- Theravāda Vinayapiṭaka
- Mahāvagga
Bản dịch
Kd 7 — Chương kaṭhina
7. Kathinakkhandhaka
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Inda-bh 2~2Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu xứ Pāvā có số lượng là ba mươi, tất cả là các vị chuyên ngụ ở rừng, tất cả là các vị chuyên đi khất thực, tất cả là các vị mặc y may từ vải dơ bị quăng bỏ, tất cả là các vị chỉ sử dụng ba y. Trong khi đang đi đến Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn, do việc vào mùa (an cư) mưa đã đến gần nên các vị đã không thể thành tựu việc vào mùa (an cư) mưa ở Sāvatthi. Các vị đã vào mùa (an cư) mưa ở Sāketa, vào khoảng giữa lộ trình.
Inda-bh 3~3Các vị đã sống qua mùa (an cư) mưa với vẻ phiền muộn (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn ngự rất gần chúng ta cách đây chỉ sáu do tuần, vậy mà chúng ta không được diện kiến đức Thế Tôn.”
Inda-bh 4~4Sau đó, khi đã sống qua mùa (an cư) mưa trong thời gian ba tháng, khi đã thực hiện lễ Pavāraṇā, trong lúc trời còn đang mưa, trong khi có sự gom tụ nước lại thành vũng bùn lầy, các vị tỳ khưu ấy với các y bị đẫm nước và có dáng điệu mệt mỏi đã đi đến thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Inda-bh 5~5Điều này đã trở thành thông lệ đối với chư Phật Thế Tôn là niềm nở với các tỳ khưu đi đến. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này:—“Này các tỳ khưu, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Các ngươi đã sống qua mùa (an cư) mưa có được thoải mái, có sự hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ nhau không? Và các ngươi có không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực không?”
Inda-bh 6~6—“Bạch Thế Tôn, sức khoẻ khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc đều tốt đẹp. Và bạch ngài, chúng con đã sống qua mùa (an cư) mưa có sự hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ nhau, và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực. Bạch ngài, trường hợp chúng con là các tỳ khưu xứ Pāvā có số lượng là ba mươi, trong khi đang đi đến Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn, do việc vào mùa (an cư) mưa đã đến gần nên các vị đã không thể thành tựu việc vào mùa (an cư) mưa ở Sāvatthi. Chúng con đã vào mùa (an cư) mưa ở Sāketa, vào khoảng giữa lộ trình. Bạch ngài, chúng con đây đã sống qua mùa (an cư) mưa với vẻ phiền muộn (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn ngự rất gần chúng ta cách đây chỉ sáu do tuần, vậy mà chúng ta không được diện kiến đức Thế Tôn.’ Bạch ngài, sau khi đã sống qua mùa (an cư) mưa trong thời gian ba tháng, khi đã thực hiện lễ Pavāraṇā, trong lúc trời còn đang mưa, trong khi có sự gom tụ nước lại thành vũng bùn lầy, chúng con đã đi đường xa đến với các y bị đẫm nước và có dáng vẻ mệt mỏi.”
Inda-bh 7~7Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thành tựu Kaṭhina đến các tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa. Này các tỳ khưu, khi các ngươi có Kaṭhina đã được thành tựu, năm điều này sẽ trở thành được phép: việc ra đi không phải báo, việc ra đi không mang theo (đủ ba y), sự thọ thực thành nhóm, (được sử dụng nhiều) y theo như nhu cầu, sự phát sanh về y tại nơi ấy sẽ là của các vị ấy. Này các tỳ khưu, khi các ngươi có Kaṭhina đã được thành tựu, năm điều này sẽ được phép đối với các ngươi.
Inda-bh 8~8Và này các tỳ khưu, Kaṭhina nên được thành tựu như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vải Kaṭhina này đã được phát sanh đến hội chúng. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên trao vải Kaṭhina này đến vị tỳ khưu tên (như vầy) để thành tựu Kaṭhina. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vải Kaṭhina này đã được phát sanh đến hội chúng. Hội chúng trao vải Kaṭhina này đến vị tỳ khưu tên (như vầy) để thành tựu Kaṭhina. Đại đức nào đồng ý việc trao vải Kaṭhina này đến vị tỳ khưu tên (như vầy) để thành tựu Kaṭhina xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Vải Kaṭhina này đã được hội chúng trao đến vị tỳ khưu tên (như vầy) để thành tựu Kaṭhina. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Inda-bh 9~9Này các tỳ khưu, như vầy là Kaṭhina được thành tựu, như vầy là không được thành tựu. Và này các tỳ khưu, thế nào là Kaṭhina không được thành tựu? Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn đánh dấu về chiều dài, chiều rộng. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn giặt. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn tính toán về y năm điều, hoặc bảy điều, hoặc chín điều, v.v... Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn cắt theo sự đã tính toán. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn kết chỉ tạm. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn may lại theo đường chỉ lược cho chắc. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn gắn miếng vải làm dấu. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn may chắc chắn. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn làm miếng vải viền. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn làm đường viền quanh. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn đắp thêm một lớp nữa. Kaṭhina không được thành tựu ở giai đoạn nhuộm. Kaṭhina không được thành tựu do sự ra dấu hiệu gợi ý để thí chủ dâng. Kaṭhina không được thành tựu do sự giảng giải về Kaṭhina rồi kêu gọi. Kaṭhina không được thành tựu với y được mượn tạm thời. Kaṭhina không được thành tựu với sự tích trữ. Kaṭhina không được thành tựu do sự hủy bỏ vì để qua đêm. Kaṭhina không được thành tựu với sự không làm thành được phép tức là không làm dấu hoại y. Kaṭhina không được thành tựu với y không phải là y hai lớp. Kaṭhina không được thành tựu với y không phải là thượng y (y vai trái). Kaṭhina không được thành tựu với y không phải là y nội. Kaṭhina không được thành tựu với y không phải là năm điều hoặc nhiều hơn năm điều, không được cắt và kết lại nội trong ngày hôm ấy. Kaṭhina không được thành tựu trừ phi do sự thành tựu bởi cá nhân. Nếu Kaṭhina đã được thành tựu đúng đắn nhưng vị tùy hỷ việc ấy đứng ngoài ranh giới, như vậy Kaṭhina vẫn không được thành tựu. Này các tỳ khưu, như thế ấy là Kaṭhina không được thành tựu.
[Hai mươi bốn điều kiện]
Inda-bh 10~10Và này các tỳ khưu, thế nào là Kaṭhina được thành tựu? Kaṭhina được thành tựu với (vải) mới (chưa được sử dụng). Kaṭhina được thành tựu với (vải) được xem như mới. Kaṭhina được thành tựu với vải áo choàng cũ. Kaṭhina được thành tựu với vải dơ bị quăng bỏ. Kaṭhina được thành tựu với vải đã được bỏ ở trước cửa tiệm, có người nhặt lấy rồi đem dâng. Kaṭhina được thành tựu với sự không ra dấu hiệu gợi ý để thí chủ dâng. Kaṭhina được thành tựu không do sự giảng giải về Kaṭhina rồi kêu gọi. Kaṭhina được thành tựu với sự làm không phải là với y được mượn tạm thời. Kaṭhina được thành tựu với sự không tích trữ. Kaṭhina được thành tựu do không để qua đêm. Kaṭhina được thành tựu với với sự làm thành được phép tức là làm dấu hoại y. Kaṭhina được thành tựu với y hai lớp. Kaṭhina được thành tựu với thượng y (y vai trái). Kaṭhina được thành tựu với y nội. Kaṭhina được thành tựu với y là năm điều hoặc nhiều hơn năm điều, được cắt và kết lại nội trong ngày hôm ấy. Kaṭhina được thành tựu do sự thành tựu bởi cá nhân. Nếu Kaṭhina đã được thành tựu đúng đắn và vị tùy hỷ việc ấy đứng trong ranh giới, như vậy Kaṭhina được thành tựu. Này các tỳ khưu, như thế ấy là Kaṭhina được thành tựu.
[Mười bảy điều kiện]
Inda-bh 1~11Và này các tỳ khưu, thế nào là Kaṭhina hết hiệu lực? Này các tỳ khưu, đây là tám điều tiêu đề về sự hết hiệu lực của Kaṭhina: ‘Do sự ra đi, do (y) được hoàn tất, do tự mình dứt khoát, do bị mất, do nghe được (tin), do sự tan vỡ của niềm mong mỏi, do sự vượt qua ranh giới, do sự hết hiệu lực cùng một lúc.’
Inda-bh 2~12Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y đã được làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Sự việc ra đi là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (1)
Inda-bh 3~13Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (2)
Inda-bh 4~14Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (3)
Inda-bh 5~15Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (4)
Inda-bh 6~16Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Sự việc nghe được (tin) là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (5)
Inda-bh 7~17Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về’ rồi chờ đợi sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (6)
Inda-bh 8~18Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về.’ Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị tỳ khưu ấy là chung (lượt) với các vị tỳ khưu. (7)
Dứt nhóm bảy về ‘cầm lấy.’
Inda-bh 1~19Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y đã được làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Sự việc ra đi là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (1)
Inda-bh 2~20Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (2)
Inda-bh 3~21Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (3)
Inda-bh 4~22Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (4)
Inda-bh 5~23Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Sự việc nghe được (tin) là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (5)
Inda-bh 6~24Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về,’ và chờ đời sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (6)
Inda-bh 7~25Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về.’ Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị tỳ khưu ấy là chung (lượt) với các vị tỳ khưu. (7)
Dứt nhóm bảy về ‘mang theo.’
Inda-bh 1~26Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (1)
Inda-bh 2~27Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (2)
Inda-bh 3~28Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (3)
Inda-bh 4~29Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Sự việc nghe được (tin) là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (4)
Inda-bh 5~30Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về’ và chờ đợi sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (5)
Inda-bh 6~31Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về.’ Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị tỳ khưu ấy là chung (lượt) với các vị tỳ khưu. (6)
Dứt nhóm sáu về ‘cầm lấy.’
Inda-bh 1~32Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (1)
Inda-bh 2~33Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (2)
Inda-bh 3~34Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (3)
Inda-bh 4~35Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Sự việc nghe được (tin) là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (4)
Inda-bh 5~36Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về’ và chờ đợi sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (5)
Inda-bh 6~37Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về.’ Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị tỳ khưu ấy là chung (lượt) với các vị tỳ khưu. (6)
Dứt nhóm sáu về ‘mang theo.’
Inda-bh 1~38Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (1)
Inda-bh 2~39Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (2)
Inda-bh 3~40Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (3)
[Nhóm ba về ‘cầm lấy’ 1]
Inda-bh 4~41Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (4)
Inda-bh 5~42Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (5)
Inda-bh 6~43Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (6)
[Nhóm ba về ‘cầm lấy’ 2]
Inda-bh 7~44Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (7)
Inda-bh 8~45Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (8)
Inda-bh 9~46Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (9)
[Nhóm ba về ‘cầm lấy’ 3]
Inda-bh 10~47Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (10)
Inda-bh 11~48Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (11)
Inda-bh 12~49Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (12)
Inda-bh 13~50Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Sự việc nghe được (tin) là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (13)
Inda-bh 14~51Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về’ và chờ đợi sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (14)
Inda-bh 15~52Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y (chưa được làm), ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về.’ Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị tỳ khưu ấy là chung (lượt) với các vị tỳ khưu. (15)
[Nhóm sáu về ‘cầm lấy’]
[Dứt nhóm mười lăm về ‘cầm lấy’]
Inda-bh 16~53Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y (chưa được làm), ra đi. … (như trên) … (Tương tợ như ở trường hợp ‘cầm lấy,’ nên giải thích chi tiết như thế).
[Nhóm mười lăm về ‘mang theo’ được giản lược]
Inda-bh 17~54Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, cầm lấy y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (Tương tợ như ở trường hợp ‘mang theo,’ nên giải thích chi tiết như thế).
[Nhóm mười lăm về ‘cầm lấy y chưa làm xong’ được giản lược]
Inda-bh 1~55Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (1)
Inda-bh 2~56Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (2)
Inda-bh 3~57Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (3)
[Nhóm ba về ‘mang theo y chưa làm xong’ 1]
Inda-bh 4~58Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (4)
Inda-bh 5~59Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (5)
Inda-bh 6~60Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (6)
[Nhóm ba về ‘mang theo y chưa làm xong’ 2]
Inda-bh 7~61Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (7)
Inda-bh 8~62Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (8)
Inda-bh 9~63Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (9)
[Nhóm ba về ‘mang theo y chưa làm xong’ 3]
Inda-bh 10~64Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (10)
Inda-bh 11~65Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (11)
Inda-bh 12~66Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (12)
Inda-bh 13~67Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Sự việc nghe được (tin) là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (13)
Inda-bh 14~68Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về’ và chờ đợi sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy. (14)
Inda-bh 15~69Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu, mang theo y chưa làm xong, ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về.’ Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị tỳ khưu ấy là chung (lượt) với các vị tỳ khưu. (15)
[Nhóm sáu về ‘mang theo y chưa làm xong’]
[Nhóm mười lăm về ‘mang theo y chưa làm xong’]
Dứt tụng phẩm ‘cầm lấy.’
Inda-bh 1~70Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y. Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 2~71Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y. Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 3~72Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y. Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 4~73Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 5~74Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 6~75Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 7~76Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 8~77Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 9~78Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 10~79Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 11~80Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 12~81Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Dứt nhóm mười hai về ‘không như ý mong mỏi.’
Inda-bh 1~82Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 2~83Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 3~84Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 4~85Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 5~86Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Bởi vì Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi, vậy ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 6~87Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Bởi vì Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi, vậy ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 7~88Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Bởi vì Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi, vậy ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 8~89Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Bởi vì Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi, vậy ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 9~90Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, nghe được (tin) rằng: ‘Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi.’ Sự việc nghe được (tin) là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 10~91Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 11~92Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về’ và chờ đợi sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 12~93Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về.’ Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị tỳ khưu ấy là chung (lượt) với các vị tỳ khưu.
Dứt nhóm mười hai về ‘như ý mong mỏi.’
Inda-bh 1~94Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 2~95Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 3~96Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 4~97Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó. Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 5~98Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 6~99Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 7~100Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 8~101Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 9~102Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 10~103Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 11~104Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 12~105Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu ra đi vì có công việc cần làm nào đó và còn chưa quyết định; vị ấy không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ trở về’ và vị ấy cũng không khởi ý rằng: ‘Ta sẽ không trở về.’ Khi vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ của niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Dứt nhóm mười hai về ‘có công việc cần làm.’
Inda-bh 1~106Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi chưa thâu thập phần chia về y. Các vị tỳ khưu đã hỏi vị du hành phương xa ấy rằng:—‘Này đại đức, ngài đã trú mùa (an cư) mưa ở đâu? Và phần chia về y của ngài đâu?’ Vị ấy nói như vầy:—‘Tôi đã trú mùa (an cư) mưa ở trú xứ kia và phần chia về y của tôi còn ở nơi ấy.’ Các vị ấy nói như vầy:—‘Này đại đức, hãy đi và đem y ấy lại. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.’ Vị ấy đi về lại trú xứ ấy và hỏi các vị tỳ khưu rằng:—‘Này các đại đức, phần chia về y của tôi đâu?’ Các vị ấy nói như vầy:—‘Này đại đức, đây là phần chia về y của ngài. Ngài sẽ đi đâu vậy?’ Vị ấy nói như vầy:—‘Tôi sẽ đi trú xứ kia, các vị tỳ khưu ở đó sẽ làm y cho tôi.’ Các vị ấy nói như vầy:—‘Này đại đức, được rồi, ngài chớ có đi. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.’ Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 2~107Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi … (như trên) … Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 3~108Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi … (như trên) … Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 4~109Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi chưa thâu thập phần chia về y. Các vị tỳ khưu đã hỏi vị du hành phương xa ấy rằng:—‘Này đại đức, ngài đã trú mùa (an cư) mưa ở đâu? Và phần chia về y của ngài đâu?’ Vị ấy nói như vầy:—‘Tôi đã trú mùa (an cư) mưa ở trú xứ kia và phần chia về y của tôi còn ở nơi ấy.’ Các vị ấy nói như vầy:—‘Này đại đức, hãy đi và đem y ấy lại. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.’ Vị ấy đi về lại trú xứ ấy và hỏi các vị tỳ khưu rằng:—‘Này các đại đức, phần chia về y của tôi đâu?’ Các vị ấy nói như vầy:—‘Này đại đức, đây là phần chia về y của ngài.’ Vị ấy cầm lấy y ấy và đi đến trú xứ kia. Giữa đường đi, các vị tỳ khưu hỏi vị ấy rằng:—‘Này đại đức, ngài sẽ đi đâu?’ Vị ấy nói như vầy:—‘Tôi sẽ đi trú xứ kia, các vị tỳ khưu ở đó sẽ làm y cho tôi.’ Các vị ấy nói như vầy:—‘Này đại đức, được rồi, ngài chớ có đi. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.’ Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 5~110Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi chưa thâu thập phần chia về y. Các vị tỳ khưu đã hỏi vị du hành phương xa ấy rằng:—‘Này đại đức, ngài đã trú mùa (an cư) mưa ở đâu? Và phần chia về y của ngài đâu?’ Vị ấy nói như vầy:—‘Tôi đã trú mùa (an cư) mưa ở trú xứ kia và phần chia về y của tôi còn ở nơi ấy.’ Các vị ấy nói như vầy:—‘Này đại đức, hãy đi và đem y ấy lại. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.’ Vị ấy đi về lại trú xứ ấy và hỏi các vị tỳ khưu rằng:—‘Này các đại đức, phần chia về y của tôi đâu?’ Các vị ấy nói như vầy:—‘Này đại đức, đây là phần chia về y của ngài.’ Vị ấy cầm lấy y ấy và đi đến trú xứ kia. Giữa đường đi, các vị tỳ khưu hỏi vị ấy rằng:—‘Này đại đức, ngài sẽ đi đâu?’ Vị ấy nói như vầy:—‘Tôi sẽ đi trú xứ kia, các vị tỳ khưu ở đó sẽ làm y cho tôi.’ Các vị ấy nói như vầy:—‘Này đại đức, được rồi, ngài chớ có đi. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.’ Vị ấy khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 6~111Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi … (như trên) … ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 7~112Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi chưa thâu thập phần chia về y. Các vị tỳ khưu đã hỏi vị du hành phương xa ấy rằng:—‘Này đại đức, ngài đã trú mùa (an cư) mưa ở đâu? Và phần chia về y của ngài đâu?’ Vị ấy nói như vầy:—‘Tôi đã trú mùa (an cư) mưa ở trú xứ kia và phần chia về y của tôi còn ở nơi ấy.’ Các vị ấy nói như vầy:—‘Này đại đức, hãy đi và đem y ấy lại. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.’ Vị ấy đi về lại trú xứ ấy và hỏi các vị tỳ khưu rằng:—‘Này các đại đức, phần chia về y của tôi đâu?’ Các vị ấy nói như vầy:—‘Này đại đức, đây là phần chia về y của ngài.’ Vị ấy cầm lấy y ấy và đi đến trú xứ kia. Khi đã đi đến trú xứ kia, vị ấy đã khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 8~113Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi … (như trên) … ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 9~114Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi … (như trên) … ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Dứt nhóm chín về ‘chưa thâu thập.’
Inda-bh 1~115Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị có sự trú ngụ thoải mái, đã cầm lấy y rồi ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế ấy. Nếu ở nơi ấy có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế kia. Nếu ở nơi kia có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế nọ. Nếu ở nơi nọ có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đi khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 2~116Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị có sự trú ngụ thoải mái, đã cầm lấy y rồi ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế ấy. Nếu ở nơi ấy có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế kia. Nếu ở nơi kia có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế nọ. Nếu ở nơi nọ có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đi khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ không nhờ (người) làm y này nữa. Ta sẽ không trở về.’ Sự việc tự mình dứt khoát là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 3~117Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị có sự trú ngụ thoải mái, đã cầm lấy y rồi ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế ấy. Nếu ở nơi ấy có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế kia. Nếu ở nơi kia có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế nọ. Nếu ở nơi nọ có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trở về.’ Khi vị ấy đi khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ nhờ (người) làm y này ngay ở đây. Ta sẽ không trở về.’ Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc (y) bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 4~118Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị có sự trú ngụ thoải mái, đã cầm lấy y rồi ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế ấy. Nếu ở nơi ấy có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế kia. Nếu ở nơi kia có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế nọ. Nếu ở nơi nọ có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về’ rồi chờ đợi sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 5~119Vị tỳ khưu có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị có sự trú ngụ thoải mái, đã cầm lấy y rồi ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế ấy. Nếu ở nơi ấy có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế kia. Nếu ở nơi kia có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ có tên thế nọ. Nếu ở nơi nọ có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trú ngụ. Nếu không có sự thoải mái cho ta, ta sẽ trở về.’ Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về.’ Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị tỳ khưu ấy là chung (lượt) với các vị tỳ khưu.
Dứt nhóm năm về ‘vị có sự trú ngụ thoải mái.’
Inda-bh 1~120Này các tỳ khưu, đây là hai điều vướng bận (và) hai điều không vướng bận của Kaṭhina. Và này các tỳ khưu, hai điều vướng bận của Kaṭhina là gì? Sự vướng bận về trú xứ và sự vướng bận về y. Và này các tỳ khưu, thế nào là sự vướng bận về trú xứ? Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu hoặc là cư ngụ tại trú xứ ấy hoặc là ra đi với sự mong mỏi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về.’ Này các tỳ khưu, như vậy là có sự vướng bận về trú xứ. Và này các tỳ khưu, thế nào là sự vướng bận về y? Này các tỳ khưu, trường hợp y của vị tỳ khưu chưa được làm, hoặc là chưa được làm xong, hoặc là niềm mong mỏi về y chưa bị tan vỡ. Này các tỳ khưu, như vậy là có sự vướng bận về y. Này các tỳ khưu, đây là hai điều vướng bận của Kaṭhina.
Inda-bh 2~121Và này các tỳ khưu, hai điều không vướng bận của Kaṭhina là gì? Sự không vướng bận về trú xứ và sự không vướng bận về y. Và này các tỳ khưu, thế nào là sự không vướng bận về trú xứ? Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu ra đi từ trú xứ ấy với sự buông bỏ, với sự từ bỏ, với sự dứt bỏ, với sự không quan tâm (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về.’ Này các tỳ khưu, như vậy là có sự không vướng bận về trú xứ. Và này các tỳ khưu, thế nào là sự không vướng bận về y? Này các tỳ khưu, trường hợp y của vị tỳ khưu đã được làm xong, hoặc bị mất, hoặc bị hư hỏng, hoặc bị cháy, hoặc là niềm mong mỏi về y bị tan vỡ. Này các tỳ khưu, như vậy là có sự không vướng bận về y. Này các tỳ khưu, đây là hai điều không vướng bận của Kaṭhina.”
Dứt chương Kaṭhina là thứ bảy.
Trong chương này có mười hai sự việc.
Một trăm mười tám phần mở đầu đã được giản lược.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Inda-bh 1~122Ba mươi vị tỳ khưu xứ Pāvā đã trú ở Sāketa với tâm phiền muộn. Trải qua mùa (an cư) mưa, các vị đã đi diện kiến đấng Chiến Thắng với các y bị đẫm nước.
Inda-bh 2~123Đây là câu chuyện của Kaṭhina và năm điều sẽ trở thành được phép: (ra đi) không phải báo, không mang theo (đủ ba y), tương tợ như thế ấy là việc thọ thực thành nhóm.
Inda-bh 3~124Và (được sử dụng nhiều y) theo như nhu cầu, sự phát sanh (về y) sẽ là của các vị đã được thành tựu. Lời đề nghị, và như vầy là được thành tựu, như vầy là không được thành tựu.
Inda-bh 4~125Việc được đánh dấu, và luôn cả việc giặt, việc tính toán, và việc cắt, việc kết chỉ tạm, việc may thêm, việc gắn miếng vải làm dấu, việc may chắc chắn, liên quan đến miếng vải viền.
Inda-bh 5~126Đường viền quanh, đắp lớp nữa, việc nhuộm, dấu hiệu gợi ý, lời giảng giải, mượn tạm thời, sự tích trữ, việc để qua đêm, chưa được phép, trừ ra ba y ấy.
Inda-bh 6~127Ngoại trừ y năm điều, hoặc nhiều hơn, với việc đã được cắt, có sự kết lại, không (thành tựu) trừ phi là cá nhân, được làm đúng đắn, vị đứng ngoài ranh tùy hỷ, Kaṭhina là không thành tựu, đã được thuyết giảng như thế bởi đức Phật.
Inda-bh 7~128(Vải) không bị dơ, xem như không bị dơ, tấm choàng cũ, vải quăng bỏ, và vải bỏ ở cửa tiệm, không ra dấu hiệu, việc thuyết giảng, không mượn tạm thời, và không tích trữ.
Inda-bh 8~129Không để qua đêm, việc đánh dấu đã làm, và tương tợ như thế với ba y, năm điều hoặc nhiều hơn thế, đã được cắt, việc kết lại đã được làm.
Inda-bh 9~130Việc thành tựu do cá nhân, (được làm) đúng đắn, vị đứng trong ranh giới tùy hỷ, như thế là sự thành tựu của Kaṭhina, tám tiêu đề của sự thu hồi.
Inda-bh 10~131Các vị ra đi, sự hoàn tất, và sự tự mình dứt khoát, việc bị mất, sự nghe được (tin), sự đổ vỡ của niềm mong mỏi, ranh giới, sự thu hồi là thứ tám.
Inda-bh 11~132Cầm lấy y đã làm, vị đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở lại,’ sự thu hồi về Kaṭhina ấy của vị ấy là liên quan đến sự ra đi.
Inda-bh 12~133Cầm lấy y (chưa làm) đi ra khỏi ranh giới, vị ấy đã suy nghĩ điều này: ‘Ta sẽ nhờ làm và sẽ không trở lại,’ trong việc được hoàn tất là sự thu hồi Kaṭhina.
Inda-bh 13~134Cầm lấy, ở ngoài ranh giới, không có ý định: ‘Ta sẽ không trở về,’ sự thu hồi về Kaṭhina ấy của vị ấy là liên quan đến việc tự mình dứt khoát.
Inda-bh 14~135Cầm lấy y ra đi khỏi ranh giới đã suy nghĩ điều này: ‘Ta sẽ nhờ làm, và sẽ không trở về,’ trong khi làm (y) của vị ấy bị mất, sự thu hồi về Kaṭhina ấy của vị ấy là liên quan đến sự bị mất.
Inda-bh 15~136Cầm lấy (y) rồi ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về,’ rồi nhờ làm y ở bên ngoài, với y đã được làm xong, rồi nghe tin Kaṭhina ở nơi kia đã được thu hồi, sự thu hồi về Kaṭhina ấy của vị ấy là liên quan đến việc nghe.
Inda-bh 16~137Cầm lấy (y) rồi ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về,’ rồi nhờ làm y ở bên ngoài, với y đã được làm xong, chờ đợi ở bên ngoài, sự thu hồi về Kaṭhina ấy của vị ấy là liên quan đến sự vượt qua ranh giới.
Inda-bh 17~138Cầm lấy (y) rồi ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về,’ rồi nhờ làm y ở bên ngoài, với y đã được làm xong, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về,’ đã đến thời của việc thu hồi Kaṭhina, sự thu hồi về Kaṭhina ấy của vị ấy sanh lên đồng một lượt với các vị tỳ khưu.
Inda-bh 18~139Cầm lấy và mang theo, có bảy, và bảy phương thức đường lối, những trường hợp ra đi với y chưa làm xong là không có đường lối ở nhóm sáu.
Inda-bh 19~140Cầm lấy (y) rồi đi ra khỏi ranh, sanh khởi ý rằng: ‘Ta sẽ nhờ làm,’ có ba điều này: sự làm xong, sự tự mình dứt khoát, và sự bị mất.
Inda-bh 20~141Cầm lấy (y và nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về, ta làm ở bên ngoài ranh giới,’ có ba điều này: sự làm xong, sự tự mình dứt khoát, và sự bị mất. Do còn chưa quyết định vị ấy cũng không khởi ý, có ba đường lối hướng dẫn ở bên dưới.
Inda-bh 21~142Cầm lấy (y) và ra đi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ trở về, ta làm ở bên ngoài ranh giới,’ vị nhờ làm (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không trở về,’ khi việc hoàn tất là sự thu hồi về Kaṭhina.
Inda-bh 22~143Sự tự mình dứt khoát, sự bị mất, nghe được (tin), sự vượt qua ranh giới, được sanh khởi đồng thời cùng với các vị tỳ khưu, như vầy là mười lăm đường lối.
Inda-bh 23~144Mang theo (y) chưa được làm xong cũng tương tợ như là mang theo, bốn trường hợp này đây, toàn bộ có mười lăm đường lối.
Inda-bh 24~145Không như ý mong mỏi, như ý mong mỏi, và có công việc cần làm, chúng là ba điều, nên hiểu việc ấy theo sự hướng dẫn là ba lượt, mỗi lượt là mười hai, mười hai.
Inda-bh 25~146Và chưa thâu thập là chín ở nơi này, thoải mái có năm phương thức ở nơi kia, điều vướng bận, điều không vướng bận, sự tóm tắt đã được thực hiện theo sự hướng dẫn.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Great Division
The chapter on the robe-making ceremony
1. The allowance for a robe-making ceremony
Sự cho phép về Kaṭhina
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena tiṁsamattā pāveyyakā bhikkhū, sabbe āraññikā sabbe piṇḍapātikā sabbe paṁsukūlikā sabbe tecīvarikā sāvatthiṁ āgacchantā bhagavantaṁ dassanāya upakaṭṭhāya vassūpanāyikāya nāsakkhiṁsu sāvatthiyaṁ vassūpanāyikaṁ sambhāvetuṁ; antarāmagge sākete vassaṁ upagacchiṁsu. Te ukkaṇṭhitarūpā vassaṁ vasiṁsu—āsanneva no bhagavā viharati ito chasu yojanesu, na ca mayaṁ labhāma bhagavantaṁ dassanāyāti.
Atha kho te bhikkhū vassaṁvuṭṭhā, temāsaccayena katāya pavāraṇāya, deve vassante, udakasaṅgahe udakacikkhalle okapuṇṇehi cīvarehi kilantarūpā
yena sāvatthi jetavanaṁ anāthapiṇḍikassa ārāmo, yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Āciṇṇaṁ kho panetaṁ buddhānaṁ bhagavantānaṁ āgantukehi bhikkhūhi saddhiṁ paṭisammodituṁ.
Atha kho bhagavā te bhikkhū etadavoca—“kacci, bhikkhave, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ, kacci samaggā sammodamānā avivadamānā phāsukaṁ vassaṁ vasittha, na ca piṇḍakena kilamitthā”ti?
“Khamanīyaṁ, bhagavā, yāpanīyaṁ, bhagavā; samaggā ca mayaṁ, bhante, sammodamānā avivadamānā vassaṁ vasimhā, na ca piṇḍakena kilamimhā. Idha mayaṁ, bhante, tiṁsamattā pāveyyakā bhikkhū sāvatthiṁ āgacchantā bhagavantaṁ dassanāya upakaṭṭhāya vassūpanāyikāya nāsakkhimhā sāvatthiyaṁ vassūpanāyikaṁ sambhāvetuṁ, antarāmagge sākete vassaṁ upagacchimhā. Te mayaṁ, bhante, ukkaṇṭhitarūpā vassaṁ vasimhā—‘āsanneva no bhagavā viharati ito chasu yojanesu, na ca mayaṁ labhāma bhagavantaṁ dassanāyā’ti. Atha kho mayaṁ, bhante, vassaṁvuṭṭhā, temāsaccayena katāya pavāraṇāya, deve vassante, udakasaṅgahe udakacikkhalle okapuṇṇehi cīvarehi kilantarūpā addhānaṁ āgatā”ti.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, vassaṁvuṭṭhānaṁ bhikkhūnaṁ kathinaṁ attharituṁ. Atthatakathinānaṁ vo, bhikkhave, pañca kappissanti—anāmantacāro, asamādānacāro, gaṇabhojanaṁ, yāvadatthacīvaraṁ, yo ca tattha cīvaruppādo so nesaṁ bhavissatīti.
Atthatakathinānaṁ vo, bhikkhave, imāni pañca kappissanti.
Evañca pana, bhikkhave, kathinaṁ attharitabbaṁ. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time thirty monks from Pāvā—all wilderness dwellers, almsfood-only eaters, rag-robe wearers, and three-robe owners—were traveling to Sāvatthī to visit the Buddha. Because the entry to the rainy-season residence was approaching, they were unable to reach Sāvatthī, and they entered the rains residence at Sāketa while still on their way. They spent the rains residence discontented, thinking, “The Buddha is only 80 kilometers away, yet we don’t get to see him.”
When they had completed the rainy-season residence and done the invitation ceremony at the end of the three months, it was raining, with water and mud everywhere. As they traveled to Sāvatthī, they were exhausted, their robes soaked.
When they arrived at Sāvatthī, they went to Anāthapiṇḍika’s Monastery, bowed to the Buddha, and sat down. Since it is the custom for Buddhas to greet newly-arrived monks,
the Buddha said to them, “I hope you’re keeping well, monks, I hope you’re getting by? I hope you had a comfortable rains, that you lived together in peace and harmony, and got almsfood without trouble?”
“We’re keeping well, sir, we’re getting by. We had a comfortable rains, lived together in peace and harmony, and had no trouble getting almsfood.” They told the Buddha what had happened during the rains and while traveling to Sāvatthī.
Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“I allow monks who have completed the rainy-season residence to participate in a robe-making ceremony. Once you have participated in the robe-making ceremony, five things are allowable for you: going without informing, going without taking, eating in a group, as much robe-cloth as you need, and whatever robe-cloth is given there is for you.
And the robe-making ceremony should be performed like this. A competent and capable monk should inform the Sangha:
306. Vào lúc bấy giờ, Đức Phật, đấng Thế Tôn, đang ngự tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika, tại Jetavana. Cũng vào lúc bấy giờ, có khoảng ba mươi vị tỳ khưu người Pāvā, tất cả đều là những vị sống ở rừng, tất cả đều là những vị đi khất thực, tất cả đều là những vị mặc y phấn tảo, tất cả đều là những vị dùng tam y, đang trên đường đến Sāvatthī để yết kiến Đức Thế Tôn. Khi ngày an cư mùa mưa đã gần kề, các vị ấy đã không thể đến kịp Sāvatthī để nhập hạ; các vị ấy đã nhập hạ tại Sāketa ở giữa đường. Các vị ấy đã an cư mùa mưa trong tâm trạng không vui: “Đức Thế Tôn đang ngự gần chúng ta, cách đây sáu do-tuần, vậy mà chúng ta không được yết kiến Đức Thế Tôn.” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy, sau khi đã an cư mùa mưa xong, sau ba tháng, sau khi đã làm lễ pavāraṇā, trong lúc trời mưa, giữa vùng nước đọng, bùn lầy, với y phục thấm đẫm nước, trong tình trạng mệt mỏi, đã đi đến Sāvatthī, đến Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika, nơi Đức Thế Tôn đang ngự; sau khi đến, các vị ấy đã đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Và đây là thông lệ của các Đức Phật, các đấng Thế Tôn, là chào hỏi thân mật với các vị tỳ khưu mới đến. Bấy giờ, Đức Thế Tôn đã nói với các vị tỳ khưu ấy rằng: “Này các tỳ khưu, các thầy có kham nhẫn được không, có sống được không? Các thầy có sống hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, an ổn trong mùa mưa không? Và có bị mệt nhọc vì việc khất thực không?” “Bạch Đức Thế Tôn, chúng con kham nhẫn được ạ; bạch Đức Thế Tôn, chúng con sống được ạ. Bạch Đại đức, chúng con đã sống hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi trong mùa mưa, và không bị mệt nhọc vì việc khất thực. Bạch Đại đức, sự việc là vầy, chúng con, khoảng ba mươi vị tỳ khưu người Pāvā, đang trên đường đến Sāvatthī để yết kiến Đức Thế Tôn. Khi ngày an cư mùa mưa đã gần kề, chúng con đã không thể đến kịp Sāvatthī để nhập hạ, chúng con đã nhập hạ tại Sāketa ở giữa đường. Bạch Đại đức, chúng con đã an cư mùa mưa trong tâm trạng không vui: ‘Đức Thế Tôn đang ngự gần chúng ta, cách đây sáu do-tuần, vậy mà chúng ta không được yết kiến Đức Thế Tôn.’ Sau đó, bạch Đại đức, chúng con, sau khi đã an cư mùa mưa xong, sau ba tháng, sau khi đã làm lễ pavāraṇā, trong lúc trời mưa, giữa vùng nước đọng, bùn lầy, với y phục thấm đẫm nước, trong tình trạng mệt mỏi, đã đi một quãng đường dài để đến đây ạ.” Bấy giờ, Đức Thế Tôn, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, sau khi thuyết một bài pháp, đã gọi các vị tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, Ta cho phép các tỳ khưu đã an cư mùa mưa xong được thọ y kathina. Này các tỳ khưu, đối với các vị đã thọ y kathina, năm điều sẽ được hợp lệ: đi lại không cần xin phép, đi lại không cần mang đủ y, được phép ăn theo nhóm, được phép giữ y phục tùy theo nhu cầu, và y phục nào phát sanh ở đó sẽ thuộc về các vị ấy. Này các tỳ khưu, đối với các vị đã thọ y kathina, năm điều này sẽ được hợp lệ. Và này các tỳ khưu, y kathina nên được thọ như sau. Vị tỳ khưu có năng lực, có khả năng nên trình cho Tăng chúng biết –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Idaṁ saṅghassa kathinadussaṁ uppannaṁ. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho imaṁ kathinadussaṁ itthannāmassa bhikkhuno dadeyya kathinaṁ attharituṁ. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This cloth has been given to the Sangha for the robe-making ceremony. If the Sangha is ready, it should give this cloth to monk so-and-so to perform the robe-making ceremony. This is the motion.
307. “Kính bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe lời con. Tấm vải kathina này đã phát sanh đến Tăng chúng. Nếu Tăng chúng đã đến thời điểm thích hợp, Tăng chúng nên trao tấm vải kathina này cho tỳ khưu tên là... để thọ y kathina. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Idaṁ saṅghassa kathinadussaṁ uppannaṁ. Saṅgho imaṁ kathinadussaṁ itthannāmassa bhikkhuno deti kathinaṁ attharituṁ. Yassāyasmato khamati imassa kathinadussassa itthannāmassa bhikkhuno dānaṁ kathinaṁ attharituṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This cloth has been given to the Sangha for the robe-making ceremony. The Sangha gives this cloth to monk so-and-so to perform the robe-making ceremony. Any monk who approves of giving this cloth to monk so-and-so to perform the robe-making ceremony should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe lời con. Tấm vải kathina này đã phát sanh đến Tăng chúng. Tăng chúng trao tấm vải kathina này cho tỳ khưu tên là... để thọ y kathina. Vị tôn giả nào chấp thuận việc trao tấm vải kathina này cho tỳ khưu tên là... để thọ y kathina, vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.”
Dinnaṁ idaṁ saṅghena kathinadussaṁ itthannāmassa bhikkhuno kathinaṁ attharituṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
The Sangha has given this cloth to monk so-and-so to perform the robe-making ceremony. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
“Tấm vải kathina này đã được Tăng chúng trao cho tỳ khưu tên là... để thọ y kathina. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Evaṁ kho, bhikkhave, atthataṁ hoti kathinaṁ, evaṁ anatthataṁ.
Kathañca pana, bhikkhave, anatthataṁ hoti kathinaṁ? Na ullikhitamattena atthataṁ hoti kathinaṁ, na dhovanamattena atthataṁ hoti kathinaṁ, na cīvaravicāraṇamattena atthataṁ hoti kathinaṁ, na chedanamattena atthataṁ hoti kathinaṁ, na bandhanamattena atthataṁ hoti kathinaṁ, na ovaṭṭiyakaraṇamattena atthataṁ hoti kathinaṁ, na kaṇḍusakaraṇamattena atthataṁ hoti kathinaṁ, na daḷhīkammakaraṇamattena atthataṁ hoti kathinaṁ, na anuvātakaraṇamattena atthataṁ hoti kathinaṁ, na paribhaṇḍakaraṇamattena atthataṁ hoti kathinaṁ, na ovaddheyyakaraṇamattena atthataṁ hoti kathinaṁ, na kambalamaddanamattena atthataṁ hoti kathinaṁ, na nimittakatena atthataṁ hoti kathinaṁ, na parikathākatena atthataṁ hoti kathinaṁ, na kukkukatena atthataṁ hoti kathinaṁ, na sannidhikatena atthataṁ hoti kathinaṁ, na nissaggiyena atthataṁ hoti kathinaṁ, na akappakatena atthataṁ hoti kathinaṁ, na aññatra saṅghāṭiyā atthataṁ hoti kathinaṁ, na aññatra uttarāsaṅgena atthataṁ hoti kathinaṁ, na aññatra antaravāsakena atthataṁ hoti kathinaṁ, na aññatra pañcakena vā atirekapañcakena vā tadaheva sañchinnena samaṇḍalīkatena atthataṁ hoti kathinaṁ, na aññatra puggalassa atthārā atthataṁ hoti kathinaṁ; sammā ce atthataṁ hoti kathinaṁ, tañce nissīmaṭṭho anumodati, evampi anatthataṁ hoti kathinaṁ.
And, monks, how has the robe-making ceremony not been performed? The robe-making ceremony hasn’t been performed merely by marking the cloth, merely by washing the cloth, merely by planning the robe, merely by cutting the cloth, merely by tacking the cloth, merely by sewing a hem, merely by marking with a strip of cloth, merely by strengthening, merely by adding a border lengthwise, merely by adding a border crosswise, merely by patching, merely by partial dyeing; nor has it been performed if a monk has made an indication, if a monk has given a hint, if the robe-cloth has been borrowed, if it has been stored, if it is to be relinquished, if it hasn’t been marked, if it’s not an outer robe or an upper robe or a sarong; nor has it been performed if the robe hasn’t been made on that very day with five or more cut sections with panels, if the robe-making ceremony wasn’t performed by an individual, or if the robe-making ceremony has been performed correctly but the appreciation for the ceremony was expressed outside the monastery zone.
308. “Này các tỳ khưu, y kathina được xem là đã trải theo cách như thế này, và không được xem là đã trải theo cách như thế này. Này các tỳ khưu, y kathina không được xem là đã trải trong trường hợp nào? Chỉ bằng việc vạch dấu thì y kathina không được xem là đã trải, chỉ bằng việc giặt giũ thì y kathina không được xem là đã trải, chỉ bằng việc sắp xếp y thì y kathina không được xem là đã trải, chỉ bằng việc cắt thì y kathina không được xem là đã trải, chỉ bằng việc ráp nối thì y kathina không được xem là đã trải, chỉ bằng việc may đường chỉ dọc thì y kathina không được xem là đã trải, chỉ bằng việc may miếng đáp thì y kathina không được xem là đã trải, chỉ bằng việc may đường chỉ đôi thì y kathina không được xem là đã trải, chỉ bằng việc may viền dọc thì y kathina không được xem là đã trải, chỉ bằng việc may viền ngang thì y kathina không được xem là đã trải, chỉ bằng việc may miếng chặn góc thì y kathina không được xem là đã trải, chỉ bằng việc nhuộm sơ qua thì y kathina không được xem là đã trải, với (y) được làm thành do dấu hiệu thì y kathina không được xem là đã trải, với (y) được làm thành do lời nói bóng gió thì y kathina không được xem là đã trải, với (y) đi mượn thì y kathina không được xem là đã trải, với (y) được cất giữ thì y kathina không được xem là đã trải, với (y) đã xả thì y kathina không được xem là đã trải, với (y) không hợp lệ thì y kathina không được xem là đã trải, ngoại trừ y tăng-già-lê thì y kathina không được xem là đã trải, ngoại trừ y vai trái thì y kathina không được xem là đã trải, ngoại trừ y nội thì y kathina không được xem là đã trải, ngoại trừ (y) năm mảnh hoặc trên năm mảnh được cắt và may có vòng tròn lớn nhỏ trong cùng ngày ấy thì y kathina không được xem là đã trải, ngoại trừ việc trải của cá nhân thì y kathina không được xem là đã trải; và nếu y kathina được trải đúng cách, nhưng vị tỳ khưu ở ngoài ranh giới tùy hỷ, trong trường hợp như vậy y kathina cũng không được xem là đã trải. Này các tỳ khưu, y kathina không được xem là đã trải theo cách như thế ấy.”
Kathañca, bhikkhave, atthataṁ hoti kathinaṁ? Ahatena atthataṁ hoti kathinaṁ, ahatakappena atthataṁ hoti kathinaṁ, pilotikāya atthataṁ hoti kathinaṁ, paṁsukūlena atthataṁ hoti kathinaṁ, pāpaṇikena atthataṁ hoti kathinaṁ, animittakatena atthataṁ hoti kathinaṁ, aparikathākatena atthataṁ hoti kathinaṁ, akukkukatena atthataṁ hoti kathinaṁ, asannidhikatena atthataṁ hoti kathinaṁ, anissaggiyena atthataṁ hoti kathinaṁ, kappakatena atthataṁ hoti kathinaṁ, saṅghāṭiyā atthataṁ hoti kathinaṁ, uttarāsaṅgena atthataṁ hoti kathinaṁ, antaravāsakena atthataṁ hoti kathinaṁ, pañcakena vā atirekapañcakena vā tadaheva sañchinnena samaṇḍalīkatena atthataṁ hoti kathinaṁ, puggalassa atthārā atthataṁ hoti kathinaṁ; sammā ce atthataṁ hoti kathinaṁ, tañce sīmaṭṭho anumodati, evampi atthataṁ hoti kathinaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, atthataṁ hoti kathinaṁ.
And how has the robe-making ceremony been performed? The robe-making ceremony has been performed if the cloth is brand new, if it’s nearly new, if it’s old, if it’s a rag, if it’s from a shop; it has been performed if a monk hasn’t made an indication, if a monk hasn’t given a hint, if the robe-cloth hasn’t been borrowed, if it hasn’t been stored, if it’s not to be relinquished, if it has been marked, if it’s an outer robe or an upper robe or a sarong; it has been performed if the robe has been made on that very day with five or more cut sections with panels, if the robe-making ceremony was performed by an individual, if the robe-making ceremony has been performed correctly and if the appreciation for the ceremony was expressed inside the monastery zone. In this way the robe-making ceremony has been performed.
309. “Này các tỳ khưu, y kathina được xem là đã trải trong trường hợp nào? Với (y) bằng vải mới thì y kathina được xem là đã trải, với (y) bằng vải tương tự vải mới thì y kathina được xem là đã trải, với (y) bằng vải vụn thì y kathina được xem là đã trải, với (y) bằng vải phấn tảo thì y kathina được xem là đã trải, với (y) bằng vải mua ở tiệm thì y kathina được xem là đã trải, với (y) được làm thành không do dấu hiệu thì y kathina được xem là đã trải, với (y) được làm thành không do lời nói bóng gió thì y kathina không được xem là đã trải, với (y) không đi mượn thì y kathina không được xem là đã trải, với (y) không được cất giữ thì y kathina không được xem là đã trải, với (y) chưa xả thì y kathina không được xem là đã trải, với (y) hợp lệ thì y kathina được xem là đã trải, với y tăng-già-lê thì y kathina được xem là đã trải, với y vai trái thì y kathina không được xem là đã trải, với y nội thì y kathina không được xem là đã trải, với (y) năm mảnh hoặc trên năm mảnh được cắt và may có vòng tròn lớn nhỏ trong cùng ngày ấy thì y kathina được xem là đã trải, với việc trải của cá nhân thì y kathina được xem là đã trải; và nếu y kathina được trải đúng cách, và vị tỳ khưu ở trong ranh giới tùy hỷ, trong trường hợp như vậy y kathina cũng được xem là đã trải. Này các tỳ khưu, y kathina được xem là đã trải theo cách như thế ấy.”
Kathañca, bhikkhave, ubbhataṁ hoti kathinaṁ? Aṭṭhimā, bhikkhave, mātikā kathinassa ubbhārāya—pakkamanantikā, niṭṭhānantikā, sanniṭṭhānantikā, nāsanantikā, savanantikā, āsāvacchedikā, sīmātikkantikā, sahubbhārā”ti.
And how does the robe season come to an end? There are these eight key phrases for when the robe season ends: when he departs from the monastery, when the robe is finished, when he makes a decision, when the robe-cloth is lost, when he hears about the end of the robe season, when an expectation of more robe-cloth is disappointed, when he is outside the monastery zone, ending together.”
310. “Này các tỳ khưu, y kathina được xem là đã rút bỏ trong trường hợp nào? Này các tỳ khưu, có tám mẫu đề này về việc rút bỏ y kathina: kết thúc bằng việc ra đi, kết thúc bằng việc hoàn thành, kết thúc bằng việc quyết định, kết thúc bằng việc mất mát, kết thúc bằng việc nghe tin, kết thúc bằng việc hết hy vọng, kết thúc bằng việc vượt qua ranh giới, và rút bỏ cùng lúc.”
2. Ādāyasattaka
2. The group of seven on “takes”
188. Bảy trường hợp liên quan đến việc mang đi
Bhikkhu atthatakathino katacīvaraṁ ādāya pakkamati—“na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno pakkamanantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes a finished robe and leaves the monastery, thinking, “I won’t return.” For that monk the robe season ends when he departs from the monastery.
311. Vị tỳ khưu đã trải y kathina, mang theo y đã may xong rồi ra đi với ý định: ‘Ta sẽ không trở lại.’ Đối với vị tỳ khưu ấy, đó là việc rút bỏ kathina kết thúc bằng việc ra đi.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
Vị tỳ khưu đã trải y kathina, mang theo y rồi ra đi. Khi đã đi ra ngoài ranh giới, vị ấy khởi lên ý nghĩ: ‘Ta sẽ may y này ngay tại đây, ta sẽ không trở lại.’ Vị ấy may y ấy. Đối với vị tỳ khưu ấy, đó là việc rút bỏ kathina kết thúc bằng việc hoàn thành.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
Vị tỳ khưu đã trải y kathina, mang theo y rồi ra đi. Khi đã đi ra ngoài ranh giới, vị ấy khởi lên ý nghĩ: ‘Ta sẽ không may y này, ta sẽ không trở lại.’ Đối với vị tỳ khưu ấy, đó là việc rút bỏ kathina kết thúc bằng việc quyết định.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
Vị tỳ khưu đã trải y kathina, mang theo y rồi ra đi. Khi đã đi ra ngoài ranh giới, vị ấy khởi lên ý nghĩ: ‘Ta sẽ may y này ngay tại đây, ta sẽ không trở lại.’ Vị ấy may y ấy. Trong khi đang may, y ấy của vị ấy bị mất. Đối với vị tỳ khưu ấy, đó là việc rút bỏ kathina kết thúc bằng việc mất mát.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati—“paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro suṇāti “ubbhataṁ kira tasmiṁ āvāse kathinan”ti. Tassa bhikkhuno savanantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has the robe made. When the robe has been made, he hears that they have made an end to the robe season in that monastery. For that monk the robe season ends when he hears about the end of the robe season.
Vị tỳ khưu đã trải y kathina, mang theo y rồi ra đi với ý định: ‘Ta sẽ trở lại.’ Vị ấy đi ra ngoài ranh giới rồi may y ấy. Sau khi may y xong, vị ấy nghe rằng: ‘Nghe nói y kathina ở trú xứ ấy đã được rút bỏ.’ Đối với vị tỳ khưu ấy, đó là việc rút bỏ kathina kết thúc bằng việc nghe tin.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati—“paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro—“paccessaṁ paccessan”ti—bahiddhā kathinuddhāraṁ vītināmeti. Tassa bhikkhuno sīmātikkantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has the robe made. When the robe has been made, he still thinks, “I’ll return,” but he remains outside the monastery zone until the end of the robe season. For that monk the robe season ends while he is outside the monastery zone.
Vị tỳ khưu đã trải y kathina, mang theo y rồi ra đi với ý định: ‘Ta sẽ trở lại.’ Vị ấy đi ra ngoài ranh giới rồi may y ấy. Sau khi may y xong, trong khi đang nghĩ: ‘Ta sẽ trở lại, ta sẽ trở lại,’ vị ấy để cho thời hạn rút bỏ kathina trôi qua ở bên ngoài. Đối với vị tỳ khưu ấy, đó là việc rút bỏ kathina kết thúc bằng việc vượt qua ranh giới.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati—“paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro—“paccessaṁ paccessan”ti—sambhuṇāti kathinuddhāraṁ. Tassa bhikkhuno saha bhikkhūhi kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has the robe made. When the robe has been made, he still thinks, “I’ll return,” and they reach the end of the robe season together. For that monk the robe season ends together with the other monks.
Vị tỳ khưu đã trải y kathina, mang theo y rồi ra đi với ý định: ‘Ta sẽ trở lại.’ Vị ấy đi ra ngoài ranh giới rồi may y ấy. Sau khi may y xong, trong khi đang nghĩ: ‘Ta sẽ trở lại, ta sẽ trở lại,’ vị ấy về kịp lúc rút bỏ kathina. Đối với vị tỳ khưu ấy, đó là việc rút bỏ kathina cùng với các tỳ khưu.
Ādāyasattakaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of seven on “takes” is finished.
Bảy trường hợp liên quan đến việc mang đi đã chấm dứt.
3. Samādāyasattaka
3. The group of seven on “with”
189. Bảy trường hợp liên quan đến việc mang đi một cách trọn vẹn
Bhikkhu atthatakathino katacīvaraṁ samādāya pakkamati “na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno pakkamanantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with a finished robe, thinking, “I won’t return.” For that monk the robe season ends when he departs from the monastery.
312. Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, cầm lấy y đã may xong rồi ra đi với ý nghĩ "sẽ không trở lại." Đối với vị tỳ khưu ấy, sự giải trừ kathina là pakkamanantika (có sự ra đi làm cuối cùng).
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ samādāya pakkamati. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with robe-cloth. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, cầm lấy y rồi ra đi. Khi đã đi ra ngoài ranh giới, vị ấy có ý nghĩ rằng: "Ta sẽ may y này ngay tại đây, sẽ không trở lại." Vị ấy may y đó. Đối với vị tỳ khưu ấy, sự giải trừ kathina là niṭṭhānantika (có sự hoàn thành làm cuối cùng).
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ samādāya pakkamati.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with robe-cloth.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, cầm lấy y rồi ra đi. Khi đã đi ra ngoài ranh giới, vị ấy có ý nghĩ rằng: "Ta sẽ không may y này, sẽ không trở lại." Đối với vị tỳ khưu ấy, sự giải trừ kathina là sanniṭṭhānantika (có sự quyết định làm cuối cùng).
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, lấy y chưa may xong rồi ra đi. Khi đã đi ra ngoài ranh giới, vị ấy có ý nghĩ rằng: "Ta sẽ không may y này, sẽ không trở lại." Đối với vị tỳ khưu ấy, sự giải trừ kathina là sanniṭṭhānantika (có sự quyết định làm cuối cùng).
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ samādāya pakkamati.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with robe-cloth.
316. Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, mang theo y rồi ra đi... v.v...
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, mang theo y chưa làm xong rồi ra đi. Vị ấy đi ra ngoài ranh giới (sīmā) rồi có suy nghĩ như vầy: ‘Ta sẽ làm cho xong y này tại chính nơi đây, ta sẽ không trở về.’ Vị ấy làm cho xong y ấy. Đối với vị tỳ khưu ấy, việc xả y kathina là (loại) có sự hoàn thành (y) làm giới hạn cuối cùng ... vân vân ...
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, mang theo y chưa làm xong rồi ra đi. Vị ấy đi ra ngoài ranh giới (sīmā) rồi có suy nghĩ như vầy: ‘Ta sẽ làm cho xong y này tại chính nơi đây, ta sẽ không trở về.’ Vị ấy làm cho xong y ấy. Trong khi đang được làm, y ấy của vị ấy bị mất. Đối với vị tỳ khưu ấy, việc xả y kathina là (loại) có sự mất mát làm giới hạn cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ samādāya pakkamati—“paccessan”ti.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with robe-cloth, thinking, “I’ll return.”
317. Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, mang theo y chưa làm xong rồi ra đi. Vị ấy đi ra ngoài ranh giới (sīmā) rồi có suy nghĩ như vầy: ‘Ta sẽ làm cho xong y này tại chính nơi đây, ta sẽ không trở về.’ Vị ấy làm cho xong y ấy. Đối với vị tỳ khưu ấy, việc xả y kathina là (loại) có sự hoàn thành (y) làm giới hạn cuối cùng.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, mang theo y chưa làm xong rồi ra đi với (ý nghĩ) rằng: ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đi ra ngoài ranh giới (sīmā) rồi làm cho xong y ấy. Sau khi đã làm xong y, vị ấy nghe rằng: ‘Nghe nói rằng y kathina ở trú xứ ấy đã được xả.’ Đối với vị tỳ khưu ấy, việc xả y kathina là (loại) có sự nghe biết làm giới hạn cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ samādāya pakkamati—“paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with robe-cloth, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has the robe made.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, mang theo y chưa làm xong rồi ra đi với (ý nghĩ) rằng: ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đi ra ngoài ranh giới (sīmā) rồi có suy nghĩ như vầy: ‘Ta sẽ không làm cho xong y này, ta sẽ không trở về.’ Đối với vị tỳ khưu ấy, việc xả y kathina là (loại) có sự quyết định làm giới hạn cuối cùng.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, mang theo y chưa làm xong rồi ra đi với (ý nghĩ) rằng: ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đi ra ngoài ranh giới (sīmā) rồi làm cho xong y ấy. Sau khi đã làm xong y, (trong khi nghĩ rằng) ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về,’ vị ấy để cho việc xả y kathina trôi qua ở bên ngoài. Đối với vị tỳ khưu ấy, việc xả y kathina là (loại) có sự vượt qua ranh giới làm giới hạn cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ samādāya pakkamati—“paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro—“paccessaṁ paccessan”ti—sambhuṇāti kathinuddhāraṁ. Tassa bhikkhuno saha bhikkhūhi kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with robe-cloth, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has the robe made. When the robe has been made, he still thinks, “I’ll return,” and they reach the end of the robe season together. For that monk the robe season ends together with the other monks.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, mang theo y chưa làm xong rồi ra đi với (ý nghĩ) rằng: ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đi ra ngoài ranh giới (sīmā) rồi có suy nghĩ như vầy: ‘Ta sẽ làm cho xong y này tại chính nơi đây, ta sẽ không trở về.’ Vị ấy làm cho xong y ấy. Trong khi đang được làm, y ấy của vị ấy bị mất. Đối với vị tỳ khưu ấy, việc xả y kathina là (loại) có sự mất mát làm giới hạn cuối cùng.
Samādāyasattakaṁ niṭṭhitaṁ.
4. Ādāyachakka
The group of seven on “with” is finished.
4. The group of six on “takes”
Dứt mười lăm trường hợp về việc mang theo y chưa làm xong.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ ādāya pakkamati. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ ādāya pakkamati. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ ādāya pakkamati. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassaṁ taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ ādāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro suṇāti—“ubbhataṁ kira tasmiṁ āvāse kathinan”ti. Tassa bhikkhuno savanantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ ādāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro “paccessaṁ paccessan”ti bahiddhā kathinuddhāraṁ vītināmeti. Tassa bhikkhuno sīmātikkantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ ādāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro “paccessaṁ paccessan”ti sambhuṇāti kathinuddhāraṁ. Tassa bhikkhuno saha bhikkhūhi kathinuddhāro.
Ādāyachakkaṁ niṭṭhitaṁ.
5. Samādāyachakka
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro suṇāti—“ubbhataṁ kira tasmiṁ āvāse kathinan”ti. Tassa bhikkhuno savanantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro “paccessaṁ paccessan”ti bahiddhā kathinuddhāraṁ vītināmeti. Tassa bhikkhuno sīmātikkantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro “paccessaṁ paccessan”ti sambhuṇāti kathinuddhāraṁ. Tassa bhikkhuno saha bhikkhūhi kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes an unfinished robe and leaves the monastery. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes an unfinished robe and leaves the monastery. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes an unfinished robe and leaves the monastery. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes an unfinished robe and leaves the monastery, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has the robe made. When the robe has been made, he hears that they have made an end to the robe season in that monastery. For that monk the robe season ends when he hears about the end of the robe season.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes an unfinished robe and leaves the monastery, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has the robe made. When the robe has been made, he still thinks, “I’ll return,” but he remains outside the monastery zone until the end of the robe season. For that monk the robe season ends while he is outside the monastery zone.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes an unfinished robe and leaves the monastery, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has the robe made. When the robe has been made, he still thinks, “I’ll return,” and they reach the end of the robe season together. For that monk the robe season ends together with the other monks.
The group of six on “takes” is finished.
5. The group of six on “with”
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has the robe made. When the robe has been made, he hears that they have made an end to the robe season in that monastery. For that monk the robe season ends when he hears about the end of the robe season.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has the robe made. When the robe has been made, he still thinks, “I’ll return,” but he remains outside the monastery zone until the end of the robe season. For that monk the robe season ends while he is outside the monastery zone.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has the robe made. When the robe has been made, he still thinks, “I’ll return,” and they reach the end of the robe season together. For that monk the robe season ends together with the other monks.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, mang theo y chưa làm xong rồi ra đi với (ý nghĩ) rằng: ‘Ta sẽ trở về.’ Vị ấy đi ra ngoài ranh giới (sīmā) rồi làm cho xong y ấy. Sau khi đã làm xong y, (trong khi nghĩ rằng) ‘Ta sẽ trở về, ta sẽ trở về,’ vị ấy đến kịp việc xả y kathina. Đối với vị tỳ khưu ấy, việc xả y kathina là (diễn ra) cùng với các vị tỳ khưu.
Samādāyachakkaṁ niṭṭhitaṁ.
6. Ādāyapannarasaka
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti.
The group of six on “with” is finished.
6. The group of fifteen on “takes”
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made.
Năm trường hợp về sự an trú thoải mái đã kết thúc.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
Tikaṁ.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati “na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati “na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati “na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
Tikaṁ.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati anadhiṭṭhitena; nevassa hoti “paccessan”ti, na panassa hoti “na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati anadhiṭṭhitena; nevassa hoti “paccessan”ti, na panassa hoti “na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati anadhiṭṭhitena; nevassa hoti “paccessan”ti, na panassa hoti “na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
Tikaṁ.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati “paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati “paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati “paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro suṇāti—“ubbhataṁ kira tasmiṁ āvāse kathinan”ti. Tassa bhikkhuno savanantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro “paccessaṁ paccessan”ti—bahiddhā kathinuddhāraṁ vītināmeti. Tassa bhikkhuno sīmātikkantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ ādāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro—“paccessaṁ paccessan”ti sambhuṇāti kathinuddhāraṁ. Tassa bhikkhuno saha bhikkhūhi kathinuddhāro.
Chakkaṁ. Ādāyapannarasakaṁ.
7. Samādāyapannarasakādi
Bhikkhu atthatakathino cīvaraṁ samādāya pakkamati …pe….
(Ādāyavārasadisaṁ evaṁ vitthāretabbaṁ.)
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
The group of three is finished.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery, thinking, “I won’t return.” When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery, thinking, “I won’t return.” When he is outside the monastery zone, he thinks, “I won’t make a robe.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery, thinking, “I won’t return.” When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
The group of three is finished.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery. He has not decided whether he will return or not. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery. He has not decided whether he will return or not. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery. He has not decided whether he will return or not. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
The group of three is finished.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he thinks, “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has the robe made. When the robe has been made, he hears that they have made an end to the robe season in that monastery. For that monk the robe season ends when he hears about the end of the robe season.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has the robe made. When the robe has been made, he still thinks, “I’ll return,” but he remains outside the monastery zone until the end of the robe season. For that monk the robe season ends while he is outside the monastery zone.
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes robe-cloth and leaves the monastery, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has the robe made. When the robe has been made, he still thinks, “I’ll return,” and they reach the end of the robe season together. For that monk the robe season ends together with the other monks.
The group of six is finished. The group of fifteen on “takes” is finished.
7. The group of fifteen on “with”, etc.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with robe-cloth. …
(To be expanded in detail as in the section on “takes”, <a href='https://suttacentral.net/pli-tv-kd7#6.1.1'>Kd 7:6.1.1</a>–6.4.23.)
The group of fifteen on “takes an unfinished”
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, là người muốn được an trú thoải mái, mang y ra đi (với ý nghĩ) rằng: "Ta sẽ đi đến trú xá tên là...; ở đó nếu ta được thoải mái thì ta sẽ ở lại, còn nếu ta không được thoải mái thì ta sẽ đi đến trú xá tên là...; ở đó nếu ta được thoải mái thì ta sẽ ở lại, còn nếu ta không được thoải mái thì ta sẽ đi đến trú xá tên là...; ở đó nếu ta được thoải mái thì ta sẽ ở lại, còn nếu ta không được thoải mái thì ta sẽ quay về." Vị ấy sau khi đã đi ra ngoài ranh giới thì có ý nghĩ như vầy: "Ta sẽ không làm y này, sẽ không quay về." Đối với vị tỳ khưu ấy, (sự việc) là sự giải trừ kathina có sự quyết định làm cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ ādāya pakkamati. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro …pe….
(Samādāyavārasadisaṁ evaṁ vitthāretabbaṁ.)
8. Vippakatasamādāyapannarasaka
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
Tikaṁ.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati “na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati “na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati “na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
Tikaṁ.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati anadhiṭṭhitena; nevassa hoti—“paccessan”ti, na panassa hoti—“na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati anadhiṭṭhitena; nevassa hoti—“paccessan”ti, na panassa hoti—“na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati anadhiṭṭhitena; nevassa hoti—“paccessan”ti, na panassa hoti—“na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
Tikaṁ.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati “paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati “paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati “paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro suṇāti—“ubbhataṁ kira tasmiṁ āvāse kathinan”ti. Tassa bhikkhuno savanantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro—“paccessaṁ paccessan”ti bahiddhā kathinuddhāraṁ vītināmeti. Tassa bhikkhuno sīmātikkantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino vippakatacīvaraṁ samādāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro “paccessaṁ paccessan”ti sambhuṇāti kathinuddhāraṁ. Tassa bhikkhuno saha bhikkhūhi kathinuddhāro.
Chakkaṁ. Samādāyapannarasakaṁ.
Ādāyabhāṇavāro.
9. Anāsādoḷasaka
A monk who has participated in the robe-making ceremony takes an unfinished robe and leaves the monastery. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
(To be expanded in detail as in the section on “with”, <a href='https://suttacentral.net/pli-tv-kd7#7.1.1'>Kd 7:7.1.1</a>–7.1.2 = <a href='https://suttacentral.net/pli-tv-kd7#6.1.1'>Kd 7:6.1.1</a>–6.4.23.)
8. The group of fifteen on “with an unfinished”
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
The group of three is finished.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe, thinking, “I won’t return.” When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe, thinking, “I won’t return.” When he is outside the monastery zone, he thinks, “I won’t make a robe.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe, thinking, “I won’t return.” When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
The group of three is finished.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe. He has not decided whether he will return or not. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe. He has not decided whether he will return or not. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe. He has not decided whether he will return or not. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
The group of three is finished.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he thinks, “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has the robe made. When the robe has been made, he hears that they have made an end to the robe season in that monastery. For that monk the robe season ends when he hears about the end of the robe season.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has the robe made. When the robe has been made, he still thinks, “I’ll return,” but he remains outside the monastery zone until the end of the robe season. For that monk the robe season ends while he is outside the monastery zone.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery with an unfinished robe, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has the robe made. When the robe has been made, he still thinks, “I’ll return,” and they reach the end of the robe season together. For that monk the robe season ends together with the other monks.
The group of six is finished. The group of fifteen on “with” is finished.
The section for recitation on “takes” is finished.
9. The group of twelve on “not as expected”
324. Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, là người muốn được an trú thoải mái, mang y ra đi (với ý nghĩ) rằng: "Ta sẽ đi đến trú xá tên là...; ở đó nếu ta được thoải mái thì ta sẽ ở lại, còn nếu ta không được thoải mái thì ta sẽ đi đến trú xá tên là...; ở đó nếu ta được thoải mái thì ta sẽ ở lại, còn nếu ta không được thoải mái thì ta sẽ đi đến trú xá tên là...; ở đó nếu ta được thoải mái thì ta sẽ ở lại, còn nếu ta không được thoải mái thì ta sẽ quay về." Vị ấy sau khi đã đi ra ngoài ranh giới thì có ý nghĩ như vầy: "Ta sẽ làm y này ngay tại đây, sẽ không quay về." Vị ấy làm y ấy. Đối với vị tỳ khưu ấy, (sự việc) là sự giải trừ kathina có sự hoàn tất làm cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati. So bahisīmagato taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Anāsāya labhati, āsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth. When he is outside the monastery zone, he deals with that expectation. He gets robe-cloth, but not what he had expected. He thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
318. Vị tỳ khưu đã thọ y kaṭhina, ra đi với hy vọng về y. Vị ấy sau khi ra ngoài ranh giới, tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Vị ấy nhận được (y) từ nơi không hy vọng, không nhận được từ nơi có hy vọng. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ta sẽ làm y này ngay tại đây, sẽ không trở về.” Vị ấy làm y đó. Đối với vị tỳ khưu ấy, sự xả kaṭhina là có sự hoàn thành (y) làm giới hạn cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati. So bahisīmagato taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Anāsāya labhati, āsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth. When he is outside the monastery zone, he deals with that expectation. He gets robe-cloth, but not what he had expected. He thinks, “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
Vị tỳ khưu đã thọ y kaṭhina, ra đi với hy vọng về y. Vị ấy sau khi ra ngoài ranh giới, tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Vị ấy nhận được (y) từ nơi không hy vọng, không nhận được từ nơi có hy vọng. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ta sẽ không làm y này, sẽ không trở về.” Đối với vị tỳ khưu ấy, sự xả kaṭhina là có sự quyết định làm giới hạn cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati. So bahisīmagato taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Anāsāya labhati, āsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth. When he is outside the monastery zone, he deals with that expectation. He gets robe-cloth, but not what he had expected. He thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
Vị tỳ khưu đã thọ y kaṭhina, ra đi với hy vọng về y. Vị ấy sau khi ra ngoài ranh giới, tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Vị ấy nhận được (y) từ nơi không hy vọng, không nhận được từ nơi có hy vọng. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ta sẽ làm y này ngay tại đây, sẽ không trở về.” Vị ấy làm y đó. Đối với vị ấy, y đó bị mất trong khi đang được làm. Đối với vị tỳ khưu ấy, sự xả kaṭhina là có sự mất mát (y) làm giới hạn cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvarāsaṁ payirupāsissaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Tassa sā cīvarāsā upacchijjati. Tassa bhikkhuno āsāvacchediko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll deal with that expectation right here. I won’t return.” He then deals with that expectation, but it is disappointed. For that monk the robe season ends when the expectation is disappointed.
Vị tỳ khưu đã thọ y kaṭhina, ra đi với hy vọng về y. Đối với vị ấy, khi đã ra ngoài ranh giới, có suy nghĩ như vầy: “Ta sẽ tìm đến nơi có hy vọng về y này ngay tại đây, sẽ không trở về.” Vị ấy tìm đến nơi có hy vọng về y đó. Đối với vị ấy, hy vọng về y ấy bị cắt đứt. Đối với vị tỳ khưu ấy, sự xả kaṭhina là có sự cắt đứt hy vọng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati “na paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Anāsāya labhati, āsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth, thinking, “I won’t return.” When he is outside the monastery zone, he deals with that expectation. He gets robe-cloth, but not what he had expected. He thinks, “I’ll make the robe right here.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
Vị tỳ khưu đã thọ y kaṭhina, ra đi với hy vọng về y với ý nghĩ “sẽ không trở về.” Vị ấy sau khi ra ngoài ranh giới, tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Vị ấy nhận được (y) từ nơi không hy vọng, không nhận được từ nơi có hy vọng. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ta sẽ làm y này ngay tại đây.” Vị ấy làm y đó. Đối với vị tỳ khưu ấy, sự xả kaṭhina là có sự hoàn thành (y) làm giới hạn cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati “na paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Anāsāya labhati, āsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth, thinking, “I won’t return.” When he is outside the monastery zone, he deals with that expectation. He gets robe-cloth, but not what he had expected. He thinks, “I won’t make a robe.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
Vị tỳ khưu đã thọ y kaṭhina, ra đi với hy vọng về y với ý nghĩ “sẽ không trở về.” Vị ấy sau khi ra ngoài ranh giới, tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Vị ấy nhận được (y) từ nơi không hy vọng, không nhận được từ nơi có hy vọng. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ta sẽ không làm y này.” Đối với vị tỳ khưu ấy, sự xả kaṭhina là có sự quyết định làm giới hạn cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati “na paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Anāsāya labhati, āsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth, thinking, “I won’t return.” When he is outside the monastery zone, he deals with that expectation. He gets robe-cloth, but not what he had expected. He thinks, “I’ll make the robe right here.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
Vị tỳ khưu đã thọ y kaṭhina, ra đi với hy vọng về y với ý nghĩ “sẽ không trở về.” Vị ấy sau khi ra ngoài ranh giới, tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Vị ấy nhận được (y) từ nơi không hy vọng, không nhận được từ nơi có hy vọng. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ta sẽ làm y này ngay tại đây.” Vị ấy làm y đó. Đối với vị ấy, y đó bị mất trong khi đang được làm. Đối với vị tỳ khưu ấy, sự xả kaṭhina là có sự mất mát (y) làm giới hạn cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati “na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvarāsaṁ payirupāsissan”ti. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Tassa sā cīvarāsā upacchijjati. Tassa bhikkhuno āsāvacchediko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth, thinking, “I won’t return.” When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll deal with that expectation right here.” He then deals with that expectation, but it is disappointed. For that monk the robe season ends when the expectation is disappointed.
Vị tỳ khưu đã thọ y kaṭhina, ra đi với hy vọng về y với ý nghĩ “sẽ không trở về.” Đối với vị ấy, khi đã ra ngoài ranh giới, có suy nghĩ như vầy: “Ta sẽ tìm đến nơi có hy vọng về y này ngay tại đây.” Vị ấy tìm đến nơi có hy vọng về y đó. Đối với vị ấy, hy vọng về y ấy bị cắt đứt. Đối với vị tỳ khưu ấy, sự xả kaṭhina là có sự cắt đứt hy vọng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati anadhiṭṭhitena; nevassa hoti—“paccessan”ti, na panassa hoti—“na paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Anāsāya labhati, āsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth. He has not decided whether he will return or not. When he is outside the monastery zone, he deals with that expectation. He gets robe-cloth, but not what he had expected. He thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
Vị tỳ khưu đã thọ y kaṭhina, ra đi với hy vọng về y một cách không quyết định; vị ấy không có ý nghĩ: “Sẽ trở về,” và cũng không có ý nghĩ: “Sẽ không trở về.” Vị ấy sau khi ra ngoài ranh giới, tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Vị ấy nhận được (y) từ nơi không hy vọng, không nhận được từ nơi có hy vọng. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ta sẽ làm y này ngay tại đây, sẽ không trở về.” Vị ấy làm y đó. Đối với vị tỳ khưu ấy, sự xả kaṭhina là có sự hoàn thành (y) làm giới hạn cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati anadhiṭṭhitena; nevassa hoti—“paccessan”ti, na panassa hoti—“na paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Anāsāya labhati, āsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth. He has not decided whether he will return or not. When he is outside the monastery zone, he deals with that expectation. He gets robe-cloth, but not what he had expected. He thinks, “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
Vị tỳ khưu đã thọ y kaṭhina, ra đi với hy vọng về y một cách không quyết định; vị ấy không có ý nghĩ: “Sẽ trở về,” và cũng không có ý nghĩ: “Sẽ không trở về.” Vị ấy sau khi ra ngoài ranh giới, tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Vị ấy nhận được (y) từ nơi không hy vọng, không nhận được từ nơi có hy vọng. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ta sẽ không làm y này, sẽ không trở về.” Đối với vị tỳ khưu ấy, sự xả kaṭhina là có sự quyết định làm giới hạn cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati anadhiṭṭhitena; nevassa hoti—“paccessan”ti, na panassa hoti—“na paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Anāsāya labhati, āsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth. He has not decided whether he will return or not. When he is outside the monastery zone, he deals with that expectation. He gets robe-cloth, but not what he had expected. He thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
Vị tỳ khưu đã thọ y kaṭhina, ra đi với hy vọng về y một cách không quyết định; vị ấy không có ý nghĩ: “Sẽ trở về,” và cũng không có ý nghĩ: “Sẽ không trở về.” Vị ấy sau khi ra ngoài ranh giới, tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Vị ấy nhận được (y) từ nơi không hy vọng, không nhận được từ nơi có hy vọng. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ta sẽ làm y này ngay tại đây, sẽ không trở về.” Vị ấy làm y đó. Đối với vị ấy, y đó bị mất trong khi đang được làm. Đối với vị tỳ khưu ấy, sự xả kaṭhina là có sự mất mát (y) làm giới hạn cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati anadhiṭṭhitena; nevassa hoti—“paccessan”ti, na panassa hoti—“na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvarāsaṁ payirupāsissaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Tassa sā cīvarāsā upacchijjati. Tassa bhikkhuno āsāvacchediko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth. He has not decided whether he will return or not. When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll deal with that expectation right here. I won’t return.” He then deals with that expectation, but it is disappointed. For that monk the robe season ends when the expectation is disappointed.
Vị tỳ khưu đã thọ y kaṭhina, ra đi với hy vọng về y một cách không quyết định; vị ấy không có ý nghĩ: “Sẽ trở về,” và cũng không có ý nghĩ: “Sẽ không trở về.” Đối với vị ấy, khi đã ra ngoài ranh giới, có suy nghĩ như vầy: “Ta sẽ tìm đến nơi có hy vọng về y này ngay tại đây, sẽ không trở về.” Vị ấy tìm đến nơi có hy vọng về y đó. Đối với vị ấy, hy vọng về y ấy bị cắt đứt. Đối với vị tỳ khưu ấy, sự xả kaṭhina là có sự cắt đứt hy vọng.
Anāsādoḷasakaṁ niṭṭhitaṁ.
10. Āsādoḷasaka
The group of twelve on “not as expected” is finished.
10. The group of twelve on “as expected”
Mười hai trường hợp không có hy vọng đã được chấm dứt.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Āsāya labhati, anāsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he deals with that expectation, getting what he had expected. He thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
319. Vị tỳ khưu đã thọ y kaṭhina, ra đi với hy vọng về y với ý nghĩ “sẽ trở về.” Vị ấy sau khi ra ngoài ranh giới, tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Vị ấy nhận được (y) từ nơi có hy vọng, không nhận được từ nơi không hy vọng. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ta sẽ làm y này ngay tại đây, sẽ không trở về.” Vị ấy làm y đó. Đối với vị tỳ khưu ấy, sự xả kaṭhina là có sự hoàn thành (y) làm giới hạn cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Āsāya labhati, anāsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he deals with that expectation, getting what he had expected. He thinks, “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, với hy vọng về y, ra đi (với ý nghĩ) “ta sẽ trở lại.” Vị ấy đi ra ngoài ranh giới, tìm đến nơi hy vọng có y ấy. Từ nơi có hy vọng, vị ấy nhận được; từ nơi không có hy vọng, vị ấy không nhận được. Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: “Ta sẽ không làm y này, ta sẽ không trở lại.” Đối với vị tỳ khưu ấy, (đó là) việc giải trừ kathina có sự quyết định làm cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Āsāya labhati, anāsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he deals with that expectation, getting what he had expected. He thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, với hy vọng về y, ra đi (với ý nghĩ) “ta sẽ trở lại.” Vị ấy đi ra ngoài ranh giới, tìm đến nơi hy vọng có y ấy. Từ nơi có hy vọng, vị ấy nhận được; từ nơi không có hy vọng, vị ấy không nhận được. Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: “Chính tại nơi này, ta sẽ làm y này, ta sẽ không trở lại.” Vị ấy làm y ấy. Y ấy của vị ấy bị mất trong khi đang được làm. Đối với vị tỳ khưu ấy, (đó là) việc giải trừ kathina có sự mất mát làm cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati “paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvarāsaṁ payirupāsissaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Tassa sā cīvarāsā upacchijjati. Tassa bhikkhuno āsāvacchediko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll deal with that expectation right here. I won’t return.” He then deals with that expectation, but it is disappointed. For that monk the robe season ends when the expectation is disappointed.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, với hy vọng về y, ra đi (với ý nghĩ) “ta sẽ trở lại.” Vị ấy khi đã đi ra ngoài ranh giới, khởi lên ý nghĩ như vầy: “Chính tại nơi này, ta sẽ tìm đến nơi hy vọng có y này, ta sẽ không trở lại.” Vị ấy tìm đến nơi hy vọng có y ấy. Hy vọng về y ấy của vị ấy bị cắt đứt. Đối với vị tỳ khưu ấy, (đó là) việc giải trừ kathina có sự cắt đứt hy vọng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato suṇāti—“ubbhataṁ kira tasmiṁ āvāse kathinan”ti. Tassa evaṁ hoti—“yato tasmiṁ āvāse ubbhataṁ kathinaṁ, idhevimaṁ cīvarāsaṁ payirupāsissan”ti. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Āsāya labhati, anāsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he hears that they have made an end to the robe season in that monastery. He thinks, “Since they have made an end to the robe season in that monastery, I’ll deal with that expectation right here.” He then deals with that expectation, getting what he had expected. He thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, với hy vọng về y, ra đi (với ý nghĩ) “ta sẽ trở lại.” Vị ấy đi ra ngoài ranh giới, nghe rằng: “Kathina ở trú xứ ấy đã được giải trừ rồi.” Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: “Bởi vì kathina ở trú xứ ấy đã được giải trừ, chính tại nơi này ta sẽ tìm đến nơi hy vọng có y này.” Vị ấy tìm đến nơi hy vọng có y ấy. Từ nơi có hy vọng, vị ấy nhận được; từ nơi không có hy vọng, vị ấy không nhận được. Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: “Chính tại nơi này, ta sẽ làm y này, ta sẽ không trở lại.” Vị ấy làm y ấy. Đối với vị tỳ khưu ấy, (đó là) việc giải trừ kathina có sự hoàn thành làm cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato suṇāti—“ubbhataṁ kira tasmiṁ āvāse kathinan”ti. Tassa evaṁ hoti—“yato tasmiṁ āvāse ubbhataṁ kathinaṁ, idhevimaṁ cīvarāsaṁ payirupāsissan”ti. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Āsāya labhati, anāsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he hears that they have made an end to the robe season in that monastery. He thinks, “Since they have made an end to the robe season in that monastery, I’ll deal with that expectation right here.” He then deals with that expectation, getting what he had expected. He thinks, “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, với hy vọng về y, ra đi (với ý nghĩ) “ta sẽ trở lại.” Vị ấy đi ra ngoài ranh giới, nghe rằng: “Kathina ở trú xứ ấy đã được giải trừ rồi.” Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: “Bởi vì kathina ở trú xứ ấy đã được giải trừ, chính tại nơi này ta sẽ tìm đến nơi hy vọng có y này.” Vị ấy tìm đến nơi hy vọng có y ấy. Từ nơi có hy vọng, vị ấy nhận được; từ nơi không có hy vọng, vị ấy không nhận được. Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: “Ta sẽ không làm y này, ta sẽ không trở lại.” Đối với vị tỳ khưu ấy, (đó là) việc giải trừ kathina có sự quyết định làm cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato suṇāti—“ubbhataṁ kira tasmiṁ āvāse kathinan”ti. Tassa evaṁ hoti—“yato tasmiṁ āvāse ubbhataṁ kathinaṁ, idhevimaṁ cīvarāsaṁ payirupāsissan”ti. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Āsāya labhati, anāsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he hears that they have made an end to the robe season in that monastery. He thinks, “Since they have made an end to the robe season in that monastery, I’ll deal with that expectation right here.” He then deals with that expectation, getting what he had expected. He thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, với hy vọng về y, ra đi (với ý nghĩ) “ta sẽ trở lại.” Vị ấy đi ra ngoài ranh giới, nghe rằng: “Kathina ở trú xứ ấy đã được giải trừ rồi.” Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: “Bởi vì kathina ở trú xứ ấy đã được giải trừ, chính tại nơi này ta sẽ tìm đến nơi hy vọng có y này.” Vị ấy tìm đến nơi hy vọng có y ấy. Từ nơi có hy vọng, vị ấy nhận được; từ nơi không có hy vọng, vị ấy không nhận được. Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: “Chính tại nơi này, ta sẽ làm y này, ta sẽ không trở lại.” Vị ấy làm y ấy. Y ấy của vị ấy bị mất trong khi đang được làm. Đối với vị tỳ khưu ấy, (đó là) việc giải trừ kathina có sự mất mát làm cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato suṇāti—“ubbhataṁ kira tasmiṁ āvāse kathinan”ti. Tassa evaṁ hoti—“yato tasmiṁ āvāse ubbhataṁ kathinaṁ, idhevimaṁ cīvarāsaṁ payirupāsissaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Tassa sā cīvarāsā upacchijjati. Tassa bhikkhuno āsāvacchediko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he hears that they have made an end to the robe season in that monastery. He thinks, “Since they have made an end to the robe season in that monastery, I’ll deal with that expectation right here. I won’t return.” He then deals with that expectation, but it is disappointed. For that monk the robe season ends when the expectation is disappointed.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, với hy vọng về y, ra đi (với ý nghĩ) “ta sẽ trở lại.” Vị ấy đi ra ngoài ranh giới, nghe rằng: “Kathina ở trú xứ ấy đã được giải trừ rồi.” Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: “Bởi vì kathina ở trú xứ ấy đã được giải trừ, chính tại nơi này ta sẽ tìm đến nơi hy vọng có y này, ta sẽ không trở lại.” Vị ấy tìm đến nơi hy vọng có y ấy. Hy vọng về y ấy của vị ấy bị cắt đứt. Đối với vị tỳ khưu ấy, (đó là) việc giải trừ kathina có sự cắt đứt hy vọng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Āsāya labhati, anāsāya na labhati. So taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro suṇāti—“ubbhataṁ kira tasmiṁ āvāse kathinan”ti. Tassa bhikkhuno savanantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he deals with that expectation, getting what he had expected. He then has the robe made. When the robe has been made, he hears that they have made an end to the robe season in that monastery. For that monk the robe season ends when he hears about the end of the robe season.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, với hy vọng về y, ra đi (với ý nghĩ) “ta sẽ trở lại.” Vị ấy đi ra ngoài ranh giới, tìm đến nơi hy vọng có y ấy. Từ nơi có hy vọng, vị ấy nhận được; từ nơi không có hy vọng, vị ấy không nhận được. Vị ấy làm y ấy. Vị ấy, sau khi đã làm xong y, nghe rằng: “Kathina ở trú xứ ấy đã được giải trừ rồi.” Đối với vị tỳ khưu ấy, (đó là) việc giải trừ kathina có sự nghe biết làm cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati “paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvarāsaṁ payirupāsissaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Tassa sā cīvarāsā upacchijjati. Tassa bhikkhuno āsāvacchediko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll deal with that expectation right here. I won’t return.” He then deals with that expectation, but it is disappointed. For that monk the robe season ends when the expectation is disappointed.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, với hy vọng về y, ra đi (với ý nghĩ) “ta sẽ trở lại.” Vị ấy khi đã đi ra ngoài ranh giới, khởi lên ý nghĩ như vầy: “Chính tại nơi này, ta sẽ tìm đến nơi hy vọng có y này, ta sẽ không trở lại.” Vị ấy tìm đến nơi hy vọng có y ấy. Hy vọng về y ấy của vị ấy bị cắt đứt. Đối với vị tỳ khưu ấy, (đó là) việc giải trừ kathina có sự cắt đứt hy vọng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Āsāya labhati, anāsāya na labhati. So taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro “paccessaṁ paccessan”ti—bahiddhā kathinuddhāraṁ vītināmeti. Tassa bhikkhuno sīmātikkantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he deals with that expectation, getting what he had expected. He then has the robe made. When the robe has been made, he still thinks, “I’ll return,” but he remains outside the monastery zone until the end of the robe season. For that monk the robe season ends while he is outside the monastery zone.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, với hy vọng về y, ra đi (với ý nghĩ) “ta sẽ trở lại.” Vị ấy đi ra ngoài ranh giới, tìm đến nơi hy vọng có y ấy. Từ nơi có hy vọng, vị ấy nhận được; từ nơi không có hy vọng, vị ấy không nhận được. Vị ấy làm y ấy. Vị ấy, sau khi đã làm xong y, (với ý nghĩ) “ta sẽ trở lại, ta sẽ trở lại,” để cho việc giải trừ kathina trôi qua ở bên ngoài. Đối với vị tỳ khưu ấy, (đó là) việc giải trừ kathina có sự vượt qua ranh giới (thời gian) làm cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino cīvarāsāya pakkamati “paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Āsāya labhati, anāsāya na labhati. So taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro “paccessaṁ paccessan”ti—sambhuṇāti kathinuddhāraṁ. Tassa bhikkhuno saha bhikkhūhi kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery while expecting more robe-cloth, thinking, “I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he deals with that expectation, getting what he had expected. He then has the robe made. When the robe has been made, he still thinks, “I’ll return,” and they reach the end of the robe season together. For that monk the robe season ends together with the other monks.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, với hy vọng về y, ra đi (với ý nghĩ) “ta sẽ trở lại.” Vị ấy đi ra ngoài ranh giới, tìm đến nơi hy vọng có y ấy. Từ nơi có hy vọng, vị ấy nhận được; từ nơi không có hy vọng, vị ấy không nhận được. Vị ấy làm y ấy. Vị ấy, sau khi đã làm xong y, (với ý nghĩ) “ta sẽ trở lại, ta sẽ trở lại,” kịp lúc giải trừ kathina. Đối với vị tỳ khưu ấy, việc giải trừ kathina (diễn ra) cùng với các vị tỳ khưu.
Āsādoḷasakaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of twelve on “as expected” is finished.
Mười hai trường hợp về hy vọng đã kết thúc.
11. Karaṇīyadoḷasaka
11. The group of twelve on business
197. Mười hai trường hợp về công việc phải làm.
Bhikkhu atthatakathino kenacideva karaṇīyena pakkamati. Tassa bahisīmagatassa cīvarāsā uppajjati. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Anāsāya labhati, āsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery on some business. When he is outside the monastery zone, he comes to expect more robe-cloth. He deals with that expectation. He gets robe-cloth, but not what he had expected. He thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
320. Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, ra đi vì một công việc nào đó. Vị ấy khi đã đi ra ngoài ranh giới, hy vọng về y khởi lên. Vị ấy tìm đến nơi hy vọng có y ấy. Từ nơi không có hy vọng, vị ấy nhận được; từ nơi có hy vọng, vị ấy không nhận được. Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: “Chính tại nơi này, ta sẽ làm y này, ta sẽ không trở lại.” Vị ấy làm y ấy. Đối với vị tỳ khưu ấy, (đó là) việc giải trừ kathina có sự hoàn thành làm cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino kenacideva karaṇīyena pakkamati. Tassa bahisīmagatassa cīvarāsā uppajjati. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Anāsāya labhati, āsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery on some business. When he is outside the monastery zone, he comes to expect more robe-cloth. He deals with that expectation. He gets robe-cloth, but not what he had expected. He thinks, “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, vì một vài công việc phải làm nên đã ra đi. Đối với vị ấy, khi đã đi ra ngoài ranh giới (sīmā), hy vọng về y sanh khởi. Vị ấy tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Vị ấy nhận được (y) từ nơi không hy vọng, không nhận được từ nơi có hy vọng. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ta sẽ không làm y này, sẽ không quay về.” Đối với vị tỳ khưu ấy, đó là sự xả kathina có sự quyết định làm mốc cuối (sanniṭṭhānantika).
Bhikkhu atthatakathino kenacideva karaṇīyena pakkamati. Tassa bahisīmagatassa cīvarāsā uppajjati. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Anāsāya labhati, āsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery on some business. When he is outside the monastery zone, he comes to expect more robe-cloth. He deals with that expectation. He gets robe-cloth, but not what he had expected. He thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, vì một vài công việc phải làm nên đã ra đi. Đối với vị ấy, khi đã đi ra ngoài ranh giới (sīmā), hy vọng về y sanh khởi. Vị ấy tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Vị ấy nhận được (y) từ nơi không hy vọng, không nhận được từ nơi có hy vọng. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ngay tại đây, ta sẽ làm y này, sẽ không quay về.” Vị ấy cho làm y ấy. Đối với vị ấy, trong khi y ấy đang được làm thì bị mất. Đối với vị tỳ khưu ấy, đó là sự xả kathina có sự mất mát làm mốc cuối (nāsanantika).
Bhikkhu atthatakathino kenacideva karaṇīyena pakkamati. Tassa bahisīmagatassa cīvarāsā uppajjati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvarāsaṁ payirupāsissaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Tassa sā cīvarāsā upacchijjati. Tassa bhikkhuno āsāvacchediko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery on some business. When he is outside the monastery zone, he comes to expect more robe-cloth. He thinks, “I’ll deal with that expectation right here. I won’t return.” He then deals with that expectation, but it is disappointed. For that monk the robe season ends when the expectation is disappointed.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, vì một vài công việc phải làm nên đã ra đi. Đối với vị ấy, khi đã đi ra ngoài ranh giới (sīmā), hy vọng về y sanh khởi. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ngay tại đây, ta sẽ tìm đến nơi có hy vọng về y này, sẽ không quay về.” Vị ấy tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Đối với vị ấy, hy vọng về y ấy bị cắt đứt. Đối với vị tỳ khưu ấy, đó là sự xả kathina có sự cắt đứt hy vọng (āsāvacchedika).
Bhikkhu atthatakathino kenacideva karaṇīyena pakkamati “na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa cīvarāsā uppajjati. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Anāsāya labhati, āsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery on some business, thinking, “I won’t return.” When he is outside the monastery zone, he comes to expect more robe-cloth. He deals with that expectation. He gets robe-cloth, but not what he had expected. He thinks, “I’ll make the robe right here.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, vì một vài công việc phải làm nên đã ra đi (với ý nghĩ) “sẽ không quay về.” Đối với vị ấy, khi đã đi ra ngoài ranh giới (sīmā), hy vọng về y sanh khởi. Vị ấy tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Vị ấy nhận được (y) từ nơi không hy vọng, không nhận được từ nơi có hy vọng. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ngay tại đây, ta sẽ làm y này.” Vị ấy cho làm y ấy. Đối với vị tỳ khưu ấy, đó là sự xả kathina có sự hoàn thành làm mốc cuối (niṭṭhānantika).
Bhikkhu atthatakathino kenacideva karaṇīyena pakkamati “na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa cīvarāsā uppajjati. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Anāsāya labhati, āsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery on some business, thinking, “I won’t return.” When he is outside the monastery zone, he comes to expect more robe-cloth. He deals with that expectation. He gets robe-cloth, but not what he had expected. He thinks, “I won’t make a robe.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, vì một vài công việc phải làm nên đã ra đi (với ý nghĩ) “sẽ không quay về.” Đối với vị ấy, khi đã đi ra ngoài ranh giới (sīmā), hy vọng về y sanh khởi. Vị ấy tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Vị ấy nhận được (y) từ nơi không hy vọng, không nhận được từ nơi có hy vọng. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ta sẽ không làm y này.” Đối với vị tỳ khưu ấy, đó là sự xả kathina có sự quyết định làm mốc cuối (sanniṭṭhānantika).
Bhikkhu atthatakathino kenacideva karaṇīyena pakkamati “na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa cīvarāsā uppajjati. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Anāsāya labhati, āsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery on some business, thinking, “I won’t return.” When he is outside the monastery zone, he comes to expect more robe-cloth. He deals with that expectation. He gets robe-cloth, but not what he had expected. He thinks, “I’ll make the robe right here.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, vì một vài công việc phải làm nên đã ra đi (với ý nghĩ) “sẽ không quay về.” Đối với vị ấy, khi đã đi ra ngoài ranh giới (sīmā), hy vọng về y sanh khởi. Vị ấy tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Vị ấy nhận được (y) từ nơi không hy vọng, không nhận được từ nơi có hy vọng. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ngay tại đây, ta sẽ làm y này.” Vị ấy cho làm y ấy. Đối với vị ấy, trong khi y ấy đang được làm thì bị mất. Đối với vị tỳ khưu ấy, đó là sự xả kathina có sự mất mát làm mốc cuối (nāsanantika).
Bhikkhu atthatakathino kenacideva karaṇīyena pakkamati “na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa cīvarāsā uppajjati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvarāsaṁ payirupāsissan”ti. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Tassa sā cīvarāsā upacchijjati. Tassa bhikkhuno āsāvacchediko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery on some business, thinking, “I won’t return.” When he is outside the monastery zone, he comes to expect more robe-cloth. He thinks, “I’ll deal with that expectation right here.” He then deals with that expectation, but it is disappointed. For that monk the robe season ends when the expectation is disappointed.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, vì một vài công việc phải làm nên đã ra đi (với ý nghĩ) “sẽ không quay về.” Đối với vị ấy, khi đã đi ra ngoài ranh giới (sīmā), hy vọng về y sanh khởi. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ngay tại đây, ta sẽ tìm đến nơi có hy vọng về y này.” Vị ấy tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Đối với vị ấy, hy vọng về y ấy bị cắt đứt. Đối với vị tỳ khưu ấy, đó là sự xả kathina có sự cắt đứt hy vọng (āsāvacchedika).
Bhikkhu atthatakathino kenacideva karaṇīyena pakkamati anadhiṭṭhitena; nevassa hoti—“paccessan”ti, na panassa hoti—“na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa cīvarāsā uppajjati. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Anāsāya labhati, āsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery on some business. He has not decided whether he will return or not. When he is outside the monastery zone, he comes to expect more robe-cloth. He deals with that expectation. He gets robe-cloth, but not what he had expected. He thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, vì một vài công việc phải làm nên đã ra đi không có quyết định trước; vị ấy không có suy nghĩ: “Ta sẽ quay về,” mà cũng không có suy nghĩ: “Ta sẽ không quay về.” Đối với vị ấy, khi đã đi ra ngoài ranh giới (sīmā), hy vọng về y sanh khởi. Vị ấy tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Vị ấy nhận được (y) từ nơi không hy vọng, không nhận được từ nơi có hy vọng. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ngay tại đây, ta sẽ làm y này, sẽ không quay về.” Vị ấy cho làm y ấy. Đối với vị tỳ khưu ấy, đó là sự xả kathina có sự hoàn thành làm mốc cuối (niṭṭhānantika).
Bhikkhu atthatakathino kenacideva karaṇīyena pakkamati anadhiṭṭhitena; nevassa hoti—“paccessan”ti, na panassa hoti—“na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa cīvarāsā uppajjati. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Anāsāya labhati, āsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery on some business. He has not decided whether he will return or not. When he is outside the monastery zone, he comes to expect more robe-cloth. He deals with that expectation. He gets robe-cloth, but not what he had expected. He thinks, “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, vì một vài công việc phải làm nên đã ra đi không có quyết định trước; vị ấy không có suy nghĩ: “Ta sẽ quay về,” mà cũng không có suy nghĩ: “Ta sẽ không quay về.” Đối với vị ấy, khi đã đi ra ngoài ranh giới (sīmā), hy vọng về y sanh khởi. Vị ấy tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Vị ấy nhận được (y) từ nơi không hy vọng, không nhận được từ nơi có hy vọng. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ta sẽ không làm y này, sẽ không quay về.” Đối với vị tỳ khưu ấy, đó là sự xả kathina có sự quyết định làm mốc cuối (sanniṭṭhānantika).
Bhikkhu atthatakathino kenacideva karaṇīyena pakkamati anadhiṭṭhitena; nevassa hoti—“paccessan”ti, na panassa hoti—“na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa cīvarāsā uppajjati. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Anāsāya labhati, āsāya na labhati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery on some business. He has not decided whether he will return or not. When he is outside the monastery zone, he comes to expect more robe-cloth. He deals with that expectation. He gets robe-cloth, but not what he had expected. He thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, vì một vài công việc phải làm nên đã ra đi không có quyết định trước; vị ấy không có suy nghĩ: “Ta sẽ quay về,” mà cũng không có suy nghĩ: “Ta sẽ không quay về.” Đối với vị ấy, khi đã đi ra ngoài ranh giới (sīmā), hy vọng về y sanh khởi. Vị ấy tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Vị ấy nhận được (y) từ nơi không hy vọng, không nhận được từ nơi có hy vọng. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ngay tại đây, ta sẽ làm y này, sẽ không quay về.” Vị ấy cho làm y ấy. Đối với vị ấy, trong khi y ấy đang được làm thì bị mất. Đối với vị tỳ khưu ấy, đó là sự xả kathina có sự mất mát làm mốc cuối (nāsanantika).
Bhikkhu atthatakathino kenacideva karaṇīyena pakkamati anadhiṭṭhitena; nevassa hoti—“paccessan”ti, na panassa hoti—“na paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa cīvarāsā uppajjati. Tassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvarāsaṁ payirupāsissaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvarāsaṁ payirupāsati. Tassa sā cīvarāsā upacchijjati. Tassa bhikkhuno āsāvacchediko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery on some business. He has not decided whether he will return or not. When he is outside the monastery zone, he comes to expect more robe-cloth. He thinks, “I’ll deal with that expectation right here. I won’t return.” He then deals with that expectation, but it is disappointed. For that monk the robe season ends when the expectation is disappointed.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, vì một vài công việc phải làm nên đã ra đi không có quyết định trước; vị ấy không có suy nghĩ: “Ta sẽ quay về,” mà cũng không có suy nghĩ: “Ta sẽ không quay về.” Đối với vị ấy, khi đã đi ra ngoài ranh giới (sīmā), hy vọng về y sanh khởi. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: “Ngay tại đây, ta sẽ tìm đến nơi có hy vọng về y này, sẽ không quay về.” Vị ấy tìm đến nơi có hy vọng về y ấy. Đối với vị ấy, hy vọng về y ấy bị cắt đứt. Đối với vị tỳ khưu ấy, đó là sự xả kathina có sự cắt đứt hy vọng (āsāvacchedika).
Karaṇīyadoḷasakaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of twelve on business is finished.
Mười hai trường hợp về công việc phải làm đã được chấm dứt.
12. Apavilāyananavaka
12. The group of nine on “without taking”
198. Chín trường hợp không bỏ trốn.
Bhikkhu atthatakathino disaṅgamiko pakkamati cīvarapaṭivīsaṁ apavilāyamāno. Tamenaṁ disaṅgataṁ bhikkhū pucchanti—“kahaṁ tvaṁ, āvuso, vassaṁvuṭṭho, kattha ca te cīvarapaṭivīso”ti? So evaṁ vadeti—“amukasmiṁ āvāse vassaṁvuṭṭhomhi. Tattha ca me cīvarapaṭivīso”ti. Te evaṁ vadanti—“gacchāvuso, taṁ cīvaraṁ āhara, mayaṁ te idha cīvaraṁ karissāmā”ti. So taṁ āvāsaṁ gantvā bhikkhū pucchati—“kahaṁ me, āvuso, cīvarapaṭivīso”ti? Te evaṁ vadanti—“ayaṁ te, āvuso, cīvarapaṭivīso; kahaṁ gamissasī”ti?
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery for a different region without taking his share of robe-cloth. When he has gone to that region, the monks there ask him, “Where did you complete the rains residence? Where’s your share of robe-cloth?” He replies, “I completed the rains residence in such-and-such a monastery. That’s where my share of robe-cloth is.” They say, “Go and get that robe-cloth, and we’ll make a robe for you.” He then goes to that monastery and asks the monks, “Where’s my share of the robe-cloth?” They reply, “This is your share. Where are you going?”
321. Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, muốn đi đến phương khác, ra đi trong khi mong đợi phần y của mình. Các vị tỳ khưu hỏi vị ấy đã đi đến phương khác rằng: 'Thưa hiền giả, ngài đã an cư mùa mưa ở đâu, và phần y của ngài ở trú xứ nào?' Vị ấy nói như vầy: 'Tôi đã an cư mùa mưa ở trú xứ tên là... Và phần y của tôi ở tại đó.' Các vị ấy nói như vầy: 'Thưa hiền giả, hãy đi, hãy mang y ấy về, chúng tôi sẽ làm y cho ngài tại đây.' Vị ấy đi đến trú xứ ấy rồi hỏi các vị tỳ khưu: 'Thưa các hiền giả, phần y của tôi ở đâu?' Các vị ấy nói như vầy: 'Thưa hiền giả, đây là phần y của ngài; ngài sẽ đi đâu?' Vị ấy nói như vầy: 'Tôi sẽ đi đến trú xứ tên là..., ở đó các vị tỳ khưu sẽ làm y cho tôi.' Các vị ấy nói như vầy: 'Thôi đi, hiền giả, xin đừng đi. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài tại đây.' Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: 'Ta sẽ cho làm y này tại đây, sẽ không trở về.' Vị ấy cho làm y ấy. Đối với vị tỳ khưu ấy, sự giải trừ kathina là có sự hoàn thành (y) làm giới hạn cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino disaṅgamiko pakkamati …pe… “nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino disaṅgamiko pakkamati …pe… “idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino disaṅgamiko pakkamati cīvarapaṭivīsaṁ apavilāyamāno. Tamenaṁ disaṅgataṁ bhikkhū pucchanti—“kahaṁ tvaṁ, āvuso, vassaṁvuṭṭho, kattha ca te cīvarapaṭivīso”ti? So evaṁ vadeti—“amukasmiṁ āvāse vassaṁvuṭṭhomhi, tattha ca me cīvarapaṭivīso”ti. Te evaṁ vadanti—“gacchāvuso, taṁ cīvaraṁ āhara, mayaṁ te idha cīvaraṁ karissāmā”ti. So taṁ āvāsaṁ gantvā bhikkhū pucchati—“kahaṁ me, āvuso, cīvarapaṭivīso”ti? Te evaṁ vadanti—“ayaṁ te, āvuso, cīvarapaṭivīso”ti. So taṁ cīvaraṁ ādāya taṁ āvāsaṁ gacchati. Tamenaṁ antarāmagge bhikkhū pucchanti—“āvuso, kahaṁ gamissasī”ti? So evaṁ vadeti—“amukaṁ nāma āvāsaṁ gamissāmi, tattha me bhikkhū cīvaraṁ karissantī”ti. Te evaṁ vadanti—“alaṁ, āvuso, mā agamāsi, mayaṁ te idha cīvaraṁ karissāmā”ti.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery for a different region … “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery for a different region … “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery for a different region without taking his share of robe-cloth. When he has gone to that region, the monks there ask him, “Where did you complete the rains residence? Where’s your share of robe-cloth?” He replies, “I completed the rains residence in such-and-such a monastery. That’s where my share of robe-cloth is.” They say, “Go and get that robe-cloth, and we’ll make a robe for you.” He then goes to that monastery and asks the monks, “Where’s my share of the robe-cloth?” They reply, “This is your share.” He takes that robe-cloth and sets out for the other monastery. While he is on his way, monks ask him, “Where are you going?” He says, “I’m going to such-and-such a monastery. The monks there will make me a robe.” They say, “There’s no need to go. We’ll make a robe for you here.”
322. Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, muốn đi đến phương khác, ra đi trong khi mong đợi phần y của mình. Các vị tỳ khưu hỏi vị ấy đã đi đến phương khác rằng: 'Thưa hiền giả, ngài đã an cư mùa mưa ở đâu, và phần y của ngài ở trú xứ nào?' Vị ấy nói như vầy: 'Tôi đã an cư mùa mưa ở trú xứ tên là..., và phần y của tôi ở tại đó.' Các vị ấy nói như vầy: 'Thưa hiền giả, hãy đi, hãy mang y ấy về, chúng tôi sẽ làm y cho ngài tại đây.' Vị ấy đi đến trú xứ ấy rồi hỏi các vị tỳ khưu: 'Thưa các hiền giả, phần y của tôi ở đâu?' Các vị ấy nói như vầy: 'Thưa hiền giả, đây là phần y của ngài.' Vị ấy lấy y ấy rồi đi đến trú xứ kia. Các vị tỳ khưu hỏi vị ấy ở giữa đường rằng: 'Thưa hiền giả, ngài sẽ đi đâu?' Vị ấy nói như vầy: 'Tôi sẽ đi đến trú xứ tên là..., ở đó các vị tỳ khưu sẽ làm y cho tôi.' Các vị ấy nói như vầy: 'Thôi đi, hiền giả, xin đừng đi, chúng tôi sẽ làm y cho ngài tại đây.' Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: 'Ta sẽ cho làm y này tại đây, sẽ không trở về.' Vị ấy cho làm y ấy. Đối với vị tỳ khưu ấy, sự giải trừ kathina là có sự hoàn thành (y) làm giới hạn cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino disaṅgamiko pakkamati cīvarapaṭivīsaṁ apavilāyamāno. Tamenaṁ disaṅgataṁ bhikkhū pucchanti—“kahaṁ tvaṁ, āvuso, vassaṁvuṭṭho, kattha ca te cīvarapaṭivīso”ti? So evaṁ vadeti—“amukasmiṁ āvāse vassaṁvuṭṭhomhi, tattha ca me cīvarapaṭivīso”ti. Te evaṁ vadanti—“gacchāvuso, taṁ cīvaraṁ āhara, mayaṁ te idha cīvaraṁ karissāmā”ti. So taṁ āvāsaṁ gantvā bhikkhū pucchati—“kahaṁ me, āvuso, cīvarapaṭivīso”ti? Te evaṁ vadanti—“ayaṁ te, āvuso, cīvarapaṭivīso”ti. So taṁ cīvaraṁ ādāya taṁ āvāsaṁ gacchati. Tamenaṁ antarāmagge bhikkhū pucchanti—“āvuso, kahaṁ gamissasī”ti? So evaṁ vadeti—“amukaṁ nāma āvāsaṁ gamissāmi, tattha me bhikkhū cīvaraṁ karissantī”ti. Te evaṁ vadanti—“alaṁ, āvuso, mā agamāsi, mayaṁ te idha cīvaraṁ karissāmā”ti. Tassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery for a different region without taking his share of robe-cloth. When he has gone to that region, the monks there ask him, “Where did you complete the rains residence? Where’s your share of robe-cloth?” He replies, “I completed the rains residence in such-and-such a monastery. That’s where my share of robe-cloth is.” They say, “Go and get that robe-cloth, and we’ll make a robe for you.” He then goes to that monastery and asks the monks, “Where’s my share of the robe-cloth?” They reply, “This is your share.” He takes that robe-cloth and sets out for the other monastery. While he is on his way, monks ask him, “Where are you going?” He says, “I’m going to such-and-such a monastery. The monks there will make me a robe.” They say, “There’s no need to go. We’ll make a robe for you here.” He thinks, “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, muốn đi đến phương khác, ra đi trong khi mong đợi phần y của mình. Các vị tỳ khưu hỏi vị ấy đã đi đến phương khác rằng: 'Thưa hiền giả, ngài đã an cư mùa mưa ở đâu, và phần y của ngài ở trú xứ nào?' Vị ấy nói như vầy: 'Tôi đã an cư mùa mưa ở trú xứ tên là..., và phần y của tôi ở tại đó.' Các vị ấy nói như vầy: 'Thưa hiền giả, hãy đi, hãy mang y ấy về, chúng tôi sẽ làm y cho ngài tại đây.' Vị ấy đi đến trú xứ ấy rồi hỏi các vị tỳ khưu: 'Thưa các hiền giả, phần y của tôi ở đâu?' Các vị ấy nói như vầy: 'Thưa hiền giả, đây là phần y của ngài.' Vị ấy lấy y ấy rồi đi đến trú xứ kia. Các vị tỳ khưu hỏi vị ấy ở giữa đường rằng: 'Thưa hiền giả, ngài sẽ đi đâu?' Vị ấy nói như vầy: 'Tôi sẽ đi đến trú xứ tên là..., ở đó các vị tỳ khưu sẽ làm y cho tôi.' Các vị ấy nói như vầy: 'Thôi đi, hiền giả, xin đừng đi, chúng tôi sẽ làm y cho ngài tại đây.' Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: 'Ta sẽ không cho làm y này, sẽ không trở về.' Đối với vị tỳ khưu ấy, sự giải trừ kathina là có sự quyết định làm giới hạn cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino disaṅgamiko pakkamati …pe… “idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery for a different region … “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, muốn đi đến phương khác, ra đi... cho đến... Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: 'Ta sẽ cho làm y này tại đây, sẽ không trở về.' Vị ấy cho làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Đối với vị tỳ khưu ấy, sự giải trừ kathina là có sự mất mát (y) làm giới hạn cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino disaṅgamiko pakkamati cīvarapaṭivīsaṁ apavilāyamāno. Tamenaṁ disaṅgataṁ bhikkhū pucchanti—“kahaṁ tvaṁ, āvuso, vassaṁvuṭṭho, kattha ca te cīvarapaṭivīso”ti? So evaṁ vadeti—“amukasmiṁ āvāse vassaṁvuṭṭhomhi, tattha ca me cīvarapaṭivīso”ti. Te evaṁ vadanti—“gacchāvuso, taṁ cīvaraṁ āhara, mayaṁ te idha cīvaraṁ karissāmā”ti. So taṁ āvāsaṁ gantvā bhikkhū pucchati—“kahaṁ me, āvuso, cīvarapaṭivīso”ti? Te evaṁ vadanti—“ayaṁ te, āvuso, cīvarapaṭivīso”ti. So taṁ cīvaraṁ ādāya taṁ āvāsaṁ gacchati. Tassa taṁ āvāsaṁ gatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery for a different region without taking his share of robe-cloth. When he has gone to that region, the monks there ask him, “Where did you complete the rains residence? Where’s your share of robe-cloth?” He replies, “I completed the rains residence in such-and-such a monastery. That’s where my share of robe-cloth is.” They say, “Go and get that robe-cloth, and we’ll make a robe for you.” He then goes to that monastery and asks the monks, “Where’s my share of the robe-cloth?” They reply, “This is your share.” He takes that robe-cloth and returns to the other monastery. When he has arrived, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
323. Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, muốn đi đến phương khác, ra đi trong khi mong đợi phần y của mình. Các vị tỳ khưu hỏi vị ấy đã đi đến phương khác rằng: 'Thưa hiền giả, ngài đã an cư mùa mưa ở đâu, và phần y của ngài ở trú xứ nào?' Vị ấy nói như vầy: 'Tôi đã an cư mùa mưa ở trú xứ tên là..., và phần y của tôi ở tại đó.' Các vị ấy nói như vầy: 'Thưa hiền giả, hãy đi, hãy mang y ấy về, chúng tôi sẽ làm y cho ngài tại đây.' Vị ấy đi đến trú xứ (an cư) ấy rồi hỏi các vị tỳ khưu: 'Thưa các hiền giả, phần y của tôi ở đâu?' Các vị ấy nói như vầy: 'Thưa hiền giả, đây là phần y của ngài.' Vị ấy lấy y ấy rồi đi đến trú xứ kia. Sau khi đã đến trú xứ kia, vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: 'Ta sẽ cho làm y này tại đây, sẽ không trở về.' Vị ấy cho làm y ấy. Đối với vị tỳ khưu ấy, sự giải trừ kathina là có sự hoàn thành (y) làm giới hạn cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino disaṅgamiko pakkamati …pe… “nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino disaṅgamiko pakkamati …pe…
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery for a different region … “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
A monk who has participated in the robe-making ceremony leaves the monastery for a different region …
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, muốn đi đến phương khác, ra đi... cho đến... Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: 'Ta sẽ không cho làm y này, sẽ không trở về.' Đối với vị tỳ khưu ấy, sự giải trừ kathina là có sự quyết định làm giới hạn cuối cùng.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, là người muốn đi đến phương khác, ra đi ... (v.v.) ... (với ý nghĩ) rằng: "Ta sẽ làm y này ngay tại đây, sẽ không quay về." Vị ấy làm y ấy. Trong khi y ấy đang được làm thì bị mất. Đối với vị tỳ khưu ấy, (sự việc) là sự giải trừ kathina có sự mất mát làm cuối cùng.
Apavilāyananavakaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of nine on “without taking” is finished.
Chín trường hợp không trì hoãn đã kết thúc.
13. Phāsuvihārapañcaka
Bhikkhu atthatakathino phāsuvihāriko cīvaraṁ ādāya pakkamati—“amukaṁ nāma āvāsaṁ gamissāmi; tattha me phāsu bhavissati vasissāmi, no ce me phāsu bhavissati, amukaṁ nāma āvāsaṁ gamissāmi; tattha me phāsu bhavissati vasissāmi, no ce me phāsu bhavissati, amukaṁ nāma āvāsaṁ gamissāmi; tattha me phāsu bhavissati vasissāmi, no ce me phāsu bhavissati, paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa bhikkhuno niṭṭhānantiko kathinuddhāro.
Bhikkhu atthatakathino phāsuvihāriko cīvaraṁ ādāya pakkamati—“amukaṁ nāma āvāsaṁ gamissāmi; tattha me phāsu bhavissati vasissāmi, no ce me phāsu bhavissati, amukaṁ nāma āvāsaṁ gamissāmi; tattha me phāsu bhavissati vasissāmi, no ce me phāsu bhavissati, amukaṁ nāma āvāsaṁ gamissāmi; tattha me phāsu bhavissati vasissāmi, no ce me phāsu bhavissati, paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“nevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. Tassa bhikkhuno sanniṭṭhānantiko kathinuddhāro.
13. The group of five on “meditation going well”
A monk who has participated in the robe-making ceremony and whose meditation is going well takes his robe-cloth and leaves the monastery, thinking, “I’ll go to such-and-such a monastery. If my meditation goes well there, I’ll stay. If not, I’ll go to such-and-such a monastery. If my meditation goes well there, I’ll stay. If not, I’ll go to such-and-such a monastery. If my meditation goes well there, I’ll stay. If not, I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made. For that monk the robe season ends when the robe is finished.
A monk who has participated in the robe-making ceremony and whose meditation is going well takes his robe-cloth and leaves the monastery, thinking, “I’ll go to such-and-such a monastery. If my meditation goes well there, I’ll stay. If not, I’ll go to such-and-such a monastery. If my meditation goes well there, I’ll stay. If not, I’ll go to such-and-such a monastery. If my meditation goes well there, I’ll stay. If not, I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he thinks, “I won’t make a robe, and I won’t return.” For that monk the robe season ends when he makes that decision.
199. Năm trường hợp về sự an trú thoải mái
Bhikkhu atthatakathino phāsuvihāriko cīvaraṁ ādāya pakkamati—“amukaṁ nāma āvāsaṁ gamissāmi; tattha me phāsu bhavissati vasissāmi, no ce me phāsu bhavissati, amukaṁ nāma āvāsaṁ gamissāmi; tattha me phāsu bhavissati vasissāmi, no ce me phāsu bhavissati, amukaṁ nāma āvāsaṁ gamissāmi; tattha me phāsu bhavissati vasissāmi, no ce me phāsu bhavissati, paccessan”ti. Tassa bahisīmagatassa evaṁ hoti—“idhevimaṁ cīvaraṁ kāressaṁ, na paccessan”ti. So taṁ cīvaraṁ kāreti. Tassa taṁ cīvaraṁ kayiramānaṁ nassati. Tassa bhikkhuno nāsanantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony and whose meditation is going well takes his robe-cloth and leaves the monastery, thinking, “I’ll go to such-and-such a monastery. If my meditation goes well there, I’ll stay. If not, I’ll go to such-and-such a monastery. If my meditation goes well there, I’ll stay. If not, I’ll go to such-and-such a monastery. If my meditation goes well there, I’ll stay. If not, I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he thinks, “I’ll make the robe right here. I won’t return.” He then has the robe made, but it is lost while being made. For that monk the robe season ends when the robe-cloth is lost.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, là người muốn được an trú thoải mái, mang y ra đi (với ý nghĩ) rằng: "Ta sẽ đi đến trú xá tên là...; ở đó nếu ta được thoải mái thì ta sẽ ở lại, còn nếu ta không được thoải mái thì ta sẽ đi đến trú xá tên là...; ở đó nếu ta được thoải mái thì ta sẽ ở lại, còn nếu ta không được thoải mái thì ta sẽ đi đến trú xá tên là...; ở đó nếu ta được thoải mái thì ta sẽ ở lại, còn nếu ta không được thoải mái thì ta sẽ quay về." Vị ấy sau khi đã đi ra ngoài ranh giới thì có ý nghĩ như vầy: "Ta sẽ làm y này ngay tại đây, sẽ không quay về." Vị ấy làm y ấy. Trong khi y ấy đang được làm thì bị mất. Đối với vị tỳ khưu ấy, (sự việc) là sự giải trừ kathina có sự mất mát làm cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino phāsuvihāriko cīvaraṁ ādāya pakkamati—“amukaṁ nāma āvāsaṁ gamissāmi; tattha me phāsu bhavissati vasissāmi, no ce me phāsu bhavissati, amukaṁ nāma āvāsaṁ gamissāmi; tattha me phāsu bhavissati vasissāmi, no ce me phāsu bhavissati, amukaṁ nāma āvāsaṁ gamissāmi; tattha me phāsu bhavissati vasissāmi, no ce me phāsu bhavissati, paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro—“paccessaṁ paccessan”ti bahiddhā kathinuddhāraṁ vītināmeti. Tassa bhikkhuno sīmātikkantiko kathinuddhāro.
A monk who has participated in the robe-making ceremony and whose meditation is going well takes his robe-cloth and leaves the monastery, thinking, “I’ll go to such-and-such a monastery. If my meditation goes well there, I’ll stay. If not, I’ll go to such-and-such a monastery. If my meditation goes well there, I’ll stay. If not, I’ll go to such-and-such a monastery. If my meditation goes well there, I’ll stay. If not, I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has a robe made. When the robe has been made, he still thinks, “I’ll return,” but he remains outside the monastery zone until the end of the robe season. For that monk the robe season ends while he is outside the monastery zone.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, là người muốn được an trú thoải mái, mang y ra đi (với ý nghĩ) rằng: "Ta sẽ đi đến trú xá tên là...; ở đó nếu ta được thoải mái thì ta sẽ ở lại, còn nếu ta không được thoải mái thì ta sẽ đi đến trú xá tên là...; ở đó nếu ta được thoải mái thì ta sẽ ở lại, còn nếu ta không được thoải mái thì ta sẽ đi đến trú xá tên là...; ở đó nếu ta được thoải mái thì ta sẽ ở lại, còn nếu ta không được thoải mái thì ta sẽ quay về." Vị ấy sau khi đã đi ra ngoài ranh giới làm y ấy. Vị ấy, sau khi đã làm xong y, (trong khi nghĩ) rằng "Ta sẽ quay về, ta sẽ quay về," đã để cho việc giải trừ kathina trôi qua ở bên ngoài. Đối với vị tỳ khưu ấy, (sự việc) là sự giải trừ kathina có sự vượt qua ranh giới làm cuối cùng.
Bhikkhu atthatakathino phāsuvihāriko cīvaraṁ ādāya pakkamati—“amukaṁ nāma āvāsaṁ gamissāmi; tattha me phāsu bhavissati vasissāmi, no ce me phāsu bhavissati, amukaṁ nāma āvāsaṁ gamissāmi; tattha me phāsu bhavissati vasissāmi, no ce me phāsu bhavissati, amukaṁ nāma āvāsaṁ gamissāmi; tattha me phāsu bhavissati vasissāmi, no ce me phāsu bhavissati, paccessan”ti. So bahisīmagato taṁ cīvaraṁ kāreti. So katacīvaro “paccessaṁ paccessan”ti sambhuṇāti kathinuddhāraṁ. Tassa bhikkhuno saha bhikkhūhi kathinuddhāro.
Phāsuvihārapañcakaṁ niṭṭhitaṁ.
A monk who has participated in the robe-making ceremony and whose meditation is going well takes his robe-cloth and leaves the monastery, thinking, “I’ll go to such-and-such a monastery. If my meditation goes well there, I’ll stay. If not, I’ll go to such-and-such a monastery. If my meditation goes well there, I’ll stay. If not, I’ll go to such-and-such a monastery. If my meditation goes well there, I’ll stay. If not, I’ll return.” When he is outside the monastery zone, he has a robe made. When the robe has been made, he still thinks, “I’ll return,” and they reach the end of the robe season together. For that monk the robe season ends together with the other monks.
The group of five on “meditation going well” is finished.
Vị tỳ khưu đã thọ y kathina, là người muốn được an trú thoải mái, mang y ra đi (với ý nghĩ) rằng: "Ta sẽ đi đến trú xá tên là...; ở đó nếu ta được thoải mái thì ta sẽ ở lại, còn nếu ta không được thoải mái thì ta sẽ đi đến trú xá tên là...; ở đó nếu ta được thoải mái thì ta sẽ ở lại, còn nếu ta không được thoải mái thì ta sẽ đi đến trú xá tên là...; ở đó nếu ta được thoải mái thì ta sẽ ở lại, còn nếu ta không được thoải mái thì ta sẽ quay về." Vị ấy sau khi đã đi ra ngoài ranh giới làm y ấy. Vị ấy, sau khi đã làm xong y, (trong khi nghĩ) rằng "Ta sẽ quay về, ta sẽ quay về," đã đến kịp lúc giải trừ kathina. Đối với vị tỳ khưu ấy, (sự việc) là sự giải trừ kathina cùng với các vị tỳ khưu.
14. Palibodhāpalibodhakathā
14. Discussion on obstacles and removal of obstacles
200. Lời nói về sự ràng buộc và không ràng buộc
Dveme, bhikkhave, kathinassa palibodhā, dve apalibodhā. Katame ca, bhikkhave, dve kathinassa palibodhā? Āvāsapalibodho ca cīvarapalibodho ca. Kathañca, bhikkhave, āvāsapalibodho hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu vasati vā tasmiṁ āvāse, sāpekkho vā pakkamati “paccessan”ti. Evaṁ kho, bhikkhave, āvāsapalibodho hoti. Kathañca, bhikkhave, cīvarapalibodho hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno cīvaraṁ akataṁ vā hoti vippakataṁ vā, cīvarāsā vā anupacchinnā. Evaṁ kho, bhikkhave, cīvarapalibodho hoti. Ime kho, bhikkhave, dve kathinassa palibodhā.
“Monks, there are two obstacles for the ending of the robe season: the monastery obstacle and the robe obstacle. What’s the monastery obstacle? A monk stays in that monastery or he leaves intending to return. What’s the robe obstacle? A monk hasn’t made a robe, or he hasn’t finished it, or he’s expecting more robe-cloth.
325. Này các tỳ khưu, có hai sự ràng buộc này của kathina, và hai sự không ràng buộc. Này các tỳ khưu, thế nào là hai sự ràng buộc của kathina? Sự ràng buộc về trú xá và sự ràng buộc về y. Này các tỳ khưu, thế nào là sự ràng buộc về trú xá? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu hoặc là ở tại trú xá ấy, hoặc là ra đi với sự luyến tiếc (nghĩ) rằng: "Ta sẽ quay về." Này các tỳ khưu, như vậy là có sự ràng buộc về trú xá. Này các tỳ khưu, thế nào là sự ràng buộc về y? Này các tỳ khưu, ở đây, y của vị tỳ khưu hoặc là chưa được làm, hoặc là làm chưa xong, hoặc là hy vọng về y chưa được dứt bỏ. Này các tỳ khưu, như vậy là có sự ràng buộc về y. Này các tỳ khưu, đây là hai sự ràng buộc của kathina.
Katame ca, bhikkhave, dve kathinassa apalibodhā? Āvāsaapalibodho ca cīvaraapalibodho ca. Kathañca, bhikkhave, āvāsaapalibodho hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu pakkamati tamhā āvāsā cattena vantena muttena anapekkho “na paccessan”ti. Evaṁ kho, bhikkhave, āvāsaapalibodho hoti. Kathañca, bhikkhave, cīvaraapalibodho hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno cīvaraṁ kataṁ vā hoti, naṭṭhaṁ vā vinaṭṭhaṁ vā daḍḍhaṁ vā, cīvarāsā vā upacchinnā. Evaṁ kho, bhikkhave, cīvaraapalibodho hoti. Ime kho, bhikkhave, dve kathinassa apalibodhā”ti.
There are two removals of obstacles for the ending of the robe season: the removal of the monastery obstacle and the removal of the robe obstacle. What’s the removal of the monastery obstacle? A monk leaves that monastery without intending to return. What’s the removal of the robe obstacle? A monk has made a robe; or the robe-cloth is lost, destroyed, or burned; or his expectation of more robe-cloth is disappointed.”
Này các tỳ khưu, thế nào là hai sự không ràng buộc của kathina? Sự không ràng buộc về trú xá và sự không ràng buộc về y. Này các tỳ khưu, thế nào là sự không ràng buộc về trú xá? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu ra đi từ trú xá ấy, sau khi đã từ bỏ, đã khước từ, đã giải thoát, không còn luyến tiếc, (nghĩ) rằng: "Ta sẽ không quay về." Này các tỳ khưu, như vậy là có sự không ràng buộc về trú xá. Này các tỳ khưu, thế nào là sự không ràng buộc về y? Này các tỳ khưu, ở đây, y của vị tỳ khưu hoặc là đã được làm xong, hoặc bị mất, hoặc bị hư hoại, hoặc bị cháy, hoặc là hy vọng về y đã được dứt bỏ. Này các tỳ khưu, như vậy là có sự không ràng buộc về y. Này các tỳ khưu, đây là hai sự không ràng buộc của kathina.
Kathinakkhandhako niṭṭhito sattamo.
Tassuddānaṁ
The seventh chapter on the robe-making ceremony is finished.
This is the summary:
Chương Kaṭhina, chương thứ bảy, đã kết thúc.
Tiṁsa pāveyyakā bhikkhū, sāketukkaṇṭhitā vasuṁ; Vassaṁvuṭṭhokapuṇṇehi, agamuṁ jinadassanaṁ.
“Thirty monks from Pāva, Stayed discontented in Sāketa; Completed the rains, with soaked, Went to see the Victor.
Ba mươi vị tỳ khưu người Pāvā đã an cư trong sự không hoan hỷ ở Sāketa; sau khi mãn hạ, với y phục thấm đẫm nước mưa, các vị ấy đã đi đến để yết kiến bậc Chiến Thắng.
Idaṁ vatthu kathinassa, kappissanti ca pañcakā; Anāmantā asamācārā, tatheva gaṇabhojanaṁ.
This is the basis for the robe-making ceremony, And five things are allowable; Without informing, going without taking, Just so eating in a group.
Đây là câu chuyện về kaṭhina. Năm điều sẽ được cho phép: đi vào làng mà không báo trước, đi không mang đủ y, và cũng thế là thọ thực theo nhóm.
Yāvadatthañca uppādo, atthatānaṁ bhavissati; Ñatti evatthatañceva, evañceva anatthataṁ.
And as much as you need, the given, Is for those who have participated in the robe-making ceremony; Motion, just thus performed, Just thus not performed.
Và (được phép giữ) y cho đến khi cần dùng, và y phát sanh (trong trú xứ) sẽ thuộc về những vị đã thọ kaṭhina. (Việc dâng y) bằng tác bạch; như thế nào là đã thọ và như thế nào là chưa thọ.
Ullikhi dhovanā ceva, vicāraṇañca chedanaṁ; Bandhano vaṭṭi kaṇḍusa, daḷhīkammānuvātikā.
Marking, and just washing, And planning, cutting; Tacking, hem, strip of cloth, Strengthening, border lengthwise.
Việc vạch dấu, và việc giặt, việc sắp xếp, và việc cắt, việc may, việc làm khuy, việc làm nút, việc gia cố, việc làm viền dọc.
Paribhaṇḍaṁ ovaddheyyaṁ, maddanā nimittaṁ kathā; Kukku sannidhi nissaggi, na kappaññatra te tayo.
Border crosswise, patch, Dyeing, indication, hint; Borrowed, stored, to be relinquished, Not marked, apart from those three.
Việc làm viền ngang, việc căng y, việc nhuộm; y có được do gợi ý, do nói bóng gió, y mượn, y cất giữ, y đã qua đêm, y không có dấu chấm; ngoại trừ ba loại y ấy.
Aññatra pañcātireke, sañchinnena samaṇḍalī; Nāññatra puggalā sammā, nissīmaṭṭhonumodati.
Apart from five or more, With cut sections with panels; Not apart from an individual, correctly, He appreciates outside the monastery zone.
Ngoại trừ y có từ năm mảnh trở lên, được cắt có hình tròn lớn và nhỏ; không phải ngoại trừ bởi một cá nhân (đủ tư cách); (nếu) người đứng ngoài ranh giới tùy hỷ một cách hợp lệ.
Kathinānatthataṁ hoti, evaṁ buddhena desitaṁ; Ahatākappapiloti, paṁsu pāpaṇikāya ca.
The robe-making ceremony is not performed, Thus it was taught by the Buddha; Brand new, nearly new, old, Rag, and from a shop.
Kaṭhina được xem là không thành tựu, điều này đã được đức Phật thuyết giảng. (Y làm bằng) vải mới, vải tương tự vải mới, vải cũ, y phấn tảo, và y mua từ cửa hàng.
Animittāparikathā, akukku ca asannidhi; Anissaggi kappakate, tathā ticīvarena ca.
Without indication, without hint, And not borrowed, not stored; Not to be relinquished, marked, And so with the three robes.
Y không do gợi ý, không do nói bóng gió, không phải y mượn, và không phải y cất giữ, không phải y đã qua đêm, y đã được chấm dấu; cũng vậy, với tam y.
Pañcake vātireke vā, chinne samaṇḍalīkate; Puggalassatthārā sammā, sīmaṭṭho anumodati.
Five or more, Cut sections made with panels; Performed by an individual, correctly, He appreciates inside the monastery zone.
Hoặc với y năm mảnh hoặc nhiều hơn, được cắt có hình tròn lớn và nhỏ; bởi sự thọ y của một cá nhân (đủ tư cách) một cách hợp lệ, và người ở trong ranh giới tùy hỷ.
Evaṁ kathinattharaṇaṁ, ubbhārassaṭṭhamātikā; Pakkamananti niṭṭhānaṁ, sanniṭṭhānañca nāsanaṁ.
In this way is the robe-making ceremony performed, Eight key phrases for ending; Departing, finished, And decision, lost.
Như vậy là việc thọ kaṭhina. Có tám đề mục về việc xả kaṭhina: kết thúc bằng sự ra đi, bằng sự hoàn tất, bằng sự quyết định, và bằng sự mất mát.
Savanaṁ āsāvacchedi, sīmā sahubbhāraṭṭhamī; Katacīvaramādāya, “na paccessan”ti gacchati.
Tassa taṁ kathinuddhāro,
Hearing, disappointed expectation, Monastery zone, ending together as the eighth; Takes a finished robe, He goes, thinking, “I won’t return.”
So, for him the robe season ends,
Kết thúc bằng việc nghe, bằng sự tuyệt vọng, bằng (việc vượt) ranh giới, và thứ tám là xả cùng lúc. Vị tỳ khưu mang y đã may xong ra đi với ý nghĩ: ‘Tôi sẽ không trở lại.’
Đối với vị ấy, việc xả kaṭhina đó được gọi là kết thúc bằng sự ra đi. Vị ấy mang y đi, và ở ngoài ranh giới, vị ấy suy nghĩ điều này.
“Kāressaṁ na paccessan”ti, niṭṭhāne kathinuddhāro; Ādāya nissīmaṁ neva, “na paccessan”ti mānaso.
“I’ll make it. I won’t return.” For him the robe season ends when it’s finished; Takes outside the monastery zone, thinking, “Just not, And I won’t return.”
‘Tôi sẽ may y và sẽ không trở lại,’ khi y được hoàn tất thì kaṭhina được xả. Mang y ra ngoài ranh giới với tâm niệm: ‘Tôi sẽ không (may y) và cũng sẽ không trở lại.’
Tassa taṁ kathinuddhāro, sanniṭṭhānantiko bhave; Ādāya cīvaraṁ yāti, nissīme idaṁ cintayi.
So, for him the robe season ends, When he decides; He goes taking robe-cloth, Outside the monastery zone he thinks:
Đối với vị ấy, việc xả kaṭhina đó được gọi là kết thúc bằng sự quyết định. Vị ấy mang y đi, và ở ngoài ranh giới, vị ấy suy nghĩ điều này.
“Kāressaṁ na paccessan”ti, kayiraṁ tassa nassati; Tassa taṁ kathinuddhāro, bhavati nāsanantiko.
“I’ll make it. I won’t return.” While making it, it is lost; So, for him the robe season ends, When it is lost.
‘Tôi sẽ may y và sẽ không trở lại,’ trong khi đang may thì y của vị ấy bị mất. Đối với vị ấy, việc xả kaṭhina đó được gọi là kết thúc bằng sự mất mát.
Ādāya yāti “paccessaṁ”, bahi kāreti cīvaraṁ; Katacīvaro suṇāti, ubbhataṁ kathinaṁ tahiṁ.
Taking it, he goes, thinking, “I’ll return”, He has the robe made outside; When his robe is finished, he hears, There the robe season has ended.
Vị ấy mang y đi với ý nghĩ ‘Tôi sẽ trở lại,’ và may y ở bên ngoài. Sau khi may y xong, vị ấy nghe rằng kaṭhina đã được xả ở nơi ấy.
Tassa taṁ kathinuddhāro, bhavati savanantiko; Ādāya yāti “paccessaṁ”, bahi kāreti cīvaraṁ.
So, for him the robe season ends, When he hears about it; Taking it, he goes, thinking, “I’ll return”, He has the robe made outside.
Đối với vị ấy, việc xả kaṭhina đó được gọi là kết thúc bằng sự nghe. Vị ấy mang y đi với ý nghĩ ‘Tôi sẽ trở lại,’ và may y ở bên ngoài.
Katacīvaro bahiddhā, nāmeti kathinuddhāraṁ; Tassa taṁ kathinuddhāro, sīmātikkantiko bhave.
When the robe is finished, outside, He remains until the robe season ends; So, for him the robe season ends, When he is outside the monastery zone.
Sau khi may y xong, vị ấy ở bên ngoài để cho thời gian xả kaṭhina trôi qua. Đối với vị ấy, việc xả kaṭhina đó được gọi là kết thúc bằng sự quá hạn.
Ādāya yāti “paccessaṁ”, bahi kāreti cīvaraṁ; Katacīvaro paccessaṁ, sambhoti kathinuddhāraṁ.
Taking it, he goes, thinking, “I’ll return”, He has the robe made outside; When the robe is finished, thinking, “I’ll return”, The robe season ends together with.
Vị ấy mang y đi với ý nghĩ ‘Tôi sẽ trở lại,’ và may y ở bên ngoài. Sau khi may y xong, với ý nghĩ sẽ trở lại, vị ấy có mặt kịp lúc xả kaṭhina.
Tassa taṁ kathinuddhāro, saha bhikkhūhi jāyati; Ādāya ca samādāya, sattasattavidhā gati.
So, for him the robe season ends, Together with the monks; And takes, with, Seven with sevenfold outcome.
Đối với vị ấy, việc xả kaṭhina đó xảy ra cùng với các vị tỳ khưu. Trường hợp mang đi (ādāya) và mang đi với sự chấp thuận (samādāya), mỗi loại có bảy cách.
Pakkamanantikā natthi, chakke vippakate gati; Ādāya nissīmagataṁ, kāressaṁ iti jāyati.
There is no ending by departing, The outcome in the unfinished set of six; Takes, outside the monastery zone, “I’ll make”, he produces.
Không có trường hợp kết thúc bằng sự ra đi trong sáu trường hợp y chưa hoàn tất. (Ba trường hợp sau) phát sinh khi mang y ra ngoài ranh giới với ý định ‘tôi sẽ may y’.
Niṭṭhānaṁ sanniṭṭhānañca, nāsanañca ime tayo; Ādāya “na paccessan”ti, bahisīme karomiti.
Finished, and decision, Lost, these three; Taking it, he goes, thinking, “I won’t return”, “I’ll make outside the monastery zone”.
Kết thúc bằng sự hoàn tất, bằng sự quyết định, và bằng sự mất mát, ba trường hợp này (xảy ra khi) mang y đi với ý nghĩ ‘tôi sẽ không trở lại’ và ‘tôi sẽ may y ở ngoài ranh giới.’
Niṭṭhānaṁ sanniṭṭhānampi, nāsanampi idaṁ tayo; Anadhiṭṭhitena nevassa, heṭṭhā tīṇi nayāvidhi.
Finished, also decision, Also lost, these three; Not decided, he does not think, Below is the threefold method.
Cũng có ba trường hợp này: hoàn tất, quyết định, và mất mát. Đối với vị tỳ khưu chưa quyết định, có ba phương pháp được trình bày dưới đây.
Ādāya yāti paccessaṁ, bahisīme karomiti; “Na paccessan”ti kāreti, niṭṭhāne kathinuddhāro.
Taking it, he goes, thinking, “I’ll return”, When outside the monastery zone, thinking, “I’ll make”; “I’ll not return”, he has it made, The robe season ends when the robe is finished.
Vị ấy mang y đi với ý nghĩ ‘tôi sẽ trở lại,’ và ‘tôi sẽ may y ở ngoài ranh giới.’ Vị ấy cho may y với ý nghĩ ‘tôi sẽ không trở lại.’ Khi y được hoàn tất, kaṭhina được xả.
Sanniṭṭhānaṁ nāsanañca, savanasīmātikkamā; Saha bhikkhūhi jāyetha, evaṁ pannarasaṁ gati.
Decision, and lost, Hearing, outside the monastery zone; Together with the monks, Thus is the outcome of the fifteen.
Việc xả kaṭhina bằng sự quyết định, bằng sự mất mát, bằng việc nghe, bằng sự quá hạn, và cùng với các vị tỳ khưu cũng có thể xảy ra. Như vậy có mười lăm trường hợp.
Samādāya vippakatā, samādāya punā tathā; Ime te caturo vārā, sabbe pannarasavidhi.
With, unfinished, Thus again with; These four sections, Are all fifteenfold.
Trường hợp mang đi với sự chấp thuận (samādāya), trường hợp y chưa hoàn tất (vippakatā), và trường hợp mang đi với sự chấp thuận một lần nữa cũng tương tự. Bốn phần này, tất cả đều có mười lăm phương pháp.
Anāsāya ca āsāya, karaṇīyo ca te tayo; Nayato taṁ vijāneyya, tayo dvādasa dvādasa.
And not as expected, as expected, And business those three; By this method one should here understand, Three, twelve, twelve.
Và với sự không hy vọng, với sự hy vọng, và với việc cần làm, đó là ba trường hợp. Nên biết điều này một cách có phương pháp. Ba trường hợp này, mỗi loại có mười hai.
Apavilānā navettha, phāsu pañcavidhā tahiṁ; Palibodhāpalibodhā, uddānaṁ nayato katanti.
Here the nine on without taking, Fivefold on good meditation there; Obstacles, removal of obstacles, The summary is made from this method.”
Ở đây có chín trường hợp không trì hoãn, ở đó có năm loại trú an lạc, và hai trường hợp có và không có chướng ngại. Phần tóm lược đã được thực hiện một cách có phương pháp.
Imamhi khandhake vatthū doḷasakapeyyālamukhāni ekasataṁ aṭṭhārasa.
In this chapter there are one hundred and eighteen topics by means of groups of twelve with repetition.
Ở trong chương này, các câu chuyện có phần lược thuật bắt đầu bằng ba trường hợp doḷasaka là một trăm mười tám.
Kathinakkhandhako niṭṭhito.
The chapter on the robe-making ceremony is finished.
Chương về Lễ Dâng Y Kaṭhina đã chấm dứt.