- Theravāda Vinayapiṭaka
- Mahāvagga
Bản dịch
Kd 2 — Chương uposatha
2. Uposathakkhandhaka
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, ở núi Gijjhakūṭa. Vào lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo tụ hội lại và giảng pháp vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng. Dân chúng đi đến gần họ để nghe pháp. Họ có lòng mến chuộng, có niềm tin vào các du sĩ ngoại đạo; các du sĩ ngoại đạo có được đồ chúng.
Inda-bh 2~2Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Hiện nay, các du sĩ ngoại đạo tụ hội lại và giảng pháp vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng. Dân chúng đi đến gần họ để nghe pháp. Họ có lòng mến chuộng, có niềm tin vào các du sĩ ngoại đạo; các du sĩ ngoại đạo có được đồ chúng. Hay là các ngài đại đức cũng nên tụ hội vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng?”
Inda-bh 3~3Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với đức Thế Tôn điều này:
Inda-bh 4~4—“Bạch ngài, trường hợp trẫm trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: ‘Hiện nay, các du sĩ ngoại đạo tụ hội lại và giảng pháp vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng. Dân chúng đi đến gần họ để nghe pháp. Họ có lòng mến chuộng, có niềm tin vào các du sĩ ngoại đạo; các du sĩ ngoại đạo có được đồ chúng. Hay là các ngài đại đức cũng nên tụ hội vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng?’ Bạch ngài, tốt đẹp thay các ngài đại đức cũng nên tụ hội vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng.”
Inda-bh 5~5Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 6~6Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tụ hội vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng.”
Inda-bh 7~7Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cho phép tụ hội vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng,” nên sau khi tụ hội vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng, các vị ấy ngồi im lặng. Dân chúng đi đến gần họ để nghe Pháp. Những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử sau khi tụ hội vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng lại ngồi im lặng giống như là các con heo đần độn vậy? Sao các vị đã tụ hội lại mà không chịu giảng Pháp?”
Inda-bh 8~8Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 9~9Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép giảng Pháp sau khi tụ hội vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của mỗi nửa tháng.”
Inda-bh 10~10Khi ấy, đức Thế Tôn trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Hay là ta nên cho phép các vị ấy việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha gồm các điều học đã được ta quy định cho các tỳ khưu, việc ấy sẽ là hành sự Uposatha cho các vị ấy?”
Inda-bh 11~11Sau đó vào lúc chiều tối, đức Thế Tôn đã xuất khỏi thiền tịnh rồi nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, trường hợp ta trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: ‘Hay là ta nên cho phép các vị ấy việc đọc tụng Pātimokkha gồm các điều học đã được ta quy định cho các tỳ khưu, việc ấy sẽ là hành sự Uposatha cho các vị ấy?’ Này các tỳ khưu, ta cho phép đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Và này các tỳ khưu, nên đọc tụng như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
Inda-bh 12~12“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên tiến hành lễ Uposatha, nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Phận sự trước tiên của hội chúng là gì? Các đại đức hãy tuyên bố sự trong sạch rồi tôi sẽ đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Hết thảy tất cả các vị hiện diện (chúng ta) hãy nghiêm chỉnh lắng nghe và hãy chú tâm đến điều ấy. Nếu vị nào có phạm tội, vị ấy nên bày tỏ; vị không có phạm tội thì nên im lặng. Do thái độ im lặng, tôi sẽ nhận biết về các đại đức rằng: ‘(Các vị) được trong sạch.’ Giống như đối với mỗi lần được hỏi đến thì có câu trả lời; tương tợ như thế, trong hội chúng như thế này (câu hỏi) được thông báo đến lần thứ ba. Trong khi đang được thông báo đến lần thứ ba, vị tỳ khưu nào nhớ ra mà không bày tỏ tội đang có thì vị ấy cố tình nói dối. Bạch chư đại đức, việc cố tình nói dối là pháp chướng ngại đã được đức Thế Tôn đề cập đến; do đó, vị tỳ khưu bị phạm tội mà nhớ ra và có ý muốn được trong sạch thì nên bày tỏ ra tội đang có. Bởi vì khi (tội) đã được bày tỏ thì vị ấy sẽ được thoải mái.”
Inda-bh 13~13Pātimokkha: điều này là đầu tiên, điều này là lối đưa vào, điều này là đứng đầu của các thiện pháp, do đó được gọi là “Pātimokkha.”
Inda-bh 14~14Các đại đức: điều này là lời nói quý mến, điều này là lời nói kính trọng, điều này là lời nói có sự tôn kính và có sự phục tùng, tức là “các đại đức.”
Inda-bh 15~15Tôi sẽ đọc tụng: Tôi sẽ chỉ ra, tôi sẽ giảng, tôi sẽ cho biết, tôi sẽ bày ra, tôi sẽ khai triển, tôi sẽ phân tích, tôi sẽ làm rõ ràng, tôi sẽ cho thấy rõ.
Inda-bh 16~16Điều ấy nghĩa là giới bổn Pātimokkha được nói đến.
Inda-bh 17~17Hết thảy tất cả các vị hiện diện: trong hội chúng ấy cho đến các vị trưởng lão, các vị mới tu, hoặc các vị trung niên, các vị này được gọi là “hết thảy tất cả các vị hiện diện.”
Inda-bh 18~18(Chúng ta) hãy nghiêm chỉnh lắng nghe: Sau khi định thần, sau khi chú tâm, sau khi tập trung tất cả tâm ý.
Inda-bh 19~19(Chúng ta) hãy chú tâm: (chúng ta) hãy chăm chú với tâm trú vào một điểm, với tâm không bị xao lãng, với tâm không bị rối loạn.
Inda-bh 20~20Nếu vị nào có phạm tội: Bất cứ tội nào thuộc nhóm năm tội hoặc bất cứ tội nào thuộc nhóm bảy tội của vị trưởng lão, của vị mới tu, hoặc của vị trung niên.
Inda-bh 21~21Vị ấy nên bày tỏ: vị ấy nên sám hối, vị ấy nên khai ra, vị ấy nên làm rõ ràng, vị ấy nên cho thấy rõ ở giữa hội chúng, hoặc ở giữa nhóm, hoặc nơi một cá nhân.
Inda-bh 22~22Không có phạm tội: nghĩa là vị ấy không phạm tội, hoặc là sau khi phạm tội đã được thoát khỏi tội.
Inda-bh 23~23Nên im lặng: nên ưng thuận, không nên phát biểu.
Inda-bh 24~24Tôi sẽ nhận biết rằng: ‘(Các vị) được trong sạch’: Tôi sẽ biết được, tôi sẽ ghi nhận.
Inda-bh 25~25Giống như đối với mỗi lần được hỏi đến thì có câu trả lời: Giống như việc một người được một người khác hỏi thì nên trả lời, tương tợ như thế đối với hội chúng ấy, điều cần được biết là: “Vị ấy hỏi tôi.” Hội chúng như thế này nghĩa là hội chúng các tỳ khưu được nói đến.
Inda-bh 26~26Được thông báo đến lần thứ ba: Được thông báo một lần, được thông báo đến lần thứ nhì, được thông báo đến lần thứ ba.
Inda-bh 27~27(Vị ấy) nhớ ra: (vị ấy) đang biết được, đang nhận ra được.
Inda-bh 28~28Tội đang có: nghĩa là tội đã vi phạm, hoặc là tội sau khi đã vi phạm còn chưa được thoát ra.
Inda-bh 29~29Không bày tỏ: (vị ấy) không sám hối, không khai ra, không làm rõ ràng, không cho thấy rõ ở giữa hội chúng, hoặc ở giữa nhóm, hoặc nơi một cá nhân.
Inda-bh 30~30Vị ấy cố tình nói dối: Là điều gì trong việc cố tình nói dối? Là đã làm điều sai trái.
Inda-bh 31~31Pháp chướng ngại đã được đức Thế Tôn đề cập đến: Chướng ngại của điều gì? Là chướng ngại cho việc chứng đắc sơ thiền, chướng ngại cho việc chứng đắc nhị thiền, chướng ngại cho việc chứng đắc tam thiền, chướng ngại cho việc chứng đắc tứ thiền, chướng ngại cho việc chứng đắc của các thiền, của các sự giải thoát, của các sự thể nhập định, của các sự xuất ly, của các sự ra khỏi (luân hồi), của các sự tịch tịnh, của các thiện pháp.
Inda-bh 32~32Do đó: Vì nguyên nhân ấy.
Inda-bh 33~33(Với) vị nhớ ra được: (Với) vị đang biết được, (với) vị đang nhận ra được.
Inda-bh 34~34Có ý muốn được trong sạch: có sự mong muốn được thoát ra, có sự mong muốn được làm cho trong sạch.
Inda-bh 35~35Tội đang có: nghĩa là tội đã vi phạm, hoặc là tội sau khi đã vi phạm còn chưa được thoát ra.
Inda-bh 36~36Nên bày tỏ ra: Nên được bày tỏ ra ở giữa hội chúng, hoặc ở giữa nhóm, hoặc nơi một cá nhân.
Inda-bh 37~37Bởi vì khi (tội) đã được bày tỏ thì vị ấy sẽ được thoải mái: Thoải mái của điều gì? Là sự thoải mái trong việc chứng đắc sơ thiền, là sự thoải mái trong việc chứng đắc nhị thiền, là sự thoải mái trong việc chứng đắc tam thiền, là sự thoải mái trong việc chứng đắc tứ thiền, là sự thoải mái trong việc chứng đắc của các thiền, của các sự giải thoát, của các sự thể nhập vào các tầng định, của các sự xuất ly, của các sự ra khỏi (luân hồi), của các sự tịch tịnh, của các thiện pháp.
Inda-bh 38~38Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha đã được đức Thế Tôn cho phép” nên đã đọc tụng giới bổn Pātimokkha hàng ngày. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha hàng ngày; vị nào đọc tụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép đọc tụng giới bổn Pātimokkha vào ngày Uposatha.”
Inda-bh 39~39Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha đã được đức Thế Tôn cho phép vào ngày Uposatha” nên đã đọc tụng giới bổn Pātimokkha ba lần trong nửa tháng vào ngày mười bốn, vào ngày mười lăm, và vào ngày thứ tám của nửa tháng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha ba lần trong nửa tháng; vị nào đọc tụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép đọc tụng giới bổn Pātimokkha một lần vào ngày mười bốn hoặc ngày mười lăm của nửa tháng.
Inda-bh 40~40Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đọc tụng giới bổn Pātimokkha theo tập thể, nghĩa là theo từng tập thể riêng của mình. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha theo tập thể, nghĩa là theo từng tập thể riêng của mình; vị nào đọc tụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép hành sự Uposatha hợp nhất.
Inda-bh 41~41Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định ‘hành sự Uposatha hợp nhất,’ vậy sự hợp nhất có phạm vi đến tận đâu, cho đến phạm vi một trú xứ hay toàn bộ trái đất?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép sự hợp nhất cho đến phạm vi một trú xứ.”
Inda-bh 42~42Vào lúc bấy giờ, đại đức Mahākappina ngụ tại Rājagaha, ở Maddakucchi, nơi vườn nai. Khi ấy, đại đức Mahākappina trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Ta nên đi (tham dự) lễ Uposatha hay là không nên đi, ta nên đi (tham dự) hành sự của hội chúng hay là không nên đi, trong khi ta đã được thanh tịnh với sự thanh tịnh tối thượng?”
Inda-bh 43~43Khi ấy, đức Thế Tôn dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đại đức Mahākappina, rồi giống như người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tợ như thế (đức Thế Tôn) đã biến mất tại núi Gijjhakūṭa rồi hiện ra trước mặt đại đức Mahākappina ở Maddakucchi, nơi vườn nai. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Đại đức Mahākappina đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đại đức Mahākappina đã ngồi xuống ở một bên, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Mahākappina điều này:
Inda-bh 44~44—“Này Kappina, có phải ngươi trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: ‘Ta nên đi (tham dự) lễ Uposatha hay là không nên đi, ta nên đi (tham dự) hành sự của hội chúng hay là không nên đi, trong khi ta đã được thanh tịnh với sự thanh tịnh tối thượng?’”—“Bạch ngài, đúng vậy.”—“Nếu các ngươi là những người có Phạm hạnh không tôn trọng, không kính trọng, không quý trọng, không cúng dường lễ Uposatha thì còn ai sẽ tôn trọng, sẽ kính trọng, sẽ quý trọng, sẽ cúng dường lễ Uposatha nữa? Này người có Phạm hạnh, ngươi hãy đi (tham dự) lễ Uposatha, chớ có không đi. Ngươi hãy đi (tham dự) hành sự của hội chúng, chớ có không đi.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Đại đức Mahākappina đã đáp lời đức Thế Tôn.
Inda-bh 45~45Sau đó, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đại đức Mahākappina bằng bài Pháp thoại rồi giống như người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tợ như thế (đức Thế Tôn) đã biến mất trước mặt đại đức Mahākappina ở Maddakucchi nơi vườn nai rồi hiện ra tại núi Gijjhakūṭa.
Inda-bh 46~46Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “‘Đức Thế Tôn đã cho phép sự hợp nhất cho đến phạm vi một trú xứ,’ vậy (phạm vi của) một trú xứ là đến tận đâu?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ấn định ranh giới. Và này các tỳ khưu, nên ấn định như vầy: Trước tiên, các điểm mốc cần được định danh: điểm mốc là ngọn núi, điểm mốc là tảng đá, điểm mốc là khu rừng, điểm mốc là cội cây, điểm mốc là đường đi, điểm mốc là gò mối, điểm mốc là con sông, điểm mốc là vũng nước. Sau khi định danh các điểm mốc, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
Inda-bh 47~47Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các điểm mốc xung quanh (phạm vi) đã được định danh. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ấn định ranh giới với các điểm mốc ấy là (khu vực) đồng cộng trú chung một lễ Uposatha. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các điểm mốc xung quanh (phạm vi) đã được định danh. Hội chúng ấn định ranh giới với các điểm mốc ấy là (khu vực) đồng cộng trú chung một lễ Uposatha. Đại đức nào đồng ý việc ấn định ranh giới với các điểm mốc ấy là (khu vực) đồng cộng trú chung một lễ Uposatha xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Ranh giới với các điểm mốc ấy đã được hội chúng ấn định là (khu vực) đồng cộng trú chung một lễ Uposatha. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 48~48Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cho phép việc ấn định ranh giới” rồi ấn định các ranh giới quá rộng lớn bốn do tuần, năm do tuần, sáu do tuần. Các vị tỳ khưu đi (tham dự) lễ Uposatha đi đến trong khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng, đi đến khi vừa mới được đọc tụng xong, (hoặc) đã trú ngụ ở khoảng giữa (đường đi). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên ấn định ranh giới quá rộng lớn bốn do tuần, năm do tuần, hoặc sáu do tuần; vị nào ấn định thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép ấn định ranh giới tối đa ba do tuần.”
Inda-bh 49~49Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư ấn định ranh giới đến bờ bên kia của dòng sông. Trong khi đi đến lễ Uposatha, các vị tỳ khưu đã bị cuốn trôi đi, các bình bát cũng đã bị cuốn trôi đi, các y cũng đã bị cuốn trôi đi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên ấn định ranh giới đến bờ bên kia của dòng sông; vị nào ấn định thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ở nơi nào có thuyền bè thường trực hoặc có cầu cố định ta cho phép ấn định ranh giới đến bờ bên kia của dòng sông theo hình thức như thế.”
Inda-bh 50~50Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đọc tụng giới bổn Pātimokkha ở dãy phòng. Do không được quy định nên các vị tỳ khưu vãng lai không biết được: “Hôm nay lễ Uposatha sẽ được thực hiện ở đâu?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha ở dãy phòng không được quy định; vị nào đọc tụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện lễ Uposatha sau khi chỉ định nhà hành lễ Uposatha tùy theo hội chúng mong muốn là trú xá, hoặc nhà một mái, hoặc tòa nhà dài, hoặc khu nhà lớn, hoặc hang động. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
Inda-bh 51~51Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định trú xá tên (như vầy) làm nhà hành lễ Uposatha. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định trú xá tên (như vầy) làm nhà hành lễ Uposatha. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định trú xá tên (như vầy) làm nhà hành lễ Uposatha xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Trú xá tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định làm nhà hành lễ Uposatha. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 52~52Vào lúc bấy giờ, trong trú xứ nọ có hai nhà hành lễ Uposatha được chỉ định. Các tỳ khưu tụ hội ở cả hai nơi (nghĩ rằng): “Lễ Uposatha sẽ được thực hiện ở đây. Lễ Uposatha sẽ được thực hiện ở đây.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên chỉ định hai nhà hành lễ Uposatha ở trong một trú xứ; vị nào chỉ định thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép sau khi hủy bỏ một rồi thực hiện lễ Uposatha ở một nơi (còn lại). Và này các tỳ khưu nên hủy bỏ như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
Inda-bh 53~53Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên hủy bỏ nhà hành lễ Uposatha tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng hủy bỏ nhà hành lễ Uposatha tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc hủy bỏ nhà hành lễ Uposatha tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Nhà hành lễ Uposatha tên (như vầy) đã được hội chúng hủy bỏ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 54~54Vào lúc bấy giờ, ở tại trú xứ nọ nhà hành lễ Uposatha được ấn định quá nhỏ. Vào ngày Uposatha, có đại chúng tỳ khưu đã tụ hội lại. Các vị tỳ khưu đã ngồi xuống ở khu vực không được ấn định và nghe giới bổn Pātimokkha. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Lễ Uposatha nên được thực hiện sau khi chỉ định nhà hành lễ Uposatha,’ còn chúng ta đây đã ngồi ở khu vực không được ấn định và nghe giới bổn Pātimokkha, như thế thì lễ Uposatha của chúng ta đã được thực hiện hay đã không được thực hiện?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, vị ngồi ở khu vực đã được ấn định hay không được ấn định và lắng nghe giới bổn Uposatha thì từ chỗ đó lễ Uposatha của vị ấy đã được thực hiện. Này các tỳ khưu, như thế thì hội chúng mong muốn mặt tiền của chỗ hành lễ Uposatha rộng tới mức nào thì hội chúng hãy ấn định mặt tiền của chỗ hành lễ Uposatha rộng tới mức ấy. Và này các tỳ khưu, nên ấn định như vầy: Trước tiên, các điểm mốc cần được định danh. Sau khi định danh các điểm mốc, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
Inda-bh 55~55“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các điểm mốc xung quanh (phạm vi) đã được định danh. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ấn định mặt tiền của chỗ hành lễ Uposatha với các điểm mốc ấy. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các điểm mốc xung quanh (phạm vi) đã được định danh. Hội chúng ấn định mặt tiền của chỗ hành lễ Uposatha với các điểm mốc ấy. Đại đức nào đồng ý việc ấn định mặt tiền của chỗ hành lễ Uposatha với các điểm mốc ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Mặt tiền của chỗ hành lễ Uposatha với các điểm mốc ấy đã được hội chúng ấn định. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 56~56Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha các vị tỳ khưu mới tu đã tụ hội trước tiên (nghĩ rằng): “Các vị trưởng lão vẫn chưa có đến” nên đã bỏ đi. Lễ Uposatha đã bị thiếu sót. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các tỳ khưu trưởng lão tụ hội trước nhất vào ngày lễ Uposatha.”
Inda-bh 57~57Vào lúc bấy giờ, trong thành Rājagaha có nhiều trú xứ là cùng chung ranh giới. Các vị tỳ khưu ở đó tranh cãi rằng: “Lễ Uposatha hãy được thực hiện ở trú xứ của chúng tôi. Lễ Uposatha hãy được thực hiện ở trú xứ của chúng tôi.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, trong trường hợp có nhiều trú xứ là cùng chung ranh giới và các vị tỳ khưu ở đó tranh cãi rằng: “Lễ Uposatha hãy được thực hiện ở trú xứ của chúng tôi. Lễ Uposatha hãy được thực hiện ở trú xứ của chúng tôi.” Này các tỳ khưu, toàn bộ tất cả các tỳ khưu ấy nên tụ hội lại một chỗ rồi thực hiện lễ Uposatha, nơi nào có vị tỳ khưu trưởng lão cư ngụ thì nên tụ hội ở nơi ấy rồi thực hiện lễ Uposatha. Và lễ Uposatha không được thực hiện bởi hội chúng theo phe nhóm; vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 58~58Vào lúc bấy giờ, đại đức Mahākassapa từ Andhakavinda đang đi đến lễ Uposatha ở thành Rājagaha, trên đường đi trong khi vượt qua con sông đã suýt bị nước cuốn trôi. Các y của vị ấy bị ướt. Các tỳ khưu đã nói với đại đức Mahākassapa điều này:—“Thưa ngài, vì sao các y của ngài bị ướt?”—“Này các đại đức, trường hợp tôi từ Andhakavinda đang đi đến lễ Uposatha ở thành Rājagaha, trên đường đi trong khi vượt qua con sông tôi đã suýt bị nước cuốn trôi; vì thế các y của tôi bị ướt.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ranh giới nào đã được hội chúng ấn định là đồng cộng trú chung một lễ Uposatha thì hội chúng nên ấn định ranh giới ấy là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y. Và này các tỳ khưu, nên ấn định như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
Inda-bh 59~59Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Ranh giới nào đã được hội chúng ấn định là đồng cộng trú chung một lễ Uposatha, nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ấn định ranh giới ấy là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Ranh giới nào đã được hội chúng ấn định là đồng cộng trú chung một lễ Uposatha, hội chúng ấn định ranh giới ấy là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y. Đại đức nào đồng ý việc ấn định ranh giới ấy là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Ranh giới ấy đã được hội chúng ấn định là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 60~60Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Sự ấn định về việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y đã được Đức Thế Tôn cho phép” nên để các y trong xóm nhà. Các y ấy bị mất, bị cháy, bị chuột gặm nhấm. Các vị tỳ khưu trở nên ăn mặc bê bối, y phục luộm thuộm. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này các đại đức, vì sao các vị ăn mặc bê bối, y phục luộm thuộm?”—“Này các đại đức, trường hợp chúng tôi (nghĩ rằng): ‘Sự ấn định về việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y đã được Đức Thế Tôn cho phép’ nên đã để các y trong xóm nhà. Các y ấy đã bị mất, đã bị cháy, đã bị chuột gặm nhấm; do đó, chúng tôi trở nên ăn mặc bê bối, y phục luộm thuộm.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ranh giới nào đã được hội chúng ấn định là đồng cộng trú chung một lễ Uposatha thì hội chúng nên ấn định ranh giới ấy là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y, ngoại trừ làng và vùng ven làng. Và này các tỳ khưu, nên ấn định như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
Inda-bh 61~61Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Ranh giới nào đã được hội chúng ấn định là đồng cộng trú chung một lễ Uposatha, nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ấn định ranh giới ấy là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y, ngoại trừ làng và vùng ven làng. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Ranh giới nào đã được hội chúng ấn định là đồng cộng trú chung một lễ Uposatha, hội chúng ấn định ranh giới ấy là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y, ngoại trừ làng và vùng ven làng. Đại đức nào đồng ý việc ấn định ranh giới ấy là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y, ngoại trừ làng và vùng ven làng xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Ranh giới ấy đã được hội chúng ấn định là không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y, ngoại trừ làng và vùng ven làng. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 62~62Này các tỳ khưu, trong khi ấn định ranh giới, trước tiên nên ấn định ranh giới đồng cộng trú, sau đó nên ấn định việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y. Này các tỳ khưu, trong khi hủy bỏ ranh giới, trước tiên nên hủy bỏ việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y, sau đó nên hủy bỏ ranh giới đồng cộng trú. Và này các tỳ khưu, việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y nên được hủy bỏ như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
Inda-bh 63~63Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y nào đã được hội chúng ấn định, nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng hội chúng nên hủy bỏ việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y ấy. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y nào đã được hội chúng ấn định, hội chúng hủy bỏ việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y ấy. Đại đức nào đồng ý sự hủy bỏ việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Việc không (bị phạm tội vì) xa lìa ba y ấy đã được hội chúng hủy bỏ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 64~64Và này các tỳ khưu, ranh giới đồng cộng trú nên được hủy bỏ như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Ranh giới nào đã được hội chúng ấn định là đồng cộng trú chung một lễ Uposatha, nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên hủy bỏ ranh giới ấy. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Ranh giới nào đã được hội chúng ấn định là đồng cộng trú chung một lễ Uposatha, hội chúng hủy bỏ ranh giới đồng cộng trú chung một lễ Uposatha ấy. Đại đức nào đồng ý việc hủy bỏ của ranh giới đồng cộng trú chung một lễ Uposatha ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Ranh giới đồng cộng trú chung một lễ Uposatha ấy đã được hội chúng hủy bỏ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 65~65Này các tỳ khưu, khi ranh giới chưa được ấn định chưa được thiết lập, vị (tỳ khưu) sống nương tựa vào ngôi làng hoặc thị trấn nào, trong trường hợp ấy ranh giới làng của ngôi làng ấy hoặc ranh giới thị trấn của thị trấn ấy là (ranh giới) đồng cộng trú chung một lễ Uposatha.
Inda-bh 66~66Này các tỳ khưu, nếu ở nơi không phải là làng, ở trong rừng, trong trường hợp ấy (khu vực) bảy abbhantara ở xung quanh là (ranh giới) đồng cộng trú chung một lễ Uposatha.
Inda-bh 67~67Này các tỳ khưu, toàn bộ dòng sông không phải là ranh giới, toàn bộ biển cả không phải là ranh giới, toàn bộ hồ thiên nhiên không phải là ranh giới. Này các tỳ khưu, trong dòng sông, trong biển cả, trong hồ thiên nhiên, (khu vực) do việc ném nước ra xung quanh của người đàn ông (có sức mạnh) trung bình là (ranh giới) đồng cộng trú chung một lễ Uposatha trong trường hợp ấy
Inda-bh 68~68Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư làm ranh giới (mới) gối lên ranh giới (đã có). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ranh giới của các vị nào đã được ấn định trước, ranh giới ấy của các vị ấy là đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì. Này các tỳ khưu, ranh giới của các vị nào được ấn định sau, ranh giới ấy của các vị ấy là sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Này các tỳ khưu, không nên làm ranh giới (mới) gối lên ranh giới (đã có); vị nào làm gối lên thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 69~69Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư làm ranh giới (mới) trùm lên ranh giới (đã có). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ranh giới của các vị nào đã được ấn định trước, ranh giới ấy của các vị ấy là đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì. Này các tỳ khưu, ranh giới của các vị nào được ấn định sau, ranh giới ấy của các vị ấy là sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Này các tỳ khưu, không nên làm ranh giới (mới) trùm lên ranh giới (đã có); vị nào làm trùm lên thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị ấn định ranh giới được ấn định ranh giới sau khi đã chừa ra khoảng cách giữa các ranh giới.”
Inda-bh 70~70Sau đó, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Có bao nhiêu lễ Uposatha?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, đây là hai lễ Uposatha: Lễ ngày mười bốn và lễ ngày mười lăm. Này các tỳ khưu, đây là hai lễ Uposatha.”
Inda-bh 71~71Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Có bao nhiêu hành sự Uposatha?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, đây là bốn hành sự Uposatha: Hành sự Uposatha sai Pháp theo phe nhóm, hành sự Uposatha sai Pháp có sự hợp nhất, hành sự Uposatha đúng Pháp theo phe nhóm, hành sự Uposatha đúng Pháp có sự hợp nhất.
Inda-bh 72~72Này các tỳ khưu, trường hợp này tức là hành sự Uposatha sai Pháp theo phe nhóm, này các tỳ khưu, không nên thực hiện hành sự Uposatha có hình thức như thế và hành sự Uposatha có hình thức như thế không được ta cho phép.
Inda-bh 73~73Này các tỳ khưu, trường hợp này tức là hành sự Uposatha sai Pháp có sự hợp nhất, này các tỳ khưu, không nên thực hiện hành sự Uposatha có hình thức như thế và hành sự Uposatha có hình thức như thế không được ta cho phép.
Inda-bh 74~74Này các tỳ khưu, trường hợp này tức là hành sự Uposatha đúng Pháp theo phe nhóm, này các tỳ khưu, không nên thực hiện hành sự Uposatha có hình thức như thế và hành sự Uposatha có hình thức như thế không được ta cho phép.
Inda-bh 75~75Này các tỳ khưu, trường hợp này tức là hành sự Uposatha đúng Pháp có sự hợp nhất, này các tỳ khưu, nên thực hiện hành sự Uposatha có hình thức như thế và hành sự Uposatha có hình thức như thế được ta cho phép. Này các tỳ khưu, do đó ở đây chúng ta sẽ thực hiện hành sự Uposatha có hình thức như thế tức là ‘đúng Pháp có sự hợp nhất.’ Này các tỳ khưu, các ngươi nên học tập theo đúng như thế.”
Inda-bh 76~76Sau đó, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Có bao nhiêu cách đọc tụng giới bổn Pātimokkha?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, đây là năm cách đọc tụng giới bổn Pātimokkha: Sau khi đọc tụng phần mở đầu, nên thông báo phần còn lại bằng cách đã được nghe; đây là cách đọc tụng giới bổn Pātimokkha thứ nhất.
Inda-bh 77~77Sau khi đọc tụng phần mở đầu, sau khi đọc tụng bốn điều pārājika, nên thông báo phần còn lại bằng cách đã được nghe; đây là cách đọc tụng giới bổn Pātimokkha thứ hai.
Inda-bh 78~78Sau khi đọc tụng phần mở đầu, sau khi đọc tụng bốn điều pārājika, sau khi đọc tụng mười ba điều saṅghādisesa, nên thông báo phần còn lại bằng cách đã được nghe; đây là cách đọc tụng giới bổn Pātimokkha thứ ba.
Inda-bh 79~79Sau khi đọc tụng phần mở đầu, sau khi đọc tụng bốn điều pārājika, sau khi đọc tụng mười ba điều saṅghādisesa, sau khi đọc tụng hai điều aniyata, nên thông báo phần còn lại bằng cách đã được nghe; đây là cách đọc tụng giới bổn Pātimokkha thứ tư.
Inda-bh 80~80(Đọc tụng) một cách chi tiết là cách thứ năm. Này các tỳ khưu, đây là năm cách đọc tụng giới bổn Pātimokkha.
Inda-bh 81~81Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cho phép cách đọc tụng giới bổn Pātimokkha một cách tóm tắt” rồi mọi lúc đều đọc tụng giới bổn Pātimokkha một cách tóm tắt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha một cách tóm tắt; vị nào đọc tụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 82~82Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ trong nước Kosala vào ngày Uposatha có sự sợ hãi vì đám lục lâm. Các vị tỳ khưu không thể đọc tụng giới bổn Pātimokkha một cách chi tiết. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đọc tụng giới bổn Pātimokkha một cách tóm tắt khi có sự nguy hiểm.”
Inda-bh 83~83Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư đọc tụng giới bổn Pātimokkha một cách tóm tắt ngay cả khi không có sự nguy hiểm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha một cách tóm tắt khi không có sự nguy hiểm; vị nào đọc tụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép đọc tụng giới bổn Pātimokkha một cách tóm tắt khi có sự nguy hiểm. Đây là mười sự nguy hiểm trong trường hợp ấy: Sự nguy hiểm từ đức vua, sự nguy hiểm vì trộm cướp, sự nguy hiểm vì hỏa hoạn, sự nguy hiểm vì nước ngập, sự nguy hiểm vì loài người, sự nguy hiểm vì phi nhân, sự nguy hiểm vì thú dữ, sự nguy hiểm vì rắn, sự nguy hiểm cho mạng sống, sự nguy hiểm cho Phạm hạnh. Này các tỳ khưu, ta cho phép đọc tụng giới bổn Pātimokkha một cách tóm tắt trong những (trường hợp) nguy hiểm có hình thức như thế và (đọc tụng giới bổn Pātimokkha) một cách chi tiết khi không có sự nguy hiểm.”
Inda-bh 84~84Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư thuyết Pháp ở giữa hội chúng khi không được thỉnh mời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, vị không được thỉnh mời không nên thuyết Pháp ở giữa hội chúng; vị nào thuyết Pháp thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão đích thân thuyết Pháp hoặc thỉnh mời vị khác.”
Inda-bh 85~85Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư khi chưa được chỉ định vẫn hỏi Luật ở giữa hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, vị không được chỉ định không nên hỏi Luật ở giữa hội chúng; vị nào hỏi thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị được chỉ định hỏi Luật ở giữa hội chúng.
Inda-bh 86~86Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Tự mình chỉ định cho chính mình, hoặc người khác chỉ định cho người khác.
Inda-bh 87~87Thế nào là tự mình chỉ định cho chính mình? Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ hỏi vị tên (như vầy) về Luật.”
Như vậy là tự mình chỉ định cho chính mình.
Inda-bh 88~88Thế nào là người khác chỉ định cho người khác? Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, vị tên (như vầy) sẽ hỏi vị tên (như vầy) về Luật.”
Như vậy là người khác chỉ định cho người khác.
Inda-bh 89~89Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu hiền thiện đã được chỉ định rồi hỏi Luật ở giữa hội chúng. Các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư có sự giận dữ, có sự bực bội, hăm dọa hãm hại. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đã được chỉ định quan sát tập thể và cân nhắc từng cá nhân rồi mới hỏi Luật ở giữa hội chúng.”
Inda-bh 90~90Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư trả lời về Luật ở giữa hội chúng dầu không được chỉ định. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, vị không được chỉ định không nên trả lời về Luật ở giữa hội chúng; vị nào trả lời thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đã được chỉ định trả lời về Luật ở giữa hội chúng.
Inda-bh 91~91Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Tự mình chỉ định cho chính mình, hoặc người khác chỉ định cho người khác.
Inda-bh 92~92Thế nào là tự mình chỉ định cho chính mình? Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ trả lời khi được vị tên (như vầy) hỏi về Luật.”
Như vậy là tự mình chỉ định cho chính mình.
Inda-bh 93~93Thế nào là người khác chỉ định cho người khác? Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
—“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, vị tên (như vầy) sẽ trả lời khi được vị tên (như vầy) hỏi về Luật.”
Như vậy là người khác chỉ định cho người khác.
Inda-bh 94~94Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu hiền thiện, đã được chỉ định, trả lời Luật ở giữa hội chúng. Các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư có sự giận dữ, có sự bực bội, hăm dọa hãm hại. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đã được chỉ định quan sát tập thể và cân nhắc từng cá nhân rồi mới trả lời về Luật ở giữa hội chúng.
Inda-bh 95~95Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư buộc tội vị tỳ khưu chưa được thỉnh ý trước. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên buộc tội vị tỳ khưu chưa được thỉnh ý trước; vị nào buộc tội thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc tội sau khi đã thỉnh ý trước rằng: “Này đại đức, hãy cho phép. Tôi muốn nói với ngài.”
Inda-bh 96~96Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu thỉnh ý trước các tỳ khưu nhóm Lục Sư rồi buộc tội. Các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư có sự giận dữ, có sự bực bội, hăm dọa hãm hại. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, mặc dầu đã thỉnh ý rồi, ta cho phép cân nhắc về nhân vật (ấy) rồi mới buộc tội.”
Inda-bh 97~97Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Các vị tỳ khưu hiền thiện (sẽ) thỉnh ý chúng ta trước tiên” liền ngay trước đó (đã) thỉnh ý (để buộc tội) các vị tỳ khưu trong sạch không phạm tội khi không có sự việc, không có nguyên do. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên thỉnh ý (để buộc tội) các vị tỳ khưu trong sạch không phạm tội khi không có sự việc, không có nguyên do; vị nào thỉnh ý thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép cân nhắc về nhân vật (ấy) trước rồi mới thỉnh ý (để buộc tội).”
Inda-bh 98~98Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư thực hiện hành sự sai Pháp ở giữa hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên thực hiện hành sự sai Pháp; vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa.” Các vị vẫn thực hiện hành sự sai Pháp. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.”—“Này các tỳ khưu, trong khi hành sự sai Pháp đang được tiến hành, ta cho phép phản đối.”
Inda-bh 99~99Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu hiền thiện phản đối trong khi hành sự sai Pháp đang được tiến hành bởi các tỳ khưu nhóm Lục Sư. Các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư có sự giận dữ, có sự bực bội, hăm dọa hãm hại. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép bày tỏ quan điểm.” Các vị bày tỏ quan điểm trong sự hiện diện của chính các vị kia. Các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư có sự giận dữ, có sự bực bội, hăm dọa hãm hại. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép phản đối với bốn năm vị, bày tỏ quan điểm với hai ba vị, còn một vị thì khẳng định rằng: “Tôi không đồng ý việc này.”
Inda-bh 100~100Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư trong lúc đọc tụng giới bổn Pātimokkha ở giữa hội chúng cố ý không cho nghe được. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, vị đọc tụng giới bổn Pātimokkha không nên cố ý làm cho không nghe được; vị nào làm cho không nghe được thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 101~101Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi là vị đọc tụng giới bổn Pātimokkha của hội chúng có giọng (nói) như loài quạ. Khi ấy, đại đức Udāyi đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Vị đọc tụng giới bổn Pātimokkha nên làm cho nghe được,’ còn ta có giọng (nói) như loài quạ, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đọc tụng giới bổn Pātimokkha nỗ lực (nghĩ rằng): ‘Bằng cách nào ta có thể làm cho (các vị) nghe được?’ Đối với vị đang nỗ lực thì vô tội.”
Inda-bh 102~102Vào lúc bấy giờ, Devadatta đọc tụng giới bổn Pātimokkha ở hội chúng có sự hiện diện của cư sĩ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha ở hội chúng có sự hiện diện của cư sĩ; vị nào đọc tụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 103~103Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư đọc tụng giới bổn Pātimokkha ở giữa hội chúng dầu không được mời thỉnh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, vị không được mời thỉnh không nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha ở giữa hội chúng; vị nào đọc tụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép giới bổn Pātimokkha là trách nhiệm của vị trưởng lão.”
Dứt tụng phẩm về các ngoại đạo.
Inda-bh 1~104Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến Codanāvatthu. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến Codanāvatthu. Tại nơi ấy, đức Thế Tôn đã trú ngụ ở Codanāvatthu. Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ có nhiều vị tỳ khưu cư ngụ. Ở đó, vị tỳ khưu trưởng lão là ngu dốt thiếu kinh nghiệm. Vị ấy không biết lễ Uposatha, hay là hành sự Uposatha, hay là giới bổn Pātimokkha, hay là việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha.
Inda-bh 2~105Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Giới bổn Pātimokkha là trách nhiệm của vị trưởng lão,’ và vị trưởng lão này của chúng ta thì ngu dốt thiếu kinh nghiệm, không biết lễ Uposatha, hay là hành sự Uposatha, hay là giới bổn Pātimokkha, hay là việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha, vậy chúng ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ở nơi đó vị tỳ khưu nào có kinh nghiệm, đủ năng lực thì giới bổn Pātimokkha là trách nhiệm của vị ấy.”
Inda-bh 3~106Vào lúc bấy giờ, vào ngày lễ Uposatha tại trú xứ nọ có nhiều vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm cư ngụ. Các vị ấy không biết lễ Uposatha, hay là hành sự Uposatha, hay là giới bổn Pātimokkha, hay là việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Các vị ấy đã thỉnh mời vị trưởng lão rằng:—“Thưa ngài, xin trưởng lão hãy đọc tụng giới bổn Pātimokkha.” Vị ấy đã nói như vầy:—“Này các đại đức, tôi không làm được.” Các vị đã thỉnh mời vị trưởng lão thứ nhì:—“Thưa ngài, xin trưởng lão hãy đọc tụng giới bổn Pātimokkha.” Vị ấy cũng đã nói như vầy:—“Này các đại đức, tôi không làm được.” Các vị đã thỉnh mời vị trưởng lão thứ ba:—“Thưa ngài, xin trưởng lão hãy đọc tụng giới bổn Pātimokkha.” Vị ấy cũng đã nói như vầy:—“Này các đại đức, tôi không làm được.” Bằng chính phương thức ấy, các vị đã thỉnh mời đến vị mới tu của hội chúng:—“Xin đại đức hãy đọc tụng giới bổn Pātimokkha.” Vị ấy cũng đã nói như vầy:—“Thưa các ngài, tôi không làm được.”
Inda-bh 4~107Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, trường hợp vào ngày lễ Uposatha tại trú xứ nọ có nhiều vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm cư ngụ. Các vị ấy không biết lễ Uposatha, hay là hành sự Uposatha, hay là giới bổn Pātimokkha, hay là việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Các vị ấy thỉnh mời vị trưởng lão rằng: “Thưa ngài, xin trưởng lão hãy đọc tụng giới bổn Pātimokkha.” Vị ấy nói như vầy: “Này các đại đức, tôi không làm được.” Các vị thỉnh mời đến vị trưởng lão thứ nhì: “Thưa ngài, xin trưởng lão hãy đọc tụng giới bổn Pātimokkha.” Vị ấy cũng nói như vầy: “Này các đại đức, tôi không làm được.” Các vị thỉnh mời đến vị trưởng lão thứ ba: “Thưa ngài, xin trưởng lão hãy đọc tụng giới bổn Pātimokkha.” Vị ấy cũng nói như vầy: “Này các đại đức, tôi không làm được.” Bằng chính phương thức ấy, các vị thỉnh mời đến vị mới tu của hội chúng: “Xin đại đức hãy đọc tụng giới bổn Pātimokkha.” Vị ấy cũng nói như vầy: “Thưa các ngài, tôi không làm được.”
Này các tỳ khưu, ngay trong hôm ấy một vị tỳ khưu nên được các vị tỳ khưu ấy phái đi đến trú xứ lân cận (bảo rằng): “Này đại đức, hãy đi và học thuộc lòng giới bổn Pātimokkha một cách tóm tắt hoặc chi tiết rồi trở về.”
Inda-bh 5~108Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Nên được phái đi bởi vị nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.”—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão ra lệnh cho vị tỳ khưu mới tu.” Được ra lệnh bởi vị trưởng lão, các vị tỳ khưu mới tu vẫn không đi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, khi được ra lệnh bởi vị trưởng lão, vị không bệnh không nên không đi; vị nào không đi thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 6~109Sau đó, khi đã ngự tại Codanāvatthu theo như ý thích đức Thế Tôn đã trở về lại thành Rājagaha. Vào lúc bấy giờ, dân chúng hỏi các vị tỳ khưu đang đi khất thực rằng:—“Thưa ngài, là ngày thứ mấy của nửa tháng?” Các vị tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này các đạo hữu, chúng tôi không biết.” Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Các Sa-môn Thích tử này không biết đến việc tính toán (ngày) của nửa tháng thì những người này còn biết được điều tốt đẹp gì khác nữa đây?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép học cách tính toán (ngày) của nửa tháng.” Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Vị nào nên học cách tính toán (ngày) của nửa tháng?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép toàn bộ tất cả đều học cách tính toán (ngày) của nửa tháng.”
Inda-bh 7~110Vào lúc bấy giờ, dân chúng hỏi các vị tỳ khưu đang đi khất thực rằng:—“Thưa ngài, có đến bao nhiêu vị tỳ khưu?” Các vị tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này các đạo hữu, chúng tôi không biết.” Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Các Sa-môn Thích tử này không biết lẫn nhau thì những người này còn biết được điều tốt đẹp gì khác nữa đây?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đếm số các vị tỳ khưu.” Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Khi nào thì nên đếm số các vị tỳ khưu?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha ta cho phép hoặc là đếm số bằng cách gọi tên, hoặc là cho rút thẻ.”
Inda-bh 8~111Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu không biết: “Hôm nay là ngày lễ Uposatha” nên đi khất thực ở làng xa. Các vị ấy trở lại trong khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng, trở lại khi giới bổn Pātimokkha vừa mới đọc tụng xong. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thông báo: ‘Hôm nay là ngày lễ Uposatha.’” Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Nên được thông báo bởi vị nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão thông báo vào sáng sớm.”
Inda-bh 9~112Vào lúc bấy giờ, có vị trưởng lão nọ vào sáng sớm đã không nhớ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thông báo vào lúc thọ thực.” Ngay cả vào lúc thọ thực, vị ấy cũng đã không nhớ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép lúc nào nhớ thì thông báo vào lúc ấy.”
Inda-bh 10~113Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ nhà hành lễ Uposatha bị rác rến. Các tỳ khưu vãng lai phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu lại không quét nhà hành lễ Uposatha?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép quét nhà hành lễ Uposatha.” Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Vị nào nên quét nhà hành lễ Uposatha?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão ra lệnh cho vị tỳ khưu mới tu.” Được ra lệnh bởi vị trưởng lão, các vị tỳ khưu mới tu vẫn không quét. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, khi được ra lệnh bởi vị trưởng lão, vị không bệnh không nên không quét; vị nào không quét thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 11~114Vào lúc bấy giờ, chỗ ngồi không được xếp đặt trong nhà hành lễ Uposatha. Các tỳ khưu ngồi trên nền nhà. Các phần thân thể và các y bị dơ bẩn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xếp đặt chỗ ngồi trong nhà hành lễ Uposatha.” Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Vị nào nên xếp đặt chỗ ngồi trong nhà hành lễ Uposatha?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão ra lệnh cho vị tỳ khưu mới tu.” Được ra lệnh bởi vị trưởng lão, các vị tỳ khưu mới tu vẫn không xếp đặt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, khi được ra lệnh bởi vị trưởng lão, vị không bệnh không nên không xếp đặt; vị nào không xếp đặt thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 12~115Vào lúc bấy giờ, trong nhà hành lễ Uposatha không có đèn. Trong bóng tối, các vị tỳ khưu đạp nhầm cơ thể và luôn cả y nữa. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thắp sáng đèn trong nhà hành lễ Uposatha.” Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Vị nào nên thắp sáng đèn trong nhà hành lễ Uposatha?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão ra lệnh cho vị tỳ khưu mới tu.” Được ra lệnh bởi vị trưởng lão, các vị tỳ khưu mới tu vẫn không thắp sáng đèn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, khi được ra lệnh bởi vị trưởng lão, vị không bệnh không nên không thắp sáng đèn; vị nào không thắp sáng đèn thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 13~116Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ các tỳ khưu thường trú không cung ứng nước uống, không cung ứng nước rửa. Các tỳ khưu vãng lai phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu thường trú lại không cung ứng nước uống, không cung ứng nước rửa?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép cung ứng nước uống, nước rửa.” Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Vị nào nên cung ứng nước uống, nước rửa?”
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão ra lệnh cho vị tỳ khưu mới tu.” Được ra lệnh bởi vị trưởng lão, các vị tỳ khưu mới tu vẫn không cung ứng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, khi được ra lệnh bởi vị trưởng lão, vị không bệnh không nên không cung ứng; vị nào không cung ứng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 14~117Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu ngu dốt, thiếu kinh nghiệm lên đường đi xa đã không xin phép các vị thầy tế độ và thầy dạy học. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, trường hợp nhiều vị tỳ khưu ngu dốt, thiếu kinh nghiệm lên đường đi xa không xin phép các vị thầy tế độ và thầy dạy học. Này các tỳ khưu, các vị thầy tế độ và thầy dạy học nên hỏi các vị ấy rằng: “Các ngươi sẽ đi đâu? Các ngươi sẽ đi với ai?”
Inda-bh 15~118Này các tỳ khưu, nếu các vị ngu dốt, thiếu kinh nghiệm ấy nêu ra các vị ngu dốt, thiếu kinh nghiệm khác, này các tỳ khưu, các vị thầy tế độ và thầy dạy học không nên cho phép; nếu các vị cho phép thì phạm tội dukkaṭa. Và này các tỳ khưu, (nếu) các vị ngu dốt, thiếu kinh nghiệm ấy không được các vị thầy tế độ và thầy dạy học cho phép mà vẫn đi thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 16~119Này các tỳ khưu, trường hợp nhiều vị tỳ khưu ngu dốt, thiếu kinh nghiệm sống tại trú xứ nọ. Các vị ấy không biết lễ Uposatha, hay là hành sự Uposatha, hay là giới bổn Pātimokkha, hay là việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Nơi ấy có vị tỳ khưu khác đi đến là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nọ nên được các vị tỳ khưu ấy tiếp đón nồng hậu, nên được quan tâm, nên được chăm sóc, nên được cung ứng bột tắm, đất sét (để tắm), gỗ chà răng, nước rửa mặt. Nếu các vị không tiếp đón nồng hậu, quan tâm, chăm sóc, cung ứng bột tắm, đất sét (để tắm), gỗ chà răng, nước rửa mặt thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 17~120Này các tỳ khưu, trường hợp nhiều vị tỳ khưu ngu dốt, thiếu kinh nghiệm sống tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha. Các vị ấy không biết lễ Uposatha, hay là hành sự Uposatha, hay là giới bổn Pātimokkha, hay là việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy ngay trong hôm ấy nên phái một vị tỳ khưu đi đến trú xứ lân cận (bảo rằng): “Này đại đức, hãy đi và học thuộc lòng giới bổn Pātimokkha một cách tóm tắt hoặc chi tiết rồi trở về.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Này các tỳ khưu, nếu không đạt được (như thế) thì nơi nào có các vị biết về lễ Uposatha, hay là hành sự Uposatha, hay là giới bổn Pātimokkha, hay là việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha, toàn bộ tất cả các vị tỳ khưu ấy nên đi đến trú xứ ấy; nếu các vị không đi thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 18~121Này các tỳ khưu, trường hợp nhiều vị tỳ khưu ngu dốt, thiếu kinh nghiệm cư trú mùa mưa tại trú xứ nọ. Các vị ấy không biết lễ Uposatha, hay là hành sự Uposatha, hay là giới bổn Pātimokkha, hay là việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy ngay trong hôm ấy nên phái một vị tỳ khưu đi đến trú xứ lân cận (bảo rằng): “Này đại đức, hãy đi và học thuộc lòng giới bổn Pātimokkha một cách tóm tắt hoặc chi tiết rồi trở về.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Này các tỳ khưu, nếu không đạt được (như thế) thì nên phái đi một vị tỳ khưu trong thời hạn bảy ngày (bảo rằng): “Này đại đức, hãy đi và học thuộc lòng giới bổn Pātimokkha một cách tóm tắt hoặc chi tiết rồi trở về.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Này các tỳ khưu, nếu không đạt được (như thế) thì các tỳ khưu ấy không nên cư trú mùa mưa tại trú xứ ấy. Nếu các vị ấy cư trú thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 19~122Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, hãy tụ hội lại, hội chúng sẽ thực hiện lễ Uposatha.” Khi được nói như thế, có vị tỳ khưu nọ đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, có vị tỳ khưu bị bệnh. Vị ấy không đến.”—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu bị bệnh được trao ra sự trong sạch. Và này các tỳ khưu, nên trao ra như vầy: Vị tỳ khưu bị bệnh ấy nên đi đến gặp một vị tỳ khưu, nên đắp thượng y một bên vai, nên ngồi chồm hổm, chắp tay lên và nên nói như vầy: “Tôi xin trao ra sự trong sạch. Hãy chuyển đạt sự trong sạch của tôi. Hãy thông báo về sự trong sạch của tôi.” (Nếu) vị ấy thể hiện bằng thân, thể hiện bằng lời nói, thể hiện bằng thân và lời nói, thì sự trong sạch đã được trao ra. (Nếu) vị ấy không thể hiện bằng thân, không thể hiện bằng lời nói, không thể hiện bằng thân và lời nói, thì sự trong sạch đã không được trao ra. Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Này các tỳ khưu, nếu không đạt được (như thế) thì nên dùng cái giường hoặc cái ghế khiêng vị tỳ khưu bị bệnh ấy đến giữa hội chúng rồi thực hiện lễ Uposatha. Này các tỳ khưu, nếu các vị tỳ khưu chăm sóc bệnh khởi ý như vầy: “Nếu chúng ta di chuyển vị bị bệnh dời khỏi vị trí thì bệnh sẽ trầm trọng hơn, hoặc sẽ gây tử vong,” này các tỳ khưu, không nên di chuyển vị bị bệnh khỏi vị trí. Hội chúng nên đi đến và thực hiện lễ Uposatha ở nơi ấy. Nhưng không nên thực hiện lễ Uposatha bởi hội chúng theo phe nhóm; vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 20~123Này các tỳ khưu, khi sự trong sạch đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự trong sạch từ chính chỗ ấy ra đi (đến nơi khác) thì sự trong sạch nên được trao ra đến vị khác. Này các tỳ khưu, khi sự trong sạch đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự trong sạch ngay tại chỗ ấy hoàn tục, từ trần, được biết là vị (xuống lại) sa di, được biết là người đã từ bỏ điều học, được biết là vị phạm tội cực nặng, được biết là vị bị điên, được biết là bị loạn trí, được biết là bị thọ khổ hành hạ, được biết là vị bị án treo trong việc không nhìn nhận tội, được biết là vị bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi, được biết là vị bị án treo trong việc không chịu từ bỏ tà kiến ác, được biết là kẻ vô căn, được biết là kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu), được biết là kẻ đã chuyển sang ngoại đạo, được biết là loài thú, được biết là kẻ giết mẹ, được biết là kẻ giết cha, được biết là kẻ giết A-la-hán, được biết là kẻ làm nhơ tỳ khưu ni, được biết là kẻ chia rẽ hội chúng, được biết là kẻ làm chảy máu (đức Phật), được biết là kẻ lưỡng căn thì sự trong sạch nên được trao ra đến vị khác.
Inda-bh 21~124Này các tỳ khưu, khi sự trong sạch đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự trong sạch ở khoảng giữa đường lại ra đi (đến nơi khác) thì sự trong sạch vẫn chưa được chuyển đạt. Này các tỳ khưu, khi sự trong sạch đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự trong sạch ở khoảng giữa đường lại hoàn tục, từ trần, … (như trên) … được biết là kẻ lưỡng căn thì sự trong sạch vẫn chưa được chuyển đạt.
Inda-bh 22~125Này các tỳ khưu, khi sự trong sạch đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự trong sạch đã đến được hội chúng rồi ra đi (đến nơi khác) thì sự trong sạch đã được chuyển đạt. Này các tỳ khưu, khi sự trong sạch đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự trong sạch đã đến được hội chúng rồi hoàn tục, từ trần, … (như trên) … được biết là kẻ lưỡng căn thì sự trong sạch đã được chuyển đạt.
Inda-bh 23~126Này các tỳ khưu, khi sự trong sạch đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự trong sạch đã đến được hội chúng rồi ngủ quên nên không thông báo, rồi lơ đễnh nên không thông báo, rồi nhập định nên không thông báo thì sự trong sạch đã được chuyển đạt. Vị chuyển đạt sự trong sạch không bị phạm tội.
Inda-bh 24~127Này các tỳ khưu, khi sự trong sạch đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự trong sạch đã đến được hội chúng rồi cố ý không thông báo thì sự trong sạch đã được chuyển đạt, và vị chuyển đạt sự trong sạch bị phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 25~128Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, hãy tụ hội lại, hội chúng sẽ thực hiện hành sự.” Khi được nói như thế, có vị tỳ khưu nọ đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, có vị tỳ khưu bị bệnh. Vị ấy không đến.”—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu bị bệnh được trao ra sự tùy thuận. Và này các tỳ khưu, nên trao ra như vầy: Vị tỳ khưu bị bệnh ấy nên đi đến gặp một vị tỳ khưu, nên đắp thượng y một bên vai, nên ngồi chồm hổm, chắp tay lên và nên nói như vầy: “Tôi xin trao ra sự tùy thuận. Hãy chuyển đạt sự tùy thuận của tôi. Hãy thông báo về sự tùy thuận của tôi.” (Nếu) vị ấy thể hiện bằng thân, thể hiện bằng lời nói, thể hiện bằng thân và lời nói, thì sự tùy thuận đã được trao ra. (Nếu) vị ấy không thể hiện bằng thân, không thể hiện bằng lời nói, không thể hiện bằng thân và lời nói, thì sự tùy thuận đã không được trao ra. Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Này các tỳ khưu, nếu không đạt được (như thế) thì nên dùng cái giường hoặc cái ghế khiêng vị tỳ khưu bị bệnh ấy đến giữa hội chúng rồi thực hiện hành sự. Này các tỳ khưu, nếu các vị tỳ khưu chăm sóc bệnh khởi ý như vầy: “Nếu chúng ta di chuyển vị bị bệnh dời khỏi chỗ thì bệnh sẽ trầm trọng hơn hoặc sẽ gây tử vong,” này các tỳ khưu, không nên di chuyển vị bị bệnh dời khỏi chỗ. Hội chúng nên đi đến và thực hiện hành sự ở nơi ấy. Nhưng không nên thực hiện hành sự bởi hội chúng theo phe nhóm; vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 26~129Này các tỳ khưu, khi sự tùy thuận đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự tùy thuận từ chính chỗ ấy ra đi (đến nơi khác) thì sự tùy thuận nên được trao ra đến vị khác. Này các tỳ khưu, khi sự tùy thuận đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự tùy thuận ngay tại chỗ ấy hoàn tục, từ trần, được biết là vị (xuống lại) sa di, được biết là người đã từ bỏ điều học, được biết là vị phạm tội cực nặng, được biết là vị bị điên, được biết là bị loạn trí, được biết là bị thọ khổ hành hạ, được biết là vị bị án treo trong việc không nhìn nhận tội, được biết là vị bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi, được biết là vị bị án treo trong việc không chịu từ bỏ tà kiến ác, được biết là kẻ vô căn, được biết là kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu), được biết là kẻ đã chuyển sang ngoại đạo, được biết là loài thú, được biết là kẻ giết mẹ, được biết là kẻ giết cha, được biết là kẻ giết A-la-hán, được biết là kẻ làm nhơ tỳ khưu ni, được biết là kẻ chia rẽ hội chúng, được biết là kẻ làm chảy máu (đức Phật), được biết là kẻ lưỡng căn thì sự tùy thuận nên được trao ra đến vị khác.
Inda-bh 27~130Này các tỳ khưu, khi sự tùy thuận đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự tùy thuận ở khoảng giữa đường lại ra đi (đến nơi khác) thì sự tùy thuận vẫn chưa được chuyển đạt. Này các tỳ khưu, khi sự tùy thuận đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự tùy thuận ở khoảng giữa đường lại hoàn tục, từ trần, … (như trên) … được biết là kẻ lưỡng căn thì sự tùy thuận vẫn chưa được chuyển đạt.
Inda-bh 28~131Này các tỳ khưu, khi sự tùy thuận đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự tùy thuận đã đến được hội chúng rồi ra đi (đến nơi khác) thì sự tùy thuận đã được chuyển đạt. Này các tỳ khưu, khi sự tùy thuận đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự tùy thuận đã đến được hội chúng rồi hoàn tục, từ trần, … (như trên) … được biết là kẻ lưỡng căn thì sự tùy thuận đã được chuyển đạt.
Inda-bh 29~132Này các tỳ khưu, khi sự tùy thuận đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự tùy thuận đã đến được hội chúng rồi ngủ quên nên không thông báo, rồi lơ đễnh nên không thông báo, rồi nhập định nên không thông báo thì sự tùy thuận đã được chuyển đạt. Vị chuyển đạt sự tùy thuận không bị phạm tội.
Inda-bh 30~133Này các tỳ khưu, khi sự tùy thuận đã được trao ra, nếu vị chuyển đạt sự tùy thuận đã đến được hội chúng rồi cố ý không thông báo thì sự tùy thuận đã được chuyển đạt và vị chuyển đạt sự tùy thuận bị phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép vào ngày lễ Uposatha vị trao ra sự trong sạch (đồng thời) trao ra sự tùy thuận (phòng khi) hội chúng có hành sự cần được thực hiện.”
Inda-bh 31~134Vào lúc bấy giờ, nhằm ngày lễ Uposatha các thân quyến đã nắm giữ lại vị tỳ khưu nọ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, trường hợp vào ngày lễ Uposatha các thân quyến nắm giữ vị tỳ khưu lại. Các thân quyến ấy nên được các tỳ khưu nói như vầy: “Này các ngài, các ngài hãy trả tự do cho vị tỳ khưu này trong chốc lát đến khi nào vị tỳ khưu này thực hiện lễ Uposatha xong.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không đạt được (như thế), các thân quyến ấy nên được các tỳ khưu nói như vầy: “Này các ngài, các ngài hãy tránh sang một bên trong chốc lát đến khi nào vị tỳ khưu này trao ra sự trong sạch xong.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không đạt được (như thế), các thân quyến ấy nên được các tỳ khưu nói như vầy: “Này các ngài, các ngài hãy dẫn vị tỳ khưu này ra khỏi ranh giới trong chốc lát đến khi nào hội chúng thực hiện lễ Uposatha xong.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không đạt được (như thế), vẫn không nên thực hiện lễ Uposatha bởi hội chúng theo phe nhóm; vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 32~135Này các tỳ khưu, trường hợp vào ngày lễ Uposatha các đức vua nắm giữ vị tỳ khưu lại. … (như trên) … Các kẻ trộm cướp nắm giữ … (như trên) … Những kẻ bất lương nắm giữ … (như trên) … Những kẻ đối nghịch tỳ khưu nắm giữ vị tỳ khưu lại. Những kẻ đối nghịch tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nói như vầy: “Này các ngài, các ngài hãy trả tự do cho vị tỳ khưu này trong chốc lát đến khi nào vị tỳ khưu này thực hiện lễ Uposatha xong.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không đạt được (như thế), những kẻ đối nghịch tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nói như vầy: “Này các ngài, các ngài hãy tránh sang một bên trong chốc lát đến khi nào vị tỳ khưu này trao ra sự trong sạch xong.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không thể đạt được (như thế), những kẻ đối nghịch tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nói như vầy: “Này các ngài, các ngài hãy dẫn vị tỳ khưu này ra khỏi ranh giới trong chốc lát đến khi nào hội chúng thực hiện lễ Uposatha xong.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không thể đạt được (như thế), vẫn không nên thực hiện lễ Uposatha bởi hội chúng theo phe nhóm; vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 33~136Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, hãy tụ hội lại, hội chúng có việc cần phải làm.” Khi được nói như thế, có vị tỳ khưu nọ đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, có vị tỳ khưu tên Gagga bị điên. Vị ấy không đến.”
Inda-bh 34~137—“Này các tỳ khưu, đây là hai trường hợp bị điên. Có vị tỳ khưu điên có khi nhớ đến lễ Uposatha có khi không nhớ, có khi nhớ đến hành sự của hội chúng có khi không nhớ; và có vị hoàn toàn không nhớ. (Có vị) có khi đi đến lễ Uposatha có khi không đi đến, có khi đi đến hành sự của hội chúng có khi không đi đến; và có vị không bao giờ đi đến.
Inda-bh 35~138Này các tỳ khưu, trường hợp vị bị điên nào có khi nhớ đến lễ Uposatha có khi không nhớ, có khi nhớ đến hành sự của hội chúng có khi không nhớ, có khi đi đến lễ Uposatha có khi không đi đến, có khi đi đến hành sự của hội chúng có khi không đi đến; này các tỳ khưu, ta cho phép ban cho sự đồng ý về bệnh điên đến vị bị điên có hình thức như thế. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
Inda-bh 36~139“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Gagga này bị điên có khi nhớ đến lễ Uposatha có khi không nhớ, có khi nhớ đến hành sự của hội chúng có khi không nhớ, có khi đi đến lễ Uposatha có khi không đi đến, có khi đi đến hành sự của hội chúng có khi không đi đến. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho sự đồng ý về bệnh điên đến tỳ khưu Gagga là vị bị điên ― vị tỳ khưu Gagga có thể nhớ đến lễ Uposatha hoặc có thể không nhớ, có thể nhớ đến hành sự của hội chúng hoặc có thể không nhớ, có thể đi đến lễ Uposatha hoặc có thể không đi đến, có thể đi đến hành sự của hội chúng hoặc có thể không đi đến ― hội chúng dầu có Gagga hay không có Gagga vẫn có thể thực hiện lễ Uposatha, vẫn có thể thực hiện hành sự của hội chúng. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Gagga này bị điên có khi nhớ đến lễ Uposatha có khi không nhớ, có khi nhớ đến hành sự của hội chúng có khi không nhớ, có khi đi đến lễ Uposatha có khi không đi đến, có khi đi đến hành sự của hội chúng có khi không đi đến. Hội chúng ban cho sự đồng ý về bệnh điên đến tỳ khưu Gagga là vị bị điên ― vị tỳ khưu Gagga có thể nhớ đến lễ Uposatha hoặc có thể không nhớ, có thể nhớ đến hành sự của hội chúng hoặc có thể không nhớ, có thể đi đến lễ Uposatha hoặc có thể không đi đến, có thể đi đến hành sự của hội chúng hoặc có thể không đi đến ― hội chúng dầu có Gagga hay không có Gagga sẽ thực hiện lễ Uposatha, sẽ thực hiện hành sự của hội chúng. Đại đức nào đồng ý việc ban cho sự đồng ý về bệnh điên đến tỳ khưu Gagga là vị bị điên ― vị tỳ khưu Gagga có thể nhớ đến lễ Uposatha hoặc có thể không nhớ, có thể nhớ đến hành sự của hội chúng hoặc có thể không nhớ, có thể đi đến lễ Uposatha hoặc có thể không đi đến, có thể đi đến hành sự của hội chúng hoặc có thể không đi đến ― hội chúng dầu có Gagga hay không có Gagga sẽ thực hiện lễ Uposatha, sẽ thực hiện hành sự của hội chúng xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Inda-bh 38~140Sự đồng ý về bệnh điên đã được hội chúng ban đến tỳ khưu Gagga là vị bị điên ― vị tỳ khưu Gagga có thể nhớ đến lễ Uposatha hoặc có thể không nhớ, có thể nhớ đến hành sự của hội chúng hoặc có thể không nhớ, có thể đi đến lễ Uposatha hoặc có thể không đi đến, có thể đi đến hành sự của hội chúng hoặc có thể không đi đến ― hội chúng dầu có Gagga hay không có Gagga sẽ thực hiện lễ Uposatha, sẽ thực hiện hành sự của hội chúng. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 39~141Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có bốn vị tỳ khưu cư ngụ. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Nên thực hiện lễ Uposatha’ và chúng ta là bốn người, vậy chúng ta nên thực hiện lễ Uposatha như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đọc tụng giới bổn Pātimokkha đối với bốn vị.”
Inda-bh 40~142Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có ba vị tỳ khưu cư ngụ. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã cho phép đọc tụng giới bổn Pātimokkha đối với bốn vị và chúng ta là ba người, vậy chúng ta nên thực hiện lễ Uposatha như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện lễ Uposatha—bày tỏ sự trong sạch đối với ba vị. Và này các tỳ khưu, nên thực hiện như vầy: Các vị tỳ khưu ấy cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
Inda-bh 41~143“Xin các đại đức hãy lắng nghe tôi, hôm nay là ngày lễ Uposatha (vào ngày mười lăm). Nếu là thời điểm thích hợp cho các đại đức, chúng ta nên thực hiện lễ Uposatha—bày tỏ sự trong sạch (với nhau).” Vị tỳ khưu trưởng lão nên đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với các vị tỳ khưu ấy như vầy: “Này các sư đệ, tôi được trong sạch, các vị hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’ Này các sư đệ, tôi được trong sạch, các vị hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’ Này các sư đệ, tôi được trong sạch, các vị hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’”
Inda-bh 42~144Vị tỳ khưu mới tu nên đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với các vị tỳ khưu ấy như vầy: “Bạch các ngài, tôi được trong sạch, các vị hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’ Bạch các ngài, tôi được trong sạch, các vị hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’ Bạch các ngài, tôi được trong sạch, các vị hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’”
Inda-bh 43~145Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có hai vị tỳ khưu cư ngụ. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã cho phép đọc tụng giới bổn Pātimokkha đối với bốn vị, (cho phép) thực hiện lễ Uposatha—bày tỏ sự trong sạch đối với ba vị, và chúng ta là hai người, vậy chúng ta nên thực hiện lễ Uposatha như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện lễ Uposatha—bày tỏ sự trong sạch đối với hai vị. Và này các tỳ khưu, nên thực hiện như vầy: Vị tỳ khưu trưởng lão nên đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với vị tỳ khưu mới tu như vầy: “Này sư đệ, tôi được trong sạch, sư đệ hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’ Này sư đệ, tôi được trong sạch, sư đệ hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’ Này sư đệ, tôi được trong sạch, sư đệ hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’”
Inda-bh 44~146Vị tỳ khưu mới tu nên đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với vị tỳ khưu trưởng lão như vầy: “Bạch ngài, tôi được trong sạch, ngài hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’ Bạch ngài, tôi được trong sạch, ngài hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’ Bạch ngài, tôi được trong sạch, ngài hãy ghi nhận về tôi: ‘Là vị trong sạch.’”
Inda-bh 45~147Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có một vị tỳ khưu cư ngụ. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã cho phép đọc tụng giới bổn Pātimokkha đối với bốn vị, (cho phép) thực hiện lễ Uposatha—bày tỏ sự trong sạch đối với ba vị, (cho phép) thực hiện lễ Uposatha—bày tỏ sự trong sạch đối với hai vị và ta chỉ có một mình, vậy ta nên thực hiện lễ Uposatha như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 46~148—“Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có một vị tỳ khưu cư ngụ. Này các tỳ khưu, chỗ nào các vị tỳ khưu thường quay trở về là ở giảng đường, hoặc ở mái che, hoặc ở gốc cây, vị tỳ khưu ấy nên quét khu vực ấy, nên đem lại nước uống, nước rửa, nên sắp đặt chỗ ngồi, nên thắp sáng đèn, rồi nên ngồi xuống. Nếu có các tỳ khưu khác đi đến thì nên thực hiện lễ Uposatha với các vị ấy; nếu không có ai đi đến thì nên chú nguyện rằng: “Hôm nay là lễ Uposatha của tôi;” nếu không chú nguyện thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 47~149Này các tỳ khưu, trường hợp ở nơi có bốn vị tỳ khưu cư ngụ, không nên chuyển đạt sự trong sạch của một vị rồi đọc tụng giới bổn Pātimokkha bởi ba vị; nếu các vị đọc tụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, trường hợp ở nơi có ba vị tỳ khưu cư ngụ, không nên chuyển đạt sự trong sạch của một vị rồi thực hiện lễ Uposatha—bày tỏ sự trong sạch bởi hai vị; nếu các vị thực hiện thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, trường hợp ở nơi có hai vị tỳ khưu cư ngụ, không nên chuyển đạt sự trong sạch của một vị rồi chú nguyện bởi một vị; nếu chú nguyện thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 48~150Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị phạm tội vào ngày lễ Uposatha. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Vị bị phạm tội không nên tiến hành lễ Uposatha’ và ta thì bị phạm tội, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 49~151—“Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu bị phạm tội vào ngày lễ Uposatha. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến gặp một vị tỳ khưu, nên đắp thượng y một bên vai, nên ngồi chồm hổm, nên chắp tay lên, và nên nói như vầy:—“Bạch đại đức, tôi đã phạm tội tên (như vầy), tôi xin sám hối tội ấy.” Vị kia nên nói rằng:—“(Đại đức) có thấy (tội ấy) không?”—“Thưa có, tôi thấy.”—“(Đại đức) hãy thu thúc trong tương lai.”
Inda-bh 50~152Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu có nghi ngờ về sự phạm tội vào ngày lễ Uposatha. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến gặp một vị tỳ khưu, nên đắp thượng y một bên vai, nên ngồi chồm hổm, nên chắp tay lên, và nên nói như vầy:—“Bạch đại đức, tôi có nghi ngờ về sự phạm (một) tội tên (như vầy), khi nào tôi dứt khỏi hoài nghi khi ấy tôi sẽ sửa chữa tội ấy.” Nói xong thì lễ Uposatha nên được tiến hành, nên lắng nghe giới bổn Pātimokkha, nhưng không nên làm chướng ngại cho lễ Uposatha chỉ vì nguyên nhân ấy.”
Inda-bh 51~153Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư sám hối tội (đã phạm) giống nhau. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không được sám hối tội (đã phạm) giống nhau; vị nào sám hối thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 52~154Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư ghi nhận tội (đã phạm) giống nhau. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không được ghi nhận tội (đã phạm) giống nhau; vị nào ghi nhận thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 53~155Vào lúc bấy giờ, trong lúc giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng có vị tỳ khưu nọ nhớ ra tội. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Vị bị phạm tội không nên tiến hành lễ Uposatha’ và ta thì bị phạm tội, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 54~156—“Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu nhớ ra tội trong lúc giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên nói với vị tỳ khưu bên cạnh như vầy: “Bạch đại đức, tôi đã phạm tội tên (như vầy), sau khi đứng dậy khỏi đây tôi sẽ sửa chữa tội ấy.” Nói xong, thì lễ Uposatha nên được tiến hành, nên lắng nghe giới bổn Pātimokkha, nhưng không nên làm chướng ngại cho lễ Uposatha chỉ vì nguyên nhân ấy.
Inda-bh 55~157Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu có nghi ngờ về sự phạm tội trong lúc giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên nói với vị tỳ khưu bên cạnh như vầy: “Bạch đại đức, tôi có nghi ngờ về sự phạm (một) tội tên (như vầy), khi nào tôi dứt khỏi hoài nghi khi ấy tôi sẽ sửa chữa tội ấy.” Nói xong, thì lễ Uposatha nên được tiến hành, nên lắng nghe giới bổn Pātimokkha, nhưng không nên làm chướng ngại cho lễ Uposatha chỉ vì nguyên nhân ấy.”
Inda-bh 56~158Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha toàn bộ hội chúng đã phạm tội giống nhau. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sám hối tội (đã phạm) giống nhau, không nên ghi nhận tội (đã phạm) giống nhau’ và toàn bộ hội chúng này đã phạm tội giống nhau, vậy chúng ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 57~159—“Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha toàn bộ hội chúng đã phạm tội giống nhau. Này các tỳ khưu, ngay trong hôm ấy các vị tỳ khưu ấy nên phái một vị tỳ khưu đi đến trú xứ lân cận (bảo rằng): “Này đại đức, hãy đi và sau khi sửa chữa tội ấy hãy quay trở về, chúng tôi sẽ sửa chữa lại tội ấy trong sự hiện diện của đại đức.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Này các tỳ khưu, nếu không đạt được (như thế) thì hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
Inda-bh 58~160“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Toàn bộ hội chúng này đã phạm tội giống nhau, khi nào (hội chúng) nhìn thấy vị tỳ khưu khác trong sạch không phạm tội khi ấy (hội chúng) sẽ sửa chữa tội ấy trong sự hiện diện của vị ấy.” Nói xong, thì lễ Uposatha nên được tiến hành, giới bổn Pātimokkha nên được đọc tụng, nhưng không nên làm chướng ngại cho lễ Uposatha chỉ vì nguyên nhân ấy.
Inda-bh 59~161Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha toàn bộ hội chúng có nghi ngờ về sự phạm tội giống nhau. Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Toàn bộ hội chúng này có nghi ngờ về sự phạm tội giống nhau, khi nào dứt khỏi hoài nghi khi ấy (hội chúng) sẽ sửa chữa tội ấy.” Nói xong, thì lễ Uposatha nên được tiến hành, giới bổn Pātimokkha nên được đọc tụng, nhưng không nên làm chướng ngại cho lễ Uposatha chỉ vì nguyên nhân ấy.
Inda-bh 60~162Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ khi đã vào mùa an cư mưa, hội chúng đã phạm tội giống nhau. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên phái một vị tỳ khưu ngay trong hôm ấy đi đến trú xứ lân cận (bảo rằng): “Này đại đức, hãy đi và sau khi sửa chữa tội ấy hãy quay trở về, chúng tôi sẽ sửa chữa lại tội ấy trong sự hiện diện của đại đức.” Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Này các tỳ khưu, nếu không đạt được (như thế) thì nên phái đi một vị tỳ khưu trong thời hạn bảy ngày (bảo rằng): “Này đại đức, hãy đi và sau khi sửa chữa tội ấy hãy quay trở về, chúng tôi sẽ sửa chữa lại tội ấy trong sự hiện diện của đại đức.”
Inda-bh 61~163Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ toàn bộ hội chúng đã phạm tội giống nhau. Hội chúng ấy không biết tên và loại của tội ấy. Ở đó, có vị tỳ khưu khác đi đến là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Có vị tỳ khưu nọ đã đi đến gặp vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:
Inda-bh 62~164—“Thưa đại đức, vị hành động như vầy và như vầy thì vị ấy phạm tội tên gì? Vị ấy đã nói như vầy:—“Này đại đức, vị hành động như vầy và như vầy thì vị ấy phạm tội tên này. Này đại đức, ngươi đã phạm tội tên này, ngươi hãy sửa chữa tội ấy.” Vị nọ đã nói như vầy:—“Thưa đại đức, không phải chỉ mình tôi đã phạm tội ấy. Toàn bộ hội chúng này đã phạm tội ấy.” Vị ấy đã nói như vầy:—“Này đại đức, người khác phạm tội hay không phạm tội thì điều gì sẽ xảy ra cho ngươi? Này đại đức, ngươi hãy tự thoát khỏi tội của bản thân mình đi.”
Inda-bh 63~165Khi ấy, vị tỳ khưu nọ sau khi đã sửa chữa tội ấy theo lời khuyên của vị tỳ khưu ấy rồi đã đi đến gặp các vị tỳ khưu kia, sau khi đến đã nói với các vị tỳ khưu kia điều này:—“Này các đại đức, nghe nói vị hành động như vầy và như vầy thì vị ấy phạm tội tên này. Này các đại đức, các vị đã phạm tội tên này, các vị hãy sửa chữa tội ấy.” Khi ấy, các vị tỳ khưu kia đã không muốn sửa chữa tội ấy theo lời khuyên của vị tỳ khưu nọ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 64~166—“Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ toàn bộ hội chúng đã phạm tội giống nhau. Hội chúng ấy không biết tên và loại của tội ấy. Ở đó, có vị tỳ khưu khác đi đến là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Có vị tỳ khưu nọ đã đi đến gặp vị tỳ khưu ấy, sau khi đến nói với vị tỳ khưu ấy như vầy: “Thưa đại đức, vị hành động như vầy và như vầy thì vị ấy phạm tội tên gì?” Vị ấy nói như vầy: “Này đại đức, vị hành động như vầy và như vầy thì vị ấy phạm tội tên này. Này đại đức, ngươi đã phạm tội tên này, ngươi hãy sửa chữa tội ấy.” Vị nọ nói như vầy: “Thưa đại đức, không phải chỉ mình tôi đã phạm tội ấy. Toàn bộ hội chúng này đã phạm tội ấy.” Vị ấy nói như vầy: “Này đại đức, người khác phạm tội hay không phạm tội thì điều gì sẽ xảy ra cho ngươi? Này đại đức, ngươi hãy tự thoát khỏi tội của bản thân mình đi.” Này các tỳ khưu, nếu sau khi sửa chữa tội theo lời khuyên của vị tỳ khưu ấy, vị tỳ khưu nọ đã đi đến gặp các vị tỳ khưu kia, sau khi đến đã nói với các vị tỳ khưu kia như vầy: “Này các đại đức, nghe nói vị hành động như vầy và như vầy thì vị ấy phạm tội tên này. Này các đại đức, các vị đã phạm tội tên này, các vị hãy sửa chữa tội ấy.” Này các tỳ khưu, nếu các vị tỳ khưu kia sửa chữa tội ấy theo lời khuyên của vị tỳ khưu nọ, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Này các tỳ khưu, nếu các vị không chịu sửa chữa, vị tỳ khưu nọ không nên khuyên các vị tỳ khưu ấy (vì họ) không có mong muốn.”
Dứt tụng phẩm Codanāvatthu.
Inda-bh 1~167Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều vị tỳ khưu thường trú đã tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy đã không biết rằng: “Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.” Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi đã thực hiện lễ Uposatha và đã đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Trong khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đã đi đến. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~168—“Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Trong khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn Pātimokkha nên được đọc tụng lại bởi các vị tỳ khưu ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (1)
Inda-bh 3~169Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Trong khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (2)
Inda-bh 4~170Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Trong khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (3)
Inda-bh 5~171Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn Pātimokkha nên được đọc tụng lại bởi các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (4)
Inda-bh 6~172Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (5)
Inda-bh 7~173Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (6)
Inda-bh 8~174Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, trong khi tập thể chưa đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn Pātimokkha nên được đọc tụng lại bởi các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (7)
Inda-bh 9~175Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pāti-mokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, trong khi tập thể chưa đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (8)
Inda-bh 10~176Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, trong khi tập thể chưa đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (9)
Inda-bh 11~177Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, một số thuộc tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn Pātimokkha nên được đọc tụng lại bởi các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (10)
Inda-bh 12~178Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pāti-mokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, một số thuộc tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (11)
Inda-bh 13~179Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, một số thuộc tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (12)
Inda-bh 14~180Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn Pātimokkha nên được đọc tụng lại bởi các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (13)
Inda-bh 15~181Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (14)
Inda-bh 16~182Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đọc tụng. (15)
Dứt mười lăm trường hợp vô tội.
Inda-bh 1~183Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm và có sự nhận biết là phe nhóm, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Trong khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn Pātimokkha nên được đọc tụng lại bởi các vị tỳ khưu ấy. Các vị đọc tụng phạm tội dukkaṭa. (1)
Inda-bh 2~184Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm và có sự nhận biết là phe nhóm, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Trong khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị đọc tụng phạm tội dukkaṭa. (2)
Inda-bh 3~185Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm và có sự nhận biết là phe nhóm, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Trong khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị đọc tụng phạm tội dukkaṭa. (3)
Inda-bh 4~186Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm và có sự nhận biết là phe nhóm, rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, … (như trên) … trong khi tập thể chưa đứng lên … (như trên) … một số thuộc tập thể đã đứng lên … (như trên) … toàn bộ tập thể đã đứng lên thì có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn … (như trên) … (có số lượng) tương đương … (như trên) … (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội dukkaṭa. (4-15)
Dứt mười lăm trường hợp là phe nhóm và có sự nhận biết là phe nhóm.
Inda-bh 1~187Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có sự nghi ngờ rằng: ‘Lễ Uposatha của chúng ta được phép thực hiện hay không được phép?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Trong khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn Pātimokkha nên được đọc tụng lại bởi các vị tỳ khưu ấy. Các vị đọc tụng phạm tội dukkaṭa. (1)
Inda-bh 2~188Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có sự nghi ngờ rằng: ‘Lễ Uposatha của chúng ta được phép thực hiện hay không được phép?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Trong khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị đọc tụng phạm tội dukkaṭa. (2)
Inda-bh 3~189Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có sự nghi ngờ rằng: ‘Lễ Uposatha của chúng ta được phép thực hiện hay không được phép?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Trong khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị đọc tụng phạm tội dukkaṭa. (3)
Inda-bh 4~190Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có sự nghi ngờ rằng: ‘Lễ Uposatha của chúng ta được phép thực hiện hay không được phép?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy … (như trên) … trong khi tập thể chưa đứng lên … (như trên) … một số thuộc tập thể đã đứng lên … (như trên) … toàn bộ tập thể đã đứng lên thì có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn … (như trên) … (có số lượng) tương đương … (như trên) … (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội dukkaṭa. (4-15)
Dứt mười lăm trường hợp có sự nghi ngờ.
Inda-bh 1~191Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị có sự ngần ngại rằng: ‘Lễ Uposatha vẫn được phép thực hiện đối với chúng ta, chứ không phải không được phép đối với chúng ta’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Trong khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn Pātimokkha nên được đọc tụng lại bởi các vị tỳ khưu ấy. Các vị đọc tụng phạm tội dukkaṭa. (1)
Inda-bh 2~192Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị có sự ngần ngại rằng: ‘Lễ Uposatha vẫn được phép thực hiện đối với chúng ta, chứ không phải không được phép đối với chúng ta’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Trong khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị đọc tụng phạm tội dukkaṭa. (2)
Inda-bh 3~193Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị có sự ngần ngại rằng: ‘Lễ Uposatha vẫn được phép thực hiện đối với chúng ta, chứ không phải không được phép đối với chúng ta’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Trong khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị đọc tụng phạm tội dukkaṭa. (3)
Inda-bh 4~194Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có sự ngần ngại rằng: ‘Lễ Uposatha vẫn được phép thực hiện đối với chúng ta, chứ không phải không được phép đối với chúng ta’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy … (như trên) … trong khi tập thể chưa đứng lên … (như trên) … một số thuộc tập thể đã đứng lên … (như trên) … toàn bộ tập thể đã đứng lên thì có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn … (như trên) … (có số lượng) tương đương … (như trên) … (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội dukkaṭa. (4-15)
Dứt mười lăm trường hợp đã bỏ qua sự ngần ngại.
Inda-bh 1~195Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Trong khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn Pātimokkha nên được đọc tụng lại bởi các vị tỳ khưu ấy. Các vị đọc tụng phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 2~196Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Trong khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị đọc tụng phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 3~197Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Trong khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị đọc tụng phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 4~198Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn Pātimokkha nên được đọc tụng lại bởi các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 5~199Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 6~200Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 7~201Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, trong khi tập thể chưa đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn Pātimokkha nên được đọc tụng lại bởi các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 8~202Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, trong khi tập thể chưa đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 9~203Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, trong khi tập thể chưa đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 10~204Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, một số thuộc tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn Pātimokkha nên được đọc tụng lại bởi các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 11~205Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, một số thuộc tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 12~206Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, một số thuộc tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 13~207Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các tỳ khưu, giới bổn Pātimokkha nên được đọc tụng lại bởi các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 14~208Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 15~209Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có những tỳ khưu thường trú khác chưa đi đến.’ Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi thực hiện lễ Uposatha và đọc tụng giới bổn Pātimokkha. Khi giới bổn Pātimokkha vừa được đọc tụng xong bởi các vị ấy, toàn bộ tập thể đã đứng lên, có các tỳ khưu thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Phần đã được đọc tụng là đã được đọc tụng tốt đẹp, sự trong sạch nên được bày tỏ trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đọc tụng phạm tội thullaccaya.
Dứt mười lăm trường hợp có dự tính chia rẽ.
Dứt hai mươi lăm nhóm ba.
Inda-bh 1~210Này các tỳ khưu, trường hợp tại trú xứ nọ vào ngày lễ Uposatha có nhiều tỳ khưu thường trú tụ hội lại là bốn vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: ‘Các vị tỳ khưu thường trú khác đang đi vào trong ranh giới,’ … (như trên) … Các vị ấy không biết rằng: ‘Các vị tỳ khưu thường trú khác đã đi vào trong ranh giới,’ … (như trên) … Các vị ấy không nhìn thấy các vị tỳ khưu thường trú khác đang đi vào trong ranh giới, … (như trên) … Các vị ấy không nhìn thấy các vị tỳ khưu thường trú khác đã đi vào trong ranh giới, … (như trên) … Các vị ấy không nghe rằng: ‘Các vị tỳ khưu thường trú khác đang đi vào trong ranh giới,’ … (như trên) … Các vị ấy không nghe rằng: ‘Các vị tỳ khưu thường trú khác đã đi vào trong ranh giới,’ … (như trên) … Theo phương thức của một trăm bảy mươi lăm nhóm ba về vị thường trú với vị thường trú, về vị vãng lai với vị thường trú, về vị thường trú với vị vãng lai, về vị vãng lai với vị vãng lai, bằng cách thức thêm vào những phần tương tợ thì tạo ra được bảy trăm nhóm ba.
Inda-bh 2~211Này các tỳ khưu, trường hợp ngày mười bốn là của các tỳ khưu thường trú, ngày mười lăm là của các tỳ khưu vãng lai. Nếu các vị thường trú (có số lượng) nhiều hơn thì các vị vãng lai nên thuận theo các vị thường trú. Nếu (có số lượng) tương đương thì các vị vãng lai nên thuận theo các vị thường trú. Nếu các vị vãng lai (có số lượng) nhiều hơn thì các vị thường trú nên thuận theo các vị vãng lai.
Inda-bh 3~212Này các tỳ khưu, trường hợp ngày mười lăm là của các tỳ khưu thường trú, ngày mười bốn là của các tỳ khưu vãng lai. Nếu các vị thường trú (có số lượng) nhiều hơn thì các vị vãng lai nên thuận theo các vị thường trú. Nếu (có số lượng) tương đương thì các vị vãng lai nên thuận theo các vị thường trú. Nếu các vị vãng lai (có số lượng) nhiều hơn thì các vị thường trú nên thuận theo các vị vãng lai.
Inda-bh 4~213Này các tỳ khưu, trường hợp ngày đầu tháng là của các tỳ khưu thường trú, ngày mười lăm là của các tỳ khưu vãng lai. Nếu các vị thường trú (có số lượng) nhiều hơn và các vị thường trú không mong muốn thì không nên ban cho sự hợp nhất đến các vị vãng lai; các vị vãng lai nên đi ra khỏi ranh giới rồi lễ Uposatha nên được tiến hành. Nếu (có số lượng) tương đương và các vị thường trú không mong muốn ()unwillingly adv.) thì không nên ban cho sự hợp nhất đến các vị vãng lai; các vị vãng lai nên đi ra khỏi ranh giới rồi lễ Uposatha nên được tiến hành. Nếu các vị vãng lai (có số lượng) nhiều hơn thì các vị thường trú nên ban cho sự hợp nhất đến các vị vãng lai hoặc là nên đi ra khỏi ranh giới.
Inda-bh 5~214Này các tỳ khưu, trường hợp ngày mười lăm là của các tỳ khưu thường trú, ngày đầu tháng là của các tỳ khưu vãng lai. Nếu các vị thường trú (có số lượng) nhiều hơn thì các vị vãng lai nên ban cho sự hợp nhất đến các vị thường trú hoặc là nên đi ra khỏi ranh giới. Nếu (có số lượng) tương đương thì các vị vãng lai nên ban cho sự hợp nhất đến các vị thường trú hoặc là nên đi ra khỏi ranh giới. Nếu các vị vãng lai (có số lượng) nhiều hơn và các vị vãng lai không mong muốn thì không nên ban cho sự hợp nhất đến các vị thường trú; các vị thường trú nên đi ra khỏi ranh giới rồi lễ Uposatha nên được tiến hành.
Inda-bh 6~215Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu vãng lai nhìn thấy sự biểu hiện của việc cư trú, đặc điểm của việc cư trú, hiện tướng của việc cư trú, dấu hiệu của việc cư trú của các tỳ khưu thường trú (như là) giường ghế nệm gối được sắp xếp cẩn thận, nước uống nước rửa khéo được bố trí, phòng ốc được quét dọn sạch sẽ, sau khi nhìn thấy khởi lên nghi ngờ: ‘Có các tỳ khưu thường trú hay không có?’ Các vị nghi ngờ nhưng không tìm kiếm, sau khi không tìm kiếm rồi tiến hành lễ Uposatha thì phạm tội dukkaṭa. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm không nhìn thấy, sau khi không nhìn thấy rồi tiến hành lễ Uposatha thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ Uposatha chung thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ Uposatha riêng rẽ thì phạm tội dukkaṭa. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy có dự tính chia rẽ (nói rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi tiến hành lễ Uposatha thì phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 7~216Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu vãng lai nghe được sự biểu hiện của việc cư trú, đặc điểm của việc cư trú, hiện tướng của việc cư trú, dấu hiệu của việc cư trú của các tỳ khưu thường trú (như là) tiếng bước chân của những vị đang đi kinh hành, tiếng học bài, tiếng đằng hắng, tiếng hắt hơi, sau khi nghe khởi lên nghi ngờ: ‘Có các tỳ khưu thường trú hay không có?’ Các vị nghi ngờ nhưng không tìm kiếm, sau khi không tìm kiếm rồi tiến hành lễ Uposatha thì phạm tội dukkaṭa. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm không nhìn thấy, sau khi không nhìn thấy rồi tiến hành lễ Uposatha thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ Uposatha chung thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ Uposatha riêng rẽ thì phạm tội dukkaṭa. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy có dự tính chia rẽ (nói rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi tiến hành lễ Uposatha thì phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 8~217Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu thường trú nhìn thấy sự biểu hiện của việc đi đến, đặc điểm của việc đi đến, hiện tướng của việc đi đến, dấu hiệu của việc đi đến của các tỳ khưu vãng lai (như là) bình bát khác lạ, y khác lạ, vật lót ngồi khác lạ, sự vung vãi nước rửa các bàn chân, sau khi nhìn thấy khởi lên nghi ngờ: ‘Có các vị tỳ khưu vãng lai hay không có?’ Các vị nghi ngờ nhưng không tìm kiếm, sau khi không tìm kiếm rồi tiến hành lễ Uposatha thì phạm tội dukkaṭa. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm không nhìn thấy, sau khi không nhìn thấy rồi tiến hành lễ Uposatha thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ Uposatha chung thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ Uposatha riêng rẽ thì phạm tội dukkaṭa. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy có dự tính chia rẽ (nói rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi tiến hành lễ Uposatha thì phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 9~218Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu thường trú nghe được sự biểu hiện của việc đi đến, đặc điểm của việc đi đến, hiện tướng của việc đi đến, dấu hiệu của việc đi đến của các tỳ khưu vãng lai (như là) tiếng bước chân của các vị đang đi đến, tiếng động gây nên bởi các đôi dép, tiếng đằng hắng, tiếng hắt hơi, sau khi nghe khởi lên nghi ngờ: ‘Có các vị tỳ khưu vãng lai hay không có?’ Các vị nghi ngờ nhưng không tìm kiếm, sau khi không tìm kiếm rồi tiến hành lễ Uposatha thì phạm tội dukkaṭa. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm không nhìn thấy, sau khi không nhìn thấy rồi tiến hành lễ Uposatha thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ Uposatha chung thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ Uposatha riêng rẽ thì phạm tội dukkaṭa. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy có dự tính chia rẽ (nói rằng): ‘Các vị này tiêu mất đi! Các vị này biến mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?’ rồi tiến hành lễ Uposatha thì phạm tội thullaccaya.
Inda-bh 10~219Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu vãng lai nhìn thấy các tỳ khưu thường trú thuộc nhóm cộng trú khác. Các vị ấy nhận lầm là thuộc cùng nhóm cộng trú, sau khi nhận lầm là thuộc cùng nhóm cộng trú rồi không hỏi, sau khi không hỏi rồi tiến hành lễ Uposatha chung thì vô tội. Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi vẫn không thay đổi (quan điểm), sau khi không thay đổi (quan điểm) lại tiến hành lễ Uposatha chung thì phạm tội dukkaṭa. Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi vẫn không thay đổi (quan điểm), sau khi không thay đổi (quan điểm) rồi tiến hành lễ Uposatha riêng rẽ thì vô tội.
Inda-bh 11~220Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu vãng lai nhìn thấy các tỳ khưu thường trú thuộc cùng nhóm cộng trú. Các vị ấy nhận lầm thuộc nhóm cộng trú khác, sau khi nhận lầm thuộc nhóm cộng trú khác rồi không hỏi, sau khi không hỏi lại tiến hành lễ Uposatha chung thì phạm tội dukkaṭa. Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi rồi thay đổi (quan điểm), sau khi thay đổi (quan điểm) lại tiến hành lễ Uposatha riêng rẽ thì phạm tội dukkaṭa. Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi rồi thay đổi (quan điểm), sau khi thay đổi (quan điểm) rồi tiến hành lễ Uposatha chung thì vô tội.
Inda-bh 12~221Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu thường trú nhìn thấy các tỳ khưu vãng lai thuộc nhóm cộng trú khác. Các vị ấy nhận lầm thuộc cùng nhóm cộng trú, sau khi nhận lầm thuộc cùng nhóm cộng trú rồi không hỏi, sau khi không hỏi rồi tiến hành lễ Uposatha chung thì vô tội. Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi vẫn không thay đổi (quan điểm), sau khi không thay đổi (quan điểm) lại tiến hành lễ Uposatha chung thì phạm tội dukkaṭa. Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi vẫn không thay đổi (quan điểm), sau khi không thay đổi (quan điểm) rồi tiến hành lễ Uposatha riêng rẽ thì vô tội.
Inda-bh 13~222Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu thường trú nhìn thấy các tỳ khưu vãng lai thuộc cùng nhóm cộng trú. Các vị ấy nhận lầm thuộc nhóm cộng trú khác, sau khi nhận lầm thuộc nhóm cộng trú khác rồi không hỏi, sau khi không hỏi lại tiến hành lễ Uposatha chung thì phạm tội dukkaṭa. Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi rồi thay đổi (quan điểm), sau khi thay đổi (quan điểm) lại tiến hành lễ Uposatha riêng rẽ thì phạm tội dukkaṭa. Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi rồi thay đổi (quan điểm), sau khi thay đổi (quan điểm) rồi tiến hành lễ Uposatha chung thì vô tội.
Inda-bh 14~223Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 15~224Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 16~225Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 17~226Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 18~227Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 19~228Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 20~229Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 21~230Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 22~231Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ không có tỳ khưu trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 23~232Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 24~233Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 25~234Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 26~235Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 27~236Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 28~237Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 29~238Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 30~239Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 31~240Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu nhưng các tỳ khưu ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 32~241Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú ngụ có tỳ khưu và các tỳ khưu ở nơi ấy thuộc cùng nhóm cộng trú, nếu biết rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’
Inda-bh 33~242Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha từ chỗ trú ngụ có tỳ khưu có thể đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu … (như trên) … chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu và các tỳ khưu ở nơi ấy thuộc cùng nhóm cộng trú, nếu biết rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’
Inda-bh 34~243Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha vị tỳ khưu từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú ngụ có tỳ khưu … (như trên) … nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu … (như trên) … chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu và các tỳ khưu ở nơi ấy thuộc cùng nhóm cộng trú, nếu biết rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’
Inda-bh 35~244Này các tỳ khưu, vào ngày lễ Uposatha vị tỳ khưu từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú ngụ có tỳ khưu … (như trên) … nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu … (như trên) … chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có tỳ khưu và các tỳ khưu ở nơi ấy thuộc cùng nhóm cộng trú, nếu biết rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’
Inda-bh 36~245Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha đến hội chúng đã ngồi xuống có vị tỳ khưu ni; vị nào đọc tụng thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 37~246Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha đến hội chúng đã ngồi xuống có cô ni tu tập sự … (như trên) … có vị sa di … (như trên) … có vị sa di ni … (như trên) … có người đã từ bỏ điều học … (như trên) … có vị đã phạm tội cực nặng; vị nào đọc tụng thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 38~247Không nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha đến hội chúng đã ngồi xuống có vị bị án treo trong việc không nhìn nhận tội; vị nào đọc tụng thì nên được hành xử theo pháp.
Inda-bh 39~248Không nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha đến hội chúng đã ngồi xuống có vị bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi … (như trên) … đến hội chúng đã ngồi xuống có vị bị án treo trong việc không chịu từ bỏ tà kiến ác; vị nào đọc tụng thì nên được hành xử theo pháp.
Inda-bh 40~249Này các tỳ khưu, không nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha đến hội chúng đã ngồi xuống có kẻ vô căn; vị nào đọc tụng thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 41~250Không nên đọc tụng giới bổn Pātimokkha đến hội chúng đã ngồi xuống có kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu) … (như trên) … có kẻ đã đi theo ngoại đạo … (như trên) … có loài thú … (như trên) … có kẻ giết mẹ … (như trên) … có kẻ giết cha … (như trên) … có kẻ giết A-la-hán … (như trên) … có kẻ làm nhơ tỳ khưu ni … (như trên) … có kẻ chia rẽ hội chúng … (như trên) … có kẻ làm chảy máu (đức Phật) … (như trên) … có kẻ lưỡng căn; vị nào đọc tụng thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 42~251Này các tỳ khưu, không nên tiến hành lễ Uposatha với việc trao ra sự trong sạch của vị hành parivāsa, trừ trường hợp tập thể không bị cách ly.338
Inda-bh 43~252Này các tỳ khưu, không nên tiến hành lễ Uposatha không nhằm ngày Uposatha trừ phi vào lúc hợp nhất hội chúng.
Dứt chương Uposatha là chương thứ nhì.
Tụng phẩm thứ ba.
Trong chương này có tám mươi sáu sự việc.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Inda-bh 1~253Những người ngoại đạo, và đức vua Bimbisāra, (cho phép) tụ hội, (ngồi) im lặng, (giảng) Giáo Pháp, nơi thanh vắng, giới bổn Pātimokkha, (đọc tụng) hàng ngày, rồi một lần.
Inda-bh 2~254Tùy theo tập thể, của các vị hợp nhất, có sự hợp nhất, và ở Maddakucchi, ranh giới lớn, dòng sông, ở dãy phòng, tại hai chỗ, và các (ranh giới) nhỏ.
Inda-bh 3~255Các vị mới tu, và ở Rājagaha nữa, ranh giới với sự không xa lìa, điều làm trước trong việc ấn định ranh giới, và điều làm sau trong việc hủy bỏ ranh giới.
Inda-bh 4~256Ranh giới làng là không ấn định, ở sông, ở biển, ở ao hồ, việc ném ra bụm nước, các vị làm gối lên, và tương tợ như thế ấy các vị làm trùm lên.
Inda-bh 5~257Bao nhiêu cách hành sự? Việc đọc tụng, các kẻ lục lâm, và lúc không có, Pháp, Luật, các vị hăm dọa, lại thêm sự hăm dọa vì Luật.
Inda-bh 6~258Việc kết tội, khi đã thỉnh ý, việc phản đối (hành sự) sai Pháp, bốn năm vị, các vị khác bày tỏ (quan điểm), nếu cố ý (không cho nghe), trong sự nỗ lực.
Inda-bh 7~259Có sự hiện diện của cư sĩ, các vị chưa được mời thỉnh, ở Codanā, vị không biết, nhiều vị không biết, ngay trong hôm ấy, và các vị không đi.
Inda-bh 8~260(Là ngày) thứ mấy? Có bao nhiêu? (Khất thực) ở vùng xa, và đã không nhớ để thông báo, có rác rến, chỗ ngồi, đèn, (đi) phương xa, vị khác là vị nghe nhiều.
Inda-bh 9~261Ngay hôm ấy, lễ Uposatha của mùa (an cư) mưa, trong sạch và hành sự, các thân quyến, vị Gagga, (lễ Uposatha của) bốn, ba, hai, một vị, sự phạm tội, tội đồng phạm, đã nhớ ra.
Inda-bh 10~262Toàn bộ hội chúng có sự nghi ngờ, các vị không biết, vị nghe nhiều, (có số lượng) nhiều hơn, tương đương, ít hơn, tập thể, và khi chưa đứng lên.
Inda-bh 11~263Một số đã đứng lên, tất cả (đã đứng lên), các vị biết, và có sự nghi ngờ, có sự ngần ngại rằng: ‘vẫn là được phép,” trong khi biết, trong khi nhìn thấy, và các vị nghe được.
Inda-bh 12~264Về vị vãng lai với vị thường trú, thêm nữa là ngày mười bốn và mười lăm, ngày đầu tháng, ngày mười lăm, hiện tướng và việc đồng cộng trú, ở cả hai (trường hợp).
Inda-bh 13~265Vị thực hành parivāsa, không nhằm ngày Uposatha, trừ phi vào lúc hợp nhất hội chúng. Những điều tóm tắt được chia chẻ này là đầu mối làm rõ các sự việc.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Great Division
The chapter on the observance day
1. The instruction to gather together
68. Sự cho phép tụ họp
Tena samayena buddho bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate. Tena kho pana samayena aññatitthiyā paribbājakā cātuddase pannarase aṭṭhamiyā ca pakkhassa sannipatitvā dhammaṁ bhāsanti. Te manussā upasaṅkamanti dhammassavanāya. Te labhanti aññatitthiyesu paribbājakesu pemaṁ, labhanti pasādaṁ, labhanti aññatitthiyā paribbājakā pakkhaṁ.
Atha kho rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—“etarahi kho aññatitthiyā paribbājakā cātuddase pannarase aṭṭhamiyā ca pakkhassa sannipatitvā dhammaṁ bhāsanti. Te manussā upasaṅkamanti dhammassavanāya. Te labhanti aññatitthiyesu paribbājakesu pemaṁ, labhanti pasādaṁ, labhanti aññatitthiyā paribbājakā pakkhaṁ. Yannūna ayyāpi cātuddase pannarase aṭṭhamiyā ca pakkhassa sannipateyyun”ti.
Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rājā māgadho seniyo bimbisāro bhagavantaṁ etadavoca—“idha mayhaṁ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi ‘etarahi kho aññatitthiyā paribbājakā cātuddase pannarase aṭṭhamiyā ca pakkhassa sannipatitvā dhammaṁ bhāsanti. Te manussā upasaṅkamanti dhammassavanāya. Te labhanti aññatitthiyesu paribbājakesu pemaṁ, labhanti pasādaṁ, labhanti aññatitthiyā paribbājakā pakkhaṁ. Yannūna ayyāpi cātuddase pannarase aṭṭhamiyā ca pakkhassa sannipateyyun’ti. Sādhu, bhante, ayyāpi cātuddase pannarase aṭṭhamiyā ca pakkhassa sannipateyyun”ti. Atha kho bhagavā rājānaṁ māgadhaṁ seniyaṁ bimbisāraṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, cātuddase pannarase aṭṭhamiyā ca pakkhassa sannipatitun”ti.
At one time the Buddha was staying on the Vulture Peak at Rājagaha. At that time, on the fourteenth, fifteenth, and eighth day of the lunar half-month, the wanderers of other religions gathered and gave teachings. People went to listen to those teachings, and they acquired affection for and confidence in those wanderers. And the wanderers gained supporters.
Then, when King Seniya Bimbisāra of Magadha was reflecting in private, he considered this and thought, “Why don’t the venerables, too, gather on the fourteenth, fifteenth, and eighth day of the half-month?”
He then went to the Buddha, bowed, sat down, and told him what he had thought, adding, “It would be good, sir, if the venerables, too, gathered on the fourteenth, fifteenth, and eighth day of the half-month.” The Buddha then instructed, inspired, and gladdened him with a teaching. When the Buddha had finished, the king got up from his seat, bowed, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You should gather together on the fourteenth, the fifteenth, and the eighth day of the lunar half-month.”
132. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, bậc Thế Tôn, đang trú ngụ ở Rājagaha, tại núi Gijjhakūṭa. Cũng vào lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo thường tụ họp vào các ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mồng tám của mỗi nửa tháng để thuyết giảng giáo pháp. Dân chúng đến gần để nghe pháp. Họ phát sinh lòng yêu mến, phát sinh niềm tịnh tín đối với các du sĩ ngoại đạo ấy, và các du sĩ ngoại đạo ấy có được phe nhóm. Khi ấy, trong lúc ở nơi thanh vắng, độc cư, vua Bimbisāra xứ Māgadha thuộc dòng Seniya khởi lên suy nghĩ trong tâm như vầy: “Hiện nay, các du sĩ ngoại đạo thường tụ họp vào các ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mồng tám của mỗi nửa tháng để thuyết giảng giáo pháp. Dân chúng đến gần để nghe pháp. Họ phát sinh lòng yêu mến, phát sinh niềm tịnh tín đối với các du sĩ ngoại đạo ấy, và các du sĩ ngoại đạo ấy có được phe nhóm. Hay thay, nếu các bậc tôn giả cũng tụ họp vào các ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mồng tám của mỗi nửa tháng.” Sau đó, vua Bimbisāra xứ Māgadha thuộc dòng Seniya đi đến nơi đức Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vua Bimbisāra xứ Māgadha thuộc dòng Seniya bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, ở đây, trong lúc con ở nơi thanh vắng, độc cư, một suy nghĩ đã khởi lên trong tâm như vầy: ‘Hiện nay, các du sĩ ngoại đạo thường tụ họp vào các ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mồng tám của mỗi nửa tháng để thuyết giảng giáo pháp. Dân chúng đến gần để nghe pháp. Họ phát sinh lòng yêu mến, phát sinh niềm tịnh tín đối với các du sĩ ngoại đạo ấy, và các du sĩ ngoại đạo ấy có được phe nhóm. Hay thay, nếu các bậc tôn giả cũng tụ họp vào các ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mồng tám của mỗi nửa tháng.’ Bạch ngài, thật tốt thay, nếu các bậc tôn giả cũng tụ họp vào các ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mồng tám của mỗi nửa tháng.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ vua Bimbisāra xứ Māgadha thuộc dòng Seniya bằng một bài pháp thoại. Sau đó, vua Bimbisāra xứ Māgadha thuộc dòng Seniya, sau khi được đức Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ bằng một bài pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi ra về. Khi ấy, nhân sự việc này, nhân duyên cớ này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các tỳ-khưu: “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép tụ họp vào các ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mồng tám của mỗi nửa tháng.”
Tena kho pana samayena bhikkhū—“bhagavatā anuññātā cātuddase pannarase aṭṭhamiyā ca pakkhassa sannipatitun”ti—cātuddase pannarase aṭṭhamiyā ca pakkhassa sannipatitvā tuṇhī nisīdanti. Te manussā upasaṅkamanti dhammassavanāya. Te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā cātuddase pannarase aṭṭhamiyā ca pakkhassa sannipatitvā tuṇhī nisīdissanti, seyyathāpi mūgasūkarā. Nanu nāma sannipatitehi dhammo bhāsitabbo”ti. Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, cātuddase pannarase aṭṭhamiyā ca pakkhassa sannipatitvā dhammaṁ bhāsitun”ti.
When the monks heard about the Buddha’s instruction, they started gathering on those days. People came to hear a teaching, but the monks sat in silence. The people complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics gather on the fourteenth, fifteenth, and eighth day of the half-month, but then sit in silence like dumb pigs? Shouldn’t they give a teaching when they gather together?” The monks heard the complaints of those people and they told the Buddha. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“When you gather together on the fourteenth, the fifteenth, and the eighth day of the lunar half-month, you should give a teaching.”
Cũng vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu nghĩ rằng: “Đức Thế Tôn đã cho phép tụ họp vào các ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mồng tám của mỗi nửa tháng,” nên sau khi tụ họp vào các ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mồng tám của mỗi nửa tháng, họ ngồi im lặng. Dân chúng đến gần để nghe pháp. Họ phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: “Tại sao các sa-môn Thích tử này, sau khi tụ họp vào các ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mồng tám của mỗi nửa tháng, lại ngồi im lặng như những con heo câm? Chẳng phải khi đã tụ họp thì nên thuyết giảng giáo pháp hay sao?” Các tỳ-khưu đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, chỉ trích của những người ấy. Sau đó, các tỳ-khưu ấy đã trình sự việc này lên đức Thế Tôn… Khi ấy, nhân sự việc này, nhân duyên cớ này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các tỳ-khưu: “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép, sau khi tụ họp vào các ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mồng tám của mỗi nửa tháng, hãy thuyết giảng giáo pháp.”
2. Pātimokkhuddesānujānana
2. The instruction to recite the Monastic Code
69. Sự cho phép thuyết giảng Pātimokkha
Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—“yannūnāhaṁ yāni mayā bhikkhūnaṁ paññattāni sikkhāpadāni, tāni nesaṁ pātimokkhuddesaṁ anujāneyyaṁ. So nesaṁ bhavissati uposathakamman”ti. Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—“idha mayhaṁ, bhikkhave, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi ‘yannūnāhaṁ yāni mayā bhikkhūnaṁ paññattāni sikkhāpadāni, tāni nesaṁ pātimokkhuddesaṁ anujāneyyaṁ. So nesaṁ bhavissati uposathakamman’ti.
Anujānāmi, bhikkhave, pātimokkhaṁ uddisituṁ.
Evañca pana, bhikkhave, uddisitabbaṁ. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
While the Buddha was reflecting in private, he thought, “Why don’t I instruct the monks to recite a monastic code, consisting of those training rules that I have laid down for them? That would be their procedure for the observance day.” In the evening, when the Buddha had come out from seclusion, he gave a teaching and addressed the monks. He told them what he had thought, adding:
“You should recite the Monastic Code.
And you should do it like this. A competent and capable monk should inform the Sangha:
133. Bấy giờ, trong khi đức Thế Tôn đang ở nơi thanh vắng, độc cư, một suy nghĩ như vầy đã khởi lên trong tâm của ngài: – ‘Hay là ta cho phép các tỳ khưu đọc tụng Pātimokkha về những học giới đã được ta chế định cho họ. Việc ấy sẽ là phận sự uposatha của họ.’ Rồi đức Thế Tôn, vào buổi chiều, sau khi xuất khỏi nơi độc cư, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, sau khi thuyết một bài pháp thoại, đã gọi các tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, ở đây, trong khi Như Lai đang ở nơi thanh vắng, độc cư, một suy nghĩ như vầy đã khởi lên trong tâm: ‘Hay là ta cho phép các tỳ khưu đọc tụng Pātimokkha về những học giới đã được ta chế định cho họ. Việc ấy sẽ là phận sự uposatha của họ.’ Này các tỳ khưu, ta cho phép đọc tụng Pātimokkha. Và này các tỳ khưu, nên đọc tụng như vầy. Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho uposathaṁ kareyya, pātimokkhaṁ uddiseyya. Kiṁ saṅghassa pubbakiccaṁ? Pārisuddhiṁ āyasmanto ārocetha. Pātimokkhaṁ uddisissāmi. Taṁ sabbeva santā sādhukaṁ suṇoma manasi karoma. Yassa siyā āpatti, so āvikareyya. Asantiyā āpattiyā tuṇhī bhavitabbaṁ. Tuṇhībhāvena kho panāyasmante parisuddhāti vedissāmi. Yathā kho pana paccekapuṭṭhassa veyyākaraṇaṁ hoti, evamevaṁ evarūpāya parisāya yāvatatiyaṁ anussāvitaṁ hoti. Yo pana bhikkhu yāvatatiyaṁ anussāviyamāne saramāno santiṁ āpattiṁ nāvikareyya, sampajānamusāvādassa hoti. Sampajānamusāvādo kho panāyasmanto antarāyiko dhammo vutto bhagavatā. Tasmā, saramānena bhikkhunā āpannena visuddhāpekkhena santī āpatti āvikātabbā; āvikatā hissa phāsu hotī’”ti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should do the observance-day ceremony, it should recite the Monastic Code. What is the preliminary duty of the Sangha? The venerables should declare their purity. I will recite the Monastic Code. Everyone present should listen to it and attend carefully. Anyone who has committed an offense should reveal it. If you haven’t committed any offense, you should remain silent. If you are silent, I will regard you as pure. Just as one responds when asked individually, so too, an announcement is made three times in this kind of gathering. If a monk remembers an offense while the announcement is being made up to the third time, but doesn’t reveal it, he is lying in full awareness. Lying in full awareness is called an obstacle by the Buddha. A monk who remembers an offense and is seeking purification should therefore reveal it. When it’s revealed, he will be at ease.’”
Definitions
134. ‘Bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng lắng nghe con. Nếu Tăng chúng đã đến thời điểm thích hợp, Tăng chúng nên làm lễ uposatha, nên đọc tụng Pātimokkha. Việc chuẩn bị sơ khởi của Tăng chúng là gì? Chư Hiền giả hãy tuyên bố sự thanh tịnh. Con sẽ đọc tụng Pātimokkha. Tất cả chúng ta là những người có mặt hãy lắng nghe kỹ và tác ý điều ấy. Vị nào có phạm tội, vị ấy nên phát lồ. Nếu không có tội, nên giữ im lặng. Chính nhờ sự im lặng mà con sẽ biết rằng chư Hiền giả là thanh tịnh. Giống như việc trả lời của người được hỏi riêng lẻ, cũng vậy, trong một hội chúng như thế này, lời thông báo được lặp lại đến lần thứ ba. Vị tỳ khưu nào, trong khi lời thông báo được lặp lại đến lần thứ ba, nhớ ra có tội mà không phát lồ, vị ấy phạm tội cố ý nói dối. Bạch chư Hiền giả, tội cố ý nói dối đã được đức Thế Tôn nói là pháp gây chướng ngại. Vì vậy, vị tỳ khưu nhớ ra mình đã phạm tội và mong muốn sự thanh tịnh thì nên phát lồ tội đang có; vì sau khi đã phát lồ, vị ấy sẽ được an ổn.’
- Pātimokkhanti
- ādimetaṁ mukhametaṁ pamukhametaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ. Tena vuccati pātimokkhanti.
- Āyasmantoti
- piyavacanametaṁ garuvacanametaṁ sagāravasappatissādhivacanametaṁ āyasmantoti.
- Uddisissāmīti
- ācikkhissāmi desessāmi paññapessāmi paṭṭhapessāmi vivarissāmi vibhajissāmi uttāniṁ karissāmi pakāsessāmi.
- Tanti
- pātimokkhaṁ vuccati.
- Sabbeva santāti
- yāvatikā tassā parisāya therā ca navā ca majjhimā ca, ete vuccanti sabbeva santāti.
- Sādhukaṁ suṇomāti
- aṭṭhiṁ katvā manasi katvā sabbacetasā samannāharāma.
- Manasi karomāti
- ekaggacittā avikkhittacittā avisāhaṭacittā nisāmema.
- Yassa siyā āpattīti
- therassa vā navassa vā majjhimassa vā, pañcannaṁ vā āpattikkhandhānaṁ aññatarā āpatti, sattannaṁ vā āpattikkhandhānaṁ aññatarā āpatti.
- So āvikareyyāti
- so deseyya, so vivareyya, so uttāniṁ kareyya, so pakāseyya saṅghamajjhe vā gaṇamajjhe vā ekapuggale vā.
- Asantī nāma āpatti
- anajjhāpannā vā hoti, āpajjitvā vā vuṭṭhitā.
- Tuṇhī bhavitabbanti
- adhivāsetabbaṁ na byāharitabbaṁ.
- Parisuddhāti vedissāmīti
- jānissāmi dhāressāmi.
- Yathā kho pana paccekapuṭṭhassa veyyākaraṇaṁ hotīti
- yathā ekena eko puṭṭho byākareyya, evameva tassā parisāya jānitabbaṁ maṁ pucchatīti.
- Evarūpā nāma parisā
- bhikkhuparisā vuccati.
- Yāvatatiyaṁ anussāvitaṁ hotīti
- sakimpi anussāvitaṁ hoti, dutiyampi anussāvitaṁ hoti, tatiyampi anussāvitaṁ hoti.
- Saramānoti
- jānamāno sañjānamāno.
- Santī nāma āpatti
- ajjhāpannā vā hoti, āpajjitvā vā avuṭṭhitā.
- Nāvikareyyāti
- na deseyya, na vivareyya, na uttāniṁ kareyya, na pakāseyya saṅghamajjhe vā gaṇamajjhe vā ekapuggale vā.
- Sampajānamusāvādassa hotīti
- sampajānamusāvāde kiṁ hoti? Dukkaṭaṁ hoti.
- Antarāyiko dhammo vutto bhagavatāti.
- Kissa antarāyiko? Paṭhamassa jhānassa adhigamāya antarāyiko, dutiyassa jhānassa adhigamāya antarāyiko, tatiyassa jhānassa adhigamāya antarāyiko, catutthassa jhānassa adhigamāya antarāyiko, jhānānaṁ vimokkhānaṁ samādhīnaṁ samāpattīnaṁ nekkhammānaṁ nissaraṇānaṁ pavivekānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ adhigamāya antarāyiko.
- Tasmāti
- taṅkāraṇā.
- Saramānenāti
- jānamānena sañjānamānena.
- Visuddhāpekkhenāti
- vuṭṭhātukāmena visujjhitukāmena.
- Santī nāma āpatti
- ajjhāpannā vā hoti, āpajjitvā vā avuṭṭhitā.
- Āvikātabbāti
- āvikātabbā saṅghamajjhe vā gaṇamajjhe vā ekapuggale vā.
- Āvikatā hissa phāsu hotīti
- kissa phāsu hoti? Paṭhamassa jhānassa adhigamāya phāsu hoti, dutiyassa jhānassa adhigamāya phāsu hoti, tatiyassa jhānassa adhigamāya phāsu hoti, catutthassa jhānassa adhigamāya phāsu hoti, jhānānaṁ vimokkhānaṁ samādhīnaṁ samāpattīnaṁ nekkhammānaṁ nissaraṇānaṁ pavivekānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ adhigamāya phāsu hotīti.
- Monastic Code:
- this is the beginning, this is the front, this is at the head of wholesome qualities—therefore it is called “Monastic Code”.
- Venerables:
- this is a term of affection, a term of respect; it is an expression of respect and deference, that is, “venerables”.
- I will recite:
- I will set forth, I will teach, I will declare, I will set out, I will reveal, I will analyze, I will make plain, I will manifest.
- It:
- The Monastic Code is what is meant.
- Everyone present:
- to whatever extent there are senior monks, junior monks, and monks of middle standing in that gathering—these are called “everyone present”.
- Should listen carefully:
- should be attentive, should pay attention, should apply their whole mind.
- Should attend:
- should listen with a one-pointed mind, with an undistracted mind, with a non-wandering mind.
- Anyone who has committed an offense:
- a senior monk, a junior monk, or a monk of middle standing who has committed a particular offense among the five or seven classes of offenses.
- Should reveal it:
- should confess it, should disclose it, should make it plain, should make it known—either in the midst of the Sangha, in the midst of a group, or to an individual.
- If you haven’t committed any offense:
- if you have not committed any offense or you have cleared yourself after committing one.
- You should remain silent:
- you should be patient; you shouldn’t say anything.
- I will regard you as pure:
- I will know; I will remember.
- Just as one responds when asked individually:
- just as one would respond when asked privately, so too, one should know of that gathering, “It’s asking me.”
- This kind of gathering:
- a gathering of monks is what is meant.
- When the announcement is made three times:
- when the announcement is made once, when the announcement is made for the second time, and also when the announcement is made for the third time.
- Remembers:
- Knows, perceives.
- An offense:
- one that has been committed, or one that has not been cleared after being committed.
- But doesn’t reveal it:
- does not confess it, disclose it, make it plain, make it known—either in the midst of the Sangha, in the midst of a group, or to an individual.
- He is lying in full awareness:
- what is there for lying in full awareness? There is an act of wrong conduct.
- Is called an obstacle by the Buddha:
- an obstacle for what? It is an obstacle for reaching the first absorption, the second absorption, the third absorption, the fourth absorption; an obstacle for reaching the wholesome qualities of absorption, release, stillness, attainment, renunciation, escape, seclusion.
- Therefore:
- for that reason.
- Who remembers:
- who knows, who perceives.
- Is seeking purification:
- is desiring to be cleared, is desiring purity.
- An offense:
- one that has been committed, or one that has not been cleared after being committed.
- Should reveal it:
- should reveal it either in the midst of the Sangha, in the midst of a group, or to an individual.
- When it’s revealed, he will be at ease:
- at ease for what? He will be at ease for reaching the first absorption, the second absorption, the third absorption, the forth absorption; at ease for reaching the wholesome qualities of absorption, release, stillness, attainment, renunciation, escape, seclusion.
135. Pātimokkha: đây là sự khởi đầu, đây là cửa ngõ, đây là điều chủ yếu của các thiện pháp. Do đó được gọi là Pātimokkha. Chư Hiền giả: đây là lời nói thân ái, đây là lời nói tôn trọng, đây là lời nói có sự kính trọng và vâng phục, đó là ‘chư Hiền giả.’ Con sẽ đọc tụng: con sẽ nói, con sẽ giảng, con sẽ chế định, con sẽ thiết lập, con sẽ khai mở, con sẽ phân tích, con sẽ làm cho rõ ràng, con sẽ làm cho sáng tỏ. Điều ấy: được gọi là Pātimokkha. Tất cả chúng ta là những người có mặt: bao nhiêu vị có mặt trong hội chúng ấy, là trưởng lão, là tỳ khưu mới, và là tỳ khưu trung bình, những vị này được gọi là ‘tất cả chúng ta là những người có mặt.’ Hãy lắng nghe kỹ: hãy chú tâm, hãy tác ý, hãy hướng tâm trọn vẹn. Hãy tác ý: hãy nhất tâm, hãy không tán loạn tâm, hãy không mệt mỏi tâm mà lắng nghe. Vị nào có phạm tội: dù là trưởng lão, tỳ khưu mới, hay tỳ khưu trung bình, có một tội nào đó trong năm nhóm tội, hoặc một tội nào đó trong bảy nhóm tội. Vị ấy nên phát lồ: vị ấy nên trình bày, vị ấy nên khai mở, vị ấy nên làm cho rõ ràng, vị ấy nên làm cho sáng tỏ, hoặc giữa Tăng chúng, hoặc giữa một nhóm, hoặc với một cá nhân. Không có tội: nghĩa là chưa phạm tội, hoặc đã phạm rồi nhưng đã ra khỏi tội ấy. Nên giữ im lặng: nên kham nhẫn, không nên nói. Con sẽ biết rằng là thanh tịnh: con sẽ biết, con sẽ ghi nhận. Giống như việc trả lời của người được hỏi riêng lẻ: giống như khi một người được một người khác hỏi và trả lời, cũng vậy, trong hội chúng ấy nên biết rằng: ‘Vị ấy đang hỏi ta.’ Một hội chúng như thế này: được gọi là hội chúng tỳ khưu. Lời thông báo được lặp lại đến lần thứ ba: lời thông báo được lặp lại một lần, lời thông báo được lặp lại lần thứ hai, lời thông báo được lặp lại lần thứ ba. Nhớ ra: đang biết, đang nhận biết rõ. Tội đang có: nghĩa là đã phạm tội, hoặc đã phạm rồi nhưng chưa ra khỏi tội ấy. Không phát lồ: không trình bày, không khai mở, không làm cho rõ ràng, không làm cho sáng tỏ, hoặc giữa Tăng chúng, hoặc giữa một nhóm, hoặc với một cá nhân. Phạm tội cố ý nói dối: Trong việc cố ý nói dối, có tội gì? Có tội dukkaṭa (tác ác). Pháp gây chướng ngại đã được đức Thế Tôn nói: Gây chướng ngại cho điều gì? Gây chướng ngại cho việc chứng đắc thiền thứ nhất, gây chướng ngại cho việc chứng đắc thiền thứ hai, gây chướng ngại cho việc chứng đắc thiền thứ ba, gây chướng ngại cho việc chứng đắc thiền thứ tư, gây chướng ngại cho việc chứng đắc các thiền, các giải thoát, các định, các chứng đắc, các sự xuất ly, các sự thoát khỏi, các sự vắng lặng, là các thiện pháp. Vì vậy: vì lý do đó. Nhớ ra: đang biết, đang nhận biết rõ. Mong muốn sự thanh tịnh: muốn ra khỏi tội, muốn được trong sạch. Tội đang có: nghĩa là đã phạm tội, hoặc đã phạm rồi nhưng chưa ra khỏi tội ấy. Nên phát lồ: nên phát lồ giữa Tăng chúng, hoặc giữa một nhóm, hoặc với một cá nhân. Vì sau khi đã phát lồ, vị ấy sẽ được an ổn: An ổn cho điều gì? An ổn cho việc chứng đắc thiền thứ nhất, an ổn cho việc chứng đắc thiền thứ hai, an ổn cho việc chứng đắc thiền thứ ba, an ổn cho việc chứng đắc thiền thứ tư, an ổn cho việc chứng đắc các thiền, các giải thoát, các định, các chứng đắc, các sự xuất ly, các sự thoát khỏi, các sự vắng lặng, là các thiện pháp.
Tena kho pana samayena bhikkhū—“bhagavatā pātimokkhuddeso anuññāto”ti—devasikaṁ pātimokkhaṁ uddisanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, devasikaṁ pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Yo uddiseyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, uposathe pātimokkhaṁ uddisitun”ti.
When they heard that the Buddha required the recitation of the Monastic Code, some monks recited it daily. They told the Buddha.
“You shouldn’t recite the Monastic Code every day. If you do, you commit an offense of wrong conduct. You should recite the Monastic Code on the observance day.”
136. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu – (nghĩ rằng) ‘việc tụng đọc Pātimokkha đã được đức Thế Tôn cho phép’ – nên đã tụng đọc Pātimokkha mỗi ngày. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, không nên tụng đọc Pātimokkha mỗi ngày. Vị nào tụng đọc, phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, Ta cho phép tụng đọc Pātimokkha vào ngày lễ Uposatha.
Tena kho pana samayena bhikkhū—“bhagavatā uposathe pātimokkhuddeso anuññāto”ti—pakkhassa tikkhattuṁ pātimokkhaṁ uddisanti, cātuddase pannarase aṭṭhamiyā ca pakkhassa. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, pakkhassa tikkhattuṁ pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Yo uddiseyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, sakiṁ pakkhassa cātuddase vā pannarase vā pātimokkhaṁ uddisitun”ti.
When they heard that the Buddha required the recitation of the Monastic Code on the observance day, some monks recited it three times per half-month: on the fourteenth, fifteenth, and eighth day.
“You shouldn’t recite the Monastic Code three times per lunar half-month. If you do, you commit an offense of wrong conduct. You should recite the Monastic Code once every lunar half-month: on the fourteenth or the fifteenth day.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu – (nghĩ rằng) ‘việc tụng đọc Pātimokkha vào ngày lễ Uposatha đã được đức Thế Tôn cho phép’ – nên đã tụng đọc Pātimokkha ba lần trong mỗi nửa tháng, vào ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mùng tám của nửa tháng. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, không nên tụng đọc Pātimokkha ba lần trong mỗi nửa tháng. Vị nào tụng đọc, phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép tụng đọc Pātimokkha một lần trong mỗi nửa tháng, vào ngày mười bốn hoặc ngày rằm.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū yathāparisāya pātimokkhaṁ uddisanti sakāya sakāya parisāya. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, yathāparisāya pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ sakāya sakāya parisāya. Yo uddiseyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, samaggānaṁ uposathakamman”ti.
On one occasion the monks from the group of six recited the Monastic Code separately, each to his own followers.
“You shouldn’t recite the Monastic Code separately, each to your own followers. If you do, you commit an offense of wrong conduct. You should do the observance-day procedure in a complete assembly.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu đã tụng đọc Pātimokkha tùy theo hội chúng, trong từng hội chúng riêng của mình. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, không nên tụng đọc Pātimokkha tùy theo hội chúng, trong từng hội chúng riêng của mình. Vị nào tụng đọc, phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép thực hành lễ Uposatha cho các vị (sống) hòa hợp.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘samaggānaṁ uposathakamman’ti. Kittāvatā nu kho sāmaggī hoti, yāvatā ekāvāso, udāhu sabbā pathavī”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ettāvatā sāmaggī yāvatā ekāvāso”ti.
When they knew that the Buddha had laid down a rule that the observance-day procedure should be done in a complete assembly, the monks thought, “How far does a complete assembly extend? As far as one monastery or as far as the entire earth?”
“A complete assembly extends as far as one monastery.”
Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Việc thực hành lễ Uposatha cho các vị (sống) hòa hợp đã được đức Thế Tôn quy định. Vậy sự hòa hợp (sāmaggī) là đến mức độ nào? Có phải là trong phạm vi một trú xứ, hay là trên toàn cõi đất?’ (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, Ta cho phép sự hòa hợp là trong phạm vi một trú xứ.
3. Mahākappinavatthu
3. Mahākappina
70. Câu chuyện về Đại đức Mahākappina
Tena kho pana samayena āyasmā mahākappino rājagahe viharati maddakucchimhi migadāye. Atha kho āyasmato mahākappinassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—“gaccheyyaṁ vāhaṁ uposathaṁ na vā gaccheyyaṁ, gaccheyyaṁ vāhaṁ saṅghakammaṁ na vā gaccheyyaṁ, atha khvāhaṁ visuddho paramāya visuddhiyā”ti?
Atha kho bhagavā āyasmato mahākappinassa cetasā cetoparivitakkamaññāya—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—gijjhakūṭe pabbate antarahito maddakucchimhi migadāye āyasmato mahākappinassa sammukhe pāturahosi. Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Āyasmāpi kho mahākappino bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ mahākappinaṁ bhagavā etadavoca—
“nanu te, kappina, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—gaccheyyaṁ vāhaṁ uposathaṁ na vā gaccheyyaṁ, gaccheyyaṁ vāhaṁ saṅghakammaṁ na vā gaccheyyaṁ, atha khvāhaṁ visuddho paramāya visuddhiyā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Tumhe ce brāhmaṇā uposathaṁ na sakkarissatha na garukarissatha na mānessatha na pūjessatha, atha ko carahi uposathaṁ sakkarissati garukarissati mānessati pūjessati? Gaccha tvaṁ, brāhmaṇa, uposathaṁ, mā no agamāsi. Gaccha tvaṁ saṅghakammaṁ, mā no agamāsī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā mahākappino bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ mahākappinaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—maddakucchimhi migadāye āyasmato mahākappinassa sammukhe antarahito gijjhakūṭe pabbate pāturahosi.
At that time Venerable Mahākappina was staying at Rājagaha in the deer park at Maddakucchi. On one occasion, while reflecting in private, he thought, “Should I go to the observance-day ceremony? Should I go to the legal procedures of the Sangha? Regardless, I’ve reached the highest purity.”
The Buddha read his mind. Then, just as a strong man might bend or stretch his arm, the Buddha disappeared from the Vulture Peak and reappeared in front of Mahākappina, where he sat down on the prepared seat. Mahākappina bowed and sat down, and the Buddha said to him:
“Isn’t it the case, Kappina, that you were wondering whether or not you should go to the observance day and the legal procedures of the Sangha?”
“Yes, venerable sir.”
“If you brahmins don’t honor and revere the observance day, then who will? Go to the observance day, brahmin, and go to the legal procedures of the Sangha.”
“Yes.”
The Buddha instructed, inspired, and gladdened him with a teaching. Then, just as a strong man might bend or stretch his arm, the Buddha disappeared from Mahākappina’s presence and reappeared on the Vulture Peak.
137. Vào lúc bấy giờ, Đại đức Mahākappina trú ở Maddakucchi, trong khu vườn Lộc Uyển, tại thành Rājagaha. Khi ấy, trong lúc độc cư ở nơi thanh vắng, Đại đức Mahākappina đã khởi lên suy nghĩ trong tâm như vầy: ‘Ta có nên đi đến (nơi hành lễ) Uposatha hay không nên đi? Ta có nên đi đến (nơi hành) Tăng sự hay không nên đi? Vả lại, ta đã thanh tịnh với sự thanh tịnh tối thượng.’ Khi ấy, đức Thế Tôn, với tâm của mình, đã biết được suy nghĩ trong tâm của Đại đức Mahākappina – ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy – đã biến mất khỏi núi Gijjhakūṭa và hiện ra ở Maddakucchi, trong khu vườn Lộc Uyển, ngay trước mặt Đại đức Mahākappina. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Đại đức Mahākappina cũng đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã nói điều này với Đại đức Mahākappina đang ngồi một bên: ‘Này Kappina, có phải trong lúc độc cư ở nơi thanh vắng, ông đã khởi lên suy nghĩ trong tâm như vầy: ‘Ta có nên đi đến (nơi hành lễ) Uposatha hay không nên đi? Ta có nên đi đến (nơi hành) Tăng sự hay không nên đi? Vả lại, ta đã thanh tịnh với sự thanh tịnh tối thượng.’?’ ‘Bạch Thế Tôn, đúng vậy.’ ‘Này các vị Bà-la-môn, nếu các ông không tôn trọng, không kính nể, không quý trọng, không cúng dường lễ Uposatha, thì còn ai sẽ tôn trọng, kính nể, quý trọng, cúng dường lễ Uposatha nữa? Này vị Bà-la-môn, ông hãy đi đến (nơi hành lễ) Uposatha, chớ không đi. Ông hãy đi đến (nơi hành) Tăng sự, chớ không đi.’ ‘Bạch Thế Tôn, xin vâng.’ Đại đức Mahākappina đã vâng lời đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ Đại đức Mahākappina bằng một bài pháp thoại – ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy – đã biến mất khỏi trước mặt Đại đức Mahākappina ở Maddakucchi, trong khu vườn Lộc Uyển, và hiện ra ở núi Gijjhakūṭa.
4. Sīmānujānana
4. The allowance for monastery zones
71. Sự cho phép về ranh giới (sīmā)
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘ettāvatā sāmaggī yāvatā ekāvāso’ti, kittāvatā nu kho ekāvāso hotī”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sīmaṁ sammannituṁ.
Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbā—paṭhamaṁ nimittā kittetabbā—pabbatanimittaṁ, pāsāṇanimittaṁ, vananimittaṁ, rukkhanimittaṁ, magganimittaṁ, vammikanimittaṁ, nadīnimittaṁ, udakanimittaṁ. Nimitte kittetvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
When they knew that the Buddha had laid down a rule that a complete assembly extends as far as one monastery, the monks thought, “How far does a single monastery extend?” They told the Buddha.
“I allow you to establish a monastery zone.
And it should be established like this. First you should announce the zone markers: a hill, a rock, a forest grove, a tree, a path, an anthill, a river, a lake. Then a competent and capable monk should inform the Sangha:
138. Khi ấy, các vị tỳ khưu đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Sự hòa hợp là trong phạm vi một trú xứ.’ Vậy một trú xứ là đến mức độ nào?’ (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, Ta cho phép kiết định ranh giới (sīmā). Và này các tỳ khưu, nên kiết định như vầy: Trước tiên, cần phải nêu lên các tướng mốc (nimitta) – tướng mốc là núi, tướng mốc là đá, tướng mốc là rừng, tướng mốc là cây, tướng mốc là đường, tướng mốc là gò mối, tướng mốc là sông, tướng mốc là nước. Sau khi đã nêu lên các tướng mốc, một vị tỳ khưu thông thạo, có khả năng, cần phải tác bạch cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yāvatā samantā nimittā kittitā. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho etehi nimittehi sīmaṁ sammanneyya samānasaṁvāsaṁ ekuposathaṁ. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should establish a monastery zone based on the announced markers, defining who belongs to the same community and who should do the observance-day ceremony together. This is the motion.
139. ‘Kính bạch chư Đại đức, Tăng chúng hãy nghe con. Các tướng mốc ở xung quanh đã được nêu lên. Nếu thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng, Tăng chúng hãy kiết định ranh giới với các tướng mốc này để có cùng trú xứ, cùng lễ Uposatha. Đây là lời tác bạch (ñatti).’
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yāvatā samantā nimittā kittitā. Saṅgho etehi nimittehi sīmaṁ sammannati samānasaṁvāsaṁ ekuposathaṁ. Yassāyasmato khamati etehi nimittehi sīmāya sammuti samānasaṁvāsāya ekuposathāya, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Sammatā sīmā saṅghena etehi nimittehi samānasaṁvāsā ekuposathā. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha establishes a monastery zone based on the announced markers, defining who belongs to the same community and who should do the observance-day ceremony together. Any monk who approves of establishing a monastery zone based on these markers, defining who belongs to the same community and who should do the observance-day ceremony together, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
The Sangha has established a monastery zone based on these markers, defining who belongs to the same community and who should do the observance-day ceremony together. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
‘Kính bạch chư Đại đức, Tăng chúng hãy nghe con. Các tướng mốc ở xung quanh đã được nêu lên. Tăng chúng kiết định ranh giới với các tướng mốc này để có cùng trú xứ, cùng lễ Uposatha. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc kiết định ranh giới với các tướng mốc này để có cùng trú xứ, cùng lễ Uposatha thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên. Ranh giới với các tướng mốc này để có cùng trú xứ, cùng lễ Uposatha đã được Tăng chúng kiết định. Vì Tăng chúng chấp thuận nên im lặng, con xin ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū—“bhagavatā sīmāsammuti anuññātā”ti—atimahatiyo sīmāyo sammannanti, catuyojanikāpi pañcayojanikāpi chayojanikāpi. Bhikkhū uposathaṁ āgacchantā uddissamānepi pātimokkhe āgacchanti, uddiṭṭhamattepi āgacchanti, antarāpi parivasanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, atimahatī sīmā sammannitabbā, catuyojanikā vā pañcayojanikā vā chayojanikā vā. Yo sammanneyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, tiyojanaparamaṁ sīmaṁ sammannitun”ti.
When they heard that the Buddha had made an allowance to establish a monastery zone, the monks from the group of six established zones that were too large: 50, 65, and even 80 kilometers across. Monks coming to the observance-day ceremony arrived while the Monastic Code was being recited or just after, and they had to stop overnight while on the way. They told the Buddha.
“You shouldn’t establish a monastery zone that is too large, whether 50, 65, or 80 kilometers across. If you do, you commit an offense of wrong conduct. You should establish a monastery zone that is 40 kilometers across at the most.”
140. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ-khưu nghĩ rằng: “Đức Thế Tôn đã cho phép kiết giới sīmā,” rồi đã kiết những đại giới sīmā rộng đến bốn do-tuần, năm do-tuần, sáu do-tuần. Các vị tỳ-khưu đi đến nơi làm lễ uposatha, có vị đến trong khi đang tụng đọc Pātimokkha, có vị đến ngay sau khi vừa tụng đọc xong, có vị còn ở dọc đường. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ-khưu, không được kiết đại giới sīmā rộng bốn do-tuần, hoặc năm do-tuần, hoặc sáu do-tuần. Vị nào kiết giới, phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ-khưu, Ta cho phép kiết giới sīmā tối đa là ba do-tuần.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū nadīpārasīmaṁ sammannanti. Uposathaṁ āgacchantā bhikkhūpi vuyhanti, pattāpi vuyhanti, cīvarānipi vuyhanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, nadīpārasīmā sammannitabbā. Yo sammanneyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, yatthassa dhuvanāvā vā dhuvasetu vā, evarūpaṁ nadīpārasīmaṁ sammannitun”ti.
At one time the monks from the group of six had established a zone that crossed a river. Monks on their way to the observance-day ceremony were swept away by the current, as were their bowls and robes.
“You shouldn’t establish a monastery zone that crosses a river. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow you to establish a monastery zone that crosses a river only if there is a permanent bridge or ferry connection.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ-khưu đã kiết giới sīmā bao gồm cả hai bờ sông. Các vị tỳ-khưu đi đến nơi làm lễ uposatha đã bị nước cuốn trôi, bình bát cũng bị cuốn trôi, y cũng bị cuốn trôi. (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ-khưu, không được kiết giới sīmā bao gồm cả hai bờ sông. Vị nào kiết giới, phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép kiết giới sīmā bao gồm cả hai bờ sông ở nơi nào có thuyền thường trực hoặc có cầu thường trực.
5. Uposathāgārakathā
5. Discussion of the observance-day hall
72. Câu chuyện về nhà lễ Uposatha
Tena kho pana samayena bhikkhū anupariveṇiyaṁ pātimokkhaṁ uddisanti asaṅketena. Āgantukā bhikkhū na jānanti—“kattha vā ajjuposatho karīyissatī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, anupariveṇiyaṁ pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ asaṅketena. Yo uddiseyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, uposathāgāraṁ sammannitvā uposathaṁ kātuṁ, yaṁ saṅgho ākaṅkhati vihāraṁ vā aḍḍhayogaṁ vā pāsādaṁ vā hammiyaṁ vā guhaṁ vā.
Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbaṁ. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
At that time the monks recited the Monastic Code in one yard after another without making a prior arrangement. Newly-arrived monks did not know where the observance-day ceremony was to be held. They told the Buddha.
“You shouldn’t recite the Monastic Code in one yard after another without making a prior arrangement. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow you to designate an observance-day hall—whether a dwelling, a stilt house, or a cave—for the observance-day ceremony.
And it should be designated like this. A competent and capable monk should inform the Sangha:
141. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu tụng đọc Pātimokkha ở mỗi khu vực riêng mà không có sự thỏa thuận trước. Các vị tỳ-khưu khách không biết: “Hôm nay, lễ uposatha sẽ được cử hành ở đâu?” (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ-khưu, không được tụng đọc Pātimokkha ở mỗi khu vực riêng mà không có sự thỏa thuận trước. Vị nào tụng đọc, phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép làm lễ uposatha sau khi đã kiết định một nhà lễ uposatha, là nơi mà Tăng chúng mong muốn, hoặc là một ngôi tịnh xá, hoặc là một ngôi nhà một mái, hoặc là một ngôi lầu, hoặc là một ngôi nhà có sân thượng, hoặc là một hang động. Này các tỳ-khưu, và nên kiết định như sau: Vị tỳ-khưu có năng lực, có khả năng nên tác bạch cho Tăng chúng biết rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ vihāraṁ uposathāgāraṁ sammanneyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should designate such-and-such a dwelling as the observance-day hall. This is the motion.
“Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Nếu thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng đã đến, Tăng chúng nên kiết định ngôi tịnh xá tên là ... làm nhà lễ uposatha. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ vihāraṁ uposathāgāraṁ sammannati. Yassāyasmato khamati itthannāmassa vihārassa uposathāgārassa sammuti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Sammato saṅghena itthannāmo vihāro uposathāgāraṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha designates such-and-such a dwelling as the observance-day hall. Any monk who approves of designating such-and-such a dwelling as the observance-day hall should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
The Sangha has designated such-and-such a dwelling as the observance-day hall. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Tăng chúng kiết định ngôi tịnh xá tên là ... làm nhà lễ uposatha. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc kiết định ngôi tịnh xá tên là ... làm nhà lễ uposatha thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên. Ngôi tịnh xá tên là ... đã được Tăng chúng kiết định làm nhà lễ uposatha. Vì Tăng chúng chấp thuận, do đó nên im lặng. Con ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Tena kho pana samayena aññatarasmiṁ āvāse dve uposathāgārāni sammatāni honti. Bhikkhū ubhayattha sannipatanti—“idha uposatho karīyissati, idha uposatho karīyissatī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, ekasmiṁ āvāse dve uposathāgārāni sammannitabbāni. Yo sammanneyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, ekaṁ samūhanitvā ekattha uposathaṁ kātuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, samūhantabbaṁ. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
Soon afterwards in a certain monastery, they designated two different observance-day halls. Monks gathered in both places, each group thinking, “The observance-day ceremony will be done here.” They told the Buddha.
“You shouldn’t designate two different observance-day halls within the same monastery. If you do, you commit an offense of wrong conduct. You should abolish one of them and do the observance-day ceremony in one place.
And it should be abolished like this. A competent and capable monk should inform the Sangha:
Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ có hai nhà lễ uposatha đã được kiết định. Các vị tỳ-khưu tụ họp ở cả hai nơi, (nghĩ rằng): “Lễ uposatha sẽ được cử hành ở đây,” “Lễ uposatha sẽ được cử hành ở đây.” (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ-khưu, không được kiết định hai nhà lễ uposatha trong cùng một trú xứ. Vị nào kiết định, phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép làm lễ uposatha ở một nơi sau khi đã hủy bỏ một nơi kia. Này các tỳ-khưu, và nên hủy bỏ như sau: Vị tỳ-khưu có năng lực, có khả năng nên tác bạch cho Tăng chúng biết rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ uposathāgāraṁ samūhaneyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should abolish such-and-such an observance-day hall. This is the motion.
“Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Nếu thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng đã đến, Tăng chúng nên hủy bỏ nhà lễ uposatha tên là ... Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ uposathāgāraṁ samūhanati. Yassāyasmato khamati itthannāmassa uposathāgārassa samugghāto, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Samūhataṁ saṅghena itthannāmaṁ uposathāgāraṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha abolishes such-and-such an observance-day hall. Any monk who approves of abolishing such-and-such an observance-day hall should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
The Sangha has abolished such-and-such an observance-day hall. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Tăng chúng hủy bỏ nhà lễ uposatha tên là ... Vị trưởng lão nào chấp thuận việc hủy bỏ nhà lễ uposatha tên là ... thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên. Nhà lễ uposatha tên là ... đã được Tăng chúng hủy bỏ. Vì Tăng chúng chấp thuận, do đó nên im lặng. Con ghi nhận sự việc này là như vậy.”
6. Uposathappamukhānujānana
6. The allowance for an observance-day forecourt
73. Sự cho phép về khu vực phụ cận của nhà lễ Uposatha
Tena kho pana samayena aññatarasmiṁ āvāse atikhuddakaṁ uposathāgāraṁ sammataṁ hoti, tadahuposathe mahābhikkhusaṅgho sannipatito hoti. Bhikkhū asammatāya bhūmiyā nisinnā pātimokkhaṁ assosuṁ. Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘uposathāgāraṁ sammannitvā uposatho kātabbo’ti, mayañcamhā asammatāya bhūmiyā nisinnā pātimokkhaṁ assumhā, kato nu kho amhākaṁ uposatho, akato nu kho”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Sammatāya vā, bhikkhave, bhūmiyā nisinnā asammatāya vā yato pātimokkhaṁ suṇāti, katovassa uposatho.
Tena hi, bhikkhave, saṅgho yāva mahantaṁ uposathappamukhaṁ ākaṅkhati, tāva mahantaṁ uposathappamukhaṁ sammannatu.
Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbaṁ. Paṭhamaṁ nimittā kittetabbā. Nimitte kittetvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
At one time in a certain monastery, they had designated an observance-day hall that was too small. On the observance day a large sangha of monks gathered there. Some monks listened to the recitation of the Monastic Code while sitting outside the designated area. Knowing that the Buddha had laid down a rule that the observance-day ceremony should be done after designating an observance-day hall, they wondered, “Have we done the observance-day ceremony or not?” They told the Buddha.
“Whether you listen to the recitation of the Monastic Code while seated within or outside the designated area, in either case you have done the observance-day ceremony.
Still, the Sangha may designate an observance-day forecourt as large as it likes.
And it should be designated like this. First the markers should be announced. Then a competent and capable monk should inform the Sangha:
142. Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ có một nhà lễ uposatha quá nhỏ đã được kiết định. Vào ngày lễ uposatha ấy, một Tăng chúng tỳ-khưu đông đảo đã tụ họp. Các vị tỳ-khưu đã ngồi trên khu đất chưa được kiết định để nghe tụng đọc Pātimokkha. Khi ấy, các vị tỳ-khưu ấy đã khởi lên suy nghĩ rằng: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Nên làm lễ uposatha sau khi đã kiết định nhà lễ uposatha.’ Còn chúng ta đã ngồi trên khu đất chưa được kiết định để nghe tụng đọc Pātimokkha. Lễ uposatha của chúng ta có được xem là đã làm hay chưa?” (Các vị tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ-khưu, dù ngồi trên khu đất đã được kiết định hay chưa được kiết định, một khi đã nghe Pātimokkha thì lễ uposatha của vị ấy được xem là đã làm. Vậy thì, này các tỳ-khưu, Tăng chúng hãy kiết định khu vực phụ cận của nhà lễ uposatha rộng lớn đến mức nào mà Tăng chúng mong muốn. Này các tỳ-khưu, và nên kiết định như sau: Trước tiên, nên tuyên bố các mốc ranh giới. Sau khi đã tuyên bố các mốc ranh giới, vị tỳ-khưu có năng lực, có khả năng nên tác bạch cho Tăng chúng biết rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yāvatā samantā nimittā kittitā. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho etehi nimittehi uposathappamukhaṁ sammanneyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should designate an observance-day forecourt based on the announced markers. This is the motion.
“Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Các mốc ranh giới xung quanh đã được tuyên bố. Nếu thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng đã đến, Tăng chúng nên kiết định khu vực phụ cận của nhà lễ uposatha bằng các mốc ranh giới này. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yāvatā samantā nimittā kittitā. Saṅgho etehi nimittehi uposathappamukhaṁ sammannati. Yassāyasmato khamati etehi nimittehi uposathappamukhassa sammuti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Sammataṁ saṅghena etehi nimittehi uposathappamukhaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha designates an observance-day forecourt based on the announced markers. Any monk who approves of designating an observance-day forecourt based on these markers should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
The Sangha has designated an observance-day forecourt based on these markers. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Các mốc ranh giới xung quanh đã được tuyên bố. Tăng chúng kiết định khu vực phụ cận của nhà lễ uposatha bằng các mốc ranh giới này. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc kiết định khu vực phụ cận của nhà lễ uposatha bằng các mốc ranh giới này thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên. Khu vực phụ cận của nhà lễ uposatha đã được Tăng chúng kiết định bằng các mốc ranh giới này. Vì Tăng chúng chấp thuận, do đó nên im lặng. Con ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Tena kho pana samayena aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe navakā bhikkhū paṭhamataraṁ sannipatitvā—“na tāva therā āgacchantī”ti—pakkamiṁsu. Uposatho vikāle ahosi. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, tadahuposathe therehi bhikkhūhi paṭhamataraṁ sannipatitun”ti.
On one occasion, on the observance day in a certain monastery, the junior monks had gathered first. Thinking, “There’s no point in being here before the senior monks arrive,” they left. As a consequence, the observance-day ceremony was done at the wrong time.
“On the observance day, the senior monks should gather first.”
Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ, vào ngày lễ uposatha ấy, các vị tỳ khưu trẻ tuổi đã tụ họp trước rồi bỏ đi với ý nghĩ rằng: 'Các vị trưởng lão vẫn chưa đến.' Lễ uposatha đã được cử hành trễ giờ. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, Ta cho phép các vị tỳ khưu trưởng lão được tụ họp trước vào ngày lễ uposatha ấy.
Tena kho pana samayena rājagahe sambahulā āvāsā samānasīmā honti. Tattha bhikkhū vivadanti—“amhākaṁ āvāse uposatho karīyatu, amhākaṁ āvāse uposatho karīyatū”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Idha pana, bhikkhave, sambahulā āvāsā samānasīmā honti. Tattha bhikkhū vivadanti—‘amhākaṁ āvāse uposatho karīyatu, amhākaṁ āvāse uposatho karīyatū’ti. Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi sabbeheva ekajjhaṁ sannipatitvā uposatho kātabbo. Yattha vā pana thero bhikkhu viharati, tattha sannipatitvā uposatho kātabbo, na tveva vaggena saṅghena uposatho kātabbo. Yo kareyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time at Rājagaha, there was a number of monasteries within the same monastery zone. The monks argued about where the observance-day ceremony should be done.
“When there are a number of monasteries within the same zone and the monks are arguing about where the observance-day ceremony should be done, they should all gather in one place and do the observance-day ceremony there. Or they should gather wherever the most senior monk is staying. You shouldn’t do the observance-day ceremony with an incomplete sangha. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, ở thành Rājagaha có nhiều trú xứ cùng chung một ranh giới (sīmā). Tại đấy, các vị tỳ khưu tranh cãi rằng: 'Lễ uposatha nên được cử hành ở trú xứ của chúng tôi, lễ uposatha nên được cử hành ở trú xứ của chúng tôi.' (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, ở đây có nhiều trú xứ cùng chung một ranh giới. Tại đấy, các vị tỳ khưu tranh cãi rằng: 'Lễ uposatha nên được cử hành ở trú xứ của chúng tôi, lễ uposatha nên được cử hành ở trú xứ của chúng tôi.' Này các tỳ khưu, trong trường hợp ấy, tất cả các vị tỳ khưu nên tụ họp lại một nơi để cử hành lễ uposatha. Hoặc là, nên tụ họp tại nơi vị tỳ khưu trưởng lão trú ngụ để cử hành lễ uposatha. Chắc chắn Tăng chúng bị chia rẽ không được cử hành lễ uposatha. Vị nào cử hành thì phạm tội dukkaṭa.
7. Avippavāsasīmānujānana
7. The allowance for a may-stay-apart zone
74. Sự cho phép về ranh giới không được vắng mặt (Avippavāsasīmā)
Tena kho pana samayena āyasmā mahākassapo andhakavindā rājagahaṁ uposathaṁ āgacchanto antarāmagge nadiṁ taranto manaṁ vūḷho ahosi, cīvarānissa allāni. Bhikkhū āyasmantaṁ mahākassapaṁ etadavocuṁ—“kissa te, āvuso, cīvarāni allānī”ti? “Idhāhaṁ, āvuso, andhakavindā rājagahaṁ uposathaṁ āgacchanto antarāmagge nadiṁ taranto manamhi vūḷho. Tena me cīvarāni allānī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Yā sā, bhikkhave, saṅghena sīmā sammatā samānasaṁvāsā ekuposathā, saṅgho taṁ sīmaṁ ticīvarena avippavāsaṁ sammannatu.
Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbā. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
On one occasion Venerable Mahākassapa was coming from Andhakavinda to Rājagaha for the observance-day ceremony. As he was crossing a river on the way, he briefly got carried away by the current and his robes got wet. The monks asked him why his robes were wet, and he told them what had happened. They told the Buddha.
“When the Sangha has established a monastery zone, defining who belongs to the same community and who should do the observance-day ceremony together, the Sangha may designate this same zone as a may-stay-apart-from-the-three-robes area.
And it should be designated like this. A competent and capable monk should inform the Sangha:
143. Vào lúc bấy giờ, trong khi đi từ Andhakavindā đến Rājagaha để dự lễ uposatha, lúc đang băng qua một con sông trên đường, trưởng lão Mahākassapa đã bị cuốn trôi một chút, y của vị ấy bị ướt. Các vị tỳ khưu đã hỏi trưởng lão Mahākassapa điều này: 'Thưa hiền hữu, tại sao y của ngài bị ướt vậy?' 'Này các hiền hữu, hôm nay, trong khi đi từ Andhakavindā đến Rājagaha để dự lễ uposatha, lúc đang băng qua một con sông trên đường, tôi đã bị cuốn trôi một chút. Do đó, y của tôi bị ướt.' (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, ranh giới nào đã được Tăng chúng quy định là nơi chung sống, cùng làm lễ uposatha, Tăng chúng hãy quy định ranh giới ấy là nơi không được vắng mặt với tam y. Này các tỳ khưu, và nên quy định như sau. Một vị tỳ khưu có năng lực, có khả năng nên trình cho Tăng chúng biết:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yā sā saṅghena sīmā sammatā samānasaṁvāsā ekuposathā, yadi saṅghassa pattakallaṁ saṅgho taṁ sīmaṁ ticīvarena avippavāsaṁ sammanneyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has established a monastery zone, defining who belongs to the same community and who should do the observance-day ceremony together. If the Sangha is ready, it should designate this same zone as a may-stay-apart-from-the-three-robes area. This is the motion.
Kính bạch chư Tăng, xin Tăng chúng lắng nghe con. Ranh giới nào đã được Tăng chúng quy định là nơi chung sống, cùng làm lễ uposatha, nếu việc này thích hợp với Tăng chúng, Tăng chúng nên quy định ranh giới ấy là nơi không được vắng mặt với tam y. Đây là lời tác bạch.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yā sā saṅghena sīmā sammatā samānasaṁvāsā ekuposathā, saṅgho taṁ sīmaṁ ticīvarena avippavāsaṁ sammannati. Yassāyasmato khamati etissā sīmāya ticīvarena avippavāsāya sammuti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Sammatā sā sīmā saṅghena ticīvarena avippavāsā. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has established a monastery zone, defining who belongs to the same community and who should do the observance-day ceremony together. The Sangha designates this same zone as a may-stay-apart-from-the-three-robes area. Any monk who approves of designating this monastery zone as a may-stay-apart-from-the-three-robes area should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
The Sangha has designated this monastery zone as a may-stay-apart-from-the-three-robes area. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
Kính bạch chư Tăng, xin Tăng chúng lắng nghe con. Ranh giới nào đã được Tăng chúng quy định là nơi chung sống, cùng làm lễ uposatha, Tăng chúng quy định ranh giới ấy là nơi không được vắng mặt với tam y. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc quy định ranh giới này là nơi không được vắng mặt với tam y thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng. Ranh giới ấy đã được Tăng chúng quy định là nơi không được vắng mặt với tam y. Tăng chúng chấp thuận, do đó im lặng. Con ghi nhận sự việc này là như vậy.
Tena kho pana samayena bhikkhū bhagavatā ticīvarena avippavāsasammuti anuññātāti antaraghare cīvarāni nikkhipanti. Tāni cīvarāni nassantipi ḍayhantipi undūrehipi khajjanti. Bhikkhū duccoḷā honti lūkhacīvarā. Bhikkhū evamāhaṁsu—“kissa tumhe, āvuso, duccoḷā lūkhacīvarā”ti? “Idha mayaṁ, āvuso, bhagavatā ticīvarena avippavāsasammuti anuññātāti antaraghare cīvarāni nikkhipimhā. Tāni cīvarāni naṭṭhānipi daḍḍhānipi, undūrehipi khāyitāni, tena mayaṁ duccoḷā lūkhacīvarā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Yā sā, bhikkhave, saṅghena sīmā sammatā samānasaṁvāsā ekuposathā, saṅgho taṁ sīmaṁ ticīvarena avippavāsaṁ sammannatu, ṭhapetvā gāmañca gāmūpacārañca.
Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbā. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
When they heard that the Buddha had allowed the designation of a may-stay-apart-from-the-three-robes area, monks stored their robes in inhabited areas. Their robes were lost, burned, and eaten by rats. As a consequence, they had shabby robes. Other monks asked them why, and they told them what had happened. They told the Buddha.
“When the Sangha has established a monastery zone, defining who belongs to the same community and who should do the observance-day ceremony together, the Sangha may designate this same zone as a may-stay-apart-from-the-three-robes area, leaving out inhabited areas and the vicinity of inhabited areas.
And it should be designated like this. A competent and capable monk should inform the Sangha:
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nghĩ rằng: 'Đức Thế Tôn đã cho phép việc quy định nơi không được vắng mặt với tam y,' rồi để y ở trong làng. Những y ấy bị mất, bị cháy, và bị chuột gặm. Các vị tỳ khưu có y phục xấu, y phục thô sơ. Các vị tỳ khưu khác hỏi rằng: 'Thưa các hiền hữu, tại sao quý vị có y phục xấu, y phục thô sơ vậy?' 'Này các hiền hữu, ở đây chúng tôi nghĩ rằng: 'Đức Thế Tôn đã cho phép việc quy định nơi không được vắng mặt với tam y,' rồi để y ở trong làng. Những y ấy đã bị mất, bị cháy, và bị chuột gặm. Do đó, chúng tôi có y phục xấu, y phục thô sơ.' (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, ranh giới nào đã được Tăng chúng quy định là nơi chung sống, cùng làm lễ uposatha, Tăng chúng hãy quy định ranh giới ấy là nơi không được vắng mặt với tam y, ngoại trừ làng và vùng phụ cận làng. Này các tỳ khưu, và nên quy định như sau. Một vị tỳ khưu có năng lực, có khả năng nên trình cho Tăng chúng biết:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yā sā saṅghena sīmā sammatā samānasaṁvāsā ekuposathā yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho taṁ sīmaṁ ticīvarena avippavāsaṁ sammanneyya, ṭhapetvā gāmañca gāmūpacārañca. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has established a monastery zone, defining who belongs to the same community and who should do the observance-day ceremony together. If the Sangha is ready, it should designate this same zone as a may-stay-apart-from-the-three-robes area, leaving out inhabited areas and the vicinity of inhabited areas. This is the motion.
144. Kính bạch chư Tăng, xin Tăng chúng lắng nghe con. Ranh giới nào đã được Tăng chúng quy định là nơi chung sống, cùng làm lễ uposatha, nếu việc này thích hợp với Tăng chúng, Tăng chúng nên quy định ranh giới ấy là nơi không được vắng mặt với tam y, ngoại trừ làng và vùng phụ cận làng. Đây là lời tác bạch.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yā sā saṅghena sīmā sammatā samānasaṁvāsā ekuposathā, saṅgho taṁ sīmaṁ ticīvarena avippavāsaṁ sammannati, ṭhapetvā gāmañca gāmūpacārañca. Yassāyasmato khamati etissā sīmāya ticīvarena avippavāsāya sammuti, ṭhapetvā gāmañca gāmūpacārañca, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Sammatā sā sīmā saṅghena ticīvarena avippavāsā, ṭhapetvā gāmañca gāmūpacārañca. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has established a monastery zone, defining who belongs to the same community and who should do the observance-day ceremony together. The Sangha designates this same zone as a may-stay-apart-from-the-three-robes area, leaving out inhabited areas and the vicinity of inhabited areas. Any monk who approves of designating this monastery zone as a may-stay-apart-from-the-three-robes area, leaving out inhabited areas and the vicinity of inhabited areas, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
The Sangha has designated this monastery zone as a may-stay-apart-from-the-three-robes area, leaving out inhabited areas and the vicinity of inhabited areas. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
Kính bạch chư Tăng, xin Tăng chúng lắng nghe con. Ranh giới nào đã được Tăng chúng quy định là nơi chung sống, cùng làm lễ uposatha, Tăng chúng quy định ranh giới ấy là nơi không được vắng mặt với tam y, ngoại trừ làng và vùng phụ cận làng. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc quy định ranh giới này là nơi không được vắng mặt với tam y, ngoại trừ làng và vùng phụ cận làng, thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng. Ranh giới ấy đã được Tăng chúng quy định là nơi không được vắng mặt với tam y, ngoại trừ làng và vùng phụ cận làng. Tăng chúng chấp thuận, do đó im lặng. Con ghi nhận sự việc này là như vậy.
8. Sīmāsamūhanana
8. The abolishing of monastery zones
75. Việc hủy bỏ ranh giới
“Sīmaṁ, bhikkhave, sammannantena paṭhamaṁ samānasaṁvāsasīmā sammannitabbā, pacchā ticīvarena avippavāso sammannitabbo. Sīmaṁ, bhikkhave, samūhanantena paṭhamaṁ ticīvarena avippavāso samūhantabbo, pacchā samānasaṁvāsasīmā samūhantabbā.
Evañca pana, bhikkhave, ticīvarena avippavāso samūhantabbo. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
“Monks, when you’re establishing a monastery zone, the zone that defines who belongs to the same community should be established first. Afterwards you may designate the may-stay-apart-from-the-three-robes area. And when you’re abolishing a monastery zone, the may-stay-apart-from-the-three-robes area should be abolished first. Afterwards you may abolish the zone that defines who belongs to the same community.
And this how a may-stay-apart-from-the-three-robes area should be abolished. A competent and capable monk should inform the Sangha:
Này các tỳ khưu, khi quy định ranh giới, trước tiên nên quy định ranh giới chung sống (samānasaṃvāsasīmā), sau đó nên quy định nơi không được vắng mặt với tam y. Này các tỳ khưu, khi hủy bỏ ranh giới, trước tiên nên hủy bỏ nơi không được vắng mặt với tam y, sau đó nên hủy bỏ ranh giới chung sống. Này các tỳ khưu, và nên hủy bỏ nơi không được vắng mặt với tam y như sau. Một vị tỳ khưu có năng lực, có khả năng nên trình cho Tăng chúng biết:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yo so saṅghena ticīvarena avippavāso sammato, yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho taṁ ticīvarena avippavāsaṁ samūhaneyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should abolish this may-stay-apart-from-the-three-robes area. This is the motion.
145. Kính bạch chư Tăng, xin Tăng chúng lắng nghe con. Nơi không được vắng mặt với tam y nào đã được Tăng chúng quy định, nếu việc này thích hợp với Tăng chúng, Tăng chúng nên hủy bỏ nơi không được vắng mặt với tam y ấy. Đây là lời tác bạch.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yo so saṅghena ticīvarena avippavāso sammato, saṅgho taṁ ticīvarena avippavāsaṁ samūhanati. Yassāyasmato khamati etassa ticīvarena avippavāsassa samugghāto, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Samūhato so saṅghena ticīvarena avippavāso. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
Evañca pana, bhikkhave, sīmā samūhantabbā. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha abolishes this may-stay-apart-from-the-three-robes area. Any monk who approves of abolishing this may-stay-apart-from-the-three-robes area should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
The Sangha has abolished this may-stay-apart-from-the-three-robes area. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
And a monastery zone should be abolished like this. A competent and capable monk should inform the Sangha:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen.
“Kính bạch chư Đại đức, Tăng chúng hãy nghe con. Giới trường bất ly tam y (avippavāsa) nào đã được Tăng chúng kiết định, Tăng chúng (nay) hủy bỏ giới trường bất ly tam y ấy. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc hủy bỏ giới trường bất ly tam y này thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng. Giới trường bất ly tam y ấy đã được Tăng chúng hủy bỏ. (Việc này) được Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này như vậy.”
146. “Kính bạch chư Đại đức, Tăng chúng hãy nghe con. Giới trường đồng trụ, đồng Bố-tát (samānasaṃvāsā ekuposathā) nào đã được Tăng chúng kiết định, nếu Tăng chúng nhận thấy đã đến thời điểm thích hợp, Tăng chúng nên hủy bỏ giới trường đồng trụ, đồng Bố-tát ấy. Đây là lời tác bạch (ñatti).
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yā sā saṅghena sīmā sammatā samānasaṁvāsā ekuposathā, saṅgho taṁ sīmaṁ samūhanati samānasaṁvāsaṁ ekuposathaṁ. Yassāyasmato khamati etissā sīmāya samānasaṁvāsāya ekuposathāya samugghāto, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Samūhatā sā sīmā saṅghena samānasaṁvāsā ekuposathā. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
9. Gāmasīmādi
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha abolishes this monastery zone, defining who belongs to the same community and who should do the observance-day ceremony together. Any monk who approves of abolishing this monastery zone, defining who belongs to the same community and who should do the observance-day ceremony together, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
The Sangha has abolished this monastery zone, defining who belongs to the same community and who should do the observance-day ceremony together. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
9. Zones of inhabited areas, etc.
“Kính bạch chư Đại đức, Tăng chúng hãy nghe con. Giới trường đồng trụ, đồng Bố-tát nào đã được Tăng chúng kiết định, Tăng chúng (nay) hủy bỏ giới trường đồng trụ, đồng Bố-tát ấy. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc hủy bỏ giới trường đồng trụ, đồng Bố-tát này thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng. Giới trường đồng trụ, đồng Bố-tát ấy đã được Tăng chúng hủy bỏ. (Việc này) được Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này như vậy.”
“Asammatāya, bhikkhave, sīmāya aṭṭhapitāya, yaṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati, yā tassa vā gāmassa gāmasīmā, nigamassa vā nigamasīmā, ayaṁ tattha samānasaṁvāsā ekuposathā. Agāmake ce, bhikkhave, araññe samantā sattabbhantarā, ayaṁ tattha samānasaṁvāsā ekuposathā. Sabbā, bhikkhave, nadī asīmā; sabbo samuddo asīmo; sabbo jātassaro asīmo. Nadiyā vā, bhikkhave, samudde vā jātassare vā yaṁ majjhimassa purisassa samantā udakukkhepā, ayaṁ tattha samānasaṁvāsā ekuposathā”ti.
“There are monks who live supported by inhabited areas where no monastery zone has been established. In these cases, the zone of the inhabited area defines who belongs to the same community and who should do the observance-day ceremony together. If it is an uninhabited area in the wilderness, a distance of 80 meters on all sides defines who belongs to the same community and who should do the observance-day ceremony together. A whole river, a whole ocean, or a whole lake cannot be a monastery zone in its own right. In a river, in the ocean, and in a lake, the zone that defines who belongs to the same community and who should do the observance-day ceremony together is the distance an average man can splash water in all directions.”
147. Này các tỳ khưu, khi một giới trường chưa được kiết định, chưa được thiết lập, (vị tỳ khưu) sống nương vào một ngôi làng hay một thị trấn nào, thì ranh giới của ngôi làng ấy hay ranh giới của thị trấn ấy, đây là (giới trường) đồng trụ, đồng Bố-tát ở nơi ấy. Này các tỳ khưu, nếu ở trong rừng, không có làng, thì phạm vi bảy abbhantara xung quanh, đây là (giới trường) đồng trụ, đồng Bố-tát ở nơi ấy. Này các tỳ khưu, toàn bộ dòng sông không phải là giới trường; toàn bộ biển cả không phải là giới trường; toàn bộ hồ tự nhiên không phải là giới trường. Này các tỳ khưu, ở trên sông, hoặc trên biển, hoặc trên hồ tự nhiên, nơi nào mà một người đàn ông có sức vóc trung bình có thể tạt nước ra xung quanh, đây là (giới trường) đồng trụ, đồng Bố-tát ở nơi ấy.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū sīmāya sīmaṁ sambhindanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Yesaṁ, bhikkhave, sīmā paṭhamaṁ sammatā tesaṁ taṁ kammaṁ dhammikaṁ akuppaṁ ṭhānārahaṁ. Yesaṁ, bhikkhave, sīmā pacchā sammatā tesaṁ taṁ kammaṁ adhammikaṁ kuppaṁ aṭṭhānārahaṁ. Na, bhikkhave, sīmāya sīmā sambhinditabbā. Yo sambhindeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time the monks from the group of six established a monastery zone that overlapped with an existing monastery zone.
“The establishment of the first zone is a legitimate legal procedure that is irreversible and fit to stand. The establishment of the subsequent zone is an illegitimate legal procedure that is reversible and unfit to stand. You shouldn’t establish a monastery zone that overlaps with an existing monastery zone. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
148. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu nối liền giới trường này với giới trường kia. (Các tỳ khưu) bèn trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, giới trường của những vị nào được kiết định trước, yết-ma ấy của các vị ấy là hợp pháp, không thể hủy bỏ, đúng với trường hợp. Này các tỳ khưu, giới trường của những vị nào được kiết định sau, yết-ma ấy của các vị ấy là phi pháp, có thể hủy bỏ, không đúng với trường hợp. Này các tỳ khưu, không được nối liền giới trường này với giới trường kia. Vị nào nối liền, phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū sīmāya sīmaṁ ajjhottharanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Yesaṁ, bhikkhave, sīmā paṭhamaṁ sammatā tesaṁ taṁ kammaṁ dhammikaṁ akuppaṁ ṭhānārahaṁ. Yesaṁ, bhikkhave, sīmā pacchā sammatā tesaṁ taṁ kammaṁ adhammikaṁ kuppaṁ aṭṭhānārahaṁ. Na, bhikkhave, sīmāya sīmā ajjhottharitabbā. Yo ajjhotthareyya, āpatti dukkaṭassāti.
Anujānāmi, bhikkhave, sīmaṁ sammannantena sīmantarikaṁ ṭhapetvā sīmaṁ sammannitun”ti.
At one time the monks from the group of six established a monastery zone that enclosed one existing monastery zone within it.
“The establishment of the first zone is a legitimate legal procedure that is irreversible and fit to stand. The establishment of the subsequent zone is an illegitimate legal procedure that is reversible and unfit to stand. You shouldn’t establish a monastery zone that encloses an existing monastery zone. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
When you establish a monastery zone, you should leave a gap to any existing monastery zone.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu kiết định giới trường chồng lên giới trường (khác). (Các tỳ khưu) bèn trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, giới trường của những vị nào được kiết định trước, yết-ma ấy của các vị ấy là hợp pháp, không thể hủy bỏ, đúng với trường hợp. Này các tỳ khưu, giới trường của những vị nào được kiết định sau, yết-ma ấy của các vị ấy là phi pháp, có thể hủy bỏ, không đúng với trường hợp. Này các tỳ khưu, không được kiết định giới trường chồng lên giới trường (khác). Vị nào kiết định chồng lên, phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị kiết định giới trường, sau khi đã chừa ra một khoảng trung gian (sīmantarika), được kiết định giới trường.
10. Uposathabhedādi
10. Breach of the observance-day ceremony, etc.
77. Sự phân loại Bố-tát, v.v...
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kati nu kho uposathā”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Dveme, bhikkhave, uposathā— cātuddasiko ca pannarasiko ca. Ime kho, bhikkhave, dve uposathā”ti.
The monks thought, “How many observance days are there?” They told the Buddha.
“There are two observance days: the fourteenth and the fifteenth day of the lunar half-month.”
149. Khi ấy, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ rằng: “Có bao nhiêu loại Bố-tát?” (Các vị) bèn trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, có hai loại Bố-tát này: (Bố-tát) ngày mười bốn và (Bố-tát) ngày mười lăm. Này các tỳ khưu, quả thật có hai loại Bố-tát này.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kati nu kho uposathakammānī”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Cattārimāni, bhikkhave, uposathakammāni—
- adhammena vaggaṁ uposathakammaṁ,
- adhammena samaggaṁ uposathakammaṁ,
- dhammena vaggaṁ uposathakammaṁ,
- dhammena samaggaṁ uposathakammanti.
Tatra, bhikkhave, yadidaṁ adhammena vaggaṁ uposathakammaṁ, na, bhikkhave, evarūpaṁ uposathakammaṁ kātabbaṁ. Na ca mayā evarūpaṁ uposathakammaṁ anuññātaṁ. Tatra, bhikkhave, yadidaṁ adhammena samaggaṁ uposathakammaṁ, na, bhikkhave, evarūpaṁ uposathakammaṁ kātabbaṁ. Na ca mayā evarūpaṁ uposathakammaṁ anuññātaṁ. Tatra, bhikkhave, yadidaṁ dhammena vaggaṁ uposathakammaṁ, na, bhikkhave, evarūpaṁ uposathakammaṁ kātabbaṁ. Na ca mayā evarūpaṁ uposathakammaṁ anuññātaṁ. Tatra, bhikkhave, yadidaṁ dhammena samaggaṁ uposathakammaṁ, evarūpaṁ, bhikkhave, uposathakammaṁ kātabbaṁ, evarūpañca mayā uposathakammaṁ anuññātaṁ. Tasmātiha, bhikkhave, evarūpaṁ uposathakammaṁ karissāma yadidaṁ dhammena samagganti—evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
The monks thought, “How many kinds of observance-day procedures are there?”
“There are these four kinds:
- The observance-day procedure that is illegitimate and has an incomplete assembly.
- The observance-day procedure that is illegitimate but has a complete assembly.
- The observance-day procedure that is legitimate but has an incomplete assembly.
- The observance-day procedure that is legitimate and has a complete assembly.
The first, second, and third of these shouldn’t be done; I haven’t allowed such procedures. The fourth should be done; I have allowed such procedures. Therefore, monks, you should train like this: ‘We will do observance-day procedures that are legitimate and have a complete assembly.’”
Khi ấy, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ rằng: “Có bao nhiêu loại yết-ma Bố-tát?” (Các vị) bèn trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, có bốn loại yết-ma Bố-tát này: yết-ma Bố-tát phi pháp, chia rẽ; yết-ma Bố-tát phi pháp, hòa hợp; yết-ma Bố-tát đúng pháp, chia rẽ; và yết-ma Bố-tát đúng pháp, hòa hợp. Này các tỳ khưu, trong số đó, yết-ma Bố-tát phi pháp, chia rẽ, này các tỳ khưu, loại yết-ma Bố-tát như vậy không nên thực hiện. Và loại yết-ma Bố-tát như vậy không được Ta cho phép. Này các tỳ khưu, trong số đó, yết-ma Bố-tát phi pháp, hòa hợp, này các tỳ khưu, loại yết-ma Bố-tát như vậy không nên thực hiện. Và loại yết-ma Bố-tát như vậy không được Ta cho phép. Này các tỳ khưu, trong số đó, yết-ma Bố-tát đúng pháp, chia rẽ, này các tỳ khưu, loại yết-ma Bố-tát như vậy không nên thực hiện. Và loại yết-ma Bố-tát như vậy không được Ta cho phép. Này các tỳ khưu, trong số đó, yết-ma Bố-tát đúng pháp, hòa hợp, này các tỳ khưu, loại yết-ma Bố-tát như vậy nên được thực hiện, và loại yết-ma Bố-tát như vậy được Ta cho phép. Vì vậy, này các tỳ khưu, (các ngươi nên nghĩ rằng:) ‘Chúng ta sẽ thực hiện loại yết-ma Bố-tát như vậy, tức là đúng pháp và hòa hợp.’ Này các tỳ khưu, các ngươi nên học tập như vậy.
11. Saṅkhittena pātimokkhuddesādi
11. The recitation of the Monastic Code in brief, etc.
78. Việc tụng đọc Giới Bổn một cách tóm tắt, v.v...
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kati nu kho pātimokkhuddesā”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Pañcime, bhikkhave, pātimokkhuddesā.
- Nidānaṁ uddisitvā avasesaṁ sutena sāvetabbaṁ. Ayaṁ paṭhamo pātimokkhuddeso.
- Nidānaṁ uddisitvā cattāri pārājikāni uddisitvā avasesaṁ sutena sāvetabbaṁ. Ayaṁ dutiyo pātimokkhuddeso.
- Nidānaṁ uddisitvā cattāri pārājikāni uddisitvā terasa saṅghādisese uddisitvā avasesaṁ sutena sāvetabbaṁ. Ayaṁ tatiyo pātimokkhuddeso.
- Nidānaṁ uddisitvā cattāri pārājikāni uddisitvā terasa saṅghādisese uddisitvā dve aniyate uddisitvā avasesaṁ sutena sāvetabbaṁ. Ayaṁ catuttho pātimokkhuddeso.
- Vitthāreneva pañcamo.
Ime kho, bhikkhave, pañca pātimokkhuddesā”ti.
The monks thought, “How many ways are there of reciting the Monastic Code?” They told the Buddha.
“There are these five ways of reciting the Monastic Code:
- After reciting the introduction, the rest is announced as if heard. This is the first way.
- After reciting the introduction and the four rules entailing expulsion, the rest is announced as if heard. This is the second way.
- After reciting the introduction, the four rules entailing expulsion, and the thirteen rules entailing suspension, the rest is announced as if heard. This is the third way.
- After reciting the introduction, the four rules entailing expulsion, the thirteen rules entailing suspension, and the two undetermined rules, the rest is announced as if heard. This is the fourth way.
- In full is the fifth.”
150. Khi ấy, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ rằng: “Có bao nhiêu cách thức tụng đọc Pātimokkha?” (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): Này các tỳ khưu, có năm cách thức tụng đọc Pātimokkha này: Sau khi đã tụng đọc phần Mở đầu (nidāna), phần còn lại nên được cho nghe bằng lời thông báo đã nghe (sutena). Đây là cách thức tụng đọc Pātimokkha thứ nhất. Sau khi đã tụng đọc phần Mở đầu, đã tụng đọc bốn pháp Pārājika, phần còn lại nên được cho nghe bằng lời thông báo đã nghe. Đây là cách thức tụng đọc Pātimokkha thứ hai. Sau khi đã tụng đọc phần Mở đầu, đã tụng đọc bốn pháp Pārājika, đã tụng đọc mười ba pháp Saṅghādisesa, phần còn lại nên được cho nghe bằng lời thông báo đã nghe. Đây là cách thức tụng đọc Pātimokkha thứ ba. Sau khi đã tụng đọc phần Mở đầu, đã tụng đọc bốn pháp Pārājika, đã tụng đọc mười ba pháp Saṅghādisesa, đã tụng đọc hai pháp Bất Định (aniyata), phần còn lại nên được cho nghe bằng lời thông báo đã nghe. Đây là cách thức tụng đọc Pātimokkha thứ tư. Cách thứ năm là (tụng đọc) đầy đủ chi tiết. Này các tỳ khưu, đây là năm cách thức tụng đọc Pātimokkha.
Tena kho pana samayena bhikkhū—“bhagavatā saṅkhittena pātimokkhuddeso anuññāto”ti—sabbakālaṁ saṅkhittena pātimokkhaṁ uddisanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, saṅkhittena pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Yo uddiseyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
When they heard that the Buddha had allowed the recitation of the Monastic Code in brief, some monks recited it in brief all the time.
“You shouldn’t recite the Monastic Code in brief. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nghĩ rằng: “Việc tụng đọc Pātimokkha một cách tóm tắt đã được đức Thế Tôn cho phép,” nên luôn luôn tụng đọc Pātimokkha một cách tóm tắt. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): Này các tỳ khưu, không được tụng đọc Pātimokkha một cách tóm tắt. Vị nào tụng đọc, vị ấy phạm tội tác ác (dukkaṭa).
Tena kho pana samayena kosalesu janapade aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe savarabhayaṁ ahosi. Bhikkhū nāsakkhiṁsu vitthārena pātimokkhaṁ uddisituṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sati antarāye saṅkhittena pātimokkhaṁ uddisitun”ti.
At that time, on the observance day in a certain monastery in the Kosalan country, there was a threat from primitive tribes. The monks were unable to recite the Monastic Code in full.
“I allow you to recite the Monastic Code in brief when there are threats.”
Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ ở xứ Kosala, vào đúng ngày lễ Uposatha, đã có sự nguy hiểm từ những người man rợ. Các tỳ khưu đã không thể tụng đọc Pātimokkha một cách chi tiết. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): Này các tỳ khưu, Ta cho phép tụng đọc Pātimokkha một cách tóm tắt khi có sự trở ngại.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū asatipi antarāye saṅkhittena pātimokkhaṁ uddisanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, asati antarāye saṅkhittena pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Yo uddiseyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, sati antarāye saṅkhittena pātimokkhaṁ uddisituṁ. Tatrime antarāyā—rājantarāyo, corantarāyo, agyantarāyo, udakantarāyo, manussantarāyo, amanussantarāyo, vāḷantarāyo, sarīsapantarāyo, jīvitantarāyo, brahmacariyantarāyoti. Anujānāmi, bhikkhave, evarūpesu antarāyesu saṅkhittena pātimokkhaṁ uddisituṁ, asati antarāye vitthārenā”ti.
The monks from the group of six recited the Monastic Code in brief even when there were no threats.
“You shouldn’t recite the Monastic Code in brief when there are no threats. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow you to recite the Monastic Code in brief when there are any of these threats: a threat from kings, bandits, fire, floods, people, spirits, predatory animals, or creeping animals, or a threat to life, or a threat to the monastic life.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu tụng đọc Pātimokkha một cách tóm tắt ngay cả khi không có sự trở ngại. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): Này các tỳ khưu, không được tụng đọc Pātimokkha một cách tóm tắt khi không có sự trở ngại. Vị nào tụng đọc, vị ấy phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép tụng đọc Pātimokkha một cách tóm tắt khi có sự trở ngại. Ở đây, những sự trở ngại này là: trở ngại từ vua chúa, trở ngại từ kẻ trộm, trở ngại từ lửa, trở ngại từ nước, trở ngại từ loài người, trở ngại từ phi nhân, trở ngại từ thú dữ, trở ngại từ loài bò sát, trở ngại đến tính mạng, trở ngại đến phạm hạnh. Này các tỳ khưu, Ta cho phép tụng đọc Pātimokkha một cách tóm tắt khi có những sự trở ngại như vậy, và (tụng đọc) một cách chi tiết khi không có sự trở ngại.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū saṅghamajjhe anajjhiṭṭhā dhammaṁ bhāsanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, saṅghamajjhe anajjhiṭṭhena dhammo bhāsitabbo. Yo bhāseyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, therena bhikkhunā sāmaṁ vā dhammaṁ bhāsituṁ paraṁ vā ajjhesitun”ti.
On one occasion the monks from the group of six gave a teaching in the midst of the Sangha without being asked.
“You shouldn’t give a teaching in the midst of the Sangha without being asked. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow the most senior monk either to give a teaching himself or to ask someone else.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu thuyết Pháp giữa Tăng chúng trong khi không được thỉnh mời. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): Này các tỳ khưu, người không được thỉnh mời không nên thuyết Pháp giữa Tăng chúng. Vị nào thuyết giảng, vị ấy phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão hoặc tự mình thuyết Pháp hoặc thỉnh mời vị khác.
12. Vinayapucchanakathā
12. Discussion of questioning on the Monastic Law
79. Câu chuyện về việc hỏi Luật
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū saṅghamajjhe asammatā vinayaṁ pucchanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, saṅghamajjhe asammatena vinayo pucchitabbo. Yo puccheyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, saṅghamajjhe sammatena vinayaṁ pucchituṁ.
Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbo—attanā vā attānaṁ sammannitabbaṁ, parena vā paro sammannitabbo. Kathañca attanāva attānaṁ sammannitabbaṁ? Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
On one occasion the monks from the group of six questioned others on the Monastic Law in the midst of the Sangha without being approved.
“You shouldn’t question others on the Monastic Law in the midst of the Sangha without being approved. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow you to question others on the Monastic Law in the midst of the Sangha after being approved.
And it should be done like this. One is either approved through oneself or through someone else. How is one approved through oneself? A competent and capable monk should inform the Sangha:
151. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu hỏi về Luật giữa Tăng chúng trong khi không được chấp thuận. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): Này các tỳ khưu, người không được chấp thuận không nên hỏi về Luật giữa Tăng chúng. Vị nào hỏi, vị ấy phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép người đã được chấp thuận hỏi về Luật giữa Tăng chúng. Và này các tỳ khưu, nên chấp thuận như vầy: Hoặc tự mình chấp thuận cho mình, hoặc người khác chấp thuận cho người khác. Và thế nào là tự mình chấp thuận cho mình? Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ itthannāmaṁ vinayaṁ puccheyyan’ti.
Evaṁ attanāva attānaṁ sammannitabbaṁ.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, I will question so-and-so on the Monastic Law.’
“Bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Nếu thời điểm là thích hợp cho Tăng chúng, con sẽ hỏi Luật vị có tên như vầy.” Như vậy là tự mình chấp thuận cho mình.
Kathañca parena paro sammannitabbo? Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
And how is one approved through someone else? A competent and capable monk should inform the Sangha:
Và thế nào là người khác chấp thuận cho người khác? Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, itthannāmo itthannāmaṁ vinayaṁ puccheyyā’ti.
Evaṁ parena paro sammannitabbo”ti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, so-and-so will question so-and-so on the Monastic Law.’
“Bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Nếu thời điểm là thích hợp cho Tăng chúng, vị có tên như vầy hãy hỏi Luật vị có tên như vầy.” Như vậy là người khác chấp thuận cho người khác.
Tena kho pana samayena pesalā bhikkhū saṅghamajjhe sammatā vinayaṁ pucchanti. Chabbaggiyā bhikkhū labhanti āghātaṁ, labhanti appaccayaṁ, vadhena tajjenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, saṅghamajjhe sammatenapi parisaṁ oloketvā puggalaṁ tulayitvā vinayaṁ pucchitun”ti.
Soon good monks asked questions on the Monastic Law in the midst of the Sangha after being approved. The monks from the group of six became angry and bitter, and they made threats of violence.
“The monk who has been approved should first survey the gathering and evaluate the individuals, and then ask questions on the Monastic Law in the midst of the Sangha.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu có giới hạnh đáng mến, sau khi được chấp thuận, đã hỏi về Luật giữa Tăng chúng. Nhóm sáu tỳ khưu sanh lòng oán hận, sanh lòng không vừa ý, và đã hăm dọa bằng cách đánh đập. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): Này các tỳ khưu, Ta cho phép người đã được chấp thuận, sau khi đã quan sát hội chúng và đã cân nhắc cá nhân, được hỏi về Luật giữa Tăng chúng.
13. Vinayavissajjanakathā
13. Discussion of replying to questions on the Monastic Law
80. Câu chuyện về việc trả lời Luật
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū saṅghamajjhe asammatā vinayaṁ vissajjenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, saṅghamajjhe asammatena vinayo vissajjetabbo. Yo vissajjeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, saṅghamajjhe sammatena vinayaṁ vissajjetuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbaṁ. Attanā vā attānaṁ sammannitabbaṁ, parena vā paro sammannitabbo.
Kathañca attanāva attānaṁ sammannitabbaṁ? Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
On one occasion the monks from the group of six replied to questions on the Monastic Law in the midst of the Sangha without being approved.
“You shouldn’t reply to questions on the Monastic Law in the midst of the Sangha without being approved. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow you to reply to questions on the Monastic Law in the midst of the Sangha after being approved.
And it should be done like this. One is either approved through oneself or through someone else.
How is one approved through oneself? A competent and capable monk should inform the Sangha:
152. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu trả lời về Luật giữa Tăng chúng trong khi không được chấp thuận. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): Này các tỳ khưu, người không được chấp thuận không nên trả lời về Luật giữa Tăng chúng. Vị nào trả lời, vị ấy phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép người đã được chấp thuận trả lời về Luật giữa Tăng chúng. Và này các tỳ khưu, nên chấp thuận như vầy: Hoặc tự mình chấp thuận cho mình, hoặc người khác chấp thuận cho người khác. Và thế nào là tự mình chấp thuận cho mình? Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ itthannāmena vinayaṁ puṭṭho vissajjeyyan’ti.
Evaṁ attanāva attānaṁ sammannitabbaṁ.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, I will reply when asked by so-and-so on the Monastic Law.’
“Bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Nếu thời điểm là thích hợp cho Tăng chúng, khi được vị có tên như vầy hỏi về Luật, con sẽ trả lời.” Như vậy là tự mình chấp thuận cho mình.
Kathañca parena paro sammannitabbo? Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
And how is one approved through someone else? A competent and capable monk should inform the Sangha:
Và thế nào là người khác chấp thuận cho người khác? Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, itthannāmo itthannāmena vinayaṁ puṭṭho vissajjeyyā’ti.
Evaṁ parena paro sammannitabbo”ti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, so-and-so will reply when asked by so-and-so on the Monastic Law.’
‘Kính bạch chư Tôn đức, mong Tăng chúng hãy lắng nghe lời của tôi. Nếu Tăng chúng đã đến thời điểm thích hợp, vị có tên như vầy, khi được vị có tên như vầy hỏi về Luật, nên trả lời.’ Như vậy, một người nên được một người khác chỉ định.
Tena kho pana samayena pesalā bhikkhū saṅghamajjhe sammatā vinayaṁ vissajjenti. Chabbaggiyā bhikkhū labhanti āghātaṁ, labhanti appaccayaṁ, vadhena tajjenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, saṅghamajjhe sammatenapi parisaṁ oloketvā puggalaṁ tulayitvā vinayaṁ vissajjetun”ti.
14. Codanākathā
Soon good monks replied to questions on the Monastic Law in the midst of the Sangha after being approved. The monks from the group of six became angry and bitter, and they made threats of violence.
“The monk who has been approved should first survey the gathering and evaluate the individuals, and then reply to questions on the Monastic Law in the midst of the Sangha.”
14. Discussion of accusing
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu có giới hạnh đáng mến, sau khi được chỉ định, đã trả lời về Luật ở giữa Tăng chúng. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư sinh lòng oán hận, sinh lòng bất mãn, và đe dọa hãm hại. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép, dù đã được chỉ định ở giữa Tăng chúng, sau khi quan sát hội chúng và cân nhắc cá nhân, mới trả lời về Luật.’
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū anokāsakataṁ bhikkhuṁ āpattiyā codenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, anokāsakato bhikkhu āpattiyā codetabbo. Yo codeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, okāsaṁ kārāpetvā āpattiyā codetuṁ—karotu āyasmā okāsaṁ, ahaṁ taṁ vattukāmo”ti.
At one time the monks from the group of six accused a monk of an offense without first getting his permission to do so.
“You shouldn’t accuse a monk of an offense without first getting his permission. If you do, you commit an offense of wrong conduct. You should only accuse someone of an offense after getting their permission: ‘I wish to speak to you, venerable, please give me permission.’”
153. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư chất vấn một vị tỳ khưu về một tội mà chưa xin phép vị ấy. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) ‘Này các tỳ khưu, không được chất vấn một vị tỳ khưu về một tội mà chưa xin phép vị ấy. Vị nào chất vấn, phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, Ta cho phép chất vấn về một tội sau khi đã xin phép rằng: ‘Mong Đại đức hãy cho phép, tôi muốn nói với ngài.’’
Tena kho pana samayena pesalā bhikkhū chabbaggiye bhikkhū okāsaṁ kārāpetvā āpattiyā codenti. Chabbaggiyā bhikkhū labhanti āghātaṁ, labhanti appaccayaṁ, vadhena tajjenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, katepi okāse puggalaṁ tulayitvā āpattiyā codetun”ti.
Soon, after getting their permission, good monks accused the monks from the group of six of an offense. The monks from the group of six became angry and bitter, and they made threats of violence.
“Even when you have their permission, you should first evaluate the individual and then accuse them of an offense.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu có giới hạnh đáng mến, sau khi đã xin phép, đã chất vấn các tỳ khưu nhóm Lục Sư về một tội. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư sinh lòng oán hận, sinh lòng bất mãn, và đe dọa hãm hại. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép, dù đã được cho phép, sau khi cân nhắc cá nhân, mới chất vấn về một tội.’
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū—“puramhākaṁ pesalā bhikkhū okāsaṁ kārāpentī”ti—paṭikacceva suddhānaṁ bhikkhūnaṁ anāpattikānaṁ avatthusmiṁ akāraṇe okāsaṁ kārāpenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, suddhānaṁ bhikkhūnaṁ anāpattikānaṁ avatthusmiṁ akāraṇe okāso kārāpetabbo. Yo kārāpeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, puggalaṁ tulayitvā okāsaṁ kātun”ti.
At this time the monks from the group of six—thinking to act before the good monks asked them for permission, but having no reason for doing so—asked permission from pure monks who had not committed any offenses.
“When there is no reason for doing so, you shouldn’t ask permission from pure monks who haven’t committed any offenses. If you do, you commit an offense of wrong conduct. And you should give permission only after evaluating the individual.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư, (nghĩ rằng) ‘Các tỳ khưu có giới hạnh đáng mến sẽ xin phép chúng ta trước,’ nên đã xin phép trước các vị tỳ khưu trong sạch, không có tội, một cách không có cơ sở, không có lý do. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) ‘Này các tỳ khưu, không được xin phép các vị tỳ khưu trong sạch, không có tội, một cách không có cơ sở, không có lý do. Vị nào xin phép, phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép, sau khi cân nhắc cá nhân, mới xin phép.’
15. Adhammakammapaṭikkosanādi
15. Objecting to an illegitimate legal procedure, etc.
82. Về việc phản đối hành sự phi pháp, v.v.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū saṅghamajjhe adhammakammaṁ karonti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, adhammakammaṁ kātabbaṁ. Yo kareyya, āpatti dukkaṭassāti.
Karontiyeva adhammakammaṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
Anujānāmi, bhikkhave, adhammakamme kayiramāne paṭikkositun”ti.
On one occasion the monks from the group of six did an illegitimate legal procedure in the midst of the Sangha.
“You shouldn’t do illegitimate legal procedures. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
They still did illegitimate procedures.
“You should object when an illegitimate legal procedure is being done.”
154. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư thực hiện hành sự phi pháp ở giữa Tăng chúng. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) ‘Này các tỳ khưu, không được thực hiện hành sự phi pháp. Vị nào thực hiện, phạm tội dukkaṭa.’ (Tuy nhiên,) họ vẫn cứ thực hiện hành sự phi pháp. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép phản đối khi một hành sự phi pháp đang được tiến hành.’
Tena kho pana samayena pesalā bhikkhū chabbaggiyehi bhikkhūhi adhammakamme kayiramāne paṭikkosanti. Chabbaggiyā bhikkhū labhanti āghātaṁ, labhanti appaccayaṁ, vadhena tajjenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, diṭṭhimpi āvikātunti.
Tesaṁyeva santike diṭṭhiṁ āvikaronti. Chabbaggiyā bhikkhū labhanti āghātaṁ, labhanti appaccayaṁ, vadhena tajjenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
Anujānāmi, bhikkhave, catūhi pañcahi paṭikkosituṁ, dvīhi tīhi diṭṭhiṁ āvikātuṁ, ekena adhiṭṭhātuṁ—‘na metaṁ khamatī’”ti.
Soon afterwards good monks objected when the monks from the group of six did an illegitimate procedure. The monks from the group of six became angry and bitter, and they made threats of violence.
“I also allow you to state your view.”
They did. Once again the monks from the group of six became angry and bitter, making threats of violence.
“A group of four or five should object, a group of two or three may state their view, and a single person may make a silent determination: ‘I don’t approve of this.’”
Vào lúc bấy giờ, khi các tỳ khưu nhóm Lục Sư đang tiến hành hành sự phi pháp, các tỳ khưu có giới hạnh đáng mến đã phản đối. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư sinh lòng oán hận, sinh lòng bất mãn, và đe dọa hãm hại. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cũng cho phép bày tỏ quan điểm.’ (Các tỳ khưu) đã bày tỏ quan điểm ngay trước mặt họ. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư sinh lòng oán hận, sinh lòng bất mãn, và đe dọa hãm hại. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép bốn hoặc năm vị phản đối, hai hoặc ba vị bày tỏ quan điểm, một vị quyết định rằng: ‘Việc này tôi không chấp thuận.’’
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū saṅghamajjhe pātimokkhaṁ uddisamānā sañcicca na sāventi. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“ Na, bhikkhave, pātimokkhuddesakena sañcicca na sāvetabbaṁ. Yo na sāveyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion when the monks from the group of six were reciting the Monastic Code in the midst of the Sangha, they deliberately made themselves inaudible.
“When reciting the Monastic Code, you shouldn’t deliberately make yourselves inaudible. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư, khi đang trùng tuyên Pātimokkha ở giữa Tăng chúng, đã cố ý không đọc cho nghe. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) ‘Này các tỳ khưu, vị trùng tuyên Pātimokkha không được cố ý không đọc cho nghe. Vị nào không đọc cho nghe, phạm tội dukkaṭa.’
Tena kho pana samayena āyasmā udāyī saṅghassa pātimokkhuddesako hoti kākassarako. Atha kho āyasmato udāyissa etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘pātimokkhuddesakena sāvetabban’ti, ahañcamhi kākassarako, kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pātimokkhuddesakena vāyamituṁ—‘kathaṁ sāveyyan’ti. Vāyamantassa anāpattī”ti.
At one time Venerable Udāyī was the Sangha’s reciter of the Monastic Code, but he had a hoarse voice. He knew that the Buddha had laid down a rule that the reciters of the Monastic Code should make themselves heard, and he thought, ‘I have a hoarse voice. What should I do?’
“The reciter of the Monastic Code should make an effort to be heard. If you make an effort, there’s no offense.”
Vào lúc bấy giờ, Đại đức Udāyī là vị trùng tuyên Pātimokkha cho Tăng chúng và có giọng như quạ kêu. Khi ấy, ý nghĩ này đã khởi lên trong Đại đức Udāyī: ‘Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Vị trùng tuyên Pātimokkha phải đọc cho nghe,’ còn ta lại có giọng như quạ kêu, vậy ta nên thực hành như thế nào đây?’ (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị trùng tuyên Pātimokkha cố gắng (với ý nghĩ): ‘Làm sao để ta đọc cho nghe được?’ Người đang cố gắng thì không có tội.’
Tena kho pana samayena devadatto sagahaṭṭhāya parisāya pātimokkhaṁ uddisati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, sagahaṭṭhāya parisāya pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Yo uddiseyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion Devadatta recited the Monastic Code in a gathering that included lay people.
“You shouldn’t recite the Monastic Code in a gathering that includes lay people. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, Devadatta trùng tuyên Pātimokkha trong một hội chúng có cả người tại gia. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) ‘Này các tỳ khưu, không được trùng tuyên Pātimokkha trong một hội chúng có cả người tại gia. Vị nào trùng tuyên, phạm tội dukkaṭa.’
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū saṅghamajjhe anajjhiṭṭhā pātimokkhaṁ uddisanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, saṅghamajjhe anajjhiṭṭhena pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Yo uddiseyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, therādhikaṁ pātimokkhan”ti.
On one occasion the monks from the group of six recited the Monastic Code in the midst of the Sangha without being asked.
“You shouldn’t recite the Monastic Code in the midst of the Sangha without first being asked to do so. If you do, you commit an offense of wrong conduct. The most senior monk should be in charge of the recitation of the Monastic Code.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư trùng tuyên Pātimokkha ở giữa Tăng chúng mà không được thỉnh mời. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) ‘Này các tỳ khưu, người không được thỉnh mời thì không được trùng tuyên Pātimokkha ở giữa Tăng chúng. Vị nào trùng tuyên, phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc (trùng tuyên) Pātimokkha thuộc về vị trưởng lão.’
Aññatitthiyabhāṇavāro niṭṭhito paṭhamo.
The first section for recitation on monastics of other religions is finished.
Phẩm về Ngoại đạo, thứ nhất, đã kết thúc.
16. Pātimokkhuddesakaajjhesanādi
16. Requesting the recitation of the Monastic Code, etc.
83. Về việc thỉnh mời vị trùng tuyên Pātimokkha, v.v.
Atha kho bhagavā rājagahe yathābhirantaṁ viharitvā yena codanāvatthu tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena codanāvatthu tadavasari.
Tena kho pana samayena aññatarasmiṁ āvāse sambahulā bhikkhū viharanti. Tattha thero bhikkhu bālo hoti abyatto. So na jānāti uposathaṁ vā uposathakammaṁ vā, pātimokkhaṁ vā pātimokkhuddesaṁ vā. Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘therādhikaṁ pātimokkhan’ti, ayañca amhākaṁ thero bālo abyatto, na jānāti uposathaṁ vā uposathakammaṁ vā, pātimokkhaṁ vā pātimokkhuddesaṁ vā. Kathaṁ nu kho amhehi paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, yo tattha bhikkhu byatto paṭibalo tassādheyyaṁ pātimokkhan”ti.
When the Buddha had stayed at Rājagaha for as long as he liked, he set out wandering toward Codanāvatthu. When he eventually arrived, he stayed there.
At that time a number of monks were staying in a certain monastery where the most senior monk was ignorant and incompetent. He did not know about the observance-day ceremony or the observance-day procedure, nor about the Monastic Code or its recitation. The other monks knew that the Buddha had laid down a rule that the most senior monk should be in charge of the recitation of the Monastic Code, and so they wondered what to do. They told the Buddha.
“In such a case, a competent and capable monk there should be in charge of the recitation of the Monastic Code.”
155. Lúc bấy giờ, sau khi đã an trú tại Rājagaha tùy theo ý thích, đức Thế Tôn đã khởi hành đi du hành đến nơi có Codanāvatthu. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã đi đến Codanāvatthu. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đang an trú ở một trú xứ nọ. Ở đấy, vị tỳ khưu trưởng lão là người khờ dại, không rành rẽ. Vị ấy không biết về lễ Uposatha, về phận sự Uposatha, về Pātimokkha, hay về việc tụng đọc Pātimokkha. Bấy giờ, các tỳ khưu ấy đã có suy nghĩ này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Pātimokkha thuộc thẩm quyền của vị trưởng lão.’ Vị trưởng lão này của chúng ta lại là người khờ dại, không rành rẽ, không biết về lễ Uposatha, về phận sự Uposatha, về Pātimokkha, hay về việc tụng đọc Pātimokkha. Chúng ta nên thực hành như thế nào đây?” (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép rằng, ở nơi ấy, vị tỳ khưu nào rành rẽ, có khả năng thì Pātimokkha thuộc thẩm quyền của vị ấy.”
Tena kho pana samayena aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā bhikkhū viharanti bālā abyattā. Te na jānanti uposathaṁ vā uposathakammaṁ vā, pātimokkhaṁ vā pātimokkhuddesaṁ vā. Te theraṁ ajjhesiṁsu—“uddisatu, bhante, thero pātimokkhan”ti. So evamāha—“na me, āvuso, vattatī”ti. Dutiyaṁ theraṁ ajjhesiṁsu—“uddisatu, bhante, thero pātimokkhan”ti. Sopi evamāha—“na me, āvuso, vattatī”ti. Tatiyaṁ theraṁ ajjhesiṁsu—“uddisatu, bhante, thero pātimokkhan”ti. Sopi evamāha—“na me, āvuso, vattatī”ti. Eteneva upāyena yāva saṅghanavakaṁ ajjhesiṁsu—“uddisatu āyasmā pātimokkhan”ti. Sopi evamāha—“na me, bhante, vattatī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
On one occasion on the observance day, a number of ignorant and incompetent monks were staying in a certain monastery. They did not know about the observance-day ceremony or the observance-day procedure, nor about the Monastic Code or its recitation. They requested the most senior monk to recite the Monastic Code, but he replied that he was incapable. They made the same request of the second-most and third-most senior monks, and on both occasions received the same reply. They then requested each monk in turn until they reached the most junior monk. And they all gave the same reply.
Vào lúc bấy giờ, vào ngày Uposatha, có nhiều vị tỳ khưu là những người khờ dại, không rành rẽ đang an trú ở một trú xứ nọ. Các vị ấy không biết về lễ Uposatha, về phận sự Uposatha, về Pātimokkha, hay về việc tụng đọc Pātimokkha. Các vị ấy đã thỉnh cầu vị trưởng lão: “Bạch ngài, mong trưởng lão hãy tụng đọc Pātimokkha.” Vị ấy đã nói như vầy: “Này chư hiền, tôi không thuộc.” Các vị ấy đã thỉnh cầu vị trưởng lão thứ hai: “Bạch ngài, mong trưởng lão hãy tụng đọc Pātimokkha.” Vị ấy cũng đã nói như vầy: “Này chư hiền, tôi không thuộc.” Các vị ấy đã thỉnh cầu vị trưởng lão thứ ba: “Bạch ngài, mong trưởng lão hãy tụng đọc Pātimokkha.” Vị ấy cũng đã nói như vầy: “Này chư hiền, tôi không thuộc.” Bằng cách thức ấy, các vị ấy đã thỉnh cầu cho đến vị tỳ khưu hạ lạp nhỏ nhất trong tăng chúng: “Bạch hiền giả, mong hiền giả hãy tụng đọc Pātimokkha.” Vị ấy cũng đã nói như vầy: “Bạch chư ngài, tôi không thuộc.” (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
“Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā bhikkhū viharanti bālā abyattā. Te na jānanti uposathaṁ vā uposathakammaṁ vā, pātimokkhaṁ vā pātimokkhuddesaṁ vā. Te theraṁ ajjhesanti—‘uddisatu, bhante, thero pātimokkhan’ti. So evaṁ vadeti—‘na me, āvuso, vattatī’ti. Dutiyaṁ theraṁ ajjhesanti—‘uddisatu, bhante, thero pātimokkhan’ti. Sopi evaṁ vadeti—‘na me, āvuso, vattatī’ti. Tatiyaṁ theraṁ ajjhesanti—‘uddisatu, bhante, thero pātimokkhan’ti. Sopi evaṁ vadeti—‘na me, āvuso, vattatī’ti. Eteneva upāyena yāva saṅghanavakaṁ ajjhesanti—‘uddisatu āyasmā pātimokkhan’ti. Sopi evaṁ vadeti—‘na me, bhante, vattatī’ti. Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi eko bhikkhu sāmantā āvāsā sajjukaṁ pāhetabbo—gacchāvuso, saṅkhittena vā vitthārena vā pātimokkhaṁ pariyāpuṇitvāna āgacchāhī”ti.
“When all the monks in a monastery are ignorant and incompetent, and none of them is able to recite the Monastic Code, they should straightaway send a monk to a neighboring monastery to learn the Monastic Code, either in brief or in full.”
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vào ngày Uposatha, có nhiều vị tỳ khưu là những người khờ dại, không rành rẽ đang an trú ở một trú xứ nọ. Các vị ấy không biết về lễ Uposatha, về phận sự Uposatha, về Pātimokkha, hay về việc tụng đọc Pātimokkha. Các vị ấy thỉnh cầu vị trưởng lão: “Bạch ngài, mong trưởng lão hãy tụng đọc Pātimokkha.” Vị ấy nói như vầy: “Này chư hiền, tôi không thuộc.” Các vị ấy thỉnh cầu vị trưởng lão thứ hai: “Bạch ngài, mong trưởng lão hãy tụng đọc Pātimokkha.” Vị ấy cũng nói như vầy: “Này chư hiền, tôi không thuộc.” Các vị ấy thỉnh cầu vị trưởng lão thứ ba: “Bạch ngài, mong trưởng lão hãy tụng đọc Pātimokkha.” Vị ấy cũng nói như vầy: “Này chư hiền, tôi không thuộc.” Bằng cách thức ấy, các vị ấy thỉnh cầu cho đến vị tỳ khưu hạ lạp nhỏ nhất trong tăng chúng: “Bạch hiền giả, mong hiền giả hãy tụng đọc Pātimokkha.” Vị ấy cũng nói như vầy: “Bạch chư ngài, tôi không thuộc.” Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ấy nên cử một vị tỳ khưu đi đến một trú xứ lân cận trong ngày, (với lời dặn): ‘Này hiền giả, hãy đi, sau khi học thuộc Pātimokkha một cách tóm tắt hoặc chi tiết rồi hãy trở về.’”
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kena nu kho pāhetabbo”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, therena bhikkhunā navaṁ bhikkhuṁ āṇāpetun”ti.
Therena āṇattā navā bhikkhū na gacchanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, therena āṇattena agilānena na gantabbaṁ. Yo na gaccheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
The monks thought, “Who is responsible for sending someone?”
“The most senior monk should tell a junior monk to go.”
Although told by the senior monk, the junior monks did not go.
“If a monk isn’t sick and he’s told by the most senior monk to go, he should go. If he doesn’t, he commits an offense of wrong conduct.”
Bấy giờ, các tỳ khưu đã có suy nghĩ này: “Ai là người nên được cử đi?” (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão ra lệnh cho vị tỳ khưu trẻ.” Các vị tỳ khưu trẻ được vị trưởng lão ra lệnh đã không đi. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): “Này các tỳ khưu, vị (tỳ khưu) không có bệnh, khi được trưởng lão ra lệnh, không được phép không đi. Vị nào không đi thì phạm tội dukkaṭa.”
17. Pakkhagaṇanādiuggahaṇānujānana
17. The instruction to learn the number of the lunar half-month, etc.
84. Sự cho phép học hỏi về việc đếm ngày trong mỗi nửa tháng, v.v.
Atha kho bhagavā codanāvatthusmiṁ yathābhirantaṁ viharitvā punadeva rājagahaṁ paccāgañchi.
When he had stayed at Codanāvatthu for as long as he liked, the Buddha returned to Rājagaha.
156. Lúc bấy giờ, sau khi đã an trú tại Codanāvatthu tùy theo ý thích, đức Thế Tôn lại trở về Rājagaha.
Tena kho pana samayena manussā bhikkhū piṇḍāya carante pucchanti—“katimī, bhante, pakkhassā”ti? Bhikkhū evamāhaṁsu—“na kho mayaṁ, āvuso, jānāmā”ti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“pakkhagaṇanamattampime samaṇā sakyaputtiyā na jānanti, kiṁ panime aññaṁ kiñci kalyāṇaṁ jānissantī”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pakkhagaṇanaṁ uggahetun”ti.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kena nu kho pakkhagaṇanā uggahetabbā”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sabbeheva pakkhagaṇanaṁ uggahetun”ti.
Then, while the monks were walking for almsfood, people asked them which half-month it was. They replied that they did not know. People complained and criticized them, “These Sakyan monastics don’t even know the number of the lunar half-month. So how could they possibly know anything truly useful?” They told the Buddha.
“You should learn the counting of the lunar half-months.”
The monks thought, “Who should learn the counting of the lunar half-months?”
“You should all learn the counting of the lunar half-months.”
Vào lúc bấy giờ, trong khi các tỳ khưu đang đi khất thực, những người dân thường hỏi rằng: “Bạch chư ngài, hôm nay là ngày thứ mấy của nửa tháng?” Các tỳ khưu đã nói như vầy: “Này chư hiền, chúng tôi không biết.” Những người dân thường phàn nàn, chê bai, và dị nghị rằng: “Các vị sa-môn Thích tử này ngay cả việc đếm ngày trong mỗi nửa tháng cũng không biết, huống hồ các vị ấy sẽ biết được điều gì tốt đẹp khác nữa?” (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép học hỏi về việc đếm ngày trong mỗi nửa tháng.” Bấy giờ, các tỳ khưu đã có suy nghĩ này: “Ai là người nên học hỏi về việc đếm ngày trong mỗi nửa tháng?” (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép tất cả (các tỳ khưu) học hỏi về việc đếm ngày trong mỗi nửa tháng.”
Tena kho pana samayena manussā bhikkhū piṇḍāya carante pucchanti—“kīvatikā, bhante, bhikkhū”ti? Bhikkhū evamāhaṁsu—“na kho mayaṁ, āvuso, jānāmā”ti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“aññamaññampime samaṇā sakyaputtiyā na jānanti, kiṁ panime aññaṁ kiñci kalyāṇaṁ jānissantī”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bhikkhū gaṇetun”ti.
On another occasion, while the monks were walking for almsfood, people asked them how many monks there were. They replied that they did not know. People complained and criticized them, “These Sakyan monastics don’t even know about one another. So how could they possibly know anything truly useful?”
“You should count the monks.”
157. Vào lúc bấy giờ, trong khi các tỳ khưu đang đi khất thực, những người dân thường hỏi rằng: “Bạch chư ngài, có bao nhiêu vị tỳ khưu?” Các tỳ khưu đã nói như vầy: “Này chư hiền, chúng tôi không biết.” Những người dân thường phàn nàn, chê bai, và dị nghị rằng: “Các vị sa-môn Thích tử này ngay cả lẫn nhau cũng không biết, huống hồ các vị ấy sẽ biết được điều gì tốt đẹp khác nữa?” (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép đếm số tỳ khưu.”
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kadā nu kho bhikkhū gaṇetabbā”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, tadahuposathe nāmaggena vā gaṇetuṁ, salākaṁ vā gāhetun”ti.
The monks thought, “When should we count the monks?”
“You should count the monks on the observance day, either by name or by distributing tickets.”
Bấy giờ, các tỳ khưu đã có suy nghĩ này: “Khi nào nên đếm số tỳ khưu?” (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép đếm (số tỳ khưu) vào ngày Uposatha theo thứ tự tên gọi, hoặc cho nhận thẻ.”
Tena kho pana samayena bhikkhū ajānantā ajjuposathoti dūraṁ gāmaṁ piṇḍāya caranti. Te uddissamānepi pātimokkhe āgacchanti, uddiṭṭhamattepi āgacchanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ārocetuṁ ‘ajjuposatho’”ti.
On one occasion, monks walked for almsfood in a faraway village, not knowing that it was the observance day. They arrived back while the Monastic Code was being recited or even just after.
“You should announce, ‘Today is the observance day.’”
158. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu do không biết: “Hôm nay là ngày Uposatha” nên đã đi khất thực ở một ngôi làng xa. Các vị ấy trở về trong khi Pātimokkha đang được tụng đọc, và cũng có vị trở về ngay sau khi (Pātimokkha) đã được tụng đọc xong. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép thông báo rằng: ‘Hôm nay là ngày Uposatha.’”
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kena nu kho ārocetabbo”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, therena bhikkhunā kālavato ārocetun”ti.
The monks thought, “Who should make the announcement?”
“The most senior monk should make the announcement early in the morning.”
Khi ấy, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ: 'Vậy ai là người nên trình báo?' (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) - Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão trình báo vào lúc sớm.
Tena kho pana samayena aññataro thero kālavato nassarati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bhattakālepi ārocetun”ti.
Soon afterwards a certain senior monk forgot to make the announcement early in the morning.
“I allow you to make the announcement at the mealtime too.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị trưởng lão đã quên mất (việc trình báo) vào lúc sớm. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) - Này các tỳ khưu, Ta cho phép trình báo cả vào lúc dùng bữa.
Bhattakālepi nassarati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, yaṁ kālaṁ sarati, taṁ kālaṁ ārocetun”ti.
He forgot to make the announcement at the mealtime too.
“I allow you to make the announcement whenever you remember.”
(Vị ấy) cũng quên mất cả vào lúc dùng bữa. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) - Này các tỳ khưu, Ta cho phép trình báo vào lúc nào nhớ ra, vào lúc ấy.
18. Pubbakaraṇānujānana
18. The instruction to do the prior duties
85. Sự cho phép về các việc cần làm trước
Tena kho pana samayena aññatarasmiṁ āvāse uposathāgāraṁ uklāpaṁ hoti. Āgantukā bhikkhū ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma āvāsikā bhikkhū uposathāgāraṁ na sammajjissantī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, uposathāgāraṁ sammajjitun”ti.
On one occasion in a certain monastery, the observance-day hall was dirty. Newly-arrived monks complained, “Why don’t the resident monks sweep the hall?” They told the Buddha.
“You should sweep the observance-day hall.”
159. Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ, nhà Bố-tát bị dơ bẩn. Các tỳ khưu khách đã phàn nàn, chê bai, và nói xấu rằng: 'Tại sao các tỳ khưu trú tại đây lại không quét dọn nhà Bố-tát?' (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) - Này các tỳ khưu, Ta cho phép quét dọn nhà Bố-tát.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kena nu kho uposathāgāraṁ sammajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, therena bhikkhunā navaṁ bhikkhuṁ āṇāpetun”ti.
The monks thought, “Who should sweep it?”
“The most senior monk should tell a junior monk.”
Khi ấy, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ: 'Vậy ai là người nên quét dọn nhà Bố-tát?' (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) - Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão ra lệnh cho vị tỳ khưu mới.
Therena āṇattā navā bhikkhū na sammajjanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, therena āṇattena agilānena na sammajjitabbaṁ. Yo na sammajjeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Although told by the senior monk, the junior monks did not sweep.
“If a monk isn’t sick and he’s told by the senior monk to sweep, he should sweep. If he doesn’t, he commits an offense of wrong conduct.”
Các vị tỳ khưu mới, được vị trưởng lão ra lệnh, đã không quét dọn. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) - Này các tỳ khưu, người không có bệnh, được vị trưởng lão ra lệnh, thì không được không quét dọn. Vị nào không quét dọn thì phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena uposathāgāre āsanaṁ apaññattaṁ hoti. Bhikkhū chamāyaṁ nisīdanti, gattānipi cīvarānipi paṁsukitāni honti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, uposathāgāre āsanaṁ paññapetun”ti.
On one occasion no seats were prepared in the observance-day hall. The monks sat on the ground. They got dirty, as did their robes.
“You should prepare seats in the observance-day hall.”
160. Vào lúc bấy giờ, ở nhà Bố-tát, chỗ ngồi không được sắp đặt. Các tỳ khưu ngồi trên nền đất, cả thân thể lẫn y phục đều bị dính bụi. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) - Này các tỳ khưu, Ta cho phép sắp đặt chỗ ngồi ở nhà Bố-tát.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kena nu kho uposathāgāre āsanaṁ paññapetabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, therena bhikkhunā navaṁ bhikkhuṁ āṇāpetun”ti.
The monks thought, “Who should prepare them?”
“The most senior monk should tell a junior monk.”
Khi ấy, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ: 'Vậy ai là người nên sắp đặt chỗ ngồi ở nhà Bố-tát?' (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) - Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão ra lệnh cho vị tỳ khưu mới.
Therena āṇattā navā bhikkhū na paññapenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, therena āṇattena agilānena na paññapetabbaṁ. Yo na paññapeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Although told by the senior monk, the junior monks did not prepare them.
“If a monk isn’t sick and he’s told by the senior monk to prepare the seats, he should do so. If he doesn’t, he commits an offense of wrong conduct.”
Các vị tỳ khưu mới, được vị trưởng lão ra lệnh, đã không sắp đặt. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) - Này các tỳ khưu, người không có bệnh, được vị trưởng lão ra lệnh, thì không được không sắp đặt. Vị nào không sắp đặt thì phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena uposathāgāre padīpo na hoti. Bhikkhū andhakāre kāyampi cīvarampi akkamanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, uposathāgāre padīpaṁ kātun”ti.
On one occasion there was no lamp in the observance-day hall. Because it was dark, the monks stepped on one another and on one another’s robes.
“You should light a lamp in the observance-day hall.”
161. Vào lúc bấy giờ, ở nhà Bố-tát không có đèn. Các tỳ khưu trong bóng tối đã giẫm lên thân thể và y phục (của nhau). (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) - Này các tỳ khưu, Ta cho phép thắp đèn ở nhà Bố-tát.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kena nu kho uposathāgāre padīpo kātabbo”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, therena bhikkhunā navaṁ bhikkhuṁ āṇāpetun”ti.
The monks thought, “Who should light it?”
“The most senior monk should tell a junior monk.”
Khi ấy, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ: 'Vậy ai là người nên thắp đèn ở nhà Bố-tát?' (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) - Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão ra lệnh cho vị tỳ khưu mới.
Therena āṇattā navā bhikkhū na padīpenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, therena āṇattena agilānena na padīpetabbo. Yo na padīpeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Although told by the senior monk, the junior monks did not light a lamp.
“If a monk isn’t sick and he’s told by the senior monk to light a lamp, he should do so. If he doesn’t, he commits an offense of wrong conduct.”
Các vị tỳ khưu mới, được vị trưởng lão ra lệnh, đã không thắp đèn. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) - Này các tỳ khưu, người không có bệnh, được vị trưởng lão ra lệnh, thì không được không thắp đèn. Vị nào không thắp đèn thì phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena aññatarasmiṁ āvāse āvāsikā bhikkhū neva pānīyaṁ upaṭṭhāpenti, na paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpenti. Āgantukā bhikkhū ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma āvāsikā bhikkhū neva pānīyaṁ upaṭṭhāpessanti, na paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpessantī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpetun”ti.
On one occasion in a certain monastery, the resident monks didn’t set out water for drinking or water for washing. Newly-arrived monks complained and criticized them, “Why don’t the resident monks set out water for drinking and water for washing?”
“You should set out water for drinking and water for washing.”
162. Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ, các tỳ khưu trú tại đó đã không chuẩn bị nước uống, cũng không chuẩn bị nước dùng. Các tỳ khưu khách đã phàn nàn, chê bai, và nói xấu rằng: 'Tại sao các tỳ khưu trú tại đây lại không chuẩn bị nước uống, cũng không chuẩn bị nước dùng?' (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) - Này các tỳ khưu, Ta cho phép chuẩn bị nước uống và nước dùng.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kena nu kho pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpetabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, therena bhikkhunā navaṁ bhikkhuṁ āṇāpetun”ti.
The monks thought, “Who should do it?”
“The most senior monk should tell a junior monk.”
Khi ấy, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ: 'Vậy ai là người nên chuẩn bị nước uống và nước dùng?' (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) - Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão ra lệnh cho vị tỳ khưu mới.
Therena āṇattā navā bhikkhū na upaṭṭhāpenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, therena āṇattena agilānena na upaṭṭhāpetabbaṁ. Yo na upaṭṭhāpeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Although told by the senior monk, the junior monks did not do it.
“If a monk isn’t sick and he’s told by the senior monk to set them out, he should do so. If he doesn’t, he commits an offense of wrong conduct.”
Các vị tỳ khưu mới, được vị trưởng lão ra lệnh, đã không chuẩn bị. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) - Này các tỳ khưu, người không có bệnh, được vị trưởng lão ra lệnh, thì không được không chuẩn bị. Vị nào không chuẩn bị thì phạm tội tác ác.
19. Disaṅgamikādivatthu
19. Those going to a different region, etc.
86. Câu chuyện về những người đi đến phương khác, v.v...
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū bālā abyattā disaṅgamikā ācariyupajjhāye āpucchiṁsu. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
On one occasion a number of ignorant and incompetent monks asked permission from their teachers and preceptors to go to a different region. They told the Buddha.
163. Vào lúc bấy giờ, có nhiều tỳ khưu ngu dốt, không thông thạo, là những người đi đến phương khác, đã không hỏi ý kiến các vị thầy tế độ và thầy y chỉ. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
“Idha pana, bhikkhave, sambahulā bhikkhū bālā abyattā disaṅgamikā ācariyupajjhāye āpucchanti. Te, bhikkhave, ācariyupajjhāyehi pucchitabbā—‘kahaṁ gamissatha, kena saddhiṁ gamissathā’ti? Te ce, bhikkhave, bālā abyattā aññe bāle abyatte apadiseyyuṁ, na, bhikkhave, ācariyupajjhāyehi anujānitabbā. Anujāneyyuñce, āpatti dukkaṭassa.
Te ca, bhikkhave, bālā abyattā ananuññātā ācariyupajjhāyehi gaccheyyuñce, āpatti dukkaṭassa.
“A number of ignorant and incompetent monks might ask their teachers and preceptors for permission to go to a different region. The teachers and preceptors should then ask them where they’re going and who they’re going with. If they’re going with others who are ignorant and incompetent, the teachers and preceptors shouldn’t give them permission. If they do, they commit an offense of wrong conduct.
And if the students go without permission from their teachers and preceptors, they commit an offense of wrong conduct.
Này các tỳ khưu, ở đây, có nhiều tỳ khưu ngu dốt, không thông thạo, là những người đi đến phương khác, không hỏi ý kiến các vị thầy tế độ và thầy y chỉ. Này các tỳ khưu, các vị thầy tế độ và thầy y chỉ nên hỏi các vị ấy rằng: 'Quý vị sẽ đi đâu? Sẽ đi cùng với ai?' Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ngu dốt, không thông thạo ấy lại chỉ định những người ngu dốt, không thông thạo khác, thì này các tỳ khưu, các vị thầy tế độ và thầy y chỉ không nên cho phép. Nếu cho phép thì phạm tội tác ác. Và này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ngu dốt, không thông thạo ấy, không được các vị thầy tế độ và thầy y chỉ cho phép mà vẫn đi, thì phạm tội tác ác.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse sambahulā bhikkhū viharanti bālā abyattā. Te na jānanti uposathaṁ vā uposathakammaṁ vā, pātimokkhaṁ vā pātimokkhuddesaṁ vā. Tattha añño bhikkhu āgacchati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito byatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo.
Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi so bhikkhu saṅgahetabbo anuggahetabbo upalāpetabbo upaṭṭhāpetabbo cuṇṇena mattikāya dantakaṭṭhena mukhodakena. No ce saṅgaṇheyyuṁ anuggaṇheyyuṁ upalāpeyyuṁ upaṭṭhāpeyyuṁ cuṇṇena mattikāya dantakaṭṭhena mukhodakena, āpatti dukkaṭassa.
A number of ignorant and incompetent monks may be staying in a certain monastery. They don’t know about the observance-day ceremony or the observance-day procedure, nor about the Monastic Code or its recitation. Then a monk arrives who is learned and a master of the tradition; who is an expert on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; who is knowledgeable and competent, has a sense of conscience, and is afraid of wrongdoing and fond of the training.
Those monks should treat that learned monk with kindness. They should assist him and befriend him, and they should attend on him with bath powder, soap, tooth cleaners, and water for rinsing the mouth. If they don’t look after him in this way, they commit an offense of wrong conduct.
Này các tỳ khưu, lại nữa, tại một trú xứ nào đó có nhiều vị tỳ khưu ngu dốt, không thông thạo đang trú ngụ. Các vị ấy không biết về lễ Uposatha hay phận sự Uposatha, về Pātimokkha hay việc tụng Pātimokkha. Khi ấy, có một vị tỳ khưu khác đi đến, là người có học rộng, thông thuộc Thánh điển, thông thuộc Pháp, thông thuộc Luật, thông thuộc các đề mục, là bậc hiền trí, thông thạo, có trí tuệ, có lòng tàm, có lòng quý, mong muốn học tập. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu kia nên tiếp đón, hỗ trợ, nói lời dễ mến, và phục vụ vị tỳ khưu ấy bằng bột tắm, đất sét, tăm xỉa răng, và nước rửa mặt. Nếu họ không tiếp đón, không hỗ trợ, không nói lời dễ mến, không phục vụ bằng bột tắm, đất sét, tăm xỉa răng, và nước rửa mặt thì phạm tội tác ác.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā bhikkhū viharanti bālā abyattā. Te na jānanti uposathaṁ vā uposathakammaṁ vā, pātimokkhaṁ vā pātimokkhuddesaṁ vā. Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi eko bhikkhu sāmantā āvāsā sajjukaṁ pāhetabbo—‘gacchāvuso, saṅkhittena vā vitthārena vā pātimokkhaṁ pariyāpuṇitvā āgacchā’ti. Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ.
No ce labhetha, tehi, bhikkhave, bhikkhūhi sabbeheva yattha jānanti uposathaṁ vā uposathakammaṁ vā pātimokkhaṁ vā pātimokkhuddesaṁ vā, so āvāso gantabbo. No ce gaccheyyuṁ, āpatti dukkaṭassa.
On the observance day, a number of ignorant and incompetent monks may be staying in a certain monastery. They don’t know about the observance-day ceremony or the observance-day procedure, nor about the Monastic Code or its recitation. They should straightaway send a monk to a neighboring monastery to learn the Monastic Code, either in brief or in full. If he’s able to do this, it’s good.
If he’s not, then those monks should all go to a monastery where the monks know about the observance-day ceremony and the observance-day procedure, and about the Monastic Code and its recitation. If they don’t go, they commit an offense of wrong conduct.
Này các tỳ khưu, lại nữa, tại một trú xứ nào đó, vào ngày Uposatha, có nhiều vị tỳ khưu ngu dốt, không thông thạo đang trú ngụ. Các vị ấy không biết về lễ Uposatha hay phận sự Uposatha, về Pātimokkha hay việc tụng Pātimokkha. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên phái một vị tỳ khưu đi trong ngày đến một trú xứ lân cận với lời dặn: ‘Này hiền giả, hãy đi học thuộc Pātimokkha một cách tóm tắt hoặc chi tiết rồi trở về.’ Nếu được như vậy thì điều đó là tốt. Nếu không được, này các tỳ khưu, tất cả các vị tỳ khưu ấy nên đi đến trú xứ nào mà (các tỳ khưu ở đó) biết về lễ Uposatha hay phận sự Uposatha, về Pātimokkha hay việc tụng Pātimokkha. Nếu không đi, họ phạm tội tác ác.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse sambahulā bhikkhū vassaṁ vasanti bālā abyattā. Te na jānanti uposathaṁ vā uposathakammaṁ vā pātimokkhaṁ vā pātimokkhuddesaṁ vā. Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi eko bhikkhu sāmantā āvāsā sajjukaṁ pāhetabbo—‘gacchāvuso, saṅkhittena vā vitthārena vā pātimokkhaṁ pariyāpuṇitvā āgacchā’ti. Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ. No ce labhetha, eko bhikkhu sattāhakālikaṁ pāhetabbo—‘gacchāvuso, saṅkhittena vā vitthārena vā pātimokkhaṁ pariyāpuṇitvā āgacchā’ti. Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ.
No ce labhetha, na, bhikkhave, tehi bhikkhūhi tasmiṁ āvāse vassaṁ vasitabbaṁ. Vaseyyuñce, āpatti dukkaṭassā”ti.
A number of ignorant and incompetent monks may be spending the rainy-season residence in a certain monastery. They don’t know about the observance-day ceremony or the observance-day procedure, nor about the Monastic Code or its recitation. They should straightaway send a monk to a neighboring monastery to learn the Monastic Code, either in brief or in full. If he’s able to do this, it’s good. If he’s not, then a monk should be sent under the seven-day allowance to learn the Monastic Code, either in brief or in full. If he’s able to do this, it’s good.
If he’s not, then those monks shouldn’t spend the rainy-season residence in that monastery. If they do, they commit an offense of wrong conduct.”
Này các tỳ khưu, lại nữa, tại một trú xứ nào đó có nhiều vị tỳ khưu ngu dốt, không thông thạo đang an cư mùa mưa. Các vị ấy không biết về lễ Uposatha hay phận sự Uposatha, về Pātimokkha hay việc tụng Pātimokkha. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên phái một vị tỳ khưu đi trong ngày đến một trú xứ lân cận với lời dặn: ‘Này hiền giả, hãy đi học thuộc Pātimokkha một cách tóm tắt hoặc chi tiết rồi trở về.’ Nếu được như vậy thì điều đó là tốt. Nếu không được, nên phái một vị tỳ khưu đi trong bảy ngày với lời dặn: ‘Này hiền giả, hãy đi học thuộc Pātimokkha một cách tóm tắt hoặc chi tiết rồi trở về.’ Nếu được như vậy thì điều đó là tốt. Nếu không được, này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy không nên an cư mùa mưa tại trú xứ đó. Nếu họ vẫn an cư thì phạm tội tác ác.
20. Pārisuddhidānakathā
20. Discussion of the passing on of purity
87. Bài giảng về việc trao sự thanh tịnh
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—“sannipatatha, bhikkhave, saṅgho uposathaṁ karissatī”ti. Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca—“atthi, bhante, bhikkhu gilāno, so anāgato”ti.
“Anujānāmi, bhikkhave, gilānena bhikkhunā pārisuddhiṁ dātuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, dātabbā—tena gilānena bhikkhunā ekaṁ bhikkhuṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘pārisuddhiṁ dammi, pārisuddhiṁ me hara, pārisuddhiṁ me ārocehī’ti. Kāyena viññāpeti, vācāya viññāpeti, kāyena vācāya viññāpeti, dinnā hoti pārisuddhi. Na kāyena viññāpeti, na vācāya viññāpeti, na kāyena vācāya viññāpeti, na dinnā hoti pārisuddhi.
Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ. No ce labhetha, so, bhikkhave, gilāno bhikkhu mañcena vā pīṭhena vā saṅghamajjhe ānetvā uposatho kātabbo. Sace, bhikkhave, gilānupaṭṭhākānaṁ bhikkhūnaṁ evaṁ hoti—‘sace kho mayaṁ gilānaṁ ṭhānā cāvessāma, ābādho vā abhivaḍḍhissati kālaṅkiriyā vā bhavissatī’ti, na, bhikkhave, gilāno bhikkhu ṭhānā cāvetabbo. Saṅghena tattha gantvā uposatho kātabbo.
Na tveva vaggena saṅghena uposatho kātabbo. Kareyya ce, āpatti dukkaṭassa.
Then the Buddha addressed the monks: “Gather, monks, for the Sangha to do the observance-day ceremony.” A monk said to the Buddha, “Sir, there’s a sick monk. He hasn’t come.”
“A sick monk should pass on his purity.
And he should do it like this. The sick monk should approach a monk, arrange his upper robe over one shoulder, and squat on his heels. He should then raise his joined palms and say, ‘I pass on my purity; please convey my purity; please announce my purity.’ If he makes this understood by body, by speech, or by body and speech, then the purity has been passed on. If he doesn’t make this understood by body, by speech, or by body and speech, then the purity hasn’t been passed on.
If he’s able to do this, it’s good. If he’s not, then the sick monk should be brought into the midst of the Sangha together with his bed or bench. They can then do the observance-day ceremony. But if the one who is nursing him says, ‘If we move him, his illness will get worse, or he’ll die,’ then the sick monk shouldn’t be moved. The Sangha should go to where the sick monk is and do the observance-day ceremony there.
You shouldn’t do the observance-day ceremony with an incomplete Sangha. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
164. Khi ấy, đức Thế Tôn gọi các tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, hãy tụ họp lại, Tăng chúng sẽ làm lễ Uposatha.’ Khi được nói vậy, một vị tỳ khưu bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, có một vị tỳ khưu bị bệnh, vị ấy không đến được.’ ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu bị bệnh trao sự thanh tịnh. Và này các tỳ khưu, sự thanh tịnh nên được trao như sau: Vị tỳ khưu bị bệnh ấy nên đến gặp một vị tỳ khưu, vắt y trên một vai, ngồi xổm, chắp tay và nói như sau: ‘Tôi trao sự thanh tịnh, xin hãy mang sự thanh tịnh của tôi đi, xin hãy báo cáo sự thanh tịnh của tôi.’ Nếu vị ấy cho biết bằng thân, cho biết bằng lời, hoặc cho biết bằng thân và lời, thì sự thanh tịnh được xem là đã trao. Nếu vị ấy không cho biết bằng thân, không cho biết bằng lời, hoặc không cho biết bằng thân và lời, thì sự thanh tịnh được xem là chưa trao. Nếu có thể tìm được người mang sự thanh tịnh đi thì điều đó là tốt. Nếu không tìm được, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu bị bệnh ấy nên được mang đến giữa Tăng chúng bằng giường hoặc bằng ghế để làm lễ Uposatha. Này các tỳ khưu, nếu các vị tỳ khưu chăm sóc bệnh nhân nghĩ rằng: ‘Nếu chúng ta di chuyển vị bệnh ra khỏi chỗ nằm, bệnh của vị ấy sẽ nặng thêm hoặc vị ấy sẽ mệnh chung,’ thì này các tỳ khưu, không nên di chuyển vị tỳ khưu bị bệnh ra khỏi chỗ nằm. Tăng chúng nên đi đến nơi đó để làm lễ Uposatha. Tăng chúng không được làm lễ Uposatha khi bị chia rẽ. Nếu làm vậy, sẽ phạm tội tác ác.
Pārisuddhihārako ce, bhikkhave, dinnāya pārisuddhiyā tattheva pakkamati, aññassa dātabbā pārisuddhi. Pārisuddhihārako ce, bhikkhave, dinnāya pārisuddhiyā tattheva vibbhamati …pe… kālaṁ karoti … sāmaṇero paṭijānāti … sikkhaṁ paccakkhātako paṭijānāti … antimavatthuṁ ajjhāpannako paṭijānāti … ummattako paṭijānāti … khittacitto paṭijānāti … vedanāṭṭo paṭijānāti … āpattiyā adassane ukkhittako paṭijānāti … āpattiyā appaṭikamme ukkhittako paṭijānāti … pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhittako paṭijānāti … paṇḍako paṭijānāti … theyyasaṁvāsako paṭijānāti … titthiyapakkantako paṭijānāti … tiracchānagato paṭijānāti … mātughātako paṭijānāti … pitughātako paṭijānāti … arahantaghātako paṭijānāti … bhikkhunidūsako paṭijānāti … saṅghabhedako paṭijānāti … lohituppādako paṭijānāti … ubhatobyañjanako paṭijānāti, aññassa dātabbā pārisuddhi.
If, after the purity has been passed on to him, the monk who is conveying the purity goes away right then and there, then the purity should be passed on to someone else. If, after the purity has been passed on to him, the monk who is conveying the purity disrobes right then and there, dies right then and there, admits right then and there that he’s a novice monk, admits right then and there that he’s renounced the training, admits right then and there that he’s committed the worst kind of offense, admits right then and there that he’s insane, admits right then and there that he’s deranged, admits right then and there that he’s overwhelmed by pain, admits right then and there that he’s been ejected for not recognizing an offense, admits right then and there that he’s been ejected for not making amends for an offense, admits right then and there that he’s been ejected for not giving up a bad view, admits right then and there that he’s a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>, admits right then and there that he’s a fake monk, admits right then and there that he’s previously left to join the monastics of another religion, admits right then and there that he’s an animal, admits right then and there that he’s a matricide, admits right then and there that he’s a patricide, admits right then and there that he’s a murderer of a perfected one, admits right then and there that he’s raped a nun, admits right then and there that he’s caused a schism in the Sangha, admits right then and there that he’s caused the Buddha to bleed, or admits right then and there that he’s a gynandromorph, then the purity should be passed on to someone else.
Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu mang sự thanh tịnh, sau khi sự thanh tịnh đã được trao, lại bỏ đi ngay tại chỗ đó, thì sự thanh tịnh nên được trao cho vị khác. Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu mang sự thanh tịnh, sau khi sự thanh tịnh đã được trao, ngay tại chỗ đó lại hoàn tục, ...v.v... mệnh chung, tự nhận là sa-di, tự nhận là người đã từ bỏ học giới, tự nhận là người đã phạm tội bất cộng trụ, tự nhận là người điên, tự nhận là người loạn tâm, tự nhận là người bị cảm thọ đau đớn hành hạ, tự nhận là người bị cử tội vì không thấy tội, tự nhận là người bị cử tội vì không sám hối tội, tự nhận là người bị cử tội vì không từ bỏ tà kiến, tự nhận là người ái nam ái nữ, tự nhận là người sống chung lén lút, tự nhận là người đã theo ngoại đạo, tự nhận là súc sanh, tự nhận là người giết mẹ, tự nhận là người giết cha, tự nhận là người giết A-la-hán, tự nhận là người làm hại tỳ khưu ni, tự nhận là người phá hòa hợp Tăng, tự nhận là người làm chảy máu Phật, tự nhận là người có hai giới tính, thì sự thanh tịnh nên được trao cho vị khác.
Pārisuddhihārako ce, bhikkhave, dinnāya pārisuddhiyā antarāmagge pakkamati, anāhaṭā hoti pārisuddhi. Pārisuddhihārako ce, bhikkhave, dinnāya pārisuddhiyā antarāmagge vibbhamati …pe… ubhatobyañjanako paṭijānāti, anāhaṭā hoti pārisuddhi.
If, after the purity has been passed on to him, the monk who is conveying the purity goes away while on his way to the observance-day ceremony, then the purity hasn’t been brought. If, after the purity has been passed on to him, the monk who is conveying the purity disrobes while on his way to the observance-day ceremony … or admits that he’s a gynandromorph while on his way to the observance-day ceremony, then the purity hasn’t been brought.
Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu mang sự thanh tịnh, sau khi sự thanh tịnh đã được trao, lại bỏ đi giữa đường thì sự thanh tịnh ấy là chưa được mang đến. Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu mang sự thanh tịnh, sau khi sự thanh tịnh đã được trao, lại hoàn tục giữa đường, ... cho đến ... tự nhận là người lưỡng tính thì sự thanh tịnh ấy là chưa được mang đến.
Pārisuddhihārako ce, bhikkhave, dinnāya pārisuddhiyā saṅghappatto pakkamati, āhaṭā hoti pārisuddhi. Pārisuddhihārako ce, bhikkhave, dinnāya pārisuddhiyā saṅghappatto vibbhamati …pe… ubhatobyañjanako paṭijānāti, āhaṭā hoti pārisuddhi.
But if, after the purity has been passed on to him, the monk who is conveying the purity goes away after reaching the Sangha, then the purity has been brought. And if, after the purity has been passed on to him, the monk who is conveying the purity disrobes after reaching the Sangha … or admits that he’s a gynandromorph after reaching the Sangha, then the purity has been brought.
Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu mang sự thanh tịnh, sau khi sự thanh tịnh đã được trao, đã đến Tăng chúng rồi mới bỏ đi thì sự thanh tịnh ấy là đã được mang đến. Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu mang sự thanh tịnh, sau khi sự thanh tịnh đã được trao, đã đến Tăng chúng rồi mới hoàn tục, ... cho đến ... tự nhận là người lưỡng tính thì sự thanh tịnh ấy là đã được mang đến.
Pārisuddhihārako ce, bhikkhave, dinnāya pārisuddhiyā saṅghappatto sutto na āroceti, pamatto na āroceti, samāpanno na āroceti, āhaṭā hoti pārisuddhi. Pārisuddhihārakassa anāpatti.
And if, after the purity has been passed on to him, the monk who is conveying the purity reaches the Sangha, but doesn’t announce the purity because he falls asleep or is heedless or gains a meditation attainment, then the purity has been brought. There’s no offense for the one who is conveying the purity.
Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu mang sự thanh tịnh, sau khi sự thanh tịnh đã được trao, đã đến Tăng chúng rồi nhưng do ngủ quên nên không trình báo, do đãng trí nên không trình báo, do nhập định nên không trình báo thì sự thanh tịnh ấy là đã được mang đến. Vị tỳ khưu mang sự thanh tịnh là vô tội.
Pārisuddhihārako ce, bhikkhave, dinnāya pārisuddhiyā saṅghappatto sañcicca na āroceti, āhaṭā hoti pārisuddhi.
Pārisuddhihārakassa āpatti dukkaṭassā”ti.
And if, after the purity has been passed on to him, the monk who is conveying the purity reaches the Sangha, but deliberately doesn’t announce the purity, then the purity has been brought.
But there’s an offense of wrong conduct for the one who is conveying the purity.”
Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu mang sự thanh tịnh, sau khi sự thanh tịnh đã được trao, đã đến Tăng chúng rồi nhưng cố ý không trình báo thì sự thanh tịnh ấy là đã được mang đến. Vị tỳ khưu mang sự thanh tịnh bị phạm tội tác ác.
21. Chandadānakathā
21. Discussion on giving consent
88. Câu chuyện về việc trao sự ưng thuận
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—“sannipatatha, bhikkhave, saṅgho kammaṁ karissatī”ti. Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca—“atthi, bhante, bhikkhu gilāno, so anāgato”ti.
“Anujānāmi, bhikkhave, gilānena bhikkhunā chandaṁ dātuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, dātabbo. Tena gilānena bhikkhunā ekaṁ bhikkhuṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘chandaṁ dammi, chandaṁ me hara, chandaṁ me ārocehī’ti. Kāyena viññāpeti, vācāya viññāpeti, kāyena vācāya viññāpeti, dinno hoti chando. Na kāyena viññāpeti, na vācāya viññāpeti, na kāyena vācāya viññāpeti, na dinno hoti chando.
Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ. No ce labhetha, so, bhikkhave, gilāno bhikkhu mañcena vā pīṭhena vā saṅghamajjhe ānetvā kammaṁ kātabbaṁ. Sace, bhikkhave, gilānupaṭṭhākānaṁ bhikkhūnaṁ evaṁ hoti—‘sace kho mayaṁ gilānaṁ ṭhānā cāvessāma, ābādho vā abhivaḍḍhissati kālaṅkiriyā vā bhavissatī’ti, na, bhikkhave, gilāno bhikkhu ṭhānā cāvetabbo. Saṅghena tattha gantvā kammaṁ kātabbaṁ.
Na tveva vaggena saṅghena kammaṁ kātabbaṁ. Kareyya ce, āpatti dukkaṭassa.
The Buddha addressed the monks: “Gather, monks, for the Sangha to do a legal procedure.” A monk said to the Buddha, “Sir, there’s a sick monk. He hasn’t come.”
“A sick monk should give his consent.
And he should give like this. The sick monk should approach a monk, arrange his upper robe over one shoulder, and squat on his heels. He should then raise his joined palms and say, ‘I give my consent; please convey my consent; please announce my consent.’ If he makes this understood by body, by speech, or by body and speech, then the consent has been given. If he doesn’t make this understood by body, by speech, or by body and speech, then the consent hasn’t been given.
If he’s able to do this, it’s good. If he’s not, then the sick monk should be brought into the midst of the Sangha together with his bed or bench. They can then do the procedure. But if the one who is nursing him says, ‘If we move him, his illness will get worse, or he’ll die,’ then the sick monk shouldn’t be moved. The Sangha should go to where the sick monk is and do the procedure there.
You shouldn’t do a legal procedure with an incomplete sangha. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
165. Khi ấy, Thế Tôn gọi các tỳ khưu: 'Này các tỳ khưu, hãy tụ họp lại, Tăng chúng sẽ làm yết ma.' Khi được nói vậy, một tỳ khưu bạch với Thế Tôn rằng: 'Bạch Thế Tôn, có một tỳ khưu bị bệnh, vị ấy không đến được.' 'Này các tỳ khưu, Ta cho phép tỳ khưu bị bệnh được trao sự ưng thuận. Và này các tỳ khưu, nên trao như sau: Vị tỳ khưu bị bệnh ấy nên đến gặp một tỳ khưu, mặc thượng y lệch một bên vai, ngồi xổm, chắp tay và nên nói như vầy: ‘Tôi trao sự ưng thuận, hãy mang sự ưng thuận của tôi đi, hãy trình báo sự ưng thuận của tôi.’ Vị ấy biểu lộ bằng thân, biểu lộ bằng lời, biểu lộ bằng thân và lời, thì sự ưng thuận là đã được trao. Vị ấy không biểu lộ bằng thân, không biểu lộ bằng lời, không biểu lộ bằng thân và lời, thì sự ưng thuận là chưa được trao. Nếu được như vậy thì tốt. Nếu không được, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu bị bệnh ấy nên được mang đến giữa Tăng chúng bằng giường hoặc ghế rồi mới làm yết ma. Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu chăm sóc bệnh nhân nghĩ rằng: ‘Nếu chúng ta di chuyển vị bệnh nhân ra khỏi chỗ ở, bệnh tình sẽ nặng thêm hoặc sẽ mệnh chung,’ thì này các tỳ khưu, không nên di chuyển vị tỳ khưu bị bệnh ra khỏi chỗ ở. Tăng chúng nên đến nơi ấy để làm yết ma. Tuyệt đối không được Tăng chúng chia rẽ làm yết ma. Nếu làm thì phạm tội tác ác.
Chandahārako ce, bhikkhave, dinne chande tattheva pakkamati, aññassa dātabbo chando. Chandahārako ce, bhikkhave, dinne chande tattheva vibbhamati …pe… kālaṁ karoti … sāmaṇero paṭijānāti … sikkhaṁ paccakkhātako paṭijānāti … antimavatthuṁ ajjhāpannako paṭijānāti … ummattako paṭijānāti … khittacitto paṭijānāti … vedanāṭṭo paṭijānāti … āpattiyā adassane ukkhittako paṭijānāti … āpattiyā appaṭikamme ukkhittako paṭijānāti … pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhittako paṭijānāti … paṇḍako paṭijānāti … theyyasaṁvāsako paṭijānāti … titthiyapakkantako paṭijānāti … tiracchānagato paṭijānāti … mātughātako paṭijānāti … pitughātako paṭijānāti … arahantaghātako paṭijānāti … bhikkhunidūsako paṭijānāti … saṅghabhedako paṭijānāti … lohituppādako paṭijānāti … ubhatobyañjanako paṭijānāti, aññassa dātabbo chando.
If, after the consent has been given to him, the monk who is conveying the consent goes away right then and there, then the consent should be given to someone else. If, after the consent has been given to him, the monk who is conveying the consent disrobes right then and there, dies right then and there, admits right then and there that he’s a novice monk, admits right then and there that he’s renounced the training, admits right then and there that he’s committed the worst kind of offense, admits right then and there that he’s insane, admits right then and there that he’s deranged, admits right then and there that he’s overwhelmed by pain, admits right then and there that he’s been ejected for not recognizing an offense, admits right then and there that he’s been ejected for not making amends for an offense, admits right then and there that he’s been ejected for not giving up a bad view, admits right then and there that he’s a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>, admits right then and there that he’s a fake monk, admits right then and there that he’s previously left to join the monastics of another religion, admits right then and there that he’s an animal, admits right then and there that he’s a matricide, admits right then and there that he’s a patricide, admits right then and there that he’s a murderer of a perfected one, admits right then and there that he’s raped a nun, admits right then and there that he’s caused a schism in the Sangha, admits right then and there that he’s caused the Buddha to bleed, or admits right then and there that he’s a gynandromorph, then the consent should be given to someone else.
Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu mang sự ưng thuận, sau khi sự ưng thuận đã được trao, lại bỏ đi ngay tại chỗ ấy thì sự ưng thuận nên được trao cho vị khác. Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu mang sự ưng thuận, sau khi sự ưng thuận đã được trao, lại hoàn tục ngay tại chỗ ấy, ... cho đến ... mệnh chung – tự nhận là sa-di – tự nhận là người đã từ bỏ học giới – tự nhận là người đã phạm tội cùng cực – tự nhận là người điên – tự nhận là người loạn tâm – tự nhận là người bị cảm thọ chi phối – tự nhận là người bị cử tội vì không thấy tội – tự nhận là người bị cử tội vì không sám hối tội – tự nhận là người bị cử tội vì không từ bỏ tà kiến – tự nhận là người bán ái – tự nhận là người sống chung lén lút – tự nhận là người đã theo ngoại đạo – tự nhận là người thuộc loài bàng sanh – tự nhận là người giết mẹ – tự nhận là người giết cha – tự nhận là người giết A-la-hán – tự nhận là người làm hại tỳ khưu ni – tự nhận là người phá hòa hợp Tăng – tự nhận là người làm thân Phật chảy máu – tự nhận là người lưỡng tính, thì sự ưng thuận nên được trao cho vị khác.
Chandahārako ce, bhikkhave, dinne chande antarāmagge pakkamati, anāhaṭo hoti chando. Chandahārako ce, bhikkhave, dinne chande antarāmagge vibbhamati …pe… ubhatobyañjanako paṭijānāti, anāhaṭo hoti chando.
If, after the consent has been given to him, the monk who is conveying the consent goes away while on his way to the legal procedure, then the consent hasn’t been brought. If, after the consent has been given to him, the monk who is conveying the consent disrobes while on his way to the legal procedure … or admits that he’s a gynandromorph while on his way to the legal procedure, then the consent hasn’t been brought.
Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu mang sự ưng thuận, sau khi sự ưng thuận đã được trao, lại bỏ đi giữa đường thì sự ưng thuận ấy là chưa được mang đến. Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu mang sự ưng thuận, sau khi sự ưng thuận đã được trao, lại hoàn tục giữa đường, ... cho đến ... tự nhận là người lưỡng tính thì sự ưng thuận ấy là chưa được mang đến.
Chandahārako ce, bhikkhave, dinne chande saṅghappatto pakkamati, āhaṭo hoti chando. Chandahārako ce, bhikkhave, dinne chande saṅghappatto vibbhamati …pe… ubhatobyañjanako paṭijānāti, āhaṭo hoti chando.
But if, after the consent has been given to him, the monk who is conveying the consent goes away after reaching the Sangha, then the consent has been brought. And if, after the consent has been given to him, the monk who is conveying the consent disrobes after reaching the Sangha … or admits that he’s a gynandromorph after reaching the Sangha, then the consent has been brought.
Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu mang sự ưng thuận, sau khi sự ưng thuận đã được trao, đã đến Tăng chúng rồi mới bỏ đi thì sự ưng thuận ấy là đã được mang đến. Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu mang sự ưng thuận, sau khi sự ưng thuận đã được trao, đã đến Tăng chúng rồi mới hoàn tục, ... cho đến ... tự nhận là người lưỡng tính thì sự ưng thuận ấy là đã được mang đến.
Chandahārako ce, bhikkhave, dinne chande saṅghappatto sutto na āroceti, pamatto na āroceti, samāpanno na āroceti, āhaṭo hoti chando. Chandahārakassa anāpatti.
And if, after the consent has been given to him, the monk who is conveying the consent reaches the Sangha, but doesn’t announce the consent because he falls asleep or is heedless or gains a meditation attainment, then the consent has been brought. There’s no offense for the one who is conveying the consent.
Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu mang sự ưng thuận, sau khi sự ưng thuận đã được trao, đã đến Tăng chúng rồi nhưng do ngủ quên nên không trình báo, do đãng trí nên không trình báo, do nhập định nên không trình báo thì sự ưng thuận ấy là đã được mang đến. Vị tỳ khưu mang sự ưng thuận là vô tội.
Chandahārako ce, bhikkhave, dinne chande saṅghappatto sañcicca na āroceti, āhaṭo hoti chando.
Chandahārakassa āpatti dukkaṭassa.
Anujānāmi, bhikkhave, tadahuposathe pārisuddhiṁ dentena chandampi dātuṁ, santi saṅghassa karaṇīyan”ti.
And if, after the consent has been given to him, the monk who is conveying the consent reaches the Sangha, but deliberately doesn’t announce the consent, then the consent has been brought.
But there is an offense of wrong conduct for the one who is conveying the consent.
On the observance day, if the Sangha has business to be done, then anyone passing on their purity should also give their consent.”
Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu mang sự ưng thuận, sau khi sự ưng thuận đã được trao, đã đến Tăng chúng rồi nhưng cố ý không trình báo thì sự ưng thuận ấy là đã được mang đến. Vị tỳ khưu mang sự ưng thuận bị phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, Ta cho phép vị tỳ khưu trao sự thanh tịnh cũng được trao cả sự ưng thuận, vì Tăng chúng có các việc cần phải làm.
22. Ñātakādiggahaṇakathā
22. Discussion on being seized by relatives, etc.
89. Câu chuyện về việc bị thân quyến v.v... bắt giữ
Tena kho pana samayena aññataraṁ bhikkhuṁ tadahuposathe ñātakā gaṇhiṁsu. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At one time on the observance day, a certain monk was seized by his relatives. They told the Buddha.
166. Vào lúc bấy giờ, vào ngày Bố-tát, có một vị tỳ khưu bị các thân quyến bắt giữ. Họ đã trình báo việc ấy lên Thế Tôn.
“Idha pana, bhikkhave, bhikkhuṁ tadahuposathe ñātakā gaṇhanti. Te ñātakā bhikkhūhi evamassu vacanīyā—‘iṅgha tumhe āyasmanto imaṁ bhikkhuṁ muhuttaṁ muñcatha, yāvāyaṁ bhikkhu uposathaṁ karotī’ti. Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ. No ce labhetha, te ñātakā bhikkhūhi evamassu vacanīyā—‘iṅgha tumhe āyasmanto muhuttaṁ ekamantaṁ hotha, yāvāyaṁ bhikkhu pārisuddhiṁ detī’ti. Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ. No ce labhetha, te ñātakā bhikkhūhi evamassu vacanīyā—‘iṅgha tumhe āyasmanto imaṁ bhikkhuṁ muhuttaṁ nissīmaṁ netha, yāva saṅgho uposathaṁ karotī’ti. Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ.
No ce labhetha, na tveva vaggena saṅghena uposatho kātabbo. Kareyya ce, āpatti dukkaṭassa.
“If a monk is seized by his relatives on the observance day, other monks should say to those relatives, ‘Listen, please release this monk for a short time so that he can take part in the observance-day ceremony.’ If they’re able to do this, it’s good. If not, they should say to those relatives, ‘Listen, please step aside for a moment while this monk passes on his purity.’ If they’re able to do this, it’s good. If not, they should say to those relatives, ‘Listen, please take this monk outside the monastery zone for a short time while the Sangha does the observance-day ceremony.’ If they’re able to do this, it’s good.
If not, you shouldn’t do the observance-day ceremony with an incomplete sangha. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vào ngày lễ uposatha, vị tỳ khưu bị thân quyến bắt giữ. Các vị tỳ khưu nên nói với các người thân quyến ấy như vầy: ‘Này quý vị, xin quý vị hãy thả vị tỳ khưu này ra một lát cho đến khi vị tỳ khưu này làm lễ uposatha xong.’ Nếu được như thế thì tốt. Nếu không được, các vị tỳ khưu nên nói với các người thân quyến ấy như vầy: ‘Này quý vị, xin quý vị hãy ở một nơi khuất trong một lát cho đến khi vị tỳ khưu này trao sự thanh tịnh xong.’ Nếu được như thế thì tốt. Nếu không được, các vị tỳ khưu nên nói với các người thân quyến ấy như vầy: ‘Này quý vị, xin quý vị hãy dẫn vị tỳ khưu này ra ngoài ranh giới trong một lát cho đến khi tăng chúng làm lễ uposatha xong.’ Nếu được như thế thì tốt. Nếu không được, tăng chúng không nên làm lễ uposatha khi bị phân chia. Nếu làm thì phạm tội dukkaṭa.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhuṁ tadahuposathe rājāno gaṇhanti …pe… corā gaṇhanti … dhuttā gaṇhanti … bhikkhupaccatthikā gaṇhanti, te bhikkhupaccatthikā bhikkhūhi evamassu vacanīyā—‘iṅgha tumhe āyasmanto imaṁ bhikkhuṁ muhuttaṁ muñcatha, yāvāyaṁ bhikkhu uposathaṁ karotī’ti. Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ. No ce labhetha, te bhikkhupaccatthikā bhikkhūhi evamassu vacanīyā—‘iṅgha tumhe āyasmanto muhuttaṁ ekamantaṁ hotha, yāvāyaṁ bhikkhu pārisuddhiṁ detī’ti. Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ. No ce labhetha, te bhikkhupaccatthikā bhikkhūhi evamassu vacanīyā—‘iṅgha tumhe āyasmanto imaṁ bhikkhuṁ muhuttaṁ nissīmaṁ netha, yāva saṅgho uposathaṁ karotī’ti. Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ.
No ce labhetha, na tveva vaggena saṅghena uposatho kātabbo. Kareyya ce, āpatti dukkaṭassā”ti.
If on the observance day a monk is seized by kings, by bandits, by scoundrels, or by enemies of the monks, other monks should say to those enemies, ‘Listen, please release this monk for a short time so that he can take part in the observance-day ceremony.’ If they’re able to do this, it’s good. If not, they should say to those enemies, ‘Listen, please step aside for a moment while this monk passes on his purity.’ If they’re able to do this, it’s good. If not, they should say to those enemies, ‘Listen, please take this monk outside the monastery zone for a short time while the Sangha does the observance-day ceremony.’ If they’re able to do this, it’s good.
If not, you shouldn’t do the observance-day ceremony with an incomplete sangha. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vào ngày lễ uposatha, vị tỳ khưu bị các vua chúa bắt giữ, ... cho đến ... bị kẻ trộm bắt giữ, bị kẻ du đãng bắt giữ, bị các tỳ khưu đối nghịch bắt giữ. Các vị tỳ khưu nên nói với các tỳ khưu đối nghịch ấy như vầy: ‘Này chư hiền, xin chư hiền hãy thả vị tỳ khưu này ra một lát cho đến khi vị tỳ khưu này làm lễ uposatha xong.’ Nếu được như thế thì tốt. Nếu không được, các vị tỳ khưu nên nói với các tỳ khưu đối nghịch ấy như vầy: ‘Này chư hiền, xin chư hiền hãy ở một nơi khuất trong một lát cho đến khi vị tỳ khưu này trao sự thanh tịnh xong.’ Nếu được như thế thì tốt. Nếu không được, các vị tỳ khưu nên nói với các tỳ khưu đối nghịch ấy như vầy: ‘Này chư hiền, xin chư hiền hãy dẫn vị tỳ khưu này ra ngoài ranh giới trong một lát cho đến khi tăng chúng làm lễ uposatha xong.’ Nếu được như thế thì tốt. Nếu không được, tăng chúng không nên làm lễ uposatha khi bị phân chia. Nếu làm thì phạm tội dukkaṭa.
23. Ummattakasammuti
23. Agreement in regard to insanity
90. Sự đồng thuận về người mất trí
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—“sannipatatha, bhikkhave, atthi saṅghassa karaṇīyan”ti. Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca—“atthi, bhante, gaggo nāma bhikkhu ummattako, so anāgato”ti.
Then the Buddha addressed the monks: “Gather, monks, there’s business for the Sangha.” A monk said to the Buddha, “Sir, there’s a monk called Gagga who is insane. He hasn’t come.”
167. Khi ấy, Thế Tôn đã cho gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, hãy tụ họp lại, có việc cần làm cho tăng chúng.” Khi được nói vậy, một tỳ khưu đã bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, có vị tỳ khưu tên là Gagga bị mất trí, vị ấy đã không đến.”
“Dveme, bhikkhave, ummattakā—atthi, bhikkhave, bhikkhu ummattako saratipi uposathaṁ napi sarati, saratipi saṅghakammaṁ napi sarati, atthi neva sarati; āgacchatipi uposathaṁ napi āgacchati, āgacchatipi saṅghakammaṁ napi āgacchati, atthi neva āgacchati.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ ummattako saratipi uposathaṁ napi sarati, saratipi saṅghakammaṁ napi sarati, āgacchatipi uposathaṁ napi āgacchati, āgacchatipi saṅghakammaṁ napi āgacchati, anujānāmi, bhikkhave, evarūpassa ummattakassa ummattakasammutiṁ dātuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, dātabbā. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
“Monks, there are two kinds of insane monks: there is the insane monk who sometimes remembers the observance day and sometimes doesn’t, who sometimes remembers the legal procedures of the Sangha and sometimes doesn’t, who sometimes goes to the observance-day ceremony and sometimes doesn’t, who sometimes goes to the legal procedures of the Sangha and sometimes doesn’t. Then there’s the insane monk who never remembers any of this.
For the first one of these, you should make an agreement in regard to insanity.
And it should be made like this. A competent and capable monk should inform the Sangha:
“Này các tỳ khưu, có hai hạng người mất trí này. Này các tỳ khưu, có vị tỳ khưu bị mất trí, có khi nhớ có khi không nhớ lễ uposatha, có khi nhớ có khi không nhớ việc của tăng chúng; có vị không bao giờ nhớ. Có vị có khi đến dự lễ uposatha có khi không đến, có khi đến dự việc của tăng chúng có khi không đến; có vị không bao giờ đến. Này các tỳ khưu, trong các trường hợp ấy, đối với người mất trí có khi nhớ có khi không nhớ lễ uposatha, có khi nhớ có khi không nhớ việc của tăng chúng, có khi đến dự lễ uposatha có khi không đến, có khi đến dự việc của tăng chúng có khi không đến, này các tỳ khưu, Ta cho phép ban sự đồng thuận về người mất trí cho người mất trí có dạng như thế. Và này các tỳ khưu, nên được ban như vầy: Vị tỳ khưu sáng suốt và có khả năng nên trình cho tăng chúng biết:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Gaggo bhikkhu ummattako—saratipi uposathaṁ napi sarati, saratipi saṅghakammaṁ napi sarati, āgacchatipi uposathaṁ napi āgacchati, āgacchatipi saṅghakammaṁ napi āgacchati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho gaggassa bhikkhuno ummattakassa ummattakasammutiṁ dadeyya. Sareyya vā gaggo bhikkhu uposathaṁ na vā sareyya, sareyya vā saṅghakammaṁ na vā sareyya, āgaccheyya vā uposathaṁ na vā āgaccheyya, āgaccheyya vā saṅghakammaṁ na vā āgaccheyya, saṅgho saha vā gaggena vinā vā gaggena uposathaṁ kareyya, saṅghakammaṁ kareyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Gagga is insane. Sometimes he remembers the observance day and sometimes he doesn’t; sometimes he remembers the legal procedures of the Sangha and sometimes he doesn’t; sometimes he goes to the observance-day ceremony and sometimes he doesn’t; sometimes he goes to the legal procedures of the Sangha and sometimes he doesn’t. If the Sangha is ready, it should agree on the following in regard to the insanity of the monk Gagga: whether or not Gagga remembers either the observance day or the legal procedures of the Sangha, whether or not he goes either to the observance day or to the legal procedures of the Sangha, the Sangha should do the observance-day ceremony, it should do the legal procedures of the Sangha, with or without Gagga. This is the motion.
“Bạch chư ngài, mong tăng chúng hãy lắng nghe con. Tỳ khưu Gagga bị mất trí, có khi nhớ có khi không nhớ lễ uposatha, có khi nhớ có khi không nhớ việc của tăng chúng, có khi đến dự lễ uposatha có khi không đến, có khi đến dự việc của tăng chúng có khi không đến. Nếu việc này là hợp thời đối với tăng chúng, tăng chúng nên ban sự đồng thuận về người mất trí cho tỳ khưu Gagga bị mất trí. Dầu tỳ khưu Gagga có nhớ hay không nhớ lễ uposatha, có nhớ hay không nhớ việc của tăng chúng, có đến dự hay không đến dự lễ uposatha, có đến dự hay không đến dự việc của tăng chúng, tăng chúng vẫn có thể làm lễ uposatha, vẫn có thể làm việc của tăng chúng, cùng với Gagga hoặc không có Gagga. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Gaggo bhikkhu ummattako—saratipi uposathaṁ napi sarati, saratipi saṅghakammaṁ napi sarati, āgacchatipi uposathaṁ napi āgacchati, āgacchatipi saṅghakammaṁ napi āgacchati. Saṅgho gaggassa bhikkhuno ummattakassa ummattakasammutiṁ deti. Sareyya vā gaggo bhikkhu uposathaṁ na vā sareyya, sareyya vā saṅghakammaṁ na vā sareyyaṁ, āgaccheyya vā uposathaṁ na vā āgaccheyya, āgaccheyya vā saṅghakammaṁ na vā āgaccheyya, saṅgho saha vā gaggena, vinā vā gaggena uposathaṁ karissati, saṅghakammaṁ karissati. Yassāyasmato khamati gaggassa bhikkhuno ummattakassa ummattakasammutiyā dānaṁ—sareyya vā gaggo bhikkhu uposathaṁ na vā sareyya, sareyya vā saṅghakammaṁ na vā sareyya, āgaccheyya vā uposathaṁ na vā āgaccheyya, āgaccheyya vā saṅghakammaṁ na vā āgaccheyya, saṅgho saha vā gaggena, vinā vā gaggena uposathaṁ karissati, saṅghakammaṁ karissati, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Gagga is insane. Sometimes he remembers the observance day and sometimes he doesn’t; sometimes he remembers the legal procedures of the Sangha and sometimes he doesn’t; sometimes he goes to the observance-day ceremony and sometimes he doesn’t; sometimes he goes to the legal procedures of the Sangha and sometimes he doesn’t. The Sangha agrees on the following in regard to the insanity of the monk Gagga: whether or not Gagga remembers either the observance day or the legal procedures of the Sangha, whether or not he goes either to the observance day or to the legal procedures of the Sangha, the Sangha should do the observance-day ceremony, it should do the legal procedures of the Sangha, with or without Gagga. Any monk who approves of this agreement—whether or not Gagga remembers either the observance day or the legal procedures of the Sangha, whether or not he goes either to the observance day or to the legal procedures of the Sangha, the Sangha should do the observance-day ceremony, it should do the legal procedures of the Sangha, with or without Gagga—should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Bạch chư ngài, mong tăng chúng hãy lắng nghe con. Tỳ khưu Gagga bị mất trí, có khi nhớ có khi không nhớ lễ uposatha, có khi nhớ có khi không nhớ việc của tăng chúng, có khi đến dự lễ uposatha có khi không đến, có khi đến dự việc của tăng chúng có khi không đến. Tăng chúng ban sự đồng thuận về người mất trí cho tỳ khưu Gagga bị mất trí. Dầu tỳ khưu Gagga có nhớ hay không nhớ lễ uposatha, có nhớ hay không nhớ việc của tăng chúng, có đến dự hay không đến dự lễ uposatha, có đến dự hay không đến dự việc của tăng chúng, tăng chúng sẽ làm lễ uposatha, sẽ làm việc của tăng chúng, cùng với Gagga hoặc không có Gagga. Vị nào chấp thuận việc ban sự đồng thuận về người mất trí cho tỳ khưu Gagga bị mất trí — dầu tỳ khưu Gagga có nhớ hay không nhớ lễ uposatha, có nhớ hay không nhớ việc của tăng chúng, có đến dự hay không đến dự lễ uposatha, có đến dự hay không đến dự việc của tăng chúng, tăng chúng sẽ làm lễ uposatha, sẽ làm việc của tăng chúng, cùng với Gagga hoặc không có Gagga — vị ấy nên im lặng. Vị nào không chấp thuận, vị ấy nên nói.”
Dinnā saṅghena gaggassa bhikkhuno ummattakassa ummattakasammuti. Sareyya vā gaggo bhikkhu uposathaṁ na vā sareyya, sareyya vā saṅghakammaṁ na vā sareyya, āgaccheyya vā uposathaṁ na vā āgaccheyya, āgaccheyya vā saṅghakammaṁ na vā āgaccheyya, saṅgho saha vā gaggena vinā vā gaggena uposathaṁ karissati, saṅghakammaṁ karissati. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has agreed on the following in regard to the insanity of the monk Gagga: whether or not Gagga remembers either the observance-day ceremony or the legal procedures of the Sangha, whether or not he goes either to the observance day or to the legal procedures of the Sangha, the Sangha should do the observance-day ceremony, it should do the legal procedures of the Sangha, with or without Gagga. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
‘Tăng chúng đã ban cho tỳ khưu Gagga, người bị điên, sự công nhận là người điên. Tỳ khưu Gagga có thể nhớ hoặc không nhớ ngày Bố-tát, có thể nhớ hoặc không nhớ Tăng sự, có thể đến hoặc không đến ngày Bố-tát, có thể đến hoặc không đến Tăng sự. Tăng chúng sẽ làm lễ Bố-tát, sẽ làm Tăng sự, dù có mặt hay vắng mặt Gagga. Điều này được Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này như vậy.’
24. Saṅghuposathādippabheda
24. Various kinds of observance days for the Sangha, etc.
91. Sự phân loại về Bố-tát của Tăng chúng và các việc khác
Tena kho pana samayena aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe cattāro bhikkhū viharanti. Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘uposatho kātabbo’ti, mayañcamhā cattāro janā, kathaṁ nu kho amhehi uposatho kātabbo”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, catunnaṁ pātimokkhaṁ uddisitun”ti.
At one time on the observance day, there were four monks staying in a certain monastery. They thought, “The Buddha has laid down a rule that the observance-day ceremony should be done. Now there’s four of us. So how should we do the observance-day ceremony?” They told the Buddha.
“When there are four of you, you should recite the Monastic Code.”
168. Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ, vào ngày Bố-tát hôm ấy có bốn vị tỳ khưu đang trú ngụ. Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã khởi lên suy nghĩ rằng: ‘Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Nên thực hành lễ Bố-tát.’ Và chúng ta chỉ có bốn người. Vậy chúng ta nên thực hành lễ Bố-tát như thế nào?’ (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép bốn vị đọc tụng Pātimokkha.’”
Tena kho pana samayena aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe tayo bhikkhū viharanti. Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“bhagavatā anuññātaṁ catunnaṁ pātimokkhaṁ uddisituṁ, mayañcamhā tayo janā, kathaṁ nu kho amhehi uposatho kātabbo”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, tiṇṇaṁ pārisuddhiuposathaṁ kātuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, kātabbo. Byattena bhikkhunā paṭibalena te bhikkhū ñāpetabbā—
At one time on the observance day, there were three monks staying in a certain monastery. They thought, “The Buddha has instructed that the Monastic Code should be recited when there are four monks. But there’s only three of us. So how should we do the observance-day ceremony?”
“When there are three of you, you should do the observance-day ceremony by declaring your purity.
And you should do it like this. A competent and capable monk should inform those monks:
Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ, vào ngày Bố-tát hôm ấy có ba vị tỳ khưu đang trú ngụ. Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã khởi lên suy nghĩ rằng: ‘Đức Thế Tôn đã cho phép bốn vị đọc tụng Pātimokkha. Và chúng ta chỉ có ba người. Vậy chúng ta nên thực hành lễ Bố-tát như thế nào?’ (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba vị thực hành lễ Bố-tát thanh tịnh (pārisuddhi-uposatha). Và này các tỳ khưu, nên thực hành như vầy: Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên thông báo cho các vị tỳ khưu kia biết rằng –
‘Suṇantu me āyasmantā. Ajjuposatho pannaraso. Yadāyasmantānaṁ pattakallaṁ, mayaṁ aññamaññaṁ pārisuddhiuposathaṁ kareyyāmā’ti.
‘Please, venerables, I ask you to listen. Today is the observance day, the fifteenth. If the venerables are ready, we should do the observance-day ceremony by declaring purity to one another.’
‘Xin các Hiền giả hãy nghe tôi. Hôm nay là ngày Bố-tát rằm (ngày thứ mười lăm). Nếu đây là thời điểm thích hợp đối với các Hiền giả, chúng ta hãy cùng nhau thực hành lễ Bố-tát thanh tịnh.’”
Therena bhikkhunā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā te bhikkhū evamassu vacanīyā—‘parisuddho ahaṁ, āvuso; parisuddhoti maṁ dhāretha. Parisuddho ahaṁ, āvuso; parisuddhoti maṁ dhāretha. Parisuddho ahaṁ, āvuso; parisuddhoti maṁ dhārethā’ti.
The most senior monk should arrange his upper robe over one shoulder, squat on his heels, raise his joined palms, and say to the other monks: ‘I’m pure. Please remember me as pure.’ And he should repeat this two more times.
Vị tỳ khưu trưởng lão, sau khi mặc y trên (uttarāsaṅga) vắt qua một bên vai, ngồi xuống theo kiểu xổm, chắp tay lại, nên nói với các vị tỳ khưu kia như vầy: ‘Thưa chư hiền, tôi được thanh tịnh; xin các vị hãy ghi nhận tôi là người thanh tịnh. Thưa chư hiền, tôi được thanh tịnh; xin các vị hãy ghi nhận tôi là người thanh tịnh. Thưa chư hiền, tôi được thanh tịnh; xin các vị hãy ghi nhận tôi là người thanh tịnh.’”
Navakena bhikkhunā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā te bhikkhū evamassu vacanīyā—‘parisuddho ahaṁ, bhante; parisuddhoti maṁ dhāretha. Parisuddho ahaṁ, bhante; parisuddhoti maṁ dhāretha. Parisuddho ahaṁ, bhante; parisuddhoti maṁ dhārethā’”ti.
Each junior monk should arrange his upper robe over one shoulder, squat on his heels, raise his joined palms, and say to the other monks: ‘I’m pure, venerable. Please remember me as pure.’ And he should repeat this two more times.”
Vị tỳ khưu hạ lạp, sau khi mặc y trên vắt qua một bên vai, ngồi xuống theo kiểu xổm, chắp tay lại, nên nói với các vị tỳ khưu kia như vầy: ‘Bạch chư Đại đức, con được thanh tịnh; xin các ngài hãy ghi nhận con là người thanh tịnh. Bạch chư Đại đức, con được thanh tịnh; xin các ngài hãy ghi nhận con là người thanh tịnh. Bạch chư Đại đức, con được thanh tịnh; xin các ngài hãy ghi nhận con là người thanh tịnh.’”
Tena kho pana samayena aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe dve bhikkhū viharanti. Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“bhagavatā anuññātaṁ catunnaṁ pātimokkhaṁ uddisituṁ, tiṇṇannaṁ pārisuddhiuposathaṁ kātuṁ. Mayañcamhā dve janā. Kathaṁ nu kho amhehi uposatho kātabbo”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, dvinnaṁ pārisuddhiuposathaṁ kātuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, kātabbo.
Therena bhikkhunā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā navo bhikkhu evamassa vacanīyo—‘parisuddho ahaṁ, āvuso; parisuddhoti maṁ dhārehi. Parisuddho ahaṁ, āvuso; parisuddhoti maṁ dhārehi. Parisuddho ahaṁ, āvuso; parisuddhoti maṁ dhārehī’ti.
At one time on the observance day, there were two monks staying in a certain monastery. They thought, “The Buddha has instructed that the Monastic Code should be recited when there are four monks and that the observance-day ceremony should be done by declaring purity when there are three. But there’s only two of us. So how should we do the observance-day ceremony?”
“When there are two of you, you should do the observance-day ceremony by declaring your purity.
And you should do it like this.
The senior monk should arrange his upper robe over one shoulder, squat on his heels, raise his joined palms, and say to the junior monk: ‘I’m pure. Please remember me as pure.’ And he should repeat this two more times.
Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ, vào ngày Bố-tát hôm ấy có hai vị tỳ khưu đang trú ngụ. Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã khởi lên suy nghĩ rằng: ‘Đức Thế Tôn đã cho phép bốn vị đọc tụng Pātimokkha, và cho phép ba vị thực hành lễ Bố-tát thanh tịnh. Và chúng ta chỉ có hai người. Vậy chúng ta nên thực hành lễ Bố-tát như thế nào?’ (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép hai vị thực hành lễ Bố-tát thanh tịnh. Và này các tỳ khưu, nên thực hành như vầy: Vị tỳ khưu trưởng lão, sau khi mặc y trên vắt qua một bên vai, ngồi xuống theo kiểu xổm, chắp tay lại, nên nói với vị tỳ khưu hạ lạp như vầy: ‘Thưa hiền giả, tôi được thanh tịnh; xin hiền giả hãy ghi nhận tôi là người thanh tịnh. Thưa hiền giả, tôi được thanh tịnh; xin hiền giả hãy ghi nhận tôi là người thanh tịnh. Thưa hiền giả, tôi được thanh tịnh; xin hiền giả hãy ghi nhận tôi là người thanh tịnh.’’
Navakena bhikkhunā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā thero bhikkhu evamassa vacanīyo—‘parisuddho ahaṁ, bhante; parisuddhoti maṁ dhāretha. Parisuddho ahaṁ, bhante; parisuddhoti maṁ dhāretha. Parisuddho ahaṁ, bhante; parisuddhoti maṁ dhārethā’”ti.
The junior monk should arrange his upper robe over one shoulder, squat on his heels, raise his joined palms, and say to the senior monk: ‘I’m pure, venerable. Please remember me as pure.’ And he should repeat this two more times.”
Vị tỳ khưu hạ lạp, sau khi mặc y trên vắt qua một bên vai, ngồi xuống theo kiểu xổm, chắp tay lại, nên nói với vị tỳ khưu trưởng lão như vầy: ‘Bạch Đại đức, con được thanh tịnh; xin ngài hãy ghi nhận con là người thanh tịnh. Bạch Đại đức, con được thanh tịnh; xin ngài hãy ghi nhận con là người thanh tịnh. Bạch Đại đức, con được thanh tịnh; xin ngài hãy ghi nhận con là người thanh tịnh.’”
Tena kho pana samayena aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe eko bhikkhu viharati. Atha kho tassa bhikkhuno etadahosi—“bhagavatā anuññātaṁ catunnaṁ pātimokkhaṁ uddisituṁ, tiṇṇannaṁ pārisuddhiuposathaṁ kātuṁ, dvinnaṁ pārisuddhiuposathaṁ kātuṁ. Ahañcamhi ekako. Kathaṁ nu kho mayā uposatho kātabbo”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe eko bhikkhu viharati. Tena, bhikkhave, bhikkhunā yattha bhikkhū paṭikkamanti upaṭṭhānasālāya vā, maṇḍape vā, rukkhamūle vā, so deso sammajjitvā pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpetvā āsanaṁ paññapetvā padīpaṁ katvā nisīditabbaṁ.
Sace aññe bhikkhū āgacchanti, tehi saddhiṁ uposatho kātabbo. No ce āgacchanti, ajja me uposathoti adhiṭṭhātabbo.
No ce adhiṭṭhaheyya, āpatti dukkaṭassa.
At one time on the observance day, a monk was staying in a certain monastery by himself. He thought, “The Buddha has instructed that the Monastic Code should be recited when there are four monks and that the observance-day ceremony should be done by declaring purity when there are two or three. But I’m here by myself. So how should I do the observance-day ceremony?”
“On the observance day, a monk may be staying by himself in a certain monastery. He should sweep the place where the monks normally go: whether the assembly hall, under a roof cover, or at the foot of a tree. He should set out water for drinking and water for washing. He should prepare a seat, light a lamp, and sit down.
If other monks arrive, he should do the observance-day ceremony with them. If not, he should determine: ‘Today is my observance day.’
If he doesn’t make a determination, he commits an offense of wrong conduct.
Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ, vào ngày Bố-tát hôm ấy có một vị tỳ khưu đang trú ngụ. Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy đã khởi lên suy nghĩ rằng: ‘Đức Thế Tôn đã cho phép bốn vị đọc tụng Pātimokkha, cho phép ba vị thực hành lễ Bố-tát thanh tịnh, và cho phép hai vị thực hành lễ Bố-tát thanh tịnh. Còn ta chỉ có một mình. Vậy ta nên thực hành lễ Bố-tát như thế nào?’ (Vị ấy) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) ‘Này các tỳ khưu, trong trường hợp này, tại một trú xứ nọ, vào ngày Bố-tát hôm ấy có một vị tỳ khưu đang trú ngụ. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên quét dọn nơi mà các tỳ khưu thường lui tới, hoặc là nhà hội, hoặc là nhà mái che, hoặc là gốc cây, rồi chuẩn bị sẵn nước uống và nước dùng, trải chỗ ngồi, thắp đèn, rồi ngồi xuống. Nếu có các vị tỳ khưu khác đến, nên cùng với các vị ấy thực hành lễ Bố-tát. Nếu không có ai đến, nên phát nguyện rằng: ‘Hôm nay là ngày Bố-tát của ta.’ Nếu không phát nguyện, vị ấy phạm tội tác ác (dukkaṭa).’
Tatra, bhikkhave, yattha cattāro bhikkhū viharanti, na ekassa pārisuddhiṁ āharitvā tīhi pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Uddiseyyuñce, āpatti dukkaṭassa.
Tatra, bhikkhave, yattha tayo bhikkhū viharanti, na ekassa pārisuddhiṁ āharitvā dvīhi pārisuddhiuposatho kātabbo. Kareyyuñce, āpatti dukkaṭassa.
Tatra, bhikkhave, yattha dve bhikkhū viharanti, na ekassa pārisuddhiṁ āharitvā ekena adhiṭṭhātabbo. Adhiṭṭhaheyya ce, āpatti dukkaṭassā”ti.
Wherever four monks are staying together, three shouldn’t recite the Monastic Code, while the purity of the fourth is brought. If you do recite the Monastic Code, you commit an offense of wrong conduct.
Wherever three monks are staying together, two shouldn’t do the observance-day ceremony by declaring purity, while the purity of the third is brought. If you do declare purity, you commit an offense of wrong conduct.
Wherever two monks are staying together, one shouldn’t make a determination, while the purity of the other is brought. If you do make a determination, you commit an offense of wrong conduct.”
Này các tỳ khưu, trong trường hợp nơi nào có bốn vị tỳ khưu đang trú ngụ, không nên nhận sự thanh tịnh của một vị rồi ba vị còn lại đọc tụng Pātimokkha. Nếu họ đọc tụng, họ phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, trong trường hợp nơi nào có ba vị tỳ khưu đang trú ngụ, không nên nhận sự thanh tịnh của một vị rồi hai vị còn lại thực hành lễ Bố-tát thanh tịnh. Nếu họ thực hành, họ phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, trong trường hợp nơi nào có hai vị tỳ khưu đang trú ngụ, không nên nhận sự thanh tịnh của một vị rồi vị còn lại tự mình phát nguyện. Nếu vị ấy phát nguyện, vị ấy phạm tội tác ác.
25. Āpattipaṭikammavidhi
25. The process for making amends for an offense
92. Phương pháp xử lý tội phạm
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu tadahuposathe āpattiṁ āpanno hoti. Atha kho tassa bhikkhuno etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘na sāpattikena uposatho kātabbo’ti. Ahañcamhi āpattiṁ āpanno. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Idha pana, bhikkhave, bhikkhu tadahuposathe āpattiṁ āpanno hoti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā ekaṁ bhikkhuṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—
‘ahaṁ, āvuso, itthannāmaṁ āpattiṁ āpanno, taṁ paṭidesemī’ti. Tena vattabbo—‘passasī’ti. ‘Āma passāmī’ti. ‘Āyatiṁ saṁvareyyāsī’ti.
At one time on the observance day, a certain monk committed an offense. He thought, “The Buddha has laid down a rule that one shouldn’t do the observance-day ceremony if one has an unconfessed offense. And I’ve committed an offense. So what should I do?” They told the Buddha.
“On the observance day, a monk may have committed an offense. He should approach a single monk, arrange his upper robe over one shoulder, squat on his heels, raise his joined palms, and say:
‘I’ve committed such-and-such an offense. I confess it.’ The other should say, ‘Do you recognize it?’ —‘Yes, I recognize it.’ —‘You should restrain yourself in the future.’
169. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu đã phạm tội vào ngày lễ Uposatha. Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy đã suy nghĩ như vầy: – ‘Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Người có tội không nên thực hành lễ Uposatha.’ Và ta đã phạm tội. Ta nên thực hành như thế nào đây?’ (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, ở đây, có vị tỳ khưu đã phạm tội vào ngày lễ Uposatha. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến một vị tỳ khưu, sắp xếp thượng y vắt qua một bên vai, ngồi xổm, chắp tay, và nên nói như vầy: – ‘Thưa hiền hữu, tôi đã phạm tội tên là như vầy, tôi xin sám hối tội ấy.’ Vị tỳ khưu kia nên nói: – ‘Hiền hữu có thấy không?’ – ‘Vâng, tôi thấy.’ – ‘Về sau, hiền hữu nên thu thúc.’
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu tadahuposathe āpattiyā vematiko hoti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā ekaṁ bhikkhuṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—
‘ahaṁ, āvuso, itthannāmāya āpattiyā vematiko; yadā nibbematiko bhavissāmi, tadā taṁ āpattiṁ paṭikarissāmī’ti vatvā uposatho kātabbo, pātimokkhaṁ sotabbaṁ, na tveva tappaccayā uposathassa antarāyo kātabbo”ti.
On the observance day, a monk may be unsure if he’s committed an offense. He should approach a single monk, arrange his upper robe over one shoulder, squat on his heels, raise his joined palms, and say:
‘I’m unsure if I’ve committed such-and-such an offense. I’ll make amends for it when I’m sure.’ He can then take part in the observance-day ceremony and listen to the recitation of the Monastic Code. This is not an obstacle to doing the observance-day ceremony.”
– Này các tỳ khưu, ở đây, có vị tỳ khưu có sự phân vân về tội vào ngày lễ Uposatha. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến một vị tỳ khưu, sắp xếp thượng y vắt qua một bên vai, ngồi xổm, chắp tay, và nên nói như vầy: – ‘Thưa hiền hữu, tôi có sự phân vân về tội tên là như vầy; khi nào tôi hết phân vân, khi ấy tôi sẽ xử lý tội ấy.’ Sau khi nói xong, nên thực hành lễ Uposatha, nên lắng nghe Pātimokkha, và không nên vì lý do ấy mà tạo ra sự trở ngại cho lễ Uposatha.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū sabhāgaṁ āpattiṁ desenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, sabhāgā āpatti desetabbā. Yo deseyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks from the group of six confessed shared offenses with one another.
“You shouldn’t confess shared offenses with one another. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu đã sám hối tội tương đồng. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, không nên sám hối tội tương đồng. Vị nào sám hối, (vị ấy) phạm tội dukkaṭa.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū sabhāgaṁ āpattiṁ paṭiggaṇhanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, sabhāgā āpatti paṭiggahetabbā. Yo paṭiggaṇheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks from the group of six received the confession of shared offenses from one another.
“You shouldn’t receive the confession of shared offenses from one another. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu đã tiếp nhận (sự sám hối) tội tương đồng. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, không nên tiếp nhận (sự sám hối) tội tương đồng. Vị nào tiếp nhận, (vị ấy) phạm tội dukkaṭa.
26. Āpattiāvikaraṇavidhi
26. The process for revealing an offense
93. Phương pháp phát lồ tội
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu pātimokkhe uddissamāne āpattiṁ sarati. Atha kho tassa bhikkhuno etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘na sāpattikena uposatho kātabbo’ti. Ahañcamhi āpattiṁ āpanno. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At one time a certain monk remembered an offense while the Monastic Code was being recited. He thought, “The Buddha has laid down a rule that one shouldn’t do the observance-day ceremony if one has an unconfessed offense. And I’ve committed an offense. So what should I do?” They told the Buddha.
170. Vào lúc bấy giờ, trong khi Pātimokkha đang được tụng đọc, có một vị tỳ khưu đã nhớ ra một tội. Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy đã suy nghĩ như vầy: – ‘Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Người có tội không nên thực hành lễ Uposatha.’ Và ta đã phạm tội. Ta nên thực hành như thế nào đây?’ (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
“Idha pana, bhikkhave, bhikkhu pātimokkhe uddissamāne āpattiṁ sarati. Tena, bhikkhave, bhikkhunā sāmanto bhikkhu evamassa vacanīyo—‘ahaṁ, āvuso, itthannāmaṁ āpattiṁ āpanno. Ito vuṭṭhahitvā taṁ āpattiṁ paṭikarissāmī’ti vatvā uposatho kātabbo, pātimokkhaṁ sotabbaṁ, na tveva tappaccayā uposathassa antarāyo kātabbo.
“A monk may remember an offense while the Monastic Code is being recited. He should say to a monk sitting next to him, ‘I’ve committed such-and-such an offense. Once this ceremony is finished, I’ll make amends for it.’ They can then continue the observance-day ceremony and listen to the recitation of the Monastic Code. This is not an obstacle to doing the observance-day ceremony.
– Này các tỳ khưu, ở đây, trong khi Pātimokkha đang được tụng đọc, có vị tỳ khưu nhớ ra một tội. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên nói với vị tỳ khưu ở gần như vầy: – ‘Thưa hiền hữu, tôi đã phạm tội tên là như vầy. Sau khi đứng dậy khỏi nơi này, tôi sẽ xử lý tội ấy.’ Sau khi nói xong, nên thực hành lễ Uposatha, nên lắng nghe Pātimokkha, và không nên vì lý do ấy mà tạo ra sự trở ngại cho lễ Uposatha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu pātimokkhe uddissamāne āpattiyā vematiko hoti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā sāmanto bhikkhu evamassa vacanīyo—‘ahaṁ, āvuso, itthannāmāya āpattiyā vematiko. Yadā nibbematiko bhavissāmi, tadā taṁ āpattiṁ paṭikarissāmī’ti vatvā uposatho kātabbo, pātimokkhaṁ sotabbaṁ; na tveva tappaccayā uposathassa antarāyo kātabbo”ti.
A monk may become unsure if he’s committed an offense while the Monastic Code is being recited. He should say to a monk sitting next to him, ‘I’m unsure if I’ve committed such-and-such an offense. I’ll make amends for it when I’m sure.’ They can then continue the observance-day ceremony and listen to the recitation of the Monastic Code. This is not an obstacle to doing the observance-day ceremony.”
– Này các tỳ khưu, ở đây, trong khi Pātimokkha đang được tụng đọc, có vị tỳ khưu có sự phân vân về tội. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên nói với vị tỳ khưu ở gần như vầy: – ‘Thưa hiền hữu, tôi có sự phân vân về tội tên là như vầy. Khi nào tôi hết phân vân, khi ấy tôi sẽ xử lý tội ấy.’ Sau khi nói xong, nên thực hành lễ Uposatha, nên lắng nghe Pātimokkha; và không nên vì lý do ấy mà tạo ra sự trở ngại cho lễ Uposatha.
27. Sabhāgāpattipaṭikammavidhi
27. The process for making amends for a shared offense
94. Phương pháp xử lý tội tương đồng
Tena kho pana samayena aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sabbo saṅgho sabhāgaṁ āpattiṁ āpanno hoti. Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘na sabhāgā āpatti desetabbā, na sabhāgā āpatti paṭiggahetabbā’ti. Ayañca sabbo saṅgho sabhāgaṁ āpattiṁ āpanno. Kathaṁ nu kho amhehi paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At one time on the observance day, the whole Sangha in a certain monastery had committed the same offense. The monks thought, “The Buddha has laid down a rule that one shouldn’t confess or receive the confession of shared offenses. Yet here the whole Sangha has committed the same offense. So what should we do?”
171. Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ, vào ngày lễ Uposatha, toàn thể tăng chúng đã phạm tội tương đồng. Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã suy nghĩ như vầy: – ‘Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sám hối tội tương đồng, không nên tiếp nhận (sự sám hối) tội tương đồng.’ Và toàn thể tăng chúng này đã phạm tội tương đồng. Chúng ta nên thực hành như thế nào đây?’ (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
“Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sabbo saṅgho sabhāgaṁ āpattiṁ āpanno hoti. Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi eko bhikkhu sāmantā āvāsā sajjukaṁ pāhetabbo—gacchāvuso, taṁ āpattiṁ paṭikaritvā āgaccha; mayaṁ te santike āpattiṁ paṭikarissāmāti.
Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ. No ce labhetha, byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
“On the observance day, the whole Sangha in a certain monastery may have committed the same offense. Those monks should straightaway send a monk to a neighboring monastery: ‘Go and make amends for this offense. When you return, we’ll make amends for it with you.’
If he’s able to do this, it’s good. If he’s not, then a competent and capable monk should inform the Sangha:
– Này các tỳ khưu, ở đây, tại một trú xứ nọ, vào ngày lễ Uposatha, toàn thể tăng chúng đã phạm tội tương đồng. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên phái một vị tỳ khưu đi trong ngày đến trú xứ lân cận (và dặn rằng): – ‘Thưa hiền hữu, hãy đi, sau khi xử lý tội ấy xong hãy trở về; chúng tôi sẽ xử lý tội ấy trước sự hiện diện của hiền hữu.’ Nếu việc này được thực hiện, điều ấy là tốt đẹp. Nếu không thực hiện được, một vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên thông báo cho tăng chúng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ sabbo saṅgho sabhāgaṁ āpattiṁ āpanno. Yadā aññaṁ bhikkhuṁ suddhaṁ anāpattikaṁ passissati, tadā tassa santike taṁ āpattiṁ paṭikarissatī’ti vatvā
uposatho kātabbo, pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ, na tveva tappaccayā uposathassa antarāyo kātabbo.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This whole Sangha has committed the same offense. When the Sangha sees another monk who is pure and free of offenses, it should make amends for this offense with him.’
Once this has been said, they can do the observance-day ceremony and listen to the recitation of the Monastic Code. This is not an obstacle to doing the observance-day ceremony.
– ‘Kính bạch chư đại đức, xin tăng chúng lắng nghe con. Toàn thể tăng chúng này đã phạm tội tương đồng. Khi nào gặp được vị tỳ khưu khác trong sạch, không có tội, khi ấy sẽ xử lý tội ấy trước sự hiện diện của vị ấy.’ Sau khi nói xong, nên thực hành lễ Uposatha, nên tụng đọc Pātimokkha, và không nên vì lý do ấy mà tạo ra sự trở ngại cho lễ Uposatha.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sabbo saṅgho sabhāgāya āpattiyā vematiko hoti. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
On the observance day, the whole Sangha in a certain monastery may be unsure if it has committed the same offense. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
– Này các tỳ khưu, ở đây, tại một trú xứ nọ, vào ngày lễ Uposatha, toàn thể tăng chúng có sự phân vân về tội tương đồng. Một vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên thông báo cho tăng chúng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ sabbo saṅgho sabhāgāya āpattiyā vematiko. Yadā nibbematiko bhavissati, tadā taṁ āpattiṁ paṭikarissatī’ti
vatvā uposatho kātabbo, pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ; na tveva tappaccayā uposathassa antarāyo kātabbo.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This whole Sangha is unsure if it has committed the same offense. When the Sangha is sure, it should make amends for this offense.’
Once this has been said, they can do the observance-day ceremony and listen to the recitation of the Monastic Code. This is not an obstacle to doing the observance-day ceremony.
– ‘Kính bạch chư đại đức, xin tăng chúng lắng nghe con. Toàn thể tăng chúng này có sự phân vân về tội tương đồng. Khi nào hết phân vân, khi ấy sẽ xử lý tội ấy.’ Sau khi nói xong, nên thực hành lễ Uposatha, nên tụng đọc Pātimokkha; và không nên vì lý do ấy mà tạo ra sự trở ngại cho lễ Uposatha.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse vassūpagato saṅgho sabhāgaṁ āpattiṁ āpanno hoti. Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi eko bhikkhu sāmantā āvāsā sajjukaṁ pāhetabbo—gacchāvuso, taṁ āpattiṁ paṭikaritvā āgaccha; mayaṁ te santike taṁ āpattiṁ paṭikarissāmāti.
Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ. No ce labhetha, eko bhikkhu sattāhakālikaṁ pāhetabbo—gacchāvuso, taṁ āpattiṁ paṭikaritvā āgaccha; mayaṁ te santike taṁ āpattiṁ paṭikarissāmā”ti.
When a sangha has entered the rainy-season residence in a certain monastery, it may happen that the whole Sangha has committed the same offense. Those monks should straightaway send a monk to a neighboring monastery: ‘Go and make amends for this offense. When you return, we’ll make amends for it with you.’
If he’s able to do this, it’s good. If he’s not, they should send a monk under the seven-day allowance: ‘Go and make amends for this offense. When you return, we’ll make amends for it with you.’”
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong trú xứ nào đó, vị tỳ khưu đã nhập hạ phạm phải tội đồng loại. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên phái một vị tỳ khưu đi đến trú xứ lân cận trong ngày với lời nhắn rằng: ‘Này hiền giả, hãy đi, sau khi đã giải tội ấy xong thì hãy trở về; chúng tôi sẽ giải tội ấy nơi hiền giả.’ Nếu việc ấy được thành tựu như vậy thì điều ấy là tốt đẹp. Nếu không được thành tựu, nên phái một vị tỳ khưu đi trong thời hạn bảy ngày với lời nhắn rằng: ‘Này hiền giả, hãy đi, sau khi đã giải tội ấy xong thì hãy trở về; chúng tôi sẽ giải tội ấy nơi hiền giả.’
Tena kho pana samayena aññatarasmiṁ āvāse sabbo saṅgho sabhāgaṁ āpattiṁ āpanno hoti. So na jānāti tassā āpattiyā nāmagottaṁ. Tattha añño bhikkhu āgacchati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito byatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo. Tamenaṁ aññataro bhikkhu yena so bhikkhu tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca—“yo nu kho, āvuso, evañcevañca karoti, kiṁ nāma so āpattiṁ āpajjatī”ti? So evamāha—“yo kho, āvuso, evañcevañca karoti, imaṁ nāma so āpattiṁ āpajjati. Imaṁ nāma tvaṁ, āvuso, āpattiṁ āpanno; paṭikarohi taṁ āpattin”ti. So evamāha—“na kho ahaṁ, āvuso, ekova imaṁ āpattiṁ āpanno; ayaṁ sabbo saṅgho imaṁ āpattiṁ āpanno”ti. So evamāha—“kiṁ te, āvuso, karissati paro āpanno vā anāpanno vā. Iṅgha tvaṁ, āvuso, sakāya āpattiyā vuṭṭhāhī”ti.
Atha kho so bhikkhu tassa bhikkhuno vacanena taṁ āpattiṁ paṭikaritvā yena te bhikkhū tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca—“yo kira, āvuso, evañcevañca karoti, imaṁ nāma so āpattiṁ āpajjati. Imaṁ nāma tumhe, āvuso, āpattiṁ āpannā; paṭikarotha taṁ āpattin”ti. Atha kho te bhikkhū na icchiṁsu tassa bhikkhuno vacanena taṁ āpattiṁ paṭikātuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
Soon afterwards the whole Sangha in a certain monastery had committed the same offense. They did not know the name or the category of that offense. Then a monk arrived who was learned and a master of the tradition; who was an expert on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; who was knowledgeable and competent, had a sense of conscience, and was afraid of wrongdoing and fond of the training. A monk went up to him and asked, “When someone does such-and-such, what’s the name of the offense he’s committed?” The learned monk replied, “When someone does such-and-such, he’s committed an offense of this name. If you have committed this offense, you should make amends for it.” The other monk said, “It’s not just I alone who have committed this offense, but this whole Sangha.” The learned monk said, “What does it matter to you whether others have or haven’t committed an offense? Please clear yourself of your own offense.”
Then, because of what the learned monk had said, the other monk made amends for that offense. He then went to the other monks and said, “When someone does such-and-such, he’s committed an offense of this name. This is the offense that you’ve committed. You should make amends for it.” But in spite of what he had said, those monks did not want to make amends for that offense. They told the Buddha.
Vào lúc bấy giờ, trong trú xứ nào đó, toàn thể hội chúng tỳ khưu đã phạm phải tội đồng loại. Vị ấy không biết tên và loại của tội ấy. Khi ấy, có vị tỳ khưu khác đi đến, là người đa văn, thông thuộc truyền thống, thông suốt Pháp, thông suốt Luật, thông suốt các đề mục, là bậc trí, sáng suốt, có trí tuệ, biết hổ thẹn, có sự áy náy, mong muốn học tập. Một vị tỳ khưu nào đó đã đi đến gặp vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: ‘Thưa hiền giả, vị nào đã làm như thế này và như thế này, vị ấy phạm tội tên là gì?’ Vị kia nói như vầy: ‘Này hiền giả, vị nào đã làm như thế này và như thế này, vị ấy phạm tội tên là vầy. Này hiền giả, ngài đã phạm tội tên là vầy; ngài hãy giải tội ấy đi.’ Vị này nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, không phải chỉ một mình tôi đã phạm tội này; toàn thể hội chúng này đã phạm tội này.’ Vị kia nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, người khác phạm tội hay không phạm tội thì có liên quan gì đến ngài. Này hiền giả, thôi nào, ngài hãy ra khỏi tội của mình đi.’ Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy do lời nói của vị tỳ khưu kia đã giải tội ấy xong, rồi đi đến gặp các vị tỳ khưu kia, sau khi đến đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này: ‘Thưa các hiền giả, nghe nói rằng vị nào đã làm như thế này và như thế này, vị ấy phạm tội tên là vầy. Thưa các hiền giả, các ngài đã phạm tội tên là vầy; các ngài hãy giải tội ấy đi.’ Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã không muốn giải tội ấy theo lời nói của vị tỳ khưu kia. Họ đã trình báo việc này lên đức Thế Tôn.
“Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse sabbo saṅgho sabhāgaṁ āpattiṁ āpanno hoti. So na jānāti tassā āpattiyā nāmagottaṁ. Tattha añño bhikkhu āgacchati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito byatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo. Tamenaṁ aññataro bhikkhu yena so bhikkhu tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ evaṁ vadeti—‘yo nu kho, āvuso, evañcevañca karoti, kiṁ nāma so āpattiṁ āpajjatī’ti? So evaṁ vadeti—‘yo kho, āvuso, evañcevañca karoti, imaṁ nāma so āpattiṁ āpajjati. Imaṁ nāma tvaṁ, āvuso, āpattiṁ āpanno; paṭikarohi taṁ āpattin’ti. So evaṁ vadeti—‘na kho ahaṁ, āvuso, ekova imaṁ āpattiṁ āpanno. Ayaṁ sabbo saṅgho imaṁ āpattiṁ āpanno’ti. So evaṁ vadeti—‘kiṁ te, āvuso, karissati paro āpanno vā anāpanno vā. Iṅgha tvaṁ, āvuso, sakāya āpattiyā vuṭṭhāhī’ti. So ce, bhikkhave, bhikkhu tassa bhikkhuno vacanena taṁ āpattiṁ paṭikaritvā yena te bhikkhū tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā te bhikkhū evaṁ vadeti—‘yo kira, āvuso, evañcevañca karoti imaṁ nāma so āpattiṁ āpajjati, imaṁ nāma tumhe āvuso āpattiṁ āpannā, paṭikarotha taṁ āpattin’ti. Te ce, bhikkhave, bhikkhū tassa bhikkhuno vacanena taṁ āpattiṁ paṭikareyyuṁ, iccetaṁ kusalaṁ. No ce paṭikareyyuṁ, na te, bhikkhave, bhikkhū tena bhikkhunā akāmā vacanīyā”ti.
“In a case such as this, if those monks do make amends for that offense because of what that monk has said, then this is good. If they don’t, then that monk doesn’t need to correct them if he doesn’t want to.”
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong trú xứ nào đó, toàn thể hội chúng tỳ khưu đã phạm phải tội đồng loại. Vị ấy không biết tên và loại của tội ấy. Khi ấy, có vị tỳ khưu khác đi đến, là người đa văn, thông thuộc truyền thống, thông suốt Pháp, thông suốt Luật, thông suốt các đề mục, là bậc trí, sáng suốt, có trí tuệ, biết hổ thẹn, có sự áy náy, mong muốn học tập. Một vị tỳ khưu nào đó đã đi đến gặp vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với vị tỳ khưu ấy như vầy: ‘Thưa hiền giả, vị nào đã làm như thế này và như thế này, vị ấy phạm tội tên là gì?’ Vị kia nói như vầy: ‘Này hiền giả, vị nào đã làm như thế này và như thế này, vị ấy phạm tội tên là vầy. Này hiền giả, ngài đã phạm tội tên là vầy; ngài hãy giải tội ấy đi.’ Vị này nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, không phải chỉ một mình tôi đã phạm tội này. Toàn thể hội chúng này đã phạm tội này.’ Vị kia nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, người khác phạm tội hay không phạm tội thì có liên quan gì đến ngài. Này hiền giả, thôi nào, ngài hãy ra khỏi tội của mình đi.’ Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu ấy do lời nói của vị tỳ khưu kia đã giải tội ấy xong, rồi đi đến gặp các vị tỳ khưu kia, sau khi đến đã nói với các vị tỳ khưu ấy như vầy: ‘Thưa các hiền giả, nghe nói rằng vị nào đã làm như thế này và như thế này, vị ấy phạm tội tên là vầy, thưa các hiền giả, các ngài đã phạm tội tên là vầy, các ngài hãy giải tội ấy đi.’ Này các tỳ khưu, nếu các vị tỳ khưu ấy do lời nói của vị tỳ khưu kia mà giải tội ấy thì điều ấy là tốt đẹp. Nếu họ không giải tội, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu kia không nên nói với các vị tỳ khưu ấy khi họ không muốn.
Codanāvatthubhāṇavāro niṭṭhito dutiyo.
The second section for recitation on the grounds for accusations is finished.
Phẩm về các trường hợp khiển trách thứ hai đã kết thúc.
28. Anāpattipannarasaka
28. The group of fifteen on non-offenses
95. Mười lăm trường hợp vô tội
Tena kho pana samayena aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatiṁsu cattāro vā atirekā vā. Te na jāniṁsu—“atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā”ti. Te dhammasaññino vinayasaññino vaggā samaggasaññino uposathaṁ akaṁsu, pātimokkhaṁ uddisiṁsu. Tehi uddissamāne pātimokkhe, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchiṁsu bahutarā. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At one time on the observance day, four or more resident monks had gathered together in a certain monastery. They did not know that there were other resident monks who had not arrived. Perceiving that they were acting according to the Teaching and the Monastic Law, perceiving that the assembly was complete although it was not, they did the observance-day ceremony and recited the Monastic Code. While they were doing it, a greater number of resident monks arrived. They told the Buddha.
172. Vào lúc bấy giờ, trong trú xứ nào đó, vào ngày lễ uposatha, nhiều vị tỳ khưu trú ngụ, hoặc là bốn vị hoặc là nhiều hơn, đã tụ họp. Họ đã không biết rằng: ‘Còn có các vị tỳ khưu trú ngụ khác chưa đến.’ Họ có nhận thức là đúng Pháp, có nhận thức là đúng Luật, là nhóm riêng biệt nhưng có nhận thức là hòa hợp, đã thực hành lễ uposatha, đã tụng đọc Pātimokkha. Trong khi họ đang tụng đọc Pātimokkha thì các vị tỳ khưu trú ngụ khác, đông hơn, đã đi đến. Họ đã trình báo việc này lên đức Thế Tôn.
“Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te na jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te dhammasaññino vinayasaññino vaggā samaggasaññino uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddissamāne pātimokkhe, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti bahutarā.
Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi puna pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Uddesakānaṁ anāpatti.
“On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They don’t know there are other resident monks who haven’t arrived. Perceiving that they’re acting according to the Teaching and the Monastic Law, perceiving that the assembly is complete although it’s not, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. While they’re doing it, a greater number of resident monks arrive.
In such a case, those monks should recite the Monastic Code once more. There’s no offense for the reciters.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong trú xứ nào đó, vào ngày lễ uposatha, nhiều vị tỳ khưu trú ngụ, hoặc là bốn vị hoặc là nhiều hơn, tụ họp lại. Họ không biết rằng: ‘Còn có các vị tỳ khưu trú ngụ khác chưa đến.’ Họ có nhận thức là đúng Pháp, có nhận thức là đúng Luật, là nhóm riêng biệt nhưng có nhận thức là hòa hợp, thực hành lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi họ đang tụng đọc Pātimokkha thì các vị tỳ khưu trú ngụ khác, đông hơn, đi đến. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên tụng đọc lại Pātimokkha. Các vị đã tụng đọc (trước) thì vô tội.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te na jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te dhammasaññino vinayasaññino vaggā samaggasaññino uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddissamāne pātimokkhe, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti samasamā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, avasesaṁ sotabbaṁ. Uddesakānaṁ anāpatti.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They don’t know there are other resident monks who haven’t arrived. Perceiving that they’re acting according to the Teaching and the Monastic Law, perceiving that the assembly is complete although it’s not, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. While they’re doing it, an equal number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the remainder should be listened to. There’s no offense for the reciters.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, tại một trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú trong trú xứ ấy, hoặc là bốn vị hoặc là nhiều hơn, tụ họp lại. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ ấy chưa đến.’ Các vị ấy, với nhận thức là đúng Pháp, với nhận thức là đúng Luật, dù là bè phái, với nhận thức là hòa hợp, thực hiện lễ uposatha, đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy đang đọc Pātimokkha, các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ ấy đến với số lượng bằng nhau. Việc đọc là đã được đọc tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị đọc không có tội.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te na jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te dhammasaññino vinayasaññino vaggā samaggasaññino uposathaṁ karonti pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddissamāne pātimokkhe, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti thokatarā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, avasesaṁ sotabbaṁ. Uddesakānaṁ anāpatti.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They don’t know there are other resident monks who haven’t arrived. Perceiving that they’re acting according to the Teaching and the Monastic Law, perceiving that the assembly is complete although it’s not, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. While they’re doing it, a smaller number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the remainder should be listened to. There’s no offense for the reciters.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, tại một trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú trong trú xứ ấy, hoặc là bốn vị hoặc là nhiều hơn, tụ họp lại. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ ấy chưa đến,’ các vị ấy, với nhận thức là đúng Pháp, với nhận thức là đúng Luật, dù là bè phái, với nhận thức là hòa hợp, thực hiện lễ uposatha, đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy đang đọc Pātimokkha, các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ ấy đến với số lượng ít hơn. Việc đọc là đã được đọc tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị đọc không có tội.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te na jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te dhammasaññino vinayasaññino vaggā samaggasaññino uposathaṁ karonti pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti bahutarā.
Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi puna pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Uddesakānaṁ anāpatti.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They don’t know there are other resident monks who haven’t arrived. Perceiving that they’re acting according to the Teaching and the Monastic Law, perceiving that the assembly is complete although it’s not, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. When they’ve just finished, a greater number of resident monks arrive.
In such a case, those monks should recite the Monastic Code once more. There’s no offense for the reciters.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, tại một trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú trong trú xứ ấy, hoặc là bốn vị hoặc là nhiều hơn, tụ họp lại. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ ấy chưa đến,’ các vị ấy, với nhận thức là đúng Pháp, với nhận thức là đúng Luật, dù là bè phái, với nhận thức là hòa hợp, thực hiện lễ uposatha, đọc Pātimokkha. Ngay khi các vị ấy vừa đọc xong Pātimokkha, các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ ấy đến với số lượng nhiều hơn. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên đọc lại Pātimokkha. Các vị đọc không có tội.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te na jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te dhammasaññino vinayasaññino vaggā samaggasaññino uposathaṁ karonti pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti samasamā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā. Uddesakānaṁ anāpatti.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They don’t know there are other resident monks who haven’t arrived. Perceiving that they’re acting according to the Teaching and the Monastic Law, perceiving that the assembly is complete although it’s not, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. When they’ve just finished, an equal number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others. There’s no offense for the reciters.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, tại một trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú trong trú xứ ấy, hoặc là bốn vị hoặc là nhiều hơn, tụ họp lại. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ ấy chưa đến,’ các vị ấy, với nhận thức là đúng Pháp, với nhận thức là đúng Luật, dù là bè phái, với nhận thức là hòa hợp, thực hiện lễ uposatha, đọc Pātimokkha. Ngay khi các vị ấy vừa đọc xong Pātimokkha, các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ ấy đến với số lượng bằng nhau. Việc đọc là đã được đọc tốt đẹp, sự thanh tịnh nên được trình báo đến các vị ấy. Các vị đọc không có tội.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te na jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te dhammasaññino vinayasaññino vaggā samaggasaññino uposathaṁ karonti pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti thokatarā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā. Uddesakānaṁ anāpatti.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They don’t know there are other resident monks who haven’t arrived. Perceiving that they’re acting according to the Teaching and the Monastic Law, perceiving that the assembly is complete although it’s not, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. When they’ve just finished, a smaller number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others. There’s no offense for the reciters.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, tại một trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú trong trú xứ ấy, hoặc là bốn vị hoặc là nhiều hơn, tụ họp lại. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ ấy chưa đến,’ các vị ấy, với nhận thức là đúng Pháp, với nhận thức là đúng Luật, dù là bè phái, với nhận thức là hòa hợp, thực hiện lễ uposatha, đọc Pātimokkha. Ngay khi các vị ấy vừa đọc xong Pātimokkha, các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ ấy đến với số lượng ít hơn. Việc đọc là đã được đọc tốt đẹp, sự thanh tịnh nên được trình báo đến các vị ấy. Các vị đọc không có tội.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te na jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te dhammasaññino vinayasaññino vaggā samaggasaññino uposathaṁ karonti pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, avuṭṭhitāya parisāya, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti bahutarā.
Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi puna pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Uddesakānaṁ anāpatti.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They don’t know there are other resident monks who haven’t arrived. Perceiving that they’re acting according to the Teaching and the Monastic Law, perceiving that the assembly is complete although it’s not, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. When they’ve just finished, and none of the gathering has left, a greater number of resident monks arrive.
In such a case, those monks should recite the Monastic Code once more. There’s no offense for the reciters.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, tại một trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú trong trú xứ ấy, hoặc là bốn vị hoặc là nhiều hơn, tụ họp lại. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ ấy chưa đến,’ các vị ấy, với nhận thức là đúng Pháp, với nhận thức là đúng Luật, dù là bè phái, với nhận thức là hòa hợp, thực hiện lễ uposatha, đọc Pātimokkha. Ngay khi các vị ấy vừa đọc xong Pātimokkha, trong khi hội chúng chưa đứng dậy, các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ ấy đến với số lượng nhiều hơn. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên đọc lại Pātimokkha. Các vị đọc không có tội.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te na jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te dhammasaññino vinayasaññino vaggā samaggasaññino uposathaṁ karonti pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, avuṭṭhitāya parisāya, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti samasamā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā. Uddesakānaṁ anāpatti.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They don’t know there are other resident monks who haven’t arrived. Perceiving that they’re acting according to the Teaching and the Monastic Law, perceiving that the assembly is complete although it’s not, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. When they’ve just finished, and none of the gathering has left, an equal number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others. There’s no offense for the reciters.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, tại một trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú trong trú xứ ấy, hoặc là bốn vị hoặc là nhiều hơn, tụ họp lại. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ ấy chưa đến,’ các vị ấy, với nhận thức là đúng Pháp, với nhận thức là đúng Luật, dù là bè phái, với nhận thức là hòa hợp, thực hiện lễ uposatha, đọc Pātimokkha. Ngay khi các vị ấy vừa đọc xong Pātimokkha, trong khi hội chúng chưa đứng dậy, các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ ấy đến với số lượng bằng nhau. Việc đọc là đã được đọc tốt đẹp, sự thanh tịnh nên được trình báo đến các vị ấy. Các vị đọc không có tội.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te na jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te dhammasaññino vinayasaññino vaggā samaggasaññino uposathaṁ karonti pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, avuṭṭhitāya parisāya, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti thokatarā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā. Uddesakānaṁ anāpatti.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They don’t know there are other resident monks who haven’t arrived. Perceiving that they’re acting according to the Teaching and the Monastic Law, perceiving that the assembly is complete although it’s not, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. When they’ve just finished, and none of the gathering has left, a smaller number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others. There’s no offense for the reciters.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, tại một trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú trong trú xứ ấy, hoặc là bốn vị hoặc là nhiều hơn, tụ họp lại. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ ấy chưa đến,’ các vị ấy, với nhận thức là đúng Pháp, với nhận thức là đúng Luật, dù là bè phái, với nhận thức là hòa hợp, thực hiện lễ uposatha, đọc Pātimokkha. Ngay khi các vị ấy vừa đọc xong Pātimokkha, trong khi hội chúng chưa đứng dậy, các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ ấy đến với số lượng ít hơn. Việc đọc là đã được đọc tốt đẹp, sự thanh tịnh nên được trình báo đến các vị ấy. Các vị đọc không có tội.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te na jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te dhammasaññino vinayasaññino vaggā samaggasaññino uposathaṁ karonti pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, ekaccāya vuṭṭhitāya parisāya, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti bahutarā.
Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi puna pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Uddesakānaṁ anāpatti.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They don’t know there are other resident monks who haven’t arrived. Perceiving that they’re acting according to the Teaching and the Monastic Law, perceiving that the assembly is complete although it’s not, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. When they’ve just finished, and only some members of the gathering have left, a greater number of resident monks arrive.
In such a case, those monks should recite the Monastic Code once more. There’s no offense for the reciters.
Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, tại một trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú trong trú xứ ấy, hoặc là bốn vị hoặc là nhiều hơn, tụ họp lại. Các vị ấy không biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ ấy chưa đến,’ các vị ấy, với nhận thức là đúng Pháp, với nhận thức là đúng Luật, dù là bè phái, với nhận thức là hòa hợp, thực hiện lễ uposatha, đọc Pātimokkha. Ngay khi các vị ấy vừa đọc xong Pātimokkha, trong khi một phần hội chúng đã đứng dậy, các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ ấy đến với số lượng nhiều hơn. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy nên đọc lại Pātimokkha. Các vị đọc không có tội.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te na jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te dhammasaññino vinayasaññino vaggā samaggasaññino uposathaṁ karonti pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, ekaccāya vuṭṭhitāya parisāya, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti samasamā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā. Uddesakānaṁ anāpatti.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They don’t know there are other resident monks who haven’t arrived. Perceiving that they’re acting according to the Teaching and the Monastic Law, perceiving that the assembly is complete although it’s not, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. When they’ve just finished, and only some members of the gathering have left, an equal number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others. There’s no offense for the reciters.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong một trú xá nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều tỳ khưu trú trong trú xá, bốn vị hay nhiều hơn, đã tụ họp. Các vị ấy không biết rằng: ‘Còn có các tỳ khưu trú trong trú xá khác chưa đến.’ Các vị ấy có nhận thức là đúng Pháp, có nhận thức là đúng Luật, là nhóm riêng nhưng có nhận thức là hòa hợp, rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy vừa tụng đọc xong Pātimokkha, một phần hội chúng đã đứng dậy, thì các tỳ khưu trú trong trú xá khác đến, có số lượng bằng nhau. Việc tụng đọc là đã được tụng đọc tốt đẹp. Sự thanh tịnh nên được trình báo trước sự hiện diện của các vị ấy. Các vị tụng đọc không có tội.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te na jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te dhammasaññino vinayasaññino vaggā samaggasaññino uposathaṁ karonti pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, ekaccāya vuṭṭhitāya parisāya, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti thokatarā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā. Uddesakānaṁ anāpatti.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They don’t know there are other resident monks who haven’t arrived. Perceiving that they’re acting according to the Teaching and the Monastic Law, perceiving that the assembly is complete although it’s not, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. When they’ve just finished, and only some members of the gathering have left, a smaller number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others. There’s no offense for the reciters.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong một trú xá nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều tỳ khưu trú trong trú xá, bốn vị hay nhiều hơn, đã tụ họp. Các vị ấy không biết rằng: ‘Còn có các tỳ khưu trú trong trú xá khác chưa đến.’ Các vị ấy có nhận thức là đúng Pháp, có nhận thức là đúng Luật, là nhóm riêng nhưng có nhận thức là hòa hợp, rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy vừa tụng đọc xong Pātimokkha, một phần hội chúng đã đứng dậy, thì các tỳ khưu trú trong trú xá khác đến, có số lượng ít hơn. Việc tụng đọc là đã được tụng đọc tốt đẹp. Sự thanh tịnh nên được trình báo trước sự hiện diện của các vị ấy. Các vị tụng đọc không có tội.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te na jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te dhammasaññino vinayasaññino vaggā samaggasaññino uposathaṁ karonti pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, sabbāya vuṭṭhitāya parisāya, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti bahutarā.
Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi puna pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Uddesakānaṁ anāpatti.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They don’t know there are other resident monks who haven’t arrived. Perceiving that they’re acting according to the Teaching and the Monastic Law, perceiving that the assembly is complete although it’s not, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. When they’ve just finished, and the entire gathering has left, a greater number of resident monks arrive.
In such a case, those monks should recite the Monastic Code once more. There’s no offense for the reciters.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong một trú xá nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều tỳ khưu trú trong trú xá, bốn vị hay nhiều hơn, đã tụ họp. Các vị ấy không biết rằng: ‘Còn có các tỳ khưu trú trong trú xá khác chưa đến.’ Các vị ấy có nhận thức là đúng Pháp, có nhận thức là đúng Luật, là nhóm riêng nhưng có nhận thức là hòa hợp, rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy vừa tụng đọc xong Pātimokkha, toàn thể hội chúng đã đứng dậy, thì các tỳ khưu trú trong trú xá khác đến, có số lượng nhiều hơn. Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ấy nên tụng đọc lại Pātimokkha. Các vị tụng đọc không có tội.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te na jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te dhammasaññino vinayasaññino vaggā samaggasaññino uposathaṁ karonti pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, sabbāya vuṭṭhitāya parisāya, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti samasamā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā. Uddesakānaṁ anāpatti.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They don’t know there are other resident monks who haven’t arrived. Perceiving that they’re acting according to the Teaching and the Monastic Law, perceiving that the assembly is complete although it’s not, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. When they’ve just finished, and the entire gathering has left, an equal number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others. There’s no offense for the reciters.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong một trú xá nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều tỳ khưu trú trong trú xá, bốn vị hay nhiều hơn, đã tụ họp. Các vị ấy không biết rằng: ‘Còn có các tỳ khưu trú trong trú xá khác chưa đến.’ Các vị ấy có nhận thức là đúng Pháp, có nhận thức là đúng Luật, là nhóm riêng nhưng có nhận thức là hòa hợp, rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy vừa tụng đọc xong Pātimokkha, toàn thể hội chúng đã đứng dậy, thì các tỳ khưu trú trong trú xá khác đến, có số lượng bằng nhau. Việc tụng đọc là đã được tụng đọc tốt đẹp. Sự thanh tịnh nên được trình báo trước sự hiện diện của các vị ấy. Các vị tụng đọc không có tội.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te na jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te dhammasaññino vinayasaññino vaggā samaggasaññino uposathaṁ karonti pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, sabbāya vuṭṭhitāya parisāya, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti thokatarā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā. Uddesakānaṁ anāpatti.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They don’t know there are other resident monks who haven’t arrived. Perceiving that they’re acting according to the Teaching and the Monastic Law, perceiving that the assembly is complete although it’s not, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. When they’ve just finished, and the entire gathering has left, a smaller number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others. There’s no offense for the reciters.”
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong một trú xá nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều tỳ khưu trú trong trú xá, bốn vị hay nhiều hơn, đã tụ họp. Các vị ấy không biết rằng: ‘Còn có các tỳ khưu trú trong trú xá khác chưa đến.’ Các vị ấy có nhận thức là đúng Pháp, có nhận thức là đúng Luật, là nhóm riêng nhưng có nhận thức là hòa hợp, rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy vừa tụng đọc xong Pātimokkha, toàn thể hội chúng đã đứng dậy, thì các tỳ khưu trú trong trú xá khác đến, có số lượng ít hơn. Việc tụng đọc là đã được tụng đọc tốt đẹp. Sự thanh tịnh nên được trình báo trước sự hiện diện của các vị ấy. Các vị tụng đọc không có tội.
Anāpattipannarasakaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of fifteen on non-offenses is finished.
Mười lăm trường hợp không có tội đã kết thúc.
29. Vaggāvaggasaññipannarasaka
29. The group of fifteen on perceiving an incomplete assembly as incomplete
96. Mười lăm trường hợp về nhóm riêng và có nhận thức là nhóm riêng.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te dhammasaññino vinayasaññino vaggā vaggasaññino uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddissamāne pātimokkhe, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti bahutarā.
Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi puna pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Uddesakānaṁ āpatti dukkaṭassa.
“On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. Perceiving that they’re acting according to the Teaching and the Monastic Law, yet correctly perceiving the assembly as incomplete, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. While they’re doing it, a greater number of resident monks arrive.
In such a case, those monks should recite the Monastic Code once more. There’s an offense of wrong conduct for the reciters.
173. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong một trú xá nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều tỳ khưu trú trong trú xá, bốn vị hay nhiều hơn, đã tụ họp. Các vị ấy biết rằng: ‘Còn có các tỳ khưu trú trong trú xá khác chưa đến.’ Các vị ấy có nhận thức là đúng Pháp, có nhận thức là đúng Luật, là nhóm riêng và có nhận thức là nhóm riêng, rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy đang tụng đọc Pātimokkha, thì các tỳ khưu trú trong trú xá khác đến, có số lượng nhiều hơn. Này các tỳ khưu, các tỳ khưu ấy nên tụng đọc lại Pātimokkha. Các vị tụng đọc phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong một trú xá nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều tỳ khưu trú trong trú xá, bốn vị hay nhiều hơn, đã tụ họp. Các vị ấy biết rằng: ‘Còn có các tỳ khưu trú trong trú xá khác chưa đến,’ các vị ấy có nhận thức là đúng Pháp, có nhận thức là đúng Luật, là nhóm riêng nhưng có nhận thức là hòa hợp, rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy đang tụng đọc Pātimokkha, thì các tỳ khưu trú trong trú xá khác đến, có số lượng bằng nhau. Việc tụng đọc là đã được tụng đọc tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị tụng đọc phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, avasesaṁ sotabbaṁ. Uddesakānaṁ āpatti dukkaṭassa.
In such a case, what has been recited is valid, and the remainder should be listened to. There’s an offense of wrong conduct for the reciters.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong một trú xá nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều tỳ khưu trú trong trú xá, bốn vị hay nhiều hơn, đã tụ họp. Các vị ấy biết rằng: ‘Còn có các tỳ khưu trú trong trú xá khác chưa đến,’ các vị ấy có nhận thức là đúng Pháp, có nhận thức là đúng Luật, là nhóm riêng và có nhận thức là nhóm riêng, rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy đang tụng đọc Pātimokkha, thì các tỳ khưu trú trong trú xá khác đến, có số lượng ít hơn. Việc tụng đọc là đã được tụng đọc tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị tụng đọc phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te dhammasaññino vinayasaññino vaggā vaggasaññino uposathaṁ karonti pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddissamāne pātimokkhe, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti thokatarā.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. Perceiving that they’re acting according to the Teaching and the Monastic Law, yet correctly perceiving the assembly as incomplete, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. While they’re doing it, a smaller number of resident monks arrive.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vào ngày uposatha ấy, tại một trú xá nào đó, nhiều vị tỳ khưu trú ngụ tụ họp lại, có bốn vị hoặc nhiều hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu trú ngụ khác chưa đến.’ Các vị ấy, với nhận thức là đúng Pháp, với nhận thức là đúng Luật, là nhóm riêng lẻ và có nhận thức là nhóm riêng lẻ, rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Khi các vị ấy vừa tụng đọc xong Pātimokkha ... khi hội chúng chưa đứng dậy ... khi một phần hội chúng đã đứng dậy ... khi toàn thể hội chúng đã đứng dậy, thì các vị tỳ khưu trú ngụ khác đến, đông hơn ... bằng số ... ít hơn. Việc tụng đọc đã là tụng đọc tốt đẹp, sự thanh tịnh nên được trình báo đến các vị ấy. Các vị tụng đọc phạm tội dukkaṭa.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, avasesaṁ sotabbaṁ. Uddesakānaṁ āpatti dukkaṭassa.
In such a case, what has been recited is valid, and the remainder should be listened to. There’s an offense of wrong conduct for the reciters.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vào ngày uposatha ấy, tại một trú xá nào đó, nhiều vị tỳ khưu trú ngụ tụ họp lại, có bốn vị hoặc nhiều hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu trú ngụ khác chưa đến.’ Các vị ấy, trong khi có sự nghi ngờ rằng: ‘Việc chúng ta làm lễ uposatha có hợp lệ chăng, hay là không hợp lệ chăng?’ rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy đang tụng đọc Pātimokkha, thì các vị tỳ khưu trú ngụ khác đến, bằng số. Việc tụng đọc đã là tụng đọc tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị tụng đọc phạm tội dukkaṭa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vào ngày uposatha ấy, tại một trú xá nào đó, nhiều vị tỳ khưu trú ngụ tụ họp lại, có bốn vị hoặc nhiều hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu trú ngụ khác chưa đến.’ Các vị ấy, trong khi có sự nghi ngờ rằng: ‘Việc chúng ta làm lễ uposatha có hợp lệ chăng, hay là không hợp lệ chăng?’ rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy đang tụng đọc Pātimokkha, thì các vị tỳ khưu trú ngụ khác đến, ít hơn. Việc tụng đọc đã là tụng đọc tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị tụng đọc phạm tội dukkaṭa.
174. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vào ngày uposatha ấy, tại một trú xá nào đó, nhiều vị tỳ khưu trú ngụ tụ họp lại, có bốn vị hoặc nhiều hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu trú ngụ khác chưa đến.’ Các vị ấy, trong khi có sự nghi ngờ rằng: ‘Việc chúng ta làm lễ uposatha có hợp lệ chăng, hay là không hợp lệ chăng?’ rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy đang tụng đọc Pātimokkha, thì các vị tỳ khưu trú ngụ khác đến, đông hơn. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy phải tụng đọc lại Pātimokkha. Các vị tụng đọc phạm tội dukkaṭa.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā. Uddesakānaṁ āpatti dukkaṭassa.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others. There’s an offense of wrong conduct for the reciters.”
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vào ngày uposatha ấy, tại một trú xá nào đó, nhiều vị tỳ khưu trú ngụ tụ họp lại, có bốn vị hoặc nhiều hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu trú ngụ khác chưa đến.’ Các vị ấy, trong khi có sự nghi ngờ rằng: ‘Việc chúng ta làm lễ uposatha có hợp lệ chăng, hay là không hợp lệ chăng?’ rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Khi các vị ấy vừa tụng đọc xong Pātimokkha, ... khi hội chúng chưa đứng dậy ... khi một phần hội chúng đã đứng dậy ... khi toàn thể hội chúng đã đứng dậy, thì các vị tỳ khưu trú ngụ khác đến, đông hơn ... bằng số ... ít hơn. Việc tụng đọc đã là tụng đọc tốt đẹp, sự thanh tịnh nên được trình báo đến các vị ấy. Các vị tụng đọc phạm tội dukkaṭa.
Vaggāvaggasaññipannarasakaṁ niṭṭhitaṁ.
30. Vematikapannarasaka
The group of fifteen on perceiving an incomplete assembly as incomplete is finished.
30. The group of fifteen on being unsure
Phần mười lăm trường hợp có sự nghi ngờ đã kết thúc.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘kappati nu kho amhākaṁ uposatho kātuṁ na nu kho kappatī’ti—vematikā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddissamāne pātimokkhe, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti bahutarā.
Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi puna pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Uddesakānaṁ āpatti dukkaṭassa.
“On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘Is it allowable for us to do the observance-day ceremony or not?’ Being unsure, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. While they’re doing it, a greater number of resident monks arrive.
In such a case, those monks should recite the Monastic Code once more. There’s an offense of wrong conduct for the reciters.
175. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vào ngày uposatha ấy, tại một trú xá nào đó, nhiều vị tỳ khưu trú ngụ tụ họp lại, có bốn vị hoặc nhiều hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu trú ngụ khác chưa đến.’ Các vị ấy, trong khi bị hối hận dằn vặt vì nghĩ rằng: ‘Việc chúng ta làm lễ uposatha chắc chắn là hợp lệ, không phải là chúng ta không hợp lệ,’ rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy đang tụng đọc Pātimokkha, thì các vị tỳ khưu trú ngụ khác đến, đông hơn. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy phải tụng đọc lại Pātimokkha. Các vị tụng đọc phạm tội dukkaṭa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘kappati nu kho amhākaṁ uposatho kātuṁ, na nu kho kappatī’ti—vematikā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddissamāne pātimokkhe, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti samasamā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, avasesaṁ sotabbaṁ. Uddesakānaṁ āpatti dukkaṭassa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘Is it allowable for us to do the observance-day ceremony or not?’ Being unsure, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. While they’re doing it, an equal number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the remainder should be listened to. There’s an offense of wrong conduct for the reciters.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vào ngày uposatha ấy, tại một trú xá nào đó, nhiều vị tỳ khưu trú ngụ tụ họp lại, có bốn vị hoặc nhiều hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu trú ngụ khác chưa đến.’ Các vị ấy, trong khi bị hối hận dằn vặt vì nghĩ rằng: ‘Việc chúng ta làm lễ uposatha chắc chắn là hợp lệ, không phải là chúng ta không hợp lệ,’ rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy đang tụng đọc Pātimokkha, thì các vị tỳ khưu trú ngụ khác đến, bằng số. Việc tụng đọc đã là tụng đọc tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị tụng đọc phạm tội dukkaṭa.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, avasesaṁ sotabbaṁ. Uddesakānaṁ āpatti dukkaṭassa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘kappati nu kho amhākaṁ uposatho kātuṁ na nu kho kappatī’ti—vematikā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti.
In such a case, what has been recited is valid, and the remainder should be listened to. There’s an offense of wrong conduct for the reciters.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘Is it allowable for us to do the observance-day ceremony or not?’ Being unsure, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vào ngày uposatha ấy, tại một trú xá nào đó, nhiều vị tỳ khưu trú ngụ tụ họp lại, có bốn vị hoặc nhiều hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu trú ngụ khác chưa đến.’ Các vị ấy, trong khi bị hối hận dằn vặt vì nghĩ rằng: ‘Việc chúng ta làm lễ uposatha chắc chắn là hợp lệ, không phải là chúng ta không hợp lệ,’ rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy đang tụng đọc Pātimokkha, thì các vị tỳ khưu trú ngụ khác đến, ít hơn. Việc tụng đọc đã là tụng đọc tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị tụng đọc phạm tội dukkaṭa.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā. Uddesakānaṁ āpatti dukkaṭassa.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others. There’s an offense of wrong conduct for the reciters.”
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong một trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú trong trú xứ, hoặc là bốn vị hoặc là nhiều hơn, tụ họp lại. Các vị ấy biết rằng: ‘Còn có các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ chưa đến.’ Các vị ấy bị hối hận tác động, nghĩ rằng: ‘Việc chúng ta làm lễ uposatha là thích hợp, không phải là không thích hợp,’ rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Ngay khi các vị ấy vừa tụng đọc xong Pātimokkha, ... cho đến ... trong khi hội chúng chưa đứng dậy, ... cho đến ... trong khi một phần hội chúng đã đứng dậy, ... cho đến ... trong khi toàn thể hội chúng đã đứng dậy, thì các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ đến, đông hơn, ... cho đến ... bằng nhau, ... cho đến ... ít hơn. Việc tụng đọc đã được tụng đọc tốt đẹp. Sự thanh tịnh nên được trình báo đến các vị tỳ khưu ấy. Các vị tụng đọc phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vematikapannarasakaṁ niṭṭhitaṁ.
31. Kukkuccapakatapannarasaka
The group of fifteen on being unsure is finished.
31. The group of fifteen on being anxious
Mười lăm trường hợp về việc bị hối hận tác động đã kết thúc.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘kappateva amhākaṁ uposatho kātuṁ nāmhākaṁ na kappatī’ti—kukkuccapakatā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddissamāne pātimokkhe, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti bahutarā.
Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi puna pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Uddesakānaṁ āpatti dukkaṭassa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘kappateva amhākaṁ uposatho kātuṁ nāmhākaṁ na kappatī’ti—kukkuccapakatā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddissamāne pātimokkhe, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti samasamā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, avasesaṁ sotabbaṁ.
“On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘It’s allowable for us to do the observance-day ceremony; it’s not unallowable.’ Being anxious, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. While they’re doing it, a greater number of resident monks arrive.
In such a case, those monks should recite the Monastic Code once more. There’s an offense of wrong conduct for the reciters.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘It’s allowable for us to do the observance-day ceremony; it’s not unallowable.’ Being anxious, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. While they’re doing it, an equal number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the remainder should be listened to.
176. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong một trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú trong trú xứ, hoặc là bốn vị hoặc là nhiều hơn, tụ họp lại. Các vị ấy biết rằng: ‘Còn có các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ chưa đến.’ Các vị ấy có ý định gây chia rẽ, nghĩ rằng: ‘Mặc kệ các vị ấy bị hoại diệt, mặc kệ các vị ấy bị tiêu vong, có ích lợi gì với các vị ấy chứ?’ rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy đang tụng đọc Pātimokkha, các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ đến, đông hơn. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy phải tụng đọc lại Pātimokkha. Các vị tụng đọc phạm tội thullaccaya (thô tội).
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘kappateva amhākaṁ uposatho kātuṁ, nāmhākaṁ na kappatī’ti—kukkuccapakatā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddissamāne pātimokkhe, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti thokatarā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, avasesaṁ sotabbaṁ. Uddesakānaṁ āpatti dukkaṭassa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘kappateva amhākaṁ uposatho kātuṁ nāmhākaṁ na kappatī’ti—kukkuccapakatā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘It’s allowable for us to do the observance-day ceremony; it’s not unallowable.’ Being anxious, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code. While they’re doing it, a smaller number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the remainder should be listened to. There’s an offense of wrong conduct for the reciters.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘It’s allowable for us to do the observance-day ceremony; it’s not unallowable.’ Being anxious, they do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong một trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú trong trú xứ, hoặc là bốn vị hoặc là nhiều hơn, tụ họp lại. Các vị ấy biết rằng: ‘Còn có các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ chưa đến.’ Các vị ấy có ý định gây chia rẽ, nghĩ rằng: ‘Mặc kệ các vị ấy bị hoại diệt, mặc kệ các vị ấy bị tiêu vong, có ích lợi gì với các vị ấy chứ?’ rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy đang tụng đọc Pātimokkha, các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ đến, bằng nhau về số lượng. Việc tụng đọc đã được tụng đọc tốt đẹp, phần còn lại nên được lắng nghe. Các vị tụng đọc phạm tội thullaccaya (thô tội).
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong một trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú trong trú xứ, hoặc là bốn vị hoặc là nhiều hơn, tụ họp lại. Các vị ấy biết rằng: ‘Còn có các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ chưa đến.’ Các vị ấy có ý định gây chia rẽ, nghĩ rằng: ‘Mặc kệ các vị ấy bị hoại diệt, mặc kệ các vị ấy bị tiêu vong, có ích lợi gì với các vị ấy chứ?’ rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Ngay khi các vị ấy vừa tụng đọc xong Pātimokkha, các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ đến, đông hơn. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy phải tụng đọc lại Pātimokkha. Các vị tụng đọc phạm tội thullaccaya (thô tội).
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong một trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú trong trú xứ, hoặc là bốn vị hoặc là nhiều hơn, tụ họp lại. Các vị ấy biết rằng: ‘Còn có các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ chưa đến.’ Các vị ấy có ý định gây chia rẽ, nghĩ rằng: ‘Mặc kệ các vị ấy bị hoại diệt, mặc kệ các vị ấy bị tiêu vong, có ích lợi gì với các vị ấy chứ?’ rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Ngay khi các vị ấy vừa tụng đọc xong Pātimokkha, trong khi hội chúng chưa đứng dậy, các vị tỳ khưu khác trú trong trú xứ đến, đông hơn. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy phải tụng đọc lại Pātimokkha. Các vị tụng đọc phạm tội thullaccaya (thô tội).
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú ngụ tụ họp lại, có bốn vị hoặc nhiều hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu trú ngụ khác chưa đến.’ Các vị ấy với ý muốn chia rẽ nghĩ rằng: ‘Mặc cho các vị ấy bị hư hoại, mặc cho các vị ấy bị tiêu vong, có ích lợi gì với các vị ấy chứ?’ rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy vừa tụng đọc xong Pātimokkha, một phần đại chúng đã đứng dậy, thì các vị tỳ khưu trú ngụ khác đông hơn đi đến. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy phải tụng đọc lại Pātimokkha. Các vị tụng đọc phạm tội thullaccaya.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú ngụ tụ họp lại, có bốn vị hoặc nhiều hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu trú ngụ khác chưa đến.’ Các vị ấy với ý muốn chia rẽ nghĩ rằng: ‘Mặc cho các vị ấy bị hư hoại, mặc cho các vị ấy bị tiêu vong, có ích lợi gì với các vị ấy chứ?’ rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy vừa tụng đọc xong Pātimokkha, toàn thể đại chúng đã đứng dậy, thì các vị tỳ khưu trú ngụ khác đông hơn đi đến. Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy phải tụng đọc lại Pātimokkha. Các vị tụng đọc phạm tội thullaccaya.
Kukkuccapakatapannarasakaṁ niṭṭhitaṁ.
32. Bhedapurekkhārapannarasaka
The group of fifteen on being anxious is finished.
32. The group of fifteen on aiming at schism
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú ngụ tụ họp lại, có bốn vị hoặc nhiều hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu trú ngụ khác chưa đến.’ Các vị ấy với ý muốn chia rẽ nghĩ rằng: ‘Mặc cho các vị ấy bị hư hoại, mặc cho các vị ấy bị tiêu vong, có ích lợi gì với các vị ấy chứ?’ rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy vừa tụng đọc xong Pātimokkha, một phần đại chúng đã đứng dậy, thì các vị tỳ khưu trú ngụ khác ít hơn đi đến. Việc tụng đọc là đã được tụng đọc tốt đẹp, sự thanh tịnh nên được trình báo lại nơi các vị ấy. Các vị tụng đọc phạm tội thullaccaya.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti—bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddissamāne pātimokkhe, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti bahutarā.
Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi puna pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Uddesakānaṁ āpatti thullaccayassa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti—bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddissamāne pātimokkhe, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti samasamā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, avasesaṁ sotabbaṁ. Uddesakānaṁ āpatti thullaccayassa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti—bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddissamāne pātimokkhe, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti thokatarā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, avasesaṁ sotabbaṁ. Uddesakānaṁ āpatti thullaccayassa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti—bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti bahutarā.
Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi puna pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Uddesakānaṁ āpatti thullaccayassa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti samasamā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā. Uddesakānaṁ āpatti thullaccayassa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti—bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti thokatarā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā. Uddesakānaṁ āpatti thullaccayassa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti—bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, avuṭṭhitāya parisāya, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti bahutarā.
Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi puna pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Uddesakānaṁ āpatti thullaccayassa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti—bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, avuṭṭhitāya parisāya, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti samasamā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā. Uddesakānaṁ āpatti thullaccayassa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti—bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, avuṭṭhitāya parisāya, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti thokatarā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā. Uddesakānaṁ āpatti thullaccayassa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti—bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, ekaccāya vuṭṭhitāya parisāya, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti bahutarā.
Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi puna pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Uddesakānaṁ āpatti thullaccayassa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti—bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, ekaccāya vuṭṭhitāya parisāya, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti samasamā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā. Uddesakānaṁ āpatti thullaccayassa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti—bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, ekaccāya vuṭṭhitāya parisāya, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti thokatarā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā. Uddesakānaṁ āpatti thullaccayassa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti—bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, sabbāya vuṭṭhitāya parisāya, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti bahutarā.
Tehi, bhikkhave, bhikkhūhi puna pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Uddesakānaṁ āpatti thullaccayassa.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti—bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, sabbāya vuṭṭhitāya parisāya, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti samasamā.
“On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them.’ They then do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code, aiming at schism. While they’re doing it, a greater number of resident monks arrive.
In such a case, those monks should recite the Monastic Code once more. And there’s a serious offense for the reciters.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them.’ They then do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code, aiming at schism. While they’re doing it, an equal number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the remainder should be listened to. And there’s a serious offense for the reciters.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them.’ They then do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code, aiming at schism. While they’re doing it, a smaller number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the remainder should be listened to. And there’s a serious offense for the reciters.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them.’ They then do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code, aiming at schism. When they’ve just finished, a greater number of resident monks arrive.
In such a case, those monks should recite the Monastic Code once more. And there’s a serious offense for the reciters.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them.’ They then do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code, aiming at schism. When they’ve just finished, an equal number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others. And there’s a serious offense for the reciters.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them.’ They then do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code, aiming at schism. When they’ve just finished, a smaller number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others. And there’s a serious offense for the reciters.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them.’ They then do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code, aiming at schism. When they’ve just finished, and none of the gathering has left, a greater number of resident monks arrive.
In such a case, those monks should recite the Monastic Code once more. And there’s a serious offense for the reciters.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them.’ They then do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code, aiming at schism. When they’ve just finished, and none of the gathering has left, an equal number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others. And there’s a serious offense for the reciters.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them.’ They then do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code, aiming at schism. When they’ve just finished, and none of the gathering has left, a smaller number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others. And there’s a serious offense for the reciters.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them.’ They then do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code, aiming at schism. When they’ve just finished, and only some members of the gathering have left, a greater number of resident monks arrive.
In such a case, those monks should recite the Monastic Code once more. And there’s a serious offense for the reciters.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them.’ They then do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code, aiming at schism. When they’ve just finished, and only some members of the gathering have left, an equal number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others. And there’s a serious offense for the reciters.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them.’ They then do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code, aiming at schism. When they’ve just finished, and only some members of the gathering have left, a smaller number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others. And there’s a serious offense for the reciters.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them.’ They then do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code, aiming at schism. When they’ve just finished, and the entire gathering has left, a greater number of resident monks arrive.
In such a case, those monks should recite the Monastic Code once more. And there’s a serious offense for the reciters.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them.’ They then do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code, aiming at schism. When they’ve just finished, and the entire gathering has left, an equal number of resident monks arrive.
177. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vào ngày lễ uposatha ấy, tại một trú xá nào đó, nhiều vị tỳ khưu trú xá, bốn vị hay nhiều hơn, đã tụ họp lại. Các vị ấy không biết rằng: ‘Các vị tỳ khưu trú xá khác đang đi vào trong giới trường’ ... cho đến ... các vị ấy không biết rằng: ‘Các vị tỳ khưu trú xá khác đã đi vào trong giới trường’ ... cho đến ... các vị ấy không thấy các vị tỳ khưu trú xá khác đang đi vào trong giới trường ... cho đến ... các vị ấy không thấy các vị tỳ khưu trú xá khác đã đi vào trong giới trường ... cho đến ... các vị ấy không nghe rằng: ‘Các vị tỳ khưu trú xá khác đang đi vào trong giới trường’ ... cho đến ... các vị ấy không nghe rằng: ‘Các vị tỳ khưu trú xá khác đã đi vào trong giới trường’ ... cho đến ...
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā. Uddesakānaṁ āpatti thullaccayassa.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others. And there’s a serious offense for the reciters.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú ngụ tụ họp lại, có bốn vị hoặc nhiều hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu trú ngụ khác chưa đến.’ Các vị ấy với ý muốn chia rẽ nghĩ rằng: ‘Mặc cho các vị ấy bị hư hoại, mặc cho các vị ấy bị tiêu vong, có ích lợi gì với các vị ấy chứ?’ rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy vừa tụng đọc xong Pātimokkha, toàn thể đại chúng đã đứng dậy, thì các vị tỳ khưu trú ngụ khác có số lượng bằng nhau đi đến. Việc tụng đọc là đã được tụng đọc tốt đẹp, sự thanh tịnh nên được trình báo lại nơi các vị ấy. Các vị tụng đọc phạm tội thullaccaya.
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te jānanti—‘atthaññe āvāsikā bhikkhū anāgatā’ti. Te ‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti—bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti, pātimokkhaṁ uddisanti. Tehi uddiṭṭhamatte pātimokkhe, sabbāya vuṭṭhitāya parisāya, athaññe āvāsikā bhikkhū āgacchanti thokatarā.
Uddiṭṭhaṁ suuddiṭṭhaṁ, tesaṁ santike pārisuddhi ārocetabbā. Uddesakānaṁ āpatti thullaccayassa.
On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They know there are other resident monks who haven’t arrived. They think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them.’ They then do the observance-day ceremony and recite the Monastic Code, aiming at schism. When they’ve just finished, and the entire gathering has left, a smaller number of resident monks arrive.
In such a case, what has been recited is valid, and the late arrivals should announce their purity in the presence of the others. And there’s a serious offense for the reciters.”
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong trú xứ nào đó, vào ngày uposatha ấy, nhiều vị tỳ khưu trú ngụ tụ họp lại, có bốn vị hoặc nhiều hơn. Các vị ấy biết rằng: ‘Có các vị tỳ khưu trú ngụ khác chưa đến.’ Các vị ấy với ý muốn chia rẽ nghĩ rằng: ‘Mặc cho các vị ấy bị hư hoại, mặc cho các vị ấy bị tiêu vong, có ích lợi gì với các vị ấy chứ?’ rồi làm lễ uposatha, tụng đọc Pātimokkha. Trong khi các vị ấy vừa tụng đọc xong Pātimokkha, toàn thể đại chúng đã đứng dậy, thì các vị tỳ khưu trú ngụ khác ít hơn đi đến. Việc tụng đọc là đã được tụng đọc tốt đẹp, sự thanh tịnh nên được trình báo lại nơi các vị ấy. Các vị tụng đọc phạm tội thullaccaya.
Bhedapurekkhārapannarasakaṁ niṭṭhitaṁ. Pañcavīsatikā niṭṭhitā.
The group of fifteen on aiming at schism is finished. The group of seventy-five is finished.
Mười lăm trường hợp về ý muốn chia rẽ đã chấm dứt.
33. Sīmokkantikapeyyāla
Idha pana, bhikkhave, aññatarasmiṁ āvāse tadahuposathe sambahulā āvāsikā bhikkhū sannipatanti cattāro vā atirekā vā. Te na jānanti—‘aññe āvāsikā bhikkhū antosīmaṁ okkamantī’ti …pe… te na jānanti—‘aññe āvāsikā bhikkhū antosīmaṁ okkantā’ti …pe… te na passanti aññe āvāsike bhikkhū antosīmaṁ okkamante …pe… te na passanti aññe āvāsike bhikkhū antosīmaṁ okkante …pe… te na suṇanti—‘aññe āvāsikā bhikkhū antosīmaṁ okkamantī’ti …pe… te na suṇanti—‘aññe āvāsikā bhikkhū antosīmaṁ okkantā’ti …pe….
33. The successive series on entering a monastery zone
“On the observance day, four or more resident monks may have gathered together in a certain monastery. They don’t know that other resident monks are entering the monastery zone. … They don’t know that other resident monks have entered the monastery zone. … They don’t see that other resident monks are entering the monastery zone. … They don’t see that other resident monks have entered the monastery zone. … They don’t hear that other resident monks are entering the monastery zone. … They don’t hear that other resident monks have entered the monastery zone. …”
100. Phần lược thuật về việc đi vào trong sīmā.
Āvāsikena āvāsikā ekasatapañcasattati tikanayato, āvāsikena āgantukā, āgantukena āvāsikā, āgantukena āgantukā peyyālamukhena satta tikasatāni honti.
As there are one hundred and seventy-five sets of three for resident monks with resident monks, so there are for newly-arrived monks with resident monks, resident monks with newly-arrived monks, newly-arrived monks with newly-arrived monks. Thus by way of succession, there are seven hundred sets of three.
Trường hợp tỳ khưu trú xá với các tỳ khưu trú xá có một trăm bảy mươi lăm theo phương pháp tam đề; trường hợp tỳ khưu trú xá với các tỳ khưu khách, trường hợp tỳ khưu khách với các tỳ khưu trú xá, trường hợp tỳ khưu khách với các tỳ khưu khách, theo phần lược thuật có bảy trăm tam đề.
Idha pana, bhikkhave, āvāsikānaṁ bhikkhūnaṁ cātuddaso hoti, āgantukānaṁ pannaraso.
Sace āvāsikā bahutarā honti, āgantukehi āvāsikānaṁ anuvattitabbaṁ.
Sace samasamā honti, āgantukehi āvāsikānaṁ anuvattitabbaṁ.
Sace āgantukā bahutarā honti, āvāsikehi āgantukānaṁ anuvattitabbaṁ.
“It may be, monks, that for the resident monks it’s the fourteenth day of the lunar half-month, but for the newly-arrived monks it’s the fifteenth. Then—
If the number of resident monks is greater, the newly-arrived monks should fall in line with the resident monks.
If the number is the same, the newly-arrived monks should fall in line with the resident monks.
If the number of newly-arrived monks is greater, the resident monks should fall in line with the newly-arrived monks.
178. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, đối với các tỳ khưu trú xá là ngày mười bốn, đối với các tỳ khưu khách là ngày mười lăm. Nếu các tỳ khưu trú xá đông hơn, các tỳ khưu khách nên tùy thuận theo các tỳ khưu trú xá. Nếu số lượng bằng nhau, các tỳ khưu khách nên tùy thuận theo các tỳ khưu trú xá. Nếu các tỳ khưu khách đông hơn, các tỳ khưu trú xá nên tùy thuận theo các tỳ khưu khách.
Idha pana, bhikkhave, āvāsikānaṁ bhikkhūnaṁ pannaraso hoti, āgantukānaṁ cātuddaso.
Sace āvāsikā bahutarā honti, āgantukehi āvāsikānaṁ anuvattitabbaṁ.
Sace samasamā honti, āgantukehi āvāsikānaṁ anuvattitabbaṁ.
Sace āgantukā bahutarā honti, āvāsikehi āgantukānaṁ anuvattitabbaṁ.
It may be that for the resident monks it’s the fifteenth day of the lunar half-month, but for the newly-arrived monks it’s the fourteenth. Then—
If the number of resident monks is greater, the newly-arrived monks should fall in line with the resident monks.
If the number is the same, the newly-arrived monks should fall in line with the resident monks.
If the number of newly-arrived monks is greater, the resident monks should fall in line with the newly-arrived monks.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, đối với các tỳ khưu trú xá là ngày mười lăm, đối với các tỳ khưu khách là ngày mười bốn. Nếu các tỳ khưu trú xá đông hơn, các tỳ khưu khách nên tùy thuận theo các tỳ khưu trú xá. Nếu số lượng bằng nhau, các tỳ khưu khách nên tùy thuận theo các tỳ khưu trú xá. Nếu các tỳ khưu khách đông hơn, các tỳ khưu trú xá nên tùy thuận theo các tỳ khưu khách.
Idha pana, bhikkhave, āvāsikānaṁ bhikkhūnaṁ pāṭipado hoti, āgantukānaṁ pannaraso.
Sace āvāsikā bahutarā honti, āvāsikehi āgantukānaṁ nākāmā dātabbā sāmaggī. Āgantukehi nissīmaṁ gantvā uposatho kātabbo.
Sace samasamā honti, āvāsikehi āgantukānaṁ nākāmā dātabbā sāmaggī. Āgantukehi nissīmaṁ gantvā uposatho kātabbo.
Sace āgantukā bahutarā honti, āvāsikehi āgantukānaṁ sāmaggī vā dātabbā nissīmaṁ vā gantabbaṁ.
It may be that for the resident monks it’s the day after the observance day, but for the newly-arrived monks it’s the fifteenth day of the lunar half-month. Then—
If the number of resident monks is greater, the resident monks may, if they’re willing, do the observance-day ceremony with the newly-arrived monks. Otherwise the newly-arrived monks should go outside the monastery zone and do the observance-day ceremony there.
If the number is the same, the resident monks may, if they’re willing, do the observance-day ceremony with the newly-arrived monks. Otherwise the newly-arrived monks should go outside the monastery zone and do the observance-day ceremony there.
If the number of newly-arrived monks is greater, the resident monks should do the observance-day ceremony with the newly-arrived monks, or they should go outside the monastery zone while the newly-arrived monks do the observance-day ceremony.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, đối với các tỳ khưu trú xá là ngày mồng một, đối với các tỳ khưu khách là ngày mười lăm. Nếu các tỳ khưu trú xá đông hơn, các tỳ khưu trú xá không nên trao sự hòa hợp cho các tỳ khưu khách một cách không mong muốn. Các tỳ khưu khách nên đi ra ngoài giới trường để làm lễ uposatha. Nếu số lượng bằng nhau, các tỳ khưu trú xá không nên trao sự hòa hợp cho các tỳ khưu khách một cách không mong muốn. Các tỳ khưu khách nên đi ra ngoài giới trường để làm lễ uposatha. Nếu các tỳ khưu khách đông hơn, các tỳ khưu trú xá nên trao sự hòa hợp hoặc nên đi ra ngoài giới trường.
Idha pana, bhikkhave, āvāsikānaṁ bhikkhūnaṁ pannaraso hoti, āgantukānaṁ pāṭipado.
It may be that for the resident monks it’s the fifteenth day of the lunar half-month, but for the newly-arrived monks it’s the day after the observance day. Then—
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, đối với các tỳ khưu trú xá là ngày mười lăm, đối với các tỳ khưu khách là
Sace āvāsikā bahutarā honti, āgantukehi āvāsikānaṁ sāmaggī vā dātabbā nissīmaṁ vā gantabbaṁ.
Sace samasamā honti, āgantukehi āvāsikānaṁ sāmaggī vā dātabbā nissīmaṁ vā gantabbaṁ.
Sace āgantukā bahutarā honti, āgantukehi āvāsikānaṁ nākāmā dātabbā sāmaggī. Āvāsikehi nissīmaṁ gantvā uposatho kātabbo.
If the number of resident monks is greater, the newly-arrived monks should do the observance-day ceremony with the resident monks, or they should go outside the monastery zone while the resident monks do the observance-day ceremony.
If the number is the same, the newly-arrived monks should do the observance-day ceremony with the resident monks, or they should go outside the monastery zone while the resident monks do the observance-day ceremony.
If the number of newly-arrived monks is greater, they may, if they’re willing, do the observance-day ceremony with the resident monks. Otherwise the resident monks should go outside the monastery zone and do the observance-day ceremony there.”
ngày mồng một. Nếu các tỳ khưu trú xá đông hơn, các tỳ khưu khách nên trao sự hòa hợp hoặc nên đi ra ngoài giới trường cho các tỳ khưu trú xá. Nếu số lượng bằng nhau, các tỳ khưu khách nên trao sự hòa hợp hoặc nên đi ra ngoài giới trường cho các tỳ khưu trú xá. Nếu các tỳ khưu khách đông hơn, các tỳ khưu khách không nên trao sự hòa hợp cho các tỳ khưu trú xá một cách không mong muốn. Các tỳ khưu trú xá nên đi ra ngoài giới trường để làm lễ uposatha.
34. Liṅgādidassana
34. The seeing of characteristics, etc.
101. Việc thấy các dấu hiệu và các điều tương tự
Idha pana, bhikkhave, āgantukā bhikkhū passanti āvāsikānaṁ bhikkhūnaṁ āvāsikākāraṁ, āvāsikaliṅgaṁ, āvāsikanimittaṁ, āvāsikuddesaṁ, supaññattaṁ mañcapīṭhaṁ, bhisibibbohanaṁ, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ sūpaṭṭhitaṁ, pariveṇaṁ susammaṭṭhaṁ; passitvā vematikā honti—‘atthi nu kho āvāsikā bhikkhū natthi nu kho’ti.
Te vematikā na vicinanti; avicinitvā uposathaṁ karonti. Āpatti dukkaṭassa.
Te vematikā vicinanti; vicinitvā na passanti; apassitvā uposathaṁ karonti. Anāpatti.
Te vematikā vicinanti; vicinitvā passanti; passitvā ekato uposathaṁ karonti. Anāpatti.
Te vematikā vicinanti; vicinitvā passanti; passitvā pāṭekkaṁ uposathaṁ karonti. Āpatti dukkaṭassa.
Te vematikā vicinanti; vicinitvā passanti; passitvā—‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti—bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti. Āpatti thullaccayassa.
“It may happen that newly-arrived monks see signs and indications of resident monks: beds and benches that are made up, water for drinking and water for washing that are ready for use, yards that are well swept. As a consequence, they’re unsure whether or not there are resident monks there. Then—
If they do the observance-day ceremony without investigating, there’s an offense of wrong conduct.
If they investigate, but don’t see anyone, and then do the observance-day ceremony, there’s no offense.
If they investigate, and they see someone, and then do the observance-day ceremony together, there’s no offense.
If they investigate, and they see someone, but then do the observance-day ceremony separately, there’s an offense of wrong conduct.
If they investigate, and they see someone, but think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them,’ and then do the observance-day ceremony aiming at schism, there’s a serious offense.
179. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, các tỳ khưu khách thấy được cung cách của tỳ khưu trú xá, dấu hiệu của tỳ khưu trú xá, đặc điểm của tỳ khưu trú xá, vật dụng của tỳ khưu trú xá, giường ghế được sắp xếp tươm tất, nệm gối, nước uống nước dùng được chuẩn bị sẵn sàng, khuôn viên được quét dọn sạch sẽ của các tỳ khưu trú xá; sau khi thấy, họ có sự hoài nghi rằng: ‘Không biết có các tỳ khưu trú xá hay không có?’ Các vị ấy có sự hoài nghi nhưng không tìm hiểu; do không tìm hiểu, họ làm lễ uposatha. Phạm tội dukkaṭa. Các vị ấy có sự hoài nghi rồi tìm hiểu; sau khi tìm hiểu, họ không thấy; do không thấy, họ làm lễ uposatha. Không phạm tội. Các vị ấy có sự hoài nghi rồi tìm hiểu; sau khi tìm hiểu, họ thấy; sau khi thấy, họ cùng nhau làm lễ uposatha. Không phạm tội. Các vị ấy có sự hoài nghi rồi tìm hiểu; sau khi tìm hiểu, họ thấy; sau khi thấy, họ làm lễ uposatha riêng rẽ. Phạm tội dukkaṭa. Các vị ấy có sự hoài nghi rồi tìm hiểu; sau khi tìm hiểu, họ thấy; sau khi thấy, họ làm lễ uposatha với ý định gây chia rẽ rằng: ‘Mặc cho chúng bị tiêu diệt, mặc cho chúng bị hủy hoại, có ích lợi gì với chúng chứ?’ Phạm tội thullaccaya.
Idha pana, bhikkhave, āgantukā bhikkhū suṇanti āvāsikānaṁ bhikkhūnaṁ āvāsikākāraṁ, āvāsikaliṅgaṁ, āvāsikanimittaṁ, āvāsikuddesaṁ, caṅkamantānaṁ padasaddaṁ, sajjhāyasaddaṁ, ukkāsitasaddaṁ, khipitasaddaṁ; sutvā vematikā honti—‘atthi nu kho āvāsikā bhikkhū natthi nu kho’ti.
Te vematikā na vicinanti; avicinitvā uposathaṁ karonti. Āpatti dukkaṭassa.
Te vematikā vicinanti; vicinitvā na passanti; apassitvā uposathaṁ karonti. Anāpatti.
Te vematikā vicinanti; vicinitvā passanti; passitvā ekato uposathaṁ karonti. Anāpatti.
Te vematikā vicinanti; vicinitvā passanti; passitvā pāṭekkaṁ uposathaṁ karonti. Āpatti dukkaṭassa.
Te vematikā vicinanti; vicinitvā passanti; passitvā—‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti—bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti. Āpatti thullaccayassa.
It may happen that newly-arrived monks hear signs and indications of resident monks: the sound of the feet of someone doing walking meditation, the sound of recitation, the sound of coughing, the sound of sneezing. As a consequence, they’re unsure whether or not there are resident monks there. Then—
If they do the observance-day ceremony without investigating, there’s an offense of wrong conduct.
If they investigate, but don’t see anyone, and then do the observance-day ceremony, there’s no offense.
If they investigate, and they see someone, and then do the observance-day ceremony together, there’s no offense.
If they investigate, and they see someone, but then do the observance-day ceremony separately, there’s an offense of wrong conduct.
If they investigate, and they see someone, but think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them,’ and then do the observance-day ceremony aiming at schism, there’s a serious offense.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, các tỳ khưu khách nghe được cung cách của tỳ khưu trú xá, dấu hiệu của tỳ khưu trú xá, đặc điểm của tỳ khưu trú xá, vật dụng của tỳ khưu trú xá, tiếng bước chân của người đi kinh hành, tiếng tụng đọc, tiếng đằng hắng, tiếng hắt hơi của các tỳ khưu trú xá; sau khi nghe, họ có sự hoài nghi rằng: ‘Không biết có các tỳ khưu trú xá hay không có?’ Các vị ấy có sự hoài nghi nhưng không tìm hiểu; do không tìm hiểu, họ làm lễ uposatha. Phạm tội dukkaṭa. Các vị ấy có sự hoài nghi rồi tìm hiểu; sau khi tìm hiểu, họ không thấy; do không thấy, họ làm lễ uposatha. Không phạm tội. Các vị ấy có sự hoài nghi rồi tìm hiểu; sau khi tìm hiểu, họ thấy; sau khi thấy, họ cùng nhau làm lễ uposatha. Không phạm tội. Các vị ấy có sự hoài nghi rồi tìm hiểu; sau khi tìm hiểu, họ thấy; sau khi thấy, họ làm lễ uposatha riêng rẽ. Phạm tội dukkaṭa. Các vị ấy có sự hoài nghi rồi tìm hiểu; sau khi tìm hiểu, họ thấy; sau khi thấy, họ làm lễ uposatha với ý định gây chia rẽ rằng: ‘Mặc cho chúng bị tiêu diệt, mặc cho chúng bị hủy hoại, có ích lợi gì với chúng chứ?’ Phạm tội thullaccaya.
Idha pana, bhikkhave, āvāsikā bhikkhū passanti āgantukānaṁ bhikkhūnaṁ āgantukākāraṁ, āgantukaliṅgaṁ, āgantukanimittaṁ, āgantukuddesaṁ, aññātakaṁ pattaṁ, aññātakaṁ cīvaraṁ, aññātakaṁ nisīdanaṁ, pādānaṁ dhotaṁ, udakanissekaṁ; passitvā vematikā honti—‘atthi nu kho āgantukā bhikkhū natthi nu kho’ti.
Te vematikā na vicinanti; avicinitvā uposathaṁ karonti. Āpatti dukkaṭassa.
Te vematikā vicinanti; vicinitvā na passanti; apassitvā uposathaṁ karonti. Anāpatti.
Te vematikā vicinanti; vicinitvā passanti; passitvā ekato uposathaṁ karonti. Anāpatti.
Te vematikā vicinanti; vicinitvā passanti; passitvā pāṭekkaṁ uposathaṁ karonti. Āpatti dukkaṭassa.
Te vematikā vicinanti; vicinitvā passanti; passitvā—‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti—bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti. Āpatti thullaccayassa.
It may happen that resident monks see signs and indications of newly-arrived monks: an unknown almsbowl, an unknown robe, an unknown sitting mat, water poured on the ground from the washing of feet. As a consequence, they’re unsure whether or not monks have arrived. Then—
If they do the observance-day ceremony without investigating, there’s an offense of wrong conduct.
If they investigate, but don’t see anyone, and then do the observance-day ceremony, there’s no offense.
If they investigate, and they see someone, and then do the observance-day ceremony together, there’s no offense.
If they investigate, and they see someone, but then do the observance-day ceremony separately, there’s an offense of wrong conduct.
If they investigate, and they see someone, but think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them,’ and then do the observance-day ceremony aiming at schism, there’s a serious offense.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, các tỳ khưu trú ngụ nhìn thấy dáng vẻ của tỳ khưu khách, hình tướng của tỳ khưu khách, dấu hiệu của tỳ khưu khách, vật dụng của tỳ khưu khách, bình bát không quen thuộc, y không quen thuộc, tấm lót ngồi không quen thuộc, nước nhỏ giọt từ chân đã được rửa; sau khi nhìn thấy, họ có sự hoài nghi rằng: ‘Không biết có các tỳ khưu khách hay không có?’ Các vị ấy có sự hoài nghi nhưng không tìm hiểu; do không tìm hiểu, họ làm lễ uposatha. Phạm tội dukkaṭa (tác ác). Các vị ấy có sự hoài nghi rồi tìm hiểu; sau khi tìm hiểu, họ không nhìn thấy; do không nhìn thấy, họ làm lễ uposatha. Không phạm tội. Các vị ấy có sự hoài nghi rồi tìm hiểu; sau khi tìm hiểu, họ nhìn thấy; sau khi nhìn thấy, họ làm lễ uposatha chung với nhau. Không phạm tội. Các vị ấy có sự hoài nghi rồi tìm hiểu; sau khi tìm hiểu, họ nhìn thấy; sau khi nhìn thấy, họ làm lễ uposatha riêng rẽ. Phạm tội dukkaṭa (tác ác). Các vị ấy có sự hoài nghi rồi tìm hiểu; sau khi tìm hiểu, họ nhìn thấy; sau khi nhìn thấy, họ làm lễ uposatha với ý định gây chia rẽ rằng: ‘Mặc cho những kẻ ấy bị tiêu diệt, mặc cho những kẻ ấy bị hủy hoại, có ích lợi gì với bọn họ chứ?’ Phạm tội thullaccaya (trọng tội).
Idha pana, bhikkhave, āvāsikā bhikkhū suṇanti āgantukānaṁ bhikkhūnaṁ āgantukākāraṁ, āgantukaliṅgaṁ, āgantukanimittaṁ, āgantukuddesaṁ, āgacchantānaṁ padasaddaṁ, upāhanapapphoṭanasaddaṁ, ukkāsitasaddaṁ, khipitasaddaṁ; sutvā vematikā honti—‘atthi nu kho āgantukā bhikkhū natthi nu kho’ti.
Te vematikā na vicinanti; avicinitvā uposathaṁ karonti. Āpatti dukkaṭassa.
Te vematikā vicinanti; vicinitvā na passanti; apassitvā uposathaṁ karonti. Anāpatti.
Te vematikā vicinanti; vicinitvā passanti; passitvā ekato uposathaṁ karonti. Anāpatti.
Te vematikā vicinanti; vicinitvā passanti; passitvā pāṭekkaṁ uposathaṁ karonti. Āpatti dukkaṭassa.
Te vematikā vicinanti; vicinitvā passanti; passitvā—‘nassantete, vinassantete, ko tehi attho’ti—bhedapurekkhārā uposathaṁ karonti. Āpatti thullaccayassa.
It may happen that resident monks hear signs and indications of newly-arrived monks: the sound of the feet of someone arriving, the sound of sandals being knocked together, the sound of coughing, the sound of sneezing. As a consequence, they’re unsure whether or not monks have arrived. Then—
If they do the observance-day ceremony without investigating, there’s an offense of wrong conduct.
If they investigate, but don’t see anyone, and then do the observance-day ceremony, there’s no offense.
If they investigate, and they see someone, and then do the observance-day ceremony together, there’s no offense.
If they investigate, and they see someone, but then do the observance-day ceremony separately, there’s an offense of wrong conduct.
If they investigate, and they see someone, but think, ‘May they get lost! May they disappear! We are better off without them,’ and then do the observance-day ceremony aiming at schism, there’s a serious offense.”
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, các tỳ khưu trú ngụ nghe được dáng vẻ của tỳ khưu khách, hình tướng của tỳ khưu khách, dấu hiệu của tỳ khưu khách, vật dụng của tỳ khưu khách, tiếng bước chân của những người đang đến, tiếng giũ giày dép, tiếng đằng hắng, tiếng hắt hơi; sau khi nghe, họ có sự hoài nghi rằng: ‘Không biết có các tỳ khưu khách hay không có?’ Các vị ấy có sự hoài nghi nhưng không tìm hiểu; do không tìm hiểu, họ làm lễ uposatha. Phạm tội dukkaṭa (tác ác). Các vị ấy có sự hoài nghi rồi tìm hiểu; sau khi tìm hiểu, họ không nhìn thấy; do không nhìn thấy, họ làm lễ uposatha. Không phạm tội. Các vị ấy có sự hoài nghi rồi tìm hiểu; sau khi tìm hiểu, họ nhìn thấy; sau khi nhìn thấy, họ làm lễ uposatha chung với nhau. Không phạm tội. Các vị ấy có sự hoài nghi rồi tìm hiểu; sau khi tìm hiểu, họ nhìn thấy; sau khi nhìn thấy, họ làm lễ uposatha riêng rẽ. Phạm tội dukkaṭa (tác ác). Các vị ấy có sự hoài nghi rồi tìm hiểu; sau khi tìm hiểu, họ nhìn thấy; sau khi nhìn thấy, họ làm lễ uposatha với ý định gây chia rẽ rằng: ‘Mặc cho những kẻ ấy bị tiêu diệt, mặc cho những kẻ ấy bị hủy hoại, có ích lợi gì với bọn họ chứ?’ Phạm tội thullaccaya (trọng tội).
35. Nānāsaṁvāsakādīhiuposathakaraṇa
35. The doing of the observance-day ceremony with those belonging to a different Buddhist sect, etc.
102. Việc làm lễ uposatha với các vị có sự chung sống khác biệt, v.v...
Idha pana, bhikkhave, āgantukā bhikkhū passanti āvāsike bhikkhū nānāsaṁvāsake. Te samānasaṁvāsakadiṭṭhiṁ paṭilabhanti;
samānasaṁvāsakadiṭṭhiṁ paṭilabhitvā na pucchanti; apucchitvā ekato uposathaṁ karonti. Anāpatti.
Te pucchanti; pucchitvā nābhivitaranti; anabhivitaritvā ekato uposathaṁ karonti. Āpatti dukkaṭassa.
Te pucchanti; pucchitvā nābhivitaranti; anabhivitaritvā pāṭekkaṁ uposathaṁ karonti. Anāpatti.
“It may happen that newly-arrived monks see resident monks who belong to a different Buddhist sect, but they have the view that they belong to the same one. Then—
If they don’t ask the resident monks about it, and then do the observance-day ceremony together, there’s no offense.
If they do ask the resident monks about it, but don’t reach a clear conclusion, and then do the observance-day ceremony together, there’s an offense of wrong conduct.
If they do ask the resident monks about it, but don’t reach a clear conclusion, and then do the observance-day ceremony separately, there’s no offense.
180. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, các tỳ khưu khách nhìn thấy các tỳ khưu trú ngụ là những vị có sự chung sống khác biệt. Họ có được nhận thức rằng đó là những vị có sự chung sống giống nhau; có được nhận thức rằng đó là những vị có sự chung sống giống nhau, họ không hỏi; do không hỏi, họ làm lễ uposatha chung với nhau. Không phạm tội. Họ hỏi; sau khi hỏi, họ không thể thuyết phục được; do không thể thuyết phục được, họ làm lễ uposatha chung với nhau. Phạm tội dukkaṭa (tác ác). Họ hỏi; sau khi hỏi, họ không thể thuyết phục được; do không thể thuyết phục được, họ làm lễ uposatha riêng rẽ. Không phạm tội.
Idha pana, bhikkhave, āgantukā bhikkhū passanti āvāsike bhikkhū samānasaṁvāsake. Te nānāsaṁvāsakadiṭṭhiṁ paṭilabhanti;
nānāsaṁvāsakadiṭṭhiṁ paṭilabhitvā na pucchanti; apucchitvā ekato uposathaṁ karonti. Āpatti dukkaṭassa.
Te pucchanti; pucchitvā abhivitaranti; abhivitaritvā pāṭekkaṁ uposathaṁ karonti. Āpatti dukkaṭassa.
Te pucchanti; pucchitvā abhivitaranti; abhivitaritvā ekato uposathaṁ karonti. Anāpatti.
It may happen that newly-arrived monks see resident monks who belong to the same Buddhist sect, but they have the view that they belong to a different one. Then—
If they don’t ask the resident monks about it, and then do the observance-day ceremony together, there’s an offense of wrong conduct.
If they do ask the resident monks about it, and they change their view, but then do the observance-day ceremony separately, there’s an offense of wrong conduct.
If they do ask the resident monks about it, and they change their view, and then do the observance-day ceremony together, there’s no offense.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, các tỳ khưu khách nhìn thấy các tỳ khưu trú ngụ là những vị có sự chung sống giống nhau. Họ có được nhận thức rằng đó là những vị có sự chung sống khác biệt; có được nhận thức rằng đó là những vị có sự chung sống khác biệt, họ không hỏi; do không hỏi, họ làm lễ uposatha chung với nhau. Phạm tội dukkaṭa (tác ác). Họ hỏi; sau khi hỏi, họ có thể thuyết phục được; sau khi có thể thuyết phục được, họ làm lễ uposatha riêng rẽ. Phạm tội dukkaṭa (tác ác). Họ hỏi; sau khi hỏi, họ có thể thuyết phục được; sau khi có thể thuyết phục được, họ làm lễ uposatha chung với nhau. Không phạm tội.
Idha pana, bhikkhave, āvāsikā bhikkhū passanti āgantuke bhikkhū nānāsaṁvāsake. Te samānasaṁvāsakadiṭṭhiṁ paṭilabhanti;
samānasaṁvāsakadiṭṭhiṁ paṭilabhitvā na pucchanti; apucchitvā ekato uposathaṁ karonti. Anāpatti.
Te pucchanti; pucchitvā nābhivitaranti; anabhivitaritvā ekato uposathaṁ karonti. Āpatti dukkaṭassa.
Te pucchanti; pucchitvā nābhivitaranti; anabhivitaritvā pāṭekkaṁ uposathaṁ karonti. Anāpatti.
It may happen that resident monks see newly-arrived monks who belong to a different Buddhist sect, but they have the view that they belong to the same one. Then—
If they don’t ask the newly-arrived monks about it, and then do the observance-day ceremony together, there’s no offense.
If they do ask the newly-arrived monks about it, but don’t reach a clear conclusion, and then do the observance-day ceremony together, there’s an offense of wrong conduct.
If they do ask the newly-arrived monks about it, but don’t reach a clear conclusion, and then do the observance-day ceremony separately, there’s no offense.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, các tỳ khưu trú ngụ nhìn thấy các tỳ khưu khách là những vị có sự chung sống khác biệt. Họ có được nhận thức rằng đó là những vị có sự chung sống giống nhau; có được nhận thức rằng đó là những vị có sự chung sống giống nhau, họ không hỏi; do không hỏi, họ làm lễ uposatha chung với nhau. Không phạm tội. Họ hỏi; sau khi hỏi, họ không thể thuyết phục được; do không thể thuyết phục được, họ làm lễ uposatha chung với nhau. Phạm tội dukkaṭa (tác ác). Họ hỏi; sau khi hỏi, họ không thể thuyết phục được; do không thể thuyết phục được, họ làm lễ uposatha riêng rẽ. Không phạm tội.
Idha pana, bhikkhave, āvāsikā bhikkhū passanti āgantuke bhikkhū samānasaṁvāsake. Te nānāsaṁvāsakadiṭṭhiṁ paṭilabhanti;
nānāsaṁvāsakadiṭṭhiṁ paṭilabhitvā na pucchanti; apucchitvā ekato uposathaṁ karonti. Āpatti dukkaṭassa.
Te pucchanti; pucchitvā abhivitaranti; abhivitaritvā pāṭekkaṁ uposathaṁ karonti. Āpatti dukkaṭassa.
Te pucchanti; pucchitvā abhivitaranti; abhivitaritvā ekato uposathaṁ karonti. Anāpatti.
It may happen that resident monks see newly-arrived monks who belong to the same Buddhist sect, but they have the view that they belong to a different one. Then—
If they don’t ask the newly-arrived monks about it, and then do the observance-day ceremony together, there’s an offense of wrong conduct.
If they do ask the newly-arrived monks about it, and they change their view, but then do the observance-day ceremony separately, there’s an offense of wrong conduct.
If they do ask the newly-arrived monks about it, and they change their view, and then do the observance-day ceremony together, there’s no offense.”
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, các tỳ khưu trú ngụ nhìn thấy các tỳ khưu khách là những vị có sự chung sống giống nhau. Họ có được nhận thức rằng đó là những vị có sự chung sống khác biệt; có được nhận thức rằng đó là những vị có sự chung sống khác biệt, họ không hỏi; do không hỏi, họ làm lễ uposatha chung với nhau. Phạm tội dukkaṭa (tác ác). Họ hỏi; sau khi hỏi, họ có thể thuyết phục được; sau khi có thể thuyết phục được, họ làm lễ uposatha riêng rẽ. Phạm tội dukkaṭa (tác ác). Họ hỏi; sau khi hỏi, họ có thể thuyết phục được; sau khi có thể thuyết phục được, họ làm lễ uposatha chung với nhau. Không phạm tội.
36. Nagantabbavāra
36. The section on “you shouldn’t go”
103. Chương về việc không nên đi
Na, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā āvāsā abhikkhuko āvāso gantabbo, aññatra saṅghena aññatra antarāyā. Na, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā āvāsā abhikkhuko anāvāso gantabbo, aññatra saṅghena aññatra antarāyā. Na, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā āvāsā abhikkhuko āvāso vā anāvāso vā gantabbo, aññatra saṅghena aññatra antarāyā.
“On the observance day you shouldn’t go from a monastery with monks to one without monks, except if you go with a sangha or there are dangers. On the observance day you shouldn’t go from a monastery with monks to a non-monastery without monks, except if you go with a sangha or there are dangers. On the observance day you shouldn’t go from a monastery with monks to a monastery or a non-monastery without monks, except if you go with a sangha or there are dangers.
181. Này các tỳ khưu, vào ngày uposatha ấy, không nên đi từ trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ không có tỳ khưu, ngoại trừ vì Tăng chúng, ngoại trừ có sự trở ngại. Này các tỳ khưu, vào ngày uposatha ấy, không nên đi từ trú xứ có tỳ khưu đến nơi không phải trú xứ và không có tỳ khưu, ngoại trừ vì Tăng chúng, ngoại trừ có sự trở ngại. Này các tỳ khưu, vào ngày uposatha ấy, không nên đi từ trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ hoặc nơi không phải trú xứ và không có tỳ khưu, ngoại trừ vì Tăng chúng, ngoại trừ có sự trở ngại.
Na, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā anāvāsā abhikkhuko āvāso gantabbo, aññatra saṅghena aññatra antarāyā. Na, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā anāvāsā abhikkhuko anāvāso gantabbo, aññatra saṅghena aññatra antarāyā. Na, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā anāvāsā abhikkhuko āvāso vā anāvāso vā gantabbo, aññatra saṅghena aññatra antarāyā.
On the observance day you shouldn’t go from a non-monastery with monks to a monastery without monks, except if you go with a sangha or there are dangers. On the observance day you shouldn’t go from a non-monastery with monks to a non-monastery without monks, except if you go with a sangha or there are dangers. On the observance day you shouldn’t go from a non-monastery with monks to a monastery or a non-monastery without monks, except if you go with a sangha or there are dangers.
Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, không nên đi từ nơi không phải trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ không có tỳ khưu, ngoại trừ đi với Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, không nên đi từ nơi không phải trú xứ có tỳ khưu đến nơi không phải trú xứ không có tỳ khưu, ngoại trừ đi với Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, không nên đi từ nơi không phải trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ hoặc nơi không phải trú xứ không có tỳ khưu, ngoại trừ đi với Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm.
Na, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā āvāsā vā anāvāsā vā abhikkhuko āvāso gantabbo, aññatra saṅghena aññatra antarāyā. Na, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā āvāsā vā anāvāsā vā abhikkhuko anāvāso gantabbo, aññatra saṅghena aññatra antarāyā. Na, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā āvāsā vā anāvāsā vā abhikkhuko āvāso vā anāvāso vā gantabbo, aññatra saṅghena aññatra antarāyā.
On the observance day you shouldn’t go from a monastery or a non-monastery with monks to a monastery without monks, except if you go with a sangha or there are dangers. On the observance day you shouldn’t go from a monastery or a non-monastery with monks to a non-monastery without monks, except if you go with a sangha or there are dangers. On the observance day you shouldn’t go from a monastery or a non-monastery with monks to a monastery or a non-monastery without monks, except if you go with a sangha or there are dangers.
Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, không nên đi từ trú xứ hoặc nơi không phải trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ không có tỳ khưu, ngoại trừ đi với Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, không nên đi từ trú xứ hoặc nơi không phải trú xứ có tỳ khưu đến nơi không phải trú xứ không có tỳ khưu, ngoại trừ đi với Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, không nên đi từ trú xứ hoặc nơi không phải trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ hoặc nơi không phải trú xứ không có tỳ khưu, ngoại trừ đi với Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm.
Na, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā āvāsā sabhikkhuko āvāso gantabbo, yatthassu bhikkhū nānāsaṁvāsakā, aññatra saṅghena aññatra antarāyā. Na, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā āvāsā sabhikkhuko anāvāso gantabbo, yatthassu bhikkhū nānāsaṁvāsakā, aññatra saṅghena aññatra antarāyā. Na, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā āvāsā sabhikkhuko āvāso vā anāvāso vā gantabbo, yatthassu bhikkhū nānāsaṁvāsakā, aññatra saṅghena aññatra antarāyā.
On the observance day you shouldn’t go from a monastery with monks to one with monks who belong to a different Buddhist sect, except if you go with a sangha or there are dangers. On the observance day you shouldn’t go from a monastery with monks to a non-monastery with monks who belong to a different Buddhist sect, except if you go with a sangha or there are dangers. On the observance day you shouldn’t go from a monastery with monks to a monastery or a non-monastery with monks who belong to a different Buddhist sect, except if you go with a sangha or there are dangers.
Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, không nên đi từ trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ có tỳ khưu nơi có các vị bất đồng hòa hợp, ngoại trừ đi với Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, không nên đi từ trú xứ có tỳ khưu đến nơi không phải trú xứ có tỳ khưu nơi có các vị bất đồng hòa hợp, ngoại trừ đi với Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, không nên đi từ trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ hoặc nơi không phải trú xứ có tỳ khưu nơi có các vị bất đồng hòa hợp, ngoại trừ đi với Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm.
Na, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā anāvāsā sabhikkhuko āvāso gantabbo, yatthassu bhikkhū nānāsaṁvāsakā, aññatra saṅghena aññatra antarāyā. Na, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā anāvāsā sabhikkhuko anāvāso gantabbo, yatthassu bhikkhū nānāsaṁvāsakā, aññatra saṅghena aññatra antarāyā. Na, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā anāvāsā sabhikkhuko āvāso vā anāvāso vā gantabbo, yatthassu bhikkhū nānāsaṁvāsakā, aññatra saṅghena aññatra antarāyā.
On the observance day you shouldn’t go from a non-monastery with monks to a monastery with monks who belong to a different Buddhist sect, except if you go with a sangha or there are dangers. On the observance day you shouldn’t go from a non-monastery with monks to a non-monastery with monks who belong to a different Buddhist sect, except if you go with a sangha or there are dangers. On the observance day you shouldn’t go from a non-monastery with monks to a monastery or a non-monastery with monks who belong to a different Buddhist sect, except if you go with a sangha or there are dangers.
Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, không nên đi từ nơi không phải trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ có tỳ khưu nơi có các vị bất đồng hòa hợp, ngoại trừ đi với Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, không nên đi từ nơi không phải trú xứ có tỳ khưu đến nơi không phải trú xứ có tỳ khưu nơi có các vị bất đồng hòa hợp, ngoại trừ đi với Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, không nên đi từ nơi không phải trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ hoặc nơi không phải trú xứ có tỳ khưu nơi có các vị bất đồng hòa hợp, ngoại trừ đi với Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm.
Na, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā āvāsā vā anāvāsā vā sabhikkhuko āvāso gantabbo, yatthassu bhikkhū nānāsaṁvāsakā, aññatra saṅghena aññatra antarāyā. Na, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā āvāsā vā anāvāsā vā sabhikkhuko anāvāso gantabbo, yatthassu bhikkhū nānāsaṁvāsakā, aññatra saṅghena aññatra antarāyā. Na, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā āvāsā vā anāvāsā vā sabhikkhuko āvāso vā anāvāso vā gantabbo, yatthassu bhikkhū nānāsaṁvāsakā, aññatra saṅghena aññatra antarāyā.
On the observance day you shouldn’t go from a monastery or a non-monastery with monks to a monastery with monks who belong to a different Buddhist sect, except if you go with a sangha or there are dangers. On the observance day you shouldn’t go from a monastery or a non-monastery with monks to a non-monastery with monks who belong to a different Buddhist sect, except if you go with a sangha or there are dangers. On the observance day you shouldn’t go from a monastery or a non-monastery with monks to a monastery or a non-monastery with monks who belong to a different Buddhist sect, except if you go with a sangha or there are dangers.”
Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, không nên đi từ trú xứ hoặc nơi không phải trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ có tỳ khưu nơi có các vị bất đồng hòa hợp, ngoại trừ đi với Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, không nên đi từ trú xứ hoặc nơi không phải trú xứ có tỳ khưu đến nơi không phải trú xứ có tỳ khưu nơi có các vị bất đồng hòa hợp, ngoại trừ đi với Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, không nên đi từ trú xứ hoặc nơi không phải trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ hoặc nơi không phải trú xứ có tỳ khưu nơi có các vị bất đồng hòa hợp, ngoại trừ đi với Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm.
37. Gantabbavāra
37. The section on “you may go”
Dứt phần về việc không nên đi.
Gantabbo, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā āvāsā sabhikkhuko āvāso, yatthassu bhikkhū samānasaṁvāsakā, yaṁ jaññā—‘sakkomi ajjeva gantun’ti. Gantabbo, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā āvāsā sabhikkhuko anāvāso …pe… sabhikkhuko āvāso vā anāvāso vā, yatthassu bhikkhū samānasaṁvāsakā, yaṁ jaññā—‘sakkomi ajjeva gantun’ti.
“On the observance day you may go from a monastery with monks to one with monks who belong to the same Buddhist sect if you know you’ll get there on the same day. On the observance day you may go from a monastery with monks to a non-monastery with monks … to a monastery or a non-monastery with monks who belong to the same Buddhist sect if you know you’ll get there on the same day.
182. Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, nên đi từ trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ có tỳ khưu, nơi có các vị đồng hòa hợp, nếu biết rằng: ‘Tôi có thể đi đến ngay trong hôm nay.’ Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, nên đi từ trú xứ có tỳ khưu đến nơi không phải trú xứ có tỳ khưu… cho đến… đến trú xứ hoặc nơi không phải trú xứ có tỳ khưu, nơi có các vị đồng hòa hợp, nếu biết rằng: ‘Tôi có thể đi đến ngay trong hôm nay.’
Gantabbo, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā anāvāsā sabhikkhuko āvāso …pe… sabhikkhuko anāvāso …pe… sabhikkhuko āvāso vā anāvāso vā, yatthassu bhikkhū samānasaṁvāsakā, yaṁ jaññā—‘sakkomi ajjeva gantun’ti.
On the observance day you may go from a non-monastery with monks to a monastery with monks … to a non-monastery with monks … to a monastery or a non-monastery with monks who belong to the same Buddhist sect if you know you’ll get there on the same day.
Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, nên đi từ nơi không phải trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ có tỳ khưu… cho đến… đến nơi không phải trú xứ có tỳ khưu… cho đến… đến trú xứ hoặc nơi không phải trú xứ có tỳ khưu, nơi có các vị đồng hòa hợp, nếu biết rằng: ‘Tôi có thể đi đến ngay trong hôm nay.’
Gantabbo, bhikkhave, tadahuposathe sabhikkhukā āvāsā vā anāvāsā vā sabhikkhuko āvāso …pe… sabhikkhuko anāvāso …pe… sabhikkhuko āvāso vā anāvāso vā, yatthassu bhikkhū samānasaṁvāsakā, yaṁ jaññā—‘sakkomi ajjeva gantun’ti.
On the observance day you may go from a monastery or a non-monastery with monks to a monastery with monks … to a non-monastery with monks … to a monastery or a non-monastery with monks who belong to the same Buddhist sect if you know you’ll get there on the same day.”
Này các tỳ khưu, vào ngày Bố-tát ấy, nên đi từ trú xứ hoặc nơi không phải trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ có tỳ khưu… cho đến… đến nơi không phải trú xứ có tỳ khưu… cho đến… đến trú xứ hoặc nơi không phải trú xứ có tỳ khưu, nơi có các vị đồng hòa hợp, nếu biết rằng: ‘Tôi có thể đi đến ngay trong hôm nay.’
38. Vajjanīyapuggalasandassana
38. The identification of persons to be avoided
105. Sự chỉ rõ các hạng người cần phải tránh.
Na, bhikkhave, bhikkhuniyā nisinnaparisāya pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Yo uddiseyya, āpatti dukkaṭassa. Na sikkhamānāya …pe… na sāmaṇerassa …pe… na sāmaṇeriyā …pe… na sikkhāpaccakkhātakassa …pe… na antimavatthuṁ ajjhāpannakassa nisinnaparisāya pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Yo uddiseyya, āpatti dukkaṭassa.
“You shouldn’t recite the Monastic Code with a nun seated in the gathering. If you do, you commit an offense of wrong conduct. You shouldn’t recite the Monastic Code with a trainee nun, a novice monk, a novice nun, one who has renounced the training, or one who has committed the worst kind of offense seated in the gathering. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
183. Này các tỳ khưu, không nên thuyết Pātimokkha trong hội chúng có tỳ khưu ni đang ngồi. Vị nào thuyết, phạm tội tác ác. Không nên thuyết trong hội chúng có thức-xoa-ma-na đang ngồi… cho đến… không nên thuyết trong hội chúng có sa-di đang ngồi … cho đến… không nên thuyết trong hội chúng có sa-di-ni đang ngồi… cho đến… không nên thuyết trong hội chúng có người đã xả giới đang ngồi… cho đến… không nên thuyết Pātimokkha trong hội chúng có người đã phạm điều tối hậu đang ngồi. Vị nào thuyết, phạm tội tác ác.
Na āpattiyā adassane ukkhittakassa nisinnaparisāya pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Yo uddiseyya, yathādhammo kāretabbo. Na āpattiyā appaṭikamme ukkhittakassa nisinnaparisāya …pe… na pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhittakassa nisinnaparisāya pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Yo uddiseyya, yathādhammo kāretabbo.
You shouldn’t recite the Monastic Code with one who has been ejected for not recognizing an offense seated in the gathering. If you do, you should be dealt with according to the rule. You shouldn’t recite the Monastic Code with one who has been ejected for not making amends for an offense seated in the gathering or with one who has been ejected for not giving up a bad view seated in the gathering. If you do, you should be dealt with according to the rule.
Không nên thuyết Pātimokkha trong hội chúng có người bị cử tội vì không thấy tội đang ngồi. Vị nào thuyết, nên được xử trị đúng theo Pháp. Không nên thuyết trong hội chúng có người bị cử tội vì không sám hối tội đang ngồi… cho đến… không nên thuyết Pātimokkha trong hội chúng có người bị cử tội vì không từ bỏ tà kiến ác đang ngồi. Vị nào thuyết, nên được xử trị đúng theo Pháp.
Na paṇḍakassa nisinnaparisāya pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Yo uddiseyya, āpatti dukkaṭassa. Na theyyasaṁvāsakassa …pe… na titthiyapakkantakassa …pe… na tiracchānagatassa …pe… na mātughātakassa …pe… na pitughātakassa …pe… na arahantaghātakassa …pe… na bhikkhunidūsakassa …pe… na saṅghabhedakassa …pe… na lohituppādakassa …pe… na ubhatobyañjanakassa nisinnaparisāya pātimokkhaṁ uddisitabbaṁ. Yo uddiseyya, āpatti dukkaṭassa.
You shouldn’t recite the Monastic Code with a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> seated in the gathering. If you do, you commit an offense of wrong conduct. You shouldn’t recite the Monastic Code with a fake monk, with one who has previously left to join the monastics of another religion, with an animal, with a matricide, with a patricide, with a murderer of a perfected one, with one who has raped a nun, with one has caused a schism in the Sangha, with one who has caused the Buddha to bleed, or with a gynandromorph seated in the gathering. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
Không nên thuyết Pātimokkha trong hội chúng có người bán ái đang ngồi. Vị nào thuyết, phạm tội tác ác. Không nên thuyết trong hội chúng có người sống chung lén lút đang ngồi… cho đến… không nên thuyết trong hội chúng có người đã theo ngoại đạo đang ngồi… cho đến… không nên thuyết trong hội chúng có loài bàng sanh đang ngồi… cho đến… không nên thuyết trong hội chúng có người giết mẹ đang ngồi… cho đến… không nên thuyết trong hội chúng có người giết cha đang ngồi… cho đến… không nên thuyết trong hội chúng có người giết A-la-hán đang ngồi… cho đến… không nên thuyết trong hội chúng có người làm hại tỳ khưu ni đang ngồi… cho đến… không nên thuyết trong hội chúng có người phá hòa hợp Tăng đang ngồi… cho đến… không nên thuyết trong hội chúng có người làm chảy máu Phật đang ngồi… cho đến… không nên thuyết Pātimokkha trong hội chúng có người có hai tướng đang ngồi. Vị nào thuyết, phạm tội tác ác.
Na, bhikkhave, pārivāsikapārisuddhidānena uposatho kātabbo, aññatra avuṭṭhitāya parisāya.
Na ca, bhikkhave, anuposathe uposatho kātabbo, aññatra saṅghasāmaggiyā”ti.
You shouldn’t do the observance-day ceremony with a passed-on purity that has expired, except if the gathering is still seated together.
You shouldn’t do the observance-day ceremony on a non-observance day, except to unify the Sangha.”
Này các tỳ khưu, không được thực hành lễ Uposatha bằng cách trao sự thanh tịnh đã được lưu lại, ngoại trừ trường hợp hội chúng chưa giải tán. Và này các tỳ khưu, không được thực hành lễ Uposatha vào ngày không phải là ngày Uposatha, ngoại trừ trường hợp (để có được) sự hòa hợp của Tăng chúng.
Tatiyabhāṇavāro niṭṭhito.
The third section for recitation is finished.
Phần tụng thứ ba đã kết thúc.
Uposathakkhandhako dutiyo.
Tassuddānaṁ
The second chapter on the observance day is finished.
This is the summary:
Chương Uposatha, chương thứ hai.
Titthiyā bimbisāro ca, sannipatituṁ tuṇhikā; Dhammaṁ raho pātimokkhaṁ, devasikaṁ tadā sakiṁ.
“Ascetics of other religions, and Bimbisāra, To assemble, silent; Teaching, seclusion, the Monastic Code, Daily, then once.
Ngoại đạo, và vua Bimbisāra, việc tụ họp, sự im lặng; Pháp, nơi vắng vẻ, Pātimokkha, khi ấy mỗi ngày, rồi mỗi nửa tháng.
Yathāparisā samaggaṁ, sāmaggī maddakucchi ca; Sīmā mahatī nadiyā, anu dve khuddakāni ca.
Separately, complete assembly, Complete assembly, and Maddakucchi; Monastery zone, large, with river, One after another, two, and small.
Theo hội chúng, sự hòa hợp, sự hòa hợp, và Maddakucchi; Sīmā, sīmā lớn, ở sông, theo sau, hai, và các sīmā nhỏ.
Navā rājagahe ceva, Sīmā avippavāsanā; Sammanne paṭhamaṁ sīmaṁ, Pacchā sīmaṁ samūhane.
Juniors, and just in Rājagaha, May-stay-apart zone; Should establish the monastery zone first, Should abolish the monastery zone afterwards.
Các vị mới, và ở Rājagaha, sīmā không biệt trú; Việc kiết giới sīmā trước tiên, sau đó là việc hủy bỏ sīmā.
Asammatā gāmasīmā, nadiyā samudde sare; Udakukkhepo bhindanti, tathevajjhottharanti ca.
Non-established zones of inhabited areas, In a river, in the ocean, in a lake; A splash of water, they made overlap, And just so they enclosed.
Sīmā không được kiết giới, sīmā làng, ở sông, ở biển, ở hồ; Udakukkhepa, họ phá vỡ, và cũng vậy, họ bao trùm lên.
Kati kammāni uddeso, savarā asatīpi ca; Dhammaṁ vinayaṁ tajjenti, puna vinayatajjanā.
How many procedures, recitation, Primitive tribes, and even when there were none; A teaching, Monastic Law, they made threats, Again Monastic Law, and threatening.
Bao nhiêu yết-ma, việc tụng đọc, sự nguy hiểm, và cả khi không có; Pháp, Luật, họ đe dọa, lại nữa, sự đe dọa bằng Luật.
Codanā kate okāse, adhammappaṭikkosanā; Catupañcaparā āvi, sañcicca cepi vāyame.
Accusing, when permission is given, Objecting to what is illegitimate; Four or five, and others state, Also if deliberately, one should make an effort.
Sự khiển trách, khi đã được cho phép, sự phản đối phi pháp; Bốn hoặc năm người, sự công khai, cố ý, và nếu cố gắng.
Sagahaṭṭhā anajjhiṭṭhā, codanamhi na jānati; Sambahulā na jānanti, sajjukaṁ na ca gacchare.
Included lay people, without being asked, He did not know at Codanā; A number did not know, And straightaway, would not go.
Cùng với tại gia, không được thỉnh mời, trong sự khiển trách, không biết; Nhiều người, họ không biết, ngay lập tức, và họ không đi.
Katimī kīvatikā dūre, ārocetuñca nassari; Uklāpaṁ āsanaṁ dīpo, disā añño bahussuto.
Which, how many, faraway, And to announce, he forgot; Dirty, seat, lamp, Regions, another who is learned.
Ngày thứ mấy, bao nhiêu vị, ở xa, và việc thông báo, đã quên; Rác rưởi, chỗ ngồi, ngọn đèn, phương hướng, một vị khác đa văn.
Sajjukaṁ vassuposatho, suddhikammañca ñātakā; Gaggo catutayo dveko, āpattisabhāgā sari.
Straightaway, observance day in the rainy season, Purity, and procedure, relatives; Gagga, four, three, two, one, Offense, shared, he remembered.
Ngay lập tức, mùa mưa, Uposatha, sự thanh tịnh và yết-ma, thân quyến; Gagga, bốn, ba, hai, một, tội, tội tương tự, sự ghi nhớ.
Sabbo saṅgho vematiko, na jānanti bahussuto; Bahū samasamā thokā, parisā avuṭṭhitāya ca.
The whole Sangha, unsure, They did not know, one who is learned; Greater, equal, smaller, And none of the gathering has left.
Toàn thể Tăng chúng, sự nghi ngờ, họ không biết, vị đa văn; Nhiều vị, số lượng bằng nhau, ít vị, và hội chúng chưa giải tán.
Ekaccā vuṭṭhitā sabbā, jānanti ca vematikā; Kappatevāti kukkuccā, jānaṁ passaṁ suṇanti ca.
Some have left, entire, And they know, unsure; Anxious thinking, ‘It’s allowable’, Knowing, seeing, and they hear.
Một số đã giải tán, tất cả, và họ biết, những người nghi ngờ; Sự hối hận về việc ‘có hợp lệ không,’ biết, thấy, và nghe.
Āvāsikena āgantu, cātupannaraso puna; Pāṭipado pannaraso, liṅgasaṁvāsakā ubho.
With resident, newly arrived, The fourteenth and the fifteenth, again; The day after, the fifteenth, Characteristics, belonging to a Buddhist sect, gynandromorph.
Với vị trú ngụ, vị khách, ngày mười bốn, ngày rằm, lại nữa; Ngày mồng một, ngày rằm, dấu hiệu, sự cộng trú, cả hai.
Pārivāsānuposatho, aññatra saṅghasāmaggiyā; Ete vibhattā uddānā, vatthuvibhūtakāraṇāti.
That has expired, non-observance day Except to unify the Sangha; These summaries are detailed, Making the topics clear.”
Sự thanh tịnh được lưu lại, ngày không phải Uposatha, ngoại trừ sự hòa hợp của Tăng chúng; Những phần tóm lược này đã được phân chia, là nguyên nhân làm sáng tỏ các sự việc.
Imasmiṁ khandhake vatthūni chaasīti.
In this chapter there are eighty-six topics.
Trong chương này có tám mươi sáu câu chuyện.
Uposathakkhandhako niṭṭhito.
The chapter on the observance day is finished.
Chương Uposatha đã kết thúc.