- Theravāda Vinayapiṭaka
- Cūḷavagga
Bản dịch
Kd 19 — Chương đình chỉ giới bổn pātimokkha
19. Pātimokkhaṭṭhapanakkhandhaka
TỤNG PHẨM THỨ NHẤT:
THỈNH CẦU TUYÊN ĐỌC GIỚI BỔN PĀTIMOKKHA:
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Sāvatthi, tu viện Pubba, ở tòa nhà dài của người mẹ của Migāra. Vào lúc bấy giờ, nhằm ngày Uposatha, đức Thế Tôn đang ngồi, được vây quanh bởi hội chúng tỳ khưu.
Khi ấy, lúc đêm đã khuya canh một đã tàn, đại đức Ānanda đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay hướng về đức Thế Tôn, và đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, đêm đã khuya canh một đã tàn, hội chúng tỳ khưu ngồi đã lâu. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn tuyên đọc giới bổn Pātimokkha cho các tỳ khưu.” Khi được nói như vậy, đức Thế Tôn đã im lặng.
Đến lần thứ nhì, lúc đêm đã khuya canh giữa đã tàn, đại đức Ānanda đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay lên hướng về đức Thế Tôn, và đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, đêm đã khuya, canh giữa đã tàn, hội chúng tỳ khưu ngồi đã lâu. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn tuyên đọc giới bổn Pātimokkha cho các tỳ khưu.” Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn đã im lặng.
Đến lần thứ ba, lúc đêm đã khuya canh cuối đã tàn, bình minh đã rạng, trời đêm lộ vẻ rạng rỡ, đại đức Ānanda đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay lên hướng về đức Thế Tôn, và đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, đêm đã khuya canh cuối đã tàn, bình minh đã rạng, trời đêm lộ vẻ rạng rỡ, hội chúng tỳ khưu ngồi đã lâu. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn tuyên đọc giới bổn Pātimokkha cho các tỳ khưu.”
—“Này Ānanda, hội chúng không thanh tịnh.”
Inda-bh 2~2Khi ấy, đại đức Mahāmoggallāna đã khởi ý điều này: “Liên quan đến nhân vật nào khiến đức Thế Tôn đã nói như vầy: ‘Này Ānanda, hội chúng không thanh tịnh’?” Sau đó, đại đức Mahāmoggallāna đã chăm chú dùng tâm quán xét tâm của toàn thể hội chúng tỳ khưu. Đại đức Mahāmoggallāna quả nhiên đã thấy được nhân vật ấy, là kẻ có ác giới, có ác pháp, sở hành bất tịnh và đáng nghi ngờ, có hành động che giấu, phi Sa-môn, giả mạo Sa-môn, phi Phạm hạnh, giả mạo Phạm hạnh, nội tâm thối nát, nhiễm dục vọng, có bản chất dơ bẩn, đang ngồi giữa hội chúng tỳ khưu.
Sau khi nhìn thấy đã đi đến gần nhân vật ấy, sau khi đến gần đã nói với nhân vật ấy điều này:—“Này ông bạn, hãy đứng dậy. Ngươi đã bị đức Thế Tôn nhìn thấy rồi. Ngươi không được cộng trú với các tỳ khưu.” Được nói như vậy, nhân vật ấy đã im lặng.
Đến lần thứ nhì, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với nhân vật ấy điều này:—“Này ông bạn, hãy đứng dậy. Ngươi đã bị đức Thế Tôn nhìn thấy rồi. Ngươi không được cộng trú với các tỳ khưu.” Đến lần thứ nhì, nhân vật ấy đã im lặng.
Đến lần thứ ba, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với nhân vật ấy điều này:—“Này ông bạn, hãy đứng dậy. Ngươi đã bị đức Thế Tôn nhìn thấy rồi. Ngươi không được cộng trú với các tỳ khưu.” Đến lần thứ ba, nhân vật ấy đã im lặng.
Khi ấy, đại đức Mahāmoggallāna đã nắm lấy nhân vật ấy ở cánh tay đẩy ra bên ngoài cánh cửa của cổng ra vào, gài chốt cửa lại, rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, nhân vật ấy đã bị con đẩy ra ngoài rồi; hội chúng được thanh tịnh. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn tuyên đọc giới bổn Pātimokkha cho các tỳ khưu.”
—“Này Moggallāna, thật kỳ lạ thay! Này Moggallāna thật khác thường thay! Gã rồ dại ấy lại chờ cho đến lúc bị nắm lấy cánh tay.”
TÁM PHÁP KỲ DIỆU VỀ BIỂN CẢ:
Inda-bh 3~3Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, đây là tám pháp kỳ diệu phi thường về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét những pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả. Tám pháp ấy là gì?
Này các tỳ khưu, biển cả sâu xuống dần dần, có độ dốc xuống dần dần, có sự lõm xuống dần dần, không có vực sâu một cách đột ngột. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả sâu xuống dần dần, có độ dốc xuống dần dần, có sự lõm xuống dần dần, không có vực sâu một cách đột ngột, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.
Này các tỳ khưu, còn có điều này nữa, biển cả có pháp ổn định, không tràn qua khỏi bờ. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả có pháp ổn định, không tràn qua khỏi bờ, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ nhì về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.
Này các tỳ khưu, còn có điều này nữa, biển cả không sống chung với xác chết, nghĩa là khi ở trong biển cả có xác chết, nó tức thời đưa xác chết ấy vào bờ hoặc hất lên đất liền. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả không sống chung với xác chết, nghĩa là khi ở trong biển cả có xác chết, nó tức thời đưa xác chết ấy vào bờ hoặc hất lên đất liền, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ ba về biển cả, … (như trên) …
Này các tỳ khưu, còn có điều này nữa, các con sông lớn như là Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī khi đã ra đến biển cả thì từ bỏ các tên họ trước đây và đi đến tên gọi là ‘Biển cả.’ Này các tỳ khưu, sự việc các con sông lớn như là Gaṅgā, … (như trên) … và đi đến tên gọi là ‘Biển cả,’ này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ tư về biển cả, … (như trên) …
Này các tỳ khưu, còn có điều này nữa, có các dòng nước ở trái đất đổ vào biển cả và các trận mưa từ không trung rơi xuống, nhưng không vì điều ấy mà biển cả được xem là vơi hay đầy. Này các tỳ khưu, sự việc có các dòng nước ở trái đất đổ vào biển cả và các trận mưa từ không trung rơi xuống nhưng không vì điều ấy mà biển cả được xem là vơi hay đầy, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ năm về biển cả, … (như trên) …
Này các tỳ khưu, còn có điều này nữa, biển cả có một vị là vị của muối. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả chỉ có một vị là vị của muối, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ sáu về biển cả, … (như trên) …
Này các tỳ khưu, còn có điều này nữa, biển cả có nhiều vật quý, có vô số vật quý. Ở đó, các vật quý ấy như là ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc bích, xà cừ, đá quý, san hô, bạc, vàng, ngọc ru-by, ngọc mắt mèo. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả có nhiều vật quý, có vô số vật quý; ở đó, các vật quý ấy ―nt― này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ bảy về biển cả, … (như trên) …
Này các tỳ khưu, còn có điều này nữa, biển cả là nơi cư trú của các chúng sanh to lớn. Ở đó, các chúng sanh ấy là cá ông, cá voi, cá ông voi, các A-tu-la, các loài rồng, các Càn-thát-bà. Trong biển cả còn có những loài hữu hình lớn đến trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến hai trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến ba trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến bốn trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến năm trăm do tuần. Này các tỳ khưu, sự việc biển cả là nơi cư trú của các chúng sanh to lớn; ở đó, các chúng sanh ấy là cá ông, … (như trên) … Trong biển cả còn có những loài hữu hình lớn đến trăm do tuần, … (như trên) … những loài hữu hình lớn đến năm trăm do tuần, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ tám về biển cả, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các A-tu-la thỏa thích trong biển cả.
Inda-bh 4~4Này các tỳ khưu, tương tợ như thế trong Pháp và Luật này có tám pháp kỳ diệu phi thường, sau khi thường xuyên xem xét những pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này. Tám pháp ấy là gì?
Này các tỳ khưu, cũng giống như biển cả sâu xuống dần dần, có độ dốc xuống dần dần, có sự lõm xuống dần dần, không có vực sâu một cách đột ngột, này các tỳ khưu, tương tợ như thế trong Pháp và Luật này có sự học tập theo thứ lớp, có sự thực hành theo thứ lớp, có sự tiến bộ theo thứ lớp, không có sự chứng ngộ đột ngột nào khác. Này các tỳ khưu, sự việc trong Pháp và Luật này có sự học tập theo thứ lớp, có sự thực hành theo thứ lớp, có sự tiến bộ theo thứ lớp, không có sự chứng ngộ đột ngột nào khác, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất trong Pháp và Luật này, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này.
Này các tỳ khưu, cũng giống như biển cả có pháp ổn định, không tràn qua khỏi bờ, này các tỳ khưu, tương tợ như thế điều học nào đã được ta quy định cho các đệ tử của ta, các đệ tử của ta không vượt qua điều học ấy dù là nguyên nhân mạng sống. Này các tỳ khưu, sự việc điều học nào đã được ta quy định cho các đệ tử, các đệ tử của ta không vượt qua điều học ấy dù là nguyên nhân mạng sống, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ nhì trong Pháp và Luật này, … (như trên) …
Này các tỳ khưu, cũng giống như biển cả không sống chung với xác chết nghĩa là khi ở trong biển cả có xác chết, nó tức thời đưa xác chết ấy vào bờ hoặc hất lên đất liền, này các tỳ khưu, tương tợ như thế nhân vật nào là kẻ có ác giới, có ác pháp, sở hành bất tịnh và đáng nghi ngờ, có hành động che giấu, phi Sa-môn, giả mạo Sa-môn, phi Phạm hạnh, giả mạo Phạm hạnh, nội tâm thối nát, nhiễm dục vọng, có bản chất dơ bẩn, hội chúng không sống chung với kẻ ấy mà tức thời tụ hội lại loại trừ kẻ ấy ra; cho dù kẻ ấy ngồi giữa hội chúng tỳ khưu nhưng kẻ ấy vẫn bị tách ly khỏi hội chúng và hội chúng vẫn được tách ly với kẻ ấy. Này các tỳ khưu, sự việc nhân vật nào là kẻ có ác giới, có ác pháp, … (như trên) … hội chúng không sống chung với nhân vật ấy mà tức thời tụ hội lại loại trừ kẻ ấy ra; cho dù kẻ ấy ngồi giữa hội chúng tỳ khưu nhưng kẻ ấy vẫn bị tách ly khỏi hội chúng và hội chúng vẫn được tách ly với kẻ ấy, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ ba trong Pháp và Luật này, … (như trên) …
Này các tỳ khưu, cũng giống như các con sông lớn như là Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī khi đã ra đến biển cả thì từ bỏ các tên họ trước đây và đi đến tên gọi là ‘Biển cả,’ này các tỳ khưu, tương tợ như thế bốn loại giai cấp này là vua chúa, Bà-la-môn, thương buôn, và nô bộc, khi họ đã rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật được công bố bởi đức Như Lai thì từ bỏ các tên họ trước đây và đi đến tên gọi là ‘Các Sa-môn Thích tử.’ Này các tỳ khưu, sự việc bốn loại giai cấp này là vua chúa, … (như trên) … và đi đến tên gọi là ‘Các Sa-môn Thích tử,’ này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ tư trong Pháp và Luật này, … (như trên) …
Này các tỳ khưu, cũng giống như các dòng nước ở trái đất đổ vào biển cả và các trận mưa từ không trung rơi xuống, nhưng không vì điều ấy mà biển cả được xem là vơi hay đầy, này các tỳ khưu, tương tợ như thế cho dù nhiều vị tỳ khưu Vô Dư Niết Bàn trong cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót, nhưng không vì điều ấy mà cảnh giới Niết Bàn được xem là vơi hay đầy. Này các tỳ khưu, sự việc cho dù nhiều vị tỳ khưu Vô Dư Niết Bàn trong cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót, nhưng không vì điều ấy mà cảnh giới Niết Bàn được xem là vơi hay đầy, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ năm trong Pháp và Luật này, … (như trên) …
Này các tỳ khưu, cũng giống như biển cả có một vị là vị của muối, này các tỳ khưu, tương tợ như thế Pháp và Luật này có một vị là vị của giải thoát. Này các tỳ khưu, sự việc Pháp và Luật này có một vị là vị của giải thoát, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ sáu trong Pháp và Luật này, … (như trên) …
Này các tỳ khưu, cũng giống như biển cả có nhiều vật quý, có vô số vật quý; ở đó, các vật quý ấy như là ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc bích, xà cừ, đá quý, san hô, bạc, vàng, ngọc ru-by, ngọc mắt mèo, này các tỳ khưu, tương tợ y như thế Pháp và Luật này có nhiều vật quý, có vô số vật quý; ở đây, các vật quý ấy như là bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy pháp đưa đến giác ngộ, Thánh đạo tám ngành.
Này các tỳ khưu, sự việc Pháp và Luật này có nhiều vật quý, có vô số vật quý; ở đây, các vật quý ấy như là bốn sự thiết lập niệm, … (như trên) … này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ bảy trong Pháp và Luật này, … (như trên) …
Này các tỳ khưu, cũng giống như biển cả là nơi cư trú của các chúng sanh to lớn; ở đó, các chúng sanh ấy là cá ông, cá voi, cá ông voi, các A-tu-la, các loài rồng, các Càn-thát-bà. Trong biển cả còn có những loài hữu hình lớn đến trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến hai trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến ba trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến bốn trăm do tuần, những loài hữu hình lớn đến năm trăm do tuần. Này các tỳ khưu, tương tợ như thế Pháp và Luật này là nơi cư trú của các chúng sanh vĩ đại; ở đây, các chúng sanh ấy là vị Nhập Lưu, vị đang thực hành để chứng ngộ quả Nhập Lưu, vị Nhất Lai, vị đang thực hành để chứng ngộ quả Nhất Lai, vị Bất Lai, vị đang thực hành để chứng ngộ quả Bất Lai, vị A-la-hán, vị đang thực hành để chứng ngộ quả A-la-hán. Này các tỳ khưu, sự việc Pháp và Luật này là nơi cư trú của các chúng sanh vĩ đại; ở đây, các chúng sanh ấy là vị Nhập Lưu, … (như trên) … này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ tám trong Pháp và Luật này, sau khi thường xuyên xem xét pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này. Này các tỳ khưu đây là tám pháp kỳ diệu phi thường trong Pháp và Luật này, sau khi thường xuyên xem xét những pháp ấy các tỳ khưu thỏa thích trong Pháp và Luật này.”
Sau đó, khi đã hiểu ra sự việc ấy, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Nước mưa bị văng lại ở vật đã khéo được che đậy, nước mưa không bị văng lại ở vật đã được mở ra. Vì thế, hãy mở ra vật đã được che đậy, như vậy ở vật ấy nước mưa không bị văng lại.”
Inda-bh 5~5Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, giờ đây kể từ nay về sau ta sẽ không tiến hành lễ Uposatha, sẽ không tuyên đọc giới bổn. Chính các ngươi, giờ đây kể từ nay về sau các ngươi có thể tiến hành lễ Uposatha, có thể tụng đọc giới bổn Pātimokkha. Này các tỳ khưu, sự việc này không hợp lý không có cơ sở là việc đức Như Lai có thể tiến hành lễ Uposatha, có thể tuyên đọc giới bổn Pātimokkha ở hội chúng không thanh tịnh. Và này các tỳ khưu, vị phạm tội không nên nghe giới bổn Pātimokkha; vị nào nghe thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, vị nào phạm tội mà lắng nghe giới bổn Pātimokkha, ta cho phép đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy.
Và này các tỳ khưu, nên đình chỉ như vầy: Vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) là vị phạm tội, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Giới bổn Pātimokkha đã được đình chỉ.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư chính là những vị phạm tội mà vẫn nghe giới bổn Pātimokkha (nghĩ rằng): ‘Không ai biết về chúng ta!’ Các tỳ khưu trưởng lão biết được tâm của người khác nên báo cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, các tỳ khưu nhóm Lục Sư tên (như vầy) và tên (như vầy) chính là những vị phạm tội mà vẫn nghe giới bổn Pātimokkha (nghĩ rằng): ‘Không ai biết về chúng ta!’” Các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã nghe rằng: “Nghe nói các tỳ khưu trưởng lão biết được tâm của người khác nên báo cho các tỳ khưu về chúng ta rằng: ‘Này các đại đức, các tỳ khưu nhóm Lục Sư tên (như vầy) và tên (như vầy) chính là những vị phạm tội mà vẫn nghe giới bổn Pātimokkha (nghĩ rằng): ‘Không ai biết về chúng ta!’” Các vị ấy (nghĩ rằng): ‘Trước hết, các tỳ khưu trong sạch sẽ đình chỉ giới bổn Pātimokkha của chúng ta’ nên ra tay trước đình chỉ giới bổn Pātimokkha của các tỳ khưu trong sạch không phạm tội khi không có cơ sở, không có nguyên nhân.
Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại đình chỉ giới bổn Pātimokkha của các tỳ khưu trong sạch không có phạm tội khi không có cơ sở, không có nguyên nhân?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư đình chỉ giới bổn Pātimokkha của các tỳ khưu trong sạch không có phạm tội khi không có cơ sở, không có nguyên nhân, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) …
Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên đình chỉ giới bổn Pātimokkha của các tỳ khưu trong sạch không có phạm tội khi không có cơ sở, không có nguyên nhân; vị nào đình chỉ thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 6~6Này các tỳ khưu, một sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, một sự đúng Pháp.
Hai sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, hai sự đúng Pháp.
Ba sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, ba sự đúng Pháp.
Bốn sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, bốn sự đúng Pháp.
Năm sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, năm sự đúng Pháp.
Sáu sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, sáu sự đúng Pháp.
Bảy sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, bảy sự đúng Pháp.
Tám sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, tám sự đúng Pháp.
Chín sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, chín sự đúng Pháp.
Mười sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp, mười sự đúng Pháp.
Inda-bh 7~7Thế nào là một sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Đây là một sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp. Thế nào là một sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới có nguyên cớ. Đây là một sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
Thế nào là hai sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm không có nguyên cớ. Đây là hai sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp. Thế nào là hai sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về hạnh kiểm có nguyên cớ. Đây là hai sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
Thế nào là ba sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ, … (như trên) … với sự hư hỏng về hạnh kiểm không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến không có nguyên cớ. Đây là ba sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp. Thế nào là ba sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới có nguyên cớ, … (như trên) … với sự hư hỏng về hạnh kiểm có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến có nguyên cớ. Đây là ba sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
Thế nào là bốn sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ, … (như trên) … với sự hư hỏng về hạnh kiểm không có nguyên cớ, … (như trên) … với sự hư hỏng về tri kiến không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về nuôi mạng không có nguyên cớ. Đây là bốn sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp. Thế nào là bốn sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới có nguyên cớ, … (như trên) … với sự hư hỏng về hạnh kiểm có nguyên cớ, … (như trên) … với sự hư hỏng về tri kiến có nguyên cớ, … (như trên) … với sự hư hỏng về nuôi mạng có nguyên cớ. Đây là bốn sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
Thế nào là năm sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội pārājika không có nguyên cớ, ―nt― với tội saṅghādisesa không có nguyên cớ, ―nt― với tội pācittiya không có nguyên cớ, ―nt― với tội pāṭidesanīya không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội dukkaṭa không có nguyên cớ. Đây là năm sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp. Thế nào là năm sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội pārājika có nguyên cớ, … (như trên) … với tội saṅghādisesa có nguyên cớ, ―nt― với tội pācittiya có nguyên cớ, ―nt― với tội pāṭidesanīya có nguyên cớ, ―nt― với tội dukkaṭa có nguyên cớ. Đây là năm sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
Thế nào là sáu sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới chưa làm không có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về giới đã làm không có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa làm không có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã làm không có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về tri kiến chưa làm không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến đã làm không có nguyên cớ. Đây là sáu sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp. Thế nào là sáu sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới chưa làm có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về giới đã làm có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa làm có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã làm có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về tri kiến chưa làm có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến đã làm có nguyên cớ. Đây là sáu sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
Thế nào là bảy sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội pārājika không có nguyên cớ, ... với tội saṅghādisesa không có nguyên cớ, ... với tội thullaccaya không có nguyên cớ, ... với tội pācittiya không có nguyên cớ, ... với tội pāṭidesanīya không có nguyên cớ, ... với tội dukkaṭa không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội dubbhāsita không có nguyên cớ. Đây là bảy sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp. Thế nào là bảy sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội pārājika có nguyên cớ, ... với tội saṅghādisesa có nguyên cớ, ... với tội thullaccaya có nguyên cớ, ... với tội pācittiya có nguyên cớ, ... với tội pāṭidesanīya có nguyên cớ, ... với tội dukkaṭa có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với tội dubbhāsita có nguyên cớ. Đây là bảy sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
Thế nào là tám sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới chưa làm không có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về giới đã làm không có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa làm không có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã làm không có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về tri kiến chưa làm không có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về tri kiến đã làm không có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về nuôi mạng chưa làm không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về nuôi mạng đã làm không có nguyên cớ. Đây là tám sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp. Thế nào là tám sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới chưa làm có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về giới đã làm có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa làm có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã làm có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về tri kiến chưa làm có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về tri kiến đã làm có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về nuôi mạng chưa làm có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về nuôi mạng đã làm có nguyên cớ. Đây là tám sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
Thế nào là chín sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới chưa làm không có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về giới đã làm không có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về giới đã làm và chưa làm không có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa làm không có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã làm không có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã làm và chưa làm không có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về tri kiến chưa làm không có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về tri kiến đã làm không có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến đã làm và chưa làm không có nguyên cớ. Đây là chín sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp. Thế nào là chín sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về giới chưa làm có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về giới đã làm có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về giới đã làm và chưa làm có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về hạnh kiểm chưa làm có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã làm có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về hạnh kiểm đã làm và chưa làm có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về tri kiến chưa làm có nguyên cớ, ... với sự hư hỏng về tri kiến đã làm có nguyên cớ, vị đình chỉ giới bổn Pātimokkha với sự hư hỏng về tri kiến đã làm và chưa làm có nguyên cớ. Đây là chín sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
Thế nào là mười sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp? Vị phạm tội pārājika không ngồi ở tập thể đó, sự thảo luận về tội pārājika chưa được dứt điểm, vị đã xả bỏ sự học tập không ngồi ở tập thể đó, sự thảo luận về vị đã xả bỏ sự học tập chưa được dứt điểm, vị phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp, vị không bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp, sự thảo luận về việc bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp chưa được dứt điểm, vị không bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới, vị không bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm, vị không bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến. Đây là mười sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha sai Pháp. Thế nào là mười sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp? Vị phạm tội pārājika ngồi ở tập thể đó, sự thảo luận về tội pārājika đã được dứt điểm, vị đã xả bỏ sự học tập ngồi ở tập thể đó, sự thảo luận về vị đã xả bỏ sự học tập đã được dứt điểm, vị không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp, vị bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp, sự thảo luận về việc bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp đã được dứt điểm, vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới, vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm, vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến. Đây là mười sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.
Inda-bh 8~8Thế nào là vị phạm tội pārājika ngồi ở tập thể đó? Này các tỳ khưu, ở đây sự phạm tội pārājika là do những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang phạm tội pārājika với những hình thức ấy, với những đặc tính ấy, với những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang phạm tội pārājika nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã phạm tội pārājika!’
Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu đang phạm tội pārājika và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã phạm tội pārājika!’ nhưng chính vị tỳ khưu (phạm tội) ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, tôi đã phạm tội pārājika!’
Này các tỳ khưu, với điều đã được nghe ấy, với điều đã được thấy ấy, với điều đã nghi ngờ ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) đã phạm tội pārājika, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
Khi giới bổn Pātimokkha của vị tỳ khưu đã bị đình chỉ, (nếu) tập thể giải tán do sự nguy hiểm nào đó trong mười sự nguy hiểm là sự nguy hiểm từ đức vua, sự nguy hiểm vì trộm cướp, sự nguy hiểm vì hỏa hoạn, sự nguy hiểm vì nước ngập, sự nguy hiểm vì loài người, sự nguy hiểm vì phi nhân, sự nguy hiểm vì thú dữ, sự nguy hiểm vì rắn, sự nguy hiểm vì mạng sống, sự nguy hiểm vì Phạm hạnh, này các tỳ khưu, tại trú xứ ấy hoặc trú xứ nào khác, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, vị tỳ khưu (nguyên cáo) nếu muốn có thể nêu lên giữa hội chúng rằng:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về tội pārājika của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên quyết định sự việc này.’
Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không đạt được, thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về tội pārājika của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định. Tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’
Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
Inda-bh 9~9Thế nào là vị đã xả bỏ sự học tập ngồi ở tập thể đó? Này các tỳ khưu, ở đây sự học tập được vị tỳ khưu xả bỏ do những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang xả bỏ sự học tập với những hình thức ấy, với những đặc tính ấy, với những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang xả bỏ sự học tập nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã xả bỏ sự học tập!’ Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang xả bỏ sự học tập và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) đã xả bỏ sự học tập!’ nhưng chính vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, tôi đã xả bỏ sự học tập!’ này các tỳ khưu, với điều đã được nghe ấy, với điều đã được thấy ấy, với điều đã nghi ngờ ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) đã xả bỏ sự học tập, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
Khi giới bổn Pātimokkha của vị tỳ khưu đã bị đình chỉ, (nếu) tập thể giải tán do sự nguy hiểm nào đó trong mười sự nguy hiểm là sự nguy hiểm từ đức vua, … (như trên) … hoặc sự nguy hiểm vì Phạm hạnh, này các tỳ khưu, tại trú xứ ấy hoặc trú xứ nào khác, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, vị tỳ khưu (nguyên cáo) nếu muốn có thể nêu lên giữa hội chúng rằng:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về việc xả bỏ sự học tập của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên quyết định sự việc này.’ Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không đạt được, thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về việc xả bỏ sự học tập của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định. Tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
Inda-bh 10~10Thế nào là vị không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp? Này các tỳ khưu, ở đây việc không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp của vị tỳ khưu là do những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, thì vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp với những hình thức ấy, với những đặc tính ấy, với những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp!’
Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp!’ nhưng chính vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, tôi không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp!’ này các tỳ khưu, với điều đã được nghe ấy, với điều đã được thấy ấy, với điều đã nghi ngờ ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) không phục tùng sự hợp nhất đúng Pháp, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
Thế nào là vị bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp? Này các tỳ khưu, ở đây việc bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp là do những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp với những hình thức ấy, với những đặc tính ấy, với những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp!’ Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) đang bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp!’ nhưng chính vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, tôi bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp!’ Này các tỳ khưu, với điều đã được nghe ấy, với điều đã được thấy ấy, với điều đã nghi ngờ ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
Khi giới bổn Pātimokkha của vị tỳ khưu đã bị đình chỉ, (nếu) tập thể giải tán do sự nguy hiểm nào đó trong mười sự nguy hiểm là sự nguy hiểm từ đức vua, … (như trên) … hoặc sự nguy hiểm vì Phạm hạnh. Này các tỳ khưu, tại trú xứ ấy hoặc trú xứ nào khác, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, vị tỳ khưu (nguyên cáo) nếu muốn có thể nêu lên giữa hội chúng rằng:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về việc bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên quyết định sự việc ấy.’
Nếu sự việc ấy có thể đạt được như vậy, sự việc ấy như thế là tốt đẹp. Nếu không thể đạt được, thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Sự thảo luận về việc bác bỏ sự hợp nhất đúng Pháp của nhân vật tên (như vầy) chưa được dứt điểm, sự việc ấy chưa được quyết định. Tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
Inda-bh 11~11Thế nào là vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu là bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới do những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới do những hình thức ấy, do những đặc tính ấy, do những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới!’ Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới!’ nhưng chính vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, tôi bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới!’
Này các tỳ khưu, với điều đã được nghe ấy, với điều đã được thấy ấy, với điều đã nghi ngờ ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, nên nêu lên giữa hội chúng rằng: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về giới, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
Inda-bh 12~12Thế nào là vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu là bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm do những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm do những hình thức ấy, do những đặc tính ấy, do những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm!’ Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm!’ nhưng chính vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, tôi bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm!’
Này các tỳ khưu, với điều đã được nghe ấy, với điều đã được thấy ấy, với điều đã nghi ngờ ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về hạnh kiểm, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp.
Inda-bh 13~13Thế nào là vị bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến do những hình thức nào, do những đặc tính nào, do những dấu hiệu nào, vị tỳ khưu nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến do những hình thức ấy, do những đặc tính ấy, do những dấu hiệu ấy. Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến nhưng lại có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến!’ Cho dù vị tỳ khưu không nhìn thấy vị tỳ khưu (khác) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến và cũng không có vị tỳ khưu khác (thứ ba) nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, vị tỳ khưu tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến!’ nhưng chính vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu rằng: ‘Này đại đức, tôi bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến!’
Này các tỳ khưu, với điều đã được nghe ấy, với điều đã được thấy ấy, với điều đã nghi ngờ ấy, vị tỳ khưu nếu muốn thì vào ngày Uposatha là ngày mười bốn hoặc mười lăm, trong sự hiện diện của nhân vật ấy, có thể nêu lên giữa hội chúng rằng: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nhân vật tên (như vầy) bị thấy bị nghe bị nghi ngờ với sự hư hỏng về tri kiến, tôi đình chỉ giới bổn Pātimokkha của vị ấy, giới bổn Pātimokkha không nên tụng đọc trong sự hiện diện của vị ấy.’ Sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha là đúng Pháp. Đây là mười sự đình chỉ giới bổn Pātimokkha đúng Pháp.”
Tụng phẩm thứ nhất.
Inda-bh 14~14Khi ấy, đại đức Upāli đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Upāli đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, vị tỳ khưu có ý muốn áp dụng việc đích thân khởi tố nên áp dụng việc đích thân khởi tố khi có bao nhiêu yếu tố?”
—“Này Upāli, vị tỳ khưu có ý muốn áp dụng việc đích thân khởi tố nên áp dụng việc đích thân khởi tố khi có năm yếu tố: Này Upāli, vị tỳ khưu có ý muốn áp dụng việc đích thân khởi tố nên quán xét như sau: ‘Việc ta có ý muốn áp dụng việc đích thân khởi tố này là đúng thời điểm để áp dụng việc đích thân khởi tố này hay không đúng (thời điểm)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Sái thời điểm để áp dụng việc đích thân khởi tố này, không phải đúng thời điểm.’ Này Upāli, không nên áp dụng việc đích thân khởi tố ấy.
Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Đúng thời điểm để áp dụng việc đích thân khởi tố này, không phải sái thời điểm;’ này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên quán xét thêm rằng: ‘Việc ta có ý muốn áp dụng việc đích thân khởi tố này, nhưng việc đích thân khởi tố này là đúng đắn hay không (đúng đắn)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Việc đích thân khởi tố này là sai trái, không đúng đắn;’ này Upāli, không nên áp dụng việc đích thân khởi tố ấy.
Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Việc đích thân khởi tố này là đúng đắn, không phải sai trái;’ này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên quán xét thêm rằng: ‘Việc ta có ý muốn áp dụng việc đích thân khởi tố này, nhưng việc đích thân khởi tố này có đem lại sự lợi ích hay không (đem lại sự lợi ích)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Việc đích thân khởi tố này đem lại sự vô ích, không đem lại sự lợi ích;’ này Upāli, không nên áp dụng việc đích thân khởi tố ấy.
Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Việc đích thân khởi tố này đem lại sự lợi ích, không phải đem lại sự vô ích;’ này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên quán xét thêm rằng: ‘Trong khi áp dụng việc đích thân khởi tố này, ta sẽ đạt được các tỳ khưu đồng quan điểm thân thiết ở trong phe theo đúng Pháp theo đúng Luật hay sẽ không (đạt được)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Trong khi áp dụng việc đích thân khởi tố này, ta sẽ không đạt được các tỳ khưu đồng quan điểm thân thiết ở trong phe theo đúng Pháp theo đúng Luật;’ này Upāli, không nên áp dụng việc đích thân khởi tố ấy.
Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Trong khi áp dụng việc đích thân khởi tố này, ta sẽ đạt được các tỳ khưu đồng quan điểm thân thiết ở trong phe theo đúng Pháp, theo đúng Luật;’ này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên quán xét thêm rằng: ‘Khi việc đích thân khởi tố này của ta được áp dụng, do nguyên nhân ấy đối với hội chúng sẽ xảy ra sự tranh cãi, sự cãi cọ, sự xung đột, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân loại trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng hay sẽ không (xảy ra)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Khi việc đích thân khởi tố này của ta được áp dụng, do nguyên nhân ấy đối với hội chúng sẽ xảy ra sự tranh cãi, … (như trên) … việc làm khác biệt trong hội chúng;’ này Upāli, không nên áp dụng việc đích thân khởi tố ấy.
Này Upāli nếu vị tỳ khưu trong lúc quán xét nhận biết như vầy: ‘Khi việc đích thân khởi tố này của ta được áp dụng, do nguyên nhân ấy đối với hội chúng sẽ không xảy ra sự tranh cãi, … (như trên) … việc làm khác biệt trong hội chúng;’ này Upāli, nên áp dụng việc đích thân khởi tố ấy. Này Upāli, việc đích thân khởi tố có năm yếu tố như thế được áp dụng sẽ không đem lại sự ân hận sau này.”
Inda-bh 15~15“Bạch ngài, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét bản thân bao nhiêu pháp rồi mới nên khiển trách vị khác?”
—“Này Upāli, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét bản thân năm pháp rồi mới nên khiển trách vị khác. Này Upāli, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét như vầy: ‘Ta có sở hành về thân trong sạch không? Ta có sở hành về thân trong sạch, không sai sót, không lỗi lầm không? Pháp ấy được tìm thấy ở ta hay không (được tìm thấy)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu không có sở hành về thân trong sạch, không thành tựu sở hành về thân trong sạch, không sai sót, không lỗi lầm, có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này, đến lúc đại đức nên rèn luyện điều liên quan đến thân;’ có những người nói với vị này như thế.
Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét như vầy: ‘Ta có sở hành về khẩu trong sạch không? Ta có sở hành về khẩu trong sạch, không sai sót, không lỗi lầm không? Pháp ấy được tìm thấy ở ta hay không (được tìm thấy)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu không có sở hành về khẩu trong sạch, không thành tựu sở hành về khẩu trong sạch, không sai sót, không lỗi lầm, có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này, đến lúc đại đức nên rèn luyện điều liên quan đến khẩu;’ có những người nói với vị này như thế.
Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét như vầy: ‘Tâm từ của ta tức là tâm không ác cảm đối với các vị đồng Phạm hạnh có hiện khởi không? Pháp ấy được tìm thấy ở ta hay không (được tìm thấy)?’ Này Upāli, nếu tâm từ của vị tỳ khưu là tâm không ác cảm đối với các vị đồng Phạm hạnh không có hiện khởi, có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này, đến lúc đại đức nên thể hiện tâm từ đến các vị đồng Phạm hạnh;’ có những người nói với vị này như thế.
Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét như vầy: ‘Ta có phải là vị nghe nhiều, nắm giữ điều đã được nghe, tích lũy điều đã được nghe? Các pháp nào là tốt đẹp phần đầu, tốt đẹp phần giữa, tốt đẹp phần cuối, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự, giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ, các pháp có hình thức như thế được ta nghe nhiều, ghi nhớ, ôn đọc ra lời, dùng trí quán sát, dùng tri kiến phân tích không? Pháp ấy được tìm thấy ở ta hay không (được tìm thấy)?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu không phải là vị nghe nhiều, không phải là vị nắm giữ điều đã nghe, không tích lũy điều đã nghe. Những Pháp nào có sự tốt đẹp phần đầu, tốt đẹp phần giữa, tốt đẹp phần cuối, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự, giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ, các pháp có hình thức như thế không được vị ấy nghe nhiều, ghi nhớ, ôn đọc ra lời, dùng trí quán sát, dùng tri kiến phân tích, có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này, đến lúc đại đức nên học tập kinh điển;’ có những người nói với vị này như thế.
Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét như vầy: ‘Hai bộ giới bổn Pātimokkha có được truyền lại đến ta một cách chi tiết, khéo được phân tích, khéo được áp dụng, khéo được xác định theo từng điều học hoặc từng từ ngữ không? Pháp ấy được tìm thấy ở ta hay không (được tìm thấy)?’ Này Upāli, nếu hai bộ giới bổn Pātimokkha không được truyền lại đến vị tỳ khưu một cách chi tiết, không khéo được phân tích, không khéo được áp dụng, không khéo được xác định theo từng điều học hoặc từng từ ngữ, khi được hỏi như vầy: ‘Này đại đức, điều này đã được đức Thế Tôn nói ở đâu?’ mà không đáp được, có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này, đến lúc đại đức nên học tập về Luật;’ có những người nói với vị này như thế.
Này Upāli, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên quán xét bản thân năm pháp này rồi mới nên khiển trách vị khác.”
Inda-bh 16~16—“Bạch ngài, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên khơi dậy ở nội tâm bao nhiêu pháp rồi mới nên khiển trách vị khác?”
—“Này Upāli, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên khơi dậy ở nội tâm năm pháp rồi mới nên khiển trách vị khác: ‘Ta sẽ nói hợp thời, không phải sái thời; ta sẽ nói với sự thật, không phải với sự sai trái; ta sẽ nói với sự mềm mỏng, không phải bằng cách thô lỗ; ta sẽ nói có liên hệ đến lợi ích, không phải không liên hệ đến lợi ích; ta sẽ nói với tâm từ, không phải với nội tâm có sân hận.’ Này Upāli, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên khơi dậy ở nội tâm năm pháp này rồi mới nên khiển trách vị khác.”
Inda-bh 17~17—“Bạch ngài, sự ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu khiển trách không đúng Pháp với bao nhiêu hình thức?”
—“Này Upāli, sự ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu khiển trách không đúng Pháp với năm hình thức. (Ai đó có thể nói rằng): ‘Đại đức khiển trách sái thời, không hợp thời, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách với sự sai trái, không phải với sự thật, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách bằng cách thô lỗ, không phải với sự mềm mỏng, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách không liên hệ đến lợi ích, không phải có liên hệ đến lợi ích, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách với nội tâm có sân hận, không phải với tâm từ, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài.’ Này Upāli, sự ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu khiển trách không đúng Pháp với năm hình thức này. Lý do của điều ấy là gì? Là vì không có vị tỳ khưu nào khác có thể nghĩ đến là nên khiển trách với việc sai trái như thế.”
Inda-bh 18~18—“Bạch ngài, sự không có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu bị khiển trách không đúng Pháp với bao nhiêu hình thức?”
—“Này Upāli, sự không có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu bị khiển trách không đúng Pháp với năm hình thức. (Ai đó có thể nói rằng): ‘Đại đức bị khiển trách sái thời, không hợp thời, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách với sự sai trái, không phải với sự thật, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách bằng cách thô lỗ, không phải với sự mềm mỏng, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách không liên hệ đến lợi ích, không phải có liên hệ đến lợi ích, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách bởi nội tâm có sân hận, không phải bởi tâm từ, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài.’ Này Upāli, sự không có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu bị khiển trách không đúng Pháp với năm hình thức này.”
Inda-bh 19~19—“Bạch ngài, sự không có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu khiển trách đúng Pháp với bao nhiêu hình thức?”
—“Này Upāli, sự không có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu khiển trách đúng Pháp với năm hình thức. (Ai đó có thể nói rằng): ‘Đại đức khiển trách hợp thời, không sái thời, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách với sự thật, không phải với sự sai trái, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách với sự mềm mỏng, không phải bằng cách thô lỗ, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách có liên hệ đến lợi ích, không phải không liên hệ đến lợi ích, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức khiển trách với tâm từ, không phải với nội tâm có sân hận, thế là đủ để không đưa đến sự ân hận cho ngài.’ Này Upāli, sự không có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu khiển trách đúng Pháp với năm hình thức này. Lý do của điều ấy là gì? Là vì cũng có vị tỳ khưu khác sẽ nghĩ đến nên khiển trách với sự thật như thế.”
Inda-bh 20~20—“Bạch ngài, sự có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu bị khiển trách đúng Pháp với bao nhiêu hình thức?”
—“Này Upāli, sự có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu bị khiển trách đúng Pháp với năm hình thức. (Ai đó có thể nói rằng): ‘Đại đức bị khiển trách hợp thời, không sái thời, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách với sự thật, không phải với sự sai trái, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách với sự mềm mỏng, không phải bằng cách thô lỗ, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách có liên hệ đến lợi ích, không phải không liên hệ đến lợi ích, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài. Đại đức bị khiển trách bởi từ tâm, không phải bởi nội tâm có sân hận, thế là đủ để đưa đến sự ân hận cho ngài.’ Này Upāli, sự có ân hận sẽ được xảy đến cho vị tỳ khưu bị khiển trách đúng Pháp với năm hình thức này.
Inda-bh 21~21—“Bạch ngài, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên tác ý nội tâm bao nhiêu pháp rồi mới nên khiển trách vị khác?”
—“Này Upāli, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên tác ý nội tâm năm pháp rồi mới nên khiển trách vị khác: ‘Lòng bi mẫn, sự tầm cầu lợi ích, lòng thương xót, sự thoát khỏi tội, sự tôn trọng Luật.’ Này Upāli, vị tỳ khưu khiển trách có ý muốn khiển trách vị khác nên tác ý nội tâm năm pháp này rồi mới nên khiển trách vị khác.”
—“Bạch ngài, vị tỳ khưu bị khiển trách nên an trú trong bao nhiêu pháp?”
—“Này Upāli, vị tỳ khưu bị khiển trách nên an trú trong hai pháp: chân thật và không nổi giận.”
Tụng phẩm thứ nhì.
Chương Đình Chỉ Giới Bổn Pātimokkha là thứ chín.
Trong chương này có ba mươi sự việc.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Inda-bh 1~22Ngày lễ Uposatha, cho đến lần thứ ba vị ác tỳ khưu đã không đi ra, nhờ vị Moggallāna, đã bị lôi ra, điều kỳ diệu về Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.
Inda-bh 2~23Độ sâu, và sự học tập theo thứ lớp, có pháp ổn định, không vượt qua (điều học), xác chết, hội chúng loại trừ, và các dòng sông, từ bỏ (giai cấp).
Inda-bh 3~24Các dòng nước trôi chảy, các bậc Vô Dư Niết Bàn, và một vị là giải thoát, có nhiều (vật quý), Pháp và Luật cũng vậy, các chúng sanh (to lớn) và tám hạng Thánh Nhân.
Inda-bh 4~25Sau khi dùng biển cả làm ví dụ, Ngài đã phô bày đặc điểm về Giáo Pháp, vào ngày Uposatha, giới bổn Pātimokkha, ‘không ai biết về chúng ta!’
Inda-bh 5~26Họ ra tay (đình chỉ) trước, các vị phê phán, một, hai, ba, bốn, năm, sáu, và bảy, tám, và chín, và mười trường hợp (đình chỉ) này.
Inda-bh 6~27Về bốn phần là giới, hạnh kiểm, tri kiến, và nuôi mạng, các tội pārājika, và tội saṅghādisesa, tội pācittiya, tội pāṭidesanīya, ―
Inda-bh 7~28―(và) tội dukkaṭa là thuộc về năm phần, và sự hư hỏng về giới, hạnh kiểm, chưa làm và đã làm, là thuộc về sáu phần theo như đường lối.
Inda-bh 8~29Các tội pārājika, và tội saṅghādisesa, và tội pācittiya, tội pāṭidesanīya, luôn cả tội dukkaṭa, và tội dubbhāsita.
Inda-bh 9~30Sự hư về hỏng giới, hạnh kiểm, và sự hư hỏng về tri kiến, nuôi mạng, và các điều ấy là tám trong trường hợp đã làm và chưa làm. Với giới, hạnh kiểm, và tri kiến ấy, các điều này ―
Inda-bh 10~31― trong trường hợp chưa làm, cũng như đã làm, và luôn cả đã làm và chưa làm, như vậy là chín cách đã được nói đến, đúng với sự thật, theo phương pháp.
Inda-bh 11~32Vị phạm tội pārājika, chưa được dứt điểm, vị đã xả bỏ (sự học tập), và tương tợ y như thê, vị phục tùng, vị bác bỏ, và sự thảo luận về việc bác bỏ ấy.
Inda-bh 12~33Và sự hư hỏng về giới, hạnh kiểm, giống như với sự hư hỏng về tri kiến do đã bị thấy bị nghe bị nghi ngờ, là mười trường hợp, nên biết rõ điều ấy.
Inda-bh 13~34Vị tỳ khưu thấy rõ vị tỳ khưu, hay là vị khác đã nói điều ấy, và vị trong sạch khai báo đến vị ấy, vị ấy đình chỉ giới bổn Pātimokkha.
Inda-bh 14~35(Hội chúng) giải tán vì nguy hiểm: từ đức vua, trộm cướp, hỏa hoạn, nước ngập, loài người, phi nhân, và thú dữ, rắn, mạng sống, Phạm hạnh.
Inda-bh 15~36Chỉ với một (sự nguy hiểm) nào đó của mười, và tại trú xứ ấy hoặc tại các trú xứ nào khác, đúng Pháp và luôn cả sai Pháp, nên biết theo đường lối như thế ấy.
Inda-bh 16~37(Năm yếu tố nên hành xử) là đúng thời điểm, đúng đắn, đem lại sự lợi ích, ta sẽ đạt được, sẽ xảy ra (hay không?), (nên quán xét sở hành) về thân, về khẩu, tâm từ, sự học nhiều, hai bộ giới bổn.
Inda-bh 17~38Nên khiển trách hợp thời, với sự thật, với sự mềm mỏng, có lợi ích, với tâm từ, có sự ân hận và không đúng Pháp, nên xua đi các lời nói như thế.
Inda-bh 18~39Lòng bi mẫn, sự (tầm cầu) lợi ích, lòng thương xót, sự thoát khỏi tội, sự tôn trọng (Luật) xua đi sự ân hận cho vị khiển trách đúng Pháp và cho vị bị khiển trách.
Inda-bh 19~40Cách hành xử của vị khiển trách đã được đấng Toàn Giác giảng giải, và bản thể về sự chân thật và luôn cả sự không sân hận là dành cho vị bị khiển trách.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Small Division
The chapter on the cancellation of the Monastic Code
9. Chương Đình Chỉ Giới Bổn Pātimokkha
1. Pātimokkhuddesayācana
1. The request for the recitation of the Monastic Code
1. Thỉnh Cầu Tụng Đọc Giới Bổn Pātimokkha
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātu pāsāde. Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe bhikkhusaṅghaparivuto nisinno hoti. Atha kho āyasmā ānando abhikkantāya rattiyā nikkhante paṭhame yāme uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca—“abhikkantā, bhante, ratti, nikkhanto paṭhamo yāmo, ciranisinno bhikkhusaṅgho. Uddisatu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṁ pātimokkhan”ti. Evaṁ vutte, bhagavā tuṇhī ahosi.
Dutiyampi kho āyasmā ānando abhikkantāya rattiyā nikkhante majjhime yāme uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca—“abhikkantā, bhante, ratti, nikkhanto majjhimo yāmo, ciranisinno bhikkhusaṅgho. Uddisatu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṁ pātimokkhan”ti. Dutiyampi kho bhagavā tuṇhī ahosi. Tatiyampi kho āyasmā ānando abhikkantāya rattiyā nikkhante pacchime yāme uddhaste aruṇe nandimukhiyā rattiyā uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca—“abhikkantā, bhante, ratti, nikkhanto pacchimo yāmo, uddhastaṁ aruṇaṁ nandimukhi ratti, ciranisinno bhikkhusaṅgho. Uddisatu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṁ pātimokkhan”ti. “Aparisuddhā, ānanda, parisā”ti.
At one time on the observance day, when the Buddha was staying at Sāvatthī in the Eastern Monastery, in Migāramāta’s stilt house, he was seated surrounded by the Sangha of monks. Then, when the night was well advanced and the first part of the night was over, Venerable Ānanda got up from his seat, arranged his upper robe over one shoulder, raise his joined palms, and said to the Buddha, “Sir, the night is well advanced and the first part of the night is over. The Sangha of monks has been seated for a long time. Please recite the Monastic Code.” The Buddha did not reply.
At the end of the middle part of the night, Venerable Ānanda asked a second time, and again received no reply. At the end of the last part of the night, when the sky was flaring up at dawn, he asked a third time. And the Buddha replied, “Ānanda, the gathering is impure.”
383. Vào lúc bấy giờ, Đức Phật, bậc Thế Tôn, đang trú tại Sāvatthī, ở Pubbārāma, trong lâu đài của mẹ Migāra. Và vào lúc ấy, vào ngày lễ Uposatha, Thế Tôn đang ngồi, được chúng Tăng vây quanh. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda, khi đêm đã trôi qua, canh một đã mãn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vắt qua một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch lời này: 'Bạch Thế Tôn, đêm đã trôi qua, canh một đã mãn, chúng Tăng đã ngồi lâu. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy tụng đọc Pātimokkha cho các tỳ khưu.' Khi được nói vậy, Thế Tôn giữ im lặng. Lần thứ hai, Tôn giả Ānanda, khi đêm đã trôi qua, canh giữa đã mãn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vắt qua một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch lời này: 'Bạch Thế Tôn, đêm đã trôi qua, canh giữa đã mãn, chúng Tăng đã ngồi lâu. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy tụng đọc Pātimokkha cho các tỳ khưu.' Lần thứ hai, Thế Tôn vẫn giữ im lặng. Lần thứ ba, Tôn giả Ānanda, khi đêm đã trôi qua, canh cuối đã mãn, khi rạng đông đã ló dạng, vào đêm có dung mạo hân hoan, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vắt qua một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch lời này: 'Bạch Thế Tôn, đêm đã trôi qua, canh cuối đã mãn, rạng đông đã ló dạng, đêm có dung mạo hân hoan, chúng Tăng đã ngồi lâu. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy tụng đọc Pātimokkha cho các tỳ khưu.' (Đức Phật đáp:) 'Này Ānanda, hội chúng không thanh tịnh.'
Atha kho āyasmato mahāmoggallānassa etadahosi—“kaṁ nu kho bhagavā puggalaṁ sandhāya evamāha—‘aparisuddhā, ānanda, parisā’”ti? Atha kho āyasmā mahāmoggallāno sabbāvantaṁ bhikkhusaṅghaṁ cetasā ceto paricca manasākāsi. Addasā kho āyasmā mahāmoggallāno taṁ puggalaṁ dussīlaṁ pāpadhammaṁ asucisaṅkassarasamācāraṁ paṭicchannakammantaṁ assamaṇaṁ samaṇapaṭiññaṁ abrahmacāriṁ brahmacāripaṭiññaṁ antopūtiṁ avassutaṁ kasambujātaṁ majjhe bhikkhusaṅghassa nisinnaṁ. Disvāna yena so puggalo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā taṁ puggalaṁ etadavoca—“uṭṭhehi, āvuso, diṭṭhosi bhagavatā; natthi te bhikkhūhi saddhiṁ saṁvāso”ti. Evaṁ vutte, so puggalo tuṇhī ahosi.
Dutiyampi kho āyasmā mahāmoggallāno taṁ puggalaṁ etadavoca—“uṭṭhehi, āvuso, diṭṭhosi bhagavatā; natthi te bhikkhūhi saddhiṁ saṁvāso”ti. Dutiyampi kho so puggalo tuṇhī ahosi. Tatiyampi kho āyasmā mahāmoggallāno taṁ puggalaṁ etadavoca—“uṭṭhehi, āvuso, diṭṭhosi bhagavatā; natthi te bhikkhūhi saddhiṁ saṁvāso”ti. Tatiyampi kho so puggalo tuṇhī ahosi. Atha kho āyasmā mahāmoggallāno taṁ puggalaṁ bāhāyaṁ gahetvā bahidvārakoṭṭhakā nikkhāmetvā sūcighaṭikaṁ datvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca—“nikkhāmito so, bhante, puggalo mayā; suddhā parisā; uddisatu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṁ pātimokkhan”ti.
Venerable Mahāmoggallāna thought, “Who is the Buddha talking about?” Reading the minds of the the entire Sangha of monks, he saw that person—immoral, with bad qualities, impure and dubious in conduct, hiding his actions, not a monastic while claiming to be one, not abstaining from sexuality while claiming to do so, rotten inside, lustful, defiled—seated in the midst of the Sangha. He went up to him and said, “Get up, the Buddha has seen you. You don’t belong with the community of monks.” But he did not reply.
Mahāmoggallāna said the same thing a second and a third time, still not getting a reply. Mahāmoggallāna then grabbed him by the arms, took him outside the gatehouse, and fastened the bolt and the latch. He then went to the Buddha and said, “Sir, I’ve taken that person outside; the gathering is pure. Please recite the Monastic Code to the monks.”
Bấy giờ, Tôn giả Mahāmoggallāna khởi lên ý nghĩ này: 'Thế Tôn nhắm đến cá nhân nào mà nói rằng: 'Này Ānanda, hội chúng không thanh tịnh'?' Bấy giờ, Tôn giả Mahāmoggallāna dùng tâm của mình bao trùm và tác ý đến tâm của toàn thể chúng Tăng. Tôn giả Mahāmoggallāna đã thấy cá nhân ấy, người ác giới, theo tà pháp, có hành vi không trong sạch và đáng ngờ, việc làm che giấu, không phải sa-môn mà tự nhận là sa-môn, không sống phạm hạnh mà tự nhận sống phạm hạnh, bên trong thối rữa, ướt đẫm, như đống rác, đang ngồi giữa chúng Tăng. Thấy vậy, ngài đi đến chỗ cá nhân ấy, sau khi đến, ngài nói với cá nhân ấy rằng: 'Này hiền giả, hãy đứng dậy. Ông đã bị Thế Tôn thấy rồi; ông không còn được sống chung với các tỳ khưu nữa.' Khi được nói vậy, cá nhân ấy giữ im lặng. Lần thứ hai, Tôn giả Mahāmoggallāna nói với cá nhân ấy rằng: 'Này hiền giả, hãy đứng dậy. Ông đã bị Thế Tôn thấy rồi; ông không còn được sống chung với các tỳ khưu nữa.' Lần thứ hai, cá nhân ấy vẫn giữ im lặng. Lần thứ ba, Tôn giả Mahāmoggallāna nói với cá nhân ấy rằng: 'Này hiền giả, hãy đứng dậy. Ông đã bị Thế Tôn thấy rồi; ông không còn được sống chung với các tỳ khưu nữa.' Lần thứ ba, cá nhân ấy vẫn giữ im lặng. Bấy giờ, Tôn giả Mahāmoggallāna nắm cánh tay cá nhân ấy, đuổi ra khỏi cổng, gài then lại, rồi đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, ngài bạch với Thế Tôn rằng: 'Bạch Thế Tôn, cá nhân ấy đã bị con đuổi ra rồi; hội chúng đã thanh tịnh. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy tụng đọc Pātimokkha cho các tỳ khưu.'
“Acchariyaṁ, moggallāna, abbhutaṁ, moggallāna, yāva bāhāgahaṇāpi nāma so moghapuriso āgamessatī”ti. Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—
“It’s amazing, Moggallāna, how that fool waited until he was grabbed by the arms.” And the Buddha addressed the monks:
'Thật kỳ diệu, này Moggallāna, thật hy hữu, này Moggallāna, kẻ trống rỗng kia vẫn còn chờ đợi cho đến khi bị nắm cánh tay!' Bấy giờ, Thế Tôn gọi các tỳ khưu:
2. Mahāsamuddeaṭṭhacchariya
2. The eight amazing qualities of the ocean
2. Tám Điều Kỳ Diệu Của Đại Dương
“Aṭṭhime, bhikkhave, mahāsamudde acchariyā abbhutā dhammā, ye disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti. Katame aṭṭha?
“Monks, the antigods delight in the ocean because they see eight amazing qualities in it:
384. 'Này các tỳ khưu, có tám pháp kỳ diệu, hy hữu này trong đại dương, mà các a-tu-la thấy đi thấy lại và vui thích trong đại dương. Tám điều ấy là gì?
Mahāsamuddo, bhikkhave, anupubbaninno anupubbapoṇo anupubbapabbhāro na āyatakeneva papāto. Yampi, bhikkhave, mahāsamuddo anupubbaninno anupubbapoṇo anupubbapabbhāro na āyatakeneva papāto—ayaṁ, bhikkhave, mahāsamudde paṭhamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti.
The ocean slopes and inclines gradually. It doesn’t drop off all at once.
'Này các tỳ khưu, đại dương thoai thoải dần, dốc xuống dần, sâu xuống dần, không đột ngột như vực thẳm. Này các tỳ khưu, việc đại dương thoai thoải dần, dốc xuống dần, sâu xuống dần, không đột ngột như vực thẳm – đây là pháp kỳ diệu, hy hữu thứ nhất trong đại dương, mà các a-tu-la thấy đi thấy lại và vui thích trong đại dương.
Puna caparaṁ, bhikkhave, mahāsamuddo ṭhitadhammo velaṁ nātivattati. Yampi, bhikkhave, mahāsamuddo ṭhitadhammo velaṁ nātivattati—ayaṁ, bhikkhave, mahāsamudde dutiyo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti.
The ocean is steady. It doesn’t go beyond the shoreline.
'Lại nữa, này các tỳ khưu, đại dương có trạng thái ổn định, không vượt qua bờ. Này các tỳ khưu, việc đại dương có trạng thái ổn định, không vượt qua bờ – đây là pháp kỳ diệu, hy hữu thứ hai trong đại dương, mà các a-tu-la thấy đi thấy lại và vui thích trong đại dương.
Puna caparaṁ, bhikkhave, mahāsamuddo na matena kuṇapena saṁvasati. Yaṁ hoti mahāsamudde mataṁ kuṇapaṁ, taṁ khippaññeva tīraṁ vāheti, thalaṁ ussāreti. Yampi, bhikkhave, mahāsamuddo na matena kuṇapena saṁvasati, yaṁ hoti mahāsamudde mataṁ kuṇapaṁ, taṁ khippaññeva tīraṁ vāheti, thalaṁ ussāreti—ayaṁ, bhikkhave, mahāsamudde tatiyo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti.
The ocean doesn’t tolerate dead bodies, but quickly carries them to the shore and dumps them on dry land.
Này các tỳ khưu, lại nữa, đại dương không chung đụng với tử thi. Bất cứ tử thi nào có ở trong đại dương, nó liền nhanh chóng đưa vào bờ, tấp lên đất liền. Này các tỳ khưu, chính vì đại dương không chung đụng với tử thi, bất cứ tử thi nào có ở trong đại dương, nó liền nhanh chóng đưa vào bờ, tấp lên đất liền – này các tỳ khưu, đây là điều kỳ diệu và phi thường thứ ba ở trong đại dương, chính vì thấy đi thấy lại điều này mà các a-tu-la vui thích ở trong đại dương.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yā kāci mahānadiyo, seyyathidaṁ—gaṅgā, yamunā, aciravatī, sarabhū, mahī, tā mahāsamuddaṁ pattā jahanti purimāni nāmagottāni, mahāsamuddotveva saṅkhaṁ gacchanti. Yampi, bhikkhave, yā kāci mahānadiyo, seyyathidaṁ—gaṅgā, yamunā, aciravatī, sarabhū, mahī, tā mahāsamuddaṁ pattā jahanti purimāni nāmagottāni, mahāsamuddotveva saṅkhaṁ gacchanti—ayaṁ, bhikkhave, mahāsamudde catuttho acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yā ca loke savantiyo mahāsamuddaṁ appenti, yā ca antalikkhā dhārā papatanti, na tena mahāsamuddassa ūnattaṁ vā pūrattaṁ vā paññāyati.
When the great rivers—the Ganges, the Yamunā, the Aciravatī, the Sarabhū, or the Mahī—reach the ocean, they lose their former names and become known simply as the ocean.
Whatever rivers in the world flow into the ocean and whatever rain falls into it, the ocean isn’t diminished or filled up because of that.
Này các tỳ khưu, lại nữa, bất cứ con sông lớn nào, ví như – sông Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī, khi chúng chảy đến đại dương thì từ bỏ tên và họ trước đây, và được tính là ‘chính là đại dương’. Này các tỳ khưu, chính vì bất cứ con sông lớn nào, ví như – sông Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī, khi chúng chảy đến đại dương thì từ bỏ tên và họ trước đây, và được tính là ‘chính là đại dương’ – này các tỳ khưu, đây là điều kỳ diệu và phi thường thứ tư ở trong đại dương, chính vì thấy đi thấy lại điều này mà các a-tu-la vui thích ở trong đại dương.
Này các tỳ khưu, lại nữa, các dòng sông trên thế gian chảy vào đại dương, và các dòng nước từ không trung đổ xuống, nhưng do vậy không thấy có sự vơi đi hay đầy lên của đại dương. Này các tỳ khưu, chính vì các dòng sông trên thế gian chảy vào đại dương, và các dòng nước từ không trung đổ xuống, nhưng do vậy không thấy có sự vơi đi hay đầy lên của đại dương – này các tỳ khưu, đây là điều kỳ diệu và phi thường thứ năm ở trong đại dương, chính vì thấy đi thấy lại điều này mà các a-tu-la vui thích ở trong đại dương.
Puna caparaṁ, bhikkhave, mahāsamuddo ekaraso loṇaraso. Yampi, bhikkhave, mahāsamuddo ekaraso loṇaraso—ayaṁ, bhikkhave, mahāsamudde chaṭṭho acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, mahāsamuddo bahuratano anekaratano. Tatrimāni ratanāni, seyyathidaṁ—muttā, maṇi, veḷuriyo, saṅkho, silā, pavāḷaṁ, rajataṁ, jātarūpaṁ, lohitako, masāragallaṁ.
The ocean has only one taste, the taste of salt.
The ocean contains many precious things—pearls, gems, beryls, mother-of-pearls, quartz, corals, silver, gold, rubies, and cat’s eyes.
Này các tỳ khưu, lại nữa, đại dương chỉ có một vị, vị mặn. Này các tỳ khưu, chính vì đại dương chỉ có một vị, vị mặn – này các tỳ khưu, đây là điều kỳ diệu và phi thường thứ sáu ở trong đại dương, chính vì thấy đi thấy lại điều này mà các a-tu-la vui thích ở trong đại dương.
Này các tỳ khưu, lại nữa, đại dương có nhiều báu vật, vô số báu vật. Ở đấy có những báu vật này, ví như – ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc lưu ly, xà cừ, pha lê, san hô, bạc, vàng, hồng ngọc, ngọc mắt mèo. Này các tỳ khưu, chính vì đại dương có nhiều báu vật, vô số báu vật, ở đấy có những báu vật này, ví như – ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc lưu ly, xà cừ, pha lê, san hô, bạc, vàng, hồng ngọc, ngọc mắt mèo – này các tỳ khưu, đây là điều kỳ diệu và phi thường thứ bảy ở trong đại dương, chính vì thấy đi thấy lại điều này mà các a-tu-la vui thích ở trong đại dương.
Puna caparaṁ, bhikkhave, mahāsamuddo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso. Tatrime bhūtā—timi, timiṅgalo, timitimiṅgalo, asurā, nāgā, gandhabbā. Santi mahāsamudde yojanasatikāpi attabhāvā, dviyojanasatikāpi attabhāvā, tiyojanasatikāpi attabhāvā, catuyojanasatikāpi attabhāvā, pañcayojanasatikāpi attabhāvā. Yampi, bhikkhave, mahāsamuddo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso, tatrime bhūtā—timi, timiṅgalo, timitimiṅgalo, asurā, nāgā, gandhabbā; santi mahāsamudde, yojanasatikāpi attabhāvā …pe… pañcayojanasatikāpi attabhāvā—ayaṁ, bhikkhave, mahāsamudde aṭṭhamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti. Ime kho, bhikkhave, mahāsamudde aṭṭha acchariyā abbhutā dhammā, ye disvā disvā asurā mahāsamudde abhiraman”ti.
There are great beings in the ocean—sea monsters, antigods, dragons, and fairies; creatures with bodies one thousand kilometers long, two thousand, three thousand, four thousand, and five thousand kilometers long.
Này các tỳ khưu, lại nữa, đại dương là nơi ở của các loài chúng sanh to lớn. Ở đấy có những chúng sanh này – cá Timi, cá Timiṅgala, cá Timitimiṅgala, các a-tu-la, các loài nāga, các loài gandhabba. Ở trong đại dương có những tự thể dài một trăm do-tuần, có những tự thể dài hai trăm do-tuần, có những tự thể dài ba trăm do-tuần, có những tự thể dài bốn trăm do-tuần, có những tự thể dài năm trăm do-tuần. Này các tỳ khưu, chính vì đại dương là nơi ở của các loài chúng sanh to lớn, ở đấy có những chúng sanh này – cá Timi, cá Timiṅgala, cá Timitimiṅgala, các a-tu-la, các loài nāga, các loài gandhabba; ở trong đại dương có những tự thể dài một trăm do-tuần... cho đến... có những tự thể dài năm trăm do-tuần – này các tỳ khưu, đây là điều kỳ diệu và phi thường thứ tám ở trong đại dương, chính vì thấy đi thấy lại điều này mà các a-tu-la vui thích ở trong đại dương. Này các tỳ khưu, đây chính là tám điều kỳ diệu và phi thường ở trong đại dương, chính vì thấy đi thấy lại những điều này mà các a-tu-la vui thích ở trong đại dương.
3. Imasmiṁdhammavinayeaṭṭhacchariya
3. The eight amazing qualities of this spiritual path
3. Tám Điều Kỳ Diệu Trong Pháp và Luật Này
Evameva kho, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye aṭṭha acchariyā abbhutā dhammā, ye disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti. Katame aṭṭha?
“Just so, the monks delight in this spiritual path because they see eight amazing qualities in it:
385. Này các tỳ khưu, cũng tương tự như thế, trong Pháp và Luật này có tám điều kỳ diệu và phi thường, chính vì thấy đi thấy lại những điều này mà các tỳ khưu vui thích ở trong Pháp và Luật này. Tám điều ấy là gì?
Seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamuddo anupubbaninno anupubbapoṇo anupubbapabbhāro na āyatakeneva papāto; evameva kho, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā na āyatakeneva aññāpaṭivedho. Yampi, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā na āyatakeneva aññāpaṭivedho—ayaṁ, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye paṭhamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
Seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamuddo ṭhitadhammo velaṁ nātivattati;
Just as the ocean slopes and inclines gradually, and doesn’t drop off all at once, so too, on this spiritual path, the training is gradual, the practice is gradual, and penetration to perfect insight doesn’t happen all at once.
Just as the ocean is steady and doesn’t go beyond the shoreline,
Này các tỳ khưu, ví như đại dương tuần tự thoải dốc, tuần tự xuôi dốc, tuần tự dốc sâu, chứ không đột ngột sâu thẳm; cũng tương tự như thế, này các tỳ khưu, trong Pháp và Luật này có sự học tập tuần tự, hành động tuần tự, thực hành tuần tự, chứ không có sự chứng đắc A-la-hán quả một cách đột ngột. Này các tỳ khưu, chính vì trong Pháp và Luật này có sự học tập tuần tự, hành động tuần tự, thực hành tuần tự, chứ không có sự chứng đắc A-la-hán quả một cách đột ngột – này các tỳ khưu, đây là điều kỳ diệu và phi thường thứ nhất ở trong Pháp và Luật này, chính vì thấy đi thấy lại điều này mà các tỳ khưu vui thích ở trong Pháp và Luật này.
Này các tỳ khưu, ví như đại dương có bản chất ổn định, không vượt quá bờ; cũng tương tự như thế, này các tỳ khưu, học giới nào đã được ta chế định cho các đệ tử, các đệ tử của ta không vi phạm học giới ấy, ngay cả vì lý do tánh mạng. Này các tỳ khưu, chính vì học giới nào đã được ta chế định cho các đệ tử, các đệ tử của ta không vi phạm học giới ấy, ngay cả vì lý do tánh mạng – này các tỳ khưu, đây là điều kỳ diệu và phi thường thứ hai ở trong Pháp và Luật này, chính vì thấy đi thấy lại điều này mà các tỳ khưu vui thích ở trong Pháp và Luật này.
Seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamuddo na matena kuṇapena saṁvasati, yaṁ hoti mahāsamudde mataṁ kuṇapaṁ taṁ khippameva tīraṁ vāheti, thalaṁ ussāreti; evameva kho, bhikkhave, yo so puggalo dussīlo pāpadhammo asucisaṅkassarasamācāro paṭicchannakammanto assamaṇo samaṇapaṭiñño abrahmacārī brahmacāripaṭiñño antopūti avassuto kasambujāto, na tena saṅgho saṁvasati, khippameva naṁ sannipatitvā ukkhipati, kiñcāpi kho so hoti majjhe bhikkhusaṅghassa nisinno. Atha kho so ārakāva saṅghamhā, saṅgho ca tena. Yampi, bhikkhave, yo so puggalo dussīlo pāpadhammo asucisaṅkassarasamācāro paṭicchannakammanto assamaṇo samaṇapaṭiñño abrahmacārī brahmacāripaṭiñño antopūti avassuto kasambujāto, na tena saṅgho saṁvasati, khippameva naṁ sannipatitvā ukkhipati, kiñcāpi kho so hoti majjhe bhikkhusaṅghassa nisinno, atha kho so ārakāva saṅghamhā, saṅgho ca tena—ayaṁ, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye tatiyo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
Just as the ocean doesn’t tolerate dead bodies, but quickly carries them to the shore and dumps them on dry land, so too, the Sangha of monks doesn’t associate with anyone who is immoral—someone with bad qualities, impure and dubious in conduct, hiding his actions, not a monastic while claiming to be one, not abstaining from sexuality while claiming to do so, rotten inside, lustful, defiled. When the Sangha has gathered, they quickly eject him. Even if seated in the midst of the Sangha, he’s far from the Sangha and the Sangha is far from him.
“Này các Tỳ khưu, ví như đại dương không chung đụng với xác chết; nếu có xác chết trong đại dương, nó sẽ nhanh chóng được tống giạt vào bờ, được đẩy lên đất liền. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, người nào ác giới, theo tà pháp, không trong sạch, có hành vi đáng ngờ, việc làm che đậy, không phải Sa-môn nhưng tự nhận là Sa-môn, không sống phạm hạnh nhưng tự nhận sống phạm hạnh, bên trong thối rữa, bị rỉ chảy, như đồ rác rưởi, Tăng chúng không chung đụng với người ấy, mà nhanh chóng tụ họp lại rồi loại trừ người ấy ra. Dầu cho người ấy có ngồi giữa chúng Tỳ khưu, nhưng người ấy vẫn xa cách Tăng chúng, và Tăng chúng cũng xa cách người ấy. Này các Tỳ khưu, việc người nào ác giới, theo tà pháp, không trong sạch, có hành vi đáng ngờ, việc làm che đậy, không phải Sa-môn nhưng tự nhận là Sa-môn, không sống phạm hạnh nhưng tự nhận sống phạm hạnh, bên trong thối rữa, bị rỉ chảy, như đồ rác rưởi, Tăng chúng không chung đụng với người ấy, mà nhanh chóng tụ họp lại rồi loại trừ người ấy ra; dầu cho người ấy có ngồi giữa chúng Tỳ khưu, nhưng người ấy vẫn xa cách Tăng chúng, và Tăng chúng cũng xa cách người ấy – này các Tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ ba trong Pháp và Luật này, mà khi thấy đi thấy lại, các Tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này.”
Seyyathāpi, bhikkhave, yā kāci mahānadiyo, seyyathidaṁ—gaṅgā, yamunā, aciravatī, sarabhū, mahī, tā mahāsamuddaṁ pattā jahanti purimāni nāmagottāni, mahāsamuddotveva saṅkhaṁ gacchanti; evameva kho, bhikkhave, cattārome vaṇṇā—khattiyā, brāhmaṇā, vessā, suddā. Te tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajitvā jahanti purimāni nāmagottāni, samaṇā sakyaputtiyātveva saṅkhaṁ gacchanti. Yampi, bhikkhave, cattārome vaṇṇā khattiyā brāhmaṇā vessā suddā, te tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajitvā jahanti purimāni nāmagottāni, samaṇā sakyaputtiyātveva saṅkhaṁ gacchanti—ayaṁ, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye catuttho acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
Just as when the great rivers—the Ganges, the Yamunā, the Aciravatī, the Sarabhū, or the Mahī—reach the ocean, they lose their former names and become known simply as the ocean, so too, when anyone goes forth on this spiritual path proclaimed by the Buddha—whether an aristocrat, brahmin, merchant, or worker—they lose their former name and class and become known simply as a Sakyan monastic.
“Này các Tỳ khưu, ví như các con sông lớn nào, như là sông Hằng, sông Yamunā, sông Aciravatī, sông Sarabhū, sông Mahī, khi chảy đến đại dương, chúng từ bỏ tên và họ trước đây, và được tính là ‘đại dương’. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, có bốn giai cấp này: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà. Khi họ từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, họ từ bỏ tên và họ trước đây, và được tính là ‘Sa-môn Thích tử’. Này các Tỳ khưu, việc bốn giai cấp này: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà, khi họ từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, họ từ bỏ tên và họ trước đây, và được tính là ‘Sa-môn Thích tử’ – này các Tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ tư trong Pháp và Luật này, mà khi thấy đi thấy lại, các Tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này.”
Seyyathāpi, bhikkhave, yā ca loke savantiyo mahāsamuddaṁ appenti, yā ca antalikkhā dhārā papatanti, na tena mahāsamuddassa ūnattaṁ vā pūrattaṁ vā paññāyati; evameva kho, bhikkhave, bahū cepi bhikkhū anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyanti, na tena nibbānadhātuyā ūnattaṁ vā pūrattaṁ vā paññāyati. Yampi, bhikkhave, bahū cepi bhikkhū anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyanti, na tena nibbānadhātuyā ūnattaṁ vā pūrattaṁ vā paññāyati—ayaṁ, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye pañcamo acchariyo abbhuto dhammo yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
Just as the ocean doesn’t decrease or fill up because of all the rivers in the world that flow into it or the rain that falls into it, so too, even if many monks are extinguished without remainder, there’s no decrease or filling up of the element of extinguishment.
“Này các Tỳ khưu, ví như các dòng sông trên thế gian chảy vào đại dương, và các dòng mưa từ trên trời rơi xuống, nhưng do đó không thấy đại dương vơi đi hay đầy lên. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, dầu cho nhiều Tỳ khưu nhập Vô dư y Niết-bàn giới, nhưng do đó không thấy Niết-bàn giới vơi đi hay đầy lên. Này các Tỳ khưu, việc dầu cho nhiều Tỳ khưu nhập Vô dư y Niết-bàn giới, nhưng do đó không thấy Niết-bàn giới vơi đi hay đầy lên – này các Tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ năm trong Pháp và Luật này, mà khi thấy đi thấy lại, các Tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này.”
Seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamuddo ekaraso loṇaraso; evameva kho, bhikkhave, ayaṁ dhammavinayo ekaraso vimuttiraso. Yampi, bhikkhave, ayaṁ dhammavinayo ekaraso vimuttiraso—ayaṁ, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye chaṭṭho acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
Just as the ocean has only one taste, the taste of salt, so too, this spiritual path has only one taste, the taste of freedom.
“Này các Tỳ khưu, ví như đại dương chỉ có một vị, vị mặn. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, Pháp và Luật này chỉ có một vị, vị giải thoát. Này các Tỳ khưu, việc Pháp và Luật này chỉ có một vị, vị giải thoát – này các Tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ sáu trong Pháp và Luật này, mà khi thấy đi thấy lại, các Tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này.”
Seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamuddo bahuratano anekaratano, tatrimāni ratanāni, seyyathidaṁ—muttā, maṇi, veḷuriyo, saṅkho, silā, pavāḷaṁ, rajataṁ, jātarūpaṁ, lohitako, masāragallaṁ; evameva kho, bhikkhave, ayaṁ dhammavinayo bahuratano anekaratano. Tatrimāni ratanāni, seyyathidaṁ—cattāro satipaṭṭhānā, cattāro sammappadhānā, cattāro iddhipādā, pañcindriyāni, pañca balāni, satta bojjhaṅgā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo. Yampi, bhikkhave, ayaṁ dhammavinayo bahuratano anekaratano, tatrimāni ratanāni, seyyathidaṁ—cattāro satipaṭṭhānā …pe… ariyo aṭṭhaṅgiko maggo—ayaṁ, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye sattamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti.
Just as the ocean contains many precious things—pearls, gems, beryls, mother-of-pearls, quartz, corals, silver, gold, rubies, and cat’s eyes—so too, this spiritual path contains many precious things—the four applications of mindfulness, the four right efforts, the four foundations for supernormal power, the five spiritual faculties, the five spiritual powers, the seven factors of awakening, and the noble eightfold path.
“Này các Tỳ khưu, ví như đại dương có nhiều báu vật, vô số báu vật; ở đó có những báu vật này, như là: ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc lưu ly, xà cừ, pha lê, san hô, bạc, vàng, hồng ngọc, ngọc mắt mèo. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, Pháp và Luật này có nhiều báu vật, vô số báu vật. Ở đó có những báu vật này, như là: bốn Niệm xứ, bốn Chánh cần, bốn Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác chi, Thánh đạo Tám ngành. Này các Tỳ khưu, việc Pháp và Luật này có nhiều báu vật, vô số báu vật, ở đó có những báu vật này, như là: bốn Niệm xứ... Thánh đạo Tám ngành – này các Tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, phi thường thứ bảy trong Pháp và Luật này, mà khi thấy đi thấy lại, các Tỳ khưu hoan hỷ trong Pháp và Luật này.”
Seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamuddo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso, tatrime bhūtā—timi, timiṅgalo, timitimiṅgalo, asurā, nāgā, gandhabbā, santi mahāsamudde yojanasatikāpi attabhāvā, dviyojanasatikāpi attabhāvā, tiyojanasatikāpi attabhāvā, catuyojanasatikāpi attabhāvā, pañcayojanasatikāpi attabhāvā; evameva kho, bhikkhave, ayaṁ dhammavinayo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso. Tatrime bhūtā—sotāpanno, sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanno; sakadāgāmī, sakadāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanno; anāgāmī, anāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanno; arahā, arahattaphalasacchikiriyāya paṭipanno. Yampi, bhikkhave, ayaṁ dhammavinayo mahataṁ bhūtānaṁ āvāso, tatrime bhūtā—sotāpanno, sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanno …pe… arahā, arahattaphalasacchikiriyāya paṭipanno—ayaṁ, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye aṭṭhamo acchariyo abbhuto dhammo, yaṁ disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramanti. Ime kho, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye aṭṭha acchariyā abbhutā dhammā, ye disvā disvā bhikkhū imasmiṁ dhammavinaye abhiramantī”ti.
Just as there are great beings in the ocean—sea monsters, antigods, dragons, and fairies; creatures with bodies one thousand kilometers long, two thousand, three thousand, four thousand, and five thousand kilometers long—so too, there are great beings on this spiritual path—streamenterers, those practicing for the realization of the fruit of streamentry; once-returners, those practicing for the realization of the fruit of once-returning; non-returners, those practicing for the realization of the fruit of non-returning; perfected ones, and those practicing for the realization of the fruit of perfection.”
“Này các tỳ khưu, ví như đại dương là trú xứ của các loài chúng sanh to lớn. Ở đấy có các loài chúng sanh này: cá Timi, cá Timiṅgala, cá Timitimiṅgala, các a-tu-la, các loài nāga, các loài gandhabba. Ở trong đại dương, có những tự thể dài một trăm do-tuần, có những tự thể dài hai trăm do-tuần, có những tự thể dài ba trăm do-tuần, có những tự thể dài bốn trăm do-tuần, có những tự thể dài năm trăm do-tuần. Tương tự y như thế, này các tỳ khưu, Pháp và Luật này là trú xứ của các bậc vĩ nhân. Ở đây có các bậc vĩ nhân này: vị Nhập Lưu, vị đang thực hành để chứng ngộ quả Nhập Lưu; vị Nhất Lai, vị đang thực hành để chứng ngộ quả Nhất Lai; vị Bất Lai, vị đang thực hành để chứng ngộ quả Bất Lai; vị A-la-hán, vị đang thực hành để chứng ngộ quả A-la-hán. Này các tỳ khưu, việc Pháp và Luật này là trú xứ của các bậc vĩ nhân, ở đây có các bậc vĩ nhân này: vị Nhập Lưu, vị đang thực hành để chứng ngộ quả Nhập Lưu ... cho đến ... vị A-la-hán, vị đang thực hành để chứng ngộ quả A-la-hán. Này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu, chưa từng có thứ tám ở trong Pháp và Luật này, điều mà khi thấy đi thấy lại, các tỳ khưu hoan hỷ ở trong Pháp và Luật này. Này các tỳ khưu, đây chính là tám pháp kỳ diệu, chưa từng có ở trong Pháp và Luật này, những điều mà khi thấy đi thấy lại, các tỳ khưu hoan hỷ ở trong Pháp và Luật này.”
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi—
Seeing the significance of this, on that occasion the Buddha uttered a heartfelt exclamation:
Thế rồi, Đức Thế Tôn sau khi hiểu rõ ý nghĩa ấy, vào thời điểm đó, đã thốt lên lời cảm hứng ngữ này:
“Channamativassati, vivaṭaṁ nātivassati; Tasmā channaṁ vivaretha, evaṁ taṁ nātivassatī”ti.
“It rains on what’s concealed, Not on what’s revealed. Therefore, reveal the concealed, And it won’t be rained upon.”
“Trời mưa xuống chỗ bị che kín, trời không mưa xuống chỗ được mở ra. Vì thế, hãy mở ra chỗ bị che kín, như vậy trời sẽ không mưa xuống chỗ ấy.”
4. Pātimokkhasavanāraha
4. One deserving to hear the Monastic Code
4. Người Xứng Đáng Nghe Giới Bổn
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—“nadānāhaṁ, bhikkhave, ito paraṁ uposathaṁ karissāmi, pātimokkhaṁ uddisissāmi. Tumhevadāni, bhikkhave, ito paraṁ uposathaṁ kareyyātha, pātimokkhaṁ uddiseyyātha. Aṭṭhānametaṁ, bhikkhave, anavakāso yaṁ tathāgato aparisuddhāya parisāya uposathaṁ kareyya, pātimokkhaṁ uddiseyya.
Na ca, bhikkhave, sāpattikena pātimokkhaṁ sotabbaṁ. Yo suṇeyya, āpatti dukkaṭassa.
Anujānāmi, bhikkhave, yo sāpattiko pātimokkhaṁ suṇāti, tassa pātimokkhaṁ ṭhapetuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, ṭhapetabbaṁ. Tadahuposathe cātuddase vā pannarase vā tasmiṁ puggale sammukhībhūte saṅghamajjhe udāharitabbaṁ—
The Buddha addressed the monks: “From now on, monks, I won’t be doing the observance-day ceremony or recite the Monastic Code. You should do it instead. It’s impossible for the Buddha to do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code in an impure gathering.
And, monks, you shouldn’t listen to the Monastic Code if you have an unconfessed offense. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
If anyone who has an unconfessed offense listens to the Monastic Code, I allow you to cancel his hearing of the Monastic Code.
And it should be done like this. On the observance day, whether the fourteenth or the fifteenth, in the midst of the Sangha and in the presence of that person, you should announce:
386. Khi ấy, đức Thế Tôn gọi các tỳ khưu và dạy rằng: “Này các tỳ khưu, kể từ nay về sau, Ta sẽ không thực hành lễ Uposatha, sẽ không thuyết tụng Pātimokkha. Này các tỳ khưu, kể từ nay về sau, chính các ngươi hãy thực hành lễ Uposatha, hãy thuyết tụng Pātimokkha. Này các tỳ khưu, không có trường hợp, không có sự kiện Như Lai lại thực hành lễ Uposatha, lại thuyết tụng Pātimokkha ở trong hội chúng không trong sạch. Và này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có tội không nên nghe Pātimokkha. Vị nào nghe, phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, Ta cho phép đình chỉ Pātimokkha đối với vị tỳ khưu có tội đang nghe Pātimokkha. Và này các tỳ khưu, nên đình chỉ như vầy: Vào ngày Uposatha hôm ấy, ngày mười bốn hoặc ngày rằm, trong khi cá nhân ấy có mặt, nên tuyên bố ở giữa Tăng chúng rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmo puggalo sāpattiko, tassa pātimokkhaṁ ṭhapemi, na tasmiṁ sammukhībhūte pātimokkhaṁ uddisitabban’ti ṭhapitaṁ hoti pātimokkhan”ti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so has an unconfessed offense. I cancel his hearing of the Monastic Code. The Monastic Code shouldn’t be recited in his presence.’ Then his hearing of the Monastic Code is canceled.”
‘Bạch chư Tôn giả, mong Tăng chúng hãy nghe con. Vị có tên như vầy là người có tội. Con đình chỉ Pātimokkha đối với vị ấy. Không nên thuyết tụng Pātimokkha trong khi vị ấy có mặt.’ Như vậy là Pātimokkha đã được đình chỉ.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū—“nāmhe koci jānātī”ti sāpattikāva pātimokkhaṁ suṇanti. Therā bhikkhū paracittaviduno bhikkhūnaṁ ārocenti—“itthannāmo ca itthannāmo ca, āvuso, chabbaggiyā bhikkhū—‘nāmhe koci jānātī’ti sāpattikāva pātimokkhaṁ suṇantī”ti. Assosuṁ kho chabbaggiyā bhikkhū—“therā kira bhikkhū paracittaviduno amhe bhikkhūnaṁ ārocenti—‘itthannāmo ca itthannāmo ca, āvuso, chabbaggiyā bhikkhū—“nāmhe koci jānātī”ti sāpattikāva pātimokkhaṁ suṇantī’”ti. Te—
Soon afterwards, thinking that nobody knew about them, the monks from the group of six listened to the Monastic Code while having unconfessed offenses. The senior monks who could read the minds of others informed the monks about this. When they heard about it,
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu nghĩ rằng: ‘Không ai biết chúng ta,’ rồi vẫn có tội mà nghe Pātimokkha. Các vị tỳ khưu trưởng lão có tha tâm thông đã trình báo với các tỳ khưu rằng: ‘Này chư hiền, nhóm sáu vị tỳ khưu có tên như vầy và như vầy nghĩ rằng: ‘Không ai biết chúng ta,’ rồi vẫn có tội mà nghe Pātimokkha.’ Nhóm sáu vị tỳ khưu đã nghe được rằng: ‘Nghe nói các vị tỳ khưu trưởng lão có tha tâm thông đã trình báo với các tỳ khưu về chúng ta rằng: ‘Này chư hiền, nhóm sáu vị tỳ khưu có tên như vầy và như vầy nghĩ rằng: ‘Không ai biết chúng ta,’ rồi vẫn có tội mà nghe Pātimokkha.’”
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma chabbaggiyā bhikkhū suddhānaṁ bhikkhūnaṁ anāpattikānaṁ avatthusmiṁ akāraṇe pātimokkhaṁ ṭhapessantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“saccaṁ kira, bhikkhave, chabbaggiyā bhikkhū suddhānaṁ bhikkhūnaṁ anāpattikānaṁ avatthusmiṁ akāraṇe pātimokkhaṁ ṭhapentī”ti? “Saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, suddhānaṁ bhikkhūnaṁ anāpattikānaṁ avatthusmiṁ akāraṇe pātimokkhaṁ ṭhapetabbaṁ. Yo ṭhapeyya, āpatti dukkaṭassa.
The monks of few desires complained and criticized them, “How could the monks from the group of six cancel the Monastic Code of pure monks without reason?” They told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks:
“Is it true, monks, that the monks from the group of six did this?” “It’s true, sir.” … After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t, without reason, cancel the Monastic Code of pure monks who don’t have any offenses. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Họ nghĩ rằng: ‘Trước khi các tỳ khưu đức hạnh đình chỉ Pātimokkha đối với chúng ta,’ rồi đã đình chỉ Pātimokkha đối với các tỳ khưu trong sạch, không có tội, một cách sớm sủa, không có sự việc, không có nguyên nhân. Các vị tỳ khưu thiểu dục ... đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: ‘Tại sao nhóm sáu vị tỳ khưu lại đình chỉ Pātimokkha đối với các tỳ khưu trong sạch, không có tội, không có sự việc, không có nguyên nhân chứ?’ Rồi các vị tỳ khưu ấy đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... ‘Này các tỳ khưu, có thật chăng việc nhóm sáu vị tỳ khưu đã đình chỉ Pātimokkha đối với các tỳ khưu trong sạch, không có tội, không có sự việc, không có nguyên nhân?’ ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ ... Sau khi quở trách ... sau khi thuyết pháp thoại, ngài gọi các tỳ khưu và dạy rằng: ‘Này các tỳ khưu, không nên đình chỉ Pātimokkha đối với các tỳ khưu trong sạch, không có tội, không có sự việc, không có nguyên nhân. Vị nào đình chỉ, phạm tội dukkaṭa (tác ác).’
5. Dhammikādhammikapātimokkhaṭṭhapana
5. Legitimate and illegitimate canceling of the Monastic Code
5. Việc Đình Chỉ Giới Bổn Hợp Pháp Và Không Hợp Pháp
Ekaṁ, bhikkhave, adhammikaṁ pātimokkhaṭṭhapanaṁ, ekaṁ dhammikaṁ pātimokkhaṭṭhapanaṁ; dve adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni, dve dhammikāni; tīṇi adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni, tīṇi dhammikāni; cattāri adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni, cattāri dhammikāni; pañca adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni, pañca dhammikāni; cha adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni, cha dhammikāni; satta adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni, satta dhammikāni; aṭṭha adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni, aṭṭha dhammikāni; nava adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni, nava dhammikāni; dasa adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni, dasa dhammikāni.
“One kind of canceling of the Monastic Code is illegitimate, one is legitimate; two kinds of cancelings of the Monastic Code are illegitimate, two are legitimate; three kinds of cancelings of the Monastic Code are illegitimate, three are legitimate; four kinds of cancelings of the Monastic Code are illegitimate, four are legitimate; five kinds of cancelings of the Monastic Code are illegitimate, five are legitimate; six kinds of cancelings of the Monastic Code are illegitimate, six are legitimate; seven kinds of cancelings of the Monastic Code are illegitimate, seven are legitimate; eight kinds of cancelings of the Monastic Code are illegitimate, eight are legitimate; nine kinds of cancelings of the Monastic Code are illegitimate, nine are legitimate; ten kinds of cancelings of the Monastic Code are illegitimate, ten are legitimate.
387. “Này các tỳ khưu, có một việc đình chỉ Pātimokkha không hợp pháp, và một việc hợp pháp; có hai việc đình chỉ Pātimokkha không hợp pháp, và hai việc hợp pháp; có ba việc đình chỉ Pātimokkha không hợp pháp, và ba việc hợp pháp; có bốn việc đình chỉ Pātimokkha không hợp pháp, và bốn việc hợp pháp; có năm việc đình chỉ Pātimokkha không hợp pháp, và năm việc hợp pháp; có sáu việc đình chỉ Pātimokkha không hợp pháp, và sáu việc hợp pháp; có bảy việc đình chỉ Pātimokkha không hợp pháp, và bảy việc hợp pháp; có tám việc đình chỉ Pātimokkha không hợp pháp, và tám việc hợp pháp; có chín việc đình chỉ Pātimokkha không hợp pháp, và chín việc hợp pháp; có mười việc đình chỉ Pātimokkha không hợp pháp, và mười việc hợp pháp.”
Katamaṁ ekaṁ adhammikaṁ pātimokkhaṭṭhapanaṁ? Amūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti—idaṁ ekaṁ adhammikaṁ pātimokkhaṭṭhapanaṁ.
Katamaṁ ekaṁ dhammikaṁ pātimokkhaṭṭhapanaṁ? Samūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti—idaṁ ekaṁ dhammikaṁ pātimokkhaṭṭhapanaṁ.
What’s the one kind of canceling of the Monastic Code that’s illegitimate? One cancels the Monastic Code, without grounds, for failure in morality.
“What’s the one kind of canceling of the Monastic Code that’s legitimate? One cancels the Monastic Code, having grounds, for failure in morality.
“Thế nào là một sự đình chỉ Pātimokkha phi pháp? Đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm giới vô căn cứ – đây là một sự đình chỉ Pātimokkha phi pháp. Thế nào là một sự đình chỉ Pātimokkha đúng pháp? Đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm giới hữu căn cứ – đây là một sự đình chỉ Pātimokkha đúng pháp.”
Katamāni dve adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni? Amūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti, amūlikāya ācāravipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti—imāni dve adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni.
Katamāni dve dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni? Samūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti, samūlikāya ācāravipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti—imāni dve dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni.
“What are the two kinds of cancelings of the Monastic Code that are illegitimate? One cancels the Monastic Code, without grounds, for failure in morality or failure in conduct.
What are the two kinds of cancelings of the Monastic Code that are legitimate? One cancels the Monastic Code, having grounds, for failure in morality or failure in conduct.
“Thế nào là hai sự đình chỉ Pātimokkha phi pháp? Đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm giới vô căn cứ, đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm hạnh kiểm vô căn cứ – đây là hai sự đình chỉ Pātimokkha phi pháp. Thế nào là hai sự đình chỉ Pātimokkha đúng pháp? Đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm giới hữu căn cứ, đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm hạnh kiểm hữu căn cứ – đây là hai sự đình chỉ Pātimokkha đúng pháp.”
Katamāni tīṇi adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni? Amūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti, amūlikāya ācāravipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti, amūlikāya diṭṭhivipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti—imāni tīṇi adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni.
Katamāni tīṇi dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni? Samūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti, samūlikāya ācāravipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti, samūlikāya diṭṭhivipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti—imāni tīṇi dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni.
“What are the three kinds of cancelings of the Monastic Code that are illegitimate? One cancels the Monastic Code, without grounds, for failure in morality, failure in conduct, or failure in view.
What are the three kinds of cancelings of the Monastic Code that are legitimate? One cancels the Monastic Code, having grounds, for failure in morality, failure in conduct, or failure in view.
“Thế nào là ba sự đình chỉ Pātimokkha phi pháp? Đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm giới vô căn cứ, đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm hạnh kiểm vô căn cứ, đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm tri kiến vô căn cứ – đây là ba sự đình chỉ Pātimokkha phi pháp. Thế nào là ba sự đình chỉ Pātimokkha đúng pháp? Đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm giới hữu căn cứ, đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm hạnh kiểm hữu căn cứ, đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm tri kiến hữu căn cứ – đây là ba sự đình chỉ Pātimokkha đúng pháp.”
Katamāni cattāri adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni? Amūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti, amūlikāya ācāravipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti, amūlikāya diṭṭhivipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti, amūlikāya ājīvavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti—imāni cattāri adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni.
Katamāni cattāri dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni? Samūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti, samūlikāya ācāravipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti, samūlikāya diṭṭhivipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti, samūlikāya ājīvavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti—imāni cattāri dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni.
“What are the four kinds of cancelings of the Monastic Code that are illegitimate? One cancels the Monastic Code, without grounds, for failure in morality, failure in conduct, failure in view, or failure in livelihood.
What are the four kinds of cancelings of the Monastic Code that are legitimate? One cancels the Monastic Code, having grounds, for failure in morality, failure in conduct, failure in view, or failure in livelihood.
“Thế nào là bốn sự đình chỉ Pātimokkha phi pháp? Đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm giới vô căn cứ, đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm hạnh kiểm vô căn cứ, đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm tri kiến vô căn cứ, đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm nuôi mạng vô căn cứ – đây là bốn sự đình chỉ Pātimokkha phi pháp. Thế nào là bốn sự đình chỉ Pātimokkha đúng pháp? Đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm giới hữu căn cứ, đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm hạnh kiểm hữu căn cứ, đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm tri kiến hữu căn cứ, đình chỉ Pātimokkha do sự vi phạm nuôi mạng hữu căn cứ – đây là bốn sự đình chỉ Pātimokkha đúng pháp.”
Katamāni pañca adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni? Amūlakena pārājikena pātimokkhaṁ ṭhapeti, amūlakena saṅghādisesena …pe… amūlakena pācittiyena … amūlakena pāṭidesanīyena … amūlakena dukkaṭena pātimokkhaṁ ṭhapeti—imāni pañca adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni.
Katamāni pañca dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni? Samūlakena pārājikena pātimokkhaṁ ṭhapeti, samūlakena saṅghādisesena …pe… pācittiyena … pāṭidesanīyena … dukkaṭena pātimokkhaṁ ṭhapeti—imāni pañca dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni.
“What are the five kinds of cancelings of the Monastic Code that are illegitimate? One cancels the Monastic Code, without grounds, for an offense entailing expulsion, an offense entailing suspension, an offense entailing confession, an offense entailing acknowledgment, or an offense of wrong conduct.
What are the five kinds of cancelings of the Monastic Code that are legitimate? One cancels the Monastic Code, having grounds, for an offense entailing expulsion, an offense entailing suspension, an offense entailing confession, an offense entailing acknowledgment, or an offense of wrong conduct.
“Thế nào là năm sự đình chỉ Pātimokkha không đúng Pháp? (Vị ấy) đình chỉ Pātimokkha do tội pārājika không có căn cứ, do tội saṅghādisesa không có căn cứ ...v.v... do tội pācittiya không có căn cứ, do tội pāṭidesanīya không có căn cứ, do tội dukkaṭa không có căn cứ – đây là năm sự đình chỉ Pātimokkha không đúng Pháp. Thế nào là năm sự đình chỉ Pātimokkha đúng Pháp? (Vị ấy) đình chỉ Pātimokkha do tội pārājika có căn cứ, do tội saṅghādisesa có căn cứ ...v.v... do tội pācittiya, do tội pāṭidesanīya, do tội dukkaṭa có căn cứ – đây là năm sự đình chỉ Pātimokkha đúng Pháp.”
Katamāni cha adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni? Amūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti akatāya, amūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti katāya; amūlikāya ācāravipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti akatāya, amūlikāya ācāravipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti katāya; amūlikāya diṭṭhivipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti akatāya, amūlikāya diṭṭhivipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti katāya—imāni cha adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni.
Katamāni cha dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni? Samūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti akatāya, samūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti katāya; samūlikāya ācāravipattiyā …pe… diṭṭhivipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti akatāya …pe… katāya—imāni cha dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni.
“What are the six kinds of cancelings of the Monastic Code that are illegitimate? One cancels the Monastic Code, without grounds, for the failure in morality of one who hasn’t failed, the failure in morality of one who has failed, the failure in conduct of one who hasn’t failed, the failure in conduct of one who has failed, the failure in view of one who hasn’t failed, or the failure in view of one who has failed.
What are the six kinds of cancelings of the Monastic Code that are legitimate? One cancels the Monastic Code, having grounds, for the failure in morality of one who hasn’t failed, the failure in morality of one who has failed, the failure in conduct of one who hasn’t failed, the failure in conduct of one who has failed, the failure in view of one who hasn’t failed, or the failure in view of one who has failed.
“Thế nào là sáu sự đình chỉ Pātimokkha không đúng Pháp? (Vị ấy) đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về giới hạnh chưa được xét xử không có căn cứ, (vị ấy) đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về giới hạnh đã được xét xử không có căn cứ; (vị ấy) đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về tư cách chưa được xét xử không có căn cứ, (vị ấy) đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về tư cách đã được xét xử không có căn cứ; (vị ấy) đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về tri kiến chưa được xét xử không có căn cứ, (vị ấy) đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về tri kiến đã được xét xử không có căn cứ – đây là sáu sự đình chỉ Pātimokkha không đúng Pháp. Thế nào là sáu sự đình chỉ Pātimokkha đúng Pháp? (Vị ấy) đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về giới hạnh chưa được xét xử có căn cứ, (vị ấy) đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về giới hạnh đã được xét xử có căn cứ; do sự hư hỏng về tư cách có căn cứ ...v.v... do sự hư hỏng về tri kiến, chưa được xét xử ...v.v... đã được xét xử có căn cứ – đây là sáu sự đình chỉ Pātimokkha đúng Pháp.”
Katamāni satta adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni? Amūlakena pārājikena pātimokkhaṁ ṭhapeti, amūlakena saṅghādisesena …pe… thullaccayena pācittiyena pāṭidesanīyena dukkaṭena dubbhāsitena pātimokkhaṁ ṭhapeti—imāni satta adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni.
Katamāni satta dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni? Samūlakena pārājikena pātimokkhaṁ ṭhapeti, samūlakena saṅghādisesena …pe… thullaccayena pācittiyena pāṭidesanīyena dukkaṭena dubbhāsitena pātimokkhaṁ ṭhapeti—imāni satta dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni.
“What are the seven kinds of cancelings of the Monastic Code that are illegitimate? One cancels the Monastic Code, without grounds, for an offense entailing expulsion, an offense entailing suspension, a serious offense, an offense entailing confession, an offense entailing acknowledgment, an offense of wrong conduct, or an offense of wrong speech.
What are the seven kinds of cancelings of the Monastic Code that are legitimate? One cancels the Monastic Code, having grounds, for an offense entailing expulsion, an offense entailing suspension, a serious offense, an offense entailing confession, an offense entailing acknowledgment, an offense of wrong conduct, or an offense of wrong speech.
“Thế nào là bảy sự đình chỉ Pātimokkha không đúng Pháp? (Vị ấy) đình chỉ Pātimokkha do tội pārājika không có căn cứ, do tội saṅghādisesa không có căn cứ ...v.v... do tội thullaccaya, tội pācittiya, tội pāṭidesanīya, tội dukkaṭa, tội dubbhāsita không có căn cứ – đây là bảy sự đình chỉ Pātimokkha không đúng Pháp. Thế nào là bảy sự đình chỉ Pātimokkha đúng Pháp? (Vị ấy) đình chỉ Pātimokkha do tội pārājika có căn cứ, do tội saṅghādisesa có căn cứ ...v.v... do tội thullaccaya, tội pācittiya, tội pāṭidesanīya, tội dukkaṭa, tội dubbhāsita có căn cứ – đây là bảy sự đình chỉ Pātimokkha đúng Pháp.”
Katamāni aṭṭha adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni? Amūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti akatāya, amūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti katāya; amūlikāya ācāravipattiyā …pe… diṭṭhivipattiyā …pe… ājīvavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti akatāya …pe… katāya—imāni aṭṭha adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni.
Katamāni aṭṭha dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni? Samūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti akatāya, samūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti katāya; samūlikāya ācāravipattiyā …pe… diṭṭhivipattiyā …pe… ājīvavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti akatāya …pe… katāya—imāni aṭṭha dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni.
“What are the eight kinds of cancelings of the Monastic Code that are illegitimate? One cancels the Monastic Code, without grounds, for the failure in morality of one who hasn’t failed, the failure in morality of one who has failed, for the failure in conduct of one who hasn’t failed, for the failure in conduct of one who has failed, the failure in view of one who hasn’t failed, the failure in view of one who has failed, the failure in livelihood of one who hasn’t failed, or the failure in livelihood of one who has failed.
What are the eight kinds of cancelings of the Monastic Code that are legitimate? One cancels the Monastic Code, having grounds, for the failure in morality of one who hasn’t failed, the failure in morality of one who has failed, the failure in conduct of one who hasn’t failed, the failure in conduct of one who has failed, the failure in view of one who hasn’t failed, the failure in view of one who has failed, the failure in livelihood of one who hasn’t failed, or the failure in livelihood of one who has failed.
“Thế nào là tám sự đình chỉ Pātimokkha không đúng Pháp? (Vị ấy) đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về giới hạnh chưa được xét xử không có căn cứ, (vị ấy) đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về giới hạnh đã được xét xử không có căn cứ; do sự hư hỏng về tư cách ...v.v... do sự hư hỏng về tri kiến ...v.v... do sự hư hỏng về mạng sống, chưa được xét xử ...v.v... đã được xét xử không có căn cứ – đây là tám sự đình chỉ Pātimokkha không đúng Pháp. Thế nào là tám sự đình chỉ Pātimokkha đúng Pháp? (Vị ấy) đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về giới hạnh chưa được xét xử có căn cứ, (vị ấy) đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về giới hạnh đã được xét xử có căn cứ; do sự hư hỏng về tư cách ...v.v... do sự hư hỏng về tri kiến ...v.v... do sự hư hỏng về mạng sống, chưa được xét xử ...v.v... đã được xét xử có căn cứ. Đây là tám sự đình chỉ Pātimokkha đúng Pháp.”
Katamāni nava adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni? Amūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti akatāya, amūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti katāya, amūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti katākatāya; amūlikāya ācāravipattiyā …pe… diṭṭhivipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti akatāya …pe… katāya …pe… katākatāya—imāni nava adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni.
Katamāni nava dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni? Samūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti akatāya, samūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti katāya, samūlikāya sīlavipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti katākatāya; samūlikāya ācāravipattiyā …pe… diṭṭhivipattiyā pātimokkhaṁ ṭhapeti akatāya …pe… katāya …pe… katākatāya—imāni nava dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni.
“What are the nine kinds of cancelings of the Monastic Code that are illegitimate? One cancels the Monastic Code, without grounds, for the failure in morality of one who hasn’t failed, the failure in morality of one who has failed, the failure in morality of one who both has and hasn’t failed, the failure in conduct of one who hasn’t failed, the failure in conduct of one who has failed, the failure in conduct of one who both has and hasn’t failed, the failure in view of one who hasn’t failed, the failure in view of one who has failed, or the failure in view of one who both has and hasn’t failed.
What are the nine kinds of cancelings of the Monastic Code that are legitimate? One cancels the Monastic Code, having grounds, for the failure in morality of one who hasn’t failed, the failure in morality of one who has failed, the failure in morality of one who both has and hasn’t failed, the failure in conduct of one who hasn’t failed, the failure in conduct of one who has failed, the failure in conduct of one who both has and hasn’t failed, the failure in view of one who hasn’t failed, the failure in view of one who has failed, or the failure in view of one who both has and hasn’t failed.
“Chín sự đình chỉ Pātimokkha phi pháp là những gì? Đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về giới hạnh không có căn cứ, chưa được quyết định; đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về giới hạnh không có căn cứ, đã được quyết định; đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về giới hạnh không có căn cứ, đã được quyết định và chưa được quyết định; đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về oai nghi không có căn cứ ... do sự hư hỏng về tri kiến, chưa được quyết định ... đã được quyết định ... đã được quyết định và chưa được quyết định. Đây là chín sự đình chỉ Pātimokkha phi pháp. Chín sự đình chỉ Pātimokkha đúng pháp là những gì? Đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về giới hạnh có căn cứ, chưa được quyết định; đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về giới hạnh có căn cứ, đã được quyết định; đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về giới hạnh có căn cứ, đã được quyết định và chưa được quyết định; đình chỉ Pātimokkha do sự hư hỏng về oai nghi có căn cứ ... do sự hư hỏng về tri kiến, chưa được quyết định ... đã được quyết định – đã được quyết định và chưa được quyết định ... Đây là chín sự đình chỉ Pātimokkha đúng pháp.”
Katamāni dasa adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni? Na pārājiko tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti, na pārājikakathā vippakatā hoti; na sikkhaṁ paccakkhātako tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti, na sikkhaṁ paccakkhātakathā vippakatā hoti; dhammikaṁ sāmaggiṁ upeti, na dhammikaṁ sāmaggiṁ paccādiyati, na dhammikāya sāmaggiyā paccādānakathā vippakatā hoti; na sīlavipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito hoti, na ācāravipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito hoti, na diṭṭhivipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito hoti—imāni dasa adhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni.
Katamāni dasa dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni? Pārājiko tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti, pārājikakathā vippakatā hoti; sikkhaṁ paccakkhātako tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti, sikkhaṁ paccakkhātakathā vippakatā hoti; dhammikaṁ sāmaggiṁ na upeti, dhammikaṁ sāmaggiṁ paccādiyati, dhammikāya sāmaggiyā paccādānakathā vippakatā hoti; sīlavipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito hoti, ācāravipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito hoti, diṭṭhivipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito hoti—imāni dasa dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanāni.
“What are the ten kinds of cancelings of the Monastic Code that are illegitimate? There’s no-one seated in that gathering who has committed an offense entailing expulsion; there’s no unfinished discussion about anyone committing an offense entailing expulsion; there’s no-one seated in that gathering who has renounced the training; there’s no unfinished discussion about anyone renouncing the training; the person has gone to a legitimate legal procedure of a complete assembly; the person doesn’t reopen a legitimate legal procedure of a complete assembly; there’s no unfinished discussion about the reopening of the legitimate legal procedure of a complete assembly; there’s no-one seen, heard, or suspected of failure in morality; there’s no-one seen, heard, or suspected of failure in conduct; there’s no-one seen, heard, or suspected of failure in view.
What are the ten kinds of cancelings of the Monastic Code that are legitimate? There’s someone seated in that gathering who has committed an offense entailing expulsion; there’s an unfinished discussion about someone committing an offense entailing expulsion; there’s someone seated in that gathering who has renounced the training; there’s an unfinished discussion about someone renouncing the training; the person hasn’t gone to a legitimate legal procedure of a complete assembly; the person reopens a legitimate legal procedure of a complete assembly; there’s an unfinished discussion about the reopening of the legitimate legal procedure of a complete assembly; there’s someone seen, heard, or suspected of failure in morality; there’s someone seen, heard, or suspected of failure in conduct; there’s someone seen, heard, or suspected of failure in view.”
“Mười sự đình chỉ Pātimokkha phi pháp là những gì? Người phạm tội pārājika không có ngồi trong hội chúng ấy, việc bàn luận về tội pārājika không phải là chưa xong; người đã xả giới không có ngồi trong hội chúng ấy, việc bàn luận về người đã xả giới không phải là chưa xong; đi đến sự hòa hợp đúng pháp, không nhận lại sự hòa hợp đúng pháp, việc bàn luận về việc nhận lại sự hòa hợp đúng pháp không phải là chưa xong; không có sự nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng về giới hạnh; không có sự nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng về oai nghi; không có sự nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng về tri kiến. Đây là mười sự đình chỉ Pātimokkha phi pháp. Mười sự đình chỉ Pātimokkha đúng pháp là những gì? Người phạm tội pārājika có ngồi trong hội chúng ấy, việc bàn luận về tội pārājika là chưa xong; người đã xả giới có ngồi trong hội chúng ấy, việc bàn luận về người đã xả giới là chưa xong; không đi đến sự hòa hợp đúng pháp, nhận lại sự hòa hợp đúng pháp, việc bàn luận về việc nhận lại sự hòa hợp đúng pháp là chưa xong; có sự nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng về giới hạnh; có sự nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng về oai nghi; có sự nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng về tri kiến. Đây là mười sự đình chỉ Pātimokkha đúng pháp.”
6. Dhammikapātimokkhaṭṭhapana
6. Legitimate canceling of the Monastic Code
One who has committed an offense entailing expulsion
6. Sự Đình Chỉ Pātimokkha Đúng Pháp
Kathaṁ pārājiko tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti? Idha, bhikkhave, yehi ākārehi yehi liṅgehi yehi nimittehi pārājikassa dhammassa ajjhāpatti hoti, tehi ākārehi tehi liṅgehi tehi nimittehi bhikkhu bhikkhuṁ passati pārājikaṁ dhammaṁ ajjhāpajjantaṁ. Na heva kho bhikkhu bhikkhuṁ passati pārājikaṁ dhammaṁ ajjhāpajjantaṁ, api ca añño bhikkhu bhikkhussa āroceti—‘itthannāmo, āvuso, bhikkhu pārājikaṁ dhammaṁ ajjhāpanno’ti. Na heva kho bhikkhu bhikkhuṁ passati pārājikaṁ dhammaṁ ajjhāpajjantaṁ, nāpi añño bhikkhu bhikkhussa āroceti—‘itthannāmo, āvuso, bhikkhu pārājikaṁ dhammaṁ ajjhāpanno’ti, api ca sova bhikkhu bhikkhussa āroceti—‘ahaṁ, āvuso, pārājikaṁ dhammaṁ ajjhāpanno’ti. Ākaṅkhamāno, bhikkhave, bhikkhu tena diṭṭhena tena sutena tāya parisaṅkāya tadahuposathe cātuddase vā pannarase vā tasmiṁ puggale sammukhībhūte saṅghamajjhe udāhareyya—
“And how is one who has committed an offense entailing expulsion seated in that gathering? A monk sees in a monk the characteristics and signs of someone committing an offense entailing expulsion. Or a monk doesn’t see a monk committing an offense entailing expulsion, but another monk informs him that monk so-and-so has committed an offense entailing expulsion. Or a monk doesn’t see a monk committing an offense entailing expulsion, nor does another monk inform him, but the monk himself informs him that he has committed an offense entailing expulsion. Then, on the observance day, whether the fourteenth or the fifteenth, he may if he wishes, based on what he has seen, has heard, or suspects, announce in the midst of the Sangha and in the presence of that person:
388. “Thế nào là người phạm tội pārājika có ngồi trong hội chúng ấy? Này các tỳ khưu, ở đây, có những cách thức, những dấu hiệu, những đặc điểm nào mà do đó có sự phạm tội pārājika, vị tỳ khưu thấy một tỳ khưu khác đang phạm tội pārājika với những cách thức ấy, những dấu hiệu ấy, những đặc điểm ấy. Hoặc vị tỳ khưu không thấy một tỳ khưu khác đang phạm tội pārājika, nhưng có một tỳ khưu khác báo cho vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Thưa hiền giả, tỳ khưu tên là... đã phạm tội pārājika.’ Hoặc vị tỳ khưu không thấy một tỳ khưu khác đang phạm tội pārājika, cũng không có tỳ khưu khác báo cho vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Thưa hiền giả, tỳ khưu tên là... đã phạm tội pārājika,’ nhưng chính vị tỳ khưu ấy báo cho vị tỳ khưu này rằng: ‘Thưa hiền giả, tôi đã phạm tội pārājika.’ Này các tỳ khưu, nếu muốn, vị tỳ khưu do sự thấy đó, do sự nghe đó, do sự nghi ngờ đó, vào ngày lễ uposatha hôm ấy, ngày mười bốn hoặc ngày rằm, khi người ấy có mặt, nên tuyên bố giữa Tăng chúng rằng –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmo puggalo pārājikaṁ dhammaṁ ajjhāpanno, tassa pātimokkhaṁ ṭhapemi, na tasmiṁ sammukhībhūte pātimokkhaṁ uddisitabbanti—dhammikaṁ pātimokkhaṭṭhapanaṁ’.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so has committed an offense entailing expulsion. I cancel his hearing of the Monastic Code. The Monastic Code shouldn’t be recited in his presence.’ This cancellation of the Monastic Code is legitimate.
“‘Kính bạch chư Đại đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Người tên là... đã phạm tội pārājika, con đình chỉ Pātimokkha đối với vị ấy, không nên thuyết Pātimokkha khi vị ấy có mặt.’ – (Đây là) sự đình chỉ Pātimokkha đúng pháp.”
Bhikkhussa pātimokkhe ṭhapite parisā vuṭṭhāti, dasannaṁ antarāyānaṁ aññatarena—rājantarāyena vā, corantarāyena vā, agyantarāyena vā, udakantarāyena vā, manussantarāyena vā, amanussantarāyena vā, vāḷantarāyena vā, sarīsapantarāyena vā, jīvitantarāyena vā, brahmacariyantarāyena vā. Ākaṅkhamāno, bhikkhave, bhikkhu tasmiṁ vā āvāse, aññasmiṁ vā āvāse, tasmiṁ puggale sammukhībhūte saṅghamajjhe udāhareyya—
When the Monastic Code has been canceled for a monk, it may be that the gathering breaks up because of any one of ten threats: a threat from kings, criminals, fire, flooding, people, spirits, predatory animals, snakes, or a threat to life, or threat to the monastic life. Then, if a monk wishes, he may, in that monastery or in another monastery, announce in the midst of the Sangha and in the presence of that person:
389. “Trong khi Pātimokkha đang được đình chỉ đối với một tỳ khưu, hội chúng giải tán vì một trong mười chướng ngại: hoặc do chướng ngại từ vua, hoặc do chướng ngại từ kẻ trộm, hoặc do chướng ngại từ lửa, hoặc do chướng ngại từ nước, hoặc do chướng ngại từ người, hoặc do chướng ngại từ phi nhân, hoặc do chướng ngại từ thú dữ, hoặc do chướng ngại từ loài bò sát, hoặc do chướng ngại đến tính mạng, hoặc do chướng ngại đến phạm hạnh. Này các tỳ khưu, nếu muốn, vị tỳ khưu nên tuyên bố giữa Tăng chúng tại trú xứ ấy hoặc tại trú xứ khác, khi người kia có mặt, rằng –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmassa puggalassa pārājikakathā vippakatā, taṁ vatthu avinicchitaṁ. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho taṁ vatthuṁ vinicchineyyā’ti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. There’s an unfinished discussion about so-and-so committing an offense entailing expulsion. The matter hasn’t been decided. If the Sangha is ready, it should decide that matter.’
“‘Kính bạch chư Đại đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Việc bàn luận về tội pārājika của người tên là... vẫn chưa xong, sự việc ấy chưa được quyết định. Nếu Tăng chúng xét thấy đã đến lúc thích hợp, mong Tăng chúng hãy quyết định sự việc ấy.’”
Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ. No ce labhetha, tadahuposathe cātuddase vā pannarase vā tasmiṁ puggale sammukhībhūte saṅghamajjhe udāharitabbaṁ—
If this works out, all is well. If not, then on the observance day, whether the fourteenth or the fifteenth, in the midst of the Sangha and in the presence of that person, a monk should announce:
“Nếu được như vậy thì tốt. Nếu không được, vào ngày lễ uposatha hôm ấy, ngày mười bốn hoặc ngày rằm, khi người ấy có mặt, nên tuyên bố giữa Tăng chúng rằng –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmassa puggalassa pārājikakathā vippakatā, taṁ vatthu avinicchitaṁ. Tassa pātimokkhaṁ ṭhapemi, na tasmiṁ sammukhībhūte pātimokkhaṁ uddisitabbanti—dhammikaṁ pātimokkhaṭṭhapanaṁ’.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. There’s an unfinished discussion about so-and-so committing an offense entailing expulsion. The matter hasn’t been decided. I cancel his hearing of the Monastic Code. The Monastic Code shouldn’t be recited in his presence.’ This cancellation of the Monastic Code is legitimate.”
One who has renounced the training
“‘Kính bạch chư Đại đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Việc bàn luận về tội pārājika của người tên là... vẫn chưa xong, sự việc ấy chưa được quyết định. Con đình chỉ Pātimokkha đối với vị ấy, không nên thuyết Pātimokkha khi vị ấy có mặt.’ – (Đây là) sự đình chỉ Pātimokkha đúng pháp.”
Kathaṁ sikkhaṁ paccakkhātako tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti? Idha pana, bhikkhave, bhikkhu yehi ākārehi yehi liṅgehi yehi nimittehi sikkhā paccakkhātā hoti, tehi ākārehi tehi liṅgehi tehi nimittehi bhikkhu bhikkhuṁ passati sikkhaṁ paccakkhantaṁ. Na heva kho bhikkhu bhikkhuṁ passati sikkhaṁ paccakkhantaṁ, api ca añño bhikkhu bhikkhussa āroceti—‘itthannāmena, āvuso, bhikkhunā sikkhā paccakkhātā’ti. Na heva kho bhikkhu bhikkhuṁ passati sikkhaṁ paccakkhantaṁ, nāpi añño bhikkhu bhikkhussa āroceti—‘itthannāmena, āvuso, bhikkhunā sikkhā paccakkhātā’ti, api ca sova bhikkhu bhikkhussa āroceti—‘mayā, āvuso, sikkhā paccakkhātā’ti. Ākaṅkhamāno, bhikkhave, bhikkhu tena diṭṭhena tena sutena tāya parisaṅkāya tadahuposathe cātuddase vā pannarase vā tasmiṁ puggale sammukhībhūte saṅghamajjhe udāhareyya—
“And how is one who has renounced the training seated in that gathering? A monk sees in a monk the characteristics and signs of someone renouncing the training. Or a monk doesn’t see a monk renouncing the training, but another monk informs him that monk so-and-so has renounced the training. Or a monk doesn’t see a monk renouncing the training, nor does another monk inform him, but the monk himself informs him that he has renounced the training. Then, on the observance day, whether the fourteenth or the fifteenth, he may if he wishes, based on what he has seen, has heard, or suspects, announce in the midst of the Sangha and in the presence of that person:
390. “Thế nào là người xả giới đang ngồi trong hội chúng ấy? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu thấy một tỳ khưu khác đang xả giới bằng những cử chỉ, bằng những dấu hiệu, bằng những biểu hiện mà sự xả giới được thực hiện. Hoặc vị tỳ khưu không thực sự thấy vị tỳ khưu khác đang xả giới, nhưng có một tỳ khưu khác báo cho vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Thưa hiền giả, vị tỳ khưu tên là... đã xả giới.’ Hoặc vị tỳ khưu không thực sự thấy vị tỳ khưu khác đang xả giới, cũng không có tỳ khưu khác báo cho vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Thưa hiền giả, vị tỳ khưu tên là... đã xả giới,’ nhưng chính vị tỳ khưu kia báo cho vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Thưa hiền giả, tôi đã xả giới.’ Này các tỳ khưu, nếu muốn, vị tỳ khưu do điều đã thấy, do điều đã nghe, do sự nghi ngờ ấy, vào ngày uposatha hôm đó, ngày mười bốn hoặc ngày rằm, khi cá nhân ấy có mặt, nên tuyên bố giữa Tăng chúng rằng –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmena puggalena sikkhā paccakkhātā, tassa pātimokkhaṁ ṭhapemi, na tasmiṁ sammukhībhūte pātimokkhaṁ uddisitabbanti—dhammikaṁ pātimokkhaṭṭhapanaṁ’.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so has renounced the training. I cancel his hearing of the Monastic Code. The Monastic Code shouldn’t be recited in his presence.’ This cancellation of the Monastic Code is legitimate.
“‘Bạch chư Đại đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Cá nhân tên là... đã xả giới. Con đình chỉ Pātimokkha đối với vị ấy. Khi cá nhân ấy có mặt thì không nên thuyết Pātimokkha.’ – Đây là việc đình chỉ Pātimokkha đúng pháp.”
Bhikkhussa pātimokkhe ṭhapite parisā vuṭṭhāti, dasannaṁ antarāyānaṁ aññatarena—rājantarāyena vā …pe… brahmacariyantarāyena vā, ākaṅkhamāno, bhikkhave, bhikkhu tasmiṁ vā āvāse, aññasmiṁ vā āvāse, tasmiṁ puggale sammukhībhūte saṅghamajjhe udāhareyya—
When the Monastic Code has been canceled for a monk, it may be that the gathering breaks up because of any one of ten threats: a threat from kings, criminals, fire, flooding, people, spirits, predatory animals, snakes, or a threat to life, or a threat to the monastic life. Then, if a monk wishes, he may, in that monastery or in another monastery, announce in the midst of the Sangha and in the presence of that person:
391. “Trong khi Pātimokkha đang bị đình chỉ đối với một tỳ khưu, hội chúng giải tán vì một trong mười chướng ngại – hoặc là chướng ngại do vua ... hoặc là chướng ngại đối với phạm hạnh. Này các tỳ khưu, nếu muốn, vị tỳ khưu ở tại trú xứ ấy hoặc ở trú xứ khác, khi cá nhân ấy có mặt, nên tuyên bố giữa Tăng chúng rằng –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen.
“‘Bạch chư Đại đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Vấn đề liên quan đến việc xả giới của cá nhân tên là... vẫn còn dang dở, sự việc ấy chưa được xét xử. Nếu Tăng chúng nhận thấy đã đến lúc thích hợp, xin Tăng chúng hãy xét xử sự việc ấy.’”
Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ. No ce labhetha, tadahuposathe cātuddase vā pannarase vā tasmiṁ puggale sammukhībhūte saṅghamajjhe udāharitabbaṁ—
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho.
If this works out, all is well. If not, then on the observance day, whether the fourteenth or the fifteenth, in the midst of the Sangha and in the presence of that person, a monk should announce:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen.
“‘Bạch chư Đại đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Vấn đề liên quan đến việc xả giới của cá nhân tên là... vẫn còn dang dở, sự việc ấy chưa được xét xử. Con đình chỉ Pātimokkha đối với vị ấy. Khi cá nhân ấy có mặt thì không nên thuyết Pātimokkha.’ – Đây là việc đình chỉ Pātimokkha đúng pháp.”
Kathaṁ dhammikaṁ sāmaggiṁ na upeti? Idha pana, bhikkhave, bhikkhu yehi ākārehi yehi liṅgehi yehi nimittehi dhammikāya sāmaggiyānupagamanaṁ hoti, tehi ākārehi tehi liṅgehi tehi nimittehi bhikkhu bhikkhuṁ passati dhammikaṁ sāmaggiṁ na upentaṁ. Na heva kho bhikkhu bhikkhuṁ passati dhammikaṁ sāmaggiṁ na upentaṁ, api ca añño bhikkhu bhikkhussa āroceti—‘itthannāmo, āvuso, bhikkhu dhammikaṁ sāmaggiṁ na upetī’ti. Na heva kho bhikkhu bhikkhuṁ passati dhammikaṁ sāmaggiṁ na upentaṁ, nāpi añño bhikkhu bhikkhussa āroceti—‘itthannāmo, āvuso, bhikkhu dhammikaṁ sāmaggiṁ na upetī’ti, api ca sova bhikkhu bhikkhussa āroceti—‘ahaṁ, āvuso, dhammikaṁ sāmaggiṁ na upemī’ti. Ākaṅkhamāno, bhikkhave, bhikkhu tena diṭṭhena tena sutena tāya parisaṅkāya tadahuposathe cātuddase vā pannarase vā tasmiṁ puggale sammukhībhūte saṅghamajjhe udāhareyya—
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmo puggalo dhammikaṁ sāmaggiṁ na upeti, tassa pātimokkhaṁ ṭhapemi, na tasmiṁ sammukhībhūte pātimokkhaṁ uddisitabbanti—dhammikaṁ pātimokkhaṭṭhapanaṁ’.
Kathaṁ dhammikaṁ sāmaggiṁ paccādiyati?
One who reopens a legitimate legal procedure
“And how does he not go to a legitimate legal procedure of a complete assembly? A monk sees in a monk the characteristics and signs of someone who doesn’t go to a legitimate legal procedure of a complete assembly. Or a monk doesn’t see a monk not going to a legitimate legal procedure of a complete assembly, but another monk informs him that monk so-and-so didn’t go to a legitimate legal procedure of a complete assembly. Or a monk doesn’t see a monk not going to a legitimate legal procedure of a complete assembly, nor does another monk inform him, but the monk himself informs him that he didn’t go to a legitimate legal procedure of a complete assembly. Then, on the observance day, whether the fourteenth or the fifteenth, he may if he wishes, based on what he has seen, has heard, or suspects, announce in the midst of the Sangha and in the presence of that person:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so didn’t go to a legitimate legal procedure of a complete assembly. I cancel his hearing of the Monastic Code. The Monastic Code shouldn’t be recited in his presence.’ This cancellation of the Monastic Code is legitimate.”
“And how does he reopen a legitimate legal procedure of a complete assembly?
‘Kính bạch chư Tôn đức, mong Tăng chúng hãy lắng nghe lời của con. Lời nói về việc thu hồi sự hòa hợp đúng Pháp đối với cá nhân tên là ... vẫn còn dang dở, sự việc ấy chưa được xét xử. Con đình chỉ Pātimokkha đối với vị ấy, không nên tụng đọc Pātimokkha khi vị ấy có mặt.’ Việc đình chỉ Pātimokkha là đúng Pháp.
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmo puggalo dhammikaṁ sāmaggiṁ paccādiyati, tassa pātimokkhaṁ ṭhapemi, na tasmiṁ sammukhībhūte pātimokkhaṁ uddisitabbanti—dhammikaṁ pātimokkhaṭṭhapanaṁ’.
Bhikkhussa pātimokkhe ṭhapite parisā vuṭṭhāti, dasannaṁ antarāyānaṁ aññatarena—rājantarāyena vā …pe… brahmacariyantarāyena vā. Ākaṅkhamāno, bhikkhave, bhikkhu tasmiṁ vā āvāse, aññasmiṁ vā āvāse, tasmiṁ puggale sammukhībhūte saṅghamajjhe udāhareyya—
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so has reopened a legitimate legal procedure of a complete assembly. I cancel his hearing of the Monastic Code. The Monastic Code shouldn’t be recited in his presence.’ This cancellation of the Monastic Code is legitimate.
When the Monastic Code has been canceled for a monk, it may be that the gathering breaks up because of any one of ten threats: a threat from kings, criminals, fire, flooding, people, spirits, predatory animals, snakes, or a threat to life, or a threat to the monastic life. Then, if a monk wishes, he may, in that monastery or in another monastery, announce in the midst of the Sangha and in the presence of that person:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen.
‘Kính bạch chư Tôn đức, mong Tăng chúng hãy lắng nghe lời của con. Cá nhân tên là ... bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng giới. Con đình chỉ Pātimokkha đối với vị ấy, không nên tụng đọc Pātimokkha khi vị ấy có mặt.’ Việc đình chỉ Pātimokkha là đúng Pháp.
‘Kính bạch chư Tôn đức, mong Tăng chúng hãy lắng nghe lời của con. Lời nói về việc thu hồi sự hòa hợp đúng Pháp đối với cá nhân tên là ... vẫn còn dang dở, sự việc ấy chưa được xét xử. Nếu là thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng, Tăng chúng nên xét xử sự việc ấy.’
Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ. No ce labhetha, tadahuposathe cātuddase vā pannarase vā tasmiṁ puggale sammukhībhūte saṅghamajjhe udāharitabbaṁ—
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmassa puggalassa dhammikāya sāmaggiyā paccādānakathā vippakatā, taṁ vatthu avinicchitaṁ. Tassa pātimokkhaṁ ṭhapemi, na tasmiṁ sammukhībhūte pātimokkhaṁ uddisitabbanti—dhammikaṁ pātimokkhaṭṭhapanaṁ’.
If this works out, all is well. If not, then on the observance day, whether the fourteenth or the fifteenth, in the midst of the Sangha and in the presence of that person, a monk should announce:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. There’s an unfinished discussion about so-and-so reopening a legitimate legal procedure of a complete assembly. The matter hasn’t been decided. I cancel his hearing of the Monastic Code. The Monastic Code shouldn’t be recited in his presence.’ This cancellation of the Monastic Code is legitimate.”
Failure in morality, conduct, or view
“Nếu được như vậy thì điều ấy là tốt đẹp. Nếu không được, vào ngày lễ uposatha hôm ấy, hoặc ngày 14 hoặc ngày 15, khi cá nhân ấy có mặt, nên trình bày giữa Tăng chúng rằng:
Kathaṁ sīlavipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito hoti? Idha pana, bhikkhave, bhikkhu yehi ākārehi yehi liṅgehi yehi nimittehi sīlavipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito hoti, tehi ākārehi tehi liṅgehi tehi nimittehi bhikkhu bhikkhuṁ passati sīlavipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkitaṁ. Na heva kho bhikkhu bhikkhuṁ passati sīlavipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkitaṁ, api ca añño bhikkhu bhikkhussa āroceti—‘itthannāmo, āvuso, bhikkhu sīlavipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito’ti. Na heva kho bhikkhu bhikkhuṁ passati sīlavipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkitaṁ, nāpi añño bhikkhu bhikkhussa āroceti—‘itthannāmo, āvuso, bhikkhu sīlavipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito’ti, api ca sova bhikkhu bhikkhussa āroceti—‘ahaṁ, āvuso, sīlavipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkitomhī’ti. Ākaṅkhamāno, bhikkhave, bhikkhu tena diṭṭhena tena sutena tāya parisaṅkāya tadahuposathe cātuddase vā pannarase vā tasmiṁ puggale sammukhībhūte saṅghamajjhe udāhareyya—
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmo puggalo sīlavipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito, tassa pātimokkhaṁ ṭhapemi, na tasmiṁ sammukhībhūte pātimokkhaṁ uddisitabbanti—dhammikaṁ pātimokkhaṭṭhapanaṁ’.
“And how is failure in morality seen, heard, or suspected? A monk sees in a monk the characteristics and signs of someone who has been seen, heard, or suspected of failure in morality. Or a monk doesn’t see a monk who has been seen, heard, or suspected of failure in morality, but another monk informs him that monk so-and-so has been seen, heard, or suspected of failure in morality. Or a monk doesn’t see a monk who has been seen, heard, or suspected of failure in morality, nor does another monk inform him, but the monk himself informs him that he has been seen, heard, or suspected of failure in morality. Then, on the observance day, whether the fourteenth or the fifteenth, he may if he wishes, based on what he has seen, has heard, or suspects, announce in the midst of the Sangha and in the presence of that person:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so has been seen, heard, or suspected of failure in morality. I cancel his hearing of the Monastic Code. The Monastic Code shouldn’t be recited in their presence.’ This cancellation of the Monastic Code is legitimate.
395. “Thế nào là bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng giới? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng giới bởi những cách thức nào, những dấu hiệu nào, những biểu hiện nào, thì vị tỳ khưu thấy một tỳ khưu khác bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng giới bởi những cách thức ấy, những dấu hiệu ấy, những biểu hiện ấy. Hoặc vị tỳ khưu không thực sự thấy một tỳ khưu khác bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng giới, nhưng một tỳ khưu khác lại báo cho vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Thưa hiền giả, tỳ khưu tên là ... bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng giới.’ Hoặc vị tỳ khưu không thực sự thấy một tỳ khưu khác bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng giới, và cũng không có tỳ khưu nào khác báo cho vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Thưa hiền giả, tỳ khưu tên là ... bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng giới,’ nhưng chính vị tỳ khưu ấy lại báo cho vị tỳ khưu (đang xét) rằng: ‘Thưa hiền giả, chính tôi bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng giới.’ Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nếu có mong muốn, do sự thấy ấy, do sự nghe ấy, do sự nghi ngờ ấy, vào ngày lễ uposatha hôm ấy, hoặc ngày 14 hoặc ngày 15, khi cá nhân ấy có mặt, nên trình bày giữa Tăng chúng rằng:
Kathaṁ ācāravipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito hoti? Idha pana, bhikkhave, bhikkhu yehi ākārehi yehi liṅgehi yehi nimittehi ācāravipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito hoti tehi ākārehi tehi liṅgehi tehi nimittehi bhikkhu bhikkhuṁ passati ācāravipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkitaṁ. Na heva kho bhikkhu bhikkhuṁ passati ācāravipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkitaṁ, api ca añño bhikkhu bhikkhussa āroceti—‘itthannāmo, āvuso, bhikkhu ācāravipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito’ti. Na heva kho bhikkhu bhikkhuṁ passati ācāravipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkitaṁ, nāpi añño bhikkhu bhikkhussa āroceti—‘itthannāmo, āvuso, bhikkhu ācāravipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito’ti, api ca sova bhikkhu bhikkhussa āroceti—‘ahaṁ, āvuso, ācāravipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkitomhī’ti. Ākaṅkhamāno, bhikkhave, bhikkhu tena diṭṭhena tena sutena tāya parisaṅkāya tadahuposathe cātuddase vā pannarase vā tasmiṁ puggale sammukhībhūte saṅghamajjhe udāhareyya—
And how is failure in conduct seen, heard, or suspected? A monk sees in a monk the characteristics and signs of someone who has been seen, heard, or suspected of failure in conduct. Or a monk doesn’t see a monk who has been seen, heard, or suspected of failure in conduct, but another monk informs him that monk so-and-so has been seen, heard, or suspected of failure in conduct. Or a monk doesn’t see a monk who has been seen, heard, or suspected of failure in conduct, nor does another monk inform him, but the monk himself informs him that he has been seen, heard, or suspected of failure in conduct. Then, on the observance day, whether the fourteenth or the fifteenth, he may if he wishes, based on what he has seen, has heard, or suspects, announce in the midst of the Sangha and in the presence of that person:
396. “Thế nào là bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng oai nghi? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng oai nghi bởi những cách thức nào, những dấu hiệu nào, những biểu hiện nào, thì vị tỳ khưu thấy một tỳ khưu khác bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng oai nghi bởi những cách thức ấy, những dấu hiệu ấy, những biểu hiện ấy. Hoặc vị tỳ khưu không thực sự thấy một tỳ khưu khác bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng oai nghi, nhưng một tỳ khưu khác lại báo cho vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Thưa hiền giả, tỳ khưu tên là ... bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng oai nghi.’ Hoặc vị tỳ khưu không thực sự thấy một tỳ khưu khác bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng oai nghi, và cũng không có tỳ khưu nào khác báo cho vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Thưa hiền giả, tỳ khưu tên là ... bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng oai nghi,’ nhưng chính vị tỳ khưu ấy lại báo cho vị tỳ khưu (đang xét) rằng: ‘Thưa hiền giả, chính tôi bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng oai nghi.’ Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nếu có mong muốn, do sự thấy ấy, do sự nghe ấy, do sự nghi ngờ ấy, vào ngày lễ uposatha hôm ấy, hoặc ngày 14 hoặc ngày 15, khi cá nhân ấy có mặt, nên trình bày giữa Tăng chúng rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmo puggalo ācāravipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito, tassa pātimokkhaṁ ṭhapemi, na tasmiṁ sammukhībhūte pātimokkhaṁ uddisitabbanti—dhammikaṁ pātimokkhaṭṭhapanaṁ’.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so has been seen, heard, or suspected of failure in conduct. I cancel his hearing of the Monastic Code. The Monastic Code shouldn’t be recited in their presence.’ This cancellation of the Monastic Code is legitimate.
‘Kính bạch chư Tôn đức, mong Tăng chúng hãy lắng nghe lời của con. Cá nhân tên là ... bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng oai nghi. Con đình chỉ Pātimokkha đối với vị ấy, không nên tụng đọc Pātimokkha khi vị ấy có mặt.’ Việc đình chỉ Pātimokkha là đúng Pháp.
Kathaṁ diṭṭhivipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito hoti? Idha pana, bhikkhave, bhikkhu yehi ākārehi yehi liṅgehi yehi nimittehi diṭṭhivipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito hoti, tehi ākārehi tehi liṅgehi tehi nimittehi bhikkhu bhikkhuṁ passati diṭṭhivipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkitaṁ. Na heva kho bhikkhu bhikkhuṁ passati diṭṭhivipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkitaṁ, api ca añño bhikkhu bhikkhussa āroceti—‘itthannāmo, āvuso, bhikkhu diṭṭhivipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito’ti. Na heva kho bhikkhu bhikkhuṁ passati diṭṭhivipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkitaṁ, nāpi añño bhikkhu bhikkhussa āroceti—‘itthannāmo, āvuso, bhikkhu diṭṭhivipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito’ti, api ca sova bhikkhu bhikkhussa āroceti—‘ahaṁ, āvuso, diṭṭhivipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkitomhī’ti. Ākaṅkhamāno, bhikkhave, bhikkhu tena diṭṭhena tena sutena tāya parisaṅkāya tadahuposathe cātuddase vā pannarase vā tasmiṁ puggale sammukhībhūte saṅghamajjhe udāhareyya—
And how is failure in view seen, heard, or suspected? A monk sees in a monk the characteristics and signs of someone who has been seen, heard, or suspected of failure in view. Or a monk doesn’t see a monk who has been seen, heard, or suspected of failure in view, but another monk informs him that monk so-and-so has been seen, heard, or suspected of failure in view. Or a monk doesn’t see a monk who has been seen, heard, or suspected of failure in view, nor does another monk inform him, but the monk himself informs him that he has been seen, heard, or suspected of failure in view. Then, on the observance day, whether the fourteenth or the fifteenth, he may if he wishes, based on what he has seen, has heard, or suspects, announce in the midst of the Sangha and in the presence of that person:
397. “Thế nào là bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng tri kiến? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng tri kiến bởi những cách thức nào, những dấu hiệu nào, những biểu hiện nào, thì vị tỳ khưu thấy một tỳ khưu khác bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng tri kiến bởi những cách thức ấy, những dấu hiệu ấy, những biểu hiện ấy. Hoặc vị tỳ khưu không thực sự thấy một tỳ khưu khác bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng tri kiến, nhưng một tỳ khưu khác lại báo cho vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Thưa hiền giả, tỳ khưu tên là ... bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng tri kiến.’ Hoặc vị tỳ khưu không thực sự thấy một tỳ khưu khác bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng tri kiến, và cũng không có tỳ khưu nào khác báo cho vị tỳ khưu ấy rằng: ‘Thưa hiền giả, tỳ khưu tên là ... bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng tri kiến,’ nhưng chính vị tỳ khưu ấy lại báo cho vị tỳ khưu (đang xét) rằng: ‘Thưa hiền giả, chính tôi bị nghi ngờ do thấy, do nghe về sự hư hỏng tri kiến.’ Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nếu có mong muốn, do sự thấy ấy, do sự nghe ấy, do sự nghi ngờ ấy, vào ngày lễ uposatha hôm ấy, hoặc ngày 14 hoặc ngày 15, khi cá nhân ấy có mặt, nên trình bày giữa Tăng chúng rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmo puggalo diṭṭhivipattiyā diṭṭhasutaparisaṅkito, tassa pātimokkhaṁ ṭhapemi, na tasmiṁ sammukhībhūte pātimokkhaṁ uddisitabbanti—dhammikaṁ pātimokkhaṭṭhapanaṁ’.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so has been seen, heard, or suspected of failure in view. I cancel his hearing of the Monastic Code. The Monastic Code shouldn’t be recited in their presence.’ This cancellation of the Monastic Code is legitimate.
‘Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe con. Vị có tên như vầy đã bị nghi ngờ về điều được thấy, được nghe do sự hư hỏng về tri kiến; con đình chỉ lễ Pātimokkha đối với vị ấy; không nên đọc Pātimokkha khi vị ấy có mặt.’ – (Đây là) sự đình chỉ lễ Pātimokkha hợp pháp.
Imāni dasa dhammikāni pātimokkhaṭṭhapanānī”ti.
These are the ten legitimate cancellations of the Monastic Code.”
Mười sự đình chỉ lễ Pātimokkha này là hợp pháp.
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
The first section for recitation is finished.
Dứt chương tụng thứ nhất.
7. Attādānaaṅga
7. The qualities needed to raise an issue
7. Các chi phần về việc tự mình đảm nhận
Atha kho āyasmā upāli yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā upāli bhagavantaṁ etadavoca—“attādānaṁ ādātukāmena, bhante, bhikkhunā katamaṅgasamannāgataṁ attādānaṁ ādātabban”ti?
Venerable Upāli went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “Sir, if a monk wishes to raise an issue, what factors should be fulfilled?”
398. Rồi Đại đức Upāli đi đến nơi đức Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Trong khi ngồi một bên, Đại đức Upāli đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Kính bạch ngài, vị tỳ khưu có ý muốn tự mình đảm nhận (vụ tranh tụng) thì việc tự mình đảm nhận cần phải được thành tựu những chi phần nào?”
“Attādānaṁ ādātukāmena, upāli, bhikkhunā pañcaṅgasamannāgataṁ attādānaṁ ādātabbaṁ.
- Attādānaṁ ādātukāmena, upāli, bhikkhunā evaṁ paccavekkhitabbaṁ—‘yaṁ kho ahaṁ imaṁ attādānaṁ ādātukāmo, kālo nu kho imaṁ attādānaṁ ādātuṁ udāhu no’ti? Sace, upāli, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti—‘akālo imaṁ attādānaṁ ādātuṁ, no kālo’ti, na taṁ, upāli, attādānaṁ ādātabbaṁ.
“Five factors should be fulfilled:
- He should reflect whether it’s the right time to raise it. If he knows it’s the wrong time, he shouldn’t raise it.
Này Upāli, vị tỳ khưu có ý muốn tự mình đảm nhận thì việc tự mình đảm nhận cần phải được thành tựu năm chi phần. Này Upāli, vị tỳ khưu có ý muốn tự mình đảm nhận nên quán xét như vầy: ‘Việc tự mình đảm nhận này mà ta đang có ý muốn đảm nhận, có phải là đúng thời hay là không?’ Này Upāli, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Việc tự mình đảm nhận này là không đúng thời, không phải là đúng thời,’ thì này Upāli, việc tự mình đảm nhận ấy không nên được đảm nhận.
Và này Upāli, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Việc tự mình đảm nhận này là đúng thời, không phải là không đúng thời,’ thì này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên quán xét thêm nữa: ‘Việc tự mình đảm nhận này mà ta đang có ý muốn đảm nhận, có phải là sự thật hay là không?’ Này Upāli, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Việc tự mình đảm nhận này là không thật, không phải là sự thật,’ thì này Upāli, việc tự mình đảm nhận ấy không nên được đảm nhận.
Và này Upāli, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Việc tự mình đảm nhận này là sự thật, không phải là không thật,’ thì này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên quán xét thêm nữa: ‘Việc tự mình đảm nhận này mà ta đang có ý muốn đảm nhận, có phải là có liên quan đến lợi ích hay là không?’ Này Upāli, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Việc tự mình đảm nhận này là không liên quan đến lợi ích, không phải là có liên quan đến lợi ích,’ thì này Upāli, việc tự mình đảm nhận ấy không nên được đảm nhận.
Và này Upāli, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Việc tự mình đảm nhận này là có liên quan đến lợi ích, không phải là không liên quan đến lợi ích,’ thì này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên quán xét thêm nữa: ‘Trong khi ta đảm nhận việc tự mình đảm nhận này, ta sẽ có được các vị tỳ khưu thân hữu, quen biết, đúng theo Pháp, đúng theo Luật, về phe của mình hay là không?’ Này Upāli, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Trong khi ta đảm nhận việc tự mình đảm nhận này, ta sẽ không có được các vị tỳ khưu thân hữu, quen biết, đúng theo Pháp, đúng theo Luật, về phe của mình,’ thì này Upāli, việc tự mình đảm nhận ấy không nên được đảm nhận.
Sace panupāli, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti—‘imaṁ kho me attādānaṁ ādiyato na bhavissati saṅghassa tatonidānaṁ bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo saṅghabhedo saṅgharāji saṅghavavatthānaṁ saṅghanānākaraṇan’ti, ādātabbaṁ taṁ, upāli, attādānaṁ. Evaṁ pañcaṅgasamannāgataṁ kho, upāli, attādānaṁ ādinnaṁ, pacchāpi avippaṭisārakaraṁ bhavissatī”ti.
But if he knows it won’t, he may raise it. In this way, when five factors are fulfilled, he won’t regret raising that issue.”
Và này Upāli, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Trong khi ta đảm nhận việc tự mình đảm nhận này, ta sẽ có được các vị tỳ khưu thân hữu, quen biết, đúng theo Pháp, đúng theo Luật, về phe của mình,’ thì này Upāli, vị tỳ khưu ấy nên quán xét thêm nữa: ‘Do duyên cớ ấy, trong khi ta đảm nhận việc tự mình đảm nhận này, sự cãi cọ, sự tranh chấp, sự xung đột, sự luận쟁, sự chia rẽ Tăng chúng, sự rạn nứt trong Tăng chúng, sự phân ly trong Tăng chúng, sự bất hòa trong Tăng chúng sẽ khởi lên cho Tăng chúng hay là không?’ Này Upāli, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Do duyên cớ ấy, trong khi ta đảm nhận việc tự mình đảm nhận này, sự cãi cọ, sự tranh chấp, sự xung đột, sự luận쟁, sự chia rẽ Tăng chúng, sự rạn nứt trong Tăng chúng, sự phân ly trong Tăng chúng, sự bất hòa trong Tăng chúng sẽ khởi lên cho Tăng chúng,’ thì này Upāli, việc tự mình đảm nhận ấy không nên được đảm nhận. Và này Upāli, nếu trong khi quán xét, vị tỳ khưu biết như vầy: ‘Do duyên cớ ấy, trong khi ta đảm nhận việc tự mình đảm nhận này, sự cãi cọ, sự tranh chấp, sự xung đột, sự luận쟁, sự chia rẽ Tăng chúng, sự rạn nứt trong Tăng chúng, sự phân ly trong Tăng chúng, sự bất hòa trong Tăng chúng sẽ không khởi lên cho Tăng chúng,’ thì này Upāli, việc tự mình đảm nhận ấy nên được đảm nhận. Này Upāli, việc tự mình đảm nhận được thành tựu năm chi phần như vậy, sau khi đã được đảm nhận, sẽ không có sự hối tiếc về sau.
8. Codakenapaccavekkhitabbadhamma
8. The qualities to be reflected on by one who accuses another
8. Các pháp cần được quán xét bởi người chất vấn
“Codakena, bhante, bhikkhunā paraṁ codetukāmena kati dhamme ajjhattaṁ paccavekkhitvā paro codetabbo”ti?
“Codakena, upāli, bhikkhunā paraṁ codetukāmena pañca dhamme ajjhattaṁ paccavekkhitvā paro codetabbo.
“Sir, how many qualities should a monk see in himself before accusing another?”
“He should see five qualities in himself.
399. “Kính bạch ngài, vị tỳ khưu chất vấn có ý muốn chất vấn người khác, sau khi đã quán xét bao nhiêu pháp ở nội tâm thì nên chất vấn người khác?” “Này Upāli, vị tỳ khưu chất vấn có ý muốn chất vấn người khác, sau khi đã quán xét năm pháp ở nội tâm thì nên chất vấn người khác.
Codakena, upāli, bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ—‘parisuddhakāyasamācāro nu khomhi, parisuddhenamhi kāyasamācārena samannāgato—acchiddena appaṭimaṁsena? Saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti? No ce, upāli, bhikkhu parisuddhakāyasamācāro hoti, parisuddhena kāyasamācārena samannāgato—acchiddena appaṭimaṁsena, tassa bhavanti vattāro—‘iṅgha tāva āyasmā kāyikaṁ sikkhassū’ti. Itissa bhavanti vattāro.
He should reflect, ‘Is my bodily conduct pure and flawless? Is this quality found in me or not?’ If it’s not, there will be those who say, ‘Please train your own bodily conduct first.’
Này Upāli, vị tỳ khưu chất vấn có ý muốn chất vấn người khác nên quán xét như vầy: ‘Ta có thân hành trong sạch phải không? Ta có được thành tựu thân hành trong sạch, không có khiếm khuyết, không có vết đốm phải không? Pháp này có hiện hữu nơi ta hay là không?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu không có thân hành trong sạch, không được thành tựu thân hành trong sạch, không có khiếm khuyết, không có vết đốm thì sẽ có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này hiền giả, trước tiên hãy thực hành về thân.’ Sẽ có những người nói với vị ấy như vậy.
Puna caparaṁ, upāli, codakena bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ—‘parisuddhavacīsamācāro nu khomhi, parisuddhenamhi vacīsamācārena samannāgato—acchiddena appaṭimaṁsena? Saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti? No ce, upāli, bhikkhu parisuddhavacīsamācāro hoti, parisuddhena vacīsamācārena samannāgato—acchiddena appaṭimaṁsena, tassa bhavanti vattāro—‘iṅgha tāva āyasmā vācasikaṁ sikkhassū’ti. Itissa bhavanti vattāro.
He should reflect, ‘Is my verbal conduct pure and flawless? Is this quality found in me or not?’ If it’s not, there will be those who say, ‘Please train your own verbal conduct first.’
Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác cần phải xem xét như vầy: ‘Ta có khẩu hạnh trong sạch hay không? Ta có thành tựu khẩu hạnh trong sạch, không tỳ vết, không bị chê trách hay không? Pháp này có hiện hữu nơi ta hay là không?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu không có khẩu hạnh trong sạch, không thành tựu khẩu hạnh trong sạch, không tỳ vết, không bị chê trách, thì sẽ có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này hiền giả, trước tiên hãy học tập về khẩu hạnh đi đã.’ Như vậy, sẽ có những người nói với vị ấy.
Puna caparaṁ, upāli, codakena bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ—‘mettaṁ nu kho me cittaṁ paccupaṭṭhitaṁ sabrahmacārīsu anāghātaṁ, saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti? No ce, upāli, bhikkhuno mettacittaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu anāghātaṁ, tassa bhavanti vattāro—‘iṅgha tāva āyasmā sabrahmacārīsu mettacittaṁ upaṭṭhāpehī’ti. Itissa bhavanti vattāro.
He should reflect, ‘Do I have a mind of good will toward my fellow monastics, a mind free from anger? Is this quality found in me or not?’ If it’s not, there will be those who say, ‘Please set up a mind of good will toward your fellow monastics first.’
Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác cần phải xem xét như vầy: ‘Tâm từ của ta có được an trú, không oán hận đối với các vị đồng phạm hạnh hay không? Pháp này có hiện hữu nơi ta hay là không?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu không có tâm từ được an trú, không oán hận đối với các vị đồng phạm hạnh, thì sẽ có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này hiền giả, trước tiên hãy làm cho tâm từ khởi lên đối với các vị đồng phạm hạnh đi đã.’ Như vậy, sẽ có những người nói với vị ấy.
Puna caparaṁ, upāli, codakena bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ—‘bahussuto nu khomhi, sutadharo, sutasannicayo? Ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpā me dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā? Saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti? No ce, upāli, bhikkhu bahussuto hoti, sutadharo, sutasannicayo; ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpassa dhammā na bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā, tassa bhavanti vattāro—‘iṅgha tāva āyasmā āgamaṁ pariyāpuṇassū’ti. Itissa bhavanti vattāro.
He should reflect, ‘Have I learned much and do I retain and accumulate what I’ve learned? Those teachings that are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, that have a true goal and are well articulated, and that set out the perfectly complete and pure spiritual life—have I learned many such teachings, retained them in mind, recited them verbally, mentally investigated them, and penetrated them well by view? Is this quality found in me or not?’ If it’s not, there will be those who say, ‘Please learn the tradition first.’
Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác cần phải xem xét như vầy: ‘Ta có phải là người đa văn, thọ trì những điều đã nghe, tích lũy những điều đã nghe hay không? Những pháp nào toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú, tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch, những pháp như vậy có được ta nghe nhiều, ghi nhớ, quen thuộc qua lời nói, quán xét trong tâm, khéo thông đạt bằng trí tuệ hay không? Pháp này có hiện hữu nơi ta hay là không?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu không phải là người đa văn, không thọ trì những điều đã nghe, không tích lũy những điều đã nghe; những pháp nào toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú, tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch, những pháp như vậy không được vị ấy nghe nhiều, không được ghi nhớ, không quen thuộc qua lời nói, không được quán xét trong tâm, không được khéo thông đạt bằng trí tuệ, thì sẽ có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này hiền giả, trước tiên hãy học tập Thánh điển đi đã.’ Như vậy, sẽ có những người nói với vị ấy.
Puna caparaṁ, upāli, codakena bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ—‘ubhayāni kho me pātimokkhāni vitthārena svāgatāni honti, suvibhattāni, suppavattīni, suvinicchitāni, suttaso, anubyañjanaso? Saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti? No ce, upāli, bhikkhuno ubhayāni pātimokkhāni vitthārena svāgatāni honti, suvibhattāni, suppavattīni, suvinicchitāni, suttaso, anubyañjanaso, ‘idaṁ panāvuso, kattha vuttaṁ bhagavatā’ti, iti puṭṭho na sampāyati, tassa bhavanti vattāro—‘iṅgha tāva āyasmā vinayaṁ pariyāpuṇassū’ti. Itissa bhavanti vattāro.
Codakenupāli, bhikkhunā paraṁ codetukāmena ime pañca dhamme ajjhattaṁ paccavekkhitvā paro codetabbo”ti.
He should reflect, ‘Have I properly learned both Monastic Codes in detail; have I analyzed them well, thoroughly mastered them, and investigated them well, both in terms of the rules and their detailed exposition? Is this quality found in me or not?’ If it’s not, then when he’s asked, ‘Where was this said by the Buddha?’ he won’t be able to reply. And there will be those who say, ‘Please learn the Monastic Law first.’
A monk should see these five qualities in himself before accusing another.”
Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác cần phải xem xét như vầy: ‘Hai bộ Pātimokkha có được ta thuộc lòng một cách chi tiết, phân tích rành rẽ, thực hành thuần thục, quyết đoán rõ ràng theo từng kinh và theo từng chi tiết hay không? Pháp này có hiện hữu nơi ta hay là không?’ Này Upāli, nếu vị tỳ khưu không thuộc lòng hai bộ Pātimokkha một cách chi tiết, không phân tích rành rẽ, không thực hành thuần thục, không quyết đoán rõ ràng theo từng kinh và theo từng chi tiết, khi được hỏi: ‘Thưa hiền giả, điều này đã được đức Thế Tôn nói ở đâu?’ lại không thể trả lời được, thì sẽ có những người nói với vị ấy rằng: ‘Này hiền giả, trước tiên hãy học tập Luật tạng đi đã.’ Như vậy, sẽ có những người nói với vị ấy. Này Upāli, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác, sau khi xem xét năm pháp này nơi tự thân, mới nên khiển trách người khác.
9. Codakenaupaṭṭhāpetabbadhamma
9. The qualities to be set up by one who accuses another
9. Các Pháp Cần Được Thiết Lập Bởi Người Khiển Trách
“Codakena, bhante, bhikkhunā paraṁ codetukāmena kati dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paro codetabbo”ti?
“Codakenupāli, bhikkhunā paraṁ codetukāmena pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paro codetabbo—kālena vakkhāmi, no akālena; bhūtena vakkhāmi, no abhūtena; saṇhena vakkhāmi, no pharusena; atthasaṁhitena vakkhāmi, no anatthasaṁhitena; mettacitto vakkhāmi, no dosantaroti. Codakenupāli, bhikkhunā paraṁ codetukāmena ime pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paro codetabbo”ti.
“Sir, how many qualities should a monk set up in himself before accusing another?”
“He should set up five qualities in himself: ‘I’ll speak at an appropriate time, not at an inappropriate one; I’ll speak the truth, not falsehood; I’ll speak gently, not harshly; I’ll speak what’s beneficial, not what’s unbeneficial; I’ll speak with a mind of good will, not with ill will.’”
400. ‘Bạch Thế Tôn, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác, sau khi thiết lập bao nhiêu pháp nơi tự thân, mới nên khiển trách người khác?’ ‘Này Upāli, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác, sau khi thiết lập năm pháp nơi tự thân, mới nên khiển trách người khác: ‘Ta sẽ nói đúng lúc, không nói phi lúc; ta sẽ nói đúng sự thật, không nói sai sự thật; ta sẽ nói lời nhu hòa, không nói lời thô ác; ta sẽ nói lời có lợi ích, không nói lời vô ích; ta sẽ nói với tâm từ, không nói với tâm sân.’ Này Upāli, vị tỳ khưu muốn khiển trách người khác, sau khi thiết lập năm pháp này nơi tự thân, mới nên khiển trách người khác.’
10. Codakacuditakapaṭisaṁyuttakathā
10. Discussion on the one who accuses and the one who is accused
10. Lời Nói Liên Quan Đến Người Khiển Trách và Người Bị Khiển Trách
“Adhammacodakassa, bhante, bhikkhuno katihākārehi vippaṭisāro upadahātabbo”ti?
“Adhammacodakassa, upāli, bhikkhuno pañcahākārehi vippaṭisāro upadahātabbo—akālenāyasmā codesi, no kālena, alaṁ te vippaṭisārāya; abhūtenāyasmā codesi, no bhūtena, alaṁ te vippaṭisārāya; pharusenāyasmā codesi, no saṇhena, alaṁ te vippaṭisārāya; anatthasaṁhitenāyasmā codesi, no atthasaṁhitena, alaṁ te vippaṭisārāya; dosantaro āyasmā codesi, no mettacitto, alaṁ te vippaṭisārāyāti.
Adhammacodakassa, upāli, bhikkhuno imehi pañcahākārehi vippaṭisāro upadahātabbo. Taṁ kissa hetu? Yathā na aññopi bhikkhu abhūtena codetabbaṁ maññeyyā”ti.
“Sir, if a monk accuses another illegitimately, in how many ways should regret be aroused in him?”
“Regret should be aroused in him in five ways: ‘Venerable, you’re accusing at the wrong time, not at the right time, and so it’s appropriate for you to have regret. You’re accusing falsely, not truthfully, and so it’s appropriate for you to have regret. You’re accusing harshly, not gently, and so it’s appropriate for you to have regret. You’re accusing unbeneficially, not beneficially, and so it’s appropriate for you to have regret. You’re accusing with a mind of ill will, not with a mind of good will, and so it’s appropriate for you to have regret.’
These are the five ways regret should be aroused in a monk who accuses another illegitimately. For what reason? So that other monks won’t think of making false accusations.”
401. ‘Bạch Thế Tôn, đối với vị tỳ khưu khiển trách phi pháp, cần phải làm cho sự hối hận khởi lên bằng bao nhiêu cách?’ ‘Này Upāli, đối với vị tỳ khưu khiển trách phi pháp, cần phải làm cho sự hối hận khởi lên bằng năm cách: ‘Hiền giả đã khiển trách phi lúc, không đúng lúc, điều đó đủ để hiền giả hối hận; hiền giả đã khiển trách sai sự thật, không đúng sự thật, điều đó đủ để hiền giả hối hận; hiền giả đã khiển trách bằng lời thô ác, không bằng lời nhu hòa, điều đó đủ để hiền giả hối hận; hiền giả đã khiển trách bằng lời vô ích, không bằng lời có lợi ích, điều đó đủ để hiền giả hối hận; hiền giả đã khiển trách với tâm sân, không với tâm từ, điều đó đủ để hiền giả hối hận.’ Này Upāli, đối với vị tỳ khưu khiển trách phi pháp, cần phải làm cho sự hối hận khởi lên bằng năm cách này. Vì sao vậy? Để cho vị tỳ khưu khác không nghĩ rằng có thể khiển trách sai sự thật.’
“Adhammacuditassa pana, bhante, bhikkhuno katihākārehi avippaṭisāro upadahātabbo”ti?
“Adhammacuditassa, upāli, bhikkhuno pañcahākārehi avippaṭisāro upadahātabbo—akālenāyasmā cudito, no kālena, alaṁ te avippaṭisārāya; abhūtenāyasmā cudito, no bhūtena, alaṁ te avippaṭisārāya; pharusenāyasmā cudito, no saṇhena, alaṁ te avippaṭisārāya; anatthasaṁhitenāyasmā cudito, no atthasaṁhitena, alaṁ te avippaṭisārāya; dosantarenāyasmā cudito, no mettacittena, alaṁ te avippaṭisārāyāti. Adhammacuditassa, upāli, bhikkhuno imehi pañcahākārehi avippaṭisāro upadahātabbo”ti.
“And if a monk has been accused illegitimately, in how many ways should non-regret be aroused in him?”
“Non-regret should be aroused in him in five ways: ‘Venerable, you’ve been accused at the wrong time, not at the right time, and so there’s no need for you to have regret. You’ve been accused falsely, not truthfully, and so there’s no need for you to have regret. You’ve been accused harshly, not gently, and so there’s no need for you to have regret. You’ve been accused unbeneficially, not beneficially, and so there’s no need for you to have regret. You’ve been accused with a mind of ill will, not with a mind of good will, and so there’s no need for you to have regret.’”
– Bạch ngài, đối với vị tỳ khưu bị khiển trách không đúng Pháp, sự không hối tiếc nên được tạo ra bằng bao nhiêu cách? – Này Upāli, đối với vị tỳ khưu bị khiển trách không đúng Pháp, sự không hối tiếc nên được tạo ra bằng năm cách: ‘Hiền giả đã bị khiển trách không đúng thời, không phải đúng thời, ngài không có gì phải hối tiếc; hiền giả đã bị khiển trách về điều không thật, không phải về điều có thật, ngài không có gì phải hối tiếc; hiền giả đã bị khiển trách bằng lời thô lỗ, không phải bằng lời ôn hòa, ngài không có gì phải hối tiếc; hiền giả đã bị khiển trách bằng lời không liên quan đến lợi ích, không phải bằng lời liên quan đến lợi ích, ngài không có gì phải hối tiếc; hiền giả đã bị khiển trách với tâm sân hận, không phải với tâm từ, ngài không có gì phải hối tiếc.’ Này Upāli, đối với vị tỳ khưu bị khiển trách không đúng Pháp, sự không hối tiếc nên được tạo ra bằng năm cách này.
“Dhammacodakassa, bhante, bhikkhuno katihākārehi avippaṭisāro upadahātabbo”ti?
“Dhammacodakassa, upāli, bhikkhuno pañcahākārehi avippaṭisāro upadahātabbo—kālenāyasmā codesi, no akālena, alaṁ te avippaṭisārāya; bhūtenāyasmā codesi, no abhūtena, alaṁ te avippaṭisārāya; saṇhenāyasmā codesi, no pharusena, alaṁ te avippaṭisārāya; atthasaṁhitenāyasmā codesi, no anatthasaṁhitena, alaṁ te avippaṭisārāya; mettacitto āyasmā codesi, no dosantaro, alaṁ te avippaṭisārāyāti.
Dhammacodakassa, upāli, bhikkhuno imehi pañcahākārehi avippaṭisāro upadahātabbo. Taṁ kissa hetu? Yathā aññopi bhikkhu bhūtena codetabbaṁ maññeyyā”ti.
“And if a monk accuses another legitimately, in how many ways should non-regret be aroused in him?”
“Non-regret should be aroused in him in five ways: ‘Venerable, you’re accusing at the right time, not at the wrong time, and so there’s no need for you to have regret. You’re accusing truthfully, not falsely, and so there’s no need for you to have regret. You’re accusing gently, not harshly, and so there’s no need for you to have regret. You’re accusing beneficially, not unbeneficially, and so there’s no need for you to have regret. You’re accusing with a mind of good will, not with a mind of ill will, and so there’s no need for you to have regret.’
These are the five ways non-regret should be aroused in a monk who accuses another legitimately. For what reason? So that other monks will think of making truthful accusations.”
– Bạch ngài, đối với vị tỳ khưu khiển trách đúng Pháp, sự không hối tiếc nên được tạo ra bằng bao nhiêu cách? – Này Upāli, đối với vị tỳ khưu khiển trách đúng Pháp, sự không hối tiếc nên được tạo ra bằng năm cách: ‘Hiền giả đã khiển trách đúng thời, không phải không đúng thời, ngài không có gì phải hối tiếc; hiền giả đã khiển trách về điều có thật, không phải về điều không thật, ngài không có gì phải hối tiếc; hiền giả đã khiển trách bằng lời ôn hòa, không phải bằng lời thô lỗ, ngài không có gì phải hối tiếc; hiền giả đã khiển trách bằng lời liên quan đến lợi ích, không phải bằng lời không liên quan đến lợi ích, ngài không có gì phải hối tiếc; hiền giả đã khiển trách với tâm từ, không phải với tâm sân hận, ngài không có gì phải hối tiếc.’ Này Upāli, đối với vị tỳ khưu khiển trách đúng Pháp, sự không hối tiếc nên được tạo ra bằng năm cách này. Vì sao vậy? Để vị tỳ khưu khác cũng có thể nghĩ rằng nên khiển trách về điều có thật.
“Dhammacuditassa pana, bhante, bhikkhuno katihākārehi vippaṭisāro upadahātabbo”ti?
“Dhammacuditassa, upāli, bhikkhuno pañcahākārehi vippaṭisāro upadahātabbo—kālenāyasmā cudito, no akālena, alaṁ te vippaṭisārāya; bhūtenāyasmā cudito, no abhūtena, alaṁ te vippaṭisārāya; saṇhenāyasmā cudito, no pharusena, alaṁ te vippaṭisārāya; atthasaṁhitenāyasmā cudito, no anatthasaṁhitena, alaṁ te vippaṭisārāya; mettacittenāyasmā cudito, no dosantarena, alaṁ te vippaṭisārāyāti. Dhammacuditassa, upāli, bhikkhuno imehi pañcahākārehi vippaṭisāro upadahātabbo”ti.
“And if a monk has been accused legitimately, in how many ways should regret be aroused in him?”
“Regret should be aroused in him in five ways: ‘Venerable, you’ve been accused at the right time, not at the wrong time, and so it’s appropriate for you to have regret. You’ve been accused truthfully, not falsely, and so it’s appropriate for you to have regret. You’ve been accused gently, not harshly, and so it’s appropriate for you to have regret. You’ve been accused beneficially, not unbeneficially, and so it’s appropriate for you to have regret. You’ve been accused with a mind of good will, not with a mind of ill will, and so it’s appropriate for you to have regret.’”
– Bạch ngài, đối với vị tỳ khưu bị khiển trách đúng Pháp, sự hối tiếc nên được tạo ra bằng bao nhiêu cách? – Này Upāli, đối với vị tỳ khưu bị khiển trách đúng Pháp, sự hối tiếc nên được tạo ra bằng năm cách: ‘Hiền giả đã bị khiển trách đúng thời, không phải không đúng thời, ngài nên có sự hối tiếc; hiền giả đã bị khiển trách về điều có thật, không phải về điều không thật, ngài nên có sự hối tiếc; hiền giả đã bị khiển trách bằng lời ôn hòa, không phải bằng lời thô lỗ, ngài nên có sự hối tiếc; hiền giả đã bị khiển trách bằng lời liên quan đến lợi ích, không phải bằng lời không liên quan đến lợi ích, ngài nên có sự hối tiếc; hiền giả đã bị khiển trách với tâm từ, không phải với tâm sân hận, ngài nên có sự hối tiếc.’ Này Upāli, đối với vị tỳ khưu bị khiển trách đúng Pháp, sự hối tiếc nên được tạo ra bằng năm cách này.
“Codakena, bhante, bhikkhunā paraṁ codetukāmena kati dhamme ajjhattaṁ manasi karitvā paro codetabbo”ti?
“Codakenupāli, bhikkhunā paraṁ codetukāmena pañca dhamme ajjhattaṁ manasi karitvā paro codetabbo—kāruññatā, hitesitā, anukampitā, āpattivuṭṭhānatā, vinayapurekkhāratāti. Codakenupāli, bhikkhunā paraṁ codetukāmena ime pañca dhamme ajjhattaṁ manasi karitvā paro codetabbo”ti.
“And, sir, how many qualities should a monk attend to in himself before accusing another?”
“He should attend to five qualities in himself: compassion, being of benefit, sympathy, the idea of clearing offenses, and the idea of prioritizing the training.”
– Bạch ngài, vị tỳ khưu khiển trách, muốn khiển trách người khác, sau khi đã tác ý nội tâm về bao nhiêu pháp rồi mới nên khiển trách người khác? – Này Upāli, vị tỳ khưu khiển trách, muốn khiển trách người khác, sau khi đã tác ý nội tâm về năm pháp rồi mới nên khiển trách người khác. (Đó là) lòng bi mẫn, lòng mong cầu lợi ích, lòng thương xót, mong muốn cho ra khỏi tội, và sự tôn trọng Luật. Này Upāli, vị tỳ khưu khiển trách, muốn khiển trách người khác, sau khi đã tác ý nội tâm về năm pháp này rồi mới nên khiển trách người khác.
“Cuditena pana, bhante, bhikkhunā katisu dhammesu patiṭṭhātabban”ti?
“Cuditenupāli, bhikkhunā dvīsu dhammesu patiṭṭhātabbaṁ—sacce ca akuppe cā”ti.
“And how many qualities should a monk who is accused set up?”
“A monk who is accused should set up two qualities: truth and composure.”
– Bạch ngài, vị tỳ khưu bị khiển trách nên an trú trong bao nhiêu pháp? – Này Upāli, vị tỳ khưu bị khiển trách nên an trú trong hai pháp: trong sự thật và trong sự không tức giận.
Dutiyabhāṇavāro niṭṭhito.
The second section for recitation is finished.
Dứt Phẩm Tụng Thứ Nhì.
Pātimokkhaṭṭhapanakkhandhako navamo.
The ninth chapter on the cancellation of the Monastic Code is finished.
Chương về việc đình chỉ Pātimokkha, chương thứ chín.
Imamhi khandhake vatthū tiṁsa.
Tassuddānaṁ
In this chapter there are thirty topics.
This is the summary:
Trong chương này có ba mươi câu chuyện.
Uposathe yāvatikaṁ, pāpabhikkhu na nikkhami; Moggallānena nicchuddho, accherā jinasāsane.
“On the observance day, as far as, The bad monk did not leave; Thrown out by Moggallāna, Amazing, in the instruction of the Victor.
Vào ngày Uposatha, bao lâu tỳ khưu ác chưa ra ngoài; Moggallāna đã đuổi ra, những điều kỳ diệu trong giáo pháp của bậc Chiến Thắng.
Ninnonupubbasikkhā ca, ṭhitadhammo nātikkamma; Kuṇapukkhipati saṅgho, savantiyo jahanti ca.
Slopes, and gradual training, Steady, without transgressing; Corpse, the Sangha ejects, Rivers, and they lose.
Dốc thoai thoải, học tuần tự, pháp cố định không vượt qua; Tăng chúng vất bỏ tử thi, và các dòng sông từ bỏ.
Savanti parinibbanti, ekarasa vimutti ca; Bahu dhammavinayopi, bhūtaṭṭhāriyapuggalā.
They flow, they are extinguished, One taste, and freedom; Many, and the spiritual path, Being, the eight noble persons.
Các dòng sông, các vị nhập Niết-bàn, một vị duy nhất là giải thoát; Pháp và Luật có nhiều (báu vật), các loài chúng sanh và tám bậc Thánh nhân.
Samuddaṁ upamaṁ katvā, vācesi sāsane guṇaṁ; Uposathe pātimokkhaṁ, na amhe koci jānāti.
Having made the ocean simile, He taught the qualities of Buddhism; On the observance day, the Monastic Code, No-one knows about us.
Lấy biển cả làm ví dụ, Ngài thuyết về phẩm chất trong giáo pháp; Vào ngày Uposatha, nghe Pātimokkha, không ai biết đến chúng tôi.
Paṭikacceva ujjhanti, eko dve tīṇi cattāri; Pañca cha satta aṭṭhāni, navā ca dasamāni ca.
Preempt, they complained, One, two, three, four; Five, six, seven, eight, And nine, and tenth.
Chỉ trích từ trước, một, hai, ba, bốn; Năm, sáu, bảy, tám, chín và mười.
Sīlaācāradiṭṭhi ca, ājīvaṁ catubhāgike; Pārājikañca saṅghādi, pācitti pāṭidesani.
Morality, conduct, and view, Livelihood, in four parts; And offense entailing expulsion, offense entailing suspension, Offense entailing confession, offense entailing acknowledgment.
Giới, hạnh, và kiến, và mạng sống trong bốn phần; Pārājika, Saṅghādisesa, Pācittiya, Pāṭidesanīya.
Dukkaṭaṁ pañcabhāgesu, sīlācāravipatti ca; Akatāya katāya ca, chabhāgesu yathāvidhi.
Offense of wrong conduct, in five parts, And failure in morality and conduct; Has not failed, and has failed, In six parts according to the same method.
Dukkaṭa trong năm phần, sự hư hỏng về giới và hạnh; Việc chưa làm và đã làm, trong sáu phần theo phương cách.
Pārājikañca saṅghādi, thullaṁ pācittiyena ca; Pāṭidesaniyañceva, dukkaṭañca dubbhāsitaṁ.
And offense entailing expulsion, offense entailing suspension, Serious offense, and with offense entailing confession; And indeed offense entailing acknowledgment, Offense of wrong conduct, offense of wrong speech.
Pārājika và Saṅghādisesa, Thullaccaya và Pācittiya; Pāṭidesanīya, Dukkaṭa và Dubbhāsita.
Sīlācāravipatti ca, Diṭṭhiājīvavipatti; Yā ca aṭṭhā katākate, Tenetā sīlācāradiṭṭhiyā.
And failure in morality and conduct; Failure in view and livelihood; And the eight with failed and not failed, These with the morality, conduct, and view.
Sự hư hỏng về giới và hạnh, sự hư hỏng về kiến và mạng sống; Tám điều này, đã làm và chưa làm, do đó là giới, hạnh, và kiến.
Akatāya katāyāpi, katākatāyameva ca; Evaṁ navavidhā vuttā, yathābhūtena ñāyato.
With not failed, also with failed, And with both failed and not failed; Thus a ninefold is spoken of, According to the real method.
Việc chưa làm và cũng đã làm, và cả việc đã làm và chưa làm; Như vậy chín loại được nói đến, theo lẽ phải như thật.
Pārājiko vippakatā, paccakkhāto tatheva ca; Upeti paccādiyati, paccādānakathā ca yā.
Offense entailing expulsion, unfinished, And just so renounced; He goes to, he reopens, And discussion on reopening.
Người phạm Pārājika, việc chưa xong, người đã hoàn tục cũng vậy; Đến gần, nhận lại, và câu chuyện về việc nhận lại.
Sīlācāravipatti ca, tathā diṭṭhivipattiyā; Diṭṭhasutaparisaṅkitaṁ, dasadhā taṁ vijānātha.
And failure in morality and conduct, So with failure in view; Seen, heard, suspected, You should know it as tenfold.
Sự hư hỏng về giới và hạnh, cũng như sự hư hỏng về kiến; Điều được thấy, nghe, và nghi ngờ, hãy biết điều ấy có mười loại.
Bhikkhu vipassati bhikkhuṁ, añño cārocayāti taṁ; Soyeva tassa akkhāti, pātimokkhaṁ ṭhapeti so.
A monk sees a monk, And another informs him; He just tells him, He cancels the Monastic Code.
Vị tỳ khưu thấy vị tỳ khưu, người khác lại báo cáo điều đó; Chính người ấy nói với vị kia, vị ấy đình chỉ Pātimokkha.
Vuṭṭhāti antarāyena, Rājacoraggudakā ca; Manussaamanussā ca, Vāḷasarīsapā jīvibrahmaṁ.
It breaks up because of a threat, Kings, criminals, fire, and flooding; People, and spirits, Predatory animals, snakes, life, monastic life.
Ra đi vì trở ngại: vua, trộm, lửa, và nước; Người và phi nhân, thú dữ, bò sát, mạng sống, và phạm hạnh.
Dasannamaññatarena, tasmiṁ aññataresu vā; Dhammikādhammikā ceva, yathā maggena jānātha.
By a certain one of the ten, Or some in that; And just legitimate, illegitimate, You should know it according to the same procedure.
Bởi một trong mười điều, ở nơi đó hoặc ở nơi khác; Việc đúng Pháp và không đúng Pháp, hãy biết theo con đường.
Kālabhūtatthasaṁhitaṁ, labhissāmi bhavissati; Kāyavācasikā mettā, bāhusaccaṁ ubhayāni.
Right time, real, beneficial, I will gain, there will be; Bodily and verbal, good will, Learned, both.
Đúng thời, đúng sự thật, liên quan lợi ích, tôi sẽ có được, sẽ trở thành; Thân và khẩu, tâm từ, sự đa văn, và cả hai (giới bổn).
Kālabhūtena saṇhena, atthamettena codaye; Vippaṭisāradhammena, tathā vācā vinodaye.
Appropriate time, with truth, with gentleness, The eighth training rule is finished. Regret, legitimately, Thus speech should be abolished.
Nên khiển trách đúng thời, đúng sự thật, ôn hòa, với lợi ích và tâm từ; Bằng lời nói như vậy, nên xua tan pháp hối tiếc.
Dhammacodacuditassa, vinodeti vippaṭisāro; Karuṇā hitānukampi, vuṭṭhānapurekkhārato.
For the legitimate accuser and the accused, Regret should be abolished; Compassion, benefit, sympathy, Clearing, prioritizing.
Của người khiển trách và bị khiển trách đúng Pháp, sự hối tiếc được xua tan; Do lòng bi, mong lợi ích, thương xót, mong muốn cho ra khỏi tội, và tôn trọng Luật.
Codakassa paṭipatti, sambuddhena pakāsitā; Sacce ceva akuppe ca, cuditasseva dhammatāti.
The practice of the accuser, Was explained by the fully Awakened One; Just truth and composure, Are proper for the accused.”
Pháp thực hành của vị chất vấn, đã được bậc Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết; và trong sự thật, trong sự không tức giận, chính là pháp tánh của vị bị chất vấn.
Pātimokkhaṭṭhapanakkhandhako niṭṭhito.
The chapter on the cancellation of the Monastic Code is finished.
Chương về việc đình chỉ lễ Pātimokkha đã chấm dứt.