- Theravāda Vinayapiṭaka
- Mahāvagga
Bản dịch
Kd 6 — Chương dược phẩm
6. Bhesajjakkhandhaka
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị nhiễm cơn bệnh thuộc về mùa thu khiến cháo đã húp vào bị ói ra, thức ăn đã ăn vào bị mửa ra. Vì thế, các vị trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân, sau khi nhìn thấy đã bảo đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, điều gì khiến các vị tỳ khưu trong lúc này lại ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân vậy?”
Inda-bh 2~2—“Bạch ngài, trong lúc này các vị tỳ khưu bị nhiễm cơn bệnh thuộc về mùa thu khiến cháo đã húp vào bị ói ra, thức ăn đã ăn vào bị mửa ra. Vì thế, các vị trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân.”
Inda-bh 3~3Sau đó, đức Thế Tôn trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Trong lúc này các vị tỳ khưu bị nhiễm cơn bệnh thuộc về mùa thu khiến cháo đã húp vào bị ói ra, thức ăn đã ăn vào bị mửa ra. Vì thế, các vị trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Vậy ta nên cho phép các vị tỳ khưu loại dược phẩm gì mà chính loại dược phẩm ấy tuy được quy định là dược phẩm ở thế gian ở thế gian, lại có thể dùng theo mục đích của thức ăn, nhưng không được xem là loại thức ăn thông thường?”
Inda-bh 4~4Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Năm loại dược phẩm này như là bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía là các loại dược phẩm tuy được quy định là dược phẩm ở thế gian và được dùng theo mục đích của thức ăn, nhưng không được xem là loại thức ăn thông thường; có lẽ ta nên cho phép các tỳ khưu được thọ lãnh năm loại dược phẩm này đúng thời và thọ dụng đúng thời?”
Inda-bh 5~5Sau đó vào lúc chiều tối, đức Thế Tôn đã xuất khỏi thiền tịnh rồi nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ở đây trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng ta có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: ‘Trong lúc này các vị tỳ khưu bị nhiễm cơn bệnh thuộc về mùa thu khiến cháo đã húp vào bị ói ra, thức ăn đã ăn vào bị mửa ra. Vì thế, các vị trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Vậy ta nên cho phép loại dược phẩm gì cho các tỳ khưu mà chính loại dược phẩm ấy tuy được quy định là dược phẩm ở thế gian, lại có thể dùng theo mục đích của thức ăn, nhưng không được xem là loại thức ăn thông thường?’
Inda-bh 6~6Này các tỳ khưu, ta đây đã khởi ý điều này: ‘Năm loại dược phẩm này như là bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía là các loại dược phẩm tuy được quy định là dược phẩm ở thế gian và được dùng theo mục đích của thức ăn, nhưng không được xem là loại thức ăn thông thường; có lẽ ta nên cho phép các tỳ khưu được thọ lãnh năm loại dược phẩm này đúng thời và thọ dụng đúng thời?’ Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ lãnh năm loại dược phẩm ấy đúng thời và thọ dụng đúng thời.”5
Inda-bh 7~7Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhận lãnh năm loại dược phẩm ấy đúng thời và thọ dụng đúng thời. Các vị đã không ăn các loại thức ăn thô thông thường và (ăn) các loại (thức ăn) có dầu mỡ còn ít hơn nữa. Các vị ấy, không những đã bị nhiễm cơn bệnh thuộc về mùa thu ấy, lại thêm vào việc không chịu thu nạp thức ăn này nữa, vì hai điều ấy các vị càng trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân thêm hơn nữa.
Inda-bh 8~8Đức Thế Tôn đã nhận thấy các vị tỳ khưu ấy càng trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân thêm hơn nữa, sau khi nhìn thấy đã bảo đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, trong lúc này điều gì khiến các vị tỳ khưu càng trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân thêm hơn nữa?”
Inda-bh 9~9—“Bạch ngài, lúc này các vị tỳ khưu nhận lãnh năm loại dược phẩm ấy đúng thời và thọ dụng đúng thời. Các vị đã không ăn các loại thức ăn thô thông thường và (ăn) các loại (thức ăn) có dầu mỡ còn ít hơn nữa. Các vị ấy, không những đã bị nhiễm cơn bệnh thuộc về mùa thu ấy, lại thêm vào việc không chịu thu nạp thức ăn này nữa, vì hai điều ấy các vị càng trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân thêm hơn nữa.”
Inda-bh 10~10Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ lãnh năm loại dược phẩm này và thọ dụng đúng thời luôn cả phi thời.”
Inda-bh 11~11Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các dược phẩm là các loại mỡ (thú vật). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng chung với dầu ăn các dược phẩm là các loại mỡ (thú vật) như mỡ gấu, mỡ cá, mỡ cá sấu, mỡ heo rừng, mỡ lừa đã được thọ lãnh đúng thời, đã được nấu đúng thời, đã được trộn chung đúng thời. Này các tỳ khưu, nếu vật ấy đã được thọ lãnh phi thời, đã được nấu phi thời, đã được trộn chung phi thời, vị thọ dụng (vật ấy) phạm ba tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, nếu vật ấy đã được thọ lãnh đúng thời, đã được nấu phi thời, và đã được trộn chung phi thời, vị thọ dụng (vật ấy) phạm hai tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, nếu vật ấy đã được thọ lãnh đúng thời, đã được nấu đúng thời, và đã được trộn chung phi thời, vị thọ dụng (vật ấy) phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, nếu vật ấy đã được thọ lãnh đúng thời, đã được nấu đúng thời, và đã được trộn chung đúng thời, vị thọ dụng (vật ấy) vô tội.”
Inda-bh 12~12Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các dược phẩm là các rễ cây. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các dược phẩm là các rễ cây như củ nghệ, củ gừng, rễ cây vacaṁ, rễ cây vaca trắng, rễ cây ngải cứu, rễ cây kaṭukarohiṇī, rễ loại cây có mùi thơm usīra, rễ loại cỏ có mùi thơm bhaddamuttaka, hoặc có các dược phẩm là các rễ cây khác nữa (tuy) thuộc về vật thực cứng nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực cứng và (tuy) thuộc về vật thực mềm nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực mềm, sau khi thọ lãnh các loại ấy, được cất giữ đến trọn đời và được thọ dụng khi có duyên cớ. Vị thọ dụng khi không có duyên cớ phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 13~13Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các dược phẩm dạng bột là các loại rễ cây. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cối đá xay và cối đá xay loại nhỏ.”
Inda-bh 14~14Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các dược phẩm là các loại nước sắc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các dược phẩm là các loại nước sắc như nước sắc của cây nimba, nước sắc của cây kuṭaja, nước sắc của loại dưa dài paṭola, nước sắc của loại dây leo phaggava, nước sắc của cây nattamāla, hoặc có các dược phẩm là các loại nước sắc khác nữa (tuy) thuộc về vật thực cứng nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực cứng và (tuy) thuộc về vật thực mềm nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực mềm, sau khi thọ lãnh các loại ấy, được cất giữ đến trọn đời và được thọ dụng khi có duyên cớ. Vị thọ dụng khi không có duyên cớ phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 15~15Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các dược phẩm là các loại lá cây. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các dược phẩm là các loại lá cây như lá cây nimba, lá cây kuṭaja, lá cây của loại dưa dài paṭola, lá cây húng quế, lá cây bông vải, hoặc có các dược phẩm là các loại lá cây khác nữa (tuy) thuộc về vật thực cứng nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực cứng và (tuy) thuộc về vật thực mềm nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực mềm, sau khi thọ lãnh các loại ấy, được cất giữ đến trọn đời và được thọ dụng khi có duyên cớ. Vị thọ dụng khi không có duyên cớ phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 16~16Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các dược phẩm là các loại trái cây. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các dược phẩm là các loại trái cây như trái cây vilaṅga, hạt tiêu dài, hạt tiêu đen, trái cây harīṭaka, trái cây vibhīṭaka, trái cây āmalaka, trái cây goṭṭha hoặc có các dược phẩm là các loại trái cây khác nữa (tuy) thuộc về vật thực cứng nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực cứng và (tuy) thuộc về vật thực mềm nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực mềm, sau khi thọ lãnh các loại ấy, được cất giữ đến trọn đời và được thọ dụng khi có duyên cớ. Vị thọ dụng khi không có duyên cớ phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 17~17Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các loại nhựa cây làm dược phẩm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các loại nhựa cây làm dược phẩm như hiṁgu, nhựa cây hiṁgu, mủ cây hiṁgu, các loại sản phẩm từ mủ cây là taka, takapatti, takapaṇṇi, nhựa thông, hoặc có các dược phẩm là các loại nhựa cây khác nữa (tuy) thuộc về vật thực cứng nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực cứng và (tuy) thuộc về vật thực mềm nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực mềm, sau khi thọ lãnh các loại ấy, được cất giữ đến trọn đời và được thọ dụng khi có duyên cớ. Vị thọ dụng khi không có duyên cớ phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 18~18Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các dược phẩm là các loại muối. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các dược phẩm là các loại muối như muối biển, muối đen, muối ở đá, muối nấu ăn, muối mỏ, hoặc có các dược phẩm là các loại muối khác nữa (tuy) thuộc về vật thực cứng nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực cứng và (tuy) thuộc về vật thực mềm nhưng không được dùng theo mục đích của vật thực mềm, sau khi thọ lãnh các loại ấy, được cất giữ đến trọn đời và được thọ dụng khi có duyên cớ. Vị thọ dụng khi không có duyên cớ phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 19~19Vào lúc bấy giờ, thầy tế độ của đại đức Ānanda là đại đức Belaṭṭhisīsa có bệnh ghẻ sần sùi. Các y của vị ấy bị dính vào thân vì chất máu mủ. Các vị tỳ khưu liên tục tẩm ướt các y với nước rồi kéo ra.
Inda-bh 20~20Đức Thế Tôn trong khi đi dạo quanh các chỗ trú ngụ đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy liên tục tẩm ướt các y với nước rồi kéo ra, sau khi nhìn thấy đã đi đến gần các vị tỳ khưu ấy, sau khi đến gần đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này:—“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này có bệnh gì vậy?”—“Bạch ngài, đại đức này có bệnh ghẻ sần sùi. Các y bị dính vào thân vì chất máu mủ, chúng con liên tục tẩm ướt các y với nước rồi kéo ra.”
Inda-bh 21~21Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các dược phẩm là các loại bột tắm đến vị có ghẻ ngứa, hoặc có nhọt, hoặc có vết thương chảy mủ, hoặc có ghẻ sần sùi, hoặc cơ thể có mùi hôi; và phân bò, đất sét, chất màu đã được nấu đến vị không bị bệnh. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cối giã và chày.”
Inda-bh 22~22Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các dược phẩm là các loại bột tắm đã được rây mịn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cái rây bột tắm.” Có nhu cầu về hạt rất mịn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cái rây bằng vải.”
Inda-bh 23~23Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh liên quan đến phi nhân. Các vị thầy dạy học và thầy tế độ, trong khi chăm sóc vị ấy, đã không thể làm khỏi bệnh. Vị ấy sau khi đi đến lò mổ heo đã ăn thịt sống và đã uống máu tươi. Bệnh liên quan đến phi nhân ấy của vị ấy đã giảm bớt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) thịt sống (và) máu tươi ở bệnh liên quan đến phi nhân.”
Inda-bh 24~24Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh ở mắt. Các tỳ khưu đã khiêng vị ấy và đưa ra bên ngoài cho việc đại tiện cũng như tiểu tiện.
Inda-bh 25~25Đức Thế Tôn trong khi đi dạo quanh các chỗ trú ngụ đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy đang khiêng vị tỳ khưu ấy đưa ra bên ngoài cho việc đại tiện cũng như tiểu tiện, sau khi nhìn thấy đã đi đến gần các vị tỳ khưu ấy, sau khi đến gần đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này:—“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này có bệnh gì vậy?”—“Bạch ngài, đại đức này có bệnh ở mắt. Chúng con khiêng vị này và đưa ra bên ngoài cho việc đại tiện cũng như tiểu tiện.”
Inda-bh 26~26Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) thuốc bôi: thuốc bôi màu đen, thuốc bôi loại tinh chất, thuốc bôi vào tai, bột phấn đỏ, muội đèn.” Có nhu cầu về bột mịn để làm thuốc bôi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) gỗ đàn hương, gỗ có mùi hương tagara, gỗ trầm, gỗ cây tālīsa, loại cỏ có mùi thơm bhaddamuttaka.”
Inda-bh 27~27Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu để các loại thuốc bôi được nghiền nát ở trong các tô nhỏ và trong các chén. Chúng đã bị rác cỏ, bụi bặm rơi vào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) hộp chứa thuốc bôi.”
Inda-bh 28~28Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng các hộp chứa thuốc bôi đủ loại làm bằng vàng, làm bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng các hộp chứa thuốc bôi đủ loại; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép (hộp chứa thuốc bôi) làm bằng xương, làm bằng ngà răng, làm bằng sừng, làm bằng ống sậy, làm bằng tre, làm bằng gỗ, làm bằng nhựa cây, làm bằng trái cây, làm bằng đồng, làm bằng vỏ sò.”
Inda-bh 29~29Vào lúc bấy giờ, các hộp chứa thuốc bôi không được đậy lại. Chúng đã bị rác cỏ, bụi bặm rơi vào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nắp đậy.” Nắp đậy bị rơi xuống.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc (nắp đậy) với sợi chỉ rồi buộc vào hộp chứa thuốc bôi.” Hộp chứa thuốc bôi bị bung ra.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép khâu lại bằng sợi chỉ.”
Inda-bh 30~30Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu dùng ngón tay bôi thuốc. Các con mắt bị đau. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) que bôi thuốc.”
Inda-bh 31~31Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng các que bôi thuốc đủ loại làm bằng vàng, làm bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng các que bôi thuốc đủ loại; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép làm bằng xương, làm bằng ngà răng, làm bằng sừng, … (như trên) … làm bằng vỏ sò.”
Inda-bh 32~32Vào lúc bấy giờ, que bôi thuốc bị rơi trên mặt đất và trở nên sần sùi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) hộp đựng que bôi thuốc.”
Inda-bh 33~33Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu mang theo hộp chứa thuốc bôi và que bôi thuốc bằng tay. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) túi đựng các hộp chứa thuốc bôi.” Dây mang vai không có. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) dây mang vai là chỉ thắt lại.”
Inda-bh 34~34Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindivaccha bị nóng ở đầu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (bôi) dầu ở trên đầu.” (Vị ấy) không thể chịu đựng nổi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) việc chữa trị ở mũi.” Mũi bị chảy nước. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cái muỗng đặt ở mũi.”
Inda-bh 35~35Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng các muỗng đặt ở mũi đủ loại làm bằng vàng, làm bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng các muỗng đặt ở mũi đủ loại; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép làm bằng xương, … (như trên) … làm bằng vỏ sò.” (Hai lỗ) mũi đã không được nhỏ đồng đều. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cái muỗng đặt ở mũi loại kép.” (Vị ấy) không thể chịu đựng nổi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép hít khói.” Các vị sau khi đốt cháy sợi bấc rồi hít khói vào. Cổ họng bị (lửa) đốt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ống dẫn khói.”
Inda-bh 36~36Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng các ống dẫn khói đủ loại làm bằng vàng, làm bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng các ống dẫn khói đủ loại; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép làm bằng xương, … (như trên) … làm bằng vỏ sò.”
Inda-bh 37~37Vào lúc bấy giờ, các ống dẫn khói không có nắp đậy, các sinh vật nhỏ đi vào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nắp đậy.”
Inda-bh 38~38Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu mang theo các ống dẫn khói bằng tay. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) túi đựng các ống dẫn khói.” Chúng bị cọ xát với nhau. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) túi đôi.” Dây mang vai không có. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) dây mang vai là chỉ thắt lại.”
Inda-bh 39~39Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindivaccha bị bệnh gió. Các thầy thuốc đã nói như vầy:—“Dầu cần được nấu.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép việc nấu dầu.” Rượu mạnh cần được thêm vào trong dầu nấu ấy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thêm rượu mạnh vào trong dầu nấu.”
Inda-bh 40~40Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư nấu các loại dầu đã được thêm vào quá nhiều rượu mạnh. Các vị uống các thứ ấy và bị say. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên uống dầu đã được thêm vào quá nhiều rượu mạnh; vị nào uống thì nên được hành xử theo Pháp. Này các tỳ khưu, trong loại dầu nấu nào (đã được thêm vào rượu mạnh) mà màu sắc, mùi, và vị của rượu mạnh không nhận ra được, ta cho phép uống dầu được thêm vào rượu mạnh loại như thế.”
Inda-bh 41~41Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu có nhiều dầu nấu đã được thêm vào quá nhiều rượu mạnh. Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Nên thực hành như thế nào với các thứ dầu đã được thêm vào quá nhiều rượu mạnh?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xác định làm thuốc thoa.”
Inda-bh 42~42Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindivaccha có nhiều dầu đã được nấu. Đồ chứa dầu không có. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ba loại bình chứa: bình chứa bằng đồng, bình chứa bằng gỗ, bình chứa làm bằng trái cây.”
Inda-bh 43~43Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindivaccha bị phong thấp. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép việc điều trị bằng hơi nóng.” (Vị ấy) không thể chịu đựng nổi. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) hơi nóng của nhiều loại lá cây.” (Vị ấy) không thể chịu đựng nổi. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nhiều hơi nóng.” (Vị ấy) không thể chịu đựng nổi. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nước nấu của nhiều loại lá cây (rắc lên thân).” (Vị ấy) không thể chịu đựng nổi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) bể nước lớn (để ngâm mình).”
Inda-bh 44~44Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindivaccha bị thấp khớp. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép trích máu.” (Vị ấy) không thể chịu đựng nổi. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, ta cho phép trích máu rồi lấy ra bằng ống sừng.”
Inda-bh 45~45Vào lúc bấy giờ, các bàn chân của đại đức Pilindivaccha bị nứt nẻ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) thuốc bôi bàn chân.” (Vị ấy) không thể chịu đựng nổi. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, ta cho phép áp dụng phương pháp phòng ngừa.”
Inda-bh 46~46Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị mụt nhọt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép việc mổ xẻ.” Có nhu cầu về nước làm đông máu. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nước làm đông máu.” Có nhu cầu về thuốc cao làm từ mè. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) thuốc cao làm từ mè.” Có nhu cầu về vải cầm máu. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) vải cầm máu.” Có nhu cầu về vải băng vết thương. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) vải băng vết thương.” Vết thương gây ngứa. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, ta cho phép rắc lên với bột mù-tạt.” Vết thương bị làm mủ. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện việc xông khói.” Thịt ở vết thương bị lồi lên (như cây gai). … (như trên) … “Này các tỳ khưu, ta cho phép cắt bằng mảnh sứ tẩm muối.” Vết thương không liền lại. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) dầu xức vết thương.” Dầu bị chảy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) băng vải và tất cả các cách chữa trị vết thương.”
Inda-bh 47~47Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị rắn cắn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép bố thí bốn loại vật dơ có tính quan trọng là: phân, nước tiểu, tro, và đất sét.” Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “(Bốn vật này) là không (cần phải) được thọ lãnh hay cần phải được thọ lãnh?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ lãnh nếu có người làm thành được phép, nếu không có người làm thành được phép thì tự mình thu nhặt và thọ dụng.”
Inda-bh 48~48Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị uống nhằm thuốc độc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc (vị ấy) uống phân.” Khi ấy, các vị tỳ khưu khởi ý điều này: “(Phân) là không (cần phải) được thọ lãnh hay cần phải được thọ lãnh?”Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị ấy thọ lãnh trong khi làm ra vật ấy (trong khi đại tiện), khi việc thọ lãnh ấy đã được thực hiện không cần phải bảo thọ lãnh lại lần nữa.”
Inda-bh 49~49Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh yểm bùa (bệnh gây ra bởi do người vợ). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc (vị ấy) uống nước bùn lấy từ đất dính ở lưỡi cày vừa mới cày đất lên.”
Inda-bh 50~50Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh trĩ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc (vị ấy) uống nước tro của cơm khô.”
Inda-bh 51~51Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh vàng da. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc (vị ấy) uống (hợp chất) nước tiểu và trái harīṭaka.”
Inda-bh 52~52Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh ngoài da. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) mỡ có mùi thơm.”
Inda-bh 53~53Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có cơ thể bị tiết ra dịch chất dơ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc (vị ấy) uống thuốc xổ.” Có nhu cầu về nước cháo trắng. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nước cháo trắng.” Có nhu cầu về nước đậu mugga chưa lược bỏ xác. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nước đậu mugga chưa lược bỏ xác.” Có nhu cầu về nước đậu mugga đã lược bỏ xác. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nước đậu mugga đã lược bỏ xác.” Có nhu cầu về nước luộc thịt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nước luộc thịt.”
Inda-bh 54~54Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindivaccha có ý muốn làm chỗ trú ngụ nên cho người dọn sạch sẽ hang núi ở thành Rājagaha. Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp đại đức Pilindivaccha, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Pilindivaccha rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với đại đức Pilindivaccha điều này:—“Thưa ngài, ngài trưởng lão cho làm cái gì vậy?”—“Tâu đại vương, tôi có ý muốn làm chỗ trú ngụ nên cho người dọn sạch sẽ hang núi.”—“Thưa ngài, ngài có nhu cầu về người giúp việc tu viện không?”—“Tâu đại vương, người giúp việc tu viện chưa được cho phép bởi đức Thế Tôn.”—“Thưa ngài, chính vì việc đó ngài hãy hỏi đức Thế Tôn rồi báo cho trẫm biết.”—“Tâu đại vương, xin vâng.” Đại đức Pilindivaccha đã đáp lời đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.
Inda-bh 55~55Khi ấy, đại đức Pilindivaccha đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đại đức Pilindivaccha chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đại đức Pilindivaccha, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 56~56Sau đó, đại đức Pilindivaccha đã phái sứ giả đi đến gặp đức Thế Tôn (thưa rằng):—“Bạch ngài, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha có ý muốn ban cho người giúp việc tu viện. Bạch ngài, vậy nên thực hành như thế nào?” Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép người giúp việc tu viện.”
Inda-bh 57~57Đến lần thứ nhì, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp đại đức Pilindivaccha, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Pilindivaccha rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với đại đức Pilindivaccha điều này:—“Thưa ngài, người giúp việc tu viện có được đức Thế Tôn cho phép không?”—“Tâu đại vương, đã được rồi.”—“Thưa ngài, như vậy thì trẫm sẽ ban cho ngài người giúp việc tu viện.”
Inda-bh 58~58Sau đó, khi đã hứa với đại đức Pilindivaccha về người giúp việc tu viện, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã không ghi nhớ. Một thời gian sau, khi đã phục hồi lại ký ức đức vua đã bảo viên quan đại thần nọ là vị tổng quản rằng:—“Này khanh, người giúp việc tu viện đã được trẫm hứa với ngài đại đức, người giúp việc tu viện ấy đã được ban cho chưa?”—“Tâu bệ hạ, người giúp việc tu viện chưa được ban đến ngài đại đức.”—“Này khanh, tính đến nay là đã bao lâu rồi ?” Khi ấy, viên quan đại thần ấy sau khi tính đếm số lượng đêm rồi đã tâu với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này:—“Tâu bệ hạ, năm trăm đêm.”—“Này khanh, như vậy thì hãy ban cho ngài đại đức năm trăm người giúp việc tu viện.”—“Tâu bệ hạ, xin vâng.” Rồi vị quan đại thần ấy đã vâng lệnh đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha và dâng đến đại đức Pilindivaccha năm trăm người giúp việc tu viện. Một ngôi làng riêng biệt đã được thiết lập. Họ đã gọi ngôi làng ấy là “Ngôi làng của những người giúp việc tu viện.” Họ cũng đã gọi ngôi làng ấy là “Ngôi làng Pilindi.”
Inda-bh 59~59Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindivaccha là vị thường hay tới lui trong ngôi làng ấy. Khi ấy vào buổi sáng, đại đức Pilindivaccha đã mặc y, cầm y bát, rồi đi vào ngôi làng Pilindi để khất thực.
Inda-bh 60~60Vào lúc bấy giờ, trong ngôi làng ấy có lễ hội. Những đứa trẻ nhỏ được trang điểm, đeo vòng hoa, và chơi đùa. Khi ấy, trong khi đi khất thực tuần tự từng nhà ở ngôi làng Pilindi, đại đức Pilindivaccha đã đi đến căn nhà của người giúp việc tu viện nọ, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn.
Inda-bh 61~61Vào lúc bấy giờ, đứa bé gái con của người đàn bà giúp việc tu viện ấy nhìn thấy những đứa trẻ con khác được trang điểm, đeo vòng hoa, nên đã oà khóc:—“Cho con vòng hoa, cho con đồ trang sức.” Khi ấy, đại đức Pilindivaccha đã nói với người đàn bà giúp việc tu viện ấy điều này:—“Vì sao đứa bé gái này khóc vậy?”—“Thưa ngài, đứa bé gái này nhìn thấy những đứa trẻ con khác được trang điểm, đeo vòng hoa, nên oà khóc: ‘Cho con vòng hoa, cho con đồ trang sức.’ Chúng tôi lâm cảnh khó khăn, lấy đâu ra vòng hoa, lấy đâu ra đồ trang sức?”
Inda-bh 62~62Khi ấy, đại đức Pilindivaccha đã nhặt lấy một nắm cỏ nọ rồi nói với người đàn bà giúp việc tu viện ấy điều này:—“Vậy hãy đội nắm cỏ này lên đầu đứa bé gái kia đi.” Khi ấy, người đàn bà giúp việc tu viện ấy đã cầm lấy nắm cỏ ấy rồi đội lên đầu đứa bé gái ấy. Vòng cỏ ấy đã trở thành vòng hoa bằng vàng ròng, đẹp đẽ, xinh xắn, duyên dáng; ngay cả trong nội cung của đức vua cũng không có được vòng hoa bằng vàng ròng như thế ấy. Dân chúng đã trình báo lên đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha rằng:—“Tâu bệ hạ, trong nhà của người giúp việc tu viện kia có vòng hoa bằng vàng ròng đẹp đẽ, xinh xắn, duyên dáng; ngay cả trong nội cung của bệ hạ cũng không có được vòng hoa bằng vàng ròng như thế ấy. Đối với kẻ lâm cảnh khó khăn ấy thì lấy đâu ra? Chắc chắn là có được do trộm cắp.” Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã cho lệnh bắt giữ gia đình người giúp việc tu viện ấy.
Inda-bh 63~63Đến lần thứ nhì, vào buổi sáng đại đức Pilindivaccha đã mặc y, cầm y bát, rồi đi vào ngôi làng Pilindi để khất thực. Trong khi đi khất thực tuần tự từng nhà ở ngôi làng Pilindi, đại đức Pilindivaccha đã đi đến căn nhà của người giúp việc tu viện nọ, sau khi đến đã hỏi những người hàng xóm rằng:—“Gia đình người giúp việc tu viện này đã đi đâu?”—“Thưa ngài, bọn họ đã bị đức vua ra lệnh bắt giữ vì nguyên nhân vòng hoa bằng vàng ròng ấy.”
Inda-bh 64~64Sau đó, đại đức Pilindivaccha đã đi đến ngự viện của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp đại đức Pilindivaccha, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Pilindivaccha rồi ngồi xuống một bên. Khi đức vua đã ngồi xuống một bên, đại đức Pilindivaccha đã nói với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha điều này:—“Tâu đại vương, vì sao gia đình người giúp việc tu viện lại bị ra lệnh bắt giữ?”—“Thưa ngài, trong nhà của người giúp việc tu viện ấy có vòng hoa bằng vàng ròng đẹp đẽ, xinh xắn, duyên dáng; ngay cả trong nội cung của trẫm cũng không có được vòng hoa bằng vàng ròng như thế ấy. Đối với kẻ lâm cảnh khó khăn ấy thì lấy đâu ra? Chắc chắn là có được do trộm cắp.”
Inda-bh 65~65Khi ấy, đại đức Pilindivaccha đã chú nguyện rằng: “Cung điện của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha là vàng ròng;” cung điện ấy đã trở thành hoàn toàn làm bằng vàng ròng.—“Tâu đại vương, do đâu bệ hại lại có nhiều vàng ròng đến thế này?”—“Thưa ngài, trẫm đã hiểu rồi. Việc này là năng lực thần thông của ngài đại đức,” rồi đã ra lệnh thả gia đình người giúp việc tu viện ấy. Dân chúng (đồn rằng): “Nghe nói ngài đại đức Pilindivaccha đã phô bày điều kỳ diệu của thần thông là pháp thượng nhân ở triều thần có cả đức vua nữa!” nên đã hoan hỷ, có niềm tin cao độ, rồi đã đem đến dâng đại đức Pilindivaccha năm loại dược phẩm như là: “Bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía.”
Inda-bh 66~66Và theo lẽ tự nhiên, đại đức Pilindivaccha trở thành người thọ lãnh năm loại dược phẩm. Đại đức phân phát cho hội chúng vật đã được thọ lãnh. Và hội chúng của vị ấy trở nên dư dả. Họ chứa đầy vật đã được thọ lãnh vào các hũ và các chum rồi cất đi. Họ chứa đầy các túi lọc nước và các túi xách rồi treo lên ở các cửa sổ. Các dược phẩm ấy đã bị rỉ xuống chảy ra và vẫn còn y nguyên. Các trú xá đã có các con chuột xuất hiện rải rác rồi tràn ngập. Dân chúng trong khi đi dạo quanh các trú xá nhìn thấy nên phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Các Sa-môn Thích tử này là những người tích trữ đồ đạc trong nhà giống như là đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha vậy.”
Inda-bh 67~67Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu lại chấp nhận sự thặng dư như thế này?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu chấp nhận sự thặng dư như thế ấy, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, các loại dược phẩm thích hợp cho các tỳ khưu bị bệnh như là bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía, sau khi thọ lãnh chúng nên thọ dụng trong thời hạn tích trữ tối đa là bảy ngày; nếu vượt quá thời hạn ấy thì nên được hành xử theo Pháp.”
Tụng phẩm về ‘dược phẩm đã được cho phép’ là phần thứ nhất.
Inda-bh 1~68Sau đó, khi đã ngự tại thành Sāvatthi theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Rājagaha.
Inda-bh 2~69Trên đường đi, đại đức Kaṅkhārevata đã nhìn thấy lò nấu đường và đã bước xuống. Sau khi nhìn thấy (những người thợ) bỏ bột mì và tro vào trong mật đường, vị ấy (nghĩ rằng): “Mật đường trộn với vật thực là không được phép, (vì thế) đường không được thọ dụng lúc phi thời,” trong lúc ngần ngại nên cùng với tập thể không thọ dụng đường. Thậm chí nhiều vị nghĩ rằng nên nghe theo vị ấy rồi cũng không thọ dụng đường. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, vì mục đích gì mà họ bỏ bột mì và tro vào trong mật đường vậy?”—“Bạch Thế Tôn, vì mục đích kết tinh.”—“Này các tỳ khưu, nếu vì mục đích kết tinh mà họ bỏ bột mì và tro vào trong mật đường, (hỗn hợp) ấy kết thành khối vẫn gọi là ‘Đường’ vậy. Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng đường một cách thoải mái.”
Inda-bh 3~70Trên đường đi, đại đức Kaṅkhārevata đã nhìn thấy cây đậu mugga sinh trưởng ở bãi phân. Sau khi nhìn thấy, vị ấy (nghĩ rằng): “Các hạt đậu mugga là không được phép, dầu cho đã được nấu chín các hạt đậu mugga vẫn sinh trưởng” trong lúc ngần ngại nên cùng với tập thể không thọ dụng đậu mugga. Thậm chí nhiều vị nghĩ rằng nên nghe theo vị ấy rồi cũng không thọ dụng đậu mugga. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, dầu cho đã được nấu chín đậu mugga vẫn sinh trưởng. Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng đậu mugga một cách thoải mái.”
Inda-bh 4~71Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh đau bụng bão. Vị ấy đã húp cháo chua có muối. Bệnh đau bụng bão ấy của vị ấy đã được thuyên giảm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng cháo chua có muối đối với vị bị bệnh, đối với vị không bệnh thì đã được pha trộn với nước như là thức uống.”
Inda-bh 5~72Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến thành Rājagaha. Tại nơi đó ở Rājagaha, đức Thế Tôn ngự tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bị bệnh đau bụng bão.
Inda-bh 6~73Khi ấy, đại đức Ānanda (nghĩ rằng): “Trước đây, bệnh đau bụng bão của đức Thế Tôn được dịu đi nhờ cháo gồm có ba thứ” nên đã đích thân đi xin mè, gạo lức, và đậu mugga rồi tích trữ ở bên trong (khuôn viên), đích thân nấu ở bên trong, và đã đem đến dâng lên đức Thế Tôn:—“Xin Thế Tôn hãy húp cháo gồm có ba thứ.”
Inda-bh 7~74Các đấng Như Lai dầu biết vẫn hỏi, dầu biết các vị vẫn không hỏi, biết đúng thời các vị mới hỏi, biết đúng thời các vị vẫn không hỏi, có liên quan đến lợi ích các đấng Như lai mới hỏi và không (hỏi việc) không có liên quan đến lợi ích, khi không có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai có cách để cắt đứt vấn đề. Chư Phật Thế Tôn hỏi các vị tỳ khưu vì hai lý do: “Hoặc là chúng ta sẽ thuyết Pháp hoặc là chúng ta sẽ quy định điều học cho các đệ tử.”
Inda-bh 8~75Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, cháo này từ đâu vậy?”
Inda-bh 9~76Khi ấy, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Thật không hợp lẽ, không thích đáng, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm. Này Ānanda, vì sao ngươi lại nghĩ đến việc đa đoan như thế này?
Này Ānanda, vật đã được tích trữ ở bên trong (khuôn viên) là không được phép, vật đã được nấu ở bên trong là không được phép, vật đã được tự mình nấu là không được phép. Này Ānanda, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng (vật) đã được tích trữ ở bên trong, đã được nấu ở bên trong, đã được tự mình nấu; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa.
Này các tỳ khưu, nếu thọ dụng vật đã được tích trữ ở bên trong, đã được nấu ở bên trong, đã được tự mình nấu thì phạm ba tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, nếu thọ dụng vật đã được tích trữ ở bên trong, đã được nấu ở bên trong, đã được những người khác nấu thì phạm hai tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, nếu thọ dụng vật đã được tích trữ ở bên trong, đã được nấu ở bên ngoài (khuôn viên), đã được tự mình nấu thì phạm hai tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, nếu thọ dụng vật đã được tích trữ ở bên ngoài, đã được nấu ở bên trong, đã được tự mình nấu thì phạm hai tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, nếu thọ dụng vật đã được tích trữ ở bên trong, đã được nấu ở bên ngoài, đã được những người khác nấu thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, nếu thọ dụng vật đã được tích trữ ở bên ngoài, đã được nấu ở bên trong, đã được những người khác nấu thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, nếu thọ dụng vật đã được tích trữ ở bên ngoài, đã được nấu ở bên ngoài, đã được tự mình nấu thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, nếu thọ dụng vật đã được tích trữ ở bên ngoài, đã được nấu ở bên ngoài, đã được những người khác nấu thì vô tội.”
Inda-bh 10~77Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Việc tự mình nấu đã được đức Thế Tôn cấm đoán” nên đã ngần ngại trong việc nấu lại lần nữa (hâm nóng thức ăn). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép nấu (lại) vật đã được nấu.”
Inda-bh 11~78Vào lúc bấy giờ, thành Rājagaha bị khó khăn về vật thực. Dân chúng đã đem đến tu viện muối, dầu ăn, gạo lức, và vật thực cứng. Các vị tỳ khưu đã tích trữ các thức ấy ở bên ngoài. Các con thú hoang ăn đi, những kẻ trộm lấy đi, những người chuyên ăn vật thực thừa mang đi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tích trữ ở bên trong.” Sau khi tích trữ ở bên trong, các vị cho nấu ở bên ngoài. Những người chuyên ăn vật thực thừa vây quanh. Các vị tỳ khưu thọ dụng không được an toàn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép nấu ở bên trong.” Trong thời gian khó khăn về vật thực, người làm thành được phép (các món vật thực) đã mang đi các phần nhiều hơn và dâng cho các vị tỳ khưu phần ít hơn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tự mình nấu. Này các tỳ khưu, ta cho phép (vật) đã được tích trữ ở bên trong, đã được nấu ở bên trong, đã được tự mình nấu.”
Inda-bh 12~79Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu đã trải qua mùa (an cư) mưa ở xứ Kāsi đang đi đến Rājagaha để diện kiến đức Thế Tôn. Trên đường đi, các vị đã không được đầy đủ theo như nhu cầu về vật thực dầu là tầm thường hay hảo hạng. Và đã có nhiều vật ăn được là trái cây nhưng lại không có người làm (cho trái cây ấy) thành được phép. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy với vóc dáng mệt mỏi đã đi đến Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc, gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Inda-bh 13~80Điều này đã trở thành thông lệ đối với chư Phật Thế Tôn là niềm nở đối với các tỳ khưu đi đến. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này:—“Này các tỳ-khưu, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Các ngươi đi đến đường xa có được ít mệt nhọc không? Và này các tỳ khưu, các ngươi từ đâu đến vậy?”—“Bạch Thế Tôn, sức khoẻ khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc đều tốt đẹp. Bạch ngài, trường hợp chúng con khi đã trải mùa (an cư) mưa ở xứ Kāsi và đang đi đến Rājagaha để diện kiến đức Thế Tôn. Trên đường đi, chúng con đã không đạt được sự đầy đủ theo như nhu cầu về vật thực dầu là tầm thường hay hảo hạng, và có nhiều vật ăn được là trái cây nhưng lại không có người làm thành được phép; vì thế, chúng con đã đi đến đường xa đến với vóc dáng mệt mỏi.”
Inda-bh 14~81Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ở nơi nào thấy trái cây có thể ăn được và không có người làm thành được phép thì tự mình nhặt lấy, mang đi, đến khi gặp được người làm thành được phép thì đặt (trái cây) trên mặt đất, bảo (người ấy) trao lại, rồi thọ dụng. Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ lãnh (trái cây) đã được nhặt lên.”
Inda-bh 15~82Vào lúc bấy giờ, có người Bà-la-môn nọ thâu hoạch mè mới và mật đường mới. Khi ấy, người Bà-la-môn ấy đã khởi ý điều này: “Hay là ta nên dâng mè mới và mật đường mới đến hội chúng có đức Phật đứng đầu?” Sau đó, người Bà-la-môn ấy đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng một bên. Khi đã đứng một bên, người Bà-la-môn ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin ngài Gotama hãy nhận lời tôi về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, người Bà-la-môn ấy hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã ra đi.
Inda-bh 16~83Sau đó, khi trải qua đêm ấy người Bà-la-môn ấy đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn:—“Bạch ngài Gotama, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.” Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến tư gia của người Bà-la-môn ấy, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu.
Inda-bh 17~84Sau đó, người Bà-la-môn ấy đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong có bàn tay đã rời bình bát, người Bà-la-môn ấy đã ngồi xuống một bên. Khi người ấy đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người Bà-la-môn ấy bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi.
Inda-bh 18~85Sau đó, khi đức Thế Tôn ra đi không lâu, người Bà-la-môn ấy đã khởi ý điều này: “Hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu đã được ta thỉnh mời vì mục đích của những thứ này: ‘Ta sẽ dâng mè mới và mật đường mới,’ nhưng ta đã quên dâng chúng rồi. Hay là ta sẽ cho người mang mè mới và mật đường mới bằng các vại và các hũ đến tu viện vậy?”
Inda-bh 19~86Sau đó, người Bà-la-môn ấy đã cho người mang mè mới và mật đường mới bằng các vại và các hũ đến tu viện rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đứng một bên. Khi đã đứng một bên, người Bà-la-môn ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài Gotama, hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu đã được tôi thỉnh mời vì mục đích của những thứ này: ‘Ta sẽ dâng mè mới và mật đường mới,’ nhưng tôi đã quên dâng chúng. Bạch ngài Gotama, xin hãy thọ lãnh mè mới và mật đường mới của tôi.”—“Này Bà-la-môn, như vậy thì ngươi hãy dâng đến các vị tỳ khưu đi.”
Inda-bh 20~87Vào lúc bấy giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực các vị tỳ khưu nhận lãnh chỉ chút ít rồi ngăn lại, cũng có những vị suy nghĩ rồi từ chối. Và toàn bộ hội chúng đã được thỉnh cầu. Các vị tỳ khưu trong lúc ngần ngại không thọ lãnh.—“Này các tỳ khưu, hãy thọ lãnh và hãy thọ dụng. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đã ăn xong khi được yêu cầu thì được thọ dụng vật không phải còn thừa và đã được đem lại từ chỗ đã ăn xong.”
Inda-bh 21~88Vào lúc bấy giờ, gia đình hộ độ của tỳ khưu Upananda con trai dòng Sakya đã cho người đem lại vật thực loại cứng nhằm dâng đến hội chúng (dặn dò) rằng: “Nên trình cho ngài đại đức Upananda thấy rồi mới dâng đến hội chúng.”
Inda-bh 22~89Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai dòng Sakya đã đi vào làng để khất thực.
Inda-bh 23~90Khi ấy, những người ấy sau khi đi đến tu viện đã hỏi các vị tỳ khưu rằng:—“Thưa các ngài, ngài đại đức Upananda ở đâu vậy?”—“Này các đạo hữu, đại đức Upananda con trai dòng Sakya này đã đi vào làng để khất thực.”—“Thưa các ngài, vật thực loại cứng này nên được trình cho ngài đại đức Upananda thấy rồi mới dâng đến hội chúng.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, như vậy thì sau khi thọ lãnh các ngươi hãy để riêng ra đến khi Upananda trở về.”
Inda-bh 24~91Khi ấy, đại đức Upananda con trai dòng Sakya sau khi đi giao thiệp với các gia đình trước bữa ăn rồi về lại trong ngày.
Inda-bh 25~92Vào lúc bấy giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực các vị tỳ khưu nhận lãnh chỉ chút ít rồi ngăn lại, cũng có những vị suy nghĩ rồi từ chối. Và toàn bộ hội chúng đã được thỉnh cầu. Các vị tỳ khưu trong lúc ngần ngại không thọ lãnh.—“Này các tỳ khưu, hãy thọ lãnh và hãy thọ dụng. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đã ăn xong và đã ngăn (vật thực) được thọ dụng vật không phải còn thừa đã được thọ lãnh trước bữa ăn.”
Inda-bh 26~93Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Sāvatthi. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Sāvatthi. Tại nơi đó ở Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự tại Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Inda-bh 27~94Vào lúc bấy giờ, đại đức Sāriputta bị bệnh sốt toàn thân.
Inda-bh 28~95Khi ấy, đại đức Mahāmoggallāna đã đi đến gặp đại đức Sāriputta, sau khi đến đã nói với đại đức Sāriputta điều này:—“Này đại đức Sāriputta, trước đây bịnh sốt toàn thân của đại đức được dịu đi nhờ vào thứ gì?”—“Này đại đức, tôi nhờ vào các củ sen và các cọng sen.”
Inda-bh 29~96Sau đó, giống như người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tợ như thế đại đức Mahāmoggallāna đã biến mất tại Jetavana rồi hiện ra ở bờ hồ sen Mandākinī.
Inda-bh 30~97Có con long tượng nọ đã nhìn thấy đại đức Mahāmoggallāna từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói với đại đức Mahāmoggallāna điều này:—“Thưa ngài, xin ngài đại đức Mahāmoggallāna hãy đến. Thưa ngài, xin hoan nghênh ngài đại đức Mahāmoggallāna. Thưa ngài, ngài đại đức có nhu cầu gì? Tôi sẽ dâng vật gì?”—“Này đạo hữu, ta có nhu cầu về các củ sen và các cọng sen.”
Inda-bh 31~98Khi ấy, con long tượng ấy đã ra lệnh cho con long tượng khác rằng:—“Này bạn, như vậy bạn hãy dâng đến ngài đại đức các củ sen và các cọng sen theo như nhu cầu.” Sau đó, con long tượng ấy đã lội xuống hồ sen Mandākinī dùng vòi nhổ củ sen và cọng sen rồi rửa sạch sẽ, sau khi rửa xong đã buộc lại thành bó rồi đi đến gặp đại đức Mahāmoggallāna.
Inda-bh 32~99Khi ấy, giống như người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tợ như thế đại đức Mahāmoggallāna đã biến mất tại bờ hồ sen Mandākinī rồi hiện ra ở Jetavana.
Inda-bh 33~100Con long tượng ấy cũng đã biến mất tại bờ hồ sen Mandākinī và hiện ra ở Jetavana. Khi ấy, con long tượng ấy sau khi đã dâng đến đại đức Mahāmoggallāna các củ sen và các cọng sen rồi đã biến mất tại Jetavana và hiện ra ở bờ hồ sen Mandākinī.
Inda-bh 34~101Sau đó, đại đức Mahāmoggallāna đã đem lại các củ sen và các cọng sen cho đại đức Sāriputta. Khi ấy, vào lúc đại đức Sāriputta đã thọ dụng các củ sen và các cọng sen, bệnh sốt toàn thân đã được thuyên giảm. Nhiều củ sen và cọng sen còn thừa lại.
Inda-bh 35~102Vào lúc bấy giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực các vị tỳ khưu nhận lãnh chỉ chút ít rồi ngăn lại, cũng có những vị suy nghĩ rồi từ chối. Và toàn bộ hội chúng đã được thỉnh cầu. Các vị tỳ khưu trong lúc ngần ngại không thọ lãnh.—“Này các tỳ khưu, hãy thọ lãnh và hãy thọ dụng. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đã ăn xong và đã ngăn (vật thực) được thọ dụng vật không phải còn thừa đã được mọc ở rừng (hoặc) đã được mọc ở hồ nước.”
Inda-bh 36~103Vào lúc bấy giờ, ở thành Sāvatthi được phát sanh nhiều trái cây có thể ăn được. Và người làm (cho trái cây ấy) thành được phép là không có. Các vị tỳ khưu trong lúc ngần ngại không thọ dụng trái cây. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng trái cây không có hột, hoặc không còn hột, (cho dù) chưa được làm trở thành đúng phép.”
Inda-bh 37~104Sau đó, khi đã ngự tại thành Sāvatthi theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Rājagaha. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Rājagaha. Tại nơi đó trong thành Rājagaha, đức Thế Tôn ngự tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc.
Inda-bh 38~105Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh lở loét. Thầy thuốc Ākāsagotta thực hiện công việc mổ xẻ. Sau đó, đức Thế Tôn trong khi đi dạo quanh các chỗ trú ngụ đã đi đến trú xá của vị tỳ khưu nọ. Thầy thuốc Ākāsagotta đã nhìn thấy đức Thế Tôn từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài Gotama, xin hãy lại đây. Xin hãy nhìn xem hậu môn của vị tỳ khưu này, giống như là miệng của con kỳ nhông vậy.”
Inda-bh 39~106Khi ấy, đức Thế Tôn (nghĩ rằng): “Kẻ rồ dại này (muốn) đùa cợt ta!” từ chính nơi ấy đã quay trở về, rồi nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, có phải trong trú xá kia có vị tỳ khưu bị bệnh?”—“Bạch Thế Tôn, thưa có.”—“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy bị bệnh gì?”—“Bạch ngài, đại đức ấy bị bệnh lở loét. Thầy thuốc Ākāsagotta thực hiện công việc mổ xẻ.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho kẻ rồ dại ấy, thật không hợp lẽ, không thích đáng, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm. Này các tỳ khưu, vì sao kẻ rồ dại ấy lại cho người thực hiện công việc mổ xẻ ở chỗ kín (của cơ thể)? Này các tỳ khưu, da ở chỗ kín thì mỏng, vết thương khó liền da, dao khó điều khiển. Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên cho người thực hiện việc mổ xẻ ở chỗ kín (của cơ thể); vị nào cho người thực hiện thì phạm tội thullaccaya.”
Inda-bh 40~107Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán việc mổ xẻ” nên đã cho người thực hiện việc bơm thụt. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại cho người thực hiện việc bơm thụt?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 41~108—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư cho người thực hiện việc bơm thụt, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên cho người thực hiện việc mổ xẻ hoặc việc bơm thụt xung quanh chỗ kín (của cơ thể) hai lóng tay; vị nào cho người thực hiện thì phạm tội thullaccaya.”
Inda-bh 42~109Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Bārāṇasī. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Bārāṇasī. Tại nơi đó trong thành Bārāṇasī, đức Thế Tôn ngự tại Isipatana, ở vườn nai.
Inda-bh 43~110Vào lúc bấy giờ, trong thành Bārāṇasī có nam cư sĩ Suppiya và nữ cư sĩ Suppiyā. Cả hai đều mộ đạo, là thí chủ, là người phục vụ, là người hộ độ hội chúng. Khi ấy, nữ cư sĩ Suppiyā đi đến tu viện rồi đi từ trú xá này đến trú xá khác, từ phòng này đến phòng khác, và hỏi các vị tỳ khưu rằng:—“Thưa các ngài, vị nào bị bệnh? Vật gì cần được mang lại? Cho vị nào?”
Inda-bh 44~111Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã uống thuốc xổ. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã nói với nữ cư sĩ Suppiyā điều này:—“Này chị gái, tôi đã uống thuốc xổ. Tôi có nhu cầu về nước luộc thịt.”—“Thưa ngài, tốt lắm. (Nước luộc thịt) sẽ được mang lại.” Sau khi về nhà, nàng đã bảo người giúp việc rằng:—“Này chú em, hãy đi và tìm (mua) loại thịt đã được làm sẵn.”—“Thưa cô chủ, xin vâng.” Rồi người đàn ông ấy, nghe theo nữ cư sĩ Suppiyā, trong khi đi rảo khắp cả thành Bārāṇasī vẫn không thấy loại thịt đã được làm sẵn. Sau đó, người đàn ông ấy đã đi đến gặp nữ cư sĩ Suppiyā, sau khi đến đã nói với nữ cư sĩ Suppiyā điều này:—“Thưa cô chủ, không có thịt đã được làm sẵn. Hôm nay là ngày kiêng sát sanh.”
Inda-bh 45~112Khi ấy, nữ cư sĩ Suppiyā đã khởi ý điều này: “Vị tỳ khưu bị bệnh ấy mà không có được nước luộc thịt thì bệnh sẽ trầm trọng hơn, hoặc sẽ chết. Đối với ta, việc ta đã hứa mà không cho người đem lại là việc không thích đáng,” nên đã cầm lấy con dao găm cắt lìa miếng thịt ở đùi rồi trao cho người tớ gái (nói rằng):—“Này em, sau khi chuẩn bị miếng thịt này, ở trú xá kia có vị tỳ khưu bị bệnh, hãy dâng đến vị ấy. Và ai hỏi ta thì hãy báo cho biết là: ‘Cô chủ bị bệnh.’” Rồi nàng đã lấy thượng y quấn quanh đùi, đi vào phòng trong, và nằm xuống trên giường.
Inda-bh 46~113Sau đó, nam cư sĩ Suppiya đã trở về nhà và hỏi người tớ gái rằng:—“Suppiyā đâu rồi?”—“Thưa ông chủ, bà nằm ở phòng trong.” Khi ấy, nam cư sĩ Suppiya đã đi đến gặp nữ cư sĩ Suppiyā, sau khi đến đã nói với nữ cư sĩ Suppiyā điều này:—“Vì sao nàng lại nằm vậy?”—“Thiếp bị bệnh.”—“Nàng bị bệnh gì vậy?” Khi ấy, nữ cư sĩ Suppiyā đã kể lại sự việc ấy cho nam cư sĩ Suppiya.
Inda-bh 47~114Khi ấy, nam cư sĩ Suppiya (nghĩ rằng): “Thật kỳ diệu thay! Thật phi thường thay! Nàng Suppiyā này có niềm tin, mộ đạo đến thế. Bởi vì ngay cả các phần thịt của chính bản thân còn được dứt bỏ, thì đối với nàng còn có vật gì khác nữa sẽ là không thể bố thí?” rồi đã mừng rỡ, phấn chấn đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Inda-bh 48~115Khi đã ngồi xuống một bên, nam cư sĩ Suppiya đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời bữa trai phạn của con vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.” Đức Thế tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, nam cư sĩ Suppiya hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, và ra đi.
Inda-bh 49~116Sau đó, khi trải qua đêm ấy nam cư sĩ Suppiya đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn:—“Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.” Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến tư gia của nam cư sĩ Suppiya, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu.
Inda-bh 50~117Sau đó, nam cư sĩ Suppiya đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi nam cư sĩ Suppiya đã đứng một bên, đức Thế Tôn đã nói với nam cư sĩ Suppiya điều này:—“Suppiyā đâu rồi?”—“Bạch Thế Tôn, nàng bị bệnh.”—“Như vậy thì (nàng) hãy đi đến.”—“Bạch Thế Tôn, nàng không đủ sức.”—“Như vậy thì hãy ẵm rồi đưa (nàng) lại.” Sau đó, nam cư sĩ Suppiya đã ẵm và đưa nữ cư sĩ Suppiyā lại. Đối với nàng, với ánh nhìn của đức Thế Tôn, ngay tức thời vết thương lớn đã được liền lại, có làn da đẹp, lông tơ đã mọc.
Inda-bh 51~118Khi ấy, nam cư sĩ Suppiya và nữ cư sĩ Suppiyā (nghĩ rằng): “Thật kỳ diệu thay! Thật phi thường thay! Đức Như Lai có đại thần lực, có đại oai lực! Bởi vì ở đây với ánh nhìn của đức Thế Tôn, ngay tức thời vết thương lớn đã được liền lại, có làn da đẹp, lông tơ đã mọc” nên mừng rỡ phấn chấn rồi đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong có bàn tay đã rời khỏi bình bát, họ đã ngồi xuống một bên. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho nam cư sĩ Suppiya và nữ cư sĩ Suppiyā bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Inda-bh 52~119Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các vị tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, vị nào đã yêu cầu nữ cư sĩ Suppiyā về thịt?” Khi được nói như thế, vị tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, chính con đã yêu cầu nữ cư sĩ Suppiyā về thịt.”—“Này tỳ khưu, có phải (thịt) đã được đem đến?”—“Bạch Thế Tôn, (thịt) đã được đem đến.”—“Này tỳ khưu, có phải ngươi đã thọ dụng?”—“Bạch Thế Tôn, con đã thọ dụng.”—“Này tỳ khưu, thế ngươi có suy xét (là thịt gì) hay không?”—“Bạch Thế Tôn, con đã không suy xét (là thịt gì).”
Inda-bh 53~120Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … “Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi chưa suy xét mà lại thọ dụng thịt? Này kẻ rồ dại, ngươi đã thọ dụng thịt người. Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, có những người có niềm tin, mộ đạo, ngay cả các phần thịt của chính bản thân còn được những người này dứt bỏ. Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt người; vị nào thọ dụng thì phạm tội thullaccaya. Và này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt khi chưa suy xét; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 54~121Vào lúc bấy giờ, các con voi của đức vua bị chết. Trong thời kỳ khó khăn về vật thực, dân chúng ăn thịt voi. Họ bố thí thịt voi đến các vị tỳ khưu đang đi khất thực. Các vị tỳ khưu thọ dụng thịt voi. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại thọ dụng thịt voi? Các con voi là biểu tượng của hoàng gia, nếu đức vua biết ngài sẽ không hoan hỷ với các vị ấy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt voi; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 55~122Vào lúc bấy giờ, các con ngựa của đức vua bị chết. Trong thời kỳ khó khăn về vật thực, dân chúng ăn thịt ngựa. Họ bố thí thịt ngựa đến các vị tỳ khưu đang đi khất thực. Các vị tỳ khưu thọ dụng thịt ngựa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại thọ dụng thịt ngựa? Các con ngựa là biểu tượng của hoàng gia, nếu đức vua biết ngài sẽ không hoan hỷ với các vị ấy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt ngựa; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 56~123Vào lúc bấy giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực dân chúng ăn thịt chó. Họ bố thí thịt chó đến các vị tỳ khưu đang đi khất thực. Các vị tỳ khưu thọ dụng thịt chó. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại thọ dụng thịt chó? Loài chó thì ghê tởm và đáng ghét.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt chó; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 57~124Vào lúc bấy giờ, trong thời kỳ khó khăn về vật thực dân chúng ăn thịt rắn. Họ bố thí thịt rắn đến các vị tỳ khưu đang đi khất thực. Các vị tỳ khưu thọ dụng thịt rắn. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại thọ dụng thịt rắn? Loài rắn thì ghê tởm và đáng ghét.”
Inda-bh 58~125Vua của loài rắn là Suphassa cũng đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, Suphassa vua của loài rắn đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, có những loài rắn không có đức tin, không có lòng ngưỡng mộ, chúng có thể hãm hại các vị tỳ khưu dầu là việc không đáng. Bạch ngài, thật tốt đẹp thay các ngài đại đức chớ nên thọ dụng thịt rắn.”
Inda-bh 59~126Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Suphassa vua của loài rắn bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, Suphassa vua của loài rắn đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 60~127Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt rắn; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 61~128Vào lúc bấy giờ, những người thợ săn giết chết con sư tử rồi ăn thịt sư tử. Họ bố thí thịt sư tử đến các vị tỳ khưu đang đi khất thực. Các vị tỳ khưu sau khi thọ dụng thịt sư tử rồi vào ngụ ở trong rừng. Những con sư tử vồ lấy các vị tỳ khưu bởi mùi của thịt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt sư tử; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 62~129Vào lúc bấy giờ, những người thợ săn giết chết con hổ rồi ăn thịt hổ. Họ bố thí thịt hổ đến các vị tỳ khưu đang đi khất thực. Các vị tỳ khưu sau khi thọ dụng thịt hổ rồi vào ngụ ở trong rừng. Những con hổ vồ lấy các vị tỳ khưu bởi mùi của thịt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt hổ; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 63~130Vào lúc bấy giờ, những người thợ săn giết chết con beo rồi ăn thịt beo. Họ bố thí thịt beo đến các vị tỳ khưu đang đi khất thực. Các vị tỳ khưu sau khi thọ dụng thịt beo rồi vào ngụ ở trong rừng. Những con beo vồ lấy các vị tỳ khưu bởi mùi của thịt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt beo; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 64~131Vào lúc bấy giờ, những người thợ săn giết chết con gấu rồi ăn thịt gấu. Họ bố thí thịt gấu đến các vị tỳ khưu đang đi khất thực. Các vị tỳ khưu sau khi thọ dụng thịt gấu rồi vào ngụ ở trong rừng. Những con gấu vồ lấy các vị tỳ khưu bởi mùi của thịt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt gấu; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 65~132Vào lúc bấy giờ, những người thợ săn giết chết con chó sói rồi ăn thịt chó sói. Họ bố thí thịt chó sói đến các vị tỳ khưu đang đi khất thực. Các vị tỳ khưu sau khi thọ dụng thịt chó sói rồi vào ngụ ở trong rừng. Những con chó sói vồ lấy các vị tỳ khưu bởi mùi của thịt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng thịt chó sói; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Tụng phẩm Suppiya là phần thứ nhì.
Inda-bh 1~133Sau đó, khi đã ngự tại thành Bārāṇasī theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía Andhakavinda cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu.
Inda-bh 2~134Vào lúc bấy giờ, dân chúng trong xứ sở cho người chất lên các xe hàng nhiều muối, dầu ăn, gạo lức, và vật thực loại cứng rồi lần lượt nối đuôi theo sau hội chúng tỳ khưu có đức Thế Tôn đứng đầu (nghĩ rằng): “Khi nào chúng tôi đến phiên, khi ấy chúng tôi sẽ thực hiện bữa trai phạn” và số lượng người ăn thức ăn còn thừa là năm trăm người.
Inda-bh 3~135Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến Andhakavindaṁ. Khi ấy, có người Bà-la-môn nọ không nhận được phiên nên đã khởi ý điều này: “Hơn hai tháng nay, ta đã theo sau hội chúng tỳ khưu có đức Thế Tôn đứng đầu (nghĩ rằng): ‘Khi nào ta đến phiên, khi ấy ta sẽ thực hiện bữa trai phạn,’ và phiên của ta không được thành tựu. Mà ta thì đơn chiếc, và nhiều công việc gia đình đã bị ta bỏ bê. Hay là ta nên nhìn xem ở nhà ăn, món gì ở nhà ăn không có thì ta nên chuẩn bị món đó?” Sau đó, người Bà-la-môn ấy trong khi nhìn xem ở nhà ăn đã không thấy hai món là cháo và mật viên.
Inda-bh 4~136Khi ấy, người Bà-la-môn ấy đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã nói với đại đức Ānanda điều này:—“Thưa ngài Ānanda, ở đây tôi không nhận được phiên nên đã khởi ý điều này: ‘Hơn hai tháng nay, ta đã theo sau hội chúng tỳ khưu có đức Thế Tôn đứng đầu (nghĩ rằng):—Khi nào ta đến phiên, khi ấy ta sẽ thực hiện bữa trai phạn,—và phiên của ta không được thành tựu. Mà ta thì đơn chiếc, và nhiều công việc gia đình đã bị ta bỏ bê. Hay là ta nên nhìn xem ở nhà ăn, món gì ở nhà ăn không có thì ta nên chuẩn bị món đó?’ Thưa ngài Ānanda, trong khi nhìn xem ở nhà ăn tôi đây đã không thấy hai món là cháo và mật viên. Thưa ngài Ānanda, nếu tôi chuẩn bị sẵn sàng cháo và mật viên thì Ngài Gotama có thọ nhận của tôi hay không?”—“Này ông Bà-la-môn, như thế thì tôi sẽ hỏi đức Thế Tôn.”
Inda-bh 5~137Khi ấy, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế tôn.—“Này Ānanda, như vậy thì bảo ông ta hãy chuẩn bị sẵn sàng.”—“Này ông Bà-la-môn, như vậy thì ông hãy chuẩn bị sẵn sàng.” Sau đó, khi trải qua đêm ấy người Bà-la-môn ấy đã cho chuẩn bị sẵn sàng nhiều cháo và mật viên rồi đem dâng đến đức Thế Tôn:—“Bạch Ngài Gotama, xin hãy thọ lãnh cháo và mật viên của tôi.”—“Này Bà-la-môn, như thế thì hãy dâng đến các vị tỳ khưu.” Các vị tỳ khưu trong lúc ngần ngại không thọ lãnh.—“Này các tỳ khưu, hãy thọ lãnh, hãy thọ dụng.”
Inda-bh 6~138Khi ấy, người Bà-la-môn ấy đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với nhiều cháo và mật viên. Đến khi đức Thế Tôn có cánh tay đã được rửa, bàn tay đã rời khỏi bình bát, người Bà-la-môn ấy đã ngồi xuống một bên. Khi người Bà-la-môn ấy đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã nói với người Bà-la-môn ấy điều này:—“Này Bà-la-môn, đây là mười điều lợi ích của cháo. Mười điều ấy là gì? Trong khi bố thí cháo (người ấy) bố thí tuổi thọ, bố thí sắc đẹp, bố thí sự an lạc, bố thí sức mạnh, bố thí sự sáng suốt, những người đã húp cháo dứt hẳn cơn đói, chận đứng cơn khát, điều hòa gió, làm sạch bàng quang, và làm tiêu hóa phần (vật thực) còn lại chưa tiêu. Này Bà-la-môn, đây là mười điều lợi ích của cháo.”
Inda-bh 7~139“Người nào bố thí cháo một cách trân trọng và hợp thời đến các vị đã được thu thúc, (sống nhờ) vật thực được bố thí bởi những kẻ khác, (người ấy) cho đến vị này mười điều lợi ích là: tuổi thọ, và sắc đẹp, sự an vui, và sức mạnh.
Inda-bh 8~140Nhờ đó sự sáng suốt được sanh khởi cho vị này, khiến xua đi cơn đói cơn khát, (điều hòa) gió, làm trong sạch bàng quang, làm tiêu hóa vật đã được ăn vào. Dược phẩm này đã được ngợi khen bởi đấng Thiện Thệ.
Inda-bh 9~141Chính vì điều ấy, người tầm cầu sự an vui đang ước nguyện về các sự an lạc thuộc cõi trời hoặc đang ước muốn về sự phồn vinh của nhân loại nên thường xuyên bố thí cháo thật đầy đủ.”
Inda-bh 10~142Khi ấy, sau khi nói lời tùy hỷ đến người Bà-la-môn ấy bằng những lời kệ này, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thọ dụng) cháo và mật viên.”
Inda-bh 11~143Dân chúng đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn cho phép cháo và mật viên đến các tỳ khưu.” Vào buổi sáng sớm, họ đã chuẩn bị sẵn sàng cháo đặc và mật viên. Các tỳ khưu vào buổi sáng sớm được thỏa mãn với cháo đặc và mật viên nên không thọ thực được như ý ở chỗ thọ thực.
Inda-bh 12~144Vào lúc bấy giờ, hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu đã được vị quan đại thần nọ mới có đức tin thỉnh mời vào ngày hôm sau. Khi ấy, vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã khởi ý điều này: “Hay là ta nên chuẩn bị sẵn sàng một ngàn hai trăm năm mươi đĩa thịt cho một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu, rồi sẽ dâng đến cứ mỗi một vị tỳ khưu là mỗi một đĩa thịt?” Sau đó, khi trải qua đêm ấy vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm và một ngàn hai trăm năm mươi đĩa thịt rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn:—“Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.” Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến tư dinh của vị quan đại thần mới có đức tin ấy, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu.
Inda-bh 13~145Sau đó, vị quan đại thần mới có đức tin ấy phục vụ các tỳ khưu ở trong nhà ăn. Các tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này đạo hữu, hãy dâng chút ít thôi.”—“Thưa các ngài, chớ có thọ lãnh chỉ chút ít thôi (vì nghĩ rằng): ‘Vị quan đại thần này mới có đức tin.’ Tôi đã chuẩn bị nhiều vật thực loại cứng loại mềm và một ngàn hai trăm năm mươi đĩa thịt, tôi sẽ dâng đến mỗi một vị tỳ khưu là mỗi một đĩa thịt. Thưa các ngài, xin hãy thọ lãnh theo như ước muốn.”—“Này đạo hữu, không phải vì lý do ấy mà chúng tôi thọ lãnh chỉ chút ít; tuy nhiên vào sáng sớm chúng tôi đã được bồi bổ với cháo đặc và mật viên rồi, cho nên chúng tôi thọ lãnh chỉ chút ít.”
Inda-bh 14~146Khi ấy, vị quan đại thần mới có đức tin ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các đại đức đã được tôi thỉnh mời lại thọ dụng cháo đặc của người khác? Không lẽ tôi không đủ khả năng để bố thí theo như ước muốn hay sao?” Rồi trở nên giận dữ, không hoan hỷ, và có ý muốn lăng mạ nên đã đi đến và trong khi để đầy bình bát của các vị tỳ khưu (nói rằng):—“Hãy ăn đi hoặc hãy mang đi.”
Inda-bh 15~147Sau đó, vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong có bàn tay đã rời khỏi bình bát, vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã ngồi xuống một bên. Khi vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho vị quan đại thần mới có đức tin ấy bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Inda-bh 16~148Khi đức Thế Tôn ra đi không lâu, vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã khởi lên nỗi phân vân, đã khởi lên sự ân hận: “Thật là điều không lợi ích đã có cho ta! Thật là điều lợi ích đã không có cho ta! Ta đã đạt được điều xấu! Ta đã không đạt được điều tốt! Là việc ta đã trở nên giận dữ, không hoan hỷ, và có ý muốn lăng mạ nên đã đi đến và trong khi để đầy bình bát của các vị tỳ khưu (nói rằng): ‘Hãy ăn đi hoặc hãy mang đi.’ Ta đã tạo ra được nhiều điều gì, là phước báu hay là vô phước?”
Inda-bh 17~149Sau đó, vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, ở đây khi đức Thế Tôn ra đi không lâu, con đã khởi lên nỗi phân vân, đã khởi lên sự ân hận: ‘Thật là điều không lợi ích đã có cho ta! Thật là điều lợi ích đã không có cho ta! Ta đã đạt được điều xấu! Ta đã không đạt được điều tốt! Là việc ta đã trở nên giận dữ, không hoan hỷ, và có ý muốn lăng mạ nên đã đi đến và trong khi để đầy bình bát của các vị tỳ khưu (nói rằng):—Hãy ăn đi hoặc hãy mang đi.—Ta đã tạo ra được nhiều điều gì, là phước báu hay là vô phước?’ Bạch ngài, con đã tạo ra được nhiều điều gì, là phước báu hay là vô phước?”—“Này đạo hữu, kể từ lúc ngươi thỉnh mời hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu cho ngày hôm sau, từ lúc ấy ngươi đã tạo ra được nhiều phước báu. Kể từ lúc mỗi một miếng cơm của ngươi được mỗi một vị tỳ khưu thọ lãnh, từ lúc ấy ngươi đã tạo ra được nhiều phước báu. Các cõi trời đã được thành tựu cho ngươi rồi.”
Inda-bh 18~150Khi ấy, vị quan đại thần mới có đức tin ấy (nghĩ rằng): “Nghe nói ta có được điều lợi ích! Nghe nói ta đã đạt được điều tốt! Nghe nói ta đã tạo ra được nhiều phước báu! Nghe nói các cõi trời đã được thành tựu cho ta!” nên mừng rỡ phấn chấn đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu thọ dụng cháo đặc của người khác khi đã được thỉnh mời của một nơi khác, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại thọ dụng cháo đặc của người khác khi đã được thỉnh mời của một nơi khác? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng cháo đặc của người khác khi đã được thỉnh mời của một nơi khác; vị nào thọ dụng thì nên được hành xử theo Pháp” (liên quan đến tội pācittiya 33).
Inda-bh 19~151Sau đó, khi đã ngự tại Andhakavinda theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Rājagaha cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu.
Inda-bh 20~152Vào lúc bấy giờ, Belaṭṭha Kaccāna đang đi đường xa từ thành Rājagaha đến Andhakavinda cùng với năm trăm xe hàng toàn bộ đều chất đầy các hũ mật đường. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy Belaṭṭha Kaccāna từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã rời đường lộ và ngồi xuống ở gốc cây nọ.
Inda-bh 21~153Sau đó, Belaṭṭha Kaccāna đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, Belaṭṭha Kaccāna đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, con muốn dâng đến mỗi một vị tỳ khưu một hũ mật đường.”—“Này Kaccāna, như vậy thì ngươi hãy mang lại chỉ một hũ mật đường thôi.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Rồi Belaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn đã cầm lấy chỉ một hũ mật đường rồi đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đứcThế Tôn điều này:—“Bạch ngài, hũ mật đường đã được mang lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây?”—“Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy dâng mật đường đến các vị tỳ khưu.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Rồi Belaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn sau khi dâng mật đường đến các vị tỳ khưu rồi đã nói đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, mật đường đã được dâng đến các vị tỳ khưu, và nhiều mật đường này còn thừa lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây?”—“Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy dâng mật đường đến các vị tỳ khưu theo như ước muốn.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Rồi Belaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn sau khi dâng mật đường đến các vị tỳ khưu theo như ước muốn rồi đã nói đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, mật đường đã được dâng đến các vị tỳ khưu theo như ước muốn, và nhiều mật đường này còn thừa lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây?”—“Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy làm cho các vị tỳ khưu được thỏa mãn với nhiều mật đường.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Rồi Belaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn đã làm cho các vị tỳ khưu được thỏa mãn với nhiều mật đường. Một số các vị tỳ khưu đã chứa đầy các bình bát, đã chứa đầy các túi lọc nước và luôn cả các túi xách.
Inda-bh 22~154Rồi Belaṭṭha Kaccāna sau khi đã làm cho các vị tỳ khưu được thỏa mãn với nhiều mật đường rồi đã nói đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, các vị tỳ khưu đã được thỏa mãn với nhiều mật đường, và nhiều mật đường này còn thừa lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây?”—“Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy cho mật đường đến những người ăn vật thực còn thừa.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Rồi Belaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn sau khi đã cho mật đường đến những người ăn vật thực còn thừa rồi đã nói đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, mật đường đã được cho đến những người ăn vật thực còn thừa, và nhiều mật đường này còn thừa lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây?”—“Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy cho mật đường đến những người ăn vật thực còn thừa theo như ước muốn.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Rồi Belaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn sau khi đã cho mật đường đến những người ăn thức ăn còn thừa theo như ước muốn rồi đã nói đức Thế Tôn điều này:
—“Bạch ngài, mật đường đã được cho đến những người ăn thức ăn còn thừa theo như ước muốn, và nhiều mật đường này còn thừa lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây?”—“Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy làm cho những người ăn thức ăn còn thừa được thỏa mãn với nhiều mật đường.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Rồi Belaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn đã làm cho những người ăn thức ăn còn thừa được thỏa mãn với nhiều mật đường. Một số người ăn thức ăn còn thừa đã chứa đầy các lọ, các bình, đã chứa đầy các giỏ, và dùng luôn cả phần y ở phía trước (đã được buộc lại).
Inda-bh 23~155Rồi Belaṭṭha Kaccāna sau khi đã làm cho những người ăn thức ăn còn thừa được thỏa mãn với nhiều mật đường rồi đã nói đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, những người ăn thức ăn còn thừa đã được thỏa mãn với nhiều mật đường, và nhiều mật đường này còn thừa lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây?”—“Này Kaccāna, ta không thấy người nào trong thế gian tính luôn cõi của chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, các hạng chư Thiên và loài người mà đường này khi được người ấy ăn vào có thể đem lại sự tiêu hóa tốt đẹp, ngoại trừ Như Lai hay đệ tử của Như Lai. Này Kaccāna, chính vì điều ấy ngươi hãy đổ bỏ đường ấy ở nơi không có cỏ xanh hoặc đổ xuống nước không có sinh vật.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Rồi Belaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn đã đổ mật đường ấy xuống nước không có sinh vật. Khi ấy, mật đường ấy khi được đổ vào trong nước liền sủi bọt xì xèo, bốc hơi, và tỏa khói. Cũng giống như lưỡi cày đã được nung đỏ trọn ngày khi được bỏ vào trong nước liền sủi bọt xì xèo, bốc hơi, và tỏa khói; tương tợ như thế, mật đường ấy khi được đổ vào trong nước liền sủi bọt xì xèo, bốc hơi, và tỏa khói.
Inda-bh 24~156Khi ấy, Belaṭṭha Kaccāna trở nên hoảng hốt, lông dựng đứng lên, rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi Belaṭṭha Kaccāna đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến Belaṭṭha Kaccāna. Tức là ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự tai hại sự thấp kém sự ô nhiễm của các dục, sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được Belaṭṭha Kaccāna có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải đã được làm sạch, không còn vết nhơ, có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến Belaṭṭha Kaccāna: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
Inda-bh 25~157Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, Belaṭṭha Kaccāna đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): ‘Những ai có mắt sẽ thấy được các hình dáng;’ tương tợ như thế, Pháp đã được đức Thế Tôn chỉ rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội Chúng tỳ khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.”
Inda-bh 26~158Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến thành Rājagaha. Tại nơi ấy trong thành Rājagaha, đức Thế Tôn ngự tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, ở trong thành Rājagaha mật đường được dồi dào. Các tỳ khưu (nghĩ rằng): “Mật đường đã được đức Thế Tôn cho phép đến chính vị bị bệnh, không cho đối với vị không bị bệnh,” trong lúc ngần ngại không thọ dụng mật đường. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép mật đường đối với vị bị bệnh và nước (có pha) mật đường đối với vị không bị bệnh.”
Inda-bh 27~159Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía Pāṭaligāma cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu. Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến Pāṭaligāma. Các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn đã ngự đến Pāṭaligāma.” Sau đó, các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đã ngồi xuống một bên. Khi các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời (trú tại) nhà nghỉ trọ cùng với hội chúng Tỳ khưu.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng.
Inda-bh 28~160Khi ấy, các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi đi đến nhà nghỉ trọ, sau khi đến đã trải thảm toàn bộ nhà nghỉ trọ với thảm trải, cho sắp đặt các chỗ ngồi, cho bố trí lu nước, thắp sáng cây đèn dầu, rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, nhà nghỉ trọ đã trải thảm toàn bộ với thảm trải, các chỗ ngồi đã được cho sắp đặt, lu nước đã được cho bố trí, cây đèn dầu đã được thắp sáng. Bạch ngài, bây giờ là thời điểm của việc gì xin đức Thế Tôn hãy suy tính về việc ấy.” Sau đó, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi cùng với đại chúng tỳ khưu đi đến nhà nghỉ trọ, sau khi đến đã rửa sạch hai bàn chân rồi đi vào nhà nghỉ trọ và ngồi xuống chỗ cột nhà ở chính giữa, mặt nhìn về hướng đông. Hội chúng tỳ khưu cũng đã rửa sạch các bàn chân, rồi đi vào nhà nghỉ trọ và ngồi xuống chỗ bức tường ở phía tây, mặt nhìn về hướng đông, và có đức Thế Tôn trong tầm nhìn. Các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma cũng đã rửa sạch các bàn chân, rồi đi vào nhà nghỉ trọ và ngồi xuống chỗ bức tường ở phía đông, mặt nhìn về hướng tây, và có đức Thế Tôn trong tầm nhìn.
Inda-bh 29~161Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma rằng:—“Này các cư sĩ, đây là năm điều tai hại của kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới. Năm điều ấy là gì?” Này các cư sĩ, ở đây kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới gánh chịu sự mất mát lớn về tài sản do nguyên nhân xao lãng. Đây là điều tai hại thứ nhất của kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới. Này các cư sĩ, còn có điều khác nữa là tiếng đồn xấu xa của kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới lan rộng. Đây là điều tai hại thứ nhì của kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới.
Này các cư sĩ, còn có điều khác nữa là kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới đi vào tập thể nào khác dầu là tập thể những người Sát-đế-lỵ, dầu là tập thể những người Bà-la-môn, dầu là tập thể các gia chủ, dầu là tập thể các Sa-môn, kẻ ấy đi vào thiếu sự tự chủ và trở nên bối rối. Đây là điều tai hại thứ ba của kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới. Này các cư sĩ, còn có điều khác nữa là kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới bị mê muội khi từ trần. Đây là điều tai hại thứ tư của kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới. Này các cư sĩ, còn có điều khác nữa là kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới khi thân này bị tan rã, sau khi chết đi sẽ tái sanh vào chốn bất hạnh, cõi khổ, nơi trừng phạt, địa ngục. Đây là điều tai hại thứ năm của kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới. Này các cư sĩ, đây là năm điều tai hại của kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới.
Inda-bh 30~162Này các cư sĩ, đây là năm điều lợi ích của người giữ giới có sự thành tựu về giới. Năm điều ấy là gì? Này các cư sĩ, người giữ giới có sự thành tựu về giới thành tựu số lượng lớn về tài sản do nguyên nhân không xao lãng. Đây là điều lợi ích thứ nhất của người giữ giới có sự thành tựu về giới. Này các cư sĩ, còn có điều khác nữa là tiếng đồn tốt đẹp của người giữ giới có sự thành tựu về giới lan rộng. Đây là điều lợi ích thứ nhì của người giữ giới có sự thành tựu về giới. Này các cư sĩ, còn có điều khác nữa là người giữ giới có sự thành tựu về giới đi vào tập thể nào khác dầu là tập thể những người Sát-đế-lỵ, dầu là tập thể những người Bà-la-môn, dầu là tập thể các gia chủ, dầu là tập thể các Sa-môn, người ấy đi vào có sự tự chủ và không có bối rối. Đây là điều lợi ích thứ ba của người giữ giới có sự thành tựu về giới. Này các cư sĩ, còn có điều khác nữa là người giữ giới có sự thành tựu về giới không bị mê muội khi từ trần. Đây là điều lợi ích thứ tư của người giữ giới có sự thành tựu về giới. Này các cư sĩ, còn có điều khác nữa là người giữ giới có sự thành tựu về giới khi thân này bị tan rã, sau khi chết đi sẽ tái sanh vào chốn an vui, cõi trời, cõi người. Đây là điều lợi ích thứ năm của người giữ giới có sự thành tựu về giới. Này các cư sĩ, đây là năm điều lợi ích của người giữ giới có sự thành tựu về giới.”
Inda-bh 31~163Sau đó, khi đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma bằng bài Pháp thoại đến tận đêm khuya, đức Thế Tôn đã giải tán (bảo rằng):—“Này các cư sĩ, đêm đã khuya. Bây giờ là thời điểm của việc gì thì các ngươi hãy suy tính về việc ấy.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma nghe theo đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, khi các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma ra đi không lâu, đức Thế Tôn đã đi vào ngôi nhà trống vắng.
Inda-bh 32~164Vào lúc bấy giờ, Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, cho xây thành lũy ở Pāṭaligāma để ngăn cản người Vajji. Và đức Thế Tôn, sau khi thức dậy trong đêm vào lúc hừng sáng, bằng Thiên nhãn thanh tịnh vượt xa loài người đã nhìn thấy nhiều vị trời đang chiếm giữ các khu vực ở Pāṭaligāma. Các vị trời có oai lực lớn chiếm giữ khu vực nào thì các vị sai khiến tâm của các quan đại thần của các vị vua có oai lực lớn ở khu vực đó cho xây các dinh thự. Các vị trời có oai lực trung bình chiếm giữ khu vực nào thì các vị sai khiến tâm của các quan đại thần của các vị vua có oai lực trung bình ở khu vực đó cho xây các dinh thự. Các vị trời có oai lực kém chiếm giữ khu vực nào thì các vị sai khiến tâm của các quan đại thần của các vị vua có oai lực kém ở khu vực đó cho xây các dinh thự.
Inda-bh 33~165Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, những ai là người cho xây thành lũy ở Pāṭaligāma vậy?”—“Bạch ngài, Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, cho xây thành lũy ở Pāṭaligāma để ngăn cản người Vajji.”—“Này Ānanda, cũng giống như là đã thỉnh ý với chư Thiên ở cõi Tāvatiṁsa, này Ānanda, tương tợ như thế Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, đã cho xây thành lũy ở Pāṭaligāma để ngăn cản người Vajji. Này Ānanda, ở đây sau khi thức dậy trong đêm vào lúc hừng sáng, bằng Thiên nhãn thanh tịnh vượt trên loài người ta đã nhìn thấy nhiều vị trời đang chiếm giữ các khu vực ở trong Pāṭaligāma. Các vị trời có oai lực lớn chiếm giữ khu vực nào thì các vị sai khiến tâm của các quan đại thần của các vị vua có oai lực lớn ở khu vực đó cho xây các dinh thự. Các vị trời có oai lực trung bình chiếm giữ khu vực nào thì các vị sai khiến tâm của các quan đại thần của các vị vua có oai lực trung bình ở khu vực đó cho xây các dinh thự. Các vị trời có oai lực kém chiếm giữ khu vực nào thì các vị sai khiến tâm của các quan đại thần của các vị vua có oai lực kém ở khu vực đó cho xây các dinh thự. Này Ānanda, cho đến tận lãnh thổ của những người Ariyan và đến tận con đường của những nhà thương buôn, Pāṭaliputta này sẽ trở thành thành phố hàng đầu, là nơi bốc dở các loại hàng hóa. Này Ānanada, thành Pāṭaliputta sẽ xảy ra ba tai họa hoặc do lửa, hoặc do nước, hoặc do sự chia hai từ trong nội bộ.”
Inda-bh 34~166Sau đó, Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng một bên. Khi đã đứng một bên, Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Xin ngài Gotama hãy nhận lời chúng tôi về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, sau khi hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn, đã ra đi.
Inda-bh 35~167Sau đó, Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn:—“Bạch ngài Gotama, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.” Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến nơi phân phối thức ăn của Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu.
Inda-bh 36~168Khi ấy, Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong có bàn tay đã rời khỏi bình bát, hai vị quan đại thần đã ngồi xuống một bên. Khi Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, đã ngồi xuống một bên, Đức Thế Tôn đã nói lời tùy hỷ đến hai vị quan đại thần bằng những lời kệ này:
Inda-bh 37~169Ở tại khu vực nào, chỗ trú ngụ được sắp đặt cho các bậc có bản chất sáng suốt, tại nơi ấy sau khi dâng thức ăn đến các vị có giới, thu thúc, hành Phạm hạnh—
Inda-bh 38~170Nên tỏ sự kính trọng đến chư Thiên đã ngụ ở nơi ấy. Chư Thiên ấy, được cúng dường, sẽ cúng dường người ấy, được tôn kính, sẽ tôn kính người ấy.
Inda-bh 39~171Do đó, chư Thiên thương mến người ấy, như người mẹ thương xót
đứa con trai ruột thịt. Được chư Thiên thương mến, người ấy sẽ luôn luôn gặp được các điều tốt lành.”
Inda-bh 40~172Sau đó, khi đã nói lời tùy hỷ đến Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, bằng những lời kệ này, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Vào lúc bấy giờ, Sunīdha và Vassakāra, hai vị quan đại thần xứ Magadha, đã đi theo phía sau đức Thế Tôn (nghĩ rằng): “Hôm nay, Sa-môn Gotama đi ra bằng cửa thành nào thì cửa thành ấy sẽ có tên là Cửa thành Gotama, và băng qua sông Gaṅgā bằng bến tàu nào thì bến tàu ấy sẽ có tên là Bến tàu Gotama.” Sau đó, cửa thành nào mà đức Thế Tôn đã đi ra, cửa thành ấy đã có tên là Cửa thành Gotama. Rồi đức Thế Tôn đã đi đến sông Gaṅgā. Vào lúc bấy giờ, sông Gaṅgā luôn tràn đầy, mấp mé bờ khiến chim quạ có thể uống nước. Dân chúng, một số đi kiếm thuyền, một số đi kiếm xuồng, một số buộc thành chiếc bè với ước muốn đi từ bờ này sang bờ kia.
Inda-bh 41~173Đức Thế Tôn đã nhìn thấy những người ấy, một số đang đi kiếm thuyền, một số đang đi kiếm xuồng, một số đang buộc thành chiếc bè với ước muốn đi từ bờ này sang bờ kia. Sau khi nhìn thấy, cũng giống như người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tợ như thế đức Thế Tôn đã biến mất tại bờ bên này của sông Gaṅgā và hiện ra đứng ở bờ bên kia cùng với hội chúng tỳ khưu. Sau đó, khi đã biết sự việc ấy, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
Inda-bh 42~174“Những người băng qua biển cả ao hồ, sau khi xây dựng cây cầu vượt qua các hồ nhỏ. (Trong khi) người còn đang buộc chiếc bè nhỏ thì các bậc trí đã vượt qua (bờ kia).”
Inda-bh 43~175Sau đó, đức Thế Tôn đã ngự đến Koṭigāma. Tại nơi ấy, đức Thế Tôn ngụ tại Koṭigāma. Ở đó, đức Thế Tôn đã bảo các vị tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, do sự không giác ngộ, không thấu triệt được bốn Chân Lý Cao Thượng, chính vì như thế mà ngay cả ta và các ngươi đã trải qua, đã luân hồi thời gian dài thăm thẳm. Bốn điều ấy là gì? Này các tỳ khưu, do sự không giác ngộ, không thấu triệt được Chân Lý Cao Thượng của Khổ, chính vì như thế mà ngay cả ta và các ngươi đã trải qua, đã luân hồi thời gian dài thăm thẳm. … (như trên) … Chân Lý Cao Thượng của Nguồn Gốc Sanh Khởi của Khổ, … (như trên) … Chân Lý Cao Thượng của Sự Chấm Dứt của Khổ, … (như trên) … Chân Lý Cao Thượng của Sự Thực Hành đưa đến Sự Chấm Dứt của Khổ, chính vì như thế mà ngay cả ta và các ngươi đã trải qua, đã luân hồi thời gian dài thăm thẳm. Này các tỳ khưu, Chân Lý Cao Thượng của Khổ này đây đã được giác ngộ đã được thấu triệt, Chân Lý Cao Thượng của Nguồn Gốc Sanh Khởi của Khổ đã được giác ngộ đã được thấu triệt, Chân Lý Cao Thượng của Sự Chấm Dứt của Khổ đã được giác ngộ đã được thấu triệt, Chân Lý Cao Thượng của Sự Thực Hành đưa đến Sự Chấm Dứt của Khổ đã được giác ngộ đã được thấu triệt, (thì) nỗi khao khát về sự tái sanh đã được cắt đứt, lối đưa đến sự tái sanh đã cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.”
Inda-bh 44~176“Do không nhìn thấy đúng theo bản thể của bốn Chân Lý Cao Thượng, nên bị luân hồi dài thăm thẳm trong những lần tái sanh kiếp này kiếp khác.
Inda-bh 45~177Khi những điều này đây đã được nhìn thấy thì lối dẫn đi tái sanh không còn, nguồn sanh khổ đã đoạn, giờ đây không còn tái sanh nữa.”
Inda-bh 46~178Nàng kỹ nữ Ambapālī đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn đã ngự đến Koṭigāma.” Khi ấy, nàng kỹ nữ Ambapālī đã cho thắng (ngựa vào) những cỗ xe vô cùng lộng lẫy, rồi bước lên cỗ xe lộng lẫy, sau đó rời khỏi thành Vesāli với những cỗ xe vô cùng lộng lẫy để diện kiến đức Thế Tôn. Sau khi đã đi bằng cỗ xe hết khoảng đường dành cho xe, nàng đã xuống xe rồi làm người bộ hành đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi nàng đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho nàng kỹ nữ Ambapālī bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, nàng kỹ nữ Ambapālī đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn cùng với hội chúng Tỳ khưu nhận lời bữa thọ trai vào ngày mai của con.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, nàng kỹ nữ Ambapālī hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 47~179Các vị dòng dõi Licchavi ở Vesāli đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn đã ngự đến Koṭigāma.” Khi ấy, các vị dòng dõi Licchavi ở Vesāli đã cho thắng (ngựa vào) những cỗ xe vô cùng lộng lẫy, rồi bước lên cỗ xe vô cùng lộng lẫy, sau đó rời khỏi thành Vesāli với những cỗ xe vô cùng lộng lẫy để diện kiến đức Thế Tôn. Một số các vị dòng dõi Licchavi chuộng màu xanh, có vẻ bên ngoài màu xanh, y phục màu xanh, đồ trang sức màu xanh. Một số các vị dòng dõi Licchavi chuộng màu vàng, có vẻ bên ngoài màu vàng, y phục màu vàng, đồ trang sức màu vàng. Một số các vị dòng dõi Licchavi chuộng màu đỏ, có vẻ bên ngoài màu đỏ, y phục màu đỏ, đồ trang sức màu đỏ. Một số các vị dòng dõi Licchavi chuộng màu trắng, có vẻ bên ngoài màu trắng, y phục màu trắng, đồ trang sức màu trắng.
Inda-bh 48~180Khi ấy, nàng kỹ nữ Ambapālī di chuyển đối đầu gọng xe với gọng xe, càng xe với càng xe, bánh xe với bánh xe, trục bánh xe với trục bánh xe của các vương tử rất trẻ tuổi dòng Licchavi. Khi ấy, các vị dòng dõi Licchavi ấy đã nói với nàng kỹ nữ Ambapālī điều này:—“Này nàng Ambapālī, vì sao nàng lại di chuyển đối đầu gọng xe với gọng xe, càng xe với càng xe, bánh xe với bánh xe, trục bánh xe với trục bánh xe của các vương tử rất trẻ tuổi dòng Licchavi của chúng tôi vậy?”—“Này các cậu công tử, chính là vì tôi đã thỉnh mời được hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu vào ngày mai.”—“Này nàng Ambapālī, hãy nhường lại cho chúng tôi bữa thọ trai ấy với giá một trăm ngàn.”—“Này các cậu công tử, cho dù các cậu chịu nhường lại thành Vesāli luôn cả dân cư cho tôi, tôi cũng không chịu nhường lại bữa thọ trai.”
Inda-bh 49~181Khi ấy, các vị dòng dõi Licchavi ấy đã búng ngón tay (nói rằng):—“Đúng là cô nàng vườn xoài đã cho chúng ta đo ván rồi! Đúng là cô nàng vườn xoài đã cho chúng ta đo ván rồi!”
Inda-bh 50~182Sau đó, các vị dòng dõi Licchavi ấy đã đi đến gặp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy các vị dòng dõi Licchavi ấy từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã bảo các vị tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, chư Thiên ở cõi Tāvatiṁsa chưa được các tỳ khưu nhìn thấy trước đây. Này các tỳ khưu, hãy nhìn tập thể các vị dòng dõi Licchavi. Này các tỳ khưu, hãy nhìn tập thể các vị dòng dõi Licchavi. Này các tỳ khưu, hãy so sánh tập thể các vị dòng dõi Licchavi với tập thể chư Thiên cõi Tāvatiṁsa.”
Inda-bh 51~183Khi ấy, sau khi đã đi bằng cỗ xe hết khoảng đường dành cho xe, các vị dòng dõi Licchavi ấy đã xuống xe rồi làm người bộ hành đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi họ đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho các vị dòng dõi Licchavi ấy bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, các vị dòng dõi Licchavi ấy đã nói đã với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn cùng với hội chúng Tỳ khưu nhận lời bữa thọ trai vào ngày mai của chúng tôi.”—“Này các vị Licchavi, ta đã nhận lời nàng kỹ nữ Ambapālī về bữa thọ trai vào ngày mai rồi.” Khi ấy, các vị dòng dõi Licchavi ấy đã búng ngón tay (nói rằng):—“Đúng là cô nàng vườn xoài đã cho chúng ta đo ván rồi! Đúng là cô nàng vườn xoài đã cho chúng ta đo ván rồi!” Sau đó, khi đã được hoan hỷ và thỏa mãn với lời nói của đức Thế Tôn, các vị dòng dõi Licchavi ấy đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 52~184Sau đó, khi đã ngự tại Koṭigāma như ý thích, đức Thế Tôn đã đi đến Nātikā. Tại nơi ấy ở Nātikā, đức Thế Tôn ngự tại Giñjakāvasatha (căn nhà bằng gạch). Sau đó, khi trải qua đêm ấy nàng kỹ nữ Ambapālī đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm trong khu vườn của mình rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn:—“Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.” Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến chỗ dâng cúng vật thực của nàng kỹ nữ Ambapālī, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu.
Inda-bh 53~185Sau đó, nàng kỹ nữ Ambapālī đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong có bàn tay đã rời khỏi bình bát, nàng đã ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, nàng kỹ nữ Ambapālī đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, con xin dâng khu Ambavana (vườn xoài) này đến hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu.” Đức Thế Tôn đã thọ nhận khu vườn.
Inda-bh 54~186Sau đó, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho nàng kỹ nữ Ambapālī bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và đi đến Mahāvana. Tại nơi ấy ở Vesāli, đức Thế Tôn ngự tại Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra.
Tụng phẩm Licchavi là thứ ba.
Inda-bh 1~187Vào lúc bấy giờ, các vị dòng dõi Licchavi rất nổi tiếng đã tụ hội lại ngồi chung trong nhà hội họp rồi tán thán đức Phật, tán thán Giáo Pháp, tán thán Hội Chúng bằng nhiều phương thức.
Inda-bh 2~188Vào lúc bấy giờ, tướng quân Sīha là đệ tử của Nigaṇṭha đã ngồi xuống ở tập thể ấy. Khi ấy, tướng quân Sīha đã khởi ý điều này: “Không còn nghi ngờ gì nữa, đức Thế Tôn ấy phải là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Chính bởi vì các vị dòng dõi Licchavi rất nổi tiếng này khi tụ hội lại ngồi chung trong nhà hội họp đều tán thán đức Phật, tán thán Giáo Pháp, tán thán Hội Chúng bằng nhiều phương thức như thế; có lẽ ta nên đi đến để diện kiến đức Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy?”
Inda-bh 3~189Sau đó, tướng quân Sīha đã đi đến gặp Nigaṇṭha Nāṭaputta, sau khi đến đã đảnh lễ Nigaṇṭha Nāṭaputta rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, tướng quân Sīha đã nói với Nigaṇṭha Nāṭaputta điều này:—“Thưa ngài, tôi muốn đi đến để diện kiến Sa-môn Gotama.”—“Này Sīha, ngươi là người theo thuyết hành động, sao lại đi đến diện kiến Sa-môn Gotama là người thuyết về không hành động? Này Sīha, chính Sa-môn Gotama là người thuyết về không hành động, giảng về pháp không hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.” Khi ấy, ước muốn đi đến để diện kiến đức Thế Tôn của tướng quân Sīha đã được lắng dịu đi.
Inda-bh 4~190Đến lần thứ nhì, … (như trên) … Đến lần thứ ba, các vị dòng dõi Licchavi rất nổi tiếng đã tụ hội lại ngồi chung trong nhà hội họp rồi tán thán đức Phật, tán thán Giáo Pháp, tán thán Hội Chúng bằng nhiều phương thức. Đến lần thứ ba tướng quân Sīha đã khởi ý điều này: “Không còn nghi ngờ gì nữa, đức Thế Tôn ấy phải là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Chính bởi vì các vị dòng dõi Licchavi rất nổi tiếng này khi tụ hội lại ngồi chung trong nhà hội họp đều tán thán đức Phật, tán thán Giáo Pháp, tán thán Hội Chúng bằng nhiều phương thức như thế. Những người Nigaṇṭha dầu có được hỏi ý kiến hay không được hỏi ý kiến thì sẽ làm được điều gì đối với ta? Có lẽ ta không cần hỏi ý kiến các Nigaṇṭha và nên đi đến để diện kiến đức Thế Tôn là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác ấy?”
Inda-bh 5~191Sau đó, vào lúc xế trưa tướng quân Sīha cùng với năm trăm cỗ xe đã rời thành Vesāli để diện kiến đức Thế Tôn. Sau khi đã đi bằng cỗ xe hết khoảng đường dành cho xe, tướng quân Sīha đã xuống xe rồi làm người bộ hành đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi ngồi xuống một bên, tướng quân Sīha đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, tôi được nghe rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thuyết về không hành động, giảng về pháp không hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.’ Bạch ngài, những người nào đã nói như vầy: ‘Sa-môn Gotama là người thuyết về không hành động, giảng về pháp không hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy,’ bạch ngài, phải chăng những người ấy nói đúng về đức Thế Tôn, không gièm pha đức Thế Tôn với sự sai trái, và tuyên bố về pháp phù hợp với Pháp (của ngài) không? Và phải chăng bất cứ người nào sống theo pháp có lời nói hợp với giáo lý đều không phải là đối tượng để chê bai? Bạch ngài, chúng tôi thật tình không có ý lên án đức Thế Tôn.”
Inda-bh 6~192—“Này Sīha, có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thuyết về không hành động, giảng về pháp không hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.’
Inda-bh 7~193Này Sīha, có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thuyết về hành động, giảng về pháp hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.’
Inda-bh 8~194Này Sīha, có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thuyết về đoạn diệt, giảng về pháp đoạn diệt, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.’
Inda-bh 9~195Này Sīha, có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người có sự ghê tởm, giảng về pháp ghê tởm, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.’
Inda-bh 10~196Này Sīha, có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người cách ly, giảng về pháp cách ly, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.’
Inda-bh 11~197Này Sīha, có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thiêu đốt, giảng về pháp thiêu đốt, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.’
Inda-bh 12~198Này Sīha, có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thoát khỏi bào thai, giảng về pháp thoát khỏi bào thai, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.’
Inda-bh 13~199Này Sīha, có pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người tự tin, giảng về pháp tự tin, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.’
Inda-bh 14~200Này Sīha, thế nào là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thuyết về không hành động, giảng về pháp không hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy’? Này Sīha, bởi vì ta giảng về không hành động của thân làm ác, của miệng nói ác, của ý nghĩ ác; ta giảng về không hành động của các pháp ác bất thiện có nhiều dạng. Này Sīha, đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thuyết về không hành động, giảng về pháp không hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.’
Inda-bh 15~201Này Sīha, thế nào là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thuyết về hành động, giảng về pháp hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy’? Này Sīha, bởi vì ta giảng về hành động của thân làm thiện, của miệng nói thiện, của ý nghĩ thiện; ta giảng về hành động của các thiện pháp dưới nhiều dạng. Này Sīha, đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thuyết về hành động, giảng về pháp hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.’
Inda-bh 16~202Này Sīha, thế nào là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thuyết về đoạn diệt, giảng về pháp đoạn diệt, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy’? Này Sīha, bởi vì ta giảng về sự đoạn diệt của luyến ái, của sân, của si; ta giảng về sự đoạn diệt của các pháp ác bất thiện có nhiều dạng. Này Sīha, đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thuyết về đoạn diệt, giảng về pháp đoạn diệt, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.’
Inda-bh 17~203Này Sīha, thế nào là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người có sự ghê tởm, giảng về pháp ghê tởm, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy’? Này Sīha, bởi vì ta ghê tởm với việc làm ác của thân, với lời nói ác của miệng, với suy nghĩ ác của ý; ta giảng pháp về điều ghê tởm trong sự tạo thành các pháp ác bất thiện có nhiều dạng. Này Sīha, đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người có sự ghê tởm, giảng về pháp ghê tởm, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.’
Inda-bh 18~204Này Sīha, thế nào là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người cách ly, giảng về pháp cách ly, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy’? Này Sīha, bởi vì ta giảng pháp về sự cách ly đối với luyến ái, đối với sân, đối với si; ta giảng pháp về sự cách ly đối với các pháp ác bất thiện có nhiều dạng. Này Sīha, đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người cách ly, giảng về pháp cách ly, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.’
Inda-bh 19~205Này Sīha, thế nào là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thiêu đốt, giảng về pháp thiêu đốt, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy’? Này Sīha, ta giảng về các pháp ác và bất thiện là việc làm ác của thân, lời nói ác của miệng, suy nghĩ ác của ý cần được thiêu đốt. Này Sīha, người nào có các pháp ác và bất thiện cần được thiêu đốt đã được diệt tận, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai; ta gọi người ấy là: ‘Người thiêu đốt.’ Này Sīha, các pháp ác và bất thiện cần được thiêu đốt của Như Lai đã được diệt tận, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai. Này Sīha, đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thiêu đốt, giảng về pháp thiêu đốt, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.’
Inda-bh 20~206Này Sīha, thế nào là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thoát khỏi bào thai, giảng về pháp thoát khỏi bào thai, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy’? Này Sīha, sự sanh vào bào thai trong ngày vị lai của người nào, tức là sự tái sanh và hiện hữu lần nữa đã được diệt tận, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai; ta gọi người ấy là: ‘Người thoát khỏi bào thai.’ Này Sīha, sự sanh vào bào thai trong ngày vị lai của Như Lai, tức là sự hiện hữu lần nữa và là sự tái sanh đã được diệt tận, các rễ đã được cắt lìa, như cây thốt nốt đã bị bứng gốc, đã bị làm cho không còn sự sống, không còn các điều kiện sanh khởi trong tương lai. Này Sīha, đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người thoát khỏi bào thai, giảng về pháp thoát khỏi bào thai, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.’
Inda-bh 21~207Này Sīha, thế nào là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người tự tin, giảng về pháp tự tin, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy’? Này Sīha, bởi vì ta là người tự tin, ta giảng về sự tự tin với sự tự tin tối thượng, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy. Này Sīha, đây là pháp môn mà với pháp môn ấy, trong khi nói một cách đúng đắn về ta thì có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người tự tin, giảng về pháp tự tin, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.’”
Inda-bh 22~208Khi được nói như thế, tướng quân Sīha đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): ‘Những ai có mắt sẽ thấy được các hình dáng;’ tương tợ như thế, Pháp đã được đức Thế Tôn chỉ rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội Chúng tỳ khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.”
Inda-bh 23~209—“Này Sīha, ông hãy tiến hành việc suy xét. Việc suy xét đối với những người nổi tiếng như ông là tốt đẹp.”—“Bạch ngài, với lời nói này của đức Thế Tôn con càng thêm hoan hỷ và phấn khởi; bởi vì đức Thế Tôn đã nói với con như vầy: ‘Này Sīha, ông hãy tiến hành việc suy xét. Việc suy xét đối với những người nổi tiếng như ông là tốt đẹp.’ Bạch ngài, bởi vì các ngoại đạo sau khi thâu nhận con làm đệ tử có thể vác cờ đi khắp cả Vesāli (rêu rao) rằng: ‘Tướng quân Sīha đã trở thành đệ tử của chúng tôi!’ thế mà đức Thế Tôn đã nói với con như vầy: ‘Này Sīha, ông hãy tiến hành việc suy xét. Việc suy xét đối với những người nổi tiếng như ông là tốt đẹp.’ Bạch ngài, lần thứ nhì con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội Chúng tỳ khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.”
Inda-bh 24~210—“Này Sīha, lâu nay gia đình ông là nguồn nước cho những người Nigaṇṭha, vì thế đối với những người ấy ông nên suy nghĩ đến vật thực cần được bố thí khi họ đi đến.”—“Bạch ngài, với lời nói này của đức Thế Tôn con càng thêm hoan hỷ và phấn khởi bởi vì đức Thế Tôn đã nói với con như vầy: ‘Này Sīha, lâu nay gia đình ông là nguồn nước cho những người Nigaṇṭha, vì thế đối với những người ấy ông nên suy nghĩ đến vật thực cần được bố thí khi họ đi đến.’
Inda-bh 25~211Bạch ngài, con đã được nghe điều này, Sa-môn Gotama đã nói như vầy: ‘Vật bố thí chỉ nên dâng đến ta thôi, vật bố thí không nên dâng đến những người khác. Vật bố thí chỉ nên dâng đến các đệ tử của ta thôi, vật bố thí không nên dâng đến các đệ tử của những người khác. Đã dâng đến riêng ta thôi thì có quả báu lớn, đã dâng đến những người khác thì không có quả báu lớn. Đã dâng đến các đệ tử của ta thôi thì có quả báu lớn, đã dâng đến các đệ tử của những người khác thì không có quả báu lớn,’ thế mà đức Thế Tôn lại khuyến khích con việc bố thí cho những người Nigaṇṭha. Bạch ngài, tuy nhiên trong trường hợp này chúng con sẽ biết thời điểm. Bạch ngài, lần thứ ba con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội Chúng tỳ khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.”
Inda-bh 26~212Sau đó, đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến tướng quân Sīha. Tức là ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự tai hại sự thấp kém sự ô nhiễm của các dục, sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được tướng quân Sīha có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải đã được làm sạch, không còn vết nhơ, có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến tướng quân Sīha: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
Inda-bh 27~213Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, tướng quân Sīha đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn và hội chúng tỳ khưu nhận lời bữa trai phạn của con vào ngày mai.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, tướng quân Sīha hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 28~214Sau đó, tướng quân Sīha đã ra lệnh cho người đàn ông nọ rằng:—“Này ngươi, hãy đi và tìm (mua) loại thịt đã được làm sẵn.” Sau đó, khi trải qua đêm ấy tướng quân Sīha đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn:—“Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.” Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến tư dinh của tướng quân Sīha, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu.
Inda-bh 29~215Vào lúc bấy giờ, có nhiều người Nigaṇṭha, từ đường phố (này) đến đường phố (khác) từ giao lộ (này) đến giao lộ (khác), huơ tay kêu gào rằng: “Hôm nay, tướng quân Sīha đã giết con thú lớn và làm bữa trai phạn cho Sa-môn Gotama. Sa-môn Gotama trong khi biết điều ấy, vẫn thọ dụng thịt đã được làm có liên quan (đến mình); (đó là) nghiệp có tính cách liên đới.”
Inda-bh 30~216Sau đó, có người đàn ông nọ đã đi đến gặp tướng quân Sīha, sau khi đến đã thì thầm vào tai của tướng quân Sīha rằng:—“Thưa tướng quân, ngài có biết không? Những người Nigaṇṭha ấy, từ đường phố (này) đến đường phố (khác) từ giao lộ (này) đến giao lộ (khác), huơ tay kêu gào rằng: ‘Hôm nay, tướng quân Sīha đã giết con thú lớn và đã làm bữa trai phạn cho Sa-môn Gotama. Sa-môn Gotama trong khi biết điều ấy, vẫn thọ dụng thịt đã được làm có liên quan (đến mình); (đó là) nghiệp có tính cách liên đới.’”
Inda-bh 31~217—“Ông bạn ơi, thôi đi! Đã từ lâu nay, các ngài đại đức ấy có ý muốn phỉ báng đức Phật, có ý muốn phỉ báng Giáo Pháp, có ý muốn phỉ báng Hội Chúng. Nhưng các ngài đại đức ấy không lượng sức, phí công, láo khoét, trong khi vu khống với điều không thật mà vẫn không làm tổn hại được đức Thế Tôn ấy. Và chúng tôi, cho dầu vì lý do sống còn, cũng không cố ý tước đoạt mạng sống của chúng sanh.”
Inda-bh 32~218Sau đó, tướng quân Sīha đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong có bàn tay đã rời khỏi bình bát, tướng quân Sīha đã ngồi xuống một bên. Khi tướng quân Sīha đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho tướng quân Sīha bằng bài Pháp thoại, rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi.
Inda-bh 33~219Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, trong khi biết thịt được làm (giết) có liên quan (đến bản thân) thì không nên thọ dụng; vị nào thọ dụng phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép (thọ dụng) cá và thịt có được ba điều tuyệt đối thanh tịnh: không được thấy, không được nghe, không nghi ngờ.”121
Inda-bh 34~220Vào lúc bấy giờ, thành Vesāli có sự sung túc về vật thực, các vụ mùa tốt đẹp, vật thực kiếm được dễ dàng, sự sinh sống được dễ dàng bằng sự mót nhặt hoặc sự tốt bụng (của người khác).
Inda-bh 35~221Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Những điều gì mà ta đã cho phép các tỳ khưu trong lúc khó khăn về vật thực, mùa màng bị thất thu, vật thực kiếm được khó khăn như là (vật thực) đã được tích trữ ở bên trong (khuôn viên), đã được nấu ở bên trong (khuôn viên), đã được tự mình nấu, do việc thọ lãnh (trái cây) đã được nhặt lên, (vật thực) đã được đem lại từ chỗ đã ăn xong, đã được thọ lãnh trước bữa ăn, đã được mọc ở rừng, đã được mọc ở hồ nước, phải chăng ngay cả hôm nay các tỳ khưu vẫn còn thọ dụng những thứ ấy?”
Inda-bh 36~222Sau đó vào lúc chiều tối, khi xuất khỏi thiền tịnh đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, những điều gì mà ta đã cho phép các tỳ khưu trong lúc khó khăn về vật thực, mùa màng bị thất thu, vật thực kiếm được khó khăn như là (vật thực) đã được tích trữ ở bên trong (khuôn viên), đã được nấu ở bên trong (khuôn viên), đã được tự mình nấu, do việc thọ lãnh (trái cây) đã được nhặt lên, đã được đem lại từ chỗ đã ăn xong, đã được thọ lãnh trước bữa ăn, đã được mọc ở rừng, đã được mọc ở hồ nước, phải chăng ngay cả hôm nay các tỳ khưu vẫn còn thọ dụng những thứ ấy?”—“Bạch đức Thế Tôn, các vị vẫn thọ dụng.”
Inda-bh 37~223Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, những điều gì mà ta đã cho phép các tỳ khưu trong lúc khó khăn về vật thực, mùa màng bị thất thu, vật thực kiếm được khó khăn như là (vật thực) đã được tích trữ ở bên trong (khuôn viên), đã được nấu ở bên trong (khuôn viên), đã được tự mình nấu, do việc thọ lãnh (trái cây) đã được nhặt lên, (vật thực) đã được đem lại từ chỗ đã ăn xong, đã được thọ lãnh trước bữa ăn, đã được mọc ở rừng, đã được mọc ở hồ nước, kể từ hôm nay ta hủy bỏ những điều ấy. Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng (vật thực) đã được tích trữ ở bên trong (khuôn viên), đã được nấu ở bên trong (khuôn viên), đã được tự mình nấu, do việc thọ lãnh (trái cây) đã được nhặt lên; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng (vật thực) đã được đem lại từ chỗ đã ăn xong, đã được thọ lãnh trước bữa ăn, đã được mọc ở rừng, đã được mọc ở hồ nước; vị nào thọ dụng thì nên được hành xử theo Pháp.”
Inda-bh 38~224Vào lúc bấy giờ, dân chúng trong xứ sở cho người chất lên các xe hàng nhiều muối, dầu ăn, gạo lức, và vật thực loại cứng rồi đánh xe quây thành vòng tròn ở phía bên ngoài cổng lớn của tu viện và chờ đợi (nghĩ rằng): “Khi nào chúng tôi nhận được phiên, chúng tôi sẽ thực hiện bữa trai phạn.” Và có đám mây đen lớn kéo đến.
Inda-bh 39~225Khi ấy, những người ấy đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã nói với đại đức Ānanda điều này:—“Thưa ngài Ānanda, ở đây nhiều muối, dầu ăn, gạo lức, và vật thực loại cứng đã được chất trong các xe hàng và chúng đang còn đó. Giờ có đám mây đen lớn kéo đến. Thưa ngài Ānanda, vậy chúng tôi nên thực hành như thế nào?”
Inda-bh 40~226Khi ấy, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này Ānanda, như thế thì hội chúng hãy chỉ định trú xá ở ven rào là khu vực làm thành được phép; hãy tích trữ vật mà hội chúng mong muốn ở nơi ấy, (có thể) là trú xá, hoặc nhà một mái, hoặc tòa nhà dài, hoặc khu nhà lớn, hoặc hang động. Và này các tỳ khưu, nên được chỉ định như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định trú xá tên (như vầy) là khu vực làm thành được phép. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định trú xá tên (như vầy) là khu vực làm thành được phép. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định trú xá tên (như vầy) là khu vực làm thành được phép xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Trú xá tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là khu vực làm thành được phép. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 41~227Vào lúc bấy giờ, ngay tại chỗ đã được chỉ định là khu vực làm thành được phép, dân chúng nấu các loại cháo, nấu các món thức ăn, chuẩn bị các món xúp, băm các thứ thịt, chẻ những thanh củi.
Inda-bh 42~228Sau khi thức dậy trong đêm vào lúc hừng sáng, đức Thế Tôn đã nghe tiếng ồn ào, tiếng ầm ĩ, tiếng kêu của những con quạ, sau khi nghe đã hỏi đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, tiếng ồn ào, tiếng ầm ĩ ấy, tiếng kêu của những con quạ là gì vậy?”—“Bạch ngài, hiện nay dân chúng nấu các loại cháo, nấu các món thức ăn, chuẩn bị các món xúp, băm các thứ thịt, chẻ những thanh củi ngay tại chỗ đã được chỉ định là khu vực làm thành được phép; bạch Thế Tôn, đó chính là tiếng ồn ào, tiếng ầm ĩ, tiếng kêu của những con quạ.”
Inda-bh 43~229Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng khu vực làm thành được phép đã được chỉ định; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép ba loại khu vực làm thành được phép là loại do sự công bố, loại do sự ngẫu nhiên, và loại có liên quan gia chủ.”
Inda-bh 44~230Vào lúc bấy giờ, đại đức Yasoja bị bệnh. Các dược phẩm thuộc về nhu cầu của vị ấy được mang đến. Các vị tỳ khưu đã tích trữ chúng ở bên ngoài (khuôn viên). Các con thú hoang đã ăn đi. Những kẻ trộm đã lấy đi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép sử dụng khu vực làm thành được phép đã được chỉ định. Này các tỳ khưu, ta cho phép bốn loại khu vực làm thành được phép là loại do sự công bố, loại do sự ngẫu nhiên, loại có liên quan đến gia chủ, và loại đã được chỉ định.”
Tụng phẩm Sīha là thứ tư.
Inda-bh 1~231Vào lúc bấy giờ, gia chủ Meṇḍaka cư ngụ ở thành phố Bhaddiya. Vị ấy có năng lực thần thông như vầy: Sau khi gội rửa đầu và bảo người quét kho lúa rồi vị ấy ngồi xuống ở bên ngoài cánh cửa thì có trận mưa thóc từ trên trời rơi xuống và làm ngập đầy kho lúa.
Inda-bh 2~232Người vợ có năng lực thần thông như vầy: Sau khi ngồi xuống bên cạnh cái tô bằng kim loại dung tích chỉ một āḷhaka và có một phần xúp, nàng phân phát thức ăn cho nô tỳ, người làm công, và người hầu; cho đến khi nào nàng chưa đứng dậy thì cái tô vẫn không hết.
Inda-bh 3~233Cậu con trai có năng lực thần thông như vầy: Sau khi cầm cái túi chứa chỉ một ngàn đồng, cậu ta trả lương sáu tháng cho nô tỳ, người làm công, và người hầu; cho đến khi nào cái túi còn ở trong tay của cậu ta thì cái túi vẫn không cạn (tiền).
Inda-bh 4~234Cô con dâu có năng lực thần thông như vầy: Sau khi ngồi xuống bên cạnh chỉ một cái giỏ có dung tích bốn doṇi, nàng cho nô tỳ, người làm công, và người hầu lương thực sáu tháng; cho đến khi nào nàng chưa đứng dậy thì cái giỏ vẫn không cạn.
Inda-bh 5~235Người tớ trai có năng lực thần thông như vầy: Khi anh ta kéo cày một đường thì bảy luống cày xuất hiện.
Inda-bh 6~236Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nghe rằng: “Nghe nói trong vương quốc của chúng ta có gia chủ Meṇḍaka cư ngụ ở thành phố Bhaddiya. Vị ấy có năng lực thần thông như vầy: Sau khi gội rửa đầu và bảo người quét kho lúa rồi vị ấy ngồi xuống ở bên ngoài cánh cửa thì có trận mưa thóc từ trên trời rơi xuống và làm ngập đầy kho lúa. Người vợ có năng lực thần thông như vầy: Sau khi ngồi xuống bên cạnh cái tô bằng kim loại dung tích chỉ một āḷhaka và có một phần xúp, nàng phân phát thức ăn cho nô tỳ, người làm công, và người hầu; cho đến khi nào nàng chưa đứng dậy thì cái tô vẫn không hết. Cậu con trai có năng lực thần thông như vầy: Sau khi cầm cái túi chứa chỉ một ngàn đồng, cậu ta trả lương sáu tháng cho nô tỳ, người làm công, và người hầu; cho đến khi nào cái túi còn ở trong tay của cậu ta thì cái túi vẫn không cạn (tiền). Cô con dâu có năng lực thần thông như vầy: Sau khi ngồi xuống bên cạnh chỉ một cái giỏ có dung tích bốn doṇi, nàng cho nô tỳ, người làm công, và người hầu lương thực sáu tháng; cho đến khi nào nàng chưa đứng dậy thì cái giỏ vẫn không cạn. Người tớ trai có năng lực thần thông như vầy: Khi anh ta kéo cày một đường thì bảy luống cày xuất hiện.”
Inda-bh 7~237Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã bảo viên quan đại thần nọ là vị tổng quản rằng:—“Này khanh, nghe nói trong vương quốc của chúng ta có gia chủ Meṇḍaka cư ngụ ở thành phố Bhaddiya. Vị ấy có năng lực thần thông như vầy: Sau khi gội rửa đầu và bảo người quét kho lúa rồi vị ấy ngồi xuống ở bên ngoài cánh cửa thì có trận mưa thóc từ trên trời rơi xuống và làm ngập đầy kho lúa. Người vợ … (như trên) … Cậu con trai … (như trên) … Cô con dâu … (như trên) … Người tớ trai có năng lực thần thông như vầy: Khi anh ta kéo cày một đường thì bảy luống cày xuất hiện. Này khanh, hãy đi. Hãy biết rằng đích thân trẫm xem xét như thế nào, thì ngươi sẽ xem xét như thế ấy.”
Inda-bh 8~238—“Tâu đại vương, xin tuân lệnh.” Rồi viên quan đại thần ấy nghe theo đức vua Seniya Bimbisāsa xứ Magadha cùng với đội quân gồm bốn loại binh chủng đã khởi hành đi thành phố Bhaddiya, tuần tự đã đến thành phố Bhaddiya gặp gia chủ Meṇḍaka, sau khi đến đã nói với gia chủ Meṇḍaka điều này:—“Này gia chủ, chính ta đã được đức vua ra lệnh rằng: ‘Này khanh, nghe nói trong vương quốc của chúng ta có gia chủ Meṇḍaka cư ngụ ở thành phố Bhaddiya. Vị ấy có năng lực thần thông như vầy: Sau khi gội rửa đầu và bảo người quét kho lúa rồi vị ấy ngồi xuống ở bên ngoài cánh cửa thì có trận mưa thóc từ trên trời rơi xuống và làm ngập đầy kho lúa. … (như trên) … Người tớ trai có năng lực thần thông như vầy: Khi anh ta kéo cày một đường thì bảy luống cày xuất hiện. Này khanh, hãy đi và tìm hiểu. Đích thân trẫm xem xét như thế nào thì ngươi sẽ xem xét như thế ấy.’ Này gia chủ, hãy cho chúng ta nhìn thấy năng lực thần thông của ngươi.”
Inda-bh 9~239Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka đã gội rửa đầu và bảo người quét kho lúa rồi ngồi xuống ở bên ngoài cánh cửa thì có trận mưa thóc từ trên trời rơi xuống và làm ngập đầy kho lúa.
Inda-bh 10~240—“Này gia chủ, năng lực thần thông của ngươi đã được nhìn thấy. Chúng ta hãy xem năng lực thần thông của vợ ngươi.” Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka đã ra lệnh cho người vợ rằng:—“Như vậy thì nàng hãy phân phát thức ăn cho đội quân gồm bốn loại binh chủng đi.” Khi ấy, sau khi ngồi xuống bên cạnh cái tô bằng kim loại dung tích chỉ một āḷhaka và có một phần xúp, người vợ của gia chủ Meṇḍaka đã phân phát thức ăn cho đội quân gồm bốn loại binh chủng; cho đến khi nào nàng chưa đứng dậy thì cái tô vẫn không hết.
Inda-bh 11~241—“Này gia chủ, năng lực thần thông của vợ ngươi đã được nhìn thấy. Chúng ta hãy xem năng lực thần thông của con trai ngươi.” Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka đã ra lệnh cho người con trai rằng:—“Như vậy thì con hãy trả lương sáu tháng cho đội quân gồm bốn loại binh chủng đi.” Khi ấy, sau khi cầm một cái túi chứa chỉ một ngàn đồng, người con trai của gia chủ Meṇḍaka đã trả lương sáu tháng cho đội quân gồm bốn loại binh chủng; cho đến khi nào cái túi còn ở trong tay của cậu ta thì cái túi vẫn không cạn (tiền).
Inda-bh 12~242—“Này gia chủ, năng lực thần thông của con trai ngươi đã được nhìn thấy. Chúng ta hãy xem năng lực thần thông của con dâu ngươi.” Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka đã ra lệnh cho người con dâu rằng:—“Như vậy thì con hãy cho đội quân gồm bốn loại binh chủng lương thực sáu tháng đi.” Khi ấy, sau khi ngồi xuống bên cạnh chỉ một cái giỏ có dung tích bốn doṇi, người con dâu của gia chủ Meṇḍakanàng đã cho đội quân gồm bốn loại binh chủng lương thực sáu tháng; cho đến khi nào nàng chưa đứng dậy thì cái giỏ vẫn không cạn.
Inda-bh 13~243—“Này gia chủ, năng lực thần thông của con dâu ngươi đã được nhìn thấy. Chúng ta hãy xem năng lực thần thông của người tớ trai của ngươi.”—“Thưa ngài, năng lực thần thông của người tớ trai của tôi sẽ được nhìn thấy ở ngoài ruộng.”—“Này gia chủ, thôi đi. Năng lực thần thông của người tớ trai của ngươi cũng đã được nhìn thấy rồi.”
Inda-bh 14~244Sau đó, viên quan đại thần ấy cùng với đội quân gồm bốn loại binh chủng đã quay trở về lại thành Rājagaha rồi đi đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã trình sự việc ấy lên đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.
Inda-bh 15~245Sau đó, khi đã ngự tại thành Vesāli theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía Bhaddiya cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu.
Inda-bh 16~246Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến Bhaddiya. Tại nơi đó ở Bhaddiya, đức Thế Tôn ngự tại khu rừng Jātiyā.
Inda-bh 17~247Gia chủ Meṇḍaka đã nghe rằng: “Quả thật ngài Sa-môn Gotama con trai dòng Sakya, từ dòng dõi Sakya đã xuất gia, nay đã ngự đến Bhaddiya và ngụ tại khu rừng Jātiyā. Tiếng đồn tốt đẹp về ngài Gotama ấy đã được lan rộng ra như vầy: Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Tối Thượng Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí của mình, vị ấy chứng ngộ và công bố về thế gian này tính luôn cõi chư Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, các hạng chư Thiên và loài người. Vị ấy thuyết giảng Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự, giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ. Tốt thay cho việc diện kiến các vị A-la-hán như thế ấy.”
Inda-bh 18~248Sau đó, gia chủ Meṇḍaka đã cho thắng (ngựa vào) những cỗ xe vô cùng lộng lẫy, rồi bước lên cỗ xe lộng lẫy, sau đó rời khỏi Bhaddiya với những cỗ xe vô cùng lộng lẫy để diện kiến đức Thế Tôn.
Inda-bh 19~249Nhiều du sĩ ngoại đạo đã nhìn thấy gia chủ Meṇḍaka từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói với gia chủ Meṇḍaka điều này:—“Này gia chủ, ngươi đi đâu vậy?”—“Thưa các ngài, tôi đi để diện kiến đức Thế Tôn là Sa-môn Gotama.”—“Này gia chủ, ngươi là người theo thuyết hành động, sao lại đi đến diện kiến Sa-môn Gotama là người thuyết về không hành động? Này gia chủ, chính Sa-môn Gotama là người thuyết về không hành động, giảng về Pháp không hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy.”
Inda-bh 20~250Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka đã khởi ý điều này: “Theo như cách những người du sĩ ngoại đạo này ganh tị thì quả nhiên không còn nghi ngờ về đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.” Sau khi đã đi bằng cỗ xe hết khoảng đường dành cho xe, gia chủ Meṇḍaka đã xuống xe rồi làm người bộ hành đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi gia chủ Meṇḍaka đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến gia chủ Meṇḍaka. Tức là ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự tai hại sự thấp kém sự ô nhiễm của các dục, sự lợi ích của việc xuất ly.
Inda-bh 21~251Khi đức Thế Tôn biết được Gia chủ Meṇḍaka có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải đã được làm sạch, không còn vết nhơ, có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến gia chủ Meṇḍaka: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
Inda-bh 22~252Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, gia chủ Meṇḍaka đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): ‘Những ai có mắt sẽ thấy được các hình dáng;’ tương tợ như thế, Pháp đã được đức Thế Tôn chỉ rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội Chúng tỳ khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời con về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 23~253Sau đó, khi trải qua đêm ấy gia chủ Meṇḍaka đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn:—“Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.”
Inda-bh 24~254Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến tư gia của gia chủ Meṇḍaka, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu.
Inda-bh 25~255Sau đó, người vợ của gia chủ Meṇḍaka cùng với con trai, con dâu, và người tớ trai đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến những người ấy. Tức là ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự tai hại sự thấp kém sự ô nhiễm của các dục, sự lợi ích của việc xuất ly.
Inda-bh 26~256Khi đức Thế Tôn biết được những người ấy có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải đã được làm sạch, không còn vết nhơ, có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến những người ấy: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
Inda-bh 27~257Khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, những người ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): ‘Những ai có mắt sẽ thấy được các hình dáng;’ tương tợ như thế, Pháp đã được đức Thế Tôn chỉ rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, chúng con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội Chúng tỳ khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận chúng con là những cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.”
Inda-bh 28~258Sau đó, gia chủ Meṇḍaka đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong có bàn tay đã rời khỏi bình bát, gia chủ Meṇḍaka đã ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, gia chủ Meṇḍaka đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, con xin dâng vật thực thường xuyên đến hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu cho đến khi nào đức Thế Tôn còn ngụ tại Bhaddiya.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho gia chủ Meṇḍaka bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Inda-bh 29~259Sau đó, khi đã ngự tại Bhaddiya theo như ý thích, đức Thế Tôn không thông báo cho gia chủ Meṇḍaka rồi đã ra đi du hành về phía Aṅguttarāpa cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu.
Inda-bh 30~260Gia chủ Meṇḍaka đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn đang đi du hành về phía Aṅguttarāpa cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu.”
Inda-bh 31~261Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka đã ra lệnh cho những người nô lệ và những người làm công rằng:—“Này các người, như thế thì hãy chất lên các xe hàng nhiều muối, dầu ăn, gạo lức, và vật thực loại cứng rồi hãy đi đến. Và một ngàn hai trăm năm mươi người chăn bò hãy lấy ra một ngàn hai trăm năm mươi con bò cái rồi hãy đi đến. Nơi nào chúng ta gặp được đức Thế Tôn, chúng ta sẽ dâng sữa tươi để (ngài) thọ dụng.”
Inda-bh 32~262Sau đó, gia chủ Meṇḍaka đã gặp được đức Thế Tôn ở khu rừng vắng trên đường đi. Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, gia chủ Meṇḍaka đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời con về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 33~263Sau đó, khi trải qua đêm ấy gia chủ Meṇḍaka đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn:—“Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.”
Inda-bh 34~264Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến chỗ cúng dường thức ăn của gia chủ Meṇḍaka, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu.
Inda-bh 35~265Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka đã ra lệnh cho một ngàn hai trăm năm mươi người chăn bò rằng:—“Này các người, như vậy thì hãy dắt mỗi một con bò cái đến đứng gần mỗi một vị tỳ khưu. Chúng ta sẽ dâng sữa tươi để (các vị) thọ dụng.”
Inda-bh 36~266Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm và sữa tươi. Các vị tỳ khưu trong lúc ngần ngại không thọ lãnh sữa.—“Này các tỳ khưu, hãy thọ lãnh và hãy thọ dụng.”
Inda-bh 37~267Sau đó, gia chủ Meṇḍaka đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm và sữa tươi. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong có bàn tay đã rời khỏi bình bát, gia chủ Meṇḍaka đã ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, gia chủ Meṇḍaka đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, có những con đường, những khu rừng vắng, ít nước, ít vật thực, công việc không được thuận tiện nếu đi không có vật thực đi đường. Bạch ngài, tốt thay xin đức Thế Tôn hãy cho phép vật thực đi đường đến các vị tỳ khưu.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho gia chủ Meṇḍaka bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Inda-bh 38~268Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép năm sản phẩm từ bò là sữa tươi, sữa đông, sữa bơ, bơ đặc, bơ lỏng. Này các tỳ khưu, có những con đường, những khu rừng vắng, ít nước, ít vật thực, công việc không được thuận tiện nếu đi không có vật thực đi đường. Này các tỳ khưu, ta cho phép tầm cầu vật thực đi đường là gạo lức với vị có nhu cầu về gạo lức, đậu mugga với vị có nhu cầu về đậu mugga, đậu māsa với vị có nhu cầu về đậu māsa, muối với vị có nhu cầu về muối, đường với vị có nhu cầu về đường, dầu ăn với vị có nhu cầu về dầu ăn, bơ lỏng với vị có nhu cầu về bơ lỏng. Này các tỳ khưu, có những người dân có niềm tin, mộ đạo, những người này để tiền vàng ở tay của người làm thành được phép (nói rằng): ‘Hãy dâng đến ngài đại đức vật đã làm trở thành được phép từ vật này.’ Này các tỳ khưu, ta cho phép chấp nhận vật đã làm trở thành được phép từ điều ấy, nhưng này các tỳ khưu ta không nói rằng: ‘Vàng và bạc có thể được chấp nhận, có thể được tầm cầu bởi bất cứ cách thức nào.’”
Inda-bh 39~269Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến Āpaṇa. Đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã nghe rằng: “Quả thật ngài Sa-môn Gotama con trai dòng Sakya, từ dòng dõi Sakya đã xuất gia, nay đã ngự đến Bhaddiya và ngụ tại Āpaṇa. Tiếng đồn tốt đẹp về ngài Gotama ấy đã được lan rộng ra như vầy: Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Tối Thượng Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí của mình, vị ấy chứng ngộ và công bố về thế gian này tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, các hạng chư Thiên và loài người. … (như trên) … Tốt thay cho việc diện kiến các vị A-la-hán như thế ấy.”
Inda-bh 40~270Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã khởi ý điều này: “Ta nên cho người đem đến cho Sa-môn Gotama vật gì đây?” Sau đó, đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã khởi ý điều này: “Những người ẩn sĩ trước đây là Bà-la-môn, là những người làm ra chú thuật, là những người sử dụng chú thuật, những người ấy có hình thức chú thuật cổ điển đã được đọc tụng, đã được nói ra, đã được thực hiện mà những người Bà-la-môn hiện nay cũng đọc tụng theo hình thức ấy, nói ra theo hình thức ấy, giảng giải theo điều đã được giảng giải, nói lại điều đã được nói, (các vị ấy) như là: Aṭṭaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, Bhagu đã không ăn vào buổi tối, đã kiêng cữ việc ăn phi thời, các vị ấy chấp nhận các thức uống như thế này. Sa-môn Gotama cũng không ăn vào buổi tối và kiêng cữ việc ăn phi thời nên Sa-môn Gotama cũng xứng đáng được chấp nhận các thức uống như thế này” nên đã cho chuẩn bị sẵn sàng nhiều thức uống và cho người đem đi bằng những giỏ mang sau vai rồi đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng một bên. Khi đã đứng một bên, đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Xin ngài Gotama hãy thọ lãnh thức uống của tôi.”—“Này Keṇiya, như vậy thì hãy dâng cho các tỳ khưu.” Các vị tỳ khưu trong lúc ngần ngại không thọ lãnh.—“Này các tỳ khưu, hãy thọ lãnh và hãy thọ dụng.”
Inda-bh 41~271Sau đó, đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với nhiều loại thức uống. Đến khi đức Thế Tôn có cánh tay đã được rửa, bàn tay đã rời khỏi bình bát, đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã ngồi xuống một bên. Khi đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đạo sĩ bện tóc Keṇiya bằng bài Pháp thoại.
Inda-bh 42~272Sau đó, khi đã được đức Thế tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin ngài Gotama hãy nhận lời tôi về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.”—“Này Keṇiya, hội chúng tỳ khưu rất đông có đến một ngàn hai trăm năm chục vị tỳ khưu và ngươi đã đặt nhiều niềm tin vào các vị Bà-la-môn.” Đến lần thứ nhì, đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài Gotama, dầu cho hội chúng tỳ khưu rất đông có đến một ngàn hai trăm năm chục vị tỳ khưu và (dầu cho) tôi đã đặt nhiều niềm tin vào các vị Bà-la-môn, xin ngài Gotama hãy nhận lời tôi về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.”—“Này Keṇiya, hội chúng tỳ khưu rất đông có đến một ngàn hai trăm năm chục vị tỳ khưu và ngươi đã đặt nhiều niềm tin vào các vị Bà-la-môn.” Đến lần thứ ba, đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài Gotama, dầu cho hội chúng tỳ khưu rất đông có đến một ngàn hai trăm năm chục vị tỳ khưu và (dầu cho) tôi đã đặt nhiều niềm tin vào các vị Bà-la-môn, xin ngài Gotama hãy nhận lời tôi về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Keṇiya hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Inda-bh 43~273Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tám loại thức uống: nước xoài, nước mận, nước chuối hột, nước chuối không hột, nước mật ong, nước nho, nước ngó sen, nước dâu. Này các tỳ khưu, ta cho phép tất cả các loại nước cốt trái cây ngoại trừ nước cốt của ngũ cốc. Này các tỳ khưu, ta cho phép tất cả các loại nước cốt của lá cây ngoại trừ nước cốt của rau cải nấu chín. Này các tỳ khưu, ta cho phép tất cả các loại nước cốt của bông hoa ngoại trừ nước cốt của bông cây cam thảo. Này các tỳ khưu, ta cho phép nước cốt của cây mía.”
Inda-bh 44~274Sau đó, khi trải qua đêm ấy đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm tại khu ẩn cư của mình rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn:—“Bạch ngài Gotama, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.” Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến khu ẩn cư của đạo sĩ bện tóc Keṇiya, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu.
Inda-bh 45~275Sau đó, đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong có bàn tay đã rời khỏi bình bát, đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã ngồi xuống một bên. Khi đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã nói lời tùy hỷ đến đạo sĩ bện tóc Keṇiya đang ngồi một bên bằng những lời kệ này:
i. “Các việc cúng tế có sự cúng dường lửa là đứng đầu, kinh cổ Sāvittī là đứng đầu về niêm luật, đức vua là đứng đầu loài người, biển cả đứng đầu các con sông.
ii. Mặt trăng đứng đầu các vì sao, mặt trời đứng đầu các vật tỏa sáng. Đối với những người mong mỏi phước đang cúng dường thì Hội Chúng là đứng đầu.”
Inda-bh 46~276Sau đó, khi đã nói lời tùy hỷ đến đạo sĩ bện tóc Keṇiya bằng những lời kệ này, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Sau đó, khi đã ngự tại Āpaṇa theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía Kusinārā cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu.
Inda-bh 47~277Những người dân Malla ở Kusinārā đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn đi đến Kusinārā cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu.” Họ đã ra quy định là: “Ai không thực hiện việc đi ra đón đức Thế Tôn, hình phạt dành cho người này là năm trăm (tiền).”
Inda-bh 48~278Vào lúc bấy giờ, Roja người Malla là bạn của đại đức Ānanda. Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến Kusinārā. Khi ấy, những người dân Malla ở Kusinārā đã thực hiện việc đi ra đón đức Thế Tôn.
Inda-bh 49~279Sau đó, khi đã thực hiện việc đi ra đón đức Thế Tôn, Roja người Malla đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Ānanda rồi đứng một bên. Khi Roja người Malla đã đứng một bên, đại đức Ānanda đã nói với Roja người Malla điều này:—“Này bạn Roja, thật là tuyệt vời khi bạn đã thực hiện việc đi ra đón đức Thế Tôn.”—“Thưa ngài Ānanda, tôi không có nhiều niềm tin đối với đức Phật, Giáo Pháp, hay Hội Chúng. Chỉ vì thân quyến đã ra quy định là: ‘Ai không thực hiện việc đi ra đón đức Thế Tôn, hình phạt dành cho người này là năm trăm (tiền).’ Thưa ngài Ānanda, chính vì nỗi lo sợ về hình phạt của thân quyến nên tôi đã thực hiện việc đi ra đón đức Thế Tôn.”
Inda-bh 50~280Khi ấy, đại đức Ānanda đã không được hoan hỷ (nghĩ rằng): “Vì sao Roja người Malla lại nói như thế?” Sau đó, đại đức Ānanda đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồì xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, Roja này người Malla được nổi tiếng, là người có danh tiếng. Những người có danh tiếng như thế nếu có được niềm tin trong Pháp và Luật này sẽ có sự thuận lợi lớn. Bạch ngài, thật tốt đẹp thay xin đức Thế Tôn hãy làm như thế nào đó để Roja người Malla có thể an trú niềm tin vào Pháp và Luật này.”—“Này Ānanda, điều ấy không phải là việc khó làm đối với đức Như Lai như là việc Roja người Malla có thể an trú niềm tin vào Pháp và Luật này.”
Inda-bh 51~281Sau đó, đức Thế Tôn đã phát ra luồng tâm bác ái đến Roja người Malla rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào trú xá. Khi ấy, bị xúc chạm bởi luồng tâm bác ái của đức Thế Tôn, cũng giống như con bê con (đi tìm) bò mẹ, tương tợ như thế Roja người Malla đi đến trú xá này đến trú xá khác, phòng này đến phòng khác và hỏi các vị tỳ khưu rằng:—“Thưa ngài, bây giờ đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác ấy đang ngụ ở đâu vậy, bởi vì chúng tôi có ý muốn diện kiến đức Thế Tôn bậc A-la-hán đấng Chánh Đẳng Giác ấy?”—“Này đạo hữu Roja, là trú xá có cánh cửa đóng lại kia. Hãy đi đến với sự nhẹ nhàng và chớ có vượt qua (cánh cửa), hãy bước vào hành lang, đằng hắng, và gõ vào thanh cài cửa, rồi đức Thế Tôn sẽ mở cửa cho đạo hữu.”
Inda-bh 52~282Sau đó, Roja người Malla đã đi đến trú xá có cánh cửa đóng lại kia với sự nhẹ nhàng, không có vượt qua (cánh cửa), rồi bước vào hành lang, đằng hắng, và gõ vào thanh cài cửa. Đức Thế Tôn đã mở cánh cửa ra. Khi ấy, Roja người Malla đã bước vào trú xá, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi Roja người Malla đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến Roja người Malla. Tức là ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự tai hại sự thấp kém sự ô nhiễm của các dục, sự lợi ích của việc xuất ly.
Inda-bh 53~283Khi đức Thế Tôn biết được Roja người Malla có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải đã được làm sạch, không còn vết nhơ, có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến Roja người Malla: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
Inda-bh 54~284Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, Roja người Malla đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, tốt đẹp thay nếu các ngài đại đức có thể thọ lãnh vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men trị bịnh của riêng mình con thôi, không phải của người khác.”—“Này Roja, nếu những người đã thấy được Pháp với trí tuệ của vị hữu học, với tầm nhìn của vị hữu học như là ngươi đây thì những người ấy cũng khởi ý như vầy: ‘Đương nhiên các ngài đại đức có thể thọ lãnh vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men trị bịnh của riêng mình chúng ta thôi, không phải của người khác.’ Này Roja, chính vì điều ấy các vị (tỳ khưu) sẽ thọ lãnh của chính ngươi và của những người khác nữa.”
Inda-bh 55~285Vào lúc bấy giờ, ở Kusinārā sự dâng vật thực theo tuần tự của các bữa ăn hảo hạng đã được xác lập. Khi ấy, Roja người Malla đã không nhận được phiên nên đã khởi ý điều này: “Hay là ta nên nhìn xem ở nhà ăn, món gì ở nhà ăn không có thì ta nên chuẩn bị món đó?” Sau đó, Roja người Malla trong khi nhìn xem ở nhà ăn đã không thấy hai món là rau xanh và bánh bột. Khi ấy, Roja người Malla đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã nói với đại đức Ānanda điều này:—“Thưa ngài Ānanda, ở đây trong khi tôi không nhận được phiên nên đã khởi ý điều này: ‘Hay là ta nên nhìn xem ở nhà ăn, món gì ở nhà ăn không có thì ta nên chuẩn bị món đó?’ Thưa ngài Ānanda, rồi trong khi nhìn xem ở nhà ăn tôi đây đã không thấy hai món là rau xanh và bánh bột. Thưa ngài Ānanda, nếu tôi chuẩn bị sẵn sàng rau xanh và bánh bột, đức Thế Tôn có thể nhận lãnh của tôi không?”—“Này Roja, như thế thì tôi sẽ hỏi đức Thế Tôn.”
Inda-bh 56~286Sau đó, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này Ānanda, như thế thì (Roja) hãy chuẩn bị sẵn sàng.”—“Này Roja, như thế thì bạn hãy chuẩn bị sẵn sàng.”
Inda-bh 57~287Sau đó, khi trải qua đêm ấy Roja người Malla đã cho chuẩn bị sẵn sàng rau cải và bánh bột, rồi đã đem dâng đến đức Thế Tôn.—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy nhận lãnh rau cải và bánh bột.”—“Này Roja, như vậy thì hãy dâng cho các vị tỳ khưu.” Các vị tỳ khưu trong lúc ngần ngại không thọ lãnh.—“Này các tỳ khưu, hãy thọ lãnh và hãy thọ dụng.”
Inda-bh 58~288Sau đó, Roja người Malla đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với nhiều rau cải và bánh bột. Đến khi đức Thế Tôn có cánh tay đã được rửa, bàn tay đã rời khỏi bình bát, Roja người Malla đã ngồi xuống một bên. Khi Roja người Malla đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Roja người Malla bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Inda-bh 59~289Sau đó, đức Thế tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tất cả các loại rau xanh và tất cả các loại bánh bột.”
Inda-bh 60~290Sau đó, khi đã ngự tại Kusinārā theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía Ātumā cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu.
Inda-bh 61~291Vào lúc bấy giờ, có vị xuất gia lúc tuổi già nọ, trước đây là thợ cạo, ngụ tại Ātumā. Vị ấy có hai người con trai ăn nói ngọt ngào, khôn ngoan, khéo léo, thiện nghệ trong nghề thợ cạo từ thầy của họ. Vị xuất gia lúc tuổi già ấy đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn đi đến Ātumā cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu.”
Inda-bh 62~292Khi ấy, vị xuất gia lúc tuổi già ấy đã nói với hai người con trai ấy rằng:—“Này hai con thương, nghe nói đức Thế Tôn đi đến Ātumā cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu. Này hai con thương, hai con hãy đi và mang theo thùng dao cạo, hãy viếng từng nhà với thùng và bao bị, hãy gom góp muối, dầu ăn, gạo lức, và vật thực loại cứng; chúng ta sẽ thực hiện việc dâng cúng cháo đến đức Thế Tôn khi ngài đi đến.”—“Thưa cha, xin vâng.” Rồi hai người con trai ấy nghe theo vị xuất gia lúc tuổi già ấy mang theo thùng dao cạo đi viếng từng nhà với thùng và bao bị, trong lúc gom góp muối, dầu ăn, gạo lức, và vật thực loại cứng. Dân chúng sau khi nhìn thấy hai người con trai ăn nói ngọt ngào, khôn ngoan ấy, dầu không có ý muốn thuê làm cũng bảo chúng làm, và sau khi bảo chúng làm lại còn thưởng rất nhiều. Khi ấy, hai người con trai ấy đã gom góp nhiều muối, dầu ăn, gạo lức, và vật thực loại cứng.
Inda-bh 63~293Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến Ātumā. Tại nơi ấy ở Ātumā, đức Thế Tôn ngự tại Bhusāgāra.
Inda-bh 64~294Sau đó, khi trải qua đêm ấy vị xuất gia lúc tuổi già ấy đã cho chuẩn bị sẵn sàng rất nhiều cháo, rồi đã đem dâng đến đức Thế Tôn.—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy thọ lãnh cháo của con.”
Inda-bh 65~295Các đấng Như Lai dầu biết vẫn hỏi, dầu biết các vị vẫn không hỏi, biết đúng thời các vị mới hỏi, biết đúng thời các vị vẫn không hỏi, có liên quan đến lợi ích các đấng Như lai mới hỏi và không (hỏi việc) không có liên quan đến lợi ích, khi không có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai có cách để cắt đứt vấn đề. Chư Phật Thế Tôn hỏi các vị tỳ khưu vì hai lý do: “Hoặc là chúng ta sẽ thuyết Pháp, hoặc là chúng ta sẽ quy định điều học cho các đệ tử.”
Inda-bh 66~296Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị xuất gia lúc tuổi già ấy điều này:—“Này tỳ khưu, cháo này từ đâu vậy?” Khi ấy, vị xuất gia lúc tuổi già ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không thích đáng, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm. Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại bảo các vị xuất gia làm việc không được phép? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên bảo các vị xuất gia làm việc không được phép; vị nào bảo làm thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, vị trước đây là thợ cạo không nên mang theo thùng dao cạo; vị nào mang theo thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 67~297Sau đó, khi đã ngự tại Ātumā theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Sāvatthi. Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến thành Sāvatthi. Tại nơi ấy ở thành Sāvatthi, đức Thế Tôn ngụ tại Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Inda-bh 68~298Vào lúc bấy giờ, ở trong thành Sāvatthi nhiều loại vật thực cứng là trái cây được phát sanh. Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Loại vật thực cứng là trái cây nào được cho phép, loại nào không được cho phép?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tất cả các loại vật thực cứng là trái cây.”
Inda-bh 69~299Vào lúc bấy giờ, các hạt giống của hội chúng được gieo trồng trên vùng đất của cá nhân, các hạt giống của các cá nhân được gieo trồng trên vùng đất của hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, các hạt giống của hội chúng đã được gieo trồng trên vùng đất của cá nhân nên được thọ dụng sau khi đã trao cho phần chia. Các hạt giống của các cá nhân đã được gieo trồng trên vùng đất của hội chúng nên được thọ dụng sau khi đã trao cho phần chia.”
Inda-bh 70~300Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu khởi lên sự phân vân về vấn đề này về vấn đề nọ: “Điều nào đã được đức Thế Tôn cho phép, điều nào đã không được cho phép?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, điều nào ta chưa cấm rằng: ‘Điều này không được phép,’ và điều ấy phù hợp với điều không được phép và trái nghịch với điều được phép, đối với các ngươi điều ấy là không được phép. Này các tỳ khưu, điều nào ta chưa cấm rằng: ‘Điều này không được phép,’ và điều ấy phù hợp với điều được phép và trái nghịch với điều không được phép, đối với các ngươi điều ấy là được phép. Này các tỳ khưu, điều nào ta chưa cho phép rằng: ‘Điều này được phép,’ và điều ấy phù hợp với điều không được phép và trái nghịch với điều được phép, đối với các ngươi điều ấy là không được phép. Này các tỳ khưu, điều nào ta chưa cho phép rằng: ‘Điều này được phép,’ và điều ấy phù hợp với điều được phép và trái nghịch với điều không được phép, đối với các ngươi điều ấy là được phép.”
Inda-bh 71~301Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Vật dùng đến hết đêm (trộn lẫn) với vật dùng đến hết ngọ là được phép, hay là không được phép? Vật dùng trong bảy ngày (trộn lẫn) với vật dùng đến hết ngọ là được phép, hay là không được phép? Vật dùng suốt đời (trộn lẫn) với vật dùng đến hết ngọ là được phép, hay là không được phép? Vật dùng trong bảy ngày (trộn lẫn) với vật dùng đến hết đêm là được phép, hay là không được phép? Vật dùng suốt đời (trộn lẫn) với vật dùng đến hết đêm là được phép, hay là không được phép? Vật dùng suốt đời (trộn lẫn) với vật dùng trong bảy ngày là được phép, hay là không được phép?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, vật dùng đến hết đêm (trộn lẫn) với vật dùng đến hết ngọ (nếu) được thọ lãnh trong ngày hôm ấy thì được phép lúc đúng thời, phi thời không được phép. Vật dùng trong bảy ngày (trộn lẫn) với vật dùng đến hết ngọ (nếu) được thọ lãnh trong ngày hôm ấy thì được phép lúc đúng thời, phi thời không được phép. Vật dùng suốt đời (trộn lẫn) với vật dùng đến hết ngọ (nếu) được thọ lãnh trong ngày hôm ấy thì được phép lúc đúng thời, phi thời không được phép. Này các tỳ khưu, vật dùng trong bảy ngày (trộn lẫn) với vật dùng đến hết đêm (nếu) được thọ lãnh trong ngày hôm ấy thì được phép trong đêm, không được phép khi đêm đã trôi qua. Vật dùng suốt đời (trộn lẫn) với vật dùng đến hết đêm (nếu) được thọ lãnh trong ngày hôm ấy thì được phép trong đêm, không được phép khi đêm đã trôi qua. Này các tỳ khưu, vật dùng suốt đời (trộn lẫn) với vật dùng trong bảy ngày (nếu) được thọ lãnh trong ngày hôm ấy thì được phép trong bảy ngày, không được phép khi bảy ngày đã trôi qua.”
Dứt chương Dược Phẩm là thứ sáu.
Trong chương này có một trăm lẻ sáu sự việc.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Inda-bh 1~302Vào mùa thu, vào lúc phi thời nữa, mỡ thú vật, các loại rễ cây, với các loại bột nghiền, các loại nước sắc, lá cây, trái cây, nhựa cây, và muối gồm sáu loại.
Inda-bh 2~303Bột tắm, cái rây bột, và thịt sống, thuốc bôi, bột nghiền nát, hộp thuốc bôi đặc biệt, không được đậy lại, que bôi thuốc, hộp đựng que bôi thuốc.
Inda-bh 3~304Túi đựng, có dây mang vai, sợi chỉ, dầu xoa ở đầu, và lỗ mũi, cái muỗng đặt ở mũi, và ống dẫn khói, nắp đậy, túi kép.
Inda-bh 4~305Và rượu trong các loại dầu nấu, được thêm vào quá nhiều, thuốc thoa, bình chứa, hơi nóng, và của nhiều loại lá cây, nhiều hơi nóng, và nước nấu của nhiều loại lá cây là tương tợ.
Inda-bh 5~306Bể nước ngâm, và trích máu, ống sừng, thuốc cao bôi chân, sự phòng ngừa, dao mổ, và nước làm đông máu, cao hạt mè, vải cầm máu.
Inda-bh 6~307Vải băng vết thương, và bột mù-tạt, việc xông khói, và mảnh sứ, dầu xức vết thương, băng vải, vật dơ, và việc thọ lãnh.
Inda-bh 7~308(Uống) phân, trong lúc làm, và đất ở lưỡi cày, nước tro, (hợp chất) nước tiểu và trái hariṭakī, (mỡ có) mùi thơm, và luôn cả thuốc xổ, nước súp không chất béo, thêm chút ít chất béo.
Inda-bh 8~309Nước luộc thịt, hang núi, tu viện, năm trăm ngưòi, đường, đậu mugga, và cháo chua, tự mình nấu, nấu lại.
Inda-bh 9~310Ngài đã cho phép lần nữa, vào lúc khó khăn về vật thực, và trái cây, mè, và vật nhai, trước bữa ăn, bệnh sốt toàn thân, và được lấy hết hột, bệnh lở loét.
Inda-bh 10~311Và công việc bơm thụt, và nàng Suppiyā, lại thêm chuyện thịt người, voi, ngựa, và chó nhà, rắn, sư tử, và beo.
Inda-bh 11~312Và thịt gấu rừng, chó sói, chờ đến phiên, và cháo, (đức tin) còn non trẻ, thêm chuyện nữa về đường, vị quan Sunīdha, nhà nghỉ trọ.
Inda-bh 12~313Sông Gaṅgā, làng Koṭi, sự thuyết giảng về Chân Lý, nàng Ambapālī, và các vị Licchavi, đã được làm có liên quan (đến người thọ dụng), lúc vật thực dễ dàng, Ngài cũng đã ngăn cấm lại.
Inda-bh 13~314Đám mây đen, vị Yasoja, và Meṇḍaka, sản phẩm từ loài bò, và vật thực đi đường, đạo sĩ Keṇiya, nước xoài, nước mận, chuối có hột, không hột, nước mật ong, nước nho, nước ngó sen.
Inda-bh 14~315Nước dâu, rau xanh và bánh bột, người thợ cạo ở Ātumā, ở Sāvatthi, trái cây, hột giống, thuộc về trường hợp nào, và (vật thực) liên quan đến thời gian.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Great Division
The chapter on medicines
1. Discussion of the five tonics
160. Câu chuyện về năm loại dược phẩm
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena bhikkhūnaṁ sāradikena ābādhena phuṭṭhānaṁ yāgupi pītā uggacchati, bhattampi bhuttaṁ uggacchati. Te tena kisā honti, lūkhā, dubbaṇṇā, uppaṇḍuppaṇḍukajātā, dhamanisanthatagattā. Addasā kho bhagavā te bhikkhū kise lūkhe dubbaṇṇe uppaṇḍuppaṇḍukajāte dhamanisanthatagatte, disvāna āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi—“kiṁ nu kho, ānanda, etarahi bhikkhū kisā, lūkhā, dubbaṇṇā, uppaṇḍuppaṇḍukajātā, dhamanisanthatagattā”ti? “Etarahi, bhante, bhikkhūnaṁ sāradikena ābādhena phuṭṭhānaṁ yāgupi pītā uggacchati, bhattampi bhuttaṁ uggacchati. Te tena kisā honti, lūkhā, dubbaṇṇā, uppaṇḍuppaṇḍukajātā, dhamanisanthatagattā”ti.
Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—“etarahi kho bhikkhūnaṁ sāradikena ābādhena phuṭṭhānaṁ yāgupi pītā uggacchati, bhattampi bhuttaṁ uggacchati. Te tena kisā honti, lūkhā, dubbaṇṇā, uppaṇḍuppaṇḍukajātā, dhamanisanthatagattā. Kiṁ nu kho ahaṁ bhikkhūnaṁ bhesajjaṁ anujāneyyaṁ, yaṁ bhesajjañceva assa bhesajjasammatañca lokassa, āhāratthañca phareyya, na ca oḷāriko āhāro paññāyeyyā”ti? Atha kho bhagavato etadahosi—“imāni kho pañca bhesajjāni, seyyathidaṁ—sappi, navanītaṁ, telaṁ, madhu, phāṇitaṁ; bhesajjāni ceva bhesajjasammatāni ca lokassa, āhāratthañca pharanti, na ca oḷāriko āhāro paññāyati. Yannūnāhaṁ bhikkhūnaṁ imāni pañca bhesajjāni anujāneyyaṁ, kāle paṭiggahetvā kāle paribhuñjitun”ti.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—“idha mayhaṁ, bhikkhave, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—‘etarahi kho bhikkhūnaṁ sāradikena ābādhena phuṭṭhānaṁ yāgupi pītā uggacchati, bhattampi bhuttaṁ uggacchati. Te tena kisā honti, lūkhā, dubbaṇṇā, uppaṇḍuppaṇḍukajātā, dhamanisanthatagattā. Kiṁ nu kho ahaṁ bhikkhūnaṁ bhesajjaṁ anujāneyyaṁ, yaṁ bhesajjañceva assa bhesajjasammatañca lokassa, āhāratthañca phareyya, na ca oḷāriko āhāro paññāyeyyā’ti. Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi—‘imāni kho pañca bhesajjāni, seyyathidaṁ—sappi, navanītaṁ, telaṁ, madhu, phāṇitaṁ; bhesajjāni ceva bhesajjasammatāni ca lokassa, āhāratthañca pharanti, na ca oḷāriko āhāro paññāyati. Yannūnāhaṁ bhikkhūnaṁ imāni pañca bhesajjāni anujāneyyaṁ, kāle paṭiggahetvā kāle paribhuñjitun’ti.
Anujānāmi, bhikkhave, tāni pañca bhesajjāni kāle paṭiggahetvā kāle paribhuñjitun”ti.
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time the monks were afflicted with autumn illness, and they could keep down neither congee nor other food. As a result, they became thin, haggard, and pale, with veins protruding all over their bodies. The Buddha noticed this and asked Venerable Ānanda why they were looking so sickly. Ānanda told him.
Then, while reflecting in private, the Buddha thought, “What tonics might I allow the monks that are generally regarded as tonics, would serve as nourishment, but aren’t considered substantial food?” It then occurred to him, “There are these five tonics—ghee, butter, oil, honey, and syrup—that are generally regarded as tonics, serve as nourishment, but aren’t considered substantial food. Why don’t I allow them these five tonics, to be received and consumed before midday?”
In the evening, when the Buddha had come out from seclusion, he gave a teaching and then told the monks what he had thought, adding:
“I allow these five tonics, to be received and consumed before midday.”
260. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn trú ngụ ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của trưởng giả Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị nhiễm phải chứng bệnh mùa thu, cháo đã uống cũng bị nôn ra, vật thực đã ăn cũng bị nôn ra. Do bởi việc ấy, các vị ấy trở nên gầy gò, thô xấu, da sắc tồi tệ, xanh xao vàng vọt, thân thể nổi đầy gân. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy gầy gò, thô xấu, da sắc tồi tệ, xanh xao vàng vọt, thân thể nổi đầy gân. Sau khi nhìn thấy, ngài gọi tôn giả Ānanda và nói rằng: – Này Ānanda, vì sao hiện nay các vị tỳ khưu lại gầy gò, thô xấu, da sắc tồi tệ, xanh xao vàng vọt, thân thể nổi đầy gân vậy? – Bạch ngài, hiện nay các vị tỳ khưu bị nhiễm phải chứng bệnh mùa thu, cháo đã uống cũng bị nôn ra, vật thực đã ăn cũng bị nôn ra. Do bởi việc ấy, các vị ấy trở nên gầy gò, thô xấu, da sắc tồi tệ, xanh xao vàng vọt, thân thể nổi đầy gân. Khi ấy, trong lúc độc cư nhàn tịnh, đức Thế Tôn đã khởi lên suy tư trong tâm như vầy: – Hiện nay, các vị tỳ khưu bị nhiễm phải chứng bệnh mùa thu, cháo đã uống cũng bị nôn ra, vật thực đã ăn cũng bị nôn ra. Do bởi việc ấy, các vị ấy trở nên gầy gò, thô xấu, da sắc tồi tệ, xanh xao vàng vọt, thân thể nổi đầy gân. Ta nên cho phép các vị tỳ khưu loại dược phẩm nào mà vừa là dược phẩm, vừa được thế gian công nhận là dược phẩm, vừa có thể hoàn thành mục đích dinh dưỡng, lại vừa không được xem là loại vật thực thô? Khi ấy, đức Thế Tôn đã nghĩ rằng: – Có năm loại dược phẩm này, tức là: bơ lỏng, bơ tươi, dầu, mật ong, đường phèn. Chúng vừa là dược phẩm, vừa được thế gian công nhận là dược phẩm, vừa có thể hoàn thành mục đích dinh dưỡng, lại vừa không được xem là loại vật thực thô. Hay là ta nên cho phép các vị tỳ khưu năm loại dược phẩm này, được nhận vào đúng thời và dùng vào đúng thời. Khi ấy, vào buổi chiều, đức Thế Tôn đi ra khỏi nơi nhàn tịnh, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, sau khi thuyết một bài pháp thoại, ngài gọi các vị tỳ khưu và nói rằng: – Này các tỳ khưu, ở đây, trong lúc độc cư nhàn tịnh, ta đã khởi lên suy tư trong tâm như vầy: ‘Hiện nay, các vị tỳ khưu bị nhiễm phải chứng bệnh mùa thu, cháo đã uống cũng bị nôn ra, vật thực đã ăn cũng bị nôn ra. Do bởi việc ấy, các vị ấy trở nên gầy gò, thô xấu, da sắc tồi tệ, xanh xao vàng vọt, thân thể nổi đầy gân. Ta nên cho phép các vị tỳ khưu loại dược phẩm nào mà vừa là dược phẩm, vừa được thế gian công nhận là dược phẩm, vừa có thể hoàn thành mục đích dinh dưỡng, lại vừa không được xem là loại vật thực thô?’ Này các tỳ khưu, ta đã nghĩ rằng: ‘Có năm loại dược phẩm này, tức là: bơ lỏng, bơ tươi, dầu, mật ong, đường phèn. Chúng vừa là dược phẩm, vừa được thế gian công nhận là dược phẩm, vừa có thể hoàn thành mục đích dinh dưỡng, lại vừa không được xem là loại vật thực thô. Hay là ta nên cho phép các vị tỳ khưu năm loại dược phẩm này, được nhận vào đúng thời và dùng vào đúng thời.’ Này các tỳ khưu, ta cho phép năm loại dược phẩm ấy, được nhận vào đúng thời và dùng vào đúng thời.
Tena kho pana samayena bhikkhū tāni pañca bhesajjāni kāle paṭiggahetvā kāle paribhuñjanti. Tesaṁ yānipi tāni pākatikāni lūkhāni bhojanāni tānipi nacchādenti, pageva senesitāni. Te tena ceva sāradikena ābādhena phuṭṭhā, iminā ca bhattācchādakena, tadubhayena bhiyyoso mattāya kisā honti, lūkhā, dubbaṇṇā, uppaṇḍuppaṇḍukajātā, dhamanisanthatagattā. Addasā kho bhagavā te bhikkhū bhiyyoso mattāya kise lūkhe dubbaṇṇe uppaṇḍuppaṇḍukajāte dhamanisanthatagatte, disvāna āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi—“kiṁ nu kho, ānanda, etarahi bhikkhū bhiyyoso mattāya kisā, lūkhā, dubbaṇṇā, uppaṇḍuppaṇḍukajātā, dhamanisanthatagattā”ti? “Etarahi, bhante, bhikkhū tāni ca pañca bhesajjāni kāle paṭiggahetvā kāle paribhuñjanti. Tesaṁ yānipi tāni pākatikāni lūkhāni bhojanāni tānipi nacchādenti, pageva senesitāni. Te tena ceva sāradikena ābādhena phuṭṭhā, iminā ca bhattācchādakena, tadubhayena bhiyyoso mattāya kisā, lūkhā, dubbaṇṇā, uppaṇḍuppaṇḍukajātā, dhamanisanthatagattā”ti. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, tāni pañca bhesajjāni paṭiggahetvā kālepi vikālepi paribhuñjitun”ti.
The monks then received and consumed the five tonics before midday. But even ordinary food did not agree with them, let alone greasy food. As a result of both the autumn illness and the food not agreeing with them, they became even more thin, haggard, and pale. Once again the Buddha noticed this and asked Venerable Ānanda why they were looking even worse. Ānanda told him. The Buddha then gave a teaching, and addressed the monks:
“I allow the five tonics to be received and consumed both before and after midday.”
261. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhận năm loại dược phẩm ấy vào đúng thời và dùng vào đúng thời. Ngay cả những vật thực thô sơ thông thường của các vị ấy cũng không được tiêu hóa, huống nữa là các vật thực tinh tế. Các vị ấy bị nhiễm phải chứng bệnh mùa thu kia và chứng khó tiêu này, do cả hai nguyên nhân ấy, các vị ấy lại càng trở nên gầy gò, thô xấu, da sắc tồi tệ, xanh xao vàng vọt, thân thể nổi đầy gân hơn nữa. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy lại càng trở nên gầy gò, thô xấu, da sắc tồi tệ, xanh xao vàng vọt, thân thể nổi đầy gân hơn nữa. Sau khi nhìn thấy, ngài gọi tôn giả Ānanda và nói rằng: – Này Ānanda, vì sao hiện nay các vị tỳ khưu lại càng trở nên gầy gò, thô xấu, da sắc tồi tệ, xanh xao vàng vọt, thân thể nổi đầy gân hơn nữa vậy? – Bạch ngài, hiện nay các vị tỳ khưu nhận năm loại dược phẩm ấy vào đúng thời và dùng vào đúng thời. Ngay cả những vật thực thô sơ thông thường của các vị ấy cũng không được tiêu hóa, huống nữa là các vật thực tinh tế. Các vị ấy bị nhiễm phải chứng bệnh mùa thu kia và chứng khó tiêu này, do cả hai nguyên nhân ấy, các vị ấy lại càng trở nên gầy gò, thô xấu, da sắc tồi tệ, xanh xao vàng vọt, thân thể nổi đầy gân hơn nữa. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân sự việc này, nhân trường hợp này, sau khi thuyết một bài pháp thoại, ngài gọi các vị tỳ khưu và nói rằng: – Này các tỳ khưu, ta cho phép năm loại dược phẩm ấy, sau khi đã nhận, được dùng cả trong thời và phi thời.
Tena kho pana samayena gilānānaṁ bhikkhūnaṁ vasehi bhesajjehi attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, vasāni bhesajjāni—acchavasaṁ, macchavasaṁ, susukāvasaṁ, sūkaravasaṁ, gadrabhavasaṁ—kāle paṭiggahitaṁ kāle nippakkaṁ kāle saṁsaṭṭhaṁ telaparibhogena paribhuñjituṁ. Vikāle ce, bhikkhave, paṭiggahitaṁ vikāle nippakkaṁ vikāle saṁsaṭṭhaṁ, tañce paribhuñjeyya, āpatti tiṇṇaṁ dukkaṭānaṁ. Kāle ce, bhikkhave, paṭiggahitaṁ vikāle nippakkaṁ vikāle saṁsaṭṭhaṁ, tañce paribhuñjeyya, āpatti dvinnaṁ dukkaṭānaṁ. Kāle ce, bhikkhave, paṭiggahitaṁ kāle nippakkaṁ vikāle saṁsaṭṭhaṁ, tañce paribhuñjeyya, āpatti dukkaṭassa. Kāle ce, bhikkhave, paṭiggahitaṁ kāle nippakkaṁ kāle saṁsaṭṭhaṁ, tañce paribhuñjeyya, anāpattī”ti.
At that time the sick monks needed fat as a tonic. They told the Buddha.
“I allow these fats as tonics: bear fat, fish fat, alligator fat, pig fat, and donkey fat. They should be received, melted, and mixed with oil before midday, and then used. If you receive, melt, and mix them with oil after midday, and then use them, you commit three offenses of wrong conduct. If you receive them before midday, but melt and mix them with oil after midday, and then use them, you commit two offenses of wrong conduct. If you receive and melt them before midday, but mix them with oil after midday, and then use them, you commit one offense of wrong conduct. If you receive, melt, and mix them with oil before midday, and then use them, there is no offense.”
262. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các dược phẩm là mỡ động vật. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, Ta cho phép các dược phẩm là mỡ động vật: mỡ gấu, mỡ cá, mỡ cá sấu, mỡ heo, mỡ lừa; được nhận trong giờ hợp thời, được nấu trong giờ hợp thời, được lọc trong giờ hợp thời, rồi dùng theo cách dùng dầu. Này các tỳ khưu, nếu đã nhận phi thời, nấu phi thời, lọc phi thời, nếu vị ấy dùng vật ấy thì phạm ba tội tác ác. Này các tỳ khưu, nếu đã nhận hợp thời, nấu phi thời, lọc phi thời, nếu vị ấy dùng vật ấy thì phạm hai tội tác ác. Này các tỳ khưu, nếu đã nhận hợp thời, nấu hợp thời, lọc phi thời, nếu vị ấy dùng vật ấy thì phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, nếu đã nhận hợp thời, nấu hợp thời, lọc hợp thời, nếu vị ấy dùng vật ấy thì không có tội.
2. Mūlādibhesajjakathā
2. Discussion of root medicines, etc.
Câu chuyện về các dược phẩm là rễ cây, v.v.
Tena kho pana samayena gilānānaṁ bhikkhūnaṁ mūlehi bhesajjehi attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, mūlāni bhesajjāni—haliddiṁ, siṅgiveraṁ, vacaṁ, vacattaṁ, ativisaṁ, kaṭukarohiṇiṁ, usīraṁ, bhaddamuttakaṁ, yāni vā panaññānipi atthi mūlāni bhesajjāni, neva khādanīye khādanīyatthaṁ pharanti, na bhojanīye bhojanīyatthaṁ pharanti, tāni—paṭiggahetvā yāvajīvaṁ pariharituṁ; sati paccaye paribhuñjituṁ. Asati paccaye paribhuñjantassa āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the sick monks needed medicinal roots.
“I allow these medicinal roots: turmeric, ginger, sweet flag, white sweet flag, atis root, black hellebore, vetiver root, nut grass, and whatever other medicinal roots there are that don’t serve as fresh or cooked food. After receiving them, you may keep them for life and use them when there’s a reason. If you use them when there’s no reason, you commit an offense of wrong conduct.”
161. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các dược phẩm là rễ cây. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, Ta cho phép các dược phẩm là rễ cây: nghệ, gừng, thủy xương bồ, vacattha, ô đầu, khổ sâm, hương bài, cỏ gấu, và bất cứ loại rễ cây nào khác là dược phẩm mà không được xem là vật thực cứng trong các loại vật thực cứng, không được xem là vật thực mềm trong các loại vật thực mềm; những thứ ấy – sau khi nhận lấy, được phép giữ gìn trọn đời; và khi có duyên sự thì được phép dùng. Vị nào dùng trong khi không có duyên sự thì phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena gilānānaṁ bhikkhūnaṁ mūlehi bhesajjehi piṭṭhehi attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, nisadaṁ nisadapotakan”ti.
Tena kho pana samayena gilānānaṁ bhikkhūnaṁ kasāvehi bhesajjehi attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
Soon afterwards the sick monks needed medicinal root flour.
“I allow a grinding stone.”
The sick monks needed bitter medicines.
263. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các dược phẩm là rễ cây đã được nghiền. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, Ta cho phép cối đá và chày đá.
“Anujānāmi, bhikkhave, kasāvāni bhesajjāni—nimbakasāvaṁ, kuṭajakasāvaṁ, paṭolakasāvaṁ, phaggavakasāvaṁ, nattamālakasāvaṁ, yāni vā panaññānipi atthi kasāvāni bhesajjāni neva khādanīye khādanīyatthaṁ pharanti, na bhojanīye bhojanīyatthaṁ pharanti, tāni—paṭiggahetvā yāvajīvaṁ pariharituṁ; sati paccaye paribhuñjituṁ. Asati paccaye paribhuñjantassa āpatti dukkaṭassā”ti.
“I allow bitter medicines from these plants: neem tree, arctic snow, pointed gourd, white fig, Indian beech, and whatever other bitter medicines there are that don’t serve as fresh or cooked food. After receiving them, you may keep them for life and use them when there’s a reason. If you use them when there’s no reason, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các dược phẩm có vị chát. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, Ta cho phép các dược phẩm có vị chát: nước sắc cây sầu đâu, nước sắc cây mộc hoa trắng, nước sắc cây khổ qua rừng, nước sắc cây phaggava, nước sắc cây nattamāla, và bất cứ loại dược phẩm có vị chát nào khác mà không được xem là vật thực cứng trong các loại vật thực cứng, không được xem là vật thực mềm trong các loại vật thực mềm; những thứ ấy – sau khi nhận lấy, được phép giữ gìn trọn đời; và khi có duyên sự thì được phép dùng. Vị nào dùng trong khi không có duyên sự thì phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena gilānānaṁ bhikkhūnaṁ paṇṇehi bhesajjehi attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, paṇṇāni bhesajjāni—nimbapaṇṇaṁ, kuṭajapaṇṇaṁ, paṭolapaṇṇaṁ, sulasipaṇṇaṁ, kappāsapaṇṇaṁ, yāni vā panaññānipi atthi paṇṇāni bhesajjāni, neva khādanīye khādanīyatthaṁ pharanti, na bhojanīye bhojanīyatthaṁ pharanti … pe….
The sick monks needed medicinal leaves.
“I allow medicinal leaves from these plants: neem tree, arctic snow, pointed gourd, holy basil, cotton plant, and whatever other leaf medicines there are that don’t serve as fresh or cooked food. After receiving them, you may keep them for life and use them when there’s a reason. If you use them when there’s no reason, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các dược phẩm là lá cây. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, Ta cho phép các dược phẩm là lá cây: lá sầu đâu, lá mộc hoa trắng, lá khổ qua rừng, lá húng quế, lá bông gòn, và bất cứ loại lá cây nào khác là dược phẩm mà không được xem là vật thực cứng trong các loại vật thực cứng, không được xem là vật thực mềm trong các loại vật thực mềm... vân vân...
Tena kho pana samayena gilānānaṁ bhikkhūnaṁ phalehi bhesajjehi attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, phalāni bhesajjāni—bilaṅgaṁ, pippaliṁ, maricaṁ, harītakaṁ, vibhītakaṁ, āmalakaṁ, goṭṭhaphalaṁ, yāni vā panaññānipi atthi phalāni bhesajjāni, neva khādanīye khādanīyatthaṁ pharanti, na bhojanīye bhojanīyatthaṁ pharanti … pe….
The sick monks needed medicinal fruits.
“I allow medicinal fruits from these plants: false black pepper, long pepper, black pepper, chebulic myrobalan, belleric myrobalan, emblic myrobalan, crepe ginger, and whatever other medicinal fruits there are that don’t serve as fresh or cooked food. After receiving them, you may keep them for life and use them when there’s a reason. If you use them when there’s no reason, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các dược phẩm là quả cây. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, Ta cho phép các dược phẩm là quả cây: quả dây giun, tiêu lốt, tiêu, kha tử, bàng hôi, me rừng, quả goṭṭha, và bất cứ loại quả cây nào khác là dược phẩm mà không được xem là vật thực cứng trong các loại vật thực cứng, không được xem là vật thực mềm trong các loại vật thực mềm... vân vân...
Tena kho pana samayena gilānānaṁ bhikkhūnaṁ jatūhi bhesajjehi attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, jatūni bhesajjāni—hiṅguṁ, hiṅgujatuṁ, hiṅgusipāṭikaṁ, takaṁ, takapattiṁ, takapaṇṇiṁ, sajjulasaṁ, yāni vā panaññānipi atthi jatūni bhesajjāni, neva khādanīye khādanīyatthaṁ pharanti … pe….
The sick monks needed medicinal gum.
“I allow the following medicinal gums: gum exuded from the asafoetida shrub, gum from the twigs and leaves of the asafoetida shrub, gum from the leaves of the asafoetida shrub, <i lang='pi' translate='no'>taka</i> gum, <i lang='pi' translate='no'>taka</i>-leaf gum, gum from heated <i lang='pi' translate='no'>taka</i> foliage, resin, and whatever other medicinal gums there are that don’t serve as fresh or cooked food. After receiving them, you may keep them for life and use them when there’s a reason. If you use them when there’s no reason, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các dược phẩm là nhựa cây. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, Ta cho phép các dược phẩm là nhựa cây: a ngùy, nhựa a ngùy, vỏ a ngùy, nhựa cây taka, nhựa lá taka, nhựa thân taka, nhựa thông, và bất cứ loại nhựa cây nào khác là dược phẩm mà không được xem là vật thực cứng trong các loại vật thực cứng... vân vân...
Tena kho pana samayena gilānānaṁ bhikkhūnaṁ loṇehi bhesajjehi attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, loṇāni bhesajjāni—sāmuddaṁ, kāḷaloṇaṁ, sindhavaṁ, ubbhidaṁ, bilaṁ, yāni vā panaññānipi atthi loṇāni bhesajjāni, neva khādanīye khādanīyatthaṁ pharanti, na bhojanīye bhojanīyatthaṁ pharanti, tāni—paṭiggahetvā yāvajīvaṁ pariharituṁ; sati paccaye paribhuñjituṁ. Asati paccaye paribhuñjantassa āpatti dukkaṭassā”ti.
The sick monks needed medicinal salts.
“I allow the following medicinal salts: sea salt, black salt, hill salt, soil salt, red salt, and whatever other medicinal salts there are that don’t serve as fresh or cooked food. After receiving them, you may keep them for life and use them when there’s a reason. If you use them when there’s no reason, you commit an offense of wrong conduct.”
Allowable medical equipment and more
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các dược phẩm là muối. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, Ta cho phép các dược phẩm là muối: muối biển, muối đen, muối mỏ, muối đất, muối bilā, và bất cứ loại muối nào khác là dược phẩm mà không được xem là vật thực cứng trong các loại vật thực cứng, không được xem là vật thực mềm trong các loại vật thực mềm; những thứ ấy – sau khi nhận lấy, được phép giữ gìn trọn đời; và khi có duyên sự thì được phép dùng. Vị nào dùng trong khi không có duyên sự thì phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena āyasmato ānandassa upajjhāyassa āyasmato belaṭṭhasīsassa thullakacchābādho hoti. Tassa lasikāya cīvarāni kāye lagganti, tāni bhikkhū udakena temetvā temetvā apakaḍḍhanti. Addasā kho bhagavā senāsanacārikaṁ āhiṇḍanto te bhikkhū tāni cīvarāni udakena temetvā temetvā apakaḍḍhante, disvāna yena te bhikkhū tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca—“kiṁ imassa, bhikkhave, bhikkhuno ābādho”ti?
“Imassa, bhante, āyasmato thullakacchābādho, lasikāya cīvarāni kāye lagganti, tāni mayaṁ udakena temetvā temetvā apakaḍḍhāmā”ti. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, yassa kaṇḍu vā, piḷakā vā, assāvo vā, thullakacchu vā ābādho, kāyo vā duggandho, cuṇṇāni bhesajjāni; agilānassa chakaṇaṁ mattikaṁ rajananippakkaṁ. Anujānāmi, bhikkhave, udukkhalaṁ musalan”ti.
At this time Venerable Ānanda’s preceptor, Venerable Belaṭṭhasīsa, had carbuncles, the pus making his robes adhere to his body. The monks kept on wetting his robes to remove the pus. As the Buddha was walking about the dwellings, he noticed this. He went up to them and said, “What sickness does this monk have?”
“He has carbuncles, sir. That’s why we’re doing this.” Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“For anyone who has an itch, a boil, a running sore, a carbuncle, or whose body smells, I allow medicinal powders. If you’re not sick, I allow detergent, soap, and cleaning agents. And I allow a mortar and pestle.”
264. Vào lúc bấy giờ, vị yết-ma-sư của trưởng lão Ānanda là trưởng lão Belaṭṭhasīsa bị bệnh ghẻ lở nặng. Do mủ chảy ra nên các y dính vào thân của vị ấy, các vị tỳ khưu dùng nước thấm ướt nhiều lần rồi gỡ ra. Trong khi đi kinh hành tuần tự các trú xá, đức Thế Tôn đã thấy các vị tỳ khưu ấy đang dùng nước thấm ướt nhiều lần rồi gỡ các y ấy ra. Sau khi thấy, ngài đi đến chỗ các vị tỳ khưu ấy; sau khi đến, ngài đã hỏi các vị tỳ khưu ấy điều này: – Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này bị bệnh gì vậy? – Bạch ngài, vị trưởng lão này bị bệnh ghẻ lở nặng, do mủ chảy ra nên các y dính vào thân, chúng con dùng nước thấm ướt nhiều lần rồi gỡ các y ấy ra. Khi ấy, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết pháp thoại đã gọi các vị tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, Ta cho phép các loại thuốc bột đối với vị nào bị bệnh ngứa, hoặc mụn nhọt, hoặc có mủ chảy, hoặc ghẻ lở nặng, hoặc thân có mùi hôi; đối với vị không bệnh (Ta cho phép) phân bò khô, đất sét, cặn thuốc nhuộm. Này các tỳ khưu, Ta cho phép cối và chày.
Tena kho pana samayena gilānānaṁ bhikkhūnaṁ cuṇṇehi bhesajjehi cālitehi attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, cuṇṇacālinin”ti.
Saṇhehi attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, dussacālinin”ti.
Soon afterwards the sick monks needed sifted medicinal powders.
“I allow a powder sieve.”
They needed finely sifted powder.
“I allow a cloth sieve.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về các loại thuốc bột đã được rây. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép cái rây bột. (Các vị ấy) có nhu cầu về (bột) mịn. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc rây bằng vải.
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno amanussikābādho hoti. Taṁ ācariyupajjhāyā upaṭṭhahantā nāsakkhiṁsu arogaṁ kātuṁ. So sūkarasūnaṁ gantvā āmakamaṁsaṁ khādi, āmakalohitaṁ pivi. Tassa so amanussikābādho paṭippassambhi. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, amanussikābādhe āmakamaṁsaṁ āmakalohitan”ti.
On one occasion a monk was possessed by a spirit. His teacher and preceptor who were nursing him were not able to cure him. He then went to a pigs’ slaughterhouse to eat raw meat and drink blood. As a result, he became well. They told the Buddha.
“For one who is possessed, I allow raw meat and raw blood.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ bị bệnh do phi nhân. Các vị thầy và yết-ma-sư chăm sóc vị ấy đã không thể chữa cho khỏi bệnh. Vị ấy đi đến lò mổ heo, đã ăn thịt sống, đã uống máu tươi. Căn bệnh do phi nhân ấy của vị ấy đã được thuyên giảm. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, trong trường hợp bệnh do phi nhân, Ta cho phép thịt sống và máu tươi.
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno cakkhurogābādho hoti. Taṁ bhikkhū pariggahetvā uccārampi passāvampi nikkhāmenti. Addasā kho bhagavā senāsanacārikaṁ āhiṇḍanto te bhikkhū taṁ bhikkhuṁ pariggahetvā uccārampi passāvampi nikkhāmente, disvāna yena te bhikkhū tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca—“kiṁ imassa, bhikkhave, bhikkhuno ābādho”ti?
“Imassa, bhante, āyasmato cakkhurogābādho. Imaṁ mayaṁ pariggahetvā uccārampi passāvampi nikkhāmemā”ti. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, añjanaṁ—kāḷañjanaṁ, rasañjanaṁ, sotañjanaṁ, gerukaṁ, kapallan”ti.
Añjanūpapisanehi attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, candanaṁ, tagaraṁ, kāḷānusāriyaṁ, tālīsaṁ, bhaddamuttakan”ti.
Tena kho pana samayena bhikkhū piṭṭhāni añjanāni carukesupi sarāvakesupi nikkhipanti; tiṇacuṇṇehipi paṁsukehipi okiriyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, añjanin”ti.
At that time a monk was afflicted with an eye-disease. The monks had to hold him while he urinated and defecated. Just then, as the Buddha was walking about the dwellings, he noticed this. He then went up to them and said, “What sickness does this monk have?”
“He has an eye-disease, sir. That’s why we do this for him.” Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“I allow these ointments: black ointment, mixed ointment, river ointment, red ocher, and soot.”
They needed scented ointments.
“I allow sandal, crape jasmine, Indian valerian, coffee plum, and nut grass.”
At that time the monks put their ointments in pots and scoops. The ointment was contaminated with grass, dust, and dirt.
“I allow an ointment box.”
265. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ bị bệnh về mắt. Các vị tỳ khưu dìu vị ấy đi đại tiện và tiểu tiện. Trong khi đi kinh hành tuần tự các trú xá, đức Thế Tôn đã thấy các vị tỳ khưu ấy đang dìu vị tỳ khưu kia đi đại tiện và tiểu tiện. Sau khi thấy, ngài đi đến chỗ các vị tỳ khưu ấy; sau khi đến, ngài đã hỏi các vị tỳ khưu ấy điều này: – Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này bị bệnh gì vậy? – Bạch ngài, vị trưởng lão này bị bệnh về mắt. Chúng con dìu vị này đi đại tiện và tiểu tiện. Khi ấy, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết pháp thoại đã gọi các vị tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, Ta cho phép thuốc nhỏ mắt: thuốc nhỏ mắt màu đen, thuốc nhỏ mắt chế từ nước cốt, thuốc nhỏ mắt chế từ váng nổi trên sông, đất hoàng thổ, bồ hóng. (Các vị ấy) có nhu cầu về các thứ để nghiền thuốc nhỏ mắt. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép gỗ chiên-đàn, cây tagara, cây kāḷānusāriya, cây tālīsa, cỏ bhaddamuttaka. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đựng các loại thuốc nhỏ mắt đã được tán thành bột vào trong các chén nhỏ và các đĩa nhỏ; (thuốc) bị lẫn với các mảnh cỏ vụn và bụi bặm. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép hộp đựng thuốc nhỏ mắt.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū uccāvacā añjaniyo dhārenti—sovaṇṇamayaṁ, rūpiyamayaṁ. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, uccāvacā añjanī dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa.
Anujānāmi, bhikkhave, aṭṭhimayaṁ, dantamayaṁ, visāṇamayaṁ, naḷamayaṁ, veḷumayaṁ, kaṭṭhamayaṁ, jatumayaṁ, phalamayaṁ, lohamayaṁ, saṅkhanābhimayan”ti.
Soon afterwards the monks from the group of six used luxurious ointment boxes made with gold or silver. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“You shouldn’t use luxurious ointment boxes. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
I allow ointment boxes made of bone, ivory, horn, reed, bamboo, wood, resin, fruit, metal, or shell.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu dùng các loại hộp đựng thuốc nhỏ mắt khác nhau: (loại) bằng vàng, (loại) bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – Giống như các hàng tại gia hưởng thụ các dục. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, không được dùng các loại hộp đựng thuốc nhỏ mắt khác nhau. Vị nào dùng, phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép (hộp) làm bằng xương, bằng ngà, bằng sừng, bằng ống sậy, bằng ống tre, bằng gỗ, bằng cánh kiến, bằng quả cây, bằng đồng, bằng vỏ ốc.
Tena kho pana samayena añjaniyo apārutā honti, tiṇacuṇṇehipi paṁsukehipi okiriyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, apidhānanti.
Apidhānaṁ nipatati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, suttakena bandhitvā añjaniyā bandhitun”ti.
Añjanī phalati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, suttakena sibbetun”ti.
At that time the ointment boxes were not covered. The ointment was contaminated with grass, dust, and dirt.
“I allow a lid.”
The lids fell off.
“I allow you to tie it onto the ointment box with a string.”
The ointment boxes split.
“I allow you to sew it together with thread.”
Vào lúc bấy giờ, các hộp đựng thuốc nhỏ mắt không có nắp đậy, bị lẫn với các mảnh cỏ vụn và bụi bặm. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép nắp đậy. Nắp đậy bị rơi. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng chỉ buộc vào hộp đựng thuốc nhỏ mắt. Hộp đựng thuốc nhỏ mắt bị vỡ. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng chỉ để khâu lại.
Tena kho pana samayena bhikkhū aṅguliyā añjanti, akkhīni dukkhāni honti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, añjanisalākan”ti.
At that time the monks put the ointment on with their fingers. As a result their eyes hurt.
“I allow an ointment stick.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu dùng ngón tay để tra thuốc nhỏ mắt, mắt bị đau. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép que tra thuốc nhỏ mắt.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū uccāvacā añjanisalākāyo dhārenti—sovaṇṇamayaṁ rūpiyamayaṁ. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, uccāvacā añjanisalākā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa.
Anujānāmi, bhikkhave, aṭṭhimayaṁ …pe… saṅkhanābhimayan”ti.
Soon afterwards the monks from the group of six used luxurious ointment sticks made with gold or silver. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“You shouldn’t use luxurious ointment sticks. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
I allow ointment sticks made of bone, ivory, horn, reed, bamboo, wood, resin, fruit, metal, or shell.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu dùng các loại que tra thuốc nhỏ mắt khác nhau: (loại) bằng vàng, (loại) bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – Giống như các hàng tại gia hưởng thụ các dục. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, không được dùng các loại que tra thuốc nhỏ mắt khác nhau. Vị nào dùng, phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép (que) làm bằng xương, ... cho đến ... bằng vỏ ốc.
Tena kho pana samayena añjanisalākā bhūmiyaṁ patitā pharusā hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, salākaṭhāniyan”ti.
The monks dropped the ointment sticks on the ground. The sticks became rough.
“I allow a case for the ointment stick.”
Vào lúc bấy giờ, que tra thuốc nhỏ mắt bị rơi xuống đất trở nên thô ráp. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép ống đựng que tra thuốc.
Tena kho pana samayena bhikkhū añjanimpi añjanisalākampi hatthena pariharanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, añjanitthavikan”ti.
Aṁsabaddhako na hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, aṁsabaddhakaṁ bandhanasuttakan”ti.
The monks carried the ointment boxes and sticks in their hands.
“I allow a bag for the ointment box.”
They did not have a shoulder strap.
“I allow a shoulder strap and a string for tying it.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu mang theo hộp đựng thuốc nhỏ mắt và que thoa thuốc nhỏ mắt bằng tay. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép túi đựng thuốc nhỏ mắt." (Khi ấy) không có dây đeo vai. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép dây đeo vai và dây cột."
Tena kho pana samayena āyasmato pilindavacchassa sīsābhitāpo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, muddhani telakan”ti.
Nakkhamaniyo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, natthukamman”ti.
Natthu galati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, natthukaraṇin”ti.
At one time Venerable Pilindavaccha had a headache.
“I allow oil for the head.”
He did not get better.
“I allow treatment through the nose.”
The oil dripped from the nose.
“I allow a nose dropper.”
266. Vào lúc bấy giờ, Đại đức Pilindavaccha bị bệnh đau đầu. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép dầu thoa đầu." (Căn bệnh) không thuyên giảm. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc xông mũi." Nước mũi chảy ra. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép ống xông mũi."
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū uccāvacā natthukaraṇiyo dhārenti—sovaṇṇamayaṁ rūpiyamayaṁ. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, uccāvacā natthukaraṇī dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa.
Anujānāmi, bhikkhave, aṭṭhimayaṁ …pe… saṅkhanābhimayan”ti.
Natthuṁ visamaṁ āsiñcanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, yamakanatthukaraṇin”ti.
Nakkhamaniyo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, dhūmaṁ pātun”ti.
Taññeva vaṭṭiṁ ālimpetvā pivanti, kaṇṭho dahati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, dhūmanettan”ti.
Soon afterwards the monks from the group of six used luxurious nose droppers made with gold or silver. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“You shouldn’t use luxurious nose droppers. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
I allow nose droppers made of bone, ivory, horn, reed, bamboo, wood, resin, fruit, metal, or shell.”
The nose dropper dripped unevenly.
“I allow a double nose dropper.”
He did not get better.
“I allow you to inhale smoke.”
They just lit the wick and inhaled the smoke. They burned their throat.
“I allow a tube.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu mang theo các loại ống xông mũi khác nhau – (loại) bằng vàng, (loại) bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: "Giống như các hàng tại gia hưởng thụ các dục." (Các vị tỳ khưu) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, không được mang theo các loại ống xông mũi khác nhau. Vị nào mang theo thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép (ống xông mũi) bằng xương, ... bằng vỏ ốc xà cừ." (Các vị tỳ khưu) nhỏ thuốc không đều. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép ống xông mũi hai ngả." (Căn bệnh) không thuyên giảm. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép hít khói thuốc." (Các vị) bôi thuốc vào chính viên thuốc rồi hít, cổ họng bị rát. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép ống hít khói thuốc."
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū uccāvacāni dhūmanettāni dhārenti—sovaṇṇamayaṁ rūpiyamayaṁ. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, uccāvacāni dhūmanettāni dhāretabbāni. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa.
Anujānāmi, bhikkhave, aṭṭhimayaṁ …pe… saṅkhanābhimayan”ti.
Soon the monks from the group of six used luxurious tubes made with gold or silver. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“You shouldn’t use luxurious tubes. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
I allow tubes made of bone, ivory, horn, reed, bamboo, wood, resin, fruit, metal, or shell.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu mang theo các loại ống hít khói thuốc khác nhau – (loại) bằng vàng, (loại) bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: "Giống như các hàng tại gia hưởng thụ các dục." (Các vị tỳ khưu) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, không được mang theo các loại ống hít khói thuốc khác nhau. Vị nào mang theo thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép (ống hít khói thuốc) bằng xương, ... bằng vỏ ốc xà cừ."
Tena kho pana samayena dhūmanettāni apārutāni honti, pāṇakā pavisanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, apidhānan”ti.
At that time the tubes were not covered. Insects crawled inside of them.
“I allow a lid.”
Vào lúc bấy giờ, các ống hít khói thuốc không có nắp đậy, các sinh vật nhỏ chui vào. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép nắp đậy."
Tena kho pana samayena bhikkhū dhūmanettāni hatthena pariharanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, dhūmanettathavikan”ti.
Ekato ghaṁsiyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, yamakathavikan”ti.
Aṁsabaddhako na hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, aṁsabaddhakaṁ bandhanasuttakan”ti.
At that time the monks carried the tubes in their hands.
“I allow a bag for the tubes.”
The tubes scratched each other.
“I allow a bag with two compartments.”
They did not have a shoulder strap.
“I allow a shoulder strap and a string for fastening it.”
Allowable medical treatments and more
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu mang theo ống hít khói thuốc bằng tay. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép túi đựng ống hít khói thuốc." (Các ống) bị cọ xát vào nhau. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép túi hai ngăn." (Khi ấy) không có dây đeo vai. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép dây đeo vai và dây cột."
Tena kho pana samayena āyasmato pilindavacchassa vātābādho hoti. Vejjā evamāhaṁsu—“telaṁ pacitabban”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, telapākan”ti.
Tasmiṁ kho pana telapāke majjaṁ pakkhipitabbaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, telapāke majjaṁ pakkhipitun”ti.
At one time Venerable Pilindavaccha had a certain disease. The doctors said he needed a heated concoction of oil.
“I allow a heated concoction of oil.”
They wanted to add alcohol to that concoction.
“I allow alcohol in a heated concoction of oil.”
267. Vào lúc bấy giờ, Đại đức Pilindavaccha bị bệnh phong. Các y sĩ nói rằng: "Nên nấu dầu." (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép dầu nấu." Lại nữa, trong dầu nấu ấy cần phải pha thêm rượu. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép pha thêm rượu vào dầu nấu."
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū atipakkhittamajjāni telāni pacanti, tāni pivitvā majjanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, atipakkhittamajjaṁ telaṁ pātabbaṁ. Yo piveyya, yathādhammo kāretabbo.
Anujānāmi, bhikkhave, yasmiṁ telapāke majjassa na vaṇṇo na gandho na raso paññāyati, evarūpaṁ majjapakkhittaṁ telaṁ pātun”ti.
Soon afterwards the monks from the group of six heated oil with too much alcohol. They drank it and became drunk.
“You shouldn’t drink heated oil with too much alcohol. If you do, you should be dealt with according to the rule.
I allow you to drink heated oil if there is no discernible color, smell, or taste of alcohol.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu nấu các loại dầu có pha quá nhiều rượu, sau khi uống các loại dầu ấy thì bị say. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, không được uống dầu có pha quá nhiều rượu. Vị nào uống thì phải được xử trị đúng theo Pháp. Này các tỳ khưu, Ta cho phép uống loại dầu có pha rượu mà trong dầu nấu ấy không nhận ra được màu sắc, không nhận ra được mùi, không nhận ra được vị của rượu."
Tena kho pana samayena bhikkhūnaṁ bahuṁ atipakkhittamajjaṁ telaṁ pakkaṁ hoti. Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kathaṁ nu kho atipakkhittamajje tele paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, abbhañjanaṁ adhiṭṭhātun”ti.
The monks had heated much oil with too much alcohol. They did not know what to do with it.
“I allow you to determine it for external use.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu có nhiều dầu đã nấu pha quá nhiều rượu. Khi ấy, các vị tỳ khưu suy nghĩ rằng: "Chúng ta nên xử lý dầu có pha quá nhiều rượu như thế nào đây?" (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép chú nguyện (dầu ấy) để xoa bóp."
Tena kho pana samayena āyasmato pilindavacchassa bahutaraṁ telaṁ pakkaṁ hoti, telabhājanaṁ na vijjati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, tīṇi tumbāni—lohatumbaṁ, kaṭṭhatumbaṁ, phalatumban”ti.
Pilindavaccha had more heated oil, but there was no vessel for storing it.
“I allow three kinds of vessels: made of metal, made of wood, made of fruit.”
Vào lúc bấy giờ, Đại đức Pilindavaccha có rất nhiều dầu đã nấu, nhưng không có vật dụng đựng dầu. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba loại bình đựng: bình bằng kim loại, bình bằng gỗ, bình bằng quả bầu."
Tena kho pana samayena āyasmato pilindavacchassa aṅgavāto hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sedakamman”ti.
Nakkhamaniyo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sambhārasedan”ti.
Nakkhamaniyo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, mahāsedan”ti.
Nakkhamaniyo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bhaṅgodakan”ti.
Nakkhamaniyo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, udakakoṭṭhakan”ti.
At that time Pilindavaccha had arthritis of the hands and feet.
“I allow treatment through sweating.”
He did not get better.
“I allow sweating with herbs.”
He still did not get better.
“I allow heavy sweating.”
He still did not get better.
“I allow hemp water.”
He still did not get better.
“I allow a bathtub.”
Vào lúc bấy giờ, Đại đức Pilindavaccha bị bệnh phong ở các chi. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc xông hơi." (Căn bệnh) không thuyên giảm. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép xông hơi bằng các loại thảo dược." (Căn bệnh) không thuyên giảm. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc xông hơi nhiều." (Căn bệnh) không thuyên giảm. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép (xông hơi bằng) nước nấu các loại lá." (Căn bệnh) không thuyên giảm. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép (xông hơi trong) bồn nước."
Tena kho pana samayena āyasmato pilindavacchassa pabbavāto hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, lohitaṁ mocetun”ti.
Nakkhamaniyo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, lohitaṁ mocetvā visāṇena gāhetun”ti.
Pilindavaccha had arthritis.
“I allow bloodletting.”
He did not get better.
“I allow bloodletting and receiving it in a horn.”
Vào lúc bấy giờ, Đại đức Pilindavaccha bị bệnh phong ở các khớp. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc trích máu." (Căn bệnh) không thuyên giảm. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép trích máu và hút ra bằng sừng."
Tena kho pana samayena āyasmato pilindavacchassa pādā phalitā honti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pādabbhañjanan”ti.
Nakkhamaniyo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pajjaṁ abhisaṅkharitun”ti.
Pilindavaccha had cracked feet.
“I allow salve for the feet.”
He did not get better.
“I allow you to make foot salve.”
Vào lúc bấy giờ, chân của đại đức Pilindavaccha bị nứt nẻ. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng thuốc thoa chân.” Bệnh không thuyên giảm. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép bào chế thuốc đắp chân.”
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno gaṇḍābādho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, satthakamman”ti.
Kasāvodakena attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, kasāvodakan”ti.
Tilakakkena attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, tilakakkan”ti.
Kabaḷikāya attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, kabaḷikan”ti.
Vaṇabandhanacoḷena attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, vaṇabandhanacoḷan”ti.
Vaṇo kaṇḍuvati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sāsapakuṭṭena phositun”ti.
Vaṇo kilijjittha. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, dhūmaṁ kātun”ti.
Vaḍḍhamaṁsaṁ vuṭṭhāti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, loṇasakkharikāya chinditun”ti.
Vaṇo na ruhati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, vaṇatelan”ti.
Telaṁ galati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, vikāsikaṁ sabbaṁ vaṇapaṭikamman”ti.
At that time a monk was afflicted with abscesses.
“I allow surgery.”
They needed bitter water.
“I allow bitter water.”
They needed sesame paste.
“I allow sesame paste.”
They needed flour paste.
“I allow flour paste.”
They needed a dressing.
“I allow a dressing.”
The sore was itching.
“I allow you to sprinkle it with mustard powder.”
The sore festered.
“I allow you to fumigate it.”
The flesh protruded.
“I allow you to cut it with a razor.”
The sore did not heal.
“I allow oil for the sore.”
The oil dripped off.
“I allow a bandage and all treatments for sores.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh mụn nhọt. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc mổ bằng dao.” Vị ấy cần đến nước chát. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng nước chát.” Vị ấy cần đến bã mè. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng bã mè.” Vị ấy cần đến thuốc đắp. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng thuốc đắp.” Vị ấy cần đến vải băng vết thương. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng vải băng vết thương.” Vết thương bị ngứa. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép rắc bột cải.” Vết thương bị sưng tấy. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép xông khói.” Thịt dư mọc lên. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép cắt bằng đá muối.” Vết thương không lành. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng dầu trị vết thương.” Dầu bị chảy đi. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng vải thấm dầu và tất cả các cách trị liệu vết thương.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu ahinā daṭṭho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, cattāri mahāvikaṭāni dātuṁ—gūthaṁ, muttaṁ, chārikaṁ, mattikan”ti.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“appaṭiggahitāni nu kho udāhu paṭiggahetabbānī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sati kappiyakārake paṭiggahāpetuṁ, asati kappiyakārake sāmaṁ gahetvā paribhuñjitun”ti.
On one occasion a certain monk was bitten by a snake.
“I allow you to give him the four foul edibles: feces, urine, ash, and clay.”
The monks thought, “Do they need to be received or not?”
“They should be received if there is an attendant. If there isn’t, I allow you to take them yourself and then eat them.”
268. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị rắn cắn. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép cho dùng bốn loại thuốc mạnh: phân, nước tiểu, tro, và đất sét.” Bấy giờ, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ: “Những thứ này có cần phải được dâng cúng hay không?” Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép rằng, khi có người thị giả tịnh nhân thì hãy để người ấy dâng cúng; khi không có người thị giả tịnh nhân thì được phép tự mình lấy và dùng.”
Tena kho pana samayena aññatarena bhikkhunā visaṁ pītaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gūthaṁ pāyetun”ti.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“appaṭiggahitaṁ nu kho udāhu paṭiggahetabbo”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, yaṁ karonto paṭiggaṇhāti, sveva paṭiggaho kato, na puna paṭiggahetabbo”ti.
On one occasion a monk had drunk poison.
“I allow you to give him feces to drink.”
The monks thought, “Does it need to be received or not?”
“I allow the one who is excreting it to receive it. When he’s received it, it doesn’t need to be received again.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu uống phải thuốc độc. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép cho uống phân.” Bấy giờ, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ: “Thứ này có cần phải được dâng cúng hay không?” Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép rằng, khi đang bài tiết mà nhận lấy, việc dâng cúng ấy xem như đã xong, không cần phải được dâng cúng lại nữa.”
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno gharadinnakābādho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sītāloḷiṁ pāyetun”ti.
On one occasion a monk was sick from a drug.
“I allow him to drink mud from a plow.”
269. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh do thuốc của người tại gia cho. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép cho uống nước hòa tan đất dính ở lưỡi cày.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu duṭṭhagahaṇiko hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, āmisakhāraṁ pāyetun”ti.
On one occasion a certain monk had indigestion.
“I allow him to drink lye.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh đường ruột. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép cho uống nước tro từ cơm khô.”
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno paṇḍurogābādho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, muttaharītakaṁ pāyetun”ti.
On one occasion a certain monk suffered from jaundice.
“I allow him to drink chebulic myrobalan soaked in cattle urine.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh xanh xao. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép cho uống nước quả chòi mòi ngâm trong nước tiểu.”
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno chavidosābādho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gandhālepaṁ kātun”ti.
On one occasion a certain monk suffered from a skin disease.
“I allow you to make a scented ointment.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh ngoài da. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc thoa thuốc thơm.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu abhisannakāyo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, virecanaṁ pātun”ti.
Acchakañjiyā attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, acchakañjin”ti.
Akaṭayūsena attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, akaṭayūsan”ti.
Kaṭākaṭena attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, kaṭākaṭan”ti.
Paṭicchādanīyena attho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, paṭicchādanīyan”ti.
On one occasion a monk’s body was full of impurities.
“I allow him to drink a purgative.”
He needed clear congee.
“I allow clear congee.”
He needed mung-bean broth.
“I allow mung-bean broth.”
He needed oily mung-bean broth.
“I allow oily mung-bean broth.”
He needed meat broth.
“I allow meat broth.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu thân thể bị ứ đọng. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép uống thuốc xổ.” Vị ấy cần đến nước vo gạo trong. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng nước vo gạo trong.” Vị ấy cần đến nước đậu chưa lọc. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng nước đậu chưa lọc.” Vị ấy cần đến nước đậu đã lọc một phần. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng nước đậu đã lọc một phần.” Vị ấy cần đến nước thịt hầm. Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng nước thịt hầm.”
3. Pilindavacchavatthu
3. The account of Pilindavaccha
162. Câu chuyện về Pilindavaccha
Tena kho pana samayena āyasmā pilindavaccho rājagahe pabbhāraṁ sodhāpeti leṇaṁ kattukāmo. Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro yenāyasmā pilindavaccho tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ pilindavacchaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rājā māgadho seniyo bimbisāro āyasmantaṁ pilindavacchaṁ etadavoca—“kiṁ, bhante, thero kārāpetī”ti?
“Pabbhāraṁ, mahārāja, sodhāpemi, leṇaṁ kattukāmo”ti.
“Attho, bhante, ayyassa ārāmikenā”ti?
“Na kho, mahārāja, bhagavatā ārāmiko anuññāto”ti.
“Tena hi, bhante, bhagavantaṁ paṭipucchitvā mama āroceyyāthā”ti.
“Evaṁ, mahārājā”ti kho āyasmā pilindavaccho rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa paccassosi.
Atha kho āyasmā pilindavaccho rājānaṁ māgadhaṁ seniyaṁ bimbisāraṁ dhammiyā kathāya sandassesi, samādapesi, samuttejesi, sampahaṁsesi. Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro āyasmatā pilindavacchena dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā āyasmantaṁ pilindavacchaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
At one time Venerable Pilindavaccha was having a hillside cleared near Rājagaha, intending to build a shelter. Just then King Seniya Bimbisāra of Magadha went to Pilindavaccha, bowed, sat down, and said, “Venerable, what are you having made?”
“I’m clearing the hillside, great king. I want to build a shelter.”
“Do you need a monastery worker?”
“The Buddha hasn’t allowed monastery workers.”
“Well then, sir, please ask the Buddha and tell me the outcome.”
“Yes.”
Pilindavaccha instructed, inspired, and gladdened King Bimbisāra with a teaching, after which the king got up from his seat, bowed down, circumambulated Pilindavaccha with his right side toward him, and left.
270. Vào lúc bấy giờ, Tôn giả Pilindavaccha đang cho dọn dẹp một sườn núi ở thành Rājagaha vì muốn làm một cái hang. Khi ấy, vua Bimbisāra xứ Māgadha, hiệu là Seniya, đi đến chỗ Tôn giả Pilindavaccha; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Tôn giả Pilindavaccha rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, vua Bimbisāra xứ Māgadha, hiệu là Seniya, đã bạch với Tôn giả Pilindavaccha điều này: – “Bạch ngài, Trưởng lão đang cho làm gì vậy?” – “Tâu đại vương, tôi đang cho dọn dẹp một sườn núi vì muốn làm một cái hang.” – “Bạch ngài, ngài có cần người giữ vườn không?” – “Tâu đại vương, đức Thế Tôn chưa cho phép người giữ vườn.” – “Nếu vậy, bạch ngài, sau khi thỉnh hỏi đức Thế Tôn, xin ngài hãy cho tôi biết.” – “Vâng, tâu đại vương.” Tôn giả Pilindavaccha đã vâng lời vua Bimbisāra xứ Māgadha, hiệu là Seniya. Sau đó, Tôn giả Pilindavaccha đã thuyết một bài pháp cho vua Bimbisāra xứ Māgadha, hiệu là Seniya, khiến vua thấy rõ, khuyến khích, làm cho hăng hái, và làm cho phấn khởi. Khi ấy, vua Bimbisāra xứ Māgadha, hiệu là Seniya, sau khi được Tôn giả Pilindavaccha thuyết pháp khiến cho thấy rõ, khuyến khích, làm cho hăng hái, và làm cho phấn khởi, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Pilindavaccha, đi nhiễu bên phải rồi ra về.
Atha kho āyasmā pilindavaccho bhagavato santike dūtaṁ pāhesi—“rājā, bhante, māgadho seniyo bimbisāro ārāmikaṁ dātukāmo. Kathaṁ nu kho, bhante, mayā paṭipajjitabban”ti? Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, ārāmikan”ti.
Dutiyampi kho rājā māgadho seniyo bimbisāro yenāyasmā pilindavaccho tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ pilindavacchaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rājā māgadho seniyo bimbisāro āyasmantaṁ pilindavacchaṁ etadavoca—“anuññāto, bhante, bhagavatā ārāmiko”ti?
“Evaṁ, mahārājā”ti.
“Tena hi, bhante, ayyassa ārāmikaṁ dammī”ti.
Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro āyasmato pilindavacchassa ārāmikaṁ paṭissutvā, vissaritvā, cirena satiṁ paṭilabhitvā, aññataraṁ sabbatthakaṁ mahāmattaṁ āmantesi—“yo mayā, bhaṇe, ayyassa ārāmiko paṭissuto, dinno so ārāmiko”ti?
“Na kho, deva, ayyassa ārāmiko dinno”ti.
“Kīva ciraṁ nu kho, bhaṇe, ito hi taṁ hotī”ti?
Atha kho so mahāmatto rattiyo gaṇetvā rājānaṁ māgadhaṁ seniyaṁ bimbisāraṁ etadavoca—“pañca, deva, rattisatānī”ti.
“Tena hi, bhaṇe, ayyassa pañca ārāmikasatāni dehī”ti.
“Evaṁ, devā”ti
kho so mahāmatto rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa paṭissutvā āyasmato pilindavacchassa pañca ārāmikasatāni pādāsi, pāṭiyekko gāmo nivisi. “Ārāmikagāmako”tipi naṁ āhaṁsu, “pilindagāmako”tipi naṁ āhaṁsu.
Soon afterwards Pilindavaccha sent a message to the Buddha: “Sir, King Seniya Bimbisāra of Magadha wishes to provide a monastery worker. What should I tell him?” The Buddha then gave a teaching and addressed the monks:
“Monks, I allow monastery workers.”
Once again King Bimbisāra went to Pilindavaccha, bowed, sat down, and said, “Sir, has the Buddha allowed monastery workers?”
“Yes, great king.”
“Well then, I’ll provide you with a monastery worker.”
Yet after making this promise, he forgot, and only remembered after a long time. He then addressed the official in charge of practical affairs: “Listen, has the monastery worker I promised been provided?”
“No, sir, he hasn’t.”
“How long has it been since we made that promise?”
The official counted the days and said, “It’s been five hundred days.”
“Well then, provide him with five hundred monastery workers.”
“Yes.”
The official provided Pilindavaccha with those monastery workers, and a separate village was established. They called it “The Monastery Workers’ Village” and “Pilinda Village”.
Khi ấy, Tôn giả Pilindavaccha đã gửi một sứ giả đến chỗ đức Thế Tôn với lời nhắn: – “Bạch Thế Tôn, vua Bimbisāra xứ Māgadha, hiệu là Seniya, muốn cúng dường người giữ vườn. Bạch Thế Tôn, con nên thực hành như thế nào?” Khi ấy, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn đã thuyết một bài pháp rồi gọi các tỳ khưu: – “Này các tỳ khưu, Ta cho phép người giữ vườn.” Lần thứ hai, vua Bimbisāra xứ Māgadha, hiệu là Seniya, đi đến chỗ Tôn giả Pilindavaccha; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Tôn giả Pilindavaccha rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, vua Bimbisāra xứ Māgadha, hiệu là Seniya, đã bạch với Tôn giả Pilindavaccha điều này: – “Bạch ngài, đức Thế Tôn đã cho phép người giữ vườn chưa?” – “Vâng, tâu đại vương.” – “Nếu vậy, bạch ngài, con xin cúng dường người giữ vườn đến ngài.” Khi ấy, vua Bimbisāra xứ Māgadha, hiệu là Seniya, sau khi đã hứa cúng dường người giữ vườn đến Tôn giả Pilindavaccha, đã quên đi, một thời gian lâu sau mới nhớ lại, và đã gọi một vị đại thần lo mọi việc: – “Này khanh, người giữ vườn mà ta đã hứa cúng dường cho ngài, người ấy đã được cúng dường chưa?” – “Tâu thiên tử, người giữ vườn vẫn chưa được cúng dường đến ngài.” – “Này khanh, từ đây đến lúc đó đã bao lâu rồi?” Khi ấy, vị đại thần ấy sau khi đếm số đêm đã tâu với vua Bimbisāra xứ Māgadha, hiệu là Seniya, điều này: – “Tâu thiên tử, đã năm trăm đêm.” – “Nếu vậy, này khanh, hãy cúng dường năm trăm người giữ vườn đến ngài.” – “Vâng, tâu thiên tử.” Vị đại thần ấy sau khi vâng lời vua Bimbisāra xứ Māgadha, hiệu là Seniya, đã cúng dường năm trăm người giữ vườn đến Tôn giả Pilindavaccha. Một ngôi làng riêng biệt được thành lập. Họ gọi làng ấy là ‘Làng Của Người Giữ Vườn,’ và cũng gọi là ‘Làng Pilinda.’
Atha kho āyasmā pilindavaccho pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya pilindagāmaṁ piṇḍāya pāvisi. Tena kho pana samayena tasmiṁ gāmake ussavo hoti. Dārakā alaṅkatā mālākitā kīḷanti. Atha kho āyasmā pilindavaccho pilindagāmake sapadānaṁ piṇḍāya caramāno yena aññatarassa ārāmikassa nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Tena kho pana samayena tassā ārāmikiniyā dhītā aññe dārake alaṅkate mālākite passitvā rodati—“mālaṁ me detha, alaṅkāraṁ me dethā”ti. Atha kho āyasmā pilindavaccho taṁ ārāmikiniṁ etadavoca—“kissāyaṁ dārikā rodatī”ti? “Ayaṁ, bhante, dārikā aññe dārake alaṅkate mālākite passitvā rodati—‘mālaṁ me detha, alaṅkāraṁ me dethā’ti. Kuto amhākaṁ duggatānaṁ mālā, kuto alaṅkāro”ti? Atha kho āyasmā pilindavaccho aññataraṁ tiṇaṇḍupakaṁ gahetvā taṁ ārāmikiniṁ etadavoca—“handimaṁ tiṇaṇḍupakaṁ tassā dārikāya sīse paṭimuñcā”ti. Atha kho sā ārāmikinī taṁ tiṇaṇḍupakaṁ gahetvā tassā dārikāya sīse paṭimuñci. Sā ahosi suvaṇṇamālā abhirūpā, dassanīyā, pāsādikā; natthi tādisā raññopi antepure suvaṇṇamālā.
Manussā rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa ārocesuṁ—“amukassa, deva, ārāmikassa ghare suvaṇṇamālā abhirūpā, dassanīyā, pāsādikā; natthi tādisā devassapi antepure suvaṇṇamālā; kuto tassa duggatassa? Nissaṁsayaṁ corikāya ābhatā”ti.
After robing up one morning, he took his bowl and robe and went to Pilinda Village for alms. At that time they were holding a celebration in that village, and the children were dressed up in ornaments and garlands. As Pilindavaccha was walking on continuous almsround, he came to the house of a certain monastery worker where he sat down on the prepared seat. Just then the daughter of the house had seen the other children dressed up in ornaments and garlands. She cried, saying, “I want a garland! I want ornaments!” Pilindavaccha asked her mother why the girl was crying. She told him, adding, “Poor people like us can’t afford garlands and ornaments.” Pilindavaccha then took a pad of grass and said to the mother, “Here, place this on the girl’s head.” She did, and it turned into a beautiful golden garland. Even the royal compound had nothing like it.
People told King Bimbisāra, “Sir, in the house of a such-and-such a monastery worker there’s a beautiful golden garland. Even in your court, sir, there’s nothing like it. So how did those poor people get it? They must have stolen it.”
271. Vào lúc bấy giờ, Tôn giả Pilindavaccha là vị thầy thường lui tới các gia đình trong ngôi làng nhỏ ấy. Khi ấy, Tôn giả Pilindavaccha vào buổi sáng, sau khi đắp y, mang bát và y, đã đi vào làng Pilinda để khất thực. Vào lúc bấy giờ, trong ngôi làng nhỏ ấy có một lễ hội. Các đứa trẻ được trang điểm, đeo vòng hoa, đang vui chơi. Khi ấy, Tôn giả Pilindavaccha, trong khi đi khất thực theo thứ tự từng nhà trong làng Pilinda, đã đi đến nhà của một người giữ vườn nọ; sau khi đến, ngài đã ngồi xuống chỗ ngồi đã được dọn sẵn. Vào lúc bấy giờ, con gái của người nữ giữ vườn ấy, sau khi thấy những đứa trẻ khác được trang điểm, đeo vòng hoa, đã khóc và nói: ‘Hãy cho con vòng hoa, hãy cho con đồ trang sức.’ Khi ấy, Tôn giả Pilindavaccha đã hỏi người nữ giữ vườn ấy điều này: – “Tại sao đứa bé gái này lại khóc?” – “Bạch ngài, đứa bé gái này thấy những đứa trẻ khác được trang điểm, đeo vòng hoa, nên đã khóc và nói: ‘Hãy cho con vòng hoa, hãy cho con đồ trang sức.’ Chúng con là những người nghèo khổ, lấy đâu ra vòng hoa, lấy đâu ra đồ trang sức?” Khi ấy, Tôn giả Pilindavaccha, sau khi nhặt một vòng cỏ, đã nói với người nữ giữ vườn ấy điều này: – “Này, hãy lấy vòng cỏ này đội lên đầu cho đứa bé gái ấy.” Khi ấy, người nữ giữ vườn ấy, sau khi lấy vòng cỏ đó, đã đội lên đầu cho đứa bé gái ấy. Vòng cỏ ấy đã trở thành một vòng hoa bằng vàng, rất đẹp, đáng nhìn, khả ái; một vòng hoa bằng vàng như vậy ngay cả trong cung của vua cũng không có. Người ta đã tâu lên vua Bimbisāra xứ Māgadha, hiệu là Seniya: – “Tâu thiên tử, trong nhà của người giữ vườn tên là... có một vòng hoa bằng vàng, rất đẹp, đáng nhìn, khả ái; một vòng hoa bằng vàng như vậy ngay cả trong cung của thiên tử cũng không có. Người nghèo khổ ấy lấy đâu ra? Chắc chắn là do trộm cắp mà có.”
Dutiyampi kho āyasmā pilindavaccho pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya pilindagāmaṁ piṇḍāya pāvisi. Pilindagāmake sapadānaṁ piṇḍāya caramāno yena tassa ārāmikassa nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paṭivissake pucchi—“kahaṁ imaṁ ārāmikakulaṁ gatan”ti?
“Etissā, bhante, suvaṇṇamālāya kāraṇā raññā bandhāpitan”ti.
Atha kho āyasmā pilindavaccho yena rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro yenāyasmā pilindavaccho tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ pilindavacchaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho rājānaṁ māgadhaṁ seniyaṁ bimbisāraṁ āyasmā pilindavaccho etadavoca—“kissa, mahārāja, ārāmikakulaṁ bandhāpitan”ti?
“Tassa, bhante, ārāmikassa ghare suvaṇṇamālā abhirūpā, dassanīyā, pāsādikā; natthi tādisā amhākampi antepure suvaṇṇamālā; kuto tassa duggatassa? Nissaṁsayaṁ corikāya ābhatā”ti.
Atha kho āyasmā pilindavaccho rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa pāsādaṁ suvaṇṇanti adhimucci; so ahosi sabbasovaṇṇamayo. “Idaṁ pana te, mahārāja, tāva bahuṁ suvaṇṇaṁ kuto”ti?
“Aññātaṁ, bhante, ayyasseveso iddhānubhāvo”ti taṁ ārāmikakulaṁ muñcāpesi.
Manussā—
Once again Pilindavaccha robed up in the morning, took his bowl and robe, and went to Pilinda Village for alms. As he was walking on continuous almsround, he came to the house of that same monastery worker. He then asked the neighbors what had happened to that family.
“The king had jailed them, venerable, because of that golden garland.”
Pilindavaccha went to King Bimbisāra’s house, where he sat down on the prepared seat. King Bimbisāra approached Pilindavaccha, bowed, and sat down. Pilindavaccha said, “Great king, why have you jailed the family of that monastery worker?”
“Sir, in the house of that monastery worker there was a beautiful golden garland. Even the royal compound has nothing like it. So how did those poor people get it? They must have stolen it.”
Pilindavaccha then focused his mind on turning King Bimbisāra’s stilt house into gold. As a result, the whole house became gold. He said, “Great king, how did you get so much gold?”
“Understood, sir! It’s your supernormal power.” And he released that family.
People said,
Bấy giờ, vua xứ Ma-kiệt-đà, tên là Seniya Bimbisāra, đã ra lệnh bắt giam gia đình người giữ vườn ấy. Lần thứ hai, vào buổi sáng, trưởng lão Pilindavaccha sau khi đắp y, đã mang y bát và đi vào làng Pilinda để khất thực. Trong lúc đi khất thực theo thứ tự từng nhà ở làng Pilinda, ngài đã đi đến nhà của người giữ vườn ấy, sau khi đến nơi, ngài đã hỏi những người hàng xóm rằng: “Gia đình người giữ vườn này đã đi đâu?” (Họ thưa:) “Bạch ngài, vì lý do vòng hoa vàng ấy mà họ đã bị vua cho bắt giam.” Bấy giờ, trưởng lão Pilindavaccha đã đi đến nơi ở của vua xứ Ma-kiệt-đà, tên là Seniya Bimbisāra, sau khi đến nơi, ngài đã ngồi xuống chỗ ngồi đã được dọn sẵn. Bấy giờ, vua xứ Ma-kiệt-đà, tên là Seniya Bimbisāra, đã đi đến chỗ trưởng lão Pilindavaccha, sau khi đến nơi, đã đảnh lễ trưởng lão Pilindavaccha rồi ngồi xuống một bên. Trưởng lão Pilindavaccha đã nói điều này với vua xứ Ma-kiệt-đà, tên là Seniya Bimbisāra, đang ngồi một bên: “Tâu đại vương, vì sao gia đình người giữ vườn bị bắt giam?” (Vua tâu:) “Bạch ngài, ở nhà của người giữ vườn ấy có một vòng hoa vàng rất đẹp, đáng chiêm ngưỡng, và khả ái. Ngay cả trong cung của trẫm cũng không có vòng hoa vàng nào như thế. Người nghèo khổ ấy lấy đâu ra? Chắc chắn là do trộm cắp mà có.” Bấy giờ, trưởng lão Pilindavaccha đã chú nguyện cho cung điện của vua xứ Ma-kiệt-đà, tên là Seniya Bimbisāra, thành vàng; và nó đã trở thành hoàn toàn bằng vàng. (Ngài hỏi:) “Tâu đại vương, vậy thì ngài lấy đâu ra nhiều vàng như thế này?” (Vua tâu:) “Bạch ngài, con đã hiểu rồi. Đây chính là thần lực của ngài.” rồi ra lệnh thả gia đình người giữ vườn ấy.
Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Ye te bhikkhū appicchā, te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhikkhū evarūpāya bāhullāya cetessantī”ti.
Atha kho te bhikkhū te anekapariyāyena vigarahitvā bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, bhikkhū evarūpāya bāhullāya cetentī”ti? “Saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“yāni kho pana tāni gilānānaṁ bhikkhūnaṁ paṭisāyanīyāni bhesajjāni, seyyathidaṁ—sappi, navanītaṁ, telaṁ, madhu, phāṇitaṁ, tāni paṭiggahetvā sattāhaparamaṁ sannidhikārakaṁ paribhuñjitabbāni. Taṁ atikkāmayato yathādhammo kāretabbo”ti.
The monks heard the complaints of those people and the monks of few desires complained and criticized those monks, “How can these monks choose to live with such abundance?”
After rebuking those monks in many ways, they told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that there are monks who live like this?” “It’s true, sir.” … After rebuking them, the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“After being received, the tonics allowable for sick monks—that is, ghee, butter, oil, honey, and syrup—should be used from storage for at most seven days. If you use them longer than that, you should be dealt with according to the rule.”
Dân chúng nghĩ rằng: “Tôn giả Pilindavaccha đã biểu diễn thần thông kỳ diệu, một pháp siêu nhân, giữa hội chúng có cả nhà vua,” nên đã hoan hỷ, vô cùng tín thành, và dâng cúng năm loại dược phẩm đến trưởng lão Pilindavaccha, đó là: bơ lỏng, bơ tươi, dầu, mật ong, và đường phèn. Vốn dĩ, trưởng lão Pilindavaccha cũng thường nhận được năm loại dược phẩm; mỗi khi nhận được, ngài đều phân phát cho hội chúng. Hội chúng của ngài thì lại có khuynh hướng tích trữ nhiều; mỗi khi nhận được, họ đổ đầy vào các loại chum, vại, rồi cất giữ; họ cũng đổ đầy vào các túi lọc nước, các loại túi khác, rồi treo lên ở các cửa sổ. Các dược phẩm ấy bị chảy rỉ ra. Các ngôi tịnh xá cũng bị chuột bọ tràn lan khắp nơi. Dân chúng trong khi đi dạo quanh các tịnh xá, sau khi nhìn thấy đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: “Các vị Sa-môn Thích tử này có kho chứa bên trong, giống như vua xứ Ma-kiệt-đà, tên là Seniya Bimbisāra vậy.” Các tỳ khưu đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, và chỉ trích của những người ấy. Các vị tỳ khưu thiểu dục đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: “Tại sao các tỳ khưu lại có thể cố gắng để có được sự sung túc như thế này?” Bấy giờ, các tỳ khưu ấy sau khi khiển trách các vị kia bằng nhiều cách đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn... v.v... (Đức Thế Tôn hỏi:) “Này các tỳ khưu, có thật là các tỳ khưu đã cố gắng để có được sự sung túc như thế không?” (Họ thưa:) “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.”... v.v... Sau khi khiển trách và thuyết một bài pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ khưu và dạy rằng: “Những dược phẩm có thể dùng để liếm cho các tỳ khưu bị bệnh, đó là: bơ lỏng, bơ tươi, dầu, mật ong, và đường phèn, sau khi đã thọ nhận, được phép thọ dụng bằng cách tích trữ tối đa là bảy ngày. Vị nào vi phạm điều đó, vượt quá giới hạn ấy, phải bị xử trị theo đúng pháp.”
Bhesajjānuññātabhāṇavāro niṭṭhito paṭhamo.
The first section for recitation on allowable medicines is finished.
Phẩm về việc cho phép dùng dược phẩm, thứ nhất, đã kết thúc.
4. Guḷādianujānana
4. The allowance for sugar, etc.
163. Sự cho phép dùng đường phèn, v.v...
Atha kho bhagavā sāvatthiyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena rājagahaṁ tena cārikaṁ pakkāmi. Addasā kho āyasmā kaṅkhārevato antarāmagge guḷakaraṇaṁ, okkamitvā guḷe piṭṭhampi chārikampi pakkhipante, disvāna—“akappiyo guḷo sāmiso, na kappati guḷo vikāle paribhuñjitun”ti—kukkuccāyanto sapariso guḷaṁ na paribhuñjati. Yepissa sotabbaṁ maññanti, tepi guḷaṁ na paribhuñjanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Kimatthāya, bhikkhave, guḷe piṭṭhampi chārikampi pakkhipantī”ti?
“Thaddhatthāya, bhagavā”ti.
“Sace, bhikkhave, thaddhatthāya guḷe piṭṭhampi chārikampi pakkhipanti, so ca guḷotveva saṅkhaṁ gacchati. Anujānāmi, bhikkhave, yathāsukhaṁ guḷaṁ paribhuñjitun”ti.
When the Buddha had stayed at Sāvatthī for as long as he liked, he set out wandering toward Rājagaha. While they were traveling, Venerable Revata the Doubter saw a sugar factory. As he approached, he noticed they were mixing the sugar with flour and ash. He thought, “Sugar mixed with food is unallowable, and so it’s unallowable to eat sugar at the wrong time,” and being afraid of wrongdoing, he and his followers did not take sugar. They told the Buddha. “Why are they adding flour and ash to the sugar?”
“To harden it, sir.”
“If they add flour or ash to sugar to harden it, it’s still considered sugar. I allow you to eat as much sugar as you like.”
272. Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi trú ở Sāvatthī tùy theo ý thích, đã lên đường du hành đến Rājagaha. Trên đường đi, trưởng lão Kaṅkhārevata đã nhìn thấy một nơi làm đường phèn, ngài đi vào và thấy người ta cho cả bột và tro trấu vào đường phèn. Sau khi thấy vậy, ngài áy náy nghĩ rằng: “Đường phèn có lẫn tạp vật là không thích hợp, không được phép thọ dụng đường phèn vào buổi phi thời,” nên ngài và hội chúng của mình đã không thọ dụng đường phèn. Các vị tỳ khưu nào nghĩ rằng nên nghe theo lời ngài cũng không thọ dụng đường phèn. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn hỏi:) “Này các tỳ khưu, vì mục đích gì mà họ cho cả bột và tro trấu vào đường phèn?” (Họ thưa:) “Bạch đức Thế Tôn, để cho nó cứng lại.” “Này các tỳ khưu, nếu họ cho cả bột và tro trấu vào đường phèn để cho nó cứng lại, thì nó vẫn được kể là đường phèn. Này các tỳ khưu, Ta cho phép thọ dụng đường phèn tùy thích.”
Addasā kho āyasmā kaṅkhārevato antarāmagge vacce muggaṁ jātaṁ, passitvā—“akappiyā muggā; pakkāpi muggā jāyantī”ti—kukkuccāyanto sapariso muggaṁ na paribhuñjati. Yepissa sotabbaṁ maññanti, tepi muggaṁ na paribhuñjanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Sace, bhikkhave, pakkāpi muggā jāyanti, anujānāmi, bhikkhave, yathāsukhaṁ muggaṁ paribhuñjitun”ti.
While still traveling, Revata noticed mung beans sprouting from feces. He thought, “Mung beans are unallowable. They sprout even after being digested,” and being afraid of wrongdoing, he and his followers did not eat mung beans. They told the Buddha.
“Although mung beans may sprout after being digested, I allow you to eat as much of it as you like.”
Trên đường đi, trưởng lão Kaṅkhārevata đã nhìn thấy đậu xanh mọc lên từ phân, sau khi thấy vậy, ngài áy náy nghĩ rằng: “Đậu xanh là không thích hợp; ngay cả đậu xanh đã nấu chín cũng nảy mầm,” nên ngài và hội chúng của mình đã không thọ dụng đậu xanh. Các vị tỳ khưu nào nghĩ rằng nên nghe theo lời ngài cũng không thọ dụng đậu xanh. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn dạy:) “Này các tỳ khưu, cho dù đậu xanh đã nấu chín vẫn nảy mầm, Ta cho phép các tỳ khưu thọ dụng đậu xanh tùy thích.”
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno udaravātābādho hoti. So loṇasovīrakaṁ apāyi. Tassa so udaravātābādho paṭippassambhi. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gilānassa loṇasovīrakaṁ; agilānassa udakasambhinnaṁ pānaparibhogena paribhuñjitun”ti.
On one occasion a certain monk who had a stomachache drank a salty purgative and was cured.
“I allow salty purgatives when you’re sick. If you’re not sick, I allow you to drink it mixed with water.”
273. Vào lúc ấy, có một vị tỳ khưu bị bệnh đau bụng gió. Vị ấy đã uống nước loṇasovīraka. Bệnh đau bụng gió của vị ấy đã được thuyên giảm. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu bị bệnh (dùng) nước loṇasovīraka; (cho phép) vị tỳ khưu không bị bệnh dùng (nước loṇasovīraka) đã được pha với nước theo cách dùng của một loại thức uống.”
5. Antovuṭṭhādipaṭikkhepakathā
5. Discussion of the prohibition against storing indoors, etc.
164. Câu chuyện về việc ngăn cấm việc cất giữ bên trong v.v...
Atha kho bhagavā anupubbena cārikaṁ caramāno yena rājagahaṁ tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena bhagavato udaravātābādho hoti. Atha kho āyasmā ānando—“pubbepi bhagavato udaravātābādho tekaṭulayāguyā phāsu hotī”ti—sāmaṁ tilampi, taṇḍulampi, muggampi viññāpetvā, anto vāsetvā, anto sāmaṁ pacitvā bhagavato upanāmesi—“pivatu bhagavā tekaṭulayāgun”ti.
Jānantāpi tathāgatā pucchanti, jānantāpi na pucchanti; kālaṁ viditvā pucchanti, kālaṁ viditvā na pucchanti; atthasaṁhitaṁ tathāgatā pucchanti, no anatthasaṁhitaṁ. Anatthasaṁhite setughāto tathāgatānaṁ. Dvīhi ākārehi buddhā bhagavanto bhikkhū paṭipucchanti— “dhammaṁ vā desessāma, sāvakānaṁ vā sikkhāpadaṁ paññapessāmā”ti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi—“kutāyaṁ, ānanda, yāgū”ti? Atha kho āyasmā ānando bhagavato etamatthaṁ ārocesi.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, ānanda, ananulomikaṁ, appatirūpaṁ, assāmaṇakaṁ, akappiyaṁ, akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma tvaṁ, ānanda, evarūpāya bāhullāya cetessasi. Yadapi, ānanda, anto vuṭṭhaṁ tadapi akappiyaṁ; yadapi anto pakkaṁ, tadapi akappiyaṁ; yadapi sāmaṁ pakkaṁ, tadapi akappiyaṁ. Netaṁ, ānanda, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, anto vuṭṭhaṁ, anto pakkaṁ, sāmaṁ pakkaṁ paribhuñjitabbaṁ. Yo paribhuñjeyya, āpatti dukkaṭassa.
Anto ce, bhikkhave, vuṭṭhaṁ, anto pakkaṁ, sāmaṁ pakkaṁ tañce paribhuñjeyya, āpatti tiṇṇaṁ dukkaṭānaṁ.
Anto ce, bhikkhave, vuṭṭhaṁ, anto pakkaṁ, aññehi pakkaṁ, tañce paribhuñjeyya, āpatti dvinnaṁ dukkaṭānaṁ.
Anto ce, bhikkhave, vuṭṭhaṁ, bahi pakkaṁ, sāmaṁ pakkaṁ, tañce paribhuñjeyya, āpatti dvinnaṁ dukkaṭānaṁ.
Bahi ce, bhikkhave, vuṭṭhaṁ, anto pakkaṁ, sāmaṁ pakkaṁ, tañce paribhuñjeyya, āpatti dvinnaṁ dukkaṭānaṁ.
Anto ce, bhikkhave, vuṭṭhaṁ, bahi pakkaṁ, aññehi pakkaṁ, tañce paribhuñjeyya, āpatti dukkaṭassa.
Bahi ce, bhikkhave, vuṭṭhaṁ, anto pakkaṁ, aññehi pakkaṁ, tañce paribhuñjeyya, āpatti dukkaṭassa.
Bahi ce, bhikkhave, vuṭṭhaṁ, bahi pakkaṁ, sāmaṁ pakkaṁ, tañce paribhuñjeyya, āpatti dukkaṭassa.
Bahi ce, bhikkhave, vuṭṭhaṁ, bahi pakkaṁ, aññehi pakkaṁ, tañce paribhuñjeyya, anāpattī”ti.
Wandering on, the Buddha eventually arrived at Rājagaha where he stayed in the Bamboo Grove, the squirrel sanctuary.
Soon afterwards the Buddha had a stomachache. Venerable Ānanda thought, “Previously, when the Buddha had a stomachache, he was comfortable after drinking the threefold pungent congee.” He then asked for sesame seeds, rice, and mung beans, stored them indoors, cooked them himself indoors, and brought them to the Buddha, saying, “Sir, please drink the threefold pungent congee.”
When Buddhas know what is going on, sometimes they ask and sometimes not. They know the right time to ask and when not to ask. Buddhas ask when it is beneficial, otherwise not, for Buddhas are incapable of doing what is unbeneficial. Buddhas question the monks for two reasons: to give a teaching or to lay down a training rule.
So he said to Ānanda, “Ānanda, where does this congee come from?” Ānanda told him.
The Buddha rebuked him, “It’s not suitable, Ānanda, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How could you be so indulgent? What’s been stored indoors in a monastery is unallowable; what’s been cooked indoors in a monastery is unallowable; what’s been cooked by oneself is unallowable. This will affect people’s confidence …” After rebuking him, he gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t eat what’s been stored indoors in a monastery, what’s been cooked indoors in a monastery, or what you have cooked yourself. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
If you eat what’s been stored indoors in a monastery, cooked indoors in a monastery, and cooked by yourselves, you commit three offenses of wrong conduct.
If you eat what’s been stored indoors in a monastery, cooked indoors in a monastery, but cooked by others, you commit two offenses of wrong conduct.
If you eat what’s been stored indoors in a monastery, but cooked outside, yet cooked by yourselves, you commit two offenses of wrong conduct.
If you eat what’s been stored outside, but cooked indoors in a monastery, and cooked by yourselves, you commit two offenses of wrong conduct.
If you eat what’s been stored indoors in a monastery, but cooked outside, and cooked by others, you commit one offense of wrong conduct.
If you eat what’s been stored outside, but cooked indoors in a monastery, yet cooked by others, you commit one offense of wrong conduct.
If you eat what’s been stored outside, and cooked outside, but cooked by yourselves, you commit one offense of wrong conduct.
If you eat what’s been stored outside, and cooked outside, and cooked by others, there is no offense.”
274. Rồi đức Thế Tôn, trong khi tuần tự du hành, đã đi đến nơi có thành Rājagaha. Tại đấy, đức Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại tu viện Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc ấy, đức Thế Tôn bị bệnh đau bụng gió. Khi ấy, trưởng lão Ānanda (suy nghĩ rằng): ‘Trước đây, bệnh đau bụng gió của đức Thế Tôn đã được thuyên giảm nhờ vào cháo có ba vị cay’ rồi tự mình đi xin mè, gạo, và đậu xanh, đã cất giữ ở bên trong, đã tự mình nấu ở bên trong, rồi đã dâng lên đức Thế Tôn (và thưa rằng): ‘Bạch đức Thế Tôn, xin ngài dùng cháo có ba vị cay.’ Dầu đã biết, các đấng Như Lai vẫn hỏi; dầu đã biết, các ngài vẫn không hỏi. Sau khi biết được thời điểm, các ngài mới hỏi; sau khi biết được thời điểm, các ngài không hỏi. Các đấng Như Lai hỏi điều có liên quan đến lợi ích, không hỏi điều không liên quan đến lợi ích. Ở các đấng Như Lai, việc ngăn chặn điều không liên quan đến lợi ích đã được thực hiện. Các đấng Như Lai, các bậc Thế Tôn hỏi các vị tỳ khưu về hai phương diện là: ‘Ta sẽ thuyết giảng Chánh Pháp hoặc Ta sẽ chế định học giới cho các vị đệ tử.’ Khi ấy, đức Thế Tôn đã gọi trưởng lão Ānanda (và hỏi rằng): ‘Này Ānanda, cháo này từ đâu có?’ Bấy giờ, trưởng lão Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách (rằng): ‘Này Ānanda, (việc làm này) là không thích hợp, không tương xứng, không đúng đắn, không phải là hạnh của sa-môn, là không được phép, là không nên làm. Này Ānanda, tại sao ngươi lại có ý định về sự dồi dào như thế này? Này Ānanda, vật thực được cất giữ ở bên trong cũng là không được phép; vật thực được nấu ở bên trong cũng là không được phép; vật thực được tự mình nấu cũng là không được phép. Này Ānanda, việc này không phải là để làm cho những người chưa có đức tin được phát sinh đức tin ... và ...’ Sau khi quở trách và nói lên bài pháp thoại, ngài đã gọi các vị tỳ khưu (và phán rằng): ‘Này các tỳ khưu, vật thực được cất giữ ở bên trong, được nấu ở bên trong, được tự mình nấu là không được phép dùng. Vị nào dùng đến, vị ấy phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, nếu vật thực được cất giữ ở bên trong, được nấu ở bên trong, được tự mình nấu, nếu dùng đến vật thực ấy thì phạm ba tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, nếu vật thực được cất giữ ở bên trong, được nấu ở bên trong, được người khác nấu, nếu dùng đến vật thực ấy thì phạm hai tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, nếu vật thực được cất giữ ở bên trong, được nấu ở bên ngoài, được tự mình nấu, nếu dùng đến vật thực ấy thì phạm hai tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, nếu vật thực được cất giữ ở bên ngoài, được nấu ở bên trong, được tự mình nấu, nếu dùng đến vật thực ấy thì phạm hai tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, nếu vật thực được cất giữ ở bên trong, được nấu ở bên ngoài, được người khác nấu, nếu dùng đến vật thực ấy thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, nếu vật thực được cất giữ ở bên ngoài, được nấu ở bên trong, được người khác nấu, nếu dùng đến vật thực ấy thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, nếu vật thực được cất giữ ở bên ngoài, được nấu ở bên ngoài, được tự mình nấu, nếu dùng đến vật thực ấy thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, nếu vật thực được cất giữ ở bên ngoài, được nấu ở bên ngoài, được người khác nấu, nếu dùng đến vật thực ấy thì không có tội.’”
Tena kho pana samayena bhikkhū—“bhagavatā sāmaṁpāko paṭikkhitto”ti—puna pāke kukkuccāyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, puna pākaṁ pacitun”ti.
When the monks heard that the Buddha had prohibited cooking, being afraid of wrongdoing, they did not reheat.
“I allow you to reheat what’s already been cooked.”
Vào lúc ấy, các vị tỳ khưu đã áy náy về việc nấu lại vì nghĩ rằng: ‘Việc tự nấu đã bị đức Thế Tôn ngăn cấm.’ (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép nấu lại.’”
Tena kho pana samayena rājagahaṁ dubbhikkhaṁ hoti. Manussā loṇampi, telampi, taṇḍulampi, khādanīyampi ārāmaṁ āharanti. Tāni bhikkhū bahi vāsenti; ukkapiṇḍakāpi khādanti, corāpi haranti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, anto vāsetun”ti.
Anto vāsetvā bahi pācenti. Damakā parivārenti. Bhikkhū avissaṭṭhā paribhuñjanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, anto pacitun”ti.
Dubbhikkhe kappiyakārakā bahutaraṁ haranti, appataraṁ bhikkhūnaṁ denti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sāmaṁ pacituṁ. Anujānāmi, bhikkhave, anto vuṭṭhaṁ, anto pakkaṁ, sāmaṁ pakkan”ti.
At that time Rājagaha was short of food. People brought salt, oil, rice, and fresh food to the monastery. The monks stored it outdoors, but it was eaten by vermin and stolen by thieves.
“I allow you to store food indoors.”
The monks stored it indoors, but it was cooked outside. They were surrounded by scrap-eaters, and the monks ate in fear.
“I allow cooking indoors.”
Because of the famine, the attendants took more for themselves and gave less to the monks.
“I allow you to cook. I allow you to store food indoors in a monastery, to cook indoors in a monastery, and to cook yourselves.”
Vào lúc ấy, thành Rājagaha bị nạn đói. Dân chúng mang muối, dầu, gạo, và vật thực đến tu viện. Các vị tỳ khưu cất giữ những vật ấy ở bên ngoài; các con chồn cũng ăn, kẻ trộm cũng lấy đi. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép cất giữ ở bên trong.’ Sau khi cất giữ ở bên trong, (các vị ấy) nấu ở bên ngoài. Những người ăn đồ thừa vây quanh. Các vị tỳ khưu dùng bữa một cách không thoải mái. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép nấu ở bên trong.’ Trong lúc đói kém, những người kappiyakāraka lấy đi nhiều hơn, chỉ cho các vị tỳ khưu ít hơn. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép tự mình nấu. Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc cất giữ ở bên trong, việc nấu ở bên trong, và việc tự mình nấu.’”
6. Uggahitapaṭiggahaṇa
6. Receiving what has been picked up
165. Sự nhận lấy vật đã cất lên
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū kāsīsu vassaṁvuṭṭhā rājagahaṁ gacchantā bhagavantaṁ dassanāya antarāmagge na labhiṁsu lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ; bahuñca phalakhādanīyaṁ ahosi; kappiyakārako ca na ahosi.
Atha kho te bhikkhū kilantarūpā yena rājagahaṁ veḷuvanaṁ kalandakanivāpo, yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Āciṇṇaṁ kho panetaṁ buddhānaṁ bhagavantānaṁ āgantukehi bhikkhūhi saddhiṁ paṭisammodituṁ. Atha kho bhagavā te bhikkhū etadavoca—“kacci, bhikkhave, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ, kaccittha appakilamathena addhānaṁ āgatā; kuto ca tumhe, bhikkhave, āgacchathā”ti?
“Khamanīyaṁ, bhagavā, yāpanīyaṁ, bhagavā. Idha mayaṁ, bhante, kāsīsu vassaṁvuṭṭhā rājagahaṁ āgacchantā bhagavantaṁ dassanāya antarāmagge na labhimhā lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ; bahuñca phalakhādanīyaṁ ahosi; kappiyakārako ca na ahosi; tena mayaṁ kilantarūpā addhānaṁ āgatā”ti. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, yattha phalakhādanīyaṁ passati, kappiyakārako ca na hoti, sāmaṁ gahetvā, haritvā, kappiyakārake passitvā, bhūmiyaṁ nikkhipitvā, paṭiggahāpetvā paribhuñjituṁ. Anujānāmi, bhikkhave, uggahitaṁ paṭiggahitun”ti.
On one occasion a number of monks who had completed the rainy-season residence in Kāsi were traveling to Rājagaha to visit the Buddha. While on their way, they did not receive sufficient food, whether fine or coarse. Yet there was much fruit, but no attendant to offer it.
When the monks arrived at Rājagaha, they were exhausted. They went to the Bamboo Grove, approached the Buddha, bowed, and sat down. Since it is the custom for Buddhas to greet newly-arrived monks, he said to them, “I hope you’re keeping well, monks, I hope you’re getting by? I hope you’re not tired from traveling? And where have you come from?”
“We’re keeping well, sir, we’re getting by,” and they told him what had happened. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“If there is no attendant, but you see fruit, I allow you to pick it up yourself. You should then carry it until you see an attendant, put it on the ground, and have it received. You may then eat it. I allow you to receive what you have picked up.”
275. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đã an cư mùa mưa ở xứ Kāsī, đang trên đường đi đến thành Rājagaha để yết kiến đức Thế Tôn. Ở dọc đường, các vị ấy đã không nhận được đầy đủ vật thực thô sơ hay cao lương mỹ vị theo như ý muốn; và có nhiều loại trái cây ăn được; và cũng không có người tịnh nhân. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy, với thân thể mệt mỏi, đi đến khu rừng Veḷuvana là nơi nuôi dưỡng các con sóc ở thành Rājagaha, đi đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến, các vị ấy đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Lại nữa, đây là thông lệ của các đức Phật, các đức Thế Tôn là nói lời thăm hỏi cùng với các vị tỳ khưu khách. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này: – ‘Này các tỳ khưu, các thầy có kham nhẫn được không? Này các tỳ khưu, các thầy có chịu đựng được không? Có phải các thầy đã đi đường xa với ít mệt nhọc không? Và này các tỳ khưu, các thầy từ đâu đến?’ – ‘Bạch đức Thế Tôn, chúng con kham nhẫn được. Bạch đức Thế Tôn, chúng con chịu đựng được. Bạch ngài, ở đây chúng con đã an cư mùa mưa ở xứ Kāsī, đang trên đường đi đến thành Rājagaha để yết kiến đức Thế Tôn. Ở dọc đường, chúng con đã không nhận được đầy đủ vật thực thô sơ hay cao lương mỹ vị theo như ý muốn; và có nhiều loại trái cây ăn được; và cũng không có người tịnh nhân; do đó, chúng con đã đi đường xa với thân thể mệt mỏi.’ Khi ấy, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết pháp thoại đã gọi các vị tỳ khưu: – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép, ở nơi nào thấy có trái cây ăn được và không có người tịnh nhân, thì tự mình lấy, mang đi, sau khi thấy những người tịnh nhân thì đặt xuống đất, cho họ dâng cúng lại rồi dùng. Này các tỳ khưu, Ta cho phép thọ nhận vật đã được (tự mình) cầm lấy.’”
Tena kho pana samayena aññatarassa brāhmaṇassa navā ca tilā navañca madhu uppannā honti. Atha kho tassa brāhmaṇassa etadahosi—“yannūnāhaṁ nave ca tile navañca madhuṁ buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa dadeyyan”ti. Atha kho so brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ paṭisammodi, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho so brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca—“adhivāsetu me bhavaṁ gotamo svātanāya bhattaṁ, saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho so brāhmaṇo bhagavato adhivāsanaṁ viditvā pakkāmi.
Atha kho so brāhmaṇo tassā rattiyā accayena paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi—“kālo, bho gotama, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena tassa brāhmaṇassa nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi, saddhiṁ bhikkhusaṅghena. Atha kho so brāhmaṇo buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho taṁ brāhmaṇaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassetvā, samādapetvā, samuttejetvā, sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
On one occasion a certain brahmin had obtained fresh sesame seed and fresh honey. He thought, “Why don’t I give this to the Sangha of monks headed by the Buddha?” He then went to the Buddha, exchanged pleasantries with him, and said, “Please accept tomorrow’s meal from me together with the Sangha of monks.” The Buddha consented by remaining silent. Knowing that the Buddha had consented, the brahmin left.
The following morning that brahmin had various kinds of fine foods prepared. He then had the Buddha informed that the meal was ready.
The Buddha robed up, took his bowl and robe, and went to that brahmin’s house where he sat down on the prepared seat. That brahmin personally served various kinds of fine foods to the Sangha of monks headed by the Buddha. When the Buddha had finished his meal, the brahmin sat down to one side. The Buddha then instructed, inspired, and gladdened him with a teaching, after which he got up and left.
276. Vào lúc bấy giờ, có một vị Bà-la-môn nọ có được mè mới và mật ong mới. Khi ấy, vị Bà-la-môn ấy đã khởi lên ý nghĩ này: – ‘Chắc chắn ta nên dâng cúng mè mới và mật ong mới đến Tăng chúng tỳ khưu có đức Phật dẫn đầu.’ Khi ấy, vị Bà-la-môn ấy đi đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đã nói lời thăm hỏi cùng với đức Thế Tôn. Sau khi nói xong lời thăm hỏi đáng ghi nhớ, vị ấy đứng một bên. Sau khi đứng một bên, vị Bà-la-môn ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Mong Tôn giả Gotama cùng với Tăng chúng tỳ khưu nhận lời mời dùng bữa của con vào ngày mai.’ Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng. Khi ấy, vị Bà-la-môn ấy, sau khi biết được sự nhận lời của đức Thế Tôn, đã ra về. Khi ấy, vị Bà-la-môn ấy, sau khi đêm ấy trôi qua, đã cho chuẩn bị các món ăn loại cứng và loại mềm cao lương mỹ vị rồi cho người báo thời gian đến đức Thế Tôn: – ‘Thưa Tôn giả Gotama, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.’ Khi ấy, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đắp y, cầm y bát, đi đến trú xá của vị Bà-la-môn ấy. Sau khi đến, ngài ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn cùng với Tăng chúng tỳ khưu. Khi ấy, vị Bà-la-môn ấy đã tự tay phục vụ, làm cho Tăng chúng tỳ khưu có đức Phật dẫn đầu được thỏa thích với các món ăn loại cứng và loại mềm cao lương mỹ vị cho đến khi các vị ấy nói đã đủ. Sau khi đức Thế Tôn dùng xong, tay đã rời khỏi bát, vị ấy ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn, sau khi chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ vị Bà-la-môn đang ngồi một bên bằng pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra về.
Atha kho tassa brāhmaṇassa acirapakkantassa bhagavato etadahosi—“yesaṁ kho mayā atthāya buddhappamukho bhikkhusaṅgho nimantito, ‘nave ca tile navañca madhuṁ dassāmī’ti, te mayā pamuṭṭhā dātuṁ. Yannūnāhaṁ nave ca tile navañca madhuṁ kolambehi ca ghaṭehi ca ārāmaṁ harāpeyyan”ti. Atha kho so brāhmaṇo nave ca tile navañca madhuṁ kolambehi ca ghaṭehi ca ārāmaṁ harāpetvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho so brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca—“yesaṁ kho mayā, bho gotama, atthāya buddhappamukho bhikkhusaṅgho nimantito, ‘nave ca tile navañca madhuṁ dassāmī’ti, te mayā pamuṭṭhā dātuṁ. Paṭiggaṇhātu me bhavaṁ gotamo nave ca tile navañca madhun”ti.
“Tena hi, brāhmaṇa, bhikkhūnaṁ dehī”ti.
Tena kho pana samayena bhikkhū dubbhikkhe appamattakepi pavārenti, paṭisaṅkhāpi paṭikkhipanti, sabbo ca saṅgho pavārito hoti. Bhikkhū kukkuccāyantā na paṭiggaṇhanti.
“Paṭiggaṇhatha, bhikkhave, paribhuñjatha. Anujānāmi, bhikkhave, tato nīhaṭaṁ bhuttāvinā pavāritena anatirittaṁ paribhuñjitun”ti.
Soon after the Buddha had left, that brahmin thought, “I invited the Sangha of monks headed by the Buddha to give them the fresh sesame seed and honey, but I forgot. Why don’t I take the sesame seed and honey to the monastery in basins and waterpots?” And he did just that. He then went up to the Buddha and said, “When I invited you for a meal, I forgot to give you these fresh sesame seeds and this honey. Please accept it.”
“Well then, brahmin, give it to the monks.”
At this time, food was scarce, and the monks were refusing invitations to eat more even after taking just a little. After reflection, they were even declining altogether. And so now that the whole Sangha was being invited, being afraid of wrongdoing, they did not accept.
“Accept, monks, and eat. I allow one who has finished his meal and refused an invitation to eat more to eat non-leftovers that have been brought out.”
Khi ấy, sau khi đức Thế Tôn ra về không bao lâu, vị Bà-la-môn ấy đã khởi lên ý nghĩ này: – ‘Vì mục đích mà ta đã thỉnh mời Tăng chúng tỳ khưu có đức Phật dẫn đầu rằng: ‘Ta sẽ dâng cúng mè mới và mật ong mới,’ những thứ ấy ta đã quên dâng cúng. Chắc chắn ta nên cho người mang mè mới và mật ong mới đến tu viện bằng các giỏ và các hũ.’ Khi ấy, vị Bà-la-môn ấy, sau khi cho người mang mè mới và mật ong mới đến tu viện bằng các giỏ và các hũ, đã đi đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đứng một bên. Sau khi đứng một bên, vị Bà-la-môn ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Thưa Tôn giả Gotama, vì mục đích mà con đã thỉnh mời Tăng chúng tỳ khưu có đức Phật dẫn đầu rằng: ‘Con sẽ dâng cúng mè mới và mật ong mới,’ những thứ ấy con đã quên dâng cúng. Mong Tôn giả Gotama nhận của con mè mới và mật ong mới.’ – ‘Này Bà-la-môn, vậy thì hãy dâng cho các tỳ khưu.’ Vào lúc bấy giờ, trong lúc đói kém, các vị tỳ khưu dù chỉ một ít cũng nói đã đủ, sau khi suy xét cũng từ chối, và toàn thể Tăng chúng đã được thọ thực no đủ. Các vị tỳ khưu do dự nên không nhận. – ‘Này các tỳ khưu, hãy nhận lấy, hãy dùng. Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị đã dùng bữa và đã nói đủ được dùng vật thực không phải là đồ dư thừa được mang đến từ nơi ấy.’”
7. Paṭiggahitādianujānana
7. The allowance for what has been received, etc.
166. Sự cho phép về việc thọ nhận, v.v.
Tena kho pana samayena āyasmato upanandassa sakyaputtassa upaṭṭhākakulaṁ saṅghassatthāya khādanīyaṁ pāhesi—“ayyassa upanandassa dassetvā saṅghassa dātabban”ti. Tena kho pana samayena āyasmā upanando sakyaputto gāmaṁ piṇḍāya paviṭṭho hoti. Atha kho te manussā ārāmaṁ gantvā bhikkhū pucchiṁsu—“kahaṁ, bhante, ayyo upanando”ti? “Esāvuso, āyasmā upanando sakyaputto gāmaṁ piṇḍāya paviṭṭho”ti. “Idaṁ, bhante, khādanīyaṁ ayyassa upanandassa dassetvā saṅghassa dātabban”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Tena hi, bhikkhave, paṭiggahetvā nikkhipatha yāva upanando āgacchatī”ti. Atha kho āyasmā upanando sakyaputto purebhattaṁ kulāni payirupāsitvā divā āgacchati.
Tena kho pana samayena bhikkhū dubbhikkhe appamattakepi pavārenti, paṭisaṅkhāpi paṭikkhipanti, sabbo ca saṅgho pavārito hoti. Bhikkhū kukkuccāyantā na paṭiggaṇhanti.
“Paṭiggaṇhatha, bhikkhave, paribhuñjatha. Anujānāmi, bhikkhave, purebhattaṁ paṭiggahitaṁ bhuttāvinā pavāritena anatirittaṁ paribhuñjitun”ti.
On one occasion a family who was supporting Venerable Upananda the Sakyan sent fresh food to the Sangha, saying, “After showing it to Venerable Upananda, it’s to be given to the Sangha.” Just then Upananda had gone to the village for alms. When those people arrived at the monastery, they asked for Upananda and were told where he was. They said, “Venerables, after showing it to Venerable Upananda, this fresh food is to be given to the Sangha.” The monks told the Buddha. He said, “Well then, receive it and put it aside until Upananda returns.” But because Upananda visited families before eating, he returned late to the monastery.
At this time, food was scarce, and the monks were refusing invitations to eat more even after taking just a little. After reflection, they were even declining altogether. And so now that the whole Sangha was being invited, being afraid of wrongdoing, they did not accept.
“Accept, monks, and eat. I allow one who has finished his meal and refused an invitation to eat more to eat non-leftovers that were received before the meal.”
277. Vào lúc bấy giờ, gia đình hộ độ của trưởng lão Upananda dòng Sakya đã gởi vật thực loại cứng đến vì lợi ích của Tăng chúng, (với lời dặn) rằng: “Sau khi trình cho trưởng lão Upananda, nên dâng cúng đến Tăng chúng.” Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Upananda dòng Sakya đã đi vào làng để khất thực. Khi ấy, những người ấy đi đến tu viện và hỏi các vị tỳ khưu: “Bạch chư tôn đức, trưởng lão Upananda ở đâu?” – “Này chư hiền, trưởng lão Upananda dòng Sakya đã đi vào làng để khất thực.” – “Bạch chư tôn đức, vật thực loại cứng này sau khi trình cho trưởng lão Upananda, nên dâng cúng đến Tăng chúng.” (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ khưu, nếu vậy, sau khi thọ nhận, hãy cất giữ cho đến khi Upananda trở về.” Khi ấy, trưởng lão Upananda dòng Sakya, sau khi thân cận các gia đình vào buổi sáng, đã trở về vào ban ngày. Vào lúc bấy giờ, trong nạn đói, các vị tỳ khưu đã nói lời từ chối dù chỉ với một ít vật thực, và sau khi xem xét cũng đã khước từ. Và toàn thể Tăng chúng đã nói lời từ chối. Các vị tỳ khưu có tâm áy náy nên không thọ nhận. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ khưu, hãy thọ nhận, hãy dùng. Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị đã ăn và đã nói lời từ chối được dùng vật thực đã được thọ nhận vào buổi sáng mà không phải là vật thực dư thừa.”
Atha kho bhagavā rājagahe yathābhirantaṁ viharitvā yena sāvatthi tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sāvatthi tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena āyasmato sāriputtassa kāyaḍāhābādho hoti. Atha kho āyasmā mahāmoggallāno yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca—“pubbe te, āvuso sāriputta, kāyaḍāhābādho kena phāsu hotī”ti?
“Bhisehi ca me, āvuso, muḷālikāhi cā”ti.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva jetavane antarahito mandākiniyā pokkharaṇiyā tīre pāturahosi. Addasā kho aññataro nāgo āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ dūratova āgacchantaṁ, disvāna āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca—“etu kho, bhante, ayyo mahāmoggallāno. Svāgataṁ, bhante, ayyassa mahāmoggallānassa. Kena, bhante, ayyassa attho; kiṁ dammī”ti?
“Bhisehi ca me, āvuso, attho, muḷālikāhi cā”ti.
Atha kho so nāgo aññataraṁ nāgaṁ āṇāpesi—“tena hi, bhaṇe, ayyassa bhise ca muḷālikāyo ca yāvadatthaṁ dehī”ti. Atha kho so nāgo mandākiniṁ pokkharaṇiṁ ogāhetvā, soṇḍāya bhisañca muḷālikañca abbāhitvā, suvikkhālitaṁ vikkhāletvā, bhaṇḍikaṁ bandhitvā yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami. Atha kho āyasmā mahāmoggallāno—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—mandākiniyā pokkharaṇiyā tīre antarahito jetavane pāturahosi. Sopi kho nāgo mandākiniyā pokkharaṇiyā tīre antarahito jetavane pāturahosi. Atha kho so nāgo āyasmato mahāmoggallānassa bhise ca muḷālikāyo ca paṭiggahāpetvā jetavane antarahito mandākiniyā pokkharaṇiyā tīre pāturahosi. Atha kho āyasmā mahāmoggallāno āyasmato sāriputtassa bhise ca muḷālikāyo ca upanāmesi. Atha kho āyasmato sāriputtassa bhise ca muḷālikāyo ca bhuttassa kāyaḍāhābādho paṭippassambhi. Bahū bhisā ca muḷālikāyo ca avasiṭṭhā honti.
Tena kho pana samayena bhikkhū dubbhikkhe appamattakepi pavārenti, paṭisaṅkhāpi paṭikkhipanti, sabbo ca saṅgho pavārito hoti. Bhikkhū kukkuccāyantā na paṭiggaṇhanti.
“Paṭiggaṇhatha, bhikkhave, paribhuñjatha. Anujānāmi, bhikkhave, vanaṭṭhaṁ pokkharaṭṭhaṁ bhuttāvinā pavāritena anatirittaṁ paribhuñjitun”ti.
When the Buddha had stayed at Rājagaha for as long as he liked, he set out wandering toward Sāvatthī. When he eventually arrived, he stayed in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery.
At that time Venerable Sāriputta had a fever. Venerable Mahāmoggallāna went to him and asked, “When you previously had a fever, Sāriputta, how did you get better?”
“I had lotus roots and tubers.”
Then, just as a strong man might bend or stretch his arm, Mahāmoggallāna disappeared from the Jeta Grove and reappeared on the banks of the Mandākinī lotus pond. An elephant saw Mahāmoggallāna coming and said to him, “Welcome, Venerable Mahāmoggallāna, please come. What do you need, venerable? What may I give?”
“I need lotus roots and tubers.”
The elephant told another elephant, “Listen, give as many roots and tubers as the venerable needs.” It plunged into the Mandākinī lotus pond and pulled up lotus roots and tubers with his trunk. It gave them a good rinse, bound them in a bundle, and went up to Mahāmoggallāna. Then, just as a strong man might bend or stretch his arm, Mahāmoggallāna disappeared from the banks of the Mandākinī lotus pond and reappeared in the Jeta Grove. And that elephant did the same. It had the roots and tubers offered to Mahāmoggallāna, before returning to the Mandākinī lotus pond in the same manner. Mahāmoggallāna then brought those lotus roots and tubers to Sāriputta. When he had eaten them, his fever subsided. But there was much left over.
At this time, food was scarce, and the monks were refusing invitations to eat more even after taking just a little. After reflection, they were even declining altogether. And so now that the whole Sangha was being invited, being afraid of wrongdoing, they did not accept.
“Accept, monks, and eat. I allow one who has finished his meal and refused an invitation to eat more to eat non-leftovers coming from the forest or a lotus pond.”
278. Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi trú ở thành Rājagaha tùy theo ý thích, đã lên đường du hành đến Sāvatthi. Lần lượt du hành, ngài đã đến Sāvatthi. Tại đấy, đức Thế Tôn trú ở tu viện của ông Anāthapiṇḍika trong rừng Jeta, tại Sāvatthi. Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Sāriputta bị bệnh nóng trong người. Khi ấy, trưởng lão Mahāmoggallāna đi đến chỗ trưởng lão Sāriputta; sau khi đến, đã nói với trưởng lão Sāriputta điều này: “Này hiền giả Sāriputta, trước đây bệnh nóng trong người của hiền giả được thuyên giảm nhờ cái gì?” – “Này hiền giả, bệnh của tôi được thuyên giảm nhờ ngó sen và củ sen.” Khi ấy, trưởng lão Mahāmoggallāna, ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, đã biến mất ở rừng Jeta và hiện ra ở bờ hồ sen Mandākinī. Một con voi chúa đã nhìn thấy trưởng lão Mahāmoggallāna đang đi đến từ xa; sau khi thấy, đã nói với trưởng lão Mahāmoggallāna điều này: “Bạch ngài, xin trưởng lão Mahāmoggallāna hãy đến. Bạch ngài, sự quang lâm của trưởng lão Mahāmoggallāna thật là tốt đẹp. Bạch ngài, trưởng lão có cần dùng gì ạ? Con xin dâng cúng vật gì ạ?” – “Này hiền giả, tôi cần ngó sen và củ sen.” Khi ấy, con voi chúa ấy đã ra lệnh cho một con voi khác: “Này bạn, nếu vậy, hãy dâng cúng ngó sen và củ sen cho trưởng lão tùy theo nhu cầu.” Khi ấy, con voi ấy sau khi xuống hồ sen Mandākinī, dùng vòi nhổ ngó sen và củ sen, rửa cho thật sạch, bó lại thành một bó, rồi đi đến chỗ trưởng lão Mahāmoggallāna. Khi ấy, trưởng lão Mahāmoggallāna, ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, đã biến mất ở bờ hồ sen Mandākinī và hiện ra ở rừng Jeta. Con voi chúa ấy cũng đã biến mất ở bờ hồ sen Mandākinī và hiện ra ở rừng Jeta. Khi ấy, con voi chúa ấy sau khi dâng cúng ngó sen và củ sen cho trưởng lão Mahāmoggallāna, đã biến mất ở rừng Jeta và hiện ra ở bờ hồ sen Mandākinī. Khi ấy, trưởng lão Mahāmoggallāna đã dâng ngó sen và củ sen đến trưởng lão Sāriputta. Khi ấy, sau khi dùng ngó sen và củ sen, bệnh nóng trong người của trưởng lão Sāriputta đã được lắng dịu. Nhiều ngó sen và củ sen đã còn dư lại. Vào lúc bấy giờ, trong nạn đói, các vị tỳ khưu đã nói lời từ chối dù chỉ với một ít vật thực, và sau khi xem xét cũng đã khước từ. Và toàn thể Tăng chúng đã nói lời từ chối. Các vị tỳ khưu có tâm áy náy nên không thọ nhận. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ khưu, hãy thọ nhận, hãy dùng. Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị đã ăn và đã nói lời từ chối được dùng vật mọc trong rừng, vật mọc trong hồ sen mà không phải là vật thực dư thừa.”
Tena kho pana samayena sāvatthiyaṁ bahuṁ phalakhādanīyaṁ uppannaṁ hoti, kappiyakārako ca na hoti. Bhikkhū kukkuccāyantā phalaṁ na paribhuñjanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, abījaṁ nibbattabījaṁ akatakappaṁ phalaṁ paribhuñjitun”ti.
On one occasion in Sāvatthī, much fruit had been given, but there was no attendant. Being afraid of wrongdoing, the monks did not eat it.
“I allow you to eat fruit that hasn’t been made allowable if it’s seedless or the seeds have been removed.”
Vào lúc bấy giờ, ở Sāvatthi có nhiều trái cây loại cứng được sanh khởi, và không có người tịnh nhân. Các vị tỳ khưu có tâm áy náy nên không dùng trái cây. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng trái cây không có hạt, trái cây đã được lấy hạt ra, mà không cần làm cho hợp lệ.”
8. Satthakammapaṭikkhepakathā
8. Discussion of the prohibition against surgery
167. Câu chuyện về việc từ chối phẫu thuật
Atha kho bhagavā sāvatthiyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena rājagahaṁ tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena rājagahaṁ tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno bhagandalābādho hoti. Ākāsagotto vejjo satthakammaṁ karoti. Atha kho bhagavā senāsanacārikaṁ āhiṇḍanto yena tassa bhikkhuno vihāro tenupasaṅkami. Addasā kho ākāsagotto vejjo bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ, disvāna bhagavantaṁ etadavoca—“āgacchatu bhavaṁ gotamo, imassa bhikkhuno vaccamaggaṁ passatu, seyyathāpi godhāmukhan”ti.
Atha kho bhagavā—“so maṁ khvāyaṁ moghapuriso uppaṇḍetī”ti—tatova paṭinivattitvā, etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā, bhikkhū paṭipucchi—“atthi kira, bhikkhave, amukasmiṁ vihāre bhikkhu gilāno”ti?
“Atthi, bhagavā”ti.
“Kiṁ tassa, bhikkhave, bhikkhuno ābādho”ti?
“Tassa, bhante, āyasmato bhagandalābādho, ākāsagotto vejjo satthakammaṁ karotī”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, bhikkhave, tassa moghapurisassa, ananulomikaṁ, appatirūpaṁ, assāmaṇakaṁ, akappiyaṁ, akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma so, bhikkhave, moghapuriso sambādhe satthakammaṁ kārāpessati. Sambādhe, bhikkhave, sukhumā chavi, duropayo vaṇo, dupparihāraṁ satthaṁ. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, sambādhe satthakammaṁ kārāpetabbaṁ. Yo kārāpeyya, āpatti thullaccayassā”ti.
When the Buddha had stayed at Sāvatthī for as long as he liked, he set out wandering toward Rājagaha. When he eventually arrived, he stayed in the Bamboo Grove, the squirrel sanctuary.
At that time the doctor Ākāsagotta performed surgery on a certain monk who had hemorrhoids. Just then, while walking about the dwellings, the Buddha came to this monk’s dwelling. Ākāsagotta saw the Buddha coming and said to him, “Good Gotama, please come and see this monk’s anus. It’s just like the mouth of a lizard.”
The Buddha thought, “This foolish man is mocking me,” and he turned around right there. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is there a sick monk in such-and-such a dwelling?”
“There is, sir.”
“What’s his illness?”
“He has hemorrhoids, and the doctor Ākāsagotta is performing surgery.”
The Buddha rebuked him, “It’s not suitable, monks, for that foolish man, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How can he have surgery on the private parts? The skin is delicate in that area, sores heel with difficulty, and a scalpel is hard to wield there. This will affect people’s confidence …” After rebuking him … he gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t have surgery on the private parts. If you do, you commit a serious offense.”
279. Bấy giờ, sau khi an trú tại Sāvatthī tùy nghi, đức Thế Tôn đã khởi hành đi du hành đến Rājagaha. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã đi đến Rājagaha. Tại đấy, đức Thế Tôn an trú ở Rājagaha, tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh trĩ fistula. Y sĩ Ākāsagotta thực hiện việc phẫu thuật. Bấy giờ, trong khi đi kinh hành xem xét các trú xá, đức Thế Tôn đã đi đến trú xá của vị tỳ khưu ấy. Y sĩ Ākāsagotta đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang đi đến từ xa, sau khi thấy, ông đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Xin Tôn giả Gotama hãy đến, xin hãy nhìn đường đại tiện của vị tỳ khưu này, giống như miệng con kỳ đà.’ Bấy giờ, đức Thế Tôn – ‘Kẻ ngu si này đang chế nhạo ta’ – sau khi suy nghĩ như vậy, ngài đã quay trở lại từ nơi ấy, nhân sự việc này, trong trường hợp này, sau khi cho triệu tập hội chúng tỳ khưu, ngài đã hỏi các vị tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, có phải có vị tỳ khưu bị bệnh ở trú xá kia không?’ ‘Bạch đức Thế Tôn, có ạ.’ ‘Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy bị bệnh gì?’ ‘Bạch ngài, vị Đại đức ấy bị bệnh trĩ fistula, y sĩ Ākāsagotta đang thực hiện việc phẫu thuật.’ Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách: ‘Này các tỳ khưu, (việc làm) của kẻ ngu si ấy là không thích hợp, không thuận theo, không tương xứng, không phải là hạnh của sa-môn, không hợp lệ, không nên làm. Này các tỳ khưu, tại sao kẻ ngu si ấy lại cho thực hiện việc phẫu thuật ở nơi kín? Này các tỳ khưu, ở nơi kín, da thì mỏng manh, vết thương khó lành, dao khó sử dụng. Này các tỳ khưu, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin được phát sinh đức tin …’ … sau khi quở trách … sau khi thuyết pháp thoại, ngài đã gọi các vị tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, không được cho thực hiện việc phẫu thuật ở nơi kín. Vị nào cho thực hiện, phạm tội thullaccaya (trọng tội).’
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū—“bhagavatā satthakammaṁ paṭikkhittan”ti—vatthikammaṁ kārāpenti. Ye te bhikkhū appicchā, te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma chabbaggiyā bhikkhū vatthikammaṁ kārāpessantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Saccaṁ kira, bhikkhave, chabbaggiyā bhikkhū vatthikammaṁ kārāpentī”ti? “Saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, sambādhassa sāmantā dvaṅgulā satthakammaṁ vā vatthikammaṁ vā kārāpetabbaṁ. Yo kārāpeyya, āpatti thullaccayassā”ti.
When they heard that the Buddha had prohibited surgery, the monks from the group of six had enemas. The monks of few desires complained and criticized them, “How can the monks from the group of six have enemas?” They told the Buddha what had happened. “Is it true, monks, that the monks from the group of six are having enemas?” “It’s true, sir.” … After rebuking them, the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t get surgery within 3.5 centimeters of the private parts or have enemas. If you do, you commit a serious offense.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu – nghĩ rằng: ‘Việc phẫu thuật đã bị đức Thế Tôn từ chối’ – đã cho thực hiện việc băng bó. Các vị tỳ khưu thiểu dục đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: ‘Tại sao nhóm sáu vị tỳ khưu lại cho thực hiện việc băng bó?’ Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã trình báo sự việc này lên đức Thế Tôn. ‘Này các tỳ khưu, có thật là nhóm sáu vị tỳ khưu đã cho thực hiện việc băng bó không?’ ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ … sau khi quở trách, sau khi thuyết pháp thoại, ngài đã gọi các vị tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, không được cho thực hiện việc phẫu thuật hay việc băng bó trong phạm vi hai lóng tay xung quanh nơi kín. Vị nào cho thực hiện, phạm tội thullaccaya (trọng tội).’
9. Manussamaṁsapaṭikkhepakathā
9. Discussion of the prohibition against human flesh
168. Câu chuyện về việc từ chối thịt người
Atha kho bhagavā rājagahe yathābhirantaṁ viharitvā yena bārāṇasī tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena bārāṇasī tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā bārāṇasiyaṁ viharati isipatane migadāye.
Tena kho pana samayena bārāṇasiyaṁ suppiyo ca upāsako suppiyā ca upāsikā ubhatopasannā honti, dāyakā, kārakā, saṅghupaṭṭhākā.
Atha kho suppiyā upāsikā ārāmaṁ gantvā vihārena vihāraṁ pariveṇena pariveṇaṁ upasaṅkamitvā bhikkhū pucchati—“ko, bhante, gilāno, kassa kiṁ āhariyatū”ti? Tena kho pana samayena aññatarena bhikkhunā virecanaṁ pītaṁ hoti. Atha kho so bhikkhu suppiyaṁ upāsikaṁ etadavoca—“mayā kho, bhagini, virecanaṁ pītaṁ. Attho me paṭicchādanīyenā”ti. “Suṭṭhu, ayya, āhariyissatī”ti
gharaṁ gantvā antevāsiṁ āṇāpesi—“gaccha, bhaṇe, pavattamaṁsaṁ jānāhī”ti. “Evaṁ, ayye”ti kho so puriso suppiyāya upāsikāya paṭissuṇitvā kevalakappaṁ bārāṇasiṁ āhiṇḍanto na addasa pavattamaṁsaṁ. Atha kho so puriso yena suppiyā upāsikā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā suppiyaṁ upāsikaṁ etadavoca—“natthayye pavattamaṁsaṁ. Māghāto ajjā”ti.
Atha kho suppiyāya upāsikāya etadahosi—“tassa kho gilānassa bhikkhuno paṭicchādanīyaṁ alabhantassa ābādho vā abhivaḍḍhissati, kālaṅkiriyā vā bhavissati. Na kho metaṁ patirūpaṁ yāhaṁ paṭissuṇitvā na harāpeyyan”ti. Potthanikaṁ gahetvā ūrumaṁsaṁ ukkantitvā dāsiyā adāsi—“handa, je, imaṁ maṁsaṁ sampādetvā amukasmiṁ vihāre bhikkhu gilāno, tassa dajjāhi. Yo ca maṁ pucchati, ‘gilānā’ti paṭivedehī”ti uttarāsaṅgena ūruṁ veṭhetvā ovarakaṁ pavisitvā mañcake nipajji.
Atha kho suppiyo upāsako gharaṁ gantvā dāsiṁ pucchi—“kahaṁ suppiyā”ti? “Esāyya, ovarake nipannā”ti.
Atha kho suppiyo upāsako yena suppiyā upāsikā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā suppiyaṁ upāsikaṁ etadavoca—“kissa nipannāsī”ti? “Gilānāmhī”ti. “Kiṁ te ābādho”ti? Atha kho suppiyā upāsikā suppiyassa upāsakassa etamatthaṁ ārocesi. Atha kho suppiyo upāsako—“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Yāva saddhāyaṁ suppiyā pasannā, yatra hi nāma attanopi maṁsāni pariccattāni. Kimpimāya aññaṁ kiñci adeyyaṁ bhavissatī”ti—
haṭṭho udaggo yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho suppiyo upāsako bhagavantaṁ etadavoca—“adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ, saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho suppiyo upāsako bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho suppiyo upāsako tassā rattiyā accayena paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi—“kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena suppiyassa upāsakassa nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi, saddhiṁ bhikkhusaṅghena. Atha kho suppiyo upāsako yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitaṁ kho suppiyaṁ upāsakaṁ bhagavā etadavoca—“kahaṁ, suppiyā”ti? “Gilānā, bhagavā”ti.
“Tena hi āgacchatū”ti.
“Na, bhagavā, ussahatī”ti.
“Tena hi pariggahetvāpi ānethā”ti. Atha kho suppiyo upāsako suppiyaṁ upāsikaṁ pariggahetvā ānesi. Tassā saha dassanena bhagavato tāva mahāvaṇo ruḷho ahosi succhavilomajāto. Atha kho suppiyo ca upāsako suppiyā ca upāsikā—“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Tathāgatassa mahiddhikatā mahānubhāvatā, yatra hi nāma saha dassanena bhagavato tāva mahāvaṇo ruḷho bhavissati succhavilomajāto”ti—haṭṭhā udaggā buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ ekamantaṁ nisīdiṁsu. Atha kho bhagavā suppiyañca upāsakaṁ suppiyañca upāsikaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
When the Buddha had stayed at Rājagaha for as long as he liked, he set out wandering toward Benares. When he eventually arrived, he stayed in the deer park at Isipatana.
At that time in Benares there were two lay-followers, Suppiya and Suppiyā, husband and wife, both with confidence in Buddhism. They were donors and benefactors, and they attended on the Sangha.
On one occasion Suppiyā went to the monastery. She walked from dwelling to dwelling, from yard to yard, asking the monks, “Is anyone sick? What may I bring?” Just then a certain monk had drunk a purgative. He told Suppiyā about this, adding, “I need meat broth.” “No problem, I’ll organize it.”
She then returned to her house and told a servant, “Go and get some meat.” Saying, “Yes, ma’am,” he walked around the whole of Benares, but could not find any. So he returned to Suppiyā and said, “There’s no meat, ma’am. There’s no slaughter today.”
Suppiyā thought, “If that monk doesn’t get meat broth, his illness will get worse or he’ll die. Because I’ve already agreed to provide it, it would not be right if I didn’t.” She then took a knife, cut flesh from her own thigh, and gave it to a slave, saying, “Prepare this meat and give it to the sick monk in such-and-such a dwelling. If anyone asks for me, tell them I’m sick.” She then wrapped her thigh in her upper robe, entered her bedroom, and lay down on the bed.
When Suppiya returned home, he asked the slave where his wife was. The slave told him.
He then went to see her, and she told him what had happened. He thought, “It’s astonishing and amazing how much faith and confidence Suppiyā has, as she gives up even her own flesh. Is there anything she would not give?”
Delighted and joyful he went to the Buddha. He bowed, sat down, and said, “Sir, please accept tomorrow’s meal from me together with the Sangha of monks.” The Buddha consented by remaining silent. Knowing that the Buddha had consented, Suppiya got up from his seat, bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left.
The following morning Suppiya had various kinds of fine foods prepared. He then had the Buddha informed that the meal was ready.
The Buddha robed up, took his bowl and robe, and went to Suppiya’s house where he sat down on the prepared seat together with the Sangha of monks. Suppiya approached the Buddha and bowed down to him. When the Buddha asked him where Suppiyā was, he replied that she was sick.
“Well then, please tell her to come.”
“She’s not able, sir.”
“Well then, carry her in here.” And he did. The moment Suppiyā saw the Buddha that great wound healed and was perfectly covered with skin and hairs. Suppiya and Suppiyā exclaimed, “The great power and might of the Buddha is truly astonishing and amazing!” Delighted and joyful, they personally served various kinds of fine foods to the Sangha of monks headed by the Buddha. When the Buddha had finished his meal, they sat down to one side. The Buddha instructed, inspired, and gladdened them with a teaching, after which he got up from his seat and left.
280. Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi đã an trú tại thành Rājagaha tùy theo ý thích, đã lên đường du hành đến xứ Bārāṇasī. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã đi đến xứ Bārāṇasī. Tại đó, đức Thế Tôn an trú ở Isipatana, tại vườn Lộc Uyển, thuộc xứ Bārāṇasī. Vào lúc bấy giờ, ở xứ Bārāṇasī có nam cư sĩ Suppiya và nữ cư sĩ Suppiyā. Cả hai đều có đức tin, là những người dâng cúng, những người phục vụ, những người hộ độ Tăng chúng. Khi ấy, nữ cư sĩ Suppiyā đi đến tu viện, đi từ tịnh xá này đến tịnh xá khác, từ khuôn viên này đến khuôn viên khác, rồi hỏi các vị tỳ-khưu rằng: “Bạch chư tôn đức, có vị nào bị bệnh không? Cần phải mang đến vật gì cho vị nào ạ?” Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ-khưu đã uống thuốc xổ. Khi ấy, vị tỳ-khưu ấy đã nói với nữ cư sĩ Suppiyā điều này: “Này người chị em, tôi đã uống thuốc xổ. Tôi cần dùng canh thịt.” “Thưa vâng, bạch ngài, con sẽ mang đến.” Nói vậy rồi, bà về nhà và ra lệnh cho người ở: “Này anh, hãy đi tìm xem có thịt bán sẵn không.” “Thưa vâng, thưa bà.” Người đàn ông ấy vâng lời nữ cư sĩ Suppiyā, đi khắp cả thành Bārāṇasī nhưng không tìm thấy thịt bán sẵn. Khi ấy, người đàn ông ấy đi đến chỗ nữ cư sĩ Suppiyā, sau khi đến, đã nói với nữ cư sĩ Suppiyā điều này: “Thưa bà, không có thịt bán sẵn. Hôm nay là ngày cấm sát sanh.” Bấy giờ, nữ cư sĩ Suppiyā đã suy nghĩ như sau: “Vị tỳ-khưu bị bệnh kia nếu không nhận được canh thịt thì bệnh tình sẽ nặng thêm, hoặc sẽ mệnh chung. Việc ta đã nhận lời mà không mang đến là điều không thích hợp với ta.” Bà lấy con dao nhỏ, cắt một miếng thịt ở đùi mình, rồi đưa cho người nữ tỳ và nói: “Này cô, hãy lấy miếng thịt này nấu cho ngon rồi mang đến dâng cho vị tỳ-khưu bị bệnh ở tịnh xá kia. Nếu có ai hỏi ta, hãy trả lời rằng ‘bà đang bị bệnh’.” Nói xong, bà lấy y choàng trên quấn quanh đùi, đi vào phòng riêng rồi nằm xuống giường. Khi ấy, nam cư sĩ Suppiya về nhà và hỏi người nữ tỳ: “Suppiyā ở đâu?” “Thưa ông, bà ấy đang nằm trong phòng riêng.” Khi ấy, nam cư sĩ Suppiya đi đến chỗ nữ cư sĩ Suppiyā, sau khi đến, đã nói với nữ cư sĩ Suppiyā điều này: “Vì sao em lại nằm?” “Em đang bị bệnh.” “Em bị bệnh gì?” Bấy giờ, nữ cư sĩ Suppiyā đã kể lại sự việc ấy cho nam cư sĩ Suppiya. Khi ấy, nam cư sĩ Suppiya nói: “Thật hy hữu thay, thưa quý vị! Thật vi diệu thay, thưa quý vị! Nữ cư sĩ Suppiyā này có đức tin và lòng tịnh tín đến mức đã hy sinh cả thịt của chính mình! Có vật gì khác mà người này lại không thể cho đi được chứ?” Với lòng hoan hỷ, phấn khởi, ông đi đến chỗ đức Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, nam cư sĩ Suppiya đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, kính mong đức Thế Tôn cùng với Tăng chúng nhận lời dùng bữa ăn của con vào ngày mai.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng. Khi ấy, nam cư sĩ Suppiya, biết được đức Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh bên phải rồi ra về. Khi ấy, sau khi đêm ấy đã mãn, nam cư sĩ Suppiya cho chuẩn bị các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, rồi cho người đến báo thời gian với đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, bữa ăn đã được dọn sẵn.” Bấy giờ, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đắp y, mang y bát, đi đến nhà của nam cư sĩ Suppiya. Sau khi đến, ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn cùng với Tăng chúng. Khi ấy, nam cư sĩ Suppiya đi đến chỗ đức Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Đức Thế Tôn đã nói với nam cư sĩ Suppiya đang đứng một bên điều này: “Suppiyā ở đâu?” “Bạch Thế Tôn, bà ấy đang bị bệnh.” “Vậy thì hãy bảo cô ấy đến đây.” “Bạch Thế Tôn, bà ấy không thể đi được.” “Vậy thì hãy khiêng cô ấy đến đây.” Khi ấy, nam cư sĩ Suppiya đã khiêng nữ cư sĩ Suppiyā đến. Ngay khi vừa nhìn thấy đức Thế Tôn, vết thương lớn của bà liền được chữa lành, da trở nên mịn màng và lông mọc lại. Khi ấy, cả nam cư sĩ Suppiya và nữ cư sĩ Suppiyā đều nói: “Thật hy hữu thay, thưa quý vị! Thật vi diệu thay, thưa quý vị! Oai lực và thần thông của đức Như Lai thật vĩ đại, đến nỗi ngay khi vừa nhìn thấy đức Thế Tôn, vết thương lớn đã được chữa lành, da trở nên mịn màng và lông mọc lại!” Với lòng hoan hỷ, phấn khởi, họ đã tự tay dâng cúng các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, lên đức Phật và Tăng chúng cho đến khi các vị nói đã đủ. Sau khi thấy đức Thế Tôn đã dùng bữa xong, tay đã rời khỏi bát, họ ngồi xuống một bên. Khi ấy, đức Thế Tôn đã thuyết một bài pháp cho cả nam cư sĩ Suppiya và nữ cư sĩ Suppiyā, làm cho họ thấy rõ, khuyến khích, làm cho hăng hái, và làm cho phấn khởi, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—
Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks:
Bấy giờ, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn cho triệu tập Tăng chúng lại, các vị tỳ-khưu
“Āhariyittha, bhikkhū”ti?
“Āhariyittha, bhagavā”ti.
“Paribhuñji tvaṁ, bhikkhū”ti?
“Paribhuñjāmahaṁ, bhagavā”ti.
“Paṭivekkhi tvaṁ, bhikkhū”ti?
“Nāhaṁ, bhagavā, paṭivekkhin”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, appaṭivekkhitvā maṁsaṁ paribhuñjissasi. Manussamaṁsaṁ kho tayā, moghapurisa, paribhuttaṁ. Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“santi, bhikkhave, manussā saddhā pasannā, tehi attanopi maṁsāni pariccattāni. Na, bhikkhave, manussamaṁsaṁ paribhuñjitabbaṁ. Yo paribhuñjeyya, āpatti thullaccayassa.
Na ca, bhikkhave, appaṭivekkhitvā maṁsaṁ paribhuñjitabbaṁ. Yo paribhuñjeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
“Did you get the meat?”
“I did, sir.”
“Did you eat it?”
“Yes.”
“Were you circumspect about it?”
“No, sir.”
The Buddha rebuked him … “Foolish man, how can you eat meat without circumspection? You have eaten human flesh. This will affect people’s confidence …” After rebuking him, he gave a teaching and addressed the monks:
“There are people who have faith and confidence, even to the point of giving up their own flesh. You shouldn’t eat human flesh. If you do, you commit a serious offense.
You shouldn’t eat flesh without being circumspect. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
(Đức Thế Tôn) hỏi lại: “Này các tỳ khưu, ai đã xin thịt của nữ cận sự Suppiyā?” Khi được hỏi như vậy, vị tỳ khưu ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, chính con đã xin thịt của nữ cận sự Suppiyā.” – “Này tỳ khưu, có được mang về không?” – “Bạch đức Thế Tôn, có được mang về.” – “Này tỳ khưu, ngươi có dùng không?” – “Bạch đức Thế Tôn, con có dùng.” – “Này tỳ khưu, ngươi có xem xét không?” – “Bạch đức Thế Tôn, con đã không xem xét.” Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách ... cho đến ... “Này kẻ rỗng tuếch kia, tại sao ngươi lại dùng thịt mà không xem xét? Này kẻ rỗng tuếch kia, chính ngươi đã dùng thịt người. Này kẻ rỗng tuếch kia, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin được phát sinh đức tin ... cho đến ...” Sau khi quở trách và thuyết pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, có những người có đức tin, có lòng trong sạch, họ đã từ bỏ cả thịt của chính mình. Này các tỳ khưu, không được dùng thịt người. Vị nào dùng, phạm tội thullaccaya (trọng tội). Và này các tỳ khưu, không được dùng thịt mà không xem xét. Vị nào dùng, phạm tội dukkaṭa (tác ác).”
10. Hatthimaṁsādipaṭikkhepakathā
10. Discussion of the prohibition against elephant meat, etc.
169. Câu chuyện về việc cấm thịt voi và các loại khác
Tena kho pana samayena rañño hatthī maranti. Manussā dubbhikkhe hatthimaṁsaṁ paribhuñjanti, bhikkhūnaṁ piṇḍāya carantānaṁ hatthimaṁsaṁ denti. Bhikkhū hatthimaṁsaṁ paribhuñjanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā hatthimaṁsaṁ paribhuñjissanti. Rājaṅgaṁ hatthī, sace rājā jāneyya, na nesaṁ attamano assā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, hatthimaṁsaṁ paribhuñjitabbaṁ. Yo paribhuñjeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time the king’s elephants had died. Because there was a shortage of food, people ate the elephant meat. They also gave elephant meat to monks who were walking for alms. When the monks ate it, people complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics eat elephant meat? Elephants are an attribute of kingship. If the king knew, he would not be pleased with those monks.” They told the Buddha.
“You shouldn’t eat elephant meat. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
281. Vào lúc bấy giờ, các con voi của nhà vua bị chết. Do nạn đói, dân chúng ăn thịt voi và dâng cúng thịt voi cho các tỳ khưu đang đi khất thực. Các tỳ khưu đã dùng thịt voi. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và dị nghị rằng: “Tại sao các sa-môn Thích tử lại có thể dùng thịt voi? Con voi là biểu tượng của hoàng gia, nếu nhà vua biết được, ngài sẽ không hài lòng với họ.” Họ đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, không được dùng thịt voi. Vị nào dùng, phạm tội dukkaṭa (tác ác).”
Tena kho pana samayena rañño assā maranti. Manussā dubbhikkhe assamaṁsaṁ paribhuñjanti, bhikkhūnaṁ piṇḍāya carantānaṁ assamaṁsaṁ denti. Bhikkhū assamaṁsaṁ paribhuñjanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā assamaṁsaṁ paribhuñjissanti. Rājaṅgaṁ assā, sace rājā jāneyya, na nesaṁ attamano assā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, assamaṁsaṁ paribhuñjitabbaṁ. Yo paribhuñjeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time the king’s horses had died. Because there was a shortage of food, people ate the horse meat. They also gave horse meat to monks who were walking for alms. When the monks ate it, people complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics eat horse meat? Horses are an attribute of kingship. If the king knew, he would not be pleased with those monks.” They told the Buddha.
“You shouldn’t eat horse meat. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các con ngựa của nhà vua bị chết. Do nạn đói, dân chúng ăn thịt ngựa và dâng cúng thịt ngựa cho các tỳ khưu đang đi khất thực. Các tỳ khưu đã dùng thịt ngựa. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và dị nghị rằng: “Tại sao các sa-môn Thích tử lại có thể dùng thịt ngựa? Con ngựa là biểu tượng của hoàng gia, nếu nhà vua biết được, ngài sẽ không hài lòng với họ.” Họ đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, không được dùng thịt ngựa. Vị nào dùng, phạm tội dukkaṭa (tác ác).”
Tena kho pana samayena manussā dubbhikkhe sunakhamaṁsaṁ paribhuñjanti, bhikkhūnaṁ piṇḍāya carantānaṁ sunakhamaṁsaṁ denti. Bhikkhū sunakhamaṁsaṁ paribhuñjanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā sunakhamaṁsaṁ paribhuñjissanti, jeguccho sunakho paṭikūlo”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, sunakhamaṁsaṁ paribhuñjitabbaṁ. Yo paribhuñjeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time when there was a shortage of food, people ate dog meat. They also gave dog meat to monks who were walking for alms. When the monks ate it, people complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics eat dog meat? Dogs are disgusting and repulsive.” They told the Buddha.
“You shouldn’t eat dog meat. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, do nạn đói, dân chúng ăn thịt chó và dâng cúng thịt chó cho các tỳ khưu đang đi khất thực. Các tỳ khưu đã dùng thịt chó. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và dị nghị rằng: “Tại sao các sa-môn Thích tử lại có thể dùng thịt chó? Con chó là loài đáng ghê tởm, đáng ghét.” Họ đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, không được dùng thịt chó. Vị nào dùng, phạm tội dukkaṭa (tác ác).”
Tena kho pana samayena manussā dubbhikkhe ahimaṁsaṁ paribhuñjanti, bhikkhūnaṁ piṇḍāya carantānaṁ ahimaṁsaṁ denti. Bhikkhū ahimaṁsaṁ paribhuñjanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā ahimaṁsaṁ paribhuñjissanti, jeguccho ahi paṭikūlo”ti. Supassopi nāgarājā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho supasso nāgarājā bhagavantaṁ etadavoca—“santi, bhante, nāgā assaddhā appasannā. Te appamattakehipi bhikkhū viheṭheyyuṁ. Sādhu, bhante, ayyā ahimaṁsaṁ na paribhuñjeyyun”ti. Atha kho bhagavā supassaṁ nāgarājānaṁ dhammiyā kathāya sandassesi …pe… padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, ahimaṁsaṁ paribhuñjitabbaṁ. Yo paribhuñjeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time when there was a shortage of food, people ate snake meat. They also gave snake meat to monks who were walking for alms. When the monks ate it, people complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics eat snake meat? Snakes are disgusting and repulsive.” Even Supassa the king of dragons went to see the Buddha. He bowed down to the Buddha and said, “Sir, there are dragons without faith and confidence. They might harm the monks even over small matters. Please ask the venerables not to eat snake meat.” The Buddha instructed, inspired, and gladdened him with a teaching, after which Supassa bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t eat snake meat. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, do nạn đói, dân chúng ăn thịt rắn và dâng cúng thịt rắn cho các tỳ khưu đang đi khất thực. Các tỳ khưu đã dùng thịt rắn. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và dị nghị rằng: “Tại sao các sa-môn Thích tử lại có thể dùng thịt rắn? Con rắn là loài đáng ghê tởm, đáng ghét.” Long vương Supassa cũng đã đi đến chỗ đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, long vương Supassa đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, có những loài rồng không có đức tin, không có lòng trong sạch. Chúng có thể hãm hại các tỳ khưu dù chỉ vì một lý do nhỏ nhặt. Bạch ngài, mong rằng các bậc tôn giả không dùng thịt rắn.” Bấy giờ, đức Thế Tôn đã chỉ dạy cho long vương Supassa bằng một bài pháp thoại ... cho đến ... đi nhiễu bên phải rồi ra về. Bấy giờ, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, sau khi thuyết pháp thoại, đức Thế Tôn đã gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, không được dùng thịt rắn. Vị nào dùng, phạm tội dukkaṭa (tác ác).”
Tena kho pana samayena luddakā sīhaṁ hantvā sīhamaṁsaṁ paribhuñjanti, bhikkhūnaṁ piṇḍāya carantānaṁ sīhamaṁsaṁ denti. Bhikkhū sīhamaṁsaṁ paribhuñjitvā araññe viharanti. Sīhā sīhamaṁsagandhena bhikkhū paripātenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, sīhamaṁsaṁ paribhuñjitabbaṁ. Yo paribhuñjeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion hunters killed a lion and ate the lion meat. They also gave lion meat to monks who were walking for alms. After eating it, those monks returned to the wilderness. And because of the smell of lion meat, lions attacked them.
“You shouldn’t eat lion meat. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các người thợ săn giết sư tử và ăn thịt sư tử. Họ dâng cúng thịt sư tử cho các tỳ khưu đang đi khất thực. Các tỳ khưu sau khi dùng thịt sư tử đã trú ngụ trong rừng. Các con sư tử khác ngửi thấy mùi thịt sư tử đã tấn công các tỳ khưu. Họ đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, không được dùng thịt sư tử. Vị nào dùng, phạm tội dukkaṭa (tác ác).”
Tena kho pana samayena luddakā byagghaṁ hantvā …pe… dīpiṁ hantvā …pe… acchaṁ hantvā …pe… taracchaṁ hantvā taracchamaṁsaṁ paribhuñjanti, bhikkhūnaṁ piṇḍāya carantānaṁ taracchamaṁsaṁ denti. Bhikkhū taracchamaṁsaṁ paribhuñjitvā araññe viharanti. Taracchā taracchamaṁsagandhena bhikkhū paripātenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, taracchamaṁsaṁ paribhuñjitabbaṁ. Yo paribhuñjeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion hunters killed a tiger … a leopard … a bear … a hyena and ate the hyena meat. They also gave hyena meat to monks who were walking for alms. After eating it, those monks returned to the wilderness. And because of the smell of hyena meat, hyenas attacked them.
“You shouldn’t eat tiger meat, leopard meat, bear meat, or hyena meat. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các người thợ săn giết cọp ... cho đến ... giết báo ... cho đến ... giết gấu ... cho đến ... giết linh cẩu và ăn thịt linh cẩu. Họ dâng cúng thịt linh cẩu cho các tỳ khưu đang đi khất thực. Các tỳ khưu sau khi dùng thịt linh cẩu đã trú ngụ trong rừng. Các con linh cẩu khác ngửi thấy mùi thịt linh cẩu đã tấn công các tỳ khưu. Họ đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, không được dùng thịt linh cẩu. Vị nào dùng, phạm tội dukkaṭa (tác ác).”
Suppiyabhāṇavāro niṭṭhito dutiyo.
The second section for recitation on Suppiyā is finished.
Dứt chương Suppiyā, phần thứ hai.
11. Yāgumadhugoḷakānujānana
11. The allowance for congee and honey balls
170. Sự cho phép về cháo và bánh mật ong
Atha kho bhagavā bārāṇasiyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena andhakavindaṁ tena cārikaṁ pakkāmi, mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ, aḍḍhatelasehi bhikkhusatehi. Tena kho pana samayena jānapadā manussā bahuṁ loṇampi, telampi, taṇḍulampi, khādanīyampi sakaṭesu āropetvā buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa piṭṭhito piṭṭhito anubandhā honti—“yadā paṭipāṭiṁ labhissāma tadā bhattaṁ karissāmā”ti, pañcamattāni ca vighāsādasatāni.
Atha kho bhagavā anupubbena cārikaṁ caramāno yena andhakavindaṁ tadavasari. Atha kho aññatarassa brāhmaṇassa paṭipāṭiṁ alabhantassa etadahosi—“atītāni kho me dve māsāni buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ anubandhantassa ‘yadā paṭipāṭiṁ labhissāmi tadā bhattaṁ karissāmī’ti, na ca me paṭipāṭi labbhati, ahañcamhi ekattako, bahu ca me gharāvāsattho hāyati. Yannūnāhaṁ bhattaggaṁ olokeyyaṁ; yaṁ bhattagge nāssa, taṁ paṭiyādeyyan”ti. Atha kho so brāhmaṇo bhattaggaṁ olokento dve nāddasa—yāguñca madhugoḷakañca. Atha kho so brāhmaṇo yenāyasmā ānando tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca—“idha me, bho ānanda, paṭipāṭiṁ alabhantassa etadahosi—‘atītāni kho me dve māsāni buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ anubandhantassa, “yadā paṭipāṭiṁ labhissāmi tadā bhattaṁ karissāmī”ti. Na ca me paṭipāṭi labbhati, ahañcamhi ekattako, bahu ca me gharāvāsattho hāyati. Yannūnāhaṁ bhattaggaṁ olokeyyaṁ; yaṁ bhattagge nāssa, taṁ paṭiyādeyyan’ti. So kho ahaṁ, bho ānanda, bhattaggaṁ olokento dve nāddasaṁ—yāguñca madhugoḷakañca. Sacāhaṁ, bho ānanda, paṭiyādeyyaṁ yāguñca madhugoḷakañca, paṭiggaṇheyya me bhavaṁ gotamo”ti?
“Tena hi, brāhmaṇa, bhagavantaṁ paṭipucchissāmī”ti. Atha kho āyasmā ānando bhagavato etamatthaṁ ārocesi. “Tena hānanda, paṭiyādetū”ti. “Tena hi, brāhmaṇa, paṭiyādehī”ti.
Atha kho so brāhmaṇo tassā rattiyā accayena pahūtaṁ yāguñca madhugoḷakañca paṭiyādāpetvā bhagavato upanāmesi—“paṭiggaṇhātu me bhavaṁ gotamo yāguñca madhugoḷakañcā”ti.
“Tena hi, brāhmaṇa, bhikkhūnaṁ dehī”ti.
Bhikkhū kukkuccāyantā na paṭiggaṇhanti. “Paṭiggaṇhatha, bhikkhave, paribhuñjathā”ti. Atha kho so brāhmaṇo buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ pahūtāya yāguyā ca madhugoḷakena ca sahatthā santappetvā sampavāretvā bhagavantaṁ dhotahatthaṁ onītapattapāṇiṁ ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho taṁ brāhmaṇaṁ bhagavā etadavoca—
When the Buddha had stayed at Benares for as long as he liked, he set out wandering toward Andhakavinda together with a large sangha of twelve-hundred and fifty monks. On this occasion the country people had loaded large quantities of salt, oil, rice, and fresh food onto carts, and were following behind the Sangha of monks headed by the Buddha, thinking, “When our turn comes, we’ll prepare a meal.” Five hundred people living on scraps were also following along.
Eventually the Buddha arrived at Andhakavinda and stayed there. Soon afterwards a certain brahmin whose turn to offer a meal had not yet come, thought, “I’ve been following the Sangha of monks headed by the Buddha for two months waiting to offer them a meal, and I’m still waiting. Moreover, I am all alone, and all my household business is being neglected. Why don’t I inspect the dining hall and prepare whatever is lacking?” When he did, he saw that two things were missing: congee and honey balls. He then went to Venerable Ānanda and told what he had been thinking, adding, “Good Ānanda, if I were to prepare congee and honey balls, would Good Gotama accept it?”
“Well, brahmin, let me ask the Buddha.” Venerable Ānanda told the Buddha, who said, “Allow it to be prepared, Ānanda.” Ānanda passed the message on to the brahmin.
The following morning that brahmin prepared much congee and many honey balls and brought it to the Buddha, saying, “Good Gotama, please accept the congee and the honey balls.”
“Well then, brahmin, give it to the monks.”
But being afraid of wrongdoing, the monks did not accept. The Buddha said, “Accept, monks, and eat.” That brahmin then personally served much congee and many honey balls to the Sangha of monks headed by the Buddha. When the Buddha had finished his meal, the brahmin sat down to one side. And the Buddha said this to him:
282. Khi ấy, sau khi trú ở Bārāṇasī tùy nghi thích hợp, đức Thế Tôn đã khởi hành đi du hành đến vùng Andhakavinda cùng với đại chúng tỳ-khưu, với một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ-khưu. Và vào lúc bấy giờ, dân chúng ở các miền quê, sau khi chất lên xe nhiều muối, dầu, gạo, và vật thực, đã đi theo sau lưng Tăng chúng tỳ-khưu có đức Phật dẫn đầu với ý nghĩ: ‘Khi nào chúng ta nhận được phiên thứ tự, khi ấy chúng ta sẽ làm các bữa ăn.’ Và có khoảng năm trăm người ăn đồ thừa cũng đi theo. Khi ấy, đức Thế Tôn trong khi đi du hành tuần tự đã đi đến vùng Andhakavinda. Bấy giờ, một vị Bà-la-môn nọ không nhận được phiên thứ tự đã có suy nghĩ như vầy: ‘Đã hai tháng trôi qua kể từ khi ta đi theo Tăng chúng tỳ-khưu có đức Phật dẫn đầu với ý nghĩ: “Khi nào ta nhận được phiên thứ tự, khi ấy ta sẽ làm bữa ăn.” Và ta vẫn chưa nhận được phiên thứ tự, và ta lại chỉ có một mình, và nhiều công việc gia đình của ta bị suy giảm. Hay là ta nên xem xét nhà ăn; món nào không có ở nhà ăn, ta sẽ chuẩn bị món ấy.’ Khi ấy, vị Bà-la-môn ấy trong khi xem xét nhà ăn đã không thấy hai món – là cháo và bánh mật. Khi ấy, vị Bà-la-môn ấy đã đi đến chỗ trưởng lão Ānanda, sau khi đến đã nói với trưởng lão Ānanda điều này: ‘Thưa ngài Ānanda, ở đây, tôi là người không nhận được phiên thứ tự đã có suy nghĩ như vầy: “Đã hai tháng trôi qua kể từ khi tôi đi theo Tăng chúng tỳ-khưu có đức Phật dẫn đầu với ý nghĩ: ‘Khi nào tôi nhận được phiên thứ tự, khi ấy tôi sẽ làm bữa ăn.’ Và tôi vẫn chưa nhận được phiên thứ tự, và tôi lại chỉ có một mình, và nhiều công việc gia đình của tôi bị suy giảm. Hay là tôi nên xem xét nhà ăn; món nào không có ở nhà ăn, tôi sẽ chuẩn bị món ấy.” Thưa ngài Ānanda, tôi ấy, trong khi xem xét nhà ăn đã không thấy hai món – là cháo và bánh mật. Thưa ngài Ānanda, nếu tôi chuẩn bị cháo và bánh mật, liệu tôn giả Gotama có nhận lãnh của tôi không?’ – ‘Này Bà-la-môn, nếu vậy, tôi sẽ hỏi lại đức Thế Tôn.’ Khi ấy, trưởng lão Ānanda đã trình bày sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này Ānanda, nếu vậy, hãy để ông ấy chuẩn bị.’ – ‘Này Bà-la-môn, nếu vậy, ông hãy chuẩn bị đi.’ Khi ấy, vị Bà-la-môn ấy, sau khi đêm ấy trôi qua, đã cho chuẩn bị nhiều cháo và bánh mật rồi dâng lên đức Thế Tôn: ‘Xin tôn giả Gotama hãy nhận lãnh cháo và bánh mật của tôi.’ – ‘Này Bà-la-môn, nếu vậy, hãy dâng cho các vị tỳ-khưu.’ Các vị tỳ-khưu do dự nên không nhận. – ‘Này các tỳ-khưu, hãy nhận lấy, hãy dùng đi.’ Khi ấy, vị Bà-la-môn ấy, sau khi tự tay phục vụ Tăng chúng tỳ-khưu có đức Phật dẫn đầu với nhiều cháo và bánh mật cho đến khi các vị hài lòng, cho đến khi các vị nói đã đủ, và sau khi nhận thấy đức Thế Tôn đã rửa tay và đã rời tay khỏi bát, đã ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã nói với vị Bà-la-môn đang ngồi một bên điều này:
“Dasayime, brāhmaṇa, ānisaṁsā yāguyā. Katame dasa? Yāguṁ dento āyuṁ deti, vaṇṇaṁ deti, sukhaṁ deti, balaṁ deti, paṭibhānaṁ deti, yāgu pītā khuddaṁ paṭihanati, pipāsaṁ vineti, vātaṁ anulometi, vatthiṁ sodheti, āmāvasesaṁ pāceti—
ime kho, brāhmaṇa, dasānisaṁsā yāguyāti.
“Brahmin, there are these ten benefits of congee. One who gives congee gives life, beauty, happiness, strength, and eloquence; drinking congee stills hunger, allays thirst, gets rid of wind, cleans out the bladder, and helps the digestion of food remnants.
‘Này Bà-la-môn, có mười lợi ích này của cháo. Mười là gì? Người cho cháo là cho tuổi thọ, cho dung sắc, cho an lạc, cho sức mạnh, cho biện tài. Cháo sau khi được uống vào sẽ trừ được cơn đói, loại bỏ được cơn khát, làm cho gió được thuận chiều, làm trong sạch bàng quang, làm tiêu hóa thức ăn còn tồn đọng. Này Bà-la-môn, đây là mười lợi ích của cháo.’
Yo saññatānaṁ paradattabhojinaṁ, Kālena sakkacca dadāti yāguṁ; Dasassa ṭhānāni anuppavecchati, Āyuñca vaṇṇañca sukhaṁ balañca.
One who gives congee respectfully at the right time To the restrained ones who live on the gifts of others, Such a one supplies them with ten things: Long life, beauty, happiness, and strength,
Người nào vào thời điểm thích hợp, một cách kính cẩn, dâng cúng cháo đến những bậc tự chế, những vị sống nhờ vật thực của người khác dâng tặng; người ấy trao tặng mười điều: tuổi thọ, dung sắc, an lạc, và sức mạnh.
Paṭibhānamassa upajāyate tato, Khuddaṁ pipāsañca byapaneti vātaṁ; Sodheti vatthiṁ pariṇāmeti bhattaṁ, Bhesajjametaṁ sugatena vaṇṇitaṁ.
And eloquence, too, one gets from that; Hunger, thirst, and wind are removed, The bladder is cleaned and the food digested. This tonic is praised by the Accomplished One.
Biện tài của vị ấy được phát sanh từ đó; cháo loại trừ cơn đói, cơn khát, và chứng bệnh gió; làm trong sạch bàng quang, làm tiêu hóa vật thực đã ăn. Món thuốc này đã được bậc Thiện Thệ tán dương.
Tasmā hi yāguṁ alameva dātuṁ, Niccaṁ manussena sukhatthikena; Dibbāni vā patthayatā sukhāni, Manussasobhagyatamicchatā vā”ti.
Therefore, for a person looking for happiness—One wishing for heavenly bliss Or desiring human prosperity—It’s appropriate to give congee regularly.”
Do đó, người mong cầu sự an lạc, hoặc người ước vọng các lạc thú ở cõi trời, hoặc người mong muốn sự vẻ vang của loài người, thì quả thật nên luôn luôn dâng cúng cháo.
Atha kho bhagavā taṁ brāhmaṇaṁ imāhi gāthāhi anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, yāguñca madhugoḷakañcā”ti.
The Buddha then got up from his seat and left. Soon afterwards he gave a teaching and addressed the monks:
“I allow congee and honey balls.”
Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi tùy hỷ vị Bà-la-môn ấy bằng những câu kệ này, đã đứng dậy từ chỗ ngồi và ra đi. Khi ấy, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các vị tỳ-khưu: ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép dùng cháo và bánh mật.’
12. Taruṇapasannamahāmattavatthu
12. The government official with recently acquired faith
171. Câu chuyện về vị Đại thần có đức tin non trẻ
Assosuṁ kho manussā bhagavatā kira yāgu anuññātā madhugoḷakañcāti. Te kālasseva, bhojjayāguṁ paṭiyādenti madhugoḷakañca. Bhikkhū kālasseva bhojjayāguyā dhātā madhugoḷakena ca bhattagge na cittarūpaṁ paribhuñjanti.
Tena kho pana samayena aññatarena taruṇapasannena mahāmattena svātanāya buddhappamukho bhikkhusaṅgho nimantito hoti. Atha kho tassa taruṇapasannassa mahāmattassa etadahosi—“yannūnāhaṁ aḍḍhatelasannaṁ bhikkhusatānaṁ aḍḍhatelasāni maṁsapātisatāni paṭiyādeyyaṁ, ekamekassa bhikkhuno ekamekaṁ maṁsapātiṁ upanāmeyyan”ti.
Atha kho so taruṇapasanno mahāmatto tassā rattiyā accayena paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā aḍḍhatelasāni ca maṁsapātisatāni, bhagavato kālaṁ ārocāpesi—“kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti. Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena tassa taruṇapasannassa mahāmattassa nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi, saddhiṁ bhikkhusaṅghena. Atha kho so taruṇapasanno mahāmatto bhattagge bhikkhū parivisati. Bhikkhū evamāhaṁsu—“thokaṁ, āvuso, dehi; thokaṁ, āvuso, dehī”ti.
“Mā kho tumhe, bhante—‘ayaṁ taruṇapasanno mahāmatto’ti—thokaṁ thokaṁ paṭiggaṇhatha. Bahuṁ me khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyattaṁ, aḍḍhatelasāni ca maṁsapātisatāni. Ekamekassa bhikkhuno ekamekaṁ maṁsapātiṁ upanāmessāmīti. Paṭiggaṇhatha, bhante, yāvadatthan”ti.
“Na kho mayaṁ, āvuso, etaṅkāraṇā thokaṁ thokaṁ paṭiggaṇhāma, api ca mayaṁ kālasseva bhojjayāguyā dhātā madhugoḷakena ca. Tena mayaṁ thokaṁ thokaṁ paṭiggaṇhāmā”ti.
Atha kho so taruṇapasanno mahāmatto ujjhāyati khiyyati vipāceti—“kathañhi nāma bhadantā mayā nimantitā aññassa bhojjayāguṁ paribhuñjissanti, na cāhaṁ paṭibalo yāvadatthaṁ dātun”ti kupito anattamano āsādanāpekkho bhikkhūnaṁ patte pūrento agamāsi—“bhuñjatha vā haratha vā”ti.
Atha kho so taruṇapasanno mahāmatto buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho taṁ taruṇapasannaṁ mahāmattaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
When people heard that the Buddha had allowed congee and honey balls, they prepared rice porridge and honey balls early in the morning. After eating rice porridge and honey balls to their satisfaction in the morning, the monks did not eat as much as they had intended in the dining hall.
At this time a certain government official who had recently acquired faith in Buddhism had invited the Sangha of monks headed by the Buddha for the meal on the following day. He thought, “Why don’t I prepare twelve hundred and fifty bowls of meat for the twelve hundred and fifty monks? I can then give one bowl to each and every monk.”
The following morning that official had various kinds of fine foods prepared, as well as twelve hundred and fifty bowls of meat. He then had the Buddha informed that the meal was ready. The Buddha robed up, took his bowl and robe, and went to that brahmin’s house where he sat down on the prepared seat together with the Sangha of monks. That official then served the monks in the dining hall. As he did so, the monks said, “Only a little, thanks.”
“Please don’t say that because I’ve only recently acquired faith in Buddhism. I’ve prepared much food of various kinds, as well as twelve-hundred and fifty bowls of meat. I’ll bring one bowl of meat to each and every one of you. Venerables, please accept as much as you like.”
“We’re not taking so little because of that, but because we ate rice porridge and honey balls to our satisfaction early in the morning.”
The official complained and criticized them, “When the venerables have been invited by me, how can they eat someone else’s rice porridge? Am I incapable of giving them as much as they like?” Angry and aiming to criticize, he walked around filling the monks’ almsbowls, saying, “Eat it or take it away.”
When he had personally served the various kinds of fine foods to the Sangha of monks headed by the Buddha, and the Buddha had finished his meal, the official sat down to one side. The Buddha instructed, inspired, and gladdened him with a teaching, after which he got up from his seat and left.
283. Dân chúng nghe đồn rằng: “Hình như đức Thế Tôn đã cho phép dùng cháo và bánh mật.” Họ bèn sửa soạn cháo đặc và bánh mật từ sáng sớm. Các vị tỳ khưu đã dùng no cháo đặc và bánh mật từ sáng sớm nên không dùng bữa tại trai đường theo ý thích. Vào lúc bấy giờ, có một vị đại thần mới phát tín tâm đã thỉnh mời chúng tỳ khưu với đức Phật dẫn đầu cho ngày hôm sau. Khi ấy, vị đại thần mới phát tín tâm ấy đã khởi lên suy nghĩ rằng: “Hay là ta nên sửa soạn một ngàn hai trăm năm mươi dĩa thịt cho một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu, và dâng lên cho mỗi vị tỳ khưu một dĩa thịt.” Sau đó, sau khi đêm ấy đã trôi qua, vị đại thần mới phát tín tâm ấy đã cho người sửa soạn các món ăn vật thực loại cứng và loại mềm thượng vị cùng với một ngàn hai trăm năm mươi dĩa thịt, rồi cho người báo thời gian đến đức Thế Tôn rằng: “Bạch ngài, đã đến giờ, vật thực đã sẵn sàng.” Khi ấy, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đắp y, cầm y bát, đi đến tư gia của vị đại thần mới phát tín tâm ấy. Sau khi đến, ngài ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được dọn sẵn cùng với chúng tỳ khưu. Khi ấy, vị đại thần mới phát tín tâm ấy đã phục vụ các vị tỳ khưu tại trai đường. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: “Này hiền hữu, hãy cho một ít thôi. Này hiền hữu, hãy cho một ít thôi.” (Vị đại thần nói:) “Bạch các ngài, xin các ngài đừng nghĩ rằng: ‘Vị đại thần này mới phát tín tâm’ rồi nhận lấy một ít, một ít. Con đã sửa soạn nhiều món ăn vật thực loại cứng và loại mềm, cùng với một ngàn hai trăm năm mươi dĩa thịt, với ý định rằng: ‘Ta sẽ dâng lên cho mỗi vị tỳ khưu một dĩa thịt.’ Bạch các ngài, xin hãy nhận lấy tùy theo ý muốn.” (Các vị tỳ khưu đáp:) “Này hiền hữu, không phải vì lý do ấy mà chúng tôi nhận lấy một ít, một ít đâu. Mà là vì chúng tôi đã dùng no cháo đặc và bánh mật từ sáng sớm rồi. Vì thế, chúng tôi nhận lấy một ít, một ít.” Khi ấy, vị đại thần mới phát tín tâm ấy đã phàn nàn, chê bai, và nói xấu rằng: “Tại sao các bậc tôn giả đã được ta thỉnh mời mà lại đi dùng cháo đặc của người khác? Chẳng lẽ ta không có khả năng cúng dường tùy theo ý muốn của các vị hay sao?” Rồi với tâm tức giận, không hoan hỷ, và muốn tìm lỗi, vị ấy đã bỏ đi sau khi đổ đầy bát của các vị tỳ khưu và nói rằng: “Hoặc dùng hoặc mang đi!” Sau đó, vị đại thần mới phát tín tâm ấy đã tự tay phục vụ chúng tỳ khưu với đức Phật dẫn đầu bằng các món ăn vật thực loại cứng và loại mềm thượng vị cho đến khi các vị hài lòng và từ chối không nhận thêm nữa. Khi đức Thế Tôn đã dùng xong, tay đã rời khỏi bát, vị ấy ngồi xuống một nơi hợp lẽ. Đức Thế Tôn đã thuyết pháp cho vị đại thần mới phát tín tâm đang ngồi một nơi hợp lẽ, làm cho thấy rõ, làm cho chấp nhận, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Atha kho tassa taruṇapasannassa mahāmattassa acirapakkantassa bhagavato ahudeva kukkuccaṁ, ahu vippaṭisāro—“alābhā vata me, na vata me lābhā; dulladdhaṁ vata me, na vata me suladdhaṁ; yohaṁ kupito anattamano āsādanāpekkho bhikkhūnaṁ patte pūrento agamāsiṁ—‘bhuñjatha vā haratha vā’ti. Kiṁ nu kho mayā bahuṁ pasutaṁ puññaṁ vā apuññaṁ vā”ti? Atha kho so taruṇapasanno mahāmatto yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so taruṇapasanno mahāmatto bhagavantaṁ etadavoca—“idha mayhaṁ, bhante, acirapakkantassa bhagavato ahudeva kukkuccaṁ, ahu vippaṭisāro ‘alābhā vata me, na vata me lābhā; dulladdhaṁ vata me, na vata me suladdhaṁ; yohaṁ kupito anattamano āsādanāpekkho bhikkhūnaṁ patte pūrento agamāsiṁ—bhuñjatha vā haratha vāti. Kiṁ nu kho mayā bahuṁ pasutaṁ, puññaṁ vā apuññaṁ vā’ti. Kiṁ nu kho mayā, bhante, bahuṁ pasutaṁ, puññaṁ vā apuññaṁ vā”ti?
“Yadaggena tayā, āvuso, svātanāya buddhappamukho bhikkhusaṅgho nimantito tadaggena te bahuṁ puññaṁ pasutaṁ. Yadaggena te ekamekena bhikkhunā ekamekaṁ sitthaṁ paṭiggahitaṁ tadaggena te bahuṁ puññaṁ pasutaṁ, saggā te āraddhā”ti.
Atha kho so taruṇapasanno mahāmatto—“lābhā kira me, suladdhaṁ kira me, bahuṁ kira mayā puññaṁ pasutaṁ, saggā kira me āraddhā”ti—haṭṭho udaggo uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—“saccaṁ kira, bhikkhave, bhikkhū aññatra nimantitā aññassa bhojjayāguṁ paribhuñjantī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma te, bhikkhave, moghapurisā aññatra nimantitā aññassa bhojjayāguṁ paribhuñjissanti. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, aññatra nimantitena aññassa bhojjayāgu paribhuñjitabbā. Yo paribhuñjeyya, yathādhammo kāretabbo”ti.
Soon after the Buddha had left, that official felt anxiety and remorse, thinking, “It’s bad for me, truly bad, that I acted like this. I wonder, did I make much merit or demerit?” He then went to the Buddha, bowed, sat down, and told him what he had been thinking, adding, “I wonder, sir, did I make much merit or demerit?”
“When you invited the Sangha of monks headed by the Buddha for a meal on the following day, you made much merit. When each and every monk received rice from you, you made much merit. You are heading for heaven.”
When the official heard this, he was joyful and elated. He got up from his seat, bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left. Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that monks who had been invited for a meal ate someone else’s rice porridge beforehand?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “How can those foolish men eat someone else’s congee beforehand when they have been invited for a meal? This will affect people’s confidence …” After rebuking them, he gave a teaching and addressed the monks:
“When you have been invited to a meal, you shouldn’t eat someone else’s rice porridge beforehand. If you do, you should be dealt with according to the rule.”
Bấy giờ, không bao lâu sau khi Đức Thế Tôn ra đi, vị đại thần có đức tin non trẻ ấy đã khởi lên sự hối hận, sự ăn năn rằng: “Thật là không lợi lạc cho ta, thật là không lợi lạc cho ta! Thật là điều tệ hại cho ta, thật là điều tệ hại cho ta! Ta đây, trong lúc tức giận, không hài lòng, với ý định xúc phạm, đã đổ đầy các bát của các Tỳ-khưu rồi nói rằng: 'Hãy ăn hay hãy mang đi tùy ý.' Không biết ta đã tạo ra nhiều công đức hay tội lỗi?” Sau đó, vị đại thần có đức tin non trẻ ấy đi đến nơi Đức Thế Tôn ngự; sau khi đến, đã đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vị đại thần có đức tin non trẻ ấy đã bạch với Đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, ở đây không bao lâu sau khi Đức Thế Tôn ra đi, con đã khởi lên sự hối hận, sự ăn năn: 'Thật là không lợi lạc cho con... [như trên] ... Không biết con đã tạo ra nhiều công đức hay tội lỗi?' Bạch Ngài, không biết con đã tạo ra nhiều công đức hay tội lỗi?” “Này hiền giả, kể từ khi ông đã thỉnh mời hội chúng Tỳ-khưu với Đức Phật dẫn đầu cho ngày mai, kể từ lúc ấy ông đã tạo ra nhiều công đức. Kể từ khi mỗi vị Tỳ-khưu đã nhận từng hạt cơm từ ông, kể từ lúc ấy ông đã tạo ra nhiều công đức, ông đã hướng đến thiên giới.” Bấy giờ, vị đại thần có đức tin non trẻ ấy nghĩ: “Thật là lợi lạc cho ta, thật là điều tốt đẹp cho ta, thật là ta đã tạo ra nhiều công đức, thật là ta đã hướng đến thiên giới” — nên hoan hỷ, phấn khởi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi ra về. Khi ấy, nhân sự việc này, Đức Thế Tôn đã cho hội chúng Tỳ-khưu tụ họp lại rồi hỏi các vị Tỳ-khưu: “Này các Tỳ-khưu, có thật là các Tỳ-khưu, khi đã được thỉnh mời ở nơi khác, lại dùng cháo đặc của người khác không?” “Bạch Đức Thế Tôn, đúng như vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách... (vân vân)... “Này các Tỳ-khưu, tại sao những kẻ rồ dại kia, khi đã được thỉnh mời ở nơi khác, lại dùng cháo đặc của người khác? Này các Tỳ-khưu, việc này không đem lại niềm tin cho những người chưa có đức tin... (vân vân)...” Sau khi khiển trách, giảng pháp thoại, Ngài đã bảo các Tỳ-khưu: “Này các Tỳ-khưu, vị đã được thỉnh mời ở nơi khác không nên dùng cháo đặc của người khác. Vị nào dùng, nên được xử lý theo Pháp.”
13. Belaṭṭhakaccānavatthu
13. The account of Belaṭṭha Kaccāna
172. Câu chuyện về Belaṭṭha Kaccāna
Atha kho bhagavā andhakavinde yathābhirantaṁ viharitvā yena rājagahaṁ tena cārikaṁ pakkāmi, mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ, aḍḍhatelasehi bhikkhusatehi. Tena kho pana samayena belaṭṭho kaccāno rājagahā andhakavindaṁ addhānamaggappaṭipanno hoti, pañcamattehi sakaṭasatehi, sabbeheva guḷakumbhapūrehi. Addasā kho bhagavā belaṭṭhaṁ kaccānaṁ dūratova āgacchantaṁ, disvāna maggā okkamma aññatarasmiṁ rukkhamūle nisīdi.
Atha kho belaṭṭho kaccāno yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho belaṭṭho kaccāno bhagavantaṁ etadavoca—“icchāmahaṁ, bhante, ekamekassa bhikkhuno ekamekaṁ guḷakumbhaṁ dātun”ti.
“Tena hi tvaṁ, kaccāna, ekaṁyeva guḷakumbhaṁ āharā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho belaṭṭho kaccāno bhagavato paṭissuṇitvā ekaṁyeva guḷakumbhaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca—“ābhato, bhante, guḷakumbho; kathāhaṁ, bhante, paṭipajjāmī”ti?
“Tena hi tvaṁ, kaccāna, bhikkhūnaṁ guḷaṁ dehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho belaṭṭho kaccāno bhagavato paṭissuṇitvā bhikkhūnaṁ guḷaṁ datvā bhagavantaṁ etadavoca—“dinno, bhante, bhikkhūnaṁ guḷo, bahu cāyaṁ guḷo avasiṭṭho. Kathāhaṁ, bhante, paṭipajjāmī”ti?
“Tena hi tvaṁ, kaccāna, bhikkhūnaṁ guḷaṁ yāvadatthaṁ dehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho belaṭṭho kaccāno bhagavato paṭissuṇitvā bhikkhūnaṁ guḷaṁ yāvadatthaṁ datvā bhagavantaṁ etadavoca—“dinno, bhante, bhikkhūnaṁ guḷo yāvadattho, bahu cāyaṁ guḷo avasiṭṭho. Kathāhaṁ, bhante, paṭipajjāmī”ti?
“Tena hi tvaṁ, kaccāna, bhikkhū guḷehi santappehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho belaṭṭho kaccāno bhagavato paṭissuṇitvā bhikkhū guḷehi santappesi. Ekacce bhikkhū pattepi pūresuṁ parissāvanānipi thavikāyopi pūresuṁ. Atha kho belaṭṭho kaccāno bhikkhū guḷehi santappetvā bhagavantaṁ etadavoca—“santappitā, bhante, bhikkhū guḷehi, bahu cāyaṁ guḷo avasiṭṭho. Kathāhaṁ, bhante, paṭipajjāmī”ti?
“Tena hi tvaṁ, kaccāna, vighāsādānaṁ guḷaṁ dehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho belaṭṭho kaccāno bhagavato paṭissuṇitvā vighāsādānaṁ guḷaṁ datvā bhagavantaṁ etadavoca—“dinno, bhante, vighāsādānaṁ guḷo, bahu cāyaṁ guḷo avasiṭṭho. Kathāhaṁ, bhante, paṭipajjāmī”ti?
“Tena hi tvaṁ, kaccāna, vighāsādānaṁ guḷaṁ yāvadatthaṁ dehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho belaṭṭho kaccāno bhagavato paṭissuṇitvā vighāsādānaṁ guḷaṁ yāvadatthaṁ datvā bhagavantaṁ etadavoca—“dinno, bhante, vighāsādānaṁ guḷo yāvadattho, bahu cāyaṁ guḷo avasiṭṭho. Kathāhaṁ, bhante, paṭipajjāmī”ti?
“Tena hi tvaṁ, kaccāna, vighāsāde guḷehi santappehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho belaṭṭho kaccāno bhagavato paṭissuṇitvā vighāsāde guḷehi santappesi. Ekacce vighāsādā kolambepi ghaṭepi pūresuṁ, piṭakānipi ucchaṅgepi pūresuṁ. Atha kho belaṭṭho kaccāno vighāsāde guḷehi santappetvā bhagavantaṁ etadavoca—“santappitā, bhante, vighāsādā guḷehi, bahu cāyaṁ guḷo avasiṭṭho. Kathāhaṁ, bhante, paṭipajjāmī”ti?
“Nāhaṁ taṁ, kaccāna, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya yassa so guḷo paribhutto sammā pariṇāmaṁ gaccheyya, aññatra tathāgatassa vā tathāgatasāvakassa vā. Tena hi tvaṁ, kaccāna, taṁ guḷaṁ appaharite vā chaḍḍehi, appāṇake vā udake opilāpehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho belaṭṭho kaccāno bhagavato paṭissuṇitvā taṁ guḷaṁ appāṇake udake opilāpeti. Atha kho so guḷo udake pakkhitto cicciṭāyati ciṭiciṭāyati padhūpāyati sampadhūpāyati. Seyyathāpi nāma phālo divasaṁsantatto udake pakkhitto cicciṭāyati ciṭiciṭāyati padhūpāyati sampadhūpāyati; evameva so guḷo udake pakkhitto cicciṭāyati ciṭiciṭāyati padhūpāyati sampadhūpāyati.
When the Buddha had stayed at Andhakavinda for as long as he liked, he set out wandering toward Rājagaha together with a large sangha of twelve-hundred and fifty monks. Just then Belaṭṭha Kaccāna was traveling from Rājagaha to Andhakavinda with five hundred carts, all of them filled with jars of sugar. When the Buddha saw Belaṭṭha Kaccāna coming, he stepped off the road and sat down at the foot of a tree.
Belaṭṭha Kaccāna went up to the Buddha, bowed, and said, “Sir, I would like to give one jar of sugar to each and every monk.”
“Well then, Kaccāna, just bring one jar of sugar.”
Saying, “Yes, sir,” he got a jar of sugar, returned to the Buddha, and said, “Here is the jar. What should I do next?”
“Now give sugar to the monks.”
Saying, “Yes, sir,” he did just that. He then said to the Buddha, “I’ve given sugar to the monks, but there’s much left over. What should I do with that?”
“Give the monks as much sugar as they need.”
Saying, “Yes, sir,” he did as requested. He then said to the Buddha, “I’ve given the monks as much sugar as they need, but there’s much left over. What should I do with that?”
“Give the monks as much sugar as they want.”
Saying, “Yes, sir,” he again did as requested. Some monks filled their almsbowls and even their water filters and bags. When he was finished, he said to the Buddha, “I’ve given the monks as much sugar as they want, but there’s much left over. What should I do with that?”
“Give to those who live on scraps.”
Saying, “Yes, sir,” he again did as requested. He then said to the Buddha, “I’ve given them sugar, but there’s much left over. What should I do with that?”
“Give them as much sugar as they need.”
Saying, “Yes, sir,” he again did as requested. He then said to the Buddha, “I’ve given them as much sugar as they need, but there’s much left over. What should I do with that?”
“Give them as much sugar as they want.”
Saying, “Yes, sir,” he once again did as requested. Some of those who lived on scraps filled basins, waterpots, and baskets, and some even their laps. When he was finished, he said to the Buddha, “I’ve given them as much sugar as they want, but there’s much left over. What should I do with that?”
“Kaccāna, I don’t see anyone in this world with its gods, lords of death, and supreme beings, in this society with its monastics and brahmins, its gods and humans, who would be able to properly digest that sugar except a Buddha or his disciple. So discard that sugar where there are no cultivated plants or in water without life.”
Saying, “Yes, sir,” he dumped that sugar in water without life. As he did so, that sugar hissed, sputtered, fumed, and smoked—just like a plowshare heated the whole day hisses, sputters, fumes, and smokes when dropped in water.
284. Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi đã an trú tại Andhakavinda tùy theo ý thích, đã khởi hành du hành đến Rājagaha cùng với đại chúng Tỳ-khưu đông đảo, gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-khưu. Vào lúc ấy, Belaṭṭha Kaccāna đang đi trên con đường dài từ Rājagaha đến Andhakavinda với khoảng năm trăm cỗ xe, tất cả đều chở đầy những hũ mật đường. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy Belaṭṭha Kaccāna đang đi đến từ xa, sau khi thấy vậy, Ngài đã rời khỏi con đường và ngồi xuống dưới gốc một cây nọ. Bấy giờ, Belaṭṭha Kaccāna đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, Belaṭṭha Kaccāna đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, con muốn cúng dường mỗi vị Tỳ-khưu một hũ mật đường.” – “Này Kaccāna, nếu vậy, ngươi hãy chỉ mang đến một hũ mật đường thôi.” – “Xin vâng, bạch ngài.” Belaṭṭha Kaccāna vâng theo lời đức Thế Tôn, rồi lấy chỉ một hũ mật đường và đi đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến, đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, hũ mật đường đã được mang đến. Bạch ngài, con nên làm thế nào?” – “Này Kaccāna, nếu vậy, ngươi hãy cúng dường mật đường cho các vị Tỳ-khưu.” – “Xin vâng, bạch ngài.” Belaṭṭha Kaccāna vâng theo lời đức Thế Tôn, rồi cúng dường mật đường cho các vị Tỳ-khưu và bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, mật đường đã được cúng dường đến các vị Tỳ-khưu, và mật đường này vẫn còn dư lại nhiều. Bạch ngài, con nên làm thế nào?” – “Này Kaccāna, nếu vậy, ngươi hãy cúng dường mật đường cho các vị Tỳ-khưu tùy theo nhu cầu của họ.” – “Xin vâng, bạch ngài.” Belaṭṭha Kaccāna vâng theo lời đức Thế Tôn, rồi cúng dường mật đường cho các vị Tỳ-khưu tùy theo nhu cầu của họ và bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, mật đường đã được cúng dường đến các vị Tỳ-khưu tùy theo nhu cầu của họ, và mật đường này vẫn còn dư lại nhiều. Bạch ngài, con nên làm thế nào?” – “Này Kaccāna, nếu vậy, ngươi hãy làm cho các vị Tỳ-khưu được thỏa mãn với mật đường.” – “Xin vâng, bạch ngài.” Belaṭṭha Kaccāna vâng theo lời đức Thế Tôn, rồi làm cho các vị Tỳ-khưu được thỏa mãn với mật đường. Một số vị Tỳ-khưu đã đổ đầy cả bình bát, một số đổ đầy cả túi lọc nước và các túi vải. Bấy giờ, sau khi đã làm cho các vị Tỳ-khưu được thỏa mãn với mật đường, Belaṭṭha Kaccāna đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, các vị Tỳ-khưu đã được thỏa mãn với mật đường, và mật đường này vẫn còn dư lại nhiều. Bạch ngài, con nên làm thế nào?” – “Này Kaccāna, nếu vậy, ngươi hãy cho mật đường đến những người hầu cận.” – “Xin vâng, bạch ngài.” Belaṭṭha Kaccāna vâng theo lời đức Thế Tôn, rồi cho mật đường đến những người hầu cận và bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, mật đường đã được cho đến những người hầu cận, và mật đường này vẫn còn dư lại nhiều. Bạch ngài, con nên làm thế nào?” – “Này Kaccāna, nếu vậy, ngươi hãy cho mật đường đến những người hầu cận tùy theo nhu cầu của họ.” – “Xin vâng, bạch ngài.” Belaṭṭha Kaccāna vâng theo lời đức Thế Tôn, rồi cho mật đường đến những người hầu cận tùy theo nhu cầu của họ và bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, mật đường đã được cho đến những người hầu cận tùy theo nhu cầu của họ, và mật đường này vẫn còn dư lại nhiều. Bạch ngài, con nên làm thế nào?” – “Này Kaccāna, nếu vậy, ngươi hãy làm cho những người hầu cận được thỏa mãn với mật đường.” – “Xin vâng, bạch ngài.” Belaṭṭha Kaccāna vâng theo lời đức Thế Tôn, rồi làm cho những người hầu cận được thỏa mãn với mật đường. Một số người hầu cận đã đổ đầy cả chậu, cả hũ, một số đổ đầy cả giỏ và cả vạt áo. Bấy giờ, sau khi đã làm cho những người hầu cận được thỏa mãn với mật đường, Belaṭṭha Kaccāna đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, những người hầu cận đã được thỏa mãn với mật đường, và mật đường này vẫn còn dư lại nhiều. Bạch ngài, con nên làm thế nào?” – “Này Kaccāna, Ta không thấy một ai trong thế giới này gồm có chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, trong chúng sanh này gồm có Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, mà mật đường này, sau khi được người ấy dùng, có thể được tiêu hóa một cách trọn vẹn, ngoại trừ Như Lai hoặc đệ tử của Như Lai. Do đó, này Kaccāna, ngươi hãy vứt bỏ mật đường ấy ở nơi không có cỏ xanh, hoặc hãy đổ nó xuống nước không có chúng sanh.” – “Xin vâng, bạch ngài.” Belaṭṭha Kaccāna vâng theo lời đức Thế Tôn, rồi đổ mật đường ấy xuống nước không có chúng sanh. Bấy giờ, mật đường ấy, khi được đổ xuống nước, đã kêu lên xèo xèo, xì xì, bốc khói và tỏa hơi nghi ngút. Ví như một lưỡi cày được nung nóng cả ngày, khi được nhúng vào nước, cũng kêu lên xèo xèo, xì xì, bốc khói và tỏa hơi nghi ngút; cũng giống như thế, mật đường ấy khi được đổ xuống nước, đã kêu lên xèo xèo, xì xì, bốc khói và tỏa hơi nghi ngút.
Atha kho belaṭṭho kaccāno saṁviggo lomahaṭṭhajāto yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnassa kho belaṭṭhassa kaccānassa bhagavā anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ, kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ, nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi. Yadā bhagavā aññāsi belaṭṭhaṁ kaccānaṁ kallacittaṁ, muducittaṁ, vinīvaraṇacittaṁ, udaggacittaṁ, pasannacittaṁ, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā, taṁ pakāsesi …pe… evameva belaṭṭhassa kaccānassa tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi—“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ, sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Atha kho belaṭṭho kaccāno diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane bhagavantaṁ etadavoca—“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya …pe… evamevaṁ kho bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi, dhammañca, bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇagatan”ti.
Belaṭṭha Kaccāna was awestruck, with goose bumps all over. He approached the Buddha, bowed, and sat down. The Buddha then gave him a progressive talk—on generosity, morality, and heaven; on the downside, degradation, and defilement of worldly pleasures; and he revealed the benefits of renunciation. When the Buddha knew that his mind was ready, supple, without hindrances, joyful, and confident, he revealed the teaching unique to the Buddhas: suffering, its origin, its end, and the path. And just as a clean and stainless cloth absorbs dye properly, so too, while he was sitting right there, Belaṭṭha Kaccāna experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.”
He had seen the Truth, had reached, understood, and penetrated it. He had gone beyond doubt and uncertainty, had attained to confidence, and had become independent of others in the Teacher’s instruction. He then said to the Buddha, “Wonderful, sir, wonderful! Just as one might set upright what’s overturned, or reveal what’s hidden, or show the way to one who’s lost, or bring a lamp into the dark so that one with eyes might see what’s there—just so has the Buddha made the Teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, the Teaching, and the Sangha of monks. Please accept me as a lay follower who’s gone for refuge for life.”
Bấy giờ, Belaṭṭha Kaccāna, tâm trạng kinh cảm, lông tóc dựng đứng, đi đến nơi đức Thế Tôn đang ở; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi Belaṭṭha Kaccāna đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn thuyết cho vị ấy bài pháp tuần tự, tức là: thuyết về bố thí, thuyết về giới hạnh, thuyết về cõi trời; Ngài trình bày về sự nguy hại, sự thấp kém, sự ô uế của các dục vọng, và về lợi ích của sự xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết rằng Belaṭṭha Kaccāna đã có tâm sẵn sàng, tâm nhu nhuyến, tâm không còn chướng ngại, tâm phấn khởi, tâm trong sạch, bấy giờ Ngài trình bày bài pháp mà chư Phật đã tự mình liễu tri... ... Cũng vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không còn bụi bặm, không còn cấu uế đã khởi lên cho Belaṭṭha Kaccāna: ‘Bất cứ pháp nào có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có diệt tận.’ Bấy giờ, Belaṭṭha Kaccāna, đã thấy Pháp, đã đạt đến Pháp, đã liễu tri Pháp, đã thâm nhập Pháp, đã vượt qua hoài nghi, đã hết phân vân, đã đạt đến sự vững tin, không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư, đã bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Thật vi diệu, bạch đức Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch đức Thế Tôn! Ví như, bạch đức Thế Tôn, người ta có thể dựng đứng lại vật đã bị lật úp... ... Cũng vậy, bạch đức Thế Tôn, Chánh pháp đã được đức Thế Tôn trình bày bằng nhiều phương tiện. Bạch đức Thế Tôn, con xin quy y đức Thế Tôn, quy y Pháp, và quy y Tăng chúng. Mong đức Thế Tôn xem con là người cận sự nam đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời.’
Atha kho bhagavā anupubbena cārikaṁ caramāno yena rājagahaṁ tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena rājagahe guḷo ussanno hoti. Bhikkhū—“gilānasseva bhagavatā guḷo anuññāto, no agilānassā”ti—kukkuccāyantā guḷaṁ na bhuñjanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gilānassa guḷaṁ, agilānassa guḷodakan”ti.
The Buddha then continued wandering toward Rājagaha. When he eventually arrived, he stayed in the Bamboo Grove, the squirrel sanctuary. At that time there was an abundance of sugar in Rājagaha. The monks thought, “The Buddha has only allowed sugar for the sick,” and being afraid of wrongdoing, they did not eat it.
“I allow you to take sugar when you’re sick and sugar mixed in water when you’re not.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn tuần tự du hành, đã đi đến thành Rājagaha. Tại đó, đức Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, ở thành Rājagaha có rất nhiều đường mật. Các vị tỳ khưu, do dự rằng: ‘Đức Thế Tôn chỉ cho phép dùng đường mật đối với người bệnh, không cho phép đối với người không bệnh,’ nên đã không dùng đường mật. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng đường mật đối với người bệnh, và nước đường mật đối với người không bệnh.’
14. Pāṭaligāmavatthu
14. Pāṭaligāma
173. Câu chuyện về làng Pāṭali
Atha kho bhagavā rājagahe yathābhirantaṁ viharitvā yena pāṭaligāmo tena cārikaṁ pakkāmi, mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ aḍḍhatelasehi bhikkhusatehi. Atha kho bhagavā anupubbena cārikaṁ caramāno yena pāṭaligāmo tadavasari.
Assosuṁ kho pāṭaligāmikā upāsakā—“bhagavā kira pāṭaligāmaṁ anuppatto”ti. Atha kho pāṭaligāmikā upāsakā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho pāṭaligāmike upāsake bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi, samādapesi, samuttejesi, sampahaṁsesi. Atha kho pāṭaligāmikā upāsakā bhagavatā dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā bhagavantaṁ etadavocuṁ—“adhivāsetu no, bhante, bhagavā āvasathāgāraṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho pāṭaligāmikā upāsakā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena āvasathāgāraṁ tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā sabbasanthariṁ āvasathāgāraṁ santharitvā, āsanāni paññapetvā, udakamaṇikaṁ patiṭṭhāpetvā, telapadīpaṁ āropetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho pāṭaligāmikā upāsakā bhagavantaṁ etadavocuṁ—“sabbasantharisanthataṁ, bhante, āvasathāgāraṁ. Āsanāni paññattāni. Udakamaṇiko patiṭṭhāpito. Telapadīpo āropito. Yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
When the Buddha had stayed at Rājagaha for as long as he liked, he set out wandering toward Pāṭaligāma with a large sangha of twelve-hundred and fifty monks. When he eventually arrived, he stayed there.
When the lay followers of Pāṭaligāma heard that he had arrived, they went to see him, bowed, and sat down on one side. The Buddha instructed, inspired, and gladdened them with a teaching. They then said to the Buddha, “Sir, please visit our guesthouse together with the Sangha of monks.” The Buddha consented by remaining silent. Knowing that he had consented, they got up from their seats, bowed down, and circumambulated him with their right sides toward him. They then went to the guesthouse, spread mats on the floor, prepared seats, put out a large waterpot, and hung up an oil lamp, after which they returned to the Buddha, bowed, and told him that everything was prepared, adding, “Sir, please come when you’re ready.”
285. Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi đã trú ở thành Rājagaha tùy theo ý muốn, đã lên đường du hành đến làng Pāṭali cùng với đại chúng tỳ khưu, với một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu. Bấy giờ, đức Thế Tôn tuần tự du hành, đã đi đến làng Pāṭali. Các vị cận sự nam ở làng Pāṭali đã nghe rằng: ‘Nghe nói đức Thế Tôn đã đến làng Pāṭali.’ Bấy giờ, các vị cận sự nam ở làng Pāṭali đi đến nơi đức Thế Tôn đang ở; sau khi đến, họ đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi các vị cận sự nam ở làng Pāṭali đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ bằng bài pháp thoại. Bấy giờ, các vị cận sự nam ở làng Pāṭali, sau khi được đức Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ bằng bài pháp thoại, đã bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch đức Thế Tôn, mong đức Thế Tôn cùng với Tăng chúng tỳ khưu nhận lời mời đến nhà nghỉ của chúng con.’ Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng. Bấy giờ, các vị cận sự nam ở làng Pāṭali, biết được sự nhận lời của đức Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh bên phải, rồi đi đến nhà nghỉ. Sau khi đến, họ trải khắp nhà nghỉ, chuẩn bị các chỗ ngồi, đặt một bình nước, và thắp một ngọn đèn dầu. Rồi họ đi đến nơi đức Thế Tôn đang ở; sau khi đến, họ đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, các vị cận sự nam ở làng Pāṭali đã bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch đức Thế Tôn, nhà nghỉ đã được trải khắp. Các chỗ ngồi đã được chuẩn bị. Bình nước đã được đặt. Đèn dầu đã được thắp. Bạch đức Thế Tôn, nay đức Thế Tôn hãy xem xét thời điểm thích hợp.’
Atha kho bhagavā nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena āvasathāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā pāde pakkhāletvā āvasathāgāraṁ pavisitvā majjhimaṁ thambhaṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi. Bhikkhusaṅghopi kho pāde pakkhāletvā āvasathāgāraṁ pavisitvā pacchimaṁ bhittiṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi, bhagavantaṁyeva purakkhatvā. Pāṭaligāmikāpi kho upāsakā pāde pakkhāletvā āvasathāgāraṁ pavisitvā puratthimaṁ bhittiṁ nissāya pacchimābhimukhā nisīdiṁsu, bhagavantaṁyeva purakkhatvā. Atha kho bhagavā pāṭaligāmike upāsake āmantesi—
“Pañcime, gahapatayo, ādīnavā dussīlassa sīlavipattiyā. Katame pañca?
The Buddha robed up, took his bowl and robe, and went to the guesthouse together with the Sangha of monks. He washed his feet, entered the guesthouse, and sat down facing east, leaning on the central pillar. The monks washed their feet too, entered the guesthouse, and sat down facing east with the Buddha in front of them, leaning against the western wall. The lay followers of Pāṭaligāma followed suit and sat down facing west with the Buddha in front of them, leaning against the eastern wall. The Buddha then addressed those lay followers:
“There are these five dangers for one who is immoral because of failure in morality.
Bấy giờ, đức Thế Tôn đắp y, cầm y bát, cùng với Tăng chúng tỳ khưu đi đến nhà nghỉ; sau khi đến, Ngài rửa chân, đi vào nhà nghỉ, và ngồi xuống dựa vào cột trụ ở giữa, mặt hướng về phía đông. Tăng chúng tỳ khưu cũng rửa chân, đi vào nhà nghỉ, và ngồi xuống dựa vào bức tường phía tây, mặt hướng về phía đông, với đức Thế Tôn ở phía trước. Các vị cận sự nam ở làng Pāṭali cũng rửa chân, đi vào nhà nghỉ, và ngồi xuống dựa vào bức tường phía đông, mặt hướng về phía tây, với đức Thế Tôn ở phía trước. Bấy giờ, đức Thế Tôn gọi các vị cận sự nam ở làng Pāṭali:
Này các gia chủ, có năm sự nguy hại này cho người ác giới, do giới bị hư hoại. Thế nào là năm? Này các gia chủ, ở đây, người ác giới, giới bị hư hoại, do nhân phóng dật, phải chịu sự tổn thất lớn về tài sản. Đây là sự nguy hại thứ nhất cho người ác giới, do giới bị hư hoại. Lại nữa, này các gia chủ, người ác giới, giới bị hư hoại, tiếng xấu đồn xa. Đây là sự nguy hại thứ hai cho người ác giới, do giới bị hư hoại. Lại nữa, này các gia chủ, người ác giới, giới bị hư hoại, khi đi vào bất cứ hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-lợi, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn, người ấy đi vào không tự tin, với tâm trạng bối rối. Đây là sự nguy hại thứ ba cho người ác giới, do giới bị hư hoại. Lại nữa, này các gia chủ, người ác giới, giới bị hư hoại, khi chết, tâm bị mê loạn. Đây là sự nguy hại thứ tư cho người ác giới, do giới bị hư hoại. Lại nữa, này các gia chủ, người ác giới, giới bị hư hoại, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Đây là sự nguy hại thứ năm cho người ác giới, do giới bị hư hoại. Này các gia chủ, đây là năm sự nguy hại cho người ác giới, do giới bị hư hoại.
Pañcime, gahapatayo, ānisaṁsā sīlavato sīlasampadāya. Katame pañca? Idha, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno appamādādhikaraṇaṁ mahantaṁ bhogakkhandhaṁ adhigacchati. Ayaṁ paṭhamo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya. Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavato sīlasampannassa kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchati. Ayaṁ dutiyo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya. Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno yaññadeva parisaṁ upasaṅkamati, yadi khattiyaparisaṁ, yadi brāhmaṇaparisaṁ, yadi gahapatiparisaṁ, yadi samaṇaparisaṁ, visārado upasaṅkamati amaṅkubhūto. Ayaṁ tatiyo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya. Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno asammūḷho kālaṁ karoti. Ayaṁ catuttho ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya. Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati. Ayaṁ pañcamo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya. Ime kho, gahapatayo, pañca ānisaṁsā sīlavato sīlasampadāyā”ti.
There are these five benefits for one who is moral because of success in morality. Because of heedfulness, they gain much wealth. They get a good reputation. Whenever they come to a gathering of people—whether a gathering of aristocrats, brahmins, householders, or monastics—they are confident and self-assured. They die with a clear mind. After death, they are reborn in heaven.”
Này các gia chủ, có năm lợi ích này cho người có giới, do giới được đầy đủ. Thế nào là năm? Này các gia chủ, ở đây, người có giới, giới được đầy đủ, do nhân không phóng dật, được hưởng khối tài sản lớn. Đây là lợi ích thứ nhất cho người có giới, do giới được đầy đủ. Lại nữa, này các gia chủ, người có giới, giới được đầy đủ, tiếng tốt đồn xa. Đây là lợi ích thứ hai cho người có giới, do giới được đầy đủ. Lại nữa, này các gia chủ, người có giới, giới được đầy đủ, khi đi vào bất cứ hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-lợi, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn, người ấy đi vào tự tin, không bối rối. Đây là lợi ích thứ ba cho người có giới, do giới được đầy đủ. Lại nữa, này các gia chủ, người có giới, giới được đầy đủ, khi chết, tâm không mê loạn. Đây là lợi ích thứ tư cho người có giới, do giới được đầy đủ. Lại nữa, này các gia chủ, người có giới, giới được đầy đủ, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, thiên giới. Đây là lợi ích thứ năm cho người có giới, do giới được đầy đủ. Này các gia chủ, đây là năm lợi ích cho người có giới, do giới được đầy đủ.
Atha kho bhagavā pāṭaligāmike upāsake bahudeva rattiṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uyyojesi—“abhikkantā kho, gahapatayo, ratti. Yassadāni tumhe kālaṁ maññathā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti, kho pāṭaligāmikā upāsakā bhagavato paṭissuṇitvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu. Atha kho bhagavā acirapakkantesu pāṭaligāmikesu upāsakesu suññāgāraṁ pāvisi.
The Buddha instructed, inspired, and gladdened them by teaching for much of the night. He then dismissed them, saying, “It’s late. Please go when you’re ready.”
Saying, “Yes, sir,” they got up from their seats, bowed down, circumambulated him with their right sides toward him, and left. Soon after the lay followers of Pāṭaligāma had left, the Buddha entered an empty cubicle.
Khi ấy, Thế Tôn sau khi dùng pháp thoại chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các nam cư sĩ ở làng Pāṭali suốt một thời gian dài trong đêm, rồi cho họ ra về: “Này các gia chủ, đêm đã gần tàn. Nay các ông hãy làm những gì các ông nghĩ là phải thời.” “Vâng, bạch Thế Tôn.” Các nam cư sĩ ở làng Pāṭali vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh phía bên phải rồi ra về. Khi ấy, không bao lâu sau khi các nam cư sĩ ở làng Pāṭali ra về, Thế Tôn đi vào ngôi nhà trống.
15. Sunidhavassakāravatthu
15. Sunidha and Vassakāra
174. Câu chuyện về Sunidha và Vassakāra
Tena kho pana samayena sunidhavassakārā magadhamahāmattā pāṭaligāme nagaraṁ māpenti vajjīnaṁ paṭibāhāya. Addasā kho bhagavā rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena sambahulā devatāyo pāṭaligāme vatthūni pariggaṇhantiyo. Yasmiṁ padese mahesakkhā devatā vatthūni pariggaṇhanti, mahesakkhānaṁ tattha rājūnaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ. Yasmiṁ padese majjhimā devatā vatthūni pariggaṇhanti, majjhimānaṁ tattha rājūnaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ. Yasmiṁ padese nīcā devatā vatthūni pariggaṇhanti, nīcānaṁ tattha rājūnaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi—“ke nu kho te, ānanda, pāṭaligāme nagaraṁ māpentī”ti?
“Sunidhavassakārā, bhante, magadhamahāmattā pāṭaligāme nagaraṁ māpenti vajjīnaṁ paṭibāhāyā”ti.
“Seyyathāpi, ānanda, devehi tāvatiṁsehi saddhiṁ mantetvā; evameva kho, ānanda, sunidhavassakārā magadhamahāmattā pāṭaligāme nagaraṁ māpenti vajjīnaṁ paṭibāhāya. Idhāhaṁ, ānanda, rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya addasaṁ dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena sambahulā devatāyo pāṭaligāme vatthūni pariggaṇhantiyo. Yasmiṁ padese mahesakkhā devatā vatthūni pariggaṇhanti, mahesakkhānaṁ tattha rājūnaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ. Yasmiṁ padese majjhimā devatā vatthūni pariggaṇhanti, majjhimānaṁ tattha rājūnaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ. Yasmiṁ padese nīcā devatā vatthūni pariggaṇhanti, nīcānaṁ tattha rājūnaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ. Yāvatā, ānanda, ariyaṁ āyatanaṁ, yāvatā vaṇippatho, idaṁ agganagaraṁ bhavissati pāṭaliputtaṁ puṭabhedanaṁ. Pāṭaliputtassa kho, ānanda, tayo antarāyā bhavissanti—aggito vā udakato vā abbhantarato vā mithubhedā”ti.
At that time Sunidha and Vassakāra, the government officials of Magadha, were building a fortress at Pāṭaligāma to defend against the Vajjians. The Buddha got up early in the morning and, with his superhuman and purified clairvoyance, he saw a number of gods taking possession of sites around Pāṭaligāma. And wherever powerful gods took possession of a site was where powerful kings and government officials tended to build their houses. Wherever gods of middle standing took possession of a site was where the kings and government officials of middle standing tended to build their houses. Wherever the lower ranked gods took possession of a site was where the lower ranked kings and government officials tended to build their houses.
The Buddha said to Venerable Ānanda, “Who’s building a fortress in Pāṭaligāma?”
“Sunidha and Vassakāra, sir.”
“They are building the fortress, Ānanda, as if they had consulted with the Tāvatiṁsa gods.” The Buddha told Ānanda what he had seen, adding, “As far, Ānanda, as the extent of the Indian realm, as far as the routes of commerce, Pāṭaliputta will be the chief city, the destination for merchandise. And there will be three dangers for Pāṭaliputta: fire, water, and internal dissent.”
286. Vào lúc bấy giờ, các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra đang xây dựng một thành phố ở làng Pāṭali để chống lại dân Vajjī. Thế Tôn, sau khi thức dậy vào lúc rạng đông, gần sáng, đã nhìn thấy với thiên nhãn thanh tịnh, vượt ngoài tầm mắt của người thường, rất nhiều chư thiên đang chiếm giữ các khu đất ở làng Pāṭali. Ở vùng đất nào có các chư thiên đầy quyền năng chiếm giữ, thì tâm của các vị vua và các vị đại thần đầy quyền năng cũng hướng về việc xây dựng dinh thự ở nơi ấy. Ở vùng đất nào có các chư thiên bậc trung chiếm giữ, thì tâm của các vị vua và các vị đại thần bậc trung cũng hướng về việc xây dựng dinh thự ở nơi ấy. Ở vùng đất nào có các chư thiên bậc thấp chiếm giữ, thì tâm của các vị vua và các vị đại thần bậc thấp cũng hướng về việc xây dựng dinh thự ở nơi ấy. Khi ấy, Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda và hỏi: – Này Ānanda, ai đang xây dựng thành phố ở làng Pāṭali vậy? – Bạch Thế Tôn, các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra đang xây dựng một thành phố ở làng Pāṭali để chống lại dân Vajjī. – Này Ānanda, cũng giống như thể họ đã bàn bạc với chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba vậy, này Ānanda, các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra đang xây dựng một thành phố ở làng Pāṭali để chống lại dân Vajjī. Này Ānanda, chính tại nơi đây, sau khi thức dậy vào lúc rạng đông, gần sáng, Ta đã nhìn thấy với thiên nhãn thanh tịnh, vượt ngoài tầm mắt của người thường, rất nhiều chư thiên đang chiếm giữ các khu đất ở làng Pāṭali. Ở vùng đất nào có các chư thiên đầy quyền năng chiếm giữ, thì tâm của các vị vua và các vị đại thần đầy quyền năng cũng hướng về việc xây dựng dinh thự ở nơi ấy. Ở vùng đất nào có các chư thiên bậc trung chiếm giữ, thì tâm của các vị vua và các vị đại thần bậc trung cũng hướng về việc xây dựng dinh thự ở nơi ấy. Ở vùng đất nào có các chư thiên bậc thấp chiếm giữ, thì tâm của các vị vua và các vị đại thần bậc thấp cũng hướng về việc xây dựng dinh thự ở nơi ấy. Này Ānanda, trong phạm vi của vùng đất các bậc Thánh, trong phạm vi của con đường thương mại, đây sẽ là thành phố hàng đầu, Pāṭaliputta, một nơi để mở hàng hóa. Này Ānanda, sẽ có ba mối nguy hiểm cho Pāṭaliputta: do lửa, do nước, hoặc do sự chia rẽ nội bộ.
Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavantaṁ etadavocuṁ—“adhivāsetu no bhavaṁ gotamo ajjatanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā pakkamiṁsu.
Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesuṁ—“kālo, bho gotama, niṭṭhitaṁ bhattan”ti. Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena sunidhavassakārānaṁ magadhamahāmattānaṁ parivesanā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena. Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho sunidhavassakāre magadhamahāmatte bhagavā imāhi gāthāhi anumodi—
Sunidha and Vassakāra then went to the Buddha and exchanged pleasantries with him, adding, “Please accept tomorrow’s meal from us together with the Sangha of monks.” The Buddha consented by remaining silent. Knowing that he had consented, they left.
Having had various kinds of fine foods prepared, they had the Buddha informed that the meal was ready. The Buddha robed up, took his bowl and robe, and went to Sunidha and Vassakāra’s meal offering where he sat down on the prepared seat together with the Sangha of monks. Sunidha and Vassakāra then personally served various kinds of fine foods to the Sangha of monks headed by the Buddha. When the Buddha had finished his meal, they sat down to one side. And the Buddha expressed his appreciation with these verses:
Khi ấy, các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến nơi, họ đã cùng Thế Tôn trao đổi những lời chào hỏi thân mật; sau khi đã nói xong những lời thăm hỏi đáng ghi nhớ, họ đứng sang một bên. Sau khi đứng sang một bên, các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra đã bạch với Thế Tôn rằng: – Mong Tôn giả Gotama cùng với Tăng chúng nhận lời mời dùng bữa của chúng tôi vào ngày mai. Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng. Khi ấy, các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra, sau khi biết được sự chấp thuận của Thế Tôn, đã cáo lui. Khi ấy, các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra, sau khi đã cho chuẩn bị các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, đã cho người báo thời gian đến Thế Tôn: – Thưa Tôn giả Gotama, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng. Khi ấy, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát và y, đi đến nơi thết đãi của các vị đại thần xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra; sau khi đến nơi, Ngài ngồi xuống trên chỗ đã được soạn sẵn cùng với Tăng chúng. Khi ấy, các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra đã tự tay phục vụ và làm cho Tăng chúng với Đức Phật dẫn đầu được mãn nguyện với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cho đến khi các vị ra dấu đã đủ. Khi Thế Tôn đã dùng bữa xong, tay đã rời khỏi bát, họ ngồi xuống một bên. Khi các vị đại thần của xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra đang ngồi một bên, Thế Tôn đã tùy hỷ với họ bằng những câu kệ này:
“Yasmiṁ padese kappeti, vāsaṁ paṇḍitajātiyo; Sīlavantettha bhojetvā, saññate brahmacārayo.
“In whatever place The wise decide to live, There they feed the virtuous, The restrained monastics.
“Tại nơi nào người trí trú ngụ, sau khi cúng dường tại đấy cho những vị có giới hạnh, tự chế, sống đời phạm hạnh,
Yā tattha devatā āsuṁ, tāsaṁ dakkhiṇamādise; Tā pūjitā pūjayanti, mānitā mānayanti naṁ.
One should dedicate the offering To whatever gods are there. Being revered and honored, They return the favor to you.
“Vị ấy nên hồi hướng công đức cho các chư thiên ở nơi ấy. Được cúng dường, họ sẽ cúng dường lại; được tôn trọng, họ sẽ tôn trọng lại vị ấy.
Tato naṁ anukampanti, mātā puttaṁva orasaṁ; Devatānukampito poso, sadā bhadrāni passatī”ti.
And they have compassion for you, As a mother for her own child. The person the gods have compassion for Always has good fortune.”
“Do đó, họ thương tưởng vị ấy như mẹ thương con ruột của mình. Người được chư thiên thương tưởng, luôn luôn nhìn thấy những điều tốt lành.”
Atha kho bhagavā sunidhavassakāre magadhamahāmatte imāhi gāthāhi anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Tena kho pana samayena sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhā honti—“yenajja samaṇo gotamo dvārena nikkhamissati, taṁ gotamadvāraṁ nāma bhavissati; yena titthena gaṅgaṁ nadiṁ uttarissati, taṁ gotamatitthaṁ nāma bhavissatī”ti.
Atha kho bhagavā yena dvārena nikkhami, taṁ gotamadvāraṁ nāma ahosi. Atha kho bhagavā yena gaṅgā nadī tenupasaṅkami. Tena kho pana samayena gaṅgā nadī pūrā hoti samatittikā kākapeyyā. Manussā aññe nāvaṁ pariyesanti, aññe uḷumpaṁ pariyesanti, aññe kullaṁ bandhanti orā pāraṁ gantukāmā.
Addasā kho bhagavā te manusse aññe nāvaṁ pariyesante, aññe uḷumpaṁ pariyesante, aññe kullaṁ bandhante orā pāraṁ gantukāme, disvāna seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva kho—gaṅgāya nadiyā orimatīre antarahito pārimatīre paccuṭṭhāsi saddhiṁ bhikkhusaṅghena.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi—
The Buddha then got up from his seat and left.
But Sunidha and Vassakāra followed behind him, thinking, “Whatever gate the ascetic Gotama leaves from, we’ll name the Gotama Gate. Whatever ford he uses to cross the river Ganges, we’ll name the Gotama Ford.”
And so the gate through which he left was named the Gotama Gate. The Buddha then went to the river Ganges. At that time the river was full to the brim. Among the people who wanted to cross, some were looking for a boat, some for a barge, and some were putting together a raft.
The Buddha saw this. Then, just as a strong man might bend or stretch his arm, the Buddha disappeared from the near shore of the river and reappeared on the far shore together with the Sangha of monks.
Seeing the significance of this, the Buddha uttered a heartfelt exclamation:
Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi tùy hỷ các vị đại thần xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra bằng những câu kệ này, Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Vào lúc bấy giờ, các vị đại thần xứ Ma-kiệt-đà là Sunidha và Vassakāra đi theo sau lưng đức Thế Tôn và nghĩ rằng: ‘Hôm nay, Sa-môn Gotama sẽ đi ra bằng cổng nào, cổng ấy sẽ có tên là cổng Gotama; vị ấy sẽ vượt qua sông Gaṅgā bằng bến nào, bến ấy sẽ có tên là bến Gotama.’ Bấy giờ, đức Thế Tôn đã đi ra bằng cổng nào, cổng ấy đã có tên là cổng Gotama. Bấy giờ, đức Thế Tôn đi đến sông Gaṅgā. Vào lúc bấy giờ, sông Gaṅgā nước dâng đầy, bằng phẳng đến bờ, quạ có thể uống được. Có những người muốn đi từ bờ bên này sang bờ bên kia đang tìm kiếm thuyền, có những người đang tìm kiếm bè gỗ, có những người đang kết bè tre. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy những người ấy, có người đang tìm kiếm thuyền, có người đang tìm kiếm bè gỗ, có người đang kết bè tre, muốn đi từ bờ bên này sang bờ bên kia. Sau khi nhìn thấy, cũng giống như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng thế ấy, đức Thế Tôn đã biến mất khỏi bờ bên này của sông Gaṅgā và hiện ra ở bờ bên kia cùng với Tăng chúng Tỳ khưu. Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi biết rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Ye taranti aṇṇavaṁ saraṁ, Setuṁ katvāna visajja pallalāni; Kullañhi jano bandhati, Tiṇṇā medhāvino janā”ti.
“Whoever crosses the flowing mass of water, They build a bridge, leaving the water behind. While ordinary people put together a raft, The wise have crossed already.”
“Những ai vượt qua biển hồ, sau khi làm cầu, bỏ lại vũng lầy; kẻ phàm phu thì kết bè, bậc trí tuệ là người đã qua sông.”
16. Koṭigāmesaccakathā
16. Discussion of the truths at Koṭigāma
175. Bài giảng về các sự thật ở làng Koṭi
Atha kho bhagavā yena koṭigāmo tenupasaṅkami. Tatra sudaṁ bhagavā koṭigāme viharati. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi—
“catunnaṁ, bhikkhave, ariyasaccānaṁ ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca. Katamesaṁ catunnaṁ? Dukkhassa, bhikkhave, ariyasaccassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca. Dukkhasamudayassa ariyasaccassa …pe… dukkhanirodhassa ariyasaccassa …pe… dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ariyasaccassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca. Tayidaṁ, bhikkhave, dukkhaṁ ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, dukkhanirodhaṁ ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, ucchinnā bhavataṇhā, khīṇā bhavanetti, natthi dāni punabbhavoti.
The Buddha then went to Koṭigāma and stayed there. And he addressed the monks:
“It’s because of not awakening to or penetrating these four noble truths that you and I have wandered on and transmigrated for such a long time: the noble truth of suffering, the noble truth of the origin of suffering, the noble truth of the end of suffering, the noble truth of the path leading to the end of suffering. But now, monks, the noble truth of suffering has been awakened to and penetrated, likewise the noble truth of the origin of suffering, the noble truth of the end of suffering, and the noble truth of the path leading to the end of suffering. Craving for existence has been cut off; the passage to existence has been destroyed; now there is no further existence.
287. Bấy giờ, đức Thế Tôn đi đến làng Koṭi. Tại nơi ấy, đức Thế Tôn trú ở làng Koṭi. Tại nơi ấy, đức Thế Tôn gọi các vị Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu, do không giác ngộ, không thông suốt bốn Thánh đế mà Ta và các ngươi đã phải trôi lăn, luân hồi trong một thời gian dài như thế này. Bốn sự thật nào? Này các Tỳ khưu, do không giác ngộ, không thông suốt Thánh đế về Khổ mà Ta và các ngươi đã phải trôi lăn, luân hồi trong một thời gian dài như thế này. Thánh đế về Nguồn Gốc Của Khổ... Thánh đế về Sự Diệt Khổ... Thánh đế về Con Đường Đưa Đến Sự Diệt Khổ, do không giác ngộ, không thông suốt mà Ta và các ngươi đã phải trôi lăn, luân hồi trong một thời gian dài như thế này. Này các Tỳ khưu, Thánh đế về Khổ này đã được giác ngộ, đã được thông suốt; Thánh đế về Nguồn Gốc Của Khổ đã được giác ngộ, đã được thông suốt; Thánh đế về Sự Diệt Khổ đã được giác ngộ, đã được thông suốt; Thánh đế về Con Đường Đưa Đến Sự Diệt Khổ đã được giác ngộ, đã được thông suốt; ái hữu đã được đoạn trừ, dây dẫn đến tái sanh đã được tận diệt, nay không còn tái sanh nữa.’”
Catunnaṁ ariyasaccānaṁ, yathābhūtaṁ adassanā; Saṁsitaṁ dīghamaddhānaṁ, tāsu tāsveva jātisu.
Because of not properly seeing The four noble truths, You have transmigrated for a long time Among the various kinds of rebirth.
Do không thấy bốn Thánh đế, như thật trạng của chúng là; đã luân hồi trong thời gian dài, trong những kiếp sống này kia.
Tāni etāni diṭṭhāni, bhavanetti samūhatā; Ucchinnaṁ mūlaṁ dukkhassa, natthi dāni punabbhavo”ti.
But now they have been seen, The passage to existence has been destroyed, The root of suffering has been cut off, And there is no further existence.”
Những sự thật này đã được thấy, dây dẫn đến tái sanh đã được nhổ lên; gốc rễ của khổ đã được đoạn trừ, nay không còn tái sanh nữa.
17. Ambapālīvatthu
17–18. The account of Ambapālī and the Licchavīs
176. Câu chuyện về Ambapālī
Assosi kho ambapālī gaṇikā—“bhagavā kira koṭigāmaṁ anuppatto”ti. Atha kho ambapālī gaṇikā bhadrāni bhadrāni yānāni yojāpetvā bhadraṁ bhadraṁ yānaṁ abhiruhitvā bhadrehi bhadrehi yānehi vesāliyā niyyāsi bhagavantaṁ dassanāya. Yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā, yānā paccorohitvā, pattikāva yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ambapāliṁ gaṇikaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho ambapālī gaṇikā bhagavatā dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā bhagavantaṁ etadavoca—“adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho ambapālī gaṇikā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
The courtesan Ambapālī heard that the Buddha had arrived at Koṭigāma. She had her best carriages harnessed, mounted one of them, and left Vesālī to visit the Buddha. She went by carriage as far as the ground would allow, dismounted, and then approached the Buddha on foot. After bowing down to the Buddha, she sat down, and the Buddha instructed, inspired, and gladdened her with a teaching. She then said to the Buddha, “Sir, please accept tomorrow’s meal from me together with the Sangha of monks.” The Buddha consented by remaining silent. Knowing that he had consented, she got up from her seat, bowed down, circumambulated him with her right side toward him, and left.
288. Kỹ nữ Ambapālī nghe tin: ‘Nghe nói đức Thế Tôn đã đến làng Koṭi.’ Bấy giờ, kỹ nữ Ambapālī cho thắng những cỗ xe tốt đẹp, lên một cỗ xe tốt đẹp, và cùng với những cỗ xe tốt đẹp rời khỏi Vesālī để đến yết kiến đức Thế Tôn. Đi xe đến nơi nào đất còn đi được, nàng xuống xe và đi bộ đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, nàng đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ kỹ nữ Ambapālī đang ngồi một bên bằng một bài pháp thoại. Bấy giờ, kỹ nữ Ambapālī, sau khi được đức Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ bằng một bài pháp thoại, đã bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch ngài, mong đức Thế Tôn cùng với Tăng chúng Tỳ khưu nhận lời mời dùng bữa của con vào ngày mai.’ Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng sự im lặng. Bấy giờ, kỹ nữ Ambapālī, sau khi biết đức Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài theo chiều bên phải rồi ra về.
18. Licchavīvatthu
177. Câu chuyện về những người Licchavī
Assosuṁ kho vesālikā licchavī—“bhagavā kira koṭigāmaṁ anuppatto”ti. Atha kho vesālikā licchavī bhadrāni bhadrāni yānāni yojāpetvā bhadraṁ bhadraṁ yānaṁ abhiruhitvā bhadrehi bhadrehi yānehi vesāliyā niyyāsuṁ bhagavantaṁ dassanāya. Appekacce licchavī nīlā honti nīlavaṇṇā nīlavatthā nīlālaṅkārā, appekacce licchavī pītā honti pītavaṇṇā pītavatthā pītālaṅkārā, appekacce licchavī lohitā honti lohitavaṇṇā lohitavatthā lohitālaṅkārā, appekacce licchavī odātā honti odātavaṇṇā odātavatthā odātālaṅkārā.
Atha kho ambapālī gaṇikā daharānaṁ daharānaṁ licchavīnaṁ īsāya īsaṁ yugena yugaṁ cakkena cakkaṁ akkhena akkhaṁ paṭivaṭṭesi. Atha kho te licchavī ambapāliṁ gaṇikaṁ etadavocuṁ—“kissa, je ambapāli, daharānaṁ daharānaṁ licchavīnaṁ īsāya īsaṁ yugena yugaṁ cakkena cakkaṁ akkhena akkhaṁ paṭivaṭṭesī”ti? “Tathā hi pana mayā, ayyaputtā, svātanāya buddhappamukho bhikkhusaṅgho nimantito”ti.
“Dehi, je ambapāli, amhākaṁ etaṁ bhattaṁ satasahassenā”ti.
“Sacepi me, ayyaputtā, vesāliṁ sāhāraṁ dajjeyyātha, neva dajjāhaṁ taṁ bhattan”ti.
Atha kho te licchavī aṅguliṁ phoṭesuṁ—“jitamha vata bho ambakāya, parājitamha vata bho ambakāyā”ti. Atha kho te licchavī yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu.
Addasā kho bhagavā te licchavī dūratova āgacchante, disvāna bhikkhū āmantesi—“yehi, bhikkhave, bhikkhūhi devā tāvatiṁsā adiṭṭhapubbā, oloketha, bhikkhave, licchavīparisaṁ; apaloketha, bhikkhave, licchavīparisaṁ; upasaṁharatha, bhikkhave, licchavīparisaṁ tāvatiṁsaparisan”ti.
Atha kho te licchavī yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikāva yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te licchavī bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho te licchavī, bhagavatā dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā bhagavantaṁ etadavocuṁ—“adhivāsetu no, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
“Adhivuṭṭhomhi, licchavī, svātanāya ambapāliyā gaṇikāya bhattan”ti.
Atha kho te licchavī aṅguliṁ phoṭesuṁ—“jitamha vata bho ambakāya, parājitamha vata bho ambakāyā”ti. Atha kho te licchavī bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
The Licchavīs of Vesālī, too, heard that the Buddha had arrived at Koṭigāma. They had their best carriages harnessed, mounted one of them, and left Vesālī to visit the Buddha. Some of them wore blue, with blue makeup, blue clothes, and blue ornaments, and likewise, some of them wore yellow, some red, and some white.
When Ambapālī met the young Licchavīs, she turned her carriage around and drove up next to them, pole to pole, yoke to yoke, wheel to wheel, axle to axle. The Licchavīs said, “What on earth are you doing?” and she replied, “I’m doing this, sirs, because I’ve invited the Buddha and the Sangha of monks for tomorrow’s meal!”
“We’ll give you a hundred thousand for this meal, Ambapālī.”
“Even if you gave me the whole of Vesālī and the adjoining countryside, I would not give you this meal.”
The Licchavīs snapped their fingers in dismay, saying, “Dammit, we’ve been beaten by the mango woman!” And they continued on their way to the Buddha.
When the Buddha saw them coming, he said to the monks, “Those of you who haven’t seen the Tāvatiṁsa gods, look at the Licchavīs. The Licchavīs are similar to the Tāvatiṁsa gods.”
The Licchavīs went by carriage as far as the ground would allow, dismounted, and then approached the Buddha on foot. After bowing down to the Buddha, they sat down, and the Buddha instructed, inspired, and gladdened them with a teaching. They then said to the Buddha, “Sir, please accept tomorrow’s meal from us together with the Sangha of monks.”
“I have already accepted tomorrow’s meal from Ambapālī.”
The Licchavīs snapped their fingers in dismay, saying, “Dammit, we’ve been beaten by the mango woman.” After rejoicing in the Buddha’s words, they got up from their seats, bowed down, circumambulated him with their right sides toward him, and left.
289. Các vị Licchavi ở Vesālī đã nghe rằng: “Hình như đức Thế Tôn đã đi đến làng Koṭigāma.” Rồi các vị Licchavi ở Vesālī, sau khi cho thắng những cỗ xe tốt đẹp, đã leo lên cỗ xe tốt đẹp của mình, và đã đi ra khỏi Vesālī bằng những cỗ xe tốt đẹp để yết kiến đức Thế Tôn. Một số vị Licchavi có màu xanh, y phục màu xanh, trang sức màu xanh. Một số vị Licchavi có màu vàng, y phục màu vàng, trang sức màu vàng. Một số vị Licchavi có màu đỏ, y phục màu đỏ, trang sức màu đỏ. Một số vị Licchavi có màu trắng, y phục màu trắng, trang sức màu trắng. Bấy giờ, kỹ nữ Ambapālī đã cho càng xe của mình va chạm vào càng xe, ách xe vào ách xe, bánh xe vào bánh xe, trục xe vào trục xe của các vị Licchavi trẻ tuổi. Rồi các vị Licchavi ấy đã nói với kỹ nữ Ambapālī điều này: “Này Ambapālī, vì sao cô lại cho càng xe của mình va chạm vào càng xe, ách xe vào ách xe, bánh xe vào bánh xe, trục xe vào trục xe của các vị Licchavi trẻ tuổi?” “Thưa các công tử, sở dĩ như vậy là vì tôi đã thỉnh mời Tăng chúng với đức Phật là vị dẫn đầu cho bữa ăn ngày mai.” “Này Ambapālī, cô hãy nhường lại bữa ăn ấy cho chúng tôi với giá một trăm ngàn.” “Thưa các công tử, dù các ngài có cho tôi cả thành Vesālī cùng với lãnh địa của nó, tôi cũng sẽ không nhường lại bữa ăn ấy.” Rồi các vị Licchavi ấy đã búng ngón tay và nói: “Chao ôi, chúng ta đã bị người phụ nữ đánh bại! Chao ôi, chúng ta đã thua người phụ nữ!” Rồi các vị Licchavi ấy đã đi đến chỗ đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy các vị Licchavi ấy đang đi đến từ xa. Sau khi nhìn thấy, ngài đã bảo các vị tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, những vị tỳ khưu nào chưa từng thấy các vị trời ở cõi Ba Mươi Ba, hãy nhìn hội chúng Licchavi, này các tỳ khưu, hãy ngắm nhìn hội chúng Licchavi, này các tỳ khưu, hãy so sánh hội chúng Licchavi với hội chúng ở cõi Ba Mươi Ba.” Rồi các vị Licchavi ấy, sau khi đi xe đến nơi nào còn là địa phận của xe, đã xuống xe và đi bộ đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ các vị Licchavi đang ngồi một bên ấy bằng một bài pháp thoại. Rồi các vị Licchavi ấy, sau khi được đức Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ bằng một bài pháp thoại, đã bạch với đức Thế Tôn rằng: “Bạch ngài, mong đức Thế Tôn cùng với Tăng chúng nhận lời mời dùng bữa của chúng con vào ngày mai.” “Này các vị Licchavi, ta đã nhận lời mời dùng bữa của kỹ nữ Ambapālī vào ngày mai rồi.” Rồi các vị Licchavi ấy đã búng ngón tay và nói: “Chao ôi, chúng ta đã bị người phụ nữ đánh bại! Chao ôi, chúng ta đã thua người phụ nữ!” Rồi các vị Licchavi ấy, sau khi hoan hỷ và tùy hỷ lời dạy của đức Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi ra về.
Atha kho bhagavā koṭigāme yathābhirantaṁ viharitvā yena nātikā tenupasaṅkami. Tatra sudaṁ bhagavā nātike viharati giñjakāvasathe.
Atha kho ambapālī gaṇikā tassā rattiyā accayena sake ārāme paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi—“kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti. Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena ambapāliyā gaṇikāya parivesanā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena. Atha kho ambapālī gaṇikā buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho ambapālī gaṇikā bhagavantaṁ etadavoca—“imāhaṁ, bhante, ambavanaṁ buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa dammī”ti. Paṭiggahesi bhagavā ārāmaṁ. Atha kho bhagavā ambapāliṁ gaṇikaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā yena mahāvanaṁ tenupasaṅkami. Tatra sudaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
When the Buddha had stayed at Koṭigāma for as long as he liked, he went to Nātikā, where he stayed in the brick guesthouse.
The following morning Ambapālī had various kinds of fine foods prepared in her own park. She then had the Buddha informed that the meal was ready. The Buddha robed up, took his bowl and robe, and went to Ambapālī’s meal offering where he sat down on the prepared seat together with the Sangha of monks. Ambapālī personally served various kinds of fine foods to the Sangha of monks headed by the Buddha. When the Buddha had finished his meal, she sat down to one side and said, “Sir, I give this mango grove to the Sangha of monks headed by the Buddha.” The Buddha accepted the park. After instructing, inspiring, and gladdening her with a teaching, he got up from his seat and went to the Great Wood near Vesālī, where he stayed in the house with the peaked roof.
Rồi đức Thế Tôn, sau khi trú ở làng Koṭi tùy thích, đã đi đến Nātikā. Tại đó, đức Thế Tôn trú ở Nātikā, trong ngôi nhà gạch. Bấy giờ, kỹ nữ Ambapālī, sau khi đêm ấy đã trôi qua, đã cho chuẩn bị các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, trong khu vườn của mình, rồi cho người báo thời gian đến đức Thế Tôn: “Bạch ngài, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.” Rồi đức Thế Tôn, vào buổi sáng, sau khi đắp y, đã mang y bát và đi đến nơi phục vụ của kỹ nữ Ambapālī; sau khi đến, ngài đã ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn cùng với Tăng chúng. Bấy giờ, kỹ nữ Ambapālī đã tự tay phục vụ Tăng chúng với đức Phật là vị dẫn đầu bằng các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cho đến khi các vị hài lòng và không nhận thêm nữa. Khi đức Thế Tôn đã dùng bữa xong, tay đã rời khỏi bát, cô ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, kỹ nữ Ambapālī đã bạch với đức Thế Tôn rằng: “Bạch ngài, con xin cúng dường khu vườn xoài này đến Tăng chúng với đức Phật là vị dẫn đầu.” Đức Thế Tôn đã nhận khu vườn. Rồi đức Thế Tôn, sau khi đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ kỹ nữ Ambapālī bằng một bài pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và đi đến Đại Lâm. Tại đó, ở Vesālī, đức Thế Tôn trú trong Đại Lâm, tại ngôi giảng đường có mái nhọn.
Licchavibhāṇavāro niṭṭhito tatiyo.
The third section for recitation on the Licchavīs is finished.
Phẩm tụng về các vị Licchavi, thứ ba, đã kết thúc.
19. Sīhasenāpativatthu
19. The account of General Sīha
178. Câu chuyện về Tướng quân Sīha.
Tena kho pana samayena abhiññātā abhiññātā licchavī sandhāgāre sannisinnā sannipatitā anekapariyāyena buddhassa vaṇṇaṁ bhāsanti, dhammassa vaṇṇaṁ bhāsanti, saṅghassa vaṇṇaṁ bhāsanti. Tena kho pana samayena sīho senāpati nigaṇṭhasāvako tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti. Atha kho sīhassa senāpatissa etadahosi—“nissaṁsayaṁ kho so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bhavissati, tathā hime abhiññātā abhiññātā licchavī sandhāgāre sannisinnā sannipatitā anekapariyāyena buddhassa vaṇṇaṁ bhāsanti, dhammassa vaṇṇaṁ bhāsanti, saṅghassa vaṇṇaṁ bhāsanti. Yannūnāhaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkameyyaṁ arahantaṁ sammāsambuddhan”ti. Atha kho sīho senāpati yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca—“icchāmahaṁ, bhante, samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamitun”ti.
“Kiṁ pana tvaṁ, sīha, kiriyavādo samāno akiriyavādaṁ samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamissasi? Samaṇo hi, sīha, gotamo akiriyavādo akiriyāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetī”ti. Atha kho sīhassa senāpatissa yo ahosi gamikābhisaṅkhāro bhagavantaṁ dassanāya, so paṭippassambhi.
Dutiyampi kho abhiññātā abhiññātā licchavī sandhāgāre sannisinnā sannipatitā anekapariyāyena buddhassa vaṇṇaṁ bhāsanti, dhammassa vaṇṇaṁ bhāsanti, saṅghassa vaṇṇaṁ bhāsanti. Dutiyampi kho sīhassa senāpatissa etadahosi—“nissaṁsayaṁ kho so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bhavissati, tathā hime abhiññātā abhiññātā licchavī sandhāgāre sannisinnā sannipatitā anekapariyāyena buddhassa vaṇṇaṁ bhāsanti, dhammassa vaṇṇaṁ bhāsanti, saṅghassa vaṇṇaṁ bhāsanti. Yannūnāhaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkameyyaṁ arahantaṁ sammāsambuddhan”ti. Dutiyampi kho sīho senāpati yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ etadavoca—“icchāmahaṁ, bhante, samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamitun”ti. “Kiṁ pana tvaṁ, sīha, kiriyavādo samāno akiriyavādaṁ samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamissasi? Samaṇo hi, sīha, gotamo akiriyavādo akiriyāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetī”ti. Dutiyampi kho sīhassa senāpatissa yo ahosi gamikābhisaṅkhāro bhagavantaṁ dassanāya, so paṭippassambhi.
Tatiyampi kho abhiññātā abhiññātā licchavī sandhāgāre sannisinnā sannipatitā anekapariyāyena buddhassa vaṇṇaṁ bhāsanti, dhammassa vaṇṇaṁ bhāsanti, saṅghassa vaṇṇaṁ bhāsanti. Tatiyampi kho sīhassa senāpatissa etadahosi—“nissaṁsayaṁ kho so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bhavissati, tathā hime abhiññātā abhiññātā licchavī sandhāgāre sannisinnā sannipatitā anekapariyāyena buddhassa vaṇṇaṁ bhāsanti, dhammassa vaṇṇaṁ bhāsanti, saṅghassa vaṇṇaṁ bhāsanti. Kiñhi me karissanti nigaṇṭhā apalokitā vā anapalokitā vā? Yannūnāhaṁ anapaloketvāva nigaṇṭhe taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkameyyaṁ arahantaṁ sammāsambuddhan”ti.
On one occasion a number of well-known Licchavīs were seated together in the public hall, praising the Buddha, the Teaching, and the Sangha in many ways. Sīha the general, a disciple of the Jains, was seated in that gathering. He thought, “No doubt that Buddha is perfected, a fully Awakened One, since these well-known Licchavīs praise the Buddha, the Teaching, and the Sangha in this way. Why don’t I go and visit that Buddha?” He then went to the Jain ascetic from Ñātika and said, “Sir, I wish to visit the ascetic Gotama.”
“But Sīha, why visit the ascetic Gotama who believes that actions don’t have results when you believe that they do? For the ascetic Gotama believes in inaction, teaches that, and trains his disciples in that.” Sīha’s intention to go died down.
The same sequence of events happened a second time.
A third time a number of well-known Licchavīs were seated together in the public hall, praising the Buddha, the Teaching, and the Sangha in many ways. Sīha heard this, and he had the same thoughts as before. And it occurred to him, “What can the Jain ascetics do to me, whether I get their permission or not? Let me go and visit the Buddha, the Perfected and fully Awakened One, without getting permission from the Jains.”
290. Vào lúc bấy giờ, các vị vương tộc Licchavi rất danh tiếng và nổi bật đang ngồi họp lại ở hội trường và dùng nhiều phương cách để tán dương đức Phật, tán dương Giáo pháp, tán dương Tăng chúng. Vào lúc bấy giờ, tướng quân Sīha là một người đệ tử của các Nigantha cũng đang ngồi trong hội chúng ấy. Rồi tướng quân Sīha đã khởi lên suy nghĩ rằng: – ‘Chắc chắn rằng vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Vì thế nên các vị vương tộc Licchavi rất danh tiếng và nổi bật này đang ngồi họp lại ở hội trường và dùng nhiều phương cách để tán dương đức Phật, tán dương Giáo pháp, tán dương Tăng chúng. Hay là ta nên đi đến yết kiến vị Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy.’ Sau đó, tướng quân Sīha đi đến chỗ của Nigantha Nāṭaputta, sau khi đến đã nói với Nigantha Nāṭaputta điều này: – ‘Bạch ngài, tôi muốn đi đến yết kiến Sa-môn Gotama.’ – ‘Này Sīha, tại sao ông là người theo hành động luận lại sẽ đi đến yết kiến Sa-môn Gotama, một người theo vô hành động luận? Này Sīha, Sa-môn Gotama là người theo vô hành động luận, thuyết giảng giáo pháp về sự không hành động, và huấn luyện các đệ tử theo đường lối ấy.’ Sau đó, ý định muốn đi yết kiến đức Thế Tôn của tướng quân Sīha đã bị dập tắt. Lần thứ hai, các vị vương tộc Licchavi rất danh tiếng và nổi bật đang ngồi họp lại ở hội trường và dùng nhiều phương cách để tán dương đức Phật, tán dương Giáo pháp, tán dương Tăng chúng. Lần thứ hai, tướng quân Sīha đã khởi lên suy nghĩ rằng: – ‘Chắc chắn rằng vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Vì thế nên các vị vương tộc Licchavi rất danh tiếng và nổi bật này đang ngồi họp lại ở hội trường và dùng nhiều phương cách để tán dương đức Phật, tán dương Giáo pháp, tán dương Tăng chúng. Hay là ta nên đi đến yết kiến vị Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy.’ Lần thứ hai, tướng quân Sīha đi đến chỗ của Nigantha Nāṭaputta, sau khi đến đã nói với Nigantha Nāṭaputta điều này: – ‘Bạch ngài, tôi muốn đi đến yết kiến Sa-môn Gotama.’ – ‘Này Sīha, tại sao ông là người theo hành động luận lại sẽ đi đến yết kiến Sa-môn Gotama, một người theo vô hành động luận? Này Sīha, Sa-môn Gotama là người theo vô hành động luận, thuyết giảng giáo pháp về sự không hành động, và huấn luyện các đệ tử theo đường lối ấy.’ Lần thứ hai, ý định muốn đi yết kiến đức Thế Tôn của tướng quân Sīha đã bị dập tắt. Lần thứ ba, các vị vương tộc Licchavi rất danh tiếng và nổi bật đang ngồi họp lại ở hội trường và dùng nhiều phương cách để tán dương đức Phật, tán dương Giáo pháp, tán dương Tăng chúng. Lần thứ ba, tướng quân Sīha đã khởi lên suy nghĩ rằng: – ‘Chắc chắn rằng vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Vì thế nên các vị vương tộc Licchavi rất danh tiếng và nổi bật này đang ngồi họp lại ở hội trường và dùng nhiều phương cách để tán dương đức Phật, tán dương Giáo pháp, tán dương Tăng chúng. Các Nigantha này, dù được hỏi ý kiến hay không được hỏi ý kiến, thì có thể làm gì được ta? Hay là ta không cần hỏi ý kiến các Nigantha mà cứ đi đến yết kiến vị Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy.’
Atha kho sīho senāpati pañcahi rathasatehi divādivassa vesāliyā niyyāsi bhagavantaṁ dassanāya. Yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikova yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho sīho senāpati bhagavantaṁ etadavoca—“sutaṁ me taṁ, bhante—‘akiriyavādo samaṇo gotamo akiriyāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetī’ti. Ye te, bhante, evamāhaṁsu—‘akiriyavādo samaṇo gotamo, akiriyāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetī’ti. Kacci te, bhante, bhagavato vuttavādino, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkhanti, dhammassa cānudhammaṁ byākaronti, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchati? Anabbhakkhātukāmā hi mayaṁ, bhante, bhagavantan”ti.
Soon afterwards, in the middle of the day, General Sīha set out from Vesālī with five hundred carriages to visit the Buddha. He went by carriage as far as the ground would allow, dismounted, and then approached the Buddha on foot. He bowed, sat down, and said, “Sir, I have heard that the ascetic Gotama believes in inaction, that he teaches inaction, and that he trains his disciples in that. Those who say this, do they say what you have said without falsely misrepresenting you? Do they explain according to the Teaching so that they can’t be legitimately criticized? I don’t wish to misrepresent you.”
Sau đó, tướng quân Sīha đã cho khởi hành từ Vesālī vào giữa ban ngày với năm trăm cỗ xe để đi yết kiến đức Thế Tôn. Sau khi đi xe đến nơi nào còn là địa phận của xe, vị ấy đã xuống xe và đi bộ đến chỗ của đức Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, tướng quân Sīha đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch ngài, con đã được nghe điều này: ‘Sa-môn Gotama là người theo vô hành động luận, thuyết giảng giáo pháp về sự không hành động, và huấn luyện các đệ tử theo đường lối ấy.’ Bạch ngài, những người đã nói như vầy: ‘Sa-môn Gotama là người theo vô hành động luận, thuyết giảng giáo pháp về sự không hành động, và huấn luyện các đệ tử theo đường lối ấy,’ bạch ngài, có phải họ đã nói lại lời của đức Thế Tôn, không xuyên tạc đức Thế Tôn bằng điều không thật, có giải thích giáo pháp thuận theo giáo pháp, và không có lời nói hay sự trình bày hợp pháp nào của họ lại đi đến chỗ đáng bị khiển trách hay không? Bạch ngài, vì chúng con không muốn xuyên tạc đức Thế Tôn.’
“Atthi, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—akiriyavādo samaṇo gotamo, akiriyāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti. Atthi, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—kiriyavādo samaṇo gotamo kiriyāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti. Atthi, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—ucchedavādo samaṇo gotamo ucchedāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti. Atthi, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—jegucchī samaṇo gotamo, jegucchitāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti. Atthi, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—venayiko samaṇo gotamo, vinayāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti. Atthi, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—tapassī samaṇo gotamo, tapassitāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti. Atthi, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—apagabbho samaṇo gotamo, apagabbhatāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti. Atthi, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—assattho samaṇo gotamo, assāsāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti.
“There’s a way, Sīha, one could rightly say of me that I believe in inaction, that I teach inaction, and that I train my disciples in that. What’s that way?
291. “Này Sīha, có trường hợp mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương không hành động, thuyết giảng giáo pháp về việc không hành động, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy.’ Này Sīha, có trường hợp mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương hành động, thuyết giảng giáo pháp về việc hành động, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy.’ Này Sīha, có trường hợp mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương đoạn diệt, thuyết giảng giáo pháp về sự đoạn diệt, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy.’ Này Sīha, có trường hợp mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người hay ghê tởm, thuyết giảng giáo pháp về sự ghê tởm, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy.’ Này Sīha, có trường hợp mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người hay loại trừ, thuyết giảng giáo pháp về sự loại trừ, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy.’ Này Sīha, có trường hợp mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người khổ hạnh, thuyết giảng giáo pháp về sự khổ hạnh, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy.’ Này Sīha, có trường hợp mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người không còn tái sanh, thuyết giảng giáo pháp về việc không còn tái sanh, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy.’ Này Sīha, có trường hợp mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người được an ổn, thuyết giảng giáo pháp về sự an ổn, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy.’”
Katamo ca, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—akiriyavādo samaṇo gotamo, akiriyāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti? Ahañhi, sīha, akiriyaṁ vadāmi kāyaduccaritassa vacīduccaritassa manoduccaritassa; anekavihitānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ akiriyaṁ vadāmi. Ayaṁ kho, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—akiriyavādo samaṇo gotamo, akiriyāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti.
I teach the non-doing of misconduct by body, speech, and mind. I teach the non-doing of the various kinds of bad and unwholesome actions.
292. “Và này Sīha, trường hợp nào mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương không hành động, thuyết giảng giáo pháp về việc không hành động, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy?’ Này Sīha, quả thật ta nói về việc không hành động đối với thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành; ta nói về việc không hành động đối với nhiều loại pháp ác, bất thiện. Này Sīha, đây chính là trường hợp mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương không hành động, thuyết giảng giáo pháp về việc không hành động, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy.’”
Katamo ca, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—kiriyavādo samaṇo gotamo, kiriyāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti? Ahañhi, sīha, kiriyaṁ vadāmi kāyasucaritassa vacīsucaritassa manosucaritassa, anekavihitānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ kiriyaṁ vadāmi. Ayaṁ kho, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—kiriyavādo samaṇo gotamo, kiriyāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti.
There’s also a way one could rightly say of me that I believe in action, that I teach action, and that I train my disciples in that. What’s that way? I teach the doing of good conduct by body, speech, and mind. I teach the doing of the various kinds of good and wholesome actions.
“Và này Sīha, trường hợp nào mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương hành động, thuyết giảng giáo pháp về việc hành động, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy?’ Này Sīha, quả thật ta nói về việc hành động đối với thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành; ta nói về việc hành động đối với nhiều loại pháp thiện. Này Sīha, đây chính là trường hợp mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương hành động, thuyết giảng giáo pháp về việc hành động, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy.’”
Katamo ca, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—ucchedavādo samaṇo gotamo, ucchedāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti? Ahañhi, sīha, ucchedaṁ vadāmi rāgassa dosassa mohassa; anekavihitānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ ucchedaṁ vadāmi. Ayaṁ kho, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—ucchedavādo samaṇo gotamo ucchedāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti.
There’s a way one could rightly say of me that I’m an annihilationist, that I teach for the sake of annihilation, and that I train my disciples in that. What’s that way? I teach the annihilation of sensual desire, ill will, and confusion. I teach the annihilation of the various kinds of bad and unwholesome qualities.
“Và này Sīha, trường hợp nào mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương đoạn diệt, thuyết giảng giáo pháp về sự đoạn diệt, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy?’ Này Sīha, quả thật ta nói về sự đoạn diệt tham, sân, si; ta nói về sự đoạn diệt nhiều loại pháp ác, bất thiện. Này Sīha, đây chính là trường hợp mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người chủ trương đoạn diệt, thuyết giảng giáo pháp về sự đoạn diệt, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy.’”
Katamo ca, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—jegucchī samaṇo gotamo, jegucchitāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti? Ahañhi, sīha, jigucchāmi kāyaduccaritena vacīduccaritena manoduccaritena; anekavihitānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ samāpattiyā jigucchāmi. Ayaṁ kho, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—jegucchī samaṇo gotamo, jegucchitāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti.
There’s a way one could rightly say of me that I’m disgusting, that I teach for the sake of disgust, and that I train my disciples in that. What’s that way? I am disgusted by misconduct by body, speech, and mind. I am disgusted by the various kinds of bad and unwholesome qualities.
“Và này Sīha, trường hợp nào mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người hay ghê tởm, thuyết giảng giáo pháp về sự ghê tởm, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy?’ Này Sīha, quả thật ta ghê tởm thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành; ta ghê tởm sự thành tựu các loại pháp ác, bất thiện. Này Sīha, đây chính là trường hợp mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người hay ghê tởm, thuyết giảng giáo pháp về sự ghê tởm, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy.’”
Katamo ca, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—venayiko samaṇo gotamo, vinayāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti? Ahañhi, sīha, vinayāya dhammaṁ desemi rāgassa dosassa mohassa; anekavihitānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ vinayāya dhammaṁ desemi. Ayaṁ kho, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—venayiko samaṇo gotamo, vinayāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti.
There’s a way one could rightly say of me that I’m an exterminator, that I teach for the sake of extermination, and that I train my disciples in that. What’s that way? I teach the extermination of sensual desire, ill will, and confusion, the extermination of the various kinds of bad and unwholesome qualities.
“Và này Sīha, trường hợp nào mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người hay loại trừ, thuyết giảng giáo pháp về sự loại trừ, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy?’ Này Sīha, quả thật ta thuyết giảng giáo pháp về sự loại trừ tham, sân, si; ta thuyết giảng giáo pháp về sự loại trừ nhiều loại pháp ác, bất thiện. Này Sīha, đây chính là trường hợp mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người hay loại trừ, thuyết giảng giáo pháp về sự loại trừ, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy.’”
Katamo ca, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—tapassī samaṇo gotamo, tapassitāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti? Tapanīyāhaṁ, sīha, pāpake akusale dhamme vadāmi—kāyaduccaritaṁ vacīduccaritaṁ manoduccaritaṁ. Yassa kho, sīha, tapanīyā pāpakā akusalā dhammā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā, tamahaṁ tapassīti vadāmi. Tathāgatassa kho, sīha, tapanīyā pāpakā akusalā dhammā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Ayaṁ kho, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya tapassī samaṇo gotamo tapassitāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti.
There’s a way one could rightly say of me that I’m austere, that I teach for the sake of austerity, and that I train my disciples in that. What’s that way? I say that bad, unwholesome qualities—misconduct by body, speech, and mind—are to be disciplined. One who has abandoned them, cut them off at the root, made them like a palm stump, eradicated them, and made them incapable of reappearing in the future—such a one I call austere. Indeed the Buddha has abandoned the bad, unwholesome qualities that are to be disciplined, has cut them off at the root, made them like a palm stump, eradicated them, and made them incapable of reappearing in the future.
“Và này Sīha, trường hợp nào mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người khổ hạnh, thuyết giảng giáo pháp về sự khổ hạnh, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy?’ Này Sīha, ta tuyên bố rằng các pháp ác, bất thiện là đáng bị thiêu đốt – tức là thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành. Này Sīha, người nào đã đoạn tận các pháp ác, bất thiện đáng bị thiêu đốt, đã nhổ tận gốc rễ, đã làm cho như thân cây ta-la, đã làm cho không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai, người ấy ta gọi là người khổ hạnh. Này Sīha, đối với Như Lai, các pháp ác, bất thiện đáng bị thiêu đốt đã được đoạn tận, đã được nhổ tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không thể hiện hữu, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Sīha, đây chính là trường hợp mà người nói đúng về ta có thể nói rằng: ‘Sa-môn Gotama là người khổ hạnh, thuyết giảng giáo pháp về sự khổ hạnh, và huấn luyện các đệ tử theo giáo pháp ấy.’”
Katamo ca, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—apagabbho samaṇo gotamo apagabbhatāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti? Yassa kho, sīha, āyatiṁ gabbhaseyyā punabbhavābhinibbatti pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā, tamahaṁ apagabbhoti vadāmi. Tathāgatassa kho, sīha, āyatiṁ gabbhaseyyā punabbhavābhinibbatti pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Ayaṁ kho, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—apagabbho samaṇo gotamo, apagabbhatāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti.
There’s a way one could rightly say of me that I’m retiring, that I teach for the sake of retiring, and that I train my disciples in that. What’s that way? One who has retired from any future conception in a womb, any rebirth in a future life, who has cut it off at the root, made it like a palm stump, eradicated it, and made it incapable of reappearing in the future—such a one I call retiring. Indeed the Buddha’s future conception in a womb, his rebirth in a future life, is abandoned and cut off at the root, made like a palm stump, eradicated, and incapable of reappearing in the future.
“Này Sīha, và thế nào là phương cách, mà y theo phương cách ấy, một người nói đúng sự thật có thể nói về ta rằng: ‘Sa-môn Gotama không còn nằm trong thai mẹ, ngài thuyết Pháp vì mục đích không còn nằm trong thai mẹ, và ngài huấn luyện các đệ tử theo pháp ấy’? Này Sīha, đối với người nào mà sự nằm trong thai mẹ trong tương lai, sự tái sanh trong kiếp mới đã được đoạn tận, đã được nhổ tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không còn hiện hữu, có bản chất không sanh khởi trong tương lai, ta gọi người ấy là người không còn nằm trong thai mẹ. Này Sīha, đối với Như Lai, sự nằm trong thai mẹ trong tương lai, sự tái sanh trong kiếp mới đã được đoạn tận, đã được nhổ tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây ta-la, đã được làm cho không còn hiện hữu, có bản chất không sanh khởi trong tương lai. Này Sīha, đây chính là phương cách, mà y theo phương cách ấy, một người nói đúng sự thật có thể nói về ta rằng: ‘Sa-môn Gotama không còn nằm trong thai mẹ, ngài thuyết Pháp vì mục đích không còn nằm trong thai mẹ, và ngài huấn luyện các đệ tử theo pháp ấy’.”
Katamo ca, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—assattho samaṇo gotamo assāsāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetīti? Ahañhi, sīha, assattho paramena assāsena, assāsāya dhammaṁ desemi, tena ca sāvake vinemi. Ayaṁ kho, sīha, pariyāyo, yena maṁ pariyāyena sammā vadamāno vadeyya—assattho samaṇo gotamo assāsāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetī”ti.
There’s a way one could rightly say of me that I’m at ease, that I teach for the sake of ease, and that I train my disciples in that. What’s that way? I’m at ease in the highest sense, I proclaim my Teaching for the sake of ease, and I train my disciples in that.”
“Này Sīha, và thế nào là phương cách, mà y theo phương cách ấy, một người nói đúng sự thật có thể nói về ta rằng: ‘Sa-môn Gotama được an ổn, ngài thuyết Pháp vì mục đích an ổn, và ngài huấn luyện các đệ tử theo pháp ấy’? Này Sīha, quả thật ta được an ổn với sự an ổn tối thượng, ta thuyết Pháp vì mục đích an ổn, và ta huấn luyện các đệ tử theo pháp ấy. Này Sīha, đây chính là phương cách, mà y theo phương cách ấy, một người nói đúng sự thật có thể nói về ta rằng: ‘Sa-môn Gotama được an ổn, ngài thuyết Pháp vì mục đích an ổn, và ngài huấn luyện các đệ tử theo pháp ấy’.”
Evaṁ vutte sīho senāpati bhagavantaṁ etadavoca—“abhikkantaṁ, bhante …pe… upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
“Anuviccakāraṁ kho, sīha, karohi; anuviccakāro tumhādisānaṁ ñātamanussānaṁ sādhu hotī”ti.
“Imināpāhaṁ, bhante, bhagavato bhiyyoso mattāya attamano abhiraddho, yaṁ maṁ bhagavā evamāha—‘anuviccakāraṁ kho, sīha, karohi; anuviccakāro tumhādisānaṁ ñātamanussānaṁ sādhu hotī’ti. Mamañhi, bhante, aññatitthiyā sāvakaṁ labhitvā kevalakappaṁ vesāliṁ paṭākaṁ parihareyyuṁ—‘sīho kho amhākaṁ senāpati sāvakattaṁ upagato’ti. Atha ca pana maṁ bhagavā evamāha—‘anuviccakāraṁ kho, sīha, karohi; anuviccakāro tumhādisānaṁ ñātamanussānaṁ sādhu hotī’ti. Esāhaṁ, bhante, dutiyampi bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
“Dīgharattaṁ kho te, sīha, nigaṇṭhānaṁ opānabhūtaṁ kulaṁ, yena nesaṁ upagatānaṁ piṇḍakaṁ dātabbaṁ maññeyyāsī”ti.
“Imināpāhaṁ, bhante, bhagavato bhiyyoso mattāya attamano abhiraddho, yaṁ maṁ bhagavā evamāha—‘dīgharattaṁ kho te, sīha, nigaṇṭhānaṁ opānabhūtaṁ kulaṁ, yena nesaṁ upagatānaṁ piṇḍakaṁ dātabbaṁ maññeyyāsī’ti. Sutaṁ me taṁ, bhante, samaṇo gotamo evamāha—‘mayhameva dānaṁ dātabbaṁ, na aññesaṁ dānaṁ dātabbaṁ; mayhameva sāvakānaṁ dānaṁ dātabbaṁ, na aññesaṁ sāvakānaṁ dānaṁ dātabbaṁ; mayhameva dinnaṁ mahapphalaṁ, na aññesaṁ dinnaṁ mahapphalaṁ; mayhameva sāvakānaṁ dinnaṁ mahapphalaṁ, na aññesaṁ sāvakānaṁ dinnaṁ mahapphalan’ti. Atha ca pana maṁ bhagavā nigaṇṭhesupi dāne samādapeti. Api ca, bhante, mayamettha kālaṁ jānissāma. Esāhaṁ, bhante, tatiyampi bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
When the Buddha had finished, Sīha exclaimed, “Wonderful, sir, wonderful! Just as one might set upright what’s overturned, or reveal what’s hidden, or show the way to one who’s lost, or bring a lamp into the dark so that one with eyes might see what’s there—just so has the Buddha made the Teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, the Teaching, and the Sangha of monks. Please accept me as a lay follower who’s gone for refuge for life.”
“Consider it carefully, Sīha. It’s good for well-known people such as yourself to reflect carefully.”
“Now I’m even more pleased with you, sir. Had I become a lay follower of another religion, they would’ve carried a banner all over Vesālī to proclaim it. But you tell me to consider it carefully. For the second time, I go for refuge to the Buddha, the Teaching, and the Sangha of monks. Please accept me as a lay follower who’s gone for refuge for life.”
“For a long time, Sīha, your family has been a wellspring of support for the Jain ascetics. When they come to you, you should still consider giving them almsfood.”
“Now I’m even more pleased with you, sir. I had heard that you say that offerings should only be given to you and your disciples, not to anyone else, and only offerings given to you and your disciples are fruitful, not what’s given to others. But in reality you encourage me to give to the Jain ascetics. Indeed, I shall know the right time for that. For the third time, I go for refuge to the Buddha, the Teaching, and the Sangha of monks. Please accept me as a lay follower who’s gone for refuge for life.”
293. Khi được nói như vậy, tướng quân Sīha đã bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch ngài, thật vi diệu thay... (v.v)... Bạch Thế Tôn, kể từ hôm nay, mong Thế Tôn xem con là một người cận sự nam đã quy y cho đến trọn đời.” “Này Sīha, hãy hành động sau khi đã suy xét kỹ; đối với những người nổi tiếng như ông, việc hành động sau khi đã suy xét kỹ là điều tốt.” “Bạch ngài, chính vì điều này mà con lại càng hoan hỷ và hài lòng hơn nữa với Thế Tôn, khi Thế Tôn nói với con rằng: ‘Này Sīha, hãy hành động sau khi đã suy xét kỹ; đối với những người nổi tiếng như ông, việc hành động sau khi đã suy xét kỹ là điều tốt.’ Bạch ngài, nếu các người theo ngoại đạo khác có được con làm đệ tử, họ đã đi rêu rao khắp thành Vesālī với cờ phướn rằng: ‘Tướng quân Sīha đã trở thành đệ tử của chúng ta!’. Thế mà Thế Tôn lại nói với con rằng: ‘Này Sīha, hãy hành động sau khi đã suy xét kỹ; đối với những người nổi tiếng như ông, việc hành động sau khi đã suy xét kỹ là điều tốt.’ Bạch ngài, lần thứ hai, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng chúng. Bạch Thế Tôn, kể từ hôm nay, mong Thế Tôn xem con là một người cận sự nam đã quy y cho đến trọn đời.” “Này Sīha, từ lâu gia đình ông đã là nơi nương tựa như giếng nước cho các Nigaṇṭha, do đó ông nên nghĩ rằng vật thực nên được cúng dường cho họ khi họ đến.” “Bạch ngài, chính vì điều này mà con lại càng hoan hỷ và hài lòng hơn nữa với Thế Tôn, khi Thế Tôn nói với con rằng: ‘Này Sīha, từ lâu gia đình ông đã là nơi nương tựa như giếng nước cho các Nigaṇṭha, do đó ông nên nghĩ rằng vật thực nên được cúng dường cho họ khi họ đến.’ Bạch ngài, con đã từng nghe rằng: ‘Sa-môn Gotama nói như vầy: “Chỉ nên cúng dường cho ta, không nên cúng dường cho người khác; chỉ nên cúng dường cho đệ tử của ta, không nên cúng dường cho đệ tử của người khác; chỉ sự cúng dường cho ta mới có quả báu lớn, cúng dường cho người khác không có quả báu lớn; chỉ sự cúng dường cho đệ tử của ta mới có quả báu lớn, cúng dường cho đệ tử của người khác không có quả báu lớn.”’. Thế mà Thế Tôn lại khuyến khích con cúng dường cho cả các Nigaṇṭha. Hơn nữa, bạch ngài, chúng con sẽ biết thời điểm thích hợp để làm việc này. Bạch ngài, lần thứ ba, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng chúng. Bạch Thế Tôn, kể từ hôm nay, mong Thế Tôn xem con là một người cận sự nam đã quy y cho đến trọn đời.”
Atha kho bhagavā sīhassa senāpatissa anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ …pe…
aparappaccayo satthusāsane bhagavantaṁ etadavoca—“adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho sīho senāpati bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
The Buddha then gave Sīha a progressive talk—on generosity, morality, and heaven; on the downside, degradation, and defilement of worldly pleasures; and he revealed the benefits of renunciation. When the Buddha knew that his mind was ready, supple, without hindrances, joyful, and confident, he revealed the teaching unique to the Buddhas: suffering, its origin, its end, and the path. And just as a clean and stainless cloth absorbs dye properly, so too, while he was sitting right there, Sīha experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.” He had seen the Truth, had reached, understood, and penetrated it. He had gone beyond doubt and uncertainty, had attained to confidence, and had become independent of others in the Teacher’s instruction.
He then said to the Buddha, “Sir, Please accept tomorrow’s meal from me together with the Sangha of monks.” The Buddha consented by remaining silent. Knowing that the Buddha had consented, Sīha got up from his seat, bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left.
Khi ấy, Thế Tôn đã thuyết một bài pháp tuần tự cho tướng quân Sīha, đó là: pháp thoại về bố thí... (v.v)... không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư, ông đã bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch ngài, mong Thế Tôn cùng với Tăng chúng nhận lời mời dùng bữa của con vào ngày mai.” Thế Tôn đã nhận lời bằng sự im lặng. Khi ấy, tướng quân Sīha, biết được sự nhận lời của Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh ngài theo chiều bên phải rồi ra về.
Atha kho sīho senāpati aññataraṁ purisaṁ āṇāpesi—“gaccha, bhaṇe, pavattamaṁsaṁ jānāhī”ti. Atha kho sīho senāpati tassā rattiyā accayena paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi—“kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena sīhassa senāpatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena.
Sīha then told a man, “Go and get some meat.” The following morning Sīha had various kinds of fine foods prepared. He then had the Buddha informed that the meal was ready.
The Buddha robed up, took his bowl and robe, and went to General Sīha’s house where he sat down on the prepared seat together with the Sangha of monks.
294. Khi ấy, tướng quân Sīha ra lệnh cho một người đàn ông: “Này anh, hãy đi tìm mua thịt có sẵn.” Sau đó, khi đêm đã qua, tướng quân Sīha cho chuẩn bị các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, rồi cho người báo thời gian đến Thế Tôn: “Bạch ngài, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.” Khi ấy, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang y bát, đi đến trú xứ của tướng quân Sīha; sau khi đến, ngài đã ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn cùng với Tăng chúng.
Tena kho pana samayena sambahulā nigaṇṭhā vesāliyaṁ rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ bāhā paggayha kandanti—“ajja sīhena senāpatinā thūlaṁ pasuṁ vadhitvā samaṇassa gotamassa bhattaṁ kataṁ, taṁ samaṇo gotamo jānaṁ uddissakataṁ maṁsaṁ paribhuñjati paṭiccakamman”ti.
Atha kho aññataro puriso yena sīho senāpati tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā sīhassa senāpatissa upakaṇṇake ārocesi—“yagghe, bhante, jāneyyāsi, ete sambahulā nigaṇṭhā vesāliyaṁ rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ bāhā paggayha kandanti—‘ajja sīhena senāpatinā thūlaṁ pasuṁ vadhitvā samaṇassa gotamassa bhattaṁ kataṁ, taṁ samaṇo gotamo jānaṁ uddissakataṁ maṁsaṁ paribhuñjati paṭiccakamman’”ti. “Alaṁ, ayyo, dīgharattampi te āyasmantā avaṇṇakāmā buddhassa, avaṇṇakāmā dhammassa, avaṇṇakāmā saṅghassa; na ca pana te āyasmantā jiridanti taṁ bhagavantaṁ asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhantā; na ca mayaṁ jīvitahetupi sañcicca pāṇaṁ jīvitā voropeyyāmā”ti.
Atha kho sīho senāpati buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho sīhaṁ senāpatiṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, jānaṁ uddissakataṁ maṁsaṁ paribhuñjitabbaṁ. Yo paribhuñjeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, tikoṭiparisuddhaṁ macchamaṁsaṁ—adiṭṭhaṁ assutaṁ aparisaṅkitan”ti.
Just then a number of Jain ascetics were walking around Vesālī, from street to street, from intersection to intersection, waiving their arms and calling out, “General Sīha has killed a large animal and made a meal for the ascetic Gotama. The ascetic Gotama is eating that meat, knowing that the animal was killed for his sake!”
A certain man went up to Sīha and whispered to him what the Jains were doing. Sīha said, “Forget about it. For a long time those venerables have wanted to disparage the Buddha, the Teaching, and the Sangha of monks. They’ll grow old and still keep on misrepresenting the Buddha with lies. Besides, I wouldn’t kill a living being even for the sake of my life.”
Sīha then personally served various kinds of fine foods to the Sangha of monks headed by the Buddha. When the Buddha had finished his meal, Sīha sat down to one side. The Buddha instructed, inspired, and gladdened him with a teaching. He then got up from his seat and left.
Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t eat meat when you know the animal was killed for your sake. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow you to eat meat and fish that’s pure in three respects: you haven’t seen, heard, or suspected that the animal was killed for your sake.”
Vào lúc bấy giờ, nhiều người Nigantha ở Vesālī đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, giơ tay lên và la lối rằng: – ‘Hôm nay, tướng quân Sīha đã giết một con thú to béo để làm bữa ăn cho sa-môn Gotama. Sa-môn Gotama ấy biết như thế mà vẫn dùng thịt được làm riêng cho mình, (đó là) việc làm có liên quan (đến việc sát sanh).’ Khi ấy, một người đàn ông đi đến chỗ tướng quân Sīha, sau khi đến đã ghé vào tai tướng quân Sīha và trình báo rằng: ‘Thưa ngài, mong ngài được biết, những người Nigantha này đang đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác ở Vesālī, giơ tay lên và la lối rằng: – ‘Hôm nay, tướng quân Sīha đã giết một con thú to béo để làm bữa ăn cho sa-môn Gotama. Sa-môn Gotama ấy biết như thế mà vẫn dùng thịt được làm riêng cho mình, (đó là) việc làm có liên quan (đến việc sát sanh).’’ (Tướng quân Sīha đáp:) ‘Này bạn, thôi đi. Từ lâu rồi, các vị tôn giả ấy đã luôn muốn nói xấu về đức Phật, muốn nói xấu về Giáo Pháp, muốn nói xấu về Tăng chúng. Và các vị tôn giả ấy không ngừng vu khống đức Thế Tôn bằng những điều không có thật, rỗng tuếch, sai sự thật, không chân chánh. Còn chúng tôi, ngay cả vì mạng sống cũng không cố ý tước đoạt sinh mạng của chúng sanh.’ Khi ấy, tướng quân Sīha đã tự tay dâng cúng các món ăn vật thực loại cứng và loại mềm thượng vị lên hội chúng tỳ-khưu có đức Phật dẫn đầu cho đến khi các vị ấy thỏa mãn và dùng đủ. Sau khi đức Thế Tôn đã dùng xong, tay đã rời khỏi bát, ông ngồi xuống một nơi hợp lẽ. Đức Thế Tôn đã thuyết một bài pháp thoại cho tướng quân Sīha đang ngồi một nơi hợp lẽ, làm cho ông thấy rõ, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về. Khi ấy, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các tỳ-khưu: – ‘Này các tỳ-khưu, không được dùng thịt mà mình biết là được làm riêng cho mình. Vị nào dùng, phạm tội tác ác. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép dùng cá và thịt thanh tịnh về ba phương diện: không thấy, không nghe, không nghi (là con vật bị giết vì mình).’
20. Kappiyabhūmianujānana
20. The allowance for a food-storage area
Sự cho phép về khu đất hợp lệ (kappiyabhūmi)
Tena kho pana samayena vesālī subhikkhā hoti susassā sulabhapiṇḍā, sukarā uñchena paggahena yāpetuṁ. Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—“yāni tāni mayā bhikkhūnaṁ anuññātāni dubbhikkhe dussasse dullabhapiṇḍe anto vuṭṭhaṁ anto pakkaṁ sāmaṁ pakkaṁ uggahitapaṭiggahitakaṁ tato nīhaṭaṁ purebhattaṁ paṭiggahitaṁ vanaṭṭhaṁ pokkharaṭṭhaṁ, ajjāpi nu kho tāni bhikkhū paribhuñjantī”ti.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi—“yāni tāni, ānanda, mayā bhikkhūnaṁ anuññātāni dubbhikkhe dussasse dullabhapiṇḍe anto vuṭṭhaṁ anto pakkaṁ sāmaṁ pakkaṁ uggahitapaṭiggahitakaṁ tato nīhaṭaṁ purebhattaṁ paṭiggahitaṁ vanaṭṭhaṁ pokkharaṭṭhaṁ, ajjāpi nu kho tāni bhikkhū paribhuñjantī”ti? “Paribhuñjanti, bhagavā”ti.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“yāni tāni, bhikkhave, mayā bhikkhūnaṁ anuññātāni dubbhikkhe dussasse dullabhapiṇḍe anto vuṭṭhaṁ anto pakkaṁ sāmaṁ pakkaṁ uggahitapaṭiggahitakaṁ tato nīhaṭaṁ purebhattaṁ paṭiggahitaṁ vanaṭṭhaṁ pokkharaṭṭhaṁ, tānāhaṁ ajjatagge paṭikkhipāmi.
Na, bhikkhave, anto vuṭṭhaṁ anto pakkaṁ sāmaṁ pakkaṁ uggahitapaṭiggahitakaṁ paribhuñjitabbaṁ. Yo paribhuñjeyya, āpatti dukkaṭassa.
Na ca, bhikkhave, tato nīhaṭaṁ purebhattaṁ paṭiggahitaṁ vanaṭṭhaṁ pokkharaṭṭhaṁ bhuttāvinā pavāritena anatirittaṁ paribhuñjitabbaṁ. Yo paribhuñjeyya, yathādhammo kāretabbo”ti.
Some time later in Vesālī, there was plenty of food, the crops were abundant, and there was no problem getting by on almsfood. Then, while the Buddha was reflecting in private, he thought, “Those things I allowed the monks when there was a shortage of food, the crops were meager, and it was hard to get by on alms—that is, what’s been stored indoors in a monastery, what’s been cooked indoors in a monastery, what’s been cooked by the monks themselves, what’s been received after picking it up, what’s been brought out, what’s been received before the meal, what’s come from the forest or a lotus pond—do the monks still make use of these?”
When the Buddha had come out from seclusion, he asked Venerable Ānanda about this. He replied, “They do, sir.”
Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“Those things I allowed you when there was a shortage of food, the crops were meager, and it was hard to get by on alms, I prohibit from today onward.
You shouldn’t eat what’s been stored indoors in a monastery, what’s been cooked indoors in a monastery, what’s been cooked by yourselves, or what’s been received after picking it up. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
If you have finished your meal and refused an invitation to eat more, you shouldn’t eat non-leftovers that have been brought out, that have been received before the meal, or that have come from the forest or a lotus pond. If you do, you should be dealt with according to the rule.”
179. Vào lúc bấy giờ, thành Vesālī được sung túc, mùa màng tốt đẹp, vật thực dễ kiếm, dễ dàng sống bằng cách đi khất thực với bình bát trên tay. Khi ấy, trong lúc độc cư ở nơi thanh vắng, đức Thế Tôn đã khởi lên suy nghĩ trong tâm như vầy: – ‘Những thứ mà ta đã cho phép các tỳ-khưu trong thời kỳ đói kém, mất mùa, khó khất thực, (như là) vật thực được cất giữ trong trú xứ, được nấu trong trú xứ, tự mình nấu, đã nhận rồi nhận lại, được mang về từ nơi ấy, trái cây trong rừng và củ sen trong hồ được nhận trước bữa ăn, không biết các tỳ-khưu ngày nay có còn dùng những thứ ấy không?’ Khi ấy, vào buổi chiều, đức Thế Tôn ra khỏi nơi độc cư và gọi Đại đức Ānanda: – ‘Này Ānanda, những thứ mà ta đã cho phép các tỳ-khưu trong thời kỳ đói kém, mất mùa, khó khất thực, (như là) vật thực được cất giữ trong trú xứ, được nấu trong trú xứ, tự mình nấu, đã nhận rồi nhận lại, được mang về từ nơi ấy, trái cây trong rừng và củ sen trong hồ được nhận trước bữa ăn, không biết các tỳ-khưu ngày nay có còn dùng những thứ ấy không?’ – ‘Bạch đức Thế Tôn, họ vẫn còn dùng.’ Khi ấy, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các tỳ-khưu: – ‘Này các tỳ-khưu, những thứ mà ta đã cho phép các tỳ-khưu trong thời kỳ đói kém, mất mùa, khó khất thực, (như là) vật thực được cất giữ trong trú xứ, được nấu trong trú xứ, tự mình nấu, đã nhận rồi nhận lại, được mang về từ nơi ấy, trái cây trong rừng và củ sen trong hồ được nhận trước bữa ăn, kể từ hôm nay ta bãi bỏ những thứ ấy. Này các tỳ-khưu, không được dùng vật thực được cất giữ trong trú xứ, được nấu trong trú xứ, tự mình nấu, đã nhận rồi nhận lại. Vị nào dùng, phạm tội tác ác. Và này các tỳ-khưu, vật thực được mang về từ nơi ấy, trái cây trong rừng và củ sen trong hồ được nhận trước bữa ăn, thì vị đã ăn xong và đã từ chối không được dùng phần không phải là thức ăn thừa. Vị nào dùng, phải được xử lý theo Pháp.’
Tena kho pana samayena jānapadā manussā bahuṁ loṇampi, telampi, taṇḍulampi, khādanīyampi sakaṭesu āropetvā bahārāmakoṭṭhake sakaṭaparivaṭṭaṁ karitvā acchanti—“yadā paṭipāṭiṁ labhissāma, tadā bhattaṁ karissāmā”ti. Mahā ca megho uggato hoti. Atha kho te manussā yenāyasmā ānando tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavocuṁ—“idha, bhante ānanda, bahuṁ loṇampi, telampi, taṇḍulampi, khādanīyampi sakaṭesu āropitā tiṭṭhanti, mahā ca megho uggato; kathaṁ nu kho, bhante ānanda, paṭipajjitabban”ti? Atha kho āyasmā ānando bhagavato etamatthaṁ ārocesi. “Tena hānanda, saṅgho paccantimaṁ vihāraṁ kappiyabhūmiṁ sammannitvā tattha vāsetu, yaṁ saṅgho ākaṅkhati vihāraṁ vā aḍḍhayogaṁ vā pāsādaṁ vā hammiyaṁ vā guhaṁ vā. Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbā. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
At that time people from the country loaded much salt, oil, rice, and fresh food onto carts, brought them to outside the monastery gatehouse, and waited for their turn to cook a meal. Just then a storm was approaching. Those people went to Venerable Ānanda and told him what was happening, adding, “What should we do now?” Ānanda told the Buddha, who said, “Well then, Ānanda, the Sangha should designate a building at the edge of the monastery as a food-storage area and then store the food there—whether a dwelling, a stilt house, or a cave. And it should be done like this. A competent and capable monk should inform the Sangha:
295. Vào lúc bấy giờ, những người dân quê đã chất nhiều muối, dầu, gạo, và vật thực lên xe, đậu thành vòng tròn bên ngoài cổng tu viện và chờ đợi: ‘Khi nào đến lượt, chúng ta sẽ làm phước cúng dường.’ Và một đám mây lớn kéo đến. Khi ấy, những người ấy đi đến chỗ Đại đức Ānanda, sau khi đến đã thưa với Đại đức Ānanda rằng: – ‘Thưa ngài Ānanda, ở đây có nhiều muối, dầu, gạo, và vật thực được chất sẵn trên xe, và một đám mây lớn đang kéo đến. Thưa ngài Ānanda, chúng con phải làm thế nào đây?’ Khi ấy, Đại đức Ānanda đã trình bày sự việc này lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) ‘Này Ānanda, trong trường hợp đó, Tăng chúng hãy tuyên bố một ngôi tịnh xá ở nơi hẻo lánh làm khu đất hợp lệ và cất giữ vật phẩm ở đó, bất cứ nơi nào Tăng chúng muốn, dù là tịnh xá, nhà một mái, lầu đài, nhà có sân thượng, hay hang động. Và này các tỳ-khưu, việc tuyên bố phải được thực hiện như sau. Một vị tỳ-khưu có năng lực và tài giỏi nên trình báo cho Tăng chúng biết: –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ vihāraṁ kappiyabhūmiṁ sammanneyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should designate such-and-such a dwelling as a food-storage area. This is the motion.
‘Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Nếu thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng, Tăng chúng hãy tuyên bố ngôi tịnh xá tên là… làm khu đất hợp lệ. Đây là lời tuyên ngôn.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ vihāraṁ kappiyabhūmiṁ sammannati. Yassāyasmato khamati itthannāmassa vihārassa kappiyabhūmiyā sammuti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha designates such-and-such a dwelling as a food-storage area. Any monk who approves of designating such-and-such a dwelling as a food-storage area should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư đại đức, Tăng chúng hãy nghe lời của tôi. Tăng chúng công nhận ngôi tự viện tên là ... này là khu đất hợp lệ. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc công nhận ngôi tự viện tên là ... này là khu đất hợp lệ thì vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì vị ấy hãy nói lên.”
Sammato saṅghena itthannāmo vihāro kappiyabhūmi. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has designated such-and-such a dwelling as a food-storage area. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Ngôi tự viện tên là ... này đã được Tăng chúng công nhận là khu đất hợp lệ. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên đã im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Tena kho pana samayena manussā tattheva sammutiyā kappiyabhūmiyā yāguyo pacanti, bhattāni pacanti, sūpāni sampādenti, maṁsāni koṭṭenti, kaṭṭhāni phālenti. Assosi kho bhagavā rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya uccāsaddaṁ mahāsaddaṁ kākoravasaddaṁ, sutvāna āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi—“kiṁ nu kho so, ānanda, uccāsaddo mahāsaddo kākoravasaddo”ti? “Etarahi, bhante, manussā tattheva sammutiyā kappiyabhūmiyā yāguyo pacanti, bhattāni pacanti, sūpāni sampādenti, maṁsāni koṭṭenti, kaṭṭhāni phālenti. So eso, bhagavā, uccāsaddo mahāsaddo kākoravasaddo”ti. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, sammuti kappiyabhūmi paribhuñjitabbā. Yo paribhuñjeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, tisso kappiyabhūmiyo—ussāvanantikaṁ gonisādikaṁ gahapatin”ti.
Soon afterwards people used the designated food-storage area for various purposes: to cook congee and rice, to prepare curries, to chop meat, and to split firewood. Getting up early in the morning, the Buddha heard loud noises, like the cawing of crows. He asked Venerable Ānanda what was going on, and Ānanda told him. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t use a designated food-storage area. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow three places as food-storage areas: a building made according to a proclamation, a cow stall, and a building given for the purpose by a householder.”
Vào lúc bấy giờ, các người dân nấu cháo, nấu cơm, chuẩn bị các món canh, bằm thịt, chẻ củi ngay tại khu đất hợp lệ đã được công nhận ấy. Vào lúc gần sáng trong đêm, sau khi thức dậy, đức Thế Tôn đã nghe được tiếng ồn ào, tiếng huyên náo, tiếng ồn như quạ kêu. Sau khi nghe, ngài gọi trưởng lão Ānanda và hỏi: – Này Ānanda, tiếng ồn ào, tiếng huyên náo, tiếng ồn như quạ kêu kia là tiếng gì vậy? – Kính bạch ngài, hiện nay các người dân đang nấu cháo, nấu cơm, chuẩn bị các món canh, bằm thịt, chẻ củi ngay tại khu đất hợp lệ đã được công nhận ấy. Bạch đức Thế Tôn, tiếng ồn ào, tiếng huyên náo, tiếng ồn như quạ kêu kia chính là tiếng ấy. Bấy giờ, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các vị tỳ khưu và dạy rằng: – Này các tỳ khưu, không được sử dụng khu đất hợp lệ đã được công nhận. Vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba loại khu đất hợp lệ: ussāvanantika, gonisādika, và gahapati.
Tena kho pana samayena āyasmā yasojo gilāno hoti. Tassatthāya bhesajjāni āhariyanti. Tāni bhikkhū bahi vāsenti. Ukkapiṇḍakāpi khādanti, corāpi haranti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sammutiṁ kappiyabhūmiṁ paribhuñjituṁ. Anujānāmi, bhikkhave, catasso kappiyabhūmiyo—ussāvanantikaṁ gonisādikaṁ gahapatiṁ sammutin”ti.
Soon afterwards Venerable Yasoja was sick. People brought him tonics and the monks stored them outside. Vermin ate them and thieves stole them.
“I allow you to use a designated food-storage area. I allow four places as food-storage areas: a building made according to a proclamation, a cow stall, a building given for the purpose by a householder, and a building designated by the Sangha.”
Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Yasoja bị bệnh. Các dược phẩm được mang đến vì lợi ích của vị ấy. Các vị tỳ khưu để các dược phẩm ấy ở bên ngoài. Các loài mèo, chuột, cầy, rắn cũng ăn, và kẻ trộm cũng lấy đi. Các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) – Này các tỳ khưu, Ta cho phép sử dụng khu đất hợp lệ đã được công nhận. Này các tỳ khưu, Ta cho phép bốn loại khu đất hợp lệ: ussāvanantika, gonisādika, gahapati, và sammuti.
Sīhabhāṇavāro niṭṭhito catuttho.
The fourth section for recitation on Sīha is finished.
Phẩm Sīha, phần thứ tư, đã kết thúc.
21. Meṇḍakagahapativatthu
21. The account of the householder Meṇḍaka
180. Câu chuyện về gia chủ Meṇḍaka
Tena kho pana samayena bhaddiyanagare meṇḍako gahapati paṭivasati. Tassa evarūpo iddhānubhāvo hoti—sīsaṁ nahāyitvā dhaññāgāraṁ sammajjāpetvā bahidvāre nisīdati, antalikkhā dhaññassa dhārā opatitvā dhaññāgāraṁ pūreti. Bhariyāya evarūpo iddhānubhāvo hoti—ekaṁyeva āḷhakathālikaṁ upanisīditvā ekañca sūpabhiñjanakaṁ dāsakammakaraporisaṁ bhattena parivisati, na tāva taṁ khiyyati yāva sā na vuṭṭhāti. Puttassa evarūpo iddhānubhāvo hoti—ekaṁyeva sahassathavikaṁ gahetvā dāsakammakaraporisassa chamāsikaṁ vetanaṁ deti, na tāva taṁ khiyyati yāvassa hatthagatā. Suṇisāya evarūpo iddhānubhāvo hoti—ekaṁyeva catudoṇikaṁ piṭakaṁ upanisīditvā dāsakammakaraporisassa chamāsikaṁ bhattaṁ deti, na tāva taṁ khiyyati yāva sā na vuṭṭhāti. Dāsassa evarūpo iddhānubhāvo hoti—ekena naṅgalena kasantassa satta sītāyo gacchanti.
At that time in the town of Bhaddiya there was a householder called Meṇḍaka who had supernormal powers. He would wash his hair, sweep out his granary, and sit down outside the door. A shower of grain would then fall out of the sky and fill his granary. His wife, too, had supernormal powers. She would sit down next to a pot of rice and a pot of curry and serve a meal to the slaves, servants, and workers. The food would not be exhausted until she got up. His son, too, had supernormal powers. He would get a bag containing a thousand coins and give the slaves, servants, and workers their wages for six months. That purse would not go empty as long as he held it. His daughter-in-law, too, had supernormal powers. She would sit down next to a four-liter basket and give out rice for six months to the slaves, servants, and workers. The rice would not be exhausted until she got up. Even his slave had supernormal powers. While plowing with a single plow, he made seven furrows.
296. Vào lúc bấy giờ, tại thành phố Bhaddiya có vị gia chủ tên là Meṇḍaka sinh sống. Vị ấy có thần lực như vầy: sau khi gội đầu và cho quét dọn kho lúa, ông ngồi ở bên ngoài cửa, một dòng lúa từ trên không trung rơi xuống làm đầy kho lúa. Người vợ có thần lực như vầy: bà ngồi xuống bên cạnh chỉ một cái nồi cơm dung tích một āḷhaka và một cái nồi canh, rồi phân phát cơm cho đám tôi tớ và người làm công; cơm ấy không hết chừng nào bà chưa đứng dậy. Người con trai có thần lực như vầy: anh ta cầm chỉ một cái túi một ngàn (đồng tiền) rồi trả lương sáu tháng cho đám tôi tớ và người làm công; (tiền) ấy không hết chừng nào còn ở trong tay anh ta. Người con dâu có thần lực như vầy: cô ngồi xuống bên cạnh chỉ một cái giỏ dung tích bốn doṇa rồi phát lương thực sáu tháng cho đám tôi tớ và người làm công; (lương thực) ấy không hết chừng nào cô chưa đứng dậy. Người nô lệ có thần lực như vầy: khi anh ta cày với một lưỡi cày thì có bảy luống cày được tạo ra.
Assosi kho rājā māgadho seniyo bimbisāro—“amhākaṁ kira vijite bhaddiyanagare meṇḍako gahapati paṭivasati. Tassa evarūpo iddhānubhāvo—sīsaṁ nahāyitvā dhaññāgāraṁ sammajjāpetvā bahidvāre nisīdati, antalikkhā dhaññassa dhārā opatitvā dhaññāgāraṁ pūreti. Bhariyāya evarūpo iddhānubhāvo—ekaṁyeva āḷhakathālikaṁ upanisīditvā ekañca sūpabhiñjanakaṁ dāsakammakaraporisaṁ bhattena parivisati, na tāva taṁ khiyyati yāva sā na vuṭṭhāti. Puttassa evarūpo iddhānubhāvo—ekaṁyeva sahassathavikaṁ gahetvā dāsakammakaraporisassa chamāsikaṁ vetanaṁ deti, na tāva taṁ khiyyati yāvassa hatthagatā. Suṇisāya evarūpo iddhānubhāvo—ekaṁyeva catudoṇikaṁ piṭakaṁ upanisīditvā dāsakammakaraporisassa chamāsikaṁ bhattaṁ deti, na tāva taṁ khiyyati yāva sā na vuṭṭhāti. Dāsassa evarūpo iddhānubhāvo—ekena naṅgalena kasantassa satta sītāyo gacchantī”ti. Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro aññataraṁ sabbatthakaṁ mahāmattaṁ āmantesi—“amhākaṁ kira, bhaṇe, vijite bhaddiyanagare meṇḍako gahapati paṭivasati. Tassa evarūpo iddhānubhāvo—sīsaṁ nahāyitvā dhaññāgāraṁ sammajjāpetvā bahidvāre nisīdati, antalikkhā dhaññassa dhārā opatitvā dhaññāgāraṁ pūreti. Bhariyāya …pe… puttassa … suṇisāya … dāsassa evarūpo iddhānubhāvo, ekena naṅgalena kasantassa satta sītāyo gacchantīti. Gaccha, bhaṇe, jānāhi. Yathā mayā sāmaṁ diṭṭho, evaṁ tava diṭṭho bhavissatī”ti.
King Seniya Bimbisāra of Magadha heard that within his kingdom, in the town of Bhaddiya, there was a householder called Meṇḍaka with all these abilities. The king told the official in charge of practical affairs about this, adding, “Go and investigate it. If you see it, it will be as if I see it myself.”
Vua xứ Māgadha là Seniya Bimbisāra đã nghe rằng: ‘Nghe nói tại thành phố Bhaddiya trong lãnh thổ của chúng ta có vị gia chủ tên là Meṇḍaka sinh sống. Vị ấy có thần lực như vầy: sau khi gội đầu và cho quét dọn kho lúa, ông ngồi ở bên ngoài cửa, một dòng lúa từ trên không trung rơi xuống làm đầy kho lúa. Người vợ có thần lực như vầy: bà ngồi xuống bên cạnh chỉ một cái nồi cơm dung tích một āḷhaka và một cái nồi canh, rồi phân phát cơm cho đám tôi tớ và người làm công; cơm ấy không hết chừng nào bà chưa đứng dậy. Người con trai có thần lực như vầy: anh ta cầm chỉ một cái túi một ngàn (đồng tiền) rồi trả lương sáu tháng cho đám tôi tớ và người làm công; (tiền) ấy không hết chừng nào còn ở trong tay anh ta. Người con dâu có thần lực như vầy: cô ngồi xuống bên cạnh chỉ một cái giỏ dung tích bốn doṇa rồi phát lương thực sáu tháng cho đám tôi tớ và người làm công; (lương thực) ấy không hết chừng nào cô chưa đứng dậy. Người nô lệ có thần lực như vầy: khi anh ta cày với một lưỡi cày thì có bảy luống cày được tạo ra.’ Bấy giờ, vua xứ Māgadha là Seniya Bimbisāra gọi một vị đại thần lo mọi việc và nói: – Này khanh, nghe nói tại thành phố Bhaddiya trong lãnh thổ của chúng ta có vị gia chủ tên là Meṇḍaka sinh sống. Vị ấy có thần lực như vầy: sau khi gội đầu và cho quét dọn kho lúa, ông ngồi ở bên ngoài cửa, một dòng lúa từ trên không trung rơi xuống làm đầy kho lúa. Người vợ... vân vân... người con trai... người con dâu... người nô lệ có thần lực như vầy: khi anh ta cày với một lưỡi cày thì có bảy luống cày được tạo ra. Này khanh, hãy đi và tìm hiểu. Việc khanh thấy sẽ giống như chính ta đã thấy vậy.
“Evaṁ, devā”ti kho so mahāmatto rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa paṭissuṇitvā caturaṅginiyā senāya yena bhaddiyaṁ tena pāyāsi. Anupubbena yena bhaddiyaṁ yena meṇḍako gahapati tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā meṇḍakaṁ gahapatiṁ etadavoca—“ahañhi, gahapati, raññā āṇatto—‘amhākaṁ kira, bhaṇe, vijite bhaddiyanagare meṇḍako gahapati paṭivasati, tassa evarūpo iddhānubhāvo, sīsaṁ nahāyitvā …pe… bhariyāya … puttassa … suṇisāya … dāsassa evarūpo iddhānubhāvo, ekena naṅgalena kasantassa satta sītāyo gacchantīti, gaccha, bhaṇe, jānāhi. Yathā mayā sāmaṁ diṭṭho, evaṁ tava diṭṭho bhavissatī’ti. Passāma te, gahapati, iddhānubhāvan”ti. Atha kho meṇḍako gahapati sīsaṁ nahāyitvā dhaññāgāraṁ sammajjāpetvā bahidvāre nisīdi, antalikkhā dhaññassa dhārā opatitvā dhaññāgāraṁ pūresi.
“Diṭṭho te, gahapati, iddhānubhāvo. Bhariyāya te iddhānubhāvaṁ passissāmā”ti. Atha kho meṇḍako gahapati bhariyaṁ āṇāpesi—“tena hi caturaṅginiṁ senaṁ bhattena parivisā”ti. Atha kho meṇḍakassa gahapatissa bhariyā ekaṁyeva āḷhakathālikaṁ upanisīditvā ekañca sūpabhiñjanakaṁ caturaṅginiṁ senaṁ bhattena parivisi, na tāva taṁ khiyyati, yāva sā na vuṭṭhāti.
“Diṭṭho te, gahapati, bhariyāyapi iddhānubhāvo. Puttassa te iddhānubhāvaṁ passissāmā”ti. Atha kho meṇḍako gahapati puttaṁ āṇāpesi—“tena hi caturaṅginiyā senāya chamāsikaṁ vetanaṁ dehī”ti. Atha kho meṇḍakassa gahapatissa putto ekaṁyeva sahassathavikaṁ gahetvā caturaṅginiyā senāya chamāsikaṁ vetanaṁ adāsi, na tāva taṁ khiyyati, yāvassa hatthagatā.
“Diṭṭho te, gahapati, puttassapi iddhānubhāvo. Suṇisāya te iddhānubhāvaṁ passissāmā”ti. Atha kho meṇḍako gahapati suṇisaṁ āṇāpesi—“tena hi caturaṅginiyā senāya chamāsikaṁ bhattaṁ dehī”ti. Atha kho meṇḍakassa gahapatissa suṇisā ekaṁyeva catudoṇikaṁ piṭakaṁ upanisīditvā caturaṅginiyā senāya chamāsikaṁ bhattaṁ adāsi, na tāva taṁ khiyyati yāva sā na vuṭṭhāti.
“Diṭṭho te, gahapati, suṇisāyapi iddhānubhāvo. Dāsassa te iddhānubhāvaṁ passissāmā”ti.
“Mayhaṁ kho, sāmi, dāsassa iddhānubhāvo khette passitabbo”ti.
“Alaṁ, gahapati, diṭṭho te dāsassapi iddhānubhāvo”ti.
Atha kho so mahāmatto caturaṅginiyā senāya punadeva rājagahaṁ paccāgañchi. Yena rājā māgadho seniyo bimbisāro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa etamatthaṁ ārocesi.
Saying, “Yes, sir,” he set out for Bhaddiya with the fourfold army. When he eventually arrived, he went up to Meṇḍaka and said, “I’ve been told by the king to investigate your supernormal powers. Please show them to me.” Meṇḍaka then washed his hair, swept out his granary, and sat down outside the door. A shower of grain fell out of the sky and filled his granary.
“Good. Now show me your wife’s supernormal powers.” Meṇḍaka told his wife, “Please serve a meal to the fourfold army.” She sat down next to a pot of rice and a pot of curry and served a meal to the fourfold army. The food was not exhausted until she got up.
“Good. Now show me your son’s supernormal powers.” Meṇḍaka told his son, “Please give wages for six months to the fourfold army.” He got a bag containing a thousand coins and gave the fourfold army its wages for six months. That purse did not go empty as long as he held it.
“Good. Now show me your daughter-in-law’s supernormal powers.” Meṇḍaka told his daughter-in-law, “Please give rice for six months to the fourfold army.” She sat down next to a four-liter basket and gave rice for six months to the fourfold army. The rice was not exhausted until she got up.
“Good. Now show me your slave’s supernormal powers.”
“Sir, we have to go to the field to see that.”
“Forget about it, then. I consider it as seen.”
That official then returned to Rājagaha with the fourfold army and told the king what had happened.
297. “Tâu Đại vương, xin vâng.” Vị đại thần ấy sau khi vâng lệnh vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha, đã cùng với bốn binh chủng lên đường đi đến Bhaddiya. Lần lượt đi đến Bhaddiya, đến chỗ của gia chủ Meṇḍaka; sau khi đến, ông nói với gia chủ Meṇḍaka điều này: “Thưa gia chủ, tôi được đức vua ra lệnh rằng: ‘Này khanh, nghe nói trong lãnh thổ của chúng ta, tại thành Bhaddiya, có gia chủ Meṇḍaka đang sinh sống. Vị ấy có oai lực thần thông như thế này: sau khi gội đầu... cho đến... vợ ông... con trai ông... con dâu ông... người nô lệ của ông cũng có oai lực thần thông như thế này: khi cày bằng một lưỡi cày thì có bảy luống cày được tạo ra.’ Này khanh, hãy đi và tìm hiểu. Như ta đã tự mình thấy, khanh cũng sẽ thấy như vậy.’ Thưa gia chủ, chúng tôi muốn xem oai lực thần thông của ngài.” Bấy giờ, gia chủ Meṇḍaka sau khi gội đầu, cho quét dọn kho lúa, rồi ngồi ở ngoài cửa. Từ hư không, những dòng lúa rơi xuống làm đầy kho lúa. “Thưa gia chủ, oai lực thần thông của ngài đã được thấy. Chúng tôi muốn xem oai lực thần thông của phu nhân ngài.” Bấy giờ, gia chủ Meṇḍaka ra lệnh cho vợ: “Vậy thì, hãy dọn cơm cho bốn binh chủng.” Bấy giờ, vợ của gia chủ Meṇḍaka ngồi xuống bên cạnh chỉ một cái nồi cơm dung tích một āḷhaka và một nồi canh, rồi dọn cơm cho bốn binh chủng. Chừng nào bà chưa đứng dậy thì cơm ấy vẫn không hết. “Thưa gia chủ, oai lực thần thông của phu nhân ngài cũng đã được thấy. Chúng tôi muốn xem oai lực thần thông của con trai ngài.” Bấy giờ, gia chủ Meṇḍaka ra lệnh cho con trai: “Vậy thì, hãy phát tiền lương sáu tháng cho bốn binh chủng.” Bấy giờ, con trai của gia chủ Meṇḍaka cầm lấy chỉ một cái túi đựng một ngàn (đồng tiền) rồi phát tiền lương sáu tháng cho bốn binh chủng. Chừng nào túi tiền còn ở trong tay anh ta thì vẫn không hết. “Thưa gia chủ, oai lực thần thông của con trai ngài cũng đã được thấy. Chúng tôi muốn xem oai lực thần thông của con dâu ngài.” Bấy giờ, gia chủ Meṇḍaka ra lệnh cho con dâu: “Vậy thì, hãy cấp phát lương thực sáu tháng cho bốn binh chủng.” Bấy giờ, con dâu của gia chủ Meṇḍaka ngồi xuống bên cạnh chỉ một cái giỏ dung tích bốn doṇa rồi cấp phát lương thực sáu tháng cho bốn binh chủng. Chừng nào cô chưa đứng dậy thì lương thực ấy vẫn không hết. “Thưa gia chủ, oai lực thần thông của con dâu ngài cũng đã được thấy. Chúng tôi muốn xem oai lực thần thông của người nô lệ của ngài.” “Thưa ngài, oai lực thần thông của người nô lệ của tôi thì phải xem ở ngoài đồng.” “Thôi đủ rồi, thưa gia chủ, oai lực thần thông của người nô lệ của ngài cũng đã được thấy.” Bấy giờ, vị đại thần ấy cùng với bốn binh chủng lại trở về thành Rājagaha. Ông đến yết kiến vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha; sau khi đến, ông đã tâu lại sự việc ấy cho vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha.
Atha kho bhagavā vesāliyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena bhaddiyaṁ tena cārikaṁ pakkāmi mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ aḍḍhatelasehi bhikkhusatehi. Atha kho bhagavā anupubbena cārikaṁ caramāno yena bhaddiyaṁ tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā bhaddiye viharati jātiyā vane.
Assosi kho meṇḍako gahapati—“samaṇo khalu bho gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito bhaddiyaṁ anuppatto bhaddiye viharati jātiyā vane. Taṁ kho pana bhagavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato—
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
Atha kho meṇḍako gahapati bhadrāni bhadrāni yānāni yojāpetvā bhadraṁ bhadraṁ yānaṁ abhiruhitvā bhadrehi bhadrehi yānehi bhaddiyā niyyāsi bhagavantaṁ dassanāya. Addasaṁsu kho sambahulā titthiyā meṇḍakaṁ gahapatiṁ dūratova āgacchantaṁ, disvāna meṇḍakaṁ gahapatiṁ etadavocuṁ—“kahaṁ tvaṁ, gahapati, gacchasī”ti?
“Gacchāmahaṁ, bhante, bhagavantaṁ samaṇaṁ gotamaṁ dassanāyā”ti.
“Kiṁ pana tvaṁ, gahapati, kiriyavādo samāno akiriyavādaṁ samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkamissasi? Samaṇo hi, gahapati, gotamo akiriyavādo akiriyāya dhammaṁ deseti, tena ca sāvake vinetī”ti.
Atha kho meṇḍakassa gahapatissa etadahosi—“nissaṁsayaṁ kho so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bhavissati, yathayime titthiyā usūyantī”ti. Yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikova yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnassa kho meṇḍakassa gahapatissa bhagavā anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ …pe…
aparappaccayo satthusāsane bhagavantaṁ etadavoca—“abhikkantaṁ, bhante …pe… upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gataṁ. Adhivāsetu ca me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho meṇḍako gahapati bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
When the Buddha had stayed at Vesālī for as long as he liked, he set out wandering toward Bhaddiya with a large sangha of twelve-hundred and fifty monks. When he eventually arrived, he stayed in the Jātiyā Grove.
Meṇḍaka heard: “Sir, the ascetic Gotama, the Sakyan, who has gone forth from the Sakyan clan, has arrived at Bhaddiya and is staying in the Jātiyā Grove with a large sangha of twelve-hundred and fifty monks. That good Gotama has a fine reputation:
‘He is a Buddha, perfected and fully awakened, complete in insight and conduct, happy, knower of the world, supreme leader of trainable people, teacher of gods and humans, awakened, a Buddha. With his own insight he has seen this world with its gods, its lords of death, and its supreme beings, this society with its monastics and brahmins, its gods and humans, and he makes it known to others. He has a Teaching that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end. It has a true goal and is well articulated. He sets out a perfectly complete and pure spiritual life.’ It’s good to see such perfected ones.”
Meṇḍaka then had his best carriages harnessed, mounted one of them, and set out from Bhaddiya to visit the Buddha. A number of monastics from other religions saw Meṇḍaka coming, and they said to him, “Where are you going, householder?”
“I’m going to visit the Buddha, sir, the ascetic Gotama.”
“But why visit the ascetic Gotama who believes that actions don’t have results when you believe that they do? For the ascetic Gotama believes in inaction, teaches that, and trains his disciples in that.”
Meṇḍaka thought, “No doubt he must be a Buddha, a Perfected and fully Awakened One, since these monastics of other religions are jealous.” He then went by carriage as far as the ground would allow, dismounted, and then approached the Buddha on foot. After bowing down to the Buddha, he sat down, and the Buddha gave him a progressive talk—on generosity, morality, and heaven; on the downside, degradation, and defilement of worldly pleasures; and he revealed the benefits of renunciation. When the Buddha knew that his mind was ready, supple, without hindrances, joyful, and confident, he revealed the teaching unique to the Buddhas: suffering, its origin, its end, and the path. And just as a clean and stainless cloth absorbs dye properly, so too, while he was sitting right there, Meṇḍaka experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.” He had seen the Truth, had reached, understood, and penetrated it. He had gone beyond doubt and uncertainty, had attained to confidence, and had become independent of others in the Teacher’s instruction.
He then said to the Buddha, “Wonderful, sir, wonderful! Just as one might set upright what’s overturned, or reveal what’s hidden, or show the way to one who’s lost, or bring a lamp into the dark so that one with eyes might see what’s there—just so has the Buddha made the Teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, the Teaching, and the Sangha of monks. Please accept me as a lay follower who’s gone for refuge for life. And please accept tomorrow’s meal from me together with the Sangha of monks.” The Buddha consented by remaining silent. Knowing that the Buddha had consented, Meṇḍaka got up from his seat, bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left.
298. Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi đã an trú ở Vesālī tùy theo ý thích, ngài đã khởi hành đi du hành đến nơi có thị trấn Bhaddiya cùng với đại chúng tỳ khưu, với một ngàn hai trăm năm mươi vị tỳ khưu. Bấy giờ, đức Thế Tôn trong khi đi du hành tuần tự đã đi đến nơi có thị trấn Bhaddiya. Tại nơi ấy, đức Thế Tôn an trú ở Bhaddiya, trong khu rừng Jātiyā. Gia chủ Meṇḍaka đã nghe được rằng: “Chư hiền, nghe nói rằng Sa-môn Gotama là Thích tử, đã xuất gia từ dòng họ Thích-ca, đã đi đến Bhaddiya, đang an trú ở Bhaddiya trong khu rừng Jātiyā. Lại nữa, tiếng lành đồn xa về đức Thế Tôn Gotama ấy đã được lan truyền như vầy: ‘Vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Ngài, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí và làm cho chứng thực thế gian này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với loài trời và loài người, đã tuyên thuyết điều ấy. Ngài thuyết giảng giáo pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; ngài trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Lành thay, thay vì được yết kiến các bậc A-la-hán dường ấy.” Bấy giờ, gia chủ Meṇḍaka sau khi cho thắng những cỗ xe tốt đẹp, đã leo lên cỗ xe tốt đẹp, rồi đã đi ra khỏi Bhaddiya bằng những cỗ xe tốt đẹp để yết kiến đức Thế Tôn. Nhiều người theo ngoại đạo đã nhìn thấy gia chủ Meṇḍaka đang đi đến từ xa. Sau khi nhìn thấy, họ đã nói điều này với gia chủ Meṇḍaka: “Này gia chủ, ông đi đâu vậy?” “Thưa các ngài, tôi đi đến yết kiến đức Thế Tôn, Sa-môn Gotama.” “Này gia chủ, tại sao ông là người có chủ trương về hành động (kiriyavāda) lại đi đến yết kiến Sa-môn Gotama, người có chủ trương không hành động (akiriyavāda)? Này gia chủ, vì rằng Sa-môn Gotama là người có chủ trương không hành động, thuyết giảng giáo pháp về việc không hành động, và huấn luyện các đệ tử theo đường lối ấy.” Bấy giờ, gia chủ Meṇḍaka đã có suy nghĩ này: “Chắc chắn rằng vị Thế Tôn ấy hẳn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, vì những người theo ngoại đạo này ganh tỵ như thế.” Sau khi đi bằng xe cho đến hết đoạn đường dành cho xe, ông đã xuống xe rồi đi bộ đến nơi đức Thế Tôn ngự. Sau khi đến, ông đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết bài pháp tuần tự cho gia chủ Meṇḍaka đang ngồi một bên, tức là: Thuyết về bố thí ... (v.v.) ... không còn tùy thuộc vào người khác ở trong giáo pháp của bậc Đạo Sư, ông đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, thật vi diệu thay! ... (v.v.) ... Kể từ hôm nay, mong đức Thế Tôn hãy ghi nhận con là người cận sự nam đã quy y trọn đời. Và bạch ngài, mong đức Thế Tôn cùng với chúng tỳ khưu hãy nhận lời mời dùng bữa của con vào ngày mai.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng sự im lặng. Bấy giờ, gia chủ Meṇḍaka sau khi biết được sự nhận lời của đức Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi ra về.
Atha kho meṇḍako gahapati tassā rattiyā accayena paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi—“kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena meṇḍakassa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena. Atha kho meṇḍakassa gahapatissa bhariyā ca putto ca suṇisā ca dāso ca yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Tesaṁ bhagavā anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ …pe… aparappaccayā satthusāsane bhagavantaṁ etadavocuṁ—“abhikkantaṁ, bhante …pe… ete mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsake no bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupete saraṇaṁ gate”ti. Atha kho meṇḍako gahapati buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho meṇḍako gahapati bhagavantaṁ etadavoca—“yāva, bhante, bhagavā bhaddiye viharati tāva ahaṁ buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa dhuvabhattenā”ti. Atha kho bhagavā meṇḍakaṁ gahapatiṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
The following morning Meṇḍaka had various kinds of fine foods prepared and then had the Buddha informed that the meal was ready.
The Buddha robed up, took his bowl and robe, and went to Meṇḍaka’s house where he sat down on the prepared seat together with the Sangha of monks. Then Meṇḍaka’s wife, son, daughter-in-law, and slave approached the Buddha, bowed, and sat down. The Buddha gave them a progressive talk, just as he had done to Meṇḍaka. They, too, experienced the stainless vision of the Truth, and they expressed their appreciation in the same way and became lay followers. Meṇḍaka then personally served various kinds of fine foods to the Sangha of monks headed by the Buddha. When the Buddha had finished his meal, Meṇḍaka sat down to one side and said, “Sir, as long as you’re staying in Bhaddiya, I would like to offer a regular meal to the Sangha of monks headed by the Buddha.” The Buddha then instructed, inspired, and gladdened him with a teaching, after which he got up from his seat and left.
Bấy giờ, gia chủ Meṇḍaka, sau khi đêm ấy đã trôi qua, đã cho chuẩn bị các món ăn loại cứng và loại mềm thượng hạng, rồi cho người báo tin thời giờ đến đức Thế Tôn: “Bạch ngài, đã đến giờ, bữa ăn đã được chuẩn bị xong.” Bấy giờ, vào buổi sáng, đức Thế Tôn sau khi đắp y, cầm y bát, đã đi đến nơi có tư gia của gia chủ Meṇḍaka. Sau khi đến, ngài đã ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được dọn sẵn cùng với chúng tỳ khưu. Bấy giờ, vợ, con trai, con dâu, và người nô lệ của gia chủ Meṇḍaka đã đi đến nơi đức Thế Tôn ngự. Sau khi đến, họ đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết bài pháp tuần tự cho họ, tức là: Thuyết về bố thí ... (v.v.) ... không còn tùy thuộc vào người khác ở trong giáo pháp của bậc Đạo Sư, họ đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, thật vi diệu thay! ... (v.v.) ... Bạch ngài, chúng con đây xin quy y đức Thế Tôn, quy y Pháp, và quy y chúng Tỳ khưu. Kể từ hôm nay, mong đức Thế Tôn hãy ghi nhận chúng con là những người cận sự nam đã quy y trọn đời.” Bấy giờ, gia chủ Meṇḍaka sau khi tự tay phục vụ và làm cho chúng tỳ khưu với đức Phật dẫn đầu được thỏa mãn, hài lòng với các món ăn loại cứng và loại mềm thượng hạng, đã ngồi xuống một bên trong khi nhận thấy đức Thế Tôn đã dùng bữa xong, tay đã rời khỏi bát. Gia chủ Meṇḍaka đang ngồi một bên đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, trong khi đức Thế Tôn còn an trú ở Bhaddiya, chừng ấy con sẽ cúng dường vật thực thường xuyên đến chúng tỳ khưu với đức Phật dẫn đầu.” Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ gia chủ Meṇḍaka bằng bài pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra về.
22. Pañcagorasādianujānana
22. The allowance for the five products of a cow, etc.
181. Sự cho phép về năm loại chế phẩm từ sữa.
Atha kho bhagavā bhaddiye yathābhirantaṁ viharitvā meṇḍakaṁ gahapatiṁ anāpucchā yena aṅguttarāpo tena cārikaṁ pakkāmi mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ aḍḍhatelasehi bhikkhusatehi. Assosi kho meṇḍako gahapati—“bhagavā kira yena aṅguttarāpo tena cārikaṁ pakkanto mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ aḍḍhatelasehi bhikkhusatehī”ti. Atha kho meṇḍako gahapati dāse ca kammakare ca āṇāpesi—“tena hi, bhaṇe, bahuṁ loṇampi, telampi, taṇḍulampi, khādanīyampi sakaṭesu āropetvā āgacchatha, aḍḍhatelasāni ca gopālakasatāni aḍḍhatelasāni ca dhenusatāni ādāya āgacchantu, yattha bhagavantaṁ passissāma tattha taruṇena khīrena bhojessāmā”ti.
Atha kho meṇḍako gahapati bhagavantaṁ antarāmagge kantāre sambhāvesi. Atha kho meṇḍako gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho meṇḍako gahapati bhagavantaṁ etadavoca—“adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho meṇḍako gahapati bhagavato adhivāsanaṁ viditvā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
When the Buddha had stayed at Bhaddiya for as long as he liked, he set out wandering toward Aṅguttarāpa with a large sangha of twelve-hundred and fifty monks. He had not informed Meṇḍaka. When Meṇḍaka heard about it, he told his slaves and workers, “Load lots of salt, oil, rice, and fresh food onto the carts, and bring along twelve-hundred and fifty cowherds and twelve-hundred and fifty dairy cows. We’ll give the Buddha fresh milk wherever we see him.”
Meṇḍaka caught up with the Buddha while he was crossing a wilderness area. Meṇḍaka approached the Buddha, bowed down, and said, “Sir, please accept tomorrow’s meal from me together with the Sangha of monks.” The Buddha consented by remaining silent. Knowing that the Buddha had consented, Meṇḍaka bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left.
299. Bấy giờ, sau khi trú tại Bhaddiya tùy thích, Thế Tôn đã không báo cho gia chủ Meṇḍaka biết và đã khởi hành du hành đến xứ Aṅguttarāpa cùng với đại chúng Tỳ khưu, với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ khưu. Gia chủ Meṇḍaka nghe được rằng: “Nghe nói Thế Tôn đã khởi hành du hành đến xứ Aṅguttarāpa cùng với đại chúng Tỳ khưu, với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ khưu.” Bấy giờ, gia chủ Meṇḍaka đã ra lệnh cho các người tôi tớ nam và các người làm công rằng: “Này các khanh, vậy thì hãy chất nhiều muối, dầu, gạo, và vật thực lên xe rồi đi theo. Và hãy cho một ngàn hai trăm năm mươi người chăn bò và một ngàn hai trăm năm mươi con bò sữa đi theo. Ở nơi nào chúng ta gặp được Thế Tôn, ở nơi ấy chúng ta sẽ dâng cúng ngài bằng sữa tươi.” Bấy giờ, gia chủ Meṇḍaka đã gặp được Thế Tôn ở giữa đường, trong vùng hoang địa. Bấy giờ, gia chủ Meṇḍaka đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, gia chủ Meṇḍaka đã bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, xin Thế Tôn cùng với chúng Tỳ khưu nhận lời mời dùng bữa của con vào ngày mai.” Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng. Bấy giờ, gia chủ Meṇḍaka, sau khi biết được sự nhận lời của Thế Tôn, đã đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi ra về.
Atha kho meṇḍako gahapati tassā rattiyā accayena paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi—“kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena meṇḍakassa gahapatissa parivesanā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena. Atha kho meṇḍako gahapati aḍḍhatelasāni gopālakasatāni āṇāpesi—“tena hi, bhaṇe, ekamekaṁ dhenuṁ gahetvā ekamekassa bhikkhuno upatiṭṭhatha taruṇena khīrena bhojessāmā”ti. Atha kho meṇḍako gahapati buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi, taruṇena ca khīrena. Bhikkhū kukkuccāyantā khīraṁ na paṭiggaṇhanti. “Paṭiggaṇhatha, bhikkhave, paribhuñjathā”ti. Atha kho meṇḍako gahapati buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā taruṇena ca khīrena bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho meṇḍako gahapati bhagavantaṁ etadavoca—“santi, bhante, maggā kantārā, appodakā appabhakkhā, na sukarā apātheyyena gantuṁ. Sādhu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṁ pātheyyaṁ anujānātū”ti. Atha kho bhagavā meṇḍakaṁ gahapatiṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, pañca gorase—khīraṁ, dadhiṁ, takkaṁ, navanītaṁ, sappiṁ.
Santi, bhikkhave, maggā kantārā appodakā appabhakkhā, na sukarā apātheyyena gantuṁ. Anujānāmi, bhikkhave, pātheyyaṁ pariyesituṁ taṇḍulo taṇḍulatthikena, muggo muggatthikena, māso māsatthikena, loṇaṁ loṇatthikena, guḷo guḷatthikena, telaṁ telatthikena, sappi sappitthikena.
Santi, bhikkhave, manussā, saddhā pasannā, te kappiyakārakānaṁ hatthe hiraññaṁ upanikkhipanti—‘iminā ayyassa yaṁ kappiyaṁ taṁ dethā’ti. Anujānāmi, bhikkhave, yaṁ tato kappiyaṁ taṁ sādituṁ; na tvevāhaṁ, bhikkhave, kenaci pariyāyena jātarūparajataṁ sāditabbaṁ pariyesitabbanti vadāmī”ti.
The following morning Meṇḍaka had various kinds of fine foods prepared and then had the Buddha informed that the meal was ready.
The Buddha robed up, took his bowl and robe, and went to Meṇḍaka’s meal offering where he sat down on the prepared seat together with the Sangha of monks. Meṇḍaka told the twelve-hundred and fifty cowherds, “Listen, bring one cow for each and every monk and give them fresh milk.” Meṇḍaka then personally served various kinds of fine foods to the Sangha of monks headed by the Buddha, and he gave them fresh milk. Being afraid of wrongdoing, the monks did not accept. The Buddha said, “Accept, monks, and drink.” When the Buddha had finished his meal, Meṇḍaka sat down to one side, and said, “Sir, there are wilderness roads where there is little water and little food, where it’s not easy to travel without provisions. Please allow provisions.” The Buddha then instructed, inspired, and gladdened Meṇḍaka with a teaching, after which he got up from his seat and left.
Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“I allow five products from cows: milk, curd, buttermilk, butter, and ghee.
There are wilderness roads where there’s little water and little food, where it’s not easy to travel without provisions. I allow you to look for provisions: whatever you need of rice, mung beans, black gram, salt, sugar, oil, and ghee.
There are people who have faith and confidence. They may deposit money with an attendant, saying, “With this, please get something allowable for the venerable.” I allow you to consent to anything allowable from that fund. But I say that under no circumstances should you look for or consent to gold, silver, or money.”
Bấy giờ, sau khi đêm ấy đã mãn, gia chủ Meṇḍaka cho chuẩn bị các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, rồi cho người báo tin thời giờ đến Thế Tôn: “Bạch ngài, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.” Bấy giờ, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, cầm y bát, đi đến nơi phục vụ của gia chủ Meṇḍaka; sau khi đến, ngài đã ngồi vào chỗ đã được dọn sẵn cùng với chúng Tỳ khưu. Bấy giờ, gia chủ Meṇḍaka đã ra lệnh cho một ngàn hai trăm năm mươi người chăn bò rằng: “Này các khanh, vậy thì mỗi người hãy dắt một con bò sữa và đứng hầu mỗi vị Tỳ khưu, chúng ta sẽ dâng cúng bằng sữa tươi.” Bấy giờ, gia chủ Meṇḍaka đã tự tay làm cho chúng Tỳ khưu với Đức Phật dẫn đầu được thỏa mãn, hài lòng với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, và với sữa tươi. Các vị Tỳ khưu do dự, không nhận sữa. (Thế Tôn phán:) “Này các Tỳ khưu, hãy nhận lấy, hãy dùng.” Bấy giờ, sau khi đã tự tay làm cho chúng Tỳ khưu với Đức Phật dẫn đầu được thỏa mãn, hài lòng với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, và với sữa tươi, gia chủ Meṇḍaka đã ngồi xuống một bên khi thấy Thế Tôn đã dùng xong, tay đã rời khỏi bát. Sau khi ngồi một bên, gia chủ Meṇḍaka đã bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, có những con đường hoang địa, ít nước, ít thức ăn, không dễ đi nếu không có lương thực mang theo. Lành thay, bạch ngài, xin Thế Tôn cho phép các vị Tỳ khưu được mang theo lương thực.” Bấy giờ, sau khi dùng bài pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ gia chủ Meṇḍaka, Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra về. Bấy giờ, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, sau khi thuyết một bài pháp thoại, Thế Tôn đã gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu, Ta cho phép năm loại chế phẩm từ sữa bò: sữa tươi, sữa chua, sữa bơ, bơ tươi, bơ luyện. Này các Tỳ khưu, có những con đường hoang địa, ít nước, ít thức ăn, không dễ đi nếu không có lương thực mang theo. Này các Tỳ khưu, Ta cho phép tìm kiếm lương thực: người cần gạo thì tìm gạo, người cần đậu xanh thì tìm đậu xanh, người cần đậu muồng thì tìm đậu muồng, người cần muối thì tìm muối, người cần đường phèn thì tìm đường phèn, người cần dầu thì tìm dầu, người cần bơ luyện thì tìm bơ luyện. Này các Tỳ khưu, có những người có đức tin, có lòng trong sạch, họ gửi vàng bạc vào tay người thị giả tịnh nhân và nói rằng: ‘Với số tiền này, hãy dâng cúng vật gì thích hợp cho tôn giả.’ Này các Tỳ khưu, Ta cho phép thọ dụng vật gì thích hợp từ số tiền ấy; nhưng này các Tỳ khưu, Ta không hề nói rằng bằng bất cứ phương cách nào, vàng và bạc có thể được thọ dụng hay tìm kiếm.”
23. Keṇiyajaṭilavatthu
23. The account of Keṇiya the dreadlocked ascetic
182. Câu chuyện về đạo sĩ bện tóc Keṇiya
Atha kho bhagavā anupubbena cārikaṁ caramāno yena āpaṇaṁ tadavasari. Assosi kho keṇiyo jaṭilo—“samaṇo khalu bho gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito āpaṇaṁ anuppatto, taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato …pe… sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti. Atha kho keṇiyassa jaṭilassa etadahosi—“kiṁ nu kho ahaṁ samaṇassa gotamassa harāpeyyan”ti. Atha kho keṇiyassa jaṭilassa etadahosi—“yepi kho te brāhmaṇānaṁ pubbakā isayo mantānaṁ kattāro mantānaṁ pavattāro, yesamidaṁ etarahi brāhmaṇā porāṇaṁ mantapadaṁ gītaṁ pavuttaṁ samihitaṁ, tadanugāyanti tadanubhāsanti, bhāsitamanubhāsanti, vācitamanuvācenti, seyyathidaṁ—aṭṭhako vāmako vāmadevo vessāmitto yamataggi aṅgīraso bhāradvājo vāseṭṭho kassapo bhagu, rattūparatā viratā vikālabhojanā, te evarūpāni pānāni sādiyiṁsu. Samaṇopi gotamo rattūparato virato vikālabhojanā, arahati samaṇopi gotamo evarūpāni pānāni sādiyitun”ti
pahūtaṁ pānaṁ paṭiyādāpetvā kājehi gāhāpetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi; sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho keṇiyo jaṭilo bhagavantaṁ etadavoca—“paṭiggaṇhātu me bhavaṁ gotamo pānan”ti.
“Tena hi, keṇiya, bhikkhūnaṁ dehī”ti.
Atha kho keṇiyo jaṭilo bhikkhūnaṁ deti. Bhikkhū kukkuccāyantā na paṭiggaṇhanti. “Paṭiggaṇhatha, bhikkhave, paribhuñjathā”ti. Atha kho keṇiyo jaṭilo buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ pahūtehi pānehi sahatthā santappetvā sampavāretvā bhagavantaṁ dhotahatthaṁ onītapattapāṇiṁ ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho keṇiyaṁ jaṭilaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho keṇiyo jaṭilo bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito bhagavantaṁ etadavoca—“adhivāsetu me bhavaṁ gotamo svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
“Mahā kho, keṇiya, bhikkhusaṅgho aḍḍhatelasāni bhikkhusatāni, tvañca brāhmaṇesu abhippasanno”ti.
Dutiyampi kho keṇiyo jaṭilo bhagavantaṁ etadavoca—“kiñcāpi kho, bho gotama, mahā bhikkhusaṅgho aḍḍhatelasāni bhikkhusatāni, ahañca brāhmaṇesu abhippasanno, adhivāsetu me bhavaṁ gotamo svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. “Mahā kho, keṇiya, bhikkhusaṅgho aḍḍhatelasāni bhikkhusatāni, tvañca brāhmaṇesu abhippasanno”ti. Tatiyampi kho keṇiyo jaṭilo bhagavantaṁ etadavoca—“kiñcāpi kho, bho gotama, mahā bhikkhusaṅgho aḍḍhatelasāni bhikkhusatāni, ahañca brāhmaṇesu abhippasanno, adhivāsetu bhavaṁ gotamo svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho keṇiyo jaṭilo bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, aṭṭha pānāni—ambapānaṁ jambupānaṁ cocapānaṁ mocapānaṁ madhūkapānaṁ muddikapānaṁ sālūkapānaṁ phārusakapānaṁ.
Anujānāmi, bhikkhave, sabbaṁ phalarasaṁ ṭhapetvā dhaññaphalarasaṁ. Anujānāmi, bhikkhave, sabbaṁ pattarasaṁ ṭhapetvā ḍākarasaṁ. Anujānāmi, bhikkhave, sabbaṁ puppharasaṁ ṭhapetvā madhūkapuppharasaṁ. Anujānāmi, bhikkhave, ucchurasan”ti.
Wandering on, the Buddha eventually arrived at Āpaṇa. Keṇiya the dreadlocked ascetic heard, “The ascetic Gotama, the Sakyan, who’s gone forth from the Sakyan clan, has arrived at Āpaṇa.” And he heard about the Buddha’s qualities just as Meṇḍaka had. He thought, “What should I take to the ascetic Gotama?” And it occurred to him, “There are those ancient sages of the brahmins, the creators and teachers of the Vedas, that is, Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, and Bhagu. The brahmins at present still sing and proclaim the ancient verses that they sang, proclaimed, and collected. Now those ancient sages abstained from eating at night and at the wrong time, yet they consented to certain drinks. The ascetic Gotama also abstains from eating at night and at the wrong time. It would be appropriate for him to consent to the same drinks.”
He then had a large quantity of drinks prepared. Lifting them with carrying poles, he went to the Buddha. He exchanged pleasantries with the Buddha and said, “Good Gotama, please accept these drinks.”
“Please give them to the monks, Keṇiya.”
He did, but being afraid of wrongdoing, the monks did not accept them. The Buddha said, “Accept, monks, and drink.” Keṇiya then personally served that large quantity of drinks to the Sangha of monks headed by the Buddha. When the Buddha was finished, Keṇiya sat down to one side. The Buddha instructed, inspired, and gladdened him with a teaching, and Keṇiya said, “Good Gotama, please accept tomorrow’s meal from me together with the Sangha of monks.”
“The Sangha is large, Keṇiya. There are twelve hundred and fifty monks. And you have faith in the brahmins.”
Keṇiya acknowledged what the Buddha had said, but repeated his invitation a second time. The Buddha replied as before, and Keṇiya repeated his invitation a third time. The Buddha then consented by remaining silent. Knowing that the Buddha had consented, Keṇiya got up from his seat and left.
Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“I allow eight kinds of drinks: mango drinks, rose-apple drinks, drinks from bananas with seeds, drinks from seedless bananas, licorice drinks, grape drinks, drinks made from lotus tubers, and falsa fruit drinks.
I allow juice from all fruits, except grain. I allow juice from all leaves, except the leaves of potherbs. I allow juice from all flowers, except licorice flowers. I allow sugarcane juice.”
300. Bấy giờ, đức Thế Tôn tuần tự du hành đến thị trấn Āpaṇa. Vị bện tóc Keṇiya nghe được rằng: ‘Này chư hiền, nghe nói Sa-môn Gotama, là Thích tử, đã xuất gia từ dòng họ Sakya, đã đến Āpaṇa. Tiếng lành đồn xa về Tôn giả Gotama ấy đã được lan truyền như vầy: ... Lành thay, được yết kiến các bậc A-la-hán như thế.’ Khi ấy, vị bện tóc Keṇiya khởi lên suy nghĩ: ‘Ta nên cho người mang vật gì đến cho Sa-môn Gotama nhỉ?’ Rồi vị bện tóc Keṇiya lại suy nghĩ: ‘Các vị tiên nhân Bà-la-môn thời xưa, những người sáng tác và truyền bá các câu chú, các vị Bà-la-môn ngày nay vẫn còn tụng theo, đọc theo, giảng theo những gì đã được giảng, dạy theo những gì đã được dạy về các câu chú cổ xưa đã được hát, được đọc, được biên tập của các vị ấy, đó là: Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, và Bhagu. Các vị ấy không ăn ban đêm, từ bỏ việc ăn phi thời. Các vị ấy đã ưa thích các loại thức uống như thế này. Sa-môn Gotama cũng không ăn ban đêm, từ bỏ việc ăn phi thời. Sa-môn Gotama cũng xứng đáng để ưa thích các loại thức uống như thế này.’ Sau khi cho chuẩn bị nhiều loại thức uống, cho người dùng đòn gánh mang đi, ông đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, ông đã cùng đức Thế Tôn thăm hỏi vui vẻ; sau khi trao đổi những lời thăm hỏi thân tình đáng ghi nhớ, ông đứng một bên. Đứng một bên, vị bện tóc Keṇiya bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Xin Tôn giả Gotama hãy nhận lấy thức uống của con.’ ‘Này Keṇiya, vậy thì hãy dâng cho các tỳ khưu.’ Khi ấy, vị bện tóc Keṇiya dâng cho các tỳ khưu. Các vị tỳ khưu do dự, không nhận. ‘Này các tỳ khưu, hãy nhận lấy, hãy dùng đi.’ Khi ấy, vị bện tóc Keṇiya đã tự tay phục vụ chúng tỳ khưu với đức Phật là vị đứng đầu cho đến khi thỏa mãn, cho đến khi họ nói đã đủ với nhiều loại thức uống. Sau khi đức Thế Tôn đã rửa tay, đã rời tay khỏi bát, ông ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã dùng pháp thoại chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ vị bện tóc Keṇiya đang ngồi một bên. Khi ấy, vị bện tóc Keṇiya, sau khi được đức Thế Tôn dùng pháp thoại chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ, đã bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Xin Tôn giả Gotama cùng với chúng tỳ khưu hãy nhận lời mời dùng bữa của con vào ngày mai.’ ‘Này Keṇiya, chúng tỳ khưu rất đông, có đến một ngàn hai trăm năm mươi vị, và ông lại rất có lòng tin với các vị Bà-la-môn.’ Lần thứ hai, vị bện tóc Keṇiya lại bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Thưa Tôn giả Gotama, dù cho chúng tỳ khưu rất đông, có đến một ngàn hai trăm năm mươi vị, và con lại rất có lòng tin với các vị Bà-la-môn, xin Tôn giả Gotama cùng với chúng tỳ khưu hãy nhận lời mời dùng bữa của con vào ngày mai.’ ‘Này Keṇiya, chúng tỳ khưu rất đông, có đến một ngàn hai trăm năm mươi vị, và ông lại rất có lòng tin với các vị Bà-la-môn.’ Lần thứ ba, vị bện tóc Keṇiya lại bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Thưa Tôn giả Gotama, dù cho chúng tỳ khưu rất đông, có đến một ngàn hai trăm năm mươi vị, và con lại rất có lòng tin với các vị Bà-la-môn, xin Tôn giả Gotama cùng với chúng tỳ khưu hãy nhận lời mời dùng bữa của con vào ngày mai.’ Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng. Khi ấy, vị bện tóc Keṇiya, biết được sự nhận lời của đức Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra về. Bấy giờ, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép tám loại thức uống: nước xoài, nước trám, nước chuối rừng, nước chuối nhà, nước trái madhūka, nước nho, nước củ sen, nước phārusaka. Này các tỳ khưu, Ta cho phép tất cả các loại nước trái cây, ngoại trừ nước từ các loại hạt cốc. Này các tỳ khưu, Ta cho phép tất cả các loại nước lá, ngoại trừ nước rau nấu chín. Này các tỳ khưu, Ta cho phép tất cả các loại nước hoa, ngoại trừ nước hoa madhūka. Này các tỳ khưu, Ta cho phép nước mía.’
Atha kho keṇiyo jaṭilo tassā rattiyā accayena sake assame paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi—“kālo, bho gotama, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena keṇiyassa jaṭilassa assamo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena. Atha kho keṇiyo jaṭilo buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho keṇiyaṁ jaṭilaṁ bhagavā imāhi gāthāhi anumodi—
The following morning Keṇiya had various kinds of fine foods prepared in his own hermitage and then had the Buddha informed that the meal was ready.
The Buddha robed up, took his bowl and robe, and went to Keṇiya’s hermitage where he sat down on the prepared seat together with the Sangha of monks. Keṇiya then personally served various kinds of fine foods to the Sangha of monks headed by the Buddha. When the Buddha had finished his meal, Keṇiya sat down to one side, and the Buddha expressed his appreciation with these verses:
Khi ấy, sau khi đêm ấy đã qua, vị bện tóc Keṇiya cho chuẩn bị các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, tại trú xứ của mình rồi cho người báo thời gian đến đức Thế Tôn: ‘Thưa Tôn giả Gotama, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.’ Bấy giờ, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đắp y, mang y bát, đi đến trú xứ của vị bện tóc Keṇiya; sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn cùng với chúng tỳ khưu. Khi ấy, vị bện tóc Keṇiya đã tự tay phục vụ chúng tỳ khưu với đức Phật là vị đứng đầu bằng các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cho đến khi họ thỏa mãn, cho đến khi họ nói đã đủ. Sau khi đức Thế Tôn đã dùng xong, đã rời tay khỏi bát, ông ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã tùy hỷ với vị bện tóc Keṇiya đang ngồi một bên bằng những câu kệ này:
“Aggihuttamukhā yaññā, sāvittī chandaso mukhaṁ; Rājā mukhaṁ manussānaṁ, nadīnaṁ sāgaro mukhaṁ.
“Sacrifice is the best fire worship, Sāvittī the best meter; A king is the best of humans, The ocean the chief of rivers.
‘Tế lễ lấy tế lửa làm đầu, Thánh điển Sāvittī đứng đầu vần luật; Vua là người đứng đầu dân chúng, Biển cả đứng đầu các dòng sông.
Nakkhattānaṁ mukhaṁ cando, ādicco tapataṁ mukhaṁ; Puññaṁ ākaṅkhamānānaṁ, saṅgho ve yajataṁ mukhan”ti.
The moon is the best in the night sky, The sun the best of all that shines. But for those making offerings, desiring merit, The Sangha is indeed the best.”
‘Mặt trăng đứng đầu các vì sao, Mặt trời đứng đầu các vật phát sáng; Với những người cúng dường mong cầu phước báu, Chư Tăng quả là ruộng phước đứng đầu.’
Atha kho bhagavā keṇiyaṁ jaṭilaṁ imāhi gāthāhi anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
And the Buddha got up from his seat and left.
Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi tùy hỷ với vị bện tóc Keṇiya bằng những câu kệ này, đã từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra về.
24. Rojamallavatthu
24. The account of Roja the Mallian
183. Câu chuyện về Roja người Mallā
Atha kho bhagavā āpaṇe yathābhirantaṁ viharitvā yena kusinārā tena cārikaṁ pakkāmi mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ aḍḍhatelasehi bhikkhusatehi. Assosuṁ kho kosinārakā mallā—“bhagavā kira kusināraṁ āgacchati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ aḍḍhatelasehi bhikkhusatehī”ti. Te saṅgaraṁ akaṁsu—“yo bhagavato paccuggamanaṁ na karissati, pañcasatānissa daṇḍo”ti.
Tena kho pana samayena rojo mallo āyasmato ānandassa sahāyo hoti. Atha kho bhagavā anupubbena cārikaṁ caramāno yena kusinārā tadavasari. Atha kho kosinārakā mallā bhagavato paccuggamanaṁ akaṁsu. Atha kho rojo mallo bhagavato paccuggamanaṁ karitvā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitaṁ kho rojaṁ mallaṁ āyasmā ānando etadavoca—“uḷāraṁ kho te idaṁ, āvuso roja, yaṁ tvaṁ bhagavato paccuggamanaṁ akāsī”ti.
“Nāhaṁ, bhante ānanda, bahukato buddhe vā dhamme vā saṅghe vā; api ca ñātīhi saṅgaro kato—‘yo bhagavato paccuggamanaṁ na karissati, pañcasatānissa daṇḍo’ti; so kho ahaṁ, bhante ānanda, ñātīnaṁ daṇḍabhayā evāhaṁ bhagavato paccuggamanaṁ akāsin”ti.
Atha kho āyasmā ānando anattamano ahosi “kathañhi nāma rojo mallo evaṁ vakkhatī”ti? Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca—“ayaṁ, bhante, rojo mallo abhiññāto ñātamanusso. Mahatthiko kho pana evarūpānaṁ ñātamanussānaṁ imasmiṁ dhammavinaye pasādo. Sādhu, bhante, bhagavā tathā karotu, yathā rojo mallo imasmiṁ dhammavinaye pasīdeyyā”ti.
“Na kho taṁ, ānanda, dukkaraṁ tathāgatena, yathā rojo mallo imasmiṁ dhammavinaye pasīdeyyā”ti.
When the Buddha had stayed at Āpaṇa for as long as he liked, he set out wandering toward Kusinārā with a large sangha of twelve-hundred and fifty monks. When the Mallians of Kusinārā heard that the Buddha was coming, they made an agreement that whoever did not go out to meet the Buddha would be fined five hundred coins.
At that time Venerable Ānanda had a friend called Roja the Mallian. As the Buddha was approaching Kusinārā, the Mallians, including Roja, went out to meet him. Roja then went to Ānanda and bowed, and Ānanda said to him, “It’s noble of you to come out to meet the Buddha.”
“I’m not doing this out of respect for the Buddha, the Teaching, or the Sangha. I’m doing it because I would get fined by the Mallians if I didn’t.”
Ānanda was disappointed with his friend. He went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “Sir, Roja the Mallian is a well-known person. It’s of great benefit when such well-known people gain confidence in this spiritual path. Sir, please inspire confidence in Roja.”
“That’s not difficult for the Buddha, Ānanda.”
301. Bấy giờ, sau khi trú tại Āpaṇa tùy nghi, đức Thế Tôn đã khởi hành du hành đến Kusinārā cùng với đại chúng Tỳ khưu, với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ khưu. Các người Malla ở Kusinārā đã nghe rằng: ‘Nghe nói đức Thế Tôn đang đi đến Kusinārā cùng với đại chúng Tỳ khưu, với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ khưu.’ Họ đã lập một thỏa thuận: ‘Ai không ra đón đức Thế Tôn, sẽ bị phạt năm trăm.’ Vào lúc bấy giờ, có người Malla tên là Roja là bạn của trưởng lão Ānanda. Bấy giờ, đức Thế Tôn tuần tự du hành và đã đến Kusinārā. Bấy giờ, các người Malla ở Kusinārā đã ra đón đức Thế Tôn. Bấy giờ, sau khi ra đón đức Thế Tôn, người Malla tên là Roja đã đi đến chỗ trưởng lão Ānanda; sau khi đến, đã đảnh lễ trưởng lão Ānanda rồi đứng một bên. Khi người Malla tên là Roja đang đứng một bên, trưởng lão Ānanda đã nói điều này: ‘Này hiền giả Roja, thật là cao thượng thay cho hiền giả, việc hiền giả đã ra đón đức Thế Tôn.’ ‘Thưa ngài Ānanda, tôi không có nhiều lòng tôn kính đối với đức Phật, Pháp, hay Tăng; nhưng các quyến thuộc đã lập một thỏa thuận: ‘Ai không ra đón đức Thế Tôn, sẽ bị phạt năm trăm.’ Thưa ngài Ānanda, chính vì sợ bị quyến thuộc phạt mà tôi đã ra đón đức Thế Tôn.’ Bấy giờ, trưởng lão Ānanda đã không hài lòng và nghĩ rằng: ‘Tại sao người Malla tên là Roja lại nói như vậy?’ Bấy giờ, trưởng lão Ānanda đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, trưởng lão Ānanda đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch đức Thế Tôn, người Malla tên là Roja này là một người nổi tiếng, một người được biết đến. Bạch đức Thế Tôn, lòng tịnh tín của những người nổi tiếng như vậy ở trong Pháp và Luật này có lợi ích lớn. Lành thay, bạch đức Thế Tôn, xin đức Thế Tôn hãy làm thế nào để người Malla tên là Roja có được lòng tịnh tín ở trong Pháp và Luật này.’ ‘Này Ānanda, đối với Như Lai, việc làm cho người Malla tên là Roja có được lòng tịnh tín ở trong Pháp và Luật này không phải là việc khó.’
Atha kho bhagavā rojaṁ mallaṁ mettena cittena pharitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi. Atha kho rojo mallo bhagavato mettena cittena phuṭṭho, seyyathāpi nāma gāviṁ taruṇavaccho; evameva vihārena vihāraṁ pariveṇena pariveṇaṁ upasaṅkamitvā bhikkhū pucchati—“kahaṁ nu kho, bhante, etarahi so bhagavā viharati arahaṁ sammāsambuddho, dassanakāmā hi mayaṁ taṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhan”ti.
“Esāvuso roja, vihāro saṁvutadvāro, tena appasaddo upasaṅkamitvā ataramāno āḷindaṁ pavisitvā ukkāsitvā aggaḷaṁ ākoṭehi, vivarissati te bhagavā dvāran”ti.
Atha kho rojo mallo yena so vihāro saṁvutadvāro, tena appasaddo upasaṅkamitvā ataramāno āḷindaṁ pavisitvā ukkāsitvā aggaḷaṁ ākoṭesi. Vivari bhagavā dvāraṁ. Atha kho rojo mallo vihāraṁ pavisitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnassa kho rojassa mallassa bhagavā anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ …pe…
aparappaccayo satthusāsane bhagavantaṁ etadavoca—“sādhu, bhante, ayyā mamaññeva paṭiggaṇheyyuṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ, no aññesan”ti.
“Yesaṁ kho, roja, sekkhena ñāṇena sekkhena dassanena dhammo diṭṭho seyyathāpi tayā, tesampi evaṁ hoti—‘aho nūna ayyā amhākaññeva paṭiggaṇheyyuṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ, no aññesan’ti. Tena hi, roja, tava ceva paṭiggahissanti aññesañcā”ti.
The Buddha then suffused Roja with a mind of loving kindness, before getting up from his seat and entering his dwelling. When Roja was suffused with loving kindness, he acted just like a young calf looking for its mother: he went from dwelling to dwelling, from yard to yard, asking, “Venerables, where’s the Buddha staying, the Perfected and fully Awakened One? I wish to see him.”
“In that dwelling, Roja, with the closed door. Go there quietly and slowly, enter the porch, clear your throat, and knock on the door. The Buddha will then open the door for you.”
Roja did just that, and the Buddha opened the door for him. He entered the dwelling, bowed, and sat down. The Buddha then gave him a progressive talk—on generosity, morality, and heaven; on the downside, degradation, and defilement of worldly pleasures; and he revealed the benefits of renunciation. When the Buddha knew that his mind was ready, supple, without hindrances, joyful, and confident, he revealed the teaching unique to the Buddhas: suffering, its origin, its end, and the path. And just as a clean and stainless cloth absorbs dye properly, so too, while he was sitting right there, Roja experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.” He had seen the Truth, had reached, understood, and penetrated it. He had gone beyond doubt and uncertainty, had attained to confidence, and had become independent of others in the Teacher’s instruction.
He then said to the Buddha, “Sir, please have the venerables accept robe-cloth, almsfood, dwellings, and medicinal supplies from me, and not from others.”
“Roja, those who have seen the Truth with a trainee’s knowledge and vision, as you have, think like this. But listen, Roja, the monks will have to receive both from you and others.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi dùng tâm từ biến mãn đến người Malla tên là Roja, đã đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh xá. Bấy giờ, người Malla tên là Roja, được tâm từ của đức Thế Tôn chạm đến, giống như con bê con tìm đến bò mẹ, cũng vậy, đã đi từ tịnh xá này đến tịnh xá khác, từ khuôn viên này đến khuôn viên khác, và hỏi các vị Tỳ khưu: ‘Thưa các ngài, hiện nay đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy đang trú ở đâu? Vì chúng tôi mong muốn được yết kiến đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy.’ ‘Này hiền giả Roja, tịnh xá này có cửa đang đóng. Hiền giả hãy đến đó một cách im lặng, không vội vã đi vào hiên trước, rồi hắng giọng và gõ vào thanh cài cửa. Đức Thế Tôn sẽ mở cửa cho hiền giả.’ Bấy giờ, người Malla tên là Roja đã đi đến tịnh xá có cửa đang đóng ấy, đến đó một cách im lặng, không vội vã đi vào hiên trước, rồi hắng giọng và gõ vào thanh cài cửa. Đức Thế Tôn đã mở cửa. Bấy giờ, người Malla tên là Roja, sau khi đi vào tịnh xá, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi người Malla tên là Roja đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã thuyết cho vị ấy một bài pháp tuần tự, đó là: pháp thoại về bố thí... (v.v.)... không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư, đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Lành thay, bạch đức Thế Tôn, mong rằng các bậc tôn giả chỉ nhận y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh của chính con, chứ không của những người khác.’ ‘Này Roja, những ai đã thấy Pháp bằng trí tuệ của bậc hữu học, bằng sự thấy của bậc hữu học, cũng giống như ngươi, họ cũng có ý nghĩ như vầy: ‘Ôi, mong sao các bậc tôn giả chỉ nhận y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh của chính chúng ta, chứ không của những người khác.’ Do đó, này Roja, các vị ấy sẽ nhận của ngươi và cũng của những người khác.’
Tena kho pana samayena kusinārāyaṁ paṇītānaṁ bhattānaṁ bhattapaṭipāṭi aṭṭhitā hoti. Atha kho rojassa mallassa paṭipāṭiṁ alabhantassa etadahosi—“yannūnāhaṁ bhattaggaṁ olokeyyaṁ, yaṁ bhattagge nāssa, taṁ paṭiyādeyyan”ti. Atha kho rojo mallo bhattaggaṁ olokento dve nāddasa—ḍākañca piṭṭhakhādanīyañca. Atha kho rojo mallo yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca—“idha me, bhante ānanda, paṭipāṭiṁ alabhantassa etadahosi—‘yannūnāhaṁ bhattaggaṁ olokeyyaṁ, yaṁ bhattagge nāssa, taṁ paṭiyādeyyan’ti. So kho ahaṁ, bhante ānanda, bhattaggaṁ olokento dve nāddasaṁ—ḍākañca piṭṭhakhādanīyañca. Sacāhaṁ, bhante ānanda, paṭiyādeyyaṁ ḍākañca piṭṭhakhādanīyañca, paṭiggaṇheyya me bhagavā”ti?
“Tena hi, roja, bhagavantaṁ paṭipucchissāmī”ti. Atha kho āyasmā ānando bhagavato etamatthaṁ ārocesi. “Tena hānanda, paṭiyādetū”ti. “Tena hi, roja, paṭiyādehī”ti.
Atha kho rojo mallo tassā rattiyā accayena pahūtaṁ ḍākañca piṭṭhakhādanīyañca paṭiyādāpetvā bhagavato upanāmesi—“paṭiggaṇhātu me, bhante, bhagavā ḍākañca piṭṭhakhādanīyañcā”ti.
“Tena hi, roja, bhikkhūnaṁ dehī”ti. Atha kho rojo mallo bhikkhūnaṁ deti. Bhikkhū kukkuccāyantā na paṭiggaṇhanti. “Paṭiggaṇhatha, bhikkhave, paribhuñjathā”ti. Atha kho rojo mallo buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ pahūtehi ḍākehi ca piṭṭhakhādanīyehi ca sahatthā santappetvā sampavāretvā bhagavantaṁ dhotahatthaṁ onītapattapāṇiṁ ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho rojaṁ mallaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, sabbañca ḍākaṁ sabbañca piṭṭhakhādanīyan”ti.
At this time in Kusinārā there was a succession of fine meals. Not being able to get a turn, Roja thought, “Why don’t I inspect the dining hall and then prepare whatever is lacking?” When he did, he saw that two things were missing: potherbs and fresh food made of flour. He then went to Venerable Ānanda and told him what he had been thinking, adding, “Venerable Ānanda, if I were to prepare potherbs and fresh food made of flour, would the Buddha accept it?”
“Well, Roja, let me ask the Buddha.” Venerable Ānanda told the Buddha, who said, “Allow it to be prepared, Ānanda.” Ānanda passed the message on to Roja.
The following morning Roja prepared many potherbs and much fresh food made with flour and brought it to the Buddha, saying, “Sir, please accept the potherbs and the fresh food made with flour.”
“Well then, Roja, give it to the monks.” He did, but being afraid of wrongdoing, they did not accept. The Buddha said, “Accept, monks, and eat.” Roja then personally served many potherbs and much fresh food made with flour to the Sangha of monks headed by the Buddha. When the Buddha had finished his meal, Roja sat down to one side. The Buddha instructed, inspired, and gladdened him with a teaching, after which he got up from his seat and left. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“I allow all potherbs and all fresh food made of flour.”
302. Vào lúc bấy giờ, ở tại Kusinārā, có việc sắp đặt thứ tự dâng cúng các bữa ăn thượng hạng. Khi ấy, người Malla tên là Roja, do không đến phiên mình, đã có suy nghĩ này: “Chắc chắn ta nên đi xem xét nhà ăn, vật gì không có ở nhà ăn thì ta sẽ chuẩn bị vật ấy.” Khi ấy, người Malla tên Roja trong khi xem xét nhà ăn đã không nhìn thấy hai món: rau và vật thực làm bằng bột. Khi ấy, người Malla tên Roja đã đi đến chỗ đại đức Ānanda; sau khi đến, đã thưa với đại đức Ānanda điều này: “Bạch ngài Ānanda, ở đây, tôi do không đến phiên mình, đã có suy nghĩ này: ‘Chắc chắn ta nên đi xem xét nhà ăn, vật gì không có ở nhà ăn thì ta sẽ chuẩn bị vật ấy.’ Bạch ngài Ānanda, tôi trong khi xem xét nhà ăn đã không nhìn thấy hai món: rau và vật thực làm bằng bột. Bạch ngài Ānanda, nếu tôi chuẩn bị rau và vật thực làm bằng bột, liệu đức Thế Tôn có thọ nhận của tôi không?” – “Này Roja, nếu vậy, tôi sẽ bạch hỏi đức Thế Tôn.” Khi ấy, đại đức Ānanda đã trình bày sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – “Này Ānanda, nếu vậy, hãy để ông ấy chuẩn bị.” – “Này Roja, nếu vậy, ông hãy chuẩn bị đi.” Khi ấy, người Malla tên Roja, sau khi đêm ấy trôi qua, đã cho chuẩn bị nhiều rau và vật thực làm bằng bột rồi mang đến dâng lên đức Thế Tôn: “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy thọ nhận rau và vật thực làm bằng bột của con.” – “Này Roja, nếu vậy, hãy dâng cúng cho các tỳ khưu.” Khi ấy, người Malla tên Roja đã dâng cúng cho các tỳ khưu. Các vị tỳ khưu do áy náy nên không thọ nhận. – “Này các tỳ khưu, hãy thọ nhận, hãy dùng đi.” Khi ấy, người Malla tên Roja đã tự tay phục vụ chúng tỳ khưu với đức Phật là vị đứng đầu cho đến khi hài lòng, cho đến khi từ chối không nhận thêm nữa bằng nhiều loại rau và vật thực làm bằng bột, rồi ngồi xuống một bên sau khi nhận thấy đức Thế Tôn đã rửa tay và đã rời tay khỏi bát. Đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ người Malla tên Roja đang ngồi một bên bằng bài pháp thoại, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Khi ấy, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, Ta cho phép tất cả các loại rau và tất cả các loại vật thực làm bằng bột.”
25. Vuḍḍhapabbajitavatthu
25. The account of the one who had gone forth when old
184. Câu chuyện về vị xuất gia lớn tuổi
Atha kho bhagavā kusinārāyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena ātumā tena cārikaṁ pakkāmi mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ aḍḍhatelasehi bhikkhusatehi. Tena kho pana samayena aññataro vuḍḍhapabbajito ātumāyaṁ paṭivasati nahāpitapubbo. Tassa dve dārakā honti, mañjukā paṭibhāneyyakā, dakkhā pariyodātasippā sake ācariyake nahāpitakamme.
Assosi kho so vuḍḍhapabbajito—“bhagavā kira ātumaṁ āgacchati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ aḍḍhatelasehi bhikkhusatehī”ti. Atha kho so vuḍḍhapabbajito te dārake etadavoca—“bhagavā kira, tātā, ātumaṁ āgacchati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ aḍḍhatelasehi bhikkhusatehi. Gacchatha tumhe, tātā, khurabhaṇḍaṁ ādāya nāḷiyāvāpakena anugharakaṁ anugharakaṁ āhiṇḍatha, loṇampi, telampi, taṇḍulampi, khādanīyampi saṁharatha, bhagavato āgatassa yāgupānaṁ karissāmā”ti.
“Evaṁ, tātā”ti kho te dārakā tassa vuḍḍhapabbajitassa paṭissuṇitvā khurabhaṇḍaṁ ādāya nāḷiyāvāpakena anugharakaṁ anugharakaṁ āhiṇḍanti, loṇampi, telampi, taṇḍulampi, khādanīyampi saṁharantā. Manussā te dārake mañjuke paṭibhāneyyake passitvā yepi na kārāpetukāmā tepi kārāpenti, kārāpetvāpi bahuṁ denti. Atha kho te dārakā bahuṁ loṇampi, telampi, taṇḍulampi, khādanīyampi saṁhariṁsu.
When the Buddha had stayed at Kusinārā for as long as he liked, he set out wandering toward Ātumā with a large sangha of twelve-hundred and fifty monks. At that time at Ātumā there was a monk who was previously a barber and who had gone forth when old. He had two boys, sweet-voiced and articulate, who were skilled barbers.
The monk who had gone forth when old heard that the Buddha was coming to Ātumā, and he said to those boys, “The Buddha is coming to Ātumā with a large sangha of twelve-hundred and fifty monks. Now go and get the barber equipment, and then go from house to house with a box and collect salt, oil, rice, and fresh food. When the Buddha has arrived, we’ll make a congee drink.”
Saying, “Yes,” they did just that. When people saw those sweet-voiced and articulate boys, they used their services even if they did not really want to. And they gave much in return. Soon the boys had collected a large amount of salt, oil, rice, and fresh food.
303. Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi trú ở Kusinārā tùy theo ý thích, đã lên đường du hành đến nơi có Ātumā cùng với đại chúng tỳ khưu gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị. Vào lúc bấy giờ, có một vị xuất gia lớn tuổi, trước kia là thợ cạo, đang cư ngụ ở Ātumā. Vị ấy có hai người con trai, nói năng duyên dáng, lanh lợi, khéo léo, và thành thạo nghề thợ cạo gia truyền của mình. Vị xuất gia lớn tuổi ấy đã nghe được rằng: “Hình như đức Thế Tôn đang đi đến Ātumā cùng với đại chúng tỳ khưu gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị.” Khi ấy, vị xuất gia lớn tuổi ấy đã nói với hai người con trai điều này: “Này các con, hình như đức Thế Tôn đang đi đến Ātumā cùng với đại chúng tỳ khưu gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị. Này các con, các con hãy đi, hãy mang đồ nghề cạo tóc và túi đựng đi khắp từng nhà, hãy thu gom muối, dầu, gạo, và vật thực. Chúng ta sẽ nấu cháo dâng lên đức Thế Tôn khi ngài đến.” – “Vâng, thưa cha.” Hai người con trai ấy sau khi vâng lời vị xuất gia lớn tuổi, đã mang đồ nghề cạo tóc và túi đựng đi khắp từng nhà, trong khi thu gom muối, dầu, gạo, và vật thực. Người ta sau khi thấy hai đứa trẻ nói năng duyên dáng, lanh lợi, ngay cả những người không có ý định làm (tóc) cũng cho làm, và sau khi cho làm cũng cho rất nhiều (tiền công). Khi ấy, hai đứa trẻ ấy đã thu gom được nhiều muối, dầu, gạo, và vật thực.
Atha kho bhagavā anupubbena cārikaṁ caramāno yena ātumā tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā ātumāyaṁ viharati bhusāgāre. Atha kho so vuḍḍhapabbajito tassā rattiyā accayena pahūtaṁ yāguṁ paṭiyādāpetvā bhagavato upanāmesi—“paṭiggaṇhātu me, bhante, bhagavā yāgun”ti.
Jānantāpi tathāgatā pucchanti …pe… sāvakānaṁ vā sikkhāpadaṁ paññapessāmāti.
Atha kho bhagavā taṁ vuḍḍhapabbajitaṁ etadavoca—“kutāyaṁ, bhikkhu, yāgū”ti? Atha kho so vuḍḍhapabbajito bhagavato etamatthaṁ ārocesi. Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, moghapurisa, ananulomikaṁ appatirūpaṁ assāmaṇakaṁ akappiyaṁ akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, pabbajito akappiye samādapessasi. Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, pabbajitena akappiye samādapetabbaṁ, yo samādapeyya, āpatti dukkaṭassa. Na ca, bhikkhave, nahāpitapubbena khurabhaṇḍaṁ pariharitabbaṁ. Yo parihareyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
When the Buddha eventually arrived at Ātumā, he stayed in a dwelling made of husk. The following morning that monk who had gone forth when old had much congee prepared and brought it to the Buddha, saying, “Sir, please accept the congee.”
When Buddhas know what is going on, sometimes they ask and sometimes not. They know the right time to ask and when not to ask. Buddhas ask when it is beneficial, otherwise they do not, for Buddhas are incapable of doing what is unbeneficial. Buddhas question the monks for two reasons: to give a teaching or to lay down a training rule.
The Buddha then said to him, “Where does this congee come from?” He told him, and the Buddha rebuked him, “It’s not suitable, foolish man, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How can you who have gone forth encourage others in what’s unallowable? This will affect people’s confidence …” After rebuking him, he gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t encourage others to do what’s unallowable. If you do, you commit an offense of wrong conduct. And if you were previously a barber, you shouldn’t carry barber equipment around. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Khi ấy, đức Thế Tôn trong khi tuần tự du hành đã đến Ātumā. Tại đấy, đức Thế Tôn trú ở Ātumā trong một ngôi nhà lợp bằng rơm rạ. Khi ấy, vị xuất gia lớn tuổi ấy, sau khi đêm ấy trôi qua, đã cho chuẩn bị nhiều cháo rồi mang đến dâng lên đức Thế Tôn: “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy thọ nhận cháo của con.” Các đấng Như Lai dù biết vẫn hỏi… … hoặc sẽ chế định học giới cho các vị đệ tử. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị xuất gia lớn tuổi ấy điều này: “Này tỳ khưu, cháo này từ đâu mà có?” Khi ấy, vị xuất gia lớn tuổi ấy đã trình bày sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách: “Này kẻ rỗng tuếch, (việc này) không thích hợp, không thuận theo, không tương xứng, không phải là việc của sa-môn, không được phép, không nên làm. Này kẻ rỗng tuếch, tại sao ngươi đã xuất gia rồi lại còn xúi giục (người khác) làm việc không được phép? Này kẻ rỗng tuếch, việc này không đem lại niềm tin cho những người chưa có niềm tin… ….” Sau khi quở trách và thuyết một bài pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, người đã xuất gia không nên xúi giục (người khác) làm việc không được phép. Vị nào xúi giục, vị ấy phạm tội tác ác. Và này các tỳ khưu, người trước kia là thợ cạo không nên giữ đồ nghề cạo tóc. Vị nào giữ, vị ấy phạm tội tác ác.”
Atha kho bhagavā ātumāyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena sāvatthi tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sāvatthi tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena sāvatthiyaṁ bahuṁ phalakhādanīyaṁ uppannaṁ hoti. Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kiṁ nu kho bhagavatā phalakhādanīyaṁ anuññātaṁ, kiṁ ananuññātan”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sabbaṁ phalakhādanīyan”ti.
When the Buddha had stayed at Ātumā for as long as he liked, he set out wandering toward Sāvatthī. When he eventually arrived, he stayed in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time in Sāvatthī there was much fruit. The monks thought, “Which fruits has the Buddha allowed and which not?” They told the Buddha.
“I allow all fruits.”
Bấy giờ, sau khi đã an trú tại Ātumā tùy theo ý thích, đức Thế Tôn đã lên đường du hành đến Sāvatthi. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã đi đến nơi có Sāvatthi. Tại đấy, đức Thế Tôn an trú ở Sāvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, ở Sāvatthi có nhiều loại trái cây vật thực được sanh khởi. Bấy giờ, các vị tỳ khưu đã có suy nghĩ này: “Không biết đức Thế Tôn có cho phép về trái cây vật thực hay không cho phép?” Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép tất cả các loại trái cây vật thực.”
Tena kho pana samayena saṅghikāni bījāni puggalikāya bhūmiyā ropiyanti, puggalikāni bījāni saṅghikāya bhūmiyā ropiyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Saṅghikāni, bhikkhave, bījāni puggalikāya bhūmiyā ropitāni bhāgaṁ datvā paribhuñjitabbāni. Puggalikāni bījāni saṅghikāya bhūmiyā ropitāni bhāgaṁ datvā paribhuñjitabbānī”ti.
On one occasion seeds belonging to the Sangha had been planted on land belonging to an individual and seeds belonging to an individual on land belonging to the Sangha.
“If seeds belonging to the Sangha have been planted on land belonging to an individual, that person should be given a share, and the produce may then be eaten. If seeds belonging to an individual have been planted on land belonging to the Sangha, the Sangha should be given a share, and the produce may then be eaten.”
304. Vào lúc bấy giờ, các hạt giống của tăng chúng được gieo trồng trên đất của cá nhân, các hạt giống của cá nhân được gieo trồng trên đất của tăng chúng. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, các hạt giống của tăng chúng được gieo trồng trên đất của cá nhân thì nên sử dụng sau khi đã trao phần (hoa lợi). Các hạt giống của cá nhân được gieo trồng trên đất của tăng chúng thì nên sử dụng sau khi đã trao phần (hoa lợi).”
26. Catumahāpadesakathā
26. Discussion of the four great standards
Lời kể về Bốn Điều Tham Chiếu Lớn
Tena kho pana samayena bhikkhūnaṁ kismiñci kismiñci ṭhāne kukkuccaṁ uppajjati—“kiṁ nu kho bhagavatā anuññātaṁ, kiṁ ananuññātan”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Yaṁ, bhikkhave, mayā ‘idaṁ na kappatī’ti appaṭikkhittaṁ tañce akappiyaṁ anulometi, kappiyaṁ paṭibāhati, taṁ vo na kappati. Yaṁ, bhikkhave, mayā ‘idaṁ na kappatī’ti appaṭikkhittaṁ tañce kappiyaṁ anulometi, akappiyaṁ paṭibāhati, taṁ vo kappati. Yaṁ, bhikkhave, mayā ‘idaṁ kappatī’ti ananuññātaṁ tañce akappiyaṁ anulometi, kappiyaṁ paṭibāhati, taṁ vo na kappati. Yaṁ, bhikkhave, mayā ‘idaṁ kappatī’ti ananuññātaṁ, tañce kappiyaṁ anulometi, akappiyaṁ paṭibāhati, taṁ vo kappatī”ti.
At that time the monks were anxious about all sorts of matters, thinking, “What has the Buddha allowed and what hasn’t he allowed?” They told the Buddha.
“If I haven’t specifically prohibited something, then it’s unallowable to you if it’s similar to what’s unallowable and opposed to what’s allowable. If I haven’t specifically prohibited something, then it’s allowable to you if it’s similar to what’s allowable and opposed to what’s unallowable. If I haven’t specifically allowed something, then it’s unallowable to you if it’s similar to what’s unallowable and opposed to what’s allowable. If I haven’t specifically allowed something, then it’s allowable to you if it’s similar to what’s allowable and opposed to what’s unallowable.”
185. Vào lúc bấy giờ, ở một nơi nào đó, sự áy náy đã sanh khởi đến các vị tỳ khưu: “Không biết đức Thế Tôn đã cho phép điều gì, không cho phép điều gì?” Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, điều gì mà Ta đã không bác bỏ rằng ‘Điều này không được phép,’ nếu điều ấy thuận theo điều không được phép, ngăn cản điều được phép, thì điều ấy không được phép đối với các ngươi. Này các tỳ khưu, điều gì mà Ta đã không bác bỏ rằng ‘Điều này không được phép,’ nếu điều ấy thuận theo điều được phép, ngăn cản điều không được phép, thì điều ấy được phép đối với các ngươi. Này các tỳ khưu, điều gì mà Ta đã không cho phép rằng ‘Điều này được phép,’ nếu điều ấy thuận theo điều không được phép, ngăn cản điều được phép, thì điều ấy không được phép đối với các ngươi. Này các tỳ khưu, điều gì mà Ta đã không cho phép rằng ‘Điều này được phép,’ nếu điều ấy thuận theo điều được phép, ngăn cản điều không được phép, thì điều ấy được phép đối với các ngươi.”
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kappati nu kho yāvakālikena yāmakālikaṁ, na nu kho kappati? Kappati nu kho yāvakālikena sattāhakālikaṁ, na nu kho kappati? Kappati nu kho yāvakālikena yāvajīvikaṁ, na nu kho kappati? Kappati nu kho yāmakālikena sattāhakālikaṁ, na nu kho kappati? Kappati nu kho yāmakālikena yāvajīvikaṁ, na nu kho kappati? Kappati nu kho sattāhakālikena yāvajīvikaṁ, na nu kho kappatī”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Yāvakālikena, bhikkhave, yāmakālikaṁ, tadahu paṭiggahitaṁ kāle kappati, vikāle na kappati. Yāvakālikena, bhikkhave, sattāhakālikaṁ, tadahu paṭiggahitaṁ kāle kappati, vikāle na kappati. Yāvakālikena, bhikkhave, yāvajīvikaṁ, tadahu paṭiggahitaṁ kāle kappati, vikāle na kappati. Yāmakālikena, bhikkhave, sattāhakālikaṁ, tadahu paṭiggahitaṁ yāme kappati, yāmātikkante na kappati. Yāmakālikena, bhikkhave, yāvajīvikaṁ, tadahu paṭiggahitaṁ yāme kappati, yāmātikkante na kappati. Sattāhakālikena, bhikkhave, yāvajīvikaṁ paṭiggahitaṁ, sattāhaṁ kappati, sattāhātikkante na kappatī”ti.
Then the monks thought, “Are post-midday tonics mixed with ordinary food allowable or unallowable? Are seven-day tonics mixed with ordinary food allowable or unallowable? Are lifetime tonics mixed with ordinary food allowable or unallowable? Are seven-day tonics mixed with post-midday tonics allowable or unallowable? Are lifetime tonics mixed with post-midday tonics allowable or unallowable? Are lifetime tonics mixed with seven-day tonics allowable or unallowable?” They told the Buddha.
“When mixed with ordinary food, post-midday tonics are allowable before midday on the day they are received, but not after midday. When mixed with ordinary food, seven-day tonics are allowable before midday on the day they are received, but not after midday. When mixed with ordinary food, lifetime tonics are allowable before midday on the day they are received, but not after midday. When mixed with post-midday tonics, seven-day tonics are allowable after midday on the day they are received, but not beyond dawn. When mixed with post-midday tonics, lifetime tonics are allowable after midday on the day they are received, but not beyond dawn. When mixed with seven-day tonics, lifetime tonics are allowable for seven days, but not beyond.”
305. Bấy giờ, các vị tỳ khưu đã có suy nghĩ này: “Không biết vật dụng thời hạn một canh có được phép dùng chung với vật dụng thời hạn một buổi hay không? Không biết vật dụng thời hạn bảy ngày có được phép dùng chung với vật dụng thời hạn một buổi hay không? Không biết vật dụng trọn đời có được phép dùng chung với vật dụng thời hạn một buổi hay không? Không biết vật dụng thời hạn bảy ngày có được phép dùng chung với vật dụng thời hạn một canh hay không? Không biết vật dụng trọn đời có được phép dùng chung với vật dụng thời hạn một canh hay không? Không biết vật dụng trọn đời có được phép dùng chung với vật dụng thời hạn bảy ngày hay không?” Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, vật dụng thời hạn một canh dùng chung với vật dụng thời hạn một buổi, nếu đã được nhận trong ngày hôm ấy thì được phép dùng trong thời, không được phép dùng phi thời. Này các tỳ khưu, vật dụng thời hạn bảy ngày dùng chung với vật dụng thời hạn một buổi, nếu đã được nhận trong ngày hôm ấy thì được phép dùng trong thời, không được phép dùng phi thời. Này các tỳ khưu, vật dụng trọn đời dùng chung với vật dụng thời hạn một buổi, nếu đã được nhận trong ngày hôm ấy thì được phép dùng trong thời, không được phép dùng phi thời. Này các tỳ khưu, vật dụng thời hạn bảy ngày dùng chung với vật dụng thời hạn một canh, nếu đã được nhận trong ngày hôm ấy thì được phép dùng trong canh, không được phép dùng khi đã quá canh. Này các tỳ khưu, vật dụng trọn đời dùng chung với vật dụng thời hạn một canh, nếu đã được nhận trong ngày hôm ấy thì được phép dùng trong canh, không được phép dùng khi đã quá canh. Này các tỳ khưu, vật dụng trọn đời dùng chung với vật dụng thời hạn bảy ngày, nếu đã được nhận thì được phép dùng trong bảy ngày, không được phép dùng khi đã quá bảy ngày.”
Bhesajjakkhandhako chaṭṭho.
Tassuddānaṁ
The sixth chapter on medicines is finished.
This is the summary:
Chương về Dược Phẩm, chương thứ sáu.
Sāradike vikālepi, vasaṁ mūle piṭṭhehi ca; Kasāvehi paṇṇaṁ phalaṁ, jatu loṇaṁ chakaṇañca.
“In autumn, also after midday, Fat, about root, and with flours; With bitter, leaf, fruit, Gum, salt, and detergent.
Bệnh mùa thu, cả phi thời; chất béo, rễ cây, và các loại bột; với các chất chát, lá cây, trái cây, nhựa cây, muối, và phân bò khô.
Cuṇṇaṁ cālini maṁsañca, añjanaṁ upapisanī; Añjanī uccāpārutā, salākā salākaṭhāniṁ.
Powder, sieve, and meat, Ointment, scented; Ointment box, luxurious, uncovered, Ointment stick, ointment stick case.
186. Bột được rây, thịt sống, thuốc nhỏ mắt, thuốc nghiền thêm; hộp thuốc nhỏ mắt, cao thấp, có nắp đậy, que và đồ đựng que.
Thavikaṁsabaddhakaṁ suttaṁ, Muddhanitelanatthu ca; Natthukaraṇī dhūmañca, Nettañcāpidhanatthavi.
Bag, shoulder strap, string, Head oil, and nose; Nose dropper, and smoke, And tube, lid, bag.
Túi, dây đeo vai, chỉ; dầu thoa đầu và thuốc hít; ống hít, khói, ống và cả nắp đậy, túi.
Telapākesu majjañca, atikkhittaṁ abbhañjanaṁ; Tumbaṁ sedaṁ sambhārañca, mahā bhaṅgodakaṁ tathā.
In a concoction of oil, and alcohol, Too much, external use; Vessel, sweat, and herbs, Heavy, and so hemp water.
Rượu trong dầu thuốc, và quá lượng, sự xoa bóp; trái bầu, xông hơi, các nguyên liệu, loại lớn, và nước lá gai cũng vậy.
Dakakoṭṭhaṁ lohitañca, visāṇaṁ pādabbhañjanaṁ; Pajjaṁ satthaṁ kasāvañca, tilakakkaṁ kabaḷikaṁ.
Bathtub, and blood, Horn, salve for the feet; Foot salve, knife, and bitter, Sesame paste, flour paste.
Bồn nước, và máu, sừng, dầu thoa chân; thuốc đắp chân, dao, và nước chát, bột mè, thuốc đắp.
Coḷaṁ sāsapakuṭṭañca, dhūma sakkharikāya ca; Vaṇatelaṁ vikāsikaṁ, vikaṭañca paṭiggahaṁ.
Cloth, and mustard powder, Smoke, and with a razor; Sore oil, bandage, And foul, receiving.
Vải, và bột cải, khói, và bằng dao cạo; dầu trị vết thương, băng gạc, thuốc mạnh, và sự thọ nhận.
Gūthaṁ karonto loḷiñca, khāraṁ muttaharītakaṁ; Gandhā virecanañceva, acchākaṭaṁ kaṭākaṭaṁ.
Feces, excreting, and mixture, Lye, chebulic myrobalan in urine; Scented, and purgative, Clear congee, mung-bean broth, oily mung-bean broth.
Phân, trong khi đi, và bùn; chất kiềm, nước tiểu-hà lặc; hương thơm, và thuốc xổ, nước trong, chưa nấu, đã nấu và chưa nấu.
Paṭicchādani pabbhārā, ārāma sattāhena ca; Guḷaṁ muggaṁ sovīrañca, sāmaṁpākā punāpace.
Meat broth, hillside, Monastery, and with seven days; Sugar, mung beans, and purgative, Cooking oneself, reheating.
Nước thịt, sườn núi, tu viện, và trong bảy ngày; đường mật, đậu xanh, và cháo chua, tự nấu, nấu lại.
Punānuññāsi dubbhikkhe, phalañca tilakhādanī; Purebhattaṁ kāyaḍāho, nibbattañca bhagandalaṁ.
He allowed again, when short of food, And fruit, sesame, fresh food; Before eating, fever, And removed, hemorrhoids.
Lại cho phép trong nạn đói, và trái cây, vật thực bằng mè; trước bữa ăn, thân bị nóng, không hạt, và bệnh rò hậu môn.
Vatthikammañca suppiñca, manussamaṁsameva ca; Hatthiassā sunakho ca, ahi sīhañca dīpikaṁ.
And enema, and Suppi, And human flesh; Elephant, horse, and dog, Snake, lion, leopard.
Thụt rửa, và Suppiya, và cả thịt người; voi, ngựa, và chó, rắn, sư tử, và báo.
Acchataracchamaṁsañca, paṭipāṭi ca yāgu ca; Taruṇaṁ aññatra guḷaṁ, sunidhāvasathāgāraṁ.
Bear, and hyena flesh, And turn, and congee; Recent, apart from, sugar, Sunidha, guesthouse.
Và thịt gấu, linh cẩu, và tuần tự, và cháo; người trẻ, nơi khác, đường mật, Sunidha, nhà nghỉ.
Gaṅgā koṭisaccakathā, ambapālī ca licchavī; Uddissa kataṁ subhikkhaṁ, punadeva paṭikkhipi.
Ganges, Koṭi, speaking the truths, And Ambapālī, Licchavī; Killed for, plenty of food, He prohibited again.
Sông Gaṅgā, làng Koṭi, lời dạy về các sự thật, và Ambapālī, các vị Licchavi; thịt được làm có chủ đích, sự sung túc, lại bác bỏ một lần nữa.
Megho yaso meṇḍako ca, Gorasaṁ pātheyyakena ca; Keṇi ambo jambu coca, Mocamadhumuddikasālukaṁ.
Storm, Yasa, and Meṇḍaka, Product of a cow, and with provisions; Keṇi, mango, rose apple, bananas with seeds, Seedless bananas, licorice, grapes, lotus tubers.
Mây, Yasa, Meṇḍaka, và các sản phẩm từ sữa, và với lương thực; Keṇiya, xoài, trám, chuối rừng, chuối nhà, mật ong, nho, ngó sen.
Phārusakā ḍākapiṭṭhaṁ, ātumāyaṁ nahāpito; Sāvatthiyaṁ phalaṁ bījaṁ, kismiṁ ṭhāne ca kāliketi.
Falsa fruit, potherbs, flour, At Ātuma, barber; At Sāvatthī, fruit, seed, And about all sorts of matters, in the time period.”
Trái phārusaka, canh rau, bánh bột, người thợ cạo ở Ātumā; trái cây ở Sāvatthi, hạt giống, và ở trường hợp nào, và các thời hạn.
Imamhi khandhake vatthū ekasataṁ chavatthu.
In this chapter there are one hundred and six topics.
Ở trong chương này có một trăm lẻ sáu câu chuyện.
Bhesajjakkhandhako niṭṭhito.
The chapter on medicines is finished.
Chương về Dược Phẩm đã chấm dứt.