- Theravāda Vinayapiṭaka
- Cūḷavagga
Bản dịch
Kd 22 — Chương liên quan bảy trăm vị
22. Sattasatikakkhandhaka
TỤNG PHẨM THỨ NHẤT:
Inda-bh 1~1Vào lúc bấy giờ, khi đức Thế Tôn Vô Dư Niết Bàn được một trăm năm, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli truyền bá trong thành Vesāli mười sự việc là: “Quy định cất giữ muối trong ống sừng là được phép, quy định hai ngón tay là được phép, quy định trong làng là được phép, quy định về chỗ trú ngụ là được phép, quy định về sự thỏa thuận là được phép, quy định theo tập quán là được phép, quy định chưa được khuấy là được phép, quy định uống nước trái cây lên men là được phép, quy định vật lót ngồi không có viền quanh là được phép, vàng bạc là được phép.”653
Inda-bh 2~2Vào lúc bấy giờ, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka trong khi du hành ở xứ Vajji đã đến trú tại Vesāli. Tại nơi đó ở Vesāli, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã trú tại Mahāvana, nơi giảng đường Kūṭāgāra. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli vào ngày Uposatha sau khi đổ đầy nước vào cái chậu đồng rồi đặt ở giữa hội chúng tỳ khưu và nói với các cư sĩ ở Vesāli đang đi qua lại như vầy:—“Này các đạo hữu, hãy bố thí đến hội chúng một kahāpaṇa, một nửa (kahāpaṇa), một pāda, một māsaka. Hội chúng sẽ có việc phải làm về vật dụng.” Khi được nói như vậy, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã nói với các cư sĩ ở Vesāli điều này:—“Này các đạo hữu, chớ có bố thí đến hội chúng một kahāpaṇa, một nửa (kahāpaṇa), một pāda, một māsaka. Vàng bạc không được cho phép đối với các Sa-môn Thích tử; các Sa-môn Thích tử không thích thú vàng bạc; các Sa-môn Thích tử không thọ nhận vàng bạc; các Sa-môn Thích tử đã từ bỏ ngọc ma-ṇi và vàng ròng, đã xa lìa vàng bạc.”
Trong khi được đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka nói như vậy, các cư sĩ ở Vesāli vẫn bố thí đến hội chúng một kahāpaṇa, một nửa (kahāpaṇa), một pāda, một māsaka. Sau đó, vào cuối đêm ấy các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã xác định phần chia tùy theo số lượng tỳ khưu rồi đã phân chia số tiền vàng ấy.
Khi ấy, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã nói với đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka điều này:—“Này đại đức Yasa, phần chia tiền vàng này thuộc về đại đức.”—“Này các đại đức, phần chia tiền vàng này không thuộc về tôi, tôi không thích thú tiền vàng.”
Sau đó, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli (bàn bạc rằng): “Này các đại đức, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka này quở trách, chê bai, làm giảm đức tin các cư sĩ có niềm tin đã mộ đạo, vậy chúng ta hãy thực hiện hành sự hòa giải đến vị ấy.” Họ đã thực hiện hành sự hòa giải đến vị ấy. Khi ấy, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã nói với các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli điều này:—“Này các đại đức, đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Vị sứ giả cùng đi nên được ban đến vị tỳ khưu thực hiện hành sự hòa giải.’ Này các đại đức, hãy cho tôi vị tỳ khưu làm sứ giả cùng đi.” Khi ấy, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã chỉ định một vị tỳ khưu và cho làm sứ giả cùng đi với đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka.
Inda-bh 4~3Sau đó, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka cùng với vị tỳ khưu là sứ giả cùng đi đã vào thành Vesāli và đã nói với các cư sĩ ở Vesāli điều này:—“Nghe nói tôi quở trách, chê bai, làm giảm đức tin quý vị là những cư sĩ có niềm tin đã mộ đạo (trong việc) tôi đây nói phi Pháp là: ‘Phi Pháp,’ Pháp là: ‘Pháp,’ phi Luật là: ‘Phi Luật,’ Luật là: ‘Luật.’’
Này các đạo hữu, vào một thuở nọ, đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Này các đạo hữu, ở nơi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—‘Này các tỳ khưu, đây là bốn vật làm ô nhiễm đối với mặt trăng và mặt trời. Khi bị ô nhiễm bởi những vật làm ô nhiễm này, mặt trăng và mặt trời không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi. Bốn vật ấy là gì? Này các tỳ khưu, mây là vật làm ô nhiễm đối với mặt trăng và mặt trời. Khi bị ô nhiễm bởi vật làm ô nhiễm này, mặt trăng và mặt trời không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi. Này các tỳ khưu, sương mù là vật làm ô nhiễm đối với mặt trăng và mặt trời. … (như trên) … Này các tỳ khưu, khói bụi là vật làm ô nhiễm đối với mặt trăng và mặt trời. … (như trên) … Này các tỳ khưu, Rāhu chúa loài Asura (hiện tượng nguyệt và nhật thực) là vật làm ô nhiễm đối với mặt trăng và mặt trời. Này các tỳ khưu, đây là bốn vật làm ô nhiễm đối với mặt trăng và mặt trời. Khi bị ô nhiễm bởi những vật làm ô nhiễm này, mặt trăng và mặt trời không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi.
Này các tỳ khưu, tương tợ y như thế đây là bốn điều làm ô nhiễm đối với Sa-môn và Bà-la-môn. Khi bị ô nhiễm bởi những điều làm ô nhiễm này, các Sa-môn và Bà-la-môn không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi. Bốn điều ấy là gì? Này các tỳ khưu, có những Sa-môn và Bà-la-môn uống rượu, uống men say, không chừa bỏ việc uống rượu và men say. Này các tỳ khưu, đây là điều làm ô nhiễm thứ nhất đối với Sa-môn và Bà-la-môn. Khi bị ô nhiễm bởi điều làm ô nhiễm này, các Sa-môn và Bà-la-môn không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, có những Sa-môn và Bà-la-môn thực hiện việc đôi lứa, không chừa bỏ việc đôi lứa. Này các tỳ khưu, đây là điều làm ô nhiễm thứ nhì đối với Sa-môn và Bà-la-môn. … (như trên) …
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, có những Sa-môn và Bà-la-môn thích thú vàng bạc, không chừa bỏ việc thọ nhận vàng bạc. Này các tỳ khưu, đây là điều làm ô nhiễm thứ ba đối với Sa-môn và Bà-la-môn. … (như trên) …
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, có những Sa-môn và Bà-la-môn chấp nhận cuộc sống bằng sự nuôi mạng không chân chánh, không chừa bỏ sự nuôi mạng không chân chánh. Này các tỳ khưu, đây là điều làm ô nhiễm thứ tư đối với Sa-môn và Bà-la-môn. … (như trên) …
Này các tỳ khưu, đây là bốn điều làm ô nhiễm đối với Sa-môn và Bà-la-môn. Khi bị ô nhiễm bởi những điều làm ô nhiễm này, các Sa-môn và Bà-la-môn không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi.’ Này các đạo hữu, đức Thế Tôn đã nói điều ấy, đấng Thiện Thệ đã nói điều ấy, rồi bậc Đạo Sư còn nói thêm điều này nữa:
‘Có những Sa-môn và Bà-la-môn bị ô nhiễm bởi ái dục và sân, là những người bị che áng bởi vô minh, có sự thỏa thích ở các hình dáng đáng yêu.
Họ uống rượu, men say, theo đuổi việc đôi lứa, thích thú bạc và vàng, họ là những kẻ ngu si tăm tối.
Có những Sa-môn và Bà-la-môn sống bằng tà mạng. Những sự ô nhiễm này đã được nói lên bởi đức Phật, là vị thân quyến của mặt trời.
Những Sa-môn và Bà-la-môn đã bị ô nhiễm bởi những ô nhiễm ấy thì không còn cháy sáng, không còn rực rỡ, không còn chói lọi, không trong sạch, có nhiễm bụi, như là loài thú.
Bị bao phủ bởi bóng đêm, họ là những nô lệ của tham ái, là những kẻ bị (tham ái) dẫn đi, họ làm tăng trưởng nghĩa địa kinh hoàng, họ bám lấy sự tái sanh lần nữa.’
Có lời nói như vầy: Nghe nói tôi quở trách, chỉ trích, làm giảm đức tin quý vị là những cư sĩ có niềm tin, mộ đạo (trong việc) tôi đây nói phi Pháp là: ‘Phi Pháp,’ Pháp là: ‘Pháp,’ phi Luật là: ‘Phi Luật,’ Luật là: ‘Luật.’
Inda-bh 5~4Này các đạo hữu, vào một thuở nọ đức Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Này các đạo hữu, vào lúc bấy giờ, trong lúc các hầu cận của đức vua ngồi lại tụ họp với nhau ở nơi hậu cung, có câu chuyện qua lại này đã sanh khởi: ‘Vàng bạc được cho phép đối với các Sa-môn Thích tử; các Sa-môn Thích tử thích thú vàng bạc; các Sa-môn Thích tử thọ nhận vàng bạc.’ Này các đạo hữu, vào lúc bấy giờ vị thôn trưởng Maṇicūḷaka đang ngồi trong nhóm người ấy.
Này các đạo hữu, khi ấy vị thôn trưởng Maṇicūḷaka đã nói với nhóm người ấy điều này: ‘Quý vị chớ có nói như thế. Vàng bạc không được cho phép đối với các Sa-môn Thích tử; các Sa-môn Thích tử không thích thú vàng bạc; các Sa-môn Thích tử không thọ nhận vàng bạc; các Sa-môn Thích tử đã từ bỏ ngọc ma-ṇi và vàng ròng, đã xa lìa vàng bạc.’ Này các đạo hữu, vị thôn trưởng Maṇicūḷaka đã có thể thuyết phục được nhóm người ấy.
Inda-bh 6~5Này các đạo hữu, sau đó, khi đã thuyết phục được nhóm người ấy vị thôn trưởng Maṇicūḷaka đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Này các đạo hữu, khi đã ngồi xuống một bên vị thôn trưởng Maṇicūḷaka đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, ở đây trong lúc các hầu cận của đức vua ngồi lại tụ họp với nhau ở nơi hậu cung, có câu chuyện qua lại này đã sanh khởi: ‘Vàng bạc được cho phép đối với các Sa-môn Thích tử; các Sa-môn Thích tử thích thú vàng bạc; các Sa-môn Thích tử thọ nhận vàng bạc.’ Bạch ngài, được nói như vậy, con đã nói với nhóm người ấy điều này: ‘Quý vị chớ có nói như thế. Vàng bạc không được cho phép đối với các Sa-môn Thích tử; các Sa-môn Thích tử không thích thú vàng bạc; các Sa-môn Thích tử không thọ nhận vàng bạc; các Sa-môn Thích tử đã từ bỏ ngọc ma-ni và vàng ròng, đã xa lìa vàng bạc.’ Bạch ngài, con đã có thể thuyết phục được nhóm người ấy. Bạch ngài, trong khi nói như thế, có phải con là người đã nói đúng lời của đức Thế Tôn và con không vu khống đức Thế Tôn một cách sai trái? Có phải con đã nói theo lý lẽ của Giáo Pháp? Và có phải người nào có lời nói hợp với giáo lý, đúng theo Giáo Pháp, không rơi vào vị thế bị chê trách?”
—“Này Thôn trưởng, đúng vậy. Trong khi nói như thế, ngươi là người đã nói đúng lời của ta và ngươi không vu khống ta một cách sai trái. Ngươi đã nói theo lý lẽ của Giáo Pháp và người nào có lời nói hợp với giáo lý, đúng theo Giáo Pháp, không rơi vào vị thế đáng bị chê trách. Này Thôn trưởng, bởi vì vàng bạc không được cho phép đối với các Sa-môn Thích tử, các Sa-môn Thích tử không thích thú vàng bạc, các Sa-môn Thích tử không thọ nhận vàng bạc, các Sa-môn Thích tử đã từ bỏ ngọc ma-ni và vàng ròng, đã xa lìa vàng bạc. Này Thôn trưởng, đối với kẻ nào vàng bạc là được phép thì đối với kẻ ấy năm phần dục lạc cũng là được phép. Này Thôn trưởng, đối với kẻ nào năm phần dục lạc là được phép thì ngươi có thể nắm chắc về điều này là: ‘Không phải là pháp của Sa-môn, không phải là pháp của Thích tử.’ Này Thôn trưởng, và ta còn nói như vầy: Người mong muốn cỏ thì tầm cầu cỏ, người mong muốn củi thì tầm cầu củi, người mong muốn xe cộ thì tầm cầu xe cộ, người mong muốn đàn ông thì tầm cầu đàn ông. Này Thôn trưởng, nhưng ta không có nói rằng: ‘Bằng bất cứ phương tiện gì, vàng bạc nên được thích thú, nên được tầm cầu.’
Có lời nói như vầy: Nghe nói tôi quở trách, chỉ trích, làm giảm đức tin quý vị là những cư sĩ có niềm tin, mộ đạo (trong việc) tôi đây nói phi Pháp là: ‘Phi Pháp,’ Pháp là: ‘Pháp,’ phi Luật là: ‘Phi Luật,’ Luật là: ‘Luật.’
Inda-bh 7~6Này các đạo hữu, vào một thuở nọ, ở ngay chính nơi ấy tại thành Rājagaha đức Thế Tôn đã từ chối vàng bạc và quy định điều học có liên quan đến đại đức Upananda dòng dõi Sakya. Có lời nói như vầy: “Nghe nói tôi quở trách, chỉ trích, làm giảm đức tin quý vị là những cư sĩ có niềm tin, mộ đạo (trong việc) tôi đây nói phi Pháp là: ‘Phi Pháp,’ Pháp là: ‘Pháp,’ phi Luật là: ‘Phi Luật,’ Luật là: ‘Luật.’” Khi được nói như thế, các cư sĩ ở Vesāli đã nói với đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka điều này:—“Thưa ngài, chỉ có một mình ngài đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka là Sa-môn Thích tử, chính tất cả các vị kia đều không phải là Sa-môn, không phải là Thích tử. Thưa ngài, xin ngài đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka hãy ngụ tại Vesāli. Chúng tôi sẽ nỗ lực về vật dụng là y phục, đồ ăn khất thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh đối với ngài đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka.” Sau đó, khi đã khiến cho các cư sĩ ở Vesāli nhận thức được, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka với vị tỳ khưu sứ giả cùng đi đã trở về tu viện.
Inda-bh 8~7Sau đó, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã hỏi vị tỳ khưu sứ giả cùng đi rằng:—“Này sư đệ, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã yêu cầu các cư sĩ ở Vesāli thứ lỗi chưa vậy?”—“Chúng ta gặp điều xúi quẩy với các cư sĩ rồi. Chỉ một mình Yasa con trai của Kākaṇḍaka được xem là Sa-môn Thích tử. Còn chính tất cả chúng ta đã bị xem không phải là Sa-môn, không phải là Thích tử.”
Khi ấy, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli (đã bàn bạc rằng): “Này các đại đức, Yasa con trai của Kākaṇḍaka này chưa được chúng ta chỉ định đã giảng giải cho hàng tại gia, vậy chúng ta hãy thực hiện hành sự án treo đối với vị ấy.” Họ đã tụ họp lại với ý định thực hiện hành sự án treo đối với vị ấy. Khi ấy, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã bay lên không trung và xuất hiện ở Kosambi. Sau đó, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu ở Pāvā, Avanti, và khu vực phía nam (nói rằng): “Xin các đại đức hãy đến, chúng ta cần nắm lấy sự tranh tụng này trước khi điều phi Pháp phát triển và Pháp bị bỏ quên, trước khi điều phi Luật phát triển và Luật bị bỏ quên, trước khi những kẻ nói về phi Pháp trở nên mạnh và những người nói về Pháp yếu đi, trước khi những kẻ nói về phi Luật trở nên mạnh và những người nói về Luật yếu đi.” Vào lúc bấy giờ, đại đức Sambhūta Sāṇavāsī đang ngụ tại núi Ahogaṅga. Khi ấy, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã đi đến núi Ahogaṅga gặp đại đức Sambhūta Sāṇavāsī, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Sambhūta Sāṇavāsī rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã nói với đại đức Sambhūta Sāṇavāsī điều này:
—“Thưa ngài, các tỳ khưu dòng dõi Vajji này ở Vesāli truyền bá trong thành Vesāli mười sự việc: ‘Quy định cất giữ muối trong ống sừng là được phép, quy định hai ngón tay là được phép, quy định trong làng là được phép, quy định về chỗ trú ngụ là được phép, quy định về sự thỏa thuận là được phép, quy định theo tập quán là được phép, quy định chưa được khuấy là được phép, quy định uống nước trái cây lên men là được phép, quy định vật lót ngồi không có viền quanh là được phép, vàng bạc là được phép.’ Thưa ngài, vậy chúng ta sẽ nắm lấy sự tranh tụng này trước khi điều phi Pháp phát triển và Pháp bị bỏ quên, trước khi điều phi Luật phát triển và Luật bị bỏ quên, trước khi những kẻ nói về phi Pháp trở nên mạnh và những người nói về Pháp yếu đi, trước khi những kẻ nói về phi Luật trở nên mạnh và những người nói về Luật yếu đi.”—“Này đại đức, đúng vậy.” Đại đức Sambhūta Sāṇavāsī đã trả lời đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka.
Inda-bh 9~8Sau đó, các tỳ khưu ở Pāvā có số lượng sáu mươi vị tất cả là những vị sống trong rừng, tất cả là những vị hành hạnh khất thực, tất cả là những vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ, tất cả là những vị chỉ sử dụng ba y, chính tất cả các vị đều là A-la-hán đã tụ hội ở núi Ahogaṅga. Các tỳ khưu ở Avanti và khu vực phía nam có số lượng tám mươi tám vị, một số vị sống trong rừng, một số vị hành hạnh khất thực, một số vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ, một số vị chỉ sử dụng ba y, chính tất cả các vị đều là A-la-hán đã tụ hội ở núi Ahogaṅga.
Khi ấy, trong lúc các tỳ khưu trưởng lão hội ý, điều này đã khởi lên: “Tranh sự này quả là khó khăn và tế nhị. Làm thế nào chúng ta có thể đạt được nhóm, nhờ thế trong sự tranh tụng này chúng ta sẽ là lực lượng mạnh hơn?” Vào lúc bấy giờ, đại đức Revata ngụ tại Soreyya là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Khi ấy, các tỳ khưu trưởng lão đã khởi ý rằng: “Chính vị đại đức Revata này ngụ tại Soreyya là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Nếu chúng ta sẽ đạt được đại đức Revata chung nhóm, như thế trong sự tranh tụng này chúng ta sẽ là lực lượng mạnh hơn.”
Trong khi các tỳ khưu trưởng lão đang hội ý, đại đức Revata nhờ vào Thiên nhĩ thông thanh tịnh vượt trội loài người đã nghe được, sau khi nghe được đã khởi ý điều này: “Tranh sự này quả là khó khăn và tế nhị. Điều không thích đáng cho ta là việc ta lại tránh né các sự tranh tụng như thế này. Và rồi đây, các vị tỳ khưu ấy sẽ đi đến, bị lấn cấn bởi các vị ấy, ta đây sẽ đi không thoải mái. Hay là ta nên đi trước?” Khi ấy, đại đức Revata từ Soreyya đã đi đến Saṅkassa.
Inda-bh 10~9Sau đó, các vị tỳ khưu trưởng lão đã đi đến Soreyya hỏi rằng:—“Đại đức Revata ở đâu?” Các người ấy đã nói như vầy:—“Vị đại đức Revata ấy đã đi Saṅkassa rồi.” Rồi đại đức Revata từ Saṅkassa đã đi Kaṇṇakujja. Sau đó, các tỳ khưu trưởng lão đã đi đến Saṅkassa hỏi rằng:—“Đại đức Revata ở đâu?” Các người ấy đã nói như vầy:—“Vị đại đức Revata ấy đã đi Kaṇṇakujja rồi.” Rồi đại đức Revata từ Kaṇṇakujja đã đi Udumbara. Sau đó, các tỳ khưu trưởng lão đã đi đến Kaṇṇakujja hỏi rằng:—“Đại đức Revata ở đâu?” Các người ấy đã nói như vầy:—“Vị đại đức Revata ấy đã đi Udumbara rồi.” Rồi đại đức Revata từ Udumbara đã đi thành phố Aggaḷa. Sau đó, các tỳ khưu trưởng lão đã đi đến Udumbara hỏi rằng:—“Đại đức Revata ở đâu?” Các người ấy đã nói như vầy:—“Vị đại đức Revata ấy đã đi thành phố Aggaḷa rồi.” Rồi đại đức Revata từ thành phố Aggaḷa đã đi Sahajāti. Sau đó, các tỳ khưu trưởng lão đã đi đến thành phố Aggaḷa hỏi rằng:—“Đại đức Revata ở đâu?” Các người ấy đã nói như vầy:—“Vị đại đức Revata ấy đã đi Sahajāti rồi.” Rồi các tỳ khưu trưởng lão đã gặp được đại đức Revata ở Sahajāti.
Inda-bh 11~10Khi ấy, đại đức Sambhūta Sāṇavāsī đã nói với đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka điều này:—“Này sư đệ, đại đức Revata này là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Nếu chúng ta hỏi đại đức Revata câu hỏi, đại đức Revata có khả năng trình bày trọn đêm chỉ với một câu hỏi ấy. Và giờ đây, đại đức Revata sẽ gọi vị tỳ khưu đệ tử chuyên đọc tụng về âm từ. Khi chấm dứt phần đọc tụng về âm từ của vị tỳ khưu ấy, chính sư đệ nên đi đến gặp đại đức Revata và hỏi về mười sự việc ấy.”
—“Thưa ngài, xin vâng.” Đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã trả lời đại đức Sambhūta Sāṇavāsī. Khi ấy, đại đức Revata đã gọi vị tỳ khưu đệ tử chuyên đọc tụng về âm từ. Vào lúc chấm dứt phần đọc tụng về âm từ của vị tỳ khưu ấy, khi ấy đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã đi đến gặp đại đức Revata, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Revata rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka đã nói với đại đức Revata điều này:
Inda-bh 12~11i.—“Thưa ngài, quy định cất giữ muối trong ống sừng là được phép?”—“Này sư đệ, quy định cất giữ muối trong ống sừng ấy là gì?”—“Thưa ngài, là mang theo muối bằng ống sừng (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ thọ dụng vào trường hợp (thức ăn) thiếu muối,’ có được phép không?”—“Này sư đệ, không được phép.”
ii.—“Thưa ngài, quy định hai ngón tay là được phép?”—“Này sư đệ, quy định hai ngón tay ấy là gì?”—“Thưa ngài, là thọ dụng vật thực sái giờ khi bóng nắng mặt trời (chiếu ở trên đất) đã quá hai ngón tay, có được phép không?”—“Này sư đệ, không được phép.”
iii.—“Thưa ngài, quy định trong làng là được phép?”—“Này sư đệ, quy định trong làng ấy là gì?”—“Thưa ngài, là vị đã ăn xong, đã ngăn vật thực (nghĩ rằng): ‘Bây giờ, ta sẽ đi vào trong làng’ rồi thọ dụng thức ăn không phải là còn thừa lại (từ bữa ăn), có được phép không?”—“Này sư đệ, không được phép.”
iv.—“Thưa ngài, quy định về chỗ trú ngụ là được phép?”—“Này sư đệ, quy định về chỗ trú ngụ ấy là gì?”—“Thưa ngài, là nhiều trú xứ có chung ranh giới thực hiện lễ Uposatha riêng biệt, có được phép không?”—“Này sư đệ, không được phép.”
v.—“Thưa ngài, quy định về sự thỏa thuận là được phép?”—“Này sư đệ, quy định về sự thỏa thuận ấy là gì?”—“Thưa ngài là thực hiện hành sự với hội chúng không đủ số lượng (nghĩ rằng): ‘Chúng ta sẽ thuyết phục các tỳ khưu đi đến,’ có được phép không?”—“Này sư đệ, không được phép.”
vi.—“Thưa ngài, quy định theo tập quán là được phép?”—“Này sư đệ, quy định theo tập quán ấy là gì?”—“Thưa ngài là (vị nghĩ rằng): ‘Điều này đã được thực hành bởi thầy tế độ của ta, điều này đã được thực hành bởi thầy giáo thọ của ta’ rồi thực hành theo, có được phép không?”—“Này sư đệ, quy định theo tập quán có điều được phép, có điều không được phép.”
vii.—“Thưa ngài, quy định chưa được khuấy là được phép?”—“Này sư đệ, quy định chưa được khuấy ấy là gì?”—“Thưa ngài, có loại sữa đã qua khỏi trạng thái sữa nhưng chưa đạt đến trạng thái sữa đông, vị đã ăn xong, đã ngăn vật thực, uống loại sữa ấy không phải là còn thừa lại (từ bữa ăn), có được phép không?”—“Này sư đệ, không được phép.”
viii.—“Thưa ngài, quy định uống nước trái cây lên men là được phép?”—“Này sư đệ, nước trái cây lên men ấy là gì?”—“Thưa ngài, là loại rượu vừa mới lên men nhưng chưa đạt đến trạng thái rượu mạnh, uống loại ấy có được phép không?”—“Này sư đệ, không được phép.”
ix.—“Thưa ngài, quy định vật lót ngồi không có viền quanh là được phép?”—“Này sư đệ, không được phép.”
x.—“Thưa ngài, vàng bạc là được phép?”—“Này sư đệ, không được phép.”
—“Thưa ngài, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ấy ở Vesāli truyền bá trong thành Vesāli mười sự việc này. Thưa ngài, chúng ta hãy nắm lấy sự tranh tụng này trước khi điều phi Pháp phát triển và Pháp bị bỏ quên, trước khi điều phi Luật phát triển và Luật bị bỏ quên, trước khi những kẻ nói về phi Pháp trở nên mạnh và những người nói về Pháp yếu đi, trước khi những kẻ nói về phi Luật trở nên mạnh và những người nói về Luật yếu đi.”—“Này sư đệ, đúng vậy.” Đại đức Revata đã trả lời đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka.
Dứt tụng phẩm thứ nhất.
TỤNG PHẨM THỨ NHÌ:
Inda-bh 13~12Các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã nghe rằng: “Nghe nói Yasa con trai của Kākaṇḍaka có ý định nắm lấy sự tranh tụng này nên tầm cầu phe nhóm, và nghe nói đã đạt được phe nhóm.” Khi ấy, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã khởi ý điều này: “Tranh sự này quả là khó khăn và tế nhị. Người nào mà chúng ta có thể đạt được chung nhóm, nhờ thế chúng ta trong sự tranh tụng này sẽ là lực lượng mạnh hơn?” Rồi các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã khởi ý điều này: “Chính vị đại đức Revata này ngụ tại Soreyya là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Nếu chúng ta có thể đạt được đại đức Revata chung nhóm, như thế chúng ta trong sự tranh tụng này sẽ là lực lượng mạnh hơn.”
Khi ấy, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã chuẩn bị nhiều vật dụng cần thiết cho Sa-môn là bình bát, y phục, vật lót ngồi, ống đựng kim, dây thắt lưng, đồ lược nước, và đồ lọc nước thông thường. Sau đó, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã mang theo vật dụng cần thiết cho Sa-môn ấy đáp thuyền ngược giòng đi Sahajāti. Sau khi rời thuyền, họ thực hiện việc chia phần thức ăn ở gốc cây nọ.
Inda-bh 14~13Khi ấy, đại đức Sāḷha trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng đã có tư tưởng suy tầm khởi lên như vầy: “Những ai là người nói đúng Pháp, các tỳ khưu ở về hướng Đông hay là các tỳ khưu ở Pāvā?” Sau đó, đại đức Sāḷha trong khi quán xét về Pháp và Luật đã khởi ý điều này: “Các tỳ khưu ở về hướng Đông là các vị nói phi Pháp, các tỳ khưu ở Pāvā là các vị nói đúng Pháp.” Khi ấy, có vị Trời nọ ở cõi Tịnh Cư dùng tâm biết được tư tưởng suy tầm của đại đức Sāḷha, rồi giống như người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại, hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tợ y như thế, vị ấy đã biến mất giữa chư Thiên ở cõi Tịnh Cư và hiện ra trước mặt đại đức Sāḷha. Khi ấy, vị Trời ấy đã nói với đại đức Sāḷha điều này:—“Thưa ngài Sāḷha, đúng vậy. Các tỳ khưu ở về hướng Đông là các vị nói phi Pháp, các tỳ khưu ở Pāvā là các vị nói đúng Pháp. Thưa ngài Sāḷha, chính vì điều ấy ngài hãy duy trì theo đúng Pháp.”—“Này vị Trời, ngay cả trước đây và bây giờ ta luôn duy trì theo đúng Pháp; nhưng ta không bộc lộ quan điểm cho đến khi ấy, có lẽ (hội chúng) sẽ chỉ định ta trong sự tranh tụng này.”
Inda-bh 15~14Sau đó, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli sau khi cầm lấy số vật dụng cần thiết cho Sa-môn ấy đã đi đến gặp đại đức Revata, sau khi đến đã nói với đại đức Revata điều này:—“Thưa ngài, xin trưởng lão hãy nhận lấy vật dụng cần thiết cho Sa-môn là bình bát, y phục, vật lót ngồi, ống đựng kim, dây thắt lưng, đồ lược nước, và đồ lọc nước thông thường.”—“Này các đại đức, thôi đi. Ta đã đầy đủ ba y.” Và đã không muốn thọ nhận.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu được hai mươi năm tên Uttara là thị giả của đại đức Revata. Khi ấy, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã đi đến gặp đại đức Uttara, sau khi đến đã nói với đại đức Uttara điều này:—“Xin đại đức Uttara hãy nhận lấy vật dụng cần thiết cho Sa-môn là bình bát, y phục, vật lót ngồi, ống đựng kim, dây thắt lưng, đồ lược nước, và đồ lọc nước thông thường.”—“Này các đại đức, thôi đi. Ta đã đầy đủ ba y.” Và đã không muốn thọ nhận.
—“Này đại đức Uttara, dân chúng thường dâng vật dụng cần thiết cho Sa-môn đến đức Thế Tôn. Nếu đức Thế Tôn thọ nhận, chính vì điều ấy họ trở nên hoan hỷ. Nếu đức Thế tôn không thọ nhận, họ dâng đến đại đức Ānanda: ‘Thưa ngài, xin trưởng lão hãy nhận lấy vật dụng cần thiết cho Sa-môn là bình bát, y phục, vật lót ngồi, ống đựng kim, dây thắt lưng, đồ lọc nước, và bình đựng nước. Như thế sẽ xem như vật ấy đã được đức Thế Tôn thọ lãnh.’ Xin đại đức Uttara hãy nhận lấy vật dụng cần thiết cho Sa-môn; như thế sẽ xem như vật ấy đã được ngài trưởng lão thọ lãnh.”
Inda-bh 16~15Khi ấy, đại đức Uttara bị ép buộc bởi các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã nhận lấy một y (nói rằng):—“Này các đại đức, hãy nói lý do về việc này.”—“Xin đại đức Uttara hãy nói với ngài trưởng lão chỉ có một điều này: ‘Thưa ngài, xin ngài trưởng lão hãy nói giữa hội chúng chỉ có một điều này: Chư Phật Thế Tôn đều sanh lên trong các xứ sở ở hướng đông. Các tỳ khưu ở về hướng Đông là các vị nói đúng Pháp, còn các tỳ khưu ở Pāvā là các vị nói phi Pháp.’”—“Này các đại đức, được rồi.” Rồi đại đức Uttara nghe theo các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã đi đến gặp đại đức Revata, sau khi đến đã nói với đại đức Revata điều này:—“Thưa ngài, xin ngài trưởng lão hãy nói giữa hội chúng chỉ có một điều này: ‘Chư Phật Thế Tôn đều sanh lên trong các xứ sở ở hướng đông. Các tỳ khưu ở về hướng Đông là các vị nói đúng Pháp, còn các tỳ khưu ở Pāvā là các vị nói phi Pháp.’”
—“Này tỳ khưu, ngươi đã xúi giục ta trong việc phi Pháp.” Vị trưởng lão đã đuổi đại đức Uttara đi. Khi ấy, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở Vesāli đã nói với đại đức Uttara điều này:—“Này đại đức Uttara, ngài trưởng lão đã nói gì?”—“Này các đại đức, chúng ta đã làm điều tầm bậy. Ngài trưởng lão đã đuổi tôi đi (nói rằng): ‘Này tỳ khưu, ngươi đã xúi giục ta trong việc phi Pháp.’”
—“Này đại đức Uttara, không phải đại đức đã thâm niên hai mươi năm rồi hay sao?”—“Này các đại đức, đúng vậy. Tuy nhiên, chúng tôi còn giữ sự nương nhờ với vị thầy.”
Inda-bh 17~16Sau đó, hội chúng có ý muốn phân xử sự tranh tụng ấy đã tụ hội lại. Khi ấy, đại đức Revata đã thông báo đến hội chúng rằng:—“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu chúng ta giải quyết sự tranh tụng này ở nơi đây, các tỳ khưu là những vị khởi sự có thể nêu lại vấn đề một lần nữa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên giải quyết sự tranh tụng này ở ngay tại nơi mà sự tranh tụng này đã sanh khởi.” Sau đó, các tỳ khưu trưởng lão có ý muốn phân xử sự tranh tụng ấy đã đi đến Vesāli.
Inda-bh 18~17Vào lúc bấy giờ, vị trưởng lão của hội chúng trên trái đất có tên Sabbakāmī đã tu lên bậc trên được một trăm hai mươi năm, là đệ tử của đại đức Ānanda, đang trú ở Vesāli. Khi ấy, đại đức Revata đã nói với đại đức Sambhūta Sāṇavāsī điều này:—“Này sư đệ, tôi sẽ đi đến trú xá nơi trưởng lão Sabbakāmī đang trú ngụ; sư đệ đây nên đi đến gặp đại đức Sabbakāmī vào đúng lúc để hỏi về mười sự việc ấy.”—“Thưa ngài, xin vâng.” Đại đức Sambhūta Sāṇavāsī đã đáp lại đại đức Revata. Sau đó, đại đức Revata đã đi đến trú xá nơi trưởng lão Sabbakāmī đang trú ngụ.
Chỗ nằm ngồi của đại đức Sabbakāmī là được sếp đặt ở phòng trong, còn của đại đức Revata ở mặt tiền của phòng trong. Khi ấy, đại đức Revata (nghĩ rằng): ‘Vị trưởng lão cao niên này không nằm’ nên không nằm xuống. Đại đức Sabbakāmī (nghĩ rằng): ‘Vị tỳ khưu vãng lai này đang mệt vẫn không nằm’ rồi đã không nằm xuống.
Sau đó, trong đêm vào lúc hừng sáng, đại đức Sabbakāmī sau khi đứng dậy đã nói với đại đức Revata điều này:—“Này sư đệ mến, hiện nay ngươi thường xuyên an trú với sự an trú nào?”—“Thưa ngài, hiện nay tôi thường xuyên an trú với sự an trú tâm từ.”—“Này sư đệ mến, nghe nói hiện nay ngươi thường xuyên an trú với sự an trú còn nông cạn. Này sư đệ mến, sự an trú còn nông cạn ấy tức là tâm từ.”
—“Thưa ngài, trước đây khi tôi còn là người tại gia, tâm từ đã được thực hành. Vì thế, hiện nay tôi thường xuyên an trú với sự an trú tâm từ, hơn nữa tôi đã chứng đạt phẩm vị A-la-hán lâu nay. Thưa ngài, hiện nay ngài trưởng lão thường xuyên an trú với sự an trú nào?”—“Này sư đệ mến, hiện nay ta thường xuyên an trú với sự an trú trạng thái không?”
—“Thưa ngài, nghe nói hiện nay ngài trưởng lão thường xuyên an trú với sự an trú của bậc đại nhân. Thưa ngài, sự an trú của bậc đại nhân ấy tức là trạng thái không.”—“Này sư đệ mến, trước đây khi ta còn là người tại gia, trạng thái không đã được thực hành. Vì thế, ngay cả bây giờ ta thường xuyên an trú với sự an trú trạng thái không, hơn nữa ta đã chứng đạt phẩm vị A-la-hán lâu nay.” Lúc bấy giờ, cuộc nói chuyện trao đổi này của hai vị tỳ khưu trưởng lão là chưa chấm dứt.
Inda-bh 19~18Rồi đại đức Sambhūta Sāṇavāsī đã ngự đến nơi ấy. Khi ấy, đại đức Sambhūta Sāṇavāsī đã đi đến gặp đại đức Sabbakāmī, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Sabbakāmī rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Sambhūta Sāṇavāsī đã nói với đại đức Sabbakāmī điều này:—“Thưa ngài, các tỳ khưu dòng dõi Vajji này ở Vesāli truyền bá trong thành Vesāli mười sự việc: ‘Quy định cất giữ muối trong ống sừng là được phép, quy định hai ngón tay là được phép, quy định trong làng là được phép, quy định về chỗ trú ngụ là được phép, quy định về sự thỏa thuận là được phép, quy định theo tập quán là được phép, quy định chưa được khuấy là được phép, quy định uống nước trái cây lên men là được phép, quy định vật lót ngồi không có viền quanh là được phép, vàng bạc là được phép.’ Thưa ngài, ngài trưởng lão đã học tập được nhiều Pháp và Luật ở chân của thầy tế độ; thưa ngài, khi ngài trưởng lão quán xét về Pháp và Luật thì khởi ý thế nào? Những ai là người nói đúng Pháp, các tỳ khưu ở về hướng Đông hay là các tỳ khưu ở Pāvā?”
—“Này sư đệ, ngươi cũng đã học tập được nhiều Pháp và Luật ở nguồn gốc của thầy tế độ; này sư đệ, khi ngươi quán xét về Pháp và Luật thì khởi ý thế nào? Những ai là người nói đúng Pháp, là các tỳ khưu ở về hướng Đông hay là các tỳ khưu ở Pāvā?”—“Thưa ngài, khi tôi quán xét về Pháp và Luật thì khởi ý như vầy: ‘Các tỳ khưu ở về hướng Đông là các vị nói phi Pháp, các tỳ khưu ở Pāvā là các vị nói đúng Pháp;’ tuy nhiên tôi không bộc lộ quan điểm cho đến khi ấy, có lẽ (hội chúng) sẽ chỉ định tôi trong sự tranh tụng này.”
—“Này đệ, ngay cả ta khi quán xét về Pháp và Luật cũng khởi ý như vầy: ‘Các tỳ khưu ở về hướng Đông là các vị nói phi Pháp, các tỳ khưu ở Pāvā là các vị nói đúng Pháp;’ tuy nhiên ta không bộc lộ quan điểm cho đến khi ấy, có lẽ (hội chúng) sẽ chỉ định ta trong sự tranh tụng này.”
Inda-bh 20~19Sau đó, hội chúng có ý muốn phân xử sự tranh tụng ấy đã tụ hội lại. Trong khi sự tranh tụng ấy đang được phân xử, các lời bàn cãi vô bổ được sanh lên, và không một lời phát biểu nào được xem là có ý nghĩa. Khi ấy, đại đức Revata đã thông báo đến hội chúng rằng:—“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Trong khi sự tranh tụng này của chúng ta đang được xem xét, các lời bàn cãi vô bổ được sanh lên, và không một lời phát biểu nào được xem là có ý nghĩa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên giải quyết sự tranh tụng này bằng đại biểu. Hội chúng đã chọn bốn vị tỳ khưu ở hướng Đông, bốn vị tỳ khưu ở Pāvā: Đại đức Sabbakāmī, đại đức Sāḷha, đại đức Ujjasobhita, đại đức Vāsabhagāmika là (đại biểu) của các tỳ khưu ở hướng Đông, đại đức Revata, đại đức Sambhūta Sāṇavāsī, đại đức Yasa con trai của Kākaṇḍaka, và đại đức Sumana là (đại biểu) của các tỳ khưu ở Pāvā.”
Sau đó, đại đức Revata đã thông báo đến hội chúng rằng:—“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Trong khi sự tranh tụng này của chúng ta đang được xem xét, các lời bàn cãi vô bổ được sanh lên, và không một lời phát biểu nào được xem là có ý nghĩa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định bốn vị tỳ khưu ở hướng Đông, bốn vị tỳ khưu ở Pāvā để giải quyết sự tranh tụng này bằng đại biểu. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Trong khi sự tranh tụng này của chúng ta đang được xem xét, các lời bàn cãi vô bổ được sanh lên, và không một lời phát biểu nào được xem là có ý nghĩa. Hội chúng chỉ định bốn vị tỳ khưu ở hướng Đông, bốn vị tỳ khưu ở Pāvā để giải quyết sự tranh tụng này bằng đại biểu. Đại đức nào thỏa thuận sự chỉ định bốn vị tỳ khưu ở hướng Đông, bốn vị tỳ khưu ở Pāvā để giải quyết sự tranh tụng này bằng đại biểu xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Bốn vị tỳ khưu ở hướng Đông, bốn vị tỳ khưu ở Pāvā đã được hội chúng chỉ định để giải quyết sự tranh tụng này bằng đại biểu. Hội chúng thỏa thuận nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 21~20Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu tên Ajita, được mười năm, là vị đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi ấy, hội chúng cũng đã chỉ định đại đức Ajita là vị sắp xếp chỗ ngồi cho các tỳ khưu trưởng lão. Khi ấy, các tỳ khưu trưởng lão đã khởi ý điều này: “Chúng ta nên giải quyết sự tranh tụng này ở đâu?” Khi ấy, các tỳ khưu trưởng lão đã khởi ý điều này: “Tu viện Vālika này xinh xắn ít tiếng động, ít ồn ào; hay là chúng ta nên giải quyết sự tranh tụng này ở tu viện Vālika?” Sau đó, các tỳ khưu trưởng lão có ý muốn phân xử sự tranh tụng ấy đã đi đến tu viện Vālika. Sau đó, đại đức Revata đã thông báo đến hội chúng rằng:—“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ hỏi đại đức Sabbakāmī về Luật.” Đại đức Sabbakāmī đã thông báo đến hội chúng rằng:—“Này các sư đệ, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, khi được vị Revata hỏi về Luật, tôi sẽ trả lời.” Sau đó, đại đức Revata đã hỏi đại đức Sabbakāmī điều này:
i.—“Thưa ngài, quy định cất giữ muối trong ống sừng là được phép?”—“Này sư đệ, quy định cất giữ muối trong ống sừng ấy là gì?”—“Thưa ngài, là mang theo muối bằng ống sừng (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ thọ dụng vào trường hợp (thức ăn) thiếu muối,’ có được phép không?”—“Này sư đệ, không được phép.”—“(Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?”—“Ở Sāvatthi, trong Suttavibhaṅga (Phân Tích Giới Bổn).”—“(Làm việc ấy) phạm tội gì?”—“Phạm tội pācittiya về vật thực đã được tích trữ.”689—“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ nhất này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ nhất này.”
ii.—“Thưa ngài, quy định hai ngón tay là được phép?”—“Này sư đệ, quy định hai ngón tay ấy là gì?”—“Thưa ngài, là ăn vật thực sái giờ khi bóng nắng mặt trời (chiếu ở trên đất) đã quá hai ngón tay, có được phép không?”—“Này sư đệ, không được phép.”—“(Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?”—“Ở thành Rājagaha, trong Suttavibhaṅga.”—“(Làm việc ấy) phạm tội gì?”—“Phạm tội pācittiya về vật thực sái giờ.”2—“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ nhì này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ nhì này.”
iii.—“Thưa ngài, quy định trong làng là được phép?”—“Này sư đệ, quy định trong làng ấy là gì?”—“Thưa ngài, là vị đã ăn xong, đã ngăn vật thực (nghĩ rằng): ‘Bây giờ, ta sẽ đi vào trong làng’ rồi thọ dụng thức ăn không phải là còn thừa lại (từ bữa ăn), có được phép không?”—“Này sư đệ, không được phép.”—“(Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?”—“Ở Sāvatthi, trong Suttavibhaṅga.”—“(Làm việc ấy) phạm tội gì?”—“Phạm tội pācittiya về vật thực không phải là còn thừa.”691—“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ ba này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ ba này.”
iv.—“Thưa ngài, quy định về chỗ trú ngụ là được phép?”—“Này sư đệ, quy định về chỗ trú ngụ ấy là gì?”—“Thưa ngài là nhiều trú xứ có chung ranh giới thực hiện lễ Uposatha riêng biệt, có được phép không?”—“Này sư đệ, không được phép.”—“(Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?”—“Ở Rājagaha, trong phần liên quan đến lễ Uposatha.”—“(Làm việc ấy) phạm tội gì?”—“Phạm tội dukkaṭa về việc vượt quá Luật.”—“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ tư này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ tư này.”
v.—“Thưa ngài, quy định về sự thỏa thuận là được phép?”—“Này sư đệ, quy định về sự thỏa thuận ấy là gì?”—“Thưa ngài là thực hiện hành sự với hội chúng không đủ số lượng (nghĩ rằng): ‘Chúng ta sẽ thuyết phục các tỳ khưu đi đến,’ có được phép không?”—“Này sư đệ, không được phép.”—“(Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?”—“Ở trong câu chuyện về Luật của các vị ở Campā.”—“(Làm việc ấy) phạm tội gì?”—“Phạm tội dukkaṭa về việc vượt quá Luật.”—“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ năm này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ năm này.”
vi.—“Thưa ngài, quy định theo tập quán là được phép?”—“Này sư đệ, quy định theo tập quán ấy là gì?”—“Thưa ngài là (vị nghĩ rằng): ‘Điều này đã được thực hành bởi thầy tế độ của ta, điều này đã được thực hành bởi thầy giáo thọ của ta’ rồi thực hành theo, có được phép không?”—“Này sư đệ, quy định theo tập quán có điều được phép, có điều không được phép.”—“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ sáu này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ sáu này.”
vii.—“Thưa ngài, quy định chưa được khuấy là được phép?”—“Này sư đệ, quy định chưa được khuấy ấy là gì?”—“Thưa ngài, có loại sữa đã qua khỏi trạng thái sữa nhưng chưa đạt đến trạng thái sữa đông, vị đã ăn xong, đã ngăn vật thực, uống loại sữa ấy không phải là còn thừa lại (từ bữa ăn), có được phép không?”—“Này sư đệ, không được phép.”—“(Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?”—“Ở Sāvatthi, trong Suttavibhaṅga.”—“(Làm việc ấy) phạm tội gì?”—“Phạm tội pācittiya về vật thực không phải là còn thừa.”693—“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ bảy này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ bảy này.”
viii.—“Thưa ngài, quy định uống nước trái cây lên men là được phép?”—“Này sư đệ, nước trái cây lên men ấy là gì?”—“Thưa ngài, là uống loại rượu vừa mới lên men nhưng chưa đạt đến trạng thái rượu mạnh, uống loại ấy có được phép không?”—“Này sư đệ, không được phép.”—“(Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?”—“Ở Kosambi, trong Suttavibhaṅga.”—“(Làm việc ấy) phạm tội gì?”—“Phạm tội pācittiya về việc uống rượu và chất say.”694—“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ tám này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ tám này.”
ix.—“Thưa ngài, quy định vật lót ngồi không có viền quanh là được phép?”—“Này sư đệ, không được phép.”—“(Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?”—“Ở Sāvatthi, trong Suttavibhaṅga.”—“(Làm việc ấy) phạm tội gì?”—“Phạm tội pācittiya về vật cần được cắt bỏ.”3—“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ chín này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ chín này.”
x.—“Thưa ngài, vàng bạc là được phép?”—“Này sư đệ, không được phép.”—“(Việc ấy) được phủ quyết ở đâu?”—“Ở Rājagaha, trong Suttavibhaṅga.”—“(Làm việc ấy) phạm tội gì?”—“Phạm tội pācittiya về việc thọ nhận vàng bạc.”4—“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, sự việc thứ mười này đã được hội chúng phân xử. Như thế, sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư. Tôi để riêng thẻ thứ mười này.”
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi, mười vấn đề này đã được hội chúng xác định. Như thế, mười sự việc này là không đúng Pháp, không đúng Luật, đi sái lời dạy của bậc Đạo Sư.”—“Này sư đệ, sự tranh tụng này đã được kết thúc, đã được yên lặng, đã được giải quyết, đã được giải quyết tốt đẹp. Này sư đệ, tuy nhiên sư đệ nên hỏi ta về mười sự việc này ở ngay giữa hội chúng để các tỳ khưu ấy cùng nhau hiểu rõ.”
Inda-bh 22~21Sau đó, đại đức Revata đã hỏi đại đức Sabbakāmi về mười sự việc ấy ở ngay giữa hội chúng. Mỗi khi được hỏi, đại đức Sabbakāmi đã trả lời. Trong cuộc kết tập về Luật này đã hiện diện bảy trăm vị tỳ khưu không thiếu không dư. Do đó, cuộc kết tập về Luật này được gọi là ‘Liên quan bảy trăm vị.’”
Chương Liên Quan Bảy Trăm Vị.
Trong chương này có hai mươi lăm sự việc.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Inda-bh 1~22Mười sự việc, sau khi đổ đầy, hành sự, cùng với sứ giả, vị đã đi vào, bốn (vật làm ô nhiễm), còn nữa, và vàng, Kosambi, và vị ở Pāvā.
Inda-bh 2~23Đường đi, Soreyya, Saṅkassa, Kaṇṇakujja, Udumbara, Aggaḷa, và Sahajāti, vị đã nghe, người nào mà chúng ta?
Inda-bh 3~24Bình bát, bằng thuyền, đã đi ngược giòng, vị ở nơi thanh vắng, dâng đến, vị thầy, và hội chúng, thành Vesāli, tâm từ, hội chúng, các đại biểu.”
Inda-bh 4~25Hành sự, và hình phạt parivāsa, tích lũy (tội), và luôn cả dàn xếp, các tiểu sự, và sàng tọa, chia rẽ (hội chúng), phận sự, (đình chỉ) lễ Uposatha, tỳ khưu ni, năm trăm, bảy trăm, là các chương ở Tiểu Phẩm.
[Mười hai chương đã được đề cập đến]
TIỂU PHẨM ĐƯỢC CHẤM DỨT.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Small Division
The chapter on the second council
Chương Kết tập của bảy trăm vị
Tena kho pana samayena vassasataparinibbute bhagavati vesālikā vajjiputtakā bhikkhū vesāliyaṁ dasa vatthūni dīpenti—kappati siṅgiloṇakappo, kappati dvaṅgulakappo, kappati gāmantarakappo, kappati āvāsakappo, kappati anumatikappo, kappati āciṇṇakappo, kappati amathitakappo, kappati jaḷogiṁ pātuṁ, kappati adasakaṁ nisīdanaṁ, kappati jātarūparajatanti.
One hundred years after the Buddha had attained final extinguishment, the Vajjian monks of Vesālī proclaimed ten practices as allowable: the salt-in-horn practice; the two-fingerbreadths practice; the next-village practice; the many-monasteries practice; the consent practice; customary practices; the unchurned practice; palm-juice drinking; sitting mats without borders; and gold, silver, and money.
1. Vào lúc bấy giờ, một trăm năm sau khi đức Thế Tôn nhập Niết-bàn, các tỳ-khưu Vajjiputtaka ở Vesālī đã tuyên bố mười điều ở Vesālī: ‘Điều lệ về sừng đựng muối là hợp lệ, điều lệ về hai ngón tay là hợp lệ, điều lệ về đi đến làng khác là hợp lệ, điều lệ về trú xứ là hợp lệ, điều lệ về sự đồng thuận là hợp lệ, điều lệ về thói quen là hợp lệ, điều lệ về sữa chưa lên men là hợp lệ, việc uống nước trái cây lên men là hợp lệ, tọa cụ không có viền là hợp lệ, vàng và bạc là hợp lệ.’”
Tena kho pana samayena āyasmā yaso kākaṇḍakaputto vajjīsu cārikaṁ caramāno yena vesālī tadavasari. Tatra sudaṁ āyasmā yaso kākaṇḍakaputto vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Tena kho pana samayena vesālikā vajjiputtakā bhikkhū tadahuposathe kaṁsapātiṁ udakena pūretvā majjhe bhikkhusaṅghassa ṭhapetvā āgatāgate vesālike upāsake evaṁ vadanti—“dethāvuso, saṅghassa kahāpaṇampi aḍḍhampi pādampi māsakarūpampi. Bhavissati saṅghassa parikkhārena karaṇīyan”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā yaso kākaṇḍakaputto vesālike upāsake etadavoca—“māvuso, adattha saṅghassa kahāpaṇampi aḍḍhampi pādampi māsakarūpampi. Na kappati samaṇānaṁ sakyaputtiyānaṁ jātarūparajataṁ; na sādiyanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṁ; na paṭiggaṇhanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṁ; nikkhittamaṇisuvaṇṇā samaṇā sakyaputtiyā apetajātarūparajatā”ti. Evampi kho vesālikā upāsakā āyasmatā yasena kākaṇḍakaputtena vuccamānā adaṁsuyeva saṅghassa kahāpaṇampi aḍḍhampi pādampi māsakarūpampi.
At that time Venerable Yasa of Kākaṇḍa was wandering in the Vajjian country, when he arrived at Vesālī. There he stayed in the house with the peaked roof in the Great Wood.
Soon afterwards, on the observance day, the Vajjian monks of Vesālī filled a bronze bowl with water and placed it in the midst of the Sangha of monks. Whenever a lay follower of Vesālī came, they said, “Please give a <i lang='pi' translate='no'>kahāpaṇa</i> coin to the Sangha, or half a <i lang='pi' translate='no'>kahāpaṇa</i>, or a <i lang='pi' translate='no'>pāda</i>, or a <i lang='pi' translate='no'>māsaka</i>. The Sangha needs requisites.”
But Yasa said to the lay followers, “Don’t give a <i lang='pi' translate='no'>kahāpaṇa</i> to the Sangha, or half a <i lang='pi' translate='no'>kahāpaṇa</i>, or a <i lang='pi' translate='no'>pāda</i>, or a <i lang='pi' translate='no'>māsaka</i>. Gold, silver, and money aren’t allowable for the Sakyan monastics. They neither accept nor receive gold, silver, or money. The Sakyan monastics have given up gems and gold, and live without gold, silver, and money.” But although Yasa said this, the lay followers continued to give money to the Sangha.
446. Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Yasa, con trai của (bà-la-môn) Kākaṇḍaka, trong khi đang du hành ở xứ Vajjī, đã đi đến Vesālī. Tại đó, trưởng lão Yasa, con trai của Kākaṇḍaka, đang trú tại tu viện Kūṭāgārasālā trong rừng Mahāvana ở Vesālī. Vào lúc bấy giờ, trong ngày Uposatha, các tỳ-khưu Vajjiputtaka ở Vesālī, sau khi đổ đầy nước vào một cái bát bằng đồng và đặt ở giữa Tăng chúng, đã nói với các nam cư sĩ ở Vesālī đến như vầy: ‘Này các đạo hữu, hãy cúng dường cho Tăng chúng một đồng kahāpaṇa, hoặc nửa đồng, hoặc một phần tư, hoặc một đồng māsaka. Tăng chúng sẽ có việc cần dùng đến các vật dụng.’ Khi được nói như vậy, trưởng lão Yasa, con trai của Kākaṇḍaka, đã nói điều này với các nam cư sĩ ở Vesālī: ‘Này các đạo hữu, đừng cúng dường cho Tăng chúng một đồng kahāpaṇa, hoặc nửa đồng, hoặc một phần tư, hoặc một đồng māsaka. Vàng và bạc không hợp lệ đối với các Sa-môn Thích tử; các Sa-môn Thích tử không ưa thích vàng và bạc; các Sa-môn Thích tử không nhận vàng và bạc; các Sa-môn Thích tử đã từ bỏ ngọc và vàng, xa lìa vàng và bạc.’ Dù đã được trưởng lão Yasa, con trai của Kākaṇḍaka, nói như vậy, các nam cư sĩ ở Vesālī vẫn cúng dường cho Tăng chúng một đồng kahāpaṇa, hoặc nửa đồng, hoặc một phần tư, hoặc một đồng māsaka.
Atha kho vesālikā vajjiputtakā bhikkhū tassā rattiyā accayena taṁ hiraññaṁ bhikkhaggena paṭivīsaṁ ṭhapetvā bhājesuṁ. Atha kho vesālikā vajjiputtakā bhikkhū āyasmantaṁ yasaṁ kākaṇḍakaputtaṁ etadavocuṁ—“eso te, āvuso yasa, hiraññassa paṭivīso”ti.
“Natthi me, āvuso, hiraññassa paṭivīso, nāhaṁ hiraññaṁ sādiyāmī”ti.
Atha kho vesālikā vajjiputtakā bhikkhū—“ayaṁ, āvuso, yaso kākaṇḍakaputto upāsake saddhe pasanne akkosati, paribhāsati, appasādaṁ karoti; handassa mayaṁ paṭisāraṇīyakammaṁ karomā”ti te tassa paṭisāraṇīyakammaṁ akaṁsu.
Atha kho āyasmā yaso kākaṇḍakaputto vesālike vajjiputtake bhikkhū etadavoca—“bhagavatā, āvuso, paññattaṁ—‘paṭisāraṇīyakammakatassa bhikkhuno anudūto dātabbo’ti. Detha me, āvuso, anudūtaṁ bhikkhun”ti.
The next morning the Vajjian monks distributed the money evenly. And they said to Yasa, “Here’s your share, Yasa.”
“There’s no share for me. I don’t accept money.”
The Vajjian monks said to one another, “Yasa is abusing and reviling the lay followers who have faith and confidence. He’s destroying their confidence. Let’s do a legal procedure of reconciliation against him.” And they did just that.
Yasa said to them, “The Buddha has laid down that a monk who has had a legal procedure of reconciliation done against him should be given a monk as a companion messenger. Please give me a companion.”
Bấy giờ, sau khi đêm ấy đã trôi qua, các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī đã chia số vàng bạc ấy sau khi đã định phần chia theo đầu tỳ khưu. Rồi các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī đã nói với trưởng lão Yasa, con của Kakaṇḍaka rằng: 'Này hiền giả Yasa, đây là phần vàng bạc của hiền giả.' (Trưởng lão Yasa đáp:) 'Này chư hiền, tôi không có phần vàng bạc nào cả, tôi không chấp nhận vàng bạc.' Bấy giờ, các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī (nghĩ rằng): 'Này chư hiền, trưởng lão Yasa, con của Kakaṇḍaka này đã mắng nhiếc, phỉ báng, làm cho các cận sự nam có đức tin, có lòng tịnh tín phải mất niềm tin. Nào! Chúng ta hãy thực hiện hành vi khiển trách (paṭisāraṇīyakamma) đối với vị này.' Rồi họ đã thực hiện hành vi khiển trách đối với vị ấy. Khi ấy, trưởng lão Yasa, con của Kakaṇḍaka, đã nói với các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī rằng: 'Này chư hiền, đã được đức Thế Tôn chế định rằng: 'Cần phải cấp một vị tỳ khưu đi kèm cho vị tỳ khưu đã bị thực hiện hành vi khiển trách.' Này chư hiền, xin hãy cấp cho tôi một vị tỳ khưu đi kèm.'
Atha kho āyasmā yaso kākaṇḍakaputto anudūtena bhikkhunā saddhiṁ vesāliṁ pavisitvā vesālike upāsake etadavoca—“ahaṁ kirāyasmante upāsake saddhe pasanne akkosāmi, paribhāsāmi, appasādaṁ karomi; yohaṁ adhammaṁ adhammoti vadāmi, dhammaṁ dhammoti vadāmi, avinayaṁ avinayoti vadāmi, vinayaṁ vinayoti vadāmi.
Yasa entered Vesālī with his companion and said to the lay followers, “It seems that I’m abusing and reviling the venerable lay followers who have faith and confidence, and that I’m destroying their confidence, in that I speak of what’s contrary to the Teaching as such and of what’s in accordance with the Teaching as such, and that I speak of what’s contrary to the Monastic Law as such and of what’s in accordance with the Monastic Law as such.
Why monastics should not accept gold, silver, or money
Bấy giờ, các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī, sau khi chỉ định một vị tỳ khưu, đã cấp một vị đi kèm cho trưởng lão Yasa, con của Kakaṇḍaka. Rồi trưởng lão Yasa, con của Kakaṇḍaka, cùng với vị tỳ khưu đi kèm, sau khi đi vào thành Vesālī đã nói với các cận sự nam ở Vesālī rằng: 'Nghe nói rằng tôi đã mắng nhiếc, phỉ báng, làm cho các vị cận sự nam đáng kính có đức tin, có lòng tịnh tín phải mất niềm tin; trong khi tôi là người nói điều phi Pháp là 'phi Pháp,' nói điều đúng Pháp là 'đúng Pháp,' nói điều phi Luật là 'phi Luật,' nói điều đúng Luật là 'đúng Luật.'
Ekamidaṁ, āvuso, samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho, āvuso, bhagavā bhikkhū āmantesi—
‘cattārome, bhikkhave, candimasūriyānaṁ upakkilesā, yehi upakkilesehi upakkiliṭṭhā candimasūriyā na tapanti, na bhāsanti, na virocanti. Katame cattāro? Abbhaṁ, bhikkhave, candimasūriyānaṁ upakkileso, yena upakkilesena upakkiliṭṭhā candimasūriyā na tapanti, na bhāsanti na virocanti. Mahikā, bhikkhave, candimasūriyānaṁ upakkileso, yena upakkilesena upakkiliṭṭhā candimasūriyā na tapanti, na bhāsanti, na virocanti. Dhūmarajo, bhikkhave, candimasūriyānaṁ upakkileso, yena upakkilesena upakkiliṭṭhā candimasūriyā na tapanti, na bhāsanti, na virocanti. Rāhu, bhikkhave, asurindo candimasūriyānaṁ upakkileso, yena upakkilesena upakkiliṭṭhā candimasūriyā na tapanti, na bhāsanti, na virocanti. Ime kho, bhikkhave, cattāro candimasūriyānaṁ upakkilesā, yehi upakkilesehi upakkiliṭṭhā candimasūriyā na tapanti, na bhāsanti, na virocanti.
Evameva kho, bhikkhave, cattārome samaṇabrāhmaṇānaṁ upakkilesā, yehi upakkilesehi upakkiliṭṭhā eke samaṇabrāhmaṇā na tapanti, na bhāsanti, na virocanti. Katame cattāro? Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā suraṁ pivanti, merayaṁ pivanti, surāmerayapānā appaṭiviratā—ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo samaṇabrāhmaṇānaṁ upakkileso, yena upakkilesena upakkiliṭṭhā eke samaṇabrāhmaṇā na tapanti, na bhāsanti, na virocanti. Puna caparaṁ, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā methunaṁ dhammaṁ paṭisevanti, methunadhammā appaṭiviratā—ayaṁ, bhikkhave, dutiyo samaṇabrāhmaṇānaṁ upakkileso, yena upakkilesena upakkiliṭṭhā eke samaṇabrāhmaṇā na tapanti, na bhāsanti, na virocanti. Puna caparaṁ, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā jātarūparajataṁ sādiyanti, jātarūparajatappaṭiggahaṇā appaṭiviratā—ayaṁ, bhikkhave, tatiyo samaṇabrāhmaṇānaṁ upakkileso, yena upakkilesena upakkiliṭṭhā eke samaṇabrāhmaṇā na tapanti, na bhāsanti, na virocanti. Puna caparaṁ, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā micchājīvena jīvitaṁ kappenti; micchājīvā appaṭiviratā—ayaṁ, bhikkhave, catuttho samaṇabrāhmaṇānaṁ upakkileso, yena upakkilesena upakkiliṭṭhā eke samaṇabrāhmaṇā na tapanti, na bhāsanti, na virocanti. Ime kho, bhikkhave, cattāro samaṇabrāhmaṇānaṁ upakkilesā, yehi upakkilesehi upakkiliṭṭhā eke samaṇabrāhmaṇā na tapanti, na bhāsanti, na virocanti’. Idamavocāvuso, bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā—
On one occasion the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. There he addressed the monks:
‘There are these four defilements of the sun and the moon that stop them from shining and radiating: clouds; snow; smoke and dust; and an eclipse by Rāhu, the ruler of the antigods.
In the same way, there are these four defilements of monastics and brahmins that stop them from shining and radiating: drinking alcohol; having sexual intercourse; accepting gold, silver, or money; and making a living through wrong livelihood.’
Having said this, the Teacher added:
447. 'Này chư hiền, có một thời, đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Tại nơi ấy, này chư hiền, đức Thế Tôn đã gọi các tỳ khưu: 'Này các tỳ khưu, có bốn thứ cấu uế này của mặt trời và mặt trăng, do bị các cấu uế này làm cho ô nhiễm mà mặt trời và mặt trăng không chiếu sáng, không rực rỡ, không chói lọi. Bốn là gì? Này các tỳ khưu, mây là cấu uế của mặt trời và mặt trăng, do cấu uế này làm cho ô nhiễm mà mặt trời và mặt trăng không chiếu sáng, không rực rỡ, không chói lọi. Này các tỳ khưu, sương mù là cấu uế của mặt trời và mặt trăng, do cấu uế này làm cho ô nhiễm mà mặt trời và mặt trăng không chiếu sáng, không rực rỡ, không chói lọi. Này các tỳ khưu, khói bụi là cấu uế của mặt trời và mặt trăng, do cấu uế này làm cho ô nhiễm mà mặt trời và mặt trăng không chiếu sáng, không rực rỡ, không chói lọi. Này các tỳ khưu, Rāhu, vua A-tu-la, là cấu uế của mặt trời và mặt trăng, do cấu uế này làm cho ô nhiễm mà mặt trời và mặt trăng không chiếu sáng, không rực rỡ, không chói lọi. Này các tỳ khưu, đây là bốn thứ cấu uế của mặt trời và mặt trăng, do bị các cấu uế này làm cho ô nhiễm mà mặt trời và mặt trăng không chiếu sáng, không rực rỡ, không chói lọi. Cũng vậy, này các tỳ khưu, có bốn thứ cấu uế này của các Sa-môn và Bà-la-môn, do bị các cấu uế này làm cho ô nhiễm mà một số Sa-môn và Bà-la-môn không chiếu sáng, không rực rỡ, không chói lọi. Bốn là gì? Này các tỳ khưu, có một số Sa-môn và Bà-la-môn uống rượu nấu, uống rượu men, không từ bỏ việc uống rượu nấu, rượu men – này các tỳ khưu, đây là cấu uế thứ nhất của các Sa-môn và Bà-la-môn, do cấu uế này làm cho ô nhiễm mà một số Sa-môn và Bà-la-môn không chiếu sáng, không rực rỡ, không chói lọi. Lại nữa, này các tỳ khưu, có một số Sa-môn và Bà-la-môn thực hành dâm pháp, không từ bỏ dâm pháp – này các tỳ khưu, đây là cấu uế thứ hai của các Sa-môn và Bà-la-môn, do cấu uế này làm cho ô nhiễm mà một số Sa-môn và Bà-la-môn không chiếu sáng, không rực rỡ, không chói lọi. Lại nữa, này các tỳ khưu, có một số Sa-môn và Bà-la-môn chấp nhận vàng bạc, không từ bỏ việc nhận vàng bạc – này các tỳ khưu, đây là cấu uế thứ ba của các Sa-môn và Bà-la-môn, do cấu uế này làm cho ô nhiễm mà một số Sa-môn và Bà-la-môn không chiếu sáng, không rực rỡ, không chói lọi. Lại nữa, này các tỳ khưu, có một số Sa-môn và Bà-la-môn nuôi mạng bằng tà mạng; không từ bỏ tà mạng – này các tỳ khưu, đây là cấu uế thứ tư của các Sa-môn và Bà-la-môn, do cấu uế này làm cho ô nhiễm mà một số Sa-môn và Bà-la-môn không chiếu sáng, không rực rỡ, không chói lọi. Này các tỳ khưu, đây là bốn thứ cấu uế của các Sa-môn và Bà-la-môn, do bị các cấu uế này làm cho ô nhiễm mà một số Sa-môn và Bà-la-môn không chiếu sáng, không rực rỡ, không chói lọi.' Này chư hiền, đức Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này: –
‘Rāgadosaparikliṭṭhā, eke samaṇabrāhmaṇā; Avijjānivuṭā posā, piyarūpābhinandino.
‘Defiled by desire and ill will, Some monastics and brahmins, Those hindered by delusion, Delight in what seems lovely.
'Một số Sa-môn và Bà-la-môn, bị tham và sân làm cho ô nhiễm; những chúng sanh bị vô minh bao phủ, ưa thích các sắc tướng khả ái.
Suraṁ pivanti merayaṁ, paṭisevanti methunaṁ; Rajataṁ jātarūpañca, sādiyanti aviddasū.
Some monastics and brahmins, Deluded, they drink alcohol, Have sexual intercourse, Accept gold, silver, or money,
'Họ uống rượu nấu, rượu men, thực hành việc dâm dục; những kẻ vô trí chấp nhận bạc và vàng.
Micchājīvena jīvanti, eke samaṇabrāhmaṇā; Ete upakkilesā vuttā, buddhenādiccabandhunā.
And make a living Through wrong livelihood. These are called defilements by the Buddha, The Kinsman of the Sun.
'Một số Sa-môn và Bà-la-môn sống bằng tà mạng; những cấu uế này đã được đức Phật, bà con của mặt trời, tuyên thuyết.
Yehi upakkilesehi upakkiliṭṭhā, Eke samaṇabrāhmaṇā; Na tapanti na bhāsanti, Asuddhā sarajā magā.
Those monastics and brahmins Who are defiled by these Do not shine and radiate; They are impure, dirty, and low.
'Do bị các cấu uế này làm cho ô nhiễm, một số Sa-môn và Bà-la-môn không chiếu sáng, không rực rỡ; họ không trong sạch, còn bụi bặm, giống như loài thú.
Andhakārena onaddhā, taṇhādāsā sanettikā; Vaḍḍhenti kaṭasiṁ ghoraṁ, ādiyanti punabbhavan’ti.
Enveloped in darkness, Slaves to craving that leads them on, Filling the dreaded cemeteries, They receive another life.’
'Bị bóng tối bao trùm, là nô lệ của ái dục, có ái dục dẫn đường; họ làm lớn thêm nghĩa địa ghê rợn, lại tái sanh trong đời mới.'
Evaṁvādī kirāhaṁ āyasmante upāsake saddhe pasanne akkosāmi, paribhāsāmi, appasādaṁ karomi; yohaṁ adhammaṁ adhammoti vadāmi, dhammaṁ dhammoti vadāmi, avinayaṁ avinayoti vadāmi, vinayaṁ vinayoti vadāmi.
It’s by speaking like this, it seems, that I’m abusing and reviling the venerable lay followers who have faith and confidence, and that I’m destroying their confidence.
‘(Có phải) tôi, người nói như vầy, lại đi mắng nhiếc, phỉ báng, làm cho mất niềm tin đối với các vị cận sự nam đáng kính, những người có đức tin, có lòng trong sạch; trong khi tôi là người nói điều phi pháp là phi pháp, nói điều đúng pháp là đúng pháp, nói điều phi luật là phi luật, nói điều đúng luật là đúng luật.
Ekamidaṁ, āvuso, samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena rājantepure rājaparisāyaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarakathā udapādi—‘kappati samaṇānaṁ sakyaputtiyānaṁ jātarūparajataṁ; sādiyanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṁ; paṭiggaṇhanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajatan’ti.
Tena kho panāvuso, samayena maṇicūḷako gāmaṇī tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti. Atha kho, āvuso, maṇicūḷako gāmaṇī taṁ parisaṁ etadavoca—‘mā, ayyā, evaṁ avacuttha. Na kappati samaṇānaṁ sakyaputtiyānaṁ jātarūparajataṁ; na sādiyanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṁ; na paṭiggaṇhanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṁ; nikkhittamaṇisuvaṇṇā samaṇā sakyaputtiyā apetajātarūparajatā’ti. Asakkhi kho, āvuso, maṇicūḷako gāmaṇī taṁ parisaṁ saññāpetuṁ.
At another time when the Buddha was staying at Rājagaha in the Bamboo Grove, the royal court was seated together in the royal compound, having the following conversation, ‘Gold, silver, and money are allowable for the Sakyan monastics; they accept and receive gold, silver, and money.’
On that occasion the chief Maṇicūlaka was sitting in that gathering. He said, ‘No, gold, silver, and money aren’t allowable for the Sakyan monastics. They neither accept nor receive gold, silver, or money. The Sakyan monastics have given up gems and gold, and live without gold, silver, and money.’ And he was able to persuade that gathering.
448. “Này chư hiền, một thời nọ, đức Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, trong hoàng cung, giữa hội chúng của nhà vua đang ngồi họp lại, câu chuyện này đã được khởi lên: ‘Vàng và bạc là hợp lệ đối với các vị sa-môn Thích tử; các vị sa-môn Thích tử chấp nhận vàng và bạc; các vị sa-môn Thích tử thọ nhận vàng và bạc.’ Này chư hiền, vào lúc bấy giờ, vị thôn trưởng Maṇicūḷaka cũng đang ngồi trong hội chúng ấy. Rồi, này chư hiền, vị thôn trưởng Maṇicūḷaka đã nói với hội chúng ấy rằng: ‘Thưa các ngài, xin đừng nói như vậy. Vàng và bạc là không hợp lệ đối với các vị sa-môn Thích tử; các vị sa-môn Thích tử không chấp nhận vàng và bạc; các vị sa-môn Thích tử không thọ nhận vàng và bạc; các vị sa-môn Thích tử đã từ bỏ ngọc và vàng, đã xa lìa vàng và bạc.’ Này chư hiền, vị thôn trưởng Maṇicūḷaka đã không thể làm cho hội chúng ấy hiểu ra.
Atha kho, āvuso, maṇicūḷako gāmaṇī taṁ parisaṁ saññāpetvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho, āvuso, maṇicūḷako gāmaṇī bhagavantaṁ etadavoca—‘idha, bhante, rājantepure rājaparisāyaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarakathā udapādi—kappati samaṇānaṁ sakyaputtiyānaṁ jātarūparajataṁ; sādiyanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṁ; paṭiggaṇhanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajatanti. Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, taṁ parisaṁ etadavocaṁ—mā, ayyā, evaṁ avacuttha. Na kappati samaṇānaṁ sakyaputtiyānaṁ jātarūparajataṁ; na sādiyanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṁ; na paṭiggaṇhanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṁ; nikkhittamaṇisuvaṇṇā samaṇā sakyaputtiyā apetajātarūparajatāti. Asakkhiṁ kho ahaṁ, bhante, taṁ parisaṁ saññāpetuṁ. Kaccāhaṁ, bhante, evaṁ byākaramāno vuttavādī ceva bhagavato homi, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkhāmi, dhammassa cānudhammaṁ byākaromi, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchatī’ti?
‘Taggha tvaṁ, gāmaṇi, evaṁ byākaramāno vuttavādī ceva me hosi; na ca maṁ abhūtena abbhācikkhasi, dhammassa cānudhammaṁ byākarosi, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchati. Na hi, gāmaṇi, kappati samaṇānaṁ sakyaputtiyānaṁ jātarūparajataṁ; na sādiyanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṁ; na paṭiggaṇhanti samaṇā sakyaputtiyā jātarūparajataṁ; nikkhittamaṇisuvaṇṇā samaṇā sakyaputtiyā apetajātarūparajatā. Yassa kho, gāmaṇi, jātarūparajataṁ kappati, pañcapi tassa kāmaguṇā kappanti. Yassa pañca kāmaguṇā kappanti ekaṁsenetaṁ, gāmaṇi, dhāreyyāsi—assamaṇadhammo asakyaputtiyadhammoti. Api cāhaṁ, gāmaṇi, evaṁ vadāmi tiṇaṁ tiṇatthikena pariyesitabbaṁ; dāru dārutthikena pariyesitabbaṁ; sakaṭaṁ sakaṭatthikena pariyesitabbaṁ; puriso purisatthikena pariyesitabbo. Na tvevāhaṁ, gāmaṇi, kenaci pariyāyena jātarūparajataṁ sāditabbaṁ pariyesitabbanti vadāmī’ti.
Soon afterwards Maṇicūlaka went to the Buddha, bowed, sat down, and told him what had happened, adding, ‘Sir, have I explained in accordance with the Teaching so that I can’t be legitimately criticized or censured?’
‘You certainly have, for gold, silver, and money aren’t allowable for the Sakyan monastics. They neither accept nor receive gold, silver, or money. The Sakyan monastics have given up gems and gold, and live without gold, silver, and money. Whoever is allowed gold, silver, or money is also allowed the pleasures of the world. And you should know that anyone who’s allowed the pleasures of the world doesn’t have the qualities of an ascetic, the qualities of a Sakyan monastic. Still, I say that anyone who needs grass may look for it, likewise timber, a cart, or a worker. But under no circumstances should they accept or look for gold, silver, or money.’
“Rồi, này chư hiền, vị thôn trưởng Maṇicūḷaka, sau khi đã cố gắng làm cho hội chúng ấy hiểu ra, đã đi đến nơi đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Này chư hiền, sau khi ngồi xuống một bên, vị thôn trưởng Maṇicūḷaka đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, ở đây, trong hoàng cung, giữa hội chúng của nhà vua đang ngồi họp lại, câu chuyện này đã được khởi lên: ‘Vàng và bạc là hợp lệ đối với các vị sa-môn Thích tử; các vị sa-môn Thích tử chấp nhận vàng và bạc; các vị sa-môn Thích tử thọ nhận vàng và bạc.’ Bạch ngài, khi được nói như vậy, con đã nói với hội chúng ấy điều này: ‘Thưa các ngài, xin đừng nói như vậy. Vàng và bạc là không hợp lệ đối với các vị sa-môn Thích tử; các vị sa-môn Thích tử không chấp nhận vàng và bạc; các vị sa-môn Thích tử không thọ nhận vàng và bạc; các vị sa-môn Thích tử đã từ bỏ ngọc và vàng, đã xa lìa vàng và bạc.’ Bạch ngài, con đã không thể làm cho hội chúng ấy hiểu ra. Bạch ngài, khi giải thích như vậy, con có phải là người nói đúng lời của đức Thế Tôn, không xuyên tạc đức Thế Tôn bằng điều không thật, có giải thích pháp và tùy pháp, và không có lời nói hay luận điểm nào hợp lý lại đi đến chỗ đáng bị khiển trách không?’ ‘Này thôn trưởng, quả thật khi giải thích như vậy, ông là người nói đúng lời của ta, không xuyên tạc ta bằng điều không thật, có giải thích pháp và tùy pháp, và không có lời nói hay luận điểm nào hợp lý lại đi đến chỗ đáng bị khiển trách. Này thôn trưởng, quả thật vàng và bạc là không hợp lệ đối với các vị sa-môn Thích tử; các vị sa-môn Thích tử không chấp nhận vàng và bạc; các vị sa-môn Thích tử không thọ nhận vàng và bạc; các vị sa-môn Thích tử đã từ bỏ ngọc và vàng, đã xa lìa vàng và bạc. Này thôn trưởng, người nào mà vàng và bạc hợp lệ, thì năm dục công đức cũng hợp lệ đối với người ấy. Người nào mà năm dục công đức hợp lệ, này thôn trưởng, ông hãy ghi nhớ điều này một cách chắc chắn: đó là pháp của người không phải sa-môn, là pháp của người không phải Thích tử. Hơn nữa, này thôn trưởng, ta nói như vầy: cỏ cần được tìm kiếm bởi người cần cỏ; gỗ cần được tìm kiếm bởi người cần gỗ; xe cần được tìm kiếm bởi người cần xe; người làm công cần được tìm kiếm bởi người cần người làm công. Nhưng này thôn trưởng, ta không hề nói rằng vàng và bạc cần được chấp nhận hay tìm kiếm bằng bất cứ cách nào.’”
Evaṁvādī kirāhaṁ āyasmante upāsake saddhe pasanne akkosāmi, paribhāsāmi, appasādaṁ karomi; yohaṁ adhammaṁ adhammoti vadāmi, dhammaṁ dhammoti vadāmi, avinayaṁ avinayoti vadāmi, vinayaṁ vinayoti vadāmi.
It’s by speaking like this, it seems, that I’m abusing and reviling the venerable lay followers who have faith and confidence, and that I’m destroying their confidence.
‘(Có phải) tôi, người nói như vầy, lại đi mắng nhiếc, phỉ báng, làm cho mất niềm tin đối với các vị cận sự nam đáng kính, những người có đức tin, có lòng trong sạch; trong khi tôi là người nói điều phi pháp là phi pháp, nói điều đúng pháp là đúng pháp, nói điều phi luật là phi luật, nói điều đúng luật là đúng luật.
Ekamidaṁ, āvuso, samayaṁ bhagavā rājagahe āyasmantaṁ upanandaṁ sakyaputtaṁ ārabbha jātarūparajataṁ paṭikkhipi, sikkhāpadañca paññapesi. Evaṁvādī kirāhaṁ āyasmante upāsake saddhe pasanne akkosāmi, paribhāsāmi, appasādaṁ karomi; yohaṁ adhammaṁ adhammoti vadāmi, dhammaṁ dhammoti vadāmi, avinayaṁ avinayoti vadāmi, vinayaṁ vinayoti vadāmī”ti.
On another occasion at Rājagaha the Buddha prohibited gold, silver, and money and laid down a training rule because of Venerable Upananda the Sakyan. It’s by speaking like this, it seems, that I’m abusing and reviling the venerable lay followers who have faith and confidence, and that I’m destroying their confidence, in that I speak of what’s contrary to the Teaching as such and of what’s in accordance with the Teaching as such, and that I speak of what’s contrary to the Monastic Law as such and of what’s in accordance with the Monastic Law as such.
449. “Này chư hiền, một thời nọ, đức Thế Tôn ở Rājagaha, nhân dịp trưởng lão Upananda Thích tử, đã từ chối vàng và bạc, và đã chế định học giới. (Có phải) tôi, người nói như vầy, lại đi mắng nhiếc, phỉ báng, làm cho mất niềm tin đối với các vị cận sự nam đáng kính, những người có đức tin, có lòng trong sạch; trong khi tôi là người nói điều phi pháp là phi pháp, nói điều đúng pháp là đúng pháp, nói điều phi luật là phi luật, nói điều đúng luật là đúng luật.’”
Evaṁ vutte, vesālikā upāsakā āyasmantaṁ yasaṁ kākaṇḍakaputtaṁ etadavocuṁ—“ekova, bhante, ayyo yaso kākaṇḍakaputto samaṇo sakyaputtiyo. Sabbevime assamaṇā asakyaputtiyā. Vasatu, bhante, ayyo yaso kākaṇḍakaputto vesāliyaṁ. Mayaṁ ayyassa yasassa kākaṇḍakaputtassa ussukkaṁ karissāma cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānan”ti. Atha kho āyasmā yaso kākaṇḍakaputto vesālike upāsake saññāpetvā anudūtena bhikkhunā saddhiṁ ārāmaṁ agamāsi.
And the lay followers of Vesālī said to Yasa, “Venerable, you’re the only Sakyan monastic; none of these others is. Please stay at Vesālī. We’ll do our best to provide you with robe-cloth, almsfood, a dwelling, and medicinal supplies.” Having persuaded the lay followers of Vesālī, Yasa returned to the monastery together with his companion messenger.
Khi được nói như vậy, các vị cận sự nam ở Vesālī đã nói với trưởng lão Yasa, con trai của Kākaṇḍaka, điều này: ‘Bạch ngài, chỉ có một mình trưởng lão Yasa, con trai của Kākaṇḍaka, là sa-môn, là Thích tử. Tất cả những vị này đều không phải là sa-môn, không phải là Thích tử. Bạch ngài, xin trưởng lão Yasa, con trai của Kākaṇḍaka, hãy ở lại Vesālī. Chúng con sẽ nỗ lực cung cấp y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men trị bệnh cho trưởng lão Yasa, con trai của Kākaṇḍaka.’ Rồi trưởng lão Yasa, con trai của Kākaṇḍaka, sau khi làm cho các vị cận sự nam ở Vesālī hiểu ra, đã cùng với một vị tỳ khưu đi theo làm người đưa tin trở về tu viện.
Atha kho vesālikā vajjiputtakā bhikkhū anudūtaṁ bhikkhuṁ pucchiṁsu—“khamāpitāvuso, yasena kākaṇḍakaputtena vesālikā upāsakā”ti?
“Upāsakehi pāpikaṁ no, āvuso, kataṁ. Ekova yaso kākaṇḍakaputto samaṇo sakyaputtiyo kato. Sabbeva mayaṁ assamaṇā asakyaputtiyā katā”ti.
Atha kho vesālikā vajjiputtakā bhikkhū—“ayaṁ, āvuso, yaso kākaṇḍakaputto amhehi asammato gihīnaṁ pakāsesi; handassa mayaṁ ukkhepanīyakammaṁ karomā”ti. Te tassa ukkhepanīyakammaṁ kattukāmā sannipatiṁsu. Atha kho āyasmā yaso kākaṇḍakaputto vehāsaṁ abbhuggantvā kosambiyaṁ paccuṭṭhāsi.
Atha kho āyasmā yaso kākaṇḍakaputto pāveyyakānañca avantidakkhiṇāpathakānañca bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pāhesi—
Soon afterwards the Vajjian monks asked the monk who had been the companion messenger, “Did Yasa ask forgiveness of the lay followers?”
“The lay followers have acted badly toward us. They now regard Yasa as the only Sakyan monastic, but none of us.”
The Vajjian monks said, “Yasa has informed the householders without our approval. Let’s do a legal procedure of ejection against him.” But when they gathered together to do the procedure against him, Yasa rose up into the air and landed at Kosambī.
Yasa gathers supporters
Yasa then sent a message to the monks at Pāvā and to the monks in Avantī in the southern region:
Bấy giờ, các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī đã hỏi vị tỳ khưu đi theo sau rằng: – ‘Này hiền hữu, Yasa con trai của Kākandaka đã làm cho các cận sự nam ở Vesālī nguôi ngoai chưa?’ – ‘Thưa các hiền hữu, các cận sự nam đã làm điều xấu xa đối với chúng tôi. Chỉ có một mình Yasa con trai của Kākandaka được xem là sa-môn, là Thích tử. Tất cả chúng tôi đều bị xem là không phải sa-môn, không phải là Thích tử.’ Bấy giờ, các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī (nói rằng): – ‘Này các hiền hữu, Yasa con trai của Kākandaka này, trong khi không được chúng tôi đồng thuận, đã trình bày (vấn đề) cho hàng tại gia; thôi nào, chúng ta hãy thực hiện hình phạt trục xuất đối với vị ấy.’ Họ đã tụ họp lại, có ý muốn thực hiện hình phạt trục xuất đối với vị ấy. Bấy giờ, trưởng lão Yasa con trai của Kākandaka bay lên không trung rồi đáp xuống ở Kosambī.
450. Bấy giờ, trưởng lão Yasa con trai của Kākandaka đã gửi sứ giả đến các tỳ khưu ở Pāvā và ở Avanti và Dakkhiṇāpatha rằng: – ‘Mong các trưởng lão hãy đến; chúng ta sẽ đảm nhận vụ tranh tụng này. Trước khi phi pháp được rạng rỡ, chánh pháp bị ngăn cản; trước khi phi luật được rạng rỡ, chánh luật bị ngăn cản; trước khi những người nói phi pháp trở nên có thế lực, những người nói chánh pháp trở nên yếu thế; trước khi những người nói phi luật trở nên có thế lực, những người nói chánh luật trở nên yếu thế.’
Tena kho pana samayena āyasmā sambhūto sāṇavāsī ahogaṅge pabbate paṭivasati. Atha kho āyasmā yaso kākaṇḍakaputto yena ahogaṅgo pabbato, yenāyasmā sambhūto sāṇavāsī tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sambhūtaṁ sāṇavāsiṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā yaso kākaṇḍakaputto āyasmantaṁ sambhūtaṁ sāṇavāsiṁ etadavoca—“ime, bhante, vesālikā vajjiputtakā bhikkhū vesāliyaṁ dasa vatthūni dīpenti—kappati siṅgiloṇakappo, kappati dvaṅgulakappo, kappati gāmantarakappo, kappati āvāsakappo, kappati anumatikappo, kappati āciṇṇakappo, kappati amathitakappo, kappati jaḷogiṁ pātuṁ, kappati adasakaṁ nisīdanaṁ, kappati jātarūparajatanti. Handa mayaṁ, bhante, imaṁ adhikaraṇaṁ ādiyissāma. Pure adhammo dippati, dhammo paṭibāhiyyati; avinayo dippati, vinayo paṭibāhiyyati; pure adhammavādino balavanto honti, dhammavādino dubbalā honti; avinayavādino balavanto honti, vinayavādino dubbalā hontī”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā sambhūto sāṇavāsī āyasmato yasassa kākaṇḍakaputtassa paccassosi.
Atha kho saṭṭhimattā pāveyyakā bhikkhū—sabbe āraññikā, sabbe piṇḍapātikā, sabbe paṁsukūlikā, sabbe tecīvarikā, sabbeva arahanto—ahogaṅge pabbate sannipatiṁsu. Aṭṭhāsītimattā avantidakkhiṇāpathakā bhikkhū—appekacce āraññikā, appekacce piṇḍapātikā, appekacce paṁsukūlikā, appekacce tecīvarikā, sabbeva arahanto—ahogaṅge pabbate sannipatiṁsu. Atha kho therānaṁ bhikkhūnaṁ mantayamānānaṁ etadahosi—“idaṁ kho adhikaraṇaṁ kakkhaḷañca, vāḷañca; kaṁ nu kho mayaṁ pakkhaṁ labheyyāma, yena mayaṁ imasmiṁ adhikaraṇe balavantatarā assāmā”ti.
Yasa then traveled to Venerable Sambhūta Sāṇavāsī who was staying on the Ahogaṅga mountain. He bowed, sat down, and said, “Sir, the Vajjian monks of Vesālī proclaim these ten practices as allowable: the salt-in-horn practice; the two-fingerbreadths practice; the next-village practice; the many-monasteries practice; the consent practice; customary practices; the unchurned practice; palm-juice drinking; sitting mats without borders; and gold, silver, and money. Let’s take on this legal issue—before what’s contrary to the Teaching shines forth and the Teaching is obstructed; before what’s contrary to the Monastic Law shines forth and the Monastic Law is obstructed; before those who speak contrary to the Teaching become strong and those who speak in accordance with it become weak; before those who speak contrary to the Monastic Law become strong and those who speak in accordance with it become weak.”
“Yes.”
Soon afterwards, sixty monks from Pāvā—all of them wilderness dwellers, almsfood-only eaters, rag-robe wearers, three-robe owners, and perfected—gathered on mount Ahogaṅga. And eighty-eight monks from Avantī in the southern region—some of them wilderness dwellers, some almsfood-only eaters, some rag-robe wearers, some three-robe owners, but all perfected—also gathered on mount Ahogaṅga. Then, as the senior monks were consulting one another, it occurred to them, “This legal issue is going to be contentious and difficult. How can we get supporters to strengthen our side?”
Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Sambhūta Sāṇavāsī đang trú ngụ ở ngọn núi Ahogaṅga. Bấy giờ, trưởng lão Yasa con trai của Kākandaka đã đi đến ngọn núi Ahogaṅga, nơi có trưởng lão Sambhūta Sāṇavāsī; sau khi đến, đã đảnh lễ trưởng lão Sambhūta Sāṇavāsī rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, trưởng lão Yasa con trai của Kākandaka đã thưa với trưởng lão Sambhūta Sāṇavāsī điều này: – ‘Thưa ngài, các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī này đang trình bày mười điều ở Vesālī rằng: – Được phép (dùng) muối cất trong sừng, được phép (dùng bữa) hai ngón tay (sau giờ ngọ), được phép đi đến làng khác (và dùng bữa), được phép (làm bố-tát) ở các trú xứ khác nhau, được phép (làm tăng sự) khi chưa có sự đồng thuận, được phép theo thông lệ, được phép (dùng) sữa chưa đông, được phép uống nước trái cây chưa lên men, được phép (dùng) tọa cụ không có viền, được phép nhận vàng và bạc. Thôi nào, thưa ngài, chúng ta hãy đảm nhận vụ tranh tụng này. Trước khi phi pháp được rạng rỡ, chánh pháp bị ngăn cản; trước khi phi luật được rạng rỡ, chánh luật bị ngăn cản; trước khi những người nói phi pháp trở nên có thế lực, những người nói chánh pháp trở nên yếu thế; trước khi những người nói phi luật trở nên có thế lực, những người nói chánh luật trở nên yếu thế.’ – ‘Đúng vậy, hiền hữu.’ Trưởng lão Sambhūta Sāṇavāsī đã nhận lời với trưởng lão Yasa con trai của Kākandaka. Bấy giờ, khoảng sáu mươi vị tỳ khưu người Pāvā – tất cả đều là vị ở rừng, tất cả đều là vị đi khất thực, tất cả đều là vị mặc y phấn tảo, tất cả đều là vị mặc tam y, tất cả đều là bậc A-la-hán – đã tụ họp ở ngọn núi Ahogaṅga. Khoảng tám mươi tám vị tỳ khưu người Avanti và Dakkhiṇāpatha – một số là vị ở rừng, một số là vị đi khất thực, một số là vị mặc y phấn tảo, một số là vị mặc tam y, tất cả đều là bậc A-la-hán – đã tụ họp ở ngọn núi Ahogaṅga. Bấy giờ, trong khi các vị tỳ khưu trưởng lão đang bàn bạc, ý nghĩ này đã khởi lên: – ‘Vụ tranh tụng này thật là gay go và dữ dội; làm thế nào chúng ta có thể có được phe nhóm mà nhờ đó chúng ta có thể có thế lực hơn trong vụ tranh tụng này?’
Tena kho pana samayena āyasmā revato soreyye paṭivasati—bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito viyatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo. Atha kho therānaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“ayaṁ kho āyasmā revato soreyye paṭivasati—bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito viyatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo. Sace mayaṁ āyasmantaṁ revataṁ pakkhaṁ labhissāma, evaṁ mayaṁ imasmiṁ adhikaraṇe balavantatarā assāmā”ti.
Assosi kho āyasmā revato—dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya—therānaṁ bhikkhūnaṁ mantayamānānaṁ. Sutvānassa etadahosi—“idaṁ kho adhikaraṇaṁ kakkhaḷañca vāḷañca. Na kho metaṁ patirūpaṁ yohaṁ evarūpe adhikaraṇe osakkeyyaṁ. Idāni ca pana te bhikkhū āgacchissanti. Sohaṁ tehi ākiṇṇo na phāsu gamissāmi. Yannūnāhaṁ paṭikacceva gaccheyyan”ti. Atha kho āyasmā revato soreyyā saṅkassaṁ agamāsi.
Atha kho therā bhikkhū soreyyaṁ gantvā pucchiṁsu—“kahaṁ āyasmā revato”ti? Te evamāhaṁsu—“esāyasmā revato saṅkassaṁ gato”ti.
At this time Venerable Revata was staying at Soreyya. He was learned and a master of the tradition; he was an expert on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; he was knowledgeable and competent, had a sense of conscience, and was afraid of wrongdoing and fond of the training. The senior monks considered this and said, “If we get Revata to support us, we’ll be stronger.”
When Revata heard this conversation between the senior monks by means of clairaudience, he thought, “This legal issue is going to be contentious and difficult. It wouldn’t be appropriate for me to stay away from it. But now these monks are coming, and I won’t be at ease when they crowd me in. Let me leave before they arrive.” And he went from Soreyya to Saṅkassa.
When the senior monks came to Soreyya and asked where Revata was. They were told that he had gone to Saṅkassa.
451. Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Revata đang trú ngụ ở Soreyya – là bậc đa văn, thông thuộc truyền thống, thông suốt Chánh pháp, thông suốt Giới luật, thông suốt các đề mục, là bậc hiền trí, khôn khéo, thông minh, có liêm sỉ, có lòng hổ thẹn, ham học hỏi. Bấy giờ, ý nghĩ này đã khởi lên trong các vị tỳ khưu trưởng lão: – ‘Trưởng lão Revata này đang trú ngụ ở Soreyya – là bậc đa văn, thông thuộc truyền thống, thông suốt Chánh pháp, thông suốt Giới luật, thông suốt các đề mục, là bậc hiền trí, khôn khéo, thông minh, có liêm sỉ, có lòng hổ thẹn, ham học hỏi. Nếu chúng ta có được trưởng lão Revata về phe của mình, như vậy chúng ta sẽ có thế lực hơn trong vụ tranh tụng này.’ Trưởng lão Revata – với thiên nhĩ thông thanh tịnh, siêu phàm – đã nghe được các vị tỳ khưu trưởng lão đang bàn bạc. Sau khi nghe, ý nghĩ này đã khởi lên trong vị ấy: – ‘Vụ tranh tụng này thật là gay go và dữ dội. Thật không thích hợp cho ta khi ta lại thoái lui trong một vụ tranh tụng như thế này. Và bây giờ các vị tỳ khưu ấy sẽ đến. Do bị quấy rầy bởi họ, ta sẽ không thể đi lại một cách an ổn. Chắc chắn ta nên đi trước.’ Bấy giờ, trưởng lão Revata đã đi từ Soreyya đến Saṅkassa.
The ten practices explained
Bấy giờ, các vị tỳ khưu trưởng lão đi đến Soreyya và hỏi: – ‘Đại đức Revata ở đâu?’ Họ đã nói như vầy: – ‘Vị Đại đức Revata ấy đã đi đến Saṅkassa.’ Bấy giờ, Đại đức Revata đã đi từ Saṅkassa đến Kaṇṇakujja. Bấy giờ, các vị tỳ khưu trưởng lão đi đến Saṅkassa và hỏi: – ‘Đại đức Revata ở đâu?’ Họ đã nói như vầy: – ‘Vị Đại đức Revata ấy đã đi đến Kaṇṇakujja.’ Bấy giờ, Đại đức Revata đã đi từ Kaṇṇakujja đến Udumbara. Bấy giờ, các vị tỳ khưu trưởng lão đi đến Kaṇṇakujja và hỏi: – ‘Đại đức Revata ở đâu?’ Họ đã nói như vầy: – ‘Vị Đại đức Revata ấy đã đi đến Udumbara.’ Bấy giờ, Đại đức Revata đã đi từ Udumbara đến Aggaḷapura. Bấy giờ, các vị tỳ khưu trưởng lão đi đến Udumbara và hỏi: – ‘Đại đức Revata ở đâu?’ Họ đã nói như vầy: – ‘Vị Đại đức Revata ấy đã đi đến Aggaḷapura.’ Bấy giờ, Đại đức Revata đã đi từ Aggaḷapura đến Sahajāti. Bấy giờ, các vị tỳ khưu trưởng lão đi đến Aggaḷapura và hỏi: – ‘Đại đức Revata ở đâu?’ Họ đã nói như vầy: – ‘Vị Đại đức Revata ấy đã đi đến Sahajāti.’ Bấy giờ, các vị tỳ khưu trưởng lão đã gặp được Đại đức Revata ở tại Sahajāti.
Atha kho āyasmā sambhūto sāṇavāsī āyasmantaṁ yasaṁ kākaṇḍakaputtaṁ etadavoca—“ayaṁ, āvuso, āyasmā revato bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito viyatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo. Sace mayaṁ āyasmantaṁ revataṁ pañhaṁ pucchissāma, paṭibalo āyasmā revato ekeneva pañhena sakalampi rattiṁ vītināmetuṁ. Idāni ca panāyasmā revato antevāsikaṁ sarabhāṇakaṁ bhikkhuṁ ajjhesissati. So tvaṁ tassa bhikkhuno sarabhaññapariyosāne āyasmantaṁ revataṁ upasaṅkamitvā imāni dasa vatthūni puccheyyāsī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā yaso kākaṇḍakaputto āyasmato sambhūtassa sāṇavāsissa paccassosi. Atha kho āyasmā revato antevāsikaṁ sarabhāṇakaṁ bhikkhuṁ ajjhesi.
Atha kho āyasmā yaso kākaṇḍakaputto tassa bhikkhuno sarabhaññapariyosāne yenāyasmā revato tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ revataṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā yaso kākaṇḍakaputto āyasmantaṁ revataṁ etadavoca—“kappati, bhante, siṅgiloṇakappo”ti?
“Ko so, āvuso, siṅgiloṇakappo”ti?
“Kappati, bhante, siṅginā loṇaṁ pariharituṁ—yattha aloṇakaṁ bhavissati tattha paribhuñjissāmī”ti?
“Nāvuso, kappatī”ti.
“Kappati, bhante, dvaṅgulakappo”ti?
“Ko so, āvuso, dvaṅgulakappo”ti?
“Kappati, bhante, dvaṅgulāya chāyāya vītivattāya, vikāle bhojanaṁ bhuñjitun”ti?
“Nāvuso, kappatī”ti.
“Kappati, bhante, gāmantarakappo”ti?
“Ko so, āvuso, gāmantarakappo”ti? “Kappati, bhante—idāni gāmantaraṁ gamissāmīti—bhuttāvinā pavāritena anatirittaṁ bhojanaṁ bhuñjitun”ti?
“Nāvuso, kappatī”ti.
“Kappati, bhante, āvāsakappo”ti?
“Ko so, āvuso, āvāsakappo”ti?
“Kappati, bhante, sambahulā āvāsā samānasīmā nānuposathaṁ kātun”ti?
“Nāvuso, kappatī”ti.
“Kappati, bhante, anumatikappo”ti?
“Ko so, āvuso, anumatikappo”ti?
“Kappati, bhante, vaggena saṅghena kammaṁ kātuṁ—āgate bhikkhū anumānessāmā”ti?
“Nāvuso, kappatī”ti.
“Kappati, bhante, āciṇṇakappo”ti?
“Ko so, āvuso, āciṇṇakappo”ti?
“Kappati, bhante, idaṁ me upajjhāyena ajjhāciṇṇaṁ, idaṁ me ācariyena ajjhāciṇṇaṁ, taṁ ajjhācaritun”ti?
“Āciṇṇakappo kho, āvuso, ekacco kappati, ekacco na kappatī”ti.
“Kappati, bhante, amathitakappo”ti?
“Ko so, āvuso, amathitakappo”ti?
“Kappati, bhante, yaṁ taṁ khīraṁ khīrabhāvaṁ vijahitaṁ, asampattaṁ dadhibhāvaṁ, taṁ bhuttāvinā pavāritena anatirittaṁ pātun”ti?
“Nāvuso, kappatī”ti?
“Kappati, bhante, jaḷogiṁ pātun”ti?
“Kā sā, āvuso, jaḷogī”ti?
“Kappati, bhante, yā sā surā āsutā, asampattā majjabhāvaṁ, sā pātun”ti?
“Nāvuso, kappatī”ti.
“Kappati, bhante, adasakaṁ nisīdanan”ti?
“Nāvuso, kappatī”ti.
“Kappati, bhante, jātarūparajatan”ti?
“Nāvuso, kappatī”ti.
“Ime, bhante, vesālikā vajjiputtakā bhikkhū vesāliyaṁ imāni dasa vatthūni dīpenti. Handa mayaṁ, bhante, imaṁ adhikaraṇaṁ ādiyissāma. Pure adhammo dippati, dhammo paṭibāhiyyati; avinayo dippati, vinayo paṭibāhiyyati; pure adhammavādino balavanto honti, dhammavādino dubbalā honti; avinayavādino balavanto honti, vinayavādino dubbalā hontī”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā revato āyasmato yasassa kākaṇḍakaputtassa paccassosi.
Sambhūta Sāṇavāsī then said to Yasa, “Revata is learned and a master of the tradition; he’s an expert on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; he’s knowledgeable and competent, has a sense of conscience, and is afraid of wrongdoing and fond of the training. If we ask Revata a question, he would be capable of spending the whole night answering just that one. Now, soon he will ask a pupil monk to chant. Once the chanting is finished, go up to Revata and ask him about these ten practices.”
“Yes, sir.”
Soon afterwards, when the chanting was finished, Yasa went up to Revata, bowed, sat down, and said, “Sir, is the salt-in-horn practice allowable?”
“What’s the salt-in-horn practice?”
“Is it allowable to carry salt in a horn and then eat it whenever the food is unsalted?”
“No, it’s not allowable.”
“Is the two-fingerbreadths practice allowable?”—“What’s the two fingerbreadths practice?”—“Is it allowable to eat at the wrong time, so long as the shadow of the sundial is within two fingerbreadths of midday?”—“No.”
“Is the next-village practice allowable?”—“What’s the next-village practice?”—“When you have finished your meal and refused an invitation to eat more, is it allowable to eat non-leftover food if you intend to go to the next village?”—“No.”
“Is the many-monasteries practice allowable?”—“What’s the many-monasteries practice?”—“When there are a number of monasteries within the same monastery zone, is it allowable for them to do the observance-day ceremony separately?”—“No.”
“Is the consent practice allowable?”—“What’s the consent practice?”—“Is it allowable to do a legal procedure with an incomplete Sangha, with the intention of getting consent from the absent monks afterwards?”—“No.”
“Are customary practices allowable?”—“What are customary practices?”—“Is it allowable to follow the practices of one’s preceptors or teachers?”—“Sometimes it is, sometimes it isn’t.”
“Is the unchurned practice allowable?”—“What’s the unchurned practice?”—“When you have finished your meal and refused an invitation to eat more, is it allowable to drink that which is halfway between milk and curd, if it’s not left over?”—“No.”
“Is palm-juice drinking allowable?”—“What’s palm juice?”—“Is it allowable to drink that which has started to ferment, but which hasn’t yet become a proper alcoholic drink?”—“No.”
“Are sitting mats without borders allowable?”—“No.”
“Is gold, silver, or money allowable?”—“No.”
“The Vajjian monks of Vesālī proclaim these ten practices. Venerable, let’s take on this legal issue—before what’s contrary to the Teaching shines forth and the Teaching is obstructed; before what’s contrary to the Monastic Law shines forth and the Monastic Law is obstructed; before those who speak contrary to the Teaching become strong and those who speak in accordance with it become weak; before those who speak contrary to the Monastic Law become strong and those who speak in accordance with it become weak.”
Saying, “Yes,” he consented to Yasa’s request.
452. Bấy giờ, Đại đức Sambhūta Sāṇavāsī đã nói với Đại đức Yasa, con trai của Kākaṇḍaka, điều này: – ‘Này chư hiền, vị Đại đức Revata này là bậc đa văn, thông suốt Thánh điển, trì Pháp, trì Luật, trì Mẫu đề, là bậc hiền trí, thông thạo, có trí tuệ, biết tàm, biết quý, ham học. Nếu chúng ta hỏi Đại đức Revata một vấn đề, Đại đức Revata có khả năng làm cho trọn cả đêm trôi qua chỉ với một vấn đề ấy. Và giờ đây, Đại đức Revata sẽ yêu cầu vị tỳ khưu thị giả, người có giọng tụng đọc, tụng kinh. Sau khi vị tỳ khưu ấy tụng đọc xong, hiền hữu hãy đến gặp Đại đức Revata và hỏi về mười điều này.’ – ‘Bạch ngài, xin vâng.’ – Đại đức Yasa, con trai của Kākaṇḍaka, đã vâng lời Đại đức Sambhūta Sāṇavāsī. Bấy giờ, Đại đức Revata đã yêu cầu vị tỳ khưu thị giả, người có giọng tụng đọc, tụng kinh. Bấy giờ, Đại đức Yasa, con trai của Kākaṇḍaka, sau khi vị tỳ khưu ấy tụng đọc xong, đã đi đến chỗ Đại đức Revata; sau khi đến, đã đảnh lễ Đại đức Revata rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Đại đức Yasa, con trai của Kākaṇḍaka, đã bạch với Đại đức Revata điều này: – ‘Bạch ngài, phép siṅgiloṇakappa có hợp lệ không?’ – ‘Này hiền hữu, phép siṅgiloṇakappa ấy là gì?’ – ‘Bạch ngài, có hợp lệ không khi mang theo muối trong ống sừng với ý nghĩ rằng: “Nơi nào không có muối, ta sẽ dùng ở nơi đó”?’ – ‘Này hiền hữu, không hợp lệ.’ – ‘Bạch ngài, phép dvaṅgulakappa có hợp lệ không?’ – ‘Này hiền hữu, phép dvaṅgulakappa ấy là gì?’ – ‘Bạch ngài, có hợp lệ không khi dùng bữa vào lúc phi thời, khi bóng nắng đã quá hai lóng tay?’ – ‘Này hiền hữu, không hợp lệ.’ – ‘Bạch ngài, phép gāmantarakappa có hợp lệ không?’ – ‘Này hiền hữu, phép gāmantarakappa ấy là gì?’ – ‘Bạch ngài, có hợp lệ không khi một người đã ăn xong, đã được ngăn, lại dùng bữa ăn không phải là thức ăn thừa với ý nghĩ rằng: “Bây giờ ta sẽ đi đến làng khác”?’ – ‘Này hiền hữu, không hợp lệ.’ – ‘Bạch ngài, phép āvāsakappa có hợp lệ không?’ – ‘Này hiền hữu, phép āvāsakappa ấy là gì?’ – ‘Bạch ngài, có hợp lệ không khi nhiều trú xứ có cùng một ranh giới lại làm lễ Bố-tát riêng rẽ?’ – ‘Này hiền hữu, không hợp lệ.’ – ‘Bạch ngài, phép anumatikappa có hợp lệ không?’ – ‘Này hiền hữu, phép anumatikappa ấy là gì?’ – ‘Bạch ngài, có hợp lệ không khi Tăng chúng chưa đủ số lại làm một việc Tăng sự với ý nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ xin sự đồng thuận của các vị tỳ khưu đến sau”?’ – ‘Này hiền hữu, không hợp lệ.’ – ‘Bạch ngài, phép āciṇṇakappa có hợp lệ không?’ – ‘Này hiền hữu, phép āciṇṇakappa ấy là gì?’ – ‘Bạch ngài, có hợp lệ không khi thực hành theo một điều với ý nghĩ rằng: “Điều này thầy tế độ của tôi đã thường làm, điều này thầy giáo thọ của tôi đã thường làm”?’ – ‘Này hiền hữu, đối với phép āciṇṇakappa, có trường hợp hợp lệ, có trường hợp không hợp lệ.’ – ‘Bạch ngài, phép amathitakappa có hợp lệ không?’ – ‘Này hiền hữu, phép amathitakappa ấy là gì?’ – ‘Bạch ngài, có hợp lệ không khi một người đã ăn xong, đã được ngăn, lại uống thứ sữa đã mất đi trạng thái sữa nhưng chưa đạt đến trạng thái sữa đông, mà không phải là thức ăn thừa?’ – ‘Này hiền hữu, không hợp lệ.’ – ‘Bạch ngài, có hợp lệ không khi uống jaḷogi?’ – ‘Này hiền hữu, jaḷogi ấy là gì?’ – ‘Bạch ngài, có hợp lệ không khi uống loại rượu đã được ủ men nhưng chưa đạt đến trạng thái gây say?’ – ‘Này hiền hữu, không hợp lệ.’ – ‘Bạch ngài, tọa cụ không có viền có hợp lệ không?’ – ‘Này hiền hữu, không hợp lệ.’ – ‘Bạch ngài, vàng bạc có hợp lệ không?’ – ‘Này hiền hữu, không hợp lệ.’ – ‘Bạch ngài, các vị tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī này đang tuyên bố mười điều này tại Vesālī. Bạch ngài, mong rằng chúng ta hãy giải quyết sự tranh cãi này. Trước khi phi Pháp được hưng thịnh, Chánh Pháp bị ngăn cản; trước khi phi Luật được hưng thịnh, Chánh Luật bị ngăn cản; trước khi những người theo phi Pháp trở nên mạnh thế, những người theo Chánh Pháp trở nên yếu thế; trước khi những người theo phi Luật trở nên mạnh thế, những người theo Chánh Luật trở nên yếu thế.’ – ‘Này hiền hữu, được lắm.’ – Đại đức Revata đã chấp thuận với Đại đức Yasa, con trai của Kākaṇḍaka.
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
The first section for recitation is finished.
Both sides gathering supporters
Phần tụng đọc thứ nhất đã chấm dứt.
Assosuṁ kho vesālikā vajjiputtakā bhikkhū—“yaso kira kākaṇḍakaputto idaṁ adhikaraṇaṁ ādiyitukāmo pakkhaṁ pariyesati, labhati ca kira pakkhan”ti. Atha kho vesālikānaṁ vajjiputtakānaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“idaṁ kho adhikaraṇaṁ kakkhaḷañca vāḷañca. Kaṁ nu kho mayaṁ pakkhaṁ labheyyāma, yena mayaṁ imasmiṁ adhikaraṇe balavantatarā assāmā”ti.
The Vajjian monks of Vesālī heard: “It seems Yasa wants to take on this legal issue and is looking for supporters. And it seems he is gaining support.” They said, “This legal issue is going to be contentious and difficult. How can we get supporters to strengthen our side?”
453. Các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī đã nghe được rằng: ‘Nghe nói rằng Yasa, con trai của (bà-la-môn) Kākaṇḍaka, vì muốn đảm trách vụ tranh tụng này nên đang tìm kiếm phe nhóm, và nghe nói rằng đã tìm được phe nhóm.’ Bấy giờ, các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī đã có suy nghĩ như sau: ‘Vụ tranh tụng này quả là gay go và dữ dội. Chúng ta có thể tìm được phe nhóm nào đây, để nhờ đó chúng ta có thể mạnh thế hơn trong vụ tranh tụng này?’
Atha kho vesālikānaṁ vajjiputtakānaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“ayaṁ kho āyasmā revato bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito viyatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo. Sace mayaṁ āyasmantaṁ revataṁ pakkhaṁ labheyyāma, evaṁ mayaṁ imasmiṁ adhikaraṇe balavantatarā assāmā”ti.
It occurred to them, “Venerable Revata is learned and a master of the tradition; he’s an expert on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; he’s knowledgeable and competent, has a sense of conscience, and is afraid of wrongdoing and fond of the training. If we get Revata to support us, we’ll be stronger.”
Bấy giờ, các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī đã có suy nghĩ như sau: ‘Vị Trưởng lão Revata này quả là bậc đa văn, thông thuộc truyền thống, thông suốt Chánh Pháp, thông suốt Giới Luật, thông suốt các Mẫu Đề; là bậc hiền trí, lanh lợi, thông minh, có liêm sỉ, có tâm hối quá, và ham học hỏi. Nếu chúng ta có thể có được Trưởng lão Revata về phe của mình thì như vậy chúng ta sẽ mạnh thế hơn trong vụ tranh tụng này.’
Atha kho vesālikā vajjiputtakā bhikkhū pahūtaṁ sāmaṇakaṁ parikkhāraṁ paṭiyādesuṁ—pattampi, cīvarampi, nisīdanampi, sūcigharampi, kāyabandhanampi, parissāvanampi, dhammakaraṇampi. Atha kho vesālikā vajjiputtakā bhikkhū taṁ sāmaṇakaṁ parikkhāraṁ ādāya nāvāya sahajātiṁ ujjaviṁsu; nāvāya paccorohitvā aññatarasmiṁ rukkhamūle bhattavissaggaṁ karonti.
Atha kho āyasmato sāḷhassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—“ke nu kho dhammavādino—pācīnakā vā bhikkhū, pāveyyakā vā”ti? Atha kho āyasmato sāḷhassa, dhammañca vinayañca cetasā paccavekkhantassa, etadahosi—“adhammavādino pācīnakā bhikkhū, dhammavādino pāveyyakā bhikkhū”ti.
They prepared many monastic requisites: a bowl, a robe, a sitting mat, a needle case, a belt, a water filter, and a water strainer. Taking those requisites, they traveled by boat upstream to Sahajāti. After disembarking, they had a meal at the foot of a tree.
At this time, Venerable Sāḷha was reflecting in private: “Who speak in accordance with the Teaching—the monks from the east or the monks from Pāvā?” Reflecting on the Teaching and the Monastic Law, it occurred to him, “The monks from the east speak contrary to the Teaching, but the monks from Pāvā don’t.”
Bấy giờ, các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī đã chuẩn bị nhiều vật dụng của sa-môn, các vật tùy thân gồm: cả bát, cả y, cả tọa cụ, cả ống đựng kim, cả dây thắt lưng, cả đồ lọc nước, cả đồ lọc nước đặc biệt. Bấy giờ, các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī, sau khi lấy các vật dụng của sa-môn ấy, đã đi ngược dòng bằng thuyền đến Sahajāti; sau khi xuống thuyền, họ dùng bữa tại gốc của một cây nọ. Bấy giờ, trong lúc Trưởng lão Sāḷha đang ở nơi thanh vắng, độc cư, một suy tầm khởi lên trong tâm của vị ấy như vầy: ‘Ai là người nói đúng Chánh Pháp, các tỳ khưu ở phương Đông hay các tỳ khưu ở Pāvā?’ Bấy giờ, trong lúc Trưởng lão Sāḷha đang dùng tâm suy xét về Chánh Pháp và Giới Luật, vị ấy đã có suy nghĩ như sau: ‘Các tỳ khưu ở phương Đông là những người nói không đúng Chánh Pháp, các tỳ khưu ở Pāvā là những người nói đúng Chánh Pháp.’
Atha kho aññatarā suddhāvāsakāyikā devatā āyasmato sāḷhassa cetasā cetoparivitakkamaññāya—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—suddhāvāsesu devesu antarahitā āyasmato sāḷhassa sammukhe pāturahosi. Atha kho sā devatā āyasmantaṁ sāḷhaṁ etadavoca—“sādhu, bhante sāḷha, adhammavādī pācīnakā bhikkhū, dhammavādī pāveyyakā bhikkhū. Tena hi, bhante sāḷha, yathādhammo tathā tiṭṭhāhī”ti.
“Pubbepi cāhaṁ, devate, etarahi ca yathādhammo tathā ṭhito; api cāhaṁ na tāva diṭṭhiṁ āvi karomi, appeva nāma maṁ imasmiṁ adhikaraṇe sammanneyyā”ti.
Just then a god from the pure abodes read Sāḷha’s mind. Then, just as a strong man might bend or stretch his arm, he disappeared from pure abodes and appeared in front of Sāḷha. And he said to Sāḷha, “You’re right, Venerable Sāḷha. The monks from the east speak contrary to the Teaching, but the monks from Pāvā don’t. So then, take a stand in accordance with the Teaching.”
“I’ve always taken a stand in accordance with the Teaching. But I won’t reveal my view in case I’m appointed to deal with this legal issue.”
Bấy giờ, một vị thiên nhân thuộc cõi Tịnh Cư, sau khi biết được suy tầm trong tâm của Trưởng lão Sāḷha bằng tâm của mình, đã biến mất khỏi các cõi trời Tịnh Cư và hiện ra trước mặt Trưởng lão Sāḷha, ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hoặc co cánh tay đang duỗi ra. Bấy giờ, vị thiên nhân ấy đã nói với Trưởng lão Sāḷha điều này: ‘Lành thay, thưa ngài Sāḷha, các tỳ khưu ở phương Đông là những người nói không đúng Chánh Pháp, các tỳ khưu ở Pāvā là những người nói đúng Chánh Pháp. Vì thế, thưa ngài Sāḷha, ngài hãy đứng về phía đúng với Chánh Pháp.’ – ‘Này thiên nhân, trước đây cũng như bây giờ, tôi vẫn đứng về phía đúng với Chánh Pháp; tuy nhiên, tôi chưa thể hiện quan điểm của mình, mong rằng họ sẽ chỉ định tôi trong vụ tranh tụng này.’
Atha kho vesālikā vajjiputtakā bhikkhū taṁ sāmaṇakaṁ parikkhāraṁ ādāya yenāyasmā revato tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ revataṁ etadavocuṁ—“paṭiggaṇhātu, bhante, thero sāmaṇakaṁ parikkhāraṁ—pattampi, cīvarampi, nisīdanampi, sūcigharampi, kāyabandhanampi, parissāvanampi, dhammakaraṇampī”ti.
“Alaṁ, āvuso, paripuṇṇaṁ me pattacīvaran”ti na icchi paṭiggahetuṁ.
The Vajjian monks then went to Revata and said, “Venerable, please accept these monastic requisites.”
Not wanting to accept them, he replied, “There’s no need. My bowl and robes are complete.”
454. Bấy giờ, các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī, sau khi lấy các vật dụng của sa-môn ấy, đã đi đến chỗ Trưởng lão Revata; sau khi đến, họ đã nói với Trưởng lão Revata điều này: ‘Kính bạch ngài, mong Trưởng lão hãy nhận lấy các vật dụng của sa-môn, các vật tùy thân gồm: cả bát, cả y, cả tọa cụ, cả ống đựng kim, cả dây thắt lưng, cả đồ lọc nước, cả đồ lọc nước đặc biệt.’ – ‘Thôi đi, chư hiền, y bát của tôi đã đầy đủ rồi.’ Và ngài đã không muốn nhận lấy.
Tena kho pana samayena uttaro nāma bhikkhu vīsativasso āyasmato revatassa upaṭṭhāko hoti. Atha kho vesālikā vajjiputtakā bhikkhū yenāyasmā uttaro tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ uttaraṁ etadavocuṁ—“paṭiggaṇhātu āyasmā uttaro sāmaṇakaṁ parikkhāraṁ—pattampi, cīvarampi, nisīdanampi, sūcigharampi, kāyabandhanampi, parissāvanampi, dhammakaraṇampī”ti.
“Alaṁ, āvuso, paripuṇṇaṁ me pattacīvaran”ti na icchi paṭiggahetuṁ.
“Manussā kho, āvuso uttara, bhagavato sāmaṇakaṁ parikkhāraṁ upanāmenti. Sace bhagavā paṭiggaṇhāti, teneva te attamanā honti. No ce bhagavā paṭiggaṇhāti, āyasmato ānandassa upanāmenti—paṭiggaṇhātu, bhante, thero sāmaṇakaṁ parikkhāraṁ. Yathā bhagavatā paṭiggahito, evameva so bhavissatīti. Paṭiggaṇhātu āyasmā uttaro sāmaṇakaṁ parikkhāraṁ. Yathā therena paṭiggahito, evameva so bhavissatī”ti.
Atha kho āyasmā uttaro vesālikehi vajjiputtehi bhikkhūhi nippīḷiyamāno ekaṁ cīvaraṁ aggahesi. “Vadeyyātha, āvuso, yena attho”ti.
“Ettakaṁ āyasmā uttaro theraṁ vadetu; ettakañca, bhante, thero saṅghamajjhe vadetu—‘puratthimesu janapadesu buddhā bhagavanto uppajjanti. Dhammavādī pācīnakā bhikkhū, adhammavādī pāveyyakā bhikkhū’”ti.
“Evamāvuso”ti
kho āyasmā uttaro vesālikānaṁ vajjiputtakānaṁ bhikkhūnaṁ paṭissutvā yenāyasmā revato tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ revataṁ etadavoca—“ettakaṁ, bhante, thero saṅghamajjhe vadetu—‘puratthimesu janapadesu buddhā bhagavanto uppajjanti. Dhammavādī pācīnakā bhikkhū, adhammavādī pāveyyakā bhikkhū’”ti.
“Adhamme maṁ tvaṁ, bhikkhu, niyojesī”ti thero āyasmantaṁ uttaraṁ paṇāmesi.
At this time a monk called Uttara, who had twenty years of seniority, was Revata’s attendant. The Vajjian monks then went to him and said, “Please accept these monastic requisites.”
Not wanting to accept them, he replied, “There’s no need. My bowl and robes are complete.”
“But people brought monastic requisites to the Buddha. If the Buddha received them, they were pleased. If he didn’t, they brought them to Venerable Ānanda instead, saying, ‘Venerable, please accept these monastic requisites. It’ll be as if they were received by the Buddha himself.’ So please accept these monastic requisites. It’ll be as if they were received by the elder himself.”
Because he was pressured, Uttara received a robe. And he said, “Please say what you want.”
“Please say this to the elder, ‘Sir, please say this in the midst of the Sangha: “Buddhas appear in the eastern countries. The monks from the east speak in accordance with the Teaching, not so the monks from Pāvā.”’”
“Alright.”
He then went to Revata and told him what he had been asked to say.
Revata replied, “You’re urging me to act contrary to the Teaching,” and he dismissed Uttara.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu tên là Uttara, đã hai mươi tuổi hạ, là thị giả của Trưởng lão Revata. Bấy giờ, các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī đã đi đến chỗ Trưởng lão Uttara; sau khi đến, họ đã nói với Trưởng lão Uttara điều này: ‘Mong Trưởng lão Uttara hãy nhận lấy các vật dụng của sa-môn, các vật tùy thân gồm: cả bát, cả y, cả tọa cụ, cả ống đựng kim, cả dây thắt lưng, cả đồ lọc nước, cả đồ lọc nước đặc biệt.’ – ‘Thôi đi, chư hiền, y bát của tôi đã đầy đủ rồi.’ Và ngài đã không muốn nhận lấy. – ‘Thưa hiền giả Uttara, các hàng nhân loại dâng cúng vật dụng của sa-môn, các vật tùy thân đến đức Thế Tôn. Nếu đức Thế Tôn nhận lấy thì họ vui mừng vì điều ấy. Nếu đức Thế Tôn không nhận lấy thì họ dâng cúng đến Trưởng lão Ānanda và thưa rằng: ‘Kính bạch ngài, mong Trưởng lão hãy nhận lấy các vật dụng của sa-môn, các vật tùy thân. Việc này sẽ giống như đã được đức Thế Tôn nhận lấy vậy.’ Mong Trưởng lão Uttara hãy nhận lấy các vật dụng của sa-môn, các vật tùy thân. Việc này sẽ giống như đã được vị Trưởng lão nhận lấy vậy.’ Bấy giờ, Trưởng lão Uttara, do bị các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī nài ép, đã nhận lấy một y và nói rằng: ‘Chư hiền, hãy nói ra điều quý vị muốn.’ – ‘Mong Trưởng lão Uttara hãy thưa với vị Trưởng lão chừng ấy lời; và kính bạch ngài, mong vị Trưởng lão hãy nói chừng ấy lời ở giữa Tăng chúng rằng: ‘Ở các xứ phương Đông, các đức Phật, các đấng Thế Tôn sanh khởi. Các tỳ khưu ở phương Đông là những người nói đúng Chánh Pháp, các tỳ khưu ở Pāvā là những người nói không đúng Chánh Pháp.’’ – ‘Vâng, chư hiền.’ Trưởng lão Uttara sau khi đã nhận lời với các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī, đã đi đến chỗ Trưởng lão Revata; sau khi đến, đã thưa với Trưởng lão Revata điều này: ‘Kính bạch ngài, mong Trưởng lão hãy nói chừng ấy lời ở giữa Tăng chúng rằng: ‘Ở các xứ phương Đông, các đức Phật, các đấng Thế Tôn sanh khởi. Các tỳ khưu ở phương Đông là những người nói đúng Chánh Pháp, các tỳ khưu ở Pāvā là những người nói không đúng Chánh Pháp.’’ – ‘Này tỳ khưu, ngươi đang xúi giục ta vào việc phi pháp.’ Nói xong, vị Trưởng lão đã đuổi Trưởng lão Uttara đi.
Atha kho vesālikā vajjiputtakā bhikkhū āyasmantaṁ uttaraṁ etadavocuṁ—“kiṁ, āvuso uttara, thero āhā”ti?
“Pāpikaṁ no, āvuso, kataṁ. ‘Adhamme maṁ tvaṁ, bhikkhu, niyojesī’ti thero maṁ paṇāmesī”ti.
“Nanu tvaṁ, āvuso, vuḍḍho vīsativassosī”ti?
“Āmāvuso, api ca mayaṁ garunissayaṁ gaṇhāmā”ti.
Soon afterwards the Vajjian monks asked Uttara, “What did he say?”
“We’ve acted badly. Saying, ‘You’re urging me to act contrary to the Teaching’, the elder dismissed me.”
“But aren’t you a senior monk of twenty years’ standing?”
“Yes. Nevertheless, I live with formal support from him because I respect him.”
Bấy giờ, các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī đã nói với đại đức Uttara điều này: “Này hiền giả Uttara, vị trưởng lão đã nói gì?” – “Thưa các hiền giả, việc xấu đã được chúng tôi thực hiện. Vị trưởng lão đã đuổi tôi đi và nói rằng: ‘Này tỳ khưu, ngươi đã xúi giục ta trong việc phi pháp.’” – “Này hiền giả, chẳng phải ngài là vị trưởng thượng đã có hai mươi tuổi hạ sao?” – “Thưa vâng, các hiền giả, tuy nhiên chúng tôi vẫn phải nương theo vị thầy đáng kính.”
Atha kho saṅgho taṁ adhikaraṇaṁ vinicchinitukāmo sannipati. Atha kho āyasmā revato saṅghaṁ ñāpesi—
The Sangha then gathered to make a decision on that legal issue. Revata informed the Sangha:
455. Bấy giờ, Tăng chúng đã hội họp lại vì có ý muốn dàn xếp vụ tranh tụng ấy. Khi ấy, đại đức Revata đã trình cho Tăng chúng biết.
“Suṇātu me, āvuso, saṅgho. Sace mayaṁ imaṁ adhikaraṇaṁ idha vūpasamessāma, siyāpi mūlādāyakā bhikkhū punakammāya ukkoṭeyyuṁ. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, yatthevimaṁ adhikaraṇaṁ samuppannaṁ, saṅgho tatthevimaṁ adhikaraṇaṁ vūpasameyyā”ti.
“Please, I ask the Sangha to listen. If we were to resolve this legal issue here, it might be that the monks who started the ten practices would reopen it. If the Sangha is ready, the Sangha should resolve this legal issue in the place where it arose.”
“Thưa các hiền giả, mong Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu chúng ta dàn xếp vụ tranh tụng này ở đây, có thể các tỳ khưu là những người khởi xướng ban đầu sẽ khơi lại để làm lại yết-ma. Nếu Tăng chúng thấy là thời điểm thích hợp, Tăng chúng nên dàn xếp vụ tranh tụng này ngay tại nơi nó đã phát sanh.”
Atha kho therā bhikkhū vesāliṁ agamaṁsu—taṁ adhikaraṇaṁ vinicchinitukāmā.
The senior monks then went to Vesālī to make a decision on that legal issue.
Bấy giờ, các tỳ khưu trưởng lão đã đi đến Vesālī vì có ý muốn dàn xếp vụ tranh tụng ấy.
Tena kho pana samayena sabbakāmī nāma pathabyā saṅghatthero vīsavassasatiko upasampadāya, āyasmato ānandassa saddhivihāriko, vesāliyaṁ paṭivasati.
Atha kho āyasmā revato āyasmantaṁ sambhūtaṁ sāṇavāsiṁ etadavoca—“ahaṁ, āvuso, yasmiṁ vihāre sabbakāmī thero viharati, taṁ vihāraṁ upagacchāmi. So tvaṁ kālasseva āyasmantaṁ sabbakāmiṁ upasaṅkamitvā imāni dasa vatthūni puccheyyāsī”ti.
At that time there was a monk called Sabbakāmī who had been ordained for one hundred and twenty years and was the most senior monk in the world. He had been a student of Venerable Ānanda and was now staying at Vesālī.
Revata said to Sambhūta Sāṇavāsī, “I’ll be staying in Sabbakāmī’s dwelling. Please go to Sabbakāmī at the appropriate time and ask about these ten practices.”
Vào lúc bấy giờ, vị có tên là Sabbakāmī, là vị Tăng trưởng lão trên mặt đất, có một trăm hai mươi tuổi hạ tính từ khi thọ cụ túc giới, là vị đệ tử cùng ở với đại đức Ānanda, đang trú ngụ ở Vesālī. Bấy giờ, đại đức Revata đã nói với đại đức Sambhūta ở Sāṇavāsī điều này: “Này hiền giả, tôi sẽ đi đến ngôi tự viện nơi trưởng lão Sabbakāmī đang trú ngụ. Hiền giả hãy đi đến gặp đại đức Sabbakāmī từ sớm và nên hỏi về mười điều này.”
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā sambhūto sāṇavāsī āyasmato revatassa paccassosi.
Atha kho āyasmā revato, yasmiṁ vihāre sabbakāmī thero viharati, taṁ vihāraṁ upagacchi. Gabbhe āyasmato sabbakāmissa senāsanaṁ paññattaṁ hoti, gabbhappamukhe āyasmato revatassa. Atha kho āyasmā revato—“ayaṁ thero mahallako na nipajjatī”ti—na seyyaṁ kappesi. Āyasmā sabbakāmī—“ayaṁ bhikkhu āgantuko kilanto na nipajjatī”ti—na seyyaṁ kappesi.
Atha kho āyasmā sabbakāmī rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya āyasmantaṁ revataṁ etadavoca—“katamena tvaṁ bhūmi vihārena etarahi bahulaṁ viharasī”ti?
“Mettāvihārena kho ahaṁ, bhante, etarahi bahulaṁ viharāmī”ti.
“Kullakavihārena kira tvaṁ bhūmi etarahi bahulaṁ viharasi. Kullakavihāro eso bhūmi yadidaṁ mettā”ti.
“Pubbepi me, bhante, gihibhūtassa āciṇṇā mettā. Tenāhaṁ etarahipi mettāvihārena bahulaṁ viharāmi, api ca mayā cirappattaṁ arahattanti. Thero pana, bhante, katamena vihārena etarahi bahulaṁ viharatī”ti?
“Suññatāvihārena kho ahaṁ bhūmi etarahi bahulaṁ viharāmī”ti.
“Mahāpurisavihārena kira, bhante, thero etarahi bahulaṁ viharati. Mahāpurisavihāro eso, bhante, yadidaṁ suññatā”ti.
“Pubbepi me bhūmi gihibhūtassa āciṇṇā suññatā. Tenāhaṁ etarahipi suññatāvihārena bahulaṁ viharāmi, api ca mayā cirappattaṁ arahattan”ti.
Ayañcarahi therānaṁ bhikkhūnaṁ antarākathā vippakatā, athāyasmā sambhūto sāṇavāsī tasmiṁ anuppatto hoti. Atha kho āyasmā sambhūto sāṇavāsī yenāyasmā sabbakāmī tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sabbakāmiṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sambhūto sāṇavāsī āyasmantaṁ sabbakāmiṁ etadavoca—“ime, bhante, vesālikā vajjiputtakā bhikkhū vesāliyaṁ dasa vatthūni dīpenti—kappati siṅgiloṇakappo, kappati dvaṅgulakappo, kappati gāmantarakappo, kappati āvāsakappo, kappati anumatikappo, kappati āciṇṇakappo, kappati amathitakappo, kappati jaḷogiṁ, pātuṁ kappati adasakaṁ nisīdanaṁ, kappati jātarūparajatanti. Therena, bhante, upajjhāyassa mūle bahudhammo ca vinayo ca pariyatto. Therassa, bhante, dhammañca vinayañca paccavekkhantassa kathaṁ hoti? Ke nu kho dhammavādino—pācīnakā vā bhikkhū, pāveyyakā vā”ti?
“Tayāpi kho, āvuso, upajjhāyassa mūle bahu dhammo ca vinayo ca pariyatto. Tuyhaṁ pana, āvuso, dhammañca vinayañca paccavekkhantassa kathaṁ hoti? Ke nu kho dhammavādino—pācīnakā vā bhikkhū, pāveyyakā vā”ti?
“Mayhaṁ kho, bhante, dhammañca vinayañca paccavekkhantassa evaṁ hoti—adhammavādī pācīnakā bhikkhū, dhammavādī pāveyyakā bhikkhūti; api cāhaṁ na tāva diṭṭhiṁ āvi karomi, appeva nāma maṁ imasmiṁ adhikaraṇe sammanneyyā”ti.
“Mayhampi kho, āvuso, dhammañca vinayañca paccavekkhantassa evaṁ hoti—adhammavādī pācīnakā bhikkhū, dhammavādī pāveyyakā bhikkhūti; api cāhaṁ na tāva diṭṭhiṁ āvi karomi, appeva nāma maṁ imasmiṁ adhikaraṇe sammanneyyā”ti.
“Yes, sir.”
Revata then entered Sabbakāmī’s dwelling. Sabbakāmī had his resting place prepared in the room, whereas Revata had his prepared in the entryway. When Revata saw that the old monk did not lie down, he too did not lie down. And when Sabbakāmī saw that the tired monk who had just arrived did not lie down, he too did not lie down.
Getting up early in the morning, Sabbakāmī said to Revata, “What’s your main meditation?”
“It’s good will, sir.”
“Your meditation is noble, for good will is a noble meditation.”
“In the past, too, when I was a householder, I habitually practiced good will, and now it’s my main meditation. Besides, I attained perfection long ago. But what’s your main meditation, sir?”
“It’s emptiness.”
“Your meditation is that of a great man, for emptiness is the meditation of a great man.”
“In the past, too, when I was a householder, I habitually practiced emptiness, and now it’s my main meditation. Besides, I attained perfection long ago.”
At that moment the conversation between the senior monks was interrupted because Sambhūta Sāṇavāsī arrived. Sambhūta Sāṇavāsī went up to Sabbakāmī, bowed, sat down, and said, “Sir, the Vajjian monks of Vesālī proclaim ten practices as allowable: the salt-in-horn practice; the two-fingerbreadths practice; the next-village practice; the many-monasteries practice; the consent practice; customary practices; the unchurned practice; palm-juice drinking; sitting mats without borders; and gold, silver, and money. Now, you’ve learned much at the feet of your preceptor, both of the Teaching and the Monastic Law. When you reflect on the Teaching and the Monastic Law, who speak in accordance with the Teaching—the monks from the east or the monks from Pāvā?”
“You too have learned much at the feet of your preceptor, both of the Teaching and the Monastic Law. When you reflect on the Teaching and the Monastic Law, who speak in accordance with the Teaching—the monks from the east or the monks from Pāvā?”
“When I reflect like this, it occurs to me that the monks from the east speak contrary to the Teaching, but the monks from Pāvā don’t. But I won’t reveal my view in case I’m appointed to deal with this legal issue.”
“And when I reflect like this, it occurs to me too that the monks from the east speak contrary to the Teaching, but the monks from Pāvā don’t. And I too won’t reveal my view in case I’m appointed to deal with this legal issue.”
Choosing a committee
“Thưa vâng, bạch ngài.” Đại đức Sambhūta ở Sāṇavāsī đã vâng lời đại đức Revata. Bấy giờ, đại đức Revata đã đi đến ngôi tự viện nơi trưởng lão Sabbakāmī đang trú ngụ. Chỗ ở của đại đức Sabbakāmī được sắp đặt ở bên trong phòng, của đại đức Revata thì ở phía trước phòng. Bấy giờ, đại đức Revata đã không nằm nghỉ vì nghĩ rằng: “Vị trưởng lão này lớn tuổi mà không nằm nghỉ.” Đại đức Sabbakāmī cũng không nằm nghỉ vì nghĩ rằng: “Vị tỳ khưu khách này mệt mỏi mà không nằm nghỉ.” Bấy giờ, vào lúc rạng đông, đại đức Sabbakāmī thức dậy và nói với đại đức Revata điều này: “Này hiền giả, hiện nay ngài thường trú trong pháp trú nào?” – “Bạch ngài, hiện nay con thường trú trong tâm từ.” – “Này hiền giả, vậy ra hiện nay ngài thường trú trong pháp trú của trẻ nhỏ. Này hiền giả, pháp trú của trẻ nhỏ chính là tâm từ này.” – “Bạch ngài, trước đây khi còn là người tại gia, con đã thực hành tâm từ. Do đó, hiện nay con cũng thường trú trong tâm từ, hơn nữa, quả A-la-hán đã được con chứng đắc từ lâu.” – “Còn trưởng lão, bạch ngài, hiện nay ngài thường trú trong pháp trú nào?” – “Này hiền giả, hiện nay ta thường trú trong pháp trú tánh không.” – “Bạch ngài, vậy ra trưởng lão hiện nay thường trú trong pháp trú của bậc đại nhân. Bạch ngài, pháp trú của bậc đại nhân chính là tánh không này.” – “Này hiền giả, trước đây khi còn là người tại gia, ta đã thực hành tánh không. Do đó, hiện nay ta cũng thường trú trong pháp trú tánh không, hơn nữa, quả A-la-hán đã được ta chứng đắc từ lâu.” Cuộc nói chuyện giữa các tỳ khưu trưởng lão này vẫn còn đang dang dở thì đại đức Sambhūta ở Sāṇavāsī đã đến nơi ấy. Bấy giờ, đại đức Sambhūta ở Sāṇavāsī đi đến chỗ đại đức Sabbakāmī, sau khi đến, đảnh lễ đại đức Sabbakāmī rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, đại đức Sambhūta ở Sāṇavāsī đã nói với đại đức Sabbakāmī điều này: “Bạch ngài, các tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī này đang trình bày mười điều ở Vesālī: ‘Phép giữ muối trong sừng là hợp lệ, phép dùng bữa khi bóng xế quá hai lóng tay là hợp lệ, phép đi đến làng khác (sau khi đã ăn xong) là hợp lệ, phép (làm bố-tát) ở các trú xứ khác nhau là hợp lệ, phép (làm yết-ma) khi chưa có sự đồng thuận là hợp lệ, phép theo thông lệ (của thầy) là hợp lệ, phép dùng sữa chưa lên men là hợp lệ, việc uống loại nước lên men chưa thành rượu là hợp lệ, tọa cụ không có viền là hợp lệ, vàng bạc là hợp lệ.’ Bạch ngài, trưởng lão đã học nhiều về Pháp và Luật nơi vị thầy tế độ. Bạch ngài, khi trưởng lão xem xét lại Pháp và Luật thì sự việc là thế nào? Ai là người nói đúng Pháp – các tỳ khưu ở phương Đông hay các tỳ khưu ở Pāveyyaka?” – “Này hiền giả, hiền giả cũng đã học nhiều về Pháp và Luật nơi vị thầy tế độ. Vậy, này hiền giả, khi hiền giả xem xét lại Pháp và Luật thì sự việc là thế nào? Ai là người nói đúng Pháp – các tỳ khưu ở phương Đông hay các tỳ khưu ở Pāveyyaka?” – “Bạch ngài, khi con xem xét lại Pháp và Luật thì sự việc là như vầy: ‘Các tỳ khưu ở phương Đông là những người nói phi pháp, các tỳ khưu ở Pāveyyaka là những người nói đúng Pháp.’ Tuy nhiên, con vẫn chưa bộc lộ quan điểm, vì mong rằng con sẽ được chọn trong vụ tranh tụng này.” – “Này hiền giả, khi ta xem xét lại Pháp và Luật thì sự việc cũng là như vầy: ‘Các tỳ khưu ở phương Đông là những người nói phi pháp, các tỳ khưu ở Pāveyyaka là những người nói đúng Pháp.’ Tuy nhiên, ta cũng vẫn chưa bộc lộ quan điểm, vì mong rằng ta sẽ được chọn trong vụ tranh tụng này.”
Atha kho saṅgho taṁ adhikaraṇaṁ vinicchinitukāmo sannipati. Tasmiṁ kho pana adhikaraṇe vinicchiyamāne anaggāni ceva bhassāni jāyanti, na cekassa bhāsitassa attho viññāyati. Atha kho āyasmā revato saṅghaṁ ñāpesi—
The Sangha then gathered to make a decision on that legal issue. While they were discussing that legal issue, there was endless talk but not a single statement that could be understood. Revata then informed the Sangha:
456. Bấy giờ, Tăng chúng vì muốn dàn xếp vụ tranh tụng ấy nên đã hội họp. Nhưng trong khi vụ tranh tụng ấy đang được dàn xếp, vô số lời nói đã phát sanh, và ý nghĩa của lời nói đã được phát biểu cũng không được hiểu rõ. Bấy giờ, trưởng lão Revata đã trình Tăng chúng rằng:
“Suṇātu me, bhante, saṅgho. Amhākaṁ imasmiṁ adhikaraṇe vinicchiyamāne anaggāni ceva bhassāni jāyanti, na cekassa bhāsitassa attho viññāyati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho imaṁ adhikaraṇaṁ ubbāhikāya vūpasameyyā”ti.
Saṅgho cattāro pācīnake bhikkhū, cattāro pāveyyake bhikkhū uccini. Pācīnakānaṁ bhikkhūnaṁ—āyasmantañca sabbakāmiṁ, āyasmantañca sāḷhaṁ, āyasmantañca khujjasobhitaṁ, āyasmantañca vāsabhagāmikaṁ; pāveyyakānaṁ bhikkhūnaṁ—āyasmantañca revataṁ, āyasmantañca sambhūtaṁ sāṇavāsiṁ, āyasmantañca yasaṁ kākaṇḍakaputtaṁ, āyasmantañca sumananti. Atha kho āyasmā revato saṅghaṁ ñāpesi—
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. While we were discussing this legal issue, there was endless talk but not a single statement that could be understood. If the Sangha is ready, it should resolve this legal issue by means of a committee.”
The Sangha then selected four monks from the east—Venerable Sabbakāmī, Venerable Sāḷha, Venerable Khujjasobhita, and Venerable Vāsabhagāmika—and four monks from Pāvā—Venerable Revata, Venerable Sambhūta Sāṇavāsī, Venerable Yasa of Kākaṇḍa, and Venerable Sumana. Revata then informed the Sangha:
‘Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe con. Trong khi chúng ta đang dàn xếp vụ tranh tụng này, vô số lời nói đã phát sanh, và ý nghĩa của lời nói đã được phát biểu cũng không được hiểu rõ. Nếu Tăng chúng nhận thấy đã đến lúc thích hợp, Tăng chúng nên dàn xếp vụ tranh tụng này bằng cách ủy nhiệm.’ Tăng chúng đã chọn ra bốn vị tỳ khưu từ phương Đông và bốn vị tỳ khưu từ Pāvā. Trong số các vị tỳ khưu từ phương Đông có: trưởng lão Sabbakāmī, trưởng lão Sāḷha, trưởng lão Khujjasobhita, và trưởng lão Vāsabhagāmika; trong số các vị tỳ khưu từ Pāvā có: trưởng lão Revata, trưởng lão Sambhūta Sāṇavāsī, trưởng lão Yasa con của Kākaṇḍaka, và trưởng lão Sumana. Bấy giờ, trưởng lão Revata đã trình Tăng chúng rằng:
“Suṇātu me, bhante, saṅgho. Amhākaṁ imasmiṁ adhikaraṇe vinicchiyamāne anaggāni ceva bhassāni jāyanti, na cekassa bhāsitassa attho viññāyati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho cattāro pācīnake bhikkhū, cattāro pāveyyake bhikkhū sammanneyya ubbāhikāya imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Esā ñatti.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. While we were discussing this legal issue, there was endless talk but not a single statement that could be understood. If the Sangha is ready, it should appoint four monks from the east and four from Pāvā to a committee to resolve this legal issue. This is the motion.
‘Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe con. Trong khi chúng ta đang dàn xếp vụ tranh tụng này, vô số lời nói đã phát sanh, và ý nghĩa của lời nói đã được phát biểu cũng không được hiểu rõ. Nếu Tăng chúng nhận thấy đã đến lúc thích hợp, Tăng chúng nên chỉ định bốn vị tỳ khưu từ phương Đông và bốn vị tỳ khưu từ Pāvā để dàn xếp vụ tranh tụng này bằng cách ủy nhiệm. Đây là bản tuyên ngôn.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Amhākaṁ imasmiṁ adhikaraṇe vinicchiyamāne anaggāni ceva bhassāni jāyanti, na cekassa bhāsitassa attho viññāyati. Saṅgho cattāro pācīnake bhikkhū, cattāro pāveyyake bhikkhū sammannati ubbāhikāya imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Yassāyasmato khamati catunnaṁ pācīnakānaṁ bhikkhūnaṁ, catunnaṁ pāveyyakānaṁ bhikkhūnaṁ sammuti, ubbāhikāya imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. While we were discussing this legal issue, there was endless talk but not a single statement that could be understood. The Sangha appoints four monks from the east and four from Pāvā to a committee to resolve this legal issue. Any monk who approves of appointing four monks from the east and four from Pāvā to a committee to resolve this legal issue should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe con. Trong khi chúng ta đang dàn xếp vụ tranh tụng này, vô số lời nói đã phát sanh, và ý nghĩa của lời nói đã được phát biểu cũng không được hiểu rõ. Tăng chúng chỉ định bốn vị tỳ khưu từ phương Đông và bốn vị tỳ khưu từ Pāvā để dàn xếp vụ tranh tụng này bằng cách ủy nhiệm. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc chỉ định bốn vị tỳ khưu từ phương Đông và bốn vị tỳ khưu từ Pāvā để dàn xếp vụ tranh tụng này bằng cách ủy nhiệm thì hãy giữ im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng.
Sammatā saṅghena cattāro pācīnakā bhikkhū, cattāro pāveyyakā bhikkhū, ubbāhikāya imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī”ti.
The Sangha has appointed four monks from the east and four from Pāvā to a committee to resolve this legal issue. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.”
‘Bốn vị tỳ khưu từ phương Đông và bốn vị tỳ khưu từ Pāvā đã được Tăng chúng chỉ định để dàn xếp vụ tranh tụng này bằng cách ủy nhiệm. Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Tena kho pana samayena ajito nāma bhikkhu dasavasso saṅghassa pātimokkhuddesako hoti. Atha kho saṅgho āyasmantampi ajitaṁ sammannati—therānaṁ bhikkhūnaṁ āsanapaññāpakaṁ.
Atha kho therānaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“kattha nu kho mayaṁ imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasameyyāmā”ti? Atha kho therānaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“ayaṁ kho vālikārāmo ramaṇīyo appasaddo appanigghoso. Yannūna mayaṁ vālikārāme imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasameyyāmā”ti.
At that time there was a monk called Ajita who had ten years of seniority and was the Sangha’s reciter of the Monastic Code. The Sangha appointed him to assign seats to the senior monks.
The senior monks said, “Where should we resolve this legal issue?” It occurred to them, “There’s the Vālika Monastery, which is delightful, quiet, and free from chatter. Let’s resolve this legal issue there.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu tên là Ajita, mười tuổi hạ, là người tụng đọc Pātimokkha cho Tăng chúng. Bấy giờ, Tăng chúng cũng chỉ định trưởng lão Ajita làm người sắp xếp chỗ ngồi cho các vị trưởng lão tỳ khưu. Bấy giờ, các vị trưởng lão tỳ khưu đã suy nghĩ rằng: ‘Chúng ta nên dàn xếp vụ tranh tụng này ở đâu nhỉ?’ Bấy giờ, các vị trưởng lão tỳ khưu đã suy nghĩ rằng: ‘Tu viện Vālikārāma này thật khả ái, ít tiếng động, ít ồn ào. Hay là chúng ta nên dàn xếp vụ tranh tụng này tại tu viện Vālikārāma.’
Atha kho āyasmā revato saṅghaṁ ñāpesi—
The committee decides on the ten practices
Revata then informed the Sangha:
457. Bấy giờ, các vị trưởng lão tỳ khưu, vì muốn dàn xếp vụ tranh tụng ấy, đã đi đến tu viện Vālikārāma. Bấy giờ, trưởng lão Revata đã trình Tăng chúng rằng:
“Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ āyasmantaṁ sabbakāmiṁ vinayaṁ puccheyyan”ti.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, I will question Venerable Sabbakāmī on the Monastic Law.”
‘Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe con. Nếu Tăng chúng nhận thấy đã đến lúc thích hợp, con xin được hỏi trưởng lão Sabbakāmī về Luật.’
Āyasmā sabbakāmī saṅghaṁ ñāpesi—
And Sabbakāmī informed the Sangha:
Trưởng lão Sabbakāmī đã trình Tăng chúng rằng:
“Suṇātu me, āvuso, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ revatena vinayaṁ puṭṭho vissajjeyyan”ti.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, I will reply when asked by Revata about the Monastic Law.”
‘Thưa chư hiền, xin Tăng chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu Tăng chúng nhận thấy đã đến lúc thích hợp, khi được Revata hỏi về Luật, tôi sẽ trả lời.’
Atha kho āyasmā revato āyasmantaṁ sabbakāmiṁ etadavoca—“kappati, bhante, siṅgiloṇakappo”ti?
“Ko so, āvuso, siṅgiloṇakappo”ti?
“Kappati, bhante, siṅginā loṇaṁ pariharituṁ—yattha aloṇakaṁ bhavissati tattha paribhuñjissāmā”ti?
“Nāvuso, kappatī”ti.
“ Kattha paṭikkhittan”ti?
“Sāvatthiyaṁ, suttavibhaṅge”ti.
“Kiṁ āpajjatī”ti?
“Sannidhikārakabhojane pācittiyan”ti.
Revata said to Sabbakāmī, “Sir, is the salt-in-horn practice allowable?”
“What’s the salt-in-horn practice?”
“Is it allowable to carry salt in a horn and then eat it whenever the food is unsalted?”
“No, it’s not allowable.”
“Where was it prohibited?”
“At Sāvatthī, in the analysis of the Monastic Code.”
“What was committed?”
“An offense entailing confession for eating what has been stored.”
Bấy giờ, trưởng lão Revata đã nói với trưởng lão Sabbakāmī điều này: ‘Kính bạch Tôn giả, việc cất giữ muối trong sừng có hợp lệ không?’ ‘Thưa hiền giả, việc cất giữ muối trong sừng là gì?’ ‘Kính bạch Tôn giả, có hợp lệ không khi mang theo muối trong sừng với ý nghĩ rằng: “Nơi nào không có muối, chúng ta sẽ dùng ở nơi đó”?’ ‘Thưa hiền giả, không hợp lệ.’ ‘Điều này đã bị cấm ở đâu?’ ‘Tại Sāvatthī, trong Suttavibhaṅga.’ ‘Phạm tội gì?’ ‘Phạm tội pācittiya về việc ăn vật thực đã được cất giữ.’
“Suṇātu me, bhante, saṅgho. Idaṁ paṭhamaṁ vatthu saṅghena vinicchitaṁ. Itipidaṁ vatthu uddhammaṁ, ubbinayaṁ, apagatasatthusāsanaṁ. Idaṁ paṭhamaṁ salākaṁ nikkhipāmi”.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has decided on the first practice. This practice is contrary to the Teaching, contrary to the Monastic Law, and a departure from the Teacher’s instruction. I make a note of this first decision.”
‘Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe con. Vấn đề thứ nhất này đã được Tăng chúng dàn xếp. Do đó, vấn đề này là phi Pháp, phi Luật, xa rời lời dạy của bậc Đạo Sư. Con xin đặt xuống thẻ đầu tiên này.’
“Kappati, bhante, dvaṅgulakappo”ti?
“Ko so, āvuso, dvaṅgulakappo”ti?
“Kappati, bhante, dvaṅgulāya chāyāya vītivattāya vikāle bhojanaṁ bhuñjitun”ti?
“Nāvuso, kappatī”ti.
“ Kattha paṭikkhittan”ti?
“Rājagahe, suttavibhaṅge”ti.
“Kiṁ āpajjatī”ti?
“Vikālabhojane pācittiyan”ti.
“Is the two-fingerbreadths practice allowable?”—“What’s the two-fingerbreadths practice?”—“Is it allowable to eat at the wrong time, so long as the shadow of the sundial is within two fingerbreadths of midday?”—“No.”—“Where was it prohibited?”—“At Rājagaha, in the analysis of the Monastic Code.”—“What was committed?”—“An offense entailing confession for eating at the wrong time.”
‘Kính bạch Tôn giả, việc hai lóng tay có hợp lệ không?’ ‘Thưa hiền giả, việc hai lóng tay là gì?’ ‘Kính bạch Tôn giả, có hợp lệ không khi ăn vật thực vào lúc phi thời, khi bóng nắng đã ngả quá hai lóng tay?’ ‘Thưa hiền giả, không hợp lệ.’ ‘Điều này đã bị cấm ở đâu?’ ‘Tại Rājagaha, trong Suttavibhaṅga.’ ‘Phạm tội gì?’ ‘Phạm tội pācittiya về việc ăn vào lúc phi thời.’
“Suṇātu me, bhante, saṅgho. Idaṁ dutiyaṁ vatthu saṅghena vinicchitaṁ. Itipidaṁ vatthu uddhammaṁ, ubbinayaṁ, apagatasatthusāsanaṁ. Idaṁ dutiyaṁ salākaṁ nikkhipāmi”.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has decided on the second practice. This practice is contrary to the Teaching, contrary to the Monastic Law, and a departure from the Teacher’s instruction. I make a note of this second decision.”
‘Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe con. Vấn đề thứ hai này đã được Tăng chúng dàn xếp. Do đó, vấn đề này là phi Pháp, phi Luật, xa rời lời dạy của bậc Đạo Sư. Con xin đặt xuống thẻ thứ hai này.’
“Kappati, bhante, gāmantarakappo”ti?
“Ko so, āvuso, gāmantarakappo”ti? “Kappati, bhante—idāni gāmantaraṁ gamissāmīti—bhuttāvinā pavāritena anatirittaṁ bhojanaṁ bhuñjitun”ti?
“Nāvuso, kappatī”ti.
“Kattha paṭikkhittan”ti?
“Sāvatthiyaṁ, suttavibhaṅge”ti.
“Kiṁ āpajjatī”ti?
“Anatirittabhojane pācittiyan”ti.
“Is the next-village practice allowable?”—“What’s the next-village practice?”—“When you have finished your meal and refused an invitation to eat more, is it allowable to eat non-leftover food if you intend to go to the next village?”—“No.”—“Where was it prohibited?”—“At Sāvatthī, in the analysis of the Monastic Code.”—“What was committed?”—“An offense entailing confession for eating what isn’t left over.”
‘Kính bạch Tôn giả, việc đi đến làng khác có hợp lệ không?’ ‘Thưa hiền giả, việc đi đến làng khác là gì?’ ‘Kính bạch Tôn giả, có hợp lệ không khi một người đã ăn xong và đã từ chối, lại ăn vật thực không phải là đồ ăn thừa với ý nghĩ rằng: “Bây giờ ta sẽ đi đến một làng khác”?’ ‘Thưa hiền giả, không hợp lệ.’ ‘Điều này đã bị cấm ở đâu?’ ‘Tại Sāvatthī, trong Suttavibhaṅga.’ ‘Phạm tội gì?’ ‘Phạm tội pācittiya về việc ăn vật thực không phải là đồ ăn thừa.’
“Suṇātu me, bhante, saṅgho. Idaṁ tatiyaṁ vatthu saṅghena vinicchitaṁ. Itipidaṁ vatthu uddhammaṁ, ubbinayaṁ, apagatasatthusāsanaṁ. Idaṁ tatiyaṁ salākaṁ nikkhipāmi”.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has decided on the third practice. This practice is contrary to the Teaching, contrary to the Monastic Law, and a departure from the Teacher’s instruction. I make a note of this third decision.”
‘Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe con. Vấn đề thứ ba này đã được Tăng chúng dàn xếp. Do đó, vấn đề này là phi Pháp, phi Luật, xa rời lời dạy của bậc Đạo Sư. Con xin đặt xuống thẻ thứ ba này.’
“Kappati, bhante, āvāsakappo”ti?
“Ko so, āvuso, āvāsakappo”ti?
“Kappati, bhante, sambahulā āvāsā samānasīmā nānuposathaṁ kātun”ti.
“Nāvuso, kappatī”ti.
“ Kattha paṭikkhittan”ti?
“Rājagahe, uposathasaṁyutte”ti.
“Kiṁ āpajjatī”ti?
“Vinayātisāre dukkaṭan”ti.
“Is the many-monasteries practice allowable?”—“What’s the many-monasteries practice?”—“When there are a number of monasteries within the same monastery zone, is it allowable to do the observance-day ceremony separately?”—“No.”—“Where was it prohibited?”—“At Rājagaha, in what’s connected to the observance-day ceremony.”—“What was committed?”—“An act of wrong conduct for going beyond the Monastic Law.”
“Bạch ngài, việc thực hành trong trú xứ có được phép không?” “Này hiền giả, việc thực hành trong trú xứ ấy là gì?” “Bạch ngài, nhiều trú xứ có cùng một ranh giới (sīmā) có được phép làm lễ Bố-tát riêng rẽ không?” “Này hiền giả, không được phép.” “Việc ấy bị ngăn cấm ở đâu?” “Ở thành Rājagaha, trong chương liên quan đến lễ Bố-tát.” “Phạm tội gì?” “Phạm tội tác ác do vi phạm giới luật.”
“Suṇātu me, bhante, saṅgho. Idaṁ catutthaṁ vatthu saṅghena vinicchitaṁ. Itipidaṁ vatthu uddhammaṁ, ubbinayaṁ, apagatasatthusāsanaṁ. Idaṁ catutthaṁ salākaṁ nikkhipāmi”.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has decided on the fourth practice. This practice is contrary to the Teaching, contrary to the Monastic Law, and a departure from the Teacher’s instruction. I make a note of this fourth decision.”
“Bạch chư ngài, mong Tăng chúng hãy nghe con. Vấn đề thứ tư này đã được Tăng chúng phân xử. Do đó, vấn đề này là phi pháp, phi luật, đi ngược lại lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Con xin bỏ lá thăm thứ tư này.”
“Kappati, bhante, anumatikappo”ti?
“Ko so, āvuso, anumatikappo”ti?
“Kappati, bhante, vaggena saṅghena kammaṁ kātuṁ—āgate bhikkhū anumānessāmā”ti?
“Nāvuso, kappatī”ti.
“ Kattha paṭikkhittan”ti?
“Campeyyake, vinayavatthusmin”ti.
“Kiṁ āpajjatī”ti?
“Vinayātisāre dukkaṭan”ti.
“Is the consent practice allowable?”—“What’s the consent practice?”—“Is it allowable to do a legal procedure with an incomplete Sangha, with the intention of getting consent from the absent monks afterwards?”—“No.”—“Where was it prohibited?”—“In the section on Those from Campā, in the Monastic Law.”—“What was committed?”—“An act of wrong conduct for going beyond the Monastic Law.”
“Bạch ngài, việc thực hành theo sự đồng thuận có được phép không?” “Này hiền giả, việc thực hành theo sự đồng thuận ấy là gì?” “Bạch ngài, Tăng chúng không đầy đủ có được phép làm Tăng sự với ý định rằng ‘chúng ta sẽ xin sự đồng thuận của các tỳ khưu đến sau’ không?” “Này hiền giả, không được phép.” “Việc ấy bị ngăn cấm ở đâu?” “Ở chương Campeyyaka, trong vấn đề về luật.” “Phạm tội gì?” “Phạm tội tác ác do vi phạm giới luật.”
“Suṇātu me, bhante, saṅgho. Idaṁ pañcamaṁ vatthu saṅghena vinicchitaṁ. Itipidaṁ vatthu uddhammaṁ, ubbinayaṁ, apagatasatthusāsanaṁ. Idaṁ pañcamaṁ salākaṁ nikkhipāmi”.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has decided on the fifth practice. This practice is contrary to the Teaching, contrary to the Monastic Law, and a departure from the Teacher’s instruction. I make a note of this fifth decision.”
“Bạch chư ngài, mong Tăng chúng hãy nghe con. Vấn đề thứ năm này đã được Tăng chúng phân xử. Do đó, vấn đề này là phi pháp, phi luật, đi ngược lại lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Con xin bỏ lá thăm thứ năm này.”
“Kappati, bhante, āciṇṇakappo”ti?
“Ko so, āvuso, āciṇṇakappo”ti?
“Kappati, bhante—idaṁ me upajjhāyena ajjhāciṇṇaṁ, idaṁ me ācariyena ajjhāciṇṇaṁ—taṁ ajjhācaritun”ti?
“Āciṇṇakappo kho, āvuso, ekacco kappati, ekacco na kappatī”ti.
“Are customary practices allowable?”—“What are customary practices?”—“Is it allowable to follow the practices of one’s preceptors or teachers?”—“Sometimes it is, sometimes it isn’t.”
“Bạch ngài, việc thực hành theo thói quen có được phép không?” “Này hiền giả, việc thực hành theo thói quen ấy là gì?” “Bạch ngài, có được phép thực hành một việc với lý do rằng ‘việc này đã được thầy tế độ của tôi thực hành, việc này đã được thầy giáo thọ của tôi thực hành’ không?” “Này hiền giả, có một số việc thực hành theo thói quen thì được phép, có một số thì không được phép.”
“Suṇātu me, bhante, saṅgho. Idaṁ chaṭṭhaṁ vatthu saṅghena vinicchitaṁ. Itipidaṁ vatthu uddhammaṁ, ubbinayaṁ, apagatasatthusāsanaṁ. Idaṁ chaṭṭhaṁ salākaṁ nikkhipāmi”.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has decided on the sixth practice. This practice is contrary to the Teaching, contrary to the Monastic Law, and a departure from the Teacher’s instruction. I make a note of this sixth decision.”
“Bạch chư ngài, mong Tăng chúng hãy nghe con. Vấn đề thứ sáu này đã được Tăng chúng phân xử. Do đó, vấn đề này là phi pháp, phi luật, đi ngược lại lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Con xin bỏ lá thăm thứ sáu này.”
“Kappati, bhante, amathitakappo”ti?
“Ko so, āvuso, amathitakappo”ti?
“Kappati, bhante, yaṁ taṁ khīraṁ khīrabhāvaṁ vijahitaṁ, asampattaṁ dadhibhāvaṁ, taṁ bhuttāvinā pavāritena anatirittaṁ pātun”ti?
“Nāvuso, kappatī”ti.
“ Kattha paṭikkhittan”ti?
“Sāvatthiyaṁ, suttavibhaṅge”ti.
“Kiṁ āpajjatī”ti?
“Anatirittabhojane pācittiyan”ti.
“Is the unchurned practice allowable?”—“What’s the unchurned practice?”—“When you have finished your meal and refused an invitation to eat more, is it allowable to drink that which is halfway between milk and curd, if it isn’t leftover?”—“No.”—“Where was it prohibited?”—“At Sāvatthī, in the analysis of the Monastic Code.”—“What was committed?”—“An offense entailing confession for eating what isn’t left over.”
“Bạch ngài, việc thực hành không khuấy có được phép không?” “Này hiền giả, việc thực hành không khuấy ấy là gì?” “Bạch ngài, loại sữa đã mất đi tính chất của sữa tươi nhưng chưa thành sữa chua, một vị tỳ khưu đã ăn xong và đã từ chối (thức ăn thêm) có được phép uống loại sữa ấy như một thức ăn không dư thừa không?” “Này hiền giả, không được phép.” “Việc ấy bị ngăn cấm ở đâu?” “Ở thành Sāvatthī, trong phần Phân Tích Giới Bổn.” “Phạm tội gì?” “Phạm tội Ưng đối trị do ăn thức ăn không dư thừa.”
“Suṇātu me, bhante, saṅgho. Idaṁ sattamaṁ vatthu saṅghena vinicchitaṁ. Itipidaṁ vatthu uddhammaṁ, ubbinayaṁ, apagatasatthusāsanaṁ. Idaṁ sattamaṁ salākaṁ nikkhipāmi”.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has decided on the seventh practice. This practice is contrary to the Teaching, contrary to the Monastic Law, and a departure from the Teacher’s instruction. I make a note of this seventh decision.”
“Bạch chư ngài, mong Tăng chúng hãy nghe con. Vấn đề thứ bảy này đã được Tăng chúng phân xử. Do đó, vấn đề này là phi pháp, phi luật, đi ngược lại lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Con xin bỏ lá thăm thứ bảy này.”
“Kappati, bhante, jaḷogiṁ pātun”ti?
“Kā sā, āvuso, jaḷogī”ti?
“Kappati, bhante, yā sā surā āsutā asampattā majjabhāvaṁ, sā pātun”ti?
“Nāvuso, kappatī”ti.
“ Kattha paṭikkhittan”ti?
“Kosambiyaṁ, suttavibhaṅge”ti.
“Kiṁ āpajjatī”ti.
“Surāmerayapāne pācittiyan”ti.
“Is palm-juice drinking allowable?”—“What’s palm juice?”—“Is it allowable to drink that which has started to ferment, but which hasn’t yet become a proper alcoholic drink?”—“No.”—“Where was it prohibited?”—“At Kosambī, in the analysis of the Monastic Code.”—“What was committed?”—“An offense entailing confession for drinking alcohol.”
“Bạch ngài, có được phép uống jaḷogi không?” “Này hiền giả, jaḷogi ấy là gì?” “Bạch ngài, loại rượu đã được ủ nhưng chưa đến mức gây say, có được phép uống không?” “Này hiền giả, không được phép.” “Việc ấy bị ngăn cấm ở đâu?” “Ở thành Kosambī, trong phần Phân Tích Giới Bổn.” “Phạm tội gì?” “Phạm tội Ưng đối trị do uống rượu và các chất gây say.”
“Suṇātu me, bhante, saṅgho. Idaṁ aṭṭhamaṁ vatthu saṅghena vinicchitaṁ. Itipidaṁ vatthu uddhammaṁ, ubbinayaṁ, apagatasatthusāsanaṁ. Idaṁ aṭṭhamaṁ salākaṁ nikkhipāmi”.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has decided on the eighth practice. This practice is contrary to the Teaching, contrary to the Monastic Law, and a departure from the Teacher’s instruction. I make a note of this eighth decision.”
“Bạch chư ngài, mong Tăng chúng hãy nghe con. Vấn đề thứ tám này đã được Tăng chúng phân xử. Do đó, vấn đề này là phi pháp, phi luật, đi ngược lại lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Con xin bỏ lá thăm thứ tám này.”
“Kappati, bhante, adasakaṁ nisīdanan”ti?
“Nāvuso, kappatī”ti.
“ Kattha paṭikkhittan”ti?
“Sāvatthiyaṁ, suttavibhaṅge”ti.
“Kiṁ āpajjatī”ti?
“Chedanake pācittiyan”ti.
“Are sitting mats without borders allowable?”—“No.”—“Where was it prohibited?”—“At Sāvatthī, in the analysis of the Monastic Code.”—“What was committed?”—“An offense entailing confession in relation to the rule concerning cutting.”
“Bạch ngài, tọa cụ không có viền có được phép không?” “Này hiền giả, không được phép.” “Việc ấy bị ngăn cấm ở đâu?” “Ở thành Sāvatthī, trong phần Phân Tích Giới Bổn.” “Phạm tội gì?” “Phạm tội Ưng đối trị về việc cắt.”
“Suṇātu me, bhante, saṅgho. Idaṁ navamaṁ vatthu saṅghena vinicchitaṁ. Itipidaṁ vatthu uddhammaṁ, ubbinayaṁ, apagatasatthusāsanaṁ. Idaṁ navamaṁ salākaṁ nikkhipāmi”.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has decided on the ninth practice. This practice is contrary to the Teaching, contrary to the Monastic Law, and a departure from the Teacher’s instruction. I make a note of this ninth decision.”
“Bạch chư ngài, mong Tăng chúng hãy nghe con. Vấn đề thứ chín này đã được Tăng chúng phân xử. Do đó, vấn đề này là phi pháp, phi luật, đi ngược lại lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Con xin bỏ lá thăm thứ chín này.”
“Kappati, bhante, jātarūparajatan”ti?
“Nāvuso, kappatī”ti.
“ Kattha paṭikkhittan”ti.
“Rājagahe, suttavibhaṅge”ti.
“Kiṁ āpajjatī”ti?
“Jātarūparajatapaṭiggahaṇe pācittiyan”ti.
“Is gold, silver, or money allowable?”—“No.”—“Where was it prohibited?”—“At Rājagaha, in the analysis of the Monastic Code.”—“What was committed?”—“An offense entailing confession for receiving gold, silver, or money.”
“Bạch ngài, vàng và bạc có được phép không?” “Này hiền giả, không được phép.” “Việc ấy bị ngăn cấm ở đâu?” “Ở thành Rājagaha, trong phần Phân Tích Giới Bổn.” “Phạm tội gì?” “Phạm tội Ưng đối trị do nhận vàng và bạc.”
“Suṇātu me, bhante, saṅgho. Idaṁ dasamaṁ vatthu saṅghena vinicchitaṁ. Itipidaṁ vatthu uddhammaṁ, ubbinayaṁ, apagatasatthusāsanaṁ. Idaṁ dasamaṁ salākaṁ nikkhipāmi.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has decided on the tenth practice. This practice is contrary to the Teaching, contrary to the Monastic Law, and a departure from the Teacher’s instruction. I make a note of this tenth decision.
“Bạch chư ngài, mong Tăng chúng hãy nghe con. Vấn đề thứ mười này đã được Tăng chúng phân xử. Do đó, vấn đề này là phi pháp, phi luật, đi ngược lại lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Con xin bỏ lá thăm thứ mười này.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Imāni dasa vatthūni saṅghena vinicchitāni. Itipimāni dasavatthūni uddhammāni, ubbinayāni, apagatasatthusāsanānī”ti.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has decided on the ten practices. These ten practices are contrary to the Teaching, contrary to the Monastic Law, and a departure from the Teacher’s instruction.”
“Bạch chư ngài, mong Tăng chúng hãy nghe con. Mười vấn đề này đã được Tăng chúng phân xử. Do đó, mười vấn đề này là phi pháp, phi luật, đi ngược lại lời giáo huấn của bậc Đạo Sư.”
“Nihatametaṁ, āvuso, adhikaraṇaṁ, santaṁ vūpasantaṁ suvūpasantaṁ. Api ca maṁ tvaṁ, āvuso, saṅghamajjhepi imāni dasa vatthūni puccheyyāsi—tesaṁ bhikkhūnaṁ saññattiyā”ti.
Atha kho āyasmā revato āyasmantaṁ sabbakāmiṁ saṅghamajjhepi imāni dasa vatthūni pucchi. Puṭṭho puṭṭho āyasmā sabbakāmī vissajjesi.
Imāya kho pana vinayasaṅgītiyā satta bhikkhusatāni anūnāni anadhikāni ahesuṁ, tasmāyaṁ vinayasaṅgīti “sattasatikā”ti vuccatīti.
“The legal issue has been resolved and properly disposed of. Nevertheless, for the purpose of convincing the other monks, you should ask me about these ten practices also in the midst of the Sangha.”
Revata then asked Sabbakāmī about the ten practices in the midst of the Sangha. And Sabbakāmī was able to reply to each and every question.
At this communal recitation of the Monastic Law there were seven hundred monks, neither more nor less. This is why this communal recitation is called “The group of seven hundred”.
458. “Này hiền giả, sự tranh cãi này đã được dập tắt, đã được lắng dịu, đã được lắng dịu hoàn toàn. Tuy nhiên, này hiền giả, hiền giả hãy hỏi tôi về mười vấn đề này ngay giữa Tăng chúng, để cho các tỳ khưu ấy được biết.” Bấy giờ, trưởng lão Revata đã hỏi trưởng lão Sabbakāmī về mười vấn đề này ngay giữa Tăng chúng. Mỗi khi được hỏi, trưởng lão Sabbakāmī đều trả lời. Trong cuộc kết tập Luật này, có bảy trăm vị tỳ khưu, không thiếu không thừa. Do đó, cuộc kết tập Luật này được gọi là “Sattasatikā” (Cuộc kết tập của bảy trăm vị).
Sattasatikakkhandhako dvādasamo. Imamhi khandhake vatthū pañcavīsati.
Tassuddānaṁ
The twelfth chapter on the second council is finished. In this chapter there are twenty-five topics.
This is the summary:
Chương thứ mười hai, chương về Bảy Trăm Vị.
Dasa vatthūni pūretvā, kammaṁ dūtena pāvisi; Cattāro puna rūpañca, kosambi ca pāveyyako.
“The ten practices, having filled, Legal procedure, he entered with a messenger; Four, and again gold, And Kosambī, those from Pāvā.
Mười vấn đề, làm cho đầy đủ, nghiệp sự, đi vào cùng với sứ giả; Bốn, rồi lại bốn, và vàng bạc, người ở Kosambī và người ở Pāvā.
Maggo soreyyaṁ saṅkassaṁ, kaṇṇakujjaṁ udumbaraṁ; Sahajāti ca majjhesi, assosi kaṁ nu kho mayaṁ.
The way to Soreyya, Saṅkassa, Kaṇṇakujja, Udumbara; And Sahajāti, he asked, Heard, how can we.
Con đường, Soreyya, Saṅkassa, Kaṇṇakujja, Udumbara; Sahajāti và ở giữa, đã nghe, chúng ta nên (chọn) ai đây.
Pattanāvāya ujjavi, rahosi upanāmayaṁ; Garu saṅgho ca vesāliṁ, mettā saṅgho ubbāhikāti.
A bowl, went upstream with a boat, In private, bringing; Respect, Sangha, Vesālī, Good will, Sangha, committee.”
Bình bát, đi ngược dòng bằng thuyền, ở nơi vắng vẻ, dâng lên; Nặng nề, Tăng chúng và Vesālī, tâm từ, Tăng chúng, và việc chọn lựa.
Sattasatikakkhandhako niṭṭhito.
Cūḷavaggo niṭṭhito.
The chapter on the second council is finished.
The Small Division is finished.
Dứt chương về Bảy Trăm Vị.
Cūḷavaggapāḷi niṭṭhitā.
The canonical text of the Small Division is finished.
Dứt Pāli tạng Tiểu Phẩm.