṭinissajjati, no ādiyati.
By having feeling as its object... by having perception as its object... by having formations as its object... by having consciousness as its object... the eye... by having aging and death as its object, a mind arises and perishes. Having reflected on that object, one contemplates the dissolution of that mind. Contemplates—how does one contemplate? One contemplates it as impermanent, not as permanent. One contemplates it as suffering, not as pleasant. One contemplates it as non-self, not as self. One is disenchanted, not delighted. One is dispassionate, not passionate. One brings it to cessation, not to arising. One relinquishes, not grasping.
Do có thọ làm đối tượng... cho đến... do có tưởng làm đối tượng... do có các hành làm đối tượng... do có thức làm đối tượng... mắt... cho đến... do có già-chết làm đối tượng, tâm sanh lên rồi hoại diệt. Vị ấy thẩm sát đối tượng ấy rồi tùy quán sự hoại diệt của tâm ấy. Nói là tùy quán, tùy quán như thế nào? Vị ấy tùy quán theo phương diện vô thường, không phải theo phương diện thường. Vị ấy tùy quán theo phương diện khổ, không phải theo phương diện lạc. Vị ấy tùy quán theo phương diện vô ngã, không phải theo phương diện ngã. Vị ấy nhàm chán, không hoan hỷ. Vị ấy ly tham, không tham đắm. Vị ấy làm cho diệt, không làm cho sanh khởi. Vị ấy từ bỏ, không chấp thủ.
Aniccato anupassanto niccasaññaṃ pajahati. Dukkhato anupassanto sukhasaññaṃ pajahati. Anattato anupassanto attasaññaṃ pajahati. Nibbindanto nandiṃ pajahati. Virajjanto rāgaṃ pajahati. Nirodhento samudayaṃ pajahati. Paṭinissajjanto ādānaṃ pajahati.
Contemplating it as impermanent, one abandons the perception of permanence. Contemplating it as suffering, one abandons the perception of pleasure. Contemplating it as non-self, one abandons the perception of self. Becoming disenchanted, one abandons delight. Becoming dispassionate, one abandons passion. Bringing it to cessation, one abandons origination. Relinquishing, one abandons grasping.
Vị tùy quán theo phương diện vô thường thì từ bỏ thường tưởng. Vị tùy quán theo phương diện khổ thì từ bỏ lạc tưởng. Vị tùy quán theo phương diện vô ngã thì từ bỏ ngã tưởng. Vị đang nhàm chán thì từ bỏ sự hoan hỷ. Vị đang ly tham thì từ bỏ tham ái. Vị đang làm cho diệt thì từ bỏ sự sanh khởi. Vị đang từ bỏ thì từ bỏ sự chấp thủ.
Vatthusaṅkamanā ceva, paññāya ca vivaṭṭanā;
Āvajjanā balañceva, paṭisaṅkhā vipassanā.
The transition from basis, the turning of wisdom, and the power of adverting—this is insight by reflection.
Sự chuyển đổi đối tượng, và sự xoay chuyển của trí tuệ; và năng lực hướng tâm, đó là minh sát thẩm sát.
Ārammaṇaanvayena , ubho ekavavatthanā †;
Nirodhe adhimuttatā, vayalakkhaṇavipassanā.
The single determination of both dissolutions by following the object, and the inclination towards cessation—this is insight into the characteristic of passing away.
Do đi theo đối tượng, sự xác định cả hai là một; sự hướng tâm đến trạng thái diệt, đó là minh sát về tướng hoại diệt.
Ārammaṇañca paṭisaṅkhā, bhaṅgañca anupassati;
Suññato ca upaṭṭhānaṃ, adhipaññā vipassanā.
Reflecting on the object and contemplating its dissolution, and its appearance as empty—this is insight of higher wisdom.
Thẩm sát đối tượng, và tùy quán sự hoại diệt; và sự hiện khởi theo phương diện không, đó là minh sát thắng tuệ.
Kusalo tīsu anupassanāsu, catasso ca † vipassanāsu;
Tayo upaṭṭhāne kusalatā, nānādiṭṭhīsu na kampatīti.
One who is skilled in the three contemplations does not waver amidst diverse views, due to skill in the four insights and the three establishments.
Vị thiện xảo trong ba tùy quán, và trong bốn minh sát; do sự thiện xảo trong ba sự hiện khởi, vị ấy không bị lay động bởi các tà kiến khác nhau.
Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘ārammaṇaṃ paṭisaṅkhā bhaṅgānupassane paññā vipassane ñāṇaṃ’’.
It is knowledge in the sense of knowing; it is wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: ‘Having reflected on an object, the wisdom in the contemplation of dissolution is knowledge that is insight.’
Điều ấy, với ý nghĩa là biết nên là trí; với ý nghĩa là biết rõ nên là tuệ. Do đó, được nói rằng: ‘Trí tuệ trong sự tùy quán hoại diệt sau khi thẩm sát đối tượng là tuệ minh sát’.
Bhaṅgānupassanāñāṇaniddeso sattamo.
Seventh: The Exposition of the Knowledge of Contemplation of Dissolution.
Phần giải thích về tuệ tùy quán hoại diệt thứ bảy.
8. Ādīnavañāṇaniddeso
8. Exposition of the Knowledge of Danger
8. Phần giải thích về tuệ quán sự nguy hại.
53. Kathaṃ bhayatupaṭṭhāne paññā ādīnave ñāṇaṃ? Uppādo bhayanti – bhayatupaṭṭhāne paññā ādīnave ñāṇaṃ. Pavattaṃ bhayanti – bhayatupaṭṭhāne paññā ādīnave ñāṇaṃ. Nimittaṃ bhayanti…pe… āyūhanā bhayanti…pe… paṭisandhi bhayanti… gati bhayanti… nibbatti bhayanti… upapatti bhayanti… jāti bhayanti… jarā bhayanti… byādhi bhayanti … maraṇaṃ bhayanti… soko bhayanti… paridevo bhayanti… upāyāso bhayanti – bhayatupaṭṭhāne paññā ādīnave ñāṇaṃ.
53. How is wisdom in what appears as fearful the knowledge of danger? 'Arising is fearful'—thus, wisdom in what appears as fearful is the knowledge of danger. 'Occurrence is fearful'—thus, wisdom in what appears as fearful is the knowledge of danger. 'The sign is fearful'… and so on… 'Rebirth-linking is fearful'… 'Destination is fearful'… 'Coming into being is fearful'… 'Rebirth is fearful'… 'Birth is fearful'… 'Aging is fearful'… 'Sickness is fearful'… 'Death is fearful'… 'Sorrow is fearful'… 'Lamentation is fearful'… 'Tribulation is fearful'—thus, wisdom in what appears as fearful is the knowledge of danger.
53. Làm thế nào trí tuệ trong sự hiện khởi của điều đáng sợ là tuệ quán sự nguy hại? ‘Sự sanh khởi là đáng sợ’ – trí tuệ trong sự hiện khởi của điều đáng sợ là tuệ quán sự nguy hại. ‘Sự tiếp diễn là đáng sợ’ – trí tuệ trong sự hiện khởi của điều đáng sợ là tuệ quán sự nguy hại. ‘Tướng là đáng sợ’... cho đến... ‘Sự tạo tác là đáng sợ’... cho đến... ‘Sự tái sanh là đáng sợ’... ‘Thú là đáng sợ’... ‘Sự hiện hữu là đáng sợ’... ‘Sự sanh là đáng sợ’... ‘Sanh là đáng sợ’... ‘Già là đáng sợ’... ‘Bệnh là đáng sợ’... ‘Chết là đáng sợ’... ‘Sầu là đáng sợ’... ‘Bi là đáng sợ’... ‘Não là đáng sợ’ – trí tuệ trong sự hiện khởi của điều đáng sợ là tuệ quán sự nguy hại.
Anuppādo khemanti – santipade ñāṇaṃ. Appavattaṃ khemanti – santipade ñāṇaṃ…pe… anupāyāso khemanti – santipade ñāṇaṃ.
'Non-arising is security'—thus, this is knowledge in the state of peace. 'Non-occurrence is security'—thus, this is knowledge in the state of peace… and so on… 'Non-tribulation is security'—thus, this is knowledge in the state of peace.
‘Sự không sanh khởi là an ổn’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh. ‘Sự không tiếp diễn là an ổn’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh... cho đến... ‘Sự không phiền não là an ổn’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh.
Uppādo bhayaṃ, anuppādo khemanti – santipade ñāṇaṃ. Pavattaṃ bhayaṃ, appavattaṃ khemanti – santipade ñāṇaṃ…pe… upāyāso bhayaṃ, anupāyāso khemanti – santipade ñāṇaṃ.
'Arising is fearful, non-arising is security'—thus, this is knowledge in the state of peace. 'Occurrence is fearful, non-occurrence is security'—thus, this is knowledge in the state of peace… and so on… 'Tribulation is fearful, non-tribulation is security'—thus, this is knowledge in the state of peace.
‘Sự sanh khởi là đáng sợ, sự không sanh khởi là an ổn’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh. ‘Sự tiếp diễn là đáng sợ, sự không tiếp diễn là an ổn’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh... cho đến... ‘Não là đáng sợ, sự không phiền não là an ổn’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh.
Uppādo dukkhanti – bhayatupaṭṭhāne paññā ādīnave ñāṇaṃ. Pavattaṃ dukkhanti – bhayatupaṭṭhāne paññā ādīnave ñāṇaṃ…pe… upāyāso dukkhanti – bhayatupaṭṭhāne paññā ādīnave ñāṇaṃ.
'Arising is suffering'—thus, wisdom in what appears as fearful is the knowledge of danger. 'Occurrence is suffering'—thus, wisdom in what appears as fearful is the knowledge of danger… and so on… 'Tribulation is suffering'—thus, wisdom in what appears as fearful is the knowledge of danger.
‘Sự sanh khởi là khổ’ – trí tuệ trong sự hiện khởi của điều đáng sợ là tuệ quán sự nguy hại. ‘Sự tiếp diễn là khổ’ – trí tuệ trong sự hiện khởi của điều đáng sợ là tuệ quán sự nguy hại... cho đến... ‘Não là khổ’ – trí tuệ trong sự hiện khởi của điều đáng sợ là tuệ quán sự nguy hại.
Anuppādo sukhanti – santipade ñāṇaṃ. Appavattaṃ sukhanti – santipade ñāṇaṃ…pe… anupāyāso sukhanti – santipade ñāṇaṃ.
'Non-arising is happiness'—thus, this is knowledge in the state of peace. 'Non-occurrence is happiness'—thus, this is knowledge in the state of peace… and so on… 'Non-tribulation is happiness'—thus, this is knowledge in the state of peace.
‘Sự không sanh khởi là lạc’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh. ‘Sự không tiếp diễn là lạc’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh... cho đến... ‘Sự không phiền não là lạc’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh.
Uppādo dukkhaṃ, anuppādo sukhanti – santipade ñāṇaṃ. Pavattaṃ dukkhaṃ, appavattaṃ sukhanti – santipade ñāṇaṃ…pe… upāyāso dukkhaṃ, anupāyāso sukhanti – santipade ñāṇaṃ.
'Arising is suffering, non-arising is happiness'—thus, this is knowledge in the state of peace. 'Occurrence is suffering, non-occurrence is happiness'—thus, this is knowledge in the state of peace… and so on… 'Tribulation is suffering, non-tribulation is happiness'—thus, this is knowledge in the state of peace.
‘Sự sanh khởi là khổ, sự không sanh khởi là lạc’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh. ‘Sự tiếp diễn là khổ, sự không tiếp diễn là lạc’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh... cho đến... ‘Não là khổ, sự không phiền não là lạc’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh.
Uppādo sāmisanti – bhayatupaṭṭhāne paññā ādīnave ñāṇaṃ. Pavattaṃ sāmisanti – bhayatupaṭṭhāne paññā ādīnave ñāṇaṃ…pe… upāyāso sāmisanti – bhayatupaṭṭhāne paññā ādīnave ñāṇaṃ.
'Arising is worldly'—thus, wisdom in what appears as fearful is the knowledge of danger. 'Occurrence is worldly'—thus, wisdom in what appears as fearful is the knowledge of danger… and so on… 'Tribulation is worldly'—thus, wisdom in what appears as fearful is the knowledge of danger.
‘Sự sanh khởi là hữu lậu’ – trí tuệ trong sự hiện khởi của điều đáng sợ là tuệ quán sự nguy hại. ‘Sự tiếp diễn là hữu lậu’ – trí tuệ trong sự hiện khởi của điều đáng sợ là tuệ quán sự nguy hại... cho đến... ‘Não là hữu lậu’ – trí tuệ trong sự hiện khởi của điều đáng sợ là tuệ quán sự nguy hại.
Anuppādo nirāmisanti – santipade ñāṇaṃ. Appavattaṃ nirāmisanti – santipade ñāṇaṃ…pe… anupāyāso nirāmisanti – santipade ñāṇaṃ.
'Non-arising is unworldly'—thus, this is knowledge in the state of peace. 'Non-occurrence is unworldly'—thus, this is knowledge in the state of peace… and so on… 'Non-tribulation is unworldly'—thus, this is knowledge in the state of peace.
‘Sự không sanh khởi là vô lậu’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh. ‘Sự không tiếp diễn là vô lậu’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh... cho đến... ‘Sự không phiền não là vô lậu’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh.
Uppādo sāmisaṃ, anuppādo nirāmisanti – santipade ñāṇaṃ. Pavattaṃ sāmisaṃ, appavattaṃ nirāmisanti – santipade ñāṇaṃ…pe… upāyāso sāmisaṃ, anupāyāso nirāmisanti – santipade ñāṇaṃ.
Arising is worldly, non-arising is unworldly—this is knowledge in the state of peace. Continuation is worldly, non-continuation is unworldly—this is knowledge in the state of peace… Trouble is worldly, non-trouble is unworldly—this is knowledge in the state of peace.
‘Sự sanh khởi là hữu lậu, sự không sanh khởi là vô lậu’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh. ‘Sự tiếp diễn là hữu lậu, sự không tiếp diễn là vô lậu’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh... cho đến... ‘Não là hữu lậu, sự không phiền não là vô lậu’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh.
Uppādo saṅkhārāti – bhayatupaṭṭhāne paññā ādīnave ñāṇaṃ. Pavattaṃ saṅkhārāti – bhayatupaṭṭhāne paññā ādīnave ñāṇaṃ…pe… upāyāso saṅkhārāti – bhayatupaṭṭhāne paññā ādīnave ñāṇaṃ.
Arising is formations—the wisdom in what appears as fearful is the knowledge of danger. Continuation is formations—the wisdom in what appears as fearful is the knowledge of danger… Trouble is formations—the wisdom in what appears as fearful is the knowledge of danger.
‘Sự sanh khởi là các pháp hữu vi’ – trí tuệ trong sự hiện khởi của điều đáng sợ là tuệ quán sự nguy hại. ‘Sự tiếp diễn là các pháp hữu vi’ – trí tuệ trong sự hiện khởi của điều đáng sợ là tuệ quán sự nguy hại... cho đến... ‘Não là các pháp hữu vi’ – trí tuệ trong sự hiện khởi của điều đáng sợ là tuệ quán sự nguy hại.
Anuppādo nibbānanti – santipade ñāṇaṃ. Appavattaṃ nibbānanti – santipade ñāṇaṃ…pe… anupāyāso nibbānanti – santipade ñāṇaṃ.
Non-arising is Nibbāna—this is knowledge in the state of peace. Non-continuation is Nibbāna—this is knowledge in the state of peace… Non-trouble is Nibbāna—this is knowledge in the state of peace.
‘Sự không sanh khởi là Niết-bàn’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh. ‘Sự không tiếp diễn là Niết-bàn’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh... cho đến... ‘Sự không phiền não là Niết-bàn’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh.
Uppādo saṅkhārā, anuppādo nibbānanti – santipade ñāṇaṃ. Pavattaṃ saṅkhārā, appavattaṃ nibbānanti – santipade ñāṇaṃ…pe… upāyāso saṅkhārā, anupāyāso nibbānanti – santipade ñāṇaṃ.
Arising is formations, non-arising is Nibbāna—this is knowledge in the state of peace. Continuation is formations, non-continuation is Nibbāna—this is knowledge in the state of peace… Trouble is formations, non-trouble is Nibbāna—this is knowledge in the state of peace.
‘Sự sanh khởi là các pháp hữu vi, sự không sanh khởi là Niết-bàn’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh. ‘Sự tiếp diễn là các pháp hữu vi, sự không tiếp diễn là Niết-bàn’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh... cho đến... ‘Não là các pháp hữu vi, sự không phiền não là Niết-bàn’ – đó là trí về trạng thái tịch tịnh.
Uppādañca pavattañca, nimittaṃ dukkhanti passati;
Āyūhanaṃ paṭisandhiṃ, ñāṇaṃ ādīnave idaṃ.
One sees arising, continuation, and the sign as suffering. This knowledge concerning striving and rebirth-linking is the knowledge of danger.
Vị ấy thấy sự sanh khởi, sự diễn tiến, và tướng là khổ; trí tuệ này về sự nỗ lực và sự tái sanh là trí về sự nguy hại.
Anuppādaṃ appavattaṃ, animittaṃ sukhanti ca;
Anāyūhanaṃ appaṭisandhiṃ, ñāṇaṃ santipade idaṃ.
One sees non-arising, non-continuation, and the signless as happiness. This knowledge concerning non-striving and non-rebirth-linking is the knowledge in the state of peace.
Và thấy sự không sanh khởi, sự không diễn tiến, và vô tướng là an lạc; trí tuệ này về sự không nỗ lực, không tái sanh, là trí về trạng thái an tịnh.
Idaṃ ādīnave ñāṇaṃ, pañcaṭhānesu jāyati;
Pañcaṭhāne santipade, dasa ñāṇe pajānāti;
Dvinnaṃ ñāṇānaṃ kusalatā, nānādiṭṭhīsu na kampatīti.
This knowledge of danger arises in five instances. In five instances regarding the state of peace, one discerningly knows ten knowledges. Through skill in the two knowledges, one does not waver among diverse views.
Trí về sự nguy hại này sanh khởi ở năm trường hợp; (trí) về trạng thái an tịnh (cũng sanh khởi) ở năm trường hợp. Vị ấy biết rõ mười trí. Do sự thiện xảo trong hai loại trí, vị ấy không bị lay động giữa các tà kiến khác nhau.
Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘bhayatupaṭṭhāne paññā ādīnave ñāṇaṃ’’.
It is knowledge in the sense of knowing, and wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: ‘The wisdom in what appears as fearful is the knowledge of danger.’
Cái ấy là trí (ñāṇa) theo ý nghĩa biết; là tuệ (paññā) theo ý nghĩa biết rõ. Do đó, được nói rằng: “Tuệ trong sự hiện khởi của điều đáng sợ là trí về sự nguy hại.”
Ādīnavañāṇaniddeso aṭṭhamo.
The eighth is the Exposition of the Knowledge of Danger.
Phần giải về trí về sự nguy hại, (chương) thứ tám.
9. Saṅkhārupekkhāñāṇaniddeso
9. The Exposition of the Knowledge of Equanimity towards Formations.
9. Phần giải về trí xả đối với các hành
54. Kathaṃ muñcitukamyatāpaṭisaṅkhāsantiṭṭhanā † paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ? Uppādaṃ muñcitukamyatāpaṭisaṅkhāsantiṭṭhanā † paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ, pavattaṃ muñcitukamyatāpaṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ, nimittaṃ muñcitukamyatā…pe… āyūhanaṃ muñcitukamyatā… paṭisandhiṃ muñcitukamyatā… gatiṃ muñcitukamyatā… nibbattiṃ muñcitukamyatā… upapattiṃ muñcitukamyatā… jātiṃ muñcitukamyatā… jaraṃ muñcitukamyatā… byādhiṃ muñcitukamyatā… maraṇaṃ muñcitukamyatā… sokaṃ muñcitukamyatā… paridevaṃ muñcitukamyatā…pe… upāyāsaṃ muñcitukamyatāpaṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ.
54. How is wisdom that stands firm by reflecting with the desire for release the knowledge of equanimity towards formations? Wisdom that stands firm by reflecting with the desire for release from arising is the knowledge of equanimity towards formations; wisdom that stands firm by reflecting with the desire for release from continuance is the knowledge of equanimity towards formations; ...from the sign... (and so on)... from striving... from rebirth-linking... from destination... from production... from re-arising... from birth... from aging... from illness... from death... from sorrow... from lamentation... (and so on)... wisdom that stands firm by reflecting with the desire for release from despair is the knowledge of equanimity towards formations.
54. Thế nào là tuệ, là sự vững trú sau khi thẩm sát với lòng mong muốn giải thoát, là trí về sự xả đối với các hành? Tuệ, là sự vững trú sau khi thẩm sát sự sanh khởi với lòng mong muốn giải thoát, là trí về sự xả đối với các hành; tuệ, là sự vững trú sau khi thẩm sát sự diễn tiến với lòng mong muốn giải thoát, là trí về sự xả đối với các hành; tuệ, là sự vững trú sau khi thẩm sát tướng với lòng mong muốn giải thoát... (v.v.)... sự nỗ lực... sự tái sanh... cõi đi... sự phát sanh... sự hiện hữu... sự sanh... sự già... sự bệnh... sự chết... sự sầu... sự bi... (v.v.)... tuệ, là sự vững trú sau khi thẩm sát sự khổ não với lòng mong muốn giải thoát, là trí về sự xả đối với các hành.
Uppādo dukkhanti – muñcitukamyatāpaṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ. Pavattaṃ dukkhanti – muñcitukamyatāpaṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ…pe… upāyāso dukkhanti – muñcitukamyatāpaṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ.
‘Arising is suffering’—wisdom that stands firm by reflecting with the desire for release is the knowledge of equanimity towards formations. ‘Continuance is suffering’... (and so on)... ‘Despair is suffering’—wisdom that stands firm by reflecting with the desire for release is the knowledge of equanimity towards formations.
‘Sự sanh khởi là khổ’ – tuệ, là sự vững trú sau khi thẩm sát với lòng mong muốn giải thoát, là trí về sự xả đối với các hành. ‘Sự diễn tiến là khổ’ – tuệ, là sự vững trú sau khi thẩm sát với lòng mong muốn giải thoát, là trí về sự xả đối với các hành... (v.v.)... ‘Sự khổ não là khổ’ – tuệ, là sự vững trú sau khi thẩm sát với lòng mong muốn giải thoát, là trí về sự xả đối với các hành.
Uppādo bhayanti – muñcitukamyatāpaṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ. Pavattaṃ bhayanti – muñcitukamyatāpaṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ…pe… upāyāso bhayanti – muñcitukamyatāpaṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ.
‘Arising is fear’—wisdom that stands firm by reflecting with the desire for release is the knowledge of equanimity towards formations. ‘Continuance is fear’... (and so on)... ‘Despair is fear’—wisdom that stands firm by reflecting with the desire for release is the knowledge of equanimity towards formations.
‘Sự sanh khởi là điều đáng sợ’ – tuệ, là sự vững trú sau khi thẩm sát với lòng mong muốn giải thoát, là trí về sự xả đối với các hành. ‘Sự diễn tiến là điều đáng sợ’ – tuệ, là sự vững trú sau khi thẩm sát với lòng mong muốn giải thoát, là trí về sự xả đối với các hành... (v.v.)... ‘Sự khổ não là điều đáng sợ’ – tuệ, là sự vững trú sau khi thẩm sát với lòng mong muốn giải thoát, là trí về sự xả đối với các hành.
Uppādo sāmisanti – muñcitukamyatāpaṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ. Pavattaṃ sāmisanti – muñcitukamyatāpaṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ…pe… upāyāso sāmisanti – muñcitukamyatāpaṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ.
‘Arising is worldly’—wisdom that stands firm by reflecting with the desire for release is the knowledge of equanimity towards formations. ‘Continuance is worldly’... (and so on)... ‘Despair is worldly’—wisdom that stands firm by reflecting with the desire for release is the knowledge of equanimity towards formations.
‘Sự sanh khởi là hữu lậu’ – tuệ, là sự vững trú sau khi thẩm sát với lòng mong muốn giải thoát, là trí về sự xả đối với các hành. ‘Sự diễn tiến là hữu lậu’ – tuệ, là sự vững trú sau khi thẩm sát với lòng mong muốn giải thoát, là trí về sự xả đối với các hành... (v.v.)... ‘Sự khổ não là hữu lậu’ – tuệ, là sự vững trú sau khi thẩm sát với lòng mong muốn giải thoát, là trí về sự xả đối với các hành.
Uppādo saṅkhārāti – muñcitukamyatāpaṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ. Pavattaṃ saṅkhārāti – muñcitukamyatāpaṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ…pe… upāyāso saṅkhārāti – muñcitukamyatāpaṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ.
‘Arising is formations’—thus, the wisdom that is well-established through reflection with the desire for release is the knowledge of equanimity towards formations. ‘Continuance is formations’… ‘Weariness is formations’—thus, the wisdom that is well-established through reflection with the desire for release is the knowledge of equanimity towards formations.
‘Sự sanh khởi là các hành’ – tuệ, là sự vững trú sau khi thẩm sát với lòng mong muốn giải thoát, là trí về sự xả đối với các hành. ‘Sự diễn tiến là các hành’ – tuệ, là sự vững trú sau khi thẩm sát với lòng mong muốn giải thoát, là trí về sự xả đối với các hành... (v.v.)... ‘Sự khổ não là các hành’ – tuệ, là sự vững trú sau khi thẩm sát với lòng mong muốn giải thoát, là trí về sự xả đối với các hành.
Uppādo saṅkhārā, te saṅkhāre ajjhupekkhatīti – saṅkhārupekkhā. Ye ca saṅkhārā yā ca upekkhā ubhopete saṅkhārā, te saṅkhāre ajjhupekkhatīti – saṅkhārupekkhā. Pavattaṃ saṅkhārā…pe… nimittaṃ saṅkhārā… āyūhanā saṅkhārā… paṭisandhi saṅkhārā… gati saṅkhārā… nibbatti saṅkhārā… upapatti saṅkhārā… jāti saṅkhārā… jarā saṅkhārā… byādhi saṅkhārā… maraṇaṃ saṅkhārā… soko saṅkhārā… paridevo saṅkhārā…pe… upāyāso saṅkhārā, te saṅkhāre ajjhupekkhatīti – saṅkhārupekkhā. Ye ca saṅkhārā yā ca upekkhā ubhopete saṅkhārā, te saṅkhāre ajjhupekkhatīti – saṅkhārupekkhā.
Arising is formations; because one regards those formations with equanimity, it is therefore equanimity towards formations. Both the formations and the equanimity are themselves formations; because one regards those formations with equanimity, it is therefore equanimity towards formations. Continuance is formations… the sign is formations… exertion is formations… rebirth-linking is formations… destination is formations… arising is formations… rebirth is formations… birth is formations… aging is formations… illness is formations… death is formations… sorrow is formations… lamentation is formations… weariness is formations; because one regards those formations with equanimity, it is therefore equanimity towards formations. Both the formations and the equanimity are themselves formations; because one regards those formations with equanimity, it is therefore equanimity towards formations.
Sự sanh khởi là các hành, vị ấy xả đối với các hành ấy – nên gọi là xả đối với các hành. Và các hành nào, và sự xả nào, cả hai điều ấy là các hành, vị ấy xả đối với các hành ấy – nên gọi là xả đối với các hành. Sự diễn tiến là các hành... (v.v.)... tướng là các hành... sự nỗ lực là các hành... sự tái sanh là các hành... cõi đi là các hành... sự phát sanh là các hành... sự hiện hữu là các hành... sự sanh là các hành... sự già là các hành... sự bệnh là các hành... sự chết là các hành... sự sầu là các hành... sự bi là các hành... (v.v.)... sự khổ não là các hành, vị ấy xả đối với các hành ấy – nên gọi là xả đối với các hành. Và các hành nào, và sự xả nào, cả hai điều ấy là các hành, vị ấy xả đối với các hành ấy – nên gọi là xả đối với các hành.
55. Katihākārehi saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro hoti? Aṭṭhahākārehi saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro hoti. Puthujjanassa katihākārehi saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro hoti? Sekkhassa katihākārehi saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro hoti? Vītarāgassa katihākārehi saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro hoti? Puthujjanassa dvīhākārehi saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro hoti. Sekkhassa tīhākārehi saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro hoti. Vītarāgassa tīhākārehi saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro hoti.
55. In how many ways is the mind directed to equanimity towards formations? The mind is directed to equanimity towards formations in eight ways. In how many ways is the mind of an ordinary person directed to equanimity towards formations? In how many ways is the mind of a trainee directed to equanimity towards formations? In how many ways is the mind of one free from lust directed to equanimity towards formations? The mind of an ordinary person is directed to equanimity towards formations in two ways. The mind of a trainee is directed to equanimity towards formations in three ways. The mind of one free from lust is directed to equanimity towards formations in three ways.
55. Do bao nhiêu cách thức mà có sự hướng tâm đến xả đối với các hành? Do tám cách thức mà có sự hướng tâm đến xả đối với các hành. Đối với phàm nhân, do bao nhiêu cách thức mà có sự hướng tâm đến xả đối với các hành? Đối với bậc hữu học, do bao nhiêu cách thức mà có sự hướng tâm đến xả đối với các hành? Đối với bậc đã ly tham, do bao nhiêu cách thức mà có sự hướng tâm đến xả đối với các hành? Đối với phàm nhân, do hai cách thức mà có sự hướng tâm đến xả đối với các hành. Đối với bậc hữu học, do ba cách thức mà có sự hướng tâm đến xả đối với các hành. Đối với bậc đã ly tham, do ba cách thức mà có sự hướng tâm đến xả đối với các hành.
Puthujjanassa katamehi dvīhākārehi saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro hoti? Puthujjano saṅkhārupekkhaṃ abhinandati vā vipassati vā. Puthujjanassa imehi dvīhākārehi saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro hoti. Sekkhassa katamehi tīhākārehi saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro hoti? Sekkho saṅkhārupekkhaṃ abhinandati vā vipassati vā paṭisaṅkhāya vā phalasamāpattiṃ samāpajjati. Sekkhassa imehi tīhākārehi saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro hoti. Vītarāgassa katamehi tīhākārehi saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro hoti? Vītarāgo saṅkhārupekkhaṃ vipassati vā paṭisaṅkhāya vā phalasamāpattiṃ samāpajjati, tadajjhupekkhitvā suññatavihārena vā animittavihārena vā appaṇihitavihārena vā viharati. Vītarāgassa imehi tīhākārehi saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro hoti.
By what two aspects does an ordinary person direct the mind toward equanimity regarding formations? An ordinary person either delights in equanimity regarding formations or sees it with insight. By these two aspects, an ordinary person directs the mind toward equanimity regarding formations. By what three aspects does a trainee direct the mind toward equanimity regarding formations? A trainee either delights in equanimity regarding formations, sees it with insight, or, having reflected, enters into the fruition attainment. By these three aspects, a trainee directs the mind toward equanimity regarding formations. By what three aspects does one free from passion direct the mind toward equanimity regarding formations? One free from passion either sees equanimity regarding formations with insight, or, having reflected, enters into the fruition attainment, or, having regarded that with equanimity, dwells by way of the dwelling in emptiness, the signless dwelling, or the desireless dwelling. By these three aspects, one free from passion directs the mind toward equanimity regarding formations.
Đối với phàm nhân, do hai cách thức nào mà có sự hướng tâm đến xả đối với các hành? Phàm nhân hoặc là hoan hỷ, hoặc là quán sát sự xả đối với các hành. Đối với phàm nhân, do hai cách thức này mà có sự hướng tâm đến xả đối với các hành. Đối với bậc hữu học, do ba cách thức nào mà có sự hướng tâm đến xả đối với các hành? Bậc hữu học hoặc là hoan hỷ, hoặc là quán sát sự xả đối với các hành, hoặc là sau khi thẩm sát, nhập quả định. Đối với bậc hữu học, do ba cách thức này mà có sự hướng tâm đến xả đối với các hành. Đối với bậc đã ly tham, do ba cách thức nào mà có sự hướng tâm đến xả đối với các hành? Bậc đã ly tham hoặc là quán sát sự xả đối với các hành, hoặc là sau khi thẩm sát, nhập quả định, sau khi xả đối với điều ấy, vị ấy trú bằng không tánh trú, hoặc vô tướng trú, hoặc vô nguyện trú. Đối với bậc đã ly tham, do ba cách thức này mà có sự hướng tâm đến xả đối với các hành.
56. Kathaṃ puthujjanassa ca sekkhassa ca saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro ekattaṃ hoti? Puthujjanassa saṅkhārupekkhaṃ abhinandato cittaṃ kilissati, bhāvanāya paripantho hoti, paṭivedhassa antarāyo hoti, āyatiṃ paṭisandhiyā paccayo hoti. Sekkhassapi saṅkhārupekkhaṃ abhinandato cittaṃ kilissati, bhāvanāya paripantho hoti, uttaripaṭivedhassa antarāyo hoti, āyatiṃ paṭisandhiyā paccayo hoti. Evaṃ puthujjanassa ca sekkhassa ca saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro ekattaṃ hoti abhinandaṭṭhena.
56. How is the directing of the mind toward equanimity regarding formations the same for an ordinary person and for a trainee? When an ordinary person delights in equanimity regarding formations, the mind is defiled, it is an obstruction to development, an obstacle to penetration, and a condition for future rebirth-linking. When a trainee, too, delights in equanimity regarding formations, the mind is defiled, it is an obstruction to development, an obstacle to further penetration, and a condition for future rebirth-linking. Thus, the directing of the mind toward equanimity regarding formations is the same for an ordinary person and for a trainee in the sense of delighting.
56. Làm thế nào sự hướng tâm về hành xả đối với phàm phu và hữu học là đồng nhất? Đối với phàm phu, do hoan hỷ trong hành xả, tâm bị ô nhiễm, trở thành chướng ngại cho sự tu tập, trở thành mối nguy cho sự chứng ngộ, trở thành duyên cho sự tái sanh trong tương lai. Đối với hữu học cũng vậy, do hoan hỷ trong hành xả, tâm bị ô nhiễm, trở thành chướng ngại cho sự tu tập, trở thành mối nguy cho sự chứng ngộ cao hơn, trở thành duyên cho sự tái sanh trong tương lai. Như vậy, sự hướng tâm về hành xả đối với phàm phu và hữu học là đồng nhất do bởi ý nghĩa hoan hỷ.
Kathaṃ puthujjanassa ca sekkhassa ca vītarāgassa ca saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro ekattaṃ hoti? Puthujjano saṅkhārupekkhaṃ aniccatopi dukkhatopi anattatopi vipassati. Sekkhopi saṅkhārupekkhaṃ aniccatopi dukkhatopi anattatopi vipassati. Vītarāgopi saṅkhārupekkhaṃ aniccatopi dukkhatopi anattatopi vipassati. Evaṃ puthujjanassa ca sekkhassa ca vītarāgassa ca saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro ekattaṃ hoti anupassanaṭṭhena.
How is the mind’s inclination towards equanimity regarding formations the same for an ordinary person, a trainee, and one free from lust? An ordinary person contemplates equanimity regarding formations as impermanent, as suffering, and as non-self. A trainee, too, contemplates equanimity regarding formations as impermanent, as suffering, and as non-self. One free from lust, too, contemplates equanimity regarding formations as impermanent, as suffering, and as non-self. Thus, the mind’s inclination towards equanimity regarding formations is the same for an ordinary person, a trainee, and one free from lust in the sense of repeated contemplation.
Làm thế nào sự hướng tâm về hành xả đối với phàm phu, hữu học, và bậc ly tham là đồng nhất? Phàm phu quán thấy hành xả là vô thường, là khổ, là vô ngã. Hữu học cũng quán thấy hành xả là vô thường, là khổ, là vô ngã. Bậc ly tham cũng quán thấy hành xả là vô thường, là khổ, là vô ngã. Như vậy, sự hướng tâm về hành xả đối với phàm phu, hữu học, và bậc ly tham là đồng nhất do bởi ý nghĩa tùy quán.
Kathaṃ puthujjanassa ca sekkhassa ca vītarāgassa ca saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro nānattaṃ hoti? Puthujjanassa saṅkhārupekkhā kusalā hoti. Sekkhassapi saṅkhārupekkhā kusalā hoti. Vītarāgassa saṅkhārupekkhā abyākatā hoti. Evaṃ puthujjanassa ca sekkhassa ca vītarāgassa ca saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro nānattaṃ hoti kusalābyākataṭṭhena.
How does the mind’s inclination towards equanimity regarding formations differ for an ordinary person, a trainee, and one free from lust? For an ordinary person, equanimity regarding formations is wholesome. For a trainee, too, equanimity regarding formations is wholesome. For one free from lust, equanimity regarding formations is indeterminate. Thus, the mind’s inclination towards equanimity regarding formations differs for an ordinary person, a trainee, and one free from lust in the sense of being wholesome and indeterminate.
Làm thế nào sự hướng tâm về hành xả đối với phàm phu, hữu học, và bậc ly tham là khác biệt? Đối với phàm phu, hành xả là thiện. Đối với hữu học, hành xả cũng là thiện. Đối với bậc ly tham, hành xả là vô ký. Như vậy, sự hướng tâm về hành xả đối với phàm phu, hữu học, và bậc ly tham là khác biệt do bởi ý nghĩa thiện và vô ký.
Kathaṃ puthujjanassa ca sekkhassa ca vītarāgassa ca saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro nānattaṃ hoti? Puthujjanassa saṅkhārupekkhā kiñcikāle suviditā hoti, kiñcikāle na suviditā hoti. Sekkhassapi saṅkhārupekkhā kiñcikāle suviditā hoti, kiñcikāle na suviditā hoti. Vītarāgassa saṅkhārupekkhā accantaṃ suviditā hoti. Evaṃ puthujjanassa ca sekkhassa ca vītarāgassa ca saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro nānattaṃ hoti viditaṭṭhena ca aviditaṭṭhena ca.
How does the mind’s inclination towards equanimity regarding formations differ for an ordinary person, a trainee, and one free from lust? For an ordinary person, equanimity regarding formations is at times well-known and at times not well-known. For a trainee, too, equanimity regarding formations is at times well-known and at times not well-known. For one free from lust, equanimity regarding formations is perfectly well-known. Thus, the mind’s inclination towards equanimity regarding formations differs for an ordinary person, a trainee, and one free from lust in the sense of being known and not known.
Làm thế nào sự hướng tâm về hành xả đối với phàm phu, hữu học, và bậc ly tham là khác biệt? Đối với phàm phu, hành xả có lúc được biết rõ, có lúc không được biết rõ. Đối với hữu học, hành xả cũng có lúc được biết rõ, có lúc không được biết rõ. Đối với bậc ly tham, hành xả luôn luôn được biết rõ. Như vậy, sự hướng tâm về hành xả đối với phàm phu, hữu học, và bậc ly tham là khác biệt do bởi ý nghĩa được biết rõ và không được biết rõ.
Kathaṃ puthujjanassa ca sekkhassa ca vītarāgassa ca saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro nānattaṃ hoti? Puthujjano saṅkhārupekkhaṃ atittattā vipassati. Sekkhopi saṅkhārupekkhaṃ atittattā vipassati. Vītarāgo saṅkhārupekkhaṃ tittattā vipassati. Evaṃ puthujjanassa ca sekkhassa ca vītarāgassa ca saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro nānattaṃ hoti tittaṭṭhena ca atittaṭṭhena ca.
How does the directing of the mind with equanimity towards formations differ for an ordinary person, a trainee, and one free from lust? An ordinary person contemplates equanimity towards formations out of dissatisfaction. A trainee, too, contemplates equanimity towards formations out of dissatisfaction. One free from lust contemplates equanimity towards formations out of satisfaction. Thus, the directing of the mind with equanimity towards formations differs for an ordinary person, a trainee, and one free from lust in the sense of satisfaction and dissatisfaction.
Làm thế nào sự hướng tâm về hành xả đối với phàm phu, hữu học, và bậc ly tham là khác biệt? Phàm phu quán thấy hành xả do vì chưa thỏa mãn. Hữu học cũng quán thấy hành xả do vì chưa thỏa mãn. Bậc ly tham quán thấy hành xả do vì đã thỏa mãn. Như vậy, sự hướng tâm về hành xả đối với phàm phu, hữu học, và bậc ly tham là khác biệt do bởi ý nghĩa đã thỏa mãn và chưa thỏa mãn.
Kathaṃ puthujjanassa ca sekkhassa ca vītarāgassa ca saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro nānattaṃ hoti? Puthujjano saṅkhārupekkhaṃ tiṇṇaṃ saṃyojanānaṃ pahānāya sotāpattimaggaṃ paṭilābhatthāya vipassati. Sekkho saṅkhārupekkhaṃ tiṇṇaṃ saññojanānaṃ pahīnattā uttaripaṭilābhatthāya vipassati. Vītarāgo saṅkhārupekkhaṃ sabbakilesānaṃ pahīnattā diṭṭhadhammasukhavihāratthāya vipassati. Evaṃ puthujjanassa ca sekkhassa ca vītarāgassa ca saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro nānattaṃ hoti pahīnaṭṭhena ca appahīnaṭṭhena ca.
How does the directing of the mind with equanimity towards formations differ for an ordinary person, a trainee, and one free from lust? An ordinary person contemplates equanimity towards formations for the sake of abandoning the three fetters and attaining the path of stream-entry. A trainee, having abandoned the three fetters, contemplates equanimity towards formations for the sake of a higher attainment. One free from lust, having abandoned all defilements, contemplates equanimity towards formations for the sake of dwelling happily in this very life. Thus, the directing of the mind with equanimity towards formations differs for an ordinary person, a trainee, and one free from lust in terms of what has been abandoned and what has not been abandoned.
Làm thế nào sự hướng tâm về hành xả đối với phàm phu, hữu học, và bậc ly tham là khác biệt? Phàm phu quán thấy hành xả để đoạn trừ ba kiết sử, vì mục đích chứng đắc Tu-đà-hoàn đạo. Vị hữu học, do đã đoạn trừ ba kiết sử, quán thấy hành xả vì mục đích chứng đắc đạo quả cao hơn. Bậc ly tham, do đã đoạn trừ tất cả phiền não, quán thấy hành xả vì mục đích hiện tại lạc trú. Như vậy, sự hướng tâm về hành xả đối với phàm phu, hữu học, và bậc ly tham là khác biệt do bởi ý nghĩa đã đoạn trừ và chưa đoạn trừ.
Kathaṃ sekkhassa ca vītarāgassa ca saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro nānattaṃ hoti? Sekkho saṅkhārupekkhaṃ abhinandati vā vipassati vā paṭisaṅkhāya vā phalasamāpattiṃ samāpajjati. Vītarāgo saṅkhārupekkhaṃ vipassati vā paṭisaṅkhāya vā phalasamāpattiṃ samāpajjati, tadajjhupekkhitvā suññatavihārena vā animittavihārena vā appaṇihitavihārena vā viharati. Evaṃ sekkhassa ca vītarāgassa ca saṅkhārupekkhāya cittassa abhinīhāro nānattaṃ hoti vihārasamāpattaṭṭhena.
How does the directing of the mind with equanimity towards formations differ for a trainee and one free from lust? A trainee delights in equanimity towards formations, or contemplates it, or, after reflecting, enters upon the attainment of fruition. One free from lust contemplates equanimity towards formations or, after reflecting, enters upon the attainment of fruition, and then, having regarded it with equanimity, dwells by way of the dwelling in emptiness, or the signless dwelling, or the desireless dwelling. Thus, the directing of the mind with equanimity towards formations differs for a trainee and one free from lust in terms of the dwelling and the attainment.
Làm thế nào sự hướng tâm về hành xả đối với hữu học và bậc ly tham là khác biệt? Vị hữu học hoặc là hoan hỷ trong hành xả, hoặc là quán thấy, hoặc là sau khi thẩm sát, nhập quả định. Bậc ly tham hoặc là quán thấy hành xả, hoặc là sau khi thẩm sát, nhập quả định, và sau khi xả đối với trạng thái ấy, vị ấy trú bằng không tánh trú, hoặc vô tướng trú, hoặc vô nguyện trú. Như vậy, sự hướng tâm về hành xả đối với hữu học và bậc ly tham là khác biệt do bởi ý nghĩa trú và chứng đắc.
57. Kati saṅkhārupekkhā samathavasena uppajjanti? Kati saṅkhārupekkhā vipassanāvasena uppajjanti? Aṭṭha saṅkhārupekkhā samathavasena uppajjanti. Dasa saṅkhārupekkhā vipassanāvasena uppajjanti.
57. How many equanimities concerning formations arise by way of serenity? How many equanimities concerning formations arise by way of insight? Eight equanimities concerning formations arise by way of serenity. Ten equanimities concerning formations arise by way of insight.
57. Có bao nhiêu hành xả sanh khởi theo cách của chỉ? Có bao nhiêu hành xả sanh khởi theo cách của quán? Có tám hành xả sanh khởi theo cách của chỉ. Có mười hành xả sanh khởi theo cách của quán.
Katamā aṭṭha saṅkhārupekkhā samathavasena uppajjanti? Paṭhamaṃ jhānaṃ paṭilābhatthāya nīvaraṇe paṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ. Dutiyaṃ jhānaṃ paṭilābhatthāya vitakkavicāre paṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ. Tatiyaṃ jhānaṃ paṭilābhatthāya pītiṃ paṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ. Catutthaṃ jhānaṃ paṭilābhatthāya sukhadukkhe paṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ. Ākāsānañcāyatanasamāpattiṃ paṭilābhatthāya rūpasaññaṃ paṭighasaññaṃ nānattasaññaṃ paṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ. Viññāṇañcāyatanasamāpattiṃ paṭilābhatthāya ākāsānañcāyatanasaññaṃ paṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ. Ākiñcaññāyatanasamāpattiṃ paṭilābhatthāya viññāṇañcāyatanasaññaṃ paṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ. Nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiṃ paṭilābhatthāya ākiñcaññāyatanasaññaṃ paṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ. Imā aṭṭha saṅkhārupekkhā samathavasena uppajjanti.
Which are the eight equanimities concerning formations that arise by way of serenity? The wisdom that stands firm by reflecting on the hindrances for the sake of attaining the first jhāna is the knowledge of equanimity concerning formations. The wisdom that stands firm by reflecting on thought and examination for the sake of attaining the second jhāna is the knowledge of equanimity concerning formations. The wisdom that stands firm by reflecting on rapture for the sake of attaining the third jhāna is the knowledge of equanimity concerning formations. The wisdom that stands firm by reflecting on pleasure and pain for the sake of attaining the fourth jhāna is the knowledge of equanimity concerning formations. The wisdom that stands firm by reflecting on perception of form, perception of resistance, and perception of diversity for the sake of attaining the attainment of the base of the infinity of space is the knowledge of equanimity concerning formations. The wisdom that stands firm by reflecting on the perception of the base of the infinity of space for the sake of attaining the attainment of the base of the infinity of consciousness is the knowledge of equanimity concerning formations. The wisdom that stands firm by reflecting on the perception of the base of the infinity of consciousness for the sake of attaining the attainment of the base of nothingness is the knowledge of equanimity concerning formations. The wisdom that stands firm by reflecting on the perception of the base of nothingness for the sake of attaining the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception is the knowledge of equanimity concerning formations. These eight equanimities concerning formations arise by way of serenity.
Thế nào là tám trí tuệ xả hành sanh khởi do năng lực của chỉ tịnh? Để chứng đắc Sơ thiền, trí tuệ quán xét các triền cái và an trú là trí tuệ trong các trí tuệ xả hành. Để chứng đắc Nhị thiền, trí tuệ quán xét tầm và tứ và an trú là trí tuệ trong các trí tuệ xả hành. Để chứng đắc Tam thiền, trí tuệ quán xét hỷ và an trú là trí tuệ trong các trí tuệ xả hành. Để chứng đắc Tứ thiền, trí tuệ quán xét lạc và khổ và an trú là trí tuệ trong các trí tuệ xả hành. Để chứng đắc Không vô biên xứ định, trí tuệ quán xét sắc tưởng, đối ngại tưởng, các loại tưởng khác nhau và an trú là trí tuệ trong các trí tuệ xả hành. Để chứng đắc Thức vô biên xứ định, trí tuệ quán xét tưởng Không vô biên xứ và an trú là trí tuệ trong các trí tuệ xả hành. Để chứng đắc Vô sở hữu xứ định, trí tuệ quán xét tưởng Thức vô biên xứ và an trú là trí tuệ trong các trí tuệ xả hành. Để chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ định, trí tuệ quán xét tưởng Vô sở hữu xứ và an trú là trí tuệ trong các trí tuệ xả hành. Tám trí tuệ xả hành này sanh khởi do năng lực của chỉ tịnh.
Katamā dasa saṅkhārupekkhā vipassanāvasena uppajjanti? Sotāpattimaggaṃ paṭilābhatthāya uppādaṃ pavattaṃ nimittaṃ āyūhanaṃ paṭisandhiṃ gatiṃ nibbattiṃ upapattiṃ jātiṃ jaraṃ byādhiṃ maraṇaṃ sokaṃ paridevaṃ upāyāsaṃ paṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ. Sotāpattiphalasamāpattatthāya uppādaṃ pavattaṃ nimittaṃ āyūhanaṃ paṭisandhiṃ…pe… paṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ. Sakadāgāmimaggaṃ paṭilābhatthāya…pe… sakadāgāmiphalasamāpattatthāya…pe… anāgāmimaggaṃ paṭilābhatthāya…pe… anāgāmiphalasamāpattatthāya …pe… arahattamaggaṃ paṭilābhatthāya uppādaṃ pavattaṃ nimittaṃ āyūhanaṃ paṭisandhiṃ gatiṃ nibbattiṃ upapattiṃ jātiṃ jaraṃ byādhiṃ maraṇaṃ sokaṃ paridevaṃ upāyāsaṃ paṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ. Arahattaphalasamāpattatthāya…pe… suññatavihārasamāpattatthāya…pe… animittavihārasamāpattatthāya uppādaṃ pavattaṃ nimittaṃ āyūhanaṃ paṭisandhiṃ…pe… paṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ. Imā dasa saṅkhārupekkhā vipassanāvasena uppajjanti.
Which ten equanimities concerning formations arise by way of insight? The wisdom that stands firm by reflecting on arising, occurrence, the sign, accumulation, rebirth-linking, destination, production, origination, birth, aging, sickness, death, sorrow, lamentation, and despair for the sake of attaining the path of stream-entry is the knowledge of equanimity concerning formations. The wisdom that stands firm by reflecting on arising, occurrence, the sign, accumulation, rebirth-linking… (and so on) …for the sake of attaining the fruition-attainment of stream-entry is the knowledge of equanimity concerning formations. …for the sake of attaining the path of the once-returner… (and so on) …for the sake of attaining the fruition-attainment of the once-returner… (and so on) …for the sake of attaining the path of the non-returner… (and so on) …for the sake of attaining the fruition-attainment of the non-returner… (and so on) …The wisdom that stands firm by reflecting on arising, occurrence, the sign, accumulation, rebirth-linking, destination, production, origination, birth, aging, sickness, death, sorrow, lamentation, and despair for the sake of attaining the path of arahantship is the knowledge of equanimity concerning formations. …for the sake of attaining the fruition-attainment of arahantship… (and so on) …for the sake of attaining the fruition-attainment of the dwelling in emptiness… (and so on) …for the sake of attaining the fruition-attainment of the dwelling in signlessness, the wisdom that stands firm by reflecting on arising, occurrence, the sign, accumulation, rebirth-linking… (and so on) …is the knowledge of equanimity concerning formations. These ten equanimities concerning formations arise by way of insight.
Thế nào là mười trí tuệ xả hành sanh khởi do năng lực của minh sát? Để chứng đắc đạo Tu-đà-hoàn, trí tuệ quán xét sự sanh, sự diễn tiến, tướng, sự cố gắng, sự tái sanh, thú, sự thành tựu, sự sanh khởi, sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, não và an trú là trí tuệ trong các trí tuệ xả hành. Để chứng đắc quả Tu-đà-hoàn định, trí tuệ quán xét sự sanh, sự diễn tiến, tướng, sự cố gắng, sự tái sanh... (v.v.)... và an trú là trí tuệ trong các trí tuệ xả hành. Để chứng đắc đạo Tư-đà-hàm... (v.v.)... Để chứng đắc quả Tư-đà-hàm định... (v.v.)... Để chứng đắc đạo A-na-hàm... (v.v.)... Để chứng đắc quả A-na-hàm định... (v.v.)... Để chứng đắc đạo A-la-hán, trí tuệ quán xét sự sanh, sự diễn tiến, tướng, sự cố gắng, sự tái sanh, thú, sự thành tựu, sự sanh khởi, sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, não và an trú là trí tuệ trong các trí tuệ xả hành. Để chứng đắc quả A-la-hán định... (v.v.)... Để chứng đắc Không trú định... (v.v.)... Để chứng đắc Vô tướng trú định, trí tuệ quán xét sự sanh, sự diễn tiến, tướng, sự cố gắng, sự tái sanh... (v.v.)... và an trú là trí tuệ trong các trí tuệ xả hành. Mười trí tuệ xả hành này sanh khởi do năng lực của minh sát.
58. Kati saṅkhārupekkhā kusalā, kati akusalā, kati abyākatā? Pannarasa saṅkhārupekkhā kusalā, tisso saṅkhārupekkhā abyākatā. Natthi saṅkhārupekkhā akusalā.
58. How many equanimities concerning formations are wholesome, how many unwholesome, how many indeterminate? Fifteen equanimities concerning formations are wholesome, and three are indeterminate. There are no unwholesome equanimities concerning formations.
58. Bao nhiêu trí tuệ xả hành là thiện, bao nhiêu là bất thiện, bao nhiêu là vô ký? Mười lăm trí tuệ xả hành là thiện, ba trí tuệ xả hành là vô ký. Không có trí tuệ xả hành nào là bất thiện.
Paṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā, aṭṭha cittassa gocarā;
Puthujjanassa dve honti, tayo sekkhassa gocarā;
Tayo ca vītarāgassa, yehi cittaṃ vivaṭṭati.
The wisdom that stands firm by reflecting has eight ranges for the mind; Two are for the ordinary person, three are the trainee’s range; And three for one free from lust, by which the mind turns away.
Trí tuệ quán xét và an trú, tám là đối tượng của tâm; hai là của phàm phu, ba là đối tượng của bậc hữu học; và ba là của bậc vô tham, nhờ đó tâm được thoát ly.
Aṭṭha samādhissa paccayā, dasa ñāṇassa gocarā;
Aṭṭhārasa saṅkhārupekkhā, tiṇṇaṃ vimokkhāna paccayā.
Eight are conditions for concentration, ten are the range of knowledge; The eighteen equanimities concerning formations are conditions for the three liberations.
Tám là duyên cho định, mười là đối tượng của trí; mười tám trí tuệ xả hành, là duyên cho ba giải thoát.
Ime aṭṭhārasākārā, paññā yassa pariccitā;
Kusalo saṅkhārupekkhāsu, nānādiṭṭhīsu na kampatīti.
One by whose wisdom are discerned these eighteen aspects in full, Is skilled in equanimity concerning formations, and by diverse views is not shaken.
Người nào có trí tuệ thuần thục trong mười tám phương diện này, thiện xảo trong các trí tuệ xả hành, thì không dao động trong các tà kiến khác nhau.
Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘muñcitukamyatāpaṭisaṅkhāsantiṭṭhanā paññā saṅkhārupekkhāsu ñāṇaṃ’’.
It is knowledge in the sense of knowing; it is wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: ‘The wisdom that is the establishment of reflection on the desire for deliverance is knowledge in equanimity concerning formations.’
Nó là trí (ñāṇa) vì có nghĩa là biết, là tuệ (paññā) vì có nghĩa là biết rõ. Do đó được nói rằng: ‘Trí tuệ quán xét và an trú với ước muốn giải thoát là trí tuệ trong các trí tuệ xả hành’.
Saṅkhārupekkhāñāṇaniddeso navamo.
Ninth: The Exposition of the Knowledge of Equanimity concerning Formations.
Phần giải về trí tuệ xả hành là thứ chín.
10. Gotrabhuñāṇaniddeso
10. Exposition of the Change-of-Lineage Knowledge
10. Phần giải về trí chuyển tộc
59. Kathaṃ bahiddhā vuṭṭhānavivaṭṭane paññā gotrabhuñāṇaṃ? Uppādaṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Pavattaṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Nimittaṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Āyūhanaṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Paṭisandhiṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Gatiṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Nibbattiṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Upapattiṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Jātiṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Jaraṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Byādhiṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Maraṇaṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Sokaṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Paridevaṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Upāyāsaṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Bahiddhā saṅkhāranimittaṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Anuppādaṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Appavattaṃ pakkhandatīti – gotrabhu…pe… nirodhaṃ nibbānaṃ pakkhandatīti – gotrabhu.
59. How is the wisdom in emerging from and turning away from the external, change-of-lineage knowledge? It overcomes arising, thus it is change-of-lineage. It overcomes occurrence, thus it is change-of-lineage. It overcomes the sign, thus it is change-of-lineage. It overcomes accumulation, thus it is change-of-lineage. It overcomes rebirth-linking, thus it is change-of-lineage. It overcomes destination, thus it is change-of-lineage. It overcomes generation, thus it is change-of-lineage. It overcomes rebirth, thus it is change-of-lineage. It overcomes birth, thus it is change-of-lineage. It overcomes aging, thus it is change-of-lineage. It overcomes illness, thus it is change-of-lineage. It overcomes death, thus it is change-of-lineage. It overcomes sorrow, thus it is change-of-lineage. It overcomes lamentation, thus it is change-of-lineage. It overcomes despair, thus it is change-of-lineage. It overcomes the external sign of formations, thus it is change-of-lineage. It enters upon non-arising, thus it is change-of-lineage. It enters upon non-occurrence, thus it is change-of-lineage… and so on… it enters upon cessation, Nibbāna, thus it is change-of-lineage.
59. Thế nào trí tuệ trong sự xuất khởi và thoát ly khỏi bên ngoài là trí chuyển tộc? Chế ngự sự sanh, nên là chuyển tộc. Chế ngự sự diễn tiến, nên là chuyển tộc. Chế ngự tướng, nên là chuyển tộc. Chế ngự sự cố gắng, nên là chuyển tộc. Chế ngự sự tái sanh, nên là chuyển tộc. Chế ngự thú, nên là chuyển tộc. Chế ngự sự thành tựu, nên là chuyển tộc. Chế ngự sự sanh khởi, nên là chuyển tộc. Chế ngự sanh, nên là chuyển tộc. Chế ngự già, nên là chuyển tộc. Chế ngự bệnh, nên là chuyển tộc. Chế ngự chết, nên là chuyển tộc. Chế ngự sầu, nên là chuyển tộc. Chế ngự bi, nên là chuyển tộc. Chế ngự não, nên là chuyển tộc. Chế ngự tướng của hành ở bên ngoài, nên là chuyển tộc. Lao vào trạng thái vô sanh, nên là chuyển tộc. Lao vào trạng thái không diễn tiến, nên là chuyển tộc... (v.v.)... Lao vào sự diệt, Níp-bàn, nên là chuyển tộc.
Uppādaṃ abhibhuyyitvā anuppādaṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Pavattaṃ abhibhuyyitvā appavattaṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Nimittaṃ abhibhuyyitvā animittaṃ pakkhandatīti – gotrabhu …pe… bahiddhā saṅkhāranimittaṃ abhibhuyyitvā nirodhaṃ nibbānaṃ pakkhandatīti – gotrabhu.
Having overcome arising, it enters upon non-arising—thus it is change-of-lineage. Having overcome occurrence, it enters upon non-occurrence—thus it is change-of-lineage. Having overcome the sign, it enters upon the signless—thus it is change-of-lineage… and so on… having overcome the external sign of formations, it enters upon cessation, Nibbāna—thus it is change-of-lineage.
Sau khi đã chế ngự sự sanh, lao vào trạng thái vô sanh, nên là chuyển tộc. Sau khi đã chế ngự sự diễn tiến, lao vào trạng thái không diễn tiến, nên là chuyển tộc. Sau khi đã chế ngự tướng, lao vào trạng thái vô tướng, nên là chuyển tộc ... (v.v.) ... Sau khi đã chế ngự tướng của hành ở bên ngoài, lao vào sự diệt, Níp-bàn, nên là chuyển tộc.
Uppādā vuṭṭhātīti – gotrabhu. Pavattā vuṭṭhātīti – gotrabhu. Nimittā vuṭṭhātīti – gotrabhu. Āyūhanā vuṭṭhātīti – gotrabhu. Paṭisandhiyā vuṭṭhātīti – gotrabhu. Gatiyā vuṭṭhātīti – gotrabhu. Nibbattiyā vuṭṭhātīti – gotrabhu. Upapattiyā vuṭṭhātīti – gotrabhu. Jātiyā vuṭṭhātīti – gotrabhu. Jarāya vuṭṭhātīti – gotrabhu. Byādhimhā vuṭṭhātīti – gotrabhu. Maraṇā vuṭṭhātīti – gotrabhu. Sokā vuṭṭhātīti – gotrabhu. Paridevā vuṭṭhātīti – gotrabhu. Upāyāsā vuṭṭhātīti – gotrabhu. Bahiddhā saṅkhāranimittā vuṭṭhātīti – gotrabhu. Anuppādaṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Appavattaṃ pakkhandatīti – gotrabhu…pe… nirodhaṃ nibbānaṃ pakkhandatīti – gotrabhu.
It emerges from arising, thus it is change-of-lineage. It emerges from occurrence, thus it is change-of-lineage. It emerges from the sign, thus it is change-of-lineage. It emerges from striving, thus it is change-of-lineage. It emerges from rebirth-linking, thus it is change-of-lineage. It emerges from destination, thus it is change-of-lineage. It emerges from generation, thus it is change-of-lineage. It emerges from rebirth, thus it is change-of-lineage. It emerges from birth, thus it is change-of-lineage. It emerges from aging, thus it is change-of-lineage. It emerges from illness, thus it is change-of-lineage. It emerges from death, thus it is change-of-lineage. It emerges from sorrow, thus it is change-of-lineage. It emerges from lamentation, thus it is change-of-lineage. It emerges from despair, thus it is change-of-lineage. It emerges from the external sign of formations, thus it is change-of-lineage. It enters upon non-arising, thus it is change-of-lineage. It enters upon non-occurrence, thus it is change-of-lineage… and so on… it enters upon cessation, Nibbāna, thus it is change-of-lineage.
Vượt ra khỏi sự sanh khởi, vì vậy được gọi là gotrabhū. Vượt ra khỏi sự diễn tiến, vì vậy được gọi là gotrabhū. Vượt ra khỏi tướng, vì vậy được gọi là gotrabhū. Vượt ra khỏi sự nỗ lực tạo tác, vì vậy được gọi là gotrabhū. Vượt ra khỏi sự tái sanh, vì vậy được gọi là gotrabhū. Vượt ra khỏi cõi sanh, vì vậy được gọi là gotrabhū. Vượt ra khỏi sự hình thành, vì vậy được gọi là gotrabhū. Vượt ra khỏi sự hiện hữu, vì vậy được gọi là gotrabhū. Vượt ra khỏi sự sanh, vì vậy được gọi là gotrabhū. Vượt ra khỏi sự già, vì vậy được gọi là gotrabhū. Vượt ra khỏi bệnh, vì vậy được gọi là gotrabhū. Vượt ra khỏi sự chết, vì vậy được gọi là gotrabhū. Vượt ra khỏi sầu, vì vậy được gọi là gotrabhū. Vượt ra khỏi bi, vì vậy được gọi là gotrabhū. Vượt ra khỏi não, vì vậy được gọi là gotrabhū. Vượt ra khỏi tướng hành ở bên ngoài, vì vậy được gọi là gotrabhū. Lao vào trạng thái không sanh khởi, vì vậy được gọi là gotrabhū. Lao vào trạng thái không diễn tiến, vì vậy được gọi là gotrabhū... cho đến... Lao vào sự đoạn diệt là Nibbāna, vì vậy được gọi là gotrabhū.
Uppādā vuṭṭhahitvā † anuppādaṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Pavattā vuṭṭhahitvā appavattaṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Nimittā vuṭṭhahitvā animittaṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Āyūhanā vuṭṭhahitvā anāyūhanaṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Paṭisandhiyā vuṭṭhahitvā appaṭisandhiṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Gatiyā vuṭṭhahitvā agatiṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Nibbattiyā vuṭṭhahitvā anibbattiṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Upapattiyā vuṭṭhahitvā anupapattiṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Jātiyā vuṭṭhahitvā ajātiṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Jarāya vuṭṭhahitvā ajaraṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Byādhimhā vuṭṭhahitvā abyādhiṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Maraṇā vuṭṭhahitvā amataṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Sokā vuṭṭhahitvā asokaṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Paridevā vuṭṭhahitvā aparidevaṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Upāyāsā vuṭṭhahitvā anupāyāsaṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Bahiddhā saṅkhāranimittā vuṭṭhahitvā nirodhaṃ nibbānaṃ pakkhandatīti – gotrabhu.
Having emerged from arising, it enters upon non-arising—thus it is change-of-lineage. Having emerged from occurrence, it enters upon non-occurrence—thus it is change-of-lineage. Having emerged from the sign, it enters upon the signless—thus it is change-of-lineage. Having emerged from striving, it enters upon non-striving—thus it is change-of-lineage. Having emerged from rebirth-linking, it enters upon non-rebirth-linking—thus it is change-of-lineage. Having emerged from destination, it enters upon the destinationless—thus it is change-of-lineage. Having emerged from generation, it enters upon non-generation—thus it is change-of-lineage. Having emerged from rebirth, it enters upon non-rebirth—thus it is change-of-lineage. Having emerged from birth, it enters upon the unborn—thus it is change-of-lineage. Having emerged from aging, it enters upon the ageless—thus it is change-of-lineage. Having emerged from illness, it enters upon the illness-free—thus it is change-of-lineage. Having emerged from death, it enters upon the deathless—thus it is change-of-lineage. Having emerged from sorrow, it enters upon sorrowlessness—thus it is change-of-lineage. Having emerged from lamentation, it enters upon the lamentation-free—thus it is change-of-lineage. Having emerged from despair, it enters upon the despair-free—thus it is change-of-lineage. Having emerged from the external sign of formations, it enters upon cessation, Nibbāna—thus it is change-of-lineage.
Sau khi vượt ra khỏi sự sanh khởi, lao vào trạng thái không sanh khởi, vì vậy được gọi là gotrabhū. Sau khi vượt ra khỏi sự diễn tiến, lao vào trạng thái không diễn tiến, vì vậy được gọi là gotrabhū. Sau khi vượt ra khỏi tướng, lao vào trạng thái vô tướng, vì vậy được gọi là gotrabhū. Sau khi vượt ra khỏi sự nỗ lực tạo tác, lao vào trạng thái không nỗ lực tạo tác, vì vậy được gọi là gotrabhū. Sau khi vượt ra khỏi sự tái sanh, lao vào trạng thái không tái sanh, vì vậy được gọi là gotrabhū. Sau khi vượt ra khỏi cõi sanh, lao vào trạng thái không có cõi sanh, vì vậy được gọi là gotrabhū. Sau khi vượt ra khỏi sự hình thành, lao vào trạng thái không hình thành, vì vậy được gọi là gotrabhū. Sau khi vượt ra khỏi sự hiện hữu, lao vào trạng thái không hiện hữu, vì vậy được gọi là gotrabhū. Sau khi vượt ra khỏi sự sanh, lao vào trạng thái vô sanh, vì vậy được gọi là gotrabhū. Sau khi vượt ra khỏi sự già, lao vào trạng thái không già, vì vậy được gọi là gotrabhū. Sau khi vượt ra khỏi bệnh, lao vào trạng thái không bệnh, vì vậy được gọi là gotrabhū. Sau khi vượt ra khỏi sự chết, lao vào trạng thái bất tử, vì vậy được gọi là gotrabhū. Sau khi vượt ra khỏi sầu, lao vào trạng thái không sầu, vì vậy được gọi là gotrabhū. Sau khi vượt ra khỏi bi, lao vào trạng thái không bi, vì vậy được gọi là gotrabhū. Sau khi vượt ra khỏi não, lao vào trạng thái không não, vì vậy được gọi là gotrabhū. Sau khi vượt ra khỏi tướng hành ở bên ngoài, lao vào sự đoạn diệt là Nibbāna, vì vậy được gọi là gotrabhū.
Uppādā vivaṭṭatīti – gotrabhu. Pavattā vivaṭṭatīti – gotrabhu…pe… bahiddhā saṅkhāranimittā vivaṭṭatīti – gotrabhu. Anuppādaṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Appavattaṃ pakkhandatīti – gotrabhu…pe… nirodhaṃ nibbānaṃ pakkhandatīti – gotrabhu.
It turns away from arising—thus it is change-of-lineage. It turns away from occurrence—thus it is change-of-lineage… and so on… it turns away from the external sign of formations—thus it is change-of-lineage. It enters upon non-arising—thus it is change-of-lineage. It enters upon non-occurrence—thus it is change-of-lineage… and so on… it enters upon cessation, Nibbāna—thus it is change-of-lineage.
Thoát khỏi sự sanh khởi, vì vậy được gọi là gotrabhū. Thoát khỏi sự diễn tiến, vì vậy được gọi là gotrabhū... cho đến... Thoát khỏi tướng hành ở bên ngoài, vì vậy được gọi là gotrabhū. Lao vào trạng thái không sanh khởi, vì vậy được gọi là gotrabhū. Lao vào trạng thái không diễn tiến, vì vậy được gọi là gotrabhū... cho đến... Lao vào sự đoạn diệt là Nibbāna, vì vậy được gọi là gotrabhū.
Uppādā vivaṭṭitvā anuppādaṃ pakkhandatīti – gotrabhu. Pavattā vivaṭṭitvā appavattaṃ pakkhandatīti – gotrabhu…pe… bahiddhā saṅkhāranimittā vivaṭṭitvā nirodhaṃ nibbānaṃ pakkhandatīti – gotrabhu.
Having turned away from arising, it enters upon non-arising—thus it is change-of-lineage. Having turned away from occurrence, it enters upon non-occurrence—thus it is change-of-lineage… and so on… having turned away from the external sign of formations, it enters upon cessation, Nibbāna—thus it is change-of-lineage.
Sau khi thoát khỏi sự sanh khởi, lao vào trạng thái không sanh khởi, vì vậy được gọi là gotrabhū. Sau khi thoát khỏi sự diễn tiến, lao vào trạng thái không diễn tiến, vì vậy được gọi là gotrabhū... cho đến... Sau khi thoát khỏi tướng hành ở bên ngoài, lao vào sự đoạn diệt là Nibbāna, vì vậy được gọi là gotrabhū.
60. Kati gotrabhū dhammā samathavasena uppajjanti? Kati gotrabhū dhammā vipassanāvasena uppajjanti? Aṭṭha gotrabhū dhammā samathavasena uppajjanti. Dasa gotrabhū dhammā vipassanāvasena uppajjanti.
60. How many change-of-lineage states arise by way of serenity? How many change-of-lineage states arise by way of insight? Eight change-of-lineage states arise by way of serenity. Ten change-of-lineage states arise by way of insight.
60. Có bao nhiêu pháp gotrabhū sanh khởi do năng lực của thiền chỉ? Có bao nhiêu pháp gotrabhū sanh khởi do năng lực của thiền quán? Có tám pháp gotrabhū sanh khởi do năng lực của thiền chỉ. Có mười pháp gotrabhū sanh khởi do năng lực của thiền quán.
Katame aṭṭha gotrabhū dhammā samathavasena uppajjanti? Paṭhamaṃ jhānaṃ paṭilābhatthāya nīvaraṇe abhibhuyyatīti – gotrabhu. Dutiyaṃ jhānaṃ paṭilābhatthāya vitakkavicāre abhibhuyyatīti – gotrabhu. Tatiyaṃ jhānaṃ paṭilābhatthāya pītiṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Catutthaṃ jhānaṃ paṭilābhatthāya sukhadukkhe abhibhuyyatīti – gotrabhu. Ākāsānañcāyatanasamāpattiṃ paṭilābhatthāya rūpasaññaṃ paṭighasaññaṃ nānattasaññaṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Viññāṇañcāyatanasamāpattiṃ paṭilābhatthāya ākāsānañcāyatanasaññaṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Ākiñcaññāyatanasamāpattiṃ paṭilābhatthāya viññāṇañcāyatanasaññaṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiṃ paṭilābhatthāya ākiñcaññāyatanasaññaṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Ime aṭṭha gotrabhū dhammā samathavasena uppajjanti.
What are the eight change-of-lineage states that arise by way of serenity? For the sake of attaining the first jhāna, it overcomes the hindrances, thus it is change-of-lineage. For the sake of attaining the second jhāna, it overcomes applied and sustained thought, thus it is change-of-lineage. For the sake of attaining the third jhāna, it overcomes rapture, thus it is change-of-lineage. For the sake of attaining the fourth jhāna, it overcomes pleasure and pain, thus it is change-of-lineage. For the sake of attaining the attainment of the base of infinite space, it overcomes perception of form, perception of resistance, and perception of diversity, thus it is change-of-lineage. For the sake of attaining the attainment of the base of infinite consciousness, it overcomes the perception of the base of infinite space, thus it is change-of-lineage. For the sake of attaining the attainment of the base of nothingness, it overcomes the perception of the base of infinite consciousness, thus it is change-of-lineage. For the sake of attaining the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception, it overcomes the perception of the base of nothingness, thus it is change-of-lineage. These are the eight change-of-lineage states that arise by way of serenity.
Tám pháp gotrabhū sanh khởi do năng lực của thiền chỉ là những pháp nào? Để chứng đắc thiền thứ nhất, chế ngự các triền cái, vì vậy được gọi là gotrabhū. Để chứng đắc thiền thứ hai, chế ngự tầm và tứ, vì vậy được gọi là gotrabhū. Để chứng đắc thiền thứ ba, chế ngự hỷ, vì vậy được gọi là gotrabhū. Để chứng đắc thiền thứ tư, chế ngự lạc và khổ, vì vậy được gọi là gotrabhū. Để chứng đắc Không Vô Biên Xứ định, chế ngự sắc tưởng, đối ngại tưởng, và các tưởng sai khác, vì vậy được gọi là gotrabhū. Để chứng đắc Thức Vô Biên Xứ định, chế ngự tưởng Không Vô Biên Xứ, vì vậy được gọi là gotrabhū. Để chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ định, chế ngự tưởng Thức Vô Biên Xứ, vì vậy được gọi là gotrabhū. Để chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ định, chế ngự tưởng Vô Sở Hữu Xứ, vì vậy được gọi là gotrabhū. Đây là tám pháp gotrabhū sanh khởi do năng lực của thiền chỉ.
Katame dasa gotrabhū dhammā vipassanāvasena uppajjanti? Sotāpattimaggaṃ paṭilābhatthāya uppādaṃ pavattaṃ nimittaṃ āyūhanaṃ paṭisandhiṃ gatiṃ nibbattiṃ upapattiṃ jātiṃ jaraṃ byādhiṃ maraṇaṃ sokaṃ paridevaṃ upāyāsaṃ bahiddhā saṅkhāranimittaṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Sotāpattiphalasamāpattatthāya uppādaṃ pavattaṃ nimittaṃ āyūhanaṃ paṭisandhiṃ…pe… abhibhuyyatīti – gotrabhu. Sakadāgāmimaggaṃ paṭilābhatthāya…pe… sakadāgāmiphalasamāpattatthāya… anāgāmimaggaṃ paṭilābhatthāya… anāgāmiphalasamāpattatthāya… arahattamaggaṃ paṭilābhatthāya uppādaṃ pavattaṃ nimittaṃ āyūhanaṃ paṭisandhiṃ gatiṃ nibbattiṃ upapattiṃ jātiṃ jaraṃ byādhiṃ maraṇaṃ sokaṃ paridevaṃ upāyāsaṃ bahiddhā saṅkhāranimittaṃ abhibhuyyatīti – gotrabhu. Arahattaphalasamāpattatthāya… suññatavihārasamāpattatthāya… animittavihārasamāpattatthāya uppādaṃ pavattaṃ nimittaṃ āyūhanaṃ paṭisandhiṃ…pe… abhibhuyyatīti – gotrabhu. Ime dasa gotrabhū dhammā vipassanāvasena uppajjanti.
What are the ten change-of-lineage states that arise by way of insight? For the sake of attaining the path of stream-entry, it overcomes arising, occurrence, the sign, accumulation, rebirth-linking, destination, generation, rebirth, birth, aging, illness, death, sorrow, lamentation, despair, and the external sign of formations; thus, it is change-of-lineage. For the sake of attaining the fruition-attainment of stream-entry, it overcomes arising, occurrence, the sign, accumulation, rebirth-linking… and so on… thus, it is change-of-lineage. For the sake of attaining the path of once-returning… and so on… for the sake of attaining the fruition-attainment of once-returning… for the sake of attaining the path of non-returning… for the sake of attaining the fruition-attainment of non-returning… for the sake of attaining the path of arahantship, it overcomes arising, occurrence, the sign, accumulation, rebirth-linking, destination, generation, rebirth, birth, aging, illness, death, sorrow, lamentation, despair, and the external sign of formations; thus, it is change-of-lineage. For the sake of attaining the fruition-attainment of arahantship… for the sake of attaining the attainment of abiding in emptiness… for the sake of attaining the attainment of abiding in the signless, it overcomes arising, occurrence, the sign, accumulation, rebirth-linking… and so on… thus, it is change-of-lineage. These are the ten change-of-lineage states that arise by way of insight.
Mười pháp gotrabhū sanh khởi do năng lực của thiền quán là những pháp nào? Để chứng đắc Tu-đà-hoàn đạo, chế ngự sự sanh khởi, sự diễn tiến, tướng, sự nỗ lực tạo tác, sự tái sanh, cõi sanh, sự hình thành, sự hiện hữu, sự sanh, sự già, bệnh, sự chết, sầu, bi, não, và tướng hành ở bên ngoài, vì vậy được gọi là gotrabhū. Vì mục đích chứng nhập Tu-đà-hoàn quả định, chế ngự sự sanh khởi, sự diễn tiến, tướng, sự nỗ lực tạo tác, sự tái sanh... cho đến... vì vậy được gọi là gotrabhū. Để chứng đắc Tư-đà-hàm đạo... cho đến... Vì mục đích chứng nhập Tư-đà-hàm quả định... Để chứng đắc A-na-hàm đạo... Vì mục đích chứng nhập A-na-hàm quả định... Để chứng đắc A-la-hán đạo, chế ngự sự sanh khởi, sự diễn tiến, tướng, sự nỗ lực tạo tác, sự tái sanh, cõi sanh, sự hình thành, sự hiện hữu, sự sanh, sự già, bệnh, sự chết, sầu, bi, não, và tướng hành ở bên ngoài, vì vậy được gọi là gotrabhū. Vì mục đích chứng nhập A-la-hán quả định, vì mục đích chứng nhập Không tánh trú định, vì mục đích chứng nhập Vô tướng trú định, chế ngự sự sanh khởi, sự diễn tiến, tướng, sự nỗ lực tạo tác, sự tái sanh... cho đến... vì vậy được gọi là gotrabhū. Đây là mười pháp gotrabhū sanh khởi do năng lực của thiền quán.
Kati gotrabhū dhammā kusalā, kati akusalā, kati abyākatā? Pannarasa gotrabhū dhammā kusalā, tayo gotrabhū dhammā abyākatā. Natthi gotrabhū dhammā akusalāti.
How many change-of-lineage states are wholesome, how many unwholesome, and how many indeterminate? Fifteen change-of-lineage states are wholesome, and three change-of-lineage states are indeterminate. There are no unwholesome change-of-lineage states.
Có bao nhiêu pháp chuyển tộc là thiện, bao nhiêu là bất thiện, bao nhiêu là vô ký? Mười lăm pháp chuyển tộc là thiện, ba pháp chuyển tộc là vô ký. Không có pháp chuyển tộc nào là bất thiện.
Sāmisañca nirāmisaṃ, paṇihitañca appaṇihitaṃ;
Saññuttañca visaññuttaṃ, vuṭṭhitañca avuṭṭhitaṃ.
Worldly and unworldly, aimed and unaimed, associated and dissociated, emerged and unemerged.
Pháp hữu nhiễm và vô nhiễm, có hướng đến và không hướng đến; có tương ưng và không tương ưng, có xuất khởi và không xuất khởi.
Aṭṭha samādhissa paccayā, dasa ñāṇassa gocarā;
Aṭṭhārasa gotrabhū dhammā, tiṇṇaṃ vimokkhāna paccayā.
Eight are conditions for concentration, ten are domains for knowledge; eighteen change-of-lineage states are conditions for the three liberations.
Tám pháp là duyên của định, mười pháp là đối tượng của trí; mười tám pháp chuyển tộc là duyên của ba loại giải thoát.
Ime aṭṭhārasākārā, paññā yassa pariccitā;
Kusalo vivaṭṭe vuṭṭhāne, nānādiṭṭhīsu na kampatīti.
One whose wisdom has fully comprehended these eighteen aspects, being skilled in the turning away and emerging, does not waver amidst diverse views.
Mười tám phương diện này, đối với người nào đã được tuệ thuần thục; người ấy thiện xảo trong sự xuất khởi và chuyển hướng, không bị lay động trong các tà kiến.
Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘bahiddhā vuṭṭhānavivaṭṭane paññā gotrabhuñāṇaṃ’’.
It is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: ‘Wisdom in emerging from and turning away from the external is change-of-lineage knowledge.’
Pháp ấy là trí theo ý nghĩa biết, là tuệ theo ý nghĩa biết rõ. Do đó, được nói rằng: ‘Tuệ trong sự xuất khởi và chuyển hướng khỏi ngoại cảnh là trí chuyển tộc’.
Gotrabhuñāṇaniddeso dasamo.
The Exposition on Change-of-Lineage Knowledge is the tenth.
Phần giải về trí chuyển tộc thứ mười.
11. Maggañāṇaniddeso
11. Exposition of Path Knowledge
11. Phần giải về trí đạo
61. Kathaṃ dubhato vuṭṭhānavivaṭṭane paññā magge ñāṇaṃ? Sotāpattimaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi micchādiṭṭhiyā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Tena vuccati – ‘‘dubhato vuṭṭhānavivaṭṭane paññā magge ñāṇaṃ’’. Abhiniropanaṭṭhena sammāsaṅkappo micchāsaṅkappā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Tena vuccati – ‘‘dubhato vuṭṭhānavivaṭṭane paññā magge ñāṇaṃ’’.
61. How is the wisdom in emerging and turning away from both knowledge of the path? At the moment of the stream-entry path, in the sense of seeing, right view emerges from wrong view; it emerges from the defilements and aggregates that follow in conformity with it; and it emerges from all external signs. Therefore it is said: 'The wisdom in emerging and turning away from both is knowledge of the path.' In the sense of application, right intention emerges from wrong intention; it emerges from the defilements and aggregates that follow in conformity with it; and it emerges from all external signs. Therefore it is said: 'The wisdom in emerging and turning away from both is knowledge of the path.'
61. Thế nào là tuệ trong sự xuất khởi và chuyển hướng từ cả hai phương diện là trí trong đạo? Trong sát-na của đạo Dự lưu, chánh kiến theo ý nghĩa thấy đã xuất khởi khỏi tà kiến, đã xuất khởi khỏi các phiền não đi theo sau và khỏi các uẩn, và đã xuất khởi khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do đó, được nói rằng: ‘Tuệ trong sự xuất khởi và chuyển hướng từ cả hai phương diện là trí trong đạo’. Chánh tư duy theo ý nghĩa hướng đến đã xuất khởi khỏi tà tư duy, đã xuất khởi khỏi các phiền não đi theo sau và khỏi các uẩn, và đã xuất khởi khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do đó, được nói rằng: ‘Tuệ trong sự xuất khởi và chuyển hướng từ cả hai phương diện là trí trong đạo’.
Pariggahaṭṭhena sammāvācā micchāvācāya vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Tena vuccati – ‘‘dubhato vuṭṭhānavivaṭṭane paññā magge ñāṇaṃ’’.
In the sense of embracing, right speech emerges from wrong speech; it emerges from the defilements and aggregates that follow in conformity with it; and it emerges from all external signs. Therefore it is said: 'The wisdom in emerging and turning away from both is knowledge of the path.'
Chánh ngữ theo ý nghĩa thu nhiếp đã xuất khởi khỏi tà ngữ, đã xuất khởi khỏi các phiền não đi theo sau và khỏi các uẩn, và đã xuất khởi khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do đó, được nói rằng: ‘Tuệ trong sự xuất khởi và chuyển hướng từ cả hai phương diện là trí trong đạo’.
Samuṭṭhānaṭṭhena sammākammanto micchākammantā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Tena vuccati – ‘‘dubhato vuṭṭhānavivaṭṭane paññā magge ñāṇaṃ’’.
In the sense of origination, right action emerges from wrong action; it emerges from the defilements and aggregates that follow in conformity with it; and it emerges from all external signs. Therefore it is said: 'The wisdom in emerging and turning away from both is knowledge of the path.'
Chánh nghiệp theo ý nghĩa khởi lên đúng đắn đã xuất khởi khỏi tà nghiệp, đã xuất khởi khỏi các phiền não đi theo sau và khỏi các uẩn, và đã xuất khởi khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do đó, được nói rằng: ‘Tuệ trong sự xuất khởi và chuyển hướng từ cả hai phương diện là trí trong đạo’.
Vodānaṭṭhena sammāājīvo micchāājīvā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Tena vuccati – ‘‘dubhato vuṭṭhānavivaṭṭane paññā magge ñāṇaṃ’’.
In the sense of purification, right livelihood emerges from wrong livelihood; it emerges from the defilements and aggregates that follow in conformity with it; and it emerges from all external signs. Therefore it is said: 'The wisdom in emerging and turning away from both is knowledge of the path.'
Chánh mạng theo ý nghĩa thanh lọc đã xuất khởi khỏi tà mạng, đã xuất khởi khỏi các phiền não đi theo sau và khỏi các uẩn, và đã xuất khởi khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do đó, được nói rằng: ‘Tuệ trong sự xuất khởi và chuyển hướng từ cả hai phương diện là trí trong đạo’.
Paggahaṭṭhena sammāvāyāmo micchāvāyāmā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Tena vuccati – ‘‘dubhato vuṭṭhānavivaṭṭane paññā magge ñāṇaṃ’’.
In the sense of exertion, right effort emerges from wrong effort; it emerges from the defilements and aggregates that follow in conformity with it; and it emerges from all external signs. Therefore it is said: 'The wisdom in emerging and turning away from both is knowledge of the path.'
Chánh tinh tấn theo ý nghĩa nỗ lực đã xuất khởi khỏi tà tinh tấn, đã xuất khởi khỏi các phiền não đi theo sau và khỏi các uẩn, và đã xuất khởi khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do đó, được nói rằng: ‘Tuệ trong sự xuất khởi và chuyển hướng từ cả hai phương diện là trí trong đạo’.
Upaṭṭhānaṭṭhena sammāsati micchāsatiyā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Tena vuccati – ‘‘dubhato vuṭṭhānavivaṭṭane paññā magge ñāṇaṃ’’.
In the sense of establishment, right mindfulness emerges from wrong mindfulness; it emerges from the defilements and aggregates that follow in its wake, and externally it emerges from all signs. Therefore, it is said: “Wisdom in emerging and turning away from both is knowledge in the path.”
Chánh niệm theo ý nghĩa an trú đã xuất khởi khỏi tà niệm, đã xuất khởi khỏi các phiền não đi theo sau và khỏi các uẩn, và đã xuất khởi khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do đó, được nói rằng: ‘Tuệ trong sự xuất khởi và chuyển hướng từ cả hai phương diện là trí trong đạo’.
Avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi micchāsamādhito vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Tena vuccati – ‘‘dubhato vuṭṭhānavivaṭṭane paññā magge ñāṇaṃ’’.
In the sense of non-distraction, right concentration emerges from wrong concentration; it emerges from the defilements and aggregates that follow in its wake, and externally it emerges from all signs. Therefore, it is said: “Wisdom in emerging and turning away from both is knowledge in the path.”
Chánh định theo ý nghĩa không tán loạn đã xuất khởi khỏi tà định, đã xuất khởi khỏi các phiền não đi theo sau và khỏi các uẩn, và đã xuất khởi khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do đó, được nói rằng: ‘Tuệ trong sự xuất khởi và chuyển hướng từ cả hai phương diện là trí trong đạo’.
Sakadāgāmimaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi …pe… avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi oḷārikā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā oḷārikā kāmarāgānusayā paṭighānusayā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Tena vuccati – ‘‘dubhato vuṭṭhānavivaṭṭane paññā magge ñāṇaṃ’’.
At the moment of the once-returner’s path, right view in the sense of seeing… up to… right concentration in the sense of non-distraction emerges from the coarse fetter of sensual lust and the fetter of aversion, and from the coarse underlying tendency of sensual lust and the underlying tendency of aversion. It emerges from the defilements and aggregates that follow in their wake, and externally it emerges from all signs. Therefore, it is said: “Wisdom in emerging and turning away from both is knowledge in the path.”
Trong sát-na của đạo Nhất lai, chánh kiến theo ý nghĩa thấy ... cho đến ... chánh định theo ý nghĩa không tán loạn đã xuất khởi khỏi kiết sử dục ái và kiết sử sân thuộc loại thô, đã xuất khởi khỏi tùy miên dục ái và tùy miên sân thuộc loại thô, đã xuất khởi khỏi các phiền não đi theo sau và khỏi các uẩn, và đã xuất khởi khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do đó, được nói rằng: ‘Tuệ trong sự xuất khởi và chuyển hướng từ cả hai phương diện là trí trong đạo’.
Anāgāmimaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi…pe… avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi anusahagatā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā anusahagatā kāmarāgānusayā paṭighānusayā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Tena vuccati – ‘‘dubhato vuṭṭhānavivaṭṭane paññā magge ñāṇaṃ’’.
At the moment of the non-returner’s path, right view in the sense of seeing… up to… right concentration in the sense of non-distraction emerges from the subtle fetter of sensual lust and the fetter of aversion, and from the subtle underlying tendency of sensual lust and the underlying tendency of aversion. It emerges from the defilements and aggregates that follow in their wake, and externally it emerges from all signs. Therefore, it is said: “Wisdom in emerging and turning away from both is knowledge in the path.”
Trong sát-na của đạo Bất lai, chánh kiến theo ý nghĩa thấy ... cho đến ... chánh định theo ý nghĩa không tán loạn đã xuất khởi khỏi kiết sử dục ái và kiết sử sân thuộc loại vi tế, đã xuất khởi khỏi tùy miên dục ái và tùy miên sân thuộc loại vi tế, đã xuất khởi khỏi các phiền não đi theo sau và khỏi các uẩn, và đã xuất khởi khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do đó, được nói rằng: ‘Tuệ trong sự xuất khởi và chuyển hướng từ cả hai phương diện là trí trong đạo’.
Arahattamaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi…pe… avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi rūparāgā arūparāgā mānā uddhaccā avijjāya mānānusayā bhavarāgānusayā avijjānusayā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Tena vuccati – ‘‘dubhato vuṭṭhānavivaṭṭane paññā magge ñāṇaṃ’’.
At the moment of the path of arahantship, right view in the sense of seeing… up to… right concentration in the sense of non-distraction emerges from lust for form, lust for the formless, conceit, restlessness, ignorance, the underlying tendency of conceit, the underlying tendency of lust for existence, and the underlying tendency of ignorance. It emerges from the defilements and aggregates that follow in their wake, and externally it emerges from all signs. Therefore, it is said: “Wisdom in emerging and turning away from both is knowledge in the path.”
Trong sát-na của đạo A-la-hán, chánh kiến theo ý nghĩa thấy ... cho đến ... chánh định theo ý nghĩa không tán loạn đã xuất khởi khỏi sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh, tùy miên mạn, tùy miên hữu ái, tùy miên vô minh, đã xuất khởi khỏi các phiền não đi theo sau và khỏi các uẩn, và đã xuất khởi khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do đó, được nói rằng: ‘Tuệ trong sự xuất khởi và chuyển hướng từ cả hai phương diện là trí trong đạo’.
62.
62.
62.
Ajātaṃ jhāpeti jātena, jhānaṃ tena pavuccati;
Jhānavimokkhe kusalatā, nānādiṭṭhīsu na kampati.
It burns the unarisen with that which has arisen; therefore, it is called jhāna. Due to skill in jhāna and liberation, one is not shaken amidst various views.
Pháp đã sanh thiêu đốt pháp chưa sanh, do đó được gọi là thiền-na; do sự thiện xảo trong thiền-na giải thoát, vị ấy không bị lay động trong các tà kiến.
Samādahitvā yathā ce vipassati, vipassamāno tathā ce samādahe;
Vipassanā ca samatho tadā ahu, samānabhāgā yuganaddhā vattare.
In whatever way one, having concentrated, sees with insight, so too, while seeing with insight, should one concentrate. Then insight and tranquility arose, with equal parts, proceeding yoked together.
Sau khi đã định tĩnh, vị ấy quán như thế nào, đang khi quán, vị ấy nên định tĩnh như thế ấy; khi ấy, quán và chỉ đã có, các pháp song tu có phần tương đương được vận hành.
Dukkhā saṅkhārā sukho, nirodho iti dassanaṃ †;
Dubhato vuṭṭhitā paññā, phasseti amataṃ padaṃ.
“Formations are suffering, cessation is happiness”—this is the vision. Wisdom, having emerged from both, touches the Deathless State.
Cái thấy rằng: ‘Các hành là khổ, sự diệt là lạc’; tuệ đã xuất khởi từ cả hai phương diện, chứng ngộ được cảnh giới bất tử.
Vimokkhacariyaṃ jānāti, nānattekattakovido;
Dvinnaṃ ñāṇānaṃ kusalatā, nānādiṭṭhīsu na kampatīti.
One skilled in diversity and unity knows the conduct of liberation. Through skill in the two kinds of knowledge, one is not shaken among diverse views.
Vị thiện xảo về sự khác biệt và đồng nhất biết được sự thực hành giải thoát; do sự thiện xảo trong hai loại trí, vị ấy không bị lay động trong các tà kiến.
Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘dubhato vuṭṭhānavivaṭṭane paññā magge ñāṇaṃ’’.
It is knowledge in the sense of knowing, and wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: “Wisdom in emerging and turning away from both is knowledge in the path.”
Pháp ấy là trí theo ý nghĩa biết, là tuệ theo ý nghĩa biết rõ. Do đó, được nói rằng: ‘Tuệ trong sự xuất khởi và chuyển hướng từ cả hai phương diện là trí trong đạo’.
Maggañāṇaniddeso ekādasamo.
The Eleventh Exposition: on Path Knowledge.
Phần giải về trí đạo thứ mười một.
12. Phalañāṇaniddeso
12. Exposition on Fruition-Knowledge
12. Phần giải về trí quả
63. Kathaṃ payogappaṭippassaddhipaññā phale ñāṇaṃ? Sotāpattimaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi micchādiṭṭhiyā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Taṃpayogappaṭippassaddhattā uppajjati sammādiṭṭhi. Maggassetaṃ phalaṃ.
63. How is the wisdom that is the pacification of effort knowledge in the fruition? At the moment of the stream-entry path, right view, in the sense of seeing, emerges from wrong view; it emerges from the defilements and aggregates that follow it; and it emerges from all external signs. Due to the pacification of that effort, right view arises. This is the fruit of the path.
63. Trí tuệ trong sự an tịnh của nỗ lực là trí tuệ về quả như thế nào? Trong sát-na của đạo Tu-đà-hoàn, chánh kiến do ý nghĩa thấy nên vượt ra khỏi tà kiến, vượt ra khỏi các phiền não đi theo sau và các uẩn, và vượt ra khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do sự an tịnh của nỗ lực ấy, chánh kiến sanh khởi. Đây là quả của đạo.
Abhiniropanaṭṭhena sammāsaṅkappo micchāsaṅkappā vuṭṭhāti tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Taṃpayogappaṭippassaddhattā uppajjati sammāsaṅkappo. Maggassetaṃ phalaṃ.
In the sense of application, right intention emerges from wrong intention; it emerges from the defilements and aggregates that follow it; and it emerges from all external signs. Due to the pacification of that effort, right intention arises. This is the fruit of the path.
Do ý nghĩa hướng đến, chánh tư duy vượt ra khỏi tà tư duy, vượt ra khỏi các phiền não đi theo sau và các uẩn, và vượt ra khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do sự an tịnh của nỗ lực ấy, chánh tư duy sanh khởi. Đây là quả của đạo.
Pariggahaṭṭhena sammāvācā micchāvācāya vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Taṃpayogappaṭippassaddhattā uppajjati sammāvācā. Maggassetaṃ phalaṃ.
In the sense of encompassing, right speech emerges from wrong speech; it emerges from the defilements and aggregates that follow it; and it emerges from all external signs. Due to the pacification of that effort, right speech arises. This is the fruit of the path.
Do ý nghĩa bao gồm, chánh ngữ vượt ra khỏi tà ngữ, vượt ra khỏi các phiền não đi theo sau và các uẩn, và vượt ra khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do sự an tịnh của nỗ lực ấy, chánh ngữ sanh khởi. Đây là quả của đạo.
Samuṭṭhānaṭṭhena sammākammanto micchākammantā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Taṃpayogappaṭippassaddhattā uppajjati sammākammanto. Maggassetaṃ phalaṃ.
In the sense of origination, right action emerges from wrong action; it emerges from the defilements and aggregates that follow it; and it emerges from all external signs. Due to the pacification of that effort, right action arises. This is the fruit of the path.
Do ý nghĩa khởi lên, chánh nghiệp vượt ra khỏi tà nghiệp, vượt ra khỏi các phiền não đi theo sau và các uẩn, và vượt ra khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do sự an tịnh của nỗ lực ấy, chánh nghiệp sanh khởi. Đây là quả của đạo.
Vodānaṭṭhena sammāājīvo micchāājīvā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Taṃpayogappaṭippassaddhattā uppajjati sammāājīvo. Maggassetaṃ phalaṃ.
In the sense of cleansing, Right Livelihood emerges from Wrong Livelihood; it emerges from the defilements and aggregates that follow in its wake, and it emerges from all external signs. Due to the pacification of that effort, Right Livelihood arises. This is the fruit of the path of stream-entry.
Do ý nghĩa trong sạch, chánh mạng vượt ra khỏi tà mạng, vượt ra khỏi các phiền não đi theo sau và các uẩn, và vượt ra khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do sự an tịnh của nỗ lực ấy, chánh mạng sanh khởi. Đây là quả của đạo.
Paggahaṭṭhena sammāvāyāmo micchāvāyāmā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Taṃpayogappaṭippassaddhattā uppajjati sammāvāyāmo. Maggassetaṃ phalaṃ.
In the sense of exertion, Right Effort emerges from Wrong Effort; it emerges from the defilements and aggregates that follow in its wake, and it emerges from all external signs. Due to the pacification of that effort, Right Effort arises. This is the fruit of the path of stream-entry.
Do ý nghĩa nỗ lực, chánh tinh tấn vượt ra khỏi tà tinh tấn, vượt ra khỏi các phiền não đi theo sau và các uẩn, và vượt ra khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do sự an tịnh của nỗ lực ấy, chánh tinh tấn sanh khởi. Đây là quả của đạo.
Upaṭṭhānaṭṭhena sammāsati micchāsatiyā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Taṃpayogappaṭippassaddhattā uppajjati sammāsati. Maggassetaṃ phalaṃ.
In the sense of establishing mindfulness, Right Mindfulness emerges from Wrong Mindfulness; it emerges from the defilements and aggregates that follow in its wake, and it emerges from all external signs. Due to the pacification of that effort, Right Mindfulness arises. This is the fruit of the path of stream-entry.
Do ý nghĩa an trú, chánh niệm vượt ra khỏi tà niệm, vượt ra khỏi các phiền não đi theo sau và các uẩn, và vượt ra khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do sự an tịnh của nỗ lực ấy, chánh niệm sanh khởi. Đây là quả của đạo.
Avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi micchāsamādhito vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Taṃpayogappaṭippassaddhattā uppajjati sammāsamādhi. Maggassetaṃ phalaṃ.
In the sense of non-distraction, Right Concentration emerges from Wrong Concentration; it emerges from the defilements and aggregates that follow in its wake, and it emerges from all external signs. Due to the pacification of that effort, Right Concentration arises. This is the fruit of the path of stream-entry.
Do ý nghĩa không tán loạn, chánh định vượt ra khỏi tà định, vượt ra khỏi các phiền não đi theo sau và các uẩn, và vượt ra khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do sự an tịnh của nỗ lực ấy, chánh định sanh khởi. Đây là quả của đạo.
Sakadāgāmimaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi…pe… avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi oḷārikā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā oḷārikā kāmarāgānusayā paṭighānusayā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Taṃpayogappaṭippassaddhattā uppajjati sammāsamādhi. Maggassetaṃ phalaṃ.
At the moment of the once-returner path, Right View in the sense of seeing... up to Right Concentration in the sense of non-distraction, emerges from the gross fetter of sensual desire and the fetter of ill will, from the gross underlying tendency of sensual desire and the underlying tendency of ill will; it emerges from the defilements and aggregates that follow in their wake, and it emerges from all external signs. Due to the pacification of that effort, Right Concentration arises. This is the fruit of the once-returner path.
Trong sát-na của đạo Tư-đà-hàm, chánh kiến do ý nghĩa thấy... (v.v.)... chánh định do ý nghĩa không tán loạn nên vượt ra khỏi dục ái kiết sử và sân kiết sử thô thiển, dục ái tùy miên và sân tùy miên thô thiển, vượt ra khỏi các phiền não đi theo sau và các uẩn, và vượt ra khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do sự an tịnh của nỗ lực ấy, chánh định sanh khởi. Đây là quả của đạo.
Anāgāmimaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi…pe… avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi anusahagatā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā anusahagatā kāmarāgānusayā paṭighānusayā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Taṃpayogappaṭippassaddhattā uppajjati sammāsamādhi. Maggassetaṃ phalaṃ.
At the moment of the non-returner path, Right View in the sense of seeing... up to Right Concentration in the sense of non-distraction, emerges from the subtle fetter of sensual desire and the fetter of ill will, from the subtle underlying tendency of sensual desire and the underlying tendency of ill will; it emerges from the defilements and aggregates that follow in their wake, and it emerges from all external signs. Due to the pacification of that effort, Right Concentration arises. This is the fruit of the non-returner path.
Trong sát-na của đạo A-na-hàm, chánh kiến do ý nghĩa thấy... (v.v.)... chánh định do ý nghĩa không tán loạn nên vượt ra khỏi dục ái kiết sử và sân kiết sử vi tế, dục ái tùy miên và sân tùy miên vi tế, vượt ra khỏi các phiền não đi theo sau và các uẩn, và vượt ra khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do sự an tịnh của nỗ lực ấy, chánh định sanh khởi. Đây là quả của đạo.
Arahattamaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi…pe… avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi rūparāgā arūparāgā mānā uddhaccā avijjāya mānānusayā bhavarāgānusayā avijjānusayā vuṭṭhāti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vuṭṭhāti, bahiddhā ca sabbanimittehi vuṭṭhāti. Taṃpayogappaṭippassaddhattā uppajjati sammāsamādhi. Maggassetaṃ phalaṃ. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘payogappaṭippassaddhipaññā phale ñāṇaṃ’’.
At the moment of the Arahantship path, right view in the sense of seeing… and so on… right concentration in the sense of non-distraction emerges from lust for form, lust for the formless, conceit, restlessness, ignorance, the underlying tendency to conceit, the underlying tendency to craving for existence, and the underlying tendency to ignorance; it emerges from the defilements and aggregates that follow in their wake; and it emerges from all external signs. Due to the pacification of that effort, right concentration arises. This is the fruit of the path. That, in the sense of knowing, is knowledge; in the sense of discerning, it is wisdom. Therefore it is said: ‘The wisdom in the pacification of effort is knowledge in the fruit.’
Trong sát-na của đạo A-la-hán, chánh kiến do ý nghĩa thấy... (v.v.)... chánh định do ý nghĩa không tán loạn nên vượt ra khỏi sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh, mạn tùy miên, hữu ái tùy miên, vô minh tùy miên, vượt ra khỏi các phiền não đi theo sau và các uẩn, và vượt ra khỏi tất cả các tướng ở bên ngoài. Do sự an tịnh của nỗ lực ấy, chánh định sanh khởi. Đây là quả của đạo. Điều ấy do ý nghĩa biết nên là trí, do ý nghĩa hiểu rõ nên là tuệ. Do đó được nói rằng: “Trí tuệ trong sự an tịnh của nỗ lực là trí tuệ về quả.”
Phalañāṇaniddeso dvādasamo.
The Exposition of Fruition-Knowledge is the twelfth.
Dứt phần giải về trí tuệ về quả, thứ mười hai.
13. Vimuttiñāṇaniddeso
13. The Exposition of Liberation-Knowledge
13. Phần giải về trí tuệ giải thoát
64. Kathaṃ chinnavaṭumānupassane paññā vimuttiñāṇaṃ? Sotāpattimaggena sakkāyadiṭṭhi, vicikicchā, sīlabbataparāmāso, diṭṭhānusayo, vicikicchānusayo attano cittassa upakkilesā sammā samucchinnā honti. Imehi pañcahi upakkilesehi sapariyuṭṭhānehi cittaṃ vimuttaṃ hoti suvimuttaṃ. Taṃvimutti ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘chinnavaṭumānupassane paññā vimuttiñāṇaṃ’’.
64. How is the wisdom in contemplating the severed round liberation-knowledge? By the path of stream-entry, identity view, doubt, adherence to rites and rituals, the underlying tendency to views, and the underlying tendency to doubt—defilements of one's own mind—are well cut off. From these five defilements, together with their manifestations, the mind is liberated, well-liberated. That liberation, in the sense of knowing, is knowledge; in the sense of discerning, it is wisdom. Therefore it is said: ‘The wisdom in contemplating the severed round is liberation-knowledge.’
64. Trí tuệ trong sự tùy quán về sự đoạn tận vòng luân hồi là trí tuệ giải thoát như thế nào? Do đạo Tu-đà-hoàn, thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, kiến tùy miên, nghi tùy miên là những tùy phiền não của tâm đã được đoạn tận một cách chân chánh. Do năm tùy phiền não này cùng với các triền cái, tâm được giải thoát, được khéo giải thoát. Sự giải thoát ấy do ý nghĩa biết nên là trí, do ý nghĩa hiểu rõ nên là tuệ. Do đó được nói rằng: “Trí tuệ trong sự tùy quán về sự đoạn tận vòng luân hồi là trí tuệ giải thoát.”
Sakadāgāmimaggena oḷārikaṃ kāmarāgasaññojanaṃ, paṭighasaññojanaṃ, oḷāriko kāmarāgānusayo, paṭighānusayo – attano cittassa upakkilesā sammā samucchinnā honti. Imehi catūhi upakkilesehi sapariyuṭṭhānehi cittaṃ vimuttaṃ hoti suvimuttaṃ. Taṃvimutti ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘chinnavaṭumānupassane paññā vimuttiñāṇaṃ’’.
By the path of the once-returner, the gross fetter of sensual lust, the fetter of aversion, the gross underlying tendency to sensual lust, and the underlying tendency to aversion—defilements of one's own mind—are well cut off. From these four defilements, together with their manifestations, the mind is liberated, well-liberated. That liberation, in the sense of knowing, is knowledge; in the sense of discerning, it is wisdom. Therefore it is said: ‘The wisdom in contemplating the severed round is liberation-knowledge.’
Do đạo Tư-đà-hàm, dục ái kiết sử, sân kiết sử, dục ái tùy miên, sân tùy miên thô thiển – là những tùy phiền não của tâm đã được đoạn tận một cách chân chánh. Do bốn tùy phiền não này cùng với các triền cái, tâm được giải thoát, được khéo giải thoát. Sự giải thoát ấy do ý nghĩa biết nên là trí, do ý nghĩa hiểu rõ nên là tuệ. Do đó được nói rằng: “Trí tuệ trong sự tùy quán về sự đoạn tận vòng luân hồi là trí tuệ giải thoát.”
Anāgāmimaggena anusahagataṃ kāmarāgasaññojanaṃ, paṭighasaññojanaṃ, anusahagato kāmarāgānusayo, paṭighānusayo – attano cittassa upakkilesā sammā samucchinnā honti. Imehi catūhi upakkilesehi sapariyuṭṭhānehi cittaṃ vimuttaṃ hoti suvimuttaṃ. Taṃvimutti ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘chinnavaṭumānupassane paññā vimuttiñāṇaṃ’’.
By the path of the Non-returner, the fetter of sensual desire, the fetter of ill will, the underlying tendency of sensual desire, and the underlying tendency of ill will—these defilements of one's own mind are well cut off. The mind is liberated, well-liberated, from these four defilements together with their manifestations. That liberation is knowledge in the sense of knowing and wisdom in the sense of discerning. Therefore, it is said: 'Wisdom in contemplating the severed round is the knowledge of liberation.'
Do đạo A-na-hàm, dục ái kiết sử, sân kiết sử, dục ái tùy miên, sân tùy miên vi tế – là những tùy phiền não của tâm đã được đoạn tận một cách chân chánh. Do bốn tùy phiền não này cùng với các triền cái, tâm được giải thoát, được khéo giải thoát. Sự giải thoát ấy do ý nghĩa biết nên là trí, do ý nghĩa hiểu rõ nên là tuệ. Do đó được nói rằng: “Trí tuệ trong sự tùy quán về sự đoạn tận vòng luân hồi là trí tuệ giải thoát.”
Arahattamaggena rūparāgo, arūparāgo, māno, uddhaccaṃ, avijjā, mānānusayo, bhavarāgānusayo, avijjānusayo – attano cittassa upakkilesā sammā samucchinnā honti. Imehi aṭṭhahi upakkilesehi sapariyuṭṭhānehi cittaṃ vimuttaṃ hoti suvimuttaṃ. Taṃvimutti ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘chinnavaṭumānupassane paññā vimuttiñāṇaṃ’’. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘chinnavaṭumānupassane paññā vimuttiñāṇaṃ’’.
By the path of Arahantship, lust for form, lust for the formless, conceit, restlessness, ignorance, the underlying tendency of conceit, the underlying tendency of lust for existence, and the underlying tendency of ignorance—defilements of one's own mind—are well cut off. The mind is liberated, well-liberated, from these eight defilements together with their manifestations. That liberation is knowledge in the sense of knowing and wisdom in the sense of discerning. Therefore, it is said: 'Wisdom in contemplating the severed round is the knowledge of liberation.' That is knowledge in the sense of knowing and wisdom in the sense of discerning. Therefore, it is said: 'Wisdom in contemplating the severed round is the knowledge of liberation.'
Do A-la-hán đạo, sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh, mạn tùy miên, hữu ái tùy miên, vô minh tùy miên – các phiền não của tự tâm được đoạn trừ một cách chân chánh. Do tám loại phiền não này cùng với các triền cái, tâm được giải thoát, được khéo giải thoát. Sự giải thoát ấy, với ý nghĩa là biết nên là trí; với ý nghĩa là biết rõ nên là tuệ. Do đó được gọi là: ‘Tuệ trong sự quán xét sự đoạn tuyệt của vòng luân hồi là trí giải thoát’. Điều ấy, với ý nghĩa là biết nên là trí; với ý nghĩa là biết rõ nên là tuệ. Do đó được gọi là: ‘Tuệ trong sự quán xét sự đoạn tuyệt của vòng luân hồi là trí giải thoát’.
Vimuttiñāṇaniddeso terasamo.
The Exposition of the Knowledge of Liberation is the thirteenth.
Phần giải về trí giải thoát là thứ mười ba.
14. Paccavekkhaṇañāṇaniddeso
14. Exposition of the Knowledge of Reviewing
14. Phần giải về trí quán xét lại
65. Kathaṃ tadā samudāgate dhamme passane paññā paccavekkhaṇe ñāṇaṃ? Sotāpattimaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi tadā samudāgatā. Abhiniropanaṭṭhena sammāsaṅkappo tadā samudāgato. Pariggahaṭṭhena sammāvācā tadā samudāgatā. Samuṭṭhānaṭṭhena sammākammanto tadā samudāgato. Vodānaṭṭhena sammāājīvo tadā samudāgato. Paggahaṭṭhena sammāvāyāmo tadā samudāgato. Upaṭṭhānaṭṭhena sammāsati tadā samudāgatā. Avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi tadā samudāgato.
65. How is the wisdom in seeing the states that have arisen at that time the knowledge of reviewing? At the moment of the stream-entry path, Right View has then arisen in the sense of seeing. Right Intention has then arisen in the sense of directing. Right Speech has then arisen in the sense of embracing. Right Action has then arisen in the sense of originating. Right Livelihood has then arisen in the sense of purification. Right Effort has then arisen in the sense of exertion. Right Mindfulness has then arisen in the sense of establishing. Right Concentration has then arisen in the sense of non-distraction.
65. Thế nào là tuệ trong sự thấy các pháp đã sanh khởi vào lúc ấy là trí trong sự quán xét lại? Trong sát-na của đạo Nhập Lưu, chánh kiến với ý nghĩa là thấy đã sanh khởi vào lúc ấy. Chánh tư duy với ý nghĩa là hướng đến đã sanh khởi vào lúc ấy. Chánh ngữ với ý nghĩa là thu nhiếp đã sanh khởi vào lúc ấy. Chánh nghiệp với ý nghĩa là khởi lên đã sanh khởi vào lúc ấy. Chánh mạng với ý nghĩa là trong sạch đã sanh khởi vào lúc ấy. Chánh tinh tấn với ý nghĩa là nỗ lực đã sanh khởi vào lúc ấy. Chánh niệm với ý nghĩa là an trú đã sanh khởi vào lúc ấy. Chánh định với ý nghĩa là không tán loạn đã sanh khởi vào lúc ấy.
Upaṭṭhānaṭṭhena satisambojjhaṅgo tadā samudāgato. Pavicayaṭṭhena dhammavicayasambojjhaṅgo tadā samudāgato. Paggahaṭṭhena vīriyasambojjhaṅgo tadā samudāgato. Pharaṇaṭṭhena pītisambojjhaṅgo tadā samudāgato. Upasamaṭṭhena passaddhisambojjhaṅgo tadā samudāgato. Avikkhepaṭṭhena samādhisambojjhaṅgo tadā samudāgato. Paṭisaṅkhānaṭṭhena upekkhāsambojjhaṅgo tadā samudāgato.
The enlightenment factor of mindfulness is then well arisen in the sense of being present. The enlightenment factor of investigation of phenomena is then well arisen in the sense of scrutiny. The enlightenment factor of energy is then well arisen in the sense of exertion. The enlightenment factor of rapture is then well arisen in the sense of pervading. The enlightenment factor of tranquility is then well arisen in the sense of calming. The enlightenment factor of concentration is then well arisen in the sense of non-distraction. The enlightenment factor of equanimity is then well arisen in the sense of reflecting.
Niệm giác chi với ý nghĩa là an trú đã sanh khởi vào lúc ấy. Trạch pháp giác chi với ý nghĩa là thẩm sát đã sanh khởi vào lúc ấy. Tấn giác chi với ý nghĩa là nỗ lực đã sanh khởi vào lúc ấy. Hỷ giác chi với ý nghĩa là thấm nhuần đã sanh khởi vào lúc ấy. Tịnh giác chi với ý nghĩa là an tịnh đã sanh khởi vào lúc ấy. Định giác chi với ý nghĩa là không tán loạn đã sanh khởi vào lúc ấy. Xả giác chi với ý nghĩa là quán xét đã sanh khởi vào lúc ấy.
Assaddhiye akampiyaṭṭhena saddhābalaṃ tadā samudāgataṃ. Kosajje akampiyaṭṭhena vīriyabalaṃ tadā samudāgataṃ. Pamāde akampiyaṭṭhena satibalaṃ tadā samudāgataṃ. Uddhacce akampiyaṭṭhena samādhibalaṃ tadā samudāgataṃ. Avijjāya akampiyaṭṭhena paññābalaṃ tadā samudāgataṃ.
The power of faith is then well arisen, being unshakeable by faithlessness. The power of energy is then well arisen, being unshakeable by laziness. The power of mindfulness is then well arisen, being unshakeable by heedlessness. The power of concentration is then well arisen, being unshakeable by restlessness. The power of wisdom is then well arisen, being unshakeable by ignorance.
Tín lực với ý nghĩa là không bị lay động bởi sự vô tín đã sanh khởi vào lúc ấy. Tấn lực với ý nghĩa là không bị lay động bởi sự biếng nhác đã sanh khởi vào lúc ấy. Niệm lực với ý nghĩa là không bị lay động bởi sự dể duôi đã sanh khởi vào lúc ấy. Định lực với ý nghĩa là không bị lay động bởi sự trạo cử đã sanh khởi vào lúc ấy. Tuệ lực với ý nghĩa là không bị lay động bởi vô minh đã sanh khởi vào lúc ấy.
Adhimokkhaṭṭhena saddhindriyaṃ tadā samudāgataṃ. Paggahaṭṭhena vīriyindriyaṃ tadā samudāgataṃ. Upaṭṭhānaṭṭhena satindriyaṃ tadā samudāgataṃ. Avikkhepaṭṭhena samādhindriyaṃ tadā samudāgataṃ. Dassanaṭṭhena paññindriyaṃ tadā samudāgataṃ.
The faculty of faith is then well arisen in the sense of resolution. The faculty of energy is then well arisen in the sense of exertion. The faculty of mindfulness is then well arisen in the sense of being present. The faculty of concentration is then well arisen in the sense of non-distraction. The faculty of wisdom is then well arisen in the sense of seeing.
Tín quyền với ý nghĩa là quyết định đã sanh khởi vào lúc ấy. Tấn quyền với ý nghĩa là nỗ lực đã sanh khởi vào lúc ấy. Niệm quyền với ý nghĩa là an trú đã sanh khởi vào lúc ấy. Định quyền với ý nghĩa là không tán loạn đã sanh khởi vào lúc ấy. Tuệ quyền với ý nghĩa là thấy đã sanh khởi vào lúc ấy.
Ādhipateyyaṭṭhena indriyā tadā samudāgatā. Akampiyaṭṭhena balā tadā samudāgatā. Niyyānaṭṭhena sambojjhaṅgā tadā samudāgatā. Hetuṭṭhena maggo tadā samudāgato. Upaṭṭhānaṭṭhena satipaṭṭhānā tadā samudāgatā. Padahanaṭṭhena sammappadhānā tadā samudāgatā. Ijjhanaṭṭhena iddhipādā tadā samudāgatā. Tathaṭṭhena saccā tadā samudāgatā. Avikkhepaṭṭhena samatho tadā samudāgato. Anupassanaṭṭhena vipassanā tadā samudāgatā. Ekarasaṭṭhena samathavipassanā tadā samudāgatā. Anativattanaṭṭhena yuganaddhaṃ tadā samudāgataṃ. Saṃvaraṭṭhena sīlavisuddhi tadā samudāgatā. Avikkhepaṭṭhena cittavisuddhi tadā samudāgatā. Dassanaṭṭhena diṭṭhivisuddhi tadā samudāgatā. Vimuttaṭṭhena vimokkho tadā samudāgato. Paṭivedhaṭṭhena vijjā tadā samudāgatā. Pariccāgaṭṭhena vimutti tadā samudāgatā. Samucchedaṭṭhena khaye ñāṇaṃ tadā samudāgataṃ.
The faculties are then well-arisen in the sense of sovereignty. The powers are then well-arisen in the sense of being unshakeable. The enlightenment factors are then well-arisen in the sense of leading out. The path is then well-arisen in the sense of being the cause. The foundations of mindfulness are then well-arisen in the sense of being established. The right strivings are then well-arisen in the sense of striving. The bases of spiritual power are then well-arisen in the sense of accomplishment. The truths are then well-arisen in the sense of being true. Calm is then well-arisen in the sense of non-distraction. Insight is then well-arisen in the sense of contemplation. Calm and insight are then well-arisen in the sense of having a single function. The coupling is then well-arisen in the sense of not overstepping. The purification of virtue is then well-arisen in the sense of restraint. The purification of mind is then well-arisen in the sense of non-distraction. The purification of view is then well-arisen in the sense of seeing. Liberation is then well-arisen in the sense of being freed. True knowledge is then well-arisen in the sense of penetration. Freedom is then well-arisen in the sense of relinquishment. The knowledge of destruction is then well-arisen in the sense of severance.
Các quyền với ý nghĩa là làm chủ đã sanh khởi vào lúc ấy. Các lực với ý nghĩa là không bị lay động đã sanh khởi vào lúc ấy. Các giác chi với ý nghĩa là sự xuất ly đã sanh khởi vào lúc ấy. Đạo với ý nghĩa là nhân đã sanh khởi vào lúc ấy. Các niệm xứ với ý nghĩa là an trú đã sanh khởi vào lúc ấy. Các chánh cần với ý nghĩa là tinh cần đã sanh khởi vào lúc ấy. Các như ý túc với ý nghĩa là thành tựu đã sanh khởi vào lúc ấy. Các sự thật với ý nghĩa là như thật đã sanh khởi vào lúc ấy. Chỉ với ý nghĩa là không tán loạn đã sanh khởi vào lúc ấy. Quán với ý nghĩa là tùy quán đã sanh khởi vào lúc ấy. Chỉ và quán với ý nghĩa là có một phận sự đã sanh khởi vào lúc ấy. Song hành với ý nghĩa là không vượt qua nhau đã sanh khởi vào lúc ấy. Giới thanh tịnh với ý nghĩa là phòng hộ đã sanh khởi vào lúc ấy. Tâm thanh tịnh với ý nghĩa là không tán loạn đã sanh khởi vào lúc ấy. Kiến thanh tịnh với ý nghĩa là thấy đã sanh khởi vào lúc ấy. Giải thoát với ý nghĩa là được giải thoát đã sanh khởi vào lúc ấy. Minh với ý nghĩa là thông suốt đã sanh khởi vào lúc ấy. Sự giải thoát với ý nghĩa là từ bỏ đã sanh khởi vào lúc ấy. Trí về sự đoạn tận với ý nghĩa là đoạn trừ đã sanh khởi vào lúc ấy.
Chando mūlaṭṭhena tadā samudāgato. Manasikāro samuṭṭhānaṭṭhena tadā samudāgato. Phasso samodhānaṭṭhena tadā samudāgato. Vedanā samosaraṇaṭṭhena tadā samudāgatā. Samādhi pamukhaṭṭhena tadā samudāgato. Sati ādhipateyyaṭṭhena tadā samudāgatā. Paññā taduttaraṭṭhena tadā samudāgatā. Vimutti sāraṭṭhena tadā samudāgatā. Amatogadhaṃ nibbānaṃ pariyosānaṭṭhena tadā samudāgataṃ. Vuṭṭhahitvā paccavekkhati, ime dhammā tadā samudāgatā.
Zeal is then well-arisen in the sense of being the root. Attention is then well-arisen in the sense of origination. Contact is then well-arisen in the sense of confluence. Feeling is then well-arisen in the sense of convergence. Concentration is then well-arisen in the sense of being foremost. Mindfulness is then well-arisen in the sense of sovereignty. Wisdom is then well-arisen in the sense of being superior. Liberation is then well-arisen in the sense of being the essence. Nibbāna, the immersion in the Deathless, is then well-arisen in the sense of being the culmination. Having emerged, one reflects: 'These states are then well-arisen.'
Dục với ý nghĩa là căn bản đã sanh khởi vào lúc ấy. Tác ý với ý nghĩa là khởi lên đã sanh khởi vào lúc ấy. Xúc với ý nghĩa là sự hội hợp đã sanh khởi vào lúc ấy. Thọ với ý nghĩa là sự tụ hội đã sanh khởi vào lúc ấy. Định với ý nghĩa là hàng đầu đã sanh khởi vào lúc ấy. Niệm với ý nghĩa là làm chủ đã sanh khởi vào lúc ấy. Tuệ với ý nghĩa là vượt trội hơn đã sanh khởi vào lúc ấy. Giải thoát với ý nghĩa là cốt lõi đã sanh khởi vào lúc ấy. Niết-bàn, sự thể nhập vào bất tử, với ý nghĩa là cứu cánh đã sanh khởi vào lúc ấy. Sau khi xuất khởi, vị ấy quán xét lại rằng: ‘Các pháp này đã sanh khởi vào lúc ấy’.
Sotāpattiphalakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi tadā samudāgatā. Abhiniropanaṭṭhena sammāsaṅkappo tadā samudāgato…pe… paṭippassaddhaṭṭhena anuppāde ñāṇaṃ tadā samudāgataṃ. Chando mūlaṭṭhena tadā samudāgato. Manasikāro samuṭṭhānaṭṭhena tadā samudāgato. Phasso samodhānaṭṭhena tadā samudāgato. Vedanā samosaraṇaṭṭhena tadā samudāgatā. Samādhi pamukhaṭṭhena tadā samudāgato. Sati ādhipateyyaṭṭhena tadā samudāgatā. Paññā taduttaraṭṭhena tadā samudāgatā. Vimutti sāraṭṭhena tadā samudāgatā. Amatogadhaṃ nibbānaṃ pariyosānaṭṭhena tadā samudāgataṃ. Vuṭṭhahitvā paccavekkhati, ime dhammā tadā samudāgatā.
At the moment of the fruition of stream-entry, right view arises then in the sense of seeing. Right intention arises then in the sense of directing towards… and so on… the knowledge of non-arising arises then in the sense of being pacified. Desire arises then in the sense of being the root. Attention arises then in the sense of being the origin. Contact arises then in the sense of convergence. Feeling arises then in the sense of confluence. Concentration arises then in the sense of being foremost. Mindfulness arises then in the sense of dominance. Wisdom arises then in the sense of being superior. Liberation arises then in the sense of being the essence. Nibbāna, which has the Deathless as its destination, arises then in the sense of being the culmination. Having emerged, one reflects: 'These states have then arisen.'
Trong sát-na của quả Nhập Lưu, chánh kiến với ý nghĩa là thấy đã sanh khởi vào lúc ấy. Chánh tư duy với ý nghĩa là hướng đến đã sanh khởi vào lúc ấy...v.v... trí về sự không sanh khởi với ý nghĩa là được lắng dịu đã sanh khởi vào lúc ấy. Dục với ý nghĩa là căn bản đã sanh khởi vào lúc ấy. Tác ý với ý nghĩa là khởi lên đã sanh khởi vào lúc ấy. Xúc với ý nghĩa là sự hội hợp đã sanh khởi vào lúc ấy. Thọ với ý nghĩa là sự tụ hội đã sanh khởi vào lúc ấy. Định với ý nghĩa là hàng đầu đã sanh khởi vào lúc ấy. Niệm với ý nghĩa là làm chủ đã sanh khởi vào lúc ấy. Tuệ với ý nghĩa là vượt trội hơn đã sanh khởi vào lúc ấy. Giải thoát với ý nghĩa là cốt lõi đã sanh khởi vào lúc ấy. Niết-bàn, sự thể nhập vào bất tử, với ý nghĩa là cứu cánh đã sanh khởi vào lúc ấy. Sau khi xuất khởi, vị ấy quán xét lại rằng: ‘Các pháp này đã sanh khởi vào lúc ấy’.
Sakadāgāmimaggakkhaṇe…pe… sakadāgāmiphalakkhaṇe…pe… anāgāmimaggakkhaṇe…pe… anāgāmiphalakkhaṇe…pe… arahattamaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi tadā samudāgatā…pe… samucchedaṭṭhena khaye ñāṇaṃ tadā samudāgataṃ. Chando mūlaṭṭhena tadā samudāgato…pe… amatogadhaṃ nibbānaṃ pariyosānaṭṭhena tadā samudāgataṃ. Vuṭṭhahitvā paccavekkhati, ime dhammā tadā samudāgatā.
At the moment of the path of the once-returner… and so on… at the moment of the fruition of the once-returner… and so on… at the moment of the path of the non-returner… and so on… at the moment of the fruition of the non-returner… and so on… at the moment of the path of Arahantship, right view arises then in the sense of seeing… and so on… the knowledge of destruction arises then in the sense of complete cutting off. Desire arises then in the sense of being the root… and so on… Nibbāna, which has the Deathless as its destination, arises then in the sense of being the culmination. Having emerged, one reflects: 'These states have then arisen.'
Trong sát-na đạo Nhất Lai... cho đến... trong sát-na quả Nhất Lai... cho đến... trong sát-na đạo Bất Lai... cho đến... trong sát-na quả Bất Lai... cho đến... trong sát-na đạo A-la-hán, chánh kiến với ý nghĩa thấy đã sanh khởi tốt đẹp vào lúc ấy... cho đến... tận trí với ý nghĩa đoạn trừ đã sanh khởi tốt đẹp vào lúc ấy. Dục với ý nghĩa là căn bản đã sanh khởi tốt đẹp vào lúc ấy... cho đến... Niết-bàn, sự thể nhập vào bất tử, với ý nghĩa là sự kết thúc đã sanh khởi tốt đẹp vào lúc ấy. Sau khi xuất (thiền), vị ấy phản khán rằng: 'Các pháp này đã sanh khởi tốt đẹp vào lúc ấy'.
Arahattaphalakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi tadā samudāgatā …pe… paṭippassaddhaṭṭhena anuppāde ñāṇaṃ tadā samudāgataṃ. Chando mūlaṭṭhena tadā samudāgato …pe… amatogadhaṃ nibbānaṃ pariyosānaṭṭhena tadā samudāgataṃ. Vuṭṭhahitvā paccavekkhati, ime dhammā tadā samudāgatā. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘tadā samudāgate dhamme passane paññā paccavekkhaṇe ñāṇaṃ’’.
At the moment of the fruition of Arahantship, right view arises then in the sense of seeing… and so on… the knowledge of non-arising arises then in the sense of being pacified. Desire arises then in the sense of being the root… and so on… Nibbāna, which has the Deathless as its destination, arises then in the sense of being the culmination. Having emerged, one reflects: 'These states have then arisen.' That is knowledge in the sense of knowing, and wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: 'Wisdom in seeing, and knowledge in reviewing, the states that have then arisen.'
Trong sát-na quả A-la-hán, chánh kiến với ý nghĩa thấy đã sanh khởi tốt đẹp vào lúc ấy... cho đến... vô sanh trí với ý nghĩa an tịnh đã sanh khởi tốt đẹp vào lúc ấy. Dục với ý nghĩa là căn bản đã sanh khởi tốt đẹp vào lúc ấy... cho đến... Niết-bàn, sự thể nhập vào bất tử, với ý nghĩa là sự kết thúc đã sanh khởi tốt đẹp vào lúc ấy. Sau khi xuất (thiền), vị ấy phản khán rằng: 'Các pháp này đã sanh khởi tốt đẹp vào lúc ấy'. Điều ấy là trí với ý nghĩa biết, là tuệ với ý nghĩa biết rõ. Do đó, được nói rằng: 'Tuệ trong việc thấy các pháp đã sanh khởi vào lúc ấy, là trí trong sự phản khán'.
Paccavekkhaṇañāṇaniddeso cuddasamo.
Here ends the fourteenth exposition on the knowledge of reviewing.
Phần giải thích về phản khán trí thứ mười bốn.
15. Vatthunānattañāṇaniddeso
15. The Exposition of the Knowledge of Diversity in Objects.
15. Phần giải thích về trí phân biệt các vật.
66. Kathaṃ ajjhattavavatthāne paññā vatthunānatte ñāṇaṃ? Kathaṃ ajjhattadhamme vavattheti? Cakkhuṃ ajjhattaṃ vavattheti, sotaṃ ajjhattaṃ vavattheti, ghānaṃ ajjhattaṃ vavattheti, jivhaṃ ajjhattaṃ vavattheti, kāyaṃ ajjhattaṃ vavattheti, manaṃ ajjhattaṃ vavattheti.
66. How is the wisdom that occurs in the determination of internal phenomena knowledge of the diversity of things? How does one determine internal phenomena? One determines the eye as internal, one determines the ear as internal, one determines the nose as internal, one determines the tongue as internal, one determines the body as internal, one determines the mind as internal.
66. Thế nào là tuệ trong sự xác định nội phần là trí về sự khác biệt của các vật? Vị ấy xác định các pháp nội phần như thế nào? Vị ấy xác định mắt là nội phần, xác định tai là nội phần, xác định mũi là nội phần, xác định lưỡi là nội phần, xác định thân là nội phần, xác định ý là nội phần.
Kathaṃ cakkhuṃ ajjhattaṃ vavattheti? Cakkhu avijjāsambhūtanti vavattheti, cakkhu taṇhāsambhūtanti vavattheti, cakkhu kammasambhūtanti vavattheti, cakkhu āhārasambhūtanti vavattheti, cakkhu catunnaṃ mahābhūtānaṃ upādāyāti vavattheti, cakkhu uppannanti vavattheti, cakkhu samudāgatanti vavattheti. Cakkhu ahutvā sambhūtaṃ, hutvā na bhavissatīti vavattheti. Cakkhuṃ antavantato vavattheti, cakkhu addhuvaṃ asassataṃ vipariṇāmadhammanti vavattheti, cakkhu aniccaṃ saṅkhataṃ paṭiccasamuppannaṃ khayadhammaṃ vayadhammaṃ virāgadhammaṃ nirodhadhammanti vavattheti. Cakkhuṃ aniccato vavattheti, no niccato; dukkhato vavattheti, no sukhato; anattato vavattheti, no attato; nibbindati, no nandati; virajjati, no rajjati; nirodheti, no samudeti; paṭinissajjati, no ādiyati. Aniccato vavatthento niccasaññaṃ pajahati, dukkhato vavatthento sukhasaññaṃ pajahati, anattato vavatthento attasaññaṃ pajahati, nibbindanto nandiṃ pajahati, virajjanto rāgaṃ pajahati, nirodhento samudayaṃ pajahati, paṭinissajjanto ādānaṃ pajahati. Evaṃ cakkhuṃ ajjhattaṃ vavattheti.
How does one determine the eye as internal? One determines the eye as born of ignorance, born of craving, born of kamma, born of nutriment, and as arising in dependence on the four great elements. One determines the eye as arisen, as come to be. One determines: 'The eye, having not been, has come to be; having been, it will not be again.' One determines the eye as having an end. One determines it as impermanent, not eternal, and subject to change. One determines it as impermanent, conditioned, dependently arisen, subject to destruction, subject to vanishing, subject to fading away, and subject to cessation. One determines the eye as impermanent, not as permanent; as suffering, not as pleasure; as non-self, not as self. One becomes disenchanted, not delighted; one becomes dispassionate, not impassioned; one brings about cessation, not arising; one relinquishes, not grasping. Determining it as impermanent, one abandons the perception of permanence; determining it as suffering, one abandons the perception of pleasure; determining it as non-self, one abandons the perception of self. Becoming disenchanted, one abandons delight; becoming dispassionate, one abandons passion; bringing about cessation, one abandons arising; relinquishing, one abandons grasping. Thus does one determine the eye as internal.
Vị ấy xác định mắt là nội phần như thế nào? Vị ấy xác định rằng: 'Mắt sanh từ vô minh'; vị ấy xác định rằng: 'Mắt sanh từ ái'; vị ấy xác định rằng: 'Mắt sanh từ nghiệp'; vị ấy xác định rằng: 'Mắt sanh từ vật thực'; vị ấy xác định rằng: 'Mắt (hiện hữu) do nương vào bốn đại hiển'; vị ấy xác định rằng: 'Mắt đã sanh'; vị ấy xác định rằng: 'Mắt đã sanh khởi tốt đẹp'. Vị ấy xác định rằng: 'Mắt, từ không đã thành có, đã có rồi sẽ không còn'. Vị ấy xác định mắt là có giới hạn; vị ấy xác định rằng: 'Mắt không bền vững, không thường còn, có tính biến hoại'; vị ấy xác định rằng: 'Mắt là vô thường, là pháp hữu vi, là pháp do duyên sanh, có tính tiêu hoại, có tính biến hoại, có tính ly tham, có tính đoạn diệt'. Vị ấy xác định mắt là vô thường, không phải là thường; xác định là khổ, không phải là lạc; xác định là vô ngã, không phải là ngã; vị ấy nhàm chán, không hoan hỷ; ly tham, không tham đắm; làm cho diệt, không làm cho sanh; từ bỏ, không chấp thủ. Khi xác định là vô thường, vị ấy từ bỏ thường tưởng; khi xác định là khổ, vị ấy từ bỏ lạc tưởng; khi xác định là vô ngã, vị ấy từ bỏ ngã tưởng; khi nhàm chán, vị ấy từ bỏ sự hoan hỷ; khi ly tham, vị ấy từ bỏ tham ái; khi làm cho diệt, vị ấy từ bỏ sự sanh khởi; khi từ bỏ, vị ấy từ bỏ sự chấp thủ. Như vậy, vị ấy xác định mắt là nội phần.
Kathaṃ sotaṃ ajjhattaṃ vavattheti? Sotaṃ avijjāsambhūtanti vavattheti…pe… evaṃ sotaṃ ajjhattaṃ vavattheti. Kathaṃ ghānaṃ ajjhattaṃ vavattheti? Ghānaṃ avijjāsambhūtanti vavattheti…pe… evaṃ ghānaṃ ajjhattaṃ vavattheti. Kathaṃ jivhaṃ ajjhattaṃ vavattheti? Jivhā avijjāsambhūtāti vavattheti, jivhā taṇhāsambhūtāti vavattheti, jivhā kammasambhūtāti vavattheti, jivhā āhārasambhūtāti vavattheti, jivhā catunnaṃ mahābhūtānaṃ upādāyāti vavattheti, jivhā uppannāti vavattheti jivhā samudāgatāti vavattheti. Jivhā ahutvā sambhūtā, hutvā na bhavissatīti vavattheti. Jivhaṃ antavantato vavattheti, jivhā addhuvā asassatā vipariṇāmadhammāti vavattheti, jivhā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammāti vavattheti. Jivhaṃ aniccato vavattheti, no niccato…pe… paṭinissajjati, no ādiyati. Aniccato vavatthento niccasaññaṃ pajahati…pe… paṭinissajjanto ādānaṃ pajahati. Evaṃ jivhaṃ ajjhattaṃ vavattheti.
How does one internally determine the ear? One determines that the ear is born of ignorance… Thus does one internally determine the ear. How does one internally determine the nose? One determines that the nose is born of ignorance… Thus does one internally determine the nose. How does one internally determine the tongue? One determines that the tongue is born of ignorance, born of craving, born of kamma, and born of nutriment; one determines that it is dependent on the four great elements. One determines that the tongue has arisen and that it has come to be. One determines that the tongue has come into being from not having been, and that having been, it will not be. One determines the tongue as having an end. One determines that the tongue is unstable, not eternal, and subject to change. One determines that the tongue is impermanent, conditioned, dependently arisen, subject to destruction, subject to vanishing, subject to fading away, and subject to cessation. One determines the tongue as impermanent, not as permanent… one relinquishes and does not grasp. By determining it as impermanent, one abandons the perception of permanence… by relinquishing, one abandons grasping. Thus does one internally determine the tongue.
Vị ấy xác định tai là nội phần như thế nào? Vị ấy xác định rằng: 'Tai sanh từ vô minh'... cho đến... Như vậy, vị ấy xác định tai là nội phần. Vị ấy xác định mũi là nội phần như thế nào? Vị ấy xác định rằng: 'Mũi sanh từ vô minh'... cho đến... Như vậy, vị ấy xác định mũi là nội phần. Vị ấy xác định lưỡi là nội phần như thế nào? Vị ấy xác định rằng: 'Lưỡi sanh từ vô minh'; vị ấy xác định rằng: 'Lưỡi sanh từ ái'; vị ấy xác định rằng: 'Lưỡi sanh từ nghiệp'; vị ấy xác định rằng: 'Lưỡi sanh từ vật thực'; vị ấy xác định rằng: 'Lưỡi (hiện hữu) do nương vào bốn đại hiển'; vị ấy xác định rằng: 'Lưỡi đã sanh'; vị ấy xác định rằng: 'Lưỡi đã sanh khởi tốt đẹp'. Vị ấy xác định rằng: 'Lưỡi, từ không đã thành có, đã có rồi sẽ không còn'. Vị ấy xác định lưỡi là có giới hạn; vị ấy xác định rằng: 'Lưỡi không bền vững, không thường còn, có tính biến hoại'; vị ấy xác định rằng: 'Lưỡi là vô thường, là pháp hữu vi, là pháp do duyên sanh, có tính tiêu hoại, có tính biến hoại, có tính ly tham, có tính đoạn diệt'. Vị ấy xác định lưỡi là vô thường, không phải là thường... cho đến... từ bỏ, không chấp thủ. Khi xác định là vô thường, vị ấy từ bỏ thường tưởng... cho đến... khi từ bỏ, vị ấy từ bỏ sự chấp thủ. Như vậy, vị ấy xác định lưỡi là nội phần.
Kathaṃ kāyaṃ ajjhattaṃ vavattheti? Kāyo avijjāsambhūtoti vavattheti, kāyo taṇhāsambhūtoti vavattheti, kāyo kammasambhūtoti vavattheti, kāyo āhārasambhūtoti vavattheti, kāyo catunnaṃ mahābhūtānaṃ upādāyāti vavattheti, kāyo uppannoti vavattheti, kāyo samudāgatoti vavattheti. Kāyo ahutvā sambhūto, hutvā na bhavissatīti vavattheti. Kāyaṃ antavantato vavattheti, kāyo addhuvo asassato vipariṇāmadhammoti vavattheti, kāyo anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno khayadhammo vayadhammo virāgadhammo nirodhadhammoti vavattheti. Kāyaṃ aniccato vavattheti, no niccato; dukkhato vavattheti, no sukhato…pe… paṭinissajjati, no ādiyati. Aniccato vavatthento niccasaññaṃ pajahati, dukkhato vavatthento sukhasaññaṃ pajahati…pe… paṭinissajjanto ādānaṃ pajahati. Evaṃ kāyaṃ ajjhattaṃ vavattheti.
How does one internally determine the body? One determines, 'The body is born of ignorance.' One determines, 'The body is born of craving.' One determines, 'The body is born of kamma.' One determines, 'The body is born of nutriment.' One determines, 'The body exists in dependence on the four great elements.' One determines, 'The body has arisen.' One determines, 'The body has come into being.' One determines, 'The body, not having been, has come to be; having been, it will not be.' One determines the body as having an end. One determines, 'The body is not lasting, not eternal, and subject to change.' One determines, 'The body is impermanent, conditioned, dependently arisen, subject to decay, subject to vanishing, subject to fading away, and subject to cessation.' One determines the body as impermanent, not as permanent; as suffering, not as pleasure… and so on… one relinquishes, one does not grasp. By determining it as impermanent, one abandons the perception of permanence; by determining it as suffering, one abandons the perception of pleasure… and so on… By relinquishing, one abandons grasping. Thus, one internally determines the body.
Vị ấy xác định thân là nội phần như thế nào? Vị ấy xác định rằng: 'Thân sanh từ vô minh'; vị ấy xác định rằng: 'Thân sanh từ ái'; vị ấy xác định rằng: 'Thân sanh từ nghiệp'; vị ấy xác định rằng: 'Thân sanh từ vật thực'; vị ấy xác định rằng: 'Thân (hiện hữu) do nương vào bốn đại hiển'; vị ấy xác định rằng: 'Thân đã sanh'; vị ấy xác định rằng: 'Thân đã sanh khởi tốt đẹp'. Vị ấy xác định rằng: 'Thân, từ không đã thành có, đã có rồi sẽ không còn'. Vị ấy xác định thân là có giới hạn; vị ấy xác định rằng: 'Thân không bền vững, không thường còn, có tính biến hoại'; vị ấy xác định rằng: 'Thân là vô thường, là pháp hữu vi, là pháp do duyên sanh, có tính tiêu hoại, có tính biến hoại, có tính ly tham, có tính đoạn diệt'. Vị ấy xác định thân là vô thường, không phải là thường; xác định là khổ, không phải là lạc... cho đến... từ bỏ, không chấp thủ. Khi xác định là vô thường, vị ấy từ bỏ thường tưởng; khi xác định là khổ, vị ấy từ bỏ lạc tưởng... cho đến... khi từ bỏ, vị ấy từ bỏ sự chấp thủ. Như vậy, vị ấy xác định thân là nội phần.
Kathaṃ manaṃ ajjhattaṃ vavattheti? Mano avijjāsambhūtoti vavattheti, mano taṇhāsambhūtoti vavattheti, mano kammasambhūtoti vavattheti, mano āhārasambhūtoti vavattheti, mano uppannoti vavattheti, mano samudāgatoti vavattheti. Mano ahutvā sambhūto, hutvā na bhavissatīti vavattheti. Manaṃ antavantato vavattheti, mano addhuvo asassato vipariṇāmadhammoti vavattheti, mano anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno khayadhammo vayadhammo virāgadhammo nirodhadhammoti vavattheti. Manaṃ aniccato vavattheti, no niccato; dukkhato vavattheti, no sukhato; anattato vavattheti, no attato; nibbindati, no nandati; virajjati, no rajjati; nirodheti, no samudeti; paṭinissajjati, no ādiyati. Aniccato vavatthento niccasaññaṃ pajahati, dukkhato vavatthento sukhasaññaṃ pajahati, anattato vavatthento attasaññaṃ pajahati, nibbindanto nandiṃ pajahati, virajjanto rāgaṃ pajahati, nirodhento samudayaṃ pajahati, paṭinissajjanto ādānaṃ pajahati. Evaṃ manaṃ ajjhattaṃ vavattheti. Evaṃ ajjhattadhamme vavattheti. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘ajjhattavavatthāne paññā vatthunānatte ñāṇaṃ’’.
How does one determine the mind internally? One determines the mind as arisen from ignorance, as arisen from craving, as arisen from kamma, as arisen from nutriment. One determines the mind as arisen, as come to be. One determines the mind as having come to be from not having been, and, having been, as being no more. One determines the mind as having a limit. One determines the mind as not lasting, not eternal, of a nature to change. One determines the mind as impermanent, conditioned, dependently arisen, of a nature to be destroyed, of a nature to perish, of a nature to fade away, of a nature to cease. One determines the mind as impermanent, not as permanent; as suffering, not as pleasure; as non-self, not as self. One becomes disenchanted, does not delight; becomes dispassionate, is not impassioned; causes to cease, does not cause to arise; relinquishes, does not grasp. Determining it as impermanent, one abandons the perception of permanence. Determining it as suffering, one abandons the perception of pleasure. Determining it as non-self, one abandons the perception of self. Being disenchanted, one abandons delight. Being dispassionate, one abandons passion. Causing it to cease, one abandons arising. Relinquishing, one abandons grasping. Thus one determines the mind internally. Thus one determines internal phenomena. That is knowledge in the sense of knowing, and wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: 'Wisdom in the determination of the internal is knowledge of the diversity of things.'
Làm thế nào vị ấy xác định ý ở bên trong? Vị ấy xác định rằng: ‘Ý được sanh khởi từ vô minh,’ vị ấy xác định rằng: ‘Ý được sanh khởi từ tham ái,’ vị ấy xác định rằng: ‘Ý được sanh khởi từ nghiệp,’ vị ấy xác định rằng: ‘Ý được sanh khởi từ vật thực,’ vị ấy xác định rằng: ‘Ý đã sanh,’ vị ấy xác định rằng: ‘Ý đã phát sanh.’ Vị ấy xác định rằng: ‘Ý, trước kia không có, nay đã sanh khởi; đã có rồi, sẽ không có nữa.’ Vị ấy xác định ý là có giới hạn, vị ấy xác định rằng: ‘Ý là không bền vững, không thường còn, có bản chất biến hoại,’ vị ấy xác định rằng: ‘Ý là vô thường, là pháp hữu vi, là do duyên sanh, có bản chất tiêu hoại, có bản chất hủy diệt, có bản chất ly tham, có bản chất đoạn diệt.’ Vị ấy xác định ý theo khía cạnh vô thường, không phải thường còn; xác định theo khía cạnh khổ, không phải lạc; xác định theo khía cạnh vô ngã, không phải ngã; vị ấy nhàm chán, không hoan hỷ; vị ấy ly tham, không tham đắm; vị ấy làm cho diệt, không làm cho sanh khởi; vị ấy từ bỏ, không chấp thủ. Khi xác định theo khía cạnh vô thường, vị ấy từ bỏ tưởng về thường; khi xác định theo khía cạnh khổ, vị ấy từ bỏ tưởng về lạc; khi xác định theo khía cạnh vô ngã, vị ấy từ bỏ tưởng về ngã; khi nhàm chán, vị ấy từ bỏ sự hoan hỷ; khi ly tham, vị ấy từ bỏ tham ái; khi làm cho diệt, vị ấy từ bỏ sự sanh khởi; khi từ bỏ, vị ấy từ bỏ sự chấp thủ. Như vậy, vị ấy xác định ý ở bên trong. Như vậy, vị ấy xác định các pháp bên trong. Điều ấy là trí tuệ (ñāṇa) theo ý nghĩa là biết, là tuệ (paññā) theo ý nghĩa là biết rõ. Do đó, được nói rằng: ‘Tuệ trong sự xác định bên trong là trí về sự đa dạng của đối tượng’.
Vatthunānattañāṇaniddeso pannarasamo.
The fifteenth is the Exposition on the Knowledge of the Diversity of Things.
Phần giải về trí tuệ phân biệt các pháp là phần thứ mười lăm.
16. Gocaranānattañāṇaniddeso
16. Exposition on the Knowledge of the Diversity of Spheres
16. Phần giải về trí tuệ phân biệt các hành xứ
67. Kathaṃ bahiddhā vavatthāne paññā gocaranānatte ñāṇaṃ? Kathaṃ bahiddhā dhamme vavattheti? Rūpe bahiddhā vavattheti, sadde bahiddhā vavattheti, gandhe bahiddhā vavattheti, rase bahiddhā vavattheti, phoṭṭhabbe bahiddhā vavattheti, dhamme bahiddhā vavattheti.
67. How is wisdom in the determination of the external knowledge of the diversity of spheres? How does one determine external phenomena? One determines external forms, one determines external sounds, one determines external odors, one determines external tastes, one determines external tangibles, one determines external mental phenomena.
67. Làm thế nào tuệ trong sự xác định bên ngoài là trí về sự đa dạng của hành xứ? Làm thế nào vị ấy xác định các pháp bên ngoài? Vị ấy xác định các sắc ở bên ngoài, vị ấy xác định các thanh ở bên ngoài, vị ấy xác định các hương ở bên ngoài, vị ấy xác định các vị ở bên ngoài, vị ấy xác định các xúc ở bên ngoài, vị ấy xác định các pháp ở bên ngoài.
Kathaṃ rūpe bahiddhā vavattheti? Rūpā avijjāsambhūtāti vavattheti rūpā taṇhāsambhūtāti vavattheti, rūpā kammasambhūtāti vavattheti, rūpā āhārasambhūtāti vavattheti, rūpā catunnaṃ mahābhūtānaṃ upādāyāti vavattheti, rūpā uppannāti vavattheti, rūpā samudāgatāti vavattheti. Rūpā ahutvā sambhūtā, hutvā na bhavissantīti vavattheti. Rūpe antavantato vavattheti, rūpā addhuvā asassatā vipariṇāmadhammāti vavattheti. Rūpā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammāti vavattheti. Rūpe aniccato vavattheti, no niccato; dukkhato vavattheti, no sukhato; anattato vavattheti, no attato; nibbindati, no nandati; virajjati, no rajjati; nirodheti, no samudeti; paṭinissajjati, no ādiyati. Aniccato vavatthento niccasaññaṃ pajahati, dukkhato vavatthento sukhasaññaṃ pajahati, anattato vavatthento attasaññaṃ pajahati, nibbindanto nandiṃ pajahati, virajjanto rāgaṃ pajahati, nirodhento samudayaṃ pajahati, paṭinissajjanto ādānaṃ pajahati. Evaṃ rūpe bahiddhā vavattheti.
How does one define forms externally? One defines forms as born of ignorance, as born of craving, as born of kamma, as born of nutriment, and as derived from the four great elements. One defines them as arisen, as having come into being. One defines: 'Having not been, forms have come to be; having been, they will cease to be.' One defines forms as having an end; as impermanent, not lasting, and subject to change. One defines them as impermanent, conditioned, dependently arisen, subject to destruction, subject to perishing, subject to fading away, and subject to cessation. One defines them as impermanent, not as permanent; as suffering, not as happiness; as non-self, not as self. One becomes disenchanted with them, does not delight in them; becomes dispassionate towards them, is not impassioned by them; brings them to cessation, does not cause them to originate; relinquishes them, does not grasp them. Defining them as impermanent, one abandons the perception of permanence; defining them as suffering, one abandons the perception of happiness; defining them as non-self, one abandons the perception of self. By becoming disenchanted, one abandons delight; by becoming dispassionate, one abandons passion; by bringing to cessation, one abandons origination; by relinquishing, one abandons grasping. Thus one defines forms externally.
Làm thế nào vị ấy xác định các sắc ở bên ngoài? Vị ấy xác định rằng: ‘Các sắc được sanh khởi từ vô minh,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các sắc được sanh khởi từ tham ái,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các sắc được sanh khởi từ nghiệp,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các sắc được sanh khởi từ vật thực,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các sắc nương vào bốn đại hiển mà có mặt,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các sắc đã sanh,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các sắc đã phát sanh.’ Vị ấy xác định rằng: ‘Các sắc, trước kia không có, nay đã sanh khởi; đã có rồi, sẽ không có nữa.’ Vị ấy xác định các sắc là có giới hạn, vị ấy xác định rằng: ‘Các sắc là không bền vững, không thường còn, có bản chất biến hoại.’ Vị ấy xác định rằng: ‘Các sắc là vô thường, là pháp hữu vi, là do duyên sanh, có bản chất tiêu hoại, có bản chất hủy diệt, có bản chất ly tham, có bản chất đoạn diệt.’ Vị ấy xác định các sắc theo khía cạnh vô thường, không phải thường còn; xác định theo khía cạnh khổ, không phải lạc; xác định theo khía cạnh vô ngã, không phải ngã; vị ấy nhàm chán, không hoan hỷ; vị ấy ly tham, không tham đắm; vị ấy làm cho diệt, không làm cho sanh khởi; vị ấy từ bỏ, không chấp thủ. Khi xác định theo khía cạnh vô thường, vị ấy từ bỏ tưởng về thường; khi xác định theo khía cạnh khổ, vị ấy từ bỏ tưởng về lạc; khi xác định theo khía cạnh vô ngã, vị ấy từ bỏ tưởng về ngã; khi nhàm chán, vị ấy từ bỏ sự hoan hỷ; khi ly tham, vị ấy từ bỏ tham ái; khi làm cho diệt, vị ấy từ bỏ sự sanh khởi; khi từ bỏ, vị ấy từ bỏ sự chấp thủ. Như vậy, vị ấy xác định các sắc ở bên ngoài.
Kathaṃ sadde bahiddhā vavattheti? Saddā avijjāsambhūtāti vavattheti…pe… saddā catunnaṃ mahābhūtānaṃ upādāyāti vavattheti, saddā uppannāti vavattheti, saddā samudāgatāti vavattheti. Saddā ahutvā sambhūtā, hutvā na bhavissantīti vavattheti. Sadde antavantato vavattheti, saddā addhuvā asassatā vipariṇāmadhammāti vavattheti, saddā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammāti vavattheti. Sadde aniccato vavattheti, no niccato…pe… evaṃ sadde bahiddhā vavattheti.
How does one define sounds externally? One defines sounds as derived from the four great elements. One defines them as arisen, as having come into being. One defines: 'Having not been, sounds have come to be; having been, they will cease to be.' One defines sounds as having an end; as impermanent, not lasting, and subject to change; as impermanent, conditioned, dependently arisen, subject to destruction, subject to perishing, subject to fading away, and subject to cessation. One defines them as impermanent, not as permanent... Thus one defines sounds externally.
Làm thế nào vị ấy xác định các thanh ở bên ngoài? Vị ấy xác định rằng: ‘Các thanh nương vào bốn đại hiển mà có mặt,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các thanh đã sanh,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các thanh đã phát sanh.’ Vị ấy xác định rằng: ‘Các thanh, trước kia không có, nay đã sanh khởi; đã có rồi, sẽ không có nữa.’ Vị ấy xác định các thanh là có giới hạn, vị ấy xác định rằng: ‘Các thanh là không bền vững, không thường còn, có bản chất biến hoại,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các thanh là vô thường, là pháp hữu vi, là do duyên sanh, có bản chất tiêu hoại, có bản chất hủy diệt, có bản chất ly tham, có bản chất đoạn diệt.’ Vị ấy xác định các thanh theo khía cạnh vô thường, không phải thường còn; ... cho đến ... Như vậy, vị ấy xác định các thanh ở bên ngoài.
Kathaṃ gandhe bahiddhā vavattheti? Gandhā avijjāsambhūtāti vavattheti, gandhā taṇhāsambhūtāti vavattheti…pe… evaṃ gandhe bahiddhā vavattheti. Kathaṃ rase bahiddhā vavattheti? Rasā avijjāsambhūtāti vavattheti, rasā taṇhāsambhūtāti vavattheti…pe… evaṃ rase bahiddhā vavattheti. Kathaṃ phoṭṭhabbe bahiddhā vavattheti? Phoṭṭhabbā avijjāsambhūtāti vavattheti, phoṭṭhabbā taṇhāsambhūtāti vavattheti, phoṭṭhabbā kammasambhūtāti vavattheti, phoṭṭhabbā āhārasambhūtāti vavattheti, phoṭṭhabbā uppannāti vavattheti. Phoṭṭhabbā samudāgatāti vavattheti…pe… evaṃ phoṭṭhabbe bahiddhā vavattheti.
How does one determine smells externally? One determines, 'Smells are born of ignorance.' One determines, 'Smells are born of craving.'... Thus one determines smells externally. How does one determine tastes externally? One determines, 'Tastes are born of ignorance.' One determines, 'Tastes are born of craving.'... Thus one determines tastes externally. How does one determine tactile objects externally? One determines, 'Tactile objects are born of ignorance.' One determines, 'Tactile objects are born of craving.' One determines, 'Tactile objects are born of kamma.' One determines, 'Tactile objects are born of nutriment.' One determines, 'Tactile objects are arisen.' One determines, 'Tactile objects have come into being.'... Thus one determines tactile objects externally.
Làm thế nào vị ấy xác định các hương ở bên ngoài? Vị ấy xác định rằng: ‘Các hương được sanh khởi từ vô minh,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các hương được sanh khởi từ tham ái,’ ... cho đến ... Như vậy, vị ấy xác định các hương ở bên ngoài. Làm thế nào vị ấy xác định các vị ở bên ngoài? Vị ấy xác định rằng: ‘Các vị được sanh khởi từ vô minh,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các vị được sanh khởi từ tham ái,’ ... cho đến ... Như vậy, vị ấy xác định các vị ở bên ngoài. Làm thế nào vị ấy xác định các xúc ở bên ngoài? Vị ấy xác định rằng: ‘Các xúc được sanh khởi từ vô minh,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các xúc được sanh khởi từ tham ái,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các xúc được sanh khởi từ nghiệp,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các xúc được sanh khởi từ vật thực,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các xúc đã sanh,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các xúc đã phát sanh,’ ... cho đến ... Như vậy, vị ấy xác định các xúc ở bên ngoài.
Kathaṃ dhamme bahiddhā vavattheti? Dhammā avijjāsambhūtāti vavattheti, dhammā taṇhāsambhūtāti vavattheti, dhammā kammasambhūtāti vavattheti, dhammā āhārasambhūtāti vavattheti, dhammā uppannāti vavattheti, dhammā samudāgatāti vavattheti. Dhammā ahutvā sambhūtā, hutvā na bhavissantīti vavattheti. Dhamme antavantato vavattheti, dhammā addhuvā asassatā vipariṇāmadhammāti vavattheti, dhammā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammāti vavattheti. Dhamme aniccato vavattheti, no niccato; dukkhato vavattheti, no sukhato; anattato vavattheti, no attato; nibbindati, no nandati; virajjati, no rajjati; nirodheti, no samudeti; paṭinissajjati, no ādiyati…pe… aniccato vavatthento niccasaññaṃ pajahati, dukkhato vavatthento sukhasaññaṃ pajahati, anattato vavatthento attasaññaṃ pajahati, nibbindanto nandiṃ pajahati, virajjanto rāgaṃ pajahati, nirodhento samudayaṃ pajahati, paṭinissajjanto ādānaṃ pajahati. Evaṃ dhamme bahiddhā vavattheti. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘bahiddhā vavatthāne paññā gocaranānatte ñāṇaṃ’’.
How does one define mental phenomena externally? One defines mental phenomena as arisen from ignorance; one defines mental phenomena as arisen from craving; one defines mental phenomena as arisen from kamma; one defines mental phenomena as arisen from nutriment; one defines them as arisen; one defines them as having come into being. One defines them: 'Having not been, they have come to be; having been, they will not be.' One defines mental phenomena as having an end; one defines them as impermanent, not lasting, and subject to change; one defines them as impermanent, conditioned, dependently arisen, subject to destruction, subject to vanishing, subject to fading away, and subject to cessation. One defines mental phenomena as impermanent, not as permanent; one defines them as suffering, not as happiness; one defines them as non-self, not as self. One becomes disenchanted, not delighted; becomes dispassionate, not impassioned; brings to cessation, does not cause to originate; relinquishes, does not grasp... Defining them as impermanent, one abandons the perception of permanence; defining them as suffering, one abandons the perception of happiness; defining them as non-self, one abandons the perception of self. By becoming disenchanted, one abandons delight; by becoming dispassionate, one abandons passion; by bringing to cessation, one abandons origination; by relinquishing, one abandons grasping. Thus one defines mental phenomena externally. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: 'Wisdom in defining externally is the knowledge of the diversity of spheres.'
Làm thế nào vị ấy xác định các pháp ở bên ngoài? Vị ấy xác định rằng: ‘Các pháp được sanh khởi từ vô minh,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các pháp được sanh khởi từ ái,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các pháp được sanh khởi từ nghiệp,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các pháp được sanh khởi từ vật thực,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các pháp đã sanh,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các pháp đã phát sanh.’ Vị ấy xác định rằng: ‘Các pháp đã không có rồi được sanh khởi, đã có rồi sẽ không có.’ Vị ấy xác định các pháp là có giới hạn, vị ấy xác định rằng: ‘Các pháp là không bền vững, không thường còn, có bản chất biến hoại,’ vị ấy xác định rằng: ‘Các pháp là vô thường, là hữu vi, là do duyên sanh, có bản chất hủy diệt, có bản chất tiêu vong, có bản chất ly tham, có bản chất đoạn diệt.’ Vị ấy xác định các pháp theo tính vô thường, không phải theo tính thường còn; xác định theo tính khổ, không phải theo tính lạc; xác định theo tính vô ngã, không phải theo tính ngã; nhàm chán, không hoan hỷ; ly tham, không tham ái; làm cho đoạn diệt, không làm cho phát sanh; từ bỏ, không chấp thủ... vị ấy xác định theo tính vô thường nên từ bỏ thường tưởng, vị ấy xác định theo tính khổ nên từ bỏ lạc tưởng, vị ấy xác định theo tính vô ngã nên từ bỏ ngã tưởng, vị ấy nhàm chán nên từ bỏ sự hoan hỷ, vị ấy ly tham nên từ bỏ tham ái, vị ấy làm cho đoạn diệt nên từ bỏ sự phát sanh, vị ấy từ bỏ nên từ bỏ sự chấp thủ. Vị ấy xác định các pháp ở bên ngoài là như vậy. Trí tuệ ấy là ñāṇa (trí) theo ý nghĩa là biết rõ, là paññā (tuệ) theo ý nghĩa là hiểu biết thấu đáo. Do đó, được nói rằng: ‘Tuệ trong sự xác định ở bên ngoài là trí về sự đa dạng của đối tượng’.
Gocaranānattañāṇaniddeso soḷasamo.
The Sixteenth: The Exposition of the Knowledge of the Diversity of Spheres.
Phần giải về trí về sự đa dạng của đối tượng thứ mười sáu.
17. Cariyānānattañāṇaniddeso
17. The Exposition of the Knowledge of the Diversity of Conduct
17. Phần giải về trí về sự đa dạng của hành vi
68. Kathaṃ cariyāvavatthāne paññā cariyānānatte ñāṇaṃ? Cariyāti tisso cariyāyo – viññāṇacariyā, aññāṇacariyā, ñāṇacariyā.
68. How is the wisdom in the determination of conduct the knowledge of the diversity of conduct? In 'conduct,' there are three kinds of conduct: consciousness-conduct, ignorance-conduct, and knowledge-conduct.
68. Làm thế nào tuệ trong sự xác định hành vi là trí về sự đa dạng của hành vi? Về hành vi, có ba loại hành vi: hành vi của thức, hành vi của vô trí, và hành vi của trí.
Katamā viññāṇacariyā? Dassanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā rūpesu, dassanaṭṭho cakkhuviññāṇaṃ viññāṇacariyā rūpesu, diṭṭhattā abhiniropanā vipākamanodhātu † viññāṇacariyā rūpesu, abhiniropitattā vipākamanoviññāṇadhātu viññāṇacariyā rūpesu. Savanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā saddesu, savanattho sotaviññāṇaṃ viññāṇacariyā saddesu, sutattā abhiniropanā vipākamanodhātu viññāṇacariyā saddesu, abhiniropitattā vipākamanoviññāṇadhātu viññāṇacariyā saddesu. Ghāyanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā gandhesu, ghāyanaṭṭho † ghānaviññāṇaṃ viññāṇacariyā gandhesu, ghāyitattā abhiniropanā vipākamanodhātu viññāṇacariyā gandhesu, abhiniropitattā vipākamanoviññāṇadhātu viññāṇacariyā gandhesu. Sāyanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā rasesu, sāyanaṭṭho jivhāviññāṇaṃ viññāṇacariyā rasesu, sāyitattā abhiniropanā vipākamanodhātu viññāṇacariyā rasesu, abhiniropitattā vipākamanoviññāṇadhātu viññāṇacariyā rasesu. Phusanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā phoṭṭhabbesu, phusanaṭṭho kāyaviññāṇaṃ viññāṇacariyā phoṭṭhabbesu, phuṭṭhattā abhiniropanā vipākamanodhātu viññāṇacariyā phoṭṭhabbesu, abhiniropitattā vipākamanoviññāṇadhātu viññāṇacariyā phoṭṭhabbesu. Vijānanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā dhammesu, vijānanaṭṭho manoviññāṇaṃ viññāṇacariyā dhammesu, viññātattā abhiniropanā vipākamanodhātu viññāṇacariyā dhammesu, abhiniropitattā vipākamanoviññāṇadhātu viññāṇacariyā dhammesu.
What is consciousness-conduct? For the purpose of seeing, the indeterminate functional consciousness of adverting is consciousness-conduct in regard to forms. Eye-consciousness, whose function is seeing, is consciousness-conduct in regard to forms. Because it has been seen, the resultant mind-element, which has the nature of directing towards the object, is consciousness-conduct in regard to forms. Because of having directed towards it, the resultant mind-consciousness-element is consciousness-conduct in regard to forms. For the purpose of hearing, the indeterminate functional consciousness of adverting is consciousness-conduct in regard to sounds. Ear-consciousness, whose function is hearing, is consciousness-conduct in regard to sounds. Because it has been heard, the resultant mind-element, which has the nature of directing towards the object, is consciousness-conduct in regard to sounds. Because of having directed towards it, the resultant mind-consciousness-element is consciousness-conduct in regard to sounds. For the purpose of smelling, the indeterminate functional consciousness of adverting is consciousness-conduct in regard to odors. Nose-consciousness, whose function is smelling, is consciousness-conduct in regard to odors. Because it has been smelled, the resultant mind-element, which has the nature of directing towards the object, is consciousness-conduct in regard to odors. Because of having directed towards it, the resultant mind-consciousness-element is consciousness-conduct in regard to odors. For the purpose of tasting, the indeterminate functional consciousness of adverting is consciousness-conduct in regard to flavors. Tongue-consciousness, whose function is tasting, is consciousness-conduct in regard to flavors. Because it has been tasted, the resultant mind-element, which has the nature of directing towards the object, is consciousness-conduct in regard to flavors. Because of having directed towards it, the resultant mind-consciousness-element is consciousness-conduct in regard to flavors. For the purpose of touching, the indeterminate functional consciousness of adverting is consciousness-conduct in regard to tangibles. Body-consciousness, whose function is touching, is consciousness-conduct in regard to tangibles. Because it has been touched, the resultant mind-element, which has the nature of directing towards the object, is consciousness-conduct in regard to tangibles. Because of having directed towards it, the resultant mind-consciousness-element is consciousness-conduct in regard to tangibles. For the purpose of cognizing, the indeterminate functional consciousness of adverting is consciousness-conduct in regard to mental objects. Mind-consciousness, whose function is cognizing, is consciousness-conduct in regard to mental objects. Because it has been cognized, the resultant mind-element, which has the nature of directing towards the object, is consciousness-conduct in regard to mental objects. Because of having directed towards it, the resultant mind-consciousness-element is consciousness-conduct in regard to mental objects.
Hành vi của thức là gì? Tâm vô ký làm phận sự hướng môn vì mục đích thấy là hành vi của thức đối với các sắc, nhãn thức có bản chất thấy là hành vi của thức đối với các sắc, do đã thấy, ý giới quả dị thục có sự hướng đến đối tượng là hành vi của thức đối với các sắc, do đã hướng đến đối tượng, ý thức giới quả dị thục là hành vi của thức đối với các sắc. Tâm vô ký làm phận sự hướng môn vì mục đích nghe là hành vi của thức đối với các tiếng, nhĩ thức có bản chất nghe là hành vi của thức đối với các tiếng, do đã nghe, ý giới quả dị thục có sự hướng đến đối tượng là hành vi của thức đối với các tiếng, do đã hướng đến đối tượng, ý thức giới quả dị thục là hành vi của thức đối với các tiếng. Tâm vô ký làm phận sự hướng môn vì mục đích ngửi là hành vi của thức đối với các mùi, tỷ thức có bản chất ngửi là hành vi của thức đối với các mùi, do đã ngửi, ý giới quả dị thục có sự hướng đến đối tượng là hành vi của thức đối với các mùi, do đã hướng đến đối tượng, ý thức giới quả dị thục là hành vi của thức đối với các mùi. Tâm vô ký làm phận sự hướng môn vì mục đích nếm là hành vi của thức đối với các vị, thiệt thức có bản chất nếm là hành vi của thức đối với các vị, do đã nếm, ý giới quả dị thục có sự hướng đến đối tượng là hành vi của thức đối với các vị, do đã hướng đến đối tượng, ý thức giới quả dị thục là hành vi của thức đối với các vị. Tâm vô ký làm phận sự hướng môn vì mục đích xúc chạm là hành vi của thức đối với các đối tượng xúc chạm, thân thức có bản chất xúc chạm là hành vi của thức đối với các đối tượng xúc chạm, do đã xúc chạm, ý giới quả dị thục có sự hướng đến đối tượng là hành vi của thức đối với các đối tượng xúc chạm, do đã hướng đến đối tượng, ý thức giới quả dị thục là hành vi của thức đối với các đối tượng xúc chạm. Tâm vô ký làm phận sự hướng môn vì mục đích biết là hành vi của thức đối với các pháp, ý thức có bản chất biết là hành vi của thức đối với các pháp, do đã biết, ý giới quả dị thục có sự hướng đến đối tượng là hành vi của thức đối với các pháp, do đã hướng đến đối tượng, ý thức giới quả dị thục là hành vi của thức đối với các pháp.
69. Viññāṇacariyāti kenaṭṭhena viññāṇacariyā? Nīrāgā caratīti – viññāṇacariyā. Niddosā caratīti – viññāṇacariyā. Nimmohā caratīti – viññāṇacariyā. Nimmānā caratīti – viññāṇacariyā. Niddiṭṭhi caratīti – viññāṇacariyā niuddhaccā caratīti – viññāṇacariyā. Nibbicikicchā caratīti – viññāṇacariyā. Nānusayā caratīti – viññāṇacariyā. Rāgavippayuttā caratīti – viññāṇacariyā. Dosavippayuttā caratīti – viññāṇacariyā. Mohavippayuttā caratīti – viññāṇacariyā. Mānavippayuttā caratīti – viññāṇacariyā. Diṭṭhivippayuttā caratīti – viññāṇacariyā. Uddhaccavippayuttā caratīti – viññāṇacariyā. Vicikicchāvippayuttā caratīti – viññāṇacariyā. Anusayavippayuttā caratīti – viññāṇacariyā. Kusalehi kammehi sampayuttā caratīti – viññāṇacariyā. Akusalehi kammehi vippayuttā caratīti – viññāṇacariyā. Sāvajjehi kammehi vippayuttā caratīti – viññāṇacariyā. Anavajjehi kammehi sampayuttā caratīti – viññāṇacariyā. Kaṇhehi kammehi vippayuttā caratīti – viññāṇacariyā. Sukkehi kammehi sampayuttā caratīti – viññāṇacariyā. Sukhudrayehi kammehi sampayuttā caratīti – viññāṇacariyā. Dukkhudrayehi kammehi vippayuttā caratīti – viññāṇacariyā. Sukhavipākehi kammehi sampayuttā caratīti – viññāṇacariyā. Dukkhavipākehi kammehi vippayuttā caratīti – viññāṇacariyā. Viññāte caratīti – viññāṇacariyā. Viññāṇassa evarūpā cariyā hotīti – viññāṇacariyā. Pakatiparisuddhamidaṃ cittaṃ nikkilesaṭṭhenāti – viññāṇacariyā. Ayaṃ viññāṇacariyā.
69. In what sense is it the conduct of consciousness? It proceeds free from lust—this is the conduct of consciousness. It proceeds free from hatred—this is the conduct of consciousness. It proceeds free from delusion—this is the conduct of consciousness. It proceeds free from conceit—this is the conduct of consciousness. It proceeds free from wrong views—this is the conduct of consciousness. It proceeds free from restlessness—this is the conduct of consciousness. It proceeds free from doubt—this is the conduct of consciousness. It proceeds free from latent tendencies—this is the conduct of consciousness. It proceeds dissociated from lust—this is the conduct of consciousness. It proceeds dissociated from hatred—this is the conduct of consciousness. It proceeds dissociated from delusion—this is the conduct of consciousness. It proceeds dissociated from conceit—this is the conduct of consciousness. It proceeds dissociated from wrong views—this is the conduct of consciousness. It proceeds dissociated from restlessness—this is the conduct of consciousness. It proceeds dissociated from doubt—this is the conduct of consciousness. It proceeds dissociated from latent tendencies—this is the conduct of consciousness. It proceeds associated with wholesome actions—this is the conduct of consciousness. It proceeds dissociated from unwholesome actions—this is the conduct of consciousness. It proceeds dissociated from blameworthy actions—this is the conduct of consciousness. It proceeds associated with blameless actions—this is the conduct of consciousness. It proceeds dissociated from dark actions—this is the conduct of consciousness. It proceeds associated with bright actions—this is the conduct of consciousness. It proceeds associated with actions leading to happiness—this is the conduct of consciousness. It proceeds dissociated from actions leading to suffering—this is the conduct of consciousness. It proceeds associated with actions resulting in happiness—this is the conduct of consciousness. It proceeds dissociated from actions resulting in suffering—this is the conduct of consciousness. It proceeds in what is cognized—this is the conduct of consciousness. Such is the conduct of consciousness—this is the conduct of consciousness. This mind is naturally pure in the sense of being free from defilements—this is the conduct of consciousness. This is the conduct of consciousness.
69. Sự hành của thức (viññāṇacariyā) là gì, do ý nghĩa nào được gọi là sự hành của thức? Do diễn tiến không có tham ái nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không có sân hận nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không có si mê nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không có ngã mạn nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không có tà kiến nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không có trạo cử nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không có hoài nghi nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không có tùy miên nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không tương ưng với tham ái nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không tương ưng với sân hận nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không tương ưng với si mê nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không tương ưng với ngã mạn nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không tương ưng với tà kiến nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không tương ưng với trạo cử nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không tương ưng với hoài nghi nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không tương ưng với tùy miên nên là sự hành của thức. Do diễn tiến tương ưng với các nghiệp thiện nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không tương ưng với các nghiệp bất thiện nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không tương ưng với các nghiệp có tội lỗi nên là sự hành của thức. Do diễn tiến tương ưng với các nghiệp không có tội lỗi nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không tương ưng với các nghiệp đen tối nên là sự hành của thức. Do diễn tiến tương ưng với các nghiệp trong trắng nên là sự hành của thức. Do diễn tiến tương ưng với các nghiệp có sự sanh khởi của an lạc nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không tương ưng với các nghiệp có sự sanh khởi của khổ đau nên là sự hành của thức. Do diễn tiến tương ưng với các nghiệp có quả là an lạc nên là sự hành của thức. Do diễn tiến không tương ưng với các nghiệp có quả là khổ đau nên là sự hành của thức. Do diễn tiến ở đối tượng được biết nên là sự hành của thức. Do sự hành của thức là có thể loại như vậy nên là sự hành của thức. Do ý nghĩa không có phiền não nên tâm này vốn trong sạch, (điều ấy) là sự hành của thức. Đây là sự hành của thức.
Katamā aññāṇacariyā? Manāpiyesu rūpesu rāgassa javanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; rāgassa javanā aññāṇacariyā. Amanāpiyesu rūpesu dosassa javanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; dosassa javanā aññāṇacariyā. Tadubhayena asamapekkhanasmiṃ vatthusmiṃ mohassa javanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; mohassa javanā aññāṇacariyā. Vinibandhassa mānassa javanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; mānassa javanā aññāṇacariyā. Parāmaṭṭhāya diṭṭhiyā javanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; diṭṭhiyā javanā aññāṇacariyā. Vikkhepagatassa uddhaccassa javanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; uddhaccassa javanā aññāṇacariyā. Aniṭṭhaṅgatāya vicikicchāya javanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; vicikicchāya javanā aññāṇacariyā. Thāmagatassa anusayassa javanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; anusayassa javanā aññāṇacariyā.
What is ignorance-conduct? For the purpose of the impulsion of lust regarding agreeable forms, the functionally indeterminate act of adverting is consciousness-conduct; the impulsion of lust is ignorance-conduct. For the purpose of the impulsion of hatred regarding disagreeable forms, the functionally indeterminate act of adverting is consciousness-conduct; the impulsion of hatred is ignorance-conduct. For the purpose of the impulsion of delusion regarding an object that is considered unequally with respect to both, the functionally indeterminate act of adverting is consciousness-conduct; the impulsion of delusion is ignorance-conduct. For the purpose of the impulsion of binding conceit, the functionally indeterminate act of adverting is consciousness-conduct; the impulsion of conceit is ignorance-conduct. For the purpose of the impulsion of clung-to views, the functionally indeterminate act of adverting is consciousness-conduct; the impulsion of views is ignorance-conduct. For the purpose of the impulsion of restlessness that has gone to distraction, the functionally indeterminate act of adverting is consciousness-conduct; the impulsion of restlessness is ignorance-conduct. For the purpose of the impulsion of doubt that has reached an unsettled state, the functionally indeterminate act of adverting is consciousness-conduct; the impulsion of doubt is ignorance-conduct. For the purpose of the impulsion of latent tendencies that have become strong, the functionally indeterminate act of adverting is consciousness-conduct; the impulsion of latent tendencies is ignorance-conduct.
Sự hành của vô trí (aññāṇacariyā) là gì? Ở các sắc pháp khả ái, hành động hướng tâm là vô ký vì mục đích khởi sanh của tham ái là sự hành của thức; sự khởi sanh của tham ái là sự hành của vô trí. Ở các sắc pháp không khả ái, hành động hướng tâm là vô ký vì mục đích khởi sanh của sân hận là sự hành của thức; sự khởi sanh của sân hận là sự hành của vô trí. Ở đối tượng không được xem xét đồng đều bởi cả hai trường hợp ấy, hành động hướng tâm là vô ký vì mục đích khởi sanh của si mê là sự hành của thức; sự khởi sanh của si mê là sự hành của vô trí. Hành động hướng tâm là vô ký vì mục đích khởi sanh của ngã mạn có sự trói buộc là sự hành của thức; sự khởi sanh của ngã mạn là sự hành của vô trí. Hành động hướng tâm là vô ký vì mục đích khởi sanh của tà kiến có sự chấp thủ là sự hành của thức; sự khởi sanh của tà kiến là sự hành của vô trí. Hành động hướng tâm là vô ký vì mục đích khởi sanh của trạo cử đã đi đến sự phân tán là sự hành của thức; sự khởi sanh của trạo cử là sự hành của vô trí. Hành động hướng tâm là vô ký vì mục đích khởi sanh của hoài nghi có sự không đi đến quyết định là sự hành của thức; sự khởi sanh của hoài nghi là sự hành của vô trí. Hành động hướng tâm là vô ký vì mục đích khởi sanh của tùy miên đã đi đến sức mạnh là sự hành của thức; sự khởi sanh của tùy miên là sự hành của vô trí.
Manāpiyesu saddesu…pe… manāpiyesu gandhesu…pe… manāpiyesu rasesu…pe… manāpiyesu phoṭṭhabbesu…pe… manāpiyesu dhammesu rāgassa javanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; rāgassa javanā aññāṇacariyā. Amanāpiyesu dhammesu dosassa javanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; dosassa javanā aññāṇacariyā. Tadubhayena asamapekkhanasmiṃ vatthusmiṃ mohassa javanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; mohassa javanā aññāṇacariyā. Vinibandhassa mānassa javanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; mānassa javanā aññāṇacariyā. Parāmaṭṭhāya diṭṭhiyā javanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; diṭṭhiyā javanā aññāṇacariyā. Vikkhepagatassa uddhaccassa javanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; uddhaccassa javanā aññāṇacariyā; aniṭṭhaṅgatāya vicikicchāya javanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; vicikicchāya javanā aññāṇacariyā. Thāmagatassa anusayassa javanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; anusayassa javanā aññāṇacariyā.
In agreeable sounds...pe... in agreeable odors...pe... in agreeable flavors...pe... in agreeable tangibles...pe... in agreeable mental objects, for the purpose of the impulsion of lust, the functionally indeterminate act of adverting is consciousness-conduct; the impulsion of lust is ignorance-conduct. In disagreeable mental objects, for the purpose of the impulsion of hatred, the functionally indeterminate act of adverting is consciousness-conduct; the impulsion of hatred is ignorance-conduct. Regarding an object of unbalanced consideration, for the purpose of the impulsion of delusion, the functionally indeterminate act of adverting is consciousness-conduct; the impulsion of delusion is ignorance-conduct. For the purpose of the impulsion of binding conceit, the functionally indeterminate act of adverting is consciousness-conduct; the impulsion of conceit is ignorance-conduct. For the purpose of the impulsion of a clung-to view, the functionally indeterminate act of adverting is consciousness-conduct; the impulsion of the view is ignorance-conduct. For the purpose of the impulsion of restlessness that has gone to distraction, the functionally indeterminate act of adverting is consciousness-conduct; the impulsion of restlessness is ignorance-conduct. For the purpose of the impulsion of doubt that has not come to a conclusion, the functionally indeterminate act of adverting is consciousness-conduct; the impulsion of doubt is ignorance-conduct. For the purpose of the impulsion of a latent tendency that has gained strength, the functionally indeterminate act of adverting is consciousness-conduct; the impulsion of the latent tendency is ignorance-conduct.
Ở các thanh trần khả ái ... cho đến ... ở các hương trần khả ái ... cho đến ... ở các vị trần khả ái ... cho đến ... ở các xúc trần khả ái ... cho đến ... ở các pháp trần khả ái, hành động hướng tâm là vô ký vì mục đích khởi sanh của tham ái là sự hành của thức; sự khởi sanh của tham ái là sự hành của vô trí. Ở các pháp trần không khả ái, hành động hướng tâm là vô ký vì mục đích khởi sanh của sân hận là sự hành của thức; sự khởi sanh của sân hận là sự hành của vô trí. Ở đối tượng không được xem xét đồng đều bởi cả hai trường hợp ấy, hành động hướng tâm là vô ký vì mục đích khởi sanh của si mê là sự hành của thức; sự khởi sanh của si mê là sự hành của vô trí. Hành động hướng tâm là vô ký vì mục đích khởi sanh của ngã mạn có sự trói buộc là sự hành của thức; sự khởi sanh của ngã mạn là sự hành của vô trí. Hành động hướng tâm là vô ký vì mục đích khởi sanh của tà kiến có sự chấp thủ là sự hành của thức; sự khởi sanh của tà kiến là sự hành của vô trí. Hành động hướng tâm là vô ký vì mục đích khởi sanh của trạo cử đã đi đến sự phân tán là sự hành của thức; sự khởi sanh của trạo cử là sự hành của vô trí. Hành động hướng tâm là vô ký vì mục đích khởi sanh của hoài nghi có sự không đi đến quyết định là sự hành của thức; sự khởi sanh của hoài nghi là sự hành của vô trí. Hành động hướng tâm là vô ký vì mục đích khởi sanh của tùy miên đã đi đến sức mạnh là sự hành của thức; sự khởi sanh của tùy miên là sự hành của vô trí.
70. Aññāṇacariyāti kenaṭṭhena aññāṇacariyā? Sarāgā caratīti – aññāṇacariyā. Sadosā caratīti – aññāṇacariyā. Samohā caratīti – aññāṇacariyā. Samānā caratīti – aññāṇacariyā. Sadiṭṭhi caratīti – aññāṇacariyā. Sauddhaccā caratīti – aññāṇacariyā. Savicikicchā caratīti – aññāṇacariyā. Sānusayā caratīti – aññāṇacariyā. Rāgasampayuttā caratīti – aññāṇacariyā. Dosasampayuttā caratīti – aññāṇacariyā. Mohasampayuttā caratīti – aññāṇacariyā. Mānasampayuttā caratīti – aññāṇacariyā. Diṭṭhisampayuttā caratīti – aññāṇacariyā. Uddhaccasampayuttā caratīti – aññāṇacariyā. Vicikicchāsampayuttā caratīti – aññāṇacariyā. Anusayasampayuttā caratīti – aññāṇacariyā. Kusalehi kammehi vippayuttā caratīti – aññāṇacariyā. Akusalehi kammehi sampayuttā caratīti – aññāṇacariyā. Sāvajjehi kammehi sampayuttā caratīti – aññāṇacariyā. Anavajjehi kammehi vippayuttā caratīti – aññāṇacariyā. Kaṇhehi kammehi sampayuttā caratīti – aññāṇacariyā. Sukkehi kammehi vippayuttā caratīti – aññāṇacariyā. Sukhudrayehi kammehi vippayuttā caratīti – aññāṇacariyā. Dukkhudrayehi kammehi sampayuttā caratīti – aññāṇacariyā. Sukhavipākehi kammehi vippayuttā caratīti – aññāṇacariyā. Dukkhavipākehi kammehi sampayuttā caratīti – aññāṇacariyā. Aññāte caratīti – aññāṇacariyā. Aññāṇassa evarūpā cariyā hotīti – aññāṇacariyā. Ayaṃ aññāṇacariyā.
70. In what sense is it the conduct of ignorance? It occurs with lust—this is the conduct of ignorance. It occurs with hate—this is the conduct of ignorance. It occurs with delusion—this is the conduct of ignorance. It occurs with conceit—this is the conduct of ignorance. It occurs with wrong view—this is the conduct of ignorance. It occurs with restlessness—this is the conduct of ignorance. It occurs with doubt—this is the conduct of ignorance. It occurs with underlying tendencies—this is the conduct of ignorance. It occurs associated with lust—this is the conduct of ignorance. It occurs associated with hate—this is the conduct of ignorance. It occurs associated with delusion—this is the conduct of ignorance. It occurs associated with conceit—this is the conduct of ignorance. It occurs associated with wrong view—this is the conduct of ignorance. It occurs associated with restlessness—this is the conduct of ignorance. It occurs associated with doubt—this is the conduct of ignorance. It occurs associated with underlying tendencies—this is the conduct of ignorance. It occurs dissociated from wholesome actions—this is the conduct of ignorance. It occurs associated with unwholesome actions—this is the conduct of ignorance. It occurs associated with blameworthy actions—this is the conduct of ignorance. It occurs dissociated from blameless actions—this is the conduct of ignorance. It occurs associated with dark actions—this is the conduct of ignorance. It occurs dissociated from bright actions—this is the conduct of ignorance. It occurs dissociated from actions with pleasant results—this is the conduct of ignorance. It occurs associated with actions with painful results—this is the conduct of ignorance. It occurs dissociated from actions with pleasant ripening—this is the conduct of ignorance. It occurs associated with actions with painful ripening—this is the conduct of ignorance. It occurs in ignorance—this is the conduct of ignorance. The conduct of ignorance is of such a nature—this is the conduct of ignorance. This is the conduct of ignorance.
70. Về ‘hành vi vô trí’, do ý nghĩa nào được gọi là hành vi vô trí? Do diễn tiến với tham, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến với sân, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến với si, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến với mạn, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến với tà kiến, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến với trạo cử, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến với hoài nghi, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến với tùy miên, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến tương ưng với tham, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến tương ưng với sân, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến tương ưng với si, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến tương ưng với mạn, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến tương ưng với tà kiến, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến tương ưng với trạo cử, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến tương ưng với hoài nghi, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến tương ưng với tùy miên, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến không tương ưng với các nghiệp thiện, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến tương ưng với các nghiệp bất thiện, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến tương ưng với các nghiệp có tội lỗi, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến không tương ưng với các nghiệp không có tội lỗi, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến tương ưng với các nghiệp đen tối, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến không tương ưng với các nghiệp trong sạch, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến không tương ưng với các nghiệp có quả an lạc, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến tương ưng với các nghiệp có quả đau khổ, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến không tương ưng với các nghiệp có quả dị thục an lạc, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến tương ưng với các nghiệp có quả dị thục đau khổ, nên là hành vi vô trí. Do diễn tiến trong sự không biết, nên là hành vi vô trí. Do là loại hành vi như vậy của vô trí, nên là hành vi vô trí. Đây là hành vi vô trí.
71. Katamā ñāṇacariyā? Aniccānupassanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; aniccānupassanā ñāṇacariyā. Dukkhānupassanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; dukkhānupassanā ñāṇacariyā. Anattānupassanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; anattānupassanā ñāṇacariyā. Nibbidānupassanatthāya…pe… virāgānupassanatthāya… nirodhānupassanatthāya… paṭinissaggānupassanatthāya… khayānupassanatthāya… vayānupassanatthāya… vipariṇāmānupassanatthāya… animittānupassanatthāya… appaṇihitānupassanatthāya… suññatānupassanatthāya… adhipaññādhammānupassanatthāya… yathābhūtañāṇadassanatthāya… ādīnavānupassanatthāya… paṭisaṅkhānupassanatthāya āvajjanakiriyābyākatā viññāṇacariyā; paṭisaṅkhānupassanā ñāṇacariyā. Vivaṭṭanānupassanā ñāṇacariyā. Sotāpattimaggo ñāṇacariyā. Sotāpattiphalasamāpatti ñāṇacariyā. Sakadāgāmimaggo ñāṇacariyā. Sakadāgāmiphalasamāpatti ñāṇacariyā. Anāgāmimaggo ñāṇacariyā. Anāgāmiphalasamāpatti ñāṇacariyā. Arahattamaggo ñāṇacariyā. Arahattaphalasamāpatti ñāṇacariyā.
71. What is the conduct of knowledge? The indeterminate functional consciousness of adverting for the sake of contemplating impermanence is the conduct of consciousness; the contemplation of impermanence is the conduct of knowledge. The indeterminate functional consciousness of adverting for the sake of contemplating suffering is the conduct of consciousness; the contemplation of suffering is the conduct of knowledge. The indeterminate functional consciousness of adverting for the sake of contemplating non-self is the conduct of consciousness; the contemplation of non-self is the conduct of knowledge. The indeterminate functional consciousness of adverting for the sake of contemplating disenchantment... for contemplating dispassion... for contemplating cessation... for contemplating relinquishment... for contemplating destruction... for contemplating vanishing... for contemplating change... for contemplating the signless... for contemplating the undirected... for contemplating emptiness... for contemplating the higher-wisdom-dhamma... for contemplating the knowledge and vision of things as they are... for contemplating danger... for contemplating reflection is the conduct of consciousness; the contemplation of reflection is the conduct of knowledge. The contemplation of turning away is the conduct of knowledge. The path of stream-entry is the conduct of knowledge. The attainment of the fruition of stream-entry is the conduct of knowledge. The path of the once-returner is the conduct of knowledge. The attainment of the fruition of the once-returner is the conduct of knowledge. The path of the non-returner is the conduct of knowledge. The attainment of the fruition of the non-returner is the conduct of knowledge. The path of arahantship is the conduct of knowledge. The attainment of the fruition of arahantship is the conduct of knowledge.
71. Hành vi của trí là gì? Vì mục đích quán niệm vô thường, sự hướng tâm là hành vi của thức, sự vô thường tùy quán là hành vi của trí. Vì mục đích quán niệm khổ, sự hướng tâm là hành vi của thức, sự khổ tùy quán là hành vi của trí. Vì mục đích quán niệm vô ngã, sự hướng tâm là hành vi của thức, sự vô ngã tùy quán là hành vi của trí. Vì mục đích quán niệm sự nhàm chán... v.v... vì mục đích quán niệm sự ly tham... vì mục đích quán niệm sự đoạn diệt... vì mục đích quán niệm sự từ bỏ... vì mục đích quán niệm sự hủy diệt... vì mục đích quán niệm sự biến hoại... vì mục đích quán niệm sự đổi khác... vì mục đích quán niệm vô tướng... vì mục đích quán niệm vô nguyện... vì mục đích quán niệm tánh không... vì mục đích quán niệm pháp thắng trí... vì mục đích thấy biết như thật... vì mục đích quán niệm sự nguy hại... vì mục đích quán niệm sự thẩm sát, sự hướng tâm là hành vi của thức; sự thẩm sát tùy quán là hành vi của trí. Sự quán niệm về sự giải thoát là hành vi của trí. Đạo Tu-đà-hoàn là hành vi của trí. Sự nhập quả Tu-đà-hoàn là hành vi của trí. Đạo Tư-đà-hàm là hành vi của trí. Sự nhập quả Tư-đà-hàm là hành vi của trí. Đạo A-na-hàm là hành vi của trí. Sự nhập quả A-na-hàm là hành vi của trí. Đạo A-la-hán là hành vi của trí. Sự nhập quả A-la-hán là hành vi của trí.
Ñāṇacariyāti kenaṭṭhena ñāṇacariyā? Nīrāgā caratīti – ñāṇacariyā. Niddosā caratīti – ñāṇacariyā…pe… nānusayā caratīti – ñāṇacariyā. Rāgavippayuttā caratīti – ñāṇacariyā. Dosavippayuttā caratīti – ñāṇacariyā. Mohavippayuttā caratīti – ñāṇacariyā. Mānavippayuttā…pe… diṭṭhivippayuttā… uddhaccavippayuttā… vicikicchāvippayuttā… anusayavippayuttā… kusalehi kammehi sampayuttā… akusalehi kammehi vippayuttā… sāvajjehi kammehi vippayuttā… anavajjehi kammehi sampayuttā… kaṇhehi kammehi vippayuttā… sukkehi kammehi sampayuttā… sukhudrayehi kammehi sampayuttā… dukkhudrayehi kammehi vippayuttā… sukhavipākehi kammehi sampayuttā caratīti – ñāṇacariyā. Dukkhavipākehi kammehi vippayuttā caratīti – ñāṇacariyā. Ñāte caratīti – ñāṇacariyā. Ñāṇassa evarūpā cariyā hotīti – ñāṇacariyā. Ayaṃ ñāṇacariyā. Aññā viññāṇacariyā, aññā aññāṇacariyā, aññā ñāṇacariyāti. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘cariyāvavatthāne paññā cariyānānatte ñāṇaṃ’’.
In what sense is conduct of knowledge (ñāṇacariyā) conduct of knowledge? It proceeds free from lust—thus, it is conduct of knowledge. It proceeds free from hatred—thus, it is conduct of knowledge… It proceeds free from underlying tendencies—thus, it is conduct of knowledge. It proceeds dissociated from lust—thus, it is conduct of knowledge. It proceeds dissociated from hatred—thus, it is conduct of knowledge. It proceeds dissociated from delusion—thus, it is conduct of knowledge. It proceeds dissociated from conceit… dissociated from views… dissociated from restlessness… dissociated from doubt… dissociated from underlying tendencies… It proceeds associated with wholesome kamma… dissociated from unwholesome kamma… associated with blameless kamma… dissociated from dark kamma… associated with bright kamma… associated with kamma that yields pleasure… dissociated from kamma that yields pain… it proceeds associated with kamma ripening in pleasure—thus, it is conduct of knowledge. It proceeds dissociated from kamma ripening in pain—thus, it is conduct of knowledge. It proceeds in what is known—thus, it is conduct of knowledge. Because this kind of conduct of knowledge occurs—thus, it is conduct of knowledge. This is the conduct of knowledge. The conduct of consciousness is another, the conduct of non-knowledge is another, and the conduct of knowledge is another. That is knowledge (ñāṇa) in the sense of knowing; it is wisdom (paññā) in the sense of discerning. Therefore it is said: ‘Wisdom is in the defining of conduct, knowledge is in the diversity of conduct.’
Về ‘hành vi của trí’, do ý nghĩa nào được gọi là hành vi của trí? Do diễn tiến không có tham, nên là hành vi của trí. Do diễn tiến không có sân, nên là hành vi của trí... v.v... do diễn tiến không có tùy miên, nên là hành vi của trí. Do diễn tiến không tương ưng với tham, nên là hành vi của trí. Do diễn tiến không tương ưng với sân, nên là hành vi của trí. Do diễn tiến không tương ưng với si, nên là hành vi của trí. Do diễn tiến không tương ưng với mạn... v.v... không tương ưng với tà kiến... không tương ưng với trạo cử... không tương ưng với hoài nghi... không tương ưng với tùy miên... tương ưng với các nghiệp thiện... không tương ưng với các nghiệp bất thiện... không tương ưng với các nghiệp có tội lỗi... tương ưng với các nghiệp không có tội lỗi... không tương ưng với các nghiệp đen tối... tương ưng với các nghiệp trong sạch... tương ưng với các nghiệp có quả an lạc... không tương ưng với các nghiệp có quả đau khổ... tương ưng với các nghiệp có quả dị thục an lạc, nên là hành vi của trí. Do diễn tiến không tương ưng với các nghiệp có quả dị thục đau khổ, nên là hành vi của trí. Do diễn tiến trong sự biết, nên là hành vi của trí. Do là loại hành vi như vậy của trí, nên là hành vi của trí. Đây là hành vi của trí. Hành vi của thức là khác, hành vi vô trí là khác, hành vi của trí là khác. Điều ấy, do ý nghĩa biết nên là trí (ñāṇa), do ý nghĩa biết rõ nên là tuệ (paññā). Do đó, được nói rằng: ‘Trong sự xác định các hành vi là tuệ, trong sự đa dạng của các hành vi là trí’.
Cariyānānattañāṇaniddeso sattarasamo.
The seventeenth exposition: on knowledge of the diversity of conduct.
Phần giải về trí phân biệt các hành vi, chương thứ mười bảy.
18. Bhūminānattañāṇaniddeso
18. Exposition on Knowledge of the Diversity of Planes
18. Phần giải về trí phân biệt các cõi
72. Kathaṃ catudhammavavatthāne paññā bhūminānatte ñāṇaṃ? Catasso bhūmiyo – kāmāvacarā bhūmi, rūpāvacarā bhūmi, arūpāvacarā bhūmi, apariyāpannā bhūmi. Katamā kāmāvacarā bhūmi? Heṭṭhato avīcinirayaṃ pariyantaṃ karitvā uparito paranimmitavasavattī deve † antokaritvā yaṃ etasmiṃ antare etthāvacarā ettha pariyāpannā khandhadhātuāyatanā rūpaṃ vedanā saññā saṅkhārā viññāṇaṃ – ayaṃ kāmāvacarā bhūmi.
72. How is wisdom in the defining of fourfold phenomena knowledge in the diversity of planes? There are four planes: the sensual-sphere plane, the form-sphere plane, the formless-sphere plane, and the unincluded plane. What is the sensual-sphere plane? Taking the Avīci hell below as the limit and including the Paranimmitavasavattī devas above, whatever aggregates, elements, and bases that move about and are included within this interval—form, feeling, perception, formations, and consciousness—this is the sensual-sphere plane.
72. Thế nào là tuệ trong sự xác định bốn pháp là trí về sự đa dạng của các cõi? Có bốn cõi: cõi Dục giới, cõi Sắc giới, cõi Vô sắc giới, cõi Siêu thế. Cõi Dục giới là gì? Lấy địa ngục A-tỳ làm giới hạn ở phía dưới, lấy chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại làm giới hạn ở phía trên, trong khoảng giữa này, những uẩn, giới, xứ, sắc, thọ, tưởng, hành, thức nào di chuyển tại đây, được bao gồm tại đây – đây là cõi Dục giới.
Katamā rūpāvacarā bhūmi? Heṭṭhato brahmalokaṃ pariyantaṃ karitvā uparito akaniṭṭhe deve antokaritvā yaṃ etasmiṃ antare etthāvacarā ettha pariyāpannā samāpannassa vā upapannassa vā diṭṭhadhammasukhavihārissa vā cittacetasikā dhammā – ayaṃ rūpāvacarā bhūmi.
What is the form-sphere plane? Taking the Brahmā world below as the limit and including the Akaniṭṭha devas above, whatever mental states—consciousness and mental factors—frequent and are included within this interval for one who has attained an absorption, or has been reborn there, or is dwelling happily in this very life—this is the form-sphere plane.
Cõi Sắc giới là gì? Lấy cõi Phạm thiên làm giới hạn ở phía dưới, lấy chư thiên ở cõi Sắc Cứu Cánh làm giới hạn ở phía trên, trong khoảng giữa này, những pháp tâm và tâm sở nào di chuyển tại đây, được bao gồm tại đây, của người đã nhập thiền, hoặc của người đã sanh vào đó, hoặc của người đang trú lạc trong hiện tại – đây là cõi Sắc giới.
Katamā arūpāvacarā bhūmi? Heṭṭhato ākāsānañcāyatanūpage deve pariyantaṃ karitvā uparito nevasaññānāsaññāyatanūpage deve antokaritvā yaṃ etasmiṃ antare etthāvacarā ettha pariyāpannā samāpannassa vā upapannassa vā diṭṭhadhammasukhavihārissa vā cittacetasikā dhammā – ayaṃ arūpāvacarā bhūmi.
What is the formless-sphere plane? Taking the devas who have reached the sphere of infinite space below as the limit and including the devas who have reached the sphere of neither-perception-nor-non-perception above, whatever mental states—consciousness and mental factors—frequent and are included within this interval for one who has attained an absorption, or has been reborn there, or is dwelling happily in this very life—this is the formless-sphere plane.
Cõi Vô Sắc là gì? Lấy các vị trời ở cõi Không Vô Biên Xứ làm giới hạn dưới, lấy các vị trời ở cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ làm giới hạn trên, các pháp tâm và tâm sở của chúng sanh nào thường qua lại trong khoảng giữa ấy, được bao gồm trong khoảng giữa ấy, hoặc của người đã nhập định, hoặc của người đã hóa sanh, hoặc của người thường trú trong sự an lạc hiện tại -- đây là cõi Vô Sắc.
Katamā apariyāpannā bhūmi? Apariyāpannā maggā ca maggaphalāni ca asaṅkhatā ca dhātu – ayaṃ apariyāpannā bhūmi. Imā catasso bhūmiyo.
What is the unincluded plane? The unincluded are the paths, their fruits, and the unconditioned element—this is the unincluded plane. These are the four planes.
Cõi không bị bao gồm là gì? Các đạo, các quả của đạo, và pháp vô vi không bị bao gồm -- đây là cõi không bị bao gồm. Đây là bốn cõi.
Aparāpi catasso bhūmiyo cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā, cattāro iddhipādā, cattāri jhānāni, catasso appamaññāyo, catasso arūpasamāpattiyo, catasso paṭisambhidā, catasso paṭipadā, cattāri ārammaṇāni, cattāro ariyavaṃsā, cattāri saṅgahavatthūni, cattāri cakkāni, cattāri dhammapadāni – imā catasso bhūmiyo. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘catudhammavavatthāne paññā bhūminānatte ñāṇaṃ’’.
Furthermore, there are these fourfold planes: the four establishments of mindfulness, the four right strivings, the four bases of spiritual power, the four jhānas, the four immeasurables, the four formless attainments, the four analytical knowledges, the four ways of practice, the four objects, the four noble traditions, the four grounds of sympathy, the four wheels, and the four principles of Dhamma—these are the fourfold planes. That is knowledge in the sense of knowing; it is wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: ‘Wisdom in the analysis of fourfold phenomena is the knowledge of the diversity of planes.’
Lại nữa, bốn cõi khác là: bốn Niệm xứ, bốn Chánh cần, bốn Thần túc, bốn Thiền, bốn Vô lượng tâm, bốn Vô sắc định, bốn Vô ngại giải, bốn Hành trình, bốn Đối tượng, bốn Thánh chủng, bốn Nhiếp sự, bốn Bánh xe, bốn Pháp cú -- đây là bốn cõi. Trí tuệ ấy, với ý nghĩa là biết, là trí; với ý nghĩa là biết rõ, là tuệ. Do đó được nói rằng: "Tuệ trong sự xác định bốn pháp là trí về sự đa dạng của các cõi".
Bhūminānattañāṇaniddeso aṭṭhārasamo.
The eighteenth exposition, on the knowledge of the diversity of planes, is concluded.
Phần giải về trí phân biệt các cõi, chương thứ mười tám.
19. Dhammanānattañāṇaniddeso
19. Exposition on the Knowledge of the Diversity of Phenomena
19. Phần giải về trí phân biệt các pháp
73. Kathaṃ navadhammavavatthāne paññā dhammanānatte ñāṇaṃ? Kathaṃ dhamme vavattheti? Kāmāvacare dhamme kusalato vavattheti, akusalato vavattheti, abyākatato vavattheti. Rūpāvacare dhamme kusalato vavattheti, abyākatato vavattheti. Arūpāvacare dhamme kusalato vavattheti, abyākatato vavattheti. Apariyāpanne dhamme kusalato vavattheti, abyākatato vavattheti.
73. How is the wisdom in the determination of the ninefold phenomena the knowledge of the diversity of phenomena? How does one determine phenomena? One determines sense-sphere phenomena as wholesome, as unwholesome, and as indeterminate. One determines form-sphere phenomena as wholesome and as indeterminate. One determines formless-sphere phenomena as wholesome and as indeterminate. One determines unincluded phenomena as wholesome and as indeterminate.
73. Làm thế nào tuệ trong sự xác định chín pháp là trí về sự đa dạng của các pháp? Làm thế nào vị ấy xác định các pháp? Vị ấy xác định các pháp Dục giới theo phương diện thiện, theo phương diện bất thiện, theo phương diện vô ký. Vị ấy xác định các pháp Sắc giới theo phương diện thiện, theo phương diện vô ký. Vị ấy xác định các pháp Vô sắc giới theo phương diện thiện, theo phương diện vô ký. Vị ấy xác định các pháp không bị bao gồm theo phương diện thiện, theo phương diện vô ký.
Kathaṃ kāmāvacare dhamme kusalato vavattheti, akusalato vavattheti, abyākatato vavattheti? Dasa kusalakammapathe kusalato vavattheti, dasa akusalakammapathe akusalato vavattheti, rūpañca vipākañca kiriyañca abyākatato vavattheti – evaṃ kāmāvacare dhamme kusalato vavattheti, akusalato vavattheti, abyākatato vavattheti.
How does one determine sense-sphere phenomena as wholesome, as unwholesome, and as indeterminate? One determines the ten wholesome courses of kamma as wholesome, the ten unwholesome courses of kamma as unwholesome, and form, resultant, and functional states as indeterminate. Thus, one determines sense-sphere phenomena as wholesome, as unwholesome, and as indeterminate.
Làm thế nào vị ấy xác định các pháp Dục giới theo phương diện thiện, theo phương diện bất thiện, theo phương diện vô ký? Vị ấy xác định mười thiện nghiệp đạo theo phương diện thiện, xác định mười bất thiện nghiệp đạo theo phương diện bất thiện, xác định sắc, quả, và duy tác theo phương diện vô ký -- như vậy vị ấy xác định các pháp Dục giới theo phương diện thiện, theo phương diện bất thiện, theo phương diện vô ký.
Kathaṃ rūpāvacare dhamme kusalato vavattheti, abyākatato vavattheti? Idhaṭṭhassa cattāri jhānāni kusalato vavattheti, tatrūpapannassa cattāri jhānāni abyākatato vavattheti – evaṃ rūpāvacare dhamme kusalato vavattheti, abyākatato vavattheti.
How does one determine form-sphere phenomena as wholesome and as indeterminate? One determines the four jhānas of one existing here as wholesome; one determines the four jhānas of one reborn there as indeterminate. Thus, one determines form-sphere phenomena as wholesome and as indeterminate.
Làm thế nào vị ấy xác định các pháp Sắc giới theo phương diện thiện, theo phương diện vô ký? Vị ấy xác định bốn thiền của người ở đây theo phương diện thiện, xác định bốn thiền của người sanh ở đó theo phương diện vô ký -- như vậy vị ấy xác định các pháp Sắc giới theo phương diện thiện, theo phương diện vô ký.
Kathaṃ arūpāvacare dhamme kusalato vavattheti, abyākatato vavattheti? Idhaṭṭhassa catasso arūpāvacarasamāpattiyo kusalato vavattheti, tatrūpapannassa catasso arūpāvacarasamāpattiyo abyākatato vavattheti – evaṃ arūpāvacare dhamme kusalato vavattheti, abyākatato vavattheti.
How does one determine formless-sphere phenomena as wholesome and as indeterminate? One determines the four formless attainments of one existing here as wholesome; one determines the four formless attainments of one reborn there as indeterminate. Thus, one determines formless-sphere phenomena as wholesome and as indeterminate.
Làm thế nào vị ấy xác định các pháp Vô sắc giới theo phương diện thiện, theo phương diện vô ký? Vị ấy xác định bốn Vô sắc định của người ở đây theo phương diện thiện, xác định bốn Vô sắc định của người sanh ở đó theo phương diện vô ký -- như vậy vị ấy xác định các pháp Vô sắc giới theo phương diện thiện, theo phương diện vô ký.
Kathaṃ apariyāpanne dhamme kusalato vavattheti, abyākatato vavattheti? Cattāro ariyamagge kusalato vavattheti, cattāri ca sāmaññaphalāni nibbānañca abyākatato vavattheti – evaṃ apariyāpanne dhamme kusalato vavattheti, abyākatato vavattheti. Evaṃ dhamme vavattheti.
How does one determine unincluded phenomena as wholesome and as indeterminate? One determines the four noble paths as wholesome; one determines the four fruits of recluseship and Nibbāna as indeterminate. Thus, one determines unincluded phenomena as wholesome and as indeterminate. In this way, one determines phenomena.
Làm thế nào vị ấy xác định các pháp không bị bao gồm theo phương diện thiện, theo phương diện vô ký? Vị ấy xác định bốn Thánh đạo theo phương diện thiện, xác định bốn quả Sa-môn và Niết-bàn theo phương diện vô ký -- như vậy vị ấy xác định các pháp không bị bao gồm theo phương diện thiện, theo phương diện vô ký. Như vậy vị ấy xác định các pháp.
Nava pāmojjamūlakā dhammā. Aniccato manasikaroto pāmojjaṃ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṃ vedeti, sukhino cittaṃ samādhiyati. Samāhite citte yathābhūtaṃ pajānāti passati. Yathābhūtaṃ jānaṃ passaṃ nibbindati, nibbindaṃ virajjati, virāgā vimuccati. Dukkhato manasikaroto pāmojjaṃ jāyati…pe… anattato manasikaroto pāmojjaṃ jāyati…pe… vimuccati.
Nine phenomena are rooted in gladness. For one who attends to impermanence, gladness arises. For one who is gladdened, rapture arises. For one with a rapturous mind, the body becomes tranquil. One with a tranquil body experiences happiness. The mind of a happy person becomes concentrated. When the mind is concentrated, one knows and sees things as they really are. Knowing and seeing things as they really are, one becomes disenchanted. Being disenchanted, one becomes dispassionate. Through dispassion, one is liberated. For one who attends to suffering, gladness arises… and so on… for one who attends to not-self, gladness arises… and so on… one is liberated.
Có chín pháp lấy hân hoan làm gốc. Khi tác ý về vô thường, hân hoan sanh khởi; khi có hân hoan, hỷ sanh khởi; khi tâm có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, vị ấy cảm thọ lạc; khi có lạc, tâm được định tĩnh. Khi tâm định tĩnh, vị ấy biết và thấy như thật. Khi biết và thấy như thật, vị ấy nhàm chán; khi nhàm chán, vị ấy ly tham; do ly tham, vị ấy được giải thoát. Khi tác ý về khổ, hân hoan sanh khởi... cho đến... Khi tác ý về vô ngã, hân hoan sanh khởi... cho đến... được giải thoát.
Rūpaṃ aniccato manasikaroto pāmojjaṃ jāyati…pe… rūpaṃ dukkhato manasikaroto…pe… vedanaṃ… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ… cakkhuṃ…pe… jarāmaraṇaṃ aniccato manasikaroto pāmojjaṃ jāyati…pe… jarāmaraṇaṃ dukkhato manasikaroto pāmojjaṃ jāyati…pe… jarāmaraṇaṃ anattato manasikaroto pāmojjaṃ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṃ vedeti, sukhino cittaṃ samādhiyati. Samāhite citte yathābhūtaṃ pajānāti passati. Yathābhūtaṃ jānaṃ passaṃ nibbindati, nibbindaṃ virajjati, virāgā vimuccati. Ime nava pāmojjamūlakā dhammā.
For one who attends to form as impermanent, gladness arises… and so on… for one who attends to form as suffering… and so on… feeling… perception… formations… consciousness… the eye… and so on… for one who attends to aging and death as impermanent, gladness arises… and so on… for one who attends to aging and death as suffering, gladness arises… and so on… for one who attends to aging and death as not-self, gladness arises. For one who is gladdened, rapture arises. For one with a rapturous mind, the body becomes tranquil. One with a tranquil body experiences happiness. The mind of a happy person becomes concentrated. When the mind is concentrated, one knows and sees things as they really are. Knowing and seeing things as they really are, one becomes disenchanted. Being disenchanted, one becomes dispassionate. Through dispassion, one is liberated. These are the nine phenomena rooted in gladness.
Khi tác ý về sắc là vô thường, hân hoan sanh khởi... cho đến... Khi tác ý về sắc là khổ... cho đến... thọ... tưởng... các hành... thức... mắt... cho đến... già và chết là vô thường, hân hoan sanh khởi... cho đến... Khi tác ý về già và chết là khổ, hân hoan sanh khởi... cho đến... Khi tác ý về già và chết là vô ngã, hân hoan sanh khởi; khi có hân hoan, hỷ sanh khởi; khi tâm có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, vị ấy cảm thọ lạc; khi có lạc, tâm được định tĩnh. Khi tâm định tĩnh, vị ấy biết và thấy như thật. Khi biết và thấy như thật, vị ấy nhàm chán; khi nhàm chán, vị ấy ly tham; do ly tham, vị ấy được giải thoát. Đây là chín pháp lấy hân hoan làm gốc.
74. Nava yoniso manasikāramūlakā dhammā. Aniccato yoniso manasikaroto pāmojjaṃ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṃ vedeti, sukhino cittaṃ samādhiyati. Samāhitena cittena ‘‘idaṃ dukkha’’nti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ dukkhasamudayo’’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ dukkhanirodho’’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’’ti yathābhūtaṃ pajānāti. Dukkhato yoniso manasikaroto pāmojjaṃ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṃ vedeti, sukhino cittaṃ samādhiyati. Samāhitena cittena ‘‘idaṃ dukkha’’nti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ dukkhasamudayo’’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ dukkhanirodho’’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’’ti yathābhūtaṃ pajānāti. Anattato yoniso manasikaroto pāmojjaṃ jāyati…pe….
74. Nine are the phenomena rooted in wise attention. For one who gives wise attention to impermanence, gladness arises. For one who is gladdened, rapture arises. For one with a rapturous mind, the body becomes tranquil. One with a tranquil body experiences happiness. The mind of a happy person becomes concentrated. With a concentrated mind, one understands as it really is: ‘This is suffering’; ‘This is the origin of suffering’; ‘This is the cessation of suffering’; ‘This is the path leading to the cessation of suffering.’ For one who gives wise attention to suffering, gladness arises. For one who is gladdened, rapture arises. For one with a rapturous mind, the body becomes tranquil. One with a tranquil body experiences happiness. The mind of a happy person becomes concentrated. With a concentrated mind, one understands as it really is: ‘This is suffering’; ‘This is the origin of suffering’; ‘This is the cessation of suffering’; ‘This is the path leading to the cessation of suffering.’ For one who gives wise attention to not-self, gladness arises… and so on…
74. Có chín pháp lấy như lý tác ý làm căn bản. Đối với người như lý tác ý về vô thường, sự hân hoan sanh khởi; đối với người hoan hỷ, hỷ sanh khởi; đối với người có tâm hỷ, thân được khinh an; người có thân khinh an cảm thọ lạc; đối với người có lạc, tâm được định tĩnh. Với tâm định tĩnh, vị ấy tuệ tri như thật rằng: ‘Đây là khổ,’ tuệ tri như thật rằng: ‘Đây là khổ tập,’ tuệ tri như thật rằng: ‘Đây là khổ diệt,’ tuệ tri như thật rằng: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt.’ Đối với người như lý tác ý về khổ, sự hân hoan sanh khởi; đối với người hoan hỷ, hỷ sanh khởi; đối với người có tâm hỷ, thân được khinh an; người có thân khinh an cảm thọ lạc; đối với người có lạc, tâm được định tĩnh. Với tâm định tĩnh, vị ấy tuệ tri như thật rằng: ‘Đây là khổ,’ tuệ tri như thật rằng: ‘Đây là khổ tập,’ tuệ tri như thật rằng: ‘Đây là khổ diệt,’ tuệ tri như thật rằng: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt.’ Đối với người như lý tác ý về vô ngã, sự hân hoan sanh khởi… vân vân….
Rūpaṃ aniccato yoniso manasikaroto pāmojjaṃ jāyati…pe… rūpaṃ dukkhato yoniso manasikaroto pāmojjaṃ jāyati…pe… rūpaṃ anattato yoniso manasikaroto pāmojjaṃ jāyati…pe… vedanaṃ… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ… cakkhuṃ…pe… jarāmaraṇaṃ aniccato yoniso manasikaroto pāmojjaṃ jāyati…pe… jarāmaraṇaṃ dukkhato yoniso manasikaroto pāmojjaṃ jāyati…pe… jarāmaraṇaṃ anattato yoniso manasikaroto pāmojjaṃ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṃ vedeti, sukhino cittaṃ samādhiyati. Samāhitena cittena ‘‘idaṃ dukkha’’nti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ dukkhasamudayo’’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ dukkhanirodho’’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’’ti yathābhūtaṃ pajānāti. Ime nava yoniso manasikāramūlakā dhammā.
When one wisely attends to form as impermanent, joy arises… When one wisely attends to form as suffering, joy arises… When one wisely attends to form as non-self, joy arises… When one wisely attends to feeling… perception… formations… consciousness… the eye… aging-and-death as impermanent, joy arises… When one wisely attends to aging-and-death as suffering, joy arises… When one wisely attends to aging-and-death as non-self, joy arises. For one who is joyful, rapture arises. For one with a rapturous mind, the body becomes tranquil. With a tranquil body, one experiences happiness. When one is happy, the mind becomes concentrated. With a concentrated mind, one understands as it really is: ‘This is suffering’; one understands as it really is: ‘This is the origin of suffering’; one understands as it really is: ‘This is the cessation of suffering’; one understands as it really is: ‘This is the path leading to the cessation of suffering.’ These are the nine states rooted in wise attention.
Đối với người như lý tác ý về sắc là vô thường, sự hân hoan sanh khởi… vân vân… đối với người như lý tác ý về sắc là khổ, sự hân hoan sanh khởi… vân vân… đối với người như lý tác ý về sắc là vô ngã, sự hân hoan sanh khởi… vân vân… về thọ… về tưởng… về các hành… về thức… về mắt… vân vân… đối với người như lý tác ý về già-chết là vô thường, sự hân hoan sanh khởi… vân vân… đối với người như lý tác ý về già-chết là khổ, sự hân hoan sanh khởi… vân vân… đối với người như lý tác ý về già-chết là vô ngã, sự hân hoan sanh khởi; đối với người hoan hỷ, hỷ sanh khởi; đối với người có tâm hỷ, thân được khinh an; người có thân khinh an cảm thọ lạc; đối với người có lạc, tâm được định tĩnh. Với tâm định tĩnh, vị ấy tuệ tri như thật rằng: ‘Đây là khổ,’ tuệ tri như thật rằng: ‘Đây là khổ tập,’ tuệ tri như thật rằng: ‘Đây là khổ diệt,’ tuệ tri như thật rằng: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt.’ Đây là chín pháp lấy như lý tác ý làm căn bản.
Nava nānattā – dhātunānattaṃ paṭicca uppajjati phassanānattaṃ, phassanānattaṃ paṭicca uppajjati vedanānānattaṃ, vedanānānattaṃ paṭicca uppajjati saññānānattaṃ, saññānānattaṃ paṭicca uppajjati saṅkappanānattaṃ, saṅkappanānattaṃ paṭicca uppajjati chandanānattaṃ, chandanānattaṃ paṭicca uppajjati pariḷāhanānattaṃ, pariḷāhanānattaṃ paṭicca uppajjati pariyesanānānattaṃ, pariyesanānānattaṃ paṭicca uppajjati lābhanānattaṃ – ime nava nānattā. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘navadhammavavatthāne paññā dhammanānatte ñāṇaṃ’’.
There are nine diversities: dependent on the diversity of elements, diversity of contact arises; dependent on the diversity of contact, diversity of feeling arises; dependent on the diversity of feeling, diversity of perception arises; dependent on the diversity of perception, diversity of thought arises; dependent on the diversity of thought, diversity of desire arises; dependent on the diversity of desire, diversity of torment arises; dependent on the diversity of torment, diversity of searching arises; dependent on the diversity of searching, diversity of gain arises. These are the nine diversities. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: ‘The wisdom in the determination of the nine states is the knowledge of the diversity of states.’
Có chín sự đa dạng – do duyên sự đa dạng của giới, sự đa dạng của xúc sanh khởi; do duyên sự đa dạng của xúc, sự đa dạng của thọ sanh khởi; do duyên sự đa dạng của thọ, sự đa dạng của tưởng sanh khởi; do duyên sự đa dạng của tưởng, sự đa dạng của tầm sanh khởi; do duyên sự đa dạng của tầm, sự đa dạng của dục sanh khởi; do duyên sự đa dạng của dục, sự đa dạng của nhiệt não sanh khởi; do duyên sự đa dạng của nhiệt não, sự đa dạng của sự tìm cầu sanh khởi; do duyên sự đa dạng của sự tìm cầu, sự đa dạng của sự đắc lợi sanh khởi – đây là chín sự đa dạng. Cái ấy là trí (ñāṇa) theo nghĩa là biết, là tuệ (paññā) theo nghĩa là biết rõ. Do đó được nói rằng: ‘Tuệ trong sự xác định chín pháp là trí về sự đa dạng của các pháp.’
Dhammanānattañāṇaniddeso ekūnavīsatimo.
The nineteenth is the Exposition on the Knowledge of the Diversity of States.
Dứt phần giải thích về trí về sự đa dạng của các pháp, là phần thứ mười chín.
20-24. Ñāṇapañcakaniddeso
20-24. Exposition on the Five Knowledges
20-24. Phần giải thích về ngũ trí.
75. Kathaṃ abhiññāpaññā ñātaṭṭhe ñāṇaṃ, pariññāpaññā tīraṇaṭṭhe ñāṇaṃ, pahānepaññā pariccāgaṭṭhe ñāṇaṃ, bhāvanā paññā ekarasaṭṭhe ñāṇaṃ, sacchikiriyāpaññā phassanaṭṭhe ñāṇaṃ? Ye ye dhammā abhiññātā honti, te te dhammā ñātā honti. Ye ye dhammā pariññātā honti, te te dhammā tīritā honti. Ye ye dhammā pahīnā honti, te te dhammā pariccattā honti. Ye ye dhammā bhāvitā honti, te te dhammā ekarasā honti. Ye ye dhammā sacchikatā honti, te te dhammā phassitā honti. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘abhiññā paññā ñātaṭṭhe ñāṇaṃ, pariññā paññā tīraṇaṭṭhe ñāṇaṃ, pahāne paññā pariccāgaṭṭhe ñāṇaṃ, bhāvanā paññā ekarasaṭṭhe ñāṇaṃ, sacchikiriyā paññā phusanaṭṭhe ñāṇaṃ’’.
75. How is the wisdom of direct knowledge knowledge in the sense of what is known, the wisdom of full understanding knowledge in the sense of judging, the wisdom in abandoning knowledge in the sense of relinquishing, the wisdom of development knowledge in the sense of a single function, the wisdom of realization knowledge in the sense of contact? Whatever states are directly known, those states are known. Whatever states are fully understood, those states are judged. Whatever states are abandoned, those states are relinquished. Whatever states are developed, those states have a single function. Whatever states are realized, those states are contacted. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: ‘The wisdom of direct knowledge is knowledge in the sense of what is known, the wisdom of full understanding is knowledge in the sense of judging, the wisdom in abandoning is knowledge in the sense of relinquishing, the wisdom of development is knowledge in the sense of a single function, the wisdom of realization is knowledge in the sense of contact.’
75. Thế nào là tuệ thắng trí là trí theo nghĩa đã biết? Tuệ biến tri là trí theo nghĩa thẩm sát? Tuệ trong sự đoạn tận là trí theo nghĩa từ bỏ? Tuệ trong sự tu tập là trí theo nghĩa nhất vị? Tuệ trong sự chứng ngộ là trí theo nghĩa xúc chạm? Những pháp nào được thắng tri, những pháp ấy được biết. Những pháp nào được biến tri, những pháp ấy được thẩm sát. Những pháp nào được đoạn tận, những pháp ấy được từ bỏ. Những pháp nào được tu tập, những pháp ấy là nhất vị. Những pháp nào được chứng ngộ, những pháp ấy được xúc chạm. Cái ấy là trí (ñāṇa) theo nghĩa là biết, là tuệ (paññā) theo nghĩa là biết rõ. Do đó được nói rằng: ‘Tuệ thắng trí là trí theo nghĩa đã biết, tuệ biến tri là trí theo nghĩa thẩm sát, tuệ trong sự đoạn tận là trí theo nghĩa từ bỏ, tuệ trong sự tu tập là trí theo nghĩa nhất vị, tuệ trong sự chứng ngộ là trí theo nghĩa xúc chạm.’
Ñāṇapañcakaniddeso catuvīsatimo.
The twenty-fourth is the Exposition on the Pentad of Knowledge.
Dứt phần giải thích về ngũ trí, là phần thứ hai mươi bốn.
25-28. Paṭisambhidāñāṇaniddeso
25-28. Exposition on the Analytical Knowledges
25-28. Phần giải thích về trí tuệ vô ngại giải.
76. Kathaṃ atthanānatte paññā atthapaṭisambhide ñāṇaṃ, dhammanānatte paññā dhammapaṭisambhide ñāṇaṃ, niruttinānatte paññā niruttipaṭisambhide ñāṇaṃ, paṭibhānanānatte paññā paṭibhānapaṭisambhide ñāṇaṃ? Saddhindriyaṃ dhammo, vīriyindriyaṃ dhammo, satindriyaṃ dhammo, samādhindriyaṃ dhammo, paññindriyaṃ dhammo. Añño saddhindriyaṃ dhammo, añño vīriyindriyaṃ dhammo, añño satindriyaṃ dhammo, añño samādhindriyaṃ dhammo, añño paññindriyaṃ dhammo. Yena ñāṇena ime nānā dhammā ñātā, teneva ñāṇena ime nānā dhammā paṭividitāti. Tena vuccati – ‘‘dhammanānatte paññā dhammapaṭisambhide ñāṇaṃ’’.
76. How is wisdom in the diversity of meanings the analytical knowledge of meaning; wisdom in the diversity of causes the analytical knowledge of causes; wisdom in the diversity of language the analytical knowledge of language; and wisdom in the diversity of perspicuity the analytical knowledge of perspicuity? The faculty of faith is a state, the faculty of energy is a state, the faculty of mindfulness is a state, the faculty of concentration is a state, the faculty of wisdom is a state. The faculty of faith is one state, the faculty of energy is another state, the faculty of mindfulness is another state, the faculty of concentration is another state, and the faculty of wisdom is another state. By the knowledge by which these diverse causes are known, by that same knowledge these diverse causes are penetrated. Therefore it is said: ‘Wisdom in the diversity of causes is the analytical knowledge of causes.’
76. Thế nào là tuệ về sự đa dạng của nghĩa là trí về nghĩa vô ngại giải? Tuệ về sự đa dạng của pháp là trí về pháp vô ngại giải? Tuệ về sự đa dạng của ngữ là trí về ngữ vô ngại giải? Tuệ về sự đa dạng của biện tài là trí về biện tài vô ngại giải? Tín quyền là một pháp, tấn quyền là một pháp, niệm quyền là một pháp, định quyền là một pháp, tuệ quyền là một pháp. Pháp là tín quyền thì khác, pháp là tấn quyền thì khác, pháp là niệm quyền thì khác, pháp là định quyền thì khác, pháp là tuệ quyền thì khác. Do trí nào mà những pháp đa dạng này được biết, cũng do chính trí ấy mà những pháp đa dạng này được thông suốt. Do đó được nói rằng: ‘Tuệ về sự đa dạng của pháp là trí về pháp vô ngại giải.’
Adhimokkhaṭṭho attho, paggahaṭṭho attho, upaṭṭhānaṭṭho attho, avikkhepaṭṭho attho, dassanaṭṭho attho. Añño adhimokkhaṭṭho attho, añño paggahaṭṭho attho, añño upaṭṭhānaṭṭho attho, añño avikkhepaṭṭho attho, añño dassanaṭṭho attho. Yena ñāṇena ime nānā atthā ñātā, teneva ñāṇena ime nānā atthā paṭividitāti. Tena vuccati ‘‘atthanānatte paññā atthapaṭisambhide ñāṇaṃ’’.
The meaning is resolution, the meaning is exertion, the meaning is presence, the meaning is non-distraction, the meaning is seeing. The meaning as resolution is one thing; the meaning as exertion is another; the meaning as presence is another; the meaning as non-distraction is another; the meaning as seeing is another. By the knowledge by which these diverse meanings are known, by that same knowledge these diverse meanings are penetrated. Therefore it is said: ‘Wisdom in the diversity of meanings is the analytical knowledge of meaning.’
Nghĩa quyết đoán là một nghĩa, nghĩa nỗ lực là một nghĩa, nghĩa hiện diện là một nghĩa, nghĩa không tán loạn là một nghĩa, nghĩa thấy biết là một nghĩa. Nghĩa là sự quyết đoán thì khác, nghĩa là sự nỗ lực thì khác, nghĩa là sự hiện diện thì khác, nghĩa là sự không tán loạn thì khác, nghĩa là sự thấy biết thì khác. Do trí nào mà những nghĩa đa dạng này được biết, cũng do chính trí ấy mà những nghĩa đa dạng này được thông suốt. Do đó được nói rằng: ‘Tuệ về sự đa dạng của nghĩa là trí về nghĩa vô ngại giải.’
Pañca dhamme sandassetuṃ byañjananiruttābhilāpā, pañca atthe sandassetuṃ byañjananiruttābhilāpā. Aññā dhammaniruttiyo, aññā atthaniruttiyo. Yena ñāṇena imā nānā niruttiyo ñātā, teneva ñāṇena imā nānā niruttiyo paṭividitāti. Tena vuccati – ‘‘niruttinānatte paññā niruttipaṭisambhide ñāṇaṃ’’.
There are linguistic utterances for indicating the five causes, and linguistic utterances for indicating the five results. The linguistic expressions for the causes are one thing; the linguistic expressions for the results are another. By the knowledge by which these diverse linguistic expressions are known, by that same knowledge these diverse linguistic expressions are penetrated. Therefore it is said: ‘Wisdom in the diversity of language is the analytical knowledge of language.’
Các cách diễn đạt, ngữ nguyên, và văn tự để trình bày năm pháp; các cách diễn đạt, ngữ nguyên, và văn tự để trình bày năm ý nghĩa. Ngữ nguyên về pháp là khác, ngữ nguyên về ý nghĩa là khác. Do trí tuệ nào mà các ngữ nguyên khác nhau này được biết đến, chính do trí tuệ ấy mà các ngữ nguyên khác nhau này được thông suốt. Do đó, được nói rằng: “Trí tuệ về sự khác nhau của ngữ nguyên là trí tuệ về Vô ngại giải về ngữ nguyên.”
Pañcasu dhammesu ñāṇāni, pañcasu atthesu ñāṇāni, dasasu niruttīsu ñāṇāni. Aññāni dhammesu ñāṇāni, aññāni atthesu ñāṇāni, aññāni niruttīsu ñāṇāni. Yena ñāṇena ime nānā ñāṇā ñātā, teneva ñāṇena ime nānā ñāṇā paṭividitāti. Tena vuccati – ‘‘paṭibhānanānatte paññā paṭibhānapaṭisambhide ñāṇaṃ’’.
There are knowledges in the five causes, knowledges in the five results, and knowledges in the ten linguistic expressions. The knowledges in the causes are different; the knowledges in the results are different; the knowledges in the linguistic expressions are different. By the knowledge by which these diverse knowledges are known, by that same knowledge these diverse knowledges are penetrated. Therefore it is said: ‘Wisdom in the diversity of perspicuity is the analytical knowledge of perspicuity.’
Các trí tuệ trong năm pháp, các trí tuệ trong năm ý nghĩa, các trí tuệ trong mười ngữ nguyên. Các trí tuệ trong các pháp là khác, các trí tuệ trong các ý nghĩa là khác, các trí tuệ trong các ngữ nguyên là khác. Do trí tuệ nào mà các trí tuệ khác nhau này được biết đến, chính do trí tuệ ấy mà các trí tuệ khác nhau này được thông suốt. Do đó, được nói rằng: “Trí tuệ về sự khác nhau của biện tài là trí tuệ về Vô ngại giải về biện tài.”
77. Saddhābalaṃ dhammo, vīriyabalaṃ dhammo, satibalaṃ dhammo, samādhibalaṃ dhammo, paññābalaṃ dhammo. Añño saddhābalaṃ dhammo, añño vīriyabalaṃ dhammo, añño satibalaṃ dhammo, añño samādhibalaṃ dhammo, añño paññābalaṃ dhammo. Yena ñāṇena ime nānā dhammā ñātā, teneva ñāṇena ime nānā dhammā paṭividitāti. Tena vuccati – ‘‘dhammanānatte paññā dhammapaṭisambhide ñāṇaṃ’’.
77. The power of faith is a cause, the power of energy is a cause, the power of mindfulness is a cause, the power of concentration is a cause, and the power of wisdom is a cause. The power of faith is one cause, the power of energy is another cause, the power of mindfulness is another cause, the power of concentration is another cause, and the power of wisdom is another cause. By the knowledge by which these diverse causes are known, by that same knowledge these diverse causes are penetrated. Therefore it is said: ‘Wisdom in the diversity of causes is the analytical knowledge of causes.’
77. Tín lực là pháp, tấn lực là pháp, niệm lực là pháp, định lực là pháp, tuệ lực là pháp. Pháp là tín lực thì khác, pháp là tấn lực thì khác, pháp là niệm lực thì khác, pháp là định lực thì khác, pháp là tuệ lực thì khác. Do trí tuệ nào mà các pháp khác nhau này được biết đến, chính do trí tuệ ấy mà các pháp khác nhau này được thông suốt. Do đó, được nói rằng: “Trí tuệ về sự khác nhau của các pháp là trí tuệ về Vô ngại giải về pháp.”
Assaddhiye akampiyaṭṭho attho. Kosajje akampiyaṭṭho attho. Pamāde akampiyaṭṭho attho. Uddhacce akampiyaṭṭho attho. Avijjāya akampiyaṭṭho attho. Añño assaddhiye akampiyaṭṭho attho, añño kosajje akampiyaṭṭho attho, añño pamāde akampiyaṭṭho attho, añño uddhacce akampiyaṭṭho attho, añño avijjāya akampiyaṭṭho attho. Yena ñāṇena ime nānā atthā ñātā, teneva ñāṇena ime nānā atthā paṭividitāti. Tena vuccati – ‘‘atthanānatte paññā atthapaṭisambhide ñāṇaṃ’’.
In lack of faith, the state of being unshakable is the meaning. In laziness, the state of being unshakable is the meaning. In heedlessness, the state of being unshakable is the meaning. In restlessness, the state of being unshakable is the meaning. In ignorance, the state of being unshakable is the meaning. The state of being unshakable in lack of faith is one meaning; the state of being unshakable in laziness is another meaning; the state of being unshakable in heedlessness is another meaning; the state of being unshakable in restlessness is another meaning; the state of being unshakable in ignorance is another meaning. By the knowledge by which these diverse meanings are known, by that very knowledge these diverse meanings are penetrated. Therefore, it is said: ‘Wisdom in the diversity of meanings is the analytical knowledge of meaning.’
Ý nghĩa không lay động đối với sự không có đức tin là ý nghĩa. Ý nghĩa không lay động đối với sự lười biếng là ý nghĩa. Ý nghĩa không lay động đối với sự dể duôi là ý nghĩa. Ý nghĩa không lay động đối với sự trạo cử là ý nghĩa. Ý nghĩa không lay động đối với vô minh là ý nghĩa. Ý nghĩa không lay động đối với sự không có đức tin là khác, ý nghĩa không lay động đối với sự lười biếng là khác, ý nghĩa không lay động đối với sự dể duôi là khác, ý nghĩa không lay động đối với sự trạo cử là khác, ý nghĩa không lay động đối với vô minh là khác. Do trí tuệ nào mà các ý nghĩa khác nhau này được biết đến, chính do trí tuệ ấy mà các ý nghĩa khác nhau này được thông suốt. Do đó, được nói rằng: “Trí tuệ về sự khác nhau của các ý nghĩa là trí tuệ về Vô ngại giải về ý nghĩa.”
Pañca dhamme sandassetuṃ byañjananiruttābhilāpā, pañca atthe sandassetuṃ byañjananiruttābhilāpā. Aññā dhammaniruttiyo, aññā atthaniruttiyo. Yena ñāṇena imā nānā niruttiyo ñātā, teneva ñāṇena imā nānā niruttiyo paṭividitāti. Tena vuccati – ‘‘niruttinānatte paññā niruttipaṭisambhide ñāṇaṃ’’.
There are linguistic formulations for indicating the five causes, and linguistic formulations for indicating the five effects. The linguistic expressions for the causes are one thing; the linguistic expressions for the effects are another. By the knowledge by which these diverse linguistic expressions are known, by that very knowledge these diverse linguistic expressions are penetrated. Therefore, it is said: ‘Wisdom in the diversity of language is the analytical knowledge of language.’
Các cách diễn đạt, ngữ nguyên, và văn tự để trình bày năm pháp; các cách diễn đạt, ngữ nguyên, và văn tự để trình bày năm ý nghĩa. Ngữ nguyên về pháp là khác, ngữ nguyên về ý nghĩa là khác. Do trí tuệ nào mà các ngữ nguyên khác nhau này được biết đến, chính do trí tuệ ấy mà các ngữ nguyên khác nhau này được thông suốt. Do đó, được nói rằng: “Trí tuệ về sự khác nhau của ngữ nguyên là trí tuệ về Vô ngại giải về ngữ nguyên.”
Pañcasu † dhammesu ñāṇāni, pañcasu † atthesu ñāṇāni, dasasu † niruttīsu ñāṇāni. Aññāni dhammesu ñāṇāni, aññāni atthesu ñāṇāni, aññāni niruttīsu ñāṇāni. Yena ñāṇena ime nānā ñāṇā ñātā, teneva ñāṇena ime nānā ñāṇā paṭividitāti. Tena vuccati – ‘‘paṭibhānanānatte paññā paṭibhānapaṭisambhide ñāṇaṃ’’.
There are knowledges in the five causes, knowledges in the five effects, and knowledges in the ten linguistic expressions. The knowledges in the causes are different; the knowledges in the effects are different; the knowledges in the linguistic expressions are different. By the knowledge by which these diverse knowledges are known, by that very knowledge these diverse knowledges are penetrated. Therefore, it is said: ‘Wisdom in the diversity of perspicuity is the analytical knowledge of perspicuity.’
Các trí tuệ trong năm pháp, các trí tuệ trong năm ý nghĩa, các trí tuệ trong mười ngữ nguyên. Các trí tuệ trong các pháp là khác, các trí tuệ trong các ý nghĩa là khác, các trí tuệ trong các ngữ nguyên là khác. Do trí tuệ nào mà các trí tuệ khác nhau này được biết đến, chính do trí tuệ ấy mà các trí tuệ khác nhau này được thông suốt. Do đó, được nói rằng: “Trí tuệ về sự khác nhau của biện tài là trí tuệ về Vô ngại giải về biện tài.”
Satisambojjhaṅgo dhammo, dhammavicayasambojjhaṅgo dhammo, vīriyasambojjhaṅgo dhammo, pītisambojjhaṅgo dhammo, passaddhisambojjhaṅgo dhammo, samādhisambojjhaṅgo dhammo, upekkhāsambojjhaṅgo dhammo. Añño satisambojjhaṅgo dhammo, añño dhammavicayasambojjhaṅgo dhammo, añño vīriyasambojjhaṅgo dhammo, añño pītisambojjhaṅgo dhammo, añño passaddhisambojjhaṅgo dhammo, añño samādhisambojjhaṅgo dhammo, añño upekkhāsambojjhaṅgo dhammo. Yena ñāṇena ime nānā dhammā ñātā, teneva ñāṇena ime nānā dhammā paṭividitāti. Tena vuccati – ‘‘dhammanānatte paññā dhammapaṭisambhide ñāṇaṃ’’.
The enlightenment factor of mindfulness is a Dhamma. The enlightenment factor of discrimination of Dhammas is a Dhamma. The enlightenment factor of energy is a Dhamma. The enlightenment factor of rapture is a Dhamma. The enlightenment factor of tranquility is a Dhamma. The enlightenment factor of concentration is a Dhamma. The enlightenment factor of equanimity is a Dhamma. The Dhamma that is the enlightenment factor of mindfulness is one; the Dhamma that is the enlightenment factor of discrimination of Dhammas is another; the Dhamma that is the enlightenment factor of energy is another; the Dhamma that is the enlightenment factor of rapture is another; the Dhamma that is the enlightenment factor of tranquility is another; the Dhamma that is the enlightenment factor of concentration is another; the Dhamma that is the enlightenment factor of equanimity is another. By the knowledge by which these diverse Dhammas are known, by that same knowledge these diverse Dhammas are thoroughly understood. Therefore it is said: ‘Wisdom in the diversity of Dhammas is the knowledge of the analytical discrimination of Dhamma.’
Niệm giác chi là pháp, trạch pháp giác chi là pháp, tấn giác chi là pháp, hỷ giác chi là pháp, khinh an giác chi là pháp, định giác chi là pháp, xả giác chi là pháp. Pháp là niệm giác chi thì khác, pháp là trạch pháp giác chi thì khác, pháp là tấn giác chi thì khác, pháp là hỷ giác chi thì khác, pháp là khinh an giác chi thì khác, pháp là định giác chi thì khác, pháp là xả giác chi thì khác. Do trí tuệ nào mà các pháp khác nhau này được biết đến, chính do trí tuệ ấy mà các pháp khác nhau này được thông suốt. Do đó, được nói rằng: “Trí tuệ về sự khác nhau của các pháp là trí tuệ về Vô ngại giải về pháp.”
Upaṭṭhānaṭṭho attho, pavicayaṭṭho attho, paggahaṭṭho attho, pharaṇaṭṭho attho, upasamaṭṭho attho, avikkhepaṭṭho attho, paṭisaṅkhānaṭṭho attho. Añño upaṭṭhānaṭṭho attho, añño pavicayaṭṭho attho, añño paggahaṭṭho attho, añño pharaṇaṭṭho attho, añño upasamaṭṭho attho, añño avikkhepaṭṭho attho, añño paṭisaṅkhānaṭṭho attho. Yena ñāṇena ime nānā atthā ñātā, teneva ñāṇena ime nānā atthā paṭividitāti. Tena vuccati – ‘‘atthanānatte paññā atthapaṭisambhide ñāṇaṃ’’.
The characteristic of establishment is the meaning; the characteristic of investigation is the meaning; the characteristic of exertion is the meaning; the characteristic of suffusion is the meaning; the characteristic of calming is the meaning; the characteristic of non-distraction is the meaning; the characteristic of reviewing is the meaning. The meaning as establishment is one; the meaning as investigation is another; the meaning as exertion is another; the meaning as suffusion is another; the meaning as calming is another; the meaning as non-distraction is another; the meaning as reviewing is another. By the knowledge by which these diverse meanings are known, by that same knowledge these diverse meanings are thoroughly understood. Therefore it is said: 'Wisdom in the diversity of meanings is the knowledge of the analytical discrimination of meaning.'
Ý nghĩa của sự hiện diện là ý nghĩa, ý nghĩa của sự thẩm sát là ý nghĩa, ý nghĩa của sự nỗ lực là ý nghĩa, ý nghĩa của sự tràn ngập là ý nghĩa, ý nghĩa của sự an tịnh là ý nghĩa, ý nghĩa của sự không phân tán là ý nghĩa, ý nghĩa của sự quán xét là ý nghĩa. Ý nghĩa của sự hiện diện là khác, ý nghĩa của sự thẩm sát là khác, ý nghĩa của sự nỗ lực là khác, ý nghĩa của sự tràn ngập là khác, ý nghĩa của sự an tịnh là khác, ý nghĩa của sự không phân tán là khác, ý nghĩa của sự quán xét là khác. Do trí tuệ nào mà các ý nghĩa khác nhau này được biết đến, chính do trí tuệ ấy mà các ý nghĩa khác nhau này được thông suốt. Do đó, được nói rằng: “Trí tuệ về sự khác nhau của các ý nghĩa là trí tuệ về Vô ngại giải về ý nghĩa.”
Satta dhamme sandassetuṃ byañjananiruttābhilāpā, satta atthe sandassetuṃ byañjananiruttābhilāpā. Aññā dhammaniruttiyo, aññā atthaniruttiyo. Yena ñāṇena imā nānā niruttiyo ñātā, teneva ñāṇena imā nānā niruttiyo paṭividitāti. Tena vuccati – ‘‘niruttinānatte paññā niruttipaṭisambhide ñāṇaṃ’’.
There are linguistic expressions to demonstrate the seven Dhammas; there are linguistic expressions to demonstrate the seven meanings. The expressions of the Dhamma are one thing; the expressions of the meaning are another. By the knowledge by which these diverse expressions are known, by that same knowledge these diverse expressions are thoroughly understood. Therefore it is said: 'Wisdom in the diversity of expressions is the knowledge of the analytical discrimination of language.'
Các cách diễn đạt, ngữ nguyên, và văn tự để trình bày bảy pháp; các cách diễn đạt, ngữ nguyên, và văn tự để trình bày bảy ý nghĩa. Ngữ nguyên về pháp là khác, ngữ nguyên về ý nghĩa là khác. Do trí tuệ nào mà các ngữ nguyên khác nhau này được biết đến, chính do trí tuệ ấy mà các ngữ nguyên khác nhau này được thông suốt. Do đó, được nói rằng: “Trí tuệ về sự khác nhau của ngữ nguyên là trí tuệ về Vô ngại giải về ngữ nguyên.”
Sattasu dhammesu ñāṇāni, sattasu atthesu ñāṇāni, cuddasasu niruttīsu ñāṇāni. Aññāni dhammesu ñāṇāni, aññāni atthesu ñāṇāni, aññāni niruttīsu ñāṇāni. Yena ñāṇena ime nānā ñāṇā ñātā, teneva ñāṇena ime nānā ñāṇā paṭividitāti. Tena vuccati – ‘‘paṭibhānanānatte paññā paṭibhānapaṭisambhide ñāṇaṃ’’.
There are knowledges in the seven causes, knowledges in the seven effects, and knowledges in the fourteen expressions. Knowledges in causes are one thing, knowledges in effects are another, and knowledges in expressions are another. By whatever knowledge these diverse knowledges are known, by that very same knowledge these diverse knowledges are penetrated. Thus it is said: 'Wisdom in the diversity of ready wit is the knowledge of the discrimination of ready wit.'
Các trí tuệ trong bảy pháp, các trí tuệ trong bảy ý nghĩa, các trí tuệ trong mười bốn ngữ nguyên. Các trí tuệ trong các pháp là khác, các trí tuệ trong các ý nghĩa là khác, các trí tuệ trong các ngữ nguyên là khác. Do trí tuệ nào mà các trí tuệ khác nhau này được biết đến, chính do trí tuệ ấy mà các trí tuệ khác nhau này được thông suốt. Do đó, được nói rằng: “Trí tuệ về sự khác nhau của biện tài là trí tuệ về Vô ngại giải về biện tài.”
Sammādiṭṭhi dhammo, sammāsaṅkappo dhammo, sammāvācā dhammo, sammākammanto dhammo, sammāājīvo dhammo, sammāvāyāmo dhammo, sammāsati dhammo, sammāsamādhi dhammo. Añño sammādiṭṭhi dhammo, añño sammāsaṅkappo dhammo, añño sammāvācā dhammo, añño sammākammanto dhammo, añño sammāājīvo dhammo, añño sammāvāyāmo dhammo, añño sammāsati dhammo, añño sammāsamādhi dhammo. Yena ñāṇena ime nānā dhammā ñātā, teneva ñāṇena ime nānā dhammā paṭividitāti. Tena vuccati – ‘‘dhammanānatte paññā dhammapaṭisambhide ñāṇaṃ’’.
Right View is a cause, Right Thought is a cause, Right Speech is a cause, Right Action is a cause, Right Livelihood is a cause, Right Effort is a cause, Right Mindfulness is a cause, and Right Concentration is a cause. The cause that is Right View is one thing; the cause that is Right Thought is another; the cause that is Right Speech is another; the cause that is Right Action is another; the cause that is Right Livelihood is another; the cause that is Right Effort is another; the cause that is Right Mindfulness is another; and the cause that is Right Concentration is another. By whatever knowledge these various causes are known, by that very same knowledge these various causes are penetrated. Thus it is said: ‘Wisdom in the diversity of causes is the analytical knowledge of causes.’
Chánh kiến là pháp, chánh tư duy là pháp, chánh ngữ là pháp, chánh nghiệp là pháp, chánh mạng là pháp, chánh tinh tấn là pháp, chánh niệm là pháp, chánh định là pháp. Pháp chánh kiến là khác, pháp chánh tư duy là khác, pháp chánh ngữ là khác, pháp chánh nghiệp là khác, pháp chánh mạng là khác, pháp chánh tinh tấn là khác, pháp chánh niệm là khác, pháp chánh định là khác. Với trí tuệ nào mà các pháp đa dạng này được biết đến, chính với trí tuệ ấy mà các pháp đa dạng này được thâm nhập. Do đó được gọi là: ‘Trí tuệ về sự đa dạng của các pháp là trí tuệ Phân tích Pháp’.
Dassanaṭṭho attho, abhiniropanaṭṭho attho, pariggahaṭṭho attho, samuṭṭhānaṭṭho attho, vodānaṭṭho attho, paggahaṭṭho attho, upaṭṭhānaṭṭho attho, avikkhepaṭṭho attho. Añño dassanaṭṭho attho, añño abhiniropanaṭṭho attho, añño pariggahaṭṭho attho, añño samuṭṭhānaṭṭho attho, añño vodānaṭṭho attho, añño paggahaṭṭho attho, añño upaṭṭhānaṭṭho attho, añño avikkhepaṭṭho attho. Yena ñāṇena ime nānā atthā ñātā teneva ñāṇena ime nānā atthā paṭividitāti. Tena vuccati – ‘‘atthanānatte paññā atthapaṭisambhide ñāṇaṃ’’.
The characteristic of seeing is an effect; the characteristic of applying the mind is an effect; the characteristic of comprehending is an effect; the characteristic of originating is an effect; the characteristic of cleansing is an effect; the characteristic of exerting is an effect; the characteristic of establishing is an effect; and the characteristic of non-distraction is an effect. The characteristic of seeing is one effect; the characteristic of applying the mind is another effect; the characteristic of comprehending is another effect; the characteristic of originating is another effect; the characteristic of cleansing is another effect; the characteristic of exerting is another effect; the characteristic of establishing is another effect; and the characteristic of non-distraction is another effect. By whatever knowledge these various effects are known, by that very same knowledge these various effects are penetrated. Thus it is said: ‘Wisdom in the diversity of effects is the analytical knowledge of effects.’
Ý nghĩa thấy là nghĩa, ý nghĩa hướng tâm là nghĩa, ý nghĩa thâu tóm là nghĩa, ý nghĩa đồng sanh khởi là nghĩa, ý nghĩa trong sạch là nghĩa, ý nghĩa sách tấn là nghĩa, ý nghĩa hiện khởi là nghĩa, ý nghĩa không tán loạn là nghĩa. Ý nghĩa thấy là khác, ý nghĩa hướng tâm là khác, ý nghĩa thâu tóm là khác, ý nghĩa đồng sanh khởi là khác, ý nghĩa trong sạch là khác, ý nghĩa sách tấn là khác, ý nghĩa hiện khởi là khác, ý nghĩa không tán loạn là khác. Với trí tuệ nào mà các nghĩa đa dạng này được biết đến, chính với trí tuệ ấy mà các nghĩa đa dạng này được thâm nhập. Do đó được gọi là: ‘Trí tuệ về sự đa dạng của các nghĩa là trí tuệ Phân tích Nghĩa’.
Aṭṭha dhamme sandassetuṃ byañjananiruttābhilāpā, aṭṭha atthe sandassetuṃ byañjananiruttābhilāpā. Aññā dhammaniruttiyo, aññā atthaniruttiyo. Yena ñāṇena imā nānā niruttiyo ñātā, teneva ñāṇena imā nānā niruttiyo paṭividitāti. Tena vuccati – ‘‘niruttinānatte paññā niruttipaṭisambhide ñāṇaṃ’’.
Expressions are for indicating the eight causes; expressions are for indicating the eight effects. The expressions for causes are different; the expressions for effects are different. By the knowledge with which these various expressions are known, by that very same knowledge these various expressions are penetrated. Therefore it is said: ‘Wisdom in the diversity of expressions is the analytical knowledge of expressions.’
Để chỉ rõ tám pháp, có những cách diễn đạt, từ ngữ, ngôn ngữ. Để chỉ rõ tám nghĩa, có những cách diễn đạt, từ ngữ, ngôn ngữ. Các ngôn ngữ về pháp là khác, các ngôn ngữ về nghĩa là khác. Với trí tuệ nào mà các ngôn ngữ đa dạng này được biết đến, chính với trí tuệ ấy mà các ngôn ngữ đa dạng này được thâm nhập. Do đó được gọi là: ‘Trí tuệ về sự đa dạng của ngôn ngữ là trí tuệ Phân tích Ngữ’.
Aṭṭhasu dhammesu ñāṇāni, aṭṭhasu atthesu ñāṇāni soḷasasu niruttīsu ñāṇāni. Aññāni dhammesu ñāṇāni, aññāni atthesu ñāṇāni, aññāni niruttīsu ñāṇāni. Yena ñāṇena ime nānā ñāṇā ñātā, teneva ñāṇena ime nānā ñāṇā paṭividitāti. Tena vuccati – ‘‘paṭibhānanānatte paññā paṭibhānapaṭisambhide ñāṇaṃ’’. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘atthanānatte paññā atthapaṭisambhide ñāṇaṃ. Dhammanānatte paññā dhammapaṭisambhide ñāṇaṃ. Niruttinānatte paññā niruttipaṭisambhide ñāṇaṃ. Paṭibhānanānatte paññā paṭibhānapaṭisambhide ñāṇaṃ’’.
There are knowledges in the eight causes, knowledges in the eight effects, and knowledges in the sixteen expressions. The knowledges in causes are different, the knowledges in effects are different, the knowledges in expressions are different. By the knowledge with which these various knowledges are known, by that very same knowledge these various knowledges are penetrated. Therefore it is said: ‘Wisdom in the diversity of discernment is the analytical knowledge of discernment.’ That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of comprehending. Therefore it is said: ‘Wisdom in the diversity of effects is the analytical knowledge of effects. Wisdom in the diversity of causes is the analytical knowledge of causes. Wisdom in the diversity of expressions is the analytical knowledge of expressions. Wisdom in the diversity of discernment is the analytical knowledge of discernment.’
Các trí tuệ trong tám pháp, các trí tuệ trong tám nghĩa, các trí tuệ trong mười sáu ngôn ngữ. Các trí tuệ trong các pháp là khác, các trí tuệ trong các nghĩa là khác, các trí tuệ trong các ngôn ngữ là khác. Với trí tuệ nào mà các trí tuệ đa dạng này được biết đến, chính với trí tuệ ấy mà các trí tuệ đa dạng này được thâm nhập. Do đó được gọi là: ‘Trí tuệ về sự đa dạng của biện tài là trí tuệ Phân tích Biện tài’. Trí tuệ ấy là trí (ñāṇa) theo nghĩa biết, là tuệ (paññā) theo nghĩa biết rõ. Do đó được gọi là: ‘Trí tuệ về sự đa dạng của các nghĩa là trí tuệ Phân tích Nghĩa. Trí tuệ về sự đa dạng của các pháp là trí tuệ Phân tích Pháp. Trí tuệ về sự đa dạng của ngôn ngữ là trí tuệ Phân tích Ngữ. Trí tuệ về sự đa dạng của biện tài là trí tuệ Phân tích Biện tài’.
Paṭisambhidāñāṇaniddeso aṭṭhavīsatimo.
The Exposition on the Analytical Knowledges is the twenty-eighth.
Phần giải thích về trí tuệ Phân tích, chương thứ hai mươi tám.
29-31. Ñāṇattayaniddeso
29-31. Exposition on the Three Knowledges
29-31. Phần giải thích về ba loại trí tuệ
78. Kathaṃ vihāranānatte paññā vihāraṭṭhe ñāṇaṃ, samāpattinānatte paññā samāpattaṭṭhe ñāṇaṃ, vihārasamāpattinānatte paññā vihārasamāpattaṭṭhe ñāṇaṃ? Nimittaṃ bhayato sampassamāno animitte adhimuttattā phussa phussa vayaṃ passati – animitto vihāro. Paṇidhiṃ bhayato sampassamāno appaṇihite adhimuttattā phussa phussa vayaṃ passati – appaṇihito vihāro. Abhinivesaṃ bhayato sampassamāno suññate adhimuttattā phussa phussa vayaṃ passati – suññato vihāro.
78. How is wisdom in the diversity of dwellings knowledge in the meaning of dwelling? How is wisdom in the diversity of attainments knowledge in the meaning of attainment? How is wisdom in the diversity of dwellings and attainments knowledge in the meaning of dwelling and attainment? Seeing the sign as fearful, and being resolved on the signless, one sees vanishing at every contact—this is the signless dwelling. Seeing aspiration as fearful, and being resolved on the desireless, one sees vanishing at every contact—this is the desireless dwelling. Seeing adherence as fearful, and being resolved on emptiness, one sees vanishing at every contact—this is the emptiness dwelling.
78. Thế nào là trí tuệ về sự đa dạng của các trú là trí tuệ về trú, trí tuệ về sự đa dạng của các định là trí tuệ về định, trí tuệ về sự đa dạng của các trú và định là trí tuệ về trú và định? Người thấy rõ tướng là đáng sợ, do có tâm hướng về vô tướng, nên chạm đến, chạm đến rồi thấy sự diệt – đó là vô tướng trú. Người thấy rõ sự mong cầu là đáng sợ, do có tâm hướng về vô nguyện, nên chạm đến, chạm đến rồi thấy sự diệt – đó là vô nguyện trú. Người thấy rõ sự chấp thủ là đáng sợ, do có tâm hướng về không tánh, nên chạm đến, chạm đến rồi thấy sự diệt – đó là không trú.
Nimittaṃ bhayato sampassamāno animitte adhimuttattā pavattaṃ ajjhupekkhitvā nirodhaṃ nibbānaṃ animittaṃ āvajjitvā samāpajjati – animittā samāpatti. Paṇidhiṃ bhayato sampassamāno appaṇihite adhimuttattā pavattaṃ ajjhupekkhitvā nirodhaṃ nibbānaṃ appaṇihitaṃ āvajjitvā samāpajjati – appaṇihitā samāpatti. Abhinivesaṃ bhayato sampassamāno suññate adhimuttattā pavattaṃ ajjhupekkhitvā nirodhaṃ nibbānaṃ suññataṃ āvajjitvā samāpajjati – suññatā samāpatti.
One who sees the sign as a danger, due to being resolved on the signless, having regarded the ongoing process with equanimity, adverts to Nibbāna, which is cessation and signless, and enters attainment—this is the signless attainment. One who sees longing as a danger, due to being resolved on the desireless, having regarded the ongoing process with equanimity, adverts to Nibbāna, which is cessation and desireless, and enters attainment—this is the desireless attainment. One who sees adherence as a danger, due to being resolved on emptiness, having regarded the ongoing process with equanimity, adverts to Nibbāna, which is cessation and empty, and enters attainment—this is the emptiness attainment.
Người thấy rõ tướng là đáng sợ, do có tâm hướng về vô tướng, nên xả bỏ các pháp hữu vi, hướng tâm đến Niết-bàn là sự diệt, là vô tướng, rồi nhập định – đó là vô tướng định. Người thấy rõ sự mong cầu là đáng sợ, do có tâm hướng về vô nguyện, nên xả bỏ các pháp hữu vi, hướng tâm đến Niết-bàn là sự diệt, là vô nguyện, rồi nhập định – đó là vô nguyện định. Người thấy rõ sự chấp thủ là đáng sợ, do có tâm hướng về không tánh, nên xả bỏ các pháp hữu vi, hướng tâm đến Niết-bàn là sự diệt, là không tánh, rồi nhập định – đó là không định.
Nimittaṃ bhayato sampassamāno animitte adhimuttattā phussa phussa vayaṃ passati, pavattaṃ ajjhupekkhitvā nirodhaṃ nibbānaṃ animittaṃ āvajjitvā samāpajjati – animittavihārasamāpatti. Paṇidhiṃ bhayato sampassamāno appaṇihite adhimuttattā phussa phussa vayaṃ passati, pavattaṃ ajjhupekkhitvā nirodhaṃ nibbānaṃ appaṇihitaṃ āvajjitvā samāpajjati – appaṇihitavihārasamāpatti. Abhinivesaṃ bhayato sampassamāno suññate adhimuttattā phussa phussa vayaṃ passati, pavattaṃ ajjhupekkhitvā nirodhaṃ nibbānaṃ suññataṃ āvajjitvā samāpajjati – suññatavihārasamāpatti.
One who sees the sign as a danger, due to being resolved on the signless, sees vanishing upon repeated contact; and having regarded the ongoing process with equanimity, adverts to Nibbāna, which is cessation and signless, and enters attainment—this is the attainment of the signless dwelling. One who sees longing as a danger, due to being resolved on the desireless, sees vanishing upon repeated contact; and having regarded the ongoing process with equanimity, adverts to Nibbāna, which is cessation and desireless, and enters attainment—this is the attainment of the desireless dwelling. One who sees adherence as a danger, due to being resolved on emptiness, sees vanishing upon repeated contact; and having regarded the ongoing process with equanimity, adverts to Nibbāna, which is cessation and empty, and enters attainment—this is the attainment of the emptiness dwelling.
Người thấy rõ tướng là đáng sợ, do có tâm hướng về vô tướng, nên chạm đến, chạm đến rồi thấy sự diệt, và xả bỏ các pháp hữu vi, hướng tâm đến Niết-bàn là sự diệt, là vô tướng, rồi nhập định – đó là vô tướng trú định. Người thấy rõ sự mong cầu là đáng sợ, do có tâm hướng về vô nguyện, nên chạm đến, chạm đến rồi thấy sự diệt, và xả bỏ các pháp hữu vi, hướng tâm đến Niết-bàn là sự diệt, là vô nguyện, rồi nhập định – đó là vô nguyện trú định. Người thấy rõ sự chấp thủ là đáng sợ, do có tâm hướng về không tánh, nên chạm đến, chạm đến rồi thấy sự diệt, và xả bỏ các pháp hữu vi, hướng tâm đến Niết-bàn là sự diệt, là không tánh, rồi nhập định – đó là không trú định.
79. Rūpanimittaṃ bhayato sampassamāno animitte adhimuttattā phussa phussa vayaṃ passati – animitto vihāro. Rūpapaṇidhiṃ bhayato sampassamāno appaṇihite adhimuttattā phussa phussa vayaṃ passati – appaṇihito vihāro. Rūpābhinivesaṃ bhayato sampassamāno suññate adhimuttattā phussa phussa vayaṃ passati – suññato vihāro.
79. One who sees the sign of form as a danger, due to being resolved on the signless, sees vanishing upon repeated contact—this is the signless dwelling. One who sees the longing for form as a danger, due to being resolved on the desireless, sees vanishing upon repeated contact—this is the desireless dwelling. One who sees the adherence to form as a danger, due to being resolved on emptiness, sees vanishing upon repeated contact—this is the emptiness dwelling.
79. Người thấy rõ sắc tướng là đáng sợ, do có tâm hướng về vô tướng, nên chạm đến, chạm đến rồi thấy sự diệt – đó là vô tướng trú. Người thấy rõ sự mong cầu đối với sắc là đáng sợ, do có tâm hướng về vô nguyện, nên chạm đến, chạm đến rồi thấy sự diệt – đó là vô nguyện trú. Người thấy rõ sự chấp thủ đối với sắc là đáng sợ, do có tâm hướng về không tánh, nên chạm đến, chạm đến rồi thấy sự diệt – đó là không trú.
Rūpanimittaṃ bhayato sampassamāno animitte adhimuttattā pavattaṃ ajjhupekkhitvā nirodhaṃ nibbānaṃ animittaṃ āvajjitvā samāpajjati – animittā samāpatti. Rūpapaṇidhiṃ bhayato sampassamāno appaṇihite adhimuttattā pavattaṃ ajjhupekkhitvā nirodhaṃ nibbānaṃ appaṇihitaṃ āvajjitvā samāpajjati – appaṇihitā samāpatti. Rūpābhinivesaṃ bhayato sampassamāno suññate adhimuttattā pavattaṃ ajjhupekkhitvā nirodhaṃ nibbānaṃ suññataṃ āvajjitvā samāpajjati – suññatā samāpatti.
Seeing the sign of form as a danger, and being resolved on the signless, having regarded the ongoing process with equanimity, one adverts to cessation, Nibbāna as the signless, and enters attainment—this is the signless attainment. Seeing the aspiration for form as a danger, and being resolved on the desireless, having regarded the ongoing process with equanimity, one adverts to cessation, Nibbāna as the desireless, and enters attainment—this is the desireless attainment. Seeing the adherence to form as a danger, and being resolved on emptiness, having regarded the ongoing process with equanimity, one adverts to cessation, Nibbāna as emptiness, and enters attainment—this is the emptiness attainment.
Vị hành giả thấy rõ tướng của sắc là đáng sợ, do tâm đã hướng đến vô tướng, sau khi xả ly sự diễn tiến, hướng tâm đến Níp-bàn là sự diệt, là vô tướng, rồi nhập vào – (đó là) Vô Tướng Nhập. Vị hành giả thấy rõ sự mong cầu nơi sắc là đáng sợ, do tâm đã hướng đến vô nguyện, sau khi xả ly sự diễn tiến, hướng tâm đến Níp-bàn là sự diệt, là vô nguyện, rồi nhập vào – (đó là) Vô Nguyện Nhập. Vị hành giả thấy rõ sự chấp thủ nơi sắc là đáng sợ, do tâm đã hướng đến tánh không, sau khi xả ly sự diễn tiến, hướng tâm đến Níp-bàn là sự diệt, là tánh không, rồi nhập vào – (đó là) Tánh Không Nhập.
Rūpanimittaṃ bhayato sampassamāno animitte adhimuttattā phussa phussa vayaṃ passati, pavattaṃ ajjhupekkhitvā nirodhaṃ nibbānaṃ animittaṃ āvajjitvā samāpajjati – animittavihārasamāpatti. Rūpapaṇidhiṃ bhayato sampassamāno appaṇihite adhimuttattā phussa phussa vayaṃ passati, pavattaṃ ajjhupekkhitvā nirodhaṃ nibbānaṃ appaṇihitaṃ āvajjitvā samāpajjati – appaṇihitavihārasamāpatti. Rūpābhinivesaṃ bhayato sampassamāno suññate adhimuttattā phussa phussa vayaṃ passati, pavattaṃ ajjhupekkhitvā nirodhaṃ nibbānaṃ suññataṃ āvajjitvā samāpajjati – suññatavihārasamāpatti.
Seeing the sign of form as a danger, and being resolved on the signless, one sees vanishing at every contact; having regarded the ongoing process with equanimity, one adverts to cessation, Nibbāna as the signless, and enters attainment—this is the attainment of the signless dwelling. Seeing the aspiration for form as a danger, and being resolved on the desireless, one sees vanishing at every contact; having regarded the ongoing process with equanimity, one adverts to cessation, Nibbāna as the desireless, and enters attainment—this is the attainment of the desireless dwelling. Seeing the adherence to form as a danger, and being resolved on emptiness, one sees vanishing at every contact; having regarded the ongoing process with equanimity, one adverts to cessation, Nibbāna as emptiness, and enters attainment—this is the attainment of the emptiness dwelling.
Vị hành giả thấy rõ tướng của sắc là đáng sợ, do tâm đã hướng đến vô tướng, vị ấy liên tục chạm đến và thấy sự hoại diệt, và sau khi xả ly sự diễn tiến, hướng tâm đến Níp-bàn là sự diệt, là vô tướng, rồi nhập vào – (đó là) Vô Tướng Trú Nhập. Vị hành giả thấy rõ sự mong cầu nơi sắc là đáng sợ, do tâm đã hướng đến vô nguyện, vị ấy liên tục chạm đến và thấy sự hoại diệt, và sau khi xả ly sự diễn tiến, hướng tâm đến Níp-bàn là sự diệt, là vô nguyện, rồi nhập vào – (đó là) Vô Nguyện Trú Nhập. Vị hành giả thấy rõ sự chấp thủ nơi sắc là đáng sợ, do tâm đã hướng đến tánh không, vị ấy liên tục chạm đến và thấy sự hoại diệt, và sau khi xả ly sự diễn tiến, hướng tâm đến Níp-bàn là sự diệt, là tánh không, rồi nhập vào – (đó là) Tánh Không Trú Nhập.
Vedanānimittaṃ …pe… saññānimittaṃ… saṅkhāranimittaṃ… viññāṇanimittaṃ… cakkhunimittaṃ…pe… jarāmaraṇanimittaṃ bhayato sampassamāno animitte adhimuttattā phussa phussa vayaṃ passati – animitto vihāro. Jarāmaraṇapaṇidhiṃ bhayato sampassamāno appaṇihite adhimuttattā phussa phussa vayaṃ passati – appaṇihito vihāro. Jarāmaraṇābhinivesaṃ bhayato sampassamāno suññate adhimuttattā phussa phussa vayaṃ passati – suññato vihāro.
Seeing the sign of feeling… and so on… the sign of perception… the sign of formations… the sign of consciousness… the sign of the eye… and so on… the sign of aging-and-death as a danger, and being resolved on the signless, one sees vanishing at every contact—this is the signless dwelling. Seeing the aspiration for aging-and-death as a danger, and being resolved on the desireless, one sees vanishing at every contact—this is the desireless dwelling. Seeing the adherence to aging-and-death as a danger, and being resolved on emptiness, one sees vanishing at every contact—this is the emptiness dwelling.
Tướng của thọ ...đến... tướng của tưởng... tướng của các hành... tướng của thức... tướng của mắt... đến... Vị hành giả thấy rõ tướng của già-chết là đáng sợ, do tâm đã hướng đến vô tướng, vị ấy liên tục chạm đến và thấy sự hoại diệt – (đó là) Vô Tướng Trú. Vị hành giả thấy rõ sự mong cầu nơi già-chết là đáng sợ, do tâm đã hướng đến vô nguyện, vị ấy liên tục chạm đến và thấy sự hoại diệt – (đó là) Vô Nguyện Trú. Vị hành giả thấy rõ sự chấp thủ nơi già-chết là đáng sợ, do tâm đã hướng đến tánh không, vị ấy liên tục chạm đến và thấy sự hoại diệt – (đó là) Tánh Không Trú.
Jarāmaraṇanimittaṃ bhayato sampassamāno animitte adhimuttattā pavattaṃ ajjhupekkhitvā nirodhaṃ nibbānaṃ animittaṃ āvajjitvā samāpajjati – animittā samāpatti. Jarāmaraṇapaṇidhiṃ bhayato sampassamāno appaṇihite adhimuttattā pavattaṃ ajjhupekkhitvā nirodhaṃ nibbānaṃ appaṇihitaṃ āvajjitvā samāpajjati – appaṇihitā samāpatti. Jarāmaraṇābhinivesaṃ bhayato sampassamāno suññate adhimuttattā pavattaṃ ajjhupekkhitvā nirodhaṃ nibbānaṃ suññataṃ āvajjitvā samāpajjati – suññatā samāpatti.
Seeing the sign of aging-and-death as fearful, and being resolved on the signless, having regarded the ongoing process with equanimity, one adverts to the signless Nibbāna, which is cessation, and enters the attainment of fruition—this is the signless attainment. Seeing the aspiration for aging-and-death as fearful, and being resolved on the desireless, having regarded the ongoing process with equanimity, one adverts to the desireless Nibbāna, which is cessation, and enters the attainment of fruition—this is the desireless attainment. Seeing the adherence to aging-and-death as fearful, and being resolved on emptiness, having regarded the ongoing process with equanimity, one adverts to the empty Nibbāna, which is cessation, and enters the attainment of fruition—this is the emptiness attainment.
Vị hành giả thấy rõ tướng của già-chết là đáng sợ, do tâm đã hướng đến vô tướng, sau khi xả ly sự diễn tiến, hướng tâm đến Níp-bàn là sự diệt, là vô tướng, rồi nhập vào – (đó là) Vô Tướng Nhập. Vị hành giả thấy rõ sự mong cầu nơi già-chết là đáng sợ, do tâm đã hướng đến vô nguyện, sau khi xả ly sự diễn tiến, hướng tâm đến Níp-bàn là sự diệt, là vô nguyện, rồi nhập vào – (đó là) Vô Nguyện Nhập. Vị hành giả thấy rõ sự chấp thủ nơi già-chết là đáng sợ, do tâm đã hướng đến tánh không, sau khi xả ly sự diễn tiến, hướng tâm đến Níp-bàn là sự diệt, là tánh không, rồi nhập vào – (đó là) Tánh Không Nhập.
Jarāmaraṇanimittaṃ bhayato sampassamāno animitte adhimuttattā phussa phussa vayaṃ passati, pavattaṃ ajjhupekkhitvā nirodhaṃ nibbānaṃ animittaṃ āvajjitvā samāpajjati – animittavihārasamāpatti. Jarāmaraṇapaṇidhiṃ bhayato sampassamāno appaṇihite adhimuttattā phussa phussa vayaṃ passati, pavattaṃ ajjhupekkhitvā nirodhaṃ nibbānaṃ appaṇihitaṃ āvajjitvā samāpajjati – appaṇihitavihārasamāpatti. Jarāmaraṇābhinivesaṃ bhayato sampassamāno suññate adhimuttattā phussa phussa vayaṃ passati, pavattaṃ ajjhupekkhitvā nirodhaṃ nibbānaṃ suññataṃ āvajjitvā samāpajjati – suññatavihārasamāpatti. Añño animitto vihāro, añño appaṇihito vihāro, añño suññato vihāro. Aññā animittasamāpatti, aññā appaṇihitasamāpatti, aññā suññatasamāpatti. Aññā animittā vihārasamāpatti, aññā appaṇihitā vihārasamāpatti, aññā suññatā vihārasamāpatti. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘vihāranānatte paññā vihāraṭṭhe ñāṇaṃ, samāpattinānatte paññā samāpattaṭṭhe ñāṇaṃ, vihārasamāpattinānatte paññā vihārasamāpattaṭṭhe ñāṇaṃ’’.
Seeing the sign of aging-and-death as fearful, and being resolved on the signless, having come into contact again and again, one sees the passing away; having regarded the ongoing process with equanimity, one adverts to the signless Nibbāna, which is cessation, and enters the attainment of fruition—this is the signless dwelling-attainment. Seeing the aspiration for aging-and-death as fearful, and being resolved on the desireless, having come into contact again and again, one sees the passing away; having regarded the ongoing process with equanimity, one adverts to the desireless Nibbāna, which is cessation, and enters the attainment of fruition—this is the desireless dwelling-attainment. Seeing the adherence to aging-and-death as fearful, and being resolved on emptiness, having come into contact again and again, one sees the passing away; having regarded the ongoing process with equanimity, one adverts to the empty Nibbāna, which is cessation, and enters the attainment of fruition—this is the emptiness dwelling-attainment. The signless dwelling is one thing, the desireless dwelling is another, the empty dwelling is another. The signless attainment is one thing, the desireless attainment is another, the emptiness attainment is another. The signless dwelling-attainment is one thing, the desireless dwelling-attainment is another, the emptiness dwelling-attainment is another. That is knowledge in the sense of knowing, and wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: 'Wisdom in the diversity of dwellings is knowledge of the meaning of dwelling; wisdom in the diversity of attainments is knowledge of the meaning of attainment; wisdom in the diversity of dwelling-attainments is knowledge of the meaning of dwelling-attainment.'
Vị hành giả thấy rõ tướng của già-chết là đáng sợ, do tâm đã hướng đến vô tướng, vị ấy liên tục chạm đến và thấy sự hoại diệt, và sau khi xả ly sự diễn tiến, hướng tâm đến Níp-bàn là sự diệt, là vô tướng, rồi nhập vào – (đó là) Vô Tướng Trú Nhập. Vị hành giả thấy rõ sự mong cầu nơi già-chết là đáng sợ, do tâm đã hướng đến vô nguyện, vị ấy liên tục chạm đến và thấy sự hoại diệt, và sau khi xả ly sự diễn tiến, hướng tâm đến Níp-bàn là sự diệt, là vô nguyện, rồi nhập vào – (đó là) Vô Nguyện Trú Nhập. Vị hành giả thấy rõ sự chấp thủ nơi già-chết là đáng sợ, do tâm đã hướng đến tánh không, vị ấy liên tục chạm đến và thấy sự hoại diệt, và sau khi xả ly sự diễn tiến, hướng tâm đến Níp-bàn là sự diệt, là tánh không, rồi nhập vào – (đó là) Tánh Không Trú Nhập. Vô Tướng Trú là khác, Vô Nguyện Trú là khác, Tánh Không Trú là khác. Vô Tướng Nhập là khác, Vô Nguyện Nhập là khác, Tánh Không Nhập là khác. Vô Tướng Trú Nhập là khác, Vô Nguyện Trú Nhập là khác, Tánh Không Trú Nhập là khác. Điều ấy, với ý nghĩa biết là trí; với ý nghĩa biết rõ phân biệt là tuệ. Do đó được nói rằng: ‘Tuệ trong sự khác biệt của các trú là trí về ý nghĩa của trú, tuệ trong sự khác biệt của các nhập là trí về ý nghĩa của nhập, tuệ trong sự khác biệt của các trú và nhập là trí về ý nghĩa của trú và nhập’.
Ñāṇattayaniddeso ekatiṃsatimo.
The Exposition of the Triad of Knowledges is the thirty-first.
Phần giải về ba loại trí, (chương) thứ ba mươi mốt.
32. Ānantarikasamādhiñāṇaniddeso
32. Exposition of the Knowledge of Immediate Concentration
32. Phần giải về trí Vô Gián Định
80. Kathaṃ avikkhepaparisuddhattā āsavasamucchede paññā ānantarikasamādhimhi ñāṇaṃ? Nekkhammavasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi. Tassa samādhissa vasena uppajjati ñāṇaṃ. Tena ñāṇena āsavā khīyanti. Iti paṭhamaṃ samatho, pacchā ñāṇaṃ. Tena ñāṇena āsavānaṃ khayo hoti. Tena vuccati – ‘‘avikkhepaparisuddhattā āsavasamucchede paññā ānantarikasamādhimhi ñāṇaṃ’’.
80. How is it that wisdom in the cutting off of the taints, through purity from non-distraction, is knowledge in the immediate concentration? By way of renunciation, the mind's one-pointedness and non-distraction is concentration. By way of that concentration, knowledge arises. By that knowledge the taints are destroyed. Thus, first serenity, then knowledge. By that knowledge the destruction of the taints occurs. Therefore it is said: “Wisdom in the cutting off of the taints, through purity from non-distraction, is knowledge in the immediate concentration.”
80. Thế nào là tuệ trong sự đoạn trừ các lậu hoặc do sự trong sạch của không-phóng-dật là trí trong Vô Gián Định? Do năng lực của sự xuất ly, sự nhất tâm, không phóng dật là định. Do năng lực của định ấy, trí sanh khởi. Do trí ấy, các lậu hoặc được đoạn tận. Như vậy, trước tiên là chỉ, sau đó là trí. Do trí ấy, có sự đoạn tận các lậu hoặc. Do đó được nói rằng: ‘Tuệ trong sự đoạn trừ các lậu hoặc do sự trong sạch của không-phóng-dật là trí trong Vô Gián Định’.
Āsavāti katame te āsavā? Kāmāsavo, bhavāsavo, diṭṭhāsavo, avijjāsavo. Katthete āsavā khīyanti? Sotāpattimaggena anavaseso diṭṭhāsavo khīyati, apāyagamanīyo kāmāsavo khīyati, apāyagamanīyo bhavāsavo khīyati, apāyagamanīyo avijjāsavo khīyati. Etthete āsavā khīyanti. Sakadāgāmimaggena oḷāriko kāmāsavo khīyati, tadekaṭṭho bhavāsavo khīyati, tadekaṭṭho avijjāsavo khīyati. Etthete āsavā khīyanti. Anāgāmimaggena anavaseso kāmāsavo khīyati, tadekaṭṭho bhavāsavo khīyati, tadekaṭṭho avijjāsavo khīyati. Etthete āsavā khīyanti. Arahattamaggena anavaseso bhavāsavo khīyati, anavaseso avijjāsavo khīyati. Etthete āsavā khīyanti.
The taints—what are those taints? The taint of sensual pleasure, the taint of being, the taint of views, and the taint of ignorance. Where are these taints destroyed? By the path of stream-entry, the taint of views is destroyed without remainder; the taint of sensual pleasure that leads to the plane of misery is destroyed; the taint of being that leads to the plane of misery is destroyed; the taint of ignorance that leads to the plane of misery is destroyed. Herein, these taints are destroyed. By the path of the once-returner, the gross taint of sensual pleasure is destroyed; the taint of being associated with it is destroyed; the taint of ignorance associated with it is destroyed. Herein, these taints are destroyed. By the path of the non-returner, the taint of sensual pleasure is destroyed without remainder; the taint of being associated with it is destroyed; the taint of ignorance associated with it is destroyed. Herein, these taints are destroyed. By the path of arahantship, the taint of being is destroyed without remainder; the taint of ignorance is destroyed without remainder. Herein, these taints are destroyed.
Nói là lậu hoặc, những lậu hoặc ấy là gì? Dục lậu, hữu lậu, kiến lậu, vô minh lậu. Những lậu hoặc này được đoạn tận ở đâu? Do Tu-đà-hoàn đạo, kiến lậu được đoạn tận không còn dư sót; dục lậu đưa đến khổ cảnh được đoạn tận; hữu lậu đưa đến khổ cảnh được đoạn tận; vô minh lậu đưa đến khổ cảnh được đoạn tận. Tại đây, những lậu hoặc này được đoạn tận. Do Tư-đà-hàm đạo, dục lậu thô thiển được đoạn tận; hữu lậu cùng chung đối tượng với nó được đoạn tận; vô minh lậu cùng chung đối tượng với nó được đoạn tận. Tại đây, những lậu hoặc này được đoạn tận. Do A-na-hàm đạo, dục lậu được đoạn tận không còn dư sót; hữu lậu cùng chung đối tượng với nó được đoạn tận; vô minh lậu cùng chung đối tượng với nó được đoạn tận. Tại đây, những lậu hoặc này được đoạn tận. Do A-la-hán đạo, hữu lậu được đoạn tận không còn dư sót; vô minh lậu được đoạn tận không còn dư sót. Tại đây, những lậu hoặc này được đoạn tận.
Abyāpādavasena …pe… ālokasaññāvasena… avikkhepavasena… dhammavavatthānavasena… ñāṇavasena… pāmojjavasena… paṭhamajjhānavasena… dutiyajjhānavasena… tatiyajjhānavasena… catutthajjhānavasena… ākāsānañcāyatanasamāpattivasena… viññāṇañcāyatanasamāpattivasena… ākiñcaññāyatanasamāpattivasena… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattivasena… pathavīkasiṇavasena… āpokasiṇavasena … tejokasiṇavasena… vāyokasiṇavasena… nīlakasiṇavasena… pītakasiṇavasena… lohitakasiṇavasena… odātakasiṇavasena… ākāsakasiṇavasena… viññāṇakasiṇavasena… buddhānussativasena… dhammānussativasena… saṅghānussativasena… sīlānussativasena… cāgānussativasena… devatānussativasena… ānāpānassativasena… maraṇassativasena… kāyagatāsativasena… upasamānussativasena… uddhumātakasaññāvasena… vinīlakasaññāvasena… vipubbakasaññāvasena… vicchiddakasaññāvasena… vikkhāyitakasaññāvasena… vikkhittakasaññāvasena… hatavikkhittakasaññāvasena … lohitakasaññāvasena… puḷavakasaññāvasena… aṭṭhikasaññāvasena.
By way of non-ill will … by way of the perception of light … by way of non-distraction … by way of the determination of phenomena … by way of knowledge … by way of joy … by way of the first jhāna … by way of the second jhāna … by way of the third jhāna … by way of the fourth jhāna … by way of the attainment of the base of infinite space … by way of the attainment of the base of infinite consciousness … by way of the attainment of the base of nothingness … by way of the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception … by way of the earth kasiṇa … by way of the water kasiṇa … by way of the fire kasiṇa … by way of the air kasiṇa … by way of the blue kasiṇa … by way of the yellow kasiṇa … by way of the red kasiṇa … by way of the white kasiṇa … by way of the space kasiṇa … by way of the consciousness kasiṇa … by way of recollection of the Buddha … by way of recollection of the Dhamma … by way of recollection of the Sangha … by way of recollection of virtue … by way of recollection of generosity … by way of recollection of the deities … by way of mindfulness of breathing … by way of mindfulness of death … by way of mindfulness directed to the body … by way of recollection of peace … by way of the perception of a bloated corpse … by way of the perception of a livid corpse … by way of the perception of a festering corpse … by way of the perception of a fissured corpse … by way of the perception of a gnawed-at corpse … by way of the perception of a scattered corpse … by way of the perception of a hacked and scattered corpse … by way of the perception of a bloody corpse … by way of the perception of a worm-infested corpse … by way of the perception of a skeleton.
Do năng lực của vô sân… cho đến… do năng lực của quang tưởng… do năng lực của không tán loạn… do năng lực của sự xác định pháp… do năng lực của trí tuệ… do năng lực của hân hoan… do năng lực của thiền thứ nhất… do năng lực của thiền thứ hai… do năng lực của thiền thứ ba… do năng lực của thiền thứ tư… do năng lực của sự chứng đắc Không Vô Biên Xứ… do năng lực của sự chứng đắc Thức Vô Biên Xứ… do năng lực của sự chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ… do năng lực của sự chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ… do năng lực của biến xứ đất… do năng lực của biến xứ nước… do năng lực của biến xứ lửa… do năng lực của biến xứ gió… do năng lực của biến xứ xanh… do năng lực của biến xứ vàng… do năng lực của biến xứ đỏ… do năng lực của biến xứ trắng… do năng lực của biến xứ hư không… do năng lực của biến xứ thức… do năng lực của niệm Phật… do năng lực của niệm Pháp… do năng lực của niệm Tăng… do năng lực của niệm giới… do năng lực của niệm thí… do năng lực của niệm thiên… do năng lực của niệm hơi thở vô hơi thở ra… do năng lực của niệm sự chết… do năng lực của niệm thân… do năng lực của niệm sự tịch tịnh… do năng lực của tưởng tử thi sình trương… do năng lực của tưởng tử thi xanh bầm… do năng lực của tưởng tử thi chảy mủ… do năng lực của tưởng tử thi bị cắt đứt… do năng lực của tưởng tử thi bị loài vật cắn xé… do năng lực của tưởng tử thi bị vung vãi… do năng lực của tưởng tử thi bị chặt và vung vãi… do năng lực của tưởng tử thi chảy máu… do năng lực của tưởng tử thi có dòi bọ… do năng lực của tưởng bộ xương.
81. Dīghaṃ assāsavasena…pe… dīghaṃ passāsavasena… rassaṃ assāsavasena… rassaṃ passāsavasena… sabbakāyapaṭisaṃvedī assāsavasena… sabbakāyapaṭisaṃvedī passāsavasena… passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assāsavasena… passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passāsavasena… pītipaṭisaṃvedī assāsavasena… pītipaṭisaṃvedī passāsavasena… sukhapaṭisaṃvedī assāsavasena… sukhapaṭisaṃvedī passāsavasena… cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī assāsavasena… cittasaṅkhārapaṭisaṃvedī passāsavasena… passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ assāsavasena… passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ passāsavasena… cittapaṭisaṃvedī assāsavasena… cittapaṭisaṃvedī passāsavasena… abhippamodayaṃ cittaṃ assāsavasena… abhippamodayaṃ cittaṃ passāsavasena… samādahaṃ cittaṃ…pe… vimocayaṃ cittaṃ… aniccānupassī … virāgānupassī… nirodhānupassī… paṭinissaggānupassī assāsavasena… paṭinissaggānupassī passāsavasena cittassa ekaggatā avikkhepo samādhi. Tassa samādhissa vasena uppajjati ñāṇaṃ, tena ñāṇena āsavā khīyanti. Iti paṭhamaṃ samatho, pacchā ñāṇaṃ. Tena ñāṇena āsavānaṃ khayo hoti. Tena vuccati – ‘‘avikkhepaparisuddhattā āsavasamucchede paññā ānantarikasamādhimhi ñāṇaṃ’’.
81. By way of breathing out long… by way of breathing in long… by way of breathing out short… by way of breathing in short… by way of breathing out experiencing the whole body… by way of breathing in experiencing the whole body… by way of breathing out calming the bodily formation… by way of breathing in calming the bodily formation… by way of breathing out experiencing rapture… by way of breathing in experiencing rapture… by way of breathing out experiencing pleasure… by way of breathing in experiencing pleasure… by way of breathing out experiencing the mental formation… by way of breathing in experiencing the mental formation… by way of breathing out calming the mental formation… by way of breathing in calming the mental formation… by way of breathing out experiencing the mind… by way of breathing in experiencing the mind… by way of breathing out gladdening the mind… by way of breathing in gladdening the mind… concentrating the mind… liberating the mind… contemplating impermanence… contemplating dispassion… contemplating cessation… by way of breathing out contemplating relinquishment… by way of breathing in contemplating relinquishment, the mind's one-pointedness and non-distraction is concentration. By means of that concentration, knowledge arises. By that knowledge, the taints are destroyed. Thus, first there is serenity; afterwards, there is knowledge. By that knowledge, the destruction of the taints occurs. Therefore it is said: 'Wisdom in the cutting off of the taints, through purity from non-distraction, is knowledge in the immediate concentration.'
81. Do năng lực của hơi thở vô dài… cho đến… do năng lực của hơi thở ra dài… do năng lực của hơi thở vô ngắn… do năng lực của hơi thở ra ngắn… cảm nhận toàn thân do năng lực của hơi thở vô… cảm nhận toàn thân do năng lực của hơi thở ra… làm an tịnh thân hành do năng lực của hơi thở vô… làm an tịnh thân hành do năng lực của hơi thở ra… cảm nhận hỷ do năng lực của hơi thở vô… cảm nhận hỷ do năng lực của hơi thở ra… cảm nhận lạc do năng lực của hơi thở vô… cảm nhận lạc do năng lực của hơi thở ra… cảm nhận tâm hành do năng lực của hơi thở vô… cảm nhận tâm hành do năng lực của hơi thở ra… làm an tịnh tâm hành do năng lực của hơi thở vô… làm an tịnh tâm hành do năng lực của hơi thở ra… cảm nhận tâm do năng lực của hơi thở vô… cảm nhận tâm do năng lực của hơi thở ra… làm cho tâm hân hoan do năng lực của hơi thở vô… làm cho tâm hân hoan do năng lực của hơi thở ra… làm cho tâm định tĩnh… cho đến… làm cho tâm giải thoát… quán vô thường… quán ly tham… quán đoạn diệt… quán từ bỏ do năng lực của hơi thở vô… quán từ bỏ do năng lực của hơi thở ra, sự nhất tâm, sự không tán loạn của tâm là định. Do năng lực của định ấy, trí tuệ sanh khởi, do trí tuệ ấy, các lậu hoặc được đoạn tận. Như vậy, trước tiên là chỉ, sau đó là tuệ. Do trí tuệ ấy, có sự đoạn tận các lậu hoặc. Do đó, được nói rằng: “Do sự thanh tịnh không tán loạn, trí tuệ trong việc đoạn trừ các lậu hoặc là trí về định vô gián.”
Āsavāti katame te āsavā? Kāmāsavo, bhavāsavo, diṭṭhāsavo, avijjāsavo. Katthete āsavā khīyanti? Sotāpattimaggena anavaseso diṭṭhāsavo khīyati, apāyagamanīyo kāmāsavo khīyati, apāyagamanīyo bhavāsavo khīyati, apāyagamanīyo avijjāsavo khīyati. Etthete āsavā khīyanti. Sakadāgāmimaggena oḷāriko kāmāsavo khīyati, tadekaṭṭho bhavāsavo khīyati, tadekaṭṭho avijjāsavo khīyati. Etthete āsavā khīyanti. Anāgāmimaggena anavaseso kāmāsavo khīyati, tadekaṭṭho bhavāsavo khīyati, tadekaṭṭho avijjāsavo khīyati. Etthete āsavā khīyanti. Arahattamaggena anavaseso bhavāsavo khīyati, anavaseso avijjāsavo khīyati. Etthete āsavā khīyanti. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘avikkhepaparisuddhattā āsavasamucchede paññā ānantarikasamādhimhi ñāṇaṃ’’.
Regarding 'taints' (āsavā): what are those taints? The taint of sensual pleasure, the taint of being, the taint of views, and the taint of ignorance. Where are these taints destroyed? By the path of stream-entry, the taint of views is destroyed without remainder; the taint of sensual pleasure that leads to the plane of misery is destroyed; the taint of being that leads to the plane of misery is destroyed; the taint of ignorance that leads to the plane of misery is destroyed. Herein, these taints are destroyed. By the path of the once-returner, the gross taint of sensual pleasure is destroyed; the taint of being co-existent with that is destroyed; the taint of ignorance co-existent with that is destroyed. Herein, these taints are destroyed. By the path of the non-returner, the taint of sensual pleasure is destroyed without remainder; the taint of being co-existent with that is destroyed; the taint of ignorance co-existent with that is destroyed. Herein, these taints are destroyed. By the path of Arahantship, the taint of being is destroyed without remainder; the taint of ignorance is destroyed without remainder. Herein, these taints are destroyed. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of thorough understanding. Therefore it is said: 'Wisdom in the cutting off of the taints, through the purity of non-distraction, is knowledge in the immediate concentration.'
Về lậu hoặc, những lậu hoặc ấy là gì? Dục lậu, hữu lậu, kiến lậu, vô minh lậu. Những lậu hoặc này được đoạn tận ở đâu? Do đạo Tu-đà-hoàn, kiến lậu được đoạn tận không còn dư sót, dục lậu dẫn đến khổ cảnh được đoạn tận, hữu lậu dẫn đến khổ cảnh được đoạn tận, vô minh lậu dẫn đến khổ cảnh được đoạn tận. Tại đây, những lậu hoặc này được đoạn tận. Do đạo Tư-đà-hàm, dục lậu thô được đoạn tận, hữu lậu cùng trú với nó được đoạn tận, vô minh lậu cùng trú với nó được đoạn tận. Tại đây, những lậu hoặc này được đoạn tận. Do đạo A-na-hàm, dục lậu được đoạn tận không còn dư sót, hữu lậu cùng trú với nó được đoạn tận, vô minh lậu cùng trú với nó được đoạn tận. Tại đây, những lậu hoặc này được đoạn tận. Do đạo A-la-hán, hữu lậu được đoạn tận không còn dư sót, vô minh lậu được đoạn tận không còn dư sót. Tại đây, những lậu hoặc này được đoạn tận. Điều ấy, do ý nghĩa biết nên là trí (ñāṇa), do ý nghĩa biết rõ nên là tuệ (paññā). Do đó, được nói rằng: “Do sự thanh tịnh không tán loạn, trí tuệ trong việc đoạn trừ các lậu hoặc là trí về định vô gián.”
Ānantarikasamādhiñāṇaniddeso dvattiṃsatimo.
The Exposition of the Knowledge of Immediate Concentration is the thirty-second.
Phần giải thích về trí về định vô gián thứ ba mươi hai.
33. Araṇavihārañāṇaniddeso
33. Exposition of the Knowledge of Conflict-Free Abiding
33. Phần giải thích về trí về trú xứ vô tránh.
82. Kathaṃ dassanādhipateyyaṃ santo ca vihārādhigamo paṇītādhimuttatā paññā araṇavihāre ñāṇaṃ? Dassanādhipateyyanti aniccānupassanā dassanādhipateyyaṃ, dukkhānupassanā dassanādhipateyyaṃ, anattānupassanā dassanādhipateyyaṃ, rūpe aniccānupassanā dassanādhipateyyaṃ, rūpe dukkhānupassanā dassanādhipateyyaṃ, rūpe anattānupassanā dassanādhipateyyaṃ; vedanāya…pe… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe… cakkhusmiṃ…pe… jarāmaraṇe aniccānupassanā dassanādhipateyyaṃ, jarāmaraṇe dukkhānupassanā dassanādhipateyyaṃ, jarāmaraṇe anattānupassanā dassanādhipateyyaṃ.
82. How is the wisdom that has vision as its dominant principle, that is the attainment of a tranquil abiding, and that is an inclination towards the sublime, knowledge in the conflict-free abiding? Regarding 'vision as the dominant principle' (dassanādhipateyyaṃ): the contemplation of impermanence is vision as the dominant principle; the contemplation of suffering is vision as the dominant principle; the contemplation of non-self is vision as the dominant principle. The contemplation of impermanence in form is vision as the dominant principle; the contemplation of suffering in form is vision as the dominant principle; the contemplation of non-self in form is vision as the dominant principle; in feeling... (and so on)... in perception... in formations... in consciousness... in the eye... (and so on)... in aging and death, the contemplation of impermanence is vision as the dominant principle; the contemplation of suffering in aging and death is vision as the dominant principle; the contemplation of non-self in aging and death is vision as the dominant principle.
82. Làm thế nào trí tuệ có kiến làm chủ, sự chứng đắc trú xứ an tịnh, và sự hướng tâm đến điều cao thượng là trí về trú xứ vô tránh? Về “kiến làm chủ”, sự quán vô thường là kiến làm chủ, sự quán khổ là kiến làm chủ, sự quán vô ngã là kiến làm chủ, sự quán vô thường trong sắc là kiến làm chủ, sự quán khổ trong sắc là kiến làm chủ, sự quán vô ngã trong sắc là kiến làm chủ; trong thọ… cho đến… trong tưởng… trong các hành… trong thức… trong mắt… cho đến… trong già và chết, sự quán vô thường là kiến làm chủ, trong già và chết, sự quán khổ là kiến làm chủ, trong già và chết, sự quán vô ngã là kiến làm chủ.
Santo ca vihārādhigamoti suññato vihāro santo vihārādhigamo. Animitto vihāro santo vihārādhigamo. Appaṇihito vihāro santo vihārādhigamo.
Regarding 'the tranquil attainment of an abiding' (santo ca vihārādhigamo): the abiding in emptiness is a tranquil attainment of an abiding; the signless abiding is a tranquil attainment of an abiding; the desireless abiding is a tranquil attainment of an abiding.
Về “sự chứng đắc trú xứ an tịnh”, trú xứ không là sự chứng đắc trú xứ an tịnh. Trú xứ vô tướng là sự chứng đắc trú xứ an tịnh. Trú xứ vô nguyện là sự chứng đắc trú xứ an tịnh.
Paṇītādhimuttatāti suññate adhimuttatā paṇītādhimuttatā. Animitte adhimuttatā paṇītādhimuttatā. Appaṇihite adhimuttatā paṇītādhimuttatā.
‘Sublime resolve’ means: resolve on emptiness is sublime resolve; resolve on the signless is sublime resolve; resolve on the undirected is sublime resolve.
Về “sự hướng tâm đến điều cao thượng”, sự hướng tâm đến không là sự hướng tâm đến điều cao thượng. Sự hướng tâm đến vô tướng là sự hướng tâm đến điều cao thượng. Sự hướng tâm đến vô nguyện là sự hướng tâm đến điều cao thượng.
Araṇavihāroti paṭhamaṃ jhānaṃ araṇavihāro. Dutiyaṃ jhānaṃ araṇavihāro. Tatiyaṃ jhānaṃ araṇavihāro. Catutthaṃ jhānaṃ araṇavihāro. Ākāsānañcāyatanasamāpatti araṇavihāro…pe… nevasaññānāsaññāyatanasamāpatti araṇavihāro.
‘Peaceful abiding’ means: the first jhāna is a peaceful abiding; the second jhāna is a peaceful abiding; the third jhāna is a peaceful abiding; the fourth jhāna is a peaceful abiding; the attainment of the base of infinite space is a peaceful abiding… and so on… the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception is a peaceful abiding.
Về “trú xứ vô tránh”, thiền thứ nhất là trú xứ vô tránh. Thiền thứ hai là trú xứ vô tránh. Thiền thứ ba là trú xứ vô tránh. Thiền thứ tư là trú xứ vô tránh. Sự chứng đắc Không Vô Biên Xứ là trú xứ vô tránh… cho đến… sự chứng đắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là trú xứ vô tránh.
Araṇavihāroti kenaṭṭhena araṇavihāro? Paṭhamena jhānena nīvaraṇe haratīti – araṇavihāro. Dutiyena jhānena vitakkavicāre haratīti – araṇavihāro. Tatiyena jhānena pītiṃ haratīti – araṇavihāro. Catutthena jhānena sukhadukkhe haratīti – araṇavihāro. Ākāsānañcāyatanasamāpattiyā rūpasaññaṃ paṭighasaññaṃ nānattasaññaṃ haratīti – araṇavihāro. Viññāṇañcāyatanasamāpattiyā ākāsānañcāyatanasaññaṃ haratīti – araṇavihāro. Ākiñcaññāyatanasamāpattiyā viññāṇañcāyatanasaññaṃ haratīti – araṇavihāro. Nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā ākiñcaññāyatanasaññaṃ haratīti – araṇavihāro. Ayaṃ araṇavihāro. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘dassanādhipateyyaṃ santo ca vihārādhigamo paṇītādhimuttatā paññā araṇavihāre ñāṇaṃ’’.
‘Peaceful abiding’: in what sense is it a peaceful abiding? Because with the first jhāna one removes the hindrances, it is a peaceful abiding. Because with the second jhāna one removes thought and examination, it is a peaceful abiding. Because with the third jhāna one removes rapture, it is a peaceful abiding. Because with the fourth jhāna one removes pleasure and pain, it is a peaceful abiding. Because with the attainment of the base of infinite space one removes the perception of form, the perception of resistance, and the perception of diversity, it is a peaceful abiding. Because with the attainment of the base of infinite consciousness one removes the perception of the base of infinite space, it is a peaceful abiding. Because with the attainment of the base of nothingness one removes the perception of the base of infinite consciousness, it is a peaceful abiding. Because with the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception one removes the perception of the base of nothingness, it is a peaceful abiding. This is peaceful abiding. It is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of understanding. Therefore it is said: “The wisdom that is sovereignty of vision, the attainment of a peaceful abiding, and sublime resolve is the knowledge in peaceful abiding.”
Về Vô Tranh Trú, do ý nghĩa nào được gọi là Vô Tranh Trú? Do diệt trừ các triền cái bằng thiền thứ nhất – nên gọi là Vô Tranh Trú. Do diệt trừ tầm và tứ bằng thiền thứ hai – nên gọi là Vô Tranh Trú. Do diệt trừ hỷ bằng thiền thứ ba – nên gọi là Vô Tranh Trú. Do diệt trừ lạc và khổ bằng thiền thứ tư – nên gọi là Vô Tranh Trú. Do diệt trừ sắc tưởng, đối ngại tưởng, dị tưởng bằng thiền chứng Không Vô Biên Xứ – nên gọi là Vô Tranh Trú. Do diệt trừ tưởng về Không Vô Biên Xứ bằng thiền chứng Thức Vô Biên Xứ – nên gọi là Vô Tranh Trú. Do diệt trừ tưởng về Thức Vô Biên Xứ bằng thiền chứng Vô Sở Hữu Xứ – nên gọi là Vô Tranh Trú. Do diệt trừ tưởng về Vô Sở Hữu Xứ bằng thiền chứng Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ – nên gọi là Vô Tranh Trú. Đây là Vô Tranh Trú. Pháp ấy, do ý nghĩa là biết nên là trí; do ý nghĩa là biết rõ nên là tuệ. Do đó, được nói rằng: ‘Tuệ có sự thấy làm chủ, sự chứng đạt an trú tịch tịnh, sự hướng tâm đến điều thù thắng là trí về Vô Tranh Trú.’”
Araṇavihārañāṇaniddeso tettiṃsatimo.
The Exposition of the Knowledge of Peaceful Abiding, the thirty-third.
Phần giải thích về trí Vô Tranh Trú thứ ba mươi ba.
34. Nirodhasamāpattiñāṇaniddeso
34. Exposition of the Knowledge of the Attainment of Cessation
34. Phần giải thích về trí Diệt Tận Định
83. Kathaṃ dvīhi balehi samannāgatattā tayo ca saṅkhārānaṃ paṭippassaddhiyā soḷasahi ñāṇacariyāhi navahi samādhicariyāhi vasibhāvatā paññā nirodhasamāpattiyā ñāṇaṃ?
83. How is wisdom the knowledge of the attainment of cessation, by virtue of being endowed with two powers, by the pacification of the three formations, by sixteen practices of knowledge, by nine practices of concentration, and by mastery?
83. Do được trang bị hai lực, do sự an tịnh của ba loại hành, do sự thuần thục với mười sáu tuệ hành và chín định hành, tuệ được gọi là trí về Diệt Tận Định là như thế nào?
Dvīhi balehīti dve balāni – samathabalaṃ, vipassanābalaṃ. Katamaṃ samathabalaṃ? Nekkhammavasena cittassekaggatā avikkhepo samathabalaṃ. Abyāpādavasena cittassekaggatā avikkhepo samathabalaṃ. Ālokasaññāvasena cittassekaggatā avikkhepo samathabalaṃ. Avikkhepavasena cittassekaggatā avikkhepo samathabalaṃ…pe… paṭinissaggānupassī assāsavasena cittassekaggatā avikkhepo samathabalaṃ. Paṭinissaggānupassī passāsavasena cittassekaggatā avikkhepo samathabalaṃ.
‘By two powers’ means two powers: the power of serenity and the power of insight. What is the power of serenity? One-pointedness of mind and non-distraction by way of renunciation is the power of serenity; by way of non-ill will is the power of serenity; by way of the perception of light is the power of serenity; by way of non-distraction is the power of serenity…pe… For one contemplating relinquishment, one-pointedness of mind and non-distraction by way of the out-breath is the power of serenity. For one contemplating relinquishment, one-pointedness of mind and non-distraction by way of the in-breath is the power of serenity.
Về ‘hai lực,’ có hai lực là: chỉ lực và quán lực. Chỉ lực là gì? Sự nhất tâm, không tán loạn của tâm do nương vào xuất ly là chỉ lực. Sự nhất tâm, không tán loạn của tâm do nương vào vô sân là chỉ lực. Sự nhất tâm, không tán loạn của tâm do nương vào quang tưởng là chỉ lực. Sự nhất tâm, không tán loạn của tâm do nương vào không tán loạn là chỉ lực... v.v... Vị ấy thường quán sát sự từ bỏ, sự nhất tâm, không tán loạn của tâm do nương vào hơi thở ra là chỉ lực. Vị ấy thường quán sát sự từ bỏ, sự nhất tâm, không tán loạn của tâm do nương vào hơi thở vào là chỉ lực.
Samathabalanti kenaṭṭhena samathabalaṃ? Paṭhamena jhānena nīvaraṇe na kampatīti – samathabalaṃ. Dutiyena jhānena vitakkavicāre na kampatīti – samathabalaṃ. Tatiyena jhānena pītiyā na kampatīti – samathabalaṃ. Catutthena jhānena sukhadukkhe na kampatīti – samathabalaṃ. Ākāsānañcāyatanasamāpattiyā rūpasaññāya paṭighasaññāya nānattasaññāya na kampatīti – samathabalaṃ. Viññāṇañcāyatanasamāpattiyā ākāsānañcāyatanasaññāya na kampatīti – samathabalaṃ. Ākiñcaññāyatanasamāpattiyā viññāṇañcāyatanasaññāya na kampatīti – samathabalaṃ. Nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā ākiñcaññāyatanasaññāya na kampatīti – samathabalaṃ. Uddhacce ca uddhaccasahagatakilese ca khandhe ca na kampati na calati na vedhatīti – samathabalaṃ. Idaṃ samathabalaṃ.
‘The power of serenity’: in what sense is it the power of serenity? Because with the first jhāna one is not shaken by the hindrances, it is the power of serenity. Because with the second jhāna one is not shaken by thought and examination, it is the power of serenity. Because with the third jhāna one is not shaken by rapture, it is the power of serenity. Because with the fourth jhāna one is not shaken by pleasure and pain, it is the power of serenity. Because with the attainment of the base of infinite space one is not shaken by the perception of form, the perception of resistance, and the perception of diversity, it is the power of serenity. Because with the attainment of the base of infinite consciousness one is not shaken by the perception of the base of infinite space, it is the power of serenity. Because with the attainment of the base of nothingness one is not shaken by the perception of the base of infinite consciousness, it is the power of serenity. Because with the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception one is not shaken by the perception of the base of nothingness, it is the power of serenity. Because one does not shake, waver, or tremble at restlessness, the defilements that accompany restlessness, and the aggregates, it is the power of serenity. This is the power of serenity.
Về chỉ lực, do ý nghĩa nào được gọi là chỉ lực? Do không bị lay động bởi các triền cái nhờ thiền thứ nhất – nên gọi là chỉ lực. Do không bị lay động bởi tầm và tứ nhờ thiền thứ hai – nên gọi là chỉ lực. Do không bị lay động bởi hỷ nhờ thiền thứ ba – nên gọi là chỉ lực. Do không bị lay động bởi lạc và khổ nhờ thiền thứ tư – nên gọi là chỉ lực. Do không bị lay động bởi sắc tưởng, đối ngại tưởng, dị tưởng nhờ thiền chứng Không Vô Biên Xứ – nên gọi là chỉ lực. Do không bị lay động bởi tưởng về Không Vô Biên Xứ nhờ thiền chứng Thức Vô Biên Xứ – nên gọi là chỉ lực. Do không bị lay động bởi tưởng về Thức Vô Biên Xứ nhờ thiền chứng Vô Sở Hữu Xứ – nên gọi là chỉ lực. Do không bị lay động bởi tưởng về Vô Sở Hữu Xứ nhờ thiền chứng Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ – nên gọi là chỉ lực. Do không bị lay động, không bị dao động, không bị rung chuyển trong sự trạo cử, trong các phiền não đi cùng với trạo cử, và trong các uẩn – nên gọi là chỉ lực. Đây là chỉ lực.
Katamaṃ vipassanābalaṃ? Aniccānupassanā vipassanābalaṃ. Dukkhānupassanā vipassanābalaṃ. Anattānupassanā vipassanābalaṃ. Nibbidānupassanā vipassanābalaṃ. Virāgānupassanā vipassanābalaṃ. Nirodhānupassanā vipassanābalaṃ. Paṭinissaggānupassanā vipassanābalaṃ. Rūpe aniccānupassanā vipassanābalaṃ …pe… rūpe paṭinissaggānupassanā vipassanābalaṃ. Vedanāya…pe… saññāya… saṅkhāresu… viññāṇe… cakkhusmiṃ…pe… jarāmaraṇe aniccānupassanā vipassanābalaṃ…pe… jarāmaraṇe paṭinissaggānupassanā vipassanābalaṃ.
What is the power of insight? Contemplation of impermanence is the power of insight. Contemplation of suffering is the power of insight. Contemplation of non-self is the power of insight. Contemplation of disenchantment is the power of insight. Contemplation of dispassion is the power of insight. Contemplation of cessation is the power of insight. Contemplation of relinquishment is the power of insight. Contemplation of impermanence in form is the power of insight … and so on … contemplation of relinquishment in form is the power of insight. In feeling … and so on … in perception … in formations … in consciousness … in the eye … and so on … in aging and death, contemplation of impermanence is the power of insight … and so on … in aging and death, contemplation of relinquishment is the power of insight.
Quán lực là gì? Sự thường quán vô thường là quán lực. Sự thường quán khổ là quán lực. Sự thường quán vô ngã là quán lực. Sự thường quán sự nhàm chán là quán lực. Sự thường quán sự ly tham là quán lực. Sự thường quán sự đoạn diệt là quán lực. Sự thường quán sự từ bỏ là quán lực. Sự thường quán vô thường trong sắc là quán lực... v.v... sự thường quán sự từ bỏ trong sắc là quán lực. Trong thọ... v.v... trong tưởng... trong các hành... trong thức... trong mắt... v.v... trong già-chết, sự thường quán vô thường là quán lực... v.v... trong già-chết, sự thường quán sự từ bỏ là quán lực.
Vipassanābalanti kenaṭṭhena vipassanābalaṃ? Aniccānupassanāya niccasaññāya na kampatīti – vipassanābalaṃ. Dukkhānupassanāya sukhasaññāya na kampatīti – vipassanābalaṃ. Anattānupassanāya attasaññāya na kampatīti – vipassanābalaṃ. Nibbidānupassanāya nandiyā na kampatīti – vipassanābalaṃ. Virāgānupassanāya rāge na kampatīti – vipassanābalaṃ. Nirodhānupassanāya samudaye na kampatīti – vipassanābalaṃ. Paṭinissaggānupassanāya ādāne na kampatīti – vipassanābalaṃ. Avijjāya ca avijjā sahagatakilese ca khandhe ca na kampati na calati na vedhatīti – vipassanābalaṃ. Idaṃ vipassanābalaṃ.
‘The power of insight’: in what sense is it the power of insight? Because by contemplation of impermanence one is not shaken by the perception of permanence, it is the power of insight. Because by contemplation of suffering one is not shaken by the perception of pleasure, it is the power of insight. Because by contemplation of non-self one is not shaken by the perception of self, it is the power of insight. Because by contemplation of disenchantment one is not shaken by delight, it is the power of insight. Because by contemplation of dispassion one is not shaken by lust, it is the power of insight. Because by contemplation of cessation one is not shaken by the origin, it is the power of insight. Because by contemplation of relinquishment one is not shaken by grasping, it is the power of insight. Because one does not shake, waver, or tremble in the face of ignorance, the defilements that accompany ignorance, and the aggregates, it is the power of insight. This is the power of insight.
Về quán lực, do ý nghĩa nào được gọi là quán lực? Do không bị lay động bởi thường tưởng nhờ sự thường quán vô thường – nên gọi là quán lực. Do không bị lay động bởi lạc tưởng nhờ sự thường quán khổ – nên gọi là quán lực. Do không bị lay động bởi ngã tưởng nhờ sự thường quán vô ngã – nên gọi là quán lực. Do không bị lay động bởi sự hoan hỷ nhờ sự thường quán sự nhàm chán – nên gọi là quán lực. Do không bị lay động bởi tham ái nhờ sự thường quán sự ly tham – nên gọi là quán lực. Do không bị lay động bởi tập khởi nhờ sự thường quán sự đoạn diệt – nên gọi là quán lực. Do không bị lay động bởi sự chấp thủ nhờ sự thường quán sự từ bỏ – nên gọi là quán lực. Do không bị lay động, không bị dao động, không bị rung chuyển trong vô minh, trong các phiền não đi cùng với vô minh, và trong các uẩn – nên gọi là quán lực. Đây là quán lực.
Tayo ca saṅkhārānaṃ paṭippassaddhiyāti katamesaṃ tiṇṇannaṃ saṅkhārānaṃ paṭippassaddhiyā? Dutiyaṃ jhānaṃ samāpannassa vitakkavicārā vacīsaṅkhārā paṭippassaddhā honti. Catutthaṃ jhānaṃ samāpannassa assāsapassāsā kāyasaṅkhārā paṭippassaddhā honti. Saññāvedayitanirodhaṃ samāpannassa saññā ca vedanā ca cittasaṅkhārā paṭippassaddhā honti. Imesaṃ tiṇṇannaṃ saṅkhārānaṃ paṭippassaddhiyā.
‘And by the pacification of the three formations’: the pacification of which three formations? For one who has attained the second jhāna, thought and examination—the verbal formations—are pacified. For one who has attained the fourth jhāna, the in-and-out breaths—the bodily formations—are pacified. For one who has attained the cessation of perception and feeling, perception and feeling—the mental formations—are pacified. This is the pacification of these three formations.
Về ‘và do sự an tịnh của ba loại hành,’ sự an tịnh của ba loại hành nào? Đối với vị đã nhập thiền thứ hai, tầm và tứ là khẩu hành được an tịnh. Đối với vị đã nhập thiền thứ tư, hơi thở ra và hơi thở vào là thân hành được an tịnh. Đối với vị đã nhập Diệt Tận Định, tưởng và thọ là tâm hành được an tịnh. Do sự an tịnh của ba loại hành này.
84. Soḷasahi ñāṇacariyāhīti katamāhi soḷasahi ñāṇacariyāhi? Aniccānupassanā ñāṇacariyā, dukkhānupassanā ñāṇacariyā, anattānupassanā ñāṇacariyā, nibbidānupassanā ñāṇacariyā, virāgānupassanā ñāṇacariyā, nirodhānupassanā ñāṇacariyā, paṭinissaggānupassanā ñāṇacariyā, vivaṭṭanānupassanā ñāṇacariyā, sotāpattimaggo ñāṇacariyā, sotāpattiphalasamāpatti ñāṇacariyā, sakadāgāmimaggo ñāṇacariyā, sakadāgāmiphalasamāpatti ñāṇacariyā, anāgāmimaggo ñāṇacariyā, anāgāmiphalasamāpatti ñāṇacariyā, arahattamaggo ñāṇacariyā, arahattaphalasamāpatti ñāṇacariyā – imāhi soḷasahi ñāṇacariyāhi.
84. ‘By sixteen practices of knowledge’: which are the sixteen practices of knowledge? Contemplation of impermanence is a practice of knowledge; contemplation of suffering is a practice of knowledge; contemplation of non-self is a practice of knowledge; contemplation of disenchantment is a practice of knowledge; contemplation of dispassion is a practice of knowledge; contemplation of cessation is a practice of knowledge; contemplation of relinquishment is a practice of knowledge; contemplation of turning away from the round is a practice of knowledge; the path of stream-entry is a practice of knowledge; the attainment of the fruit of stream-entry is a practice of knowledge; the path of the once-returner is a practice of knowledge; the attainment of the fruit of the once-returner is a practice of knowledge; the path of the non-returner is a practice of knowledge; the attainment of the fruit of the non-returner is a practice of knowledge; the path of arahantship is a practice of knowledge; the attainment of the fruit of arahantship is a practice of knowledge. By these sixteen practices of knowledge.
84. Thế nào là mười sáu tuệ hành? Quán vô thường là tuệ hành, quán khổ là tuệ hành, quán vô ngã là tuệ hành, quán yếm ly là tuệ hành, quán ly tham là tuệ hành, quán đoạn diệt là tuệ hành, quán từ bỏ là tuệ hành, quán thoát ly là tuệ hành, đạo Tu-đà-hoàn là tuệ hành, nhập quả Tu-đà-hoàn là tuệ hành, đạo Tư-đà-hàm là tuệ hành, nhập quả Tư-đà-hàm là tuệ hành, đạo A-na-hàm là tuệ hành, nhập quả A-na-hàm là tuệ hành, đạo A-la-hán là tuệ hành, nhập quả A-la-hán là tuệ hành – đây là mười sáu tuệ hành.
85. Navahi samādhicariyāhīti katamāhi navahi samādhicariyāhi? Paṭhamaṃ jhānaṃ samādhicariyā, dutiyaṃ jhānaṃ samādhicariyā, tatiyaṃ jhānaṃ samādhicariyā, catutthaṃ jhānaṃ samādhicariyā, ākāsānañcāyatanasamāpatti…pe… viññāṇañcāyatanasamāpatti… ākiñcaññāyatanasamāpatti… nevasaññānāsaññāyatanasamāpatti samādhicariyā. Paṭhamaṃ jhānaṃ paṭilābhatthāya vitakko ca vicāro ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca…pe… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiṃ paṭilābhatthāya vitakko ca vicāro ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca – imāhi navahi samādhicariyāhi.
85. ‘By nine practices of concentration’: which are the nine practices of concentration? The first jhāna is a practice of concentration; the second jhāna is a practice of concentration; the third jhāna is a practice of concentration; the fourth jhāna is a practice of concentration; the attainment of the base of infinite space is a practice of concentration; the attainment of the base of infinite consciousness is a practice of concentration; the attainment of the base of nothingness is a practice of concentration; the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception is a practice of concentration. For the purpose of attaining the first jhāna, there are applied thought, sustained thought, rapture, happiness, and one-pointedness of mind; … for the purpose of attaining the base of neither-perception-nor-non-perception, there are applied thought, sustained thought, rapture, happiness, and one-pointedness of mind. By these nine practices of concentration.
85. Thế nào là chín định hành? Sơ thiền là định hành, nhị thiền là định hành, tam thiền là định hành, tứ thiền là định hành, không vô biên xứ định... cho đến... viññāṇañcāyatanasamāpatti… ākiñcaññāyatanasamāpatti… phi tưởng phi phi tưởng xứ định là định hành. Để chứng đắc sơ thiền, có tầm, có tứ, có hỷ, có lạc, có nhất tâm... cho đến... để chứng đắc phi tưởng phi phi tưởng xứ định, có tầm, có tứ, có hỷ, có lạc, có nhất tâm – đây là chín định hành.
Vasīti pañca vasiyo. Āvajjanavasī, samāpajjanavasī, adhiṭṭhānavasī, vuṭṭhānavasī, paccavekkhaṇāvasī. Paṭhamaṃ jhānaṃ yatthicchakaṃ yadicchakaṃ yāvaticchakaṃ āvajjati; āvajjanāya dandhāyitattaṃ natthīti – āvajjanavasī. Paṭhamaṃ jhānaṃ yatthicchakaṃ yadicchakaṃ yāvaticchakaṃ samāpajjati; samāpajjanāya dandhāyitattaṃ natthīti – samāpajjanavasī. Paṭhamaṃ jhānaṃ yatthicchakaṃ yadicchakaṃ yāvaticchakaṃ adhiṭṭhāti; adhiṭṭhāne dandhāyitattaṃ natthīti – adhiṭṭhānavasī. Paṭhamaṃ jhānaṃ yatthicchakaṃ yadicchakaṃ yāvaticchakaṃ vuṭṭhāti; vuṭṭhāne dandhāyitattaṃ natthīti – vuṭṭhānavasī. Paṭhamaṃ jhānaṃ yatthicchakaṃ yadicchakaṃ yāvaticchakaṃ paccavekkhati; paccavekkhaṇāya dandhāyitattaṃ natthīti – paccavekkhaṇāvasī.
Regarding 'mastery' (vasī): there are five masteries: mastery in adverting, mastery in attaining, mastery in determining, mastery in emerging, and mastery in reviewing. One adverts to the first jhāna wherever one wishes, whenever one wishes, and for as long as one wishes; there is no slowness in adverting, therefore this is mastery in adverting. One attains the first jhāna wherever one wishes, whenever one wishes, and for as long as one wishes; there is no slowness in attaining, therefore this is mastery in attaining. One determines the first jhāna wherever one wishes, whenever one wishes, and for as long as one wishes; there is no slowness in determining, therefore this is mastery in determining. One emerges from the first jhāna wherever one wishes, whenever one wishes, and for as long as one wishes; there is no slowness in emerging, therefore this is mastery in emerging. One reviews the first jhāna wherever one wishes, whenever one wishes, and for as long as one wishes; there is no slowness in reviewing, therefore this is mastery in reviewing.
Về thuần thục (vasī), có năm sự thuần thục: thuần thục trong hướng tâm (āvajjanavasī), thuần thục trong nhập định (samāpajjanavasī), thuần thục trong quyết định (adhiṭṭhānavasī), thuần thục trong xuất định (vuṭṭhānavasī), thuần thục trong phản khán (paccavekkhaṇāvasī). Vị ấy hướng tâm đến sơ thiền ở bất cứ nơi nào mong muốn, bất cứ khi nào mong muốn, trong bất cứ thời gian nào mong muốn; không có sự chậm chạp trong việc hướng tâm – đó là thuần thục trong hướng tâm. Vị ấy nhập sơ thiền ở bất cứ nơi nào mong muốn, bất cứ khi nào mong muốn, trong bất cứ thời gian nào mong muốn; không có sự chậm chạp trong việc nhập định – đó là thuần thục trong nhập định. Vị ấy quyết định (thời gian) sơ thiền ở bất cứ nơi nào mong muốn, bất cứ khi nào mong muốn, trong bất cứ thời gian nào mong muốn; không có sự chậm chạp trong việc quyết định – đó là thuần thục trong quyết định. Vị ấy xuất khỏi sơ thiền ở bất cứ nơi nào mong muốn, bất cứ khi nào mong muốn, trong bất cứ thời gian nào mong muốn; không có sự chậm chạp trong việc xuất định – đó là thuần thục trong xuất định. Vị ấy phản khán sơ thiền ở bất cứ nơi nào mong muốn, bất cứ khi nào mong muốn, trong bất cứ thời gian nào mong muốn; không có sự chậm chạp trong việc phản khán – đó là thuần thục trong phản khán.
Dutiyaṃ jhānaṃ…pe… nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiṃ yatthicchakaṃ yadicchakaṃ yāvaticchakaṃ āvajjati; āvajjanāya dandhāyitattaṃ natthīti – āvajjanavasī. Nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiṃ yatthicchakaṃ yadicchakaṃ yāvaticchakaṃ samāpajjati…pe… adhiṭṭhāti… vuṭṭhāti… paccavekkhati; paccavekkhaṇāya dandhāyitattaṃ natthīti – paccavekkhaṇāvasī. Imā pañca vasiyo. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘dvīhi balehi samannāgatattā tayo ca saṅkhārānaṃ paṭipassaddhiyā soḷasahi ñāṇacariyāhi navahi samādhicariyāhi vasībhāvatā paññā nirodhasamāpattiyā ñāṇaṃ’’.
The second jhāna… and so on… the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception: one adverts to it wherever one wishes, whenever one wishes, and for as long as one wishes; there is no slowness in adverting, therefore this is mastery in adverting. One attains the attainment of the base of neither-perception-nor-non-perception wherever one wishes, whenever one wishes, and for as long as one wishes… and so on… determines it… emerges from it… reviews it; there is no slowness in reviewing, therefore this is mastery in reviewing. These are the five masteries. That is knowledge in the sense of knowing; it is wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: “Because of being endowed with two powers, because of the calming of the three formations, and because it is mastery through the sixteen courses of knowledge and the nine courses of concentration, wisdom is the knowledge of the attainment of cessation.”
Đối với nhị thiền... cho đến... đối với phi tưởng phi phi tưởng xứ định, vị ấy hướng tâm ở bất cứ nơi nào mong muốn, bất cứ khi nào mong muốn, trong bất cứ thời gian nào mong muốn; không có sự chậm chạp trong việc hướng tâm – đó là thuần thục trong hướng tâm. Vị ấy nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ định ở bất cứ nơi nào mong muốn, bất cứ khi nào mong muốn, trong bất cứ thời gian nào mong muốn... cho đến... quyết định... xuất định... phản khán; không có sự chậm chạp trong việc phản khán – đó là thuần thục trong phản khán. Đây là năm sự thuần thục. Trí tuệ ấy, do ý nghĩa biết rõ nên là trí (ñāṇa), do ý nghĩa hiểu biết thấu đáo nên là tuệ (paññā). Do đó, có lời dạy rằng: ‘Do được trang bị hai năng lực, do sự an tịnh của ba loại hành, do mười sáu tuệ hành, do chín định hành, do trạng thái thuần thục, tuệ ấy là trí về nhập diệt thọ tưởng định’.
Nirodhasamāpattiñāṇaniddeso catuttiṃsatimo.
The thirty-fourth is the Exposition of the Knowledge of the Attainment of Cessation.
Phần giải thích chi tiết về trí nhập diệt thọ tưởng định, thứ ba mươi tư.
35. Parinibbānañāṇaniddeso
35. Exposition of the Knowledge of Final Nibbāna
35. Phần giải thích về trí bát-niết-bàn
86. Kathaṃ sampajānassa pavattapariyādāne paññā parinibbāne ñāṇaṃ? Idha sampajāno nekkhammena kāmacchandassa pavattaṃ pariyādiyati, abyāpādena byāpādassa pavattaṃ pariyādiyati, ālokasaññāya thinamiddhassa pavattaṃ pariyādiyati, avikkhepena uddhaccassa pavattaṃ pariyādiyati, dhammavavatthānena vicikicchāya…pe… ñāṇena avijjāya… pāmojjena aratiyā … paṭhamena jhānena nīvaraṇānaṃ pavattaṃ pariyādiyati…pe… arahattamaggena sabbakilesānaṃ pavattaṃ pariyādiyati.
86. How is the wisdom in the termination of occurrence the knowledge of final Nibbāna for one with thorough understanding? Here, one with thorough understanding brings to an end the occurrence of sensual desire through renunciation; brings to an end the occurrence of ill will through non-ill will; brings to an end the occurrence of sloth and torpor through the perception of light; brings to an end the occurrence of restlessness through non-distraction; brings to an end the occurrence of doubt through the determination of phenomena… brings to an end the occurrence of ignorance through knowledge… brings to an end the occurrence of discontent through joy… brings to an end the occurrence of the hindrances through the first jhāna… brings to an end the occurrence of all defilements through the path of arahantship.
86. Thế nào là tuệ trong sự chấm dứt các pháp hiện hành của người có tỉnh giác là trí về bát-niết-bàn? Ở đây, người có tỉnh giác dùng sự xuất ly để chấm dứt sự hiện hành của dục tham, dùng tâm vô sân để chấm dứt sự hiện hành của sân hận, dùng tưởng về ánh sáng để chấm dứt sự hiện hành của hôn trầm thụy miên, dùng tâm không phóng dật để chấm dứt sự hiện hành của trạo cử, dùng sự xác định các pháp để chấm dứt sự hiện hành của hoài nghi... cho đến... dùng trí tuệ để chấm dứt (sự hiện hành của) vô minh... dùng sự hân hoan để chấm dứt (sự hiện hành của) sự bất mãn... dùng sơ thiền để chấm dứt sự hiện hành của các triền cái... cho đến... dùng đạo A-la-hán để chấm dứt sự hiện hành của tất cả phiền não.
Atha vā pana sampajānassa anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyantassa idañceva cakkhupavattaṃ pariyādiyati, aññañca cakkhupavattaṃ na uppajjati. Idañceva sotapavattaṃ…pe… ghānapavattaṃ… jivhāpavattaṃ… kāyapavattaṃ… manopavattaṃ pariyādiyati, aññañca manopavattaṃ na uppajjati. Idaṃ sampajānassa pavattapariyādāne paññā parinibbāne ñāṇaṃ. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘sampajānassa pavattapariyādāne paññā parinibbāne ñāṇaṃ’’.
Alternatively, for one with thorough understanding who is attaining final Nibbāna with the Nibbāna-element without residue, this very occurrence of the eye is brought to an end, and another occurrence of the eye does not arise. This very occurrence of the ear… nose… tongue… body… mind is brought to an end, and another occurrence of the mind does not arise. This is the wisdom in the termination of occurrence, the knowledge in final Nibbāna, for one with thorough understanding. That is knowledge in the sense of knowing, and wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: “For one with thorough understanding, wisdom in the termination of occurrence is knowledge in final Nibbāna.”
Lại nữa, đối với người có tỉnh giác đang nhập vô dư y niết-bàn giới, sự hiện hành của chính con mắt này được chấm dứt, và sự hiện hành của con mắt khác không khởi sanh. Sự hiện hành của chính cái tai này... cho đến... sự hiện hành của cái mũi... sự hiện hành của cái lưỡi... sự hiện hành của cái thân... sự hiện hành của ý này được chấm dứt, và sự hiện hành của ý khác không khởi sanh. Đây là tuệ trong sự chấm dứt các pháp hiện hành của người có tỉnh giác là trí về bát-niết-bàn. Trí tuệ ấy, do ý nghĩa biết rõ nên là trí (ñāṇa), do ý nghĩa hiểu biết thấu đáo nên là tuệ (paññā). Do đó, có lời dạy rằng: ‘Tuệ trong sự chấm dứt các pháp hiện hành của người có tỉnh giác là trí về bát-niết-bàn’.
Parinibbānañāṇaniddeso pañcatiṃsatimo.
The thirty-fifth is the Exposition of the Knowledge of Final Nibbāna.
Phần giải thích chi tiết về trí bát-niết-bàn, thứ ba mươi lăm.
36. Samasīsaṭṭhañāṇaniddeso
36. Exposition of the Knowledge of the Balanced State
36. Phần giải thích về trí đồng đẳng.
Samasīsaṭṭhañāṇaniddeso chattiṃsatimo.
The thirty-sixth is the Exposition of the Knowledge of the State of Being Calm-Headed.
Phần giải về trí tuệ trong ý nghĩa bình đẳng và đứng đầu, thứ ba mươi sáu.
37. Sallekhaṭṭhañāṇaniddeso
37. Exposition of the Knowledge of the State of Effacement
37. Phần giải về trí tuệ trong ý nghĩa làm cho suy giảm.
88. Kathaṃ puthunānattekattatejapariyādāne paññā sallekhaṭṭhe † ñāṇaṃ? Puthūti – rāgo puthu, doso puthu, moho puthu, kodho…pe… upanāho… makkho… paḷāso… issā… macchariyaṃ… māyā… sāṭheyyaṃ… thambho… sārambho… māno… atimāno… mado… pamādo… sabbe kilesā… sabbe duccaritā… sabbe abhisaṅkhārā… sabbe bhavagāmikammā.
88. How is wisdom, in the elimination of the manifold, the diverse, the unified, and the potent, knowledge for the purpose of effacement? Regarding 'manifold' (puthu): lust is 'manifold,' hatred is 'manifold,' delusion is 'manifold,' anger... enmity... contempt... domineering... envy... stinginess... deceit... craftiness... obstinacy... impetuosity... conceit... arrogance... vanity... negligence... all defilements, all kinds of misconduct, all volitional formations, and all kamma leading to renewed existence are 'manifold'.
88. Thế nào là trí tuệ trong sự làm cho suy giảm uy lực của các pháp riêng lẻ, khác biệt, và đồng nhất là trí tuệ trong ý nghĩa làm cho suy giảm? Trong câu ‘riêng lẻ’ (puthu) – tham là riêng lẻ, sân là riêng lẻ, si là riêng lẻ, phẫn nộ... cho đến... hiềm hận... não hại... giả dối... tật đố... xan tham... xảo trá... gian manh... ngoan cố... tranh cạnh... kiêu mạn... quá mạn... say sưa... phóng dật... tất cả phiền não... tất cả hành vi xấu ác... tất cả các pháp hữu vi... tất cả các nghiệp dẫn đến tái sanh.
Nānattekattanti kāmacchando nānattaṃ, nekkhammaṃ ekattaṃ. Byāpādo nānattaṃ, abyāpādo ekattaṃ. Thinamiddhaṃ nānattaṃ, ālokasaññā ekattaṃ. Uddhaccaṃ nānattaṃ, avikkhepo ekattaṃ. Vicikicchā nānattaṃ, dhammavavatthānaṃ ekattaṃ. Avijjā nānattaṃ, ñāṇaṃ ekattaṃ. Arati nānattaṃ, pāmojjaṃ ekattaṃ. Nīvaraṇā nānattaṃ, paṭhamaṃ jhānaṃ ekattaṃ…pe… sabbe kilesā nānattaṃ, arahattamaggo ekattaṃ.
Regarding 'diversity and unity': Sensual desire is diversity, jhāna is unity. Ill will is diversity, non-ill will is unity. Sloth and torpor are diversity, the perception of light is unity. Restlessness is diversity, non-distraction is unity. Doubt is diversity, analysis of phenomena is unity. Ignorance is diversity, knowledge is unity. Discontent is diversity, gladness is unity. The hindrances are diversity, the first jhāna is unity... and so on... all defilements are diversity, the path to arahantship is unity.
Trong câu ‘khác biệt và đồng nhất’ (nānattekattanti), dục tham là khác biệt, sự xuất ly là đồng nhất. Sân hận là khác biệt, tâm vô sân là đồng nhất. Hôn trầm thụy miên là khác biệt, quang tưởng là đồng nhất. Trạo cử là khác biệt, sự không tán loạn là đồng nhất. Hoài nghi là khác biệt, sự xác định các pháp là đồng nhất. Vô minh là khác biệt, trí tuệ là đồng nhất. Sự không hoan hỷ là khác biệt, sự hân hoan là đồng nhất. Các triền cái là khác biệt, thiền thứ nhất là đồng nhất... cho đến... tất cả phiền não là khác biệt, đạo A-la-hán là đồng nhất.
Tejoti pañca tejā – caraṇatejo, guṇatejo, paññātejo, puññatejo, dhammatejo. Caraṇatejena tejitattā dussīlyatejaṃ pariyādiyati. Guṇatejena tejitattā aguṇatejaṃ pariyādiyati. Paññātejena tejitattā duppaññatejaṃ pariyādiyati. Puññatejena tejitattā apuññatejaṃ pariyādiyati. Dhammatejena tejitattā adhammatejaṃ pariyādiyati.
Regarding 'potency': There are five potencies: the potency of conduct, the potency of virtue, the potency of wisdom, the potency of merit, and the potency of the Dhamma. By reason of being potent with the potency of conduct, the potency of bad conduct is eliminated. By reason of being potent with the potency of virtue, the potency of non-virtue is eliminated. By reason of being potent with the potency of wisdom, the potency of deficient wisdom is eliminated. By reason of being potent with the potency of merit, the potency of demerit is eliminated. By reason of being potent with the potency of the Dhamma, the potency of the non-Dhamma is eliminated.
Trong câu ‘uy lực’ (tejo), có năm loại uy lực – uy lực của phẩm hạnh, uy lực của đức hạnh, uy lực của trí tuệ, uy lực của phước báu, uy lực của Chánh pháp. Do vì được rực sáng bởi uy lực của phẩm hạnh nên uy lực của sự vô giới bị tiêu trừ. Do vì được rực sáng bởi uy lực của đức hạnh nên uy lực của sự không có đức hạnh bị tiêu trừ. Do vì được rực sáng bởi uy lực của trí tuệ nên uy lực của sự kém trí tuệ bị tiêu trừ. Do vì được rực sáng bởi uy lực của phước báu nên uy lực của sự vô phước bị tiêu trừ. Do vì được rực sáng bởi uy lực của Chánh pháp nên uy lực của phi pháp bị tiêu trừ.
Sallekhoti kāmacchando asallekho, nekkhammaṃ sallekho. Byāpādo asallekho, abyāpādo sallekho. Thinamiddhaṃ asallekho, ālokasaññā sallekho. Uddhaccaṃ asallekho, avikkhepo sallekho. Vicikicchā asallekho, dhammavavatthānaṃ sallekho. Avijjā asallekho, ñāṇaṃ sallekho. Arati asallekho, pāmojjaṃ sallekho. Nīvaraṇā asallekho, paṭhamaṃ jhānaṃ sallekho…pe… sabbakilesā asallekho, arahattamaggo sallekho. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘puthunānattatejapariyādāne paññā sallekhaṭṭhe ñāṇaṃ’’.
Regarding 'effacement': Sensual desire is non-effacement; jhāna is effacement. Ill will is non-effacement; non-ill will is effacement. Sloth and torpor are non-effacement; the perception of light is effacement. Restlessness is non-effacement; non-distraction is effacement. Doubt is non-effacement; the determination of phenomena is effacement. Ignorance is non-effacement; knowledge is effacement. Discontent is non-effacement; gladness is effacement. The hindrances are non-effacement; the first jhāna is effacement… and so on… all defilements are non-effacement; the path to arahantship is effacement. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: ‘Wisdom in the exhaustion of the potency of the manifold and diverse is knowledge for the purpose of effacement.’
Trong câu ‘làm cho suy giảm’ (sallekho), dục tham là không làm cho suy giảm, sự xuất ly là làm cho suy giảm. Sân hận là không làm cho suy giảm, tâm vô sân là làm cho suy giảm. Hôn trầm thụy miên là không làm cho suy giảm, quang tưởng là làm cho suy giảm. Trạo cử là không làm cho suy giảm, sự không tán loạn là làm cho suy giảm. Hoài nghi là không làm cho suy giảm, sự xác định các pháp là làm cho suy giảm. Vô minh là không làm cho suy giảm, trí tuệ là làm cho suy giảm. Sự không hoan hỷ là không làm cho suy giảm, sự hân hoan là làm cho suy giảm. Các triền cái là không làm cho suy giảm, thiền thứ nhất là làm cho suy giảm... cho đến... tất cả phiền não là không làm cho suy giảm, đạo A-la-hán là làm cho suy giảm. Trí tuệ ấy, theo ý nghĩa biết rõ nên là trí (ñāṇaṃ), theo ý nghĩa hiểu biết thấu đáo nên là tuệ (paññā). Do đó, được nói rằng: ‘Trí tuệ trong sự làm cho suy giảm uy lực của các pháp riêng lẻ, khác biệt, và đồng nhất là trí tuệ trong ý nghĩa làm cho suy giảm’.
Sallekhaṭṭhañāṇaniddeso sattatiṃsatimo.
The thirty-seventh is the Exposition on the Knowledge for the Purpose of Effacement.
Phần giải về trí tuệ trong ý nghĩa làm cho suy giảm, thứ ba mươi bảy.
38. Vīriyārambhañāṇaniddeso
38. Exposition on the Knowledge of Arousing Energy
38. Phần giải thích về trí tuệ khởi sự tinh tấn.
89. Kathaṃ asallīnattapahitattapaggahaṭṭhe paññā vīriyārambhe ñāṇaṃ? Anuppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ anuppādāya asallīnattapahitattapaggahaṭṭhe paññā vīriyārambhe ñāṇaṃ. Uppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya asallīnattapahitattapaggahaṭṭhe paññā vīriyārambhe ñāṇaṃ. Anuppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ uppādāya asallīnattapahitattapaggahaṭṭhe paññā vīriyārambhe ñāṇaṃ. Uppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā asallīnattapahitattapaggahaṭṭhe paññā vīriyārambhe ñāṇaṃ.
89. How is wisdom, in the sense of non-sluggishness, of being sent forth, and of uplifting, knowledge in the arousing of energy? Wisdom, in the sense of non-sluggishness, of being sent forth, and of uplifting, is knowledge in the arousing of energy for the non-arising of unarisen evil, unwholesome states. Wisdom, in the sense of non-sluggishness, of being sent forth, and of uplifting, is knowledge in the arousing of energy for the abandoning of arisen evil, unwholesome states. Wisdom, in the sense of non-sluggishness, of being sent forth, and of uplifting, is knowledge in the arousing of energy for the arising of unarisen wholesome states. Wisdom, in the sense of non-sluggishness, of being sent forth, and of uplifting, is knowledge in the arousing of energy for the maintenance, non-confusion, increase, abundance, development, and fulfillment of arisen wholesome states.
89. Thế nào là trí tuệ về sự khởi sự tinh tấn là tuệ trong ý nghĩa sách tấn (tâm) không co rút, (tâm) được hướng đi? Trí tuệ về sự khởi sự tinh tấn là tuệ trong ý nghĩa sách tấn (tâm) không co rút, (tâm) được hướng đi để các pháp ác bất thiện chưa sanh không sanh khởi. Trí tuệ về sự khởi sự tinh tấn là tuệ trong ý nghĩa sách tấn (tâm) không co rút, (tâm) được hướng đi để đoạn tận các pháp ác bất thiện đã sanh. Trí tuệ về sự khởi sự tinh tấn là tuệ trong ý nghĩa sách tấn (tâm) không co rút, (tâm) được hướng đi để các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi. Trí tuệ về sự khởi sự tinh tấn là tuệ trong ý nghĩa sách tấn (tâm) không co rút, (tâm) được hướng đi để các pháp thiện đã sanh được an trú, không bị quên lãng, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn.
Anuppannassa kāmacchandassa anuppādāya asallīnattapahitattapaggahaṭṭhe paññā vīriyārambhe ñāṇaṃ. Uppannassa kāmacchandassa pahānāya asallīnattapahitattapaggahaṭṭhe paññā vīriyārambhe ñāṇaṃ. Anuppannassa nekkhammassa uppādāya asallīnattapahitattapaggahaṭṭhe paññā vīriyārambhe ñāṇaṃ. Uppannassa nekkhammassa ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā asallīnattapahitattapaggahaṭṭhe paññā vīriyārambhe ñāṇaṃ…pe….
For the non-arising of unarisen sensual desire, the wisdom that occurs in the sense of uplifting, due to its state of non-sluggishness and being directed, is the knowledge of arousing energy. For the abandoning of arisen sensual desire, the wisdom that occurs in the sense of uplifting, due to its state of non-sluggishness and being directed, is the knowledge of arousing energy. For the arising of unarisen renunciation, the wisdom that occurs in the sense of uplifting, due to its state of non-sluggishness and being directed, is the knowledge of arousing energy. For the stability, non-confusion, growth, abundance, development, and fulfillment of arisen renunciation, the wisdom that occurs in the sense of uplifting, due to its state of non-sluggishness and being directed, is the knowledge of arousing energy… and so on…
Trí tuệ về sự khởi sự tinh tấn là tuệ trong ý nghĩa sách tấn (tâm) không co rút, (tâm) được hướng đi để dục tham chưa sanh không sanh khởi. Trí tuệ về sự khởi sự tinh tấn là tuệ trong ý nghĩa sách tấn (tâm) không co rút, (tâm) được hướng đi để đoạn tận dục tham đã sanh. Trí tuệ về sự khởi sự tinh tấn là tuệ trong ý nghĩa sách tấn (tâm) không co rút, (tâm) được hướng đi để sự xuất ly chưa sanh được sanh khởi. Trí tuệ về sự khởi sự tinh tấn là tuệ trong ý nghĩa sách tấn (tâm) không co rút, (tâm) được hướng đi để sự xuất ly đã sanh được an trú, không bị quên lãng, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn. ...v.v...
Anuppannānaṃ sabbakilesānaṃ anuppādāya asallīnattapahitattapaggahaṭṭhe paññā vīriyārambhe ñāṇaṃ. Uppannānaṃ sabbakilesānaṃ pahānāya asallīnattapahitattapaggahaṭṭhe paññā vīriyārambhe ñāṇaṃ…pe… anuppannassa arahattamaggassa uppādāya asallīnattapahitattapaggahaṭṭhe paññā vīriyārambhe ñāṇaṃ. Uppannassa arahattamaggassa ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā asallīnattapahitattapaggahaṭṭhe paññā vīriyārambhe ñāṇaṃ. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘asallīnattapahitattapaggahaṭṭhe paññā vīriyārambhe ñāṇaṃ’’.
For the non-arising of all unarisen defilements, the wisdom that occurs in the sense of uplifting, due to its state of non-sluggishness and being directed, is the knowledge of arousing energy. For the abandoning of all arisen defilements, the wisdom that occurs in the sense of uplifting, due to its state of non-sluggishness and being directed, is the knowledge of arousing energy… and so on… For the arising of the unarisen path to arahantship, the wisdom that occurs in the sense of uplifting, due to its state of non-sluggishness and being directed, is the knowledge of arousing energy. For the stability, non-confusion, growth, abundance, development, and fulfillment of the arisen path to arahantship, the wisdom that occurs in the sense of uplifting, due to its state of non-sluggishness and being directed, is the knowledge of arousing energy. That is knowledge in the sense of knowing, and wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: ‘The wisdom that occurs in the sense of uplifting, due to its state of non-sluggishness and being directed, is the knowledge of arousing energy.’
Trí tuệ về sự khởi sự tinh tấn là tuệ trong ý nghĩa sách tấn (tâm) không co rút, (tâm) được hướng đi để tất cả phiền não chưa sanh không sanh khởi. Trí tuệ về sự khởi sự tinh tấn là tuệ trong ý nghĩa sách tấn (tâm) không co rút, (tâm) được hướng đi để đoạn tận tất cả phiền não đã sanh. ...v.v... Trí tuệ về sự khởi sự tinh tấn là tuệ trong ý nghĩa sách tấn (tâm) không co rút, (tâm) được hướng đi để A-la-hán Đạo chưa sanh được sanh khởi. Trí tuệ về sự khởi sự tinh tấn là tuệ trong ý nghĩa sách tấn (tâm) không co rút, (tâm) được hướng đi để A-la-hán Đạo đã sanh được an trú, không bị quên lãng, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn. Cái ấy là trí (ñāṇa) theo ý nghĩa biết; là tuệ (paññā) theo ý nghĩa biết rõ. Do đó được nói rằng: “Trí tuệ về sự khởi sự tinh tấn là tuệ trong ý nghĩa sách tấn (tâm) không co rút, (tâm) được hướng đi.”
Vīriyārambhañāṇaniddeso aṭṭhatiṃsatimo.
The thirty-eighth is the Exposition on the Knowledge of Arousing Energy.
Phần giải thích về trí tuệ khởi sự tinh tấn là thứ ba mươi tám.
39. Atthasandassanañāṇaniddeso
39. Exposition of the Knowledge of Showing the Meaning
39. Phần giải thích về trí tuệ thấy rõ ý nghĩa.
90. Kathaṃ nānādhammappakāsanatā paññā atthasandassane ñāṇaṃ? Nānādhammāti pañcakkhandhā, dvādasāyatanāni, aṭṭhārasa dhātuyo, kusalā dhammā, akusalā dhammā, abyākatā dhammā, kāmāvacarā dhammā, rūpāvacarā dhammā, arūpāvacarā dhammā, apariyāpannā dhammā.
90. How is it that wisdom, by manifesting diverse phenomena, is the knowledge that shows the meaning? 'Diverse phenomena' are the five aggregates, the twelve sense bases, the eighteen elements, wholesome phenomena, unwholesome phenomena, indeterminate phenomena, phenomena of the sense sphere, phenomena of the form sphere, phenomena of the formless sphere, and supramundane phenomena.
90. Thế nào là trí tuệ thấy rõ ý nghĩa là tuệ có tính chất làm sáng tỏ các pháp khác nhau? Các pháp khác nhau là năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, các pháp thiện, các pháp bất thiện, các pháp vô ký, các pháp Dục giới, các pháp Sắc giới, các pháp Vô Sắc giới, các pháp Siêu thế.
Pakāsanatāti rūpaṃ aniccato pakāseti, rūpaṃ dukkhato pakāseti, rūpaṃ anattato pakāseti. Vedanaṃ…pe… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ… cakkhuṃ…pe… jarāmaraṇaṃ aniccato pakāseti, jarāmaraṇaṃ dukkhato pakāseti, jarāmaraṇaṃ anattato pakāseti.
“Manifesting”: it manifests form as impermanent, it manifests form as suffering, it manifests form as non-self. It manifests feeling… perception… formations… consciousness… the eye… it manifests aging-and-death as impermanent, it manifests aging-and-death as suffering, it manifests aging-and-death as non-self.
Tính chất làm sáng tỏ là làm sáng tỏ sắc là vô thường, làm sáng tỏ sắc là khổ, làm sáng tỏ sắc là vô ngã. Thọ...v.v... tưởng... các hành... thức... mắt...v.v... già và chết là vô thường, làm sáng tỏ già và chết là khổ, làm sáng tỏ già và chết là vô ngã.
Atthasandassaneti kāmacchandaṃ pajahanto nekkhammatthaṃ sandasseti. Byāpādaṃ pajahanto abyāpādatthaṃ sandasseti. Thinamiddhaṃ pajahanto ālokasaññatthaṃ sandasseti. Uddhaccaṃ pajahanto avikkhepatthaṃ sandasseti. Vicikicchaṃ pajahanto dhammavavatthānatthaṃ sandasseti. Avijjaṃ pajahanto ñāṇatthaṃ sandasseti. Aratiṃ pajahanto pāmojjatthaṃ sandasseti. Nīvaraṇe pajahanto paṭhamajhānatthaṃ sandasseti …pe… sabbakilese pajahanto arahattamaggatthaṃ sandasseti. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘nānādhammapakāsanatā paññā atthasandassane ñāṇaṃ’’.
“Showing the benefit”: by abandoning sensual desire, one shows the benefit of renunciation. By abandoning ill will, one shows the benefit of non-ill will. By abandoning sloth and torpor, one shows the benefit of the perception of light. By abandoning restlessness, one shows the benefit of non-distraction. By abandoning doubt, one shows the benefit of the analysis of phenomena. By abandoning ignorance, one shows the benefit of knowledge. By abandoning discontent, one shows the benefit of gladness. By abandoning the hindrances, one shows the benefit of the first jhāna …pe… by abandoning all defilements, one shows the benefit of the path to arahantship. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: “Wisdom is the manifestation of diverse phenomena; in showing the benefit, it is knowledge.”
Thấy rõ ý nghĩa là trong khi đoạn tận dục tham, vị ấy thấy rõ ý nghĩa của sự xuất ly. Trong khi đoạn tận sân, vị ấy thấy rõ ý nghĩa của vô sân. Trong khi đoạn tận hôn trầm thụy miên, vị ấy thấy rõ ý nghĩa của tưởng về ánh sáng. Trong khi đoạn tận trạo cử, vị ấy thấy rõ ý nghĩa của sự không phóng dật. Trong khi đoạn tận hoài nghi, vị ấy thấy rõ ý nghĩa của sự xác định pháp. Trong khi đoạn tận vô minh, vị ấy thấy rõ ý nghĩa của trí tuệ. Trong khi đoạn tận sự không hoan hỷ, vị ấy thấy rõ ý nghĩa của sự hân hoan. Trong khi đoạn tận các triền cái, vị ấy thấy rõ ý nghĩa của Sơ thiền. ...v.v... Trong khi đoạn tận tất cả phiền não, vị ấy thấy rõ ý nghĩa của A-la-hán Đạo. Cái ấy là trí (ñāṇa) theo ý nghĩa biết; là tuệ (paññā) theo ý nghĩa biết rõ. Do đó được nói rằng: “Trí tuệ thấy rõ ý nghĩa là tuệ có tính chất làm sáng tỏ các pháp khác nhau.”
Atthasandassanañāṇaniddeso navatiṃsatimo.
The Exposition of the Knowledge of Showing the Benefit is the thirty-ninth.
Phần giải thích về trí tuệ thấy rõ ý nghĩa là thứ ba mươi chín.
40. Dassanavisuddhiñāṇaniddeso
40. Exposition of the Knowledge of the Purification of Vision
40. Phần giải thích về trí tuệ thanh tịnh tri kiến.
91. Kathaṃ sabbadhammānaṃ ekasaṅgahatānānattekattapaṭivedhe paññā dassanavisuddhiñāṇaṃ? Sabbadhammānanti pañcakkhandhā…pe… apariyāpannā dhammā.
91. How is it that wisdom, in penetrating the diversity and unity of all phenomena gathered into one, is the knowledge of the purification of vision? “All phenomena” are the five aggregates …pe… and unincluded phenomena.
91. Thế nào là trí tuệ thanh tịnh tri kiến là tuệ trong sự thông suốt tính đồng nhất và dị biệt của tất cả các pháp được thu nhiếp làm một? Tất cả các pháp là năm uẩn...v.v... các pháp Siêu thế.
Ekasaṅgahatāti dvādasahi ākārehi sabbe dhammā ekasaṅgahitā. Tathaṭṭhena, anattaṭṭhena, saccaṭṭhena, paṭivedhaṭṭhena, abhijānanaṭṭhena, parijānanaṭṭhena, dhammaṭṭhena, dhātuṭṭhena, ñātaṭṭhena, sacchikiriyaṭṭhena, phusanaṭṭhena, abhisamayaṭṭhena – imehi dvādasahi ākārehi sabbe dhammā ekasaṅgahitā.
“Being gathered into one”: all phenomena are gathered into one in twelve aspects: in the sense of thusness, in the sense of non-self, in the sense of truth, in the sense of penetration, in the sense of direct knowledge, in the sense of full understanding, in the sense of the Dhamma, in the sense of element, in the sense of what is known, in the sense of realization, in the sense of contact, in the sense of comprehension—in these twelve aspects, all phenomena are gathered into one.
Được thu nhiếp làm một là tất cả các pháp được thu nhiếp làm một bởi mười hai phương diện: theo ý nghĩa như thật, theo ý nghĩa vô ngã, theo ý nghĩa sự thật, theo ý nghĩa thông suốt, theo ý nghĩa thắng tri, theo ý nghĩa biến tri, theo ý nghĩa pháp, theo ý nghĩa giới, theo ý nghĩa được biết, theo ý nghĩa chứng ngộ, theo ý nghĩa xúc chạm, theo ý nghĩa liễu ngộ. Tất cả các pháp được thu nhiếp làm một bởi mười hai phương diện này.
Nānattekattanti kāmacchando nānattaṃ, nekkhammaṃ ekattaṃ…pe… sabbakilesā nānattaṃ, arahattamaggo ekattaṃ.
“Diversity and unity”: sensual desire is diversity, renunciation is unity …pe… all defilements are diversity, the path to arahantship is unity.
Tính dị biệt và đồng nhất là dục tham là dị biệt, sự xuất ly là đồng nhất. ...v.v... tất cả phiền não là dị biệt, A-la-hán Đạo là đồng nhất.
Paṭivedheti dukkhasaccaṃ pariññāpaṭivedhaṃ paṭivijjhati. Samudayasaccaṃ pahānapaṭivedhaṃ paṭivijjhati. Nirodhasaccaṃ sacchikiriyāpaṭivedhaṃ paṭivijjhati. Maggasaccaṃ bhāvanāpaṭivedhaṃ paṭivijjhati.
‘Penetration’: one penetrates the truth of suffering with the penetration of full understanding; one penetrates the truth of the origin with the penetration of abandonment; one penetrates the truth of cessation with the penetration of realization; one penetrates the truth of the path with the penetration of development.
Thông suốt là vị ấy thông suốt Khổ đế bằng sự thông suốt của biến tri. Vị ấy thông suốt Tập đế bằng sự thông suốt của sự đoạn tận. Vị ấy thông suốt Diệt đế bằng sự thông suốt của sự chứng ngộ. Vị ấy thông suốt Đạo đế bằng sự thông suốt của sự tu tập.
Dassanavisuddhīti sotāpattimaggakkhaṇe dassanaṃ visujjhati; sotāpattiphalakkhaṇe dassanaṃ visuddhaṃ. Sakadāgāmimaggakkhaṇe dassanaṃ visujjhati; sakadāgāmiphalakkhaṇe dassanaṃ visuddhaṃ. Anāgāmimaggakkhaṇe dassanaṃ visujjhati; anāgāmiphalakkhaṇe dassanaṃ visuddhaṃ. Arahattamaggakkhaṇe dassanaṃ visujjhati; arahattaphalakkhaṇe dassanaṃ visuddhaṃ. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘sabbadhammānaṃ ekasaṅgahatānānattekattapaṭivedhe paññā dassanavisuddhiñāṇaṃ’’.
‘Purification of vision’: at the moment of the path of stream-entry, vision is being purified; at the moment of the fruition of stream-entry, vision is purified. At the moment of the path of the once-returner, vision is being purified; at the moment of the fruition of the once-returner, vision is purified. At the moment of the path of the non-returner, vision is being purified; at the moment of the fruition of the non-returner, vision is purified. At the moment of the path of arahantship, vision is being purified; at the moment of the fruition of arahantship, vision is purified. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: ‘Wisdom in penetrating the diversity and unity of all phenomena gathered into one is the knowledge of the purification of vision.’
Thanh tịnh tri kiến là trong sát-na Tu-đà-hoàn Đạo, tri kiến được thanh tịnh; trong sát-na Tu-đà-hoàn Quả, tri kiến đã thanh tịnh. Trong sát-na Tư-đà-hàm Đạo, tri kiến được thanh tịnh; trong sát-na Tư-đà-hàm Quả, tri kiến đã thanh tịnh. Trong sát-na A-na-hàm Đạo, tri kiến được thanh tịnh; trong sát-na A-na-hàm Quả, tri kiến đã thanh tịnh. Trong sát-na A-la-hán Đạo, tri kiến được thanh tịnh; trong sát-na A-la-hán Quả, tri kiến đã thanh tịnh. Cái ấy là trí (ñāṇa) theo ý nghĩa biết; là tuệ (paññā) theo ý nghĩa biết rõ. Do đó được nói rằng: “Trí tuệ thanh tịnh tri kiến là tuệ trong sự thông suốt tính đồng nhất và dị biệt của tất cả các pháp được thu nhiếp làm một.”
Dassanavisuddhiñāṇaniddeso cattālīsamo.
The Exposition of the Knowledge of the Purification of Vision is the fortieth.
Phần giải thích về trí tuệ thanh tịnh tri kiến là thứ bốn mươi.
41. Khantiñāṇaniddeso
41. Exposition of the Knowledge of Acceptance
41. Sự giải thích chi tiết về Nhẫn Trí
92. Kathaṃ viditattā paññā khantiñāṇaṃ? Rūpaṃ aniccato viditaṃ, rūpaṃ dukkhato viditaṃ, rūpaṃ anattato viditaṃ. Yaṃ yaṃ viditaṃ taṃ taṃ khamatīti – viditattā paññā khantiñāṇaṃ. Vedanā…pe… saññā… saṅkhārā… viññāṇaṃ… cakkhu…pe… jarāmaraṇaṃ aniccato viditaṃ, jarāmaraṇaṃ dukkhato viditaṃ, jarāmaraṇaṃ anattato viditaṃ. Yaṃ yaṃ viditaṃ taṃ taṃ khamatīti – viditattā paññā khantiñāṇaṃ. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘viditattā paññā khantiñāṇaṃ’’.
92. How is it that wisdom, by virtue of being understood, is the knowledge of acceptance? Form is understood as impermanent, form is understood as suffering, form is understood as non-self. Whatever is understood, that one accepts—thus, wisdom, by virtue of being understood, is the knowledge of acceptance. Feeling… perception… volitional formations… consciousness… the eye… …pe… aging-and-death is understood as impermanent, aging-and-death is understood as suffering, aging-and-death is understood as non-self. Whatever is understood, that one accepts—thus, wisdom, by virtue of being understood, is the knowledge of acceptance. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: ‘Wisdom, by virtue of being understood, is the knowledge of acceptance.’
92. Thế nào là trí tuệ do đã được biết rõ là nhẫn trí? Sắc được biết rõ là vô thường, sắc được biết rõ là khổ, sắc được biết rõ là vô ngã. Pháp nào được biết rõ, vị ấy chấp nhận pháp ấy. Như vậy, trí tuệ do đã được biết rõ là nhẫn trí. Thọ... (cho đến)... tưởng... các hành... thức... mắt... (cho đến)... già và chết được biết rõ là vô thường, già và chết được biết rõ là khổ, già và chết được biết rõ là vô ngã. Pháp nào được biết rõ, vị ấy chấp nhận pháp ấy. Như vậy, trí tuệ do đã được biết rõ là nhẫn trí. Trí ấy, với ý nghĩa là biết nên là trí (ñāṇa), với ý nghĩa là biết một cách thấu đáo nên là tuệ (paññā). Do đó, được nói rằng: ‘Trí tuệ do đã được biết rõ là nhẫn trí’.
Khantiñāṇaniddeso ekacattālīsamo.
The Exposition of the Knowledge of Acceptance is the forty-first.
Sự giải thích chi tiết về Nhẫn Trí, phần thứ bốn mươi mốt.
42. Pariyogāhaṇañāṇaniddeso
42. Exposition of the Knowledge of Comprehensive Grasp
42. Sự giải thích chi tiết về Thẩm Thấu Trí
93. Kathaṃ phuṭṭhattā paññā pariyogāhaṇe ñāṇaṃ? Rūpaṃ aniccato phusati, rūpaṃ dukkhato phusati, rūpaṃ anattato phusati. Yaṃ yaṃ phusati taṃ taṃ pariyogāhatīti – phuṭṭhattā paññā pariyogāhaṇe ñāṇaṃ. Vedanaṃ…pe… saññaṃ… saṅkhāre… viññāṇaṃ… cakkhuṃ…pe… jarāmaraṇaṃ aniccato phusati, dukkhato phusati, anattato phusati. Yaṃ yaṃ phusati taṃ taṃ pariyogāhatīti – phuṭṭhattā paññā pariyogāhaṇe ñāṇaṃ. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘phuṭṭhattā paññā pariyogāhaṇe ñāṇaṃ’’.
93. How is it that wisdom, through contact, is knowledge in comprehensive grasp? One contacts form as impermanent, one contacts form as suffering, one contacts form as non-self. Whatever one contacts, that one comprehensively grasps—thus, wisdom through contact is knowledge in comprehensive grasp. One contacts feeling… perception… formations… consciousness… the eye… aging-and-death as impermanent, as suffering, as non-self. Whatever one contacts, that one comprehensively grasps—thus, wisdom through contact is knowledge in comprehensive grasp. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: 'Wisdom, through contact, is knowledge in comprehensive grasp.'
93. Thế nào là trí tuệ do đã tiếp xúc là thẩm thấu trí? Vị ấy tiếp xúc sắc là vô thường, vị ấy tiếp xúc sắc là khổ, vị ấy tiếp xúc sắc là vô ngã. Pháp nào vị ấy tiếp xúc, vị ấy thâm nhập vào pháp ấy. Như vậy, trí tuệ do đã tiếp xúc là thẩm thấu trí. Thọ... (cho đến)... tưởng... các hành... thức... mắt... (cho đến)... già và chết, vị ấy tiếp xúc là vô thường, tiếp xúc là khổ, tiếp xúc là vô ngã. Pháp nào vị ấy tiếp xúc, vị ấy thâm nhập vào pháp ấy. Như vậy, trí tuệ do đã tiếp xúc là thẩm thấu trí. Trí ấy, với ý nghĩa là biết nên là trí (ñāṇa), với ý nghĩa là biết một cách thấu đáo nên là tuệ (paññā). Do đó, được nói rằng: ‘Trí tuệ do đã tiếp xúc là thẩm thấu trí’.
Pariyogāhaṇañāṇaniddeso dvecattālīsamo.
The Exposition of the Knowledge of Comprehensive Grasp is the forty-second.
Sự giải thích chi tiết về Thẩm Thấu Trí, phần thứ bốn mươi hai.
43. Padesavihārañāṇaniddeso
43. Exposition of the Knowledge of Partial Abiding
43. Sự giải thích chi tiết về Trí An Trú Từng Phần
94. Kathaṃ samodahane paññā padesavihāre ñāṇaṃ? Micchādiṭṭhipaccayāpi vedayitaṃ, micchādiṭṭhivūpasamapaccayāpi vedayitaṃ. Sammādiṭṭhipaccayāpi vedayitaṃ, sammādiṭṭhivūpasamapaccayāpi vedayitaṃ. Micchāsaṅkappapaccayāpi vedayitaṃ, micchāsaṅkappavūpasamapaccayāpi vedayitaṃ. Sammāsaṅkappapaccayāpi vedayitaṃ, sammāsaṅkappavūpasamapaccayāpi vedayitaṃ…pe… micchāvimuttipaccayāpi vedayitaṃ, micchāvimuttivūpasamapaccayāpi vedayitaṃ. Sammāvimuttipaccayāpi vedayitaṃ, sammāvimuttivūpasamapaccayāpi vedayitaṃ. Chandapaccayāpi vedayitaṃ, chandavūpasamapaccayāpi vedayitaṃ. Vitakkapaccayāpi vedayitaṃ, vitakkavūpasamapaccayāpi vedayitaṃ. Saññāpaccayāpi vedayitaṃ, saññāvūpasamapaccayāpi vedayitaṃ.
94. How is wisdom in combining knowledge in partial abiding? There is feeling conditioned by wrong view, and there is feeling conditioned by the subsiding of wrong view. There is feeling conditioned by right view, and there is feeling conditioned by the subsiding of right view. There is feeling conditioned by wrong intention, and there is feeling conditioned by the subsiding of wrong intention. There is feeling conditioned by right intention, and there is feeling conditioned by the subsiding of right intention… There is feeling conditioned by wrong liberation, and there is feeling conditioned by the subsiding of wrong liberation. There is feeling conditioned by right liberation, and there is feeling conditioned by the subsiding of right liberation. There is feeling conditioned by desire, and there is feeling conditioned by the subsiding of desire. There is feeling conditioned by thought, and there is feeling conditioned by the subsiding of thought. There is feeling conditioned by perception, and there is feeling conditioned by the subsiding of perception.
94. Thế nào là trí tuệ trong sự hợp nhất là trí an trú từng phần? Cảm thọ cũng do duyên tà kiến, cảm thọ cũng do duyên của sự lắng dịu tà kiến. Cảm thọ cũng do duyên chánh kiến, cảm thọ cũng do duyên của sự lắng dịu chánh kiến. Cảm thọ cũng do duyên tà tư duy, cảm thọ cũng do duyên của sự lắng dịu tà tư duy. Cảm thọ cũng do duyên chánh tư duy, cảm thọ cũng do duyên của sự lắng dịu chánh tư duy... (cho đến)... cảm thọ cũng do duyên tà giải thoát, cảm thọ cũng do duyên của sự lắng dịu tà giải thoát. Cảm thọ cũng do duyên chánh giải thoát, cảm thọ cũng do duyên của sự lắng dịu chánh giải thoát. Cảm thọ cũng do duyên dục, cảm thọ cũng do duyên của sự lắng dịu dục. Cảm thọ cũng do duyên tầm, cảm thọ cũng do duyên của sự lắng dịu tầm. Cảm thọ cũng do duyên tưởng, cảm thọ cũng do duyên của sự lắng dịu tưởng.
Chando ca avūpasanto hoti, vitakko ca avūpasanto hoti, saññā ca avūpasantā hoti, tappaccayāpi vedayitaṃ. Chando ca vūpasanto hoti, vitakko ca avūpasanto hoti, saññā ca avūpasantā hoti, tappaccayāpi vedayitaṃ. Chando ca vūpasanto hoti, vitakko ca vūpasanto hoti, saññā ca avūpasantā hoti, tappaccayāpi vedayitaṃ. Chando ca vūpasanto hoti, vitakko ca vūpasanto hoti, saññā ca vūpasantā hoti, tappaccayāpi vedayitaṃ. Appattassa pattiyā atthi āsavaṃ, tasmimpi ṭhāne anuppatte tappaccayāpi vedayitaṃ. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘samodahane paññā padesavihāre ñāṇaṃ’’.
When desire is unpacified, thought is unpacified, and perception is unpacified, there is feeling conditioned by that. When desire is pacified, but thought is unpacified and perception is unpacified, there is feeling conditioned by that. When desire is pacified and thought is pacified, but perception is unpacified, there is feeling conditioned by that. When desire is pacified, thought is pacified, and perception is pacified, there is feeling conditioned by that. For one who has not attained, there is striving for attainment; when that state is subsequently attained, there is also feeling conditioned by that. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: 'Wisdom is in harmonizing, knowledge in partial abiding.'
Dục cũng không được lắng dịu, tầm cũng không được lắng dịu, tưởng cũng không được lắng dịu; cảm thọ cũng do duyên ấy. Dục được lắng dịu, nhưng tầm không được lắng dịu, tưởng không được lắng dịu; cảm thọ cũng do duyên ấy. Dục được lắng dịu, tầm được lắng dịu, nhưng tưởng không được lắng dịu; cảm thọ cũng do duyên ấy. Dục được lắng dịu, tầm được lắng dịu, và tưởng được lắng dịu; cảm thọ cũng do duyên ấy. Có sự nỗ lực để đạt đến cái chưa đạt được; khi đã tuần tự đạt đến trạng thái ấy, cảm thọ cũng do duyên ấy. Trí ấy, với ý nghĩa là biết nên là trí (ñāṇa), với ý nghĩa là biết một cách thấu đáo nên là tuệ (paññā). Do đó, được nói rằng: ‘Trí tuệ trong sự hợp nhất là trí an trú từng phần’.
Padesavihārañāṇaniddeso tecattālīsamo.
The Exposition on the Knowledge of Partial Abiding is the forty-third.
Sự giải thích chi tiết về Trí An Trú Từng Phần, phần thứ bốn mươi ba.
44-49. Chavivaṭṭañāṇaniddeso
44-49. Exposition on the Knowledge of the Sixfold Turning Away
44-49. Sự giải thích chi tiết về Sáu Trí Thoát Ly
95. Kathaṃ adhipatattā paññā saññāvivaṭṭe ñāṇaṃ? Nekkhammādhipatattā paññā kāmacchandato saññāya vivaṭṭatīti – adhipatattā paññā saññāvivaṭṭe ñāṇaṃ. Abyāpādādhipatattā paññā byāpādato saññāya vivaṭṭatīti – adhipatattā paññā saññāvivaṭṭe ñāṇaṃ. Ālokasaññādhipatattā paññā thinamiddhato saññāya vivaṭṭatīti – adhipatattā paññā saññāvivaṭṭe ñāṇaṃ. Avikkhepādhipatattā paññā uddhaccato saññāya vivaṭṭatīti – adhipatattā paññā saññāvivaṭṭe ñāṇaṃ. Dhammavavatthānādhipatattā paññā vicikicchāya saññāya vivaṭṭatīti – adhipatattā paññā saññāvivaṭṭe ñāṇaṃ. Ñāṇādhipatattā paññā avijjāya saññāya vivaṭṭatīti – adhipatattā paññā saññāvivaṭṭe ñāṇaṃ. Pāmojjādhipatattā paññā aratiyā saññāya vivaṭṭatīti – adhipatattā paññā saññāvivaṭṭe ñāṇaṃ. Paṭhamajjhānādhipatattā paññā nīvaraṇehi saññāya vivaṭṭatīti – adhipatattā paññā saññāvivaṭṭe ñāṇaṃ…pe… arahattamaggādhipatattā paññā sabbakilesehi saññāya vivaṭṭatīti – adhipatattā paññā saññāvivaṭṭe ñāṇaṃ. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘adhipatattā paññā saññāvivaṭṭe ñāṇaṃ’’.
95. How is wisdom through dominance knowledge in the turning away by means of perception? Through the dominance of renunciation, wisdom turns away from sensual desire by means of perception—thus, wisdom through dominance is knowledge in the turning away by means of perception. Through the dominance of non-ill will, wisdom turns away from ill will by means of perception—thus, wisdom through dominance is knowledge in the turning away by means of perception. Through the dominance of the perception of light, wisdom turns away from sloth and torpor by means of perception—thus, wisdom through dominance is knowledge in the turning away by means of perception. Through the dominance of non-distraction, wisdom turns away from restlessness by means of perception—thus, wisdom through dominance is knowledge in the turning away by means of perception. Through the dominance of the determination of phenomena, wisdom turns away from doubt by means of perception—thus, wisdom through dominance is knowledge in the turning away by means of perception. Through the dominance of knowledge, wisdom turns away from ignorance by means of perception—thus, wisdom through dominance is knowledge in the turning away by means of perception. Through the dominance of joy, wisdom turns away from discontent by means of perception—thus, wisdom through dominance is knowledge in the turning away by means of perception. Through the dominance of the first jhāna, wisdom turns away from the hindrances by means of perception—thus, wisdom through dominance is knowledge in the turning away by means of perception. …pe… Through the dominance of the path of arahantship, wisdom turns away from all defilements by means of perception—thus, wisdom through dominance is knowledge in the turning away by means of perception. That is knowledge in the sense of knowing, and wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: 'Wisdom through dominance is knowledge in the turning away by means of perception.'
95. Thế nào là trí tuệ do có sự làm chủ là trí thoát ly khỏi tưởng? Trí tuệ do lấy sự xuất ly làm chủ thoát ly khỏi tưởng về dục tham. Như vậy, trí tuệ do có sự làm chủ là trí thoát ly khỏi tưởng. Trí tuệ do lấy sự vô sân làm chủ thoát ly khỏi tưởng về sân. Như vậy, trí tuệ do có sự làm chủ là trí thoát ly khỏi tưởng. Trí tuệ do lấy quang tưởng làm chủ thoát ly khỏi tưởng về hôn trầm thụy miên. Như vậy, trí tuệ do có sự làm chủ là trí thoát ly khỏi tưởng. Trí tuệ do lấy sự không phóng dật làm chủ thoát ly khỏi tưởng về trạo cử. Như vậy, trí tuệ do có sự làm chủ là trí thoát ly khỏi tưởng. Trí tuệ do lấy sự xác định các pháp làm chủ thoát ly khỏi tưởng về hoài nghi. Như vậy, trí tuệ do có sự làm chủ là trí thoát ly khỏi tưởng. Trí tuệ do lấy trí làm chủ thoát ly khỏi tưởng về vô minh. Như vậy, trí tuệ do có sự làm chủ là trí thoát ly khỏi tưởng. Trí tuệ do lấy sự hân hoan làm chủ thoát ly khỏi tưởng về sự không hoan hỷ. Như vậy, trí tuệ do có sự làm chủ là trí thoát ly khỏi tưởng. Trí tuệ do lấy sơ thiền làm chủ thoát ly khỏi tưởng về các triền cái. Như vậy, trí tuệ do có sự làm chủ là trí thoát ly khỏi tưởng... (cho đến)... Trí tuệ do lấy đạo A-la-hán làm chủ thoát ly khỏi tưởng về tất cả phiền não. Như vậy, trí tuệ do có sự làm chủ là trí thoát ly khỏi tưởng. Trí ấy, với ý nghĩa là biết nên là trí (ñāṇa), với ý nghĩa là biết một cách thấu đáo nên là tuệ (paññā). Do đó, được nói rằng: ‘Trí tuệ do có sự làm chủ là trí thoát ly khỏi tưởng’.
96. Kathaṃ nānatte paññā cetovivaṭṭe ñāṇaṃ? Kāmacchando nānattaṃ, nekkhammaṃ ekattaṃ. Nekkhammekattaṃ cetayato kāmacchandato cittaṃ vivaṭṭatīti – nānatte paññā cetovivaṭṭe ñāṇaṃ. Byāpādo nānattaṃ, abyāpādo ekattaṃ. Abyāpādekattaṃ cetayato byāpādato cittaṃ vivaṭṭatīti – nānatte paññā cetovivaṭṭe ñāṇaṃ. Thinamiddhaṃ nānattaṃ, ālokasaññā ekattaṃ. Ālokasaññekattaṃ cetayato thinamiddhato cittaṃ vivaṭṭatīti – nānatte paññā cetovivaṭṭe ñāṇaṃ…pe… sabbakilesā nānattaṃ, arahattamaggo ekattaṃ. Arahattamaggekattaṃ cetayato sabbakilesehi cittaṃ vivaṭṭatīti – nānatte paññā cetovivaṭṭe ñāṇaṃ. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘nānatte paññā cetovivaṭṭe ñāṇaṃ’’.
96. How is wisdom in diversity knowledge in the turning away of the mind? Sensual desire is diversity, renunciation is unity. For one who intends the unity of renunciation, the mind turns away from sensual desire—thus, wisdom in diversity is knowledge in the turning away of the mind. Ill will is diversity, non-ill will is unity. For one who intends the unity of non-ill will, the mind turns away from ill will—thus, wisdom in diversity is knowledge in the turning away of the mind. Sloth and torpor are diversity, the perception of light is unity. For one who intends the unity of the perception of light, the mind turns away from sloth and torpor—thus, wisdom in diversity is knowledge in the turning away of the mind… and so on… all defilements are diversity, the path of arahantship is unity. For one who intends the unity of the path of arahantship, the mind turns away from all defilements—thus, wisdom in diversity is knowledge in the turning away of the mind. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: 'Wisdom in diversity is knowledge in the turning away of the mind.'
96. Làm thế nào trí tuệ trong sự đa dạng là trí về sự xoay chuyển của tâm? Dục tham là sự đa dạng, sự xuất ly là sự đơn nhất. Đối với người tác ý đến sự đơn nhất của xuất ly, tâm xoay chuyển khỏi dục tham – (do đó) trí tuệ trong sự đa dạng là trí về sự xoay chuyển của tâm. Sân hận là sự đa dạng, vô sân là sự đơn nhất. Đối với người tác ý đến sự đơn nhất của vô sân, tâm xoay chuyển khỏi sân hận – (do đó) trí tuệ trong sự đa dạng là trí về sự xoay chuyển của tâm. Hôn trầm thụy miên là sự đa dạng, quang tưởng là sự đơn nhất. Đối với người tác ý đến sự đơn nhất của quang tưởng, tâm xoay chuyển khỏi hôn trầm thụy miên – (do đó) trí tuệ trong sự đa dạng là trí về sự xoay chuyển của tâm... (vân vân)... tất cả phiền não là sự đa dạng, đạo quả A-la-hán là sự đơn nhất. Đối với người tác ý đến sự đơn nhất của đạo quả A-la-hán, tâm xoay chuyển khỏi tất cả phiền não – (do đó) trí tuệ trong sự đa dạng là trí về sự xoay chuyển của tâm. Cái ấy là trí (ñāṇa) theo ý nghĩa biết; là tuệ (paññā) theo ý nghĩa liễu tri. Do đó, được nói rằng: ‘Trí tuệ trong sự đa dạng là trí về sự xoay chuyển của tâm.’”
97. Kathaṃ adhiṭṭhāne paññā cittavivaṭṭe ñāṇaṃ? Kāmacchandaṃ pajahanto nekkhammavasena cittaṃ adhiṭṭhātīti – adhiṭṭhāne paññā cittavivaṭṭe ñāṇaṃ. Byāpādaṃ pajahanto abyāpādavasena cittaṃ adhiṭṭhātīti – adhiṭṭhāne paññā cittavivaṭṭe ñāṇaṃ. Thinamiddhaṃ pajahanto ālokasaññāvasena cittaṃ adhiṭṭhātīti – adhiṭṭhāne paññā cittavivaṭṭe ñāṇaṃ…pe… sabbakilese pajahanto arahattamaggavasena cittaṃ adhiṭṭhātīti – adhiṭṭhāne paññā cittavivaṭṭe ñāṇaṃ. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘adhiṭṭhāne paññā cittavivaṭṭe ñāṇaṃ’’.
97. How is wisdom in resolution knowledge in the turning away of the mind? Abandoning sensual desire, one resolves one's mind by way of renunciation—thus, wisdom in resolution is knowledge in the turning away of the mind. Abandoning ill will, one resolves one's mind by way of non-ill will—thus, wisdom in resolution is knowledge in the turning away of the mind. Abandoning sloth and torpor, one resolves one's mind by way of the perception of light—thus, wisdom in resolution is knowledge in the turning away of the mind… and so on… abandoning all defilements, one resolves one's mind by way of the path of arahantship—thus, wisdom in resolution is knowledge in the turning away of the mind. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: 'Wisdom in resolution is knowledge in the turning away of the mind.'
97. Làm thế nào trí tuệ trong sự quyết định là trí về sự xoay chuyển của tư tưởng? Người từ bỏ dục tham, nhờ vào sự xuất ly mà quyết định tâm – (do đó) trí tuệ trong sự quyết định là trí về sự xoay chuyển của tư tưởng. Người từ bỏ sân hận, nhờ vào vô sân mà quyết định tâm – (do đó) trí tuệ trong sự quyết định là trí về sự xoay chuyển của tư tưởng. Người từ bỏ hôn trầm thụy miên, nhờ vào quang tưởng mà quyết định tâm – (do đó) trí tuệ trong sự quyết định là trí về sự xoay chuyển của tư tưởng... (vân vân)... Người từ bỏ tất cả phiền não, nhờ vào đạo quả A-la-hán mà quyết định tâm – (do đó) trí tuệ trong sự quyết định là trí về sự xoay chuyển của tư tưởng. Cái ấy là trí (ñāṇa) theo ý nghĩa biết; là tuệ (paññā) theo ý nghĩa liễu tri. Do đó, được nói rằng: ‘Trí tuệ trong sự quyết định là trí về sự xoay chuyển của tư tưởng.’”
98. Kathaṃ suññate paññā ñāṇavivaṭṭe ñāṇaṃ? ‘‘Cakkhu suññaṃ attena vā attaniyena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā’’ti yathābhūtaṃ jānato † passato cakkhābhinivesato † ñāṇaṃ vivaṭṭatīti – suññate paññā ñāṇavivaṭṭe ñāṇaṃ. ‘‘Sotaṃ suññaṃ…pe… ghānaṃ suññaṃ… jivhā suññā… kāyo suñño… mano suñño attena vā attaniyena vā niccena vā dhuvena vā sassatena vā avipariṇāmadhammena vā’’ti yathābhūtaṃ jānato passato manābhinivesato ñāṇaṃ vivaṭṭatīti – suññate paññā ñāṇavivaṭṭe ñāṇaṃ. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘suññate paññā ñāṇavivaṭṭe ñāṇaṃ’’.
98. How is wisdom in emptiness the knowledge of turning away? For one who knows and sees as it truly is that 'the eye is empty of self or of what belongs to self, of what is permanent, stable, eternal, or of an unchanging nature,' knowledge turns away from adherence to the eye—thus, wisdom in emptiness is the knowledge of turning away. For one who knows and sees as it truly is that 'the ear is empty… the nose is empty… the tongue is empty… the body is empty… the mind is empty of self or of what belongs to self, of what is permanent, stable, eternal, or of an unchanging nature,' knowledge turns away from adherence to the mind—thus, wisdom in emptiness is the knowledge of turning away. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: 'Wisdom in emptiness is the knowledge of turning away.'
98. Làm thế nào trí tuệ trong tánh không là trí về sự xoay chuyển của trí? ‘Con mắt là không về phương diện tự ngã, hoặc thuộc về tự ngã, hoặc thường còn, hoặc bền vững, hoặc trường tồn, hoặc có bản chất không biến đổi,’ đối với người biết và thấy như thật như vậy, trí xoay chuyển khỏi sự cố chấp vào con mắt – (do đó) trí tuệ trong tánh không là trí về sự xoay chuyển của trí. ‘Lỗ tai là không... (vân vân)... mũi là không... lưỡi là không... thân là không... ý là không về phương diện tự ngã, hoặc thuộc về tự ngã, hoặc thường còn, hoặc bền vững, hoặc trường tồn, hoặc có bản chất không biến đổi,’ đối với người biết và thấy như thật như vậy, trí xoay chuyển khỏi sự cố chấp vào ý – (do đó) trí tuệ trong tánh không là trí về sự xoay chuyển của trí. Cái ấy là trí (ñāṇa) theo ý nghĩa biết; là tuệ (paññā) theo ý nghĩa liễu tri. Do đó, được nói rằng: ‘Trí tuệ trong tánh không là trí về sự xoay chuyển của trí.’”
99. Kathaṃ vosagge paññā vimokkhavivaṭṭe ñāṇaṃ? Nekkhammena kāmacchandaṃ vosajjatīti – vosagge paññā vimokkhavivaṭṭe ñāṇaṃ. Abyāpādena byāpādaṃ vosajjatīti – vosagge paññā vimokkhavivaṭṭe ñāṇaṃ. Ālokasaññāya thinamiddhaṃ vosajjatīti – vosagge paññā vimokkhavivaṭṭe ñāṇaṃ. Avikkhepena uddhaccaṃ vosajjatīti – vosagge paññā vimokkhavivaṭṭe ñāṇaṃ. Dhammavavatthānena vicikicchaṃ vosajjatīti – vosagge paññā vimokkhavivaṭṭe ñāṇaṃ…pe… arahattamaggena sabbakilese vosajjatīti – vosagge paññā vimokkhavivaṭṭe ñāṇaṃ. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘vosagge paññā vimokkhavivaṭṭe ñāṇaṃ’’.
99. How is wisdom in relinquishment the knowledge in the turning away that is liberation? One relinquishes sensual desire by means of renunciation—thus, wisdom in relinquishment is the knowledge in the turning away that is liberation. One relinquishes ill will by means of non-ill will—thus, wisdom in relinquishment is the knowledge in the turning away that is liberation. One relinquishes sloth and torpor by means of the perception of light—thus, wisdom in relinquishment is the knowledge in the turning away that is liberation. One relinquishes restlessness by means of non-distraction—thus, wisdom in relinquishment is the knowledge in the turning away that is liberation. One relinquishes doubt by means of the determination of phenomena—thus, wisdom in relinquishment is the knowledge in the turning away that is liberation… one relinquishes all defilements by means of the path of arahantship—thus, wisdom in relinquishment is the knowledge in the turning away that is liberation. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: 'Wisdom in relinquishment is the knowledge in the turning away that is liberation.'
99. Làm thế nào trí tuệ trong sự từ bỏ là trí về sự xoay chuyển của giải thoát? Do sự xuất ly, vị ấy từ bỏ dục tham – (do đó) trí tuệ trong sự từ bỏ là trí về sự xoay chuyển của giải thoát. Do vô sân, vị ấy từ bỏ sân hận – (do đó) trí tuệ trong sự từ bỏ là trí về sự xoay chuyển của giải thoát. Do quang tưởng, vị ấy từ bỏ hôn trầm thụy miên – (do đó) trí tuệ trong sự từ bỏ là trí về sự xoay chuyển của giải thoát. Do sự không tán loạn, vị ấy từ bỏ trạo cử – (do đó) trí tuệ trong sự từ bỏ là trí về sự xoay chuyển của giải thoát. Do sự xác định các pháp, vị ấy từ bỏ hoài nghi – (do đó) trí tuệ trong sự từ bỏ là trí về sự xoay chuyển của giải thoát... (vân vân)... Do đạo quả A-la-hán, vị ấy từ bỏ tất cả phiền não – (do đó) trí tuệ trong sự từ bỏ là trí về sự xoay chuyển của giải thoát. Cái ấy là trí (ñāṇa) theo ý nghĩa biết; là tuệ (paññā) theo ý nghĩa liễu tri. Do đó, được nói rằng: ‘Trí tuệ trong sự từ bỏ là trí về sự xoay chuyển của giải thoát.’”
100. Kathaṃ tathaṭṭhe paññā saccavivaṭṭe ñāṇaṃ? Dukkhassa pīḷanaṭṭhaṃ saṅkhataṭṭhaṃ santāpaṭṭhaṃ vipariṇāmaṭṭhaṃ parijānanto vivaṭṭatīti – tathaṭṭhe paññā saccavivaṭṭe ñāṇaṃ. Samudayassa āyūhanaṭṭhaṃ nidānaṭṭhaṃ saññogaṭṭhaṃ palibodhaṭṭhaṃ pajahanto vivaṭṭatīti – tathaṭṭhe paññā saccavivaṭṭe ñāṇaṃ. Nirodhassa nissaraṇaṭṭhaṃ vivekaṭṭhaṃ asaṅkhataṭṭhaṃ amataṭṭhaṃ sacchikaronto vivaṭṭatīti – tathaṭṭhe paññā saccavivaṭṭe ñāṇaṃ. Maggassa niyyānaṭṭhaṃ hetuṭṭhaṃ dassanaṭṭhaṃ ādhipateyyaṭṭhaṃ bhāvento vivaṭṭatīti – tathaṭṭhe paññā saccavivaṭṭe ñāṇaṃ.
100. How is wisdom in its true aspect knowledge in the turning away regarding the truths? By fully knowing the oppressive aspect, the conditioned aspect, the afflictive aspect, and the changing aspect of suffering, one turns away—thus, wisdom in its true aspect is knowledge in the turning away regarding the truths. By abandoning the origin's aspect of accumulation, aspect of source, aspect of bondage, and aspect of impediment, one turns away—thus, wisdom in its true aspect is knowledge in the turning away regarding the truths. By realizing cessation's aspect of escape, aspect of seclusion, aspect of the unconditioned, and aspect of the deathless, one turns away—thus, wisdom in its true aspect is knowledge in the turning away regarding the truths. By developing the path's aspect of deliverance, aspect of cause, aspect of vision, and aspect of dominance, one turns away—thus, wisdom in its true aspect is knowledge in the turning away regarding the truths.
100. Làm thế nào trí tuệ trong ý nghĩa chân thật là trí về sự xoay chuyển của sự thật? Do liễu tri ý nghĩa áp bức, ý nghĩa hữu vi, ý nghĩa thiêu đốt, ý nghĩa biến hoại của khổ, vị ấy xoay chuyển – (do đó) trí tuệ trong ý nghĩa chân thật là trí về sự xoay chuyển của sự thật. Do từ bỏ ý nghĩa tích tập, ý nghĩa nguyên nhân, ý nghĩa trói buộc, ý nghĩa chướng ngại của tập đế, vị ấy xoay chuyển – (do đó) trí tuệ trong ý nghĩa chân thật là trí về sự xoay chuyển của sự thật. Do chứng ngộ ý nghĩa thoát ly, ý nghĩa viễn ly, ý nghĩa vô vi, ý nghĩa bất tử của diệt đế, vị ấy xoay chuyển – (do đó) trí tuệ trong ý nghĩa chân thật là trí về sự xoay chuyển của sự thật. Do tu tập ý nghĩa xuất ly, ý nghĩa nhân duyên, ý nghĩa thấy (Niết-bàn), ý nghĩa chủ đạo của đạo đế, vị ấy xoay chuyển – (do đó) trí tuệ trong ý nghĩa chân thật là trí về sự xoay chuyển của sự thật.
Saññāvivaṭṭo, cetovivaṭṭo, cittavivaṭṭo, ñāṇavivaṭṭo, vimokkhavivaṭṭo, saccavivaṭṭo. Sañjānanto vivaṭṭatīti – saññāvivaṭṭo. Cetayanto vivaṭṭatīti – cetovivaṭṭo. Vijānanto vivaṭṭatīti – cittavivaṭṭo. Ñāṇaṃ karonto vivaṭṭatīti – ñāṇavivaṭṭo. Vosajjanto vivaṭṭatīti – vimokkhavivaṭṭo. Tathaṭṭhe vivaṭṭatīti – saccavivaṭṭo.
The turning away of perception, the turning away of volition, the turning away of consciousness, the turning away of knowledge, the turning away of liberation, and the turning away regarding the truths. One turns away by perceiving; thus, it is the turning away of perception. One turns away by intending; thus, it is the turning away of volition. One turns away by cognizing; thus, it is the turning away of consciousness. One turns away by producing knowledge; thus, it is the turning away of knowledge. One turns away by relinquishing; thus, it is the turning away of liberation. One turns away in the true aspect; thus, it is the turning away regarding the truths.
Sự xoay chuyển của tưởng, sự xoay chuyển của tâm, sự xoay chuyển của tư tưởng, sự xoay chuyển của trí, sự xoay chuyển của giải thoát, sự xoay chuyển của sự thật. Do nhận biết mà xoay chuyển – đó là sự xoay chuyển của tưởng. Do tác ý mà xoay chuyển – đó là sự xoay chuyển của tâm. Do thắng tri mà xoay chuyển – đó là sự xoay chuyển của tư tưởng. Do thực hành trí mà xoay chuyển – đó là sự xoay chuyển của trí. Do từ bỏ mà xoay chuyển – đó là sự xoay chuyển của giải thoát. Do (đứng vững) trong ý nghĩa chân thật mà xoay chuyển – đó là sự xoay chuyển của sự thật.
Yattha saññāvivaṭṭo, tattha cetovivaṭṭo. Yattha cetovivaṭṭo, tattha saññāvivaṭṭo. Yattha saññāvivaṭṭo cetovivaṭṭo tattha cittavivaṭṭo. Yattha cittavivaṭṭo, tattha saññāvivaṭṭo cetovivaṭṭo. Yattha saññāvivaṭṭo cetovivaṭṭo cittavivaṭṭo, tattha ñāṇavivaṭṭo. Yattha ñāṇavivaṭṭo, tattha saññāvivaṭṭo cetovivaṭṭo cittavivaṭṭo. Yattha saññāvivaṭṭo cetovivaṭṭo cittavivaṭṭo ñāṇavivaṭṭo, tattha vimokkhavivaṭṭo. Yattha vimokkhavivaṭṭo, tattha saññāvivaṭṭo cetovivaṭṭo cittavivaṭṭo ñāṇavivaṭṭo. Yattha saññāvivaṭṭo cetovivaṭṭo cittavivaṭṭo ñāṇavivaṭṭo vimokkhavivaṭṭo, tattha saccavivaṭṭo. Yattha saccavivaṭṭo, tattha saññāvivaṭṭo cetovivaṭṭo cittavivaṭṭo ñāṇavivaṭṭo vimokkhavivaṭṭo. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘tathaṭṭhe paññā saccavivaṭṭe ñāṇaṃ’’.
Where there is turning away from perception, there is turning away from mind. Where there is turning away from mind, there is turning away from perception. Where there is turning away from perception and mind, there is turning away from consciousness. Where there is turning away from consciousness, there is turning away from perception and mind. Where there is turning away from perception, mind, and consciousness, there is turning away from knowledge. Where there is turning away from knowledge, there is turning away from perception, mind, and consciousness. Where there is turning away from perception, mind, consciousness, and knowledge, there is turning away from liberation. Where there is turning away from liberation, there is turning away from perception, mind, consciousness, and knowledge. Where there is turning away from perception, mind, consciousness, knowledge, and liberation, there is turning away from truth. Where there is turning away from truth, there is turning away from perception, mind, consciousness, knowledge, and liberation. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: ‘Wisdom in the aspect of thatness is knowledge in the turning away from truth.’
Nơi nào có sự vén mở của tưởng, nơi ấy có sự vén mở của tâm sở. Nơi nào có sự vén mở của tâm sở, nơi ấy có sự vén mở của tưởng. Nơi nào có sự vén mở của tưởng và sự vén mở của tâm sở, nơi ấy có sự vén mở của tâm. Nơi nào có sự vén mở của tâm, nơi ấy có sự vén mở của tưởng và sự vén mở của tâm sở. Nơi nào có sự vén mở của tưởng, sự vén mở của tâm sở, và sự vén mở của tâm, nơi ấy có sự vén mở của trí. Nơi nào có sự vén mở của trí, nơi ấy có sự vén mở của tưởng, sự vén mở của tâm sở, và sự vén mở của tâm. Nơi nào có sự vén mở của tưởng, sự vén mở của tâm sở, sự vén mở của tâm, và sự vén mở của trí, nơi ấy có sự vén mở của giải thoát. Nơi nào có sự vén mở của giải thoát, nơi ấy có sự vén mở của tưởng, sự vén mở của tâm sở, sự vén mở của tâm, và sự vén mở của trí. Nơi nào có sự vén mở của tưởng, sự vén mở của tâm sở, sự vén mở của tâm, sự vén mở của trí, và sự vén mở của giải thoát, nơi ấy có sự vén mở của sự thật. Nơi nào có sự vén mở của sự thật, nơi ấy có sự vén mở của tưởng, sự vén mở của tâm sở, sự vén mở của tâm, sự vén mở của trí, và sự vén mở của giải thoát. Điều ấy, do ý nghĩa là biết nên là trí; do ý nghĩa là biết rõ nên là tuệ. Do đó được nói rằng: “Tuệ trong ý nghĩa như vậy là trí về sự vén mở của sự thật.”
Chavivaṭṭañāṇaniddeso navacattālīsamo.
The Exposition of the Knowledge of the Six Turnings Away is the forty-ninth.
Phần giải về sáu trí vén mở, thứ bốn mươi chín.
50. Iddhividhañāṇaniddeso
50. Exposition on the Knowledge of the Kinds of Psychic Power
50. Phần giải về trí thần thông
101. Kathaṃ kāyampi cittampi ekavavatthānatā sukhasaññañca lahusaññañca adhiṭṭhānavasena ijjhanaṭṭhe paññā iddhividhe ñāṇaṃ? Idha bhikkhu chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, vīriyasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, cittasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, vīmaṃsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. So imesu catūsu iddhipādesu cittaṃ paribhāveti paridameti, muduṃ karoti kammaniyaṃ. So imesu catūsu iddhipādesu cittaṃ paribhāvetvā paridametvā muduṃ karitvā kammaniyaṃ kāyampi citte samodahati, cittampi kāye samodahati, kāyavasena cittaṃ pariṇāmeti, cittavasena kāyaṃ pariṇāmeti, kāyavasena cittaṃ adhiṭṭhāti, cittavasena kāyaṃ adhiṭṭhāti; kāyavasena cittaṃ pariṇāmetvā cittavasena kāyaṃ pariṇāmetvā kāyavasena cittaṃ adhiṭṭhahitvā cittavasena kāyaṃ adhiṭṭhahitvā sukhasaññañca lahusaññañca kāye okkamitvā viharati. So tathābhāvitena cittena parisuddhena pariyodātena iddhividhañāṇāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti. So anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhoti.
101. How is wisdom in the sense of success by means of determination of the unification of body and mind and of the perception of pleasure and lightness, knowledge in the kinds of psychic power? Here, a bhikkhu develops the basis for spiritual power that is endowed with concentration due to desire and formations of striving; he develops the basis for spiritual power that is endowed with concentration due to energy and formations of striving; he develops the basis for spiritual power that is endowed with concentration due to consciousness and formations of striving; he develops the basis for spiritual power that is endowed with concentration due to investigation and formations of striving. In these four bases for spiritual power he thoroughly develops and tames his mind, makes it soft and workable. Having thoroughly developed and tamed his mind in these four bases for spiritual power, having made it soft and workable, he places the body in the mind and places the mind in the body. He inclines the mind by means of the body and inclines the body by means of the mind; he determines the mind by means of the body and determines the body by means of the mind. Having inclined the mind by means of the body and inclined the body by means of the mind, having determined the mind by means of the body and determined the body by means of the mind, he dwells having made the perception of pleasure and the perception of lightness descend upon the body. With a mind thus developed, purified, and bright, he directs and inclines his mind to the knowledge of the kinds of psychic power. He experiences the various kinds of psychic power.
101. Thế nào là tuệ trong ý nghĩa thành tựu do năng lực của sự quyết định về sự xác lập thân và tâm là một, về lạc tưởng và khinh khoái tưởng, là trí về thần thông? Ở đây, vị Tỳ khưu tu tập thần túc có định do dục làm chủ và có các hành tạo tác làm nòng cốt, tu tập thần túc có định do tinh tấn làm chủ và có các hành tạo tác làm nòng cốt, tu tập thần túc có định do tâm làm chủ và có các hành tạo tác làm nòng cốt, tu tập thần túc có định do thẩm sát làm chủ và có các hành tạo tác làm nòng cốt. Vị ấy tu tập, chế ngự tâm trong bốn thần túc này, làm cho nhu nhuyến, làm cho dễ sử dụng. Vị ấy, sau khi đã tu tập, đã chế ngự tâm trong bốn thần túc này, đã làm cho nhu nhuyến, đã làm cho dễ sử dụng, đặt thân vào trong tâm, và đặt tâm vào trong thân, hướng tâm theo năng lực của thân, hướng thân theo năng lực của tâm, quyết định tâm theo năng lực của thân, quyết định thân theo năng lực của tâm; sau khi đã hướng tâm theo năng lực của thân, đã hướng thân theo năng lực của tâm, đã quyết định tâm theo năng lực của thân, đã quyết định thân theo năng lực của tâm, vị ấy sống sau khi đã đi vào lạc tưởng và khinh khoái tưởng ở thân. Vị ấy với tâm đã được tu tập như thế, thanh tịnh, trong sạch, hướng tâm, xuôi tâm đến trí về thần thông. Vị ấy chứng nghiệm được nhiều loại thần thông khác nhau.
102. Ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṃ tirobhāvaṃ; tirokuṭṭaṃ † tiropākāraṃ tiropabbataṃ asajjamāno gacchati, seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṃ karoti, seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchati, seyyathāpi pathaviyaṃ; ākāsepi pallaṅkena kamati † seyyathāpi pakkhī sakuṇo imepi candimasūriye evaṃmahiddhike evaṃmahānubhāve pāṇinā parāmasati † parimajjati; yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vatteti. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘kāyampi cittampi ekavavatthānatā sukhasaññañca lahusaññañca adhiṭṭhānavasena ijjhanaṭṭhe paññā iddhividhe ñāṇaṃ’’.
102. Being one, he becomes many; being many, he becomes one. He appears and vanishes. He goes unhindered through a wall, a rampart, or a mountain as if through space. He dives in and out of the earth as if in water. He walks on water without sinking as if on land. Seated cross-legged, he travels in space like a winged bird. With his hand he touches and strokes the moon and sun, so mighty and powerful. He exercises mastery with his body even as far as the Brahmā world. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: ‘Wisdom in the sense of success by means of determination of the unification of body and mind and of the perception of pleasure and lightness, is knowledge in the kinds of psychic power.’
102. Từ một thân hiện ra nhiều thân, từ nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, tàng hình; đi xuyên qua vách, qua tường, qua núi không bị trở ngại, như đi trong hư không; độn thổ và trồi lên trong đất, như ở trong nước; đi trên nước không bị chìm, như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trong hư không, như con chim có cánh; với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời có đại thần lực, có đại oai lực như vậy; có thể dùng thân để tác động đến tận cõi Phạm Thiên. Điều ấy, do ý nghĩa là biết nên là trí; do ý nghĩa là biết rõ nên là tuệ. Do đó được nói rằng: “Tuệ trong ý nghĩa thành tựu do năng lực của sự quyết định về sự xác lập thân và tâm là một, về lạc tưởng và khinh khoái tưởng, là trí về thần thông.”
Iddhividhañāṇaniddeso paññāsamo.
The Fiftieth: Exposition on the Knowledge of the Kinds of Psychic Power.
Phần giải về trí thần thông, thứ năm mươi.
51. Sotadhātuvisuddhiñāṇaniddeso
51. Exposition on the Knowledge of the Purification of the Ear-Element
51. Phần giải về trí thanh tịnh của nhĩ giới
103. Kathaṃ vitakkavipphāravasena nānattekattasaddanimittānaṃ pariyogāhaṇe paññā sotadhātuvisuddhiñāṇaṃ? Idha bhikkhu chandasamādhi…pe… vīriyasamādhi… cittasamādhi… vīmaṃsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. So imesu catūsu iddhipādesu cittaṃ paribhāveti paridameti, muduṃ karoti kammaniyaṃ. So imesu catūsu iddhipādesu cittaṃ paribhāvetvā paridametvā, muduṃ karitvā kammaniyaṃ dūrepi saddānaṃ saddanimittaṃ manasi karoti, santikepi saddānaṃ saddanimittaṃ manasi karoti, oḷārikānampi saddānaṃ saddanimittaṃ manasi karoti, sukhumānampi saddānaṃ saddanimittaṃ manasi karoti, saṇhasaṇhānampi saddānaṃ saddanimittaṃ manasi karoti, puratthimāyapi disāya saddānaṃ saddanimittaṃ manasi karoti, pacchimāyapi disāya saddānaṃ saddanimittaṃ manasi karoti, uttarāyapi disāya saddānaṃ saddanimittaṃ manasi karoti, dakkhiṇāyapi disāya saddānaṃ saddanimittaṃ manasi karoti, puratthimāyapi anudisāya saddānaṃ saddanimittaṃ manasi karoti, pacchimāyapi anudisāya saddānaṃ saddanimittaṃ manasi karoti, uttarāyapi anudisāya saddānaṃ saddanimittaṃ manasi karoti, dakkhiṇāyapi anudisāya saddānaṃ saddanimittaṃ manasi karoti, heṭṭhimāyapi disāya saddānaṃ saddanimittaṃ manasi karoti, uparimāyapi disāya saddānaṃ saddanimittaṃ manasi karoti. So tathābhāvitena cittena parisuddhena pariyodātena sotadhātuvisuddhiñāṇāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti. So dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇāti – dibbe ca mānuse ca ye dūre santike ca. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘vitakkavipphāravasena nānattekattasaddanimittānaṃ pariyogāhaṇe paññā sotadhātuvisuddhiñāṇaṃ’’.
103. How is wisdom in comprehending the signs of sounds as various and single by means of the diffusion of thought, the knowledge of the purification of the ear-element? Here, a bhikkhu develops the basis for spiritual power endowed with concentration due to desire… due to energy… due to mind… due to investigation and formations of striving. In these four bases for spiritual power he thoroughly develops and tames his mind, makes it soft and workable. Having thoroughly developed and tamed his mind in these four bases for spiritual power, having made it soft and workable, he attends to the sign of sounds that are distant, he attends to the sign of sounds that are near; he attends to the sign of sounds that are coarse, he attends to the sign of sounds that are subtle, he attends to the sign of sounds that are very fine; he attends to the sign of sounds in the eastern direction, in the western direction, in the northern direction, in the southern direction, in the eastern intermediate direction, in the western intermediate direction, in the northern intermediate direction, in the southern intermediate direction, in the lower direction, and in the upper direction. With a mind thus developed, purified, and bright, he directs and inclines his mind to the knowledge of the purification of the ear-element. With the divine ear-element, which is purified and surpasses the human, he hears both kinds of sounds, divine and human, whether far or near. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: ‘Wisdom in comprehending the signs of sounds as various and single by means of the diffusion of thought, is the knowledge of the purification of the ear-element.’
103. Trí tuệ trong sự thâm nhập các tướng của âm thanh khác nhau và đồng nhất do năng lực của sự lan rộng của tầm được gọi là nhĩ giới thanh tịnh trí là như thế nào? Ở đây, vị tỳ khưu tu tập thần túc thông được trang bị định do dục ... được trang bị định do tinh tấn ... định do tâm ... định do thẩm sát đi cùng với các pháp cần tinh tấn. Vị ấy tu tập, chế ngự, làm cho mềm mại, làm cho dễ sử dụng tâm ở trong bốn thần túc thông này. Vị ấy, sau khi đã tu tập, đã chế ngự, đã làm cho mềm mại, đã làm cho dễ sử dụng tâm ở trong bốn thần túc thông này, tác ý đến tướng của các âm thanh ở xa, tác ý đến tướng của các âm thanh ở gần, tác ý đến tướng của các âm thanh thô, tác ý đến tướng của các âm thanh tế, tác ý đến tướng của các âm thanh rất tế, tác ý đến tướng của các âm thanh ở phương đông, tác ý đến tướng của các âm thanh ở phương tây, tác ý đến tướng của các âm thanh ở phương bắc, tác ý đến tướng của các âm thanh ở phương nam, tác ý đến tướng của các âm thanh ở phương góc đông, tác ý đến tướng của các âm thanh ở phương góc tây, tác ý đến tướng của các âm thanh ở phương góc bắc, tác ý đến tướng của các âm thanh ở phương góc nam, tác ý đến tướng của các âm thanh ở phương dưới, tác ý đến tướng của các âm thanh ở phương trên. Vị ấy với tâm đã được tu tập, thanh tịnh, trong sạch như thế, hướng tâm, xuôi tâm đến nhĩ giới thanh tịnh trí. Vị ấy với nhĩ giới thanh tịnh, siêu nhân, nghe được cả hai loại âm thanh – của chư thiên và của loài người, dù ở xa hay ở gần. Điều ấy là trí (ñāṇa) theo nghĩa biết rõ, là tuệ (paññā) theo nghĩa liễu tri. Do đó, được nói rằng: “Trí tuệ trong sự thâm nhập các tướng của âm thanh khác nhau và đồng nhất do năng lực của sự lan rộng của tầm được gọi là nhĩ giới thanh tịnh trí.”
Sotadhātuvisuddhiñāṇaniddeso ekapaññāsamo.
The Exposition on the Knowledge of the Purification of the Ear-Element is the fifty-first.
Phần giải về nhĩ giới thanh tịnh trí thứ năm mươi mốt.
52. Cetopariyañāṇaniddeso
52. Exposition on the Knowledge of Others' Minds
52. Phần giải về tha tâm trí
104. Kathaṃ tiṇṇaṃ cittānaṃ vipphārattā indriyānaṃ pasādavasena nānattekattaviññāṇacariyāpariyogāhaṇe paññā cetopariyañāṇaṃ? Idha bhikkhu chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, vīriyasamādhi…pe… cittasamādhi…pe… vīmaṃsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. So imesu catūsu iddhipādesu cittaṃ paribhāveti paridameti, muduṃ karoti kammaniyaṃ. So imesu catūsu iddhipādesu cittaṃ paribhāvetvā paridametvā, muduṃ karitvā kammaniyaṃ evaṃ pajānāti – ‘‘idaṃ rūpaṃ somanassindriyasamuṭṭhitaṃ, idaṃ rūpaṃ domanassindriyasamuṭṭhitaṃ, idaṃ rūpaṃ upekkhindriyasamuṭṭhita’’nti. So tathābhāvitena cittena parisuddhena pariyodātena cetopariyañāṇāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti. So parasattānaṃ parapuggalānaṃ cetasā ceto paricca pajānāti – sarāgaṃ vā cittaṃ ‘‘sarāgaṃ citta’’nti pajānāti, vītarāgaṃ vā cittaṃ ‘‘vītarāgaṃ citta’’nti pajānāti, sadosaṃ vā cittaṃ…pe… vītadosaṃ vā cittaṃ… samohaṃ vā cittaṃ… vītamohaṃ vā cittaṃ… saṃkhittaṃ vā cittaṃ… vikkhittaṃ vā cittaṃ… mahaggataṃ vā cittaṃ… amahaggataṃ vā cittaṃ… sauttaraṃ vā cittaṃ… anuttaraṃ vā cittaṃ… samāhitaṃ vā cittaṃ… asamāhitaṃ vā cittaṃ… vimuttaṃ vā cittaṃ… avimuttaṃ vā cittaṃ ‘‘avimuttaṃ cittanti pajānāti. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘tiṇṇaṃ cittānaṃ vipphārattā indriyānaṃ pasādavasena nānattekattaviññāṇacariyāpariyogāhaṇe paññā cetopariyañāṇaṃ’’.
104. How is the wisdom in comprehending the diversity and unity of the functioning of consciousness by means of the manifestation of three minds and the clarity of the faculties the knowledge of others' minds? Here, a bhikkhu develops the basis of psychic power that is endowed with concentration founded on desire and with volitional formations of striving. He develops the basis of psychic power that is endowed with concentration founded on energy…pe… with concentration founded on mind…pe… he develops the basis of psychic power that is endowed with concentration founded on investigation and with volitional formations of striving. He cultivates and tames his mind in these four bases of psychic power, making it soft and workable. Having cultivated and tamed his mind in these four bases of psychic power, having made it soft and workable, he understands thus: 'This form has arisen from the faculty of pleasure, this form has arisen from the faculty of displeasure, this form has arisen from the faculty of equanimity.' With a mind thus developed, purified, and bright, he directs and inclines his mind toward the knowledge of others' minds. He understands the minds of other beings and individuals, having encompassed them with his own mind. He understands a mind with lust as 'a mind with lust'; a mind without lust as 'a mind without lust'; a mind with hatred…pe… a mind without hatred… a mind with delusion… a mind without delusion… a contracted mind… a scattered mind… an exalted mind… an unexalted mind… a surpassable mind… an unsurpassed mind… a concentrated mind… an unconcentrated mind… a liberated mind… an unliberated mind as 'an unliberated mind.' That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: 'The wisdom in comprehending the diversity and unity of the functioning of consciousness by means of the manifestation of three minds and the clarity of the faculties is the knowledge of others' minds.'
104. Trí tuệ trong sự thâm nhập vào hành của thức khác nhau và đồng nhất do năng lực trong sạch của các quyền vì sự lan rộng của ba loại tâm được gọi là tha tâm trí là như thế nào? Ở đây, vị tỳ khưu tu tập thần túc thông được trang bị định do dục đi cùng với các pháp cần tinh tấn, tu tập thần túc thông được trang bị định do tinh tấn ... tu tập thần túc thông được trang bị định do tâm ... tu tập thần túc thông được trang bị định do thẩm sát đi cùng với các pháp cần tinh tấn. Vị ấy tu tập, chế ngự, làm cho mềm mại, làm cho dễ sử dụng tâm ở trong bốn thần túc thông này. Vị ấy, sau khi đã tu tập, đã chế ngự, đã làm cho mềm mại, đã làm cho dễ sử dụng tâm ở trong bốn thần túc thông này, biết như vầy: “Sắc này do hỷ quyền làm cho sanh khởi, sắc này do ưu quyền làm cho sanh khởi, sắc này do xả quyền làm cho sanh khởi.” Vị ấy với tâm đã được tu tập, thanh tịnh, trong sạch như thế, hướng tâm, xuôi tâm đến tha tâm trí. Vị ấy với tâm của mình biết rõ tâm của chúng sanh khác, của người khác: biết tâm có tham là “tâm có tham”, biết tâm không có tham là “tâm không có tham”, biết tâm có sân ... biết tâm không có sân ... biết tâm có si ... biết tâm không có si ... biết tâm co rút ... biết tâm phân tán ... biết tâm đáo đại ... biết tâm không đáo đại ... biết tâm hữu thượng ... biết tâm vô thượng ... biết tâm có định ... biết tâm không có định ... biết tâm đã giải thoát ... biết tâm chưa giải thoát là “tâm chưa giải thoát”. Điều ấy là trí (ñāṇa) theo nghĩa biết rõ, là tuệ (paññā) theo nghĩa liễu tri. Do đó, được nói rằng: “Trí tuệ trong sự thâm nhập vào hành của thức khác nhau và đồng nhất do năng lực trong sạch của các quyền vì sự lan rộng của ba loại tâm được gọi là tha tâm trí.”
Cetopariyañāṇaniddeso dvepaññāsamo.
The Exposition on the Knowledge of Others' Minds is the fifty-second.
Phần giải về tha tâm trí thứ năm mươi hai.
53. Pubbenivāsānussatiñāṇaniddeso
53. Exposition on the Knowledge of Recollection of Past Lives
53. Phần giải về túc mạng tùy niệm trí
105. Kathaṃ paccayapavattānaṃ dhammānaṃ nānattekattakammavipphāravasena pariyogāhaṇe paññā pubbenivāsānussatiñāṇaṃ? Idha bhikkhu chandasamādhi…pe… muduṃ karitvā kammaniyaṃ evaṃ pajānāti – ‘‘imasmiṃ sati idaṃ hoti, imassuppādā idaṃ uppajjati, yadidaṃ – avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ, nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ, saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṃ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti; evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti’’.
105. How is the wisdom in comprehending phenomena that proceed from conditions, by means of the diffusion of kamma in its diversity and unity, the knowledge of recollection of past lives? Here, a bhikkhu develops the basis of psychic power that is endowed with concentration founded on desire… (and so on, as in the preceding section) … having made his mind soft and workable, he understands thus: 'When this exists, that is; with the arising of this, that arises. That is: with ignorance as condition, volitional formations come to be; with volitional formations as condition, consciousness; with consciousness as condition, name-and-form; with name-and-form as condition, the six sense bases; with the six sense bases as condition, contact; with contact as condition, feeling; with feeling as condition, craving; with craving as condition, clinging; with clinging as condition, existence; with existence as condition, birth; with birth as condition, aging and death, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair come to be. Thus is the origin of this sheer mass of suffering.'
105. Trí tuệ trong sự thâm nhập do năng lực của sự lan rộng của nghiệp khác nhau và đồng nhất của các pháp diễn tiến do duyên được gọi là túc mạng tùy niệm trí là như thế nào? Ở đây, vị tỳ khưu tu tập thần túc thông được trang bị định do dục ... sau khi đã làm cho mềm mại, đã làm cho dễ sử dụng, biết như vầy: “Khi cái này có, cái này có; do cái này sanh, cái này sanh; nghĩa là: do vô minh làm duyên, các hành sanh khởi; do các hành làm duyên, thức sanh khởi; do thức làm duyên, danh sắc sanh khởi; do danh sắc làm duyên, sáu xứ sanh khởi; do sáu xứ làm duyên, xúc sanh khởi; do xúc làm duyên, thọ sanh khởi; do thọ làm duyên, ái sanh khởi; do ái làm duyên, thủ sanh khởi; do thủ làm duyên, hữu sanh khởi; do hữu làm duyên, sanh sanh khởi; do sanh làm duyên, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự sanh khởi của toàn bộ khối khổ này.”
So tathābhāvitena cittena parisuddhena pariyodātena pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti. So anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati, seyyathidaṃ – ekampi jātiṃ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṃsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo, jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi, anekepi saṃvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṃvaṭṭavivaṭṭakappe – ‘‘amutrāsiṃ evaṃnāmo evaṃgotto evaṃvaṇṇo evamāhāro evaṃsukhadukkhappaṭisaṃvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṃ; tatrāpāsiṃ evaṃnāmo evaṃgotto evaṃvaṇṇo evamāhāro evaṃsukhadukkhappaṭisaṃvedī evama āyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’’ti. Iti sākāraṃ sauddesaṃ anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘paccayapavattānaṃ dhammānaṃ nānattekattakammavipphāravasena pariyogāhaṇe paññā pubbenivāsānussatiñāṇaṃ’’.
With a mind thus developed, purified, and bright, he directs and inclines it toward the knowledge of the recollection of past lives. He recollects his manifold past lives, that is: one birth, two births, three births, four births, five births, ten births, twenty births, thirty births, forty births, fifty births, a hundred births, a thousand births, a hundred thousand births; many eons of world-contraction, many eons of world-expansion, many eons of world-contraction and expansion: 'There I was with such a name, of such a clan, with such an appearance, such was my food, such my experience of pleasure and pain, such my life span. Passing away from there, I was reborn elsewhere. There, too, I was with such a name, of such a clan, with such an appearance, such was my food, such my experience of pleasure and pain, such my life span. Passing away from there, I have been reborn here.' Thus he recollects his manifold past lives with their aspects and details. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: 'Wisdom in comprehending phenomena that proceed from conditions by means of the diversity and unity of the results of kamma is the knowledge of recollection of past lives.'
Vị ấy, với tâm đã được tu tập như vậy, trong sạch, thanh tịnh, hướng tâm, xuôi tâm đến trí nhớ các kiếp quá khứ. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, nghĩa là – một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, bốn kiếp, năm kiếp, mười kiếp, hai mươi kiếp, ba mươi kiếp, bốn mươi kiếp, năm mươi kiếp, một trăm kiếp, một ngàn kiếp, một trăm ngàn kiếp, nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành, nhiều kiếp thành hoại – ‘Ở nơi kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, sắc tướng như thế này, vật thực như thế này, đã trải nghiệm khổ lạc như thế này, có tuổi thọ giới hạn như thế này. Sau khi chết ở nơi ấy, ta đã sanh ở nơi kia. Ở nơi đó, ta cũng có tên như thế này, dòng họ như thế này, sắc tướng như thế này, vật thực như thế này, đã trải nghiệm khổ lạc như thế này, có tuổi thọ giới hạn như thế này. Sau khi chết ở nơi ấy, ta đã sanh ở đây.’ Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các khía cạnh và các chi tiết. Cái ấy là trí do có ý nghĩa biết, là tuệ do có ý nghĩa biết rõ. Do đó, đã được nói rằng: ‘Tuệ trong sự thấu triệt các pháp diễn tiến do duyên sanh về phương diện khác biệt, đồng nhất, và sự lan tỏa của nghiệp là trí nhớ các kiếp quá khứ.’
Pubbenivāsānussatiñāṇaniddeso tepaññāsamo.
The Exposition on the Knowledge of Recollection of Past Lives is the fifty-third.
Phần giải thích về trí nhớ các kiếp quá khứ, thứ năm mươi ba.
54. Dibbacakkhuñāṇaniddeso
54. The Exposition of the Divine Eye Knowledge
54. Phần giải thích về thiên nhãn trí
106. Kathaṃ obhāsavasena nānattekattarūpanimittānaṃ dassanaṭṭhe paññā dibbacakkhuñāṇaṃ? Idha bhikkhu chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, vīriyasamādhi…pe… cittasamādhi…pe… vīmaṃsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. So imesu catūsu iddhipādesu cittaṃ paribhāveti paridameti, muduṃ karoti kammaniyaṃ. So imesu catūsu iddhipādesu cittaṃ paribhāvetvā paridametvā, muduṃ karitvā kammaniyaṃ ālokasaññaṃ manasi karoti, divāsaññaṃ adhiṭṭhāti – ‘‘yathā divā tathā rattiṃ, yathā rattiṃ tathā divā’’. Iti vivaṭena cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṃ cittaṃ bhāveti. So tathābhāvitena cittena parisuddhena pariyodātena sattānaṃ cutūpapātañāṇāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti. So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena, satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti – ‘‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā, vacīduccaritena samannāgatā, manoduccaritena samannāgatā, ariyānaṃ upavādakā, micchādiṭṭhikā, micchādiṭṭhikammasamādānā; te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā, vacīsucaritena samannāgatā, manosucaritena samannāgatā ariyānaṃ anupavādakā, sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā; te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapannā’’ti. Iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘obhāsavasena nānattekattarūpanimittānaṃ dassanaṭṭhe paññā dibbacakkhuñāṇaṃ’’.
106. How is wisdom, in the sense of seeing diverse and unitary signs of forms by means of light, the knowledge of the divine eye? Here, a bhikkhu develops the basis of spiritual power endowed with concentration founded on desire and with formations of striving. He develops the basis of spiritual power endowed with concentration founded on energy...pe... with concentration founded on consciousness...pe... with concentration founded on investigation and with formations of striving. He cultivates and tames his mind in these four bases of spiritual power, making it pliant and workable. Having cultivated and tamed his mind in these four bases of spiritual power, making it pliant and workable, he attends to the perception of light and resolves upon the perception of day: 'As by day, so by night; as by night, so by day.' Thus, with an open and unobstructed mind, he develops a luminous mind. With a mind so developed, purified, and cleansed, he directs and inclines his mind toward the knowledge of the passing away and rebirth of beings. With the divine eye, purified and surpassing the human, he sees beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in good destinations and bad destinations—and he understands beings as faring according to their kamma: 'Sirs, indeed, these beings were endowed with misconduct of body, speech, and mind, reviled the noble ones, held wrong views, and undertook actions based on wrong views. With the breakup of the body, after death, they have been reborn in a state of deprivation, a bad destination, a state of ruin, in hell. But on the other hand, sirs, these beings were endowed with good conduct of body, speech, and mind, did not revile the noble ones, held right views, and undertook actions based on right views. With the breakup of the body, after death, they have been reborn in a good destination, in a heavenly world.' Thus, with the divine eye, purified and surpassing the human, he sees beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in good destinations and bad destinations—and he understands beings as faring according to their kamma. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: 'Wisdom, in the sense of seeing diverse and unitary signs of forms by means of light, is the knowledge of the divine eye.'
106. Thế nào là tuệ trong ý nghĩa thấy các sắc tướng khác biệt và đồng nhất do năng lực của ánh sáng là thiên nhãn trí? Ở đây, vị tỳ khưu tu tập thần túc thông có định do dục làm chủ, có các hành tác ý; tu tập thần túc thông có định do tinh tấn làm chủ... có định do tâm làm chủ... có định do thẩm sát làm chủ, có các hành tác ý. Vị ấy, đối với bốn thần túc thông này, tu tập tâm, chế ngự tâm, làm cho mềm mại, làm cho dễ sử dụng. Vị ấy, sau khi đã tu tập tâm, đã chế ngự tâm, đã làm cho mềm mại, đã làm cho dễ sử dụng đối với bốn thần túc thông này, tác ý đến tưởng về ánh sáng, quyết định tưởng về ban ngày – ‘Như ban ngày, cũng vậy ban đêm; như ban đêm, cũng vậy ban ngày.’ Như vậy, với tâm rộng mở, không bị bao phủ, vị ấy tu tập tâm có ánh sáng rực rỡ. Vị ấy, với tâm đã được tu tập như vậy, trong sạch, thanh tịnh, hướng tâm, xuôi tâm đến trí về sự chết và sự sanh của chúng sanh. Vị ấy, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt ngoài tầm mắt của con người, thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú; vị ấy biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ – ‘Chư vị hiền giả ơi, thật vậy, những chúng sanh này đã thành tựu thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, phỉ báng các bậc Thánh, có tà kiến, chấp thủ hành động theo tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn chư vị hiền giả ơi, những chúng sanh này đã thành tựu thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, không phỉ báng các bậc Thánh, có chánh kiến, chấp thủ hành động theo chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, họ đã sanh vào thiện thú, cõi trời, thế gian.’ Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, vượt ngoài tầm mắt của con người, vị ấy thấy các chúng sanh đang chết, đang sanh, hèn hạ, cao sang, xinh đẹp, xấu xí, thiện thú, ác thú; vị ấy biết rõ các chúng sanh tùy theo nghiệp của họ. Cái ấy là trí do có ý nghĩa biết, là tuệ do có ý nghĩa biết rõ. Do đó, đã được nói rằng: ‘Tuệ trong ý nghĩa thấy các sắc tướng khác biệt và đồng nhất do năng lực của ánh sáng là thiên nhãn trí.’
Dibbacakkhuñāṇaniddeso catupaññāsamo.
The Exposition of the Divine Eye Knowledge is the fifty-fourth.
Phần giải thích về thiên nhãn trí, thứ năm mươi bốn.
55. Āsavakkhayañāṇaniddeso
55. The Exposition of the Knowledge of the Destruction of the Taints.
55. Phần giải thích về lậu tận trí
107. Kathaṃ catusaṭṭhiyā ākārehi tiṇṇannaṃ indriyānaṃ vasibhāvatā paññā āsavānaṃ khaye ñāṇaṃ? Katamesaṃ tiṇṇannaṃ indriyānaṃ? Anaññātaññassāmītindriyassa aññindriyassa aññātāvindriyassa.
107. How, with sixty-four aspects, is wisdom the knowledge of the destruction of the taints through mastery over the three faculties? Which three faculties? The faculty of 'I will know what has not yet been known,' the faculty of final knowledge, and the faculty of the one who has known.
107. Thế nào là tuệ về sự thuần thục của ba quyền qua sáu mươi bốn phương diện là trí về sự đoạn tận các lậu hoặc? Ba quyền nào? Vị tri đương tri quyền, dĩ tri quyền, và cụ tri quyền.
Anaññātaññassāmītindriyaṃ kati ṭhānāni gacchati, aññindriyaṃ kati ṭhānāni gacchati, aññātāvindriyaṃ kati ṭhānāni gacchati? Anaññātaññassāmītindriyaṃ ekaṃ ṭhānaṃ gacchati – sotāpattimaggaṃ. Aññindriyaṃ cha ṭhānāni gacchati – sotāpattiphalaṃ, sakadāgāmimaggaṃ, sakadāgāmiphalaṃ, anāgāmimaggaṃ, anāgāmiphalaṃ, arahattamaggaṃ. Aññātāvindriyaṃ ekaṃ ṭhānaṃ gacchati – arahattaphalaṃ.
To how many states does the faculty of 'I will know what has not yet been known' reach? To how many states does the faculty of final knowledge reach? To how many states does the faculty of the one who has known reach? The faculty of 'I will know what has not yet been known' reaches one state—the path of stream-entry. The faculty of final knowledge reaches six states—the fruit of stream-entry, the path of once-returning, the fruit of once-returning, the path of non-returning, the fruit of non-returning, and the path of arahantship. The faculty of the one who has known reaches one state—the fruit of arahantship.
Vị tri đương tri quyền đi đến bao nhiêu trú xứ, dĩ tri quyền đi đến bao nhiêu trú xứ, cụ tri quyền đi đến bao nhiêu trú xứ? Vị tri đương tri quyền đi đến một trú xứ – đạo Tu-đà-hoàn. Dĩ tri quyền đi đến sáu trú xứ – quả Tu-đà-hoàn, đạo Tư-đà-hàm, quả Tư-đà-hàm, đạo A-na-hàm, quả A-na-hàm, đạo A-la-hán. Cụ tri quyền đi đến một trú xứ – quả A-la-hán.
Sotāpattimaggakkhaṇe anaññātaññassāmītindriyassa saddhindriyaṃ adhimokkhaparivāraṃ hoti, vīriyindriyaṃ paggahaparivāraṃ hoti, satindriyaṃ upaṭṭhānaparivāraṃ hoti, samādhindriyaṃ avikkhepaparivāraṃ hoti, paññindriyaṃ dassanaparivāraṃ hoti, manindriyaṃ vijānanaparivāraṃ hoti, somanassindriyaṃ abhisandanaparivāraṃ hoti, jīvitindriyaṃ pavattasantatādhipateyyaparivāraṃ hoti. Sotāpattimaggakkhaṇe jātā dhammā ṭhapetvā cittasamuṭṭhānaṃ rūpaṃ sabbeva kusalā honti, sabbeva anāsavā honti, sabbeva niyyānikā honti, sabbeva apacayagāmino honti, sabbeva lokuttarā honti, sabbeva nibbānārammaṇā honti. Sotāpattimaggakkhaṇe anaññātaññassāmītindriyassa imāni aṭṭhindriyāni sahajātaparivārā honti, aññamaññaparivārā honti, nissayaparivārā honti, sampayuttaparivārā honti, sahagatā honti, sahajātā honti, saṃsaṭṭhā honti, sampayuttā honti. Teva tassa ākārā ceva honti parivārā ca.
At the moment of the path of stream-entry, for the faculty of 'I will know what has not yet been known,' the faculty of faith has conviction as its retinue; the faculty of energy has exertion as its retinue; the faculty of mindfulness has establishment as its retinue; the faculty of concentration has non-distraction as its retinue; the faculty of wisdom has seeing as its retinue; the faculty of mind has cognizing as its retinue; the faculty of joy has overflowing as its retinue; and the faculty of life has the governing of the continuous flow of existence as its retinue. At the moment of the path of stream-entry, all phenomena that arise—excluding mind-originated form—are wholesome, taintless, leading to deliverance, leading to non-accumulation, supramundane, and have Nibbāna as their object. At the moment of the path of stream-entry, for the faculty of 'I will know what has not yet been known,' these eight faculties are a co-arisen retinue, a mutual retinue, a dependence retinue, and an associated retinue; they are accompanied, co-arisen, intermingled, and associated. These are both its aspects and its retinues.
Trong sát-na của đạo Tu-đà-hoàn, đối với vị tri quyền, tín quyền có sự quyết đoán làm quyến thuộc, tấn quyền có sự nỗ lực làm quyến thuộc, niệm quyền có sự hiện khởi làm quyến thuộc, định quyền có sự không phân tán làm quyến thuộc, tuệ quyền có sự thấy làm quyến thuộc, ý quyền có sự biết làm quyến thuộc, hỷ quyền có sự tuôn chảy làm quyến thuộc, mạng quyền có sự làm chủ dòng tương tục đang diễn tiến làm quyến thuộc. Trong sát-na của đạo Tu-đà-hoàn, các pháp đã sanh, ngoại trừ sắc do tâm sanh, tất cả đều là thiện, tất cả đều là vô lậu, tất cả đều là xuất ly, tất cả đều đi đến sự không tích lũy, tất cả đều là siêu thế, tất cả đều có Niết-bàn làm đối tượng. Trong sát-na của đạo Tu-đà-hoàn, đối với vị tri quyền, tám quyền này có sự đồng sanh làm quyến thuộc, có sự tương hỗ làm quyến thuộc, có sự y chỉ làm quyến thuộc, có sự tương ưng làm quyến thuộc, là đồng hành, là đồng sanh, là hòa trộn, là tương ưng. Chính những pháp ấy là các trạng thái và là các quyến thuộc của quyền ấy.
Sotāpattiphalakkhaṇe aññindriyassa saddhindriyaṃ adhimokkhaparivāraṃ hoti, vīriyindriyaṃ paggahaparivāraṃ hoti, satindriyaṃ upaṭṭhānaparivāraṃ hoti, samādhindriyaṃ avikkhepaparivāraṃ hoti, paññindriyaṃ dassanaparivāraṃ hoti, manindriyaṃ vijānanaparivāraṃ hoti, somanassindriyaṃ abhisandanaparivāraṃ hoti, jīvitindriyaṃ pavattasantatādhipateyyaparivāraṃ hoti. Sotāpattiphalakkhaṇe jātā dhammā sabbeva abyākatā honti, ṭhapetvā cittasamuṭṭhānaṃ rūpaṃ sabbeva anāsavā honti, sabbeva lokuttarā honti, sabbeva nibbānārammaṇā honti. Sotāpattiphalakkhaṇe aññindriyassa imāni aṭṭhindriyāni sahajātaparivārā honti, aññamaññaparivārā honti, nissayaparivārā honti, sampayuttaparivārā honti, sahagatā honti, sahajātā honti, saṃsaṭṭhā honti, sampayuttā honti. Teva tassa ākārā ceva honti parivārā ca.
At the moment of the fruit of stream-entry, for the faculty of final knowledge, the faculty of faith has resolution as its retinue; the faculty of energy has uplifting as its retinue; the faculty of mindfulness has establishment as its retinue; the faculty of concentration has non-distraction as its retinue; the faculty of wisdom has seeing as its retinue; the faculty of mind has cognizing as its retinue; the faculty of joy has suffusing as its retinue; and the faculty of life has the governing of the continuous flow of existence as its retinue. At the moment of the fruit of stream-entry, all phenomena that arise—except for mind-originated matter—are indeterminate, taintless, supramundane, and have Nibbāna as their object. At the moment of the fruit of stream-entry, for the faculty of final knowledge, these eight faculties are a co-nascent retinue, a mutual retinue, a dependence retinue, and an associated retinue; they are accompanied, co-nascent, intermingled, and associated. Those very phenomena are both its aspects and its retinue.
Trong sát-na của quả Tu-đà-hoàn, đối với cụ tri quyền, tín quyền có sự quyết đoán làm quyến thuộc, tấn quyền có sự nỗ lực làm quyến thuộc, niệm quyền có sự hiện khởi làm quyến thuộc, định quyền có sự không phân tán làm quyến thuộc, tuệ quyền có sự thấy làm quyến thuộc, ý quyền có sự biết làm quyến thuộc, hỷ quyền có sự tuôn chảy làm quyến thuộc, mạng quyền có sự làm chủ dòng tương tục đang diễn tiến làm quyến thuộc. Trong sát-na của quả Tu-đà-hoàn, các pháp đã sanh tất cả đều là vô ký. Ngoại trừ sắc do tâm sanh, tất cả các pháp đều là vô lậu, tất cả đều là siêu thế, tất cả đều có Niết-bàn làm đối tượng. Trong sát-na của quả Tu-đà-hoàn, đối với cụ tri quyền, tám quyền này có sự đồng sanh làm quyến thuộc, có sự tương hỗ làm quyến thuộc, có sự y chỉ làm quyến thuộc, có sự tương ưng làm quyến thuộc, là đồng hành, là đồng sanh, là hòa trộn, là tương ưng. Chính những pháp ấy là các trạng thái và là các quyến thuộc của quyền ấy.
Sakadāgāmimaggakkhaṇe …pe… sakadāgāmiphalakkhaṇe…pe… anāgāmimaggakkhaṇe…pe… anāgāmiphalakkhaṇe…pe… arahattamaggakkhaṇe aññindriyassa saddhindriyaṃ adhimokkhaparivāraṃ hoti…pe… jīvitindriyaṃ pavattasantatādhipateyyaparivāraṃ hoti. Arahattamaggakkhaṇe jātā dhammā ṭhapetvā cittasamuṭṭhānaṃ rūpaṃ sabbeva kusalā honti, sabbeva anāsavā honti, sabbeva niyyānikā honti, sabbeva apacayagāmino honti, sabbeva lokuttarā honti, sabbeva nibbānārammaṇā honti. Arahattamaggakkhaṇe aññindriyassa imāni aṭṭhindriyāni sahajātaparivārā honti, aññamaññaparivārā honti, nissayaparivārā honti, sampayuttaparivārā honti, sahagatā honti, sahajātā honti, saṃsaṭṭhā honti, sampayuttā honti. Teva tassa ākārā ceva honti parivārā ca.
At the moment of the path of the once-returner...pe... at the moment of the fruit of the once-returner...pe... at the moment of the path of the non-returner...pe... at the moment of the fruit of the non-returner...pe... at the moment of the path of arahantship, for the faculty of final knowledge, the faculty of faith has resolution as its retinue...pe... the faculty of life has the governing of the continuous flow of existence as its retinue. At the moment of the path of arahantship, all phenomena that arise—except for mind-originated matter—are wholesome, taintless, leading to deliverance, leading to dismantling, supramundane, and have Nibbāna as their object. At the moment of the path of arahantship, for the faculty of final knowledge, these eight faculties are a co-nascent retinue, a mutual retinue, a dependence retinue, and an associated retinue; they are accompanied, co-nascent, intermingled, and associated. Those very phenomena are both its aspects and its retinue.
Trong sát-na của đạo Nhất-lai ...đến... trong sát-na của quả Nhất-lai ...đến... trong sát-na của đạo Bất-lai ...đến... trong sát-na của quả Bất-lai ...đến... Trong sát-na của đạo A-la-hán, đối với cụ tri quyền, tín quyền có sự quyết đoán làm quyến thuộc ...đến... mạng quyền có sự làm chủ dòng tương tục đang diễn tiến làm quyến thuộc. Trong sát-na của đạo A-la-hán, các pháp đã sanh, ngoại trừ sắc do tâm sanh, tất cả đều là thiện, tất cả đều là vô lậu, tất cả đều là xuất ly, tất cả đều đi đến sự không tích lũy, tất cả đều là siêu thế, tất cả đều có Niết-bàn làm đối tượng. Trong sát-na của đạo A-la-hán, đối với cụ tri quyền, tám quyền này có sự đồng sanh làm quyến thuộc, có sự tương hỗ làm quyến thuộc, có sự y chỉ làm quyến thuộc, có sự tương ưng làm quyến thuộc, là đồng hành, là đồng sanh, là hòa trộn, là tương ưng. Chính những pháp ấy là các trạng thái và là các quyến thuộc của quyền ấy.
Arahattaphalakkhaṇe aññātāvindriyassa saddhindriyaṃ adhimokkhaparivāraṃ hoti, vīriyindriyaṃ paggahaparivāraṃ hoti, satindriyaṃ upaṭṭhānaparivāraṃ hoti, samādhindriyaṃ avikkhepaparivāraṃ hoti, paññindriyaṃ dassanaparivāraṃ hoti, manindriyaṃ vijānanaparivāraṃ hoti, somanassindriyaṃ abhisandanaparivāraṃ hoti, jīvitindriyaṃ pavattasantatādhipateyyaparivāraṃ hoti. Arahattaphalakkhaṇe jātā dhammā sabbeva abyākatā honti, ṭhapetvā cittasamuṭṭhānaṃ rūpaṃ sabbeva anāsavā honti, sabbeva lokuttarā honti, sabbeva nibbānārammaṇā honti. Arahattaphalakkhaṇe aññātāvindriyassa imāni aṭṭhindriyāni sahajātaparivārā honti, aññamaññaparivārā honti, nissayaparivārā honti, sampayuttaparivārā honti, sahagatā honti, sahajātā honti, saṃsaṭṭhā honti, sampayuttā honti. Teva tassa ākārā ceva honti parivārā ca. Iti imāni aṭṭhaṭṭhakāni catusaṭṭhi honti.
At the moment of the fruit of Arahantship, for the faculty of one who has finally known, the faith faculty has resolution as its retinue; the energy faculty has exertion as its retinue; the mindfulness faculty has establishment as its retinue; the concentration faculty has non-distraction as its retinue; the wisdom faculty has seeing as its retinue; the mind faculty has cognizing as its retinue; the joy faculty has overflowing as its retinue; and the life faculty has the governing of the continuous flow of occurrence as its retinue. At the moment of the fruit of Arahantship, all phenomena that have arisen are indeterminate; with the exception of mind-originated matter, all are taintless; all are supramundane; and all have Nibbāna as their object. At the moment of the fruit of Arahantship, these eight faculties are the co-arisen retinue, mutual retinue, dependence retinue, and associated retinue of the faculty of one who has finally known; they are accompanied, co-arisen, intermingled, and associated. These very phenomena are both its aspects and its retinue. Thus, these eight octads are sixty-four.
Trong sát-na của quả A-la-hán, đối với dĩ tri quyền, tín quyền có sự quyết đoán làm quyến thuộc, tấn quyền có sự nỗ lực làm quyến thuộc, niệm quyền có sự hiện khởi làm quyến thuộc, định quyền có sự không phân tán làm quyến thuộc, tuệ quyền có sự thấy làm quyến thuộc, ý quyền có sự biết làm quyến thuộc, hỷ quyền có sự tuôn chảy làm quyến thuộc, mạng quyền có sự làm chủ dòng tương tục đang diễn tiến làm quyến thuộc. Trong sát-na của quả A-la-hán, các pháp đã sanh tất cả đều là vô ký. Ngoại trừ sắc do tâm sanh, tất cả các pháp đều là vô lậu, tất cả đều là siêu thế, tất cả đều có Niết-bàn làm đối tượng. Trong sát-na của quả A-la-hán, đối với dĩ tri quyền, tám quyền này có sự đồng sanh làm quyến thuộc, có sự tương hỗ làm quyến thuộc, có sự y chỉ làm quyến thuộc, có sự tương ưng làm quyến thuộc, là đồng hành, là đồng sanh, là hòa trộn, là tương ưng. Chính những pháp ấy là các trạng thái và là các quyến thuộc của quyền ấy. Như vậy, tám nhóm tám pháp này là sáu mươi bốn.
Āsavāti katame te āsavā? Kāmāsavo, bhavāsavo, diṭṭhāsavo, avijjāsavo. Katthete āsavā khīyanti? Sotāpattimaggena anavaseso diṭṭhāsavo khīyati, apāyagamanīyo kāmāsavo khīyati, apāyagamanīyo bhavāsavo khīyati, apāyagamanīyo avijjāsavo khīyati. Etthete āsavā khīyanti. Sakadāgāmimaggena oḷāriko kāmāsavo khīyati, tadekaṭṭho bhavāsavo khīyati, tadekaṭṭho avijjāsavo khīyati. Etthete āsavā khīyanti. Anāgāmimaggena anavaseso kāmāsavo khīyati, tadekaṭṭho bhavāsavo khīyati, tadekaṭṭho avijjāsavo khīyati. Etthete āsavā khīyanti. Arahattamaggena anavaseso bhavāsavo khīyati, anavaseso avijjāsavo khīyati. Etthete āsavā khīyanti. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘catusaṭṭhiyā ākārehi tiṇṇannaṃ indriyānaṃ vasibhāvatā paññā āsavānaṃ khaye ñāṇaṃ’’.
Regarding 'taints': what are those taints? The taint of sensual desire, the taint of becoming, the taint of views, and the taint of ignorance. Where are these taints destroyed? By the path of stream-entry, the taint of views is destroyed without remainder; the taint of sensual desire that leads to the plane of misery is destroyed; the taint of becoming that leads to the plane of misery is destroyed; the taint of ignorance that leads to the plane of misery is destroyed. Herein these taints are destroyed. By the path of once-returning, the gross taint of sensual desire is destroyed; the taint of becoming co-existent with it is destroyed; the taint of ignorance co-existent with it is destroyed. Herein these taints are destroyed. By the path of non-returning, the taint of sensual desire is destroyed without remainder; the taint of becoming co-existent with it is destroyed; the taint of ignorance co-existent with it is destroyed. Herein these taints are destroyed. By the path of Arahantship, the taint of becoming is destroyed without remainder, and the taint of ignorance is destroyed without remainder. Herein these taints are destroyed. That is knowledge in the sense of knowing; it is wisdom in the sense of knowing distinctly. Therefore it is said: 'Wisdom, which is the state of mastery over the three faculties in sixty-four aspects, is the knowledge of the destruction of the taints.'
Về lậu hoặc, những lậu hoặc ấy là gì? Dục lậu, hữu lậu, kiến lậu, và vô minh lậu. Những lậu hoặc này được đoạn tận ở đâu? Do đạo Tu-đà-hoàn, kiến lậu được đoạn tận không còn dư sót, dục lậu đưa đến khổ cảnh được đoạn tận, hữu lậu đưa đến khổ cảnh được đoạn tận, vô minh lậu đưa đến khổ cảnh được đoạn tận. Những lậu hoặc này được đoạn tận ở đây. Do đạo Nhất-lai, dục lậu thô thiển được đoạn tận, hữu lậu có cùng đối tượng với nó được đoạn tận, vô minh lậu có cùng đối tượng với nó được đoạn tận. Những lậu hoặc này được đoạn tận ở đây. Do đạo Bất-lai, dục lậu được đoạn tận không còn dư sót, hữu lậu có cùng đối tượng với nó được đoạn tận, vô minh lậu có cùng đối tượng với nó được đoạn tận. Những lậu hoặc này được đoạn tận ở đây. Do đạo A-la-hán, hữu lậu được đoạn tận không còn dư sót, vô minh lậu được đoạn tận không còn dư sót. Những lậu hoặc này được đoạn tận ở đây. Điều ấy là trí theo ý nghĩa đã biết, là tuệ theo ý nghĩa liễu tri. Do đó, được nói rằng: ‘Tuệ là sự thuần thục đối với ba quyền theo sáu mươi bốn trạng thái, (được gọi là) trí về sự đoạn tận các lậu hoặc.’”
Āsavakkhayañāṇaniddeso pañcapaññāsamo.
The Exposition of the Knowledge of the Destruction of the Taints is the fifty-fifth.
Phần giải về trí đoạn tận các lậu hoặc là thứ năm mươi lăm.
56-63. Saccañāṇacatukkadvayaniddeso
56-63. Exposition of the Two Fourfold Knowledges of the Truths
56-63. Sự giải thích về hai bộ bốn trí tuệ về các sự thật.
108. Kathaṃ pariññaṭṭhe paññā dukkhe ñāṇaṃ, pahānaṭṭhe paññā samudaye ñāṇaṃ, sacchikiriyaṭṭhe paññā nirodhe ñāṇaṃ, bhāvanaṭṭhe paññā magge ñāṇaṃ? Dukkhassa pīḷanaṭṭho saṅkhataṭṭho santāpaṭṭho vipariṇāmaṭṭho pariññātaṭṭho; samudayassa āyūhanaṭṭho nidānaṭṭho saññogaṭṭho palibodhaṭṭho pahānaṭṭho; nirodhassa nissaraṇaṭṭho vivekaṭṭho asaṅkhataṭṭho amataṭṭho sacchikiriyaṭṭho; maggassa niyyānaṭṭho hetuṭṭho dassanaṭṭho ādhipateyyaṭṭho bhāvanaṭṭho. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘pariññaṭṭhe paññā dukkhe ñāṇaṃ, pahānaṭṭhe paññā samudaye ñāṇaṃ, sacchikiriyaṭṭhe paññā nirodhe ñāṇaṃ, bhāvanaṭṭhe paññā magge ñāṇaṃ’’.
108. How is wisdom in the sense of full comprehension the knowledge of suffering, wisdom in the sense of abandoning the knowledge of the origin, wisdom in the sense of realization the knowledge of cessation, and wisdom in the sense of development the knowledge of the path? The nature of suffering is oppressing, conditioned, tormenting, and changing; it is to be fully comprehended. The nature of the origin is accumulating, causal, binding, and obstructing; it is to be abandoned. The nature of cessation is escape, seclusion, unconditioned, and deathless; it is to be realized. The nature of the path is leading out, causal, seeing, and dominant; it is to be developed. That is knowledge in the sense of knowing; it is wisdom in the sense of knowing distinctly. Therefore it is said: 'Wisdom in the sense of full comprehension is the knowledge of suffering, wisdom in the sense of abandoning is the knowledge of the origin, wisdom in the sense of realization is the knowledge of cessation, and wisdom in the sense of development is the knowledge of the path.'
108. Làm thế nào trí tuệ trong ý nghĩa liễu tri là trí tuệ về khổ, trí tuệ trong ý nghĩa đoạn tận là trí tuệ về tập, trí tuệ trong ý nghĩa chứng ngộ là trí tuệ về diệt, trí tuệ trong ý nghĩa tu tập là trí tuệ về đạo? Đối với khổ, có ý nghĩa là áp bức, ý nghĩa là bị tác thành, ý nghĩa là thiêu đốt, ý nghĩa là biến hoại, và ý nghĩa là cần được liễu tri. Đối với tập, có ý nghĩa là tích tập, ý nghĩa là nguyên nhân, ý nghĩa là trói buộc, ý nghĩa là chướng ngại, và ý nghĩa là cần được đoạn tận. Đối với diệt, có ý nghĩa là thoát ly, ý nghĩa là vắng lặng, ý nghĩa là vô vi, ý nghĩa là bất tử, và ý nghĩa là cần được chứng ngộ. Đối với đạo, có ý nghĩa là xuất ly, ý nghĩa là nhân duyên, ý nghĩa là thấy rõ, ý nghĩa là chủ đạo, và ý nghĩa là tu tập. Cái ấy là trí tuệ (ñāṇa) theo ý nghĩa biết rõ, là tuệ (paññā) theo ý nghĩa biết một cách thấu đáo. Do đó, được nói rằng: “Trí tuệ trong ý nghĩa liễu tri là trí tuệ về khổ, trí tuệ trong ý nghĩa đoạn tận là trí tuệ về tập, trí tuệ trong ý nghĩa chứng ngộ là trí tuệ về diệt, trí tuệ trong ý nghĩa tu tập là trí tuệ về đạo”.
109. Kathaṃ dukkhe ñāṇaṃ, dukkhasamudaye ñāṇaṃ, dukkhanirodhe ñāṇaṃ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ? Maggasamaṅgissa ñāṇaṃ dukkhe petaṃ ñāṇaṃ, dukkhasamudaye petaṃ ñāṇaṃ, dukkhanirodhe petaṃ ñāṇaṃ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya petaṃ ñāṇaṃ.
109. How is there knowledge in suffering, knowledge in the origin of suffering, knowledge in the cessation of suffering, and knowledge in the path leading to the cessation of suffering? The knowledge of one endowed with the path is present in suffering, in the origin of suffering, in the cessation of suffering, and in the path leading to the cessation of suffering.
109. Làm thế nào là trí tuệ về khổ, trí tuệ về tập, trí tuệ về diệt, trí tuệ về con đường đưa đến khổ diệt? Trí tuệ của người đã thành tựu đạo cũng là trí tuệ ấy về khổ, cũng là trí tuệ ấy về tập, cũng là trí tuệ ấy về diệt, cũng là trí tuệ ấy về con đường đưa đến khổ diệt.
Tattha katamaṃ dukkhe ñāṇaṃ? Dukkhaṃ ārabbha yā uppajjati paññā pajānanā vicayo pavicayo dhammavicayo sallakkhaṇā upalakkhaṇā paccupalakkhaṇā paṇḍiccaṃ kosallaṃ nepuññaṃ vebhabyā cintā upaparikkhā bhūri medhā pariṇāyikā vipassanā sampajaññaṃ patodo paññā paññindriyaṃ paññābalaṃ paññāsatthaṃ paññāpāsādo paññāāloko paññāobhāso paññāpajjoto paññāratanaṃ amoho dhammavicayo sammādiṭṭhi – idaṃ vuccati dukkhe ñāṇaṃ. Dukkhasamudayaṃ ārabbha…pe… dukkhanirodhaṃ ārabbha…pe… dukkhanirodhagāminiṃ paṭipadaṃ ārabbha yā uppajjati paññā pajānanā…pe… amoho dhammavicayo sammādiṭṭhi – idaṃ vuccati dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘dukkhe ñāṇaṃ, dukkhasamudaye ñāṇaṃ, dukkhanirodhe ñāṇaṃ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ’’.
Herein, what is knowledge in suffering? It is the wisdom that arises concerning suffering: understanding, investigation, thorough investigation, investigation of phenomena, consideration, close consideration, repeated consideration, expertise, skill, subtlety, perspicacity, thought, examination, vast wisdom, penetrating wisdom, guiding wisdom, insight, clear comprehension, a goad, wisdom, the faculty of wisdom, the power of wisdom, the sword of wisdom, the palace of wisdom, the light of wisdom, the radiance of wisdom, the brilliance of wisdom, the jewel of wisdom, non-delusion, investigation of phenomena, and right view—this is called knowledge in suffering. Concerning the origin of suffering… and so on… Concerning the cessation of suffering… and so on… Concerning the path leading to the cessation of suffering, the wisdom that arises—understanding… and so on… non-delusion, investigation of phenomena, and right view—this is called knowledge in the path leading to the cessation of suffering. That is knowledge in the sense of knowing, and wisdom in the sense of understanding discriminatingly. Therefore it is said: “Knowledge in suffering, knowledge in the origin of suffering, knowledge in the cessation of suffering, and knowledge in the path leading to the cessation of suffering.”
Trong ấy, thế nào là trí tuệ về khổ? Tuệ nào sanh khởi lấy khổ làm đối tượng, sự biết rõ, sự thẩm sát, sự thẩm sát thấu đáo, sự trạch pháp, sự ghi nhận, sự nhận thức, sự nhận thức lại, sự thông thái, sự khéo léo, sự tinh tế, sự sáng suốt, sự tư duy, sự quán sát, sự rộng lớn, sự thâm nhập, sự hướng dẫn, sự minh sát, sự tỉnh giác, cái roi thúc, tuệ, tuệ quyền, tuệ lực, tuệ kiếm, tuệ lầu đài, tuệ ánh sáng, tuệ quang minh, tuệ rực rỡ, tuệ báu, sự không si mê, sự trạch pháp, chánh kiến – đây được gọi là trí tuệ về khổ. Lấy tập đế làm đối tượng... Lấy diệt đế làm đối tượng... Lấy con đường đưa đến khổ diệt làm đối tượng, tuệ nào sanh khởi, sự biết rõ... sự không si mê, sự trạch pháp, chánh kiến – đây được gọi là trí tuệ về con đường đưa đến khổ diệt. Cái ấy là trí tuệ (ñāṇa) theo ý nghĩa biết rõ, là tuệ (paññā) theo ý nghĩa biết một cách thấu đáo. Do đó, được nói rằng: “Trí tuệ về khổ, trí tuệ về tập, trí tuệ về diệt, trí tuệ về con đường đưa đến khổ diệt”.
Saccañāṇacatukkadvayaniddeso tesaṭṭhimo.
The Exposition of the Two Fourfold Knowledges of the Truths is the sixty-third.
Sự giải thích về hai bộ bốn trí tuệ về các sự thật là phần thứ sáu mươi ba.
64-67. Suddhikapaṭisambhidāñāṇaniddeso
64-67. Exposition of the Pure Analytical Knowledge
64-67. Sự giải thích về trí tuệ Vô ngại giải thuần túy.
110. Kathaṃ atthapaṭisambhide ñāṇaṃ, dhammapaṭisambhide ñāṇaṃ, niruttipaṭisambhide ñāṇaṃ, paṭibhānapaṭisambhide ñāṇaṃ? Atthesu ñāṇaṃ atthapaṭisambhidā, dhammesu ñāṇaṃ dhammapaṭisambhidā, niruttīsu ñāṇaṃ niruttipaṭisambhidā, paṭibhānesu ñāṇaṃ paṭibhānapaṭisambhidā. Atthanānatte paññā atthapaṭisambhide ñāṇaṃ, dhammanānatte paññā dhammapaṭisambhide ñāṇaṃ, niruttinānatte paññā niruttipaṭisambhide ñāṇaṃ, paṭibhānanānatte paññā paṭibhānapaṭisambhide ñāṇaṃ, atthavavatthāne paññā atthapaṭisambhide ñāṇaṃ, dhammavavatthāne paññā dhammapaṭisambhide ñāṇaṃ niruttivavatthāne paññā niruttipaṭisambhide ñāṇaṃ, paṭibhānavavatthāne paññā paṭibhānapaṭisambhide ñāṇaṃ.
110. How is there knowledge of the analytical knowledge of meaning, knowledge of the analytical knowledge of cause, knowledge of the analytical knowledge of language, and knowledge of the analytical knowledge of wit? Knowledge about meanings is analytical knowledge of meaning. Knowledge about causes is analytical knowledge of cause. Knowledge about language is analytical knowledge of language. Knowledge about wit is analytical knowledge of wit. Wisdom concerning the variety of meanings is knowledge of the analytical knowledge of meaning. Wisdom concerning the variety of causes is knowledge of the analytical knowledge of cause. Wisdom concerning the variety of language is knowledge of the analytical knowledge of language. Wisdom concerning the variety of wit is knowledge of the analytical knowledge of wit. Wisdom in determining meaning is knowledge of the analytical knowledge of meaning. Wisdom in determining cause is knowledge of the analytical knowledge of cause. Wisdom in determining language is knowledge of the analytical knowledge of language. Wisdom in determining wit is knowledge of the analytical knowledge of wit.
110. Làm thế nào là trí tuệ trong nghĩa vô ngại giải, trí tuệ trong pháp vô ngại giải, trí tuệ trong từ vô ngại giải, trí tuệ trong biện tài vô ngại giải? Trí tuệ về các ý nghĩa là nghĩa vô ngại giải, trí tuệ về các pháp là pháp vô ngại giải, trí tuệ về các ngữ ngôn là từ vô ngại giải, trí tuệ về các biện tài là biện tài vô ngại giải. Trí tuệ về sự đa dạng của ý nghĩa là trí tuệ trong nghĩa vô ngại giải, trí tuệ về sự đa dạng của pháp là trí tuệ trong pháp vô ngại giải, trí tuệ về sự đa dạng của ngữ ngôn là trí tuệ trong từ vô ngại giải, trí tuệ về sự đa dạng của biện tài là trí tuệ trong biện tài vô ngại giải, trí tuệ trong sự xác định ý nghĩa là trí tuệ trong nghĩa vô ngại giải, trí tuệ trong sự xác định pháp là trí tuệ trong pháp vô ngại giải, trí tuệ trong sự xác định ngữ ngôn là trí tuệ trong từ vô ngại giải, trí tuệ trong sự xác định biện tài là trí tuệ trong biện tài vô ngại giải.
Atthasallakkhaṇe paññā atthapaṭisambhide ñāṇaṃ, dhammasallakkhaṇe paññā dhammapaṭisambhide ñāṇaṃ, niruttisallakkhaṇe paññā niruttipaṭisambhide ñāṇaṃ, paṭibhānasallakkhaṇe paññā paṭibhānapaṭisambhide ñāṇaṃ. Atthūpalakkhaṇe paññā atthapaṭisambhide ñāṇaṃ, dhammūpalakkhaṇe paññā dhammapaṭisambhide ñāṇaṃ, niruttūpalakkhaṇe paññā niruttipaṭisambhide ñāṇaṃ, paṭibhānūpalakkhaṇe paññā paṭibhānapaṭisambhide ñāṇaṃ.
Wisdom in the discernment of meaning is knowledge of the analytical knowledge of meaning; wisdom in the discernment of cause is knowledge of the analytical knowledge of cause; wisdom in the discernment of language is knowledge of the analytical knowledge of language; wisdom in the discernment of wit is knowledge of the analytical knowledge of wit. Wisdom in the close examination of meaning is knowledge of the analytical knowledge of meaning; wisdom in the close examination of cause is knowledge of the analytical knowledge of cause; wisdom in the close examination of language is knowledge of the analytical knowledge of language; wisdom in the close examination of wit is knowledge of the analytical knowledge of wit.
Trí tuệ trong sự ghi nhận ý nghĩa là trí tuệ trong nghĩa vô ngại giải, trí tuệ trong sự ghi nhận pháp là trí tuệ trong pháp vô ngại giải, trí tuệ trong sự ghi nhận ngữ ngôn là trí tuệ trong từ vô ngại giải, trí tuệ trong sự ghi nhận biện tài là trí tuệ trong biện tài vô ngại giải. Trí tuệ trong sự nhận thức ý nghĩa là trí tuệ trong nghĩa vô ngại giải, trí tuệ trong sự nhận thức pháp là trí tuệ trong pháp vô ngại giải, trí tuệ trong sự nhận thức ngữ ngôn là trí tuệ trong từ vô ngại giải, trí tuệ trong sự nhận thức biện tài là trí tuệ trong biện tài vô ngại giải.
Atthappabhede paññā atthapaṭisambhide ñāṇaṃ, dhammappabhede paññā dhammapaṭisambhide ñāṇaṃ, niruttippabhede paññā niruttipaṭisambhide ñāṇaṃ, paṭibhānappabhede paññā paṭibhānapaṭisambhide ñāṇaṃ. Atthappabhāvane paññā atthapaṭisambhide ñāṇaṃ, dhammappabhāvane paññā dhammapaṭisambhide ñāṇaṃ, niruttippabhāvane paññā niruttipaṭisambhide ñāṇaṃ, paṭibhānappabhāvane paññā paṭibhānapaṭisambhide ñāṇaṃ.
Wisdom in the distinction of meaning is knowledge of the analytical knowledge of meaning; wisdom in the distinction of cause is knowledge of the analytical knowledge of cause; wisdom in the distinction of language is knowledge of the analytical knowledge of language; wisdom in the distinction of wit is knowledge of the analytical knowledge of wit. Wisdom in the elucidation of meaning is knowledge of the analytical knowledge of meaning; wisdom in the elucidation of cause is knowledge of the analytical knowledge of cause; wisdom in the elucidation of language is knowledge of the analytical knowledge of language; wisdom in the elucidation of wit is knowledge of the analytical knowledge of wit.
Trí tuệ trong sự phân biệt ý nghĩa là trí tuệ trong nghĩa vô ngại giải, trí tuệ trong sự phân biệt pháp là trí tuệ trong pháp vô ngại giải, trí tuệ trong sự phân biệt ngữ ngôn là trí tuệ trong từ vô ngại giải, trí tuệ trong sự phân biệt biện tài là trí tuệ trong biện tài vô ngại giải. Trí tuệ trong sự làm cho rõ ràng ý nghĩa là trí tuệ trong nghĩa vô ngại giải, trí tuệ trong sự làm cho rõ ràng pháp là trí tuệ trong pháp vô ngại giải, trí tuệ trong sự làm cho rõ ràng ngữ ngôn là trí tuệ trong từ vô ngại giải, trí tuệ trong sự làm cho rõ ràng biện tài là trí tuệ trong biện tài vô ngại giải.
Atthajotane paññā atthapaṭisambhide ñāṇaṃ, dhammajotane paññā dhammapaṭisambhide ñāṇaṃ, niruttijotane paññā niruttipaṭisambhide ñāṇaṃ, paṭibhānajotane paññā paṭibhānapaṭisambhide ñāṇaṃ. Atthavirocane paññā atthapaṭisambhide ñāṇaṃ, dhammavirocane paññā dhammapaṭisambhide ñāṇaṃ, niruttivirocane paññā niruttipaṭisambhide ñāṇaṃ, paṭibhānavirocane paññā paṭibhānapaṭisambhide ñāṇaṃ. Atthappakāsane paññā atthapaṭisambhide ñāṇaṃ, dhammappakāsane paññā dhammapaṭisambhide ñāṇaṃ, niruttippakāsane paññā niruttipaṭisambhide ñāṇaṃ, paṭibhānappakāsane paññā paṭibhānapaṭisambhide ñāṇaṃ. Taṃ ñātaṭṭhena ñāṇaṃ, pajānanaṭṭhena paññā. Tena vuccati – ‘‘atthapaṭisambhide ñāṇaṃ, dhammapaṭisambhide ñāṇaṃ, niruttipaṭisambhide ñāṇaṃ, paṭibhānapaṭisambhide ñāṇaṃ’’.
Wisdom that illuminates the result is the knowledge of analytical insight into the result. Wisdom that illuminates the cause is the knowledge of analytical insight into the cause. Wisdom that illuminates language is the knowledge of analytical insight into language. Wisdom that illuminates ready wit is the knowledge of analytical insight into ready wit. Wisdom that elucidates the result is the knowledge of analytical insight into the result. Wisdom that elucidates the cause is the knowledge of analytical insight into the cause. Wisdom that elucidates language is the knowledge of analytical insight into language. Wisdom that elucidates ready wit is the knowledge of analytical insight into ready wit. Wisdom that reveals the result is the knowledge of analytical insight into the result. Wisdom that reveals the cause is the knowledge of analytical insight into the cause. Wisdom that reveals language is the knowledge of analytical insight into language. Wisdom that reveals ready wit is the knowledge of analytical insight into ready wit. That is knowledge in the sense of knowing, wisdom in the sense of discerning. Therefore it is said: “The knowledge of analytical insight into the result, the knowledge of analytical insight into the cause, the knowledge of analytical insight into language, and the knowledge of analytical insight into ready wit.”
Trí tuệ trong sự soi sáng ý nghĩa là trí tuệ trong nghĩa vô ngại giải, trí tuệ trong sự soi sáng pháp là trí tuệ trong pháp vô ngại giải, trí tuệ trong sự soi sáng ngữ ngôn là trí tuệ trong từ vô ngại giải, trí tuệ trong sự soi sáng biện tài là trí tuệ trong biện tài vô ngại giải. Trí tuệ trong sự làm cho rực rỡ ý nghĩa là trí tuệ trong nghĩa vô ngại giải, trí tuệ trong sự làm cho rực rỡ pháp là trí tuệ trong pháp vô ngại giải, trí tuệ trong sự làm cho rực rỡ ngữ ngôn là trí tuệ trong từ vô ngại giải, trí tuệ trong sự làm cho rực rỡ biện tài là trí tuệ trong biện tài vô ngại giải. Trí tuệ trong sự công bố ý nghĩa là trí tuệ trong nghĩa vô ngại giải, trí tuệ trong sự công bố pháp là trí tuệ trong pháp vô ngại giải, trí tuệ trong sự công bố ngữ ngôn là trí tuệ trong từ vô ngại giải, trí tuệ trong sự công bố biện tài là trí tuệ trong biện tài vô ngại giải. Cái ấy là trí tuệ (ñāṇa) theo ý nghĩa biết rõ, là tuệ (paññā) theo ý nghĩa biết một cách thấu đáo. Do đó, được nói rằng: “Trí tuệ trong nghĩa vô ngại giải, trí tuệ trong pháp vô ngại giải, trí tuệ trong từ vô ngại giải, trí tuệ trong biện tài vô ngại giải”.
Suddhikapaṭisambhidāñāṇaniddeso sattasaṭṭhimo.
The exposition of the sixty-seventh knowledge of the pure analytical knowledges is concluded.
Phần giải thích về trí tuệ Phân tích vô ngại giải thuần túy là thứ sáu mươi bảy.
68. Indriyaparopariyattañāṇaniddeso
68. Exposition on the Knowledge of the Superiority and Inferiority of Faculties
68. Phần giải thích về trí tuệ thông suốt các căn hơn kém.
111. Katamaṃ tathāgatassa indriyaparopariyatta ñāṇaṃ? Idha tathāgato satte passati apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye appekacce paralokavajjabhayadassāvino appekacce na paralokavajjabhayadassāvino.
111. What is the Tathāgata's knowledge of the superiority and inferiority of faculties? Here, the Tathāgata sees beings with little dust in their eyes and with much dust in their eyes, with keen faculties and with dull faculties, with good dispositions and with bad dispositions, easy to instruct and difficult to instruct, some who see danger in what is blameworthy concerning the next world and some who do not.
111. Trí tuệ thông suốt các căn hơn kém của Như Lai là gì? Ở đây, Như Lai thấy các chúng sanh: có hạng ít bụi trần, có hạng nhiều bụi trần; có hạng căn tánh sắc bén, có hạng căn tánh chậm lụt; có hạng có thiện tánh, có hạng có ác tánh; có hạng dễ dạy, có hạng khó dạy; có một số hạng người có khuynh hướng thấy sự nguy hiểm và tội lỗi ở thế giới bên kia, có một số hạng người không có khuynh hướng thấy sự nguy hiểm và tội lỗi ở thế giới bên kia.
Apparajakkhe mahārajakkheti saddho puggalo apparajakkho, assaddho puggalo mahārajakkho. Āraddhavīriyo puggalo apparajakkho, kusīto puggalo mahārajakkho. Upaṭṭhitassati puggalo apparajakkho, muṭṭhassati puggalo mahārajakkho. Samāhito puggalo apparajakkho, asamāhito puggalo mahārajakkho. Paññavā puggalo apparajakkho, duppañño puggalo mahārajakkho.
As to 'with little dust' and 'with much dust': a faithful person has little dust, a faithless person has much dust. A person with aroused energy has little dust, a lazy person has much dust. A person with established mindfulness has little dust, a person with lapsed mindfulness has much dust. A concentrated person has little dust, an unconcentrated person has much dust. A wise person has little dust, an unwise person has much dust.
Trong câu ‘ít bụi trần, nhiều bụi trần’: người có đức tin là người ít bụi trần, người không có đức tin là người nhiều bụi trần. Người có tinh tấn đã được khởi sự là người ít bụi trần, người lười biếng là người nhiều bụi trần. Người có niệm đã được an trú là người ít bụi trần, người thất niệm là người nhiều bụi trần. Người có định tĩnh là người ít bụi trần, người không có định tĩnh là người nhiều bụi trần. Người có trí tuệ là người ít bụi trần, người có trí tuệ yếu kém là người nhiều bụi trần.
Tikkhindriye mudindriyeti saddho puggalo tikkhindriyo, assaddho puggalo mudindriyo. Āraddhavīriyo puggalo tikkhindriyo, kusīto puggalo mudindriyo. Upaṭṭhitassati puggalo tikkhindriyo, muṭṭhassati puggalo mudindriyo. Samāhito puggalo tikkhindriyo, asamāhito puggalo mudindriyo. Paññavā puggalo tikkhindriyo, duppañño puggalo mudindriyo.
Regarding 'one with keen faculties' and 'one with dull faculties': a person with faith is one with keen faculties; a person without faith is one with dull faculties. A person with aroused energy is one with keen faculties; a lazy person is one with dull faculties. A person with established mindfulness is one with keen faculties; a person with lapsed mindfulness is one with dull faculties. A concentrated person is one with keen faculties; an unconcentrated person is one with dull faculties. A wise person is one with keen faculties; an unwise person is one with dull faculties.
Trong câu ‘căn tánh sắc bén, căn tánh chậm lụt’: người có đức tin là người có căn tánh sắc bén, người không có đức tin là người có căn tánh chậm lụt. Người có tinh tấn đã được khởi sự là người có căn tánh sắc bén, người lười biếng là người có căn tánh chậm lụt. Người có niệm đã được an trú là người có căn tánh sắc bén, người thất niệm là người có căn tánh chậm lụt. Người có định tĩnh là người có căn tánh sắc bén, người không có định tĩnh là người có căn tánh chậm lụt. Người có trí tuệ là người có căn tánh sắc bén, người có trí tuệ yếu kém là người có căn tánh chậm lụt.
Svākāre dvākāreti saddho puggalo svākāro, assaddho puggalo dvākāro. Āraddhavīriyo puggalo svākāro, kusīto puggalo dvākāro. Upaṭṭhitassati puggalo svākāro, muṭṭhassati puggalo dvākāro. Samāhito puggalo svākāro, asamāhito puggalo dvākāro. Paññavā puggalo svākāro, duppañño puggalo dvākāro.
Regarding 'one of good disposition' and 'one of bad disposition': a person with faith is one of good disposition; a person without faith is one of bad disposition. A person with aroused energy is one of good disposition; a lazy person is one of bad disposition. A person with established mindfulness is one of good disposition; a person with lapsed mindfulness is one of bad disposition. A concentrated person is one of good disposition; an unconcentrated person is one of bad disposition. A wise person is one of good disposition; an unwise person is one of bad disposition.
Trong câu ‘có thiện tánh, có ác tánh’: người có đức tin là người có thiện tánh, người không có đức tin là người có ác tánh. Người có tinh tấn đã được khởi sự là người có thiện tánh, người lười biếng là người có ác tánh. Người có niệm đã được an trú là người có thiện tánh, người thất niệm là người có ác tánh. Người có định tĩnh là người có thiện tánh, người không có định tĩnh là người có ác tánh. Người có trí tuệ là người có thiện tánh, người có trí tuệ yếu kém là người có ác tánh.
Suviññāpaye duviññāpayeti saddho puggalo suviññāpayo, assaddho puggalo duviññāpayo. Āraddhavīriyo puggalo suviññāpayo, kusīto puggalo duviññāpayo. Upaṭṭhitassati puggalo suviññāpayo, muṭṭhassati puggalo duviññāpayo. Samāhito puggalo suviññāpayo, asamāhito puggalo duviññāpayo. Paññavā puggalo suviññāpayo, duppañño puggalo duviññāpayo.
Regarding 'one who is easy to instruct' and 'one who is difficult to instruct': a person with faith is one who is easy to instruct; a person without faith is one who is difficult to instruct. A person with aroused energy is one who is easy to instruct; a lazy person is one who is difficult to instruct. A person with established mindfulness is one who is easy to instruct; a person with lapsed mindfulness is one who is difficult to instruct. A concentrated person is one who is easy to instruct; an unconcentrated person is one who is difficult to instruct. A wise person is one who is easy to instruct; an unwise person is one who is difficult to instruct.
Trong câu ‘dễ dạy, khó dạy’: người có đức tin là người dễ dạy, người không có đức tin là người khó dạy. Người có tinh tấn đã được khởi sự là người dễ dạy, người lười biếng là người khó dạy. Người có niệm đã được an trú là người dễ dạy, người thất niệm là người khó dạy. Người có định tĩnh là người dễ dạy, người không có định tĩnh là người khó dạy. Người có trí tuệ là người dễ dạy, người có trí tuệ yếu kém là người khó dạy.
Appekacce paralokavajjabhayadassāvino, appekacce na paralokavajjabhayadassāvinoti saddho puggalo paralokavajjabhayadassāvī, assaddho puggalo na paralokavajjabhayadassāvī. Āraddhavīriyo puggalo paralokavajjabhayadassāvī, kusīto puggalo na paralokavajjabhayadassāvī. Upaṭṭhitassati puggalo paralokavajjabhayadassāvī, muṭṭhassati puggalo na paralokavajjabhayadassāvī. Samāhito puggalo paralokavajjabhayadassāvī, asamāhito puggalo na paralokavajjabhayadassāvī. Paññavā puggalo paralokavajjabhayadassāvī, duppañño puggalo na paralokavajjabhayadassāvī.
As to 'some who see danger in what is blameworthy concerning the next world and some who do not': a faithful person sees danger in what is blameworthy concerning the next world; a faithless person does not. A person with aroused energy sees danger in what is blameworthy concerning the next world; a lazy person does not. A person with established mindfulness sees danger in what is blameworthy concerning the next world; a person with lapsed mindfulness does not. A concentrated person sees danger in what is blameworthy concerning the next world; an unconcentrated person does not. A wise person sees danger in what is blameworthy concerning the next world; an unwise person does not.
Trong câu ‘có một số hạng người có khuynh hướng thấy sự nguy hiểm và tội lỗi ở thế giới bên kia, có một số hạng người không có khuynh hướng thấy sự nguy hiểm và tội lỗi ở thế giới bên kia’: người có đức tin là người có khuynh hướng thấy sự nguy hiểm và tội lỗi ở thế giới bên kia, người không có đức tin là người không có khuynh hướng thấy sự nguy hiểm và tội lỗi ở thế giới bên kia. Người có tinh tấn đã được khởi sự là người có khuynh hướng thấy sự nguy hiểm và tội lỗi ở thế giới bên kia, người lười biếng là người không có khuynh hướng thấy sự nguy hiểm và tội lỗi ở thế giới bên kia. Người có niệm đã được an trú là người có khuynh hướng thấy sự nguy hiểm và tội lỗi ở thế giới bên kia, người thất niệm là người không có khuynh hướng thấy sự nguy hiểm và tội lỗi ở thế giới bên kia. Người có định tĩnh là người có khuynh hướng thấy sự nguy hiểm và tội lỗi ở thế giới bên kia, người không có định tĩnh là người không có khuynh hướng thấy sự nguy hiểm và tội lỗi ở thế giới bên kia. Người có trí tuệ là người có khuynh hướng thấy sự nguy hiểm và tội lỗi ở thế giới bên kia, người có trí tuệ yếu kém là người không có khuynh hướng thấy sự nguy hiểm và tội lỗi ở thế giới bên kia.
112. Lokoti – khandhaloko, dhātuloko, āyatanaloko, vipattibhavaloko, vipattisambhavaloko, sampattibhavaloko, sampattisambhavaloko.
112. As to 'world': the world of the aggregates, the world of the elements, the world of the sense bases, the world of existence of misfortune, the world of the arising of misfortune, the world of existence of fortune, and the world of the arising of fortune.
112. Về ‘thế giới’: thế giới uẩn, thế giới giới, thế giới xứ, thế giới của sự hiện hữu bất hạnh, thế giới của sự sanh khởi bất hạnh, thế giới của sự hiện hữu thành công, thế giới của sự sanh khởi thành công.
Eko loko – sabbe sattā āhāraṭṭhitikā. Dve lokā – nāmañca, rūpañca. Tayo lokā – tisso vedanā. Cattāro lokā – cattāro āhārā. Pañca lokā – pañcupādānakkhandhā. Cha lokā – cha ajjhattikāni āyatanāni. Satta lokā – satta viññāṇaṭṭhitiyo. Aṭṭha lokā – aṭṭha lokadhammā. Nava lokā – nava sattāvāsā. Dasa lokā – dasāyatanāni. Dvādasalokā – dvādasāyatanāni. Aṭṭhārasa lokā – aṭṭhārasa dhātuyo.
One world: all beings subsist on nutriment. Two worlds: name and form. Three worlds: the three feelings. Four worlds: the four nutriments. Five worlds: the five aggregates subject to clinging. Six worlds: the six internal sense bases. Seven worlds: the seven stations of consciousness. Eight worlds: the eight worldly conditions. Nine worlds: the nine abodes of beings. Ten worlds: the ten sense bases. Twelve worlds: the twelve sense bases. Eighteen worlds: the eighteen elements.
Một thế giới: tất cả chúng sanh tồn tại nhờ vật thực. Hai thế giới: danh và sắc. Ba thế giới: ba loại thọ. Bốn thế giới: bốn loại vật thực. Năm thế giới: năm thủ uẩn. Sáu thế giới: sáu nội xứ. Bảy thế giới: bảy thức trú. Tám thế giới: tám pháp thế gian. Chín thế giới: chín chúng sanh trú. Mười thế giới: mười xứ. Mười hai thế giới: mười hai xứ. Mười tám thế giới: mười tám giới.
Vajjanti sabbe kilesā vajjā, sabbe duccaritā vajjā, sabbe abhisaṅkhārā vajjā, sabbe bhavagāmikammā vajjā. Iti imasmiñca loke imasmiñca vajje tibbā bhayasaññā paccupaṭṭhitā hoti, seyyathāpi ukkhittāsike vadhake. Imehi paññāsāya ākārehi imāni pañcindriyāni jānāti passati aññāti paṭivijjhati – idaṃ tathāgatassa indriyaparopariyatte ñāṇaṃ.
As to 'what is blameworthy': all defilements are blameworthy, all misconduct is blameworthy, all formations are blameworthy, all kamma leading to existence is blameworthy. Thus, in regard to this world and this blameworthy matter, a keen perception of danger is established, as in the case of an executioner with a drawn sword. By means of these fifty aspects, he knows, sees, fully understands, and penetrates these five faculties. This is the Tathāgata’s knowledge of the superiority and inferiority of faculties.
Về ‘tội lỗi’: tất cả phiền não là tội lỗi, tất cả hành vi xấu ác là tội lỗi, tất cả các hành là tội lỗi, tất cả nghiệp dẫn đến sự hiện hữu là tội lỗi. Như vậy, trong thế giới này và trong tội lỗi này, tưởng về sự nguy hiểm mãnh liệt được hiện khởi, giống như người đao phủ với thanh gươm đã giương lên. Vị ấy biết, thấy, hiểu rõ, thâm nhập năm căn này bằng năm mươi phương diện này. Đây là trí tuệ thông suốt các căn hơn kém của Như Lai.
Indriyaparopariyattañāṇaniddeso aṭṭhasaṭṭhimo.
The Exposition on the Knowledge of the Superiority and Inferiority of Faculties is the sixty-eighth.
Phần giải thích về trí tuệ thông suốt các căn hơn kém là thứ sáu mươi tám.
69. Āsayānusayañāṇaniddeso
69. The Exposition of the Knowledge of Inclinations and Underlying Tendencies
69. Phần giải thích về trí tuệ thông suốt ý muốn và tùy miên.
113. Katamaṃ tathāgatassa sattānaṃ āsayānusaye ñāṇaṃ? Idha tathāgato sattānaṃ āsayaṃ jānāti, anusayaṃ jānāti, caritaṃ jānāti, adhimuttiṃ jānāti, bhabbābhabbe satte pajānāti. Katamo † sattānaṃ āsayo? ‘‘Sassato loko’’ti vā, ‘‘asassato loko’’ti vā, ‘‘antavā loko’’ti vā, ‘‘anantavā loko’’ti vā, ‘‘taṃ jīvaṃ taṃ sarīra’’nti vā, ‘‘aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīra’’nti vā, ‘‘hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti vā, ‘‘na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti vā, ‘‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti vā, ‘‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti vā. Iti bhavadiṭṭhisannissitā vā sattā honti vibhavadiṭṭhisannissitā vā.
113. What is the Tathāgata’s knowledge of the inclinations and underlying tendencies of beings? Here, the Tathāgata knows the inclinations of beings, knows their underlying tendencies, knows their conduct, knows their dispositions, and distinctly knows beings who are capable and incapable. What are the inclinations of beings? Some hold the view: 'The world is eternal,' or 'the world is not eternal,' or 'the world is finite,' or 'the world is infinite,' or 'the life-principle and the body are the same,' or 'the life-principle is one thing and the body is another,' or 'a being exists after death,' or 'a being does not exist after death,' or 'a being both exists and does not exist after death,' or 'a being neither exists nor does not exist after death.' Thus, there are beings dependent on the view of existence, and beings dependent on the view of non-existence.
113. Trí tuệ thông suốt ý muốn và tùy miên của chúng sanh của Như Lai là gì? Ở đây, Như Lai biết ý muốn của chúng sanh, biết tùy miên, biết hạnh kiểm, biết khuynh hướng, biết rõ chúng sanh có khả năng và không có khả năng. Ý muốn của chúng sanh là gì? Hoặc là ‘thế giới là thường hằng’, hoặc là ‘thế giới là không thường hằng’, hoặc là ‘thế giới là hữu biên’, hoặc là ‘thế giới là vô biên’, hoặc là ‘sinh mạng ấy, thân thể ấy’, hoặc là ‘sinh mạng khác, thân thể khác’, hoặc là ‘sau khi chết, Như Lai có tồn tại’, hoặc là ‘sau khi chết, Như Lai không tồn tại’, hoặc là ‘sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại’, hoặc là ‘sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại’. Như vậy, chúng sanh hoặc là nương tựa vào hữu kiến, hoặc là nương tựa vào vô hữu kiến.
Ete vā pana ubho ante anupagamma idappaccayatāpaṭiccasamuppannesu dhammesu anulomikā khanti paṭiladdhā hoti, yathābhūtaṃ vā ñāṇaṃ. Kāmaṃ sevantaññeva jānāti – ‘‘ayaṃ puggalo kāmagaruko kāmāsayo kāmādhimutto’’ti. Kāmaṃ sevantaññeva jānāti – ‘‘ayaṃ puggalo nekkhammagaruko nekkhammāsayo nekkhammādhimutto’’ti. Nekkhammaṃ sevantaññeva jānāti – ‘‘ayaṃ puggalo (nekkhammagaruko nekkhammāsayo nekkhammādhimutto’’ti. Nekkhammaṃ sevantaññeva jānāti – ‘‘ayaṃ puggalo kāmagaruko kāmāsayo kāmādhimutto’’ti. Byāpādaṃ sevantaññeva jānāti) † – ‘‘ayaṃ puggalo byāpādagaruko byāpādāsayo byāpādādhimutto’’ti. Byāpādaṃ sevantaññeva jānāti – ‘‘ayaṃ puggalo (abyāpādagaruko abyāpādāsayo abyāpādādhimutto’’ti. Abyāpādaṃ sevantaññeva jānāti – ‘‘ayaṃ puggalo abyāpādagaruko abyāpādāsayo abyāpādādhimutto’’ti. Abyāpādaṃ sevantaññeva jānāti – ‘‘ayaṃ puggalo byāpādagaruko byāpādāsayo byāpādādhimutto’’ti. Thinamiddhaṃ sevantaññeva jānāti) – ‘‘ayaṃ puggalo thinamiddhagaruko thinamiddhāsayo thinamiddhādhimutto’’ti. Thinamiddhaṃ sevantaññeva jānāti – ‘‘ayaṃ puggalo ālokasaññāgaruko ālokasaññāsayo ālokasaññādhimutto’’ti. Ālokasaññaṃ sevantaññeva jānāti – ‘‘ayaṃ puggalo (ālokasaññāgaruko ālokasaññāsayo ālokasaññādhimutto’’ti. Ālokasaññaṃ sevantaññeva jānāti – ‘‘ayaṃ puggalo thinamiddhagaruko thinamiddhāsayo thinamiddhādhimutto’’ti.) Ayaṃ sattānaṃ āsayo.
Or, those beings, without approaching either of these two extremes, have acquired a conforming acceptance regarding phenomena that have arisen through specific conditionality and dependent origination, or they have acquired knowledge as it truly is. While one is indulging in sensual pleasures, he knows: 'This person is devoted to sensual pleasures, has an inclination for sensual pleasures, has a disposition for sensual pleasures.' While one is indulging in sensual pleasures, he knows: 'This person is devoted to renunciation, has an inclination for renunciation, has a disposition for renunciation.' While one is practicing renunciation, he knows: 'This person is devoted to renunciation, has an inclination for renunciation, has a disposition for renunciation.' While one is practicing renunciation, he knows: 'This person is devoted to sensual pleasures, has an inclination for sensual pleasures, has a disposition for sensual pleasures.' While one is indulging in ill will, he knows: 'This person is devoted to ill will, has an inclination for ill will, has a disposition for ill will.' While one is indulging in ill will, he knows: 'This person is devoted to non-ill will, has an inclination for non-ill will, has a disposition for non-ill will.' While one is practicing non-ill will, he knows: 'This person is devoted to non-ill will, has an inclination for non-ill will, has a disposition for non-ill will.' While one is practicing non-ill will, he knows: 'This person is devoted to ill will, has an inclination for ill will, has a disposition for ill will.' While one is indulging in sloth and torpor, he knows: 'This person is devoted to sloth and torpor, has an inclination for sloth and torpor, has a disposition for sloth and torpor.' While one is indulging in sloth and torpor, he knows: 'This person is devoted to the perception of light, has an inclination for the perception of light, has a disposition for the perception of light.' While one is cultivating the perception of light, he knows: 'This person is devoted to the perception of light, has an inclination for the perception of light, has a disposition for the perception of light.' While one is cultivating the perception of light, he knows: 'This person is devoted to sloth and torpor, has an inclination for sloth and torpor, has a disposition for sloth and torpor.' This is the inclination of beings.
Lại nữa, những chúng sanh ấy không đi đến hai cực đoan, đã thành tựu được sự kham nhẫn thuận thứ, hoặc trí tuệ như thật, trong các pháp sanh khởi do duyên khởi này. Ngài biết rõ người thực hành theo dục rằng: ‘Vị này xem trọng dục, nương tựa dục, hướng tâm đến dục.’ Ngài biết rõ người thực hành theo dục rằng: ‘Vị này xem trọng xuất ly, nương tựa xuất ly, hướng tâm đến xuất ly.’ Ngài biết rõ người thực hành theo xuất ly rằng: ‘Vị này xem trọng xuất ly, nương tựa xuất ly, hướng tâm đến xuất ly.’ Ngài biết rõ người thực hành theo xuất ly rằng: ‘Vị này xem trọng dục, nương tựa dục, hướng tâm đến dục.’ Ngài biết rõ người thực hành theo sân rằng: ‘Vị này xem trọng sân, nương tựa sân, hướng tâm đến sân.’ Ngài biết rõ người thực hành theo sân rằng: ‘Vị này xem trọng vô sân, nương tựa vô sân, hướng tâm đến vô sân.’ Ngài biết rõ người thực hành theo vô sân rằng: ‘Vị này xem trọng vô sân, nương tựa vô sân, hướng tâm đến vô sân.’ Ngài biết rõ người thực hành theo vô sân rằng: ‘Vị này xem trọng sân, nương tựa sân, hướng tâm đến sân.’ Ngài biết rõ người thực hành theo hôn trầm thụy miên rằng: ‘Vị này xem trọng hôn trầm thụy miên, nương tựa hôn trầm thụy miên, hướng tâm đến hôn trầm thụy miên.’ Ngài biết rõ người thực hành theo hôn trầm thụy miên rằng: ‘Vị này xem trọng tưởng về ánh sáng, nương tựa tưởng về ánh sáng, hướng tâm đến tưởng về ánh sáng.’ Ngài biết rõ người thực hành theo tưởng về ánh sáng rằng: ‘Vị này xem trọng tưởng về ánh sáng, nương tựa tưởng về ánh sáng, hướng tâm đến tưởng về ánh sáng.’ Ngài biết rõ người thực hành theo tưởng về ánh sáng rằng: ‘Vị này xem trọng hôn trầm thụy miên, nương tựa hôn trầm thụy miên, hướng tâm đến hôn trầm thụy miên.’ Đây là ý muốn của chúng sanh.
114. Katamo ca sattānaṃ anusayo? Sattānusayā – kāmarāgānusayo, paṭighānusayo, mānānusayo, diṭṭhānusayo, vicikicchānusayo, bhavarāgānusayo, avijjānusayo. Yaṃ loke piyarūpaṃ sātarūpaṃ, ettha sattānaṃ kāmarāgānusayo anuseti. Yaṃ loke appiyarūpaṃ asātarūpaṃ, ettha sattānaṃ paṭighānusayo anuseti. Iti imesu dvīsu dhammesu avijjā anupatitā, tadekaṭṭho māno ca diṭṭhi ca vicikicchā ca daṭṭhabbā. Ayaṃ sattānaṃ anusayo.
114. And what is the underlying tendency of beings? Seven are the underlying tendencies: the underlying tendency to sensual lust, the underlying tendency to aversion, the underlying tendency to conceit, the underlying tendency to views, the underlying tendency to doubt, the underlying tendency to lust for existence, and the underlying tendency to ignorance. Whatever in the world is of a pleasant and agreeable nature, therein the underlying tendency to sensual lust of beings lies latent. Whatever in the world is of an unpleasant and disagreeable nature, therein the underlying tendency to aversion of beings lies latent. Thus, in these two states, ignorance is inherent, and conceit, views, and doubt should be understood as having the same basis. This is the underlying tendency of beings.
114. Và thế nào là tùy miên của chúng sanh? Có bảy tùy miên: dục ái tùy miên, sân tùy miên, mạn tùy miên, kiến tùy miên, nghi tùy miên, hữu ái tùy miên, vô minh tùy miên. Sắc pháp nào ở trên đời là khả ái, là khả ý, ở nơi ấy dục ái tùy miên của chúng sanh tiềm ẩn. Sắc pháp nào ở trên đời là không khả ái, là không khả ý, ở nơi ấy sân tùy miên của chúng sanh tiềm ẩn. Như vậy, trong hai pháp này, vô minh đi theo sau; và nên được thấy rằng mạn, tà kiến, và hoài nghi cùng tồn tại với nó. Đây là tùy miên của chúng sanh.
Katamañca sattānaṃ caritaṃ? Puññābhisaṅkhāro apuññābhisaṅkhāro āneñjābhisaṅkhāro parittabhūmako vā mahābhūmako vā. Idaṃ sattānaṃ caritaṃ.
And what is the conduct of beings? Meritorious formations, demeritorious formations, and imperturbable formations, whether of a limited or a great sphere. This is the conduct of beings.
Và thế nào là hạnh của chúng sanh? Phước hành, phi phước hành, bất động hành, hoặc thuộc cõi nhỏ hoặc thuộc cõi lớn. Đây là hạnh của chúng sanh.
115. Katamā ca sattānaṃ adhimutti? Santi sattā hīnādhimuttikā, santi sattā paṇītādhimuttikā. Hīnādhimuttikā sattā hīnādhimuttike satte sevanti bhajanti payirupāsanti. Paṇītādhimuttikā sattā paṇītādhimuttike satte sevanti bhajanti payirupāsanti. Atītampi addhānaṃ hīnādhimuttikā sattā hīnādhimuttike satte seviṃsu bhajiṃsu payirupāsiṃsu; paṇītādhimuttikā sattā paṇītādhimuttike satte seviṃsu bhajiṃsu payirupāsiṃsu. Anāgatampi addhānaṃ hīnādhimuttikā sattā hīnādhimuttike satte sevissanti bhajissanti payirupāsissanti; paṇītādhimuttikā sattā paṇītādhimuttike satte sevissanti bhajissanti payirupāsissanti. Ayaṃ sattānaṃ adhimutti.
115. And what is the disposition of beings? There are beings with inferior dispositions, and there are beings with superior dispositions. Beings with inferior dispositions associate with, consort with, and attend upon beings with inferior dispositions. Beings with superior dispositions associate with, consort with, and attend upon beings with superior dispositions. In the past, too, beings with inferior dispositions associated with, consorted with, and attended upon beings with inferior dispositions; beings with superior dispositions associated with, consorted with, and attended upon beings with superior dispositions. In the future, too, beings with inferior dispositions will associate with, consort with, and attend upon beings with inferior dispositions; beings with superior dispositions will associate with, consort with, and attend upon beings with superior dispositions. This is the disposition of beings.
115. Và thế nào là sự hướng tâm của chúng sanh? Có những chúng sanh có sự hướng tâm thấp kém, có những chúng sanh có sự hướng tâm cao thượng. Những chúng sanh có sự hướng tâm thấp kém thường phục vụ, thân cận, gần gũi những chúng sanh có sự hướng tâm thấp kém. Những chúng sanh có sự hướng tâm cao thượng thường phục vụ, thân cận, gần gũi những chúng sanh có sự hướng tâm cao thượng. Trong thời quá khứ cũng vậy, những chúng sanh có sự hướng tâm thấp kém đã phục vụ, đã thân cận, đã gần gũi những chúng sanh có sự hướng tâm thấp kém; những chúng sanh có sự hướng tâm cao thượng đã phục vụ, đã thân cận, đã gần gũi những chúng sanh có sự hướng tâm cao thượng. Trong thời vị lai cũng vậy, những chúng sanh có sự hướng tâm thấp kém sẽ phục vụ, sẽ thân cận, sẽ gần gũi những chúng sanh có sự hướng tâm thấp kém; những chúng sanh có sự hướng tâm cao thượng sẽ phục vụ, sẽ thân cận, sẽ gần gũi những chúng sanh có sự hướng tâm cao thượng. Đây là sự hướng tâm của chúng sanh.
Katame sattā abhabbā? Ye te sattā kammāvaraṇena samannāgatā, kilesāvaraṇena samannāgatā, vipākāvaraṇena samannāgatā, assaddhā acchandikā duppaññā, abhabbā niyāmaṃ okkamituṃ kusalesu dhammesu sammattaṃ – ime te sattā abhabbā.
Which beings are incapable? Those beings who are possessed of kammic obstructions, defilement obstructions, and resultant obstructions, who are faithless, without wholesome desire, and unwise—they are incapable of entering the fixed course of rightness in wholesome qualities. These are the incapable beings.
Những chúng sanh nào là không có khả năng? Những chúng sanh nào có nghiệp chướng, có phiền não chướng, có dị thục chướng, không có đức tin, không có ý muốn, có trí tuệ yếu kém, không có khả năng đi vào sự chắc chắn, sự đúng đắn trong các thiện pháp – những chúng sanh này là không có khả năng.
Katame sattā bhabbā? Ye te sattā na kammāvaraṇena samannāgatā, na kilesāvaraṇena samannāgatā, na vipākāvaraṇena samannāgatā, saddhā chandikā paññavanto, bhabbā niyāmaṃ okkamituṃ kusalesu dhammesu sammattaṃ – ime te sattā bhabbā. Idaṃ tathāgatassa sattānaṃ āsayānusaye ñāṇaṃ.
Which beings are capable? Those beings who are not possessed of kammic obstructions, not possessed of defilement obstructions, not possessed of resultant obstructions; who are faithful, have wholesome desire, and are wise—they are capable of entering the fixed course of rightness in wholesome qualities. These are the capable beings. This is the Tathāgata’s knowledge of the inclinations and underlying tendencies of beings.
Những chúng sanh nào là có khả năng? Những chúng sanh nào không có nghiệp chướng, không có phiền não chướng, không có dị thục chướng, có đức tin, có ý muốn, có trí tuệ, có khả năng đi vào sự chắc chắn, sự đúng đắn trong các thiện pháp – những chúng sanh này là có khả năng. Đây là trí tuệ về ý muốn và tùy miên của chúng sanh của Như Lai.
Āsayānusayañāṇaniddeso navasaṭṭhimo.
The Exposition of the Knowledge of Inclinations and Underlying Tendencies is the sixty-ninth.
Phần giải thích về trí tuệ về ý muốn và tùy miên, thứ sáu mươi chín.
70. Yamakapāṭihīrañāṇaniddeso
70. Exposition of the Knowledge of the Twin Miracle
70. Phần giải thích về trí tuệ về song thông
116. Katamaṃ tathāgatassa yamakapāṭihīre ñāṇaṃ? Idha tathāgato yamakapāṭihīraṃ karoti asādhāraṇaṃ sāvakehi. Uparimakāyato aggikkhandho pavattati, heṭṭhimakāyato udakadhārā pavattati; heṭṭhimakāyato aggikkhandho pavattati, uparimakāyato udakadhārā pavattati; puratthimakāyato aggikkhandho pavattati, pacchimakāyato udakadhārā pavattati; pacchimakāyato aggikkhandho pavattati, puratthimakāyato udakadhārā pavattati; dakkhiṇaakkhito aggikkhandho pavattati, vāmaakkhito udakadhārā pavattati; vāmaakkhito aggikkhandho pavattati, dakkhiṇaakkhito udakadhārā pavattati; dakkhiṇakaṇṇasotato aggikkhandho pavattati, vāmakaṇṇasotato udakadhārā pavattati; vāmakaṇṇasotato aggikkhandho pavattati, dakkhiṇakaṇṇasotato udakadhārā pavattati; dakkhiṇanāsikāsotato aggikkhandho pavattati, vāmanāsikāsotato udakadhārā pavattati; vāmanāsikāsotato aggikkhandho pavattati, dakkhiṇanāsikāsotato udakadhārā pavattati; dakkhiṇaaṃsakūṭato aggikkhandho pavattati, vāmaaṃsakūṭato udakadhārā pavattati; vāmaaṃsakūṭato aggikkhandho pavattati, dakkhiṇaaṃsakūṭato udakadhārā pavattati; dakkhiṇahatthato aggikkhandho pavattati, vāmahatthato udakadhārā pavattati; vāmahatthato aggikkhandho pavattati, dakkhiṇahatthato udakadhārā pavattati; dakkhiṇapassato aggikkhandho pavattati, vāmapassato udakadhārā pavattati; vāmapassato aggikkhandho pavattati, dakkhiṇapassato udakadhārā pavattati; dakkhiṇapādato aggikkhandho pavattati, vāmapādato udakadhārā pavattati; vāmapādato aggikkhandho pavattati, dakkhiṇapādato udakadhārā pavattati; aṅgulaṅgulehi aggikkhandho pavattati, aṅgulantarikāhi udakadhārā pavattati; aṅgulantarikāhi aggikkhandho pavattati, aṅgulaṅgulehi udakadhārā pavattati; ekekalomato aggikkhandho pavattati, ekekalomato udakadhārā pavattati; lomakūpato lomakūpato aggikkhandho pavattati, lomakūpato lomakūpato udakadhārā pavattati.
116. What is the Tathāgata's knowledge of the twin miracle? Here, the Tathāgata performs the twin miracle, which is unshared by his disciples. From the upper part of his body a mass of fire emanates, and from the lower part of his body a stream of water emanates; from the lower part of his body a mass of fire emanates, and from the upper part of his body a stream of water emanates; from the front of his body a mass of fire emanates, and from the back of his body a stream of water emanates; from the back of his body a mass of fire emanates, and from the front of his body a stream of water emanates; from his right eye a mass of fire emanates, and from his left eye a stream of water emanates; from his left eye a mass of fire emanates, and from his right eye a stream of water emanates; from his right ear-opening a mass of fire emanates, and from his left ear-opening a stream of water emanates; from his left ear-opening a mass of fire emanates, and from his right ear-opening a stream of water emanates; from his right nostril a mass of fire emanates, and from his left nostril a stream of water emanates; from his left nostril a mass of fire emanates, and from his right nostril a stream of water emanates; from his right shoulder a mass of fire emanates, and from his left shoulder a stream of water emanates; from his left shoulder a mass of fire emanates, and from his right shoulder a stream of water emanates; from his right hand a mass of fire emanates, and from his left hand a stream of water emanates; from his left hand a mass of fire emanates, and from his right hand a stream of water emanates; from his right side a mass of fire emanates, and from his left side a stream of water emanates; from his left side a mass of fire emanates, and from his right side a stream of water emanates; from his right foot a mass of fire emanates, and from his left foot a stream of water emanates; from his left foot a mass of fire emanates, and from his right foot a stream of water emanates; from each of his fingers and toes a mass of fire emanates, and from the spaces between them a stream of water emanates; from the spaces between his fingers and toes a mass of fire emanates, and from each of them a stream of water emanates; from each and every body-hair a mass of fire emanates, and from each and every body-hair a stream of water emanates; from each and every pore a mass of fire emanates, and from each and every pore a stream of water emanates.
116. Thế nào là trí về song thông của Như Lai? Ở đây, Như Lai thực hiện song thông không chung với các vị Thinh văn. Từ thân trên, khối lửa khởi lên; từ thân dưới, dòng nước khởi lên. Từ thân dưới, khối lửa khởi lên; từ thân trên, dòng nước khởi lên. Từ phía trước thân, khối lửa khởi lên; từ phía sau thân, dòng nước khởi lên. Từ phía sau thân, khối lửa khởi lên; từ phía trước thân, dòng nước khởi lên. Từ mắt phải, khối lửa khởi lên; từ mắt trái, dòng nước khởi lên. Từ mắt trái, khối lửa khởi lên; từ mắt phải, dòng nước khởi lên. Từ lỗ tai phải, khối lửa khởi lên; từ lỗ tai trái, dòng nước khởi lên. Từ lỗ tai trái, khối lửa khởi lên; từ lỗ tai phải, dòng nước khởi lên. Từ lỗ mũi phải, khối lửa khởi lên; từ lỗ mũi trái, dòng nước khởi lên. Từ lỗ mũi trái, khối lửa khởi lên; từ lỗ mũi phải, dòng nước khởi lên. Từ chỏm vai phải, khối lửa khởi lên; từ chỏm vai trái, dòng nước khởi lên. Từ chỏm vai trái, khối lửa khởi lên; từ chỏm vai phải, dòng nước khởi lên. Từ tay phải, khối lửa khởi lên; từ tay trái, dòng nước khởi lên. Từ tay trái, khối lửa khởi lên; từ tay phải, dòng nước khởi lên. Từ hông phải, khối lửa khởi lên; từ hông trái, dòng nước khởi lên. Từ hông trái, khối lửa khởi lên; từ hông phải, dòng nước khởi lên. Từ chân phải, khối lửa khởi lên; từ chân trái, dòng nước khởi lên. Từ chân trái, khối lửa khởi lên; từ chân phải, dòng nước khởi lên. Từ các ngón tay, khối lửa khởi lên; từ các kẽ ngón tay, dòng nước khởi lên. Từ các kẽ ngón tay, khối lửa khởi lên; từ các ngón tay, dòng nước khởi lên. Từ mỗi sợi lông, khối lửa khởi lên; từ mỗi sợi lông, dòng nước khởi lên. Từ mỗi lỗ chân lông, khối lửa khởi lên; từ mỗi lỗ chân lông, dòng nước khởi lên.
Channaṃ vaṇṇānaṃ – nīlānaṃ, pītakānaṃ, lohitakānaṃ, odātānaṃ, mañjiṭṭhānaṃ †, pabhassarānaṃ bhagavā caṅkamati, nimmito tiṭṭhati vā nisīdati vā seyyaṃ vā kappeti. Bhagavā tiṭṭhati, nimmito caṅkamati vā nisīdati vā seyyaṃ vā kappeti. Bhagavā nisīdati, nimmito caṅkamati vā tiṭṭhati vā seyyaṃ vā kappeti. Bhagavā seyyaṃ kappeti, nimmito caṅkamati vā tiṭṭhati vā nisīdati vā. Nimmito caṅkamati, bhagavā tiṭṭhati vā nisīdati vā seyyaṃ vā kappeti. Nimmito tiṭṭhati, bhagavā caṅkamati vā nisīdati vā seyyaṃ vā kappeti. Nimmito nisīdati, bhagavā caṅkamati vā tiṭṭhati vā seyyaṃ vā kappeti. Nimmito seyyaṃ kappeti, bhagavā caṅkamati vā tiṭṭhati vā nisīdati vā. Idaṃ tathāgatassa yamakapāṭihīre ñāṇaṃ.
Amidst the six colors—blue, yellow, red, white, crimson, and brilliant—the Blessed One walks back and forth, while a created image stands, sits, or lies down. The Blessed One stands, while a created image walks back and forth, sits, or lies down. The Blessed One sits, while a created image walks back and forth, stands, or lies down. The Blessed One lies down, while a created image walks back and forth, stands, or sits. The created image walks back and forth, while the Blessed One stands, sits, or lies down. The created image stands, while the Blessed One walks back and forth, sits, or lies down. The created image sits, while the Blessed One walks back and forth, stands, or lies down. The created image lies down, while the Blessed One walks back and forth, stands, or sits. This is the Tathāgata’s knowledge of the twin miracle.
Giữa sáu màu sắc – xanh, vàng, đỏ, trắng, đỏ thẫm, và trong suốt – Đức Thế Tôn kinh hành, còn vị hóa thân thì hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm. Đức Thế Tôn đứng, còn vị hóa thân thì hoặc kinh hành, hoặc ngồi, hoặc nằm. Đức Thế Tôn ngồi, còn vị hóa thân thì hoặc kinh hành, hoặc đứng, hoặc nằm. Đức Thế Tôn nằm, còn vị hóa thân thì hoặc kinh hành, hoặc đứng, hoặc ngồi. Vị hóa thân kinh hành, còn Đức Thế Tôn thì hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm. Vị hóa thân đứng, còn Đức Thế Tôn thì hoặc kinh hành, hoặc ngồi, hoặc nằm. Vị hóa thân ngồi, còn Đức Thế Tôn thì hoặc kinh hành, hoặc đứng, hoặc nằm. Vị hóa thân nằm, còn Đức Thế Tôn thì hoặc kinh hành, hoặc đứng, hoặc ngồi. Đây là trí về song thông của Như Lai.
Yamakapāṭihīrañāṇaniddeso sattatimo.
The Exposition of the Knowledge of the Twin Miracle is the seventieth.
Phần giải về Trí Song Thông thứ bảy mươi.
71. Mahākaruṇāñāṇaniddeso
71. Exposition of the Knowledge of Great Compassion
71. Phần giải về Trí Đại Bi
117. Katamaṃ tathāgatassa mahākaruṇāsamāpattiyā ñāṇaṃ? Bahukehi ākārehi passantānaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ sattesu mahākaruṇā okkamati. Āditto lokasannivāsoti – passantānaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ sattesu mahākaruṇā okkamati. Uyyutto lokasannivāsoti – passantānaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ sattesu mahākaruṇā okkamati. Payāto lokasannivāsoti – passantānaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ sattesu mahākaruṇā okkamati. Kummaggappaṭipanno † lokasannivāsoti – passantānaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ sattesu mahākaruṇā okkamati. Upanīyati loko addhuvoti – passantānaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ sattesu mahākaruṇā okkamati. Atāṇo † loko anabhissaroti – passantānaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ sattesu mahākaruṇā okkamati. Assako loko, sabbaṃ pahāya gamanīyanti – passantānaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ sattesu mahākaruṇā okkamati. Ūno loko atīto taṇhādāsoti – passantānaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ sattesu mahākaruṇā okkamati. Atāyano lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… aleṇo lokasannivāsoti – passantānaṃ …pe… asaraṇo lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… asaraṇībhūto lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe….
117. What is the Tathāgata's knowledge of the attainment of great compassion? The great compassion of the Buddhas, the Blessed Ones, descends upon beings as they see them in many ways. 'The multitude of beings dwelling in the world is ablaze'—seeing this, the great compassion of the Buddhas, the Blessed Ones, descends upon beings. 'The multitude of beings dwelling in the world is engaged'—seeing this...pe... 'The multitude of beings dwelling in the world is journeying on'—seeing this...pe... 'The multitude of beings dwelling in the world has entered upon the wrong path'—seeing this...pe... 'The world of beings is being led on; it is impermanent'—seeing this...pe... 'The world of beings is without protection, without a master'—seeing this...pe... 'The world of beings is without ownership; one must go on, having left everything behind'—seeing this...pe... 'The world of beings is deficient, insatiate, a slave to craving'—seeing this...pe... 'The multitude of beings dwelling in the world is without a protector'—seeing this...pe... 'The multitude of beings dwelling in the world is without a haven'—seeing this...pe... 'The multitude of beings dwelling in the world is without refuge'—seeing this...pe... 'The multitude of beings dwelling in the world has become without refuge'—seeing this...pe...
117. Thế nào là trí về sự nhập đại bi của Như Lai? Lòng đại bi khởi lên đối với chúng sanh nơi các vị Phật, các đấng Thế Tôn, là những vị thấy bằng nhiều phương diện. (Khi thấy rằng:) ‘Nơi ở của thế gian đang bị thiêu đốt’ – lòng đại bi khởi lên đối với chúng sanh nơi các vị Phật, các đấng Thế Tôn, là những vị thấy (như vậy). (Khi thấy rằng:) ‘Nơi ở của thế gian đang bận rộn’ – lòng đại bi khởi lên đối với chúng sanh nơi các vị Phật, các đấng Thế Tôn, là những vị thấy (như vậy). (Khi thấy rằng:) ‘Nơi ở của thế gian đang trôi đi’ – lòng đại bi khởi lên đối với chúng sanh nơi các vị Phật, các đấng Thế Tôn, là những vị thấy (như vậy). (Khi thấy rằng:) ‘Nơi ở của thế gian đang đi vào con đường sai lầm’ – lòng đại bi khởi lên đối với chúng sanh nơi các vị Phật, các đấng Thế Tôn, là những vị thấy (như vậy). (Khi thấy rằng:) ‘Thế gian không thường hằng, bị dẫn đi’ – lòng đại bi khởi lên đối với chúng sanh nơi các vị Phật, các đấng Thế Tôn, là những vị thấy (như vậy). (Khi thấy rằng:) ‘Thế gian không nơi nương tựa, không người cai quản’ – lòng đại bi khởi lên đối với chúng sanh nơi các vị Phật, các đấng Thế Tôn, là những vị thấy (như vậy). (Khi thấy rằng:) ‘Thế gian không có sở hữu, phải từ bỏ tất cả mà đi’ – lòng đại bi khởi lên đối với chúng sanh nơi các vị Phật, các đấng Thế Tôn, là những vị thấy (như vậy). (Khi thấy rằng:) ‘Thế gian thiếu thốn, không thỏa mãn, là nô lệ của ái dục’ – lòng đại bi khởi lên đối với chúng sanh nơi các vị Phật, các đấng Thế Tôn, là những vị thấy (như vậy). (Khi thấy rằng:) ‘Nơi ở của thế gian không có nơi bảo vệ’ – (khi) các vị thấy... v.v... (Khi thấy rằng:) ‘Nơi ở của thế gian không có nơi ẩn náu’ – (khi) các vị thấy... v.v... (Khi thấy rằng:) ‘Nơi ở của thế gian không có nơi nương tựa’ – (khi) các vị thấy... v.v... (Khi thấy rằng:) ‘Nơi ở của thế gian đã trở thành không có nơi nương tựa’ – (khi) các vị thấy... v.v...
Uddhato loko avūpasantoti – passantānaṃ…pe… sasallo lokasannivāso, viddho puthusallehi; tassa natthañño koci sallānaṃ uddhatā, aññatra mayāti – passantānaṃ…pe… avijjandhakārāvaraṇo lokasannivāso aṇḍabhūto kilesapañjarapakkhitto; tassa natthañño koci ālokaṃ dassetā, aññatra mayāti – passantānaṃ…pe… avijjāgato lokasannivāso aṇḍabhūto pariyonaddho tantākulakajāto † kulāgaṇḍikajāto † muñjapabbajabhūto apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ saṃsāraṃ nātivattatīti – passantānaṃ…pe… avijjāvisadosasaṃlitto lokasannivāso kilesakalalībhūtoti – passantānaṃ…pe… rāgadosamohajaṭājaṭito lokasannivāso; tassa natthañño koci jaṭaṃ vijaṭetā, aññatra mayāti – passantānaṃ…pe….
"The world is agitated, unpacified"—for those who see thus…pe… "The multitude of world-dwellers is with a dart, pierced by many darts; there is no one else to extract the darts but me"—for those who see thus…pe… "The multitude of world-dwellers is obstructed by the darkness of ignorance, has become like an egg, cast into the cage of defilements; there is no one else to show the light but me"—for those who see thus…pe… "The multitude of world-dwellers has gone into ignorance, has become like an egg, is enveloped, has become a tangled skein, has become like a tangled spider's web, has become like muñja and babbaja grass; it does not pass beyond the state of loss, the bad destination, the place of ruin, saṃsāra"—for those who see thus…pe… "The multitude of world-dwellers is smeared with the poison of ignorance, has become a mire of defilements"—for those who see thus…pe… "The multitude of world-dwellers is entangled by the tangle of lust, hatred, and delusion; there is no one else to disentangle the tangle but me"—for those who see thus…pe…
Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Thế gian là dao động, không được an tịnh.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian có mũi tên, bị đâm bởi nhiều mũi tên; đối với chúng sanh ấy, không có ai khác có thể nhổ những mũi tên, ngoại trừ ta.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị bóng tối vô minh che lấp, bị bao bọc trong vỏ trứng, bị nhốt trong cái lồng phiền não; đối với chúng sanh ấy, không có ai khác có thể chỉ ra ánh sáng, ngoại trừ ta.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian đi vào vô minh, bị bao bọc trong vỏ trứng, bị bao phủ, trở thành như cuộn chỉ rối, trở thành như tổ nhện rối, trở thành như cỏ muñja và cỏ babbaja, không vượt qua được cõi khổ, ác thú, đọa xứ, vòng luân hồi.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị bôi trét bởi nọc độc vô minh, trở thành như bị lún trong bùn phiền não.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị rối bởi mớ bòng bong tham, sân, si; đối với chúng sanh ấy, không có ai khác có thể gỡ rối mớ bòng bong, ngoại trừ ta.’ ...
Taṇhāsaṅghāṭapaṭimukko lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… taṇhājālena otthaṭo † lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… taṇhāsotena vuyhati lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… taṇhāsaññojanena saññutto lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… taṇhānusayena anusaṭo lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… taṇhāsantāpena santappati lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… taṇhāpariḷāhena pariḍayhati lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe….
"The multitude of world-dwellers is shackled by the yoke of craving"—for those who see thus…pe… "The multitude of world-dwellers is covered over by the net of craving"—for those who see thus…pe… "The multitude of world-dwellers is being carried away by the stream of craving"—for those who see thus…pe… "The multitude of world-dwellers is yoked by the fetter of craving"—for those who see thus…pe… "The multitude of world-dwellers is pervaded by the underlying tendency of craving"—for those who see thus…pe… "The multitude of world-dwellers is tormented by the torment of craving"—for those who see thus…pe… "The multitude of world-dwellers is consumed by the burning of craving"—for those who see thus…pe…
Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị trói buộc bởi cái gông cùm ái dục.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị bao phủ bởi lưới ái dục.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị cuốn trôi bởi dòng ái dục.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị ràng buộc bởi kiết sử ái dục.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị tùy miên ái dục đeo bám.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị thiêu đốt bởi sự nóng nảy của ái dục.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị thiêu cháy bởi sự thiêu đốt của ái dục.’ ...
Diṭṭhisaṅghāṭapaṭimukko lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… diṭṭhijālena otthaṭo lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… diṭṭhisotena vuyhati lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… diṭṭhisaññojanena saññutto lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… diṭṭhānusayena anusaṭo lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… diṭṭhisantāpena santappati lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… diṭṭhipariḷāhena pariḍayhati lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe….
"The multitude of world-dwellers is shackled by the yoke of wrong views"—for those who see thus…pe… "The multitude of world-dwellers is covered over by the net of wrong views"—for those who see thus…pe… "The multitude of world-dwellers is being carried away by the stream of wrong views"—for those who see thus…pe… "The multitude of world-dwellers is yoked by the fetter of wrong views"—for those who see thus…pe… "The multitude of world-dwellers is pervaded by the underlying tendency of wrong views"—for those who see thus…pe… "The multitude of world-dwellers is tormented by the torment of wrong views"—for those who see thus…pe… "The multitude of world-dwellers is consumed by the burning of wrong views"—for those who see thus…pe…
Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị trói buộc bởi cái gông cùm tà kiến.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị bao phủ bởi lưới tà kiến.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị cuốn trôi bởi dòng tà kiến.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị ràng buộc bởi kiết sử tà kiến.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị tùy miên tà kiến đeo bám.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị thiêu đốt bởi sự nóng nảy của tà kiến.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị thiêu cháy bởi sự thiêu đốt của tà kiến.’ ...
Jātiyā anugato lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… jarāya anusaṭo lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… byādhinā abhibhūto lokasannivāsoti – passantānaṃ …pe… maraṇena abbhāhato lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… dukkhe patiṭṭhito lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe….
“The world of inhabitants is followed by birth”—seeing this…pe… “The world of inhabitants is pervaded by aging”—seeing this…pe… “The world of inhabitants is overwhelmed by sickness”—seeing this…pe… “The world of inhabitants is afflicted by death”—seeing this…pe… “The world of inhabitants is established in suffering”—seeing this…pe…
Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị sanh đi theo.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị già đeo bám.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị bệnh tật áp đảo.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị cái chết đánh đập.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian được an lập trong khổ.’ ...
Taṇhāya uḍḍito lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… jarāpākāraparikkhitto lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… maccupāsena parikkhitto lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… mahābandhanabandho lokasannivāso – rāgabandhanena dosabandhanena mohabandhanena mānabandhanena diṭṭhibandhanena kilesabandhanena duccaritabandhanena; tassa natthañño koci bandhanaṃ mocetā, aññatra mayāti – passantānaṃ…pe… mahāsambādhappaṭipanno lokasannivāso; tassa natthañño koci okāsaṃ dassetā, aññatra mayāti – passantānaṃ… mahāpalibodhena palibuddho lokasannivāso; tassa natthañño koci palibodhaṃ chetā, aññatra mayāti – passantānaṃ…pe… mahāpapāte patito lokasannivāso; tassa natthañño koci papātā uddhatā, aññatra mayāti – passantānaṃ…pe… mahākantārappaṭipanno lokasannivāso; tassa natthañño koci kantāraṃ tāretā, aññatra mayāti – passantānaṃ…pe… mahāsaṃsārappaṭipanno lokasannivāso; tassa natthañño koci saṃsārā mocetā, aññatra mayāti – passantānaṃ…pe… mahāvidugge samparivattati lokasannivāso; tassa natthañño koci viduggā uddhatā, aññatra mayāti – passantānaṃ…pe… mahāpalipe † palipanno lokasannivāso; tassa natthañño koci palipā uddhatā, aññatra mayāti – passantānaṃ…pe….
“The world of inhabitants is ensnared by craving”—seeing this…pe… “The world of inhabitants is surrounded by the rampart of aging”—seeing this…pe… “The world of inhabitants is surrounded by the snare of death”—seeing this…pe… “The world of inhabitants is bound by a great bond—by the bond of lust, the bond of hatred, the bond of delusion, the bond of conceit, the bond of wrong views, the bond of defilements, the bond of misconduct. For them, there is no one else who can release this bond, other than me”—seeing this…pe… “The world of inhabitants has entered upon a great impasse. For them, there is no one else who can show an opening, other than me”—seeing this…pe… “The world of inhabitants is entangled by great obstacles. For them, there is no one else who can cut through the obstacles, other than me”—seeing this…pe… “The world of inhabitants has fallen into a great precipice. For them, there is no one else who can lift them out of the precipice, other than me”—seeing this…pe… “The world of inhabitants has entered upon a great wilderness. For them, there is no one else who can carry them across the wilderness, other than me”—seeing this…pe… “The world of inhabitants has entered upon the great saṃsāra. For them, there is no one else who can free them from saṃsāra, other than me”—seeing this…pe… “The world of inhabitants revolves in a great difficult passage. For them, there is no one else who can lift them out of the difficult passage, other than me”—seeing this…pe… “The world of inhabitants is mired in a great mire. For them, there is no one else who can lift them out of the mire, other than me”—seeing this…pe…
Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị ái dục giăng bẫy.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị bao quanh bởi bức tường thành của sự già.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị bao quanh bởi vòng vây của thần chết.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị trói buộc bởi sự trói buộc lớn lao – bởi sự trói buộc của tham, sự trói buộc của sân, sự trói buộc của si, sự trói buộc của mạn, sự trói buộc của tà kiến, sự trói buộc của phiền não, sự trói buộc của ác hạnh; đối với chúng sanh ấy, không có ai khác có thể cởi trói, ngoại trừ ta.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian đã đi vào con đường chật hẹp vĩ đại; đối với chúng sanh ấy, không có ai khác có thể chỉ ra cơ hội, ngoại trừ ta.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị chướng ngại bởi chướng ngại lớn lao; đối với chúng sanh ấy, không có ai khác có thể chặt đứt chướng ngại, ngoại trừ ta.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian đã rơi vào vực thẳm vĩ đại; đối với chúng sanh ấy, không có ai khác có thể kéo lên khỏi vực thẳm, ngoại trừ ta.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian đã đi vào vùng hoang địa vĩ đại; đối với chúng sanh ấy, không có ai khác có thể đưa qua khỏi vùng hoang địa, ngoại trừ ta.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian đã đi vào vòng luân hồi vĩ đại; đối với chúng sanh ấy, không có ai khác có thể giải thoát khỏi vòng luân hồi, ngoại trừ ta.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian đang xoay vần trong con đường hiểm trở vĩ đại; đối với chúng sanh ấy, không có ai khác có thể kéo ra khỏi con đường hiểm trở, ngoại trừ ta.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị sa lầy trong vũng bùn vĩ đại; đối với chúng sanh ấy, không có ai khác có thể kéo lên khỏi vũng bùn, ngoại trừ ta.’ ...
Abbhāhato lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… āditto lokasannivāso – rāgagginā dosagginā mohagginā jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi; tassa natthañño koci nibbāpetā, aññatra mayāti – passantānaṃ…pe… unnītako lokasannivāso haññati niccamatāṇo pattadaṇḍo takkaroti – passantānaṃ…pe… vajjabandhanabaddho lokasannivāso āghātanapaccupaṭṭhito; tassa natthañño koci bandhanaṃ mocetā, aññatra mayāti – passantānaṃ…pe… anātho lokasannivāso paramakāruññappatto; tassa natthañño koci tāyetā, aññatra mayāti – passantānaṃ…pe… dukkhābhitunno † lokasannivāso cirarattaṃ pīḷitoti – passantānaṃ…pe… gadhito lokasannivāso niccaṃ pipāsitoti – passantānaṃ…pe….
The community of beings is afflicted—so it appears to those who see… The community of beings is ablaze—with the fire of lust, the fire of hatred, the fire of delusion; with birth, aging, and death; with sorrow, lamentation, pain, grief, and despair. There is no one else who can extinguish it, except me—so it appears to those who see… The community of beings is led away; being unprotected, it is always tormented; having received punishment, it is treated accordingly—so it appears to those who see… The community of beings is bound by the fetter of faults, brought to the execution ground. There is no one else who can release them from that bond, except me—so it appears to those who see… The community of beings is without refuge, having reached a state of extreme pitiableness. There is no one else who can protect them, except me—so it appears to those who see… The community of beings is overwhelmed by suffering, long oppressed—so it appears to those who see… The community of beings is greedy, ever thirsty—so it appears to those who see…
Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị đánh đập.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị bốc cháy – bởi lửa tham, lửa sân, lửa si, bởi sanh, già, chết, bởi sầu, bi, khổ, ưu, não; đối với chúng sanh ấy, không có ai khác có thể dập tắt, ngoại trừ ta.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị dẫn đi, bị hành hạ, luôn không có nơi nương tựa, đã nhận hình phạt, phải chịu đựng như thế.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị trói buộc bởi sự trói buộc của lỗi lầm, phải đối mặt với nơi hành quyết; đối với chúng sanh ấy, không có ai khác có thể cởi trói, ngoại trừ ta.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian không nơi nương tựa, đã đạt đến tình trạng đáng thương tột cùng; đối với chúng sanh ấy, không có ai khác có thể bảo vệ, ngoại trừ ta.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian bị khổ não xuyên thấu, bị bức bách trong thời gian dài.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian tham lam, luôn luôn khao khát.’ ...
Andho lokasannivāso acakkhukoti – passantānaṃ…pe… hatanetto lokasannivāso apariṇāyakoti – passantānaṃ…pe… vipathapakkhando † lokasannivāso añjasāparaddho; tassa natthañño koci ariyapathaṃ ānetā, aññatra mayāti – passantānaṃ…pe… mahoghapakkhando lokasannivāso; tassa natthañño koci oghā uddhatā, aññatra mayāti – passantānaṃ…pe….
The community of beings is blind, without eyes—so it appears to those who see… The community of beings has its eyes destroyed, it is without a guide—so it appears to those who see… The community of beings has rushed onto a wrong path, has gone astray from the straight path; there is no one else who can lead it to the noble path, except me—so it appears to those who see… The community of beings has rushed into the great flood; there is no one else who can lift it from the flood, except me—so it appears to those who see…
Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian mù lòa, không có mắt (trí tuệ).’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian có con mắt (trí tuệ) bị hư hoại, không có người dẫn đường.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian lao vào con đường sai lầm, đã phạm lỗi trên con đường ngay thẳng; đối với chúng sanh ấy, không có ai khác có thể dẫn đến con đường của bậc Thánh, ngoại trừ ta.’ ... Đối với các vị đang nhìn thấy rằng: ‘Chúng sanh trong thế gian lao vào dòng bộc lưu vĩ đại; đối với chúng sanh ấy, không có ai khác có thể kéo lên khỏi dòng bộc lưu, ngoại trừ ta.’ ...
118. Dvīhi diṭṭhigatehi pariyuṭṭhito lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… tīhi duccaritehi vippaṭipanno lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… catūhi yogehi yutto lokasannivāso catuyogayojitoti – passantānaṃ…pe… catūhi ganthehi † ganthito lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… catūhi upādānehi upādiyati lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… pañcagatisamāruḷho lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… pañcahi kāmaguṇehi rajjati lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… pañcahi nīvaraṇehi otthaṭo lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… chahi vivādamūlehi vivadati lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… chahi taṇhākāyehi rajjati lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… chahi diṭṭhigatehi pariyuṭṭhito lokasannivāsoti – passantānaṃ …pe… sattahi anusayehi anusaṭo lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… sattahi saññojanehi saññutto lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… sattahi mānehi unnato † lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… aṭṭhahi lokadhammehi samparivattati lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… aṭṭhahi micchattehi niyyāto lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… aṭṭhahi purisadosehi dussati lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… navahi āghātavatthūhi āghātito lokasannivāsoti – passantānaṃ …pe… navavidhamānehi unnato lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… navahi taṇhāmūlakehi dhammehi rajjati lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… dasahi kilesavatthūhi kilissati lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… dasahi āghātavatthūhi āghātito lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… dasahi akusalakammapathehi samannāgato lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… dasahi saññojanehi saññutto lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… dasahi micchattehi niyyāto lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… dasavatthukāya micchādiṭṭhiyā samannāgato lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… dasavatthukāya antaggāhikāya diṭṭhiyā samannāgato lokasannivāsoti – passantānaṃ…pe… aṭṭhasatataṇhāpapañcasatehi papañcito lokasannivāsoti – passantānaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ sattesu mahākaruṇā okkamati. Dvāsaṭṭhiyā diṭṭhigatehi pariyuṭṭhito lokasannivāsoti – passantānaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ sattesu mahākaruṇā okkamati.
118. The world of inhabitants is afflicted by two kinds of views—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants practices wrongly through three kinds of misconduct—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is yoked by the four yokes…—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is bound by the four knots—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is grasped by the four kinds of clinging—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is repeatedly consigned to the five destinations—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is impassioned by the five cords of sensual pleasure—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is overwhelmed by the five hindrances—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants quarrels over the six roots of dispute—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is impassioned by the six bodies of craving—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is afflicted by six kinds of views—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is beset by the seven underlying tendencies—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is fettered by the seven fetters—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is puffed up by seven kinds of conceit—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants revolves with the eight worldly conditions—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is led forth by the eight wrongnesses—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is corrupted by the eight faults of a person—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is afflicted by the nine grounds for resentment—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is puffed up by the nine kinds of conceit—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is impassioned by the nine craving-rooted phenomena—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is defiled by the ten bases of defilement—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is afflicted by the ten grounds for resentment—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants possesses the ten unwholesome courses of action—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is fettered by the ten fetters—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is led forth by the ten wrongnesses—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants possesses wrong view based on ten grounds—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants possesses a view that grasps at extremes based on ten grounds—so it appears to those who see…pe… The world of inhabitants is conceptually proliferated by the one hundred and eight proliferations of craving—so seeing, great compassion descends upon the Buddhas, the Blessed Ones, for beings. The world of inhabitants is afflicted by the sixty-two kinds of views—so seeing, great compassion descends upon the Buddhas, the Blessed Ones, for beings.
118. Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ bị áp bức bởi hai loại tà kiến’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ đã thực hành sai lạc bởi ba loại ác hạnh’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ bị cột buộc bởi bốn ách, bị bốn ách trói buộc’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ bị trói buộc bởi bốn triền phược’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ bị chấp thủ bởi bốn thủ’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ đã leo lên năm cõi’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ tham đắm năm dục trưởng dưỡng’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ bị bao phủ bởi năm triền cái’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ tranh luận bởi sáu căn nguyên tranh luận’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ tham đắm sáu thân ái’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ bị áp bức bởi sáu loại tà kiến’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ bị ám ảnh bởi bảy tùy miên’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ bị cột buộc bởi bảy kiết sử’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ kiêu mạn bởi bảy loại mạn’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ xoay vần bởi tám pháp thế gian’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ bị dẫn dắt bởi tám tà tánh’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ bị hư hoại bởi tám lỗi lầm của người’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ bị oán hận bởi chín sự oán hận’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ kiêu mạn bởi chín loại mạn’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ tham đắm chín pháp lấy ái làm gốc’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ bị phiền não bởi mười sự phiền não’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ bị oán hận bởi mười sự oán hận’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ có đầy đủ mười nghiệp đạo bất thiện’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ bị cột buộc bởi mười kiết sử’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ bị dẫn dắt bởi mười tà tánh’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ có đầy đủ tà kiến có mười sự’... (v.v.)... Đối với các vị đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ có đầy đủ biên kiến có mười sự’... (v.v.)... Đối với chư Phật, các đấng Thế Tôn đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ bị hý luận bởi một trăm lẻ tám hý luận về ái’, lòng đại bi khởi lên ở các chúng sanh. Đối với chư Phật, các đấng Thế Tôn đang thấy rằng: ‘Thế gian trú xứ bị áp bức bởi sáu mươi hai loại tà kiến’, lòng đại bi khởi lên ở các chúng sanh.
Ahañcamhi tiṇṇo, loko ca atiṇṇo ahaṃ camhi mutto, loko ca amutto; ahañcamhi danto, loko ca adanto; ahaṃ camhi santo, loko ca asanto; ahaṃ camhi assattho, loko ca anassattho; ahaṃ camhi parinibbuto, loko ca aparinibbuto; pahomi khvāhaṃ tiṇṇo tāretuṃ, mutto mocetuṃ, danto dametuṃ, santo sametuṃ, assattho assāsetuṃ, parinibbuto pare ca parinibbāpetunti – passantānaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ sattesu mahākaruṇā okkamati. Idaṃ tathāgatassa mahākaruṇāsamāpattiyā ñāṇaṃ.
‘It is I who have crossed over, but the world has not crossed over. It is I who am freed, but the world is not freed. It is I who am tamed, but the world is not tamed. It is I who am pacified, but the world is not pacified. It is I who am consoled, but the world is not consoled. It is I who have attained Parinibbāna, but the world has not attained Parinibbāna. Indeed, having crossed over, I am able to lead others across; having been freed, I am able to free others; having been tamed, I am able to tame others; having been pacified, I am able to pacify others; having been consoled, I am able to console others; having attained Parinibbāna, I am able to lead others to Parinibbāna.’ Thus seeing, great compassion descends upon the Buddhas, the Blessed Ones, for beings. This is the Tathāgata’s knowledge of the attainment of great compassion.
Ta đã vượt qua, và thế gian chưa vượt qua; ta đã giải thoát, và thế gian chưa giải thoát; ta đã được điều phục, và thế gian chưa được điều phục; ta đã được an tịnh, và thế gian chưa được an tịnh; ta đã được an ổn, và thế gian chưa được an ổn; ta đã tịch tịnh, và thế gian chưa tịch tịnh. Quả thật, ta đã vượt qua, có khả năng làm cho (chúng sanh) vượt qua; đã giải thoát, (có khả năng) làm cho giải thoát; đã được điều phục, (có khả năng) làm cho điều phục; đã được an tịnh, (có khả năng) làm cho an tịnh; đã được an ổn, (có khả năng) làm cho an ổn; đã tịch tịnh, (có khả năng) làm cho các chúng sanh khác được tịch tịnh. – Đối với chư Phật, các đấng Thế Tôn đang thấy như vậy, lòng đại bi khởi lên ở các chúng sanh. Đây là trí về sự nhập đại bi của Như Lai.
Mahākaruṇāñāṇaniddeso ekasattatimo.
The exposition of the knowledge of great compassion is the seventy-first.
Phần giải về trí đại bi thứ bảy mươi mốt.
72-73. Sabbaññutañāṇaniddeso
72-73. Exposition of the Knowledge of Omniscience
72-73. Phần giải về trí toàn giác
119. Katamaṃ tathāgatassa sabbaññutaññāṇaṃ? Sabbaṃ saṅkhatamasaṅkhataṃ anavasesaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ †.
119. What is the Tathāgata’s knowledge of omniscience? He knows all that is conditioned and unconditioned without remainder—this is the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction—this is unobstructed knowledge.
119. Trí toàn giác của Như Lai là gì? Vị ấy biết tất cả pháp hữu vi, vô vi không còn dư sót – (đó là) trí toàn giác. Ở đó, không có sự chướng ngại – (đó là) trí vô ngại.
120. Atītaṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ. Anāgataṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ. Paccuppannaṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ.
120. He knows all the past—this is the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction—this is unobstructed knowledge. He knows all the future—this is the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction—this is unobstructed knowledge. He knows all the present—this is the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction—this is unobstructed knowledge.
120. Vị ấy biết tất cả (pháp) quá khứ – (đó là) trí toàn giác. Ở đó, không có sự chướng ngại – (đó là) trí vô ngại. Vị ấy biết tất cả (pháp) vị lai – (đó là) trí toàn giác. Ở đó, không có sự chướng ngại – (đó là) trí vô ngại. Vị ấy biết tất cả (pháp) hiện tại – (đó là) trí toàn giác. Ở đó, không có sự chướng ngại – (đó là) trí vô ngại.
Cakkhu ceva rūpā ca, evaṃ taṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ. Sotañceva saddā ca…pe… ghānañceva gandhā ca… jivhā ceva rasā ca… kāyo ceva phoṭṭhabbā ca… mano ceva dhammā ca, evaṃ taṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ.
The eye and forms: thus he knows all that—this is the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction—this is unobstructed knowledge. The ear and sounds … the nose and smells … the tongue and tastes … the body and tactile objects … the mind and mental phenomena: thus he knows all that—this is the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction—this is unobstructed knowledge.
Mắt và các sắc, như vậy vị ấy biết tất cả những điều ấy – (đó là) trí toàn giác. Ở đó, không có sự chướng ngại – (đó là) trí vô ngại. Tai và các tiếng... (v.v.)... mũi và các mùi... lưỡi và các vị... thân và các vật xúc chạm... ý và các pháp, như vậy vị ấy biết tất cả những điều ấy – (đó là) trí toàn giác. Ở đó, không có sự chướng ngại – (đó là) trí vô ngại.
Yāvatā aniccaṭṭhaṃ dukkhaṭṭhaṃ anattaṭṭhaṃ, taṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ. Yāvatā rūpassa aniccaṭṭhaṃ dukkhaṭṭhaṃ anattaṭṭhaṃ, taṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ. Yāvatā vedanāya…pe… yāvatā saññāya…pe… yāvatā saṅkhārānaṃ…pe… yāvatā viññāṇassa …pe… yāvatā cakkhussa…pe… jarāmaraṇassa aniccaṭṭhaṃ dukkhaṭṭhaṃ anattaṭṭhaṃ, taṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ.
To whatever extent there is the state of impermanence, the state of suffering, and the state of non-self, He knows all that; therefore, it is the knowledge of omniscience. Therein, there is no obstruction; therefore, it is the unobstructed knowledge. To whatever extent there is for form the state of impermanence, the state of suffering, and the state of non-self, He knows all that; therefore, it is the knowledge of omniscience. Therein, there is no obstruction; therefore, it is the unobstructed knowledge. To whatever extent for feeling... for perception... for formations... for consciousness... for the eye... for aging-and-death there is the state of impermanence, the state of suffering, and the state of non-self, He knows all that; therefore, it is the knowledge of omniscience. Therein, there is no obstruction; therefore, it is the unobstructed knowledge.
Bất cứ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã nào, vị ấy biết tất cả những điều ấy – (đó là) trí toàn giác. Ở đó, không có sự chướng ngại – (đó là) trí vô ngại. Bất cứ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã nào của sắc, vị ấy biết tất cả những điều ấy – (đó là) trí toàn giác. Ở đó, không có sự chướng ngại – (đó là) trí vô ngại. Bất cứ (trạng thái) nào của thọ... (v.v.)... của tưởng... (v.v.)... của các hành... (v.v.)... của thức... (v.v.)... của mắt... (v.v.)... của già và chết có trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã, vị ấy biết tất cả những điều ấy – (đó là) trí toàn giác. Ở đó, không có sự chướng ngại – (đó là) trí vô ngại.
Yāvatā abhiññāya abhiññaṭṭhaṃ, taṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ. Yāvatā pariññāya pariññaṭṭhaṃ…pe… yāvatā pahānassa † pahānaṭṭhaṃ…pe… yāvatā bhāvanāya bhāvanaṭṭhaṃ…pe… yāvatā sacchikiriyāya sacchikiriyaṭṭhaṃ, taṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ.
To whatever extent there is for direct knowledge the state of being directly known, He knows all that; therefore, it is the knowledge of omniscience. Therein, there is no obstruction; therefore, it is the unobstructed knowledge. To whatever extent there is for full understanding the state of being fully understood... for abandoning the state of being abandoned... for development the state of being developed... for realization the state of being realized, He knows all that; therefore, it is the knowledge of omniscience. Therein, there is no obstruction; therefore, it is the unobstructed knowledge.
Bao nhiêu là ý nghĩa cần được thắng tri bởi thắng trí, vị ấy biết tất cả điều ấy, vì vậy (trí tuệ ấy) là toàn tri trí. Ở đó không có sự chướng ngại, vì vậy (trí tuệ ấy) là vô ngại trí. Bao nhiêu là ý nghĩa cần được liễu tri bởi sự liễu tri ... (như trên) ... bao nhiêu là ý nghĩa cần được đoạn tận bởi sự đoạn tận ... (nt) ... bao nhiêu là ý nghĩa cần được tu tập bởi sự tu tập ... (nt) ... bao nhiêu là ý nghĩa cần được chứng ngộ bởi sự chứng ngộ, vị ấy biết tất cả điều ấy, vì vậy (trí tuệ ấy) là toàn tri trí. Ở đó không có sự chướng ngại, vì vậy (trí tuệ ấy) là vô ngại trí.
Yāvatā khandhānaṃ khandhaṭṭhaṃ, taṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ. Yāvatā dhātūnaṃ dhātuṭṭhaṃ…pe… yāvatā āyatanānaṃ āyatanaṭṭhaṃ…pe… yāvatā saṅkhatānaṃ saṅkhataṭṭhaṃ…pe… yāvatā asaṅkhatassa asaṅkhataṭṭhaṃ, taṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ.
To whatever extent there is for the aggregates the nature of an aggregate, He knows all that; therefore, it is the knowledge of omniscience. Therein, there is no obstruction; therefore, it is the unobstructed knowledge. To whatever extent there is for the elements the nature of an element... for the sense bases the nature of a sense base... for conditioned things the nature of the conditioned... for the unconditioned the nature of the unconditioned, He knows all that; therefore, it is the knowledge of omniscience. Therein, there is no obstruction; therefore, it is the unobstructed knowledge.
Bao nhiêu là ý nghĩa uẩn của các uẩn, vị ấy biết tất cả điều ấy, vì vậy (trí tuệ ấy) là toàn tri trí. Ở đó không có sự chướng ngại, vì vậy (trí tuệ ấy) là vô ngại trí. Bao nhiêu là ý nghĩa giới của các giới ... (nt) ... bao nhiêu là ý nghĩa xứ của các xứ ... (nt) ... bao nhiêu là ý nghĩa hữu vi của các pháp hữu vi ... (nt) ... bao nhiêu là ý nghĩa vô vi của pháp vô vi, vị ấy biết tất cả điều ấy, vì vậy (trí tuệ ấy) là toàn tri trí. Ở đó không có sự chướng ngại, vì vậy (trí tuệ ấy) là vô ngại trí.
Yāvatā kusale dhamme, sabbaṃ † jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ. Yāvatā akusale dhamme…pe… yāvatā abyākate dhamme… yāvatā kāmāvacare dhamme… yāvatā rūpāvacare dhamme… yāvatā arūpāvacare dhamme… yāvatā apariyāpanne dhamme, sabbaṃ † jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ.
Because He knows all that occurs within wholesome states, to whatever extent they exist, it is the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction; thus, it is the unobstructed knowledge. Because He knows all that occurs within unwholesome states... and so on... indeterminate states... sense-sphere states... form-sphere states... formless-sphere states... supramundane states, to whatever extent they exist, it is the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction; thus, it is the unobstructed knowledge.
Bao nhiêu là các pháp thiện, vị ấy biết tất cả, vì vậy (trí tuệ ấy) là toàn tri trí. Ở đó không có sự chướng ngại, vì vậy (trí tuệ ấy) là vô ngại trí. Bao nhiêu là các pháp bất thiện ... (nt) ... bao nhiêu là các pháp vô ký ... bao nhiêu là các pháp Dục giới ... bao nhiêu là các pháp Sắc giới ... bao nhiêu là các pháp Vô sắc giới ... bao nhiêu là các pháp siêu thế, vị ấy biết tất cả, vì vậy (trí tuệ ấy) là toàn tri trí. Ở đó không có sự chướng ngại, vì vậy (trí tuệ ấy) là vô ngại trí.
Yāvatā dukkhassa dukkhaṭṭhaṃ, taṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ. Yāvatā samudayassa samudayaṭṭhaṃ…pe… yāvatā nirodhassa nirodhaṭṭhaṃ…pe… yāvatā maggassa maggaṭṭhaṃ, taṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ.
Because He knows all that constitutes the characteristic of suffering of suffering, to whatever extent it exists, it is the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction; thus, it is the unobstructed knowledge. Because He knows all that constitutes the characteristic of the origin of the origin... and so on... the characteristic of cessation of cessation... the characteristic of the path of the path, to whatever extent it exists, it is the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction; thus, it is the unobstructed knowledge.
Bao nhiêu là ý nghĩa khổ của khổ, vị ấy biết tất cả điều ấy, vì vậy (trí tuệ ấy) là toàn tri trí. Ở đó không có sự chướng ngại, vì vậy (trí tuệ ấy) là vô ngại trí. Bao nhiêu là ý nghĩa tập khởi của tập khởi ... (nt) ... bao nhiêu là ý nghĩa đoạn diệt của đoạn diệt ... (nt) ... bao nhiêu là ý nghĩa con đường của con đường, vị ấy biết tất cả điều ấy, vì vậy (trí tuệ ấy) là toàn tri trí. Ở đó không có sự chướng ngại, vì vậy (trí tuệ ấy) là vô ngại trí.
Yāvatā atthapaṭisambhidāya atthapaṭisambhidaṭṭhaṃ, taṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ. Yāvatā dhammapaṭisambhidāya dhammapaṭisambhidaṭṭhaṃ…pe… yāvatā niruttipaṭisambhidāya niruttipaṭisambhidaṭṭhaṃ…pe… yāvatā paṭibhānapaṭisambhidāya paṭibhānapaṭisambhidaṭṭhaṃ, taṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ.
Because He knows all that is the characteristic of the analytical knowledge of meaning, to whatever extent it exists, it is the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction; thus, it is the unobstructed knowledge. Because He knows all that is the characteristic of the analytical knowledge of the Dhamma... and so on... the characteristic of the analytical knowledge of language... the characteristic of the analytical knowledge of perspicuity, to whatever extent it exists, it is the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction; thus, it is the unobstructed knowledge.
Bao nhiêu là ý nghĩa của Vô ngại giải về ý nghĩa, vị ấy biết tất cả điều ấy, vì vậy (trí tuệ ấy) là toàn tri trí. Ở đó không có sự chướng ngại, vì vậy (trí tuệ ấy) là vô ngại trí. Bao nhiêu là ý nghĩa của Vô ngại giải về pháp ... (nt) ... bao nhiêu là ý nghĩa của Vô ngại giải về từ ngữ ... (nt) ... bao nhiêu là ý nghĩa của Vô ngại giải về biện tài, vị ấy biết tất cả điều ấy, vì vậy (trí tuệ ấy) là toàn tri trí. Ở đó không có sự chướng ngại, vì vậy (trí tuệ ấy) là vô ngại trí.
Yāvatā indriyaparopariyattañāṇaṃ, taṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ. Yāvatā sattānaṃ āsayānusaye ñāṇaṃ…pe… yāvatā yamakapāṭihīre ñāṇaṃ…pe… yāvatā mahākaruṇāsamāpattiyā ñāṇaṃ, taṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ.
Because He knows all that is the knowledge of the superiority and inferiority of the faculties of beings, to whatever extent it exists, it is the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction; thus, it is the unobstructed knowledge. Because He knows all that is the knowledge of the dispositions and underlying tendencies of beings... and so on... the knowledge of the twin miracle... the knowledge of the attainment of great compassion, to whatever extent it exists, it is the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction; thus, it is the unobstructed knowledge.
Bao nhiêu là trí biết các căn cao thấp của chúng sanh, vị ấy biết tất cả điều ấy, vì vậy (trí tuệ ấy) là toàn tri trí. Ở đó không có sự chướng ngại, vì vậy (trí tuệ ấy) là vô ngại trí. Bao nhiêu là trí về ý muốn và tùy miên của chúng sanh ... (nt) ... bao nhiêu là trí về song thông ... (nt) ... bao nhiêu là trí về sự nhập đại bi, vị ấy biết tất cả điều ấy, vì vậy (trí tuệ ấy) là toàn tri trí. Ở đó không có sự chướng ngại, vì vậy (trí tuệ ấy) là vô ngại trí.
Yāvatā sadevakassa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya diṭṭhaṃ sutaṃ mutaṃ viññātaṃ pattaṃ pariyesitaṃ anuvicaritaṃ manasā, taṃ sabbaṃ jānātīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ.
He knows all that is seen, heard, sensed, cognized, attained, sought, and repeatedly examined by the mind, by the world with its devas, its Māra, and its Brahmā, and by the population with its ascetics and brahmins, with its devas and humans; therefore, it is called the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction; therefore, it is called unobstructed knowledge.
Bao nhiêu là điều được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận thức, được đạt đến, được tìm cầu, được tâm suy xét trong thế gian gồm có chư thiên, ma vương, phạm thiên, trong chúng sanh gồm có sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, vị ấy biết tất cả điều ấy, vì vậy (trí tuệ ấy) là toàn tri trí. Ở đó không có sự chướng ngại, vì vậy (trí tuệ ấy) là vô ngại trí.
121.
121.
121.
Na tassa addiṭṭhamidhatthi kiñci, atho aviññātamajānitabbaṃ.
There is nothing here unseen by Him, and furthermore, nothing uncognized or unknowable.
Đối với vị ấy, ở đây không có gì là không được thấy, hơn nữa, không có gì là không được biết, không thể biết.
Sabbaṃ abhiññāsi yadatthi neyyaṃ, tathāgato tena samantacakkhūti †.
He has directly known all that is knowable; therefore, the Tathāgata is called the All-Seeing One.
Tất cả những gì cần được biết, Như Lai đã thắng tri; do đó, Như Lai là bậc Toàn Nhãn.
Samantacakkhūti kenaṭṭhena samantacakkhu? Cuddasa buddhañāṇāni. Dukkhe ñāṇaṃ buddhañāṇaṃ, dukkhasamudaye ñāṇaṃ buddhañāṇaṃ, dukkhanirodhe ñāṇaṃ buddhañāṇaṃ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ buddhañāṇaṃ, atthapaṭisambhide ñāṇaṃ buddhañāṇaṃ, dhammapaṭisambhide ñāṇaṃ buddhañāṇaṃ, niruttipaṭisambhide ñāṇaṃ buddhañāṇaṃ, paṭibhānapaṭisambhide ñāṇaṃ buddhañāṇaṃ, indriyaparopariyatte ñāṇaṃ buddhañāṇaṃ, sattānaṃ āsayānusaye ñāṇaṃ buddhañāṇaṃ, yamakapāṭihīre ñāṇaṃ buddhañāṇaṃ, mahākaruṇāsamāpattiyā ñāṇaṃ buddhañāṇaṃ, sabbaññutaññāṇaṃ buddhañāṇaṃ, anāvaraṇañāṇaṃ buddhañāṇaṃ – imāni cuddasa buddhañāṇāni. Imesaṃ cuddasannaṃ buddhañāṇānaṃ aṭṭha ñāṇāni sāvakasādhāraṇāni; cha ñāṇāni asādhāraṇāni sāvakehi.
The All-Seeing One: in what sense is He the All-Seeing One? There are fourteen Buddha-knowledges. (1) Knowledge in suffering is a Buddha-knowledge. (2) Knowledge in the origin of suffering is a Buddha-knowledge. (3) Knowledge in the cessation of suffering is a Buddha-knowledge. (4) Knowledge in the path leading to the cessation of suffering is a Buddha-knowledge. (5) Knowledge in the analysis of meaning is a Buddha-knowledge. (6) Knowledge in the analysis of the Dhamma is a Buddha-knowledge. (7) Knowledge in the analysis of language is a Buddha-knowledge. (8) Knowledge in the analysis of perspicuity is a Buddha-knowledge. (9) Knowledge in the superiority and inferiority of faculties is a Buddha-knowledge. (10) Knowledge in the dispositions and underlying tendencies of beings is a Buddha-knowledge. (11) Knowledge in the twin miracle is a Buddha-knowledge. (12) Knowledge in the attainment of great compassion is a Buddha-knowledge. (13) The knowledge of omniscience is a Buddha-knowledge. (14) Unobstructed knowledge is a Buddha-knowledge. These are the fourteen Buddha-knowledges. Of these fourteen Buddha-knowledges, eight are shared with the disciples; six are unshared with the disciples.
Toàn Nhãn, do ý nghĩa nào là Toàn Nhãn? Mười bốn Phật trí (là Toàn Nhãn). Trí về khổ là Phật trí, trí về tập khởi của khổ là Phật trí, trí về sự đoạn diệt khổ là Phật trí, trí về con đường đưa đến sự đoạn diệt khổ là Phật trí, trí về vô ngại giải về ý nghĩa là Phật trí, trí về vô ngại giải về pháp là Phật trí, trí về vô ngại giải về từ ngữ là Phật trí, trí về vô ngại giải về biện tài là Phật trí, trí về các căn cao thấp (của chúng sanh) là Phật trí, trí về ý muốn và tùy miên của chúng sanh là Phật trí, trí về song thông là Phật trí, trí về sự nhập đại bi là Phật trí, toàn tri trí là Phật trí, vô ngại trí là Phật trí – đây là mười bốn Phật trí. Trong mười bốn Phật trí này, có tám trí là chung cho các vị thinh văn; sáu trí là không chung cho các vị thinh văn.
Yāvatā dukkhassa dukkhaṭṭho, sabbo ñāto; aññāto dukkhaṭṭho natthīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ. Yāvatā dukkhassa dukkhaṭṭho, sabbo ñāto, sabbo diṭṭho, sabbo vidito, sabbo sacchikato, sabbo phassito paññāya; aphassito paññāya dukkhaṭṭho natthīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ. Yāvatā samudayassa samudayaṭṭho…pe… yāvatā nirodhassa nirodhaṭṭho… yāvatā maggassa maggaṭṭho…pe… yāvatā atthapaṭisambhidāya atthapaṭisambhidaṭṭho… yāvatā dhammapaṭisambhidāya dhammapaṭisambhidaṭṭho… yāvatā niruttipaṭisambhidāya niruttipaṭisambhidaṭṭho… yāvatā paṭibhānapaṭisambhidāya paṭibhānapaṭisambhidaṭṭho, sabbo ñāto, sabbo diṭṭho, sabbo vidito, sabbo sacchikato, sabbo phassito paññāya; aphassito paññāya paṭibhānapaṭisambhidaṭṭho natthīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ.
Insofar as there is the characteristic of suffering, all of it is known; there is no characteristic of suffering that is unknown—this is the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction—this is unobstructed knowledge. Insofar as there is the characteristic of suffering, all of it is known, all seen, all understood, all realized, all contacted by wisdom; there is no characteristic of suffering not contacted by wisdom—this is the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction—this is unobstructed knowledge. Insofar as there is the characteristic of the origin… the characteristic of cessation… the characteristic of the path… the characteristic of the analytical knowledge of meaning… the characteristic of the analytical knowledge of the Dhamma… the characteristic of the analytical knowledge of language… the characteristic of the analytical knowledge of perspicuity, all of it is known, all seen, all understood, all realized, all contacted by wisdom; there is no characteristic of the analytical knowledge of perspicuity not contacted by wisdom—this is the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction—this is unobstructed knowledge.
Bao nhiêu là ý nghĩa khổ của khổ, tất cả đều đã được biết; không có ý nghĩa khổ nào là không được biết, vì vậy (trí tuệ ấy) là toàn tri trí. Ở đó không có sự chướng ngại, vì vậy (trí tuệ ấy) là vô ngại trí. Bao nhiêu là ý nghĩa khổ của khổ, tất cả đều đã được biết, tất cả đều đã được thấy, tất cả đều đã được liễu tri, tất cả đều đã được chứng ngộ, tất cả đều đã được xúc chạm bởi trí tuệ; không có ý nghĩa khổ nào là không được xúc chạm bởi trí tuệ, vì vậy (trí tuệ ấy) là toàn tri trí. Ở đó không có sự chướng ngại, vì vậy (trí tuệ ấy) là vô ngại trí. Bao nhiêu là ý nghĩa tập khởi của tập khởi ... (nt) ... bao nhiêu là ý nghĩa đoạn diệt của đoạn diệt ... bao nhiêu là ý nghĩa con đường của con đường ... (nt) ... bao nhiêu là ý nghĩa của Vô ngại giải về ý nghĩa ... bao nhiêu là ý nghĩa của Vô ngại giải về pháp ... bao nhiêu là ý nghĩa của Vô ngại giải về từ ngữ ... bao nhiêu là ý nghĩa của Vô ngại giải về biện tài, tất cả đều đã được biết, tất cả đều đã được thấy, tất cả đều đã được liễu tri, tất cả đều đã được chứng ngộ, tất cả đều đã được xúc chạm bởi trí tuệ; không có ý nghĩa của Vô ngại giải về biện tài nào là không được xúc chạm bởi trí tuệ, vì vậy (trí tuệ ấy) là toàn tri trí. Ở đó không có sự chướng ngại, vì vậy (trí tuệ ấy) là vô ngại trí.
Yāvatā indriyaparopariyattañāṇaṃ…pe… yāvatā sattānaṃ āsayānusaye ñāṇaṃ… yāvatā yamakapāṭihīre ñāṇaṃ… yāvatā mahākaruṇāsamāpattiyā ñāṇaṃ; sabba ñātaṃ, sabbaṃ diṭṭhaṃ, sabbaṃ viditaṃ, sabbaṃ sacchikataṃ, sabbaṃ phassitaṃ paññāya; aphassitaṃ paññāya mahākaruṇāsamāpattiyā ñāṇaṃ natthīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ.
Insofar as there is the knowledge of the superiority and inferiority of the faculties of beings… the knowledge of the dispositions and underlying tendencies of beings… the knowledge of the twin miracle… the knowledge of the attainment of great compassion: all is known, all seen, all understood, all realized, all contacted by wisdom; there is no knowledge of the attainment of great compassion not contacted by wisdom—this is the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction—this is unobstructed knowledge.
Bao nhiêu là trí tuệ về sự hơn kém các quyền của chúng sanh... cho đến... bao nhiêu là trí tuệ về ý muốn và khuynh hướng tiềm ẩn của chúng sanh... bao nhiêu là trí tuệ về song thông thần biến... bao nhiêu là trí tuệ về sự nhập đại bi định; tất cả đã được biết, tất cả đã được thấy, tất cả đã được liễu tri, tất cả đã được chứng ngộ, tất cả đã được xúc chạm bởi trí tuệ; không có trí tuệ về sự nhập đại bi định nào mà không được xúc chạm bởi trí tuệ – đó là toàn giác trí. Ở đó không có chướng ngại – đó là vô ngại trí.
Yāvatā sadevakassa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya diṭṭhaṃ sutaṃ mutaṃ viññātaṃ pattaṃ pariyesitaṃ anuvicaritaṃ manasā, sabbaṃ ñātaṃ, sabbaṃ diṭṭhaṃ, sabbaṃ viditaṃ, sabbaṃ sacchikataṃ, sabbaṃ phassitaṃ paññāya; aphassitaṃ paññāya natthīti – sabbaññutaññāṇaṃ. Tattha āvaraṇaṃ natthīti – anāvaraṇañāṇaṃ.
To the extent that there is anything seen, heard, sensed, cognized, attained, sought, and repeatedly investigated by the mind, by the world with its devas, its Māra, and its Brahmā, and by the populace with its ascetics and brahmins, with its devas and humans—all of it is known, all is seen, all is understood, all is realized, all is contacted by wisdom. There is nothing whatsoever that is not contacted by wisdom; therefore, it is called the knowledge of omniscience. Therein there is no obstruction; therefore, it is called unobstructed knowledge.
Bao nhiêu những gì được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết, được đạt đến, được tìm cầu, được tâm suy xét trong thế giới cùng với chư thiên, cùng với ma vương, cùng với phạm thiên, trong chúng sanh cùng với sa-môn, bà-la-môn, cùng với chư thiên và loài người, tất cả đã được biết, tất cả đã được thấy, tất cả đã được liễu tri, tất cả đã được chứng ngộ, tất cả đã được xúc chạm bởi trí tuệ; không có gì không được xúc chạm bởi trí tuệ – đó là toàn giác trí. Ở đó không có chướng ngại – đó là vô ngại trí.
Na tassa addiṭṭhamidhatthi kiñci, atho aviññātamajānitabbaṃ;
Sabbaṃ abhiññāsi yadatthi neyyaṃ, tathāgato tena samantacakkhūti.
For that Tathāgata, there is nothing whatsoever here unseen. Furthermore, there was nothing uncognized, and there will be nothing unknowable. He has directly known all that is knowable; therefore, the Tathāgata is called the All-Seeing Eye.
Ở đây, không có bất cứ điều gì mà vị ấy chưa thấy, cũng không có gì chưa được biết hoặc không thể biết; Ngài đã thắng tri tất cả những gì cần phải biết, do đó Như Lai được gọi là bậc Toàn Nhãn.
Sabbaññutañāṇaniddeso tesattatimo.
The Exposition of the Knowledge of Omniscience is the seventy-third.
Phần giải về Toàn Giác Trí, thứ bảy mươi ba.
Ñāṇakathā niṭṭhitā.
The Discourse on Knowledge is concluded.
Phần luận về trí tuệ đã kết thúc.