- Theravāda Vinayapiṭaka
- Mahāvagga
Bản dịch
Kd 3 — Chương vào mùa mưa
3. Vassūpanāyikakkhandhaka
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc.
Inda-bh 2~2Vào lúc bấy giờ, việc cư trú mùa mưa chưa được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu.
Inda-bh 3~3Trong trường hợp này, các vị tỳ khưu ấy đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa.
Inda-bh 4~4Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa? Các vị đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hãm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt nhiều chúng sanh nhỏ nhoi. Ngay cả các ngoại đạo này có giáo lý được thuyết tồi tệ vẫn bám víu và sống cố định trong mùa cư trú mưa. Ngay cả những con chim này sau khi làm tổ trên các ngọn cây cũng bám víu và sống cố định trong mùa cư trú mưa. Còn các Sa-môn Thích tử này lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Các vị đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hãm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt nhiều chúng sanh nhỏ nhoi.”
Inda-bh 5~5Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai.
Inda-bh 6~6Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 7~7Khi ấy, đức Thế tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vào mùa (an cư) mưa.”
Inda-bh 8~8Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Khi nào thì nên vào mùa (an cư) mưa?”
Inda-bh 9~9Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vào mùa (an cư) mưa trong mùa mưa.”
Inda-bh 10~10Sau đó, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Có bao nhiêu thời điểm vào mùa (an cư) mưa?”
Inda-bh 11~11Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, đây là hai thời điểm vào mùa (an cư) mưa: thời điểm trước và thời điểm sau. Thời điểm trước thì nên vào nhằm ngày kế của (ngày trăng tròn) tháng Āsāḷha, thời điểm sau thì nên vào khi (ngày trăng tròn) tháng Āsāḷha đã trôi qua một tháng. Này các tỳ khưu, đây là hai thời điểm vào mùa (an cư) mưa.”
Inda-bh 12~12Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sau khi đã vào mùa (an cư) mưa vẫn đi du hành trong mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 13~13Dân chúng lại phàn nàn, phê phán, chê bai giống y như thế:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa? Các vị đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hãm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt nhiều chúng sanh nhỏ nhoi. Ngay cả các ngoại đạo này có giáo lý được thuyết tồi tệ vẫn bám víu và sống cố định trong mùa cư trú mưa, ngay cả những con chim này sau khi làm tổ trên các ngọn cây cũng bám víu và sống cố định trong mùa cư trú mưa; còn các Sa-môn Thích tử này lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Các vị đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hãm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt nhiều chúng sanh nhỏ nhoi.”
Inda-bh 14~14Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư sau khi đã vào mùa (an cư) mưa vẫn đi du hành trong mùa (an cư) mưa?”
Inda-bh 15~15Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 16~16Khi ấy, đức Thế tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, sau khi đã vào mùa (an cư) mưa, không nên không cư trú ba tháng thuộc thời điểm trước hoặc ba tháng thuộc thời điểm sau, và không nên ra đi du hành; vị nào ra đi thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 17~17Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư không chịu vào mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 18~18Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên không vào mùa (an cư) mưa; vị nào không vào thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 19~19Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư có ý định không vào mùa (an cư) mưa nên cố tình bỏ đi khỏi chỗ trú ngụ vào ngày (đầu tiên) của thời điểm vào mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 20~20Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, vào ngày (đầu tiên) của thời điểm vào mùa (an cư) mưa vị có ý định không vào mùa (an cư) mưa không nên cố tình bỏ đi khỏi chỗ trú ngụ; vị nào bỏ đi thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 21~21Vào lúc bấy giờ, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha có ý định dời lại mùa (an cư) mưa nên đã phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng:—“Nếu các ngài đại đức có thể vào mùa (an cư) mưa nhằm vào ngày rằm sắp đến?”
Inda-bh 22~22Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thuận theo các vị vua.”
Inda-bh 23~23Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến thành Sāvatthi. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Sāvatthi. Tại nơi đó ở Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự tại Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Inda-bh 24~24Vào lúc bấy giờ, ở trong xứ Kosala, trú xá được cho xây dựng dành cho hội chúng bởi nam cư sĩ Udena.
Inda-bh 25~25Vị ấy đã phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng:—“Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.”
Inda-bh 26~26Các tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này đạo hữu, đức Thế Tôn đã quy định rằng: “Sau khi đã vào mùa (an cư) mưa, không nên không an cư ba tháng thuộc thời điểm trước hoặc ba tháng thuộc thời điểm sau, và không nên ra đi du hành.” Nam cư sĩ Udena hãy chờ đợi trong khi các tỳ khưu sống mùa (an cư) mưa, khi đã sống qua mùa (an cư) mưa rồi (các vị) sẽ đi đến. Nếu vị ấy có việc cấp bách cần làm thì hãy cho thiết lập trú xá trong sự hiện diện của các tỳ khưu thường trú ở ngay tại nơi ấy.”
Inda-bh 27~27Nam cư sĩ Udena phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các ngài đại đức khi đã được tôi phái người đi (thỉnh mời) lại không đi đến? Chính tôi là người thí chủ, là người phục vụ, và là người hộ độ hội chúng mà.”
Inda-bh 28~28Các tỳ khưu đã nghe được nam cư sĩ Udena phàn nàn, phê phán, chê bai.
Inda-bh 29~29Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đi khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày của bảy hạng người là tỳ khưu, tỳ khưu ni, cô ni tu tập sự, sa di, sa di ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Này các tỳ khưu, ta cho phép đi khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày của bảy hạng người này, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 30~30Này các tỳ khưu, trường hợp trú xá được cho xây dựng dành cho hội chúng bởi vị nam cư sĩ. Nếu vị ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, nên đi đến khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 31~31Này các tỳ khưu, trường hợp nhà một mái được cho xây ... tòa nhà dài được cho xây ... khu nhà lớn được cho xây ... hang động được cho xây ... phòng ở được cho xây ... cổng ra vào được cho xây ... nhà phục vụ được cho xây ... nhà đốt lửa được cho xây ... nhà làm thành được phép được cho xây ... nhà vệ sinh được cho xây ... đường kinh hành được cho xây ... gian nhà ở đường kinh hành được cho xây ... giếng nước được cho xây ... gian nhà ở giếng nước được cho xây ... phòng tắm hơi được cho xây ... gian nhà ở phòng tắm hơi được cho xây ... hồ trữ nước được cho xây ... mái che được cho xây ... tu viện được cho xây ... khuôn viên của tu viện được cho xây dựng dành cho hội chúng bởi vị nam cư sĩ. Nếu vị ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, nên đi đến khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 32~32Này các tỳ khưu, trường hợp trú xá được cho xây, nhà một mái được cho xây, tòa nhà dài được cho xây, khu nhà lớn được cho xây, hang động được cho xây, phòng ở được cho xây, cổng ra vào được cho xây, nhà phục vụ được cho xây, nhà đốt lửa được cho xây, nhà làm thành được phép được cho xây, nhà vệ sinh được cho xây, đường kinh hành được cho xây, gian nhà ở đường kinh hành được cho xây, giếng nước được cho xây, gian nhà ở giếng nước được cho xây, phòng tắm hơi được cho xây, gian nhà ở phòng tắm hơi được cho xây, hồ trữ nước được cho xây, mái che được cho xây, tu viện được cho xây, khuôn viên của tu viện được cho xây dựng dành cho nhiều vị tỳ khưu … (như trên) … dành cho một vị tỳ khưu bởi vị nam cư sĩ. Nếu vị ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, nên đi đến khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 33~33Này các tỳ khưu, trường hợp trú xá được cho xây, nhà một mái được cho xây, tòa nhà dài được cho xây, khu nhà lớn được cho xây, hang động được cho xây, phòng ở được cho xây, cổng ra vào được cho xây, nhà phục vụ được cho xây, nhà đốt lửa được cho xây, nhà làm thành được phép được cho xây, đường kinh hành được cho xây, gian nhà ở đường kinh hành được cho xây, giếng nước được cho xây, gian nhà ở giếng nước được cho xây, hồ trữ nước được cho xây, mái che được cho xây, tu viện được cho xây, khuôn viên của tu viện được cho xây dựng dành cho hội chúng tỳ khưu ni ... dành cho nhiều vị tỳ khưu ni ... dành cho một vị tỳ khưu ni ... dành cho nhiều cô ni tu tập sự ... dành cho một cô ni tu tập sự ... dành cho nhiều vị sa di ... dành cho một vị sa di ... dành cho nhiều vị sa di ni ... dành cho một vị sa di ni bởi vị nam cư sĩ. Nếu vị ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, nên đi đến khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 34~34Này các tỳ khưu, trường hợp căn nhà được cho xây ... phòng ngủ được cho xây ... kho chứa đồ được cho xây ... tháp ngắm được cho xây ... tòa nhà bốn góc được cho xây ... cửa hiệu được cho xây ... gian hàng được cho xây ... tòa nhà dài được cho xây ... khu nhà lớn được cho xây ... hang động được cho xây ... phòng ở được cho xây ... cổng ra vào được cho xây ... nhà phục vụ được cho xây ... nhà đốt lửa được cho xây ... nhà bếp được cho xây ... nhà vệ sinh được cho xây ... đường kinh hành được cho xây ... gian nhà ở đường kinh hành được cho xây ... giếng nước được cho xây ... gian nhà ở giếng nước được cho xây ... phòng tắm hơi được cho xây ... gian nhà ở phòng tắm hơi được cho xây ... hồ trữ nước được cho xây ... mái che được cho xây ... khu vườn được cho xây ... khuôn viên của khu vườn được cho xây dựng vì nhu cầu của bản thân bởi vị nam cư sĩ ... hoặc có đám cưới của con trai ... hoặc có đám cưới của con gái ... hoặc vị ấy bị bệnh ... hoặc vị ấy đọc lại bài kinh nổi tiếng. Nếu vị ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Các vị sẽ học bài kinh này trước khi bài kinh này bị quên lãng.” Hoặc vị ấy có công việc gì khác cần phải làm. Nếu vị ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, nên đi đến khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 35~35Này các tỳ khưu, trường hợp trú xá được cho xây dựng dành cho hội chúng bởi vị nữ cư sĩ. Nếu người nữ ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, nên đi đến khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 36~36Này các tỳ khưu, trường hợp nhà một mái được cho xây, tòa nhà dài được cho xây, khu nhà lớn được cho xây, hang động được cho xây, phòng ở được cho xây, cổng ra vào được cho xây, nhà phục vụ được cho xây, nhà đốt lửa được cho xây, nhà làm thành được phép được cho xây, nhà vệ sinh được cho xây, đường kinh hành được cho xây, gian nhà ở đường kinh hành được cho xây, giếng nước được cho xây, gian nhà ở giếng nước được cho xây, phòng tắm hơi được cho xây, gian nhà ở phòng tắm hơi được cho xây, hồ trữ nước được cho xây, mái che được cho xây, tu viện được cho xây, khuôn viên của tu viện được cho xây dựng dành cho hội chúng bởi vị nữ cư sĩ. Nếu người nữ ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, nên đi đến khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 37~37Này các tỳ khưu, trường hợp căn nhà được cho xây, phòng ngủ được cho xây, kho chứa đồ được cho xây, tháp ngắm được cho xây, tòa nhà bốn góc được cho xây, cửa hiệu được cho xây, gian hàng được cho xây, tòa nhà dài được cho xây, khu nhà lớn được cho xây, hang động được cho xây, phòng ở được cho xây, cổng ra vào được cho xây, nhà phục vụ được cho xây, nhà đốt lửa được cho xây, nhà bếp được cho xây, nhà vệ sinh được cho xây, đường kinh hành được cho xây, gian nhà ở đường kinh hành được cho xây, giếng nước được cho xây, gian nhà ở giếng nước được cho xây, phòng tắm hơi được cho xây, gian nhà ở phòng tắm hơi được cho xây, hồ trữ nước được cho xây, mái che được cho xây, khu vườn được cho xây, khuôn viên của khu vườn được cho xây dựng dành cho nhiều vị tỳ khưu ... dành cho một vị tỳ khưu ... dành cho hội chúng tỳ khưu ni ... dành cho nhiều vị tỳ khưu ni ... dành cho một vị tỳ khưu ni ... dành cho nhiều cô ni tu tập sự ... dành cho một cô ni tu tập sự ... dành cho nhiều vị sa di ... dành cho một vị sa di ... dành cho nhiều vị sa di ni ... dành cho một vị sa di ni ... vì nhu cầu của bản thân bởi vị nữ cư sĩ. Hoặc có đám cưới của con trai. Hoặc có đám cưới của con gái. Hoặc vị ấy bị bệnh. Hoặc vị ấy đọc lại bài kinh nổi tiếng. Nếu người nữ ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Các vị sẽ học bài kinh này trước khi bài kinh này bị quên lãng.” Hoặc người nữ ấy có công việc gì khác cần phải làm. Nếu người nữ ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, nên đi đến khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 38~38Này các tỳ khưu, trường hợp trú xá được cho xây, nhà một mái được cho xây, tòa nhà dài được cho xây, khu nhà lớn được cho xây, hang động được cho xây, phòng ở được cho xây, cổng ra vào được cho xây, nhà phục vụ được cho xây, nhà đốt lửa được cho xây, nhà làm thành được phép được cho xây, đường kinh hành được cho xây, gian nhà ở đường kinh hành được cho xây, giếng nước được cho xây, gian nhà ở giếng nước được cho xây, hồ trữ nước được cho xây, mái che được cho xây, tu viện được cho xây, khuôn viên của tu viện được cho xây dựng dành cho hội chúng bởi vị tỳ khưu ... dành cho hội chúng bởi vị tỳ khưu ni ... dành cho hội chúng bởi cô ni tu tập sự ... dành cho hội chúng bởi vị sa di ... dành cho hội chúng bởi vị sa di ni ... dành cho nhiều vị tỳ khưu ... dành cho một vị tỳ khưu ... dành cho hội chúng tỳ khưu ni ... dành cho nhiều vị tỳ khưu ni ... dành cho một vị tỳ khưu ni ... dành cho nhiều cô ni tu tập sự ... dành cho một cô ni tu tập sự ... dành cho nhiều vị sa di ... dành cho một vị sa di ... dành cho nhiều vị sa di ni ... dành cho một vị sa di ni ... vì nhu cầu của bản thân bởi vị sa di ni. Nếu cô ấy phái sứ giả đến gặp các tỳ khưu nói rằng: “Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi muốn cúng dường vật thí, muốn nghe Pháp, và muốn nhìn thấy các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, nên đi đến khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 39~39Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Vị ấy đã phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.”
Inda-bh 40~40Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày của năm hạng người là tỳ khưu, tỳ khưu ni, cô ni tu tập sự, sa di, sa di ni, ta cho phép đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt. Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày của năm hạng người này, ta cho phép đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 41~41Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người nuôi bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm dược phẩm cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi han, hoặc ta sẽ phục vụ.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 42~42Này các tỳ khưu, trường hợp có sự bực bội sanh khởi đến vị tỳ khưu. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Có sự bực bội đã sanh khởi đến tôi. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ làm dịu đi sự bực bội, hoặc ta sẽ nhờ người làm dịu đi, hoặc ta sẽ tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 43~43Này các tỳ khưu, trường hợp có nỗi ân hận sanh khởi đến vị tỳ khưu. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Có nỗi ân hận đã sanh khởi đến tôi. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ làm cho tan biến nỗi nghi hoặc, hoặc ta sẽ nhờ người làm cho tan biến, hoặc ta sẽ tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 44~44Này các tỳ khưu, trường hợp có tà kiến sanh khởi đến vị tỳ khưu. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Có tà kiến đã sanh khởi đến tôi. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ phân giải tà kiến, hoặc ta sẽ nhờ người phân giải, hoặc ta sẽ tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 45~45Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm tội nặng và là xứng đáng hành phạt parivāsa. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi đã phạm tội nặng, xứng đáng hành phạt parivāsa. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc ban cho hành phạt parivāsa, hoặc ta sẽ đọc tuyên ngôn, hoặc ta sẽ là người làm cho đủ nhóm.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 46~46Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu là xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc ban cho sự (thực hành) trở lại từ đầu, hoặc ta sẽ đọc tuyên ngôn, hoặc ta sẽ là người làm cho đủ nhóm.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 47~47Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu là xứng đáng hành phạt mānatta. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi xứng đáng hành phạt mānatta. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc ban cho hành phạt mānatta, hoặc ta sẽ đọc tuyên ngôn, hoặc ta sẽ là người làm cho đủ nhóm.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 48~48Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu là xứng đáng sự giải tội. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi xứng đáng sự giải tội. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc giải tội, hoặc ta sẽ đọc tuyên ngôn, hoặc ta sẽ là người làm cho đủ nhóm.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 49~49Này các tỳ khưu, trường hợp hội chúng có ý định tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đến vị tỳ khưu. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Hội chúng có ý định tiến hành hành sự đến tôi. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi tiến hành hành sự hoặc đổi sang (hành phạt) nhẹ hơn?” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 50~50Hoặc là khi hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đã được tiến hành đến vị ấy. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Hội chúng đã tiến hành hành sự đến tôi. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Làm thế nào để vị ấy có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự ấy?” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 51~51Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu ni bị bệnh. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người nuôi bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm dược phẩm cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi han, hoặc ta sẽ phục vụ.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 52~52Này các tỳ khưu, trường hợp có sự bực bội sanh khởi đến vị tỳ khưu ni. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Có sự bực bội đã sanh khởi đến tôi. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ làm dịu đi sự bực bội, hoặc ta sẽ nhờ người làm dịu đi, hoặc ta sẽ tiến hành việc giảng Pháp cho vị ni ấy.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 53~53Này các tỳ khưu, trường hợp có nỗi ân hận sanh khởi đến vị tỳ khưu ni. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Có nỗi ân hận đã sanh khởi đến tôi. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ làm cho tan biến nỗi nghi hoặc, hoặc ta sẽ nhờ người làm cho tan biến, hoặc ta sẽ tiến hành việc giảng Pháp cho vị ni ấy.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 54~54Này các tỳ khưu, trường hợp có tà kiến sanh khởi đến vị tỳ khưu ni. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Có tà kiến đã sanh khởi đến tôi. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ phân giải tà kiến, hoặc ta sẽ nhờ người phân giải, hoặc ta sẽ tiến hành việc giảng Pháp cho vị ni ấy.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 55~55Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu ni phạm tội nặng, xứng đáng hành phạt mānatta. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi đã phạm tội nặng, xứng đáng hành phạt mānatta. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc ban cho hành phạt mānatta.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 56~56Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu ni là xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc ban cho sự (thực hành) trở lại từ đầu.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 57~57Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu ni là xứng đáng sự giải tội. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi xứng đáng sự giải tội. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc giải tội.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 58~58Này các tỳ khưu, trường hợp hội chúng có ý định tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đến vị tỳ khưu ni. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Hội chúng có ý định tiến hành hành sự đến tôi. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi tiến hành hành sự hoặc đổi sang (hành phạt) nhẹ hơn?” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 59~59Hoặc là khi hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đã được tiến hành đến vị ni ấy. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Hội chúng đã tiến hành hành sự đến tôi. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Làm thế nào để vị ấy có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự ấy?” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 60~60Này các tỳ khưu, trường hợp vị ni tu tập sự bị bệnh. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người nuôi bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm dược phẩm cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi han, hoặc ta sẽ phục vụ.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 61~61Này các tỳ khưu, trường hợp có sự bực bội sanh khởi đến vị ni tu tập sự. … (như trên) … có nỗi ân hận sanh khởi đến vị ni tu tập sự. … (như trên) … có tà kiến sanh khởi đến vị ni tu tập sự. … (như trên) … các điều học của vị ni tu tập sự bị gián đoạn. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Các điều học của tôi bị gián đoạn. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc thọ trì các điều học.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 62~62Này các tỳ khưu, trường hợp vị ni tu tập sự có ý muốn được tu lên bậc trên. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi có ý muốn được tu lên bậc trên. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc tu lên bậc trên, hoặc ta sẽ đọc tuyên ngôn, hoặc ta sẽ là người làm cho đủ nhóm.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 63~63Này các tỳ khưu, trường hợp vị sa di bị bệnh. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người nuôi bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm dược phẩm cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi han, hoặc ta sẽ phục vụ.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 64~64Này các tỳ khưu, trường hợp có sự bực bội sanh khởi đến vị sa di. ... có nỗi ân hận sanh khởi đến vị sa di. ... có tà kiến sanh khởi đến vị sa di. ... vị sa di có ý muốn hỏi về mùa (an cư) mưa. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi có ý muốn hỏi về mùa (an cư) mưa. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ hỏi hoặc ta sẽ chỉ dạy.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 65~65Này các tỳ khưu, trường hợp vị sa di có ý muốn được tu lên bậc trên. Nếu vị ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi có ý muốn được tu lên bậc trên. Xin các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc tu lên bậc trên, hoặc ta sẽ đọc tuyên ngôn, hoặc ta sẽ là người làm cho đủ nhóm.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 66~66Này các tỳ khưu, trường hợp vị sa di ni bị bệnh. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người nuôi bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm dược phẩm cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi han, hoặc ta sẽ phục vụ.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 67~67Này các tỳ khưu, trường hợp có sự bực bội sanh khởi đến vị sa di ni. … (như trên) … có nỗi ân hận sanh khởi đến vị sa di ni. … (như trên) … có tà kiến sanh khởi đến vị sa di ni. … (như trên) … vị sa di ni có ý muốn hỏi về mùa (an cư) mưa. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi có ý muốn hỏi về mùa (an cư) mưa. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ hỏi hoặc ta sẽ chỉ dạy.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 68~68Này các tỳ khưu, trường hợp vị sa di ni có ý muốn thọ trì điều học. Nếu vị ni ấy phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi có ý muốn thọ trì điều học. Xin các ngài đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các ngài đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ nỗ lực về việc thọ trì các điều học.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 69~69Vào lúc bấy giờ, người mẹ của vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Bà ấy đã nhờ sứ giả đi đến gặp người con trai (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Con trai của tôi hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của người con trai.”
Inda-bh 70~70Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày của bảy hạng người thì nên đi khi được thỉnh mời, nhưng không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày của năm hạng người thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt,” và đây là mẹ của ta lại bị bệnh. Bà ta không phải là nữ cư sĩ, vậy ta nên thực hành như thế nào?”
Inda-bh 71~71Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày của bảy hạng người là tỳ khưu, tỳ khưu ni, cô ni tu tập sự, sa di, sa di ni, mẹ, và cha thì được đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt. Này các tỳ khưu, ta cho phép với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày của bảy hạng người này thì được đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 72~72Này các tỳ khưu, trường hợp người mẹ của vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu bà ấy nhờ sứ giả đi đến gặp người con trai (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Con trai của tôi hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của người con trai.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người nuôi bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm dược phẩm cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi han, hoặc ta sẽ phục vụ.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 73~73Này các tỳ khưu, trường hợp người cha của vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu ông ấy nhờ sứ giả đi đến gặp người con trai (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Con trai của tôi hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của đứa con trai.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi dầu không được thỉnh mời, nếu được thỉnh mời thì càng tốt (nghĩ rằng): “Ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thức ăn cho người nuôi bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm dược phẩm cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi han, hoặc ta sẽ phục vụ.” Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 74~74Này các tỳ khưu, trường hợp người anh (em) trai của vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu người ấy nhờ sứ giả đi đến gặp người con trai (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Anh (em) trai của tôi hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của người anh (em) trai.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi nếu được thỉnh mời, không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 75~75Này các tỳ khưu, trường hợp người chị (em) gái của vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu cô ấy nhờ sứ giả đi đến gặp vị tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Anh (em) trai của tôi hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của người anh (em) trai.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi nếu được thỉnh mời, không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 76~76Này các tỳ khưu, trường hợp thân quyến của vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu người ấy nhờ sứ giả đi đến gặp vị tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Đại đức hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của đại đức.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi nếu được thỉnh mời, không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.
Inda-bh 77~77Này các tỳ khưu, trường hợp người phụ giúp công việc cho vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu người ấy nhờ sứ giả đi đến gặp vị tỳ khưu (nói rằng): “Bởi vì tôi bị bệnh. Các vị tỳ khưu hãy đi đến. Tôi mong muốn sự đi đến của các vị tỳ khưu.” Này các tỳ khưu, với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày thì nên đi nếu được thỉnh mời, không (nên đi) khi không được thỉnh mời. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.”
Inda-bh 78~78Vào lúc bấy giờ, trú xá lớn của hội chúng bị sụp đổ. Có nam cư sĩ nọ đã cho xẻ một số gỗ ở trong rừng. Người ấy đã phái sứ giả đi đến gặp các tỳ khưu (nói rằng): “Nếu các đại đức có thể cho chuyển đi số gỗ ấy thì tôi sẽ dâng số gỗ ấy đến các đại đức.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đi với công việc cần phải làm của hội chúng. Việc trở về nên được thực hiện trong bảy ngày.”
Dứt tụng phẩm về việc cư trú mùa mưa.
Inda-bh 1~79Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ ở trong xứ Kosala, các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị khuấy nhiễu bởi các thú dữ. Chúng đã vồ lấy, chúng đã giết hại. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị khuấy nhiễu bởi các thú dữ. Chúng vồ lấy, chúng giết hại. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 2~80Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị khuấy nhiễu bởi các loài rắn. Chúng cắn, chúng giết hại. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 3~81Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị khuấy nhiễu bởi những kẻ trộm cướp. Chúng cướp đoạt, chúng đánh đập. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 4~82Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị khuấy nhiễu bởi các yêu tinh. Chúng nhập vào (thân), đoạt lấy thần trí. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 5~83Này các tỳ khưu, trường hợp ngôi làng mà các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị lửa đốt cháy. Các vị tỳ khưu bị khó nhọc bởi đồ ăn khất thực. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 6~84Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ trú ngụ mà các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị lửa đốt cháy. Các vị tỳ khưu bị khó nhọc về chỗ trú ngụ. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 7~85Này các tỳ khưu, trường hợp ngôi làng mà các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị nước ngập. Các vị tỳ khưu bị khó nhọc bởi đồ ăn khất thực. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 8~86Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ trú ngụ mà các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa bị nước ngập. Các vị tỳ khưu bị khó nhọc về chỗ trú ngụ. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 9~87Vào lúc bấy giờ, ngôi làng mà các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa ở tại trú xứ nọ đã di chuyển vì bọn trộm cướp. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đi đến ngôi làng.” Ngôi làng đã bị tách ra làm hai. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đi đến nhóm đông hơn.” Nhóm đông hơn không có đức tin, không lòng mộ đạo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đi đến nhóm có đức tin, có lòng mộ đạo.”
Inda-bh 10~88Vào lúc bấy giờ, tại trú xứ nọ trong xứ Kosala các vị tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa đã không nhận được sự đầy đủ theo nhu cầu về thức ăn thô thiển hoặc thượng hạng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa không nhận được sự đầy đủ theo nhu cầu về thức ăn thô thiển hoặc thượng hạng. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 11~89Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nhận được sự đầy đủ theo nhu cầu về thức ăn thô thiển hoặc thượng hạng, (nhưng) không nhận được các thức ăn thích hợp. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 12~90Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nhận được sự đầy đủ theo nhu cầu về thức ăn thô thiển hoặc thượng hạng, nhận được các thức ăn thích hợp, (nhưng) không nhận được các dược phẩm thích hợp. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 13~91Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nhận được sự đầy đủ theo nhu cầu về thức ăn thô thiển hoặc thượng hạng, nhận được các thức ăn thích hợp, nhận được các dược phẩm thích hợp, (nhưng) không nhận được người phục vụ phù hợp. (Nghĩ rằng): ‘Chính điều này là sự chướng ngại!’ rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 14~92Này các tỳ khưu, trường hợp người phụ nữ thỉnh mời vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đến, tôi cho ngài vàng khối, hoặc tôi cho ngài vàng ròng, hoặc tôi cho ngài ruộng, hoặc tôi cho ngài vườn, hoặc tôi cho ngài bò đực, hoặc tôi cho ngài bò cái, hoặc tôi cho ngài tôi trai, hoặc tôi cho ngài tớ gái, hoặc tôi cho ngài con gái ruột để làm vợ, hoặc tôi trở thành vợ của ngài, hoặc tôi đưa đến cho ngài người vợ khác.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Đức Thế Tôn đã nói là tâm thay đổi nhanh chóng. (Việc này) cũng có thể là nguy hiểm cho Phạm hạnh của ta” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 15~93Này các tỳ khưu, trường hợp cô gái điếm thỉnh mời … (như trên) … cô gái lỡ thời thỉnh mời … (như trên) … kẻ vô căn thỉnh mời … (như trên) … các thân quyến thỉnh mời … (như trên) … các vị vua thỉnh mời … (như trên) … những kẻ trộm cướp thỉnh mời … (như trên) … những kẻ vô lại thỉnh mời vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa rằng: “Thưa ngài, hãy đến, chúng tôi cho ngài vàng khối, hoặc chúng tôi cho ngài vàng ròng, hoặc chúng tôi cho ngài ruộng, hoặc chúng tôi cho ngài vườn, hoặc chúng tôi cho ngài bò đực, hoặc chúng tôi cho ngài bò cái, hoặc chúng tôi cho ngài tôi trai, hoặc chúng tôi cho ngài tớ gái, hoặc chúng tôi cho ngài con gái ruột để làm vợ, hoặc chúng tôi đưa đến cho ngài người vợ khác.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Đức Thế Tôn đã nói là tâm thay đổi nhanh chóng. (Việc này) cũng có thể là nguy hiểm cho Phạm hạnh của ta” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 16~94Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nhìn thấy của cải chôn giấu không có chủ. Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Đức Thế Tôn đã nói là tâm thay đổi nhanh chóng. (Việc này) cũng có thể là nguy hiểm cho Phạm hạnh của ta” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 17~95Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nhìn thấy nhiều vị tỳ khưu đang ra sức chia rẽ hội chúng. Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng. Hội chúng chớ có bị chia rẽ trong khi ta còn hiện diện” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 18~96Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ra sức chia rẽ hội chúng.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng. Hội chúng chớ có bị chia rẽ trong khi ta còn hiện diện” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 19~97Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ra sức chia rẽ hội chúng.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Các vị tỳ khưu ấy là những người bạn của ta. Ta sẽ nói với họ rằng: ‘Này các đại đức, đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các đại đức chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.’ Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 20~98Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ra sức chia rẽ hội chúng.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Các vị tỳ khưu ấy không phải là những người bạn của ta. Tuy nhiên những người bạn của những người ấy là những người bạn của ta. Vậy ta sẽ nói với những người bạn của ta. Khi họ đã được nói, họ sẽ nói với những người ấy rằng: ‘Này các đại đức, đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các đại đức chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.’ Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 21~99Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu đã chia rẽ hội chúng.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Các vị tỳ khưu ấy là những người bạn của ta. Ta sẽ nói với họ rằng: ‘Này các đại đức, đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các đại đức chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.’ Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 22~100Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu đã chia rẽ hội chúng.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Các vị tỳ khưu ấy không phải là những người bạn của ta, tuy nhiên những người bạn của những người ấy là những người bạn của ta. Vậy ta sẽ nói với những người bạn của ta. Khi họ đã được nói, họ sẽ nói với những người ấy rằng: ‘Này các đại đức, đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các đại đức chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.’ Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 23~101Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ni ra sức chia rẽ hội chúng.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Các vị tỳ khưu ni ấy là những người bạn của ta, ta sẽ nói với các cô ấy rằng: ‘Này các chị gái, đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các chị gái chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.’ Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 24~102Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ni ra sức chia rẽ hội chúng.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Các vị tỳ khưu ni ấy không phải là những người bạn của ta, tuy nhiên các cô bạn của những cô ấy là những người bạn của ta. Vậy ta sẽ nói với các cô bạn của ta. Khi họ đã được nói, họ sẽ nói với những cô ấy rằng: ‘Này các chị gái, đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các chị gái chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.’ Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 25~103Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ni đã chia rẽ hội chúng.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Các vị tỳ khưu ni ấy là những người bạn của ta, ta sẽ nói với các cô ấy rằng: ‘Này các chị gái, đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các chị gái chớ có thích thú với việc chia rẽ hội chúng.’ Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.
Inda-bh 26~104Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa nghe được rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia nhiều vị tỳ khưu ni đã chia rẽ hội chúng.” Trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu khởi ý như vầy: “Các vị tỳ khưu ni ấy không phải là những người bạn của ta, tuy nhiên các cô bạn của những cô ấy là những người bạn của ta. Vậy ta sẽ nói với các cô bạn của ta. Khi họ đã được nói, họ sẽ nói với những cô ấy rằng: ‘Này các chị gái, đức Thế Tôn đã nói rằng việc chia rẽ hội chúng là nghiêm trọng, các chị gái chớ có vui mừng với việc chia rẽ hội chúng.’ Họ sẽ làm theo lời nói của ta, họ sẽ lắng nghe, họ sẽ để vào tai” rồi nên ra đi. Vô tội cho việc cắt đứt mùa (an cư) mưa.”
Inda-bh 27~105Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định vào mùa (an cư) mưa ở khu rào gia súc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vào mùa (an cư) mưa ở khu rào gia súc.” Khu rào gia súc di chuyển. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép di chuyển theo khu rào gia súc.”
Inda-bh 28~106Vào lúc bấy giờ, khi việc vào mùa (an cư) mưa đang đến gần, có vị tỳ khưu nọ có ý định đi theo đoàn xe tải. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vào mùa (an cư) mưa ở trong xe tải.”
Inda-bh 29~107Vào lúc bấy giờ, khi việc vào mùa (an cư) mưa đang đến gần, có vị tỳ khưu nọ có ý định đi theo chiếc thuyền. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vào mùa (an cư) mưa ở trong chiếc thuyền.”
Inda-bh 30~108Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa ở trong bọng cây. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như là các yêu tinh.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên vào mùa (an cư) mưa ở trong bọng cây; vị nào vào thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 31~109Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đã vào mùa (an cư) mưa ở trên chạc ba của cây. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như là các người săn thú.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên vào mùa (an cư) mưa ở trên chạc ba của cây; vị nào vào thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 32~110Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa ở ngoài trời. Trong khi trời mưa, các vị chạy đến gốc cây, đến hốc cây nimba. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên vào mùa (an cư) mưa ở ngoài trời; vị nào vào thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 33~111Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa không có chỗ trú ngụ nên bị khó nhọc bởi vì sự lạnh, bởi vì sự nóng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, vị không có chỗ trú ngụ không nên vào mùa (an cư) mưa; vị nào vào thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 34~112Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa ở nhà quàng tử thi. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như là những người thiêu xác chết.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên vào mùa (an cư) mưa ở nhà quàng tử thi; vị nào vào thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 35~113Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa ở chiếc lọng che. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như là những người chăn bò.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên vào mùa (an cư) mưa ở chiếc lọng che; vị nào vào thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 36~114Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu vào mùa (an cư) mưa ở trong vại đất nung. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên vào mùa (an cư) mưa ở trong vại đất nung; vị nào vào thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 37~115Vào lúc bấy giờ, hội chúng ở thành Sāvatthi thực hiện điều thỏa thuận là: “Không được cho xuất gia trong mùa (an cư) mưa.” Người cháu trai của bà Visākhā mẹ của Migāra đã đi đến gặp các vị tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này đạo hữu, hội chúng thực hiện điều thỏa thuận là: ‘Không được cho xuất gia trong mùa (an cư) mưa.’ Này đạo hữu, hãy chờ đến khi các vị tỳ khưu trải qua mùa (an cư) mưa; khi đã trải qua mùa (an cư) mưa các vị sẽ cho xuất gia.”
Inda-bh 38~116Sau đó, khi đã trải qua mùa (an cư) mưa, các vị tỳ khưu ấy đã nói với người cháu trai của bà Visākhā mẹ của Migāra điều này:—“Này đạo hữu, giờ đây hãy đi đến và hãy xuất gia.” Người ấy đã nói như vầy:—“Thưa các ngài, nếu tôi đã được xuất gia thì tôi còn có thể vui thích. Thưa các ngài, giờ đây tôi sẽ không xuất gia.” Bà Visākhā mẹ của Migāra phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các ngài đại đức lại thực hiện điều thỏa thuận có hình thức như vầy: ‘Không được cho xuất gia trong mùa (an cư) mưa,’ có khi nào mà Giáo Pháp lại không được thực hành?”
Inda-bh 39~117Các tỳ khưu đã nghe được bà Visākhā mẹ của Migāra phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên thực hiện điều thỏa thuận có hình thức như vầy: ‘Không được cho xuất gia trong mùa (an cư) mưa.’ Vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 40~118Vào lúc bấy giờ, chỗ cư trú mùa mưa của đức vua Pasenadi xứ Kosala đã được đại đức Upananda con trai dòng Sakya nhận lời cho thời điểm trước.
Inda-bh 41~119Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vào khoảng giữa đường vị ấy đã nhìn thấy hai trú xứ có nhiều y. Vị ấy đã khởi ý điều này: “Hay là ta nên sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ này, như thế có nhiều y sẽ được phát sanh đến ta?”
Inda-bh 42~120Vị ấy đã sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ ấy. Đức vua Pasenadi xứ Kosala phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao ngài đại đức Upananda con trai dòng Sakya sau khi nhận lời chỗ cư trú mùa mưa của chúng tôi lại nuốt lời? Không phải rằng đức Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã khiển trách việc nói láo và khen ngợi việc tránh xa sự nói láo hay sao?”
Inda-bh 43~121Các tỳ khưu đã nghe được đức vua Pasenadi xứ Kosala phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao đại đức Upananda con trai dòng Sakya sau khi nhận lời chỗ cư trú mùa mưa của đức vua Pasenadi xứ Kosala lại nuốt lời? Không phải rằng đức Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã khiển trách việc nói láo và khen ngợi việc tránh xa sự nói láo hay sao?”
Inda-bh 44~122Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Upananda con trai dòng Sakya rằng:—“Này Upananda, nghe nói ngươi sau khi nhận lời chỗ cư trú mùa mưa của đức vua Pasenadi xứ Kosala lại nuốt lời, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi sau khi nhận lời chỗ cư trú mùa mưa của đức vua Pasenadi xứ Kosala lại nuốt lời? Này kẻ rồ dại, không phải ta bằng nhiều phương thức đã khiển trách việc nói láo và khen ngợi việc tránh xa sự nói láo hay sao? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
Inda-bh 45~123—“Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vào khoảng giữa đường vị ấy nhìn thấy hai trú xứ có nhiều y. Vị ấy khởi ý như vầy: “Hay là ta nên sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ này, như thế có nhiều y sẽ được phát sanh đến ta?” Vị ấy sống mùa (an cư) mưa ở hai trú xứ ấy. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
Inda-bh 46~124Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
Inda-bh 47~125Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
Inda-bh 48~126Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
Inda-bh 49~127Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
Inda-bh 50~128Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy vượt quá (thời hạn) bảy ngày ấy ở bên ngoài. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
Inda-bh 51~129Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy thực hiện việc trở về trong (thời hạn) bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, thời điểm trước của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.
Inda-bh 52~130Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Bảy ngày trước lễ Pavāraṇā, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có thể trở lại chỗ cư trú ấy hoặc không có thể trở lại., này các tỳ khưu, thời điểm trước của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.
Inda-bh 53~131Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ Uposatha, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
Inda-bh 54~132Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ Uposatha, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. ―nt― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. ―nt― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. ―nt― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy vượt quá (thời hạn) bảy ngày ấy ở bên ngoài. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy thời điểm trước không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời. ―nt― Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy thực hiện việc trở về trong (thời hạn) bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, thời điểm trước của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.
Inda-bh 55~133Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm trước. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ Uposatha, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Bảy ngày trước ngày lễ Pavāraṇā, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có thể trở lại chỗ cư trú ấy hoặc không có thể trở lại, này các tỳ khưu, thời điểm trước của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.
Inda-bh 56~134Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
Inda-bh 57~135Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
Inda-bh 58~136Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
Inda-bh 59~137Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
Inda-bh 60~138Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy vượt quá (thời hạn) bảy ngày ấy ở bên ngoài. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
Inda-bh 61~139Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy thực hiện việc trở về trong (thời hạn) bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.
Inda-bh 62~140Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Trong khi đi đến chỗ cư trú ấy, vị ấy thực hiện lễ Uposatha ở bên ngoài và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Bảy ngày trước ngày trăng tròn tháng Kattika là ngày lễ hội Cātumāsinī, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có thể trở lại chỗ cư trú ấy hoặc không có thể trở lại, này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.
Inda-bh 63~141Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ Uposatha, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời.
Inda-bh 64~142Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ Uposatha, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Rồi ngay ngày hôm ấy, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. … (như trên) … Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, không vì công việc cần thiết. … (như trên) … Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, có công việc cần thiết. … (như trên) … Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy vượt quá (thời hạn) bảy ngày ấy ở bên ngoài. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy không được ghi nhận và tội dukkaṭa ở sự nhận lời. … (như trên) … Sau khi sống hai ba ngày, vị ấy ra đi, bởi công việc có thể giải quyết trong bảy ngày. Vị ấy thực hiện việc trở về trong (thời hạn) bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.
Inda-bh 65~143Này các tỳ khưu, trường hợp chỗ cư trú mùa mưa đã được vị tỳ khưu nhận lời cho thời điểm sau. Vị ấy sau khi đi đến chỗ cư trú ấy, thực hiện lễ Uposatha, và đến được trú xá vào ngày đầu tháng. Vị ấy sắp đặt chỗ trú ngụ, đem lại nước uống nước rửa, quét phòng ốc. Bảy ngày trước ngày trăng tròn tháng Kattika là ngày lễ hội Cātumāsinī, vị ấy ra đi do công việc cần thiết. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy có thể trở lại chỗ cư trú ấy hoặc không có thể trở lại, này các tỳ khưu, thời điểm sau của vị tỳ khưu ấy được ghi nhận và vô tội ở sự nhận lời.”
Dứt chương Vào Mùa Mưa là chương thứ ba.
Trong chương này có năm mươi hai sự việc.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Inda-bh 1~144(Cho phép) vào mùa (an cư mưa), và luôn cả khi nào? bao nhiêu (thời điểm)? và trong mùa (an cư) mưa, các vị không muốn và cố tình (bỏ đi), (muốn) dời lại, người nam cư sĩ.
Inda-bh 2~145Vị bị bệnh, mẹ và cha, anh (em) trai, và thân quyến, người làm công việc cho các tỳ khưu, trú xá, các thú dữ, và các loại rắn nữa.
Inda-bh 3~146Những kẻ trộm cướp, luôn cả các yêu tinh, với cả hai đều bị cháy, vì nước ngập, (ngôi làng) đã đi chuyển, nhóm đông hơn, và các thí chủ.
Inda-bh 4~147(Thức ăn) thô thiển hoặc hảo hạng, dược phẩm thích hợp, với người phục vụ, phụ nữ, gái điếm, cô gái lỡ thời, kẻ vô căn, cùng thân quyến.
Inda-bh 5~148Đức vua, các kẻ cướp, bọn bất lương, của cải chôn giấu, và sự các chia rẽ với tám trường hợp, bãi nhốt thú, và đoàn xe tải, chiếc thuyền, ở bọng cây, và ở chạc ba cây.
Inda-bh 6~149Sự cư trú mùa mưa ở ngoài trời, và với vị không chỗ trú ngụ, các nhà quàng tử thi, ở chiếc lọng che, và các vị vào mùa (an cư) mưa ở vại đất nung.
Inda-bh 7~150Điều thỏa thuận, sau khi nhận lời, và các lễ Uposatha ở bên ngoài, các thời điểm trước và các thời điểm sau nên kết hợp theo cách thức như thế.
Inda-bh 8~151Vị ra đi không vì công việc cần thiết, và có công việc cần thiết là tương tợ như thế ấy, sau khi sống hai ba ngày, và bởi công việc trong bảy ngày.
Inda-bh 9~152Và bảy ngày sắp đến, vị có thể trở lại, hoặc không có thể. Về các khoảng giữa ở phần tóm lược các sự việc, thì nên xem xét đường lối của mạch văn.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Great Division
The chapter on entering the rainy-season residence
1. The instruction to enter the rainy-season residence
107. Sự cho phép việc an cư mùa mưa
Tena samayena buddho bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena bhagavatā bhikkhūnaṁ vassāvāso apaññatto hoti. Tedha bhikkhū hemantampi gimhampi vassampi cārikaṁ caranti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā hemantampi gimhampi vassampi cārikaṁ carissanti, haritāni tiṇāni sammaddantā, ekindriyaṁ jīvaṁ viheṭhentā, bahū khuddake pāṇe saṅghātaṁ āpādentā. Ime hi nāma aññatitthiyā durakkhātadhammā vassāvāsaṁ allīyissanti saṅkasāyissanti. Ime hi nāma sakuntakā rukkhaggesu kulāvakāni karitvā vassāvāsaṁ allīyissanti saṅkasāyissanti. Ime pana samaṇā sakyaputtiyā hemantampi gimhampi vassampi cārikaṁ caranti, haritāni tiṇāni sammaddantā, ekindriyaṁ jīvaṁ viheṭhentā, bahū khuddake pāṇe saṅghātaṁ āpādentā”ti.
Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, vassaṁ upagantun”ti.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kadā nu kho vassaṁ upagantabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, vassāne vassaṁ upagantun”ti.
At one time the Buddha was staying at Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrel sanctuary. At that time the Buddha had not yet laid down the rainy-season residence for the monks. And so the monks were wandering about in the winter, in the summer, and also during the rainy season. People complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics go wandering in the winter, in the summer, and even during the rainy season? They’re trampling down the green grass, oppressing one-sensed life, and destroying many small creatures. Even the monastics of other religions, with their flawed teachings, settle down for the rainy season. Even birds make a nest in the top of a tree and settle down for the rainy-season. But not so the Sakyan monastics.”
The monks heard the complaints of those people and told the Buddha. Soon afterwards he gave a teaching and addressed the monks:
“You should enter the rainy-season residence.”
The monks thought, “When should we enter the rains residence?” They told the Buddha.
“You should enter the rainy-season residence during the rainy season.”
184. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, bậc Thế Tôn, đang trú tại Rājagaha, ở Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Và vào lúc bấy giờ, việc an cư mùa mưa chưa được đức Thế Tôn chế định cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu ở đây đi du hành cả trong mùa đông, mùa hè, và mùa mưa. Dân chúng phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: ‘Tại sao các sa-môn Thích tử lại đi du hành cả trong mùa đông, mùa hè, và mùa mưa, giẫm đạp lên cỏ xanh, làm hại sinh mạng độc căn, và gây tổn hại cho nhiều sinh vật nhỏ bé? Ngay cả những người theo ngoại đạo có giáo pháp được thuyết giảng tồi tệ này cũng còn ở yên và ẩn dật trong mùa mưa. Ngay cả những con chim này, sau khi làm tổ trên ngọn cây, cũng ở yên và ẩn dật trong mùa mưa. Nhưng các sa-môn Thích tử này lại đi du hành cả trong mùa đông, mùa hè, và mùa mưa, giẫm đạp lên cỏ xanh, làm hại sinh mạng độc căn, và gây tổn hại cho nhiều sinh vật nhỏ bé.’ Các tỳ khưu đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, chỉ trích của những người ấy. Sau đó, các tỳ khưu ấy đã trình bày sự việc này lên đức Thế Tôn. Bấy giờ, nhân sự việc này, nhân duyên sự này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép nhập mùa mưa.’ Bấy giờ, các tỳ khưu khởi lên ý nghĩ: ‘Vậy khi nào nên nhập mùa mưa?’ Họ đã trình bày sự việc này lên đức Thế Tôn. ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép nhập mùa mưa vào mùa mưa.’
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kati nu kho vassūpanāyikā”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
The monks thought, “How many entries to the rains residence are there?”
Bấy giờ, các tỳ khưu khởi lên ý nghĩ: ‘Vậy có bao nhiêu cách nhập mùa mưa?’ Họ đã trình bày sự việc này lên đức Thế Tôn.
“Dvemā, bhikkhave, vassūpanāyikā—purimikā, pacchimikā. Aparajjugatāya āsāḷhiyā purimikā upagantabbā, māsagatāya āsāḷhiyā pacchimikā upagantabbā—imā kho, bhikkhave, dve vassūpanāyikā”ti.
“There are two entries to the rainy-season residence: the first and the second. The first should be entered on the day after the full moon of July and the second one month after the same full moon.”
Họ đã trình bày. ‘Này các tỳ khưu, có hai cách nhập mùa mưa này: tiền an cư và hậu an cư. Tiền an cư nên được nhập vào ngày hôm sau ngày rằm tháng Āsāḷhī. Hậu an cư nên được nhập vào ngày hôm sau ngày rằm tháng Āsāḷhī đã qua được một tháng. Này các tỳ khưu, đây chính là hai cách nhập mùa mưa.’
2. Vassānecārikāpaṭikkhepādi
2. The prohibition against wandering during the rainy season, etc.
108. Sự từ bỏ việc du hành trong mùa mưa, v.v...
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū vassaṁ upagantvā antarāvassaṁ cārikaṁ caranti. Manussā tatheva ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā hemantampi gimhampi vassampi cārikaṁ carissanti, haritāni tiṇāni sammaddantā, ekindriyaṁ jīvaṁ viheṭhentā, bahū khuddake pāṇe saṅghātaṁ āpādentā. Ime hi nāma aññatitthiyā durakkhātadhammā vassāvāsaṁ allīyissanti saṅkasāyissanti. Ime hi nāma sakuntakā rukkhaggesu kulāvakāni karitvā vassāvāsaṁ allīyissanti saṅkasāyissanti. Ime pana samaṇā sakyaputtiyā hemantampi gimhampi vassampi cārikaṁ caranti, haritāni tiṇāni sammaddantā, ekindriyaṁ jīvaṁ viheṭhentā, bahū khuddake pāṇe saṅghātaṁ āpādentā”ti.
Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma chabbaggiyā bhikkhū vassaṁ upagantvā antarāvassaṁ cārikaṁ carissantī”ti? Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, vassaṁ upagantvā purimaṁ vā temāsaṁ pacchimaṁ vā temāsaṁ avasitvā cārikā pakkamitabbā. Yo pakkameyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Soon afterwards the monks from the group of six entered the rains residence and then went wandering during the rainy season. People complained and criticized them just as they had before.
The monks heard the complaints of those people and the monks of few desires complained and criticized them, “How could the monks from the group of six enter the rains residence and then go wandering during the rainy season?” And they told the Buddha. Soon afterwards he gave a teaching and addressed the monks:
“After entering the rainy-season residence, you should stay put for the first or the second three-month period before you go wandering. If you go wandering during the rainy-season residence period, you commit an offense of wrong conduct.”
185. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sau khi đã an cư mùa mưa lại đi du hành trong mùa mưa. Dân chúng đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích y như trước rằng: – ‘Tại sao các sa-môn Thích tử lại đi du hành cả trong mùa đông, mùa hè, và mùa mưa, giẫm đạp lên cỏ xanh tươi, làm tổn hại đến sinh mạng đơn căn, và gây ra sự hủy hoại cho nhiều sinh vật nhỏ bé? Ngay cả những người ngoại đạo này, với giáo pháp được thuyết giảng tồi tệ, cũng ẩn mình và ở yên trong mùa mưa. Ngay cả những con chim này, sau khi làm tổ trên ngọn cây, cũng ẩn mình và ở yên trong mùa mưa. Còn các sa-môn Thích tử này lại đi du hành cả trong mùa đông, mùa hè, và mùa mưa, giẫm đạp lên cỏ xanh tươi, làm tổn hại đến sinh mạng đơn căn, và gây ra sự hủy hoại cho nhiều sinh vật nhỏ bé.’ Các tỳ khưu đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, và chỉ trích của những người ấy. Các vị tỳ khưu thiểu dục ... vân vân ... đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: – ‘Tại sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư sau khi đã an cư mùa mưa lại đi du hành trong mùa mưa?’ Sau đó, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân sự việc này, nhân trường hợp này, sau khi thuyết một bài pháp thoại, đã gọi các tỳ khưu và dạy rằng: – ‘Này các tỳ khưu, sau khi đã an cư mùa mưa, không được ra đi du hành khi chưa ở trọn ba tháng đầu hoặc ba tháng cuối. Vị nào ra đi, phạm tội tác ác.’
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū na icchanti vassaṁ upagantuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, vassaṁ na upagantabbaṁ. Yo na upagaccheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
The monks from the group of six did not want to enter the rains residence.
“You should enter the rainy-season residence. If you don’t, you commit an offense of wrong conduct.”
186. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư không muốn an cư mùa mưa. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn dạy rằng:) – ‘Này các tỳ khưu, phải an cư mùa mưa. Vị nào không an cư, phạm tội tác ác.’
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū tadahu vassūpanāyikāya vassaṁ anupagantukāmā sañcicca āvāsaṁ atikkamanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, tadahu vassūpanāyikāya vassaṁ anupagantukāmena sañcicca āvāso atikkamitabbo. Yo atikkameyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On the day of the entry to the rains residence, the monks from the group of six deliberately bypassed a monastery because they did not want to enter the rains residence.
“On the day of the entry to the rainy-season residence, you shouldn’t deliberately bypass a monastery because you don’t want to enter the rainy-season residence. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, vào đúng ngày an cư mùa mưa, các tỳ khưu nhóm Lục Sư vì không muốn an cư mùa mưa nên đã cố ý đi qua trú xứ. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn dạy rằng:) – ‘Này các tỳ khưu, vào đúng ngày an cư mùa mưa, vị không muốn an cư mùa mưa không được cố ý đi qua trú xứ. Vị nào đi qua, phạm tội tác ác.’
Tena kho pana samayena rājā māgadho seniyo bimbisāro vassaṁ ukkaḍḍhitukāmo bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pāhesi—
At one time King Seniya Bimbisāra of Magadha wanted to postpone the rains residence. He sent a message to the monks:
Vào lúc bấy giờ, vua Bimbisāra Seniya xứ Māgadha có ý muốn dời lại (ngày bắt đầu) mùa an cư,
“Anujānāmi, bhikkhave, rājūnaṁ anuvattitun”ti.
“You should comply with the wishes of kings.”
(Vua) đã gửi một sứ giả đến các tỳ khưu với lời nhắn: – ‘Lành thay nếu các ngài tôn quý sẽ an cư mùa mưa vào kỳ trăng sáng của tháng tới.’ (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn dạy rằng:) – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép (các ngươi) làm theo (ý của) các vị vua.’
3. Sattāhakaraṇīyānujānana
3. The allowance for seven-day business
109. Sự cho phép về công việc bảy ngày
Atha kho bhagavā rājagahe yathābhirantaṁ viharitvā yena sāvatthi tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sāvatthi tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena kosalesu janapade udenena upāsakena saṅghaṁ uddissa vihāro kārāpito hoti. So bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pāhesi—“āgacchantu bhadantā, icchāmi dānañca dātuṁ, dhammañca sotuṁ, bhikkhū ca passitun”ti.
Bhikkhū evamāhaṁsu—“bhagavatā, āvuso, paññattaṁ—‘na vassaṁ upagantvā purimaṁ vā temāsaṁ pacchimaṁ vā temāsaṁ avasitvā cārikā pakkamitabbā’ti. Āgametu udeno upāsako, yāva bhikkhū vassaṁ vasanti. Vassaṁvuṭṭhā āgamissanti. Sace panassa accāyikaṁ karaṇīyaṁ, tattheva āvāsikānaṁ bhikkhūnaṁ santike vihāraṁ patiṭṭhāpetū”ti.
Udeno upāsako ujjhāyati khiyyati vipāceti—“kathañhi nāma bhadantā mayā pahite na āgacchissanti. Ahañhi dāyako kārako saṅghupaṭṭhāko”ti.
Assosuṁ kho bhikkhū udenassa upāsakassa ujjhāyantassa khiyyantassa vipācentassa. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, sattannaṁ sattāhakaraṇīyena pahite gantuṁ, na tveva appahite. Bhikkhussa, bhikkhuniyā, sikkhamānāya, sāmaṇerassa, sāmaṇeriyā, upāsakassa, upāsikāya—anujānāmi, bhikkhave, imesaṁ sattannaṁ sattāhakaraṇīyena pahite gantuṁ, na tveva appahite. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
When the Buddha had stayed at Rājagaha for as long as he liked, he set out wandering toward Sāvatthī. When he eventually arrived, he stayed in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery.
At that time the lay follower Udena had had a dwelling built for the Sangha in the Kosalan country. He sent a message to the monks: “Please come, venerables, I wish to make an offering, hear the Teaching, and see the monks.”
The monks replied, “The Buddha has laid down a rule that a monk who’s entered the rains residence shouldn’t go wandering until after the rains. Please wait, Udena. Once we’ve completed the rains residence, we’ll come. But if the matter is urgent, then give the dwelling in the presence of the local monks.”
Udena complained and criticized them, “How can the venerables not come when I’ve sent them a message? I’m a donor and I provide services. I’m a supporter of the Sangha!”
The monks heard his complaints and they told the Buddha. Soon afterwards he gave a teaching and addressed the monks:
“If any of seven kinds of persons—a monk, a nun, a trainee nun, a novice monk, a novice nun, a male lay follower, or a female lay follower—asks you to come, I allow you to go for seven days, but only if you’re asked. And you should return within seven days.”
Male lay followers
187. Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi trú tại Rājagaha tùy thích, đã lên đường du hành đến Sāvatthī. Du hành tuần tự, ngài đã đến Sāvatthī. Tại đó, ở Sāvatthī, đức Thế Tôn trú tại tu viện Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, tại xứ Kosala, một nam cư sĩ tên là Udena đã cho xây dựng một tu viện dâng đến Tăng đoàn. Vị ấy đã gửi một sứ giả đến các tỳ khưu với lời nhắn: – ‘Xin các ngài tôn quý hãy đến. Con muốn cúng dường, muốn nghe Pháp, và muốn gặp các tỳ khưu.’ Các tỳ khưu đã trả lời như sau: – ‘Này hiền hữu, đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Sau khi đã an cư mùa mưa, không được ra đi du hành khi chưa ở trọn ba tháng đầu hoặc ba tháng cuối.’ Xin nam cư sĩ Udena hãy chờ đợi trong khi các tỳ khưu đang an cư mùa mưa. Sau khi mãn mùa mưa, các vị sẽ đến. Tuy nhiên, nếu ông ấy có việc khẩn cấp cần làm, hãy dâng cúng tu viện cho các tỳ khưu đang trú tại nơi đó.’ Nam cư sĩ Udena đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: – ‘Tại sao các ngài tôn quý lại không đến khi được tôi mời? Tôi là người thí chủ, người hộ trì, người phục vụ Tăng đoàn.’ Các tỳ khưu đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, và chỉ trích của nam cư sĩ Udena. Sau đó, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân sự việc này, nhân trường hợp này, sau khi thuyết một bài pháp thoại, đã gọi các tỳ khưu và dạy rằng: – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép đi vì công việc bảy ngày khi được một trong bảy hạng người mời, nhưng không phải khi không được mời. (Bảy hạng người đó là:) tỳ khưu, tỳ khưu ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ. Này các tỳ khưu, Ta cho phép đi vì công việc bảy ngày khi được một trong bảy hạng người này mời, nhưng không phải khi không được mời. Phải trở về trong vòng bảy ngày.’
Idha pana, bhikkhave, upāsakena saṅghaṁ uddissa vihāro kārāpito hoti. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘āgacchantu bhadantā, icchāmi dānañca dātuṁ, dhammañca sotuṁ, bhikkhū ca passitun’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, pahite, na tveva appahite. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
“It may happen, monks, that a male lay follower has had a dwelling built for the Sangha and sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I wish to make an offering, hear the Teaching, and see the monks.’ You should go for seven days, but only if you’re asked. And you should return within seven days.
188. Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có trường hợp một nam cư sĩ đã cho xây dựng một tu viện dâng đến Tăng đoàn. Nếu vị ấy gửi một sứ giả đến các tỳ khưu với lời nhắn: – ‘Xin các ngài tôn quý hãy đến. Con muốn cúng dường, muốn nghe Pháp, và muốn gặp các tỳ khưu,’ thì này các tỳ khưu, được phép đi vì công việc bảy ngày, khi được mời, nhưng không phải khi không được mời. Phải trở về trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, upāsakena saṅghaṁ uddissa aḍḍhayogo kārāpito hoti …pe… pāsādo kārāpito hoti … hammiyaṁ kārāpitaṁ hoti … guhā kārāpitā hoti … pariveṇaṁ kārāpitaṁ hoti … koṭṭhako kārāpito hoti … upaṭṭhānasālā kārāpitā hoti … aggisālā kārāpitā hoti … kappiyakuṭi kārāpitā hoti … vaccakuṭi kārāpitā hoti … caṅkamo kārāpito hoti … caṅkamanasālā kārāpitā hoti … udapāno kārāpito hoti … udapānasālā kārāpitā hoti … jantāgharaṁ kārāpitaṁ hoti … jantāgharasālā kārāpitā hoti … pokkharaṇī kārāpitā hoti … maṇḍapo kārāpito hoti … ārāmo kārāpito hoti … ārāmavatthu kārāpitaṁ hoti. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘āgacchantu bhadantā, icchāmi dānañca dātuṁ, dhammañca sotuṁ, bhikkhū ca passitun’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, pahite, na tveva appahite. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may happen that a male lay follower has had a stilt house built for the Sangha, has had a cave built, a yard, a gatehouse, an assembly hall, a water-boiling shed, a food-storage hut, a restroom, a walking-meditation path, an indoor walking-meditation path, a well, a well house, a sauna, a sauna shed, a pond, a roof cover, a monastery, or has had a site for a monastery prepared for the Sangha, and sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I wish to make an offering, hear the Teaching, and see the monks.’ You should go for seven days, but only if you’re asked. And you should return within seven days.
Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị nam cận sự vì mục đích dâng cúng cho Tăng chúng đã cho xây dựng ngôi tịnh xá mái cong một phía ... cho đến ... đã cho xây dựng nền đất của khu vườn. Nếu vị ấy có phái người đưa tin đến các vị tỳ khưu rằng: ‘Kính bạch chư Đại đức, xin các Ngài quang lâm, con có ước muốn được dâng cúng vật thực, được nghe Pháp, và được gặp gỡ các vị tỳ khưu,’ này các Tỳ khưu, khi được phái người đến mời, nên đi với công việc có thể thực hiện trong bảy ngày, nhưng không nên đi khi không được phái người đến mời. Việc trở về nên được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, upāsakena sambahule bhikkhū uddissa …pe… ekaṁ bhikkhuṁ uddissa vihāro kārāpito hoti …pe… aḍḍhayogo kārāpito hoti … pāsādo kārāpito hoti … hammiyaṁ kārāpitaṁ hoti … guhā kārāpitā hoti … pariveṇaṁ kārāpitaṁ hoti … koṭṭhako kārāpito hoti … upaṭṭhānasālā kārāpitā hoti … aggisālā kārāpitā hoti … kappiyakuṭi kārāpitā hoti … vaccakuṭi kārāpitā hoti … caṅkamo kārāpito hoti … caṅkamanasālā kārāpitā hoti … udapāno kārāpito hoti … udapānasālā kārāpitā hoti … jantāgharaṁ kārāpitaṁ hoti … jantāgharasālā kārāpitā hoti … pokkharaṇī kārāpitā hoti … maṇḍapo kārāpito hoti … ārāmo kārāpito hoti … ārāmavatthu kārāpitaṁ hoti. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘āgacchantu bhadantā, icchāmi dānañca dātuṁ, dhammañca sotuṁ, bhikkhū ca passitun’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, pahite, na tveva appahite. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may happen that a male lay follower has had a dwelling built for a number of monks … has had a dwelling built for a single monk, has had a stilt house built, a cave, a yard, a gatehouse, an assembly hall, a water-boiling shed, a food-storage hut, a restroom, a walking-meditation path, an indoor walking-meditation path, a well, a well house, a sauna, a sauna shed, a pond, a roof cover, a monastery, or has had a site for a monastery prepared, and sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I wish to make an offering, hear the Teaching, and see the monks.’ You should go for seven days, but only if you’re asked. And you should return within seven days.
Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị nam cận sự vì mục đích dâng cúng cho nhiều vị tỳ khưu ... cho đến ... vì mục đích dâng cúng cho một vị tỳ khưu đã cho xây dựng ngôi trú xá ... đã cho xây dựng nền đất của khu vườn. Nếu vị ấy có phái người đưa tin đến các vị tỳ khưu rằng: ‘Kính bạch chư Đại đức, xin các Ngài quang lâm, con có ước muốn được dâng cúng vật thực, được nghe Pháp, và được gặp gỡ các vị tỳ khưu,’ này các Tỳ khưu, khi được phái người đến mời, nên đi với công việc có thể thực hiện trong bảy ngày, nhưng không nên đi khi không được phái người đến mời. Việc trở về nên được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, upāsakena bhikkhunisaṅghaṁ uddissa …pe… sambahulā bhikkhuniyo uddissa …pe… ekaṁ bhikkhuniṁ uddissa …pe… sambahulā sikkhamānāyo uddissa …pe… ekaṁ sikkhamānaṁ uddissa …pe… sambahule sāmaṇere uddissa …pe… ekaṁ sāmaṇeraṁ uddissa …pe… sambahulā sāmaṇeriyo uddissa …pe… ekaṁ sāmaṇeriṁ uddissa vihāro kārāpito hoti …pe… aḍḍhayogo kārāpito hoti … pāsādo kārāpito hoti … hammiyaṁ kārāpitaṁ hoti … guhā kārāpitā hoti … pariveṇaṁ kārāpitaṁ hoti … koṭṭhako kārāpito hoti … upaṭṭhānasālā kārāpitā hoti … aggisālā kārāpitā hoti … kappiyakuṭi kārāpitā hoti … caṅkamo kārāpito hoti … caṅkamanasālā kārāpitā hoti … udapāno kārāpito hoti … udapānasālā kārāpitā hoti … pokkharaṇī kārāpitā hoti … maṇḍapo kārāpito hoti … ārāmo kārāpito hoti … ārāmavatthu kārāpitaṁ hoti. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘āgacchantu bhadantā, icchāmi dānañca dātuṁ, dhammañca sotuṁ, bhikkhū ca passitun’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, pahite, na tveva appahite. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may happen that a male lay follower has had a dwelling built for the Sangha of nuns, for a number of nuns, for a single nun, for a number of trainee nuns, for a single trainee nun, for a number of novice monks, for a single novice monk, for a number of novice nuns, or has had a dwelling built for a single novice nun … or has had a stilt house built, a cave, a yard, a gatehouse, an assembly hall, a water-boiling shed, a food-storage hut, a walking-meditation path, an indoor walking-meditation path, a well, a well house, a pond, a roof-cover, a monastery, or has had a site for a monastery prepared, and sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I wish to make an offering, hear the Teaching, and see the monks.’ You should go for seven days, but only if you’re asked. And you should return within seven days.
Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị nam cận sự vì mục đích dâng cúng cho Tăng chúng tỳ khưu ni ... cho đến ... vì mục đích dâng cúng cho nhiều vị tỳ khưu ni ... cho đến ... vì mục đích dâng cúng cho một vị tỳ khưu ni ... cho đến ... vì mục đích dâng cúng cho nhiều vị học nữ ... cho đến ... vì mục đích dâng cúng cho một vị học nữ ... cho đến ... vì mục đích dâng cúng cho nhiều vị sa-di ... cho đến ... vì mục đích dâng cúng cho một vị sa-di ... cho đến ... vì mục đích dâng cúng cho nhiều vị sa-di-ni ... cho đến ... vì mục đích dâng cúng cho một vị sa-di-ni đã cho xây dựng ngôi trú xá ... cho đến ... đã cho xây dựng nền đất của khu vườn. Nếu vị ấy có phái người đưa tin đến các vị tỳ khưu rằng: ‘Kính bạch chư Đại đức, xin các Ngài quang lâm, con có ước muốn được dâng cúng vật thực, được nghe Pháp, và được gặp gỡ các vị tỳ khưu,’ này các Tỳ khưu, khi được phái người đến mời, nên đi với công việc có thể thực hiện trong bảy ngày, nhưng không nên đi khi không được phái người đến mời. Việc trở về nên được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, upāsakena attano atthāya nivesanaṁ kārāpitaṁ hoti …pe… sayanigharaṁ kārāpitaṁ hoti … udosito kārāpito hoti … aṭṭo kārāpito hoti … māḷo kārāpito hoti … āpaṇo kārāpito hoti … āpaṇasālā kārāpitā hoti … pāsādo kārāpito hoti … hammiyaṁ kārāpitaṁ hoti … guhā kārāpitā hoti … pariveṇaṁ kārāpitaṁ hoti … koṭṭhako kārāpito hoti … upaṭṭhānasālā kārāpitā hoti … aggisālā kārāpitā hoti … rasavatī kārāpitā hoti … caṅkamo kārāpito hoti … caṅkamanasālā kārāpitā hoti … udapāno kārāpito hoti … udapānasālā kārāpitā hoti … pokkharaṇī kārāpitā hoti … maṇḍapo kārāpito hoti … ārāmo kārāpito hoti … ārāmavatthu kārāpitaṁ hoti … puttassa vā vāreyyaṁ hoti … dhītuyā vā vāreyyaṁ hoti … gilāno vā hoti … abhiññātaṁ vā suttantaṁ bhaṇati. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘āgacchantu bhadantā, imaṁ suttantaṁ pariyāpuṇissanti, purāyaṁ suttanto palujjatī’ti. Aññataraṁ vā panassa kiccaṁ hoti—karaṇīyaṁ vā, so ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘āgacchantu bhadantā, icchāmi dānañca dātuṁ, dhammañca sotuṁ, bhikkhū ca passitun’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, pahite, na tveva appahite. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may happen that a male lay follower has had a house built for himself, has had a bedroom, a storehouse, a watchtower, a stall, a shop, a stilt house, a cave, a yard, a gatehouse, an assembly hall, a water-boiling shed, a kitchen, a walking-meditation path, an indoor walking-meditation path, a well, a well house, a pond, a roof cover, a park, or has had a site for a park prepared for himself; or his son is getting married, or his daughter is getting married, or he is sick, or he knows a discourse. If he then sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, and learn this discourse before it disappears,’ or he has some duty or business and sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I wish to make an offering, hear the Teaching, and see the monks,’ you should go for seven days, but only if you’re asked. And you should return within seven days.”
Improper cancellation of the invitation
189. Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị nam cận sự vì lợi ích của bản thân đã cho xây dựng nơi ở ... cho đến ... đã cho xây dựng nền đất của khu vườn ... hoặc có việc cưới hỏi cho con trai ... hoặc có việc cưới hỏi cho con gái ... hoặc bị bệnh ... hoặc đang đọc tụng một bài kinh đã được biết đến. Nếu vị ấy có phái người đưa tin đến các vị tỳ khưu rằng: ‘Kính bạch chư Đại đức, xin các Ngài quang lâm, các Ngài sẽ học thuộc lòng bài kinh này, trước khi bài kinh này bị thất truyền.’ Hoặc giả, vị ấy có công việc này hay công việc khác cần phải làm, nếu vị ấy có phái người đưa tin đến các vị tỳ khưu rằng: ‘Kính bạch chư Đại đức, xin các Ngài quang lâm, con có ước muốn được dâng cúng vật thực, được nghe Pháp, và được gặp gỡ các vị tỳ khưu,’ này các Tỳ khưu, khi được phái người đến mời, nên đi với công việc có thể thực hiện trong bảy ngày, nhưng không nên đi khi không được phái người đến mời. Việc trở về nên được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, upāsikāya saṅghaṁ uddissa vihāro kārāpito hoti. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘āgacchantu ayyā, icchāmi dānañca dātuṁ, dhammañca sotuṁ, bhikkhū ca passitun’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, pahite, na tveva appahite. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
“It may happen that a female lay follower has had a dwelling built for the Sangha and sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I wish to make an offering, hear the Teaching, and see the monks.’ You should go for seven days, but only if you’re asked. And you should return within seven days.
190. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có nữ cận sự đã cho xây dựng một ngôi tịnh xá dâng đến chư Tăng. Nếu vị ấy có gởi người đưa tin đến chỗ các tỳ khưu rằng: ‘Kính mong các ngài quang lâm, con có ước muốn được cúng dường, được nghe Pháp, và được gặp gỡ các tỳ khưu,’ thì này các tỳ khưu, khi được mời, nên đi với công việc trong bảy ngày, nhưng không được đi khi không được mời. Việc trở về nên được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, upāsikāya saṅghaṁ uddissa aḍḍhayogo kārāpito hoti …pe… pāsādo kārāpito hoti … hammiyaṁ kārāpitaṁ hoti … guhā kārāpitā hoti … pariveṇaṁ kārāpitaṁ hoti … koṭṭhako kārāpito hoti … upaṭṭhānasālā kārāpitā hoti … aggisālā kārāpitā hoti … kappiyakuṭi kārāpitā hoti … vaccakuṭi kārāpitā hoti … caṅkamo kārāpito hoti … caṅkamanasālā kārāpitā hoti … udapāno kārāpito hoti … udapānasālā kārāpitā hoti … jantāgharaṁ kārāpitaṁ hoti … jantāgharasālā kārāpitā hoti … pokkharaṇī kārāpitā hoti … maṇḍapo kārāpito hoti … ārāmo kārāpito hoti … ārāmavatthu kārāpitaṁ hoti. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘āgacchantu ayyā, icchāmi dānañca dātuṁ, dhammañca sotuṁ, bhikkhū ca passitun’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, pahite, na tveva appahite. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may happen that a female lay follower has had a stilt house built for the Sangha, has had a cave built, a yard, a gatehouse, an assembly hall, a water-boiling shed, a food-storage hut, a restroom, a walking-meditation path, an indoor walking-meditation path, a well, a well house, a sauna, a sauna shed, a pond, a roof cover, a monastery, or has had a site for a monastery prepared for the Sangha and sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I wish to make an offering, hear the Teaching, and see the monks.’ You should go for seven days, but only if you’re asked. And you should return within seven days.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có nữ cận sự dâng đến chư Tăng đã cho xây dựng một ngôi nhà một mái... cho đến... một ngôi lầu... một tầng gác mái... một hang động... một khuôn viên... một cổng thành... một giảng đường... một nhà lửa... một tịnh thất tịnh trù... một nhà vệ sinh... một đường kinh hành... một nhà kinh hành... một giếng nước... một nhà giếng... một nhà tắm hơi... một sảnh nhà tắm hơi... một hồ sen... một nhà lều... một khu vườn... một mảnh đất vườn. Nếu vị ấy có gởi người đưa tin đến chỗ các tỳ khưu rằng: ‘Kính mong các ngài quang lâm, con có ước muốn được cúng dường, được nghe Pháp, và được gặp gỡ các tỳ khưu,’ thì này các tỳ khưu, khi được mời, nên đi với công việc trong bảy ngày, nhưng không được đi khi không được mời. Việc trở về nên được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, upāsikāya sambahule bhikkhū uddissa …pe… ekaṁ bhikkhuṁ uddissa …pe… bhikkhunisaṅghaṁ uddissa …pe… sambahulā bhikkhuniyo uddissa …pe… ekaṁ bhikkhuniṁ uddissa …pe… sambahulā sikkhamānāyo uddissa …pe… ekaṁ sikkhamānaṁ uddissa …pe… sambahule sāmaṇere uddissa …pe… ekaṁ sāmaṇeraṁ uddissa …pe… sambahulā sāmaṇeriyo uddissa …pe… ekaṁ sāmaṇeriṁ uddissa …pe….
It may happen that a female lay follower has had a dwelling built for a number of monks, for a single monk, for the Sangha of nuns, for a number of nuns, for a single nun, for a number of trainee nuns, for a single trainee nun, for a number of novice monks, for a single novice monk, for a number of novice nuns, or for a single novice nun …
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có nữ cận sự dâng đến nhiều vị tỳ khưu... cho đến... dâng đến một vị tỳ khưu... cho đến... dâng đến chư Tăng Ni... cho đến... dâng đến nhiều vị tỳ khưu ni... cho đến... dâng đến một vị tỳ khưu ni... cho đến... dâng đến nhiều vị học nữ... cho đến... dâng đến một vị học nữ... cho đến... dâng đến nhiều vị sa-di... cho đến... dâng đến một vị sa-di... cho đến... dâng đến nhiều vị sa-di-ni... cho đến... dâng đến một vị sa-di-ni...
Idha pana, bhikkhave, upāsikāya attano atthāya nivesanaṁ kārāpitaṁ hoti …pe… sayanigharaṁ kārāpitaṁ hoti … udosito kārāpito hoti … aṭṭo kārāpito hoti … māḷo kārāpito hoti … āpaṇo kārāpito hoti … āpaṇasālā kārāpitā hoti … pāsādo kārāpito hoti … hammiyaṁ kārāpitaṁ hoti … guhā kārāpitā hoti … pariveṇaṁ kārāpitaṁ hoti … koṭṭhako kārāpito hoti … upaṭṭhānasālā kārāpitā hoti … aggisālā kārāpitā hoti … rasavatī kārāpitā hoti … caṅkamo kārāpito hoti … caṅkamanasālā kārāpitā hoti … udapāno kārāpito hoti … udapānasālā kārāpitā hoti … pokkharaṇī kārāpitā hoti … maṇḍapo kārāpito hoti … ārāmo kārāpito hoti … ārāmavatthu kārāpitaṁ hoti … puttassa vā vāreyyaṁ hoti … dhītuyā vā vāreyyaṁ hoti … gilānā vā hoti … abhiññātaṁ vā suttantaṁ bhaṇati. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘āgacchantu ayyā, imaṁ suttantaṁ pariyāpuṇissanti, purāyaṁ suttanto palujjatī’ti. Aññataraṁ vā panassā kiccaṁ hoti karaṇīyaṁ vā, sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘āgacchantu ayyā, icchāmi dānañca dātuṁ, dhammañca sotuṁ, bhikkhū ca passitun’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, pahite, na tveva appahite. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may happen that a female lay follower has had a house built for herself, has had a bedroom, a storehouse, a watchtower, a stall, a shop, a stilt house, a cave, a yard, a gatehouse, an assembly hall, a water-boiling shed, a kitchen, a walking-meditation path, an indoor walking-meditation path, a well, a well house, a pond, a roof cover, a park, or has had a site for a park prepared for herself; or her son is getting married, or her daughter is getting married, or she is sick, or she knows a discourse. If she then sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, and learn this discourse before it disappears,’ or she has some duty or business and sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I wish to make an offering, hear the Teaching, and see the monks,’ you should go for seven days, but only if you’re asked. And you should return within seven days.
191. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có nữ cận sự đã cho xây dựng một ngôi nhà vì lợi ích của bản thân... cho đến... một phòng ngủ... một nhà kho... một cái tháp canh... một ngôi nhà có mái che... một cửa hàng... một sảnh chợ... một ngôi lầu... một tầng gác mái... một hang động... một khuôn viên... một cổng thành... một giảng đường... một nhà lửa... một nhà bếp... một đường kinh hành... một nhà kinh hành... một giếng nước... một nhà giếng... một hồ sen... một nhà lều... một khu vườn... một mảnh đất vườn... hoặc có việc cưới hỏi cho con trai... hoặc có việc cưới hỏi cho con gái... hoặc bị bệnh... hoặc đang tụng đọc một bài kinh nổi tiếng. Nếu vị ấy có gởi người đưa tin đến chỗ các tỳ khưu rằng: ‘Kính mong các ngài quang lâm, các ngài sẽ học thuộc bài kinh này trước khi bài kinh này bị thất truyền.’ Hoặc giả, vị ấy có công việc này hay công việc khác phải làm, nếu vị ấy có gởi người đưa tin đến chỗ các tỳ khưu rằng: ‘Kính mong các ngài quang lâm, con có ước muốn được cúng dường, được nghe Pháp, và được gặp gỡ các tỳ khưu,’ thì này các tỳ khưu, khi được mời, nên đi với công việc trong bảy ngày, nhưng không được đi khi không được mời. Việc trở về nên được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā saṅghaṁ uddissa …pe… bhikkhuniyā saṅghaṁ uddissa … sikkhamānāya saṅghaṁ uddissa … sāmaṇerena saṅghaṁ uddissa … sāmaṇeriyā saṅghaṁ uddissa … sambahule bhikkhū uddissa … ekaṁ bhikkhuṁ uddissa … bhikkhunisaṅghaṁ uddissa … sambahulā bhikkhuniyo uddissa … ekaṁ bhikkhuniṁ uddissa … sambahulā sikkhamānāyo uddissa … ekaṁ sikkhamānaṁ uddissa … sambahule sāmaṇere uddissa … ekaṁ sāmaṇeraṁ uddissa … sambahulā sāmaṇeriyo uddissa … ekaṁ sāmaṇeriṁ uddissa … attano atthāya vihāro kārāpito hoti …pe… aḍḍhayogo kārāpito hoti … pāsādo kārāpito hoti … hammiyaṁ kārāpitaṁ hoti … guhā kārāpitā hoti … pariveṇaṁ kārāpitaṁ hoti … koṭṭhako kārāpito hoti … upaṭṭhānasālā kārāpitā hoti … aggisālā kārāpitā hoti … kappiyakuṭi kārāpitā hoti … caṅkamo kārāpito hoti … caṅkamanasālā kārāpitā hoti … udapāno kārāpito hoti … udapānasālā kārāpitā hoti … pokkharaṇī kārāpitā hoti … maṇḍapo kārāpito hoti … ārāmo kārāpito hoti … ārāmavatthu kārāpitaṁ hoti. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya … ‘āgacchantu ayyā, icchāmi dānañca dātuṁ, dhammañca sotuṁ, bhikkhū ca passitun’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, pahite, na tveva appahite. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo”ti.
It may happen that a monk, a nun, a trainee nun, a novice monk, or a novice nun has had a dwelling built for the Sangha … for a number of monks, for a single monk, for the Sangha of nuns, for a number of nuns, for a single nun, for a number of trainee nuns, for a single trainee nun, for a number of novice monks, for a single novice monk, for a number of novice nuns, or for a single novice nun … or she’s had a dwelling built for herself, has had a stilt house built, a cave, a yard, a gatehouse, an assembly hall, a water-boiling shed, a food-storage hut, a walking-meditation path, an indoor walking-meditation path, a well, a well house, a pond, a roof-cover, a monastery, or has had a site for a monastery prepared for herself. If she then sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I wish to make an offering, hear the Teaching, and see the monks,’ you should go for seven days, but only if you’re asked. And you should return within seven days.”
192. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có vị tỳ khưu dâng đến chư Tăng... cho đến... có vị tỳ khưu ni dâng đến chư Tăng... có vị học nữ dâng đến chư Tăng... có vị sa-di dâng đến chư Tăng... có vị sa-di-ni dâng đến chư Tăng... dâng đến nhiều vị tỳ khưu... dâng đến một vị tỳ khưu... dâng đến chư Tăng Ni... dâng đến nhiều vị tỳ khưu ni... dâng đến một vị tỳ khưu ni... dâng đến nhiều vị học nữ... dâng đến một vị học nữ... dâng đến nhiều vị sa-di... dâng đến một vị sa-di... dâng đến nhiều vị sa-di-ni... dâng đến một vị sa-di-ni... hoặc vì lợi ích của bản thân đã cho xây dựng một ngôi tịnh xá... cho đến... một ngôi nhà một mái... một ngôi lầu... một tầng gác mái... một hang động... một khuôn viên... một cổng thành... một giảng đường... một nhà lửa... một tịnh thất tịnh trù... một đường kinh hành... một nhà kinh hành... một giếng nước... một nhà giếng... một hồ sen... một nhà lều... một khu vườn... một mảnh đất vườn. Nếu vị ấy có gởi người đưa tin đến chỗ các tỳ khưu rằng: ‘Kính mong các ngài quang lâm, con có ước muốn được cúng dường, được nghe Pháp, và được gặp gỡ các tỳ khưu,’ thì này các tỳ khưu, khi được mời, nên đi với công việc trong bảy ngày, nhưng không được đi khi không được mời. Việc trở về nên được thực hiện trong vòng bảy ngày.
4. Pañcannaṁappahitepianujānana
4. The allowance to go to any of five kinds of persons even if not asked
110. Sự cho phép đối với năm hạng người dù không được mời
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gilāno hoti. So bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pāhesi—“ahañhi gilāno, āgacchantu bhikkhū, icchāmi bhikkhūnaṁ āgatan”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pañcannaṁ sattāhakaraṇīyena appahitepi gantuṁ, pageva pahite. Bhikkhussa, bhikkhuniyā, sikkhamānāya, sāmaṇerassa, sāmaṇeriyā—anujānāmi, bhikkhave, imesaṁ pañcannaṁ sattāhakaraṇīyena appahitepi gantuṁ, pageva pahite. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
On one occasion a certain monk was sick. He sent a message to the monks: “Please come, venerables, I’m sick.” They told the Buddha.
“Even if you’re not asked, let alone if you are, I allow you to go for seven days to any of five kinds of persons—a monk, a nun, a trainee nun, a novice monk, or a novice nun. But you should return within seven days.”
A monk sending a message
193. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh. Vị ấy đã gửi người đưa tin đến các tỳ khưu rằng: ‘Tôi bị bệnh, mong các tỳ khưu hãy đến, tôi mong muốn sự có mặt của các tỳ khưu.’ (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, Ta cho phép đi vì công việc trong bảy ngày đối với năm hạng người, dù không được phái đi, huống nữa là khi được phái đi. (Năm hạng người là:) tỳ khưu, tỳ khưu ni, vị đang học giới, sa di, sa di ni – Này các tỳ khưu, Ta cho phép đi vì công việc trong bảy ngày đối với năm hạng người này, dù không được phái đi, huống nữa là khi được phái đi. Việc trở về cần được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu gilāno hoti. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi gilāno, āgacchantu bhikkhū, icchāmi bhikkhūnaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘gilānabhattaṁ vā pariyesissāmi, gilānupaṭṭhākabhattaṁ vā pariyesissāmi, gilānabhesajjaṁ vā pariyesissāmi, pucchissāmi vā, upaṭṭhahissāmi vā’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
“It may be that a sick monk sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I’m sick.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll look for food for the sick,’ ‘I’ll look for food for the nurses,’ ‘I’ll look for medicine,’ ‘I’ll enquire about his sickness,’ or ‘I’ll nurse him.’ But you should return within seven days.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu vị ấy có gửi người đưa tin đến các tỳ khưu rằng: ‘Tôi bị bệnh, mong các tỳ khưu hãy đến, tôi mong muốn sự có mặt của các tỳ khưu,’ thì này các tỳ khưu, nên đi vì công việc trong bảy ngày, dù không được phái đi, huống nữa là khi được phái đi, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ tìm kiếm vật thực cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm vật thực cho người chăm sóc bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thuốc men cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi thăm, hoặc ta sẽ chăm sóc.’ Việc trở về cần được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhussa anabhirati uppannā hoti. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘anabhirati me uppannā, āgacchantu bhikkhū, icchāmi bhikkhūnaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘anabhirataṁ vūpakāsessāmi vā, vūpakāsāpessāmi vā, dhammakathaṁ vāssa karissāmī’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a monk who is discontent with the spiritual life sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I’m discontent with the spiritual life.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll allay his discontent,’ ‘I’ll find someone to allay his discontent’, or ‘I’ll give him a teaching.’ But you should return within seven days.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có vị tỳ khưu sanh khởi sự không hoan hỷ. Nếu vị ấy có gửi người đưa tin đến các tỳ khưu rằng: ‘Sự không hoan hỷ đã sanh khởi đến tôi, mong các tỳ khưu hãy đến, tôi mong muốn sự có mặt của các tỳ khưu,’ thì này các tỳ khưu, nên đi vì công việc trong bảy ngày, dù không được phái đi, huống nữa là khi được phái đi, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ làm cho (vị ấy) nguôi ngoai sự không hoan hỷ, hoặc ta sẽ nhờ người khác làm cho (vị ấy) nguôi ngoai, hoặc ta sẽ nói pháp thoại cho vị ấy.’ Việc trở về cần được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhussa kukkuccaṁ uppannaṁ hoti. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘kukkuccaṁ me uppannaṁ, āgacchantu bhikkhū, icchāmi bhikkhūnaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘kukkuccaṁ vinodessāmi vā, vinodāpessāmi vā, dhammakathaṁ vāssa karissāmī’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that an anxious monk sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I’m anxious.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll dispel his anxiety,’ ‘I’ll find someone to dispel his anxiety,’ or ‘I’ll give him a teaching.’ But you should return within seven days.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có vị tỳ khưu sanh khởi sự hối hận. Nếu vị ấy có gửi người đưa tin đến các tỳ khưu rằng: ‘Sự hối hận đã sanh khởi đến tôi, mong các tỳ khưu hãy đến, tôi mong muốn sự có mặt của các tỳ khưu,’ thì này các tỳ khưu, nên đi vì công việc trong bảy ngày, dù không được phái đi, huống nữa là khi được phái đi, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ xua tan sự hối hận, hoặc ta sẽ nhờ người khác xua tan, hoặc ta sẽ nói pháp thoại cho vị ấy.’ Việc trở về cần được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhussa diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘diṭṭhigataṁ me uppannaṁ, āgacchantu bhikkhū, icchāmi bhikkhūnaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘diṭṭhigataṁ vivecessāmi vā, vivecāpessāmi vā, dhammakathaṁ vāssa karissāmī’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a monk who has wrong view sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I have wrong view.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll make him give up that wrong view,’ ‘I’ll get someone to make him give up that wrong view,’ or ‘I’ll give him a teaching.’ But you should return within seven days.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có vị tỳ khưu sanh khởi tà kiến. Nếu vị ấy có gửi người đưa tin đến các tỳ khưu rằng: ‘Tà kiến đã sanh khởi đến tôi, mong các tỳ khưu hãy đến, tôi mong muốn sự có mặt của các tỳ khưu,’ thì này các tỳ khưu, nên đi vì công việc trong bảy ngày, dù không được phái đi, huống nữa là khi được phái đi, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ phân giải tà kiến, hoặc ta sẽ nhờ người khác phân giải, hoặc ta sẽ nói pháp thoại cho vị ấy.’ Việc trở về cần được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu garudhammaṁ ajjhāpanno hoti parivāsāraho. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi garudhammaṁ ajjhāpanno parivāsāraho, āgacchantu bhikkhū, icchāmi bhikkhūnaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘parivāsadānaṁ ussukkaṁ karissāmi vā, anussāvessāmi vā, gaṇapūrako vā bhavissāmī’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a monk who has committed a heavy offense for which he deserves to be given probation sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I’ve committed a heavy offense for which I deserve to be given probation.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll make an effort to get him given probation,’ ‘I’ll do the proclamation,’ or ‘I’ll complete the quorum.’ But you should return within seven days.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có vị tỳ khưu đã phạm tội nghiêm trọng, đáng phải chịu biệt trú. Nếu vị ấy có gửi người đưa tin đến các tỳ khưu rằng: ‘Tôi đã phạm tội nghiêm trọng, đáng phải chịu biệt trú, mong các tỳ khưu hãy đến, tôi mong muốn sự có mặt của các tỳ khưu,’ thì này các tỳ khưu, nên đi vì công việc trong bảy ngày, dù không được phái đi, huống nữa là khi được phái đi, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ nỗ lực trong việc ban hành biệt trú, hoặc ta sẽ tuyên đọc, hoặc ta sẽ là người bổ túc cho đủ túc số.’ Việc trở về cần được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu mūlāyapaṭikassanāraho hoti. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi mūlāyapaṭikassanāraho, āgacchantu bhikkhū, icchāmi bhikkhūnaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘mūlāya paṭikassanaṁ ussukkaṁ karissāmi vā, anussāvessāmi vā, gaṇapūrako vā bhavissāmī’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a monk who deserves to be sent back to the beginning sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I deserve to be sent back to the beginning.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll make an effort to get him sent back to the beginning,’ ‘I’ll do the proclamation,’ or ‘I’ll complete the quorum.’ But you should return within seven days.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có vị tỳ khưu đáng phải chịu phạt hạ bậc. Nếu vị ấy có gửi người đưa tin đến các tỳ khưu rằng: ‘Tôi đáng phải chịu phạt hạ bậc, mong các tỳ khưu hãy đến, tôi mong muốn sự có mặt của các tỳ khưu,’ thì này các tỳ khưu, nên đi vì công việc trong bảy ngày, dù không được phái đi, huống nữa là khi được phái đi, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ nỗ lực trong việc thi hành phạt hạ bậc, hoặc ta sẽ tuyên đọc, hoặc ta sẽ là người bổ túc cho đủ túc số.’ Việc trở về cần được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu mānattāraho hoti. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi mānattāraho, āgacchantu bhikkhū, icchāmi bhikkhūnaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘mānattadānaṁ ussukkaṁ karissāmi vā, anussāvessāmi vā, gaṇapūrako vā bhavissāmī’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a monk who deserves the trial period sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I deserve to be given the trial period.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll make an effort to get him given the trial period,’ ‘I’ll do the proclamation,’ or ‘I’ll complete the quorum.’ But you should return within seven days.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có vị tỳ khưu đáng phải chịu hành phạt. Nếu vị ấy có gửi người đưa tin đến các tỳ khưu rằng: ‘Tôi đáng phải chịu hành phạt, mong các tỳ khưu hãy đến, tôi mong muốn sự có mặt của các tỳ khưu,’ thì này các tỳ khưu, nên đi vì công việc trong bảy ngày, dù không được phái đi, huống nữa là khi được phái đi, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ nỗ lực trong việc ban hành hành phạt, hoặc ta sẽ tuyên đọc, hoặc ta sẽ là người bổ túc cho đủ túc số.’ Việc trở về cần được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu abbhānāraho hoti. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi abbhānāraho, āgacchantu bhikkhū, icchāmi bhikkhūnaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘abbhānaṁ ussukkaṁ karissāmi vā, anussāvessāmi vā, gaṇapūrako vā bhavissāmī’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a monk who deserves rehabilitation sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I deserve rehabilitation.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll make an effort to get him rehabilitated,’ ‘I’ll do the proclamation,’ or ‘I’ll complete the quorum.’ But you should return within seven days.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có vị tỳ khưu đáng được giải tội. Nếu vị ấy có gửi người đưa tin đến các tỳ khưu rằng: ‘Tôi đáng được giải tội, mong các tỳ khưu hãy đến, tôi mong muốn sự có mặt của các tỳ khưu,’ thì này các tỳ khưu, nên đi vì công việc trong bảy ngày, dù không được phái đi, huống nữa là khi được phái đi, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ nỗ lực trong việc giải tội, hoặc ta sẽ tuyên đọc, hoặc ta sẽ là người bổ túc cho đủ túc số.’ Việc trở về cần được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhussa saṅgho kammaṁ kattukāmo hoti tajjanīyaṁ vā, niyassaṁ vā, pabbājanīyaṁ vā, paṭisāraṇīyaṁ vā, ukkhepanīyaṁ vā. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘saṅgho me kammaṁ kattukāmo, āgacchantu bhikkhū, icchāmi bhikkhūnaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘kinti nu kho saṅgho kammaṁ na kareyya, lahukāya vā pariṇāmeyyā’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that the Sangha wants to do a legal procedure against a monk—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection. He sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, the Sangha wants to do a legal procedure against me.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘How may the Sangha not do the procedure?’ or ‘How may the Sangha make it lighter?’ But you should return within seven days.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, Tăng chúng có ý muốn thi hành Yết-ma đối với một vị tỳ khưu, hoặc là Yết-ma khiển trách, hoặc là Yết-ma y cứ, hoặc là Yết-ma trục xuất, hoặc là Yết-ma sám hối, hoặc là Yết-ma đình chỉ. Nếu vị ấy có gửi người đưa tin đến các tỳ khưu rằng: ‘Tăng chúng có ý muốn thi hành Yết-ma đối với tôi, mong các tỳ khưu hãy đến, tôi mong muốn sự có mặt của các tỳ khưu,’ thì này các tỳ khưu, nên đi vì công việc trong bảy ngày, dù không được phái đi, huống nữa là khi được phái đi, (với ý nghĩ rằng): ‘Làm thế nào để Tăng chúng không thi hành Yết-ma, hoặc có thể chuyển thành (hình phạt) nhẹ hơn?’ Việc trở về cần được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Kataṁ vā panassa hoti saṅghena kammaṁ tajjanīyaṁ vā niyassaṁ vā pabbājanīyaṁ vā paṭisāraṇīyaṁ vā ukkhepanīyaṁ vā. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘saṅgho me kammaṁ akāsi, āgacchantu bhikkhū, icchāmi bhikkhūnaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘kinti nu kho sammā vatteyya, lomaṁ pāteyya, netthāraṁ vatteyya, saṅgho taṁ kammaṁ paṭippassambheyyā’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
Or it may be that the Sangha has done a legal procedure against him—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection. He sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, the Sangha has done a legal procedure against me.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘How can I help him behave properly and suitably so as to deserve to be released?’ or ‘What can I do so that the Sangha lifts that procedure?’ But you should return within seven days.”
A nun sending a message
Hoặc lại nữa, vị tỳ khưu ấy đã bị tăng chúng thi hành một nghiệp sự, hoặc là khiển trách, hoặc là hạ bậc, hoặc là trục xuất, hoặc là sám hối, hoặc là treo giò. Nếu vị ấy gởi người đưa tin đến chỗ các tỳ khưu rằng: ‘Tăng chúng đã thi hành nghiệp sự đối với tôi, mong các tỳ khưu hãy đến, tôi mong muốn sự hiện diện của các tỳ khưu,’ này các tỳ khưu, nên đi vì có công việc trong bảy ngày, dù không được gởi tin mời, huống nữa là khi được gởi tin mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Làm thế nào để vị ấy có thể hành xử đúng đắn, có thể hạ mình, có thể thực hành để được giải trừ, và tăng chúng có thể đình chỉ nghiệp sự ấy?’ Và phải trở về trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunī gilānā hoti. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi gilānā, āgacchantu ayyā, icchāmi ayyānaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘gilānabhattaṁ vā pariyesissāmi, gilānupaṭṭhākabhattaṁ vā pariyesissāmi, gilānabhesajjaṁ vā pariyesissāmi, pucchissāmi vā, upaṭṭhahissāmi vā’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
“It may be, monks, that a sick nun sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I’m sick.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll look for food for the sick,’ ‘I’ll look for food for the nurses,’ ‘I’ll look for medicine,’ ‘I’ll enquire about her sickness,’ or ‘I’ll nurse her.’ But you should return within seven days.
194. Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có vị tỳ khưu ni bị bệnh. Nếu vị ấy gởi người đưa tin đến chỗ các tỳ khưu rằng: ‘Tôi bị bệnh, mong các ngài hãy đến, tôi mong muốn sự hiện diện của các ngài,’ này các tỳ khưu, nên đi vì có công việc trong bảy ngày, dù không được gởi tin mời, huống nữa là khi được gởi tin mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ tìm kiếm vật thực cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm vật thực cho người chăm sóc bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thuốc men cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi thăm, hoặc ta sẽ chăm sóc.’ Và phải trở về trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhuniyā anabhirati uppannā hoti. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘anabhirati me uppannā, āgacchantu ayyā, icchāmi ayyānaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘anabhirataṁ vūpakāsessāmi vā, vūpakāsāpessāmi vā, dhammakathaṁ vāssā karissāmī’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a nun who is discontent with the spiritual life sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I’m discontent with the spiritual life.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll allay her discontent,’ ‘I’ll find someone to allay her discontent’, or ‘I’ll give her a teaching.’ But you should return within seven days.
Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có sự không hoan hỷ khởi lên nơi một vị tỳ khưu ni. Nếu vị ấy gởi người đưa tin đến chỗ các tỳ khưu rằng: ‘Sự không hoan hỷ đã khởi lên nơi tôi, mong các ngài hãy đến, tôi mong muốn sự hiện diện của các ngài,’ này các tỳ khưu, nên đi vì có công việc trong bảy ngày, dù không được gởi tin mời, huống nữa là khi được gởi tin mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ làm cho người không hoan hỷ được khuây khỏa, hoặc nhờ người khác làm cho khuây khỏa, hoặc ta sẽ thuyết pháp cho vị ấy.’ Và phải trở về trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhuniyā kukkuccaṁ uppannaṁ hoti. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘kukkuccaṁ me uppannaṁ, āgacchantu ayyā, icchāmi ayyānaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘kukkuccaṁ vinodessāmi vā, vinodāpessāmi vā, dhammakathaṁ vāssā karissāmī’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that an anxious nun sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I’m anxious.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll dispel her anxiety,’ ‘I’ll find someone to dispel her anxiety,’ or ‘I’ll give her a teaching.’ But you should return within seven days.
Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có sự hối tiếc khởi lên nơi một vị tỳ khưu ni. Nếu vị ấy gởi người đưa tin đến chỗ các tỳ khưu rằng: ‘Sự hối tiếc đã khởi lên nơi tôi, mong các ngài hãy đến, tôi mong muốn sự hiện diện của các ngài,’ này các tỳ khưu, nên đi vì có công việc trong bảy ngày, dù không được gởi tin mời, huống nữa là khi được gởi tin mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ xua tan sự hối tiếc, hoặc nhờ người khác xua tan, hoặc ta sẽ thuyết pháp cho vị ấy.’ Và phải trở về trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhuniyā diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘diṭṭhigataṁ me uppannaṁ, āgacchantu ayyā, icchāmi ayyānaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘diṭṭhigataṁ vivecessāmi vā, vivecāpessāmi vā, dhammakathaṁ vāssā karissāmī’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a nun who has wrong view sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I have wrong view.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll make her give up that wrong view,’ ‘I’ll get someone to make her give up that wrong view,’ or ‘I’ll give her a teaching.’ But you should return within seven days.
Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có tà kiến khởi lên nơi một vị tỳ khưu ni. Nếu vị ấy gởi người đưa tin đến chỗ các tỳ khưu rằng: ‘Tà kiến đã khởi lên nơi tôi, mong các ngài hãy đến, tôi mong muốn sự hiện diện của các ngài,’ này các tỳ khưu, nên đi vì có công việc trong bảy ngày, dù không được gởi tin mời, huống nữa là khi được gởi tin mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ gỡ bỏ tà kiến, hoặc nhờ người khác gỡ bỏ, hoặc ta sẽ thuyết pháp cho vị ấy.’ Và phải trở về trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunī garudhammaṁ ajjhāpannā hoti mānattārahā. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi garudhammaṁ ajjhāpannā mānattārahā, āgacchantu ayyā, icchāmi ayyānaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘mānattadānaṁ ussukkaṁ karissāmī’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a nun who has committed a heavy offense for which she deserves the trial period sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I deserve to be given the trial period.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll make an effort to get her given the trial period.’ But you should return within seven days.
Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có vị tỳ khưu ni đã phạm trọng giới, đáng phải chịu biệt trú. Nếu vị ấy gởi người đưa tin đến chỗ các tỳ khưu rằng: ‘Tôi đã phạm trọng giới, đáng phải chịu biệt trú, mong các ngài hãy đến, tôi mong muốn sự hiện diện của các ngài,’ này các tỳ khưu, nên đi vì có công việc trong bảy ngày, dù không được gởi tin mời, huống nữa là khi được gởi tin mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ cố gắng trong việc trao pháp biệt trú.’ Và phải trở về trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunī mūlāya paṭikassanārahā hoti. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi mūlāya paṭikassanārahā, āgacchantu ayyā, icchāmi ayyānaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘mūlāya paṭikassanaṁ ussukkaṁ karissāmī’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a nun who deserves to be sent back to the beginning sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I deserve to be sent back to the beginning.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll make an effort to get her sent back to the beginning.’ But you should return within seven days.
Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có vị tỳ khưu ni đáng phải bị kéo về lại từ đầu. Nếu vị ấy gởi người đưa tin đến chỗ các tỳ khưu rằng: ‘Tôi đáng phải bị kéo về lại từ đầu, mong các ngài hãy đến, tôi mong muốn sự hiện diện của các ngài,’ này các tỳ khưu, nên đi vì có công việc trong bảy ngày, dù không được gởi tin mời, huống nữa là khi được gởi tin mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ cố gắng trong việc kéo về lại từ đầu.’ Và phải trở về trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunī abbhānārahā hoti. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi abbhānārahā, āgacchantu ayyā, icchāmi ayyānaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘abbhānaṁ ussukkaṁ karissāmī’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a nun who deserves rehabilitation sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I deserve rehabilitation.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll make an effort to get her rehabilitated.’ But you should return within seven days.
Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có vị tỳ khưu ni đáng được giải tội. Nếu vị ấy gởi người đưa tin đến chỗ các tỳ khưu rằng: ‘Tôi đáng được giải tội, mong các ngài hãy đến, tôi mong muốn sự hiện diện của các ngài,’ này các tỳ khưu, nên đi vì có công việc trong bảy ngày, dù không được gởi tin mời, huống nữa là khi được gởi tin mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ cố gắng trong việc giải tội.’ Và phải trở về trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhuniyā saṅgho kammaṁ kattukāmo hoti—tajjanīyaṁ vā, niyassaṁ vā, pabbājanīyaṁ vā, paṭisāraṇīyaṁ vā, ukkhepanīyaṁ vā. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘saṅgho me kammaṁ kattukāmo, āgacchantu ayyā, icchāmi ayyānaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘kinti nu kho saṅgho kammaṁ na kareyya, lahukāya vā pariṇāmeyyā’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that the Sangha wants to do a legal procedure against a nun—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection. She sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, the Sangha wants to do a legal procedure against me.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘How may the Sangha not do the procedure?’ or ‘How may the Sangha make it lighter?’ But you should return within seven days.
Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây tăng chúng có ý muốn thi hành một nghiệp sự đối với một vị tỳ khưu ni, hoặc là khiển trách, hoặc là hạ bậc, hoặc là trục xuất, hoặc là sám hối, hoặc là treo giò. Nếu vị ấy gởi người đưa tin đến chỗ các tỳ khưu rằng: ‘Tăng chúng có ý muốn thi hành nghiệp sự đối với tôi, mong các ngài hãy đến, tôi mong muốn sự hiện diện của các ngài,’ này các tỳ khưu, nên đi vì có công việc trong bảy ngày, dù không được gởi tin mời, huống nữa là khi được gởi tin mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Làm thế nào để tăng chúng không thi hành nghiệp sự, hoặc có thể chuyển thành (hình phạt) nhẹ hơn?’ Và phải trở về trong vòng bảy ngày.
Kataṁ vā panassā hoti saṅghena kammaṁ—tajjanīyaṁ vā, niyassaṁ vā, pabbājanīyaṁ vā, paṭisāraṇīyaṁ vā, ukkhepanīyaṁ vā. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘saṅgho me kammaṁ akāsi, āgacchantu ayyā, icchāmi ayyānaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘kinti nu kho sammā vatteyya, lomaṁ pāteyya, netthāraṁ vatteyya, saṅgho taṁ kammaṁ paṭippassambheyyā’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
Or it may be that the Sangha has done a legal procedure against her—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection. She sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, the Sangha has done a legal procedure against me.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘How can I help her behave properly and suitably so as to deserve to be released?’ or ‘What can I do so that the Sangha lifts that procedure?’ But you should return within seven days.”
Other monastics sending a message
Hoặc lại nữa, vị tỳ khưu ni ấy đã bị tăng chúng thi hành một nghiệp sự, hoặc là khiển trách, hoặc là hạ bậc, hoặc là trục xuất, hoặc là sám hối, hoặc là treo giò. Nếu vị ấy gởi người đưa tin đến chỗ các tỳ khưu rằng: ‘Tăng chúng đã thi hành nghiệp sự đối với tôi, mong các ngài hãy đến, tôi mong muốn sự hiện diện của các ngài,’ này các tỳ khưu, nên đi vì có công việc trong bảy ngày, dù không được gởi tin mời, huống nữa là khi được gởi tin mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Làm thế nào để vị ấy có thể hành xử đúng đắn, có thể hạ mình, có thể thực hành để được giải trừ, và tăng chúng có thể đình chỉ nghiệp sự ấy?’ Và phải trở về trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, sikkhamānā gilānā hoti. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi gilānā, āgacchantu ayyā, icchāmi ayyānaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘gilānabhattaṁ vā pariyesissāmi, gilānupaṭṭhākabhattaṁ vā pariyesissāmi, gilānabhesajjaṁ vā pariyesissāmi, pucchissāmi vā, upaṭṭhahissāmi vā’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
“It may be, monks, that a sick trainee nun sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I’m sick.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll look for food for the sick,’ ‘I’ll look for food for the nurses,’ ‘I’ll look for medicine,’ ‘I’ll enquire about her sickness,’ or ‘I’ll nurse her.’ But you should return within seven days.
195. Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị Thức-xoa-ma-na bị bệnh. Nếu vị ấy có thể gửi người đưa tin đến chỗ các Tỳ khưu rằng: ‘Tôi bị bệnh, mong các ngài đến, tôi mong muốn sự có mặt của các ngài,’ thì này các Tỳ khưu, nên đi vì công việc trong bảy ngày, dù không được mời, huống nữa là khi được mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ tìm kiếm vật thực cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm vật thực cho người chăm sóc bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thuốc men cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi thăm, hoặc ta sẽ chăm sóc.’ Phải trở về trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, sikkhamānāya anabhirati uppannā hoti …pe… sikkhamānāya kukkuccaṁ uppannaṁ hoti … sikkhamānāya diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti … sikkhamānāya sikkhā kupitā hoti. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘sikkhā me kupitā, āgacchantu ayyā, icchāmi ayyānaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘sikkhāsamādānaṁ ussukkaṁ karissāmī’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a trainee nun who is discontent with the spiritual life, who is anxious, who has wrong view, or who has failed in the training sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I’ve failed in the training.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll make an effort to get her to undertake the training.’ But you should return within seven days.
Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, sự không hoan hỷ khởi lên cho vị Thức-xoa-ma-na ... này các Tỳ khưu ... sự hối hận khởi lên cho vị Thức-xoa-ma-na ... tà kiến khởi lên cho vị Thức-xoa-ma-na ... học giới của vị Thức-xoa-ma-na bị hư hỏng. Nếu vị ấy có thể gửi người đưa tin đến chỗ các Tỳ khưu rằng: ‘Học giới của tôi bị hư hỏng, mong các ngài đến, tôi mong muốn sự có mặt của các ngài,’ thì này các Tỳ khưu, nên đi vì công việc trong bảy ngày, dù không được mời, huống nữa là khi được mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ nỗ lực trong việc thọ trì học giới.’ Phải trở về trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, sikkhamānā upasampajjitukāmā hoti. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi upasampajjitukāmā, āgacchantu ayyā, icchāmi ayyānaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘upasampadaṁ ussukkaṁ karissāmi vā, anussāvessāmi vā, gaṇapūrako vā bhavissāmī’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a trainee nun who desires the full ordination sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I desire the full ordination.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll make an effort to get her the full ordination,’ ‘I’ll do the proclamation,’ or ‘I’ll complete the quorum.’ But you should return within seven days.
Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị Thức-xoa-ma-na muốn thọ cụ túc giới. Nếu vị ấy có thể gửi người đưa tin đến chỗ các Tỳ khưu rằng: ‘Tôi muốn thọ cụ túc giới, mong các ngài đến, tôi mong muốn sự có mặt của các ngài,’ thì này các Tỳ khưu, nên đi vì công việc trong bảy ngày, dù không được mời, huống nữa là khi được mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ nỗ lực trong việc thọ cụ túc giới, hoặc ta sẽ tuyên bố, hoặc ta sẽ làm người đủ túc số.’ Phải trở về trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, sāmaṇero gilāno hoti. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi gilāno, āgacchantu bhikkhū, icchāmi bhikkhūnaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘gilānabhattaṁ vā pariyesissāmi, gilānupaṭṭhākabhattaṁ vā pariyesissāmi, gilānabhesajjaṁ vā pariyesissāmi, pucchissāmi vā, upaṭṭhahissāmi vā’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a sick novice monk sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I’m sick.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll look for food for the sick,’ ‘I’ll look for food for the nurses,’ ‘I’ll look for medicine,’ ‘I’ll enquire about his sickness,’ or ‘I’ll nurse him.’ But you should return within seven days.
196. Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị Sa-di bị bệnh. Nếu vị ấy có thể gửi người đưa tin đến chỗ các Tỳ khưu rằng: ‘Tôi bị bệnh, mong các Tỳ khưu đến, tôi mong muốn sự có mặt của các Tỳ khưu,’ thì này các Tỳ khưu, nên đi vì công việc trong bảy ngày, dù không được mời, huống nữa là khi được mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ tìm kiếm vật thực cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm vật thực cho người chăm sóc bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thuốc men cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi thăm, hoặc ta sẽ chăm sóc.’ Phải trở về trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, sāmaṇerassa anabhirati uppannā hoti …pe… sāmaṇerassa kukkuccaṁ uppannaṁ hoti … sāmaṇerassa diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti … sāmaṇero vassaṁ pucchitukāmo hoti. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi vassaṁ pucchitukāmo, āgacchantu bhikkhū, icchāmi bhikkhūnaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘pucchissāmi vā, ācikkhissāmi vā’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a novice monk who is discontent with the spiritual life, who is anxious, who has wrong view, or who wants to ask about his age sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I want to ask about my age.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll ask him,’ or ‘I’ll inform him.’ But you should return within seven days.
Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, sự không hoan hỷ khởi lên cho vị Sa-di ... này các Tỳ khưu ... sự hối hận khởi lên cho vị Sa-di ... tà kiến khởi lên cho vị Sa-di ... vị Sa-di muốn hỏi về tuổi hạ. Nếu vị ấy có thể gửi người đưa tin đến chỗ các Tỳ khưu rằng: ‘Tôi muốn hỏi về tuổi hạ, mong các Tỳ khưu đến, tôi mong muốn sự có mặt của các Tỳ khưu,’ thì này các Tỳ khưu, nên đi vì công việc trong bảy ngày, dù không được mời, huống nữa là khi được mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ hỏi, hoặc ta sẽ nói cho biết.’ Phải trở về trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, sāmaṇero upasampajjitukāmo hoti. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi upasampajjitukāmo, āgacchantu bhikkhū, icchāmi bhikkhūnaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘upasampadaṁ ussukkaṁ karissāmi vā, anussāvessāmi vā, gaṇapūrako vā bhavissāmī’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a novice monk who desires the full ordination sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I desire the full ordination.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll make an effort to get him the full ordination,’ ‘I’ll do the proclamation,’ or ‘I’ll complete the quorum.’ But you should return within seven days.
Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị Sa-di muốn thọ cụ túc giới. Nếu vị ấy có thể gửi người đưa tin đến chỗ các Tỳ khưu rằng: ‘Tôi muốn thọ cụ túc giới, mong các Tỳ khưu đến, tôi mong muốn sự có mặt của các Tỳ khưu,’ thì này các Tỳ khưu, nên đi vì công việc trong bảy ngày, dù không được mời, huống nữa là khi được mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ nỗ lực trong việc thọ cụ túc giới, hoặc ta sẽ tuyên bố, hoặc ta sẽ làm người đủ túc số.’ Phải trở về trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, sāmaṇerī gilānā hoti. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi gilānā, āgacchantu ayyā, icchāmi ayyānaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘gilānabhattaṁ vā pariyesissāmi, gilānupaṭṭhākabhattaṁ vā pariyesissāmi, gilānabhesajjaṁ vā pariyesissāmi, pucchissāmi vā, upaṭṭhahissāmi vā’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a sick novice nun sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I’m sick.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll look for food for the sick,’ ‘I’ll look for food for the nurses,’ ‘I’ll look for medicine,’ ‘I’ll enquire about her sickness,’ or ‘I’ll nurse her.’ But you should return within seven days.
197. Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị Sa-di-ni bị bệnh. Nếu vị ấy có thể gửi người đưa tin đến chỗ các Tỳ khưu rằng: ‘Tôi bị bệnh, mong các ngài đến, tôi mong muốn sự có mặt của các ngài,’ thì này các Tỳ khưu, nên đi vì công việc trong bảy ngày, dù không được mời, huống nữa là khi được mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ tìm kiếm vật thực cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm vật thực cho người chăm sóc bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm thuốc men cho người bệnh, hoặc ta sẽ hỏi thăm, hoặc ta sẽ chăm sóc.’ Phải trở về trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, sāmaṇeriyā anabhirati uppannā hoti …pe… sāmaṇeriyā kukkuccaṁ uppannaṁ hoti … sāmaṇeriyā diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti … sāmaṇerī vassaṁ pucchitukāmā hoti. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi vassaṁ pucchitukāmā, āgacchantu ayyā, icchāmi ayyānaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘pucchissāmi vā, ācikkhissāmi vā’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a novice nun who is discontent with the spiritual life, who is anxious, who has wrong view, or who wants to ask about her age sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I want to ask about my age.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll ask her,’ or ‘I’ll inform her.’ But you should return within seven days.
Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, sự không hoan hỷ khởi lên cho vị Sa-di-ni ... này các Tỳ khưu ... sự hối hận khởi lên cho vị Sa-di-ni ... tà kiến khởi lên cho vị Sa-di-ni ... vị Sa-di-ni muốn hỏi về tuổi hạ. Nếu vị ấy có thể gửi người đưa tin đến chỗ các Tỳ khưu rằng: ‘Tôi muốn hỏi về tuổi hạ, mong các ngài đến, tôi mong muốn sự có mặt của các ngài,’ thì này các Tỳ khưu, nên đi vì công việc trong bảy ngày, dù không được mời, huống nữa là khi được mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ hỏi, hoặc ta sẽ nói cho biết.’ Phải trở về trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, sāmaṇerī sikkhaṁ samādiyitukāmā hoti. Sā ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi sikkhaṁ samādiyitukāmā, āgacchantu ayyā, icchāmi ayyānaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘sikkhāsamādānaṁ ussukkaṁ karissāmī’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo”ti.
It may be that a novice nun who desires to undertake the training of a trainee nun sends a message to the monks: ‘Please come, venerables, I desire to undertake the training.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll make an effort for her to undertake the training of a trainee nun.’ But you should return within seven days.”
Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị Sa-di-ni muốn thọ trì học giới. Nếu vị ấy có thể gửi người đưa tin đến chỗ các Tỳ khưu rằng: ‘Tôi muốn thọ trì học giới, mong các ngài đến, tôi mong muốn sự có mặt của các ngài,’ thì này các Tỳ khưu, nên đi vì công việc trong bảy ngày, dù không được mời, huống nữa là khi được mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ nỗ lực trong việc thọ trì học giới.’ Phải trở về trong vòng bảy ngày.
5. Sattannaṁappahitepianujānana
5. The allowance to go to any of seven kinds of persons even if not asked
111. Sự cho phép đối với bảy trường hợp dù không được mời
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno mātā gilānā hoti. Sā puttassa santike dūtaṁ pāhesi—“ahañhi gilānā, āgacchatu me putto, icchāmi puttassa āgatan”ti. Atha kho tassa bhikkhuno etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘sattannaṁ sattāhakaraṇīyena pahite gantuṁ, na tveva appahite; pañcannaṁ sattāhakaraṇīyena appahitepi gantuṁ, pageva pahite’ti. Ayañca me mātā gilānā, sā ca anupāsikā, kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sattannaṁ sattāhakaraṇīyena appahitepi gantuṁ, pageva pahite. Bhikkhussa, bhikkhuniyā, sikkhamānāya, sāmaṇerassa, sāmaṇeriyā, mātuyā ca pitussa ca—anujānāmi, bhikkhave, imesaṁ sattannaṁ sattāhakaraṇīyena appahitepi gantuṁ, pageva pahite. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
On one occasion the mother of a certain monk was sick. She sent a message to her son: “Please come, I’m sick.” That monk thought, “The Buddha has laid down a rule that one should go for seven days to any of seven kinds of persons, but only when asked, and that one should go for seven days to any of five kinds of persons even if not asked, let alone if one is. My mother is sick, but she’s not a lay follower. So what should I do?” They told the Buddha.
“Even if you’re not asked, let alone if you are, I allow you to go for seven days to any of seven kinds of persons—a monk, a nun, a trainee nun, a novice monk, a novice nun, your mother, your father. But you should return within seven days.
198. Vào lúc bấy giờ, mẹ của một vị tỳ khưu bị bệnh. Bà ấy đã sai người đưa tin đến chỗ người con trai rằng: ‘Mẹ đang bị bệnh, mong con trai của mẹ hãy đến, mẹ mong muốn sự có mặt của con trai.’ Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy đã suy nghĩ như vầy: ‘Đức Thế Tôn đã quy định rằng đối với bảy hạng người, khi được mời đi vì công việc bảy ngày thì được phép đi, còn không được mời thì không được đi; đối với năm hạng người, khi không được mời đi vì công việc bảy ngày cũng được phép đi, huống nữa là khi được mời. Và mẹ của ta đây đang bị bệnh, bà lại không phải là nữ cận sự. Ta nên thực hành như thế nào đây?’ (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép đi vì công việc bảy ngày đối với bảy hạng người, ngay cả khi không được mời, huống nữa là khi được mời. Đối với tỳ khưu, tỳ khưu ni, vị đang học giới, sa di, sa di ni, đối với mẹ và đối với cha – Này các tỳ khưu, Ta cho phép đi vì công việc bảy ngày đối với bảy hạng người này, ngay cả khi không được mời, huống nữa là khi được mời. Việc quay về cần được thực hiện trong vòng bảy ngày.’
Idha pana, bhikkhave, bhikkhussa mātā gilānā hoti. Sā ce puttassa santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi gilānā, āgacchatu me putto, icchāmi puttassa āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘gilānabhattaṁ vā pariyesissāmi, gilānupaṭṭhākabhattaṁ vā pariyesissāmi, gilānabhesajjaṁ vā pariyesissāmi, pucchissāmi vā, upaṭṭhahissāmi vā’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a monk’s mother is sick and sends a message to her son: ‘Please come, I’m sick.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll look for food for the sick,’ ‘I’ll look for food for the nurses,’ ‘I’ll look for medicine,’ ‘I’ll enquire about her sickness,’ or ‘I’ll nurse her.’ But you should return within seven days.
Này các tỳ khưu, ở đây, mẹ của vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu bà ấy có sai người đưa tin đến chỗ người con trai rằng: ‘Mẹ đang bị bệnh, mong con trai của mẹ hãy đến, mẹ mong muốn sự có mặt của con trai,’ thì này các tỳ khưu, nên đi vì công việc bảy ngày, ngay cả khi không được mời, huống nữa là khi được mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ tìm kiếm vật thực cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm vật thực cho người chăm sóc bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm dược phẩm cho người bệnh, hoặc ta sẽ thăm hỏi, hoặc ta sẽ chăm sóc.’ Việc quay về cần được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhussa pitā gilāno hoti. So ce puttassa santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi gilāno, āgacchatu me putto, icchāmi puttassa āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, appahitepi, pageva pahite—‘gilānabhattaṁ vā pariyesissāmi, gilānupaṭṭhākabhattaṁ vā pariyesissāmi, gilānabhesajjaṁ vā pariyesissāmi, pucchissāmi vā, upaṭṭhahissāmi vā’ti. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a monk’s father is sick and sends a message to his son: ‘Please come, I’m sick.’ Then, even if you’re not asked, let alone if you are, you should go for seven days, thinking, ‘I’ll look for food for the sick,’ ‘I’ll look for food for the nurses,’ ‘I’ll look for medicine,’ ‘I’ll enquire about his sickness,’ or ‘I’ll nurse him.’ But you should return within seven days.”
Này các tỳ khưu, ở đây, cha của vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu ông ấy có sai người đưa tin đến chỗ người con trai rằng: ‘Cha đang bị bệnh, mong con trai của cha hãy đến, cha mong muốn sự có mặt của con trai,’ thì này các tỳ khưu, nên đi vì công việc bảy ngày, ngay cả khi không được mời, huống nữa là khi được mời, (với ý nghĩ rằng): ‘Ta sẽ tìm kiếm vật thực cho người bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm vật thực cho người chăm sóc bệnh, hoặc ta sẽ tìm kiếm dược phẩm cho người bệnh, hoặc ta sẽ thăm hỏi, hoặc ta sẽ chăm sóc.’ Việc quay về cần được thực hiện trong vòng bảy ngày.
6. Pahiteyevaanujānana
6. The allowance to go only when asked
112. Sự cho phép chỉ khi được mời
Idha pana, bhikkhave, bhikkhussa bhātā gilāno hoti. So ce bhātuno santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi gilāno, āgacchatu me bhātā, icchāmi bhātuno āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, pahite, na tveva appahite. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
“It may be that a monk’s brother is sick and sends a message to his brother: ‘Please come, I’m sick.’ You should go for seven days, but only if you’re asked. And you should return within seven days.
199. Này các tỳ khưu, ở đây, anh em trai của vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu người ấy có sai người đưa tin đến chỗ người anh em trai rằng: ‘Tôi đang bị bệnh, mong anh em trai của tôi hãy đến, tôi mong muốn sự có mặt của anh em trai,’ thì này các tỳ khưu, nên đi vì công việc bảy ngày, khi được mời, chứ không phải khi không được mời. Việc quay về cần được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhussa bhaginī gilānā hoti. Sā ce bhātuno santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi gilānā, āgacchatu me bhātā, icchāmi bhātuno āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, pahite, na tveva appahite. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a monk’s sister is sick and sends a message to her brother: ‘Please come, I’m sick.’ You should go for seven days, but only if you’re asked. And you should return within seven days.
Này các tỳ khưu, ở đây, chị em gái của vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu người ấy có sai người đưa tin đến chỗ người anh em trai rằng: ‘Tôi đang bị bệnh, mong anh em trai của tôi hãy đến, tôi mong muốn sự có mặt của anh em trai,’ thì này các tỳ khưu, nên đi vì công việc bảy ngày, khi được mời, chứ không phải khi không được mời. Việc quay về cần được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhussa ñātako gilāno hoti. So ce bhikkhussa santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi gilāno, āgacchatu bhadanto, icchāmi bhadantassa āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, pahite, na tveva appahite. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo.
It may be that a monk’s relative is sick and sends him a message: ‘Please come, venerable, I’m sick.’ You should go for seven days, but only if you’re asked. And you should return within seven days.
Này các tỳ khưu, ở đây, người bà con của vị tỳ khưu bị bệnh. Nếu người ấy có sai người đưa tin đến chỗ vị tỳ khưu rằng: ‘Tôi đang bị bệnh, mong ngài đại đức hãy đến, tôi mong muốn sự có mặt của ngài đại đức,’ thì này các tỳ khưu, nên đi vì công việc bảy ngày, khi được mời, chứ không phải khi không được mời. Việc quay về cần được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhugatiko gilāno hoti. So ce bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pahiṇeyya—‘ahañhi gilāno, āgacchantu bhadantā, icchāmi bhadantānaṁ āgatan’ti, gantabbaṁ, bhikkhave, sattāhakaraṇīyena, pahite, na tveva appahite.
It may be that one who is staying with the monks is sick and sends them a message: ‘Please come, venerables, I’m sick.’ You should go for seven days, but only if you’re asked.
Này các tỳ khưu, ở đây, người có liên hệ với các tỳ khưu bị bệnh. Nếu người ấy có sai người đưa tin đến chỗ các vị tỳ khưu rằng: ‘Tôi đang bị bệnh, mong các ngài đại đức hãy đến, tôi mong muốn sự có mặt của các ngài đại đức,’ thì này các tỳ khưu, nên đi vì công việc bảy ngày, khi được mời, chứ không phải khi không được mời. Việc quay về cần được thực hiện trong vòng bảy ngày.
Tena kho pana samayena saṅghassa vihāro undriyati. Aññatarena upāsakena araññe bhaṇḍaṁ chedāpitaṁ hoti. So bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pāhesi—“sace bhadantā taṁ bhaṇḍaṁ āvahāpeyyuṁ, dajjāhaṁ taṁ bhaṇḍan”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, saṅghakaraṇīyena gantuṁ. Sattāhaṁ sannivatto kātabbo”ti.
At one time one of the Sangha’s dwellings was falling apart. At that time the timber belonging to a certain lay follower had been cut up in the wilderness. He sent a message to the monks: “Venerables, if you retrieve that timber, I’ll give it to you.” They told the Buddha.
“I allow you to go on business for the Sangha. But you should return within seven days.”
Vào lúc bấy giờ, ngôi trú xá của Tăng chúng bị hư hỏng. Một nam cận sự đã cho đốn vật liệu ở trong rừng. Vị ấy đã sai người đưa tin đến chỗ các vị tỳ khưu rằng: ‘Nếu các ngài đại đức cho chuyên chở vật liệu ấy về, tôi sẽ dâng cúng vật liệu ấy.’ (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép đi vì công việc của Tăng chúng. Việc quay về cần được thực hiện trong vòng bảy ngày.’
Vassāvāsabhāṇavāro niṭṭhito.
The section for recitation on the rainy-season residence is finished.
Phẩm về Nơi An Cư Mùa Mưa đã kết thúc.
7. Antarāyeanāpattivassacchedavāra
7. The section on no offense for breaking the rains residence when there are dangers
113. Phẩm về việc không có tội khi bị gián đoạn mùa mưa trong trường hợp có hiểm nguy
Tena kho pana samayena kosalesu janapade aññatarasmiṁ āvāse vassūpagatā bhikkhū vāḷehi ubbāḷhā honti. Gaṇhiṁsupi paripātiṁsupi. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At one time in a certain monastery in the Kosalan country, monks who had entered the rains residence were harassed by predatory animals that attacked and grabbed hold of them. They told the Buddha.
200. Vào lúc bấy giờ, ở tại một trú xứ trong xứ Kosala, các vị tỳ khưu đã nhập hạ bị các loài thú dữ quấy nhiễu. Chúng đã bắt và chúng đã rượt đuổi (các vị ấy). (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn.
“Idha pana, bhikkhave, vassūpagatā bhikkhū vāḷehi ubbāḷhā honti. Gaṇhantipi paripātentipi. Eseva antarāyoti pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
“It may happen that monks who have entered the rains residence are harassed by predatory animals that attack and grab hold of them. When there’s such a danger, you should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, ở đây, các vị tỳ khưu đã nhập hạ bị các loài thú dữ quấy nhiễu. Chúng bắt và chúng rượt đuổi (các vị ấy). (Nên suy nghĩ rằng): ‘Đây chính là hiểm nguy,’ rồi nên rời đi. Không có tội đối với việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagatā bhikkhū sarīsapehi ubbāḷhā honti. Ḍaṁsantipi paripātentipi. Eseva antarāyoti pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that monks who have entered the rains residence are harassed by creeping animals that attack and bite them. When there’s such a danger, you should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, ở đây, các vị tỳ khưu đã nhập hạ bị các loài rắn rết quấy nhiễu. Chúng cắn và chúng rượt đuổi (các vị ấy). (Nên suy nghĩ rằng): ‘Đây chính là hiểm nguy,’ rồi nên rời đi. Không có tội đối với việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagatā bhikkhū corehi ubbāḷhā honti. Vilumpantipi ākoṭentipi. Eseva antarāyoti pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that monks who have entered the rains residence are harassed by criminals who steal from them and beat them up. When there’s such a danger, you should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, ở đây, các vị tỳ khưu đã nhập hạ bị các kẻ trộm cướp quấy nhiễu. Chúng cướp bóc và chúng đánh đập (các vị ấy). (Nên suy nghĩ rằng): ‘Đây chính là hiểm nguy,’ rồi nên rời đi. Không có tội đối với việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagatā bhikkhū pisācehi ubbāḷhā honti. Āvisantipi hanantipi. Eseva antarāyoti pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that monks who have entered the rains residence are harassed by demons who take possession of them and kill them. When there’s such a danger, you should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, ở đây, các vị tỳ khưu đã nhập hạ bị các loài ma quỷ quấy nhiễu. Chúng nhập vào và chúng giết hại (các vị ấy). (Nên suy nghĩ rằng): ‘Đây chính là hiểm nguy,’ rồi nên rời đi. Không có tội đối với việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagatānaṁ bhikkhūnaṁ gāmo agginā daḍḍho hoti. Bhikkhū piṇḍakena kilamanti. Eseva antarāyoti pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that the village where monks have entered the rains residence burns down. As a consequence, they have trouble getting almsfood. When there’s such an obstacle, you should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, ở đây, ngôi làng (khất thực) của các vị tỳ khưu đã nhập hạ bị lửa thiêu cháy. Các vị tỳ khưu bị khốn khổ về vật thực khất thực. (Nên suy nghĩ rằng): ‘Đây chính là hiểm nguy,’ rồi nên rời đi. Không có tội đối với việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagatānaṁ bhikkhūnaṁ senāsanaṁ agginā daḍḍhaṁ hoti. Bhikkhū senāsanena kilamanti. Eseva antarāyoti pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that the dwellings where monks have entered the rains residence burn down. As a consequence, they have trouble getting dwellings. When there’s such an obstacle, you should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trú xá của các tỳ khưu đã an cư bị lửa thiêu rụi. Các tỳ khưu gặp khó khăn về trú xá. (Nghĩ rằng:) ‘Đây chính là chướng ngại,’ nên đi nơi khác. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagatānaṁ bhikkhūnaṁ gāmo udakena vūḷho hoti. Bhikkhū piṇḍakena kilamanti. Eseva antarāyoti pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that the village where the monks have entered the rains residence is swept away by flooding. As a consequence, they have trouble getting almsfood. When there’s such an obstacle, you should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, ngôi làng của các tỳ khưu đã an cư bị nước cuốn trôi. Các tỳ khưu gặp khó khăn về vật thực. (Nghĩ rằng:) ‘Đây chính là chướng ngại,’ nên đi nơi khác. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagatānaṁ bhikkhūnaṁ senāsanaṁ udakena vūḷhaṁ hoti. Bhikkhū senāsanena kilamanti. Eseva antarāyoti pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassā”ti.
It may happen that the dwellings where the monks have entered the rains residence are swept away by flooding. As a consequence, they have trouble getting dwellings. When there’s such an obstacle, you should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.”
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trú xá của các tỳ khưu đã an cư bị nước cuốn trôi. Các tỳ khưu gặp khó khăn về trú xá. (Nghĩ rằng:) ‘Đây chính là chướng ngại,’ nên đi nơi khác. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
Tena kho pana samayena aññatarasmiṁ āvāse vassūpagatānaṁ bhikkhūnaṁ gāmo corehi vuṭṭhāsi. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, yena gāmo tena gantun”ti.
At one time in a certain monastery, the village where the monks had entered the rains residence relocated because of criminals.
“I allow you to move to where the village is.”
201. Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ, ngôi làng của các tỳ khưu đã an cư bị bọn trộm cướp làm cho phải di dời. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép đi đến nơi nào có làng.’
Gāmo dvedhā bhijjittha. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, yena bahutarā tena gantun”ti.
The village was divided in two.
“I allow you to move to where the majority is.”
Ngôi làng bị chia làm hai. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép đi đến nơi nào có nhiều người hơn.’
Bahutarā assaddhā honti appasannā. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, yena saddhā pasannā tena gantun”ti.
The majority had no faith and confidence.
“I allow you to move to where those who have faith and confidence are.”
Phần đông (dân làng) không có đức tin, không có lòng tịnh tín. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép đi đến nơi nào (dân chúng) có đức tin, có lòng tịnh tín.’
Tena kho pana samayena kosalesu janapade aññatarasmiṁ āvāse vassūpagatā bhikkhū na labhiṁsu lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At one time in a certain monastery in the Kosalan country, the monks who had entered the rains residence did not get enough food, whether coarse or fine.
Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ ở xứ Kosala, các tỳ khưu đã an cư không nhận được đầy đủ vật thực thô hoặc vật thực ngon như ý muốn. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
“Idha pana, bhikkhave, vassūpagatā bhikkhū na labhanti lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ. Eseva antarāyoti pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
“It may happen that monks who have entered the rains residence don’t get enough food, whether coarse or fine. When there’s such an obstacle, you should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, các tỳ khưu đã an cư không nhận được đầy đủ vật thực thô hoặc vật thực ngon như ý muốn. (Nghĩ rằng:) ‘Đây chính là chướng ngại,’ nên đi nơi khác. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagatā bhikkhū labhanti lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ, na labhanti sappāyāni bhojanāni. Eseva antarāyoti pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that monks who have entered the rains residence get enough food, whether coarse or fine, but the food isn’t suitable for them. When there’s such an obstacle, you should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, các tỳ khưu đã an cư nhận được đầy đủ vật thực thô hoặc vật thực ngon như ý muốn, nhưng không nhận được các vật thực thích hợp. (Nghĩ rằng:) ‘Đây chính là chướng ngại,’ nên đi nơi khác. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagatā bhikkhū labhanti lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ, labhanti sappāyāni bhojanāni, na labhanti sappāyāni bhesajjāni. Eseva antarāyoti pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that monks who have entered the rains residence get enough suitable food, whether coarse or fine, but they don’t get suitable medicines. When there’s such an obstacle, you should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, các tỳ khưu đã an cư nhận được đầy đủ vật thực thô hoặc vật thực ngon như ý muốn, nhận được các vật thực thích hợp, nhưng không nhận được các dược phẩm thích hợp. (Nghĩ rằng:) ‘Đây chính là chướng ngại,’ nên đi nơi khác. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagatā bhikkhū labhanti lūkhassa vā paṇītassa vā bhojanassa yāvadatthaṁ pāripūriṁ, labhanti sappāyāni bhojanāni, labhanti sappāyāni bhesajjāni, na labhanti patirūpaṁ upaṭṭhākaṁ. Eseva antarāyoti pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that monks who have entered the rains residence get enough suitable food, whether coarse or fine, as well as suitable medicines, but they don’t get a suitable attendant. When there’s such an obstacle, you should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, các tỳ khưu đã an cư nhận được đầy đủ vật thực thô hoặc vật thực ngon như ý muốn, nhận được các vật thực thích hợp, nhận được các dược phẩm thích hợp, nhưng không tìm được người thị giả xứng đáng. (Nghĩ rằng:) ‘Đây chính là chướng ngại,’ nên đi nơi khác. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagataṁ bhikkhuṁ itthī nimanteti—‘ehi, bhante, hiraññaṁ vā te demi, suvaṇṇaṁ vā te demi, khettaṁ vā te demi, vatthuṁ vā te demi, gāvuṁ vā te demi, gāviṁ vā te demi, dāsaṁ vā te demi, dāsiṁ vā te demi, dhītaraṁ vā te demi bhariyatthāya, ahaṁ vā te bhariyā homi, aññaṁ vā te bhariyaṁ ānemī’ti. Tatra ce bhikkhuno evaṁ hoti—‘lahuparivattaṁ kho cittaṁ vuttaṁ bhagavatā, siyāpi me brahmacariyassa antarāyo’ti, pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that a monk who has entered the rains residence is invited by a woman: ‘Come, venerable, I’ll give you money’, ‘I’ll give you gold’, ‘I’ll give you a field’, ‘I’ll give you land’, ‘I’ll give you an ox’, ‘I’ll give you a cow’, ‘I’ll give you a slave’, ‘I’ll give you my daughter as wife’, ‘I’ll be your wife’, ‘I’ll bring you another wife.’ If that monk thinks, ‘The Buddha has said that the mind is volatile. This could be an obstacle to my monastic life,’ he should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, một người phụ nữ mời một tỳ khưu đã an cư rằng: ‘Bạch ngài, xin hãy đến. Con sẽ dâng ngài vàng, hoặc con sẽ dâng ngài bạc, hoặc con sẽ dâng ngài ruộng, hoặc con sẽ dâng ngài đất, hoặc con sẽ dâng ngài bò đực, hoặc con sẽ dâng ngài bò cái, hoặc con sẽ dâng ngài nam nô, hoặc con sẽ dâng ngài nữ tỳ, hoặc con sẽ dâng ngài con gái của con để làm vợ, hoặc chính con sẽ làm vợ ngài, hoặc con sẽ mang đến cho ngài một người vợ khác.’ Nếu khi ấy vị tỳ khưu suy nghĩ như vầy: ‘Đức Thế Tôn đã dạy rằng tâm quả thật dễ thay đổi, có thể có chướng ngại cho phạm hạnh của ta,’ thì nên đi nơi khác. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagataṁ bhikkhuṁ vesī nimanteti …pe… thullakumārī nimanteti … paṇḍako nimanteti … ñātakā nimantenti … rājāno nimantenti … corā nimantenti … dhuttā nimantenti—‘ehi, bhante, hiraññaṁ vā te dema, suvaṇṇaṁ vā te dema, khettaṁ vā te dema, vatthuṁ vā te dema, gāvuṁ vā te dema, gāviṁ vā te dema, dāsaṁ vā te dema, dāsiṁ vā te dema, dhītaraṁ vā te dema bhariyatthāya, aññaṁ vā te bhariyaṁ ānemā’ti. Tatra ce bhikkhuno evaṁ hoti—‘lahuparivattaṁ kho cittaṁ vuttaṁ bhagavatā, siyāpi me brahmacariyassa antarāyo’ti, pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that a monk who has entered the rains residence is invited by a sex worker, by a single woman, by a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>, by relatives, by kings, by criminals, or by scoundrels: ‘Come, venerable, we’ll give you money’, ‘We’ll give you gold’, ‘We’ll give you a field’, ‘We’ll give you land’, ‘We’ll give you an ox’, ‘We’ll give you a cow’, ‘We’ll give you a slave’, ‘We’ll give you our daughter as wife’, ‘We’ll bring you another wife.’ If that monk thinks, ‘The Buddha has said that the mind is volatile. This could be an obstacle to my monastic life,’ he should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, một kỹ nữ mời một tỳ khưu đã an cư... một người đàn bà quá lứa mời... một người ái nam ái nữ mời... bà con quyến thuộc mời... các vị vua mời... bọn trộm cướp mời... bọn du đãng mời rằng: ‘Bạch ngài, xin hãy đến. Chúng con sẽ dâng ngài vàng, hoặc chúng con sẽ dâng ngài bạc, hoặc chúng con sẽ dâng ngài ruộng, hoặc chúng con sẽ dâng ngài đất, hoặc chúng con sẽ dâng ngài bò đực, hoặc chúng con sẽ dâng ngài bò cái, hoặc chúng con sẽ dâng ngài nam nô, hoặc chúng con sẽ dâng ngài nữ tỳ, hoặc chúng con sẽ dâng ngài con gái của chúng con để làm vợ, hoặc chúng con sẽ mang đến cho ngài một người vợ khác.’ Nếu khi ấy vị tỳ khưu suy nghĩ như vầy: ‘Đức Thế Tôn đã dạy rằng tâm quả thật dễ thay đổi, có thể có chướng ngại cho phạm hạnh của ta,’ thì nên đi nơi khác. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagato bhikkhu assāmikaṁ nidhiṁ passati. Tatra ce bhikkhuno evaṁ hoti—‘lahuparivattaṁ kho cittaṁ vuttaṁ bhagavatā, siyāpi me brahmacariyassa antarāyo’ti, pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that a monk who has entered the rains residence sees an ownerless treasure. If he thinks, ‘The Buddha has said that the mind is volatile. This could be an obstacle to my monastic life,’ he should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.”
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, một tỳ khưu đã an cư thấy một kho tàng vô chủ. Nếu khi ấy vị tỳ khưu suy nghĩ như vầy: ‘Đức Thế Tôn đã dạy rằng tâm quả thật dễ thay đổi, có thể có chướng ngại cho phạm hạnh của ta,’ thì nên đi nơi khác. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
8. Saṅghabhedeanāpattivassacchedavāra
8. The section on no offense for breaking the rains residence when there is schism in the Sangha
Monks pursuing schism
114. Phần về không có tội khi gián đoạn mùa mưa trong trường hợp Tăng chúng bị chia rẽ
Idha pana, bhikkhave, vassūpagato bhikkhu passati sambahule bhikkhū saṅghabhedāya parakkamante. Tatra ce bhikkhuno evaṁ hoti—‘garuko kho saṅghabhedo vutto bhagavatā; mā mayi sammukhībhūte saṅgho bhijjī’ti, pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
“It may happen that a monk who has entered the rains residence sees a number of monks who are pursuing schism in the Sangha. If he thinks, ‘The Buddha has said that schism in the Sangha is a serious matter. I don’t want the Sangha to be divided in my presence,’ he should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
202. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, một tỳ khưu đã an cư thấy nhiều tỳ khưu đang nỗ lực gây chia rẽ Tăng chúng. Nếu khi ấy vị tỳ khưu suy nghĩ như vầy: ‘Đức Thế Tôn đã dạy rằng việc chia rẽ Tăng chúng là tội trọng; mong rằng Tăng chúng không bị chia rẽ trước mặt ta,’ thì nên đi nơi khác. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagato bhikkhu suṇāti—‘asukasmiṁ kira āvāse sambahulā bhikkhū saṅghabhedāya parakkamantī’ti. Tatra ce bhikkhuno evaṁ hoti—‘garuko kho saṅghabhedo vutto bhagavatā; mā mayi sammukhībhūte saṅgho bhijjī’ti, pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that a monk who has entered the rains residence hears that a number of monks in such-and-such a monastery are pursuing schism in the Sangha. If he thinks, ‘The Buddha has said that schism in the Sangha is a serious matter. I don’t want the Sangha to be divided in my presence,’ he should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, một tỳ khưu đã an cư nghe rằng: ‘Tại trú xứ kia, nghe nói có nhiều tỳ khưu đang nỗ lực gây chia rẽ Tăng chúng.’ Nếu khi ấy vị tỳ khưu suy nghĩ như vầy: ‘Đức Thế Tôn đã dạy rằng việc chia rẽ Tăng chúng là tội trọng; mong rằng Tăng chúng không bị chia rẽ trước mặt ta,’ thì nên đi nơi khác. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagato bhikkhu suṇāti—‘asukasmiṁ kira āvāse sambahulā bhikkhū saṅghabhedāya parakkamantī’ti. Tatra ce bhikkhuno evaṁ hoti—‘te kho me bhikkhū mittā. Tyāhaṁ vakkhāmi “garuko kho, āvuso, saṅghabhedo vutto bhagavatā; māyasmantānaṁ saṅghabhedo ruccitthā”ti. Karissanti me vacanaṁ, sussūsissanti, sotaṁ odahissantī’ti, pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that a monk who has entered the rains residence hears that a number of monks in such-and-such a monastery are pursuing schism in the Sangha. If he thinks, ‘Those monks are my friends. I must tell them that the Buddha has said that schism in the Sangha is a serious matter, and I must ask them not to consent to it. They will act on what I say. They will listen and pay careful attention,’ then he should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã an cư mùa mưa nghe rằng: ‘Nghe nói ở tại trú xá tên là... có nhiều tỳ khưu đang nỗ lực để gây chia rẽ hội chúng.’ Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu có suy nghĩ như vầy: ‘Các tỳ khưu ấy là bạn của ta. Ta sẽ nói với họ rằng: “Thưa các hiền giả, việc chia rẽ hội chúng đã được đức Thế Tôn nói là trọng tội; mong các ngài đừng ưa thích việc chia rẽ hội chúng.” Họ sẽ làm theo lời của ta, sẽ lắng nghe, sẽ chú tâm nghe.’ thì nên ra đi. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagato bhikkhu suṇāti—‘asukasmiṁ kira āvāse sambahulā bhikkhū saṅghabhedāya parakkamantī’ti. Tatra ce bhikkhuno evaṁ hoti—‘te kho me bhikkhū na mittā; api ca ye tesaṁ mittā, te me mittā. Tyāhaṁ vakkhāmi. Te vuttā te vakkhanti “garuko kho, āvuso, saṅghabhedo vutto bhagavatā; māyasmantānaṁ saṅghabhedo ruccitthā”ti. Karissanti tesaṁ vacanaṁ, sussūsissanti, sotaṁ odahissantī’ti, pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that a monk who has entered the rains residence hears that a number of monks in such-and-such a monastery are pursuing schism in the Sangha. If he thinks, ‘Those monks are not my friends, but we have friends in common. If I speak to my friends, they will tell those monks that the Buddha has said that schism in the Sangha is a serious matter, and they will ask them not to consent to it. Those monks will act on what my friends say. They will listen and pay careful attention,’ then he should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã an cư mùa mưa nghe rằng: ‘Nghe nói ở tại trú xá tên là... có nhiều tỳ khưu đang nỗ lực để gây chia rẽ hội chúng.’ Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu có suy nghĩ như vầy: ‘Các tỳ khưu ấy không phải là bạn của ta; tuy nhiên, những vị là bạn của họ lại là bạn của ta. Ta sẽ nói với các vị ấy. Khi được nói, các vị ấy sẽ nói với các tỳ khưu kia rằng: “Thưa các hiền giả, việc chia rẽ hội chúng đã được đức Thế Tôn nói là trọng tội; mong các ngài đừng ưa thích việc chia rẽ hội chúng.” Họ sẽ làm theo lời của các vị ấy, sẽ lắng nghe, sẽ chú tâm nghe.’ thì nên ra đi. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagato bhikkhu suṇāti—‘asukasmiṁ kira āvāse sambahulehi bhikkhūhi saṅgho bhinno’ti. Tatra ce bhikkhuno evaṁ hoti—‘te kho me bhikkhū mittā. Tyāhaṁ vakkhāmi “garuko kho, āvuso, saṅghabhedo vutto bhagavatā; māyasmantānaṁ saṅghabhedo ruccitthā”ti. Karissanti me vacanaṁ, sussūsissanti, sotaṁ odahissantī’ti, pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that a monk who has entered the rains residence hears that a number of monks in such-and-such a monastery have caused a schism in the Sangha. If he thinks, ‘Those monks are my friends. I must tell them that the Buddha has said that schism in the Sangha is a serious matter, and I must ask them not to consent to it. They will act on what I say. They will listen and pay careful attention,’ then he should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã an cư mùa mưa nghe rằng: ‘Nghe nói ở tại trú xá tên là... hội chúng đã bị chia rẽ bởi nhiều tỳ khưu.’ Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu có suy nghĩ như vầy: ‘Các tỳ khưu ấy là bạn của ta. Ta sẽ nói với họ rằng: “Thưa các hiền giả, việc chia rẽ hội chúng đã được đức Thế Tôn nói là trọng tội; mong các ngài đừng ưa thích việc chia rẽ hội chúng.” Họ sẽ làm theo lời của ta, sẽ lắng nghe, sẽ chú tâm nghe.’ thì nên ra đi. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagato bhikkhu suṇāti—‘asukasmiṁ kira āvāse sambahulehi bhikkhūhi saṅgho bhinno’ti. Tatra ce bhikkhuno evaṁ hoti—‘te kho me bhikkhū na mittā; api ca ye tesaṁ mittā te me mittā. Tyāhaṁ vakkhāmi. Te vuttā te vakkhanti “garuko kho, āvuso, saṅghabhedo vutto bhagavatā; māyasmantānaṁ saṅghabhedo ruccitthā”ti. Karissanti tesaṁ vacanaṁ, sussūsissanti, sotaṁ odahissantī’ti, pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that a monk who has entered the rains residence hears that a number of monks in such-and-such a monastery have caused a schism in the Sangha. If he thinks, ‘Those monks are not my friends, but we have friends in common. If I speak to my friends, they will tell those monks that the Buddha has said that schism in the Sangha is a serious matter, and they will ask them not to consent to it. Those monks will act on what my friends say. They will listen and pay careful attention,’ then he should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.”
Nuns pursuing schism
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã an cư mùa mưa nghe rằng: ‘Nghe nói ở tại trú xá tên là... hội chúng đã bị chia rẽ bởi nhiều tỳ khưu.’ Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu có suy nghĩ như vầy: ‘Các tỳ khưu ấy không phải là bạn của ta; tuy nhiên, những vị là bạn của họ lại là bạn của ta. Ta sẽ nói với các vị ấy. Khi được nói, các vị ấy sẽ nói với các tỳ khưu kia rằng: “Thưa các hiền giả, việc chia rẽ hội chúng đã được đức Thế Tôn nói là trọng tội; mong các ngài đừng ưa thích việc chia rẽ hội chúng.” Họ sẽ làm theo lời của các vị ấy, sẽ lắng nghe, sẽ chú tâm nghe.’ thì nên ra đi. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagato bhikkhu suṇāti—‘amukasmiṁ kira āvāse sambahulā bhikkhuniyo saṅghabhedāya parakkamantī’ti. Tatra ce bhikkhuno evaṁ hoti—‘tā kho me bhikkhuniyo mittā. Tāhaṁ vakkhāmi “garuko kho, bhaginiyo, saṅghabhedo vutto bhagavatā; mā bhaginīnaṁ saṅghabhedo ruccitthā”ti. Karissanti me vacanaṁ, sussūsissanti, sotaṁ odahissantī’ti, pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
“It may happen that a monk who has entered the rains residence hears that a number of nuns in such-and-such a monastery are pursuing schism in the Sangha. If he thinks, ‘Those nuns are my friends. I must tell them that the Buddha has said that schism in the Sangha is a serious matter, and I must ask them not to consent to it. They will act on what I say. They will listen and pay careful attention,’ then he should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã an cư mùa mưa nghe rằng: ‘Nghe nói ở tại trú xá tên là... có nhiều tỳ khưu ni đang nỗ lực để gây chia rẽ hội chúng.’ Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu có suy nghĩ như vầy: ‘Các tỳ khưu ni ấy là bạn của ta. Ta sẽ nói với họ rằng: “Thưa các chị em, việc chia rẽ hội chúng đã được đức Thế Tôn nói là trọng tội; mong các chị em đừng ưa thích việc chia rẽ hội chúng.” Họ sẽ làm theo lời của ta, sẽ lắng nghe, sẽ chú tâm nghe.’ thì nên ra đi. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagato bhikkhu suṇāti—‘amukasmiṁ kira āvāse sambahulā bhikkhuniyo saṅghabhedāya parakkamantī’ti. Tatra ce bhikkhuno evaṁ hoti—‘tā kho me bhikkhuniyo na mittā. Api ca yā tāsaṁ mittā, tā me mittā. Tāhaṁ vakkhāmi. Tā vuttā tā vakkhanti “garuko kho, bhaginiyo, saṅghabhedo vutto bhagavatā. Mā bhaginīnaṁ saṅghabhedo ruccitthā”ti. Karissanti tāsaṁ vacanaṁ, sussūsissanti, sotaṁ odahissantī’ti, pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that a monk who has entered the rains residence hears that a number of nuns in such-and-such a monastery are pursuing schism in the Sangha. If he thinks, ‘Those nuns are not my friends, but we have friends in common. If I speak to my friends, they will tell those nuns what the Buddha has said about schism in the Sangha being a serious matter, and they will ask them not to consent to it. Those nuns will act on what my friends say. They will listen and pay careful attention,’ then he should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã an cư mùa mưa nghe rằng: ‘Nghe nói ở tại trú xá tên là... có nhiều tỳ khưu ni đang nỗ lực để gây chia rẽ hội chúng.’ Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu có suy nghĩ như vầy: ‘Các tỳ khưu ni ấy không phải là bạn của ta. Tuy nhiên, những vị là bạn của họ lại là bạn của ta. Ta sẽ nói với các vị ấy. Khi được nói, các vị ấy sẽ nói với các tỳ khưu ni kia rằng: “Thưa các chị em, việc chia rẽ hội chúng đã được đức Thế Tôn nói là trọng tội. Mong các chị em đừng ưa thích việc chia rẽ hội chúng.” Họ sẽ làm theo lời của các vị ấy, sẽ lắng nghe, sẽ chú tâm nghe.’ thì nên ra đi. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagato bhikkhu suṇāti—‘amukasmiṁ kira āvāse sambahulāhi bhikkhunīhi saṅgho bhinno’ti. Tatra ce bhikkhuno evaṁ hoti—‘tā kho me bhikkhuniyo mittā. Tāhaṁ vakkhāmi “garuko kho, bhaginiyo, saṅghabhedo vutto bhagavatā. Mā bhaginīnaṁ saṅghabhedo ruccitthā”ti. Karissanti me vacanaṁ, sussūsissanti, sotaṁ odahissantī’ti, pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassa.
It may happen that a monk who has entered the rains residence hears that a number of nuns in such-and-such a monastery have caused a schism in the Sangha. If he thinks, ‘Those nuns are my friends. I must tell them that the Buddha has said that schism in the Sangha is a serious matter, and I must ask them not to consent to it. They will act on what I say. They will listen and pay careful attention,’ then he should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã an cư mùa mưa nghe rằng: ‘Nghe nói ở tại trú xá tên là... hội chúng đã bị chia rẽ bởi nhiều tỳ khưu ni.’ Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu có suy nghĩ như vầy: ‘Các tỳ khưu ni ấy là bạn của ta. Ta sẽ nói với họ rằng: “Thưa các chị em, việc chia rẽ hội chúng đã được đức Thế Tôn nói là trọng tội. Mong các chị em đừng ưa thích việc chia rẽ hội chúng.” Họ sẽ làm theo lời của ta, sẽ lắng nghe, sẽ chú tâm nghe.’ thì nên ra đi. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
Idha pana, bhikkhave, vassūpagato bhikkhu suṇāti—‘amukasmiṁ kira āvāse sambahulāhi bhikkhunīhi saṅgho bhinno’ti. Tatra ce bhikkhuno evaṁ hoti—‘tā kho me bhikkhuniyo na mittā. Api ca yā tāsaṁ mittā tā me mittā. Tāhaṁ vakkhāmi. Tā vuttā tā vakkhanti “garuko kho, bhaginiyo, saṅghabhedo vutto bhagavatā; mā bhaginīnaṁ saṅghabhedo ruccitthā”ti. Karissanti tāsaṁ vacanaṁ, sussūsissanti, sotaṁ odahissantī’ti, pakkamitabbaṁ. Anāpatti vassacchedassā”ti.
It may happen that a monk who has entered the rains residence hears that a number of nuns in such-and-such a monastery have caused a schism in the Sangha. If he thinks, ‘Those nuns are not my friends, but we have friends in common. If I speak to my friends, they will tell those nuns what the Buddha has said about schism in the Sangha being a serious matter, and they will ask them not to consent to it. Those nuns will act on what my friends say. They will listen and pay careful attention,’ then he should leave. There’s no offense for breaking the rains residence.”
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã an cư mùa mưa nghe rằng: ‘Nghe nói ở tại trú xá tên là... hội chúng đã bị chia rẽ bởi nhiều tỳ khưu ni.’ Trong trường hợp ấy, nếu vị tỳ khưu có suy nghĩ như vầy: ‘Các tỳ khưu ni ấy không phải là bạn của ta. Tuy nhiên, những vị là bạn của họ lại là bạn của ta. Ta sẽ nói với các vị ấy. Khi được nói, các vị ấy sẽ nói với các tỳ khưu ni kia rằng: “Thưa các chị em, việc chia rẽ hội chúng đã được đức Thế Tôn nói là trọng tội; mong các chị em đừng ưa thích việc chia rẽ hội chúng.” Họ sẽ làm theo lời của các vị ấy, sẽ lắng nghe, sẽ chú tâm nghe.’ thì nên ra đi. Không có tội về việc gián đoạn mùa mưa.
9. Vajādīsuvassūpagamana
9. Entering the rains residence in a cowherd’s dwelling, etc.
115. Việc an cư mùa mưa ở tại chuồng bò, v.v...
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu vaje vassaṁ upagantukāmo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, vaje vassaṁ upagantun”ti.
Vajo vuṭṭhāsi. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, yena vajo tena gantun”ti.
On one occasion a certain monk wanted to enter the rains residence in a cowherd’s dwelling. They told the Buddha.
“I allow you to enter the rains residence in a cowherd’s dwelling.”
The cowherd’s dwelling was moved.
“I allow you to go where the cowherd’s dwelling is.”
203. Vào lúc bấy giờ, có một tỳ khưu nào đó muốn an cư mùa mưa ở tại chuồng bò. (Các tỳ khưu) đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép an cư mùa mưa ở tại chuồng bò.” Chuồng bò ấy đã di chuyển. (Các tỳ khưu) đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép đi đến nơi nào có chuồng bò.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu upakaṭṭhāya vassūpanāyikāya satthena gantukāmo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, satthe vassaṁ upagantun”ti.
On one occasion, as the entry to the rains residence was getting close, a certain monk wanted to travel by caravan.
“I allow you to enter the rains residence in a caravan.”
Vào lúc bấy giờ, khi mùa an cư đã gần kề, có một tỳ khưu nào đó muốn đi cùng với đoàn thương buôn. (Các tỳ khưu) đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép an cư mùa mưa ở trong đoàn thương buôn.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu upakaṭṭhāya vassūpanāyikāya nāvāya gantukāmo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, nāvāya vassaṁ upagantun”ti.
On one occasion, as the entry to the rains residence was getting close, a certain monk wanted to travel by boat.
“I allow you to enter the rains residence on a boat.”
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ muốn đi bằng thuyền khi mùa an cư sắp đến. (Các vị tỳ khưu) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán rằng:) "Này các tỳ khưu, Ta cho phép an cư mùa mưa ở trên thuyền."
10. Vassaṁanupagantabbaṭṭhāna
10. Places where the rains residence should not be entered
Những nơi không nên an cư mùa mưa
Tena kho pana samayena bhikkhū rukkhasusire vassaṁ upagacchanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi pisācillikā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, rukkhasusire vassaṁ upagantabbaṁ. Yo upagaccheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time monks entered the rains residence in the hollow of a tree. People complained and criticized them, “They’re just like goblins.”
“You shouldn’t enter the rains residence in the hollow of a tree. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
116. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu an cư mùa mưa ở trong hốc cây. Dân chúng phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: “Giống như là yêu tinh nhỏ vậy.” (Các vị tỳ khưu) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán rằng:) “Này các tỳ khưu, không được an cư mùa mưa ở trong hốc cây. Vị nào an cư thì phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena bhikkhū rukkhaviṭabhiyā vassaṁ upagacchanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi migaluddakā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, rukkhaviṭabhiyā vassaṁ upagantabbaṁ. Yo upagaccheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time monks entered the rains residence in the fork of a tree. People complained and criticized them, “They’re just like deer hunters.”
“You shouldn’t enter the rains residence in the fork of a tree. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
204. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu an cư mùa mưa ở trên chạc cây. Dân chúng phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: “Giống như là thợ săn vậy.” (Các vị tỳ khưu) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán rằng:) “Này các tỳ khưu, không được an cư mùa mưa ở trên chạc cây. Vị nào an cư thì phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena bhikkhū ajjhokāse vassaṁ upagacchanti. Deve vassante rukkhamūlampi nibbakosampi upadhāvanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, ajjhokāse vassaṁ upagantabbaṁ. Yo upagaccheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time monks entered the rains residence out in the open. When it was raining, they ran for cover under trees and eaves.
“You shouldn’t enter the rains residence out in the open. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu an cư mùa mưa ở ngoài trời. Khi trời mưa, họ chạy đến cả gốc cây, cả mái hiên. (Các vị tỳ khưu) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán rằng:) “Này các tỳ khưu, không được an cư mùa mưa ở ngoài trời. Vị nào an cư thì phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena bhikkhū asenāsanikā vassaṁ upagacchanti. Sītenapi kilamanti, uṇhenapi kilamanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, asenāsanikena vassaṁ upagantabbaṁ. Yo upagaccheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time monks entered the rains residence without a dwelling. They suffered in the cold and the heat.
“You shouldn’t enter the rains residence without a dwelling. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu an cư mùa mưa trong tình trạng không có chỗ ở. Họ bị khổ sở vì lạnh và cũng bị khổ sở vì nóng. (Các vị tỳ khưu) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán rằng:) “Này các tỳ khưu, không được an cư mùa mưa khi không có chỗ ở. Vị nào an cư thì phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena bhikkhū chavakuṭikāya vassaṁ upagacchanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi chavaḍāhakā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, chavakuṭikāya vassaṁ upagantabbaṁ. Yo upagaccheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time monks entered the rains residence in a charnel house. People complained and criticized them, “They’re just like undertakers.”
“You shouldn’t enter the rains residence in a charnel house. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu an cư mùa mưa ở trong lều để xác chết. Dân chúng phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: “Giống như là người thiêu xác vậy.” (Các vị tỳ khưu) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán rằng:) “Này các tỳ khưu, không được an cư mùa mưa ở trong lều để xác chết. Vị nào an cư thì phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena bhikkhū chatte vassaṁ upagacchanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gopālakā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, chatte vassaṁ upagantabbaṁ. Yo upagaccheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time monks entered the rains residence under a sunshade. People complained and criticized them, “They’re just like cowherds.”
“You shouldn’t enter the rains residence under a sunshade. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu an cư mùa mưa ở dưới cây dù. Dân chúng phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: “Giống như là người chăn bò vậy.” (Các vị tỳ khưu) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán rằng:) “Này các tỳ khưu, không được an cư mùa mưa ở dưới cây dù. Vị nào an cư thì phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena bhikkhū cāṭiyā vassaṁ upagacchanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi titthiyā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, cāṭiyā vassaṁ upagantabbaṁ. Yo upagaccheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time monks entered the rains residence in a large earthenware pot. People complained and criticized them, “They’re just like the monastics of other religions.”
“You shouldn’t enter the rains residence in a large earthenware pot. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu an cư mùa mưa ở trong cái lu lớn. Dân chúng phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: “Giống như là người ngoại đạo vậy.” (Các vị tỳ khưu) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán rằng:) “Này các tỳ khưu, không được an cư mùa mưa ở trong cái lu lớn. Vị nào an cư thì phạm tội tác ác.”
11. Adhammikakatikā
11. Illegitimate agreements
Quy ước phi pháp
Tena kho pana samayena sāvatthiyā saṅghena evarūpā katikā katā hoti—“antarāvassaṁ na pabbājetabban”ti. Visākhāya migāramātuyā nattā bhikkhū upasaṅkamitvā pabbajjaṁ yāci. Bhikkhū evamāhaṁsu—“saṅghena kho, āvuso, evarūpā katikā katā ‘antarāvassaṁ na pabbājetabban’ti. Āgamehi, āvuso, yāva bhikkhū vassaṁ vasanti. Vassaṁvuṭṭhā pabbājessantī”ti.
Atha kho te bhikkhū vassaṁvuṭṭhā visākhāya migāramātuyā nattāraṁ etadavocuṁ—“ehi dāni, āvuso, pabbajāhī”ti. So evamāha—“sacāhaṁ, bhante, pabbajito assaṁ, abhirameyyāmahaṁ. Na dānāhaṁ, bhante, pabbajissāmī”ti. Visākhā migāramātā ujjhāyati khiyyati vipāceti—“kathañhi nāma ayyā evarūpaṁ katikaṁ karissanti—‘na antarāvassaṁ pabbājetabban’ti. Kaṁ kālaṁ dhammo na caritabbo”ti?
Assosuṁ kho bhikkhū visākhāya migāramātuyā ujjhāyantiyā khiyyantiyā vipācentiyā. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, evarūpā katikā kātabbā—‘na antarāvassaṁ pabbājetabban’ti. Yo kareyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time the Sangha at Sāvatthī had made an agreement that they would not give the going forth during the rains residence. Then, one of Visākhā’s grandsons went to the monks and asked for the going forth. The monks told him about their agreement, adding, “Please wait while the monks observe the rains residence. Once we’ve completed the rains residence, we’ll give you the going forth.”
When they had completed the rains residence, the monks told Visākhā’s grandson that they would give him the going forth. He replied, “If I had been given the going forth, venerables, I would have enjoyed it. But now I won’t do it.” Visākhā complained and criticized those monks, “How could the venerables make an agreement that they wouldn’t give the going forth during the rains residence? Is there a time when the Teaching shouldn’t be practiced?”
The monks heard Visākhā’s complaints and told the Buddha.
“You shouldn’t make an agreement that you won’t give the going forth during the rains residence. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, Tăng chúng ở Sāvatthī đã lập một quy ước như vầy: “Không nên cho xuất gia trong mùa mưa.” Người cháu của bà Visākhā Migāramātā đã đến gặp các vị tỳ khưu và xin xuất gia. Các vị tỳ khưu đã nói như sau: “Này hiền giả, Tăng chúng đã lập một quy ước như vầy: ‘Không nên cho xuất gia trong mùa mưa.’ Này hiền giả, hãy chờ cho đến khi các vị tỳ khưu an cư xong. Sau khi mãn hạ, họ sẽ cho xuất gia.” Về sau, sau khi đã mãn hạ, các vị tỳ khưu ấy đã nói với người cháu của bà Visākhā Migāramātā rằng: “Này hiền giả, bây giờ hãy đến xuất gia đi.” Người ấy đã nói như sau: “Bạch các ngài, nếu con được xuất gia (trong mùa mưa), con đã có thể hoan hỷ. Bạch các ngài, bây giờ con không xuất gia nữa.” Bà Visākhā Migāramātā phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: “Làm sao mà các ngài lại có thể lập một quy ước như vậy: ‘Không nên cho xuất gia trong mùa mưa’? Vào thời điểm nào mà không nên thực hành Pháp?” Các vị tỳ khưu đã nghe được (lời) của bà Visākhā Migāramātā đang phàn nàn, đang chê bai, đang dị nghị. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán rằng:) “Này các tỳ khưu, không được lập quy ước như vầy: ‘Không nên cho xuất gia trong mùa mưa.’ Vị nào lập thì phạm tội tác ác.”
12. Paṭissavadukkaṭāpatti
Tena kho pana samayena āyasmatā upanandena sakyaputtena rañño pasenadissa kosalassa vassāvāso paṭissuto hoti purimikāya. So taṁ āvāsaṁ gacchanto addasa antarāmagge dve āvāse bahucīvarake. Tassa etadahosi—“yannūnāhaṁ imesu dvīsu āvāsesu vassaṁ vaseyyaṁ. Evaṁ me bahuṁ cīvaraṁ uppajjissatī”ti.
12. An offense of wrong conduct for agreeing
On one occasion Venerable Upananda the Sakyan had agreed to spend the first rains residence at the invitation of King Pasenadi of Kosala. As he was going to the monastery provided by the king, he saw two monasteries with much robe-cloth. He thought, “Why don’t I spend the rains residence in these two monasteries? That way I’ll get much robe-cloth.”
117. Tội tác ác về việc hứa hẹn
Rājā pasenadi kosalo ujjhāyati khiyyati vipāceti—“kathañhi nāma ayyo upanando sakyaputto amhākaṁ vassāvāsaṁ paṭissuṇitvā visaṁvādessati. Nanu bhagavatā anekapariyāyena musāvādo garahito, musāvādā veramaṇī pasatthā”ti.
Assosuṁ kho bhikkhū rañño pasenadissa kosalassa ujjhāyantassa khiyyantassa vipācentassa. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma āyasmā upanando sakyaputto rañño pasenadissa kosalassa vassāvāsaṁ paṭissuṇitvā visaṁvādessati. Nanu bhagavatā anekapariyāyena musāvādo garahito, musāvādā veramaṇī pasatthā”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā āyasmantaṁ upanandaṁ sakyaputtaṁ paṭipucchi—“saccaṁ kira tvaṁ, upananda, rañño pasenadissa kosalassa vassāvāsaṁ paṭissuṇitvā visaṁvādesī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, rañño pasenadissa kosalassa vassāvāsaṁ paṭissuṇitvā visaṁvādessasi. Nanu mayā, moghapurisa, anekapariyāyena musāvādo garahito, musāvādā veramaṇī pasatthā. Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
King Pasenadi complained and criticized him, “How could Upananda agree to spend the rains residence in my monastery, but then break his word? Hasn’t the Buddha in many ways criticized lying and praised truthfulness?”
The monks heard the king’s complaints, and the monks of few desires complained and criticized Upananda, “How could Upananda act like this?” And they told the Buddha. Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned Upananda: “Is it true that you acted like this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked him … “Foolish man, how could you agree to spend the rains residence at the invitation of King Pasenadi, but then break your word? Haven’t I criticized lying in many ways and praised truthfulness? This will affect people’s confidence …” After rebuking him … he gave a teaching and addressed the monks:
206. Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Upananda, người thuộc dòng dõi Sakya, đã nhận lời an cư mùa mưa tiền phần tại trú xứ của vua Pasenadi xứ Kosala. Vị ấy trong khi đi đến trú xứ ấy, đã nhìn thấy ở dọc đường có hai trú xứ có nhiều y. Vị ấy đã có suy nghĩ này: ‘Chắc chắn ta nên an cư mùa mưa ở hai trú xứ này. Như vậy, nhiều y sẽ phát sanh đến cho ta.’ Vị ấy đã an cư mùa mưa ở hai trú xứ ấy. Vua Pasenadi xứ Kosala đã phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: ‘Tại sao trưởng lão Upananda, người thuộc dòng dõi Sakya, sau khi đã nhận lời an cư mùa mưa ở trú xứ của chúng ta lại thất hứa? Chẳng phải đức Thế Tôn đã quở trách sự nói dối bằng nhiều phương cách, đã tán dương sự từ bỏ nói dối hay sao?’ Các tỳ khưu đã nghe được lời của vua Pasenadi xứ Kosala đang phàn nàn, chê bai, chỉ trích. Các vị tỳ khưu thiểu dục ... (như trên) ... các vị ấy đã phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: ‘Tại sao trưởng lão Upananda, người thuộc dòng dõi Sakya, sau khi đã nhận lời an cư mùa mưa ở trú xứ của vua Pasenadi xứ Kosala lại thất hứa? Chẳng phải đức Thế Tôn đã quở trách sự nói dối bằng nhiều phương cách, đã tán dương sự từ bỏ nói dối hay sao?’ Khi ấy, các tỳ khưu ấy đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... (như trên) ... Khi ấy, đức Thế Tôn nhân sự việc này, trong trường hợp này, sau khi đã cho hội họp chúng tỳ khưu, đã hỏi trưởng lão Upananda, người thuộc dòng dõi Sakya rằng: ‘Này Upananda, có thật là ngươi, sau khi đã nhận lời an cư mùa mưa ở trú xứ của vua Pasenadi xứ Kosala, đã thất hứa không?’ – ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách ... (như trên) ... ‘Này kẻ rỗng tuếch, tại sao ngươi, sau khi đã nhận lời an cư mùa mưa ở trú xứ của vua Pasenadi xứ Kosala, lại thất hứa? Này kẻ rỗng tuếch, chẳng phải Ta đã quở trách sự nói dối bằng nhiều phương cách, đã tán dương sự từ bỏ nói dối hay sao? Này kẻ rỗng tuếch, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin được phát sanh đức tin ... (như trên) ...’ Sau khi đã quở trách ... (như trên) ... sau khi đã thuyết pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ khưu:
“Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti purimikāya. So taṁ āvāsaṁ gacchanto passati antarāmagge dve āvāse bahucīvarake. Tassa evaṁ hoti—‘yannūnāhaṁ imesu dvīsu āvāsesu vassaṁ vaseyyaṁ. Evaṁ me bahuṁ cīvaraṁ uppajjissatī’ti. So tesu dvīsu āvāsesu vassaṁ vasati.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimikā ca na paññāyati, paṭissave ca āpatti dukkaṭassa.
“It may happen that a monk agrees to spend the first rains residence in a particular monastery. While on his way to that monastery, he sees two monasteries with much robe-cloth. He thinks, ‘Why don’t I spend the rains residence in these two monasteries? That way I’ll get much robe-cloth.’ And he does spend the rains residence in those two monasteries.
The first rains residence doesn’t count for that monk. And there’s an offense of wrong conduct for agreeing.”
The first rains residence: observance-day outside monastery
207. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời an cư mùa mưa tiền phần. Vị ấy trong khi đi đến trú xứ ấy, nhìn thấy ở dọc đường có hai trú xứ có nhiều y. Vị ấy có suy nghĩ như vầy: ‘Chắc chắn ta nên an cư mùa mưa ở hai trú xứ này. Như vậy, nhiều y sẽ phát sanh đến cho ta.’ Vị ấy đã an cư mùa mưa ở hai trú xứ ấy. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa mưa tiền phần không được kể, và do việc nhận lời, có sự phạm tội dukkaṭa.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti purimikāya. So taṁ āvāsaṁ gacchanto bahiddhā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So tadaheva akaraṇīyo pakkamati.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimikā ca na paññāyati, paṭissave ca āpatti dukkaṭassa.
“It may happen that a monk agrees to spend the first rains residence in a particular monastery. While on his way to that monastery, he does the observance-day ceremony outside. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. He then leaves on that very day, despite not having any business.
The first rains residence doesn’t count for that monk. And there’s an offense of wrong conduct for agreeing.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời an cư mùa mưa tiền phần. Vị ấy trong khi đi đến trú xứ ấy, đã làm lễ uposatha ở bên ngoài, vào ngày mồng một (sau rằm) đi đến tu viện, dọn dẹp chỗ ở, chuẩn bị nước uống và nước dùng, quét dọn khuôn viên. Vị ấy không có việc cần làm, đã ra đi ngay trong ngày hôm đó. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa mưa tiền phần không được kể, và do việc nhận lời, có sự phạm tội dukkaṭa.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti purimikāya. So taṁ āvāsaṁ gacchanto bahiddhā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So tadaheva sakaraṇīyo pakkamati.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimikā ca na paññāyati, paṭissave ca āpatti dukkaṭassa.
It may happen that a monk agrees to spend the first rains residence in a particular monastery. While on his way to that monastery, he does the observance-day ceremony outside. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. He then leaves on that very day because of business.
The first rains residence doesn’t count for that monk. And there’s an offense of wrong conduct for agreeing.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời an cư mùa mưa tiền phần. Vị ấy trong khi đi đến trú xứ ấy, đã làm lễ uposatha ở bên ngoài, vào ngày mồng một (sau rằm) đi đến tu viện, dọn dẹp chỗ ở, chuẩn bị nước uống và nước dùng, quét dọn khuôn viên. Vị ấy có việc cần làm, đã ra đi ngay trong ngày hôm đó. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa mưa tiền phần không được kể, và do việc nhận lời, có sự phạm tội dukkaṭa.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti purimikāya. So taṁ āvāsaṁ gacchanto bahiddhā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So dvīhatīhaṁ vasitvā akaraṇīyo pakkamati.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimikā ca na paññāyati, paṭissave ca āpatti dukkaṭassa.
It may happen that a monk agrees to spend the first rains residence in a particular monastery. While on his way to that monastery, he does the observance-day ceremony outside. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. After staying there for two or three days, he leaves, despite not having any business.
The first rains residence doesn’t count for that monk. And there’s an offense of wrong conduct for agreeing.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời an cư mùa mưa tiền phần. Vị ấy trong khi đi đến trú xứ ấy, đã làm lễ uposatha ở bên ngoài, vào ngày mồng một (sau rằm) đi đến tu viện, dọn dẹp chỗ ở, chuẩn bị nước uống và nước dùng, quét dọn khuôn viên. Vị ấy sau khi đã ở lại hai hoặc ba ngày, không có việc cần làm, đã ra đi. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa mưa tiền phần không được kể, và do việc nhận lời, có sự phạm tội dukkaṭa.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti purimikāya. So taṁ āvāsaṁ gacchanto bahiddhā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So dvīhatīhaṁ vasitvā sakaraṇīyo pakkamati.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimikā ca na paññāyati, paṭissave ca āpatti dukkaṭassa.
It may happen that a monk agrees to spend the first rains residence in a particular monastery. While on his way to that monastery, he does the observance-day ceremony outside. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. After staying there for two or three days, he leaves because of business.
The first rains residence doesn’t count for that monk. And there’s an offense of wrong conduct for agreeing.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời an cư mùa mưa tiền phần. Vị ấy trong khi đi đến trú xứ ấy, đã làm lễ uposatha ở bên ngoài, vào ngày mồng một (sau rằm) đi đến tu viện, dọn dẹp chỗ ở, chuẩn bị nước uống và nước dùng, quét dọn khuôn viên. Vị ấy sau khi đã ở lại hai hoặc ba ngày, có việc cần làm, đã ra đi. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa mưa tiền phần không được kể, và do việc nhận lời, có sự phạm tội dukkaṭa.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti purimikāya. So taṁ āvāsaṁ gacchanto bahiddhā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So dvīhatīhaṁ vasitvā sattāhakaraṇīyena pakkamati. So taṁ sattāhaṁ bahiddhā vītināmeti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimikā ca na paññāyati, paṭissave ca āpatti dukkaṭassa.
It may happen that a monk agrees to spend the first rains residence in a particular monastery. While on his way to that monastery, he does the observance-day ceremony outside. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. After staying there for two or three days, he leaves on seven-day business. But he stays away for more than seven days.
The first rains residence doesn’t count for that monk. And there’s an offense of wrong conduct for agreeing.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời an cư mùa mưa tiền phần. Vị ấy trong khi đi đến trú xứ ấy, đã làm lễ uposatha ở bên ngoài, vào ngày mồng một (sau rằm) đi đến tu viện, dọn dẹp chỗ ở, chuẩn bị nước uống và nước dùng, quét dọn khuôn viên. Vị ấy sau khi đã ở lại hai hoặc ba ngày, đã ra đi với công việc bảy ngày. Vị ấy đã trải qua bảy ngày ấy ở bên ngoài. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa mưa tiền phần không được kể, và do việc nhận lời, có sự phạm tội dukkaṭa.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti purimikāya. So taṁ āvāsaṁ gacchanto bahiddhā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So dvīhatīhaṁ vasitvā sattāhakaraṇīyena pakkamati. So taṁ sattāhaṁ anto sannivattaṁ karoti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimikā ca paññāyati, paṭissave ca anāpatti.
It may happen that a monk agrees to spend the first rains residence in a particular monastery. While on his way to that monastery, he does the observance-day ceremony outside. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. After staying there for two or three days, he leaves on seven-day business. And he returns within seven days.
The first rains residence does count for that monk. And there’s no offense for agreeing.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời an cư mùa mưa tiền. Vị ấy trong khi đi đến trú xứ ấy đã làm lễ uposatha ở bên ngoài, vào ngày pāṭipada nên đi đến ngôi tịnh xá, nên dọn dẹp sàng tọa, nên chuẩn bị nước uống và nước dùng, nên quét dọn khuôn viên. Vị ấy sau khi đã ở hai ba ngày, ra đi vì có công việc bảy ngày. Vị ấy nên thực hiện việc quay về bên trong bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa mưa tiền được kể là có, và không có tội do việc nhận lời.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti purimikāya. So taṁ āvāsaṁ gacchanto bahiddhā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So sattāhaṁ anāgatāya pavāraṇāya sakaraṇīyo pakkamati.
Āgaccheyya vā so, bhikkhave, bhikkhu taṁ āvāsaṁ na vā āgaccheyya, tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimikā ca paññāyati, paṭissave ca anāpatti.
It may happen that a monk agrees to spend the first rains residence in a particular monastery. While on his way to that monastery, he does the observance-day ceremony outside. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. Seven days before the invitation ceremony, he leaves because of business.
Whether he returns to that monastery or not, the first rains residence does count for that monk. And there’s no offense for agreeing.”
The first rains residence: observance-day within monastery
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời an cư mùa mưa tiền. Vị ấy trong khi đi đến trú xứ ấy đã làm lễ uposatha ở bên ngoài, vào ngày pāṭipada nên đi đến ngôi tịnh xá, nên dọn dẹp sàng tọa, nên chuẩn bị nước uống và nước dùng, nên quét dọn khuôn viên. Vị ấy có công việc nên ra đi vào ngày lễ pavāraṇā chưa đến bảy ngày. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy dù có đến trú xứ ấy hay không đến, này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa mưa tiền được kể là có, và không có tội do việc nhận lời.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti purimikāya. So taṁ āvāsaṁ gantvā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So tadaheva akaraṇīyo pakkamati.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimikā ca na paññāyati, paṭissave ca āpatti dukkaṭassa.
“It may happen that a monk agrees to spend the first rains residence in a particular monastery. When he’s arrived at that monastery, he does the observance-day ceremony. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. He then leaves on that very day, despite not having any business.
The first rains residence doesn’t count for that monk. And there’s an offense of wrong conduct for agreeing.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời an cư mùa mưa tiền. Vị ấy sau khi đã đi đến trú xứ ấy, đã làm lễ uposatha, vào ngày pāṭipada nên đi đến ngôi tịnh xá, nên dọn dẹp sàng tọa, nên chuẩn bị nước uống và nước dùng, nên quét dọn khuôn viên. Vị ấy không có công việc, đã ra đi ngay trong ngày ấy. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa mưa tiền không được kể là có, và có tội dukkaṭa do việc nhận lời.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti purimikāya. So taṁ āvāsaṁ gantvā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So tadaheva sakaraṇīyo pakkamati …pe… so dvīhatīhaṁ vasitvā akaraṇīyo pakkamati …pe… so dvīhatīhaṁ vasitvā sakaraṇīyo pakkamati …pe… so dvīhatīhaṁ vasitvā sattāhakaraṇīyena pakkamati. So taṁ sattāhaṁ bahiddhā vītināmeti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimikā ca na paññāyati, paṭissave ca āpatti dukkaṭassa …pe…
so dvīhatīhaṁ vasitvā sattāhakaraṇīyena pakkamati. So taṁ sattāhaṁ anto sannivattaṁ karoti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimikā ca paññāyati, paṭissave ca anāpatti …pe…
so sattāhaṁ anāgatāya pavāraṇāya sakaraṇīyo pakkamati.
Āgaccheyya vā so, bhikkhave, bhikkhu taṁ āvāsaṁ na vā āgaccheyya, tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimikā ca paññāyati, paṭissave ca anāpatti.
It may happen that a monk agrees to spend the first rains residence in a particular monastery. When he’s arrived at that monastery, he does the observance-day ceremony. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. He then leaves on that very day because of business. … After staying there for two or three days, he leaves, despite not having any business. … After staying there for two or three days, he leaves because of business. … After staying there for two or three days, he leaves on seven-day business. But he stays away for more than seven days.
The first rains residence doesn’t count for that monk. And there’s an offense of wrong conduct for agreeing.
… After staying there for two or three days, he leaves on seven-day business. And he returns within seven days.
The first rains residence does count for that monk. And there’s no offense for agreeing.
… Seven days before the invitation ceremony, he leaves on seven-day business.
Whether he returns to that monastery or not, the first rains residence does count for that monk. And there’s no offense for agreeing.”
The second rains residence: observance-day outside monastery
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời an cư mùa mưa tiền. Vị ấy sau khi đã đi đến trú xứ ấy, đã làm lễ uposatha, vào ngày pāṭipada nên đi đến ngôi tịnh xá, nên dọn dẹp sàng tọa, nên chuẩn bị nước uống và nước dùng, nên quét dọn khuôn viên. Vị ấy có công việc, đã ra đi ngay trong ngày ấy... vân vân... vị ấy sau khi đã ở hai ba ngày, không có công việc, đã ra đi... vân vân... vị ấy sau khi đã ở hai ba ngày, có công việc, đã ra đi... vân vân... vị ấy sau khi đã ở hai ba ngày, ra đi vì có công việc bảy ngày. Vị ấy đã trải qua bảy ngày ấy ở bên ngoài. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa mưa tiền không được kể là có, và có tội dukkaṭa do việc nhận lời... vân vân... vị ấy sau khi đã ở hai ba ngày, ra đi vì có công việc bảy ngày. Vị ấy nên thực hiện việc quay về bên trong bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa mưa tiền được kể là có, và không có tội do việc nhận lời... vân vân... vị ấy có công việc nên ra đi vào ngày lễ pavāraṇā chưa đến bảy ngày. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy dù có đến trú xứ ấy hay không đến, này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa mưa tiền được kể là có, và không có tội do việc nhận lời.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti pacchimikāya. So taṁ āvāsaṁ gacchanto bahiddhā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So tadaheva akaraṇīyo pakkamati.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno pacchimikā ca na paññāyati, paṭissave ca āpatti dukkaṭassa.
“It may happen that a monk agrees to spend the second rains residence in a particular monastery. While on his way to that monastery, he does the observance-day ceremony outside. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. He then leaves on that very day, despite not having any business.
The second rains residence doesn’t count for that monk. And there’s an offense of wrong conduct for agreeing.
208. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời an cư mùa mưa hậu. Vị ấy trong khi đi đến trú xứ ấy đã làm lễ uposatha ở bên ngoài, vào ngày pāṭipada nên đi đến ngôi tịnh xá, nên dọn dẹp sàng tọa, nên chuẩn bị nước uống và nước dùng, nên quét dọn khuôn viên. Vị ấy không có công việc, đã ra đi ngay trong ngày ấy. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa mưa hậu không được kể là có, và có tội dukkaṭa do việc nhận lời.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti pacchimikāya. So taṁ āvāsaṁ gacchanto bahiddhā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So tadaheva sakaraṇīyo pakkamati.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno pacchimikā ca na paññāyati, paṭissave ca āpatti dukkaṭassa.
It may happen that a monk agrees to spend the second rains residence in a particular monastery. While on his way to that monastery, he does the observance-day ceremony outside. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. He then leaves on that very day because of business.
The second rains residence doesn’t count for that monk. And there’s an offense of wrong conduct for agreeing.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời an cư mùa mưa hậu. Vị ấy trong khi đi đến trú xứ ấy đã làm lễ uposatha ở bên ngoài, vào ngày pāṭipada nên đi đến ngôi tịnh xá, nên dọn dẹp sàng tọa, nên chuẩn bị nước uống và nước dùng, nên quét dọn khuôn viên. Vị ấy có công việc, đã ra đi ngay trong ngày ấy. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa mưa hậu không được kể là có, và có tội dukkaṭa do việc nhận lời.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti pacchimikāya. So taṁ āvāsaṁ gacchanto bahiddhā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So dvīhatīhaṁ vasitvā akaraṇīyo pakkamati.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno pacchimikā ca na paññāyati, paṭissave ca āpatti dukkaṭassa.
It may happen that a monk agrees to spend the second rains residence in a particular monastery. While on his way to that monastery, he does the observance-day ceremony outside. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. After staying there for two or three days, he leaves, despite not having any business.
The second rains residence doesn’t count for that monk. And there’s an offense of wrong conduct for agreeing.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời an cư mùa mưa hậu. Vị ấy trong khi đi đến trú xứ ấy đã làm lễ uposatha ở bên ngoài, vào ngày pāṭipada nên đi đến ngôi tịnh xá, nên dọn dẹp sàng tọa, nên chuẩn bị nước uống và nước dùng, nên quét dọn khuôn viên. Vị ấy sau khi đã ở hai ba ngày, không có công việc, đã ra đi. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa mưa hậu không được kể là có, và có tội dukkaṭa do việc nhận lời.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti pacchimikāya. So taṁ āvāsaṁ gacchanto bahiddhā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So dvīhatīhaṁ vasitvā sakaraṇīyo pakkamati.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno pacchimikā ca na paññāyati, paṭissave ca āpatti dukkaṭassa.
It may happen that a monk agrees to spend the second rains residence in a particular monastery. While on his way to that monastery, he does the observance-day ceremony outside. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. After staying there for two or three days, he leaves because of business.
The second rains residence doesn’t count for that monk. And there’s an offense of wrong conduct for agreeing.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời an cư mùa mưa hậu. Vị ấy trong khi đi đến trú xứ ấy đã làm lễ uposatha ở bên ngoài, vào ngày pāṭipada nên đi đến ngôi tịnh xá, nên dọn dẹp sàng tọa, nên chuẩn bị nước uống và nước dùng, nên quét dọn khuôn viên. Vị ấy sau khi đã ở hai ba ngày, có công việc, đã ra đi. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa mưa hậu không được kể là có, và có tội dukkaṭa do việc nhận lời.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti pacchimikāya. So taṁ āvāsaṁ gacchanto bahiddhā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So dvīhatīhaṁ vasitvā sattāhakaraṇīyena pakkamati. So taṁ sattāhaṁ bahiddhā vītināmeti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno pacchimikā ca na paññāyati, paṭissave ca āpatti dukkaṭassa.
It may happen that a monk agrees to spend the second rains residence in a particular monastery. While on his way to that monastery, he does the observance-day ceremony outside. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. After staying there for two or three days, he leaves on seven-day business. But he stays away for more than seven days.
The second rains residence doesn’t count for that monk. And there’s an offense of wrong conduct for agreeing.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời an cư mùa mưa hậu. Vị ấy trong khi đi đến trú xứ ấy đã làm lễ uposatha ở bên ngoài, vào ngày pāṭipada nên đi đến ngôi tịnh xá, nên dọn dẹp sàng tọa, nên chuẩn bị nước uống và nước dùng, nên quét dọn khuôn viên. Vị ấy sau khi đã ở hai ba ngày, ra đi vì có công việc bảy ngày. Vị ấy đã trải qua bảy ngày ấy ở bên ngoài. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa mưa hậu không được kể là có, và có tội dukkaṭa do việc nhận lời.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti pacchimikāya. So taṁ āvāsaṁ gacchanto bahiddhā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So dvīhatīhaṁ vasitvā sattāhakaraṇīyena pakkamati. So taṁ sattāhaṁ anto sannivattaṁ karoti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno pacchimikā ca paññāyati, paṭissave ca anāpatti.
It may happen that a monk agrees to spend the second rains residence in a particular monastery. While on his way to that monastery, he does the observance-day ceremony outside. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. After staying there for two or three days, he leaves on seven-day business. And he returns within seven days.
The second rains residence does count for that monk. And there’s no offense for agreeing.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời về trú xứ an cư trong mùa an cư hậu. Vị ấy trong khi đi đến trú xứ ấy đã làm lễ uposatha ở bên ngoài, vào ngày mùng một đi đến ngôi tịnh xá, dọn dẹp sàng tọa, chuẩn bị nước uống và nước dùng, quét dọn khuôn viên. Vị ấy sau khi đã ở lại hai hoặc ba ngày, ra đi vì có công việc trong bảy ngày. Vị ấy thực hiện việc quay trở lại bên trong bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa an cư hậu được kể là thành tựu và không có tội do việc nhận lời.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti pacchimikāya. So taṁ āvāsaṁ gacchanto bahiddhā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So sattāhaṁ anāgatāya komudiyā cātumāsiniyā sakaraṇīyo pakkamati.
Āgaccheyya vā so, bhikkhave, bhikkhu taṁ āvāsaṁ na vā āgaccheyya, tassa, bhikkhave, bhikkhuno pacchimikā ca paññāyati, paṭissave ca anāpatti.
It may happen that a monk agrees to spend the second rains residence in a particular monastery. While on his way to that monastery, he does the observance-day ceremony outside. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. Seven days before Komudī, the fourth full-moon day of the rainy season, he leaves because of business.
Whether he returns to that monastery or not, the second rains residence does count for that monk. And there’s no offense for agreeing.”
The second rains residence: observance-day within monastery
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời về trú xứ an cư trong mùa an cư hậu. Vị ấy trong khi đi đến trú xứ ấy đã làm lễ uposatha ở bên ngoài, vào ngày mùng một đi đến ngôi tịnh xá, dọn dẹp sàng tọa, chuẩn bị nước uống và nước dùng, quét dọn khuôn viên. Vị ấy, khi chưa đến bảy ngày trước ngày lễ komudī cātumāsinī, ra đi vì có công việc. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy dù có trở lại trú xứ ấy hay không trở lại, này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa an cư hậu được kể là thành tựu và không có tội do việc nhận lời.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti pacchimikāya. So taṁ āvāsaṁ gantvā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So tadaheva akaraṇīyo pakkamati.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno pacchimikā ca na paññāyati, paṭissave ca āpatti dukkaṭassa.
“It may happen that a monk agrees to spend the second rains residence in a particular monastery. When he’s arrived at that monastery, he does the observance-day ceremony. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. He then leaves on that very day, despite not having any business.
The second rains residence doesn’t count for that monk. And there’s an offense of wrong conduct for agreeing.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời về trú xứ an cư trong mùa an cư hậu. Vị ấy sau khi đã đi đến trú xứ ấy đã làm lễ uposatha, vào ngày mùng một đi đến ngôi tịnh xá, dọn dẹp sàng tọa, chuẩn bị nước uống và nước dùng, quét dọn khuôn viên. Vị ấy ra đi ngay trong ngày hôm đó mà không có công việc. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa an cư hậu không được kể là thành tựu và có tội tác ác do việc nhận lời.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti pacchimikāya. So taṁ āvāsaṁ gantvā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So tadaheva sakaraṇīyo pakkamati …pe… so dvīhatīhaṁ vasitvā akaraṇīyo pakkamati …pe… so dvīhatīhaṁ vasitvā sakaraṇīyo pakkamati …pe… so dvīhatīhaṁ vasitvā sattāhakaraṇīyena pakkamati. So taṁ sattāhaṁ bahiddhā vītināmeti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno pacchimikā ca na paññāyati, paṭissave ca āpatti dukkaṭassa …pe…
so dvīhatīhaṁ vasitvā sattāhakaraṇīyena pakkamati. So taṁ sattāhaṁ anto sannivattaṁ karoti.
Tassa bhikkhave, bhikkhuno pacchimikā ca paññāyati, paṭissave ca anāpatti.
It may happen that a monk agrees to spend the second rains residence in a particular monastery. When he’s arrived at that monastery, he does the observance-day ceremony. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. He then leaves on that very day because of business. … After staying there for two or three days, he leaves, despite not having any business. … After staying there for two or three days, he leaves because of business. … After staying there for two or three days, he leaves on seven-day business. But he stays away for more than seven days.
The second rains residence doesn’t count for that monk. And there’s an offense of wrong conduct for agreeing.
… After staying there for two or three days, he leaves on seven-day business. And he returns within seven days.
The second rains residence does count for that monk. And there’s no offense for agreeing.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời về trú xứ an cư trong mùa an cư hậu. Vị ấy sau khi đã đi đến trú xứ ấy đã làm lễ uposatha, vào ngày mùng một đi đến ngôi tịnh xá, dọn dẹp sàng tọa, chuẩn bị nước uống và nước dùng, quét dọn khuôn viên. Vị ấy ra đi ngay trong ngày hôm đó vì có công việc ... (v.v.) ... vị ấy sau khi đã ở lại hai hoặc ba ngày, ra đi mà không có công việc ... (v.v.) ... vị ấy sau khi đã ở lại hai hoặc ba ngày, ra đi vì có công việc ... (v.v.) ... vị ấy sau khi đã ở lại hai hoặc ba ngày, ra đi vì có công việc trong bảy ngày. Vị ấy để cho bảy ngày ấy trôi qua ở bên ngoài. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa an cư hậu không được kể là thành tựu và có tội tác ác do việc nhận lời ... (v.v.) ... vị ấy sau khi đã ở lại hai hoặc ba ngày, ra đi vì có công việc trong bảy ngày. Vị ấy thực hiện việc quay trở lại bên trong bảy ngày ấy. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa an cư hậu được kể là thành tựu và không có tội do việc nhận lời.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhunā vassāvāso paṭissuto hoti pacchimikāya. So taṁ āvāsaṁ gantvā uposathaṁ karoti, pāṭipade vihāraṁ upeti, senāsanaṁ paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, pariveṇaṁ sammajjati. So sattāhaṁ anāgatāya komudiyā cātumāsiniyā sakaraṇīyo pakkamati.
Āgaccheyya vā so, bhikkhave, bhikkhu taṁ āvāsaṁ na vā āgaccheyya, tassa, bhikkhave, bhikkhuno pacchimikā ca paññāyati, paṭissave ca anāpattī”ti.
It may happen that a monk agrees to spend the second rains residence in a particular monastery. When he’s arrived at that monastery, he does the observance-day ceremony. On the following day, he enters and prepares the dwelling, sets out water for drinking and water for washing, and sweeps the yard. Seven days before Komudī, the fourth full-moon day of the rainy season, he leaves because of business.
Whether he returns to that monastery or not, the second rains residence does count for that monk. And there’s no offense for agreeing.”
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đã nhận lời về trú xứ an cư trong mùa an cư hậu. Vị ấy sau khi đã đi đến trú xứ ấy đã làm lễ uposatha, vào ngày mùng một đi đến ngôi tịnh xá, dọn dẹp sàng tọa, chuẩn bị nước uống và nước dùng, quét dọn khuôn viên. Vị ấy, khi chưa đến bảy ngày trước ngày lễ komudī cātumāsinī, ra đi vì có công việc. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy dù có trở lại trú xứ ấy hay không trở lại, này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, mùa an cư hậu được kể là thành tựu và không có tội do việc nhận lời.
Vassūpanāyikakkhandhako tatiyo.
Tassuddānaṁ
The third chapter on entering the rainy-season residence is finished.
This is the summary:
Chương An Cư Mùa Mưa thứ ba.
Upagantuṁ kadā ceva, kati antarāvassa ca; Na icchanti ca sañcicca, ukkaḍḍhituṁ upāsako.
“To enter and when, How many, and during the rains; And they did not want, deliberately, To postpone, lay follower.
119. Việc đi đến, và khi nào, bao nhiêu, và việc gián đoạn mùa an cư; Việc không muốn, và cố ý, việc dời lại, người cận sự nam.
Gilāno mātā ca pitā, bhātā ca atha ñātako; Bhikkhugatiko vihāro, vāḷā cāpi sarīsapā.
Sick, and mother, father, And brother, then a relative; One staying with the monks, dwelling, And also predatory, creeping animals.
Bị bệnh, và mẹ, cha, và anh em, rồi người thân; người nam sống chung với tỳ khưu, ngôi tịnh xá, và các loài thú dữ, các loài bò sát.
Coro ceva pisācā ca, daḍḍhā tadubhayena ca; Vūḷhodakena vuṭṭhāsi, bahutarā ca dāyakā.
And criminals, and demons, And then burned down twice; Swept away by flooding, it relocated, And majority, donors.
Và kẻ trộm, và các loài quỷ, và bị cháy cả hai; bị nước cuốn trôi, đã dời đi, nhiều người hơn, và các thí chủ.
Lūkhappaṇītasappāya, bhesajjupaṭṭhakena ca; Itthī vesī kumārī ca, paṇḍako ñātakena ca.
Coarse or fine, suitable, And medicine, with attendant; Woman, sex worker, and single woman, A <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>, and by a relative.
Thô sơ, tinh vi, thích hợp, và dược phẩm, người phục vụ; người nữ, kỹ nữ, và thiếu nữ, người á nam, và người thân.
Rājā corā dhuttā nidhi, bhedaaṭṭhavidhena ca; Vajasatthā ca nāvā ca, susire viṭabhiyā ca.
King, criminals, scoundrels, treasure, And with eightfold on schism; A cowherd’s dwelling, and a caravan, and a boat, In a hollow, and in a fork.
Vua, các kẻ trộm, những kẻ du đãng, kho tàng, và sự chia rẽ, tám loại; chuồng bò, và đoàn lữ hành, và chiếc thuyền, và trong thân cây rỗng, và ở chạc cây.
Ajjhokāse vassāvāso, asenāsanikena ca; Chavakuṭikā chatte ca, cāṭiyā ca upenti te.
Rains residence out in the open, And without a dwelling; Charnel house, and under a sunshade, And they entered in a large earthenware pot.
An cư mùa mưa ở ngoài trời, và không có sàng tọa; nhà để xác chết, và trong cây dù, và trong cái lu, họ đã đi đến.
Katikā paṭissuṇitvā, bahiddhā ca uposathā; Purimikā pacchimikā, yathāñāyena yojaye.
Agreement, having agreed, And observance days outside; First, second, Should be understood according to the same method.
Sự thỏa thuận, sau khi đã nhận lời, và lễ uposatha ở bên ngoài; mùa an cư tiền, mùa an cư hậu, nên áp dụng theo phương pháp.
Akaraṇī pakkamati, sakaraṇī tatheva ca; Dvīhatīhā ca puna ca, sattāhakaraṇīyena ca.
He departs without business, And the same with business; And two or three days, and again, And on seven-day business.
Ra đi không có công việc, và có công việc cũng tương tự như thế; và hai hoặc ba ngày, và lại nữa, và với công việc trong bảy ngày.
Sattāhanāgatā ceva, āgaccheyya na eyya vā; Vatthuddāne antarikā, tantimaggaṁ nisāmayeti.
And returned within seven days, Whether he returns or not; Because of the gaps in the summary of topics, One should attend carefully to the way of the passages of the Canonical text.”
Và khi chưa đến bảy ngày, có thể trở lại hoặc không trở lại; các câu chuyện tóm lược bị gián đoạn, nên lắng nghe con đường của văn bản.
Imamhi khandhake vatthūni dvepaṇṇāsa.
In this chapter there are fifty-two topics.
Ở trong chương này có năm mươi hai câu chuyện.
Vassūpanāyikakkhandhako niṭṭhito.
The chapter on entering the rainy-season residence is finished.
Chương An Cư Mùa Mưa đã kết thúc.