- Theravāda Vinayapiṭaka
- Mahāvagga
Bản dịch
Kd 8 — Chương y phục
8. Cīvarakkhandhaka
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, thành Vesāli được phồn thịnh và còn giàu có nữa, đông dân, người người chen chúc, vật thực dễ dàng, và có bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy tòa nhà dài, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy lầu mái nhọn, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy công viên, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy hồ sen. Và có nàng kỹ nữ Ambapālī xinh đẹp, đáng nhìn, duyên dáng, được phú cho làn da đẹp hạng nhất, có tài năng về múa, hát, và đàn, được những người đàn ông có lòng say đắm cầu cạnh, nàng qua đêm với giá năm mươi tiền. Và nhờ nàng thành Vesāli càng thêm phần rạng rỡ.
Inda-bh 2~2Khi ấy, viên thị trưởng thành Rājagaha đã đi đến Vesāli do công việc cần thiết nào đó. Viên thị trưởng thành Rājagaha đã nhìn thấy thành Vesāli là phồn thịnh và còn giàu có nữa, đông dân, người người chen chúc, vật thực dễ dàng, có bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy tòa nhà dài, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy lầu mái nhọn, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy công viên, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy hồ sen, có nàng kỹ nữ Ambapālī xinh đẹp, đáng nhìn, duyên dáng, được phú cho làn da đẹp hạng nhất, có tài năng về múa, hát, và đàn, được những người đàn ông có lòng say đắm cầu cạnh, nàng qua đêm với giá năm mươi tiền, và nhờ nàng thành Vesāli càng thêm phần rạng rỡ.
Inda-bh 3~3Sau đó, khi đã hoàn tất công việc cần làm ấy ở Vesāli, viên thị trưởng thành Rājagaha đã quay về lại thành Rājagaha và đã đi đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã nói với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này:—“Tâu bệ hạ, thành Vesāli là phồn thịnh và còn giàu có nữa, đông dân, người người chen chúc, vật thực dễ dàng, có bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy tòa nhà dài, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy lầu mái nhọn, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy công viên, bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy hồ sen, có nàng kỹ nữ Ambapālī xinh đẹp, đáng nhìn, duyên dáng, được phú cho làn da đẹp hạng nhất, có tài năng về múa, hát, và đàn, được những người đàn ông có lòng say đắm cầu cạnh, nàng qua đêm với giá năm mươi tiền, và nhờ nàng thành Vesāli càng thêm phần rạng rỡ. Tâu bệ hạ, tốt đẹp thay nếu chúng ta cũng có thể đào tạo kỹ nữ.”—“Này khanh, như thế thì khanh hãy tìm người con gái tương tợ rồi hãy đào tạo nàng trở thành kỹ nữ như thế.”
Inda-bh 4~4Vào lúc bấy giờ, trong thành Rājagaha có người con gái tên Sālavatī là người xinh đẹp, đáng nhìn, duyên dáng, được phú cho làn da đẹp hạng nhất. Khi ấy, viên thị trưởng thành Rājagaha đã đào tạo người con gái Sālavatī thành kỹ nữ. Sau đó chẳng bao lâu, nàng kỹ nữ Sālavatī đã trở nên có tài năng về múa, hát, và đàn, được những người đàn ông có lòng say đắm cầu cạnh, và nàng qua đêm với giá đến một trăm tiền.
Inda-bh 5~5Sau đó chẳng bao lâu, nàng kỹ nữ Sālavatī đã mang thai. Khi ấy, nàng kỹ nữ Sālavatī đã khởi ý điều này: “Đàn bà mang thai đâu còn được đàn ông ưa thích. Nếu có người biết về ta rằng: ‘Kỹ nữ Sālavatī mang thai’ thì toàn bộ sự trọng vọng đối với ta đều sẽ mất. Hay là ta nên cáo bệnh?” Sau đó, nàng kỹ nữ Sālavatī đã bảo người gác cổng rằng:—“Này chú em gác cổng, chớ để bất cứ người đàn ông nào vào. Và ai hỏi ta thì cho hay rằng: ‘Bị bệnh.’”—“Thưa cô chủ, xin vâng.” Người gác cổng ấy đã đáp lại nàng kỹ nữ Sālavatī. Sau đó, đến lúc phát triển đầy đủ của bào thai ấy, nàng kỹ nữ Sālavatī đã sanh ra đứa bé trai. Khi ấy, nàng kỹ nữ Sālavatī đã bảo người tớ gái rằng:—“Này em, giờ hãy đặt đứa bé trai này vào trong giỏ đan cũ kỹ rồi mang đi quăng bỏ ở đống rác.”—“Thưa cô chủ, xin vâng.” Rồi người tớ gái ấy nghe theo nàng kỹ nữ Sālavatī đã đặt đứa bé trai ấy vào trong giỏ đan cũ kỹ rồi mang đi quăng bỏ ở đống rác.
Inda-bh 6~6Vào lúc bấy giờ, vị vương tử tên Abhaya trong khi đi phục vụ đức vua vào lúc sáng sớm đã nhìn thấy đứa bé trai ấy đang bị bầy quạ bu quanh, sau khi nhìn thấy đã hỏi mọi người rằng:—“Này các khanh, vật gì bị bầy quạ bu quanh vậy?”—“Thưa ngài, đứa bé trai.”—“Này các khanh, còn sống không?”—“Thưa ngài, còn sống.”—“Này các khanh, như thế thì hãy mang đứa bé trai ấy về hậu cung của chúng ta và giao cho các vú nuôi chăm sóc.”—“Thưa ngài, xin vâng.” Rồi những người ấy nghe theo vương tử Abhaya đã mang đứa bé trai ấy về hậu cung của vương tử Abhaya rồi giao cho các vú nuôi (nói rằng):—“Các người hãy chăm sóc.” Lời đã nói về đứa bé là “còn sống,” nên họ đã đặt tên đứa bé là “Jīvaka” (người đang sống). Và bởi vì “được nuôi dưỡng bởi vị vương tử” nên đã được đặt tên là “Komārabhacca.”
Inda-bh 7~7Sau đó chẳng bao lâu, Jīvaka Komārabhacca đã đạt đến tuổi hiểu biết. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp vương tử Abhaya, sau khi đến đã nói với vương tử Abhaya điều này:—“Thưa ngài, ai là mẹ của con, ai là cha của con?”—“Này Jīvaka con, ta cũng không biết mẹ của con; tuy nhiên ta là cha của con vì con đã được ta nuôi dưỡng.” Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Với kẻ không có nghề nghiệp thì các gia đình vương giả này quả là không dễ gì để sống nhờ vả. Hay là ta nên học lấy nghề nghiệp?”
Inda-bh 8~8Vào lúc bấy giờ, có người thầy thuốc tiếng tăm lẫy lừng sống ở Takkasilā. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca không xin phép vương tử Abhaya đã đi đến Takkasilā gặp người thầy thuốc ấy, sau khi đến đã nói với người thầy thuốc ấy điều này:—“Thưa thầy, con muốn học nghề.”—“Này Jīvaka con, như vậy thì con có thể học.”
Inda-bh 9~9Sau đó, Jīvaka Komārabhacca học nhiều, học nhanh chóng, tiếp thâu tốt đẹp, và đối với anh ta điều đã được học thì không quên đi. Sau đó, khi trải qua bảy năm Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Ta học nhiều, học nhanh chóng, tiếp thâu tốt đẹp, và đối với ta điều đã được học thì không quên đi. Và trong khi ta đã học được bảy năm rồi mà đích cuối cùng của nghề này vẫn không được biết đến, vậy thì khi nào đích cuối cùng của nghề này mới được biết đến?”
Inda-bh 10~10Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp người thầy thuốc ấy, sau khi đến đã nói với người thầy thuốc ấy điều này:—“Thưa thầy, con học nhiều, học nhanh chóng, tiếp thâu tốt đẹp, và đối với con điều đã được học thì không quên đi. Và trong khi con đã học được bảy năm rồi mà đích cuối cùng của nghề này vẫn không được biết đến, vậy thì khi nào đích cuối cùng của nghề này mới được biết đến?”—“Này Jīvaka con, như vậy thì con hãy cầm lấy cái thuổng đi dạo xung quanh Takkasilā một do tuần, nếu con thấy được bất cứ vật gì không phải là dược phẩm thì hãy đem vật ấy về.”—“Thưa thầy, xin vâng.” Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo người thuốc ấy đã cầm lấy cái thuổng, trong khi đi dạo xung quanh Takkasilā một do tuần, đã không nhìn thấy bất cứ vật gì không phải là dược phẩm.
Inda-bh 11~11Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp người thầy thuốc ấy, sau khi đến đã nói với người thầy thuốc ấy điều này:—“Thưa thầy, trong khi đi dạo xung quanh Takkasilā một do tuần, con đã không thấy được bất cứ vật gì không phải là dược phẩm.”—“Này Jīvaka con, con đã học xong. Bấy nhiêu đó đã đủ cho cuộc sống của con rồi.” Rồi (người thầy thuốc ấy) đã trao cho Jīvaka Komārabhacca chút ít (tiền) dự phòng đi đường.
Inda-bh 12~12Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca sau khi nhận lấy chút ít (tiền) dự phòng đi đường rồi đã ra đi về phía thành Rājagaha. Sau đó, vào khoảng giữa cuộc hành trình, ở Sāketa chút ít (tiền) dự phòng đi đường ấy đã hết. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Những con đường này hoang vắng, ít nước, ít thức ăn, không có (tiền) dự phòng đi đường không phải dễ dàng để đi, hay là ta nên kiếm (tiền) dự phòng đi đường?”
Inda-bh 13~13Vào lúc bấy giờ, ở Sāketa có người vợ của nhà đại phú bị bệnh đau đầu đã bảy năm. Nhiều thầy thuốc tiếng tăm vô cùng lừng lẫy đã đi đến và đã không thể làm khỏi bệnh; họ đã nhận lấy nhiều vàng khối rồi ra đi. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã đi vào Sāketa và hỏi dân chúng rằng:—“Này các người, ai bị bệnh? Tôi chữa trị cho ai đây?”—“Này ông thầy, người vợ nhà đại phú kia bị bệnh đau đầu đã bảy năm. Này ông thầy, hãy đi và chữa trị cho người vợ nhà đại phú.”
Inda-bh 14~14Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến tư gia của vị đại phú, sau khi đến đã bảo người gác cổng rằng:—“Này chú gác cổng, hãy đi và báo cho người vợ nhà đại phú rằng: ‘Thưa bà, người thầy thuốc đã đến. Ông ấy có ý muốn gặp bà.’”—“Thưa thầy, xin vâng.” Rồi người gác cổng ấy nghe theo Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp người vợ nhà đại phú, sau khi đến đã nói với người vợ nhà đại phú điều này:—“Thưa bà, người thầy thuốc đã đến. Ông ấy có ý muốn gặp bà.”—“Này chú gác cổng, người thầy thuốc ra làm sao?”—“Thưa bà, còn trẻ lắm.”—“Này chú gác cổng, thôi đi! Thầy thuốc còn trẻ lắm thì sẽ làm được gì cho ta? Nhiều thầy thuốc tiếng tăm vô cùng lừng lẫy đã đi đến và đã không thể làm khỏi bệnh; họ đã nhận lấy nhiều vàng khối rồi ra đi.”
Inda-bh 15~15Sau đó, người gác cổng ấy đã đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca, sau khi đến đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:—“Thưa thầy, người vợ nhà đại phú đã nói như vầy: ‘Này chú gác cổng, thôi đủ rồi! Thầy thuốc còn trẻ lắm thì sẽ làm được gì cho ta? Nhiều thầy thuốc tiếng tăm vô cùng lừng lẫy đã đi đến và đã không thể làm khỏi bệnh; họ đã nhận lấy nhiều vàng khối rồi ra đi.’”
Inda-bh 16~16—“Này chú gác cổng, hãy đi và báo cho người vợ nhà đại phú rằng: ‘Thưa bà, người thầy thuốc đã nói như vầy: Thưa bà, bà không phải đưa trước vật gì. Khi nào khỏi bệnh, khi ấy bà muốn cho vật gì thì bà cứ việc cho vật ấy.’”—“Thưa thầy, xin vâng.” Rồi người gác cổng ấy nghe theo Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp người vợ nhà đại phú, sau khi đến đã nói với người vợ nhà đại phú điều này:—“Thưa bà, người thầy thuốc đã nói như vầy: ‘Thưa bà, bà không phải đưa trước vật gì. Khi nào khỏi bệnh, khi ấy bà muốn cho vật gì thì bà cứ việc cho vật ấy.’”—“Này chú gác cổng, như thế thì hãy để người thầy thuốc đi đến.”—“Thưa bà, xin vâng.” Rồi người gác cổng ấy nghe theo người vợ nhà đại phú đã đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca, sau khi đến đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:—“Thưa thầy, người vợ nhà đại phú cho gọi thầy.”
Inda-bh 17~17Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp người vợ nhà đại phú, sau khi đến đã xem xét sự biến đổi diện mạo của người vợ nhà đại phú rồi nói với người vợ nhà đại phú điều này:—“Thưa bà, tôi cần một bụm tay bơ lỏng.” Khi ấy, người vợ nhà đại phú đã bảo người trao cho Jīvaka Komārabhacca một bụm tay bơ lỏng. Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã nấu sôi bụm tay bơ lỏng ấy với nhiều loại dược phẩm rồi bảo người vợ nhà đại phú nằm ngửa ở trên cái giường nhỏ và cho vào theo đường mũi. Sau đó, bơ lỏng đã được cho vào theo đường mũi ấy đã đi ra theo đường miệng. Khi ấy, người vợ nhà đại phú đã nhổ bơ lỏng ấy vào vật đựng rồi bảo người tớ gái rằng:—“Này em, hãy thu hồi lại bơ lỏng này bằng lớp gòn.”
Inda-bh 18~18Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Thật là kỳ lạ! Bà chủ nhà này thật là hà tiện! Bởi vì thứ bơ lỏng chỉ đáng quăng bỏ này còn được bảo thu hồi lại bằng lớp gòn! Và nhiều thứ thuốc vô cùng quý giá của ta đã được sử dụng, rồi bà này sẽ cho ta vật thưởng công là cái gì đây?”
Inda-bh 19~19Khi ấy, sau khi xem xét sự biến đổi diện mạo của Jīvaka Komārabhacca, người vợ nhà đại phú ấy đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:—“Thưa thầy, sao thầy có vẻ lo âu vậy?”—“Trong trường hợp này, tôi đã khởi ý điều này: ‘Thật là kỳ lạ! Bà chủ nhà này thật là hà tiện! Bởi vì thứ bơ lỏng chỉ đáng quăng bỏ này còn được bảo thu hồi lại bằng lớp gòn! Và nhiều thứ thuốc vô cùng quý giá của ta đã được sử dụng, rồi bà này sẽ cho ta vật thưởng công là cái gì đây?’”—“Thưa thầy, chúng tôi, được gọi là gia chủ, hiểu về điều này là sự tiết kiệm. Bơ lỏng ấy là thuốc xoa chân rất tốt cho các tôi tớ và các người làm công, hay là dầu cho việc đốt đèn. Thưa thầy, thầy chớ có lo âu. Vật thưởng công cho thầy sẽ không phải bỏ phí.”
Inda-bh 20~20Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã trị dứt chứng bệnh đau đầu bảy năm của người vợ nhà đại phú chỉ bằng mỗi một việc làm ở mũi. Sau đó, người vợ nhà đại phú, được khỏi bệnh, đã thưởng cho Jīvaka Komārabhacca bốn ngàn. Người con trai (nghĩ rằng): “Mẹ ta đã khỏi bệnh!” nên đã thưởng cho Jīvaka Komārabhacca bốn ngàn. Người con dâu (nghĩ rằng): “Mẹ chồng ta đã khỏi bệnh!” nên đã thưởng cho Jīvaka Komārabhacca bốn ngàn. Người gia chủ đại phú (nghĩ rằng): “Vợ ta đã khỏi bệnh!” nên đã thưởng cho Jīvaka Komāra-bhacca bốn ngàn, đứa tôi trai, (đứa tớ gái), và chiếc xe ngựa.
Inda-bh 21~21Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã cầm lấy mười sáu ngàn ấy, đứa tôi trai, đứa tớ gái, và chiếc xe ngựa rồi ra đi đến thành Rājagaha. Theo tuần tự, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến thành Rājagaha gặp vương tử Abhaya, sau khi đến đã nói với vương tử Abhaya điều này:—“Thưa ngài, đây là công việc đầu tiên của con gồm có mười sáu ngàn, đứa tôi trai, đứa tớ gái, và chiếc xe ngựa. Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lấy cho việc đã nuôi dưỡng con.”—“Này Jīvaka con, thôi đi, hãy để cho chính con. Con hãy cho xây tư thất ở hậu cung của chính chúng ta.”—“Thưa ngài, xin vâng.” Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo vương tử Abhaya đã cho xây tư thất ở hậu cung.
Inda-bh 22~22Vào lúc bấy giờ, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bị bệnh rò rỉ. Các vải choàng đều bị lấm lem bởi máu. Các vương phi sau khi nhìn thấy trêu ghẹo rằng:—“Bữa nay, chúa công tới chu kỳ. Kinh nguyệt của chúa công đã có. Chẳng bao lâu chúa công sẽ sanh con.” Vì chuyện ấy, đức vua bị xấu hổ.
Inda-bh 23~23Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với vương tử Abhaya điều này:—“Này khanh Abhaya, trẫm có bệnh giống như vầy. Các vải choàng đều bị lấm lem bởi máu. Các vương phi sau khi nhìn thấy trêu ghẹo rằng: ‘Bữa nay, chúa công tới chu kỳ. Kinh nguyệt của chúa công đã có. Chẳng bao lâu chúa công sẽ sanh con.’ Này khanh Abhaya, người nào có thể chữa trị cho trẫm thì hãy tìm thầy thuốc hạng như thế ấy.”—“Tâu bệ hạ, Jīvaka này của thần là thầy thuốc trẻ, giỏi giang, cậu ta sẽ chữa trị cho bệ hạ.”—“Này khanh Abhaya, như thế thì hãy ra lệnh cho thầy thuốc Jīvaka. Vị ấy sẽ chữa trị cho trẫm.”
Inda-bh 24~24Sau đó, vương tử Abhaya đã truyền lệnh cho Jīvaka Komārabhacca rằng:—“Này Jīvaka con, hãy đi và chữa trị cho đức vua.”—“Thưa ngài, xin vâng.” Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo vương tử Abhaya sau khi nhét dược phẩm vào trong móng tay rồi đã đi đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã nói với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này:—“Tâu bệ hạ, chúng ta hãy xem bệnh.”
Inda-bh 25~25Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã trị dứt căn bệnh rò rỉ của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha chỉ bằng mỗi một liều thuốc thoa. Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, được khỏi bệnh, đã cho người trang điểm năm trăm người nữ với tất cả các đồ trang sức, xong bảo tháo ra, cho chất thành đống, rồi đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:—“Này khanh Jīvaka, tất cả các đồ trang sức này từ năm trăm người nữ là của khanh.”—“Tâu bệ hạ, thôi đi, chỉ xin bệ hạ hãy nhớ cho chức vụ của thần.”—“Này khanh Jīvaka, như vậy thì khanh hãy phục vụ trẫm, các cung phi, và hội chúng có đức Phật đứng đầu.”—“Tâu bệ hạ, xin vâng.” Jīvaka Komārabhacca đã trả lời đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.
Inda-bh 26~26Vào lúc bấy giờ, có nhà đại phú ở thành Rājagaha bị bệnh đau đầu đã được bảy năm. Nhiều thầy thuốc tiếng tăm vô cùng lừng lẫy đã đi đến và đã không thể làm khỏi bệnh; họ đã nhận lấy nhiều vàng khối rồi ra đi. Hơn nữa, ông ta đã bị các thầy thuốc từ chối. Một số thầy thuốc đã nói như vầy: “Vào ngày thứ năm, người gia chủ đại phú này sẽ chết.” Một số thầy thuốc đã nói như vầy: “Vào ngày thứ bảy, người gia chủ đại phú này sẽ chết.”
Inda-bh 27~27Khi ấy, vị thị trưởng thành Rājagaha đã khởi ý điều này: “Người gia chủ đại phú này có nhiều cống hiến cho đức vua và cho thị trấn nữa. Tuy nhiên, ông ta đã bị các thầy thuốc từ chối. Một số thầy thuốc đã nói như vầy: ‘Vào ngày thứ năm, người gia chủ đại phú này sẽ chết.’ Một số thầy thuốc đã nói như vầy: ‘Vào ngày thứ bảy, người gia chủ đại phú này sẽ chết.’ Và thầy thuốc Jīvaka này của đức vua là trẻ tuổi, giỏi giang, hay là chúng ta nên cầu xin đức vua phái thầy thuốc Jīvaka chữa trị cho người gia chủ đại phú vậy?”
Inda-bh 28~28Sau đó, viên thị trưởng thành Rājagaha đã đi đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã nói với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này:—“Tâu bệ hạ, người gia chủ đại phú này có nhiều cống hiến cho đức vua và cho thị trấn nữa. Tuy nhiên, ông ta đã bị các thầy thuốc từ chối. Một số thầy thuốc đã nói như vầy: ‘Vào ngày thứ năm, người gia chủ đại phú này sẽ chết.’ Một số thầy thuốc đã nói như vầy: ‘Vào ngày thứ bảy, người gia chủ đại phú này sẽ chết.’ Tâu bệ hạ, tốt đẹp thay xin bệ hạ hãy ra lệnh cho thầy thuốc Jīvaka chữa trị cho người gia chủ đại phú.” Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra lệnh cho Jīvaka Komārabhacca rằng:—“Này khanh Jīvaka, hãy đi và chữa trị cho người gia chủ đại phú.”
Inda-bh 29~29—“Tâu bệ hạ, xin vâng.” Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp người gia chủ đại phú, sau khi đến đã xem xét sự biến đổi diện mạo của người gia chủ đại phú rồi đã nói với người gia chủ đại phú điều này:—“Này gia chủ, nếu tôi chữa cho ông khỏi bệnh, vật thưởng công cho tôi sẽ là cái gì đây?”—“Thưa thầy, tất cả tài sản sẽ là của thầy và tôi sẽ là đầy tớ của thầy.”—“Này gia chủ, vậy ông có thể nằm một bên hông trong bảy tháng không?”—“Thưa thầy, tôi có thể nằm một bên hông trong bảy tháng.”—“Này gia chủ, vậy ông có thể nằm bên hông kia trong bảy tháng không?”—“Thưa thầy, tôi có thể nằm bên hông kia trong bảy tháng.”—“Này gia chủ, vậy ông có thể nằm ngửa trong bảy tháng không?”—“Thưa thầy, tôi có thể nằm ngửa trong bảy tháng.”
Inda-bh 30~30Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã bảo người gia chủ đại phú nằm xuống trên cái giường nhỏ, sau khi buộc chặt vào cái giường nhỏ rồi đã cắt làn da đầu, tách đôi vết mổ, rồi lôi ra hai con sâu đưa cho mọi người thấy (nói rằng):—“Các người có thể nhìn xem hai con sâu một nhỏ một lớn này. Các vị thầy nào đã nói như vầy: ‘Vào ngày thứ năm, người gia chủ đại phú này sẽ chết,’ các vị ấy đã nhìn thấy con sâu lớn này trong năm ngày nữa sẽ xâm nhập bộ não của người gia chủ đại phú; do sự xâm nhập vào bộ não mà người gia chủ đại phú sẽ phải chết. Các vị thầy ấy đã nhìn thấy đúng. Còn các vị thầy nào đã nói như vầy: ‘Vào ngày thứ bảy, người gia chủ đại phú này sẽ chết,’ các vị ấy đã nhìn thấy con sâu nhỏ này trong bảy ngày nữa sẽ xâm nhập bộ não của người gia chủ đại phú; do sự xâm nhập vào bộ não mà người gia chủ đại phú sẽ phải chết. Các vị thầy ấy đã nhìn thấy đúng.” Rồi Jīvaka Komārabhacca đã khép lại vết mổ, khâu lại làn da đầu, rồi bôi thuốc mỡ vào.
Inda-bh 31~31Sau đó, khi trải qua bảy ngày người gia chủ đại phú đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:—“Thưa thầy, tôi không thể nằm một bên hông trong bảy tháng.”—“Này gia chủ, không phải ông đã hứa với tôi rằng: ‘Thưa thầy, tôi có thể nằm một bên hông trong bảy tháng’ hay sao?”—“Thưa thầy, đúng vậy. Tôi đã hứa. Nhưng mà tôi sẽ chết mất. Tôi không thể nằm một bên hông trong bảy tháng.”—“Này gia chủ, như thế thì ngươi hãy nằm bên hông kia trong bảy tháng.”
Inda-bh 32~32Sau đó, khi trải qua bảy ngày người gia chủ đại phú đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:—“Thưa thầy, tôi không thể nằm bên hông kia trong bảy tháng.”—“Này gia chủ, không phải ông đã hứa với tôi rằng: ‘Thưa thầy, tôi có thể nằm bên hông kia trong bảy tháng’ hay sao?”—“Thưa thầy, đúng vậy. Tôi đã hứa. Nhưng mà tôi sẽ chết mất. Tôi không thể nằm bên hông kia trong bảy tháng.”—“Này gia chủ, như thế thì ngươi hãy nằm ngửa trong bảy tháng.”
Inda-bh 33~33Sau đó, khi trải qua bảy ngày người gia chủ đại phú đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:—“Thưa thầy, tôi không thể nằm ngửa trong bảy tháng.”—“Này gia chủ, không phải ông đã hứa với tôi rằng: ‘Thưa thầy, tôi có thể nằm ngửa trong bảy tháng’ hay sao?”—“Thưa thầy, đúng vậy. Tôi đã hứa. Nhưng mà tôi sẽ chết mất. Tôi không thể nằm ngửa trong bảy tháng.”—“Này gia chủ, nếu tôi không nói điều ấy thì ông không thể nằm được chừng này. Hơn nữa, tôi đã tính trước và biết rằng: ‘Với ba lần bảy ngày, người gia chủ đại phú sẽ khỏi bệnh.’ Này gia chủ, hãy đứng dậy, ông đã khỏi bệnh. Ông hãy biết vật thưởng công cho tôi là cái gì?”—“Thưa thầy, tất cả tài sản hãy là của thầy và tôi là đầy tớ của thầy.”—“Này gia chủ, thôi đi. Ông chớ có cho tôi tất cả tài sản và chớ có là đầy tớ của tôi. Hãy trao cho đức vua một trăm ngàn và tôi một trăm ngàn.” Sau đó, người gia chủ đại phú, được khỏi bệnh, đã trao cho đức vua một trăm ngàn và Jīvaka Komārabhacca một trăm ngàn.
Inda-bh 34~34Vào lúc bấy giờ, người con trai nhà đại phú ở Bārāṇasī trong lúc chơi giỡn trò nhào lộn bị bệnh xoắn ruột. Vì thế, ngay cả cháo được húp vào cũng không tiêu hóa đúng đắn, vật thực được ăn vào cũng không tiêu hóa đúng đắn, thậm chí việc tiểu tiện đại tiện cũng không bình thường. Do đó, cậu ấy trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân.
Inda-bh 35~35Khi ấy, nhà đại phú thành Bārāṇasī đã khởi ý điều này: “Con trai ta có chứng bệnh như thế này. Vì thế, ngay cả cháo được húp vào cũng không tiêu hóa đúng đắn, vật thực được ăn vào cũng không tiêu hóa đúng đắn, thậm chí việc tiểu tiện đại tiện cũng không bình thường. Do đó, con trai ta trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Hay là ta nên đi đến thành Rājagaha cầu xin đức vua phái thầy thuốc Jīvaka chữa trị cho con trai của ta vậy?”
Inda-bh 36~36Sau đó, nhà đại phú ở Bārāṇasī đã đi đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã nói với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này:—“Tâu bệ hạ, con trai thần có chứng bệnh như thế này. Vì thế, ngay cả cháo được húp vào cũng không tiêu hóa đúng đắn, vật thực được ăn vào cũng không tiêu hóa đúng đắn, thậm chí việc tiểu tiện đại tiện cũng không bình thường. Do đó, con trai thần trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Tâu bệ hạ, tốt lành thay xin bệ hạ hãy ra lệnh cho thầy thuốc Jīvaka chữa trị cho con trai của thần.”
Inda-bh 37~37Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra lệnh cho Jīvaka Komārabhacca rằng:—“Này khanh Jīvaka, hãy đi. Sau khi đi đến Bārāṇasī khanh hãy chữa trị cho con trai nhà đại phú ở Bārāṇasī.”—“Tâu bệ hạ, xin vâng.” Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi Bārāṇasī gặp người con trai nhà đại phú ở Bārāṇasī, sau khi đến đã xem xét sự biến đổi diện mạo của người con trai nhà đại phú ở Bārāṇasī rồi bảo mọi người tránh đi, dùng màn che vây kín lại, cột chặt (người con trai) vào cây cột nhà, bảo người vợ đứng ở phía trước, rồi cắt làn da ở bụng, lấy ruột ra, đưa cho người vợ thấy (nói rằng):—“Hãy nhìn xem bệnh của tướng công bà. Vì điều này mà ngay cả cháo được húp vào cũng không tiêu hóa đúng đắn, vật thực được ăn vào cũng không tiêu hóa đúng đắn, thậm chí việc tiểu tiện đại tiện cũng không bình thường. Vì điều này, người này trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân.” Rồi Jīvaka Komārabhacca đã gỡ rối phần ruột bị xoắn, đặt các thứ ruột vào trở lại, khâu lại làn da bụng, rồi bôi thuốc mỡ vào.
Inda-bh 38~38Sau đó cũng chẳng bao lâu, người con trai nhà đại phú ở Bārāṇasī đã được khỏi bệnh. Khi ấy, nhà đại phú ở Bārāṇasī (nghĩ rằng): “Con trai ta đã được khỏi bệnh” rồi đã thưởng cho Jīvaka Komārabhacca mười sáu ngàn. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã cầm lấy mười sáu ngàn ấy rồi quay trở về lại thành Rājagaha.
Inda-bh 39~39Vào lúc bấy giờ, đức vua Pajjota bị bệnh vàng da. Nhiều thầy thuốc tiếng tăm vô cùng lừng lẫy đã đi đến và đã không thể làm khỏi bệnh; họ đã nhận lấy nhiều vàng khối rồi ra đi. Sau đó, đức vua Pajjota đã phái sứ giả đi đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha (nói rằng):—“Quả là tôi bị bệnh như thế này. Tâu bệ hạ, tốt đẹp thay xin bệ hạ hãy ra lệnh cho thầy thuốc Jīvaka. Vị ấy sẽ chữa trị cho tôi.”
Inda-bh 40~40Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra lệnh cho Jīvaka Komārabhacca rằng:—“Này khanh Jīvaka, hãy đi. Sau khi đi đến Ujjenī khanh hãy chữa trị cho đức vua Pajjota.”—“Tâu bệ hạ, xin vâng.” Rồi Jīvaka Komārabhacca nghe theo đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi Ujjenī gặp đức vua Pajjota, sau khi đến đã xem xét sự biến đổi diện mạo của đức vua Pajjota rồi đã nói điều này:—“Tâu bệ hạ, thần sẽ đun sôi bơ lỏng và bệ hạ sẽ uống thứ ấy.”—“Này khanh Jīvaka, thôi đi. Ngươi hãy làm khỏi bệnh bằng cách nào mà có thể không dùng bơ lỏng. Đối với ta, bơ lỏng ghê tởm và không thích hợp.”
Inda-bh 41~41Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Bệnh của vị vua này là như thế ấy; không dùng bơ lỏng không thể nào làm khỏi bệnh được. Hay là ta nên nấu sôi bơ lỏng có màu cam, có hương của cam, và có vị của cam?” Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã nấu sôi bơ lỏng có màu cam, có hương của cam, và có vị của cam với nhiều loại dược phẩm.
Inda-bh 42~42Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Đối với vị vua này, bơ lỏng đã được uống vào, trong khi được tiêu hóa, sẽ làm ợ chua. Vị vua này thì tàn bạo có thể cho người giết ta, hay là ta nên hỏi phòng xa trước?”
Inda-bh 43~43Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp đức vua Pajjota, sau khi đến đã nói với đức vua Pajjota điều này:—“Tâu bệ hạ, những người thầy thuốc chúng tôi nhổ các thứ rễ cây, thu hoạch các thứ dược phẩm vào thời điểm thích hợp. Tốt đẹp thay xin bệ hạ hãy ra lệnh cho các trạm xe và các cổng thành rằng: ‘Jīvaka muốn đi bằng xe nào thì hãy để cho đi bằng xe đó, muốn đi ra bằng cổng nào thì hãy để cho đi ra bằng cổng đó, muốn đi ra lúc nào thì hãy cho đi ra lúc đó, muốn đi vào lúc nào thì hãy cho đi vào lúc đó.’”
Inda-bh 44~44Sau đó, đức vua Pajjota đã ra lệnh cho các trạm xe và các cổng thành rằng:—“Jīvaka muốn đi bằng xe nào thì hãy để cho đi bằng xe đó, muốn đi ra bằng cổng nào thì hãy để cho đi ra bằng cổng đó, muốn đi ra lúc nào thì hãy cho đi ra lúc đó, muốn đi vào lúc nào thì hãy cho đi vào lúc đó.”
Inda-bh 45~45Vào lúc bấy giờ, đức vua Pajjota có con voi cái tên là Bhaddavatikā có thể đi năm mươi do tuần. Rồi Jīvaka Komārabhacca đã đem lại bơ lỏng cho đức vua Pajjota (nói rằng):—“Xin bệ hạ hãy uống cam.” Sau đó, khi đã cho đức vua Pajjota uống bơ lỏng xong, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến chuồng voi và tẩu thoát thành phố bằng con voi cái Bhaddavatikā.
Inda-bh 46~46Sau đó, khi đã được đức vua Pajjota uống vào và trong khi tiêu hóa, bơ lỏng ấy đã làm ợ chua. Khi ấy, đức vua Pajjota đã nói với mọi người điều này:—“Này các khanh, Jīvaka xảo trá đã làm cho trẫm phải uống bơ lỏng. Chính vì thế, các khanh hãy truy nã thầy thuốc Jīvaka.”—“Tâu bệ hạ, thầy thuốc đã tẩu thoát thành phố bằng con voi cái Bhaddavatikā rồi.”
Inda-bh 47~47Vào lúc bấy giờ, đức vua Pajjota có nam nô lệ tên là Kāka đã được sanh ra có nguồn gốc phi nhân có thể đi sáu mươi do tuần. Khi ấy, đức vua Pajjota đã ra lệnh cho nô lệ Kāka rằng:—“Này khanh Kāka, hãy đi và hãy bảo thầy thuốc Jīvaka rằng: ‘Thưa thầy, đức vua bảo đem thầy quay trở về.’ Này khanh Kāka, bọn người gọi là thầy thuốc này vô cùng quỷ quyệt. Khanh chớ có nhận lấy bất cứ vật gì từ ông ta.”
Inda-bh 48~48Sau đó, vào khoảng giữa đường đi tại thành Kosambi, người nô lệ Kāka đã bắt gặp Jīvaka Komārabhacca đang dùng điểm tâm. Khi ấy, người nô lệ Kāka đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:—“Thưa thầy, đức vua bảo đem thầy quay trở về.”—“Này chú em Kāka, hãy chờ cho ta ăn. Này chú em Kāka, ngươi cũng nên ăn đi.”—“Thưa thầy, thôi đi. Tôi đã được đức vua ra lệnh rằng: ‘Này khanh Kāka, bọn người gọi là thầy thuốc này vô cùng xảo trá. Khanh chớ có nhận lấy bất cứ vật gì từ ông ta.’”
Inda-bh 49~49Vào lúc bấy giờ, Jīvaka Komārabhacca đã dùng móng tay khảy lấy (chút) dược phẩm rồi ăn trái cây āmalaka và uống nước. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã nói với nô lệ Kāka điều này:—“Này chú em Kāka, ngươi hãy ăn trái cây āmalaka và nên uống nước.” Khi ấy, nô lệ Kāka (nghĩ rằng): “Thầy thuốc này ăn trái cây āmalaka và uống nước. Xem ra không có điều gì là quỷ quyệt cả” rồi đã ăn nửa trái āmalaka và uống nước. Khi người nô lệ ấy vừa ăn vào nửa phần của trái āmalaka ấy liền bị ói ra ngay tại chỗ ấy.
Inda-bh 50~50Khi ấy, nô lệ Kāka đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:—“Thưa thầy, tôi có còn mạng sống không?”—“Này chú em Kāka, chớ có sợ. Rồi chính ngươi sẽ được khỏi bệnh. Còn đức vua thì tàn bạo, đức vua ấy cũng có thể ra lệnh giết ta; vì thế ta không quay trở lại.” Sau khi bảo nô lệ Kāka dẫn đi con voi cái Bhaddavatikā, Jīvaka Komārabhacca đã ra đi về phía thành Rājagaha, tuần tự đã đi đến thành Rājagaha gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã trình sự việc ấy cho đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.—“Này khanh Jīvaka, khanh đã làm tốt lắm, là việc khanh đã không quay trở về. Đức vua ấy tàn bạo cũng có thể ra lệnh giết khanh.”
Inda-bh 51~51Sau đó, đức vua Pajjota, được khỏi bệnh, đã phái sứ giả đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca (nói rằng):—“Jīvaka hãy đi đến. Trẫm sẽ ban đặc ân.”—“Thưa ngài, thôi đi. Chỉ xin đức vua nhớ cho chức vụ của thần.”
Inda-bh 52~52Vào lúc bấy giờ, có xấp vải đôi sản xuất tại xứ Sivi được phát sanh đến đức vua Pajjota. (Đây) là loại tốt nhất, thượng hạng, nổi tiếng, cao quý, và sang trọng trong vô số các loại vải, trong vô số các xấp vải đôi, trong hàng trăm xấp vải đôi, trong hàng ngàn xấp vải đôi, trong hàng trăm ngàn xấp vải đôi. Sau đó, đức vua Pajjota đã phái người đem xấp vải đôi sản xuất tại xứ Sivi ấy ban cho Jīvaka Komārabhacca.
Inda-bh 52~53Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Xấp vải đôi sản xuất tại xứ Sivi này đã được đức vua Pajjota gởi đến cho ta, là loại tốt nhất, thượng hạng, nổi tiếng, cao quý, và sang trọng trong vô số các loại vải, trong vô số các xấp vải đôi, trong hàng trăm xấp vải đôi, trong hàng ngàn xấp vải đôi, trong hàng trăm ngàn xấp vải đôi; không ai xứng đáng với vật này, ngoại trừ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy, hay là đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.”
Inda-bh 54~54Vào lúc bấy giờ, cơ thể của đức Thế Tôn bị tiết ra dịch chất dơ. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo với đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, cơ thể của Như Lai bị tiết ra dịch chất dơ. Như Lai muốn uống liều thuốc xổ.”
Inda-bh 55~55Sau đó, đại đức Ānanda đã đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca, sau khi đến đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:—“Này đạo hữu Jīvaka, cơ thể của Như Lai bị tiết ra dịch chất dơ. Như Lai muốn uống liều thuốc xổ.”—“Thưa ngài Ānanda, như thế thì ngài hãy thoa dầu nơi cơ thể của đức Thế Tôn một vài ngày.”
Inda-bh 56~56Sau đó, khi đã thoa dầu nơi cơ thể của đức Thế Tôn một vài ngày, đại đức Ānanda đã đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca, sau khi đến đã nói với Jīvaka Komārabhacca điều này:—“Này đạo hữu Jīvaka, cơ thể của Như Lai đã được thoa dầu, đạo hữu hãy suy nghĩ xem bây giờ là thời điểm của việc gì.”
Inda-bh 57~57Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Đối với ta quả là không thích đáng, là việc ta có thể dâng đức Thế Tôn liều thuốc xổ thô tháo,” nên đã dùng ba nắm sen và nhiều loại dược phẩm trộn lẫn nhau rồi đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã dâng lên đức Thế Tôn một nắm sen (nói rằng):—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hít vào nắm sen thứ nhất này, liều này sẽ làm đức Thế Tôn xổ mười lần.” Rồi đã dâng đức Thế Tôn nắm sen thứ nhì (nói rằng):—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hít vào nắm sen thứ nhì này, liều này sẽ làm đức Thế Tôn xổ mười lần.” Rồi đã dâng đức Thế Tôn nắm sen thứ ba (nói rằng):—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hít vào nắm sen thứ ba này, liều này sẽ làm đức Thế Tôn xổ mười lần.” (Rồi nghĩ rằng:) “Như thế đức Thế Tôn sẽ có liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần.” Sau đó, khi đã dâng đức Thế Tôn liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần, Jīvaka Komārabhacca đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 58~58Khi ấy, trong lúc đang đi ra khỏi cổng ra vào, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: “Ta đã dâng lên đức Thế Tôn liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần. (Do) cơ thể của đức Như Lai đã bị tiết ra dịch chất dơ nên sẽ không làm đức Thế Tôn xổ đầy đủ ba mươi lần mà chỉ làm đức Thế Tôn xổ hai mươi chín lần. Tuy nhiên, khi đức Thế Tôn đã được xổ, ngài sẽ tắm. Và khi đã được tắm, liều thuốc sẽ làm đức Thế Tôn xổ một lần nữa. Như thế, đức Thế Tôn sẽ có được liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần.”
Inda-bh 59~59Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của Jīvaka Komārabhacca nên đã bảo đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, ở đây trong lúc đang đi ra khỏi cổng ra vào, Jīvaka Komārabhacca đã khởi ý điều này: ‘Ta đã dâng lên đức Thế Tôn liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần. (Do) cơ thể của đức Như Lai đã bị tiết ra dịch chất dơ nên sẽ không làm đức Thế Tôn xổ đầy đủ ba mươi lần mà chỉ làm đức Thế Tôn xổ hai mươi chín lần. Tuy nhiên, khi đức Thế Tôn đã được xổ, ngài sẽ tắm; và khi đã được tắm, liều thuốc sẽ làm đức Thế Tôn xổ một lần nữa. Như thế, đức Thế Tôn sẽ có được liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần.’ Này Ānanda, như thế thì ngươi hãy chuẩn bị sẵn sàng nước nóng.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Rồi đại đức Ānanda, nghe theo đức Thế Tôn, đã chuẩn bị sẵn sàng nước nóng.
Inda-bh 60~60Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Jīvaka Komārabhacca đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, đức Thế Tôn đã được xổ chưa?”—“Này Jīvaka, ta đã được xổ.”—“Bạch ngài, ở đây trong lúc đang đi ra khỏi cổng ra vào, con đã khởi ý điều này: ‘Ta đã dâng lên đức Thế Tôn liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần. (Do) cơ thể của đức Như Lai đã bị tiết ra dịch chất dơ nên sẽ không làm đức Thế Tôn xổ đầy đủ ba mươi lần mà chỉ làm đức Thế Tôn xổ hai mươi chín lần. Tuy nhiên, khi đức Thế Tôn đã được xổ, ngài sẽ ngài sẽ tắm. Và khi đã được tắm, liều thuốc sẽ làm đức Thế Tôn xổ một lần nữa. Như thế, đức Thế Tôn sẽ có được liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần.’ Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy tắm, xin đấng Thiện Thệ hãy tắm.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã tắm nước nóng. Khi đã được tắm, (liều thuốc) đã làm đức Thế Tôn xổ một lần nữa. Như thế, đức Thế Tôn đã có được liều thuốc xổ tổng cộng ba mươi lần.
Inda-bh 61~61Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, cho đến khi cơ thể của đức Thế Tôn trở lại bình thường, cần kiêng đồ khất thực là nước trái cây.”
Inda-bh 62~62Sau đó chẳng bao lâu, cơ thể của đức Thế Tôn đã được bình thường. Khi ấy, Jīvaka Komārabhacca đã cầm lấy xấp vải đôi sản xuất tại xứ Sivi ấy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Jīvaka Komārabhacca đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, con thỉnh cầu đức Thế Tôn một điều ước muốn.”—“Này Jīvaka, các đấng Như Lai đã vượt khỏi các điều ước muốn.”—“Bạch ngài, điều ấy là hợp lý, điều ấy không bị chê trách.”—“Này Jīvaka, hãy nói đi.”—“Bạch ngài, đức Thế Tôn là vị sử dụng y may từ vải bị quăng bỏ, và hội chúng tỳ khưu (cũng vậy). Bạch ngài, xấp vải đôi sản xuất tại xứ Sivi này của con đã được vua Pajjota gởi đến, là loại tốt nhất, thượng hạng, nổi tiếng, cao quý, và sang trọng trong vô số các loại vải, trong vô số các xấp vải đôi, trong hàng trăm xấp vải đôi, trong hàng ngàn xấp vải đôi, trong hàng trăm ngàn xấp vải đôi. Bạch ngài, xin ngài thọ nhận xấp vải đôi sản xuất tại xứ Sivi này của con và cho phép y của gia chủ đến hội chúng tỳ khưu.” Đức Thế Tôn đã thọ nhận xấp vải đôi sản xuất tại xứ Sivi.
Inda-bh 63~63Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Jīvaka Komārabhacca bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, Jīvaka Komārabhacca đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 64~64Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép y của gia chủ. Vị nào thích thì hãy là vị sử dụng y may từ vải bị quăng bỏ, vị nào thích thì hãy chấp nhận y của gia chủ. Và này các tỳ khưu, ta ngợi khen sự biết đủ (dầu) với loại này hay loại kia.”
Inda-bh 65~65Rồi dân chúng ở thành Rājagaha đã nghe được rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn đã cho phép y của gia chủ đến các tỳ khưu.” Và những người dân ấy đã trở nên mừng rỡ phấn chấn (nghĩ rằng): “Giờ đây, chúng ta sẽ dâng các vật thí, chúng ta sẽ làm các việc phước thiện, bởi vì đức Thế đã cho phép y của gia chủ đến các vị tỳ khưu.” Và chỉ trong một ngày, ở thành Rājagaha nhiều ngàn y đã được phát sanh.
Inda-bh 66~66Rồi dân chúng trong nước đã nghe được rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn đã cho phép y của gia chủ đến các vị tỳ khưu.” Và những người dân ấy đã trở nên mừng rỡ phấn chấn (nghĩ rằng): “Giờ đây, chúng ta sẽ dâng các vật thí, chúng ta sẽ làm các việc phước thiện, bởi vì đức Thế đã cho phép y của gia chủ đến các vị tỳ khưu.” Và chỉ trong một ngày, ở trong nước nhiều ngàn y đã được phát sanh.
Inda-bh 67~67Vào lúc bấy giờ, có tấm vải choàng được phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tấm vải choàng.” Có tấm vải choàng bằng tơ lụa được phát sanh.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tấm vải choàng bằng tơ lụa.” Có tấm choàng lông được phát sanh đến hội chúng.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tấm choàng lông.”
Dứt tụng phẩm thứ nhất.
Inda-bh 1~68Vào lúc bấy giờ, đức vua xứ Kāsi đã gởi đến Jīvaka Komārabhacca tấm mền len trị giá nửa kāsi (hoặc) tương đương với nửa kāsi. Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã cầm lấy tấm mền len trị giá nửa kāsi ấy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, Jīvaka Komārabhacca đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, tấm mền len này của con trị giá nửa kāsi (hoặc) tương đương với nửa kāsi đã được đức vua xứ Kāsi gởi đến. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lãnh tấm mền, điều ấy sẽ đem lại sự lợi ích và sự an lạc lâu dài cho con.” Đức Thế Tôn đã thọ lãnh tấm mền len.
Inda-bh 2~69Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Jīvaka Komārabhacca bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, Jīvaka Komārabhacca đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 3~70Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) tấm mền len.”
Inda-bh 4~71Vào lúc bấy giờ, có các y đủ loại phát sanh đến hội chúng. Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Loại y nào đã được đức Thế Tôn cho phép, loại nào không được cho phép?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép sáu loại y: loại bằng sợi lanh, loại bằng bông vải, loại bằng tơ lụa, loại bằng sợi len, loại bằng gai thô, loại bằng chỉ bố.”
Inda-bh 5~72Vào lúc bấy giờ, những vị tỳ khưu nào chấp nhận y của gia chủ, những vị ấy trong lúc ngần ngại không chấp nhận loại vải dơ bị quăng bỏ (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn cho phép chỉ một loại y chứ không phải hai.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị chấp nhận y của gia chủ chấp nhận luôn cả loại vải dơ bị quăng bỏ. Này các tỳ khưu ta ngợi khen sự biết đủ với cả hai loại ấy.”
Inda-bh 6~73Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đi đường xa ở trong xứ Kosala. Một số tỳ khưu đã đi vào bãi tha ma để kiếm vải dơ bị quăng bỏ. Một số tỳ khưu đã không chờ đợi. Những vị tỳ khưu đi vào bãi tha ma đã nhặt được nhiều vải quấn tử thi. Những vị tỳ khưu không chờ đợi đã nói như vầy:—“Này các đại đức, hãy chia phần cho cả chúng tôi nữa.” Những vị kia đã nói như vầy:—“Này các đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho các vị. Tại sao các vị đã không chờ đợi?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép không chia phần cho các vị không chờ đợi nếu không muốn.”
Inda-bh 7~74Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đi đường xa ở trong xứ Kosala. Một số tỳ khưu đã đi vào bãi tha ma để kiếm vải dơ bị quăng bỏ. Một số tỳ khưu đã chờ đợi. Những vị tỳ khưu đi vào bãi tha ma đã nhặt được nhiều vải quấn tử thi. Những tỳ khưu chờ đợi đã nói như vầy:—“Này các đại đức, hãy chia phần cho cả chúng tôi nữa.” Những vị kia đã nói như vầy:—“Này các đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho các vị. Tại sao các vị đã không đi vào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chia phần cho các vị đã chờ đợi cho dầu không muốn.”
Inda-bh 8~75Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đi đường xa ở trong xứ Kosala. Một số tỳ khưu đã đi vào bãi tha ma trước để kiếm vải dơ bị quăng bỏ. Một số tỳ khưu đã đi vào sau. Những vị tỳ khưu đi vào bãi tha ma trước đã nhặt được nhiều vải quấn tử thi. Những vị tỳ khưu đi vào sau đã không nhặt được. Những vị ấy đã nói như vầy:—“Này các đại đức, hãy chia phần cho cả chúng tôi nữa.” Những vị kia đã nói như vầy:—“Này các đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho các vị. Tại sao các vị đã đi vào sau?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép không chia phần cho các vị đi vào sau nếu không muốn.”
Inda-bh 9~76Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đi đường xa ở trong xứ Kosala. Các vị đã đi vào bãi tha ma cùng một lúc để kiếm vải dơ bị quăng bỏ. Một số vị tỳ khưu đã nhặt được nhiều vải quấn tử thi. Một số vị tỳ khưu đã không nhặt được. Những vị tỳ khưu không nhặt được đã nói như vầy:—“Này các đại đức, hãy chia phần cho cả chúng tôi nữa.” Những vị kia đã nói như vầy:—“Này các đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho các vị. Tại sao các vị đã không nhặt được?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chia phần cho các vị đi vào cùng một lúc cho dầu không muốn.”
Inda-bh 10~77Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đi đường xa ở trong xứ Kosala. Các vị đã thỏa thuận với nhau rồi đi vào bãi tha ma để kiếm vải dơ bị quăng bỏ. Một số vị tỳ khưu đã nhặt được nhiều vải quấn tử thi. Một số vị tỳ khưu đã không nhặt được. Những vị tỳ khưu không nhặt được đã nói như vầy:—“Này các đại đức, hãy chia phần cho cả chúng tôi nữa.” Những vị kia đã nói như vầy:—“Này các đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho các vị. Tại sao các vị đã không nhặt được?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chia phần cho các vị đi vào sau khi đã thỏa thuận cho dầu không muốn.”
Inda-bh 11~78Vào lúc bấy giờ, dân chúng cầm y đi đến tu viện. Trong khi không gặp được vị có trách nhiệm tiếp nhận nên họ mang về. Y được phát sanh ít ỏi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị tiếp nhận y là vị tỳ khưu có năm yếu tố: vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị biết (vật) đã được tiếp nhận hay chưa được tiếp nhận.
Inda-bh 12~79Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị tiếp nhận y. Đây là lời đề nghị. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị tiếp nhận y. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị tiếp nhận y xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên. Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị tiếp nhận y. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 13~80Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu là các vị tiếp nhận y sau khi thọ lãnh y bỏ ngay tại chỗ ấy rồi ra đi. Y bị mất. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị cất giữ y là vị tỳ khưu có năm yếu tố: vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị biết (vật) đã được cất giữ hay chưa được cất giữ.
Inda-bh 14~81Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị cất giữ y. Đây là lời đề nghị. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị cất giữ y. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị cất giữ y xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên. Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị cất giữ y. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 15~82Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu là các vị cất giữ y cất giữ y ở mái che, ở gốc cây, ở hốc cây nimba. Các y bị gặm nhấm bởi các con chuột và loài mối. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định nhà kho chứa đồ thuộc loại nào mà hội chúng thích, (có thể) là trú xá, nhà một mái, tòa nhà dài, khu nhà lớn, hoặc hang động.
Inda-bh 16~83Và này các tỳ khưu, nên được chỉ định như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định trú xá tên (như vầy) là nhà kho chứa đồ. Đây là lời đề nghị. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định trú xá tên (như vầy) là nhà kho chứa đồ. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định trú xá tên (như vầy) là nhà kho chứa đồ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên. Trú xá tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là nhà kho chứa đồ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 17~84Vào lúc bấy giờ, y ở trong nhà kho chứa đồ của hội chúng không được bảo quản. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị quản lý nhà kho là vị tỳ khưu có năm yếu tố: vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị biết (vật) đã được bảo quản hay không được bảo quản. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: … (như trên) … Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị quản lý nhà kho. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 18~85Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư bãi nhiệm vị quản lý nhà kho. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên bãi nhiệm vị giữ nhà kho; vị nào bãi nhiệm thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 19~86Vào lúc bấy giờ, trong nhà kho chứa đồ của hội chúng y được dồi dào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép hội chúng chia phần theo sự hiện diện.”
Inda-bh 20~87Vào lúc bấy giờ, toàn thể hội chúng trong lúc chia phần y đã gây ra cảnh náo động. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị chia y là vị tỳ khưu có năm yếu tố: vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị biết (y) đã được phân chia hay chưa được phân chia. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: … (như trên) … Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị chia y. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 21~88Sau đó, các tỳ khưu là các vị chia y đã khởi ý điều này: “Y nên được chia như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép trước tiên phân loại, phỏng định giá trị, làm cho đồng đều (giá trị), đếm số tỳ khưu, gom lại thành nhóm, rồi xác định phần chia về y.”
Inda-bh 22~89Khi ấy, các tỳ khưu là các vị chia y đã khởi ý điều này: “Phần chia về y có nên được cho đến các sa di hay không?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép cho các sa di một nửa của phần chia về y.”
Inda-bh 23~90Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý muốn vượt qua (sông hoặc đoạn đường hoang vắng) với phần chia của bản thân. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép trao cho phần chia của bản thân đến vị đang (chuẩn bị) vượt qua (sông hoặc đoạn đường hoang vắng).”
Inda-bh 24~91Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý muốn vượt qua (sông hoặc đoạn đường hoang vắng) với phần chia nhiều hơn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép trao cho phần chia nhiều hơn khi vật đền bù được trao lại.”
Inda-bh 25~92Sau đó, các tỳ khưu là các vị chia y đã khởi ý điều này: “Phần chia về y nên được trao cho như thế nào, theo thứ tự đi đến hay là theo thâm niên?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép bốc thăm để làm hoan hỷ các vị không được phần.”
Inda-bh 26~93Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhuộm y với phân bò và đất sét đỏ. Y có màu sắc xấu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép sáu loại thuốc nhuộm: thuốc nhuộm từ rễ cây, thuốc nhuộm từ thân cây, thuốc nhuộm từ vỏ cây, thuốc nhuộm từ lá cây, thuốc nhuộm từ bông hoa, thuốc nhuộm từ trái cây.”
Inda-bh 27~94Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhuộm y với nước lạnh. Y có mùi hôi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép nồi nhuộm loại nhỏ để nấu thuốc nhuộm.” Thuốc nhuộm bị tràn ra. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc vòng đế tròn (ở bên trong nồi thuốc nhuộm).”
Inda-bh 28~95Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu không biết thuốc nhuộm đã được nấu hay chưa được nấu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép nhỏ giọt vào trong nước hoặc ở bề lưng của móng tay.”
Inda-bh 29~96Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu khi đổ thuốc nhuộm ra, cái nồi bị xoay tròn. Cái nồi bị bể. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép cái môi múc thuốc nhuộm, cái gàu có cán.”
Inda-bh 30~97Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu không có cái thùng để nhuộm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chậu nhuộm, lu nhuộm.”
Inda-bh 31~98Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu vò nhồi y trong cái đĩa, trong bình bát. Y đã bị thủng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép máng nhuộm.”
Inda-bh 32~99Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu trải y ra ở nền đất. Y bị lấm bụi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thảm cỏ.” Thảm cỏ bị mối ăn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép sào máng y, dây treo y.” Các vị treo cao lên ở giữa. Thuốc nhuộm chảy ra hai bên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc ở các góc (y).” Góc (y) bị sờn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép sợi chỉ ở các góc (y).” Thuốc nhuộm chảy ở một bên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép nhuộm bằng cách đảo y trở qua rồi đảo y trở lại, và không được bỏ đi khi nước chưa ngừng nhỏ giọt.”
Inda-bh 33~100Vào lúc bấy giờ, y bị cứng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ngâm trong nước.”
Inda-bh 34~101Vào lúc bấy giờ, y bị thô nhám. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đập bằng bàn tay.”
Inda-bh 35~102Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư mặc các y ca-sa màu ngà voi chưa được cắt. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên mặc các y chưa được cắt; vị nào mặc thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 36~103Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến Dakkhiṇāgiri. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy mảnh ruộng ở Magadha được kết nối bằng những khoảnh vuông vức, được kết nối bằng những đường biên xung quanh, được kết nối bằng những đường biên ngắn ở giữa, được kết nối bằng những mảnh vuông ở chỗ giao nhau, sau khi nhìn thấy đã bảo đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, ngươi có nhìn thấy mảnh ruộng ở Magadha của chúng ta được kết nối bằng những khoảnh vuông vức, được kết nối bằng những đường biên xung quanh, được kết nối bằng những đường biên ngắn ở giữa, được kết nối bằng những mảnh vuông ở chỗ giao nhau không?”—“Bạch ngài, thưa có.”—“Này Ānanda, ngươi có khả năng tạo nên các y có kiểu mẫu như thế cho các vị tỳ khưu không?”—“Bạch Thế Tôn, con có khả năng.”
Inda-bh 37~104Sau đó, khi đã ngự tại Dakkhiṇāgiri theo như ý thích, đức Thế Tôn đã quay trở về lại thành Rājagaha. Khi ấy, đại đức Ānanda sau khi tự mình tạo nên các y cho nhiều vị tỳ khưu đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin Thế Tôn hãy nhìn xem các y con đã tự mình tạo nên.” Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, Ānanda thật sáng trí. Này các tỳ khưu, Ānanda có đại trí tuệ bởi vì vị ấy hiểu ý nghĩa một cách đầy đủ của điều đã được ta nói ra một cách vắn tắt. Vị ấy làm được dải nối theo chiều dọc (của y), vị ấy làm được dải nối theo chiều ngang (của y), vị ấy làm được mảnh lớn thuộc dải điều (của y), vị ấy làm được mảnh nhỏ thuộc dải điều (của y), vị ấy làm được mảnh lớn thuộc dải điều giữa (của y), vị ấy làm được mảnh lớn thuộc các dải điều bên (của y), vị ấy làm được mảnh nhỏ thuộc dải điều giữa (của y), vị ấy làm được mảnh nhỏ thuộc các dải điều kế (của y), vị ấy làm được mảnh nhỏ thuộc hai dải điều biên (của y), (như thế y) sẽ được cắt ra, sần sùi khi được ráp lại, phù hợp với Sa-môn, không còn được mong mỏi bởi những kẻ đối nghịch. Này các tỳ khưu, ta cho phép y hai lớp đã được cắt ra, thượng y đã được cắt ra, y nội đã được cắt ra (rồi ráp lại).”
Inda-bh 38~105Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến thành Vesāli. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy nhiều vị tỳ khưu ôm đồm với các chiếc y đang đi đường xa giữa Rājagaha và Vesāli, các vị đã làm cuộn y ở trên đầu, các vị đã làm cuộn y ở vai, các vị đã làm cuộn y ở hông. Sau khi nhìn thấy đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Những kẻ rồ dại này đã xoay xở được nhiều y thật nhanh chóng, hay là ta nên xác định sự hạn chế về y, (và) nên quy định sự giới hạn về y?”
Inda-bh 39~106Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến thành Vesāli. Tại nơi đó ở Vesāli, đức Thế Tôn ngụ tại điện thờ Gotamaka. Vào lúc bấy giờ, trong khoảng thời gian tám đêm của mùa đông lạnh lẽo vào thời điểm tuyết rơi, đức Thế Tôn đã ngồi ở ngoài trời vào ban đêm chỉ với một y; đức Thế Tôn đã không có cảm giác lạnh. Khi canh đầu đã qua, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã trùm lên y thứ nhì; đức Thế Tôn đã không còn cảm giác lạnh. Khi canh giữa đã qua, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã trùm lên y thứ ba; đức Thế Tôn đã không còn cảm giác lạnh. Khi canh cuối đã qua, hừng đông đã rạng, trời đêm lộ vẻ rạng rỡ, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã trùm lên y thứ tư; đức Thế Tôn đã không còn cảm giác lạnh. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Những vị nào là con trai của các nhà danh giá xuất gia ở trong Pháp và Luật này thường bị ảnh hưởng bởi sự lạnh và khiếp sợ sự lạnh, những vị ấy có thể tồn tại với ba y, hay là ta nên xác định sự hạn chế về y, nên quy định sự giới hạn về y cho các tỳ khưu, (và) nên cho phép ba y?”
Inda-bh 40~107Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ở đây trong khi đi trên đoạn đường xa giữa Rājagaha và Vesāli, ta đã nhìn thấy nhiều vị tỳ khưu ôm đồm với các chiếc y đang đi ngược chiều, các vị đã làm cuộn y ở trên đầu, các vị đã làm cuộn y ở vai, các vị đã làm cuộn y ở hông, sau khi nhìn thấy ta đã khởi ý điều này: ‘Những kẻ rồ dại này đã xoay xở được nhiều y thật mau mắn, hay là ta nên xác định sự hạn chế về y, (và) nên quy định sự giới hạn về y?’
Inda-bh 41~108Này các tỳ khưu, ở đây trong khoảng thời gian tám đêm của mùa đông lạnh lẽo vào thời điểm tuyết rơi, ta đã ngồi ở ngoài trời vào ban đêm chỉ với một y; ta đã không có cảm giác lạnh. Khi canh đầu đã qua, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở ta. Ta đã trùm lên y thứ nhì; ta đã không còn cảm giác lạnh. Khi canh giữa đã qua, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở ta. Ta đã trùm lên y thứ ba; ta đã không còn cảm giác lạnh. Khi canh cuối đã qua, hừng đông đã rạng, trời đêm lộ vẻ rạng rỡ, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở ta. Ta đã trùm lên y thứ tư; ta đã không còn cảm giác lạnh. Khi ấy, ta đã khởi ý điều này: ‘Những vị nào là con trai của các nhà danh giá xuất gia ở trong Pháp và Luật này thường bị ảnh hưởng bởi sự lạnh và khiếp sợ sự lạnh, những vị ấy có thể tồn tại với ba y, hay là ta nên xác định sự hạn chế về y, nên quy định sự giới hạn về y cho các tỳ khưu, (và) nên cho phép ba y?’ Này các tỳ khưu, ta cho phép ba y gồm có y saṅghāṭi hai lớp, thượng y một lớp, và y nội một lớp.”
Inda-bh 42~109Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cho phép ba y,” rồi đi vào làng với ba y nọ, mặc ở tu viện với ba y khác, và đi xuống tắm với ba y khác nữa. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại sử dụng y phụ trội?”
Inda-bh 43~110Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên cất giữ y phụ trội, vị nào cất giữ thì nên được hành xử theo Pháp.”272
Inda-bh 44~111Vào lúc bấy giờ, có y phụ trội được phát sanh đến đại đức Ānanda. Đại đức Ānanda có ý định dâng y ấy đến đại đức Sāriputta. Và đại đức Sāriputta cư ngụ ở Sāketa. Khi ấy, đại đức Ānanda đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không được cất giữ y phụ trội.’ Và y phụ trội này đã được phát sanh đến ta. Và ta có ý muốn dâng y này đến đại đức Sāriputta mà đại đức Sāriputta cư ngụ ở Sāketa. Vậy ta nên thực hành như thế nào?” Sau đó, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này Ānanda, bao lâu nữa Sāriputta sẽ đi đến đây?”—“Bạch Thế Tôn, ngày thứ chín hoặc ngày thứ mười.”
Inda-bh 45~112Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép cất giữ y phụ trội tối đa mười ngày.”
Inda-bh 46~113Vào lúc bấy giờ, có y phụ trội phát sanh đến các tỳ khưu. Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Nên thực hành như thế nào đối với các y phụ trội?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chú nguyện để dùng chung y phụ trội.”
Inda-bh 47~114Sau đó, khi đã ngự tại thành Vesāli theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Bāraṇasī. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Bārāṇasī. Tại nơi đó ở Bārāṇasī, đức Thế Tôn ngự tại Isipatana, nơi vườn nai.
Inda-bh 48~115Vào lúc bấy giờ, y nội của vị tỳ khưu nọ bị rách. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã cho phép ba y gồm có y saṅghāṭi hai lớp, thượng y một lớp, và y nội một lớp. Và y nội này của ta bị rách, hay là ta nên đắp thêm miếng vá, như thế xung quanh sẽ là hai lớp và ở giữa là một lớp?” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã đắp thêm miếng vá. Đức Thế Tôn trong khi đi dạo quanh các chỗ trú ngụ đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đang đắp thêm miếng vá, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:—“Này tỳ khưu, ngươi làm gì vậy?”—“Bạch Thế Tôn, con đắp thêm miếng vá.”—“Này tỳ khưu, thật tốt thay, thật tốt thay! Này tỳ khưu, thật tốt thay việc ngươi đắp thêm miếng vá!”
Inda-bh 49~116Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép khi vải còn mới hoặc được xem như mới thì y saṅghāṭi là hai lớp, thượng y là một lớp, và y nội là một lớp. Khi các lớp vải đã bị sờn bởi thời gian thì y saṅghāṭi là bốn lớp, thượng y là hai lớp, và y nội là hai lớp. Nên thực hiện việc nỗ lực (tìm kiếm) vải dơ bị quăng bỏ hay (được bỏ rơi) ở các cửa tiệm theo như nhu cầu. Này các tỳ khưu, ta cho phép (đắp) miếng vá, (dùng) chỉ mạng, (đắp chồng) lớp nữa, miếng vá nhỏ, và việc may lại cho chắc chắn.”
Inda-bh 50~117Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Sāvatthi. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Sāvatthi. Tại nơi đó ở Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự tại Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Inda-bh 51~118Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi bà Visākhā mẹ của Migāra đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho bà bằng bài Pháp thoại.
Inda-bh 52~119Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, bà Visākhā mẹ của Migāra đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời con về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 53~120Vào lúc bấy giờ, khi trải qua đêm ấy có đám mây lớn khắp cả bốn châu đã đổ mưa xuống. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, trời mưa ở Jetavana như thế nào thì trời mưa ở bốn châu như thế ấy. Này các tỳ khưu, hãy để cho thân thể ướt đẫm nước mưa, đây là trận mưa lớn khắp cả bốn châu lần cuối cùng.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Các vị tỳ khưu ấy nghe theo đức Thế Tôn, có các y đã được cất đi, rồi để cho thân thể ướt đẫm nước mưa.”
Inda-bh 54~121Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra sau khi cho chuẩn bị sẵn sàng vật thực hảo hạng loại cứng loại mềm rồi đã bảo người tớ gái rằng:—“Này em, hãy đi. Sau khi đến tu viện, hãy thông báo thời giờ rằng: ‘Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.’”—“Thưa bà, xin vâng.” Rồi người tớ gái nghe theo bà Visākhā mẹ của Migāra đã đi đến tu viện và nhìn thấy các vị tỳ khưu, có các y đã được cất đi, đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa. Sau khi nhìn thấy (nghĩ rằng): “Không có các tỳ khưu nơi tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa” rồi đã đi đến gặp bà Visākhā mẹ của Migāra, sau khi đến đã nói với bà Visākhā mẹ của Migāra điều này:—“Thưa bà, không có các tỳ khưu nơi tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa.”
Inda-bh 55~122Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra là người sáng trí, kinh nghiệm, thông minh đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là các ngài đại đức có các y đã được cất đi, và để cho thân thể ướt đẫm nước mưa! Cô gái đần độn này đây đã nghĩ rằng: ‘Không có các tỳ khưu nơi tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa,’” nên đã bảo người tớ gái lần nữa rằng:—“Này em, hãy đi. Sau khi đến tu viện, hãy thông báo thời giờ rằng: ‘Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.’”
Inda-bh 56~123Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy sau khi làm cho mát mẻ các phần thân thể, có cơ thể khoẻ khoắn, đã cầm lấy các y rồi đi vào trú xá của mình.
Inda-bh 57~124Sau đó, người tớ gái ấy đã đi đến tu viện, trong khi không nhìn thấy các vị tỳ khưu (nên nghĩ rằng): “Không có các tỳ khưu nơi tu viện, tu viện thì trống không” rồi đã đi đến gặp bà Visākhā mẹ của Migāra, sau khi đến đã nói với bà Visākhā mẹ của Migāra điều này:—“Thưa bà, không có các tỳ khưu nơi tu viện, tu viện thì trống không.”
Inda-bh 58~125Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra là người sáng trí, kinh nghiệm, thông minh đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là các ngài đại đức sau khi làm cho mát mẻ các phần thân thể, có cơ thể khoẻ khoắn, nên đã cầm lấy các y rồi đi vào trú xá của mình. Cô gái đần độn này đây đã nghĩ rằng: ‘Không có các tỳ khưu nơi tu viện, tu viện thì trống không,’” nên đã bảo người tớ gái lần nữa rằng:—“Này em, hãy đi. Sau khi đi đến tu viện, hãy thông báo thời giờ rằng: ‘Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.’”
Inda-bh 59~126Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, hãy sẵn sàng y bát. Đã đến thời điểm của bữa ăn.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Các vị tỳ khưu ấy đã đáp lời đức Thế Tôn.
Inda-bh 60~127Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi giống như người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tợ như thế đức Thế Tôn đã biến mất tại Jetavana rồi hiện ra ở cổng nhà của bà Visākhā mẹ của Migāra. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu.
Inda-bh 61~128Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra (nghĩ rằng): “Thật kỳ diệu thay! Thật phi thường thay! Đức Như Lai có đại thần lực, có đại oai lực! Bởi vì trong khi các cơn lũ đang dâng tới mức đầu gối, trong khi các cơn lũ đang dâng lên tới hông thế mà không một vị tỳ khưu nào có các bàn chân hoặc các y bị ướt!” nên mừng rỡ phấn chấn, rồi đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong có bàn tay đã rời khỏi bình bát, bà đã ngồi xuống một bên.
Inda-bh 62~129Khi đã ngồi xuống một bên, bà Visākhā mẹ của Migāra đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, con thỉnh cầu đức Thế Tôn tám điều ước muốn.”—“Này Visākhā, các đấng Như Lai đã vượt khỏi các điều ước muốn.”—“Bạch ngài, các điều ấy là hợp lý, các điều ấy không bị chê trách.”—“Này Visākhā, hãy nói đi.”—“Bạch ngài, con muốn dâng vải choàng tắm mưa đến hội chúng, dâng bữa ăn dành cho vị vãng lai, dâng bữa ăn dành cho vị xuất hành, dâng bữa ăn dành cho vị bị bệnh, dâng bữa ăn dành cho vị chăm sóc bệnh, dâng dược phẩm dành cho vị bị bệnh, dâng cháo hàng ngày, dâng vải choàng tắm đến hội chúng tỳ khưu ni đến trọn đời.”
Inda-bh 63~130—“Này Visākhā, trong khi thấy rõ sự hữu dụng gì mà bà lại thỉnh cầu Như Lai tám điều ước muốn?”—“Bạch ngài, ở đây con đã bảo người tớ gái rằng: ‘Này em, hãy đi. Sau khi đến tu viện, hãy thông báo thời giờ rằng: Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.’ Khi ấy, người tớ gái ấy đã đi đến tu viện và nhìn thấy các vị tỳ khưu, có các y đã được cất đi, đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa. Sau khi nhìn thấy (nghĩ rằng): ‘Không có các tỳ khưu nơi tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa’ rồi đã đi đến gặp con, sau khi đến đã nói với con điều này: ‘Thưa bà, Không có các tỳ khưu nơi tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa.’ Bạch ngài, sự trần truồng là không tinh khiết, ghê tởm, bị lên án. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng vải choàng (tắm) mưa đến trọn đời.
Inda-bh 64~131Bạch ngài còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu vãng lai không rành rẽ đường xá, không rành rẽ khu vực, đi khất thực trong lúc đang mệt nhọc. Vị ấy sau khi thọ thực bữa ăn dành cho vị vãng lai của con được rành rẽ đường xá, được rành rẽ khu vực, sẽ đi khất thực trong khi không còn mệt nhọc. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng bữa ăn dành cho vị vãng lai đến trọn đời.
Inda-bh 65~132Bạch ngài còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu là vị xuất hành, trong khi tìm kiếm vật thực cho mình sẽ bị trễ đoàn lữ hành, hoặc sẽ đến nơi (mà vị ấy) có ý muốn đi đến vào lúc trời tối, sẽ phải đi đường xa trong lúc đang mệt nhọc. Vị ấy sau khi thọ thực bữa ăn dành cho vị xuất hành của con sẽ không bị trễ đoàn lữ hành, sẽ không đến nơi (mà vị ấy) có ý muốn đi đến vào lúc trời tối, sẽ đi đường xa trong khi không mệt nhọc. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng bữa ăn dành cho vị xuất hành đến trọn đời.
Inda-bh 66~133Bạch ngài còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu bị bệnh trong khi không nhận được các thức ăn thích hợp, bệnh tình sẽ trầm trọng, hoặc sẽ chết đi. Trong khi vị ấy thọ dụng bữa ăn dành cho vị bị bệnh của con, bệnh tình sẽ không trầm trọng, sẽ không chết đi. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng bữa ăn dành cho vị bị bệnh đến trọn đời.
Inda-bh 67~134Bạch ngài còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu là vị chăm sóc bệnh trong khi tìm kiếm thức ăn cho mình sẽ đem lại bữa ăn của vị bệnh lúc mặt trời đã lên (cao), sẽ làm lỡ bữa ăn. Vị ấy sau khi thọ dụng bữa ăn dành cho vị chăm sóc bệnh của con sẽ đem lại thức ăn của vị bệnh lúc đúng thời, sẽ không làm lỡ bữa ăn. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng bữa ăn dành cho vị chăm sóc bệnh đến trọn đời.
Inda-bh 68~135Bạch ngài còn có điều khác nữa, vị tỳ khưu bị bệnh trong khi không nhận được các loại dược phẩm thích hợp, bệnh tình sẽ trầm trọng, hoặc sẽ chết đi. Trong khi vị ấy thọ dụng dược phẩm dành cho vị bị bệnh của con, bệnh tình sẽ không trầm trọng, sẽ không chết đi. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng dược phẩm dành cho vị bị bệnh đến trọn đời.
Inda-bh 69~136Bạch ngài còn có điều khác nữa, ở Andhakavinda trong khi thấy rõ mười điều lợi ích, đức Thế Tôn đã cho phép (thọ dụng) cháo. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng cháo hàng ngày đến trọn đời.
Inda-bh 70~137Bạch ngài còn có điều khác nữa, các tỳ khưu ni tắm trần truồng với các cô điếm ở một bãi tắm của sông Aciravatī. Bạch ngài các cô điếm ấy đã chế giễu các tỳ khưu ni rằng: ‘Các bà đại đức ơi, các bà được cái gì với việc thực hành Phạm hạnh trong lúc còn trẻ trung vậy? Chớ không phải là các dục lạc nên được hưởng thụ hay sao? Khi nào trở nên già cả, khi ấy các bà sẽ thực hành Phạm hạnh, như thế các bà sẽ vớ được cả hai điều lợi.’ Bạch ngài, khi bị các cô điếm chế giễu các tỳ khưu ni ấy đã mắc cở. Bạch ngài, sự trần truồng của phụ nữ là không tinh khiết, ghê tởm, bị lên án. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng tỳ khưu ni vải choàng tắm đến trọn đời.”
Inda-bh 71~138—“Này Visākhā, trong khi thấy rõ lợi ích gì mà bà lại thỉnh cầu Như Lai tám điều ước muốn?”—“Bạch ngài, ở đây các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa ở các phương sẽ đi đến Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn. Các vị ấy sau khi đi đến gặp đức Thế Tôn sẽ hỏi rằng: ‘Bạch ngài, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã từ trần. Cõi tái sanh của vị ấy là gì? Cảnh giới kế tiếp của vị ấy là gì?’ Đức Thế Tôn sẽ tuyên bố vị ấy ở quả vị Nhập Lưu, hoặc ở quả vị Nhất Lai, hoặc ở quả vị Bất Lai, hoặc ở phẩm vị A-la-hán. Con sẽ đi đến gặp các vị ấy và hỏi rằng: ‘Thưa các ngài, có phải vị đại đức ấy trước đây đã đi đến Sāvatthi?’ Nếu các vị trả lời con rằng: ‘Vị tỳ khưu ấy trước đây đã đi đến Sāvatthi.’ Trường hợp ấy, con sẽ đi đến kết luận là: ‘Chắc chắn rằng vị đại đức ấy đã thọ dụng hoặc là vải choàng (tắm) mưa, hoặc là bữa ăn dành cho vị vãng lai, hoặc là bữa ăn dành cho vị xuất hành, hoặc là bữa ăn dành cho vị bị bệnh, hoặc là bữa ăn dành cho vị chăm sóc bệnh, hoặc là dược phẩm dành cho vị bị bệnh, hoặc là cháo hàng ngày của con.’ Trong khi nhớ lại điều ấy, sự hân hoan sẽ được sanh khởi ở con đây, do sự hân hoan mà hỷ sẽ được sanh khởi, do tâm có hỷ mà thân sẽ khinh an, do thân được khinh an con sẽ cảm giác sự an lạc, do có sự an lạc tâm sẽ được định, điều ấy sẽ có ở con là sự tu tập về Căn Quyền, sự tu tập về Lực, sự tu tập về Giác Chi. Bạch ngài, trong khi thấy rõ lợi ích này mà con thỉnh cầu Như Lai tám điều ước muốn.”
Inda-bh 72~139—“Này Visākhā, thật tốt lắm, thật tốt lắm! Này Visākhā, thật tốt thay trong khi thấy rõ lợi ích này mà bà thỉnh cầu Như Lai tám điều ước muốn. Này Visākhā, ta cho phép bà tám điều ước muốn.”
Inda-bh 73~140Sau đó, đức Thế Tôn đã nói lời tùy hỷ cho bà Visākhā mẹ của Migāra bằng những lời kệ này:
“Trong khi bố thí cơm nước, người nữ nào được hân hoan, được thành tựu về giới, là đệ tử của đấng Thiện Thệ, sau khi chế ngự sự bỏn xẻn, rồi dâng cúng vật thí, (là yếu tố) dẫn đến cõi trời, xua tan sầu muộn, đem lại sự an lạc.
Sau khi đạt tuổi thọ của cõi trời, cô ấy đi vào đạo lộ không bợn nhơ, không nhiễm ô. Với ước muốn về phước báu, cô ấy có được sự an lạc, không có bệnh, vui hưởng dài lâu ở hội chúng nơi Thiên đình.”
Inda-bh 74~141Sau đó, khi đã nói lời tùy hỷ cho bà Visākhā mẹ của Migāra bằng những lời kệ này, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vải choàng tắm mưa, bữa ăn dành cho vị vãng lai, bữa ăn dành cho vị xuất hành, bữa ăn dành cho vị bị bệnh, bữa ăn dành cho vị chăm sóc bệnh, dược phẩm dành cho vị bị bệnh, cháo hàng ngày, vải choàng tắm đến hội chúng tỳ khưu ni.”
Dứt tụng phẩm Visākhā.
Inda-bh 1~142Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu sau khi thọ thực thức ăn hảo hạng, có niệm bị xao lãng, không tỉnh giác, và rơi vào giấc ngủ. Trong khi các vị có niệm bị xao lãng, không tỉnh giác, và rơi vào giấc ngủ, tinh dịch bị xuất ra do chiêm bao khiến chỗ nằm ngồi bị lấm lem vì chất dơ.
Inda-bh 2~143Khi ấy, đức Thế Tôn trong lúc đang đi dạo quanh các trú xá cùng với đại đức Ānanda là Sa-môn hầu cận đã nhìn thấy chỗ nằm ngồi bị lấm lem vì chất dơ, sau khi nhìn thấy đã bảo đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, tại sao chỗ nằm ngồi này bị lấm lem?”—“Bạch ngài, hiện nay các vị tỳ khưu sau khi thọ thực thức ăn hảo hạng, có niệm bị xao lãng, không tỉnh giác, và rơi vào giấc ngủ. Trong khi các vị có niệm bị xao lãng, không tỉnh giác, và rơi vào giấc ngủ, tinh dịch bị xuất ra do chiêm bao. Bạch đức Thế Tôn, do đó chỗ nằm ngồi này bị lấm lem vì chất dơ.”—“Này Ānanda, điều ấy là như thế! Này Ānanda, điều ấy là như thế! Này Ānanda, tinh dịch bị xuất ra do chiêm bao vì các vị ấy có niệm bị xao lãng, không tỉnh giác, và rơi vào giấc ngủ. Này Ānanda, các vị tỳ khưu nào có niệm được thiết lập, được tỉnh giác, và rơi vào giấc ngủ, tinh dịch của các vị ấy không bị xuất ra. Này Ānanda, các vị nào dầu là phàm nhân đã xa lìa sự tham đắm trong các dục, tinh dịch của các vị ấy không bị xuất ra. Này Ānanda, tinh dịch của vị A-la-hán có thể bị xuất ra là điều không có thực tế, không có cơ sở.”
Inda-bh 3~144Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ở đây trong lúc đang đi dạo quanh các trú xá cùng với Ānanda là Sa-môn hầu cận ta đã nhìn thấy chỗ nằm ngồi bị lấm lem vì chất dơ, sau khi nhìn thấy đã hỏi Ānanda rằng: ‘Này Ānanda, tại sao chỗ nằm ngồi này bị lấm lem?’ ‘Bạch ngài, hiện nay các vị tỳ khưu sau khi thọ thực thức ăn hảo hạng, có niệm bị xao lãng, không tỉnh giác, và rơi vào giấc ngủ. Trong khi các vị có niệm bị xao lãng, không tỉnh giác, và rơi vào giấc ngủ, rồi tinh dịch bị xuất ra do chiêm bao. Bạch đức Thế Tôn, do đó chỗ nằm ngồi này đã bị lấm lem vì chất dơ.’ ‘Này Ānanda, điều ấy là như thế! Này Ānanda, điều ấy là như thế! Này Ānanda, bởi vì đối với các vị có niệm bị xao lãng, không tỉnh giác, trong khi rơi vào giấc ngủ, tinh dịch của họ bị xuất ra do chiêm bao. Này Ānanda, các vị tỳ khưu nào có niệm được thiết lập, được tỉnh giác, và rơi vào giấc ngủ, tinh dịch của các vị ấy không bị xuất ra. Này Ānanda, ngay cả các vị nào dầu là phàm nhân đã xa lìa sự tham đắm trong các dục, tinh dịch của các vị ấy cũng không bị xuất ra. Này Ānanda, tinh dịch của vị A-la-hán có thể bị xuất ra là điều không có thực tế, không có cơ sở.’
Inda-bh 4~145Này các tỳ khưu, đây là năm điều bất lợi của vị có niệm bị xao lãng, không tỉnh giác, và rơi vào giấc ngủ: (Vị ấy) ngủ khổ sở, thức dậy khổ sở, thấy điều ác xấu trong khi ngủ, chư Thiên không hộ trì, tinh dịch bị xuất ra. Này các tỳ khưu, đây là năm điều bất lợi của vị có niệm bị xao lãng, không tỉnh giác, và rơi vào giấc ngủ.
Inda-bh 5~146Này các tỳ khưu, đây là năm điều thuận lợi của vị có niệm được thiết lập, được tỉnh giác, và rơi vào giấc ngủ: (Vị ấy) ngủ an lạc, thức dậy an lạc, không thấy điều ác xấu trong khi ngủ, chư Thiên hộ trì, tinh dịch không bị xuất ra. Này các tỳ khưu, đây là năm điều thuận lợi của vị có niệm được thiết lập, được tỉnh giác, và rơi vào giấc ngủ. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) vật lót ngồi để bảo vệ cơ thể, để bảo vệ y, để bảo vệ chỗ nằm ngồi.”
Inda-bh 6~147Vào lúc bấy giờ, vật lót ngồi quá nhỏ nên không bảo vệ được toàn bộ chỗ nằm ngồi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị mong muốn tấm trải nằm lớn chừng nào thì được làm tấm trải nằm lớn chừng ấy.”
Inda-bh 7~148Vào lúc bấy giờ, đại đức Belaṭṭhisīsa, thầy tế độ của đại đức Ānanda, có bệnh ghẻ sần sùi. Các y bị dính vào thân vì chất máu mủ của vị ấy. Các vị tỳ khưu liên tục tẩm ướt các y với nước rồi kéo ra.
Inda-bh 8~149Đức Thế Tôn trong khi đi dạo quanh các chỗ trú ngụ đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy liên tục tẩm ướt các y với nước rồi kéo ra, sau khi nhìn thấy đã đi đến gần các vị tỳ khưu ấy, sau khi đến gần đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này:—“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này bị bệnh gì vậy?”—“Bạch ngài, đại đức này bị bệnh ghẻ sần sùi, các y bị dính vào thân vì chất máu mủ, chúng con liên tục tẩm ướt các y với nước rồi kéo ra.”
Inda-bh 9~150Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) y đắp ghẻ đối với vị nào bị ghẻ ngứa, hoặc bị nhọt, hoặc có vết thương chảy mủ, hoặc bị ghẻ sần sùi.”
Inda-bh 10~151Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra đã cầm cái khăn lau mặt đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, bà Visākhā mẹ của Migāra đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin hãy thọ lãnh cái khăn lau mặt của con vì điều ấy đem lại sự lợi ích và sự an vui lâu dài cho con.” Đức Thế Tôn đã thọ nhận cái khăn lau mặt.
Inda-bh 11~152Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho bà Visākhā mẹ của Migāra bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, bà Visākhā mẹ của Migāra đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 12~153Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) khăn lau mặt.”
Inda-bh 13~154Vào lúc bấy giờ, Roja người Malla là bạn của đại đức Ānanda. Tấm vải dệt bằng sợi lanh của Roja người Malla đã bị rơi xuống ở cánh tay của đại đức Ānanda. Và đại đức Ānanda có nhu cầu về vải dệt bằng sợi lanh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép lấy do sự thân thiết (đồ vật) của người có năm yếu tố: là vị đồng quan điểm, thân thiết, đã được nói trước, (vị ấy) còn sống, và vị lấy biết được rằng: “Khi được ta lấy thì vị ấy sẽ hoan hỷ.” Này các tỳ khưu, ta cho phép lấy do sự thân thiết (đồ vật) của người có năm yếu tố này.”
Inda-bh 14~155Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu có được đầy đủ ba y, và còn có nhu cầu về các đồ lọc nước và các túi mang. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép miếng vải phụ tùng.”
Inda-bh 15~156Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Các vật nào đã được đức Thế Tôn cho phép như là ‘ba y,’ hoặc là ‘vải choàng tắm mưa,’ hoặc là ‘vật lót ngồi,’ hoặc là ‘tấm trải nằm,’ hoặc là ‘y đắp ghẻ,’ hoặc là ‘khăn lau mặt,’ hoặc là ‘miếng vải phụ tùng,’ tất cả các thứ ấy nên được chú nguyện để dùng riêng hay là nên được chú nguyện để dùng chung?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chú nguyện để dùng riêng ba y không được chú nguyện để dùng chung, chú nguyện để dùng riêng vải choàng tắm mưa trong bốn tháng của mùa mưa sau đó chú nguyện để dùng chung vào các tháng khác, chú nguyện để dùng riêng vật lót ngồi không được chú nguyện để dùng chung, chú nguyện để dùng riêng tấm trải nằm không được chú nguyện để dùng chung, chú nguyện để dùng riêng y đắp ghẻ lúc còn bị bệnh sau đó chú nguyện để dùng chung vào lúc khác, chú nguyện để dùng riêng khăn lau mặt không được chú nguyện để dùng chung, chú nguyện để dùng riêng miếng vải phụ tùng không được chú nguyện để dùng chung.” Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Y nên được chú nguyện để dùng chung (có kích thước) tối thiểu là bao nhiêu?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chú nguyện để dùng chung y (có kích thước) tối thiểu với chiều dài là tám ngón tay với chiều rộng là bốn ngón tay theo ngón tay tiêu chuẩn.”
Inda-bh 16~157Vào lúc bấy giờ, y làm bằng vải dơ bị quăng bỏ của đại đức Mahākassapa là nặng nề (do việc đắp lên miếng vá ở các chỗ bị sờn). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) việc mạng bằng chỉ.” (Y) có góc bị thừa. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép cắt góc bị thừa.” Các mối chỉ bị xổ ra. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép gắn vào miếng vải viền, (làm) đường biên xung quanh.” Vào lúc bấy giờ, các mảnh vải của y hai lớp bị bung ra. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm đường may ngang dọc.”
Inda-bh 17~158Vào lúc bấy giờ, trong lúc y của vị tỳ khưu nọ đang được làm, toàn bộ các mảnh cắt không đủ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép hai (y) được cắt, một (y) không cắt.” Hai (y) được cắt một (y) không cắt là không đủ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép hai (y) không cắt, một (y) được cắt.” Hai (y) không cắt một (y) được cắt là không đủ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đặt vào miếng vải khác loại. Và này các tỳ khưu, không nên sử dụng toàn bộ (ba y) không cắt; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 18~159Vào lúc bấy giờ, có nhiều y được phát sanh đến vị tỳ khưu nọ. Và vị ấy có ý muốn cho đến cha mẹ y ấy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, trong khi nói là: ‘cha mẹ,’ thì chúng ta có thể nói điều gì? Này các tỳ khưu, ta cho phép cho đến cha mẹ. Và này các tỳ khưu, không nên cho vật bố thí vì đức tin đến không đối tượng không xứng đáng; vị nào cho đến đối tượng không xứng đáng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 19~160Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã để lại y hai lớp trong khu rừng Andhavana rồi đi vào làng để khất thực với y nội và thượng y. Những kẻ trộm đã lấy trộm y ấy. Vị tỳ khưu ấy trở thành ăn mặc bê bối y phục luộm thuộm. Các tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này đại đức, vì sao ngài lại trở thành ăn mặc bê bối y phục luộm thuộm?”—“Này các đại đức, trường hợp này là tôi đã để lại y ở trong khu rừng Andhavana rồi đi vào làng để khất thực với y nội và thượng y. Những kẻ trộm đã lấy trộm y ấy, vì thế tôi trở thành ăn mặc bê bối y phục luộm thuộm.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên đi vào làng với y nội và thượng y; vị nào đi vào thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 20~161Vào lúc bấy giờ, đại đức Ānanda vì thiếu sự ghi nhớ nên đã đi vào làng để khất thực với y nội và thượng y. Các tỳ khưu đã nói với đại đức Ānanda điều này:—“Này đại đức Ānanda, không phải đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên đi vào làng với y nội và thượng y’ hay sao? Này đại đức, vì sao ngài đã đi vào làng với y nội và thượng y?”—“Này các đại đức, đúng vậy. Đức Thế Tôn quy định rằng: ‘Không nên đi vào làng với y nội và thượng y.’ Hơn nữa, tôi đã đi vào (làng) với sự thiếu ghi nhớ.”
Inda-bh 21~162Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, đây là năm điều kiện cho việc để lại y hai lớp: vị bị bệnh, hoặc là sự quy định về mùa mưa, hoặc là vị đi qua bên kia sông, hoặc là trú xá có sự an toàn với then cài, hoặc là vị có Kaṭhina đã được thành tựu. Này các tỳ khưu, đây là năm điều kiện cho việc để lại y hai lớp.
Inda-bh 22~163Này các tỳ khưu, đây là năm điều kiện cho việc để lại thượng y: vị bị bệnh, hoặc là sự quy định về mùa mưa, hoặc là vị đi qua bên kia sông, hoặc là trú xá có sự an toàn với then cài, hoặc là vị có Kaṭhina đã được thành tựu. Này các tỳ khưu, đây là năm điều kiện cho việc để lại thượng y.
Inda-bh 23~164Này các tỳ khưu, đây là năm điều kiện cho việc để lại y nội: vị bị bệnh, hoặc là sự quy định về mùa mưa, hoặc là vị đi qua bên kia sông, hoặc là trú xá có sự an toàn với then cài, hoặc là vị có Kaṭhina đã được thành tựu. Này các tỳ khưu, đây là năm điều kiện cho việc để lại y nội.
Inda-bh 24~165Này các tỳ khưu, đây là năm điều kiện cho việc để lại vải choàng (tắm) mưa: vị bị bệnh, hoặc là vị đi ra khỏi ranh giới, hoặc là vị đi qua bên kia sông, hoặc là trú xá có sự an toàn với then cài, hoặc là vải choàng (tắm) mưa không được làm hoặc được làm chưa hoàn tất. Này các tỳ khưu, đây là năm điều kiện cho việc để lại vải choàng (tắm) mưa.”
Inda-bh 25~166Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sống mùa (an cư) mưa có một mình. Ở đó, dân chúng đã dâng các y (nói rằng): “Chúng tôi dâng đến hội chúng.” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy khởi đã ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Hội chúng tối thiểu là nhóm bốn vị’ và ta chỉ có mỗi một mình. Và các người này đã dâng các y (nói rằng): ‘Chúng tôi dâng đến hội chúng,’ hay là ta nên đem các y thuộc về hội chúng này đến Sāvatthi?” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã cầm lấy các y ấy đi đến Sāvatthi và trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này tỳ khưu, các y ấy là của chính ngươi cho đến khi hết hiệu lực của Kaṭhina.”
Inda-bh 26~167“Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu sống mùa (an cư) mưa chỉ mỗi một mình. Ở đó, dân chúng dâng các y (nói rằng): ‘Chúng tôi dâng đến hội chúng.’ Này các tỳ khưu, ta cho phép các y ấy là của chính vị ấy cho đến khi hết hiệu lực của Kaṭhina.”
Inda-bh 27~168Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sống ngoài mùa (an cư) mưa có một mình. Ở đó, dân chúng đã dâng các y (nói rằng): “Chúng tôi dâng đến hội chúng.” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Hội chúng ít nhất là nhóm bốn vị’ và ta chỉ có mỗi một mình. Và các người này đã dâng các y (nói rằng): ‘Chúng tôi dâng đến hội chúng,’ hay là ta nên đem các y thuộc về hội chúng này đến Sāvatthi?” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã cầm lấy các y ấy đi đến Sāvatthi và trình sự việc ấy đến các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chia ra bởi hội chúng đang hiện diện.
Inda-bh 28~169Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu sống ngoài mùa (an cư) mưa có một mình. Ở đó, dân chúng dâng các y (nói rằng): ‘Chúng tôi dâng đến hội chúng.’ Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu ấy chú nguyện các y ấy rằng: ‘Những y này là của tôi.’ Này các tỳ khưu, nếu trong khi y ấy chưa được chú nguyện thành của vị tỳ khưu ấy thì có vị tỳ khưu khác đi đến, nên trao cho phần chia đồng đều nhau. Này các tỳ khưu, nếu trong khi y ấy đang được chia bởi các vị tỳ khưu ấy nhưng chưa được bốc thăm thì có vị tỳ khưu khác đi đến, nên trao cho phần chia đồng đều nhau. Này các tỳ khưu, nếu trong khi y ấy đang được chia bởi các vị tỳ khưu ấy và đã được bốc thăm thì có tỳ khưu khác đi đến, không cần trao cho phần chia nếu không thích.”
Inda-bh 29~170Vào lúc bấy giờ, có hai vị trưởng lão là anh em: đại đức Isidāsa và đại đức Isibhadda đã sống qua mùa (an cư) mưa ở Sāvatthi rồi đã đi đến trú xứ là ngôi làng nọ. Dân chúng (nghĩ rằng): “Đã lâu lắm các trưởng lão mới ghé đến” rồi đã thực hiện các bữa thọ trai cùng với các y. Các tỳ khưu thường trú đã hỏi hai vị trưởng lão rằng:—“Thưa các ngài, những y thuộc hội chúng này đã được phát sanh nhờ vào các trưởng lão, các trưởng lão sẽ hoan hỷ phần chia hay không?” Hai vị trưởng lão đã nói như vầy:—“Này các đại đức, theo như chúng tôi biết về Pháp đã được thuyết giảng bởi đức Thế Tôn thì các y này là thuộc về chính các vị cho đến khi Kaṭhina hết hiệu lực.”
Inda-bh 30~171Vào lúc bấy giờ, có ba vị tỳ khưu sống mùa (an cư) mưa ở trong thành Rājagaha. Ở đó, dân chúng dâng các y (nói rằng): “Chúng tôi dâng đến hội chúng.” Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Hội chúng ít nhất là nhóm bốn vị’ và chúng ta chỉ có ba vị. Và các người này dâng các y (nói rằng): ‘Chúng tôi dâng đến hội chúng,’ vậy chúng ta nên thực hành như thế nào?”
Inda-bh 31~172Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị trưởng lão là đại đức Nīlavāsī, đại đức Sāṇavāsī, đại đức Gopaka, đại đức Bhagu, và đại đức Phaḷikasandāna cư ngụ ở Pāṭaliputta tại tu viện Kukkuṭa. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã đi đến Pāṭaliputta và hỏi các vị trưởng lão. Các vị trưởng lão đã nói như vầy:—“Này các đại đức, theo như chúng tôi biết về Pháp đã được thuyết giảng bởi đức Thế Tôn thì các y ấy là thuộc về chính các vị cho đến khi Kaṭhina hết hiệu lực.”
Inda-bh 32~173Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai dòng Sakya đã sống qua mùa (an cư) mưa ở Sāvatthi, rồi đã đi đến trú xứ là ngôi làng nọ. Ở đó, các tỳ khưu đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy đã nói như vầy:—“Này đại đức, các y thuộc về hội chúng này sẽ được chia, ngài sẽ chấp nhận phần chia hay không?”—“Này các đại đức, xin vâng. Tôi sẽ chấp nhận.” Sau khi nhận phần y từ nơi đó, vị ấy đã đi sang trú xứ khác. Ở nơi đó, các tỳ khưu cũng đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy cũng đã nói như vầy:—“Này đại đức, các y thuộc về hội chúng này sẽ được chia, ngài sẽ chấp nhận phần chia hay không?”—“Này các đại đức, xin vâng. Tôi sẽ chấp nhận.” Sau khi nhận phần y từ nơi đó nữa, vị ấy đã đi sang trú xứ khác. Ở nơi đó, các tỳ khưu cũng đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy cũng đã nói như vầy:—“Này đại đức, các y thuộc về hội chúng này sẽ được chia, ngài sẽ chấp nhận phần chia hay không?”—“Này các đại đức, xin vâng. Tôi sẽ chấp nhận.” Sau khi nhận phần y từ nơi đó nữa, vị ấy đã cầm lấy gói y lớn rồi quay trở về lại Sāvatthi.
Inda-bh 33~174Các tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này đại đức Upananda, ngài có phước lớn. Nhiều y đã được phát sanh đến ngài.”—“Này các đại đức, phước của tôi là do đâu? Ở đây, tôi đã sống qua mùa (an cư) mưa ở Sāvatthi rồi đã đi đến trú xứ là ngôi làng nọ. Ở đó, các tỳ khưu đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy đã nói với tôi như vầy: ‘Này đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được chia, ngài sẽ chấp nhận phần chia hay không?’ ‘Này các đại đức, xin vâng. Tôi sẽ chấp nhận.’ Sau khi nhận phần y từ nơi đó, tôi đã đi sang trú xứ khác. Ở nơi đó, các vị tỳ khưu cũng đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy cũng đã nói với tôi như vầy: ‘Này đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được chia, ngài sẽ chấp nhận phần chia hay không?’ ‘Này các đại đức, xin vâng. Tôi sẽ chấp nhận.’ Sau khi nhận phần y từ nơi đó nữa, tôi đã đi sang trú xứ khác. Ở nơi đó, các vị tỳ khưu cũng đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy cũng đã nói với tôi như vầy: ‘Này đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được chia, ngài sẽ chấp nhận phần chia hay không?’ ‘Này các đại đức, xin vâng. Tôi sẽ chấp nhận.’ Tôi đã nhận phần y từ nơi đó nữa, như thế mà nhiều y đã được phát sanh đến tôi.”
Inda-bh 34~175—“Này đại đức Upananda, có phải ngài đã sống mùa (an cư) mưa ở một nơi và chấp nhận phần y ở một nơi khác?”—“Này các đại đức, đúng vậy.” Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao đại đức Upananda con trai dòng Sakya đã sống mùa (an cư) mưa ở một nơi lại chấp nhận phần y ở một nơi khác?”
Inda-bh 35~176Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này Upananda, nghe nói ngươi đã sống mùa (an cư) mưa ở một nơi và chấp nhận phần y ở một nơi khác, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi sống mùa (an cư) mưa ở một nơi lại chấp nhận phần y ở một nơi khác? Này kẻ rồ dại, việc sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, vị sống mùa (an cư) mưa ở nơi khác không nên chấp nhận phần y ở nơi khác; vị nào chấp nhận thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 36~177Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai dòng Sakya một mình đã sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ (nghĩ rằng): “Như vầy nhiều y sẽ được phát sanh đến ta.” Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Phần chia về y nên được cho đến đại đức Upananda con trai dòng Sakya như thế nào?”
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, hãy cho đến kẻ rồ dại phần của một người.
Inda-bh 37~178Này các tỳ khưu, trường hợp một vị tỳ khưu sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ (nghĩ rằng): ‘Như vầy nhiều y sẽ được phát sanh đến ta.’ Nếu vị ấy sống chỗ này một nửa (thời gian) chỗ kia một nửa (thời gian) thì nên cho phần chia về y gồm một nửa của nơi này một nửa của nơi kia, hoặc ở chỗ nào vị ấy sống nhiều hơn thì phần chia về y nên được cho từ chỗ đó.”
Inda-bh 38~179Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh kiết lỵ. Vị ấy nằm dài ở đống phân và nước tiểu của chính mình, bị lem luốc. Khi ấy, trong lúc đi dạo quanh các trú xá cùng với đại đức Ānanda là Sa-môn hầu cận, đức Thế Tôn đã đi đến trú xá của vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 39~180Đức Thế Tôn đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đang nằm dài ở đống phân và nước tiểu của chính mình, bị lem luốc, sau khi nhìn thấy đã đi đến gần vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:—“Này tỳ khưu, ngươi bị bệnh gì?”—“Bạch Thế Tôn, con bị bệnh kiết lỵ.”—“Này tỳ khưu, ngươi có người phục vụ không?”—“Bạch Thế Tôn, không có.”—“Vì sao các tỳ khưu lại không phục vụ ngươi?”—“Bạch ngài, con là người không có làm gì cho các tỳ khưu, do đó các tỳ khưu không phục vụ con.”
Inda-bh 40~181Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, hãy đi và mang nước lại. Chúng ta sẽ tắm cho vị tỳ khưu này.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Rồi đại đức Ānanda nghe theo đức Thế Tôn đã mang nước lại. Đức Thế Tôn đã xối nước. Đại đức Ānanda đã rửa ráy toàn bộ. Rồi đức Thế Tôn đã đỡ phần đầu, đại đức Ānanda ở phần chân, đã nâng lên và đặt ở trên giường.
Inda-bh 41~182Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại rồi hỏi các vị tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, có phải có vị tỳ khưu ở trú xá đàng kia bị bệnh?”—“Bạch Thế Tôn, thưa có.”—“Này các tỳ khưu, vị ấy bị bệnh gì?”—“Bạch ngài, đại đức ấy bị bệnh kiết lỵ.”—“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có người phục vụ không?”—“Bạch Thế Tôn, không có.”—“Vì sao các tỳ khưu không phục vụ vị ấy?”—“Bạch ngài, vị tỳ khưu ấy là người không có làm gì cho các tỳ khưu, do đó các tỳ khưu không phục vụ vị ấy.”
Inda-bh 42~183—“Này các tỳ khưu, các ngươi không có mẹ, không có cha là những người có thể phục vụ các ngươi. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi không phục vụ lẫn nhau thì giờ đây ai sẽ phục vụ đây? Này các tỳ khưu, vị nào có thể phục vụ ta (bằng sự thực hành theo lời giáo huấn và giảng dạy của ta), vị ấy có thể phục vụ người bệnh. Nếu có thầy tế độ, thầy tế độ nên phục vụ đến hết đời, nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục. Nếu có thầy dạy học, thầy dạy học nên phục vụ đến hết đời, nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục. Nếu có đệ tử, người đệ tử nên phục vụ đến hết đời, nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục. Nếu có học trò, người học trò nên phục vụ đến hết đời, nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục. Nếu có vị đồng thầy tế độ, vị đồng thầy tế độ nên phục vụ đến hết đời, nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục. Nếu có vị đồng thầy dạy học, vị đồng thầy dạy học nên phục vụ đến hết đời, nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục. Nếu không có thầy tế độ, hoặc thầy dạy học, hoặc người đệ tử, hoặc người học trò, hoặc vị đồng thầy tế độ, hoặc vị đồng thầy dạy học, hội chúng nên phục vụ; nếu không phục vụ thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 43~184Này các tỳ khưu, người bệnh là khó phục vụ có năm yếu tố: Là người có hành động không có lợi ích; không biết sự vừa phải trong việc có lợi ích; không quen dùng dược phẩm; không nói rõ ràng về bệnh tình đúng theo thực trạng như (bệnh) đang gia tăng là: ‘(Bệnh) gia tăng,’ (bệnh) đang giảm là: ‘(Bệnh) giảm,’ (bệnh) ổn định là: ‘(Bệnh) ổn định’ cho người phục vụ bệnh nhân có sự mong muốn điều tốt đẹp; có bản tánh không chịu đựng được các cảm thọ khổ, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc cơ thể đã sanh khởi. Này các tỳ khưu, người bệnh có năm yếu tố này là khó phục vụ.
Inda-bh 44~185Này các tỳ khưu, người bệnh là dễ phục vụ có năm yếu tố: Là người có hành động có lợi ích; biết sự vừa phải trong việc có lợi ích; quen dùng dược phẩm; nói rõ ràng về bệnh tình đúng theo thực trạng như (bệnh) đang gia tăng là: ‘(Bệnh) gia tăng,’ (bệnh) đang giảm là: ‘(Bệnh) giảm,’ (bệnh) ổn định là: ‘(Bệnh) ổn định’ cho người phục vụ bệnh nhân có sự mong muốn điều tốt đẹp; có bản tánh chịu đựng được các cảm thọ khổ, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc cơ thể đã sanh khởi. Này các tỳ khưu, người bệnh có năm yếu tố này là dễ phục vụ.
Inda-bh 45~186Này các tỳ khưu, người phục vụ bệnh nhân không thích hợp để phục vụ người bệnh là vị có năm yếu tố: Là vị không có khả năng để phân phát thuốc men; không biết điều gì có lợi ích và điều gì không có lợi ích, đem đến điều không có lợi ích và loại bỏ điều có lợi ích; phục vụ người bệnh vì mục đích tài vật và không có tâm từ; ghê tởm việc dọn dẹp nước tiểu, phân, nước giải, vật nôn mửa; không có khả năng để chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người bệnh bằng bài Pháp thoại lúc này lúc khác. Này các tỳ khưu, người phục vụ bệnh nhân có năm yếu tố này là không thích hợp để phục vụ người bệnh.
Inda-bh 46~187Này các tỳ khưu, người phục vụ bệnh nhân thích hợp để phục vụ người bệnh là vị có năm yếu tố: Là vị có khả năng để phân phát thuốc men; biết điều gì có lợi ích và điều gì không có lợi ích, loại bỏ điều không có lợi ích và đem đến điều có lợi ích; có tâm từ và phục vụ người bệnh không vì mục đích tài vật; không ghê tởm việc dọn dẹp nước tiểu, phân, nước giải, vật nôn mửa; có khả năng để chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người bệnh bằng bài Pháp thoại lúc này lúc khác. Này các tỳ khưu, người phục vụ bệnh nhân có năm yếu tố này là thích hợp để phục vụ người bệnh.”
Inda-bh 47~188Vào lúc bấy giờ, có hai vị tỳ khưu đi đường xa trong xứ sở Kosala. Hai vị ấy đã đi đến trú xứ nọ. Ở đó, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã bàn bạc điều này: “Này đại đức, việc phục vụ người bệnh đã được đức Thế Tôn khen ngợi. Này đại đức, vậy chúng ta hãy phục vụ vị tỳ khưu này.” Các vị ấy đã phục vụ vị kia. Trong khi được các vị ấy phục vụ, vị kia đã từ trần.
Inda-bh 48~189Sau đó, các tỳ khưu đã cầm lấy y bát của vị tỳ khưu kia đi đến Sāvatthi và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu khi từ trần, hội chúng là chủ về các y và bình bát. Tuy nhiên các vị phục vụ người bệnh lại có nhiều công đức. Này các tỳ khưu, ta cho phép ban cho các vị phục vụ người bệnh ba y và bình bát thông qua hội chúng.
Inda-bh 49~190Và này các tỳ khưu, nên được ban cho như vầy: Vị tỳ khưu phục vụ người bệnh ấy nên đi đến gặp hội chúng và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã từ trần, đây là ba y và bình bát của vị ấy.’ Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã từ trần, đây là ba y và bình bát của vị ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho ba y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh. Đây là lời đề nghị. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã từ trần, đây là ba y và bình bát của vị ấy. Hội chúng cho ba y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh. Đại đức nào đồng ý việc cho ba y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên. Ba y và bình bát này đã được hội chúng cho đến các vị phục vụ người bệnh. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 50~191Vào lúc bấy giờ, có vị sa di nọ từ trần. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, đối với vị sa di khi từ trần, hội chúng là chủ về các y và bình bát. Tuy nhiên các vị phục vụ người bệnh lại có nhiều công đức. Này các tỳ khưu, ta cho phép ban cho các vị phục vụ người bệnh y và bình bát thông qua hội chúng.
Inda-bh 51~192Và này các tỳ khưu, nên được ban cho như vầy: Vị tỳ khưu phục vụ người bệnh ấy nên đi đến gặp hội chúng và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, vị sa di tên (như vầy) đã từ trần, đây là y và bình bát của vị ấy.’ Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị sa di tên (như vầy) đã từ trần, đây là y và bình bát của vị ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh. Đây là lời đề nghị. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị sa di tên (như vầy) đã từ trần, đây là y và bình bát của vị ấy. Hội chúng cho y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh. Đại đức nào đồng ý việc cho y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên. Y và bình bát này đã được hội chúng cho đến các vị phục vụ người bệnh. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 52~193Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ và vị sa di đã phục vụ vị bị bệnh. Trong khi được các vị ấy phục vụ, vị kia đã từ trần. Khi ấy, vị tỳ khưu phục vụ người bệnh ấy đã khởi ý điều này: “Phần chia về y nên được cho đến vị sa di là vị phục vụ người bệnh như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép cho đến vị sa di là vị phục vụ người bệnh phần chia đồng đều.”
Inda-bh 53~194Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có nhiều đồ đạc, có nhiều vật dụng đã từ trần. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu khi từ trần, hội chúng là chủ về các y và bình bát. Tuy nhiên các vị phục vụ người bệnh lại có nhiều công đức. Này các tỳ khưu, ta cho phép ban cho các vị phục vụ người bệnh ba y và bình bát thông qua hội chúng, (cho phép) hội chúng đang hiện diện phân chia đồ đạc loại nhẹ và vật dụng loại nhẹ ở nơi ấy, (cho phép) đồ đạc loại nặng và vật dụng loại nặng ở nơi ấy là của hội chúng bốn phương hiện tại và vị lai, không được phân tán, không được phân chia.”
Inda-bh 54~195Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi làm trở thành trần truồng đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, đức Thế Tôn là người ngợi khen về sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự tiết chế, sự hài hòa, sự đoạn giảm, sự ra sức tinh tấn bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, sự trần truồng này đưa đến sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự tiết chế, sự hài hòa, sự đoạn giảm, sự ra sức tinh tấn theo nhiều phương thức. Bạch ngài, tốt đẹp thay xin đức Thế Tôn hãy cho phép sự trần truồng đến các tỳ khưu.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không thích đáng, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi lại thực hành nghi thức của ngoại đạo là sự lõa thể? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên thực hành nghi thức của ngoại đạo là sự lõa thể; vị nào thực hành thì phạm tội thullaccaya.”
Inda-bh 55~196Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ che thân bằng cỏ kusa … (như trên) … che thân bằng vỏ cây … (như trên) … che thân bằng tấm ván gỗ … (như trên) … che thân bằng mền dệt bằng tóc … (như trên) … che thân bằng mền dệt bằng lông ngựa … (như trên) … che thân bằng cánh chim cú … (như trên) … che thân bằng da linh dương rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, đức Thế Tôn là người ngợi khen về sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự tiết chế, sự hài hòa, sự đoạn giảm, sự ra sức tinh tấn bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, (việc che thân bằng) da linh dương này đưa đến sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự tiết chế, sự hài hòa, sự đoạn giảm, sự ra sức tinh tấn theo nhiều phương thức. Bạch ngài, tốt đẹp thay xin đức Thế Tôn hãy cho phép (việc che thân bằng) da linh dương đến các tỳ khưu.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không thích đáng, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi lại mặc da linh dương vốn là biểu tượng của ngoại đạo? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên mặc da linh dương vốn là biểu tượng của ngoại đạo; vị nào mặc thì phạm tội thullaccaya.”
Inda-bh 56~197Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ mặc (y làm bằng) sợi của cây akka, … (như trên) … mặc (y làm bằng) sợi của cây makaci rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, đức Thế Tôn là người thường ngợi khen về sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự tiết chế, sự hài hòa, sự đoạn giảm, sự ra sức tinh tấn bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, (y làm bằng) sợi của cây makaci này đưa đến sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự tiết chế, sự hài hòa, sự đoạn giảm, sự ra sức tinh tấn bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, tốt đẹp thay xin đức Thế Tôn hãy cho phép (y làm bằng) sợi của cây makaci đến các tỳ khưu.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không thích đáng, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi lại mặc (y làm bằng) sợi của cây makaci? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên mặc (y làm bằng) sợi của cây makaci; vị nào mặc thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 57~198Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư mặc các y toàn màu xanh, ... mặc các y toàn màu vàng, ... mặc các y toàn màu đỏ (máu), ... mặc các y toàn màu tím, ... mặc các y toàn màu đen, ... mặc các y toàn màu đỏ tía, ... mặc các y toàn màu hồng, ... mặc các y không cắt đường viền, ... mặc các y có đường viền rộng, ... mặc các y có đường viền vẽ bông hoa, ... mặc các y có đường viền vẽ hình rắn hổ mang, ... mặc áo choàng ngắn, ... mặc loại vải dệt bằng sợi vỏ cây tirīṭaka, ... mang khăn xếp đội đầu. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại mang khăn xếp đội đầu giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy?”
Inda-bh 58~199Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên mặc các y toàn màu xanh, không nên mặc các y toàn màu vàng, không nên mặc các y toàn màu đỏ (máu), không nên mặc các y toàn màu tím, không nên mặc các y toàn màu đen, không nên mặc các y toàn màu đỏ tía, không nên mặc các y toàn màu hồng, không nên mặc các y không cắt đường viền, không nên mặc các y có đường viền rộng, không nên mặc các y có đường viền vẽ bông hoa, không nên mặc các y có đường viền vẽ hình rắn hổ mang, không nên mặc áo choàng ngắn, không nên mặc loại vải dệt bằng sợi vỏ cây tirīṭaka, không nên mang khăn xếp đội đầu; vị nào mang thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 59~200Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh lại ra đi, hoàn tục, từ trần, được biết là (xuống) sa di, được biết là người đã xả bỏ sự học tập, được biết là vị phạm tội cực nặng, được biết là vị bị điên, được biết là bị loạn trí, được biết là vị bị thọ khổ hành hạ, được biết là vị bị án treo về việc không nhìn nhận tội, được biết là vị bị án treo về việc không sửa chữa lỗi, được biết là vị bị án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác, được biết là kẻ vô căn, được biết là kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu), được biết là kẻ đã đi theo ngoại đạo, được biết là thú vật, được biết là kẻ giết mẹ, được biết là kẻ giết cha, được biết là kẻ giết A-la-hán, được biết là kẻ làm nhơ tỳ khưu ni, được biết là kẻ chia rẽ hội chúng, được biết là kẻ làm chảy máu (đức Phật), được biết là kẻ lưỡng căn.
Inda-bh 60~201Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh lại ra đi, nên trao cho vị nhận thế thích hợp đang hiện diện.
Inda-bh 61~202Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh lại hoàn tục, từ trần, được biết là (xuống) sa di, được biết là người đã xả bỏ sự học tập, được biết là vị phạm tội cực nặng, thì hội chúng là chủ quản.
Inda-bh 62~203Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh thì được biết là vị bị điên, được biết là bị loạn trí, được biết là vị bị thọ khổ hành hạ, được biết là vị bị án treo về việc không nhìn nhận tội, được biết là vị bị án treo về việc không sửa chữa lỗi, được biết là vị bị án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác, nên trao cho vị nhận thế thích hợp đang hiện diện.
Inda-bh 63~204Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh được biết là kẻ vô căn, được biết là kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu), được biết là kẻ đã đi theo ngoại đạo, được biết là thú vật, được biết là kẻ giết mẹ, được biết là kẻ giết cha, được biết là kẻ giết A-la-hán, được biết là kẻ làm nhơ tỳ khưu ni, được biết là kẻ chia rẽ hội chúng, được biết là kẻ làm chảy máu (đức Phật), được biết là kẻ lưỡng căn, thì hội chúng là chủ quản.
Inda-bh 64~205Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y đã được phát sanh nhưng chưa phân chia lại ra đi, nên trao cho vị nhận thế thích hợp đang hiện diện.
Inda-bh 65~206Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y đã được phát sanh nhưng chưa phân chia lại hoàn tục, từ trần, được biết là (xuống) sa di, được biết là người đã xả bỏ sự học tập, được biết là vị phạm tội cực nặng, thì hội chúng là chủ quản.
Inda-bh 66~207Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y đã được phát sanh nhưng chưa phân chia thì được biết là vị bị điên, được biết là bị loạn trí, được biết là vị bị thọ khổ hành hạ, được biết là vị bị án treo về việc không nhìn nhận tội, được biết là vị bị án treo về việc không sửa chữa lỗi, được biết là vị bị án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác, nên trao cho vị nhận thế thích hợp đang hiện diện.
Inda-bh 67~208Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y đã được phát sanh nhưng chưa phân chia được biết là kẻ vô căn, được biết là kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu), được biết là kẻ đã đi theo ngoại đạo, được biết là thú vật, được biết là kẻ giết mẹ, được biết là kẻ giết cha, được biết là kẻ giết A-la-hán, được biết là kẻ làm nhơ tỳ khưu ni, được biết là kẻ chia rẽ hội chúng, được biết là kẻ làm chảy máu (đức Phật), được biết là kẻ lưỡng căn, thì hội chúng là chủ quản.
Inda-bh 68~209Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa và y chưa được phát sanh thì hội chúng bị chia rẽ. Ở đó, dân chúng dâng nước ở một nhóm và dâng y ở một nhóm (nói rằng): ‘Chúng tôi dâng y đến hội chúng.’ (Y) ấy là của hội chúng.
Inda-bh 69~210Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa và y chưa được phát sanh thì hội chúng bị chia rẽ. Ở đó, dân chúng dâng nước ở một nhóm và dâng y ở chính nhóm ấy (nói rằng): ‘Chúng tôi dâng y đến hội chúng.’ (Y) ấy là của hội chúng.
Inda-bh 70~211Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa và y chưa được phát sanh thì hội chúng bị chia rẽ. Ở đó, dân chúng dâng nước ở một nhóm và dâng y ở một nhóm (nói rằng): ‘Chúng tôi dâng y đến nhóm.’ (Y) ấy là riêng của nhóm.
Inda-bh 71~212Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa và y chưa được phát sanh thì hội chúng bị chia rẽ. Ở đó, dân chúng dâng nước ở một nhóm và dâng y ở chính nhóm ấy (nói rằng): ‘Chúng tôi dâng y đến nhóm.’ (Y) ấy là riêng của nhóm.
Inda-bh 72~213Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa và y đã được phát sanh nhưng chưa chia phần thì hội chúng bị chia rẽ. Nên chia đồng đều cho tất cả.”
Inda-bh 73~214Vào lúc bấy giờ, đại đức Revata gởi y cho đại đức Sāriputta qua tay của vị tỳ khưu nọ (nói rằng): “Hãy trao y này đến vị trưởng lão.” Sau đó ở khoảng giữa đường đi, vị tỳ khưu ấy đã lấy y ấy do sự thân thiết với đại đức Revata. Sau đó, đại đức Revata đã đích thân đi đến đại đức Sāriputta và hỏi rằng:—“Thưa ngài, tôi đã gởi y cho ngài trưởng lão. Y ấy đã đến chưa?”—“Này sư đệ, ta không nhìn thấy y ấy.” Sau đó, đại đức Revata đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:—“Này đại đức, tôi đã gởi y của ngài trưởng lão qua tay của đại đức. Y ấy đâu rồi?”—“Thưa đại đức, tôi đã lấy y ấy do sự thân thiết với đại đức.”
Inda-bh 74~215Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): ‘Hãy trao y này đến vị tên (như vầy).’ Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi đi; (y) đã được lấy đúng đắn. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được lấy sai trái.
Inda-bh 75~216Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): ‘Hãy trao y này đến vị tên (như vầy).’ Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được lấy sai trái. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi đi; (y) đã được lấy đúng đắn.
Inda-bh 76~217Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): ‘Hãy trao y này đến vị tên (như vầy).’ Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy nghe rằng: ‘Vị gởi (y) đã từ trần’ rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị (gởi) ấy; (y) đã được xác định đúng đắn. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được lấy sai trái.
Inda-bh 77~218Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): ‘Hãy trao y này đến vị tên (như vầy).’ Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy nghe rằng: ‘Vị sẽ nhận (y) đã từ trần’ rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị (đã từ trần) ấy; (y) đã được xác định sai trái. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi; (y) đã được lấy đúng đắn.
Inda-bh 78~219Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): ‘Hãy trao y này đến vị tên (như vầy).’ Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy nghe rằng: ‘Cả hai đã từ trần’ rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị gởi đi; (y) đã được xác định đúng đắn. Vị ấy xác định y của người đã chết là thuộc về vị sẽ nhận; (y) đã được xác định sai trái.
Inda-bh 79~220Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): ‘Tôi cho y này đến vị tên (như vầy).’ Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi; (y) đã được lấy sai trái. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được lấy đúng đắn.
Inda-bh 80~221Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): ‘Tôi cho y này đến vị tên (như vầy).’ Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được lấy đúng đắn. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi; (y) đã được lấy sai trái.
Inda-bh 81~222Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): ‘Tôi cho y này đến vị tên (như vầy).’ Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy nghe rằng: ‘Vị gởi (y) đã từ trần’ rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị ấy; (y) đã được xác định sai trái. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được lấy đúng đắn.
Inda-bh 82~223Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): ‘Tôi cho y này đến vị tên (như vầy).’ Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy nghe rằng: ‘Vị sẽ nhận (y) đã từ trần’ rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị ấy; (y) đã được xác định đúng đắn. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi; (y) đã được lấy sai trái.
Inda-bh 83~224Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu gởi y qua tay của vị tỳ khưu (nói rằng): ‘Tôi cho y này đến vị tên (như vầy).’ Ở khoảng giữa đường đi, vị ấy nghe rằng: ‘Cả hai đã từ trần’ rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị gởi đi; (y) đã được xác định sai trái. Vị ấy xác định y của người đã chết là thuộc về vị sẽ nhận; (y) đã được xác định đúng đắn.
Inda-bh 84~225Này các tỳ khưu, có tám tiêu đề về việc phát sanh y: (thí chủ) dâng trong ranh giới, dâng theo sự thỏa thuận, dâng theo sự thông báo về vật thực, dâng đến hội chúng, dâng đến cả hai hội chúng (tỳ khưu và tỳ khưu ni), dâng đến hội chúng đã sống qua mùa (an cư) mưa, dâng sau khi đã thông báo, dâng đến cá nhân.
Inda-bh 85~226(Thí chủ) dâng trong ranh giới: có bao nhiêu vị tỳ khưu đang ở trong ranh giới, thì nên được chia bởi các vị ấy.
Inda-bh 86~227(Thí chủ) dâng theo sự thỏa thuận: nhiều trú xứ có sự thọ lãnh chung, khi được dâng ở một trú xứ thì được dâng cho tất cả.
Inda-bh 87~228(Thí chủ) dâng theo sự quy định về vật thực: các sự hộ độ thường xuyên được thực hiện đến hội chúng ở nơi nào thì dâng ở nơi ấy.
Inda-bh 88~229(Thí chủ) dâng đến hội chúng thì nên được chia phần bởi hội chúng đang hiện diện.
Inda-bh 89~230(Thí chủ) dâng đến cả hai hội chúng: Dầu cho có nhiều tỳ khưu mà có một tỳ khưu ni cũng nên được chia một nửa. Dầu cho có nhiều tỳ khưu ni mà có một tỳ khưu cũng nên được chia một nửa.
Inda-bh 90~231(Thí chủ) dâng đến hội chúng đã sống qua mùa (an cư) mưa: có bao nhiêu vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa ở trú xứ ấy, thì nên được chia bởi các vị ấy.
Inda-bh 91~232(Thí chủ) dâng sau khi đã thông báo về cháo, hoặc về bữa ăn, hoặc về vật thực cứng, hoặc về y, hoặc về chỗ trú ngụ, hoặc về dược phẩm.
Inda-bh 92~233(Thí chủ) dâng đến cá nhân là (nói rằng): ‘Tôi dâng y này đến vị tên (như vầy).’”
Dứt chương Y Phục là thứ tám.
Trong chương này có chín mươi sáu sự việc.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Inda-bh 1~234Viên thị trưởng thành Rājagaha đã nhìn thấy nàng kỹ nữ ở Vesāli, sau khi trở về lại thành Rājagaha đã báo điều ấy đến đức vua.
Inda-bh 2~235Người con trai của nàng Sālavatī chính là con (nuôi) của Abhaya. Được hỏi bởi vị vương tử là: “Còn sống không?” nên gọi tên là “Jīvaka.”
Inda-bh 3~236Chính người ấy đã đi đến thành Takkasilā, đã học xong, trở thành đại y sĩ, đã tiêu trừ bệnh đã bảy năm bằng việc làm ở mũi.
Inda-bh 4~237(Jīvaka) đã trị dứt bệnh rò rỉ của đức vua bằng liều thuốc thoa. (Đức vua bảo): “Hãy phục vụ cho trẫm, các cung phi, đức Phật và hội chúng.”
Inda-bh 5~238Và nhà đại phú thành Rājagaha, chứng xoắn ruột đã được chữa trị. (Jīvaka) đã tiêu trừ bệnh bệnh trầm trọng của đức vua Pajjota bằng việc uống bơ lỏng.
Inda-bh 6~239Chức vụ, và xấp vải xứ Sivi, (Jīvaka) đã bảo thoa dầu cho (cơ thể) bị tiết ra dịch chất dơ, liều thuốc xổ ba mươi lần với ba nắm sen.
Inda-bh 7~240Khi (đức Phật) đã trở lại bình thường, (Jīvaka) đã thỉnh cầu điều ước muốn. Và Ngài đã thọ nhận xấp vải xứ Sivi. Và đức Như Lai đã cho phép y là vật thí của gia chủ.
Inda-bh 8~241Ở xứ sở Rājagaha nhiều y đã được phát sanh. Tấm vải choàng, luôn cả tấm vải choàng bằng tơ lụa, tấm choàng lông, (tấm mền len) trị giá nửa kāsi.
Inda-bh 9~242Và nhiều (y) đủ loại, sự biết đủ, về các vị không chờ và các vị chờ, vào trước tương tợ vào sau, sự thỏa thuận, họ đã mang về lại.
Inda-bh 10~243Kho chứa, và không được bảo quản, và các vị bãi nhiệm cũng tương tợ y như thế, được dồi dào, và cảnh náo động, nên chia như thế nào, nên cho như thế nào.
Inda-bh 11~244Của bản thân, với phần nhiều hơn, phần chia (về y), nên cho thế nào? Với phân, và nước lạnh, để trào ra, vị không biết.
Inda-bh 12~245Trong khi đổ ra, và chậu nhuộm, trong cái đĩa, và ở nền đất, loài mối, ở giữa, chúng bị sờn, một bên, và với (y) bị cứng.
Inda-bh 13~246(Các y) bị thô, không cắt, được kết nối bằng những khoảnh vuông vức. Ngài đã nhìn thấy các vị ôm đồm (với các y). Sau khi suy xét, đấng Hiền Sĩ dòng Sakya đã cho phép ba y.
Inda-bh 14~247Với y phụ trội khác, đã được phát sanh, và luôn cả y bị rách. (Mây đen) bốn châu lục, bà (Visākhā) đã thỉnh cầu điều ước muốn để được dâng vải choàng (tắm) mưa.
Inda-bh 15~248Vị vãng lai, vị xuất hành, vị bị bệnh, và vị nuôi bệnh, dược phẩm, cháo thường xuyên, và vải choàng tắm (các ni). (Thức ăn) hảo hạng, (vật lót ngồi) quá nhỏ.
Inda-bh 16~249Ghẻ sần sùi, (khăn lau) mặt, sợi lanh, được đầy đủ, việc chú nguyện, tối thiểu, đã được làm, là nặng nề, có góc bị thừa, chỉ bị xổ ra.
Inda-bh 17~250(Các mảnh vải) bị bung ra, làm không đủ, vải khác loại, và có nhiều (y), rừng Andhavana, thiếu sự ghi nhớ, một mình, mùa (an cư) mưa, và trong mùa khác.
Inda-bh 18~251Hai vị là anh em, ở Rājagaha, vị Upananda, lại ở hai nơi, bệnh kiết lỵ, vị bị bệnh, cả hai vị, và luôn cả các vật thuộc về vị bệnh.
Inda-bh 19~252Vị lõa thể, cỏ kusa, vỏ cây, tấm ván gỗ, và mền dệt bằng tóc, lông ngựa, và cánh chim cú, da linh dương sợi của cây akka.
Inda-bh 20~253Sợi của cây makaci, màu xanh, và màu vàng, màu đỏ (máu), và màu tím, màu đen, màu đỏ tía, màu hồng, và đường viền không cắt là tương tợ.
Inda-bh 21~254Đường viền rộng, vẽ bông hoa, rắn hổ mang, áo choàng ngắn, sợi vỏ cây, và khăn xếp đội đầu, khi chưa được phát sanh, vị ra đi, cho đên phần hội chúng bị chia rẽ.
Inda-bh 22~255Họ dâng đến nhóm, đến hội chúng, đại đức Revata đã gởi đi, vị lấy do thân thiết, vị chú nguyện, tám tiêu đề về y.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Great Division
The chapter on robes
1. The account of Jīvaka
202. Câu chuyện về Jīvaka
Tena samayena buddho bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena vesālī iddhā ceva hoti phitā ca bahujanā ca ākiṇṇamanussā ca subhikkhā ca; satta ca pāsādasahassāni satta ca pāsādasatāni satta ca pāsādā; satta ca kūṭāgārasahassāni satta ca kūṭāgārasatāni satta ca kūṭāgārāni; satta ca ārāmasahassāni satta ca ārāmasatāni satta ca ārāmā; satta ca pokkharaṇīsahassāni satta ca pokkharaṇīsatāni satta ca pokkharaṇiyo; ambapālī ca gaṇikā abhirūpā hoti dassanīyā pāsādikā paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgatā, padakkhiṇā nacce ca gīte ca vādite ca, abhisaṭā atthikānaṁ atthikānaṁ manussānaṁ paññāsāya ca rattiṁ gacchati; tāya ca vesālī bhiyyoso mattāya upasobhati.
Atha kho rājagahako negamo vesāliṁ agamāsi kenacideva karaṇīyena. Addasā kho rājagahako negamo vesāliṁ iddhañceva phitañca bahujanañca ākiṇṇamanussañca subhikkhañca; satta ca pāsādasahassāni satta ca pāsādasatāni satta ca pāsāde; satta ca kūṭāgārasahassāni satta ca kūṭāgārasatāni satta ca kūṭāgārāni; satta ca ārāmasahassāni satta ca ārāmasatāni satta ca ārāme; satta ca pokkharaṇīsahassāni satta ca pokkharaṇīsatāni satta ca pokkharaṇiyo; ambapāliñca gaṇikaṁ abhirūpaṁ dassanīyaṁ pāsādikaṁ paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgataṁ, padakkhiṇaṁ nacce ca gīte ca vādite ca, abhisaṭaṁ atthikānaṁ atthikānaṁ manussānaṁ paññāsāya ca rattiṁ gacchantiṁ, tāya ca vesāliṁ bhiyyoso mattāya upasobhantiṁ.
At one time the Buddha was staying at Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrel sanctuary. At that time Vesālī was prosperous and crowded with people, and there was plenty of food. There were seven thousand seven hundred and seven stilt houses, and the same number of houses with peaked roofs, parks, and lotus ponds. And there was the courtesan Ambapālī who was attractive and gracious and had the most beautiful complexion. She was skilled in dancing, singing, and instrumental music. She was highly desired, charging fifty coins for a night. Because of her, Vesālī was even more splendid.
On one occasion the householder association of Rājagaha traveled to Vesālī on business, and they saw all these marvelous qualities of the city, including Ambapālī.
326. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, bậc Thế Tôn, đang trú ngụ ở Rājagaha, tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, thành Vesālī là một nơi thịnh vượng, phồn vinh, đông dân, người ở chen chúc, và có vật thực dồi dào. Có bảy ngàn bảy trăm bảy tòa lâu đài; bảy ngàn bảy trăm bảy ngôi nhà có gác nhọn; bảy ngàn bảy trăm bảy khu vườn; và bảy ngàn bảy trăm bảy hồ sen. Và kỹ nữ Ambapālī là người có dung sắc xinh đẹp, đáng chiêm ngưỡng, khả ái, có được vẻ đẹp tuyệt vời của nước da, thành thạo về vũ, ca, và nhạc, được những người đàn ông có nhu cầu tìm đến, và đi lại vào ban đêm với giá năm mươi (kahāpaṇa). Và do nàng ấy mà thành Vesālī lại càng thêm rực rỡ. Bấy giờ, một thương gia người thành Rājagaha đã đi đến Vesālī vì một công việc nào đó. Vị thương gia người thành Rājagaha đã nhìn thấy thành Vesālī thịnh vượng, phồn vinh, đông dân, người ở chen chúc, và có vật thực dồi dào; bảy ngàn bảy trăm bảy tòa lâu đài; bảy ngàn bảy trăm bảy ngôi nhà có gác nhọn; bảy ngàn bảy trăm bảy khu vườn; và bảy ngàn bảy trăm bảy hồ sen; và kỹ nữ Ambapālī có dung sắc xinh đẹp, đáng chiêm ngưỡng, khả ái, có được vẻ đẹp tuyệt vời của nước da, thành thạo về vũ, ca, và nhạc, được những người đàn ông có nhu cầu tìm đến, và đi lại vào ban đêm với giá năm mươi (kahāpaṇa), và do nàng ấy mà thành Vesālī lại càng thêm rực rỡ.
“Tena hi, bhaṇe, tādisiṁ kumāriṁ jānātha yaṁ tumhe gaṇikaṁ vuṭṭhāpeyyāthā”ti.
Tena kho pana samayena rājagahe sālavatī nāma kumārī abhirūpā hoti dassanīyā pāsādikā paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgatā. Atha kho rājagahako negamo sālavatiṁ kumāriṁ gaṇikaṁ vuṭṭhāpesi. Atha kho sālavatī gaṇikā nacirasseva padakkhiṇā ahosi nacce ca gīte ca vādite ca, abhisaṭā atthikānaṁ atthikānaṁ manussānaṁ paṭisatena ca rattiṁ gacchati.
Atha kho sālavatī gaṇikā nacirasseva gabbhinī ahosi. Atha kho sālavatiyā gaṇikāya etadahosi—“itthī kho gabbhinī purisānaṁ amanāpā. Sace maṁ koci jānissati—sālavatī gaṇikā gabbhinīti, sabbo me sakkāro bhañjissati. Yannūnāhaṁ gilānaṁ paṭivedeyyan”ti. Atha kho sālavatī gaṇikā dovārikaṁ āṇāpesi—“mā, bhaṇe dovārika, koci puriso pāvisi. Yo ca maṁ pucchati, ‘gilānā’ti paṭivedehī”ti.
“Evaṁ, ayye”ti kho so dovāriko sālavatiyā gaṇikāya paccassosi.
Atha kho sālavatī gaṇikā tassa gabbhassa paripākamanvāya puttaṁ vijāyi. Atha kho sālavatī gaṇikā dāsiṁ āṇāpesi—“handa, je, imaṁ dārakaṁ kattarasuppe pakkhipitvā nīharitvā saṅkārakūṭe chaḍḍehī”ti.
“Evaṁ, ayye”ti kho sā dāsī sālavatiyā gaṇikāya paṭissutvā taṁ dārakaṁ kattarasuppe pakkhipitvā nīharitvā saṅkārakūṭe chaḍḍesi.
“Well then, find a suitable girl.”
At that time in Rājagaha there was a girl called Sālavatī who was attractive and gracious and had the most beautiful complexion, and the householder association appointed her as courtesan. Soon afterwards she became skilled in dancing, singing, and instrumental music. She was highly desired, charging a hundred coins for a night.
Soon enough Sālavatī became pregnant. She thought, “Men don’t like pregnant women. If anyone finds out about this, it will ruin my career. Let me announce that I’m sick.” She told her doorman, “Don’t allow any man to enter. If anyone asks for me, tell them I’m sick.”
“Yes, ma’am.”
Her pregnancy progressed, and eventually she gave birth to a son. She told her slave, “Listen, take this boy away in a winnowing basket and throw him on the trash heap.”
Saying, “Yes, ma’am,” she did just that.
327. Bấy giờ, sau khi đã hoàn tất công việc ấy ở Vesālī, vị thương gia người thành Rājagaha đã quay trở lại Rājagaha. Vị ấy đã đi đến yết kiến vua Bimbisāra xứ Māgadha, thuộc dòng Seniya. Sau khi đã đến yết kiến, vị ấy đã tâu lên vua Bimbisāra xứ Māgadha, thuộc dòng Seniya, lời này: ‘Tâu Đại vương, thành Vesālī là một nơi thịnh vượng, phồn vinh, đông dân, người ở chen chúc, và có vật thực dồi dào. Có bảy ngàn bảy trăm bảy tòa lâu đài... (lược)... Và do nàng ấy mà thành Vesālī lại càng thêm rực rỡ. Tâu Đại vương, thật là hay nếu chúng ta cũng thiết lập một kỹ nữ.’ – ‘Này khanh, nếu vậy thì các khanh hãy tìm một thiếu nữ tương tự như thế để các khanh có thể thiết lập làm kỹ nữ.’ Vào lúc bấy giờ, ở Rājagaha có một thiếu nữ tên là Sālavatī, là người có dung sắc xinh đẹp, đáng chiêm ngưỡng, khả ái, có được vẻ đẹp tuyệt vời của nước da. Bấy giờ, vị thương gia người thành Rājagaha đã thiết lập thiếu nữ Sālavatī làm kỹ nữ. Không bao lâu sau, kỹ nữ Sālavatī đã trở nên thành thạo về vũ, ca, và nhạc, được những người đàn ông có nhu cầu tìm đến, và đi lại vào ban đêm với giá một trăm (kahāpaṇa). Không bao lâu sau, kỹ nữ Sālavatī đã có thai. Bấy giờ, kỹ nữ Sālavatī đã suy nghĩ như sau: ‘Người phụ nữ có thai thì không được đàn ông ưa thích. Nếu có ai biết được rằng: ‘Kỹ nữ Sālavatī đã có thai,’ thì tất cả sự trọng vọng dành cho ta sẽ bị tiêu tan. Ta nên thông báo rằng ta bị bệnh thì hơn.’ Bấy giờ, kỹ nữ Sālavatī đã ra lệnh cho người gác cổng rằng: ‘Này người gác cổng, đừng cho bất cứ người đàn ông nào vào. Và người nào hỏi về ta thì hãy báo lại rằng: ‘Bà ấy bị bệnh.’’ – ‘Vâng, thưa bà,’ người gác cổng ấy đã vâng lời kỹ nữ Sālavatī. Bấy giờ, khi thai đã đến ngày mãn nguyệt, kỹ nữ Sālavatī đã sanh một người con trai. Bấy giờ, kỹ nữ Sālavatī đã ra lệnh cho người nữ tỳ rằng: ‘Này cô kia, hãy đặt đứa bé này vào trong một cái nia cũ, mang nó ra ngoài, rồi vứt bỏ ở đống rác.’ – ‘Vâng, thưa bà,’ người nữ tỳ ấy đã vâng lời kỹ nữ Sālavatī, đặt đứa bé ấy vào trong một cái nia cũ, mang nó ra ngoài, rồi vứt bỏ ở đống rác.
Tena kho pana samayena abhayo nāma rājakumāro kālasseva rājupaṭṭhānaṁ gacchanto addasa taṁ dārakaṁ kākehi samparikiṇṇaṁ, disvāna manusse pucchi—“kiṁ etaṁ, bhaṇe, kākehi samparikiṇṇan”ti?
“Dārako, devā”ti.
“Jīvati, bhaṇe”ti?
“Jīvati, devā”ti.
“Tena hi, bhaṇe, taṁ dārakaṁ amhākaṁ antepuraṁ netvā dhātīnaṁ detha posetun”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho te manussā abhayassa rājakumārassa paṭissutvā taṁ dārakaṁ abhayassa rājakumārassa antepuraṁ netvā dhātīnaṁ adaṁsu—“posethā”ti.
Tassa jīvatīti “jīvako”ti nāmaṁ akaṁsu. Kumārena posāpitoti “komārabhacco”ti nāmaṁ akaṁsu.
Atha kho jīvako komārabhacco nacirasseva viññutaṁ pāpuṇi. Atha kho jīvako komārabhacco yena abhayo rājakumāro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā abhayaṁ rājakumāraṁ etadavoca—“kā me, deva, mātā, ko pitā”ti?
“Ahampi kho te, bhaṇe jīvaka, mātaraṁ na jānāmi; api cāhaṁ te pitā; mayāsi posāpito”ti.
Atha kho jīvakassa komārabhaccassa etadahosi—“imāni kho rājakulāni na sukarāni asippena upajīvituṁ. Yannūnāhaṁ sippaṁ sikkheyyan”ti.
Tena kho pana samayena takkasilāyaṁ disāpāmokkho vejjo paṭivasati.
On the same morning, as Prince Abhaya was walking to an audience with the king, he saw that boy surrounded by crows. He asked his companions, “What’s that surrounded by crows?”
“It’s a boy, sir.”
“Is he alive?”
“Yes, he’s alive.”
“Well then, take him to our compound and give him to the wet-nurses to feed.”
Saying, “Yes,” they did as requested.
When they knew that he would live, they gave him the name Jīvaka, “Survivor”. And because a prince brought him up, they also gave him the name Komārabhacca, “Prince-reared”.
When Jīvaka reached the age of discernment, he went to Prince Abhaya and asked him, “Who, sir, are my mother and father?”
“I don’t know who your mother is, but I’m your father, because I brought you up.”
On a later occasion Jīvaka thought, “It’s not easy to make a living in a royal family without a profession. Why don’t I learn a profession?”
At that time the pre-eminent physician in the world was living at Takkasilā.
328. Vào lúc bấy giờ, vương tử tên là Abhaya, trong khi đi đến yết kiến đức vua vào lúc sáng sớm, đã nhìn thấy đứa bé ấy đang bị các con quạ bu quanh. Sau khi nhìn thấy, vị ấy đã hỏi những người kia rằng: “Này các khanh, vật gì đây đang bị các con quạ bu quanh vậy?” – “Tâu điện hạ, là một đứa bé.” – “Này các khanh, nó còn sống không?” – “Tâu điện hạ, nó còn sống.” – “Này các khanh, nếu vậy thì hãy đem đứa bé ấy về nội cung của chúng ta rồi giao cho các vú nuôi để nuôi nấng.” – “Tâu điện hạ, xin vâng.” Sau khi vâng lời vương tử Abhaya, những người ấy đã đem đứa bé ấy về nội cung của vương tử Abhaya rồi giao cho các vú nuôi và nói rằng: “Hãy nuôi nấng nó.” Vì nó còn sống nên họ đã đặt tên là ‘Jīvaka.’ Vì được vương tử nuôi nấng nên họ đã đặt tên là ‘Komārabhacca.’ Rồi Jīvaka Komārabhacca không bao lâu đã được lanh lợi. Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp vương tử Abhaya; sau khi đến, đã thưa với vương tử Abhaya điều này: “Tâu điện hạ, ai là mẹ của con, ai là cha?” – “Này Jīvaka, ta cũng không biết mẹ của con; tuy nhiên ta là cha của con; con đã được ta nuôi nấng.” Bấy giờ, Jīvaka Komārabhacca đã có suy nghĩ này: “Thật không dễ dàng để sinh sống trong các gia đình hoàng tộc này mà không có nghề nghiệp. Hay là ta nên học một nghề.”
“Tena hi, bhaṇe jīvaka, sikkhassū”ti.
Atha kho jīvako komārabhacco bahuñca gaṇhāti lahuñca gaṇhāti suṭṭhu ca upadhāreti, gahitañcassa na sammussati. Atha kho jīvakassa komārabhaccassa sattannaṁ vassānaṁ accayena etadahosi—“ahaṁ kho bahuñca gaṇhāmi lahuñca gaṇhāmi suṭṭhu ca upadhāremi, gahitañca me na sammussati, satta ca me vassāni adhīyantassa, nayimassa sippassa anto paññāyati. Kadā imassa sippassa anto paññāyissatī”ti.
Atha kho jīvako komārabhacco yena so vejjo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā taṁ vejjaṁ etadavoca—“ahaṁ kho, ācariya, bahuñca gaṇhāmi lahuñca gaṇhāmi suṭṭhu ca upadhāremi, gahitañca me na sammussati, satta ca me vassāni adhīyantassa, nayimassa sippassa anto paññāyati. Kadā imassa sippassa anto paññāyissatī”ti?
“Tena hi, bhaṇe jīvaka, khaṇittiṁ ādāya takkasilāya samantā yojanaṁ āhiṇḍitvā yaṁ kiñci abhesajjaṁ passeyyāsi taṁ āharā”ti.
“Evaṁ, ācariyā”ti kho jīvako komārabhacco tassa vejjassa paṭissutvā khaṇittiṁ ādāya takkasilāya samantā yojanaṁ āhiṇḍanto na kiñci abhesajjaṁ addasa. Atha kho jīvako komārabhacco yena so vejjo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā taṁ vejjaṁ etadavoca—“āhiṇḍantomhi, ācariya, takkasilāya samantā yojanaṁ, na kiñci abhesajjaṁ addasan”ti. “Susikkhitosi, bhaṇe jīvaka. Alaṁ te ettakaṁ jīvikāyā”ti jīvakassa komārabhaccassa parittaṁ pātheyyaṁ pādāsi.
Atha kho jīvako komārabhacco taṁ parittaṁ pātheyyaṁ ādāya yena rājagahaṁ tena pakkāmi. Atha kho jīvakassa komārabhaccassa taṁ parittaṁ pātheyyaṁ antarāmagge sākete parikkhayaṁ agamāsi. Atha kho jīvakassa komārabhaccassa etadahosi—“ime kho maggā kantārā appodakā appabhakkhā, na sukarā apātheyyena gantuṁ. Yannūnāhaṁ pātheyyaṁ pariyeseyyan”ti.
“Well then, Jīvaka, please do so.”
Jīvaka learned much, and he learned quickly; he remembered well and did not forget. After seven years, Jīvaka thought, “I’m a good learner, and I’ve been studying for seven years. And yet there’s no end in sight to learning this profession.”
He went to that physician and told him what he had thought, adding, “When will I complete the training for this profession?”
“Listen, Jīvaka. Take a spade and walk as far as 13 kilometers all around Takkasilā and bring back whatever plants you see that are not medicinal.”
Saying, “Yes, teacher,” he did just that. But he did not see any non-medicinal plants. He then went back to the physician and told him what had happened. The physician said, “You’re well-trained, Jīvaka. It’s enough for you to live on.” And he gave Jīvaka a small amount of provisions for the journey.
Jīvaka left for Rājagaha, but the provisions were exhausted by the time he got to Sāketa. Jīvaka thought, “These roads go through the wilderness where there’s little water and little food. It’s not easy to travel there without provisions. Let me search for provisions.”
329. Vào lúc bấy giờ, ở tại Takkasilā có một y sĩ danh tiếng lẫy lừng đang sinh sống. Bấy giờ, Jīvaka Komārabhacca đã không xin phép vương tử Abhaya rồi đã khởi hành đi đến Takkasilā. Lần lượt đi đến Takkasilā, đến chỗ vị y sĩ; sau khi đến, đã thưa với vị y sĩ ấy điều này: “Thưa thầy, con muốn học nghề y.” – “Này Jīvaka, nếu vậy thì hãy học đi.” Bấy giờ, Jīvaka Komārabhacca học được nhiều, học được nhanh, và ghi nhớ kỹ lưỡng, và điều đã học không bị quên mất. Sau đó, sau bảy năm trôi qua, Jīvaka Komārabhacca đã có suy nghĩ này: “Ta học được nhiều, học được nhanh, và ghi nhớ kỹ lưỡng, và điều đã học không bị ta quên mất, và ta đã học được bảy năm rồi, nhưng điểm kết thúc của nghề này vẫn chưa được thấy rõ. Khi nào điểm kết thúc của nghề này sẽ được thấy rõ đây?” Bấy giờ, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến chỗ vị y sĩ kia; sau khi đến, đã thưa với vị y sĩ ấy điều này: “Thưa thầy, con học được nhiều, học được nhanh, và ghi nhớ kỹ lưỡng, và điều đã học không bị con quên mất, và con đã học được bảy năm rồi, nhưng điểm kết thúc của nghề này vẫn chưa được thấy rõ. Khi nào điểm kết thúc của nghề này sẽ được thấy rõ đây?” – “Này Jīvaka, nếu vậy thì hãy lấy cái cuốc rồi đi quanh Takkasilā trong một do-tuần, và bất cứ cây gì không phải là thuốc mà con thấy thì hãy mang về đây.” – “Thưa thầy, xin vâng.” Sau khi vâng lời vị y sĩ ấy, Jīvaka Komārabhacca đã lấy cái cuốc rồi đi quanh Takkasilā trong một do-tuần và đã không nhìn thấy bất cứ cây gì không phải là thuốc. Bấy giờ, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến chỗ vị y sĩ kia; sau khi đến, đã thưa với vị y sĩ ấy điều này: “Thưa thầy, con đã đi quanh Takkasilā trong một do-tuần, và đã không nhìn thấy bất cứ cây gì không phải là thuốc.” – “Này Jīvaka, con đã học rất giỏi. Bấy nhiêu đây là đủ cho con sinh sống rồi.” (Vị y sĩ) đã trao cho Jīvaka Komārabhacca một ít lộ phí. Bấy giờ, Jīvaka Komārabhacca đã lấy một ít lộ phí ấy rồi khởi hành đi đến Rājagaha. Sau đó, một ít lộ phí ấy của Jīvaka Komārabhacca đã bị hết dọc đường ở tại Sāketa. Bấy giờ, Jīvaka Komārabhacca đã có suy nghĩ này: “Những con đường này là hoang địa, ít nước, ít thức ăn, không dễ dàng để đi mà không có lộ phí. Hay là ta nên tìm kiếm lộ phí.”
2. Seṭṭhibhariyāvatthu
2. The account of the wealthy merchant’s wife
203. Câu chuyện về Vợ của Vị Trưởng Giả
Tena kho pana samayena sākete seṭṭhibhariyāya sattavassiko sīsābādho hoti. Bahū mahantā mahantā disāpāmokkhā vejjā āgantvā nāsakkhiṁsu arogaṁ kātuṁ. Bahuṁ hiraññaṁ ādāya agamaṁsu. Atha kho jīvako komārabhacco sāketaṁ pavisitvā manusse pucchi—“ko, bhaṇe, gilāno, kaṁ tikicchāmī”ti?
“Etissā, ācariya, seṭṭhibhariyāya sattavassiko sīsābādho; gaccha, ācariya, seṭṭhibhariyaṁ tikicchāhī”ti.
Atha kho jīvako komārabhacco yena seṭṭhissa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā dovārikaṁ āṇāpesi—“gaccha, bhaṇe dovārika, seṭṭhibhariyāya pāvada—‘vejjo, ayye, āgato, so taṁ daṭṭhukāmo’”ti.
“Evaṁ, ācariyā”ti kho so dovāriko jīvakassa komārabhaccassa paṭissutvā yena seṭṭhibhariyā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā seṭṭhibhariyaṁ etadavoca—“vejjo, ayye, āgato; so taṁ daṭṭhukāmo”ti.
“Kīdiso, bhaṇe dovārika, vejjo”ti?
“Daharako, ayye”ti.
“Alaṁ, bhaṇe dovārika, kiṁ me daharako vejjo karissati? Bahū mahantā mahantā disāpāmokkhā vejjā āgantvā nāsakkhiṁsu arogaṁ kātuṁ. Bahuṁ hiraññaṁ ādāya agamaṁsū”ti.
Atha kho so dovāriko yena jīvako komārabhacco tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā jīvakaṁ komārabhaccaṁ etadavoca—“seṭṭhibhariyā, ācariya, evamāha—‘alaṁ, bhaṇe dovārika, kiṁ me daharako vejjo karissati? Bahū mahantā mahantā disāpāmokkhā vejjā āgantvā nāsakkhiṁsu arogaṁ kātuṁ. Bahuṁ hiraññaṁ ādāya agamaṁsū’”ti.
“Gaccha, bhaṇe dovārika, seṭṭhibhariyāya pāvada—‘vejjo, ayye, evamāha—mā kira, ayye, pure kiñci adāsi. Yadā arogā ahosi tadā yaṁ iccheyyāsi taṁ dajjeyyāsī’”ti.
“Evaṁ, ācariyā”ti kho so dovāriko jīvakassa komārabhaccassa paṭissutvā yena seṭṭhibhariyā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā seṭṭhibhariyaṁ etadavoca—
“vejjo, ayye, evamāha—‘mā kira, ayye, pure kiñci adāsi. Yadā arogā ahosi tadā yaṁ iccheyyāsi taṁ dajjeyyāsī’”ti.
“Tena hi, bhaṇe dovārika, vejjo āgacchatū”ti.
“Evaṁ, ayye”ti kho so dovāriko seṭṭhibhariyāya paṭissutvā yena jīvako komārabhacco tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā jīvakaṁ komārabhaccaṁ etadavoca—“seṭṭhibhariyā taṁ, ācariya, pakkosatī”ti.
At that time in Sāketa there was a wealthy merchant whose wife had had a headache for seven years. Many of the most famous physicians in the world had come to see her, but none was able to cure her. And they were very expensive. When Jīvaka arrived at Sāketa, he asked people, “Is there anyone who’s sick whom I might treat?”
“There’s a wealthy merchant whose wife has had a headache for seven years. Go, doctor, and treat her.”
Jīvaka went to that merchant’s house and told the doorman, “Go and say this to the merchant’s wife, ‘Ma’am, a doctor has arrived. He wishes to see you.’”
Saying, “Yes, doctor,” he did as asked.
She replied, “What sort of doctor is it?”
“A young one.”
“Forget it. I don’t need a young doctor. Many of the most famous physicians in the world have been here, but none was able to cure me. And they were very expensive too.”
The doorman returned to Jīvaka and told him what the merchant’s wife had said.
Jīvaka replied, “Go and tell her that she doesn’t have to pay anything in advance. When she is cured, she can pay whatever she likes.”
Saying, “Yes, doctor,” he told the merchant’s wife.
She said, “Well then, let him in.”
Saying, “Yes, ma’am,” he went to Jīvaka and told him.
330. Vào lúc bấy giờ, ở tại Sāketa, vợ của một vị trưởng giả bị chứng đau đầu đã bảy năm. Nhiều y sĩ danh tiếng lừng lẫy, rất lỗi lạc, đã đến nhưng không thể chữa cho lành bệnh. Họ đã ra đi sau khi nhận lấy nhiều vàng bạc. Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca sau khi đi vào Sāketa đã hỏi dân chúng rằng: ‘Này quý vị, ai đang bị bệnh, tôi nên chữa trị cho ai?’ (Họ đáp:) ‘Thưa ngài, vợ của vị trưởng giả này bị chứng đau đầu đã bảy năm. Thưa ngài, hãy đi chữa trị cho vợ của vị trưởng giả.’ Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đi đến nơi ở của vị trưởng giả gia chủ; sau khi đến, vị ấy ra lệnh cho người gác cổng: ‘Này người gác cổng, hãy đi và thưa với vợ của vị trưởng giả rằng: ‘Thưa bà, có y sĩ đã đến, vị ấy muốn gặp bà.’’ Người gác cổng ấy vâng lời y sĩ Jīvaka Komārabhacca: ‘Vâng, thưa ngài,’ rồi đi đến chỗ vợ của vị trưởng giả, sau khi đến, người ấy nói với vợ của vị trưởng giả điều này: ‘Thưa bà, có y sĩ đã đến; vị ấy muốn gặp bà.’ (Bà ta hỏi:) ‘Này người gác cổng, y sĩ ấy trông thế nào?’ (Người gác cổng đáp:) ‘Thưa bà, là một người trẻ tuổi.’ (Bà ta nói:) ‘Thôi đi, này người gác cổng, một y sĩ trẻ tuổi thì làm được gì cho ta? Nhiều y sĩ danh tiếng lừng lẫy, rất lỗi lạc, đã đến nhưng không thể chữa cho lành bệnh. Họ đã ra đi sau khi nhận lấy nhiều vàng bạc.’ Khi ấy, người gác cổng ấy đi đến chỗ y sĩ Jīvaka Komārabhacca; sau khi đến, người ấy nói với y sĩ Jīvaka Komārabhacca điều này: ‘Thưa ngài, vợ của vị trưởng giả nói như vầy: ‘Thôi đi, này người gác cổng, một y sĩ trẻ tuổi thì làm được gì cho ta? Nhiều y sĩ danh tiếng lừng lẫy, rất lỗi lạc, đã đến nhưng không thể chữa cho lành bệnh. Họ đã ra đi sau khi nhận lấy nhiều vàng bạc.’’ (Jīvaka nói:) ‘Này người gác cổng, hãy đi và thưa với vợ của vị trưởng giả rằng: ‘Thưa bà, y sĩ nói như vầy: ‘Thưa bà, xin đừng trả trước bất cứ thứ gì. Khi nào bà được lành bệnh, lúc ấy bà muốn cho gì thì hãy cho.’’ Người gác cổng ấy vâng lời y sĩ Jīvaka Komārabhacca: ‘Vâng, thưa ngài,’ rồi đi đến chỗ vợ của vị trưởng giả; sau khi đến, người ấy nói với vợ của vị trưởng giả điều này: ‘Thưa bà, y sĩ nói như vầy: ‘Thưa bà, xin đừng trả trước bất cứ thứ gì. Khi nào bà được lành bệnh, lúc ấy bà muốn cho gì thì hãy cho.’’ (Bà ta nói:) ‘Nếu vậy, này người gác cổng, hãy để y sĩ vào.’ Người gác cổng ấy vâng lời vợ của vị trưởng giả: ‘Vâng, thưa bà,’ rồi đi đến chỗ y sĩ Jīvaka Komārabhacca, sau khi đến, người ấy nói với y sĩ Jīvaka Komārabhacca điều này: ‘Thưa ngài, vợ của vị trưởng giả cho mời ngài.’
Atha kho jīvako komārabhacco yena seṭṭhibhariyā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā seṭṭhibhariyāya vikāraṁ sallakkhetvā seṭṭhibhariyaṁ etadavoca—“pasatena, ayye, sappinā attho”ti. Atha kho seṭṭhibhariyā jīvakassa komārabhaccassa pasataṁ sappiṁ dāpesi. Atha kho jīvako komārabhacco taṁ pasataṁ sappiṁ nānābhesajjehi nippacitvā seṭṭhibhariyaṁ mañcake uttānaṁ nipātetvā natthuto adāsi. Atha kho taṁ sappi natthuto dinnaṁ mukhato uggañchi. Atha kho seṭṭhibhariyā paṭiggahe niṭṭhubhitvā dāsiṁ āṇāpesi—“handa, je, imaṁ sappiṁ picunā gaṇhāhī”ti.
Atha kho jīvakassa komārabhaccassa etadahosi—“acchariyaṁ yāva lūkhāyaṁ gharaṇī, yatra hi nāma imaṁ chaḍḍanīyadhammaṁ sappiṁ picunā gāhāpessati. Bahukāni ca me mahagghāni bhesajjāni upagatāni. Kimpi māyaṁ kiñci deyyadhammaṁ dassatī”ti.
Atha kho seṭṭhibhariyā jīvakassa komārabhaccassa vikāraṁ sallakkhetvā jīvakaṁ komārabhaccaṁ etadavoca—“kissa tvaṁ, ācariya, vimanosī”ti? Idha me etadahosi—“acchariyaṁ yāva lūkhāyaṁ gharaṇī, yatra hi nāma imaṁ chaḍḍanīyadhammaṁ sappiṁ picunā gāhāpessati. Bahukāni ca me mahagghāni bhesajjāni upagatāni. Kimpi māyaṁ kiñci deyyadhammaṁ dassatī”ti. “Mayaṁ kho, ācariya, āgārikā nāma upajānāmetassa saṁyamassa. Varametaṁ sappi dāsānaṁ vā kammakarānaṁ vā pādabbhañjanaṁ vā padīpakaraṇe vā āsittaṁ. Mā kho tvaṁ, ācariya, vimano ahosi. Na te deyyadhammo hāyissatī”ti.
Atha kho jīvako komārabhacco seṭṭhibhariyāya sattavassikaṁ sīsābādhaṁ ekeneva natthukammena apakaḍḍhi. Atha kho seṭṭhibhariyā arogā samānā jīvakassa komārabhaccassa cattāri sahassāni pādāsi. Putto—“mātā me arogā ṭhitā”ti cattāri sahassāni pādāsi. Suṇisā—“sassu me arogā ṭhitā”ti cattāri sahassāni pādāsi. Seṭṭhi gahapati—“bhariyā me arogā ṭhitā”ti cattāri sahassāni pādāsi dāsañca dāsiñca assarathañca.
Jīvaka then approached the merchant’s wife. After examining her, he said to her, “Ma’am, I need a handful of ghee.” She got him a handful of ghee. Jīvaka cooked that ghee with a number of medicines. He then had her lie down on her back on a bed, and he gave her the medicine through the nose. The medicine emerged in her mouth. She then spat it out into a container and told a slave, “Listen, save this ghee in a cotton wad.”
Jīvaka thought, “It’s astonishing how wretched this housewife is in saving this ghee in a cotton wad, when it should be discarded. Many of my valuable medicines went into it, but she might not give me anything for my services.”
Seeing his body language, the merchant’s wife asked him what he was concerned about. He told her, and she said, “We householders know the benefit of such frugality. This ghee is good for the slaves and workers, for ointment for the feet, or for using in lamps. Don’t be concerned, doctor, your fee will be abundant.”
Jīvaka cured the headache of the merchant’s wife with a single treatment through the nose. When she was well, she gave him four thousand coins. When her son and daughter-in-law found out that she was well, they too gave him four thousand coins each, as did her husband. The merchant also gave him a male and a female slave, and a carriage with horses.
Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đi đến chỗ vợ của vị trưởng giả, sau khi đến, vị ấy nhận thấy tình trạng bệnh của vợ vị trưởng giả rồi nói với bà ta điều này: ‘Thưa bà, cần một vốc bơ lỏng.’ Khi ấy, vợ của vị trưởng giả đã cho người mang đến một vốc bơ lỏng cho y sĩ Jīvaka Komārabhacca. Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã nấu vốc bơ lỏng ấy với nhiều loại dược liệu khác nhau, rồi để vợ của vị trưởng giả nằm ngửa trên giường và cho thuốc vào qua đường mũi. Khi ấy, bơ lỏng được cho vào qua đường mũi đã trào ra bằng đường miệng. Khi ấy, vợ của vị trưởng giả sau khi nhổ vào ống nhổ đã ra lệnh cho người nữ tỳ: ‘Này cô kia, hãy dùng bông gòn thấm lấy chỗ bơ lỏng này.’ Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Thật kỳ diệu, bà chủ nhà này keo kiệt làm sao, đến nỗi chỗ bơ lỏng đáng lẽ phải vứt bỏ này mà bà ta còn cho người dùng bông gòn thấm lấy. Ta đã dùng nhiều dược liệu quý giá. Liệu bà này có cho ta vật gì đáng giá không?’ Khi ấy, vợ của vị trưởng giả nhận thấy sự thay đổi của y sĩ Jīvaka Komārabhacca, đã nói với y sĩ Jīvaka Komārabhacca điều này: ‘Thưa ngài, vì sao ngài không vui lòng?’ (Jīvaka đáp:) ‘Ở đây, tôi đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Thật kỳ diệu, bà chủ nhà này keo kiệt làm sao, đến nỗi chỗ bơ lỏng đáng lẽ phải vứt bỏ này mà bà ta còn cho người dùng bông gòn thấm lấy. Ta đã dùng nhiều dược liệu quý giá. Liệu bà này có cho ta vật gì đáng giá không?’’ (Bà ta nói:) ‘Thưa ngài, chúng tôi là những người tại gia, chúng tôi biết rõ về sự tiết kiệm này. Chỗ bơ lỏng này tốt hơn là dùng để xoa chân cho các người nam tỳ hay các người làm công, hoặc đổ vào đèn để thắp sáng. Thưa ngài, xin ngài đừng không vui lòng. Phần vật phẩm đáng giá của ngài sẽ không bị giảm sút đâu.’ Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã loại trừ chứng đau đầu bảy năm của vợ vị trưởng giả chỉ bằng một lần cho thuốc qua đường mũi. Khi ấy, vợ của vị trưởng giả, sau khi được lành bệnh, đã tặng cho y sĩ Jīvaka Komārabhacca bốn ngàn (đồng tiền). Người con trai (nghĩ rằng): ‘Mẹ của ta đã được lành bệnh,’ đã tặng bốn ngàn (đồng tiền). Người con dâu (nghĩ rằng): ‘Mẹ chồng của ta đã được lành bệnh,’ đã tặng bốn ngàn (đồng tiền). Vị trưởng giả gia chủ (nghĩ rằng): ‘Vợ của ta đã được lành bệnh,’ đã tặng bốn ngàn (đồng tiền), một người nam tỳ, một người nữ tỳ, và một cỗ xe ngựa.
Atha kho jīvako komārabhacco tāni soḷasasahassāni ādāya dāsañca dāsiñca assarathañca yena rājagahaṁ tena pakkāmi. Anupubbena yena rājagahaṁ yena abhayo rājakumāro tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā abhayaṁ rājakumāraṁ etadavoca—“idaṁ me, deva, paṭhamakammaṁ soḷasasahassāni dāso ca dāsī ca assaratho ca. Paṭiggaṇhātu me devo posāvanikan”ti.
“Alaṁ, bhaṇe jīvaka; tuyhameva hotu. Amhākaññeva antepure nivesanaṁ māpehī”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho jīvako komārabhacco abhayassa rājakumārassa paṭissutvā abhayassa rājakumārassa antepure nivesanaṁ māpesi.
Jīvaka took those sixteen thousand coins, as well as the male and female slaves and the carriage with horses, and he left for Rājagaha. When he eventually arrived, he went to Prince Abhaya and said, “For my first job, sir, I earned sixteen thousand coins, a male and a female slave, and a carriage with horses. Please accept it for bringing me up.”
“There’s no need, Jīvaka. You should keep it all. But please build a house in our compound.”
Saying, “Yes,” he did just that.
Bấy giờ, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã lấy mười sáu ngàn (đồng tiền) ấy, cùng với người nô lệ, người nữ tỳ, và cỗ xe ngựa, rồi đi đến thành Rājagaha. Lần lượt đi đến thành Rājagaha, đến chỗ vương tử Abhaya, sau khi đã đến, y sĩ đã thưa với vương tử Abhaya lời này: "Tâu điện hạ, đây là thành quả công việc đầu tiên của hạ thần: mười sáu ngàn (đồng tiền), một người nô lệ, một người nữ tỳ, và một cỗ xe ngựa. Xin điện hạ hãy nhận lấy của hạ thần món quà dưỡng dục này." "Thôi đủ rồi, này Jīvaka thân hữu, cứ để cho ngươi đi. Ngươi hãy cho xây một tư thất ngay trong nội cung của chúng ta." "Vâng, tâu điện hạ." Y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã vâng lời vương tử Abhaya rồi cho xây một tư thất trong nội cung của vương tử Abhaya.
3. Bimbisārarājavatthu
3. The account of King Bimbisāra
Câu chuyện về vua Bimbisāra
Tena kho pana samayena rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa bhagandalābādho hoti. Sāṭakā lohitena makkhiyanti. Deviyo disvā uppaṇḍenti—“utunī dāni devo, pupphaṁ devassa uppannaṁ, na ciraṁ devo vijāyissatī”ti. Tena rājā maṅku hoti.
Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro abhayaṁ rājakumāraṁ etadavoca—“mayhaṁ kho, bhaṇe abhaya, tādiso ābādho, sāṭakā lohitena makkhiyanti, deviyo maṁ disvā uppaṇḍenti—‘utunī dāni devo, pupphaṁ devassa uppannaṁ, na ciraṁ devo vijāyissatī’ti. Iṅgha, bhaṇe abhaya, tādisaṁ vejjaṁ jānāhi yo maṁ tikiccheyyā”ti.
“Ayaṁ, deva, amhākaṁ jīvako vejjo taruṇo bhadrako. So devaṁ tikicchissatī”ti.
“Tena hi, bhaṇe abhaya, jīvakaṁ vejjaṁ āṇāpehi; so maṁ tikicchissatī”ti.
Atha kho abhayo rājakumāro jīvakaṁ komārabhaccaṁ āṇāpesi—“gaccha, bhaṇe jīvaka, rājānaṁ tikicchāhī”ti. “Evaṁ, devā”ti kho jīvako komārabhacco abhayassa rājakumārassa paṭissutvā nakhena bhesajjaṁ ādāya yena rājā māgadho seniyo bimbisāro tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā rājānaṁ māgadhaṁ seniyaṁ bimbisāraṁ etadavoca—“ābādhaṁ te, deva, passāmā”ti. Atha kho jīvako komārabhacco rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa bhagandalābādhaṁ ekeneva ālepena apakaḍḍhi. Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro arogo samāno pañca itthisatāni sabbālaṅkāraṁ bhūsāpetvā omuñcāpetvā puñjaṁ kārāpetvā jīvakaṁ komārabhaccaṁ etadavoca—“etaṁ, bhaṇe jīvaka, pañcannaṁ itthisatānaṁ sabbālaṅkāraṁ tuyhaṁ hotū”ti.
“Alaṁ, deva, adhikāraṁ me devo saratū”ti.
“Tena hi, bhaṇe jīvaka, maṁ upaṭṭhaha, itthāgārañca, buddhappamukhañca bhikkhusaṅghan”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho jīvako komārabhacco rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa paccassosi.
At that time King Seniya Bimbisāra of Magadha had hemorrhoids. His wrap garments were soiled with blood, and the queens made fun of him, “Sir, you’re menstruating; your fertile period has arrived. Soon you’ll give birth.” The king felt humiliated.
Soon afterwards he told Prince Abhaya what had happened, adding, “Abhaya, please find a doctor to treat me.”
“Sir, our young doctor Jīvaka is excellent. He’ll treat you.”
“Well then, Abhaya, send for Jīvaka.”
Prince Abhaya then sent for Jīvaka. Saying, “Yes, sir,” Jīvaka took some medicine on his nail and went to King Bimbisāra. He said, “Sir, let me see your affliction.” Jīvaka then cured King Bimbisāra’s hemorrhoids with one application of ointment. When the king was well, he had five hundred women adorned with every kind of ornament. He then had the ornaments removed and made into a pile. And he said to Jīvaka, “Jīvaka, these ornaments from five hundred women are all yours.”
“There’s no need. Please just remember my act of service.”
“Well then, Jīvaka, please attend on me, the harem, and the Sangha of monks headed by the Buddha.”
“Yes, sir.”
204. Vào lúc bấy giờ, đức vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha, bị bệnh trĩ rò. Y phục bị dính máu. Các hoàng hậu trông thấy liền chế nhạo: "Bây giờ đức vua có kinh nguyệt, hoa của đức vua đã nở, chẳng bao lâu nữa đức vua sẽ sinh con." Vì việc ấy, đức vua cảm thấy bối rối. Bấy giờ, đức vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha, đã nói với vương tử Abhaya lời này: "Này Abhaya thân hữu, ta bị một chứng bệnh như thế, y phục bị dính máu, các hoàng hậu trông thấy ta liền chế nhạo: 'Bây giờ đức vua có kinh nguyệt, hoa của đức vua đã nở, chẳng bao lâu nữa đức vua sẽ sinh con.' Này Abhaya thân hữu, hãy tìm một y sĩ có thể chữa trị cho ta." "Tâu điện hạ, có y sĩ Jīvaka của chúng ta, còn trẻ tuổi và tài giỏi. Vị ấy sẽ chữa trị cho điện hạ." "Vậy thì, này Abhaya thân hữu, hãy ra lệnh cho y sĩ Jīvaka; vị ấy sẽ chữa trị cho ta." Bấy giờ, vương tử Abhaya đã ra lệnh cho y sĩ Jīvaka Komārabhacca: "Này Jīvaka thân hữu, hãy đi chữa trị cho đức vua." "Vâng, tâu điện hạ." Y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã vâng lời vương tử Abhaya, lấy thuốc bằng móng tay, rồi đi đến chỗ đức vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha. Sau khi đã đến, y sĩ đã thưa với đức vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha, lời này: "Tâu điện hạ, xin cho hạ thần xem bệnh của ngài." Bấy giờ, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã chữa khỏi bệnh trĩ rò của đức vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha, chỉ bằng một lần bôi thuốc. Bấy giờ, đức vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha, sau khi đã khỏi bệnh, đã cho năm trăm phụ nữ trang điểm với tất cả đồ trang sức, rồi cho cởi ra, chất thành một đống, và nói với y sĩ Jīvaka Komārabhacca lời này: "Này Jīvaka thân hữu, tất cả đồ trang sức này của năm trăm phụ nữ hãy thuộc về ngươi." "Thôi đủ rồi, tâu điện hạ. Xin điện hạ hãy ghi nhớ công lao của hạ thần." "Vậy thì, này Jīvaka thân hữu, hãy phục vụ ta, và cả hậu cung, và cả Tăng chúng với đức Phật là vị đứng đầu." "Vâng, tâu điện hạ." Y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã vâng lời đức vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha.
4. Rājagahaseṭṭhivatthu
4. The account of the wealthy merchant of Rājagaha
331. Câu chuyện về vị trưởng giả ở Rājagaha
Tena kho pana samayena rājagahakassa seṭṭhissa sattavassiko sīsābādho hoti. Bahū mahantā mahantā disāpāmokkhā vejjā āgantvā nāsakkhiṁsu arogaṁ kātuṁ. Bahuṁ hiraññaṁ ādāya agamaṁsu. Api ca vejjehi paccakkhāto hoti. Ekacce vejjā evamāhaṁsu—“pañcamaṁ divasaṁ seṭṭhi gahapati kālaṁ karissatī”ti. Ekacce vejjā evamāhaṁsu—“sattamaṁ divasaṁ seṭṭhi gahapati kālaṁ karissatī”ti.
Atha kho rājagahakassa negamassa etadahosi—“ayaṁ kho seṭṭhi gahapati bahūpakāro rañño ceva negamassa ca. Api ca vejjehi paccakkhāto. Ekacce vejjā evamāhaṁsu—‘pañcamaṁ divasaṁ seṭṭhi gahapati kālaṁ karissatī’ti. Ekacce vejjā evamāhaṁsu—‘sattamaṁ divasaṁ seṭṭhi gahapati kālaṁ karissatī’ti. Ayañca rañño jīvako vejjo taruṇo bhadrako. Yannūna mayaṁ rājānaṁ jīvakaṁ vejjaṁ yāceyyāma seṭṭhiṁ gahapatiṁ tikicchitun”ti.
Atha kho rājagahako negamo yena rājā māgadho seniyo bimbisāro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rājānaṁ māgadhaṁ seniyaṁ bimbisāraṁ etadavoca—“ayaṁ, deva, seṭṭhi gahapati bahūpakāro devassa ceva negamassa ca; api ca vejjehi paccakkhāto. Ekacce vejjā evamāhaṁsu—‘pañcamaṁ divasaṁ seṭṭhi gahapati kālaṁ karissatī’ti. Ekacce vejjā evamāhaṁsu—‘sattamaṁ divasaṁ seṭṭhi gahapati kālaṁ karissatī’ti. Sādhu devo jīvakaṁ vejjaṁ āṇāpetu seṭṭhiṁ gahapatiṁ tikicchitun”ti.
At that time a wealthy merchant of Rājagaha had had a headache for seven years. Many of the most famous physicians in the world had come to see him, but none was able to cure him. They were very expensive, yet they gave up on him. Some of them said, “The merchant will die in five days.” Others said, “The merchant will die in seven days.”
The householder association of Rājagaha considered, “This merchant has done much for the king and for this association, and now the doctors have given up on him. But there’s Jīvaka, the king’s excellent young doctor. Let’s ask the king for Jīvaka to treat the merchant.”
They then went to the king and told him about the merchant, adding, “Sir, please ask doctor Jīvaka to treat the merchant.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị trưởng giả ở thành Rājagaha bị bệnh đau đầu đã bảy năm. Nhiều y sĩ vĩ đại, lỗi lạc từ các phương đã đến nhưng không thể chữa cho khỏi bệnh. Họ đã lấy nhiều vàng bạc rồi bỏ đi. Hơn nữa, vị ấy đã bị các y sĩ từ bỏ. Một số y sĩ đã nói như vầy: "Vào ngày thứ năm, vị trưởng giả gia chủ sẽ qua đời." Một số y sĩ khác đã nói như vầy: "Vào ngày thứ bảy, vị trưởng giả gia chủ sẽ qua đời." Bấy giờ, những người dân ở thành Rājagaha đã có suy nghĩ này: "Vị trưởng giả gia chủ này là người có công ơn lớn đối với đức vua và cả những người dân. Hơn nữa, vị ấy đã bị các y sĩ từ bỏ. Một số y sĩ đã nói như vầy: 'Vào ngày thứ năm, vị trưởng giả gia chủ sẽ qua đời.' Một số y sĩ khác đã nói như vầy: 'Vào ngày thứ bảy, vị trưởng giả gia chủ sẽ qua đời.' Và y sĩ Jīvaka này của đức vua thì còn trẻ tuổi và tài giỏi. Hay là chúng ta hãy đến xin đức vua cho y sĩ Jīvaka chữa trị cho vị trưởng giả gia chủ." Bấy giờ, những người dân ở thành Rājagaha đã đi đến chỗ đức vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha; sau khi đã đến, họ đã thưa với đức vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha, lời này: "Tâu điện hạ, vị trưởng giả gia chủ này là người có công ơn lớn đối với điện hạ và cả những người dân; hơn nữa, vị ấy đã bị các y sĩ từ bỏ. Một số y sĩ đã nói như vầy: 'Vào ngày thứ năm, vị trưởng giả gia chủ sẽ qua đời.' Một số y sĩ khác đã nói như vầy: 'Vào ngày thứ bảy, vị trưởng giả gia chủ sẽ qua đời.' Xin điện hạ hãy ra lệnh cho y sĩ Jīvaka chữa trị cho vị trưởng giả gia chủ."
Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro jīvakaṁ komārabhaccaṁ āṇāpesi—“gaccha, bhaṇe jīvaka, seṭṭhiṁ gahapatiṁ tikicchāhī”ti. “Evaṁ, devā”ti kho jīvako komārabhacco rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa paṭissutvā yena seṭṭhi gahapati tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā seṭṭhissa gahapatissa vikāraṁ sallakkhetvā seṭṭhiṁ gahapatiṁ etadavoca—“sace tvaṁ, gahapati, arogo bhaveyyāsi, kiṁ me assa deyyadhammo”ti?
“Sabbaṁ sāpateyyañca te, ācariya, hotu, ahañca te dāso”ti.
“Sakkhissasi pana tvaṁ, gahapati, ekena passena sattamāse nipajjitun”ti?
“Sakkomahaṁ, ācariya, ekena passena sattamāse nipajjitun”ti.
“Sakkhissasi pana tvaṁ, gahapati, dutiyena passena sattamāse nipajjitun”ti?
“Sakkomahaṁ, ācariya, dutiyena passena sattamāse nipajjitun”ti.
“Sakkhissasi pana tvaṁ, gahapati, uttāno sattamāse nipajjitun”ti?
“Sakkomahaṁ, ācariya, uttāno sattamāse nipajjitun”ti.
And that’s what the king did. Saying, “Yes, sir,” Jīvaka went to that merchant, examined him, and said, “If I were to cure you, what fee would you pay me?”
“I would give you all my wealth, doctor, and I would become your slave.”
“Are you able to lie on one side for seven months?”
“I am.”
“Are you able to lie on the other side for seven months?”
“I am.”
“Are you able to lie on your back for seven months?”
“I am.”
Khi ấy, đức vua Bimbisāra, vị vua xứ Māgadha có nhiều binh lính, đã ra lệnh cho y sĩ Jīvaka Komārabhacca rằng: “Này Jīvaka, hãy đi chữa trị cho vị trưởng giả gia chủ.” Y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã vâng lời đức vua Bimbisāra, vị vua xứ Māgadha có nhiều binh lính, rằng: “Tâu đại vương, xin vâng.” rồi đã đi đến chỗ vị trưởng giả gia chủ. Sau khi đi đến, đã xem xét tình trạng bệnh tật của vị trưởng giả gia chủ rồi nói với vị trưởng giả gia chủ điều này: “Này gia chủ, nếu ông được khỏi bệnh thì vật phẩm nên được trao tặng cho tôi là gì?” – “Thưa thầy, tất cả tài sản của tôi sẽ là của thầy, và tôi sẽ là người nô lệ của thầy.” – “Này gia chủ, vậy ông có thể nằm nghiêng một bên trong bảy tháng không?” – “Thưa thầy, tôi có thể nằm nghiêng một bên trong bảy tháng.” – “Này gia chủ, vậy ông có thể nằm nghiêng bên thứ hai trong bảy tháng không?” – “Thưa thầy, tôi có thể nằm nghiêng bên thứ hai trong bảy tháng.” – “Này gia chủ, vậy ông có thể nằm ngửa trong bảy tháng không?” – “Thưa thầy, tôi có thể nằm ngửa trong bảy tháng.”
Atha kho jīvako komārabhacco seṭṭhiṁ gahapatiṁ mañcake nipātetvā mañcake sambandhitvā sīsacchaviṁ uppāṭetvā sibbiniṁ vināmetvā dve pāṇake nīharitvā mahājanassa dassesi—“passathayye, ime dve pāṇake, ekaṁ khuddakaṁ ekaṁ mahallakaṁ. Ye te ācariyā evamāhaṁsu—‘pañcamaṁ divasaṁ seṭṭhi gahapati kālaṁ karissatī’ti—tehāyaṁ mahallako pāṇako diṭṭho. Pañcamaṁ divasaṁ seṭṭhissa gahapatissa matthaluṅgaṁ pariyādiyissati. Matthaluṅgassa pariyādānā seṭṭhi gahapati kālaṁ karissati. Sudiṭṭho tehi ācariyehi. Ye te ācariyā evamāhaṁsu—‘sattamaṁ divasaṁ seṭṭhi gahapati kālaṁ karissatī’ti—tehāyaṁ khuddako pāṇako diṭṭho. Sattamaṁ divasaṁ seṭṭhissa gahapatissa matthaluṅgaṁ pariyādiyissati. Matthaluṅgassa pariyādānā seṭṭhi gahapati kālaṁ karissati. Sudiṭṭho tehi ācariyehī”ti. Sibbiniṁ sampaṭipāṭetvā sīsacchaviṁ sibbitvā ālepaṁ adāsi.
Atha kho seṭṭhi gahapati sattāhassa accayena jīvakaṁ komārabhaccaṁ etadavoca—“nāhaṁ, ācariya, sakkomi ekena passena sattamāse nipajjitun”ti.
“Nanu me tvaṁ, gahapati, paṭissuṇi—sakkomahaṁ, ācariya, ekena passena sattamāse nipajjitun”ti?
“Saccāhaṁ, ācariya, paṭissuṇiṁ, apāhaṁ marissāmi, nāhaṁ sakkomi ekena passena sattamāse nipajjitun”ti.
“Tena hi tvaṁ, gahapati, dutiyena passena sattamāse nipajjāhī”ti.
Atha kho seṭṭhi gahapati sattāhassa accayena jīvakaṁ komārabhaccaṁ etadavoca—“nāhaṁ, ācariya, sakkomi dutiyena passena sattamāse nipajjitun”ti.
“Nanu me tvaṁ, gahapati, paṭissuṇi—sakkomahaṁ, ācariya, dutiyena passena sattamāse nipajjitun”ti?
“Saccāhaṁ, ācariya, paṭissuṇiṁ, apāhaṁ marissāmi, nāhaṁ, ācariya, sakkomi dutiyena passena sattamāse nipajjitun”ti.
“Tena hi tvaṁ, gahapati, uttāno sattamāse nipajjāhī”ti.
Atha kho seṭṭhi gahapati sattāhassa accayena jīvakaṁ komārabhaccaṁ etadavoca—“nāhaṁ, ācariya, sakkomi uttāno sattamāse nipajjitun”ti.
“Nanu me tvaṁ, gahapati, paṭissuṇi—sakkomahaṁ, ācariya, uttāno sattamāse nipajjitun”ti?
“Saccāhaṁ, ācariya, paṭissuṇiṁ, apāhaṁ marissāmi, nāhaṁ sakkomi uttāno sattamāse nipajjitun”ti.
“Ahañce taṁ, gahapati, na vadeyyaṁ, ettakampi tvaṁ na nipajjeyyāsi, api ca paṭikacceva mayā ñāto—tīhi sattāhehi seṭṭhi gahapati arogo bhavissatīti. Uṭṭhehi, gahapati, arogosi. Jānāsi kiṁ me deyyadhammo”ti?
“Sabbaṁ sāpateyyañca te, ācariya, hotu, ahañca te dāso”ti.
“Alaṁ, gahapati, mā me tvaṁ sabbaṁ sāpateyyaṁ adāsi, mā ca me dāso. Rañño satasahassaṁ dehi, mayhaṁ satasahassan”ti. Atha kho seṭṭhi gahapati arogo samāno rañño satasahassaṁ adāsi, jīvakassa komārabhaccassa satasahassaṁ.
Jīvaka then had the merchant lie down on a bed. He bound him to the bed, removed some skin from his head, opened a suture in the skull, and removed two insects. He showed them to the crowd, saying, “Sirs, look at these two insects, one small and one large. The doctors who said he would live for five days had seen the large insect. In five days it would have destroyed the merchant’s brain. Because of that he would have died. Those doctors were right. And those doctors who said he would live for seven days had seen the small insect. In seven days it would have destroyed the merchant’s brain. Because of that he would have died. Those doctors were right, too.” He then closed the suture in the skull, sewed the skin back together, and applied an ointment.
After seven days the merchant said to Jīvaka, “Doctor, I’m unable to lie on one side for seven months.”
“But didn’t you say you were?”
“I did, but I’ll die. I’m unable to do it.”
“Well then, lie on the other side for seven months.”
After seven days the merchant said to Jīvaka, “Doctor, I’m unable to lie on the other side for seven months.”
“But didn’t you say you were?”
“I did, but I’ll die. I’m unable to do it.”
“Well then, lie on your back for seven months.”
After seven days the merchant said to Jīvaka, “Doctor, I’m unable to lie on my back for seven months.”
“But didn’t you say you were?”
“I did, but I’ll die. I’m unable to do it.”
“If I hadn’t said this to you, you wouldn’t have been able to lie down for so long. I already knew that you would be well in three times seven days. Get up, you’re cured. But do you remember my fee?”
“All my wealth is yours, doctor, and I’m your slave.”
“There’s no need for that. Just give one hundred thousand coins to the king and another one hundred thousand to me.” And being well, he did just that.
Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã cho vị trưởng giả gia chủ nằm xuống giường, trói chặt vào giường, rạch da đầu, mở khớp sọ, lấy ra hai con sâu rồi cho đại chúng xem: “Thưa các ngài, xin hãy xem hai con sâu này, một con nhỏ, một con lớn. Các vị thầy thuốc đã nói như vầy: ‘Vào ngày thứ năm, vị trưởng giả gia chủ sẽ mệnh chung,’ là do các vị ấy đã thấy con sâu lớn này. Vào ngày thứ năm, não của vị trưởng giả gia chủ sẽ bị ăn hết. Do não bị ăn hết, vị trưởng giả gia chủ sẽ mệnh chung. Các vị thầy thuốc ấy đã thấy đúng. Các vị thầy thuốc đã nói như vầy: ‘Vào ngày thứ bảy, vị trưởng giả gia chủ sẽ mệnh chung,’ là do các vị ấy đã thấy con sâu nhỏ này. Vào ngày thứ bảy, não của vị trưởng giả gia chủ sẽ bị ăn hết. Do não bị ăn hết, vị trưởng giả gia chủ sẽ mệnh chung. Các vị thầy thuốc ấy đã thấy đúng.” Sau khi sắp đặt lại khớp sọ, khâu da đầu lại, y sĩ đã bôi thuốc mỡ. Bấy giờ, sau bảy ngày, vị trưởng giả gia chủ đã nói với y sĩ Jīvaka Komārabhacca điều này: “Thưa thầy, tôi không thể nằm nghiêng một bên trong bảy tháng.” – “Này gia chủ, chẳng phải ông đã hứa với tôi rằng: ‘Thưa thầy, tôi có thể nằm nghiêng một bên trong bảy tháng’ hay sao?” – “Thưa thầy, sự thật là tôi đã hứa, nhưng tôi sắp chết mất, tôi không thể nằm nghiêng một bên trong bảy tháng.” – “Này gia chủ, nếu vậy thì ông hãy nằm nghiêng bên thứ hai trong bảy tháng.” Khi ấy, sau bảy ngày, vị trưởng giả gia chủ đã nói với y sĩ Jīvaka Komārabhacca điều này: “Thưa thầy, tôi không thể nằm nghiêng bên thứ hai trong bảy tháng.” – “Này gia chủ, chẳng phải ông đã hứa với tôi rằng: ‘Thưa thầy, tôi có thể nằm nghiêng bên thứ hai trong bảy tháng’ hay sao?” – “Thưa thầy, sự thật là tôi đã hứa, nhưng tôi sắp chết mất, thưa thầy, tôi không thể nằm nghiêng bên thứ hai trong bảy tháng.” – “Này gia chủ, nếu vậy thì ông hãy nằm ngửa trong bảy tháng.” Khi ấy, sau bảy ngày, vị trưởng giả gia chủ đã nói với y sĩ Jīvaka Komārabhacca điều này: “Thưa thầy, tôi không thể nằm ngửa trong bảy tháng.” – “Này gia chủ, chẳng phải ông đã hứa với tôi rằng: ‘Thưa thầy, tôi có thể nằm ngửa trong bảy tháng’ hay sao?” – “Thưa thầy, sự thật là tôi đã hứa, nhưng tôi sắp chết mất, tôi không thể nằm ngửa trong bảy tháng.” – “Này gia chủ, nếu tôi không nói với ông như thế thì ông đã không nằm được chừng ấy thời gian. Hơn nữa, ngay từ đầu tôi đã biết rằng: ‘Sau ba tuần, vị trưởng giả gia chủ sẽ được khỏi bệnh.’ Này gia chủ, hãy đứng dậy, ông đã khỏi bệnh rồi. Ông có biết vật phẩm nên được trao tặng cho tôi là gì không?” – “Thưa thầy, tất cả tài sản của tôi sẽ là của thầy, và tôi sẽ là người nô lệ của thầy.” – “Này gia chủ, thôi đi. Ông đừng trao cho tôi tất cả tài sản, và cũng đừng làm nô lệ của tôi. Hãy dâng lên đức vua một trăm ngàn, và cho tôi một trăm ngàn.” Khi ấy, vị trưởng giả gia chủ sau khi đã khỏi bệnh đã dâng lên đức vua một trăm ngàn và đã trao cho y sĩ Jīvaka Komārabhacca một trăm ngàn.
5. Seṭṭhiputtavatthu
5. The account of the wealthy merchant’s son
206. Câu chuyện về con trai của vị trưởng giả
Tena kho pana samayena bārāṇaseyyakassa seṭṭhiputtassa mokkhacikāya kīḷantassa antagaṇṭhābādho hoti, yena yāgupi pītā na sammā pariṇāmaṁ gacchati, bhattampi bhuttaṁ na sammā pariṇāmaṁ gacchati, uccāropi passāvopi na paguṇo. So tena kiso hoti lūkho dubbaṇṇo uppaṇḍuppaṇḍukajāto dhamanisanthatagatto. Atha kho bārāṇaseyyakassa seṭṭhissa etadahosi—“mayhaṁ kho puttassa tādiso ābādho, yena yāgupi pītā na sammā pariṇāmaṁ gacchati, bhattampi bhuttaṁ na sammā pariṇāmaṁ gacchati, uccāropi passāvopi na paguṇo. So tena kiso lūkho dubbaṇṇo uppaṇḍuppaṇḍukajāto dhamanisanthatagatto. Yannūnāhaṁ rājagahaṁ gantvā rājānaṁ jīvakaṁ vejjaṁ yāceyyaṁ puttaṁ me tikicchitun”ti.
Atha kho bārāṇaseyyako seṭṭhi rājagahaṁ gantvā yena rājā māgadho seniyo bimbisāro tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā rājānaṁ māgadhaṁ seniyaṁ bimbisāraṁ etadavoca—“mayhaṁ kho, deva, puttassa tādiso ābādho, yena yāgupi pītā na sammā pariṇāmaṁ gacchati, bhattampi bhuttaṁ na sammā pariṇāmaṁ gacchati, uccāropi passāvopi na paguṇo. So tena kiso lūkho dubbaṇṇo uppaṇḍuppaṇḍukajāto dhamanisanthatagatto. Sādhu devo jīvakaṁ vejjaṁ āṇāpetu puttaṁ me tikicchitun”ti.
On one occasion the son of a wealthy merchant in Benares twisted his gut while turning somersaults. Because of that, he was not able to digest congee or food, and he couldn’t urinate or defecate. He became thin, haggard, and pale, with veins protruding all over his body. The merchant considered this and thought, “Why don’t I go to Rājagaha and ask the king for doctor Jīvaka to treat my son?”
He then traveled to Rājagaha, went to King Bimbisāra, and told him about his son, adding, “Sir, please ask doctor Jīvaka to treat my son.”
333. Vào lúc bấy giờ, con trai của một vị trưởng giả ở Bārāṇasī trong khi đang chơi trò nhào lộn đã bị chứng bệnh xoắn ruột. Do chứng bệnh ấy, cháo đã uống vào không được tiêu hóa tốt, cơm đã ăn vào cũng không được tiêu hóa tốt, việc đại tiện và tiểu tiện cũng không được thông suốt. Do bệnh ấy, người ấy trở nên gầy gò, thô ráp, da dẻ xấu xí, xanh xao vàng vọt, và thân thể nổi đầy gân guốc. Khi ấy, vị trưởng giả ở Bārāṇasī đã suy nghĩ như vầy: ‘Con trai của ta bị chứng bệnh như thế, do chứng bệnh ấy, cháo đã uống vào không được tiêu hóa tốt, cơm đã ăn vào cũng không được tiêu hóa tốt, việc đại tiện và tiểu tiện cũng không được thông suốt. Do bệnh ấy, nó trở nên gầy gò, thô ráp, da dẻ xấu xí, xanh xao vàng vọt, và thân thể nổi đầy gân guốc. Hay là ta nên đi đến thành Rājagaha, thỉnh cầu đức vua cho y sĩ Jīvaka đến chữa trị cho con trai của ta.’ Sau đó, vị trưởng giả ở Bārāṇasī đã đi đến thành Rājagaha, đi đến yết kiến đức vua Bimbisāra của xứ Māgadha, thuộc dòng Seniya. Sau khi đã đến yết kiến, vị ấy đã bạch với đức vua Bimbisāra của xứ Māgadha, thuộc dòng Seniya rằng: ‘Tâu đại vương, con trai của hạ thần bị chứng bệnh như thế, do chứng bệnh ấy, cháo đã uống vào không được tiêu hóa tốt, cơm đã ăn vào cũng không được tiêu hóa tốt, việc đại tiện và tiểu tiện cũng không được thông suốt. Do bệnh ấy, nó trở nên gầy gò, thô ráp, da dẻ xấu xí, xanh xao vàng vọt, và thân thể nổi đầy gân guốc. Xin đại vương hãy vui lòng ra lệnh cho y sĩ Jīvaka đến chữa trị cho con trai của hạ thần.’
Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro jīvakaṁ komārabhaccaṁ āṇāpesi—“gaccha, bhaṇe jīvaka, bārāṇasiṁ gantvā bārāṇaseyyakaṁ seṭṭhiputtaṁ tikicchāhī”ti. “Evaṁ, devā”ti kho jīvako komārabhacco rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa paṭissutvā bārāṇasiṁ gantvā yena bārāṇaseyyako seṭṭhiputto tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bārāṇaseyyakassa seṭṭhiputtassa vikāraṁ sallakkhetvā janaṁ ussāretvā tirokaraṇiyaṁ parikkhipitvā thambhe ubbandhitvā bhariyaṁ purato ṭhapetvā udaracchaviṁ uppāṭetvā antagaṇṭhiṁ nīharitvā bhariyāya dassesi—“passa te sāmikassa ābādhaṁ, iminā yāgupi pītā na sammā pariṇāmaṁ gacchati, bhattampi bhuttaṁ na sammā pariṇāmaṁ gacchati, uccāropi passāvopi na paguṇo; imināyaṁ kiso lūkho dubbaṇṇo uppaṇḍuppaṇḍukajāto dhamanisanthatagatto”ti. Antagaṇṭhiṁ viniveṭhetvā antāni paṭipavesetvā udaracchaviṁ sibbitvā ālepaṁ adāsi. Atha kho bārāṇaseyyako seṭṭhiputto nacirasseva arogo ahosi. Atha kho bārāṇaseyyako seṭṭhi—“putto me arogo ṭhito”ti jīvakassa komārabhaccassa soḷasasahassāni pādāsi. Atha kho jīvako komārabhacco tāni soḷasasahassāni ādāya punadeva rājagahaṁ paccāgañchi.
And that’s what the king did. Jīvaka consented and then traveled to Benares where he went to that merchant. He examined his son, dismissed the people there, put up a curtain all around, and tied him to a pillar. He then had his wife stand in front of him, cut open his belly, and pulled out his twisted gut. He showed it to his wife, saying, “See, this is your husband’s affliction. It’s because of this that he’s in such a bad state.” He then untwisted the gut, put it back, sewed his belly back together, and applied ointment. Soon the merchant’s son was healthy again. His father gave sixteen thousand coins to Jīvaka, and Jīvaka returned to Rājagaha.
Khi ấy, đức vua Bimbisāra của xứ Māgadha, thuộc dòng Seniya, đã ra lệnh cho y sĩ Jīvaka Komārabhacca rằng: ‘Này Jīvaka, hãy đi đến thành Bārāṇasī và chữa trị cho con trai của vị trưởng giả ở Bārāṇasī.’ ‘Tâu vâng, đại vương.’ Y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã vâng lời đức vua Bimbisāra của xứ Māgadha, thuộc dòng Seniya, rồi đi đến thành Bārāṇasī, đi đến chỗ con trai của vị trưởng giả ở Bārāṇasī. Sau khi đã đến, y sĩ đã xem xét tình trạng bệnh của con trai vị trưởng giả ở Bārāṇasī, rồi cho mọi người lui ra, cho dựng một tấm màn che, trói người bệnh vào một cây cột, cho người vợ đứng ở phía trước, rồi rạch da bụng, lấy khúc ruột bị xoắn ra và chỉ cho người vợ xem: ‘Hãy xem bệnh của chồng ngươi. Do chứng bệnh này mà cháo đã uống vào không được tiêu hóa tốt, cơm đã ăn vào cũng không được tiêu hóa tốt, việc đại tiện và tiểu tiện cũng không được thông suốt; do bệnh này mà người ấy trở nên gầy gò, thô ráp, da dẻ xấu xí, xanh xao vàng vọt, và thân thể nổi đầy gân guốc.’ Y sĩ đã gỡ khúc ruột bị xoắn, đặt ruột trở lại vào trong, khâu da bụng lại, và thoa thuốc mỡ. Khi ấy, không bao lâu sau, con trai của vị trưởng giả ở Bārāṇasī đã được khỏi bệnh. Khi ấy, vị trưởng giả ở Bārāṇasī, vì nghĩ rằng: ‘Con trai của ta đã được khỏi bệnh,’ đã tặng cho y sĩ Jīvaka Komārabhacca mười sáu ngàn (đồng tiền). Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã nhận lấy mười sáu ngàn (đồng tiền) ấy rồi trở về lại thành Rājagaha.
6. Pajjotarājavatthu
6. The account of King Pajjota
207. Câu chuyện về vua Pajjota
Tena kho pana samayena rañño pajjotassa paṇḍurogābādho hoti. Bahū mahantā mahantā disāpāmokkhā vejjā āgantvā nāsakkhiṁsu arogaṁ kātuṁ. Bahuṁ hiraññaṁ ādāya agamaṁsu. Atha kho rājā pajjoto rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa santike dūtaṁ pāhesi—“mayhaṁ kho tādiso ābādho, sādhu devo jīvakaṁ vejjaṁ āṇāpetu, so maṁ tikicchissatī”ti.
Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro jīvakaṁ komārabhaccaṁ āṇāpesi—“gaccha, bhaṇe jīvaka; ujjeniṁ gantvā rājānaṁ pajjotaṁ tikicchāhī”ti. “Evaṁ, devā”ti kho jīvako komārabhacco rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa paṭissutvā ujjeniṁ gantvā yena rājā pajjoto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rañño pajjotassa vikāraṁ sallakkhetvā rājānaṁ pajjotaṁ etadavoca—“sappiṁ dehi, sappiṁ, deva, nippacissāmi. Taṁ devo pivissatī”ti.
“Alaṁ, bhaṇe jīvaka, yaṁ te sakkā vinā sappinā arogaṁ kātuṁ taṁ karohi. Jegucchaṁ me sappi, paṭikūlan”ti.
Atha kho jīvakassa komārabhaccassa etadahosi—“imassa kho rañño tādiso ābādho, na sakkā vinā sappinā arogaṁ kātuṁ. Yannūnāhaṁ sappiṁ nippaceyyaṁ kasāvavaṇṇaṁ kasāvagandhaṁ kasāvarasan”ti. Atha kho jīvako komārabhacco nānābhesajjehi sappiṁ nippaci kasāvavaṇṇaṁ kasāvagandhaṁ kasāvarasaṁ. Atha kho jīvakassa komārabhaccassa etadahosi—“imassa kho rañño sappi pītaṁ pariṇāmentaṁ uddekaṁ dassati. Caṇḍoyaṁ rājā ghātāpeyyāpi maṁ. Yannūnāhaṁ paṭikacceva āpuccheyyan”ti. Atha kho jīvako komārabhacco yena rājā pajjoto tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā rājānaṁ pajjotaṁ etadavoca—“mayaṁ kho, deva, vejjā nāma tādisena muhuttena mūlāni uddharāma bhesajjāni saṁharāma. Sādhu devo vāhanāgāresu ca dvāresu ca āṇāpetu—yena vāhanena jīvako icchati tena vāhanena gacchatu, yena dvārena icchati tena dvārena gacchatu, yaṁ kālaṁ icchati taṁ kālaṁ gacchatu, yaṁ kālaṁ icchati taṁ kālaṁ pavisatū”ti. Atha kho rājā pajjoto vāhanāgāresu ca dvāresu ca āṇāpesi—“yena vāhanena jīvako icchati tena vāhanena gacchatu, yena dvārena icchati tena dvārena gacchatu, yaṁ kālaṁ icchati taṁ kālaṁ gacchatu, yaṁ kālaṁ icchati taṁ kālaṁ pavisatū”ti.
Tena kho pana samayena rañño pajjotassa bhaddavatikā nāma hatthinikā paññāsayojanikā hoti.
At that time King Pajjota had jaundice. Many of the most famous physicians in the world had come to see him, but none was able to cure him. And they were very expensive. King Pajjota then sent a message to King Bimbisāra: “Sir, I have such-and-such a disease. Please ask doctor Jīvaka to treat me.”
King Bimbisāra told Jīvaka, “Go to Ujjenī, Jīvaka, and treat King Pajjota.” Jīvaka consented and traveled to Ujjenī. He then went to King Pajjota, examined him, and said, “Please give me some ghee, sir. I’ll make a medicine from it for you to drink.”
“Forget it, Jīvaka. Make whatever will cure me that doesn’t contain ghee. I hate ghee; it’s disgusting.”
Jīvaka thought, “I won’t be able to cure this sickness without ghee. Why don’t I prepare medicine from ghee, but with a bitter color, smell, and taste?” Jīvaka then cooked ghee with a number of medicines, but he made sure it had the color, smell, and taste of a bitter substance. But it occurred to him, “When the king is digesting the ghee after drinking it, it will make him vomit. And because he’s temperamental, he might have me executed. Let me take leave in advance.” He then went to the king and said, “Sir, we doctors need to pull up roots and collect medicines at short notice. Please instruct the stables and the gates: ‘Jīvaka may ride on whatever animal he wishes, depart by whatever gate he desires, and he may come and go as he pleases.’” The king did as Jīvaka had asked.
At that time King Pajjota had a she-elephant called Bhaddavatikā, which could traverse 650 kilometers in a day.
334. Vào lúc bấy giờ, vua Pajjota bị bệnh vàng da. Nhiều y sĩ lừng danh, lỗi lạc, đã đến nhưng không thể chữa trị cho khỏi bệnh. Họ đã lấy nhiều vàng bạc rồi ra đi. Khi ấy, vua Pajjota đã phái sứ giả đến chỗ vua Bimbisāra Seniya xứ Māgadha với lời nhắn: “Trẫm đang bị một căn bệnh như thế, mong rằng đức vua hãy ra lệnh cho y sĩ Jīvaka đến, y sĩ ấy sẽ chữa trị cho trẫm.” Khi ấy, vua Bimbisāra Seniya xứ Māgadha đã ra lệnh cho y sĩ Jīvaka Komārabhacca rằng: “Này Jīvaka, hãy đi đến Ujjenī và chữa trị cho vua Pajjota.” “Vâng, tâu đức vua.” Y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã vâng lời vua Bimbisāra Seniya xứ Māgadha, đi đến Ujjenī, rồi đi đến yết kiến vua Pajjota. Sau khi yết kiến, y sĩ đã xem xét tình trạng bệnh của vua Pajjota rồi tâu với vua Pajjota rằng: “Tâu đức vua, xin hãy ban cho bơ sữa. Thần sẽ nấu bơ sữa. Đức vua sẽ uống thứ ấy.” “Thôi đi, này Jīvaka. Điều gì ngươi có thể làm để chữa khỏi bệnh mà không cần bơ sữa thì hãy làm điều đó. Ta ghê tởm bơ sữa, thật kinh tởm.” Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã suy nghĩ thế này: “Căn bệnh của đức vua này là loại bệnh không thể chữa khỏi nếu không có bơ sữa. Hay là ta nên nấu bơ sữa có màu sắc, mùi vị, và hương vị của thuốc sắc.” Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã dùng nhiều loại dược liệu để nấu bơ sữa có màu sắc, mùi vị, và hương vị của thuốc sắc. Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã suy nghĩ thế này: “Sau khi đức vua này uống bơ sữa, lúc tiêu hóa, nó sẽ gây ra sự nôn ọe. Vị vua này lại hung bạo, có thể sẽ ra lệnh giết ta. Hay là ta nên xin phép trước.” Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã đi đến yết kiến vua Pajjota. Sau khi yết kiến, y sĩ đã tâu với vua Pajjota rằng: “Tâu đức vua, chúng thần là y sĩ, vào những thời điểm thích hợp, chúng thần phải đi nhổ rễ cây, thu thập dược liệu. Mong rằng đức vua hãy ra lệnh ở các chuồng xe và các cổng thành rằng: ‘Y sĩ Jīvaka muốn đi bằng phương tiện nào thì hãy để y đi bằng phương tiện đó, muốn đi qua cổng nào thì hãy để y đi qua cổng đó, muốn đi vào lúc nào thì hãy để y đi vào lúc đó, muốn vào lúc nào thì hãy để y vào lúc đó.’” Khi ấy, vua Pajjota đã ra lệnh ở các chuồng xe và các cổng thành rằng: “Y sĩ Jīvaka muốn đi bằng phương tiện nào thì hãy để y đi bằng phương tiện đó, muốn đi qua cổng nào thì hãy để y đi qua cổng đó, muốn đi vào lúc nào thì hãy để y đi vào lúc đó, muốn vào lúc nào thì hãy để y vào lúc đó.”
Vào lúc bấy giờ, vua Pajjota có một con voi cái tên là Bhaddavatikā, có thể đi được năm mươi do-tuần một ngày. Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã dâng bơ sữa lên vua Pajjota và nói: “Xin đức vua hãy uống thuốc sắc này.” Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca sau khi cho vua Pajjota uống bơ sữa, đã đi đến chuồng voi, rồi dùng voi cái Bhaddavatikā rời khỏi thành phố.
Atha kho rañño pajjotassa taṁ sappi pītaṁ pariṇāmentaṁ uddekaṁ adāsi. Atha kho rājā pajjoto manusse etadavoca—“duṭṭhena, bhaṇe, jīvakena sappiṁ pāyitomhi. Tena hi, bhaṇe, jīvakaṁ vejjaṁ vicinathā”ti.
“Bhaddavatikāya, deva, hatthinikāya nagaramhā nippatito”ti.
Tena kho pana samayena rañño pajjotassa kāko nāma dāso saṭṭhiyojaniko hoti, amanussena paṭicca jāto. Atha kho rājā pajjoto kākaṁ dāsaṁ āṇāpesi—“gaccha, bhaṇe kāka, jīvakaṁ vejjaṁ nivattehi—rājā taṁ, ācariya, nivattāpetīti. Ete kho, bhaṇe kāka, vejjā nāma bahumāyā. Mā cassa kiñci paṭiggahesī”ti.
Soon afterwards, while King Pajjota was digesting that ghee, he vomited. He said to his men, “That scoundrel Jīvaka made me drink ghee. Find out where he is.”
“Sir, he’s fled the city on Bhaddavatikā.”
At that time King Pajjota had a slave called Kāka, whose mother was a spirit and who could traverse 780 kilometers in a day. The king told Kāka, “Go, Kāka, and make Jīvaka turn back. Tell him that the king is asking him to return. But Kāka, these doctors are full of tricks. Don’t receive anything from him.”
Khi ấy, bơ sữa mà vua Pajjota đã uống, trong lúc tiêu hóa, đã gây ra sự nôn ọe. Khi ấy, vua Pajjota đã nói với những người hầu cận rằng: “Này các khanh, ta đã bị tên Jīvaka xấu xa cho uống bơ sữa. Vậy thì, này các khanh, hãy đi tìm y sĩ Jīvaka.” Họ tâu: “Tâu đức vua, y đã dùng voi cái Bhaddavatikā rời khỏi thành phố rồi.” Vào lúc bấy giờ, vua Pajjota có một người nô lệ tên là Kāka, có thể đi được sáu mươi do-tuần một ngày, được sinh ra do duyên với một phi nhân. Khi ấy, vua Pajjota đã ra lệnh cho người nô lệ Kāka rằng: “Này Kāka, hãy đi và gọi y sĩ Jīvaka quay trở lại, hãy nói: ‘Thưa ngài, đức vua cho gọi ngài trở về.’ Này Kāka, những y sĩ này rất xảo quyệt. Ngươi chớ có nhận bất cứ thứ gì từ y.”
Atha kho kāko dāso jīvakaṁ komārabhaccaṁ antarāmagge kosambiyaṁ sambhāvesi pātarāsaṁ karontaṁ.
Kāka caught up with Jīvaka at Kosambī, while he was still on his way and having breakfast.
Khi ấy, người nô lệ Kāka đã gặp được y sĩ Jīvaka Komārabhacca ở Kosambī, trên đường đi.
“Āgamehi, bhaṇe kāka, yāva bhuñjāma. Handa, bhaṇe kāka, bhuñjassū”ti.
“Alaṁ, ācariya, raññāmhi āṇatto—ete kho, bhaṇe kāka, vejjā nāma bahumāyā, mā cassa kiñci paṭiggahesī”ti.
Tena kho pana samayena jīvako komārabhacco nakhena bhesajjaṁ olumpetvā āmalakañca khādati pānīyañca pivati. Atha kho jīvako komārabhacco kākaṁ dāsaṁ etadavoca—“handa, bhaṇe kāka, āmalakañca khāda pānīyañca pivassū”ti. Atha kho kāko dāso—“ayaṁ kho vejjo āmalakañca khādati pānīyañca pivati, na arahati kiñci pāpakaṁ hotun”ti—upaḍḍhāmalakañca khādi pānīyañca apāyi. Tassa taṁ upaḍḍhāmalakaṁ khāditaṁ tattheva nicchāresi. Atha kho kāko dāso jīvakaṁ komārabhaccaṁ etadavoca—“atthi me, ācariya, jīvitan”ti?
“Mā, bhaṇe kāka, bhāyi, tvañceva arogo bhavissasi rājā ca. Caṇḍo so rājā ghātāpeyyāpi maṁ, tenāhaṁ na nivattāmī”ti
bhaddavatikaṁ hatthinikaṁ kākassa niyyādetvā yena rājagahaṁ tena pakkāmi. Anupubbena yena rājā māgadho seniyo bimbisāro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa etamatthaṁ ārocesi. “Suṭṭhu, bhaṇe jīvaka, akāsi yampi na nivatto, caṇḍo so rājā ghātāpeyyāpi tan”ti.
Atha kho rājā pajjoto arogo samāno jīvakassa komārabhaccassa santike dūtaṁ pāhesi—“āgacchatu jīvako, varaṁ dassāmī”ti.
“Alaṁ, ayyo, adhikāraṁ me devo saratū”ti.
“Wait, Kāka, until I’ve finished eating. Why don’t you have something too?”
“There’s no need. The king told me that doctors are full of tricks and that I shouldn’t receive anything from you.”
Jīvaka then removed the medicinal part of an emblic myrobalan fruit with his nail, before eating it and drinking water. And he said to Kāka, “Here, Kāka, have some emblic myrobalan and water.” Kāka thought, “The doctor is eating and drinking it. It can’t be anything bad.” So he ate half a fruit and drank the water. When he had eaten it, he vomited right there. He asked Jīvaka, “Will I survive?”
“Don’t be afraid, Kāka. Both you and the king will be well. But the king is temperamental and might have me executed. Because of that I won’t return.”
After handing back the she-elephant Bhaddavatikā to Kāka, he continued on to Rājagaha. When he eventually arrived, he went to King Bimbisāra and told him what had happened. The king said, “It’s good, Jīvaka, that you didn’t return. That king is temperamental and might even have had you executed.”
When King Pajjota was cured, he sent a message to Jīvaka: “Come, Jīvaka, I wish to give you a gift.”
He replied, “There’s no need, sir. Please just remember my act of service.”
Bấy giờ, người nô bộc tên là Kāka đã nói với y sĩ Jīvaka Komārabhacca điều này: “Thưa thầy, đức vua cho mời thầy trở về.” – “Này bạn Kāka, hãy đợi cho đến khi chúng tôi dùng xong. Này bạn Kāka, mời bạn dùng bữa.” – “Thôi đủ rồi, thưa thầy, tôi đã được đức vua ra lệnh rằng: ‘Này bạn Kāka, các y sĩ này có nhiều mưu mẹo, ngươi chớ có nhận bất cứ thứ gì của y.’” Vào lúc ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca dùng móng tay cạo thuốc rồi ăn trái āmalaka và uống nước. Sau đó, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã nói với người nô bộc Kāka điều này: “Này bạn Kāka, mời bạn ăn trái āmalaka và uống nước.” Bấy giờ, người nô bộc Kāka (nghĩ rằng): “Vị y sĩ này cũng ăn trái āmalaka và uống nước, không thể có điều gì xấu xảy ra được,” rồi đã ăn nửa trái āmalaka và đã uống nước. Nửa trái āmalaka ấy, sau khi được ăn, đã khiến người ấy bị xổ ngay tại chỗ. Bấy giờ, người nô bộc Kāka đã nói với y sĩ Jīvaka Komārabhacca điều này: “Thưa thầy, mạng sống của tôi có còn không?” – “Này bạn Kāka, đừng sợ. Cả bạn và đức vua sẽ được khỏe mạnh. Vị vua ấy hung bạo, có thể sẽ cho giết tôi, vì thế tôi không trở về.” (Nói xong), y đã giao con voi cái tên Bhaddavatikā cho Kāka rồi lên đường đi đến thành Rājagaha. Tuần tự, y đã đi đến nơi có vua Bimbisāra Seniya xứ Māgadha; sau khi đến, y đã trình báo sự việc ấy lên vua Bimbisāra Seniya xứ Māgadha. (Nhà vua phán): “Này Jīvaka, khanh đã làm rất tốt khi không trở về. Vị vua ấy hung bạo, có thể sẽ cho giết khanh.” Sau đó, vua Pajjota, sau khi đã khỏi bệnh, đã phái sứ giả đến chỗ y sĩ Jīvaka Komārabhacca (với lời nhắn): “Hãy để Jīvaka đến, ta sẽ ban thưởng.” (Jīvaka trả lời): “Thôi đủ rồi, thưa ngài. Xin đức vua hãy ghi nhớ công lao của tôi.”
7. Siveyyakadussayugakathā
7. The account of the two valuable cloths
Câu chuyện về cặp vải xứ Siveyyaka
Tena kho pana samayena rañño pajjotassa siveyyakaṁ dussayugaṁ uppannaṁ hoti—bahūnaṁ dussānaṁ bahūnaṁ dussayugānaṁ bahūnaṁ dussayugasatānaṁ bahūnaṁ dussayugasahassānaṁ bahūnaṁ dussayugasatasahassānaṁ aggañca seṭṭhañca mokkhañca uttamañca pavarañca. Atha kho rājā pajjoto taṁ siveyyakaṁ dussayugaṁ jīvakassa komārabhaccassa pāhesi. Atha kho jīvakassa komārabhaccassa etadahosi—“idaṁ kho me siveyyakaṁ dussayugaṁ raññā pajjotena pahitaṁ—bahūnaṁ dussānaṁ bahūnaṁ dussayugānaṁ bahūnaṁ dussayugasatānaṁ bahūnaṁ dussayugasahassānaṁ bahūnaṁ dussayugasatasahassānaṁ aggañca seṭṭhañca mokkhañca uttamañca pavarañca. Nayidaṁ añño koci paccārahati aññatra tena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena, raññā vā māgadhena seniyena bimbisārenā”ti.
Soon afterwards King Pajjota obtained two valuable cloths. They were extremely exquisite and fine, one in a million. The king sent them to Jīvaka. Jīvaka thought, “No-one is worthy of these except the Buddha, the Perfected and fully Awakened One, or King Bimbisāra.”
208. Vào lúc bấy giờ, vua Pajjota có được một cặp vải xứ Siveyyaka – là loại hàng đầu, tốt nhất, ưu việt, cao quý, và tuyệt hảo hơn nhiều loại vải, nhiều cặp vải, nhiều trăm cặp vải, nhiều ngàn cặp vải, nhiều trăm ngàn cặp vải. Bấy giờ, vua Pajjota đã gửi cặp vải xứ Siveyyaka ấy cho y sĩ Jīvaka Komārabhacca. Sau đó, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã khởi lên suy nghĩ này: “Cặp vải xứ Siveyyaka này đã được vua Pajjota gửi cho ta – là loại hàng đầu, tốt nhất, ưu việt, cao quý, và tuyệt hảo hơn nhiều loại vải, nhiều cặp vải, nhiều trăm cặp vải, nhiều ngàn cặp vải, nhiều trăm ngàn cặp vải. Không một ai khác xứng đáng mặc cặp vải này, ngoại trừ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, hoặc là vua Bimbisāra Seniya xứ Māgadha.”
8. Samattiṁsavirecanakathā
8. The account of the thirty purgings
335. Câu chuyện về ba mươi lần xổ
Tena kho pana samayena bhagavato kāyo dosābhisanno hoti. Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi—“dosābhisanno kho, ānanda, tathāgatassa kāyo. Icchati tathāgato virecanaṁ pātun”ti. Atha kho āyasmā ānando yena jīvako komārabhacco tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā jīvakaṁ komārabhaccaṁ etadavoca—“dosābhisanno kho, āvuso jīvaka, tathāgatassa kāyo. Icchati tathāgato virecanaṁ pātun”ti. “Tena hi, bhante ānanda, bhagavato kāyaṁ katipāhaṁ sinehethā”ti.
Atha kho āyasmā ānando bhagavato kāyaṁ katipāhaṁ sinehetvā yena jīvako komārabhacco tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā jīvakaṁ komārabhaccaṁ etadavoca—“siniddho kho, āvuso jīvaka, tathāgatassa kāyo. Yassadāni kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho jīvakassa komārabhaccassa etadahosi—“na kho metaṁ patirūpaṁ yohaṁ bhagavato oḷārikaṁ virecanaṁ dadeyyan”ti. Tīṇi uppalahatthāni nānābhesajjehi paribhāvetvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā ekaṁ uppalahatthaṁ bhagavato upanāmesi—“imaṁ, bhante, bhagavā paṭhamaṁ uppalahatthaṁ upasiṅghatu. Idaṁ bhagavantaṁ dasakkhattuṁ virecessatī”ti. Dutiyaṁ uppalahatthaṁ bhagavato upanāmesi—“imaṁ, bhante, bhagavā dutiyaṁ uppalahatthaṁ upasiṅghatu. Idaṁ bhagavantaṁ dasakkhattuṁ virecessatī”ti. Tatiyaṁ uppalahatthaṁ bhagavato upanāmesi—“imaṁ, bhante, bhagavā tatiyaṁ uppalahatthaṁ upasiṅghatu. Idaṁ bhagavantaṁ dasakkhattuṁ virecessatī”ti. Evaṁ bhagavato samattiṁsāya virecanaṁ bhavissatīti. Atha kho jīvako komārabhacco bhagavato samattiṁsāya virecanaṁ datvā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho jīvakassa komārabhaccassa bahi dvārakoṭṭhakā nikkhantassa etadahosi—“mayā kho bhagavato samattiṁsāya virecanaṁ dinnaṁ. Dosābhisanno tathāgatassa kāyo. Na bhagavantaṁ samattiṁsakkhattuṁ virecessati, ekūnattiṁsakkhattuṁ bhagavantaṁ virecessati. Api ca bhagavā viritto nahāyissati. Nahātaṁ bhagavantaṁ sakiṁ virecessati. Evaṁ bhagavato samattiṁsāya virecanaṁ bhavissatī”ti.
On one occasion the Buddha’s body was full of impurities. He said to Venerable Ānanda, “Ānanda, my body is full of impurities. I would like to take a purgative.” Ānanda went to Jīvaka and told him what the Buddha had said. And Jīvaka replied, “Well then, Venerable Ānanda, oil the Buddha’s body for a few days.”
After doing as instructed, Ānanda returned to Jīvaka to let him know, adding, “Please continue the treatment.”
Jīvaka thought, “It would not be appropriate for me to give the Buddha a powerful purgative.” He then prepared three handfuls of blue water-lily flowers with a variety of medicines, went to the Buddha, and gave him one handful, saying, “Sir, please smell the first handful. This will purge you ten times.” He then brought him the second and the third handful, repeating the instruction, adding, “In this way you’ll have thirty purgings.” After giving the Buddha thirty purgings, he bowed down, circumambulated him with his right side toward him, and left.
When he was outside the gatehouse, Jīvaka thought, “I’ve given thirty purgings to the Buddha, for his body is full of impurities. But he’ll only be purged twenty-nine times. After being purged, however, he’ll take a bath, which will count as one purging. In this way the Buddha will have had exactly thirty purgings.”
336. Vào lúc bấy giờ, thân thể của đức Thế Tôn bị rối loạn thể dịch. Khi ấy, đức Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda và nói: “Này Ānanda, thân thể của Như Lai bị rối loạn thể dịch. Như Lai muốn dùng thuốc xổ.” Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đi đến chỗ y sĩ Jīvaka Komārabhacca; sau khi đến, Tôn giả đã nói với y sĩ Jīvaka Komārabhacca điều này: “Này hiền hữu Jīvaka, thân thể của Như Lai bị rối loạn thể dịch. Như Lai muốn dùng thuốc xổ.” (Jīvaka đáp:) “Thưa ngài Ānanda, nếu vậy, xin ngài hãy xoa dầu vào thân thể của đức Thế Tôn trong vài ngày.” Khi ấy, Tôn giả Ānanda sau khi đã xoa dầu vào thân thể của đức Thế Tôn trong vài ngày, đã đi đến chỗ y sĩ Jīvaka Komārabhacca; sau khi đến, Tôn giả đã nói với y sĩ Jīvaka Komārabhacca điều này: “Này hiền hữu Jīvaka, thân thể của Như Lai đã được xoa dầu. Bây giờ, hiền hữu hãy xem xét thời điểm thích hợp.” Bấy giờ, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã suy nghĩ như sau: “Việc ta dâng thuốc xổ loại thô cho đức Thế Tôn là không thích hợp.” (Y sĩ) đã tẩm các loại dược liệu khác nhau vào ba đóa hoa sen xanh rồi đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, y sĩ đã dâng một đóa hoa sen xanh lên đức Thế Tôn và bạch rằng: “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy ngửi đóa hoa sen xanh thứ nhất này. Việc này sẽ làm cho đức Thế Tôn xổ mười lần.” (Y sĩ) đã dâng đóa hoa sen xanh thứ hai lên đức Thế Tôn và bạch rằng: “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy ngửi đóa hoa sen xanh thứ hai này. Việc này sẽ làm cho đức Thế Tôn xổ mười lần.” (Y sĩ) đã dâng đóa hoa sen xanh thứ ba lên đức Thế Tôn và bạch rằng: “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy ngửi đóa hoa sen xanh thứ ba này. Việc này sẽ làm cho đức Thế Tôn xổ mười lần. Như vậy, đức Thế Tôn sẽ được xổ đủ ba mươi lần.” Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca sau khi đã dâng thuốc xổ đủ ba mươi lần lên đức Thế Tôn, đã đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi ra về. Bấy giờ, khi y sĩ Jīvaka Komārabhacca đi ra khỏi cổng vòm bên ngoài, đã suy nghĩ như sau: “Ta đã dâng thuốc xổ đủ ba mươi lần lên đức Thế Tôn. Thân thể của Như Lai bị rối loạn thể dịch. (Thuốc) sẽ không làm cho đức Thế Tôn xổ đủ ba mươi lần, (thuốc) sẽ làm cho đức Thế Tôn xổ hai mươi chín lần. Hơn nữa, sau khi đã xổ, đức Thế Tôn sẽ tắm. Sau khi tắm, (thuốc) sẽ làm cho đức Thế Tôn xổ một lần. Như vậy, đức Thế Tôn sẽ được xổ đủ ba mươi lần.”
Atha kho bhagavā jīvakassa komārabhaccassa cetasā cetoparivitakkamaññāya āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi—“idhānanda, jīvakassa komārabhaccassa bahi dvārakoṭṭhakā nikkhantassa etadahosi—‘mayā kho bhagavato samattiṁsāya virecanaṁ dinnaṁ. Dosābhisanno tathāgatassa kāyo. Na bhagavantaṁ samatiṁsakkhattuṁ virecessati, ekūnattiṁsakkhattuṁ bhagavantaṁ virecessati. Api ca bhagavā viritto nahāyissati. Nahātaṁ bhagavantaṁ sakiṁ virecessati. Evaṁ bhagavato samattiṁsāya virecanaṁ bhavissatī’ti. Tena hānanda, uṇhodakaṁ paṭiyādehī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissuṇitvā uṇhodakaṁ paṭiyādesi.
The Buddha read Jīvaka’s mind. He told Ānanda about it, adding, “Well then, Ānanda, prepare hot water,” and Ānanda did as requested.
Khi ấy, đức Thế Tôn với tâm của mình biết được suy nghĩ trong tâm của y sĩ Jīvaka Komārabhacca, đã gọi Tôn giả Ānanda và nói: “Này Ānanda, ở đây, khi y sĩ Jīvaka Komārabhacca đi ra khỏi cổng vòm bên ngoài, đã suy nghĩ như sau: ‘Ta đã dâng thuốc xổ đủ ba mươi lần lên đức Thế Tôn. Thân thể của Như Lai bị rối loạn thể dịch. (Thuốc) sẽ không làm cho đức Thế Tôn xổ đủ ba mươi lần, (thuốc) sẽ làm cho đức Thế Tôn xổ hai mươi chín lần. Hơn nữa, sau khi đã xổ, đức Thế Tôn sẽ tắm. Sau khi tắm, (thuốc) sẽ làm cho đức Thế Tôn xổ một lần. Như vậy, đức Thế Tôn sẽ được xổ đủ ba mươi lần.’ Này Ānanda, vì vậy, hãy chuẩn bị nước nóng.” “Vâng, bạch ngài.” Tôn giả Ānanda sau khi vâng lời đức Thế Tôn, đã chuẩn bị nước nóng.
Atha kho jīvako komārabhacco yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho jīvako komārabhacco bhagavantaṁ etadavoca—“viritto, bhante, bhagavā”ti?
“Virittomhi, jīvakā”ti.
“Idha mayhaṁ, bhante, bahi dvārakoṭṭhakā nikkhantassa etadahosi—‘mayā kho bhagavato samattiṁsāya virecanaṁ dinnaṁ. Dosābhisanno tathāgatassa kāyo. Na bhagavantaṁ samattiṁsakkhattuṁ virecessati, ekūnattiṁsakkhattuṁ bhagavantaṁ virecessati. Api ca bhagavā viritto nahāyissati. Nahātaṁ bhagavantaṁ sakiṁ virecessati. Evaṁ bhagavato samattiṁsāya virecanaṁ bhavissatī’ti. Nahāyatu, bhante, bhagavā, nahāyatu sugato”ti. Atha kho bhagavā uṇhodakaṁ nahāyi. Nahātaṁ bhagavantaṁ sakiṁ virecesi. Evaṁ bhagavato samattiṁsāya virecanaṁ ahosi. Atha kho jīvako komārabhacco bhagavantaṁ etadavoca—“yāva, bhante, bhagavato kāyo pakatatto hoti, alaṁ yūsapiṇḍapātenā”ti.
Jīvaka then went back to the Buddha, bowed, sat down, and asked, “Sir, are you purged?”
“I am, Jīvaka.”
Jīvaka told him what he had thought outside the gatehouse, adding, “Sir, please bathe.” The Buddha had a hot bath. When he had bathed, the Buddha was purged once, adding up to a total of thirty purgings. Jīvaka said to the Buddha, “Sir, until your body is back to normal, please don’t take any mung-bean broth.”
Bấy giờ, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, y sĩ đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một nơi hợp lẽ. Sau khi ngồi xuống một nơi hợp lẽ, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, đức Thế Tôn đã xổ chưa ạ?” “Này Jīvaka, (Ta) đã xổ rồi.” “Bạch ngài, ở đây, khi con đi ra khỏi cổng vòm bên ngoài, con đã suy nghĩ như sau: ‘Ta đã dâng thuốc xổ đủ ba mươi lần lên đức Thế Tôn. Thân thể của Như Lai bị rối loạn thể dịch. (Thuốc) sẽ không làm cho đức Thế Tôn xổ đủ ba mươi lần, (thuốc) sẽ làm cho đức Thế Tôn xổ hai mươi chín lần. Hơn nữa, sau khi đã xổ, đức Thế Tôn sẽ tắm. Sau khi tắm, (thuốc) sẽ làm cho đức Thế Tôn xổ một lần. Như vậy, đức Thế Tôn sẽ được xổ đủ ba mươi lần.’ Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy tắm, xin đức Thiện Thệ hãy tắm.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã tắm nước nóng. Sau khi tắm, (thuốc) đã làm cho đức Thế Tôn xổ một lần. Như vậy, đức Thế Tôn đã được xổ đủ ba mươi lần. Bấy giờ, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, cho đến khi thân thể của đức Thế Tôn trở lại bình thường, chỉ nên dùng cháo loãng.”
9. Varayācanākathā
9. The account of asking for a favor
210. Câu chuyện về việc xin ân huệ
Atha kho bhagavato kāyo nacirasseva pakatatto ahosi. Atha kho jīvako komārabhacco taṁ siveyyakaṁ dussayugaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho jīvako komārabhacco bhagavantaṁ etadavoca—“ekāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ varaṁ yācāmī”ti.
“Atikkantavarā kho, jīvaka, tathāgatā”ti.
“Yañca, bhante, kappati yañca anavajjan”ti.
“Vadehi, jīvakā”ti.
“Bhagavā, bhante, paṁsukūliko, bhikkhusaṅgho ca. Idaṁ me, bhante, siveyyakaṁ dussayugaṁ raññā pajjotena pahitaṁ—bahūnaṁ dussānaṁ bahūnaṁ dussayugānaṁ bahūnaṁ dussayugasatānaṁ bahūnaṁ dussayugasahassānaṁ bahūnaṁ dussayugasatasahassānaṁ aggañca seṭṭhañca mokkhañca uttamañca pavarañca. Paṭiggaṇhātu me, bhante, bhagavā siveyyakaṁ dussayugaṁ; bhikkhusaṅghassa ca gahapaticīvaraṁ anujānātū”ti.
Paṭiggahesi bhagavā siveyyakaṁ dussayugaṁ. Atha kho bhagavā jīvakaṁ komārabhaccaṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho jīvako komārabhacco bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, gahapaticīvaraṁ. Yo icchati, paṁsukūliko hotu. Yo icchati, gahapaticīvaraṁ sādiyatu. Itarītarenapāhaṁ, bhikkhave, santuṭṭhiṁ vaṇṇemī”ti.
Soon the Buddha’s body was back to normal. Jīvaka then took those two valuable cloths and went to the Buddha. He bowed, sat down, and said, “Sir, I wish to ask for a favor.”
“Buddhas don’t grant favors, Jīvaka.”
“It’s allowable and blameless.”
“Well then, say what it is.”
“The Buddha and the Sangha of monks are rag-robe wearers. But I’ve received these two valuable cloths from King Pajjota that are extremely exquisite and fine—they are one in a million. Please accept them, and please allow the Sangha of monks to use robe-cloth given by householders.”
The Buddha received the two valuable cloths. He then instructed, inspired, and gladdened Jīvaka with a teaching, after which Jīvaka got up from his seat, bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“Monks, I allow you to use robe-cloth given by householders. Anyone who wishes may wear rag-robes and anyone who wishes may accept robe-cloth from householders. But I praise contentment with one or the other.”
337. Bấy giờ, thân thể của đức Thế Tôn không bao lâu đã trở lại bình thường. Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca cầm lấy cặp y Siveyyaka ấy rồi đi đến chỗ đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch ngài, con xin đức Thế Tôn một điều ước.’ – ‘Này Jīvaka, các đấng Như Lai đã vượt khỏi các điều ước.’ – ‘Bạch ngài, điều nào là thích hợp và điều nào là không có tội lỗi.’ – ‘Này Jīvaka, hãy nói đi.’ – ‘Bạch ngài, đức Thế Tôn và Tăng chúng các tỳ khưu là vị mặc y phấn tảo. Bạch ngài, cặp y Siveyyaka này đã được vua Pajjota gửi cho con – là loại thượng hạng, là loại tốt nhất, là loại xuất sắc, là loại tối ưu, và là loại ưu việt hơn nhiều tấm y, nhiều cặp y, nhiều trăm cặp y, nhiều ngàn cặp y, nhiều trăm ngàn cặp y. Bạch ngài, mong đức Thế Tôn hãy nhận lấy cặp y Siveyyaka của con; và xin ngài hãy cho phép Tăng chúng các tỳ khưu được nhận y của hàng tại gia.’ Đức Thế Tôn đã nhận lấy cặp y Siveyyaka. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ y sĩ Jīvaka Komārabhacca bằng bài pháp thoại. Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca, sau khi được đức Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ bằng bài pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, thực hiện việc đi quanh theo chiều bên phải rồi ra đi. Khi ấy, nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các tỳ khưu: – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép y của hàng tại gia. Vị nào muốn, hãy là người mặc y phấn tảo. Vị nào muốn, hãy thọ dụng y của hàng tại gia. Này các tỳ khưu, Ta tán dương sự biết đủ với cái này hoặc cái kia.’
Assosuṁ kho rājagahe manussā—“bhagavatā kira bhikkhūnaṁ gahapaticīvaraṁ anuññātan”ti. Te ca manussā haṭṭhā ahesuṁ udaggā—“idāni kho mayaṁ dānāni dassāma puññāni karissāma, yato bhagavatā bhikkhūnaṁ gahapaticīvaraṁ anuññātan”ti. Ekāheneva rājagahe bahūni cīvarasahassāni uppajjiṁsu.
The people of Rājagaha heard that the Buddha had allowed the monks to use robe-cloth given by householders. They were excited and joyful, thinking, “Now we’ll give gifts and make merit.” In just a single day many thousands of robes were given at Rājagaha.
Dân chúng ở thành Rājagaha đã nghe được rằng: – ‘Nghe nói đức Thế Tôn đã cho phép các tỳ khưu được nhận y của hàng tại gia.’ Và những người ấy đã hoan hỷ, phấn khởi: – ‘Nay chúng ta sẽ thực hiện việc bố thí, sẽ làm các phước thiện, vì rằng đức Thế Tôn đã cho phép các tỳ khưu được nhận y của hàng tại gia.’ Chỉ trong một ngày, nhiều ngàn tấm y đã phát sanh ở thành Rājagaha.
Dân chúng ở các miền quê đã nghe được rằng: – ‘Nghe nói đức Thế Tôn đã cho phép các tỳ khưu được nhận y của hàng tại gia.’ Và những người ấy đã hoan hỷ, phấn khởi: – ‘Nay chúng ta sẽ thực hiện việc bố thí, sẽ làm các phước thiện, vì rằng đức Thế Tôn đã cho phép các tỳ khưu được nhận y của hàng tại gia.’ Chỉ trong một ngày, nhiều ngàn tấm y cũng đã phát sanh ở các miền quê.
Tena kho pana samayena saṅghassa pāvāro uppanno hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pāvāran”ti.
At that time, a fleecy robe was offered to the Sangha. They told the Buddha.
“I allow fleecy robes.”
Vào lúc bấy giờ, tấm choàng vai đã được phát sanh đến cho Tăng chúng. Họ đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép tấm choàng vai.’
Koseyyapāvāro uppanno hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, koseyyapāvāran”ti.
And a silken, fleecy robe was offered.
“I allow silken, fleecy robes.”
Tấm choàng vai bằng lụa đã được phát sanh. Họ đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép tấm choàng vai bằng lụa.’
Kojavaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, kojavan”ti.
And a woolen, fleecy robe was offered.
“I allow woolen, fleecy robes.”
Tấm thảm len đã được phát sanh. Họ đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép tấm thảm len.’
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
The first section for recitation is finished.
Chương tụng đọc thứ nhất đã kết thúc.
10. Kambalānujānanādikathā
10. Discussion on the allowance of wool
Câu chuyện về việc cho phép tấm mền len, v.v...
Tena kho pana samayena kāsirājā jīvakassa komārabhaccassa aḍḍhakāsikaṁ kambalaṁ pāhesi upaḍḍhakāsinaṁ khamamānaṁ. Atha kho jīvako komārabhacco taṁ aḍḍhakāsikaṁ kambalaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho jīvako komārabhacco bhagavantaṁ etadavoca—“ayaṁ me, bhante, aḍḍhakāsiko kambalo kāsiraññā pahito upaḍḍhakāsinaṁ khamamāno. Paṭiggaṇhātu me, bhante, bhagavā kambalaṁ, yaṁ mamassa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti. Paṭiggahesi bhagavā kambalaṁ. Atha kho bhagavā jīvakaṁ komārabhaccaṁ dhammiyā kathāya sandassesi …pe… padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, kambalan”ti.
On one occasion the king of Kāsi sent a valuable, woolen Kāsi cloth to Jīvaka. Jīvaka took the cloth and went to the Buddha. He bowed, sat down, and told him what had happened, adding, “Sir, please accept this woolen cloth for my long-lasting benefit and happiness.” The Buddha received the woolen cloth. He then instructed, inspired, and gladdened Jīvaka with a teaching, after which Jīvaka got up from his seat, bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“I allow wool.”
211. Vào lúc bấy giờ, vua xứ Kāsī đã gửi cho y sĩ Jīvaka Komārabhacca một tấm mền len trị giá năm trăm đồng tiền vàng. Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca cầm lấy tấm mền len trị giá năm trăm đồng tiền vàng ấy rồi đi đến chỗ đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch ngài, tấm mền len trị giá năm trăm đồng tiền vàng này đã được vua xứ Kāsī gửi cho con. Bạch ngài, mong đức Thế Tôn hãy nhận lấy tấm mền len của con, điều ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc cho con trong một thời gian dài.’ Đức Thế Tôn đã nhận lấy tấm mền len. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy y sĩ Jīvaka Komārabhacca bằng bài pháp thoại ...v.v... thực hiện việc đi quanh theo chiều bên phải rồi ra đi. Khi ấy, nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các tỳ khưu: – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép tấm mền len.’
Tena kho pana samayena saṅghassa uccāvacāni cīvarāni uppannāni honti. Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kiṁ nu kho bhagavatā cīvaraṁ anuññātaṁ, kiṁ ananuññātan”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, cha cīvarāni—khomaṁ kappāsikaṁ koseyyaṁ kambalaṁ sāṇaṁ bhaṅgan”ti.
At that time various kinds of robe-cloth were offered to the Sangha. The monks thought, “What kind of robe-cloth has and hasn’t the Buddha allowed?” They told the Buddha.
“I allow six kinds of robe-cloth: linen, cotton, silk, wool, sunn hemp, and hemp.”
338. Vào lúc bấy giờ, các loại y cao thấp khác nhau đã được phát sanh đến cho Tăng chúng. Khi ấy, các tỳ khưu đã có suy nghĩ này: – ‘Đức Thế Tôn đã cho phép loại y nào, và không cho phép loại y nào?’ Họ đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép sáu loại y: y bằng vải lanh, y bằng vải bông, y bằng lụa, y bằng len, y bằng sợi gai, và y bằng sợi vỏ cây.’
Tena kho pana samayena ye te bhikkhū gahapaticīvaraṁ sādiyanti te kukkuccāyantā paṁsukūlaṁ na sādiyanti—“ekaṁyeva bhagavatā cīvaraṁ anuññātaṁ, na dve”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gahapaticīvaraṁ sādiyantena paṁsukūlampi sādiyituṁ; tadubhayenapāhaṁ, bhikkhave, santuṭṭhiṁ vaṇṇemī”ti.
Soon afterwards the monks thought, “The Buddha has only allowed one kind of robe, not two,” and being afraid of wrongdoing, they did not accept rags after receiving robe-cloth from householders.
“I allow you to accept rags after receiving robe-cloth from a householder. But I praise contentment with both.”
339. Vào lúc bấy giờ, những vị tỳ khưu nào thọ dụng y của hàng tại gia, các vị ấy do có sự áy náy nên không thọ dụng y phấn tảo, (nghĩ rằng): – ‘Đức Thế Tôn chỉ cho phép một loại y, không phải hai.’ Họ đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị nào thọ dụng y của hàng tại gia cũng được thọ dụng y phấn tảo. Này các tỳ khưu, Ta tán dương sự biết đủ với cả hai loại ấy.’
11. Paṁsukūlapariyesanakathā
11. Discussion on searching for rags
340. Câu chuyện về việc tìm kiếm y phấn tảo
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū kosalesu janapade addhānamaggappaṭipannā honti. Ekacce bhikkhū susānaṁ okkamiṁsu paṁsukūlāya, ekacce bhikkhū nāgamesuṁ. Ye te bhikkhū susānaṁ okkamiṁsu paṁsukūlāya te paṁsukūlāni labhiṁsu. Ye te bhikkhū nāgamesuṁ te evamāhaṁsu—“amhākampi, āvuso, bhāgaṁ dethā”ti. Te evamāhaṁsu—
“na mayaṁ, āvuso, tumhākaṁ bhāgaṁ dassāma. Kissa tumhe nāgamitthā”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, nāgamentānaṁ nākāmā bhāgaṁ dātun”ti.
On one occasion when a number of monks were traveling through the Kosalan country, some of them entered a charnel ground to look for rags, while the others walked on. The former monks got hold of rags, and the others said, “Please give us a share.”
“But why didn’t you wait, then? We won’t give you a share.” They told the Buddha.
“If you’re unwilling, you don’t have to give a share to those who don’t wait.”
341. Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu đang đi trên con đường dài ở xứ Kosala. Một số tỳ khưu đã đi vào nghĩa địa để lượm y phấn tảo, một số tỳ khưu khác đã không chờ đợi. Các vị tỳ khưu đã đi vào nghĩa địa để lượm y phấn tảo thì đã nhận được các y phấn tảo. Các vị tỳ khưu đã không chờ đợi bèn nói như sau: – ‘Thưa chư hiền, hãy cho chúng tôi một phần nữa.’ Các vị kia nói như sau: – ‘Thưa chư hiền, chúng tôi sẽ không cho các vị một phần. Tại sao các vị đã không chờ đợi?’ Các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép không chia phần cho các vị không chờ đợi, nếu không muốn.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū kosalesu janapade addhānamaggappaṭipannā honti. Ekacce bhikkhū susānaṁ okkamiṁsu paṁsukūlāya, ekacce bhikkhū āgamesuṁ. Ye te bhikkhū susānaṁ okkamiṁsu paṁsukūlāya te paṁsukūlāni labhiṁsu. Ye te bhikkhū āgamesuṁ te evamāhaṁsu—“amhākampi, āvuso, bhāgaṁ dethā”ti. Te evamāhaṁsu—
“na mayaṁ, āvuso, tumhākaṁ bhāgaṁ dassāma. Kissa tumhe na okkamitthā”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, āgamentānaṁ akāmā bhāgaṁ dātun”ti.
On another occasion when a number of monks were traveling through the Kosalan country, some of them entered a charnel ground to look for rags, while the others waited. The former monks got hold of rags, and the others said, “Please give us a share.”
“But why didn’t you come with us, then? We won’t give you a share.”
“Even if you’re unwilling, you should give a share to those who wait.”
Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu đang đi trên con đường dài ở xứ Kosala. Một số tỳ khưu đã đi vào nghĩa địa để lượm y phấn tảo, một số tỳ khưu khác đã chờ đợi. Các vị tỳ khưu đã đi vào nghĩa địa để lượm y phấn tảo thì đã nhận được các y phấn tảo. Các vị tỳ khưu đã chờ đợi bèn nói như sau: – ‘Thưa chư hiền, hãy cho chúng tôi một phần nữa.’ Các vị kia nói như sau: – ‘Thưa chư hiền, chúng tôi sẽ không cho các vị một phần. Tại sao các vị đã không đi vào?’ Các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép chia phần cho các vị đã chờ đợi, dù không muốn.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū kosalesu janapade addhānamaggappaṭipannā honti. Ekacce bhikkhū paṭhamaṁ susānaṁ okkamiṁsu paṁsukūlāya, ekacce bhikkhū pacchā okkamiṁsu. Ye te bhikkhū paṭhamaṁ susānaṁ okkamiṁsu paṁsukūlāya te paṁsukūlāni labhiṁsu. Ye te bhikkhū pacchā okkamiṁsu te na labhiṁsu. Te evamāhaṁsu—“amhākampi, āvuso, bhāgaṁ dethā”ti. Te evamāhaṁsu—
“na mayaṁ, āvuso, tumhākaṁ bhāgaṁ dassāma. Kissa tumhe pacchā okkamitthā”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pacchā okkantānaṁ nākāmā bhāgaṁ dātun”ti.
On yet another occasion when a number of monks were traveling through the Kosalan country, some of them entered a charnel ground to look for rags first, while the other monks entered afterwards. Those who entered first got hold of rags, but not those who entered afterwards. The latter monks said, “Please give us a share.”
“But why did you come in afterwards, then? We won’t give you a share.”
“If you’re unwilling, you don’t have to give a share to those who enter afterwards.”
Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu đang đi trên con đường dài ở xứ Kosala. Một số tỳ khưu đã đi vào nghĩa địa để lượm y phấn tảo trước, một số tỳ khưu khác đã đi vào sau. Các vị tỳ khưu đã đi vào nghĩa địa để lượm y phấn tảo trước thì đã nhận được các y phấn tảo. Các vị tỳ khưu đã đi vào sau thì đã không nhận được. Các vị ấy nói như sau: – ‘Thưa chư hiền, hãy cho chúng tôi một phần nữa.’ Các vị kia nói như sau: – ‘Thưa chư hiền, chúng tôi sẽ không cho các vị một phần. Tại sao các vị đã đi vào sau?’ Các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép không chia phần cho các vị đã đi vào sau, nếu không muốn.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū kosalesu janapade addhānamaggappaṭipannā honti. Te sadisā susānaṁ okkamiṁsu paṁsukūlāya. Ekacce bhikkhū paṁsukūlāni labhiṁsu, ekacce bhikkhū na labhiṁsu. Ye te bhikkhū na labhiṁsu, te evamāhaṁsu—“amhākampi, āvuso, bhāgaṁ dethā”ti. Te evamāhaṁsu—
“na mayaṁ, āvuso, tumhākaṁ bhāgaṁ dassāma. Kissa tumhe na labhitthā”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sadisānaṁ okkantānaṁ akāmā bhāgaṁ dātun”ti.
On yet another occasion when a number of monks were traveling through the Kosalan country, they all entered a charnel ground together to look for rags. Some of them got hold of rags, while others did not. The latter monks said, “Please give us a share.”
“But why didn’t you get any? We won’t give you a share.”
“Even if you’re unwilling, you should give a share to those who enter together with you.”
Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu đang đi trên con đường dài ở xứ Kosala. Các vị ấy đã cùng nhau đi vào nghĩa địa để lượm y phấn tảo. Một số tỳ khưu đã nhận được các y phấn tảo, một số tỳ khưu khác đã không nhận được. Các vị tỳ khưu đã không nhận được bèn nói như sau: – ‘Thưa chư hiền, hãy cho chúng tôi một phần nữa.’ Các vị kia nói như sau: – ‘Thưa chư hiền, chúng tôi sẽ không cho các vị một phần. Tại sao các vị đã không nhận được?’ Các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép chia phần cho các vị đã đi vào cùng nhau, dù không muốn.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū kosalesu janapade addhānamaggappaṭipannā honti. Te katikaṁ katvā susānaṁ okkamiṁsu paṁsukūlāya. Ekacce bhikkhū paṁsukūlāni labhiṁsu, ekacce bhikkhū na labhiṁsu. Ye te bhikkhū na labhiṁsu te evamāhaṁsu—“amhākampi, āvuso, bhāgaṁ dethā”ti. Te evamāhaṁsu—
“na mayaṁ, āvuso, tumhākaṁ bhāgaṁ dassāma. Kissa tumhe na labhitthā”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, katikaṁ katvā okkantānaṁ akāmā bhāgaṁ dātun”ti.
On yet another occasion when a number of monks were traveling through the Kosalan country, they entered a charnel ground together to look for rags after making an agreement to share. Some of them got hold of rags, while others did not. The latter monks said, “Please give us a share.”
“But why didn’t you get any? We won’t give you a share.”
“Even if you’re unwilling, if you have made an agreement about it, you should give a share to those who enter.”
Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu đang đi trên con đường dài ở xứ Kosala. Các vị ấy đã thỏa thuận với nhau rồi đi vào nghĩa địa để lượm y phấn tảo. Một số tỳ khưu đã nhận được các y phấn tảo, một số tỳ khưu khác đã không nhận được. Các vị tỳ khưu đã không nhận được bèn nói như sau: – ‘Thưa chư hiền, hãy cho chúng tôi một phần nữa.’ Các vị kia nói như sau: – ‘Thưa chư hiền, chúng tôi sẽ không cho các vị một phần. Tại sao các vị đã không nhận được?’ Các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép chia phần cho các vị đã đi vào sau khi đã thỏa thuận với nhau, dù không muốn.
12. Cīvarapaṭiggāhakasammutikathā
12. Discussion on the appointment of a receiver of robe-cloth
213. Câu chuyện về việc chỉ định vị thọ lãnh y.
Tena kho pana samayena manussā cīvaraṁ ādāya ārāmaṁ āgacchanti. Te paṭiggāhakaṁ alabhamānā paṭiharanti. Cīvaraṁ parittaṁ uppajjati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgataṁ bhikkhuṁ cīvarapaṭiggāhakaṁ sammannituṁ—yo na chandāgatiṁ gaccheyya, na dosāgatiṁ gaccheyya, na mohāgatiṁ gaccheyya, na bhayāgatiṁ gaccheyya, gahitāgahitañca jāneyya.
Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbo. Paṭhamaṁ bhikkhu yācitabbo; yācitvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
At that time people brought robe-cloth to the monastery, but not finding anyone to receive it, they took it back. As a result, only a little robe-cloth was given at that monastery. They told the Buddha.
“You should appoint a monk who has five qualities as the receiver of robe-cloth: he’s not biased by favoritism, ill will, confusion, or fear, and he knows what has and what hasn’t been received.
And he should be appointed like this. First a monk should be asked, and then a competent and capable monk should inform the Sangha:
342. Vào lúc bấy giờ, các thí chủ đem y đến tu viện. Do không tìm được vị thọ lãnh, họ đã đem y về. Y phục phát sanh ít ỏi. Các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép chỉ định vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố làm người thọ lãnh y: là người không đi đến thiên vị do tham muốn, không đi đến thiên vị do sân hận, không đi đến thiên vị do si mê, không đi đến thiên vị do sợ hãi, và biết được vật đã được nhận và vật chưa được nhận. Và này các tỳ khưu, vị ấy nên được chỉ định như sau. Trước tiên, nên thỉnh cầu vị tỳ khưu. Sau khi đã thỉnh cầu, vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ cīvarapaṭiggāhakaṁ sammanneyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should appoint monk so-and-so as the receiver of robe-cloth. This is the motion.
– ‘Bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Nếu Tăng chúng đã đến thời điểm thích hợp, Tăng chúng nên chỉ định tỳ khưu tên là... làm người thọ lãnh y. Đây là lời tác bạch.’
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ cīvarapaṭiggāhakaṁ sammannati. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno cīvarapaṭiggāhakassa sammuti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha appoints monk so-and-so as the receiver of robe-cloth. Any monk who approves of appointing monk so-and-so as the receiver of robe-cloth should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
– ‘Bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Tăng chúng chỉ định tỳ khưu tên là... làm người thọ lãnh y. Vị nào chấp thuận việc chỉ định tỳ khưu tên là... làm người thọ lãnh y thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng.’
Sammato saṅghena itthannāmo bhikkhu cīvarapaṭiggāhako. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has appointed monk so-and-so as the receiver of robe-cloth. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
– ‘Tỳ khưu tên là... đã được Tăng chúng chỉ định làm người thọ lãnh y. Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Tena kho pana samayena cīvarapaṭiggāhakā bhikkhū cīvaraṁ paṭiggahetvā tattheva ujjhitvā pakkamanti. Cīvaraṁ nassati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgataṁ bhikkhuṁ cīvaranidahakaṁ sammannituṁ—yo na chandāgatiṁ gaccheyya, na dosāgatiṁ gaccheyya, na mohāgatiṁ gaccheyya, na bhayāgatiṁ gaccheyya, nihitānihitañca jāneyya.
Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbo. Paṭhamaṁ bhikkhu yācitabbo; yācitvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
Soon, after receiving cloth, the receivers of robe-cloth left it right there and went away. The robe-cloth was lost.
“You should appoint a monk who has five qualities as the keeper of robe-cloth: he’s not biased by favoritism, ill will, confusion, or fear, and he knows what is and what isn’t stored.
And he should be appointed like this. First a monk should be asked, and then a competent and capable monk should inform the Sangha:
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu thọ lãnh y, sau khi đã nhận y, đã bỏ lại ngay tại chỗ rồi bỏ đi. Y phục bị thất lạc. Các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép chỉ định vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố làm người cất giữ y: là người không đi đến thiên vị do tham muốn, không đi đến thiên vị do sân hận, không đi đến thiên vị do si mê, không đi đến thiên vị do sợ hãi, và biết được vật đã được cất giữ và vật chưa được cất giữ. Và này các tỳ khưu, vị ấy nên được chỉ định như sau. Trước tiên, nên thỉnh cầu vị tỳ khưu. Sau khi đã thỉnh cầu, vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ cīvaranidahakaṁ sammanneyya. Esā ñatti.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ cīvaranidahakaṁ sammannati. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno cīvaranidahakassa sammuti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should appoint monk so-and-so as the keeper of robe-cloth. This is the motion.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha appoints monk so-and-so as the keeper of robe-cloth. Any monk who approves of appointing monk so-and-so as the keeper of robe-cloth should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy nghe con. Nếu thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng, Tăng chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên là ... làm người giữ y. Đây là lời tác bạch. Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy nghe con. Tăng chúng chỉ định vị tỳ khưu tên là ... làm người giữ y. Vị nào chấp thuận việc chỉ định vị tỳ khưu tên là ... làm người giữ y thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng.”
Sammato saṅghena itthannāmo bhikkhu cīvaranidahako. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has appointed monk so-and-so as the keeper of robe-cloth. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Vị tỳ khưu tên là ... đã được Tăng chúng chỉ định làm người giữ y. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này như vậy.”
13. Bhaṇḍāgārasammutiādikathā
13. Discussion on the designation of a storeroom, etc.
214. Câu chuyện về việc chỉ định kho chứa và các vấn đề khác
Tena kho pana samayena cīvaranidahako bhikkhu maṇḍapepi rukkhamūlepi nibbakosepi cīvaraṁ nidahati, undūrehipi upacikāhipi khajjanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bhaṇḍāgāraṁ sammannituṁ, yaṁ saṅgho ākaṅkhati vihāraṁ vā aḍḍhayogaṁ vā pāsādaṁ vā hammiyaṁ vā guhaṁ vā.
Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbo. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
Soon afterwards the monk who was the keeper of robe-cloth stored it under a roof cover, at the foot of a tree, and under the eaves of a building. Rats and termites ate it.
“I allow you to designate a dwelling, a stilt house, or a cave as a storeroom.
And this is how it should be designated. A competent and capable monk should inform the Sangha:
343. Vào lúc bấy giờ, vị tỳ khưu giữ y cất giữ y phục ở trong nhà tạm, ở gốc cây, hoặc ở dưới mái hiên; y phục bị chuột và mối mọt ăn. Chư vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này các tỳ khưu, Ta cho phép chỉ định làm kho chứa bất cứ nơi nào Tăng chúng muốn, hoặc là tịnh xá, hoặc là nhà một mái, hoặc là lầu đài, hoặc là nhà có sân thượng, hoặc là hang động. Này các tỳ khưu, và nên chỉ định như sau: Vị tỳ khưu có năng lực và khôn khéo nên trình cho Tăng chúng biết –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ vihāraṁ bhaṇḍāgāraṁ sammanneyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should designate such-and-such a dwelling as a storeroom. This is the motion.
“Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy nghe con. Nếu thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng, Tăng chúng nên chỉ định tịnh xá tên là ... làm kho chứa. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ vihāraṁ bhaṇḍāgāraṁ sammannati. Yassāyasmato khamati itthannāmassa vihārassa bhaṇḍāgārassa sammuti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha designates such-and-such a dwelling as a storeroom. Any monk who approves of designating such-and-such a dwelling as a storeroom should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy nghe con. Tăng chúng chỉ định tịnh xá tên là ... làm kho chứa. Vị nào chấp thuận việc chỉ định tịnh xá tên là ... làm kho chứa thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng.”
Sammato saṅghena itthannāmo vihāro bhaṇḍāgāraṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has designated such-and-such a dwelling as a storeroom. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Tịnh xá tên là ... đã được Tăng chúng chỉ định làm kho chứa. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này như vậy.”
Tena kho pana samayena saṅghassa bhaṇḍāgāre cīvaraṁ aguttaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgataṁ bhikkhuṁ bhaṇḍāgārikaṁ sammannituṁ—yo na chandāgatiṁ gaccheyya, na dosāgatiṁ gaccheyya, na mohāgatiṁ gaccheyya, na bhayāgatiṁ gaccheyya, guttāguttañca jāneyya.
Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbo. Paṭhamaṁ bhikkhu yācitabbo; yācitvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
Soon, the robe-cloth in the Sangha’s storeroom was not looked after.
“You should appoint a monk who has five qualities as the storeman: he’s not biased by favoritism, ill will, confusion, or fear, and he knows what is and what isn’t protected.
And he should be appointed like this. First a monk should be asked, and then a competent and capable monk should inform the Sangha:
Vào lúc bấy giờ, y phục trong kho chứa của Tăng chúng không được trông coi cẩn thận. Chư vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này các tỳ khưu, Ta cho phép chỉ định vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố làm người quản lý kho: là người không đi theo thiên vị, không đi theo sân hận, không đi theo si mê, không đi theo sợ hãi, và biết được điều gì được trông coi cẩn thận và điều gì không. Này các tỳ khưu, và nên chỉ định như sau: Trước hết, nên thỉnh cầu vị tỳ khưu; sau khi đã thỉnh cầu, vị tỳ khưu có năng lực và khôn khéo nên trình cho Tăng chúng biết –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ bhaṇḍāgārikaṁ sammanneyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should appoint monk so-and-so as the storeman. This is the motion.
“Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy nghe con. Nếu thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng, Tăng chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên là ... làm người quản lý kho. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ bhaṇḍāgārikaṁ sammannati. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno bhaṇḍāgārikassa sammuti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha appoints monk so-and-so as the storeman. Any monk who approves of appointing monk so-and-so as the storeman should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy nghe con. Tăng chúng chỉ định vị tỳ khưu tên là ... làm người quản lý kho. Vị nào chấp thuận việc chỉ định vị tỳ khưu tên là ... làm người quản lý kho thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng.”
Sammato saṅghena itthannāmo bhikkhu bhaṇḍāgāriko. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has appointed monk so-and-so as the storeman. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Vị tỳ khưu tên là ... đã được Tăng chúng chỉ định làm người quản lý kho. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này như vậy.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū bhaṇḍāgārikaṁ vuṭṭhāpenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhaṇḍāgāriko vuṭṭhāpetabbo. Yo vuṭṭhāpeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Soon afterwards the monks from the group of six dismissed the storeman.
“You shouldn’t dismiss the storeman. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
The distribution of robe-cloth
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu cách chức người quản lý kho. Chư vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này các tỳ khưu, không được cách chức người quản lý kho. Vị nào cách chức, vị ấy phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena saṅghassa bhaṇḍāgāre cīvaraṁ ussannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sammukhībhūtena saṅghena bhājetun”ti.
At one time there was much robe-cloth in the Sangha’s storeroom.
“The present Sangha should distribute it.”
Vào lúc bấy giờ, có nhiều y phục trong kho chứa của Tăng chúng. Chư vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này các tỳ khưu, Ta cho phép Tăng chúng có mặt để phân chia.”
Tena kho pana samayena saṅgho cīvaraṁ bhājento kolāhalaṁ akāsi. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgataṁ bhikkhuṁ cīvarabhājakaṁ sammannituṁ—yo na chandāgatiṁ gaccheyya, na dosāgatiṁ gaccheyya, na mohāgatiṁ gaccheyya, na bhayāgatiṁ gaccheyya, bhājitābhājitañca jāneyya.
Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbo. Paṭhamaṁ bhikkhu yācitabbo; yācitvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
Soon afterwards there was a racket as the Sangha was distributing that robe-cloth.
“You should appoint a monk who has five qualities as the distributor of robe-cloth: he’s not biased by favoritism, ill will, confusion, or fear, and he knows what has and what has not been distributed.
And he should be appointed like this. First a monk should be asked, and then a competent and capable monk should inform the Sangha:
Vào lúc bấy giờ, trong khi phân chia y phục, Tăng chúng đã gây ra tiếng ồn ào. Chư vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này các tỳ khưu, Ta cho phép chỉ định vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố làm người phân chia y: là người không đi theo thiên vị, không đi theo sân hận, không đi theo si mê, không đi theo sợ hãi, và biết được điều gì đã được phân chia và điều gì chưa. Này các tỳ khưu, và nên chỉ định như sau: Trước hết, nên thỉnh cầu vị tỳ khưu; sau khi đã thỉnh cầu, vị tỳ khưu có năng lực và khôn khéo nên trình cho Tăng chúng biết –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ cīvarabhājakaṁ sammanneyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should appoint monk so-and-so as the distributor of robe-cloth. This is the motion.
“Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy nghe con. Nếu thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng, Tăng chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên là ... làm người phân chia y. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ cīvarabhājakaṁ sammannati. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno cīvarabhājakassa sammuti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha appoints monk so-and-so as the distributor of robe-cloth. Any monk who approves of appointing monk so-and-so as the distributor of robe-cloth should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy nghe con. Tăng chúng chỉ định vị tỳ khưu tên là ... làm người phân chia y. Vị nào chấp thuận việc chỉ định vị tỳ khưu tên là ... làm người phân chia y thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng.”
Sammato saṅghena itthannāmo bhikkhu cīvarabhājako. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has appointed monk so-and-so as the distributor of robe-cloth. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Vị tỳ khưu tên là ... đã được Tăng chúng chỉ định làm người phân chia y. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này như vậy.”
Atha kho cīvarabhājakānaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“kathaṁ nu kho cīvaraṁ bhājetabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, paṭhamaṁ uccinitvā tulayitvā vaṇṇāvaṇṇaṁ katvā bhikkhū gaṇetvā vaggaṁ bandhitvā cīvarapaṭivīsaṁ ṭhapetun”ti.
The monks who were the distributors of robe-cloth thought, “How should we distribute the robe-cloth?”
“You should first sort the cloth, then estimate its value, followed by grouping it according to value, counting the monks, gathering the monks into groups, and finally fixing the shares of robe-cloth.”
Khi ấy, các vị tỳ khưu phân chia y đã suy nghĩ rằng: “Y phục nên được phân chia như thế nào nhỉ?” Chư vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này các tỳ khưu, Ta cho phép trước hết hãy lựa chọn, cân đo, làm cho có giá trị tương đương, rồi đếm số tỳ khưu, lập thành nhóm, và để riêng phần y.”
Atha kho cīvarabhājakānaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“kathaṁ nu kho sāmaṇerānaṁ cīvarapaṭivīso dātabbo”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sāmaṇerānaṁ upaḍḍhapaṭivīsaṁ dātun”ti.
The monks who were distributors of robe-cloth thought, “What share of the robe-cloth should we give to the novices?”
“I allow you to give half a share to the novices.”
Khi ấy, các vị tỳ khưu phân chia y đã suy nghĩ rằng: “Phần y nên được trao cho các vị sa di như thế nào nhỉ?” Chư vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này các tỳ khưu, Ta cho phép trao cho các vị sa di một nửa phần.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu sakena bhāgena uttaritukāmo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, uttarantassa sakaṁ bhāgaṁ dātun”ti.
On one occasion a monk wanted to take his own share and leave.
“You should give a share to one who’s leaving.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nào đó muốn lên đường với phần của mình. Chư vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này các tỳ khưu, Ta cho phép trao cho vị muốn lên đường phần của vị ấy.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu atirekabhāgena uttaritukāmo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, anukkhepe dinne atirekabhāgaṁ dātun”ti.
On another occasion a monk wanted to take an extra share and leave.
“I allow you to give an extra share to anyone who gives something in return.”
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ muốn đi đường với phần y dư ra. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, sau khi đã trao phần thay thế, Ta cho phép trao phần y dư ra.”
Atha kho cīvarabhājakānaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“kathaṁ nu kho cīvarapaṭivīso dātabbo, āgatapaṭipāṭiyā nu kho udāhu yathāvuḍḍhan”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, vikalake tosetvā kusapātaṁ kātun”ti.
The distributors of robe-cloth thought, “How should we give out the shares of robe-cloth? According to the order in which the monks have arrived or according to seniority?”
“You should satisfy those in need and then give out the remainder by drawing lots.”
Lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu phân chia y phục đã khởi lên suy nghĩ rằng: “Phần y nên được chia như thế nào nhỉ? Có phải là theo thứ tự đến trước, hay là theo hạ lạp?” (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, sau khi làm cho các vị thiếu y được hài lòng, Ta cho phép thực hiện việc rút thăm.”
14. Cīvararajanakathā
14. Discussion on the dyeing of robes
215. Câu chuyện về việc nhuộm y
Tena kho pana samayena bhikkhū chakaṇenapi paṇḍumattikāyapi cīvaraṁ rajanti. Cīvaraṁ dubbaṇṇaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, cha rajanāni—mūlarajanaṁ, khandharajanaṁ, tacarajanaṁ, pattarajanaṁ, puppharajanaṁ, phalarajanan”ti.
Tena kho pana samayena bhikkhū sītudakāya cīvaraṁ rajanti.
At that time the monks dyed the robes even with dung and beige clay. The robes were discolored.
“I allow you to use six kinds of dye: dye from roots, dye from wood, dye from bark, dye from leaves, dye from flowers, and dye from fruit.”
The monks dyed the robes in cold water.
344. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhuộm y bằng cả phân bò và đất sét vàng. Y phục có màu sắc xấu xí. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép sáu loại thuốc nhuộm: thuốc nhuộm từ rễ cây, thuốc nhuộm từ thân cây, thuốc nhuộm từ vỏ cây, thuốc nhuộm từ lá cây, thuốc nhuộm từ hoa, và thuốc nhuộm từ quả.”
“Anujānāmi, bhikkhave, rajanaṁ pacituṁ cullaṁ rajanakumbhin”ti.
Rajanaṁ uttariyati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, uttarāḷumpaṁ bandhitun”ti.
“I allow a dye-pot to boil the dye.”
The dye boiled over.
“I allow you to attach a collar.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhuộm y bằng nước lạnh. Y phục có mùi hôi. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng nồi nhỏ để nấu thuốc nhuộm.” Thuốc nhuộm bị trào ra ngoài. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép buộc một cái vành.”
Tena kho pana samayena bhikkhū na jānanti rajanaṁ pakkaṁ vā apakkaṁ vā. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, udake vā nakhapiṭṭhikāya vā thevakaṁ dātun”ti.
The monks did not know whether the dye was ready or not.
“You should put a drop in water or on the back of your nail.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu không biết thuốc nhuộm đã được nấu chín hay chưa. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép nhỏ một giọt vào trong nước hoặc lên móng tay.”
Tena kho pana samayena bhikkhū rajanaṁ oropentā kumbhiṁ āviñchanti. Kumbhī bhijjati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, rajanuḷuṅkaṁ daṇḍakathālakan”ti.
To empty the pot, the monks tilted it. The pot broke.
“I allow a dye-ladle, with or without a handle.”
Vào lúc bấy giờ, trong khi lấy thuốc nhuộm ra, các tỳ khưu nghiêng cái nồi. Cái nồi bị vỡ. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng gáo múc thuốc nhuộm và chén nhỏ có tay cầm.”
Tena kho pana samayena bhikkhūnaṁ rajanabhājanaṁ na saṁvijjati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, rajanakolambaṁ rajanaghaṭan”ti.
The monks did not have a vessel for the dye.
“I allow a basin for dye, a waterpot for dye.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu không có vật dụng chứa thuốc nhuộm. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng máng chứa thuốc nhuộm và hũ chứa thuốc nhuộm.”
Tena kho pana samayena bhikkhū pātiyāpi pattepi cīvaraṁ omaddanti. Cīvaraṁ paribhijjati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, rajanadoṇikan”ti.
The monks were kneading the robes in basins and bowls. The robes tore.
“I allow a dyeing trough.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhào y phục trong chén hoặc trong bát. Y phục bị rách. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng máng nhuộm.”
Tena kho pana samayena bhikkhū chamāya cīvaraṁ pattharanti. Cīvaraṁ paṁsukitaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, tiṇasanthārakan”ti.
The monks spread the robes on the ground. The robes got dirty.
“I allow a spread of grass.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu trải y phục trên mặt đất. Y phục bị dính bụi. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng tấm lót bằng cỏ.”
Tiṇasanthārako upacikāhi khajjati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, cīvaravaṁsaṁ cīvararajjun”ti.
The grass was eaten by termites.
“I allow a bamboo robe rack and a clothesline.”
Tấm lót bằng cỏ bị mối ăn. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng sào phơi y và dây phơi y.”
Majjhena laggenti. Rajanaṁ ubhato galati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, kaṇṇe bandhitun”ti.
Kaṇṇo jīrati.
They hung up the robes by the middle. The dye dripped from both sides.
“You should fasten them at the edge.”
The edge became worn.
(Các vị) treo y lên bằng phần giữa. Thuốc nhuộm nhỏ giọt từ cả hai bên. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép buộc ở các góc.”
“Anujānāmi, bhikkhave, kaṇṇasuttakan”ti.
“I allow a string for the edge.”
Góc y bị mòn. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng sợi chỉ ở góc y.”
Rajanaṁ ekato galati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, samparivattakaṁ samparivattakaṁ rajetuṁ, na ca acchinne theve pakkamitun”ti.
The dye dripped from one edge.
“You should dye them by repeatedly turning them over, and you shouldn’t leave while they’re still dripping.”
Thuốc nhuộm nhỏ giọt từ một bên. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép nhuộm bằng cách lật qua lật lại, và không được rời đi trong khi thuốc nhuộm vẫn còn đang nhỏ giọt.”
Tena kho pana samayena cīvaraṁ patthinnaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, udake osāretun”ti.
The robes were starchy.
“You should rinse them in water.”
Vào lúc bấy giờ, y phục trở nên cứng. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép ngâm trong nước.”
Tena kho pana samayena cīvaraṁ pharusaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pāṇinā ākoṭetun”ti.
The robes were stiff.
“You should beat them with your hands.”
Vào lúc bấy giờ, y phục bị thô ráp. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép đập bằng tay.”
Tena kho pana samayena bhikkhū acchinnakāni cīvarāni dhārenti dantakāsāvāni. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi nāma gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, acchinnakāni cīvarāni dhāretabbāni. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks wore robes consisting of a single piece of cloth, the color of ivory. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“You shouldn’t wear robes consisting of a single piece of cloth. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu mặc các y phục chưa được cắt, có màu ngà. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và dị nghị rằng: “Giống như những người tại gia hưởng thụ các dục lạc.” (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, không được mặc các y phục chưa được cắt. Vị nào mặc, vị ấy phạm tội tác ác.”
15. Chinnakacīvarānujānana
15. The instruction on robes made of pieces
216. Sự cho phép về y phục đã được cắt
Atha kho bhagavā rājagahe yathābhirantaṁ viharitvā yena dakkhiṇāgiri tena cārikaṁ pakkāmi. Addasā kho bhagavā magadhakhettaṁ acchibaddhaṁ pāḷibaddhaṁ mariyādabaddhaṁ siṅghāṭakabaddhaṁ, disvāna āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi—“passasi no tvaṁ, ānanda, magadhakhettaṁ acchibaddhaṁ pāḷibaddhaṁ mariyādabaddhaṁ siṅghāṭakabaddhan”ti?
“Evaṁ, bhante”ti.
“Ussahasi tvaṁ, ānanda, bhikkhūnaṁ evarūpāni cīvarāni saṁvidahitun”ti?
“Ussahāmi, bhagavā”ti.
Atha kho bhagavā dakkhiṇāgirismiṁ yathābhirantaṁ viharitvā punadeva rājagahaṁ paccāgañchi. Atha kho āyasmā ānando sambahulānaṁ bhikkhūnaṁ cīvarāni saṁvidahitvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca—“passatu me, bhante, bhagavā cīvarāni saṁvidahitānī”ti.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“paṇḍito, bhikkhave, ānando; mahāpañño, bhikkhave, ānando; yatra hi nāma mayā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānissati, kusimpi nāma karissati, aḍḍhakusimpi nāma karissati, maṇḍalampi nāma karissati, aḍḍhamaṇḍalampi nāma karissati, vivaṭṭampi nāma karissati, anuvivaṭṭampi nāma karissati, gīveyyakampi nāma karissati, jaṅgheyyakampi nāma karissati, bāhantampi nāma karissati, chinnakaṁ bhavissati, satthalūkhaṁ samaṇasāruppaṁ paccatthikānañca anabhicchitaṁ.
Anujānāmi, bhikkhave, chinnakaṁ saṅghāṭiṁ chinnakaṁ uttarāsaṅgaṁ chinnakaṁ antaravāsakan”ti.
After staying at Rājagaha for as long as he liked, the Buddha set out wandering toward the southern hills. He saw the fields of Magadha laid out in rectangles defined by long and short boundaries and their intersections. He said to Venerable Ānanda, “Ānanda, have a look at these fields.”
“Yes, sir.”
“Are you able to make this kind of robe for the monks?”
“I am.”
After staying in the southern hills for as long as he liked, the Buddha returned to Rājagaha. Ānanda then made robes for a number of monks. He went to the Buddha and said, “Sir, please have a look at the robes I’ve made.”
Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“Ānanda is clever. He understands the detailed meaning of what I’ve spoken in brief. He can make long strips, short strips, large panels, medium-sized panels, middle sections, intermediate sections, a neckpiece, a calf-piece, and outer sections. In this way the robe will be made of pieces, making it worthless, appropriate for monastics, and undesirable for one’s enemies.
Your outer robe should be made of pieces and so should your upper robe and sarong.”
345. Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi đã an trú tại thành Rājagaha tùy theo ý thích, Ngài đã khởi hành đi du hành đến xứ Dakkhiṇāgiri. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy thửa ruộng của xứ Magadha được phân chia theo bờ ruộng, được phân chia theo hàng, được phân chia theo ranh giới, được phân chia theo hình ngã tư. Sau khi nhìn thấy, Ngài gọi Tôn giả Ānanda và nói: – ‘Này Ānanda, ngươi có thấy thửa ruộng của xứ Magadha được phân chia theo bờ ruộng, được phân chia theo hàng, được phân chia theo ranh giới, được phân chia theo hình ngã tư không?’ – ‘Bạch Ngài, vâng ạ.’ – ‘Này Ānanda, ngươi có thể làm ra các y có hình dạng tương tự như thế cho các vị tỳ khưu không?’ – ‘Bạch đức Thế Tôn, con có thể.’ Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi đã an trú tại xứ Dakkhiṇāgiri tùy theo ý thích, Ngài đã trở về lại thành Rājagaha. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda sau khi đã làm xong các y cho nhiều vị tỳ khưu, đã đi đến nơi đức Thế Tôn đang ngự; sau khi đến, đã thưa với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy xem các y đã được con làm xong.’ Bấy giờ, đức Thế Tôn nhân sự việc này, nhân trường hợp này, sau khi đã thuyết pháp thoại, đã gọi các vị tỳ khưu và nói: – ‘Này các tỳ khưu, Ānanda là người có trí tuệ. Này các tỳ khưu, Ānanda là người có đại tuệ. Bởi vì Ānanda đã có thể hiểu được một cách rộng rãi ý nghĩa của điều đã được Như Lai nói ra một cách tóm tắt, đã có thể làm ra miếng vá dài, đã có thể làm ra miếng vá ngắn, đã có thể làm ra miếng vá lớn ở giữa, đã có thể làm ra miếng vá nhỏ ở giữa, đã có thể làm ra miếng vá ở trung tâm, đã có thể làm ra miếng vá kế trung tâm, đã có thể làm ra miếng viền cổ, đã có thể làm ra miếng viền ống chân, đã có thể làm ra miếng viền tay; y sẽ được cắt ra, thô sơ do dao cắt, thích hợp với sa-môn, và không bị kẻ thù tham muốn. Này các tỳ khưu, Như Lai cho phép y tăng-già-lê được cắt ra, y thượng được cắt ra, y nội được cắt ra.’
16. Ticīvarānujānana
16. The instruction on the three robes
Sự cho phép về ba y
Atha kho bhagavā rājagahe yathābhirantaṁ viharitvā yena vesālī tena cārikaṁ pakkāmi. Addasa bhagavā antarā ca rājagahaṁ antarā ca vesāliṁ addhānamaggappaṭipanno sambahule bhikkhū cīvarehi ubbhaṇḍite sīsepi cīvarabhisiṁ karitvā khandhepi cīvarabhisiṁ karitvā kaṭiyāpi cīvarabhisiṁ karitvā āgacchante, disvāna bhagavato etadahosi—“atilahuṁ kho ime moghapurisā cīvare bāhullāya āvattā. Yannūnāhaṁ bhikkhūnaṁ cīvare sīmaṁ bandheyyaṁ, mariyādaṁ ṭhapeyyan”ti.
Atha kho bhagavā anupubbena cārikaṁ caramāno yena vesālī tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati gotamake cetiye. Tena kho pana samayena bhagavā sītāsu hemantikāsu rattīsu antaraṭṭhakāsu himapātasamaye rattiṁ ajjhokāse ekacīvaro nisīdi. Na bhagavantaṁ sītaṁ ahosi. Nikkhante paṭhame yāme sītaṁ bhagavantaṁ ahosi. Dutiyaṁ bhagavā cīvaraṁ pārupi. Na bhagavantaṁ sītaṁ ahosi. Nikkhante majjhime yāme sītaṁ bhagavantaṁ ahosi. Tatiyaṁ bhagavā cīvaraṁ pārupi. Na bhagavantaṁ sītaṁ ahosi. Nikkhante pacchime yāme uddhaste aruṇe nandimukhiyā rattiyā sītaṁ bhagavantaṁ ahosi. Catutthaṁ bhagavā cīvaraṁ pārupi. Na bhagavantaṁ sītaṁ ahosi. Atha kho bhagavato etadahosi—“yepi kho te kulaputtā imasmiṁ dhammavinaye sītālukā sītabhīrukā tepi sakkonti ticīvarena yāpetuṁ. Yannūnāhaṁ bhikkhūnaṁ cīvare sīmaṁ bandheyyaṁ, mariyādaṁ ṭhapeyyaṁ, ticīvaraṁ anujāneyyan”ti.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—“idhāhaṁ, bhikkhave, antarā ca rājagahaṁ antarā ca vesāliṁ addhānamaggappaṭipanno addasaṁ sambahule bhikkhū cīvarehi ubbhaṇḍite sīsepi cīvarabhisiṁ karitvā khandhepi cīvarabhisiṁ karitvā kaṭiyāpi cīvarabhisiṁ karitvā āgacchante, disvāna me etadahosi—‘atilahuṁ kho ime moghapurisā cīvare bāhullāya āvattā. Yannūnāhaṁ bhikkhūnaṁ cīvare sīmaṁ bandheyyaṁ, mariyādaṁ ṭhapeyyan’ti. Idhāhaṁ, bhikkhave, sītāsu hemantikāsu rattīsu antaraṭṭhakāsu himapātasamaye rattiṁ ajjhokāse ekacīvaro nisīdiṁ. Na maṁ sītaṁ ahosi. Nikkhante paṭhame yāme sītaṁ maṁ ahosi. Dutiyāhaṁ cīvaraṁ pārupiṁ. Na maṁ sītaṁ ahosi. Nikkhante majjhime yāme sītaṁ maṁ ahosi. Tatiyāhaṁ cīvaraṁ pārupiṁ. Na maṁ sītaṁ ahosi. Nikkhante pacchime yāme uddhaste aruṇe nandimukhiyā rattiyā sītaṁ maṁ ahosi. Catutthāhaṁ cīvaraṁ pārupiṁ. Na maṁ sītaṁ ahosi. Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi—‘yepi kho te kulaputtā imasmiṁ dhammavinaye sītālukā sītabhīrukā tepi sakkonti ticīvarena yāpetuṁ. Yannūnāhaṁ bhikkhūnaṁ cīvare sīmaṁ bandheyyaṁ, mariyādaṁ ṭhapeyyaṁ, ticīvaraṁ anujāneyyan’ti.
Anujānāmi, bhikkhave, ticīvaraṁ—diguṇaṁ saṅghāṭiṁ, ekacciyaṁ uttarāsaṅgaṁ, ekacciyaṁ antaravāsakan”ti.
After staying at Rājagaha for as long as he liked, the Buddha set out wandering toward Vesālī. On the road between Rājagaha and Vesālī the Buddha saw a number of monks walking along, loaded up with robes on their heads, shoulders, and hips. He thought, “These foolish men have turned to an abundance in robes too readily. Let me set a limit on robes for the monks.”
Wandering on, the Buddha eventually arrived at Vesālī where he stayed at the Gotamaka Shrine. At that time it was midwinter, when the days are cold and snowy. The Buddha sat outside at night without being cold, wearing only one robe. Becoming cold at the end of the first part of the night, he put on a second robe. Becoming cold once again at the end of the middle part of the night, he put on a third robe. At the end of the last part of the night, when the sky was flaring up at dawn, he became cold once more. Putting on a fourth robe, he was fine. He thought, “Even those on this spiritual path who come from respectable families, who are sensitive to the cold and fear the cold, are able to get by with three robes. Let me set a limit on robes for the monks. Let me allow them three robes.”
Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks. He told them what had happened and what he had thought, adding:
“I allow you three robes: a double-layered outer robe, a single-layered upper robe, and a single-layered sarong.”
217. Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi đã an trú tại thành Rājagaha tùy theo ý thích, Ngài đã khởi hành đi du hành đến thành Vesālī. Đức Thế Tôn, trong khi đang đi trên con đường dài ở khoảng giữa thành Rājagaha và thành Vesālī, đã nhìn thấy nhiều vị tỳ khưu đang đi đến, bị quá tải bởi các y, đã làm thành một đống y ở trên đầu, đã làm thành một đống y ở trên vai, và đã làm thành một đống y ở ngang hông. Sau khi nhìn thấy, ý nghĩ này đã khởi lên với đức Thế Tôn: – ‘Những người rỗng tuếch này đã quá nhanh chóng hướng đến sự có nhiều y. Chắc chắn ta nên đặt ra sự giới hạn, nên thiết lập ranh giới về y cho các vị tỳ khưu.’ Bấy giờ, đức Thế Tôn trong khi đi du hành tuần tự, đã đi đến thành Vesālī. Tại nơi ấy, đức Thế Tôn đã an trú ở ngôi đền Gotamaka tại thành Vesālī. Vào lúc bấy giờ, trong những đêm mùa đông giá lạnh, vào khoảng giữa tám ngày lễ, vào thời điểm tuyết rơi, đức Thế Tôn đã ngồi ngoài trời vào ban đêm chỉ với một y. Đức Thế Tôn không bị lạnh. Sau khi canh đầu trôi qua, đức Thế Tôn bị lạnh. Đức Thế Tôn đã khoác chiếc y thứ hai. Đức Thế Tôn không bị lạnh. Sau khi canh giữa trôi qua, đức Thế Tôn bị lạnh. Đức Thế Tôn đã khoác chiếc y thứ ba. Đức Thế Tôn không bị lạnh. Sau khi canh cuối trôi qua, lúc rạng đông ló dạng vào ban đêm có bộ mặt đáng yêu, đức Thế Tôn bị lạnh. Đức Thế Tôn đã khoác chiếc y thứ tư. Đức Thế Tôn không bị lạnh. Bấy giờ, ý nghĩ này đã khởi lên với đức Thế Tôn: – ‘Trong Pháp và Luật này, ngay cả những thiện gia nam tử nào có thể chất dễ bị lạnh, có tâm tánh sợ lạnh, những vị ấy cũng có thể sống được với ba y. Chắc chắn ta nên đặt ra sự giới hạn, nên thiết lập ranh giới về y cho các vị tỳ khưu, nên cho phép ba y.’ Bấy giờ, đức Thế Tôn nhân sự việc này, nhân trường hợp này, sau khi đã thuyết pháp thoại, đã gọi các vị tỳ khưu và nói: – ‘Này các tỳ khưu, ở đây, trong khi đang đi trên con đường dài ở khoảng giữa thành Rājagaha và thành Vesālī, ta đã nhìn thấy nhiều vị tỳ khưu đang đi đến, bị quá tải bởi các y, đã làm thành một đống y ở trên đầu, đã làm thành một đống y ở trên vai, và đã làm thành một đống y ở ngang hông. Sau khi nhìn thấy, ý nghĩ này đã khởi lên với ta: – ‘Những người rỗng tuếch này đã quá nhanh chóng hướng đến sự có nhiều y. Chắc chắn ta nên đặt ra sự giới hạn, nên thiết lập ranh giới về y cho các vị tỳ khưu.’ Này các tỳ khưu, ở đây, trong những đêm mùa đông giá lạnh, vào khoảng giữa tám ngày lễ, vào thời điểm tuyết rơi, ta đã ngồi ngoài trời vào ban đêm chỉ với một y. Ta đã không bị lạnh. Sau khi canh đầu trôi qua, ta đã bị lạnh. Ta đã khoác chiếc y thứ hai. Ta đã không bị lạnh. Sau khi canh giữa trôi qua, ta đã bị lạnh. Ta đã khoác chiếc y thứ ba. Ta đã không bị lạnh. Sau khi canh cuối trôi qua, lúc rạng đông ló dạng vào ban đêm có bộ mặt đáng yêu, ta đã bị lạnh. Ta đã khoác chiếc y thứ tư. Ta đã không bị lạnh. Này các tỳ khưu, ý nghĩ này đã khởi lên với ta rằng: – ‘Trong Pháp và Luật này, ngay cả những thiện gia nam tử nào có thể chất dễ bị lạnh, có tâm tánh sợ lạnh, những vị ấy cũng có thể sống được với ba y. Chắc chắn ta nên đặt ra sự giới hạn, nên thiết lập ranh giới về y cho các vị tỳ khưu, nên cho phép ba y.’ Này các tỳ khưu, Như Lai cho phép ba y: y tăng-già-lê hai lớp, y thượng một lớp, y nội một lớp.’
17. Atirekacīvarakathā
17. Discussion on extra robes
Câu chuyện về y dư.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū—“bhagavatā ticīvaraṁ anuññātan”ti—aññeneva ticīvarena gāmaṁ pavisanti, aññena ticīvarena ārāme acchanti, aññena ticīvarena nahānaṁ otaranti. Ye te bhikkhū appicchā te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma chabbaggiyā bhikkhū atirekacīvaraṁ dhāressantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, atirekacīvaraṁ dhāretabbaṁ. Yo dhāreyya, yathādhammo kāretabbo”ti.
When they heard that the Buddha had allowed three robes, the monks from the group of six went to the village in one set of three, stayed in the monastery in another set, and went bathing in yet another set. The monks of few desires complained and criticized them, “How can the monks from the group of six keep extra robes?” They told the Buddha. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t keep extra robes. If you do, you should be dealt with according to the rule.”
218. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cho phép tam y,” nên đã đi vào làng với một bộ tam y khác, ở trong tu viện với một bộ tam y khác, đi xuống bến tắm với một bộ tam y khác. Các vị tỳ khưu thiểu dục đã phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: “Tại sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại có thể thọ trì y dư?” Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. Khi ấy, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, sau khi thuyết một bài pháp thoại, Đức Thế Tôn đã gọi các tỳ khưu và dạy rằng: “Này các tỳ khưu, không được thọ trì y dư. Vị nào thọ trì thì phải bị xử lý đúng theo Pháp.”
Tena kho pana samayena āyasmato ānandassa atirekacīvaraṁ uppannaṁ hoti. Āyasmā ca ānando taṁ cīvaraṁ āyasmato sāriputtassa dātukāmo hoti. Āyasmā ca sāriputto sākete viharati. Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi—“bhagavatā sikkhāpadaṁ paññattaṁ—‘na atirekacīvaraṁ dhāretabban’ti. Idañca me atirekacīvaraṁ uppannaṁ. Ahañcimaṁ cīvaraṁ āyasmato sāriputtassa dātukāmo. Āyasmā ca sāriputto sākete viharati. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesi. “Kīvaciraṁ panānanda, sāriputto āgacchissatī”ti?
“Navamaṁ vā, bhagavā, divasaṁ, dasamaṁ vā”ti.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, dasāhaparamaṁ atirekacīvaraṁ dhāretun”ti.
Soon, Venerable Ānanda was offered an extra robe. He wanted to give it to Venerable Sāriputta who was staying at Sāketa. Knowing that the Buddha had laid down a rule against having an extra robe, he thought, “What should I do now?” He told the Buddha, who said, “How long is it, Ānanda, before Sāriputta returns?”
“Nine or ten days.”
Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You should keep an extra robe for ten days at the most.”
347. Vào lúc bấy giờ, Đại đức Ānanda có một y dư phát sanh. Đại đức Ānanda lại có ý muốn dâng y ấy cho Đại đức Sāriputta. Và Đại đức Sāriputta đang ở tại Sāketa. Khi ấy, Đại đức Ānanda đã suy nghĩ như sau: “Đức Thế Tôn đã chế định học giới rằng: ‘Không được thọ trì y dư.’ Và y dư này đã phát sanh đến ta. Ta lại muốn dâng y này cho Đại đức Sāriputta. Và Đại đức Sāriputta đang ở tại Sāketa. Ta nên thực hành như thế nào đây?” (Ngài) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn hỏi:) “Này Ānanda, bao lâu nữa thì Sāriputta sẽ đến?” (Ngài Ānanda thưa:) “Bạch Đức Thế Tôn, vào ngày thứ chín hoặc ngày thứ mười.” Khi ấy, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, sau khi thuyết một bài pháp thoại, Đức Thế Tôn đã gọi các tỳ khưu và dạy rằng: “Này các tỳ khưu, Ta cho phép thọ trì y dư tối đa là mười ngày.”
Tena kho pana samayena bhikkhūnaṁ atirekacīvaraṁ uppannaṁ hoti. Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kathaṁ nu kho amhehi atirekacīvare paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, atirekacīvaraṁ vikappetun”ti.
Soon the monks were given extra robes. Not knowing what to do with them, they told the Buddha.
“I allow you to assign an extra robe to another.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu có y dư phát sanh. Khi ấy, các tỳ khưu đã suy nghĩ như sau: “Chúng ta nên thực hành như thế nào đối với y dư?” (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn dạy:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép xả y dư.”
Atha kho bhagavā vesāliyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena bārāṇasī tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena bārāṇasī tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā bārāṇasiyaṁ viharati isipatane migadāye.
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno antaravāsako chiddo hoti. Atha kho tassa bhikkhuno etadahosi—“bhagavatā ticīvaraṁ anuññātaṁ—diguṇā saṅghāṭi, ekacciyo uttarāsaṅgo, ekacciyo antaravāsako. Ayañca me antaravāsako chiddo. Yannūnāhaṁ aggaḷaṁ acchupeyyaṁ, samantato dupaṭṭaṁ bhavissati, majjhe ekacciyan”ti. Atha kho so bhikkhu aggaḷaṁ acchupesi.
Addasā kho bhagavā senāsanacārikaṁ āhiṇḍanto taṁ bhikkhuṁ aggaḷaṁ acchupentaṁ, disvāna yena so bhikkhu tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca—“kiṁ tvaṁ, bhikkhu, karosī”ti?
“Aggaḷaṁ, bhagavā, acchupemī”ti.
“Sādhu sādhu, bhikkhu; sādhu kho tvaṁ, bhikkhu, aggaḷaṁ acchupesī”ti.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, ahatānaṁ dussānaṁ ahatakappānaṁ diguṇaṁ saṅghāṭiṁ, ekacciyaṁ uttarāsaṅgaṁ, ekacciyaṁ antaravāsakaṁ; utuddhaṭānaṁ dussānaṁ catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ, diguṇaṁ uttarāsaṅgaṁ, diguṇaṁ antaravāsakaṁ; paṁsukūle yāvadatthaṁ; pāpaṇike ussāho karaṇīyo. Anujānāmi, bhikkhave, aggaḷaṁ tunnaṁ ovaṭṭikaṁ kaṇḍusakaṁ daḷhīkamman”ti.
After staying at Vesālī for as long as he liked, the Buddha set out wandering toward Benares. When he eventually arrived, he stayed in the deer park at Isipattana.
On that occasion the sarong of a certain monk had a hole. He thought, “The Buddha has allowed three robes: a double-layered outer robe, a single-layered upper robe, and a single-layered sarong. Since my sarong has a hole, let me add a patch. It will have a double layer of cloth on all sides, but only a single layer in the middle.” And that’s what he did.
Just then the Buddha was walking about the dwellings, and he saw that monk patching his robe. He went up to that monk and said, “What are you doing, monk?”
“I’m patching my robe, sir.”
“Well done. It’s good that you are patching your robe.”
Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“When the cloth is new or nearly new, I allow a double-layered outer robe, a single-layered upper robe, and a single-layered sarong. When the cloth is worn, I allow an outer robe of four layers, a double-layered upper robe, and a double-layered sarong. With rags, you may have as much as you like. With scraps of cloth from a shop, you should search for them. And I allow patches, mending, hems, strips of cloth for marking, and strengthening.”
Khi ấy, Đức Thế Tôn sau khi trú ngụ tùy thích ở Vesālī đã lên đường du hành đến Bārāṇasī. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã đến Bārāṇasī. Tại đó, Đức Thế Tôn trú ngụ ở Isipatana, trong khu vườn Migadāya, tại Bārāṇasī. Vào lúc bấy giờ, y nội của một vị tỳ khưu bị rách. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã suy nghĩ như sau: “Đức Thế Tôn đã cho phép tam y: y tăng-già-lê hai lớp, y thượng một lớp, y nội một lớp. Y nội này của ta đã bị rách. Hay là ta nên vá một miếng vá, xung quanh sẽ thành hai lớp, ở giữa là một lớp.” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã vá một miếng vá. Đức Thế Tôn, trong khi đi kinh hành qua các nơi trú ngụ, đã thấy vị tỳ khưu ấy đang vá, và sau khi thấy, ngài đã đi đến chỗ vị tỳ khưu ấy, sau khi đến, ngài đã hỏi vị tỳ khưu ấy: “Này tỳ khưu, thầy đang làm gì vậy?” “Bạch Đức Thế Tôn, con đang vá.” “Lành thay, lành thay, này tỳ khưu; này tỳ khưu, việc thầy vá là tốt lắm.” Khi ấy, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, sau khi thuyết một bài pháp thoại, Đức Thế Tôn đã gọi các tỳ khưu và dạy rằng: “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (may) y tăng-già-lê hai lớp, y thượng một lớp, y nội một lớp bằng các loại vải mới, vải chưa giặt; Ta cho phép (may) y tăng-già-lê bốn lớp, y thượng hai lớp, y nội hai lớp bằng các loại vải cũ đã dùng lâu; đối với y phấn tảo, (được phép may) bao nhiêu lớp tùy ý; nên nỗ lực tìm kiếm (vải) ở các cửa hàng. Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc vá, việc khâu, việc may cuộn, việc may đắp, việc may gia cố.”
18. Visākhāvatthu
18. The account of Visākhā
Câu chuyện về bà Visākhā
Atha kho bhagavā bārāṇasiyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena sāvatthi tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sāvatthi tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho visākhā migāramātā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho visākhaṁ migāramātaraṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho visākhā migāramātā bhagavatā dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā bhagavantaṁ etadavoca—“adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho visākhā migāramātā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
After staying at Benares for as long as he liked, the Buddha set out wandering toward Sāvatthī. When he eventually arrived, he stayed in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery.
Soon afterwards Visākhā Migāramātā went to the Buddha, bowed, and sat down. When the Buddha had instructed, inspired, and gladdened her with a teaching, Visākhā said, “Sir, please accept tomorrow’s meal from me together with the Sangha of monks.” The Buddha consented by remaining silent. Knowing that the Buddha had consented, Visākhā got up from her seat, bowed down, circumambulated him with her right side toward him, and left.
219. Khi ấy, Đức Thế Tôn sau khi trú ngụ tùy thích ở Bārāṇasī đã lên đường du hành đến Sāvatthī. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã đến Sāvatthī. Tại đó, Đức Thế Tôn trú ngụ ở tu viện Jetavana của trưởng giả Anāthapiṇḍika, tại Sāvatthī. Khi ấy, bà Visākhā, mẹ của Migāra, đã đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một nơi hợp lẽ. Đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho hăng hái, làm cho phấn khởi bà Visākhā, mẹ của Migāra, đang ngồi một nơi hợp lẽ, bằng một bài pháp thoại. Khi ấy, bà Visākhā, mẹ của Migāra, sau khi được Đức Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho hăng hái, làm cho phấn khởi bằng một bài pháp thoại, đã bạch với Đức Thế Tôn rằng: “Bạch ngài, xin Đức Thế Tôn cùng với Tăng chúng nhận lời mời dùng bữa của con vào ngày mai.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng sự im lặng. Khi ấy, bà Visākhā, mẹ của Migāra, biết được sự nhận lời của Đức Thế Tôn, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi ra về.
Tena kho pana samayena tassā rattiyā accayena cātuddīpiko mahāmegho pāvassi. Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—“yathā, bhikkhave, jetavane vassati evaṁ catūsu dīpesu vassati. Ovassāpetha, bhikkhave, kāyaṁ. Ayaṁ pacchimako cātuddīpiko mahāmegho”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paṭissuṇitvā nikkhittacīvarā kāyaṁ ovassāpenti.
Atha kho visākhā migāramātā paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā dāsiṁ āṇāpesi—“gaccha, je. Ārāmaṁ gantvā kālaṁ ārocehi—kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
“Evaṁ, ayye”ti kho sā dāsī visākhāya migāramātuyā paṭissuṇitvā ārāmaṁ gantvā addasa bhikkhū nikkhittacīvare kāyaṁ ovassāpente, disvāna—“natthi ārāme bhikkhū, ājīvakā kāyaṁ ovassāpentī”ti—yena visākhā migāramātā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā visākhaṁ migāramātaraṁ etadavoca—“natthayye, ārāme bhikkhū, ājīvakā kāyaṁ ovassāpentī”ti. Atha kho visākhāya migāramātuyā paṇḍitāya viyattāya medhāviniyā etadahosi—“nissaṁsayaṁ kho ayyā nikkhittacīvarā kāyaṁ ovassāpenti. Sāyaṁ bālā maññittha—natthi ārāme bhikkhū, ājīvakā kāyaṁ ovassāpentī”ti, puna dāsiṁ āṇāpesi—“gaccha, je. Ārāmaṁ gantvā kālaṁ ārocehi—kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho te bhikkhū gattāni sītiṁ karitvā kallakāyā cīvarāni gahetvā yathāvihāraṁ pavisiṁsu. Atha kho sā dāsī ārāmaṁ gantvā bhikkhū apassantī—“natthi ārāme bhikkhū, suñño ārāmo”ti—yena visākhā migāramātā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā visākhaṁ migāramātaraṁ etadavoca—“natthayye, ārāme bhikkhū, suñño ārāmo”ti. Atha kho visākhāya migāramātuyā paṇḍitāya viyattāya medhāviniyā etadahosi—“nissaṁsayaṁ kho ayyā gattāni sītiṁ karitvā kallakāyā cīvarāni gahetvā yathāvihāraṁ paviṭṭhā. Sāyaṁ bālā maññittha—natthi ārāme bhikkhū, suñño ārāmo”ti, puna dāsiṁ āṇāpesi—“gaccha, je. Ārāmaṁ gantvā kālaṁ ārocehi—kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
The following morning it was pouring down from a great storm extending over the four continents. The Buddha said to the monks, “It rains on the four continents just as it rains here in the Jeta Grove. Bathe in the rain, monks. This is the last great storm of this kind.”
Saying, “Yes, sir,” they took off their robes and bathed in the rain.
When Visākhā had had various kinds of fine foods prepared, she told a slave, “Go to the monastery and tell the Buddha that the meal is ready.”
Saying, “Yes, ma’am,” she went to the monastery and saw the monks bathing naked in the rain. She thought, “There are no monks in the monastery, just Ājīvaka ascetics bathing in the rain.” She returned and told Visākhā what had happened. Being wise and discerning, Visākhā thought, “No doubt the venerables are bathing naked in the rain. It’s only because of her ignorance that she thinks as she does.” So she sent the slave back to the monastery with the same instructions.
When the monks had cooled their bodies and felt invigorated, they took their robes and entered their dwellings. When the slave arrived, she didn’t see any monks. She thought, “There are no monks in the monastery. It’s empty.” She returned and told Visākhā what had happened. Once again Visākhā realized what was going on, and she told the slave to go to the monastery one more time.
Vào lúc ấy, sau khi đêm ấy đã trôi qua, một trận mưa lớn bao trùm bốn châu đã đổ xuống. Bấy giờ, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu và bảo rằng: – Này các tỳ khưu, cũng giống như mưa đang rơi ở Jetavana, mưa cũng đang rơi ở bốn châu. Này các tỳ khưu, hãy để cho thân được ướt mưa. Đây là trận mưa lớn cuối cùng bao trùm bốn châu. – Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Sau khi vâng lời đức Thế Tôn, các vị tỳ khưu ấy cởi y ra và để cho thân được ướt mưa. Bấy giờ, bà Visākhā, mẹ của Migāra, sau khi đã cho chuẩn bị các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, đã ra lệnh cho người nữ tỳ rằng: – Này cô kia, hãy đi đi. Sau khi đi đến tu viện, hãy báo giờ rằng: ‘Bạch ngài, đã đến giờ, vật thực đã sẵn sàng.’ – Thưa vâng, thưa bà chủ. Sau khi vâng lời bà Visākhā, mẹ của Migāra, người nữ tỳ ấy đi đến tu viện và đã nhìn thấy các vị tỳ khưu cởi y ra và đang để cho thân được ướt mưa. Sau khi nhìn thấy, cô ta nghĩ rằng: ‘Không có tỳ khưu ở tu viện, chỉ có các lõa thể ngoại đạo đang để cho thân được ướt mưa.’ Rồi cô ta đi đến chỗ bà Visākhā, mẹ của Migāra. Sau khi đến, cô ta đã thưa với bà Visākhā, mẹ của Migāra, điều này: – Thưa bà chủ, không có tỳ khưu ở tu viện, chỉ có các lõa thể ngoại đạo đang để cho thân được ướt mưa. Bấy giờ, bà Visākhā, mẹ của Migāra, là người có trí tuệ, thông minh, sáng suốt, đã suy nghĩ điều này: – Chắc chắn là các ngài đã cởi y ra và đang để cho thân được ướt mưa. Con bé ngốc nghếch này đã nghĩ rằng: ‘Không có tỳ khưu ở tu viện, chỉ có các lõa thể ngoại đạo đang để cho thân được ướt mưa.’ Rồi bà ta lại ra lệnh cho người nữ tỳ: – Này cô kia, hãy đi đi. Sau khi đi đến tu viện, hãy báo giờ rằng: ‘Bạch ngài, đã đến giờ, vật thực đã sẵn sàng.’ Bấy giờ, sau khi đã làm cho thân thể được mát mẻ, các vị tỳ khưu ấy, với thân thể khỏe khoắn, đã lấy y rồi đi vào nơi ở của mình. Bấy giờ, người nữ tỳ ấy sau khi đi đến tu viện và không nhìn thấy các vị tỳ khưu, cô ta nghĩ rằng: ‘Không có tỳ khưu ở tu viện, tu viện trống không.’ Rồi cô ta đi đến chỗ bà Visākhā, mẹ của Migāra. Sau khi đến, cô ta đã thưa với bà Visākhā, mẹ của Migāra, điều này: – Thưa bà chủ, không có tỳ khưu ở tu viện, tu viện trống không. Bấy giờ, bà Visākhā, mẹ của Migāra, là người có trí tuệ, thông minh, sáng suốt, đã suy nghĩ điều này: – Chắc chắn là các ngài, sau khi đã làm cho thân thể được mát mẻ, với thân thể khỏe khoắn, đã lấy y rồi đi vào nơi ở của mình. Con bé ngốc nghếch này đã nghĩ rằng: ‘Không có tỳ khưu ở tu viện, tu viện trống không.’ Rồi bà ta lại ra lệnh cho người nữ tỳ: – Này cô kia, hãy đi đi. Sau khi đi đến tu viện, hãy báo giờ rằng: ‘Bạch ngài, đã đến giờ, vật thực đã sẵn sàng.’
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—“sandahatha, bhikkhave, pattacīvaraṁ; kālo bhattassā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—jetavane antarahito visākhāya migāramātuyā koṭṭhake pāturahosi. Nisīdi bhagavā paññatte āsane saddhiṁ bhikkhusaṅghena.
Atha kho visākhā migāramātā—“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Tathāgatassa mahiddhikatā mahānubhāvatā, yatra hi nāma jaṇṇukamattesupi oghesu pavattamānesu, kaṭimattesupi oghesu pavattamānesu, na hi nāma ekabhikkhussapi pādā vā cīvarāni vā allāni bhavissantī”ti—haṭṭhā udaggā buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho visākhā migāramātā bhagavantaṁ etadavoca—“aṭṭhāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ varāni yācāmī”ti.
“Atikkantavarā kho, visākhe, tathāgatā”ti.
“Yāni ca, bhante, kappiyāni yāni ca anavajjānī”ti.
“Vadehi, visākhe”ti.
“Icchāmahaṁ, bhante, saṅghassa yāvajīvaṁ vassikasāṭikaṁ dātuṁ, āgantukabhattaṁ dātuṁ, gamikabhattaṁ dātuṁ, gilānabhattaṁ dātuṁ, gilānupaṭṭhākabhattaṁ dātuṁ, gilānabhesajjaṁ dātuṁ, dhuvayāguṁ dātuṁ, bhikkhunisaṅghassa udakasāṭikaṁ dātun”ti.
“Kiṁ pana tvaṁ, visākhe, atthavasaṁ sampassamānā tathāgataṁ aṭṭha varāni yācasī”ti?
When the message had been delivered, the Buddha said to the monks, “Get your bowls and robes. It’s time for the meal.”
“Yes, sir.”
The Buddha robed up and took his bowl and robe. Then, just as a strong man might bend or stretch his arm, the Buddha disappeared from the Jeta Grove and appeared at Visākhā’s gatehouse. He sat down on the prepared seat together with the Sangha of monks.
Visākhā thought, “The power and might of the Buddha are truly amazing. The water is flowing knee-deep, even waist-deep, yet not a single monk has wet feet or wet robes.” Delighted and joyful, she personally served various kinds of fine foods to the Sangha of monks headed by the Buddha. When the Buddha had finished his meal, she sat down to one side and said, “Sir, I wish to ask for eight favors.”
“Buddhas don’t grant favors, Visākhā.”
“It’s allowable and blameless.”
“Well then, say what it is.”
“For as long as I live I wish to give rainy-season robes to the Sangha, and I wish to give meals to the newly-arrived and departing monastics, as well as to those who are sick and those nursing the sick. I also wish to give medicines to the sick, a regular supply of congee, and bathing robes to the nuns.”
“But, Visākhā, what reason do you have for asking me for these eight favors?”
350. Bấy giờ, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu và bảo rằng: – Này các tỳ khưu, hãy chuẩn bị y bát, đã đến giờ thọ thực. – Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Các vị tỳ khưu ấy đã vâng lời đức Thế Tôn. Bấy giờ, vào buổi sáng, sau khi đắp y, đức Thế Tôn mang theo y bát rồi – cũng giống như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, y như thế – đã biến mất ở Jetavana và hiện ra ở cổng nhà của bà Visākhā, mẹ của Migāra. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được dọn sẵn cùng với Tăng chúng tỳ khưu. Bấy giờ, bà Visākhā, mẹ của Migāra, đã nghĩ rằng: – Thật là kỳ diệu, thưa quý vị! Thật là hy hữu, thưa quý vị! Thật là đại thần lực, thật là đại oai lực của đức Như Lai! Bởi vì, trong khi dòng nước đang chảy ngập đến đầu gối, trong khi dòng nước đang chảy ngập đến thắt lưng, mà chân hay y của một vị tỳ khưu cũng không hề bị ướt. Với lòng hoan hỷ, phấn khởi, bà đã tự tay phục vụ các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm cho Tăng chúng tỳ khưu với đức Phật là vị đứng đầu cho đến khi các vị ấy nói đã đủ. Sau khi đức Thế Tôn dùng bữa xong, đã rời tay khỏi bát, bà đã ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, bà Visākhā, mẹ của Migāra, đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – Bạch Thế Tôn, con xin đức Thế Tôn tám điều ước nguyện. – Này Visākhā, các đấng Như Lai vượt ngoài các điều ước nguyện. – Bạch Thế Tôn, những điều này là thích hợp và không có tội lỗi. – Này Visākhā, hãy nói đi. – Bạch Thế Tôn, con mong muốn được cúng dường y tắm mưa đến Tăng chúng trọn đời, được cúng dường vật thực cho các vị khách Tăng, được cúng dường vật thực cho các vị Tăng đi đường, được cúng dường vật thực cho các vị Tăng bị bệnh, được cúng dường vật thực cho các vị Tăng chăm sóc bệnh, được cúng dường thuốc men cho các vị Tăng bị bệnh, được cúng dường cháo thường xuyên, được cúng dường y tắm cho Tăng chúng tỳ khưu ni. – Này Visākhā, do thấy được lợi ích gì mà ngươi lại xin Như Lai tám điều ước nguyện?
“Idhāhaṁ, bhante, dāsiṁ āṇāpesiṁ—‘gaccha, je. Ārāmaṁ gantvā kālaṁ ārocehi—kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan’ti. Atha kho sā, bhante, dāsī ārāmaṁ gantvā addasa bhikkhū nikkhittacīvare kāyaṁ ovassāpente, disvāna—‘natthi ārāme bhikkhū, ājīvakā kāyaṁ ovassāpentī’ti—yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ etadavoca—‘natthayye, ārāme bhikkhū, ājīvakā kāyaṁ ovassāpentī’ti. Asuci, bhante, naggiyaṁ jegucchaṁ paṭikūlaṁ. Imāhaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamānā icchāmi saṅghassa yāvajīvaṁ vassikasāṭikaṁ dātuṁ.
Visākhā then told the Buddha what had happened to her slave, adding, “Nakedness is gross, disgusting, and repulsive. This is why I wish to give rainy-season robes to the Sangha for as long as I live.
Bạch Thế Tôn, ở đây con đã ra lệnh cho người nữ tỳ rằng: ‘Này cô kia, hãy đi đi. Sau khi đi đến tu viện, hãy báo giờ rằng: ‘Bạch ngài, đã đến giờ, vật thực đã sẵn sàng.’ Bấy giờ, bạch Thế Tôn, người nữ tỳ ấy sau khi đi đến tu viện và đã nhìn thấy các vị tỳ khưu cởi y ra và đang để cho thân được ướt mưa. Sau khi nhìn thấy, cô ta nghĩ rằng: ‘Không có tỳ khưu ở tu viện, chỉ có các lõa thể ngoại đạo đang để cho thân được ướt mưa.’ Rồi cô ta đi đến chỗ của con. Sau khi đến, cô ta đã thưa với con điều này: – Thưa bà chủ, không có tỳ khưu ở tu viện, chỉ có các lõa thể ngoại đạo đang để cho thân được ướt mưa. Bạch Thế Tôn, sự lõa thể là không trong sạch, đáng ghê tởm, đáng kinh tởm. Bạch Thế Tôn, do con thấy được lợi ích này nên con mong muốn được cúng dường y tắm mưa đến Tăng chúng trọn đời.
Puna caparaṁ, bhante, āgantuko bhikkhu na vīthikusalo na gocarakusalo kilanto piṇḍāya carati. So me āgantukabhattaṁ bhuñjitvā vīthikusalo gocarakusalo akilanto piṇḍāya carissati. Imāhaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamānā icchāmi saṅghassa yāvajīvaṁ āgantukabhattaṁ dātuṁ.
Also, not knowing the streets or where to go, newly-arrived monks will get exhausted while walking for alms. But if they eat a meal from me, they will get to know the streets and where to go for alms, and they will avoid getting exhausted. This is why I wish to give meals to the newly-arrived monks for as long as I live.
“Bạch ngài, lại nữa, vị tỳ khưu khách đến không rành đường sá, không rành nơi khất thực, đi khất thực một cách mệt nhọc. Vị ấy sau khi dùng vật thực dành cho khách của con, sẽ trở nên rành đường sá, rành nơi khất thực, đi khất thực mà không mệt nhọc. Bạch ngài, con thấy được lợi ích này nên mong muốn được dâng cúng vật thực dành cho khách đến chư Tăng trọn đời.
Puna caparaṁ, bhante, gamiko bhikkhu attano bhattaṁ pariyesamāno satthā vā vihāyissati, yattha vā vāsaṁ gantukāmo bhavissati tattha vikāle upagacchissati, kilanto addhānaṁ gamissati. So me gamikabhattaṁ bhuñjitvā satthā na vihāyissati, yattha vāsaṁ gantukāmo bhavissati tattha kāle upagacchissati, akilanto addhānaṁ gamissati. Imāhaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamānā icchāmi saṅghassa yāvajīvaṁ gamikabhattaṁ dātuṁ.
Also, in trying to get a meal, departing monks may bother the Teacher, or they may arrive late at their destination. Or, if they fail to get a meal, they’ll be weak while traveling. But if they eat a meal from me, they won’t bother the Teacher, they’ll arrive at their destination at an appropriate time, and they won’t be weak while traveling. This is why I wish to give meals to the departing monks for as long as I live.
“Bạch ngài, lại nữa, vị tỳ khưu đi đường trong khi tìm kiếm vật thực cho mình có thể bị đoàn lữ hành bỏ lại, hoặc sẽ đến nơi muốn đến không đúng thời, sẽ đi đường dài một cách mệt nhọc. Vị ấy sau khi dùng vật thực dành cho người đi đường của con, sẽ không bị đoàn lữ hành bỏ lại, sẽ đến nơi muốn đến đúng thời, sẽ đi đường dài mà không mệt nhọc. Bạch ngài, con thấy được lợi ích này nên mong muốn được dâng cúng vật thực dành cho người đi đường đến chư Tăng trọn đời.
Puna caparaṁ, bhante, gilānassa bhikkhuno sappāyāni bhojanāni alabhantassa ābādho vā abhivaḍḍhissati, kālaṅkiriyā vā bhavissati. Tassa me gilānabhattaṁ bhuttassa ābādho na abhivaḍḍhissati, kālaṅkiriyā na bhavissati. Imāhaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamānā icchāmi saṅghassa yāvajīvaṁ gilānabhattaṁ dātuṁ.
Puna caparaṁ, bhante, gilānupaṭṭhāko bhikkhu attano bhattaṁ pariyesamāno gilānassa ussūre bhattaṁ nīharissati, bhattacchedaṁ karissati. So me gilānupaṭṭhākabhattaṁ bhuñjitvā gilānassa kālena bhattaṁ nīharissati, bhattacchedaṁ na karissati. Imāhaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamānā icchāmi saṅghassa yāvajīvaṁ gilānupaṭṭhākabhattaṁ dātuṁ.
Also, if sick monks don’t get suitable food, their illness might get worse, or they might die. But if they eat a meal from me, their illness won’t get worse, and they won’t die. This is why I wish to give meals to the sick monks for as long as I live.
Also, if the monks who nurse the sick have to get their own meals, they won’t be able to bring back meals for the sick until after midday, and then the sick won’t be able to eat. But if they eat a meal from me, they’ll be able to bring back meals for the sick in good time, and the sick will be able to eat. This is why I wish to give meals to those monks who nurse the sick for as long as I live.
“Bạch ngài, lại nữa, vị tỳ khưu bị bệnh khi không nhận được các vật thực thích hợp, bệnh tình sẽ tăng nặng hoặc sẽ mệnh chung. Sau khi vị ấy dùng vật thực dành cho người bệnh của con, bệnh tình sẽ không tăng nặng, sẽ không mệnh chung. Bạch ngài, con thấy được lợi ích này nên mong muốn được dâng cúng vật thực dành cho người bệnh đến chư Tăng trọn đời. “Bạch ngài, lại nữa, vị tỳ khưu chăm sóc bệnh nhân trong khi tìm kiếm vật thực cho mình sẽ mang vật thực đến cho người bệnh trễ nải, sẽ làm gián đoạn bữa ăn. Vị ấy sau khi dùng vật thực dành cho người chăm sóc bệnh nhân của con, sẽ mang vật thực đến cho người bệnh đúng giờ, sẽ không làm gián đoạn bữa ăn. Bạch ngài, con thấy được lợi ích này nên mong muốn được dâng cúng vật thực dành cho người chăm sóc bệnh nhân đến chư Tăng trọn đời.
Puna caparaṁ, bhante, gilānassa bhikkhuno sappāyāni bhesajjāni alabhantassa ābādho vā abhivaḍḍhissati, kālaṅkiriyā vā bhavissati. Tassa me gilānabhesajjaṁ paribhuttassa ābādho na abhivaḍḍhissati, kālaṅkiriyā na bhavissati. Imāhaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamānā icchāmi saṅghassa yāvajīvaṁ gilānabhesajjaṁ dātuṁ.
Also, if the sick monks don’t get suitable medicines, their illness might get worse or they might die. But if they get medicine from me, their illness won’t get worse, and they won’t die. This is why I wish to give medicine to the Sangha for as long as I live.
“Bạch ngài, lại nữa, vị tỳ khưu bị bệnh khi không nhận được các dược phẩm thích hợp, bệnh tình sẽ tăng nặng hoặc sẽ mệnh chung. Sau khi vị ấy dùng dược phẩm dành cho người bệnh của con, bệnh tình sẽ không tăng nặng, sẽ không mệnh chung. Bạch ngài, con thấy được lợi ích này nên mong muốn được dâng cúng dược phẩm dành cho người bệnh đến chư Tăng trọn đời.
Puna caparaṁ, bhante, bhagavatā andhakavinde dasānisaṁse sampassamānena yāgu anuññātā. Tyāhaṁ, bhante, ānisaṁse sampassamānā icchāmi saṅghassa yāvajīvaṁ dhuvayāguṁ dātuṁ.
Also, while staying at Andhakavinda, the Buddha allowed congee, seeing ten benefits in it. This is why I wish to give a regular supply of congee to the Sangha for as long as I live.
“Bạch ngài, lại nữa, tại Andhakavinda, Đức Thế Tôn, vì thấy được mười lợi ích, đã cho phép dùng cháo. Bạch ngài, con thấy được những lợi ích ấy nên mong muốn được dâng cúng cháo thường xuyên đến chư Tăng trọn đời.
Idha, bhante, bhikkhuniyo aciravatiyā nadiyā vesiyāhi saddhiṁ naggā ekatitthe nahāyanti. Tā, bhante, vesiyā bhikkhuniyo uppaṇḍesuṁ—‘kiṁ nu kho nāma tumhākaṁ, ayye, daharānaṁ brahmacariyaṁ ciṇṇena, nanu nāma kāmā paribhuñjitabbā; yadā jiṇṇā bhavissatha tadā brahmacariyaṁ carissatha. Evaṁ tumhākaṁ ubho atthā pariggahitā bhavissantī’ti. Tā, bhante, bhikkhuniyo vesiyāhi uppaṇḍiyamānā maṅkū ahesuṁ. Asuci, bhante, mātugāmassa naggiyaṁ jegucchaṁ paṭikūlaṁ. Imāhaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamānā icchāmi bhikkhunisaṅghassa yāvajīvaṁ udakasāṭikaṁ dātun”ti.
Also, sir, on one occasion the nuns were bathing naked at a ford in the river Aciravatī together with sex workers. The sex workers teased them, ‘Venerables, why practice the spiritual life when you’re still young? Why not enjoy worldly pleasures? You can practice the spiritual life when you’re old. In this way you’ll get the benefits of both.’ The nuns felt humiliated. Nakedness in women is gross, disgusting, and repulsive. This is why I wish to give bathing robes to the Sangha of nuns for as long as I live.”
“Bạch ngài, ở đây, các vị tỳ khưu ni tắm lõa thể cùng với các kỹ nữ tại cùng một bến sông Aciravatī. Bạch ngài, các kỹ nữ ấy đã chế giễu các vị tỳ khưu ni rằng: ‘Thưa các ngài, các ngài còn trẻ thực hành phạm hạnh để làm gì? Chẳng phải nên hưởng thụ các dục sao? Khi nào già rồi, các ngài hãy thực hành phạm hạnh. Như vậy, các ngài sẽ thâu hoạch được cả hai lợi ích.’ Bạch ngài, các vị tỳ khưu ni bị các kỹ nữ chế giễu như vậy đã cảm thấy xấu hổ. Bạch ngài, sự lõa thể của người nữ là không sạch sẽ, đáng ghê tởm, đáng kinh tởm. Bạch ngài, con thấy được lợi ích này nên mong muốn được dâng cúng y tắm đến chư Tỳ khưu ni Tăng trọn đời.”
“Kiṁ pana tvaṁ, visākhe, ānisaṁsaṁ sampassamānā tathāgataṁ aṭṭha varāni yācasī”ti?
“Idha, bhante, disāsu vassaṁvuṭṭhā bhikkhū sāvatthiṁ āgacchissanti bhagavantaṁ dassanāya. Te bhagavantaṁ upasaṅkamitvā pucchissanti—‘itthannāmo, bhante, bhikkhu kālaṅkato, tassa kā gati ko abhisamparāyo’ti? Taṁ bhagavā byākarissati sotāpattiphale vā sakadāgāmiphale vā anāgāmiphale vā arahatte vā. Tyāhaṁ upasaṅkamitvā pucchissāmi—‘āgatapubbā nu kho, bhante, tena ayyena sāvatthī’ti? Sace me vakkhanti—‘āgatapubbā tena bhikkhunā sāvatthī’ti niṭṭhamettha gacchissāmi—‘nissaṁsayaṁ me paribhuttaṁ tena ayyena vassikasāṭikā vā āgantukabhattaṁ vā gamikabhattaṁ vā gilānabhattaṁ vā gilānupaṭṭhākabhattaṁ vā gilānabhesajjaṁ vā dhuvayāgu vā’ti. Tassā me tadanussarantiyā pāmujjaṁ jāyissati, pamuditāya pīti jāyissati, pītimanāya kāyo passambhissati, passaddhakāyā sukhaṁ vediyissāmi, sukhiniyā cittaṁ samādhiyissati. Sā me bhavissati indriyabhāvanā balabhāvanā bojjhaṅgabhāvanā. Imāhaṁ, bhante, ānisaṁsaṁ sampassamānā tathāgataṁ aṭṭha varāni yācāmī”ti.
“Sādhu sādhu, visākhe; sādhu kho tvaṁ, visākhe, imaṁ ānisaṁsaṁ sampassamānā tathāgataṁ aṭṭha varāni yācasi. Anujānāmi te, visākhe, aṭṭha varānī”ti. Atha kho bhagavā visākhaṁ migāramātaraṁ imāhi gāthāhi anumodi—
“But, Visākhā, what benefit do you see that you ask me for these eight favors?”
“Well, it will happen that monks who have completed the rainy-season residence in the various regions will come to Sāvatthī to visit the Buddha. If a monk has died, they’ll ask you about his destination, and you’ll tell them whether he’s reached the fruit of streamentry, the fruit of once-returning, the fruit of non-returning, or perfection. I’ll then ask those monks whether that dead monk had previously visited Sāvatthī. If they say he had, I may conclude, ‘No doubt that venerable will have enjoyed a rainy-season robe supplied by me. Or he will have enjoyed a meal for newly-arrived monks, a meal for departing monks, a meal for sick monks, a meal for those nursing the sick, medicines, or a regular supply of congee—all given by me.’ When I recall that, I’ll be glad. The gladness will give rise to joy, and the mental joy will make me tranquil. When I’m tranquil, I’ll feel bliss. And when I’m blissful, my mind will be stilled. In this way I’ll develop the spiritual faculties, the spiritual powers, and the factors of awakening. It’s because of this benefit that I ask for these eight favors.”
“Well said, Visākhā. It’s good that you ask me for these eight favors for the sake of this benefit. I grant you these eight favors.” The Buddha then expressed his appreciation to Visākhā with these verses:
351. “Này Visākhā, con thấy được lợi ích nào mà lại xin Như Lai tám điều ân huệ?” “Bạch ngài, ở đây, các vị tỳ khưu đã an cư mùa mưa xong từ các phương sẽ đến Sāvatthī để yết kiến Đức Thế Tôn. Các vị ấy sẽ đến hầu Đức Thế Tôn và hỏi rằng: ‘Bạch ngài, vị tỳ khưu tên là... đã mệnh chung, sanh thú của vị ấy là gì, tương lai của vị ấy ra sao?’ Đức Thế Tôn sẽ tuyên bố về vị ấy, hoặc là quả Dự Lưu, hoặc là quả Nhất Lai, hoặc là quả Bất Lai, hoặc là A-la-hán. Con sẽ đến và hỏi các vị ấy rằng: ‘Thưa các ngài, vị tôn giả ấy trước đây đã từng đến Sāvatthī chưa?’ Nếu các vị ấy trả lời con rằng: ‘Vị tỳ khưu ấy trước đây đã từng đến Sāvatthī,’ con sẽ đi đến kết luận rằng: ‘Chắc chắn vị tôn giả ấy đã thọ dụng y an cư mùa mưa của ta, hoặc vật thực cho khách, hoặc vật thực cho người đi đường, hoặc vật thực cho người bệnh, hoặc vật thực cho người chăm sóc bệnh nhân, hoặc dược phẩm cho người bệnh, hoặc cháo thường xuyên.’ Khi con hồi tưởng lại điều đó, hân hoan sẽ sanh khởi nơi con; khi con hoan hỷ, hỷ sẽ sanh khởi; khi tâm con có hỷ, thân sẽ được khinh an; khi thân được khinh an, con sẽ cảm nhận được lạc; khi có lạc, tâm con sẽ được định tĩnh. Điều đó sẽ là sự tu tập tín căn, tín lực, và giác chi của con. Bạch ngài, con thấy được lợi ích này nên xin Đức Thế Tôn tám điều ân huệ.” “Lành thay, lành thay, Visākhā! Lành thay, này Visākhā, con đã thấy được lợi ích này mà xin Như Lai tám điều ân huệ. Này Visākhā, ta cho phép con tám điều ân huệ ấy.” Bấy giờ, Đức Thế Tôn đã tùy hỷ Visākhā, mẹ của Migāra, bằng những câu kệ này:
“Yā annapānaṁ dadatippamoditā, Sīlūpapannā sugatassa sāvikā; Dadāti dānaṁ abhibhuyya maccharaṁ, Sovaggikaṁ sokanudaṁ sukhāvahaṁ.
“Rejoicing in giving food and drink, A virtuous disciple of the Accomplished One, Overcoming stinginess, gives a gift. It leads to heaven, eliminates sadness, and brings bliss.
“Nữ đệ tử nào của Thiện Thệ, với lòng rất hoan hỷ, dâng cúng đồ ăn thức uống; vị ấy có giới hạnh, đã nhiếp phục lòng bỏn xẻn, thực hành bố thí, là việc đưa đến cõi trời, đoạn trừ sầu muộn, mang lại an lạc.
Dibbaṁ sā labhate āyuṁ, Āgamma maggaṁ virajaṁ anaṅgaṇaṁ; Sā puññakāmā sukhinī anāmayā, Saggamhi kāyamhi ciraṁ pamodatī”ti.
By means of the stainless path, She obtains heaven and long life. Desiring merit, happy and healthy, She rejoices in heaven for a long time.”
“Vị ấy đạt được tuổi thọ cõi trời, sau khi đã đến được con đường không bụi bặm, không cấu uế. Vị ấy ưa thích phước thiện, có được an lạc, không bệnh tật, hoan hỷ lâu dài trong thân cõi trời.”
Atha kho bhagavā visākhaṁ migāramātaraṁ imāhi gāthāhi anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, vassikasāṭikaṁ, āgantukabhattaṁ, gamikabhattaṁ, gilānabhattaṁ, gilānupaṭṭhākabhattaṁ, gilānabhesajjaṁ, dhuvayāguṁ, bhikkhunisaṅghassa udakasāṭikan”ti.
When the Buddha had expressed his appreciation, he got up from his seat and left. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“I allow a rainy-season robe, meals for newly-arrived monastics, meals for departing monastics, meals for the sick, meals for those nursing the sick, medicine for the sick, a regular supply of congee, and bathing robes for the Sangha of nuns.”
352. Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi đã tùy hỷ bà Visākhā, mẹ của Migāra, bằng những câu kệ này, đã từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi. Bấy giờ, nhân sự việc này, trong trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các vị tỳ khưu và nói rằng: – Này các tỳ khưu, Ta cho phép y tắm mưa, vật thực cho khách, vật thực cho người đi đường, vật thực cho người bệnh, vật thực cho người chăm sóc bệnh, dược phẩm cho người bệnh, cháo thường xuyên, và y tắm cho chúng tỳ khưu ni.
Visākhābhāṇavāro niṭṭhito.
The section for recitation on Visākhā is finished.
Phẩm tụng về Visākhā - Dứt.
19. Nisīdanādianujānana
19. The allowance of a sitting mat
220. Sự Cho Phép về Tấm Lót Ngồi, v.v...
Tena kho pana samayena bhikkhū paṇītāni bhojanāni bhuñjitvā muṭṭhassatī asampajānā niddaṁ okkamanti. Tesaṁ muṭṭhassatīnaṁ asampajānānaṁ niddaṁ okkamantānaṁ supinantena asuci muccati, senāsanaṁ asucinā makkhiyati.
Atha kho bhagavā āyasmatā ānandena pacchāsamaṇena senāsanacārikaṁ āhiṇḍanto addasa senāsanaṁ asucinā makkhitaṁ, disvāna āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi—“kiṁ etaṁ, ānanda, senāsanaṁ makkhitan”ti? “Etarahi, bhante, bhikkhū paṇītāni bhojanāni bhuñjitvā muṭṭhassatī asampajānā niddaṁ okkamanti. Tesaṁ muṭṭhassatīnaṁ asampajānānaṁ niddaṁ okkamantānaṁ supinantena asuci muccati; tayidaṁ, bhagavā, senāsanaṁ asucinā makkhitan”ti. “Evametaṁ, ānanda, evametaṁ, ānanda. Muccati hi, ānanda, muṭṭhassatīnaṁ asampajānānaṁ niddaṁ okkamantānaṁ supinantena asuci. Ye te, ānanda, bhikkhū upaṭṭhitassatī sampajānā niddaṁ okkamanti, tesaṁ asuci na muccati. Yepi te, ānanda, puthujjanā kāmesu vītarāgā, tesampi asuci na muccati. Aṭṭhānametaṁ, ānanda, anavakāso yaṁ arahato asuci mucceyyā”ti.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—“idhāhaṁ, bhikkhave, ānandena pacchāsamaṇena senāsanacārikaṁ āhiṇḍanto addasaṁ senāsanaṁ asucinā makkhitaṁ, disvāna ānandaṁ āmantesiṁ—‘kiṁ etaṁ, ānanda, senāsanaṁ makkhitan’ti? ‘Etarahi, bhante, bhikkhū paṇītāni bhojanāni bhuñjitvā muṭṭhassatī asampajānā niddaṁ okkamanti. Tesaṁ muṭṭhassatīnaṁ asampajānānaṁ niddaṁ okkamantānaṁ supinantena asuci muccati; tayidaṁ, bhagavā, senāsanaṁ asucinā makkhitan’ti. ‘Evametaṁ, ānanda, evametaṁ, ānanda, muccati hi, ānanda, muṭṭhassatīnaṁ asampajānānaṁ niddaṁ okkamantānaṁ supinantena asuci. Ye te, ānanda, bhikkhū upaṭṭhitassatī sampajānā niddaṁ okkamanti, tesaṁ asuci na muccati. Yepi te, ānanda, puthujjanā kāmesu vītarāgā tesampi asuci na muccati. Aṭṭhānametaṁ, ānanda, anavakāso yaṁ arahato asuci mucceyyā’ti.
At one time the monks ate fine food, and then went to sleep absentminded and heedless. They emitted semen while dreaming, soiling the furniture.
Soon afterwards the Buddha was walking about the dwellings with Venerable Ānanda as his attendant. Noticing that soiled furniture, he asked Ānanda what had happened. Ānanda told him, and the Buddha said, “That’s how it is, Ānanda. For those who go to sleep absentminded and heedless, semen is emitted while dreaming. But for those who fall asleep mindful and heedful, this doesn’t happen, nor does it for ordinary people who are free from sensual desire. And, Ānanda, it’s impossible for a perfected one to emit semen.”
Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks, telling them what had happened. He then said:
353. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu sau khi dùng các vật thực hảo hạng đã đi vào giấc ngủ trong tình trạng thất niệm, không tỉnh giác. Trong khi các vị ấy đi vào giấc ngủ trong tình trạng thất niệm, không tỉnh giác, tinh dịch đã bị tiết ra trong giấc mộng, sàng tọa bị vấy bẩn bởi tinh dịch. Bấy giờ, trong khi đi kinh hành tuần tự các sàng tọa với Đại đức Ānanda là vị thị giả theo sau, đức Thế Tôn đã nhìn thấy sàng tọa bị vấy bẩn bởi tinh dịch. Sau khi nhìn thấy, ngài đã gọi Đại đức Ānanda và nói rằng: – Này Ānanda, vì sao sàng tọa này bị vấy bẩn vậy? – Bạch ngài, hiện nay các vị tỳ khưu sau khi dùng các vật thực hảo hạng đã đi vào giấc ngủ trong tình trạng thất niệm, không tỉnh giác. Trong khi các vị ấy đi vào giấc ngủ trong tình trạng thất niệm, không tỉnh giác, tinh dịch đã bị tiết ra trong giấc mộng; bạch đức Thế Tôn, do đó sàng tọa này bị vấy bẩn bởi tinh dịch. – Này Ānanda, sự việc là vậy. Này Ānanda, sự việc là vậy. Này Ānanda, quả thật tinh dịch bị tiết ra trong giấc mộng đối với những người đi vào giấc ngủ trong tình trạng thất niệm, không tỉnh giác. Này Ānanda, những vị tỳ khưu nào đi vào giấc ngủ trong tình trạng có chánh niệm được thiết lập, có tỉnh giác thì tinh dịch không bị tiết ra. Này Ānanda, ngay cả những kẻ phàm phu đã ly tham trong các dục, tinh dịch của họ cũng không bị tiết ra. Này Ānanda, việc vị A-la-hán có thể bị tiết ra tinh dịch là điều không có cơ sở, là điều không thể xảy ra. Bấy giờ, nhân sự việc này, trong trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các vị tỳ khưu và nói rằng: – Này các tỳ khưu, ở đây, trong khi đi kinh hành tuần tự các sàng tọa với Ānanda là vị thị giả theo sau, Ta đã nhìn thấy sàng tọa bị vấy bẩn bởi tinh dịch. Sau khi nhìn thấy, Ta đã gọi Ānanda và nói rằng: ‘Này Ānanda, vì sao sàng tọa này bị vấy bẩn vậy?’ ‘Bạch ngài, hiện nay các vị tỳ khưu sau khi dùng các vật thực hảo hạng đã đi vào giấc ngủ trong tình trạng thất niệm, không tỉnh giác. Trong khi các vị ấy đi vào giấc ngủ trong tình trạng thất niệm, không tỉnh giác, tinh dịch đã bị tiết ra trong giấc mộng; bạch đức Thế Tôn, do đó sàng tọa này bị vấy bẩn bởi tinh dịch.’ ‘Này Ānanda, sự việc là vậy. Này Ānanda, sự việc là vậy. Này Ānanda, quả thật tinh dịch bị tiết ra trong giấc mộng đối với những người đi vào giấc ngủ trong tình trạng thất niệm, không tỉnh giác. Này Ānanda, những vị tỳ khưu nào đi vào giấc ngủ trong tình trạng có chánh niệm được thiết lập, có tỉnh giác thì tinh dịch không bị tiết ra. Này Ānanda, ngay cả những kẻ phàm phu đã ly tham trong các dục, tinh dịch của họ cũng không bị tiết ra. Này Ānanda, việc vị A-la-hán có thể bị tiết ra tinh dịch là điều không có cơ sở, là điều không thể xảy ra.’”
Pañcime, bhikkhave, ādīnavā muṭṭhassatissa asampajānassa niddaṁ okkamato—dukkhaṁ supati, dukkhaṁ paṭibujjhati, pāpakaṁ supinaṁ passati, devatā na rakkhanti, asuci muccati. Ime kho, bhikkhave, pañca ādīnavā muṭṭhassatissa asampajānassa niddaṁ okkamato.
“There are these five drawbacks to going to sleep absentminded and heedless: you don’t sleep well; you wake up feeling miserable; you have nightmares; the gods don’t guard you; and you emit semen.
– Này các tỳ khưu, có năm điều nguy hại này đối với người đi vào giấc ngủ trong tình trạng thất niệm, không tỉnh giác: ngủ không an lạc, thức dậy không an lạc, thấy ác mộng, chư thiên không bảo hộ, tinh dịch bị tiết ra. Này các tỳ khưu, đây là năm điều nguy hại đối với người đi vào giấc ngủ trong tình trạng thất niệm, không tỉnh giác.
Pañcime, bhikkhave, ānisaṁsā upaṭṭhitassatissa sampajānassa niddaṁ okkamato—sukhaṁ supati, sukhaṁ paṭibujjhati, na pāpakaṁ supinaṁ passati, devatā rakkhanti, asuci na muccati.
Ime kho, bhikkhave, pañca ānisaṁsā upaṭṭhitassatissa sampajānassa niddaṁ okkamato.
And there are these five benefits in going to sleep mindful and heedful: you sleep well; you wake up feeling good; you don’t have nightmares; the gods guard you; and you don’t emit semen.
– Này các tỳ khưu, có năm điều lợi ích này đối với người đi vào giấc ngủ trong tình trạng có chánh niệm được thiết lập, có tỉnh giác: ngủ được an lạc, thức dậy được an lạc, không thấy ác mộng, chư thiên bảo hộ, tinh dịch không bị tiết ra. Này các tỳ khưu, đây là năm điều lợi ích đối với người đi vào giấc ngủ trong tình trạng có chánh niệm được thiết lập, có tỉnh giác.
Anujānāmi, bhikkhave, kāyaguttiyā cīvaraguttiyā senāsanaguttiyā nisīdanan”ti.
And, monks, I allow a sitting mat to protect the body, the robes, and the furniture.”
– Này các tỳ khưu, Ta cho phép tấm lót ngồi để bảo vệ thân, để bảo vệ y, để bảo vệ sàng tọa.
Tena kho pana samayena atikhuddakaṁ nisīdanaṁ na sabbaṁ senāsanaṁ saṅgopeti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, yāvamahantaṁ paccattharaṇaṁ ākaṅkhati tāvamahantaṁ paccattharaṇaṁ kātun”ti.
But the sitting mat was too small. It did not protect the entire piece of furniture.
“I allow you to make a sheet as large as you like.”
Vào lúc bấy giờ, tấm lót ngồi quá nhỏ không che phủ được toàn bộ sàng tọa. Các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm tấm trải giường lớn bằng kích cỡ mà vị ấy mong muốn.
Tena kho pana samayena āyasmato ānandassa upajjhāyassa āyasmato belaṭṭhasīsassa thullakacchābādho hoti. Tassa lasikāya cīvarāni kāye lagganti. Tāni bhikkhū udakena temetvā temetvā apakaḍḍhanti. Addasā kho bhagavā senāsanacārikaṁ āhiṇḍanto te bhikkhū tāni cīvarāni udakena temetvā temetvā apakaḍḍhante, disvāna yena te bhikkhū tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca—“kiṁ imassa, bhikkhave, bhikkhuno ābādho”ti?
“Imassa, bhante, āyasmato thullakacchābādho. Lasikāya cīvarāni kāye lagganti. Tāni mayaṁ udakena temetvā temetvā apakaḍḍhāmā”ti. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, yassa kaṇḍu vā piḷakā vā assāvo vā thullakacchu vā ābādho kaṇḍuppaṭicchādin”ti.
On one occasion Venerable Ānanda’s preceptor, Venerable Belaṭṭhasīsa, had carbuncles, with pus causing his robes to stick to his body. To detach them, the monks kept on moistening his robes with water. As the Buddha was walking about the dwellings, he noticed the monks doing this. He went up to them and said, “What illness does this monk have?”
“He has carbuncles, sir. That’s why we’re doing this.” Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“For anyone who has an itch, a boil, a running sore, or a carbuncle, I allow an itch-covering cloth.”
354. Vào lúc bấy giờ, vị thầy tế độ của Đại đức Ānanda là Đại đức Belaṭṭhasīsa bị bệnh ghẻ lở nặng. Do mủ của vị ấy, các y dính vào thân. Các vị tỳ khưu đã thấm nước, thấm nước vào các y ấy rồi gỡ ra. Trong khi đi kinh hành tuần tự các sàng tọa, đức Thế Tôn đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy đang thấm nước, thấm nước vào các y ấy rồi gỡ ra. Sau khi nhìn thấy, ngài đã đi đến chỗ các vị tỳ khưu ấy. Sau khi đến, ngài đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này: – Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này bị bệnh gì vậy? – Bạch ngài, Đại đức này bị bệnh ghẻ lở nặng. Do mủ, các y dính vào thân. Chúng con đã thấm nước, thấm nước vào các y ấy rồi gỡ ra. Bấy giờ, nhân sự việc này, trong trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các vị tỳ khưu và nói rằng: – Này các tỳ khưu, Ta cho phép tấm y che mụn ghẻ cho vị nào có bệnh ngứa, hoặc mụn nhọt, hoặc có mủ chảy ra, hoặc bị ghẻ lở nặng.
Atha kho visākhā migāramātā mukhapuñchanacoḷaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho visākhā migāramātā bhagavantaṁ etadavoca—“paṭiggaṇhātu me, bhante, bhagavā mukhapuñchanacoḷaṁ, yaṁ mamassa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti. Paṭiggahesi bhagavā mukhapuñchanacoḷaṁ. Atha kho bhagavā visākhaṁ migāramātaraṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho visākhā migāramātā bhagavatā dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, mukhapuñchanacoḷakan”ti.
On one occasion Visākhā took a washcloth and went to the Buddha. She bowed, sat down, and said, “Sir, please accept this washcloth for my long-lasting benefit and happiness.” The Buddha accepted it and then instructed, inspired, and gladdened her with a teaching. She got up from her seat, bowed down, circumambulated him with her right side toward him, and left. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“I allow washcloths.”
355. Bấy giờ, bà Visākhā Migāramātā cầm lấy tấm vải lau mặt đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, bà Visākhā Migāramātā bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy nhận cho con tấm vải lau mặt, điều ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho con.’ Đức Thế Tôn đã nhận tấm vải lau mặt. Bấy giờ, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ bà Visākhā Migāramātā bằng bài pháp thoại. Bấy giờ, bà Visākhā Migāramātā, sau khi được đức Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ bằng bài pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh rồi ra về. Bấy giờ, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các vị tỳ khưu: – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) vải lau mặt.’”
Tena kho pana samayena rojo mallo āyasmato ānandassa sahāyo hoti. Rojassa mallassa khomapilotikā āyasmato ānandassa hatthe nikkhittā hoti. Āyasmato ca ānandassa khomapilotikāya attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa vissāsaṁ gahetuṁ—sandiṭṭho ca hoti, sambhatto ca, ālapito ca, jīvati ca, jānāti ca—gahite me attamano bhavissatīti. Anujānāmi, bhikkhave, imehi pañcahaṅgehi samannāgatassa vissāsaṁ gahetun”ti.
At that time Venerable Ānanda had a friend called Roja the Mallian. Roja had left an old linen cloth with Ānanda, and it so happened that Ānanda needed such a cloth. They told the Buddha.
“I allow you to take things on trust from someone who has five qualities: they’re a friend, they’re a close companion, they’ve spoken about it, they’re alive, and you know they’ll be pleased if you take it.”
356. Vào lúc bấy giờ, vị Malla tên là Roja là bạn của đại đức Ānanda. Tấm vải lanh cũ của vị Malla tên Roja được để lại trong tay của đại đức Ānanda. Và đại đức Ānanda có nhu cầu dùng tấm vải lanh cũ ấy. (Các vị tỳ khưu) đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép lấy với sự thân tín đối với người hội đủ năm yếu tố: là người đã từng gặp, là người thân thiết, là người đã ngỏ lời, là người còn sống, và biết rằng: ‘Khi ta lấy, người ấy sẽ hài lòng.’ Này các tỳ khưu, Ta cho phép lấy với sự thân tín đối với người hội đủ năm yếu tố này.’”
Tena kho pana samayena bhikkhūnaṁ paripuṇṇaṁ hoti ticīvaraṁ. Attho ca hoti parissāvanehipi thavikāhipi. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, parikkhāracoḷakan”ti.
At that time the monks had enough robes, but they needed water filters and bags.
“I allow cloth for requisites.”
357. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đã có đủ ba y. Và có nhu cầu về các túi lọc nước và các túi đựng. (Các vị tỳ khưu) đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) vải vật dụng phụ.’”
20. Pacchimavikappanupagacīvarādikathā
20. Discussion of the smallest robe-cloth that can be assigned to another, etc.
Câu chuyện về y phục có thể vikappa nhỏ nhất, v.v...
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“yāni tāni bhagavatā anuññātāni ticīvaranti vā vassikasāṭikāti vā nisīdananti vā paccattharaṇanti vā kaṇḍuppaṭicchādīti vā mukhapuñchanacoḷanti vā parikkhāracoḷanti vā, sabbāni tāni adhiṭṭhātabbāni nu kho, udāhu vikappetabbānī”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ticīvaraṁ adhiṭṭhātuṁ na vikappetuṁ; vassikasāṭikaṁ vassānaṁ cātumāsaṁ adhiṭṭhātuṁ, tato paraṁ vikappetuṁ; nisīdanaṁ adhiṭṭhātuṁ na vikappetuṁ; paccattharaṇaṁ adhiṭṭhātuṁ na vikappetuṁ; kaṇḍuppaṭicchādiṁ yāva ābādhā adhiṭṭhātuṁ tato paraṁ vikappetuṁ; mukhapuñchanacoḷaṁ adhiṭṭhātuṁ na vikappetuṁ; parikkhāracoḷaṁ adhiṭṭhātuṁ na vikappetun”ti.
Soon afterwards the monks thought, “These things that have been allowed by the Buddha—the three robes, the rainy-season robe, the sitting mat, the sheet, the itch-covering cloth, the washcloth, and the cloth for requisites—are they all to be determined or to be assigned to another?” They told the Buddha.
“You should determine the three robes, not assign them to another; you should determine the rainy-season robe for the four months of the rainy season, and apart from that assign it to another; you should determine the sitting mat, not assign it to another; you should determine a sheet, not assign it to another; you should determine an itch-covering cloth for as long as you’re sick, and apart from that assign it to another; you should determine a washcloth, not assign it to another; you should determine a cloth for requisites, not assign it to another.”
221. Bấy giờ, các vị tỳ khưu khởi lên suy nghĩ: ‘Những y phục đã được đức Thế Tôn cho phép là ba y, hoặc y tắm mưa, hoặc tọa cụ, hoặc tấm trải nằm, hoặc vải che ghẻ, hoặc vải lau mặt, hoặc vải vật dụng phụ, tất cả những thứ ấy có nên được chú nguyện hay là nên được vikappa?’ (Các vị tỳ khưu) đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép chú nguyện ba y, không cho vikappa; cho phép chú nguyện y tắm mưa trong bốn tháng mùa mưa, sau đó thì vikappa; cho phép chú nguyện tọa cụ, không cho vikappa; cho phép chú nguyện tấm trải nằm, không cho vikappa; cho phép chú nguyện vải che ghẻ cho đến khi còn bệnh, sau đó thì vikappa; cho phép chú nguyện vải lau mặt, không cho vikappa; cho phép chú nguyện vải vật dụng phụ, không cho vikappa.’”
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kittakaṁ pacchimaṁ nu kho cīvaraṁ vikappetabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, āyāmena aṭṭhaṅgulaṁ sugataṅgulena caturaṅgulavitthataṁ pacchimaṁ cīvaraṁ vikappetun”ti.
The monks thought, “What’s the size of the smallest robe-cloth that can be assigned to another?”
“The smallest robe-cloth you should assign to another is one that’s eight standard fingerbreadths long and four wide.”
358. Bấy giờ, các vị tỳ khưu khởi lên suy nghĩ: ‘Y phục nhỏ nhất có thể được vikappa là bao lớn?’ (Các vị tỳ khưu) đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép vikappa y phục nhỏ nhất có chiều dài tám ngón tay, chiều rộng bốn ngón tay, theo ngón tay của bậc Thiện Thệ.’”
Tena kho pana samayena āyasmato mahākassapassa paṁsukūlakato garuko hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, suttalūkhaṁ kātun”ti.
Vikaṇṇo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, vikaṇṇaṁ uddharitun”ti.
Suttā okiriyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, anuvātaṁ paribhaṇḍaṁ āropetun”ti.
At that time Venerable Mahākassapa’s rag robes were heavy.
“I allow you to mend roughly with thread.”
The corners became deformed.
“I allow you to remove the deformity.”
The cloth frayed.
“I allow you to add a lengthwise border and a crosswise border.”
Vào lúc bấy giờ, y phấn tảo của đại đức Mahākassapa bị nặng. (Các vị tỳ khưu) đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép vá bằng chỉ.’ (Y) có góc không đều. (Các vị tỳ khưu) đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép cắt bỏ phần góc không đều.’ Các sợi chỉ bị bung ra. (Các vị tỳ khưu) đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép đắp thêm viền dọc và viền ngang.’”
Tena kho pana samayena saṅghāṭiyā pattā lujjanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, aṭṭhapadakaṁ kātun”ti.
On one occasion the panels of an outer robe were breaking up.
“I allow you to darn.”
359. Vào lúc bấy giờ, các đường viền của y tăng-già-lê bị hư. (Các vị tỳ khưu) đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép may theo kiểu bàn cờ.’”
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno ticīvare kayiramāne sabbaṁ chinnakaṁ nappahoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, dve chinnakāni ekaṁ acchinnakan”ti.
At one time, while making a set of three robes for a monk, there was not enough cloth to make all three out of pieces.
“I allow two robes made of pieces and one that isn’t.”
Vào lúc bấy giờ, trong khi may ba y, một vị tỳ khưu nọ nếu cắt hết tất cả thì không đủ vải. (Các vị tỳ khưu) đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép hai y được cắt và một y không cắt.’”
Dve chinnakāni ekaṁ acchinnakaṁ nappahoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, dve acchinnakāni ekaṁ chinnakan”ti.
There was not enough cloth to make two out of pieces.
“I allow one robe made of pieces and two that are not.”
360. (Trường hợp) hai y được cắt và một y không cắt vẫn không đủ vải. (Các vị tỳ khưu) đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép hai y không cắt và một y được cắt.’”
Dve acchinnakāni ekaṁ chinnakaṁ nappahoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, anvādhikampi āropetuṁ. Na ca, bhikkhave, sabbaṁ acchinnakaṁ dhāretabbaṁ. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
There was not enough cloth to make one out of pieces.
“I allow you to add a further supply. But you shouldn’t wear robes none of which are cut into pieces. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
(Trường hợp) hai y không cắt và một y được cắt vẫn không đủ vải. (Các vị tỳ khưu) đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép đắp thêm miếng vá. Và này các tỳ khưu, không được mặc y hoàn toàn không cắt. Vị nào mặc, vị ấy phạm tội tác ác.’”
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno bahuṁ cīvaraṁ uppannaṁ hoti. So ca taṁ cīvaraṁ mātāpitūnaṁ dātukāmo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Mātāpitaroti kho, bhikkhave, dadamāne kiṁ vadeyyāma? Anujānāmi, bhikkhave, mātāpitūnaṁ dātuṁ. Na ca, bhikkhave, saddhādeyyaṁ vinipātetabbaṁ. Yo vinipāteyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion a monk who had been given much robe-cloth wanted to give it to his mother and father.
“If you’re giving to your mother and father, what can I say? I allow you to give to your mother and father. But, monks, a gift of faith shouldn’t be ruined. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, một vị tỳ khưu nọ được phát sinh nhiều y. Và vị ấy muốn cho số y ấy đến cha mẹ. (Các vị tỳ khưu) đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, đối với người cho cha mẹ, chúng ta có thể nói gì? Này các tỳ khưu, Ta cho phép cho cha mẹ. Và này các tỳ khưu, không được làm hư hoại vật cúng dường do đức tin. Vị nào làm hư hoại, vị ấy phạm tội tác ác.’”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu andhavane cīvaraṁ nikkhipitvā santaruttarena gāmaṁ piṇḍāya pāvisi. Corā taṁ cīvaraṁ avahariṁsu. So bhikkhu duccoḷo hoti lūkhacīvaro. Bhikkhū evamāhaṁsu—“kissa tvaṁ, āvuso, duccoḷo lūkhacīvarosī”ti? “Idhāhaṁ, āvuso, andhavane cīvaraṁ nikkhipitvā santaruttarena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ. Corā taṁ cīvaraṁ avahariṁsu. Tenāhaṁ duccoḷo lūkhacīvaro”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, santaruttarena gāmo pavisitabbo. Yo paviseyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion a monk left one of his robes in the Blind Men’s Grove and then entered the village for alms in just his sarong and upper robe. Thieves stole that robe, and as a result he became poorly dressed. When other monks asked him why, he told them what had happened.
“You shouldn’t enter a village in just your sarong and upper robe. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
362. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sau khi để y ở trong khu rừng Andhavana đã đi vào làng để khất thực với chỉ y nội và y vai. Các kẻ trộm đã lấy trộm y ấy. Vị tỳ khưu ấy có y phục xấu xí, có y thô xấu. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: “Này hiền hữu, vì sao hiền hữu có y phục xấu xí, có y thô xấu vậy?” – “Ở đây, này các hiền hữu, sau khi để y ở trong khu rừng Andhavana, tôi đã đi vào làng để khất thực với chỉ y nội và y vai. Các kẻ trộm đã lấy trộm y ấy. Do đó, tôi có y phục xấu xí, có y thô xấu.” (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – “Này các tỳ khưu, không được đi vào làng với chỉ y nội và y vai. Vị nào đi vào, phạm tội dukkaṭa (tác ác).”
Tena kho pana samayena āyasmā ānando assatiyā santaruttarena gāmaṁ piṇḍāya pāvisi. Bhikkhū āyasmantaṁ ānandaṁ etadavocuṁ—“nanu, āvuso ānanda, bhagavatā paññattaṁ—‘na santaruttarena gāmo pavisitabbo’ti? Kissa tvaṁ, āvuso ānanda, santaruttarena gāmaṁ paviṭṭho”ti? “Saccaṁ, āvuso, bhagavatā paññattaṁ—‘na santaruttarena gāmo pavisitabbo’ti. Api cāhaṁ assatiyā paviṭṭho”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
Soon afterwards Venerable Ānanda, being absentminded, entered a village in just his sarong and upper robe. The monks said to him, “Hasn’t the Buddha laid down a rule against entering the village in just a sarong and an upper robe?” Ānanda told them what had happened. They told the Buddha.
Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Ānanda do thất niệm đã đi vào làng để khất thực với chỉ y nội và y vai. Các vị tỳ khưu đã nói điều này với trưởng lão Ānanda: “Này hiền hữu Ānanda, chẳng phải đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không được đi vào làng với chỉ y nội và y vai’ hay sao? Này hiền hữu Ānanda, vì sao hiền hữu đã đi vào làng với chỉ y nội và y vai?” – “Thật vậy, này các hiền hữu, đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không được đi vào làng với chỉ y nội và y vai.’ Tuy nhiên, tôi đã đi vào do thất niệm.” (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
“Pañcime, bhikkhave, paccayā saṅghāṭiyā nikkhepāya—gilāno vā hoti, vassikasaṅketaṁ vā hoti, nadīpāraṁ gantuṁ vā hoti, aggaḷaguttivihāro vā hoti, atthatakathinaṁ vā hoti. Ime kho, bhikkhave, pañca paccayā saṅghāṭiyā nikkhepāya.
“There are five reasons for leaving behind the outer robe, the upper robe, or the sarong: you’re sick; it’s the rainy season; you’re going to cross a river; the dwelling is protected by a door; you have participated in the robe-making ceremony.
Này các tỳ khưu, có năm duyên cớ này để cất giữ y saṅghāṭi (tăng-già-lê): Bị bệnh, hoặc là thời điểm mùa mưa, hoặc là đi sang bờ sông bên kia, hoặc là trú xá có then cài chắc chắn, hoặc là đã thọ y kathina. Này các tỳ khưu, có năm duyên cớ này để cất giữ y saṅghāṭi.
Pañcime, bhikkhave, paccayā uttarāsaṅgassa nikkhepāya …pe… antaravāsakassa nikkhepāya—gilāno vā hoti, vassikasaṅketaṁ vā hoti, nadīpāraṁ gantuṁ vā hoti, aggaḷaguttivihāro vā hoti, atthatakathinaṁ vā hoti. Ime kho, bhikkhave, pañca paccayā uttarāsaṅgassa antaravāsakassa nikkhepāya.
Này các tỳ khưu, có năm duyên cớ này để cất giữ y uttarāsaṅga (thượng y) ... ... để cất giữ y antaravāsaka (hạ y): Bị bệnh, hoặc là thời điểm mùa mưa, hoặc là đi sang bờ sông bên kia, hoặc là trú xá có then cài chắc chắn, hoặc là đã thọ y kathina. Này các tỳ khưu, có năm duyên cớ này để cất giữ y uttarāsaṅga và y antaravāsaka.
Pañcime, bhikkhave, paccayā vassikasāṭikāya nikkhepāya—gilāno vā hoti, nissīmaṁ gantuṁ vā hoti, nadīpāraṁ gantuṁ vā hoti, aggaḷaguttivihāro vā hoti, vassikasāṭikā akatā vā hoti vippakatā vā. Ime kho, bhikkhave, pañca paccayā vassikasāṭikāya nikkhepāyā”ti.
There are five reasons for leaving behind the rainy-season robe: you’re sick; you’re going outside the monastery zone; you’re going to cross a river; the dwelling is protected by a door; the rainy-season robe hasn’t been sewn or is unfinished.”
Này các tỳ khưu, có năm duyên cớ này để cất giữ y tắm mưa: Bị bệnh, hoặc là đi ra ngoài ranh giới, hoặc là đi sang bờ sông bên kia, hoặc là trú xá có then cài chắc chắn, hoặc là y tắm mưa chưa được làm hay chưa được làm xong. Này các tỳ khưu, có năm duyên cớ này để cất giữ y tắm mưa.
21. Saṅghikacīvaruppādakathā
21. Discussion of robe-cloth given to the Sangha
222. Câu chuyện về sự phát sanh y của Tăng chúng.
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu eko vassaṁ vasi. Tattha manussā saṅghassa demāti cīvarāni adaṁsu. Atha kho tassa bhikkhuno etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘catuvaggo pacchimo saṅgho’ti. Ahañcamhi ekako. Ime ca manussā saṅghassa demāti cīvarāni adaṁsu. Yannūnāhaṁ imāni saṅghikāni cīvarāni sāvatthiṁ hareyyan”ti. Atha kho so bhikkhu tāni cīvarāni ādāya sāvatthiṁ gantvā bhagavato etamatthaṁ ārocesi. “Tuyheva, bhikkhu, tāni cīvarāni yāva kathinassa ubbhārāyā”ti.
“Idha pana, bhikkhave, bhikkhu eko vassaṁ vasati. Tattha manussā—‘saṅghassa demā’ti cīvarāni denti. Anujānāmi, bhikkhave, tasseva tāni cīvarāni yāva kathinassa ubbhārāyā”ti.
At that time a certain monk had spent the rainy season by himself. People gave him robe-cloth, intending it for the Sangha. He thought, “The Buddha has laid down that a sangha consists of a group of at least four, but I’m here by myself. Now these people have given robe-cloth, intending it for the Sangha. Let me take it to Sāvatthī.” He then took that robe-cloth to Sāvatthī and told the Buddha what had happened. The Buddha said, “This robe-cloth is yours until the end of the robe season.
It may be that a monk spends the rainy season by himself, yet people give him robe-cloth, intending it for the Sangha. That robe-cloth is his until the end of the robe season.”
363. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ an cư mùa mưa một mình. Ở đấy, các thí chủ đã dâng cúng các y với ý nguyện: “Chúng con xin dâng đến Tăng chúng.” Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy đã khởi lên suy nghĩ này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Tăng chúng tối thiểu là nhóm bốn vị.’ Còn ta thì chỉ có một mình. Và các thí chủ này đã dâng cúng các y với ý nguyện: ‘Chúng con xin dâng đến Tăng chúng.’ Hay là ta nên mang các y của Tăng chúng này về Sāvatthī.” Sau đó, vị tỳ khưu ấy sau khi lấy các y ấy, đi đến Sāvatthī, đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): “Này tỳ khưu, các y ấy là của chính ngươi cho đến khi y kathina được xả.” – “Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu an cư mùa mưa một mình. Ở đấy, các thí chủ dâng cúng các y với ý nguyện: ‘Chúng con xin dâng đến Tăng chúng.’ Này các tỳ khưu, Ta cho phép các y ấy thuộc về chính vị ấy cho đến khi y kathina được xả.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu utukālaṁ eko vasi. Tattha manussā saṅghassa demāti cīvarāni adaṁsu. Atha kho tassa bhikkhuno etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘catuvaggo pacchimo saṅgho’ti. Ahañcamhi ekako. Ime ca manussā—‘saṅghassa demā’ti cīvarāni adaṁsu. Yannūnāhaṁ imāni saṅghikāni cīvarāni sāvatthiṁ hareyyan”ti. Atha kho so bhikkhu tāni cīvarāni ādāya sāvatthiṁ gantvā bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Anujānāmi, bhikkhave, sammukhībhūtena saṅghena bhājetuṁ.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu utukālaṁ eko vasati. Tattha manussā—‘saṅghassa demā’ti cīvarāni denti. Anujānāmi, bhikkhave, tena bhikkhunā tāni cīvarāni adhiṭṭhātuṁ—‘mayhimāni cīvarānī’ti. Tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno taṁ cīvaraṁ anadhiṭṭhite añño bhikkhu āgacchati, samako dātabbo bhāgo. Tehi ce, bhikkhave, bhikkhūhi taṁ cīvaraṁ bhājiyamāne, apātite kuse, añño bhikkhu āgacchati, samako dātabbo bhāgo. Tehi ce, bhikkhave, bhikkhūhi taṁ cīvaraṁ bhājiyamāne, pātite kuse, añño bhikkhu āgacchati, nākāmā dātabbo bhāgo”ti.
At one time a certain monk was living by himself outside the rainy season. People gave him robe-cloth, intending it for the Sangha. He thought, “The Buddha has laid down that a sangha consists of a group of at least four, but I’m here by myself. Now these people have given robe-cloth, intending it for the Sangha. Let me take it to Sāvatthī.” He then took that robe-cloth to Sāvatthī and told the monks, who in turn told the Buddha. He said, “The present Sangha should distribute it.
It may be that a monk is living by himself outside the rainy season, yet people give him robe-cloth, intending it for the Sangha. I allow that monk to determine that robe-cloth as his. But if another monk arrives before he has determined that robe-cloth, then he should be given an equal share. If yet another monk arrives before they’ve distributed that robe-cloth by drawing lots, he too should be given an equal share. If still another monk arrives, but after they’ve distributed that robe-cloth by drawing lots, they don’t need to give him a share if they’re unwilling.”
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sống một mình vào thời gian trái mùa. Ở đấy, các thí chủ đã dâng cúng các y với ý nguyện: “Chúng con xin dâng đến Tăng chúng.” Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy đã khởi lên suy nghĩ này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Tăng chúng tối thiểu là nhóm bốn vị.’ Còn ta thì chỉ có một mình. Và các thí chủ này đã dâng cúng các y với ý nguyện: ‘Chúng con xin dâng đến Tăng chúng.’ Hay là ta nên mang các y của Tăng chúng này về Sāvatthī.” Sau đó, vị tỳ khưu ấy sau khi lấy các y ấy, đi đến Sāvatthī, đã trình sự việc ấy đến các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – “Này các tỳ khưu, Ta cho phép Tăng chúng hiện diện phân chia.” – “Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống một mình vào thời gian trái mùa. Ở đấy, các thí chủ dâng cúng các y với ý nguyện: ‘Chúng con xin dâng đến Tăng chúng.’ Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu ấy chú nguyện các y ấy rằng: ‘Các y này là của tôi.’ Này các tỳ khưu, trong trường hợp vị tỳ khưu ấy chưa chú nguyện y ấy mà có vị tỳ khưu khác đến, phần bằng nhau nên được trao. Này các tỳ khưu, trong trường hợp các vị tỳ khưu ấy đang phân chia y ấy, trong khi thẻ thăm chưa được bỏ xuống mà có vị tỳ khưu khác đến, phần bằng nhau nên được trao. Này các tỳ khưu, trong trường hợp các vị tỳ khưu ấy đang phân chia y ấy, sau khi thẻ thăm đã được bỏ xuống mà có vị tỳ khưu khác đến, nếu không muốn thì không nên trao phần (y).”
Tena kho pana samayena dve bhātikā therā, āyasmā ca isidāso āyasmā ca isibhaṭo, sāvatthiyaṁ vassaṁvuṭṭhā aññataraṁ gāmakāvāsaṁ agamaṁsu. Manussā—“cirassāpi therā āgatā”ti—sacīvarāni bhattāni adaṁsu. Āvāsikā bhikkhū there pucchiṁsu—“imāni, bhante, saṅghikāni cīvarāni there āgamma uppannāni, sādiyissanti therā bhāgan”ti. Therā evamāhaṁsu—“yathā kho mayaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāma, tumhākaṁyeva tāni cīvarāni yāva kathinassa ubbhārāyā”ti.
On one occasion, after completing the rainy-season residence at Sāvatthī, two senior monks who were brothers, Venerable Isidāsa and Venerable Isibhaṭa, went to a certain village monastery. Because it was a long time since they had been there, people gave meals together with robe-cloth. The resident monks asked them, “Venerables, this robe-cloth belonging to the Sangha was given because of you. Will you accept a share?” They replied, “As we understand the Teaching of the Buddha, this robe-cloth is just for you until the end of the robe season.”
Vào lúc bấy giờ, có hai vị trưởng lão là anh em, là trưởng lão Isidāsa và trưởng lão Isibhaṭo, sau khi đã an cư mùa mưa ở Sāvatthī đã đi đến một trú xá ở làng quê. Các thí chủ (nghĩ rằng): “Các vị trưởng lão đã đến sau một thời gian dài” rồi đã dâng cúng các vật thực cùng với các y. Các vị tỳ khưu ở trú xá đã hỏi các vị trưởng lão: “Bạch các ngài, các y của Tăng chúng này đã phát sanh do nhân duyên các vị trưởng lão, các vị trưởng lão có vui lòng nhận phần (y) không?” Các vị trưởng lão đã nói như vầy: “Này các hiền hữu, theo như chúng tôi được biết về Giáo Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì các y ấy là của chính các vị cho đến khi y kathina được xả.”
Tena kho pana samayena tayo bhikkhū rājagahe vassaṁ vasanti. Tattha manussā saṅghassa demāti cīvarāni denti.
At that time there were three monks who were spending the rains residence at Rājagaha. People gave them robe-cloth, intending it for the Sangha.
Vào lúc bấy giờ, có ba vị tỳ khưu đang an cư mùa mưa ở Rājagaha. Ở đấy, các thí chủ (dâng cúng) đến Tăng chúng...
Tena kho pana samayena sambahulā therā, āyasmā ca nilavāsī āyasmā ca sāṇavāsī āyasmā ca gotako āyasmā ca bhagu āyasmā ca phaḷikasantāno, pāṭaliputte viharanti kukkuṭārāme. Atha kho te bhikkhū pāṭaliputtaṁ gantvā there pucchiṁsu. Therā evamāhaṁsu—“yathā kho mayaṁ āvuso bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāma, tumhākaṁyeva tāni cīvarāni yāva kathinassa ubbhārāyā”ti.
On that occasion there were a number of senior monks—Venerable Nilavāsī, Venerable Sāṇavāsī, Venerable Gotaka, Venerable Bhagu, and Venerable Phaḷikasantāna—staying at Pāṭaliputta in the Kukkuṭa Monastery. The monks from Rājagaha went to Pāṭaliputta to ask them. They replied, “As we understand the Teaching of the Buddha, that robe-cloth is just for you until the end of the robe season.”
Họ đã dâng cúng các y với ý nghĩ ‘chúng tôi xin dâng cúng.’ Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã khởi lên suy nghĩ rằng: – ‘Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Tăng chúng tối thiểu là nhóm bốn vị.’ Còn chúng tôi chỉ có ba người. Và những người này dâng cúng các y với ý nghĩ ‘chúng tôi xin dâng cúng đến Tăng chúng.’ Chúng tôi nên thực hành như thế nào đây?’ Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị trưởng lão là đại đức Nilavāsī, đại đức Sāṇavāsī, đại đức Gotaka, đại đức Bhagu, và đại đức Phaḷikasantāna đang trú ngụ tại tu viện Kukkuṭārāma ở thành Pāṭaliputta. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đi đến thành Pāṭaliputta rồi hỏi các vị trưởng lão. Các vị trưởng lão đã nói như vầy: – ‘Này chư hiền, theo như chúng tôi được biết về Pháp đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng thì các y ấy thuộc về chính quý vị cho đến khi lễ kathina được xả.’
22. Upanandasakyaputtavatthu
22. Upananda the Sakyan
Câu chuyện về Upananda, người trong dòng họ Sakya
Tena kho pana samayena āyasmā upanando sakyaputto sāvatthiyaṁ vassaṁvuṭṭho aññataraṁ gāmakāvāsaṁ agamāsi. Tattha ca bhikkhū cīvaraṁ bhājetukāmā sannipatiṁsu. Te evamāhaṁsu—“imāni kho, āvuso, saṅghikāni cīvarāni bhājiyissanti, sādiyissasi bhāgan”ti?
“Āmāvuso, sādiyissāmī”ti.
Tato cīvarabhāgaṁ gahetvā aññaṁ āvāsaṁ agamāsi. Tatthapi bhikkhū cīvaraṁ bhājetukāmā sannipatiṁsu. Tepi evamāhaṁsu—“imāni kho, āvuso, saṅghikāni cīvarāni bhājiyissanti, sādiyissasi bhāgan”ti?
“Āmāvuso, sādiyissāmī”ti.
Tatopi cīvarabhāgaṁ gahetvā aññaṁ āvāsaṁ agamāsi. Tatthapi bhikkhū cīvaraṁ bhājetukāmā sannipatiṁsu. Tepi evamāhaṁsu—“imāni kho, āvuso, saṅghikāni cīvarāni bhājiyissanti, sādiyissasi bhāgan”ti?
“Āmāvuso, sādiyissāmī”ti.
Tatopi cīvarabhāgaṁ gahetvā mahantaṁ cīvarabhaṇḍikaṁ ādāya punadeva sāvatthiṁ paccāgañchi.
Bhikkhū evamāhaṁsu—“mahāpuññosi tvaṁ, āvuso upananda, bahuṁ te cīvaraṁ uppannan”ti.
“Kuto me, āvuso, puññaṁ? Idhāhaṁ, āvuso, sāvatthiyaṁ vassaṁvuṭṭho aññataraṁ gāmakāvāsaṁ agamāsiṁ. Tattha bhikkhū cīvaraṁ bhājetukāmā sannipatiṁsu. Te maṁ evamāhaṁsu—‘imāni kho, āvuso, saṅghikāni cīvarāni bhājiyissanti, sādiyissasi bhāgan’ti? ‘Āmāvuso, sādiyissāmī’ti. Tato cīvarabhāgaṁ gahetvā aññaṁ āvāsaṁ agamāsiṁ. Tatthapi bhikkhū cīvaraṁ bhājetukāmā sannipatiṁsu. Tepi maṁ evamāhaṁsu—‘imāni kho, āvuso, saṅghikāni cīvarāni bhājiyissanti, sādiyissasi bhāgan’ti? ‘Āmāvuso, sādiyissāmī’ti. Tatopi cīvarabhāgaṁ gahetvā aññaṁ āvāsaṁ agamāsiṁ. Tatthapi bhikkhū cīvaraṁ bhājetukāmā sannipatiṁsu. Tepi maṁ evamāhaṁsu—‘imāni kho, āvuso, saṅghikāni cīvarāni bhājiyissanti, sādiyissasi bhāgan’ti? ‘Āmāvuso, sādiyissāmī’ti. Tatopi cīvarabhāgaṁ aggahesiṁ. Evaṁ me bahuṁ cīvaraṁ uppannan”ti.
“Kiṁ pana tvaṁ, āvuso upananda, aññatra vassaṁvuṭṭho aññatra cīvarabhāgaṁ sādiyī”ti?
“Evamāvuso”ti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma āyasmā upanando sakyaputto aññatra vassaṁvuṭṭho aññatra cīvarabhāgaṁ sādiyissatī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira tvaṁ, upananda, aññatra vassaṁvuṭṭho aññatra cīvarabhāgaṁ sādiyī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, aññatra vassaṁvuṭṭho aññatra cīvarabhāgaṁ sādiyissasi. Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, aññatra vassaṁvuṭṭhena aññatra cīvarabhāgo sāditabbo. Yo sādiyeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time, after completing the rainy-season residence at Sāvatthī, Venerable Upananda the Sakyan went to a certain village monastery. Just then the monks there had gathered to distribute the robe-cloth. They said to Upananda, “We’re distributing the Sangha’s robe-cloth. Would you like a share?”
“Yes, I would.”
He then took that share of robe-cloth and went to another monastery. There, too, the monks had gathered to distribute the robe-cloth. They said to Upananda, “We’re distributing the Sangha’s robe-cloth. Would you like a share?”
“Yes, I would.”
He then took that share, too, and went to yet another monastery. There, too, the monks had gathered to distribute the robe-cloth. They said to Upananda, “We’re distributing the Sangha’s robe-cloth. Would you like a share?”
“Yes, I would.”
He then took that share too, made a large bundle of robe-cloth, and returned to Sāvatthī.
The monks said to him, “You have much merit, Upananda, as you’ve been given so much robe-cloth.”
“This has nothing to do with merit.” And he told them how he had obtained so much robe-cloth.
“So you spent the rains residence in one place and accepted a share of the robe-cloth from somewhere else?”
“Yes.”
The monks of few desires complained and criticized Upananda, “How could Venerable Upananda spend the rains residence in one place and then accept a share of the robe-cloth from somewhere else?” They told the Buddha. … “Is it true, Upananda, that you did this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked him … “Foolish man, how could you spend the rains residence in one place and then accept a share of the robe-cloth from somewhere else? This will affect people’s confidence …” After rebuking him … he gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t spend the rainy-season residence in one place and then accept a share of the robe-cloth from somewhere else. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
223. Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda, người trong dòng họ Sakya, sau khi đã an cư mùa mưa ở thành Sāvatthī, đã đi đến một trú xứ ở làng nọ. Và ở nơi ấy, các vị tỳ khưu đã tụ hội lại vì muốn phân chia y. Các vị ấy đã nói như vầy: – ‘Này hiền giả, các y này của Tăng chúng sẽ được phân chia, hiền giả có nhận phần của mình không?’ – ‘Thưa chư hiền, vâng, tôi sẽ nhận.’ Sau khi đã nhận phần y từ nơi ấy, vị ấy đã đi đến một trú xứ khác. Ở nơi ấy, các vị tỳ khưu cũng đã tụ hội lại vì muốn phân chia y. Các vị ấy cũng đã nói như vầy: – ‘Này hiền giả, các y này của Tăng chúng sẽ được phân chia, hiền giả có nhận phần của mình không?’ – ‘Thưa chư hiền, vâng, tôi sẽ nhận.’ Sau khi đã nhận phần y từ nơi ấy, vị ấy đã đi đến một trú xứ khác. Ở nơi ấy, các vị tỳ khưu cũng đã tụ hội lại vì muốn phân chia y. Các vị ấy cũng đã nói như vầy: – ‘Này hiền giả, các y này của Tăng chúng sẽ được phân chia, hiền giả có nhận phần của mình không?’ – ‘Thưa chư hiền, vâng, tôi sẽ nhận.’ Sau khi đã nhận phần y từ nơi ấy, vị ấy mang theo một bọc y lớn rồi quay trở lại thành Sāvatthī. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: – ‘Thưa hiền giả Upananda, hiền giả thật có nhiều phước đức, hiền giả đã được phát sanh nhiều y.’ – ‘Thưa chư hiền, phước đức của tôi từ đâu ra? Thưa chư hiền, ở đây, sau khi đã an cư mùa mưa ở thành Sāvatthī, tôi đã đi đến một trú xứ ở làng nọ. Ở nơi ấy, các vị tỳ khưu đã tụ hội lại vì muốn phân chia y. Các vị ấy đã hỏi tôi như vầy: ‘Này hiền giả, các y này của Tăng chúng sẽ được phân chia, hiền giả có nhận phần của mình không?’ ‘Thưa chư hiền, vâng, tôi sẽ nhận.’ Sau khi đã nhận phần y từ nơi ấy, tôi đã đi đến một trú xứ khác. Ở nơi ấy, các vị tỳ khưu cũng đã tụ hội lại vì muốn phân chia y. Các vị ấy cũng đã hỏi tôi như vầy: ‘Này hiền giả, các y này của Tăng chúng sẽ được phân chia, hiền giả có nhận phần của mình không?’ ‘Thưa chư hiền, vâng, tôi sẽ nhận.’ Sau khi đã nhận phần y từ nơi ấy, tôi đã đi đến một trú xứ khác. Ở nơi ấy, các vị tỳ khưu cũng đã tụ hội lại vì muốn phân chia y. Các vị ấy cũng đã hỏi tôi như vầy: ‘Này hiền giả, các y này của Tăng chúng sẽ được phân chia, hiền giả có nhận phần của mình không?’ ‘Thưa chư hiền, vâng, tôi sẽ nhận.’ Tôi đã nhận phần y từ nơi ấy. Do vậy, nhiều y đã được phát sanh đến cho tôi.’ – ‘Thưa hiền giả Upananda, có phải hiền giả đã an cư mùa mưa ở một nơi rồi lại nhận phần y ở một nơi khác không?’ – ‘Thưa chư hiền, đúng vậy.’ Các vị tỳ khưu ít ham muốn ... họ đã chê bai, chỉ trích, phàn nàn rằng: – ‘Tại sao đại đức Upananda, người trong dòng họ Sakya, sau khi đã an cư mùa mưa ở một nơi rồi lại nhận phần y ở một nơi khác?’ Họ đã trình báo sự việc ấy lên Đức Thế Tôn ... – ‘Này Upananda, có thật là ngươi đã an cư mùa mưa ở một nơi rồi lại nhận phần y ở một nơi khác không?’ – ‘Bạch Đức Thế Tôn, là sự thật.’ Đức Phật, Đức Thế Tôn đã quở trách ... – ‘Này kẻ rỗng tuếch kia, tại sao ngươi đã an cư mùa mưa ở một nơi rồi lại nhận phần y ở một nơi khác? Này kẻ rỗng tuếch, việc này không thể làm cho những người chưa có đức tin được phát sanh đức tin ...’ Sau khi đã quở trách ... sau khi đã thuyết một bài pháp thoại, ngài đã cho gọi các vị tỳ khưu: – ‘Này các tỳ khưu, vị đã an cư mùa mưa ở một nơi không được nhận phần y ở một nơi khác. Vị nào nhận, vị ấy phạm tội tác ác.’
Tena kho pana samayena āyasmā upanando sakyaputto eko dvīsu āvāsesu vassaṁ vasi—“evaṁ me bahuṁ cīvaraṁ uppajjissatī”ti. Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“kathaṁ nu kho āyasmato upanandassa sakyaputtassa cīvarapaṭivīso dātabbo”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Detha, bhikkhave, moghapurisassa ekādhippāyaṁ.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu eko dvīsu āvāsesu vassaṁ vasati—‘evaṁ me bahuṁ cīvaraṁ uppajjissatī’ti. Sace amutra upaḍḍhaṁ amutra upaḍḍhaṁ vasati, amutra upaḍḍho amutra upaḍḍho cīvarapaṭivīso dātabbo. Yattha vā pana bahutaraṁ vasati, tato cīvarapaṭivīso dātabbo”ti.
At one time Venerable Upananda spent the rains residence in two separate monasteries, thinking, “In this way I’ll get much robe-cloth.” The monks thought, “What share of the robe-cloth should be given to Venerable Upananda?” They told the Buddha. “Give the foolish man one person’s share.
It may be that a monk spends the rains residence in two monasteries with the intention of getting much robe-cloth. If he spends half the time in each monastery, he should be given half a share of the robe-cloth in each. Otherwise he should be given his share of the robe-cloth in the monastery where he spends the most time.”
364. Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda, người trong dòng họ Sakya, một mình đã an cư mùa mưa ở hai trú xứ với ý nghĩ rằng: ‘Do vậy, nhiều y sẽ được phát sanh đến cho ta.’ Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã khởi lên suy nghĩ rằng: ‘Phần y nên được trao cho đại đức Upananda, người trong dòng họ Sakya, như thế nào đây?’ Họ đã trình báo sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, hãy trao cho kẻ rỗng tuếch ấy một phần. Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây có vị tỳ khưu một mình an cư mùa mưa ở hai trú xứ với ý nghĩ rằng: ‘Do vậy, nhiều y sẽ được phát sanh đến cho ta.’ Nếu vị ấy ở nửa thời gian tại trú xứ này, nửa thời gian tại trú xứ kia thì phần y nên được trao một nửa từ trú xứ này, một nửa từ trú xứ kia. Hoặc nơi nào vị ấy ở nhiều hơn thì phần y nên được trao từ nơi ấy.’
23. Gilānavatthukathā
23. The account of the one who was sick
Câu chuyện về trường hợp bệnh
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno kucchivikārābādho hoti. So sake muttakarīse palipanno seti. Atha kho bhagavā āyasmatā ānandena pacchāsamaṇena senāsanacārikaṁ āhiṇḍanto yena tassa bhikkhuno vihāro tenupasaṅkami. Addasā kho bhagavā taṁ bhikkhuṁ sake muttakarīse palipannaṁ sayamānaṁ, disvāna yena so bhikkhu tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca—“kiṁ te, bhikkhu, ābādho”ti?
“Kucchivikāro me, bhagavā”ti.
“Atthi pana te, bhikkhu, upaṭṭhāko”ti?
“Natthi, bhagavā”ti.
“Kissa taṁ bhikkhū na upaṭṭhentī”ti?
“Ahaṁ kho, bhante, bhikkhūnaṁ akārako; tena maṁ bhikkhū na upaṭṭhentī”ti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi—“gacchānanda, udakaṁ āhara, imaṁ bhikkhuṁ nahāpessāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissuṇitvā udakaṁ āhari. Bhagavā udakaṁ āsiñci. Āyasmā ānando paridhovi. Bhagavā sīsato aggahesi. Āyasmā ānando pādato uccāretvā mañcake nipātesuṁ.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—“atthi, bhikkhave, amukasmiṁ vihāre bhikkhu gilāno”ti?
“Atthi, bhagavā”ti.
“Kiṁ tassa, bhikkhave, bhikkhuno ābādho”ti?
“Tassa, bhante, āyasmato kucchivikārābādho”ti.
“Atthi pana, bhikkhave, tassa bhikkhuno upaṭṭhāko”ti?
“Natthi, bhagavā”ti.
“Kissa taṁ bhikkhū na upaṭṭhentī”ti?
“Eso, bhante, bhikkhu bhikkhūnaṁ akārako; tena taṁ bhikkhū na upaṭṭhentī”ti.
“Natthi vo, bhikkhave, mātā, natthi pitā, ye vo upaṭṭhaheyyuṁ. Tumhe ce, bhikkhave, aññamaññaṁ na upaṭṭhahissatha, atha ko carahi upaṭṭhahissati? Yo, bhikkhave, maṁ upaṭṭhaheyya so gilānaṁ upaṭṭhaheyya.
Sace upajjhāyo hoti, upajjhāyena yāvajīvaṁ upaṭṭhātabbo; vuṭṭhānamassa āgametabbaṁ. Sace ācariyo hoti, ācariyena yāvajīvaṁ upaṭṭhātabbo; vuṭṭhānamassa āgametabbaṁ. Sace saddhivihāriko hoti, saddhivihārikena yāvajīvaṁ upaṭṭhātabbo; vuṭṭhānamassa āgametabbaṁ. Sace antevāsiko hoti, antevāsikena yāvajīvaṁ upaṭṭhātabbo; vuṭṭhānamassa āgametabbaṁ. Sace samānupajjhāyako hoti, samānupajjhāyakena yāvajīvaṁ upaṭṭhātabbo; vuṭṭhānamassa āgametabbaṁ. Sace samānācariyako hoti, samānācariyakena yāvajīvaṁ upaṭṭhātabbo; vuṭṭhānamassa āgametabbaṁ. Sace na hoti upajjhāyo vā ācariyo vā saddhivihāriko vā antevāsiko vā samānupajjhāyako vā samānācariyako vā saṅghena upaṭṭhātabbo. No ce upaṭṭhaheyya, āpatti dukkaṭassa.
On one occasion there was a monk who had dysentery and was lying in his own feces and urine. Just then, as the Buddha was walking about the dwellings with Venerable Ānanda as his attendant, he came to the dwelling of this monk. When he saw his condition, he went up to him and said, “What’s your illness, monk?”
“I have dysentery, sir.”
“But don’t you have a nurse?”
“No.”
“Why don’t the monks nurse you?”
“Because I don’t do anything for them.”
The Buddha said to Ānanda, “Go and get some water, Ānanda. Let’s give him a wash.”
Saying, “Yes, sir,” he did just that. And so the Buddha poured the water, while Ānanda cleaned him up. Then, the Buddha lifting him by the head and Ānanda by the feet, they lay him on a bed.
Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is there a sick monk in that dwelling?”
“Yes, sir.”
“What’s his illness?”
“He has dysentery.”
“Does he have a nurse?”
“No.”
“But why don’t you nurse him?”
“Because he doesn’t do anything for us.”
“Monks, you have no mother or father to nurse you. If you don’t nurse one another, who will? Whoever would nurse me should nurse one who is sick.
If you have a preceptor, he should nurse you for life; he shouldn’t go anywhere until you’ve recovered. If you have a teacher, he should nurse you for life; he shouldn’t go anywhere until you’ve recovered. If you have a student, he should nurse you for life; he shouldn’t go anywhere until you’ve recovered. If you have a pupil, he should nurse you for life; he shouldn’t go anywhere until you’ve recovered. If you have a co-student, he should nurse you for life; he shouldn’t go anywhere until you’ve recovered. If you have a co-pupil, he should nurse you for life; he shouldn’t go anywhere until you’ve recovered. If you have none of these, the Sangha should nurse you. If you don’t nurse one who is sick, you commit an offense of wrong conduct.
365. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh kiết lỵ. Vị ấy nằm lăn lộn trong đống phẩn và nước tiểu của chính mình. Khi ấy, đức Thế Tôn có Tôn giả Ānanda làm thị giả, trong khi đi kinh hành tuần tự qua các nơi trú ngụ, đã đi đến trú xá của vị tỳ khưu ấy. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đang nằm lăn lộn trong đống phẩn và nước tiểu của chính mình. Sau khi nhìn thấy, ngài đã đi đến chỗ vị tỳ khưu ấy. Sau khi đến, ngài đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: – Này tỳ khưu, ngươi bị bệnh gì vậy? – Bạch đức Thế Tôn, con bị bệnh kiết lỵ. – Này tỳ khưu, ngươi có người chăm sóc không? – Bạch đức Thế Tôn, không có. – Vì sao các tỳ khưu không chăm sóc ngươi? – Bạch ngài, vì con không giúp đỡ các tỳ khưu, do đó các tỳ khưu không chăm sóc con. Khi ấy, đức Thế Tôn đã gọi Tôn giả Ānanda: – Này Ānanda, hãy đi lấy nước lại đây, chúng ta sẽ tắm cho vị tỳ khưu này. – Xin vâng, bạch ngài. Tôn giả Ānanda đã vâng lời đức Thế Tôn rồi đã đi lấy nước. Đức Thế Tôn đã dội nước. Tôn giả Ānanda đã kỳ cọ. Đức Thế Tôn đã đỡ phần đầu. Tôn giả Ānanda đã đỡ phần chân rồi cùng nhau nâng lên và đặt nằm trên giường. Khi ấy, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn đã cho triệu tập hội chúng tỳ khưu rồi hỏi các vị tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, ở trú xá kia có vị tỳ khưu bị bệnh phải không? – Bạch đức Thế Tôn, có ạ. – Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy bị bệnh gì? – Bạch ngài, Tôn giả ấy bị bệnh kiết lỵ. – Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có người chăm sóc không? – Bạch đức Thế Tôn, không có. – Vì sao các tỳ khưu không chăm sóc vị ấy? – Bạch ngài, vị tỳ khưu này không giúp đỡ các tỳ khưu, do đó các tỳ khưu không chăm sóc vị ấy. – Này các tỳ khưu, các ngươi không có mẹ, không có cha, là những người có thể chăm sóc các ngươi. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi không chăm sóc lẫn nhau thì còn ai sẽ chăm sóc đây? Này các tỳ khưu, người nào muốn chăm sóc ta thì người ấy nên chăm sóc người bệnh. Nếu có thầy tế độ, vị thầy tế độ phải chăm sóc trọn đời; phải chờ đợi cho đến khi vị ấy bình phục. Nếu có thầy giáo thọ, vị thầy giáo thọ phải chăm sóc trọn đời; phải chờ đợi cho đến khi vị ấy bình phục. Nếu có đệ tử cùng thầy tế độ, vị đệ tử cùng thầy tế độ phải chăm sóc trọn đời; phải chờ đợi cho đến khi vị ấy bình phục. Nếu có đệ tử cùng thầy giáo thọ, vị đệ tử cùng thầy giáo thọ phải chăm sóc trọn đời; phải chờ đợi cho đến khi vị ấy bình phục. Nếu có vị đồng thầy tế độ, vị đồng thầy tế độ phải chăm sóc trọn đời; phải chờ đợi cho đến khi vị ấy bình phục. Nếu có vị đồng thầy giáo thọ, vị đồng thầy giáo thọ phải chăm sóc trọn đời; phải chờ đợi cho đến khi vị ấy bình phục. Nếu không có thầy tế độ, hoặc thầy giáo thọ, hoặc đệ tử cùng thầy tế độ, hoặc đệ tử cùng thầy giáo thọ, hoặc vị đồng thầy tế độ, hoặc vị đồng thầy giáo thọ thì hội chúng tỳ khưu phải chăm sóc. Nếu không chăm sóc thì phạm tội tác ác.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato gilāno dūpaṭṭho hoti—asappāyakārī hoti, sappāye mattaṁ na jānāti, bhesajjaṁ na paṭisevitā hoti, atthakāmassa gilānupaṭṭhākassa yathābhūtaṁ ābādhaṁ nāvikattā hoti ‘abhikkamantaṁ vā abhikkamatīti, paṭikkamantaṁ vā paṭikkamatīti, ṭhitaṁ vā ṭhito’ti, uppannānaṁ sārīrikānaṁ vedanānaṁ dukkhānaṁ tibbānaṁ kharānaṁ kaṭukānaṁ asātānaṁ amanāpānaṁ pāṇaharānaṁ anadhivāsakajātiko hoti. Imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgato gilāno dūpaṭṭho hoti.
“A sick person who has five qualities is hard to nurse: they do what’s detrimental for curing the sickness; they don’t know the right amount in what’s beneficial; they don’t take their medicine; they don’t accurately describe the state of their illness—whether it’s getting worse, better, or remaining the same—to the one who’s nursing them and wishing them well; they’re unable to bear up with bodily feelings that are painful, severe, sharp, and life-threatening.
366. Này các tỳ khưu, người bệnh có đầy đủ năm pháp thì khó chăm sóc: là người làm điều không thích hợp, không biết chừng mực trong điều thích hợp, không dùng thuốc; đối với người chăm sóc bệnh mong cầu lợi ích, vị ấy không phải là người trình bày bệnh trạng đúng như thật, (không nói rằng): ‘Bệnh đang thuyên giảm’ khi bệnh đang thuyên giảm, hoặc ‘Bệnh đang trầm trọng hơn’ khi bệnh đang trầm trọng hơn, hoặc ‘Bệnh đang giữ nguyên’ khi bệnh đang giữ nguyên; và là người có tính không kham nhẫn đối với các cảm thọ về thân đã khởi lên, là các cảm thọ đau đớn, mãnh liệt, dữ dội, cay đắng, khó chịu, không vừa ý, đoạt mạng. Này các tỳ khưu, người bệnh có đầy đủ năm pháp này thì khó chăm sóc.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato gilāno sūpaṭṭho hoti—sappāyakārī hoti, sappāye mattaṁ jānāti, bhesajjaṁ paṭisevitā hoti, atthakāmassa gilānupaṭṭhākassa yathābhūtaṁ ābādhaṁ āvikattā hoti ‘abhikkamantaṁ vā abhikkamatīti, paṭikkamantaṁ vā paṭikkamatīti, ṭhitaṁ vā ṭhito’ti, uppannānaṁ sārīrikānaṁ vedanānaṁ dukkhānaṁ tibbānaṁ kharānaṁ kaṭukānaṁ asātānaṁ amanāpānaṁ pāṇaharānaṁ adhivāsakajātiko hoti. Imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgato gilāno sūpaṭṭho hoti.
A sick person who has five qualities is easy to nurse: they do what’s beneficial for curing the sickness; they know the right amount in what’s beneficial; they take their medicine; they accurately describe the state of their illness—whether it’s getting worse, better, or remaining the same—to the one who’s nursing them and wishing them well; they’re able to bear up with bodily feelings that are painful, severe, sharp, and life-threatening.
Này các tỳ khưu, người bệnh có đầy đủ năm pháp thì dễ chăm sóc: là người làm điều thích hợp, biết chừng mực trong điều thích hợp, có dùng thuốc; đối với người chăm sóc bệnh mong cầu lợi ích, vị ấy là người trình bày bệnh trạng đúng như thật, (nói rằng): ‘Bệnh đang thuyên giảm’ khi bệnh đang thuyên giảm, hoặc ‘Bệnh đang trầm trọng hơn’ khi bệnh đang trầm trọng hơn, hoặc ‘Bệnh đang giữ nguyên’ khi bệnh đang giữ nguyên; và là người có tính kham nhẫn đối với các cảm thọ về thân đã khởi lên, là các cảm thọ đau đớn, mãnh liệt, dữ dội, cay đắng, khó chịu, không vừa ý, đoạt mạng. Này các tỳ khưu, người bệnh có đầy đủ năm pháp này thì dễ chăm sóc.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato gilānupaṭṭhāko nālaṁ gilānaṁ upaṭṭhātuṁ—na paṭibalo hoti bhesajjaṁ saṁvidhātuṁ, sappāyāsappāyaṁ na jānāti, asappāyaṁ upanāmeti sappāyaṁ apanāmeti, āmisantaro gilānaṁ upaṭṭhāti no mettacitto, jegucchī hoti uccāraṁ vā passāvaṁ vā kheḷaṁ vā vantaṁ vā nīhātuṁ, na paṭibalo hoti gilānaṁ kālena kālaṁ dhammiyā kathāya sandassetuṁ samādapetuṁ samuttejetuṁ sampahaṁsetuṁ. Imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgato gilānupaṭṭhāko nālaṁ gilānaṁ upaṭṭhātuṁ.
An attendant who has five qualities is unsuited to nurse the sick: they’re incapable of preparing medicine; not knowing what’s beneficial and what’s harmful, they bring what’s harmful and remove what’s beneficial; they nurse the sick for the sake of worldly gain, not with a mind of good will; they’re disgusted at having to clean up feces, urine, spit, or vomit; they’re incapable of instructing, inspiring, and gladdening the sick person with a teaching from time to time.
Này các tỳ khưu, người chăm sóc bệnh có đầy đủ năm pháp thì không thích hợp để chăm sóc người bệnh: là người không có khả năng pha chế thuốc; không biết điều thích hợp và không thích hợp, dâng lên vật không thích hợp, dẹp bỏ vật thích hợp; chăm sóc người bệnh vì vật chất, không phải vì có tâm từ; là người có tính ghê tởm khi dọn dẹp phẩn, nước tiểu, nước bọt, hoặc vật nôn mửa; là người không có khả năng thỉnh thoảng dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ người bệnh. Này các tỳ khưu, người chăm sóc bệnh có đầy đủ năm pháp này thì không thích hợp để chăm sóc người bệnh.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato gilānupaṭṭhāko alaṁ gilānaṁ upaṭṭhātuṁ—paṭibalo hoti bhesajjaṁ saṁvidhātuṁ, sappāyāsappāyaṁ jānāti, asappāyaṁ apanāmeti sappāyaṁ upanāmeti, mettacitto gilānaṁ upaṭṭhāti no āmisantaro, ajegucchī hoti uccāraṁ vā passāvaṁ vā kheḷaṁ vā vantaṁ vā nīhātuṁ, paṭibalo hoti gilānaṁ kālena kālaṁ dhammiyā kathāya sandassetuṁ samādapetuṁ samuttejetuṁ sampahaṁsetuṁ.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgato gilānupaṭṭhāko alaṁ gilānaṁ upaṭṭhātun”ti.
An attendant who has five qualities is suited to nurse the sick: they’re capable of preparing medicine; knowing what’s beneficial and what’s harmful, they remove what’s harmful and bring what’s beneficial; they nurse the sick with a mind of good will, not for the sake of worldly gain; they’re not disgusted at having to clean up feces, urine, spit, or vomit; they’re capable of instructing, inspiring, and gladdening the sick person with a teaching from time to time.”
Này các tỳ khưu, người chăm sóc bệnh nhân hội đủ năm yếu tố thì thích hợp để chăm sóc người bệnh: có khả năng chuẩn bị thuốc men, biết rõ điều thích hợp và không thích hợp, loại bỏ điều không thích hợp và dâng lên điều thích hợp; chăm sóc người bệnh với tâm từ chứ không vì lợi dưỡng; không ghê tởm khi dọn dẹp phân, nước tiểu, đờm dãi, hay đồ nôn mửa; có khả năng tùy thời thuyết pháp cho người bệnh nghe để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ. Này các tỳ khưu, người chăm sóc bệnh nhân hội đủ năm yếu tố này thì thích hợp để chăm sóc người bệnh.
24. Matasantakakathā
24. Discussion of inheritance
225. Câu chuyện về tài sản của người đã qua đời
Tena kho pana samayena dve bhikkhū kosalesu janapade addhānamaggappaṭipannā honti. Te aññataraṁ āvāsaṁ upagacchiṁsu. Tattha aññataro bhikkhu gilāno hoti. Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“bhagavatā kho, āvuso, gilānupaṭṭhānaṁ vaṇṇitaṁ. Handa mayaṁ, āvuso, imaṁ bhikkhuṁ upaṭṭhahemā”ti. Te taṁ upaṭṭhahiṁsu. So tehi upaṭṭhahiyamāno kālamakāsi. Atha kho te bhikkhū tassa bhikkhuno pattacīvaramādāya sāvatthiṁ gantvā bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Bhikkhussa, bhikkhave, kālaṅkate saṅgho sāmī pattacīvare, api ca gilānupaṭṭhākā bahūpakārā. Anujānāmi, bhikkhave, saṅghena ticīvarañca pattañca gilānupaṭṭhākānaṁ dātuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, dātabbaṁ. Tena gilānupaṭṭhākena bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā evamassa vacanīyo—‘itthannāmo, bhante, bhikkhu kālaṅkato. Idaṁ tassa ticīvarañca patto cā’ti. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
On one occasion two monks were traveling through the Kosalan country, when they arrived at a monastery with a sick monk. They thought, “The Buddha has praised nursing the sick, so let’s nurse this monk.” But while they were nursing him, he died. They then took his bowl and robes and went to Sāvatthī, where they told the Buddha what had happened.
“When a monk dies, the Sangha becomes the owner of his bowl and robes. Still, the nurses have been very helpful. I allow the Sangha to give the three robes and the bowl to the nurses.
And they should be given like this. The monk nurse should approach the Sangha and say, ‘Venerables, monk so-and-so has died. Here are his three robes and bowl.’ A competent and capable monk should then inform the Sangha:
367. Vào lúc bấy giờ, có hai vị tỳ khưu đang đi trên con đường dài ở xứ Kosala. Họ đã đến một trú xứ nọ. Ở đó, có một vị tỳ khưu bị bệnh. Khi ấy, hai vị tỳ khưu ấy đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Này hiền giả, việc chăm sóc người bệnh đã được đức Thế Tôn tán thán. Này hiền giả, chúng ta hãy chăm sóc vị tỳ khưu này.’ Rồi họ đã chăm sóc vị ấy. Vị tỳ khưu kia, trong khi được họ chăm sóc, đã qua đời. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã lấy y bát của vị tỳ khưu kia, đi đến Sāvatthī và trình bày sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): ‘Này các tỳ khưu, khi một tỳ khưu qua đời, Tăng chúng là chủ sở hữu y bát. Tuy nhiên, những người chăm sóc bệnh nhân là người có nhiều công lao. Ta cho phép Tăng chúng trao tam y và bình bát cho những người chăm sóc bệnh nhân. Và này các tỳ khưu, nên trao như thế này: Vị tỳ khưu chăm sóc bệnh nhân ấy nên đến Tăng chúng và thưa như vầy: ‘Kính bạch chư Tôn đức, tỳ khưu tên là... đã qua đời. Đây là tam y và bình bát của vị ấy.’ Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmo bhikkhu kālaṅkato. Idaṁ tassa ticīvarañca patto ca. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho imaṁ ticīvarañca pattañca gilānupaṭṭhākānaṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. Monk so-and-so has died. Here are his three robes and bowl. If the Sangha is ready, it should give the three robes and the bowl to the nurses. This is the motion.
‘Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Tỳ khưu tên là... đã qua đời. Đây là tam y và bình bát của vị ấy. Nếu Tăng chúng xét thấy đã đến thời điểm thích hợp, Tăng chúng nên trao tam y và bình bát này cho những người chăm sóc bệnh nhân. Đây là lời tác bạch.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmo bhikkhu kālaṅkato. Idaṁ tassa ticīvarañca patto ca. Saṅgho imaṁ ticīvarañca pattañca gilānupaṭṭhākānaṁ deti. Yassāyasmato khamati imassa ticīvarassa ca pattassa ca gilānupaṭṭhākānaṁ dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. Monk so-and-so has died. Here are his three robes and bowl. The Sangha gives the three robes and the bowl to the nurses. Any monk who approves of giving the three robes and the bowl to the nurses should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Tỳ khưu tên là... đã qua đời. Đây là tam y và bình bát của vị ấy. Tăng chúng trao tam y và bình bát này cho những người chăm sóc bệnh nhân. Vị tôn giả nào chấp thuận việc trao tam y và bình bát này cho những người chăm sóc bệnh nhân, vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói.
Dinnaṁ idaṁ saṅghena ticīvarañca patto ca gilānupaṭṭhākānaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given the three robes and the bowl to the nurses. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
‘Tam y và bình bát này đã được Tăng chúng trao cho những người chăm sóc bệnh nhân. Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Tena kho pana samayena aññataro sāmaṇero kālaṅkato hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Sāmaṇerassa, bhikkhave, kālaṅkate saṅgho sāmī pattacīvare, api ca gilānupaṭṭhākā bahūpakārā. Anujānāmi, bhikkhave, saṅghena cīvarañca pattañca gilānupaṭṭhākānaṁ dātuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, dātabbaṁ. Tena gilānupaṭṭhākena bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā evamassa vacanīyo—‘itthannāmo, bhante, sāmaṇero kālaṅkato, idaṁ tassa cīvarañca patto cā’ti. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
On one occasion a novice monk had died.
“When a novice monk dies, the Sangha becomes the owner of his bowl and robes. Still, the nurses have been very helpful. I allow the Sangha to give the robes and the bowl to the nurses.
And they should be given like this. The monk nurse should approach the Sangha and say, ‘Venerables, the novice monk so-and-so has died. Here are his robes and bowl.’ A competent and capable monk should then inform the Sangha:
368. Vào lúc bấy giờ, có một vị sa-di nọ đã qua đời. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): ‘Này các tỳ khưu, khi một vị sa-di qua đời, Tăng chúng là chủ sở hữu y bát. Tuy nhiên, những người chăm sóc bệnh nhân là người có nhiều công lao. Ta cho phép Tăng chúng trao y và bát cho những người chăm sóc bệnh nhân. Và này các tỳ khưu, nên trao như thế này: Vị tỳ khưu chăm sóc bệnh nhân ấy nên đến Tăng chúng và thưa như vầy: ‘Kính bạch chư Tôn đức, sa-di tên là... đã qua đời. Đây là y và bát của vị ấy.’ Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmo sāmaṇero kālaṅkato. Idaṁ tassa cīvarañca patto ca. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho imaṁ cīvarañca pattañca gilānupaṭṭhākānaṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The novice monk so-and-so has died. Here are his robes and bowl. If the Sangha is ready, it should give the robes and the bowl to the nurses. This is the motion.
‘Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Sa-di tên là... đã qua đời. Đây là y và bát của vị ấy. Nếu Tăng chúng xét thấy đã đến thời điểm thích hợp, Tăng chúng nên trao y và bát này cho những người chăm sóc bệnh nhân. Đây là lời tác bạch.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmo sāmaṇero kālaṅkato. Idaṁ tassa cīvarañca patto ca. Saṅgho imaṁ cīvarañca pattañca gilānupaṭṭhākānaṁ deti. Yassāyasmato khamati imassa cīvarassa ca pattassa ca gilānupaṭṭhākānaṁ dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The novice monk so-and-so has died. Here are his robes and bowl. The Sangha gives the robes and the bowl to the nurses. Any monk who approves of giving the robes and the bowl to the nurses should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Sa-di tên là... đã qua đời. Đây là y và bát của vị ấy. Tăng chúng trao y và bát này cho những người chăm sóc bệnh nhân. Vị tôn giả nào chấp thuận việc trao y và bát này cho những người chăm sóc bệnh nhân, vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói.
Dinnaṁ idaṁ saṅghena cīvarañca patto ca gilānupaṭṭhākānaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given the robes and the bowl to the nurses. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
‘Y và bát này đã được Tăng chúng trao cho những người chăm sóc bệnh nhân. Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu ca sāmaṇero ca gilānaṁ upaṭṭhahiṁsu. So tehi upaṭṭhahiyamāno kālamakāsi. Atha kho tassa gilānupaṭṭhākassa bhikkhuno etadahosi—“kathaṁ nu kho gilānupaṭṭhākassa sāmaṇerassa cīvarapaṭivīso dātabbo”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gilānupaṭṭhākassa sāmaṇerassa samakaṁ paṭivīsaṁ dātun”ti.
On one occasion a monk and a novice monk were nursing someone together. While they were doing so, the patient died. The monk nurse thought, “What share of the robes should be given to the novice-monk nurse?”
“I allow you to give an equal share to the novice-monk nurse.”
369. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu và một vị sa-di cùng chăm sóc một người bệnh. Vị bệnh nhân ấy, trong khi được họ chăm sóc, đã qua đời. Khi ấy, vị tỳ khưu chăm sóc bệnh nhân đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Phần y nên được chia cho vị sa-di chăm sóc bệnh nhân như thế nào đây?’ Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép chia phần bằng nhau cho vị sa-di chăm sóc bệnh nhân.’
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu bahubhaṇḍo bahuparikkhāro kālaṅkato hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Bhikkhussa, bhikkhave, kālaṅkate saṅgho sāmī pattacīvare, api ca gilānupaṭṭhākā bahūpakārā. Anujānāmi, bhikkhave, saṅghena ticīvarañca pattañca gilānupaṭṭhākānaṁ dātuṁ. Yaṁ tattha lahubhaṇḍaṁ lahuparikkhāraṁ taṁ sammukhībhūtena saṅghena bhājetuṁ. Yaṁ tattha garubhaṇḍaṁ garuparikkhāraṁ taṁ āgatānāgatassa cātuddisassa saṅghassa avissajjikaṁ avebhaṅgikan”ti.
On one occasion a monk with many possessions had died.
“When a monk dies, the Sangha becomes the owner of his bowl and robes. Still, the nurses have been very helpful. I allow the Sangha to give the three robes and the bowl to the nurses. The present Sangha should distribute his ordinary possessions. His valuable possessions are for the Sangha as a whole, both present and future. They’re not to be given out, not to be distributed.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu có nhiều vật dụng, nhiều đồ dùng đã qua đời. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): ‘Này các tỳ khưu, khi một tỳ khưu qua đời, Tăng chúng là chủ sở hữu y bát. Tuy nhiên, những người chăm sóc bệnh nhân là người có nhiều công lao. Ta cho phép Tăng chúng trao tam y và bình bát cho những người chăm sóc bệnh nhân. Những vật dụng nhẹ, đồ dùng nhẹ nào ở đó thì Ta cho phép Tăng chúng hiện diện phân chia. Những vật dụng nặng, đồ dùng nặng nào ở đó thì thuộc về Tăng chúng bốn phương, đã đến và chưa đến; không được từ bỏ, không được phân chia.’
25. Naggiyapaṭikkhepakathā
25. Discussion of the prohibition against nakedness
226. Câu chuyện về việc bác bỏ hạnh lõa thể
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu naggo hutvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca—“bhagavā, bhante, anekapariyāyena appicchassa santuṭṭhassa sallekhassa dhutassa pāsādikassa apacayassa vīriyārambhassa vaṇṇavādī. Idaṁ, bhante, naggiyaṁ anekapariyāyena appicchatāya santuṭṭhitāya sallekhāya dhutatāya pāsādikatāya apacayāya vīriyārambhāya saṁvattati. Sādhu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṁ naggiyaṁ anujānātū”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, moghapurisa, ananulomikaṁ appatirūpaṁ assāmaṇakaṁ akappiyaṁ akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, naggiyaṁ titthiyasamādānaṁ samādiyissasi. Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, naggiyaṁ titthiyasamādānaṁ samādiyitabbaṁ. Yo samādiyeyya, āpatti thullaccayassā”ti.
On one occasion a naked monk went to the Buddha and said, “In many ways, sir, you praise fewness of wishes, contentment, self-effacement, ascetic practices, being inspiring, reduction in things, and being energetic. Being naked leads to all those things. Please allow nakedness for the monks.”
The Buddha rebuked him, “Foolish man, it’s not suitable, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How can you undertake the practice of nakedness, like the monastics of other religions? This will affect people’s confidence …” After rebuking him … he gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t undertake the practice of nakedness, like the monastics of other religions. If you do, you commit a serious offense.”
370. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ trong tình trạng lõa thể đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Kính bạch ngài, đức Thế Tôn bằng nhiều phương diện là vị có lời tán dương về người ít ham muốn, biết đủ, sống khắc khổ, rũ bỏ, có dáng vẻ khả kính, không tích lũy, và tinh cần nỗ lực. Kính bạch ngài, hạnh lõa thể này bằng nhiều phương diện cũng dẫn đến sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự khắc khổ, sự rũ bỏ, dáng vẻ khả kính, sự không tích lũy, và sự tinh cần nỗ lực. Kính bạch ngài, lành thay, mong đức Thế Tôn cho phép các tỳ khưu được (thực hành) hạnh lõa thể.” Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách: “Này kẻ rỗng tuếch kia, (việc này) không thích hợp, không tương xứng, không phải phép, không phải hạnh của sa-môn, không được phép, không nên làm. Này kẻ rỗng tuếch kia, tại sao ngươi lại thực hành hạnh lõa thể, là sự chấp trì của các người theo ngoại đạo? Này kẻ rỗng tuếch kia, việc này không thể làm cho những người chưa có đức tin được phát sinh đức tin … (v.v.) …” Sau khi quở trách và thuyết một bài pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, không được thực hành hạnh lõa thể, là sự chấp trì của các người theo ngoại đạo. Vị nào thực hành, vị ấy phạm tội thullaccaya.”
26. Kusacīrādipaṭikkhepakathā
26. Discussion of the prohibition against grass robes, etc.
Câu chuyện về việc từ bỏ y bằng cỏ kusa và các loại khác đã chấm dứt.
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu kusacīraṁ nivāsetvā …pe… vākacīraṁ nivāsetvā …pe… phalakacīraṁ nivāsetvā …pe… kesakambalaṁ nivāsetvā …pe… vāḷakambalaṁ nivāsetvā …pe… ulūkapakkhaṁ nivāsetvā …pe… ajinakkhipaṁ nivāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca—“bhagavā, bhante, anekapariyāyena appicchassa santuṭṭhassa sallekhassa dhutassa pāsādikassa apacayassa vīriyārambhassa vaṇṇavādī. Idaṁ, bhante, ajinakkhipaṁ anekapariyāyena appicchatāya santuṭṭhitāya sallekhāya dhutatāya pāsādikatāya apacayāya vīriyārambhāya saṁvattati. Sādhu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṁ ajinakkhipaṁ anujānātū”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, moghapurisa, ananulomikaṁ appatirūpaṁ assāmaṇakaṁ akappiyaṁ akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, ajinakkhipaṁ titthiyadhajaṁ dhāressasi. Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, ajinakkhipaṁ titthiyadhajaṁ dhāretabbaṁ. Yo dhāreyya, āpatti thullaccayassā”ti.
On one occasion a monk put on a sarong made of grass … a sarong made of bark … a sarong made of bits of wood … a sarong made of human hair … a sarong made of horse-hair … a sarong made of owls’ wings … a sarong made of antelope hide, went to the Buddha, and said, “In many ways, sir, you praise fewness of wishes, contentment, self-effacement, ascetic practices, being inspiring, reduction in things, and being energetic. A robe made of antelope hide leads to all those things. Please allow robes of antelope hide for the monks.”
The Buddha rebuked him, “Foolish man, it’s not suitable, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How can you wear a robe made of antelope hide, that sign of monastics of other religions? This will affect people’s confidence …” After rebuking him … he gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t wear a robe made of antelope hide, that sign of monastics of other religions. If you do, you commit a serious offense.”
371. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ mặc y bằng cỏ kusa ... (v.v.) ... mặc y bằng vỏ cây ... (v.v.) ... mặc y bằng mảnh ván ... (v.v.) ... mặc y bằng lông tóc ... (v.v.) ... mặc y bằng lông đuôi (thú) ... (v.v.) ... mặc y bằng lông cánh cú ... (v.v.) ... mặc y bằng da con sơn dương đen rồi đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Kính bạch ngài, đức Thế Tôn bằng nhiều phương diện là vị có lời tán dương về người ít ham muốn, biết đủ, sống khắc khổ, rũ bỏ, có dáng vẻ khả kính, không tích lũy, và tinh cần nỗ lực. Kính bạch ngài, y bằng da con sơn dương đen này bằng nhiều phương diện cũng dẫn đến sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự khắc khổ, sự rũ bỏ, dáng vẻ khả kính, sự không tích lũy, và sự tinh cần nỗ lực. Kính bạch ngài, lành thay, mong đức Thế Tôn cho phép các tỳ khưu được (sử dụng) y bằng da con sơn dương đen.” Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách: “(Việc này) không thích hợp, này kẻ rỗng tuếch kia, không tương xứng, không phải phép, không phải hạnh của sa-môn, không được phép, không nên làm. Này kẻ rỗng tuếch kia, tại sao ngươi lại mang y bằng da con sơn dương đen, là lá cờ của các người theo ngoại đạo? Này kẻ rỗng tuếch kia, việc này không thể làm cho những người chưa có đức tin được phát sinh đức tin … (v.v.) …” sau khi quở trách … (v.v.) … và thuyết một bài pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, không được mang y bằng da con sơn dương đen, là lá cờ của các người theo ngoại đạo. Vị nào mang, vị ấy phạm tội thullaccaya.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu akkanāḷaṁ nivāsetvā …pe… potthakaṁ nivāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca—“bhagavā, bhante, anekapariyāyena appicchassa santuṭṭhassa sallekhassa dhutassa pāsādikassa apacayassa vīriyārambhassa, vaṇṇavādī. Ayaṁ, bhante, potthako anekapariyāyena appicchatāya santuṭṭhitāya sallekhāya dhutatāya pāsādikatāya apacayāya vīriyārambhāya saṁvattati. Sādhu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṁ potthakaṁ anujānātū”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, moghapurisa, ananulomikaṁ appatirūpaṁ assāmaṇakaṁ akappiyaṁ akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, potthakaṁ nivāsessasi. Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, potthako nivāsetabbo. Yo nivāseyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion a monk dressed in a sarong made of stalks of crown flower … in a sarong made of jute, went to the Buddha, and said, “In many ways, sir, you praise fewness of wishes, contentment, self-effacement, ascetic practices, being inspiring, reduction in things, and being energetic. A jute robe leads to all those things. Please allow jute robes for the monks.”
The Buddha rebuked him, “Foolish man, it’s not suitable, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How can you dress in a sarong made of jute? This will affect people’s confidence …” After rebuking him … he gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t dress in a sarong made of jute. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ mặc y bằng sợi cây akkanāḷa ... (v.v.) ... mặc y bằng sợi vỏ cây rồi đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Kính bạch ngài, đức Thế Tôn bằng nhiều phương diện là vị có lời tán dương về người ít ham muốn, biết đủ, sống khắc khổ, rũ bỏ, có dáng vẻ khả kính, không tích lũy, và tinh cần nỗ lực. Kính bạch ngài, y bằng sợi vỏ cây này bằng nhiều phương diện cũng dẫn đến sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự khắc khổ, sự rũ bỏ, dáng vẻ khả kính, sự không tích lũy, và sự tinh cần nỗ lực. Kính bạch ngài, lành thay, mong đức Thế Tôn cho phép các tỳ khưu được (sử dụng) y bằng sợi vỏ cây.” Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách: “(Việc này) không thích hợp, này kẻ rỗng tuếch kia, không tương xứng, không phải phép, không phải hạnh của sa-môn, không được phép, không nên làm. Này kẻ rỗng tuếch kia, tại sao ngươi lại mặc y bằng sợi vỏ cây? Này kẻ rỗng tuếch kia, việc này không thể làm cho những người chưa có đức tin được phát sinh đức tin … (v.v.) …” sau khi quở trách … (v.v.) … và thuyết một bài pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, không được mặc y bằng sợi vỏ cây. Vị nào mặc, vị ấy phạm tội dukkaṭa.”
27. Sabbanīlakādipaṭikkhepakathā
27. Discussion of the prohibition against what is entirely blue, etc.
228. Câu chuyện về việc từ bỏ y toàn màu xanh và các loại khác.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū sabbanīlakāni cīvarāni dhārenti …pe… sabbapītakāni cīvarāni dhārenti …pe… sabbalohitakāni cīvarāni dhārenti …pe… sabbamañjiṭṭhakāni cīvarāni dhārenti …pe… sabbakaṇhāni cīvarāni dhārenti …pe… sabbamahāraṅgarattāni cīvarāni dhārenti …pe… sabbamahānāmarattāni cīvarāni dhārenti …pe… acchinnadasāni cīvarāni dhārenti …pe… dīghadasāni cīvarāni dhārenti …pe… pupphadasāni cīvarāni dhārenti …pe… phaṇadasāni cīvarāni dhārenti …pe… kañcukaṁ dhārenti …pe… tirīṭakaṁ dhārenti …pe… veṭhanaṁ dhārenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā veṭhanaṁ dhāressanti, seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, sabbanīlakāni cīvarāni dhāretabbāni, na sabbapītakāni cīvarāni dhāretabbāni, na sabbalohitakāni cīvarāni dhāretabbāni, na sabbamañjiṭṭhakāni cīvarāni dhāretabbāni, na sabbakaṇhāni cīvarāni dhāretabbāni, na sabbamahāraṅgarattāni cīvarāni dhāretabbāni, na sabbamahānāmarattāni cīvarāni dhāretabbāni, na acchinnadasāni cīvarāni dhāretabbāni, na dīghadasāni cīvarāni dhāretabbāni, na pupphadasāni cīvarāni dhāretabbāni, na phaṇadasāni cīvarāni dhāretabbāni, na kañcukaṁ dhāretabbaṁ, na tirīṭakaṁ dhāretabbaṁ, na veṭhanaṁ dhāretabbaṁ. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six wore entirely blue robes, entirely yellow robes, entirely red robes, entirely magenta robes, entirely black robes, entirely orange robes, and entirely beige robes; and robes with borders made from a single piece of cloth, robes with long borders, robes with floral borders, robes with borders decorated with snakes’ hoods, close-fitting jackets, Lodh-tree robes, and turbans. People complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics wear turbans? They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t wear entirely blue robes, entirely yellow robes, entirely red robes, entirely magenta robes, entirely black robes, entirely orange robes, entirely beige robes, robes with borders made from a single piece of cloth, robes with long borders, robes with floral borders, robes with borders decorated with snakes’ hoods, close-fitting jackets, Lodh-tree robes, or turbans. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
372. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu mặc các y hoàn toàn màu xanh dương ... y hoàn toàn màu vàng ... y hoàn toàn màu đỏ ... y hoàn toàn màu điều ... y hoàn toàn màu đen ... y được nhuộm hoàn toàn bằng thuốc nhuộm mahāraṅga ... y được nhuộm hoàn toàn bằng thuốc nhuộm mahānāma ... y có tua không cắt ... y có tua dài ... y có tua hình bông hoa ... y có tua hình mang rắn ... mặc áo kañcuka ... mặc y tirīṭaka ... đội khăn vành. Các cư sĩ phàn nàn, chê bai, và nói xấu rằng: ‘Tại sao các sa-môn Thích tử lại đội khăn vành giống như các người tại gia hưởng thụ các dục?’ Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, không được mặc các y hoàn toàn màu xanh dương, không được mặc các y hoàn toàn màu vàng, không được mặc các y hoàn toàn màu đỏ, không được mặc các y hoàn toàn màu điều, không được mặc các y hoàn toàn màu đen, không được mặc các y được nhuộm hoàn toàn bằng thuốc nhuộm mahāraṅga, không được mặc các y được nhuộm hoàn toàn bằng thuốc nhuộm mahānāma, không được mặc các y có tua không cắt, không được mặc các y có tua dài, không được mặc các y có tua hình bông hoa, không được mặc các y có tua hình mang rắn, không được mặc áo kañcuka, không được mặc y tirīṭaka, không được đội khăn vành. Vị nào mặc vào thì phạm tội dukkaṭa.
28. Vassaṁvuṭṭhānaṁanuppannacīvarakathā
28. Discussion of robe-cloth that has not yet been offered to those who have completed the rainy-season residence
229. Câu chuyện về y phục chưa phát sanh của các vị đã an cư mùa mưa.
Tena kho pana samayena vassaṁvuṭṭhā bhikkhū anuppanne cīvare pakkamantipi, vibbhamantipi, kālampi karonti, sāmaṇerāpi paṭijānanti, sikkhaṁ paccakkhātakāpi paṭijānanti, antimavatthuṁ ajjhāpannakāpi paṭijānanti, ummattakāpi paṭijānanti, khittacittāpi paṭijānanti, vedanāṭṭāpi paṭijānanti, āpattiyā adassane ukkhittakāpi paṭijānanti, āpattiyā appaṭikamme ukkhittakāpi paṭijānanti, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhittakāpi paṭijānanti, paṇḍakāpi paṭijānanti, theyyasaṁvāsakāpi paṭijānanti, titthiyapakkantakāpi paṭijānanti, tiracchānagatāpi paṭijānanti, mātughātakāpi paṭijānanti, pitughātakāpi paṭijānanti, arahantaghātakāpi paṭijānanti, bhikkhunidūsakāpi paṭijānanti, saṅghabhedakāpi paṭijānanti, lohituppādakāpi paṭijānanti, ubhatobyañjanakāpi paṭijānanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At that time, the monks who had completed the rainy-season residence left before the robe-cloth was offered. They disrobed, died, admitted to being novice monks, admitted to having renounced the training, admitted to having committed the worst kind of offense, admitted to being insane, admitted to being deranged, admitted to being overwhelmed by pain, admitted to having been ejected for not recognizing an offense, admitted to having been ejected for not making amends for an offense, admitted to having been ejected for not giving up a bad view, admitted to being <i lang='pi' translate='no'>paṇḍakas</i>, admitted to being fake monks, admitted to having previously left to join the monastics of another religion, admitted to being animals, admitted to being matricides, admitted to being patricides, admitted to being murderers of a perfected one, admitted to having raped a nun, admitted to having caused a schism in the Sangha, admitted to having caused the Buddha to bleed, or admitted to being gynandromorphs before the robe-cloth was offered. They told the Buddha.
373. Vào lúc bấy giờ, trong khi y phục chưa phát sanh, các vị tỳ khưu đã an cư mùa mưa có vị đã ra đi, có vị đã hoàn tục, có vị đã mệnh chung, có vị tự nhận là sa-di, có vị tự nhận là người đã xả giới, có vị tự nhận là người đã phạm tội bất cộng trụ, có vị tự nhận là người điên, có vị tự nhận là người loạn trí, có vị tự nhận là người bị cảm thọ hành hạ, có vị tự nhận là người bị treo pháp vì không thấy tội, có vị tự nhận là người bị treo pháp vì không sửa sai tội, có vị tự nhận là người bị treo pháp vì không từ bỏ tà kiến, có vị tự nhận là paṇḍaka, có vị tự nhận là người sống chung lén lút, có vị tự nhận là người đã đi theo ngoại đạo, có vị tự nhận là loài bàng sanh, có vị tự nhận là người giết mẹ, có vị tự nhận là người giết cha, có vị tự nhận là người giết A-la-hán, có vị tự nhận là người làm hại tỳ khưu ni, có vị tự nhận là người phá hòa hợp Tăng, có vị tự nhận là người làm thân Phật chảy máu, có vị tự nhận là người có hai giới tính. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
“Idha pana, bhikkhave, vassaṁvuṭṭho bhikkhu anuppanne cīvare pakkamati, sante patirūpe gāhake dātabbaṁ.
Idha pana, bhikkhave, vassaṁvuṭṭho bhikkhu anuppanne cīvare vibbhamati, kālaṁ karoti, sāmaṇero paṭijānāti, sikkhaṁ paccakkhātako paṭijānāti, antimavatthuṁ ajjhāpannako paṭijānāti, saṅgho sāmī.
Idha pana, bhikkhave, vassaṁvuṭṭho bhikkhu anuppanne cīvare ummattako paṭijānāti, khittacitto paṭijānāti, vedanāṭṭo paṭijānāti, āpattiyā adassane ukkhittako paṭijānāti, āpattiyā appaṭikamme ukkhittako paṭijānāti, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhittako paṭijānāti, sante patirūpe gāhake dātabbaṁ.
Idha pana, bhikkhave, vassaṁvuṭṭho bhikkhu anuppanne cīvare paṇḍako paṭijānāti, theyyasaṁvāsako paṭijānāti, titthiyapakkantako paṭijānāti, tiracchānagato paṭijānāti, mātughātako paṭijānāti, pitughātako paṭijānāti, arahantaghātako paṭijānāti, bhikkhunidūsako paṭijānāti, saṅghabhedako paṭijānāti, lohituppādako paṭijānāti, ubhatobyañjanako paṭijānāti, saṅgho sāmī.
“It may be that a monk who’s completed the rains residence leaves before the robe-cloth is offered. If there’s anyone suitable to receive it, it should be given.
It may be that a monk who’s completed the rains residence disrobes, dies, admits to being a novice monk, admits to having renounced the training, or admits to having committed the worst kind of offense before the robe-cloth is offered. Then the Sangha becomes the owner of that robe-cloth.
It may be that a monk who’s completed the rains residence admits to being insane, to being deranged, to being overwhelmed by pain, to having been ejected for not recognizing an offense, to having been ejected for not making amends for an offense, or to having been ejected for not giving up a bad view before the robe-cloth is offered. If there’s anyone suitable to receive it, it should be given.
It may be that a monk who’s completed the rains residence admits to being a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>, to being a fake monk, to having previously left to join the monastics of another religion, to being an animal, to being a matricide, to being a patricide, to being a murderer of a perfected one, to having raped a nun, to having caused a schism in the Sangha, to having caused the Buddha to bleed, or to being a gynandromorph before the robe-cloth is offered. Then the Sangha becomes the owner of that robe-cloth.
374. Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu đã an cư mùa mưa ra đi trong khi y phục chưa phát sanh, nếu có người nhận thích hợp thì nên trao cho người ấy.
Idha pana, bhikkhave, vassaṁvuṭṭho bhikkhu uppanne cīvare abhājite pakkamati, sante patirūpe gāhake dātabbaṁ.
Idha pana, bhikkhave, vassaṁvuṭṭho bhikkhu uppanne cīvare abhājite vibbhamati, kālaṁ karoti, sāmaṇero paṭijānāti, sikkhaṁ paccakkhātako paṭijānāti, antimavatthuṁ ajjhāpannako paṭijānāti, saṅgho sāmī.
Idha pana, bhikkhave, vassaṁvuṭṭho bhikkhu uppanne cīvare abhājite ummattako paṭijānāti. Khittacitto paṭijānāti, vedanāṭṭo paṭijānāti, āpattiyā adassane ukkhittako paṭijānāti, āpattiyā appaṭikamme ukkhittako paṭijānāti, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhittako paṭijānāti, sante patirūpe gāhake dātabbaṁ.
Idha pana, bhikkhave, vassaṁvuṭṭho bhikkhu uppanne cīvare abhājite paṇḍako paṭijānāti, theyyasaṁvāsako paṭijānāti, titthiyapakkantako paṭijānāti, tiracchānagato paṭijānāti, mātughātako paṭijānāti, pitughātako paṭijānāti, arahantaghātako paṭijānāti, bhikkhunidūsako paṭijānāti, saṅghabhedako paṭijānāti, lohituppādako paṭijānāti, ubhatobyañjanako paṭijānāti, saṅgho sāmī.
It may be that, after robe-cloth has been offered but before it’s distributed, a monk who’s completed the rains residence leaves. If there’s anyone suitable to receive the robe-cloth, it should be given.
It may be that, after robe-cloth has been offered but before it’s distributed, a monk who’s completed the rains residence disrobes, dies, admits to being a novice monk, admits to having renounced the training, or admits to having committed the worst kind of offense. Then the Sangha becomes the owner of that robe-cloth.
It may be that, after robe-cloth has been offered but before it’s distributed, a monk who’s completed the rains residence admits to being insane, to being deranged, to being overwhelmed by pain, to having been ejected for not recognizing an offense, to having been ejected for not making amends for an offense, or to having been ejected for not giving up a bad view. If there’s anyone suitable to receive the robe-cloth, it should be given.
It may be that, after robe-cloth has been offered but before it’s distributed, a monk who’s completed the rains residence admits to being a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>, to being a fake monk, to having previously left to join the monastics of another religion, to being an animal, to being a matricide, to being a patricide, to being a murderer of a perfected one, to having raped a nun, to having caused a schism in the Sangha, to having caused the Buddha to bleed, or to being a gynandromorph. Then the Sangha becomes the owner of that robe-cloth.”
375. Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu đã an cư mùa mưa ra đi trong khi y phục đã phát sanh nhưng chưa được phân chia, nếu có người nhận thích hợp thì nên trao cho người ấy.
29. Saṅghebhinnecīvaruppādakathā
29. Discussion of robe-cloth that is offered when the Sangha is divided
Phần trình bày về sự phát sanh của y khi Tăng chúng bị chia rẽ.
Idha pana, bhikkhave, vassaṁvuṭṭhānaṁ bhikkhūnaṁ anuppanne cīvare saṅgho bhijjati. Tattha manussā ekasmiṁ pakkhe udakaṁ denti, ekasmiṁ pakkhe cīvaraṁ denti—saṅghassa demāti. Saṅghassevetaṁ.
“It may be that the Sangha splits before robe-cloth is offered to those monks who have completed the rains residence. If people then give water to one side and robe-cloth to the other, saying, ‘We give to the Sangha,’ it’s all for the Sangha.
230. Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, trong khi y chưa phát sanh cho các tỳ khưu đã an cư mùa mưa thì Tăng chúng bị chia rẽ. Trong trường hợp ấy, các thí chủ dâng cúng nước cho một phe và dâng cúng y cho một phe khác với ý nghĩ rằng: ‘Chúng tôi dâng cúng đến Tăng chúng.’ Y ấy thuộc về Tăng chúng (cả hai phe).
Idha pana, bhikkhave, vassaṁvuṭṭhānaṁ bhikkhūnaṁ anuppanne cīvare saṅgho bhijjati. Tattha manussā ekasmiṁ pakkhe udakaṁ denti, tasmiṁyeva pakkhe cīvaraṁ denti—saṅghassa demāti. Saṅghassevetaṁ.
It may be that the Sangha splits before robe-cloth is offered to those monks who have completed the rains residence. If people then give water and robe-cloth to the same side, saying, ‘We give to the Sangha,’ it’s all for the Sangha.
376. Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, trong khi y chưa phát sanh cho các tỳ khưu đã an cư mùa mưa thì Tăng chúng bị chia rẽ. Trong trường hợp ấy, các thí chủ dâng cúng nước cho một phe và cũng dâng cúng y cho chính phe ấy với ý nghĩ rằng: ‘Chúng tôi dâng cúng đến Tăng chúng.’ Y ấy thuộc về Tăng chúng (cả hai phe).
Idha pana, bhikkhave, vassaṁvuṭṭhānaṁ bhikkhūnaṁ anuppanne cīvare saṅgho bhijjati. Tattha manussā ekasmiṁ pakkhe udakaṁ denti, ekasmiṁ pakkhe cīvaraṁ denti—pakkhassa demāti. Pakkhassevetaṁ.
It may be that the Sangha splits before robe-cloth is offered to those monks who have completed the rains residence. If people then give water to one side and robe-cloth to the other, saying, ‘We give to this side,’ it’s all for that side.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, trong khi y chưa phát sanh cho các tỳ khưu đã an cư mùa mưa thì Tăng chúng bị chia rẽ. Trong trường hợp ấy, các thí chủ dâng cúng nước cho một phe và dâng cúng y cho một phe khác với ý nghĩ rằng: ‘Chúng tôi dâng cúng đến phe (này).’ Y ấy thuộc về phe (đó).
Idha pana, bhikkhave, vassaṁvuṭṭhānaṁ bhikkhūnaṁ anuppanne cīvare saṅgho bhijjati. Tattha manussā ekasmiṁ pakkhe udakaṁ denti, tasmiṁyeva pakkhe cīvaraṁ denti—pakkhassa demāti. Pakkhassevetaṁ.
It may be that the Sangha splits before robe-cloth is offered to those monks who have completed the rains residence. If people then give water and robe-cloth to the same side, saying, ‘We give to this side,’ it’s all for that side.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, trong khi y chưa phát sanh cho các tỳ khưu đã an cư mùa mưa thì Tăng chúng bị chia rẽ. Trong trường hợp ấy, các thí chủ dâng cúng nước cho một phe và cũng dâng cúng y cho chính phe ấy với ý nghĩ rằng: ‘Chúng tôi dâng cúng đến phe (này).’ Y ấy thuộc về phe (đó).
Idha pana, bhikkhave, vassaṁvuṭṭhānaṁ bhikkhūnaṁ uppanne cīvare abhājite saṅgho bhijjati. Sabbesaṁ samakaṁ bhājetabban”ti.
It may be that the Sangha splits before the robe-cloth is distributed but after it was offered to those monks who have completed the rains residence. The robe-cloth is then to be distributed equally to everyone.”
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, trong khi y đã phát sanh cho các tỳ khưu đã an cư mùa mưa nhưng chưa được phân chia thì Tăng chúng bị chia rẽ. Y ấy nên được phân chia đồng đều cho tất cả.
30. Duggahitasuggahitādikathā
30. Discussion of what is properly and improperly taken
Phần trình bày về việc lấy sai, lấy đúng, và các vấn đề khác.
Tena kho pana samayena āyasmā revato aññatarassa bhikkhuno hatthe āyasmato sāriputtassa cīvaraṁ pāhesi—“imaṁ cīvaraṁ therassa dehī”ti. Atha kho so bhikkhu antarāmagge āyasmato revatassa vissāsā taṁ cīvaraṁ aggahesi.
Atha kho āyasmā revato āyasmatā sāriputtena samāgantvā pucchi—“ahaṁ, bhante, therassa cīvaraṁ pāhesiṁ. Sampattaṁ taṁ cīvaran”ti? “Nāhaṁ taṁ, āvuso, cīvaraṁ passāmī”ti.
Atha kho āyasmā revato taṁ bhikkhuṁ etadavoca—“ahaṁ, āvuso, āyasmato hatthe therassa cīvaraṁ pāhesiṁ. Kahaṁ taṁ cīvaran”ti?
“Ahaṁ, bhante, āyasmato vissāsā taṁ cīvaraṁ aggahesin”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
On one occasion, Venerable Revata gave a robe to a monk to take to Venerable Sāriputta, saying, “Please give this robe to the elder.” While on his way, that monk took that robe on trust from Revata.
Later, when Revata met Sāriputta, Revata asked him whether he had received that robe. He replied that he had not.
Revata then asked the other monk, “I gave you a robe to take to the elder. Where’s that robe?”
“I took it on trust from you.” They told the Buddha.
Vào lúc bấy giờ, Đại đức Revata đã gởi một chiếc y cho Đại đức Sāriputta qua tay của một tỳ khưu nào đó, nói rằng: ‘Hãy trao chiếc y này cho vị Trưởng lão.’ Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy, do thân quen với Đại đức Revata, đã lấy chiếc y ấy ở giữa đường. Sau đó, Đại đức Revata sau khi gặp Đại đức Sāriputta đã hỏi rằng: ‘Bạch ngài, tôi đã gởi một chiếc y đến cho Trưởng lão. Chiếc y ấy đã đến nơi chưa?’ – ‘Thưa hiền giả, tôi không thấy chiếc y ấy.’ Bấy giờ, Đại đức Revata đã nói với vị tỳ khưu kia rằng: ‘Này hiền giả, tôi đã gởi một chiếc y cho Trưởng lão qua tay của hiền giả. Chiếc y ấy đâu rồi?’ – ‘Bạch ngài, do thân quen với ngài, tôi đã lấy chiếc y ấy.’ Họ đã trình báo sự việc này lên đức Thế Tôn.
“Idha pana, bhikkhave, bhikkhu bhikkhussa hatthe cīvaraṁ pahiṇati—‘imaṁ cīvaraṁ itthannāmassa dehī’ti. So antarāmagge yo pahiṇati tassa vissāsā gaṇhāti. Suggahitaṁ. Yassa pahiyyati tassa vissāsā gaṇhāti. Duggahitaṁ.
“It may be that a monk gives a robe to a monk to take to yet another monk, saying, ‘Give this robe to so-and-so.’ If, while on his way, he takes it on trust from the sender, it’s properly taken. But if he takes it on trust from the intended recipient, it’s improperly taken.
231. Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, một tỳ khưu gởi một chiếc y qua tay của một tỳ khưu khác, nói rằng: ‘Hãy trao chiếc y này cho vị tên là vậy.’ Vị (trung gian) ấy, ở giữa đường, do thân quen với người gởi, đã lấy (chiếc y). Đó là lấy đúng. (Nếu) do thân quen với người được gởi đến mà lấy. Đó là lấy sai.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu bhikkhussa hatthe cīvaraṁ pahiṇati—‘imaṁ cīvaraṁ itthannāmassa dehī’ti. So antarāmagge yassa pahiyyati tassa vissāsā gaṇhāti. Duggahitaṁ. Yo pahiṇati tassa vissāsā gaṇhāti. Suggahitaṁ.
It may be that a monk gives a robe to a monk to take to yet another monk, saying, ‘Give this robe to so-and-so.’ If, while on his way, he takes it on trust from the intended recipient, it’s improperly taken. But if he takes it on trust from the sender, it’s properly taken.
377. Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, một tỳ khưu gởi một chiếc y qua tay của một tỳ khưu khác, nói rằng: ‘Hãy trao chiếc y này cho vị tên là vậy.’ Vị (trung gian) ấy, ở giữa đường, do thân quen với người được gởi đến mà lấy. Đó là lấy sai. (Nếu) do thân quen với người gởi mà lấy. Đó là lấy đúng.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu bhikkhussa hatthe cīvaraṁ pahiṇati—‘imaṁ cīvaraṁ itthannāmassa dehī’ti. So antarāmagge suṇāti—‘yo pahiṇati so kālaṅkato’ti. Tassa matakacīvaraṁ adhiṭṭhāti. Svādhiṭṭhitaṁ. Yassa pahiyyati tassa vissāsā gaṇhāti. Duggahitaṁ.
It may be that a monk gives a robe to a monk to take to yet another monk, saying, ‘Give this robe to so-and-so.’ If, while on his way, he hears that the sender has died and he determines it as a robe inherited from the sender, it’s properly determined. But if he takes it on trust from the intended recipient, it’s improperly taken.
378. Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, một tỳ khưu gởi một chiếc y qua tay của một tỳ khưu khác, nói rằng: ‘Hãy trao chiếc y này cho vị tên là vậy.’ Vị (trung gian) ấy, ở giữa đường, nghe tin rằng: ‘Người gởi đã mệnh chung.’ Vị ấy chú nguyện đó là y của người đã mất. Đó là chú nguyện đúng. (Nếu) do thân quen với người được gởi đến mà lấy. Đó là lấy sai.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu bhikkhussa hatthe cīvaraṁ pahiṇati—‘imaṁ cīvaraṁ itthannāmassa dehī’ti. So antarāmagge suṇāti—‘yassa pahiyyati so kālaṅkato’ti. Tassa matakacīvaraṁ adhiṭṭhāti. Dvādhiṭṭhitaṁ. Yo pahiṇati tassa vissāsā gaṇhāti. Suggahitaṁ.
It may be that a monk gives a robe to a monk to take to yet another monk, saying, ‘Give this robe to so-and-so.’ If, while on his way, he hears that the intended recipient has died and he determines it as a robe inherited from the intended recipient, it’s improperly determined. But if he takes it on trust from the sender, it’s properly taken.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, một tỳ khưu gởi một chiếc y qua tay của một tỳ khưu khác, nói rằng: ‘Hãy trao chiếc y này cho vị tên là vậy.’ Vị (trung gian) ấy, ở giữa đường, nghe tin rằng: ‘Người được gởi đến đã mệnh chung.’ Vị ấy chú nguyện đó là y của người đã mất. Đó là chú nguyện sai. (Nếu) do thân quen với người gởi mà lấy. Đó là lấy đúng.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu bhikkhussa hatthe cīvaraṁ pahiṇati—‘imaṁ cīvaraṁ itthannāmassa dehī’ti. So antarāmagge suṇāti—‘ubho kālaṅkatā’ti. Yo pahiṇati tassa matakacīvaraṁ adhiṭṭhāti. Svādhiṭṭhitaṁ. Yassa pahiyyati tassa matakacīvaraṁ adhiṭṭhāti. Dvādhiṭṭhitaṁ.
It may be that a monk gives a robe to a monk to take to yet another monk, saying, ‘Give this robe to so-and-so.’ If, while on his way, he hears that both have died and he determines it as a robe inherited from the sender, it’s properly determined. But if he determines it as a robe inherited from the intended recipient, it’s improperly determined.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, một tỳ khưu gởi một chiếc y qua tay của một tỳ khưu khác, nói rằng: ‘Hãy trao chiếc y này cho vị tên là vậy.’ Vị (trung gian) ấy, ở giữa đường, nghe tin rằng: ‘Cả hai vị đã mệnh chung.’ Vị ấy chú nguyện đó là y của người gởi đã mất. Đó là chú nguyện đúng. Vị ấy chú nguyện đó là y của người được gởi đến đã mất. Đó là chú nguyện sai.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu bhikkhussa hatthe cīvaraṁ pahiṇati—‘imaṁ cīvaraṁ itthannāmassa dammī’ti. So antarāmagge yo pahiṇati tassa vissāsā gaṇhāti. Duggahitaṁ. Yassa pahiyyati tassa vissāsā gaṇhāti. Suggahitaṁ.
It may be that a monk gives a robe to a monk to take to yet another monk, saying, ‘I give this robe to so-and-so.’ If, while on his way, he takes it on trust from the sender, it’s improperly taken. But if he takes it on trust from the intended recipient, it’s properly taken.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, một tỳ khưu gởi một chiếc y qua tay của một tỳ khưu khác, nói rằng: ‘Tôi cho chiếc y này đến vị tên là vậy.’ Vị (trung gian) ấy, ở giữa đường, do thân quen với người gởi mà lấy. Đó là lấy sai. (Nếu) do thân quen với người được gởi đến mà lấy. Đó là lấy đúng.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu bhikkhussa hatthe cīvaraṁ pahiṇati—‘imaṁ cīvaraṁ itthannāmassa dammī’ti. So antarāmagge yassa pahiyyati tassa vissāsā gaṇhāti. Suggahitaṁ. Yo pahiṇati tassa vissāsā gaṇhāti. Duggahitaṁ.
It may be that a monk gives a robe to a monk to take to yet another monk, saying, ‘I give this robe to so-and-so.’ If, while on his way, he takes it on trust from the intended recipient, it’s properly taken. But if he takes it on trust from the sender, it’s improperly taken.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, một tỳ khưu gởi một chiếc y qua tay của một tỳ khưu khác, nói rằng: ‘Tôi cho chiếc y này đến vị tên là vậy.’ Vị (trung gian) ấy, ở giữa đường, do thân quen với người được gởi đến mà lấy. Đó là lấy đúng. (Nếu) do thân quen với người gởi mà lấy. Đó là lấy sai.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu bhikkhussa hatthe cīvaraṁ pahiṇati—‘imaṁ cīvaraṁ itthannāmassa dammī’ti. So antarāmagge suṇāti—‘yo pahiṇati so kālaṅkato’ti. Tassa matakacīvaraṁ adhiṭṭhāti. Dvādhiṭṭhitaṁ. Yassa pahiyyati tassa vissāsā gaṇhāti. Suggahitaṁ.
It may be that a monk gives a robe to a monk to take to yet another monk, saying, ‘I give this robe to so-and-so.’ If, while on his way, he hears that the sender has died and he determines it as a robe inherited from the sender, it’s improperly determined. But if he takes it on trust from the intended recipient, it’s properly taken.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, một tỳ khưu gởi một chiếc y qua tay của một tỳ khưu khác, nói rằng: ‘Tôi cho chiếc y này đến vị tên là vậy.’ Vị (trung gian) ấy, ở giữa đường, nghe tin rằng: ‘Người gởi đã mệnh chung.’ Vị ấy chú nguyện đó là y của người đã mất. Đó là chú nguyện sai. (Nếu) do thân quen với người được gởi đến mà lấy. Đó là lấy đúng.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu bhikkhussa hatthe cīvaraṁ pahiṇati—‘imaṁ cīvaraṁ itthannāmassa dammī’ti. So antarāmagge suṇāti—‘yassa pahiyyati so kālaṅkato’ti. Tassa matakacīvaraṁ adhiṭṭhāti. Svādhiṭṭhitaṁ. Yo pahiṇati tassa vissāsā gaṇhāti. Duggahitaṁ.
It may be that a monk gives a robe to a monk to take to yet another monk, saying, ‘I give this robe to so-and-so.’ If, while on his way, he hears that the intended recipient has died and he determines it as a robe inherited from the intended recipient, it’s properly determined. But if he takes it on trust from the sender, it’s improperly taken.
Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu gởi y qua tay của một tỳ khưu (khác) rằng: ‘Tôi cho y này đến vị có tên như thế này.’ Vị ấy nghe được ở giữa đường rằng: ‘Vị nào được gởi đến thì vị ấy đã mệnh chung.’ Vị ấy chú nguyện là y của người đã chết. Việc chú nguyện ấy là hợp lệ. (Nếu) vị ấy lấy y do sự thân quen với người gởi. Việc lấy ấy là không hợp lệ.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu bhikkhussa hatthe cīvaraṁ pahiṇati—‘imaṁ cīvaraṁ itthannāmassa dammī’ti. So antarāmagge suṇāti ‘ubho kālaṅkatā’ti. Yo pahiṇati tassa matakacīvaraṁ adhiṭṭhāti. Dvādhiṭṭhitaṁ. Yassa pahiyyati tassa matakacīvaraṁ adhiṭṭhāti. Svādhiṭṭhitaṁ.
It may be that a monk gives a robe to a monk to take to yet another monk, saying, ‘I give this robe to so-and-so.’ If, while on his way, he hears that both have died and he determines it as a robe inherited from the sender, it’s improperly determined. But if he determines it as a robe inherited from the intended recipient, it’s properly determined.”
Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu gởi y qua tay của một tỳ khưu (khác) rằng: ‘Tôi cho y này đến vị có tên như thế này.’ Vị ấy nghe được ở giữa đường rằng: ‘Cả hai vị đều đã mệnh chung.’ (Nếu) vị ấy chú nguyện là y của người đã chết của vị đã gởi. Việc chú nguyện ấy là không hợp lệ. (Nếu) vị ấy chú nguyện là y của người đã chết của vị được gởi đến. Việc chú nguyện ấy là hợp lệ.
31. Aṭṭhacīvaramātikā
31. Eight key phrases on robe-cloth
232. Tám Mẫu Đề về Y
Aṭṭhimā, bhikkhave, mātikā cīvarassa uppādāya—sīmāya deti, katikāya deti, bhikkhāpaññattiyā deti, saṅghassa deti, ubhatosaṅghassa deti, vassaṁvuṭṭhasaṅghassa deti, ādissa deti, puggalassa deti.
- Sīmāya deti—
“Monks, there are these eight key phrases for the giving of robe-cloth: someone gives within a monastery zone; someone gives to a recipient who has made an agreement; someone gives where alms are prepared; someone gives to the Sangha; someone gives to both Sanghas; someone gives to a sangha that has completed the rainy-season residence; someone gives according to a specification; someone gives to an individual.
- Someone gives within a monastery zone:
379. Này các tỳ khưu, có tám mẫu đề này về sự phát sanh của y: cúng dường cho sīmā, cúng dường theo quy ước, cúng dường cho việc sắp đặt vật thực, cúng dường cho Tăng chúng, cúng dường cho hai bộ Tăng, cúng dường cho Tăng chúng đã an cư mùa mưa, cúng dường có chỉ định, cúng dường cho cá nhân.
Cúng dường cho sīmā: bao nhiêu vị tỳ khưu có mặt bên trong sīmā thì nên được chia bởi các vị ấy. Cúng dường theo quy ước: nhiều trú xứ có các vật cúng dường tương đương nhau, khi đã cúng dường ở một trú xứ thì được xem là đã cúng dường ở tất cả mọi nơi. Cúng dường cho việc sắp đặt vật thực: nơi nào các việc phục vụ thường xuyên được thực hiện cho Tăng chúng thì cúng dường ở nơi ấy. Cúng dường cho Tăng chúng: nên được chia bởi Tăng chúng có mặt. Cúng dường cho hai bộ Tăng: dầu có nhiều tỳ khưu và chỉ có một tỳ khưu ni thì một nửa nên được trao; dầu có nhiều tỳ khưu ni và chỉ có một tỳ khưu thì một nửa nên được trao. Cúng dường cho Tăng chúng đã an cư mùa mưa: bao nhiêu vị tỳ khưu đã an cư mùa mưa ở trú xứ ấy thì nên được chia bởi các vị ấy. Cúng dường có chỉ định: hoặc là cháo, hoặc là cơm, hoặc là vật thực, hoặc là y, hoặc là sàng tọa, hoặc là dược phẩm. Cúng dường cho cá nhân: (với ý nghĩ) ‘Tôi cho y này đến vị có tên như thế này.’
Cīvarakkhandhako aṭṭhamo.
Tassuddānaṁ
The eighth chapter on robes is finished.
This is the summary:
Chương về Y, chương thứ tám.
Rājagahako negamo, disvā vesāliyaṁ gaṇiṁ; Puna rājagahaṁ gantvā, rañño taṁ paṭivedayi.
“The householder association of Rājagaha, Having seen the courtesan in Vesālī; Returned to Rājagaha, Announced it to the king.
Thương gia thành Rājagaha, thấy kỹ nữ ở Vesālī; Lại đi về Rājagaha, trình báo việc ấy lên đức vua.
Putto sālavatikāya, abhayassa hi atrajo; Jīvatīti kumārena, saṅkhāto jīvako iti.
The son of Sālavatī, But the child of Abhaya; Because the boy lived, He was called Jīvaka.
Con trai của Sālavatī, là con ruột của Abhaya; Do hoàng tử (hỏi) ‘Còn sống không?’ nên được gọi là Jīvaka.
So hi takkasīlaṁ gantvā, uggahetvā mahābhiso; Sattavassikaābādhaṁ, natthukammena nāsayi.
He went to Takkasilā, Having learned, a great physician; A seven-year illness, He cured by nose treatment.
Vị ấy đi đến Takkasīla, sau khi học đã thành đại y sĩ; Đã chữa khỏi bệnh bảy năm bằng phương pháp cho thuốc qua đường mũi.
Rañño bhagandalābādhaṁ, ālepena apākaḍḍhi; Mamañca itthāgārañca, buddhasaṅghaṁ cupaṭṭhahi.
The king’s hemorrhoids, Applied ointment; Attended on me and the harem, And the Buddha and the Sangha.
Đã chữa khỏi bệnh trĩ của đức vua bằng thuốc thoa; (Vua phán:) ‘Hãy chăm sóc ta, các cung nữ, và Tăng chúng cùng với đức Phật.’
Rājagahako ca seṭṭhi, antagaṇṭhi tikicchitaṁ; Pajjotassa mahārogaṁ, ghatapānena nāsayi.
And the merchant of Rājagaha, Treated the twisted gut; The great illness of Pajjota, He cured with a drink of ghee.
Vị trưởng giả thành Rājagaha, và bệnh xoắn ruột đã được chữa trị; Bệnh nặng của Pajjota, đã chữa khỏi bằng cách cho uống ghī.
Adhikārañca siveyyaṁ, abhisannaṁ sinehati; Tīhi uppalahatthehi, samattiṁsavirecanaṁ.
And service, valuable cloth, Full of, he oiled; With three handfuls of water-lily flowers, Thirty purgings exactly.
Và (vua) đã gởi tặng tấm vải Siveyya để đền ơn, (Jīvaka) xoa dịu cơn bạo bệnh; Với ba nắm hoa sen, (đã dâng) thuốc xổ ba mươi lần.
Pakatattaṁ varaṁ yāci, siveyyañca paṭiggahi; Cīvarañca gihidānaṁ, anuññāsi tathāgato.
He asked for a blameless favor, And he received the valuable cloths; And robes given by householders, Was allowed by the Buddha.
Khi (đức Phật) đã bình phục, (Jīvaka) đã xin một ân huệ, (Ngài) đã nhận tấm vải Siveyya; Và Như Lai đã cho phép (nhận) y do hàng tại gia cúng dường.
Rājagahe janapade, bahuṁ uppajji cīvaraṁ; Pāvāro kosiyañceva, kojavo aḍḍhakāsikaṁ.
In Rājagaha, in the country, Many robes were given; A fleecy robe, and silken, Woolen fleecy robe, valuable Kāsi cloth.
Ở Rājagaha và các miền quê, nhiều y phục đã phát sanh; Áo choàng, vải lụa, thảm len, và tấm vải trị giá năm trăm.
Uccāvacā ca santuṭṭhi, nāgamesāgamesuṁ ca; Paṭhamaṁ pacchā sadisā, katikā ca paṭiharuṁ.
And various kinds, contented, Didn’t wait, and did wait; First, after, together, And agreement, took it back.
Các loại (y) cao thấp và sự tri túc, (có vị) không chờ, (có vị) đã chờ; Trước tiên, về sau, cùng lúc, theo quy ước, và đã mang về.
Bhaṇḍāgāraṁ aguttañca, vuṭṭhāpenti tatheva ca; Ussannaṁ kolāhalañca, kathaṁ bhāje kathaṁ dade.
Storeroom, and not looked after, And just so they dismissed; Much, and racket, How should one distribute, what should one give.
Kho chứa và (y) không được trông coi, họ đã chỉ định (người giữ kho); Cũng vậy, y phục dồi dào và sự ồn ào, làm sao chia, làm sao cho?
Sakātirekabhāgena, paṭivīso kathaṁ dade; Chakaṇena sītudakā, uttaritu na jānare.
His own, with an extra share, How should a share be given; With dung, cold water, Boiled over, they did not know.
Với phần dư của mình, làm sao để cho một phần?; Với phân bò, nước lạnh, họ không biết cách nấu (thuốc nhuộm).
Oropentā bhājanañca, pātiyā ca chamāya ca; Upacikā majjhe jīranti, ekato patthinnena ca.
Tilting, and vessel, And in a basin, and on the ground; Termites, in the middle, they became worn, From one edge, and with starch.
Khi đang nhuộm, (cần) cái thùng, và (nhuộm) trong bát, và trên đất; Mối (ăn), bị mục ở giữa, bị sờn một bên, và do bị cứng.
Pharusācchinnacchibandhā, addasāsi ubbhaṇḍite; Vīmaṁsitvā sakyamuni, anuññāsi ticīvaraṁ.
Stiff, uncut, rectangles, He saw them loaded up; Having tested, the Sakyan Sage, Allowed three robes.
(Y) thô, không cắt, và (thấy) các thửa ruộng; Ngài đã thấy (họ) mang các bó (y); Sau khi xem xét, bậc Thích Ca Mâu Ni đã cho phép tam y.
Aññena atirekena, uppajji chiddameva ca; Cātuddīpo varaṁ yāci, dātuṁ vassikasāṭikaṁ.
With another extra, Was given, and just a hole; Four-continent, she asked for a favor, To give a rainy-season robe.
Với y khác, với y dư, (y) đã phát sanh, và cả lỗ thủng; Bốn châu... (Visākhā) đã xin ân huệ để cúng dường y tắm mưa.
Āgantugamigilānaṁ, upaṭṭhākañca bhesajjaṁ; Dhuvaṁ udakasāṭiñca, paṇītaṁ atikhuddakaṁ.
And newly-arrived, departing, and sick, And nurse, medicine; Regular, and bathing robe, Fine, too small.
Cho khách Tăng, Tăng đi đường, Tăng bệnh, người chăm bệnh, và dược phẩm; (Vật thực) thường xuyên, y tắm, vật thực hảo hạng, và (tấm lót ngồi) quá nhỏ.
Thullakacchumukhaṁ khomaṁ, paripuṇṇaṁ adhiṭṭhānaṁ; Pacchimaṁ kato garuko, vikaṇṇo suttamokiri.
Carbuncles, washcloth, linen, Enough, determining; Smallest, made heavy, Deformed corner, frayed.
Bệnh ghẻ nặng, khăn lau mặt, vải lanh, đầy đủ, sự chú nguyện; Kích thước tối thiểu, (y) được làm nặng, góc không đều, chỉ bị tuột.
Lujjanti nappahonti, ca anvādhikaṁ bahūni ca; Andhavane assatiyā, eko vassaṁ utumhi ca.
They broke up, not enough, And a further supply, and much; In the Blind Men’s Grove, through absentmindedness, The rains by himself, and outside the rainy season.
Bị hư hỏng, không đủ, và miếng vá, và nhiều (y); Ở rừng Andhavana, do đãng trí, một vị (ở lại) an cư, và trong mùa.
Dve bhātukā rājagahe, upanando puna dvisu; Kucchivikāro gilāno, ubho ceva gilānakā.
Two brothers, in Rājagaha, Upananda, again in two; Dysentery, illness, And just both, belonging to the sick.
Hai anh em ở Rājagaha, Upananda lại ở giữa hai người; Bệnh về bụng, người bệnh, và cả hai đều bệnh.
Naggā kusā vākacīraṁ, phalako kesakambalaṁ; Vāḷaulūkapakkhañca, ajinaṁ akkanāḷakaṁ.
Naked, grass, bark, Bits of wood, human hair; Horse-hair, and owls’ wings, Antelope, stalks of crown flower.
Trần truồng, (y bằng) cỏ kusa, vỏ cây, ván gỗ, mền bằng tóc người; Mền bằng lông đuôi ngựa, lông cú, da nai, và sợi akkanāḷa.
Potthakaṁ nīlapītañca, lohitaṁ mañjiṭṭhena ca; Kaṇhā mahāraṅganāma, acchinnadasikā tathā.
Jute, and blue, yellow, Red, and with magenta; Black, orange, beige, So uncut borders.
(Y bằng) vải potthaka, màu xanh, màu vàng, màu đỏ, và màu hồng sậm; Màu đen, màu mahāraṅga, và cũng vậy, y có viền không cắt.
Dīghapupphaphaṇadasā, kañcutirīṭaveṭhanaṁ; Anuppanne pakkamati, saṅgho bhijjati tāvade.
Long, floral, snake’s hood borders, Jacket, Lodh tree, turban; Not yet offered, he left, The Sangha is divided just then.
Viền dài, viền hoa, viền hình rắn hổ mang, áo dài, vải tirīṭa, khăn xếp; Khi y chưa phát sanh, (vị ấy) bỏ đi, Tăng chúng bị chia rẽ trước đó.
Pakkhe dadanti saṅghassa, āyasmā revato pahi; Vissāsagāhādhiṭṭhāti, aṭṭha cīvaramātikāti.
They give to one side, to the Sangha, Venerable Revata sent; Taking on trust, determined, Eight key phrases on robes.”
Dâng cúng đến Tăng chúng theo phe nhóm, trưởng lão Revata đã gởi đi; sự nhận lấy do thân quen, sự chú nguyện, (đó là) tám đề mục về y.
Imamhi khandhake vatthū channavuti.
In this chapter there are ninety-six topics.
Trong chương này có chín mươi sáu câu chuyện.
Cīvarakkhandhako niṭṭhito.
The chapter on robes is finished.
Chương Y đã kết thúc.