- Theravāda Vinayapiṭaka
- Mahāvagga
Bản dịch
Kd 5 — Chương da thú
5. Cammakkhandhaka
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, ở núi Gijjhakūṭa. Vào lúc bấy giờ, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha cai trị vương quốc bằng quyền thống lãnh tối cao trong tám mươi ngàn ngôi làng. Vào lúc bấy giờ, ở xứ Campā, người con trai nhà đại phú tên Soṇa Koḷivīsa là người (có vóc dáng) mảnh mai. Ở các lòng bàn chân của vị ấy có các sợi lông mọc. Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāsa xứ Magadha sau khi cho triệu tập tám mươi ngàn người trưởng làng ấy lại vì công việc cần làm nào đó rồi đã phái sứ giả đến gặp Soṇa Koḷivīsa (nói rằng):—“Soṇa hãy đến. Trẫm muốn sự đi đến của Soṇa.”
Inda-bh 2~2Khi ấy, cha mẹ của Soṇa Koḷivīsa đã nói với Soṇa Koḷivīsa điều này:—“Này Soṇa yêu quý, đức vua có ý muốn xem hai bàn chân của con. Này Soṇa yêu quý, con chớ có duỗi thẳng hai bàn chân về hướng đức vua. Con hãy ngồi với thế kiết già ở phía trước đức vua, khi con đã ngồi xuống thì đức vua sẽ thấy được hai bàn chân của con.”
Inda-bh 3~3Rồi họ đã đưa Soṇa Koḷivīsa đi bằng kiệu. Sau đó, Soṇa Koḷivīsa đã đi đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã cung kính chào đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha rồi đã ngồi với thế kiết già ở phía trước đức vua. Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nhìn thấy các lông mọc ở hai lòng bàn chân của Soṇa Koḷivīsa.
Inda-bh 4~4Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã chỉ bảo về các điều lợi ích trong thời hiện tại đến tám mươi ngàn người trưởng làng ấy rồi giải tán (nói rằng):—“Này các khanh, ở đây các khanh đã được ta chỉ bảo về các điều lợi ích trong đời hiện tại. Các khanh hãy đi đến và hầu cận đức Thế Tôn ấy. Đức Thế Tôn ấy sẽ chỉ dạy cho chúng ta về các điều lợi ích trong đời vị lai.” Sau đó, tám mươi ngàn người trưởng làng ấy đã đi đến núi Gijjhakūṭa.
Inda-bh 5~5Vào lúc bấy giờ, đại đức Sāgata là thị giả của đức Thế Tôn. Khi ấy, tám mươi ngàn người trưởng làng ấy đã đi đến gặp đại đức Sāgata, sau khi đến đã nói với đại đức Sāgata điều này:—“Thưa ngài, tám mươi ngàn người trưởng làng này đi đến đây để diện kiến đức Thế Tôn. Thưa ngài, tốt đẹp thay nếu chúng tôi có thể diện kiến đức Thế Tôn.”—“Này quý vị, nếu vậy thì các vị hãy ở ngay tại đây trong chốc lát chờ tôi báo cho đức Thế Tôn biết.”
Inda-bh 6~6Sau đó, đại đức Sāgata đã biến mất ở nơi bậc cấp trước tám mươi ngàn người trưởng làng ấy đang chăm chú nhìn rồi đã hiện ra ở trước đức Thế Tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, tám mươi ngàn người trưởng làng này đi đến đây để diện kiến đức Thế Tôn. Bạch ngài, giờ đây xin đức Thế Tôn hãy suy nghĩ về thời điểm của việc ấy.”
Inda-bh 7~7—“Này Sāgata, nếu vậy thì ngươi hãy sắp đặt chỗ ngồi ở nơi có bóng râm của trú xá.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Đại đức Sāgata nghe theo đức Thế Tôn đã cầm lấy chiếc ghế rồi biến mất ở trước đức Thế Tôn và hiện ra ở bậc cấp trước tám mươi ngàn người trưởng làng đang chăm chú nhìn, rồi đã sắp đặt chỗ ngồi ở nơi có bóng râm của trú xá.
Inda-bh 8~8Sau đó, đức Thế Tôn đã từ trú xá đi ra và ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được sắp đặt ở nơi có bóng râm của trú xá. Khi ấy, tám mươi ngàn người trưởng làng ấy đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên.
Inda-bh 9~9Sau đó, tám mươi ngàn người trưởng làng ấy chỉ hướng tâm đến chính đại đức Sāgata, còn đức Thế Tôn thì không được như thế. Khi ấy, đức Thế Tôn đã dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của tám mươi ngàn người trưởng làng ấy nên đã bảo đại đức Sāgata rằng:—“Này Sāgata, nếu vậy thì ngươi hãy phô bày sự diệu kỳ của thần thông là pháp thượng nhân nhiều hơn nữa.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Rồi đại đức Sāgata nghe theo đức Thế Tôn đã bay lên không trung, đi qua lại ở khoảng không trên bầu trời, rồi đứng lại, rồi ngồi xuống, rồi nằm xuống, rồi phun khói, rồi phát sáng, rồi biến mất.
Inda-bh 10~10Sau đó, khi đã phô bày sự diệu kỳ của thần thông là pháp thượng nhân theo nhiều cách ở khoảng không trên bầu trời, đại đức Sāgata đã quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn rồi nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc đạo sư của con, con là người đệ tử. Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc đạo sư của con, con là người đệ tử.”
Inda-bh 11~11Khi ấy, tám mươi ngàn người trưởng làng ấy (nghĩ rằng): “Thật kỳ diệu thay! Thật phi thường thay! Bởi vì vị đệ tử còn có đại thần lực như thế này, đại oai lực như thế này, ắt hẳn vị đạo sư sẽ còn hơn thế nữa!” rồi đã hướng tâm đến chính đức Thế Tôn, còn đại đức Sāgata thì không được như thế.
Inda-bh 12~12Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của tám mươi ngàn người trưởng làng ấy rồi đã thuyết Pháp theo thứ lớp. Tức là ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục, sự lợi ích của việc xuất ly.
Inda-bh 13~13Khi đức Thế Tôn biết được những người ấy có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến tám mươi ngàn người trưởng làng ấy: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
Inda-bh 14~14Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, những người ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): “Những ai có mắt sẽ thấy được các hình dáng;” tương tợ như thế, Pháp đã được đức Thế Tôn chỉ rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, chúng con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội chúng tỳ khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận chúng con là những nam cư sĩ đã được quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.”
Inda-bh 15~15Khi ấy, Soṇa Koḷivīsa đã khởi ý điều này: “Theo như ta hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì việc ấy không phải là việc dễ làm đối với người đang sống ở gia đình để thực hành Phạm hạnh một cách đầy đủ trọn vẹn, hoàn toàn trong sạch như vỏ ốc được cạo sạch, hay là ta nên cạo bỏ râu tóc, khoác các y màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà?”
Inda-bh 16~16Sau đó, khi đã được hoan hỷ, đã được hài lòng với lời giảng dạy của đức Thế Tôn, tám mươi ngàn người trưởng làng ấy đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, khi tám mươi ngàn người trưởng làng ra đi không lâu, Soṇa Koḷivīsa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Soṇa Koḷivīsa đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, theo như con hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì việc ấy không phải là việc dễ làm đối với người đang sống ở gia đình để thực hành Phạm hạnh một cách đầy đủ trọn vẹn, hoàn toàn trong sạch như vỏ ốc được cạo sạch. Bạch ngài, con muốn cạo bỏ râu tóc, khoác các y màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy cho con xuất gia.” Rồi Soṇa Koḷivīsa đã đạt được sự xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn, đã đạt được sự tu lên bậc trên.
Inda-bh 17~17Và khi đã được tu lên bậc trên không bao lâu, đại đức Soṇa sống ở khu rừng Sīta. Trong khi vị ấy đang đi kinh hành với sự tinh tấn nỗ lực quá mức, các bàn chân đã bị rách. Đường kinh hành trở nên vấy đầy máu như là chỗ giết trâu bò.
Inda-bh 18~18Sau đó, đại đức Soṇa trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Ta là một trong số các vị đệ tử của đức Thế Tôn sống có sự tinh tấn nỗ lực, nhưng tâm của ta vẫn còn chấp thủ và không được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Hơn nữa, ở gia đình của ta lại có các tài sản, có thể thọ dụng những tài sản (ấy) và làm các việc phước báu. Hay là ta nên quay về cuộc sống thấp kém rồi thọ dụng những tài sản (ấy) và làm các việc phước báu?”
Inda-bh 19~19Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đại đức Soṇa, rồi cũng giống như người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tợ như thế Ngài đã biến mất tại núi Gijjhakūṭa và hiện ra ở khu rừng Sīta.
Inda-bh 20~20Sau đó, trong khi cùng với nhiều vị tỳ khưu đi dạo quanh các chỗ trú ngụ, đức Thế Tôn đã đi đến gần đường kinh hành của đại đức Soṇa. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy đường kinh hành của đại đức Soṇa bị vấy đầy máu, sau khi nhìn thấy đã nói với các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, đường kinh hành này của vị nào lại bị vấy đầy máu giống như là chỗ giết trâu bò vậy?”—“Bạch ngài, đại đức Soṇa trong khi đi kinh hành với sự tinh tấn nỗ lực quá mức nên hai bàn chân đã bị rách. Đường kinh hành bị vấy đầy máu này là của vị ấy, giống như là chỗ giết trâu bò vậy.”
Inda-bh 21~21Sau đó, đức Thế Tôn đã đi đến trú xá của đại đức Soṇa, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Đại đức Soṇa đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đại đức Soṇa đã ngồi xuống ở một bên, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Soṇa điều này:—“Này Soṇa, có phải ngươi trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: ‘Ta là một trong số các vị đệ tử của đức Thế Tôn sống có sự tinh tấn nỗ lực, nhưng tâm của ta vẫn còn chấp thủ và không được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Hơn nữa, ở gia đình của ta lại có các tài sản, có thể thọ dụng những tài sản (ấy) và làm các việc phước báu; hay là ta nên quay về cuộc sống thấp kém rồi thọ dụng những tài sản (ấy) và làm các việc phước báu?’”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Inda-bh 22~22—“Này Soṇa, ngươi nghĩ thế nào về điều này: Có phải trước đây khi còn là kẻ tại gia ngươi rành rẽ về âm điệu của sợi dây ở đàn tỳ bà?”485—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”—“Này Soṇa, ngươi nghĩ thế nào về điều này: Khi những sợi dây ở đàn tỳ bà của ngươi là quá căng, phải chăng vào lúc ấy cây đàn tỳ bà của ngươi là có âm thanh hoặc thích hợp để sử dụng?”—“Bạch ngài, điều ấy không đúng.”—“Này Soṇa, ngươi nghĩ thế nào về điều này: Khi những sợi dây ở đàn tỳ bà của ngươi là quá chùng, phải chăng vào lúc ấy cây đàn tỳ bà của ngươi là có âm thanh hoặc thích hợp để sử dụng?”—“Bạch ngài, điều ấy không đúng.”—“Này Soṇa, ngươi nghĩ thế nào về điều này: Khi những sợi dây ở đàn tỳ bà của ngươi không là quá căng và cũng không là quá chùng, được đặt vào mức độ trung hòa, phải chăng vào lúc ấy cây đàn tỳ bà của ngươi là có âm thanh hoặc thích hợp để sử dụng?”—“Bạch ngài, đúng vậy.”
Inda-bh 23~23—“Này Soṇa, tương tợ y như thế sự tinh tấn nỗ lực quá mức đưa đến sự loạn động, sự tinh tấn quá uể oải đưa đến sự biếng nhác. Này Soṇa, do đó ở đây ngươi phải xác định mức đều đều của sự tinh tấn, phải thấu triệt sự cân bằng của các quyền, và ở đó ngươi phải nắm giữ ấn chứng.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Đại đức Soṇa đã trả lời đức Thế Tôn.
Inda-bh 24~24Sau đó, khi đã giáo huấn cho đại đức Soṇa bằng lời giáo huấn ấy, rồi cũng giống như một người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tợ như thế tại khu rừng Sīta đức Thế Tôn đã biến mất trước mặt đại đức Soṇa rồi hiện ra ở núi Gijjhakūṭa.
Inda-bh 25~25Sau đó, đại đức Soṇa đã xác định mức đều đều của sự tinh tấn, đã thấu triệt sự cân bằng của các quyền, và ở đó đã nắm giữ được ấn chứng. Khi ấy, đại đức Soṇa trong khi sống một mình, tách biệt, không lười biếng, nỗ lực, quyết tâm, nên chẳng bao lâu sau ngay trong kiếp hiện tại này nhờ vào thắng trí của mình đã thực chứng, đạt đến, và an trú vào điểm tối thượng ấy là đích cuối cùng của Phạm hạnh, vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà xuất gia một cách chân chánh sống không nhà. Vị ấy biết được rằng: “Sự tái sanh đã cạn kiệt, Phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la-hán) này nữa.” Và trong số các vị A-la-hán có thêm một vị nữa là đại đức Soṇa.
Inda-bh 26~26Sau đó, khi đã chứng đạt quả vị A-la-hán đại đức Soṇa đã khởi ý điều này: “Hay là ta nên công bố trí chứng ngộ này trong sự hiện diện của đức Thế Tôn?” Khi ấy, đại đức Soṇa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Soṇa đã nói với đức Thế Tôn điều này:
Inda-bh 27~27—“Bạch ngài, vị tỳ khưu nào là bậc A-la-hán, có lậu hoặc đã được cạn kiệt, sống theo Phạm hạnh, các việc cần làm đã làm, gánh nặng đã được đặt xuống, mục đích tốt đẹp đã đạt được, sự ràng buộc vào hiện hữu đã được diệt tận, đã được giải thoát nhờ vào trí chứng ngộ chân chánh, vị ấy đã thành tựu sáu sự việc: vị ấy đã thành tựu sự xuất ly, vị ấy đã thành tựu sự viễn ly, vị ấy đã thành tựu sự không hãm hại, vị ấy đã thành tựu sự diệt tận của chấp thủ, vị ấy đã thành tựu sự diệt tận của luyến ái, vị ấy đã thành tựu sự không còn si mê.
Inda-bh 28~28Bạch ngài, ở đây có thể một vị đại đức nào đó sẽ khởi ý như vầy: “Không lẽ vị đại đức này đã thành tựu sự xuất ly chỉ hoàn toàn nhờ vào đức tin?” Bạch ngài, điều ấy không nên được xem xét như thế. Bạch ngài, vị tỳ khưu có lậu hoặc đã được cạn kiệt, sống theo Phạm hạnh, các việc cần làm đã làm xong, không còn quán xét đến việc cần phải làm của bản thân hoặc sự tích lũy của (việc) đã làm, nhờ vào sự đoạn tận của tham ái và bản thân không còn tham ái mà đã thành tựu sự xuất ly, nhờ vào sự đoạn tận của sân hận và bản thân không còn sân hận mà đã thành tựu sự xuất ly, nhờ vào sự đoạn tận của si mê và bản thân không còn si mê mà đã thành tựu sự xuất ly.
Inda-bh 29~29Bạch ngài, ở đây có thể một vị đại đức nào đó sẽ khởi ý như vầy: “Không lẽ vị đại đức này đã thành tựu sự viễn ly trong khi còn thèm muốn lợi lộc, kính trọng, và tôn vinh?” Bạch ngài, điều ấy không nên được xem xét như thế. Bạch ngài, vị tỳ khưu có lậu hoặc đã được cạn kiệt, sống theo Phạm hạnh, các việc cần làm đã làm xong, không còn quán xét đến việc cần phải làm của bản thân hoặc sự tích lũy của (việc) đã làm, nhờ vào sự đoạn tận của tham ái và bản thân không còn tham ái mà đã thành tựu sự viễn ly, nhờ vào sự đoạn tận của sân hận và bản thân không còn sân hận mà đã thành tựu sự viễn ly, nhờ vào sự đoạn tận của si mê và bản thân không còn si mê mà đã thành tựu sự viễn ly.
Inda-bh 30~30Bạch ngài, ở đây có thể một đại đức nào đó sẽ khởi ý như vầy: “Không lẽ đại đức này đã thành tựu sự không hãm hại trong khi quay về với sự bám víu vào giới cấm và sự hành trì từ trong bản chất?” Bạch ngài, điều ấy không nên được xem xét như thế. Bạch ngài, vị tỳ khưu có lậu hoặc đã được cạn kiệt, sống theo Phạm hạnh, các việc cần làm đã làm xong, không còn quán xét đến việc cần phải làm của bản thân hoặc sự tích lũy của (việc) đã làm, nhờ vào sự đoạn tận của tham ái và bản thân không còn tham ái mà đã thành tựu sự không hãm hại, nhờ vào sự đoạn tận của sân hận và bản thân không còn sân hận mà đã thành tựu sự không hãm hại, nhờ vào sự đoạn tận của si mê và bản thân không còn si mê mà đã thành tựu sự không hãm hại. —(như trên)— Nhờ vào sự đoạn tận của tham ái và bản thân không còn tham ái mà đã thành tựu sự đoạn tận của chấp thủ, nhờ vào sự đoạn tận của sân hận và bản thân không còn sân hận mà đã thành tựu sự đoạn tận của chấp thủ, nhờ vào sự đoạn tận của si mê và bản thân không còn si mê mà đã thành tựu sự đoạn tận của chấp thủ. —(như trên)— Nhờ vào sự đoạn tận của tham ái và bản thân không còn tham ái mà đã thành tựu sự đoạn tận của luyến ái, nhờ vào sự đoạn tận của sân hận và bản thân không còn sân hận mà đã thành tựu sự đoạn tận của luyến ái, nhờ vào sự đoạn tận của si mê và bản thân không còn si mê mà đã thành tựu sự đoạn tận của luyến ái. —(như trên)— Nhờ vào sự đoạn tận của tham ái và bản thân không còn tham ái mà đã thành tựu sự không còn si mê, nhờ vào sự đoạn tận của sân hận và bản thân không còn sân hận mà đã thành tựu sự không còn si mê, nhờ vào sự đoạn tận của si mê và bản thân không còn si mê mà đã thành tựu sự không còn si mê.
Inda-bh 31~31Bạch ngài, đối với vị tỳ khưu có tâm đã được hoàn toàn giải thoát, nếu các hình dáng được nhận biết bởi mắt, dầu cho nổi bật, đi vào nhãn giới cũng không xâm chiếm được tâm của vị ấy, bởi vì tâm của vị ấy không còn bị xáo trộn, bền vững, đạt đến bất động, và vị ấy quan sát sự diệt đi của điều ấy. Nếu các âm thanh được nhận thức bởi tai ... các mùi hương được nhận thức bởi mũi ... các vị nếm được nhận thức bởi lưỡi ... các sự xúc chạm được nhận thức bởi thân ... các pháp được nhận thức bởi ý, dầu cho nổi bật, đi vào ý giới cũng không xâm chiếm được tâm của vị ấy, bởi vì tâm của vị ấy không còn bị xáo trộn, bền vững, đạt đến bất động, và vị ấy quan sát sự diệt đi của điều ấy.
Inda-bh 32~32Bạch ngài, cũng giống như hòn núi đá không có kẽ nứt, không có lỗ hổng, liền lặn một khối, nếu có cơn mưa bão dữ dội đi đến từ hướng đông cũng không thể làm nó rung chuyển, không thể làm lay động, không thể làm chấn động. Nếu có cơn mưa bão dữ dội đi đến từ hướng tây ... Nếu có cơn mưa bão dữ dội đi đến từ hướng bắc ... Nếu có cơn mưa bão dữ dội đi đến từ hướng nam cũng không thể làm nó rung chuyển, không thể làm lay động, không thể làm chấn động. Bạch ngài, tương tợ như thế đối với vị tỳ khưu có tâm đã được hoàn toàn giải thoát, nếu các hình dáng được nhận thức bởi mắt, dầu cho nổi bật, đi vào nhãn giới cũng không xâm chiếm được tâm của vị ấy bởi vì tâm của vị ấy không còn bị xáo trộn, bền vững, đạt đến bất động, và vị ấy quan sát sự diệt đi của điều ấy. Nếu các âm thanh được nhận thức bởi tai ... các mùi hương được nhận thức bởi mũi ... các vị nếm được nhận thức bởi lưỡi ... các sự xúc chạm được nhận thức bởi thân ... các pháp được nhận thức bởi ý, dầu cho nổi bật, đi vào ý giới cũng không xâm chiếm được tâm của vị ấy bởi vì tâm của vị ấy không còn bị xáo trộn, bền vững, đạt đến bất động, và vị ấy quan sát sự diệt đi của điều ấy.
Inda-bh 33~33Đối với vị có tâm đã thành tựu sự xuất ly và sự viễn ly, đã thành tựu sự không hãm hại, và có sự đoạn tận của chấp thủ, có tâm đã thành tựu sự đoạn tận tham ái và sự không si mê, sau khi thấy được sự sanh lên của các xứ (sáu giác quan và các đối tượng của chúng), tâm (của vị ấy) được hoàn toàn giải thoát một cách đúng đắn.
Inda-bh 34~34Đối với vị khưu đã được hoàn toàn giải thoát một cách đúng đắn, có tâm thanh tịnh ấy, thì không có sự tích lũy của (việc) đã làm, việc cần làm không được biết đến.
Inda-bh 35~35Giống như núi đá liền lặn một khối không lay chuyển bởi gió, tương tợ như thế hết thảy các sắc, các vị, các thinh, các hương, các xúc, và các pháp được ưa thích và không được ưa thích không làm chấn động tâm đã được bền vững, đã được giải thoát của vị như thế ấy, và vị ấy quan sát sự diệt đi của điều ấy.”
Inda-bh 36~36Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, những người con trai của các gia đình danh tiếng công bố sự chứng ngộ như thế ấy. Kết quả đã được nói lên còn bản thân là không nêu ra. Hơn nữa, trong trường hợp này ta nghĩ rằng có một số kẻ rồ dại công bố trí chứng ngộ như là đùa giỡn, những kẻ ấy sau này bị lâm vào cảnh tiêu hoại.”
Inda-bh 37~37Sau đó, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Soṇa rằng:—“Này Soṇa, ngươi là người (có vóc dáng) mảnh mai. Này Soṇa, đối với ngươi ta cho phép (sử dụng) dép loại một lớp.”—“Bạch ngài, con đã từ bỏ số vàng khối gồm tám mươi xe hàng với bầy voi gồm bảy con và đã rời nhà xuất gia sống không nhà. Bạch ngài, giờ đây nếu con sẽ mang dép loại một lớp, sẽ có những người nói về con rằng: ‘Soṇa Koḷivīsa đã từ bỏ số vàng khối gồm tám mươi xe hàng với bầy voi gồm bảy con và đã rời nhà xuất gia sống không nhà. Giờ đây, chính vị ấy lại bám víu vào những đôi dép loại một lớp.’ Nếu đức Thế Tôn cho phép hội chúng tỳ khưu thì con sẽ sử dụng; nếu đức Thế Tôn không cho phép hội chúng tỳ khưu thì con cũng sẽ không sử dụng.”
Inda-bh 38~38Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) dép loại một lớp. Này các tỳ khưu, không nên mang những đôi dép loại hai lớp, không nên mang những đôi dép loại ba lớp, không nên mang những đôi dép loại nhiều lớp; vị nào mang thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 39~39Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư mang những đôi dép toàn màu xanh, … (như trên) … mang những đôi dép toàn màu vàng, mang những đôi dép toàn màu đỏ (máu), mang những đôi dép toàn màu tím, mang những đôi dép toàn màu đen, mang những đôi dép nhuộm toàn màu đỏ tía, mang những đôi dép nhuộm toàn màu hồng. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.”
Inda-bh 40~40Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên mang những đôi dép toàn màu xanh, —(như trên)— không nên mang những đôi dép toàn màu vàng, không nên mang những đôi dép toàn màu đỏ (máu), không nên mang những đôi dép toàn màu tím, không nên mang những đôi dép toàn màu đen, không nên mang những đôi dép nhuộm toàn màu đỏ tía, không nên mang những đôi dép nhuộm toàn màu hồng; vị nào mang thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 41~41Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư mang những đôi dép có dây buộc màu xanh, —(như trên)— mang những đôi dép có dây buộc màu vàng, mang những đôi dép có dây buộc màu đỏ (máu), mang những đôi dép có dây buộc màu tím, mang những đôi dép có dây buộc màu đen, mang những đôi dép có dây buộc nhuộm màu đỏ tía, mang những đôi dép có dây buộc nhuộm màu hồng. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.”
Inda-bh 42~42Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên mang những đôi dép có dây buộc màu xanh, —(như trên)— không nên mang những đôi dép có dây buộc màu vàng, không nên mang những đôi dép có dây buộc màu đỏ (máu), không nên mang những đôi dép có dây buộc màu tím, không nên mang những đôi dép có dây buộc màu đen, không nên mang những đôi dép có dây buộc nhuộm màu đỏ tía, không nên mang những đôi dép có dây buộc nhuộm màu hồng; vị nào mang thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 43~43Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư mang những đôi dép phủ gót chân, —(như trên)— mang những đôi dép trùm đến gối, mang những đôi dép trùm đến ống chân, mang những đôi dép lót bông gòn, mang những đôi dép giống cánh của gà gô, mang những đôi dép có gắn sừng cừu, mang những đôi dép có gắn sừng dê, mang những đôi dép có gắn đuôi bọ cạp, mang những đôi dép có khâu lông công, mang những đôi dép đủ các loại. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.”
Inda-bh 44~44Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên mang những đôi dép phủ gót chân, —(như trên)— không nên mang những đôi dép trùm đến gối, không nên mang những đôi dép trùm đến ống chân, không nên mang những đôi dép lót bông gòn, không nên mang những đôi dép giống cánh của gà gô, không nên mang những đôi dép có gắn sừng cừu, không nên mang những đôi dép có gắn sừng dê, không nên mang những đôi dép có gắn đuôi bọ cạp, không nên mang những đôi dép có khâu lông công, không nên mang những đôi dép đủ các loại; vị nào mang thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 45~45Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư mang những đôi dép được viền quanh bằng da sư tử, —(như trên)— mang những đôi dép được viền quanh bằng da cọp, mang những đôi dép được viền quanh bằng da beo, mang những đôi dép được viền quanh bằng da hươu, mang những đôi dép được viền quanh bằng da rái cá, mang những đôi dép được viền quanh bằng da mèo, mang những đôi dép được viền quanh bằng da sóc, mang những đôi dép được viền quanh bằng da cú mèo. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.”
Inda-bh 46~46Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên mang những đôi dép được viền quanh bằng da sư tử, —(như trên)— không nên mang những đôi dép được viền quanh bằng da cọp, không nên mang những đôi dép được viền quanh bằng da beo, không nên mang những đôi dép được viền quanh bằng da hươu, không nên mang những đôi dép được viền quanh bằng da rái cá, không nên mang những đôi dép được viền quanh bằng da mèo, không nên mang những đôi dép được viền quanh bằng da sóc, không nên mang những đôi dép được viền quanh bằng da cú mèo; vị nào mang thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 47~47Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi vào thành Rājagaha để khất thực với vị tỳ khưu nào đó làm sa-môn hầu cận. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đi khập khiễng theo sát phía sau đức Thế Tôn.
Inda-bh 48~48Có nam cư sĩ nọ sau khi mang vào đôi dép loại nhiều lớp đã nhìn thấy đức Thế Tôn từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã tháo đôi dép ra rồi đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đi đến gần vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã đảnh lễ vị tỳ khưu ấy rồi nói điều này:—“Thưa ngài, vì sao ngài đi khập khiễng?”—“Này đạo hữu, hai bàn chân tôi bị rách.”—“Thưa ngài, hãy nhận lấy đôi dép.”—“Này đạo hữu, thôi đi. Những đôi dép có nhiều lớp đã bị đức Thế Tôn cấm đoán.” (Đức Thế Tôn đã nói rằng):—“Này tỳ khưu, ngươi hãy thọ lãnh đôi dép ấy.”
Inda-bh 49~49Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) dép loại nhiều lớp đã bị bỏ đi. Này các tỳ khưu, không nên mang những đôi dép loại nhiều lớp còn mới; vị nào mang thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 50~50Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đi kinh hành ngoài trời không mang dép. Các tỳ khưu trưởng lão (nghĩ rằng): “Bậc Đạo Sư đi kinh hành không mang dép” nên đi kinh hành cũng không mang dép.
Inda-bh 51~51Trong khi bậc Đạo Sư đi kinh hành không mang dép, trong khi các tỳ khưu trưởng lão đi kinh hành cũng không mang dép, các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại đi kinh hành có mang dép. Các tỳ khưu ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao trong khi bậc Đạo Sư đi kinh hành không mang dép, trong khi các tỳ khưu trưởng lão đi kinh hành cũng không mang dép, các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại đi kinh hành có mang dép?”
Inda-bh 52~52Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói trong khi bậc Đạo Sư đi kinh hành không mang dép và trong khi các tỳ khưu trưởng lão đi kinh hành cũng không mang dép, các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại đi kinh hành có mang dép, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Inda-bh 53~53Đức Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, vì sao trong khi bậc Đạo Sư đi kinh hành không mang dép và trong khi các tỳ khưu trưởng lão đi kinh hành cũng không mang dép, những kẻ rồ dại ấy lại đi kinh hành có mang dép? Này các tỳ khưu, ngay cả những người tại gia choàng vải trắng vì lý do nghề nghiệp để nuôi mạng vẫn sống có sự tôn kính, có sự phục tùng, có sự cư xử hài hòa đối với các vị thầy.
Inda-bh 54~54Này các tỳ khưu, ở đây các ngươi hãy làm rạng rỡ việc các ngươi đang được xuất gia trong Pháp và Luật khéo được thuyết giảng như vầy, sao các ngươi có thể sống không có sự tôn kính, không có sự phục tùng, không có sự cư xử hài hòa đối với các vị thầy dạy học, đối với các vị tương đương thầy dạy học, đối với các vị thầy tế độ, đối với các vị tương đương thầy tế độ?
Inda-bh 55~55Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, trong khi các vị thầy dạy học, các vị tương đương thầy dạy học, các vị thầy tế độ, các vị tương đương thầy tế độ đang đi kinh hành không mang dép, không nên đi kinh hành có mang dép; vị nào mang thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, trong khuôn viên tu viện không nên mang dép; vị nào mang thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 56~56Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh khối u ở bàn chân. Các tỳ khưu khiêng vị tỳ khưu ấy đưa ra bên ngoài cho việc đại tiện cũng như tiểu tiện. Đức Thế Tôn trong khi đi dạo quanh các chỗ trú ngụ đã nhìn thấy các tỳ khưu ấy đang khiêng vị tỳ khưu ấy đưa ra bên ngoài cho việc đại tiện cũng như tiểu tiện, sau khi nhìn thấy đã đi đến gần các tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với các tỳ khưu ấy điều này:—“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này có bệnh gì vậy?”—“Bạch ngài, đại đức này có bệnh khối u ở bàn chân. Chúng con khiêng vị này đưa ra bên ngoài cho việc đại tiện cũng như tiểu tiện.”
Inda-bh 57~57Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị có các bàn chân bị đau, hoặc có các bàn chân bị rách, hoặc có bệnh khối u ở bàn chân được mang dép.”
Inda-bh 58~58Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu bước lên giường ghế với các bàn chân chưa rửa khiến y và chỗ nằm ngồi bị dơ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép mang dép khi nghĩ rằng: ‘Bây giờ ta sẽ bước lên giường hoặc ghế.’”
Inda-bh 59~59Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu trong khi đi đến nhà hành lễ Uposatha cũng như đến cuộc hội họp vào ban đêm đã đạp nhằm gốc cây, (đạp nhằm) gai nhọn khiến các bàn chân bị đau. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, trong khuôn viên tu viện ta cho phép sử dụng dép, cây đuốc, cây đèn, và cây gậy để chống.”
Inda-bh 60~60Vào lúc bấy giờ, sau khi thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm các tỳ khưu nhóm Lục Sư mang các đôi guốc gỗ đi kinh hành ở ngoài trời, trong khi nói to giọng, lớn tiếng, với âm thanh ồn ào về chuyện nhảm nhí có tính chất đa dạng như là: chuyện đức vua, chuyện kẻ trộm, chuyện quan đại thần, chuyện quân đội, chuyện ghê rợn, chuyện chiến tranh, chuyện cơm ăn, chuyện nước uống, chuyện vải vóc, chuyện giường nằm, chuyện vòng hoa, chuyện hương thơm, chuyện thân quyến, chuyện xe cộ, chuyện làng xóm, chuyện thị trấn, chuyện thành thị, chuyện quốc gia, chuyện đàn bà, chuyện đàn ông, chuyện người hùng, chuyện đường xá, chuyện kho tàng, chuyện ma quỷ, chuyện linh tinh, chuyện tiên đoán về thế gian, chuyện tiên đoán về biển cả, chuyện sẽ xảy ra và sẽ không xảy ra như vầy hay là như vầy, các vị vừa dẫm đạp giết chết côn trùng vừa làm cho các tỳ khưu bị hư hoại thiền định.
Inda-bh 61~61Các tỳ khưu ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư sau khi thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm lại mang các đôi guốc gỗ đi kinh hành ở ngoài trời còn nói to giọng, lớn tiếng, với âm thanh ồn ào về chuyện nhảm nhí có tính chất đa dạng như là: chuyện đức vua, chuyện kẻ trộm, … (như trên) …, chuyện sẽ xảy ra và sẽ không xảy ra như vầy hay là như vầy, các vị vừa dẫm đạp giết chết côn trùng vừa làm cho các tỳ khưu bị hư hoại thiền định?”
Inda-bh 62~62Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư sau khi thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm lại mang các đôi guốc gỗ đi kinh hành ở ngoài trời còn nói to giọng, lớn tiếng, với âm thanh ồn ào về chuyện nhảm nhí có tính chất đa dạng như là: chuyện đức vua, chuyện kẻ trộm, … (như trên) … chuyện sẽ xảy ra và sẽ không xảy ra như vầy hay là như vầy, các vị vừa dẫm đạp giết chết côn trùng vừa làm cho các tỳ khưu bị hư hoại thiền định, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Inda-bh 63~63Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—Này các tỳ khưu không nên mang các đôi guốc gỗ; vị nào mang thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 64~64Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Bārāṇasī. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Bārāṇasī Tại nơi ấy trong thành Bārāṇasī, đức Thế Tôn ngự tại Isipatana, ở khu vườn nai.
Inda-bh 65~65Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Những đôi guốc gỗ đã bị đức Thế Tôn cấm đoán” nên đã cho chặt những cây thốt nốt còn non rồi mang những đôi guốc làm bằng lá cây thốt nốt. Những cây thốt nốt còn non bị chặt trở nên héo úa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các sa-môn Thích tử lại cho chặt những cây thốt nốt còn non rồi mang những đôi guốc làm bằng lá cây thốt nốt khiến những cây thốt nốt còn non bị chặt trở nên héo úa? Các sa-môn Thích tử hãm hại mạng sống của loài có một giác quan.”
Inda-bh 66~66Các tỳ khưu đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã cho chặt những cây thốt nốt còn non rồi mang những đôi guốc làm bằng lá cây thốt nốt khiến những cây thốt nốt còn non bị chặt trở nên héo úa, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Inda-bh 67~67Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại kia lại cho chặt những cây thốt nốt còn non rồi mang những đôi guốc làm bằng lá cây thốt nốt khiến những cây thốt nốt còn non bị chặt trở nên héo úa. Này các tỳ khưu, bởi vì dân chúng nghĩ rằng có mạng sống ở trong thân cây. Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên mang những đôi guốc làm bằng lá cây thốt nốt; vị nào mang thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 68~68Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Những đôi guốc làm bằng lá cây thốt nốt đã bị đức Thế Tôn cấm đoán” nên đã cho chặt những cây tre còn non rồi mang những đôi guốc làm bằng lá cây tre. Những cây tre còn non bị chặt trở nên héo úa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các sa-môn Thích tử lại cho chặt những cây tre còn non rồi mang những đôi guốc làm bằng lá cây tre khiến những cây tre còn non bị chặt trở nên héo úa? Các sa-môn Thích tử hãm hại mạng sống của loài có một giác quan.”
Inda-bh 69~69Các tỳ khưu đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, không nên mang những đôi guốc làm bằng lá cây tre; vị nào mang thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 70~70Sau đó, khi đã ngự tại thành Bārāṇasī theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Bhaddiya. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Bhaddiya. Tại nơi ấy trong thành Bhaddiya, đức Thế Tôn ngự tại khu rừng Jātiyā.
Inda-bh 71~71Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu ở Bhaddiya sống chuyên chú và gắn bó với việc tô điểm đôi giày theo nhiều cách: Các vị tự làm và bảo người làm giày bằng cỏ, các vị tự làm và bảo người làm giày bằng cỏ tranh, các vị tự làm và bảo người làm giày bằng cỏ sậy, các vị tự làm và bảo người làm giày bằng cây dừa nước, các vị tự làm và bảo người làm giày bằng rễ sen, các vị tự làm và bảo người làm giày bằng len. Các vị xao lãng việc trì tụng, việc học hỏi, tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ.
Inda-bh 72~72Các tỳ khưu ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu ở Bhaddiya lại sống chuyên chú và gắn bó với việc tô điểm đôi giày theo nhiều cách: Các vị tự làm và bảo người làm giày bằng cỏ, các vị tự làm và bảo người làm giày bằng cỏ tranh, các vị tự làm và bảo người làm giày bằng cỏ sậy, các vị tự làm và bảo người làm giày bằng cây dừa nước, các vị tự làm và bảo người làm giày bằng rễ sen, các vị tự làm và bảo người làm giày bằng len. Các vị xao lãng việc trì tụng, việc học hỏi, tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 73~73—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ở Bhaddiya sống chuyên chú và gắn bó với việc tô điểm đôi giày theo nhiều cách: Các vị tự làm và bảo người làm giày bằng cỏ, các vị tự làm và bảo người làm giày bằng cỏ tranh, các vị tự làm và bảo người làm giày bằng cỏ sậy, các vị tự làm và bảo người làm giày bằng cây dừa nước, các vị tự làm và bảo người làm giày bằng rễ sen, các vị tự làm và bảo người làm giày bằng len. Các vị xao lãng việc trì tụng, việc học hỏi, tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Inda-bh 74~74Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại này lại sống chuyên chú và gắn bó với việc tô điểm đôi giày theo nhiều cách. Chúng làm và bảo người làm giày bằng cỏ, chúng làm và bảo người làm giày bằng cỏ tranh, chúng làm và bảo người làm giày bằng cỏ sậy, chúng làm và bảo người làm giày bằng cây dừa nước, chúng làm và bảo người làm giày bằng rễ sen, chúng làm và bảo người làm giày bằng len. Chúng xao lãng việc trì tụng, việc học hỏi, tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ?
Inda-bh 75~75Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên mang giày làm bằng cỏ, không nên mang giày làm bằng cỏ tranh, không nên mang giày làm bằng cỏ sậy, không nên mang giày làm bằng cây dừa nước, không nên mang giày làm bằng rễ sen, không nên mang giày làm bằng len, không nên mang giày làm bằng vàng, không nên mang giày làm bằng bạc, không nên mang giày làm bằng ngọc ma-ni, không nên mang giày làm bằng ngọc bích, không nên mang giày làm bằng pha-lê, không nên mang giày làm bằng đồng thau, không nên mang giày làm bằng thủy tinh, không nên mang giày làm bằng thiếc, không nên mang giày làm bằng chì, không nên mang giày làm bằng đồng đỏ; vị nào mang thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, không nên mang bất cứ loại giày nào dùng cho việc đi lại; vị nào mang thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép ba loại giày đặt ở chỗ nhất định, không thể chuyển dịch là: giày ở nhà tiểu, giày ở nhà tiêu, giày ở chỗ súc miệng.”
Inda-bh 76~76Sau đó, khi đã ngự tại thành Bhaddiya theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Sāvatthi. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Sāvatthi. Tại nơi ấy trong thành Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự tại Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Inda-bh 77~77Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư nắm lấy các sừng của những con bò cái đang lội qua sông Aciravatī, các vị nắm lấy các lỗ tai tai, các vị nắm lấy cổ, các vị nắm lấy đuôi, các vị cỡi lên lưng, các vị sờ vào bộ phận sinh dục do tâm ái nhiễm, các vị dìm nước các con bò cái tơ và giết chết.
Inda-bh 78~78Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các sa-môn Thích tử lại nắm lấy các sừng của những con bò cái đang lội qua sông Aciravatī, các vị nắm lấy các lỗ tai, các vị nắm lấy cổ, các vị nắm lấy đuôi, các vị cỡi lên lưng, các vị sờ mó bộ phận sinh dục do tâm ái nhiễm, các vị dìm nước các con bò cái tơ và giết chết giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy?”
Inda-bh 79~79Các tỳ khưu đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói … (như trên) … có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Inda-bh 80~80—“Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên nắm lấy các sừng, không nên nắm lấy các lỗ tai, không nên nắm lấy cổ, không nên nắm lấy đuôi, không nên cỡi lên lưng của những con bò cái; vị nào cỡi lên thì phạm tội dukkaṭa. Không nên sờ mó bộ phận sinh dục do tâm ái nhiễm; vị nào sờ mó thì phạm tội thullaccaya. Không nên giết chết những con bò cái tơ; vị nào giết chết thì nên hành xử theo Pháp.”516
Inda-bh 81~81Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư di chuyển bằng xe được kéo bởi các con bò cái với người nam đánh xe ngồi ở giữa, hoặc được kéo bởi các con bò đực với người nữ đánh xe ngồi ở giữa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như lễ hội ở vùng Gaṅgā và Mahī vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, không nên di chuyển bằng xe; vị nào di chuyển thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 82~82Vào lúc bấy giờ, ở trong xứ Kosala có vị tỳ khưu nọ đang đi đến thành Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn, ở giữa đường bị bệnh. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã rời đường đi và ngồi xuống ở gốc cây nọ.
Inda-bh 83~83Dân chúng sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đã nói điều này:—“Thưa ngài, ngài sẽ đi đâu?”—“Này các đạo hữu, tôi sẽ đi Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn.”—“Thưa ngài, hãy đến đây, chúng ta sẽ cùng đi.”—“Này các đạo hữu, tôi không thể (đi được). Tôi bị bệnh.”—“Thưa ngài, hãy đến đây. Hãy leo lên xe.”—“Này các đạo hữu, thôi đi. Xe đã bị đức Thế Tôn cấm đoán.” Trong khi ngần ngại, vị ấy đã không leo lên xe.
Inda-bh 84~84Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã đi đến thành Sāvatthi và kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) xe đối với vị bị bệnh.”
Inda-bh 85~85Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Vậy được kéo bởi con cái? Hay được kéo bởi con đực?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép được kéo bởi con đực, (và cho phép) xe kéo bằng tay.”
Inda-bh 86~86Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã bị khó chịu dữ dội hơn nữa vì sự dằn xóc của xe. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) kiệu khiêng, ghế khiêng.”
Inda-bh 87~87Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng chỗ nằm cao và chỗ nằm rộng lớn như là: ghế trường kỷ, ghế nệm lông thú, thảm lông cừu dài sợi, thảm lông nhiều màu, thảm lông cừu màu trắng, thảm thêu bông hoa, thảm bông gòn, thảm dệt có nhiều hình thú, thảm có lông mặt trên, thảm có lông một bên góc, thảm kết châu báu, thảm lụa, thảm lớn để nhảy múa, thảm ở mình voi, thảm ở mình ngựa, thảm lót xe, thảm da beo, thảm da nai giống quý, thảm có che phủ ở bên trên và có gối màu đỏ ở hai đầu.
Inda-bh 88~88Dân chúng trong lúc đi dạo quanh các trú xá nhìn thấy nên phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, không nên sử dụng chỗ nằm cao và chỗ nằm rộng lớn như là: ghế trường kỷ, ghế nệm lông thú, thảm lông cừu dài sợi, thảm lông nhiều màu, thảm lông cừu màu trắng, thảm thêu bông hoa, thảm bông gòn, thảm dệt có nhiều hình thú, thảm có lông mặt trên, thảm có lông một bên góc, thảm dệt sợi vàng, thảm lụa, thảm lớn để nhảy múa, thảm ở mình voi, thảm ở mình ngựa, thảm lót xe, thảm da beo, thảm da nai giống quý, thảm có che phủ ở bên trên và có màu đỏ ở hai đầu; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 89~89Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Chỗ nằm cao và chỗ nằm rộng lớn đã bị đức Thế Tôn cấm đoán” nên sử dụng những tấm da thú lớn là da sư tử, da cọp, da beo. Các tấm da được cắt theo kích thước của giường, chúng được cắt theo kích thước của ghế, chúng được xếp đặt ở giường phía bên trong, chúng được xếp đặt ở giường phía bên ngoài, chúng được xếp đặt ở ghế phía bên trong, chúng được xếp đặt ở ghế phía bên ngoài. Dân chúng trong lúc đi dạo quanh các trú xá nhìn thấy nên phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, không nên sử dụng những tấm da thú lớn là da sư tử, da cọp, da beo; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 90~90Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Những tấm da thú lớn đã bị đức Thế Tôn cấm đoán” nên sử dụng những tấm da bò. Những tấm da bò được cắt theo kích thước của giường, chúng được cắt theo kích thước của ghế, chúng được xếp đặt ở giường phía bên trong, chúng được xếp đặt ở giường phía bên ngoài, chúng được xếp đặt ở ghế phía bên trong, chúng được xếp đặt ở ghế phía bên ngoài.
Inda-bh 91~91Có vị tỳ khưu xấu xa nọ thường hay lui tới với người cư sĩ xấu xa nọ. Khi ấy vào buổi sáng, vị tỳ khưu xấu xa ấy đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến nhà ở của người cư sĩ xấu xa ấy, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Sau đó, người cư sĩ xấu xa ấy đã đi đến gặp vị tỳ khưu xấu xa ấy, sau khi đến đã đảnh lễ vị tỳ khưu xấu xa ấy rồi ngồi xuống ở một bên.
Inda-bh 92~92Vào lúc bấy giờ, người cư sĩ xấu xa ấy có con bê còn nhỏ, đẹp dáng, đáng nhìn, xinh xắn, có nhiều màu như là con beo con vậy. Khi ấy, vị tỳ khưu xấu xa ấy chăm chú nhìn con bê con ấy một cách kỹ lưỡng. Sau đó, người cư sĩ xấu xa ấy đã nói với vị tỳ khưu xấu xa ấy điều này:—“Thưa ngài, vì sao ngài lại chăm chú nhìn con bê con ấy một cách kỹ lưỡng vậy?”—“Này đạo hữu, ta có việc cần dùng với da của con bê này.” Khi ấy, người cư sĩ xấu xa ấy đã giết chết con bê ấy, lột tấm da, rồi dâng cho vị tỳ khưu xấu xa ấy. Sau đó, vị tỳ khưu xấu xa ấy đã dùng y hai lớp che đậy tấm da ấy rồi ra đi.
Inda-bh 93~93Khi ấy, con bò cái ấy nhớ đến con bê nên đã đi theo phía sau vị tỳ khưu xấu xa ấy. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này đại đức, vì sao con bò cái này cứ đi theo phía sau đại đức vậy?”—“Này các đại đức, tôi cũng không biết vì sao con bò cái này cứ đi theo phía sau tôi nữa?”
Inda-bh 94~94Vào lúc bấy giờ, y hai lớp của vị tỳ khưu xấu xa ấy đã bị vấy máu. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này đại đức, còn cái y hai lớp này của đại đức, nó đã bị cái gì vậy?” Khi ấy, vị tỳ khưu xấu xa ấy đã kể lại sự việc ấy cho các vị tỳ khưu.—“Này đại đức, có phải đại đức đã xúi giục kẻ khác giết hại mạng sống?”—“Này các đại đức, đúng vậy.” Các tỳ khưu ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao vị tỳ khưu lại xúi giục kẻ khác giết hại mạng sống? Không phải sự giết hại mạng sống đã bị đức Thế Tôn khiển trách bằng nhiều phương cách và việc từ bỏ giết hại mạng sống đã được khen ngợi hay sao?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và hỏi vị tỳ khưu xấu xa ấy rằng:—“Này tỳ khưu, nghe nói ngươi đã xúi giục kẻ khác giết hại mạng sống, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Inda-bh 95~95Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại xúi giục kẻ khác giết hại mạng sống? Không phải sự giết hại mạng sống đã bị ta khiển trách bằng nhiều phương cách và việc từ bỏ giết hại mạng sống đã được khen ngợi hay sao? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên xúi giục kẻ khác giết hại mạng sống, vị nào xúi giục thì nên được hành xử theo Pháp. Và này các tỳ khưu, không nên sử dụng da bò; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Và này các tỳ khưu, không nên sử dụng bất cứ loại da nào; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 96~96Vào lúc bấy giờ, giường và ghế của dân chúng được độn lót bằng da và được phủ bằng da. Các vị tỳ khưu ngần ngại không ngồi lên. Các vị đã trình sự việc lên đức Thê Tôn.—“Này các tỳ khưu, Ta cho phép ngồi lên chỗ đã được làm sẵn bởi cư sĩ nhưng không được nằm lên.”
Inda-bh 97~97Vào lúc bấy giờ, các trú xá được buộc lại bằng những sợi dây da. Các vị tỳ khưu ngần ngại không ngồi lên. Các vị đã trình sự việc lên đức Thê Tôn.—“Này các tỳ khưu, Ta cho phép ngồi lên vật được buộc lại (bởi các dây da).”
Inda-bh 98~98Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đi vào làng có mang những đôi dép. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên đi vào làng có mang dép; vị nào đi vào thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 99~99Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh không thể đi vào làng không có dép. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu bị bệnh đi vào làng có mang dép.”
Inda-bh 100~100Lúc bấy giờ, đại đức Mahākaccāyana ngụ trong xứ Avanti, ở thành Kuraraghara, tại núi Papāta. Vào lúc bấy giờ, nam cư sĩ Soṇa Kuṭikaṇṇa là người hộ độ cho đại dức Mahākaccāyana.
Inda-bh 101~101Khi ấy, nam cư sĩ Soṇa Kuṭikaṇṇa đã đi đến gặp đại đức Mahākaccāyana, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Mahākaccāyana rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, nam cư sĩ Soṇa Kuṭikaṇṇa đã nói với đại đức Mahākaccāyana điều này:—“Thưa ngài, theo như con hiểu về Pháp đã được ngài đại đức Mahākaccāyana thuyết giảng thì việc ấy không phải là việc dễ làm đối với người đang sống ở gia đình để thực hành Phạm hạnh một cách đầy đủ trọn vẹn, hoàn toàn trong sạch như vỏ ốc được cạo sạch. Thưa ngài, con muốn cạo bỏ râu tóc, khoác lên các y màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà. Thưa ngài, xin ngài đại đức Mahākaccāyana hãy cho con xuất gia.”—“Này Soṇa, việc ấy là khó làm để thực hành Phạm hạnh, ngủ một mình, ăn một bữa cho đến trọn đời. Này Soṇa, vậy thì ở ngay chỗ này, là người tại gia, ngươi hãy thực tập lời dạy của chư Phật tức là (thực hành) Phạm hạnh, ngủ một mình, ăn một bữa trong khoảng thời gian quy định.”
Inda-bh 102~102Khi ấy, ước muốn xuất gia của nam cư sĩ Soṇa Kuṭikaṇṇa đã được dịu đi. Đến lần thứ nhì, nam cư sĩ Soṇa Kuṭikaṇṇa … (như trên) … Đến lần thứ ba, nam cư sĩ Soṇa Kuṭikaṇṇa đã đi đến gặp đại đức Mahākaccāyana, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Mahākaccāyana rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, nam cư sĩ Soṇa Kuṭikaṇṇa đã nói với đại đức Mahākaccāyana điều này:—“Bạch ngài, theo như con hiểu về Pháp đã được ngài đại đức Mahākaccāyana thuyết giảng thì việc ấy không phải là việc dễ làm đối với người đang sống ở gia đình để thực hành Phạm hạnh một cách đầy đủ trọn vẹn, hoàn toàn trong sạch như vỏ ốc được cạo sạch. Bạch ngài, con muốn cạo bỏ râu tóc, khoác các y màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà. Bạch ngài, xin ngài đại đức Mahākaccāyana hãy cho con xuất gia.” Khi ấy, đại đức Mahākaccāyana đã cho nam cư sĩ Soṇa Kuṭikaṇṇa xuất gia.
Inda-bh 103~103Vào lúc bấy giờ, ở xứ Avanti và khu vực phía nam có ít tỳ khưu. Khi ấy, đại đức Mahākaccāyana trải qua ba năm với nỗi cực nhọc khó khăn đã triệu tập được hội chúng tỳ khưu gồm mười vị từ nơi này nơi khác rồi đã cho đại đức Soṇa tu lên bậc trên.
Inda-bh 104~104Sau đó, khi đã sống qua mùa (an cư) mưa, đại đức Soṇa trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Ta đã được nghe về đức Thế Tôn ấy là: ‘Vị như vầy và như vầy,’ nhưng ta chưa được nhìn thấy tận mặt. Vậy ta nên đi để diện kiến đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy nếu thầy tế độ cho phép ta.”
Inda-bh 105~105Sau đó vào lúc chiều tối, đại đức Soṇa đã xuất khỏi thiền tịnh rồi đi đến gặp đại đức Mahākaccāyana, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Mahākaccāyana rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Soṇa đã nói với đại đức Mahākaccāyana điều này:—“Thưa ngài, trường hợp con trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: ‘Ta đã được nghe về đức Thế Tôn ấy là: ‘Vị như vầy và như vầy,’ nhưng ta chưa được nhìn thấy tận mặt. Vậy ta nên đi để diện kiến đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác nếu thầy tế độ cho phép ta.’ Thưa ngài, con có nên đi để diện kiến đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy nếu thầy tế độ cho phép con?”—“Này Soṇa, tốt lắm, tốt lắm. Này Soṇa, ngươi hãy đi để diện kiến đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy. Này Soṇa, ngươi sẽ thấy đức Thế Tôn ấy dễ mến, đáng tin, có giác quan thanh tịnh, có tâm ý thanh tịnh, đã đạt đến mức tột đỉnh trong sự thu thúc và tĩnh lặng, là đấng voi chúa đã được huấn luyện, đã được hộ trì, có giác quan đã được kiểm soát.
Inda-bh 106~106Này Soṇa, nếu vậy thì ngươi hãy đê đầu đảnh lễ ở bàn chân của đức Thế Tôn với lời của ta rằng: ‘Bạch ngài, thầy tế độ của con là đại đức Mahākaccāyana xin đê đầu đảnh lễ ở bàn chân của đức Thế Tôn.’ Rồi ngươi hãy nói như vầy: ‘Bạch ngài, xứ Avanti và khu vực phía nam có ít tỳ khưu. Con trải qua ba năm với nỗi cực nhọc khó khăn mới triệu tập được hội chúng tỳ khưu gồm mười vị từ nơi này nơi khác và đã thành tựu việc tu lên bậc trên. Có lẽ ở xứ Avanti và khu vực phía nam đức Thế Tôn nên cho phép việc tu lên bậc trên bằng nhóm (có nhân sự) ít hơn.
Inda-bh 107~107Bạch ngài, ở xứ Avanti và khu vực phía nam, mặt đất sẫm màu hơn, rắn chắc, bị dẫm đạp bởi móng chân bò. Có lẽ ở xứ Avanti và khu vực phía nam đức Thế Tôn nên cho phép (sử dụng) dép có nhiều lớp.
Inda-bh 108~108Bạch ngài, ở xứ Avanti và khu vực phía nam dân chúng xem trọng việc tắm và được sạch sẽ nhờ nước. Có lẽ ở xứ Avanti và khu vực phía nam đức Thế Tôn nên cho phép việc tắm thường xuyên.
Inda-bh 109~109Bạch ngài, ở xứ Avanti và khu vực phía nam các loại da thú như là da cừu, da dê, da nai là các vật dùng để trải lót. Bạch ngài, cũng giống như ở các xứ ở trung tâm (các loại cỏ) eragu, moragu, majjāru, jantu (là các vật dùng để trải lót), bạch ngài, tương tợ như thế ở xứ Avanti và khu vực phía nam các loại da thú như là da cừu, da dê, da nai là các vật dùng để trải lót. Có lẽ ở xứ Avanti và khu vực phía nam đức Thế Tôn nên cho phép các loại da thú như là da cừu, da dê, da nai là các vật dùng để trải lót.
Inda-bh 110~110Bạch ngài, hiện nay dân chúng dâng y đến các vị tỳ khưu đã đi ra khỏi ranh giới (nói rằng): ‘Chúng tôi dâng y này cho vị tên (như vầy).’ Các vị ấy khi trở lại thông báo (cho các tỳ khưu) rằng : ‘Này các đại đức, y đã được dâng cho các đại đức bởi những người tên (như vầy).’ Các vị ấy ngần ngại không nhận (nói rằng): ‘Chớ để chúng tôi bị phạm tội nissaggiya.’ Có lẽ đức Thế Tôn nên chỉ dẫn cách thức về y.”
Inda-bh 111~111—“Bạch ngài, xin vâng.” Sau khi đáp lời đại đức Mahākaccāyana, đại đức Soṇa đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đại đức Mahākaccāyana, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi thu xếp chỗ trú ngụ, cầm y bát, ra đi về phía thành Sāvatthi.
Inda-bh 112~112Theo tuần tự, vị ấy đã đi đến thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika, gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, hãy sắp đặt chỗ trú ngụ cho vị tỳ khưu vãng lai này.”
Inda-bh 113~113Khi ấy, đại đức Ānanda (suy nghĩ rằng): “Liên quan đến vị nào mà đức Thế Tôn ra lệnh cho ta rằng: ‘Này Ānanda, hãy sắp đặt chỗ trú ngụ cho vị tỳ khưu vãng lai này’? Có phải đức Thế Tôn muốn ngụ trong cùng một trú xá với vị tỳ khưu ấy? Có phải đức Thế Tôn muốn ngụ trong cùng một trú xá với đại đức Soṇa?” rồi đã sắp đặt chỗ trú ngụ cho đại đức Soṇa trong trú xá đức Thế Tôn đang ngự.
Inda-bh 114~114Sau đó, khi đã trải qua gần trọn đêm ở ngoài trời đức Thế Tôn đã đi vào trú xá. Đại đức Soṇa sau khi trải qua gần trọn đêm ở ngoài trời cũng đã đi vào trú xá.
Inda-bh 115~115Sau đó, khi đã thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm, đức Thế Tôn đã yêu cầu đại đức Soṇa rằng:—“Này tỳ khưu, mong rằng có bài Pháp (nào đó) mà ngươi rành rẽ để thuyết giảng.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Sau khi đáp lời đức Thế Tôn, đại đức Soṇa đã thuyết lại đầy đủ toàn bộ phẩm Nhóm Tám một cách mạch lạc.
Inda-bh 116~116Sau đó, vào lúc kết thúc việc thuyết lại một cách mạch lạc của đại đức Soṇa, đức Thế Tôn đã khen ngợi rằng:—“Này tỳ khưu, tốt lắm, tốt lắm. Này tỳ khưu, phẩm Nhóm Tám đã được ngươi khéo học tập, khéo suy nghĩ, khéo ghi nhớ. Ngươi có giọng nói êm dịu, rõ ràng, không có khó nghe, làm rõ được ý nghĩa. Này tỳ khưu, ngươi (xuất gia) được bao nhiêu năm?”—“Bạch đức Thế Tôn, con được một năm.”—“Này tỳ khưu, tại sao ngươi thực hiện (việc tu lên bậc trên) chậm trễ như vậy?”—“Bạch ngài, từ lâu con đã thấy được sự tai hại trong các dục, nhưng vì cuộc sống tại gia có nhiều cản trở, có nhiều phận sự, có nhiều việc cần phải làm.”
Inda-bh 117~117Sau đó, khi đã hiểu ra sự việc ấy, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Sau khi nhìn thấy sự tai hại ở thế gian, sau khi hiểu được Pháp không đưa đến tái sanh, bậc Thánh không thích thú điều ác, vị trong sạch không thích thú điều ác.”
Inda-bh 118~118Khi ấy, đại đức Soṇa (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn hoan hỷ với ta, lúc này chính là lúc của việc mà thầy tế độ ta đã căn dặn kỹ càng” nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, quỳ xuống đê đầu ở bàn chân của đức Thế Tôn rồi nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, thầy tế độ của con là đại đức Mahākaccāyana xin đê đầu đảnh lễ ở bàn chân của đức Thế Tôn và nói như vầy:
Inda-bh 119~119‘Bạch ngài, xứ Avanti và khu vực phía nam có ít tỳ khưu. Con trải qua ba năm với nỗi cực nhọc khó khăn mới triệu tập được hội chúng tỳ khưu gồm mười vị từ nơi này nơi khác và đã thành tựu việc tu lên bậc trên. Có lẽ ở xứ Avanti và khu vực phía nam đức Thế Tôn nên cho phép việc tu lên bậc trên bằng nhóm (có nhân sự) ít hơn.
Inda-bh 120~120Bạch ngài, ở xứ Avanti và khu vực phía nam mặt đất sẫm màu hơn, rắn chắc, bị dẫm đạp bởi móng chân bò. Có lẽ ở xứ Avanti và khu vực phía nam đức Thế Tôn nên cho phép (sử dụng) dép có nhiều lớp.
Inda-bh 121~121Bạch ngài, ở xứ Avanti và khu vực phía nam dân chúng xem trọng việc tắm và được sạch sẽ nhờ nước. Có lẽ ở xứ Avanti và khu vực phía nam đức Thế Tôn nên cho phép việc tắm thường xuyên.
Inda-bh 122~122Bạch ngài, ở xứ Avanti và khu vực phía nam các loại da thú như là da cừu, da dê, da nai là các vật dùng để trải lót. Bạch ngài, cũng giống như ở các xứ ở trung tâm (các loại cỏ) eragu, moragu, majjāru, jantu (là các vật dùng để trải lót), bạch ngài, tương tợ như thế ở xứ Avanti và khu vực phía nam các loại da thú như là da cừu, da dê, da nai là các vật dùng để trải lót. Có lẽ ở xứ Avanti và khu vực phía nam đức Thế Tôn nên cho phép các loại da thú như là da cừu, da dê, da nai là các vật dùng để trải lót.
Inda-bh 123~123Bạch ngài, hiện nay dân chúng dâng y đến các vị tỳ khưu đã đi ra khỏi ranh giới (nói rằng): ‘Chúng tôi dâng y này cho vị tên (như vầy).’ Các vị ấy khi trở lại thông báo (cho các tỳ khưu) rằng: ‘Này các đại đức, y đã được dâng cho các đại đức bởi những người tên (như vầy).’ Các vị ấy ngần ngại không nhận (nói rằng): ‘Chớ để chúng tôi bị phạm tội nissaggiya.’ Có lẽ đức Thế Tôn nên chỉ dẫn cách thức về y.”
Inda-bh 124~124Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, xứ Avanti và khu vực phía nam có ít tỳ khưu. Này các tỳ khưu, trong tất cả các xứ thuộc vùng biên địa ta cho phép việc tu lên bậc trên với nhóm có vị thứ năm là vị rành rẽ về Luật.
Inda-bh 125~125Trong trường hợp ấy, các xứ này là thuộc vùng biên địa: Ở hướng đông có thị trấn tên là Kajaṅgala, xa hơn chỗ đó là Mahāsālā, từ đó trở đi là các xứ thuộc vùng biên địa, từ đó trở lại là thuộc trung tâm. Ở hướng đông nam, có con sông tên là Salalavatī, từ đó trở đi là các xứ thuộc vùng biên địa, từ đó trở lại là thuộc trung tâm. Ở hướng nam, có thị trấn tên là Setakaṇṇika, từ đó trở đi là các xứ thuộc vùng biên địa, từ đó trở lại là thuộc trung tâm. Ở hướng tây, có làng Bà-la-môn tên là Thūṇa, từ đó trở đi là các xứ thuộc vùng biên địa, từ đó trở lại là thuộc trung tâm. Ở hướng bắc, có ngọn núi tên là Usīraddhaja, từ đó trở đi là các xứ thuộc vùng biên địa, từ đó trở lại là thuộc trung tâm. Này các tỳ khưu, trong các xứ thuộc vùng biên địa như thế ta cho phép việc tu lên bậc trên với nhóm có vị thứ năm là vị rành rẽ về Luật.
Inda-bh 126~126Này các tỳ khưu, ở xứ Avanti và khu vực phía nam mặt đất sẫm màu hơn, rắn chắc, bị dẫm đạp bởi móng chân bò. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) dép có nhiều lớp trong tất cả các xứ thuộc vùng biên địa.
Inda-bh 127~127Này các tỳ khưu, ở xứ Avanti và khu vực phía nam dân chúng xem trọng việc tắm và được sạch sẽ nhờ nước. Này các tỳ khưu, ta cho phép việc tắm thường xuyên trong tất cả các xứ thuộc vùng biên địa.
Inda-bh 128~128Này các tỳ khưu, ở xứ Avanti và khu vực phía nam các loại da thú như là da cừu, da dê, da nai là các vật dùng để trải lót. Này các tỳ khưu, cũng giống như ở các xứ ở trung tâm (các loại cỏ) eragu, moragu, majjāru, jantu (là các vật dùng để trải lót), này các tỳ khưu, tương tợ như thế ở xứ Avanti và khu vực phía nam các loại da thú như là da cừu, da dê, da nai là các vật dùng để trải lót. Này các tỳ khưu, ta cho phép các loại da thú như là da cừu, da dê, da nai là các vật dùng để trải lót trong tất cả các xứ thuộc vùng biên địa.
Inda-bh 129~129Này các tỳ khưu, trường hợp dân chúng dâng y đến các vị tỳ khưu đã đi ra khỏi ranh giới (nói rằng): ‘Chúng tôi dâng y này cho vị tên (như vầy).’ Này các tỳ khưu, ta cho phép ưng thuận, khi nào chưa đến tay thì chưa tính việc đếm (ngày đã cất giữ) ấy.”
Dứt chương Da Thú là chương thứ năm.
Trong chương này có sáu mươi ba sự việc.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Inda-bh 1~130Vua xứ Magadha, và Soṇa Koḷivīsa, tám mươi ngàn vị trưởng làng, (đại đức) Sāgata ở Gijjhakūṭa đã phô bày nhiều Pháp thượng nhân.
Inda-bh 2~131Việc xuất gia, (các bàn chân) đã bị rách do nỗ lực, cây đàn vīṇa, (dép) một lớp, màu xanh, màu vàng, màu đỏ (máu), màu tím, và luôn cả màu đen nữa.
Inda-bh 3~132Màu đỏ tía, màu hồng, và đã cấm đoán dây buộc, (dép) phủ gót chân, trùm gối, trùm ống chân, lót bông gòn, giống cánh gà, gắn sừng cừu, và dê.
Inda-bh 4~133(Dép có gắn) đuôi bọ cạp, lông công, và đủ các loại, (dép) được viền bằng da sư tử, cọp, và beo, hươu, rái cá, và mèo, sóc, cú mèo.
Inda-bh 5~134(Bàn chân) bị rách, đôi dép, bị khối u, chưa được rửa, (đạp nhằm) gốc cây, (âm thanh) ồn ào, (dép làm bằng lá) cây thốt nốt, cây tre, và cỏ, cỏ tranh, cỏ sậy, và dừa nước.
Inda-bh 6~135(Dép làm bằng) rễ sen, sợi len, vàng, bạc, ngọc ma-ni, ngọc bích, pha lê, đồng thau, và thủy tinh, thiếc, chì, và đồng đỏ.
Inda-bh 7~136Bò cái, xe, vị bị bệnh, được kéo bằng bò đực, ghế nệm, các chỗ nằm, da thú lớn, với các da bò, và kẻ ác.
Inda-bh 8~137Của các cư sĩ, được buộc dây da, các vị đi vào, các vị bị bệnh, đại đức Mahākaccāyana, vị Soṇa, Nhóm Tám một cách mạch lạc.
Inda-bh 9~138Việc tu lên bậc trên với năm vị, dép có nhiều lớp, việc tắm thường xuyên, đã cho phép thảm bằng da, không tính việc đếm ngày. Vị Lãnh Đạo đã ban năm điều đặc ân này cho trưởng lão Soṇa.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Great Division
The chapter on skins
1. The account of Soṇa Koḷivisa
147. Câu chuyện về Soṇa Koḷivisa
Tena samayena buddho bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate. Tena kho pana samayena rājā māgadho seniyo bimbisāro asītiyā gāmasahassesu issariyādhipaccaṁ rajjaṁ kāreti. Tena kho pana samayena campāyaṁ soṇo nāma koḷiviso seṭṭhiputto sukhumālo hoti. Tassa pādatalesu lomāni jātāni honti.
Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro tāni asīti gāmikasahassāni sannipātāpetvā kenacideva karaṇīyena soṇassa koḷivisassa santike dūtaṁ pāhesi—“āgacchatu soṇo, icchāmi soṇassa āgatan”ti. Atha kho soṇassa koḷivisassa mātāpitaro soṇaṁ koḷivisaṁ etadavocuṁ—“rājā te, tāta soṇa, pāde dakkhitukāmo. Mā kho tvaṁ, tāta soṇa, yena rājā tena pāde abhippasāreyyāsi. Rañño purato pallaṅkena nisīda. Nisinnassa te rājā pāde dakkhissatī”ti. Atha kho soṇaṁ koḷivisaṁ sivikāya ānesuṁ. Atha kho soṇo koḷiviso yena rājā māgadho seniyo bimbisāro tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā rājānaṁ māgadhaṁ seniyaṁ bimbisāraṁ abhivādetvā rañño purato pallaṅkena nisīdi. Addasā kho rājā māgadho seniyo bimbisāro soṇassa koḷivisassa pādatalesu lomāni jātāni.
Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro tāni asīti gāmikasahassāni diṭṭhadhammike atthe anusāsitvā uyyojesi—“tumhe khvattha, bhaṇe, mayā diṭṭhadhammike atthe anusāsitā; gacchatha, taṁ bhagavantaṁ payirupāsatha; so no bhagavā samparāyike atthe anusāsissatī”ti.
At one time the Buddha was staying on the Vulture Peak at Rājagaha. At that time King Seniya Bimbisāra of Magadha ruled over eighty thousand villages, and at Campā there was a wealthy merchant who had a son called Soṇa Koḷivisa. He had been raised in great comfort, so much so that he had hairs growing on the soles of his feet.
On one occasion, King Bimbisāra had the chiefs of those eighty thousand villages gathered because of some business. He then sent a message to Soṇa, asking him to come. Soṇa’s parents said to him, “Soṇa, the king wishes to see your feet, but don’t point them at him. If you just sit down cross-legged in front him, he’ll be able to see them.” They then sent him away on a palanquin, and Soṇa went to King Bimbisāra. Upon arrival, he bowed to the king and sat down cross-legged in front of him. The king saw the hairs growing on the soles of his feet.
Then, after instructing those eighty thousand chiefs in worldly matters, the king dismissed them, saying, “I’ve instructed you in worldly matters. Now go and visit the Buddha. He will instruct us about the afterlife.”
242. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn đang trú ngụ ở Rājagaha, tại núi Gijjhakūṭa. Và vào lúc bấy giờ, vua xứ Māgadha là Seniya Bimbisāra đang cai trị vương quốc với quyền lực và chủ quyền trên tám mươi ngàn ngôi làng. Và vào lúc bấy giờ, ở Campā có con trai của một vị trưởng giả tên là Soṇa thuộc dòng dõi Koḷivisa, là người sống rất tế nhị. Dưới lòng bàn chân của vị ấy có lông mọc. Khi ấy, vua xứ Māgadha là Seniya Bimbisāra sau khi đã triệu tập tám mươi ngàn vị trưởng làng ấy lại, vì một công việc nào đó đã phái một sứ giả đến gặp Soṇa thuộc dòng dõi Koḷivisa với lời nhắn: ‘Hãy để Soṇa đến, ta muốn Soṇa đến.’ Bấy giờ, cha mẹ của Soṇa thuộc dòng dõi Koḷivisa đã nói điều này với Soṇa thuộc dòng dõi Koḷivisa: ‘Này con Soṇa, nhà vua muốn xem chân của con. Này con Soṇa, con chớ có duỗi chân về phía nhà vua. Con hãy ngồi xếp bằng trước mặt nhà vua. Khi con ngồi, nhà vua sẽ thấy chân của con.’ Bấy giờ, Soṇa thuộc dòng dõi Koḷivisa đã đi đến nơi vua xứ Māgadha là Seniya Bimbisāra đang ở; sau khi đến, đã đảnh lễ vua xứ Māgadha là Seniya Bimbisāra rồi ngồi xuống xếp bằng trước mặt nhà vua. Vua xứ Māgadha là Seniya Bimbisāra đã thấy lông mọc dưới lòng bàn chân của Soṇa thuộc dòng dõi Koḷivisa. Khi ấy, vua xứ Māgadha là Seniya Bimbisāra sau khi đã chỉ dạy tám mươi ngàn vị trưởng làng ấy về những điều lợi ích trong hiện tại, đã cho họ ra về: ‘Này các khanh, các khanh đã được ta chỉ dạy về những điều lợi ích trong hiện tại; hãy đi, hãy đến hầu hạ đức Thế Tôn ấy; đức Thế Tôn của chúng ta sẽ chỉ dạy về những điều lợi ích trong tương lai.’
Atha kho tāni asīti gāmikasahassāni yena gijjhakūṭo pabbato tenupasaṅkamiṁsu. Tena kho pana samayena āyasmā sāgato bhagavato upaṭṭhāko hoti. Atha kho tāni asīti gāmikasahassāni yenāyasmā sāgato tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāgataṁ etadavocuṁ—“imāni, bhante, asīti gāmikasahassāni idhūpasaṅkantāni bhagavantaṁ dassanāya; sādhu mayaṁ, bhante, labheyyāma bhagavantaṁ dassanāyā”ti.
“Tena hi tumhe āyasmanto muhuttaṁ idheva tāva hotha, yāvāhaṁ bhagavantaṁ paṭivedemī”ti.
Atha kho āyasmā sāgato tesaṁ asītiyā gāmikasahassānaṁ purato pekkhamānānaṁ pāṭikāya nimujjitvā bhagavato purato ummujjitvā bhagavantaṁ etadavoca—“imāni, bhante, asīti gāmikasahassāni idhūpasaṅkantāni bhagavantaṁ dassanāya; yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
“Tena hi tvaṁ, sāgata, vihārapacchāyāyaṁ āsanaṁ paññapehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti
kho āyasmā sāgato bhagavato paṭissuṇitvā pīṭhaṁ gahetvā bhagavato purato nimujjitvā tesaṁ asītiyā gāmikasahassānaṁ purato pekkhamānānaṁ pāṭikāya ummujjitvā vihārapacchāyāyaṁ āsanaṁ paññapeti. Atha kho bhagavā vihārā nikkhamitvā vihārapacchāyāyaṁ paññatte āsane nisīdi. Atha kho tāni asīti gāmikasahassāni yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Atha kho tāni asīti gāmikasahassāni āyasmantaṁyeva sāgataṁ samannāharanti, no tathā bhagavantaṁ.
Atha kho bhagavā tesaṁ asītiyā gāmikasahassānaṁ cetasā cetoparivitakkamaññāya āyasmantaṁ sāgataṁ āmantesi—“tena hi tvaṁ, sāgata, bhiyyoso mattāya uttari manussadhammaṁ iddhipāṭihāriyaṁ dassehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā sāgato bhagavato paṭissuṇitvā vehāsaṁ abbhuggantvā ākāse antalikkhe caṅkamatipi, tiṭṭhatipi, nisīdatipi, seyyampi kappeti, dhūmāyatipi pajjalatipi, antaradhāyatipi. Atha kho āyasmā sāgato ākāse antalikkhe anekavihitaṁ uttari manussadhammaṁ iddhipāṭihāriyaṁ dassetvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavoca—“satthā me, bhante, bhagavā; sāvakohamasmi. Satthā me, bhante, bhagavā; sāvakohamasmī”ti. Atha kho tāni asīti gāmikasahassāni “acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Sāvakopi nāma evaṁ mahiddhiko bhavissati, evaṁ mahānubhāvo, aho nūna satthā”ti bhagavantaṁyeva samannāharanti, no tathā āyasmantaṁ sāgataṁ.
Those village chiefs then went to the Vulture Peak. There they approached Venerable Sāgata, who at that time was the Buddha’s attendant. They said to him, “Venerable, these eighty thousand chiefs have come to visit the Buddha. May we please see him?”
“Well then, please wait here for a moment, while I announce you to the Buddha.”
Then, while those village chiefs were watching, he sunk into the stone slab he was standing on and emerged in front of the Buddha. He said to the Buddha, “Sir, eighty thousand village chiefs have come to visit you. What would you like to do?”
“Well then, Sāgata, prepare a seat in the shade of the dwelling.”
“Yes, sir.”
He took a bench, sunk down in front of the Buddha, and as those village chiefs were watching, he once more emerged from that stone slab. He then prepared a seat in the shade of the dwelling, after which the Buddha came out and sat down. Those eighty thousand chiefs approached the Buddha, bowed, and sat down. But they were preoccupied with Sāgata, not with the Buddha.
After reading their minds, the Buddha said to Sāgata, “Well then, Sāgata, show us more superhuman abilities, more wonders of supernormal power.”
Saying, “Yes, sir,” he rose up in the air, walked back and forth in space, and he stood, sat down, and lay down there. He emitted smoke and fire, and then disappeared. After this display of supernormal powers, he bowed down at the feet of the Buddha, and said, “Sir, you’re my teacher, and I’m your disciple.” Those eighty thousand chiefs thought, “It’s astonishing and amazing that even a disciple should be so powerful and mighty. Imagine what the teacher must be like!” Now they paid attention to the Buddha, not to Sāgata.
Bấy giờ, tám mươi ngàn vị trưởng làng ấy đi đến núi Gijjhakūṭa. Vào lúc bấy giờ, Đại đức Sāgata là vị thị giả của đức Thế Tôn. Khi ấy, tám mươi ngàn vị trưởng làng ấy đi đến chỗ Đại đức Sāgata, sau khi đến đã thưa với Đại đức Sāgata điều này: – Thưa ngài, tám mươi ngàn vị trưởng làng này đã đến đây để yết kiến đức Thế Tôn. Lành thay, thưa ngài, mong rằng chúng tôi được yết kiến đức Thế Tôn. – Thưa các hiền giả, nếu vậy, các vị hãy ở lại đây một lát, trong khi tôi đi trình báo với đức Thế Tôn. Khi ấy, Đại đức Sāgata, trong khi tám mươi ngàn vị trưởng làng ấy đang nhìn, đã lặn xuống phiến đá ở chân cầu thang, rồi trồi lên ở trước mặt đức Thế Tôn và thưa với đức Thế Tôn điều này: – Bạch đức Thế Tôn, tám mươi ngàn vị trưởng làng này đã đến đây để yết kiến đức Thế Tôn. Bạch đức Thế Tôn, nay đức Thế Tôn hãy xem xét thời điểm thích hợp. – Này Sāgata, nếu vậy, ngươi hãy sửa soạn chỗ ngồi trong bóng mát của tịnh xá. – Xin vâng, bạch đức Thế Tôn. – Đại đức Sāgata vâng lời đức Thế Tôn, lấy một chiếc ghế, lặn xuống ở trước mặt đức Thế Tôn, rồi trồi lên từ phiến đá ở chân cầu thang trong khi tám mươi ngàn vị trưởng làng ấy đang nhìn, và sửa soạn chỗ ngồi trong bóng mát của tịnh xá. Bấy giờ, đức Thế Tôn đi ra khỏi tịnh xá và ngự trên chỗ ngồi đã được sửa soạn trong bóng mát của tịnh xá. Khi ấy, tám mươi ngàn vị trưởng làng ấy đi đến chỗ đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Lúc bấy giờ, tám mươi ngàn vị trưởng làng ấy chỉ chú tâm đến Đại đức Sāgata, chứ không chú tâm đến đức Thế Tôn như vậy. Khi ấy, đức Thế Tôn, với tâm của mình biết được tư duy trong tâm của tám mươi ngàn vị trưởng làng ấy, đã gọi Đại đức Sāgata: – Này Sāgata, nếu vậy, ngươi hãy biểu diễn thần thông kỳ diệu thuộc pháp siêu nhân ở mức độ cao hơn nữa. – Xin vâng, bạch đức Thế Tôn. – Đại đức Sāgata vâng lời đức Thế Tôn, bay vút lên không trung, rồi ở trên hư không, ngài đi kinh hành, đứng, ngồi, nằm, làm cho khói bốc lên, làm cho lửa cháy lên, và biến mất. Khi ấy, Đại đức Sāgata, sau khi đã biểu diễn nhiều loại thần thông kỳ diệu thuộc pháp siêu nhân ở trên hư không, đã cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn và thưa với đức Thế Tôn điều này: – Bạch đức Thế Tôn, đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư của con, con là người đệ tử. Bạch đức Thế Tôn, đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư của con, con là người đệ tử. Bấy giờ, tám mươi ngàn vị trưởng làng ấy (nghĩ rằng): – Chư vị ơi, thật là kỳ diệu! Chư vị ơi, thật là phi thường! Vị đệ tử mà còn có đại thần lực như thế, có đại oai lực như thế, huống chi là bậc Đạo Sư! – rồi chỉ chú tâm đến đức Thế Tôn, chứ không chú tâm đến Đại đức Sāgata như vậy.
Atha kho bhagavā tesaṁ asītiyā gāmikasahassānaṁ cetasā cetoparivitakkamaññāya anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ, kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ, nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi. Yadā te bhagavā aññāsi kallacitte, muducitte, vinīvaraṇacitte, udaggacitte, pasannacitte, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā, taṁ pakāsesi—dukkhaṁ, samudayaṁ, nirodhaṁ, maggaṁ. Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya; evamevaṁ tesaṁ asītiyā gāmikasahassānaṁ tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi—“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Te diṭṭhadhammā pattadhammā viditadhammā pariyogāḷhadhammā tiṇṇavicikicchā vigatakathaṅkathā vesārajjappattā aparappaccayā satthusāsane bhagavantaṁ etadavocuṁ—“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya—‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Ete mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāma. Dhammañca, bhikkhusaṅghañca. Upāsake no bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupete saraṇaṁ gate”ti.
Having read their minds, the Buddha gave those eighty thousand chiefs a progressive talk—on generosity, morality, and heaven; on the downside, degradation, and defilement of worldly pleasures; and he revealed the benefits of renunciation. When the Buddha knew that their minds were ready, supple, without hindrances, joyful, and confident, he revealed the teaching unique to the Buddhas: suffering, its origin, its end, and the path. Just as a clean and stainless cloth absorbs dye properly, so too, while they were sitting right there, those eighty thousand village chiefs experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.”
They had seen the Truth, had reached, understood, and penetrated it. They had gone beyond doubt and uncertainty, had attained to confidence, and had become independent of others in the Teacher’s instruction. They then said to the Buddha, “Wonderful, sir, wonderful! Just as one might set upright what’s overturned, or reveal what’s hidden, or show the way to one who’s lost, or bring a lamp into the dark so that one with eyes might see what’s there—just so has the Buddha made the Teaching clear in many ways. We go for refuge to the Buddha, the Teaching, and the Sangha of monks. Please accept us as lay followers who have gone for refuge for life.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn, với tâm của mình biết được tư duy trong tâm của tám mươi ngàn vị trưởng làng ấy, đã thuyết bài pháp tuần tự, nghĩa là: thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về các cõi trời; Ngài tuyên thuyết về sự nguy hại, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các dục và về lợi ích của sự xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được rằng tâm của họ đã sẵn sàng, nhu nhuyến, không còn chướng ngại, phấn chấn, và trong sạch, bấy giờ Ngài đã tuyên thuyết bài pháp cao tột của chư Phật, đó là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Ví như tấm vải trong sạch, không còn vết đen, có thể thấm đều thuốc nhuộm; cũng vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không còn bụi bặm, không còn cấu uế đã khởi lên cho tám mươi ngàn vị trưởng làng ấy: “Bất cứ cái gì có bản chất sanh khởi, tất cả cái ấy đều có bản chất đoạn diệt.” Họ đã thấy Pháp, đã đạt đến Pháp, đã liễu tri Pháp, đã thâm nhập Pháp, đã vượt qua sự hoài nghi, đã thoát khỏi sự phân vân, đã đạt đến sự tự tin, không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư, và đã thưa với đức Thế Tôn điều này: – Thật vi diệu, bạch đức Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch đức Thế Tôn! Bạch đức Thế Tôn, ví như người ta có thể lật ngửa vật bị úp, hay mở ra vật bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc, hay cầm ngọn đèn dầu trong bóng tối với ý nghĩ: ‘Những ai có mắt sẽ thấy được các sắc,’ cũng vậy, Chánh Pháp đã được đức Thế Tôn tuyên thuyết bằng nhiều phương diện. Bạch đức Thế Tôn, chúng con đây xin quy y đức Thế Tôn, quy y Pháp, và quy y Tỳ-khưu Tăng. Mong đức Thế Tôn hãy ghi nhận chúng con là những người cận sự nam đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.
1.1. Soṇassapabbajjā
The going forth of Soṇa Koḷivisa
Sự xuất gia của Soṇa
Atha kho soṇassa koḷivisassa etadahosi—“yathā yathā kho ahaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ; yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan”ti.
Atha kho tāni asīti gāmikasahassāni bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
Atha kho soṇo koḷiviso acirapakkantesu tesu asītiyā gāmikasahassesu yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho soṇo koḷiviso bhagavantaṁ etadavoca—“yathā yathāhaṁ, bhante, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Icchāmahaṁ, bhante, kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ. Pabbājetu maṁ, bhante, bhagavā”ti. Alattha kho soṇo koḷiviso bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Acirupasampanno ca panāyasmā soṇo sītavane viharati. Tassa accāraddhavīriyassa caṅkamato pādā bhijjiṁsu. Caṅkamo lohitena phuṭo hoti, seyyathāpi gavāghātanaṁ. Atha kho āyasmato soṇassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—“ye kho keci bhagavato sāvakā āraddhavīriyā viharanti, ahaṁ tesaṁ aññataro. Atha ca pana me nānupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati. Saṁvijjanti kho pana me kule bhogā; sakkā bhoge ca bhuñjituṁ, puññāni ca kātuṁ. Yannūnāhaṁ hīnāyāvattitvā bhoge ca bhuñjeyyaṁ, puññāni ca kareyyan”ti.
Atha kho bhagavā āyasmato soṇassa cetasā cetoparivitakkamaññāya—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—gijjhakūṭe pabbate antarahito sītavane pāturahosi.
Atha kho bhagavā sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ senāsanacārikaṁ āhiṇḍanto yenāyasmato soṇassa caṅkamo tenupasaṅkami. Addasā kho bhagavā āyasmato soṇassa caṅkamaṁ lohitena phuṭaṁ, disvāna bhikkhū āmantesi—“kassa nvāyaṁ, bhikkhave, caṅkamo lohitena phuṭo, seyyathāpi gavāghātanan”ti? “Āyasmato, bhante, soṇassa accāraddhavīriyassa caṅkamato pādā bhijjiṁsu. Tassāyaṁ caṅkamo lohitena phuṭo, seyyathāpi gavāghātanan”ti.
But Soṇa thought, “The way I understand the Buddha’s Teaching, it’s not easy for one who lives at home to lead the spiritual life perfectly complete and pure as a polished conch shell. Why don’t I cut off my hair and beard, put on the ocher robes, and go forth into homelessness?”
When those eighty-four thousand chiefs had rejoiced and expressed their appreciation for the Buddha’s teaching, they got up from their seats, bowed down, circumambulated the Buddha with their right sides toward him, and left.
Soon after they had left, Soṇa approached the Buddha, bowed, sat down, and said, “Sir, the way I understand the Buddha’s Teaching, it’s not easy for one who lives at home to lead the spiritual life perfectly complete and pure as a polished conch shell. I want to cut off my hair and beard, put on the ocher robes, and go forth into homelessness. Please give me the going forth.” Soṇa received the going forth and the full ordination in the Buddha’s presence.
Soon after his ordination, while staying in Cool Grove, Venerable Soṇa practiced walking meditation with so much energy that his feet cracked. His walking path became covered in blood, like a slaughterhouse. Then, while reflecting in private, he thought, “I’m one of the Buddha’s energetic disciples, yet my mind isn’t freed from the corruptions through letting go. But my family is wealthy. Why don’t I return to the lower life, enjoy wealth, and make merit?”
Just then the Buddha read Soṇa’s mind. And, as a strong man might bend or stretch his arm, the Buddha disappeared from the Vulture Peak and appeared in Cool Grove.
Soon afterwards as the Buddha and a number of monks were walking about the dwellings, they came to Soṇa’s walking path. The Buddha looked at it and asked the monks, “Whose walking path is this? It’s covered in blood, like a slaughterhouse.” They told him what had happened.
243. Bấy giờ, Soṇa thuộc dòng họ Koḷivisa khởi lên ý nghĩ này: ‘Theo như ta hiểu được Giáo pháp do đức Thế Tôn thuyết giảng, thật không dễ dàng cho người sống tại gia có thể thực hành phạm hạnh này một cách hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, tinh khiết như vỏ ốc được mài giũa. Hay là ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình!’ Bấy giờ, tám mươi ngàn vị thôn trưởng ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời dạy của đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh ngài về phía tay phải rồi ra về. Bấy giờ, sau khi tám mươi ngàn vị thôn trưởng ấy ra về không bao lâu, Soṇa thuộc dòng họ Koḷivisa đi đến nơi đức Thế Tôn, sau khi đến, vị ấy đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên xong, Soṇa thuộc dòng họ Koḷivisa bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch đức Thế Tôn, theo như con hiểu được Giáo pháp do đức Thế Tôn thuyết giảng, thật không dễ dàng cho người sống tại gia có thể thực hành phạm hạnh này một cách hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, tinh khiết như vỏ ốc được mài giũa. Bạch đức Thế Tôn, con mong muốn được cạo bỏ râu tóc, đắp y ca-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Bạch đức Thế Tôn, xin Thế Tôn cho con được xuất gia.’ Và Soṇa thuộc dòng họ Koḷivisa đã được xuất gia, đã được cụ túc giới dưới sự hiện diện của đức Thế Tôn. Không bao lâu sau khi thọ cụ túc giới, Tôn giả Soṇa trú tại rừng Sītavana. Do kinh hành với tinh tấn quá mức, đôi chân của vị ấy bị nứt nẻ. Con đường kinh hành vấy máu, giống như một lò mổ bò. Bấy giờ, khi Tôn giả Soṇa ở nơi thanh vắng, độc cư, một ý nghĩ như vầy đã khởi lên trong tâm vị ấy: ‘Trong số các vị đệ tử của đức Thế Tôn sống với tinh tấn được khởi động, ta là một trong số họ. Thế nhưng, tâm của ta vẫn chưa được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ. Gia đình ta vẫn còn tài sản; ta có thể vừa hưởng thụ tài sản, vừa làm các việc phước thiện. Hay là ta nên hoàn tục trở về đời sống thấp kém, vừa hưởng thụ tài sản, vừa làm các việc phước thiện!’ Bấy giờ, đức Thế Tôn, với tâm của mình, biết được ý nghĩ trong tâm của Tôn giả Soṇa, cũng như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, ngài biến mất khỏi núi Gijjhakūṭa và hiện ra tại rừng Sītavana. Bấy giờ, đức Thế Tôn cùng với đông đảo chúng Tỳ khưu đi kinh hành tuần tự qua các trú xứ, đã đi đến con đường kinh hành của Tôn giả Soṇa. Đức Thế Tôn thấy con đường kinh hành của Tôn giả Soṇa vấy máu, thấy vậy ngài gọi các vị Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu, con đường kinh hành này vấy máu, giống như một lò mổ bò, là của ai vậy?’ ‘Bạch đức Thế Tôn, do kinh hành với tinh tấn quá mức, đôi chân của Tôn giả Soṇa đã bị nứt nẻ. Con đường kinh hành này vấy máu, giống như một lò mổ bò, là của vị ấy ạ.’
Atha kho bhagavā yenāyasmato soṇassa vihāro tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Āyasmāpi kho soṇo bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ soṇaṁ bhagavā etadavoca—“nanu te, soṇa, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—‘ye kho keci bhagavato sāvakā āraddhavīriyā viharanti, ahaṁ tesaṁ aññataro. Atha ca pana me nānupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati. Saṁvijjanti kho pana me kule bhogā; sakkā bhoge ca bhuñjituṁ, puññāni ca kātuṁ. Yannūnāhaṁ hīnāyāvattitvā bhoge ca bhuñjeyyaṁ, puññāni ca kareyyan’”ti?
“Evaṁ, bhante”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, soṇa, kusalo tvaṁ pubbe agārikabhūto vīṇāya tantissare”ti?
“Evaṁ, bhante”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, soṇa, yadā te vīṇāya tantiyo accāyatā honti, api nu te vīṇā tasmiṁ samaye saravatī vā hoti, kammaññā vā”ti?
“No hetaṁ, bhante”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, soṇa, yadā te vīṇāya tantiyo atisithilā honti, api nu te vīṇā tasmiṁ samaye saravatī vā hoti, kammaññā vā”ti?
“No hetaṁ, bhante”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, soṇa, yadā te vīṇāya tantiyo neva accāyatā honti nātisithilā, same guṇe patiṭṭhitā, api nu te vīṇā tasmiṁ samaye saravatī vā hoti, kammaññā vā”ti?
“Evaṁ, bhante”ti.
“Evameva kho, soṇa, accāraddhavīriyaṁ uddhaccāya saṁvattati, atilīnavīriyaṁ kosajjāya saṁvattati. Tasmātiha tvaṁ, soṇa, vīriyasamataṁ adhiṭṭhaha, indriyānañca samataṁ paṭivijjha, tattha ca nimittaṁ gaṇhāhī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā soṇo bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ soṇaṁ iminā ovādena ovaditvā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—sītavane āyasmato soṇassa sammukhe antarahito gijjhakūṭe pabbate pāturahosi.
Atha kho āyasmā soṇo aparena samayena vīriyasamataṁ adhiṭṭhāsi, indriyānañca samataṁ paṭivijjhi, tattha ca nimittaṁ aggahesi. Atha kho āyasmā soṇo, eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto, na cirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi. “Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abhiññāsi. Aññataro ca panāyasmā soṇo arahataṁ ahosi.
The Buddha then went up to Soṇa’s dwelling and sat down on the prepared seat. Soṇa bowed and sat down, and the Buddha said to him, “Soṇa, while reflecting in private, didn’t you think, ‘I’m one of the Buddha’s energetic disciples, yet my mind isn’t freed from the corruptions through letting go. But my family is wealthy. Why don’t I return to the lower life, enjoy wealth, and make merit’?”
“Yes, sir.”
“Well, let me ask you, Soṇa: when you were previously a householder, weren’t you a skilled lute player?”
“Yes.”
“When the strings were too tight, was the lute in tune and easy to play?”
“No.”
“When the strings were too loose, was the lute in tune and easy to play?”
“No.”
“But when the strings were neither too tight nor too loose, but set to a balanced tension, was the lute then in tune and easy to play?”
“Yes.”
“Just so, Soṇa, too much energy leads to restlessness and too little to laziness. So apply a balanced energy and bring about an evenness in the spiritual faculties. And that is where you should take up the meditation object.”
“Yes, sir.”
Then, as a strong man might bend or stretch his arm, the Buddha disappeared from the presence of Soṇa in Cool Grove and appeared on the Vulture Peak.
Soon Soṇa applied a balanced energy and brought about an evenness in his spiritual faculties, which is where he took up his meditation object. He then stayed by himself, secluded, heedful, energetic, and diligent. In no long time in this very life, he realized with his own insight the supreme goal of the spiritual life for which gentlemen rightly go forth into homelessness. He understood that birth had come to an end, that the spiritual life had been fulfilled, that the job had been done, that there was no further state of existence. And Venerable Soṇa became one of the perfected ones.
Rồi Thế Tôn đi đến trú xá của Tôn giả Soṇa; sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Tôn giả Soṇa cũng đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Soṇa đang ngồi một bên: – Này Soṇa, có phải khi ông ở một mình, an tịnh, tâm tư khởi lên như vầy: ‘Trong các vị đệ tử của Thế Tôn nỗ lực tinh tấn, ta là một trong những vị ấy. Tuy vậy, tâm ta vẫn không được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ. Gia đình ta có tài sản; ta có thể vừa hưởng thụ tài sản, vừa làm các công đức. Hay là ta hoàn tục, vừa hưởng thụ tài sản, vừa làm các công đức’? – Thưa vâng, bạch Thế Tôn. – Này Soṇa, ông nghĩ thế nào? Trước kia, khi còn là gia chủ, ông có thiện xảo về dây đàn tỳ-bà không? – Thưa vâng, bạch Thế Tôn. – Này Soṇa, ông nghĩ thế nào? Khi dây đàn tỳ-bà của ông quá căng, lúc ấy đàn tỳ-bà của ông có phát ra âm thanh hay có dùng được không? – Thưa không, bạch Thế Tôn. – Này Soṇa, ông nghĩ thế nào? Khi dây đàn tỳ-bà của ông quá chùng, lúc ấy đàn tỳ-bà của ông có phát ra âm thanh hay có dùng được không? – Thưa không, bạch Thế Tôn. – Này Soṇa, ông nghĩ thế nào? Khi dây đàn tỳ-bà của ông không quá căng cũng không quá chùng, được lên dây vừa phải, lúc ấy đàn tỳ-bà của ông có phát ra âm thanh hay có dùng được không? – Thưa vâng, bạch Thế Tôn. – Cũng vậy, này Soṇa, tinh tấn quá mức sẽ đưa đến trạo cử, tinh tấn quá chùng sẽ đưa đến biếng nhác. Do vậy, này Soṇa, ông hãy an trú vào sự tinh tấn quân bình, hãy thấu đạt sự quân bình của các căn, và hãy nắm giữ tướng ở nơi ấy. – Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Tôn giả Soṇa vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn, sau khi giáo giới Tôn giả Soṇa với lời giáo huấn này, cũng như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, biến mất ở rừng Sītavana trước mặt Tôn giả Soṇa và hiện ra ở núi Gijjhakūṭa. Rồi Tôn giả Soṇa, một thời gian sau, an trú vào sự tinh tấn quân bình, thấu đạt sự quân bình của các căn, và nắm giữ tướng ở nơi ấy. Rồi Tôn giả Soṇa, sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh mà vì đó các thiện gia nam tử đã chân chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ Và Tôn giả Soṇa đã trở thành một trong các vị A-la-hán.
Atha kho āyasmato soṇassa arahattappattassa etadahosi—“yannūnāhaṁ bhagavato santike aññaṁ byākareyyan”ti. Atha kho āyasmā soṇo yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā soṇo bhagavantaṁ etadavoca—
“yo so, bhante, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, so chaṭṭhānāni adhimutto hoti—nekkhammādhimutto hoti, pavivekādhimutto hoti, abyāpajjādhimutto hoti, upādānakkhayādhimutto hoti, taṇhakkhayādhimutto hoti, asammohādhimutto hoti.
He then thought, “Why don’t I declare perfect insight to the Buddha?” He then went to the Buddha, bowed, sat down, and said:
“Sir, a monk who is a perfected one—who has ended the corruptions, fulfilled the spiritual life, done the job, put down the burden, realized the true goal, cut the bond to existence, gained release by right insight—he is committed to six things: to renunciation, seclusion, harmlessness, the end of grasping, the end of craving, and non-confusion.
244. Rồi Tôn giả Soṇa, sau khi chứng quả A-la-hán, khởi lên ý nghĩ: ‘Hay là ta đến trước Thế Tôn để tuyên bố chánh trí.’ Rồi Tôn giả Soṇa đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Soṇa bạch với Thế Tôn: – Bạch Thế Tôn, vị Tỳ khưu nào là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã hoàn thành phạm hạnh, việc cần làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành tựu mục đích, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị ấy hướng tâm đến sáu pháp – vị ấy hướng tâm đến xuất ly, hướng tâm đến viễn ly, hướng tâm đến vô sân, hướng tâm đến sự đoạn tận chấp thủ, hướng tâm đến sự đoạn tận ái, hướng tâm đến vô si.
Siyā kho pana, bhante, idhekaccassa āyasmato evamassa—‘kevalaṁ saddhāmattakaṁ nūna ayamāyasmā nissāya nekkhammādhimutto’ti, na kho panetaṁ, bhante, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Khīṇāsavo, bhante, bhikkhu, vusitavā, katakaraṇīyo, karaṇīyamattānaṁ asamanupassanto katassa vā paṭicayaṁ khayā rāgassa vītarāgattā nekkhammādhimutto hoti, khayā dosassa vītadosattā nekkhammādhimutto hoti, khayā mohassa vītamohattā nekkhammādhimutto hoti.
A venerable here might think, ‘No doubt this venerable is committed to renunciation simply because of faith.’ But this would be the wrong way to look at it. The monk who has ended the corruptions, who has fulfilled the spiritual life and done the job, doesn’t see anything to be done in himself, nor anything that needs improving. He is committed to renunciation because of the ending of sensual desire, because he is without sensual desire. He is committed to renunciation because of the ending of ill will, because he is without ill will. He is committed to renunciation because of the ending of confusion, because he is without confusion.
– Bạch Thế Tôn, có thể ở đây, một Tôn giả nào đó sẽ nghĩ rằng: ‘Có lẽ Tôn giả này chỉ nương vào niềm tin mà hướng tâm đến xuất ly.’ Bạch Thế Tôn, không nên nhìn nhận như vậy. Bạch Thế Tôn, vị Tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc, đã hoàn thành phạm hạnh, việc cần làm đã làm, không còn thấy việc gì phải làm cho mình, hay tích lũy thêm cho những việc đã làm, do đoạn tận tham, không còn tham ái, nên vị ấy hướng tâm đến xuất ly; do đoạn tận sân, không còn sân hận, nên vị ấy hướng tâm đến xuất ly; do đoạn tận si, không còn si mê, nên vị ấy hướng tâm đến xuất ly.
Siyā kho pana, bhante, idhekaccassa āyasmato evamassa—‘lābhasakkārasilokaṁ nūna ayamāyasmā nikāmayamāno pavivekādhimutto’ti. Na kho panetaṁ, bhante, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Khīṇāsavo, bhante, bhikkhu, vusitavā, katakaraṇīyo, karaṇīyamattānaṁ asamanupassanto katassa vā paṭicayaṁ, khayā rāgassa vītarāgattā pavivekādhimutto hoti, khayā dosassa vītadosattā pavivekādhimutto hoti, khayā mohassa vītamohattā pavivekādhimutto hoti.
A venerable here might think, ‘No doubt this venerable is committed to seclusion because he desires material support, honor, and praise.’ But this would be the wrong way to look at it. The monk who has ended the corruptions, who has fulfilled the spiritual life and done the job, doesn’t see anything to be done in himself, nor anything that needs improving. He is committed to seclusion because of the ending of sensual desire, because he is without sensual desire. He is committed to seclusion because of the ending of ill will, because he is without ill will. He is committed to seclusion because of the ending of confusion, because he is without confusion.
– Bạch Thế Tôn, có thể ở đây, một Tôn giả nào đó sẽ nghĩ rằng: ‘Có lẽ Tôn giả này vì mong cầu lợi dưỡng, cung kính, danh vọng mà hướng tâm đến viễn ly.’ Bạch Thế Tôn, không nên nhìn nhận như vậy. Bạch Thế Tôn, vị Tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc, đã hoàn thành phạm hạnh, việc cần làm đã làm, không còn thấy việc gì phải làm cho mình, hay tích lũy thêm cho những việc đã làm, do đoạn tận tham, không còn tham ái, nên vị ấy hướng tâm đến viễn ly; do đoạn tận sân, không còn sân hận, nên vị ấy hướng tâm đến viễn ly; do đoạn tận si, không còn si mê, nên vị ấy hướng tâm đến viễn ly.
Siyā kho pana, bhante, idhekaccassa āyasmato evamassa—‘sīlabbataparāmāsaṁ nūna ayamāyasmā sārato paccāgacchanto abyāpajjādhimutto’ti. Na kho panetaṁ, bhante, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Khīṇāsavo, bhante, bhikkhu, vusitavā, katakaraṇīyo, karaṇīyamattānaṁ asamanupassanto katassa vā paṭicayaṁ, khayā rāgassa vītarāgattā abyāpajjādhimutto hoti, khayā dosassa vītadosattā abyāpajjādhimutto hoti, khayā mohassa vītamohattā abyāpajjādhimutto hoti.
A venerable here might think, ‘No doubt this venerable is committed to non-harming because he falls back on adhering to virtue and vows as the essence.’ But this would be the wrong way to look at it. The monk who has ended the corruptions, who has fulfilled the spiritual life and done the job, doesn’t see anything to be done in himself, nor anything that needs improving. He is committed to harmlessness because of the ending of sensual desire, because he is without sensual desire. He is committed to harmlessness because of the ending of ill will, because he is without ill will. He is committed to harmlessness because of the ending of confusion, because he is without confusion.
“Bạch ngài, lại nữa, ở đây có thể có vị trưởng lão nào đó suy nghĩ như vầy: ‘Vị trưởng lão này chắc hẳn đã hướng đến sự không phiền não do xem giới cấm thủ là cốt lõi.’ Bạch ngài, sự việc này không nên được thấy như vậy. Bạch ngài, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, đã làm những việc cần làm, không còn thấy việc cần làm cho bản thân, cũng không tích lũy thêm cho những gì đã làm, do đoạn tận tham ái, do ly tham nên hướng đến sự không phiền não; do đoạn tận sân hận, do ly sân nên hướng đến sự không phiền não; do đoạn tận si mê, do ly si nên hướng đến sự không phiền não.”
Khayā rāgassa vītarāgattā upādānakkhayādhimutto hoti, khayā dosassa vītadosattā upādānakkhayādhimutto hoti, khayā mohassa vītamohattā upādānakkhayādhimutto hoti.
He is committed to the end of grasping, to the end of craving, and to non-confusion because of the ending of sensual desire, because he is without sensual desire.
“Do đoạn tận tham ái, do ly tham nên hướng đến sự đoạn tận các chấp thủ; do đoạn tận sân hận, do ly sân nên hướng đến sự đoạn tận các chấp thủ; do đoạn tận si mê, do ly si nên hướng đến sự đoạn tận các chấp thủ.”
Khayā rāgassa vītarāgattā taṇhakkhayādhimutto hoti, khayā dosassa vītadosattā taṇhakkhayādhimutto hoti, khayā mohassa vītamohattā taṇhakkhayādhimutto hoti.
He is committed to the end of grasping, to the end of craving, and to non-confusion because of the ending of ill will, because he is without ill will.
“Do đoạn tận tham ái, do ly tham nên hướng đến sự đoạn tận ái dục; do đoạn tận sân hận, do ly sân nên hướng đến sự đoạn tận ái dục; do đoạn tận si mê, do ly si nên hướng đến sự đoạn tận ái dục.”
Khayā rāgassa vītarāgattā asammohādhimutto hoti, khayā dosassa vītadosattā asammohādhimutto hoti, khayā mohassa vītamohattā asammohādhimutto hoti.
He is committed to the end of grasping, to the end of craving, and to non-confusion because of the ending of confusion, because he is without confusion.
“Do đoạn tận tham ái, do ly tham nên hướng đến sự không si mê; do đoạn tận sân hận, do ly sân nên hướng đến sự không si mê; do đoạn tận si mê, do ly si nên hướng đến sự không si mê.”
Evaṁ sammā vimuttacittassa, bhante, bhikkhuno bhusā cepi cakkhuviññeyyā rūpā cakkhussa āpāthaṁ āgacchanti, nevassa cittaṁ pariyādiyanti. Amissīkatamevassa cittaṁ hoti, ṭhitaṁ āneñjappattaṁ, vayañcassānupassati. Bhusā cepi sotaviññeyyā saddā …pe… ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā … manoviññeyyā dhammā manassa āpāthaṁ āgacchanti, nevassa cittaṁ pariyādiyanti; amissīkatamevassa cittaṁ hoti, ṭhitaṁ āneñjappattaṁ, vayañcassānupassati.
Seyyathāpi, bhante, selo pabbato acchiddo asusiro ekagghano, puratthimāya cepi disāya āgaccheyya bhusā vātavuṭṭhi, neva naṁ saṅkampeyya na sampakampeyya na sampavedheyya; pacchimāya cepi disāya āgaccheyya bhusā vātavuṭṭhi …pe… uttarāya cepi disāya …pe… dakkhiṇāya cepi disāya āgaccheyya bhusā vātavuṭṭhi, neva naṁ saṅkampeyya na sampakampeyya na sampavedheyya; evameva kho, bhante, evaṁ sammā vimuttacittassa bhikkhuno bhusā cepi cakkhuviññeyyā rūpā cakkhussa āpāthaṁ āgacchanti, nevassa cittaṁ pariyādiyanti; amissīkatamevassa cittaṁ hoti, ṭhitaṁ āneñjappattaṁ, vayañcassānupassati. Bhusā cepi sotaviññeyyā saddā …pe… ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā … manoviññeyyā dhammā manassa āpāthaṁ āgacchanti, nevassa cittaṁ pariyādiyanti; amissīkatamevassa cittaṁ hoti, ṭhitaṁ āneñjappattaṁ, vayañcassānupassatī”ti.
Sir, for a monk who is fully freed in this way, even if he sees compelling sights, his mind is not overpowered by them. It remains unaffected, steady, and unshakeable, and he observes its disappearance. Even if he hears compelling sounds, smells compelling odors, tastes compelling flavors, touches compelling objects, or experiences compelling mental phenomena, his mind is not overpowered by them. It remains unaffected, steady, and unshakeable, and he observes its disappearance.
It’s just like a granite mountain, a single, solid mass without cracks. It doesn’t shake or tremble when a powerful rainstorm arrives from any direction. The mind of the monk who is fully freed in this way is just like that.
“Bạch ngài, đối với vị tỳ khưu có tâm giải thoát chơn chánh như vậy, cho dù các sắc pháp cực mạnh được nhận biết qua nhãn thức có đi vào tầm nhìn của mắt, chúng cũng không thể chiếm lĩnh được tâm của vị ấy. Tâm của vị ấy không bị pha tạp, an trú, đạt đến trạng thái bất động, và vị ấy quán xét sự hoại diệt của nó. Cho dù các âm thanh cực mạnh được nhận biết qua nhĩ thức... cho đến... các hương thơm được nhận biết qua tỷ thức... các vị được nhận biết qua thiệt thức... các vật xúc chạm được nhận biết qua thân thức... các pháp được nhận biết qua ý thức có đi vào tầm hoạt động của ý, chúng cũng không thể chiếm lĩnh được tâm của vị ấy; tâm của vị ấy không bị pha tạp, an trú, đạt đến trạng thái bất động, và vị ấy quán xét sự hoại diệt của nó. Bạch ngài, ví như một ngọn núi đá, không có lỗ hổng, không có khe nứt, đặc một khối, cho dù có trận mưa gió dữ dội từ phương đông ập đến, nó cũng không thể làm cho ngọn núi ấy rung chuyển, lay động, hay chao đảo; cho dù có trận mưa gió dữ dội từ phương tây ập đến... cho đến... từ phương bắc... cho đến... từ phương nam ập đến, nó cũng không thể làm cho ngọn núi ấy rung chuyển, lay động, hay chao đảo. Bạch ngài, cũng vậy, đối với vị tỳ khưu có tâm giải thoát chơn chánh như vậy, cho dù các sắc pháp cực mạnh được nhận biết qua nhãn thức có đi vào tầm nhìn của mắt, chúng cũng không thể chiếm lĩnh được tâm của vị ấy; tâm của vị ấy không bị pha tạp, an trú, đạt đến trạng thái bất động, và vị ấy quán xét sự hoại diệt của nó. Cho dù các âm thanh cực mạnh được nhận biết qua nhĩ thức... cho đến... các hương thơm được nhận biết qua tỷ thức... các vị được nhận biết qua thiệt thức... các vật xúc chạm được nhận biết qua thân thức... các pháp được nhận biết qua ý thức có đi vào tầm hoạt động của ý, chúng cũng không thể chiếm lĩnh được tâm của vị ấy; tâm của vị ấy không bị pha tạp, an trú, đạt đến trạng thái bất động, và vị ấy quán xét sự hoại diệt của nó.”
Nekkhammaṁ adhimuttassa, pavivekañca cetaso; Abyāpajjādhimuttassa, upādānakkhayassa ca.
For one committed to renunciation And to seclusion of the mind, For one committed to harmlessness And to the end of grasping,
Đối với người hướng đến sự xuất ly, và tâm hướng đến sự viễn ly; đối với người hướng đến sự không phiền não, và sự đoạn tận các chấp thủ.
Taṇhakkhayādhimuttassa, asammohañca cetaso; Disvā āyatanuppādaṁ, sammā cittaṁ vimuccati.
For one committed to the end of craving And to clarity of mind, Having seen the arising of the senses, Their mind is fully freed.
Đối với người hướng đến sự đoạn tận ái dục, và tâm không si mê; thấy được sự sanh khởi của các xứ, tâm được giải thoát chơn chánh.
Tassa sammāvimuttassa, santacittassa bhikkhuno; Katassa paṭicayo natthi, karaṇīyaṁ na vijjati.
For one who is fully freed, The monastic with a peaceful mind, There is nothing to improve And nothing to be done.
Đối với vị tỳ khưu có tâm an tịnh, đã được giải thoát chơn chánh ấy; không có sự tích lũy thêm cho những gì đã làm, và không có việc gì cần phải làm nữa.
Selo yathā ekagghano, vātena na samīrati; Evaṁ rūpā rasā saddā, gandhā phassā ca kevalā.
Just as a single, solid rock, Is unshaken by the wind, So too, all sights, and sounds, Smells, tastes, and touches,
Như tảng đá đặc một khối, không bị gió lay động; cũng vậy, các sắc, vị, tiếng, hương, và xúc chạm, tất cả.
Iṭṭhā dhammā aniṭṭhā ca, na pavedhenti tādino; Ṭhitaṁ cittaṁ vippamuttaṁ, vayañcassānupassatīti.
And mental objects, good or bad, Cannot move that kind of person. Their mind is free and steady, And they observe it as it disappears.”
Các pháp khả ái và không khả ái, không làm lay động bậc như vậy; tâm an trú, đã được giải thoát, và vị ấy quán xét sự hoại diệt của nó.
2. Diguṇādiupāhanapaṭikkhepa
2. The prohibition against sandals with double-layered soles, etc.
148. Sự từ bỏ giày dép hai lớp v.v...
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—“evaṁ kho, bhikkhave, kulaputtā aññaṁ byākaronti, attho ca vutto, attā ca anupanīto. Atha ca panidhekacce moghapurisā hasamānakaṁ maññe aññaṁ byākaronti, te pacchā vighātaṁ āpajjantī”ti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ soṇaṁ āmantesi—“tvaṁ khosi, soṇa, sukhumālo. Anujānāmi te, soṇa, ekapalāsikaṁ upāhanan”ti.
“Ahaṁ kho, bhante, asītisakaṭavāhe hiraññaṁ ohāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito, sattahatthikañca anīkaṁ. Athāhaṁ, bhante, ekapalāsikañce upāhanaṁ pariharissāmi, tassa me bhavissanti vattāro ‘soṇo koḷiviso asītisakaṭavāhe hiraññaṁ ohāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito, sattahatthikañca anīkaṁ. So dānāyaṁ ekapalāsikāsu upāhanāsu satto’ti. Sace bhagavā bhikkhusaṅghassa anujānissati ahampi paribhuñjissāmi; no ce bhagavā bhikkhusaṅghassa anujānissati, ahampi na paribhuñjissāmī”ti. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, ekapalāsikaṁ upāhanaṁ. Na, bhikkhave, diguṇā upāhanā dhāretabbā. Na tiguṇā upāhanā dhāretabbā. Na guṇaṅguṇūpāhanā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Then the Buddha addressed the monks: “It’s in this way that a gentleman declares perfect insight. The matter is spoken of, but the person isn’t mentioned. Still some foolish men here seem to declare perfect insight just for fun. Soon enough they experience distress.”
The Buddha then said to Soṇa, “Soṇa, you were brought up in great comfort. I allow you to use sandals with single-layered soles.”
“When I went forth into homelessness, sir, I left behind eighty cartloads of gold coins and a troop of seven elephants. If I were to walk around in sandals with single-layered soles, some people would say, ‘Soṇa left all this behind when he went forth, and now he’s attached to sandals with single-layered soles.’ If you allow them to the Sangha of monks, I too will use them. If not, I won’t use them either.” The Buddha then gave a teaching and addressed the monks:
“I allow sandals with single-layered soles. But you shouldn’t wear sandals with double-layered soles, with triple-layered soles, or with multi-layered soles. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
245. Khi ấy, Thế Tôn ngỏ lời với các vị tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, các thiện gia nam tử tuyên bố quả vị A-la-hán là như vậy, nghĩa lý được nói rõ và bản thân không bị đưa vào. Tuy nhiên, ở đây có những kẻ ngu si, ta nghĩ rằng, họ tuyên bố quả vị A-la-hán như một trò đùa, sau này họ sẽ gặp phải sự phiền não.’ Khi ấy, Thế Tôn ngỏ lời với trưởng lão Soṇa: ‘Này Soṇa, ngươi quả là người tinh tế. Này Soṇa, ta cho phép ngươi mang giày một lớp.’ ‘Bạch ngài, con đã từ bỏ tám mươi cỗ xe chở đầy vàng bạc và một đoàn quân bảy thớt voi để xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Bạch ngài, nếu con mang giày một lớp, sẽ có những người nói về con rằng: ‘Soṇa Koḷivisa đã từ bỏ tám mươi cỗ xe chở đầy vàng bạc và một đoàn quân bảy thớt voi để xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nay ông ta lại quyến luyến với đôi giày một lớp.’ Nếu Thế Tôn cho phép Tăng chúng, con cũng sẽ dùng; nếu Thế Tôn không cho phép Tăng chúng, con cũng sẽ không dùng.’ Khi ấy, Thế Tôn nhân sự việc này, nhân duyên này, sau khi thuyết một bài pháp, đã ngỏ lời với các vị tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, ta cho phép mang giày một lớp. Này các tỳ khưu, không được mang giày hai lớp. Không được mang giày ba lớp. Không được mang giày nhiều lớp. Vị nào mang, phạm tội tác ác.’”
3. Sabbanīlikādipaṭikkhepa
3. The prohibition against what is entirely blue, etc.
149. Sự từ bỏ giày dép toàn màu xanh v.v...
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū sabbanīlikā upāhanāyo dhārenti …pe… sabbapītikā upāhanāyo dhārenti … sabbalohitikā upāhanāyo dhārenti … sabbamañjiṭṭhikā upāhanāyo dhārenti … sabbakaṇhā upāhanāyo dhārenti … sabbamahāraṅgarattā upāhanāyo dhārenti … sabbamahānāmarattā upāhanāyo dhārenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, sabbanīlikā upāhanā dhāretabbā …pe… na sabbapītikā upāhanā dhāretabbā, na sabbalohitikā upāhanā dhāretabbā, na sabbamañjiṭṭhikā upāhanā dhāretabbā, na sabbakaṇhā upāhanā dhāretabbā, na sabbamahāraṅgarattā upāhanā dhāretabbā, na sabbamahānāmarattā upāhanā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Soon afterwards the monks from the group of six wore entirely blue sandals, entirely yellow sandals, entirely red sandals, entirely magenta sandals, entirely black sandals, entirely orange sandals, and entirely beige sandals. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“You shouldn’t wear sandals that are entirely blue, entirely yellow, entirely red, entirely magenta, entirely black, entirely orange, or entirely beige. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
246. Vào lúc bấy giờ, nhóm tỳ khưu Lục Sư mang giày dép toàn màu xanh dương ... cho đến ... mang giày dép toàn màu vàng ... mang giày dép toàn màu đỏ ... mang giày dép toàn màu hồng sậm ... mang giày dép toàn màu đen ... mang giày dép toàn màu cam ... mang giày dép toàn màu lá úa. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: “Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục.” Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) “Này các tỳ khưu, không được mang giày dép toàn màu xanh dương ... cho đến ... không được mang giày dép toàn màu vàng, không được mang giày dép toàn màu đỏ, không được mang giày dép toàn màu hồng sậm, không được mang giày dép toàn màu đen, không được mang giày dép toàn màu cam, không được mang giày dép toàn màu lá úa. Vị nào mang thì phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū nīlakavaddhikā upāhanāyo dhārenti …pe… pītakavaddhikā upāhanāyo dhārenti, lohitakavaddhikā upāhanāyo dhārenti, mañjiṭṭhikavaddhikā upāhanāyo dhārenti, kaṇhavaddhikā upāhanāyo dhārenti, mahāraṅgarattavaddhikā upāhanāyo dhārenti, mahānāmarattavaddhikā upāhanāyo dhārenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, nīlakavaddhikā upāhanā dhāretabbā …pe… na pītakavaddhikā upāhanā dhāretabbā, na lohitakavaddhikā upāhanā dhāretabbā, na mañjiṭṭhikavaddhikā upāhanā dhāretabbā, na kaṇhavaddhikā upāhanā dhāretabbā, na mahāraṅgarattavaddhikā upāhanā dhāretabbā, na mahānāmarattavaddhikā upāhanā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six wore sandals with blue straps, yellow straps, red straps, magenta straps, black straps, orange straps, and beige straps. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t wear sandals with blue straps, yellow straps, red straps, magenta straps, black straps, orange straps, or beige straps. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm tỳ khưu Lục Sư mang giày dép có quai màu xanh dương, mang giày dép có quai màu vàng, mang giày dép có quai màu đỏ, mang giày dép có quai màu hồng sậm, mang giày dép có quai màu đen, mang giày dép có quai màu cam, mang giày dép có quai màu lá úa. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: “Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục.” Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) “Này các tỳ khưu, không được mang giày dép có quai màu xanh dương ... cho đến ... không được mang giày dép có quai màu vàng, không được mang giày dép có quai màu đỏ, không được mang giày dép có quai màu hồng sậm, không được mang giày dép có quai màu đen, không được mang giày dép có quai màu cam, không được mang giày dép có quai màu lá úa. Vị nào mang thì phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū khallakabaddhā upāhanāyo dhārenti …pe… puṭabaddhā upāhanāyo dhārenti, pāliguṇṭhimā upāhanāyo dhārenti, tūlapuṇṇikā upāhanāyo dhārenti, tittirapattikā upāhanāyo dhārenti, meṇḍavisāṇavaddhikā upāhanāyo dhārenti, ajavisāṇavaddhikā upāhanāyo dhārenti, vicchikāḷikā upāhanāyo dhārenti, morapiñchaparisibbitā upāhanāyo dhārenti, citrā upāhanāyo dhārenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, khallakabaddhā upāhanā dhāretabbā …pe… na puṭabaddhā upāhanā dhāretabbā, na pāliguṇṭhimā upāhanā dhāretabbā, na tūlapuṇṇikā upāhanā dhāretabbā, na tittirapattikā upāhanā dhāretabbā, na meṇḍavisāṇavaddhikā upāhanā dhāretabbā, na ajavisāṇavaddhikā upāhanā dhāretabbā, na vicchikāḷikā upāhanā dhāretabbā, na morapiñchaparisibbitā upāhanā dhāretabbā, na citrā upāhanā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six wore sandals containing leather, enclosing the shin and the foot, covering the foot, stuffed with cotton, looking like partridge feathers, having straps like ram horns, having straps like goat horns, having straps like scorpion claws, decorated with a peacock’s tail feather, and decorated in various ways. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t wear sandals containing leather, enclosing the shin and the foot, covering the foot, stuffed with cotton, looking like partridge feathers, having straps like ram horns, having straps like goat horns, having straps like scorpion claws, decorated with a peacock’s tail feather, or decorated in various ways. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm tỳ khưu Lục Sư mang giày dép bít gót ... cho đến ... mang giày dép bít mu bàn chân, mang giày dép bít gót và mu bàn chân, mang giày dép được nhồi bông gòn, mang giày dép có quai lốm đốm như lông chim đa đa, mang giày dép có quai hình sừng cừu, mang giày dép có quai hình sừng dê, mang giày dép có quai hình ngòi bọ cạp, mang giày dép được may bằng lông công, mang giày dép sặc sỡ. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: “Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục.” Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) “Này các tỳ khưu, không được mang giày dép bít gót ... cho đến ... không được mang giày dép bít mu bàn chân, không được mang giày dép bít gót và mu bàn chân, không được mang giày dép được nhồi bông gòn, không được mang giày dép có quai lốm đốm như lông chim đa đa, không được mang giày dép có quai hình sừng cừu, không được mang giày dép có quai hình sừng dê, không được mang giày dép có quai hình ngòi bọ cạp, không được mang giày dép được may bằng lông công, không được mang giày dép sặc sỡ. Vị nào mang thì phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū sīhacammaparikkhaṭā upāhanāyo dhārenti …pe… byagghacammaparikkhaṭā upāhanāyo dhārenti, dīpicammaparikkhaṭā upāhanāyo dhārenti, ajinacammaparikkhaṭā upāhanāyo dhārenti, uddacammaparikkhaṭā upāhanāyo dhārenti, majjāracammaparikkhaṭā upāhanāyo dhārenti, kāḷakacammaparikkhaṭā upāhanāyo dhārenti, luvakacammaparikkhaṭā upāhanāyo dhārenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, sīhacammaparikkhaṭā upāhanā dhāretabbā …pe… na byagghacammaparikkhaṭā upāhanā dhāretabbā, na dīpicammaparikkhaṭā upāhanā dhāretabbā, na ajinacammaparikkhaṭā upāhanā dhāretabbā, na uddacammaparikkhaṭā upāhanā dhāretabbā, na majjāracammaparikkhaṭā upāhanā dhāretabbā, na kāḷakacammaparikkhaṭā upāhanā dhāretabbā, na luvakacammaparikkhaṭā upāhanā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six wore sandals decorated with lionskin, tiger skin, leopard skin, deerskin, otter skin, cat skin, squirrel skin, and bat skin. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t wear sandals decorated with lionskin, tiger skin, leopard skin, deerskin, otter skin, cat skin, squirrel skin, or bat skin. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm tỳ khưu Lục Sư mang giày dép được viền bằng da sư tử ... cho đến ... mang giày dép được viền bằng da cọp, mang giày dép được viền bằng da báo, mang giày dép được viền bằng da báo đen, mang giày dép được viền bằng da rái cá, mang giày dép được viền bằng da mèo, mang giày dép được viền bằng da sóc đen, mang giày dép được viền bằng da sóc bay. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: “Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục.” Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) “Này các tỳ khưu, không được mang giày dép được viền bằng da sư tử ... cho đến ... không được mang giày dép được viền bằng da cọp, không được mang giày dép được viền bằng da báo, không được mang giày dép được viền bằng da báo đen, không được mang giày dép được viền bằng da rái cá, không được mang giày dép được viền bằng da mèo, không được mang giày dép được viền bằng da sóc đen, không được mang giày dép được viền bằng da sóc bay. Vị nào mang thì phạm tội tác ác.”
4. Omukkaguṇaṅguṇūpāhanānujānana
4. The allowance for second-hand sandals with multi-layered soles
150. Sự cho phép về giày dép cũ có nhiều lớp đã được mang
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisi, aññatarena bhikkhunā pacchāsamaṇena. Atha kho so bhikkhu khañjamāno bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhi. Addasā kho aññataro upāsako guṇaṅguṇūpāhanā ārohitvā bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ; disvā upāhanā ārohitvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ abhivādetvā etadavoca—“kissa, bhante, ayyo khañjatī”ti?
“Pādā me, āvuso, phalitā”ti.
“Handa, bhante, upāhanāyo”ti.
“Alaṁ, āvuso, paṭikkhittā bhagavatā guṇaṅguṇūpāhanā”ti.
“Gaṇhāhetā, bhikkhu, upāhanāyo”ti. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, omukkaṁ guṇaṅguṇūpāhanaṁ. Na, bhikkhave, navā guṇaṅguṇūpāhanā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
One morning the Buddha robed up, took his bowl and robe, and entered Rājagaha for almsfood together with an attendant monk. As the attendant followed behind the Buddha, he was limping. A certain lay follower wearing sandals with multi-layered soles saw the Buddha coming. He removed his sandals, approached the Buddha, and bowed. He then bowed to the attendant monk and asked him, “Venerable, why are you limping?”
“Because my feet are cracked.”
“Well then, take these sandals.”
“Thanks, but the Buddha has prohibited sandals with multi-layered soles.”
But the Buddha said, “Please take the sandals.” Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“I allow second-hand sandals with multi-layered soles. But you shouldn’t wear new sandals with multi-layered soles. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
247. Bấy giờ, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đắp y, cầm y bát, đi vào thành Rājagaha để khất thực cùng với một vị tỳ-khưu đi theo sau. Khi ấy, vị tỳ-khưu ấy đi khập khiễng theo sau đức Thế Tôn. Có một vị cận sự nam đang mang đôi giày nhiều lớp trông thấy đức Thế Tôn từ xa đi đến; sau khi thấy, vị ấy cởi đôi giày ra rồi đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đi đến chỗ vị tỳ-khưu kia; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ vị tỳ-khưu ấy rồi nói điều này: – ‘Bạch ngài, vì sao ngài đi khập khiễng vậy?’ – ‘Này hiền giả, chân của tôi bị nứt nẻ.’ – ‘Bạch ngài, xin ngài hãy nhận đôi giày.’ – ‘Thôi đi, này hiền giả, đức Thế Tôn đã không cho phép (sử dụng) giày nhiều lớp.’ (Đức Phật phán:) – ‘Này tỳ-khưu, hãy nhận lấy đôi giày này.’ Bấy giờ, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết pháp thoại đã gọi các vị tỳ-khưu: – ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép (sử dụng) đôi giày nhiều lớp đã cũ. Này các tỳ-khưu, không được mang giày nhiều lớp còn mới. Vị nào mang thì phạm tội tác ác.’
5. Ajjhārāmeupāhanapaṭikkhepa
5. The prohibition against sandals inside a monastery
Sự không cho phép (sử dụng) giày ở trong tu viện
Tena kho pana samayena bhagavā ajjhokāse anupāhano caṅkamati. “Satthā anupāhano caṅkamatī”ti—therāpi bhikkhū anupāhanā caṅkamanti. Chabbaggiyā bhikkhū, satthari anupāhane caṅkamamāne, theresupi bhikkhūsu anupāhanesu caṅkamamānesu, saupāhanā caṅkamanti. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma chabbaggiyā bhikkhū, satthari anupāhane caṅkamamāne, theresupi bhikkhūsu anupāhanesu caṅkamamānesu, saupāhanā caṅkamissantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, chabbaggiyā bhikkhū, satthari anupāhane caṅkamamāne, theresupi bhikkhūsu anupāhanesu caṅkamamānesu, saupāhanā caṅkamantī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma te, bhikkhave, moghapurisā, satthari anupāhane caṅkamamāne, theresupi bhikkhūsu anupāhanesu caṅkamamānesu, saupāhanā caṅkamissanti. Ime hi nāma, bhikkhave, gihī odātavatthavasanakā abhijīvanikassa sippassa kāraṇā ācariyesu sagāravā sappatissā sabhāgavuttikā viharissanti. Idha kho taṁ, bhikkhave, sobhetha, yaṁ tumhe evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitā samānā ācariyesu ācariyamattesu upajjhāyesu upajjhāyamattesu agāravā appatissā asabhāgavuttikā vihareyyātha. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, ācariyesu ācariyamattesu upajjhāyesu upajjhāyamattesu anupāhanesu caṅkamamānesu saupāhanena caṅkamitabbaṁ. Yo caṅkameyya, āpatti dukkaṭassa.
Na ca, bhikkhave, ajjhārāme upāhanā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the Buddha was doing walking meditation outside without sandals. The senior monks followed his example, but not the monks from the group of six. The monks of few desires complained and criticized them, “How can the monks from the group of six do walking meditation with their sandals on when the Teacher and the senior monks do it without?” They told the Buddha. … “Is it true, monks, that the monks from the group of six do this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “How can those foolish men do walking meditation with their sandals on when the Teacher and the senior monks do it without? Even the householders who wear white are respectful and deferential toward their teachers for teaching them the profession by which they make a living. And you who have gone forth on such a well-proclaimed spiritual path will shine if you’re respectful and deferential toward your teachers, your preceptors, or those of an equivalent standing. This will affect people’s confidence …” After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t do walking meditation with your sandals on when your teachers, your preceptors, or those of equivalent standing do it without. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
And you shouldn’t wear sandals within a monastery. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
151. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đi kinh hành không mang giày ở ngoài trời. Do vì ‘Bậc Đạo Sư đi kinh hành không mang giày,’ các vị tỳ-khưu trưởng lão cũng đi kinh hành không mang giày. Trong khi bậc Đạo Sư đi kinh hành không mang giày, và các vị tỳ-khưu trưởng lão cũng đi kinh hành không mang giày, nhóm sáu vị tỳ-khưu lại đi kinh hành có mang giày. Các vị tỳ-khưu ít ham muốn ... phê phán, chê bai, phàn nàn rằng: – ‘Tại sao trong khi bậc Đạo Sư đi kinh hành không mang giày, và các vị tỳ-khưu trưởng lão cũng đi kinh hành không mang giày, nhóm sáu vị tỳ-khưu lại đi kinh hành có mang giày chứ?’ Bấy giờ, các vị tỳ-khưu ấy trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... – ‘Này các tỳ-khưu, có thật là trong khi bậc Đạo Sư đi kinh hành không mang giày, và các vị tỳ-khưu trưởng lão cũng đi kinh hành không mang giày, nhóm sáu vị tỳ-khưu lại đi kinh hành có mang giày không?’ – ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách ... – ‘Này các tỳ-khưu, tại sao trong khi bậc Đạo Sư đi kinh hành không mang giày, và các vị tỳ-khưu trưởng lão cũng đi kinh hành không mang giày, những người rỗng tuếch kia lại đi kinh hành có mang giày chứ? Này các tỳ-khưu, ngay cả những người tại gia mặc y phục trắng này, vì lý do nghề nghiệp mưu sinh, họ còn tỏ lòng tôn trọng, kính nể, và có cung cách hành xử đúng mực đối với các vị thầy của họ. Này các tỳ-khưu, ở đây, sẽ là tốt đẹp biết bao nếu các ngươi, trong khi đã xuất gia trong Pháp và Luật đã được khéo giảng này, lại sống không tôn trọng, không kính nể, không có cung cách hành xử đúng mực đối với các vị thầy, các vị ngang hàng với thầy, các vị thầy tế độ, các vị ngang hàng với thầy tế độ. Này các tỳ-khưu, việc này không ... đem lại niềm tin cho những người chưa có niềm tin ...’ sau khi quở trách ... sau khi thuyết pháp thoại đã gọi các vị tỳ-khưu: – ‘Này các tỳ-khưu, trong khi các vị thầy, các vị ngang hàng với thầy, các vị thầy tế độ, các vị ngang hàng với thầy tế độ đi kinh hành không mang giày thì không được đi kinh hành có mang giày. Vị nào đi kinh hành thì phạm tội tác ác. Và này các tỳ-khưu, không được mang giày ở trong tu viện. Vị nào mang thì phạm tội tác ác.’
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno pādakhilābādho hoti. Taṁ bhikkhū pariggahetvā uccārampi passāvampi nikkhāmenti. Addasā kho bhagavā senāsanacārikaṁ āhiṇḍanto te bhikkhū taṁ bhikkhuṁ pariggahetvā uccārampi passāvampi nikkhāmente, disvāna yena te bhikkhū tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca—“kiṁ imassa, bhikkhave, bhikkhuno ābādho”ti?
“Imassa, bhante, āyasmato pādakhilābādho; imaṁ mayaṁ pariggahetvā uccārampi passāvampi nikkhāmemā”ti. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, yassa pādā vā dukkhā, pādā vā phalitā, pādakhilo vā ābādho upāhanaṁ dhāretun”ti.
Soon afterwards a certain monk was afflicted with a corn on his foot. The monks had to hold him while he urinated and defecated. Just then, the Buddha was walking about the dwellings and saw this. He went up to those monks and said to them, “What illness does this monk have?”
“He has a corn on his foot, sir. That’s why we do this for him.” Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“I allow you to wear sandals if your feet are painful or cracked, or you have a corn on your foot.”
248. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ-khưu bị bệnh chai chân. Các vị tỳ-khưu phải dìu vị ấy đi đại tiện và tiểu tiện. Trong khi đi kinh hành qua các nơi ở, đức Thế Tôn trông thấy các vị tỳ-khưu ấy đang dìu vị tỳ-khưu kia đi đại tiện và tiểu tiện; sau khi thấy, ngài đi đến chỗ các vị tỳ-khưu ấy; sau khi đến, ngài nói với các vị tỳ-khưu ấy điều này: – ‘Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu này bị bệnh gì vậy?’ – ‘Bạch ngài, vị tôn giả này bị bệnh chai chân; chúng con phải dìu vị này đi đại tiện và tiểu tiện.’ Bấy giờ, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết pháp thoại đã gọi các vị tỳ-khưu: – ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép mang giày đối với vị nào có chân bị đau, hoặc chân bị nứt nẻ, hoặc bị bệnh chai chân.’
Tena kho pana samayena bhikkhū adhotehi pādehi mañcampi pīṭhampi abhiruhanti; cīvarampi senāsanampi dussati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ‘idāni mañcaṁ vā pīṭhaṁ vā abhiruhissāmī’ti upāhanaṁ dhāretun”ti.
Then the monks made use of the beds and benches with dirty feet. Their robes and the furniture got dirty.
“When you know that you are about to make use of a bed or a bench, I allow you to wear sandals.”
249. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu bước lên giường và ghế với đôi chân không được rửa sạch; cả y và chỗ ở đều bị dơ bẩn. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) – ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép mang giày (với ý nghĩ) rằng: ‘Bây giờ, ta sẽ bước lên giường hoặc ghế.’’
Tena kho pana samayena bhikkhū rattiyā uposathaggampi sannisajjampi gacchantā andhakāre khāṇumpi kaṇṭakampi akkamanti; pādā dukkhā honti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ajjhārāme upāhanaṁ dhāretuṁ, ukkaṁ, padīpaṁ, kattaradaṇḍan”ti.
Then, when the monks were walking to the observance hall or to a meeting in the dark of night, they stepped on stumps and thorns, hurting their feet.
“I allow you to wear sandals within a monastery, and also to use a torch, a lamp, and a walking stick.”
Vào lúc bấy giờ, trong khi đi đến nhà lễ Bố-tát hoặc nơi hội họp vào ban đêm, các vị tỳ-khưu trong bóng tối đã giẫm phải gốc cây và gai; chân bị đau. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) – ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép mang giày, (mang) đuốc, đèn, và gậy chống ở trong tu viện.’
6. Kaṭṭhapādukādipaṭikkhepa
6. The prohibition against wooden shoes, etc.
Sự không cho phép (sử dụng) guốc gỗ, v.v...
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya kaṭṭhapādukāyo abhiruhitvā ajjhokāse caṅkamanti, uccāsaddā mahāsaddā khaṭakhaṭasaddā, anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentā, seyyathidaṁ—rājakathaṁ, corakathaṁ, mahāmattakathaṁ, senākathaṁ, bhayakathaṁ, yuddhakathaṁ, annakathaṁ, pānakathaṁ, vatthakathaṁ, sayanakathaṁ, mālākathaṁ, gandhakathaṁ, ñātikathaṁ, yānakathaṁ, gāmakathaṁ, nigamakathaṁ, nagarakathaṁ, janapadakathaṁ, itthikathaṁ, sūrakathaṁ, visikhākathaṁ, kumbhaṭṭhānakathaṁ, pubbapetakathaṁ, nānattakathaṁ, lokakkhāyikaṁ, samuddakkhāyikaṁ, itibhavābhavakathaṁ iti vā; kīṭakampi akkamitvā mārenti, bhikkhūpi samādhimhā cāventi.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma chabbaggiyā bhikkhū rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya kaṭṭhapādukāyo abhiruhitvā ajjhokāse caṅkamissanti, uccāsaddā mahāsaddā khaṭakhaṭasaddā anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentā, seyyathidaṁ—rājakathaṁ, corakathaṁ …pe… itibhavābhavakathaṁ iti vā, kīṭakampi akkamitvā māressanti, bhikkhūpi samādhimhā cāvessantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, chabbaggiyā bhikkhū rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya kaṭṭhapādukāyo abhiruhitvā ajjhokāse caṅkamanti, uccāsaddā mahāsaddā khaṭakhaṭasaddā, anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentā, seyyathidaṁ—rājakathaṁ, corakathaṁ …pe… itibhavābhavakathaṁ iti vā, kīṭakampi akkamitvā mārenti, bhikkhūpi samādhimhā cāventī”ti? “Saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
At one time the monks from the group of six got up early in the morning, put on wooden shoes, and walked back and forth outside, making a loud clacking noise. And they talked about all sorts of worldly things: about kings, gangsters, and officials; about armies, dangers, and battles; about food, drink, clothes, and beds; about garlands and perfumes; about relatives, vehicles, villages, towns, and countries; about women and heroes; gossip; about the departed; about various trivialities; about the world and the sea; about being this or that. They stepped on and killed insects, and they disturbed the monks in the stillness of meditation.
The monks of few desires complained and criticized them, “How can the monks from the group of six act like this?” They told the Buddha. … “Is it true, monks, that the monks from the group of six are acting like this?” “It’s true, sir.” … After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
250. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu thức dậy vào lúc rạng đông của ban đêm, mang guốc gỗ rồi đi kinh hành ở ngoài trời, nói lớn tiếng, nói to tiếng, nói tiếng lách cách, trong khi đang nói chuyện phiếm đủ loại, ví như là – chuyện về vua, chuyện về kẻ trộm, chuyện về đại thần, chuyện về quân đội, chuyện về sự sợ hãi, chuyện về chiến tranh, chuyện về món ăn, chuyện về thức uống, chuyện về y phục, chuyện về chỗ nằm, chuyện về vòng hoa, chuyện về hương liệu, chuyện về bà con, chuyện về xe cộ, chuyện về làng mạc, chuyện về thị trấn, chuyện về thành phố, chuyện về xứ sở, chuyện về phụ nữ, chuyện về người dũng cảm, chuyện về đường phố, chuyện về bến nước, chuyện về người đã quá vãng, chuyện tầm phào, chuyện thế gian, chuyện biển cả, hoặc là chuyện về sự thịnh suy; các vị ấy cũng dẫm đạp làm chết các loài côn trùng, cũng làm cho các vị tỳ khưu bị xuất định. Các vị tỳ khưu thiểu dục ... phê phán, chê bai, khiển trách rằng: – “Tại sao nhóm sáu vị tỳ khưu lại thức dậy vào lúc rạng đông của ban đêm, mang guốc gỗ rồi đi kinh hành ở ngoài trời, nói lớn tiếng, nói to tiếng, nói tiếng lách cách, trong khi đang nói chuyện phiếm đủ loại, ví như là – chuyện về vua, chuyện về kẻ trộm, ... hoặc là chuyện về sự thịnh suy, lại còn dẫm đạp làm chết các loài côn trùng, lại còn làm cho các vị tỳ khưu bị xuất định?” Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... – “Này các tỳ khưu, có thật chăng, nhóm sáu vị tỳ khưu thức dậy vào lúc rạng đông của ban đêm, mang guốc gỗ rồi đi kinh hành ở ngoài trời, nói lớn tiếng, nói to tiếng, nói tiếng lách cách, trong khi đang nói chuyện phiếm đủ loại, ví như là – chuyện về vua, chuyện về kẻ trộm, ... hoặc là chuyện về sự thịnh suy; các vị ấy cũng dẫm đạp làm chết các loài côn trùng, cũng làm cho các vị tỳ khưu bị xuất định?” – “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.” ... Sau khi quở trách, nói pháp thoại, ngài gọi các vị tỳ khưu: – “Này các tỳ khưu, không được mang guốc gỗ. Vị nào mang, phạm tội tác ác.”
“na, bhikkhave, kaṭṭhapādukā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Atha kho bhagavā rājagahe yathābhirantaṁ viharitvā yena bārāṇasī tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena bārāṇasī tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā bārāṇasiyaṁ viharati isipatane migadāye.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū—“bhagavatā kaṭṭhapādukā paṭikkhittā”ti—tālataruṇe chedāpetvā tālapattapādukāyo dhārenti; tāni tālataruṇāni chinnāni milāyanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā tālataruṇe chedāpetvā tālapattapādukāyo dhāressanti; tāni tālataruṇāni chinnāni milāyanti; ekindriyaṁ samaṇā sakyaputtiyā jīvaṁ viheṭhentī”ti.
Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, chabbaggiyā bhikkhū tālataruṇe chedāpetvā tālapattapādukāyo dhārenti; tāni tālataruṇāni chinnāni milāyantī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma te, bhikkhave, moghapurisā tālataruṇe chedāpetvā tālapattapādukāyo dhāressanti; tāni tālataruṇāni chinnāni milāyanti. Jīvasaññino hi, bhikkhave, manussā rukkhasmiṁ. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, tālapattapādukā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
“You shouldn’t wear wooden shoes. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
When the Buddha had stayed at Rājagaha for as long as he liked, he set out wandering toward Benares. When he eventually arrived, he stayed in the deer park at Isipatana.
When the monks from the group of six heard that the Buddha had prohibited wooden shoes, they took cuttings from young palm trees and wore shoes made of palm leaves. The trees withered. People complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics act like this? They are harming one-sensed life.”
The monks heard the complaints of those people and they told the Buddha. … “Is it true, monks, that the monks from the group of six are acting like this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “How can those foolish men have cuttings made from young palm trees and wear shoes made of palm leaves, with the trees withering as a consequence? People regard trees as conscious. This will affect people’s confidence …” After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t wear shoes made of palm leaves. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Bấy giờ, sau khi trú ngụ ở thành Rājagaha tùy theo ý thích, đức Thế Tôn đã lên đường du hành đến Bārāṇasī. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã đi đến Bārāṇasī. Tại đấy, đức Thế Tôn trú ở Isipatana, tại Migadāya gần Bārāṇasī. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu nghĩ rằng: “Guốc gỗ đã bị đức Thế Tôn từ chối,” rồi cho đốn những cây cọ non và mang dép lá cọ; những cây cọ non ấy sau khi bị đốn đã bị héo úa. Các cư sĩ phê phán, chê bai, khiển trách rằng: – “Tại sao các sa-môn Thích tử lại cho đốn những cây cọ non và mang dép lá cọ; những cây cọ non ấy sau khi bị đốn đã bị héo úa; các sa-môn Thích tử làm tổn hại đến sinh mạng có một giác quan.” Các vị tỳ khưu đã nghe được tiếng phê phán, chê bai, khiển trách của các cư sĩ ấy. Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... – “Này các tỳ khưu, có thật chăng, nhóm sáu vị tỳ khưu cho đốn những cây cọ non và mang dép lá cọ; những cây cọ non ấy sau khi bị đốn đã bị héo úa?” – “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách ... – “Này các tỳ khưu, tại sao những người rỗng tuếch ấy lại cho đốn những cây cọ non và mang dép lá cọ; những cây cọ non ấy sau khi bị đốn đã bị héo úa? Này các tỳ khưu, vì rằng các cư sĩ có tưởng là sự sống ở trong cây cối. Này các tỳ khưu, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin có được đức tin ...” Sau khi quở trách, nói pháp thoại, ngài gọi các vị tỳ khưu: – “Này các tỳ khưu, không được mang dép lá cọ. Vị nào mang, phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū—“bhagavatā tālapattapādukā paṭikkhittā”ti—veḷutaruṇe chedāpetvā veḷupattapādukāyo dhārenti. Tāni veḷutaruṇāni chinnāni milāyanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā veḷutaruṇe chedāpetvā veḷupattapādukāyo dhāressanti. Tāni veḷutaruṇāni chinnāni milāyanti. Ekindriyaṁ samaṇā sakyaputtiyā jīvaṁ viheṭhentī”ti. Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… jīvasaññino hi, bhikkhave, manussā rukkhasmiṁ …pe…
na, bhikkhave, veḷupattapādukā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
When they heard that the Buddha had prohibited shoes made of palm leaves, the monks from the group of six had cuttings made from young bamboo and wore shoes made of bamboo leaves. The bamboo withered. People complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics act like this? They are harming one-sensed life.” The monks heard the complaints of those people and they told the Buddha. … “… People regard trees as conscious …
You shouldn’t wear shoes made of bamboo leaves. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu nghĩ rằng: “Dép lá cọ đã bị đức Thế Tôn từ chối,” rồi cho đốn những cây tre non và mang dép lá tre. Những cây tre non ấy sau khi bị đốn đã bị héo úa. Các cư sĩ phê phán, chê bai, khiển trách rằng: – “Tại sao các sa-môn Thích tử lại cho đốn những cây tre non và mang dép lá tre? Những cây tre non ấy sau khi bị đốn đã bị héo úa. Các sa-môn Thích tử làm tổn hại đến sinh mạng có một giác quan.” Các vị tỳ khưu đã nghe được tiếng phê phán, chê bai, khiển trách của các cư sĩ ấy. Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... Này các tỳ khưu, vì rằng các cư sĩ có tưởng là sự sống ở trong cây cối ... Này các tỳ khưu, không được mang dép lá tre. Vị nào mang, phạm tội tác ác.
Atha kho bhagavā bārāṇasiyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena bhaddiyaṁ tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena bhaddiyaṁ tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā bhaddiye viharati jātiyā vane.
Tena kho pana samayena bhaddiyā bhikkhū anekavihitaṁ pādukamaṇḍanānuyogamanuyuttā viharanti, tiṇapādukaṁ karontipi kārāpentipi, muñjapādukaṁ karontipi kārāpentipi, pabbajapādukaṁ karontipi kārāpentipi, hintālapādukaṁ karontipi kārāpentipi, kamalapādukaṁ karontipi kārāpentipi, kambalapādukaṁ karontipi kārāpentipi, riñcanti uddesaṁ paripucchaṁ adhisīlaṁ adhicittaṁ adhipaññaṁ. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhaddiyā bhikkhū anekavihitaṁ pādukamaṇḍanānuyogamanuyuttā viharissanti, tiṇapādukaṁ karissantipi kārāpessantipi, muñjapādukaṁ karissantipi kārāpessantipi, pabbajapādukaṁ karissantipi kārāpessantipi, hintālapādukaṁ karissantipi kārāpessantipi, kamalapādukaṁ karissantipi kārāpessantipi, kambalapādukaṁ karissantipi kārāpessantipi, riñcissanti uddesaṁ paripucchaṁ adhisīlaṁ adhicittaṁ adhipaññan”ti.
Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, bhaddiyā bhikkhū anekavihitaṁ pādukamaṇḍanānuyogamanuyuttā viharanti, tiṇapādukaṁ karontipi kārāpentipi …pe… riñcanti uddesaṁ paripucchaṁ adhisīlaṁ adhicittaṁ adhipaññan”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma te, bhikkhave, moghapurisā anekavihitaṁ pādukamaṇḍanānuyogamanuyuttā viharissanti, tiṇapādukaṁ karissantipi kārāpessantipi …pe… riñcissanti uddesaṁ paripucchaṁ adhisīlaṁ adhicittaṁ adhipaññaṁ. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, tiṇapādukā dhāretabbā, na muñjapādukā dhāretabbā, na pabbajapādukā dhāretabbā, na hintālapādukā dhāretabbā, na kamalapādukā dhāretabbā, na kambalapādukā dhāretabbā, na sovaṇṇamayā pādukā dhāretabbā, na rūpiyamayā pādukā dhāretabbā, na maṇimayā pādukā dhāretabbā, na veḷuriyamayā pādukā dhāretabbā, na phalikamayā pādukā dhāretabbā, na kaṁsamayā pādukā dhāretabbā, na kācamayā pādukā dhāretabbā, na tipumayā pādukā dhāretabbā, na sīsamayā pādukā dhāretabbā, na tambalohamayā pādukā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa.
Na ca, bhikkhave, kāci saṅkamaniyā pādukā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, tisso pādukā dhuvaṭṭhāniyā asaṅkamaniyāyo—vaccapādukaṁ, passāvapādukaṁ, ācamanapādukan”ti.
When the Buddha had stayed at Benares for as long as he liked, he set out wandering toward Bhaddiya. When he eventually arrived, he stayed in the Jātiyā Grove.
At that time the monks in Bhaddiya were fond of various kinds of nice shoes. They made shoes of grass, reed, fishtail-palm leaves, and wool, and they had them made. As a consequence, they neglected recitation, questioning, the higher morality, the higher mind, and the higher wisdom. The monks of few desires complained and criticized them, “How can the monks in Bhaddiya do this?”
They told the Buddha. … “Is it true, monks, that the monks in Bhaddiya do this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “How can those foolish men be fond of various kinds of nice shoes … and neglect recitation, questioning, the higher morality, the higher mind, and the higher wisdom? This will affect people’s confidence …” After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t wear shoes made of grass, reed, fishtail-palm leaves, or wool; or shoes made with gold, silver, gems, beryl, crystal, bronze, glass, tin, lead, or copper. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
And you shouldn’t use shoes. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow three kinds of foot stands that are fixed in place and immobile: foot stands for defecating, foot stands for urinating, and foot stands for restroom ablutions.”
251. Rồi Thế Tôn, sau khi trú ở Bārāṇasī tùy thích, đã lên đường du hành đến Bhaddiya. Tuần tự du hành, ngài đã đi đến Bhaddiya. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Bhaddiya, trong khu rừng Jātiyā. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở Bhaddiya đang sống chuyên tâm vào việc trang trí các loại dép khác nhau; họ tự làm hoặc bảo người khác làm dép cỏ, tự làm hoặc bảo người khác làm dép cỏ muñja, tự làm hoặc bảo người khác làm dép cỏ pabbaja, tự làm hoặc bảo người khác làm dép lá hintāla, tự làm hoặc bảo người khác làm dép cỏ kamala, tự làm hoặc bảo người khác làm dép bằng nỉ; họ xao lãng việc học thuộc lòng, việc hỏi han, tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ. Các vị tỳ khưu thiểu dục ...v.v... đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: 'Làm sao mà các tỳ khưu ở Bhaddiya lại có thể sống chuyên tâm vào việc trang trí các loại dép khác nhau; tự làm hoặc bảo người khác làm dép cỏ, tự làm hoặc bảo người khác làm dép cỏ muñja, tự làm hoặc bảo người khác làm dép cỏ pabbaja, tự làm hoặc bảo người khác làm dép lá hintāla, tự làm hoặc bảo người khác làm dép cỏ kamala, tự làm hoặc bảo người khác làm dép bằng nỉ; và xao lãng việc học thuộc lòng, việc hỏi han, tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ được chứ?' Rồi các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên Thế Tôn ...v.v... 'Này các tỳ khưu, có thật chăng các tỳ khưu ở Bhaddiya đang sống chuyên tâm vào việc trang trí các loại dép khác nhau; tự làm hoặc bảo người khác làm dép cỏ ...v.v... và xao lãng việc học thuộc lòng, việc hỏi han, tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ?' 'Bạch Thế Tôn, là sự thật.' Đức Phật, bậc Thế Tôn, đã quở trách ...v.v... 'Này các tỳ khưu, làm sao mà những kẻ rỗng tuếch ấy lại có thể sống chuyên tâm vào việc trang trí các loại dép khác nhau; tự làm hoặc bảo người khác làm dép cỏ ...v.v... và xao lãng việc học thuộc lòng, việc hỏi han, tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ được chứ? Này các tỳ khưu, việc này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin ...v.v...' Sau khi quở trách ...v.v... và thuyết một bài pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ khưu: 'Này các tỳ khưu, không được mang dép cỏ, không được mang dép cỏ muñja, không được mang dép cỏ pabbaja, không được mang dép lá hintāla, không được mang dép cỏ kamala, không được mang dép bằng nỉ, không được mang dép bằng vàng, không được mang dép bằng bạc, không được mang dép bằng ngọc ma-ni, không được mang dép bằng ngọc lưu ly, không được mang dép bằng pha lê, không được mang dép bằng đồng trắng, không được mang dép bằng thủy tinh, không được mang dép bằng thiếc, không được mang dép bằng chì, không được mang dép bằng đồng đỏ. Vị nào mang, phạm tội tác ác. Và này các tỳ khưu, không được mang bất cứ loại dép nào có thể di chuyển được. Vị nào mang, phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba loại dép cố định, không thể di chuyển: dép ở nhà vệ sinh, dép ở nhà tiểu, và dép ở nơi rửa ráy.'
Atha kho bhagavā bhaddiye yathābhirantaṁ viharitvā yena sāvatthi tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sāvatthi tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū aciravatiyā nadiyā gāvīnaṁ tarantīnaṁ visāṇesupi gaṇhanti, kaṇṇesupi gaṇhanti, gīvāyapi gaṇhanti, cheppāpi gaṇhanti, piṭṭhimpi abhiruhanti, rattacittāpi aṅgajātaṁ chupanti, vacchatarimpi ogāhetvā mārenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā gāvīnaṁ tarantīnaṁ visāṇesupi gahessanti …pe… seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti.
Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave …pe… “saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, gāvīnaṁ visāṇesu gahetabbaṁ, na kaṇṇesu gahetabbaṁ, na gīvāya gahetabbaṁ, na cheppāya gahetabbaṁ, na piṭṭhi abhiruhitabbā. Yo abhiruheyya, āpatti dukkaṭassa.
Na ca, bhikkhave, rattacittena aṅgajātaṁ chupitabbaṁ. Yo chupeyya, āpatti thullaccayassa.
Na vacchatarī māretabbā. Yo māreyya, yathādhammo kāretabbo”ti.
When the Buddha had stayed at Bhaddiya for as long as he liked, he set out wandering toward Sāvatthī. When he eventually arrived, he stayed in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery.
At this time, the monks from the group of six would grab cattle as they were crossing the Aciravatī river—by the horns, the ears, the neck, and the tail—and they would mount their backs and, motivated by lust, would touch their genitals. They even killed a calf by submerging it. People complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics act like this? They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
The monks heard the complaints of those people and they told the Buddha. … “Is it true, monks …” “It’s true, sir.” … After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t grab cattle by the horns, the ears, the neck, or the tail, and you shouldn’t mount their backs. If you do mount their backs, you commit an offense of wrong conduct.
And you shouldn’t touch their genitals motivated by lust. If you do, you commit a serious offense.
And you shouldn’t kill a calf. If you do, you should be dealt with according to the rule.”
252. Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi trú tại Bhaddiya tùy theo ý thích đã lên đường du hành đến Sāvatthī. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã đi đến Sāvatthī. Tại đấy, đức Thế Tôn trú ở Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu ở sông Aciravatī đã nắm sừng, nắm tai, nắm cổ, nắm đuôi của các con bò cái đang bơi qua, lại còn leo lên lưng, lại còn với tâm tham dục chạm vào bộ phận sinh dục, lại còn dìm con bê xuống nước cho đến chết. Các người thế tục phàn nàn, chê bai, và nói xấu rằng: “Tại sao các sa-môn Thích tử lại có thể nắm sừng ... giống như các người tại gia hưởng thụ các dục lạc?” Các vị tỳ khưu đã nghe được việc các người thế tục ấy phàn nàn, chê bai, và nói xấu. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... – Này các tỳ khưu, có thật như vậy không? ... – Bạch đức Thế Tôn, là sự thật. ... Sau khi quở trách ... sau khi thuyết pháp thoại, ngài gọi các vị tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, không được nắm sừng, không được nắm tai, không được nắm cổ, không được nắm đuôi của các con bò cái, không được leo lên lưng. Vị nào leo lên, phạm tội dukkaṭa (tác ác). Và này các tỳ khưu, không được với tâm tham dục chạm vào bộ phận sinh dục. Vị nào chạm vào, phạm tội thullaccaya (thô tội). Không được giết con bê. Vị nào giết, nên được xử lý theo đúng Pháp.
7. Yānādipaṭikkhepa
7. The prohibition against vehicles, etc.
153. Sự cấm đoán về các loại xe, v.v...
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū yānena yāyanti, itthiyuttenapi purisantarena, purisayuttenapi itthantarena. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gaṅgāmahiyāyā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, yānena yāyitabbaṁ. Yo yāyeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu kosalesu janapade sāvatthiṁ gacchanto bhagavantaṁ dassanāya antarāmagge gilāno hoti. Atha kho so bhikkhu maggā okkamma aññatarasmiṁ rukkhamūle nisīdi. Manussā taṁ bhikkhuṁ disvā etadavocuṁ—“kahaṁ, bhante, ayyo gamissatī”ti?
“Sāvatthiṁ kho ahaṁ, āvuso, gamissāmi bhagavantaṁ dassanāyā”ti.
“Ehi, bhante, gamissāmā”ti.
“Nāhaṁ, āvuso, sakkomi, gilānomhī”ti.
“Ehi, bhante, yānaṁ abhiruhā”ti.
“Alaṁ, āvuso, paṭikkhittaṁ bhagavatā yānan”ti kukkuccāyanto yānaṁ nābhiruhi.
Atha kho so bhikkhu sāvatthiṁ gantvā bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gilānassa yānan”ti.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“itthiyuttaṁ nu kho purisayuttaṁ nu kho”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, purisayuttaṁ hatthavaṭṭakan”ti.
At that time the monks from the group of six traveled in vehicles, sometimes pulled by a female animal with a man driving, at other times pulled by a male animal with a woman driving. People complained and criticized them, “You’d think they were at the Ganges festival!” They told the Buddha.
“You shouldn’t travel in a vehicle. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Soon afterwards a monk who was traveling through the Kosalan country on his way to visit the Buddha at Sāvatthī became sick. He stepped off the path and sat down at the foot of a tree. People saw him and said to him, “Venerable, where are you going?”
“I’m going to Sāvatthī to visit the Buddha.”
“Please come with us.”
“I can’t. I’m sick.”
“Then please come inside the vehicle.”
“Thank you, but the Buddha has prohibited us from traveling in vehicles.”
He did not accept because he was afraid of wrongdoing. Then, when he arrived at Sāvatthī, he told the monks what had happened. They in turn told the Buddha.
“I allow a vehicle when you’re sick.”
The monks thought, “Pulled by a female or by a male?”
“I allow a rickshaw pulled by men.”
253. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đi bằng cỗ xe, có khi là xe do con cái kéo và người nam điều khiển, có khi là xe do con đực kéo và người nữ điều khiển. Người đời phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: “Giống như lễ hội sông Gaṅgā và sông Mahī vậy.” Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn dạy:) “Này các tỳ khưu, không được đi bằng cỗ xe. Vị nào đi, phạm tội tác ác.” Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu ở xứ Kosala đang đi đến Sāvatthī để yết kiến đức Thế Tôn thì bị bệnh giữa đường. Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy rời khỏi con đường và ngồi xuống dưới một gốc cây. Người ta thấy vị tỳ khưu ấy bèn nói điều này: “Bạch ngài, tôn giả sẽ đi đâu?” – “Này các hiền hữu, tôi sẽ đi đến Sāvatthī để yết kiến đức Thế Tôn.” – “Bạch ngài, xin mời đi, chúng ta cùng đi.” – “Này các hiền hữu, tôi không thể, tôi bị bệnh.” – “Bạch ngài, xin mời đi, hãy lên xe.” – “Thôi, các hiền hữu, cỗ xe đã bị đức Thế Tôn từ bỏ.” Do có sự áy náy, vị ấy đã không lên xe. Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy sau khi đến Sāvatthī đã trình báo sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn dạy:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép cỗ xe cho người bệnh.” Bấy giờ, các tỳ khưu có suy nghĩ này: “Là xe do con cái kéo hay xe do con đực kéo?” Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn dạy:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép xe do con đực kéo và xe đẩy tay.”
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno yānugghātena bāḷhataraṁ aphāsu ahosi. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sivikaṁ pāṭaṅkin”ti.
Soon afterwards a certain monk was even more uncomfortable when jolted around in a vehicle.
“I allow a palanquin and a litter.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị khó chịu một cách nặng nề hơn do xe xóc nảy. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn dạy:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép kiệu và võng.”
8. Uccāsayanamahāsayanapaṭikkhepa
8. The prohibition against high and luxurious beds
154. Sự từ bỏ giường cao và giường lớn
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū uccāsayanamahāsayanāni dhārenti, seyyathidaṁ—āsandiṁ, pallaṅkaṁ, gonakaṁ, cittakaṁ, paṭikaṁ, paṭalikaṁ, tūlikaṁ, vikatikaṁ, uddhalomiṁ, ekantalomiṁ, kaṭṭissaṁ, koseyyaṁ, kuttakaṁ, hatthattharaṁ, assattharaṁ, rathattharaṁ, ajinapaveṇiṁ, kadalimigapavarapaccattharaṇaṁ, sauttaracchadaṁ, ubhatolohitakūpadhānanti. Manussā vihāracārikaṁ āhiṇḍantā passitvā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, uccāsayanamahāsayanāni dhāretabbāni, seyyathidaṁ—āsandi, pallaṅko, gonako, cittako, paṭikā, paṭalikā, tūlikā, vikatikā, uddhalomi, ekantalomi, kaṭṭissaṁ, koseyyaṁ, kuttakaṁ, hatthattharaṁ, assattharaṁ, rathattharaṁ, ajinapaveṇi, kadalimigapavarapaccattharaṇaṁ, sauttaracchadaṁ, ubhatolohitakūpadhānaṁ. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six used high and luxurious beds, such as: high couches, luxurious couches, long-fleeced woolen rugs, multi-colored woolen rugs, white woolen rugs, red woolen rugs, cotton-down quilts, woolen rugs decorated with the images of predatory animals, woolen rugs with long fleece on one side, woolen rugs with long fleece on both sides, sheets of silk embroidered with gems, silken sheets, woolen rugs like a dancer’s rug, elephant-back rugs, horse-back rugs, carriage-seat rugs, rugs made of black antelope hide, exquisite sheets made of <i lang='pi' translate='no'>kadalī</i>-deer hide, seats with canopies, seats with red cushions at each end. When people walking about the dwellings saw this, they complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“You shouldn’t use high and luxurious beds, such as: high couches, luxurious couches, long-fleeced woolen rugs, multi-colored woolen rugs, white woolen rugs, red woolen rugs, cotton-down quilts, woolen rugs decorated with the images of predatory animals, woolen rugs with long fleece on one side, woolen rugs with long fleece on both sides, sheets of silk embroidered with gems, silken sheets, woolen rugs like a dancer’s rug, elephant-back rugs, horse-back rugs, carriage-seat rugs, rugs made of black antelope hide, exquisite sheets made of <i lang='pi' translate='no'>kadalī</i>-deer hide, seats with canopies, seats with red cushions at each end. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
254. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng các loại giường cao và giường lớn, như là: ghế dài, giường có chân hình thú dữ, thảm len lông dài, tấm trải bằng len nhiều màu sắc, tấm trải bằng len màu trắng, tấm trải bằng len có thêu hình hoa dày đặc, nệm nhồi bông gòn, tấm trải bằng len có hình các con thú, tấm trải bằng len có lông dựng đứng một bên, tấm trải bằng len có lông dựng đứng hai bên, tấm trải bằng lụa có viền vàng, tấm trải bằng lụa có thêu kim tuyến, tấm thảm len lớn, tấm trải trên lưng voi, tấm trải trên lưng ngựa, tấm trải trong xe ngựa, tấm trải làm bằng da sơn dương đen, tấm trải quý giá làm bằng da con hoẵng, (giường) có lọng che màu đỏ ở trên, và (giường) có gối đầu và gối chân màu đỏ ở hai đầu. Người đời đi dạo quanh các ngôi chùa, sau khi thấy vậy đã phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: “Giống như những người tại gia hưởng thụ các dục lạc.” Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn dạy:) “Này các tỳ khưu, không được sử dụng các loại giường cao và giường lớn, như là: ghế dài, giường có chân hình thú dữ, thảm len lông dài, tấm trải bằng len nhiều màu sắc, tấm trải bằng len màu trắng, tấm trải bằng len có thêu hình hoa dày đặc, nệm nhồi bông gòn, tấm trải bằng len có hình các con thú, tấm trải bằng len có lông dựng đứng một bên, tấm trải bằng len có lông dựng đứng hai bên, tấm trải bằng lụa có viền vàng, tấm trải bằng lụa có thêu kim tuyến, tấm thảm len lớn, tấm trải trên lưng voi, tấm trải trên lưng ngựa, tấm trải trong xe ngựa, tấm trải làm bằng da sơn dương đen, tấm trải quý giá làm bằng da con hoẵng, (giường) có lọng che màu đỏ ở trên, và (giường) có gối đầu và gối chân màu đỏ ở hai đầu. Vị nào sử dụng, phạm tội tác ác.”
9. Sabbacammapaṭikkhepa
9. The prohibition against all skins
155. Sự từ bỏ tất cả các loại da thú
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū—“bhagavatā uccāsayanamahāsayanāni paṭikkhittānīti—mahācammāni dhārenti, sīhacammaṁ byagghacammaṁ dīpicammaṁ. Tāni mañcappamāṇenapi chinnāni honti, pīṭhappamāṇenapi chinnāni honti, antopi mañce paññattāni honti, bahipi mañce paññattāni honti, antopi pīṭhe paññattāni honti, bahipi pīṭhe paññattāni honti. Manussā vihāracārikaṁ āhiṇḍantā passitvā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, mahācammāni dhāretabbāni, sīhacammaṁ byagghacammaṁ dīpicammaṁ. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Soon afterwards when the monks from the group of six heard that the Buddha had prohibited high and luxurious beds, they used luxurious skins: lionskins, tiger skins, and leopard skins. They cut them to fit their beds and benches, and used them both there and elsewhere. When people walking about the dwellings saw this, they complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“You shouldn’t use luxurious skins: lionskins, tiger skins, or leopard skins. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
255. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã từ bỏ các loại giường cao và giường lớn,” rồi sử dụng các loại da thú lớn: da sư tử, da cọp, da báo. Những tấm da ấy được cắt theo kích thước của giường, cũng được cắt theo kích thước của ghế; được trải bên trong giường, cũng được trải bên ngoài giường; được trải bên trong ghế, cũng được trải bên ngoài ghế. Người đời đi dạo quanh các ngôi chùa, sau khi thấy vậy đã phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: “Giống như những người tại gia hưởng thụ các dục lạc.” Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn dạy:) “Này các tỳ khưu, không được sử dụng các loại da thú lớn: da sư tử, da cọp, da báo. Vị nào sử dụng, phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū—“bhagavatā mahācammāni paṭikkhittānī”ti—gocammāni dhārenti. Tāni mañcappamāṇenapi chinnāni honti, pīṭhappamāṇenapi chinnāni honti, antopi mañce paññattāni honti, bahipi mañce paññattāni honti, antopi pīṭhe paññattāni honti, bahipi pīṭhe paññattāni honti.
Aññataropi pāpabhikkhu aññatarassa pāpupāsakassa kulūpako hoti. Atha kho so pāpabhikkhu pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena tassa pāpupāsakassa nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho so pāpupāsako yena so pāpabhikkhu tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā taṁ pāpabhikkhuṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Tena kho pana samayena tassa pāpupāsakassa vacchako hoti taruṇako abhirūpo dassanīyo pāsādiko citro, seyyathāpi dīpicchāpo. Atha kho so pāpabhikkhu taṁ vacchakaṁ sakkaccaṁ upanijjhāyati. Atha kho so pāpupāsako taṁ pāpabhikkhuṁ etadavoca—“kissa, bhante, ayyo imaṁ vacchakaṁ sakkaccaṁ upanijjhāyatī”ti? “Attho me, āvuso, imassa vacchakassa cammenā”ti.
Atha kho so pāpupāsako taṁ vacchakaṁ vadhitvā cammaṁ vidhunitvā tassa pāpabhikkhuno pādāsi. Atha kho so pāpabhikkhu taṁ cammaṁ saṅghāṭiyā paṭicchādetvā agamāsi. Atha kho sā gāvī vacchagiddhinī taṁ pāpabhikkhuṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhi. Bhikkhū evamāhaṁsu—“kissa tyāyaṁ, āvuso, gāvī piṭṭhito piṭṭhito anubandhī”ti? “Ahampi kho, āvuso, na jānāmi kena myāyaṁ gāvī piṭṭhito piṭṭhito anubandhī”ti. Tena kho pana samayena tassa pāpabhikkhuno saṅghāṭi lohitena makkhitā hoti. Bhikkhū evamāhaṁsu—“ayaṁ pana te, āvuso, saṅghāṭi kiṁ katā”ti?
Atha kho so pāpabhikkhu bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi. “Kiṁ pana tvaṁ, āvuso, pāṇātipāte samādapesī”ti?
“Evamāvuso”ti.
Ye te bhikkhū appicchā te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhikkhu pāṇātipāte samādapessati, nanu bhagavatā anekapariyāyena pāṇātipāto garahito, pāṇātipātā veramaṇī pasatthā”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
Soon afterwards when the monks from the group of six heard that the Buddha had prohibited luxurious skins, they used cattle hides. They cut them to fit their beds and benches, and used them both there and elsewhere.
At this time a certain bad monk was associating with the family of a bad lay follower. One morning that monk robed up, took his bowl and robe, and went to that lay follower’s house, where he sat down on the prepared seat. The lay follower approached the monk, bowed, and sat down.
At that time that lay follower had a beautiful young calf with variegated hide, just like a young leopard. When the bad monk stared at that calf, the lay follower asked him why. He replied, “I need the skin of that calf.”
The bad lay follower then slaughtered the calf, skinned it, and gave the skin to the bad monk. The monk hid the skin under his outer robe and left. The mother-cow, longing for her calf, followed behind him. When the monks asked him why, he said he did not know. But his outer robe was smeared with blood, and so they said, “What happened to your outer robe?”
When he told them what had happened, they asked, “So did you encourage someone to kill?”
“Yes.”
The monks of few desires complained and criticized him, “How can a monk encourage someone to kill? Hasn’t the Buddha in many ways criticized killing and praised abstention from killing?” They then told the Buddha.
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ-khưu (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm các loại da lớn,” nên đã sử dụng da bò. Các tấm da ấy được cắt theo kích thước giường, được cắt theo kích thước ghế, được trải bên trong giường, được trải bên ngoài giường, được trải bên trong ghế, được trải bên ngoài ghế. Cũng có một vị tỳ-khưu xấu ác là người thường lui tới nhà của một nam cận sự xấu ác. Khi ấy, vị tỳ-khưu xấu ác ấy vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, đi đến nhà của nam cận sự xấu ác ấy, đến nơi rồi ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Khi ấy, nam cận sự xấu ác ấy đi đến chỗ vị tỳ-khưu xấu ác, đến nơi rồi đảnh lễ vị tỳ-khưu xấu ác ấy và ngồi xuống một bên. Vào lúc bấy giờ, nam cận sự xấu ác ấy có một con bê con, còn non, hình dáng đẹp, dễ nhìn, đáng ưa, có đốm, giống như con báo con. Khi ấy, vị tỳ-khưu xấu ác ấy chăm chú nhìn con bê đó. Khi ấy, nam cận sự xấu ác ấy nói với vị tỳ-khưu xấu ác rằng: “Bạch đại đức, vì sao ngài lại chăm chú nhìn con bê này?” “Này hiền hữu, tôi cần da của con bê này.” Khi ấy, nam cận sự xấu ác ấy đã giết con bê đó, lột da ra, rồi dâng cho vị tỳ-khưu xấu ác ấy. Khi ấy, vị tỳ-khưu xấu ác ấy lấy y tăng-già-lê che tấm da đó rồi ra đi. Khi ấy, con bò mẹ vì quyến luyến con đã đi theo sau lưng vị tỳ-khưu xấu ác ấy. Các vị tỳ-khưu hỏi rằng: “Này hiền hữu, vì sao con bò này lại đi theo sau lưng ngài?” “Này các hiền hữu, tôi cũng không biết vì sao con bò này lại đi theo sau lưng tôi.” Vào lúc bấy giờ, y tăng-già-lê của vị tỳ-khưu xấu ác ấy bị dính máu. Các vị tỳ-khưu hỏi rằng: “Này hiền hữu, y tăng-già-lê của ngài bị làm sao vậy?” Khi ấy, vị tỳ-khưu xấu ác ấy đã kể lại sự việc ấy cho các vị tỳ-khưu. “Này hiền hữu, có phải ngài đã xúi giục việc sát sanh không?” “Thưa các hiền hữu, đúng vậy.” Các vị tỳ-khưu thiểu dục đã chê trách, khiển trách, phàn nàn rằng: “Làm sao một vị tỳ-khưu lại có thể xúi giục việc sát sanh? Chẳng phải Đức Thế Tôn đã quở trách việc sát sanh bằng nhiều phương tiện, đã tán thán việc từ bỏ sát sanh hay sao?” Khi ấy, các vị tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā taṁ pāpabhikkhuṁ paṭipucchi—“saccaṁ kira tvaṁ, bhikkhu, pāṇātipāte samādapesī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti …pe…
kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, pāṇātipāte samādapessasi, nanu mayā, moghapurisa, anekapariyāyena pāṇātipāto garahito, pāṇātipātā veramaṇī pasatthā. Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, pāṇātipāte samādapetabbaṁ. Yo samādapeyya, yathādhammo kāretabbo.
Na, bhikkhave, gocammaṁ dhāretabbaṁ. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa.
Na ca, bhikkhave, kiñci cammaṁ dhāretabbaṁ. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned that bad monk: “Is it true, monk, that you encouraged someone to kill?”
“It’s true, sir.” …
“Foolish man, how can you encourage someone to kill? Haven’t I in many ways criticized killing and praised abstention from killing? This will affect people’s confidence …” After rebuking him, the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t make others kill. If you do, you should be dealt with according to the rule.
And you shouldn’t use cattle hide. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
And you shouldn’t use any kind of skin. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Khi ấy, Đức Thế Tôn nhân sự việc này, trong trường hợp này, đã cho triệu tập Tăng chúng, rồi hỏi vị tỳ-khưu xấu ác ấy: “Này tỳ-khưu, có thật là ngươi đã xúi giục việc sát sanh không?” “Bạch Đức Thế Tôn, là thật.” ... (Ngài quở trách:) “Này kẻ ngu si kia, làm sao ngươi lại có thể xúi giục việc sát sanh? Này kẻ ngu si kia, chẳng phải Ta đã quở trách việc sát sanh bằng nhiều phương tiện, đã tán thán việc từ bỏ sát sanh hay sao? Này kẻ ngu si kia, việc này không đem lại niềm tin cho những người chưa có niềm tin...” ... Sau khi quở trách và thuyết một bài pháp, Ngài đã bảo các vị tỳ-khưu: “Này các tỳ-khưu, không được xúi giục việc sát sanh. Vị nào xúi giục, phải được xử lý theo đúng pháp. Này các tỳ-khưu, không được sử dụng da bò. Vị nào sử dụng, phạm tội tác ác (dukkaṭa). Và này các tỳ-khưu, không được sử dụng bất cứ loại da nào. Vị nào sử dụng, phạm tội tác ác (dukkaṭa).”
10. Gihivikatānuññātādi
10. The allowance regarding the belongings of a householder, etc.
156. Sự cho phép các vật dụng của người tại gia, v.v.
Tena kho pana samayena manussānaṁ mañcampi pīṭhampi cammonaddhāni honti, cammavinaddhāni. Bhikkhū kukkuccāyantā nābhinisīdanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gihivikataṁ abhinisīdituṁ, na tveva abhinipajjitun”ti.
At that time people’s beds and benches were upholstered and covered with skin. Being afraid of wrongdoing, the monks did not sit on them.
“I allow you to sit down on what belongs to a householder, but not to lie down on it.”
256. Vào lúc bấy giờ, giường và ghế của người đời được bọc da, được viền da. Các vị tỳ-khưu do dự, không ngồi lên. Họ đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép ngồi lên vật dụng của người tại gia, nhưng không cho phép nằm lên.”
Tena kho pana samayena vihārā cammavaddhehi ogumphiyanti. Bhikkhū kukkuccāyantā nābhinisīdanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bandhanamattaṁ abhinisīditun”ti.
The dwellings were held together by straps of leather. Being afraid of wrongdoing, the monks did not sit down.
“I allow you to sit down against a mere binding made of skin.”
Vào lúc bấy giờ, các tu viện được buộc bằng dây da. Các vị tỳ-khưu do dự, không ngồi (tựa vào). Họ đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép ngồi (tựa vào) chỗ chỉ dùng để buộc.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū saupāhanā gāmaṁ pavisanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, saupāhanena gāmo pavisitabbo. Yo paviseyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six entered the village wearing sandals. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“You shouldn’t enter the village wearing sandals. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ-khưu mang giày dép đi vào làng. Người đời chê trách, khiển trách, phàn nàn: “Giống như những người tại gia hưởng thụ dục lạc.” Họ đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, không được mang giày dép đi vào làng. Vị nào đi vào, phạm tội tác ác (dukkaṭa).”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gilāno hoti, na sakkoti vinā upāhanena gāmaṁ pavisituṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gilānena bhikkhunā saupāhanena gāmaṁ pavisitun”ti.
Soon afterwards a certain sick monk was unable to go to the village without sandals.
“I allow sick monks to enter the village wearing sandals.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ-khưu bị bệnh, không thể đi vào làng nếu không có giày dép. Họ đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép vị tỳ-khưu bị bệnh được mang giày dép đi vào làng.”
11. Soṇakuṭikaṇṇavatthu
11. The account of Soṇa Kuṭikaṇṇa
157. Câu chuyện về Soṇa Kuṭikaṇṇa.
Tena kho pana samayena āyasmā mahākaccāno avantīsu viharati kuraraghare papatake pabbate. Tena kho pana samayena soṇo upāsako kuṭikaṇṇo āyasmato mahākaccānassa upaṭṭhāko hoti.
Atha kho soṇo upāsako kuṭikaṇṇo yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākaccānaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho soṇo upāsako kuṭikaṇṇo āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etadavoca—“yathā yathāhaṁ, bhante, ayyena mahākaccānena dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Icchāmahaṁ, bhante, kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ. Pabbājetu maṁ, bhante, ayyo mahākaccāno”ti.
(…) “Dukkaraṁ kho, soṇa, yāvajīvaṁ ekaseyyaṁ ekabhattaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Iṅgha tvaṁ, soṇa, tattheva agārikabhūto buddhānaṁ sāsanaṁ anuyuñja, kālayuttaṁ ekaseyyaṁ ekabhattaṁ brahmacariyan”ti. Atha kho soṇassa upāsakassa kuṭikaṇṇassa yo ahosi pabbajjābhisaṅkhāro so paṭippassambhi.
Dutiyampi kho soṇo upāsako kuṭikaṇṇo …pe… tatiyampi kho soṇo upāsako kuṭikaṇṇo yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākaccānaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho soṇo upāsako kuṭikaṇṇo āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etadavoca—“yathā yathāhaṁ, bhante, ayyena mahākaccānena dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Icchāmahaṁ, bhante, kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ. Pabbājetu maṁ, bhante, ayyo mahākaccāno”ti. Atha kho āyasmā mahākaccāno soṇaṁ upāsakaṁ kuṭikaṇṇaṁ pabbājesi.
Tena kho pana samayena avantidakkhiṇāpatho appabhikkhuko hoti. Atha kho āyasmā mahākaccāno tiṇṇaṁ vassānaṁ accayena kicchena kasirena tato tato dasavaggaṁ bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā āyasmantaṁ soṇaṁ upasampādesi.
At one time Venerable Mahākaccāna was staying in Avantī on Papataka Hill at Kuraraghara. At that time the lay follower Soṇa Kuṭikaṇṇa was his supporter.
On one occasion Soṇa went to Mahākaccāna, bowed, sat down, and said, “Venerable, the way I understand your teaching, it’s not easy for one who lives at home to lead the spiritual life perfectly complete and pure as a polished conch shell. I wish to cut off my hair and beard, put on the ocher robes, and go forth into homelessness. Please give me the going forth.”
“It’s difficult, Soṇa, to live the spiritual life all one’s life, eating one meal a day and sleeping by oneself. So follow the Buddhas’ instruction while remaining as a householder. At suitable times you can eat one meal a day, sleep by yourself, and abstain from sexuality.” As a result, Soṇa’s intention to go forth died down.
A second time Soṇa asked Mahākaccāna for the going forth, but got the same response. A third time he asked for the going forth and Mahākaccāna finally relented.
At that time in the southern region of Avantī, there were few monks. Only after three years, with much trouble and difficulty, was Mahākaccāna able to gather a sangha of ten monks from here and there to give the full ordination to Venerable Soṇa.
257. Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Mahākaccāna đang trú ngụ ở xứ Avantī, tại thành Kuraraghara, trên ngọn núi Papataka. Vào lúc bấy giờ, có nam cư sĩ tên là Soṇa Kuṭikaṇṇa là người thị giả của trưởng lão Mahākaccāna. Khi ấy, nam cư sĩ Soṇa Kuṭikaṇṇa đi đến chỗ trưởng lão Mahākaccāna; sau khi đến, đã đảnh lễ trưởng lão Mahākaccāna rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, nam cư sĩ Soṇa Kuṭikaṇṇa đã bạch với trưởng lão Mahākaccāna điều này: – ‘Bạch ngài, theo như con hiểu được Giáo Pháp đã được ngài Mahākaccāna thuyết giảng, thì đối với người sống tại gia, thật không dễ dàng để thực hành phạm hạnh này một cách trọn vẹn, hoàn toàn thanh tịnh, giống như vỏ ốc được đánh bóng. Bạch ngài, con có ước muốn, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp các y màu cà-sa, được xuất gia từ đời sống gia đình, sống không gia đình. Bạch ngài, mong ngài Mahākaccāna hãy cho con được xuất gia.’ – ‘Này Soṇa, thật khó khăn để trọn đời thực hành phạm hạnh với việc ngủ một mình, ăn một bữa. Này Soṇa, thôi thì ngươi hãy ở ngay tại đó, là người tại gia, hãy nỗ lực trong giáo huấn của các vị Phật, hãy thực hành phạm hạnh với việc ngủ một mình, ăn một bữa vào thời điểm thích hợp.’ Bấy giờ, ý định xuất gia đã có nơi nam cư sĩ Soṇa Kuṭikaṇṇa liền được lắng dịu. Lần thứ nhì, nam cư sĩ Soṇa Kuṭikaṇṇa ... Lần thứ ba, nam cư sĩ Soṇa Kuṭikaṇṇa đi đến chỗ trưởng lão Mahākaccāna; sau khi đến, đã đảnh lễ trưởng lão Mahākaccāna rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, nam cư sĩ Soṇa Kuṭikaṇṇa đã bạch với trưởng lão Mahākaccāna điều này: – ‘Bạch ngài, theo như con hiểu được Giáo Pháp đã được ngài Mahākaccāna thuyết giảng, thì đối với người sống tại gia, thật không dễ dàng để thực hành phạm hạnh này một cách trọn vẹn, hoàn toàn thanh tịnh, giống như vỏ ốc được đánh bóng. Bạch ngài, con có ước muốn, sau khi cạo bỏ râu tóc, đắp các y màu cà-sa, được xuất gia từ đời sống gia đình, sống không gia đình. Bạch ngài, mong ngài Mahākaccāna hãy cho con được xuất gia.’ Khi ấy, trưởng lão Mahākaccāna đã cho nam cư sĩ Soṇa Kuṭikaṇṇa được xuất gia. Vào lúc bấy giờ, xứ Avantidakkhiṇāpatha có ít tỳ khưu. Khi ấy, sau ba năm, trưởng lão Mahākaccāna đã khó khăn, vất vả triệu tập được một Tăng chúng gồm mười vị từ các nơi, rồi đã làm lễ cụ túc cho trưởng lão Soṇa.
12. Mahākaccānassapañcavaraparidassana
12. The making known of the five favors for Mahākaccāna
158. Sự trình bày về năm điều đặc ân của ngài Mahākaccāna
Atha kho āyasmato soṇassa vassaṁvuṭṭhassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—“sutoyeva kho me so bhagavā ediso ca ediso cāti, na ca mayā sammukhā diṭṭho, gaccheyyāhaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya arahantaṁ sammāsambuddhaṁ, sace maṁ upajjhāyo anujāneyyā”ti.
Atha kho āyasmā soṇo sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākaccānaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā soṇo āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etadavoca—“idha mayhaṁ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—‘sutoyeva kho me so bhagavā ediso ca ediso cāti, na ca mayā sammukhā diṭṭho, gaccheyyāhaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya arahantaṁ sammāsambuddhaṁ, sace maṁ upajjhāyo anujāneyyā’ti; gaccheyyāhaṁ, bhante, taṁ bhagavantaṁ dassanāya arahantaṁ sammāsambuddhaṁ, sace maṁ upajjhāyo anujānātī”ti. “Sādhu sādhu, soṇa. Gaccha tvaṁ, soṇa, taṁ bhagavantaṁ dassanāya arahantaṁ sammāsambuddhaṁ. Dakkhissasi tvaṁ, soṇa, taṁ bhagavantaṁ pāsādikaṁ pasādanīyaṁ santindriyaṁ santamānasaṁ uttamadamathasamathaṁ anuppattaṁ dantaṁ guttaṁ yatindriyaṁ nāgaṁ. Tena hi tvaṁ, soṇa, mama vacanena bhagavato pāde sirasā vanda—‘upajjhāyo me, bhante, āyasmā mahākaccāno bhagavato pāde sirasā vandatī’ti. Evañca vadehi—
‘avantidakkhiṇāpatho, bhante, appabhikkhuko, tiṇṇaṁ me vassānaṁ accayena kicchena kasirena tato tato dasavaggaṁ bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā upasampadaṁ alatthaṁ; appeva nāma bhagavā avantidakkhiṇāpathe appatarena gaṇena upasampadaṁ anujāneyya.
Avantidakkhiṇāpathe, bhante, kaṇhuttarā bhūmi kharā gokaṇṭakahatā; appeva nāma bhagavā avantidakkhiṇāpathe guṇaṅguṇūpāhanaṁ anujāneyya.
Avantidakkhiṇāpathe, bhante, nahānagarukā manussā udakasuddhikā; appeva nāma bhagavā avantidakkhiṇāpathe dhuvanahānaṁ anujāneyya.
Avantidakkhiṇāpathe, bhante, cammāni attharaṇāni, eḷakacammaṁ ajacammaṁ migacammaṁ. Seyyathāpi, bhante, majjhimesu janapadesu eragū moragū majjārū jantū; evameva kho, bhante, avantidakkhiṇāpathe cammāni attharaṇāni, eḷakacammaṁ ajacammaṁ migacammaṁ; appeva nāma bhagavā avantidakkhiṇāpathe cammāni attharaṇāni anujāneyya, eḷakacammaṁ ajacammaṁ migacammaṁ.
Etarahi, bhante, manussā nissīmagatānaṁ bhikkhūnaṁ cīvaraṁ denti—“imaṁ cīvaraṁ itthannāmassa demā”ti. Te āgantvā ārocenti—“itthannāmehi te, āvuso, manussehi cīvaraṁ dinnan”ti te kukkuccāyantā na sādiyanti—“mā no nissaggiyaṁ ahosī”ti; appeva nāma bhagavā cīvare pariyāyaṁ ācikkheyyā’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti
kho āyasmā soṇo āyasmato mahākaccānassa paṭissutvā uṭṭhāyāsanā āyasmantaṁ mahākaccānaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya yena sāvatthi tena pakkāmi. Anupubbena yena sāvatthi jetavanaṁ anāthapiṇḍikassa ārāmo yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi—“imassa, ānanda, āgantukassa bhikkhuno senāsanaṁ paññāpehī”ti. Atha kho āyasmā ānando—“yassa kho maṁ bhagavā āṇāpeti, ‘imassa, ānanda, āgantukassa bhikkhuno senāsanaṁ paññāpehī’ti, icchati bhagavā tena bhikkhunā saddhiṁ ekavihāre vatthuṁ, icchati bhagavā āyasmatā soṇena saddhiṁ ekavihāre vatthun”ti—yasmiṁ vihāre bhagavā viharati tasmiṁ vihāre āyasmato soṇassa senāsanaṁ paññāpesi.
After completing the rainy-season residence, Soṇa was reflecting in private: “I’ve heard that the Buddha is like this and like that, but I haven’t seen this for myself. If my preceptor allows me, I shall go and visit the Buddha, the Perfected One, the fully Awakened One.”
Coming out from seclusion, Soṇa went to Mahākaccāna, bowed, sat down, and told him what he had thought. Mahākaccāna said, “Well thought, Soṇa! Please go and visit the Buddha, the Perfected and fully Awakened One. You will see someone who is pleasing to the eye and inspiring confidence; who is peaceful in mind and faculties; who is attained to the supreme subduing and calm; who is tamed, guarded, and restrained in his senses—a great being. Then, Soṇa, in my name, pay respect with your head at the Buddha’s feet and say, ‘Sir, my preceptor, Venerable Mahākaccāna, pays respect with his head at the Buddha’s feet.’ And then say this:
‘In the southern region of Avantī, sir, there are few monks. Only after three years, with much trouble and difficulty, was it possible to gather a sangha of ten monks from here and there to give me the full ordination. Would the Buddha allow a smaller group of monks to give the full ordination in Avantī?
In Avantī the ground is dark and hard, made rough by the hooves of cattle. Would the Buddha allow sandals with multi-layered soles in Avantī?
In Avantī people value bathing and cleanliness. Would the Buddha allow unrestricted bathing in Avantī?
In Avantī sheepskins, goatskins, and deerskins are used as rugs, just as <i lang='pi' translate='no'>eragu</i> grass, chaff-flower grass, <i lang='pi' translate='no'>majjāru</i> grass, and <i lang='pi' translate='no'>jantu</i> grass are used in the central Ganges plain. Would the Buddha allow sheepskins, goatskins, and deerskins as rugs in Avantī?
At present people give robe-cloth to monks who are outside the monastery zone, saying, “We give this robe-cloth to so-and-so.” When those monks return to the monastery, they are told, “Such-and-such people have given you robe-cloth.” But being afraid of wrongdoing, they don’t accept, thinking, “We might commit an offense entailing relinquishment.” Would the Buddha point out a way to deal with robe-cloth?’”
Soṇa replied, “Yes, sir.”
He got up from his seat, bowed down, and circumambulated Mahākāccāna with his right side toward him. He then put his dwelling in order, took his bowl and robe, and set out for Sāvatthī. When he eventually arrived, he went to the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery where he approached the Buddha, bowed, and sat down.
The Buddha said to Venerable Ānanda, “Ānanda, please prepare a resting place for this newly-arrived monk.” Ānanda thought, “When the Buddha says this, it means he wishes to stay in the same dwelling as Venerable Soṇa.” And he prepared a resting place for Soṇa in the Buddha’s dwelling.
Khi ấy, sau khi đã an cư mùa mưa, trong lúc độc cư tại nơi thanh vắng, Tôn giả Soṇa khởi lên tâm niệm như sau: ‘Quả thật, ta chỉ mới được nghe về đức Thế Tôn rằng Ngài là như thế này, như thế nọ, chứ ta chưa từng được diện kiến Ngài. Nếu thầy Tế độ cho phép, ta sẽ đi đến để yết kiến đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy.’ Thế rồi, vào buổi chiều, Tôn giả Soṇa ra khỏi nơi độc cư, đi đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Tôn giả Mahākaccāna rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Soṇa bạch với Tôn giả Mahākaccāna điều này: ‘Bạch ngài, ở đây, trong lúc độc cư tại nơi thanh vắng, con đã khởi lên tâm niệm như sau: ‘Quả thật, ta chỉ mới được nghe về đức Thế Tôn rằng Ngài là như thế này, như thế nọ, chứ ta chưa từng được diện kiến Ngài. Nếu thầy Tế độ cho phép, ta sẽ đi đến để yết kiến đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy.’ Bạch ngài, con muốn đi đến để yết kiến đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy, nếu thầy Tế độ cho phép con.’ ‘Lành thay, lành thay, này Soṇa. Này Soṇa, thầy hãy đi yết kiến đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy. Này Soṇa, thầy sẽ được thấy đức Thế Tôn, bậc khả ái, đáng kính, các căn tịch tịnh, tâm ý vắng lặng, đã đạt đến sự điều phục và an tịnh tối thượng, đã được chế ngự, được hộ trì, các căn được kiểm soát, bậc Long Tượng. Vậy thì, này Soṇa, thầy hãy nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn và thưa rằng: ‘Bạch đức Thế Tôn, thầy Tế độ của con là Tôn giả Mahākaccāna xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn.’ Và hãy bạch thêm như sau: ‘Bạch đức Thế Tôn, xứ Avantī ở phương nam có ít tỳ-khưu. Sau ba năm, con đã phải khó khăn, vất vả triệu tập Tăng chúng đủ túc số mười vị từ nhiều nơi khác nhau mới được thọ cụ túc giới. Mong sao đức Thế Tôn cho phép việc thọ cụ túc giới ở xứ Avantī ở phương nam với một nhóm tỳ-khưu ít hơn. Bạch đức Thế Tôn, ở xứ Avantī ở phương nam, đất có lớp trên màu đen, gồ ghề, lởm chởm dấu chân bò. Mong sao đức Thế Tôn cho phép dùng loại giày dép nhiều lớp ở xứ Avantī ở phương nam. Bạch đức Thế Tôn, ở xứ Avantī ở phương nam, người dân rất chú trọng việc tắm rửa và tin vào sự thanh tịnh nhờ nước. Mong sao đức Thế Tôn cho phép việc tắm rửa thường xuyên ở xứ Avantī ở phương nam. Bạch đức Thế Tôn, ở xứ Avantī ở phương nam, các loại da thú được dùng làm vật trải lót, đó là da cừu, da dê, da nai. Bạch đức Thế Tôn, ví như ở các xứ trung ương có các loại cỏ eragū, moragū, majjārū, jantū, thì cũng vậy, bạch đức Thế Tôn, ở xứ Avantī ở phương nam, các loại da thú được dùng làm vật trải lót, đó là da cừu, da dê, da nai. Mong sao đức Thế Tôn cho phép dùng các vật trải lót bằng da thú ở xứ Avantī ở phương nam, đó là da cừu, da dê, da nai. Bạch đức Thế Tôn, hiện nay, người dân dâng cúng y cho các vị tỳ-khưu đã đi ra ngoài ranh giới và nói rằng: ‘Chúng con xin dâng y này đến vị có tên là như vậy.’ Các vị tỳ-khưu kia sau khi trở về liền báo lại: ‘Thưa hiền hữu, những người kia đã dâng y cho hiền hữu.’ Các vị ấy áy náy, không nhận, nghĩ rằng: ‘Mong rằng chúng ta không bị phạm tội xả.’ Mong sao đức Thế Tôn chỉ dạy một phương cách về vấn đề y phục này.’ ‘Vâng, thưa ngài.’ Tôn giả Soṇa sau khi vâng lời Tôn giả Mahākaccāna, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Mahākaccāna, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải, rồi dọn dẹp chỗ ở, lấy y bát và lên đường đi đến thành Sāvatthī. Sau khi tuần tự đi đến thành Sāvatthī, tu viện Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika, vị ấy đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi ấy, đức Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda và bảo: ‘Này Ānanda, hãy sửa soạn chỗ ở cho vị tỳ-khưu khách này.’ Khi ấy, Tôn giả Ānanda nghĩ rằng: ‘Đức Thế Tôn đã ra lệnh cho ta: ‘Này Ānanda, hãy sửa soạn chỗ ở cho vị tỳ-khưu khách này,’ hẳn là đức Thế Tôn muốn ở cùng một trú xứ với vị tỳ-khưu ấy, hẳn là đức Thế Tôn muốn ở cùng một trú xứ với Tôn giả Soṇa.’ Vì vậy, Tôn giả đã sửa soạn chỗ ở cho Tôn giả Soṇa ngay tại trú xứ mà đức Thế Tôn đang ở.
Atha kho bhagavā bahudeva rattiṁ ajjhokāse vītināmetvā vihāraṁ pāvisi. Āyasmāpi kho soṇo bahudeva rattiṁ ajjhokāse vītināmetvā vihāraṁ pāvisi. Atha kho bhagavā rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya āyasmantaṁ soṇaṁ ajjhesi—“paṭibhātu taṁ, bhikkhu, dhammo bhāsitun”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā soṇo bhagavato paṭissuṇitvā sabbāneva aṭṭhakavaggikāni sarena abhāsi.
Atha kho bhagavā āyasmato soṇassa sarabhaññapariyosāne abbhānumodi—“sādhu sādhu, bhikkhu. Suggahitāni kho te, bhikkhu, aṭṭhakavaggikāni, sumanasikatāni sūpadhāritāni. Kalyāṇiyāpi vācāya samannāgato, vissaṭṭhāya, anelagalāya, atthassa viññāpaniyā. Kativassosi tvaṁ, bhikkhū”ti?
“Ekavassohaṁ, bhagavā”ti.
“Kissa pana tvaṁ, bhikkhu, evaṁ ciraṁ akāsī”ti?
“Ciraṁ diṭṭho me, bhante, kāmesu ādīnavo, api ca sambādhā gharāvāsā bahukiccā bahukaraṇīyā”ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi—
Then, after spending much of the night outside, the Buddha entered the dwelling, as did Soṇa. Rising early in the morning, the Buddha said to Soṇa, “Recite a teaching, monk.”
Saying, “Yes, sir,” he chanted the entire Chapter of Eights.
When he was finished, the Buddha said, “Well done, Soṇa, well done. You have learned the Chapter of Eights well. You have remembered it well. And you have a good voice—it’s clear, articulate, and gets the meaning across. How long have you been a monk?”
“One year, sir.”
“But why did it take you so long to go forth?”
“Well, I have long seen the downside of worldly pleasures. Still, because household life is crowded and busy, I was not able to leave.”
Seeing the significance of this, the Buddha uttered a heartfelt exclamation:
258. Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi trải qua phần lớn đêm ở ngoài trời, đã đi vào tịnh xá. Tôn giả Soṇa cũng vậy, sau khi trải qua phần lớn đêm ở ngoài trời, đã đi vào tịnh xá. Rồi đức Thế Tôn, vào lúc rạng đông, sau khi thức dậy đã khuyến thỉnh Tôn giả Soṇa: “Này tỳ khưu, hãy để Pháp được tuyên đọc hiện lên trong tâm ngươi.” “Xin vâng, bạch Thế Tôn.” Tôn giả Soṇa đã vâng lời đức Thế Tôn rồi đọc tụng tất cả các bài kinh trong Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) với giọng điệu du dương. Bấy giờ, sau khi Tôn giả Soṇa đọc tụng xong, đức Thế Tôn đã tán thán: “Lành thay, lành thay, này tỳ khưu! Này tỳ khưu, các bài kinh trong Phẩm Tám đã được ngươi học thuộc lòng rất tốt, đã được tác ý rất tốt, đã được ghi nhớ rất tốt. Ngươi lại có giọng nói tốt đẹp, rõ ràng, không ngọng nghịu, làm cho ý nghĩa được sáng tỏ. Này tỳ khưu, ngươi được bao nhiêu tuổi hạ?” “Bạch Thế Tôn, con được một tuổi hạ.” “Này tỳ khưu, tại sao ngươi lại làm trễ như vậy?” “Bạch Thế Tôn, từ lâu con đã thấy sự nguy hại trong các dục vọng, nhưng đời sống tại gia thì chật hẹp, nhiều công việc, nhiều phận sự.” Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi biết được ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Disvā ādīnavaṁ loke, ñatvā dhammaṁ nirūpadhiṁ; Ariyo na ramatī pāpe, pāpe na ramatī sucī”ti.
“Having seen the downside of the world, Knowing the Truth beyond ownership, The noble one doesn’t delight in the bad; In the bad, the pure one doesn’t delight.”
“Thấy sự nguy hại ở đời, biết được Pháp vô chấp thủ, bậc Thánh không ưa thích điều ác; người thanh tịnh không ưa thích điều ác.”
Atha kho āyasmā soṇo—“paṭisammodati kho maṁ bhagavā, ayaṁ khvassa kālo yaṁ me upajjhāyo paridassī”ti—uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavoca—“upajjhāyo me, bhante, āyasmā mahākaccāno bhagavato pāde sirasā vandati, evañca vadeti avantidakkhiṇāpatho, bhante, appabhikkhuko.
Tiṇṇaṁ me vassānaṁ accayena kicchena kasirena tato tato dasavaggaṁ bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā upasampadaṁ alatthaṁ, appeva nāma bhagavā avantidakkhiṇāpathe appatarena gaṇena upasampadaṁ anujāneyya. Avantidakkhiṇāpathe, bhante, kaṇhuttarā bhūmi kharā gokaṇṭakahatā; appeva nāma bhagavā avantidakkhiṇāpathe guṇaṅguṇūpāhanaṁ anujāneyya. Avantidakkhiṇāpathe, bhante, nahānagarukā manussā udakasuddhikā, appeva nāma bhagavā avantidakkhiṇāpathe dhuvanahānaṁ anujāneyya. Avantidakkhiṇāpathe, bhante, cammāni attharaṇāni, eḷakacammaṁ ajacammaṁ migacammaṁ. Seyyathāpi, bhante, majjhimesu janapadesu eragū moragū majjārū jantū; evameva kho, bhante, avantidakkhiṇāpathe cammāni attharaṇāni, eḷakacammaṁ ajacammaṁ migacammaṁ; appeva nāma bhagavā avantidakkhiṇāpathe cammāni attharaṇāni anujāneyya, eḷakacammaṁ ajacammaṁ migacammaṁ. Etarahi, bhante, manussā nissīmagatānaṁ bhikkhūnaṁ cīvaraṁ denti—‘imaṁ cīvaraṁ itthannāmassa demā’ti. Te āgantvā ārocenti—‘itthannāmehi te, āvuso, manussehi cīvaraṁ dinnan’ti. Te kukkuccāyantā na sādiyanti—‘mā no nissaggiyaṁ ahosī’ti; appeva nāma bhagavā cīvare pariyāyaṁ ācikkheyyā”ti.
Soṇa thought, “The Buddha approves of me! This is the time to bring up what my preceptor said.” He got up from his seat, arranged his upper robe over one shoulder, bowed down at the Buddha’s feet, and said, “Sir, my preceptor, Venerable Mahākaccāna, pays respect with his head at the Buddha’s feet.” He then repeated everything Mahākaccāna had asked him to say.
Bấy giờ, Tôn giả Soṇa (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã hoan hỷ với ta, đây chính là lúc để trình bày điều mà thầy tế độ của ta đã dặn dò.” Rồi Tôn giả đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đắp thượng y vắt qua một bên vai, đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn, và bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, thầy tế độ của con là Tôn giả Mahākaccāna cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn và có lời trình bạch như sau: ‘Bạch Thế Tôn, xứ Avanti phương nam có ít tỳ khưu. Sau ba năm, con đã phải khó khăn, vất vả mới triệu tập được Tăng chúng đủ mười vị từ nhiều nơi khác nhau để thực hiện lễ thọ cụ túc giới. Kính mong đức Thế Tôn cho phép thực hiện lễ thọ cụ túc giới với một nhóm ít hơn ở xứ Avanti phương nam. Bạch Thế Tôn, ở xứ Avanti phương nam, đất có lớp đất đen bên trên, gồ ghề, đầy dấu chân bò; kính mong đức Thế Tôn cho phép dùng giày nhiều lớp ở xứ Avanti phương nam. Bạch Thế Tôn, ở xứ Avanti phương nam, người ta xem trọng việc tắm rửa, cho rằng sự trong sạch là nhờ nước; kính mong đức Thế Tôn cho phép việc tắm rửa thường xuyên ở xứ Avanti phương nam. Bạch Thế Tôn, ở xứ Avanti phương nam, người ta dùng các loại da làm vật trải: da cừu, da dê, da nai. Bạch Thế Tôn, ví như ở các xứ trung ương có các loại chiếu eragū, moragū, majjārū, jantū, cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở xứ Avanti phương nam có các loại da làm vật trải: da cừu, da dê, da nai; kính mong đức Thế Tôn cho phép dùng các loại da làm vật trải ở xứ Avanti phương nam: da cừu, da dê, da nai. Bạch Thế Tôn, hiện nay, người ta cúng dường y cho các tỳ khưu đã đi ra ngoài giới trường, nói rằng: ‘Chúng con xin cúng dường y này đến vị có tên như vậy.’ Khi các vị ấy trở về, họ được báo lại: ‘Thưa hiền giả, những người có tên như vậy đã cúng dường y cho ngài.’ Các vị ấy do dự, không nhận, nghĩ rằng: ‘Mong rằng chúng ta không phạm tội xả đọa.’ Kính mong đức Thế Tôn chỉ dạy một phương cách (thích hợp) về y phục.’”
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“avantidakkhiṇāpatho, bhikkhave, appabhikkhuko. Anujānāmi, bhikkhave, sabbapaccantimesu janapadesu vinayadharapañcamena gaṇena upasampadaṁ.
Tatrime paccantimā janapadā—
- puratthimāya disāya gajaṅgalaṁ nāma nigamo, tassa parena mahāsālā, tato parā paccantimā janapadā, orato majjhe;
- puratthimadakkhiṇāya disāya sallavatī nāma nadī, tato parā paccantimā janapadā, orato majjhe;
- dakkhiṇāya disāya setakaṇṇikaṁ nāma nigamo, tato parā paccantimā janapadā, orato majjhe;
- pacchimāya disāya thūṇaṁ nāma brāhmaṇagāmo, tato parā paccantimā janapadā, orato majjhe;
- uttarāya disāya usīraddhajo nāma pabbato, tato parā paccantimā janapadā, orato majjhe.
Anujānāmi, bhikkhave, evarūpesu paccantimesu janapadesu vinayadharapañcamena gaṇena upasampadaṁ.
Avantidakkhiṇāpathe, bhikkhave, kaṇhuttarā bhūmi kharā gokaṇṭakahatā.
Anujānāmi, bhikkhave, sabbapaccantimesu janapadesu guṇaṅguṇūpāhanaṁ.
Avantidakkhiṇāpathe, bhikkhave, nahānagarukā manussā udakasuddhikā.
Anujānāmi, bhikkhave, sabbapaccantimesu janapadesu dhuvanahānaṁ.
Avantidakkhiṇāpathe, bhikkhave, cammāni attharaṇāni, eḷakacammaṁ ajacammaṁ migacammaṁ. Seyyathāpi, bhikkhave, majjhimesu janapadesu eragū moragū majjārū jantū; evameva kho, bhikkhave, avantidakkhiṇāpathe cammāni attharaṇāni, eḷakacammaṁ ajacammaṁ migacammaṁ.
Anujānāmi, bhikkhave, sabbapaccantimesu janapadesu cammāni attharaṇāni, eḷakacammaṁ ajacammaṁ migacammaṁ.
Idha pana, bhikkhave, manussā nissīmagatānaṁ bhikkhūnaṁ cīvaraṁ denti—‘imaṁ cīvaraṁ itthannāmassa demā’ti.
Anujānāmi, bhikkhave, sādituṁ, na tāva taṁ gaṇanūpagaṁ yāva na hatthaṁ gacchatī”ti.
Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“In the southern region of Avantī there are few monks. Outside the central Ganges plain, I allow the full ordination to be given by a group of five, including one expert on the Monastic Law.
In this regard, the following is outside the central Ganges plain:
- In the eastern direction there is a town called <i lang='pi' translate='no'>Gajaṅgala</i>, with another town called <i lang='pi' translate='no'>Mahāsālā</i> just after it. Beyond it is outside the central Ganges plain. On the near side of it is the central Ganges plain.
- In the south-eastern direction there is a river called <i lang='pi' translate='no'>Sallavatī</i>. Beyond it is outside the central Ganges plain. On the near side of it is the central Ganges plain.
- In the southern direction there is a town called <i lang='pi' translate='no'>Setakaṇṇika</i>. Beyond it is outside the central Ganges plain. On the near side of it is the central Ganges plain.
- In the western direction there is a brahmin village called <i lang='pi' translate='no'>Thūṇa</i>. Beyond it is outside the central Ganges plain. On the near side of it is the central Ganges plain.
- In the northern direction there is a mountain called <i lang='pi' translate='no'>Usīraddhaja</i>. Beyond it is outside the central Ganges plain. On the near side of it is the central Ganges plain.
In Avantī the ground is dark and hard, made rough by the hooves of cattle.
Outside the central Ganges plain, I allow sandals with multi-layered soles.
In Avantī people value bathing and cleanliness.
Outside the central Ganges plain, I allow unrestricted bathing.
In Avantī sheepskins, goatskins, and deerskins are used as rugs, just as <i lang='pi' translate='no'>eragu</i> grass, chaff-flower grass, <i lang='pi' translate='no'>majjāru</i> grass, and <i lang='pi' translate='no'>jantu</i> grass are used in the central Ganges plain.
Outside the central Ganges plain, I allow rugs of sheepskin, goatskin, and deerskin.
And it may be that people give robe-cloth to monks who are outside the monastery zone, saying, ‘We give this robe-cloth to so-and-so.’
I allow you to accept it and not start counting the days until you receive it in your hands.”
259. Bấy giờ, nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết pháp thoại đã gọi các vị tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, xứ Avanti-dakkhiṇāpatha có ít tỳ khưu. Ta cho phép lễ tu lên bậc trên với nhóm đủ năm vị có một vị thông thạo Luật là thứ năm ở tất cả các xứ biên địa. Ở đây, các xứ biên địa là những xứ này: Về phương đông, có thị trấn tên là Gajaṅgala; bên ngoài thị trấn ấy có cây sala lớn; bên ngoài nơi ấy là các xứ biên địa, bên trong là trung tâm. Về phương đông nam, có con sông tên là Sallavatī; bên ngoài con sông ấy là các xứ biên địa, bên trong là trung tâm. Về phương nam, có thị trấn tên là Setakaṇṇika; bên ngoài thị trấn ấy là các xứ biên địa, bên trong là trung tâm. Về phương tây, có làng Bà-la-môn tên là Thūṇa; bên ngoài làng ấy là các xứ biên địa, bên trong là trung tâm. Về phương bắc, có ngọn núi tên là Usīraddhaja; bên ngoài ngọn núi ấy là các xứ biên địa, bên trong là trung tâm. Này các tỳ khưu, Ta cho phép lễ tu lên bậc trên với nhóm đủ năm vị có một vị thông thạo Luật là thứ năm ở các xứ biên địa như thế. Này các tỳ khưu, ở xứ Avanti-dakkhiṇāpatha, đất có màu đen ở trên, gồ ghề, bị hư hại bởi dấu chân bò. Này các tỳ khưu, Ta cho phép loại giày dép có nhiều lớp ở tất cả các xứ biên địa. Này các tỳ khưu, ở xứ Avanti-dakkhiṇāpatha, người ta xem trọng việc tắm rửa, cho rằng trong sạch là nhờ nước. Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc tắm rửa thường xuyên ở tất cả các xứ biên địa. Này các tỳ khưu, ở xứ Avanti-dakkhiṇāpatha, có các vật trải làm bằng da: da cừu, da dê, da nai. Này các tỳ khưu, ví như ở các xứ trung tâm có các loại chiếu eragū, moragū, majjārū, jantū, cũng vậy, này các tỳ khưu, ở xứ Avanti-dakkhiṇāpatha có các vật trải làm bằng da: da cừu, da dê, da nai. Này các tỳ khưu, Ta cho phép các vật trải làm bằng da: da cừu, da dê, da nai ở tất cả các xứ biên địa. Hơn nữa, này các tỳ khưu, ở đây có những người dâng y cho các vị tỳ khưu đã đi ra ngoài ranh giới rằng: ‘Chúng con xin dâng y này đến vị có tên như thế.’ Này các tỳ khưu, Ta cho phép nhận lãnh, và y ấy chưa được kể là đã nhận cho đến khi chưa đến tay.
Cammakkhandhako pañcamo.
Tassuddānaṁ
The fifth chapter on skins is finished.
This is the summary:
Chương về Da, thứ năm.
Rājā ca māgadho soṇo, asītisahassissaro; Sāgato gijjhakūṭasmiṁ, bahuṁ dasseti uttariṁ.
“The king of Magadha and Soṇa, Eighty thousand chiefs; Sāgata on the Vulture Peak, Showed much that was super-human.
Vua xứ Māgadha, chúa tể của tám mươi ngàn (làng), và Soṇa; Sāgata ở tại Gijjhakūṭa, đã biểu diễn nhiều pháp thượng nhân.
Pabbajjāraddhabhijjiṁsu, vīṇaṁ ekapalāsikaṁ; Nīlā pītā lohitikā, mañjiṭṭhā kaṇhameva ca.
Going forth, energetic, they cracked, Lute, single-layered soles; Blue, yellow, red, Magenta, and just black.
Xuất gia, tinh tấn, chân bị nứt, đàn tỳ-bà, một lớp; màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu hồng sậm, và cả màu đen.
Mahāraṅgamahānāmā, vaddhikā ca paṭikkhipi; Khallakā puṭapāli ca, tūlatittirameṇḍajā.
Orange, beige, And he prohibited straps; Leather, and enclosing, covering, Cotton, partridge, ram, goat.
Nhuộm màu sặc sỡ, có tên gọi lớn, và có quai dép đã bị cấm; loại che gót, loại che mu bàn chân, loại nhồi bông gòn, loại lốm đốm như chim đa đa, loại sừng cừu.
Vicchikā moracitrā ca, sīhabyagghā ca dīpikā; Ajinuddā majjārī ca, kāḷaluvakaparikkhaṭā.
Scorpion, peacock, and various, Lion, and tiger, leopard; Deer, otter, and cat, Squirrel, bat, decorated.
Hình con bò cạp, hình lông công sặc sỡ, hình sư tử và cọp, và báo đốm; da nai và rái cá, da mèo, và được viền bằng da sóc đen và sóc bay.
Phalitupāhanā khilā, dhotakhāṇukhaṭakhaṭā; Tālaveḷutiṇaṁ ceva, muñjapabbajahintālā.
Cracked, sandals, corn, Washed, stumps, clacking; Palm, bamboo, and just grass, Reed, fish-tail palm.
Giày dép cho chân nứt, mụn chai, (chân) không rửa, gốc cây, tiếng lộc cộc; lá thốt nốt, tre, và cỏ, cỏ muñja, cỏ pabbaja, cây hintāla.
Kamalakambalasovaṇṇā, rūpikā maṇiveḷuriyā; Phalikā kaṁsakācā ca, tipusīsañca tambakā.
Grass, wool, gold, Silver, gems, beryl; Crystal, bronze, and glass, Tin, and lead, copper.
Cỏ kamala, len, vàng, bạc, ngọc, lưu ly; pha lê, đồng trắng, và thủy tinh, thiếc, và chì, và đồng đỏ.
Gāvī yānaṁ gilāno ca, purisāyuttasivikā; Sayanāni mahācammā, gocammehi ca pāpako.
Cow, vehicle, and sick, Pulled by men, palanquin; Beds, luxurious skins, And the bad one with a cattle hide.
Bò cái, xe cộ, và người bệnh, xe do người kéo, kiệu; các loại giường nằm, da lớn, và với da bò, và vị tỳ khưu xấu ác.
Gihīnaṁ cammavaddhehi, pavisanti gilāyano; Mahākaccāyano soṇo, sarena aṭṭhakavaggikaṁ.
Of householders, straps of leather, They enter, being sick; Mahākaccāyana, Soṇa, Chanted the Chapter of Eights.
Của người tại gia, với dây da, đi vào, người bệnh; Mahākaccāyana, Soṇa, đọc tụng phẩm Aṭṭhakavagga bằng giọng.
Upasampadaṁ pañcahi, guṇaṅguṇā dhuvasinā; Cammattharaṇānuññāsi, na tāva gaṇanūpagaṁ; Adāsi me vare pañca, soṇattherassa nāyakoti.
Full ordination through five, Multi-layered, unrestricted bathing; He allowed rugs made of skin, Not start the counting until; The leader did these five favors, For Soṇa, the senior monk.”
Tu lên bậc trên với năm vị, giày nhiều lớp, tắm thường xuyên; đã cho phép vật trải bằng da, chưa được tính đến; bậc Đạo Sư đã ban năm điều đặc ân cho trưởng lão Soṇa.
Imamhi khandhake vatthūni tesaṭṭhi.
In this chapter there are sixty-three topics.
Trong chương này có sáu mươi ba câu chuyện.
Cammakkhandhako niṭṭhito.
The chapter on skins is finished.
Chương về Da đã dứt.