- Theravāda Vinayapiṭaka
- Cūḷavagga
Bản dịch
Kd 20 — Chương tỳ khưu ni
20. Bhikkhunikkhandhaka
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự trong lãnh thổ của dòng Sakya ở thành Kapilavatthu, tu viện Nigrodha. Khi ấy, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, tốt đẹp thay người nữ có thể đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố.”
—“Này Gotamī, thôi đi! Bà chớ có quan tâm đến việc người nữ xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố nữa.”
Đến lần thứ nhì, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, tốt đẹp thay người nữ có thể đạt được sự xuất gia … (như trên) ….”
—“Này Gotamī, thôi đi! Bà chớ có quan tâm đến việc người nữ xuất gia … (như trên) ….”
Đến lần thứ ba, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, tốt đẹp thay người nữ có thể đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố.”
—“Này Gotamī, thôi đi! Bà chớ có quan tâm đến việc người nữ xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố nữa.”
Khi ấy, bà Mahāpajāpatī Gotamī (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn không cho phép người nữ việc xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố’ nên khổ sở, buồn rầu, mặt đầm đìa nước mắt, trong khi khóc lóc, đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Sau đó, khi đã ngự tại thành Kapilavatthu theo như ý thích đức Thế Tôn đã ra đi du hành đi về phía thành Vesāli. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến Vesāli. Tại nơi đó, ở Vesāli, đức Thế Tôn ngự tại Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra.
Khi ấy, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nhờ người cạo tóc, khoác y phục màu ca-sa cùng với nhiều người nữ dòng Sakya đã ra đi về hướng Vesāli, tuần tự đã đi đến Vesāli, Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra. Khi ấy, bà Mahāpajāpatī Gotamī với hai bàn chân sưng vù, thân hình phủ đầy bụi bặm, khổ sở, buồn rầu, mặt đầm đìa nước mắt, đang khóc lóc, đứng ở bên ngoài cổng ra vào. Đại đức Ānanda đã nhìn thấy bà Mahāpajāpatī Gotamī với hai bàn chân sưng vù, thân hình phủ đầy bụi bặm, khổ sở, buồn rầu, mặt đầm đìa nước mắt, đang khóc lóc, đứng ở bên ngoài cổng ra vào, sau khi nhìn thấy đã nói với bà Mahāpajāpatī Gotamī điều này:—“Này bà Gotamī, tại sao bà lại có hai bàn chân sưng vù, thân hình phủ đầy bụi bặm, khổ sở, buồn rầu, mặt đầm đìa nước mắt, đang khóc lóc, đứng ở bên ngoài cổng ra vào vậy?”—“Thưa ngài Ānanda, như thế này bởi vì đức Thế Tôn không cho phép người nữ việc xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố.”
Inda-bh 2~2—“Này bà Gotamī, chính vì điều ấy nên bà hãy ở ngay tại đây trong chốc lát chờ tôi thỉnh cầu đức Thế Tôn về việc người nữ xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố.”
Sau đó, đại đức Ānanda đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, bà Mahāpajāpatī Gotamī này với hai bàn chân sưng vù, thân hình phủ đầy bụi bặm, khổ sở, buồn rầu, mặt đầm đìa nước mắt, đang khóc lóc, đứng ở bên ngoài cổng ra vào (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn không cho phép người nữ việc xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố.’ Bạch ngài, tốt đẹp thay người nữ có thể đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố.”
—“Này Ānanda, thôi đi! Ngươi chớ có quan tâm đến việc người nữ xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố nữa.”
Đến lần thứ nhì, đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, tốt đẹp thay người nữ có thể đạt được sự xuất gia … (như trên) ….”
—“Này Ānanda, thôi đi! Ngươi chớ có quan tâm đến việc người nữ xuất gia … (như trên) ….”
Đến lần thứ ba, đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, tốt đẹp thay người nữ có thể đạt được sự xuất gia … (như trên) ….”
—“Này Ānanda, thôi đi! Ngươi chớ có quan tâm đến việc người nữ xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố nữa.”
Khi ấy, đại đức Ānanda (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn không cho phép việc người nữ xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố; có lẽ ta nên thỉnh cầu đức Thế Tôn việc người nữ xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố bằng một phương thức khác?’ Sau đó, đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, người nữ sau khi xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố, có khả năng chứng ngộ quả vị Nhập Lưu, hoặc quả vị Nhất Lai, hoặc quả vị Bất Lai, hoặc phẩm vị A-la-hán hay không?”
—“Này Ānanda, người nữ sau khi xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố, có khả năng chứng ngộ quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất Lai, luôn cả phẩm vị A-la-hán.”
—“Bạch ngài, nếu người nữ … (như trên) … có khả năng chứng ngộ … (như trên) … luôn cả phẩm vị A-la-hán nữa; bạch ngài, bà Mahāpajāpatī Gotamī có nhiều công đức đối với đức Thế Tôn, là dì ruột, là người chăm sóc, là người nuôi dưỡng, là người cho sữa, bà đã cho đức Thế Tôn bú sữa khi người mẹ ruột qua đời. Bạch ngài, tốt đẹp thay người nữ có thể đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố.”
Inda-bh 3~3—“Này Ānanda, nếu bà Mahāpajāpatī Gotamī thọ nhận tám Trọng Pháp, hãy xem chính điều ấy là sự tu lên bậc trên đối với bà:
Tỳ khưu ni đã tu lên bậc trên một trăm năm nên thực hiện sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp đến vị tỳ khưu vừa tu lên bậc trên vào ngày hôm ấy. Đây cũng là pháp cần được trọng vọng, cung kính, sùng bái, cúng dường, không được vi phạm cho đến trọn đời.
Tỳ khưu ni không nên an cư mùa mưa ở trú xứ không có tỳ khưu. Đây cũng là pháp cần được trọng vọng, cung kính, sùng bái, cúng dường, không được vi phạm cho đến trọn đời.
Tỳ khưu ni vào mỗi nửa tháng nên mong mỏi hai việc từ hội chúng tỳ khưu là việc hỏi ngày lễ Uposatha và việc đi đến (để nghe) giáo giới. Đây cũng là pháp … (như trên) … không được vi phạm cho đến trọn đời.
Tỳ khưu ni đã trải qua mùa (an cư) mưa nên hành lễ Pavāraṇā ở cả hai hội chúng dựa trên ba yếu tố: do được thấy, hoặc do được nghe, hoặc vì nghi ngờ. Đây cũng là pháp … (như trên) … không được vi phạm cho đến trọn đời.
Tỳ khưu ni vi phạm tội nghiêm trọng nên thực hành hình phạt mānatta nửa tháng ở cả hai hội chúng. Đây cũng là pháp … (như trên) … không được vi phạm cho đến trọn đời.
Cô ni tu tập sự đã thực hành sự học tập về sáu pháp trong hai năm nên tầm cầu sự tu lên bậc trên ở cả hai hội chúng. Đây cũng là pháp … (như trên) … không được vi phạm cho đến trọn đời.
Tỳ khưu ni không vì bất cứ nguyên do gì được phép mắng nhiếc gièm pha tỳ khưu. Đây cũng là pháp … (như trên) … không được vi phạm cho đến trọn đời.
Kể từ hôm nay, việc khuyên bảo của các tỳ khưu ni đến các tỳ khưu bị ngăn cấm, việc khuyên bảo của các tỳ khưu đến các tỳ khưu ni không bị ngăn cấm. Đây cũng là pháp cần được trọng vọng, cung kính, sùng bái, cúng dường, không được vi phạm cho đến trọn đời.
Này Ānanda, nếu bà Mahāpajāpatī Gotamī thọ nhận tám Trọng Pháp, chính điều ấy là sự tu lên bậc trên đối với bà.”
Sau đó, đại đức Ānanda đã học tám Trọng Pháp từ đức Thế Tôn rồi đã đi đến gặp bà Mahāpajāpati Gotamī, sau khi đến đã nói với bà Mahāpajāpatī Gotamī điều này:—“Này bà Gotamī, nếu bà có thể thọ nhận tám Trọng Pháp thì chính điều ấy sẽ là sự tu lên bậc trên đối với bà:
Tỳ khưu ni đã tu lên bậc trên một trăm năm nên thực hiện sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp đến vị tỳ khưu vừa tu lên bậc trên vào ngày hôm ấy. … (như trên) … Kể từ hôm nay, việc khuyên bảo của các tỳ khưu ni đến các tỳ khưu bị ngăn cấm, việc khuyên bảo của các tỳ khưu đến các tỳ khưu ni không bị ngăn cấm. Đây cũng là pháp cần được trọng vọng, cung kính, sùng bái, cúng dường, không được vi phạm cho đến trọn đời.
Này bà Gotamī, nếu bà có thể thọ nhận tám Trọng Pháp này thì chính điều ấy sẽ là sự tu lên bậc trên đối với bà.”
—“Thưa đại đức Ānanda, cũng giống như người nữ hoặc người nam còn trẻ, ở tuổi thanh niên, ưa thích trang điểm, vừa mới gội đầu, sau khi nhận được tràng hoa sen, hoặc tràng hoa nhài, hoặc tràng hoa đủ loại nên thọ lãnh bằng hai tay rồi đặt lên ở đỉnh đầu; thưa đại đức Ānanda, cũng tương tợ như vậy, tôi thọ nhận tám Trọng Pháp này cho đến trọn đời không vi phạm.”
Inda-bh 4~4Sau đó, đại đức Ānanda đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã thọ nhận tám Trọng Pháp. Người dì của đức Thế Tôn đã được tu lên bậc trên.”
—“Này Ānanda, nếu người nữ không đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố, này Ānanda, Phạm hạnh có thể sẽ được tồn tại lâu dài, Thánh Pháp có thể tồn tại một ngàn năm. Này Ānanda, bởi vì người nữ đã xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đã được đức Như Lai công bố, này Ānanda, giờ đây Phạm hạnh sẽ không tồn tại lâu dài, này Ānanda, giờ đây Thánh Pháp sẽ tồn tại chỉ còn năm trăm năm.
Này Ānanda, cũng giống như những gia đình có nhiều người nữ, ít người nam thường dễ bị các kẻ cướp, các kẻ trộm đột nhập; này Ānanda, cũng tương tợ như thế, trong Pháp và Luật nào người nữ đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà, Phạm hạnh ấy không được tồn tại lâu dài.
Này Ānanda, cũng giống như trong thửa ruộng lúa đang phát triển, có loại bệnh gọi là mốc trắng xuất hiện, như thế ruộng lúa ấy không tồn tại lâu dài; này Ānanda, cũng tương tợ như thế, trong Pháp và Luật nào người nữ đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà, Phạm hạnh ấy không được tồn tại lâu dài.
Này Ānanda, cũng giống như trong ruộng mía đường đang phát triển, có loại bệnh gọi là rệp cây xuất hiện, như thế ruộng mía ấy không tồn tại lâu dài; này Ānanda, cũng tương tợ như thế, trong Pháp và Luật nào người nữ đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà, Phạm hạnh ấy không được tồn tại lâu dài.
Này Ānanda, cũng giống như người đàn ông chính vì phòng xa nên củng cố bờ đê của cái hồ lớn để không có sự tràn ra của nước; này Ānanda, cũng tương tợ như thế, tám Trọng Pháp do ta chính vì phòng xa đã quy định cho các tỳ khưu ni cho đến trọn đời không được vi phạm.”
Tám Trọng Pháp của các tỳ khưu ni.
Inda-bh 5~5Sau đó, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi đã ở đứng một bên, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, con thực hành như thế nào đối với các người nữ dòng Sakya này?”
Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho bà Mahāpajāpatī Gotamī bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu được ban phép tu lên bậc trên đến các tỳ khưu ni.”
Inda-bh 6~6Sau đó, các tỳ khưu ni ấy đã nói với bà Mahāpajāpatī Gotamī điều này:—“Bà chưa được tu lên bậc trên, chúng tôi đã được tu lên bậc trên; bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như thế này: ‘Các tỳ khưu ni nên được cho tu lên bậc trên bởi các tỳ khưu.’”
Sau đó, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Ānanda rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói với đại đức Ānanda điều này:—“Thưa đại đức Ānanda, các tỳ khưu ni này đã nói với tôi như vầy: ‘Bà chưa được tu lên bậc trên, chúng tôi đã được tu lên bậc trên; bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như thế này: ‘Các tỳ khưu ni nên được cho tu lên bậc trên bởi các tỳ khưu.’”
Inda-bh 7~7Sau đó, đại đức Ānanda đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói như vầy: ‘Thưa đại đức Ānanda, các tỳ khưu ni này đã nói với tôi như vầy: Bà chưa được tu lên bậc trên, chúng tôi đã được tu lên bậc trên; bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như thế này: Các tỳ khưu ni nên được cho tu lên bậc trên bởi các tỳ khưu.’”
—“Này Ānanda, kể từ lúc bà Mahāpajāpatī Gotamī thọ nhận tám Trọng Pháp, chính vào lúc ấy bà đã được tu lên bậc trên.”
Inda-bh 8~8Sau đó, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Ānanda rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói với đại đức Ānanda điều này:—“Thưa đại đức Ānanda, con thỉnh cầu đức Thế Tôn một điều ước muốn. Thưa đại đức, tốt đẹp thay đức Thế Tôn có thể cho phép sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp là tính theo thâm niên đối với các tỳ khưu và các tỳ khưu ni.”
Sau đó, đại đức Ānanda đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói như vầy: ‘Thưa đại đức Ānanda, con thỉnh cầu đức Thế Tôn một điều ước muốn. Thưa đại đức, tốt đẹp thay đức Thế Tôn có thể cho phép sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp là tính theo thâm niên đối với các tỳ khưu và các tỳ khưu ni.’”
—“Này Ānanda, việc đức Như Lai có thể cho phép sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp đến người nữ là điều không có cơ sở và không hợp lý. Này Ānanda, bởi vì các ngoại đạo này có giáo lý được thuyết giảng tồi còn không thực hành sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp đến người nữ; vậy điều gì khiến Như Lai lại cho phép sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp đến người nữ?” Sau đó, đức Thế tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên thực hiện sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp đến người nữ; vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 9~9Sau đó, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, có những điều học của các tỳ khưu ni là (được quy định) chung với các tỳ khưu, bạch ngài, chúng con thực hành những điều học ấy như thế nào?”
—“Này Gotamī, những điều học nào của các tỳ khưu ni là (được quy định) chung với các tỳ khưu, các tỳ khưu học tập như thế nào các ngươi hãy học tập những điều học ấy như thế ấy.”
—“Bạch ngài, có những điều học của các tỳ khưu ni là không (được quy định) chung với các tỳ khưu, bạch ngài, chúng con thực hành những điều học ấy như thế nào?”
—“Này Gotamī, những điều học nào của các tỳ khưu ni là không (được quy định) chung với các tỳ khưu, các ngươi hãy học tập những điều học ấy như đã được quy định.”
Inda-bh 10~10Sau đó, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, lành thay xin đức Thế Tôn hãy thuyết giảng Pháp một cách vắn tắt để con sau khi nghe Pháp ấy có thể sống một mình, cách ly, không biếng nhác, có sự nỗ lực, có sự quyết tâm.”
—“Và này Gotamī, các Pháp nào mà bà có thể biết rằng các pháp này đưa đến tham ái mà không đưa đến sự xa lìa tham ái, đưa đến sự ràng buộc mà không đưa đến sự thoát khỏi ràng buộc, đưa đến sự tích lũy mà không đưa đến sự không tích lũy, đưa đến sự ham muốn nhiều mà không đưa đến sự ham muốn ít, đưa đến sự bực bội mà không đưa đến sự hoan hỷ, đưa đến sự tụ hội mà không đưa đến sự đơn độc, đưa đến sự biếng nhác mà không đưa đến sự khởi công tinh tấn, đưa đến sự khó nuôi dưỡng mà không đưa đến sự dễ nuôi dưỡng; này Gotamī, bà có thể xác định dứt khoát rằng: ‘Điều này không phải là Pháp, điều này không phải là Luật, điều này không phải là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư.’
Này Gotamī, các Pháp nào mà bà có thể biết rằng các pháp này đưa đến sự xa lìa tham ái mà không đưa đến tham ái, đưa đến sự thoát khỏi ràng buộc mà không đưa đến sự ràng buộc, đưa đến sự không tích lũy mà không đưa đến sự tích lũy, đưa đến sự ham muốn ít mà không đưa đến sự ham muốn nhiều, đưa đến sự hoan hỷ mà không đưa đến sự bực bội, đưa đến sự đơn độc mà không đưa đến sự tụ hội, đưa đến sự khởi công tinh tấn mà không đưa đến sự biếng nhác, đưa đến sự dễ nuôi dưỡng mà không đưa đến sự khó nuôi dưỡng; này Gotamī, bà có thể xác định dứt khoát rằng: ‘Điều này là Pháp, điều này là Luật, điều này là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư.’”
Inda-bh 11~11Vào lúc bấy giờ, giới bổn Pātimokkha không được đọc tụng cho các tỳ khưu ni. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đọc tụng giới bổn Pātimokkha cho các tỳ khưu ni.”
Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Ai sẽ đọc giới bổn Pātimokkha cho các tỳ khưu ni?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu đọc tụng giới bổn Pātimokkha cho các tỳ khưu ni.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi đến chỗ ngụ của các tỳ khưu ni và đọc tụng giới bổn Pātimokkha cho các tỳ khưu ni. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Những bà này là vợ của những ông này, những bà này là tình nhân của những ông này. Bây giờ những ông này sẽ hưởng lạc với những bà này.”
Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, các tỳ khưu không nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha cho các tỳ khưu ni; vị nào đọc tụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu ni đọc tụng giới bổn Pātimokkha cho các tỳ khưu ni.”
Các tỳ khưu ni không biết: “Giới bổn Pātimokkha nên được đọc tụng như vầy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu chỉ dẫn các tỳ khưu ni: ‘Các vị nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha như vầy.’”
Inda-bh 12~12Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni không sửa chữa tội đã vi phạm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên không sửa chữa tội đã vi phạm; vị ni nào không sửa chữa thì phạm tội dukkaṭa.”
Các tỳ khưu ni không biết: “Tội đã vi phạm nên được sửa chữa như vầy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu chỉ dẫn các tỳ khưu ni: ‘Các vị nên sửa chữa tội đã vi phạm như vầy.’”
Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Ai sẽ ghi nhận tội cho các tỳ khưu ni?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu ghi nhận tội cho các tỳ khưu ni.”
Inda-bh 13~13Vào lúc bấy giờ, khi nhìn thấy vị tỳ khưu trên đường đi, ở ngõ cụt, nơi giao lộ, các tỳ khưu ni để xuống bình bát ở mặt đất, đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, rồi sửa chữa tội đã vi phạm. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Những bà này là vợ của những ông này, những bà này là tình nhân của những ông này. Sau khi đã làm mích lòng hồi đêm, giờ đây họ xin lỗi.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, các tỳ khưu không nên ghi nhận tội cho các tỳ khưu ni; vị nào ghi nhận thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu ni ghi nhận tội cho các tỳ khưu ni.”
Các tỳ khưu ni không biết: “Tội nên được ghi nhận như vầy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu chỉ dẫn các tỳ khưu ni: ‘Các vị nên ghi nhận tội như vầy.’”
Inda-bh 14~14Vào lúc bấy giờ, hành sự cho các tỳ khưu ni đã không được thực hiện. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện hành sự cho các tỳ khưu ni.”
Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Ai sẽ thực hiện hành sự cho các tỳ khưu ni?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu thực hiện hành sự cho các tỳ khưu ni.”
Inda-bh 15~15Vào lúc bấy giờ, khi gặp vị tỳ khưu trên đường đi, ở ngõ cụt, nơi giao lộ, các tỳ khưu ni có hành sự đã được hoàn tất để xuống bình bát ở mặt đất, đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, bày tỏ sự hối lỗi, trong khi nghĩ rằng: ‘Chắc là nên được thực hiện như vầy.’ Dân chúng tương tợ y như thế phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Những bà này là vợ của những ông này, những bà này là tình nhân của những ông này. Sau khi đã làm mích lòng hồi đêm, giờ đây họ xin lỗi.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, các tỳ khưu không nên thực hiện hành sự cho các tỳ khưu ni; vị nào thực thi thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu ni thực hiện hành sự cho các tỳ khưu ni.”
Các tỳ khưu ni không biết: “Hành sự nên được thực hiện như vầy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu chỉ dẫn các tỳ khưu ni: ‘Các vị nên thực hiện hành sự như vầy.’”
Inda-bh 16~16Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni ở giữa hội chúng đã nảy sinh ra xung đột, đã nảy sinh ra gây gỗ, đã đưa đến tranh cãi, sống châm chích lẫn nhau bằng các vũ khí mồm miệng. Họ không thể giải quyết sự tranh tụng ấy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu giải quyết sự tranh tụng của các tỳ khưu ni.”
Inda-bh 17~17Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu giải quyết sự tranh tụng của các tỳ khưu ni. Trong khi sự tranh tụng ấy đang được xét xử, các vị được biết rằng các tỳ khưu ni cần thiết cho hành sự cũng có vi phạm tội. Các tỳ khưu ni đã nói như vầy:—“Thưa các đại đức, tốt lành thay chính các ngài đại đức hãy thực hiện hành sự cho các tỳ khưu ni, chính các ngài đại đức hãy ghi nhận tội cho các tỳ khưu ni, bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như vầy: ‘Các tỳ khưu nên giải quyết sự tranh tụng của các tỳ khưu ni.’” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu xác định hành sự của các tỳ khưu ni rồi bàn giao lại cho các tỳ khưu ni, và các tỳ khưu ni được thực hiện hành sự cho các tỳ khưu ni; (cho phép) các tỳ khưu xác định tội của các tỳ khưu ni rồi bàn giao lại cho các tỳ khưu ni, và các tỳ khưu ni được ghi nhận tội cho các tỳ khưu ni.”
Inda-bh 18~18Vào lúc bấy giờ, vị tỳ khưu ni học trò của tỳ khưu ni Uppalavanṇṇā trong khi học tập về Luật đã theo đức Thế tôn bảy năm. Cô ấy có trí nhớ bị lộn xộn nên càng học càng quên. Rồi vị tỳ khưu ni ấy đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn có ý định đi đến thành Sāvatthi.” Khi ấy, vị tỳ khưu ni ấy đã khởi ý điều này: “Trong khi học tập về Luật, ta đã theo đức Thế Tôn bảy năm. Ta có trí nhớ bị lộn xộn nên càng học càng quên. Thật khó khăn cho người nữ để đi theo bậc Đạo Sư cho đến trọn đời; vậy ta nên thực hành như thế nào?” Sau đó, vị tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu giảng về Luật cho các tỳ khưu ni.”
Tụng phẩm thứ nhất.
Inda-bh 19~19Sau đó, khi đã đã ngự tại Vesāli theo như ý thích đức Thế Tôn đã lên đường du hành về phía Sāvatthi. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến Sāvatthi. Tại nơi đó ở Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự tại Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Inda-bh 20~20Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư rắc nước bùn lên các tỳ khưu ni (nghĩ rằng): ‘Có lẽ họ sẽ lưu tâm đến chúng ta.’ Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu không nên rắc nước bùn lên các tỳ khưu ni; vị nào rắc thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện hình phạt đối với vị tỳ khưu ấy.”
Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Hình phạt gì nên được thực hiện?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu ni không cần thực hiện việc đảnh lễ đối với vị tỳ khưu ấy.”
Inda-bh 21~21Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư vén hở thân rồi phô bày cho các tỳ khưu ni thấy, vén hở đùi rồi phô bày cho các tỳ khưu ni thấy, vén hở chỗ kín rồi phô bày cho các tỳ khưu ni thấy, trò chuyện với các tỳ khưu ni, giao lưu với các tỳ khưu ni (nghĩ rằng): ‘Có lẽ họ sẽ lưu tâm đến chúng ta.’ Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu không nên vén hở thân rồi phô bày cho các tỳ khưu ni thấy, không nên vén hở đùi rồi phô bày cho các tỳ khưu ni thấy, không nên vén hở chỗ kín rồi phô bày cho các tỳ khưu ni thấy, không nên trò chuyện với các tỳ khưu ni, không nên giao lưu với các tỳ khưu ni; vị nào giao lưu thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện hình phạt đối với vị tỳ khưu ấy.”
Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Hình phạt gì nên được thực hiện?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu ni không cần thực hiện việc đảnh lễ đối với vị tỳ khưu ấy.”
Inda-bh 22~22Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư rắc nước bùn lên các tỳ khưu (nghĩ rằng): ‘Có lẽ họ sẽ lưu tâm đến chúng ta.’ Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên rắc nước bùn lên các tỳ khưu; vị ni nào rắc thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện hình phạt đối với tỳ khưu ni ấy.”
Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Hình phạt gì nên được thực hiện?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện việc ngăn cấm (đi vào trú xứ của tỳ khưu).”
Khi việc ngăn cấm được thực hiện, họ không chấp hành. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đình chỉ việc giáo giới.”
Inda-bh 23~23Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư vén hở thân rồi phô bày cho các tỳ khưu thấy, vén hở ngực rồi phô bày cho các tỳ khưu thấy, vén hở đùi rồi phô bày cho các tỳ khưu thấy, vén hở chổ kín rồi phô bày cho các tỳ khưu thấy, trò chuyện với các tỳ khưu, giao lưu với các tỳ khưu (nghĩ rằng): ‘Có lẽ họ sẽ lưu tâm đến chúng ta.’ Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên vén hở thân rồi phô bày cho các tỳ khưu thấy, không nên vén hở ngực rồi phô bày cho các tỳ khưu thấy, không nên vén hở đùi rồi phô bày cho các tỳ khưu thấy, không nên vén hở chổ kín rồi phô bày cho các tỳ khưu thấy, không nên trò chuyện với các tỳ khưu, không nên giao lưu với các tỳ khưu; vị ni nào giao lưu thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện hình phạt đối với vị tỳ khưu ni ấy.”
Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Hình phạt gì nên được thực hiện?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện việc ngăn cấm (đi vào trú xứ của tỳ khưu).” Khi việc ngăn cấm được thực hiện, họ không chấp hành. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đình chỉ việc giáo giới.”
Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Lễ Uposatha được phép thực hiện với tỳ khưu ni bị đình chỉ giáo giới hay không được phép?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, lễ Uposatha không nên thực hiện với tỳ khưu ni bị đình chỉ giáo giới cho đến khi nào sự tranh tụng ấy còn chưa được giải quyết.”
Inda-bh 24~24Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi sau khi đình chỉ việc giáo giới đã ra đi du hành. Các tỳ khưu ni phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao ngài đại đức Udāyi sau khi đình chỉ việc giáo giới lại ra đi du hành?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, sau khi đình chỉ việc giáo giới rồi không nên ra đi du hành; vị nào ra đi thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 25~25Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ngu dốt không có kinh nghiệm đình chỉ việc giáo giới. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, việc giáo giới không nên bị đình chỉ bởi vị ngu dốt, không có kinh nghiệm; vị nào đình chỉ thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 26~26Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đình chỉ việc giáo giới không có sự việc, không có nguyên do. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, việc giáo giới không nên bị đình chỉ không có sự việc, không có nguyên do; vị nào đình chỉ thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 27~27Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sau khi đình chỉ việc giáo giới không đưa ra sự phán xét. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, sau khi đình chỉ việc giáo giới, không nên không đưa ra sự phán xét; vị nào không đưa ra thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 28~28Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni không đi (để nghe) giáo giới. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên không đi (để nghe) giáo giới; vị ni nào không đi nên được hành xử theo Pháp.”563
Inda-bh 29~29Vào lúc bấy giờ, toàn bộ hội chúng tỳ khưu ni đều đi (để nghe) giáo giới. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Những bà này là vợ của những ông này, những bà này là tình nhân của những ông này. Bây giờ những ông này sẽ hưởng lạc với những bà này.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên đi (để nghe) giáo giới toàn bộ hội chúng tỳ khưu ni. Nếu đi thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép đi (để nghe) giáo giới bốn hay năm tỳ khưu ni.”
Inda-bh 30~30Vào lúc bấy giờ, bốn hay năm tỳ khưu ni đi (để nghe) giáo giới. Dân chúng tương tợ y như thế phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Những bà này là vợ của những ông này, những bà này là tình nhân của những ông này. Bây giờ những ông này này sẽ hưởng lạc với những bà này.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên đi (để nghe) giáo giới bốn hay năm tỳ khưu ni. Nếu các vị đi thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép đi (để nghe) giáo giới hai hay ba tỳ khưu ni. Nên đi đến gặp một vị tỳ khưu, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, rồi nên nói như vầy: ‘Thưa ngài đại đức, hội chúng tỳ khưu ni đảnh lễ ở chân của hội chúng tỳ khưu và thỉnh cầu việc đến gần (để nghe) giáo giới. Thưa ngài, mong rằng hội chúng tỳ khưu ni đạt được việc đến gần (để nghe) giáo giới.’
Vị tỳ khưu ấy nên đi đến gặp vị đọc tụng giới bổn Pātimokkha và nên nói như vầy: ‘Thưa ngài, hội chúng tỳ khưu ni đảnh lễ ở chân của hội chúng tỳ khưu và thỉnh cầu việc đến gần (để nghe) giáo giới. Thưa ngài, mong rằng hội chúng tỳ khưu ni đạt được việc đến gần (để nghe) giáo giới.’ Vị đọc tụng giới bổn Pātimokkha nên nói rằng: ‘Có vị tỳ khưu nào đó đã được chỉ định là vị giáo giới tỳ khưu ni?’ Nếu có vị tỳ khưu nào đó đã được chỉ định là vị giáo giới tỳ khưu ni, vị đọc tụng giới bổn Pātimokkha nên nói rằng: ‘Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được chỉ định là vị giáo giới tỳ khưu ni, hội chúng tỳ khưu ni hãy đi đến gặp vị ấy.’ Nếu không có vị tỳ khưu nào đã được chỉ định là vị giáo giới tỳ khưu ni, vị đọc tụng giới bổn Pātimokkha nên nói rằng: ‘Vị đại đức nào đủ khả năng để giáo giới tỳ khưu ni?’
Nếu có vị nào đó đủ khả năng để giáo giới tỳ khưu ni và vị ấy có tám yếu tố, sau khi chỉ định xong nên nói rằng: ‘Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được chỉ định là vị giáo giới tỳ khưu ni, hội chúng tỳ khưu ni hãy đi đến gặp vị ấy.’ Nếu không có vị nào đủ khả năng để giáo giới tỳ khưu ni, vị đọc tụng giới bổn Pātimokkha nên nói rằng: ‘Không có tỳ khưu nào được chỉ định là vị giáo giới tỳ khưu ni, mong rằng hội chúng tỳ khưu ni được thành đạt với sự hoan hỷ.’”
Inda-bh 31~31Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu không nhận lãnh việc giáo giới. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không thể không nhận lãnh việc giáo giới; vị nào không nhận lãnh thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ là ngu dốt. Các tỳ khưu ni đã đi đến gặp vị ấy và đã nói điều này:—“Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lãnh việc giáo giới.”
—“Này các chị gái, bởi vì tôi ngu dốt, làm sao tôi nhận lãnh việc giáo giới được?”—“Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lãnh việc giáo giới bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như vầy: ‘Các tỳ khưu nên nhận lãnh việc giáo giới cho các tỳ khưu ni.’” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép trừ ra vị ngu dốt các vị còn lại nhận lãnh việc giáo giới.”
Inda-bh 32~32Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu ni đã đi đến gặp vị ấy và đã nói điều này:—“Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lãnh việc giáo giới.”—“Này các chị gái, bởi vì tôi bị bệnh, làm sao tôi nhận lãnh việc giáo giới được?”—“Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lãnh việc giáo giới, bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như vầy: ‘Trừ ra vị ngu dốt, các vị còn lại nên nhận lãnh việc giáo giới.’”
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép trừ ra vị ngu dốt, trừ ra vị bị bệnh, các vị còn lại nhận lãnh việc giáo giới.”
Inda-bh 33~33Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ là vị xuất hành. Các tỳ khưu ni đã đi đến gặp vị ấy và đã nói điều này:—“Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lãnh việc giáo giới.”—“Này các chị gái, bởi vì tôi là vị xuất hành, làm sao tôi nhận lãnh việc giáo giới được?”—“Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lãnh việc giáo giới, bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như vầy: ‘Trừ ra vị ngu dốt, trừ ra vị bị bệnh, các vị còn lại nên nhận lãnh việc giáo giới.’”
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép trừ ra vị ngu dốt, trừ ra vị bị bệnh, trừ ra vị xuất hành, các vị còn lại nhận lãnh việc giáo giới.”
Inda-bh 34~34Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ cư ngụ ở trong rừng. Các tỳ khưu ni đã đi đến gặp vị ấy và đã nói điều này:—“Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lãnh việc giáo giới.”—“Này các chị gái, bởi tôi cư ngụ ở trong rừng, làm sao tôi nhận lãnh việc giáo giới được?”—“Thưa ngài, xin ngài hãy nhận lãnh việc giáo giới, bởi vì đức Thế Tôn đã quy định như vầy: ‘Trừ ra vị ngu dốt, trừ ra vị bị bệnh, trừ ra vị xuất hành, các vị còn lại nên nhận lãnh việc giáo giới.’”
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tỳ khưu là vị ngụ ở rừng nhận lãnh việc giáo giới và (cho phép) quy định điểm hẹn: ‘Tôi sẽ thực hiện ở chỗ kia.’”
Inda-bh 35~35Vào lúc bấy giờ, sau khi nhận lãnh việc giáo giới các tỳ khưu không thông báo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không thể không thông báo việc giáo giới; vị nào không thông báo thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 36~36Vào lúc bấy giờ, sau khi nhận lãnh việc giáo giới các tỳ khưu không thực hiện. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, việc giáo giới không thể không thực hiện; vị nào không thực hiện thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 37~37Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni không đi đến điểm hẹn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên không đi đến điểm hẹn; vị ni nào không đi thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 38~38Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni mang dây thắt lưng loại dài, lại còn bó thắt eo bằng chúng nữa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên mang dây thắt lưng loại dài; vị ni nào mang thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép tỳ khưu ni (sử dụng) dây thắt lưng được thực hiện một vòng, và không nên bó thắt eo bằng dây thắt lưng; vị ni nào bó thắt (eo) thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 39~39Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni buộc (dây thắt lưng) thành dải tua bằng sợi tre chẻ mỏng, buộc thành dải tua bằng sợi da thú, buộc thành dải tua bằng sợi vải dệt, buộc thành dải tua bằng vải dệt tết đuôi sam, buộc thành dải tua bằng vải dệt thắt bím, buộc thành dải tua bằng sợi vải coḷa, buộc thành dải tua bằng vải coḷa tết đuôi sam, buộc thành dải tua bằng vải coḷa thắt bím, buộc thành dải tua bằng chỉ tết đuôi sam, buộc thành dải tua bằng chỉ thắt bím. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên buộc (dây thắt lưng) thành dải tua bằng sợi tre chẻ mỏng, không nên buộc thành dải tua bằng sợi da thú, không nên buộc thành dải tua bằng sợi vải dệt, không nên buộc thành dải tua bằng vải dệt tết đuôi sam, không nên buộc thành dải tua bằng vải dệt thắt bím, không nên buộc thành dải tua bằng sợi vải coḷa, không nên buộc thành dải tua bằng vải coḷa tết đuôi sam, không nên buộc thành dải tua bằng vải coḷa thắt bím, không nên buộc thành dải tua bằng chỉ tết đuôi sam, không nên buộc thành dải tua bằng chỉ thắt bím; vị ni nào buộc thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 40~40Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni bảo đập vỗ vùng hông với khúc xương đùi, bảo đấm bóp vùng hông với xương hàm con bò, bảo đấm bóp bàn tay, bảo đấm bóp mu bàn tay, bảo đấm bóp bàn chân, bảo đấm bóp mu bàn chân, bảo đấm bóp đùi, bảo đấm bóp mặt, bảo đấm bóp nướu răng. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên bảo đập vỗ vùng hông với khúc xương đùi, … (như trên) … không nên bảo đấm bóp nướu răng; vị ni nào bảo đấm bóp thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 41~41Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư thoa dầu ở mặt, chà xát mặt, đánh phấn ở mặt, đắp mặt bằng phấn đỏ, tô màu ở cơ thể, tô màu ở mặt, tô màu ở mặt và ở cơ thể. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên thoa dầu ở mặt, không nên chà xát mặt, không nên đánh phấn ở mặt, không nên đắp mặt bằng phấn đỏ, không nên tô màu ở cơ thể, không nên tô màu ở mặt, không nên tô màu ở mặt và ở cơ thể; vị ni nào làm thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 42~42Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư kẻ mí mắt, làm dấu ở trán, nhìn qua cửa sổ (xuống đường phố), đứng tựa cửa lớn (khoe phần thân trên), tổ chức nhảy múa, hỗ trợ gái điếm, lập quán bán rượu, lập tiệm bán thịt, trưng bày cửa hiệu, tiến hành việc cho vay lấy lãi, tiến hành việc thương mãi, nuôi tôi trai, nuôi tớ gái, nuôi trai làm mướn, nuôi gái làm thuê, nuôi thú vật, buôn bán rau xanh, mang mảnh da mài dao cạo. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên kẻ mí mắt, … (như trên) … không nên mang mảnh da mài dao cạo; vị ni nào mang thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 43~43Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư mặc các y toàn màu xanh đậm, mặc các y toàn màu vàng, mặc các y toàn màu đỏ (máu), mặc các y toàn màu tím, mặc các y toàn màu đen, mặc các y nhuộm toàn màu đỏ tía, mặc các y nhuộm toàn màu hồng, mặc các y không cắt đường viền, mặc các y có đường viền rộng, mặc các y có đường viền vẽ bông hoa, mặc các y có đường viền có vẽ trái cây, mặc áo choàng, mặc loại vải dệt bằng sợi vỏ cây tirīṭaka. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên mặc các y toàn màu xanh đậm, … (như trên) … không nên mặc loại vải dệt bằng sợi vỏ cây tirīṭaka; vị ni nào mặc thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 44~44Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ trong khi lâm chung đã nói như vầy:—“Sau khi tôi từ trần, vật dụng của tôi hãy thuộc về hội chúng.” Ở nơi ấy, các tỳ khưu và các tỳ khưu ni tranh cãi rằng:—“Thuộc về chúng tôi, thuộc về chúng tôi.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu ni trong trong khi lâm chung nói như vầy: ‘Sau khi tôi từ trần, vật dụng của tôi hãy thuộc về hội chúng,’ trong trường hợp này, hội chúng tỳ khưu không phải là người chủ, vật dụng ấy thuộc về riêng hội chúng tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, nếu vị ni tu tập sự, … (như trên) … Này các tỳ khưu, nếu vị sa di ni trong khi lâm chung nói như vầy: ‘Sau khi tôi từ trần, vật dụng của tôi hãy thuộc về hội chúng,’ trong trường hợp này, hội chúng tỳ khưu không phải là người chủ, vật dụng ấy thuộc về riêng hội chúng tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu trong khi lâm chung nói như vầy: ‘Sau khi tôi từ trần, vật dụng của tôi hãy thuộc về hội chúng,’ trong trường hợp này, hội chúng tỳ khưu ni không phải là người chủ, vật dụng ấy thuộc về riêng hội chúng tỳ khưu. Này các tỳ khưu, nếu vị sa di, … (như trên) … Này các tỳ khưu, nếu nam cư sĩ, … (như trên) … Này các tỳ khưu, nếu nữ cư sĩ, … (như trên) … Này các tỳ khưu, nếu người nào khác trong khi lâm chung nói như vầy: ‘Sau khi tôi từ trần, vật dụng của tôi hãy thuộc về hội chúng,’ trong trường hợp này, hội chúng tỳ khưu ni không phải là người chủ, vật dụng ấy thuộc về riêng hội chúng tỳ khưu.”
Inda-bh 45~45Vào lúc bấy giờ, có phụ nữ nọ trước đây là người xứ Malla đã xuất gia nơi các tỳ khưu ni. Cô ni ấy sau khi gặp vị tỳ khưu yếu đuối trên đường đã cho cái thúc bằng bả vai rồi tiếp tục đi. Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao tỳ khưu ni lại cho vị tỳ khưu cái thúc?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên cho vị tỳ khưu cái thúc; vị ni nào cho thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép tỳ khưu ni bước sang (một bên) nhường lối đi khi nhìn thấy vị tỳ khưu, ngay khi (vị ấy) còn ở đàng xa.”
Inda-bh 46~46Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khi chồng đi vắng bị có thai với tình nhân. Cô ấy đã làm cho sẩy thai rồi đã nói với vị tỳ khưu ni thường đi đến nhà điều này:—“Thưa ni sư, xin hãy dùng bình bát mang đi cái bào thai này.” Khi ấy, vị tỳ khưu ni ấy đã bỏ cái bào thai ấy vào trong bình bát, che kín bằng y hai lớp, rồi ra đi. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi khất thực đã lập dự tính rằng: “Khi chưa dâng phần vật thực ta sẽ thọ lãnh đầu tiên đến vị tỳ khưu hoặc tỳ khưu ni thì ta sẽ không thọ thực.”
Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã nhìn thấy vị tỳ khưu ni ấy và đã nói điều này:—“Này chị gái, hãy nhận lãnh phần vật thực.”—“Thưa ngài, thôi đi.” Đến lần thứ nhì, vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu ni ấy điều này:—“Này chị gái, hãy nhận lãnh phần vật thực.”—“Thưa ngài, thôi đi.” Đến lần thứ ba, vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu ni ấy điều này:—“Này chị gái, hãy nhận lãnh phần vật thực.”—“Thưa ngài, thôi đi.”—“Này chị gái, tôi đã lập dự tính rằng: ‘Khi chưa dâng phần vật thực ta sẽ thọ lãnh đầu tiên đến vị tỳ khưu hoặc tỳ khưu ni thì ta sẽ không thọ thực.’ Này chị gái, hãy nhận lãnh phần vật thực.”
Sau đó, vị tỳ khưu ni ấy trong lúc bị quấy rầy bởi vị tỳ khưu ấy đã đưa bình bát ra cho xem:—“Thưa ngài, hãy nhìn cái bào thai trong bình bát nè. Và chớ có nói với bất cứ ai.” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao tỳ khưu ni lại dùng bình bát mang đi cái bào thai vậy?” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao tỳ khưu ni lại dùng bình bát mang đi cái bào thai vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên dùng bình bát mang đi bào thai; vị ni nào mang đi thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép tỳ khưu ni khi gặp vị tỳ khưu thì lấy bình bát ra và đưa cho xem.”
Inda-bh 47~47Vào lúc bấy giờ, khi gặp vị tỳ khưu các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư xoay tròn (bình bát) và cho xem phần dưới của bình bát. Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao khi gặp vị tỳ khưu các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư xoay tròn (bình bát) và cho xem phần dưới của bình bát?” Sau đó, các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, khi gặp vị tỳ khưu tỳ khưu ni không nên xoay tròn (bình bát) và cho xem phần dưới của bình bát; vị nào cho xem thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, khi gặp vị tỳ khưu ta cho phép tỳ khưu ni lật ngửa bình bát rồi đưa cho xem. Và vật thực nào có trong bình bát, nên thỉnh mời vị tỳ khưu với vật ấy.”
Inda-bh 48~48Vào lúc bấy giờ, trên đường phố ở thành Sāvatthi có vật biểu tượng nam tánh bị quăng bỏ. Các tỳ khưu ni đã nhìn chăm chú vào vật ấy. Dân chúng đã la ầm lên. Các tỳ khưu ni ấy đã bị xấu hổ. Sau đó, các tỳ khưu ni ấy đã đi đến ni viện và đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu ni lại nhìn chăm chú vào vật biểu tượng nam tánh?” Sau đó, các tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên nhìn chăm chú vào vật biểu tượng nam tánh; vị nào nhìn chăm chú thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 49~49Vào lúc bấy giờ, dân chúng thường dâng vật thực cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu cho đến các tỳ khưu ni. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các ngài đại đức lại cho những người khác vật thí dành để thọ dụng cho bản thân, không lẽ chúng tôi không biết cho vật thí hay sao?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho những người khác vật thí dành để thọ dụng cho bản thân; vị nào cho thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 50~50Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu có được vật thực dồi dào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép dâng đến hội chúng.” Còn dồi dào nhiều hơn trước nữa. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép dâng luôn cả vật dành riêng cho cá nhân.” Vào lúc bấy giờ, vật thực được làm để tích trữ của các tỳ khưu được dồi dào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu ni thọ dụng vật tích trữ của các tỳ khưu sau khi đã được các tỳ khưu trao cho.”
Inda-bh 51~51Vào lúc bấy giờ, dân chúng thường dâng vật thực cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni cho đến các tỳ khưu. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu ni lại cho những người khác vật thí dành để thọ dụng cho bản thân? Không lẽ chúng tôi không biết cho vật thí hay sao?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên cho những người khác vật thí dành để thọ dụng cho bản thân; vị ni nào cho thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 52~52Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni có được vật thực dồi dào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép dâng đến hội chúng.” Còn dồi dào nhiều hơn trước nữa. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép dâng luôn cả vật dành riêng cho cá nhân.” Vào lúc bấy giờ, vật thực được làm để tích trữ của các tỳ khưu ni được dồi dào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu thọ dụng vật tích trữ của các tỳ khưu ni sau khi đã được các tỳ khưu ni trao cho.”
Inda-bh 53~53Vào lúc bấy giờ, sàng tọa của các tỳ khưu thì dồi dào, của các tỳ khưu ni thì không có. Các tỳ khưu ni đã phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu:—“Thưa các ngài, lành thay các ngài hãy cho chúng tôi (mượn) sàng tọa trong một thời gian.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép cho các tỳ khưu ni (mượn) sàng tọa trong một thời gian.”
Inda-bh 54~54Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni có kinh nguyệt ngồi và nằm trên giường được bọc nệm, trên ghế được bọc nệm. Chỗ nằm ngồi bị lấm lem bởi máu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni không nên ngồi hoặc nằm trên giường được bọc nệm, trên ghế được bọc nệm; vị ni nào ngồi hoặc nằm thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) y nội trợ.”
Y nội trợ bị lấm lem bởi máu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) kim gài và mảnh vải.” Mảnh vải bị rơi xuống Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép khâu lại bằng chỉ và buộc ở đùi.” Chỉ bị đứt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) váy, băng vải buộc ở hông.”
Inda-bh 55~55Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư mang băng vải buộc ở hông vào mọi lúc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên mang băng vải buộc ở hông vào mọi lúc; vị ni nào mang thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) băng vải buộc ở hông đối với vị ni có kinh nguyệt.”
Tụng phẩm thứ nhì.
Inda-bh 56~56Vào lúc bấy giờ, các người nữ đã tu lên bậc trên được thấy là: không có hiện tướng (người nữ), khiếm khuyết hiện tướng (người nữ), không có kinh nguyệt, bị băng huyết, thường xuyên mang vải lót, bị rong kinh, bị dị căn, người nữ vô căn, bị lại đực, tiêu tiểu chung một khiếu, người nữ lưỡng căn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đang cho tu lên bậc trên được hỏi về hai mươi bốn pháp chướng ngại. Và này các tỳ khưu, nên hỏi như vầy: ‘Cô không phải là người không có hiện tướng (người nữ)? Cô không phải là người khiếm khuyết hiện tướng (người nữ)? Cô không phải là người không có kinh nguyệt? Cô không phải là người bị băng huyết? Cô không phải là người thường xuyên mang vải lót? Cô không phải là người bị rong kinh? Cô không phải là người bị dị căn? Cô không phải là người nữ vô căn? Cô không phải là người bị lại đực? Cô không phải là người tiêu tiểu chung một khiếu? Cô không phải là người nữ lưỡng căn? Cô có các bệnh như thế này không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Cô là loài người? Cô là người nữ? Cô là người được tự do (không phải nô lệ)? Cô không bị thiếu nợ? Cô không phải là lính của vua? Cô đã được cho phép bởi cha mẹ, bởi người chồng? Cô đã tròn hai mươi tuổi? Cô có đầy đủ y bát không? Cô tên gì? Ni sư tế độ tên gì?’”
Inda-bh 57~57Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu hỏi các pháp chướng ngại của các tỳ khưu ni. Các cô có ý muốn tu lên bậc trên bị bối rối, trở nên mắc cở, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép sự tu lên bậc trên ở hội chúng tỳ khưu đến người nữ đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, (và) được trong sạch.”
Inda-bh 58~58Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni hỏi các pháp chướng ngại đến các cô có ý muốn tu lên bậc trên chưa được giảng dạy trước. Các cô có ý muốn tu lên bậc trên bị bối rối, trở nên mắc cở, không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép giảng dạy trước rồi hỏi các pháp chướng ngại sau.” Các vị giảng dạy ngay tại chổ ấy, ở giữa hội chúng. Như thế ấy, các cô có ý muốn tu lên bậc trên bị bối rối, trở nên mắc cở, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép giảng dạy ở một góc rồi hỏi các pháp chướng ngại ở giữa hội chúng.
Và này các tỳ khưu, nên giảng dạy như vầy: Trước tiên, nên bảo chọn vị thầy tế độ. Sau khi đã bảo chọn vị thầy tế độ rồi nên chỉ dẫn về y bát: ‘Đây là bình bát của cô, đây là y hai lớp, đây là thượng y, đây là y nội, đây là áo lót, đây là vải choàng tắm. Hãy đi đến đứng ở chỗ trống đàng kia.’ Các vị ni ngu dốt, thiếu kinh nghiệm giảng dạy. Được giảng dạy tồi, các cô có ý muốn tu lên bậc trên bị bối rối, trở nên mắc cở, không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, vị ni ngu dốt thiếu kinh nghiệm không nên giảng dạy; vị ni nào giảng dạy thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực được giảng dạy.” Các vị ni chưa được chỉ định vẫn giảng dạy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, vị ni chưa được chỉ định không nên giảng dạy; vị ni nào giảng dạy thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép giảng dạy đối với vị ni đã được chỉ định.
Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Tự mình chỉ định cho chính mình, hoặc người khác chỉ định cho người khác. Và thế nào là tự mình chỉ định cho chính mình? Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ giảng dạy cho cô ni tên (như vầy).’ Như vậy là tự mình chỉ định cho chính mình. Và thế nào là người khác chỉ định cho người khác? Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, vị ni tên (như vầy) sẽ giảng dạy cho cô ni tên (như vầy).’ Như vậy là người khác chỉ định cho người khác.
Vị tỳ khưu ni đã được chỉ định ấy nên đi đến gần cô có ý muốn tu lên bậc trên và nên nói như vầy:—‘Này cô tên (như vầy), hãy lắng nghe. Đối với cô, bây giờ là thời điểm của sự thật, là thời điểm của bản chất. Trong khi được hỏi ở giữa hội chúng, điều gì được đề cập đến, nếu điều ấy là đúng thì nên nói: ‘Đúng;’ nếu không đúng, nên nói: ‘Không đúng.’ Chớ nên bối rối, chớ nên mắc cở. Các vị sẽ hỏi cô như vầy: ‘Cô không phải là người không có hiện tướng (người nữ)? Cô không phải là người khiếm khuyết hiện tướng (người nữ)? Cô không phải là người không có kinh nguyệt? Cô không phải là người bị băng huyết? Cô không phải là người thường xuyên mang vải lót? Cô không phải là người bị rong kinh? Cô không phải là người bị dị căn? Cô không phải là người nữ vô căn? Cô không phải là người bị lại đực? Cô không phải là người tiêu tiểu chung một khiếu? Cô không phải là người nữ lưỡng căn? Cô có bị các bệnh như thế này hay không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Cô là loài người? Cô là người nữ? Cô là người được tự do (không phải nô lệ)? Cô không bị thiếu nợ? Cô không phải là lính của vua? Cô đã được cho phép bởi cha mẹ, bởi người chồng? Cô đã tròn hai mươi tuổi? Cô có đầy đủ y bát không? Cô tên gì? Ni sư tế độ tên gì?’”
Inda-bh 59~59Họ đi đến chung (cùng một lúc).—“Không nên đi đến chung (cùng một lúc). Vị ni giảng dạy nên đi đến trước và thông báo cho hội chúng: ‘Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Tôi đã giảng dạy cho cô ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, cô tên (như vầy) có thể đi đến.’ Và nên nói rằng: ‘Cô hãy đi đến.’
Nên bảo (cô ấy) đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các tỳ khưu ni, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên, và bảo thỉnh cầu sự tu lên bậc trên: ‘Bạch chư đại đức ni, tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót. Bạch chư đại đức ni, lần thứ nhì tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót. Bạch chư đại đức ni, lần thứ ba tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót.’
Hội chúng nên được thông báo bởi vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ hỏi cô ni tên (như vầy) về các pháp chướng ngại. Này cô tên (như vầy), hãy lắng nghe. Đối với cô, bây giờ là thời điểm của sự thật, là thời điểm của bản chất. Trong khi được hỏi ở giữa hội chúng, điều gì được đề cập đến, nếu điều ấy là đúng thì nên nói: Đúng; nếu không đúng, nên nói: Không đúng. Cô không phải là người không có hiện tướng (người nữ)? Cô không phải là người khiếm khuyết hiện tướng (người nữ)? … (như trên) … Cô tên gì? Ni sư tế độ tên gì?’
Hội chúng nên được thông báo bởi vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy) là người trong sạch về các pháp chướng ngại. Cô này có đầy đủ y bát. Cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với vị đại đức ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị đại đức ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Đây là lời đề nghị.
Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy) là người trong sạch về các pháp chướng ngại. Cô này có đầy đủ y bát. Cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với vị đại đức ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Hội chúng cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị đại đức ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Đại đức ni nào đồng ý sự tu lên bậc trên của cô ni tên (như vầy) với đại đức ni tên (như vầy) là ni sư tế độ xin im lặng; vị ni nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) … Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy) là người trong sạch về các pháp chướng ngại. Cô này có đầy đủ y bát. Cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với vị đại đức ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Hội chúng cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị đại đức ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Đại đức ni nào đồng ý sự tu lên bậc trên của cô ni tên (như vầy) với đại đức ni tên (như vầy) là ni sư tế độ xin im lặng; vị ni nào không đồng ý có thể nói lên.
Cô ni tên (như vầy) đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với vị đại đức ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Ngay sau khi hoàn tất việc ấy, nên đưa (cô ni ấy) đi đến hội chúng tỳ khưu, nên bảo (cô ấy) đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các tỳ khưu, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên, và bảo thỉnh cầu sự tu lên bậc trên: ‘Bạch chư đại đức, tôi tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Tôi đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Bạch chư đại đức, tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót. Bạch chư đại đức, tôi tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Tôi đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Bạch chư đại đức, lần thứ nhì tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót. Bạch chư đại đức, tôi tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Tôi đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Bạch chư đại đức, lần thứ ba tôi thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót.’
Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy). Cô này đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Đây là lời đề nghị.
Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy). Cô này đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Hội chúng cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của cô ni tên (như vầy) với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) … Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Cô này đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Hội chúng cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của cô ni tên (như vầy) với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Cô ni tên (như vầy) đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Ngay khi ấy, bóng nắng cần được đo đạc, việc xác định mùa tiết nên được chỉ dạy, việc phân chia ngày (giờ) nên được chỉ dạy, điều đã được kết tập lại nên được chỉ dạy, các tỳ khưu ni nên được nói rằng:—‘Nên chỉ dạy cô ni này ba điều nương nhờ và tám điều không nên làm.’”
Inda-bh 60~60Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni trong khi xác định chỗ ngồi trong nhà ăn đã bị quá giờ (thọ thực). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (chỗ ngồi) của tám tỳ khưu ni tính theo thâm niên, (chỗ ngồi) của các vị còn lại tính theo thứ tự đi đến.”
Inda-bh 61~61Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn đã cho phép (chỗ ngồi) của tám tỳ khưu ni tính theo thâm niên, (chỗ ngồi) của các vị còn lại tính theo thứ tự đi đến’ nên ở khắp mọi nơi chừa lại đúng tám chỗ cho các tỳ khưu ni tính theo thâm niên, các chỗ còn lại thì theo thứ tự đi đến. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép trong nhà ăn (chỗ ngồi của) tám tỳ khưu ni tính theo thâm niên và (chỗ ngồi) của các vị còn lại tính theo thứ tự đi đến, còn ở những nơi khác không nên chừa lại theo thứ tự thâm niên; vị nào chừa lại thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 62~62Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni không hành lễ Pavāraṇā. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên không hành lễ Pavāraṇā; vị ni nào không hành lễ Pavāraṇā nên được hành xử theo Pháp.” Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni sau khi hành lễ Pavāraṇā nơi hội chúng tỳ khưu ni rồi không hành lễ Pavāraṇā nơi hội chúng tỳ khưu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni sau khi hành lễ Pavāraṇā nơi hội chúng tỳ khưu ni rồi không nên không hành lễ Pavāraṇā nơi hội chúng tỳ khưu; vị ni nào không hành lễ Pavāraṇā nên được hành xử theo Pháp.”1
Inda-bh 63~63Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni trong khi hành lễ Pavāraṇā chỉ một phía với các tỳ khưu đã tạo nên sự lộn xộn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên hành lễ Pavāraṇā chỉ một phía với các tỳ khưu; vị ni nào hành lễ Pavāraṇā (chỉ một phía) thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni trong khi hành lễ Pavāraṇā trước bữa thọ trai nên đã bị quá giờ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tỳ khưu ni hành lễ Pavāraṇā sau bữa thọ trai.” Sau bữa thọ trai, các vị trong khi còn hành lễ Pavāraṇā đã bị trời tối. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép hành lễ Pavāraṇā nơi hội chúng tỳ khưu ni ngày hôm nay và hành lễ Pavāraṇā nơi hội chúng tỳ khưu vào ngày kế.”
Inda-bh 64~64Vào lúc bấy giờ, toàn bộ hội chúng tỳ khưu ni trong lúc hành lễ Pavāraṇā đã gây nên sự lộn xộn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định một vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực để thỉnh cầu hội chúng tỳ khưu vì lợi ích của hội chúng tỳ khưu ni. Và này các tỳ khưu, nên được chỉ định như vầy: Trước tiên, vị tỳ khưu ni nên được yêu cầu; sau khi yêu cầu hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định tỳ khưu ni tên (như vầy) để thỉnh cầu hội chúng tỳ khưu vì lợi ích của hội chúng tỳ khưu ni. Đây là lời đề nghị.
Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định tỳ khưu ni tên (như vầy) để thỉnh cầu hội chúng tỳ khưu vì lợi ích của hội chúng tỳ khưu ni. Đại đức ni nào đồng ý việc chỉ định tỳ khưu ni tên (như vầy) để thỉnh cầu hội chúng tỳ khưu vì lợi ích của hội chúng tỳ khưu ni xin im lặng; vị ni nào không đồng ý có thể nói lên. Tỳ khưu ni tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định để thỉnh cầu hội chúng tỳ khưu vì lợi ích của hội chúng tỳ khưu ni. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Vị tỳ khưu ni đã được chỉ định ấy nên đưa hội chúng tỳ khưu ni đi đến gặp hội chúng tỳ khưu, nên đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, hội chúng tỳ khưu ni xin thỉnh cầu hội chúng tỳ khưu do được thấy, hoặc do được nghe, hoặc vì nghi ngờ. Bạch các ngài, vì lòng thương xót đối với hội chúng tỳ khưu ni xin hội chúng tỳ khưu hãy nói lên; khi thấy (lỗi) rồi sẽ sửa đổi. Đến lần thứ nhì, bạch các ngài, hội chúng tỳ khưu ni xin thỉnh cầu hội chúng tỳ khưu do được thấy, hoặc do được nghe, hoặc vì nghi ngờ. Bạch các ngài, vì lòng thương xót đối với hội chúng tỳ khưu ni xin hội chúng tỳ khưu hãy nói lên; khi thấy (lỗi) rồi sẽ sửa đổi. Đến lần thứ ba, bạch các ngài, hội chúng tỳ khưu ni xin thỉnh cầu hội chúng tỳ khưu do được thấy, hoặc do được nghe, hoặc vì nghi ngờ. Bạch các ngài, vì lòng thương xót đối với hội chúng tỳ khưu ni xin hội chúng tỳ khưu hãy nói lên; khi thấy (lỗi) rồi sẽ sửa đổi.’”
Inda-bh 65~65Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni đình chỉ lễ Uposatha, đình chỉ lễ Pavāraṇā, làm công việc khuyên bảo, khởi xướng việc cáo tội, thỉnh ý (để buộc tội), quở trách, nhắc nhở đối với các tỳ khưu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên đình chỉ lễ Uposatha của tỳ khưu, dầu đã bị đình chỉ cũng như không bị đình chỉ; vị ni đình chỉ phạm tội dukkaṭa. Không nên đình chỉ lễ Pavāraṇā, dầu đã bị đình chỉ cũng như không bị đình chỉ; vị ni đình chỉ phạm tội dukkaṭa. Không nên làm công việc khuyên bảo, dầu đã được làm cũng như không được làm; vị ni làm phạm tội dukkaṭa. Không nên khởi xướng việc cáo tội, dầu đã được khởi xướng cũng như không được khởi xướng; vị ni khởi xướng (việc cáo tội) phạm tội dukkaṭa. Không nên thỉnh ý (để buộc tội), dầu đã được thỉnh ý cũng như không được thỉnh ý, vị ni thỉnh ý phạm tội dukkaṭa. Không nên quở trách, dầu đã được quở trách cũng như không được quở trách, vị ni quở trách phạm tội dukkaṭa. Không nên nhắc nhở, dầu đã được nhắc nhở cũng như không được nhắc nhở, vị ni nhắc nhở phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 66~66Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đình chỉ lễ Uposatha đình chỉ lễ Pavāraṇā, làm công việc khuyên bảo, khởi xướng việc cáo tội, thỉnh ý (để buộc tội), quở trách, nhắc nhở đối với các tỳ khưu ni. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tỳ khưu được đình chỉ lễ Uposatha của tỳ khưu ni, khi đã đình chỉ thì đã đình chỉ đúng đắn; vị đình chỉ vô tội. Được đình chỉ lễ Pavāraṇā; khi đã đình chỉ thì đã đình chỉ đúng đắn; vị đình chỉ vô tội. Được làm công việc khuyên bảo, khi đã làm thì đã làm đúng đắn; vị làm vô tội. Được khởi xướng việc cáo tội, khi đã khởi xướng thì đã khởi xướng đúng đắn; vị khởi xướng vô tội. Được thỉnh ý (để buộc tội), khi đã thỉnh ý thì đã thỉnh ý đúng đắn; vị thỉnh ý vô tội. Được quở trách, khi đã quở trách thì đã quở trách đúng đắn; vị quở trách vô tội. Được nhắc nhở, khi đã nhắc nhở thì đã nhắc nhở đúng đắn; vị nhắc nhở vô tội.”
Inda-bh 67~67Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư di chuyển bằng xe được kéo bởi các con bò cái với người nam đánh xe ngồi ở giữa, hoặc được kéo bởi các con bò đực với người nữ đánh xe ngồi ở giữa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như lễ hội ở vùng Gaṅgā và Mahī vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên di chuyển bằng xe; vị ni nào di chuyển nên được hành xử theo Pháp.” Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ bị bệnh, không thể bước đi bằng chân được. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) xe đối với vị ni bị bệnh.” Khi ấy, các tỳ khưu ni đã khởi ý điều này: “Vậy được kéo bởi con cái, hay được kéo bởi con đực?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) toa xe được kéo bởi con cái, được kéo bởi con đực, (và cho phép) xe kéo bằng tay.” Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ đã bị khó chịu dữ dội vì xe bị dằn xóc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) kiệu khiêng, ghế khiêng.”
Inda-bh 68~68Vào lúc bấy giờ, cô kỹ nữ Aḍḍhakāsī đã xuất gia nơi các tỳ khưu ni. Cô ấy có ý định đi đến Sāvatthi (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ tu lên bậc trên trong sự chứng minh của đức Thế Tôn.’ Những kẻ bất lương đã nghe rằng: “Nghe nói kỹ nữ Aḍḍhakāsī có ý định đi đến Sāvatthi.” Bọn họ đã bao vây các ngõ đường. Cô kỹ nữ Aḍḍhakāsī đã nghe rằng: “Nghe nói những kẻ bất lương đã bao vây các ngõ đường” nên đã phái sứ giả đến gặp đức Thế Tôn (thưa rằng): “Bởi vì con có ước muốn tu lên bậc trên, con nên tiến hành như thế nào?”
Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép cho tu lên bậc trên thông qua người đại diện.” Các vị cho tu lên bậc trên thông qua người đại diện là tỳ khưu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên thông qua người đại diện là tỳ khưu; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa.” Các vị cho tu lên bậc trên thông qua người đại diện là cô ni tu tập sự. … (như trên) … Các vị cho tu lên bậc trên thông qua người đại diện là sa di. … (như trên) … Các vị cho tu lên bậc trên thông qua người đại diện là sa di ni. … (như trên) … Các vị cho tu lên bậc trên thông qua người đại diện là cô ni ngu dốt thiếu kinh nghiệm.—“Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên thông qua người đại diện là cô ni ngu dốt thiếu kinh nghiệm; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép cho tu lên bậc trên thông qua người đại diện là vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực. Vị tỳ khưu ni đại diện ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, rồi nên nói như vầy:
‘Bạch các ngài, cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Cô ấy đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Cô ấy không đi đến chính vì có sự chướng ngại. Bạch các ngài, cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy tế độ cô ấy vì lòng thương xót.
Bạch các ngài, cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Cô ấy đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Cô ấy không đi đến chính vì có sự chướng ngại. Bạch các ngài, lần thứ nhì cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy tế độ cô ấy vì lòng thương xót.
Bạch các ngài, cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức ni tên (như vầy). Cô ấy đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Cô ni không đi đến chính vì có sự chướng ngại. Bạch các ngài, lần thứ ba cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy tế độ cô ấy vì lòng thương xót.’
Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy). Cô ấy đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Cô ấy không đi đến chính vì có sự nguy hiểm. Cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Đây là lời đề nghị.
Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy). Cô ấy đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Cô ấy không đi đến chính vì có sự nguy hiểm. Cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Hội chúng cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của cô ni tên (như vầy) với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) … Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch chư đại đức, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Cô ni tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy). Cô ấy đã được tu lên bậc trên từ một phía ở hội chúng tỳ khưu ni, và được trong sạch. Cô ấy không đi đến chính vì có sự nguy hiểm. Cô ni tên (như vầy) thỉnh cầu hội chúng sự tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Hội chúng cho cô ni tên (như vầy) tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của cô ni tên (như vầy) với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Cô ni tên (như vầy) đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với vị ni tên (như vầy) là ni sư tế độ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Ngay khi ấy, bóng râm cần được đo đạc, việc xác định mùa tiết nên được chỉ dạy, việc phân chia ngày (giờ) nên được chỉ dạy, điều đã được kết tập lại nên được chỉ dạy. Các tỳ khưu ni nên được nói rằng:—‘Hãy chỉ dạy cô ni này ba điều nương nhờ và tám điều không nên làm.’”
Inda-bh 69~69Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni cư ngụ ở trong rừng. Những kẻ bất lương làm nhơ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên cư ngụ ở trong rừng; vị ni nào cư ngụ thì phạm tội dukkaṭa.” Vào lúc bấy giờ, kho chứa đồ đạc đã được nam cư sĩ nọ dâng đến hội chúng tỳ khưu ni. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) kho chứa đồ đạc. Kho chứa đồ không đáp ứng (nhu cầu). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) căn nhà. Căn nhà không đáp ứng (nhu cầu). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (xây dựng) công trình mới.” Công trình mới không đáp ứng (nhu cầu). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xây dựng theo cá nhân.”
Inda-bh 70~70Vào lúc bấy giờ, một người phụ nữ nọ, có bào thai đã đậu, xuất gia nơi các tỳ khưu ni. Khi cô ấy đã xuất gia, cái thai đã chào đời. Khi ấy, vị tỳ khưu ni ấy đã khởi ý điều này: “Ta nên thực hành như thế nào liên quan đến đứa bé trai này?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép nuôi dưỡng cho đến khi đứa bé trai ấy đạt được sự hiểu biết.”
Sau đó, vị tỳ khưu ni ấy đã khởi ý điều này: “Ta không thể sống mỗi một mình, và tỳ khưu ni khác không thể sống với đứa bé trai, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định một tỳ khưu ni và cho làm người cộng sự với tỳ khưu ni kia. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước tiên, vị tỳ khưu ni cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định tỳ khưu ni tên (như vầy) là người cộng sự với tỳ khưu ni tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định tỳ khưu ni tên (như vầy) là người cộng sự với tỳ khưu ni tên (như vầy). Đại đức ni nào đồng ý sự chỉ định tỳ khưu ni tên (như vầy) là người cộng sự với tỳ khưu ni tên (như vầy) xin im lặng; vị ni nào không đồng ý có thể nói lên.
Tỳ khưu ni tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là người cộng sự với tỳ khưu ni tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Khi ấy, tỳ khưu ni cộng sự ấy đã khởi ý điều này: “Ta nên thực hành như thế nào liên quan đến đứa bé trai này?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hành liên quan đến đứa bé trai này tương tợ như là thực hành liên quan đến người đàn ông khác ngoại trừ việc ngụ chung nhà.”
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ bị phạm tội nặng và là vị đang thực hành hình phạt mānatta. Khi ấy, tỳ khưu ni ấy đã khởi ý điều này: “Ta không thể sống mỗi một mình, và vị tỳ khưu ni khác không thể sống với ta, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định một tỳ khưu ni và cho làm người cộng sự với tỳ khưu ni kia. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước tiên, vị tỳ khưu ni cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu ni kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định tỳ khưu ni tên (như vầy) là người cộng sự với tỳ khưu ni tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định tỳ khưu ni tên (như vầy) là người cộng sự với tỳ khưu ni tên (như vầy). Đại đức ni nào đồng ý việc chỉ định tỳ khưu ni tên (như vầy) là người cộng sự với tỳ khưu ni tên (như vầy) xin im lặng; vị ni nào không đồng ý có thể nói lên.
Tỳ khưu ni tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là người cộng sự với tỳ khưu ni tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 71~71Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ sau khi xả bỏ sự học tập đã hoàn tục. Cô ấy đã quay trở lại và thỉnh cầu các tỳ khưu ni sự tu lên bậc trên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không có việc xả bỏ sự học tập đối với tỳ khưu ni; chính khi cô ấy hoàn tục thì chính khi ấy cô ấy không còn là tỳ khưu ni nữa.”
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ vẫn mang y ca-sa đã chuyển sang (tu tập ở) lãnh vực của ngoại đạo. Cô ấy đã quay trở lại và thỉnh cầu các tỳ khưu ni sự tu lên bậc trên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni nào mang y ca-sa chuyển sang (tu tập ở) lãnh vực của ngoại đạo, khi cô ấy quay trở lại thì không nên cho tu lên bậc trên nữa.”
Inda-bh 72~72Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni trong khi ngần ngại không ưng thuận việc đảnh lễ, việc cạo tóc, việc cắt móng, việc băng bó vết thương bởi những người nam. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ưng thuận (những việc ấy).”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni ngồi kiết già. Các vị ưa thích sự xúc chạm của gót chân. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên ngồi kiết già; vị ni nào ngồi thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 73~73Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu ni nọ bị bệnh. Không xếp chân thế kiết già, vị ni ấy không được thoải mái. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thế bán già đối với tỳ khưu ni.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni đại tiện ở nhà vệ sinh. Các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư trục bỏ bào thai ngay tại chỗ ấy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên thực hiện việc đại tiện ở trong nhà vệ sinh; vị ni nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện việc đại tiện ở chỗ trống trải phần bên dưới và che kín phần bên trên.”
Inda-bh 74~74Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni tắm với bột phấn thoa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên tắm với bột phấn thoa; vị ni nào tắm thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cám thô, đất sét.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni tắm với đất sét có mùi thơm. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên tắm với đất sét có mùi thơm; vị ni nào tắm thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) đất sét loại bình thường.”
Inda-bh 75~75Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư trong khi tắm ở nhà tắm hơi đã gây nên sự lộn xộn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên tắm ở nhà tắm hơi; vị ni nào tắm thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni tắm ở luồng nước chảy, ưa thích sự xúc chạm của giòng nước. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên tắm ở luồng nước chảy; vị ni nào tắm thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni tắm ở chỗ không phải là bãi tắm. Những kẻ bất lương làm nhơ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên tắm ở chỗ không phải là bãi tắm; vị ni nào tắm thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 76~76Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni tắm ở bãi tắm dành cho người nam. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các người nữ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không nên tắm ở bãi tắm dành cho người nam; vị ni nào tắm thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép tắm ở bãi tắm dành cho phụ nữ.”
Tụng phẩm thứ ba.
Chương Tỳ Khưu Ni là thứ mười.
Trong chương này có một trăm lẻ sáu sự việc.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Inda-bh 1~77Bà Gotamī đã thỉnh cầu việc xuất gia, đức Như Lai đã không cho phép. Vị Lãnh Đạo đã rời Kapilavatthu đi đến Vesāli.
Inda-bh 2~78Với (thân hình) phủ đầy bụi, ở cổng ra vào, bà đã cho vị Ānanda biết, vị đã yêu cầu bằng cách thức: ‘Có khả năng không?’ Là người mẹ,’ và ‘Là người nuôi dưỡng.’
Inda-bh 3~79Một trăm năm, và vào ngày hôm ấy, (nơi) không có tỳ khưu, sự mong mỏi, lễ Pavāraṇā, các tội nghiêm trọng, hai năm, việc không được mắng nhiếc.
Inda-bh 4~80Bị ngăn cấm, và tám pháp, việc hành theo cho đến trọn đời, việc thọ nhận tám Trọng Pháp, chính điều ấy là sự tu lên bậc trên đối với bà.
Inda-bh 5~81Một ngàn năm chỉ còn năm trăm, với các ví dụ về kẻ trộm, bệnh mốc trắng, bệnh rệp cây, các việc làm tổn hại Chánh Pháp là tương tợ.
Inda-bh 6~82Với các ví dụ về người nên củng cố bờ đê, hơn nữa là sự tồn tại của Chánh Pháp, được ban phép tu lên bậc trên, bà (chưa được tu lên bậc trên), việc đảnh lễ tính theo thâm niên.
Inda-bh 7~83Các (ngoại đạo) không thực hành, điều gì vậy, (được quy định) chung và không (được quy định) chung, việc giáo giới, và giới bổn pātimokkha, bởi vị nào, ni viện.
Inda-bh 8~84Các vị ni không biết, và đã chỉ dạy, và các vị ni không làm, bởi các tỳ khưu, được ghi nhận tội bởi các tỳ khưu, việc ghi nhận tội bởi các tỳ khưu ni.
Inda-bh 9~85Vị đã chỉ dẫn, hành sự, bởi các tỳ khưu, họ phàn nàn, hoặc bởi các tỳ khưu ni, được chỉ dạy, và sự xung đột, sau khi bàn giao lại, và vị Uppalavaṇṇā.
Inda-bh 10~86Ở thành Sāvatthi, nước bùn, không đảnh lễ, (phô bày) thân, và đùi, và chỗ kín, việc trò chuyện, các vị giao lưu, các vị nhóm Lục Sư.
Inda-bh 11~87Không nên đảnh lễ, hình phạt, các vị tỳ khưu ni cũng tương tợ, và việc ngăn cấm, việc giáo giới, được phép không, vị đã ra đi.
Inda-bh 12~88Các vị ngu dốt, (không có) sự việc, sự phán xét, việc giáo giới, hội chúng, với năm vị ni, hai vị ni, ba vị ni, không nhận lãnh, các vị ngu dốt, các vị bị bệnh, và các vị xuất hành.
Inda-bh 13~89Các vị ở rừng, các vị không thông báo, và các vị không đi đến, (dây thắt lưng) dài, (sợi) tre chẻ mỏng, và da thú, vải dệt tết đuôi sam, và thắt bím, vải coḷa tết đuôi sam, và thắt bím, chỉ tết đuôi sam, và thắt bím.
Inda-bh 14~90Khúc xương đùi, với xương hàm con bò, mu bàn tay, bàn chân là tương tợ, phần đùi, khuôn mặt, nướu răng, việc thoa dầu, chà xát, và đánh phấn.
Inda-bh 15~91Các vị đắp (ở mặt), và việc tô màu ở cơ thể, việc tô màu ở mặt, hai việc là tương tợ, việc kẻ mí mắt, làm dấu ở trán, (nhìn) qua cửa sổ, (đứng) tựa cửa, và với việc nhảy múa.
Inda-bh 16~92Gái điếm, quán bán rượu, tiệm bán thịt, cửa hiệu, lấy lãi, việc thương mãi, trong khi nuôi tôi trai, tớ gái, trai làm mướn, gái làm thuê.
Inda-bh 17~93(Nuôi) thú vật, (buôn bán) rau xanh, các vị tự mang mảnh da mài dao cạo, các y màu xanh đậm, màu vàng, màu đỏ (máu), màu tím, màu đen.
Inda-bh 18~94Màu đỏ tía, màu hồng, không được cắt, và (đường viền) quá rộng, (có vẽ) bông hoa, trái cây, và áo choàng, và các vị đã mặc vải dệt bằng sợi vỏ cây tirīṭaka.
Inda-bh 19~95Về việc từ trần của tỳ khưu ni, của vị ni tu tập sự, của vị sa di ni, về các vật dụng được để lại, các tỳ khưu ni là người chủ.
Inda-bh 20~96Của vị tỳ khưu, của vị sa di, của nam cư sĩ, của nữ cư sĩ, và của những người khác, về vật dụng được để lại, các tỳ khưu là người chủ.
Inda-bh 21~97Vị ni người xứ Malla, cái bào thai, phần dưới của bình bát, vật biểu tượng (nam tánh), và với vật thực, và được dồi dào, nhiều hơn trước nữa, vật thực được làm để tích trữ.
Inda-bh 22~98Đối với các vị tỳ khưu, phần tương tợ bên dưới, nên thực hiện như vậy đối với các tỳ khưu ni, sàng tọa, các vị có kinh nguyệt, bị lấm lem, mảnh vải và kim gài.
Inda-bh 23~99Chúng bị đứt, vào mọi lúc, các vị ni được thấy là không có hiện tướng (người nữ), v.v... và còn (khiếm khuyết) hiện tướng, không có kinh nguyệt nữa, tương tợ y như thế là vị bị băng huyết.
Inda-bh 24~100Thường xuyên mang vải lót, bị rong kinh, bị dị căn, người nữ vô căn, và bị lại đực, (tiêu tiểu) chung một khiếu, và cả người nữ lưỡng căn.
Inda-bh 25~101Khởi đầu từ không có hiện tướng, sau khi đã thực hiện, và cô nào là người nữ lưỡng căn, điều này là từ phần giản lược ở bên dưới, bệnh cùi, bệnh mụt nhọt, bệnh chàm.
Inda-bh 26~102Bệnh lao phổi, bệnh động kinh, cô là loài người, cô là người nữ, và cô là người được tự do, không thiếu nợ, không là lính của vua, đã được cho phép và hai mươi (tuổi).
Inda-bh 27~103Và đầy đủ (y bát), cô tên gì, ni sư tế độ của cô tên gì, sau khi hỏi về hai mươi bốn pháp chướng ngại, là việc tu lên bậc trên.
Inda-bh 28~104Các cô bị bối rối, khi chưa được giảng dạy, và tương tợ y như thế ở giữa hội chúng, việc chọn vị thầy tế độ, y hai lớp, thượng y, và y nội.
Inda-bh 29~105Áo lót, và vải choàng tắm, sau khi được chỉ dạy, nên bảo đứng (ở chỗ kia), vị ni ngu dốt, chưa được chỉ định, (đi đến) chung, và nếu đã hỏi các pháp chướng ngại.
Inda-bh 30~106Cô ni đã được tu lên bậc trên ở một phía, ở hội chúng tỳ khưu như thế một lần nữa, bóng nắng, mùa tiết, và (phân chia) ngày, việc kết tập, ba sự nương nhờ.
Inda-bh 31~107Tám điều không nên làm, (bị quá) giờ, ở mọi nơi, (đúng) tám chỗ, các tỳ khưu ni không hành lễ Pavāraṇā, và tương tợ y như thế nơi hội chúng tỳ khưu.
Inda-bh 32~108Sự lộn xộn, trước bữa ăn, và lúc tối trời, sự lộn xộn, (đình chỉ) lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, việc khuyên bảo, việc cáo tội.
Inda-bh 33~109Thỉnh ý (để buộc tội), quở trách, nhắc nhở đã bị ngăn cấm bởi vị Đại Ẩn Sĩ, tương tợ y như thế tỳ khưu (đối với) tỳ khưu ni được cho phép bởi vị Đại Ẩn Sĩ.
Inda-bh 34~110Xe, bị bệnh, và được kéo, bị dằn xóc bởi xe, chuyện Aḍḍhakāsī, vị tỳ khưu, vị ni tu tập sự, vị sa di, vị sa di ni, và vị ni ngu dốt.
Inda-bh 35~111Ở trong rừng, bởi vị nam cư sĩ, kho chứa đồ, căn nhà, không đáp ứng (nhu cầu), công trình mới, có bào thai đã hình thành, mỗi một mình.
Inda-bh 36~112Và việc ngụ chung nhà, tội nặng, sau khi xả bỏ (sự học tập), và đã chuyển sang, việc đảnh lễ, (cạo) tóc, và các móng, việc băng bó vết thương.
Inda-bh 37~113Với thế kiết già, và vị ni bị bệnh, việc đại tiện, với bột tắm, được tẩm hương, ở nhà tắm hơi, ở luồng nước chảy, ở nơi không phải là bãi tắm, và (tắm) với người nam.
Inda-bh 38~114Bà Mahāgotamī đã thỉnh cầu, và cả vị Ānanda khôn khéo, mà có được tứ chúng, việc xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.
Inda-bh 39~115Nhằm sự lợi ích của việc sanh khởi sự động tâm và sự phát triển của Chánh Pháp, ví như thuốc men đối với người bị bệnh, lời đã được đức Phật thuyết giảng là như vậy.
Inda-bh 40~116Được hướng dẫn như thế về Chánh Pháp, luôn cả các người nữ khác, các cô ấy cũng đạt đến vị thế Bất Tử, là nơi sau khi đi đến thì không sầu khổ.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Small Division
The chapter on nuns
10. Chương Tỳ Khưu Ni
1. Mahāpajāpatigotamīvatthu
Tena samayena buddho bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme. Atha kho mahāpajāpati gotamī yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho mahāpajāpati gotamī bhagavantaṁ etadavoca—“sādhu, bhante, labheyya mātugāmo tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajjan”ti.
“Alaṁ, gotami, mā te rucci mātugāmassa tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajjā”ti.
Dutiyampi kho …pe…
1. The account of Mahāpajāpati Gotamī
At one time the Buddha was staying in the Sakyan country in the Banyan Tree Monastery at Kapilavatthu. At this time Mahāpajāpati Gotamī went to the Buddha, bowed down to him, and said, “Sir, please allow women to go forth into homelessness on the spiritual path proclaimed by the Buddha.”
“Let it be, Gotami, don’t pursue this idea.”
A second time
Câu chuyện về bà Mahāpajāpatī Gotamī
402. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn đang trú ngụ ở xứ của dòng Sakka, tại Kapilavatthu, trong tu viện Nigrodha. Khi ấy, bà Mahāpajāpatī Gotamī đi đến nơi đức Thế Tôn đang ngự; sau khi đến, bà đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Sau khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpatī Gotamī bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch ngài, thật là tốt đẹp, mong rằng người nữ được phép xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Giáo pháp và Giới luật đã được đức Như Lai tuyên thuyết.’ – ‘Thôi đi, Gotamī, bà chớ có ưa thích việc người nữ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Giáo pháp và Giới luật đã được đức Như Lai tuyên thuyết.’ Lần thứ nhì... Lần thứ ba, bà Mahāpajāpatī Gotamī bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch ngài, thật là tốt đẹp, mong rằng người nữ được phép xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Giáo pháp và Giới luật đã được đức Như Lai tuyên thuyết.’ – ‘Thôi đi, Gotamī, bà chớ có ưa thích việc người nữ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Giáo pháp và Giới luật đã được đức Như Lai tuyên thuyết.’ Bấy giờ, bà Mahāpajāpatī Gotamī – vì nghĩ rằng: ‘Đức Thế Tôn không cho phép người nữ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Giáo pháp và Giới luật đã được đức Như Lai tuyên thuyết’ – nên buồn rầu, thất vọng, mặt đẫm lệ, khóc lóc, sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn và đi nhiễu quanh phía bên phải rồi ra đi.
Atha kho bhagavā kapilavatthusmiṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena vesālī tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena vesālī tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho mahāpajāpati gotamī kese chedāpetvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā sambahulāhi sākiyānīhi saddhiṁ yena vesālī tena pakkāmi. Anupubbena yena vesālī mahāvanaṁ kūṭāgārasālā tenupasaṅkami. Atha kho mahāpajāpati gotamī sūnehi pādehi rajokiṇṇena gattena dukkhī dummanā assumukhī rudamānā bahidvārakoṭṭhake aṭṭhāsi.
Addasā kho āyasmā ānando mahāpajāpatiṁ gotamiṁ sūnehi pādehi rajokiṇṇena gattena dukkhiṁ dummanaṁ assumukhiṁ rudamānaṁ bahidvārakoṭṭhake ṭhitaṁ. Disvāna mahāpajāpatiṁ gotamiṁ etadavoca—“kissa tvaṁ, gotami, sūnehi pādehi rajokiṇṇena gattena dukkhī dummanā assumukhī rudamānā bahidvārakoṭṭhake ṭhitā”ti?
“Tathā hi pana, bhante ānanda, na bhagavā anujānāti mātugāmassa tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajjan”ti.
“Tena hi tvaṁ, gotami, muhuttaṁ idheva tāva hohi, yāvāhaṁ bhagavantaṁ yācāmi mātugāmassa tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajjan”ti.
When the Buddha had stayed at Kapilavatthu for as long as he liked, he set out wandering toward Vesālī. When he eventually arrived, he stayed in the house with the peaked roof in the Great Wood.
In the meantime Mahāpajāpati shaved her hair, put on ocher robes, and set out for Vesālī together with a number of Sakyan women. When she eventually arrived, she went to the house with the peaked roof in the Great Wood. She then stood outside the gatehouse, sad and tearful, covered in dust, her feet swollen.
Venerable Ānanda saw her there and said to her, “Why are you standing outside the gatehouse like this?”
“Because, Venerable Ānanda, the Buddha doesn’t allow women to go forth.”
“Well then, Gotamī, please wait here for a moment while I ask the Buddha.”
Khi ấy, sau khi đã trú ngụ ở Kapilavatthu tùy theo ý thích, đức Thế Tôn lên đường du hành đến Vesālī. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã đi đến Vesālī. Tại nơi ấy, đức Thế Tôn trú ngụ ở Vesālī, trong Đại Lâm, tại ngôi giảng đường có nóc nhọn. Khi ấy, bà Mahāpajāpatī Gotamī cho cạo tóc, khoác y màu cà-sa, cùng với nhiều phụ nữ dòng Sakka lên đường đi đến Vesālī. Theo thứ tự, bà đã đi đến Vesālī, đến Đại Lâm, đến ngôi giảng đường có nóc nhọn. Bấy giờ, bà Mahāpajāpatī Gotamī với đôi chân sưng vù, thân thể lấm bụi, buồn rầu, thất vọng, mặt đẫm lệ, khóc lóc, đứng ở bên ngoài cổng vòm. Tôn giả Ānanda đã nhìn thấy bà Mahāpajāpatī Gotamī với đôi chân sưng vù, thân thể lấm bụi, buồn rầu, thất vọng, mặt đẫm lệ, khóc lóc, đang đứng ở bên ngoài cổng vòm. Sau khi nhìn thấy, ngài nói với bà Mahāpajāpatī Gotamī điều này: – ‘Này bà Gotamī, vì sao bà lại với đôi chân sưng vù, thân thể lấm bụi, buồn rầu, thất vọng, mặt đẫm lệ, khóc lóc, đứng ở bên ngoài cổng vòm?’ – ‘Thưa ngài Ānanda, quả thật là như vậy, vì đức Thế Tôn không cho phép người nữ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Giáo pháp và Giới luật đã được đức Như Lai tuyên thuyết.’ – ‘Nếu vậy, này bà Gotamī, bà hãy ở yên tại đây một lát, trong khi tôi đi thỉnh cầu đức Thế Tôn về việc người nữ được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Giáo pháp và Giới luật đã được đức Như Lai tuyên thuyết.’
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca—“esā, bhante, mahāpajāpati gotamī sūnehi pādehi rajokiṇṇena gattena dukkhī dummanā assumukhī rudamānā bahidvārakoṭṭhake ṭhitā—‘na bhagavā anujānāti mātugāmassa tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajjan’ti. Sādhu, bhante, labheyya mātugāmo tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajjan”ti.
“Alaṁ, ānanda, mā te rucci mātugāmassa tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajjā”ti.
Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca—“sādhu, bhante, labheyya mātugāmo tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajjan”ti. “Alaṁ, ānanda, mā te rucci mātugāmassa tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajjā”ti.
Venerable Ānanda went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “Sir, Mahāpajāpati Gotamī is standing outside the gatehouse, sad and tearful, covered in dust, her feet swollen. She says you won’t allow women to go forth. Sir, please allow women to go forth.”
“Let it be, Ānanda, don’t pursue this idea.”
A second time and a third time he asked the same question and got the same reply.
Khi ấy, tôn giả Ānanda đi đến nơi đức Thế Tôn đang ngự; sau khi đến, ngài đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi một bên, tôn giả Ānanda bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch ngài, bà Mahāpajāpatī Gotamī này với đôi chân sưng vù, thân thể lấm bụi, buồn rầu, thất vọng, mặt đẫm lệ, khóc lóc, đang đứng ở bên ngoài cổng vòm – vì nghĩ rằng: ‘Đức Thế Tôn không cho phép người nữ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Giáo pháp và Giới luật đã được đức Như Lai tuyên thuyết.’ Bạch ngài, thật là tốt đẹp, mong rằng người nữ được phép xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Giáo pháp và Giới luật đã được đức Như Lai tuyên thuyết.’ – ‘Thôi đi, Ānanda, ông chớ có ưa thích việc người nữ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Giáo pháp và Giới luật đã được đức Như Lai tuyên thuyết.’ Lần thứ nhì... Lần thứ ba, tôn giả Ānanda bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch ngài, thật là tốt đẹp, mong rằng người nữ được phép xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Giáo pháp và Giới luật đã được đức Như Lai tuyên thuyết.’ – ‘Thôi đi, Ānanda, ông chớ có ưa thích việc người nữ xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Giáo pháp và Giới luật đã được đức Như Lai tuyên thuyết.’
Atha kho āyasmā ānando—“na bhagavā anujānāti mātugāmassa tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajjaṁ; yannūnāhaṁ aññenapi pariyāyena bhagavantaṁ yāceyyaṁ mātugāmassa tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajjan”ti. Atha kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca—“bhabbo nu kho, bhante, mātugāmo tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajitvā sotāpattiphalaṁ vā sakadāgāmiphalaṁ vā anāgāmiphalaṁ vā arahattaphalaṁ vā sacchikātun”ti?
“Bhabbo, ānanda, mātugāmo tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajitvā sotāpattiphalampi sakadāgāmiphalampi anāgāmiphalampi arahattaphalampi sacchikātun”ti.
“Sace, bhante, bhabbo mātugāmo tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajitvā sotāpattiphalampi sakadāgāmiphalampi anāgāmiphalampi arahattaphalampi sacchikātuṁ; bahūpakārā, bhante, mahāpajāpati gotamī bhagavato mātucchā āpādikā, posikā, khīrassa dāyikā, bhagavantaṁ janettiyā kālaṅkatāya thaññaṁ pāyesi; sādhu, bhante, labheyya mātugāmo tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajjan”ti.
Ānanda thought, “The Buddha doesn’t allow women to go forth. What if I try another approach?” He then said, “If women were allowed to go forth, would they be capable of realizing the fruit of streamentry, the fruit of once-returning, the fruit of non-returning, and the fruit of perfection?”
“Yes, they would.”
“If that’s so, sir, and considering that Mahāpajāpati has been very helpful to you—she’s your aunt who nurtured you, brought you up, and breastfed you when your own mother died—please allow women to go forth.”
Bấy giờ, Tôn giả Ānanda suy nghĩ: ‘Thế Tôn không cho phép người nữ được xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Giáo Pháp và Giới Luật do Như Lai tuyên thuyết. Vậy ta hãy thử dùng một phương cách khác để thỉnh cầu Thế Tôn cho phép người nữ được xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Giáo Pháp và Giới Luật do Như Lai tuyên thuyết.’ Bấy giờ, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, người nữ sau khi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Giáo Pháp và Giới Luật do Như Lai tuyên thuyết, có khả năng chứng ngộ quả Tu-đà-hoàn, hoặc quả Tư-đà-hàm, hoặc quả A-na-hàm, hoặc quả A-la-hán không?’ ‘Này Ānanda, người nữ sau khi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Giáo Pháp và Giới Luật do Như Lai tuyên thuyết, có khả năng chứng ngộ quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, và quả A-la-hán.’ ‘Bạch Thế Tôn, nếu người nữ sau khi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Giáo Pháp và Giới Luật do Như Lai tuyên thuyết, có khả năng chứng ngộ quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, và quả A-la-hán; bạch Thế Tôn, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã có công ơn rất lớn đối với Thế Tôn, là dì mẫu, là người nuôi dưỡng, là người cho bú sữa. Khi mẫu thân của Thế Tôn qua đời, bà đã cho Thế Tôn bú sữa của mình. Lành thay, bạch Thế Tôn, mong rằng người nữ được phép xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Giáo Pháp và Giới Luật do Như Lai tuyên thuyết.’
2. Aṭṭhagarudhamma
2. The eight important principles
Tám Trọng Pháp
“Sace, ānanda, mahāpajāpati gotamī aṭṭha garudhamme paṭiggaṇhāti, sāvassā. Hotu upasampadā.
“Ānanda, if Mahāpajāpati accepts these eight important principles, that will be her full ordination:
403. ‘Này Ānanda, nếu Mahāpajāpatī Gotamī chấp nhận tám trọng pháp, thì sự chấp nhận ấy chính là lễ thọ cụ túc giới của bà.
- Vassasatūpasampannāya bhikkhuniyā tadahupasampannassa bhikkhuno abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ kātabbaṁ.
- A nun who has been fully ordained for a hundred years should bow down to a monk who was given the full ordination on that very day, and she should stand up for him, raise her joined palms to him, and do acts of respect toward him.
‘Một vị tỳ-khưu-ni, dù đã thọ cụ túc giới một trăm năm, phải đảnh lễ, đứng dậy đón chào, chắp tay, và thực hiện các hành vi tôn kính đối với một vị tỳ-khưu vừa mới thọ cụ túc giới trong ngày hôm đó. Pháp này cũng phải được tôn trọng, kính ngưỡng, quý mến, đảnh lễ, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
‘Một vị tỳ-khưu-ni không được an cư mùa mưa tại một trú xứ không có tỳ-khưu. Pháp này cũng phải được tôn trọng, kính ngưỡng, quý mến, đảnh lễ, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
‘Một vị tỳ-khưu-ni không được an cư mùa mưa tại một trú xứ không có tỳ-khưu. Pháp này cũng phải được tôn trọng, kính ngưỡng, quý mến, đảnh lễ, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
‘Mỗi nửa tháng, một vị tỳ-khưu-ni phải mong đợi hai việc từ Tăng chúng tỳ-khưu: hỏi về ngày Bố-tát và đến để thọ nhận lời giáo giới. Pháp này cũng phải được tôn trọng, kính ngưỡng, quý mến, đảnh lễ, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
Sace, ānanda, mahāpajāpati gotamī ime aṭṭha garudhamme paṭiggaṇhāti, sāvassā hotu upasampadā”ti.
Atha kho āyasmā ānando bhagavato santike aṭṭha garudhamme uggahetvā yena mahāpajāpati gotamī tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā mahāpajāpatiṁ gotamiṁ etadavoca—
Ānanda, if Mahāpajāpati accepts these eight important principles, that will be her full ordination.”
After learning these eight important principles from the Buddha, Ānanda went to Mahāpajāpati and said,
‘Sau khi an cư mùa mưa, một vị tỳ-khưu-ni phải thỉnh mời sự chỉ lỗi (làm lễ Pavāraṇā) trước cả hai Tăng chúng dựa trên ba trường hợp: những gì đã được thấy, những gì đã được nghe, hoặc những gì bị nghi ngờ. Pháp này cũng phải được tôn trọng, kính ngưỡng, quý mến, đảnh lễ, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
“Này Gotamī, nếu bà chấp nhận tám Bát Kỉnh Pháp này, thì chính sự chấp nhận ấy sẽ là lễ cụ túc giới của bà.”
Na bhikkhuniyā abhikkhuke āvāse vassaṁ vasitabbaṁ. Ayampi dhammo sakkatvā garukatvā mānetvā pūjetvā yāvajīvaṁ anatikkamanīyo.
Anvaddhamāsaṁ bhikkhuniyā bhikkhusaṅghato dve dhammā paccāsīsitabbā—uposathapucchakañca, ovādūpasaṅkamanañca. Ayampi dhammo sakkatvā garukatvā mānetvā pūjetvā yāvajīvaṁ anatikkamanīyo.
Vassaṁvuṭṭhāya bhikkhuniyā ubhatosaṅghe tīhi ṭhānehi pavāretabbaṁ—
“Vị tỳ-khưu-ni không được mắng nhiếc, không được phỉ báng vị tỳ-khưu vì bất cứ lý do nào. Pháp này cũng vậy, phải được tôn trọng, quý trọng, tôn kính, cúng dường, và không được vượt qua cho đến trọn đời.
Garudhammaṁ ajjhāpannāya bhikkhuniyā ubhatosaṅghe pakkhamānattaṁ caritabbaṁ. Ayampi dhammo sakkatvā garukatvā mānetvā pūjetvā yāvajīvaṁ anatikkamanīyo.
‘Một vị tỳ-khưu-ni đã phạm một trọng pháp phải thực hành pháp hành phạt mānatta trong nửa tháng trước cả hai Tăng chúng. Pháp này cũng phải được tôn trọng, kính ngưỡng, quý mến, đảnh lễ, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
Dve vassāni chasu dhammesu sikkhitasikkhāya sikkhamānāya ubhatosaṅghe upasampadā pariyesitabbā. Ayampi dhammo sakkatvā garukatvā mānetvā pūjetvā yāvajīvaṁ anatikkamanīyo.
Na bhikkhuniyā kenaci pariyāyena bhikkhu akkositabbo paribhāsitabbo. Ayampi dhammo sakkatvā garukatvā mānetvā pūjetvā yāvajīvaṁ anatikkamanīyo.
‘Một vị thức-xoa-ma-na đã tu tập trong sáu pháp trong hai năm phải tìm cầu lễ thọ cụ túc giới từ cả hai Tăng chúng. Pháp này cũng phải được tôn trọng, kính ngưỡng, quý mến, đảnh lễ, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
Ajjatagge ovaṭo bhikkhunīnaṁ bhikkhūsu vacanapatho, anovaṭo bhikkhūnaṁ bhikkhunīsu vacanapatho. Ayampi dhammo sakkatvā garukatvā mānetvā pūjetvā yāvajīvaṁ anatikkamanīyo.
Sace kho tvaṁ, gotami, ime aṭṭha garudhamme paṭiggaṇheyyāsi, sāva te bhavissati upasampadā”ti.
“Kể từ hôm nay, con đường lời nói của các tỳ-khưu-ni đối với các tỳ-khưu bị ngăn cấm; con đường lời nói của các tỳ-khưu đối với các tỳ-khưu-ni không bị ngăn cấm. Pháp này cũng vậy, phải được tôn trọng, quý trọng, tôn kính, cúng dường, và không được vượt qua cho đến trọn đời.
“Seyyathāpi, bhante ānanda, itthī vā puriso vā daharo, yuvā, maṇḍanakajātiko sīsaṁnahāto uppalamālaṁ vā vassikamālaṁ vā atimuttakamālaṁ vā labhitvā ubhohi hatthehi paṭiggahetvā uttamaṅge sirasmiṁ patiṭṭhāpeyya; evameva kho ahaṁ, bhante, ānanda ime aṭṭha garudhamme paṭiggaṇhāmi yāvajīvaṁ anatikkamanīye”ti.
She replied, “Just as a young woman or man—someone fond of adornments, who has just washed their hair—would receive a garland of water lilies, jasmine, or sandan flowers with both hands and place it on their head, so too, do I receive these eight important principles, not to be breached for life.”
“Ví như, bạch ngài Ānanda, người nữ hay người nam còn trẻ, tuổi thanh xuân, có tính thích trang điểm, sau khi gội đầu, nhận được vòng hoa sen xanh, hoặc vòng hoa lài, hoặc vòng hoa atimuttaka, rồi dùng hai tay đón nhận và đặt lên đầu, là phần cao quý nhất; cũng y như thế ấy, bạch ngài Ānanda, con xin chấp nhận tám Bát Kỉnh Pháp này, không thể vượt qua cho đến trọn đời.”
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca—“paṭiggahitā, bhante, mahāpajāpatiyā gotamiyā aṭṭha garudhammā, upasampannā bhagavato mātucchā”ti.
Ānanda then went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “Sir, Mahāpajāpati has accepted the eight important principles. Your aunt is now ordained.”
Rồi Tôn giả Ānanda đi đến chỗ đức Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã chấp nhận tám Bát Kỉnh Pháp, người dì của đức Thế Tôn đã được cụ túc giới.”
“Sace, ānanda, nālabhissa mātugāmo tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajjaṁ, ciraṭṭhitikaṁ, ānanda, brahmacariyaṁ abhavissa, vassasahassaṁ saddhammo tiṭṭheyya. Yato ca kho, ānanda, mātugāmo tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajito, na dāni, ānanda, brahmacariyaṁ ciraṭṭhitikaṁ bhavissati. Pañceva dāni, ānanda, vassasatāni saddhammo ṭhassati.
Seyyathāpi, ānanda, yāni kānici kulāni bahutthikāni appapurisakāni, tāni suppadhaṁsiyāni honti corehi kumbhathenakehi; evameva kho, ānanda, yasmiṁ dhammavinaye labhati mātugāmo agārasmā anagāriyaṁ pabbajjaṁ, na taṁ brahmacariyaṁ ciraṭṭhitikaṁ hoti.
“Ānanda, if women had not been allowed to go forth on this spiritual path proclaimed by the Buddha, the spiritual life would have lasted a long time—the true Teaching would have lasted a thousand years. But now that women have been allowed to go forth, the spiritual life won’t last long—the true Teaching will only last five hundred years.
Just as families with many women and few men are easily robbed by thieves, so too, the spiritual life doesn’t last long on a spiritual path where women are allowed to go forth.
“Này Ānanda, nếu người nữ không được xuất gia từ đời sống gia đình vào đời sống không gia đình trong Giáo pháp và Giới luật do Như Lai tuyên thuyết, thì này Ānanda, phạm hạnh đã được tồn tại lâu dài, diệu pháp đã được tồn tại một ngàn năm. Và này Ānanda, vì rằng người nữ đã được xuất gia từ đời sống gia đình vào đời sống không gia đình trong Giáo pháp và Giới luật do Như Lai tuyên thuyết, nên nay, này Ānanda, phạm hạnh sẽ không tồn tại lâu dài. Nay, này Ānanda, diệu pháp sẽ chỉ tồn tại năm trăm năm.
Seyyathāpi, ānanda, sampanne sālikkhette setaṭṭikā nāma rogajāti nipatati, evaṁ taṁ sālikkhettaṁ na ciraṭṭhitikaṁ hoti; evameva kho, ānanda, yasmiṁ dhammavinaye labhati mātugāmo agārasmā anagāriyaṁ pabbajjaṁ, na taṁ brahmacariyaṁ ciraṭṭhitikaṁ hoti.
Just as a ripe field of rice affected by whiteheads won’t last long, so too, the spiritual life doesn’t last long on a spiritual path where women are allowed to go forth.
“Ví như, này Ānanda, trên một cánh đồng lúa chín, một loại bệnh tên là setaṭṭikā (bệnh xương trắng) rơi xuống, như vậy cánh đồng lúa ấy không tồn tại lâu dài; cũng y như thế ấy, này Ānanda, trong Giáo pháp và Giới luật nào mà người nữ được xuất gia từ đời sống gia đình vào đời sống không gia đình, phạm hạnh ấy không tồn tại lâu dài.
Seyyathāpi, ānanda, sampanne ucchukkhette mañjiṭṭhikā nāma rogajāti nipatati, evaṁ taṁ ucchukkhettaṁ na ciraṭṭhitikaṁ hoti; evameva kho, ānanda, yasmiṁ dhammavinaye labhati mātugāmo agārasmā anagāriyaṁ pabbajjaṁ, na taṁ brahmacariyaṁ ciraṭṭhitikaṁ hoti.
Just as a ripe field of sugarcane attacked by red rot won’t last long, so too, the spiritual life doesn’t last long on a spiritual path where women are allowed to go forth.
“Ví như, này Ānanda, những gia tộc nào có nhiều phụ nữ, ít đàn ông, thì dễ bị những tên trộm, những kẻ trộm đột nhập phá hoại; cũng y như thế ấy, này Ānanda, trong Giáo pháp và Giới luật nào mà người nữ được xuất gia từ đời sống gia đình vào đời sống không gia đình, phạm hạnh ấy không tồn tại lâu dài.
Seyyathāpi, ānanda, puriso mahato taḷākassa paṭikacceva āḷiṁ bandheyya yāvadeva udakassa anatikkamanāya; evameva kho, ānanda, mayā paṭikacceva bhikkhunīnaṁ aṭṭha garudhammā paññattā yāvajīvaṁ anatikkamanīyā”ti.
Just as a man might, as a safeguard, surround a large pool with an embankment to stop the water from overflowing, so too, have I, as a safeguard, laid down the eight important principles, not to be breached for life.”
“Ví như, này Ānanda, một người đàn ông xây một con đê cho một hồ nước lớn từ trước chỉ để cho nước không tràn qua; cũng y như thế ấy, này Ānanda, Ta đã chế định từ trước cho các tỳ-khưu-ni tám Bát Kỉnh Pháp, không thể vượt qua cho đến trọn đời.”
Bhikkhunīnaṁ aṭṭha garudhammā niṭṭhitā.
The eight important principles for nuns are finished.
Tám Bát Kỉnh Pháp của các tỳ-khưu-ni đã chấm dứt.
3. Bhikkhunīupasampadānujānana
3. The allowance for the full ordination of nuns
Sự cho phép lễ cụ túc giới cho tỳ-khưu-ni
Atha kho mahāpajāpati gotamī yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho mahāpajāpati gotamī bhagavantaṁ etadavoca—“kathāhaṁ, bhante, imāsu sākiyānīsu paṭipajjāmī”ti? Atha kho bhagavā mahāpajāpatiṁ gotamiṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho mahāpajāpati gotamī bhagavatā dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, bhikkhūhi bhikkhuniyo upasampādetun”ti.
Mahāpajāpati went to the Buddha, bowed down, and said, “Sir, what should I do with these Sakyan women?” The Buddha then instructed, inspired, and gladdened her with a teaching, after which she bowed down, circumambulated him with her right side toward him, and left. Soon afterwards the Buddha gave a Teaching and addressed the monks:
“I allow monks to give the full ordination to nuns.”
404. Rồi bà Mahāpajāpatī Gotamī đi đến chỗ đức Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Sau khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, con phải thực hành như thế nào đối với những phụ nữ dòng Sākya này?” Rồi đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho hăng hái, làm cho phấn khởi bà Mahāpajāpatī Gotamī bằng một bài pháp thoại. Rồi bà Mahāpajāpatī Gotamī, sau khi được đức Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho hăng hái, làm cho phấn khởi bằng một bài pháp thoại, đã đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi lui ra. Rồi đức Thế Tôn, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, sau khi thuyết một bài pháp thoại, đã gọi các tỳ-khưu: “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép các tỳ-khưu làm lễ cụ túc giới cho các tỳ-khưu-ni.”
Atha kho tā bhikkhuniyo mahāpajāpatiṁ gotamiṁ etadavocuṁ—“ayyā anupasampannā, mayañcamhā upasampannā; evañhi bhagavatā paññattaṁ bhikkhūhi bhikkhuniyo upasampādetabbā”ti.
Atha kho mahāpajāpati gotamī yenāyasmā ānando tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho mahāpajāpati gotamī āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca—“imā maṁ, bhante ānanda, bhikkhuniyo evamāhaṁsu—‘ayyā anupasampannā, mayañcamhā upasampannā; evañhi bhagavatā paññattaṁ bhikkhūhi bhikkhuniyo upasampādetabbā’”ti.
Soon afterwards those nuns said to Mahāpajāpati, “We’re ordained, but you’re not, for the Buddha has laid down that monks should give the full ordination to nuns.”
Mahāpajāpati then went to Venerable Ānanda, bowed down, and told him what the Sakyan women had said.
Rồi các tỳ-khưu-ni ấy đã nói với bà Mahāpajāpatī Gotamī điều này: “Thưa bà, bà chưa được cụ túc giới, còn chúng tôi đã được cụ túc giới; vì đức Thế Tôn đã chế định rằng các tỳ-khưu-ni phải được các tỳ-khưu làm lễ cụ túc giới.” Rồi bà Mahāpajāpatī Gotamī đi đến chỗ Tôn giả Ānanda, sau khi đến, đã đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi đứng một bên. Sau khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã bạch với Tôn giả Ānanda điều này: “Bạch ngài Ānanda, các tỳ-khưu-ni này đã nói với con như vầy: ‘Thưa bà, bà chưa được cụ túc giới, còn chúng tôi đã được cụ túc giới; vì đức Thế Tôn đã chế định rằng các tỳ-khưu-ni phải được các tỳ-khưu làm lễ cụ túc giới.’”
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca—“mahāpajāpati, bhante, gotamī evamāha—‘imā maṁ, bhante ānanda, bhikkhuniyo evamāhaṁsu—ayyā anupasampannā, mayañcamhā upasampannā; evañhi bhagavatā paññattaṁ bhikkhūhi bhikkhuniyo upasampādetabbā’”ti.
And Ānanda went to the Buddha, bowed, sat down, and told him what Mahāpajāpati had said.
Rồi Tôn giả Ānanda đi đến chỗ đức Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, bà Mahāpajāpatī Gotamī nói như vầy: ‘Bạch ngài Ānanda, các tỳ-khưu-ni này đã nói với con như vầy: ‘Thưa bà, bà chưa được cụ túc giới, còn chúng tôi đã được cụ túc giới; vì đức Thế Tôn đã chế định rằng các tỳ-khưu-ni phải được các tỳ-khưu làm lễ cụ túc giới.’’”
“Yadaggena, ānanda, mahāpajāpatiyā gotamiyā aṭṭha garudhammā paṭiggahitā, tadeva sā upasampannā”ti.
The Buddha replied, “Mahāpajāpati was ordained from the moment she accepted the eight important principles.”
“Này Ānanda, kể từ ngày Mahāpajāpati Gotamī đã chấp nhận tám Trọng Pháp, chính ngày ấy bà đã được cụ túc giới.”
Atha kho mahāpajāpati gotamī yenāyasmā ānando tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho mahāpajāpati gotamī āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca—“ekāhaṁ, bhante ānanda, bhagavantaṁ varaṁ yācāmi. Sādhu, bhante, bhagavā anujāneyya bhikkhūnañca bhikkhunīnañca yathāvuḍḍhaṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikamman”ti.
On another occasion Mahāpajāpati went to Venerable Ānanda, bowed down, and said, “Venerable Ānanda, I wish to ask the Buddha for a favor: ‘Sir, please allow the monks and nuns to bow down to one another according to seniority, and likewise to rise up for one another, raise their joined palms to one another, and do acts of respect toward one another according to seniority.’”
405. Rồi Mahāpajāpati Gotamī đi đến chỗ trưởng lão Ānanda, sau khi đến, đã đảnh lễ trưởng lão Ānanda rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Mahāpajāpati Gotamī đã nói với trưởng lão Ānanda điều này: – Thưa ngài Ānanda, tôi xin Thế Tôn một ân huệ. Lành thay, thưa ngài, nếu Thế Tôn cho phép các tỳ khưu và tỳ khưu ni việc đảnh lễ, đứng dậy đón rước, chắp tay, và các hành vi tôn kính theo hạ lạp.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca—“mahāpajāpati, bhante, gotamī evamāha—‘ekāhaṁ, bhante ānanda, bhagavantaṁ varaṁ yācāmi. Sādhu, bhante, bhagavā anujāneyya bhikkhūnañca bhikkhunīnañca yathāvuḍḍhaṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikamman’”ti.
Venerable Ānanda went to the Buddha, bowed, sat down, and told the Buddha what Mahāpajāpati had said.
Rồi trưởng lão Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi một bên, trưởng lão Ānanda đã bạch với Thế Tôn điều này: – Bạch Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotamī đã nói như sau: ‘Thưa ngài Ānanda, tôi xin Thế Tôn một ân huệ. Lành thay, thưa ngài, nếu Thế Tôn cho phép các tỳ khưu và tỳ khưu ni việc đảnh lễ, đứng dậy đón rước, chắp tay, và các hành vi tôn kính theo hạ lạp.’”
“Aṭṭhānametaṁ, ānanda, anavakāso, yaṁ tathāgato anujāneyya mātugāmassa abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ. Imehi nāma, ānanda, aññatitthiyā durakkhātadhammā mātugāmassa abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ na karissanti; kimaṅgaṁ pana tathāgato anujānissati mātugāmassa abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikamman”ti?
The Buddha replied, “It’s impossible, Ānanda, that I would allow bowing down to women, or rising up for them, raising one’s joined palms to them, or doing acts of respect toward them. Even the monastics of other religions with their flawed teachings don’t do these things. So how, then, could I allow them?”
– Này Ānanda, đây không phải là trường hợp, không phải là cơ hội để Như Lai cho phép việc đảnh lễ, đứng dậy đón rước, chắp tay, và các hành vi tôn kính đối với người nữ. Này Ānanda, ngay cả những người ngoại đạo có giáo pháp được thuyết giảng tồi tệ cũng sẽ không thực hiện việc đảnh lễ, đứng dậy đón rước, chắp tay, và các hành vi tôn kính đối với người nữ; huống nữa là Như Lai lại cho phép việc đảnh lễ, đứng dậy đón rước, chắp tay, và các hành vi tôn kính đối với người nữ?
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, mātugāmassa abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ kātabbaṁ. Yo kareyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
The Buddha then gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t bow down to a woman, or rise up for, raise your joined palms to, or do acts of respect toward a woman. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Rồi Thế Tôn, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, sau khi thuyết một bài pháp thoại, đã gọi các tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, không được thực hiện việc đảnh lễ, đứng dậy đón rước, chắp tay, và các hành vi tôn kính đối với người nữ. Vị nào làm vậy, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Atha kho mahāpajāpati gotamī yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho mahāpajāpati gotamī bhagavantaṁ etadavoca—“yāni tāni, bhante, bhikkhunīnaṁ sikkhāpadāni bhikkhūhi sādhāraṇāni, kathaṁ mayaṁ, bhante, tesu sikkhāpadesu paṭipajjāmā”ti?
“Yāni tāni, gotami, bhikkhunīnaṁ sikkhāpadāni bhikkhūhi sādhāraṇāni, yathā bhikkhū sikkhanti tathā tesu sikkhāpadesu sikkhathā”ti.
“Yāni pana tāni, bhante, bhikkhunīnaṁ sikkhāpadāni bhikkhūhi asādhāraṇāni, kathaṁ mayaṁ, bhante, tesu sikkhāpadesu paṭipajjāmā”ti?
“Yāni tāni, gotami, bhikkhunīnaṁ sikkhāpadāni bhikkhūhi asādhāraṇāni, yathāpaññattesu sikkhāpadesu sikkhathā”ti.
On another occasion Mahāpajāpati went to the Buddha, bowed down, and said, “Sir, how should we practice those training rules that the nuns have in common with the monks?”
“You should practice them in the same way as the monks do.”
“And how should we practice those training rules that the nuns don’t have in common with the monks?”
“You should practice them as they have been laid down.”
Rồi Mahāpajāpati Gotamī đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Mahāpajāpati Gotamī đã bạch với Thế Tôn điều này: – Bạch Thế Tôn, đối với những học giới của tỳ khưu ni mà chung với các tỳ khưu, chúng con phải thực hành những học giới ấy như thế nào? – Này Gotamī, đối với những học giới của tỳ khưu ni mà chung với các tỳ khưu, các ngươi hãy học tập những học giới ấy giống như các tỳ khưu học tập. – Còn bạch Thế Tôn, đối với những học giới của tỳ khưu ni mà không chung với các tỳ khưu, chúng con phải thực hành những học giới ấy như thế nào? – Này Gotamī, đối với những học giới của tỳ khưu ni mà không chung với các tỳ khưu, các ngươi hãy học tập những học giới ấy theo như đã được chế định.
Atha kho mahāpajāpati gotamī yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho mahāpajāpati gotamī bhagavantaṁ etadavoca—“sādhu me, bhante, bhagavā saṅkhittena dhammaṁ desetu, yamahaṁ bhagavato dhammaṁ sutvā ekā vūpakaṭṭhā appamattā ātāpinī pahitattā vihareyyan”ti.
“Ye kho tvaṁ, gotami, dhamme jāneyyāsi—ime dhammā sarāgāya saṁvattanti no virāgāya, saññogāya saṁvattanti no visaññogāya, ācayāya saṁvattanti no apacayāya, mahicchatāya saṁvattanti no appicchatāya, asantuṭṭhiyā saṁvattanti no santuṭṭhiyā, saṅgaṇikāya saṁvattanti no pavivekāya, kosajjāya saṁvattanti no vīriyārambhāya, dubbharatāya saṁvattanti no subharatāya; ekaṁsena, gotami, dhāreyyāsi—neso dhammo, neso vinayo, netaṁ satthusāsananti. Ye ca kho tvaṁ, gotami, dhamme jāneyyāsi—ime dhammā virāgāya saṁvattanti no sarāgāya, visaññogāya saṁvattanti no saññogāya, apacayāya saṁvattanti no ācayāya, appicchatāya saṁvattanti no mahicchatāya, santuṭṭhiyā saṁvattanti no asantuṭṭhiyā, pavivekāya saṁvattanti no saṅgaṇikāya, vīriyārambhāya saṁvattanti no kosajjāya, subharatāya saṁvattanti no dubbharatāya; ekaṁsena, gotami, dhāreyyāsi—eso dhammo, eso vinayo, etaṁ satthusāsanan”ti.
On another occasion Mahāpajāpati went to the Buddha, bowed down, and said, “Sir, please give me a teaching in brief. I’ll then stay by myself, secluded, heedful, energetic, and diligent.”
“Those things, Gotami, that you know lead to passion, not to dispassion; to bondage, not to freedom from bondage; to an increase in things, not to a reduction in things; to great desires, not fewness of desires; to discontent, not to contentment; to socializing, not to seclusion; to laziness, not to being energetic; to being burdensome, not to being unburdensome—you should definitely regard them as not the Teaching, not the training, not the Teacher’s instruction. But those things that you know lead to dispassion, not to passion; to freedom from bondage, not to bondage; to a reduction in things, not to an increase in things; to fewness of desires, not to great desires; to contentment, not to discontent; to seclusion, not to socializing; to being energetic, not to laziness; to being unburdensome, not to being unburdensome—you should definitely regard them as the Teaching, the training, the Teacher’s instruction.”
406. Rồi Mahāpajāpati Gotamī đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Mahāpajāpati Gotamī đã bạch với Thế Tôn điều này: – Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp cho con một cách tóm tắt, để sau khi nghe pháp từ Thế Tôn, con có thể sống một mình, xa lánh, không buông lung, nhiệt tâm, tinh cần. – Này Gotamī, những pháp nào bà biết rằng: ‘Những pháp này dẫn đến tham ái, không dẫn đến ly tham; dẫn đến trói buộc, không dẫn đến thoát ly; dẫn đến tích lũy, không dẫn đến giảm thiểu; dẫn đến tham vọng lớn, không dẫn đến ít ham muốn; dẫn đến không biết đủ, không dẫn đến biết đủ; dẫn đến hội chúng, không dẫn đến viễn ly; dẫn đến lười biếng, không dẫn đến tinh tấn; dẫn đến khó nuôi dưỡng, không dẫn đến dễ nuôi dưỡng,’ thì này Gotamī, bà hãy dứt khoát ghi nhớ rằng: ‘Đây không phải là Pháp, đây không phải là Luật, đây không phải là lời dạy của Bậc Đạo Sư.’ Và này Gotamī, những pháp nào bà biết rằng: ‘Những pháp này dẫn đến ly tham, không dẫn đến tham ái; dẫn đến thoát ly, không dẫn đến trói buộc; dẫn đến giảm thiểu, không dẫn đến tích lũy; dẫn đến ít ham muốn, không dẫn đến tham vọng lớn; dẫn đến biết đủ, không dẫn đến không biết đủ; dẫn đến viễn ly, không dẫn đến hội chúng; dẫn đến tinh tấn, không dẫn đến lười biếng; dẫn đến dễ nuôi dưỡng, không dẫn đến khó nuôi dưỡng,’ thì này Gotamī, bà hãy dứt khoát ghi nhớ rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.’”
Tena kho pana samayena bhikkhunīnaṁ pātimokkhaṁ na uddisīyati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “anujānāmi, bhikkhave, bhikkhunīnaṁ pātimokkhaṁ uddisitun”ti. Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kena nu kho bhikkhunīnaṁ pātimokkhaṁ uddisitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhūhi bhikkhunīnaṁ pātimokkhaṁ uddisitun”ti.
At that time the Monastic Code was not being recited to the nuns. They told the Buddha. … “The Monastic Code should be recited to the nuns.” The nuns thought, “Who should recite the Monastic Code to the nuns?” They told the Buddha. “The monks should recite the Monastic Code to the nuns.”
407. Vào lúc bấy giờ, Pātimokkha (giới bổn) không được tụng đọc cho các tỳ khưu ni. Họ đã trình báo việc này lên Thế Tôn... (vân vân)... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép tụng đọc Pātimokkha cho các tỳ khưu ni. Bấy giờ, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ: – Vậy ai sẽ là người tụng đọc Pātimokkha cho các tỳ khưu ni? Họ đã trình báo việc này lên Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép các tỳ khưu tụng đọc Pātimokkha cho các tỳ khưu ni.
Tena kho pana samayena bhikkhū bhikkhunupassayaṁ upasaṅkamitvā bhikkhunīnaṁ pātimokkhaṁ uddisanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“jāyāyo imā imesaṁ, jāriyo imā imesaṁ, idāni ime imāhi saddhiṁ abhiramissantī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhūhi bhikkhunīnaṁ pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Yo uddiseyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhunīhi bhikkhunīnaṁ pātimokkhaṁ uddisitun”ti.
Bhikkhuniyo na jānanti—“evaṁ pātimokkhaṁ uddisitabban”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhūhi bhikkhunīnaṁ ācikkhituṁ—‘evaṁ pātimokkhaṁ uddiseyyāthā’”ti.
Soon afterwards the monks went to the nunnery to recite the Monastic Code. People complained and criticized them, “They’re their wives! They’re their mistresses! Now they’re going to enjoy themselves together.” They told the Buddha.
“Monks, you shouldn’t recite the Monastic Code to the nuns. If you do, you commit an offense of wrong conduct. Nuns should recite the Monastic Code to the nuns.”
The nuns did not know how to recite it. They told the Buddha. “The monks should tell the nuns how to recite the Monastic Code.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi đến trú xá của tỳ khưu ni và thuyết Pātimokkha cho các tỳ khưu ni. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: ‘Các vị ni này là vợ của các thầy này, các vị ni này là nhân tình của các thầy này, bây giờ các thầy này sẽ vui vẻ cùng với các vị ni này!’ Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) ‘Này các tỳ khưu, tỳ khưu không nên thuyết Pātimokkha cho tỳ khưu ni. Vị nào thuyết giảng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, Ta cho phép tỳ khưu ni thuyết Pātimokkha cho tỳ khưu ni.’ Các tỳ khưu ni không biết rằng: ‘Nên thuyết Pātimokkha như thế này.’ Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép các tỳ khưu chỉ dạy cho các tỳ khưu ni rằng: ‘Các vị nên thuyết Pātimokkha như thế này.’’
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo āpattiṁ na paṭikaronti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā āpatti na paṭikātabbā. Yā na paṭikareyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Bhikkhuniyo na jānanti—“evaṁ āpatti paṭikātabbā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhūhi bhikkhunīnaṁ ācikkhituṁ—‘evaṁ āpattiṁ paṭikareyyāthā’”ti. Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kena nu kho bhikkhunīnaṁ āpatti paṭiggahetabbā”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhūhi bhikkhunīnaṁ āpattiṁ paṭiggahetun”ti.
At that time the nuns did not make amends for their offenses. They told the Buddha.
“A nun should make amends for her offenses. If she doesn’t, she commits an offense of wrong conduct.”
The nuns did not know how to make amends. They told the Buddha. “The monks should tell the nuns how to make amends for an offense.” The monks thought, “Who should receive the confession of offenses from the nuns?” They told the Buddha. “The monks should receive the confession of offenses from the nuns.”
408. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni không thực hành việc sám tội. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) ‘Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không được không sám tội. Vị nào không sám hối thì phạm tội dukkaṭa.’ Các tỳ khưu ni không biết rằng: ‘Nên sám tội như thế này.’ Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép các tỳ khưu chỉ dạy cho các tỳ khưu ni rằng: ‘Các vị nên sám tội như thế này.’’ Bấy giờ, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ này: ‘Vậy ai nên tiếp nhận sự sám tội của các tỳ khưu ni?’ Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép các tỳ khưu tiếp nhận sự sám tội của các tỳ khưu ni.’
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo rathikāyapi byūhepi siṅghāṭakepi bhikkhuṁ passitvā pattaṁ bhūmiyaṁ nikkhipitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā āpattiṁ paṭikaronti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“jāyāyo imā imesaṁ, jāriyo imā imesaṁ, rattiṁ vimānetvā idāni khamāpentī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhūhi bhikkhunīnaṁ āpatti paṭiggahetabbā. Yo paṭiggaṇheyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhunīhi bhikkhunīnaṁ āpattiṁ paṭiggahetun”ti.
Bhikkhuniyo na jānanti—“evaṁ āpatti paṭiggahetabbā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhūhi bhikkhunīnaṁ ācikkhituṁ—‘evaṁ āpattiṁ paṭiggaṇheyyāthā’”ti.
Soon afterwards, when the nuns saw a monk on a street, in a cul-de-sac, or at an intersection, they would put down their bowls, arrange their upper robes over one shoulder, squat on their heels, raise their joined palms, and make amends for their offenses. People complained and criticized them, “They’re their wives! They’re their mistresses! Having offended them at night, they now ask for forgiveness.” They told the Buddha.
“Monks, you shouldn’t receive confessions from the nuns. If you do, you commit an offense of wrong conduct. Nuns should receive the confession of offenses from the nuns.”
The nuns did not know how to receive confessions. They told the Buddha. “The monks should tell the nuns how to receive confessions.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni khi thấy tỳ khưu ở trên đường phố, hoặc ở trong hẻm, hoặc ở ngã tư, liền đặt bát xuống đất, vắt thượng y qua một bên vai, ngồi xổm xuống, chắp tay lại, rồi thực hành việc sám tội. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: ‘Các vị ni này là vợ của các thầy này, các vị ni này là nhân tình của các thầy này, ban đêm đã làm điều sai quấy, bây giờ họ xin tha thứ.’ Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) ‘Này các tỳ khưu, tỳ khưu không nên tiếp nhận sự sám tội của tỳ khưu ni. Vị nào tiếp nhận thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép tỳ khưu ni tiếp nhận sự sám tội của tỳ khưu ni.’ Các tỳ khưu ni không biết rằng: ‘Nên tiếp nhận sự sám tội như thế này.’ Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép các tỳ khưu chỉ dạy cho các tỳ khưu ni rằng: ‘Các vị nên tiếp nhận sự sám tội như thế này.’’
Tena kho pana samayena bhikkhunīnaṁ kammaṁ na kariyati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhunīnaṁ kammaṁ kātun”ti. Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kena nu kho bhikkhunīnaṁ kammaṁ kātabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhūhi bhikkhunīnaṁ kammaṁ kātun”ti.
At that time the nuns’ legal procedures were not being done. They told the Buddha. “Monks, I allow the doing of the nuns’ legal procedures.” The monks thought, “Who should do the nuns’ procedures?” They told the Buddha. “The monks should do the nuns’ legal procedures.”
409. Vào lúc bấy giờ, việc yết-ma (kamma) chưa được thực hiện cho các tỳ khưu ni. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép thực hiện việc yết-ma cho các tỳ khưu ni.’ Bấy giờ, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ này: ‘Vậy ai nên thực hiện việc yết-ma cho các tỳ khưu ni?’ Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép các tỳ khưu thực hiện việc yết-ma cho các tỳ khưu ni.’
Tena kho pana samayena katakammā bhikkhuniyo rathikāyapi byūhepi siṅghāṭakepi bhikkhuṁ passitvā pattaṁ bhūmiyaṁ nikkhipitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā khamāpenti “evaṁ nūna kātabban”ti maññamānā. Manussā tatheva ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“jāyāyo imā imesaṁ, jāriyo imā imesaṁ, rattiṁ vimānetvā idāni khamāpentī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhūhi bhikkhunīnaṁ kammaṁ kātabbaṁ. Yo kareyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhunīhi bhikkhunīnaṁ kammaṁ kātun”ti.
Bhikkhuniyo na jānanti—“evaṁ kammaṁ kātabban”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhūhi bhikkhunīnaṁ ācikkhituṁ—‘evaṁ kammaṁ kareyyāthā’”ti.
Soon afterwards, when nuns who had had a legal procedure done against them saw a monk on a street, in a cul-de-sac, or at an intersection, they would put down their bowls, arrange their upper robes over one shoulder, squat on their heels, raise their joined palms, and ask for forgiveness, thinking, “This is the way to do it.” People complained and criticized them, “They’re their wives! They’re their mistresses! Having offended them at night, they now ask for forgiveness.” They told the Buddha.
“Monks, you shouldn’t do the nuns’ legal procedures. If you do, you commit an offense of wrong conduct. The nuns should do the nuns’ legal procedures.”
The nuns did not know how to do procedures. They told the Buddha. “The monks should tell the nuns how to do legal procedures.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni đã được làm yết-ma, khi thấy tỳ khưu ở trên đường phố, hoặc ở trong hẻm, hoặc ở ngã tư, nghĩ rằng ‘chắc là nên làm như thế này,’ liền đặt bát xuống đất, vắt thượng y qua một bên vai, ngồi xổm xuống, chắp tay lại, rồi xin tha thứ. Dân chúng cũng giống như trước, phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: ‘Các vị ni này là vợ của các thầy này, các vị ni này là nhân tình của các thầy này, ban đêm đã làm điều sai quấy, bây giờ họ xin tha thứ.’ Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) ‘Này các tỳ khưu, tỳ khưu không nên thực hiện việc yết-ma cho tỳ khưu ni. Vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép tỳ khưu ni thực hiện việc yết-ma cho tỳ khưu ni.’ Các tỳ khưu ni không biết rằng: ‘Nên thực hiện việc yết-ma như thế này.’ Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép các tỳ khưu chỉ dạy cho các tỳ khưu ni rằng: ‘Các vị nên thực hiện việc yết-ma như thế này.’’
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo saṅghamajjhe bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti. Na sakkonti taṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhūhi bhikkhunīnaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametun”ti.
On one occasion the nuns were arguing and disputing in the midst of the Sangha, attacking one another verbally, and they were not able to resolve that legal issue. They told the Buddha.
“I allow the monks to resolve the nuns’ legal issues.”
410. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni ở giữa Tăng chúng đã sanh ra cãi cọ, sanh ra tranh chấp, rơi vào tranh luận, sống đâm chọc lẫn nhau bằng những ngọn giáo miệng. Họ không thể dàn xếp được vụ tranh tụng ấy. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép các tỳ khưu dàn xếp vụ tranh tụng của các tỳ khưu ni.’
Tena kho pana samayena bhikkhū bhikkhunīnaṁ adhikaraṇaṁ vūpasamenti. Tasmiṁ kho pana adhikaraṇe vinicchiyamāne dissanti bhikkhuniyo kammappattāyopi āpattigāminiyopi. Bhikkhuniyo evamāhaṁsu—“sādhu, bhante, ayyāva bhikkhunīnaṁ kammaṁ karontu, ayyāva bhikkhunīnaṁ āpattiṁ paṭiggaṇhantu; evañhi bhagavatā paññattaṁ bhikkhūhi bhikkhunīnaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametabban”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhūhi bhikkhunīnaṁ kammaṁ āropetvā bhikkhunīnaṁ niyyādetuṁ—bhikkhunīhi bhikkhunīnaṁ kammaṁ kātuṁ, bhikkhūhi bhikkhunīnaṁ āpattiṁ āropetvā bhikkhunīnaṁ niyyādetuṁ, bhikkhunīhi bhikkhunīnaṁ āpattiṁ paṭiggahetun”ti.
Soon afterwards the monks were resolving a legal issue for the nuns. While they were discussing that legal issue, there were nuns who deserved to have a legal procedure done against them and who had committed an offense. The nuns said, “Venerables, please do the procedure against those nuns and receive their confession of offenses, for the Buddha has laid down that the nuns’ legal issues should be resolved by the monks.” They told the Buddha.
“Monks, I allow you to determine the nature of the nuns’ legal procedure, before handing it over to the nuns to do it. And I allow you to charge a nun with an offense, before handing it over to the nuns for them to receive the confession.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu dàn xếp vụ tranh tụng của các tỳ khưu ni. Trong khi vụ tranh tụng ấy đang được phân xử, có những tỳ khưu ni được thấy là đáng phải chịu yết-ma và cũng có những vị gần như phạm tội. Các tỳ khưu ni đã nói như sau: ‘Bạch các ngài, tốt lành thay, chính các ngài hãy thực hiện yết-ma cho các tỳ khưu ni, chính các ngài hãy tiếp nhận sự sám tội của các tỳ khưu ni; vì đức Thế Tôn đã quy định rằng các tỳ khưu nên dàn xếp vụ tranh tụng của các tỳ khưu ni.’ Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép các tỳ khưu sau khi xác định việc yết-ma cho các tỳ khưu ni thì giao lại cho các tỳ khưu ni — để các tỳ khưu ni thực hiện yết-ma cho các tỳ khưu ni; và Ta cho phép các tỳ khưu sau khi xác định tội cho các tỳ khưu ni thì giao lại cho các tỳ khưu ni — để các tỳ khưu ni tiếp nhận sự sám tội của các tỳ khưu ni.’
Tena kho pana samayena uppalavaṇṇāya bhikkhuniyā antevāsinī bhikkhunī satta vassāni bhagavantaṁ anubandhā hoti vinayaṁ pariyāpuṇantī. Tassā muṭṭhassatiniyā gahito gahito mussati. Assosi kho sā bhikkhunī—“bhagavā kira sāvatthiṁ gantukāmo”ti. Atha kho tassā bhikkhuniyā etadahosi—“ahaṁ kho satta vassāni bhagavantaṁ anubandhiṁ vinayaṁ pariyāpuṇantī. Tassā me muṭṭhassatiniyā gahito gahito mussati. Dukkaraṁ kho pana mātugāmena yāvajīvaṁ satthāraṁ anubandhituṁ. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Atha kho sā bhikkhunī bhikkhunīnaṁ etamatthaṁ ārocesi. Bhikkhuniyo bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesuṁ. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhūhi bhikkhunīnaṁ vinayaṁ vācetun”ti.
At that time a nun who was a pupil of the nun Uppalavaṇṇā had followed the Buddha around for seven years to learn the Monastic Law. But because of her absentmindedness, she repeatedly forgot what she had learned. When she heard that the Buddha wanted to go to Sāvatthī, she reflected on her absentmindedness and thought, “It’s hard for a woman to follow the Teacher around all her life. So, what should I do?” She told the nuns what she had thought, who in turn told the monks, who then told the Buddha. The Buddha said,
“I allow monks to teach the Monastic Law to the nuns.”
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu-ni là đệ tử của tỳ-khưu-ni Uppalavaṇṇā đã đi theo đức Thế Tôn trong bảy năm để học Luật. Do bị thất niệm, vị ấy cứ học rồi lại quên. Vị tỳ-khưu-ni ấy nghe được rằng: “Hình như đức Thế Tôn có ý định đi đến Sāvatthī.” Khi ấy, vị tỳ-khưu-ni ấy đã suy nghĩ như sau: “Ta đã đi theo đức Thế Tôn trong bảy năm để học Luật. Do ta bị thất niệm nên cứ học rồi lại quên. Thật khó cho người nữ để đi theo bậc Đạo Sư suốt đời. Ta nên thực hành thế nào đây?” Sau đó, vị tỳ-khưu-ni ấy đã trình bày sự việc ấy cho các tỳ-khưu-ni. Các tỳ-khưu-ni đã trình bày sự việc ấy cho các tỳ-khưu. Các tỳ-khưu đã bạch sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép các tỳ-khưu tụng đọc (dạy) Luật cho các tỳ-khưu-ni.”
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
The first section for recitation is finished.
Regulations on the instruction
Phần tụng đọc thứ nhất đã kết thúc.
Atha kho bhagavā vesāliyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena sāvatthi tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sāvatthi tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū bhikkhuniyo kaddamodakena osiñcanti—appeva nāma amhesu sārajjeyyunti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhunā bhikkhuniyo kaddamodakena osiñcitabbā. Yo osiñceyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, tassa bhikkhuno daṇḍakammaṁ kātun”ti.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kiṁ nu kho daṇḍakammaṁ kātabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Avandiyo so, bhikkhave, bhikkhu bhikkhunisaṅghena kātabbo”ti.
When the Buddha had stayed at Vesālī for as long as he liked, he set out wandering toward Sāvatthī. When he eventually arrived, he stayed in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time the monks from the group of six tried to attract the nuns by splashing them with muddy water. They told the Buddha.
“Monks, you shouldn’t splash the nuns with muddy water. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow the nuns to penalize a monk who acts like this.”
The monks thought, “What sort of penalty should they impose?” They told the Buddha.
“The Sangha of nuns shouldn’t pay respect to such a monk.”
411. Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi trú ở Vesālī tùy thích đã khởi hành du hành đến Sāvatthī. Trong khi du hành tuần tự, ngài đã đến Sāvatthī. Tại đó, đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu nhóm Sáu tưới nước bùn lên các tỳ-khưu-ni với ý nghĩ rằng: “Mong rằng họ sẽ có lòng ham muốn đối với chúng ta.” (Các tỳ-khưu) đã bạch sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu không được tưới nước bùn lên các tỳ-khưu-ni. Vị nào tưới, phạm tội tác ác. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép thi hành hình phạt đối với vị tỳ-khưu ấy.” Khi ấy, các tỳ-khưu đã suy nghĩ như sau: “Nên thi hành hình phạt nào?” (Họ) đã bạch sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu ấy nên bị chúng tỳ-khưu-ni xử không đảnh lễ.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū kāyaṁ vivaritvā bhikkhunīnaṁ dassenti …pe… ūruṁ vivaritvā bhikkhunīnaṁ dassenti, aṅgajātaṁ vivaritvā bhikkhunīnaṁ dassenti, bhikkhuniyo obhāsenti, bhikkhunīhi saddhiṁ sampayojenti—appeva nāma amhesu sārajjeyyunti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhunā kāyo vivaritvā bhikkhunīnaṁ dassetabbo, na ūru vivaritvā bhikkhunīnaṁ dassetabbo, na aṅgajātaṁ vivaritvā bhikkhunīnaṁ dassetabbaṁ, na bhikkhuniyo obhāsitabbā, na bhikkhunīhi saddhiṁ sampayojetabbaṁ. Yo sampayojeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, tassa bhikkhuno daṇḍakammaṁ kātun”ti.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kiṁ nu kho daṇḍakammaṁ kātabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Avandiyo so, bhikkhave, bhikkhu bhikkhunisaṅghena kātabbo”ti.
Soon afterwards the monks from the group of six tried to attract the nuns by exposing their bodies to them, by exposing their thighs to them, and by exposing their genitals to them. And they spoke indecently to the nuns and associated inappropriately with them. They told the Buddha.
“Monks, you shouldn’t expose your body to the nuns; you shouldn’t expose your thighs to the nuns; you shouldn’t expose your genitals to the nuns; you shouldn’t speak indecently to the nuns; and you shouldn’t associate inappropriately with the nuns. If you associate inappropriately with the nuns, you commit an offense of wrong conduct. I allow the nuns to penalize a monk who acts like this.”
The monks thought, “What sort of penalty can they impose?” They told the Buddha.
“The Sangha of nuns shouldn’t pay respect to such a monk.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu nhóm Sáu mở thân thể ra cho các tỳ-khưu-ni xem, ... cho đến ... mở đùi ra cho các tỳ-khưu-ni xem, mở bộ phận sinh dục ra cho các tỳ-khưu-ni xem, trêu chọc các tỳ-khưu-ni, giao du cùng với các tỳ-khưu-ni với ý nghĩ rằng: “Mong rằng họ sẽ có lòng ham muốn đối với chúng ta.” (Các tỳ-khưu) đã bạch sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu không được mở thân thể ra cho các tỳ-khưu-ni xem, không được mở đùi ra cho các tỳ-khưu-ni xem, không được mở bộ phận sinh dục ra cho các tỳ-khưu-ni xem, không được trêu chọc các tỳ-khưu-ni, không được giao du cùng với các tỳ-khưu-ni. Vị nào giao du, phạm tội tác ác. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép thi hành hình phạt đối với vị tỳ-khưu ấy.” Khi ấy, các tỳ-khưu đã suy nghĩ như sau: “Nên thi hành hình phạt nào?” (Họ) đã bạch sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu ấy nên bị chúng tỳ-khưu-ni xử không đảnh lễ.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhuniyo bhikkhuṁ kaddamodakena osiñcanti—appeva nāma amhesu sārajjeyyunti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā bhikkhu kaddamodakena osiñcitabbo. Yā osiñceyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, tassā bhikkhuniyā daṇḍakammaṁ kātun”ti.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kiṁ nu kho daṇḍakammaṁ kātabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, āvaraṇaṁ kātun”ti.
Āvaraṇe kate na ādiyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ovādaṁ ṭhapetun”ti.
Soon afterwards the nuns from the group of six tried to attract a monk by splashing him with muddy water. They told the Buddha.
“A nun shouldn’t splash a monk with muddy water. If she does, she commits an offense of wrong conduct. I allow you to penalize such a nun.”
The monks thought, “What sort of penalty can we impose?” They told the Buddha.
“I allow you to place restrictions on her.”
She did not adhere to the restrictions. They told the Buddha.
“I allow you to cancel her half-monthly instruction.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu-ni nhóm Sáu tưới nước bùn lên tỳ-khưu với ý nghĩ rằng: “Mong rằng họ sẽ có lòng ham muốn đối với chúng ta.” (Các tỳ-khưu) đã bạch sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni không được tưới nước bùn lên tỳ-khưu. Vị nào tưới, phạm tội tác ác. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép thi hành hình phạt đối với vị tỳ-khưu-ni ấy.” Khi ấy, các tỳ-khưu đã suy nghĩ như sau: “Nên thi hành hình phạt nào?” (Họ) đã bạch sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép thực hiện việc ngăn cản.” Khi việc ngăn cản được thực hiện, (họ) không tuân theo. (Các tỳ-khưu) đã bạch sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép đình chỉ lời giáo huấn.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhuniyo kāyaṁ vivaritvā bhikkhūnaṁ dassenti, thanaṁ vivaritvā bhikkhūnaṁ dassenti, ūruṁ vivaritvā bhikkhūnaṁ dassenti, aṅgajātaṁ vivaritvā bhikkhūnaṁ dassenti, bhikkhū obhāsenti, bhikkhūhi saddhiṁ sampayojenti—appeva nāma amhesu sārajjeyyunti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā kāyo vivaritvā bhikkhūnaṁ dassetabbo …pe… na thano vivaritvā bhikkhūnaṁ dassetabbo, na ūru vivaritvā bhikkhūnaṁ dassetabbo, na aṅgajātaṁ vivaritvā bhikkhūnaṁ dassetabbaṁ, na bhikkhū obhāsitabbā, na bhikkhūhi saddhiṁ sampayojetabbaṁ. Yā sampayojeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, tassā bhikkhuniyā daṇḍakammaṁ kātun”ti.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kiṁ nu kho daṇḍakammaṁ kātabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, āvaraṇaṁ kātun”ti.
Āvaraṇe kate na ādiyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ovādaṁ ṭhapetun”ti.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kappati nu kho ovādaṭṭhapitāya bhikkhuniyā saddhiṁ uposathaṁ kātuṁ, na nu kho kappatī”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, ovādaṭṭhapitāya bhikkhuniyā saddhiṁ uposatho kātabbo, yāva na taṁ adhikaraṇaṁ vūpasantaṁ hotī”ti.
At that time the nuns from the group of six tried to attract the monks by exposing their bodies to them, by exposing their breasts to them, by exposing their thighs to them, and by exposing their genitals to them. And they spoke indecently to the monks and associated inappropriately with them. They told the Buddha.
“A nun shouldn’t expose her body to the monks; she shouldn’t expose her breasts to the monks; she shouldn’t expose her thighs to the monks; she shouldn’t expose her genitals to the monks; she shouldn’t speak indecently to the monks; and she shouldn’t associate inappropriately with the monks. If she associates inappropriately with the monks, she commits an offense of wrong conduct. I allow the monks to penalize such a nun.”
The monks thought, “What sort of penalty can we impose?” They told the Buddha.
“I allow you to place restrictions on her.”
She did not adhere to the restrictions. They told the Buddha.
“I allow you to cancel her half-monthly instruction.”
The monks thought, “Is it allowable or not to do the observance-day ceremony with a nun whose half-monthly instruction has been canceled?” They told the Buddha.
“Until that legal issue has been resolved, it’s not allowable to do the observance-day ceremony with a nun whose half-monthly instruction has been canceled.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu-ni nhóm Sáu mở thân thể ra cho các tỳ-khưu xem, mở ngực ra cho các tỳ-khưu xem, mở đùi ra cho các tỳ-khưu xem, mở bộ phận sinh dục ra cho các tỳ-khưu xem, trêu chọc các tỳ-khưu, giao du cùng với các tỳ-khưu với ý nghĩ rằng: “Mong rằng họ sẽ có lòng ham muốn đối với chúng ta.” (Các tỳ-khưu) đã bạch sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni không được mở thân thể ra cho các tỳ-khưu xem, ... cho đến ... không được mở ngực ra cho các tỳ-khưu xem, không được mở đùi ra cho các tỳ-khưu xem, không được mở bộ phận sinh dục ra cho các tỳ-khưu xem, không được trêu chọc các tỳ-khưu, không được giao du cùng với các tỳ-khưu. Vị nào giao du, phạm tội tác ác. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép thi hành hình phạt đối với vị tỳ-khưu-ni ấy.” Khi ấy, các tỳ-khưu đã suy nghĩ như sau: “Nên thi hành hình phạt nào?” (Họ) đã bạch sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép thực hiện việc ngăn cản.” Khi việc ngăn cản được thực hiện, (họ) không tuân theo. (Các tỳ-khưu) đã bạch sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép đình chỉ lời giáo huấn.” Khi ấy, các tỳ-khưu đã suy nghĩ như sau: “Có thích hợp để làm lễ Bố-tát cùng với vị tỳ-khưu-ni đã bị đình chỉ giáo huấn hay không?” (Họ) đã bạch sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ-khưu, không được làm lễ Bố-tát cùng với vị tỳ-khưu-ni đã bị đình chỉ giáo huấn, cho đến khi vụ tranh tụng ấy chưa được dàn xếp.”
Tena kho pana samayena āyasmā udāyī ovādaṁ ṭhapetvā cārikaṁ pakkāmi. Bhikkhuniyo ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma ayyo udāyī ovādaṁ ṭhapetvā cārikaṁ pakkamissatī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, ovādaṁ ṭhapetvā cārikā pakkamitabbā. Yo pakkameyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Tena kho pana samayena bālā abyattā ovādaṁ ṭhapenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
On one occasion Venerable Udāyī canceled the half-monthly instruction and then set out wandering. The nuns complained and criticized him, “How could Venerable Udāyī do this?” They told the Buddha.
“Monks, you shouldn’t cancel the half-monthly instruction and then set out wandering. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
At that time there were ignorant and incompetent monks who canceled the half-monthly instruction. They told the Buddha.
412. Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyī đã đình chỉ việc giáo giới rồi lên đường du hành. Các vị tỳ-khưu-ni đã phàn nàn, chê bai, và nói xấu rằng: “Tại sao đại đức Udāyī lại đình chỉ việc giáo giới rồi lên đường du hành chứ?” (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ-khưu, không được đình chỉ việc giáo giới rồi lên đường du hành. Vị nào lên đường du hành thì phạm tội dukkaṭa.”
“Na, bhikkhave, bālena abyattena ovādo ṭhapetabbo. Yo ṭhapeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
“A monk who’s ignorant and incompetent shouldn’t cancel the half-monthly instruction. If he does, he commits an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị (tỳ-khưu) ngu dốt, không có khả năng đã đình chỉ việc giáo giới. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu ngu dốt, không có khả năng thì không được đình chỉ việc giáo giới. Vị nào đình chỉ thì phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena bhikkhū avatthusmiṁ akāraṇe ovādaṁ ṭhapenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, avatthusmiṁ akāraṇe ovādo ṭhapetabbo. Yo ṭhapeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time there were monks who canceled the half-monthly instruction without reason. They told the Buddha.
“A monk shouldn’t cancel the half-monthly instruction without reason. If he does, he commits an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu đã đình chỉ việc giáo giới trong trường hợp không có sự việc, không có nguyên nhân. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ-khưu, không được đình chỉ việc giáo giới trong trường hợp không có sự việc, không có nguyên nhân. Vị nào đình chỉ thì phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena bhikkhū ovādaṁ ṭhapetvā vinicchayaṁ na denti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, ovādaṁ ṭhapetvā vinicchayo na dātabbo. Yo na dadeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time there were monks who did not investigate after canceling the half-monthly instruction. They told the Buddha.
“You should investigate after canceling the half-monthly instruction. If you don’t, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu đã đình chỉ việc giáo giới rồi không đưa ra sự phán quyết. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ-khưu, sau khi đã đình chỉ việc giáo giới, vẫn phải đưa ra sự phán quyết. Vị nào không đưa ra thì phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo ovādaṁ na gacchanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā ovādo na gantabbo. Yā na gaccheyya, yathādhammo kāretabbo”ti.
At that time there were nuns who did not go to the half-monthly instruction. They told the Buddha.
“A nun should go to the half-monthly instruction. If she doesn’t, she should be dealt with according to the rule.”
413. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu-ni đã không đi đến nơi giáo giới. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni phải đi đến nơi giáo giới. Vị nào không đi thì phải được xử trị đúng theo Pháp.”
Tena kho pana samayena sabbo bhikkhunisaṅgho ovādaṁ gacchati. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“jāyāyo imā imesaṁ, jāriyo imā imesaṁ, idāni ime imāhi saddhiṁ abhiramissantī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, sabbena bhikkhunisaṅghena ovādo gantabbo. Gaccheyya ce, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, catūhi pañcahi bhikkhunīhi ovādaṁ gantun”ti.
Tena kho pana samayena catasso pañca bhikkhuniyo ovādaṁ gacchanti. Manussā tatheva ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“jāyāyo imā imesaṁ, jāriyo imā imesaṁ, idāni ime imāhi saddhiṁ abhiramissantī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, catūhi pañcahi bhikkhunīhi ovādo gantabbo. Gaccheyyuñce, āpatti dukkaṭassa.
At that time the entire Sangha of nuns went to the half-monthly instruction. People complained and criticized them, “They’re their wives! They’re their mistresses! Now they’re going to enjoy themselves together.” They told the Buddha.
“The whole Sangha of nuns shouldn’t go to the half-monthly instruction. If it does, there’s an offense of wrong conduct. Four or five nuns should go to the instruction.”
Soon afterwards four or five nuns went to the half-monthly instruction. People complained and criticized them, “They’re their wives! They’re their mistresses! Now they’re going to enjoy themselves together.” They told the Buddha.
“Four or five nuns shouldn’t go to the half-monthly instruction. If they do, there’s an offense of wrong conduct.
Vào lúc bấy giờ, toàn thể chúng tỳ-khưu-ni đã đi đến nơi giáo giới. Dân chúng đã phàn nàn, chê bai, và nói xấu rằng: “Những người này là vợ của các ông kia, những người này là nhân tình của các ông kia. Bây giờ các ông này sẽ vui hưởng cùng với các bà này.” (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ-khưu, toàn thể chúng tỳ-khưu-ni không được đi đến nơi giáo giới. Nếu đi thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép bốn hoặc năm vị tỳ-khưu-ni đi đến nơi giáo giới.”
Ekaṁ bhikkhuṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘bhikkhunisaṅgho, ayya, bhikkhusaṅghassa pāde vandati, ovādūpasaṅkamanañca yācati; labhatu kira, ayya, bhikkhunisaṅgho ovādūpasaṅkamanan’ti.
Tena bhikkhunā pātimokkhuddesako upasaṅkamitvā evamassa vacanīyo—‘bhikkhunisaṅgho, bhante, bhikkhusaṅghassa pāde vandati, ovādūpasaṅkamanañca yācati; labhatu kira, bhante, bhikkhunisaṅgho ovādūpasaṅkamanan’ti. Pātimokkhuddesakena vattabbo—‘atthi koci bhikkhu bhikkhunovādako sammato’ti? Sace hoti koci bhikkhu bhikkhunovādako sammato, pātimokkhuddesakena vattabbo—‘itthannāmo bhikkhu bhikkhunovādako sammato, taṁ bhikkhunisaṅgho upasaṅkamatū’ti. Sace na hoti koci bhikkhu bhikkhunovādako sammato, pātimokkhuddesakena vattabbo—‘ko āyasmā ussahati bhikkhuniyo ovaditun’ti? Sace koci ussahati bhikkhuniyo ovadituṁ, so ca hoti aṭṭhahaṅgehi samannāgato, sammannitvā vattabbo—‘itthannāmo bhikkhu bhikkhunovādako sammato, taṁ bhikkhunisaṅgho upasaṅkamatū’ti. Sace na koci ussahati bhikkhuniyo ovadituṁ, pātimokkhuddesakena vattabbo—‘natthi koci bhikkhu bhikkhunovādako sammato, pāsādikena bhikkhunisaṅgho sampādetū’”ti.
They should go to a monk, arrange their upper robes over one shoulder, bow down at his feet, squat on their heels, raise their joined palms, and say, ‘Venerable, the Sangha of nuns bows down at the feet of the Sangha of monks and asks to come for the half-monthly instruction. Please allow the Sangha of nuns to come for the instruction.’
That monk should go to the reciter of the Monastic Code and tell him of the nuns’ request. The reciter should say, ‘Is there anyone who has been appointed as an instructor of the nuns?’ If there is, the reciter should say, ‘Monk so-and-so has been appointed. The Sangha of nuns should approach him.’ If there isn’t, the reciter should say, ‘Who’s suitable to instruct the nuns?’ If there is someone who is suitable and who has the eight required qualities, he should be appointed. The reciter should then say, ‘Monk so-and-so has been appointed. The Sangha of nuns should approach him.’ If no-one is able to instruct the nuns, the reciter of the Monastic Code should say, ‘No monk has been appointed as an instructor of the nuns. The Sangha of nuns should carry on with serenity.’”
Vào lúc bấy giờ, bốn hoặc năm vị tỳ-khưu-ni đã đi đến nơi giáo giới. Dân chúng cũng đã phàn nàn, chê bai, và nói xấu y như thế rằng: “Những người này là vợ của các ông kia, những người này là nhân tình của các ông kia. Bây giờ các ông này sẽ vui hưởng cùng với các bà này.” (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ-khưu, bốn hoặc năm vị tỳ-khưu-ni không được đi đến nơi giáo giới. Nếu đi thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép hai hoặc ba vị tỳ-khưu-ni đi đến nơi giáo giới. (Các vị ấy) nên đi đến gặp một vị tỳ-khưu, vắt thượng y qua một bên vai, đảnh lễ nơi chân, ngồi xổm xuống, chắp tay lên rồi thưa lời này: ‘Bạch đại đức, chúng tỳ-khưu-ni đảnh lễ nơi chân của chúng tỳ-khưu Tăng và thỉnh cầu được đến gần để nghe giáo giới. Kính mong chúng tỳ-khưu-ni được đến gần để nghe giáo giới, bạch đại đức.’ Vị tỳ-khưu ấy nên đi đến gặp vị đọc Pātimokkha rồi thưa lời này: ‘Bạch đại đức, chúng tỳ-khưu-ni đảnh lễ nơi chân của chúng tỳ-khưu Tăng và thỉnh cầu được đến gần để nghe giáo giới. Kính mong chúng tỳ-khưu-ni được đến gần để nghe giáo giới, bạch đại đức.’ Vị đọc Pātimokkha nên hỏi rằng: ‘Có vị tỳ-khưu nào đã được chỉ định làm vị giáo giới cho tỳ-khưu-ni không?’ Nếu có vị tỳ-khưu nào đã được chỉ định làm vị giáo giới cho tỳ-khưu-ni, vị đọc Pātimokkha nên nói rằng: ‘Vị tỳ-khưu tên là ... đã được chỉ định làm vị giáo giới cho tỳ-khưu-ni. Chúng tỳ-khưu-ni hãy đi đến gặp vị ấy.’ Nếu không có vị tỳ-khưu nào đã được chỉ định làm vị giáo giới cho tỳ-khưu-ni, vị đọc Pātimokkha nên hỏi rằng: ‘Vị đại đức nào có khả năng giáo giới cho các tỳ-khưu-ni?’ Nếu có vị nào có khả năng giáo giới cho các tỳ-khưu-ni và vị ấy hội đủ tám yếu tố, sau khi đã chỉ định, nên nói rằng: ‘Vị tỳ-khưu tên là ... đã được chỉ định làm vị giáo giới cho tỳ-khưu-ni. Chúng tỳ-khưu-ni hãy đi đến gặp vị ấy.’ Nếu không có vị nào có khả năng giáo giới cho các tỳ-khưu-ni, vị đọc Pātimokkha nên nói rằng: ‘Không có vị tỳ-khưu nào được chỉ định làm vị giáo giới cho tỳ-khưu-ni. Chúng tỳ-khưu-ni hãy tự hoàn thiện với hạnh kiểm đáng ngưỡng mộ.’”
Tena kho pana samayena bhikkhū ovādaṁ na gaṇhanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, ovādo na gahetabbo. Yo na gaṇheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion there were monks who did not agree to give the half-monthly instruction. They told the Buddha.
“You should agree to give the half-monthly instruction. If you don’t, you commit an offense of wrong conduct.”
414. Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu đã không nhận lời giáo giới. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ-khưu, phải nhận lời giáo giới. Vị nào không nhận thì phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu bālo hoti. Taṁ bhikkhuniyo upasaṅkamitvā etadavocuṁ—“ovādaṁ, ayya, gaṇhāhī”ti.
“Ahañhi, bhaginī, bālo; kathāhaṁ ovādaṁ gaṇhāmī”ti?
“Gaṇhāhayya, ovādaṁ; evañhi bhagavatā paññattaṁ—bhikkhūhi bhikkhunīnaṁ ovādo gahetabbo”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ṭhapetvā bālaṁ, avasesehi ovādaṁ gahetun”ti.
On one occasion the nuns went to a monk who was ignorant and said, “Venerable, please agree to give the half-monthly instruction.”
“But I’m ignorant, sisters. How can I agree to give the instruction?”
“Please agree to give the instruction, for the Buddha has laid down that a monk should agree to give the instruction to the nuns.” They told the Buddha.
“Except if you’re ignorant, you should agree to give the half-monthly instruction.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ-khưu nọ là người ngu dốt. Các vị tỳ-khưu-ni đã đi đến gặp vị ấy và thưa rằng: “Bạch đại đức, xin ngài nhận lời giáo giới.” (Vị ấy đáp): “Này các hiền muội, tôi là người ngu dốt, làm sao tôi có thể nhận lời giáo giới được?” (Các vị tỳ-khưu-ni thưa): “Bạch đại đức, xin ngài hãy nhận lời giáo giới. Vì đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Các tỳ-khưu phải nhận lời giáo giới của các tỳ-khưu-ni.’” (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép những vị còn lại, ngoại trừ vị ngu dốt, được nhận lời giáo giới.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gilāno hoti. Taṁ bhikkhuniyo upasaṅkamitvā etadavocuṁ—“ovādaṁ, ayya, gaṇhāhī”ti.
“Ahañhi, bhaginī, gilāno; kathāhaṁ ovādaṁ gaṇhāmī”ti?
“Gaṇhāhayya, ovādaṁ; evañhi bhagavatā paññattaṁ—ṭhapetvā bālaṁ, avasesehi ovādo gahetabbo”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ṭhapetvā bālaṁ, ṭhapetvā gilānaṁ, avasesehi ovādaṁ gahetun”ti.
On one occasion the nuns went to a monk who was sick and said, “Venerable, please agree to give the half-monthly instruction.”
“But I’m sick, sisters. How can I agree to give the instruction?”
“Please agree to give the instruction, for the Buddha has laid down that a monk should agree to give the instruction to the nuns, except if he’s ignorant.” They told the Buddha.
“Except if you’re ignorant or sick, you should agree to give the half-monthly instruction.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ-khưu nọ bị bệnh. Các vị tỳ-khưu-ni đã đi đến gặp vị ấy và thưa rằng: “Bạch đại đức, xin ngài nhận lời giáo giới.” (Vị ấy đáp): “Này các hiền muội, tôi bị bệnh, làm sao tôi có thể nhận lời giáo giới được?” (Các vị tỳ-khưu-ni thưa): “Bạch đại đức, xin ngài hãy nhận lời giáo giới. Vì đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Ngoại trừ vị ngu dốt, các vị còn lại phải nhận lời giáo giới.’” (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép những vị còn lại, ngoại trừ vị ngu dốt và ngoại trừ vị bị bệnh, được nhận lời giáo giới.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gamiko hoti. Taṁ bhikkhuniyo upasaṅkamitvā etadavocuṁ—“ovādaṁ, ayya, gaṇhāhī”ti.
“Ahañhi, bhaginī, gamiko; kathāhaṁ ovādaṁ gaṇhāmī”ti?
“Gaṇhāhayya, ovādaṁ; evañhi bhagavatā paññattaṁ—ṭhapetvā bālaṁ, ṭhapetvā gilānaṁ, avasesehi ovādo gahetabbo”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ṭhapetvā bālaṁ, ṭhapetvā gilānaṁ, ṭhapetvā gamikaṁ, avasesehi ovādaṁ gahetun”ti.
On one occasion the nuns went to a monk who was about to depart and said, “Venerable, please agree to give the half-monthly instruction.”
“But I’m about to depart, sisters. How can I agree to give the instruction?”
“Please agree to give the instruction, for the Buddha has laid down that a monk should agree to give the instruction to the nuns, except if he’s ignorant or sick.” They told the Buddha.
“Except if you’re ignorant, sick, or about to depart, you should agree to give the half-monthly instruction.”
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đang đi đường. Các tỳ khưu ni đi đến gặp vị ấy và nói rằng: – ‘Thưa ngài, xin hãy nhận lời giáo giới.’ – ‘Này các chị, tôi đang đi đường; làm sao tôi có thể nhận lời giáo giới?’ – ‘Thưa ngài, xin hãy nhận lời giáo giới; vì đức Thế Tôn đã quy định như vầy: ‘Ngoại trừ người ngu dốt, ngoại trừ người bệnh, lời giáo giới nên được các vị còn lại tiếp nhận.’’ Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy): – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép các vị còn lại tiếp nhận lời giáo giới, ngoại trừ người ngu dốt, ngoại trừ người bệnh, ngoại trừ người đang đi đường.’”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu araññe viharati. Taṁ bhikkhuniyo upasaṅkamitvā etadavocuṁ—“ovādaṁ, ayya, gaṇhāhī”ti.
“Ahañhi, bhaginī, araññe viharāmi; kathāhaṁ ovādaṁ gaṇhāmī”ti?
“Gaṇhāhayya, ovādaṁ; evañhi bhagavatā paññattaṁ—ṭhapetvā bālaṁ, ṭhapetvā gilānaṁ, ṭhapetvā gamikaṁ, avasesehi ovādo gahetabbo”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, āraññikena bhikkhunā ovādaṁ gahetuṁ, saṅketañca kātuṁ—atra patiharissāmī”ti.
On one occasion the nuns went to a monk who was staying in the wilderness and said, “Venerable, please agree to give the half-monthly instruction.”
“But I’m staying in the wilderness, sisters. How can I agree to give the instruction?”
“Please agree to give the instruction, for the Buddha has laid down that a monk should agree to give the instruction to the nuns, except if he’s ignorant, sick, or about to depart.” They told the Buddha.
“If you’re staying in the wilderness, you should agree to give the half-monthly instruction. You should make an appointment, saying, ‘I’ll return here.’”
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sống ở trong rừng. Các tỳ khưu ni đi đến gặp vị ấy và nói rằng: – ‘Thưa ngài, xin hãy nhận lời giáo giới.’ – ‘Này các chị, tôi sống ở trong rừng; làm sao tôi có thể nhận lời giáo giới?’ – ‘Thưa ngài, xin hãy nhận lời giáo giới; vì đức Thế Tôn đã quy định như vầy: ‘Ngoại trừ người ngu dốt, ngoại trừ người bệnh, ngoại trừ người đang đi đường, lời giáo giới nên được các vị còn lại tiếp nhận.’’ Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy): – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu sống trong rừng được nhận lời giáo giới và cũng được định ngày hẹn rằng: ‘Tôi sẽ mang (lời giáo giới) trở lại nơi đây.’’”
Tena kho pana samayena bhikkhū ovādaṁ gahetvā na ārocenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, ovādo na ārocetabbo. Yo na āroceyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time there were monks who agreed to give the half-monthly instruction without informing. They told the Buddha.
“When you have agreed to give the half-monthly instruction, you should inform. If you don’t, you commit an offense of wrong conduct.”
415. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sau khi đã nhận lời giáo giới lại không trình báo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy): – ‘Này các tỳ khưu, lời giáo giới phải được trình báo. Vị nào không trình báo, vị ấy phạm tội tác ác.’”
Tena kho pana samayena bhikkhū ovādaṁ gahetvā na paccāharanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, ovādo na paccāharitabbo. Yo na paccāhareyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time there were monks who had agreed to give the half-monthly instruction, but did not return to give it. They told the Buddha.
“You should return to give the half-monthly instruction. If you don’t, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sau khi đã nhận lời giáo giới lại không mang về. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy): – ‘Này các tỳ khưu, lời giáo giới phải được mang về. Vị nào không mang về, vị ấy phạm tội tác ác.’”
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo saṅketaṁ na gacchanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā saṅketaṁ na gantabbaṁ. Yā na gaccheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the nuns did not go to the appointment. They told the Buddha.
“A nun should go to the appointment. If she doesn’t, she commits an offense of wrong conduct.”
Beautification and indulgence
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni không đi đến nơi đã hẹn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy): – ‘Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni phải đi đến nơi đã hẹn. Vị nào không đi, vị ấy phạm tội tác ác.’”
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo dīghāni kāyabandhanāni dhārenti, teheva phāsukā nāmenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti …pe… seyyathāpi gihinī kāmabhoginiyo”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā dīghaṁ kāyabandhanaṁ dhāretabbaṁ. Yā dhāreyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhuniyā ekapariyākataṁ kāyabandhanaṁ, na ca tena phāsukā nāmetabbā. Yā nāmeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo vilīvena paṭṭena phāsukā nāmenti …pe…
At that time there were nuns who wore long belts that they made into corsets. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“A nun shouldn’t wear a long belt. If she does, she commits an offense of wrong conduct. I allow a nun to wear a belt that goes once around her body, but she shouldn’t make a corset out of it. If she does, she commits an offense of wrong conduct.”
There were nuns who made corsets out of strips of split bamboo,
416. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni dùng các dây thắt lưng dài, và dùng chính những thứ ấy để uốn cong xương sườn. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng... ‘... Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục.’ Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy): – ‘Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không được dùng dây thắt lưng dài. Vị nào dùng, vị ấy phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép tỳ khưu ni dùng dây thắt lưng một vòng, và không được dùng vật ấy để uốn cong xương sườn. Vị nào uốn cong, vị ấy phạm tội tác ác.’”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni dùng một miếng tre mỏng để uốn cong xương sườn... dùng một miếng da để uốn cong xương sườn, dùng một miếng vải để uốn cong xương sườn, dùng một bím vải để uốn cong xương sườn, dùng một cuộn vải để uốn cong xương sườn, dùng một miếng vải vụn để uốn cong xương sườn, dùng một bím vải vụn để uốn cong xương sườn, dùng một cuộn vải vụn để uốn cong xương sườn, dùng một bím chỉ để uốn cong xương sườn, dùng một cuộn chỉ để uốn cong xương sườn. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng: ‘Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục.’ Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy): – ‘Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không được dùng một miếng tre mỏng để uốn cong xương sườn... không được dùng một cuộn chỉ để uốn cong xương sườn. Vị nào uốn cong, vị ấy phạm tội tác ác.’”
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā vilīvena paṭṭena phāsukā nāmetabbā …pe… na suttavaṭṭiyā phāsukā nāmetabbā. Yā nāmeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo aṭṭhillena jaghanaṁ ghaṁsāpenti …pe… gohanukena jaghanaṁ koṭṭāpenti, hatthaṁ koṭṭāpenti, hatthakocchaṁ koṭṭāpenti, pādaṁ koṭṭāpenti, pādakocchaṁ koṭṭāpenti, ūruṁ koṭṭāpenti, mukhaṁ koṭṭāpenti, dantamaṁsaṁ koṭṭāpenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti …pe… seyyathāpi gihinī kāmabhoginiyo”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā aṭṭhillena jaghanaṁ ghaṁsāpetabbaṁ …pe… na dantamaṁsaṁ koṭṭāpetabbaṁ. Yā koṭṭāpeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
“A nun shouldn’t make a corset out of strips of split bamboo, strips of leather, strips of fabric, interlaced fabric, rolled-up fabric, strips of cloth, interlaced cloth, rolled-up cloth, interlaced strings, or rolled-up strings. If she does, she commits an offense of wrong conduct.”
There were nuns who had their loins rubbed with bones, their loins tapped with a cow’s jaw bone, their palms tapped, the backs of their hands tapped, the soles of their feet tapped, the tops of their feet tapped, their thighs tapped, their faces tapped, and their gums tapped with a cow’s jaw bone. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“A nun shouldn’t have her loins rubbed with bones, her loins tapped with a cow’s jaw bone, her palms tapped, the back of her hands tapped, the soles of her feet tapped, the top of her feet tapped, her thighs tapped, her face tapped, or her gums tapped with a cow’s jaw bone. If she does, she commits an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni dùng xương để chà xát vùng hông... dùng xương hàm bò để cạo vùng hông, cạo cánh tay, cạo mu bàn tay, cạo chân, cạo mu bàn chân, cạo đùi, cạo mặt, cạo nướu răng. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng... ‘... Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục.’ Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy): – ‘Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không được dùng xương để chà xát vùng hông... không được cạo nướu răng. Vị nào cho cạo, vị ấy phạm tội tác ác.’”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhuniyo mukhaṁ ālimpanti …pe… mukhaṁ ummaddenti, mukhaṁ cuṇṇenti, manosilikāya mukhaṁ lañchenti, aṅgarāgaṁ karonti, mukharāgaṁ karonti, aṅgarāgamukharāgaṁ karonti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti …pe… seyyathāpi gihinī kāmabhoginiyo”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā mukhaṁ ālimpitabbaṁ …pe… na mukhaṁ ummadditabbaṁ, na mukhaṁ cuṇṇetabbaṁ, na manosilikāya mukhaṁ lañchetabbaṁ, na aṅgarāgo kātabbo, na mukharāgo kātabbo, na aṅgarāgamukharāgo kātabbo. Yā kareyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
The nuns from the group of six used facial ointments, applied facial creams, powdered their face, applied rouge to their face, wore cosmetics on their body, wore cosmetics on their face, and wore cosmetics on their body and face. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“A nun shouldn’t use facial ointments, apply facial creams, powder her face, apply rouge to her face, wear cosmetics on her body, wear cosmetics on her face, or wear cosmetics on her body and face. If she does, she commits an offense of wrong conduct.”
417. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu ni thoa mặt... xoa bóp mặt, thoa phấn lên mặt, vẽ mặt bằng hùng hoàng, trang điểm thân thể, trang điểm môi, trang điểm thân thể và môi. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng... ‘... Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục.’ Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy): – ‘Này các tỳ khưu, tỳ khưu ni không được thoa mặt... không được xoa bóp mặt, không được thoa phấn lên mặt, không được vẽ mặt bằng hùng hoàng, không được trang điểm thân thể, không được trang điểm môi, không được trang điểm thân thể và môi. Vị nào làm như vậy, vị ấy phạm tội tác ác.’”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhuniyo avaṅgaṁ karonti …pe… visesakaṁ karonti, olokanakena olokenti, sāloke tiṭṭhanti; naccaṁ kārāpenti, vesiṁ vuṭṭhāpenti, pānāgāraṁ ṭhapenti, sūnaṁ ṭhapenti, āpaṇaṁ pasārenti, vaḍḍhiṁ payojenti, vaṇijjaṁ payojenti, dāsaṁ upaṭṭhāpenti, dāsiṁ upaṭṭhāpenti, kammakāraṁ upaṭṭhāpenti, kammakāriṁ upaṭṭhāpenti, tiracchānagataṁ upaṭṭhāpenti, harītakapakkikaṁ pakiṇanti, namatakaṁ dhārenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti …pe… seyyathāpi gihinī kāmabhoginiyo”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā avaṅgaṁ kātabbaṁ …pe… na visesakaṁ kātabbaṁ, na olokanakena oloketabbaṁ, na sāloke ṭhātabbaṁ, na naccaṁ kārāpetabbaṁ, na vesī vuṭṭhāpetabbā, na pānāgāraṁ ṭhapetabbaṁ, na sūnā ṭhapetabbā, na āpaṇo pasāretabbo, na vaḍḍhi payojetabbā, na vaṇijjā payojetabbā, na dāso upaṭṭhāpetabbo, na dāsī upaṭṭhāpetabbā, na kammakāro upaṭṭhāpetabbo, na kammakārī upaṭṭhāpetabbā, na tiracchānagato upaṭṭhāpetabbo, na harītakapakkikaṁ pakiṇitabbaṁ, na namatakaṁ dhāretabbaṁ. Yā dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
The nuns from the group of six made up their eyes, applied facial marks, stared out the windows, exposed themselves to view, organized dancing, appointed sex workers, set up bars, set up slaughterhouses, set up shops, made loans, engaged in trade, were attended on by slaves, were attended on by servants, were attended on by animals, traded in raw and cooked greens, and wore felt. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“A nun shouldn’t make up her eyes, apply facial marks, stare out a window, expose herself to view, organize dancing, appoint a sex worker, set up a bar, set up a slaughterhouse, set up a shop, make a loan, engage in trade, be attended on by a slave, be attended on by a servant, be attended on by animals, trade in raw and cooked greens, or wear felt. If she does, she commits an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu-ni Lục Sư làm các nếp nhăn cong... cho đến... vẽ các chấm trang điểm, nhìn qua cửa sổ, đứng ở nơi có ánh sáng; họ cho tổ chức nhảy múa, cho kỹ nữ trú ngụ, mở quán rượu, mở lò mổ, mở cửa hàng, cho vay lấy lãi, làm việc buôn bán, cho người hầu nam phục vụ, cho người hầu nữ phục vụ, cho người làm công nam phục vụ, cho người làm công nữ phục vụ, cho nuôi dưỡng các loài súc sanh, buôn bán rau tươi và rau đã nấu chín, và mang nịt ngực. Các cư sĩ phàn nàn, chê bai, và dị nghị rằng: ‘... Giống như các nữ gia chủ hưởng thụ các dục lạc.’ Họ trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) ‘Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni không được làm các nếp nhăn cong... cho đến... không được vẽ các chấm trang điểm, không được nhìn qua cửa sổ, không được đứng ở nơi có ánh sáng, không được cho tổ chức nhảy múa, không được cho kỹ nữ trú ngụ, không được mở quán rượu, không được mở lò mổ, không được mở cửa hàng, không được cho vay lấy lãi, không được làm việc buôn bán, không được cho người hầu nam phục vụ, không được cho người hầu nữ phục vụ, không được cho người làm công nam phục vụ, không được cho người làm công nữ phục vụ, không được cho nuôi dưỡng các loài súc sanh, không được buôn bán rau tươi và rau đã nấu chín, không được mang nịt ngực. Vị nào mang thì phạm tội tác ác.’
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhuniyo sabbanīlakāni cīvarāni dhārenti …pe… sabbapītakāni cīvarāni dhārenti, sabbalohitakāni cīvarāni dhārenti, sabbamañjiṭṭhikāni cīvarāni dhārenti, sabbakaṇhāni cīvarāni dhārenti, sabbamahāraṅgarattāni cīvarāni dhārenti, sabbamahānāmarattāni cīvarāni dhārenti, acchinnadasāni cīvarāni dhārenti, dīghadasāni cīvarāni dhārenti, pupphadasāni cīvarāni dhārenti, phaladasāni cīvarāni dhārenti, kañcukaṁ dhārenti, tirīṭakaṁ dhārenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti …pe… seyyathāpi gihinī kāmabhoginiyo”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā sabbanīlakāni cīvarāni dhāretabbāni …pe… na tirīṭakaṁ dhāretabbaṁ. Yā dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
The nuns from the group of six wore entirely blue robes, entirely yellow robes, entirely red robes, entirely magenta robes, entirely black robes, entirely orange robes, entirely beige robes, robes with borders made from a single piece of cloth, robes with long borders, robes with floral borders, robes with borders decorated with fruit designs, close-fitting jackets, and Lodh-tree robes. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“A nun shouldn’t wear entirely blue robes, entirely yellow robes, entirely red robes, entirely magenta robes, entirely black robes, entirely orange robes, entirely beige robes, robes with borders made from a single piece of cloth, robes with long borders, robes with floral borders, robes with borders decorated with fruit designs, close-fitting jackets, or Lodh-tree robes. If she does, she commits an offense of wrong conduct.”
Various rules
418. Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu-ni Lục Sư mặc các y hoàn toàn màu xanh dương... cho đến... mặc các y hoàn toàn màu vàng, mặc các y hoàn toàn màu đỏ, mặc các y hoàn toàn màu đỏ sậm, mặc các y hoàn toàn màu đen, mặc các y được nhuộm hoàn toàn màu đỏ sẫm, mặc các y được nhuộm hoàn toàn màu đỏ nhạt, mặc các y có tua không cắt, mặc các y có tua dài, mặc các y có tua hình bông hoa, mặc các y có tua hình trái cây, mặc áo dài tay, mặc áo làm bằng vỏ cây. Các cư sĩ phàn nàn, chê bai, và dị nghị rằng: ‘... Giống như các nữ gia chủ hưởng thụ các dục lạc.’ Họ trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) ‘Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni không được mặc các y hoàn toàn màu xanh dương... cho đến... không được mặc áo làm bằng vỏ cây. Vị nào mặc thì phạm tội tác ác.’
Tena kho pana samayena aññatarā bhikkhunī kālaṁ karontī evamāha—“mamaccayena mayhaṁ parikkhāro saṅghassa hotū”ti. Tattha bhikkhū ca bhikkhuniyo ca vivadanti—“amhākaṁ hoti, amhākaṁ hotī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Bhikkhunī ce, bhikkhave, kālaṁ karontī evaṁ vadeyya—‘mamaccayena mayhaṁ parikkhāro saṅghassa hotū’ti, anissaro tattha bhikkhusaṅgho, bhikkhunisaṅghassevetaṁ. Sikkhamānā ce, bhikkhave …pe… sāmaṇerī ce, bhikkhave, kālaṁ karontī evaṁ vadeyya—‘mamaccayena mayhaṁ parikkhāro saṅghassa hotū’ti, anissaro tattha bhikkhusaṅgho, bhikkhunisaṅghassevetaṁ. Bhikkhu ce, bhikkhave, kālaṁ karonto evaṁ vadeyya—‘mamaccayena mayhaṁ parikkhāro saṅghassa hotū’ti, anissaro tattha bhikkhunisaṅgho, bhikkhusaṅghassevetaṁ. Sāmaṇero ce, bhikkhave …pe… upāsako ce, bhikkhave …pe… upāsikā ce, bhikkhave …pe… añño ce, bhikkhave, koci kālaṁ karonto evaṁ vadeyya—‘mamaccayena mayhaṁ parikkhāro saṅghassa hotū’ti, anissaro tattha bhikkhunisaṅgho, bhikkhusaṅghassevetan”ti.
On one occasion a nun who was dying said, “When I’m dead, give my requisites to the Sangha.” The monks and the nuns argued with one another, saying it belonged to their Sangha. They told the Buddha.
“If a dying nun, a dying trainee nun, or a dying novice nun says, ‘When I’m dead, give my requisites to the Sangha,’ then they’re for the Sangha of nuns, not for the Sangha of monks. But if a dying monk, a dying novice monk, a dying male lay follower, a dying female lay follower, or anyone else who is dying says, ‘When I’m dead, give my requisites to the Sangha,’ then they’re for the Sangha of monks, not for the Sangha of nuns.”
419. Vào lúc bấy giờ, một tỳ-khưu-ni nọ trong lúc lâm chung đã nói rằng: ‘Sau khi tôi qua đời, các vật dụng của tôi xin thuộc về Tăng chúng.’ Về việc ấy, các tỳ-khưu và các tỳ-khưu-ni đã tranh cãi rằng: ‘Nó thuộc về chúng tôi, nó thuộc về chúng tôi.’ Họ trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) ‘Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu-ni trong lúc lâm chung nói rằng: “Sau khi tôi qua đời, các vật dụng của tôi xin thuộc về Tăng chúng,” thì trong trường hợp ấy, Tăng chúng tỳ-khưu không có quyền hạn, tài vật ấy chỉ thuộc về Tăng chúng tỳ-khưu-ni. Này các tỳ-khưu, nếu là vị học nữ... cho đến... Này các tỳ-khưu, nếu sa-di-ni trong lúc lâm chung nói rằng: “Sau khi tôi qua đời, các vật dụng của tôi xin thuộc về Tăng chúng,” thì trong trường hợp ấy, Tăng chúng tỳ-khưu không có quyền hạn, tài vật ấy chỉ thuộc về Tăng chúng tỳ-khưu-ni. Này các tỳ-khưu, nếu tỳ-khưu trong lúc lâm chung nói rằng: “Sau khi tôi qua đời, các vật dụng của tôi xin thuộc về Tăng chúng,” thì trong trường hợp ấy, Tăng chúng tỳ-khưu-ni không có quyền hạn, tài vật ấy chỉ thuộc về Tăng chúng tỳ-khưu. Này các tỳ-khưu, nếu là vị sa-di... cho đến... Này các tỳ-khưu, nếu là nam cư sĩ... cho đến... Này các tỳ-khưu, nếu là nữ cư sĩ... cho đến... Này các tỳ-khưu, nếu bất cứ người nào khác trong lúc lâm chung nói rằng: “Sau khi tôi qua đời, các vật dụng của tôi xin thuộc về Tăng chúng,” thì trong trường hợp ấy, Tăng chúng tỳ-khưu-ni không có quyền hạn, tài vật ấy chỉ thuộc về Tăng chúng tỳ-khưu.’
Tena kho pana samayena aññatarā itthī purāṇamallī bhikkhunīsu pabbajitā hoti. Sā rathikāya dubbalakaṁ bhikkhuṁ passitvā aṁsakūṭena pahāraṁ datvā pātesi. Bhikkhū ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma, bhikkhunī, bhikkhussa pahāraṁ dassatī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā bhikkhussa pahāro dātabbo. Yā dadeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhuniyā bhikkhuṁ passitvā dūratova okkamitvā maggaṁ dātun”ti.
At one time a woman who was a former wrestler went forth as a nun. Seeing a weak monk on a street, she hit him with her shoulder. He fell over. The monks complained and criticized her, “How could a nun hit a monk?” They told the Buddha.
“A nun shouldn’t hit a monk. If she does, she commits an offense of wrong conduct. When a nun sees a monk coming, she should make way for him by stepping off the path.”
420. Vào lúc bấy giờ, có một người phụ nữ từng là đô vật đã xuất gia trong hàng tỳ-khưu-ni. Vị ấy, sau khi nhìn thấy một tỳ-khưu yếu ớt ở trên đường, đã dùng vai xô một cái và làm cho vị ấy té ngã. Các tỳ-khưu phàn nàn, chê bai, và dị nghị rằng: ‘Tại sao một tỳ-khưu-ni lại có thể ra tay với một tỳ-khưu chứ?’ Họ trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) ‘Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni không được ra tay với tỳ-khưu. Vị nào ra tay thì phạm tội tác ác. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép tỳ-khưu-ni khi nhìn thấy tỳ-khưu thì từ xa nên tránh sang một bên và nhường đường.’
Tena kho pana samayena aññatarā itthī pavutthapatikā jārena gabbhinī hoti. Sā gabbhaṁ pātetvā kulūpikaṁ bhikkhuniṁ etadavoca—“handayye, imaṁ gabbhaṁ pattena nīharā”ti. Atha kho sā bhikkhunī taṁ gabbhaṁ patte pakkhipitvā saṅghāṭiyā paṭicchādetvā agamāsi.
Tena kho pana samayena aññatarena piṇḍacārikena bhikkhunā samādānaṁ kataṁ hoti—“yāhaṁ paṭhamaṁ bhikkhaṁ labhissāmi, na taṁ adatvā bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā paribhuñjissāmī”ti. Atha kho so bhikkhu taṁ bhikkhuniṁ passitvā etadavoca—“handa, bhagini, bhikkhaṁ paṭiggaṇhā”ti. “Alaṁ, ayyā”ti.
Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho so bhikkhu taṁ bhikkhuniṁ etadavoca—“handa, bhagini, bhikkhaṁ paṭiggaṇhā”ti. “Alaṁ, ayyā”ti. “Mayā kho, bhagini, samādānaṁ kataṁ—‘yāhaṁ paṭhamaṁ bhikkhaṁ labhissāmi, na taṁ adatvā bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā paribhuñjissāmī’ti. Handa, bhagini, bhikkhaṁ paṭiggaṇhā”ti. Atha kho sā bhikkhunī tena bhikkhunā nippīḷiyamānā nīharitvā pattaṁ dassesi—“passa, ayya, patte gabbhaṁ; mā ca kassaci ārocesī”ti.
Atha kho so bhikkhu ujjhāyati khiyyati vipāceti—“kathañhi nāma bhikkhunī pattena gabbhaṁ nīharissatī”ti. Atha kho so bhikkhu bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhikkhunī pattena gabbhaṁ nīharissatī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā pattena gabbho nīharitabbo. Yā nīhareyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhuniyā bhikkhuṁ passitvā nīharitvā pattaṁ dassetun”ti.
At one time a certain woman became pregnant by a lover while her husband was away. After having an abortion, she said to the nun who was associating with her family, “Venerable, please take this fetus away in your almsbowl.” The nun did as asked, covered her bowl with her upper robe, and left.
At that time a certain alms-collecting monk had resolved not to eat without giving the first almsfood he had received to another monk or nun. He saw that nun and said, “Sister, please accept some almsfood.” “There’s no need, venerable.”
He repeated his request a second and a third time, but received the same reply. He then told her about his resolution and again requested her to accept some almsfood. Being pressured by that monk, the nun brought out her bowl and showed it to him, saying, “See sir, there’s a fetus in my bowl. Please don’t tell anyone.”
But he complained and criticized her, “How could a nun take a fetus away in her bowl?” He told the monks. The monks of few desires complained and criticized her, “How could a nun take a fetus away in her bowl?” They told the Buddha.
“A nun shouldn’t take a fetus away in her bowl. If she does, she commits an offense of wrong conduct. When a nun sees a monk, she should bring out her almsbowl and show it to him.”
Vào lúc bấy giờ, có một người phụ nữ có chồng đi xa đã có thai với người tình. Người ấy sau khi phá thai đã nói với vị tỳ-khưu-ni thường lui tới gia đình rằng: “Thưa sư cô, xin hãy dùng bình bát mang cái thai này đi.” Khi ấy, vị tỳ-khưu-ni ấy đã bỏ cái thai ấy vào trong bình bát, dùng y tăng-già-lê đậy lại rồi ra đi. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ-khưu đi khất thực đã thực hiện sự cam kết rằng: ‘Vật thực đầu tiên mà ta nhận được, ta sẽ không dùng nếu chưa chia cho tỳ-khưu hay tỳ-khưu-ni.’ Khi ấy, vị tỳ-khưu ấy sau khi nhìn thấy vị tỳ-khưu-ni ấy đã nói rằng: “Này sư muội, hãy nhận vật thực.” – “Thôi, thưa ngài.” Lần thứ nhì... Lần thứ ba, vị tỳ-khưu ấy đã nói với vị tỳ-khưu-ni ấy rằng: “Này sư muội, hãy nhận vật thực.” – “Thôi, thưa ngài.” – “Này sư muội, tôi đã thực hiện sự cam kết rằng: ‘Vật thực đầu tiên mà ta nhận được, ta sẽ không dùng nếu chưa chia cho tỳ-khưu hay tỳ-khưu-ni.’ Này sư muội, hãy nhận vật thực.” Khi ấy, vị tỳ-khưu-ni ấy bị vị tỳ-khưu ấy ép nài nên đã lấy bình bát ra và chỉ cho xem rồi nói: “Thưa ngài, xin hãy nhìn cái thai ở trong bình bát; và xin đừng kể lại cho bất cứ ai.” Khi ấy, vị tỳ-khưu ấy đã phàn nàn, chê bai, và nói rộng ra rằng: “Tại sao tỳ-khưu-ni lại có thể mang cái thai đi bằng bình bát được chứ?!” Khi ấy, vị tỳ-khưu ấy đã trình báo sự việc ấy đến các tỳ-khưu. Các vị tỳ-khưu thiểu dục... đã phàn nàn, chê bai, và nói rộng ra rằng: “Tại sao tỳ-khưu-ni lại có thể mang cái thai đi bằng bình bát được chứ?!” (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) “Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni không được mang thai bằng bình bát. Vị nào mang đi thì phạm tội tác ác. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép tỳ-khưu-ni, sau khi nhìn thấy tỳ-khưu, được lấy bình bát ra và chỉ cho xem.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhuniyo bhikkhuṁ passitvā parivattetvā pattamūlaṁ dassenti. Bhikkhū ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma chabbaggiyā bhikkhuniyo bhikkhuṁ passitvā parivattetvā pattamūlaṁ dassessantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā bhikkhuṁ passitvā parivattetvā pattamūlaṁ dassetabbaṁ. Yā dasseyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhuniyā bhikkhuṁ passitvā ukkujjitvā pattaṁ dassetuṁ. Yañca patte āmisaṁ hoti, tena ca bhikkhu nimantetabbo”ti.
Soon afterwards, when the nuns from the group of six saw a monk, they turned their bowls upside down and showed him the bottom. The monks complained and criticized them, “How could the nuns from the group of six do this?” They told the Buddha.
“When a nun sees a monk, she shouldn’t turn her almsbowl upside down and show him the bottom. If she does, she commits an offense of wrong conduct. When a nun sees a monk, she should turn her bowl upright and then show it to him. And she should offer whatever food is in her bowl to that monk.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu-ni nhóm sáu vị sau khi nhìn thấy tỳ-khưu đã lật úp và đưa đáy bình bát ra. Các tỳ-khưu đã phàn nàn, chê bai, và nói rộng ra rằng: “Tại sao các tỳ-khưu-ni nhóm sáu vị sau khi nhìn thấy tỳ-khưu lại lật úp và đưa đáy bình bát ra chứ?!” Khi ấy, các tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) “Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni sau khi nhìn thấy tỳ-khưu không được lật úp và đưa đáy bình bát ra. Vị nào đưa ra thì phạm tội tác ác. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép tỳ-khưu-ni sau khi nhìn thấy tỳ-khưu được lật ngửa bình bát và chỉ cho xem. Và nếu có vật thực nào ở trong bình bát thì cũng nên mời vị tỳ-khưu ấy.”
Tena kho pana samayena sāvatthiyaṁ rathikāya purisabyañjanaṁ chaḍḍitaṁ hoti. Taṁ bhikkhuniyo sakkaccaṁ upanijjhāyiṁsu. Manussā ukkuṭṭhiṁ akaṁsu. Tā bhikkhuniyo maṅkū ahesuṁ. Atha kho tā bhikkhuniyo upassayaṁ gantvā bhikkhunīnaṁ etamatthaṁ ārocesuṁ. Yā tā bhikkhuniyo appicchā …pe… tā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhikkhuniyo purisabyañjanaṁ upanijjhāyissantī”ti. Atha kho tā bhikkhuniyo bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesuṁ. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā purisabyañjanaṁ upanijjhāyitabbaṁ. Yā upanijjhāyeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion a penis had been thrown out on a street in Sāvatthī. The nuns stared at it. People jeered at them, and the nuns felt humiliated. When they had returned to the nunnery, they told the nuns what had happened. The nuns of few desires complained and criticized them, “How could those nuns stare at a penis?” They told the monks, who in turn told the Buddha. He said,
“A nun shouldn’t stare at a penis. If she does, she commits an offense of wrong conduct.”
Requisites
Vào lúc bấy giờ, ở thành Sāvatthī, có bộ phận sinh dục của nam giới bị vứt bỏ ở trên đường. Các tỳ-khưu-ni đã chăm chú nhìn vào vật ấy. Các cư sĩ đã la ó lên. Các tỳ-khưu-ni ấy đã bị bối rối. Khi ấy, các tỳ-khưu-ni ấy sau khi đi về trú xá đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ-khưu-ni. Các vị tỳ-khưu-ni thiểu dục... đã phàn nàn, chê bai, và nói rộng ra rằng: “Tại sao các tỳ-khưu-ni lại chăm chú nhìn vào bộ phận sinh dục của nam giới chứ?!” Khi ấy, các tỳ-khưu-ni ấy đã trình báo sự việc ấy đến các tỳ-khưu. Các tỳ-khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) “Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni không được chăm chú nhìn vào bộ phận sinh dục của nam giới. Vị nào chăm chú nhìn thì phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena manussā bhikkhūnaṁ āmisaṁ denti. Bhikkhū bhikkhunīnaṁ denti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhadantā attano paribhogatthāya dinnaṁ aññesaṁ dassanti. Mayampi na jānāma dānaṁ dātun”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, attano paribhogatthāya dinnaṁ aññesaṁ dātabbaṁ. Yo dadeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion people gave requisites to the monks, who then gave them to the nuns. People complained and criticized them, “How can the venerables give away to others what has been given to them for their own use? Don’t we know how to give?” They told the Buddha.
“Monks, you shouldn’t give away to others what has been given to you for your own use. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
421. Vào lúc bấy giờ, các cư sĩ dâng cúng vật thực đến các tỳ-khưu. Các tỳ-khưu lại cho các tỳ-khưu-ni. Các cư sĩ đã phàn nàn, chê bai, và nói rộng ra rằng: “Tại sao các ngài đáng kính lại cho người khác vật đã được dâng cúng cho chính các ngài dùng! Chẳng lẽ chúng tôi lại không biết việc bố thí hay sao?” (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) “Này các tỳ-khưu, vật đã được dâng cúng cho chính mình dùng thì không được cho người khác. Vị nào cho thì phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena bhikkhūnaṁ āmisaṁ ussannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, saṅghassa dātun”ti.
Bāḷhataraṁ ussannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, puggalikampi dātun”ti.
On one occasion the monks had an abundance of requisites. They told the Buddha.
“I allow you to give to the Sangha.”
The abundance became even greater. They told the Buddha.
“I allow individuals to give away what belongs to them.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu có được nhiều vật thực. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép cho đến Tăng chúng.” (Vật thực) lại có được nhiều hơn nữa. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép cho cả cá nhân.”
Tena kho pana samayena bhikkhūnaṁ sannidhikataṁ āmisaṁ ussannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhūnaṁ sannidhiṁ bhikkhunīhi paṭiggāhāpetvā paribhuñjitun”ti.
On one occasion the monks had an abundance of stored requisites. They told the Buddha.
“I allow what’s stored by the monks to be received and used by the nuns.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu có được nhiều vật thực đã được cất giữ. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép các tỳ-khưu dùng vật cất giữ sau khi đã được các tỳ-khưu-ni thọ nhận.”
Tena kho pana samayena manussā bhikkhunīnaṁ āmisaṁ denti. Bhikkhuniyo bhikkhūnaṁ denti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhikkhuniyo attano paribhogatthāya dinnaṁ aññesaṁ dassanti. Mayampi na jānāma dānaṁ dātun”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā attano paribhogatthāya dinnaṁ aññesaṁ dātabbaṁ. Yā dadeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion people gave requisites to the nuns, who then gave them to the monks. People complained and criticized them, “How can the nuns give away to others what has been given to them for their own use? Don’t we know how to give?” They told the Buddha.
“A nun shouldn’t give away to others what has been given to her for her own use. If she does, she commits an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các cư sĩ dâng cúng vật thực đến các tỳ-khưu-ni. Các tỳ-khưu-ni lại cho các tỳ-khưu. Các cư sĩ đã phàn nàn, chê bai, và nói rộng ra rằng: “Tại sao các tỳ-khưu-ni lại cho người khác vật đã được dâng cúng cho chính các vị ấy dùng! Chẳng lẽ chúng tôi lại không biết việc bố thí hay sao?” (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) “Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni không được cho người khác vật đã được dâng cúng cho chính mình dùng. Vị nào cho thì phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena bhikkhunīnaṁ āmisaṁ ussannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, saṅghassa dātun”ti.
Bāḷhataraṁ ussannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, puggalikampi dātun”ti.
On one occasion the nuns had an abundance of requisites. They told the Buddha.
“I allow a nun to give to the Sangha.”
The abundance became even greater. They told the Buddha.
“I allow individuals to give away what belongs to them.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu-ni có được nhiều vật thực. (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép dâng cúng đến Tăng chúng.’ (Sau đó), vật thực lại có được nhiều hơn nữa. (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, Ta cũng cho phép dâng cúng đến cá nhân.’”
Tena kho pana samayena bhikkhunīnaṁ sannidhikataṁ āmisaṁ ussannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhunīnaṁ sannidhiṁ bhikkhūhi paṭiggāhāpetvā paribhuñjitun”ti.
On one occasion the nuns had an abundance of stored requisites. They told the Buddha.
“I allow what’s stored by the nuns to be received and used by the monks.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu-ni có được nhiều vật thực đã được cất giữ. (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép các tỳ-khưu, sau khi đã được dâng lên, được dùng vật thực đã được cất giữ của các tỳ-khưu-ni.’”
Tena kho pana samayena bhikkhūnaṁ senāsanaṁ ussannaṁ hoti, bhikkhunīnaṁ na hoti. Bhikkhuniyo bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pāhesuṁ—“sādhu, bhante, ayyā amhākaṁ senāsanaṁ dentu tāvakālikan”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhunīnaṁ senāsanaṁ dātuṁ tāvakālikan”ti.
On one occasion the monks had an abundance of furniture, but the nuns were lacking. The nuns sent a message to the monks, saying, “Venerables, please lend us some furniture.” They told the Buddha.
“I allow you to lend furniture to the nuns.”
422. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu có được nhiều trú xứ, còn các vị tỳ-khưu-ni thì không có. Các vị tỳ-khưu-ni đã gửi sứ giả đến chỗ các vị tỳ-khưu (với lời nhắn): ‘Bạch các ngài, tốt lành thay, mong các ngài hãy cho chúng tôi trú xứ trong một thời gian.’ (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép cho các tỳ-khưu-ni trú xứ trong một thời gian.’”
Tena kho pana samayena utuniyo bhikkhuniyo onaddhamañcaṁ onaddhapīṭhaṁ abhinisīdantipi abhinipajjantipi. Senāsanaṁ lohitena makkhiyyati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā onaddhamañcaṁ onaddhapīṭhaṁ abhinisīditabbaṁ abhinipajjitabbaṁ. Yā abhinisīdeyya vā abhinipajjeyya vā āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, āvasathacīvaran”ti.
Āvasathacīvaraṁ lohitena makkhiyyati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, āṇicoḷakan”ti.
Coḷakaṁ nipatati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, suttakena bandhitvā ūruyā bandhitun”ti.
Suttaṁ chijjati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, saṁvelliyaṁ, kaṭisuttakan”ti.
Menstruating nuns sat down and lay down on upholstered beds and benches. The furniture was stained with blood. They told the Buddha.
“A nun shouldn’t sit down or lay down on upholstered beds or benches. If she does, she commits an offense of wrong conduct. I allow a communal robe.”
The communal robe became stained with blood. They told the Buddha.
“I allow menstruation pads.”
The pads fell off. They told the Buddha.
“I allow the nuns to attach a string and then bind it to the thigh.”
The string snapped. They told the Buddha.
“I allow a loin cloth and a girdle.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu-ni đang có kinh nguyệt đã ngồi và nằm trên giường có dây bện, ghế có dây bện. Trú xứ bị dính máu. (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu-ni không được ngồi, không được nằm trên giường có dây bện, ghế có dây bện. Vị nào ngồi hay nằm thì phạm tội tác ác. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép (dùng) y cho lúc có kinh nguyệt.’ Y cho lúc có kinh nguyệt bị dính máu. (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép (dùng) miếng vải lót.’ Miếng vải lót bị rơi xuống. (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép dùng chỉ buộc lại rồi buộc vào đùi.’ Sợi chỉ bị đứt. (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép (cách mặc) đóng khố và dây thắt lưng.’”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhuniyo sabbakālaṁ kaṭisuttakaṁ dhārenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihinī kāmabhoginiyo”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā sabbakālaṁ kaṭisuttakaṁ dhāretabbaṁ. Yā dhāreyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, utuniyā kaṭisuttakan”ti.
Soon afterwards the nuns from the group of six wore girdles all the time. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“A nun shouldn’t wear a girdle all the time. If she does, she commits an offense of wrong conduct. I allow a nun to wear a girdle while she’s menstruating.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu-ni nhóm Lục Sư luôn luôn mang dây thắt lưng. Người đời phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: ‘Giống như các nữ gia chủ hưởng thụ dục lạc.’ (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu-ni không được luôn luôn mang dây thắt lưng. Vị nào mang thì phạm tội tác ác. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép (mang) dây thắt lưng khi có kinh nguyệt.’”
Dutiyabhāṇavāro niṭṭhito.
The second section for recitation is finished.
The ordination ceremony
Phẩm thứ hai đã kết thúc.
Tena kho pana samayena upasampannāyo dissanti—animittāpi, nimittamattāpi, alohitāpi, dhuvalohitāpi, dhuvacoḷāpi, paggharantīpi, sikharaṇīpi, itthipaṇḍakāpi, vepurisikāpi, sambhinnāpi, ubhatobyañjanāpi. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, upasampādentiyā catuvīsati antarāyike dhamme pucchituṁ.
Evañca pana, bhikkhave, pucchitabbā—‘nasi animittā, nasi nimittamattā, nasi alohitā, nasi dhuvalohitā, nasi dhuvacoḷā, nasi paggharantī, nasi sikharaṇī, nasi itthipaṇḍakā, nasi vepurisikā, nasi sambhinnā, nasi ubhatobyañjanā? Santi te evarūpā ābādhā—kuṭṭhaṁ, gaṇḍo, kilāso, soso, apamāro? Manussāsi, itthīsi, bhujissāsi, aṇaṇāsi, nasi rājabhaṭī? Anuññātāsi mātāpitūhi, sāmikena? Paripuṇṇavīsativassāsi, paripuṇṇaṁ te pattacīvaraṁ, kiṁnāmāsi, kānāmā te pavattinī’”ti?
At that time the full ordination had been given to women who lacked genitals, who had incomplete genitals, who did not menstruate, who menstruated continuously, who always wore menstruation pads, who were incontinent, who had genital prolapse, who lacked sexual organs, who were manlike, who had fistula, who were gynandromorphs. They told the Buddha.
“The nun who is giving the full ordination should ask about twenty-four obstacles.
And it should be done like this: ‘Do you lack genitals? Are your genitals incomplete? Do you not menstruate? Do you menstruate continuously? Do you always wear a menstruation pad? Are you incontinent? Do you have genital prolapse? Do you lack sexual organs? Are you manlike? Do you have fistula? Are you a gynandromorph? Do you have any of these diseases: leprosy, abscesses, mild leprosy, tuberculosis, or epilepsy? Are you human? Are you a woman? Are you free from slavery? Are you free from debt? Are you employed by the king? Do you have permission from your parents and husband? Are you twenty years old? Do you have a full set of bowl and robes? What’s your name? What’s the name of your mentor?’”
423. Vào lúc bấy giờ, các vị (tỳ-khưu-ni) đã được tu lên bậc trên được trông thấy là: người không có tướng nữ, người chỉ có dấu vết của tướng nữ, người không có kinh nguyệt, người có kinh nguyệt thường xuyên, người phải dùng vải lót thường xuyên, người bị rỉ máu, người có âm hạch quá lớn, người nữ paṇḍaka, người có vẻ nam tính, người có hai đường thông nhau, và người có cả hai giới tính. (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép hỏi người nữ xin tu lên bậc trên hai mươi bốn pháp ngăn trở. Và này các tỳ-khưu, nên hỏi như sau: ‘(Này cô), cô không phải là người không có tướng nữ phải không? Cô không phải là người chỉ có dấu vết của tướng nữ phải không? Cô không phải là người không có kinh nguyệt phải không? Cô không phải là người có kinh nguyệt thường xuyên phải không? Cô không phải là người phải dùng vải lót thường xuyên phải không? Cô không phải là người bị rỉ máu phải không? Cô không phải là người có âm hạch quá lớn phải không? Cô không phải là người nữ paṇḍaka phải không? Cô không phải là người có vẻ nam tính phải không? Cô không phải là người có hai đường thông nhau phải không? Cô không phải là người có cả hai giới tính phải không? Cô có các chứng bệnh như thế này không: bệnh cùi, ung nhọt, bệnh ngoài da, bệnh lao, bệnh động kinh? Cô có phải là người không? Có phải là phụ nữ không? Có phải là người tự do không? Có phải là người không mắc nợ không? Cô không phải là người phục vụ trong hoàng gia phải không? Cô đã được cha mẹ và chồng cho phép chưa? Cô đã đủ hai mươi tuổi chưa? Y bát của cô đã đầy đủ chưa? Tên của cô là gì? Vị thầy tế độ của cô tên là gì?’’
Tena kho pana samayena bhikkhū bhikkhunīnaṁ antarāyike dhamme pucchanti. Upasampadāpekkhāyo vitthāyanti, maṅkū honti, na sakkonti vissajjetuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ekatoupasampannāya bhikkhunisaṅghe visuddhāya bhikkhusaṅghe upasampādetun”ti.
Soon afterwards the monks asked the nuns about the obstacles. Those seeking the full ordination were embarrassed, humiliated, and unable to respond. They told the Buddha.
“Only when a woman who’s free from obstacles has been fully ordained on one side in the Sangha of nuns, should you give her the full ordination in the Sangha of monks.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu hỏi các vị tỳ-khưu-ni về các pháp ngăn trở. Những người nữ xin tu lên bậc trên cảm thấy bối rối, xấu hổ, không thể trả lời được. (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép tu lên bậc trên ở Tăng chúng tỳ-khưu đối với người đã được thanh tịnh qua việc tu lên bậc trên một lần ở Tăng chúng tỳ-khưu-ni.’”
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo ananusiṭṭhā upasampadāpekkhāyo antarāyike dhamme pucchanti. Upasampadāpekkhāyo vitthāyanti, maṅkū honti, na sakkonti vissajjetuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, paṭhamaṁ anusāsitvā pacchā antarāyike dhamme pucchitun”ti.
The nuns asked those seeking the full ordination about the obstacles without first instructing them. They were embarrassed, humiliated, and unable to respond. They told the Buddha.
“The nuns should instruct first and then ask about the obstacles.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu-ni hỏi những người nữ xin tu lên bậc trên chưa được chỉ dạy về các pháp ngăn trở. Những người nữ xin tu lên bậc trên cảm thấy bối rối, xấu hổ, không thể trả lời được. (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép chỉ dạy trước rồi sau đó mới hỏi về các pháp ngăn trở.’”
Tattheva saṅghamajjhe anusāsanti. Upasampadāpekkhāyo tatheva vitthāyanti, maṅkū honti, na sakkonti vissajjetuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ekamantaṁ anusāsitvā saṅghamajjhe antarāyike dhamme pucchituṁ.
Evañca pana, bhikkhave, anusāsitabbā.
They instructed them right there in the midst of the Sangha. Once again those seeking the full ordination were embarrassed, humiliated, and unable to respond. They told the Buddha.
“The nuns should instruct them at a distance and then ask about the obstacles in the midst of the Sangha.
And it should be done like this.
(Các vị tỳ-khưu-ni) đã chỉ dạy ngay giữa Tăng chúng. Những người nữ xin tu lên bậc trên cũng vẫn cảm thấy bối rối, xấu hổ, không thể trả lời được. (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép chỉ dạy ở một nơi riêng, rồi sau đó hỏi về các pháp ngăn trở ở giữa Tăng chúng. Và này các tỳ-khưu, nên chỉ dạy như vầy.’”
424. ‘Trước tiên, nên làm cho (người nữ) nhận thầy tế độ. Sau khi đã làm cho nhận thầy tế độ, nên chỉ cho y bát (và nói): ‘Đây là bát của cô, đây là y hai lớp, đây là thượng y, đây là hạ y, đây là y che ngực, đây là y tắm; hãy đi, đứng ở nơi kia.’’
Bālā abyattā anusāsanti. Duranusiṭṭhā upasampadāpekkhāyo vitthāyanti, maṅkū honti, na sakkonti vissajjetuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bālāya abyattāya anusāsitabbā. Yā anusāseyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, byattāya bhikkhuniyā paṭibalāya anusāsitun”ti.
They were instructed by nuns who were ignorant and incompetent. And because they were badly instructed, they were once again embarrassed, humiliated, and unable to respond. They told the Buddha.
“A nun who’s ignorant and incompetent shouldn’t instruct. If she does, she commits an offense of wrong conduct. A nun who’s competent and capable should instruct.”
Các vị (tỳ-khưu-ni) ngu dốt, không khéo léo đã chỉ dạy. Những người nữ xin tu lên bậc trên được chỉ dạy một cách tồi tệ đã cảm thấy bối rối, xấu hổ, không thể trả lời được. (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, không nên để người ngu dốt, không khéo léo chỉ dạy. Vị nào chỉ dạy thì phạm tội tác ác. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép vị tỳ-khưu-ni thông thạo, có khả năng được chỉ dạy.’”
Asammatā anusāsanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, asammatāya anusāsitabbā. Yā anusāseyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, sammatāya anusāsituṁ.
Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbā—attanā vā attānaṁ sammannitabbaṁ, parāya vā parā sammannitabbā.
They instructed without having been appointed. They told the Buddha.
“A nun shouldn’t instruct if she hasn’t been appointed. If she does, she commits an offense of wrong conduct. I allow a nun to instruct if she’s been appointed to do so.
And it should be done like this. One is either appointed through oneself or through another.
Các vị chưa được chỉ định đã giáo giới. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): – Này các tỳ khưu, vị chưa được chỉ định thì không nên giáo giới. Vị nào giáo giới thì phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị đã được chỉ định được giáo giới. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Hoặc tự mình chỉ định cho mình, hoặc người khác chỉ định cho người khác.
‘suṇātu me, ayye, saṅgho. Itthannāmā itthannāmāya ayyāya upasampadāpekkhā. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ itthannāmā itthannāmaṁ anusāseyyan’ti.
Evaṁ attanāva attānaṁ sammannitabbaṁ.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. If the Sangha is ready, I so-and-so will instruct so-and-so.’
Và thế nào là tự mình chỉ định cho mình? Vị tỳ khưu ni thông thạo, có khả năng nên tác bạch cho Tăng chúng biết rằng: ‘Kính bạch chư tôn đức ni, xin Tăng chúng lắng nghe con. Thí sinh tên là… là người mong cầu thọ cụ túc giới từ ni sư tên là… Nếu Tăng chúng nhận thấy đã đến thời điểm thích hợp, con, tên là…, sẽ giáo giới cho thí sinh tên là…’ Như vậy là tự mình chỉ định cho mình.
Kathañca parāya parā sammannitabbā? Byattāya bhikkhuniyā paṭibalāya saṅgho ñāpetabbo—
‘suṇātu me, ayye, saṅgho. Itthannāmā itthannāmāya ayyāya upasampadāpekkhā. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, itthannāmā itthannāmaṁ anusāseyyā’ti.
Evaṁ parāya parā sammannitabbā.
And how is one appointed through another? A competent and capable nun should inform the Sangha:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. If the Sangha is ready, so-and-so will instruct so-and-so.’
Và thế nào là người khác chỉ định cho người khác? Vị tỳ khưu ni thông thạo, có khả năng nên tác bạch cho Tăng chúng biết rằng: ‘Kính bạch chư tôn đức ni, xin Tăng chúng lắng nghe con. Thí sinh tên là… là người mong cầu thọ cụ túc giới từ ni sư tên là… Nếu Tăng chúng nhận thấy đã đến thời điểm thích hợp, tỳ khưu ni tên là… sẽ giáo giới cho thí sinh tên là…’ Như vậy là người khác chỉ định cho người khác.
Tāya sammatāya bhikkhuniyā upasampadāpekkhaṁ upasaṅkamitvā evamassa vacanīyā—‘suṇasi itthannāme. Ayaṁ te saccakālo, bhūtakālo. Yaṁ jātaṁ taṁ saṅghamajjhe pucchante santaṁ atthīti vattabbaṁ, asantaṁ natthīti vattabbaṁ. Mā kho vitthāyi, mā kho maṅku ahosi. Evaṁ taṁ pucchissanti—nasi animittā, nasi nimittamattā, nasi alohitā, nasi dhuvalohitā, nasi dhuvacoḷā, nasi paggharantī, nasi sikharaṇī, nasi itthipaṇḍakā, nasi vepurisikā, nasi sambhinnā, nasi ubhatobyañjanā? Santi te evarūpā ābādhā—kuṭṭhaṁ, gaṇḍo, kilāso, soso, apamāro? Manussāsi, itthīsi, bhujissāsi, aṇaṇāsi, nasi rājabhaṭī? Anuññātāsi mātāpitūhi, sāmikena? Paripuṇṇavīsativassāsi, paripuṇṇaṁ te pattacīvaraṁ, kiṁnāmāsi, kānāmā te pavattinī’ti?
The appointed nun should go to the one seeking the full ordination and say this: ‘Listen, so-and-so. Now is the time for you to tell the truth. You will be asked in the midst of the Sangha about various matters. If something is true, you should say, “Yes,” and if it’s not, you should say, “No.” Don’t be embarrassed or humiliated. This is what they’ll ask you: “Do you lack genitals? Are your genitals incomplete? Do you not menstruate? Do you menstruate continuously? Do you always wear a menstruation pad? Are you incontinent? Do you have genital prolapse? Do you lack sexual organs? Are you manlike? Do you have fistula? Are you a gynandromorph? Do you have any of these diseases: leprosy, abscesses, mild leprosy, tuberculosis, or epilepsy? Are you human? Are you a woman? Are you free from slavery? Are you free from debt? Are you employed by the king? Do you have permission from your parents and husband? Are you twenty years old? Do you have a full set of bowl and robes? What’s your name? What’s the name of your mentor?”’”
Vị tỳ khưu ni đã được chỉ định ấy, sau khi đến gần thí sinh mong cầu thọ cụ túc giới, nên nói như vầy: ‘Này cô (tên là…), hãy nghe đây. Đây là lúc nói sự thật, lúc nói đúng sự thật. Khi được hỏi giữa Tăng chúng về điều gì đã xảy ra, có thì phải nói là có, không có thì phải nói là không có. Chớ có bối rối, chớ có lúng túng. Họ sẽ hỏi cô như vầy: – Cô có phải là người không có nữ căn không? Cô có phải là người chỉ có dấu vết nữ căn không? Cô có phải là người không có kinh nguyệt không? Cô có phải là người kinh nguyệt không ngừng không? Cô có phải là người luôn phải dùng vải lót không? Cô có phải là người bị huyết lậu không? Cô có phải là người có âm hạch dài không? Cô có phải là người bán nam bán nữ (ái nữ) không? Cô có phải là người có tính nam không? Cô có phải là người có hai đường thông nhau không? Cô có phải là người lưỡng tính không? Cô có mắc các bệnh như thế này không: bệnh cùi, ung nhọt, bạch biến, lao phổi, động kinh? Cô có phải là người không? Cô có phải là nữ nhân không? Cô có phải là người tự do không? Cô có phải là người không mắc nợ không? Cô có phải là người phục vụ trong hoàng gia không? Cô có được cha mẹ, chồng cho phép không? Cô có đủ hai mươi tuổi không? Y bát của cô có đầy đủ không? Tên của cô là gì? Tên của vị hòa thượng ni của cô là gì?’
Ekato āgacchanti.
Na ekato āgantabbaṁ.
Anusāsikāya paṭhamataraṁ āgantvā saṅgho ñāpetabbo—
‘suṇātu me, ayye, saṅgho. Itthannāmā itthannāmāya ayyāya upasampadāpekkhā. Anusiṭṭhā sā mayā. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, itthannāmā āgaccheyyā’ti.
‘Āgacchāhī’ti vattabbā.
They then returned to the Sangha together.
“They shouldn’t return together.
The instructor should return first and inform the Sangha:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. She has been instructed by me. If the Sangha is ready, so-and-so should come.’
And she should be told to come.
(Họ) đến cùng một lúc. Không nên đến cùng một lúc. Vị giáo giới sư nên đến trước và tác bạch cho Tăng chúng biết rằng: ‘Kính bạch chư tôn đức ni, xin Tăng chúng lắng nghe con. Thí sinh tên là… là người mong cầu thọ cụ túc giới từ ni sư tên là… Con đã giáo giới cho vị ấy rồi. Nếu Tăng chúng nhận thấy đã đến thời điểm thích hợp, xin cho thí sinh tên là… được đến.’ Và nên nói (với thí sinh): ‘Hãy đến đây.’
‘saṅghaṁ, ayye, upasampadaṁ yācāmi. Ullumpatu maṁ, ayye, saṅgho anukampaṁ upādāya. Dutiyampi, ayye, saṅghaṁ upasampadaṁ yācāmi. Ullumpatu maṁ, ayye, saṅgho anukampaṁ upādāya. Tatiyampi, ayye, saṅghaṁ upasampadaṁ yācāmi. Ullumpatu maṁ, ayye, saṅgho anukampaṁ upādāyā’ti.
Byattāya bhikkhuniyā paṭibalāya saṅgho ñāpetabbo—
‘Venerables, I ask the Sangha for the full ordination. Please lift me up out of compassion. For the second time, venerables, I ask the Sangha for the full ordination. Please lift me up out of compassion. For the third time, venerables, I ask the Sangha for the full ordination. Please lift me up out of compassion.’
A competent and capable nun should then inform the Sangha:
Nên bảo (thí sinh) vắt thượng y qua một bên vai, đảnh lễ dưới chân các tỳ khưu ni, ngồi xổm, chắp tay, và xin thọ cụ túc giới rằng: ‘Kính bạch chư tôn đức ni, con xin Tăng chúng cho thọ cụ túc giới. Kính bạch chư tôn đức ni, xin Tăng chúng vì lòng thương tưởng mà cứu vớt con. Lần thứ hai, kính bạch chư tôn đức ni, con xin Tăng chúng cho thọ cụ túc giới. Kính bạch chư tôn đức ni, xin Tăng chúng vì lòng thương tưởng mà cứu vớt con. Lần thứ ba, kính bạch chư tôn đức ni, con xin Tăng chúng cho thọ cụ túc giới. Kính bạch chư tôn đức ni, xin Tăng chúng vì lòng thương tưởng mà cứu vớt con.’ Vị tỳ khưu ni thông thạo, có khả năng nên tác bạch cho Tăng chúng biết rằng:
‘Suṇātu me, ayye, saṅgho. Ayaṁ itthannāmā itthannāmāya ayyāya upasampadāpekkhā. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ itthannāmaṁ antarāyike dhamme puccheyyanti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. If the Sangha is ready, I so-and-so will ask so-and-so about the obstacles.
‘Kính bạch chư tôn đức ni, xin Tăng chúng lắng nghe con. Thí sinh tên là… là người mong cầu thọ cụ túc giới từ ni sư tên là… Nếu Tăng chúng nhận thấy đã đến thời điểm thích hợp, con sẽ hỏi thí sinh tên là… về các pháp chướng ngại.’
Suṇasi itthannāme. Ayaṁ te saccakālo, bhūtakālo. Yaṁ jātaṁ taṁ pucchāmi santaṁ atthīti vattabbaṁ, asantaṁ natthīti vattabbaṁ. Nasi animittā …pe… kiṁnāmāsi, kānāmā te pavattinī’ti.
Byattāya bhikkhuniyā paṭibalāya saṅgho ñāpetabbo—
Listen, so-and-so. Now is the time for you to tell the truth. I will ask you about various matters. If something is true, you should say, “Yes,” and if it’s not, you should say, “No.” So: Do you lack genitals? Are your genitals incomplete? Do you not menstruate? Do you menstruate continuously? Do you always wear a menstruation pad? Are you incontinent? Do you have genital prolapse? Do you lack sexual organs? Are you manlike? Do you have fistula? Are you a gynandromorph? Do you have any of these diseases: leprosy, abscesses, mild leprosy, tuberculosis, or epilepsy? Are you human? Are you a woman? Are you free from slavery? Are you free from debt? Are you employed by the king? Do you have permission from your parents and husband? Are you twenty years old? Do you have a full set of bowl and robes? What’s your name? What’s the name of your mentor?’
A competent and capable nun should inform the Sangha:
‘Này cô (tên là…), hãy nghe đây. Đây là lúc nói sự thật, lúc nói đúng sự thật. Tôi hỏi cô về điều gì đã xảy ra, có thì phải nói là có, không có thì phải nói là không có. Cô có phải là người không có nữ căn không?… (v.v.)… Tên của cô là gì? Tên của vị hòa thượng ni của cô là gì?’ Vị tỳ khưu ni thông thạo, có khả năng nên tác bạch cho Tăng chúng biết rằng:
‘Suṇātu me, ayye, saṅgho. Ayaṁ itthannāmā itthannāmāya ayyāya upasampadāpekkhā. Parisuddhā antarāyikehi dhammehi, paripuṇṇassā pattacīvaraṁ. Itthannāmā saṅghaṁ upasampadaṁ yācati itthannāmāya ayyāya pavattiniyā. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ upasampādeyya itthannāmāya ayyāya pavattiniyā. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. She is free from obstacles and her bowl and robes are complete. So-and-so is asking the Sangha for the full ordination with so-and-so as her mentor. If the Sangha is ready, it should give so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor. This is the motion.
425. ‘Kính bạch chư tôn đức ni, xin Tăng chúng lắng nghe con. Thí sinh tên là… là người mong cầu thọ cụ túc giới từ ni sư tên là… Vị ấy trong sạch đối với các pháp chướng ngại, y bát của vị ấy đã đầy đủ. Thí sinh tên là… xin Tăng chúng cho thọ cụ túc giới với ni sư tên là… làm hòa thượng ni. Nếu Tăng chúng nhận thấy đã đến thời điểm thích hợp, xin Tăng chúng truyền cụ túc giới cho thí sinh tên là… với ni sư tên là… làm hòa thượng ni. Đây là lời tác bạch.’
Suṇātu me, ayye, saṅgho. Ayaṁ itthannāmā itthannāmāya ayyāya upasampadāpekkhā. Parisuddhā antarāyikehi dhammehi, paripuṇṇassā pattacīvaraṁ. Itthannāmā saṅghaṁ upasampadaṁ yācati itthannāmāya ayyāya pavattiniyā. Saṅgho itthannāmaṁ upasampādeti itthannāmāya ayyāya pavattiniyā. Yassā ayyāya khamati itthannāmāya upasampadā itthannāmāya ayyāya pavattiniyā, sā tuṇhassa; yassā nakkhamati, sā bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. She is free from obstacles and her bowl and robes are complete. So-and-so is asking the Sangha for the full ordination with so-and-so as her mentor. The Sangha gives so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor. Any nun who approves of giving so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor should remain silent. Any nun who doesn’t approve should speak up.
‘Kính bạch chư tôn đức ni, xin Tăng chúng lắng nghe con. Thí sinh tên là… là người mong cầu thọ cụ túc giới từ ni sư tên là… Vị ấy trong sạch đối với các pháp chướng ngại, y bát của vị ấy đã đầy đủ. Thí sinh tên là… xin Tăng chúng cho thọ cụ túc giới với ni sư tên là… làm hòa thượng ni. Tăng chúng truyền cụ túc giới cho thí sinh tên là… với ni sư tên là… làm hòa thượng ni. Vị tôn đức ni nào chấp thuận việc truyền cụ túc giới cho thí sinh tên là… với ni sư tên là… làm hòa thượng ni, xin hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, xin hãy lên tiếng.’
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe…
tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, ayye, saṅgho. Ayaṁ itthannāmā itthannāmāya ayyāya upasampadāpekkhā. Parisuddhā antarāyikehi dhammehi, paripuṇṇassā pattacīvaraṁ. Itthannāmā saṅghaṁ upasampadaṁ yācati itthannāmāya ayyāya pavattiniyā. Saṅgho itthannāmaṁ upasampādeti itthannāmāya ayyāya pavattiniyā. Yassā ayyāya khamati itthannāmāya upasampadā itthannāmāya ayyāya pavattiniyā, sā tuṇhassa; yassā nakkhamati, sā bhāseyya.
For the second time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. She is free from obstacles and her bowl and robes are complete. So-and-so is asking the Sangha for the full ordination with so-and-so as her mentor. The Sangha gives so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor. Any nun who approves of giving so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor should remain silent. Any nun who doesn’t approve should speak up.
For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. She is free from obstacles and her bowl and robes are complete. So-and-so is asking the Sangha for the full ordination with so-and-so as her mentor. The Sangha gives so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor. Any nun who approves of giving so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor should remain silent. Any nun who doesn’t approve should speak up.
‘Lần thứ hai, tôi xin nói lên điều này… (v.v.)… Lần thứ ba, tôi xin nói lên điều này: Kính bạch chư tôn đức ni, xin Tăng chúng lắng nghe con. Thí sinh tên là… là người mong cầu thọ cụ túc giới từ ni sư tên là… Vị ấy trong sạch đối với các pháp chướng ngại, y bát của vị ấy đã đầy đủ. Thí sinh tên là… xin Tăng chúng cho thọ cụ túc giới với ni sư tên là… làm hòa thượng ni. Tăng chúng truyền cụ túc giới cho thí sinh tên là… với ni sư tên là… làm hòa thượng ni. Vị tôn đức ni nào chấp thuận việc truyền cụ túc giới cho thí sinh tên là… với ni sư tên là… làm hòa thượng ni, xin hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, xin hãy lên tiếng.’
Upasampannā saṅghena itthannāmā itthannāmāya ayyāya pavattiniyā. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
The Sangha has given so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
‘Thí sinh tên là… đã được Tăng chúng truyền cụ túc giới với ni sư tên là… làm hòa thượng ni. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này như vậy.’
Tāvadeva taṁ ādāya bhikkhusaṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ kārāpetvā bhikkhūnaṁ pāde vandāpetvā ukkuṭikaṁ nisīdāpetvā añjaliṁ paggaṇhāpetvā upasampadaṁ yācāpetabbā—
‘ahaṁ, ayyā, itthannāmā itthannāmāya ayyāya upasampadāpekkhā. Ekatoupasampannā bhikkhunisaṅghe, visuddhā; saṅghaṁ, ayyā, upasampadaṁ yācāmi. Ullumpatu maṁ, ayyā, saṅgho anukampaṁ upādāya.
Ahaṁ, ayyā, itthannāmā itthannāmāya ayyāya upasampadāpekkhā. Ekatoupasampannā bhikkhunisaṅghe, visuddhā. Dutiyampi, ayyā, saṅghaṁ upasampadaṁ yācāmi. Ullumpatu maṁ, ayyā, saṅgho anukampaṁ upādāya.
Ahaṁ, ayyā, itthannāmā itthannāmāya ayyāya upasampadāpekkhā. Ekatoupasampannā bhikkhunisaṅghe, visuddhā. Tatiyampi, ayyā, saṅghaṁ upasampadaṁ yācāmi. Ullumpatu maṁ, ayyā, saṅgho anukampaṁ upādāyā’ti.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
Straightaway she should be taken to the Sangha of monks. She should arrange her upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the monks, squat on her heels, and raise her joined palms. She should then ask for the full ordination:
‘Venerables, I’m seeking the full ordination with venerable so-and-so. I’m free from obstacles and have been fully ordained on one side in the Sangha of nuns. I ask the Sangha for the full ordination. Please lift me up out of compassion.
Venerables, I’m seeking the full ordination with venerable so-and-so. I’m free from obstacles and have been fully ordained on one side in the Sangha of nuns. For the second time, I ask the Sangha for the full ordination. Please lift me up out of compassion.
Venerables, I’m seeking the full ordination with venerable so-and-so. I’m free from obstacles and have been fully ordained on one side in the Sangha of nuns. For the third time, I ask the Sangha for the full ordination. Please lift me up out of compassion.’
A competent and capable monk should inform the Sangha:
Ngay khi ấy, nên dẫn vị ấy đến chúng tỳ-khưu, cho mặc y thượng một bên vai, cho đảnh lễ chân của các vị tỳ-khưu, cho ngồi xổm, cho chắp tay, và cho xin thọ cụ túc giới rằng: ‘Kính bạch chư đại đức, con tên là ..., là người cầu thọ cụ túc giới của ni sư ..., đã được thọ cụ túc giới một bên ở chúng tỳ-khưu-ni, đã được thanh tịnh. Kính bạch chư đại đức, con xin chúng Tăng cho thọ cụ túc giới. Kính mong chư đại đức, do lòng thương tưởng, chúng Tăng hãy vớt con lên. Kính bạch chư đại đức, con tên là ..., là người cầu thọ cụ túc giới của ni sư ..., đã được thọ cụ túc giới một bên ở chúng tỳ-khưu-ni, đã được thanh tịnh. Kính bạch chư đại đức, lần thứ nhì, con xin chúng Tăng cho thọ cụ túc giới. Kính mong chư đại đức, do lòng thương tưởng, chúng Tăng hãy vớt con lên. Kính bạch chư đại đức, con tên là ..., là người cầu thọ cụ túc giới của ni sư ..., đã được thọ cụ túc giới một bên ở chúng tỳ-khưu-ni, đã được thanh tịnh. Kính bạch chư đại đức, lần thứ ba, con xin chúng Tăng cho thọ cụ túc giới. Kính mong chư đại đức, do lòng thương tưởng, chúng Tăng hãy vớt con lên.’ Vị tỳ-khưu có năng lực, có khả năng nên tác bạch cho chúng Tăng biết rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmā itthannāmāya upasampadāpekkhā. Ekatoupasampannā bhikkhunisaṅghe, visuddhā. Itthannāmā saṅghaṁ upasampadaṁ yācati itthannāmāya pavattiniyā. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ upasampādeyya, itthannāmāya pavattiniyā. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with so-and-so. She is free from obstacles and has been fully ordained on one side in the Sangha of nuns. So-and-so is asking the Sangha for the full ordination with so-and-so as her mentor. If the Sangha is ready, it should give so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor. This is the motion.
‘Kính bạch chư đại đức, mong chúng Tăng hãy nghe con. Vị này tên là ..., là người cầu thọ cụ túc giới của ni sư ... Đã được thọ cụ túc giới một bên ở chúng tỳ-khưu-ni, đã được thanh tịnh. Vị tên là ... với ni sư hòa thượng là ... xin chúng Tăng cho thọ cụ túc giới. Nếu việc làm này là hợp thời đối với chúng Tăng, mong chúng Tăng hãy truyền cụ túc giới cho vị tên là ... với ni sư hòa thượng là ... Đây là lời tác bạch.’
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmā itthannāmāya upasampadāpekkhā. Ekatoupasampannā bhikkhunisaṅghe, visuddhā. Itthannāmā saṅghaṁ upasampadaṁ yācati itthannāmāya pavattiniyā. Saṅgho itthannāmaṁ upasampādeti itthannāmāya pavattiniyā. Yassāyasmato khamati itthannāmāya upasampadā itthannāmāya pavattiniyā, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with so-and-so. She is free from obstacles and has been fully ordained on one side in the Sangha of nuns. So-and-so is asking the Sangha for the full ordination with so-and-so as her mentor. The Sangha gives so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor. Any monk who approves of giving so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Kính bạch chư đại đức, mong chúng Tăng hãy nghe con. Vị này tên là ..., là người cầu thọ cụ túc giới của ni sư ... Đã được thọ cụ túc giới một bên ở chúng tỳ-khưu-ni, đã được thanh tịnh. Vị tên là ... với ni sư hòa thượng là ... xin chúng Tăng cho thọ cụ túc giới. Chúng Tăng truyền cụ túc giới cho vị tên là ... với ni sư hòa thượng là ... Vị trưởng lão nào chấp thuận việc truyền cụ túc giới cho vị tên là ... với ni sư hòa thượng là ... thì vị ấy nên im lặng; vị nào không chấp thuận thì vị ấy nên nói lên.’
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe…
tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmā itthannāmāya upasampadāpekkhā. Ekatoupasampannā bhikkhunisaṅghe, visuddhā. Itthannāmā saṅghaṁ upasampadaṁ yācati itthannāmāya pavattiniyā. Saṅgho itthannāmaṁ upasampādeti itthannāmāya pavattiniyā. Yassāyasmato khamati itthannāmāya upasampadā itthannāmāya pavattiniyā, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the second time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with so-and-so. She is free from obstacles and has been fully ordained on one side in the Sangha of nuns. So-and-so is asking the Sangha for the full ordination with so-and-so as her mentor. The Sangha gives so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor. Any monk who approves of giving so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with so-and-so. She is free from obstacles and has been fully ordained on one side in the Sangha of nuns. So-and-so is asking the Sangha for the full ordination with so-and-so as her mentor. The Sangha gives so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor. Any monk who approves of giving so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Lần thứ nhì, tôi cũng nói lên điều này ... Lần thứ ba, tôi cũng nói lên điều này: Kính bạch chư đại đức, mong chúng Tăng hãy nghe con. Vị này tên là ..., là người cầu thọ cụ túc giới của ni sư ... Đã được thọ cụ túc giới một bên ở chúng tỳ-khưu-ni, đã được thanh tịnh. Vị tên là ... với ni sư hòa thượng là ... xin chúng Tăng cho thọ cụ túc giới. Chúng Tăng truyền cụ túc giới cho vị tên là ... với ni sư hòa thượng là ... Vị trưởng lão nào chấp thuận việc truyền cụ túc giới cho vị tên là ... với ni sư hòa thượng là ... thì vị ấy nên im lặng; vị nào không chấp thuận thì vị ấy nên nói lên.’
Upasampannā saṅghena itthannāmā itthannāmāya pavattiniyā. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
The Sangha has given so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
‘Vị tên là ... với ni sư hòa thượng là ... đã được chúng Tăng truyền cụ túc giới. Việc này được chúng Tăng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi xin ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Tāvadeva chāyā metabbā, utuppamāṇaṁ ācikkhitabbaṁ, divasabhāgo ācikkhitabbo, saṅgīti ācikkhitabbā, bhikkhuniyo vattabbā—imissā tayo ca nissaye, aṭṭha ca akaraṇīyāni ācikkheyyāthā”ti.
Straightaway the time should be noted and the date should be pointed out. These should be declared jointly to everyone. The nuns should be told to point out the three supports and the eight things not to be done.”
Ngay khi ấy, nên đo bóng nắng, nên nói rõ về thời tiết, nên nói rõ về phần của ngày, nên nói rõ về sự tổng hợp (của ba điều trên). Nên nói với các vị tỳ-khưu-ni rằng: ‘Các vị hãy nói cho vị này về ba pháp y chỉ và tám điều không được làm.’
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo bhattagge āsanaṁ saṅkasāyantiyo kālaṁ vītināmesuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, aṭṭhannaṁ bhikkhunīnaṁ yathāvuḍḍhaṁ, avasesānaṁ yathāgatikan”ti.
On one occasion the right time for eating passed while the nuns were trying to find the right seats in the dining hall. They told the Buddha.
“I allow eight nuns to be seated according to seniority, but the rest according to their time of arrival.”
426. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu-ni trong lúc dời chỗ ngồi ở nhà ăn đã làm trễ giờ. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép tám vị tỳ-khưu-ni (được nhận chỗ ngồi) theo thứ tự hạ lạp, các vị còn lại thì theo thứ tự đến.’
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo—“bhagavatā anuññātaṁ aṭṭhannaṁ bhikkhunīnaṁ yathāvuḍḍhaṁ, avasesānaṁ yathāgatikan”ti—sabbattha aṭṭheva bhikkhuniyo yathāvuḍḍhaṁ paṭibāhanti, avasesāyo yathāgatikaṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bhattagge aṭṭhannaṁ bhikkhunīnaṁ yathāvuḍḍhaṁ, avasesānaṁ yathāgatikaṁ; aññattha sabbattha yathāvuḍḍhaṁ na paṭibāhitabbaṁ. Yā paṭibāheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
When they heard about the Buddha’s allowance, eight nuns reserved places everywhere according to seniority, the rest getting places according to their time of arrival. They told the Buddha.
“I allow eight nuns to be seated in the dining hall according to seniority and the rest according to their time of arrival, but not anywhere else. If a nun makes a reservation anywhere apart from the dining hall, she commits an offense of wrong conduct.”
Invitation
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu-ni (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn đã cho phép tám vị tỳ-khưu-ni theo thứ tự hạ lạp, các vị còn lại thì theo thứ tự đến,’ rồi ở mọi nơi, họ đã ngăn cản (chỉ cho) tám vị tỳ-khưu-ni theo thứ tự hạ lạp, các vị còn lại thì theo thứ tự đến. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép ở nhà ăn, tám vị tỳ-khưu-ni theo thứ tự hạ lạp, các vị còn lại thì theo thứ tự đến; ở những nơi khác, không được ngăn cản (việc sắp xếp) theo thứ tự hạ lạp ở mọi nơi. Vị nào ngăn cản, phạm tội dukkaṭa.’
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo na pavārenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā na pavāretabbaṁ. Yā na pavāreyya, yathādhammo kāretabbo”ti.
At that time the nuns did not do the invitation ceremony. They told the Buddha.
“A nun should do the invitation ceremony. If she doesn’t, she should be dealt with according to the rule.”
427. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu-ni đã không làm lễ pavāraṇā. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu-ni không được không làm lễ pavāraṇā. Vị nào không làm lễ pavāraṇā, nên được xử trị theo đúng Pháp.’
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo attanā pavāretvā bhikkhusaṅghaṁ na pavārenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā attanā pavāretvā bhikkhusaṅgho na pavāretabbo. Yā na pavāreyya, yathādhammo kāretabbo”ti.
At that time the nuns did the invitation ceremony among themselves, but not with the Sangha of monks. They told the Buddha.
“After doing the invitation ceremony with the nuns, a nun should do the invitation ceremony with the monks. If she doesn’t, she should be dealt with according to the rule.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu-ni sau khi đã tự mình làm lễ pavāraṇā, đã không thỉnh mời chúng tỳ-khưu làm lễ pavāraṇā. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu-ni sau khi đã tự mình làm lễ pavāraṇā, không được không thỉnh mời chúng tỳ-khưu làm lễ pavāraṇā. Vị nào không thỉnh mời, nên được xử trị theo đúng Pháp.’
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo bhikkhūhi saddhiṁ ekato pavārentiyo kolāhalaṁ akaṁsu. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā bhikkhūhi saddhiṁ ekato pavāretabbaṁ. Yā pavāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
The nuns did their invitation ceremony together with the monks. They made a racket. They told the Buddha.
“The nuns shouldn’t do their invitation ceremony together with the monks. Any nun who does commits an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu-ni trong khi làm lễ pavāraṇā chung cùng với các vị tỳ-khưu đã gây ra sự ồn ào. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu-ni không được làm lễ pavāraṇā chung cùng với các vị tỳ-khưu. Vị nào làm lễ, phạm tội dukkaṭa.’
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo purebhattaṁ pavārentiyo kālaṁ vītināmesuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pacchābhattaṁ pavāretun”ti.
Pacchābhattaṁ pavārentiyo vikāle ahesuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ajjatanā bhikkhunisaṅghaṁ pavāretvā aparajju bhikkhusaṅghaṁ pavāretun”ti.
On one occasion when the nuns did the invitation ceremony before the meal, they did not finish until after the time for eating. They told the Buddha.
“I allow the nuns to do the invitation ceremony after the meal.”
Doing the invitation ceremony after the meal, they did not finish until it was too late in the evening. They told the Buddha.
“I allow the nuns to do the invitation ceremony among themselves on one day and with the monks on the following day.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu-ni trong khi làm lễ pavāraṇā trước buổi ăn đã làm trễ giờ. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép làm lễ pavāraṇā sau buổi ăn.’ Trong khi làm lễ pavāraṇā sau buổi ăn, họ đã (làm) vào lúc phi thời. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép sau khi chúng tỳ-khưu-ni đã làm lễ pavāraṇā hôm nay, thì ngày hôm sau hãy thỉnh mời chúng tỳ-khưu làm lễ pavāraṇā.’
Tena kho pana samayena sabbo bhikkhunisaṅgho pavārento kolāhalaṁ akāsi. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ekaṁ bhikkhuniṁ byattaṁ paṭibalaṁ sammannituṁ—bhikkhunisaṅghassa atthāya bhikkhusaṅghaṁ pavāretuṁ. Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbā. Paṭhamaṁ bhikkhunī yācitabbā, yācitvā byattāya bhikkhuniyā paṭibalāya saṅgho ñāpetabbo—
At that time the whole Sangha of nuns did the invitation ceremony. They made a racket. They told the Buddha.
“I allow the nuns to appoint one capable and competent nun to do the invitation ceremony with the Sangha of monks on behalf of the Sangha of nuns. She should be appointed like this. First a nun should be asked, and then a competent and capable nun should inform the Sangha:
Vào lúc bấy giờ, toàn thể chúng tỳ-khưu-ni đang làm lễ tự tứ đã gây ra tiếng ồn ào. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép chỉ định một vị tỳ-khưu-ni có khả năng, có năng lực để thỉnh mời chúng tỳ-khưu tự tứ vì lợi ích của chúng tỳ-khưu-ni. Và này các tỳ-khưu, vị ấy nên được chỉ định như sau: Trước tiên, nên thỉnh cầu vị tỳ-khưu-ni. Sau khi đã thỉnh cầu, vị tỳ-khưu-ni có khả năng, có năng lực nên trình cho chúng biết –
‘Suṇātu me, ayye, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuniṁ sammanneyya bhikkhunisaṅghassa atthāya bhikkhusaṅghaṁ pavāretuṁ. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should appoint nun so-and-so to do the invitation ceremony with the Sangha of monks on behalf of the Sangha of nuns. This is the motion.
‘Kính bạch chư trưởng lão ni, mong chúng hãy lắng nghe con. Nếu thời điểm thích hợp cho chúng, chúng nên chỉ định tỳ-khưu-ni tên là... để thỉnh mời chúng tỳ-khưu tự tứ vì lợi ích của chúng tỳ-khưu-ni. Đây là lời tác bạch.’
Suṇātu me, ayye, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuniṁ sammannati bhikkhunisaṅghassa atthāya bhikkhusaṅghaṁ pavāretuṁ. Yassā ayyāya khamati itthannāmāya bhikkhuniyā sammuti bhikkhunisaṅghassa atthāya bhikkhusaṅghaṁ pavāretuṁ, sā tuṇhassa; yassā nakkhamati, sā bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha appoints nun so-and-so to do the invitation ceremony with the Sangha of monks on behalf of the Sangha of nuns. Any nun who approves of appointing nun so-and-so to do the invitation ceremony with the Sangha of monks on behalf of the Sangha of nuns should remain silent. Any nun who doesn’t approve should speak up.
‘Kính bạch chư trưởng lão ni, mong chúng hãy lắng nghe con. Chúng chỉ định tỳ-khưu-ni tên là... để thỉnh mời chúng tỳ-khưu tự tứ vì lợi ích của chúng tỳ-khưu-ni. Vị trưởng lão ni nào chấp thuận việc chỉ định tỳ-khưu-ni tên là... để thỉnh mời chúng tỳ-khưu tự tứ vì lợi ích của chúng tỳ-khưu-ni thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.’
Sammatā saṅghena itthannāmā bhikkhunī bhikkhunisaṅghassa atthāya bhikkhusaṅghaṁ pavāretuṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
The Sangha has appointed nun so-and-so to do the invitation ceremony with the Sangha of monks on behalf of the Sangha of nuns. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
‘Tỳ-khưu-ni tên là... đã được chúng chỉ định để thỉnh mời chúng tỳ-khưu tự tứ vì lợi ích của chúng tỳ-khưu-ni. Chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Tāya sammatāya bhikkhuniyā bhikkhunisaṅghaṁ ādāya bhikkhusaṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘bhikkhunisaṅgho, ayyā, bhikkhusaṅghaṁ pavāreti—diṭṭhena vā, sutena vā parisaṅkāya vā. Vadatu, ayyā, bhikkhusaṅgho bhikkhunisaṅghaṁ anukampaṁ upādāya, passanto paṭikarissati. Dutiyampi, ayyā …pe… tatiyampi, ayyā, bhikkhunisaṅgho bhikkhusaṅghaṁ pavāreti—diṭṭhena vā, sutena vā, parisaṅkāya vā. Vadatu, ayyā, bhikkhusaṅgho bhikkhunisaṅghaṁ anukampaṁ upādāya, passanto paṭikarissatī’”ti.
The appointed nun should take the Sangha of nuns to the Sangha of monks. She should then arrange her upper robe over one shoulder, squat on her heels, raise her joined palms, and say: ‘Venerables, the Sangha of nuns invites the Sangha of monks to correct it concerning what you’ve seen, heard, or suspect. Please correct the Sangha of nuns, venerables, out of compassion. If the Sangha of nuns sees a fault, it will make amends. For the second time, the Sangha of nuns invites the Sangha of monks to correct it concerning what you’ve seen, heard, or suspect. Please correct the Sangha of nuns, venerables, out of compassion. If the Sangha of nuns sees a fault, it will make amends. For the third time, the Sangha of nuns invites the Sangha of monks to correct it concerning what you’ve seen, heard, or suspect. Please correct the Sangha of nuns, venerables, out of compassion. If the Sangha of nuns sees a fault, it will make amends.’”
Mutual authority between monks and nuns
Vị tỳ-khưu-ni đã được chỉ định ấy nên dẫn chúng tỳ-khưu-ni đến gặp chúng tỳ-khưu, vắt thượng y qua một bên vai, đảnh lễ chân các vị tỳ-khưu, ngồi xổm, chắp tay, và nên nói như vầy: ‘Kính bạch chư đại đức, chúng tỳ-khưu-ni thỉnh mời chúng tỳ-khưu tự tứ về điều đã được thấy, hoặc đã được nghe, hoặc đã được nghi. Kính bạch chư đại đức, mong chúng tỳ-khưu vì lòng bi mẫn đối với chúng tỳ-khưu-ni mà chỉ dạy; khi thấy ra, chúng con sẽ sửa đổi. Lần thứ nhì, kính bạch chư đại đức... Lần thứ ba, kính bạch chư đại đức, chúng tỳ-khưu-ni thỉnh mời chúng tỳ-khưu tự tứ về điều đã được thấy, hoặc đã được nghe, hoặc đã được nghi. Kính bạch chư đại đức, mong chúng tỳ-khưu vì lòng bi mẫn đối với chúng tỳ-khưu-ni mà chỉ dạy; khi thấy ra, chúng con sẽ sửa đổi.’
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo bhikkhūnaṁ uposathaṁ ṭhapenti, pavāraṇaṁ ṭhapenti, savacanīyaṁ karonti, anuvādaṁ paṭṭhapenti, okāsaṁ kārenti, codenti, sārenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā bhikkhussa uposatho ṭhapetabbo; ṭhapitopi aṭṭhapito; ṭhapentiyā āpatti dukkaṭassa.
Na pavāraṇā ṭhapetabbā; ṭhapitāpi aṭṭhapitā; ṭhapentiyā āpatti dukkaṭassa.
Na savacanīyaṁ kātabbaṁ; katampi akataṁ; karontiyā āpatti dukkaṭassa.
Na anuvādo paṭṭhapetabbo; paṭṭhapitopi appaṭṭhapito; paṭṭhapentiyā āpatti dukkaṭassa.
Na okāso kāretabbo; kāritopi akārito; kārentiyā āpatti dukkaṭassa.
Na codetabbo; coditopi acodito; codentiyā āpatti dukkaṭassa.
Na sāretabbo; sāritopi asārito; sārentiyā āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the nuns canceled the monks’ observance-day ceremony and their invitation ceremony; they directed them, gave them instructions, got permission from them to correct them, accused them of offenses, and reminded them of offenses. They told the Buddha.
“A nun shouldn’t cancel the observance-day ceremony of a monk. If she does, it’s not valid, and she commits an offense of wrong conduct.
A nun shouldn’t cancel the invitation ceremony of a monk. If she does, it’s not valid, and she commits an offense of wrong conduct.
A nun shouldn’t direct a monk. If she does, it’s not valid, and she commits an offense of wrong conduct.
A nun shouldn’t give instructions to a monk. If she does, it’s not valid, and she commits an offense of wrong conduct.
A nun shouldn’t ask permission from a monk to correct him. If she does, it’s not valid, and she commits an offense of wrong conduct.
A nun shouldn’t accuse a monk of an offense. If she does, it’s not valid, and she commits an offense of wrong conduct.
A nun shouldn’t remind a monk of an offense. If she does, it’s not valid, and she commits an offense of wrong conduct.”
428. Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu-ni đình chỉ lễ bố-tát của các tỳ-khưu, đình chỉ lễ tự tứ, thực hiện việc khiển trách, khởi xướng việc chỉ trích, yêu cầu sự cho phép, chất vấn, nhắc nhở. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni không được đình chỉ lễ bố-tát của tỳ-khưu; dù đã đình chỉ cũng không thành đình chỉ; vị nào đình chỉ thì phạm tội tác ác. Không được đình chỉ lễ tự tứ; dù đã đình chỉ cũng không thành đình chỉ; vị nào đình chỉ thì phạm tội tác ác. Không được thực hiện việc khiển trách; dù đã thực hiện cũng không thành thực hiện; vị nào thực hiện thì phạm tội tác ác. Không được khởi xướng việc chỉ trích; dù đã khởi xướng cũng không thành khởi xướng; vị nào khởi xướng thì phạm tội tác ác. Không được yêu cầu sự cho phép; dù đã yêu cầu cũng không thành yêu cầu; vị nào yêu cầu thì phạm tội tác ác. Không được chất vấn; dù đã chất vấn cũng không thành chất vấn; vị nào chất vấn thì phạm tội tác ác. Không được nhắc nhở; dù đã nhắc nhở cũng không thành nhắc nhở; vị nào nhắc nhở thì phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena bhikkhū bhikkhunīnaṁ uposathaṁ ṭhapenti, pavāraṇaṁ ṭhapenti, savacanīyaṁ karonti, anuvādaṁ paṭṭhapenti, okāsaṁ kārenti, codenti, sārenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhunā bhikkhuniyā uposathaṁ ṭhapetuṁ; ṭhapitopi suṭṭhapito; ṭhapentassa anāpatti.
Pavāraṇaṁ ṭhapetuṁ; ṭhapitāpi suṭṭhapitā; ṭhapentassa anāpatti.
Savacanīyaṁ kātuṁ; katampi sukataṁ; karontassa anāpatti.
Anuvādaṁ paṭṭhapetuṁ; paṭṭhapitopi suppaṭṭhapito; paṭṭhapentassa anāpatti.
Okāsaṁ kāretuṁ; kāritopi sukārito; kārentassa anāpatti.
Codetuṁ; coditāpi sucoditā; codentassa anāpatti.
Sāretuṁ; sāritāpi susāritā; sārentassa anāpattī”ti.
At that time the monks canceled the nuns’ observance-day ceremony and their invitation ceremony; they directed them, gave them instructions, got permission from them to correct them, accused them of offenses, and reminded them of offenses. They told the Buddha.
“A monk may cancel the observance-day ceremony of a nun. If he does, it’s valid, and there’s no offense for him.
A monk may cancel the invitation ceremony of a nun. If he does, it’s valid, and there’s no offense for him.
A monk may direct a nun. If he does, it’s valid, and there’s no offense for him.
A monk may give instructions to a nun. If he does, it’s valid, and there’s no offense for him.
A monk may ask permission from a nun to correct her. If he does, it’s valid, and there’s no offense for him.
A monk may accuse a nun of an offense. If he does, it’s valid, and there’s no offense for him.
A monk may remind a nun of an offense. If he does, it’s valid, and there’s no offense for him.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu đình chỉ lễ bố-tát của các tỳ-khưu-ni, đình chỉ lễ tự tứ, thực hiện việc khiển trách, khởi xướng việc chỉ trích, yêu cầu sự cho phép, chất vấn, nhắc nhở. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép tỳ-khưu đình chỉ lễ bố-tát của tỳ-khưu-ni; việc đình chỉ ấy là hợp lệ; vị nào đình chỉ thì không phạm tội. (Ta cho phép) đình chỉ lễ tự tứ; việc đình chỉ ấy là hợp lệ; vị nào đình chỉ thì không phạm tội. (Ta cho phép) thực hiện việc khiển trách; việc thực hiện ấy là hợp lệ; vị nào thực hiện thì không phạm tội. (Ta cho phép) khởi xướng việc chỉ trích; việc khởi xướng ấy là hợp lệ; vị nào khởi xướng thì không phạm tội. (Ta cho phép) yêu cầu sự cho phép; việc yêu cầu ấy là hợp lệ; vị nào yêu cầu thì không phạm tội. (Ta cho phép) chất vấn; việc chất vấn ấy là hợp lệ; vị nào chất vấn thì không phạm tội. (Ta cho phép) nhắc nhở; việc nhắc nhở ấy là hợp lệ; vị nào nhắc nhở thì không phạm tội.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhuniyo yānena yāyanti—itthiyuttenapi purisantarena, purisayuttenapi itthantarena. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti …pe… seyyathāpi gaṅgāmahiyāyā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā yānena yāyitabbaṁ. Yā yāyeyya, yathādhammo kāretabbo”ti.
At that time the nuns from the group of six traveled in vehicles, sometimes pulled by women with men inside, at other times pulled by men with women inside. People complained and criticized them, “You’d think they were at the Ganges festival!” They told the Buddha.
“A nun shouldn’t travel in a vehicle. If she does, she should be dealt with according to the rule.”
429. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ-khưu-ni đi lại bằng xe cộ – loại xe do con cái kéo và người nam điều khiển, và loại xe do con đực kéo và người nữ điều khiển. Dân chúng phàn nàn, chê bai, dị nghị: ‘... Giống như những người đi lễ hội sông Gaṅgā và sông Mahī vậy.’ (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni không được đi lại bằng xe cộ. Vị nào đi lại thì phải được xử trị đúng theo Pháp.”
Tena kho pana samayena aññatarā bhikkhunī gilānā hoti, na sakkoti padasā gantuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gilānāya yānan”ti.
Atha kho bhikkhunīnaṁ etadahosi—“itthiyuttaṁ nu kho, purisayuttaṁ nu kho”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, itthiyuttaṁ purisayuttaṁ hatthavaṭṭakan”ti.
Soon afterwards there was a sick nun who was unable to go on foot. They told the Buddha.
“I allow a vehicle for one who is sick.”
The nuns thought, “A vehicle pulled by women or by men?” They told the Buddha.
“I allow a rickshaw pulled either by men or by women.”
Vào lúc bấy giờ, có một tỳ-khưu-ni bị bệnh, không thể đi bộ được. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép tỳ-khưu-ni bị bệnh được dùng xe cộ.” Bấy giờ, các tỳ-khưu-ni khởi lên suy nghĩ: “Là xe do con cái kéo hay xe do con đực kéo?” (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép xe do con cái kéo, xe do con đực kéo, và xe đẩy tay.”
Tena kho pana samayena aññatarissā bhikkhuniyā yānugghātena bāḷhataraṁ aphāsu ahosi. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sivikaṁ pāṭaṅkin”ti.
Soon afterwards a certain nun was even more uncomfortable when jolted around in a vehicle. They told the Buddha.
“I allow a palanquin and a litter.”
Ordination by messenger
Vào lúc bấy giờ, có một tỳ-khưu-ni bị rất khó chịu do xe bị xóc. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép dùng kiệu và võng.”
Tena kho pana samayena aḍḍhakāsī gaṇikā bhikkhunīsu pabbajitā hoti. Sā ca sāvatthiṁ gantukāmā hoti—“bhagavato santike upasampajjissāmī”ti. Assosuṁ kho dhuttā—“aḍḍhakāsī kira gaṇikā sāvatthiṁ gantukāmā”ti. Te magge pariyuṭṭhiṁsu. Assosi kho aḍḍhakāsī gaṇikā—“dhuttā kira magge pariyuṭṭhitā”ti. Bhagavato santike dūtaṁ pāhesi—“ahañhi upasampajjitukāmā; kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, dūtenapi upasampādetun”ti.
At that time the courtesan Aḍḍhakāsī had gone forth with the nuns. She wanted to go to Sāvatthī to get the full ordination in the presence of the Buddha. Some scoundrels heard about this and besieged the road. When Aḍḍhakāsī heard about this, she sent a message to the Buddha, saying, “I want the full ordination. What should I do?” Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“I allow you to give the full ordination also by messenger.”
430. Vào lúc bấy giờ, kỹ nữ Aḍḍhakāsī đã xuất gia trong hàng tỳ-khưu-ni. Vị ấy muốn đi đến thành Sāvatthī với ý nghĩ: ‘Ta sẽ thọ cụ túc giới nơi đức Thế Tôn.’ Bọn du đãng đã nghe rằng: ‘Nghe nói kỹ nữ Aḍḍhakāsī muốn đi đến thành Sāvatthī.’ Chúng đã vây chặn ở trên đường. Kỹ nữ Aḍḍhakāsī đã nghe rằng: ‘Nghe nói bọn du đãng đã vây chặn ở trên đường.’ Vị ấy đã phái sứ giả đến nơi đức Thế Tôn với lời nhắn: ‘Bạch ngài, con muốn thọ cụ túc giới; vậy con nên thực hành như thế nào?’ Bấy giờ, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các tỳ-khưu và dạy rằng: ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép thọ cụ túc giới cả bằng sứ giả.’
Bhikkhudūtena upasampādenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhudūtena upasampādetabbā. Yo upasampādeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Sikkhamānadūtena upasampādenti …pe… sāmaṇeradūtena upasampādenti …pe… sāmaṇeridūtena upasampādenti …pe… bālāya abyattāya dūtena upasampādenti.
“Na, bhikkhave, bālāya abyattāya dūtena upasampādetabbā. Yo upasampādeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, byattāya bhikkhuniyā paṭibalāya dūtena upasampādetunti.
They ordained with a monk as messenger. They told the Buddha.
“You shouldn’t give the full ordination with a monk as messenger. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
They ordained with a trainee nun as messenger … They ordained with a novice monk as messenger … They ordained with a novice nun as messenger … They ordained with an ignorant and incompetent nun as messenger.
“You shouldn’t give the full ordination with an ignorant and incompetent nun as messenger. If you do, you commit an offense of wrong conduct. You should give the full ordination with a capable and competent nun as messenger.
(Các vị) đã làm lễ cụ túc giới bằng sứ giả là tỳ-khưu. (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, không được làm lễ cụ túc giới bằng sứ giả là tỳ-khưu. Vị tỳ-khưu-ni nào làm lễ, phạm tội tác ác.’ (Các vị) đã làm lễ cụ túc giới bằng sứ giả là Thức-xoa-ma-na ... (Các vị) đã làm lễ cụ túc giới bằng sứ giả là sa-di ... (Các vị) đã làm lễ cụ túc giới bằng sứ giả là sa-di-ni ... (Các vị) đã làm lễ cụ túc giới bằng sứ giả là người ngu dốt, không có khả năng. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, không được làm lễ cụ túc giới bằng sứ giả là người ngu dốt, không có khả năng. Vị tỳ-khưu-ni nào làm lễ, phạm tội tác ác. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép làm lễ cụ túc giới bằng sứ giả là vị tỳ-khưu-ni sáng suốt, có khả năng.’
Tāya dūtāya bhikkhuniyā saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—
‘itthannāmā, ayyā, itthannāmāya ayyāya upasampadāpekkhā. Ekatoupasampannā bhikkhunisaṅghe, visuddhā. Sā kenacideva antarāyena na āgacchati. Itthannāmā, ayyā, saṅghaṁ upasampadaṁ yācati. Ullumpatu taṁ, ayyā, saṅgho anukampaṁ upādāya.
Itthannāmā, ayyā, itthannāmāya ayyāya upasampadāpekkhā. Ekatoupasampannā bhikkhunisaṅghe, visuddhā. Sā kenacideva antarāyena na āgacchati. Dutiyampi, ayyā, itthannāmā saṅghaṁ upasampadaṁ yācati. Ullumpatu taṁ, ayyā, saṅgho anukampaṁ upādāya.
Itthannāmā, ayyā, itthannāmāya ayyāya upasampadāpekkhā. Ekatoupasampannā bhikkhunisaṅghe, visuddhā. Sā kenacideva antarāyena na āgacchati. Tatiyampi, ayyā, itthannāmā saṅghaṁ upasampadaṁ yācati. Ullumpatu taṁ, ayyā, saṅgho anukampaṁ upādāyā’ti.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
That messenger nun should go to the Sangha, arrange her upper robe over one shoulder, bow down at the feet of the monks, squat on her heels, raise her joined palms, and say:
‘Venerables, so-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. She is free from obstacles and has been fully ordained on one side in the Sangha of nuns. She hasn’t come because of an obstruction. She asks the Sangha for the full ordination. Please lift her up out of compassion.
Venerables, so-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. She is free from obstacles and has been fully ordained on one side in the Sangha of nuns. She hasn’t come because of an obstruction. For the second time, she asks the Sangha for the full ordination. Please lift her up out of compassion.
Venerables, so-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. She is free from obstacles and has been fully ordained on one side in the Sangha of nuns. She hasn’t come because of an obstruction. For the third time, she asks the Sangha for the full ordination. Please lift her up out of compassion.’
A competent and capable monk should inform the Sangha:
Vị tỳ-khưu-ni sứ giả ấy sau khi đến gần Tăng chúng, vắt thượng y qua một bên vai, đảnh lễ chân các tỳ-khưu, ngồi xổm, chắp tay, nên nói như vầy: ‘Kính bạch chư tôn giả, vị tên là... là người mong cầu cụ túc giới của sư trưởng tên là... Vị ấy đã được thọ cụ túc giới một bên ở Tăng chúng tỳ-khưu-ni, đã được thanh tịnh. Vị ấy không đến được vì một trở ngại nào đó. Kính bạch chư tôn giả, vị tên là... xin Tăng chúng cho thọ cụ túc giới. Kính bạch chư tôn giả, mong rằng Tăng chúng vì lòng bi mẫn hãy cứu vớt vị ấy. Kính bạch chư tôn giả, vị tên là... là người mong cầu cụ túc giới của sư trưởng tên là... Vị ấy đã được thọ cụ túc giới một bên ở Tăng chúng tỳ-khưu-ni, đã được thanh tịnh. Vị ấy không đến được vì một trở ngại nào đó. Lần thứ nhì, kính bạch chư tôn giả, vị tên là... xin Tăng chúng cho thọ cụ túc giới. Kính bạch chư tôn giả, mong rằng Tăng chúng vì lòng bi mẫn hãy cứu vớt vị ấy. Kính bạch chư tôn giả, vị tên là... là người mong cầu cụ túc giới của sư trưởng tên là... Vị ấy đã được thọ cụ túc giới một bên ở Tăng chúng tỳ-khưu-ni, đã được thanh tịnh. Vị ấy không đến được vì một trở ngại nào đó. Lần thứ ba, kính bạch chư tôn giả, vị tên là... xin Tăng chúng cho thọ cụ túc giới. Kính bạch chư tôn giả, mong rằng Tăng chúng vì lòng bi mẫn hãy cứu vớt vị ấy.’ Vị tỳ-khưu sáng suốt, có khả năng nên tác bạch cho Tăng chúng biết:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmā itthannāmāya upasampadāpekkhā. Ekatoupasampannā bhikkhunisaṅghe, visuddhā. Sā kenacideva antarāyena na āgacchati. Itthannāmā saṅghaṁ upasampadaṁ yācati itthannāmāya pavattiniyā. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ upasampādeyya itthannāmāya pavattiniyā. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with so-and-so. She is free from obstacles and has been fully ordained on one side in the Sangha of nuns. She is not present because of an obstruction. So-and-so is asking the Sangha for the full ordination with so-and-so as her mentor. If the Sangha is ready, it should give so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor. This is the motion.
‘Kính bạch đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe lời của con. Vị tên là... là người mong cầu cụ túc giới của sư trưởng tên là... Vị ấy đã được thọ cụ túc giới một bên ở Tăng chúng tỳ-khưu-ni, đã được thanh tịnh. Vị ấy không đến được vì một trở ngại nào đó. Vị tên là... với vị hòa thượng ni tên là... xin Tăng chúng cho thọ cụ túc giới. Nếu thời điểm của Tăng chúng là thích hợp, Tăng chúng hãy làm lễ cụ túc giới cho vị tên là... với vị hòa thượng ni tên là... Đây là lời tác bạch.’
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmā itthannāmāya upasampadāpekkhā. Ekatoupasampannā bhikkhunisaṅghe, visuddhā. Sā kenacideva antarāyena na āgacchati. Itthannāmā saṅghaṁ upasampadaṁ yācati itthannāmāya pavattiniyā. Saṅgho itthannāmaṁ upasampādeti itthannāmāya pavattiniyā. Yassāyasmato khamati itthannāmāya upasampadā itthannāmāya pavattiniyā, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with so-and-so. She is free from obstacles and has been fully ordained on one side in the Sangha of nuns. She is not present because of an obstruction. So-and-so is asking the Sangha for the full ordination with so-and-so as her mentor. The Sangha gives so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor. Any monk who approves of giving so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Kính bạch đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe lời của con. Vị tên là... là người mong cầu cụ túc giới của sư trưởng tên là... Vị ấy đã được thọ cụ túc giới một bên ở Tăng chúng tỳ-khưu-ni, đã được thanh tịnh. Vị ấy không đến được vì một trở ngại nào đó. Vị tên là... với vị hòa thượng ni tên là... xin Tăng chúng cho thọ cụ túc giới. Tăng chúng làm lễ cụ túc giới cho vị tên là... với vị hòa thượng ni tên là... Việc làm lễ cụ túc giới cho vị tên là... với vị hòa thượng ni tên là... được vị trưởng lão nào chấp thuận, vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.’
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe…
tatiyampi etamatthaṁ vadāmi. Suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmā itthannāmāya upasampadāpekkhā. Ekatoupasampannā bhikkhunisaṅghe, visuddhā. Sā kenacideva antarāyena na āgacchati. Itthannāmā saṅghaṁ upasampadaṁ yācati itthannāmāya pavattiniyā. Saṅgho itthannāmaṁ upasampādeti itthannāmāya pavattiniyā. Yassāyasmato khamati itthannāmāya upasampadā itthannāmāya pavattiniyā, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the second time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with so-and-so. She is free from obstacles and has been fully ordained on one side in the Sangha of nuns. She is not present because of an obstruction. So-and-so is asking the Sangha for the full ordination with so-and-so as her mentor. The Sangha gives so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor. Any monk who approves of giving so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with so-and-so. She is free from obstacles and has been fully ordained on one side in the Sangha of nuns. She is not present because of an obstruction. So-and-so is asking the Sangha for the full ordination with so-and-so as her mentor. The Sangha gives so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor. Any monk who approves of giving so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Lần thứ nhì, con cũng nói lên điều này ... Lần thứ ba, con cũng nói lên điều này. Kính bạch đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe lời của con. Vị tên là... là người mong cầu cụ túc giới của sư trưởng tên là... Vị ấy đã được thọ cụ túc giới một bên ở Tăng chúng tỳ-khưu-ni, đã được thanh tịnh. Vị ấy không đến được vì một trở ngại nào đó. Vị tên là... với vị hòa thượng ni tên là... xin Tăng chúng cho thọ cụ túc giới. Tăng chúng làm lễ cụ túc giới cho vị tên là... với vị hòa thượng ni tên là... Việc làm lễ cụ túc giới cho vị tên là... với vị hòa thượng ni tên là... được vị trưởng lão nào chấp thuận, vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.’
Upasampannā saṅghena itthannāmā itthannāmāya pavattiniyā. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
The Sangha has given so-and-so the full ordination with so-and-so as her mentor. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
‘Vị tên là... đã được Tăng chúng làm lễ cụ túc giới với vị hòa thượng ni tên là... Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng, con ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Tāvadeva chāyā metabbā, utuppamāṇaṁ ācikkhitabbaṁ, divasabhāgo ācikkhitabbo, saṅgīti ācikkhitabbā, bhikkhuniyo vattabbā—tassā tayo ca nissaye, aṭṭha ca akaraṇīyāni ācikkheyyāthā”ti.
Straightaway the time should be noted and the date should be pointed out. These should be declared jointly to everyone. The nuns should be told to point out the three supports and the eight things not to be done to the newly ordained nun.”
Various regulations for nuns
Ngay lúc ấy, nên đo bóng nắng, nên nói rõ về thời tiết, nên nói rõ về phần của ngày, nên nói rõ về tổng hợp (của ba điều trên). Nên nói với các tỳ-khưu-ni rằng: ‘Các vị hãy nói rõ cho vị ấy về ba pháp y chỉ và tám điều không được làm.’
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo araññe viharanti. Dhuttā dūsenti. Bhagavato etamatthaṁ, ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā araññe vatthabbaṁ. Yā vaseyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time nuns were staying in the wilderness. Scoundrels raped them. They told the Buddha.
“A nun shouldn’t stay in the wilderness. If she does, she commits an offense of wrong conduct.”
431. Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu-ni sống ở trong rừng. Bọn du đãng đã quấy nhiễu (các vị ấy). (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni không được sống ở trong rừng. Vị nào sống (ở đó), phạm tội tác ác.’
Tena kho pana samayena aññatarena upāsakena bhikkhunisaṅghassa uddosito dinno hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, uddositan”ti.
Uddosito na sammati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, upassayan”ti.
Upassayo na sammati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, navakamman”ti.
Navakammaṁ na sammati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, puggalikampi kātun”ti.
On one occasion a lay follower gave a storehouse to the Sangha of nuns. They told the Buddha.
“I allow a storehouse.”
The storehouse was too small. They told the Buddha.
“I allow a nunnery.”
The nunnery was too small. They told the Buddha.
“I allow building work.”
The building work was insufficient. They told the Buddha.
“I allow you to build for individuals.”
Vào lúc bấy giờ, có một nam cư sĩ đã dâng cúng một nhà kho đến hội chúng tỳ-khưu-ni. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép (dùng) nhà kho.” Nhà kho không đủ chỗ. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép (dùng) trú xá.” Trú xá không đủ chỗ. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép công việc mới.” Công việc mới không đủ. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cũng cho phép thực hiện (việc xây cất) cho cá nhân.”
Tena kho pana samayena aññatarā itthī sannisinnagabbhā bhikkhunīsu pabbajitā hoti. Tassā pabbajitāya gabbho vuṭṭhāti. Atha kho tassā bhikkhuniyā etadahosi—“kathaṁ nu kho mayā imasmiṁ dārake paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, posetuṁ, yāva so dārako viññutaṁ pāpuṇātī”ti.
At one time a pregnant woman went forth as a nun. After giving birth, she asked the nuns what to do with the baby boy. They told the Buddha.
“I allow you to rear him until he becomes self-reliant.”
432. Vào lúc bấy giờ, có một người phụ nữ mang thai đã được xuất gia trong hàng tỳ-khưu-ni. Sau khi vị ấy xuất gia, đứa bé được sanh ra. Khi ấy, tỳ-khưu-ni ấy đã khởi lên suy nghĩ: “Ta nên đối xử với đứa bé này như thế nào đây?” (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép nuôi dưỡng cho đến khi đứa bé ấy đạt đến tuổi hiểu biết.”
Atha kho tassā bhikkhuniyā etadahosi—“mayā ca na labbhā ekikāya vatthuṁ, aññāya ca bhikkhuniyā na labbhā dārakena saha vatthuṁ, kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ekaṁ bhikkhuniṁ sammannitvā tassā bhikkhuniyā dutiyaṁ dātuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbā. Paṭhamaṁ bhikkhunī yācitabbā, yācitvā byattāya bhikkhuniyā paṭibalāya saṅgho ñāpetabbo—
That nun thought, “I’m not allowed to stay by myself and other nuns are not allowed to stay with a male child. What should I do now?” They told the Buddha.
“The nuns should appoint a nun as her companion.
And she should be appointed like this. First a nun should be asked, and then a capable and competent nun should inform the Sangha:
Khi ấy, tỳ-khưu-ni ấy đã khởi lên suy nghĩ: “Ta không được phép sống một mình, và một tỳ-khưu-ni khác cũng không được phép sống chung với một đứa bé trai. Ta nên thực hành như thế nào đây?” (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép chỉ định một tỳ-khưu-ni rồi trao cho tỳ-khưu-ni ấy một người bạn đồng hành. Và này các tỳ-khưu, vị ấy nên được chỉ định như sau: Trước tiên, nên thỉnh cầu vị tỳ-khưu-ni. Sau khi thỉnh cầu, một tỳ-khưu-ni có khả năng và thẩm quyền nên trình cho hội chúng biết –”
‘Suṇātu me, ayye, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuniṁ sammanneyya itthannāmāya bhikkhuniyā dutiyaṁ. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should appoint nun so-and-so as a companion to nun so-and-so. This is the motion.
“Thưa quý sư cô, mong hội chúng lắng nghe con. Nếu thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định tỳ-khưu-ni tên là... làm bạn đồng hành cho tỳ-khưu-ni tên là... Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, ayye, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuniṁ sammannati itthannāmāya bhikkhuniyā dutiyaṁ. Yassā ayyāya khamati itthannāmāya bhikkhuniyā sammuti itthannāmāya bhikkhuniyā dutiyāya, sā tuṇhassa; yassā nakkhamati, sā bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha appoints nun so-and-so as a companion to nun so-and-so. Any nun who approves of appointing nun so-and-so as a companion to nun so-and-so should remain silent. Any nun who doesn’t approve should speak up.
“Thưa quý sư cô, mong hội chúng lắng nghe con. Hội chúng chỉ định tỳ-khưu-ni tên là... làm bạn đồng hành cho tỳ-khưu-ni tên là... Vị sư cô nào chấp thuận việc chỉ định tỳ-khưu-ni tên là... làm bạn đồng hành cho tỳ-khưu-ni tên là..., vị ấy nên im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy nên nói lên.”
Sammatā saṅghena itthannāmā bhikkhunī itthannāmāya bhikkhuniyā dutiyā. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has appointed nun so-and-so as a companion to nun so-and-so. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Tỳ-khưu-ni tên là... đã được hội chúng chỉ định làm bạn đồng hành cho tỳ-khưu-ni tên là... Hội chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Atha kho tassā dutiyikāya bhikkhuniyā etadahosi—“kathaṁ nu kho mayā imasmiṁ dārake paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ṭhapetvā sāgāraṁ yathā aññasmiṁ purise paṭipajjanti evaṁ tasmiṁ dārake paṭipajjitun”ti.
That companion nun thought, “How should I act in regard to this boy?” They told the Buddha.
“Apart from staying in the same dwelling, the companion nun should act toward him as she would toward any other male.”
Khi ấy, vị tỳ-khưu-ni bạn đồng hành ấy đã khởi lên suy nghĩ: “Ta nên đối xử với đứa bé này như thế nào đây?” (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, ngoại trừ việc ở chung một nhà, Ta cho phép đối xử với đứa bé ấy giống như cách các vị đối xử với một người nam khác.”
Tena kho pana samayena aññatarā bhikkhunī garudhammaṁ ajjhāpannā hoti mānattacārinī. Atha kho tassā bhikkhuniyā etadahosi—“mayā ca na labbhā ekikāya vatthuṁ, aññāya ca bhikkhuniyā na labbhā saha mayā vatthuṁ, kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ekaṁ bhikkhuniṁ sammannitvā tassā bhikkhuniyā dutiyaṁ dātuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbā. Paṭhamaṁ bhikkhunī yācitabbā, yācitvā byattāya bhikkhuniyā paṭibalāya saṅgho ñāpetabbo—
On one occasion a nun who had committed a heavy offense was undertaking the trial period. She thought, “I’m not allowed to stay by myself and other nuns are not allowed to stay with me. What should I do now?” They told the Buddha.
“You should appoint a nun as her companion.
And she should be appointed like this. First a nun should be asked, and then a capable and competent nun should inform the Sangha:
433. Vào lúc bấy giờ, có một tỳ-khưu-ni đã phạm trọng giới và đang thực hành pháp mānatta. Khi ấy, tỳ-khưu-ni ấy đã khởi lên suy nghĩ: “Ta không được phép sống một mình, và một tỳ-khưu-ni khác cũng không được phép sống chung với ta. Ta nên thực hành như thế nào đây?” (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép chỉ định một tỳ-khưu-ni rồi trao cho tỳ-khưu-ni ấy một người bạn đồng hành. Và này các tỳ-khưu, vị ấy nên được chỉ định như sau: Trước tiên, nên thỉnh cầu vị tỳ-khưu-ni. Sau khi thỉnh cầu, một tỳ-khưu-ni có khả năng và thẩm quyền nên trình cho hội chúng biết –”
‘Suṇātu me, ayye, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuniṁ sammanneyya itthannāmāya bhikkhuniyā dutiyaṁ. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should appoint nun so-and-so as a companion to nun so-and-so. This is the motion.
“Thưa quý sư cô, mong hội chúng lắng nghe con. Nếu thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định tỳ-khưu-ni tên là... làm bạn đồng hành cho tỳ-khưu-ni tên là... Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, ayye, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuniṁ sammannati itthannāmāya bhikkhuniyā dutiyaṁ. Yassā ayyāya khamati itthannāmāya bhikkhuniyā sammuti itthannāmāya bhikkhuniyā dutiyāya, sā tuṇhassa; yassā nakkhamati, sā bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha appoints nun so-and-so as a companion to nun so-and-so. Any nun who approves of appointing nun so-and-so as a companion to nun so-and-so should remain silent. Any nun who doesn’t approve should speak up.
“Thưa quý sư cô, mong hội chúng lắng nghe con. Hội chúng chỉ định tỳ-khưu-ni tên là... làm bạn đồng hành cho tỳ-khưu-ni tên là... Vị sư cô nào chấp thuận việc chỉ định tỳ-khưu-ni tên là... làm bạn đồng hành cho tỳ-khưu-ni tên là..., vị ấy nên im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy nên nói lên.”
Sammatā saṅghena itthannāmā bhikkhunī itthannāmāya bhikkhuniyā dutiyā. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has appointed nun so-and-so as a companion to nun so-and-so. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Tỳ-khưu-ni tên là... đã được hội chúng chỉ định làm bạn đồng hành cho tỳ-khưu-ni tên là... Hội chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Tena kho pana samayena aññatarā bhikkhunī sikkhaṁ paccakkhāya vibbhami. Sā puna paccāgantvā bhikkhuniyo upasampadaṁ yāci. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā sikkhāpaccakkhānaṁ; yadeva sā vibbhantā tadeva sā abhikkhunī”ti.
On one occasion a nun verbally renounced the training and disrobed. Later she returned and asked the nuns for the full ordination. They told the Buddha.
“A nun can’t verbally renounce the training. When she disrobes, she is no longer a nun.”
434. Vào lúc bấy giờ, có một tỳ-khưu-ni đã từ bỏ học giới và đã hoàn tục. Vị ấy quay trở lại và xin các tỳ-khưu-ni cho thọ cụ túc giới. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, đối với tỳ-khưu-ni, không có việc từ bỏ học giới; chính vì vị ấy đã hoàn tục nên vị ấy không còn là tỳ-khưu-ni nữa.”
Tena kho pana samayena aññatarā bhikkhunī sakāvāsā titthāyatanaṁ saṅkami. Sā puna paccāgantvā bhikkhuniyo upasampadaṁ yāci. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Yā sā, bhikkhave, bhikkhunī sakāvāsā titthāyatanaṁ saṅkantā, sā āgatā na upasampādetabbā”ti.
On one occasion a nun joined another religious community while still wearing her robes. Later she returned and asked the nuns for the full ordination. They told the Buddha.
“If a nun goes over to another religious community while still wearing her robes and then returns, she shouldn’t be given the full ordination again.”
Vào lúc bấy giờ, có một tỳ-khưu-ni đã đi từ trú xá của mình đến trú xá của ngoại đạo. Vị ấy quay trở lại và xin các tỳ-khưu-ni cho thọ cụ túc giới. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu-ni nào đã đi từ trú xá của mình đến trú xá của ngoại đạo, khi vị ấy trở về thì không nên được cho thọ cụ túc giới.”
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo purisehi abhivādanaṁ, kesacchedanaṁ, nakhacchedanaṁ, vaṇappaṭikammaṁ, kukkuccāyantā na sādiyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sāditun”ti.
At that time the nuns, being afraid of wrongdoing, did not consent to men bowing down to them, or to men shaving their heads, cutting their nails, or treating their sores. They told the Buddha.
“I allow you to consent to these things.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu-ni do có sự áy náy nên đã không chấp nhận việc được người nam đảnh lễ, cắt tóc, cắt móng, và chăm sóc vết thương. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép chấp nhận.”
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo pallaṅkena nisīdanti paṇhisamphassaṁ sādiyantī. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā pallaṅkena nisīditabbaṁ. Yā nisīdeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the nuns were sitting cross-legged, enjoying the touch of their heels. They told the Buddha.
“A nun shouldn’t sit cross-legged. If she does, she commits an offense of wrong conduct.”
435. Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu-ni ngồi thế kiết-già và ưa thích sự tiếp xúc của gót chân. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu-ni không nên ngồi thế kiết-già. Vị nào ngồi (như thế) thì phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena aññatarā bhikkhunī gilānā hoti. Tassā vinā pallaṅkena na phāsu hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhuniyā aḍḍhapallaṅkan”ti.
On one occasion there was a sick nun who was not comfortable without sitting cross-legged. They told the Buddha.
“I allow a nun to sit half-cross-legged.”
Vào lúc bấy giờ, có một tỳ-khưu-ni bị bệnh. Vị ấy không được thoải mái nếu không ngồi thế kiết-già. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép tỳ-khưu-ni (ngồi thế) bán-già.”
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo vaccakuṭiyā vaccaṁ karonti. Chabbaggiyā bhikkhuniyo tattheva gabbhaṁ pātenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā vaccakuṭiyā vacco kātabbo. Yā kareyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, heṭṭhā vivaṭe uparipaṭicchanne vaccaṁ kātun”ti.
At that time the nuns were using a restroom for defecating. And the nuns from the group of six performed abortions there. They told the Buddha.
“A nun shouldn’t defecate in a restroom. If she does, she commits an offense of wrong conduct. I allow the nuns to defecate in a place that’s open underneath but concealed on top.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu-ni đi đại tiện ở nhà vệ sinh. Nhóm tỳ-khưu-ni Lục Sư đã phá thai ở ngay tại nơi ấy. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu-ni không được đi đại tiện ở nhà vệ sinh. Vị nào đi thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép đi đại tiện ở nơi bên dưới trống và bên trên có mái che.”
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo cuṇṇena nahāyanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti …pe… seyyathāpi gihinī kāmabhoginiyo”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā cuṇṇena nahāyitabbaṁ. Yā nahāyeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, kukkusaṁ mattikan”ti.
At that time the nuns were bathing with bath powder. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“A nun shouldn’t bathe with bath powder. If she does, she commits an offense of wrong conduct. I allow bran and clay.”
436. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu-ni tắm bằng bột thơm. Dân chúng phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: “… y như các nữ gia chủ hưởng thụ các dục.” (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu-ni không được tắm bằng bột thơm. Vị nào tắm thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép (dùng) cám và đất sét.”
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo vāsitakāya mattikāya nahāyanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti …pe… seyyathāpi gihinī kāmabhoginiyo”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā vāsitakāya mattikāya nahāyitabbaṁ. Yā nahāyeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, pakatimattikan”ti.
At that time the nuns were bathing with scented clay. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“A nun shouldn’t bathe with scented clay. If she does, she commits an offense of wrong conduct. I allow ordinary clay.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu-ni tắm bằng đất sét có ướp hương. Dân chúng phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: “… y như các nữ gia chủ hưởng thụ các dục.” (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu-ni không được tắm bằng đất sét có ướp hương. Vị nào tắm thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép (dùng) đất sét tự nhiên.”
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo jantāghare nahāyantiyo kolāhalaṁ akaṁsu. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā jantāghare nahāyitabbaṁ. Yā nahāyeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion when the nuns were bathing in a sauna, they made a racket. They told the Buddha.
“A nun shouldn’t bathe in a sauna. If she does, she commits an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, trong khi đang tắm ở nhà tắm hơi, các vị tỳ-khưu-ni đã làm ồn ào. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu-ni không được tắm ở nhà tắm hơi. Vị nào tắm thì phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo paṭisote nahāyanti dhārāsamphassaṁ sādiyantī. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā paṭisote nahāyitabbaṁ. Yā nahāyeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the nuns were bathing against the stream, enjoying the touch of the current. They told the Buddha.
“A nun shouldn’t bathe against the stream. If she does, she commits an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu-ni tắm ngược dòng nước, tận hưởng sự va chạm của dòng nước. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu-ni không được tắm ngược dòng nước. Vị nào tắm thì phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo atitthe nahāyanti. Dhuttā dūsenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā atitthe nahāyitabbaṁ. Yā nahāyeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the nuns bathed away from a ford. Scoundrels raped them. They told the Buddha.
“A nun shouldn’t bathe away from a ford. If she does, she commits an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu-ni tắm ở nơi không phải là bến nước. Những kẻ du đãng đã xúc phạm (các vị ấy). (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu-ni không được tắm ở nơi không phải là bến nước. Vị nào tắm thì phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena bhikkhuniyo purisatitthe nahāyanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti …pe… seyyathāpi gihinī kāmabhoginiyo”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bhikkhuniyā purisatitthe nahāyitabbaṁ. Yā nahāyeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, mahilātitthe nahāyitun”ti.
On one occasion the nuns bathed at a ford for men. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“A nun shouldn’t bathe at a ford for men. If she does, she commits an offense of wrong conduct. A nun should bathe at a ford for women.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu-ni tắm ở bến nước của nam giới. Dân chúng phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: “… y như các nữ gia chủ hưởng thụ các dục.” (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu-ni không được tắm ở bến nước của nam giới. Vị nào tắm thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép tắm ở bến nước của nữ giới.”
Tatiyabhāṇavāro niṭṭhito.
The third section for recitation is finished.
Dứt Phẩm Tụng Thứ Ba.
Bhikkhunikkhandhako dasamo.
The tenth chapter on nuns is finished.
Chương Tỳ-Khưu-Ni, Phần Thứ Mười.
Imasmiṁ khandhake vatthū ekasataṁ.
Tassuddānaṁ
In this chapter there are one hundred topics.
This is the summary:
Ở trong chương này có một trăm lẻ một câu chuyện.
Pabbajjaṁ gotamī yāci, nānuññāsi tathāgato; Kapilavatthu vesāliṁ, agamāsi vināyako.
“Gotamī asked for the going forth, The Buddha did not allow it; Kapilavatthu to Vesāli, Did the Leader go.
Bà Gotamī đã xin xuất gia, đức Như Lai đã không cho phép; ở tại Kapilavatthu, bậc Lãnh Đạo đã đi đến Vesālī.
Rajokiṇṇena koṭṭhake, ānandassa pavedayi; Bhabboti nayato yāci, mātāti posikāti ca.
At the gatehouse covered in dust, Declared to Ānanda; He asked wisely about capability, About mother and upbringing.
Với thân dính đầy bụi đất, ở tại cổng vòm, bà đã cho ngài Ānanda biết; (ngài Ānanda) đã xin một cách khéo léo rằng: ‘(Bà ấy) là người xứng đáng, là người mẹ, và là người nuôi dưỡng.’”
Vassasataṁ tadahu ca, abhikkhupaccāsīsanā; Pavāraṇā garudhammā, dve vassā anakkosanā.
One hundred years and that very day, Without monks, seeking; Invitation, heavy offense, Two years, not abusing.
Một trăm năm và cùng ngày ấy, không có tỳ-khưu và sự mong đợi; lễ pavāraṇā, các pháp tôn trọng, hai năm, và việc không mắng nhiếc.
Ovaṭo ca aṭṭha dhammā, yāvajīvānuvattanā; Garudhammapaṭiggāho, sāvassā upasampadā.
And may not, eight principles, Practicing all one’s life; Receiving the important principles, That was her ordination.
Sự khuyên dạy và tám pháp, sự tuân theo cho đến trọn đời; sự chấp nhận các pháp tôn trọng, chính điều ấy là lễ cụ túc của bà.
Vassasahassaṁ pañceva, kumbhathenakasetaṭṭi; Mañjiṭṭhikaupamāhi, evaṁ saddhammahiṁsanā.
A thousand years, just five, Thieves, whiteheads; Red rot, with similes, Thus the true Teaching was injured.
Một ngàn năm và chỉ năm trăm, kẻ trộm bình, bệnh xương trắng; qua các ví dụ về cây thiến thảo, như thế là sự hủy hoại diệu pháp.
Āḷiṁ bandheyya pāeva, puna saddhammasaṇṭhiti; Upasampādetuṁ ayyā, yathāvuḍḍhābhivādanā.
Not to mention he would make a dyke, Again he stabilized the true Teaching; To ordain, venerable, Bow down according to seniority.
Nên đắp bờ đê từ trước, lại nữa là sự vững trú của diệu pháp; việc tế độ, các trưởng lão ni, sự đảnh lễ theo hạ lạp.
Na karissanti kimeva, sādhāraṇāsādhāraṇaṁ; Ovādaṁ pātimokkhañca, kena nu kho upassayaṁ.
They will not, how then, Common, not in common; Instruction, and Monastic Code, Who, nunnery.
Họ sẽ không thực hành, tại sao lại (cho phép), chung và không chung; sự khuyên dạy và Pātimokkha, do ai đây, và trú xá.
Na jānanti ca ācikkhi, na karonti ca bhikkhuhi; Paṭiggahetuṁ bhikkhūhi, bhikkhunīhi paṭiggaho.
And they do not know, he told, And did not do, with monks; To receive by monks, Receiving by nuns.
Không biết và đã nói, không thực hành và bởi các tỳ-khưu; việc nhận lãnh, bởi các tỳ-khưu, sự nhận lãnh bởi các tỳ-khưu-ni.
Ācikkhi kammaṁ bhikkhūhi, ujjhāyanti bhikkhunīhi vā; Ācikkhituṁ bhaṇḍanañca, ropetvā uppalāya ca.
He told, procedure by monks, They complained, or with nuns; To tell, and arguing, Having determined, and with Uppalā.
Đã nói, việc xử phạt, bởi các tỳ-khưu, họ phàn nàn, hoặc bởi các tỳ-khưu-ni; việc trình báo, sự cãi cọ, việc quy tội, và (trường hợp) của Uppalavaṇṇā.
Sāvatthiyā kaddamoda, avandi kāya ūru ca; Aṅgajātañca obhāsaṁ, sampayojenti vaggikā.
At Sāvatthī, muddy water, Non-respect, body, and thigh; And genitals, indecent speech, The group associated inappropriately.
Ở Sāvatthī, nước bùn, không đảnh lễ, thân và đùi; bộ phận sinh dục và sự gợi ý, nhóm Lục Sư đã dính líu.
Avandiyo daṇḍakammaṁ, bhikkhuniyo tathā puna; Āvaraṇañca ovādaṁ, kappati nu kho pakkami.
Non-respect, penalty, So again the nuns; And restriction, instruction, Is it allowable, he set out wandering.
Không đáng đảnh lễ, hình phạt, các tỳ-khưu-ni cũng vậy nữa; sự ngăn che và sự khuyên dạy, có thích hợp chăng, đã bỏ đi.
Bālā vatthuvinicchayā, ovādaṁ saṅgho pañcahi; Duve tisso na gaṇhanti, bālā gilānagamikaṁ.
Ignorant, reason, investigation, Instruction, Sangha, with five; Two or three, they did not agree, Ignorant ones, sick, departing.
Kẻ ngu, sự quyết định về vụ việc, sự khuyên dạy, tăng chúng, bởi năm vị; hai, ba vị không chấp nhận, kẻ ngu, người bệnh, người đi đường.
Āraññiko nārocenti, na paccāgacchanti ca; Dīghaṁ vilīvacammañca, dussā ca veṇivaṭṭi ca; Coḷaveṇi ca vaṭṭi ca, suttaveṇi ca vaṭṭikā.
Forest-dweller, without telling, And they did not return; Long, and split bamboo, leather, Fabric, and interlaced, rolled up; Cloth, and interlaced, and rolled up, And interlaced string, rolled up.
Vị ở rừng không báo, và không trở lại; (dây lưng) dài, bằng tre, và bằng da; vải, bện và cuộn; y phục bện và cuộn, sợi chỉ bện và cuộn.
Aṭṭhillaṁ gohanukena, hatthakocchaṁ pādaṁ tathā; Ūruṁ mukhaṁ dantamaṁsaṁ, ālimpomaddacuṇṇanā.
Bone, cow’s jaw bone, Hand, back of hand, so foot; Thigh, face, gums, Ointment, applied creams, powdered.
Xương ống chân, bằng xương hàm bò, bàn tay, bàn chải, bàn chân cũng vậy; đùi, mặt, nướu răng, sự thoa, sự xoa bóp, sự dùng bột.
Lañchenti aṅgarāgañca, mukharāgaṁ tathā duve; Avaṅgaṁ visesoloko, sālokena naccena ca.
They applied, body cosmetics, Facial cosmetics, so both; Eye cosmetics, facial mark, staring, With exposed to view, and with dancing.
Họ vẽ, và sự tô điểm thân thể, sự tô điểm mặt, cả hai cũng vậy; vẽ cong, vẽ đặc biệt, sự nhìn ngó, đứng ở cửa sổ, và với sự nhảy múa.
Vesī pānāgāraṁ sūnaṁ, āpaṇaṁ vaḍḍhi vaṇijjā; Dāsaṁ dāsiṁ kammakaraṁ, kammakāriṁ upaṭṭhayyuṁ.
Sex worker, bar, slaughterhouse, Shop, loan, trade; Male and female slaves, male servants, Female servants, they would attend on.
Gái điếm, quán rượu, lò mổ, cửa tiệm, sự cho vay, việc buôn bán; họ đã thuê mướn nô lệ nam, nô lệ nữ, người làm công nam, người làm công nữ.
Tiracchānaharītaki, sandhārayanti namatakaṁ; Nīlaṁ pītaṁ lohitakaṁ, mañjiṭṭhakaṇhacīvarā.
Animals, greens, They wore felt; Blue, yellow, red, Magenta, and black robes.
Loài vật, rau xanh, họ đã mặc đồ bó sát; y màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu rễ cây và màu đen.
Mahāraṅgamahānāma- acchinnā dīghameva ca; Pupphaphalakañcukañca, tirīṭakañca dhārayuṁ.
Orange and beige, Single piece, and just long; Floral, fruit, and close-fitting jacket, And lodh tree, they wore.
Được nhuộm màu sặc sỡ, màu mahānāma, không cắt và dài; (y có hình) hoa, quả, và áo dài, và áo vỏ cây, họ đã mặc.
Bhikkhunī sikkhamānāya, sāmaṇerāya accaye; Niyyādite parikkhāre, bhikkhuniyova issarā.
Nun, of a trainee nun, Of a novice nun, after death; The requisites are handed back, Just the nuns are the owners.
Khi tỳ-khưu-ni, học nữ, sa-di-ni qua đời; vật dụng đã được giao phó, chính các tỳ-khưu-ni là người sở hữu.
Bhikkhussa sāmaṇerassa, upāsakassupāsikā; Aññesañca parikkhāre, niyyāte bhikkhuissarā.
Of a monk, of a novice monk, Of a lay follower, a female lay follower; And the requisites of others, It should be handed back, the monks are the owners.
Vật dụng của tỳ-khưu, của sa-di, của cận sự nam, của cận sự nữ, và của những người khác, khi được giao phó thì vị tỳ-khưu có quyền sở hữu.
Mallī gabbhaṁ pattamūlaṁ, byañjanaṁ āmisena ca; Ussannañca bāḷhataraṁ, sannidhikatamāmisaṁ.
Female wrestler, fetus, the bottom of the bowl, Genitals, and with requisite; Abundance, greater, Stored up requisites.
Việc đấu vật, bào thai, đáy bát, nam căn, và vật thực; vật thực được cất giữ quá nhiều và rất nhiều.
Bhikkhūnaṁ yādisaṁ bhoṭṭhaṁ, Bhikkhunīnaṁ tathā kare; Senāsanaṁ utuniyo, Makkhīyati paṭāṇi ca.
As above for the monks, So it should be done for the nuns; Dwelling, menstruating, It was stained, and menstruation pads.
Vật thực nào các tỳ-khưu được dùng, đối với các tỳ-khưu-ni cũng nên làm như vậy. Sàng tọa, các tỳ-khưu-ni có kinh nguyệt, bị vấy bẩn, và miếng vải thấm.
Chijjanti sabbakālañca, animittāpi dissare; Nimittā lohitā ceva, tatheva dhuvalohitā.
They snapped, and all the times, Also those without genitals were seen; Genitals, and just blood, Just so continuous blood.
Bị đứt, và trong mọi lúc, cả những người không có tướng nữ cũng được thấy. Người chỉ có dấu hiệu, người không ra huyết, và tương tự là người ra huyết thường xuyên.
Dhuvacoḷapaggharantī, sikharaṇitthipaṇḍakā; Vepurisī ca sambhinnā, ubhatobyañjanāpi ca.
Continuous pad, incontinent, Prolapse, without sexual organs; And manlike, fistula, And also gynandromorph.
Người thường xuyên dùng vải thấm, người có huyết rỉ giọt, người có thịt dư dài, người ái nam ái nữ (paṇḍaka nữ), người nữ có tướng nam, người có hai đường thông nhau, và cả người lưỡng tính.
Animittādito katvā, yāva ubhatobyañjanā; Etaṁ peyyālato heṭṭhā, kuṭṭhaṁ gaṇḍo kilāso ca.
Having set out without genitals etc., As far as gynandromorph; This is according to the repetition above, Leprosy, abscesses, and mild leprosy.
Bắt đầu từ người không có tướng nữ cho đến người lưỡng tính, tất cả điều này nên được hiểu theo cách tỉnh lược ở phần dưới. Bệnh phong, ung nhọt, và bệnh bạch biến.
Sosāpamāro mānusī, itthīsi bhujissāsi ca; Aṇaṇā na rājabhaṭī, anuññātā ca vīsati.
Tuberculosis and epilepsy, are you human, Are you a woman, and are you free; Debtless, not employed by the king, And permitted, twenty.
Bệnh ho lao, bệnh động kinh, (có phải) là người nữ, là phụ nữ, là người được giải thoát, không mắc nợ, không phải là người phục vụ vua, được cho phép, và hai mươi (tuổi).
Paripuṇṇā ca kiṁnāmā, kānāmā te pavattinī; Catuvīsantarāyānaṁ, pucchitvā upasampadā.
And full set, what name, What is the name of your mentor; Of the twenty-four obstacles, Having asked, ordination.
Đầy đủ (y bát), tên gì, vị thầy tế độ của cô tên gì; sau khi hỏi về hai mươi bốn pháp ngăn trở, (mới được) tu lên bậc trên.
Vitthāyanti ananusiṭṭhā, saṅghamajjhe tatheva ca; Upajjhāgāha saṅghāṭi, uttarantaravāsako.
They were embarrassed, not instructed, And just so in the midst of the Sangha; Choosing a preceptor, outer robe, Upper robe, sarong.
Bối rối, không được giáo giới, và cũng như vậy ở giữa Tăng chúng. Việc thọ y chỉ, y hai lớp, y vai trái, y nội.
Saṅkaccudakasāṭi ca, ācikkhitvāna pesaye; Bālā asammatekato, yāce pucchantarāyikā.
Chest wrap, and bathing robe, Having pointed out, should send away; Ignorant ones, not appointed, She should ask, interval on asking.
Và y che ngực, y tắm, sau khi chỉ dạy rồi nên sai đi. Người nữ ngu dốt, người không được chỉ định, cùng nhau xin, hỏi về các pháp ngăn trở.
Ekatoupasampannā, bhikkhusaṅghe tathā puna; Chāyā utu divasā ca, saṅgīti tayo nissaye.
Ordained on one side, Again so with the Sangha of monks; Time, season, and date, Jointly, three supports.
Đã tu lên bậc trên ở một bên (Tăng chúng tỳ-khưu-ni), và lại cũng vậy ở trong Tăng chúng tỳ-khưu. Bóng, thời tiết, và ngày; sự kết hợp (của ba yếu tố này), và ba pháp y chỉ.
Aṭṭha akaraṇīyāni, kālaṁ sabbattha aṭṭheva; Na pavārenti bhikkhunī, bhikkhusaṅghaṁ tatheva ca.
Eight things not to be done, The right time, everywhere, just eight; The nuns did not invite, And just so the Sangha of monks.
Tám việc không được làm, trong mọi lúc, ở mọi nơi, chỉ có tám. Các tỳ-khưu-ni không tự tứ, và cũng như vậy đối với Tăng chúng tỳ-khưu.
Kolāhalaṁ purebhattaṁ, vikāle ca kolāhalaṁ; Uposathaṁ pavāraṇaṁ, savacanīyānuvādanaṁ.
Racket, before the meal, And too late, racket; Observance-day ceremony, invitation ceremony, Direction, instruction.
Sự ồn ào trước bữa ăn, và sự ồn ào vào lúc phi thời. Việc bố-tát, việc tự tứ, việc có lời nói được chấp nhận, việc khiển trách.
Okāsaṁ code sārenti, paṭikkhittaṁ mahesinā; Tatheva bhikkhu bhikkhunī, anuññātaṁ mahesinā.
Permission, accused, they reminded, Was prohibited by the Great Sage; In that way a monk to a nun, Was allowed by the Great Sage.
Xin cơ hội, khiển trách, nhắc nhở, đã bị bậc Đại Sĩ từ chối. Cũng như vậy, (việc) tỳ-khưu (làm cho) tỳ-khưu-ni, đã được bậc Đại Sĩ cho phép.
Yānaṁ gilānayuttañca, yānugghātaḍḍhakāsikā; Bhikkhu sikkhā sāmaṇera, sāmaṇerī ca bālāya.
Vehicle, sick, and pulled, Jolted around in a vehicle, Aḍḍhakāsī; Monk, trainee nun, novice monk, And novice nun, with an ignorant one.
Xe cộ, và xe do (nam nữ) kéo cho người bệnh, việc làm lật xe, kỹ nữ Aḍḍhakāsikā. Sứ giả là tỳ-khưu, học nữ, sa-di, sa-di-ni, và người ngu dốt.
Araññe upāsakena, uddosito upassayaṁ; Na sammati navakammaṁ, nisinnagabbhaekikā.
In the wilderness, with a lay follower, Storehouse, nunnery; Not sufficient, building work, Pregnant, by herself.
Ở trong rừng, với cận sự nam, kho chứa, trú xá. Không đủ, công việc mới, người nữ có thai ngồi một mình.
Sāgārañca garudhammaṁ, paccakkhāya ca saṅkami; Abhivādanakesā ca, nakhā ca vaṇakammanā.
And the same building, heavy offense, And verbally renounced, joined; And bowing down, and hair, And nails, treating sores.
Và ở chung nhà, trọng pháp, và sau khi xả giới đã chuyển sang (ngoại đạo). Sự đảnh lễ, cạo tóc, và cắt móng, và việc chữa trị vết thương.
Pallaṅkena gilānā ca, vaccaṁ cuṇṇena vāsitaṁ; Jantāghare paṭisote, atitthe purisena ca.
Cross-legged, and sick, Feces, with bath powder, scented; In a sauna, against the stream, Away from a ford, and with men.
Ngồi kiết-già, và người nữ bị bệnh, nhà vệ sinh, được ướp hương bằng bột thơm. Trong nhà xông hơi, ở ngược dòng nước, ở nơi không phải bến nước, và với người nam.
Mahāgotamī āyāci, ānando cāpi yoniso; Parisā catasso honti, pabbajjā jinasāsane.
Mahāgotamī asked, And so did Ānanda wisely; There are four assemblies, Going forth in the instruction of the Victor.
Bà Mahāgotamī đã thỉnh cầu, và ngài Ānanda cũng đã thỉnh cầu một cách khéo léo. Do việc xuất gia (của nữ giới) trong giáo pháp của bậc Chiến Thắng, đã có bốn chúng hội.
Saṁvegajananatthāya, saddhammassa ca vuddhiyā; Āturassāva bhesajjaṁ, evaṁ buddhena desitaṁ.
For the purpose of seeing the urgency, And for the purpose of growth in the true Teaching; Like medicine for the sick, So it was taught by the Buddha.
Để phát sinh sự cảm động, và vì sự tăng trưởng của diệu pháp, giống như thuốc cho người bệnh, đã được đức Phật thuyết giảng như vậy.
Evaṁ vinītā saddhamme, mātugāmāpi itarā; Yāyanti accutaṁ ṭhānaṁ, yattha gantvā na socareti.
Thus trained in the true Teaching, Other women too; They go to where there is no death, Having gone there, they do not sorrow.”
Như vậy, những người nữ khác được huấn luyện trong diệu pháp cũng đi đến nơi bất tử, là nơi mà sau khi đến sẽ không còn sầu muộn.
Bhikkhunikkhandhako niṭṭhito.
The chapter on nuns is finished.
Dứt chương Tỳ-khưu-ni.