- Theravāda Vinayapiṭaka
- Cūḷavagga
Bản dịch
Kd 21 — Chương liên quan năm trăm vị
21. Pañcasatikakkhandhaka
DUYÊN KHỞI CỦA VIỆC KẾT TẬP:
Inda-bh 1~1Khi ấy, đại đức Mahākassapa đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các sư đệ, vào lúc ấy ta đang thực hiện cuộc hành trình đường xa từ Pāvā đi Kusinārā cùng với đại chúng tỳ khưu có số lượng năm trăm vị tỳ khưu. Này các sư đệ, khi ấy ta đã rời đường lộ rồi ngồi xuống ở gốc cây nọ. Vào lúc bấy giờ, có đạo sĩ lõa thể nọ sau khi nhận được bông hoa Mandārava ở Kusinārā đang thực hiện cuộc hành trình đường xa đi Pāvā. Này các sư đệ, ta đã nhìn thấy vị đạo sĩ lõa thể ấy đang đi lại từ đàng xa, sau khi nhìn thấy ta đã nói với vị đạo sĩ lõa thể ấy điều này: ‘Này đạo hữu, đạo hữu có biết bậc Đạo Sư của chúng tôi không?’ ‘Ồ đạo hữu, đúng vậy, tôi có biết. Hôm nay Sa-môn Gotama đã Vô Dư Niết Bàn được bảy ngày rồi. Do đó, tôi mới có được bông hoa Mandārava này.’
Inda-bh 2~2Này các sư đệ, tại nơi ấy những tỳ khưu nào chưa đoạn tận ái dục, một số các vị đưa tay lên khóc than. Như thân cây bị đốn gãy, các vị ngã xuống lăn qua lăn lại (than rằng): “Đức Thế Tôn Vô Dư Niết Bàn quá sớm, đấng Thiện Thệ Vô Dư Niết Bàn quá sớm, bậc Hữu Nhãn biến mất ở thế gian quá sớm.” Còn những tỳ khưu nào có ái dục đã được đoạn tận, các vị ấy có niệm, có sự tỉnh giác thời chấp nhận: “Các Pháp hữu vi là vô thường, bởi vì điều ấy có thể xảy ra ở đây.” Này các sư đệ, khi ấy ta đã nói với các tỳ khưu điều này: “Này các sư đệ, thôi đi! Chớ có buồn rầu, chớ có than vãn nữa. Này các sư đệ, không phải điều ấy đã được đức Thế Tôn khuyến cáo là ngay với tất cả các vật thân yêu vừa ý đều có bản chất đa dạng, có bản chất không thật, có bản chất thay đổi? Này các sư đệ, bởi vì điều ấy có thể xảy ra ở đây, nghĩa là vật gì được sanh lên, tồn tại, rồi bị biến đổi thuận theo pháp thế gian, (nếu nghĩ rằng): ‘Mong sao vật ấy chớ có bị hư hoại,’ sự kiện này không thể có được!”
Inda-bh 3~3Này các sư đệ, vào lúc bấy giờ có vị xuất gia lúc đã già tên Subhadda đang ngồi trong tập thể ấy. Này các sư đệ, khi ấy vị xuất gia lúc đã già Subhadda đã nói với các tỳ khưu ấy điều này: “Này các vị, thôi đi! Chớ có buồn rầu, chớ có than vãn nữa. Chúng ta được hoàn toàn thoát khỏi vị đại Sa-môn ấy rồi. Và chúng ta đã bị làm khó khăn rằng: ‘Điều này được phép cho các ngươi, điều này không được phép cho các ngươi.’ Giờ đây, điều gì chúng ta thích chúng ta sẽ làm điều ấy, điều gì chúng ta không thích chúng ta sẽ không làm điều ấy.”
Này các sư đệ, vậy chúng ta hãy trùng tụng Pháp và Luật trước khi điều phi Pháp phát triển và Pháp bị bỏ quên, trước khi điều phi Luật phát triển và Luật bị bỏ quên, trước khi những kẻ nói về phi Pháp trở nên mạnh và những người nói về Pháp yếu đi, trước khi những kẻ nói về phi Luật trở nên mạnh và những người nói về Luật yếu đi.”
—“Thưa ngài, chính vì điều ấy xin vị trưởng lão hãy tuyển chọn các tỳ khưu.” Khi ấy, đại đức Mahākassapa đã tuyển chọn bốn trăm chín mươi chín vị A-la-hán. Các vị tỳ khưu đã nói với đại đức Mahākassapa điều này:—“Thưa ngài, vị đại đức Ānanda này tuy còn là bậc Hữu Học nhưng không thể nào bị chi phối bởi tham, bởi sân, bởi si mê, bởi sợ hãi. Và vị này thuộc lòng nhiều Pháp và Luật từ đức Thế Tôn. Thưa ngài, chính vì điều ấy xin vị trưởng lão hãy tuyển chọn luôn cả đại đức Ānanda.”
Inda-bh 4~4Khi ấy, đại đức Mahākassapa đã tuyển chọn luôn cả đại đức Ānanda. Sau đó, các vị tỳ khưu trưởng lão đã khởi ý điều này:—“Vậy chúng ta có thể trùng tụng Pháp và Luật ở nơi nào?” Khi ấy, các vị tỳ khưu trưởng lão đã khởi ý điều này: “Thành Rājagaha quả là có khu vực khất thực rộng lớn, có nhiều chỗ trú ngụ; hay là chúng ta nên trùng tụng Pháp và Luật trong khi an cư mùa mưa ở thành Rājagaha, các tỳ khưu khác không được đi đến an cư mùa mưa ở thành Rājagaha?” Sau đó, đại đức Mahākassapa đã thông báo đến hội chúng rằng:—“Này các sư đệ, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định năm trăm vị tỳ khưu này để trùng tụng Pháp và Luật trong khi an cư mùa mưa ở thành Rājagaha, ‘các tỳ khưu khác không được an cư mùa mưa ở thành Rājagaha.’ Đây là lời đề nghị.
Này các sư đệ, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định năm trăm vị tỳ khưu này để trùng tụng Pháp và Luật trong khi an cư mùa mưa ở thành Rājagaha, ‘các tỳ khưu khác không được an cư mùa mưa ở thành Rājagaha.’ Vị nào đồng ý việc chỉ định năm trăm vị tỳ khưu này để trùng tụng Pháp và Luật trong khi an cư mùa mưa ở thành Rājagaha, ‘các tỳ khưu khác không được an cư mùa mưa ở thành Rājagaha’ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Năm trăm vị tỳ khưu này đã được hội chúng chỉ định để trùng tụng Pháp và Luật trong khi an cư mùa mưa ở thành Rājagaha, ‘các tỳ khưu khác không được an cư mùa mưa ở thành Rājagaha.’ Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 5~5Sau đó, các tỳ khưu trưởng lão đã đi đến thành Rājagaha để trùng tụng Pháp và Luật. Khi ấy, các tỳ khưu trưởng lão đã bàn bạc điều này:—“Này các đại đức, việc sửa chữa chỗ bị hư hỏng đã được đức Thế Tôn khen ngợi. Này các đại đức, vậy vào tháng thứ nhất chúng ta hãy sửa chữa những nơi bị hư hỏng; vào tháng giữa, chúng ta sẽ tụ họp lại rồi trùng tụng Pháp và Luật.” Sau đó vào tháng thứ nhất, các tỳ khưu trưởng lão đã sửa chữa chỗ bị hư hỏng. Khi ấy, đại đức Ānanda (nghĩ rằng): “Ngày mai là đại hội, việc ta sẽ đi đến đại hội khi còn là bậc Hữu Học thật là không thích đáng cho ta!” rồi đã trải qua gần trọn đêm với niệm trú ở thân, và trong đêm vào lúc hừng sáng (mới khởi ý rằng): “Ta sẽ nằm xuống” rồi nghiêng thân hình. Và vào lúc đầu chưa chạm gối, hai chân vừa mới giở lên khỏi mặt đất, và trong khoảng thời gian ấy tâm đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ. Sau đó, đại đức Ānanda đã đi đến đại hội, trong khi (đã) là vị A-la-hán.
Inda-bh 6~6Khi ấy, đại đức Mahākassapa đã thông báo đến hội chúng rằng:—“Này các sư đệ, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ hỏi đại đức Upāli về Luật.” Đại đức Upāli cũng đã thông báo đến hội chúng rằng:—“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, khi được đại đức Mahākassapa hỏi về Luật tôi sẽ trả lời.” Khi ấy, đại đức Mahākassapa đã hỏi đại đức Upāli điều này:—“Này sư đệ Upāli, điều pārājika thứ nhất đã được quy định ở đâu?”—“Thưa ngài, ở Vesāli.”—“Liên quan đến ai?”—“Liên quan đến Sudinna con trai của Kalanda.”—“Về sự việc gì?”—“Về việc (thực hiện việc) đôi lứa.” Rồi đại đức Mahākassapa đã hỏi đại đức Upāli về câu chuyện, đã hỏi về nguyên do, đã hỏi về nhân sự, đã hỏi về sự quy định, đã hỏi về sự quy định thêm, đã hỏi về sự phạm tội, và đã hỏi về sự không phạm tội của điều pārājika thứ nhất.
Inda-bh 7~7—“Này sư đệ Upāli, điều pārājika thứ nhì đã được quy định ở đâu?”—“Thưa ngài, ở Rājagaha.”—“Liên quan đến ai?”—“Liên quan đến Dhaniya con trai người thợ đồ gốm.”—“Về sự việc gì?”—“Về việc lấy vật không được cho.” Rồi đại đức Mahākassapa đã hỏi đại đức Upāli về câu chuyện, đã hỏi về nguyên do, đã hỏi về nhân sự, đã hỏi về sự quy định, đã hỏi về sự quy định thêm, đã hỏi về sự phạm tội, và đã hỏi về sự không phạm tội của điều pārājika thứ nhì.
—“Này sư đệ Upāli, điều pārājika thứ ba đã được quy định ở đâu?”—“Thưa ngài, ở Vesāli.”—“Liên quan đến ai?”—“Liên quan đến nhiều vị tỳ khưu.”—“Về sự việc gì?”—“Về việc tước đoạt mạng người.” Rồi đại đức Mahākassapa đã hỏi đại đức Upāli về câu chuyện, đã hỏi về nguyên do, đã hỏi về nhân sự, đã hỏi về sự quy định, đã hỏi về sự quy định thêm, đã hỏi về sự phạm tội, và đã hỏi về sự không phạm tội của điều pārājika thứ ba.
—“Này sư đệ Upāli, điều pārājika thứ tư đã được quy định ở đâu?”—“Thưa ngài, ở Vesāli.”—“Liên quan đến ai?”—“Liên quan đến các tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā.”—“Về sự việc gì?”—“Về pháp thượng nhân.” Rồi đại đức Mahākassapa đã hỏi đại đức Upāli về câu chuyện, đã hỏi về nguyên do, đã hỏi về nhân sự, đã hỏi về sự quy định, đã hỏi về sự quy định thêm, đã hỏi về sự phạm tội, và đã hỏi về sự không phạm tội của điều pārājika thứ tư. Bằng chính phương thức ấy, (đại đức Mahākassapa) đã hỏi về phần Luật Phân Tích của cả hai phái (tỳ khưu và tỳ khưu ni). Mỗi khi được hỏi, đại đức Upāli đã trả lời.
Inda-bh 8~8Sau đó, đại đức Mahākassapa đã thông báo đến hội chúng rằng:—“Này các sư đệ, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ hỏi Ānanda về Pháp.” Khi ấy, đại đức Ānanda đã thông báo đến hội chúng rằng:—“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, khi được đại đức Mahākassapa hỏi về Pháp tôi sẽ trả lời.” Rồi đại đức Mahākassapa đã hỏi đại đức Ānanda điều này:—“Này sư đệ Ānanda, kinh Brahmajāla (Phạm Võng) đã được thuyết ở đâu?”—“Thưa ngài, ở nhà nghỉ của vua tại Ambalaṭṭhikā, ở khoảng giữa Rājagaha và Nālanda.”—“Liên quan đến ai?”—“Đến du sĩ ngoại đạo Suppiya và thanh niên Brahmadatta.” Rồi đại đức Mahākassapa đã hỏi đại đức Ānanda về duyên khởi, đã hỏi về nhân sự của kinh Brahmajāla.
—“Này sư đệ Ānanda, kinh Sāmaññaphala (Sa-môn Quả) đã được thuyết ở đâu?”—“Thưa ngài, ở Rājagaha nơi vườn xoài của Jīvaka.”—“Với ai?”—“Với Ajātasattu con trai của Videhi.” Rồi đại đức Mahākassapa đã hỏi đại đức Ānanda về duyên khởi, đã hỏi về nhân sự của kinh Sāmaññaphala. Bằng chính phương thức ấy, (đại đức Mahākassapa) đã hỏi về năm bộ Kinh. Mỗi khi được hỏi, đại đức Ānanda đã trả lời.
GIẢNG VỀ CÁC ĐIỀU HỌC NHỎ NHẶT VÀ ÍT QUAN TRỌNG:
Inda-bh 9~9Sau đó, đại đức Ānanda đã nói với các tỳ khưu trưởng lão điều này:—“Thưa các ngài, vào thời điểm Vô Dư Niết Bàn đức Thế Tôn đã nói với tôi như vầy: ‘Này Ānanda, khi ta không còn, hội chúng nếu muốn có thể bỏ đi các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.’”—“Này sư đệ Ānanda, vậy ngươi có hỏi đức Thế Tôn: ‘Bạch ngài, vậy các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng là các điều nào?’ không?”—“Thưa các ngài, tôi đã không hỏi đức Thế Tôn: ‘Bạch ngài, vậy các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng là các điều nào?’”
Một số trưởng lão đã nói như vầy:—“Giữ lại bốn điều pārājika, các điều còn lại là các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.” Một số trưởng lão đã nói như vầy:—“Giữ lại bốn điều pārājika, giữ lại mười ba điều saṅghādisesa, các điều còn lại là các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.” Một số trưởng lão đã nói như vầy:—“Giữ lại bốn điều pārājika, giữ lại mười ba điều saṅghādisesa, giữ lại hai điều aniyata, các điều còn lại là các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.” Một số trưởng lão đã nói như vầy:—“Giữ lại bốn điều pārājika, giữ lại mười ba điều saṅghādisesa, giữ lại hai điều aniyata, giữ lại ba mươi điều nissaggiya pācittiya, các điều còn lại là các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.” Một số trưởng lão đã nói như vầy:—“Giữ lại bốn điều pārājika, giữ lại mười ba điều saṅghādisesa, giữ lại hai điều aniyata, giữ lại ba mươi điều nissaggiya pācittiya, giữ lại chín mươi hai điều pācittiya, các điều còn lại là các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.” Một số trưởng lão đã nói như vầy:—“Giữ lại bốn điều pārājika, giữ lại mười ba điều saṅghādisesa, giữ lại hai điều aniyata, giữ lại ba mươi điều nissaggiya pācittiya, giữ lại chín mươi hai điều pācittiya, giữ lại bốn điều pāṭidesanīya, các điều còn lại là các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.”
Inda-bh 10~10Khi ấy, đại đức Mahākassapa đã thông báo đến hội chúng rằng:—“Này các sư đệ, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Có các điều học của chúng ta có liên quan đến hàng tại gia và hàng tại gia cũng biết rằng: ‘Điều này là được phép đối với các Sa-môn Thích tử, điều này là không được phép.’ Nếu chúng ta bỏ đi các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng, sẽ có những người nói rằng: ‘Các điều học đã được Sa-môn Gotama quy định cho các đệ tử đến lúc người được hỏa táng. Khi nào bậc Đạo Sư của họ còn tồn tại khi ấy họ còn học tập các điều học. Bởi vì bậc Đạo Sư của họ đã Vô Dư Niết Bàn nên giờ đây họ không còn học tập các điều học nữa.’ Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng không nên quy định thêm điều chưa được quy định, không nên bỏ đi điều đã được quy định, nên thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định. Đây là lời đề nghị.
Này các sư đệ, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Có các điều học của chúng ta có liên quan đến hàng tại gia và hàng tại gia cũng biết rằng: ‘Điều này là được phép đối với các Sa-môn Thích tử, điều này là không được phép.’ Nếu chúng ta bỏ đi các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng, sẽ có những người nói rằng: ‘Các điều học đã được Sa-môn Gotama quy định cho các đệ tử đến lúc người được hỏa táng. Khi nào bậc Đạo Sư của họ còn tồn tại khi ấy họ còn học tập các điều học. Bởi vì bậc Đạo Sư của họ đã Vô Dư Niết Bàn nên giờ đây họ không còn học tập các điều học nữa.’ Hội chúng không quy định thêm điều chưa được quy định, không bỏ đi điều đã được quy định, thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định. Đại đức nào đồng ý việc không quy định thêm điều chưa được quy định, không bỏ đi điều đã được quy định, thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Hội chúng không quy định thêm điều chưa được quy định, không bỏ đi điều đã được quy định, thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 11~11Khi ấy, các tỳ khưu trưởng lão đã nói với đại đức Ānanda điều này:—“Này sư đệ Ānanda, đây là tội dukkaṭa cho ngươi về việc ngươi đã không hỏi đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch ngài, vậy các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng là các điều nào?’ Ngươi hãy trình báo tội dukkaṭa ấy.”
—“Thưa các ngài, vì không lưu ý nên tôi đã không hỏi đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch ngài, vậy các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng là các điều nào?’ Tôi không nhìn thấy tội dukkaṭa ấy, nhưng vì niềm tin đối với các đại đức tôi xin trình báo tội dukkaṭa ấy.”
—“Này sư đệ Ānanda, đây cũng là tội dukkaṭa cho ngươi về việc ngươi đạp lên y tắm mưa của đức Thế Tôn rồi may. Ngươi hãy trình báo tội dukkaṭa ấy.”
—“Thưa các ngài, không phải vì không kính trọng mà tôi đã đạp lên y tắm mưa của đức Thế Tôn rồi may. Tôi không nhìn thấy tội dukkaṭa ấy, nhưng vì niềm tin đối với các đại đức tôi xin trình báo tội dukkaṭa ấy.”
—“Này sư đệ Ānanda, đây cũng là tội dukkaṭa cho ngươi về việc ngươi cho phép phụ nữ đảnh lễ nhục thân của đức Thế Tôn trước tiên; trong khi họ khóc lóc nhục thân của đức Thế Tôn đã bị lấm lem bởi nước mắt. Ngươi hãy trình báo tội dukkaṭa ấy.”
—“Thưa các ngài, (nghĩ rằng): ‘Những người nữ này không nên ở lại vào ban đêm,’ nên tôi đã cho phép phụ nữ đảnh lễ nhục thân của đức Thế Tôn trước tiên. Tôi không nhìn thấy tội dukkaṭa ấy, nhưng vì niềm tin đối với các đại đức tôi xin trình báo tội dukkaṭa ấy.”
—“Này sư đệ Ānanda, đây cũng là tội dukkaṭa cho ngươi về việc trong khi được ra dấu hiệu rõ ràng, trong khi được làm biểu hiện rõ rệt bởi đức Thế Tôn, ngươi đã không cầu khẩn đức Thế Tôn rằng: ‘Xin đức Thế Tôn hãy tồn tại trọn kiếp, xin đấng Thiện Thệ hãy tồn tại trọn kiếp vì sự lợi ích cho nhiều người, vì sự an lạc cho nhiều người, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tấn hoá, vì sự lợi ích, vì sự an lạc của chư Thiên và nhân loại.’ Ngươi hãy trình báo tội dukkaṭa ấy.”
—“Thưa các ngài, vì tâm đã bị Ma Vương ám ảnh nên tôi đã không cầu khẩn đức Thế Tôn rằng: ‘Xin đức Thế Tôn hãy tồn tại trọn kiếp, xin đấng Thiện Thệ Tôn hãy tồn tại trọn kiếp vì sự lợi ích cho nhiều người, vì sự an lạc cho nhiều người, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tấn hoá, vì sự lợi ích, vì sự an lạc của chư Thiên và nhân loại.’ Tôi không nhìn thấy tội dukkaṭa ấy, nhưng vì niềm tin đối với các đại đức tôi xin trình báo tội dukkaṭa ấy.”
—“Này sư đệ Ānanda, đây cũng là tội dukkaṭa cho ngươi về việc ngươi đã nỗ lực cho sự xuất gia của phụ nữ trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố. Ngươi hãy trình báo tội dukkaṭa ấy.”
—“Thưa các ngài, (nghĩ rằng): ‘Bà Mahāpajāpatī Gotamī này là dì ruột của đức Thế Tôn, là người chăm sóc, là người nuôi dưỡng, là người cho sữa, khi người mẹ ruột qua đời bà đã cho đức Thế Tôn bú sữa’ nên tôi đã nỗ lực cho sự xuất gia của phụ nữ trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố. Tôi không nhìn thấy tội dukkaṭa ấy, nhưng vì niềm tin đối với các đại đức tôi xin trình báo tội dukkaṭa ấy.”
Inda-bh 12~12Vào lúc bấy giờ, đại đức Purāṇa đi du hành ở Dakkhiṇāgiri cùng với đại chúng tỳ khưu có số lượng năm trăm vị tỳ khưu. Khi ấy, trong lúc Pháp và Luật đang được trùng tụng bởi các tỳ khưu trưởng lão, đại đức Purāṇa sau khi trú ở Dakkhiṇāgiri theo như ý thích đã đi đến thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc, chỗ các tỳ khưu trưởng lão, sau khi đến đã thân thiện chào hỏi các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống một bên. Khi đại đức Purāṇa đã ngồi xuống một bên, các tỳ khưu trưởng lão đã nói với đại đức Purāṇa điều này:—“Này đại đức Purāṇa, Pháp và Luật đã được trùng tụng bởi các vị trưởng lão. Ngươi hãy hành theo sự trùng tụng ấy.”—“Này các đại đức, Pháp và Luật đã được các vị trưởng lão trùng tụng một cách tốt đẹp. Tuy nhiên, tôi chỉ ghi nhận chính những gì tôi đã được nghe từ miệng và đã được thọ lãnh từ miệng của đức Thế Tôn thôi.”
GIẢNG VỀ HÌNH PHẠT PHẠM THIÊN:
Inda-bh 13~13Sau đó, đại đức Ānanda đã nói với các vị tỳ khưu trưởng lão điều này:—“Thưa các ngài, vào thời điểm Vô Dư Niết Bàn đức Thế Tôn đã nói với tôi như vầy: ‘Này Ānanda, chính vì điều ấy khi ta không còn, hội chúng hãy áp đặt hình phạt Phạm Thiên đối với tỳ khưu Channa.’”—“Này sư đệ Ānanda, vậy ngươi có hỏi đức Thế Tôn: ‘Bạch ngài, vậy hình phạt Phạm Thiên là như thế nào’ không?”—“Thưa các ngài, quả tôi đã hỏi đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch ngài, vậy hình phạt Phạm Thiên là như thế nào?’ ‘Này Ānanda, tỳ khưu Channa muốn điều gì thì có thể nói điều ấy, còn các tỳ khưu không được nói chuyện, không được nhắc nhở, không được chỉ dạy tỳ khưu Channa.’”—“Này sư đệ Ānanda, chính vì điều ấy chính sư đệ hãy áp đặt hình phạt Phạm Thiên đối với tỳ khưu Channa.”
—“Thưa các ngài, làm thế nào tôi áp đặt hình phạt Phạm Thiên đối với tỳ khưu Channa được? Vị tỳ khưu ấy dữ tợn và thô lỗ.”—“Này sư đệ Ānanda, chính vì điều ấy ngươi hãy đi cùng với nhiều vị tỳ khưu.”—“Thưa các ngài, xin vâng.” Rồi đại đức Ānanda ngheo theo các tỳ khưu trưởng lão đã cùng với đại chúng tỳ khưu có số lượng năm trăm vị tỳ khưu đáp thuyền ngược giòng nước đi Kosambi. Sau khi rời thuyền, đại đức Ānanda đã ngồi xuống ở gốc cây nọ không xa vườn thượng uyển của đức vua Udena.
Inda-bh 14~14Vào lúc bấy giờ, đức vua Udena đi dạo quanh tại công viên cùng với đám hầu thiếp. Đám hầu thiếp của đức vua Udena đã nghe rằng: “Nghe nói giáo thọ sư của chúng ta là ngài Ānanda đang ngồi ở gốc cây nọ không xa công viên lắm.” Khi ấy, đám hầu thiếp của đức vua Udena đã tâu với đức vua Udena điều này:—“Tâu chúa thượng, nghe nói giáo thọ sư của chúng tôi là ngài Ānanda đang ngồi ở gốc cây nọ không xa công viên lắm. Tâu chúa thượng, chúng tôi muốn viếng thăm ngài Ānanda.”—“Chính vì điều ấy, các khanh hãy thăm viếng Sa-môn Ānanda.”
Sau đó, đám hầu thiếp của đức vua Udena đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Ānanda rồi ngồi xuống một bên. Khi đám hầu thiếp ấy đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đám hầu thiếp của đức vua Udena bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đại đức Ānanda chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đám hầu thiếp của đức vua Udena đã dâng lên đại đức Ānanda năm trăm thượng y. Sau đó, khi đã được hài lòng và hoan hỷ với lời dạy của đại đức Ānanda, đám hầu thiếp của đức vua Udena đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đại đức Ānanda, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi trở về lại đức vua Udena.
Đức vua Udena đã nhìn thấy đám hầu thiếp đang đi lại từ đàng xa, sau khi nhìn thấy đã nói với đám hầu thiếp điều này:—“Thế các khanh có viếng thăm Sa-môn Ānanda không vậy?”—“Tâu chúa thượng, chúng tôi đã viếng thăm ngài Ānanda.”—“Thế các khanh đã dâng vật gì cho Sa-môn Ānanda vậy?”—“Tâu chúa thượng, chúng tôi đã dâng cho ngài Ānanda năm trăm thượng y.” Đức vua Udena phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao Sa-môn Ānanda lại thọ lãnh quá nhiều y như vậy? Không lẽ Sa-môn Ānanda sẽ làm nhà buôn vải hay bày ra gian hàng tơ lụa?”
Inda-bh 15~15Sau đó, đức vua Udena đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã bày tỏ sự thân thiện với đại đức Ānanda, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện đã ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Udena đã nói với đại đức Ānanda điều này:—“Thưa ngài Ānanda, có phải đám hầu thiếp của chúng tôi đã đến đây?”
—“Tâu đại vương, đám hầu thiếp của ngài đã đến đây.”
—“Vậy chớ họ đã dâng vật gì đến ngài Ānanda?”
—“Tâu đại vương, họ đã dâng đến tôi năm trăm thượng y.”
—“Vậy chớ ngài Ānanda sẽ làm gì với nhiều y đến thế?”
—“Tâu đại vương, các vị tỳ khưu nào có y bị tàn tạ tôi sẽ chia sẻ với các vị ấy.”
—“Thưa ngài Ānanda, vậy các vị sẽ làm gì với những y cũ và tàn tạ?”
—“Tâu đại vương, chúng tôi sẽ dùng chúng làm khăn trải.”
—“Thưa ngài Ānanda, vậy các vị sẽ làm gì với những khăn trải bị cũ đi?”
—“Tâu đại vương, chúng tôi sẽ dùng chúng làm vải bọc nệm.”
—“Thưa ngài Ānanda, vậy các vị sẽ làm gì với những vải bọc nệm bị cũ đi?”
—“Tâu đại vương, chúng tôi sẽ dùng chúng làm thảm lót sàn.”
—“Thưa ngài Ānanda, vậy các vị sẽ làm gì với những thảm lót sàn bị cũ đi?”
—“Tâu đại vương, chúng tôi sẽ dùng chúng làm giẻ chùi chân.”
—“Thưa ngài Ānanda, vậy các vị sẽ làm gì với những giẻ chùi chân bị cũ đi?”
—“Tâu đại vương, chúng tôi sẽ dùng chúng làm giẻ lau bụi.”
—“Thưa ngài Ānanda, vậy các vị sẽ làm gì với những giẻ lau bụi bị cũ đi?”
—“Tâu đại vương, chúng tôi sẽ nghiền nhỏ chúng ra trộn với bùn đất rồi trét làm bục nền xung quanh.”
Khi ấy đức vua Udena (khởi ý rằng): ‘Chính tất cả các Sa-môn Thích tử này xử sự hợp lý, không phung phí kiểu trưởng giả’ rồi đã dâng lên đại đức Ānanda năm trăm xấp vải khác nữa. Như vậy, đây là lần đầu tiên vật thí về y đã phát sanh đến đại đức Ānanda một ngàn y.
Inda-bh 16~16Sau đó, đại đức Ānanda đã đi đến tu viện Ghosita, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, đại đức Channa đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Ānanda rồi ngồi xuống một bên. Khi đại đức Channa đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã nói với đại đức Channa điều này:—“Này sư đệ Channa, hội chúng đã áp đặt hình phạt Phạm Thiên đối với sư đệ.”—“Thưa sư huynh Ānanda, vậy hình phạt Phạm Thiên là như thế nào?”
—“Này sư đệ Channa, điều gì sư đệ muốn với các tỳ khưu thì sư đệ có thể nói điều ấy. Còn các tỳ khưu chẳng những không được nói chuyện, còn không được nhắc nhở, không được giảng dạy sư đệ.”—“Thưa sư huynh Ānanda, như vậy không phải sư đệ đã bị giết chết hay sao, bởi vì các tỳ khưu chẳng những không được nói chuyện, còn không được nhắc nhở, không được giảng dạy sư đệ nữa?” rồi bị ngất xỉu ngã xuống ngay tại chỗ ấy.
Inda-bh 17~17Sau đó, trong khi bị dằn vặt bởi hình phạt Phạm Thiên, trong khi bị tủi hổ, trong khi nhờm gớm, đại đức Channa một mình đã tách riêng, rồi trong khi sống không bị xao lãng, có sự nỗ lực, có sự quyết tâm nên chẳng bao lâu sau, ngay trong kiếp hiện tại này, nhờ vào thắng trí của mình đã chứng ngộ, đạt đến, và an trú vào mục đích tối thượng ấy của Phạm hạnh, vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà xuất gia một cách chân chánh sống không nhà. Vị ấy đã biết rằng: “Sự tái sanh đã cạn kiệt, Phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la-hán) này nữa.” Và thêm một vị nữa là đại đức Channa đã trở thành vị A-la-hán.
Sau đó, khi đã chứng đạt phẩm vị A-la-hán đại đức Channa đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã nói với đại đức Ānanda điều này:—“Thưa sư huynh Ānanda, hôm nay xin hãy thu hồi hình phạt Phạm Thiên cho đệ.”—“Này sư đệ Channa, kể từ khi sư đệ chứng ngộ phẩm vị A-la-hán, kể từ thời điểm ấy hình phạt Phạm Thiên của sư đệ đã được thu hồi.”
Trong cuộc kết tập về Luật này đã hiện diện năm trăm vị tỳ khưu, không thiếu không dư. Do đó, cuộc kết tập về Luật này được gọi là “Liên quan năm trăm vị.”
Chương Liên Quan Năm Trăm Vị là thứ mười một.
Trong chương này gồm có hai mươi ba sự kiện.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Inda-bh 1~18Khi đấng Toàn Giác đã Vô Dư Niết Bàn, vị trưởng lão tên Kassapa, người bảo vệ chánh Pháp, đã bảo với nhóm tỳ khưu rằng:
Inda-bh 2~19Trong cuộc hành trình đường xa từ Pāvā, có điều đã được phát biểu bởi Subhadda. Chúng ta hãy trùng tụng Chánh Pháp trước khi phi Pháp phát triển.
Inda-bh 3~20Năm trăm còn thiếu một, và vị ấy đã chọn cả Ānanda, cuộc kết tập về Pháp và Luật, trong khi cư trú ở hang động tối thượng.
Inda-bh 4~21Vị ấy đã hỏi Upāli về Luật, (đã hỏi) bậc trí Ānanda về Kinh. Các vị đệ tử của đấng Chiến Thắng đã thực hiện việc kết tập Tam Tạng.
Inda-bh 5~22Các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng, nhiều loại, sự thực hành theo như sự quy định, vị đã không hỏi, và đã đạp lên, đã cho đảnh lễ, và đã không cầu khẩn, việc xuất gia cho người nữ, các tội dukkaṭa của tôi là vì niềm tin.
Inda-bh 6~23Vị Purāṇa, và hình phạt Phạm Thiên, các hầu thiếp cùng với đức vua Udena, như vậy quá nhiều, và bị tàn tạ, các khăn trải, và vải bọc nệm.
Inda-bh 7~24Các thảm lót sàn, các giẻ chùi chân, lau bụi, trộn với bùn đất, vị đã phát sanh một ngàn y lần đầu có tên gọi là Ānanda.
Inda-bh 8~25Bị sợ hãi bởi hình phạt Phạm Thiên, vị đã đạt được bốn Chân Lý, các vị có năng lực là năm trăm, vì thế gọi là “Năm Trăm Vị.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Small Division
The chapter on the first council
11. Chương Năm Trăm Vị
1. Saṅgītinidāna
1. The origin story of the communal recitation
1. Nhân Duyên Kết Tập
Atha kho āyasmā mahākassapo bhikkhū āmantesi—“ekamidāhaṁ, āvuso, samayaṁ pāvāya kusināraṁ addhānamaggappaṭipanno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi. Atha khvāhaṁ, āvuso, maggā okkamma aññatarasmiṁ rukkhamūle nisīdiṁ.
Then Venerable Mahākassapa addressed the monks: “On one occasion, as I was traveling from Pāvā to Kusināra with a large sangha of five hundred monks, I left the road and sat down at the foot of a tree.
437. Khi ấy, trưởng lão Mahākassapa gọi các tỳ-khưu và nói: “Này chư hiền, có một thời, tôi đang đi trên đoạn đường dài từ Pāvā đến Kusinārā cùng với đại chúng tỳ-khưu gồm khoảng năm trăm vị. Này chư hiền, khi ấy, tôi đã đi ra khỏi con đường và ngồi xuống dưới một gốc cây nào đó.”
Tena kho pana samayena aññataro ājīvako kusinārāya mandāravapupphaṁ gahetvā pāvaṁ addhānamaggappaṭipanno hoti. Addasaṁ kho ahaṁ, āvuso, taṁ ājīvakaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna taṁ ājīvakaṁ etadavocaṁ—‘apāvuso, amhākaṁ satthāraṁ jānāsī’ti?
‘Āmāvuso, jānāmi. Ajja sattāhaparinibbuto samaṇo gotamo. Tato me idaṁ mandāravapupphaṁ gahitan’ti.
Tatrāvuso, ye te bhikkhū avītarāgā appekacce bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti—atikhippaṁ bhagavā parinibbuto, atikhippaṁ sugato parinibbuto, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antarahitanti. Ye pana te bhikkhū vītarāgā te satā sampajānā adhivāsenti—aniccā saṅkhārā, taṁ kutettha labbhāti.
Just then a follower of the Ājīvakas was traveling toward Pāvā on the same road, holding a coral-tree flower that he had picked up in Kusināra. When I saw him coming, I asked him, ‘Do you know anything about our Teacher?’
‘I do. Today it’s seven days since the ascetic Gotama attained final extinguishment. That’s why I carry this coral-tree flower.’
Some of the monks there who were not yet free from desire threw up their arms and cried, collapsed on the ground, and rolled back and forth, lamenting, ‘The Buddha, the Happy One, has attained final extinguishment too soon—too soon has the eye of the world been put out!’ But the monks there who were free from desire bore it with mindfulness and full awareness, saying, ‘All phenomena are impermanent. How could it be any different?’
“Vào lúc ấy, này chư hiền, có một lỏa thể ngoại đạo nào đó, sau khi cầm lấy đóa hoa mandārava từ Kusinārā, đang đi trên đoạn đường dài đến Pāvā. Này chư hiền, tôi đã nhìn thấy lỏa thể ngoại đạo ấy đang đi đến từ xa. Sau khi nhìn thấy, tôi đã nói với lỏa thể ngoại đạo ấy rằng: ‘Này hiền giả, hiền giả có biết bậc Đạo Sư của chúng tôi không?’ ‘Vâng, thưa hiền giả, tôi có biết. Sa-môn Gotama đã viên tịch được bảy ngày hôm nay. Tôi đã cầm lấy đóa hoa mandārava này từ nơi ấy.’ Này chư hiền, trong số các vị ấy, những tỳ-khưu nào chưa ly tham, một số vị đã giơ tay lên mà khóc, ngã lăn xuống đất như bị chặt chân, lăn qua lộn lại (than rằng): ‘Thế Tôn đã viên tịch quá nhanh! Bậc Thiện Thệ đã viên tịch quá nhanh! Con mắt của thế gian đã biến mất quá nhanh!’ Còn những tỳ-khưu nào đã ly tham, các vị ấy chánh niệm tỉnh giác, chịu đựng (suy niệm rằng): ‘Các pháp hữu vi là vô thường, làm sao có thể đạt được điều ấy ở đây?’”
Atha khvāhaṁ, āvuso, te bhikkhū etadavocaṁ—‘alaṁ, āvuso, mā socittha; mā paridevittha. Nanvetaṁ, āvuso, bhagavatā paṭikacceva akkhātaṁ—sabbeheva piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo. Taṁ kutettha āvuso labbhā, yaṁ taṁ jātaṁ bhūtaṁ saṅkhataṁ palokadhammaṁ, taṁ vata mā palujjīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti.
I said, ‘Please stop grieving, stop lamenting. Didn’t the Buddha warn us that we must be separated from everyone and everything dear and agreeable to us? How could that which is born, become, made up, and of a nature to fall apart, not fall apart? That’s impossible.’
“Khi ấy, này chư hiền, tôi đã nói với các tỳ-khưu ấy rằng: ‘Thôi đủ rồi, chư hiền, đừng sầu muộn, đừng than khóc. Này chư hiền, chẳng phải điều này đã được Thế Tôn nói đến từ trước rồi sao: đối với tất cả những gì thân ái và vừa ý, đều có sự khác biệt, sự chia lìa, sự đổi khác. Này chư hiền, làm sao có thể đạt được điều này ở đây, rằng cái gì đã được sinh ra, đã hiện hữu, được tạo tác, có bản chất tan rã, lại có thể không tan rã? Trường hợp này không thể xảy ra.’”
Tena kho panāvuso, samayena subhaddo nāma vuḍḍhapabbajito tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti. Atha kho, āvuso, subhaddo vuḍḍhapabbajito te bhikkhū etadavoca—‘alaṁ, āvuso, mā socittha; mā paridevittha. Sumuttā mayaṁ tena mahāsamaṇena; upaddutā ca mayaṁ homa—idaṁ vo kappati, idaṁ vo na kappatīti. Idāni pana mayaṁ yaṁ icchissāma taṁ karissāma, yaṁ na icchissāma na taṁ karissāmā’ti.
Handa mayaṁ, āvuso, dhammañca vinayañca saṅgāyāma. Pure adhammo dippati, dhammo paṭibāhiyyati; pure avinayo dippati vinayo paṭibāhiyyati; pure adhammavādino balavanto honti, dhammavādino dubbalā honti; pure avinayavādino balavanto honti, vinayavādino dubbalā hontī”ti.
On that occasion a monk called Subhadda, who had gone forth when old, was part of that group. He said to the monks, ‘Please stop grieving, stop lamenting. It’s good that we are free from that great ascetic. We were oppressed, always being told what’s allowable and what’s not. Now we can do what we like and not do what we don’t like.’
So then, let’s recite the Teaching and the Monastic Law—before what’s contrary to the Teaching shines forth and the Teaching is obstructed; before what’s contrary to the Monastic Law shines forth and the Monastic Law is obstructed; before those who speak contrary to the Teaching become strong and those who speak in accordance with it become weak; before those who speak contrary to the Monastic Law become strong and those who speak in accordance with it become weak.”
“Vào lúc ấy, này chư hiền, có một vị xuất gia lớn tuổi tên là Subhadda đang ngồi trong chúng hội ấy. Khi ấy, này chư hiền, vị xuất gia lớn tuổi Subhadda đã nói với các tỳ-khưu ấy rằng: ‘Thôi đủ rồi, chư hiền, đừng sầu muộn, đừng than khóc. Chúng ta đã được giải thoát khỏi vị đại sa-môn ấy rồi; chúng ta đã bị phiền nhiễu bởi những lời: “Điều này được phép cho các ông, điều này không được phép cho các ông.” Còn bây giờ, điều gì chúng ta muốn, chúng ta sẽ làm điều đó; điều gì chúng ta không muốn, chúng ta sẽ không làm điều đó.’ Này chư hiền, nào chúng ta hãy kết tập Pháp và Luật, trước khi phi pháp hưng thịnh và chánh pháp bị suy tàn; trước khi phi luật hưng thịnh và giới luật bị suy tàn; trước khi những người nói phi pháp trở nên mạnh mẽ và những người nói chánh pháp trở nên yếu thế; trước khi những người nói phi luật trở nên mạnh mẽ và những người nói giới luật trở nên yếu thế.”
“Tena hi, bhante, thero bhikkhū uccinatū”ti. Atha kho āyasmā mahākassapo ekenūnapañcaarahantasatāni uccini. Bhikkhū āyasmantaṁ mahākassapaṁ etadavocuṁ—“ayaṁ, bhante, āyasmā ānando kiñcāpi sekkho, abhabbo chandā dosā mohā bhayā agatiṁ gantuṁ. Bahu ca anena bhagavato santike dhammo ca vinayo ca pariyatto. Tena hi, bhante, thero āyasmantampi ānandaṁ uccinatū”ti. Atha kho āyasmā mahākassapo āyasmantampi ānandaṁ uccini.
“Well then, venerable, please select the monks.” Mahākassapa then selected four hundred and ninety-nine perfected ones. The monks said to him, “There’s Venerable Ānanda who, although still a trainee, is incapable of acting out of desire, ill will, confusion, or fear. He has learned many teachings and much Monastic Law from the Buddha. Please invite him as well.” And he did.
“Bạch ngài, nếu vậy, xin ngài Trưởng lão hãy chọn lựa các vị tỳ khưu.” Bấy giờ, Đại đức Mahākassapa đã chọn lựa bốn trăm chín mươi chín vị A-la-hán. Các vị tỳ khưu đã bạch với Đại đức Mahākassapa điều này: “Bạch ngài, Đại đức Ānanda này, tuy là bậc hữu học, nhưng không có khả năng đi vào đường tà vạy do tham muốn, do sân hận, do si mê, do sợ hãi. Và vị ấy đã học thuộc nhiều Pháp và Luật từ nơi đức Thế Tôn. Bạch ngài, vì thế, xin ngài Trưởng lão cũng hãy chọn lựa Đại đức Ānanda.” Bấy giờ, Đại đức Mahākassapa cũng đã chọn lựa Đại đức Ānanda.
Atha kho therānaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“kattha nu kho mayaṁ dhammañca vinayañca saṅgāyeyyāmā”ti? Atha kho therānaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“rājagahaṁ kho mahāgocaraṁ pahūtasenāsanaṁ, yannūna mayaṁ rājagahe vassaṁ vasantā dhammañca vinayañca saṅgāyeyyāma. Na aññe bhikkhū rājagahe vassaṁ upagaccheyyun”ti.
The senior monks thought, “Where should we recite the Teaching and the Monastic Law?” It occurred to them, “Rājagaha has much almsfood and many dwellings. Let’s spend the rainy season there in order to recite the Teaching and the Monastic Law. No other monks should enter the rainy-season residence at Rājagaha.”
Bấy giờ, các vị tỳ khưu Trưởng lão đã khởi lên suy nghĩ này: “Chúng ta nên kết tập Pháp và Luật ở đâu nhỉ?” Rồi các vị tỳ khưu Trưởng lão lại khởi lên suy nghĩ này: “Thành Rājagaha (Vương Xá) có nơi khất thực rộng lớn, có nhiều trú xứ. Thật tốt thay nếu chúng ta an cư mùa mưa tại thành Rājagaha rồi kết tập Pháp và Luật. Các vị tỳ khưu khác không nên đến an cư mùa mưa tại thành Rājagaha.”
Atha kho āyasmā mahākassapo saṅghaṁ ñāpesi—
And Venerable Mahākassapa informed the Sangha:
Bấy giờ, Đại đức Mahākassapa đã trình Tăng chúng:
“Suṇātu me, āvuso, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho imāni pañca bhikkhusatāni sammanneyya—rājagahe vassaṁ vasantāni dhammañca vinayañca saṅgāyituṁ, na aññehi bhikkhūhi rājagahe vassaṁ vasitabbanti. Esā ñatti.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should appoint these five hundred monks to spend the rainy season at Rājagaha in order to recite the Teaching and the Monastic Law. No other monks should spend the rainy-season residence at Rājagaha. This is the motion.
438. “Thưa chư hiền, mong Tăng chúng hãy nghe tôi. Nếu thời điểm đã thích hợp đối với Tăng chúng, Tăng chúng nên chấp thuận cho năm trăm vị tỳ khưu này an cư mùa mưa tại thành Rājagaha để kết tập Pháp và Luật, và các vị tỳ khưu khác không được an cư mùa mưa tại thành Rājagaha. Đây là lời tác bạch.
Suṇātu me, āvuso, saṅgho. Imāni pañca bhikkhusatāni sammannati—rājagahe vassaṁ vasantāni dhammañca vinayañca saṅgāyituṁ, na aññehi bhikkhūhi rājagahe vassaṁ vasitabbanti. Yassāyasmato khamati imesaṁ pañcannaṁ bhikkhusatānaṁ sammuti—rājagahe vassaṁ vasantānaṁ dhammañca vinayañca saṅgāyituṁ, na aññehi bhikkhūhi rājagahe vassaṁ vasitabbanti—so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha appoints these five hundred monks to spend the rainy season at Rājagaha in order to recite the Teaching and the Monastic Law. No other monks should spend the rainy-season residence at Rājagaha. Any monk who approves of appointing these five hundred monks to spend the rainy season at Rājagaha in order to recite the Teaching and the Monastic Law, with no other monks spending the rainy-season residence at Rājagaha, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Thưa chư hiền, mong Tăng chúng hãy nghe tôi. Tăng chúng chấp thuận cho năm trăm vị tỳ khưu này an cư mùa mưa tại thành Rājagaha để kết tập Pháp và Luật, và các vị tỳ khưu khác không được an cư mùa mưa tại thành Rājagaha. Vị đại đức nào chấp thuận sự chỉ định năm trăm vị tỳ khưu này an cư mùa mưa tại thành Rājagaha để kết tập Pháp và Luật, và các vị tỳ khưu khác không được an cư mùa mưa tại thành Rājagaha, vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói.
Sammatāni saṅghena imāni pañca bhikkhusatāni rājagahe vassaṁ vasantāni dhammañca vinayañca saṅgāyituṁ, na aññehi bhikkhūhi rājagahe vassaṁ vasitabbanti. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī”ti.
The Sangha has appointed these five hundred monks to spend the rainy season at Rājagaha in order to recite the Teaching and the Monastic Law. No other monks should spend the rainy-season residence at Rājagaha. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.”
The communal recitation at Rājagaha
“Năm trăm vị tỳ khưu này đã được Tăng chúng chấp thuận an cư mùa mưa tại thành Rājagaha để kết tập Pháp và Luật, và các vị tỳ khưu khác không được an cư mùa mưa tại thành Rājagaha. Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Atha kho therā bhikkhū rājagahaṁ agamaṁsu dhammañca vinayañca saṅgāyituṁ. Atha kho therānaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“bhagavatā kho, āvuso, khaṇḍaphullapaṭisaṅkharaṇaṁ vaṇṇitaṁ. Handa mayaṁ, āvuso, paṭhamaṁ māsaṁ khaṇḍaphullaṁ paṭisaṅkharoma; majjhimaṁ māsaṁ sannipatitvā dhammañca vinayañca saṅgāyissāmā”ti.
The senior monks then went to Rājagaha to recite the Teaching and the Monastic Law. They thought, “The Buddha has praised repairing what’s defective and broken. Well then, let’s spend the first month doing repairs, and then gather for the middle month to recite the Teaching and the Monastic Law.”
Bấy giờ, các vị tỳ khưu Trưởng lão đã đi đến thành Rājagaha để kết tập Pháp và Luật. Rồi các vị tỳ khưu Trưởng lão đã khởi lên suy nghĩ này: “Thưa chư hiền, đức Thế Tôn đã tán thán việc sửa chữa những chỗ hư hỏng. Này chư hiền, chúng ta hãy sửa chữa những chỗ hư hỏng trong tháng đầu tiên; vào tháng giữa, sau khi tụ họp, chúng ta sẽ kết tập Pháp và Luật.”
Atha kho therā bhikkhū paṭhamaṁ māsaṁ khaṇḍaphullaṁ paṭisaṅkhariṁsu. Atha kho āyasmā ānando—“sve sannipāto na kho metaṁ patirūpaṁ, yohaṁ sekkho samāno sannipātaṁ gaccheyyan”ti—bahudeva rattiṁ kāyagatāya satiyā vītināmetvā rattiyā paccūsasamayaṁ “nipajjissāmī”ti kāyaṁ āvajjesi. Appattañca sīsaṁ bibbohanaṁ, bhūmito ca pādā muttā. Etasmiṁ antare anupādāya āsavehi cittaṁ vimucci.
They then spent the first month doing repairs. Venerable Ānanda thought, “It wouldn’t be proper for me to go to the assembly tomorrow if I’m still a trainee.” After spending most of the night with mindfulness directed to the body, early in the morning he bent over to lie down. In the interval between his feet coming off the ground and his head hitting the pillow, his mind was freed from the corruptions through letting go.
Bấy giờ, các vị tỳ khưu Trưởng lão đã sửa chữa những chỗ hư hỏng trong tháng đầu tiên. Rồi Đại đức Ānanda suy nghĩ: “Ngày mai là ngày đại hội. Ta vẫn còn là bậc hữu học mà đi đến đại hội thì không thích hợp với ta,” ngài đã trải qua phần lớn đêm với niệm thân, đến lúc rạng đông, ngài nghĩ: “Ta sẽ nằm xuống,” rồi ngả thân mình. Đầu chưa chạm gối, và chân đã rời khỏi mặt đất. Trong khoảng giữa ấy, tâm của ngài được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
Atha kho āyasmā mahākassapo saṅghaṁ ñāpesi—
Venerable Mahākassapa then informed the Sangha:
439. Bấy giờ, Đại đức Ānanda, sau khi đã là bậc A-la-hán, đã đi đến đại hội. Bấy giờ, Đại đức Mahākassapa đã trình Tăng chúng:
“Suṇātu me, āvuso, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ upāliṁ vinayaṁ puccheyyan”ti.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, I will ask Upāli about the Monastic Law.”
“Thưa chư hiền, mong Tăng chúng hãy nghe tôi. Nếu thời điểm đã thích hợp đối với Tăng chúng, tôi sẽ hỏi Đại đức Upāli về Luật.”
Āyasmā upāli saṅghaṁ ñāpesi—
Venerable Upāli informed the Sangha:
Đại đức Upāli đã trình Tăng chúng:
“Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ āyasmatā mahākassapena vinayaṁ puṭṭho vissajjeyyan”ti.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, I will reply when asked by Venerable Mahākassapa about the Monastic Law.”
“Bạch chư Tôn đức, mong Tăng chúng hãy nghe tôi. Nếu thời điểm đã thích hợp đối với Tăng chúng, khi được Đại đức Mahākassapa hỏi về Luật, tôi sẽ trả lời.”
Atha kho āyasmā mahākassapo āyasmantaṁ upāliṁ etadavoca—“paṭhamaṁ, āvuso upāli, pārājikaṁ kattha paññattan”ti?
“Vesāliyaṁ, bhante”ti.
“Kaṁ ārabbhā”ti?
“Sudinnaṁ kalandaputtaṁ ārabbhā”ti.
“Kismiṁ vatthusmin”ti?
“Methunadhamme”ti.
Atha kho āyasmā mahākassapo āyasmantaṁ upāliṁ paṭhamassa pārājikassa vatthumpi pucchi, nidānampi pucchi, puggalampi pucchi, paññattimpi pucchi, anupaññattimpi pucchi, āpattimpi pucchi, anāpattimpi pucchi.
“Dutiyaṁ panāvuso upāli, pārājikaṁ kattha paññattan”ti?
“Rājagahe, bhante”ti.
“Kaṁ ārabbhā”ti?
“Dhaniyaṁ kumbhakāraputtaṁ ārabbhā”ti.
“Kismiṁ vatthusmin”ti?
“Adinnādāne”ti.
Atha kho āyasmā mahākassapo āyasmantaṁ upāliṁ dutiyassa pārājikassa vatthumpi pucchi, nidānampi pucchi, puggalampi pucchi, paññattimpi pucchi, anupaññattimpi pucchi, āpattimpi pucchi, anāpattimpi pucchi.
“Tatiyaṁ panāvuso upāli, pārājikaṁ kattha paññattan”ti?
“Vesāliyaṁ, bhante”ti.
“Kaṁ ārabbhā”ti?
“Sambahule bhikkhū ārabbhā”ti.
“Kismiṁ vatthusmin”ti?
“Manussaviggahe”ti.
Atha kho āyasmā mahākassapo āyasmantaṁ upāliṁ tatiyassa pārājikassa vatthumpi pucchi, nidānampi pucchi, puggalampi pucchi, paññattimpi pucchi, anupaññattimpi pucchi, āpattimpi pucchi, anāpattimpi pucchi.
“Catutthaṁ panāvuso upāli, pārājikaṁ kattha paññattan”ti?
“Vesāliyaṁ, bhante”ti.
“Kaṁ ārabbhā”ti?
“Vaggumudātīriye bhikkhū ārabbhā”ti.
“Kismiṁ vatthusmin”ti?
“Uttarimanussadhamme”ti.
Atha kho āyasmā mahākassapo āyasmantaṁ upāliṁ catutthassa pārājikassa vatthumpi pucchi, nidānampi pucchi, puggalampi pucchi, paññattimpi pucchi, anupaññattimpi pucchi, āpattimpi pucchi, anāpattimpi pucchi.
Eteneva upāyena ubhatovibhaṅge pucchi. Puṭṭho puṭṭho āyasmā upāli vissajjesi.
Mahākassapa then asked Upāli, “Where was the first offense entailing expulsion laid down?”
“At Vesālī.”
“Who is it about?”
“Sudinna the Kalandian.”
“What is it about?”
“Sexual intercourse.”
Mahākassapa also asked Upāli about the topic of the first offense entailing expulsion, about the origin story, about the person, about the rule, about the additions to the rule, about the offense, and about the non-offenses.
“And where was the second offense entailing expulsion laid down?”
“At Rājagaha.”
“Who is it about?”
“Dhaniya the potter.”
“What is it about?”
“Stealing.”
Mahākassapa also asked Upāli about the topic of the second offense entailing expulsion, about the origin story, about the person, about the rule, about the additions to the rule, about the offense, and about the non-offenses.
“And where was the third offense entailing expulsion laid down?”
“At Vesālī.”
“Who is it about?”
“A number of monks.”
“What is it about?”
“Human beings.”
Mahākassapa also asked Upāli about the topic of the third offense entailing expulsion, about the origin story, about the person, about the rule, about the additions to the rule, about the offense, and about the non-offenses.
“And where was the fourth offense entailing expulsion laid down?”
“At Vesālī.”
“Who is it about?”
“The monks from the banks of the Vaggumudā.”
“What is it about?”
“Superhuman qualities.”
Mahākassapa also asked Upāli about the topic of the fourth offense entailing expulsion, about the origin story, about the person, about the rule, about the additions to the rule, about the offense, and about the non-offenses.
In this way he asked about the analyses of both Monastic Codes. Upāli was able to reply to each and every question.
Khi ấy, trưởng lão Mahākassapa đã nói với trưởng lão Upāli điều này: – Này hiền giả Upāli, điều học pārājika thứ nhất đã được chế định ở đâu? – Thưa ngài, ở Vesālī. – Liên quan đến ai? – Liên quan đến Sudinna, con trai của gia đình Kalandaka. – Về sự việc gì? – Về việc hành dâm. Khi ấy, trưởng lão Mahākassapa đã hỏi trưởng lão Upāli về câu chuyện của điều học pārājika thứ nhất, cũng đã hỏi về duyên khởi, cũng đã hỏi về cá nhân, cũng đã hỏi về sự chế định, cũng đã hỏi về sự chế định bổ sung, cũng đã hỏi về trường hợp phạm tội, cũng đã hỏi về trường hợp không phạm tội. – Này hiền giả Upāli, còn điều học pārājika thứ nhì đã được chế định ở đâu? – Thưa ngài, ở Rājagaha. – Liên quan đến ai? – Liên quan đến Dhaniya, con trai của người thợ gốm. – Về sự việc gì? – Về việc lấy của không cho. Khi ấy, trưởng lão Mahākassapa đã hỏi trưởng lão Upāli về câu chuyện của điều học pārājika thứ nhì, cũng đã hỏi về duyên khởi, cũng đã hỏi về cá nhân, cũng đã hỏi về sự chế định, cũng đã hỏi về sự chế định bổ sung, cũng đã hỏi về trường hợp phạm tội, cũng đã hỏi về trường hợp không phạm tội. – Này hiền giả Upāli, còn điều học pārājika thứ ba đã được chế định ở đâu? – Thưa ngài, ở Vesālī. – Liên quan đến ai? – Liên quan đến nhiều vị tỳ khưu. – Về sự việc gì? – Về mạng người. Khi ấy, trưởng lão Mahākassapa đã hỏi trưởng lão Upāli về câu chuyện của điều học pārājika thứ ba, cũng đã hỏi về duyên khởi, cũng đã hỏi về cá nhân, cũng đã hỏi về sự chế định, cũng đã hỏi về sự chế định bổ sung, cũng đã hỏi về trường hợp phạm tội, cũng đã hỏi về trường hợp không phạm tội. – Này hiền giả Upāli, còn điều học pārājika thứ tư đã được chế định ở đâu? – Thưa ngài, ở Vesālī. – Liên quan đến ai? – Liên quan đến các vị tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā. – Về sự việc gì? – Về pháp thượng nhân. Khi ấy, trưởng lão Mahākassapa đã hỏi trưởng lão Upāli về câu chuyện của điều học pārājika thứ tư, cũng đã hỏi về duyên khởi, cũng đã hỏi về cá nhân, cũng đã hỏi về sự chế định, cũng đã hỏi về sự chế định bổ sung, cũng đã hỏi về trường hợp phạm tội, cũng đã hỏi về trường hợp không phạm tội. Chính bằng phương cách ấy, ngài đã hỏi về cả hai Phân Tích. Mỗi khi được hỏi, trưởng lão Upāli đều trả lời.
Atha kho āyasmā mahākassapo saṅghaṁ ñāpesi—
Venerable Mahākassapa then informed the Sangha:
440. Khi ấy, trưởng lão Mahākassapa đã trình cho Tăng chúng biết:
“Suṇātu me, āvuso, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ ānandaṁ dhammaṁ puccheyyan”ti.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, I will ask Ānanda about the Teaching.”
– Chư hiền giả, mong Tăng chúng hãy nghe tôi. Nếu đây là thời điểm thích hợp cho Tăng chúng, tôi sẽ hỏi trưởng lão Ānanda về Pháp.
Āyasmā ānando saṅghaṁ ñāpesi—
Venerable Ānanda informed the Sangha:
Trưởng lão Ānanda đã trình cho Tăng chúng biết:
“Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ āyasmatā mahākassapena dhammaṁ puṭṭho vissajjeyyan”ti.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, I will reply when asked by Venerable Mahākassapa about the Teaching.”
– Chư đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe tôi. Nếu đây là thời điểm thích hợp cho Tăng chúng, khi được trưởng lão Mahākassapa hỏi về Pháp, tôi sẽ trả lời.
Atha kho āyasmā mahākassapo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca—“brahmajālaṁ, āvuso ānanda, kattha bhāsitan”ti?
“Antarā ca, bhante, rājagahaṁ antarā ca nāḷandaṁ rājāgārake ambalaṭṭhikāyā”ti.
“Kaṁ ārabbhā”ti?
“Suppiyañca paribbājakaṁ brahmadattañca māṇavan”ti.
Atha kho āyasmā mahākassapo āyasmantaṁ ānandaṁ brahmajālassa nidānampi pucchi, puggalampi pucchi.
“Sāmaññaphalaṁ panāvuso ānanda, kattha bhāsitan”ti?
“Rājagahe, bhante, jīvakambavane”ti.
“Kena saddhin”ti?
“Ajātasattunā vedehiputtena saddhin”ti.
Atha kho āyasmā mahākassapo āyasmantaṁ ānandaṁ sāmaññaphalassa nidānampi pucchi, puggalampi pucchi.
Eteneva upāyena pañcapi nikāye pucchi. Puṭṭho puṭṭho āyasmā ānando vissajjesi.
Mahākassapa then asked Ānanda, “Where was ‘The Supreme Net’ spoken?”
“At the royal rest-house at Ambalaṭṭhikā, between Rājagaha and Nāḷanda.”
“Who is it about?”
“The wanderer Suppiya and the young brahmin Brahmadatta.”
Mahākassapa also asked Ānanda about the origin story of ‘The Supreme Net’ and about the person.
“Where was ‘The Fruits of the Monastic Life’ spoken?”
“In Jīvaka’s Mango Grove at Rājagaha.”
“Who is it with?”
“Ajātasattu Vedehiputta.”
Mahākassapa also asked Ānanda about the origin story of ‘The Fruits of the Monastic Life’ and about the person.
In this way he asked about the five collections. Ānanda was able to reply to each and every question.
Khi ấy, trưởng lão Mahākassapa đã nói với trưởng lão Ānanda điều này: – Này hiền giả Ānanda, kinh Phạm Võng đã được thuyết giảng ở đâu? – Thưa ngài, ở giữa Rājagaha và Nāḷandā, tại nhà nghỉ hoàng gia ở Ambalaṭṭhikā. – Liên quan đến ai? – Liên quan đến du sĩ Suppiya và thanh niên Brahmadatta. Khi ấy, trưởng lão Mahākassapa đã hỏi trưởng lão Ānanda về duyên khởi của kinh Phạm Võng, cũng đã hỏi về cá nhân. – Này hiền giả Ānanda, còn kinh Sa Môn Quả đã được thuyết giảng ở đâu? – Thưa ngài, ở Rājagaha, tại vườn xoài của Jīvaka. – Cùng với ai? – Cùng với vua Ajātasattu, con trai của hoàng hậu xứ Videha. Khi ấy, trưởng lão Mahākassapa đã hỏi trưởng lão Ānanda về duyên khởi của kinh Sa Môn Quả, cũng đã hỏi về cá nhân. Chính bằng phương cách ấy, ngài đã hỏi về cả năm bộ Nikāya. Mỗi khi được hỏi, trưởng lão Ānanda đều trả lời.
2. Khuddānukhuddakasikkhāpadakathā
2. Discussion of the minor training rules
2. Câu chuyện về các điều học nhỏ và phụ
Atha kho āyasmā ānando there bhikkhū etadavoca—“bhagavā maṁ, bhante, parinibbānakāle evamāha—‘ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhaneyyā’”ti.
“Pucchi pana tvaṁ, āvuso ānanda, bhagavantaṁ—‘katamāni pana, bhante, khuddānukhuddakāni sikkhāpadānī’”ti?
“Na khohaṁ, bhante, bhagavantaṁ pucchiṁ—‘katamāni pana, bhante, khuddānukhuddakāni sikkhāpadānī’”ti.
Ekacce therā evamāhaṁsu—“cattāri pārājikāni ṭhapetvā, avasesāni khuddānukhuddakāni sikkhāpadānī”ti. Ekacce therā evamāhaṁsu—“cattāri pārājikāni ṭhapetvā, terasa saṅghādisese ṭhapetvā, avasesāni khuddānukhuddakāni sikkhāpadānī”ti. Ekacce therā evamāhaṁsu—“cattāri pārājikāni ṭhapetvā, terasa saṅghādisese ṭhapetvā, dve aniyate ṭhapetvā, avasesāni khuddānukhuddakāni sikkhāpadānī”ti. Ekacce therā evamāhaṁsu—“cattāri pārājikāni ṭhapetvā, terasa saṅghādisese ṭhapetvā, dve aniyate ṭhapetvā, tiṁsa nissaggiye pācittiye ṭhapetvā, avasesāni khuddānukhuddakāni sikkhāpadānī”ti. Ekacce therā evamāhaṁsu—“cattāri pārājikāni ṭhapetvā, terasa saṅghādisese ṭhapetvā, dve aniyate ṭhapetvā, tiṁsa nissaggiye pācittiye ṭhapetvā, dvenavuti pācittiye ṭhapetvā, avasesāni khuddānukhuddakāni sikkhāpadānī”ti. Ekacce therā evamāhaṁsu—“cattāri pārājikāni ṭhapetvā, terasa saṅghādisese ṭhapetvā, dve aniyate ṭhapetvā, tiṁsa nissaggiye pācittiye ṭhapetvā, dvenavuti pācittiye ṭhapetvā, cattāro pāṭidesanīye ṭhapetvā, avasesāni khuddānukhuddakāni sikkhāpadānī”ti.
Ānanda said to the senior monks, “At the time of his final extinguishment, the Buddha said to me, ‘After my passing away, Ānanda, if the Sangha wishes, it may abolish the minor training rules.’”
“But, Ānanda, did you ask the Buddha what the minor training rules are?”
“No, sirs, I didn’t.”
Some senior monks said, “Apart from the four rules entailing expulsion, the rest are the minor training rules.” Others said, “Apart from the four rules entailing expulsion and the thirteen rules entailing suspension, the rest are the minor training rules.” Still others said, “Apart from the four rules entailing expulsion, the thirteen rules entailing suspension, and the two undetermined rules, the rest are the minor training rules.” Still others said, “Apart from the four rules entailing expulsion, the thirteen rules entailing suspension, the two undetermined rules, and the thirty rules entailing relinquishment and confession, the rest are the minor training rules.” Still others said, “Apart from the four rules entailing expulsion, the thirteen rules entailing suspension, the two undetermined rules, the thirty rules entailing relinquishment and confession, and the ninety-two rules entailing confession, the rest are the minor training rules.” Still others said, “Apart from the four rules entailing expulsion, the thirteen rules entailing suspension, the two undetermined rules, the thirty rules entailing relinquishment and confession, the ninety-two rules entailing confession, and the four rules entailing acknowledgment, the rest are the minor training rules.”
441. Bấy giờ, trưởng lão Ānanda nói với các vị tỳ khưu trưởng lão rằng: ‘Thưa chư Tôn giả, vào lúc sắp Niết-bàn, đức Thế Tôn đã nói với tôi rằng: “Này Ānanda, sau khi ta diệt độ, nếu Tăng chúng muốn, có thể hủy bỏ các học giới nhỏ nhặt và phụ thuộc.”’ ‘Này hiền giả Ānanda, vậy hiền giả có hỏi đức Thế Tôn rằng: “Bạch đức Thế Tôn, thế nào là các học giới nhỏ nhặt và phụ thuộc không?”’ ‘Bạch chư Tôn giả, tôi đã không hỏi đức Thế Tôn rằng: “Bạch đức Thế Tôn, thế nào là các học giới nhỏ nhặt và phụ thuộc?”’ Một số vị trưởng lão nói rằng: ‘Ngoại trừ bốn giới Pārājika, các học giới còn lại là các học giới nhỏ nhặt và phụ thuộc.’ Một số vị trưởng lão nói rằng: ‘Ngoại trừ bốn giới Pārājika, mười ba giới Saṅghādisesa, các học giới còn lại là các học giới nhỏ nhặt và phụ thuộc.’ Một số vị trưởng lão nói rằng: ‘Ngoại trừ bốn giới Pārājika, mười ba giới Saṅghādisesa, hai giới Aniyata, các học giới còn lại là các học giới nhỏ nhặt và phụ thuộc.’ Một số vị trưởng lão nói rằng: ‘Ngoại trừ bốn giới Pārājika, mười ba giới Saṅghādisesa, hai giới Aniyata, ba mươi giới Nissaggiya Pācittiya, các học giới còn lại là các học giới nhỏ nhặt và phụ thuộc.’ Một số vị trưởng lão nói rằng: ‘Ngoại trừ bốn giới Pārājika, mười ba giới Saṅghādisesa, hai giới Aniyata, ba mươi giới Nissaggiya Pācittiya, chín mươi hai giới Pācittiya, các học giới còn lại là các học giới nhỏ nhặt và phụ thuộc.’ Một số vị trưởng lão nói rằng: ‘Ngoại trừ bốn giới Pārājika, mười ba giới Saṅghādisesa, hai giới Aniyata, ba mươi giới Nissaggiya Pācittiya, chín mươi hai giới Pācittiya, bốn giới Pāṭidesanīya, các học giới còn lại là các học giới nhỏ nhặt và phụ thuộc.’
Atha kho āyasmā mahākassapo saṅghaṁ ñāpesi—
Then Venerable Mahākassapa informed the Sangha:
442. Bấy giờ, trưởng lão Mahākassapa trình Tăng chúng rằng:
“Suṇātu me, āvuso, saṅgho. Santamhākaṁ sikkhāpadāni gihigatāni. Gihinopi jānanti—‘idaṁ vo samaṇānaṁ sakyaputtiyānaṁ kappati, idaṁ vo na kappatī’ti. Sace mayaṁ khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanissāma, bhavissanti vattāro—‘dhūmakālikaṁ samaṇena gotamena sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ. Yāvimesaṁ satthā aṭṭhāsi tāvime sikkhāpadesu sikkhiṁsu. Yato imesaṁ satthā parinibbuto, na dānime sikkhāpadesu sikkhantī’ti. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho apaññattaṁ nappaññapeyya, paññattaṁ na samucchindeyya, yathāpaññattesu sikkhāpadesu samādāya vatteyya. Esā ñatti.
Suṇātu me, āvuso, saṅgho. Santamhākaṁ sikkhāpadāni gihigatāni. Gihinopi jānanti—‘idaṁ vo samaṇānaṁ sakyaputtiyānaṁ kappati, idaṁ vo na kappatī’ti. Sace mayaṁ khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanissāma, bhavissanti vattāro—‘dhūmakālikaṁ samaṇena gotamena sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ. Yāvimesaṁ satthā aṭṭhāsi tāvime sikkhāpadesu sikkhiṁsu. Yato imesaṁ satthā parinibbuto, na dānime sikkhāpadesu sikkhantī’ti.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. We have training rules that relate to householders. The householders know what is allowable for us and what is not allowable. If we abolish the minor training rules, some people will say, ‘The ascetic Gotama laid down training rules for his disciples until the time of his death. But they practice the training rules only as long as their teacher is alive. Since their teacher has now attained final extinguishment, they no longer practice them.’ If the Sangha is ready, it shouldn’t lay down new rules, nor get rid of existing rules, and it should undertake to practice the training rules as they are. This is the motion.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. We have training rules that relate to householders. The householders know what is allowable for us and what is not allowable. If we abolish the minor training rules, some people will say, ‘The ascetic Gotama laid down training rules for his disciples until the time of his death. But they practice the training rules only as long as their teacher is alive. Since their teacher has now attained final extinguishment, they no longer practice them.’
‘Thưa chư hiền, mong Tăng chúng hãy nghe tôi. Có những học giới của chúng ta liên hệ đến hàng tại gia. Ngay cả hàng tại gia cũng biết: ‘Điều này là hợp lệ đối với các sa-môn Thích tử, điều này là không hợp lệ.’ Nếu chúng ta hủy bỏ các học giới nhỏ nhặt và phụ thuộc, sẽ có những người nói rằng: ‘Học giới đã được sa-môn Gotama chế định cho các đệ tử chỉ là tạm thời. Chừng nào vị Đạo sư của họ còn tại thế, chừng đó họ còn thực hành các học giới. Kể từ khi vị Đạo sư của họ đã Niết-bàn, bây giờ họ không còn thực hành các học giới nữa.’ Nếu đây là thời điểm thích hợp cho Tăng chúng, Tăng chúng không nên chế định điều chưa được chế định, không nên hủy bỏ điều đã được chế định, và nên hành trì theo đúng các học giới đã được chế định. Đây là lời tác bạch.
Saṅgho apaññattaṁ nappaññapeti, paññattaṁ na samucchindati, yathāpaññattesu sikkhāpadesu samādāya vattati.
The Sangha doesn’t lay down new rules, nor get rid of the existing rules, and it undertakes to practice the training rules as they are.
‘Thưa chư hiền, mong Tăng chúng hãy nghe tôi. Có những học giới của chúng ta liên hệ đến hàng tại gia. Ngay cả hàng tại gia cũng biết: ‘Điều này là hợp lệ đối với các sa-môn Thích tử, điều này là không hợp lệ.’ Nếu chúng ta hủy bỏ các học giới nhỏ nhặt và phụ thuộc, sẽ có những người nói rằng: ‘Học giới đã được sa-môn Gotama chế định cho các đệ tử chỉ là tạm thời. Chừng nào vị Đạo sư của họ còn tại thế, chừng đó họ còn thực hành các học giới. Kể từ khi vị Đạo sư của họ đã Niết-bàn, bây giờ họ không còn thực hành các học giới nữa.’ Tăng chúng không chế định điều chưa được chế định, không hủy bỏ điều đã được chế định, và hành trì theo đúng các học giới đã được chế định. Việc không chế định điều chưa được chế định, không hủy bỏ điều đã được chế định, và hành trì theo đúng các học giới đã được chế định này, vị trưởng lão nào chấp thuận thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng.
‘Tăng chúng không chế định điều chưa được chế định, không hủy bỏ điều đã được chế định, và hành trì theo đúng các học giới đã được chế định. Điều này được Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Atha kho therā bhikkhū āyasmantaṁ ānandaṁ etadavocuṁ—“idaṁ te, āvuso ānanda, dukkaṭaṁ, yaṁ tvaṁ bhagavantaṁ na pucchi—‘katamāni pana, bhante, khuddānukhuddakāni sikkhāpadānī’ti. Desehi taṁ dukkaṭan”ti.
“Ahaṁ kho, bhante, assatiyā bhagavantaṁ na pucchiṁ—‘katamāni pana, bhante, khuddānukhuddakāni sikkhāpadānī’ti. Nāhaṁ taṁ dukkaṭaṁ passāmi, api cāyasmantānaṁ saddhāya desemi taṁ dukkaṭan”ti.
“Idampi te, āvuso ānanda, dukkaṭaṁ, yaṁ tvaṁ bhagavato vassikasāṭikaṁ akkamitvā sibbesi. Desehi taṁ dukkaṭan”ti.
“Ahaṁ kho, bhante, na agāravena bhagavato vassikasāṭikaṁ akkamitvā sibbesiṁ. Nāhaṁ taṁ dukkaṭaṁ passāmi, api cāyasmantānaṁ saddhāya desemi taṁ dukkaṭan”ti.
“Idampi te, āvuso ānanda, dukkaṭaṁ, yaṁ tvaṁ mātugāmehi bhagavato sarīraṁ paṭhamaṁ vandāpesi, tāsaṁ rodantīnaṁ bhagavato sarīraṁ assukena makkhitaṁ. Desehi taṁ dukkaṭan”ti.
“Ahaṁ kho, bhante—māyimāsaṁ vikāle ahesunti—mātugāmehi bhagavato sarīraṁ paṭhamaṁ vandāpesiṁ. Nāhaṁ taṁ dukkaṭaṁ passāmi, api cāyasmantānaṁ saddhāya desemi taṁ dukkaṭan”ti.
“Idampi te, āvuso ānanda, dukkaṭaṁ, yaṁ tvaṁ bhagavatā oḷārike nimitte kayiramāne, oḷārike obhāse kayiramāne, na bhagavantaṁ yāci—‘tiṭṭhatu bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ, bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti. Desehi taṁ dukkaṭan”ti.
“Ahaṁ kho, bhante, mārena pariyuṭṭhitacitto na bhagavantaṁ yāciṁ—‘tiṭṭhatu bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ, bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti. Nāhaṁ taṁ dukkaṭaṁ passāmi, api cāyasmantānaṁ saddhāya desemi taṁ dukkaṭan”ti.
“Idampi te, āvuso ānanda, dukkaṭaṁ yaṁ tvaṁ mātugāmassa tathāgatappavedite dhammavinaye pabbajjaṁ ussukkaṁ akāsi. Desehi taṁ dukkaṭan”ti.
“Ahaṁ kho, bhante, ayaṁ mahāpajāpati gotamī bhagavato mātucchā āpādikā posikā khīrassa dāyikā bhagavantaṁ janettiyā kālaṅkatāya thaññaṁ pāyesīti mātugāmassa tathāgatappavedite dhammavinaye pabbajjaṁ ussukkaṁ akāsiṁ. Nāhaṁ taṁ dukkaṭaṁ passāmi, api cāyasmantānaṁ saddhāya desemi taṁ dukkaṭan”ti.
The senior monks then said, “You have committed an act of wrong conduct, Ānanda, in that you didn’t ask the Buddha what the minor training rules are. Please confess that wrong conduct.”
“It was because of lack of mindfulness that I didn’t ask. I can’t see that I have committed any wrong conduct, but I’ll confess it out of faith in the venerables.”
“You have also committed an act of wrong conduct in that you stepped on the Buddha’s rainy-season robe while you were sewing it. Please confess that wrong conduct.”
“I didn’t step on it because of disrespect. I can’t see that I’ve committed any wrong conduct, but I’ll confess it out of faith in the venerables.”
“You have also committed an act of wrong conduct in that you first had women pay respect to the Buddha’s dead body. They soiled the Buddha’s body with tears. Please confess that wrong conduct.”
“I did this so that it wouldn’t get too late for them. I can’t see that I’ve committed any wrong conduct, but I’ll confess it out of faith in the venerables.”
“You have also committed an act of wrong conduct in that you didn’t ask the Buddha, even when he gave you a broad hint, to live on for an eon—for the benefit and happiness of humanity, out of compassion for the world, for the good, benefit, and happiness of gods and humans. Please confess that wrong conduct.”
“I didn’t ask because my mind was possessed by the Lord of Death. I can’t see that I’ve committed any wrong conduct, but I’ll confess it out of faith in the venerables.”
“You have also committed an act of wrong conduct in that you made an effort for women to be given the going forth on the spiritual path proclaimed by the Buddha. Please confess that wrong conduct.”
“I made this effort because Mahāpajāpati Gotamī was the Buddha’s aunt who nurtured him, brought him up, and breastfed him when his own mother died. I can’t see that I’ve committed any wrong conduct, but I’ll confess it out of faith in the venerables.”
443. Khi ấy, các trưởng lão tỳ khưu đã nói với trưởng lão Ānanda rằng: “Này hiền giả Ānanda, đây là tác tội của hiền giả, việc hiền giả đã không hỏi đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch ngài, những học giới nhỏ nhặt và phụ thuộc là những học giới nào?’ Hiền giả hãy sám hối tác tội ấy.” – “Bạch các ngài, do thất niệm, con đã không hỏi đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch ngài, những học giới nhỏ nhặt và phụ thuộc là những học giới nào?’ Con không thấy đó là tác tội, tuy nhiên do lòng tin đối với các ngài, con xin sám hối tác tội ấy.” – “Này hiền giả Ānanda, đây cũng là tác tội của hiền giả, việc hiền giả đã dẫm lên y tắm mưa của đức Thế Tôn khi may vá. Hiền giả hãy sám hối tác tội ấy.” – “Bạch các ngài, con đã không dẫm lên y tắm mưa của đức Thế Tôn khi may vá với tâm bất kính. Con không thấy đó là tác tội, tuy nhiên do lòng tin đối với các ngài, con xin sám hối tác tội ấy.” – “Này hiền giả Ānanda, đây cũng là tác tội của hiền giả, việc hiền giả đã để cho các phụ nữ đảnh lễ nhục thân của đức Thế Tôn trước, và nhục thân của đức Thế Tôn đã bị vấy bẩn bởi nước mắt của họ đang khóc than. Hiền giả hãy sám hối tác tội ấy.” – “Bạch các ngài, con đã để cho các phụ nữ đảnh lễ nhục thân của đức Thế Tôn trước với ý nghĩ rằng: ‘Mong rằng những người này sẽ không phải (trở lại) vào lúc phi thời.’ Con không thấy đó là tác tội, tuy nhiên do lòng tin đối với các ngài, con xin sám hối tác tội ấy.” – “Này hiền giả Ānanda, đây cũng là tác tội của hiền giả, việc khi đức Thế Tôn tạo ra tướng mạo hiển nhiên, tạo ra ánh sáng hiển nhiên, hiền giả đã không thỉnh cầu đức Thế Tôn rằng: ‘Xin đức Thế Tôn hãy trụ thế một kiếp, xin đức Thiện Thệ hãy trụ thế một kiếp, vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc cho chư Thiên và nhân loại.’ Hiền giả hãy sám hối tác tội ấy.” – “Bạch các ngài, do tâm bị Ma vương ám ảnh, con đã không thỉnh cầu đức Thế Tôn rằng: ‘Xin đức Thế Tôn hãy trụ thế một kiếp, xin đức Thiện Thệ hãy trụ thế một kiếp, vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc cho chư Thiên và nhân loại.’ Con không thấy đó là tác tội, tuy nhiên do lòng tin đối với các ngài, con xin sám hối tác tội ấy.” – “Này hiền giả Ānanda, đây cũng là tác tội của hiền giả, việc hiền giả đã cố gắng cho người nữ được xuất gia trong Pháp và Luật do đức Như Lai tuyên thuyết. Hiền giả hãy sám hối tác tội ấy.” – “Bạch các ngài, con đã cố gắng cho người nữ được xuất gia trong Pháp và Luật do đức Như Lai tuyên thuyết với ý nghĩ rằng: ‘Bà Mahāpajāpati Gotamī này là dì của đức Thế Tôn, là người nuôi dưỡng, chăm sóc, là người dâng sữa; sau khi mẫu thân của đức Thế Tôn qua đời, bà đã cho đức Thế Tôn bú sữa.’ Con không thấy đó là tác tội, tuy nhiên do lòng tin đối với các ngài, con xin sám hối tác tội ấy.”
Tena kho pana samayena āyasmā purāṇo dakkhiṇāgirismiṁ cārikaṁ carati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi. Atha kho āyasmā purāṇo therehi bhikkhūhi dhamme ca vinaye ca saṅgīte dakkhiṇāgirismiṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena rājagahaṁ yena veḷuvanaṁ kalandakanivāpo yena therā bhikkhū tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā therehi bhikkhūhi saddhiṁ paṭisammoditvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ purāṇaṁ therā bhikkhū etadavocuṁ—“therehi, āvuso purāṇa, dhammo ca vinayo ca saṅgīto. Upehi taṁ saṅgītin”ti.
“Susaṅgītāvuso, therehi dhammo ca vinayo ca. Api ca yatheva mayā bhagavato sammukhā sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ, tathevāhaṁ dhāressāmī”ti.
At that time Venerable Purāṇa was wandering in the Southern Hills with a large sangha of five hundred monks. Soon the senior monks had concluded the communal recitation of the Teaching and the Monastic Law. Then, when Purāṇa had stayed in the Southern Hills for as long as he liked, he went to the Bamboo Grove at Rājagaha. There he went up to the senior monks, exchanged pleasantries with them, and sat down. And they said to him, “Purāṇa, the senior monks have recited the Teaching and the Monastic Law. Please accept that communal recitation.”
“The Teaching and the Monastic Law have been well-recited by the senior monks. Nevertheless, I’ll remember what I myself have received from the Buddha.”
444. Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Purāṇa đang du hành ở vùng Dakkhiṇāgiri cùng với đại chúng tỳ khưu, với khoảng năm trăm vị tỳ khưu. Sau khi các trưởng lão tỳ khưu đã kết tập Pháp và Luật, trưởng lão Purāṇa, sau khi đã an trú tại vùng Dakkhiṇāgiri tùy theo ý thích, đã đi đến nơi có thành Rājagaha, nơi có tu viện Veḷuvana, khu Kalandakanivāpa, nơi các trưởng lão tỳ khưu đang ở. Sau khi đến, ngài đã cùng các trưởng lão tỳ khưu thăm hỏi thân mật rồi ngồi xuống một bên. Các trưởng lão tỳ khưu đã nói với trưởng lão Purāṇa đang ngồi một bên rằng: “Này hiền giả Purāṇa, Pháp và Luật đã được các trưởng lão kết tập. Hiền giả hãy chấp nhận cuộc kết tập ấy.” (Ngài Purāṇa đáp:) “Thưa các hiền giả, Pháp và Luật đã được các trưởng lão kết tập rất khéo. Tuy nhiên, tôi sẽ ghi nhớ theo đúng như những gì tôi đã được nghe từ kim khẩu đức Thế Tôn, đã được thọ lãnh từ kim khẩu của ngài.”
3. Brahmadaṇḍakathā
3. Discussion of the supreme penalty
3. Câu chuyện về hình phạt Phạm Thiên
Atha kho āyasmā ānando there bhikkhū etadavoca—“bhagavā maṁ, bhante, parinibbānakāle evamāha—‘tena hānanda, saṅgho mamaccayena channassa bhikkhuno brahmadaṇḍaṁ āṇāpetū’”ti.
“Pucchi pana tvaṁ, āvuso ānanda, bhagavantaṁ—‘katamo pana, bhante, brahmadaṇḍo’”ti?
“Pucchiṁ khohaṁ, bhante, bhagavantaṁ—‘katamo pana, bhante, brahmadaṇḍo’ti? ‘Channo, ānanda, bhikkhu yaṁ iccheyya taṁ vadeyya. Bhikkhūhi channo bhikkhu neva vattabbo, na ovaditabbo, nānusāsitabbo’”ti.
“Tena hāvuso ānanda, tvaṁyeva channassa bhikkhuno brahmadaṇḍaṁ āṇāpehī”ti.
“Kathāhaṁ, bhante, channassa bhikkhuno brahmadaṇḍaṁ āṇāpemi, caṇḍo so bhikkhu pharuso”ti?
“Tena hāvuso ānanda, bahukehi bhikkhūhi saddhiṁ gacchāhī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando therānaṁ bhikkhūnaṁ paṭissutvā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi nāvāya ujjavanikāya kosambiṁ ujjavi, nāvāya paccorohitvā rañño udenassa uyyānassa avidūre aññatarasmiṁ rukkhamūle nisīdi.
Tena kho pana samayena rājā udeno uyyāne paricāresi saddhiṁ orodhena. Assosi kho rañño udenassa orodho—“amhākaṁ kira ācariyo ayyo ānando uyyānassa avidūre aññatarasmiṁ rukkhamūle nisinno”ti. Atha kho rañño udenassa orodho rājānaṁ udenaṁ etadavoca—“amhākaṁ kira, deva, ācariyo ayyo ānando uyyānassa avidūre aññatarasmiṁ rukkhamūle nisinno. Icchāma mayaṁ, deva, ayyaṁ ānandaṁ passitun”ti.
“Tena hi tumhe samaṇaṁ ānandaṁ passathā”ti.
Venerable Ānanda said to the senior monks, “At the time of his final extinguishment, the Buddha said to me, ‘After my passing away, Ānanda, the Sangha should impose the supreme penalty on the monk Channa.’”
“Did you ask the Buddha what the supreme penalty is?”
“I did, and he replied, ‘Whatever Channa says, the monks shouldn’t correct him, instruct him, or teach him.’”
“Well then, Ānanda, impose the supreme penalty on Channa.”
“But how should I do it? Channa is temperamental and harsh.”
“Go together with many monks.”
Saying, “Yes, venerables,” he traveled by boat upstream to Kosambī with a large sangha of five hundred monks. After disembarking, he sat down at the foot of a tree not far from King Udena’s park.
Just then King Udena was enjoying himself in the park together with his harem. The harem women heard that their teacher, Venerable Ānanda, was seated at the foot of a tree not far from the park. They told the king, adding, “Sir, we would like to see Venerable Ānanda.”
“Well then, go ahead.”
445. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda nói với các vị Trưởng lão tỳ khưu điều này: – ‘Bạch chư Tôn giả, vào lúc sắp viên tịch, đức Thế Tôn đã nói với tôi như vầy: ‘Này Ānanda, vậy thì sau khi ta diệt độ, Tăng chúng hãy áp dụng hình phạt Phạm hạnh đối với tỳ khưu Channa.’’ – ‘Này hiền giả Ānanda, hiền giả có hỏi đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, thế nào là hình phạt Phạm hạnh không?’ – ‘Bạch chư Tôn giả, tôi đã hỏi đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, thế nào là hình phạt Phạm hạnh?’ – ‘Này Ānanda, tỳ khưu Channa muốn nói gì thì cứ nói. Các tỳ khưu không được nói chuyện, không được khuyên bảo, không được giáo giới tỳ khưu Channa.’ – ‘Này hiền giả Ānanda, vậy thì chính hiền giả hãy áp dụng hình phạt Phạm hạnh đối với tỳ khưu Channa.’ – ‘Bạch chư Tôn giả, làm sao tôi có thể áp dụng hình phạt Phạm hạnh đối với tỳ khưu Channa được? Vị tỳ khưu ấy hung hăng và thô bạo.’ – ‘Này hiền giả Ānanda, vậy thì hiền giả hãy đi cùng với nhiều vị tỳ khưu.’ – ‘Thưa vâng, bạch chư Tôn giả.’ Tôn giả Ānanda sau khi vâng lời các vị Trưởng lão tỳ khưu, đã cùng với một hội chúng tỳ khưu đông đảo gồm khoảng năm trăm vị, đi thuyền ngược dòng đến Kosambī. Sau khi xuống thuyền, ngài ngồi dưới gốc một cây không xa vườn của vua Udena. Vào lúc bấy giờ, vua Udena đang vui chơi trong vườn cùng với các cung nữ. Các cung nữ của vua Udena nghe tin rằng: ‘Nghe nói bậc thầy của chúng ta, Tôn giả Ānanda, đang ngồi dưới gốc một cây không xa khu vườn.’ Bấy giờ, các cung nữ của vua Udena đến tâu với vua Udena điều này: – ‘Tâu Đại vương, nghe nói bậc thầy của chúng ta, Tôn giả Ānanda, đang ngồi dưới gốc một cây không xa khu vườn. Tâu Đại vương, chúng thần thiếp muốn được yết kiến Tôn giả Ānanda.’ – ‘Vậy thì các khanh hãy đi yết kiến sa-môn Ānanda.’
Atha kho rañño udenassa orodho yenāyasmā ānando tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho rañño udenassa orodhaṁ āyasmā ānando dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho rañño udenassa orodho āyasmatā ānandena dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito āyasmato ānandassa pañca uttarāsaṅgasatāni pādāsi. Atha kho rañño udenassa orodho āyasmato ānandassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena rājā udeno tenupasaṅkami.
Addasā kho rājā udeno orodhaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna orodhaṁ etadavoca—“api nu kho tumhe samaṇaṁ ānandaṁ passitthā”ti?
“Apassimhā kho mayaṁ, deva, ayyaṁ ānandan”ti.
“Api nu tumhe samaṇassa ānandassa kiñci adatthā”ti?
“Adamhā kho mayaṁ, deva, ayyassa ānandassa pañca uttarāsaṅgasatānī”ti.
Rājā udeno ujjhāyati khiyyati vipāceti—“kathañhi nāma samaṇo ānando tāva bahuṁ cīvaraṁ paṭiggahessati. Dussavāṇijjaṁ vā samaṇo ānando karissati, paggāhikasālaṁ vā pasāressatī”ti.
The harem women then went to Ānanda, bowed, and sat down. And Ānanda instructed, inspired, and gladdened them with a teaching, at the end of which they gave him five hundred upper robes. After rejoicing and expressing their appreciation for his teaching, they got up from their seats, bowed down, circumambulated him with their right sides toward him, and went to King Udena.
When King Udena saw them coming, he said to them, “Did you see the ascetic Ānanda?”
“We did.”
“Did you give him anything?”
“We gave him five hundred upper robes.”
King Udena complained and criticized him, “How can the ascetic Ānanda receive so many robes? Is he starting up as cloth merchant or setting up shop?”
Bấy giờ, các cung nữ của vua Udena đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, họ đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ānanda đã dùng pháp thoại để khai thị, khích lệ, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ các cung nữ của vua Udena đang ngồi một bên. Bấy giờ, các cung nữ của vua Udena, sau khi được Tôn giả Ānanda dùng pháp thoại để khai thị, khích lệ, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ, đã dâng cúng Tôn giả Ānanda năm trăm tấm thượng y. Sau đó, các cung nữ của vua Udena, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Tôn giả Ānanda, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Ānanda, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi đi đến chỗ vua Udena. Vua Udena thấy các cung nữ từ xa đi đến. Thấy vậy, vua nói với các cung nữ điều này: – ‘Các khanh có gặp sa-môn Ānanda không?’ – ‘Tâu Đại vương, chúng thần thiếp đã gặp Tôn giả Ānanda.’ – ‘Các khanh có dâng cúng gì cho sa-môn Ānanda không?’ – ‘Tâu Đại vương, chúng thần thiếp đã dâng cúng Tôn giả Ānanda năm trăm tấm thượng y.’ Vua Udena phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: – ‘Tại sao sa-môn Ānanda lại có thể nhận nhiều y như vậy! Chắc là sa-môn Ānanda sẽ đi buôn vải, hay là sẽ mở một cửa hàng!’
Atha kho rājā udeno yenāyasmā ānando tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rājā udeno āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca—“āgamā nu khvidha, bho ānanda, amhākaṁ orodho”ti?
“Āgamāsi kho te idha, mahārāja, orodho”ti.
“Api pana bhoto ānandassa kiñci adāsī”ti?
“Adāsi kho me, mahārāja, pañca uttarāsaṅgasatānī”ti.
“Kiṁ pana bhavaṁ ānando tāva bahuṁ cīvaraṁ karissatī”ti?
“Ye te, mahārāja, bhikkhū dubbalacīvarā tehi saddhiṁ saṁvibhajissāmī”ti.
“Yāni kho pana, bho ānanda, porāṇakāni dubbalacīvarāni tāni kathaṁ karissathā”ti?
“Tāni, mahārāja, uttarattharaṇaṁ karissāmā”ti.
“Yāni pana, bho ānanda, porāṇakāni uttarattharaṇāni tāni kathaṁ karissathā”ti?
“Tāni, mahārāja, bhisicchaviyo karissāmā”ti.
“Yā pana, bho ānanda, porāṇakā bhisicchaviyo tā kathaṁ karissathā”ti?
“Tā, mahārāja, bhūmattharaṇaṁ karissāmā”ti.
“Yāni pana, bho ānanda, porāṇakāni bhūmattharaṇāni tāni kathaṁ karissathā”ti?
“Tāni, mahārāja, pādapuñchaniyo karissāmā”ti.
“Yā pana, bho ānanda, porāṇakā pādapuñchaniyo tā kathaṁ karissathā”ti?
“Tā, mahārāja, rajoharaṇaṁ karissāmā”ti.
“Yāni pana, bho ānanda, porāṇakāni rajoharaṇāni tāni kathaṁ karissathā”ti?
“Tāni, mahārāja, koṭṭetvā cikkhallena madditvā paribhaṇḍaṁ limpissāmā”ti.
King Udena then went to Ānanda, exchanged pleasantries with him, sat down, and said, “Sir Ānanda, did our harem women come here?”
“They did.”
“Did they give you anything?”
“They gave me five hundred upper robes.”
“But what will you do with five hundred robes?”
“I’ll share them with those monks whose robes are worn out.”
“And what will you do with the worn out robes?”
“We’ll make them into bedspreads.”
“And what will you do with the old bedspreads?”
“We’ll make them into mattress covers.”
“And what will you do with the old mattress covers?”
“We’ll make them into floor covers.”
“And what will you do with the old floor covers?”
“We’ll make them into doormats.”
“And what will you do with the old doormats?”
“We’ll make them into dustcloths.”
“And what will you do with the old dustcloths?”
“We’ll cut them up, mix them with mud, and smear the floors.”
Bấy giờ, vua Udena đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, vua cùng Tôn giả Ānanda nói lên lời chào mừng. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi thân tình, vua ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vua Udena nói với Tôn giả Ānanda điều này: – ‘Thưa ngài Ānanda, các cung nữ của trẫm có đến đây không?’ – ‘Tâu Đại vương, các cung nữ của ngài có đến đây.’ – ‘Họ có dâng cúng gì cho ngài Ānanda không?’ – ‘Tâu Đại vương, họ đã dâng cúng cho tôi năm trăm tấm thượng y.’ – ‘Thưa ngài Ānanda, ngài sẽ làm gì với số y nhiều như vậy?’ – ‘Tâu Đại vương, tôi sẽ chia cho các vị tỳ khưu có y đã cũ mòn.’ – ‘Thưa ngài Ānanda, còn những chiếc y cũ mòn xưa kia, các ngài sẽ làm gì với chúng?’ – ‘Tâu Đại vương, chúng tôi sẽ dùng chúng làm tấm trải giường.’ – ‘Thưa ngài Ānanda, còn những tấm trải giường cũ, các ngài sẽ làm gì với chúng?’ – ‘Tâu Đại vương, chúng tôi sẽ dùng chúng làm vỏ nệm.’ – ‘Thưa ngài Ānanda, còn những chiếc vỏ nệm cũ, các ngài sẽ làm gì với chúng?’ – ‘Tâu Đại vương, chúng tôi sẽ dùng chúng làm tấm trải sàn.’ – ‘Thưa ngài Ānanda, còn những tấm trải sàn cũ, các ngài sẽ làm gì với chúng?’ – ‘Tâu Đại vương, chúng tôi sẽ dùng chúng làm khăn lau chân.’ – ‘Thưa ngài Ānanda, còn những chiếc khăn lau chân cũ, các ngài sẽ làm gì với chúng?’ – ‘Tâu Đại vương, chúng tôi sẽ dùng chúng làm giẻ lau bụi.’ – ‘Thưa ngài Ānanda, còn những chiếc giẻ lau bụi cũ, các ngài sẽ làm gì với chúng?’ – ‘Tâu Đại vương, chúng tôi sẽ băm nhỏ chúng ra, trộn với đất sét, rồi dùng để trát tường.’
Atha kho rājā udeno—“sabbevime samaṇā sakyaputtiyā yoniso upanenti, na kulavaṁ gamentī”ti—āyasmato ānandassa aññānipi pañca dussasatāni pādāsi. Ayañcarahi āyasmato ānandassa paṭhamaṁ cīvarabhikkhā uppajji cīvarasahassaṁ.
Atha kho āyasmā ānando yena ghositārāmo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho āyasmā channo yenāyasmā ānando tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ channaṁ āyasmā ānando etadavoca—“saṅghena te, āvuso channa, brahmadaṇḍo āṇāpito”ti.
King Udena thought, “These Sakyan monastics are clever at putting things to use; nothing is wasted,” and he gave another five hundred pieces of cloth to Ānanda. Together with the first offering of robes, Ānanda was given a total of one thousand robes.
Ānanda then went to Ghosita’s Monastery where he sat down on the prepared seat. Venerable Channa went up to Ānanda, bowed, and sat down. And Ānanda said, “Channa, the Sangha has imposed the supreme penalty on you.”
Bấy giờ, vua Udena suy nghĩ rằng: ‘Tất cả các vị Sa-môn Thích tử này đều sử dụng (vật dụng) một cách hợp lý, không làm cho hư hoại,’ rồi dâng cúng thêm năm trăm tấm vải khác cho trưởng lão Ānanda. Đây là lần đầu tiên, sự cúng dường y phục đã phát sanh đến trưởng lão Ānanda lên đến một ngàn y. Bấy giờ, trưởng lão Ānanda đi đến tu viện Ghositārāma, sau khi đến, ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Bấy giờ, trưởng lão Channa đi đến chỗ trưởng lão Ānanda, sau khi đến, đảnh lễ trưởng lão Ānanda rồi ngồi xuống một bên. Trưởng lão Ānanda đã nói điều này với trưởng lão Channa đang ngồi một bên: ‘Này hiền giả Channa, Tăng chúng đã tuyên án phạt Phạm hạnh đối với hiền giả.’”
“Katamo pana, bhante ānanda, brahmadaṇḍo āṇāpito”ti?
“Tvaṁ, āvuso channa, bhikkhū yaṁ iccheyyāsi taṁ vadeyyāsi. Bhikkhūhi tvaṁ neva vattabbo, na ovaditabbo, nānusāsitabbo”ti.
“Nanvāhaṁ, bhante ānanda, hato ettāvatā, yatohaṁ bhikkhūhi neva vattabbo, na ovaditabbo, nānusāsitabbo”ti tattheva mucchito papato.
Atha kho āyasmā channo brahmadaṇḍena aṭṭīyamāno harāyamāno jigucchamāno eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi. “Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi. Aññataro ca panāyasmā channo arahataṁ ahosi.
Atha kho āyasmā channo arahattaṁ patto yenāyasmā ānando tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca—“paṭippassambhehi dāni me, bhante ānanda, brahmadaṇḍan”ti.
“Yadaggena tayā, āvuso channa, arahattaṁ sacchikataṁ tadaggena te brahmadaṇḍo paṭippassaddho”ti.
Imāya kho pana vinayasaṅgītiyā pañca bhikkhusatāni anūnāni anadhikāni ahesuṁ. Tasmā ayaṁ vinayasaṅgīti “pañcasatikā”ti vuccatīti.
“What’s the supreme penalty?”
“Whatever you say to the monks, the monks shouldn’t correct you, instruct you, or teach you.”
Exclaiming, “I’m ruined!” he fainted right there.
Being troubled, ashamed, and disgusted by the supreme penalty, Channa stayed by himself, secluded, heedful, energetic, and diligent. And in this very life, he soon realized with his own insight the supreme goal of the spiritual life for which gentlemen rightly go forth into homelessness. He understood that birth had come to an end, that the spiritual life had been fulfilled, that the job had been done, that there was no further state of existence. Venerable Channa became one of the perfected ones.
He then went to Ānanda and said, “Venerable Ānanda, please lift the supreme penalty.”
“The supreme penalty was lifted the moment you realized perfection.”
At this communal recitation of the Monastic Law there were five hundred monks, neither more nor less. This is why this communal recitation is called “The group of five hundred”.
‘Thưa ngài Ānanda, án phạt Phạm hạnh đã được tuyên là như thế nào?’ ‘Này hiền giả Channa, hiền giả muốn nói gì với các tỳ-khưu thì cứ nói. Các tỳ-khưu không được nói, không được khuyên bảo, không được chỉ dạy hiền giả.’ ‘Thưa ngài Ānanda, như vậy chẳng phải là con đã bị hại rồi sao, khi mà con không được các tỳ-khưu nói chuyện, không được khuyên bảo, không được chỉ dạy?’ (Nói xong), ngài đã ngất xỉu và ngã xuống ngay tại chỗ. Bấy giờ, trưởng lão Channa, do bị án phạt Phạm hạnh làm cho khổ não, xấu hổ, ghê tởm, đã sống một mình, xa lánh, không buông lung, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu sau, ngài đã tự mình chứng ngộ với thắng trí ngay trong hiện tại, mục đích tối thượng của phạm hạnh mà vì nó các thiện gia nam tử đã chân chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, và an trú trong đó. Ngài đã biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ Và trưởng lão Channa đã trở thành một trong các vị A-la-hán. Bấy giờ, trưởng lão Channa sau khi đắc quả A-la-hán, đã đi đến chỗ trưởng lão Ānanda, sau khi đến, đã nói với trưởng lão Ānanda điều này: ‘Thưa ngài Ānanda, bây giờ xin ngài hãy đình chỉ án phạt Phạm hạnh cho con.’ ‘Này hiền giả Channa, kể từ khi hiền giả chứng đắc quả A-la-hán, án phạt Phạm hạnh đối với hiền giả đã được đình chỉ kể từ đó.’ Cuộc kết tập Luật này đã có năm trăm vị tỳ-khưu, không thiếu không thừa. Vì thế, cuộc kết tập Luật này được gọi là ‘Kết tập của năm trăm vị’ (Pañcasatikā).
Pañcasatikakkhandhako ekādasamo. Imamhi khandhake vatthū tevīsati.
Tassuddānaṁ
The eleventh chapter on the first council is finished. In this chapter there are twenty-three topics.
This is the summary:
Chương Kết tập của năm trăm vị, thứ mười một.
Parinibbute sambuddhe, thero kassapasavhayo; Āmantayi bhikkhugaṇaṁ, saddhammamanupālako.
Pāvāyaddhānamaggamhi, subhaddena paveditaṁ; Saṅgāyissāma saddhammaṁ, adhammo pure dippati.
“When the Buddha had attained extinguishment, The senior monk called Kassapa; Addressed the community of monks, Guarding the true Teaching.
On the way from Pāvā, Subhadda declared; We will recite the true Teaching, Before what is contrary to the Teaching shines forth.
Khi đức Chánh Đẳng Giác nhập Niết-bàn, trưởng lão tên Kassapa, vị hộ trì Chánh pháp, đã nói với chúng tỳ-khưu. Trên đường dài từ Pāvā, điều (bất kính) đã được Subhadda cho biết. (Ngài nói:) ‘Chúng ta hãy kết tập Chánh pháp, trước khi phi pháp được hưng thịnh.’
Ekenūna pañcasataṁ, ānandampi ca uccini; Dhammavinayasaṅgītiṁ, vasanto guhamuttame.
Four hundred and ninety-nine, And he also invited Ānanda; Communal recitation of the Teaching and the Monastic Law, Staying in the best of caves.
Năm trăm vị thiếu một, và ngài Ānanda cũng được chọn. Trú tại hang động tối thắng, (các ngài đã) kết tập Pháp và Luật.
Upāliṁ vinayaṁ pucchi, suttantānandapaṇḍitaṁ; Piṭakaṁ tīṇi saṅgītiṁ, akaṁsu jinasāvakā.
Khuddānukhuddake nānā, yathāpaññattivattanā;
He asked Upāli about the Monastic Law, And the wise Ānanda about the discourses; Communal recitation of the three Collections, Was done by the disciples of the Victor.
The various minor rules, Were continued as laid down;
Hỏi ngài Upāli về Luật, hỏi bậc hiền trí Ānanda về Kinh. Các đệ tử của đấng Chiến Thắng đã kết tập ba tạng.
Không hỏi (về các học giới nhỏ nhặt), giẫm lên (y), để (phụ nữ) đảnh lễ (trước), và đã không thỉnh cầu.
Pabbajjaṁ mātugāmassa, saddhāya dukkaṭāni me; Purāṇo brahmadaṇḍañca, orodho udenena saha.
The going forth of women, Wrong conduct for me out of faith; Purāṇa, and the supreme penalty, Harem with Udena.
Việc xuất gia của nữ nhân, (do) lòng tin (nên đã thỉnh cầu, đó là) các tội đột-cát-la của tôi. (Trưởng lão) Purāṇa, và án phạt Phạm hạnh, cùng với cung nữ của vua Udena.
Tāva bahu dubbalañca, uttarattharaṇā bhisi; Bhūmattharaṇā puñchaniyo, rajo cikkhallamaddanā.
So many, and worn out, Bedspreads, mattress; Floor covers, doormats, Dustcloth, mixed with mud.
Nhiều y như thế, và y mỏng yếu, tấm trải bên trên, nệm gối; tấm trải sàn, đồ lau chân, đồ lau bụi, việc trét bùn.
Sahassacīvaraṁ uppajji, paṭhamānandasavhayo; Tajjito brahmadaṇḍena, catussaccaṁ apāpuṇi; Vasībhūtā pañcasatā, tasmā pañcasatī iti.
He got one thousand robes, With the first, the one called Ānanda; Condemned by the supreme punishment, Acquired the four truths; Mastered by the five hundred, Therefore it was ‘the group of five hundred’.”
Một ngàn y đã phát sanh, lần đầu cho vị tên Ānanda. Bị khiển trách bởi án phạt Phạm hạnh, (Channa) đã đạt đến Tứ đế. Năm trăm vị đã thuần thục, (đã thực hiện kết tập), vì thế được gọi là (kết tập của) năm trăm vị.
Pañcasatikakkhandhako niṭṭhito.
The chapter on the first council is finished.
Dứt Phẩm Năm Trăm.