- Parivāra
Bản dịch
Pvr 4 — Sự trùng lặp liên tục
4. Antarapeyyāla
PHẦN CÂU HỎI BAO NHIÊU:
Bao nhiêu loại tội vi phạm? Bao nhiêu nhóm tội? Bao nhiêu sự việc đã được rèn luyện? Bao nhiêu sự không kính trọng? Bao nhiêu sự kính trọng? Bao nhiêu sự việc đã được rèn luyện? Bao nhiêu sự hư hỏng? Bao nhiêu nguồn sanh tội? Bao nhiêu nguyên nhân tranh cãi? Bao nhiêu nguyên nhân khiển trách? Bao nhiêu pháp cần được ghi nhớ? Bao nhiêu sự việc gây ra chia rẽ? Bao nhiêu sự tranh tụng? Bao nhiêu cách dàn xếp?
Năm loại tội. Năm nhóm tội. Năm sự việc đã được rèn luyện. Bảy loại tội. Bảy nhóm tội. Bảy sự việc đã được rèn luyện. Sáu sự không kính trọng. Sáu sự kính trọng. Sáu sự việc đã được rèn luyện. Bốn sự hư hỏng. Sáu nguồn sanh tội. Sáu nguyên nhân tranh cãi. Sáu nguyên nhân khiển trách. Sáu pháp cần được ghi nhớ. Mười tám sự việc gây ra chia rẽ. Bốn sự tranh tụng. Bảy cách dàn xếp.
Inda-bh 1~1Ở đấy, năm loại tội là gì? – Tội pārājika, tội saṅghādisesa, tội pācittiya, tội pāṭidesanīya, tội dukkaṭa. Đây là năm loại tội.
Inda-bh 2~2Ở đấy, năm nhóm tội là gì? – Nhóm tội pārājika, nhóm tội saṅghā-disesa, nhóm tội pācittiya, nhóm tội pāṭidesanīya, nhóm tội dukkaṭa. Đây là năm nhóm tội.
Inda-bh 3~3Ở đấy, năm sự việc đã được rèn luyện là gì? Sự hạn chế, sự khống chế, sự kềm chế, sự tránh xa, sự không làm, sự không hành động, sự không vi phạm, sự không vượt qua lằn ranh, sự cắt đứt mối liên hệ với năm nhóm tội. Đây là năm sự việc đã được rèn luyện.
Inda-bh 4~4Ở đấy, bảy loại tội là gì? – Tội pārājika, tội saṅghādisesa, tội thullaccaya, tội pācittiya, tội pāṭidesanīya, tội dukkaṭa, tội dubbhāsita. Đây là bảy loại tội.
Inda-bh 5~5Ở đấy, bảy nhóm tội là gì? – Nhóm tội pārājika, nhóm tội saṅghā-disesa, nhóm tội thullaccaya, nhóm tội pācittiya, nhóm tội pāṭidesanīya, nhóm tội dukkaṭa, nhóm tội dubbhāsita. Đây là bảy nhóm tội.
Inda-bh 6~6Ở đấy, bảy sự việc đã được rèn luyện là gì? Sự hạn chế, sự khống chế, sự kềm chế, sự tránh xa, sự không làm, sự không hành động, sự không vi phạm, sự không vượt qua lằn ranh, sự cắt đứt mối liên hệ với bảy nhóm tội. Đây là bảy sự việc đã được rèn luyện.
Inda-bh 7~7Ở đấy, sáu sự không kính trọng là gì? Sự không kính trọng đức Phật, sự không kính trọng Giáo Pháp, sự không kính trọng hội chúng, sự không kính trọng việc học tập, sự không kính trọng việc không xao lãng, sự không kính trọng trong việc tiếp nhận. Đây là sáu sự không kính trọng.
Inda-bh 8~8Ở đấy, sáu sự kính trọng là gì? Sự kính trọng đức Phật, sự kính trọng Giáo Pháp, sự kính trọng hội chúng, sự kính trọng việc học tập, sự kính trọng việc không xao lãng, sự kính trọng trong việc tiếp nhận. Đây là sáu sự kính trọng.
Inda-bh 9~9Ở đấy, sáu sự việc đã được rèn luyện là gì? Sự hạn chế, sự khống chế, sự kềm chế, sự tránh xa, sự không làm, sự không hành động, sự không vi phạm, sự không vượt qua lằn ranh, sự cắt đứt mối liên hệ với sáu sự không kính trọng. Đây là sáu sự việc đã được rèn luyện.
Inda-bh 10~10Ở đấy, bốn sự hư hỏng là gì? – Sự hư hỏng về giới, sự hư hỏng về hạnh kiểm, sự hư hỏng về tri kiến, sự hư hỏng về nuôi mạng. Đây là bốn sự hư hỏng.
Inda-bh 11~11Ở đấy, sáu nguồn sanh tội là gì? – Có tội sanh lên do thân, không do khẩu không do ý. Có tội sanh lên do khẩu, không do thân không do ý. Có tội sanh lên do thân và do khẩu, không do ý. Có tội sanh lên do thân và do ý, không do khẩu. Có tội sanh lên do khẩu và do ý, không do thân. Có tội sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. Đây là sáu nguồn sanh tội.
Inda-bh 12~12Ở đấy, sáu nguyên nhân tranh cãi là gì? Ở đây, vị tỳ khưu trở nên giận dữ, có sự hằn học. Vị tỳ khưu nào trở nên giận dữ, có sự hằn học, vị ấy sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, sống không tôn kính không phục tùng Giáo Pháp, sống không tôn kính không phục tùng hội chúng, có sự thực hành không trọn vẹn việc học tập. Vị tỳ khưu nào sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, … nt … Giáo Pháp, … nt … hội chúng, … nt … , không có sự thực hành trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây nên sự tranh cãi trong hội chúng. Đó là sự tranh cãi đem lại sự không lợi ích cho nhiều người, đem lại sự không an lạc cho nhiều người, đem lại sự không tấn hóa cho nhiều người, đem lại sự không lợi ích và khổ đau cho chư thiên và nhân loại. Nếu các ngươi nhận thức được nguyên nhân tranh cãi có hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, tại đó các ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy. Nếu các ngươi không nhận thức được nguyên nhân tranh cãi có hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, tại đó các ngươi nên thực hành để không đem lại sự hỗ trợ trong tương lai cho chính nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy. Như thế nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy có được sự chấm dứt. Như thế nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy không có được sự hỗ trợ trong tương lai.
Còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu trở nên đạo đức giả dối trá, … nt … trở nên đố kỵ bỏn xẻn, … nt … trở nên mưu mẹo xảo trá, … nt … trở nên ác dục tà kiến, … nt … trở nên chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi. Vị tỳ khưu nào trở nên chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi, vị ấy sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, sống không tôn kính không phục tùng Giáo Pháp, sống không tôn kính không phục tùng hội chúng, không có sự thực hành trọn vẹn việc học tập. Vị tỳ khưu nào sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, … nt … Giáo Pháp, … nt … hội chúng, … nt … , không có sự thực hành trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây nên sự tranh cãi trong hội chúng. Đó là sự tranh cãi đem lại sự không lợi ích cho nhiều người, đem lại sự không an lạc cho nhiều người, đem lại sự không tấn hóa cho nhiều người, đem lại sự không lợi ích và khổ đau cho chư thiên và nhân loại. Nếu các ngươi nhận thức được nguyên nhân tranh cãi có hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, tại đó các ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy. Nếu các ngươi không nhận thức được nguyên nhân tranh cãi có hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, tại đó các ngươi nên thực hành để không đem lại sự hỗ trợ trong tương lai cho chính nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy. Như thế nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy có được sự chấm dứt. Như thế nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy không có được sự hỗ trợ trong tương lai. Đây là sáu nguyên nhân tranh cãi.
Inda-bh 13~13Ở đấy, sáu nguyên nhân khiển trách là gì? Ở đây, vị tỳ khưu trở nên giận dữ có sự hằn học. Vị tỳ khưu nào trở nên giận dữ, có sự hằn học, vị ấy sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, sống không tôn kính không phục tùng Giáo Pháp, sống không tôn kính không phục tùng hội chúng, không có sự thực hành trọn vẹn việc học tập. Vị tỳ khưu nào sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, … (như trên) … Giáo Pháp, … (như trên) … hội chúng, … (như trên) … , không có sự thực hành trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây nên sự khiển trách trong hội chúng. Đó là sự khiển trách đem lại sự không lợi ích cho nhiều người, đem lại sự không an lạc cho nhiều người, đem lại sự không tấn hóa cho nhiều người, đem lại sự không lợi ích và khổ đau cho chư thiên và nhân loại. Nếu các ngươi nhận thức được nguyên nhân khiển trách có hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, tại đó các ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy. Nếu các ngươi không nhận thức được nguyên nhân khiển trách có hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, tại đó các ngươi nên thực hành để không đem lại sự hỗ trợ trong tương lai cho chính nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy. Như thế nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy có được sự chấm dứt. Như thế nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy không có được sự hỗ trợ trong tương lai.
Còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu trở nên đạo đức giả dối trá, … (như trên) … trở nên đố kỵ bỏn xẻn, … (như trên) … trở nên mưu mẹo xảo trá, … (như trên) … trở nên ác dục tà kiến, … (như trên) … trở nên chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi. Vị tỳ khưu nào trở nên chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi, vị ấy sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, sống không tôn kính không phục tùng Giáo Pháp, sống không tôn kính không phục tùng hội chúng, không có sự thực hành trọn vẹn việc học tập. Vị tỳ khưu nào sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, … (như trên) … Giáo Pháp, … (như trên) … hội chúng, … (như trên) … , không có sự thực hành trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây nên sự khiển trách trong hội chúng. Đó là sự khiển trách đem lại sự không lợi ích cho nhiều người, đem lại sự không an lạc cho nhiều người, đem lại sự không tấn hóa cho nhiều người, đem lại sự không lợi ích và khổ đau cho chư thiên và nhân loại. Nếu các ngươi nhận thức được nguyên nhân khiển trách có hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, tại đó các ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy. Nếu các ngươi không nhận thức được nguyên nhân khiển trách có hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, tại đó các ngươi nên thực hành để không đem lại sự hỗ trợ trong tương lai cho chính nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy. Như thế nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy có được sự chấm dứt. Như thế nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy không có được sự hỗ trợ trong tương lai. Đây là sáu nguyên nhân khiển trách.
Inda-bh 14~14Ở đấy, sáu pháp cần được ghi nhớ là gì? Ở đây, sự thân thiện của vị tỳ khưu qua thân nghiệp đối với các vị đồng Phạm hạnh được thể hiện một cách công khai và luôn cả kín đáo; đây cũng là pháp cần được ghi nhớ, tạo sự thương mến, tạo sự kính trọng, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh cãi, đến sự hòa hợp, đến sự nhất thể.
Còn có điều khác nữa, sự thân thiện của vị tỳ khưu qua khẩu nghiệp đối với các vị đồng Phạm hạnh được thể hiện một cách công khai và luôn cả kín đáo; đây cũng là pháp cần được ghi nhớ, tạo sự thương mến, tạo sự kính trọng, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh cãi, đến sự hòa hợp, đến sự nhất thể.
Còn có điều khác nữa, sự thân thiện của vị tỳ khưu qua ý nghiệp đối với các vị đồng Phạm hạnh được thể hiện một cách công khai và luôn cả kín đáo; đây cũng là pháp cần được ghi nhớ, tạo sự thương mến, tạo sự kính trọng, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh cãi, đến sự hòa hợp, đến sự nhất thể.
Còn có điều khác nữa, những lợi lộc nào đúng pháp, đạt được hợp pháp, ngay cả vật được đặt vào trong bình bát, vị tỳ khưu có sự thọ hưởng đồng đều các lợi lộc có hình thức như thế, có sự thọ hưởng chung với các vị đồng Phạm hạnh có giới đức; đây cũng là pháp cần được ghi nhớ, tạo sự thương mến, tạo sự kính trọng, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh cãi, đến sự hòa hợp, đến sự nhất thể.
Còn có điều khác nữa, những giới nào không bị bể vỡ, không bị sứt mẻ, không lấm nhơ, không khuyết điểm, được tự tại, được các bậc trí ngợi khen, không hoen ố, đưa đến thiền định, vị tỳ khưu cùng với các vị đồng Phạm hạnh sống thực hành về giới theo các giới có hình thức như thế một cách công khai và luôn cả kín đáo; đây cũng là pháp cần được ghi nhớ, tạo sự thương mến, tạo sự kính trọng, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh cãi, đến sự hòa hợp, đến sự nhất thể.
Còn có điều khác nữa, tri kiến nào thuộc bậc Thánh, đưa đến giải thoát, đưa đến sự hoàn toàn diệt tận khổ đau cho người thực hành theo điều ấy, vị tỳ khưu cùng với các vị đồng Phạm hạnh sống thực hành về tri kiến theo tri kiến có hình thức như thế một cách công khai và luôn cả kín đáo; đây cũng là pháp cần được ghi nhớ, tạo sự thương mến, tạo sự kính trọng, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh cãi, đến sự hòa hợp, đến sự nhất thể. Đây là sáu pháp cần được ghi nhớ.
Inda-bh 15~15Ở đấy, mười tám sự việc gây ra chia rẽ là gì? Trường hợp vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp,’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật,’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật,’ tuyên bố điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều không được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được thực hành bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều không được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được quy định bởi đức Như Lai,’ tuyên bố điều được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được quy định bởi đức Như Lai,’ tuyên bố phạm tội là: ‘Vô tội,’ tuyên bố vô tội là: ‘Phạm tội,’ tuyên bố tội nhẹ là: ‘Tội nặng,’ tuyên bố tội nặng là: ‘Tội nhẹ,’ tuyên bố tội còn dư sót là: ‘Tội không còn dư sót,’ tuyên bố tội không còn dư sót là: ‘Tội còn dư sót,’ tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội không xấu xa,’ tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội xấu xa.’ Đây là mười tám sự việc gây ra chia rẽ.
Inda-bh 16~16Ở đấy, bốn sự tranh tụng là gì? Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ. Đây là bốn sự tranh tụng.
Inda-bh 17~17Ở đấy, bảy cách dàn xếp là gì? Hành xử Luật với sự hiện diện, hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, hành xử Luật khi không điên cuồng, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, thuận theo số đông, theo tội của vị ấy, cách dùng cỏ che lấp. Đây là bảy cách dàn xếp.
Dứt phần Câu Hỏi Bao Nhiêu.
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Inda-bh 1~18Tội vi phạm, nhóm tội, (các sự việc) đã được rèn luyện, lại nhóm bảy (về tội), việc đã được rèn luyện, và luôn cả sự không kính trọng, sự kính trọng, và luôn cả nguyên nhân.
Inda-bh 2~19Lại nữa (các sự việc) được rèn luyện, sự hư hỏng, nguồn sanh tội, sự tranh cãi, sự khiển trách, cần được ghi nhớ, sự chia rẽ, và sự tranh tụng, bảy cách dàn xếp đã được nói đến; đây là mười bảy đoạn.
1. PHẦN SÁU NGUỒN SANH TỘI:
Inda-bh 1~20Do nguồn sanh tội thứ nhất, có thể phạm tội pārājika? Nên nói rằng: ‘Không thể.’ Có thể phạm tội saṅghādisesa? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội thullaccaya? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pācittiya? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pāṭidesanīya? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dukkaṭa? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dubbhāsita? Nên nói rằng: ‘Không thể.’
Inda-bh 2~21Do nguồn sanh tội thứ nhì, có thể phạm tội pārājika? Nên nói rằng: ‘Không thể.’ Có thể phạm tội saṅghādisesa? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội thullaccaya? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pācittiya? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pāṭidesanīya? Nên nói rằng: ‘Không thể.’ Có thể phạm tội dukkaṭa? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dubbhāsita? Nên nói rằng: ‘Không thể.’
Inda-bh 3~22Do nguồn sanh tội thứ ba, có thể phạm tội pārājika? Nên nói rằng: ‘Không thể.’ Có thể phạm tội saṅghādisesa? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội thullaccaya? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pācittiya? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pāṭidesanīya? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dukkaṭa? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dubbhāsita? Nên nói rằng: ‘Không thể.’
Inda-bh 4~23Do nguồn sanh tội thứ tư, có thể phạm tội pārājika? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội saṅghādisesa? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội thullaccaya? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pācittiya? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pāṭidesanīya? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dukkaṭa? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dubbhāsita? Nên nói rằng: ‘Không thể.’
Inda-bh 5~24Do nguồn sanh tội thứ năm, có thể phạm tội pārājika? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội saṅghādisesa? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội thullaccaya? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pācittiya? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pāṭidesanīya? Nên nói rằng: ‘Không thể.’ Có thể phạm tội dukkaṭa? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dubbhāsita? Nên nói rằng: ‘Có thể.’
Inda-bh 6~25Do nguồn sanh tội thứ sáu, có thể phạm tội pārājika? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội saṅghādisesa? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội thullaccaya? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pācittiya? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pāṭidesanīya? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dukkaṭa? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dubbhāsita? Nên nói rằng: ‘Không thể.’
Dứt phần Sáu Nguồn Sanh Tội là thứ nhất.
2. PHẦN BAO NHIÊU TỘI:
Inda-bh 1~26Do nguồn sanh tội thứ nhất vi phạm bao nhiêu loại tội? Do nguồn sanh tội thứ nhất vi phạm năm loại tội: Vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, rồi tự xin (vật liệu) và xây dựng cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh, lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa; còn cục (vữa tô) cuối cùng phạm tội thullaccaya; khi cục (vữa tô) ấy đã được đặt vào phạm tội saṅghādisesa; vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, rồi thọ dụng vật thực vào lúc sái thời phạm tội pācittiya; vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm từ tay tỳ khưu ni không phải là thân quyến đã đi vào xóm nhà, rồi thọ dụng phạm tội pāṭidesanīya. Do nguồn sanh tội thứ nhất vi phạm năm loại tội này.
Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? Được tổng hợp vào bao nhiêu nhóm tội trong bảy nhóm tội? Được sanh lên do bao nhiêu nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội? Là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng? Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào năm nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội pāṭidesanīya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân, không do khẩu không do ý. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
Inda-bh 2~27Do nguồn sanh tội thứ nhì vi phạm bao nhiêu loại tội? Do nguồn sanh tội thứ nhì vi phạm bốn loại tội: Vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, rồi chỉ thị rằng: ‘Các người hãy xây dựng cốc liêu cho tôi.’ Họ xây dựng cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh, lúc tiến hành (vị tỳ khưu) phạm tội dukkaṭa; còn cục (vữa tô) cuối cùng phạm tội thullaccaya; khi cục (vữa tô) ấy đã được đặt vào phạm tội saṅghādisesa; vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, rồi dạy người chưa tu lên bậc trên đọc Pháp theo từng câu phạm tội pācittiya. Do nguồn sanh tội thứ nhì vi phạm bốn loại tội này.
Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? … nt … Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào bốn nhóm tội trong nhóm tội: có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do khẩu, không do thân không do ý. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
Inda-bh 3~28Do nguồn sanh tội thứ ba vi phạm bao nhiêu loại tội? Do nguồn sanh tội thứ ba vi phạm năm loại tội: Vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, rồi sắp xếp và xây dựng cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh, lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa; còn cục (vữa tô) cuối cùng phạm tội thullaccaya; khi cục (vữa tô) ấy đã được đặt vào phạm tội saṅghādisesa; vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, yêu cầu các loại vật thực hảo hạng cho nhu cầu của bản thân, rồi thọ dụng phạm tội pācittiya; vị tỳ khưu nghĩ rằng được phép, không ngăn cản vị tỳ khưu ni đang hướng dẫn sự phục vụ, rồi thọ thực phạm tội pāṭidesanīya. Do nguồn sanh tội thứ ba vi phạm năm loại tội này.
Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? … nt … Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào năm nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội pāṭidesanīya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân và do khẩu, không do ý. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
Inda-bh 4~29Do nguồn sanh tội thứ tư vi phạm bao nhiêu loại tội? Do nguồn sanh tội thứ tư vi phạm sáu loại tội: Vị tỳ khưu thực hiện việc đôi lứa phạm tội pārājika; vị tỳ khưu nghĩ rằng không được phép, rồi tự xin (vật liệu) và xây dựng cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh, lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa; còn cục (vữa tô) cuối cùng phạm tội thullaccaya; khi cục (vữa tô) ấy đã được đặt vào phạm tội saṅghādisesa; vị tỳ khưu nghĩ rằng không được phép, rồi thọ dụng vật thực lúc sái thời phạm tội pācittiya; vị tỳ khưu nghĩ rằng không được phép, tự tay nhận lãnh vật thực cứng hoặc vật thực mềm từ tay tỳ khưu ni không phải là thân quyến đã đi vào xóm nhà, rồi thọ dụng phạm tội pāṭidesanīya. Do nguồn sanh tội thứ tư vi phạm sáu loại tội này.
Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? … nt … Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào sáu nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika, có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội pāṭidesanīya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân và do ý, không do khẩu. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
Inda-bh 5~30Do nguồn sanh tội thứ năm vi phạm bao nhiêu loại tội? Do nguồn sanh tội thứ năm vi phạm sáu loại tội: Vị tỳ khưu có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn, rồi khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng phạm tội pārājika; vị tỳ khưu nghĩ rằng không được phép, rồi chỉ thị rằng: ‘Các người hãy xây dựng cốc liêu cho tôi,’ họ xây dựng cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh, lúc tiến hành (vị tỳ khưu) phạm tội dukkaṭa; còn cục (vữa tô) cuối cùng phạm tội thullaccaya; khi cục (vữa tô) ấy đã được đặt vào phạm tội saṅghādisesa; vị tỳ khưu nghĩ rằng không được phép, rồi dạy người chưa tu lên bậc trên đọc Pháp theo từng câu phạm tội pācittiya; vị không có ý định chửi rủa, không có ý định khinh bỉ, không có ý định hạ nhục, có ý muốn đùa giỡn rồi nói vị thấp kém theo sự thấp kém phạm tội dubbhāsita. Do nguồn sanh tội thứ năm vi phạm sáu loại tội này.
Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? … nt … Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào sáu nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika, có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa, có thể là nhóm tội dubbhāsita. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do khẩu và do ý, không do thân. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
Inda-bh 6~31Do nguồn sanh tội thứ sáu vi phạm bao nhiêu loại tội? Do nguồn sanh tội thứ sáu vi phạm sáu loại tội: Vị tỳ khưu tính toán rồi lấy trộm gói đồ phạm tội pārājika; vị tỳ khưu nghĩ rằng không được phép, rồi sắp xếp và xây dựng cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh, lúc tiến hành phạm tội dukkaṭa; còn cục (vữa tô) cuối cùng phạm tội thullaccaya; khi cục (vữa tô) ấy đã được đặt vào phạm tội saṅghādisesa; vị tỳ khưu nghĩ rằng không được phép, rồi yêu cầu các loại vật thực hảo hạng cho nhu cầu của bản thân, và thọ dụng phạm tội pācittiya; vị tỳ khưu nghĩ rằng không được phép, rồi không ngăn cản vị tỳ khưu ni đang hướng dẫn sự phục vụ, và thọ thực phạm tội pāṭidesanīya. Do nguồn sanh tội thứ sáu vi phạm sáu loại tội này.
Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? Được tổng hợp vào bao nhiêu nhóm tội trong bảy nhóm tội? Được sanh lên do bao nhiêu nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội? Là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng? Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào sáu nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika, có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội pāṭidesanīya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
Dứt phần Bao Nhiêu Tội thuộc Sáu Nguồn Sanh Tội là thứ nhì.
3. BÀI KỆ VỀ NGUỒN SANH TỘI:
Inda-bh 1~32Các nguồn sanh tội có liên quan đến thân đã được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có bao nhiêu tội được sanh lên vì điều ấy? Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi hỏi, xin ngài hãy nói về điều ấy.
Inda-bh 2~33Các nguồn sanh tội có liên quan đến thân đã được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có năm tội được sanh lên vì điều ấy. Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi trả lời câu này cho ngài.
Inda-bh 3~34Các nguồn sanh tội có liên quan đến khẩu đã được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có bao nhiêu tội được sanh lên vì nhân ấy? Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi hỏi, xin ngài hãy nói về điều ấy.
Inda-bh 4~35Các nguồn sanh tội có liên quan đến khẩu đã được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có bốn tội được sanh lên vì điều ấy. Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi trả lời câu này cho ngài.
Inda-bh 5~36Các nguồn sanh tội có liên quan đến thân có liên quan đến khẩu đã được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có bao nhiêu tội được sanh lên vì nhân ấy? Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi hỏi, xin ngài hãy nói về điều ấy.
Inda-bh 6~37Các nguồn sanh tội có liên quan đến thân có liên quan đến khẩu đã được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có năm tội được sanh lên vì điều ấy. Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi trả lời câu này cho ngài.
Inda-bh 7~38Các nguồn sanh tội có liên quan đến thân có liên quan đến ý đã được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có bao nhiêu tội được sanh lên vì nhân ấy? Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi hỏi, xin ngài hãy nói về điều ấy.
Inda-bh 8~39Các nguồn sanh tội có liên quan đến thân có liên quan đến ý đã được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có sáu tội được sanh lên vì nhân ấy. Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi trả lời câu này cho ngài.
Inda-bh 9~40Các nguồn sanh tội có liên quan đến khẩu có liên quan đến ý đã được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có bao nhiêu tội được sanh lên vì điều ấy? Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi hỏi, xin ngài hãy nói về điều ấy.
Inda-bh 10~41Các nguồn sanh tội có liên quan đến khẩu có liên quan đến ý đã được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có sáu tội được sanh lên vì điều ấy. Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi trả lời câu này cho ngài.
Inda-bh 11~42Các nguồn sanh tội có liên quan đến thân có liên quan đến khẩu có liên quan đến ý đã được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có bao nhiêu tội được sanh lên vì điều ấy? Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi hỏi, xin ngài hãy nói về điều ấy.
Inda-bh 12~43Các nguồn sanh tội có liên quan đến thân có liên quan đến khẩu có liên quan đến ý đã được bậc có sự hiểu biết vô biên, đấng Phúc Lợi của thế gian, có sự hiểu biết về xuất ly nói đến. Có sáu tội được sanh lên vì điều ấy. Hỡi vị rành rẽ về bộ Phân Tích, tôi trả lời câu này cho ngài.
Dứt Bài Kệ về Nguồn Sanh Tội là thứ ba.
4. PHẦN DO DUYÊN HƯ HỎNG:
Inda-bh 1~44Do duyên hư hỏng về giới vi phạm bao nhiêu loại tội? – Do duyên hư hỏng về giới vi phạm bốn loại tội: Vị tỳ khưu ni biết mà che giấu tội pārājika (của tỳ khưu ni khác) phạm tội pārājika; có sự hoài nghi rồi che giấu phạm tội thullaccaya; vị tỳ khưu che giấu tội saṅghādisesa phạm tội pācittiya; vị che giấu tội xấu của bản thân phạm tội dukkaṭa. Do duyên hư hỏng về giới vi phạm bốn loại tội này.
Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? … nt … Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào bốn nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
Inda-bh 2~45Do duyên hư hỏng về hạnh kiểm vi phạm bao nhiêu loại tội? – Do duyên hư hỏng về hạnh kiểm vi phạm một loại tội: Vị che giấu sự hư hỏng về hạnh kiểm phạm tội dukkaṭa. Do duyên hư hỏng về hạnh kiểm vi phạm một loại tội này.
Tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? … nt … Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
Tội ấy liên hệ với một sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào một nhóm tội trong bảy nhóm tội là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
Inda-bh 3~46Do duyên hư hỏng về tri kiến vi phạm bao nhiêu loại tội? – Do duyên hư hỏng về tri kiến vi phạm hai loại tội: Vị không dứt bỏ tà kiến ác với sự nhắc nhở đến lần thứ ba, do lời đề nghị phạm tội dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự phạm các tội dukkaṭa; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự phạm tội pācittiya. Do duyên hư hỏng về tri kiến vi phạm hai loại tội này.
Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? … nt … Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
Các tội ấy liên hệ với một sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào hai nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
Inda-bh 4~47Do duyên hư hỏng về nuôi mạng vi phạm bao nhiêu loại tội? – Do duyên hư hỏng về nuôi mạng vi phạm sáu loại tội: Vì nguyên nhân nuôi mạng vì lý do nuôi mạng, vị (tỳ khưu) có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn, rồi khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng phạm tội pārājika; vì nguyên nhân nuôi mạng vì lý do nuôi mạng, vị thực hành việc mai mối phạm tội saṅghādisesa; vì nguyên nhân nuôi mạng vì lý do nuôi mạng, vị nói rằng: ‘Vị (tỳ khưu) nào cư ngụ trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy là bậc A-la-hán,’ (người nghe) hiểu được phạm tội thullaccaya; vì nguyên nhân nuôi mạng vì lý do nuôi mạng, vị tỳ khưu yêu cầu các loại vật thực hảo hạng cho nhu cầu của bản thân rồi thọ dụng phạm tội pācittiya; vì nguyên nhân nuôi mạng vì lý do nuôi mạng, vị tỳ khưu ni yêu cầu các loại vật thực hảo hạng cho nhu cầu của bản thân rồi thọ dụng phạm tội pāṭidesanīya; vì nguyên nhân nuôi mạng vì lý do nuôi mạng, vị tỳ khưu không bị bệnh yêu cầu xúp và cơm cho nhu cầu của bản thân rồi thọ dụng phạm tội dukkaṭa. Do duyên hư hỏng về nuôi mạng vi phạm sáu loại tội này.
Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? … nt … Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào sáu nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika, có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội pāṭidesanīya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do sáu nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội: có thể sanh lên do thân, không do khẩu không do ý; có thể sanh lên do khẩu, không do thân không do ý; có thể sanh lên do thân và do khẩu, không do ý; có thể sanh lên do thân và do ý, không do khẩu; có thể sanh lên do khẩu và do ý, không do thân; có thể sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
Dứt phần Do Duyên Hư Hỏng là thứ tư.
5. PHẦN DO DUYÊN TRANH TỤNG:
Inda-bh 1~48Do duyên tranh tụng liên quan đến tranh cãi vi phạm bao nhiêu tội? – Do duyên tranh tụng liên quan đến tranh cãi vi phạm hai tội: Vị mắng nhiếc vị đã tu lên bậc trên phạm tội pācittiya; vị mắng nhiếc người chưa tu lên bậc trên phạm tội dukkaṭa. Do duyên tranh tụng liên quan đến tranh cãi vi phạm hai tội này.
Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? … nt … Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
Các tội ấy liên hệ với một sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào hai nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do ba nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội: có thể sanh lên do thân và do ý, không do khẩu; có thể sanh lên do khẩu và do ý, không do thân; có thể sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
Inda-bh 2~49Do duyên tranh tụng liên quan đến khiển trách vi phạm bao nhiêu tội? – Do duyên tranh tụng liên quan đến khiển trách vi phạm ba tội: Vị bôi nhọ vị tỳ khưu về tội pārājika không có nguyên cớ phạm tội saṅghādisesa; vị bôi nhọ vị tỳ khưu về tội saṅghādisesa không có nguyên cớ phạm tội pācittiya; vị bôi nhọ vị tỳ khưu với sự hư hỏng về hạnh kiểm không có nguyên cớ phạm tội dukkaṭa. Do duyên tranh tụng liên quan đến khiển trách vi phạm ba tội này.
Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? … nt … Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào ba nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do ba nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội: có thể sanh lên do thân và do ý, không do khẩu; có thể sanh lên do khẩu và do ý, không do thân; có thể sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
Inda-bh 3~50Do duyên tranh tụng liên quan đến tội vi phạm bao nhiêu tội? – Do duyên tranh tụng liên quan đến tội vi phạm bốn tội: Vị tỳ khưu ni biết mà che giấu tội pārājika (của tỳ khưu ni khác) phạm tội pārājika; có sự hoài nghi rồi che giấu phạm tội thullaccaya; vị tỳ khưu che giấu tội saṅghādisesa (của vị tỳ khưu khác) phạm tội pācittiya; vị che giấu sự hư hỏng về hạnh kiểm phạm tội dukkaṭa. Do duyên tranh tụng liên quan đến tội vi phạm bốn tội này.
Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? … nt … Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào bốn nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
Inda-bh 4~51Do duyên tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ vi phạm bao nhiêu tội? Do duyên tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ vi phạm năm tội: Vị tỳ khưu ni là người xu hướng theo kẻ bị phạt án treo không chịu dứt bỏ với lời nhắc nhở đến lần thứ ba, do lời đề nghị phạm tội dukkaṭa, do hai lời tuyên ngôn của hành sự phạm các tội thullaccaya, vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự phạm tội pārājika; các tỳ khưu là những người xu hướng theo kẻ chia rẽ (hội chúng) không chịu dứt bỏ với lời nhắc nhở đến lần thứ ba phạm tội saṅghādisesa; vị không chịu dứt bỏ tà kiến ác với lời nhắc nhở đến lần thứ ba phạm tội pācittiya. Do duyên tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ vi phạm năm tội này.
Các tội ấy liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? … nt … Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
Các tội ấy liên hệ với hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng: có thể là sự hư hỏng về giới, có thể là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được tổng hợp vào năm nhóm tội trong bảy nhóm tội: có thể là nhóm tội pārājika, có thể là nhóm tội saṅghādisesa, có thể là nhóm tội thullaccaya, có thể là nhóm tội pācittiya, có thể là nhóm tội dukkaṭa. Được sanh lên do một nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội là sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. Là sự tranh tụng liên quan đến tội trong bốn sự tranh tụng. Được làm lắng dịu bởi ba cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp: có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, có thể là hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
Trừ ra bảy loại tội và bảy nhóm tội, các tội còn lại liên hệ với bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? Được tổng hợp vào bao nhiêu nhóm tội trong bảy nhóm tội? Được sanh lên do bao nhiêu nguồn sanh tội trong sáu nguồn sanh tội? Là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng? Được làm lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp trong bảy cách dàn xếp?
Trừ ra bảy loại tội và bảy nhóm tội, các tội còn lại không liên hệ với sự hư hỏng nào trong bốn sự hư hỏng, không được tổng hợp vào nhóm tội nào trong bảy nhóm tội, không được sanh lên do nguồn sanh tội nào trong sáu nguồn sanh tội, không là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng, không được làm lắng dịu bởi cách dàn xếp nào trong bảy cách dàn xếp. Nguyên nhân của điều ấy là gì? Trừ ra bảy loại tội và bảy nhóm tội, các tội khác không có.
Dứt phần Do Duyên Tranh Tụng là thứ năm.
Dứt Sự Trùng Lặp Liên Tục.
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Câu hỏi về bao nhiêu, các nguồn sanh (tội), và bao nhiêu tội là tương tợ y như thế. (Bài kệ) các nguồn sanh tội, và sự hư hỏng, và tương tợ về sự tranh tụng.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- The Compendium
Various topics with a focus on the origination of offenses
Phần lược giữa.
Katipucchāvāra
The section on questioning “how many?”
Chương câu hỏi "Bao nhiêu?"
Kati āpattiyo? Kati āpattikkhandhā? Kati vinītavatthūni? Kati agāravā? Kati gāravā? Kati vinītavatthūni? Kati vipattiyo? Kati āpattisamuṭṭhānā? Kati vivādamūlāni? Kati anuvādamūlāni? Kati sāraṇīyā dhammā? Kati bhedakaravatthūni? Kati adhikaraṇāni? Kati samathā?
How many kinds of offenses? How many classes of offenses? How many grounds of training? How many kinds of disrespect? How many kinds of respect? How many grounds of training? How many kinds of failure? How many kinds of originations of offenses? How many roots of disputes? How many roots of accusations? How many aspects of friendliness? How many grounds for schism? How many kinds of legal issues? How many principles for settling them?
271. Có bao nhiêu điều tội? Có bao nhiêu uẩn tội? Có bao nhiêu sự việc đã được xử lý? Có bao nhiêu sự không tôn kính? Có bao nhiêu sự tôn kính? Có bao nhiêu sự việc đã được xử lý? Có bao nhiêu sự hư hỏng? Có bao nhiêu sự khởi sanh của điều tội? Có bao nhiêu cội rễ của sự tranh cãi? Có bao nhiêu cội rễ của sự chỉ trích? Có bao nhiêu pháp đáng ghi nhớ? Có bao nhiêu sự việc gây chia rẽ? Có bao nhiêu sự tranh tụng? Có bao nhiêu pháp dàn xếp?
Pañca āpattiyo. Pañca āpattikkhandhā. Pañca vinītavatthūni. Satta āpattiyo. Satta āpattikkhandhā. Satta vinītavatthūni. Cha agāravā. Cha gāravā. Cha vinītavatthūni. Catasso vipattiyo. Cha āpattisamuṭṭhānā. Cha vivādamūlāni. Cha anuvādamūlāni. Cha sāraṇīyā dhammā. Aṭṭhārasa bhedakaravatthūni. Cattāri adhikaraṇāni. Satta samathā.
There are five kinds of offenses. There are five classes of offenses. There are five grounds of training. There are seven kinds of offenses. There are seven classes of offenses. There are seven grounds of training. There are six kinds of disrespect. There are six kinds of respect. There are six grounds of training. There are four kinds of failure. There are six kinds of originations of offenses. There are six roots of disputes. There are six roots of accusations. There are six aspects of friendliness. There are eighteen grounds for schism. There are four kinds of legal issues. There are seven principles for settling them.
Năm điều tội. Năm uẩn tội. Năm sự việc đã được xử lý. Bảy điều tội. Bảy uẩn tội. Bảy sự việc đã được xử lý. Sáu sự không tôn kính. Sáu sự tôn kính. Sáu sự việc đã được xử lý. Bốn sự hư hỏng. Sáu sự khởi sanh của điều tội. Sáu cội rễ của sự tranh cãi. Sáu cội rễ của sự chỉ trích. Sáu pháp đáng ghi nhớ. Mười tám sự việc gây chia rẽ. Bốn sự tranh tụng. Bảy pháp dàn xếp.
Tattha katamā pañca āpattiyo? Pārājikāpatti, saṅghādisesāpatti, pācittiyāpatti, pāṭidesanīyāpatti, dukkaṭāpatti—imā pañca āpattiyo.
What are the five kinds of offenses? Offenses entailing expulsion, offenses entailing suspension, offenses entailing confession, offenses entailing acknowledgment, offenses of wrong conduct.
Trong đó, thế nào là năm điều tội? Tội pārājika, tội saṅghādisesa, tội pācittiya, tội pāṭidesanīya, tội dukkaṭa – đây là năm điều tội.
Tattha katame pañca āpattikkhandhā? Pārājikāpattikkhandho, saṅghādisesāpattikkhandho, pācittiyāpattikkhandho, pāṭidesanīyāpattikkhandho, dukkaṭāpattikkhandho—ime pañca āpattikkhandhā.
What are the five classes of offenses? The class of offenses entailing expulsion, the class of offenses entailing suspension, the class of offenses entailing confession, the class of offenses entailing acknowledgment, the class of offenses of wrong conduct.
Trong đó, thế nào là năm uẩn tội? Uẩn tội pārājika, uẩn tội saṅghādisesa, uẩn tội pācittiya, uẩn tội pāṭidesanīya, uẩn tội dukkaṭa – đây là năm uẩn tội.
Tattha katamāni pañca vinītavatthūni? Pañcahi āpattikkhandhehi ārati virati paṭivirati veramaṇī akiriyā akaraṇaṁ anajjhāpatti velāanatikkamo setughāto—imāni pañca vinītavatthūni.
What are the five grounds of training? The refraining from, the keeping away from, the desisting from, the abstaining from, the non-doing of, the non-performing of, the non-committing of, the non-transgressing the boundary of, the incapability with respect to the five classes of offenses.
Trong đó, thế nào là năm sự việc đã được xử lý? Từ năm uẩn tội: sự xa lánh, sự kiêng cữ, sự kiêng cữ riêng biệt, sự chế ngự, sự không hành động, sự không làm, sự không phạm phải, sự không vượt qua giới hạn, sự phá vỡ (ngăn) – đây là năm sự việc đã được xử lý.
Tattha katamā satta āpattiyo? Pārājikāpatti, saṅghādisesāpatti, thullaccayāpatti, pācittiyāpatti, pāṭidesanīyāpatti, dukkaṭāpatti, dubbhāsitāpatti—imā satta āpattiyo.
What are the seven kinds of offenses? Offenses entailing expulsion, offenses entailing suspension, serious offenses, offenses entailing confession, offenses entailing acknowledgment, offenses of wrong conduct, offenses of wrong speech.
Trong đó, thế nào là bảy điều tội? Tội pārājika, tội saṅghādisesa, tội thullaccaya, tội pācittiya, tội pāṭidesanīya, tội dukkaṭa, tội dubbhāsita – đây là bảy điều tội.
Tattha katame satta āpattikkhandhā? Pārājikāpattikkhandho, saṅghādisesāpattikkhandho, thullaccayāpattikkhandho, pācittiyāpattikkhandho, pāṭidesanīyāpattikkhandho, dukkaṭāpattikkhandho, dubbhāsitāpattikkhandho—ime satta āpattikkhandhā.
What are the seven classes of offenses? The class of offenses entailing expulsion, the class of offenses entailing suspension, the class of serious offenses, the class of offenses entailing confession, the class of offenses entailing acknowledgment, the class of offenses of wrong conduct, the class of offenses of wrong speech.
Trong đó, thế nào là bảy uẩn tội? Uẩn tội pārājika, uẩn tội saṅghādisesa, uẩn tội thullaccaya, uẩn tội pācittiya, uẩn tội pāṭidesanīya, uẩn tội dukkaṭa, uẩn tội dubbhāsita – đây là bảy uẩn tội.
Tattha katamāni satta vinītavatthūni? Sattahi āpattikkhandhehi ārati virati paṭivirati veramaṇī akiriyā akaraṇaṁ anajjhāpatti velāanatikkamo setughāto—imāni satta vinītavatthūni.
What are the seven grounds of training? The refraining from, the keeping away from, the desisting from, the abstaining from, the non-doing of, the non-performing of, the non-committing of, the non-transgressing the boundary of, the incapability with respect to the seven classes of offenses.
Trong đó, thế nào là bảy sự việc đã được xử lý? Từ bảy uẩn tội: sự xa lánh, sự kiêng cữ, sự kiêng cữ riêng biệt, sự chế ngự, sự không hành động, sự không làm, sự không phạm phải, sự không vượt qua giới hạn, sự phá vỡ (ngăn) – đây là bảy sự việc đã được xử lý.
Tattha katame cha agāravā? Buddhe agāravo, dhamme agāravo, saṅghe agāravo, sikkhāya agāravo, appamāde agāravo, paṭisandhāre agāravo—ime cha agāravā.
What are the six kinds of disrespect? Disrespect for the Buddha, disrespect for the Teaching, disrespect for the Sangha, disrespect for the training, disrespect for heedfulness, disrespect for hospitality.
Trong đó, thế nào là sáu sự không tôn kính? Không tôn kính đối với đức Phật, không tôn kính đối với Pháp, không tôn kính đối với Tăng, không tôn kính đối với học giới, không tôn kính đối với sự không dể duôi, không tôn kính đối với sự tiếp đãi – đây là sáu sự không tôn kính.
Tattha katame cha gāravā? Buddhe gāravo, dhamme gāravo, saṅghe gāravo, sikkhāya gāravo, appamāde gāravo, paṭisandhāre gāravo—ime cha gāravā.
What are the six kinds of respect? Respect for the Buddha, respect for the Teaching, respect for the Sangha, respect for the training, respect for heedfulness, respect for hospitality.
Trong đó, thế nào là sáu sự tôn kính? Tôn kính đối với đức Phật, tôn kính đối với Pháp, tôn kính đối với Tăng, tôn kính đối với học giới, tôn kính đối với sự không dể duôi, tôn kính đối với sự tiếp đãi – đây là sáu sự tôn kính.
Tattha katamāni cha vinītavatthūni? Chahi agāravehi ārati virati paṭivirati veramaṇī akiriyā akaraṇaṁ anajjhāpatti velāanatikkamo setughāto—imāni cha vinītavatthūni.
What are the six grounds of training? The refraining from, the keeping away from, the desisting from, the abstaining from, the non-doing of, the non-performing of, the non-committing of, the non-transgressing the boundary of, the incapability with respect to the six kinds of disrespect.
Trong đó, thế nào là sáu sự việc đã được xử lý? Từ sáu sự không tôn kính: sự xa lánh, sự kiêng cữ, sự kiêng cữ riêng biệt, sự chế ngự, sự không hành động, sự không làm, sự không phạm phải, sự không vượt qua giới hạn, sự phá vỡ (ngăn) – đây là sáu sự việc đã được xử lý.
Tattha katamā catasso vipattiyo? Sīlavipatti, ācāravipatti, diṭṭhivipatti, ājīvavipatti—imā catasso vipattiyo.
What are four kinds of failure? Failure in morality, failure in conduct, failure in view, failure in livelihood.
Trong đó, thế nào là bốn sự hư hỏng? Sự hư hỏng về giới, sự hư hỏng về आचरण, sự hư hỏng về tri kiến, sự hư hỏng về mạng sống – đây là bốn sự hư hỏng.
Tattha katame cha āpattisamuṭṭhānā? Atthāpatti kāyato samuṭṭhāti, na vācato na cittato; atthāpatti vācato samuṭṭhāti, na kāyato na cittato; atthāpatti kāyato ca vācato ca samuṭṭhāti, na cittato; atthāpatti kāyato ca cittato ca samuṭṭhāti, na vācato; atthāpatti vācato ca cittato ca samuṭṭhāti, na kāyato; atthāpatti kāyato ca vācato ca cittato ca samuṭṭhāti—ime cha āpattisamuṭṭhānā.
Tattha katamāni cha vivādamūlāni?
What are the six kinds of originations of offenses? There are offenses that originate from body, but not from speech or mind; there are offenses that originate from speech, but not from body or mind; there are offenses that originate from body and speech, but not from mind; there are offenses that originate from body and mind, but not from speech; there are offenses that originate from speech and mind, but not from body; there are offenses that originate from body, speech, and mind.
What are the six roots of disputes?
Trong đó, thế nào là sáu sự khởi sanh của điều tội? Có điều tội khởi sanh do thân, không do lời nói, không do tâm; có điều tội khởi sanh do lời nói, không do thân, không do tâm; có điều tội khởi sanh do thân và lời nói, không do tâm; có điều tội khởi sanh do thân và tâm, không do lời nói; có điều tội khởi sanh do lời nói và tâm, không do thân; có điều tội khởi sanh do thân, do lời nói, và do tâm – đây là sáu sự khởi sanh của điều tội.
272. Trong ấy, sáu căn nguyên của sự tranh cãi là gì? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu hay phẫn nộ, hay oán hận. Vị tỳ khưu nào hay phẫn nộ, hay oán hận, vị ấy sống không tôn kính, không vâng phục đối với bậc Đạo Sư; sống không tôn kính, không vâng phục đối với Pháp; sống không tôn kính, không vâng phục đối với Tăng; và không phải là người thực hành đầy đủ học giới. Vị tỳ khưu nào sống không tôn kính, không vâng phục đối với bậc Đạo Sư, ... đối với Pháp, ... đối với Tăng, ... không thực hành đầy đủ học giới, vị ấy làm phát sanh sự tranh cãi trong Tăng chúng. Sự tranh cãi ấy là vì bất hạnh cho đa số, vì bất an cho đa số, vì không lợi ích, vì bất hạnh, vì đau khổ cho chư thiên và nhân loại. Nếu các ngươi nhận thấy căn nguyên tranh cãi như vậy ở bên trong hay bên ngoài, thì ở đó, các ngươi nên cố gắng để đoạn trừ chính căn nguyên tranh cãi xấu xa ấy. Nếu các ngươi không nhận thấy căn nguyên tranh cãi như vậy ở bên trong hay bên ngoài, thì ở đó, các ngươi nên thực hành để chính căn nguyên tranh cãi xấu xa ấy không phát sanh trong tương lai. Như vậy là sự đoạn trừ căn nguyên tranh cãi xấu xa này. Như vậy là sự không phát sanh trong tương lai của căn nguyên tranh cãi xấu xa này.
Puna caparaṁ bhikkhu makkhī hoti paḷāsī …pe… issukī hoti maccharī, saṭho hoti māyāvī, pāpiccho hoti micchādiṭṭhi, sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī. Yo so bhikkhu sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī so sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi agāravo viharati appatisso, saṅghepi agāravo viharati appatisso, sikkhāyapi na paripūrakārī hoti. Yo so bhikkhu satthari agāravo viharati appatisso dhamme …pe… saṅghe …pe… sikkhāya na paripūrakārī, so saṅghe vivādaṁ janeti. Yo so hoti vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Evarūpañce tumhe vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā samanupasseyyātha tatra tumhe tasseva pāpakassa vivādamūlassa pahānāya vāyameyyātha. Evarūpañce tumhe vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā na samanupasseyyātha tatra tumhe tasseva pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavāya paṭipajjeyyātha. Evametassa pāpakassa vivādamūlassa pahānaṁ hoti. Evametassa pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavo hoti. Imāni cha vivādamūlāni.
(2) Or it may be that a monk is denigrating and domineering, (3) envious and stingy, (4) treacherous and deceitful, (5) one who has bad desires and wrong views, or (6) one who obstinately grasps his own views and only gives them up with difficulty. Any of these is disrespectful and undeferential toward the Teacher, the Teaching, and the Sangha, and he doesn’t fulfill the training. Such a person creates disputes in the Sangha. Disputes are unbeneficial and a cause of unhappiness for humanity; they are harmful, detrimental, and a cause of suffering for gods and humans. When you see such a root of disputes either in yourself or in others, you should make an effort to get rid of it. If you don’t see such a root either in yourself or in others, you should practice so that it does not emerge in the future. In this way that bad root of disputes is abandoned and does not emerge in the future.
Lại nữa, vị tỳ khưu hay che giấu lỗi người khác, hay ganh đua; ... hay tật đố, hay bỏn xẻn; hay xảo trá, hay lừa phỉnh; có ước muốn xấu xa, có tà kiến; là người chấp thủ tà kiến của mình, cố chấp, khó từ bỏ. Vị tỳ khưu nào là người chấp thủ tà kiến của mình, cố chấp, khó từ bỏ, vị ấy sống không tôn kính, không vâng phục đối với bậc Đạo Sư, sống không tôn kính, không vâng phục đối với Pháp, sống không tôn kính, không vâng phục đối với Tăng, và không phải là người thực hành đầy đủ học giới. Vị tỳ khưu nào sống không tôn kính, không vâng phục đối với bậc Đạo Sư, ... đối với Pháp, ... đối với Tăng, ... không thực hành đầy đủ học giới, vị ấy làm phát sanh sự tranh cãi trong Tăng chúng. Sự tranh cãi ấy là vì bất hạnh cho đa số, vì bất an cho đa số, vì không lợi ích, vì bất hạnh, vì đau khổ cho chư thiên và nhân loại. Nếu các ngươi nhận thấy căn nguyên tranh cãi như vậy ở bên trong hay bên ngoài, thì ở đó, các ngươi nên cố gắng để đoạn trừ chính căn nguyên tranh cãi xấu xa ấy. Nếu các ngươi không nhận thấy căn nguyên tranh cãi như vậy ở bên trong hay bên ngoài, thì ở đó, các ngươi nên thực hành để chính căn nguyên tranh cãi xấu xa ấy không phát sanh trong tương lai. Như vậy là sự đoạn trừ căn nguyên tranh cãi xấu xa này. Như vậy là sự không phát sanh trong tương lai của căn nguyên tranh cãi xấu xa này. Đây là sáu căn nguyên của sự tranh cãi.
Tattha katamāni cha anuvādamūlāni? Idha bhikkhu kodhano hoti upanāhī. Yo so bhikkhu kodhano hoti upanāhī so sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi agāravo viharati appatisso, saṅghepi agāravo viharati appatisso, sikkhāyapi na paripūrakārī hoti. Yo so bhikkhu satthari agāravo viharati appatisso dhamme …pe… saṅghe …pe… sikkhāya na paripūrakārī so saṅghe anuvādaṁ janeti. Yo hoti anuvādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Evarūpañce tumhe anuvādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā samanupasseyyātha tatra tumhe tasseva pāpakassa anuvādamūlassa pahānāya vāyameyyātha. Evarūpañce tumhe anuvādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā na samanupasseyyātha tatra tumhe tasseva pāpakassa anuvādamūlassa āyatiṁ anavassavāya paṭipajjeyyātha. Evametassa pāpakassa anuvādamūlassa pahānaṁ hoti. Evametassa pāpakassa anuvādamūlassa āyatiṁ anavassavo hoti.
What are the six roots of accusations? (1) It may be that a monk is angry and resentful. One who is angry and resentful is disrespectful and undeferential toward the Teacher, the Teaching, and the Sangha, and he doesn’t fulfill the training. Such a person makes accusations in the Sangha. Accusations are unbeneficial and a cause of unhappiness for humanity; they are harmful, detrimental, and a cause of suffering for gods and humans. When you see such a root of accusations either in yourself or in others, you should make an effort to get rid of it. If you don’t see such a root either in yourself or in others, you should practice so that it does not emerge in the future. In this way that bad root of accusations is abandoned and does not emerge in the future.
273. Trong ấy, sáu căn nguyên của sự chỉ trích là gì? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu hay phẫn nộ, hay oán hận. Vị tỳ khưu nào hay phẫn nộ, hay oán hận, vị ấy sống không tôn kính, không vâng phục đối với bậc Đạo Sư; sống không tôn kính, không vâng phục đối với Pháp; sống không tôn kính, không vâng phục đối với Tăng; và không phải là người thực hành đầy đủ học giới. Vị tỳ khưu nào sống không tôn kính, không vâng phục đối với bậc Đạo Sư, ... đối với Pháp, ... đối với Tăng, ... không thực hành đầy đủ học giới, vị ấy làm phát sanh sự chỉ trích trong Tăng chúng. Sự chỉ trích ấy là vì bất hạnh cho đa số, vì bất an cho đa số, vì không lợi ích, vì bất hạnh, vì đau khổ cho chư thiên và nhân loại. Nếu các ngươi nhận thấy căn nguyên chỉ trích như vậy ở bên trong hay bên ngoài, thì ở đó, các ngươi nên cố gắng để đoạn trừ chính căn nguyên chỉ trích xấu xa ấy. Nếu các ngươi không nhận thấy căn nguyên chỉ trích như vậy ở bên trong hay bên ngoài, thì ở đó, các ngươi nên thực hành để chính căn nguyên chỉ trích xấu xa ấy không phát sanh trong tương lai. Như vậy là sự đoạn trừ căn nguyên chỉ trích xấu xa này. Như vậy là sự không phát sanh trong tương lai của căn nguyên chỉ trích xấu xa này.
Puna caparaṁ bhikkhu makkhī hoti palāsī …pe… issukī hoti maccharī, saṭho hoti māyāvī, pāpiccho hoti micchādiṭṭhi, sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī. Yo so bhikkhu sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī so sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi agāravo viharati appatisso, saṅghepi agāravo viharati appatisso, sikkhāyapi na paripūrakārī hoti. Yo so bhikkhu satthari agāravo viharati appatisso dhamme …pe… saṅghe …pe… sikkhāya na paripūrakārī so saṅghe anuvādaṁ janeti. Yo hoti anuvādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Evarūpañce tumhe anuvādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā samanupasseyyātha tatra tumhe tasseva pāpakassa anuvādamūlassa pahānāya vāyameyyātha. Evarūpañce tumhe anuvādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā na samanupasseyyātha tatra tumhe tasseva pāpakassa anuvādamūlassa āyatiṁ anavassavāya paṭipajjeyyātha. Evametassa pāpakassa anuvādamūlassa pahānaṁ hoti. Evametassa pāpakassa anuvādamūlassa āyatiṁ anavassavo hoti. Imāni cha anuvādamūlāni.
(2) Or it may be that a monk is denigrating and domineering, (3) envious and stingy, (4) treacherous and deceitful, (5) one who has bad desires and wrong views, or (6) one who obstinately grasps his own views and only gives them up with difficulty. Any of these is disrespectful and undeferential toward the Teacher, the Teaching, and the Sangha, and he doesn’t fulfill the training. Such a person makes accusations in the Sangha. Accusations are unbeneficial and a cause of unhappiness for humanity; they are harmful, detrimental, and a cause of suffering for gods and humans. When you see such a root of accusations either in yourself or in others, you should make an effort to get rid of it. If you don’t see such a root either in yourself or in others, you should practice so that it does not emerge in the future. In this way that bad root of accusations is abandoned and does not emerge in the future.
Lại nữa, vị tỳ khưu hay che giấu lỗi người khác, hay ganh đua; ... hay tật đố, hay bỏn xẻn; hay xảo trá, hay lừa phỉnh; có ước muốn xấu xa, có tà kiến; là người chấp thủ tà kiến của mình, cố chấp, khó từ bỏ. Vị tỳ khưu nào là người chấp thủ tà kiến của mình, cố chấp, khó từ bỏ, vị ấy sống không tôn kính, không vâng phục đối với bậc Đạo Sư, sống không tôn kính, không vâng phục đối với Pháp, sống không tôn kính, không vâng phục đối với Tăng, và không phải là người thực hành đầy đủ học giới. Vị tỳ khưu nào sống không tôn kính, không vâng phục đối với bậc Đạo Sư, ... đối với Pháp, ... đối với Tăng, ... không thực hành đầy đủ học giới, vị ấy làm phát sanh sự chỉ trích trong Tăng chúng. Sự chỉ trích ấy là vì bất hạnh cho đa số, vì bất an cho đa số, vì không lợi ích, vì bất hạnh, vì đau khổ cho chư thiên và nhân loại. Nếu các ngươi nhận thấy căn nguyên chỉ trích như vậy ở bên trong hay bên ngoài, thì ở đó, các ngươi nên cố gắng để đoạn trừ chính căn nguyên chỉ trích xấu xa ấy. Nếu các ngươi không nhận thấy căn nguyên chỉ trích như vậy ở bên trong hay bên ngoài, thì ở đó, các ngươi nên thực hành để chính căn nguyên chỉ trích xấu xa ấy không phát sanh trong tương lai. Như vậy là sự đoạn trừ căn nguyên chỉ trích xấu xa này. Như vậy là sự không phát sanh trong tương lai của căn nguyên chỉ trích xấu xa này. Đây là sáu căn nguyên của sự chỉ trích.
Tattha katame cha sāraṇīyā dhammā? Idha bhikkhuno mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca. Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
What are the six aspects of friendliness? (1) As to this, a monk acts with good will toward his fellow monastics, both in public and in private.
274. Ở đây, sáu pháp đáng ghi nhớ là những gì? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu có thân nghiệp từ ái được thiết lập đối với các vị đồng phạm hạnh, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt. Pháp này cũng là pháp đáng ghi nhớ, tạo ra sự thương mến, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, sự không tranh cãi, sự hòa hợp, sự hợp nhất.
Lại nữa, vị tỳ khưu có khẩu nghiệp từ ái được thiết lập đối với các vị đồng phạm hạnh, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt. Pháp này cũng là pháp đáng ghi nhớ, tạo ra sự thương mến, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, sự không tranh cãi, sự hòa hợp, sự hợp nhất.
Lại nữa, vị tỳ khưu có ý nghiệp từ ái được thiết lập đối với các vị đồng phạm hạnh, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt. Pháp này cũng là pháp đáng ghi nhớ, tạo ra sự thương mến, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, sự không tranh cãi, sự hòa hợp, sự hợp nhất.
Lại nữa, vị tỳ khưu đối với những lợi lộc đúng pháp, có được đúng pháp, cho đến cả những gì chứa đựng trong bình bát, vị ấy là người không phân chia mà thọ dụng, là người thọ dụng chung với các vị đồng phạm hạnh có giới đức. Pháp này cũng là pháp đáng ghi nhớ, tạo ra sự thương mến, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, sự không tranh cãi, sự hòa hợp, sự hợp nhất.
Lại nữa, vị tỳ khưu đối với những giới luật không bị sứt mẻ, không bị thủng, không bị vết, không bị đốm, có tính giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến định, vị ấy sống với giới tương đồng với các vị đồng phạm hạnh trong những giới luật như vậy, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt. Pháp này cũng là pháp đáng ghi nhớ, tạo ra sự thương mến, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, sự không tranh cãi, sự hòa hợp, sự hợp nhất.
Lại nữa, vị tỳ khưu đối với tri kiến nào là thánh thiện, có khả năng hướng thượng, đưa người thực hành nó đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh, vị ấy sống với tri kiến tương đồng với các vị đồng phạm hạnh trong tri kiến như vậy, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt. Pháp này cũng là pháp đáng ghi nhớ, tạo ra sự thương mến, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, sự không tranh cãi, sự hòa hợp, sự hợp nhất. Đây là sáu pháp đáng ghi nhớ.
Tattha katamāni aṭṭhārasa bhedakaravatthūni? Idha bhikkhu adhammaṁ “dhammo”ti dīpeti, dhammaṁ “adhammo”ti dīpeti, avinayaṁ “vinayo”ti dīpeti, vinayaṁ “avinayo”ti dīpeti, abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatena “bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatenā”ti dīpeti, bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatena “abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatenā”ti dīpeti, anāciṇṇaṁ tathāgatena “āciṇṇaṁ tathāgatenā”ti dīpeti, āciṇṇaṁ tathāgatena “anāciṇṇaṁ tathāgatenā”ti dīpeti, apaññattaṁ tathāgatena “paññattaṁ tathāgatenā”ti dīpeti, paññattaṁ tathāgatena “apaññattaṁ tathāgatenā”ti dīpeti, āpattiṁ “anāpattī”ti dīpeti, anāpattiṁ “āpattī”ti dīpeti, lahukaṁ āpattiṁ “garukā āpattī”ti dīpeti, garukaṁ āpattiṁ “lahukā āpattī”ti dīpeti, sāvasesaṁ āpattiṁ “anavasesā āpattī”ti dīpeti, anavasesaṁ āpattiṁ “sāvasesā āpattī”ti dīpeti, duṭṭhullaṁ āpattiṁ “aduṭṭhullā āpattī”ti dīpeti, aduṭṭhullaṁ āpattiṁ “duṭṭhullā āpattī”ti dīpeti. Imāni aṭṭhārasa bhedakaravatthūni.
What are the eighteen grounds for schism? In this case a monk proclaims what is contrary to the Teaching as being in accordance with it and what is in accordance with the Teaching as contrary to it. He proclaims what is contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, and what is in accordance with the Monastic Law as contrary to it. He proclaims what hasn’t been spoken by the Buddha as spoken by him, and what has been spoken by the Buddha as not spoken by him. He proclaims what was not practiced by the Buddha as practiced by him, and what was practiced by the Buddha as not practiced by him. He proclaims what was not laid down by the Buddha as laid down by him, and what was laid down by the Buddha as not laid down by him. He proclaims a non-offense as an offense, and an offense as a non-offense. He proclaims a light offense as heavy, and a heavy offense as light. He proclaims a curable offense as incurable, and an incurable offense as curable. He proclaims a grave offense as minor, and a minor offense as grave.
275. Ở đây, mười tám sự việc gây chia rẽ là những gì? Ở đây, vị tỳ khưu trình bày phi pháp là pháp; trình bày pháp là phi pháp; trình bày phi luật là luật; trình bày luật là phi luật; trình bày điều không được Như Lai nói, không được Như Lai tuyên bố là điều được Như Lai nói, được Như Lai tuyên bố; trình bày điều được Như Lai nói, được Như Lai tuyên bố là điều không được Như Lai nói, không được Như Lai tuyên bố; trình bày điều không được Như Lai thực hành là điều được Như Lai thực hành; trình bày điều được Như Lai thực hành là điều không được Như Lai thực hành; trình bày điều không được Như Lai chế định là điều được Như Lai chế định; trình bày điều được Như Lai chế định là điều không được Như Lai chế định; trình bày tội là không phải tội; trình bày không phải tội là tội; trình bày tội nhẹ là tội nặng; trình bày tội nặng là tội nhẹ; trình bày tội có dư tàn là tội không có dư tàn; trình bày tội không có dư tàn là tội có dư tàn; trình bày tội thô lậu là tội không thô lậu; trình bày tội không thô lậu là tội thô lậu. Đây là mười tám sự việc gây chia rẽ.
Tattha katamāni cattāri adhikaraṇāni? Vivādādhikaraṇaṁ, anuvādādhikaraṇaṁ, āpattādhikaraṇaṁ, kiccādhikaraṇaṁ—imāni cattāri adhikaraṇāni.
What are the four kinds of legal issues? Legal issues arising from disputes, legal issues arising from accusations, legal issues arising from offenses, legal issues arising from business.
Ở đây, bốn loại tranh tụng là những gì? Tranh tụng về tranh cãi, tranh tụng về khiển trách, tranh tụng về tội, tranh tụng về phận sự – đây là bốn loại tranh tụng.
Tattha katame satta samathā? Sammukhāvinayo, sativinayo, amūḷhavinayo, paṭiññātakaraṇaṁ, yebhuyyasikā, tassapāpiyasikā, tiṇavatthārako—ime satta samathā.
What are the seven principles for settling them? Resolution face-to-face, resolution through recollection, resolution because of past insanity, acting according to what has been admitted, majority decision, further penalty, covering over as if with grass.
Ở đây, bảy phương pháp dập tắt là những gì? Dàn xếp tại hiện tiền, dàn xếp bằng sự ghi nhớ, dàn xếp cho người không mê loạn, dàn xếp bằng sự thừa nhận, dàn xếp theo đa số, dàn xếp cho người có hành vi xấu, dàn xếp bằng cách lấy cỏ che lại – đây là bảy phương pháp dập tắt.
Katipucchāvāro niṭṭhito.
Tassuddānaṁ
The section on questioning “how many?” is finished.
This is the summary:
Chương Vấn Đáp Bao Nhiêu đã kết thúc.
Āpatti āpattikkhandhā, vinītā sattadhā puna; Vinītāgāravā ceva, gāravā mūlameva ca.
“Offense, classes of offenses, Training, again sevenfold; Training, and disrespect, Respect, and root.
Tội và các uẩn tội, sự việc đã xử, lại bảy loại; Sự việc đã xử, không kính trọng, và kính trọng, và cả căn nguyên.
Puna vinītā vipatti, samuṭṭhānā vivādanā; Anuvādā sāraṇīyaṁ, bhedādhikaraṇena ca;
Again training, failure, Originations, disputes; Accusations, friendliness, Schism, and with legal issues;
Lại nữa, sự việc đã xử, sự sai phạm, các khởi sanh, sự tranh cãi; Sự khiển trách, pháp đáng ghi nhớ, sự chia rẽ và tranh tụng.
Bảy phương pháp dập tắt đã được nói đến, đây là mười bảy đề mục vậy.
4.1. Chaāpattisamuṭṭhānavāra
1. The section on the six kinds of originations of offenses
1. Chương về Sáu Khởi Sanh của Tội
Paṭhamena āpattisamuṭṭhānena pārājikaṁ āpajjeyyāti? Na hīti vattabbaṁ. Saṅghādisesaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Thullaccayaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Pācittiyaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Pāṭidesanīyaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Dukkaṭaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Dubbhāsitaṁ āpajjeyyāti? Na hīti vattabbaṁ.
“Is it possible to commit an offense entailing expulsion through the first kind of origination of offenses?”—“No.”—“An offense entailing suspension?”—“One might.”—“A serious offense?”—“One might.”—“An offense entailing confession?”—“One might.”—“An offense entailing acknowledgment?”—“One might.”—“An offense of wrong conduct?”—“One might.”—“An offense of wrong speech?”—“No.”
276. Do khởi sanh của tội thứ nhất, có thể phạm tội pārājika không? Nên nói rằng: ‘Không.’ Có thể phạm tội saṅghādisesa không? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội thullaccaya không? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pācittiya không? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pāṭidesanīya không? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dukkaṭa không? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dubbhāsita không? Nên nói rằng: ‘Không.’
Dutiyena āpattisamuṭṭhānena pārājikaṁ āpajjeyyāti? Na hīti vattabbaṁ. Saṅghādisesaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Thullaccayaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Pācittiyaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Pāṭidesanīyaṁ āpajjeyyāti? Na hīti vattabbaṁ. Dukkaṭaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Dubbhāsitaṁ āpajjeyyāti? Na hīti vattabbaṁ.
“Is it possible to commit an offense entailing expulsion through the second kind of origination of offenses?”—“No.”—“An offense entailing suspension?”—“One might.”—“A serious offense?”—“One might.”—“An offense entailing confession?”—“One might.”—“An offense entailing acknowledgment?”—“No.”—“An offense of wrong conduct?”—“One might.”—“An offense of wrong speech?”—“No.”
Do khởi sanh của tội thứ hai, có thể phạm tội pārājika không? Nên nói rằng: ‘Không.’ Có thể phạm tội saṅghādisesa không? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội thullaccaya không? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pācittiya không? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pāṭidesanīya không? Nên nói rằng: ‘Không.’ Có thể phạm tội dukkaṭa không? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dubbhāsita không? Nên nói rằng: ‘Không.’
Tatiyena āpattisamuṭṭhānena pārājikaṁ āpajjeyyāti? Na hīti vattabbaṁ. Saṅghādisesaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Thullaccayaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Pācittiyaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Pāṭidesanīyaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Dukkaṭaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Dubbhāsitaṁ āpajjeyyāti? Na hīti vattabbaṁ.
Catutthena āpattisamuṭṭhānena pārājikaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Saṅghādisesaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Thullaccayaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Pācittiyaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Pāṭidesanīyaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Dukkaṭaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Dubbhāsitaṁ āpajjeyyāti? Na hīti vattabbaṁ.
“Is it possible to commit an offense entailing expulsion through the third kind of origination of offenses?”—“No.”—“An offense entailing suspension?”—“One might.”—“A serious offense?”—“One might.”—“An offense entailing confession?”—“One might.”—“An offense entailing acknowledgment?”—“One might.”—“An offense of wrong conduct?”—“One might.”—“An offense of wrong speech?”—“No.”
“Is it possible to commit an offense entailing expulsion through the fourth kind of origination of offenses?”—“One might.”—“An offense entailing suspension?”—“One might.”—“A serious offense?”—“One might.”—“An offense entailing confession?”—“One might.”—“An offense entailing acknowledgment?”—“One might.”—“An offense of wrong conduct?”—“One might.”—“An offense of wrong speech?”—“No.”
Do khởi sanh của tội thứ ba, có thể phạm tội pārājika không? Nên nói rằng: ‘Không.’ Có thể phạm tội saṅghādisesa không? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội thullaccaya không? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pācittiya không? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pāṭidesanīya không? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dukkaṭa không? Nên nói rằng: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dubbhāsita không? Nên nói rằng: ‘Không.’
Pañcamena āpattisamuṭṭhānena pārājikaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Saṅghādisesaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Thullaccayaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Pācittiyaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Pāṭidesanīyaṁ āpajjeyyāti? Na hīti vattabbaṁ. Dukkaṭaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Dubbhāsitaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ.
“Is it possible to commit an offense entailing expulsion through the fifth kind of origination of offenses?”—“One might.”—“An offense entailing suspension?”—“One might.”—“A serious offense?”—“One might.”—“An offense entailing confession?”—“One might.”—“An offense entailing acknowledgment?”—“No.”—“An offense of wrong conduct?”—“One might.”—“An offense of wrong speech?”—“One might.”
Do duyên khởi phạm tội thứ năm, có thể phạm tội pārājika không? Nên trả lời là: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội saṅghādisesa không? Nên trả lời là: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội thullaccaya không? Nên trả lời là: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pācittiya không? Nên trả lời là: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pāṭidesanīya không? Nên trả lời là: ‘Không thể.’ Có thể phạm tội dukkaṭa không? Nên trả lời là: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dubbhāsita không? Nên trả lời là: ‘Có thể.’
Chaṭṭhena āpattisamuṭṭhānena pārājikaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Saṅghādisesaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Thullaccayaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Pācittiyaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Pāṭidesanīyaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Dukkaṭaṁ āpajjeyyāti? Siyāti vattabbaṁ. Dubbhāsitaṁ āpajjeyyāti? Na hīti vattabbaṁ.
“Is it possible to commit an offense entailing expulsion through the sixth kind of origination of offenses?”—“One might.”—“An offense entailing suspension?”—“One might.”—“A serious offense?”—“One might.”—“An offense entailing confession?”—“One might.”—“An offense entailing acknowledgment?”—“One might.”—“An offense of wrong conduct?”—“One might.”—“An offense of wrong speech?”—“No.”
Do duyên khởi phạm tội thứ sáu, có thể phạm tội pārājika không? Nên trả lời là: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội saṅghādisesa không? Nên trả lời là: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội thullaccaya không? Nên trả lời là: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pācittiya không? Nên trả lời là: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội pāṭidesanīya không? Nên trả lời là: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dukkaṭa không? Nên trả lời là: ‘Có thể.’ Có thể phạm tội dubbhāsita không? Nên trả lời là: ‘Không thể.’
Chaāpattisamuṭṭhānavāro niṭṭhito paṭhamo.
The first section on the six kinds of originations of offenses is finished.
Thiên về sáu duyên khởi phạm tội thứ nhất đã kết thúc.
4.2. Katāpattivāra
2. The section on “how many kinds of offenses?”
2. Thiên về các tội đã phạm
Paṭhamena āpattisamuṭṭhānena kati āpattiyo āpajjati? Paṭhamena āpattisamuṭṭhānena pañca āpattiyo āpajjati. Bhikkhu kappiyasaññī saññācikāya kuṭiṁ karoti adesitavatthukaṁ pamāṇātikkantaṁ sārambhaṁ aparikkamanaṁ, payoge dukkaṭaṁ; ekaṁ piṇḍaṁ anāgate āpatti thullaccayassa; tasmiṁ piṇḍe āgate āpatti saṅghādisesassa; bhikkhu kappiyasaññī vikāle bhojanaṁ bhuñjati, āpatti pācittiyassa; bhikkhu kappiyasaññī aññātikāya bhikkhuniyā antaragharaṁ paviṭṭhāya hatthato khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā sahatthā paṭiggahetvā bhuñjati, āpatti pāṭidesanīyassa—paṭhamena āpattisamuṭṭhānena imā pañca āpattiyo āpajjati.
“How many kinds of offenses does one commit through the first kind of origination of offenses? Five: (1) when a monk—perceiving it as allowable and by means of begging—builds a hut whose site has not been approved, which exceeds the right size, where harm will be done, and which lacks a space on all sides, then for the effort there is an offense of wrong conduct; (2) when there is one piece left to complete the hut, he commits a serious offense; (3) when the last piece is finished, he commits an offense entailing suspension; (4) when a monk, perceiving it as allowable, eats cooked food at the wrong time, he commits an offense entailing confession; (5) when a monk, perceiving it as allowable, receives fresh or cooked food directly from an unrelated nun who has entered an inhabited area, and then eats it, he commits an offense entailing acknowledgment.
277. Do duyên khởi phạm tội thứ nhất, vị tỳ khưu phạm bao nhiêu tội? Do duyên khởi phạm tội thứ nhất, vị tỳ khưu phạm năm tội. Vị tỳ khưu có nhận thức là hợp thức, tự mình xin cất một cái cốc không có nơi chốn được chỉ định, vượt quá kích thước, có các điều nguy hiểm, không có khuôn viên; trong lúc nỗ lực thực hiện thì phạm tội dukkaṭa; trước khi một viên đất sét được đắp lên thì phạm tội thullaccaya; khi viên đất sét ấy được đắp lên thì phạm tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu có nhận thức là hợp thức, dùng vật thực vào giờ phi thời thì phạm tội pācittiya. Vị tỳ khưu có nhận thức là hợp thức, sau khi tự tay nhận lấy vật thực cứng hay vật thực mềm từ tay của vị tỳ khưu ni không phải là thân quyến đã đi vào trong xóm rồi dùng thì phạm tội pāṭidesanīya. Do duyên khởi phạm tội thứ nhất, vị tỳ khưu phạm năm tội này.
Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ kati vipattiyo bhajanti? Sattannaṁ āpattikkhandhānaṁ katihi āpattikkhandhehi saṅgahitā? Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ katihi samuṭṭhānehi samuṭṭhanti? Catunnaṁ adhikaraṇānaṁ katamaṁ adhikaraṇaṁ? Sattannaṁ samathānaṁ katihi samathehi sammanti? Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ dve vipattiyo bhajanti—siyā sīlavipattiṁ, siyā ācāravipattiṁ. Sattannaṁ āpattikkhandhānaṁ pañcahi āpattikkhandhehi saṅgahitā—siyā saṅghādisesāpattikkhandhena, siyā thullaccayāpattikkhandhena, siyā pācittiyāpattikkhandhena, siyā pāṭidesanīyāpattikkhandhena, siyā dukkaṭāpattikkhandhena. Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ ekena samuṭṭhānena samuṭṭhanti—kāyato samuṭṭhanti, na vācato na cittato. Catunnaṁ adhikaraṇānaṁ āpattādhikaraṇaṁ. Sattannaṁ samathānaṁ tīhi samathehi sammanti—siyā sammukhāvinayena ca paṭiññātakaraṇena ca, siyā sammukhāvinayena ca tiṇavatthārakena ca.
When it comes to these offenses, to how many of the four kinds of failure do they belong? In how many of the seven classes of offenses are they found? Through how many of the six kinds of originations of offenses do they originate? To which of the four kinds of legal issues do they belong? Through how many of the seven principles for settling legal issues are they settled? They belong to two kinds of failure: they may be failure in morality; they may be failure in conduct. They are found in five classes of offenses: they may be in the class of offenses entailing suspension; they may be in the class of serious offenses; they may be in the class of offenses entailing confession; they may be in the class of offenses entailing acknowledgment; they may be in the class of offenses of wrong conduct. They originate in one way: from body, not from speech or mind. They belong to legal issues arising from offenses. They are settled through three principles: they may be settled by resolution face-to-face and by acting according to what has been admitted; or they may be settled by resolution face-to-face and by covering over as if with grass.
Các tội ấy thuộc về bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? Được bao gồm trong bao nhiêu uẩn tội trong bảy uẩn tội? Được phát sanh do bao nhiêu duyên khởi trong sáu duyên khởi phạm tội? Là tranh tụng nào trong bốn loại tranh tụng? Được dập tắt bởi bao nhiêu pháp dàn xếp trong bảy pháp dàn xếp? Các tội ấy thuộc về hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng – có khi là sự hư hỏng về giới, có khi là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được bao gồm trong năm uẩn tội trong bảy uẩn tội – có khi là uẩn tội saṅghādisesa, có khi là uẩn tội thullaccaya, có khi là uẩn tội pācittiya, có khi là uẩn tội pāṭidesanīya, có khi là uẩn tội dukkaṭa. Được phát sanh do một duyên khởi trong sáu duyên khởi phạm tội – phát sanh từ thân, không phải từ lời nói, không phải từ tâm. Là loại tranh tụng về tội trong bốn loại tranh tụng. Được dập tắt bởi ba pháp dàn xếp trong bảy pháp dàn xếp – có khi là do sự hiện diện và do sự thú nhận, có khi là do sự hiện diện và do cách xử sự như cỏ che.
Dutiyena āpattisamuṭṭhānena kati āpattiyo āpajjati? Dutiyena āpattisamuṭṭhānena catasso āpattiyo āpajjati—bhikkhu kappiyasaññī samādisati—“kuṭiṁ me karothā”ti. Tassa kuṭiṁ karonti adesitavatthukaṁ pamāṇātikkantaṁ sārambhaṁ aparikkamanaṁ. Payoge dukkaṭaṁ; ekaṁ piṇḍaṁ anāgate āpatti thullaccayassa; tasmiṁ piṇḍe āgate āpatti saṅghādisesassa. Bhikkhu kappiyasaññī anupasampannaṁ padaso dhammaṁ vāceti, āpatti pācittiyassa—dutiyena āpattisamuṭṭhānena imā catasso āpattiyo āpajjati.
How many kinds of offenses does one commit through the second kind of origination of offenses? Four: (1) when a monk, perceiving it as allowable, appoints someone to build him a hut, and they build a hut whose site has not been approved, which exceeds the right size, where harm will be done, and which lacks a space on all sides, then for the effort there is an offense of wrong conduct; (2) when there is one piece left to complete the hut, he commits a serious offense; (3) when the last piece is finished, he commits an offense entailing suspension; (4) when a monk, perceiving it as allowable, instructs a person who is not fully ordained to memorize the Teaching, he commits an offense entailing confession.
278. Do duyên khởi phạm tội thứ nhì, vị tỳ khưu phạm bao nhiêu tội? Do duyên khởi phạm tội thứ nhì, vị tỳ khưu phạm bốn tội. Vị tỳ khưu có nhận thức là hợp thức, ra lệnh rằng: ‘Hãy cất cốc cho tôi.’ Người ta cất cốc cho vị ấy không có nơi chốn được chỉ định, vượt quá kích thước, có các điều nguy hiểm, không có khuôn viên. Trong lúc nỗ lực thực hiện thì phạm tội dukkaṭa; trước khi một viên đất sét được đắp lên thì phạm tội thullaccaya; khi viên đất sét ấy được đắp lên thì phạm tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu có nhận thức là hợp thức, dạy Pháp từng chữ cho người chưa thọ Cụ túc giới thì phạm tội pācittiya. Do duyên khởi phạm tội thứ nhì, vị tỳ khưu phạm bốn tội này.
Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ kati vipattiyo bhajanti …pe… sattannaṁ samathānaṁ katihi samathehi sammanti? Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ dve vipattiyo bhajanti—siyā sīlavipattiṁ, siyā ācāravipattiṁ. Sattannaṁ āpattikkhandhānaṁ catūhi āpattikkhandhehi saṅgahitā—siyā saṅghādisesāpattikkhandhena, siyā thullaccayāpattikkhandhena, siyā pācittiyāpattikkhandhena, siyā dukkaṭāpattikkhandhena. Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ ekena samuṭṭhānena samuṭṭhanti—vācato samuṭṭhanti, na kāyato na cittato. Catunnaṁ adhikaraṇānaṁ, āpattādhikaraṇaṁ. Sattannaṁ samathānaṁ tīhi samathehi sammanti—siyā sammukhāvinayena ca paṭiññātakaraṇena ca, siyā sammukhāvinayena ca tiṇavatthārakena ca.
When it comes to these offenses, to how many of the four kinds of failure do they belong? … Through how many of the seven principles for settling legal issues are they settled? They belong to two kinds of failure: they may be failure in morality; they may be failure in conduct. They are found in four classes of offenses: they may be in the class of offenses entailing suspension; they may be in the class of serious offenses; they may be in the class of offenses entailing confession; they may be in the class of offenses of wrong conduct. They originate in one way: from speech, not from body or mind. They belong to legal issues arising from offenses. They are settled through three principles: they may be settled by resolution face-to-face and by acting according to what has been admitted; or they may be settled by resolution face-to-face and by covering over as if with grass.
Các tội ấy thuộc về bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? … vân vân … Được dập tắt bởi bao nhiêu pháp dàn xếp trong bảy pháp dàn xếp? Các tội ấy thuộc về hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng – có khi là sự hư hỏng về giới, có khi là sự hư hỏng về hạnh kiểm. Được bao gồm trong bốn uẩn tội trong bảy uẩn tội – có khi là uẩn tội saṅghādisesa, có khi là uẩn tội thullaccaya, có khi là uẩn tội pācittiya, có khi là uẩn tội dukkaṭa. Được phát sanh do một duyên khởi trong sáu duyên khởi phạm tội – phát sanh từ lời nói, không phải từ thân, không phải từ tâm. Là loại tranh tụng về tội trong bốn loại tranh tụng. Được dập tắt bởi ba pháp dàn xếp trong bảy pháp dàn xếp – có khi là do sự hiện diện và do sự thú nhận, có khi là do sự hiện diện và do cách xử sự như cỏ che.
Tatiyena āpattisamuṭṭhānena kati āpattiyo āpajjati? Tatiyena āpattisamuṭṭhānena pañca āpattiyo āpajjati. Bhikkhu kappiyasaññī saṁvidahitvā kuṭiṁ karoti adesitavatthukaṁ pamāṇātikkantaṁ sārambhaṁ aparikkamanaṁ. Payoge dukkaṭaṁ; ekaṁ piṇḍaṁ anāgate āpatti thullaccayassa; tasmiṁ piṇḍe āgate āpatti saṅghādisesassa. Bhikkhu kappiyasaññī paṇītabhojanāni attano atthāya viññāpetvā bhuñjati, āpatti pācittiyassa. Bhikkhu kappiyasaññī bhikkhuniyā vosāsantiyā na nivāretvā bhuñjati, āpatti pāṭidesanīyassa—tatiyena āpattisamuṭṭhānena imā pañca āpattiyo āpajjati.
How many kinds of offenses does one commit through the third kind of origination of offenses? Five: (1) when a monk—perceiving it as allowable and having appointed someone—builds a hut whose site has not been approved, which exceeds the right size, where harm will be done, and which lacks a space on all sides, then for the effort there is an offense of wrong conduct; (2) when there is one piece left to complete the hut, he commits a serious offense; (3) when the last piece is finished, he commits an offense entailing suspension; (4) when a monk, perceiving it as allowable, eats fine foods that he has requested for himself, he commits an offense entailing confession; (5) when a monk, perceiving it as allowable, eats without having restrained a nun who is giving directions, he commits an offense entailing acknowledgment.
279. Do nguyên nhân phát sanh tội thứ ba, phạm bao nhiêu tội? Do nguyên nhân phát sanh tội thứ ba, phạm năm tội. Vị tỳ khưu có tưởng là hợp lệ, sau khi bàn bạc, làm cái cốc không có nền đất được chỉ định, vượt quá kích thước, có sinh vật, không có khuôn viên. Trong lúc nỗ lực, phạm tội tác ác; khi một nắm đất chưa được đặt lên, là phạm tội trọng tội; khi nắm đất ấy được đặt lên, là phạm tội tăng tàn. Vị tỳ khưu có tưởng là hợp lệ, sau khi xin các vật thực ngon lành vì lợi ích của mình rồi dùng, là phạm tội ưng đối trị. Vị tỳ khưu có tưởng là hợp lệ, dùng (vật thực) từ vị tỳ khưu ni đang sắp đặt mà không ngăn cản, là phạm tội ưng phát lồ. Do nguyên nhân phát sanh tội thứ ba, phạm năm tội này.
Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ kati vipattiyo bhajanti …pe… sattannaṁ samathānaṁ katihi samathehi sammanti? Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ dve vipattiyo bhajanti—siyā sīlavipattiṁ, siyā ācāravipattiṁ. Sattannaṁ āpattikkhandhānaṁ pañcahi āpattikkhandhehi saṅgahitā—siyā saṅghādisesāpattikkhandhena, siyā thullaccayāpattikkhandhena, siyā pācittiyāpattikkhandhena, siyā pāṭidesanīyāpattikkhandhena, siyā dukkaṭāpattikkhandhena. Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ ekena samuṭṭhānena samuṭṭhanti—kāyato ca vācato ca samuṭṭhanti, na cittato. Catunnaṁ adhikaraṇānaṁ, āpattādhikaraṇaṁ. Sattannaṁ samathānaṁ tīhi samathehi sammanti—siyā sammukhāvinayena ca paṭiññātakaraṇena ca, siyā sammukhāvinayena ca tiṇavatthārakena ca.
When it comes to these offenses, to how many of the four kinds of failure do they belong? … Through how many of the seven principles for settling legal issues are they settled? They belong to two kinds of failure: they may be failure in morality; they may be failure in conduct. They are found in five classes of offenses: they may be in the class of offenses entailing suspension; they may be in the class of serious offenses; they may be in the class of offenses entailing confession; they may be in the class of offenses entailing acknowledgment; they may be in the class of offenses of wrong conduct. They originate in one way: from body and speech, not from mind. They belong to legal issues arising from offenses. They are settled through three principles: they may be settled by resolution face-to-face and by acting according to what has been admitted; or they may be settled by resolution face-to-face and by covering over as if with grass.
Những tội ấy trong bốn loại hư hỏng, thuộc về bao nhiêu loại hư hỏng? ... cho đến ... trong bảy cách dập tắt, được dập tắt bởi bao nhiêu cách? Những tội ấy trong bốn loại hư hỏng, thuộc về hai loại hư hỏng – có khi là giới hư, có khi là oai nghi hư. Trong bảy uẩn tội, được gom lại bởi năm uẩn tội – có khi là uẩn tội tăng tàn, có khi là uẩn tội trọng tội, có khi là uẩn tội ưng đối trị, có khi là uẩn tội ưng phát lồ, có khi là uẩn tội tác ác. Trong sáu nguyên nhân phát sanh tội, chúng phát sanh do một nguyên nhân – phát sanh do thân và khẩu, không do ý. Trong bốn sự tranh tụng, là tội tranh tụng. Trong bảy cách dập tắt, được dập tắt bởi ba cách – có khi do hiện tiền tỳ-nai-da và do hành động theo sự thú nhận, có khi do hiện tiền tỳ-nai-da và do (cách dập tắt) như cỏ che.
Catutthena āpattisamuṭṭhānena kati āpattiyo āpajjati? Catutthena āpattisamuṭṭhānena cha āpattiyo āpajjati—bhikkhu methunaṁ dhammaṁ paṭisevati, āpatti pārājikassa; bhikkhu akappiyasaññī saññācikāya kuṭiṁ karoti adesitavatthukaṁ pamāṇātikkantaṁ sārambhaṁ aparikkamanaṁ, payoge dukkaṭaṁ; ekaṁ piṇḍaṁ anāgate āpatti thullaccayassa; tasmiṁ piṇḍe āgate āpatti saṅghādisesassa. Bhikkhu akappiyasaññī vikāle bhojanaṁ bhuñjati, āpatti pācittiyassa. Bhikkhu akappiyasaññī aññātikāya bhikkhuniyā antaragharaṁ paviṭṭhāya hatthato khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā sahatthā paṭiggahetvā bhuñjati, āpatti pāṭidesanīyassa. Catutthena āpattisamuṭṭhānena imā cha āpattiyo āpajjati.
How many kinds of offenses does one commit through the fourth kind of origination of offenses? Six: (1) when a monk has sexual intercourse, he commits an offense entailing expulsion; (2) when a monk—perceiving it as unallowable and by means of begging—builds a hut whose site has not been approved, which exceeds the right size, where harm will be done, and which lacks a space on all sides, then for the effort there is an offense of wrong conduct; (3) when there is one piece left to complete the hut, he commits a serious offense; (4) when the last piece is finished, he commits an offense entailing suspension; (5) when a monk, perceiving it as unallowable, eats cooked food at the wrong time, he commits an offense entailing confession; (6) when a monk, perceiving it as unallowable, receives fresh or cooked food directly from an unrelated nun who has entered an inhabited area, and then eats it, he commits an offense entailing acknowledgment.
280. Do nguyên nhân phát sanh tội thứ tư, phạm bao nhiêu tội? Do nguyên nhân phát sanh tội thứ tư, phạm sáu tội: Vị tỳ khưu thực hành pháp dâm, là phạm tội bất cộng trụ; vị tỳ khưu có tưởng là không hợp lệ, làm cái cốc bằng vật liệu đã xin, không có nền đất được chỉ định, vượt quá kích thước, có sinh vật, không có khuôn viên, trong lúc nỗ lực, phạm tội tác ác; khi một nắm đất chưa được đặt lên, là phạm tội trọng tội; khi nắm đất ấy được đặt lên, là phạm tội tăng tàn. Vị tỳ khưu có tưởng là không hợp lệ, dùng vật thực vào lúc phi thời, là phạm tội ưng đối trị. Vị tỳ khưu có tưởng là không hợp lệ, sau khi tự tay nhận lấy vật cứng hay vật mềm từ tay của vị tỳ khưu ni không phải là bà con đã đi vào trong xóm rồi dùng, là phạm tội ưng phát lồ. Do nguyên nhân phát sanh tội thứ tư, phạm sáu tội này.
Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ kati vipattiyo bhajanti …pe… sattannaṁ samathānaṁ katihi samathehi sammanti? Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ dve vipattiyo bhajanti—siyā sīlavipattiṁ, siyā ācāravipattiṁ. Sattannaṁ āpattikkhandhānaṁ chahi āpattikkhandhehi saṅgahitā—siyā pārājikāpattikkhandhena, siyā saṅghādisesāpattikkhandhena, siyā thullaccayāpattikkhandhena, siyā pācittiyāpattikkhandhena, siyā pāṭidesanīyāpattikkhandhena, siyā dukkaṭāpattikkhandhena. Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ ekena samuṭṭhānena samuṭṭhanti—kāyato ca cittato ca samuṭṭhanti, na vācato. Catunnaṁ adhikaraṇānaṁ, āpattādhikaraṇaṁ. Sattannaṁ samathānaṁ tīhi samathehi sammanti—siyā sammukhāvinayena ca paṭiññātakaraṇena ca, siyā sammukhāvinayena ca tiṇavatthārakena ca.
When it comes to these offenses, to how many of the four kinds of failure do they belong? … Through how many of the seven principles for settling legal issues are they settled? They belong to two kinds of failure: they may be failure in morality; they may be failure in conduct. They are found in six classes of offenses: they may be in the class of offenses entailing expulsion; they may be in the class of offenses entailing suspension; they may be in the class of serious offenses; they may be in the class of offenses entailing confession; they may be in the class of offenses entailing acknowledgment; they may be in the class of offenses of wrong conduct. They originate in one way: from body and mind, not from speech. They belong to legal issues arising from offenses. They are settled through three principles: they may be settled by resolution face-to-face and by acting according to what has been admitted; or they may be settled by resolution face-to-face and by covering over as if with grass.
Những tội ấy trong bốn loại hư hỏng, thuộc về bao nhiêu loại hư hỏng? ... cho đến ... trong bảy cách dập tắt, được dập tắt bởi bao nhiêu cách? Những tội ấy trong bốn loại hư hỏng, thuộc về hai loại hư hỏng – có khi là giới hư, có khi là oai nghi hư. Trong bảy uẩn tội, được gom lại bởi sáu uẩn tội – có khi là uẩn tội bất cộng trụ, có khi là uẩn tội tăng tàn, có khi là uẩn tội trọng tội, có khi là uẩn tội ưng đối trị, có khi là uẩn tội ưng phát lồ, có khi là uẩn tội tác ác. Trong sáu nguyên nhân phát sanh tội, chúng phát sanh do một nguyên nhân – phát sanh do thân và ý, không do khẩu. Trong bốn sự tranh tụng, là tội tranh tụng. Trong bảy cách dập tắt, được dập tắt bởi ba cách – có khi do hiện tiền tỳ-nai-da và do hành động theo sự thú nhận, có khi do hiện tiền tỳ-nai-da và do (cách dập tắt) như cỏ che.
Pañcamena āpattisamuṭṭhānena kati āpattiyo āpajjati? Pañcamena āpattisamuṭṭhānena cha āpattiyo āpajjati. Bhikkhu pāpiccho icchāpakato asantaṁ abhūtaṁ uttarimanussadhammaṁ ullapati, āpatti pārājikassa; bhikkhu akappiyasaññī samādisati—“kuṭiṁ me karothā”ti. Tassa kuṭiṁ karonti adesitavatthukaṁ pamāṇātikkantaṁ sārambhaṁ aparikkamanaṁ. Payoge dukkaṭaṁ; ekaṁ piṇḍaṁ anāgate āpatti thullaccayassa; tasmiṁ piṇḍe āgate āpatti saṅghādisesassa. Bhikkhu akappiyasaññī anupasampannaṁ padaso dhammaṁ vāceti, āpatti pācittiyassa. Na khuṁsetukāmo na vambhetukāmo na maṅkukattukāmo davakamyatā hīnena hīnaṁ vadeti, āpatti dubbhāsitassa—pañcamena āpattisamuṭṭhānena imā cha āpattiyo āpajjati.
How many kinds of offenses does one commit through the fifth kind of origination of offenses? Six: (1) when a monk, having bad desires, overcome by desire, claims a non-existent superhuman quality, he commits an offense entailing expulsion; (2) when a monk, perceiving it as unallowable, appoints someone to build him a hut, and they build a hut whose site has not been approved, which exceeds the right size, where harm will be done, and which lacks a space on all sides, then for the effort there is an offense of wrong conduct; (3) when there is one piece left to complete the hut, he commits a serious offense; (4) when the last piece is finished, he commits an offense entailing suspension; (5) when a monk, perceiving it as unallowable, instructs a person who is not fully ordained to memorize the Teaching, he commits an offense entailing confession; (6) when—not wishing to revile, not wishing to insult, not wishing to humiliate, but wanting to have fun—one says what is low to one who is low, one commits an offense of wrong speech.
281. Do nguyên nhân phát sanh tội thứ năm, phạm bao nhiêu tội? Do nguyên nhân phát sanh tội thứ năm, phạm sáu tội. Vị tỳ khưu có ước muốn xấu, bị ước muốn xấu chi phối, khoe khoang pháp thượng nhân không có, không thật, là phạm tội bất cộng trụ; vị tỳ khưu có tưởng là không hợp lệ, ra lệnh rằng: “Hãy làm cốc cho tôi.” Họ làm cốc cho vị ấy không có nền đất được chỉ định, vượt quá kích thước, có sinh vật, không có khuôn viên. Trong lúc nỗ lực, phạm tội tác ác; khi một nắm đất chưa được đặt lên, là phạm tội trọng tội; khi nắm đất ấy được đặt lên, là phạm tội tăng tàn. Vị tỳ khưu có tưởng là không hợp lệ, dạy pháp từng câu cho người chưa thọ cụ túc, là phạm tội ưng đối trị. Không có ý muốn mắng nhiếc, không có ý muốn khinh miệt, không có ý muốn làm cho bối rối, do muốn đùa giỡn, nói lời thấp hèn với người thấp hèn, là phạm tội ác khẩu. Do nguyên nhân phát sanh tội thứ năm, phạm sáu tội này.
Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ kati vipattiyo bhajanti …pe… sattannaṁ samathānaṁ katihi samathehi sammanti? Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ dve vipattiyo bhajanti—siyā sīlavipattiṁ, siyā ācāravipattiṁ. Sattannaṁ āpattikkhandhānaṁ chahi āpattikkhandhehi saṅgahitā—siyā pārājikāpattikkhandhena, siyā saṅghādisesāpattikkhandhena, siyā thullaccayāpattikkhandhena, siyā pācittiyāpattikkhandhena, siyā dukkaṭāpattikkhandhena, siyā dubbhāsitāpattikkhandhena. Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ ekena samuṭṭhānena samuṭṭhanti—vācato ca cittato ca samuṭṭhanti, na kāyato. Catunnaṁ adhikaraṇānaṁ, āpattādhikaraṇaṁ. Sattannaṁ samathānaṁ tīhi samathehi sammanti—siyā sammukhāvinayena ca paṭiññātakaraṇena ca, siyā sammukhāvinayena ca tiṇavatthārakena ca.
When it comes to these offenses, to how many of the four kinds of failure do they belong? … Through how many of the seven principles for settling legal issues are they settled? They belong to two kinds of failure: they may be failure in morality; they may be failure in conduct. They are found in six classes of offenses: they may be in the class of offenses entailing expulsion; they may be in the class of offenses entailing suspension; they may be in the class of serious offenses; they may be in the class of offenses entailing confession; they may be in the class of offenses of wrong conduct; they may be in the class of offenses of wrong speech. They originate in one way: from speech and mind, not from body. They belong to legal issues arising from offenses. They are settled through three principles: they may be settled by resolution face-to-face and by acting according to what has been admitted; or they may be settled by resolution face-to-face and by covering over as if with grass.
Các tội ấy trong bốn loại hư hỏng, chúng thuộc về bao nhiêu loại hư hỏng? ... trong bảy pháp an chỉ, chúng được dập tắt bởi bao nhiêu pháp an chỉ? Các tội ấy trong bốn loại hư hỏng, chúng thuộc về hai loại hư hỏng – có khi là hư hỏng về giới, có khi là hư hỏng về hạnh kiểm. Trong bảy nhóm tội, chúng được bao gồm trong sáu nhóm tội – có khi bởi nhóm tội pārājika, có khi bởi nhóm tội saṅghādisesa, có khi bởi nhóm tội thullaccaya, có khi bởi nhóm tội pācittiya, có khi bởi nhóm tội dukkaṭa, có khi bởi nhóm tội dubbhāsita. Trong sáu nguồn gốc phát sanh tội, chúng phát sanh từ một nguồn gốc – chúng phát sanh từ lời nói và từ tâm, không từ thân. Trong bốn loại tranh tụng, (đây là) sự tranh tụng về tội. Trong bảy pháp an chỉ, chúng được dập tắt bởi ba pháp an chỉ – có khi bởi pháp xử sự trước mặt và bởi sự thực hiện theo lời thú nhận, có khi bởi pháp xử sự trước mặt và bởi (pháp) như cỏ che.
Chaṭṭhena āpattisamuṭṭhānena kati āpattiyo āpajjati? Chaṭṭhena āpattisamuṭṭhānena cha āpattiyo āpajjati—bhikkhu saṁvidahitvā bhaṇḍaṁ avaharati, āpatti pārājikassa; bhikkhu akappiyasaññī saṁvidahitvā kuṭiṁ karoti adesitavatthukaṁ pamāṇātikkantaṁ sārambhaṁ aparikkamanaṁ, payoge dukkaṭaṁ; ekaṁ piṇḍaṁ anāgate āpatti thullaccayassa; tasmiṁ piṇḍe āgate, āpatti saṅghādisesassa. Bhikkhu akappiyasaññī paṇītabhojanāni attano atthāya viññāpetvā bhuñjati, āpatti pācittiyassa. Bhikkhu akappiyasaññī bhikkhuniyā vosāsantiyā na nivāretvā bhuñjati, āpatti pāṭidesanīyassa—chaṭṭhena āpattisamuṭṭhānena imā cha āpattiyo āpajjati.
How many kinds of offenses does one commit through the sixth kind of origination of offenses? Six: (1) when a monk, having agreed with others, steals goods, he commits an offense entailing expulsion; (2) when a monk—perceiving it as unallowable and having appointed someone—builds a hut whose site has not been approved, which exceeds the right size, where harm will be done, and which lacks a space on all sides, then for the effort there is an offense of wrong conduct; (3) when there is one piece left to complete the hut, he commits a serious offense; (4) when the last piece is finished, he commits an offense entailing suspension; (5) when a monk, perceiving it as unallowable, eats fine foods that he has requested for himself, he commits an offense entailing confession; (6) when a monk, perceiving it as unallowable, eats without having restrained a nun who is giving directions, he commits an offense entailing acknowledgment.
282. Do nguồn gốc phát sanh tội thứ sáu, vị ấy phạm bao nhiêu tội? Do nguồn gốc phát sanh tội thứ sáu, vị ấy phạm sáu tội – vị tỳ khưu sau khi bàn bạc đã lấy trộm vật dụng, phạm tội pārājika; vị tỳ khưu có nhận thức là không hợp lệ, sau khi bàn bạc đã làm một cái cốc trên nền đất không được chỉ định, vượt quá kích thước, có hiểm họa, không có khuôn viên, trong lúc nỗ lực thì phạm tội dukkaṭa; khi một nắm đất chưa được mang đến, phạm tội thullaccaya; khi nắm đất ấy đã được mang đến, phạm tội saṅghādisesa. Vị tỳ khưu có nhận thức là không hợp lệ, sau khi xin các món ăn ngon vì lợi ích của bản thân rồi ăn, phạm tội pācittiya. Vị tỳ khưu có nhận thức là không hợp lệ, đã ăn mà không ngăn cản vị tỳ khưu ni đang sắp đặt, phạm tội pāṭidesanīya – do nguồn gốc phát sanh tội thứ sáu, vị ấy phạm sáu tội này.
Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ kati vipattiyo bhajanti? Sattannaṁ āpattikkhandhānaṁ katihi āpattikkhandhehi saṅgahitā? Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ katihi āpattisamuṭṭhānehi samuṭṭhanti? Catunnaṁ adhikaraṇānaṁ katamaṁ adhikaraṇaṁ? Sattannaṁ samathānaṁ katihi samathehi sammanti? Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ dve vipattiyo bhajanti—siyā sīlavipattiṁ, siyā ācāravipattiṁ. Sattannaṁ āpattikkhandhānaṁ chahi āpattikkhandhehi saṅgahitā—siyā pārājikāpattikkhandhena, siyā saṅghādisesāpattikkhandhena, siyā thullaccayāpattikkhandhena, siyā pācittiyāpattikkhandhena, siyā pāṭidesanīyāpattikkhandhena, siyā dukkaṭāpattikkhandhena. Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ ekena samuṭṭhānena samuṭṭhanti—kāyato ca vācato ca cittato ca samuṭṭhanti. Catunnaṁ adhikaraṇānaṁ, āpattādhikaraṇaṁ. Sattannaṁ samathānaṁ tīhi samathehi sammanti—siyā sammukhāvinayena ca paṭiññātakaraṇena ca, siyā sammukhāvinayena ca tiṇavatthārakena cāti.
When it comes to these offenses, to how many of the four kinds of failure do they belong? In how many of the seven classes of offenses are they found? Through how many of the six kinds of originations of offenses do they originate? To which of the four kinds of legal issues do they belong? Through how many of the seven principles for settling legal issues are they settled? They belong to two kinds of failure: they may be failure in morality; they may be failure in conduct. They are found in six classes of offenses: they may be in the class of offenses entailing expulsion; they may be in the class of offenses entailing suspension; they may be in the class of serious offenses; they may be in the class of offenses entailing confession; they may be in the class of offenses entailing acknowledgment; they may be in the class of offenses of wrong conduct. They originate in one way: from body, speech, and mind. They belong to legal issues arising from offenses. They are settled through three principles: they may be settled by resolution face-to-face and by acting according to what has been admitted; or they may be settled by resolution face-to-face and by covering over as if with grass.”
Các tội ấy trong bốn loại hư hỏng, chúng thuộc về bao nhiêu loại hư hỏng? Trong bảy nhóm tội, chúng được bao gồm trong bao nhiêu nhóm tội? Trong sáu nguồn gốc phát sanh tội, chúng phát sanh từ bao nhiêu nguồn gốc? Trong bốn loại tranh tụng, (đây là) loại tranh tụng nào? Trong bảy pháp an chỉ, chúng được dập tắt bởi bao nhiêu pháp an chỉ? Các tội ấy trong bốn loại hư hỏng, chúng thuộc về hai loại hư hỏng – có khi là hư hỏng về giới, có khi là hư hỏng về hạnh kiểm. Trong bảy nhóm tội, chúng được bao gồm trong sáu nhóm tội – có khi bởi nhóm tội pārājika, có khi bởi nhóm tội saṅghādisesa, có khi bởi nhóm tội thullaccaya, có khi bởi nhóm tội pācittiya, có khi bởi nhóm tội pāṭidesanīya, có khi bởi nhóm tội dukkaṭa. Trong sáu nguồn gốc phát sanh tội, chúng phát sanh từ một nguồn gốc – chúng phát sanh từ thân, từ lời nói, và từ tâm. Trong bốn loại tranh tụng, (đây là) sự tranh tụng về tội. Trong bảy pháp an chỉ, chúng được dập tắt bởi ba pháp an chỉ – có khi bởi pháp xử sự trước mặt và bởi sự thực hiện theo lời thú nhận, có khi bởi pháp xử sự trước mặt và bởi (pháp) như cỏ che.
Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ katāpattivāro niṭṭhito dutiyo.
The second section on “how many kinds of offenses?” for the six kinds of originations of offenses is finished.
Của sáu nguồn gốc phát sanh tội.
4.3. Āpattisamuṭṭhānagāthā
3. The verses on the kinds of originations of offenses
3. Kệ về nguồn gốc phát sanh tội
Samuṭṭhānā kāyikā anantadassinā, Akkhātā lokahitena vivekadassinā; Āpattiyo tena samuṭṭhitā kati, Pucchāmi taṁ brūhi vibhaṅgakovida.
“Origination from body has been declared by the one who benefits the world, The one of boundless vision, seeing seclusion: I ask how many kinds of offenses originate from that—You who are skilled in analysis, please say.
Nguồn gốc phát sanh từ thân đã được bậc Vô Hạn Kiến, bậc Kiến Tánh Viễn Ly, bậc Mưu Cầu Hạnh Phúc cho Thế Gian tuyên thuyết; do nguồn gốc ấy, bao nhiêu tội đã phát sanh? Hỡi bậc thông thạo Phân Tích, tôi hỏi ngài điều ấy, xin hãy nói rõ.
Samuṭṭhānā kāyikā anantadassinā, Akkhātā lokahitena vivekadassinā; Āpattiyo tena samuṭṭhitā pañca, Etaṁ te akkhāmi vibhaṅgakovida.
Origination from body has been declared by the one who benefits the world, The one of boundless vision, seeing seclusion: Five kinds of offenses originate from that—I declare this to you, you who are skilled in analysis.
Nguồn gốc phát sanh từ thân đã được bậc Vô Hạn Kiến, bậc Kiến Tánh Viễn Ly, bậc Mưu Cầu Hạnh Phúc cho Thế Gian tuyên thuyết; do nguồn gốc ấy, năm tội đã phát sanh. Hỡi bậc thông thạo Phân Tích, tôi nói cho ngài biết điều này.
Samuṭṭhānā vācasikā anantadassinā, Akkhātā lokahitena vivekadassinā; Āpattiyo tena samuṭṭhitā kati, Pucchāmi taṁ brūhi vibhaṅgakovida.
Origination from speech has been declared by the one who benefits the world, The one of boundless vision, seeing seclusion: I ask how many kinds of offenses originate from that—You who are skilled in analysis, please say.
Nguồn gốc phát sanh từ lời nói đã được bậc Vô Hạn Kiến, bậc Kiến Tánh Viễn Ly, bậc Mưu Cầu Hạnh Phúc cho Thế Gian tuyên thuyết; do nguồn gốc ấy, bao nhiêu tội đã phát sanh? Hỡi bậc thông thạo Phân Tích, tôi hỏi ngài điều ấy, xin hãy nói rõ.
Samuṭṭhānā vācasikā anantadassinā, Akkhātā lokahitena vivekadassinā; Āpattiyo tena samuṭṭhitā catasso, Etaṁ te akkhāmi vibhaṅgakovida.
Origination from speech has been declared by the one who benefits the world, The one of boundless vision, seeing seclusion: Four kinds of offenses originate from that—I declare this to you, you who are skilled in analysis.
Nguồn gốc phát sanh từ lời nói đã được bậc Vô Hạn Kiến, bậc Kiến Tánh Viễn Ly, bậc Mưu Cầu Hạnh Phúc cho Thế Gian tuyên thuyết; do nguồn gốc ấy, bốn tội đã phát sanh. Hỡi bậc thông thạo Phân Tích, tôi nói cho ngài biết điều này.
Samuṭṭhānā kāyikā vācasikā anantadassinā, Akkhātā lokahitena vivekadassinā; Āpattiyo tena samuṭṭhitā kati, Pucchāmi taṁ brūhi vibhaṅgakovida.
Origination from body and speech has been declared by the one who benefits the world, The one of boundless vision, seeing seclusion: I ask how many kinds of offenses originate from that—You who are skilled in analysis, please say.
Nguồn gốc phát sanh từ thân và lời nói đã được bậc Vô Hạn Kiến, bậc Kiến Tánh Viễn Ly, bậc Mưu Cầu Hạnh Phúc cho Thế Gian tuyên thuyết; do nguồn gốc ấy, bao nhiêu tội đã phát sanh? Hỡi bậc thông thạo Phân Tích, tôi hỏi ngài điều ấy, xin hãy nói rõ.
Samuṭṭhānā kāyikā vācasikā anantadassinā, Akkhātā lokahitena vivekadassinā; Āpattiyo tena samuṭṭhitā pañca, Etaṁ te akkhāmi vibhaṅgakovida.
Origination from body and speech has been declared by the one who benefits the world, The one of boundless vision, seeing seclusion: Five kinds of offenses originate from that—I declare this to you, you who are skilled in analysis.
Nguồn gốc phát sanh từ thân và lời nói đã được bậc Vô Hạn Kiến, bậc Kiến Tánh Viễn Ly, bậc Mưu Cầu Hạnh Phúc cho Thế Gian tuyên thuyết; do nguồn gốc ấy, năm tội đã phát sanh. Hỡi bậc thông thạo Phân Tích, tôi nói cho ngài biết điều này.
Samuṭṭhānā kāyikā mānasikā anantadassinā, Akkhātā lokahitena vivekadassinā; Āpattiyo tena samuṭṭhitā kati, Pucchāmi taṁ brūhi vibhaṅgakovida.
Origination from body and mind has been declared by the one who benefits the world, The one of boundless vision, seeing seclusion: I ask how many kinds of offenses originate from that—You who are skilled in analysis, please say.
Nguồn gốc phát sanh từ thân và tâm đã được bậc Vô Hạn Kiến, bậc Kiến Tánh Viễn Ly, bậc Mưu Cầu Hạnh Phúc cho Thế Gian tuyên thuyết; do nguồn gốc ấy, bao nhiêu tội đã phát sanh? Hỡi bậc thông thạo Phân Tích, tôi hỏi ngài điều ấy, xin hãy nói rõ.
Samuṭṭhānā kāyikā mānasikā anantadassinā, Akkhātā lokahitena vivekadassinā; Āpattiyo tena samuṭṭhitā cha, Etaṁ te akkhāmi vibhaṅgakovida.
Origination from body and mind has been declared by the one who benefits the world, The one of boundless vision, seeing seclusion: Six kinds of offenses originate from that—I declare this to you, you who are skilled in analysis.
Nguồn gốc phát sanh từ thân và tâm đã được bậc Vô Hạn Kiến, bậc Kiến Tánh Viễn Ly, bậc Mưu Cầu Hạnh Phúc cho Thế Gian tuyên thuyết; do nguồn gốc ấy, sáu tội đã phát sanh. Hỡi bậc thông thạo Phân Tích, tôi nói cho ngài biết điều này.
Samuṭṭhānā vācasikā mānasikā anantadassinā, Akkhātā lokahitena vivekadassinā; Āpattiyo tena samuṭṭhitā kati, Pucchāmi taṁ brūhi vibhaṅgakovida.
Origination from speech and mind has been declared by the one who benefits the world, The one of boundless vision, seeing seclusion: I ask how many kinds of offenses originate from that—You who are skilled in analysis, please say.
Nguồn gốc phát sanh từ lời nói và tâm đã được bậc Vô Hạn Kiến, bậc Kiến Tánh Viễn Ly, bậc Mưu Cầu Hạnh Phúc cho Thế Gian tuyên thuyết; do nguồn gốc ấy, bao nhiêu tội đã phát sanh? Hỡi bậc thông thạo Phân Tích, tôi hỏi ngài điều ấy, xin hãy nói rõ.
Samuṭṭhānā vācasikā mānasikā anantadassinā, Akkhātā lokahitena vivekadassinā; Āpattiyo tena samuṭṭhitā cha, Etaṁ te akkhāmi vibhaṅgakovida.
Origination from speech and mind has been declared by the one who benefits the world, The one of boundless vision, seeing seclusion: Six kinds of offenses originate from that—I declare this to you, you who are skilled in analysis.
Nguồn gốc phát sanh từ lời nói và tâm đã được bậc Vô Hạn Kiến, bậc Kiến Tánh Viễn Ly, bậc Mưu Cầu Hạnh Phúc cho Thế Gian tuyên thuyết; do nguồn gốc ấy, sáu tội đã phát sanh. Hỡi bậc thông thạo Phân Tích, tôi nói cho ngài biết điều này.
Samuṭṭhānā kāyikā vācasikā mānasikā anantadassinā, Akkhātā lokahitena vivekadassinā; Āpattiyo tena samuṭṭhitā kati, Pucchāmi taṁ brūhi vibhaṅgakovida.
Origination from body, speech, and mind has been declared by the one who benefits the world, The one of boundless vision, seeing seclusion: I ask how many kinds of offenses originate from that—You who are skilled in analysis, please say.
Nguồn gốc phát sanh từ thân, lời nói, và tâm đã được bậc Vô Hạn Kiến, bậc Kiến Tánh Viễn Ly, bậc Mưu Cầu Hạnh Phúc cho Thế Gian tuyên thuyết; do nguồn gốc ấy, bao nhiêu tội đã phát sanh? Hỡi bậc thông thạo Phân Tích, tôi hỏi ngài điều ấy, xin hãy nói rõ.
Samuṭṭhānā kāyikā vācasikā mānasikā anantadassinā, Akkhātā lokahitena vivekadassinā; Āpattiyo tena samuṭṭhitā cha, Etaṁ te akkhāmi vibhaṅgakovidāti.
Origination from body, speech, and mind has been declared by the one who benefits the world, The one of boundless vision, seeing seclusion: Six kinds of offenses originate from that—I declare this to you, you who are skilled in analysis.”
Nguồn gốc phát sanh từ thân, lời nói, và tâm đã được bậc Vô Hạn Kiến, bậc Kiến Tánh Viễn Ly, bậc Mưu Cầu Hạnh Phúc cho Thế Gian tuyên thuyết; do nguồn gốc ấy, sáu tội đã phát sanh. Hỡi bậc thông thạo Phân Tích, tôi nói cho ngài biết điều này.
Āpattisamuṭṭhānagāthā niṭṭhitā tatiyā.
The third section on the verses on the kinds of originations of offenses is finished.
Kệ về sự phát sanh của tội thứ ba đã chấm dứt.
4.4. Vipattipaccayavāra
4. The section on “as a result of failure”
4. Phần Duyên do Hư hỏng
Sīlavipattipaccayā kati āpattiyo āpajjati? Sīlavipattipaccayā catasso āpattiyo āpajjati—bhikkhunī jānaṁ pārājikaṁ dhammaṁ paṭicchādeti, āpatti pārājikassa; vematikā paṭicchādeti, āpatti thullaccayassa; bhikkhu saṅghādisesaṁ paṭicchādeti, āpatti pācittiyassa; attano duṭṭhullaṁ āpattiṁ paṭicchādeti, āpatti dukkaṭassa—sīlavipattipaccayā imā catasso āpattiyo āpajjati.
How many kinds of offenses does one commit as a result of failure in morality? Four: when a nun knowingly conceals an offense entailing expulsion, she commits an offense entailing expulsion; when, being unsure, she conceals it, she commits a serious offense; when a monk conceals an offense entailing suspension, he commits an offense entailing confession; when he conceals a grave offense of his own, he commits an offense of wrong conduct.
284. Do duyên giới bị hư hỏng, phạm bao nhiêu tội? Do duyên giới bị hư hỏng, phạm bốn tội: Vị tỳ khưu ni biết (tội) mà che giấu pháp pārājika, phạm tội pārājika; có sự nghi ngờ mà che giấu, phạm tội thullaccaya; vị tỳ khưu che giấu tội saṅghādisesa, phạm tội pācittiya; che giấu tội trọng của mình, phạm tội dukkaṭa. Do duyên giới bị hư hỏng, phạm bốn tội này.
Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ kati vipattiyo bhajanti …pe… sattannaṁ samathānaṁ katihi samathehi sammanti? Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ dve vipattiyo bhajanti—siyā sīlavipattiṁ, siyā ācāravipattiṁ. Sattannaṁ āpattikkhandhānaṁ catūhi āpattikkhandhehi saṅgahitā—siyā pārājikāpattikkhandhena, siyā thullaccayāpattikkhandhena, siyā pācittiyāpattikkhandhena, siyā dukkaṭāpattikkhandhena. Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ ekena samuṭṭhānena samuṭṭhanti—kāyato ca vācato ca cittato ca samuṭṭhanti. Catunnaṁ adhikaraṇānaṁ, āpattādhikaraṇaṁ. Sattannaṁ samathānaṁ tīhi samathehi sammanti—siyā sammukhāvinayena ca paṭiññātakaraṇena ca, siyā sammukhāvinayena ca tiṇavatthārakena ca.
When it comes to these offenses, to how many of the four kinds of failure do they belong? … Through how many of the seven principles for settling legal issues are they settled? They belong to two kinds of failure: they may be failure in morality; they may be failure in conduct. They are found in four classes of offenses: they may be in the class of offenses entailing expulsion; they may be in the class of serious offenses; they may be in the class of offenses entailing confession; they may be in the class of offenses of wrong conduct. They originate in one way: from body, speech, and mind. They belong to legal issues arising from offenses. They are settled through three principles: they may be settled by resolution face-to-face and by acting according to what has been admitted; or they may be settled by resolution face-to-face and by covering over as if with grass.
Những tội ấy trong bốn sự hư hỏng, được phân loại vào bao nhiêu sự hư hỏng? ... cho đến ... trong bảy pháp an trú, được dập tắt bởi bao nhiêu pháp an trú? Những tội ấy trong bốn sự hư hỏng, được phân loại vào hai sự hư hỏng: có khi là giới bị hư hỏng, có khi là oai nghi bị hư hỏng. Trong bảy nhóm tội, được bao gồm bởi bốn nhóm tội: có khi bởi nhóm tội pārājika, có khi bởi nhóm tội thullaccaya, có khi bởi nhóm tội pācittiya, có khi bởi nhóm tội dukkaṭa. Trong sáu sự phát sanh của tội, chúng phát sanh bởi một sự phát sanh: chúng phát sanh từ thân, và từ khẩu, và từ ý. Trong bốn sự tranh tụng, là sự tranh tụng về tội. Trong bảy pháp an trú, chúng được dập tắt bởi ba pháp an trú: có khi bởi sự hiện diện và bởi sự thừa nhận, có khi bởi sự hiện diện và bởi sự xử như cỏ che.
Ācāravipattipaccayā kati āpattiyo āpajjati? Ācāravipattipaccayā ekaṁ āpattiṁ āpajjati. Ācāravipattiṁ paṭicchādeti, āpatti dukkaṭassa—ācāravipattipaccayā imaṁ ekaṁ āpattiṁ āpajjati.
How many kinds of offenses does one commit as a result of failure in conduct? One: when one conceals a failure in conduct, one commits an offense of wrong conduct.
285. Do duyên oai nghi bị hư hỏng, phạm bao nhiêu tội? Do duyên oai nghi bị hư hỏng, phạm một tội. Che giấu sự hư hỏng về oai nghi, phạm tội dukkaṭa. Do duyên oai nghi bị hư hỏng, phạm một tội này.
Sā āpatti catunnaṁ vipattīnaṁ kati vipattiyo bhajati …pe… sattannaṁ samathānaṁ katihi samathehi sammati? Sā āpatti catunnaṁ vipattīnaṁ ekaṁ vipattiṁ bhajati—ācāravipattiṁ. Sattannaṁ āpattikkhandhānaṁ ekena āpattikkhandhena saṅgahitā—dukkaṭāpattikkhandhena. Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ ekena samuṭṭhānena samuṭṭhāti—kāyato ca vācato ca cittato ca samuṭṭhāti. Catunnaṁ adhikaraṇānaṁ āpattādhikaraṇaṁ. Sattannaṁ samathānaṁ tīhi samathehi sammati—siyā sammukhāvinayena ca paṭiññātakaraṇena ca, siyā sammukhāvinayena ca tiṇavatthārakena ca.
When it comes to this offense, to how many of the four kinds of failure does it belong? … Through how many of the seven principles for settling legal issues is it settled? It belongs to one kind of failure: failure in conduct. It is found in one class of offenses: in the class of offenses of wrong conduct. They originate in one way: from body, speech, and mind. It belongs to legal issues arising from offenses. They are settled through three principles: they may be settled by resolution face-to-face and by acting according to what has been admitted; or they may be settled by resolution face-to-face and by covering over as if with grass.
Tội ấy trong bốn sự hư hỏng, được phân loại vào bao nhiêu sự hư hỏng? ... cho đến ... trong bảy pháp an trú, được dập tắt bởi bao nhiêu pháp an trú? Tội ấy trong bốn sự hư hỏng, được phân loại vào một sự hư hỏng: oai nghi bị hư hỏng. Trong bảy nhóm tội, được bao gồm bởi một nhóm tội: bởi nhóm tội dukkaṭa. Trong sáu sự phát sanh của tội, nó phát sanh bởi một sự phát sanh: nó phát sanh từ thân, và từ khẩu, và từ ý. Trong bốn sự tranh tụng, là sự tranh tụng về tội. Trong bảy pháp an trú, nó được dập tắt bởi ba pháp an trú: có khi bởi sự hiện diện và bởi sự thừa nhận, có khi bởi sự hiện diện và bởi sự xử như cỏ che.
Diṭṭhivipattipaccayā kati āpattiyo āpajjati? Diṭṭhivipattipaccayā dve āpattiyo āpajjati. Pāpikāya diṭṭhiyā yāvatatiyaṁ samanubhāsanāya na paṭinissajjati, ñattiyā dukkaṭaṁ; kammavācāpariyosāne āpatti pācittiyassa—diṭṭhivipattipaccayā imā dve āpattiyo āpajjati.
How many kinds of offenses does one commit as a result of failure in view? Two: when not giving up a bad view after being pressed for the third time, then after the motion, one commits an offense of wrong conduct; when the last announcement is finished, one commits an offense entailing confession.
286. Do duyên tri kiến bị hư hỏng, phạm bao nhiêu tội? Do duyên tri kiến bị hư hỏng, phạm hai tội. Do được khiển trách đến lần thứ ba về tà kiến mà không từ bỏ, (phạm tội) dukkaṭa vào lúc tuyên ngôn; vào lúc kết thúc lời tuyên bố, phạm tội pācittiya. Do duyên tri kiến bị hư hỏng, phạm hai tội này.
Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ kati vipattiyo bhajanti …pe… sattannaṁ samathānaṁ katihi samathehi sammanti? Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ ekaṁ vipattiṁ bhajanti—ācāravipattiṁ. Sattannaṁ āpattikkhandhānaṁ dvīhi āpattikkhandhehi saṅgahitā—siyā pācittiyāpattikkhandhena, siyā dukkaṭāpattikkhandhena. Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ ekena samuṭṭhānena samuṭṭhanti—kāyato ca vācato ca cittato ca samuṭṭhanti. Catunnaṁ adhikaraṇānaṁ, āpattādhikaraṇaṁ. Sattannaṁ samathānaṁ tīhi samathehi sammanti—siyā sammukhāvinayena ca paṭiññātakaraṇena ca, siyā sammukhāvinayena ca tiṇavatthārakena ca.
When it comes to these offenses, to how many of the four kinds of failure do they belong? … Through how many of the seven principles for settling legal issues are they settled? They belong to one kind of failure: failure in conduct. They are found in two classes of offenses: they may be in the class of offenses entailing confession; they may be in the class of offenses of wrong conduct. They originate in one way: from body, speech, and mind. They belong to legal issues arising from offenses. They are settled through three principles: they may be settled by resolution face-to-face and by acting according to what has been admitted; or they may be settled by resolution face-to-face and by covering over as if with grass.
Những tội ấy trong bốn sự hư hỏng, được phân loại vào bao nhiêu sự hư hỏng? ... cho đến ... trong bảy pháp an trú, được dập tắt bởi bao nhiêu pháp an trú? Những tội ấy trong bốn sự hư hỏng, được phân loại vào một sự hư hỏng: oai nghi bị hư hỏng. Trong bảy nhóm tội, được bao gồm bởi hai nhóm tội: có khi bởi nhóm tội pācittiya, có khi bởi nhóm tội dukkaṭa. Trong sáu sự phát sanh của tội, chúng phát sanh bởi một sự phát sanh: chúng phát sanh từ thân, và từ khẩu, và từ ý. Trong bốn sự tranh tụng, là sự tranh tụng về tội. Trong bảy pháp an trú, chúng được dập tắt bởi ba pháp an trú: có khi bởi sự hiện diện và bởi sự thừa nhận, có khi bởi sự hiện diện và bởi sự xử như cỏ che.
Ājīvavipattipaccayā kati āpattiyo āpajjati? Ājīvavipattipaccayā cha āpattiyo āpajjati—ājīvahetu ājīvakāraṇā pāpiccho icchāpakato asantaṁ abhūtaṁ uttarimanussadhammaṁ ullapati, āpatti pārājikassa; ājīvahetu ājīvakāraṇā sañcarittaṁ samāpajjati, āpatti saṅghādisesassa; ājīvahetu ājīvakāraṇā “yo te vihāre vasati, so bhikkhu arahā”ti bhaṇati, paṭivijānantassa āpatti thullaccayassa; ājīvahetu ājīvakāraṇā bhikkhu paṇītabhojanāni attano atthāya viññāpetvā bhuñjati, āpatti pācittiyassa; ājīvahetu ājīvakāraṇā bhikkhunī paṇītabhojanāni attano atthāya viññāpetvā bhuñjati, āpatti pāṭidesanīyassa; ājīvahetu ājīvakāraṇā sūpaṁ vā odanaṁ vā agilāno attano atthāya viññāpetvā bhuñjati, āpatti dukkaṭassa—ājīvavipattipaccayā imā cha āpattiyo āpajjati.
How many kinds of offenses does one commit as a result of failure in livelihood? Six: (1) when, to make a living, having bad desires, overcome by desire, one claims a non-existent superhuman quality, one commits an offense entailing expulsion; (2) when, to make a living, one acts as a matchmaker, one commits an offense entailing suspension; (3) when, to make a living, one says, “The monk who stays in your dwelling is a perfected one,” and the listener understands, one commits a serious offense; (4) when, to make a living, a monk eats fine foods that he has requested for himself, he commits an offense entailing confession; (5) when, to make a living, a nun eats fine foods that she has requested for herself, she commits an offense entailing acknowledgment; (6) when, to make a living, one eats bean curry or rice that one has requested for oneself, one commits an offense of wrong conduct.
287. Do duyên sanh kế bị hư hỏng, phạm bao nhiêu tội? Do duyên sanh kế bị hư hỏng, phạm sáu tội: vì nguyên nhân sanh kế, vì lý do sanh kế, có ước muốn xấu xa, bị ước muốn xấu xa chi phối, khoe khoang pháp thượng nhân không có, không thật, phạm tội pārājika; vì nguyên nhân sanh kế, vì lý do sanh kế, thực hành việc môi giới, phạm tội saṅghādisesa; vì nguyên nhân sanh kế, vì lý do sanh kế, nói rằng: ‘Vị tỳ khưu nào sống trong trú xứ của ông, vị tỳ khưu ấy là bậc A-la-hán,’ trong khi người nghe hiểu biết, phạm tội thullaccaya; vì nguyên nhân sanh kế, vì lý do sanh kế, vị tỳ khưu sau khi xin các vật thực hảo hạng vì lợi ích của mình rồi dùng, phạm tội pācittiya; vì nguyên nhân sanh kế, vì lý do sanh kế, vị tỳ khưu ni sau khi xin các vật thực hảo hạng vì lợi ích của mình rồi dùng, phạm tội pāṭidesanīya; vì nguyên nhân sanh kế, vì lý do sanh kế, không bệnh, sau khi xin canh hoặc cơm vì lợi ích của mình rồi dùng, phạm tội dukkaṭa. Do duyên sanh kế bị hư hỏng, phạm sáu tội này.
Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ kati vipattiyo bhajanti …pe… sattannaṁ samathānaṁ katihi samathehi sammanti. Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ dve vipattiyo bhajanti—siyā sīlavipattiṁ, siyā ācāravipattiṁ. Sattannaṁ āpattikkhandhānaṁ chahi āpattikkhandhehi saṅgahitā—siyā pārājikāpattikkhandhena, siyā saṅghādisesāpattikkhandhena, siyā thullaccayāpattikkhandhena, siyā pācittiyāpattikkhandhena, siyā pāṭidesanīyāpattikkhandhena, siyā dukkaṭāpattikkhandhena. Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ chahi samuṭṭhānehi samuṭṭhanti—siyā kāyato samuṭṭhanti, na vācato na cittato; siyā vācato samuṭṭhanti, na kāyato na cittato; siyā kāyato ca vācato ca samuṭṭhanti, na cittato; siyā kāyato ca cittato ca samuṭṭhanti, na vācato; siyā vācato ca cittato ca samuṭṭhanti, na kāyato; siyā kāyato ca vācato ca cittato ca samuṭṭhanti. Catunnaṁ adhikaraṇānaṁ, āpattādhikaraṇaṁ. Sattannaṁ samathānaṁ tīhi samathehi sammanti—siyā sammukhāvinayena ca paṭiññātakaraṇena ca, siyā sammukhāvinayena ca tiṇavatthārakena ca.
When it comes to these offenses, to how many of the four kinds of failure do they belong? … Through how many of the seven principles for settling legal issues are they settled? They belong to two kinds of failure: they may be failure in morality; they may be failure in conduct. They are found in six classes of offenses: they may be in the class of offenses entailing expulsion; they may be in the class of offenses entailing suspension; they may be in the class of serious offenses; they may be in the class of offenses entailing confession; they may be in the class of offenses entailing acknowledgment; they may be in the class of offenses of wrong conduct. They originate in six ways: from body, not from speech or mind; or from speech, not from body or mind; or from body and speech, not from mind; or from body and mind, not from speech; or from speech and mind, not from body; or from body, speech, and mind. They belong to legal issues arising from offenses. They are settled through three principles: they may be settled by resolution face-to-face and by acting according to what has been admitted; or they may be settled by resolution face-to-face and by covering over as if with grass.
Các tội ấy thuộc về bao nhiêu विपत्ति (vipatti) trong bốn विपत्ति (vipatti)? ... được dập tắt bởi bao nhiêu phương pháp an trú trong bảy phương pháp an trú? Các tội ấy thuộc về hai विपत्ति (vipatti) trong bốn विपत्ति (vipatti) – có khi là giới hư hỏng (sīlavipatti), có khi là hạnh kiểm hư hỏng (ācāravipatti). Được bao gồm trong sáu nhóm tội trong bảy nhóm tội – có khi bởi nhóm tội pārājika, có khi bởi nhóm tội saṅghādisesa, có khi bởi nhóm tội thullaccaya, có khi bởi nhóm tội pācittiya, có khi bởi nhóm tội pāṭidesanīya, có khi bởi nhóm tội dukkaṭa. Phát sanh từ sáu nguồn gốc trong sáu nguồn gốc phát sanh tội – có khi phát sanh từ thân, không từ lời nói, không từ tâm; có khi phát sanh từ lời nói, không từ thân, không từ tâm; có khi phát sanh từ thân và lời nói, không từ tâm; có khi phát sanh từ thân và tâm, không từ lời nói; có khi phát sanh từ lời nói và tâm, không từ thân; có khi phát sanh từ thân, lời nói và tâm. Trong bốn loại tranh tụng, đây là tranh tụng về tội (āpattādhikaraṇa). Được dập tắt bởi ba phương pháp an trú trong bảy phương pháp an trú – có khi bởi phương pháp xử theo sự hiện diện (sammukhāvinaya) và phương pháp hành xử theo sự thú nhận (paṭiññātakaraṇa), có khi bởi phương pháp xử theo sự hiện diện (sammukhāvinaya) và phương pháp như cỏ che đất (tiṇavatthāraka).
Vipattipaccayavāro niṭṭhito catuttho.
The fourth section on “as a result of failure” is finished.
Thiên về nhân của sự hư hỏng, phần thứ tư, đã kết thúc.
4.5. Adhikaraṇapaccayavāra
5. The section on “as a result of legal issues”
5. Thiên về nhân của sự tranh tụng
Vivādādhikaraṇapaccayā kati āpattiyo āpajjati? Vivādādhikaraṇapaccayā dve āpattiyo āpajjati—upasampannaṁ omasati, āpatti pācittiyassa; anupasampannaṁ omasati, āpatti dukkaṭassa—vivādādhikaraṇapaccayā imā dve āpattiyo āpajjati.
“How many kinds of offenses does one commit as a result of legal issues arising from disputes? Two: when one speaks abusively to one who is fully ordained, one commits an offense entailing confession; when one speaks abusively to one who is not fully ordained, one commits an offense of wrong conduct.
288. Do nhân là tranh tụng về sự tranh cãi (vivādādhikaraṇa), phạm bao nhiêu tội? Do nhân là tranh tụng về sự tranh cãi, phạm hai tội – mạ lỵ người đã thọ cụ túc giới, phạm tội pācittiya; mạ lỵ người chưa thọ cụ túc giới, phạm tội dukkaṭa – do nhân là tranh tụng về sự tranh cãi, phạm hai tội này.
Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ kati vipattiyo bhajanti …pe… sattannaṁ samathānaṁ katihi samathehi sammanti? Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ ekaṁ vipattiṁ bhajanti—ācāravipattiṁ. Sattannaṁ āpattikkhandhānaṁ dvīhi āpattikkhandhehi saṅgahitā—siyā pācittiyāpattikkhandhena, siyā dukkaṭāpattikkhandhena. Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ tīhi samuṭṭhānehi samuṭṭhanti—siyā kāyato ca cittato ca samuṭṭhanti, na vācato; siyā vācato ca cittato ca samuṭṭhanti, na kāyato; siyā kāyato ca vācato ca cittato ca samuṭṭhanti. Catunnaṁ adhikaraṇānaṁ, āpattādhikaraṇaṁ. Sattannaṁ samathānaṁ tīhi samathehi sammanti—siyā sammukhāvinayena ca paṭiññātakaraṇena ca, siyā sammukhāvinayena ca tiṇavatthārakena ca.
When it comes to these offenses, to how many of the four kinds of failure do they belong? … Through how many of the seven principles for settling legal issues are they settled? They belong to one kind of failure: failure in conduct. They are found in two classes of offenses: they may be in the class of offenses entailing confession; they may be in the class of offenses of wrong conduct. They originate in three ways: from body and mind, not from speech; or from speech and mind, not from body; or from body, speech, and mind. They belong to legal issues arising from offenses. They are settled through three principles: they may be settled by resolution face-to-face and by acting according to what has been admitted; or they may be settled by resolution face-to-face and by covering over as if with grass.
Các tội ấy thuộc về bao nhiêu विपत्ति (vipatti) trong bốn विपत्ति (vipatti)? ... được dập tắt bởi bao nhiêu phương pháp an trú trong bảy phương pháp an trú? Các tội ấy thuộc về một विपत्ति (vipatti) trong bốn विपत्ति (vipatti) – đó là hạnh kiểm hư hỏng (ācāravipatti). Được bao gồm trong hai nhóm tội trong bảy nhóm tội – có khi bởi nhóm tội pācittiya, có khi bởi nhóm tội dukkaṭa. Phát sanh từ ba nguồn gốc trong sáu nguồn gốc phát sanh tội – có khi phát sanh từ thân và tâm, không từ lời nói; có khi phát sanh từ lời nói và tâm, không từ thân; có khi phát sanh từ thân, lời nói và tâm. Trong bốn loại tranh tụng, đây là tranh tụng về tội (āpattādhikaraṇa). Được dập tắt bởi ba phương pháp an trú trong bảy phương pháp an trú – có khi bởi phương pháp xử theo sự hiện diện (sammukhāvinaya) và phương pháp hành xử theo sự thú nhận (paṭiññātakaraṇa), có khi bởi phương pháp xử theo sự hiện diện (sammukhāvinaya) và phương pháp như cỏ che đất (tiṇavatthāraka).
Anuvādādhikaraṇapaccayā kati āpattiyo āpajjati? Anuvādādhikaraṇapaccayā tisso āpattiyo āpajjati. Bhikkhuṁ amūlakena pārājikena dhammena anuddhaṁseti, āpatti saṅghādisesassa; amūlakena saṅghādisesena anuddhaṁseti, āpatti pācittiyassa; amūlikāya ācāravipattiyā anuddhaṁseti, āpatti dukkaṭassa—anuvādādhikaraṇapaccayā imā tisso āpattiyo āpajjati.
How many kinds of offenses does one commit as a result of legal issues arising from accusations? Three: when one groundlessly charges a monk with an offense entailing expulsion, one commits an offense entailing suspension; when one groundlessly charges him with an offense entailing suspension, one commits an offense entailing confession; when one groundlessly charges him with failure in conduct, one commits an offense of wrong conduct.
289. Do nhân là tranh tụng về sự khiển trách (anuvādādhikaraṇa), phạm bao nhiêu tội? Do nhân là tranh tụng về sự khiển trách, phạm ba tội. Vu khống vị tỳ khưu bằng tội pārājika không có căn cứ, phạm tội saṅghādisesa; vu khống bằng tội saṅghādisesa không có căn cứ, phạm tội pācittiya; vu khống bằng hạnh kiểm hư hỏng không có căn cứ, phạm tội dukkaṭa – do nhân là tranh tụng về sự khiển trách, phạm ba tội này.
Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ kati vipattiyo bhajanti …pe… sattannaṁ samathānaṁ katihi samathehi sammanti? Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ dve vipattiyo bhajanti—siyā sīlavipattiṁ, siyā ācāravipattiṁ. Sattannaṁ āpattikkhandhānaṁ tīhi āpattikkhandhehi saṅgahitā—siyā saṅghādisesāpattikkhandhena, siyā pācittiyāpattikkhandhena, siyā dukkaṭāpattikkhandhena. Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ tīhi samuṭṭhānehi samuṭṭhanti—siyā kāyato ca cittato ca samuṭṭhanti, na vācato; siyā vācato ca cittato ca samuṭṭhanti, na kāyato; siyā kāyato ca vācato ca cittato ca samuṭṭhanti. Catunnaṁ adhikaraṇānaṁ, āpattādhikaraṇaṁ. Sattannaṁ samathānaṁ tīhi samathehi sammanti—siyā sammukhāvinayena ca paṭiññātakaraṇena ca, siyā sammukhāvinayena ca tiṇavatthārakena ca.
When it comes to these offenses, to how many of the four kinds of failure do they belong? … Through how many of the seven principles for settling legal issues are they settled? They belong to two kinds of failure: they may be failure in morality; they may be failure in conduct. They are found in three classes of offenses: they may be in the class of offenses entailing suspension; they may be in the class of offenses entailing confession; they may be in the class of offenses of wrong conduct. They originate in three ways: from body and mind, not from speech; or from speech and mind, not from body; or from body, speech, and mind. They belong to legal issues arising from offenses. They are settled through three principles: they may be settled by resolution face-to-face and by acting according to what has been admitted; or they may be settled by resolution face-to-face and by covering over as if with grass.
Các tội ấy thuộc về bao nhiêu विपत्ति (vipatti) trong bốn विपत्ति (vipatti)? ... được dập tắt bởi bao nhiêu phương pháp an trú trong bảy phương pháp an trú? Các tội ấy thuộc về hai विपत्ति (vipatti) trong bốn विपत्ति (vipatti) – có khi là giới hư hỏng (sīlavipatti), có khi là hạnh kiểm hư hỏng (ācāravipatti). Được bao gồm trong ba nhóm tội trong bảy nhóm tội – có khi bởi nhóm tội saṅghādisesa, có khi bởi nhóm tội pācittiya, có khi bởi nhóm tội dukkaṭa. Phát sanh từ ba nguồn gốc trong sáu nguồn gốc phát sanh tội – có khi phát sanh từ thân và tâm, không từ lời nói; có khi phát sanh từ lời nói và tâm, không từ thân; có khi phát sanh từ thân, lời nói và tâm. Trong bốn loại tranh tụng, đây là tranh tụng về tội (āpattādhikaraṇa). Được dập tắt bởi ba phương pháp an trú trong bảy phương pháp an trú – có khi bởi phương pháp xử theo sự hiện diện (sammukhāvinaya) và phương pháp hành xử theo sự thú nhận (paṭiññātakaraṇa), có khi bởi phương pháp xử theo sự hiện diện (sammukhāvinaya) và phương pháp như cỏ che đất (tiṇavatthāraka).
Āpattādhikaraṇapaccayā kati āpattiyo āpajjati? Āpattādhikaraṇapaccayā catasso āpattiyo āpajjati. Bhikkhunī jānaṁ pārājikaṁ dhammaṁ paṭicchādeti, āpatti pārājikassa; vematikā paṭicchādeti, āpatti thullaccayassa; bhikkhu saṅghādisesaṁ paṭicchādeti, āpatti pācittiyassa; ācāravipattiṁ paṭicchādeti, āpatti dukkaṭassa—āpattādhikaraṇapaccayā imā catasso āpattiyo āpajjati.
How many kinds of offenses does one commit as a result of legal issues arising from offenses? Four: when a nun knowingly conceals an offense entailing expulsion, she commits an offense entailing expulsion; when, being unsure, she conceals it, she commits a serious offense; when a monk conceals an offense entailing suspension, he commits an offense entailing confession; when one conceals a failure in conduct, one commits an offense of wrong conduct.
290. Do nhân là tranh tụng về tội (āpattādhikaraṇa), phạm bao nhiêu tội? Do nhân là tranh tụng về tội, phạm bốn tội. Vị tỳ khưu ni biết mà che giấu tội pārājika, phạm tội pārājika; che giấu trong khi có sự nghi ngờ, phạm tội thullaccaya; vị tỳ khưu che giấu tội saṅghādisesa, phạm tội pācittiya; che giấu hạnh kiểm hư hỏng, phạm tội dukkaṭa – do nhân là tranh tụng về tội, phạm bốn tội này.
Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ kati vipattiyo bhajanti …pe… sattannaṁ samathānaṁ katihi samathehi sammanti? Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ dve vipattiyo bhajanti—siyā sīlavipattiṁ, siyā ācāravipattiṁ. Sattannaṁ āpattikkhandhānaṁ catūhi āpattikkhandhehi saṅgahitā—siyā pārājikāpattikkhandhena, siyā thullaccayāpattikkhandhena, siyā pācittiyāpattikkhandhena, siyā dukkaṭāpattikkhandhena. Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ ekena samuṭṭhānena samuṭṭhanti—kāyato ca vācato ca cittato ca samuṭṭhanti. Catunnaṁ adhikaraṇānaṁ, āpattādhikaraṇaṁ. Sattannaṁ samathānaṁ tīhi samathehi sammanti—siyā sammukhāvinayena ca paṭiññātakaraṇena ca, siyā sammukhāvinayena ca tiṇavatthārakena ca.
When it comes to these offenses, to how many of the four kinds of failure do they belong? … Through how many of the seven principles for settling legal issues are they settled? They belong to two kinds of failure: they may be failure in morality; they may be failure in conduct. They are found in four classes of offenses: they may be in the class of offenses entailing expulsion; they may be in the class of serious offenses; they may be in the class of offenses entailing confession; they may be in the class of offenses of wrong conduct. They originate in one way: from body, speech, and mind. They belong to legal issues arising from offenses. They are settled through three principles: they may be settled by resolution face-to-face and by acting according to what has been admitted; or they may be settled by resolution face-to-face and by covering over as if with grass.
Những tội ấy thuộc về bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng?...v.v... được dập tắt bởi bao nhiêu pháp an trú trong bảy pháp an trú? Những tội ấy thuộc về hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng – có khi là giới hư, có khi là oai nghi hư. Được bao gồm trong bốn uẩn tội trong bảy uẩn tội – có khi là uẩn tội pārājika, có khi là uẩn tội thullaccaya, có khi là uẩn tội pācittiya, có khi là uẩn tội dukkaṭa. Phát sanh do một nhân sanh tội trong sáu nhân sanh tội – phát sanh do thân, do khẩu, và do ý. Trong bốn sự tranh tụng, là tội tranh tụng. Được dập tắt bởi ba pháp an trú trong bảy pháp an trú – có khi là do pháp hiện diện và do pháp thừa nhận, có khi là do pháp hiện diện và do pháp lấy cỏ che.
Kiccādhikaraṇapaccayā kati āpattiyo āpajjati? Kiccādhikaraṇapaccayā pañca āpattiyo āpajjati. Ukkhittānuvattikā bhikkhunī yāvatatiyaṁ samanubhāsanāya na paṭinissajjati, ñattiyā dukkaṭaṁ; dvīhi kammavācāhi thullaccayā; kammavācāpariyosāne āpatti pārājikassa. Bhedakānuvattakā bhikkhū yāvatatiyaṁ samanubhāsanāya na paṭinissajjanti, āpatti saṅghādisesassa; pāpikāya diṭṭhiyā yāvatatiyaṁ samanubhāsanāya na paṭinissajjati, āpatti pācittiyassa—kiccādhikaraṇapaccayā imā pañca āpattiyo āpajjati.
How many kinds of offenses does one commit as a result of legal issues arising from business? Five: (1) when a nun takes sides with one who has been ejected and does not stop when pressed for the third time, then after the motion, she commits an offense of wrong conduct; (2) after each of the first two announcements, she commits a serious offense; (3) when the last announcement is finished, she commits an offense entailing expulsion; (4) when monks who side with a monk who is pursuing schism do not stop when pressed for the third time, they commit an offense entailing suspension; (5) when not giving up a bad view after being pressed for the third time, one commits an offense entailing confession.
291. Do duyên sự vụ tranh tụng mà phạm bao nhiêu tội? Do duyên sự vụ tranh tụng mà phạm năm tội. Vị tỳ khưu ni đi theo vị bị cử tội, sau khi được khuyên can đến lần thứ ba mà không từ bỏ, thì phạm tội dukkaṭa do lời tuyên ngôn; phạm tội thullaccaya do hai lời hành sự; sau khi lời hành sự kết thúc thì phạm tội pārājika. Các vị tỳ khưu đi theo người phá hòa hợp Tăng, sau khi được khuyên can đến lần thứ ba mà không từ bỏ, thì phạm tội saṅghādisesa; do tà kiến, sau khi được khuyên can đến lần thứ ba mà không từ bỏ, thì phạm tội pācittiya – do duyên sự vụ tranh tụng mà phạm năm tội này.
Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ kati vipattiyo bhajanti …pe… sattannaṁ samathānaṁ katihi samathehi sammanti? Tā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ dve vipattiyo bhajanti—siyā sīlavipattiṁ, siyā ācāravipattiṁ. Sattannaṁ āpattikkhandhānaṁ pañcahi āpattikkhandhehi saṅgahitā—siyā pārājikāpattikkhandhena, siyā saṅghādisesāpattikkhandhena, siyā thullaccayāpattikkhandhena, siyā pācittiyāpattikkhandhena, siyā dukkaṭāpattikkhandhena. Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ ekena samuṭṭhānena samuṭṭhanti—kāyato ca vācato ca cittato ca samuṭṭhanti. Catunnaṁ adhikaraṇānaṁ, āpattādhikaraṇaṁ. Sattannaṁ samathānaṁ tīhi samathehi sammanti—siyā sammukhāvinayena ca paṭiññātakaraṇena ca, siyā sammukhāvinayena ca tiṇavatthārakena ca.
When it comes to these offenses, to how many of the four kinds of failure do they belong? … Through how many of the seven principles for settling legal issues are they settled? They belong to two kinds of failure: they may be failure in morality; they may be failure in conduct. They are found in five classes of offenses: they may be in the class of offenses entailing expulsion; they may be in the class of offenses entailing suspension; they may be in the class of serious offenses; they may be in the class of offenses entailing confession; they may be in the class of offenses of wrong conduct. They originate in one way: from body, speech, and mind. They belong to legal issues arising from offenses. They are settled through three principles: they may be settled by resolution face-to-face and by acting according to what has been admitted; or they may be settled by resolution face-to-face and by covering over as if with grass.
Những tội ấy thuộc về bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng?...v.v... được dập tắt bởi bao nhiêu pháp an trú trong bảy pháp an trú? Những tội ấy thuộc về hai sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng – có khi là giới hư, có khi là oai nghi hư. Được bao gồm trong năm uẩn tội trong bảy uẩn tội – có khi là uẩn tội pārājika, có khi là uẩn tội saṅghādisesa, có khi là uẩn tội thullaccaya, có khi là uẩn tội pācittiya, có khi là uẩn tội dukkaṭa. Phát sanh do một nhân sanh tội trong sáu nhân sanh tội – phát sanh do thân, do khẩu, và do ý. Trong bốn sự tranh tụng, là tội tranh tụng. Được dập tắt bởi ba pháp an trú trong bảy pháp an trú – có khi là do pháp hiện diện và do pháp thừa nhận, có khi là do pháp hiện diện và do pháp lấy cỏ che.
Ṭhapetvā satta āpattiyo satta āpattikkhandhe, avasesā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ kati vipattiyo bhajanti? Sattannaṁ āpattikkhandhānaṁ katihi āpattikkhandhehi saṅgahitā? Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ katihi samuṭṭhānehi samuṭṭhanti? Catunnaṁ adhikaraṇānaṁ katamaṁ adhikaraṇaṁ? Sattannaṁ samathānaṁ katihi samathehi sammanti? Ṭhapetvā satta āpattiyo satta āpattikkhandhe avasesā āpattiyo catunnaṁ vipattīnaṁ na katamaṁ vipattiṁ bhajanti? Sattannaṁ āpattikkhandhānaṁ na katamena āpattikkhandhena saṅgahitā. Channaṁ āpattisamuṭṭhānānaṁ na katamena āpattisamuṭṭhānena samuṭṭhanti. Catunnaṁ adhikaraṇānaṁ na katamaṁ adhikaraṇaṁ. Sattannaṁ samathānaṁ na katamena samathena sammanti. Taṁ kissa hetu? Ṭhapetvā satta āpattiyo satta āpattikkhandhe, natthaññā āpattiyoti.
Apart from the seven kinds of offenses and the seven classes of offenses, when it comes to the rest of the offenses, to how many of the four kinds of failure do they belong? In how many of the seven classes of offenses are they found? Through how many of the six kinds of originations of offenses do they originate? To which of the four kinds of legal issues do they belong? Through how many of the seven principles for settling legal issues are they settled? Apart from the seven kinds of offenses and the seven classes of offenses, the rest of the offenses do not belong to any of the four kinds of failure. They are not found in any of the seven classes of offenses. They do not originate through any of the six kinds of originations of offenses. They do not belong to any of the four kinds of legal issues. They are not settled through any of the seven principles for settling legal issues. Why is that? Apart from the seven kinds of offenses and the seven classes of offenses, there are no other offenses.”
Ngoại trừ bảy tội, bảy uẩn tội, các tội còn lại thuộc về bao nhiêu sự hư hỏng trong bốn sự hư hỏng? Được bao gồm trong bao nhiêu uẩn tội trong bảy uẩn tội? Phát sanh do bao nhiêu nhân sanh tội trong sáu nhân sanh tội? Là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng? Được dập tắt bởi bao nhiêu pháp an trú trong bảy pháp an trú? Ngoại trừ bảy tội, bảy uẩn tội, các tội còn lại không thuộc về sự hư hỏng nào trong bốn sự hư hỏng. Không được bao gồm trong uẩn tội nào trong bảy uẩn tội. Không phát sanh do nhân sanh tội nào trong sáu nhân sanh tội. Không phải là sự tranh tụng nào trong bốn sự tranh tụng. Không được dập tắt bởi pháp an trú nào trong bảy pháp an trú. Điều đó do nhân gì? Bởi vì ngoại trừ bảy tội, bảy uẩn tội, không có tội nào khác.
Adhikaraṇapaccayavāro niṭṭhito pañcamo.
The fifth section on “as a result of legal issues” is finished.
Chương về Duyên của Sự Tranh Tụng thứ năm đã kết thúc.
Antarapeyyālaṁ niṭṭhitaṁ.
Tassuddānaṁ
Various topics with a focus on the origination of offenses is finished.
This is the summary:
Phần Lược Giữa đã kết thúc.
Katipucchā samuṭṭhānā, katāpatti tatheva ca; Samuṭṭhānā vipatti ca, tathādhikaraṇena cāti.
“Questioning ‘how many?’, originations, And so ‘how many kinds of offenses?’ Originations, and failure, And so with legal issues.”
Chương câu hỏi ‘Bao nhiêu,’ chương Nhân sanh tội, và cũng vậy chương Tội đã phạm; chương Nhân sanh tội, chương Hư hỏng, và cũng vậy chương Sự tranh tụng.