- Parivāra
Bản dịch
Pvr 10 — Sưu tập về các bài kệ
10. Gāthāsaṅgaṇika
Inda-bh 1~1Sau khi đã đắp y một bên vai, sau khi đã chắp tay lại, lại còn có vẻ đang mong mỏi, vì sao ngươi đi đến nơi đây?
Inda-bh 2~2Các điều đã được quy định trong hai bộ Luật được đưa ra đọc tụng trong các lễ Uposatha, các điều học ấy là có bao nhiêu, đã được quy định ở bao nhiêu thành phố?
Inda-bh 3~3Câu hỏi của ngươi hay, ngươi đã hỏi chí lý, quả vậy ta sẽ giảng cho ngươi, như thế ngươi sẽ được tận tường.
Inda-bh 4~4Các điều đã được quy định trong hai bộ Luật được đưa ra đọc tụng trong các lễ Uposatha, chúng gồm có ba trăm năm mươi điều, đã được quy định ở bảy thành phố.
Inda-bh 5~5Chúng đã được quy định ở bảy thành phố nào? Ngài ơi, xin Ngài hãy nói cho con. Sau khi đã lắng nghe lời nói chỉ dạy ấy, chúng con sẽ thực hành vì lợi ích cho chúng con.
Inda-bh 6~6Chúng đã được quy định ở thành Vesāli, thành Rājagaha, rồi thành Sāvatthi, và thành Āḷavī, ở thành Kosambi, trong xứ sở Sakka, và luôn cả ở Bhagga nữa.
Inda-bh 7~7Bao nhiêu đã được quy định ở thành Vesāli? Bao nhiêu đã được thực hiện ở thành Rājagaha? Bao nhiêu là ở thành Sāvatthi? Bao nhiêu đã được thực hiện ở thành Āḷavī?
Inda-bh 8~8Bao nhiêu đã được quy định ở thành Kosambi? Bao nhiêu được đề cập ở xứ Sakka? Bao nhiêu đã được quy định ở xứ Bhagga? Đã được con hỏi, xin Ngài hãy nói về điều ấy.
Inda-bh 9~9Mười điều đã được quy định ở thành Vesāli, hai mươi mốt điều đã được thực hiện ở Rājagaha, tất cả hai trăm chín mươi bốn điều đã được thực hiện ở thành Sāvatthi.
Inda-bh 10~10Sáu điều đã được quy định ở thành Āḷavī, tám điều đã được quy định ở thành Kosambi, tám điều được đề cập ở xứ Sakka, ba điều đã được quy định ở xứ Bhagga.
Inda-bh 11~11Các điều đã được quy định ở thành Vesāli, ngươi hãy lắng nghe các điều ấy theo như lời giảng giải: Chuyện đôi lứa, mạng người, pháp thượng nhân, và phụ trội, màu đen.
Inda-bh 12~12Sự thực chứng, bữa ăn được thỉnh sau, tăm xỉa răng và nước, vị đạo sĩ lõa thể, và mắng nhiếc ở các tỳ khưu ni, mười điều này đã được thực hiện ở thành Vesāli.
Inda-bh 13~13Các điều nào đã được quy định ở Rājagaha, ngươi hãy lắng nghe các điều ấy theo như lời giảng giải: Ở Rājagaha, lấy vật không được cho, và luôn cả hai chuyện bôi nhọ.
Inda-bh 14~14Và còn hai việc chia rẽ, y nội, vàng bạc, chỉ sợi, và với vị phàn nàn, đồ khất thực môi giới, vật thực chung nhóm, lúc sái giờ, và việc đi thăm viếng, việc tắm, chưa đủ hai mươi (tuổi).
Inda-bh 15~15Sau khi đã cho y, đang hướng dẫn sự phục vụ, các điều này đã được thực hiện ở Rājagaha, trên đỉnh núi, sự du hành, là chính ở nơi ấy, với sự trao thỏa thuận, là hai mươi mốt.
Inda-bh 16~16Các điều nào đã được quy định ở thành Sāvatthi, ngươi hãy lắng nghe các điều ấy theo như lời giảng giải: bốn pārājika, các điều saṅghādisesa là mười sáu.
Inda-bh 17~17Và có hai điều aniyata, ba mươi bốn điều nissaggiya, và luôn cả một trăm năm mươi sáu điều nhỏ nhặt được nói đến.
Inda-bh 18~18Và luôn cả mười tội đáng chê trách, và bảy mươi hai điều sekhiya, tất cả hai trăm chín bốn điều là đã được thực hiện ở thành Sāvatthi.
Inda-bh 19~19Các điều nào đã được quy định ở thành Āḷavī, ngươi hãy lắng nghe các điều ấy theo như lời giảng giải: Cốc liêu, tơ tằm, và chỗ nằm, về việc đào, ‘Thiên nhân, hãy đi đi,’ và các vị tưới nước có sinh vật, sáu điều này đã được thực hiện ở thành Āḷavī.
Inda-bh 20~20Các điều nào đã được quy định ở thành Kosambi, ngươi hãy lắng nghe các điều ấy theo như lời giảng giải: Trú xá lớn, khó dạy, (tránh né bằng) điều khác, cánh cửa lớn, và men say, không tôn trọng, theo Pháp, với việc uống sữa là thứ tám.
Inda-bh 21~21Các điều nào đã được quy định ở xứ Sakka, ngươi hãy lắng nghe các điều ấy theo như lời giảng giải: Các lông cừu, và bình bát, luôn cả việc giáo giới, dược phẩm.
Inda-bh 22~22Kim, và luôn cả ở trong rừng, sáu điều này ở thành Kapilavatthu, làm sạch sẽ với nước, việc giáo giới được nói lên ở các tỳ khưu ni.
Inda-bh 23~23Các điều nào đã được quy định ở xứ Bhagga, ngươi hãy lắng nghe các điều ấy theo như lời giảng giải: Sau khi đốt lửa các vị sưởi ấm, dính thức ăn, cơm cặn.
Inda-bh 24~24Bốn điều pārājika, saṅghādisesa là có bảy, tám điều nissaggiya, và các điều nhỏ nhặt là ba mươi hai.
Inda-bh 25~25Hai điều đáng chê trách, ba điều sekhiya, năm mươi sáu điều học đã được quy định bởi đức Phật, vị thân quyến mặt trời, ở sáu thành phố.
Inda-bh 26~26Hai trăm chín mươi bốn (điều học), tất cả đã được thực hiện ở thành Sāvatthi bởi đức phật Gotama, có lòng bi mẫn, có danh tiếng.
BỐN SỰ HƯ HỎNG:
Inda-bh 1~27Điều gì chúng tôi hỏi, ngài đã trả lời cho chúng tôi về mỗi một điều ấy được rõ ràng không có sai lệch. Tôi hỏi ngài điều khác. Ngài ơi, xin ngài hãy nói về điều ấy.
Inda-bh 2~28Tội nặng và cả tội nhẹ, còn dư sót, không còn dư sót, xấu xa, và không xấu xa, và những điều (được nhắc nhở) cho đến lần thứ ba.
Inda-bh 3~29(Các tội) quy định chung và riêng, các sự hư hỏng, được làm lắng dịu với những dàn xếp nào? Xin Ngài hãy nói rõ tất cả các điều này. Ngài ơi, chúng tôi đang lắng nghe lời dạy của Ngài.
Inda-bh 4~30Những điều nào là nặng gồm có ba mươi mốt, ở đây có tám điều là không còn dư sót. Những tội nào là nặng, những tội ấy xấu xa; những tội nào xấu xa, chúng là sự hư hỏng về giới.
Inda-bh 5~31Tội pārājika, tội saṅghādisesa được đề cập đến là ‘sự hư hỏng về giới.’ Tội thullaccaya, tội pācittiya, tội pāṭidesanīya là tương tợ.
Inda-bh 6~32Tội dukkaṭa, tội dubbhāsita, và tội vị mắng nhiếc, có ý định đùa giỡn, điều này đây được xác định là sự hư hỏng về hạnh kiểm.
Inda-bh 7~33Các vị nắm lấy quan điểm đối nghịch, tôn vinh phi chánh Pháp, có tuệ kém, bị mê mờ che phủ, chê bai đấng Toàn Giác, điều này đây được xác định là sự hư hỏng về quan điểm.
Inda-bh 8~34Vì lý do nuôi mạng, vì nguyên nhân nuôi mạng, vị có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi ước muốn, rồi khoác lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng. Vì lý do nuôi mạng, vì nguyên nhân nuôi mạng, vị thực hành việc mai mối. Vì lý do nuôi mạng, vì nguyên nhân nuôi mạng, vị nói rằng: ‘Vị (tỳ khưu) nào sống trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy là bậc A-la-hán.’ Vì lý do nuôi mạng, vì nguyên nhân nuôi mạng, vị tỳ khưu yêu cầu các vật thực hảo hạng vì lợi ích của bản thân rồi thọ thực. Vì lý do nuôi mạng, vì nguyên nhân nuôi mạng, vị tỳ khưu không bị bệnh yêu cầu xúp hoặc cơm vì lợi ích của bản thân rồi thọ thực. Điều này đây được xác định là sự hư hỏng về nuôi mạng.
Inda-bh 9~35Mười một điều (nhắc nhở) cho đến lần thứ ba, ngươi hãy lắng nghe các điều ấy theo như lời giảng giải: Các vị xu hướng theo kẻ bị án treo, tám điều (được nhắc nhở) cho đến lần ba, vị Ariṭṭha, và vị ni Caṇḍakālī; những điều này đây là (được nhắc nhở) cho đến lần thứ ba.
LIÊN QUAN VIỆC CẮT BỚT, v.v...:
Inda-bh 1~36Bao nhiêu điều liên quan việc cắt bớt? Bao nhiêu điều liên quan việc đập vỡ? Bao nhiêu điều liên quan việc móc ra? Bao nhiêu điều pācittiya (chỉ vì nguyên nhân ấy) không điều nào khác?
Inda-bh 2~37Bao nhiêu sự đồng ý của các tỳ khưu? Bao nhiêu sự đúng đắn (trong trường hợp ấy)? Bao nhiêu điều tối đa? Bao nhiêu điều ‘dầu biết’ đã được quy định bởi đức Phật, vị thân quyến mặt trời?
Inda-bh 3~38Sáu điều liên quan việc cắt bớt. Một điều liên quan việc đập vỡ. Một điều liên quan việc móc ra. Bốn điều pācittiya (chỉ vì nguyên nhân ấy) không điều nào khác.
Inda-bh 4~39Bốn sự đồng ý của các tỳ khưu. Bảy sự đúng đắn (trong trường hợp ấy). Mười bốn điều ‘tối đa.’ Mười sáu điều ‘dầu biết’ đã được quy định bởi đức Phật, vị thân quyến mặt trời.
ĐIỀU KHÔNG QUY ĐỊNH CHUNG, v.v...:
Inda-bh 1~40Hai trăm hai mươi điều học của các tỳ khưu được đưa ra đọc tụng trong các lễ Uposatha.
Inda-bh 2~41Ba trăm lẻ bốn điều học của các tỳ khưu ni được đưa ra đọc tụng trong các lễ Uposatha.
Inda-bh 3~42Của các vị tỳ khưu có bốn mươi sáu điều học là không được quy định chung với các tỳ khưu ni. Của các tỳ khưu ni có một trăm ba mươi điều là không được quy định chung với các vị tỳ khưu.
Inda-bh 4~43Một trăm bảy mươi sáu là không chung cho cả hai, một trăm bảy mươi bốn được thực hành bình đẳng cho cả hai (hội chúng).
Inda-bh 5~44Hai trăm hai mươi điều học của các vị tỳ khưu được đưa ra đọc tụng trong các lễ Uposatha, ngươi hãy lắng nghe các điều ấy theo như lời giảng giải.
Inda-bh 6~45Bốn điều pārājika, saṅghādisesa là mười ba, điều aniyata có hai, đúng ba mươi điều nissaggiya, và chín mươi hai điều nhỏ nhặt, bốn điều pāṭidesanīya, bảy mươi hai điều sekhiya.
Inda-bh 7~46Và hai trăm hai mươi điều học này của các tỳ khưu được đưa ra đọc tụng trong các lễ Uposatha.
Inda-bh 8~47Ba trăm lẻ bốn điều học của các tỳ khưu ni được đưa ra đọc tụng trong các lễ Uposatha, ngươi hãy lắng nghe các điều ấy theo như lời giảng giải.
Inda-bh 9~48Tám điều pārājika, saṅghādisesa là mười bảy, đúng ba mươi điều nissaggiya, và luôn cả một trăm sáu mươi sáu được gọi là điều nhỏ nhặt.
Inda-bh 10~49Tám điều pāṭidesanīya, bảy mươi hai điều sekhiya, là ba trăm lẻ bốn; các điều học này là của các tỳ khưu ni, được đưa ra đọc tụng trong các lễ Uposatha.
Inda-bh 11~50Của các tỳ khưu có bốn mươi sáu điều học không được quy định chung với các tỳ khưu ni, ngươi hãy lắng nghe các điều ấy theo như lời giảng giải.
Inda-bh 12~51Sáu điều saṅghādisesa, với hai điều aniya là tám, thêm mười hai điều nissaggiya, chúng với các điều ấy là hai mươi điều.
Inda-bh 13~52Hai mươi hai điều nhỏ nhặt, bốn điều pāṭidesanīya, bốn mươi sáu điều này của các tỳ khưu là không được quy định chung với các tỳ khưu ni.
Inda-bh 14~53Và của các tỳ khưu ni có một trăm ba mươi điều học không được quy định chung với các tỳ khưu, ngươi hãy lắng nghe các điều ấy theo như lời giảng giải.
Inda-bh 15~54Bốn điều pārājika, mười điều lìa hội chúng, mười hai điều nissaggiya, và chín mươi sáu điều nhỏ nhặt, tám điều pāṭidesanīya, một trăm ba mươi điều này của các tỳ khưu ni là không được quy định chung với các tỳ khưu.
Inda-bh 16~55Luôn cả một trăm bảy mươi sáu điều là không chung cho cả hai, ngươi hãy lắng nghe các điều ấy theo như lời giảng giải.
Inda-bh 17~56Bốn điều pārājika, saṅghādisesa là mười sáu điều, và aniyata là hai điều, nissaggiya hai mươi bốn điều.
Inda-bh 18~57Và đúng một trăm mười tám điều được gọi là nhỏ nhặt, mười hai điều pāṭidesanīya, và cả thảy một trăm bảy mươi sáu điều này là không chung cho cả hai.
Inda-bh 19~58Một trăm bảy mươi bốn điều là được thực hành bình đẳng đối với cả hai, ngươi hãy lắng nghe các điều ấy theo như lời giảng giải.
Inda-bh 20~59Bốn điều pārājika, các điều saṅghādisesa là bảy, các điều nissaggiya là mười tám, đúng bảy mươi điều nhỏ nhặt, bảy mươi lăm điều sekhiya, cả thảy một trăm bảy mươi bốn điều này là được thực hành bình đẳng cho cả hai.
Inda-bh 21~60Chính tám điều pārājika là các điều vi phạm xấu xa, tương tợ như gốc cây thốt nốt, như chiếc lá úa vàng, như tảng đá bằng phẳng, như người đàn ông ấy có đầu đã bị chặt lìa, như cây thốt nốt đã bị chặt ngọn, chúng không còn phát triển.
Inda-bh 22~61Hai mươi ba điều saṅghādisesa, hai điều aniyata, bốn mươi hai điều nissaggiya, một trăm tám mươi tám điều pācittiya, mười hai điều pāṭidesanīya.
Inda-bh 23~62Bảy mươi lăm điều sekhiya, chúng được làm lắng dịu với ba cách dàn xếp: với sự hiện diện, như đã được thừa nhận, và việc dùng cỏ che lấp.
Inda-bh 24~63Bậc Chiến Thắng đã giảng giải về hai lễ Uposatha, hai lễ Pavāraṇā, về bốn loại hành sự, và luôn cả năm cách tụng đọc, bốn cách cũng không khác, và các nhóm tội là bảy.
Inda-bh 25~64Bốn sự tranh tụng được làm lắng dịu với bảy cách dàn xếp, với hai cách, bốn cách, ba cách, còn nhiệm vự được làm lắng dịu với một cách.
TỘI PĀRĀJIKA, v.v...:
Inda-bh 1~65Điều nào được gọi là ‘tội pārājika,’ ngươi hãy lắng nghe điều ấy theo như lời giảng giải. Là kẻ đã bị chết, đã bị thua trận, và đã bị té ngã, bởi vì đã bị khước từ ra khỏi Chánh Pháp, ngay cả việc đồng cộng trú ở nơi ấy cũng không còn, vì thế điều này được gọi như vậy.
Inda-bh 2~66Điều nào đã được gọi là ‘tội saṅghādisesa,’ ngươi hãy lắng nghe điều ấy theo như lời giảng giải. Chính hội chúng ban cho hình phạt parivāsa, đưa về lại (hình phạt) ban đầu, ban cho hình phạt mānatta, và giải cho khỏi tội, vì thế điều này được gọi như vậy.
Inda-bh 3~67Điều nào đã được gọi là ‘tội aniyata,’ ngươi hãy lắng nghe điều ấy theo như lời giảng giải. Aniyata là không chắc chắn, là điều học không được xác định, là một sự kiện nào đó trong ba, nên được gọi là ‘aniyata.’
Inda-bh 4~68Điều nào đã được gọi là ‘tội thullaccaya,’ ngươi hãy lắng nghe điều ấy theo như lời giảng giải. Vị nào khai trình tội ở chân của vị khác, và vị nào ghi nhận điều ấy, do đó sự vi phạm được yên lặng, không còn gây hại cho vị ấy, vì thế điều này được gọi như vậy.
Inda-bh 5~69Điều nào đã được gọi là ‘tội nissaggiya,’ ngươi hãy lắng nghe điều ấy theo như lời giảng giải. Ở giữa hội chúng, ở giữa nhóm, đến chỉ mỗi một vị, sau khi xả bỏ rồi sám hối, vì thế điều này được gọi như vậy.
Inda-bh 6~70Điều nào đã được gọi là ‘tội pācittiya,’ ngươi hãy lắng nghe điều ấy theo như lời giảng giải. Vị đánh rơi thiện pháp, đối nghịch lại Thánh đạo, có sự mê mờ của tâm, vì thế điều này được gọi như vậy.
Inda-bh 7~71Điều nào đã được gọi là ‘tội pāṭidesanīya,’ ngươi hãy lắng nghe điều ấy theo như lời giảng giải. Vị tỳ khưu trong khi không là thân quyến, đối với vật thực của vị ni khó nhọc mới thành đạt, sau khi tự mình nhận lãnh rồi thọ thực, được gọi ‘đáng chê trách.’
Inda-bh 8~72Giữa những vị được mời, trong lúc đang thọ thực, nơi ấy có vị tỳ khưu ni hướng dẫn theo ý thích, sau khi không ngăn cản, vị thọ thực ở đó, được gọi ‘đáng chê trách.’
Inda-bh 9~73Sau khi đi đến gia đình có tâm tín thành, ít của cải, nghèo, vị (tỳ khưu), không bệnh, thọ thực ở nơi ấy, được gọi ‘đáng chê trách.’
Inda-bh 10~74Nếu là vị đang sống ở khu rừng, có sự kinh hoàng, có sự nguy hiểm, không báo cho biết, rồi thọ thực ở nơi ấy, được gọi ‘đáng chê trách.’
Inda-bh 11~75Tỳ khưu ni, trong khi không là thân quyến, đối với vật được người khác ưa thích là bơ lỏng, dầu ăn, mật ong, đường mía, cá thịt, rồi luôn cả sữa tươi, và sữa đông, vị tỳ khưu ni yêu cầu vật ấy phạm tội đáng chê trách trong giáo pháp của đức Thiện Thệ.
Inda-bh 12~76Điều nào đã được gọi là ‘tội dukkaṭa,’ ngươi hãy lắng nghe điều ấy theo như lời giảng giải. Sự việc đã bị thua trận, đã bị thất bại, và đã bị lỗi lầm là tội dukkaṭa.
Inda-bh 13~77Người làm điều ác ấy công khai hoặc là kín đáo, người ta tuyên bố là ‘dukkaṭa,’ vì thế điều này được gọi như vậy.
Inda-bh 14~78Điều nào đã được gọi là ‘tội dubbhāsita,’ ngươi hãy lắng nghe điều ấy theo như lời giảng giải. Câu nói nào là ác khẩu, được nói lên sái quấy, và hoàn toàn bị ô nhiễm, và điều nào các bậc tri thức chê trách, vì thế điều này được gọi như vậy.
Inda-bh 15~79Điều nào đã được gọi là ‘tội sekhiya,’ ngươi hãy lắng nghe điều ấy theo như lời giảng giải. (Đây) là dành cho vị hữu học, đang còn học tập, đang tiến theo con đường thẳng tắp.
Inda-bh 16~80Và sự thực hành này là việc trước tiên, đứng đầu, là sự kiểm soát, và thu thúc, sự học tập như vầy là không có, vì thế điều này được gọi như vậy.
Inda-bh 17~81Nước mưa bị văng lại ở vật đã được che đậy, không văng lại ở vật đã được mở ra. Vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy, như vậy, ở vật ấy nước mưa không văng lại.
Inda-bh 18~82Núi rừng là cảnh giới của các loài thú vật, không gian là cảnh giới của các loài có cánh, biến hoại là cảnh giới của các pháp (hữu vi), Niết Bàn là cảnh giới của bậc A-la-hán.
Dứt Sưu Tập về Các Bài Kệ.
TÓM LƯỢC PHẦN NÀY:
Ở trong bảy thành phố, điều đã được quy định và bốn sự hư hỏng, các điều quy định chung và riêng của các tỳ khưu và của các tỳ khưu ni, chương ‘Sưu Tập Các Bài Kệ’ này nhằm nâng đỡ giáo pháp.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- The Compendium
Verses on the training rules
Phần kệ tụng
1. Sattanagaresupaññattasikkhāpada
1. Training rules laid down in seven towns
1. Các học giới được chế định ở bảy thành phố
“Ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā, paggaṇhitvāna añjaliṁ; Āsīsamānarūpova, kissa tvaṁ idha māgato”.
“Arranging your robe over one shoulder, Raising your joined palms—What are you hoping for, That you have come here?”
Đắp y trên một bên vai, chắp tay lại cung kính; trông như đang mong đợi, vì sao ngài đến đây?
“Dvīsu vinayesu ye paññattā, Uddesaṁ āgacchanti uposathesu; Kati te sikkhāpadā honti, Katisu nagaresu paññattā”.
“What has been laid down in the two Monastic Laws, Which come up for recitation on the observance days—How many training rules do they have? In how many towns were they laid down?”
Những học giới được chế định trong hai bộ Luật; được đọc lên trong các ngày Bố-tát; có bao nhiêu học giới như vậy; và được chế định ở bao nhiêu thành phố?
“Bhaddako te ummaṅgo, yoniso paripucchasi; Taggha te ahamakkhissaṁ, yathāsi kusalo tathā”.
“Your approach is excellent, You question sensibly; And so I will tell you, According to your skill.
Câu hỏi của ngài rất hay, ngài đã hỏi một cách hợp lý; Ta sẽ nói cho ngài biết, để ngài có thể trở nên thiện xảo.
“Dvīsu vinayesu ye paññattā, Uddesaṁ āgacchanti uposathesu; Aḍḍhuḍḍhasatāni te honti, Sattasu nagaresu paññattā”.
What has been laid down in the two Monastic Laws, Which come up for recitation on the observance days—They are three hundred and fifty, Laid down in seven towns.”
Những học giới được chế định trong hai bộ Luật; được đọc lên trong các ngày Bố-tát; có ba trăm năm mươi học giới; được chế định ở bảy thành phố.
“Katamesu sattasu nagaresu paññattā, Iṅgha me tvaṁ byākara naṁ; Taṁ vacanapathaṁ nisāmayitvā, Paṭipajjema hitāya no siyā”.
“In which seven towns were they laid down? Please tell me this; And after attending carefully to your explanation, We will practice for our own benefit.”
Chúng được chế định ở bảy thành phố nào? Xin Ngài hãy giải thích cho con; sau khi lắng nghe lời dạy đó, chúng con sẽ thực hành, vì lợi ích cho chúng con.
“Vesāliyaṁ rājagahe, sāvatthiyañca āḷaviyaṁ; Kosambiyañca sakkesu, bhaggesu ceva paññattā”.
“They were laid down at Vesālī, at Rājagaha, At Sāvatthī, at Āḷavī; And at Kosambī, and in the Sakyan country, And also among the Bhaggas.”
(Chúng) được chế định ở Vesālī, Rājagaha, Sāvatthī và Āḷavī; Kosambī và xứ Sakka, và cả ở xứ Bhagga.
“Kati vesāliyaṁ paññattā, kati rājagahe katā; Sāvatthiyaṁ kati honti, kati āḷaviyaṁ katā”.
“How many were laid down at Vesālī? How many were pronounced at Rājagaha? How many were there at Sāvatthī? How many were pronounced at Āḷavī?
Bao nhiêu được chế định ở Vesālī, bao nhiêu được làm ra ở Rājagaha; bao nhiêu có ở Sāvatthī, bao nhiêu được làm ra ở Āḷavī?
“Kati kosambiyaṁ paññattā, kati sakkesu vuccanti; Kati bhaggesu paññattā, taṁ me akkhāhi pucchito”.
How many were laid down at Kosambī? How many were spoken in the Sakyan country? How many were laid down among the Bhaggas? Please tell me, the one who has asked.”
Bao nhiêu được chế định ở Kosambī, bao nhiêu được nói ở xứ Sakka; bao nhiêu được chế định ở xứ Bhagga, xin Ngài, người được hỏi, hãy nói cho con biết.
“Dasa vesāliyaṁ paññattā, Ekavīsa rājagahe katā; Chaūna tīṇisatāni, Sabbe sāvatthiyaṁ katā.
“Ten were laid down at Vesālī, Twenty-one pronounced at Rājagaha; And two hundred and ninety-four, Pronounced at Sāvatthī.
Mười được chế định ở Vesālī, hai mươi mốt được làm ra ở Rājagaha; ba trăm trừ sáu, tất cả được làm ra ở Sāvatthī.
Cha āḷaviyaṁ paññattā, aṭṭha kosambiyaṁ katā; Aṭṭha sakkesu vuccanti, tayo bhaggesu paññattā.
Six were laid down at Āḷavī, Eight pronounced at Kosambī; Eight spoken in the Sakyan country, And three laid down among the Bhaggas.
Sáu được chế định ở Āḷavī, tám được làm ra ở Kosambī; tám được nói ở xứ Sakka, ba được chế định ở xứ Bhagga.
Ye vesāliyaṁ paññattā, te suṇohi yathātathaṁ; Methunaviggahuttari, atirekañca kāḷakaṁ.
Those laid down in Vesālī, Listen to them as they truly are: Sexual intercourse, person, super, And extra, black.
Những học giới được chế định ở Vesālī, hãy lắng nghe như thật; (học giới về) giao cấu, hình người, pháp thượng nhân, y dư, và màu đen tuyền.
Bhūtaṁ paramparabhattaṁ, dantaponena acelako; Bhikkhunīsu ca akkoso, dasete vesāliyaṁ katā.
True, a meal before another, With tooth cleaner, naked ascetic; And abuse from the nuns—These ten were pronounced at Vesālī.
(Học giới về) nói thật, ăn liên tục, tăm xỉa răng và lõa thể; và (học giới về) mắng nhiếc đối với tỳ khưu ni, mười học giới này được làm ra ở Vesālī.
Ye rājagahe paññattā, Te suṇohi yathātathaṁ; Adinnādānaṁ rājagahe, Dve anuddhaṁsanā dvepi ca bhedā.
Those laid down at Rājagaha, Listen to them as they truly are: Stealing at Rājagaha, Two on charging, and also two on schism.
Những học giới được chế định ở Rājagaha, hãy lắng nghe như thật; (học giới về) lấy của không cho ở Rājagaha, hai (học giới về) vu khống, và cả hai (học giới về) chia rẽ.
Antaravāsakaṁ rūpiyaṁ suttaṁ, Ujjhāpanena ca pācitapiṇḍaṁ; Gaṇabhojanaṁ vikāle ca, Cārittaṁ nahānaṁ ūnavīsati.
Sarong, money, thread, And with complaining, having almsfood prepared; A group meal, and at the wrong time, Visiting, bathing, less than twenty.
(Học giới về) nội y, bạc, chỉ, và cùng với (học giới về) phàn nàn là (học giới về) vật thực do tỳ khưu ni nấu; (học giới về) ăn theo nhóm, và ăn phi thời, (học giới về) đi đây đó, (học giới về) tắm, (học giới về người) chưa đủ hai mươi tuổi.
Cīvaraṁ datvā vosāsanti, Ete rājagahe katā; Giraggacariyā tattheva, Chandadānena ekavīsati.
Gives out a robe, giving directions—These were pronounced at Rājagaha; Hilltop, wandering, right there, With given consent it is twenty-one.
(Học giới về) cho y rồi chê bai, về ra lệnh, những học giới này được làm ra ở Rājagaha; (học giới về) lễ hội trên đỉnh núi, về đi lại, và ở đó nữa, cùng với (học giới về) cho sự đồng thuận, (tổng cộng) hai mươi mốt.
Ye sāvatthiyaṁ paññattā, Te suṇohi yathātathaṁ; Pārājikāni cattāri, Saṅghādisesā bhavanti soḷasa.
Those laid down at Sāvatthī, Listen to them as they truly are: Four offenses entailing expulsion, And sixteen offenses entailing suspension.
Những điều học đã được chế định ở Sāvatthī, ngươi hãy lắng nghe đúng theo sự thật: Bốn điều Pārājikā, mười sáu điều Saṅghādisesā.
Aniyatā ca dve honti, nissaggiyā catuvīsati; Chapaññāsasatañceva, khuddakāni pavuccanti.
And the two undetermined offenses, Twenty-four offenses entailing relinquishment; And one hundred and fifty-six, Minor offenses were spoken.
Và có hai điều Aniyatā, ba mươi bốn điều Nissaggiyā; và một trăm năm mươi sáu điều học nhỏ nhặt được nói đến.
Dasayeva ca gārayhā, dvesattati ca sekhiyā; Chaūna tīṇisatāni, sabbe sāvatthiyaṁ katā.
And ten blameworthy offenses, And seventy-two on training—Two hundred and ninety-four, All pronounced at Sāvatthī.
Và mười điều đáng bị khiển trách (Pāṭidesanīya), và bảy mươi hai điều Sekhiyā; tất cả hai trăm chín mươi bốn điều học này đã được chế định ở Sāvatthī.
Ye āḷaviyaṁ paññattā, te suṇohi yathātathaṁ; Kuṭikosiyaseyyā ca, khaṇane gaccha devate; Sappāṇakañca siñcanti, cha ete āḷaviyaṁ katā.
Those laid down at Āḷavī, Listen to them as they truly are: Hut, silk, and sleeping place, On digging, go deity; And they pour water that contains living beings—These six were pronounced at Āḷavī.
Những điều học đã được chế định ở Āḷavī, ngươi hãy lắng nghe đúng theo sự thật: (Điều học về) cốc, lụa, và chỗ nằm; (về) việc đào đất, (về câu) ‘hãy đi, này chư thiên;’ và (về) việc tưới nước có chúng sanh. Sáu điều học này đã được chế định ở Āḷavī.
Ye kosambiyaṁ paññattā, te suṇohi yathātathaṁ; Mahāvihāro dovacassaṁ, aññaṁ dvāraṁ surāya ca; Anādariyaṁ sahadhammo, payopānena aṭṭhamaṁ.
Those laid down at Kosambī, Listen to them as they truly are: A large dwelling, difficult to correct, Evasive, door, and with alcohol; Disrespect, legitimately, The eighth is with a milk drink.
Những điều học đã được chế định ở Kosambī, ngươi hãy lắng nghe đúng theo sự thật: (Điều học về) tịnh xá lớn, sự khó dạy, điều khác, cửa, và rượu; sự không tôn trọng, cùng với chánh pháp, và thứ tám là (điều học về) việc uống sữa.
Ye sakkesu paññattā, te suṇohi yathātathaṁ; Eḷakalomāni patto ca, ovādo ceva bhesajjaṁ.
Those laid down in the Sakyan country, Listen to them as they truly are: Wool, and bowl, And instruction, tonics.
Những điều học đã được chế định ở xứ Sakka, ngươi hãy lắng nghe đúng theo sự thật: (Điều học về) lông cừu, bình bát, và lời giáo huấn, và dược phẩm.
Sūci āraññiko ceva, aṭṭhete kāpilavatthave; Udakasuddhiyā ovādo, bhikkhunīsu pavuccanti.
Needle, and wilderness: These six at Kapilavatthu; With cleaning with water, and instruction, Spoken among the nuns.
(Điều học về) kim, và vị ở rừng; tám điều này ở Kāpilavatthu. Lời giáo huấn liên quan đến sự thanh tịnh của nước được nói đến đối với các tỳ khưu ni.
Ye bhaggesu paññattā, te suṇohi yathātathaṁ; Samādahitvā visibbenti, sāmisena sasitthakaṁ.
Those laid down among the Bhaggas, Listen to them as they truly are: They lit a fire to warm themselves, Soiled with food, containing rice.
Những điều học đã được chế định ở xứ Bhagga, ngươi hãy lắng nghe đúng theo sự thật: (Điều học về) việc tháo ra sau khi đã may, (về việc đưa) bằng tay có dính thức ăn, (và về việc ăn) có dính cơm.
Pārājikāni cattāri, saṅghādisesāni bhavanti; Satta ca nissaggiyāni, aṭṭha dvattiṁsa khuddakā.
The four offenses entailing expulsion, And seven offenses entailing suspension; Eight offenses entailing relinquishment, And thirty-two minor offenses.
Bốn điều Pārājikā, bảy điều Saṅghādisesā, tám điều Nissaggiyā, ba mươi hai điều nhỏ nhặt.
Dve gārayhā tayo sekkhā, chappaññāsa sikkhāpadā; Chasu nagaresu paññattā, buddhenādiccabandhunā.
Two blameworthy offenses, and three on training—Fifty-six training rules; Laid down at six towns, By the Buddha, the Kinsman of the Sun.
Hai điều đáng bị khiển trách, ba điều cần phải học; năm mươi sáu điều học này đã được chế định ở sáu thành phố bởi đức Phật, quyến thuộc của mặt trời.
Chaūna tīṇisatāni, sabbe sāvatthiyaṁ katā; Kāruṇikena buddhena, gotamena yasassinā”.
2. Catuvipatti
Two hundred and ninety-four, All pronounced at Sāvatthī; By the compassionate Buddha, The famous Gotama.”
2. The four kinds of failure
Tất cả hai trăm chín mươi bốn điều học đã được chế định ở Sāvatthī bởi đức Phật Gotama, bậc có lòng bi mẫn, bậc có danh tiếng.
“Yaṁ taṁ pucchimha akittayi no, Taṁ taṁ byākataṁ anaññathā; Aññaṁ taṁ pucchāmi tadiṅgha brūhi, Garuka lahukañcāpi sāvasesaṁ; Anavasesaṁ duṭṭhullañca aduṭṭhullaṁ, Ye ca yāvatatiyakā.
“What we have asked, you have answered, All is explained, not otherwise; I wish to ask you another question—please tell me this: Serious, and light, curable; Incurable, and grave, minor, And those that are ‘after the third’.
Điều gì chúng con đã hỏi Ngài, Ngài đã kể lại cho chúng con; điều ấy đã được Ngài giải thích không sai khác. Con xin hỏi Ngài điều khác, xin Ngài hãy nói lên điều ấy. (Về) tội nặng và tội nhẹ, tội còn lại và tội không còn lại, tội thô và tội không thô, và những tội Yāvatatiyakā.
Sādhāraṇaṁ asādhāraṇaṁ, Vibhattiyo ca yehi samathehi sammanti; Sabbānipetāni viyākarohi, Handa vākyaṁ suṇoma te”.
In common, not in common, The ways that failures are settled—Please explain all these too, And we will listen to you.”
(Tội) chung và (tội) không chung; các sự phân tích và các pháp dàn xếp mà nhờ đó chúng được lắng dịu; xin Ngài hãy giải thích tất cả những điều này. Nào, chúng con hãy lắng nghe lời của Ngài.
“Ekatiṁsā ye garukā, Aṭṭhettha anavasesā; Ye garukā te duṭṭhullā, Ye duṭṭhullā sā sīlavipatti; Pārājikaṁ saṅghādiseso, ‘Sīlavipattī’ti vuccati.
“There are thirty-one serious ones, And eight here are incurable; Those that are serious are grave, Those that are grave are failures in morality; Offenses entailing expulsion, offenses entailing suspension—They are called ‘failure in morality’.
Ba mươi mốt tội nặng, trong đó có tám tội không còn lại. Những tội nặng là tội thô, những tội thô là sự hư hỏng về giới. Tội Pārājika và Saṅghādisesa được gọi là ‘sự hư hỏng về giới’.
Thullaccayaṁ pācittiyā, Pāṭidesanīyaṁ dukkaṭaṁ; Dubbhāsitaṁ yo cāyaṁ, Akkosati hasādhippāyo; Ayaṁ sā ācāravipattisammatā.
Serious offenses, offenses entailing confession, Offenses entailing acknowledgment, offenses of wrong conduct; Offenses of wrong speech, And whoever calls another names for fun—This is considered failure in conduct.
Tội Thullaccaya, Pācittiya, Pāṭidesanīya, Dukkaṭa; và tội Dubbhāsita của người mắng nhiếc với ý định giễu cợt; đây được xem là sự hư hỏng về oai nghi.
Viparītadiṭṭhiṁ gaṇhanti, Asaddhammehi purakkhatā; Abbhācikkhanti sambuddhaṁ, Duppaññā mohapārutā; Ayaṁ sā diṭṭhivipattisammatā.
Holding on to distorted views, Preferring what is contrary to the true Dhamma; Misrepresenting the Awakened One, Being foolish, enveloped in delusion—This is considered failure in view.
Họ chấp nhận tà kiến, được dẫn dắt bởi những điều phi pháp; họ vu khống đức Chánh Đẳng Giác, những kẻ kém trí tuệ, bị si mê bao phủ; đây được xem là sự hư hỏng về tri kiến.
Ājīvahetu ājīvakāraṇā pāpiccho icchāpakato asantaṁ abhūtaṁ uttarimanussadhammaṁ ullapati, ājīvahetu ājīvakāraṇā sañcarittaṁ samāpajjati, ājīvahetu ājīvakāraṇā ‘yo te vihāre vasati, so bhikkhu arahā’ti bhaṇati, ājīvahetu ājīvakāraṇā bhikkhu paṇītabhojanāni attano atthāya viññāpetvā bhuñjati, ājīvahetu ājīvakāraṇā bhikkhunī paṇītabhojanāni attano atthāya viññāpetvā bhuñjati, ājīvahetu ājīvakāraṇā sūpaṁ vā odanaṁ vā agilāno attano atthāya viññāpetvā bhuñjati. Ayaṁ sā ājīvavipatti sammatā.
When, to make a living—having bad desires, overcome by desire—one claims to have a non-existent superhuman quality; when, to make a living, one acts as a matchmaker; when, to make a living, one says, ‘The monk who stays in your dwelling is a perfected one;’ when, to make a living, a monk eats fine foods that he has requested for himself; when, to make a living, a nun eats fine foods that she herself has asked for; when, to make a living, one eats bean curry or rice that one has requested for oneself—this is considered failure in livelihood.
Vì lý do sinh kế, do nguyên nhân sinh kế, kẻ có ước muốn xấu xa, bị lòng tham chi phối, nói về pháp thượng nhân không có thật, không chân thật; vì lý do sinh kế, do nguyên nhân sinh kế, thực hành việc môi giới; vì lý do sinh kế, do nguyên nhân sinh kế, nói rằng: ‘Vị tỳ khưu nào sống trong tịnh xá của ông, vị tỳ khưu ấy là bậc A-la-hán;’ vì lý do sinh kế, do nguyên nhân sinh kế, tỳ khưu xin các món ăn ngon vì lợi ích của mình rồi ăn; vì lý do sinh kế, do nguyên nhân sinh kế, tỳ khưu ni xin các món ăn ngon vì lợi ích của mình rồi ăn; vì lý do sinh kế, do nguyên nhân sinh kế, khi không bệnh, xin canh hoặc cơm vì lợi ích của mình rồi ăn. Đây được xem là sự hư hỏng về mạng sống.
Ekādasa yāvatatiyakā, Te suṇohi yathātathaṁ; Ukkhittānuvattikā, Aṭṭha yāvatatiyakā; Ariṭṭho caṇḍakāḷī ca, Ime te yāvatatiyakā”.
3. Chedanakādi
There are eleven ‘after the thirds’, Listen to them as they truly are: A nun who takes sides with one who has been ejected, Eight ‘after the thirds’; Ariṭṭha, and Caṇḍakālī—These are those ‘after the thirds’.”
3. To be cut down, etc.
Mười một điều Yāvatatiyakā, ngươi hãy lắng nghe đúng theo sự thật: (Điều học về) đi theo vị bị cử tội, tám điều Yāvatatiyakā, (điều học về) Ariṭṭha và Caṇḍakāḷī; đây là những điều Yāvatatiyakā.
“Kati chedanakāni? Kati bhedanakāni? Kati uddālanakāni? Kati anaññapācittiyāni?
Kati bhikkhusammutiyo? Kati sāmīciyo? Kati paramāni?
“How many on ‘to be cut down’? How many on ‘to be destroyed’? How many on ‘to be stripped’? How many on ‘no other, he commits an offense entailing confession’?
How many on ‘the monks have agreed’? How many on ‘what is proper’? How many on ‘at the most’?
337. Có bao nhiêu điều Chedanaka? Bao nhiêu điều Bhedanaka? Bao nhiêu điều Uddālanaka? Bao nhiêu điều Anaññapācittiya? Bao nhiêu sự đồng ý của tỳ khưu? Bao nhiêu điều Sāmīci? Bao nhiêu điều Parama?
Có bao nhiêu điều học được chế định với từ ‘biết’ bởi đức Phật, quyến thuộc của mặt trời?
“Cha chedanakāni. Ekaṁ bhedanakaṁ. Ekaṁ uddālanakaṁ. Cattāri anaññapācittiyāni.
Catasso bhikkhusammutiyo. Satta sāmīciyo. Cuddasa paramāni.
“There are six on ‘to be cut down’. There is one on ‘to be destroyed’. There is one on ‘to be stripped’. There are four on ‘no other, he commits an offense entailing confession’.
There are four on ‘the monks have agreed’. There are seven on ‘what is proper’. There are fourteen on ‘at the most’.
Sáu điều Chedanaka. Một điều Bhedanaka. Một điều Uddālanaka. Bốn điều Anaññapācittiya. Bốn sự đồng ý của tỳ khưu. Bảy điều Sāmīci. Mười bốn điều Parama.
Mười sáu điều học được chế định với từ ‘biết’ bởi đức Phật, quyến thuộc của mặt trời.
4. Asādhāraṇādi
4. Not in common, etc.
4. Không chung, v.v.
“Vīsaṁ dve satāni, Bhikkhūnaṁ sikkhāpadāni; Uddesaṁ āgacchanti uposathesu, Tīṇi satāni cattāri; Bhikkhunīnaṁ sikkhāpadāni, Uddesaṁ āgacchanti uposathesu.
“Two hundred and twenty, Training rules for the monks; Come up for recitation on the observance days, Three hundred and four; Training rules for the nuns, Come up for recitation on the observance days.
Hai trăm hai mươi điều học của các tỳ khưu được đọc lên trong các lễ Uposatha; ba trăm lẻ bốn điều học của các tỳ khưu ni được đọc lên trong các lễ Uposatha.
Chacattārīsā bhikkhūnaṁ, bhikkhunīhi asādhāraṇā; Sataṁ tiṁsā ca bhikkhunīnaṁ, bhikkhūhi asādhāraṇā.
Forty-six of the monks’ rules, Are not in common with the nuns; One hundred and thirty of the nuns’ rules, Are not in common with the monks.
Bốn mươi sáu điều học của các tỳ khưu là không chung với các tỳ khưu ni; và một trăm ba mươi điều học của các tỳ khưu ni là không chung với các tỳ khưu.
Sataṁ sattati chacceva, ubhinnaṁ asādhāraṇā; Sataṁ sattati cattāri, ubhinnaṁ samasikkhatā.
So one hundred and seventy-six in total, Are not in common; One hundred and seventy-four, Are trained in equally by both.
Một trăm bảy mươi sáu điều học là không chung cho cả hai; một trăm bảy mươi bốn điều học là chung cho cả hai.
Vīsaṁ dve satāni, Bhikkhūnaṁ sikkhāpadāni; Uddesaṁ āgacchanti uposathesu, Te suṇohi yathātathaṁ.
Two hundred and twenty, Training rules for the monks; Come up for recitation on the observance days, Listen to them as they truly are:
Hai trăm hai mươi điều học của các tỳ khưu được đọc lên trong các lễ Uposatha; ngươi hãy lắng nghe những điều ấy đúng theo sự thật.
Pārājikāni cattāri, Saṅghādisesāni bhavanti terasa; Aniyatā dve honti.
The four offenses entailing expulsion, There are thirteen offenses entailing suspension; There are two undetermined offenses.
Bốn điều Pārājikā, mười ba điều Saṅghādisesā, và hai điều Aniyatā.
Nissaggiyāni tiṁseva, dvenavuti ca khuddakā; Cattāro pāṭidesanīyā, pañcasattati sekhiyā.
The thirty offenses entailing relinquishment, And ninety-two minor offenses; The four offenses entailing acknowledgment, The seventy-five rules of training.
Ba mươi điều Ưng Xả Đối Trị, chín mươi hai điều thuộc nhóm nhỏ (Ưng Đối Trị), bốn điều Ưng Phát Lộ, bảy mươi lăm điều Ưng Học.
Vīsaṁ dve satāni cime honti, Bhikkhūnaṁ sikkhāpadāni; Uddesaṁ āgacchanti uposathesu.
These are the two hundred and twenty, Training rules for the monks; That come up for recitation on the observance days.
Đây là hai trăm hai mươi học giới của các tỳ khưu, được tụng đọc vào những ngày Bố-tát.
Tīṇi satāni cattāri, Bhikkhunīnaṁ sikkhāpadāni; Uddesaṁ āgacchanti uposathesu, Te suṇohi yathātathaṁ.
Three hundred and four, Training rules for the nuns; Come up for recitation on the observance days, Listen to them as they truly are:
Ba trăm lẻ bốn học giới của các tỳ khưu ni được tụng đọc vào những ngày Bố-tát. Ngươi hãy lắng nghe những điều ấy đúng theo sự thật.
Pārājikāni aṭṭha, Saṅghādisesāni bhavanti sattarasa; Nissaggiyāni tiṁseva, Sataṁ saṭṭhi cha ceva; Khuddakāni pavuccanti.
The eight offenses entailing expulsion, There are seventeen offenses entailing suspension; The thirty offenses entailing relinquishment, And one hundred and sixty-six; Are called minor offenses.
Tám điều Bất Cộng Trụ, mười bảy điều Tăng Tàn, ba mươi điều Ưng Xả Đối Trị, và một trăm sáu mươi sáu điều thuộc nhóm nhỏ (Ưng Đối Trị) được nói đến.
Aṭṭha pāṭidesanīyā, Pañcasattati sekhiyā; Tīṇi satāni cattāri cime honti, Bhikkhunīnaṁ sikkhāpadāni; Uddesaṁ āgacchanti uposathesu.
The eight offenses entailing acknowledgment, The seventy-five rules of training; These are the three hundred and four, Training rules for the nuns; That come up for recitation on the observance days.
Tám điều Ưng Phát Lộ, bảy mươi lăm điều Ưng Học. Đây là ba trăm lẻ bốn học giới của các tỳ khưu ni, được tụng đọc vào những ngày Bố-tát.
Chacattārīsā bhikkhūnaṁ, bhikkhunīhi asādhāraṇā; Te suṇohi yathātathaṁ.
Cha saṅghādisesā,
Forty-six of the monks’ rules, Are not in common with the nuns; Listen to them as they truly are:
Six offenses entailing suspension,
Bốn mươi sáu (học giới) của các tỳ khưu không chung với các tỳ khưu ni. Ngươi hãy lắng nghe những điều ấy đúng theo sự thật.
Sáu điều Tăng tàn, cùng với hai điều Bất định là tám; mười hai điều Ưng xả đối trị, cùng với các điều ấy là hai mươi.
Dvevīsati khuddakā, Caturo pāṭidesanīyā; Chacattārīsā cime honti, Bhikkhūnaṁ bhikkhunīhi asādhāraṇā.
Twenty-two minor offenses, Four offenses entailing acknowledgment; These are the forty-six, That the monks do not have in common with the nuns.
Hai mươi hai điều thuộc nhóm nhỏ, bốn điều Ưng đối thú; bốn mươi sáu điều này là các điều không chung của tỳ khưu đối với tỳ khưu ni.
Sataṁ tiṁsā ca bhikkhunīnaṁ, bhikkhūhi asādhāraṇā; Te suṇohi yathātathaṁ.
One hundred and thirty of the nuns’ rules, Are not in common with the monks; Listen to them as they truly are:
Và một trăm ba mươi điều của tỳ khưu ni, là các điều không chung với tỳ khưu; hãy lắng nghe các điều ấy một cách đúng thật.
Pārājikāni cattāri, saṅghamhā dasa nissare; Nissaggiyāni dvādasa, channavuti ca khuddakā; Aṭṭha pāṭidesanīyā.
Four offenses entailing expulsion, Ten offenses where one is sent away from the Sangha; Twelve offenses entailing relinquishment, And ninety-six minor offenses; Eight offenses entailing acknowledgment.
Bốn điều Bất cộng trụ, mười điều Tăng tàn, mười hai điều Ưng xả đối trị, chín mươi sáu điều thuộc nhóm nhỏ, và tám điều Ưng đối thú.
Sataṁ tiṁsā cime honti, Bhikkhunīnaṁ bhikkhūhi asādhāraṇā; Sataṁ sattati chacceva, Ubhinnaṁ asādhāraṇā; Te suṇohi yathātathaṁ.
These are the one hundred and thirty, That the nuns do not have in common with the monks. The one hundred and seventy-six, That are not in common; Listen to them as they truly are:
Một trăm ba mươi điều này là các điều không chung của tỳ khưu ni đối với tỳ khưu. Và một trăm bảy mươi sáu điều là các điều không chung của cả hai; hãy lắng nghe các điều ấy một cách đúng thật.
Pārājikāni cattāri, Saṅghādisesāni bhavanti soḷasa; Aniyatā dve honti, Nissaggiyāni catuvīsati; Sataṁ aṭṭhārasā ceva, Khuddakāni pavuccanti; Dvādasa pāṭidesanīyā.
Four offenses entailing expulsion, There are sixteen offenses entailing suspension; There are the two undetermined offenses, The twenty-four offenses entailing relinquishment; And one hundred and eighteen, Are called minor offenses; The twelve offenses entailing acknowledgment.
Bốn điều Bất cộng trụ, mười sáu điều Tăng tàn, hai điều Bất định, hai mươi bốn điều Ưng xả đối trị, và một trăm mười tám điều được gọi là thuộc nhóm nhỏ, mười hai điều Ưng đối thú.
Sataṁ sattati chaccevime honti, Ubhinnaṁ asādhāraṇā; Sataṁ sattati cattāri, Ubhinnaṁ samasikkhatā; Te suṇohi yathātathaṁ.
These are the hundred and seventy-six, That the two do not have in common. One hundred and seventy-four, Are trained in equally by both; Listen to them as they truly are:
Một trăm bảy mươi sáu điều này là các điều không chung của cả hai. Một trăm bảy mươi bốn điều là các học giới chung cho cả hai; hãy lắng nghe các điều ấy một cách đúng thật.
Pārājikāni cattāri, Saṅghādisesāni bhavanti satta; Nissaggiyāni aṭṭhārasa, Samasattati khuddakā; Pañcasattati sekhiyāni.
Four offenses entailing expulsion, There are seven offenses entailing suspension; Eighteen offenses entailing relinquishment, Seventy minor offenses; Seventy-five rules of training.
Bốn điều Bất cộng trụ, bảy điều Tăng tàn, mười tám điều Ưng xả đối trị, bảy mươi điều thuộc nhóm nhỏ, bảy mươi lăm điều Ưng học.
Sataṁ sattati cattāri cime honti, Ubhinnaṁ samasikkhatā; Aṭṭheva pārājikā ye durāsadā, Tālavatthusamūpamā.
These are the hundred and seventy-four, That are trained in equally by both. The eight offenses entailing expulsion are dangerous to meet with: That person is like the simile of the palm stump,
Một trăm bảy mươi bốn điều này là các học giới chung cho cả hai. Tám điều Bất cộng trụ là những điều khó gần, có ví dụ tương tự như cây thốt nốt bị chặt ngọn.
Paṇḍupalāso puthusilā, sīsacchinnova so naro; Tālova matthakacchinno, aviruḷhī bhavanti te.
Like a withered leaf, like an ordinary stone that has broken in half, Like someone with their head cut off; Like a palm-tree with its top cut off, They are incapable of growth.
Giống như chiếc lá úa, tảng đá lớn bị vỡ, người nam bị chặt đầu, hay cây thốt nốt bị chặt ngọn, những vị ấy không thể tăng trưởng được nữa.
Tevīsati saṅghādisesā, Dve aniyatā; Dve cattārīsa nissaggiyā, Aṭṭhāsītisataṁ pācittiyā; Dvādasa pāṭidesanīyā.
Twenty-three offenses entailing suspension, Two undetermined offenses; Forty-two offenses entailing relinquishment, One hundred and eighty-eight offenses entailing confession; Twelve offenses entailing acknowledgment,
Hai mươi ba điều Tăng tàn, hai điều Bất định, bốn mươi hai điều Ưng xả đối trị, một trăm tám mươi tám điều Ưng đối trị, mười hai điều Ưng đối thú.
Pañcasattati sekhiyā, tīhi samathehi sammanti; Sammukhā ca paṭiññāya, tiṇavatthārakena ca.
Seventy-five rules of training. They are settled through three principles for settling legal issues: In the presence of, and with the admission of, And through covering over as if with grass.
Bảy mươi lăm điều Ưng học được dàn xếp bằng ba cách Thể hiện sự an tịnh: bằng cách Hiện diện, bằng cách Thừa nhận, và bằng cách Lấy cỏ che lại.
Dve uposathā dve pavāraṇā, Cattāri kammāni jinena desitā; Pañceva uddesā caturo bhavanti, Anaññathā āpattikkhandhā ca bhavanti satta.
There are two observance days, two invitation days, And four legal procedures taught by the Victor. There are five recitations, and four, not otherwise; And there are seven classes of offenses.
Hai lễ Bố-tát, hai lễ Tự tứ, bốn loại Yết-ma đã được bậc Chiến Thắng thuyết giảng. Có năm cách đề cương và bốn cách đề cương, không có cách nào khác. Và có bảy nhóm tội.
Adhikaraṇāni cattāri, Sattahi samathehi sammanti; Dvīhi catūhi tīhi, Kiccaṁ ekena sammati”.
The four kinds of legal issues, Are settled through seven principles: Through two of them, through four, through three, And business is settled through one.”
Bốn sự tranh tụng được dàn xếp bằng bảy cách Thể hiện sự an tịnh. (Tranh tụng về tranh luận) bằng hai cách, (tranh tụng về khiển trách) bằng bốn cách, (tranh tụng về tội) bằng ba cách, và việc cần làm được dàn xếp bằng một cách.
5. Pārājikādiāpatti
5. The offenses entailing expulsion, etc.
5. Các tội Bất cộng trụ và các tội khác
“Pārājikan”ti yaṁ vuttaṁ, taṁ suṇohi yathātathaṁ; Cuto paraddho bhaṭṭho ca, saddhammā hi niraṅkato; Saṁvāsopi tahiṁ natthi, tenetaṁ iti vuccati.
“It is said, ‘An offense entailing expulsion’. Listen to it as it truly is: When one has fallen away, offended, and fallen down, Removed from the true Teaching, And excluded from the community there—This is why it is called that.
Điều được gọi là ‘Bất cộng trụ’, hãy lắng nghe điều ấy một cách đúng thật. Bởi vì người ấy đã rơi rớt, sai lầm, và hư hỏng khỏi Chánh pháp, bị loại trừ; không còn sự chung sống ở đó nữa, do đó nó được gọi như vậy.
“Saṅghādiseso”ti yaṁ vuttaṁ, taṁ suṇohi yathātathaṁ; Saṅghova deti parivāsaṁ, mūlāya paṭikassati; Mānattaṁ deti abbheti, tenetaṁ iti vuccati.
It is said, ‘An offense entailing suspension’. Listen to it as it truly is: Only the Sangha gives probation, Sends back to the beginning; Gives the trial period, and rehabilitates—This is why it is called that.
Điều được gọi là ‘Tăng tàn’, hãy lắng nghe điều ấy một cách đúng thật. Chính Tăng chúng ban hành biệt trú, kéo về lại từ đầu, ban hành mã-na-đỏa, và phục vị; do đó nó được gọi như vậy.
“Aniyato”ti yaṁ vuttaṁ, taṁ suṇohi yathātathaṁ; Aniyato na niyato, anekaṁsikataṁ padaṁ; Tiṇṇamaññataraṁ ṭhānaṁ, “aniyato”ti pavuccati.
It is said, ‘An undetermined offense’. Listen to it as it truly is: Undetermined, not determined, An undecided rule; It is one of three cases—It is called, ‘An undetermined offense’.
Điều được gọi là ‘Bất định’, hãy lắng nghe điều ấy một cách đúng thật. Bất định là không xác định, điều khoản không có một kết quả duy nhất; là một trong ba trường hợp, nên được gọi là ‘Bất định’.
“Thullaccayan”ti yaṁ vuttaṁ, taṁ suṇohi yathātathaṁ; Ekassa mūle yo deseti, yo ca taṁ paṭigaṇhati; Accayo tena samo natthi, tenetaṁ iti vuccati.
It is said, ‘A serious offense’. Listen to it as it truly is: The one who confesses to instigating another, And the one who agrees to it—There is no offense like that. This is why it is called that.
Điều được gọi là ‘Thâu-lan-giá’, hãy lắng nghe điều ấy một cách đúng thật. Vị nào sám hối với một vị, và vị nào tiếp nhận sự sám hối ấy; không có tội nào nặng bằng tội ấy, do đó nó được gọi như vậy.
“Nissaggiyan”ti yaṁ vuttaṁ, taṁ suṇohi yathātathaṁ; Saṅghamajjhe gaṇamajjhe, ekasseva ca ekato; Nissajjitvāna deseti, tenetaṁ iti vuccati.
It is said, ‘An offense entailing relinquishment’. Listen to it as it truly is: In the midst of the Sangha, in the midst of a group, Or just one with one; One relinquishes and then confesses—This is why it is called that.
Điều được gọi là ‘Ưng xả đối trị’, hãy lắng nghe điều ấy một cách đúng thật. Sau khi đã từ bỏ (vật) giữa Tăng chúng, giữa một nhóm, hoặc với một vị duy nhất, rồi sám hối, do đó nó được gọi như vậy.
“Pācittiyan”ti yaṁ vuttaṁ, Taṁ suṇohi yathātathaṁ; Pāteti kusalaṁ dhammaṁ, Ariyamaggaṁ aparajjhati; Cittasammohanaṭṭhānaṁ, Tenetaṁ iti vuccati.
It is said, ‘An offense entailing confession’. Listen to it as it truly is: One drops the wholesome, Misses the noble path; Having a deluded mind—This is why it is called that.
Điều được gọi là ‘Ưng đối trị’, hãy lắng nghe điều ấy một cách đúng thật. Nó làm rơi rớt các pháp thiện, làm sai lệch Thánh đạo, là nền tảng cho sự mê mờ của tâm; do đó nó được gọi như vậy.
“Pāṭidesanīyan”ti yaṁ vuttaṁ, Taṁ suṇohi yathātathaṁ; Bhikkhu aññātako santo, Kicchā laddhāya bhojanaṁ; Sāmaṁ gahetvā bhuñjeyya, “Gārayhan”ti pavuccati.
It is said, ‘An offense entailing acknowledgment’. Listen to it as it truly is: An unrelated monk, Whatever food she has obtained with difficulty; Should he receive it himself and eat it, It is called blameworthy.
Điều được gọi là ‘Ưng đối thú’, hãy lắng nghe điều ấy một cách đúng thật. Vị tỳ khưu không phải là bà con, sau khi tự tay nhận lấy vật thực mà (vị tỳ khưu ni) đã khó khăn nhận được rồi dùng, điều ấy được gọi là ‘đáng bị quở trách’.
Nimantanāsu bhuñjantā chandāya, Vosāsati tattha bhikkhuniṁ; Anivāretvā tahiṁ bhuñje, “Gārayhan”ti pavuccati.
When eating at an invitation, And a nun there gives directions based on favoritism; If they eat there without having stopped her, It is called blameworthy.
Khi đang dùng bữa tại các nơi thỉnh mời, nếu vị tỳ khưu ni ở đó sắp đặt theo ý muốn, mà vị ấy không ngăn cản rồi dùng bữa tại đó, điều ấy được gọi là ‘đáng bị quở trách’.
Saddhācittaṁ kulaṁ gantvā, appabhogaṁ anāḷiyaṁ; Agilāno tahiṁ bhuñje, “gārayhan”ti pavuccati.
Going to a family that has faith, But is poor with little wealth; If one eats there without being sick, It is called blameworthy.
Đi đến gia đình có lòng tin nhưng ít của cải, nghèo khó; nếu không bệnh mà dùng bữa tại đó, điều ấy được gọi là ‘đáng bị quở trách’.
Yo ce araññe viharanto, sāsaṅke sabhayānake; Aviditaṁ tahiṁ bhuñje, “gārayhan”ti pavuccati.
If anyone stays in a wilderness, That is risky and dangerous; And they eat there without making it known, It is called blameworthy.
Vị tỳ khưu nào đang trú trong rừng, ở nơi đáng ngờ vực, có sự nguy hiểm; nếu vị ấy dùng vật thực ở nơi ấy mà không được cho biết trước, được gọi là đáng bị khiển trách.
Bhikkhunī aññātikā santā, Yaṁ paresaṁ mamāyitaṁ; Sappi telaṁ madhuṁ phāṇitaṁ, Macchamaṁsaṁ atho khīraṁ; Dadhiṁ sayaṁ viññāpeyya bhikkhunī, Gārayhapattā sugatassa sāsane.
An unrelated nun, Whatever belongs to others—Ghee, oil, honey, syrup, Fish, meat, milk, and curd—If she herself asks for them, She has committed a blameworthy act in the instruction of the Accomplished One.
Vị tỳ khưu ni nào không phải là thân quyến, tự mình xin các món mà người khác quý trọng như bơ, dầu, mật ong, đường phèn, cá, thịt, và cả sữa tươi, sữa đặc; vị tỳ khưu ni ấy đã phạm tội đáng khiển trách trong giáo pháp của bậc Thiện Thệ.
“Dukkaṭan”ti yaṁ vuttaṁ, taṁ suṇohi yathātathaṁ; Aparaddhaṁ viraddhañca, khalitaṁ yañca dukkaṭaṁ.
It is said, ‘An offense of wrong conduct’. Listen to it as it truly is: Offended, and failed, Faltered, and what is badly done.
Điều được gọi là 'tác ác', hãy lắng nghe điều ấy đúng như thật. Điều gì là sai trái, là đối nghịch, là vấp ngã, đó là tác ác.
Yaṁ manusso kare pāpaṁ, āvi vā yadi vā raho; “Dukkaṭan”ti pavedenti, tenetaṁ iti vuccati.
Whatever people do that is bad, Whether in public or in private; They declare to be wrong conduct. This is why it is called that.
Bất cứ điều ác nào mà con người thực hiện, dù công khai hay kín đáo; họ tuyên bố đó là 'hành vi xấu'. Do đó, nó được gọi như vậy.
“Dubbhāsitan”ti yaṁ vuttaṁ, taṁ suṇohi yathātathaṁ; Dubbhāsitaṁ durābhaṭṭhaṁ, saṅkiliṭṭhañca yaṁ padaṁ; Yañca viññū garahanti, tenetaṁ iti vuccati.
It is said, ‘An offense of wrong speech’. Listen to it as it truly is: Wrong speech, wrong utterance, Whatever sentence is defiled; And condemned by the wise—This is why it is called that.
Điều được gọi là 'ác khẩu', hãy lắng nghe điều ấy đúng như thật. Ác khẩu là lời nói xấu xa, và là lời nói ô uế. Và bởi vì người trí khiển trách nó, do đó nó được gọi như vậy.
“Sekhiyan”ti yaṁ vuttaṁ, taṁ suṇohi yathātathaṁ; Sekkhassa sikkhamānassa, ujumaggānusārino.
It is said, ‘Of training’. Listen to it as it truly is: For a trainee who is training, Following the straight path,
Điều được gọi là 'ưng học pháp', hãy lắng nghe điều ấy đúng như thật; (đây là pháp) dành cho bậc hữu học, người đang tu tập, người đi theo con đường ngay thẳng.
Ādi cetaṁ caraṇañca, mukhaṁ saññamasaṁvaro; Sikkhā etādisī natthi, tenetaṁ iti vuccati.
This is the beginning and the right conduct, With a controlled and restrained mouth—There is no training like this. This is why it is called that.
Đây là sự khởi đầu và là sự thực hành, là phần chính yếu, là sự chế ngự và thu thúc. Không có sự tu tập nào như thế này, do đó nó được gọi như vậy.
Channamativassati, vivaṭaṁ nātivassati; Tasmā channaṁ vivaretha, evaṁ taṁ nātivassati.
It rains on what’s concealed, Not on what’s revealed; Therefore, reveal the concealed, And it won’t be rained upon.
Cái được che đậy thì mưa làm ướt đẫm, cái được mở ra thì mưa không làm ướt đẫm. Do đó, hãy mở ra cái được che đậy, như vậy nó sẽ không bị mưa làm ướt đẫm.
Gati migānaṁ pavanaṁ, Ākāso pakkhinaṁ gati; Vibhavo gati dhammānaṁ, Nibbānaṁ arahato gatīti.
The forest is the destination of deer, The air is the destination of birds; Non-existence is the destination of phenomena, Extinguishment is the destination of a Perfected One.”
Nơi đến của loài nai là khu rừng, bầu trời là nơi đến của loài chim; sự hoại diệt là nơi đến của các pháp hữu vi, Niết Bàn là nơi đến của bậc A-la-hán.
Gāthāsaṅgaṇikaṁ niṭṭhitaṁ.
Tassuddānaṁ
The verses on the training rules are finished.
This is the summary:
Phần Tóm Lược Bằng Kệ đã kết thúc.
Sattanagaresu paññattā, vipatti caturopi ca; Bhikkhūnaṁ bhikkhunīnañca, sādhāraṇā asādhāraṇā; Sāsanaṁ anuggahāya, gāthāsaṅgaṇikaṁ idanti.
Gāthāsaṅgaṇikaṁ niṭṭhitaṁ.
“Laid down in seven towns, And also the four kinds of failure; In common, not in common, Between the monks and the nuns; To support Buddhism, There are these verses on the training rules.”
The verses on the training rules are finished.
(Các điều) được chế định ở bảy thành phố, và cả bốn loại sai phạm; (các điều) chung và không chung cho các tỳ khưu và tỳ khưu ni; vì để hỗ trợ giáo pháp, phần tóm lược bằng kệ ngôn này (đã được nói).