- Theravāda Vinayapiṭaka
- Mahāvagga
1. Mahākhandhaka
1. Bodhikathā
Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.
Bản dịch
1. Mahākhandhaka
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Uruvelā bên bờ sông Nerañjarā nơi cội cây bồ đề và vừa mới thành tựu quả vị Chánh Đẳng Giác.
Inda-bh 2~2Khi ấy, đức Thế Tôn đã ngồi với thế kiết già ở cội cây bồ đề trong bảy ngày, hưởng niềm an lạc của sự giải thoát.
Inda-bh 3~3Khi ấy vào canh một của đêm, đức Thế Tôn đã suy nghiệm về sự sanh khởi tùy thuận theo điều kiện thuận chiều và nghịch chiều rằng:
Inda-bh 4~4“Vô minh duyên cho các hành (sanh khởi), các hành duyên cho thức (sanh khởi), thức duyên cho danh sắc (sanh khởi), danh sắc duyên cho sáu xứ (sanh khởi), sáu xứ duyên cho xúc (sanh khởi), xúc duyên cho thọ (sanh khởi), thọ duyên cho ái (sanh khởi), ái duyên cho thủ (sanh khởi), thủ duyên cho hữu (sanh khởi), hữu duyên cho sanh (sanh khởi), sanh duyên cho lão, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như thế là sự sanh khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Inda-bh 5~5Nhưng chính do sự diệt tận của vô minh hoàn toàn không còn tham ái (đưa đến) sự diệt tận của các hành, do sự diệt tận của các hành (đưa đến) sự diệt tận của thức, do sự diệt tận của thức (đưa đến) sự diệt tận của danh sắc, do sự diệt tận của danh sắc (đưa đến) sự diệt tận của sáu xứ, do sự diệt tận của sáu xứ (đưa đến) sự diệt tận của xúc, do sự diệt tận của xúc (đưa đến) sự diệt tận của thọ, do sự diệt tận của thọ (đưa đến) sự diệt tận của ái, do sự diệt tận của ái (đưa đến) sự diệt tận của thủ, do sự diệt tận của thủ (đưa đến) sự diệt tận của hữu, do sự diệt tận của hữu (đưa đến) sự diệt tận của sanh, do sự diệt tận của sanh (đưa đến) lão, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não bị diệt tận. Như thế là sự diệt tận của toàn bộ khổ uẩn này.”
Inda-bh 6~6Sau đó, khi đã hiểu được ý nghĩa sự việc ấy, rồi vào lúc ấy đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Quả vậy, khi các pháp hiện rõ đến vị Bà-la-môn đang tinh cần tham thiền thì tất cả điều nghi hoặc của vị ấy được rũ sạch, từ đó nhận biết rằng (mọi) việc là có nguyên nhân.”
Inda-bh 7~7Sau đó vào canh giữa của đêm, đức Thế Tôn đã suy nghiệm về sự sanh khởi tùy thuận theo điều kiện thuận chiều và nghịch chiều rằng: “Vô minh duyên cho các hành (sanh khởi), các hành duyên cho thức (sanh khởi), thức duyên cho danh sắc (sanh khởi), danh sắc duyên cho sáu xứ (sanh khởi), —(như trên)— Như thế là sự sanh khởi của toàn bộ khổ uẩn này. —(như trên)— là sự diệt tận (của toàn bộ khổ uẩn này).”
Inda-bh 8~8Sau đó, khi đã hiểu được ý nghĩa sự việc ấy, rồi chính vào lúc ấy đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Quả vậy, khi các pháp hiện rõ đến vị Bà-la-môn đang tinh cần tham thiền thì tất cả điều nghi hoặc của vị ấy được rũ sạch, từ đó đã hiểu được sự tiêu hoại của các duyên.”
Inda-bh 9~9Sau đó vào canh cuối của đêm, đức Thế Tôn đã suy nghiệm về sự sanh khởi tùy thuận theo điều kiện thuận chiều và nghịch chiều rằng: “Vô minh duyên cho các hành (sanh khởi), các hành duyên cho thức (sanh khởi), thức duyên cho danh sắc (sanh khởi), danh sắc duyên cho sáu xứ (sanh khởi), —(như trên)— Như thế là sự sanh khởi của toàn bộ khổ uẩn này. —(như trên)— là sự diệt tận (của toàn bộ khổ uẩn này).”
Inda-bh 10~10Sau đó, khi đã hiểu được ý nghĩa sự việc ấy, rồi vào lúc ấy đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Quả vậy, khi các pháp hiện rõ đến vị Bà-la-môn đang tinh cần tham thiền, trong khi đánh tan binh đội của Ma Vương, (vị ấy) hiển hiện tợ như ánh mặt trời đang rọi sáng không gian.”
Dứt phần giảng về sự Giác Ngộ.
Inda-bh 1~11Sau đó khi bảy ngày trôi qua, đức Thế Tôn đã xuất khỏi định ấy rồi từ cội cây Bồ Đề đã đi đến cây si của những người chăn dê, sau khi đến đã ngồi xuống với thế kiết già ở cội cây si của những người chăn dê trong bảy ngày, hưởng niềm an lạc của sự giải thoát.
Inda-bh 2~12Khi ấy, có vị Bà-la-môn nọ thuộc nhóm chuyên luyện về âm “hum, hum” đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng ở một bên. Khi đã đứng một bên, vị Bà-la-môn ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Này ngài Gotama, (khả năng) đến đâu (mới gọi) là Bà-la-môn? Việc trở thành Bà-la-môn có bao nhiêu điều kiện?”
Inda-bh 3~13Sau khi hiểu được ý nghĩa sự việc ấy, rồi vào lúc ấy đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Vị Bà-la-môn nào có ác pháp đã được ngăn trừ, là vị không làm tiếng ‘hum hum,’ đã thoát khỏi điều ô nhiễm, có bản thân đã được thu thúc, là vị thông thạo các bộ Vệ Đà, sống theo đời Phạm hạnh, vị ấy có thể thuyết giảng một cách đúng đắn lời nói của Phạm Thiên, vị ấy không có khuyết điểm về bất cứ điều gì ở trên thế gian.”
Dứt phần giảng về (cội cây si của những) người chăn dê.
Inda-bh 1~14Sau đó khi bảy ngày trôi qua, đức Thế Tôn đã xuất khỏi định ấy rồi từ cội cây si của những người chăn dê đã đi đến cây Mucalinda, sau khi đến đã ngồi xuống với thế kiết già ở cội cây Mucalinda trong bảy ngày, hưởng niềm an lạc của sự giải thoát.
Inda-bh 2~15Vào lúc bấy giờ, có đám mây đen lớn sái mùa xuất hiện. Trong bảy ngày, trời mưa có gió lạnh và đầy mây.
Inda-bh 3~16Khi ấy, rồng chúa Mucalinda đã rời khỏi chỗ ngụ của mình dùng đuôi quấn quanh cơ thể của đức Thế Tôn bảy vòng và phồng lớn mang rồi duy trì ở phía trên đầu của đức Thế Tôn (nghĩ rằng): “Chớ để đức Thế Tôn bị lạnh, chớ để đức Thế Tôn bị nóng, chớ để đức Thế Tôn bị xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát.”
Inda-bh 4~17Sau đó khi bảy ngày trôi qua, rồng chúa Mucalinda sau khi biết rằng bầu trời đã trở nên trong sáng và mây đã tan nên đã nới lỏng thân khỏi cơ thể của đức Thế Tôn, rồi thay đổi hình dạng của chính bản thân và biến thành hình dạng của người thanh niên đứng ở phía trước đức Thế Tôn, tay chắp lại, bày tỏ thái độ cung kính đến đức Thế Tôn.
Inda-bh 5~18Sau khi đã hiểu được ý nghĩa sự việc ấy, rồi vào lúc ấy đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này:
Rājāyatanakathā niṭṭhitā.
“Sự sống cách ly là an lạc đối với vị hoan hỷ đang xem xét Pháp đã được nghe. Sự không oán hận, không hãm hại mạng sống chúng sanh là niềm hạnh phúc ở trên đời.
Việc dứt được ái tình, sự vượt lên trên các dục là niềm an lạc ở trên đời. Và điều gì là sự thoát ra khỏi tự ngã điều ấy chính là sự an lạc tối thượng.”
Dứt phần giảng về cây Mucalinda.
Inda-bh 1~19Sau đó khi bảy ngày trôi qua, đức Thế Tôn đã xuất khỏi định ấy rồi từ cội cây Mucalinda đã đi đến cây Rājāyatana, sau khi đến đã ngồi xuống với thế kiết già ở cội cây Rājāyatana trong bảy ngày, hưởng niềm an lạc của sự giải thoát.
Inda-bh 2~20Vào lúc bấy giờ, có các thương buôn Tapassu và Bhallika đang đi đường xa từ Ukkalā đến khu vực ấy. Khi ấy, vị Thiên thần là thân quyến cùng huyết thống của các thương buôn Tapassu và Bhallika đã nói với các thương buôn Tapassu và Bhallika điều này:
—Này các bác, đức Thế Tôn này đang ngự ở cội cây Rājāyatana là vị đầu tiên được hoàn toàn giác ngộ. Hãy đi và bày tỏ lòng thành kính đến đức Thế Tôn ấy với bánh bột gạo và mật viên. Điều ấy sẽ đem lại cho các bác sự lợi ích và sự an vui lâu dài.
Inda-bh 3~21Khi ấy, các thương buôn Tapassu và Bhallika đã mang theo bánh bột gạo và mật viên đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng một bên, các thương buôn Tapassu và Bhallika đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên của chúng tôi. Điều ấy sẽ đem lại cho chúng tôi sự lợi ích và sự an vui lâu dài.”
Inda-bh 4~22Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Các đức Như Lai không thọ lãnh ở (hai) tay, vậy ta nên thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên bằng vật gì?” Khi ấy, bốn vị Đại Thiên Vương dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã dâng lên đức Thế Tôn bốn cái bình bát làm bằng đá từ ở bốn phương (nói rằng):—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên ở đây.” Đức Thế Tôn đã thọ lãnh bánh bột gạo và mật viên trong bình bát mới làm bằng đá, và sau khi thọ lãnh đã thọ dụng.
Inda-bh 5~23Sau đó, các thương buôn Tapassu và Bhallika đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, chúng con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn và Giáo Pháp. Xin đức Thế Tôn chấp nhận chúng con là các nam cư sĩ đã đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.” Và họ đã trở thành những nam cư sĩ đọc hai câu (nương nhờ) đầu tiên ở thế gian.
Dứt phần giảng về cây Rājāyatana.
Inda-bh 1~24Sau đó khi bảy ngày trôi qua, đức Thế Tôn đã xuất khỏi định ấy rồi từ cội cây Rājāyatana đã đi đến cây si của những người chăn dê. Ở nơi ấy, đức Thế Tôn ngụ tại cội cây si của những người chăn dê.
Inda-bh 2~25Sau đó, trong khi đức Thế Tôn đang thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Pháp này đã được ta chứng ngộ là (Pháp) thâm sâu, khó lĩnh hội, khó nhận thức, thanh tịnh, cao quý, vượt trên lý luận, tinh tế, nên được hiểu biết bởi các bậc trí. Tuy nhiên, chúng sanh này có sự thỏa thích trong ngũ dục, được thỏa thích trong ngũ dục, được vui sướng trong ngũ dục. Quả vậy, đối với chúng sanh có sự thỏa thích trong ngũ dục, được thỏa thích trong ngũ dục, được vui sướng trong ngũ dục thì vấn đề này khó lĩnh hội tức là tính chất của duyên và sự sanh khởi tùy thuận theo điều kiện. Còn có vấn đề này còn khó lĩnh hội hơn nữa tức là sự yên lặng của tất cả các Hành, sự dứt bỏ tất cả mầm mống của sự tái sanh, sự diệt tận ái, sự không còn dục tình, sự tịch diệt, Niết Bàn. Hơn nữa, nếu ta thuyết giảng Giáo Pháp và những người khác không thể hiểu được ta, điều ấy sẽ đem lại sự mệt mỏi cho ta, điều ấy sẽ đem lại sự phiền toái cho ta.”
Inda-bh 3~26Rồi những lời kệ kỳ diệu này chưa từng được nghe trước đây trong thời quá khứ đã hiện khởi đến đức Thế Tôn:
“(Pháp này) đã được ta chứng đắc một cách khó khăn, giờ đây khỏi phải thuyết giảng. Pháp này không dễ dàng được hiểu thấu đáo bởi những kẻ chìm đắm trong ái dục và sân hận.
(Pháp này) đi ngược giòng (đời), tinh tế, thâm sâu, khó lĩnh hội, vi diệu, những kẻ thỏa thích ái dục, bị che phủ bới tăm tối dày đặc, không thể nhận thức được.”
Inda-bh 4~27Trong khi đắn đo cân nhắc như thế ấy, tâm của đức Thế Tôn thiên về (khuynh hướng) không ra sức nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp. Khi ấy, vị Phạm Thiên Sahampati dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã khởi ý điều này: “Như thế này thì thế gian bị tiêu diệt! Như thế này thì thế gian bị hủy hoại! Bởi vì tâm của đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri thiên về (khuynh hướng) không ra sức nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp.”
Inda-bh 5~28Sau đó, cũng giống như người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tợ như thế vị Phạm Thiên Sahampati đã biến mất ở cõi Phạm Thiên và hiện ra ở phía trước đức Thế Tôn. Khi ấy, Phạm Thiên Sahampati đã đắp thượng y một bên vai, quỳ đầu gối bên phải trên mặt đất, rồi chắp tay hướng về đức Thế Tôn và đã nói điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy thuyết giảng Giáo Pháp, xin đấng Thiện Thệ hãy thuyết giảng Giáo Pháp. Có những hạng người sanh lên có tầm nhìn ít bị vấy bụi sẽ là những người hiểu được Giáo Pháp, (nhưng) do việc không nghe Giáo Pháp sẽ bị tha hóa.” Phạm Thiên Sahampati đã nói điều ấy, sau khi nói điều ấy còn nói thêm điều khác nữa:
“Trước đây ở trong xứ Magadha đã xuất hiện pháp không thanh tịnh được nghĩ ra bởi những người có sự ô nhiễm. Xin Ngài hãy mở ra cánh cửa Bất Tử này. Hãy (để cho chúng sanh) lắng nghe Giáo Pháp đã được chứng ngộ bởi bậc vô nhiễm.
Như người đứng trên tảng đá ở đỉnh đầu của ngọn núi, cũng giống như người nhìn xem nhân loại ở chung quanh, hỡi bậc trí, tương tợ như thế ấy Ngài hãy bước lên tòa lâu đài được xây bằng Giáo Pháp. Hỡi bậc thông hiểu rộng, là bậc đã thoát khỏi buồn đau, xin Ngài hãy nhìn xuống xem nhân loại bị đắm chìm trong sầu khổ, bị hành hạ bởi sự sanh và sự già.
Hỡi vị anh hùng, người đã chiến thắng trận đấu, xin Ngài hãy đứng lên. Hỡi người hướng dẫn đoàn xe, vị không vướng nợ nần, xin Ngài hãy du hành ở thế gian. Xin đức Thế Tôn hãy thuyết giảng Giáo Pháp, sẽ có nhiều người hiểu được.”
Inda-bh 6~29Khi ấy, sau khi hiểu được yêu cầu của vị Phạm Thiên, đức Thế Tôn thuận theo lòng thương tưởng chúng sanh đã dùng Phật nhãn quán xét thế gian. Trong khi dùng Phật nhãn quán xét thế gian, đức Thế Tôn đã nhìn thấy những chúng sanh có tầm nhìn bị vấy bụi ít và có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều, có giác quan sắc sảo và có giác quan cùn lụt, có tánh khí tốt và có tánh khí tồi, có thể hiểu được một cách nhanh chóng và có thể hiểu được một cách khó khăn, (và nhìn thấy) một số chúng sanh đang sống có sự nhìn thấy nỗi sợ hãi trong tội lỗi và (sự tái sanh vào) những đời sống khác.
Cũng giống như ở hồ sen xanh hoặc ở hồ sen hồng hoặc ở hồ sen trắng, có một số sen xanh, hoặc sen hồng, hoặc sen trắng được sanh ra ở trong nước, được phát triển ở trong nước, không vươn ra khỏi nước, và được nuôi dưỡng chìm ở bên trong (nước); có một số sen xanh, hoặc sen hồng, hoặc sen trắng được sanh ra ở trong nước, được phát triển ở trong nước, sống ngang bằng mặt nước; và có một số sen xanh, hoặc sen hồng, hoặc sen trắng được sanh ra ở trong nước, được phát triển ở trong nước, vươn lên khỏi nước, và tồn tại không bị thấm nước; tương tợ như thế, đức Thế Tôn trong khi dùng Phật nhãn quán xét thế gian đã nhìn thấy những chúng sanh có tầm nhìn bị vấy bụi ít và có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều, có giác quan sắc sảo và có giác quan cùn lụt, có tánh khí tốt và có tánh khí tồi, có thể hiểu được một cách nhanh chóng và có thể hiểu được một cách khó khăn, (và nhìn thấy) một số chúng sanh đang sống có sự nhìn thấy nỗi sợ hãi trong tội lỗi và (sự tái sanh vào) những đời sống khác; sau khi nhìn thấy đã nói với vị Phạm Thiên Sahampati bằng bài kệ này:
“Các cánh cửa Bất Tử đã được mở ra cho những người có sự lắng nghe. Hãy khiến chúng từ bỏ tà tín. Này Phạm Thiên, với suy nghĩ về việc tổn hại, ta đã không thuyết giảng Pháp cao quý tuyệt vời cho nhân loại.”
Khi ấy, vị Phạm Thiên Sahampati (nghĩ rằng): “Ta đã tạo ra cơ hội cho đức Thế Tôn thuyết giảng Giáo Pháp” nên đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, và đã biến mất ngay tại chỗ ấy.
Dứt phần giảng về sự thỉnh cầu của vị Phạm Thiên.
Inda-bh 1~30Sau đó, đức Thế tôn đã khởi ý điều này: “Ta nên thuyết giảng Giáo Pháp đến ai trước tiên? Ai sẽ hiểu được Giáo Pháp này một cách thật nhanh chóng?” Khi ấy, đức Thế tôn đã khởi ý điều này: “Vị Āḷāra Kālāma này là vị sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, đã lâu nay có bản thể bị ít ô nhiễm, hay là ta nên thuyết giảng Giáo Pháp đến Āḷāra Kālāma trước tiên? Vị ấy sẽ hiểu được Giáo Pháp này một cách thật nhanh chóng.” Khi ấy, có vị Thiên thần không hiện hình đã thông báo đến đức Thế Tôn rằng:—“Bạch ngài, vị Āḷāra Kālāma đã từ trần được bảy ngày rồi.” Và trí của đức Thế Tôn cũng đã khởi lên rằng: “Vị Āḷāra Kālāma đã từ trần được bảy ngày rồi.” Khi ấy, đức Thế tôn đã khởi ý điều này: “Vị Āḷāra Kālāma thuộc hạng người cao cả, bởi vì nếu nghe được Giáo Pháp này vị ấy có thể hiểu được một cách thật nhanh chóng.”
Inda-bh 2~31Sau đó, đức Thế tôn đã khởi ý điều này: “Ta nên thuyết giảng Giáo Pháp đến ai trước tiên? Ai sẽ hiểu được Giáo Pháp này một cách thật nhanh chóng?” Khi ấy, đức Thế tôn đã khởi ý điều này: “Vị Uddaka Rāmaputta này là vị sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, đã lâu nay có bản thể bị ít ô nhiễm, hay là ta nên nên thuyết giảng Giáo Pháp đến Uddaka Rāmaputta trước tiên? Vị ấy sẽ hiểu được Giáo Pháp này một cách thật nhanh chóng.” Khi ấy, có vị Thiên thần không hiện hình đã thông báo đến đức Thế Tôn rằng:—“Bạch ngài, vị Uddaka Rāmaputta đã từ trần vào đêm qua.” Và trí của đức Thế Tôn cũng đã khởi lên rằng: “Vị Uddaka Rāmaputta đã từ trần vào đêm qua.” Khi ấy, đức Thế tôn đã khởi ý điều này: “Vị Uddaka Rāmaputta thuộc hạng người cao cả, bởi vì nếu nghe được Giáo Pháp này vị ấy có thể hiểu được một cách thật nhanh chóng.”
Inda-bh 3~32Sau đó, đức Thế tôn đã khởi ý điều này: “Ta nên thuyết giảng Giáo Pháp đến ai trước tiên? Ai sẽ hiểu được Giáo Pháp này một cách thật nhanh chóng?” Khi ấy, đức Thế tôn đã khởi ý điều này: “Các tỳ khưu nhóm năm vị có nhiều công đức đối với ta, các vị này đã phục vụ ta trong khi bản thân ta nỗ lực tinh tấn, hay là ta nên nên thuyết giảng Giáo Pháp đến các tỳ khưu nhóm năm vị trước tiên?” Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Giờ đây, các tỳ khưu nhóm năm vị này trú ngụ ở nơi nào?” Với Thiên nhãn thanh tịnh vượt trội loài người, đức Thế Tôn đã nhìn thấy các tỳ khưu nhóm năm vị đang trú ngụ tại thành Bārāṇasī, ở Isipatana, nơi vườn nai. Sau đó, khi đã ngự tại Uruvelā theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Bārāṇasī.
Inda-bh 4~33Đạo sĩ lõa thể Upaka đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang đi đường xa ở khoảng giữa Gayā và cội Bồ Đề, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Này đạo hữu, các giác quan của đạo hữu được trầm tĩnh, màu da được thanh tịnh và trong sáng. Này đạo hữu, vì ai mà đạo hữu đã xuất gia? Ai là thầy của đạo hữu? Đạo hữu ưa thích pháp của vị nào?” Khi được nói như thế, đức Thế Tôn đã nói với đạo sĩ lõa thể Upaka bằng những lời kệ này:
—“Ta là bậc vượt trên tất cả, là người hiểu biết toàn bộ, không còn bị vướng mắc trong tất cả các Pháp, đã dứt bỏ tất cả, đã được giải thoát trong việc đoạn tận tham ái, sau khi tự mình chứng đắc thì ai có thể chỉ dạy (được ta)?
Không có ai là thầy của ta, người tương đương với ta không tìm thấy, trong thế gian luôn cả cõi trời, không có ai là đối thủ của ta.
Bởi vì ta là bậc A-la-hán, bậc Vô Thượng Sư, ở trên đời. Chỉ mình ta là bậc Chánh Đẳng Giác, ta có được trạng thái mát mẻ, Niết Bàn.
Ta đi đến thành Kāsī để chuyển vận bánh xe Giáo Pháp. Ta sẽ đánh lên tiếng trống Bất Tử ở thế gian đang bị tối tăm.”
—“Này đạo hữu, theo như đạo hữu cho biết thì đạo hữu xứng đáng là bậc Chiến Thắng vô biên.”
(Đức Phật đáp lại rằng):
—“Này Upaka, quả vậy tương đương với ta là các các bậc Chiến Thắng đã đạt đến việc đoạn tận các lậu hoặc. Ta đã chiến thắng các ác pháp vì thế ta là bậc Jina.”
Inda-bh 5~34Khi được nói như thế, đạo sĩ lõa thể Upaka đã nói rằng:—“Này đạo hữu, có thể là như vậy.” Rồi đã gục gặc cái đầu, rẽ sang con đường khác, và bỏ đi.
Inda-bh 6~35Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến thành Bārāṇasī, Isipatana, nơi vườn nai và đã đi đến gặp các tỳ khưu nhóm năm vị. Các tỳ khưu nhóm năm vị đã nhìn thấy đức Thế Tôn từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy các vị đã bàn bạc với nhau rằng:—“Này các vị, Sa-môn Gotama ấy đang đi đến. Ông ta là kẻ lợi dưỡng, bỏ dở dang việc nỗ lực và đã quay trở lại cuộc sống sung túc. Ông ta không đáng để đảnh lễ, không đáng để đứng dậy chào, y bát của ông ta không đáng để đón nhận; tuy nhiên, chỗ ngồi nên được xếp đặt, nếu ông ta muốn thì ông ta cứ việc ngồi.”
Inda-bh 7~36Nhưng khi đức Thế Tôn càng đi đến gần các tỳ khưu nhóm năm vị thì các tỳ khưu nhóm năm vị ấy đã không thể tuân theo điều bàn bạc của họ nữa. Trong khi không tuân theo, họ đã đi ra tiếp đón đức Thế Tôn, một vị đã nhận lấy y bát của đức Thế Tôn, một vị đã sắp đặt chỗ ngồi, một vị đã đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đã rửa hai chân. Tuy nhiên, các vị vẫn xưng hô với đức Thế Tôn bằng tên và bằng tiếng gọi “Đạo hữu.” Khi được gọi như thế, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị điều này:—“Này các tỳ khưu, chớ xưng hô với Như Lai bằng tên và bằng tiếng gọi “Đạo hữu.” Này các tỳ khưu, Như Lai là vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe, ta sẽ chỉ dạy pháp Bất Tử đã đạt được, ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp. Trong khi thực hành theo như đã được chỉ dạy thì chẳng bao lâu sau ngay trong kiếp hiện tại này, các vị nhờ vào thắng trí của mình sẽ thực chứng, đạt đến, và an trú vào điểm tối thượng ấy là đích cuối cùng của Phạm hạnh, vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà xuất gia một cách chân chánh sống không nhà.
Inda-bh 8~37Khi được nói như thế, các tỳ khưu nhóm năm vị đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Này đạo hữu Gotama, thậm chí với hạnh kiểm ấy, bằng sự thực hành ấy, bằng việc theo đuổi khổ hạnh ấy còn không đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến xứng đáng với bậc Thánh, còn giờ đây là kẻ lợi dưỡng, bỏ dở dang việc nỗ lực, và đã quay trở lại cuộc sống sung túc, làm thế nào đạo hữu lại đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến xứng đáng với bậc Thánh?” Khi được nói như thế, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị điều này:—“Này các tỳ khưu, Như Lai không phải là kẻ lợi dưỡng, không bỏ dở dang việc nỗ lực, và đã không quay trở lại cuộc sống sung túc. Này các tỳ khưu, Như Lai là vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe, ta sẽ chỉ dạy pháp Bất Tử đã đạt được, ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp. Trong khi thực hành theo như đã được chỉ dạy thì chẳng bao lâu sau ngay trong kiếp hiện tại này, các vị nhờ vào thắng trí của mình sẽ thực chứng, đạt đến, và an trú vào điểm tối thượng ấy là đích cuối cùng của Phạm hạnh, vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà xuất gia một cách chân chánh sống không nhà.” Đến lần thứ nhì, các tỳ khưu nhóm năm vị đã nói với đức Thế Tôn điều này: … (như trên) … Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị điều này: … (như trên) … Đến lần thứ ba, các tỳ khưu nhóm năm vị đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Này đạo hữu Gotama, thậm chí với hạnh kiểm ấy, bằng sự thực hành ấy, bằng việc theo đuổi khổ hạnh ấy còn không đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến xứng đáng với bậc Thánh, còn giờ đây là kẻ lợi dưỡng, bỏ dở dang việc nỗ lực, và đã quay trở lại cuộc sống sung túc, làm thế nào đạo hữu lại đạt đến pháp thượng nhân và sự siêu việt của tri kiến xứng đáng với bậc Thánh?”
Inda-bh 9~38Khi được nói như thế, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu nhóm năm vị rằng:—“Này các tỳ khưu, các vị có nhận ra rằng điều này đã không được ta nói ra như vầy trước đây hay không?”—“Bạch ngài, điều này đúng là không có (được nói).”54—“Này các tỳ khưu, Như Lai là vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Này các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe, ta sẽ chỉ dạy pháp Bất Tử đã đạt được, ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp. Trong khi thực hành theo như đã được chỉ dạy thì chẳng bao lâu sau ngay trong kiếp hiện tại này, các vị nhờ vào thắng trí của mình sẽ thực chứng, đạt đến, và an trú vào điểm tối thượng ấy là đích cuối cùng của Phạm hạnh, vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà xuất gia một cách chân chánh sống không nhà.” Đức Thế Tôn đã có thể thuyết phục các tỳ khưu nhóm năm vị. Sau đó, các tỳ khưu nhóm năm vị đã lắng nghe đức Thế Tôn, đã lắng tai, đã thiết lập tâm hướng đến trí chứng ngộ. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu nhóm năm vị rằng:
Inda-bh 10~39—“Này các tỳ khưu, đây là hai cực đoan mà bậc xuất gia không nên thực hành: Đây là sự say đắm về dục lạc trong các dục, kém cỏi, thô thiển, tầm thường, không cao thượng, không đem lại lợi ích, và đây là sự gắn bó với việc hành hạ bản thân, đau khổ, không cao thượng, không đem lại lợi ích. Này các tỳ khưu, sau khi không tiếp cận cả hai cực đoan ấy, lối thực hành trung đạo đã được Như Lai tự mình giác ngộ khiến cho mắt được thấy, khiến cho trí được sáng, dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, hoàn toàn giác ngộ, Niết Bàn.
Inda-bh 11~40Này các tỳ khưu, lối thực hành trung đạo ấy đã được Như Lai tự mình giác ngộ khiến cho mắt được thấy, khiến cho trí được sáng, dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, hoàn toàn giác ngộ, Niết Bàn là thế nào? Đó chính là Thánh Đạo tám chi phần tức là sự hiểu biết chân chánh, suy nghĩ chân chánh, lời nói chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, nuôi mạng chân chánh, tinh tấn chân chánh, ghi nhớ chân chánh, định tâm chân chánh. Này các tỳ khưu, lối thực hành trung đạo ấy đã được Như Lai tự mình giác ngộ khiến cho mắt được thấy, khiến cho trí được sáng, dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, hoàn toàn giác ngộ, Niết Bàn.
Inda-bh 12~41Này các tỳ khưu, đây là Chân Lý Cao Thượng tức là sự Khổ: Sanh cũng là khổ, già cũng là khổ, bệnh cũng là khổ, chết cũng là khổ, sự gắn bó với những gì không ưa thích cũng là khổ, sự chia lìa với những gì ưa thích cũng là khổ, không đạt được điều ước muốn cũng là khổ, một cách tóm tắt năm thủ uẩn là khổ.
Inda-bh 13~42Này các tỳ khưu, đây là Chân Lý Cao Thượng tức là Nguyên Nhân của Khổ. Điều ấy chính là Ái đưa đến tái sanh, liên kết với khoái lạc và say đắm, có sự thỏa thích ở nơi này nơi khác tức là: Dục Ái, Hữu Ái, Phi Hữu Ái.
Inda-bh 14~43Này các tỳ khưu, đây là Chân Lý Cao Thượng tức là sự Diệt Khổ. Điều ấy là sự dứt bỏ, sự dứt ra khỏi, sự giải thoát, sự không còn chỗ nương tựa, sự diệt tận và dứt bỏ lòng say đắm không còn dư sót của chính Ái ấy.
Inda-bh 15~44Này các tỳ khưu, đây là Chân Lý Cao Thượng tức là sự Thực Hành theo Con Đường đưa đến sự Diệt Khổ. Đó chính là Thánh Đạo tám chi phần tức là sự hiểu biết chân chánh, suy nghĩ chân chánh, ―nt― định tâm chân chánh.
Inda-bh 16~45Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: “Đây là Chân Lý Cao Thượng tức là sự Khổ.” Này các tỳ khưu, hơn nữa ta có được … (như trên) … “Đây là Chân Lý Cao Thượng tức là sự Khổ cần được hiểu rõ.” Này các tỳ khưu, hơn nữa ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: “… (như trên) … đã được hiểu rõ.”
Inda-bh 17~46Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: “Đây là Chân Lý Cao Thượng tức là Nguyên Nhân của Khổ.” Này các tỳ khưu, hơn nữa ta có được … (như trên) … “Đây là Chân Lý Cao Thượng tức là Nguyên Nhân của Khổ cần được dứt bỏ.” Này các tỳ khưu, hơn nữa ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: “―nt― đã được dứt bỏ.”
Inda-bh 18~47Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: “Đây là Chân Lý Cao Thượng tức là sự Diệt Khổ.” Này các tỳ khưu, hơn nữa ta có được … (như trên) … “Đây là Chân Lý Cao Thượng tức là sự Diệt Khổ cần được chứng ngộ.” Này các tỳ khưu, hơn nữa ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, … (như trên) … ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: “… (như trên) … đã được chứng ngộ.”
Inda-bh 19~48Này các tỳ khưu, ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, … (như trên) … ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: “Đây là Chân Lý Cao Thượng tức là sự Thực Hành theo Con Đường đưa đến sự Diệt Khổ.” Này các tỳ khưu, hơn nữa ta có được … (như trên) … “Đây là Chân Lý Cao Thượng tức là sự Thực Hành theo Con Đường đưa đến sự Diệt Khổ cần được tu tập.” Này các tỳ khưu, hơn nữa ta có được (Pháp) nhãn đã sanh khởi, trí đã sanh khởi, tuệ đã sanh khởi, minh đã sanh khởi, ánh sáng đã sanh khởi đối với các Pháp trước đây chưa từng được nghe: “… (như trên) … đã được tu tập.”
Inda-bh 20~49Này các tỳ khưu, và cho đến khi nào tri kiến thấy đúng thực chất của ta về ba Luân (vòng xoay) và mười hai Thể (tính chất) về Bốn Chân Lý Cao Thượng này chưa được thực sự thanh tịnh; này các tỳ khưu, cho đến khi ấy ta chưa công bố: “Ta đã hoàn toàn giác ngộ” về vô thượng Chánh Đẳng Giác ở trong thế gian tính luôn cõi của chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, các hạng chư Thiên và loài người.
Inda-bh 21~50Và này các tỳ khưu, bởi vì tri kiến thấy đúng thực chất của ta về ba Luân và mười hai Thể ở Bốn Chân Lý Cao Thượng này đã được thực sự thanh tịnh; này các tỳ khưu, khi ấy ta đã công bố: “Ta đã hoàn toàn giác ngộ” về vô thượng Chánh Đẳng Giác ở trong thế gian tính luôn cõi của chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, các hạng chư Thiên và loài người. Hơn nữa, trí tuệ và sự thấy biết của ta đã sanh khởi: “Sự giải thoát tâm của ta là không thể thay đổi, đây là lần sanh cuối cùng, giờ đây không còn tái sanh nữa.”
Inda-bh 22~51Hơn nữa, trong khi bài kinh này được thuyết giảng, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến đại đức Koṇḍañña: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
Inda-bh 23~52Hơn thế nữa, khi bánh xe Pháp được chuyển vận bởi đức Thế Tôn, chư Thiên ở địa cầu đã đồn đãi lời rằng: “Bánh xe Pháp vô thượng ấy đã được đức Thế Tôn chuyển vận ở Bārāṇasī, tại Isipatana, nơi vườn nai không thể bị chuyển vận nghịch lại bởi Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên nhân, Ma Vương, Phạm Thiên, hoặc bất cứ ai ở trên đời.”
Inda-bh 24~53Sau khi nghe được tiếng đồn của chư Thiên ở địa cầu, chư Thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương đã đồn đãi lời rằng: … (như trên) … Sau khi nghe được tiếng đồn của chư Thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương, chư Thiên ở cõi Đạo Lợi đã đồn đãi lời rằng: … (như trên) … chư Thiên ở cõi Dạ Ma … (như trên) … chư Thiên ở cõi Đẩu Suất … (như trên) … chư Thiên ở cõi Hóa Lạc Thiên … (như trên) … chư Thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại … (như trên) … chư Thiên thuộc hàng Phạm Thiên đã đồn đãi lời rằng: “Bánh xe Pháp vô thượng ấy đã được đức Thế Tôn chuyển vận ở Bārāṇasī, tại Isipatana, nơi vườn nai không thể bị chuyển vận nghịch lại bởi Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên nhân, Ma Vương, Phạm Thiên, hoặc bất cứ ai ở trên đời.”
Inda-bh 25~54Vào thời khắc ấy, vào giây phút ấy, lời đồn đãi ấy đã đi đến các cõi trời Phạm Thiên. Và mười ngàn thế giới này đã bị lay chuyển, rung động, chấn động. Và ánh sáng tuyệt vời không thể đo lường đã hiện ra ở thế gian, vượt quá năng lực siêu phàm của chư Thiên. Khi ấy, đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng rằng: “Koṇḍañña đã hiểu được! Koṇḍañña đã hiểu được!” Bởi thế, chính từ “Aññākoṇḍañña” này đã trở thành tên gọi của đại đức Koṇḍañña.
Inda-bh 26~55Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, đại đức Aññākoṇḍañña đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng:—“Này tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của đại đức ấy.
Inda-bh 27~56Sau đó, đức Thế Tôn đã giáo huấn, đã chỉ dạy các vị tỳ khưu còn lại bằng bài Pháp thoại. Khi ấy, trong lúc được giáo huấn, được chỉ dạy bởi đức Thế Tôn bằng bài Pháp thoại, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến đại đức Vappa và đại đức Bhaddiya: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, các vị ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng:—“Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của các đại đức ấy.
Inda-bh 28~57Sau đó, với bữa ăn đã được mang lại, đức Thế Tôn đã giáo huấn, đã chỉ dạy các vị tỳ khưu còn lại bằng bài Pháp thoại. Nhóm sáu vị sống bằng vật mà ba vị tỳ khưu đi khất thực và mang về.
Inda-bh 29~58Khi ấy, trong lúc được giáo huấn, được chỉ dạy bởi đức Thế Tôn bằng bài Pháp thoại, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến đại đức Mahānāma và đại đức Assaji: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, các vị ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng:—“Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của các đại đức ấy.
Inda-bh 30~59Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu nhóm năm vị rằng:—“Này các tỳ khưu, Sắc là Vô Ngã. Này các tỳ khưu, bởi vì nếu Sắc này là Ngã thì Sắc này không thể đi đến bệnh hoạn và có thể đạt được ở Sắc (theo ý muốn) rằng: “Sắc của ta hãy là như vầy, Sắc của ta đừng trở thành như vầy.” Này các tỳ khưu, chính vì Sắc là Vô Ngã do đó Sắc đi đến bệnh hoạn và không thể đạt được ở Sắc (theo ý muốn) rằng: “Sắc của ta hãy là như vầy, Sắc của ta đừng trở thành như vầy.”
Inda-bh 31~60Này các tỳ khưu, Thọ là Vô Ngã. Này các tỳ khưu, bởi vì nếu Thọ này là Ngã thì Thọ này không thể đi đến bệnh hoạn và có thể đạt được ở Thọ (theo ý muốn) rằng: “Thọ của ta hãy là như vầy, Thọ của ta đừng trở thành như vầy.” Này các tỳ khưu, chính vì Thọ là Vô Ngã do đó Thọ đi đến bệnh hoạn và không thể đạt được ở Thọ (theo ý muốn) rằng: “Thọ của ta hãy là như vầy, Thọ của ta đừng trở thành như vầy.”
Inda-bh 32~61Này các tỳ khưu, Tưởng là Vô Ngã. … (như trên) … Này các tỳ khưu, các Hành là Vô Ngã. Này các tỳ khưu, bởi vì nếu các Hành này là Ngã thì các Hành này không thể đi đến bệnh hoạn và có thể đạt được ở các Hành (theo ý muốn) rằng: “Các Hành của ta hãy là như vầy, các Hành của ta đừng trở thành như vầy.” Này các tỳ khưu, chính vì các Hành là Vô Ngã do đó các Hành đi đến bệnh hoạn và không thể đạt được ở các Hành (theo ý muốn) rằng: “Các Hành của ta hãy là như vầy, các Hành của ta đừng trở thành như vầy.”
Inda-bh 33~62Này các tỳ khưu, Thức là Vô Ngã. Này các tỳ khưu, bởi vì nếu Thức này là Ngã thì Thức này không thể đi đến bệnh hoạn và có thể đạt được ở Thức (theo ý muốn) rằng: “Thức của ta hãy là như vầy, Thức của ta đừng trở thành như vầy.” Này các tỳ khưu, chính vì Thức là Vô Ngã do đó Thức đi đến bệnh hoạn và không thể đạt được ở Thức (theo ý muốn) rằng: “Thức của ta hãy là như vầy, Thức của ta đừng trở thành như vầy.”
Inda-bh 34~63“Này các tỳ khưu, các vị nghĩ gì về Sắc ấy, là thường hay vô thường?”—“Bạch ngài, là vô thường.”—“Vậy cái gì (đã) là vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?”—“Bạch ngài, là khổ.”—“Vậy cái gì (đã) là vô thường, khổ, có trạng thái thay đổi, có phải là hợp lý khi quán xét về cái ấy rằng: “Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta”?”—“Bạch ngài, điều ấy không (hợp lý).”—“Này các tỳ khưu, Thọ … (như trên) … Tưởng … (như trên) … các Hành … (như trên) … Thức là thường hay vô thường?”—“Bạch ngài, là vô thường.”—“Vậy cái gì (đã) là vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?”—“Bạch ngài, là khổ.”—Vậy cái gì (đã) là vô thường, khổ, có trạng thái thay đổi, có phải là hợp lý khi quán xét về cái ấy rằng: “Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta”?—“Bạch ngài, điều ấy không hợp lý.”
Inda-bh 35~64Này các tỳ khưu, như thế trong trường hợp này, bất cứ Sắc nào thuộc về quá khứ, hiện tại, vị lai, là trong thân, hay ngoài thân, hay thô kệch, hay vi tế, hay kém cỏi, hay cao quý, hay ở xa, hay ở gần, nên thấy được toàn bộ Sắc ấy đúng như bản chất thật sự bằng trí tuệ chân chánh (như vầy): “Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.” Bất cứ Thọ nào … (như trên) … bất cứ Tưởng nào … (như trên) … bất cứ các Hành nào … (như trên) … bất cứ Thức nào thuộc về quá khứ, hiện tại, vị lai, là trong thân, hay ngoài thân, hay thô kệch, hay vi tế, hay kém cỏi, hay cao quý, hay ở xa hay ở gần, nên thấy được toàn bộ Thức ấy đúng như bản chất thật sự bằng trí tuệ chân chánh (như vầy): “Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.”
Inda-bh 36~65Này các tỳ khưu, trong khi thấy được như thế, vị Thánh đệ tử có sự học hỏi không còn hứng thú trong Sắc, không còn hứng thú trong Thọ, không còn hứng thú trong Tưởng, không còn hứng thú trong các Hành, không còn hứng thú trong Thức; trong khi không còn hứng thú, vị ấy không còn say đắm; do không còn say đắm vị ấy được giải thoát; trong khi được giải thoát, trí khởi lên rằng: “Đã được giải thoát.” Vị ấy biết được rằng: “Sự tái sanh đã cạn kiệt, Phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la-hán) này nữa.”
Inda-bh 37~66Đức Thế Tôn đã giảng về điều ấy. Các tỳ khưu nhóm năm vị đã vô cùng hoan hỷ với lời dạy của đức Thế Tôn. Hơn thế nữa, trong khi bài kinh này được thuyết giảng, các tâm của các tỳ khưu nhóm năm vị đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
Inda-bh 38~67Vào lúc bấy giờ, trên thế gian có sáu vị A-la-hán.
Tụng phẩm thứ nhất.
Inda-bh 1~68Vào lúc bấy giờ, ở Bārāṇasī có người con trai gia đình danh giá tên Yasa, là con trai nhà đại phú, có vóc dáng mảnh mai. Chàng trai có ba tòa lâu đài: một dành cho mùa lạnh, một dành cho mùa nóng, một dành cho mùa mưa. Vào bốn tháng mùa mưa ở trong tòa lâu đài dành cho mùa mưa, trong lúc được phục vụ bởi các nữ công tấu nhạc, chàng không bước xuống phía dưới của tòa lâu đài.
Inda-bh 2~69Khi ấy, trong lúc được phú cho, được thừa hưởng, được phục vụ bởi năm phần dục lạc, người con trai gia đình danh giá Yasa đã nằm xuống ngủ trước rồi sau đó đám hầu thiếp mới nằm xuống ngủ. Và cây đèn dầu được đốt trọn đêm.
Inda-bh 3~70Khi ấy, người con trai gia đình danh giá Yasa đã thức dậy trước và đã nhìn thấy đám hầu thiếp của mình đang ngủ, cây đàn ở khuỷu tay của nàng nọ, cái trống con ở cổ của nàng kia, cái trống ở đùi của nàng khác, nàng nọ có (đầu tóc) xổ ra, nàng kia nhễu nước dãi, các nàng khác thì nói lảm nhảm, chàng nghĩ rằng bãi tha ma đã đến ở trong tầm tay. Sau khi nhìn thấy, chàng trai đã thấy rõ được điều bất lợi và đã thiết lập tâm ở sự chán nản.
Inda-bh 4~71Khi ấy, người con trai gia đình danh giá Yasa đã thốt lên lời cảm thán rằng: “Thật là chán nản! Thật là khổ sở!”
Inda-bh 5~72Sau đó, người con trai gia đình danh giá Yasa đã mang vào đôi hài bằng vàng và đi đến cánh cửa lớn của dinh thự. Các phi nhân đã mở cánh cửa ra (nghĩ rằng): “Chớ có ai gây trở ngại đến việc rời nhà xuất gia sống không nhà của người con trai gia đình danh giá Yasa.”
Inda-bh 6~73Sau đó, người con trai gia đình danh giá Yasa đã đi đến cổng thành phố. Các phi nhân đã mở cánh cửa ra (nghĩ rằng): “Chớ có ai gây trở ngại đến việc rời nhà xuất gia sống không nhà của người con trai gia đình danh giá Yasa.”
Inda-bh 7~74Sau đó, người con trai gia đình danh giá Yasa đã đi đến Isipatana, chỗ vườn nai. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm đang đi kinh hành ở ngoài trời. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã rời đường kinh hành và ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, ở không xa đức Thế Tôn lắm người con trai gia đình danh giá Yasa đã thốt lên lời cảm thán rằng: “Thật là chán nản! Thật là khổ sở!”
Inda-bh 8~75Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với người con trai gia đình danh giá Yasa điều này:—“Này Yasa, việc này không chán nản, việc này không khổ sở. Này Yasa, hãy đến và ngồi xuống. Ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp cho ngươi.” Khi ấy, người con trai gia đình danh giá Yasa (nghĩ rằng): “Nghe nói việc này không chán nản, việc này không khổ sở” nên mừng rỡ phấn chấn rồi đã cởi ra đôi hài bằng vàng và đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến người con trai gia đình danh giá Yasa đang ngồi một bên. Tức là Ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục, sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được người con trai gia đình danh giá Yasa có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, Ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến người con trai gia đình danh giá Yasa: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
Inda-bh 9~76Sau đó, mẹ của người con trai gia đình danh giá Yasa đã đi lên tòa lâu đài và không thấy người con trai gia đình danh giá Yasa nên đã đi đến gặp người gia chủ đại phú, sau khi đến đã nói với người gia chủ đại phú điều này:—“Gia chủ ơi, không có nhìn thấy con trai ông là Yasa.” Khi ấy, người gia chủ đại phú đã phân công cho các sứ giả phi ngựa bốn phương, còn chính bản thân đã đi đến Isipatana, chỗ vườn nai. Người gia chủ đại phú đã nhìn thấy dấu vết in (xuống đất) của đôi hài bằng vàng, sau khi nhìn thấy đã đi theo chính dấu vết ấy. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy người gia chủ đại phú từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Hay là ta nên thi triển thần thông để cho người gia chủ đại phú ngồi ở đây không thể nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa đang ngồi ở đây.” Rồi đức Thế Tôn đã thi triển thần thông như thế ấy.
Inda-bh 10~77Sau đó, người gia chủ đại phú đã đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, vậy chớ đức Thế Tôn có thể nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa không?”—“Này gia chủ, như thế thì ông hãy ngồi xuống đi. Có lẽ khi ông ngồi xuống ở đây, ông có thể nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa đang ngồi ở đây.”
Inda-bh 11~78Khi ấy, người gia chủ đại phú (nghĩ rằng): “Nghe nói khi ta ngồi xuống ở chính nơi đây, ta sẽ nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa đang ngồi ở đây” nên mừng rỡ phấn chấn rồi đã đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến người gia chủ đại phú đang ngồi một bên. ―nt― không còn cần sự trợ duyên của người khác, (người gia chủ đại phú) đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): “Những người có mắt sẽ nhìn thấy được các hình dáng;” tương tợ như thế, Pháp đã được đức Thế Tôn giảng rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội chúng tỳ khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Và ông ta đã trở thành vị nam cư sĩ đọc ba câu đầu tiên ở thế gian.
Inda-bh 12~79Sau đó, khi đang được giảng giải Giáo Pháp và trong khi quán sát bản chất như đã được thấy như đã được biết, tâm của người cha của người con trai gia đình danh giá Yasa đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Khi đang được giảng giải Giáo Pháp và trong khi quán sát bản chất như đã được thấy như đã được biết, tâm của người cha của người con trai gia đình danh giá Yasa đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Còn người con trai gia đình danh giá Yasa không thể nào quay trở lại đời sống thấp kém để thọ hưởng các dục lạc giống như trước đây khi còn ở tại gia, hay là ta nên thu hồi sự thi triển thần thông ấy?”
Inda-bh 13~80Sau đó, đức Thế Tôn đã thu hồi sự thi triển thần thông ấy. Người gia chủ đại phú đã nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa đang ngồi, sau khi nhìn thấy đã nói với người con trai gia đình danh giá Yasa điều này:—“Này Yasa yêu quý, mẹ của con đã phải than vãn và sầu muộn. Hãy đem lại cho mẹ cuộc sống.”
Inda-bh 14~81Khi ấy, người con trai gia đình danh giá Yasa đã ngước nhìn đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với người gia chủ đại phú điều này:—“Này gia chủ, ngươi nghĩ gì về việc ấy (là việc) người con trai gia đình danh giá Yasa đã thấy đã biết được Pháp bằng trí của vị hữu học, bằng sự hiểu biết của vị hữu học cũng giống ngươi vậy? Chàng trai ấy trong khi quán sát bản chất như đã được thấy như đã được biết, tâm đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Này gia chủ, có thể nào Yasa quay trở lại đời sống thấp kém để thọ hưởng các dục lạc giống như trước đây khi còn ở tại gia hay không?”—“Bạch ngài, điều ấy không thể nào.”—“Này gia chủ, người con trai gia đình danh giá Yasa đã thấy đã biết được Pháp bằng trí của vị hữu học, bằng sự hiểu biết của vị hữu học cũng giống ngươi vậy. Chàng trai ấy trong khi quán sát bản chất như đã được thấy như đã được biết, tâm đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Này gia chủ, Yasa không thể nào quay trở lại đời sống thấp kém để thọ hưởng các dục lạc giống như trước đây khi còn ở tại gia.”
Inda-bh 15~82—“Bạch ngài, thật là lợi ích cho người con trai gia đình danh giá Yasa! Thật khéo thành tựu cho người con trai gia đình danh giá Yasa! Như là việc tâm của người con trai gia đình danh giá Yasa đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời con về bữa thọ trai ngày mai cùng với người con trai gia đình danh giá Yasa làm Thị giả. Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng.
Inda-bh 16~83Khi ấy, người gia chủ đại phú hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, khi người gia chủ đại phú ra đi không lâu, người con trai gia đình danh giá Yasa đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng:—“Này tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của đại đức ấy.
Vào lúc bấy giờ, trên thế gian có bảy vị A-la-hán.
Dứt sự xuất gia của Yasa.
Inda-bh 1~84Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, đi đến tư gia của người gia chủ đại phú cùng với đại đức Yasa làm thị giả, sau khi đến đã ngồi xuống chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, người mẹ và người vợ cũ của đại đức Yasa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến các người nữ ấy. Tức là Ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục, và sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được các người nữ ấy có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, Ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến các người nữ ấy: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, các người nữ ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! … (như trên) … Bạch ngài, chúng con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội chúng tỳ khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận chúng con là các nữ cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Và các người nữ ấy đã trở thành những nữ cư sĩ đọc ba câu đầu tiên ở thế gian.
Inda-bh 2~85Sau đó, khi đã tự tay làm hài lòng và toại ý đức Thế Tôn và đại đức Yasa với thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm, đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, người mẹ người cha và người vợ cũ của đại đức Yasa đã ngồi xuống ở một bên. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người mẹ người cha và người vợ cũ của đại đức Yasa bằng bài Pháp thoại, rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Inda-bh 3~86Bốn người bạn tại gia của đại đức Yasa (tên) Vimala, Subāhu, Puṇṇaji, Gavampati là những người con trai của các gia đình đại phú và khá giả ở thành Bārāṇasī đã nghe được rằng: “Nghe nói người con trai gia đình danh giá Yasa đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên các tấm vải màu ca-sa, và rời nhà xuất gia sống không nhà.” Sau khi nghe, các người ấy đã khởi ý điều này: “Pháp và Luật ấy chắc chắn không phải là tầm thường! Việc xuất gia ấy không phải là tầm thường khi mà người con trai gia đình danh giá Yasa đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên các tấm vải màu ca-sa, và rời nhà xuất gia sống không nhà!” Các người ấy đã đi đến gặp đại đức Yasa, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Yasa rồi đứng ở một bên. Khi ấy, đại đức Yasa đã dẫn bốn người bạn tại gia ấy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Yasa đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, bốn người bạn tại gia này của con (tên) Vimala, Subāhu, Puṇṇaji, Gavampati là những người con trai của các gia đình đại phú và khá giả ở thành Bārāṇasī. Xin đức Thế Tôn hãy giáo huấn và chỉ dạy cho những người này.”
Inda-bh 4~87Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến những người ấy. Tức là Ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục, và sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được những người ấy có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, Ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến những người ấy: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, những người ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?”
Đức Thế Tôn đã nói rằng:—“Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.”
Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của các đại đức ấy. Sau đó, đức Thế Tôn đã giáo huấn, đã chỉ dạy cho các vị tỳ khưu ấy bằng bài Pháp thoại. Trong khi được giáo huấn, được chỉ dạy bởi đức Thế Tôn bằng bài Pháp thoại, tâm của các vị ấy đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
Vào lúc bấy giờ, trên thế gian có mười một vị A-la-hán.
Dứt sự xuất gia của bốn người bạn tại gia.
Inda-bh 1~88Những người bạn tại gia của đại đức Yasa có số lượng năm mươi (người) là những người con trai của các gia đình đầu tiên hoặc kế tục trong xứ sở đã nghe rằng: “Nghe nói người con trai gia đình danh giá Yasa đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên các tấm vải màu ca-sa, và rời nhà xuất gia sống không nhà.” Sau khi nghe, các người ấy đã khởi ý điều này: “Pháp và Luật ấy chắc chắn không phải là tầm thường! Việc xuất gia ấy không phải là tầm thường khi mà người con trai gia đình danh giá Yasa đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên các tấm vải màu ca-sa, và rời nhà xuất gia sống không nhà!” Các người ấy đã đi đến gặp đại đức Yasa, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Yasa rồi đứng ở một bên. Khi ấy, đại đức Yasa đã dẫn các người bạn tại gia có số lượng là năm mươi (người) ấy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Yasa đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, những người bạn tại gia này của con có số lượng năm mươi (người) là những người con trai của các gia đình đầu tiên hoặc kế tục trong xứ sở. Xin đức Thế Tôn hãy giáo huấn và chỉ dạy cho những người này.”
Inda-bh 2~89Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến những người ấy. Tức là Ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục, và sự lợi ích của việc xuất ly. … (như trên) … Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến những người ấy: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, những người ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng:—“Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của đại đức ấy. Sau đó, đức Thế Tôn đã giáo huấn, đã chỉ dạy cho các vị tỳ khưu ấy bằng bài Pháp thoại. Trong lúc được giáo huấn, được chỉ dạy bởi đức Thế Tôn bằng bài Pháp thoại, tâm của các vị ấy đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
Vào lúc bấy giờ, trên thế gian có sáu mươi mốt vị A-la-hán.
Inda-bh 3~90Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các vị tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta đã thoát khỏi tất cả các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Này các tỳ khưu, các ngươi cũng đã thoát khỏi tất cả các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Này các tỳ khưu, hãy cất bước du hành vì lợi ích của nhiều người, vì an lạc của nhiều người, vì lòng thương xót thế gian, vì sự tiến hóa, sự lợi ích, sự an vui của chư Thiên và nhân loại, chớ đi hai người chung một (đường). Này các tỳ khưu, hãy thuyết giảng Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự, giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ. Có những hạng người sanh lên bị ít ô nhiễm sẽ là những người hiểu được Giáo Pháp, (nhưng) do việc không nghe Giáo Pháp sẽ bị tha hóa. Này các tỳ khưu, ta cũng sẽ đi đến ngôi làng của Senāni ở Uruvelā cho việc thuyết giảng Giáo Pháp.”
Inda-bh 4~91Sau đó, Ma Vương tội lỗi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn bằng những lời kệ này:
—“Ngài đã bị trói buộc bởi tất cả các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Ngài đã bị trói buộc bởi sự trói buộc lớn lao. Này vị Sa-môn, Ngài không thoát khỏi ta!”
(Đức Thế Tôn đáp lại rằng):
—“Ta đã được thoát khỏi tất cả các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Ta đã được thoát khỏi sự trói buộc lớn lao. Này kẻ gây tử vong, ngươi đã bị thua rồi.”
—“Có sự di chuyển ở khoảng không, sự trói buộc này hoạt động ở trong tâm. Ta sẽ trói buộc ngài lại bằng vật ấy. Này vị Sa-môn, ngài không thoát khỏi ta!”
—“Các sắc, các thinh, các hương, các vị, và các xúc là các niềm thích thú của tâm. Sự mong muốn của ta ở điều ấy đã không còn. Này kẻ gây tử vong, ngươi đã bị thua rồi.”
Khi ấy, Ma Vương tội lỗi (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã nhận ra ta rồi! Đấng Thiện Thệ đã nhận ra ta rồi!” nên xấu hổ, bực bội, rồi đã biến mất ngay tại chỗ ấy.
Dứt phần giảng về Ma Vương là phần thứ mười một.
Inda-bh 1~92Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu thuộc nhiều phương khác nhau, thuộc nhiều xứ sở khác nhau đã dẫn theo những người có ý muốn xuất gia, những người có ý muốn tu lên bậc trên, (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn sẽ cho họ xuất gia, sẽ cho họ tu lên bậc trên.” Trong trường hợp ấy, chính các vị tỳ khưu luôn cả những người có ý muốn xuất gia và những người có ý muốn tu lên bậc trên đều mệt nhọc. Khi ấy, đức Thế Tôn trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Hiện nay, các vị tỳ khưu thuộc nhiều phương khác nhau, thuộc nhiều xứ sở khác nhau đã dẫn theo những người có ý muốn xuất gia, những người có ý muốn tu lên bậc trên, (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn sẽ cho họ xuất gia và sẽ cho họ tu lên bậc trên.’ Trong trường hợp ấy, chính các vị tỳ khưu luôn cả những người có ý muốn xuất gia và những người có ý muốn tu lên bậc trên đều mệt nhọc; hay là ta nên cho phép các vị tỳ khưu rằng: ‘Này các tỳ khưu, kể từ nay ở trong mọi phương ở trong mọi xứ sở, chính các ngươi hãy cho xuất gia, hãy cho tu lên bậc trên.’”
Inda-bh 2~93Sau đó vào lúc chiều tối, đức Thế Tôn đã xuất khỏi thiền tịnh rồi nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại, đã thuyết Pháp thoại, rồi đã bảo các vị tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ở đây trong lúc ta thiền tịnh ở nơi thanh vắng, có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: ‘Hiện nay, các vị tỳ khưu thuộc nhiều phương khác nhau, thuộc nhiều xứ sở khác nhau đã dẫn theo những người có ý muốn xuất gia, những người có ý muốn tu lên bậc trên, (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn sẽ cho họ xuất gia, sẽ cho họ tu lên bậc trên.’ Trong trường hợp ấy, chính các vị tỳ khưu luôn cả những người có ý muốn xuất gia và những người có ý muốn tu lên bậc trên đều mệt nhọc; hay là ta nên cho phép các vị tỳ khưu rằng: ‘Này các tỳ khưu, kể từ nay ở trong mọi phương ở trong mọi xứ sở, chính các ngươi hãy cho xuất gia, hãy cho tu lên bậc trên.’”
Inda-bh 3~94Này các tỳ khưu, ta cho phép ‘kể từ nay ở trong mọi phương ở trong mọi xứ sở, chính các ngươi hãy cho xuất gia, hãy cho tu lên bậc trên.’ Và này các tỳ khưu, nên cho xuất gia như vầy, nên cho tu lên bậc trên như vầy: Trước tiên, nên bảo cạo bỏ râu tóc, bảo khoác lên các tấm vải màu ca-sa, bảo đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các vị tỳ khưu, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên, và nên bảo rằng: “Ngươi hãy nói như vầy:
Tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Phật).
Tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Pháp).
Tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Tăng).Lần thứ nhì, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ.
Lần thứ nhì, tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ.
Lần thứ nhì, tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ.Lần thứ ba, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ.
Lần thứ ba, tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ.
Lần thứ ba, tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ.”
Này các tỳ khưu, ta cho phép sự xuất gia, sự tu lên bậc trên bằng ba sự đi đến nương nhờ này.
Dứt phần giảng về sự xuất gia, sự tu lên bậc trên bằng ba sự đi đến nương nhờ là phần thứ mười hai.
Inda-bh 1~95Sau đó, khi đã sống qua mùa mưa, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta có các sự tác ý đúng đắn, có các sự tinh tấn chân chánh đúng đắn, đã đạt đến sự giải thoát vô thượng, đã chứng ngộ sự giải thoát vô thượng. Này các tỳ khưu, ngay cả các ngươi cũng có các sự tác ý đúng đắn, có các sự tinh tấn chân chánh đúng đắn, (các ngươi) hãy đạt đến sự giải thoát vô thượng, hãy chứng ngộ sự giải thoát vô thượng.”
Inda-bh 2~96Sau đó, Ma Vương tội lỗi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn bằng bài kệ này:
—“Ngài đã bị trói buộc bởi tất cả các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Ngài đã bị trói buộc bởi sự trói buộc của tử thần. Này vị Sa-môn, Ngài không thoát khỏi ta!”
(Đức Thế Tôn đáp lại rằng):
—“Ta đã được thoát khỏi tất cả các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Ta đã được thoát khỏi sự trói buộc của tử thần. Này kẻ gây tử vong, ngươi đã bị thua rồi.”
Khi ấy, Ma Vương tội lỗi (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã nhận ra ta rồi! Đấng Thiện Thệ đã nhận ra ta rồi!” nên xấu hổ, bực bội, rồi đã biến mất ngay tại chỗ ấy.
Inda-bh 3~97Sau đó, khi đã ngự tại thành Bārāṇasī theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía Uruvelā. Khi ấy, đức Thế Tôn đã rời đường lộ đi đến khu rừng rậm nọ, sau khi đến đã đi sâu vào trong khu rừng rậm ấy và đã ngồi xuống ở gốc cây nọ.
Inda-bh 4~98Vào lúc bấy giờ, những người bạn thuộc nhóm các vương tử có số lượng ba mươi (người) cùng với những người vợ đang du ngoạn ở trong khu rừng rậm ấy. Một người không có vợ. Cô gái điếm đã được dẫn đến cho nhu cầu của vị ấy. Rồi trong khi những người ấy đang lơ đễnh du ngoạn, cô gái điếm ấy đã cầm lấy gói đồ rồi tẩu thoát.
Inda-bh 5~99Sau đó, những người bạn ấy trong lúc giúp đỡ bạn bè, trong lúc tìm kiếm người đàn bà ấy, trong khi lang thang ở khu rừng rậm ấy, đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang ngồi ở gốc cây nọ, sau khi nhìn thấy đã đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, vậy chớ đức Thế Tôn có nhìn thấy người đàn bà không?”—“Này các vương tử, các vị có chuyện gì với người đàn bà?”—“Bạch ngài, ở đây chúng tôi là những người bạn thuộc nhóm các vương tử có số lượng ba mươi (người) đã cùng với những người vợ du ngoạn ở trong khu rừng rậm này. Một người không có vợ. Cô gái điếm đã được dẫn đến cho nhu cầu của vị ấy. Bạch ngài, rồi trong khi chúng tôi đang lơ đễnh du ngoạn, cô gái điếm ấy đã cầm lấy gói đồ rồi tẩu thoát. Bạch ngài, là những người bạn trong lúc giúp đỡ bạn bè, trong lúc tìm kiếm người đàn bà ấy, chúng tôi đây lang thang đi đến khu rừng rậm này.”
Inda-bh 6~100—“Này các vương tử, các vị nghĩ thế nào về việc các vị nên tìm kiếm người đàn bà và việc các vị nên tìm kiếm lấy chính mình, đối với các vị việc nào quan trọng hơn?”—“Bạch ngài, đối với chúng tôi việc chúng tôi nên tìm kiếm lấy chính mình là việc quan trọng hơn.”—“Này các vương tử, chính vì việc ấy các vị hãy ngồi xuống, ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp cho các vị.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Rồi những người bạn thuộc nhóm các vương tử ấy đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên.
Inda-bh 7~101Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến các vị ấy. Tức là ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục, và sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được các vị ấy có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến các vị ấy: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, các vị ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng:—“Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của đại đức ấy.
Dứt câu chuyện về những người bạn thuộc nhóm các vương tử.
Tụng phẩm thứ nhì.
Inda-bh 1~102Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến Uruvelā. Vào lúc bấy giờ, có ba vị đạo sĩ bện tóc đang cư trú ở Uruvelā là Uruvela-kassapa, Nadīkassapa, và Gayākassapa. Trong số các vị ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa là vị lãnh đạo, vị hướng dẫn, vị quan trọng nhất, vị đứng đầu, vị thủ lĩnh của năm trăm đạo sĩ bện tóc. Đạo sĩ bện tóc Nadīkassapa là vị lãnh đạo, vị hướng dẫn, vị quan trọng nhất, vị đứng đầu, vị thủ lĩnh của ba trăm đạo sĩ bện tóc. Đạo sĩ bện tóc Gayākassapa là vị lãnh đạo, vị hướng dẫn, vị quan trọng nhất, vị đứng đầu, vị thủ lĩnh của hai trăm đạo sĩ bện tóc.
Inda-bh 2~103Khi ấy, đức Thế Tôn đã đi đến khu ẩn cư của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa, sau khi đến đã nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:—“Này Kassapa, nếu không trở ngại cho ngươi thì chúng ta có thể ngụ một đêm trong nhà thờ lửa.”—“Này vị đại Sa-môn, quả là không trở ngại cho tôi. (Tuy nhiên) ở đây có con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp, không thể để cho nó hại ngài được.” Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn đã nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:—“Này Kassapa, nếu không trở ngại cho ngươi thì chúng ta có thể ngụ một đêm trong nhà thờ lửa.”—“Này vị đại Sa-môn, quả là không trở ngại cho tôi. (Tuy nhiên) ở đây có con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp, không thể để cho nó hại ngài được.” Đến lần thứ ba, đức Thế Tôn đã nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:—“Này Kassapa, nếu không trở ngại cho ngươi thì chúng ta có thể ngụ một đêm trong nhà thờ lửa.”—“Này vị đại Sa-môn, quả là không trở ngại cho tôi. (Tuy nhiên) ở đây có con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp, không thể để cho nó hại ngài được.”—“Biết đâu nó có thể không hại ta. Này Kassapa, ngươi hãy cho phép (ta cư ngụ) nhà thờ lửa đi.”—“Này vị đại Sa-môn, ngài hãy cư ngụ một cách thoải mái.” Sau đó, đức Thế Tôn đã đi vào nhà thờ lửa, sắp đặt tấm thảm trải bằng cỏ, rồi ngồi xuống, xếp (chân) thế kiết già, giữ thân thẳng, tập trung niệm ở phía trước.
Inda-bh 3~104Khi ấy, con rồng ấy đã nhìn thấy đức Thế Tôn đi vào, sau khi nhìn thấy trở nên bực bội nên đã phun khói. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Có lẽ ta không nên làm thương tổn đến lớp vỏ, làn da, thịt, gân, xương, tủy của con rồng này mà chỉ nên dùng lửa (của ta) làm cho lửa (của nó) bị kiệt quệ thôi.” Sau đó, đức Thế Tôn đã thi triển phép thần thông có hình thức như thế và đã phun khói. Khi ấy, con rồng không chịu nổi sự khổ sở nên đã phun ra lửa. Đức Thế Tôn cũng đã nhập thiền đề mục lửa và đã phun ra lửa. Trong khi cả hai đều có trạng thái rực sáng, ngôi nhà thờ lửa như là bị đốt cháy, bị phát cháy, có trạng thái rực sáng. Khi ấy, những đạo sĩ bện tóc ấy đã vây xung quanh nhà thờ lửa và nói như vầy:—“Quả thật vị đại Sa-môn có vóc dáng xinh đẹp đã bị con rồng hãm hại!” Sau đó, khi trải qua đêm ấy đức Thế Tôn đã không làm thương tổn đến lớp vỏ, làn da, thịt, gân, xương, tủy của con rồng này mà đã dùng lửa (của Ngài) làm cho lửa (của nó) bị kiệt quệ, rồi bỏ vào trong bình bát, và đưa cho đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa xem (nói rằng):—“Này Kassapa, đây là con rồng của ngươi. Lửa của nó đã bị lửa (của ta) làm cho kiệt quệ.” Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị ấy đã dùng lửa (của vị ấy) làm cho lửa của con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp bị kiệt quệ, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
Inda-bh 4~105Ở Nerañjarā, đức Thế Tôn đã nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rằng:—‘Này Kassapa, nếu không trở ngại cho ngươi thì đêm nay hãy để ta ngụ ở nơi thờ phụng lửa.’
—‘Này vị đại Sa-môn, quả chằng có trở ngại cho tôi. Chỉ vì muốn được yên tâm mà tôi ngăn cản ngài. Nơi đây có con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp, không thể để cho nó hại ngài được.’
—‘Biết đâu nó có thể không hại ta. Này Kassapa, ngươi hãy cho phép (ta cư ngụ) nhà thờ lửa đi.’ Sau khi biết được điều ấy là: ‘Đã được cho phép,’ Ngài đã đi vào, không khiếp đảm, đã lìa nỗi sợ hãi.
Thấy vị ẩn sĩ đã đi vào, con rồng chúa có ý bực bội đã phun khói. Vị chúa của loài người, với tâm hòa dịu, với ý cao cả, tại nơi đó cũng đã phun khói.
Và không nén được nỗi bực tức, con rồng chúa đã phun lửa như là cơn hỏa hoạn. Vị chúa của loài người, thiện xảo về các đề mục lửa, tại nơi đó cũng đã phun lửa.
Trong khi cả hai đều có trạng thái rực sáng, các đạo sĩ bện tóc đã vây xung quanh nhà thờ lửa và nói rằng:—‘Đương nhiên là vị đại Sa-môn có vóc dáng xinh đẹp bị con rồng hãm hại!’
Rồi đêm đã qua đi, các ngọn lửa lửa của rồng chúa chẳng còn, còn các ngọn lửa của vị có thần lực vẫn tồn tại và có nhiều màu sắc.
Các ngọn lửa nhiều màu sắc từ cơ thể của vị Aṅgīrasa có các màu sắc trong suốt, xanh, đỏ, tím, vàng.
Sau khi đặt con rồng vào bình bát, Ngài đã đưa ra cho vị Bà-la-môn xem:—‘Này Bà-la-môn, đây là con rồng của ngươi. Lửa của nó đã bị kiệt quệ vì ngọn lửa (của ta).’”114
Inda-bh 5~106Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa vô cùng hoan hỷ với sự kỳ diệu của thần thông này của đức Thế Tôn nên đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Này vị đại Sa-môn, hãy cư ngụ ngay tại đây, tôi có thức ăn trường kỳ cho ngài.
Điều kỳ diệu thứ nhất.
Inda-bh 6~107Sau đó, đức Thế Tôn đã cư ngụ trong khu rừng rậm nọ không xa khu ẩn cư của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa. Khi ấy vào lúc đêm khuya, bốn vị Đại Thiên Vương có hào quang rực rỡ đã làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm, rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở bốn phương giống như là những khối lửa khổng lồ.
Sau đó, khi trải qua đêm ấy đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Này vị đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị đại Sa-môn, trong lúc đêm khuya những ai có hào quang rực rỡ đã làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm, rồi đã đi đến gặp ngài, sau khi đến đã đảnh lễ ngài rồi đứng ở bốn phương giống như là những khối lửa khổng lồ vậy?”—“Này Kassapa, các vị ấy là bốn vị Đại Thiên Vương đã đi đến gặp ta để nghe Pháp.” Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì ngay cả bốn vị Đại Thiên Vương còn đi đến gặp để nghe Pháp, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.” Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ở ngay trong khu rừng rậm ấy.
Điều kỳ diệu thứ nhì.
Inda-bh 7~108Sau đó, trong lúc đêm khuya vị chúa của chư Thiên Sakka có hào quang rực rỡ đã làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm, rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên giống như là khối lửa khổng lồ còn rực rỡ hơn và thù thắng hơn những hào quang đầy màu sắc trước đây nữa.
Sau đó, khi trải qua đêm ấy đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Này vị đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị đại Sa-môn, trong lúc đêm khuya người nào có hào quang rực rỡ đã làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm, rồi đã đi đến gặp ngài, sau khi đến đã đảnh lễ ngài rồi đứng ở một bên giống như là khối lửa khổng lồ còn rực rỡ hơn và thù thắng hơn những hào quang đầy màu sắc trước đây nữa vậy?”
—“Này Kassapa, vị ấy là chúa của chư Thiên Sakka đã đi đến gặp ta để nghe Pháp.” Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì ngay cả chúa của chư Thiên Sakka còn đi đến gặp để nghe Pháp, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.” Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ở ngay trong khu rừng rậm ấy.
Điều kỳ diệu thứ ba.
Inda-bh 8~109Sau đó, trong lúc đêm khuya vị Phạm Thiên Sahampati có hào quang rực rỡ đã làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm, rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên giống như là khối lửa khổng lồ còn rực rỡ hơn và thù thắng hơn những hào quang đầy màu sắc trước đây nữa.
Inda-bh 9~110Sau đó, khi trải qua đêm ấy đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Này vị đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị đại Sa-môn, trong lúc đêm khuya người nào có hào quang rực rỡ đã làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm, rồi đã đi đến gặp ngài, sau khi đến đã đảnh lễ ngài rồi đứng ở một bên giống như là khối lửa khổng lồ còn rực rỡ hơn và thù thắng hơn những hào quang đầy màu sắc trước đây nữa vậy?”
—“Này Kassapa, vị ấy là Phạm Thiên Sahampati đã đi đến gặp ta để nghe Pháp.” Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị Phạm Thiên Sahampati còn đi đến gặp để nghe Pháp, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.” Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ở ngay trong khu rừng rậm ấy.
Điều kỳ diệu thứ tư.
Inda-bh 10~111Vào lúc bấy giờ, buổi đại lễ cúng tế của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đến. Toàn bộ dân chúng ở Aṅga và Magadha đem lại nhiều thức ăn loại cứng loại mềm với ý định tham dự. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Giờ đây buổi đại lễ cúng tế của ta đã đến, toàn bộ dân chúng ở Aṅga và Magadha sẽ đem lại nhiều thức ăn loại cứng loại mềm và tham dự. Nếu vị đại Sa-môn thực hiện sự kỳ diệu của thần thông trước đám đông thì lợi lộc và tôn kính sẽ tăng trưởng cho vị đại Sa-môn, còn lợi lộc và tôn kính của ta sẽ bị giảm đi; vậy thì vị đại Sa-môn không thể đi đến vào ngày mai.”
Inda-bh 11~112Khi ấy, đức Thế Tôn dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa nên đã đi đến xứ Kuru ở phương Bắc, từ nơi ấy đã đem lại đồ ăn khất thực và đã thọ thực ở hồ Anotatta, rồi đã nghỉ trưa ở ngay tại nơi ấy.
Inda-bh 12~113Sau đó, khi trải qua đêm ấy đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Này vị đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị đại Sa-môn, việc gì khiến ngài đã không đi đến ngày hôm qua? Tuy nhiên, chúng tôi cũng có nhớ đến ngài rằng: ‘Việc gì khiến vị đại Sa-môn không đi đến?’ Phần chia về thức ăn loại cứng và loại mềm đã được để dành cho ngài.”
Inda-bh 13~114—“Này Kassapa, thế không phải ngươi đã khởi ý điều này: ‘Giờ đây buổi đại lễ cúng tế của ta đã đến, toàn bộ dân chúng ở Aṅga và Magadha sẽ đem lại nhiều thức ăn loại cứng loại mềm và tham dự. Nếu vị đại Sa-môn thực hiện sự kỳ diệu của thần thông trước đám đông thì lợi lộc và tôn kính sẽ tăng trưởng cho vị đại Sa-môn, còn lợi lộc và tôn kính của ta sẽ bị giảm đi; vậy thì vị đại Sa-môn không thể đi đến vào ngày mai.’
Inda-bh 14~115Này Kassapa, ta đây dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của ngươi nên đã đi đến xứ Kuru ở phương Bắc, từ nơi ấy đã đem lại đồ ăn khất thực và đã thọ thực ở hồ Anotatta, rồi đã nghỉ trưa ở ngay tại nơi ấy.”
Inda-bh 15~116Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị ấy còn biết được tâm bằng tâm, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.” Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ở ngay trong khu rừng rậm ấy.
Điều kỳ diệu thứ năm.
Inda-bh 1~117Vào lúc bấy giờ, có vải paṁsukūla đã phát sanh đến đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Vậy ta có thể giặt vải paṁsukūla ở đâu?” Khi ấy, vị chúa của chư Thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã dùng tay đào thành cái hồ nước rồi nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy giặt vải paṁsukūla ở đây.” Sau đó, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Vậy ta có thể nhồi vải paṁsukūla ở nơi vật gì?” Khi ấy, vị chúa của chư Thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã mang lại tảng đá lớn rồi nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy nhồi vải paṁsukūla ở đây.” Sau đó, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Vậy ta có thể nắm vào vật gì và bước lên?” Khi ấy, vị Thiên thần ngụ ở cây Kakudha dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã uốn cong cành cây xuống (nói rằng):—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy nắm vào đây và bước lên.” Sau đó, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Vậy ta có thể phơi khô vải paṁsukūla ở nơi vật gì?” Khi ấy, vị chúa của chư Thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã mang lại tảng đá lớn rồi nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy phơi khô vải paṁsukūla ở đây.”
Inda-bh 2~118Sau đó, khi trải qua đêm ấy đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Này vị đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị đại Sa-môn, có phải trước kia cái hồ nước này không có ở đây, giờ cái hồ nước này đây lại có ở đây? Trước kia hòn đá này không được đem lại, do ai mà hòn đá này đã được đem lại? Trước kia cành của cây Kakudha này không bị uốn cong xuống, giờ cành cây này đây đã bị uốn cong xuống?”
Inda-bh 3~119—“Này Kassapa, trường hợp này là có vải paṁsukūla đã phát sanh đến ta. Ta đây đã khởi ý điều này: “Vậy ta có thể giặt vải paṁsukūla ở đâu?” Khi ấy, vị chúa của chư Thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của ta nên đã dùng tay đào thành cái hồ nước rồi nói với ta điều này: “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy giặt vải paṁsukūla ở đây.” Cái hồ này đây đã được đào bằng bàn tay bởi hạng không phải là người. Này Kassapa, ta đây đã khởi ý điều này: “Vậy ta có thể nhồi vải paṁsukūla ở nơi vật gì?” Khi ấy, vị chúa của chư Thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của ta nên đã mang lại tảng đá lớn: “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy nhồi vải paṁsukūla ở đây.” Hòn đá này đây đã được đem lại bởi hạng không phải là người. Này Kassapa, ta đây đã khởi ý điều này: “Vậy ta có thể nắm vào vật gì và bước lên?” Khi ấy, vị Thiên thần ngụ ở cây Kakudha dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của ta nên đã uốn cong cành cây xuống: “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy nắm vào đây và bước lên.” Cây Kakudha này đây là vật để tay nắm vào. Này Kassapa, ta đây đã khởi ý điều này: “Vậy ta có thể phơi khô vải paṁsukūla ở nơi vật gì?” Khi ấy, vị chúa của chư Thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của ta nên đã mang lại tảng đá lớn: “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy phơi khô vải paṁsukūla ở đây.” Hòn đá này đây đã được đem lại bởi hạng không phải là người. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị chúa của chư Thiên Sakka còn phải phục vụ, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.” Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ở ngay trong khu rừng rậm ấy.
Inda-bh 4~120Sau đó, khi trải qua đêm ấy đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Này vị đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.”—“Này Kassapa, ngươi hãy đi rồi ta đến.” Sau khi bảo vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đi, Ngài đã hái trái cây từ cây Jambu, do cây Jambu mà Jambudīpa được biết tiếng, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa. Vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã nhìn thấy đức Thế Tôn ngồi trong nhà thờ lửa, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Này vị đại Sa-môn, ngài đã đi đến bằng con đường nào? Tôi đã ra đi trước ngài, vậy mà ngài đây đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa.”—“Này Kassapa, trong trường hợp này, sau khi bảo ngươi đi, ta đã hái trái cây từ cây Jambu, do cây Jambu mà Jambudīpa được biết tiếng, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa. Này Kassapa, trái cây Jambu này đạt được màu sắc, đạt được hương thơm, đạt được mùi vị, nếu ngươi thích thì hãy ăn đi.”—“Này vị đại Sa-môn, thôi đi. Chính ngài đã mang nó lại thì chính ngài hãy ăn nó.” Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì sau khi bảo ta đi trước, vị ấy đã hái trái cây từ cây Jambu, do cây Jambu mà Jambudīpa được biết tiếng, rồi đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.” Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ở ngay trong khu rừng rậm ấy.
Inda-bh 5~121Sau đó, khi trải qua đêm ấy đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Này vị đại Sa-môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.”—“Này Kassapa, ngươi hãy đi rồi ta đến.” Sau khi bảo vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đi, ngài đã hái trái xoài không xa cây Jambu, do cây Jambu mà Jambudīpa được biết tiếng, … (như trên) … trái Āmalakī không xa cây Jambu, … (như trên) … trái Harītakī không xa cây Jambu, … (như trên) … đã đi đến cõi trời Đạo Lợi hái bông hoa của cây san hô, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa. Vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã nhìn thấy đức Thế Tôn ngồi trong nhà thờ lửa, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Này vị đại Sa-môn, ngài đã đi đến bằng con đường nào? Tôi đã ra đi trước ngài vậy mà ngài đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa.”—“Này Kassapa, trong trường hợp này, sau khi bảo ngươi đi, ta đã đi đến cõi trời Đạo Lợi hái bông hoa của cây san hô, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa. Này Kassapa, bông hoa của cây san hô này đạt được màu sắc, đạt được hương thơm.” Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì sau khi bảo ta đi trước, vị ấy đã đi đến cõi trời Đạo Lợi hái bông hoa của cây san hô, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
Inda-bh 6~122Vào lúc bấy giờ, các vị đạo sĩ bện tóc ấy, có ước muốn thờ phụng lửa, không thể chẻ nhỏ các thanh củi được. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là do năng lực thần thông của vị đại Sa-môn nên chúng ta không thể nào chẻ nhỏ các thanh củi được!” Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:—“Này Kassapa, hãy khiến các thanh củi được chẻ nhỏ.”—“Này vị đại Sa-môn, hãy khiến chúng được chẻ nhỏ.” Ngay lập tức, năm trăm thanh củi đã được chẻ nhỏ. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì ngay cả các thanh củi cũng không chẻ nhỏ được, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
Inda-bh 7~123Vào lúc bấy giờ, các vị đạo sĩ bện tóc ấy, có ước muốn thờ phụng lửa, không thể đốt lên ngọn lửa được. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là do năng lực thần thông của vị đại Sa-môn nên chúng ta không thể nào đốt lên ngọn lửa được!” Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:—“Này Kassapa, hãy khiến các ngọn lửa được đốt lên.”—“Này vị đại Sa-môn, hãy khiến chúng được đốt lên.” Ngay lập tức, năm trăm ngọn lửa đã được đốt lên. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì ngay cả các ngọn lửa cũng không đốt lên được, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
Inda-bh 8~124Vào lúc bấy giờ, các vị đạo sĩ bện tóc ấy sau khi thờ phụng lửa không thể dập tắt ngọn lửa được. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là do năng lực thần thông của vị đại Sa-môn nên chúng ta không thể nào dập tắt các ngọn lửa được!” Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:—“Này Kassapa, hãy khiến các ngọn lửa được dập tắt.”—“Này vị đại Sa-môn, hãy khiến chúng được dập tắt.” Ngay lập tức, năm trăm ngọn lửa đã được dập tắt. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvela-kassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì ngay cả các ngọn lửa cũng không dập tắt được, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
Inda-bh 9~125Vào lúc bấy giờ, trong khoảng thời gian tám đêm của mùa đông lạnh lẽo, vào lúc tuyết rơi các vị đạo sĩ bện tóc ấy hụp xuống và trồi lên trong giòng sông Nerañjarā, rồi lại thực hiện những hành động trồi lên hụp xuống. Khi ấy, đức Thế Tôn đã làm hiện ra các chảo lửa có số lượng năm trăm cái ở chỗ các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã lội lên và sưởi ấm. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là do năng lực thần thông của vị đại Sa-môn cho nên các chảo lửa này đã được hiện ra.” Khi ấy, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị ấy còn làm hiện ra các chảo lửa nhiều đến mức này, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
Inda-bh 10~126Vào lúc bấy giờ, có đám mây đen lớn sái mùa đã đổ mưa tạo thành trận lũ lụt lớn. Trong khu vực nào đức Thế Tôn cư ngụ thì nước không tràn đến khu vực ấy. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Hay là ta nên đẩy nước ra xung quanh rồi đi kinh hành ở khoảng giữa trên mặt đất được phủ đầy bụi?” Sau đó, đức Thế Tôn đã đẩy nước ra xung quanh rồi đi kinh hành ở khoảng giữa trên mặt đất được phủ đầy bụi. Khi ấy, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa (nghĩ rằng): “Chỉ mong sao vị đại Sa-môn không bị nước cuốn trôi đi!” rồi đã cùng nhiều vị đạo sĩ bện tóc đi thuyền đến khu vực đức Thế Tôn cư ngụ. Vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang đi kinh hành ở khoảng giữa trên mặt đất được phủ đầy bụi sau khi đã đẩy nước ra xung quanh, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Này vị đại Sa-môn, ngài có đây không?”—“Này Kassapa, có ta đây.” Đức Thế Tôn đã bay lên không trung và đứng ở tại chiếc thuyền. Khi ấy, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì ngay cả nước (lũ) cũng không làm gì được, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.”
Inda-bh 11~127Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý điều này: “Đã lâu nay, kẻ rồ dại này chỉ khởi ý rằng: ‘Vị đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực, nhưng vị ấy không phải là vị A-la-hán giống như ta đây.’ Hay là ta nên làm cho vị đạo sĩ bện tóc này phải nao núng? ” Sau đó, đức Thế Tôn đã nói với vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:—“Này Kassapa, ngươi chẳng phải là A-la-hán và cũng chẳng đạt được con đường đưa đến quả vị A-la-hán. Thậm chí ngươi cũng không có đường lối thực hành để ngươi có thể trở thành A-la-hán hoặc đạt được con đường đưa đến quả vị A-la-hán.”
Inda-bh 12~128Khi ấy, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Con có thể tu lên bậc trên không?”—“Này Kassapa, ngươi là vị lãnh đạo, vị hướng dẫn, vị quan trọng nhất, vị đứng đầu, vị thủ lĩnh của năm trăm đạo sĩ bện tóc. Ngươi hãy thông báo đến các vị ấy. Các vị ấy sẽ làm theo cách các vị ấy suy tính. các vị suy tính như thế nào thì các vị sẽ làm như thế ấy.”
Inda-bh 13~129Sau đó, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp các đạo sĩ bện tóc ấy, sau khi đến đã nói với các đạo sĩ bện tóc ấy điều này:—“Này các ông, ta muốn thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa-môn. Các ông suy tính như thế nào thì các ông hãy làm như thế ấy.”—“Ngài ơi, chúng tôi có niềm tin với vị đại Sa-môn đã lâu nay. Nếu ngài thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa-môn, hết thảy tất cả chúng tôi sẽ thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa-môn.”
Inda-bh 14~130Sau đó, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã quăng trôi theo dòng nước các chùm tóc, các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng:—“Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của đại đức ấy.
Inda-bh 15~131Đạo sĩ bện tóc Nadīkassapa đã nhìn thấy các chùm tóc, các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa ở dòng nước đang trôi chảy, sau khi nhìn thấy, đã khởi ý điều này: “Chớ có việc gì nguy hiểm xảy ra cho anh trai của ta!” rồi đã phái các đạo sĩ bện tóc (nói rằng): “Các vị hãy đi và tìm hiểu xem các anh trai của ta (thế nào)!” Còn bản thân cùng với ba trăm đạo sĩ bện tóc đã đi đến gặp đại đức Uruvelakassapa, sau khi đến đã nói với đại đức Uruvelakassapa điều này:—“Này Kassapa, điều này là tốt hơn hay sao?”—“Này đệ, đúng vậy. Điều này là tốt hơn.” Sau đó, các đạo sĩ bện tóc ấy đã quăng trôi theo dòng nước các chùm tóc, các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng:—“Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của đại đức ấy.
Inda-bh 16~132Đạo sĩ bện tóc Gayākassapa đã nhìn thấy các chùm tóc, các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa ở dòng nước đang trôi chảy, sau khi nhìn thấy, đã khởi ý điều này: “Chớ có việc gì nguy hiểm xảy ra cho các anh trai của ta!” rồi đã phái các đạo sĩ bện tóc (nói rằng): “Các vị hãy đi và tìm hiểu xem các anh trai của ta (thế nào)!” Còn bản thân cùng với hai trăm đạo sĩ bện tóc đã đi đến gặp đại đức Uruvelakassapa, sau khi đến đã nói với đại đức Uruvelakassapa điều này:—“Này Kassapa, điều này là tốt hơn hay sao?”—“Này đệ, đúng vậy. Điều này là tốt hơn.”
Inda-bh 17~133Sau đó, các đạo sĩ bện tóc ấy đã quăng trôi theo dòng nước các chùm tóc, các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng:—“Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của đại đức ấy.
Do nguyện lực của đức Thế Tôn, năm trăm thanh củi đã không chẻ ra được, rồi đã được chẻ ra, các ngọn lửa đã không đốt lên được, rồi đã được đốt lên, đã không dập tắt được, rồi đã được dập tắt, năm trăm chảo lửa đã được làm hiện ra. Theo cách thức ấy, có ba ngàn năm trăm điều kỳ diệu.
Inda-bh 18~134Sau đó, khi đã ngự tại Uruvelā theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía đỉnh Gayā cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn vị tỳ khưu, hết thảy tất cả đều là các đạo sĩ bện tóc trước đây. Tại nơi đó ở Gayā, đức Thế Tôn ngự tại đỉnh Gayā cùng với một ngàn vị tỳ khưu. Tại nơi đó, đức Thế Tôn đã bảo các vị tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, tất cả đều bị cháy rực. Và này các tỳ khưu, cái gì là tất cả đều bị cháy rực? Này các tỳ khưu, mắt bị cháy rực, các sắc bị cháy rực, sự nhận thức của mắt bị cháy rực, sự tiếp xúc của mắt bị cháy rực, tức là sự cảm thọ được sanh lên do duyên tiếp xúc của mắt là lạc, hay là khổ, hoặc không khổ không lạc cũng đều bị cháy rực. Bị cháy rực bởi điều gì? Ta nói rằng: ‘Bị cháy rực bởi lửa tham, bởi lửa sân, bởi lửa si. Bị cháy rực bởi sanh, bởi già, bởi chết, bởi những nỗi buồn rầu, bởi những điều ta thán, bởi những nỗi khổ đau, bởi những sự bất mãn, bởi những điều thất vọng.’
Tai bị cháy rực, các âm thanh bị cháy rực, … (như trên) … Mũi bị cháy rực, các mùi bị cháy rực, … (như trên) … Lưỡi bị cháy rực, các vị nếm bị cháy rực, … (như trên) … Thân bị cháy rực, các sự xúc chạm bị cháy rực, … (như trên) … Ý bị cháy rực, các pháp bị cháy rực, sự nhận thức của ý bị cháy rực, sự tiếp xúc của ý bị cháy rực, tức là sự cảm thọ được sanh lên do duyên tiếp xúc của ý là lạc, hay là khổ, hoặc không khổ không lạc cũng đều bị cháy rực. Bị cháy rực bởi điều gì? Ta nói rằng: ‘Bị cháy rực bởi lửa tham, bởi lửa sân, bởi lửa si. Bị cháy rực bởi sanh, bởi già, bởi chết, bởi những nỗi buồn rầu, bởi những điều ta thán, bởi những nỗi khổ đau, bởi những sự bất mãn, bởi những điều thất vọng.’ Này các tỳ khưu, trong khi thấy như thế vị Thánh đệ tử có sự học hỏi không còn hứng thú đến mắt, không còn hứng thú đến các sắc, không còn hứng thú đến sự nhận thức của mắt, không còn hứng thú đến sự tiếp xúc của mắt, tức là không còn hứng thú đến sự cảm thọ được sanh lên do duyên tiếp xúc của mắt là lạc, hay là khổ, hoặc không khổ không lạc.
(Vị ấy) không còn hứng thú đến tai, không còn hứng thú đến các âm thanh, ―nt― không còn hứng thú đến mũi, không còn hứng thú đến các mùi, ―nt― không còn hứng thú đến lưỡi, không còn hứng thú đến các vị nếm, ―nt― không còn hứng thú đến thân, không còn hứng thú đến các sự xúc chạm, ―nt― không còn hứng thú đến ý, không còn hứng thú đến các pháp, không còn hứng thú đến sự nhận thức của ý, không còn hứng thú đến sự tiếp xúc của ý, tức là không còn hứng thú đến sự cảm thọ được sanh lên do duyên tiếp xúc của ý là lạc, hay là khổ, hoặc không khổ không lạc; trong khi không còn hứng thú, vị ấy không còn tham ái; do không còn tham ái vị ấy được giải thoát; trong khi được giải thoát, trí khởi lên rằng: ‘Đã được giải thoát.’ Vị ấy biết được rằng: ‘Sự tái sanh đã cạn kiệt, Phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì khác (phải làm) đối với bản thể (A-la-hán) này nữa.’”
Inda-bh 19~135Và trong khi bài kinh này được thuyết giảng, các tâm của một ngàn vị tỳ khưu ấy đã không còn chấp thủ và đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
Dứt phần giảng về ‘Bị Cháy Rực.’
Dứt tụng phẩm ‘Sự Kỳ Diệu ở Uruvelā’ là thứ ba.
Inda-bh 1~136Sau đó, khi đã ngự tại Uruvelā theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Rājagaha cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn vị tỳ khưu, hết thảy tất cả đều là các đạo sĩ bện tóc trước đây. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Rājagaha. Tại nơi đó ở thành Rājagaha, đức Thế Tôn ngự tại khu rừng Laṭṭhi, nơi điện thờ Suppatiṭṭha. Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nghe được rằng: “Chắc chắn là ngài Sa-môn Gotama, con trai dòng Sakya, từ dòng dõi Sakya đã xuất gia, đã ngự đến thành Rājagaha và trú ở thành Rājagaha, tại khu rừng Laṭṭhi, nơi điện thờ Suppatiṭṭha. Tiếng tăm tốt đẹp về ngài Gotama ấy đã được lan rộng ra như vầy: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Tối Thượng Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Với thắng trí của mình, vị ấy chứng ngộ và công bố về thế gian này tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người. Vị ấy thuyết giảng Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự, giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ. Tốt thay cho việc diện kiến các vị A-la-hán như thế ấy!”
Inda-bh 2~137Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha được tháp tùng bởi một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Còn một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha ấy, một số đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, một số đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi ngồi xuống ở một bên, một số đã chắp tay cúi chào đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên, một số đã xưng tên họ trước đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên, một số có thái độ im lặng rồi ngồi xuống ở một bên.
Inda-bh 3~138Khi ấy, một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha ấy đã khởi ý điều này: “Vị đại Sa-môn thực hành Phạm hạnh theo Uruvelakassapa, hay là Uruvelakassapa thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa-môn?” Khi ấy, đức Thế Tôn dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha ấy nên đã nói với đại đức Uruvelakassapa bằng bài kệ này:
Inda-bh 4~139—“Kẻ trú ở Uruvelā, người giáo huấn các đạo sĩ khổ hạnh, sau khi đã thấy điều gì, mà đã từ bỏ ngọn lửa? Này Kassapa, ta hỏi ngươi điều này: “Tại sao việc thờ lửa của ngươi bị từ bỏ?”
—“Việc cúng tế đề cập đến các hình ảnh, các âm thanh, và các mùi vị, dục lạc, và đàn bà. Sau khi nhận biết rằng ‘việc ấy là ô nhiễm’ trong các mầm mống tái sanh, vì thế con đã không thích thú các việc hy sinh (hay) các việc cúng tế.”
(Đức Thế Tôn nói với Kassapa):—“Ở đây tâm của ngươi đã không thích thú đối với các hình ảnh, các âm thanh, và các mùi vị, như thế cái gì ở thế giới nhân Thiên là được tâm thích thú? Này Kassapa, hãy nói với ta về điều ấy.”
—“Sau khi đã nhìn thấy đạo lộ thanh tịnh, không mầm mống tái sanh, không có gì (về tham ái), không bị trói buộc trong dục lạc và hiện hữu, không còn những thứ khác (sanh, lão, tử, v.v...), không thể đạt đến bằng đường lối nào khác, vì thế con đã không thích thú các việc hy sinh (hay) các việc cúng tế.”
Inda-bh 5~140Sau đó, đại đức Uruvelakassapa đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư của con, con là người đệ tử. Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư của con, con là người đệ tử.” Khi ấy, một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha ấy đã khởi ý điều này: “Uruvelakassapa thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa-môn.” Sau đó, đức Thế Tôn dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha ấy nên đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến những người ấy. Tức là ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục, và sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được những người ấy có tâm đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến một trăm hai mươi ngàn Bà-la-môn và gia chủ người xứ Magadha ấy có đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đứng đầu: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Mười ngàn người đã tuyên bố bản thân là cư sĩ.
Inda-bh 6~141Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, trước đây khi còn là hoàng tử trẫm đã có năm điều ước nguyện, giờ đây các điều ấy đã được thành tựu cho trẫm. Bạch ngài, trước đây khi còn là hoàng tử trẫm đã khởi ý điều này: ‘Ước gì họ tấn phong ta làm vua!’ Bạch ngài, đó là điều ước nguyện thứ nhất của trẫm; giờ đây điều ấy đã được thành tựu cho trẫm. ‘Ước gì bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đi vào vương quốc của ta đây!’ Bạch ngài, đó là điều ước nguyện thứ nhì của trẫm; giờ đây điều ấy đã được thành tựu cho trẫm. ‘Ước gì ta được tỏ lòng tôn kính đến đức Thế Tôn ấy!’ Bạch ngài, đó là điều ước nguyện thứ ba của trẫm; giờ đây điều ấy đã được thành tựu cho trẫm. ‘Ước gì đức Thế Tôn ấy thuyết giảng Giáo Pháp cho ta!’ Bạch ngài, đó là điều ước nguyện thứ tư của trẫm; giờ đây điều ấy đã được thành tựu cho trẫm. ‘Ước gì ta có thể hiểu được Giáo Pháp của đức Thế Tôn ấy!’ Bạch ngài, đó là điều ước nguyện thứ năm của trẫm; giờ đây điều ấy đã được thành tựu cho trẫm. Bạch ngài, trước đây khi còn là hoàng tử, trẫm đã có năm điều ước nguyện này; giờ đây các điều ấy đã được thành tựu cho trẫm.
Inda-bh 7~142Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): ‘Những người có mắt sẽ nhìn thấy được các hình dáng;’ tương tợ như thế, Pháp đã được đức Thế Tôn chỉ rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, trẫm đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội Chúng tỳ khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận trẫm là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời trẫm về bữa thọ trai vào ngày mai cùng với hội chúng tỳ khưu. Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng.
Inda-bh 8~143Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, khi trải qua đêm ấy đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã cho người chuẩn bị thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm rồi sai người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn:—“Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.” Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, đi vào thành Rājagaha cùng với đại chúng tỳ khưu gồm có một ngàn vị tỳ khưu, hết thảy tất cả đều là các đạo sĩ bện tóc trước đây. Vào lúc bấy giờ, chúa của chư Thiên Sakka đã biến thành hình dáng của người thanh niên đi phía trước hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu ngâm nga những lời kệ này:
Inda-bh 9~144Vị đã tự rèn luyện, đã hoàn toàn giải thoát, cùng những vị trước đây là các đạo sĩ bện tóc (giờ) đã được rèn luyện, đã hoàn toàn giải thoát. Với sắc màu vàng khối, đức Thế Tôn đã đi vào thành Rājagaha.
Vị đã được thanh tịnh, đã hoàn toàn giải thoát, cùng những vị trước đây là các đạo sĩ bện tóc (giờ) đã được thanh tịnh, đã hoàn toàn giải thoát. Với sắc màu vàng khối, đức Thế Tôn đã đi vào thành Rājagaha.
Vị đã được tự do, đã hoàn toàn giải thoát, cùng những vị trước đây là các đạo sĩ bện tóc (giờ) đã được tự do, đã hoàn toàn giải thoát. Với sắc màu vàng khối, đức Thế Tôn đã đi vào thành Rājagaha.
Vị đã tự vượt qua, đã hoàn toàn giải thoát, cùng những vị trước đây là các đạo sĩ bện tóc (giờ) đã được vượt qua, đã hoàn toàn giải thoát. Với sắc màu vàng khối, đức Thế Tôn đã đi vào thành Rājagaha.
Đấng Thập Trú, Thập Lực, bậc thông hiểu mười pháp, và đã thành đạt mười điều, đức Thế Tôn ấy được tháp tùng bởi một ngàn vị đã đi vào thành Rājagaha.
Dân chúng sau khi nhìn thấy chúa của chư Thiên Sakka đã nói như vầy:—“Chàng thanh niên trẻ này thật đẹp trai! Chàng thanh niên trẻ này thật duyên dáng! Chàng thanh niên trẻ này thật đáng tin! Chàng thanh niên trẻ này là thuộc về ai vậy?” Khi được nói như thế, chúa của chư Thiên Sakka đã nói với đám người ấy bằng bài kệ này:
“Vị nào là bậc trí tuệ, đã được rèn luyện về mọi mặt, là vị trong sạch, không có đối thủ, là bậc A-la-hán, đấng Thiện Thệ ở thế gian, ta là người phục vụ cho vị ấy.”
Inda-bh 10~145Sau đó, đức Thế Tôn đã đi đến tư dinh của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu. Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, đức vua đã ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn nên ngụ ở nơi nào đây? Đối với ngài, chỗ ấy không nên xa làng mạc lắm, cũng không quá gần, thuận tiện cho việc tới lui, dân chúng có thể đi đến khi nào có ước muốn, ban ngày không đông đảo, ban đêm ít âm thanh, ít tiếng ồn, gió bị hạn chế, tách biệt với dân chúng, thích hợp cho việc thiền tịnh.” Rồi đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã khởi ý điều này: “Khu vườn Veḷuvana này của chúng ta là không xa làng mạc lắm, cũng không quá gần, thuận tiện cho việc tới lui, dân chúng có thể đi đến khi nào có ước muốn, ban ngày không đông đảo, ban đêm ít âm thanh, ít tiếng ồn, gió bị hạn chế, tách biệt với dân chúng, thích hợp cho việc thiền tịnh, hay là ta nên dâng khu vườn Veḷuvana đến hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu?”
Inda-bh 11~146Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã cầm lấy bình nước làm bằng vàng rưới nước lên đức Thế Tôn (nói rằng):—“Bạch ngài, trẫm dâng khu vườn Veḷuvana này đến hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu.” Đức Thế Tôn đã thọ lãnh khu vườn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép khu vườn.”
Inda-bh 12~147Vào lúc bấy giờ, vị du sĩ Sañjaya cư trú tại thành Rājagaha cùng với tập thể du sĩ đông đảo gồm có hai trăm năm mươi vị du sĩ. Vào lúc bấy giờ, Sāriputta và Moggallāna thực hành Phạm hạnh theo du sĩ Sañjaya. Họ đã giao ước với nhau rằng: “Người nào chứng đạt sự bất tử trước phải thông báo cho vị kia hay.” Khi ấy vào buổi sáng, đại đức Assaji đã mặc y cầm y bát đi vào thành Rājagaha để khất thực. Vị ấy có mắt nhìn xuống, đã thành tựu các oai nghi, tạo được niềm tịnh tín khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duỗi.
Inda-bh 13~148Du sĩ Sāriputta đã nhìn thấy đại đức Assaji, là vị có mắt nhìn xuống, đã thành tựu các oai nghi, tạo được niềm tịnh tín khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duỗi, đang đi khất thực trong thành Rājagaha. Sau khi nhìn thấy đã khởi ý điều này: “Đây chính là vị tỳ khưu trong số các vị thật sự là A-la-hán trên thế gian, hoặc là đã đạt được con đường đưa đến quả vị A-la-hán. Hay là ta nên đến gần vị tỳ khưu này và hỏi rằng: ‘Thưa đại đức, đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào?’ hoặc là ‘Ai là thầy của đại đức?’ hoặc là ‘Đại đức ưa thích pháp của vị nào?’”
Inda-bh 14~149Khi ấy, du sĩ Sāriputta đã khởi ý điều này: “Không phải lúc để hỏi vị tỳ khưu này, vị ấy đã đi vào xóm nhà và đang đi khất thực. Hay là ta nên đi sát theo sau vị tỳ khưu này là vị biết đạo lộ đang được học tập bởi những kẻ mong cầu sự lợi ích?” Sau đó, khi đã đi khất thực ở trong thành Rājagaha xong đại đức Assaji đã cầm lấy đồ ăn khất thực đi trở về. Khi ấy, du sĩ Sāriputta đã đi đến gần đại đức Assaji, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đại đức Assaji, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng ở một bên. Khi đã đứng ở một bên, du sĩ Sāriputta đã nói với đại đức Assaji điều này:—“Thưa đại đức, các giác quan của ngài thật thanh tịnh, màu sắc cơ thể thật trong sáng và thuần khiết. Thưa đại đức, đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào? Ai là thầy của đại đức? Đại đức ưa thích pháp của vị nào?”
Inda-bh 15~150—“Này đạo hữu, có vị đại Sa-môn con trai dòng Sakya, từ dòng họ Sakya đã xuất gia. Ta đã được xuất gia có liên quan đến đức Thế Tôn ấy. Đức Thế Tôn ấy là đạo sư của ta và ta ưa thích Pháp của đức Thế Tôn ấy.”—“Vị đạo sư của đại đức đã thuyết về điều gì? Đã giảng về điều gì?”—“Này đạo hữu, ta là vị mới tu, được xuất gia chưa bao lâu, vừa mới đến với Pháp và Luật này, ta không thể thuyết giảng Giáo Pháp một cách chi tiết cho đạo hữu được; tuy nhiên ta sẽ nói cho đạo hữu ý nghĩa một cách tóm tắt.” Khi ấy, du sĩ Sāriputta đã nói với đại đức Assaji điều này:—“Thưa đại đức, hãy là vậy đi.
Xin hãy nói ít hoặc nhiều, xin hãy giảng thuần ý nghĩa cho tôi. Tôi chỉ cần ý nghĩa thôi, ngài nói nhiều từ làm chi?”
Khi ấy, đại đức Assaji đã nói với du sĩ Sāriputta lời dạy này thuộc về Giáo Pháp:
“Các pháp nào có nguồn sanh khởi do nhân, đức Như Lai đã nói về nhân của chúng và về sự diệt tắt của chúng, bậc Đại Sa-môn đã có lời dạy như thế.”
Sau đó, khi đã nghe được lời dạy thuộc về Giáo Pháp này thì Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến du sĩ Sāriputta: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
“Đây chính là Giáo Pháp, nếu chỉ bấy nhiêu thôi mà đã thấu triệt được Niết Bàn không sầu muộn (là pháp) đã không được nhìn thấy, đã trôi qua hàng vạn kiếp.”
Inda-bh 16~151Sau đó, du sĩ Sāriputta đã đi đến gặp du sĩ Moggallāna. Du sĩ Moggallāna đã nhìn thấy du sĩ Sāriputta từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói với du sĩ Sāriputta điều này:—“Này bạn, các giác quan của bạn thật thanh tịnh, màu sắc cơ thể thật trong sáng và thuần khiết. Này bạn, chắc hẳn là bạn đã chứng đạt sự bất tử?”—“Này bạn, đúng vậy. Tôi đã chứng đạt sự bất tử.”—“Này bạn, bạn đã chứng đạt sự bất tử bằng cách như thế nào?”—“Này bạn, ở đây tôi đã nhìn thấy vị tỳ khưu Assaji, là vị có mắt nhìn xuống, đã thành tựu các oai nghi, tạo được niềm tịnh tín khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duỗi, đang đi khất thực trong thành Rājagaha. Sau khi nhìn thấy đã khởi ý điều này: ‘Đây chính là vị tỳ khưu trong số các vị thật sự là A-la-hán trên thế gian, hoặc là đã đạt được con đường đưa đến quả vị A-la-hán. Hay là ta nên đến gần vị tỳ khưu này và hỏi rằng: Thưa đại đức, đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào? hoặc là: Ai là thầy của đại đức? hoặc là: Đại đức ưa thích pháp của vị nào?’ Này bạn, khi ấy tôi đây đã khởi ý điều này: ‘Không phải lúc để hỏi vị tỳ khưu này, vị ấy đã đi vào xóm nhà và đang đi khất thực, hay là ta nên đi sát theo sau vị tỳ khưu này là vị biết đạo lộ đang được học tập bởi những kẻ mong cầu sự lợi ích?’
Inda-bh 17~152Này bạn, sau khi đi khất thực ở trong thành Rājagaha xong, vị tỳ khưu Assaji đã cầm lấy đồ ăn khất thực đi trở về. Này bạn, khi ấy tôi đã đi đến gần vị tỳ khưu Assaji, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với vị tỳ khưu Assaji, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng ở một bên. Này bạn, khi đã đứng một bên tôi đã nói với vị tỳ khưu Assaji điều này: ‘Thưa đại đức, các giác quan của ngài thật thanh tịnh, màu sắc cơ thể thật trong sáng và thuần khiết. Thưa đại đức, đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào? Ai là thầy của đại đức? Đại đức ưa thích pháp của vị nào?’
‘Này đạo hữu, có vị đại Sa-môn con trai dòng Sakya, từ dòng họ Sakya đã xuất gia. Ta đã được xuất gia có liên quan đến đức Thế Tôn ấy. Đức Thế Tôn ấy là đạo sư của ta và ta ưa thích Pháp của đức Thế Tôn ấy.’ ‘Vị đạo sư của đại đức đã thuyết về điều gì? Đã giảng về điều gì?’ ‘Này đạo hữu, ta là vị mới tu, được xuất gia chưa bao lâu, vừa mới đến với Pháp và Luật này, ta không thể thuyết giảng Giáo Pháp một cách chi tiết cho đạo hữu được; tuy nhiên ta sẽ nói cho đạo hữu ý nghĩa một cách tóm tắt.’ Này bạn, khi ấy tôi đã nói với đại đức Assaji điều này: ‘Thưa đại đức, hãy là vậy đi.
Xin hãy nói ít hoặc nhiều, xin hãy giảng thuần ý nghĩa cho tôi. Tôi chỉ cần ý nghĩa thôi, ngài nói nhiều từ làm chi?”
Này bạn, khi ấy vị tỳ khưu Assaji đã nói với tôi lời dạy này thuộc về Giáo Pháp:
“Các pháp nào có nguồn sanh khởi do nhân, đức Như Lai đã nói về nhân của chúng và về sự diệt tắt của chúng, bậc Đại Sa-môn đã có lời dạy như thế.”
Sau đó, khi đã nghe được lời dạy thuộc về Giáo Pháp này thì Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến du sĩ Moggallāna: ‘Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.’
“Đây chính là Giáo Pháp, nếu chỉ bấy nhiêu thôi mà đã thấu triệt được Niết Bàn không sầu muộn (là pháp) đã không được nhìn thấy, đã trôi qua hàng vạn kiếp.”
Inda-bh 18~153Sau đó, du sĩ Moggallāna đã nói với du sĩ Sāriputta điều này:—“Này bạn, chúng ta hãy đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng ta.”—“Này bạn, hai trăm năm mươi du sĩ này sống ở đây đang nương tựa vào chúng ta, và đang trông nom chúng ta, chúng ta hãy thông báo đến các vị ấy, các vị suy tính như thế nào thì các vị sẽ làm như thế ấy.”
Inda-bh 19~154Sau đó, Sāriputta và Moggallāna đã đi đến gặp các vị du sĩ ấy, sau khi đến đã nói với các vị du sĩ ấy điều này:—“Này các đạo hữu, chúng tôi đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng tôi.”—“Chúng tôi sống ở đây nương tựa vào các đại đức, và đang trông nom các đại đức, nếu các đại đức sẽ thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa-môn hết thảy tất cả chúng tôi sẽ thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa-môn.”
Sau đó, Sāriputta và Moggallāna đã đi đến gặp du sĩ Sañjaya, sau khi đến đã nói với du sĩ Sañjaya điều này:—“Này đại đức, chúng tôi đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng tôi.”—“Này các đại đức, thôi đủ rồi. Chớ có đi. Chính tất cả ba chúng ta sẽ quản trị nhóm người này.”
Đến lần thứ nhì, … (như trên) … Đến lần thứ ba, Sāriputta và Moggallāna đã nói với du sĩ Sañjaya điều này:—“Này đại đức, chúng tôi đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng tôi.”—“Này các đại đức, thôi đủ rồi. Chớ có đi. Chính tất cả ba chúng ta sẽ quản trị nhóm người này.”
Inda-bh 20~155Sau đó, Sāriputta và Moggallāna đã đưa hai trăm năm mươi du sĩ ấy đi đến Veḷuvana. Về phần du sĩ Sañjaya, ngay tại chỗ ấy máu nóng đã ứa ra từ miệng.
Đức Thế Tôn đã nhìn thấy Sāriputta và Moggallāna từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, họ là hai người bạn, Kolita và Upatissa, đang đi đến. Họ sẽ trở thành một cặp đệ tử của ta, một cặp (đệ tử) xuất sắc, đứng đầu.
Khi hai vị có lãnh vực trí tuệ thâm sâu, (đã chứng) Niết Bàn vô thượng, đã được giải thoát, còn chưa đến được Veluvana, bậc Đạo Sư đã nói với các vị (tỳ khưu) ấy rằng:
Họ là hai người bạn, Kolita và Upatissa, đang đi đến. Họ sẽ trở thành một cặp đệ tử của ta, một cặp (đệ tử) xuất sắc, đứng đầu.”
Inda-bh 21~156Sau đó, Sāriputta và Moggallāna đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã quỳ xuống đê đầu đảnh lễ ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?” Đức Thế Tôn đã nói rằng:—“Này các tỳ khưu, hãy đến. Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Chính lời nói ấy đã là sự tu lên bậc trên của các đại đức ấy.
Inda-bh 22~157Vào lúc bấy giờ, những người con trai gia đình danh giá ở xứ Magadha là những người có nhiều tiếng tăm thực hành Phạm hạnh theo đức Thế Tôn. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Sa-môn Gotama đã tạo ra khuynh hướng không con cái, Sa-môn Gotama đã gây nên cảnh vợ không chồng, Sa-môn Gotama đã gây nên sự đổ vỡ của các gia đình. Hiện nay, cùng với ông ta một ngàn vị đạo sĩ bện tóc đã xuất gia, hai trăm năm mươi du sĩ này của Sañjaya đã xuất gia, và những người con trai gia đình danh giá này ở xứ Magadha là những người có nhiều tiếng tăm đang thực hành Phạm hạnh theo Sa-môn Gotama.” Hơn nữa, khi gặp các vị tỳ khưu họ đã quở trách bằng bài kệ này:
“Quả là vị đại Sa-môn đã đi đến thành Giribbaja thuộc xứ Magadha. Sau khi đã dẫn đi toàn bộ Sañjaya, giờ đây sẽ dẫn người nào đi?”
Inda-bh 23~158Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế tôn.—“Này các tỳ khưu, tiếng đồn đãi ấy sẽ không tồn tại lâu, sẽ tồn tại chỉ được bảy ngày, khi trải qua bảy ngày thì sẽ biến mất. Này các tỳ khưu, chính vì việc ấy những người nào quở trách các ngươi bằng bài kệ này:
“Quả là vị đại Sa-môn đã đi đến thành Giribbaja thuộc xứ Magadha. Sau khi đã dẫn đi toàn bộ Sañjaya, giờ đây sẽ dẫn người nào đi?”
Các ngươi hãy quở trách lại họ bằng bài kệ này:
“Đúng vậy, các bậc Đại Hùng các đức Như Lai dẫn dắt bằng Chánh Pháp. Những người có sự nhận thức thì có điều ganh tỵ gì với những vị đang dẫn đi bằng Chánh Pháp?”
Vào lúc bấy giờ, dân chúng khi gặp các vị tỳ khưu đã quở trách bằng bài kệ này:
“Quả là vị đại Sa-môn đã đi đến thành Giribbaja thuộc xứ Magadha. Sau khi đã dẫn đi toàn bộ Sañjaya, giờ đây sẽ dẫn người nào đi?”
Các vị tỳ khưu đã quở trách lại những người ấy bằng bài kệ này:
“Đúng vậy, các bậc Đại Hùng các đức Như Lai dẫn dắt bằng Chánh Pháp. Những người có sự nhận thức thì có điều ganh tỵ gì với những vị đang dẫn đi bằng Chánh Pháp?”
Inda-bh 24~159Dân chúng nghĩ rằng:—“Nghe nói các Sa-môn Thích tử dẫn dắt bằng Chánh Pháp không phải bằng Phi Pháp.” Tiếng đồn ấy đã tồn tại chỉ có bảy ngày, sau khi trải qua bảy ngày đã biến mất.
Dứt sự xuất gia của Sāriputta và Moggallāna.
Dứt tụng phẩm thứ tư.
Inda-bh 1~160Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu không có thầy tế độ, trong khi không được giáo huấn và không được chỉ dạy nên mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực. Trong khi dân chúng đang ăn, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức uống, các vị còn tự mình yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn.
Inda-bh 2~161Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực? Trong khi dân chúng đang ăn các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức uống, các vị còn tự mình yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn giống như các Bà-la-môn trong bữa ăn của các Bà-la-môn vậy?”
Inda-bh 3~162Các tỳ khưu đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các vị tỳ khưu lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực? Trong khi dân chúng đang ăn, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức uống, các vị còn tự mình yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn vậy?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 4~163Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực? Trong khi dân chúng đang ăn, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức uống, các vị còn tự mình yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn, có đúng không vậy?”
Inda-bh 5~164—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho những kẻ rồ dại ấy, thật không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực? Trong khi dân chúng đang ăn, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức uống, các vị còn tự mình yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.”
Inda-bh 6~165Sau đó, khi đã khiển trách các vị tỳ khưu ấy bằng nhiều phương thức, đức Thế Tôn đã chê trách về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, sự khó khăn trong việc ăn uống, sự tầm cầu quá nhiều, sự không biết đủ, sự kết phe nhóm, sự biếng nhác; và bằng nhiều phương thức ngài đã ngợi khen về sự dễ dàng trong việc cấp dưỡng, sự dễ dàng trong việc ăn uống, sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự tiết chế, sự hài hòa, sự đoạn giảm, sự ra sức tinh tấn. Ngài đã nói Pháp thoại thích đáng và phù hợp cho các tỳ khưu rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị thầy tế độ. Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ sẽ gợi lên ở người đệ tử tâm của người con và người đệ tử sẽ gợi lên ở vị thầy tế độ tâm của người cha. Như thế, trong khi sống cùng nhau có sự tôn kính, có sự phục tùng, có sự cư xử hài hòa với nhau, họ sẽ đạt đến sự lớn mạnh, sự tăng trưởng, sự phát triển trong Pháp và Luật này.
Và này các tỳ khưu, vị thầy tế độ nên được xác định như vầy: (Người đệ tử) nên đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: “Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy tế độ của con. Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy tế độ của con. Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy tế độ của con.” (Vị thầy tế độ nên nói rằng): “Tốt rồi!” hay là “Được nhẹ nhàng rồi!” hay là “Đúng rồi!” hay là “Được phù hợp rồi!” hay là “Hãy được thành tựu sự hoan hỷ!” (Nếu) vị (thầy tế độ) bày tỏ bằng thân, bày tỏ bằng lời nói, bày tỏ bằng thân và lời nói, thì vị thầy tế độ đã được xác định. (Nếu) vị ấy không bày tỏ bằng thân, không bày tỏ bằng lời nói, không bày tỏ bằng thân và lời nói, vị thầy tế độ đã không được xác định.
Inda-bh 9~166Này các tỳ khưu, người đệ tử nên thực hành phận sự đúng đắn đối với vị thầy tế độ. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này: Nên thức dậy vào lúc sáng sớm, cởi dép ra, đắp thượng y một bên vai, rồi nên dâng gỗ chà răng, nên dâng nước súc miệng, và nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa sạch tô rồi đem cháo lại. Khi thầy đã uống cháo xong, nên dâng nước, nên nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất.
Inda-bh 10~167Khi thầy tế độ đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác thì nên quét khu vực ấy. Nếu thầy tế độ có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, và nhận lại y lót trong (đã thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi dâng lên. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. Nếu thầy tế độ muốn có thị giả đi theo, (người đệ tử) nên mặc y nội tròn đều với sự che phủ ba vòng tròn, buộc dây thắt lưng, gấp y hai lớp thành nếp rồi đắp lên, thắt lại dây buộc, rửa và ôm lấy bình bát, rồi nên đi theo làm thị giả cho thầy tế độ. Không nên đi quá xa, không nên đi quá gần. Nên nhận lấy bình bát được (vị thầy) hoán đổi.
Inda-bh 11~168Khi thầy tế độ đang nói, không nên cắt ngang lời nói nửa chừng. Khi thầy tế độ có khả năng phạm tội lúc đang nói thì nên ngăn lại. Khi quay trở về, nên đi về trước tiên và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên đi ra rước y và bình bát. Nên trao y lót trong (trước đây) và nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên phơi y ở chỗ nắng quá lâu. Nên gấp y lại. Khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): “Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.” Nên đặt dây thắt lưng ở bên trong phần gấp lại.
Inda-bh 12~169Nếu có đồ ăn khất thực và thầy tế độ có ý muốn thọ dụng thì nên dâng nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý thầy tế độ về nước uống. Khi thầy ăn xong nên dâng nước (rửa), nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên phơi bình bát ở chỗ nắng quá lâu. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.
Inda-bh 13~170Khi thầy tế độ đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác thì nên quét khu vực ấy. Nếu thầy tế độ có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.
Inda-bh 14~171Nếu thầy tế độ có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi rồi đi đến từ phía sau lưng và trao ghế ngồi của nhà tắm hơi cho thầy tế độ, nên nhận lấy y và để ở một bên, nên trao bột tắm, nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên đắp lên cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho thầy tế độ. Khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi.
Inda-bh 15~172Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho thầy tế độ. Khi tắm xong nên đi ra trước, lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của thầy tế độ. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý thầy tế độ về nước uống. Nếu có ý muốn thỉnh (thầy) đọc tụng, nên thỉnh (thầy) đọc tụng. Nếu có ý muốn vấn đạo, nên thỉnh (thầy) vấn đạo.
Inda-bh 16~173Ở trú xá nào thầy tế độ cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác rến, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc.
Inda-bh 17~174Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc. Nếu có mạng nhện ở trú xá, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu phần nền không được thực hiện, nên rải nước rồi quét (nghĩ rằng): “Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.”
Inda-bh 18~175Sau khi gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc. Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa, và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa, và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.
Inda-bh 19~176Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.
Inda-bh 20~177Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.
Inda-bh 21~178Nếu phòng có rác rến, nên quét phòng. Nếu cổng có rác rến, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác rến, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác rến, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác rến, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.
Inda-bh 22~179Nếu sự bực bội sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu nỗi ân hận sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu tà kiến sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy.
Inda-bh 23~180Nếu thầy tế độ bị phạm tội nặng xứng đáng hành phạt parivāsa, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt parivāsa cho thầy tế độ?”
Inda-bh 24~181Nếu thầy tế độ xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể cho thầy tế độ (thực hành) trở lại từ đầu?”
Inda-bh 25~182Nếu thầy tế độ xứng đáng hành phạt mānatta, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt mānatta cho thầy tế độ?”
Inda-bh 26~183Nếu thầy tế độ xứng đáng sự giải tội, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho thầy tế độ?”
Inda-bh 27~184Nếu hội chúng có ý định tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với thầy tế độ, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi tiến hành hành sự đối với thầy tế độ, hoặc đổi thành nhẹ hơn?” Khi hội chúng đã tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với thầy tế độ, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thầy tế độ có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?”
Inda-bh 28~185Nếu y của thầy tế độ cần phải giặt, người đệ tử nên giặt hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy tế độ được giặt?” Nếu y của thầy tế độ cần phải may, người đệ tử nên may hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy tế độ được may?” Nếu thuốc nhuộm của thầy tế độ cần phải nấu, người đệ tử nên nấu hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thuốc nhuộm của thầy tế độ được nấu?” Nếu y của thầy tế độ cần phải nhuộm, người đệ tử nên nhuộm hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy tế độ được nhuộm?” Trong khi nhuộm y, nên nhuộm bằng cách đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng.
Inda-bh 29~186Không có phép của thầy tế độ, không nên cho bình bát đến người khác, không nên thọ lãnh bình bát của người khác, không nên cho y đến người khác, không nên thọ lãnh y của người khác, không nên cho vật dụng đến người khác, không nên thọ lãnh vật dụng của người khác, không nên cạo tóc cho người khác, không nên bảo người khác cạo tóc, không nên kỳ cọ người khác, không nên bảo người khác kỳ cọ, không nên hầu hạ người khác, không nên bảo người khác hầu hạ, không nên làm thị giả người khác, không nên nhận người khác làm thị giả, không nên mang đồ ăn khất thực lại dùm người khác, không nên nhờ người khác mang dùm đồ ăn khất thực lại.
Inda-bh 30~187Chưa xin phép thầy tế độ không nên đi vào làng, không nên đi đến mộ địa, không nên bỏ đi hướng khác. Nếu thầy tế độ bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. Nên đợi cho đến khi vị thầy khỏe lại.
Dứt phận sự đối với thầy tế độ.
Inda-bh 1~188Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ nên thực hành phận sự đúng đắn đối với người đệ tử. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này: Này các tỳ khưu, thầy tế độ nên quan tâm đến người đệ tử, nên giúp đỡ bằng sự đọc tụng, bằng sự vấn hỏi, bằng sự giáo huấn, bằng sự chỉ dạy.
Inda-bh 2~189Nếu thầy tế độ có bình bát và người đệ tử không có bình bát, thầy tế độ nên cho bình bát đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để bình bát có thể phát sanh đến đệ tử?”
Inda-bh 3~190Nếu thầy tế độ có y và người đệ tử không có y, thầy tế độ nên cho y đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y có thể phát sanh đến đệ tử?”
Inda-bh 4~191Nếu thầy tế độ có vật dụng và người đệ tử không có vật dụng, thầy tế độ nên cho vật dụng đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để vật dụng có thể phát sanh đến đệ tử?”
Inda-bh 5~192Nếu người đệ tử bị bệnh, (vị thầy tế độ) nên thức dậy vào lúc sáng sớm. Nên trao gỗ chà răng. Nên trao nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa sạch tô rồi đem cháo lại. Khi người đệ tử đã uống cháo xong, nên trao nước (rửa), nên nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất. Khi người đệ tử đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác rến thì nên quét khu vực ấy.
Inda-bh 6~193Nếu người đệ tử có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, và nhận lại y lót trong (đã thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trao cho. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. (Nghĩ rằng): “Đến lúc vị ấy sắp trở về,” nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên đi ra rước y và bình bát. Nên trao y lót trong (trước đây) và nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên phơi y ở chỗ nắng quá lâu. Nên gấp y lại. Khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): “Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.” Nên đặt dây thắt lưng ở bên trong phần gấp lại.
Inda-bh 7~194Nếu có đồ ăn khất thực và người đệ tử có ý muốn thọ dụng thì nên trao nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý người đệ tử về nước uống. Khi người đệ tử ăn xong nên trao nước (rửa). Nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên phơi bình bát ở chỗ nắng quá lâu.
Inda-bh 8~195Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống
Inda-bh 9~196Khi người đệ tử đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác rến thì nên quét khu vực ấy. Nếu người đệ tử có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.
Inda-bh 10~197Nếu người đệ tử có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi đến, trao ghế ngồi của nhà tắm hơi, nhận lấy y, rồi nên đem để ở một bên. Nên trao bột tắm. Nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên đắp lên cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho người đệ tử. Khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi.
Inda-bh 11~198Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho người đệ tử. Khi tắm xong nên đi ra trước, lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của người đệ tử. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý người đệ tử về nước uống. Ở trú xá nào người đệ tử cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác rến, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ.
Inda-bh 12~199Khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc.
Inda-bh 13~200Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc. Nếu có mạng nhện ở trú xá, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được thực hiện, nên rải nước rồi quét (nghĩ rằng): “Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.”
Inda-bh 14~201Sau khi gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc. Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.
Inda-bh 15~202Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.
Inda-bh 16~203Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.
Inda-bh 17~204Nếu phòng có rác rến, nên quét phòng. Nếu cổng có rác rến, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác rến, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác rến, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác rến, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.
Inda-bh 18~205Nếu sự bực bội sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu nỗi ân hận sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu tà kiến sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.
Inda-bh 19~206Nếu người đệ tử bị phạm tội nặng xứng đáng hành phạt parivāsa, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt parivāsa cho đệ tử?”
Inda-bh 20~207Nếu người đệ tử xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể cho đệ tử (thực hành) trở lại từ đầu?”
Inda-bh 21~208Nếu người đệ tử xứng đáng hành phạt mānatta, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt mānatta cho đệ tử?”
Inda-bh 22~209Nếu người đệ tử xứng đáng sự giải tội, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho đệ tử?”
Inda-bh 24~210Nếu hội chúng có ý định tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người đệ tử, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi tiến hành hành sự đối với đệ tử, hoặc đổi thành nhẹ hơn?” Khi hội chúng đã tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người đệ tử, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để đệ tử có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?”
Inda-bh 25~211Nếu y của người đệ tử cần phải giặt, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: “Ngươi nên giặt như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của đệ tử được giặt?” Nếu y của người đệ tử cần phải may, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: “Ngươi nên may như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của đệ tử được may?” Nếu thuốc nhuộm của người đệ tử cần phải nấu, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: “Ngươi nên nấu như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thuốc nhuộm của đệ tử được nấu?” Nếu y của người đệ tử cần phải nhuộm, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: “Ngươi nên nhuộm như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của đệ tử được nhuộm?” Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng. Nếu người đệ tử bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. Nên đợi cho đến khi người đệ tử khỏe lại.
Dứt phận sự đối với đệ tử.
Inda-bh 1~212Vào lúc bấy giờ, các người đệ tử không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các người đệ tử lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ?”
Inda-bh 2~213Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói các người đệ tử không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, người đệ tử không nên không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ; vị nào không thực hành đúng đắn thì phạm tội dukkaṭa.”
(Các người đệ tử) vẫn không thực hành phận sự đúng đắn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đuổi đi người (đệ tử) không thực hành phận sự đúng đắn. Và này các tỳ khưu, nên đuổi đi như vầy: “Ta đuổi ngươi đi,” hay là “Đừng có quay trở lại đây,” hay là “Hãy đem đi y bát của ngươi,” hay là “Ta không giúp đỡ ngươi nữa.” (Nếu) vị (thầy tế độ) bày tỏ bằng thân, bày tỏ bằng lời nói, bày tỏ bằng thân và lời nói, thì người đệ tử đã bị đuổi đi. (Nếu) vị ấy không bày tỏ bằng thân, không bày tỏ bằng lời nói, không bày tỏ bằng thân và lời nói, thì người đệ tử không bị đuổi đi.
Inda-bh 3~214Vào lúc bấy giờ, những người đệ tử bị đuổi đi đã không xin lỗi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xin lỗi.” Các người (đệ tử) vẫn không xin lỗi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, người (đệ tử) bị đuổi đi không nên không xin lỗi; vị nào không xin lỗi thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 4~215Vào lúc bấy giờ, khi được xin lỗi các vị thầy tế độ không tha thứ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tha thứ.” Các vị (thầy tế độ) vẫn không tha thứ. Những người đệ tử rời đi, (hoặc) hoàn tục, (hoặc) theo ngoại đạo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, khi được xin lỗi không nên không tha thứ; vị nào không tha thứ thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 5~216Vào lúc bấy giờ, các vị thầy tế độ đuổi đi những người (đệ tử) thực hành phận sự đúng đắn, không đuổi đi những người (đệ tử) không thực hành phận sự đúng đắn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi người (đệ tử) thực hành phận sự đúng đắn; vị nào đuổi đi thì phạm tội dukkaṭa. Và này các tỳ khưu, không nên không đuổi đi người (đệ tử) không thực hành phận sự đúng đắn; vị nào không đuổi đi thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 6~217Này các tỳ khưu, nên đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy tế độ không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều niềm tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, (và) không có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, nên đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố này.
Inda-bh 7~218Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy tế độ có nhiều lòng yêu mến, có nhiều niềm tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, (và) có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố này.
Inda-bh 8~219Này các tỳ khưu, người đệ tử là đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy tế độ không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều niềm tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, (và) không có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, người đệ tử là đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố này.
Inda-bh 9~220Này các tỳ khưu, người đệ tử là không đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy tế độ có nhiều lòng yêu mến, có nhiều niềm tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, (và) có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, người đệ tử là không đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố này.
Inda-bh 10~221Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi không đuổi đi, không vượt qua quy định khi đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy tế độ không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều niềm tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, (và) không có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi không đuổi đi, không vượt qua quy định khi đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố này.
Inda-bh 11~222Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi đuổi đi, không vượt qua quy định khi không đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy tế độ có nhiều lòng yêu mến, có nhiều niềm tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, (và) có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi đuổi đi, không vượt qua quy định khi không đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố này.”
Inda-bh 12~223Vào lúc bấy giờ, có người Bà-la-môn nọ (tên Rādha) đã đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã không ưng thuận cho người ấy xuất gia. Người ấy trong khi không đạt được sự xuất gia ở nơi các tỳ khưu đã trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân.
Inda-bh 13~224Đức Thế Tôn đã nhìn thấy người Bà-la-môn ấy ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân, sau khi nhìn thấy đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, việc gì khiến người Bà-la-môn ấy ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân vậy?”—“Bạch ngài, người Bà-la-môn ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã không ưng thuận cho người ấy xuất gia. Người ấy trong khi không đạt được sự xuất gia ở nơi các tỳ khưu đã trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân.”
Inda-bh 14~225Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, có vị nào nhớ được điều tốt đẹp của người Bà-la-môn ấy?” Khi được nói như vậy, đại đức Sāriputta đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, con nhớ được điều tốt đẹp của người Bà-la-môn ấy.”—“Này Sāriputta, ngươi nhớ được điều tốt đẹp gì của người Bà-la-môn ấy?”—“Bạch ngài, trường hợp này là khi con đang đi khất thực ở trong thành Rājagaha, người Bà-la-môn ấy đã sai người cho một muỗng vật thực. Bạch ngài, đó là điều tốt đẹp của người Bà-la-môn ấy mà con nhớ được.”—“Này Sāriputta, tốt lắm, tốt lắm! Này Sāriputta, bởi vì những người tốt là những người biết ơn và nhớ ơn đã thọ. Này Sāriputta, chính vì điều ấy ngươi hãy cho người Bà-la-môn ấy xuất gia và tu lên bậc trên.”—“Bạch ngài, con cho người Bà-la-môn ấy xuất gia và tu lên bậc trên như thế nào?”
Inda-bh 15~226Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, việc tu lên bậc trên bằng ba sự đi đến nương nhờ (Tam Quy) đã được ta cho phép, kể từ nay ta hủy bỏ việc ấy. Này các tỳ khưu, ta cho phép tu lên bậc trên bằng hành sự với lời thông báo đến lần thứ tư. Và này các tỳ khưu, nên cho tu lên bậc trên như vầy. Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
Inda-bh 16~227“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Inda-bh 17~228Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Hội chúng cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của vị tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Inda-bh 18~229Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Hội chúng cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của vị tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Inda-bh 19~230Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Hội chúng cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của vị tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Inda-bh 20~231Vị tên (như vầy) đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 21~232Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ thực hiện hành động sai trái liền ngay sau khi được tu lên bậc trên. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này đại đức, chớ có hành động như thế, điều ấy không được phép.” Vị ấy đã nói như vầy:—“Tôi đâu có cầu xin các đại đức rằng: ‘Các đại đức hãy cho tôi tu lên bậc trên.’ Tại sao các ngài khi chưa được tôi cầu xin mà đã cho tu lên bậc trên?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên người không cầu xin; vị nào ban phép tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép ban phép tu lên bậc trên đối với người đã cầu xin. Và này các tỳ khưu, nên được cầu xin như vầy: Vị có ý muốn tu lên bậc trên ấy nên đi đến hội chúng tỳ khưu, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các vị tỳ khưu, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với hội chúng như vầy:—‘Bạch các ngài, tôi cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, vì lòng thương xót xin hội chúng hãy tế độ tôi.’ Nên được cầu xin đến lần thứ nhì. … (như trên) … Nên được cầu xin đến lần thứ ba. … (như trên) … Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Vị tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Vị tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Hội chúng cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của vị tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Vị tên (như vầy) đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 22~233Vào lúc bấy giờ, ở trong thành Rājagaha sự tuần tự của các bữa trai phạn gồm các thức ăn hảo hạng được tiến hành đều đặn. Khi ấy, có người Bà-la-môn nọ đã khởi ý điều này: “Những Sa-môn Thích tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm ngủ ở những cái giường kín gió, hay là ta nên xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử này?”
Inda-bh 23~234Sau đó, người Bà-la-môn ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã cho người ấy xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Khi người ấy đã được xuất gia, sự tuần tự của các bữa ăn đã hết. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này đại đức, hãy đến. Hôm nay chúng ta sẽ đi khất thực.” Vị ấy đã nói như vầy:—“Này các đại đức, tôi đã không xuất gia vì nguyên nhân này: ‘Ta sẽ đi khất thực.’ Nếu các vị cho tôi thì tôi sẽ ăn, nếu các vị không cho tôi thì tôi sẽ hoàn tục.”—“Này đại đức, có phải ngài đã xuất gia vì nguyên nhân của bao tử?”—“Này các đại đức, đúng vậy.”
Inda-bh 24~235Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao vị tỳ khưu lại xuất gia trong Pháp và Luật khéo được thuyết giảng như vầy vì nguyên nhân của bao tử?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 25~236—“Này tỳ khưu, nghe nói ngươi đã xuất gia vì nguyên nhân của bao tử, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại xuất gia trong Pháp và Luật khéo được thuyết giảng như vầy vì nguyên nhân của bao tử? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
Inda-bh 26~237—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đang ban phép tu lên bậc trên chỉ dẫn về bốn vật nương nhờ: Việc xuất gia nương vào thức ăn do khất thực, trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời. Vật thọ lãnh ngoại lệ là: bữa ăn dâng hội chúng, bữa ăn được chỉ định, sự mời thỉnh, bữa ăn theo thẻ, vào mỗi nửa tháng, vào ngày Uposatha, vào ngày đầu của mỗi nửa tháng.
Việc xuất gia nương vào y làm bằng vải dơ bị quăng bỏ, trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời. Vật thọ lãnh ngoại lệ là: (y làm bằng) sợi lanh, bông vải, tơ lụa, sợi len, gai thô, chỉ bố.
Việc xuất gia nương vào chỗ trú ngụ là gốc cây, trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời. Vật thọ lãnh ngoại lệ là: trú xá, nhà một mái, tòa nhà dài, khu nhà lớn, hang động.
Việc xuất gia nương vào dược phẩm là nước tiểu gia súc, trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời. Vật thọ lãnh ngoại lệ là: bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía.”
Dứt tụng phẩm về phận sự đối với thầy tế độ là thứ năm.
Inda-bh 1~238Vào lúc bấy giờ, có chàng thanh niên nọ đã đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã chỉ dẫn cho chàng trai về các vật nương nhờ trước. Chàng trai đã nói như vầy:—“Thưa các ngài, nếu khi tôi đã được xuất gia các ngài mới chỉ dẫn về các vật nương nhờ thì tôi còn có thể thích thú. Thưa các ngài, giờ đây tôi sẽ không xuất gia, đối với tôi các vật nương nhờ là ghê tởm đáng ghét.”
Inda-bh 2~239Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên chỉ dẫn về các vật nương nhờ trước; vị nào chỉ dẫn thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ dẫn về các vật nương nhờ liền ngay sau khi đã được tu lên bậc trên.”
Inda-bh 3~240Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đã ban phép tu lên bậc trên với tập thể là nhóm hai vị, nhóm ba vị. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên ban phép tu lên bậc trên với tập thể là nhóm ít hơn mười vị; vị nào ban phép tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép ban phép tu lên bậc trên với tập thể là nhóm mười vị hoặc nhóm trên mười vị.”
Inda-bh 4~241Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu chỉ được một năm, hai năm đã cho đệ tử tu lên bậc trên. Ngay cả đại đức Upasena con trai của Vaṅganta được một năm đã cho người đệ tử tu lên bậc trên. Khi đã sống qua mùa (an cư) mưa là được hai năm, vị ấy đã đưa người đệ tử được một năm đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Điều này đã trở thành thông lệ của chư Phật Thế Tôn là niềm nở với các tỳ khưu đi đến.
Inda-bh 5~242Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Upasena con trai của Vaṅganta điều này:—“Này các tỳ khưu, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Các ngươi đi đến đường xa có được ít mệt nhọc không?”—“Bạch Thế Tôn, sức khoẻ có khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc được tốt đẹp. Và bạch ngài, chúng con đi đường xa ít có mệt nhọc.”
Inda-bh 6~243Các đấng Như Lai dầu biết vẫn hỏi, dầu biết các vị vẫn không hỏi, biết đúng thời các vị mới hỏi, biết đúng thời các vị vẫn không hỏi, có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai mới hỏi và không (hỏi việc) không có liên quan đến lợi ích, khi không có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai có cách để cắt đứt vấn đề. Chư Phật Thế Tôn hỏi các tỳ khưu với hai lý do: “Chúng ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp hoặc là chúng ta sẽ quy định điều học cho các đệ tử.”
Inda-bh 7~244Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Upasena con trai của Vaṅganta điều này:—“Này tỳ khưu, ngươi được bao nhiêu năm?”—“Bạch Thế Tôn, con được hai năm.”—“Còn vị tỳ khưu này được bao nhiêu năm?”—“Bạch Thế Tôn, được một năm.”—“Vị tỳ khưu này là gì của ngươi?”—“Bạch Thế Tôn, là đệ tử của con.”
Inda-bh 8~245Đức Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao (trong khi) ngươi còn cần được những người khác giáo huấn chỉ dạy lại nghĩ đến giáo huấn chỉ dạy người khác? Này kẻ rồ dại, ngươi trở thành đa đoan quá nhanh chóng tức là việc kết nạp đồ chúng. Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, vị dưới mười năm không nên ban phép tu lên bậc trên; vị nào ban phép tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị mười năm hoặc trên mười năm được ban phép tu lên bậc trên.”
Inda-bh 9~246Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm (nghĩ rằng): “Ta được mười năm! Ta được mười năm!” rồi ban phép tu lên bậc trên. (Các trường hợp) những thầy tế độ ngu dốt và các đệ tử sáng trí được phát hiện, những thầy tế độ thiếu kinh nghiệm và các đệ tử có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy tế độ nghe ít và các đệ tử nghe nhiều được phát hiện, những thầy tế độ trí kém và các đệ tử trí tuệ được phát hiện.
Inda-bh 10~247Có vị nọ trước đây theo ngoại đạo trong khi được thầy tế độ nói về vấn đề thuộc Giáo Pháp đã bắt bẻ lời dạy của thầy tế độ rồi chuyển qua địa phận của chính ngoại đạo ấy.
Inda-bh 11~248Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm (nghĩ rằng): ‘Ta được mười năm! Ta được mười năm!’ rồi ban phép tu lên bậc trên khiến (các trường hợp) những thầy tế độ ngu dốt và các đệ tử sáng trí được phát hiện, những thầy tế độ thiếu kinh nghiệm và các đệ tử có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy tế độ nghe ít và các đệ tử nghe nhiều được phát hiện, những thầy tế độ trí kém và các đệ tử trí tuệ được phát hiện?”
Inda-bh 12~249Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói các vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm (nghĩ rằng): ‘Ta được mười năm! Ta được mười năm!’ rồi ban phép tu lên bậc trên khiến (các trường hợp) những thầy tế độ ngu dốt và các đệ tử sáng trí được phát hiện, những thầy tế độ thiếu kinh nghiệm và các đệ tử có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy tế độ nghe ít và các đệ tử nghe nhiều được phát hiện, những thầy tế độ trí kém và các đệ tử trí tuệ được phát hiện, có đúng không vậy?”
Inda-bh 13~250—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy là ngu dốt thiếu kinh nghiệm lại (nghĩ rằng): ‘Ta được mười năm! Ta được mười năm!’ rồi ban phép tu lên bậc trên khiến (các trường hợp) những thầy tế độ ngu dốt … (như trên) … và các đệ tử trí tuệ được phát hiện? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, vị ngu dốt thiếu kinh nghiệm không nên ban phép tu lên bậc trên; vị nào ban phép tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu có kinh nghiệm đủ năng lực với mười năm hoặc trên mười năm được ban phép tu lên bậc trên.”
Inda-bh 14~251Vào lúc bấy giờ, trong khi các vị thầy tế độ rời đi, hoàn tục, từ trần, qua bên nhóm khác, các tỳ khưu trở thành không có thầy dạy học, và trong khi không được giáo huấn, không được chỉ dạy (nên đã) mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực.
Inda-bh 15~252Trong khi dân chúng đang ăn, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng, ở phía trên thức ăn có hương vị, ở phía trên thức uống, các vị còn tự mình yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn.
Inda-bh 16~253Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực, và Trong khi dân chúng đang ăn, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị lại đưa ra bình bát đã mở ở phía trên thức ăn loại cứng, ở phía trên thức ăn có hương vị, ở phía trên thức uống, các vị còn tự mình yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn giống như các Bà-la-môn trong bữa ăn của các Bà-la-môn vậy?”
Inda-bh 17~254Các tỳ khưu đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
Inda-bh 18~255—“Này các tỳ khưu, nghe nói … (như trên) … có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị thầy dạy học. Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học sẽ gợi lên ở người học trò tâm của người con và người học trò sẽ gợi lên ở vị thầy dạy học tâm của người cha. Như thế, trong khi sống cùng nhau có sự tôn kính, có sự phục tùng, có sự cư xử hài hòa với nhau, họ sẽ đạt đến sự lớn mạnh, sự tăng trưởng, sự phát triển trong Pháp và Luật này.
Inda-bh 19~256Này các tỳ khưu, ta cho phép sống nương nhờ mười năm và vị mười năm được ban cho sự nương nhờ. Và này các tỳ khưu, vị thầy dạy học nên được xác định như vầy: (Người học trò) nên đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: “Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy dạy học của con. Con sẽ sống nương nhờ vào đại đức. Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy dạy học của con. Con sẽ sống nương nhờ vào đại đức. Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy dạy học của con. Con sẽ sống nương nhờ vào đại đức.” (Vị thầy dạy học nên nói rằng): “Tốt rồi!” hay là “Được nhẹ nhàng rồi!” hay là “Đúng rồi!” hay là “Được phù hợp rồi!” hay là “Hãy được thành tựu sự hoan hỷ!” (Nếu) vị (thầy dạy học) bày tỏ bằng thân, bày tỏ bằng lời nói, bày tỏ bằng thân và lời nói, thì vị thầy dạy học đã được xác định. (Nếu) vị ấy không bày tỏ bằng thân, không bày tỏ bằng lời nói, không bày tỏ bằng thân và lời nói, vị thầy dạy học đã không được xác định.
Inda-bh 20~257Này các tỳ khưu, người học trò nên thực hành phận sự đúng đắn đối với vị thầy dạy học. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này: Nên thức dậy vào lúc sáng sớm, cởi dép ra, đắp thượng y một bên vai, rồi nên dâng gỗ chà răng, nên dâng nước súc miệng, nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa sạch tô rồi đem cháo lại. Khi thầy đã uống cháo xong, nên dâng nước, nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất.
Inda-bh 21~258Khi thầy dạy học đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác rến thì nên quét khu vực ấy. Nếu thầy dạy học có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, và nhận lại y lót trong (đã thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi dâng lên. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. Nếu thầy dạy học muốn có thị giả đi theo, vị ấy nên mặc y nội tròn đều với sự che phủ ba vòng tròn, buộc dây thắt lưng, sửa sang cho tề chỉnh rồi trùm y hai lớp lên, thắt lại dây buộc, rửa và ôm lấy bình bát, rồi nên đi theo làm thị giả cho thầy dạy học. Không nên đi quá xa, không nên đi quá gần. Nên nhận lấy bình bát được (vị thầy) hoán đổi.
Inda-bh 22~259Khi thầy dạy học đang nói, không nên cắt ngang lời nói nửa chừng. Khi thầy dạy học có khả năng phạm tội lúc đang nói thì nên ngăn lại. Khi quay trở về, nên đi về trước tiên và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên đi ra rước y và bình bát. Nên trao y lót trong (trước đây) và nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên phơi y ở chỗ nắng quá lâu. Nên gấp y lại. Khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): “Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.” Nên đặt dây thắt lưng ở bên trong phần gấp lại.
Inda-bh 23~260Nếu có đồ ăn khất thực và thầy dạy học có ý muốn thọ dụng thì nên dâng nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý thầy dạy học về nước uống. Khi thầy ăn xong nên dâng nước (rửa), nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Không nên phơi bình bát ở chỗ nắng quá lâu. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống
Inda-bh 24~261Khi thầy dạy học đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác rến thì nên quét khu vực ấy. Nếu thầy dạy học có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu (thầy dạy học) có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.
Inda-bh 25~262Nếu thầy dạy học có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi rồi đi đến từ phía sau lưng và trao ghế ngồi của nhà tắm hơi cho thầy dạy học, nên nhận lấy y, và để ở một bên, nên trao bột tắm, nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên đắp lên cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho thầy dạy học. Khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi.
Inda-bh 26~263Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho thầy dạy học. Khi tắm xong nên đi ra trước, lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của thầy dạy học. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý thầy dạy học về nước uống. Nếu có ý muốn thỉnh (thầy) đọc tụng, nên thỉnh (thầy) đọc tụng. Nếu có ý muốn vấn đạo, nên thỉnh (thầy) vấn đạo.
Inda-bh 27~264Ở trú xá nào thầy dạy học cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác rến, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc.
Inda-bh 28~265Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc. Nếu có mạng nhện ở trú xá, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được thực hiện, nên rải nước rồi quét (nghĩ rằng): “Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.”
Inda-bh 29~266Sau khi gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc. Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và đồ trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.
Inda-bh 30~267Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.
Inda-bh 31~268Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.
Inda-bh 32~269Nếu phòng có rác rến, nên quét phòng. Nếu cổng có rác rến, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác rến, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác rến, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác rến, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.
Inda-bh 33~270Nếu sự bực bội sanh khởi ở thầy dạy học, người học trò nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu nỗi ân hận sanh khởi ở thầy dạy học, người học trò nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu tà kiến sanh khởi ở thầy dạy học, người học trò nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy.
Inda-bh 34~271Nếu thầy dạy học bị phạm tội nặng xứng đáng hành phạt parivāsa, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt parivāsa cho thầy dạy học?”
Inda-bh 35~272Nếu thầy dạy học xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể cho thầy dạy học (thực hành) trở lại từ đầu?”
Inda-bh 36~273Nếu thầy dạy học xứng đáng hành phạt mānatta, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt mānatta cho thầy dạy học?”
Inda-bh 37~274Nếu thầy dạy học xứng đáng sự giải tội, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho thầy dạy học?”
Inda-bh 38~275Nếu hội chúng có ý định tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với thầy dạy học, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi tiến hành hành sự đối với thầy dạy học, hoặc đổi thành nhẹ hơn?” Khi hội chúng đã tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với vị thầy dạy học, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thầy dạy học có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?”
Inda-bh 39~276Nếu y của thầy dạy học cần phải giặt, người học trò nên giặt hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy dạy học được giặt?” Nếu y của thầy dạy học cần phải may, người học trò nên may hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy dạy học được may?” Nếu thuốc nhuộm của thầy dạy học cần phải nấu, người học trò nên nấu hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thuốc nhuộm của thầy dạy học được nấu?” Nếu y của thầy dạy học cần phải nhuộm, người học trò nên nhuộm hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy dạy học được nhuộm?” Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng.
Inda-bh 40~277Không có phép của thầy dạy học, không nên cho bình bát đến người khác. Không nên thọ lãnh bình bát của người khác. Không nên cho y đến người khác. Không nên thọ lãnh y của người khác. Không nên cho vật dụng đến người khác. Không nên thọ lãnh vật dụng của người khác. Không nên cạo tóc cho người khác. Không nên bảo người khác cạo tóc. Không nên kỳ cọ người khác. Không nên bảo người khác kỳ cọ. Không nên hầu hạ người khác. Không nên bảo người khác hầu hạ. Không nên làm thị giả người khác. Không nên nhận người khác làm thị giả. Không nên mang đồ ăn khất thực lại dùm người khác. Không nên nhờ người khác mang dùm đồ ăn khất thực lại.
Inda-bh 41~278Chưa xin phép thầy dạy học không nên đi vào làng, không nên đi đến mộ địa, không nên bỏ đi hướng khác. Nếu thầy dạy học bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. Nên đợi cho đến khi vị thầy khỏe lại.
Dứt phận sự đối với thầy dạy học.
Inda-bh 1~279Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học nên thực hành phận sự đúng đắn đối với người học trò. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này: Này các tỳ khưu, thầy dạy học nên quan tâm đến người học trò, nên giúp đỡ bằng sự đọc tụng, bằng sự vấn hỏi, bằng sự giáo huấn, bằng sự chỉ dạy.
Inda-bh 2~280Nếu thầy dạy học có bình bát và người học trò không có bình bát, thầy dạy học nên cho bình bát đến người học trò, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để bình bát có thể phát sanh đến học trò?”
Inda-bh 3~281Nếu thầy dạy học có y và người học trò không có y, thầy dạy học nên cho y đến người học trò, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y có thể phát sanh đến học trò?”
Inda-bh 4~282Nếu thầy dạy học có vật dụng và người học trò không có vật dụng, thầy dạy học nên cho vật dụng đến người học trò, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để vật dụng có thể phát sanh đến học trò?”
Inda-bh 5~283Nếu người học trò bị bệnh, (vị thầy dạy học) nên thức dậy vào lúc sáng sớm. Nên trao gỗ chà răng. Nên trao nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa sạch tô rồi đem cháo lại. Khi người học trò đã uống cháo xong, nên cho nước, nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất.
Inda-bh 6~284Khi người học trò đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác rến thì nên quét khu vực ấy. Nếu người học trò có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, và nhận lại y lót trong (đã thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trao cho. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. (Nghĩ rằng): “Đến lúc vị ấy sắp trở về,” nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên đi ra rước y và bình bát. Nên trao y lót trong (trước đây) và nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên phơi y ở chỗ nắng quá lâu. Nên gấp y lại. Khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): “Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.” Nên đặt dây thắt lưng ở bên trong phần gấp lại.
Inda-bh 7~285Nếu có đồ ăn khất thực và người học trò có ý muốn thọ dụng thì nên trao nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý người học trò về nước uống. Khi người học trò ăn xong nên trao nước (rửa). Nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Không nên phơi bình bát ở chỗ nắng quá lâu.
Inda-bh 8~286Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống
Inda-bh 9~287Khi người học trò đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác rến thì nên quét khu vực ấy. Nếu người học trò có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu (người học trò) có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.
Inda-bh 10~288Nếu người học trò có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi đến, trao ghế ngồi của nhà tắm hơi, nhận lấy y, rồi để ở một bên. Nên trao bột tắm. Nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên đắp lên cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho người học trò. Khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi.
Inda-bh 11~289Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho người học trò. Khi tắm xong nên đi ra trước, nên lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của người học trò. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý người học trò về nước uống.
Inda-bh 12~290Ở trú xá nào người học trò cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác rến, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc.
Inda-bh 13~291Nếu có mạng nhện ở trú xá, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được thực hiện, nên rải nước rồi quét (nghĩ rằng): “Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.” Sau khi gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc.
Inda-bh 14~292Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây).
Inda-bh 15~293Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.
Inda-bh 16~294Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.
Inda-bh 17~295Nếu phòng có rác rến, nên quét phòng. Nếu cổng có rác rến, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác rến, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác rến, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác rến, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.
Inda-bh 18~296Nếu sự bực bội sanh khởi ở người học trò, vị thầy dạy học nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu nỗi ân hận sanh khởi ở người học trò, vị thầy dạy học nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu tà kiến sanh khởi ở người học trò, vị thầy dạy học nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.
Inda-bh 19~297Nếu người học trò bị phạm tội nặng xứng đáng hành phạt parivāsa, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt parivāsa cho học trò?”
Inda-bh 20~298Nếu người học trò xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể cho học trò (thực hành) trở lại từ đầu?”
Inda-bh 21~299Nếu người học trò xứng đáng hành phạt mānatta, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt mānatta cho học trò?”
Inda-bh 22~300Nếu người học trò xứng đáng sự giải tội, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho học trò?”
Inda-bh 23~301Nếu hội chúng có ý định tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người học trò, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi tiến hành hành sự đối với học trò, hoặc đổi thành nhẹ hơn?” Khi hội chúng đã tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người học trò, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để học trò có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?”
Inda-bh 24~302Nếu y của người học trò cần phải giặt, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: “Ngươi nên giặt như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của học trò được giặt?” Nếu y của học trò cần phải may, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: “Ngươi nên may như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của học trò được may?” Nếu thuốc nhuộm của người học trò cần phải nấu, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: “Ngươi nên nấu như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thuốc nhuộm của học trò được nấu?” Nếu y của người học trò cần phải nhuộm, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: “Ngươi nên nhuộm như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của học trò được nhuộm?” Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng. Nếu người học trò bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. Nên đợi cho đến khi người học trò khỏe lại.
Dứt phận sự đối với học trò.
Inda-bh 1~303Vào lúc bấy giờ, các người học trò không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy dạy học. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, người học trò nên thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy dạy học; vị nào không thực hành đúng đắn thì phạm tội dukkaṭa.” (Các người học trò) vẫn không thực hành phận sự đúng đắn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đuổi đi người (học trò) không thực hành phận sự đúng đắn. Và này các tỳ khưu, nên đuổi đi như vầy: “Ta đuổi ngươi đi,” hay là “Đừng có quay trở lại đây,” hay là “Hãy đem đi y bát của ngươi,” hay là “Ta không giúp đỡ ngươi nữa.” (Nếu) vị (thầy dạy học) bày tỏ bằng thân, bày tỏ bằng lời nói, bày tỏ bằng thân và lời nói, thì người học trò đã bị đuổi đi. (Nếu) vị ấy không bày tỏ bằng thân, không bày tỏ bằng lời nói, không bày tỏ bằng thân và lời nói, thì người học trò không bị đuổi đi.
Inda-bh 2~304Vào lúc bấy giờ, những người học trò bị đuổi đi không xin lỗi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xin lỗi.” Các người (học trò) vẫn không xin lỗi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, người (học trò) bị đuổi đi không nên không xin lỗi; vị nào không xin lỗi thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 3~305Vào lúc bấy giờ, trong khi được xin lỗi các vị thầy dạy học không tha thứ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tha thứ.” Các vị (thầy dạy học) vẫn không tha thứ. Những người học trò rời đi, (hoặc) hoàn tục, (hoặc) theo ngoại đạo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, trong khi được xin lỗi không nên không tha thứ; vị nào không tha thứ thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 4~306Vào lúc bấy giờ, các vị thầy dạy học đuổi đi những người (học trò) thực hành phận sự đúng đắn, không đuổi đi những người (học trò) không thực hành phận sự đúng đắn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi người (học trò) thực hành phận sự đúng đắn; vị nào đuổi đi thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, không nên không đuổi đi người (học trò) không thực hành phận sự đúng đắn; vị nào không đuổi đi thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 5~307Này các tỳ khưu, nên đuổi đi người học trò hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy dạy học không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều đức tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, (và) không có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, nên đuổi đi người học trò hội đủ năm yếu tố này.
Inda-bh 6~308Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi người học trò hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy dạy học có nhiều lòng yêu mến, có nhiều đức tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, (và) có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi người học trò hội đủ năm yếu tố này.
Inda-bh 7~309Này các tỳ khưu, người học trò là đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy dạy học không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều đức tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, (và) không có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, người học trò là đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố này.
Inda-bh 8~310Này các tỳ khưu, người học trò là không đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy dạy học có nhiều lòng yêu mến, có nhiều đức tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, (và) có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, người học trò là không đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố này.
Inda-bh 9~311Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học là vượt qua quy định khi không đuổi đi, không vượt qua quy định khi đuổi đi người học trò hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy dạy học không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều đức tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, (và) không có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học là vượt qua quy định khi không đuổi đi, không vượt qua quy định khi đuổi đi người học trò hội đủ năm yếu tố này.
Inda-bh 10~312Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học là vượt qua quy định khi đuổi đi, không vượt qua quy định khi không đuổi đi người học trò hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy dạy học có nhiều lòng yêu mến, có nhiều đức tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, (và) có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học là vượt qua quy định khi đuổi đi, không vượt qua quy định khi không đuổi đi người học trò hội đủ năm yếu tố này.
Inda-bh 11~313Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm (nghĩ rằng): “Ta được mười năm! Ta được mười năm!” rồi ban cho sự nương nhờ. (Các trường hợp) những thầy dạy học ngu dốt và các học trò sáng trí được phát hiện, những thầy dạy học thiếu kinh nghiệm và các học trò có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy dạy học nghe ít và các học trò nghe nhiều được phát hiện, những thầy dạy học trí kém và các học trò trí tuệ được phát hiện.
Inda-bh 12~314Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm (nghĩ rằng): ‘Ta được mười năm! Ta được mười năm!’ rồi ban cho sự nương nhờ khiến (các trường hợp) những thầy dạy học ngu dốt và các học trò sáng trí được phát hiện, những thầy dạy học thiếu kinh nghiệm và các học trò có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy dạy học nghe ít và các học trò nghe nhiều được phát hiện, những thầy dạy học trí kém và các học trò trí tuệ được phát hiện?”
Inda-bh 13~315Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói … (như trên) … có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, vị ngu dốt thiếu kinh nghiệm không nên ban cho sự nương nhờ; vị nào ban cho thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu có kinh nghiệm đủ năng lực với mười năm hoặc trên mười năm được ban cho sự nương nhờ.”
Dứt tụng phẩm về phận sự đối với thầy dạy học là thứ sáu.
Inda-bh 1~316Vào lúc bấy giờ, trongkhi các vị thầy dạy học và thầy tế độ rời đi, hoàn tục, từ trần, chuyển qua nhóm khác, các vị tỳ khưu không biết các trường hợp đình chỉ sự nương nhờ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, đây là năm trường hợp đình chỉ sự nương nhờ ở thầy tế độ: Thầy tế độ rời đi, hoặc hoàn tục, hoặc từ trần, hoặc chuyển qua nhóm khác, hoặc sự ra lệnh (đuổi đi) là thứ năm. Này các tỳ khưu, đây là năm trường hợp đình chỉ sự nương nhờ ở thầy tế độ.
Inda-bh 2~317Này các tỳ khưu, đây là sáu trường hợp đình chỉ sự nương nhờ ở thầy dạy học: Thầy dạy học rời đi, hoặc hoàn tục, hoặc từ trần, hoặc chuyển qua nhóm khác, hoặc sự ra lệnh (đuổi đi) là thứ năm, hoặc đã được gặp lại thầy tế độ. Này các tỳ khưu, đây là sáu trường hợp đình chỉ sự nương nhờ ở thầy dạy học.
Inda-bh 3~318Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không thành tựu vô học giới uẩn, không thành tựu vô học định uẩn, không thành tựu vô học tuệ uẩn, không thành tựu vô học giải thoát uẩn, không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 4~319Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị thành tựu vô học giới uẩn, thành tựu vô học định uẩn, thành tựu vô học tuệ uẩn, thành tựu vô học giải thoát uẩn, thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 5~320Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị bản thân không thành tựu vô học giới uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giới uẩn, bản thân không thành tựu vô học định uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học định uẩn, bản thân không thành tựu vô học tuệ uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học tuệ uẩn, bản thân không thành tựu vô học giải thoát uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát uẩn, bản thân không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 6~321Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị bản thân thành tựu vô học giới uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giới uẩn, bản thân thành tựu vô học định uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học định uẩn, bản thân thành tựu vô học tuệ uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học tuệ uẩn, bản thân thành tựu vô học giải thoát uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát uẩn, bản thân thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 7~322Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không có đức tin, không có sự hổ thẹn (tội lỗi), không có sự ghê sợ (tội lỗi), biếng nhác, có niệm bị quên lãng. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 8~323Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị có đức tin, có sự hổ thẹn (tội lỗi), có sự ghê sợ (tội lỗi), có sự nỗ lực tinh tấn, có niệm được thiết lập. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 9~324Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, ít học hỏi, trí kém. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 10~325Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị không bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, không bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, không bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, nghe nhiều, có trí tuệ. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 11~326Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không có khả năng để phục vụ hoặc kiếm người phục vụ cho đệ tử hay học trò bị bệnh, để làm cho dịu đi hoặc nhờ người làm cho dịu đi sự bực bội (ở đệ tử hay học trò), để làm cho tan biến hoặc nhờ người làm cho tan biến đúng theo Pháp nỗi ân hận đã sanh khởi (ở đệ tử hay học trò), không biết về sự phạm tội, không biết cách thoát khỏi tội. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 12~327Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị có khả năng để phục vụ hoặc kiếm người phục vụ cho đệ tử hay học trò bị bệnh, để làm cho dịu đi hoặc nhờ người làm cho dịu đi sự bực bội (ở đệ tử hay học trò), để làm cho tan biến hoặc nhờ người làm cho tan biến đúng theo Pháp nỗi ân hận đã sanh khởi (ở đệ tử hay học trò), biết về sự phạm tội, biết cách thoát khỏi tội. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 13~328Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không có khả năng để huấn luyện các điều học thuộc về phận sự căn bản, để hướng dẫn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh, để hướng dẫn về Thắng Pháp, để hướng dẫn về Thắng Luật, để phân tách đúng theo Pháp xu hướng tà kiến đã sanh khởi cho đệ tử hay học trò. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 14~329Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị có khả năng để huấn luyện các điều học thuộc về phận sự căn bản, để hướng dẫn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh, để hướng dẫn về Thắng Pháp, để hướng dẫn về Thắng Luật, để phân tách đúng theo Pháp xu hướng tà kiến đã sanh khởi cho đệ tử hay học trò. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 15~330Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn Pātimokkha không khéo được truyền thừa một cách chi tiết, không khéo được phân tích, không khéo thuộc nằm lòng, không khéo được xác định theo từng điều học và từng phần phụ thuộc. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 16~331Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn Pātimokkha khéo được truyền thừa một cách chi tiết, khéo được phân tích, khéo thuộc nằm lòng, khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 17~332Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 18~333Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.
Dứt mười sáu nhóm năm của phần ‘Nên ban phép tu lên bậc trên.’
Inda-bh 1~334Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không thành tựu vô học giới uẩn, không thành tựu vô học định uẩn, không thành tựu vô học tuệ uẩn, không thành tựu vô học giải thoát uẩn, không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 2~335Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị thành tựu vô học giới uẩn, thành tựu vô học định uẩn, thành tựu vô học tuệ uẩn, thành tựu vô học giải thoát uẩn, thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 3~336Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị bản thân không thành tựu vô học giới uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giới uẩn, bản thân không thành tựu vô học định uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học định uẩn, bản thân không thành tựu vô học tuệ uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học tuệ uẩn, bản thân không thành tựu vô học giải thoát uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát uẩn, bản thân không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát tri kiến uẩn, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 4~337Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị bản thân thành tựu vô học giới uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giới uẩn, bản thân thành tựu vô học định uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học định uẩn, bản thân thành tựu vô học tuệ uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học tuệ uẩn, bản thân thành tựu vô học giải thoát uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát uẩn, bản thân thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát tri kiến uẩn, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 5~338Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không có đức tin, không có sự hổ thẹn (tội lỗi), không có sự ghê sợ (tội lỗi), biếng nhác, có niệm bị quên lãng, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 6~339Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị có đức tin, có sự hổ thẹn (tội lỗi), có sự ghê sợ (tội lỗi), có sự nỗ lực tinh tấn, có niệm được thiết lập, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 7~340Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, ít học hỏi, trí kém, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 8~341Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị không bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, không bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, không bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, nghe nhiều, có trí tuệ, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 9~342Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không có khả năng để phục vụ hoặc kiếm người phục vụ cho đệ tử hay học trò bị bệnh, để làm cho dịu đi hoặc nhờ người làm cho dịu đi sự bực bội (ở đệ tử hay học trò), để làm cho tan biến hoặc nhờ người làm cho tan biến đúng theo Pháp nỗi ân hận đã sanh khởi (ở đệ tử hay học trò), không biết về tội, không biết cách thoát khỏi tội, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 10~343Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị có khả năng để phục vụ hoặc kiếm người phục vụ cho đệ tử hay học trò bị bệnh, để làm cho dịu đi hoặc nhờ người làm cho dịu đi sự bực bội (ở đệ tử hay học trò), để làm cho tan biến hoặc nhờ người làm cho tan biến đúng theo Pháp nỗi ân hận đã sanh khởi (ở đệ tử hay học trò), biết về tội, biết cách thoát khỏi tội, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 11~344Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không có khả năng để huấn luyện các điều học thuộc về phận sự căn bản, để hướng dẫn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh, để hướng dẫn về Thắng Pháp, để hướng dẫn về Thắng Luật, để phân tách đúng theo Pháp xu hướng tà kiến đã sanh khởi cho đệ tử hay học trò, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 12~345Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị có khả năng để huấn luyện các điều học thuộc về phận sự căn bản, để hướng dẫn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh, để hướng dẫn về Thắng Pháp, để hướng dẫn về Thắng Luật, để phân tách đúng theo Pháp xu hướng tà kiến đã sanh khởi cho đệ tử hay học trò, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.
Inda-bh 13~346Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn Pātimokkha không khéo được truyền thừa một cách chi tiết, không khéo được phân tích, không khéo thuộc nằm lòng, không khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.
Dứt mười bốn mhóm sáu của phần ‘Nên ban phép tu lên bậc trên.’
Inda-bh 1~347Vào lúc bấy giờ, có người trước đây theo ngoại đạo trong khi được thầy tế độ nói về vấn đề thuộc Giáo Pháp đã bắt bẻ lời dạy của thầy tế độ rồi chuyển qua địa phận của chính ngoại đạo ấy. Người ấy đã quay trở lại lần nữa và cầu xin các tỳ khưu sự tu lên bậc trên. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, người nào trước đây theo ngoại đạo trong khi được thầy tế độ nói về vấn đề thuộc Giáo Pháp đã bắt bẻ lời dạy của thầy tế độ rồi chuyển qua địa phận của chính ngoại đạo ấy, người ấy đi đến thì không nên cho tu lên bậc trên.
Inda-bh 2~348Này các tỳ khưu, còn có hạng người khác, trước đây theo ngoại đạo, mong mỏi sự xuất gia trong Pháp và Luật này, mong mỏi việc tu lên bậc trên, nên ban cho vị ấy bốn tháng parivāsa. Này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Trước tiên, nên bảo cạo bỏ râu tóc, bảo khoác lên các tấm vải màu ca-sa, bảo đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các vị tỳ khưu, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên, và nên bảo rằng: “Ngươi hãy nói như vầy: ‘Tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Phật). Tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Pháp). Tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Tăng). Lần thứ nhì, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ. Lần thứ nhì, tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ. Lần thứ nhì, tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ.’”
Inda-bh 3~349Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo ấy nên đi đến hội chúng, nên đắp thượng y một bên vai, nên đảnh lễ ở chân các tỳ khưu, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: “Bạch các ngài, tôi tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo mong mỏi việc tu lên bậc trên trong Pháp và Luật này. Bạch các ngài, tôi đây cầu xin hội chúng bốn tháng parivāsa.” Nên được cầu xin lần thứ nhì. Nên được cầu xin lần thứ ba.
Inda-bh 4~350Hội chúng cần đưc thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo mong mỏi việc tu lên bậc trên trong Pháp và Luật này. Vị ấy cầu xin hội chúng bốn tháng parivāsa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho vị tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo bốn tháng parivāsa. Đây là lời đề nghị.
Inda-bh 5~351Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo mong mỏi việc tu lên bậc trên trong Pháp và Luật này. Vị ấy cầu xin hội chúng bốn tháng parivāsa. Hội chúng ban cho vị tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo bốn tháng parivāsa. Đại đức nào đồng ý việc ban cho bốn tháng parivāsa đến vị tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Inda-bh 6~352Bốn tháng parivāsa đã được hội chúng ban cho vị tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 7~353Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế này là người đạt yêu cầu, như thế này là người không đạt yêu cầu. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế nào là người không đạt yêu cầu? Này các tỳ khưu, trường hợp người trước đây theo ngoại đạo đi vào làng quá sớm và trở về quá trễ. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu.
Inda-bh 8~354Này các tỳ khưu còn có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo lai vãng với đĩ điếm, hoặc lai vãng với góa phụ, hoặc lai vãng với gái lỡ thời, hoặc lai vãng với người vô căn, hoặc lai vãng với tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu.
Inda-bh 9~355Này các tỳ khưu còn có điều khác nữa, có những công việc lớn nhỏ gì đó cần phải làm đối với các vị có Phạm hạnh, trong những trường hợp ấy người trước đây theo ngoại đạo lại không khéo léo, không năng động, không có sự tìm tòi cách giải quyết các vấn đề ấy, không đủ khả năng làm, không đủ khả năng hướng dẫn (người khác làm). Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu.
Inda-bh 10~356Này các tỳ khưu còn có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo không có ước muốn mãnh liệt đối với việc đọc tụng, đối với việc học hỏi, đối với tăng thượng giới, đối với tăng thượng tâm, đối với tăng thượng tuệ. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu.
Inda-bh 11~357Này các tỳ khưu còn có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo trở nên giận dữ, không hoan hỷ, không hài lòng với lời chê bai nói về vị thầy, về quan điểm, về điều mong mỏi, về điều khao khát, về điều nắm giữ của phái ngoại đạo mà từ đó người ấy đã chuyển sang; trở nên hoan hỷ, phấn chấn, hài lòng với lời chê bai nói về đức Phật, về Giáo Pháp, hoặc về Hội Chúng; trở nên hoan hỷ, phấn chấn, hài lòng với lời khen ngợi nói về vị thầy, về quan điểm, về điều mong mỏi, về điều khao khát, về điều nắm giữ của phái ngoại đạo mà từ đó người ấy đã chuyển sang; trở nên giận dữ, không hoan hỷ, không hài lòng với lời khen ngợi nói về đức Phật, về Giáo Pháp, hoặc về Hội Chúng. Này các tỳ khưu, đây là điểm chủ yếu trong việc không đạt yêu cầu của người trước đây theo ngoại đạo. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo đã đi đến (nếu) là người không đạt yêu cầu như thế ấy thì không nên cho tu lên bậc trên.
Inda-bh 12~358Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế nào là người đạt yêu cầu? Này các tỳ khưu, trường hợp người trước đây theo ngoại đạo đi vào làng không quá sớm và trở về không quá trễ. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu.
Inda-bh 13~359Này các tỳ khưu còn có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo không lai vãng với đĩ điếm, không lai vãng với góa phụ, không lai vãng với gái lỡ thời, không lai vãng với người vô căn, không lai vãng với tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu.
Inda-bh 14~360Này các tỳ khưu còn có điều khác nữa, có những công việc lớn nhỏ gì đó cần phải làm đối với các vị có Phạm hạnh, trong những trường hợp ấy người trước đây theo ngoại đạo là khéo léo, năng động, có sự tìm tòi cách giải quyết các vấn đề ấy, có đủ khả năng làm, có đủ khả năng hướng dẫn (người khác làm). Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu.
Inda-bh 15~361Này các tỳ khưu còn có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo có ước muốn mãnh liệt đối với việc đọc tụng, đối với việc học hỏi, đối với tăng thượng giới, đối với tăng thượng tâm, đối với tăng thượng tuệ. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu.
Inda-bh 16~362Này các tỳ khưu còn có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo trở nên hoan hỷ, phấn chấn, hài lòng với lời chê bai nói về vị thầy, về quan điểm, về điều mong mỏi, về điều khao khát, về điều nắm giữ của phái ngoại đạo mà từ đó người ấy đã chuyển sang; trở nên giận dữ, không hoan hỷ, không hài lòng với lời chê bai nói về đức Phật, về Giáo Pháp, hoặc về Hội Chúng; trở nên giận dữ, không hoan hỷ, không hài lòng với lời khen ngợi nói về vị thầy, về quan điểm, về điều mong mỏi, về điều khao khát, về điều nắm giữ của phái ngoại đạo mà từ đó người ấy đã chuyển sang; trở nên hoan hỷ, phấn chấn, hài lòng với lời khen ngợi nói về đức Phật, về Giáo Pháp, hoặc về Hội Chúng. Này các tỳ khưu, đây là điểm chủ yếu trong việc đạt yêu cầu của người trước đây theo ngoại đạo. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo đã đi đến (nếu) là người đạt yêu cầu như thế ấy thì nên cho tu lên bậc trên.
Inda-bh 17~363Này các tỳ khưu, nếu người trước đây theo ngoại đạo là trần truồng đi đến, y là trách nhiệm thuộc về thầy tế độ cần được tìm kiếm. Nếu người có tóc chưa được cắt đi đến thì hội chúng nên được thông báo về việc cạo tóc. Này các tỳ khưu, những người nào là các vị thờ lửa là các đạo sĩ bện tóc, (nếu) các vị ấy đã đi đến thì nên cho tu lên bậc trên, không cần ban cho parivāsa đến những người ấy. Lý do của điều ấy là gì? Này các tỳ khưu, những người ấy là những người thuyết về Nghiệp, là những người thuyết về Nhân Quả. Này các tỳ khưu, nếu người trước đây theo ngoại đạo là người thuộc dòng Sakya đi đến, (nếu) người ấy đã đi đến thì nên cho tu lên bậc trên, không cần ban cho parivāsa đến người ấy. Này các tỳ khưu, ta ban cho đặc ân ngoại lệ này đến các thân quyến.”
Dứt phần giảng về người trước đây theo ngoại đạo.
Tụng phẩm thứ bảy.
Inda-bh 1~364Vào lúc bấy giờ, có năm thứ bệnh phát triển rộng khắp trong dân chúng xứ Magadha là: bệnh cùi, bệnh mụt nhọt, bệnh chàm, bệnh lao phổi, bệnh động kinh. Những người mắc phải năm thứ bệnh đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca và nói như vầy:—“Thưa thầy, tốt đẹp thay thầy hãy điều trị cho chúng tôi.”—“Các ngài ơi, tôi có nhiều phận sự, có nhiều việc cần phải làm. Và tôi còn phải phục vụ đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, các cung phi, và hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu nữa; tôi không thể điều trị (các ngài) được.”—“Thưa thầy, tất cả tài sản hãy là của thầy và chúng tôi sẽ là đầy tớ của thầy. Tốt đẹp thay thầy hãy điều trị cho chúng tôi.”—“Các ngài ơi, tôi có nhiều phận sự, có nhiều việc cần phải làm. Và tôi còn phải phục vụ đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, các cung phi, và hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu nữa; tôi không thể điều trị (các ngài) được.”
Inda-bh 2~365Khi ấy, những người dân ấy đã khởi ý điều này: “Những Sa-môn Thích tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm ngủ ở những cái giường kín gió, hay là chúng ta nên xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử? Trong trường hợp ấy, chính các vị tỳ khưu sẽ chăm sóc (chúng ta) và Jīvaka Komārabhacca sẽ điều trị.”
Inda-bh 3~366Sau đó, những người dân ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã cho họ xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Và chính các tỳ khưu đã chăm sóc họ và Jīvaka Komārabhacca đã điều trị.
Inda-bh 4~367Vào lúc bấy giờ, trong lúc chăm sóc nhiều tỳ khưu bị bệnh các vị tỳ khưu sống có nhiều sự xin xỏ, có nhiều sự yêu cầu: “Hãy bố thí vật thực dành cho người bệnh, hãy bố thí vật thực dành cho người chăm sóc bệnh, hãy bố thí dược phẩm dành cho người bệnh.” Ngay cả Jīvaka Komārabhacca, trong lúc điều trị nhiều tỳ khưu bị bệnh, đã xao lãng phận sự nào đó đối với đức vua.
Inda-bh 5~368Và có người đàn ông nọ cũng mắc phải năm thứ bệnh đã đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca và đã nói điều này:—“Thưa thầy, tốt đẹp thay thầy hãy điều trị cho tôi.”—“Ngài ơi, tôi có nhiều phận sự, có nhiều việc cần phải làm. Và tôi còn phải phục vụ đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, các cung phi, và hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu nữa; tôi không thể điều trị (ngài) được.”—“Thưa thầy, tất cả tài sản hãy là của thầy và tôi sẽ là đầy tớ của thầy. Tốt đẹp thay thầy hãy điều trị cho tôi.”—“Ngài ơi, tôi có nhiều phận sự, có nhiều việc cần phải làm. Và tôi còn phải phục vụ đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, các cung phi, và hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu nữa; tôi không thể điều trị (ngài) được.”
Inda-bh 6~369Khi ấy, người đàn ông ấy đã khởi ý điều này: “Những Sa-môn Thích tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm ngủ ở những cái giường kín gió, hay là ta nên xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử? Trong trường hợp ấy, chính các vị tỳ khưu sẽ chăm sóc (ta) và Jīvaka Komārabhacca sẽ điều trị, khi khỏi bệnh ta đây sẽ hoàn tục.”
Inda-bh 7~370Sau đó, người đàn ông ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã cho người ấy xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Và chính các tỳ khưu đã chăm sóc người ấy và Jīvaka Komārabhacca đã điều trị. Người ấy khi khỏi bệnh đã hoàn tục.
Inda-bh 8~371Jīvaka Komārabhacca đã nhìn thấy người đàn ông hoàn tục ấy, sau khi nhìn thấy đã nói với người đàn ông ấy điều này:—“Thưa ngài, có phải ngài đã xuất gia nơi các tỳ khưu không?”—“Thưa thầy, đúng vậy.”—“Thưa ngài, điều gì khiến ngài đã làm việc như thế?”
Inda-bh 9~372Khi ấy, người đàn ông ấy đã kể lại sự việc ấy cho Jīvaka Komārabhacca. Jīvaka Komārabhacca phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các đại đức lại cho người bị mắc phải năm thứ bệnh xuất gia?”
Inda-bh 10~373Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Jīvaka Komārabhacca đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, tốt đẹp thay các ngài đại đức không cho người bị mắc phải năm thứ bệnh xuất gia.”
Inda-bh 11~374Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Jīvaka Komārabhacca bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, Jīvaka Komārabhacca đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 12~375Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên cho người bị mắc phải năm chứng bệnh xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 13~376Vào lúc bấy giờ, vùng biên địa của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bị (trộm cướp) dấy loạn. Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra lệnh cho các quan đại thần lãnh đạo quân đội rằng:—“Này các khanh, hãy đi và thâu hồi lại vùng biên địa.”—“Tâu bệ hạ, xin vâng.” Các quan đại thần lãnh đạo quân đội đã đáp lại đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.
Inda-bh 14~377Khi ấy, các chiến sĩ danh tiếng lẫy lừng đã khởi ý điều này: “Là những người say mê chiến trận, trong khi đi (đánh trận) chúng ta tạo nghiệp ác và gây ra nhiều điều bất thiện. Với phương kế gì chúng ta có thể tránh được việc ác và có thể làm việc lành?”
Inda-bh 15~378Khi ấy, các chiến sĩ ấy đã khởi ý điều này: “Những vị Sa-môn Thích tử này là những vị thực hành Giáo Pháp, thực hành sự bình thản, thực hành Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp, nếu chúng ta có thể xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử, như vậy chúng ta có thể tránh được việc ác và có thể làm việc lành.”
Inda-bh 16~379Sau đó, các chiến sĩ ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã cho họ xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Các quan đại thần lãnh đạo quân đội đã hỏi các binh sĩ của đức vua rằng:—“Này các khanh, sao các chiến sĩ tên (như vầy) và tên (như vầy) lại không hiện diện?”—“Thưa tướng quân, các chiến sĩ tên (như vầy) và tên (như vầy) đã xuất gia nơi các vị tỳ khưu.” Các quan đại thần lãnh đạo quân đội phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho binh sĩ của đức vua xuất gia?” Các quan đại thần lãnh đạo quân đội đã trình sự việc ấy lên đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.
Inda-bh 17~380Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã hỏi các quan đại thần phụ trách tòa án rằng:—“Này các khanh, người cho binh sĩ của đức vua xuất gia phạm vào điều gì?”—“Tâu bệ hạ, đầu của thầy tế độ nên bị chặt đi, lưỡi của vị đọc tuyên ngôn nên bị rút ra, một phần xương sườn của nhóm (các vị chứng minh) nên bị bẻ gãy.”
Inda-bh 18~381Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, có những vị vua không có đức tin, không có mộ đạo, những vị ấy có thể hãm hại các tỳ khưu chỉ vì chuyện không đáng gì. Bạch ngài, tốt đẹp thay các ngài đại đức không cho binh sĩ của đức vua xuất gia.”
Inda-bh 19~382Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 20~383Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên cho binh sĩ của đức vua xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 21~384Vào lúc bấy giờ, kẻ cướp có mang chuỗi ngón tay đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Dân chúng khi nhìn thấy trở nên sợ hãi, hoảng hốt, bỏ chạy, rẽ sang hướng khác, quay mặt chỗ khác, đóng cửa lại. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ cướp có mang biểu tượng xuất gia?” Các tỳ khưu đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ cướp có mang biểu tượng xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 22~385Vào lúc bấy giờ, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: “Những người nào đã xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, không được phép làm bất cứ điều gì đến những người ấy. Giáo Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn ngõ hầu chấm dứt khổ đau.”
Inda-bh 23~386Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ sau khi thực hiện vụ trộm đã bị giam trong ngục. Người ấy đã phá ngục tẩu thoát và đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Dân chúng sau khi nhìn thấy đã nói như vầy:—“Chính người này là kẻ cướp phá ngục. Nào, chúng ta hãy dẫn gã ấy đi.” Một số người đã nói như vầy:—“Này các ngài, chớ có nói như thế. Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: ‘Những người nào đã xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, không được phép làm bất cứ điều gì đến những người ấy. Giáo Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn ngõ hầu chấm dứt khổ đau.’”
Inda-bh 24~387Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Các vị Sa-môn Thích tử này không phải lo sợ nữa rồi. Không được phép làm bất cứ điều gì đến các vị này! Nhưng tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ cướp phá ngục xuất gia?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ cướp phá ngục xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 25~388Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ sau khi thực hiện vụ trộm đã tẩu thoát và đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Người ấy đã bị cáo thị tầm nã ở hoàng cung rằng: “Được nhìn thấy tại đâu thì được giết tại đấy.” Dân chúng đã nói như vầy:—“Chính người này là kẻ cướp bị cáo thị tầm nã. Nào, chúng ta hãy giết gã ấy đi.” Một số người đã nói như vầy:—“Này các ngài, chớ có nói như thế. Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: “Những người nào đã xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, không được phép làm bất cứ điều gì đến những người ấy. Giáo Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn ngõ hầu chấm dứt khổ đau.”
Inda-bh 26~389Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Các vị Sa-môn Thích tử này không phải lo sợ nữa rồi. Không được phép làm bất cứ điều gì đến các vị này! Nhưng tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ cướp bị cáo thị tầm nã xuất gia?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ cướp bị cáo thị tầm nã xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 27~390Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bị xử hình phạt đánh bằng roi đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ bị xử hình phạt đánh bằng roi xuất gia?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ bị xử hình phạt đánh bằng roi xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 28~391Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bị xử hình phạt đóng dấu đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ bị xử hình phạt đóng dấu xuất gia?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ bị xử hình phạt đóng dấu xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 29~392Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ là kẻ thiếu nợ đã bỏ trốn và đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Những người chủ nợ đã nhìn thấy và nói như vầy:—“Chính người này là kẻ thiếu nợ của chúng ta. Nào, chúng ta hãy dẫn gã ấy đi.” Một số người đã nói như vầy:—“Này các ngài, chớ có nói như thế. Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: “Những người nào đã xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, không được phép làm bất cứ điều gì đến những người ấy. Giáo Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn ngõ hầu chấm dứt khổ đau.”
Inda-bh 30~393Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Các vị Sa-môn Thích tử này không phải lo sợ nữa rồi. Không được phép làm bất cứ điều gì đến các vị này! Nhưng tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ thiếu nợ xuất gia?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ thiếu nợ xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 31~394Vào lúc bấy giờ, có người nô tỳ nọ đã bỏ trốn và đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Những người chủ đã nhìn thấy và nói như vầy:—“Chính người này là kẻ nô tỳ của chúng ta. Nào chúng ta hãy dẫn gã ấy đi.” Một số người đã nói như vầy:—“Này các ngài, chớ có nói như thế. Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: ‘Những người nào đã xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, không được phép làm bất cứ điều gì đến những người ấy. Giáo Pháp đã khéo được thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn ngõ hầu chấm dứt khổ đau.’”
Inda-bh 32~395Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Các vị Sa-môn Thích tử này không phải lo sợ nữa rồi. Không được phép làm bất cứ điều gì đến các vị này! Nhưng tại sao các Sa-môn Thích tử lại cho kẻ nô tỳ xuất gia?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho kẻ nô tỳ xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 33~396Vào lúc bấy giờ, có người thợ bạc bị sói đầu nọ sau khi cãi vã với cha mẹ đã đi đến tu viện và đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Sau đó, cha mẹ của người thợ bạc bị sói đầu ấy, trong khi tìm kiếm người thợ bạc bị sói đầu ấy, đã đi đến tu viện và đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Thưa các ngài, vậy chớ các ngài có nhìn thấy người trai trẻ hình dáng như thế này không?” Các vị tỳ khưu trong khi không biết nên đã nói rằng:—“Chúng tôi không biết,” trong khi không nhìn thấy nên đã nói rằng:—“Chúng tôi không nhìn thấy.”
Inda-bh 34~397Sau đó, cha mẹ của người thợ bạc bị sói đầu ấy, trong lúc tìm kiếm người thợ bạc bị sói đầu ấy, nhìn thấy (người ấy) đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu nên phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Những Sa-môn Thích tử này thật vô liêm sỉ, giới hạnh xấu xa, là những kẻ nói láo, trong khi biết lại nói rằng: ‘Chúng tôi không biết,’ trong khi nhìn thấy lại nói rằng: ‘Chúng tôi không nhìn thấy.’ Người trai trẻ này đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu.”
Inda-bh 35~398Các tỳ khưu đã nghe được cha mẹ của người thợ bạc bị sói đầu ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thông báo đến hội chúng về việc cạo tóc.”
Inda-bh 36~399Vào lúc bấy giờ, trong thành Rājagaha có nhóm mười bảy thiếu niên là bạn bè. Thiếu niên Upāli là thủ lãnh của họ. Khi ấy, cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Có phương kế gì để sau khi chúng ta từ trần, Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc?”
Inda-bh 37~400Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Nếu Upāli có thể học chữ viết, như thế sau khi chúng ta từ trần Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc.”
Inda-bh 38~401Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Nếu Upāli học chữ viết thì các ngón tay sẽ bị đau. Nếu Upāli có thể học tính toán, như thế sau khi chúng ta từ trần Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc.”
Inda-bh 39~402Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Nếu Upāli học tính toán thì ngực sẽ bị đau. Nếu Upāli có thể học hội họa, như thế sau khi chúng ta từ trần Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc.”
Inda-bh 40~403Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: “Nếu Upāli học hội họa thì các con mắt sẽ bị đau. Còn những Sa-môn Thích tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm ngủ ở những cái giường kín gió, nếu Upāli có thể xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử, như thế sau khi chúng ta từ trần Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc.”
Inda-bh 41~404Thiếu niên Upāli đã nghe được cuộc nói chuyện trao đổi ấy của cha mẹ. Sau đó, thiếu niên Upāli đã đi đến gặp những thiếu niên ấy, sau khi đến đã nói với những thiếu niên ấy điều này:—“Này các bạn, hãy đi. Chúng ta sẽ xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử.”
Inda-bh 42~405Sau đó, những thiếu niên ấy từng người một đã đi đến gặp cha mẹ của mình và đã nói điều này:—“Hãy cho phép con rời nhà xuất gia sống không nhà.” Khi ấy, cha mẹ của những thiếu niên ấy (nghĩ rằng): “Tất cả những đứa trẻ này có ước muốn giống nhau, có ý định tốt đẹp” nên đã chấp thuận. Chúng đã đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã cho chúng xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Những thiếu niên ấy sau khi thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm đã khóc lóc:—“Hãy cho cháo, hãy cho thức ăn, hãy cho vật nhai.”
Inda-bh 43~406Các tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này các sư đệ, hãy chờ đến khi trời sáng, nếu có cháo thì các đệ sẽ húp cháo, nếu có thức ăn thì các đệ sẽ ăn, nếu có vật nhai thì các đệ sẽ nhai; còn nếu không có cháo, hoặc thức ăn, hoặc vật nhai, thì các đệ sẽ ăn sau khi đi khất thực.”
Inda-bh 44~407Trong khi được nói như thế bởi các tỳ khưu, các tỳ khưu (thiếu niên) ấy vẫn khóc lóc:—“Hãy cho cháo, hãy cho thức ăn, hãy cho vật nhai,” rồi đại tiện tiểu tiện ở chỗ nằm ngồi.
Inda-bh 45~408Đức Thế Tôn sau khi thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm đã nghe tiếng của các đứa trẻ, sau khi nghe đã bảo đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, tiếng của các đứa trẻ ấy là gì vậy?”
Inda-bh 46~409Khi ấy, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu trong khi biết vẫn cho tu lên bậc trên người chưa đến hai mươi tuổi, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy trong khi biết vẫn cho tu lên bậc trên người chưa đến hai mươi tuổi? Này các tỳ khưu, người chưa đến hai mươi tuổi không có khả năng chịu đựng đối với sự lạnh, sự nóng, sự đói, sự khát, các sự xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát, các lối nói lăng mạ công kích, có khuynh hướng không cam chịu các cảm thọ khổ, nhức nhối, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc về cơ thể đã sanh khởi.
Inda-bh 47~410Này các tỳ khưu, người đã được hai mươi tuổi có khả năng chịu đựng đối với sự lạnh, sự nóng, sự đói, sự khát, các sự xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát, các lối nói lăng mạ công kích, có khuynh hướng cam chịu các cảm thọ khổ, nhức nhối, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc về cơ thể đã sanh khởi. Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, Ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, người chưa đến hai mươi tuổi, trong khi biết, không nên cho tu lên bậc trên; vị nào cho tu lên bậc trên thì nên được hành xử theo Pháp.”216
Inda-bh 48~411Vào lúc bấy giờ, có gia đình nọ bị chết bởi bịnh dịch hạch. Người cha và người con trai của gia đình ấy là (những người) còn sót lại. Họ đã xuất gia nơi các tỳ khưu rồi đi khất thực chung với nhau. Khi ấy, lúc đồ ăn khất thực được bố thí đến người cha, đứa trẻ ấy đã chạy lại gần và nói điều này:—“Cha yêu quý, hãy cho con với. Cha yêu quý, hãy cho con với.” Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Những Sa-môn Thích tử này không có Phạm hạnh. Đứa trẻ này đã được sanh ra bởi tỳ khưu ni.”
Inda-bh 49~412Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, đứa trẻ dưới mười lăm tuổi không nên cho xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 50~413Vào lúc bấy giờ, gia đình hộ độ có đức tin mộ đạo của đại đức Ānanda bị chết bởi bịnh dịch hạch. Và có hai đứa trẻ trai là (những người) còn sót lại. Khi nhìn thấy các vị tỳ khưu, chúng theo thói quen được phép trước đây đã chạy đến gần. Các tỳ khưu đã đuổi (chúng) đi. Trong khi bị các vị tỳ khưu đuổi đi, chúng đã khóc.
Inda-bh 51~414Khi ấy, đại đức Ānanda đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Đứa trẻ dưới mười lăm tuổi không nên cho xuất gia;’ và những đứa trẻ này dưới mười lăm tuổi, vậy bằng phương cách gì để những đứa trẻ này không thể bị tiêu hoại đây?” Sau đó, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này Ānanda, những đứa trẻ ấy có khả năng để đuổi các con quạ bay đi không?”—“Bạch Thế Tôn, chúng có khả năng.” Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xuất gia đứa trẻ dưới mười lăm tuổi là trẻ (có thể) đuổi được quạ.”
Inda-bh 52~415Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai dòng Sakya có hai sa di là Kaṇṭaka và Mahaka. Chúng đã làm điều tồi bại với nhau. Các vị tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các sa di lại thực hành điều sai trái có hình thức như thế ấy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, một vị không nên để cho hai sa di phục vụ; vị nào để cho phục vụ thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 53~416Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đã sống mùa mưa ở ngay tại nơi ấy trong thành Rājagaha, mùa lạnh ở tại nơi ấy, mùa nóng ở tại nơi ấy. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Các hướng đi của các Sa-môn Thích tử bị tắt nghẽn, tăm tối. Các hướng đi không còn được các vị này nhận ra nữa.”
Inda-bh 54~417Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, hãy đi, cầm lấy chìa khóa, và thông báo cho các vị tỳ khưu ở dãy phòng rằng: ‘Này các đại đức, đức Thế Tôn muốn ra đi du hành ở đến núi Dakkhiṇāgiri. Đại đức nào có ý thích thì hãy đi.’”—“Bạch Thế Tôn, xin vâng.” Nghe theo lời đức Thế Tôn, đại đức Ānanda đã cầm lấy chìa khóa và đã thông báo cho các vị tỳ khưu ở dãy phòng rằng:—“Này các đại đức, đức Thế Tôn muốn ra đi du hành đến núi Dakkhiṇāgiri. Đại đức nào có ý thích thì hãy đi.” Các vị tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này đại đức Ānanda, đức Thế Tôn đã quy định là sống nương nhờ mười năm, vị mười năm được cho nương nhờ. Và (nếu) chúng tôi đi đến nơi ấy thì sự nương nhờ sẽ cần được xác định (ở nơi ấy). Và việc cư trú sẽ là ngắn ngủi và sẽ quay trở về lại, rồi sự nương nhờ sẽ cần được xác định lại. Nếu các thầy tế độ hoặc thầy dạy học của chúng tôi sẽ đi thì chúng tôi cũng sẽ đi, nếu các thầy tế độ hoặc thầy dạy học của chúng tôi sẽ không đi thì chúng tôi cũng sẽ không đi. Này đại đức Ānanda, chúng tôi hành xử với tâm tư nhẹ nhàng là điều sẽ được nhận biết.”
Inda-bh 55~418Sau đó, đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến núi Dakkhiṇāgiri với nhóm số lượng ít ỏi. Sau đó, khi đã ngự tại núi Dakkhiṇāgiri theo như ý thích, đức Thế Tôn đã quay trở về lại thành Rājagaha. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, vì sao Như Lai đã ra đi du hành đến núi Dakkhiṇāgiri với hội chúng tỳ khưu là nhóm số lượng ít ỏi?” Khi ấy, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu có kinh nghiệm đủ năng lực sống nương nhờ năm năm, vị không có kinh nghiệm thì trọn đời.”
Inda-bh 56~419Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố không nên sống không nương nhờ: Là vị không thành tựu vô học giới uẩn, không thành tựu vô học định uẩn, không thành tựu vô học tuệ uẩn, không thành tựu vô học giải thoát uẩn, không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên sống không nương nhờ.
Inda-bh 57~420Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị thành tựu vô học giới uẩn, thành tựu vô học định uẩn, thành tựu vô học tuệ uẩn, thành tựu vô học giải thoát uẩn, thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này được sống không nương nhờ.
Inda-bh 58~421Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không có đức tin, không có sự hổ thẹn (tội lỗi), không có sự ghê sợ (tội lỗi), biếng nhác, có niệm bị quên lãng. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên sống không nương nhờ.
Inda-bh 59~422Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị có đức tin, có sự hổ thẹn (tội lỗi), có sự ghê sợ (tội lỗi), có sự nỗ lực tinh tấn, có niệm được thiết lập. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này được sống không nương nhờ.
Inda-bh 60~423Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, ít học hỏi, trí kém. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên sống không nương nhờ.
Inda-bh 61~424Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị không bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, không bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, không bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, nghe nhiều, có trí tuệ. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này được sống không nương nhờ.
Inda-bh 62~425Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn Pātimokkha không khéo được truyền thừa một cách chi tiết, không khéo được phân tích, không khéo thuộc nằm lòng, không khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên sống không nương nhờ.
Inda-bh 63~426Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, đối với vị này hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn Pātimokkha khéo được truyền thừa một cách chi tiết, khéo được phân tích, khéo thuộc nằm lòng, khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này được sống không nương nhờ.
Inda-bh 64~427Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, chưa đủ năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên sống không nương nhờ.
Inda-bh 65~428Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này được sống không nương nhờ.
Inda-bh 66~429Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên sống không nương nhờ: Là vị không thành tựu vô học giới uẩn, không thành tựu vô học định uẩn, không thành tựu vô học tuệ uẩn, không thành tựu vô học giải thoát uẩn, không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn, chưa đủ năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên sống không nương nhờ.
Inda-bh 67~430Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này được sống không nương nhờ: Là vị thành tựu vô học giới uẩn, thành tựu vô học định uẩn, thành tựu vô học tuệ uẩn, thành tựu vô học giải thoát uẩn, thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này được sống không nương nhờ.
Inda-bh 68~431Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không có đức tin, không có sự hổ thẹn (tội lỗi), không có sự ghê sợ (tội lỗi), biếng nhác, có niệm bị quên lãng, chưa đủ năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên sống không nương nhờ.
Inda-bh 69~432Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị có đức tin, có sự hổ thẹn (tội lỗi), có sự ghê sợ (tội lỗi), có sự nỗ lực tinh tấn, có niệm được thiết lập, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này được sống không nương nhờ.
Inda-bh 70~433Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, ít học hỏi, trí kém, chưa đủ năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên sống không nương nhờ.
Inda-bh 71~434Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị không bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, không bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, không bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, nghe nhiều, có trí tuệ, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này được sống không nương nhờ.
Inda-bh 72~435Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, đối với vị này hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn Pātimokkha không khéo được truyền thừa một cách chi tiết, không khéo được phân tích, không khéo thuộc nằm lòng, không khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc, chưa đủ năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên sống không nương nhờ.
Inda-bh 73~436Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố được sống không nương nhờ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn Pātimokkha khéo được truyền thừa một cách chi tiết, khéo được phân tích, khéo thuộc nằm lòng, khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này được sống không nương nhờ.
Dứt tụng phẩm ‘Không Phải Lo Sợ’ là thứ tám.
Inda-bh 1~437Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Kapilavatthu. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Kapilavatthu.
Inda-bh 2~438Tại nơi đó giữa dân chúng dòng Sakya, đức Thế Tôn ngự ở thành Kapilavatthu, tại tu viện Nigrodha. Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, đi đến tư dinh của Suddhodana (Tịnh Phạn) dòng Sakya, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn.
Inda-bh 3~439Khi ấy, hoàng hậu mẹ của Rāhula đã nói với hoàng tử Rāhula (La Hầu La) điều này:—“Này Rāhula, người kia là cha của con. Hãy đi và cầu xin phần thừa kế.” Khi ấy, hoàng tử Rāhula đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đứng ở phía trước đức Thế Tôn (nói rằng):—“Này vị Sa-môn, bóng che của ngài thật an lạc.”
Inda-bh 4~440Sau đó, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Khi ấy, hoàng tử Rāhula đã theo sát phía sau của đức Thế Tôn (nói rằng):—“Này vị Sa-môn, hãy ban cho con phần thừa kế. Này vị Sa-môn, hãy ban cho con phần thừa kế.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Sāriputta rằng:—“Này Sāriputta, như thế thì ngươi hãy cho hoàng tử Rāhula xuất gia.”—“Bạch ngài, con cho hoàng tử Rāhula xuất gia như thế nào?”
Inda-bh 5~441Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép việc xuất gia sa di bằng ba sự đi đến nương nhờ (Tam Quy). Và này các tỳ khưu, nên cho xuất gia như vầy: Trước tiên, nên cho cạo bỏ râu tóc, cho choàng lên các tấm vải màu ca-sa, cho đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các vị tỳ khưu, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên, và nên bảo rằng: ‘Ngươi hãy nói như vầy: Tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Phật). Tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Pháp). Tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Tăng). Lần thứ nhì, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ. Lần thứ nhì, tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ. Lần thứ nhì, tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ.’ Này các tỳ khưu, ta cho phép việc xuất gia sa di bằng ba sự đi đến nương nhờ này.”
Inda-bh 6~442Khi ấy, đại đức Sāriputta đã cho hoàng tử Rāhula xuất gia. Sau đó, Suddhodana dòng Sakya đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Suddhodana dòng Sakya đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, trẫm cầu xin đức Thế Tôn một điều ước muốn.”—“Này vị Gotama, các đấng Như Lai đã vượt khỏi các điều ước muốn.”—“Bạch ngài, điều ấy là hợp lý, điều ấy không bị chê trách.”—“Này vị Gotama, hãy nói đi.”
—“Bạch ngài, khi đức Thế Tôn đã xuất gia, đau khổ đã khởi lên ở trẫm không phải là ít, tương tự như vậy trong việc Nandā, (nhưng là sự đau khổ) vô cùng mãnh liệt trong việc Rāhula. Bạch ngài, lòng thương yêu đối với người con trai cắt vào da; sau khi cắt vào da, nó cắt vào lớp da trong; sau khi cắt vào lớp da trong, nó cắt vào thịt; sau khi cắt vào thịt, nó cắt vào gân; sau khi cắt vào gân, nó cắt vào xương; sau khi cắt vào xương, nó đạt đến tủy xương rồi trú (ở đó). Bạch ngài, tốt đẹp thay các ngài đại đức không nên cho người con trai chưa được phép của cha mẹ xuất gia.”
Inda-bh 7~443Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Suddhodana dòng Sakya bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, Suddhodana dòng Sakya đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 8~444Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên cho người con trai chưa được phép của cha mẹ xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
Dứt phần giảng về câu chuyện của Rāhula.
Inda-bh 1~445Sau đó, khi đã ngự tại thành Kapilavatthu theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành về phía thành Sāvatthi. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Sāvatthi. Tại nơi đó trong thành Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự ở Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, gia đình hộ độ của đại đức Sāriputta đã gởi đứa trẻ trai đến đại đức Sāriputta (nói rằng): “Xin ngài trưởng lão hãy cho đứa trẻ này xuất gia.”
Inda-bh 2~446Khi ấy, đại đức Sāriputta đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Một vị không nên để cho hai sa di phục vụ,’ và ta đây đã có sa di Rāhula. Vậy ta nên thực hành như thế nào?” Rồi đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu có kinh nghiệm đủ năng lực một mình được để cho hai sa di phục vụ, hoặc để cho nhiều (sa di) phục vụ với số lượng mà vị ấy vẫn có đủ khả năng để giáo huấn và chỉ dạy.”
Inda-bh 3~447Sau đó, các vị sa di đã khởi ý điều này: “Chúng ta có bao nhiêu điều học? Và chúng ta nên học tập về vấn đề gì?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép mười điều học đến các sa di và (cho phép) các sa di học tập về các điều học ấy: Việc tránh xa sự giết hại mạng sống, việc tránh xa sự lấy vật không được cho, việc tránh xa điều phi Phạm hạnh (sự hành dâm), việc tránh xa sự nói dối, việc tránh xa trường hợp dễ duôi uống chất say là rượu và chất lên men, việc tránh xa sự ăn phi thời, việc tránh xa sự múa hát đờn và xem trình diễn, việc tránh xa trường hợp đeo vòng hoa thoa vật thơm và tô điểm bằng đồ trang sức, việc tránh xa chỗ nằm ngồi cao và rộng lớn, việc tránh xa sự thọ lãnh vàng bạc. Này các tỳ khưu, ta cho phép mười điều học này đến các sa di và (cho phép) các sa di học tập về các điều học này.
Inda-bh 4~448Vào lúc bấy giờ, các sa di sống không tôn kính, không vâng lời, không cư xử theo phép tắc đối với các tỳ khưu. Các vị tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các sa di lại sống không tôn kính, không vâng lời, không cư xử theo phép tắc đối với các tỳ khưu? Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thực thi hành phạt đối với vị sa di hội đủ năm yếu tố: Là vị ra sức làm cho các tỳ khưu không được lợi lộc, ra sức làm cho các tỳ khưu không được sự lợi ích, ra sức làm cho các tỳ khưu không có chỗ ngụ, mắng nhiếc gièm pha các tỳ khưu, chia rẽ các tỳ khưu (này) với các tỳ khưu (khác). Này các tỳ khưu, ta cho phép thực thi hành phạt đối với vị sa di hội đủ năm yếu tố này.”
Inda-bh 5~449Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Hành phạt gì nên được thực hiện?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện sự ngăn cấm.”
Inda-bh 6~450Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu thực hiện sự ngăn cấm toàn bộ khu vực tu viện của hội chúng đối với các sa di. Các sa di trong khi không thể đi vào tu viện nên rời đi, hoàn tục, chuyển sang ngoại đạo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên thực hiện sự ngăn cấm toàn bộ khu vực tu viện của hội chúng; vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện sự ngăn cấm ở chỗ (tỳ khưu) sinh sống hoặc ở chỗ (tỳ khưu) lui tới.”
Inda-bh 7~451Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu thực hiện sự ngăn cấm thức ăn theo đường miệng đối với các sa di. Dân chúng trong lúc làm nước cháo và bữa ăn dâng hội chúng nói với các sa di như vầy:—“Này các ngài, hãy đến và húp cháo. Này các ngài, hãy đến và thọ dụng bữa ăn.” Các vị sa di nói như vầy:—“Này các đạo hữu, không thể được. Các tỳ khưu đã thực hiện sự ngăn cấm.” Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các đại đức lại thực hiện sự ngăn cấm thức ăn theo đường miệng đối với các sa di?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên thực hiện sự ngăn cấm thức ăn theo đường miệng, vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa.”
Dứt câu chuyện về hành phạt.
Inda-bh 1~452Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư không hỏi các vị thầy tế độ lại thực hiện sự ngăn cấm đối với các sa di. Các vị thầy tế độ tìm kiếm (hỏi rằng): “Vì sao các sa di của chúng tôi lại không được nhìn thấy?” Các tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này các đại đức, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư đã thực hiện sự ngăn cấm.” Các vị thầy tế độ phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư không hỏi chúng tôi lại thực hiện sự ngăn cấm đối với các sa di của chúng tôi? Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, chưa hỏi các vị thầy tế độ không nên thực hiện sự ngăn cấm; vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 2~453Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã dụ dỗ các sa di của các tỳ khưu trưởng lão. Các vị trưởng lão bị mệt nhọc trong khi tự mình lấy gỗ chà răng và nước súc miệng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên dụ dỗ tập thể của vị khác; vị nào dụ dỗ thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 3~454Vào lúc bấy giờ, sa di tên Kaṇṭaka của đại đức Upananda con trai dòng Sakya đã làm nhơ tỳ khưu ni tên Kaṇṭakī. Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao vị sa di lại thực hành điều sai trái có hình thức như thế?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép trục xuất sa di hội đủ mười yếu tố này: Là kẻ giết hại mạng sống, là kẻ lấy vật không được cho, là kẻ phi Phạm hạnh (hành dâm), là kẻ nói dối, là kẻ uống chất say, là kẻ phỉ báng đức Phật, phỉ báng Giáo Pháp, phỉ báng Hội Chúng, là kẻ có tri kiến sai trái, là kẻ làm nhơ tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, ta cho phép trục xuất vị sa di hội đủ mười yếu tố này.”
Inda-bh 4~455Vào lúc bấy giờ, có người vô căn nọ đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Người ấy đi đến gặp các vị tỳ khưu trẻ rồi nói như vầy:—“Này các đại đức, hãy đi đến. Hãy làm điều nhơ nhớp với tôi.” Các vị tỳ khưu đuổi đi:—“Này kẻ vô căn, tiêu mất đi! Này kẻ vô căn, biến mất đi! Ai mà cần đến ngươi?” Bị các tỳ khưu xua đuổi, người ấy đi đến gặp các sa di to bự lớn xác rồi nói như vầy:—“Này các đại đức, hãy đi đến. Hãy làm điều nhơ nhớp với tôi.” Các vị sa di đuổi đi:—“Này kẻ vô căn, tiêu mất đi! Này kẻ vô căn, biến mất đi! Ai mà cần đến ngươi?”
Inda-bh 5~456Người ấy khi bị các vị sa di xua đuổi lại đi đến gặp những người chăn voi, những người giữ ngựa rồi nói như vầy:—“Này các đạo hữu, hãy đi đến. Hãy làm điều nhơ nhớp với tôi.” Những người chăn voi, những người giữ ngựa đã làm điều nhơ nhớp. Những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Những Sa-môn Thích tử này là những kẻ vô căn. Những người nào trong bọn họ không phải là những kẻ vô căn thì những người ấy làm điều nhơ nhớp với những kẻ vô căn. Như vậy, chính tất cả những người này không có Phạm hạnh.”
Inda-bh 6~457Các tỳ khưu đã nghe được những người chăn voi những người giữ ngựa phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, kẻ vô căn chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.” (1)
Inda-bh 7~458Vào lúc bấy giờ, có người con trai của gia đình bị khánh tận không còn gia quyến nọ là người mảnh mai. Khi ấy, người con trai của gia đình bị khánh tận không còn gia quyến ấy đã khởi ý điều này: “Ta là người mảnh mai, không đủ khả năng để đạt đến tài sản chưa có hoặc làm tăng trưởng tài sản đã có, với phương kế gì để ta có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc?”
Inda-bh 8~459Rồi người con trai của gia đình bị khánh tận không còn gia quyến ấy đã khởi ý điều này: “Những Sa-môn Thích tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm ngủ ở những cái giường kín gió, hay là ta nên tự mình chuẩn bị y bát, cạo bỏ râu tóc, khoác lên các mảnh vải màu ca-sa, đi đến tu viện, và chung sống với các tỳ khưu?”
Inda-bh 9~460Sau đó, người con trai của gia đình bị khánh tận không còn gia quyến ấy đã tự mình chuẩn bị y bát, cạo bỏ râu tóc, khoác lên các mảnh vải màu ca-sa, đi đến tu viện, và đảnh lễ các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này đại đức, đại đức được bao nhiêu năm?”—“Được bao nhiêu năm? Này các đại đức, điều ấy là gì vậy?”—“Này đại đức, ai là thầy tế độ của đại đức?”—“Thầy tế độ? Này các đại đức, điều ấy là gì vậy?” Các vị tỳ khưu đã nói với đại đức Upāli điều này: “—“Này đại đức Upāli, hãy thẩm tra người đã xuất gia này đi.”
Inda-bh 10~461Sau đó, trong khi được đại đức Upāli thẩm tra người con trai của gia đình bị khánh tận không còn gia quyến ấy đã kể lại sự việc ấy. Đại đức Upāli đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu) chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. Này các tỳ khưu, kẻ đã đi theo ngoại đạo chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.” (2—3)
Inda-bh 11~462Vào lúc bấy giờ, có con rồng nọ lo ngại, xấu hổ, và chán ghét với sự xuất thân là loài rồng. Sau đó, con rồng ấy đã khởi ý điều này: “Với phương kế gì ta có thể hoàn toàn thoát khỏi sự xuất thân là loài rồng và có thể thành tựu bản thể của loài người một cách nhanh chóng?” Khi ấy, con rồng ấy đã khởi ý điều này: “Những vị Sa-môn Thích tử này là những vị thực hành Giáo Pháp, thực hành sự bình thản, thực hành Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp; nếu ta có thể xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, như thế ta có thể hoàn toàn thoát khỏi sự xuất thân là loài rồng và có thể thành tựu bản thể của loài người một cách nhanh chóng.”
Inda-bh 12~463Sau đó, con rồng ấy với hình dáng của người thanh niên đã đi đến gặp các vị tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các vị tỳ khưu đã cho người ấy xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Vào lúc bấy giờ, con rồng ấy cùng với vị tỳ khưu khác ngụ trong trú xá ở chỗ giáp ranh. Khi ấy vào lúc hừng sáng của đêm, vị tỳ khưu ấy thức dậy và đi kinh hành ở ngoài trời.
Inda-bh 13~464Sau đó, trong khi vị tỳ khưu ấy đã đi ra ngoài con rồng ấy hết lo âu nên đã chìm vào giấc ngủ. Toàn bộ trú xá đã bị tràn ngập bởi (thân của) con rồng và các vòng thân còn ló ra khỏi các cửa sổ. Sau đó, vị tỳ khưu ấy (nghĩ rằng): “Ta sẽ đi vào trú xá,” trong lúc đẩy cánh cửa đã nhìn thấy toàn bộ trú xá bị tràn ngập bởi (thân của) con rồng và các vòng thân đang ló ra khỏi các cửa sổ, sau khi nhìn thấy (trở nên) sợ hãi và đã kêu thét lên. Các vị tỳ khưu đã chạy lại và nói với vị tỳ khưu ấy điều này:—“Này đại đức, vì sao đại đức lại kêu thét lên vậy?”—“Này các đại đức, toàn bộ trú xá này bị tràn ngập bởi (thân của) con rồng và các vòng thân còn ló ra khỏi các cửa sổ.
Inda-bh 14~465Khi ấy, con rồng ấy sau khi thức giấc bởi tiếng động ấy đã ngồi xuống trên chỗ ngồi của mình. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này đệ, ngươi là ai vậy?”—“Thưa các ngài, tôi là rồng.”—“Này đệ, vì sao ngươi lại biến thành hình dạng như thế này?”
Inda-bh 15~466Khi ấy, con rồng ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và nói với con rồng ấy điều này:—“Các ngươi là loài rồng không có được pháp tiến bộ trong Pháp và Luật này. Này rồng, ngươi hãy đi đi. Và hãy tiến hành Uposatha vào ngày mười bốn, ngày mười lăm và ngày thứ tám của mỗi nửa tháng ở ngay nơi ấy, như thế ngươi sẽ hoàn toàn thoát khỏi sự xuất thân là loài rồng và sẽ thành tựu bản thể của loài người một cách nhanh chóng.”
Inda-bh 16~467Khi ấy, con rồng ấy (nghĩ rằng): “Nghe nói ta không có được pháp tiến bộ trong Pháp và Luật này” (trở nên) đau khổ, rầu rĩ, trong khi đang trào ra nước mắt đã khóc rống lên, rồi bỏ đi. Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, đây là hai lý do đưa đến việc hiện ra bản thể thật của loài rồng là khi nó thực hiện việc lứa đôi với rồng cái và khi nó hết lo âu rồi chìm vào giấc ngủ. Này các tỳ khưu, hai lý do này đưa đến việc hiện ra bản thể thật của loài rồng. Này các tỳ khưu, loài thú chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. (4)
Inda-bh 17~468Vào lúc bấy giờ, có người thanh niên nọ là kẻ đã đoạt đi mạng sống của người mẹ. Người ấy lo ngại, xấu hổ, và chán ghét với hành động ác độc ấy. Sau đó, người thanh niên ấy đã khởi ý điều này: “Với phương kế gì ta có thể thực hiện sự thoát ly đối với nghiệp ác ấy?” Khi ấy, người thanh niên ấy đã khởi ý điều này: “Những vị Sa-môn Thích tử này là những vị thực hành Giáo Pháp, thực hành sự bình thản, thực hành Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp; nếu ta có thể xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, như thế ta có thể thực hiện sự thoát ly đối với nghiệp ác ấy.”
Inda-bh 18~469Sau đó, người thanh niên ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã nói với đại đức Upāli điều này:—“Này đại đức Upāli, cũng trước đây con rồng với hình dáng của người thanh niên đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Này đại đức Upāli, hãy thẩm tra người thanh niên này.”
Inda-bh 19~470Sau đó, trong khi được đại đức Upāli thẩm tra người thanh niên ấy đã kể lại sự việc ấy. Đại đức Upāli đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, kẻ giết mẹ chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.” (5)
Inda-bh 20~471Vào lúc bấy giờ, có người thanh niên nọ là kẻ đã đoạt đi mạng sống của người cha. Người ấy lo ngại, xấu hổ, và chán ghét với nghiệp ác ấy. Sau đó, người thanh niên ấy đã khởi ý điều này: “Với phương kế gì ta có thể thực hiện sự thoát ly đối với nghiệp ác ấy?” Khi ấy, người thanh niên ấy đã khởi ý điều này: “Những vị Sa-môn Thích tử này là những vị thực hành Giáo Pháp, thực—hành sự bình thản, thực hành Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp; nếu ta có thể xuất gia nơi các vị Sa-môn Thích tử, như thế ta có thể thực hiện sự thoát ly đối với nghiệp ác ấy.”
Inda-bh 21~472Sau đó, người thanh niên ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đã nói với đại đức Upāli điều này:—“Này đại đức Upāli, cũng trước đây con rồng với hình dáng của người thanh niên đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Này đại đức Upāli, hãy thẩm tra người thanh niên này.”
Inda-bh 22~473Sau đó, trong khi được đại đức Upāli thẩm tra người thanh niên ấy đã kể lại sự việc ấy. Đại đức Upāli đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, kẻ giết cha chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.” (6)
Inda-bh 23~474Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đi đường xa từ Sāketa đến thành Sāvatthi. Giữa đường bọn cướp đã xuất hiện; chúng đã cướp bóc một số tỳ khưu và đã giết chết một số tỳ khưu. Các binh lính của đức vua phát xuất từ thành Sāvatthi đã bắt được một số kẻ cướp. Một số kẻ cướp đã tẩu thoát. Những kẻ tẩu thoát ấy đã xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Những kẻ nào đã bị bắt thì bị đưa đi tử hình.
Inda-bh 24~475Những kẻ đã được xuất gia ấy đã nhìn thấy những kẻ cướp ấy đang bị đưa đi tử hình, sau khi nhìn thấy đã nói như vầy:—“May mắn thay chúng ta đã tẩu thoát, nếu hôm nay chúng ta bị bắt, chúng ta cũng có thể bị giết y như thế này.” Các vị tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này các đại đức, các vị đã nói điều gì vậy?” Khi ấy, những kẻ đã được xuất gia ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu ấy là các vị A-la-hán. Này các tỳ khưu, kẻ giết A-la-hán chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.” (7)
Inda-bh 25~476Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu ni đi đường xa từ Sāketa đến thành Sāvatthi. Giữa đường, bọn cướp đã xuất hiện; chúng đã cướp bóc một số tỳ khưu ni, đã làm nhơ nhớp một số tỳ khưu ni. Các binh lính của đức vua phát xuất từ thành Sāvatthi đã bắt được một số kẻ cướp. Một số kẻ cướp đã tẩu thoát. Những kẻ tẩu thoát ấy đã xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Những kẻ nào đã bị bắt thì bị đưa đi tử hình.
Inda-bh 26~477Những kẻ đã được xuất gia ấy đã nhìn thấy những kẻ cướp ấy đang bị đưa đi tử hình, sau khi nhìn thấy đã nói như vầy:—“May mắn thay chúng ta đã tẩu thoát. Nếu hôm nay chúng ta bị bắt, chúng ta cũng có thể bị giết y như thế này.” Các vị tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này các đại đức, các vị đã nói điều gì vậy?” Khi ấy, những kẻ đã được xuất gia ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, kẻ làm nhơ tỳ khưu ni chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. Này các tỳ khưu, kẻ làm chia rẽ hội chúng chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. Này các tỳ khưu, kẻ làm chảy máu (đức Phật) chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.” (8—9—10)
Inda-bh 27~478Vào lúc bấy giờ, có người lưỡng căn nọ đã được xuất gia ở nơi các tỳ khưu. Người ấy hành động (như người nam) rồi bảo (người nam khác) hành động (với mình). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, người lưỡng căn chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.” (11)
Dứt mười một câu chuyện về người chưa được tu lên bậc trên.
Inda-bh 1~479Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên người không có thầy tế độ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên người không có thầy tế độ; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa.” (1)
Inda-bh 2~480Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên với hội chúng là thầy tế độ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên với hội chúng là thầy tế độ; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa.” (2)
Inda-bh 3~481Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên với nhóm (hai hoặc ba vị tỳ khưu) là thầy tế độ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên với nhóm (hai hoặc ba vị tỳ khưu) là thầy tế độ; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa.” (3)
Inda-bh 4~482Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên với kẻ vô căn là thầy tế độ. … (như trên) … cho tu lên bậc trên với kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu) là thầy tế độ. … (như trên) … cho tu lên bậc trên với kẻ đã đi theo ngoại đạo là thầy tế độ. … (như trên) … cho tu lên bậc trên với loài thú là thầy tế độ. … (như trên) … cho tu lên bậc trên với kẻ giết mẹ là thầy tế độ. … (như trên) … cho tu lên bậc trên với kẻ giết cha là thầy tế độ. … (như trên) … cho tu lên bậc trên với kẻ giết A-la-hán là thầy tế độ. … (như trên) … cho tu lên bậc trên với kẻ làm nhơ tỳ khưu ni là thầy tế độ. … (như trên) … cho tu lên bậc trên với kẻ chia rẽ hội chúng là thầy tế độ. … (như trên) … cho tu lên bậc trên với kẻ làm chảy máu (đức Phật) là thầy tế độ. … (như trên) … cho tu lên bậc trên với kẻ lưỡng căn là thầy tế độ.
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên với kẻ vô căn là thầy tế độ. … (như trên) … Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu) là thầy tế độ. … (như trên) … Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ đã đi theo ngoại đạo là thầy tế độ. … (như trên) … Không nên cho tu lên bậc trên với loài thú là thầy tế độ. … (như trên) … Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ giết mẹ là thầy tế độ. … (như trên) … Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ giết cha là thầy tế độ. … (như trên) … Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ giết A-la-hán là thầy tế độ. … (như trên) … Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ làm nhơ tỳ khưu ni là thầy tế độ. … (như trên) … Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ chia rẽ hội chúng là thầy tế độ. … (như trên) … Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ làm chảy máu (đức Phật) là thầy tế độ. … (như trên) … Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ lưỡng căn là thầy tế độ; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa.” (4—14)
Inda-bh 6~483Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên người không có bình bát. Các vị đi khất thực bằng hai tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên người không có bình bát; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa.” (15)
Inda-bh 7~484Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên người không có y. Các vị lõa thể đi khất thực. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên người không có y; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa.” (16)
Inda-bh 8~485Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên người không có y và bình bát. Các vị lõa thể đi khất thực bằng hai tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên người không có y và bình bát; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa.” (17)
Inda-bh 9~486Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên với bình bát (mượn) của người đã được yêu cầu (trước). Khi đã được tu lên bậc trên, các vị trả lại bình bát. Các vị đi khất thực bằng hai tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên với bình bát mượn; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa.” (18)
Inda-bh 10~487Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên với y (mượn) của người đã được yêu cầu (trước). Khi đã được tu lên bậc trên, các vị trả lại y. Các vị lõa thể đi khất thực. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên với y mượn; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa.” (19)
Inda-bh 11~488Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho tu lên bậc trên với y và bình bát (mượn) của người đã được yêu cầu (trước). Khi đã được tu lên bậc trên, các vị trả lại y và bình bát. Các vị lõa thể đi khất thực bằng hai tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như là những kẻ ngoại đạo.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên với y và bình bát mượn; vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa.” (20)
Dứt hai mươi trường hợp về người không nên cho tu lên bậc trên.
Inda-bh 1~489Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu cho người bị đứt cánh tay xuất gia. … (như trên) … cho người bị đứt bàn chân xuất gia. ... cho người bị đứt cánh tay và bàn chân xuất gia. ... cho người bị sứt tai xuất gia. ... cho người bị sứt mũi xuất gia. ... cho người bị sứt tai và mũi xuất gia. ... cho người bị đứt ngón tay xuất gia. ... cho người bị đứt móng tay xuất gia. ... cho người bị đứt gân chân xuất gia. ... cho người có bàn tay dính liền giống cánh dơi xuất gia. ... cho người gù lưng xuất gia. ... cho người lùn tịt xuất gia. ... cho người có bướu cổ xuất gia. ... cho người bị xử hình phạt đóng dấu xuất gia. ... cho người bị xử hình phạt đánh bằng roi xuất gia. ... cho người bị cáo thị tầm nã xuất gia. ... cho người phù chân voi xuất gia. ... cho người có bệnh trầm trọng xuất gia. ... cho người bôi nhọ tập thể xuất gia. ... cho người chột mắt xuất gia. ... cho người có tứ chi bị co rút xuất gia. ... cho người què xuất gia. ... cho người bị liệt nửa thân xuất gia. ... cho người đi khập khiễng xuất gia. ... cho người già yếu xuất gia. ... cho người mù xuất gia. ... cho người câm xuất gia. ... cho người điếc xuất gia. ... cho người mù và câm xuất gia. ... cho người mù và điếc xuất gia. ... cho người câm và điếc xuất gia. ... cho người mù câm điếc xuất gia.
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~490—“Này các tỳ khưu, không nên cho người bị đứt cánh tay xuất gia. … (như trên) … Không nên cho người bị đứt bàn chân xuất gia. ... Không nên cho người bị đứt cánh tay và bàn chân xuất gia. ... Không nên cho người sứt tai xuất gia. ... Không nên cho người bị sứt mũi xuất gia. ... Không nên cho người bị sứt tai và mũi xuất gia. ... Không nên cho người bị đứt ngón tay xuất gia. ... Không nên cho người bị đứt móng tay xuất gia. ... Không nên cho người bị đứt gân chân xuất gia. ... Không nên cho người có bàn tay dính liền giống cánh dơi xuất gia. ... Không nên cho người gù lưng xuất gia. ... Không nên cho người lùn tịt xuất gia. ... Không nên cho người có bướu cổ xuất gia. ... Không nên cho người bị xử hình phạt đóng dấu xuất gia. ... Không nên cho người bị xử hình phạt đánh bằng roi xuất gia. ... Không nên cho người bị cáo thị tầm nã xuất gia. ... Không nên cho người phù chân voi xuất gia. ... Không nên cho người có bệnh trầm trọng kinh niên xuất gia. ... Không nên cho người bôi nhọ tập thể xuất gia. ... Không nên cho người chột mắt xuất gia. ... Không nên cho người có tứ chi bị co rút xuất gia. ... Không nên cho người què xuất gia. ... Không nên cho người bị liệt nửa thân xuất gia. ... Không nên cho người đi khập khiễng xuất gia. ... Không nên cho người già yếu xuất gia. ... Không nên cho người mù xuất gia. ... Không nên cho người câm xuất gia. ... Không nên cho người điếc xuất gia. ... Không nên cho người mù và câm xuất gia. ... Không nên cho người mù và điếc xuất gia. ... Không nên cho người câm và điếc xuất gia. ... Không nên cho người mù câm điếc xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”
Dứt ba mươi hai trường hợp không nên cho xuất gia.
Dứt tụng phẩm ‘Phần Thừa Kế’ là thứ chín.
Inda-bh 1~491Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư ban cho sự nương nhờ đến những vị không có liêm sỉ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên ban cho sự nương nhờ đến những vị không có liêm sỉ; vị nào ban cho thì phạm tội dukkaṭa.” Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sống (với pháp) nương nhờ vào những vị không có liêm sỉ. Chẳng bao lâu sau, các vị ấy cũng trở thành các tỳ khưu ác xấu, không có liêm sỉ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên sống (với pháp) nương nhờ vào những vị không có liêm sỉ; vị nào sống thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 2~492Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên ban cho sự nương nhờ đến những vị không có liêm sỉ và không nên sống (với pháp) nương nhờ vào những vị không có liêm sỉ,’ vậy làm thế nào chúng ta biết được (vị nào) là có liêm sỉ hoặc không có liêm sỉ?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chờ đợi bốn năm ngày đến khi (xác định rằng): “Ta biết được bản chất của vị tỳ khưu.”
Inda-bh 3~493Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ du hành đường xa trong xứ Kosala. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sống không nương nhờ,’ và ta là cần có sự nương nhờ nhưng đang du hành đường xa, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu đang du hành đường xa trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ.”
Inda-bh 4~494Vào lúc bấy giờ, có hai vị tỳ khưu du hành đường xa trong xứ Kosala. Họ đã đi đến gần trú xứ nọ. Tại đó, một vị tỳ khưu đã bị lâm bệnh. Khi ấy, vị tỳ khưu bị bệnh ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sống không nương nhờ,’ và ta là cần có sự nương nhờ nhưng bị bệnh, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu bị bệnh trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ.”
Inda-bh 5~495Khi ấy, vị tỳ khưu chăm sóc vị bị bệnh ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sống không nương nhờ,’ và ta là cần có sự nương nhờ nhưng vị tỳ khưu này thì bị bệnh, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu chăm sóc vị bị bệnh trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ (dầu) được yêu cầu.”241
Inda-bh 6~496Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trú ngụ ở rừng. Và ở chỗ trú ngụ ấy có được sự thoải mái cho vị ấy (trong việc tiến tu). Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sống không nương nhờ,’ và ta là cần có sự nương nhờ nhưng ta trú ngụ ở trong rừng. Và ở chỗ trú ngụ này có được sự thoải mái cho ta (trong việc tiến tu), vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu ở rừng đang quan tâm đến việc có chỗ cư trú thoải mái (cho việc tiến tu) trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ (nghĩ rằng): “Khi nào có vị ban pháp nương nhờ xứng đáng đi đến thì ta sẽ sống nương nhờ vào vị ấy.”
Inda-bh 7~497Vào lúc bấy giờ, có người có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức Mahākassapa. Khi ấy, đại đức Mahākassapa đã phái sứ giả đến gặp đại đức Ānanda nhắn rằng: “Ānanda hãy đi đến và tuyên ngôn cho người này.” Đại đức Ānanda đã nói như vầy:—“Tôi không thể nêu lên tên của ngài trưởng lão, ngài trưởng lão là bậc trưởng thượng của tôi.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tuyên ngôn với tên của dòng họ.”
Inda-bh 8~498Vào lúc bấy giờ, có hai người có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức Mahākassapa. Họ tranh cãi rằng: “Tôi sẽ tu lên bậc trên trước, tôi sẽ tu lên bậc trên trước.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.”—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện hai (người) trong một lần tuyên ngôn.”
Inda-bh 9~499Vào lúc bấy giờ, có những người có ý muốn tu lên bậc trên với nhiều vị trưởng lão. Họ tranh cãi rằng: “Tôi sẽ tu lên bậc trên trước tiên, tôi sẽ tu lên bậc trên trước tiên.” Các vị trưởng lão đã nói như vầy:—“Này các đại đức, chúng ta hãy thực hiện hết thảy tất cả trong một lần tuyên ngôn đi.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện hai hoặc ba (người) trong một lần tuyên ngôn. Và điều ấy là với cùng một thầy tế độ chứ không phải với thầy tế độ khác nhau.”
Inda-bh 10~500Vào lúc bấy giờ, đại đức Kumārakassapa là hai mươi (tuổi) tính theo thai bào đã được tu lên bậc trên. Sau đó, đại đức Kumārakassapa đã khởi ý điều này: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên cho tu lên bậc trên người chưa đủ hai mươi tuổi,’ và ta là hai mươi (tuổi) tính theo thai bào đã được tu lên bậc trên, vậy thì ta đã được tu lên bậc trên hay là chưa được tu lên bậc trên?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, khi tâm đầu tiên sanh khởi trong bụng của người mẹ thì thức đầu tiên đã xuất hiện; do điều ấy nên chính thời điểm đó là sự sanh ra của người ấy. Này các tỳ khưu, ta cho phép cho tu lên bậc trên người hai mươi (tuổi) tính theo thai bào.”
Inda-bh 11~501Vào lúc bấy giờ, các vị đã tu lên bậc trên được phát hiện là có (liên quan đến) bệnh cùi, bệnh mụt nhọt, bệnh chàm, bệnh lao phổi, bệnh động kinh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đang ban phép tu lên bậc trên được hỏi về mười ba pháp chướng ngại. Và này các tỳ khưu, nên hỏi như vầy: “Ngươi có các bệnh như vầy không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Ngươi là loài người? Ngươi là người nam? Ngươi là người được tự do (không phải nô lệ)? Ngươi không bị thiếu nợ? Ngươi không phải là lính của đức vua? Ngươi đã được cha mẹ cho phép? Ngươi đã tròn hai mươi tuổi? Ngươi có đầy đủ y bát không? Ngươi tên gì? Vị thầy tế độ của ngươi tên gì?”
Inda-bh 12~502Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu hỏi các pháp chướng ngại đến các người có ý muốn tu lên bậc trên chưa được chỉ bảo trước. Các người có ý muốn tu lên bậc trên đã bị bối rối, trở nên mắc cở, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ bảo trước rồi hỏi các pháp chướng ngại sau.” Các vị đã chỉ bảo ngay tại chỗ ấy, ở giữa hội chúng. Như thế ấy, các người có ý muốn tu lên bậc trên đã bị bối rối, trở nên mắc cở, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ bảo ở một góc rồi hỏi các pháp chướng ngại ở giữa hội chúng. Và này các tỳ khưu, nên chỉ bảo như vầy: Trước tiên, nên bảo chọn vị thầy tế độ. Sau khi đã bảo chọn vị thầy tế độ rồi nên chỉ dẫn về y và bình bát: “Đây là bình bát của ngươi, đây là y hai lớp của ngươi, đây là thượng y của ngươi, đây là y nội của ngươi. Hãy đi đến đứng ở chỗ trống đàng kia.”
Inda-bh 13~503Các vị (tỳ khưu) ngu dốt, thiếu kinh nghiệm đã chỉ bảo. Những người có ý muốn tu lên bậc trên do được chỉ bảo tồi nên đã bị bối rối, trở nên mắc cở, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, vị (tỳ khưu) ngu dốt thiếu kinh nghiệm không nên chỉ bảo; vị nào chỉ bảo thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ khả năng được chỉ bảo.”
Inda-bh 14~504Những vị (tỳ khưu) không được chỉ định đã chỉ bảo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, vị không được chỉ định không nên chỉ bảo; vị nào chỉ bảo thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ bảo đối với vị đã được chỉ định. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Tự mình chỉ định cho chính mình, hoặc người khác chỉ định cho người khác.
Inda-bh 15~505Thế nào là tự mình chỉ định cho chính mình? Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ chỉ bảo cho người tên (như vầy).” Như vậy là tự mình chỉ định cho chính mình.
Inda-bh 16~506Thế nào là người khác chỉ định cho người khác? Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, vị tên (như vầy) sẽ chỉ bảo cho người tên (như vầy).” Như vậy là người khác chỉ định cho người khác.
Inda-bh 17~507Vị tỳ khưu đã được chỉ định ấy nên đi đến gần người có ý muốn tu lên bậc trên và nên nói với như vầy: “Này người tên (như vầy), hãy lắng nghe. Đối với ngươi, bây giờ là thời điểm của sự thật, là thời điểm của bản chất. Trong khi được hỏi ở giữa hội chúng về việc đã sanh khởi, nếu điều ấy là đúng thì nên nói: ‘Có;’ nếu không đúng, nên nói: ‘Không có.’ Chớ có bối rối, chớ nên mắc cở. Các vị sẽ hỏi ngươi như vầy: ‘Ngươi có các bệnh như thế này không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Ngươi là loài người? Ngươi là người nam? Ngươi là người được tự do (không phải nô lệ)? Ngươi không thiếu nợ? Ngươi không phải là lính của đức vua? Ngươi đã được cha mẹ cho phép? Ngươi đã tròn hai mươi tuổi? Ngươi có đầy đủ y bát không? Ngươi tên gì? Vị thầy tế độ của ngươi tên gì?”
Inda-bh 18~508Họ đi đến cùng một lúc.—“Này các tỳ khưu, không nên đi đến cùng một lúc. Vị chỉ bảo nên đi đến trước và thông báo cho hội chúng:
Inda-bh 19~509“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Tôi đã chỉ bảo cho người ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, thì người tên (như vầy) có thể đi đến.” Và nên nói rằng: “Ngươi hãy đi đến.”
Inda-bh 21~510Nên bảo (người ấy) đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các tỳ khưu, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên, và bảo cầu xin sự tu lên bậc trên:
Inda-bh 21~511“Bạch các ngài, tôi cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót. Bạch các ngài, tôi cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên lần thứ nhì. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót. Bạch các ngài, tôi cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy tế độ tôi vì lòng thương xót.”
Inda-bh 22~512Hội chúng nên được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực: “Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ hỏi người tên (như vầy) về các pháp chướng ngại.” “Này người tên (như vầy), hãy lắng nghe. Đối với ngươi, bây giờ là thời điểm của sự thật, là thời điểm của bản chất. Ta hỏi về việc đã sanh khởi, nếu điều ấy là đúng thì nên nói: ‘Có;’ nếu không đúng, nên nói: ‘Không có.’ Ngươi có các bệnh như thế này không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Ngươi là loài người? Ngươi là người nam? Ngươi là người được tự do (không phải nô lệ)? Ngươi không thiếu nợ? Ngươi không phải là lính của đức vua? Ngươi đã được cha mẹ cho phép? Ngươi đã tròn hai mươi tuổi? Ngươi có đầy đủ y bát không? Ngươi tên gì? Vị thầy tế độ của ngươi tên gì?”
Inda-bh 23~513Hội chúng nên được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy), là người trong sạch về các pháp chướng ngại, là người có đầy đủ y bát. Người tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho người tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Inda-bh 24~514Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy), là người trong sạch về các pháp chướng ngại, là người có đầy đủ y bát. Người tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Hội chúng cho người tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của người tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Inda-bh 25~515Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy), là người trong sạch về các pháp chướng ngại, là người có đầy đủ y bát. Người tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Hội chúng cho người tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của người tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Inda-bh 26~516Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy), là người trong sạch về các pháp chướng ngại, là người có đầy đủ y bát. Người tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Hội chúng cho người tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của người tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Inda-bh 27~517Người tên (như vầy) đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Dứt hành sự tu lên bậc trên.
Inda-bh 1~518Ngay khi ấy, bóng nắng cần được đo đạc, việc xác định mùa tiết nên được chỉ dạy, việc phân chia ngày (giờ) nên được chỉ dạy, điều đã được kết tập lại nên được chỉ dạy, bốn vật nương nhờ nên được chỉ dạy:
Inda-bh 2~519“Việc xuất gia nương vào thức ăn do khất thực, trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời; phần thọ lãnh ngoại lệ là bữa ăn dâng hội chúng, bữa ăn được chỉ định, sự mời thỉnh, bữa ăn theo thẻ, vào mỗi nửa tháng, vào ngày Uposatha, vào ngày đầu của mỗi nửa tháng. (1)
Inda-bh 3~520Việc xuất gia nương vào y làm bằng vải dơ bị quăng bỏ; trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời; phần thọ lãnh ngoại lệ là (y làm bằng) sợi lanh, bông vải, tơ lụa, sợi len, gai thô, chỉ bố. (2)
Inda-bh 4~521Việc xuất gia nương vào chỗ trú ngụ là gốc cây; trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời; phần thọ lãnh ngoại lệ là trú xá, nhà một mái, tòa nhà dài, khu nhà lớn, hang động. (3)
Inda-bh 5~522Việc xuất gia nương vào dược phẩm là nước tiểu gia súc, trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời; phần thọ lãnh ngoại lệ là bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật, đường mía.” (4)
Dứt bốn vật nương nhờ.
Inda-bh 1~523Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu sau khi cho tu lên bậc trên vị tỳ khưu nọ đã bỏ lại (vị ấy) mỗi một mình rồi ra đi. Sau đó trong khi đang đi chỉ mỗi một mình, giữa đường vị ấy đã gặp lại người vợ cũ. Cô ta đã nói như vầy:—“Nay chàng đã xuất gia rồi sao?”—“Đúng vậy, tôi đã xuất gia.”—“Đối với các vị xuất gia việc đôi lứa là khó đạt được. Hãy đến và thực hiện việc đôi lứa đi.” Vị ấy sau khi thực hiện việc đôi lứa với nàng ta đã đi về trễ. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này sư đệ, vì sao sư đệ đã đi về trễ như vậy?” Khi ấy, vị ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ban cho người cộng sự và chỉ dạy bốn điều không nên làm ngay sau khi cho tu lên bậc trên:
Inda-bh 2~524“Vị đã được tu lên bậc trên trở thành tỳ khưu không nên thực hành việc đôi lứa, thậm chí với loài thú cái. Vị tỳ khưu nào thực hành việc đôi lứa thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Cũng giống như người đàn ông đã bị chặt đầu không thể sống với việc gắn lại cái đầu ấy vào thân; tương tợ như thế, vị tỳ khưu sau khi thực hiện việc đôi lứa thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời. (1)
Inda-bh 3~525Vị đã được tu lên bậc trên trở thành tỳ khưu không nên lấy vật không được cho được xem là sự trộm cắp, thậm chí có liên quan đến cọng cỏ. Vị tỳ khưu nào lấy vật không được cho là một pāda hoặc tương đương một pāda hoặc hơn một pāda được xem là sự trộm cắp thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Cũng giống như chiếc lá vàng đã lìa khỏi cành không thể trở lại màu xanh; tương tợ như thế, vị tỳ khưu sau khi lấy vật không được cho là một pāda hoặc tương đương một pāda hoặc hơn một pāda được xem là sự trộm cắp thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời. (2)
Inda-bh 4~526Vị đã được tu lên bậc trên trở thành tỳ khưu không nên tước đoạt lấy mạng sống của chúng sanh một cách cố tình thậm chí có liên quan đến loài kiến, mối. Vị tỳ khưu nào tước đoạt lấy mạng sống khỏi cơ thể con người một cách cố tình thậm chí có liên quan đến việc phá thai thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Cũng giống như tảng đá lớn đã bị vỡ làm hai mảnh không gắn liền lại được; tương tợ như thế, vị tỳ khưu sau khi tước đoạt lấy mạng sống khỏi cơ thể con người một cách cố tình thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời. (3)
Inda-bh 5~527Vị đã được tu lên bậc trên trở thành tỳ khưu không nên khẳng định về pháp của bậc thượng nhân thậm chí (nói rằng): ‘Tôi thỏa thích trong ngôi nhà trống vắng.’ Vị tỳ khưu nào có ước muốn xấu xa, bị thúc đẩy bởi ước muốn, rồi khẳng định về pháp của bậc thượng nhân (mà bản thân) không có, không thực chứng, là pháp thiền, hoặc là pháp giải thoát, hoặc là sự nhập định, hoặc là sự chứng đắc, hoặc là Đạo, hoặc là Quả thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Cũng giống như cây thốt nốt bị chặt ngọn không thể đâm chồi lại được nữa; tương tợ như thế, vị tỳ khưu có ước muốn xấu xa, bị thúc đẩy bởi ước muốn, sau khi khẳng định về pháp của bậc thượng nhân (mà bản thân) không có, không thực chứng thì không còn là Sa-môn không còn là Thích tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời.” (4)
Dứt bốn điều không nên làm.
Inda-bh 1~528Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ là người bị án treo trong việc không nhìn nhận tội đã hoàn tục. Vị ấy đã quay trở lại và cầu xin các tỳ khưu sự tu lên bậc trên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~529—“Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu là người bị án treo trong việc không nhìn nhận tội lại hoàn tục. Vị ấy quay trở lại và cầu xin các tỳ khưu sự tu lên bậc trên. Vị ấy nên được nói như vầy: “Ngươi sẽ nhìn nhận tội ấy?” Nếu (trả lời): “Tôi sẽ nhìn nhận” thì nên cho xuất gia. Nếu (trả lời): “Tôi sẽ không nhìn nhận” thì không nên cho xuất gia. Sau khi cho xuất gia, nên nói rằng: “Ngươi sẽ nhìn nhận tội ấy?” Nếu (trả lời): “Tôi sẽ nhìn nhận” thì nên cho tu lên bậc trên. Nếu (trả lời): “Tôi sẽ không nhìn nhận” thì không nên cho tu lên bậc trên. Sau khi đã cho tu lên bậc trên, nên nói rằng: “Ngươi sẽ nhìn nhận tội ấy?” Nếu (trả lời): “Tôi sẽ nhìn nhận” thì nên phục hồi. Nếu (trả lời): “Tôi sẽ không nhìn nhận” thì không nên phục hồi. Sau khi đã phục hồi nên nói rằng: “Ngươi nhìn nhận tội ấy?” Nếu vị ấy nhìn nhận thì việc ấy được tốt đẹp, nếu vị ấy không nhìn nhận thì trong khi đạt được sự hợp nhất (của hội chúng) nên phạt án treo lại. Nếu không đạt được sự hợp nhất thì không phạm tội trong việc thọ hưởng chung, cư ngụ chung (với vị ấy).
Inda-bh 3~530Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu là người bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi lại hoàn tục. Vị ấy quay trở lại và cầu xin các tỳ khưu sự tu lên bậc trên. Vị ấy nên được nói như vầy: “Ngươi sẽ sửa chữa lỗi ấy?” Nếu (trả lời): “Tôi sẽ sửa chữa” thì nên cho xuất gia. Nếu (trả lời): “Tôi sẽ không sửa chữa” thì không nên cho xuất gia. Sau khi cho xuất gia, nên nói rằng: “Ngươi sẽ sửa chữa lỗi ấy?” Nếu (trả lời): “Tôi sẽ sửa chữa” thì nên cho tu lên bậc trên. Nếu (trả lời): “Tôi sẽ không sửa chữa” thì không nên cho tu lên bậc trên. Sau khi đã cho tu lên bậc trên, nên nói rằng: “Ngươi sẽ sửa chữa lỗi ấy?” Nếu (trả lời): “Tôi sẽ sửa chữa” thì nên phục hồi. Nếu (trả lời): “Tôi sẽ không sửa chữa,” thì không nên phục hồi. Sau khi đã phục hồi nên nói rằng: “Ngươi sửa chữa lỗi ấy?” Nếu vị ấy sửa chữa thì việc ấy được tốt đẹp, nếu vị ấy không sửa chữa thì trong khi đạt được sự hợp nhất (của hội chúng) nên phạt án treo lại. Nếu không đạt được sự hợp nhất thì không phạm tội trong việc thọ hưởng chung, cư ngụ chung (với vị ấy).
Inda-bh 4~531Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu là người bị án treo trong việc không chịu từ bỏ tà kiến ác lại hoàn tục. Vị ấy quay trở lại và cầu xin các tỳ khưu sự tu lên bậc trên. Vị ấy nên được nói như vầy: “Ngươi sẽ từ bỏ tà kiến ác ấy?” Nếu (trả lời): “Tôi sẽ từ bỏ” thì nên cho xuất gia. Nếu (trả lời): “Tôi sẽ không từ bỏ” thì không nên cho xuất gia. Sau khi cho xuất gia, nên nói rằng: “Ngươi sẽ từ bỏ tà kiến ác ấy?” Nếu (trả lời): “Tôi sẽ từ bỏ” thì nên cho tu lên bậc trên. Nếu (trả lời): “Tôi sẽ không từ bỏ” thì không nên cho tu lên bậc trên. Sau khi đã cho tu lên bậc trên, nên nói rằng: “Ngươi sẽ từ bỏ tà kiến ác ấy?” Nếu (trả lời): “Tôi sẽ từ bỏ” thì nên phục hồi. Nếu (trả lời): “Tôi sẽ không từ bỏ” thì không nên phục hồi. Sau khi đã phục hồi nên nói rằng: “Ngươi từ bỏ tà kiến ác ấy?” Nếu vị ấy từ bỏ thì việc ấy được tốt đẹp, nếu vị ấy không từ bỏ thì trong khi đạt được sự hợp nhất (của hội chúng) nên phạt án treo lại. Nếu không đạt được sự hợp nhất thì không phạm tội trong việc thọ hưởng chung, cư ngụ chung (với vị ấy).
Chương Trọng Yếu là thứ nhất.
Trong chương này có một trăm bảy hai sự việc.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Inda-bh 1~532Luật, về các ý nghĩa quan trọng, là nguồn đem đến sự an lạc cho các tỳ khưu hiền thiện có sự ngăn chặn các ước muốn về việc ác và có sự khiêm nhường trong những việc ra sức.
Và còn là sự nâng đỡ của Giáo Pháp, là hành xứ của các đấng Toàn Tri và các bậc Chiến Thắng, là lãnh vực không xa lạ, được an toàn, đã khéo được quy định, không có điều nghi hoặc.
Tương tợ như người làm điều lợi ích, (vị tỳ khưu) tốt thực hành một cách đúng đắn về Luật ở bộ Hợp Phần (Đại Phẩm và Tiểu Phẩm), luôn cả bộ Tập Yếu và các tiêu đề (bộ Đại Phân Tích).
Inda-bh 2~533Người không hiểu biết về loài bò không chăn giữ đàn bò được. Như vậy, trong khi không biết giới, làm sao vị ấy có thể gìn giữ sự thu thúc?
Inda-bh 3~534Cho đến khi Kinh và Vi Diệu Pháp bị quên lãng mà Luật chưa bị tiêu hoại thì Giáo Pháp vẫn còn tồn tại.
Inda-bh 4~535Vì điều đó, với việc kết tập là nguyên nhân, tôi sẽ tuần tự nói về phần tóm lược theo như sự hiểu biết, xin các vị hãy lắng nghe tôi nói.
Inda-bh 5~536Câu chuyện, phần duyên khởi, tội vi phạm, phương thức, và luôn cả phần trùng lặp. Để không giản lược thì việc ấy thật khó làm. Các vị hãy hiểu rõ điều ấy đúng theo phương pháp.”
Inda-bh 6~537Sự giác ngộ, và cội cây Rājayatana, cội cây người chăn dê, vị Sahampati, đấng Phạm Thiên, vị Aḷāra, và vị Uddaka, (năm) tỳ khưu, và ẩn sĩ Upaka.
Inda-bh 7~538Koṇḍañña, Bhaddiya, Vappa, Mahānāma, và Assaji, Yasa, bốn (người bạn), năm mươi (người bạn), Ngài đã phái đi tất cả, (việc xuất gia ở) các phương.
Inda-bh 8~539Câu chuyện với các Ma Vương, và ba mươi (vị vương tử), ba đạo sĩ bện tóc ở Uruvelā, nhà thờ lửa, vị đại vương Sakka, Phạm Thiên, và toàn thể (dân chúng).
Inda-bh 9~540Y paṁsukūla, hồ nước, tảng đá, và (cành cây) Kakudha, khối đá (phơi y), trái Jambu, trái xoài, trái Āmalakī, và Ngài đã mang lại bông hoa san hô.
Inda-bh 10~541Này Kassapa, hãy chẻ ra, hãy đốt lên, và hãy dập tắt đi. Các vị hụp (xuống nước), chảo lửa, đám mây đen, (đỉnh) Gayā, (khu rừng) Laṭṭhi, và vua xứ Magadha.
Inda-bh 11~542Rồi Upatissa và Kolita danh tiếng đã xuất gia. Các vị mặc y luộm thuộm, (cho phép) việc đuổi đi, và vị Bà-la-môn bị ốm o cằn cỗi.
Inda-bh 12~543Vị làm hành động sai trái, (vì) bao tử, chàng trai trẻ, hội chúng (là mười vị). (Bao nhiêu) năm, với các vị ngu dốt, trong khi (thầy) ra đi, mười năm, việc nương nhờ.
Inda-bh 13~544Các vị không thực hành, để đuổi đi, các vị ngu dốt, sự đình chỉ, năm, sáu (điều kiện), vị nào là ngoại đạo, lõa thể, tóc chưa cắt, đạo sĩ bện tóc, và dòng Sakya.
Inda-bh 14~545Ở xứ Magadha, năm thứ bệnh, một (trường hợp), (lính của) đức vua, và (kẻ cướp đeo) ngón tay, và vua Magadha đã cho phép, kẻ (phá) ngục, án ghi, bị phạt roi.
Inda-bh 15~546Các dấu hiệu, kẻ nợ và nô tỳ, kẻ sói đầu, (thiếu niên) Upāli, bệnh dịch, gia đình có đức tin, sa di Kaṇṭaka, và luôn cả chuyện bị tắt nghẽn (hướng đi).
Inda-bh 16~547Về việc nương nhờ, đứa trẻ trai, các điều học, chúng sống, và điều gì nữa? (việc ngăn cấm) toàn bộ, miệng, các thầy tế độ, việc dụ dỗ, chuyện Kaṇṭaka.
Inda-bh 17~548Kẻ vô căn, trộm (tướng mạo), chuyển sang (ngoai đạo), con rồng, và (kẻ giết) mẹ, cha, A-la-hán, (làm nhơ) tỳ khưu ni, chia rẽ, (làm chảy) máu, và kẻ lưỡng căn.
Inda-bh 18~549Thầy tế độ không có, với hội chúng, hoặc nhóm, kẻ vô căn, không bình bát, không y, hoặc cả hai, với đồ mượn là ba.
Inda-bh 19~550Các người (bị đứt) bàn tay, bàn chân, bàn tay và bàn chân, lỗ tai và lỗ mũi, hoặc cả hai điều ấy, các ngón, móng tay, và gân chân, tay có màng, gù lưng, và người lùn.
Inda-bh 20~551Người bị bướu cổ, và luôn cả người bị đóng dấu, bị phạt roi, bị tầm nã, phù chân voi, bệnh nặng, kẻ bôi nhọ hội chúng, người chột mắt và bị bệnh co rút, là tương tợ như thế.
Inda-bh 21~552Người què, và luôn cả người bị liệt nửa thân, người có tướng đi khập khiễng, người già yếu, người mù, người câm, người điếc, người mù và câm là ở nơi ấy.
Inda-bh 22~553Người mù và điếc đã được nói đến, và luôn cả người bị câm và điếc, người bị mù câm điếc, và việc nương nhờ của những kẻ không liêm sỉ.
Inda-bh 23~554Có thể sống, và đi đường xa là tương tợ, với vị yêu cầu, những người mong muốn, hãy đi đến, chúng tranh cãi, với cùng thầy tế độ, vị Kumārakassapa.
Inda-bh 24~555Và được thấy những vị đã tu lên bậc trên bị khổ sở vì các thứ bệnh, chưa được chỉ dạy, các vị bị bối rối, việc chỉ dạy ở ngay chính nơi ấy.
Inda-bh 25~556Rồi ở nơi hội chúng, kẻ ngu, chưa được chỉ định, cùng một lúc, xin hãy tế độ, sự tu lên bậc trên, vật nương nhờ, mỗi một mình, ba (trường hợp).
Dứt phần tóm lược của chương Trọng Yếu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.
Homage to the Buddha, the Perfected One, the fully Awakened One
Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Tena samayena buddho bhagavā uruvelāyaṁ viharati najjā nerañjarāya tīre bodhirukkhamūle paṭhamābhisambuddho. Atha kho bhagavā bodhirukkhamūle sattāhaṁ ekapallaṅkena nisīdi vimuttisukhapaṭisaṁvedī. Atha kho bhagavā rattiyā paṭhamaṁ yāmaṁ paṭiccasamuppādaṁ anulomapaṭilomaṁ manasākāsi—
“Avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ, nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ, saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṁ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho, saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho, viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho, nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho, saḷāyatananirodhā phassanirodho, phassanirodhā vedanānirodho, vedanānirodhā taṇhānirodho, taṇhānirodhā upādānanirodho, upādānanirodhā bhavanirodho, bhavanirodhā jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī”ti.
Soon after his awakening, the Buddha was staying at Uruvelā on the bank of the river Nerañjara at the foot of a Bodhi tree. There the Buddha sat cross-legged for seven days without moving, experiencing the bliss of freedom. Then, in the first part of the night, the Buddha reflected on dependent origination in forward and reverse order:
“Ignorance is the condition for intentional activities; intentional activities are the condition for consciousness; consciousness is the condition for name and form; name and form are the condition for the six sense spheres; the six sense spheres are the condition for contact; contact is the condition for feeling; feeling is the condition for craving; craving is the condition for grasping; grasping is the condition for existence; existence is the condition for birth; birth is the condition for old age and death, for grief, sorrow, pain, aversion, and distress to come to be. This is how there is the origin of this whole mass of suffering.
But with the complete fading away and end of ignorance comes the end of intentional activities; with the end of intentional activities comes the end of consciousness; with the end of consciousness comes the end of name and form; with the end of name and form comes the end of the six sense spheres; with the end of the six sense spheres comes the end of contact; with the end of contact comes the end of feeling; with the end of feeling comes the end of craving; with the end of craving comes the end of grasping; with the end of grasping comes the end of existence; with the end of existence comes the end of birth; with the end of birth comes the end of old age and death, and the end of sorrow, lamentation, pain, aversion, and distress. This is how there is the end of this whole mass of suffering.”
1. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn, sau khi chứng ngộ đầu tiên, đang ngự tại Uruvelā, bên bờ sông Nerañjarā, dưới cội cây Bồ-đề. Bấy giờ, đức Thế Tôn ngồi kiết-già trong bảy ngày dưới cội cây Bồ-đề, cảm nhận niềm an lạc của sự giải thoát. Bấy giờ, trong canh đầu của đêm, đức Thế Tôn đã tác ý về Thập Nhị Nhân Duyên theo chiều thuận và chiều nghịch: ‘Do vô minh làm duyên, các hành sanh khởi; do các hành làm duyên, thức sanh khởi; do thức làm duyên, danh sắc sanh khởi; do danh sắc làm duyên, sáu xứ sanh khởi; do sáu xứ làm duyên, xúc sanh khởi; do xúc làm duyên, thọ sanh khởi; do thọ làm duyên, ái sanh khởi; do ái làm duyên, thủ sanh khởi; do thủ làm duyên, hữu sanh khởi; do hữu làm duyên, sanh sanh khởi; do sanh làm duyên, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này. Do sự đoạn diệt và ly tham hoàn toàn chính vô minh ấy nên các hành diệt; do các hành diệt nên thức diệt; do thức diệt nên danh sắc diệt; do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt; do sáu xứ diệt nên xúc diệt; do xúc diệt nên thọ diệt; do thọ diệt nên ái diệt; do ái diệt nên thủ diệt; do thủ diệt nên hữu diệt; do hữu diệt nên sanh diệt; do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này.’”
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi—
Seeing the significance of this, the Buddha uttered a heartfelt exclamation:
Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Yadā have pātubhavanti dhammā, Ātāpino jhāyato brāhmaṇassa; Athassa kaṅkhā vapayanti sabbā, Yato pajānāti sahetudhamman”ti.
“When things become clear To the energetic brahmin who practices absorption, Then all his doubts are dispelled, Since he understands the natural order and its conditions.”
“Khi các pháp hiện khởi, đến vị Bà-la-môn nhiệt tâm, thiền định; bấy giờ mọi hoài nghi của vị ấy đều tan biến, vì vị ấy biết rõ pháp cùng với nhân của nó.”
Atha kho bhagavā rattiyā majjhimaṁ yāmaṁ paṭiccasamuppādaṁ anulomapaṭilomaṁ manasākāsi—
“avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti …pe… nirodho hotī”ti.
In the middle part of the night, the Buddha again reflected on dependent origination in forward and reverse order:
“Ignorance is the condition for intentional activities; intentional activities are the condition for consciousness; consciousness is the condition for name and form … This is how there is the origin of this whole mass of suffering. … This is how there is the end of this whole mass of suffering.”
2. Bấy giờ, trong canh giữa của đêm, đức Thế Tôn đã tác ý về Thập Nhị Nhân Duyên theo chiều thuận và chiều nghịch: ‘Do vô minh làm duyên, các hành sanh khởi; do các hành làm duyên, thức sanh khởi; do thức làm duyên, danh sắc sanh khởi…v.v… Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này…v.v… là sự đoạn diệt.’”
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi—
Seeing the significance of this, the Buddha uttered a heartfelt exclamation:
Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Yadā have pātubhavanti dhammā, Ātāpino jhāyato brāhmaṇassa; Athassa kaṅkhā vapayanti sabbā, Yato khayaṁ paccayānaṁ avedī”ti.
“When things become clear To the energetic brahmin who practices absorption, Then all his doubts are dispelled, Since he’s understood the end of the conditions.”
“Khi các pháp hiện khởi, đến vị Bà-la-môn nhiệt tâm, thiền định; bấy giờ mọi hoài nghi của vị ấy đều tan biến, vì vị ấy đã biết sự đoạn diệt của các duyên.”
Atha kho bhagavā rattiyā pacchimaṁ yāmaṁ paṭiccasamuppādaṁ anulomapaṭilomaṁ manasākāsi—
“avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti …pe… nirodho hotī”ti.
In the last part of the night, the Buddha again reflected on dependent origination in forward and reverse order:
“Ignorance is the condition for intentional activities; intentional activities are the condition for consciousness; consciousness is the condition for name and form … This is how there is the origin of this whole mass of suffering. … This is how there is the end of this whole mass of suffering.”
3. Bấy giờ, trong canh cuối của đêm, đức Thế Tôn đã tác ý về Thập Nhị Nhân Duyên theo chiều thuận và chiều nghịch: ‘Do vô minh làm duyên, các hành sanh khởi; do các hành làm duyên, thức sanh khởi; do thức làm duyên, danh sắc sanh khởi…v.v… Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này…v.v… là sự đoạn diệt.’”
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi—
Seeing the significance of this, the Buddha uttered a heartfelt exclamation:
Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Yadā have pātubhavanti dhammā, Ātāpino jhāyato brāhmaṇassa; Vidhūpayaṁ tiṭṭhati mārasenaṁ, Sūriyova obhāsayamantalikkhan”ti.
“When things become clear To the energetic brahmin who practices absorption, He defeats the army of the Lord of Death, Like the sun beaming in the sky.”
“Khi các pháp hiện khởi, đến vị Bà-la-môn nhiệt tâm, thiền định; vị ấy đứng vững, phá tan quân ma, như mặt trời chiếu sáng không gian.”
Bodhikathā niṭṭhitā.
The account with the Bodhi tree is finished.
Câu chuyện về sự Giác Ngộ chấm dứt.
2. Câu Chuyện về cây Bàng Ajapāla
Atha kho bhagavā sattāhassa accayena tamhā samādhimhā vuṭṭhahitvā bodhirukkhamūlā yena ajapālanigrodho tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā ajapālanigrodhamūle sattāhaṁ ekapallaṅkena nisīdi vimuttisukhapaṭisaṁvedī.
Atha kho aññataro huṁhuṅkajātiko brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami. Upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho so brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca—“kittāvatā nu kho, bho gotama, brāhmaṇo hoti, katame ca pana brāhmaṇakaraṇā dhammā”ti?
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi—
After seven days, the Buddha came out from that stillness and went from the Bodhi tree to a goatherd’s banyan tree. There too he sat cross-legged for seven days without moving, experiencing the bliss of freedom.
Then a brahmin devoted to mystical mantras went up to the Buddha, exchanged pleasantries with him, and said, “Good Gotama, how is one a brahmin? What are the qualities that make one a brahmin?”
Seeing the significance of this, the Buddha uttered a heartfelt exclamation:
4. Bấy giờ, sau bảy ngày, đức Thế Tôn xuất khỏi định ấy, từ cội cây Bồ-đề đi đến cây bàng Ajapāla. Sau khi đến, Ngài ngồi kiết-già trong bảy ngày dưới cội cây bàng Ajapāla, cảm nhận niềm an lạc của sự giải thoát. Bấy giờ, có một vị Bà-la-môn thuộc dòng dõi kiêu mạn đi đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy cùng đức Thế Tôn nói lên những lời chào hỏi thân hữu. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu đáng ghi nhớ, vị ấy đứng một bên. Đứng một bên, vị Bà-la-môn ấy bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Thưa Tôn giả Gotama, do nhân duyên gì một người được gọi là Bà-la-môn, và những pháp nào làm nên một vị Bà-la-môn?’ Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Yo brāhmaṇo bāhitapāpadhammo, Nihuṁhuṅko nikkasāvo yatatto; Vedantagū vusitabrahmacariyo, Dhammena so brahmavādaṁ vadeyya; Yassussadā natthi kuhiñci loke”ti.
“The brahmin who has shut out bad qualities, Who does not murmur mystical mantras, but is free from flaws and self-controlled, Who has reached final knowledge and has fulfilled the spiritual life—He may rightly proclaim the highest doctrine, Having no pride about anything in the world.”
“Vị Bà-la-môn nào đã loại trừ các ác pháp, không kiêu mạn, không cấu uế, tự chế, đã đạt đến tận cùng của các minh, đã hoàn thành phạm hạnh, vị ấy có thể nói lời ‘Bà-la-môn’ một cách đúng pháp. Đối với vị ấy, không có sự kiêu ngạo ở bất cứ đâu trên thế gian.”
Ajapālakathā niṭṭhitā.
The account with the goatherd’s banyan tree is finished.
Câu chuyện về cây Bàng Ajapāla chấm dứt.
3. Câu Chuyện về cây Mucalinda
Atha kho bhagavā sattāhassa accayena tamhā samādhimhā vuṭṭhahitvā ajapālanigrodhamūlā yena mucalindo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā mucalindamūle sattāhaṁ ekapallaṅkena nisīdi vimuttisukhapaṭisaṁvedī.
Tena kho pana samayena mahā akālamegho udapādi, sattāhavaddalikā sītavātaduddinī. Atha kho mucalindo nāgarājā sakabhavanā nikkhamitvā bhagavato kāyaṁ sattakkhattuṁ bhogehi parikkhipitvā uparimuddhani mahantaṁ phaṇaṁ karitvā aṭṭhāsi—“mā bhagavantaṁ sītaṁ, mā bhagavantaṁ uṇhaṁ, mā bhagavantaṁ ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphasso”ti.
Atha kho mucalindo nāgarājā sattāhassa accayena viddhaṁ vigatavalāhakaṁ devaṁ viditvā bhagavato kāyā bhoge viniveṭhetvā sakavaṇṇaṁ paṭisaṁharitvā māṇavakavaṇṇaṁ abhinimminitvā bhagavato purato aṭṭhāsi pañjaliko bhagavantaṁ namassamāno.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi—
After seven days, the Buddha came out from that stillness and went from the goatherd’s banyan tree to a powderpuff tree. There too he sat cross-legged for seven days without moving, experiencing the bliss of freedom.
Just then an unseasonal storm was approaching, bringing seven days of rain, cold winds, and clouds. Mucalinda, the dragon king, came out from his abode. He encircled the body of the Buddha with seven coils and spread his large hood over his head, thinking, “May the Buddha not be hot or cold, nor be bothered by horseflies or mosquitoes, by the wind or the burning sun, or by creeping animals or insects.”
After seven days, when he knew the sky was clear, Mucalinda unraveled his coils from the Buddha’s body and transformed himself into a young brahmin. He then stood in front of the Buddha, raising his joined palms in veneration.
Seeing the significance of this, the Buddha uttered a heartfelt exclamation:
5. Bấy giờ, sau bảy ngày, đức Thế Tôn xuất khỏi định ấy, từ cội cây bàng Ajapāla đi đến cây Mucalinda. Sau khi đến, Ngài ngồi kiết-già trong bảy ngày dưới cội cây Mucalinda, cảm nhận niềm an lạc của sự giải thoát. Vào lúc bấy giờ, một đám mây lớn trái mùa nổi lên, mưa rơi suốt bảy ngày, thời tiết lạnh lẽo, u ám. Bấy giờ, Mucalinda, vua loài rồng, từ trú xứ của mình đi ra, dùng thân mình quấn quanh thân đức Thế Tôn bảy vòng, và che trên đầu Ngài bằng chiếc mào lớn của mình, với ý nghĩ: ‘Mong rằng đức Thế Tôn không bị lạnh, mong rằng đức Thế Tôn không bị nóng, mong rằng đức Thế Tôn không bị xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát.’ Bấy giờ, sau bảy ngày, Mucalinda, vua loài rồng, thấy trời quang mây tạnh, liền tháo các vòng quấn ra khỏi thân đức Thế Tôn, thu lại hình dạng của mình và hóa hiện thành hình một thanh niên, đứng chắp tay đảnh lễ đức Thế Tôn ở phía trước. Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Sukho viveko tuṭṭhassa, sutadhammassa passato; Abyāpajjaṁ sukhaṁ loke, pāṇabhūtesu saṁyamo.
“Seclusion is bliss for the contented Who sees the Teaching that they have learned. Kindness to the world is happiness, For one who’s harmless to living beings.
“Sự viễn ly là an lạc đối với bậc đã hoan hỷ, đã nghe Pháp, đã thấy rõ; ở đời, không sân hận là an lạc, thu thúc đối với các loài hữu tình là an lạc.”
Sukhā virāgatā loke, kāmānaṁ samatikkamo; Asmimānassa yo vinayo, etaṁ ve paramaṁ sukhan”ti.
Dispassion for the world is happiness, For one who overcomes worldly pleasures. But removing the conceit ‘I am’, This, indeed, is the highest bliss.”
“Ở đời, sự ly tham, vượt thoát các dục là an lạc. Sự nhiếp phục ngã mạn, đó quả là an lạc tối thượng.”
Mucalindakathā niṭṭhitā.
The account with the powderpuff tree is finished.
Phần chuyện về Mucalinda đã chấm dứt.
4. Phần chuyện về cây Rājāyatana
Atha kho bhagavā sattāhassa accayena tamhā samādhimhā vuṭṭhahitvā mucalindamūlā yena rājāyatanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā rājāyatanamūle sattāhaṁ ekapallaṅkena nisīdi vimuttisukhapaṭisaṁvedī.
Tena kho pana samayena tapussa bhallikā vāṇijā ukkalā taṁ desaṁ addhānamaggappaṭipannā honti. Atha kho tapussabhallikānaṁ vāṇijānaṁ ñātisālohitā devatā tapussabhallike vāṇije etadavoca—“ayaṁ, mārisā, bhagavā rājāyatanamūle viharati paṭhamābhisambuddho; gacchatha taṁ bhagavantaṁ manthena ca madhupiṇḍikāya ca patimānetha; taṁ vo bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
Atha kho tapussabhallikā vāṇijā manthañca madhupiṇḍikañca ādāya yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho tapussabhallikā vāṇijā bhagavantaṁ etadavocuṁ—“paṭiggaṇhātu no, bhante, bhagavā manthañca madhupiṇḍikañca, yaṁ amhākaṁ assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
Atha kho bhagavato etadahosi—“na kho tathāgatā hatthesu paṭiggaṇhanti. Kimhi nu kho ahaṁ paṭiggaṇheyyaṁ manthañca madhupiṇḍikañcā”ti?
Atha kho cattāro mahārājāno bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya catuddisā cattāro selamaye patte bhagavato upanāmesuṁ—“idha, bhante, bhagavā paṭiggaṇhātu manthañca madhupiṇḍikañcā”ti. Paṭiggahesi bhagavā paccagghe selamaye patte manthañca madhupiṇḍikañca, paṭiggahetvā paribhuñji.
Atha kho tapussabhallikā vāṇijā bhagavantaṁ onītapattapāṇiṁ viditvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavocuṁ—“ete mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca, upāsake no bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupete saraṇaṁ gate”ti. Te ca loke paṭhamaṁ upāsakā ahesuṁ dvevācikā.
After seven days, the Buddha came out from that stillness and went from the powderpuff tree to an ape-flower tree. There too he sat cross-legged for seven days without moving, experiencing the bliss of freedom.
Just then the merchants Tapussa and Bhallika were traveling from Ukkalā to that area. Then a god who was a former relative of theirs said to them, “Sirs, a Buddha who has just attained awakening is staying at the foot of an ape-flower tree. Go to that Buddha and offer him crackers and honey. That will be for your benefit and happiness for a long time.”
And they took crackers and honey and went to the Buddha. They bowed down and said, “Sir, please accept the crackers and honey from us. That will be for our benefit and happiness for a long time.”
The Buddha thought, “Buddhas don’t receive with their hands. In what should I receive the crackers and honey?”
Then, reading the mind of the Buddha, the four great kings offered him four crystal bowls from the four directions, saying, “Here, sir, please receive the crackers and honey in these.” After receiving the crackers and honey in one of the valuable crystal bowls, the Buddha ate them.
When Tapussa and Bhallika knew that the Buddha had finished his meal, they bowed down with their heads at his feet, and said, “Sir, we go for refuge to the Buddha and the Teaching. Please accept us as lay followers who have gone for refuge for life.” By means of the double refuge, they became the first lay followers in the world.
6. Bấy giờ, sau bảy ngày, Thế Tôn xuất khỏi định ấy, từ gốc cây Mucalinda đi đến cây Rājāyatana. Sau khi đến, Ngài ngồi kiết-già trong bảy ngày dưới gốc cây Rājāyatana, hưởng thọ lạc giải thoát. Vào lúc bấy giờ, hai thương gia tên là Tapussa và Bhallika từ xứ Ukkalā đang đi trên con đường dài đến vùng ấy. Bấy giờ, một vị thiên, là quyến thuộc huyết thống của hai thương gia Tapussa và Bhallika, nói với hai thương gia Tapussa và Bhallika điều này: ‘Này các hiền hữu, vị Thế Tôn này, bậc mới chứng ngộ Chánh Đẳng Giác, đang trú tại gốc cây Rājāyatana. Hãy đi và cúng dường vị Thế Tôn ấy bánh bột rang và bánh mật. Điều đó sẽ mang lại lợi ích và an lạc cho quý vị trong một thời gian dài.’ Bấy giờ, hai thương gia Tapussa và Bhallika, lấy bánh bột rang và bánh mật, đi đến chỗ Thế Tôn. Sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, hai thương gia Tapussa và Bhallika bạch với Thế Tôn điều này: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy nhận lấy bánh bột rang và bánh mật của chúng con, để điều đó sẽ mang lại lợi ích và an lạc cho chúng con trong một thời gian dài.’ Bấy giờ, Thế Tôn khởi lên ý nghĩ này: ‘Các đấng Như Lai không nhận vật thực bằng tay. Vậy Ta nên nhận bánh bột rang và bánh mật bằng vật gì đây?’ Bấy giờ, bốn vị Đại Vương, biết được ý nghĩ trong tâm của Thế Tôn bằng tâm của mình, từ bốn phương dâng lên Thế Tôn bốn cái bát bằng đá và thưa rằng: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy nhận bánh bột rang và bánh mật bằng những cái bát này.’ Thế Tôn đã nhận bánh bột rang và bánh mật bằng những cái bát bằng đá mới tinh, và sau khi nhận, Ngài đã thọ dụng. Bấy giờ, hai thương gia Tapussa và Bhallika, khi biết Thế Tôn đã thọ dụng xong và tay đã rời khỏi bát, liền cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn và bạch với Thế Tôn điều này: ‘Bạch Thế Tôn, chúng con xin quy y Thế Tôn và quy y Pháp. Xin Thế Tôn hãy ghi nhận chúng con là những người cận sự nam đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.’ Và họ đã trở thành những người cận sự nam đầu tiên trên thế gian quy y bằng hai lời.
Rājāyatanakathā niṭṭhitā.
The account with the ape-flower tree is finished.
Phần chuyện về cây Rājāyatana đã chấm dứt.
5. Phần chuyện Phạm thiên thỉnh cầu
Atha kho bhagavā sattāhassa accayena tamhā samādhimhā vuṭṭhahitvā rājāyatanamūlā yena ajapālanigrodho tenupasaṅkami. Tatra sudaṁ bhagavā ajapālanigrodhamūle viharati. Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—
“adhigato kho myāyaṁ dhammo gambhīro duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo. Ālayarāmā kho panāyaṁ pajā ālayaratā ālayasammuditā. Ālayarāmāya kho pana pajāya ālayaratāya ālayasammuditāya duddasaṁ idaṁ ṭhānaṁ yadidaṁ idappaccayatāpaṭiccasamuppādo; idampi kho ṭhānaṁ sududdasaṁ yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṁ. Ahañceva kho pana dhammaṁ deseyyaṁ, pare ca me na ājāneyyuṁ, so mamassa kilamatho, sā mamassa vihesā”ti.
Apissu bhagavantaṁ imā anacchariyā gāthāyo paṭibhaṁsu pubbe assutapubbā—
After seven days, the Buddha came out from that stillness and went from the ape-flower tree to a goatherd’s banyan tree, and he stayed there. Then, while reflecting in private, the Buddha thought this:
“I have discovered this profound truth, so hard to see, so hard to comprehend. It’s peaceful and sublime, subtle, beyond the intellect, and knowable only to the wise. But human beings delight in holding on, find pleasure in holding on, rejoice in holding on, and because of that it’s hard for them to see causal relationships, dependent origination. This too is very hard for them to see: the stilling of all intentional activities, the giving up of all ownership, the stopping of craving, fading away, ending, extinguishment. If I were to teach this truth, others would not understand, and that would be wearying and troublesome for me.”
And spontaneously, these verses never heard before occurred to the Buddha:
7. Bấy giờ, sau bảy ngày, Thế Tôn xuất khỏi định ấy, từ gốc cây Rājāyatana đi đến cây đa Ajapāla. Tại đó, Thế Tôn trú dưới gốc cây đa Ajapāla. Bấy giờ, khi Thế Tôn đang ở nơi thanh vắng, độc cư, một ý nghĩ như vầy đã khởi lên trong tâm Ngài: ‘Pháp này do Ta chứng ngộ quả thật sâu xa, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, cao siêu, vượt ngoài tầm tư duy, vi tế, chỉ bậc trí mới có thể thấu hiểu. Còn chúng sanh này lại ưa thích ái luyến, vui thích trong ái luyến, hoan hỷ trong ái luyến. Đối với chúng sanh ưa thích ái luyến, vui thích trong ái luyến, hoan hỷ trong ái luyến, thật khó thấy được trạng thái này, tức là Lý Duyên Khởi. Trạng thái này cũng thật khó thấy, tức là sự tịch tịnh của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu Ta thuyết Pháp mà những người khác không hiểu được Pháp của Ta, điều đó sẽ là sự mệt nhọc cho Ta, điều đó sẽ là sự phiền não cho Ta.’ Hơn nữa, những vần kệ kỳ diệu, chưa từng được nghe trước đây, đã hiện khởi đến Thế Tôn:
“Kicchena me adhigataṁ, halaṁ dāni pakāsituṁ; Rāgadosaparetehi, nāyaṁ dhammo susambudho.
“What I’ve discovered with difficulty, There’s no point in making it known. For those overcome by sensual desire and ill will, This truth is hard to understand.
“Pháp Ta khó khăn chứng ngộ, nay không nên tuyên thuyết. Bị tham sân chi phối, Pháp này không dễ liễu tri.”
Paṭisotagāmiṁ nipuṇaṁ, gambhīraṁ duddasaṁ aṇuṁ; Rāgarattā na dakkhanti, tamokhandhena āvuṭā”ti.
Those who are excited by sensual desire, Obstructed by a mass of darkness, Won’t see what goes against the stream, What’s subtle and refined, profound and hard to see.”
“Pháp ngược dòng, vi tế, sâu xa, khó thấy, rất tinh vi; kẻ nhiễm ái, bị u minh che lấp, sẽ không thể thấy được.”
Itiha bhagavato paṭisañcikkhato appossukkatāya cittaṁ namati, no dhammadesanāya.
Atha kho brahmuno sahampatissa bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya etadahosi—“nassati vata bho loko, vinassati vata bho loko, yatra hi nāma tathāgatassa arahato sammāsambuddhassa appossukkatāya cittaṁ namati, no dhammadesanāyā”ti.
When the Buddha reflected like this, he inclined to inactivity, not to teaching.
Just then the supreme being Sahampati read the mind of the Buddha. He thought, “The world is lost; it’s perished!—for the Buddha, perfected and fully awakened, inclines to inaction, not to teaching.”
Này Phạm thiên, khi Ta suy xét như vậy, tâm Ta hướng về sự không nhiệt tâm, không hướng về việc thuyết Pháp.
Atha kho brahmā sahampati—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—brahmaloke antarahito bhagavato purato pāturahosi. Atha kho brahmā sahampati ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā dakkhiṇajāṇumaṇḍalaṁ pathaviyaṁ nihantvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca—“desetu, bhante, bhagavā dhammaṁ, desetu sugato dhammaṁ. Santi sattā apparajakkhajātikā, assavanatā dhammassa parihāyanti, bhavissanti dhammassa aññātāro”ti.
Idamavoca brahmā sahampati, idaṁ vatvāna athāparaṁ etadavoca—
Then, just as a strong man might bend or stretch his arm, Sahampati disappeared from the world of supreme beings and appeared in front of the Buddha. He arranged his upper robe over one shoulder, placed his right knee on the ground, raised his joined palms, and said, “Please teach, sir, please teach! There are beings with little dust in their eyes who are ruined because of not hearing the Teaching. There will be those who understand.”
This is what Sahampati said, and he added:
Lần thứ hai, Phạm thiên Sahampati lại bạch với đức Thế Tôn điều này: 'Kính bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy thuyết Pháp, xin đức Thiện Thệ hãy thuyết Pháp. Có những chúng sanh thuộc loại ít bụi trong mắt, vì không được nghe Pháp nên bị suy thoái. Sẽ có những người hiểu được Pháp.' Phạm thiên Sahampati đã nói điều này, sau khi nói điều này, lại nói thêm điều này nữa:
“Pāturahosi magadhesu pubbe, Dhammo asuddho samalehi cintito; Apāpuretaṁ amatassa dvāraṁ, Suṇantu dhammaṁ vimalenānubuddhaṁ.
“Earlier, among the Magadhans, An impure teaching appeared, conceived by defiled people. Open this door to the freedom from death! Let them hear the Teaching, discovered by the Pure One.
Trước đây tại xứ Ma-kiệt-đà, đã xuất hiện pháp không thanh tịnh, do những người còn ô uế suy tư. Xin hãy mở cánh cửa bất tử này. Mong chúng sanh hãy lắng nghe Pháp đã được bậc Vô cấu giác ngộ.
Sele yathā pabbatamuddhaniṭṭhito, Yathāpi passe janataṁ samantato; Tathūpamaṁ dhammamayaṁ sumedha, Pāsādamāruyha samantacakkhu; Sokāvatiṇṇaṁ janatamapetasoko, Avekkhassu jātijarābhibhūtaṁ.
Just as one standing on a rocky mountain top Would see the people all around, Just so, All-seeing Wise One, Ascend the temple of the Truth. Being rid of sorrow, look upon the people, Sunk in grief, overcome by birth and old age.
Ví như người đứng trên đỉnh núi đá, có thể nhìn thấy chúng sanh khắp nơi. Cũng vậy, hỡi bậc Thiện Tuệ, bậc Toàn Nhãn, Ngài đã leo lên lầu đài Chánh pháp, xin Ngài, bậc đã thoát ly sầu muộn, hãy nhìn xuống chúng sanh đang chìm trong sầu muộn, bị sanh và già chinh phục.
Uṭṭhehi vīra vijitasaṅgāma, Satthavāha aṇaṇa vicara loke; Desassu bhagavā dhammaṁ, Aññātāro bhavissantī”ti.
Stand up, Victorious Hero! Leader of travelers, wander the world without obligation. Sir, proclaim the Teaching; There will be those who understand.”
Xin Ngài hãy đứng dậy, hỡi bậc Dũng mãnh, bậc đã chiến thắng! Hỡi bậc Thương chủ, bậc Vô nợ, xin hãy đi khắp thế gian. Kính bạch đức Thế Tôn, xin hãy thuyết Pháp, sẽ có những người hiểu được.
Evaṁ vutte, bhagavā brahmānaṁ sahampatiṁ etadavoca—“mayhampi kho, brahme, etadahosi—‘adhigato kho myāyaṁ dhammo gambhīro duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo. Ālayarāmā kho panāyaṁ pajā ālayaratā ālayasammuditā. Ālayarāmāya kho pana pajāya ālayaratāya ālayasammuditāya duddasaṁ idaṁ ṭhānaṁ yadidaṁ idappaccayatāpaṭiccasamuppādo; idampi kho ṭhānaṁ sududdasaṁ yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṁ. Ahañceva kho pana dhammaṁ deseyyaṁ, pare ca me na ājāneyyuṁ, so mamassa kilamatho, sā mamassa vihesā’ti. Apissu maṁ, brahme, imā anacchariyā gāthāyo paṭibhaṁsu pubbe assutapubbā—
Twice the Buddha repeated to Sahampati what he had thought, and on both occasions Sahampati repeated his request.
Lần thứ hai, đức Thế Tôn lại nói với Phạm thiên Sahampati điều này: 'Này Phạm thiên, Ta cũng đã khởi lên ý nghĩ này: 'Pháp này do Ta chứng ngộ thật là sâu kín, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, cao siêu, vượt ngoài tầm tư duy, vi diệu, chỉ bậc trí mới có thể thấu hiểu. Nhưng chúng sanh này lại ưa thích ái luyến, vui thích ái luyến, hoan hỷ trong ái luyến. Đối với chúng sanh ưa thích ái luyến, vui thích ái luyến, hoan hỷ trong ái luyến, thật khó thấy được trạng thái này, tức là Y Tánh Duyên Khởi Pháp. Trạng thái này cũng thật khó thấy, tức là sự tịch tịnh của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu Ta thuyết Pháp mà những người khác không hiểu được Pháp của Ta, điều đó sẽ là sự mệt nhọc cho Ta, điều đó sẽ là sự phiền não cho Ta.' Hơn nữa, này Phạm thiên, những câu kệ kỳ diệu, chưa từng được nghe trước đây, đã hiện khởi trong Ta:
‘Kicchena me adhigataṁ, halaṁ dāni pakāsituṁ; Rāgadosaparetehi, nāyaṁ dhammo susambudho.
Pháp mà Ta đã chứng ngộ với sự khó khăn, nay không nên tuyên thuyết. Pháp này không dễ hiểu đối với những kẻ bị tham và sân chi phối.
Paṭisotagāmiṁ nipuṇaṁ, gambhīraṁ duddasaṁ aṇuṁ; Rāgarattā na dakkhanti, tamokhandhena āvuṭā’ti.
Những kẻ bị tham ái nhuộm, bị khối u minh che lấp, sẽ không thấy được Pháp đi ngược dòng, vi diệu, sâu kín, khó thấy, tế nhị.
Itiha me, brahme, paṭisañcikkhato appossukkatāya cittaṁ namati no dhammadesanāyā”ti.
Dutiyampi kho brahmā sahampati bhagavantaṁ etadavoca—
“desetu, bhante, bhagavā dhammaṁ, desetu sugato dhammaṁ; santi sattā apparajakkhajātikā, assavanatā dhammassa parihāyanti, bhavissanti dhammassa aññātāro”ti. Idamavoca brahmā sahampati, idaṁ vatvāna athāparaṁ etadavoca—
“Pāturahosi magadhesu pubbe, Dhammo asuddho samalehi cintito; Apāpuretaṁ amatassa dvāraṁ, Suṇantu dhammaṁ vimalenānubuddhaṁ.
Sele yathā pabbatamuddhaniṭṭhito, Yathāpi passe janataṁ samantato; Tathūpamaṁ dhammamayaṁ sumedha, Pāsādamāruyha samantacakkhu; Sokāvatiṇṇaṁ janatamapetasoko, Avekkhassu jātijarābhibhūtaṁ.
Uṭṭhehi vīra vijitasaṅgāma, Satthavāha aṇaṇa vicara loke; Desassu bhagavā dhammaṁ, Aññātāro bhavissantī”ti.
Dutiyampi kho bhagavā brahmānaṁ sahampatiṁ etadavoca—“mayhampi kho, brahme, etadahosi—‘adhigato kho myāyaṁ dhammo gambhīro duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo. Ālayarāmā kho panāyaṁ pajā ālayaratā ālayasammuditā. Ālayarāmāya kho pana pajāya ālayaratāya ālayasammuditāya duddasaṁ idaṁ ṭhānaṁ yadidaṁ idappaccayatāpaṭiccasamuppādo; idampi kho ṭhānaṁ sududdasaṁ yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṁ. Ahañceva kho pana dhammaṁ deseyyaṁ, pare ca me na ājāneyyuṁ, so mamassa kilamatho, sā mamassa vihesā’ti.
Này Phạm thiên, khi Ta suy xét như vậy, tâm Ta hướng về sự không nhiệt tâm, không hướng về việc thuyết Pháp.
Khi được thỉnh cầu như vậy, đức Thế Tôn đã nói với Phạm thiên Sahampati điều này: 'Này Phạm thiên, Ta cũng đã khởi lên ý nghĩ này: 'Pháp này do Ta chứng ngộ thật là sâu kín, khó thấy, khó hiểu, tịch tịnh, cao siêu, vượt ngoài tầm tư duy, vi diệu, chỉ bậc trí mới có thể thấu hiểu. Nhưng chúng sanh này lại ưa thích ái luyến, vui thích ái luyến, hoan hỷ trong ái luyến. Đối với chúng sanh ưa thích ái luyến, vui thích ái luyến, hoan hỷ trong ái luyến, thật khó thấy được trạng thái này, tức là Y Tánh Duyên Khởi Pháp. Trạng thái này cũng thật khó thấy, tức là sự tịch tịnh của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu Ta thuyết Pháp mà những người khác không hiểu được Pháp của Ta, điều đó sẽ là sự mệt nhọc cho Ta, điều đó sẽ là sự phiền não cho Ta.' Hơn nữa, này Phạm thiên, những câu kệ kỳ diệu, chưa từng được nghe trước đây, đã hiện khởi trong Ta:
‘Kicchena me adhigataṁ, halaṁ dāni pakāsituṁ; Rāgadosaparetehi, nāyaṁ dhammo susambudho.
Pháp mà Ta đã chứng ngộ với sự khó khăn, nay không nên tuyên thuyết. Pháp này không dễ hiểu đối với những kẻ bị tham và sân chi phối.
Paṭisotagāmiṁ nipuṇaṁ, gambhīraṁ duddasaṁ aṇuṁ; Rāgarattā na dakkhanti, tamokhandhena āvuṭā’ti.
Itiha me, brahme, paṭisañcikkhato appossukkatāya cittaṁ namati, no dhammadesanāyā”ti.
Những kẻ bị tham ái nhuộm, bị khối u minh che lấp, sẽ không thấy được Pháp đi ngược dòng, vi diệu, sâu kín, khó thấy, tế nhị.
Tatiyampi kho brahmā sahampati bhagavantaṁ etadavoca—“desetu, bhante, bhagavā dhammaṁ, desetu sugato dhammaṁ. Santi sattā apparajakkhajātikā, assavanatā dhammassa parihāyanti, bhavissanti dhammassa aññātāro”ti. Idamavoca brahmā sahampati, idaṁ vatvāna athāparaṁ etadavoca—
Lần thứ ba, Phạm thiên Sahampati lại bạch với đức Thế Tôn điều này: 'Kính bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy thuyết Pháp, xin đức Thiện Thệ hãy thuyết Pháp. Có những chúng sanh thuộc loại ít bụi trong mắt, vì không được nghe Pháp nên bị suy thoái. Sẽ có những người hiểu được Pháp.' Phạm thiên Sahampati đã nói điều này, sau khi nói điều này, lại nói thêm điều này nữa:
“Pāturahosi magadhesu pubbe, Dhammo asuddho samalehi cintito; Apāpuretaṁ amatassa dvāraṁ, Suṇantu dhammaṁ vimalenānubuddhaṁ.
Trước đây tại xứ Ma-kiệt-đà, đã xuất hiện pháp không thanh tịnh, do những người còn ô uế suy tư. Xin hãy mở cánh cửa bất tử này. Mong chúng sanh hãy lắng nghe Pháp đã được bậc Vô cấu giác ngộ.
Sele yathā pabbatamuddhaniṭṭhito, Yathāpi passe janataṁ samantato; Tathūpamaṁ dhammamayaṁ sumedha, Pāsādamāruyha samantacakkhu; Sokāvatiṇṇaṁ janatamapetasoko, Avekkhassu jātijarābhibhūtaṁ.
Ví như người đứng trên đỉnh núi đá, có thể nhìn thấy chúng sanh khắp nơi. Cũng vậy, hỡi bậc Thiện Tuệ, bậc Toàn Nhãn, Ngài đã leo lên lầu đài Chánh pháp, xin Ngài, bậc đã thoát ly sầu muộn, hãy nhìn xuống chúng sanh đang chìm trong sầu muộn, bị sanh và già chinh phục.
Uṭṭhehi vīra vijitasaṅgāma, Satthavāha aṇaṇa vicara loke; Desassu bhagavā dhammaṁ, Aññātāro bhavissantī”ti.
Xin Ngài hãy đứng dậy, hỡi bậc Dũng mãnh, bậc đã chiến thắng! Hỡi bậc Thương chủ, bậc Vô nợ, xin hãy đi khắp thế gian. Kính bạch đức Thế Tôn, xin hãy thuyết Pháp, sẽ có những người hiểu được.
Atha kho bhagavā brahmuno ca ajjhesanaṁ viditvā sattesu ca kāruññataṁ paṭicca buddhacakkhunā lokaṁ volokesi. Addasā kho bhagavā buddhacakkhunā lokaṁ volokento satte apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye, appekacce paralokavajjabhayadassāvine viharante, appekacce na paralokavajjabhayadassāvine viharante. Seyyathāpi nāma uppaliniyaṁ vā paduminiyaṁ vā puṇḍarīkiniyaṁ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni udakānuggatāni anto nimuggaposīni, appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni samodakaṁ ṭhitāni, appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni udakaṁ accuggamma ṭhitāni anupalittāni udakena; evamevaṁ bhagavā buddhacakkhunā lokaṁ volokento addasa satte apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye, appekacce paralokavajjabhayadassāvine viharante, appekacce na paralokavajjabhayadassāvine viharante; disvāna brahmānaṁ sahampatiṁ gāthāya paccabhāsi—
The Buddha understood the request of that supreme being. Then, with the eye of a Buddha, he surveyed the world out of compassion for sentient beings. He saw beings with little dust in their eyes and with much dust in their eyes, with sharp faculties and with dull faculties, with good qualities and with bad qualities, easy to teach and difficult to teach. He even saw some who regarded the next world as dangerous and to be avoided, while others did not. It was just like red and white lotuses and blue water lilies, sprouted and grown in a lotus pond: some remain submerged in the water without rising out of it, others reach the surface of the water, while others still rise out of the water without being touched by it. When he had seen this, the Buddha replied to Sahampati in verse:
9. Bấy giờ, Thế Tôn, sau khi biết được lời thỉnh cầu của Phạm thiên và vì lòng bi mẫn đối với chúng sanh, đã dùng Phật nhãn quan sát thế gian. Khi dùng Phật nhãn quan sát thế gian, Thế Tôn đã thấy có những chúng sanh ít bụi trong mắt, nhiều bụi trong mắt, căn tánh lanh lợi, căn tánh đần độn, có hạng người tốt, có hạng người xấu, có hạng dễ dạy, có hạng khó dạy; có một số sống thấy sự nguy hiểm và tội lỗi ở đời sau, có một số sống không thấy sự nguy hiểm và tội lỗi ở đời sau. Ví như trong hồ sen xanh, sen hồng, hay sen trắng, có những bông sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng chìm sâu bên trong; có những bông sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, đứng ngang bằng mặt nước; có những bông sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước làm lấm lem. Cũng vậy, khi dùng Phật nhãn quan sát thế gian, Thế Tôn đã thấy có những chúng sanh ít bụi trong mắt, nhiều bụi trong mắt, căn tánh lanh lợi, căn tánh đần độn, có hạng người tốt, có hạng người xấu, có hạng dễ dạy, có hạng khó dạy; có một số sống thấy sự nguy hiểm và tội lỗi ở đời sau, có một số sống không thấy sự nguy hiểm và tội lỗi ở đời sau. Sau khi thấy vậy, Ngài đã trả lời Phạm thiên Sahampati bằng một bài kệ:
“Apārutā tesaṁ amatassa dvārā, Ye sotavanto pamuñcantu saddhaṁ; Vihiṁsasaññī paguṇaṁ na bhāsiṁ, Dhammaṁ paṇītaṁ manujesu brahme”ti.
“The doors to the freedom from death are open! May those who hear release their faith. Seeing trouble, supreme being, I did not speak the sublime and subtle Truth.”
“Này Phạm thiên, cửa bất tử đã mở cho họ, những ai lắng nghe, hãy thể hiện đức tin. Vì nghĩ rằng sẽ là mệt nhọc, Ta đã không thuyết giảng Pháp vi diệu, cao thượng này cho loài người.”
Atha kho brahmā sahampati—“katāvakāso khomhi bhagavatā dhammadesanāyā”ti bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyi.
Sahampati thought, “The Buddha has consented to teach.” He bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and disappeared right there.
Bấy giờ, Phạm thiên Sahampati, nghĩ rằng: “Thế Tôn đã cho ta cơ hội để thuyết Pháp,” liền đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài theo chiều bên phải, rồi biến mất ngay tại chỗ ấy.
Brahmayācanakathā niṭṭhitā.
The account of the supreme being’s request is finished.
Câu chuyện về lời thỉnh cầu của Phạm thiên chấm dứt.
6. Câu chuyện về nhóm năm vị
Atha kho bhagavato etadahosi—“kassa nu kho ahaṁ paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyaṁ? Ko imaṁ dhammaṁ khippameva ājānissatī”ti? Atha kho bhagavato etadahosi—“ayaṁ kho āḷāro kālāmo paṇḍito byatto medhāvī dīgharattaṁ apparajakkhajātiko; yannūnāhaṁ āḷārassa kālāmassa paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyaṁ, so imaṁ dhammaṁ khippameva ājānissatī”ti.
Atha kho antarahitā devatā bhagavato ārocesi—“sattāhakālaṅkato, bhante, āḷāro kālāmo”ti. Bhagavatopi kho ñāṇaṁ udapādi—“sattāhakālaṅkato āḷāro kālāmo”ti. Atha kho bhagavato etadahosi—“mahājāniyo kho āḷāro kālāmo; sace hi so imaṁ dhammaṁ suṇeyya, khippameva ājāneyyā”ti.
Atha kho bhagavato etadahosi—“kassa nu kho ahaṁ paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyaṁ? Ko imaṁ dhammaṁ khippameva ājānissatī”ti? Atha kho bhagavato etadahosi—“ayaṁ kho udako rāmaputto paṇḍito byatto medhāvī dīgharattaṁ apparajakkhajātiko; yannūnāhaṁ udakassa rāmaputtassa paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyaṁ, so imaṁ dhammaṁ khippameva ājānissatī”ti.
Atha kho antarahitā devatā bhagavato ārocesi—“abhidosakālaṅkato, bhante, udako rāmaputto”ti. Bhagavatopi kho ñāṇaṁ udapādi—“abhidosakālaṅkato udako rāmaputto”ti. Atha kho bhagavato etadahosi—“mahājāniyo kho udako rāmaputto; sace hi so imaṁ dhammaṁ suṇeyya, khippameva ājāneyyā”ti.
The Buddha thought, “Who should I teach first? Who will understand this Teaching quickly?” And it occurred to him, “Ālāra Kālāma is wise and competent, and has for a long time had little dust in his eyes. Let me teach him first. He will understand it quickly.”
But an invisible god informed the Buddha, “Sir, Ālāra Kālāma died seven days ago,” and the Buddha also knew this for himself. He thought, “Ālāra Kālāma’s loss is great. If he had heard this Teaching, he would have understood it quickly.”
Again the Buddha thought, “Who should I teach first? Who will understand this Teaching quickly?” And it occurred to him, “Udaka Rāmaputta is wise and competent, and has for a long time had little dust in his eyes. Let me teach him first. He will understand it quickly.”
But an invisible god informed the Buddha, “Sir, Udaka Rāmaputta died last night,” and the Buddha also knew this for himself. He thought, “Udaka Rāmaputta’s loss is great. If he had heard this Teaching, he would have understood it quickly.”
10. Bấy giờ, Thế Tôn khởi lên suy nghĩ này: “Ta nên thuyết Pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ là người có thể nhanh chóng liễu tri Pháp này?” Rồi Thế Tôn lại suy nghĩ: “Vị Āḷāra Kālāma này là người có trí tuệ, thông minh, sáng suốt, từ lâu đã là người ít bụi trong mắt. Hay là ta nên thuyết Pháp cho Āḷāra Kālāma trước tiên, vị ấy sẽ nhanh chóng liễu tri Pháp này.” Bấy giờ, một vị thiên ẩn mình bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Āḷāra Kālāma đã mệnh chung được bảy ngày rồi.” Trí tuệ cũng khởi lên nơi Thế Tôn rằng: “Āḷāra Kālāma đã mệnh chung được bảy ngày rồi.” Bấy giờ, Thế Tôn lại suy nghĩ: “Āḷāra Kālāma đã chịu một tổn thất lớn lao! Nếu vị ấy được nghe Pháp này, chắc chắn đã nhanh chóng liễu tri.” Rồi Thế Tôn lại suy nghĩ: “Ta nên thuyết Pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ là người có thể nhanh chóng liễu tri Pháp này?” Rồi Thế Tôn lại suy nghĩ: “Vị Udaka Rāmaputta này là người có trí tuệ, thông minh, sáng suốt, từ lâu đã là người ít bụi trong mắt. Hay là ta nên thuyết Pháp cho Udaka Rāmaputta trước tiên, vị ấy sẽ nhanh chóng liễu tri Pháp này.” Bấy giờ, một vị thiên ẩn mình bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Udaka Rāmaputta đã mệnh chung đêm qua.” Trí tuệ cũng khởi lên nơi Thế Tôn rằng: “Udaka Rāmaputta đã mệnh chung đêm qua.” Bấy giờ, Thế Tôn lại suy nghĩ: “Udaka Rāmaputta đã chịu một tổn thất lớn lao! Nếu vị ấy được nghe Pháp này, chắc chắn đã nhanh chóng liễu tri.”
Atha kho bhagavato etadahosi—“kassa nu kho ahaṁ paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyaṁ? Ko imaṁ dhammaṁ khippameva ājānissatī”ti? Atha kho bhagavato etadahosi—“bahukārā kho me pañcavaggiyā bhikkhū, ye maṁ padhānapahitattaṁ upaṭṭhahiṁsu; yannūnāhaṁ pañcavaggiyānaṁ bhikkhūnaṁ paṭhamaṁ dhammaṁ deseyyan”ti. Atha kho bhagavato etadahosi—“kahaṁ nu kho etarahi pañcavaggiyā bhikkhū viharantī”ti?
Addasā kho bhagavā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena pañcavaggiye bhikkhū bārāṇasiyaṁ viharante isipatane migadāye. Atha kho bhagavā uruvelāyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena bārāṇasī tena cārikaṁ pakkāmi.
Once again the Buddha thought, “Who should I teach first? Who will understand this Teaching quickly?” And it occurred to him, “The group of five monks who supported me while I was striving were of great service to me. Let me teach them first. But where are they staying now?”
With his superhuman and purified clairvoyance, the Buddha saw that the group of five monks were staying near Benares, in the deer park at Isipatana. Then, after staying at Uruvelā for as long as he liked, he set out wandering toward Benares.
Bấy giờ, Thế Tôn lại suy nghĩ: “Ta nên thuyết Pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ là người có thể nhanh chóng liễu tri Pháp này?” Rồi Thế Tôn lại suy nghĩ: “Nhóm năm vị Tỳ khưu đã giúp đỡ ta rất nhiều, họ đã hầu hạ ta khi ta đang tinh tấn tu khổ hạnh. Hay là ta nên thuyết Pháp cho nhóm năm vị Tỳ khưu trước tiên.” Rồi Thế Tôn lại suy nghĩ: “Bây giờ nhóm năm vị Tỳ khưu đang ở đâu?” Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt hơn mắt người thường, Thế Tôn thấy nhóm năm vị Tỳ khưu đang ở tại Isipatana, trong vườn Lộc Uyển, gần Bārāṇasī. Bấy giờ, sau khi lưu lại Uruvelā tùy thích, Thế Tôn lên đường du hành đến Bārāṇasī.
Addasā kho upako ājīvako bhagavantaṁ antarā ca gayaṁ antarā ca bodhiṁ addhānamaggappaṭipannaṁ, disvāna bhagavantaṁ etadavoca—“vippasannāni kho te, āvuso, indriyāni, parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto. Kaṁsi tvaṁ, āvuso, uddissa pabbajito? Ko vā te satthā? Kassa vā tvaṁ dhammaṁ rocesī”ti?
Evaṁ vutte, bhagavā upakaṁ ājīvakaṁ gāthāhi ajjhabhāsi—
The Ājīvaka ascetic Upaka saw the Buddha traveling between Gayā and the place of awakening. He said to the Buddha, “Sir, your senses are clear and your skin is pure and bright. In whose name have you gone forth? Who is your teacher or whose teaching do you follow?”
The Buddha replied to Upaka in verse:
11. Lúc ấy, du sĩ ngoại đạo Upaka thấy Thế Tôn đang đi trên con đường dài giữa Gayā và cội Bồ đề. Sau khi thấy, ông nói với Thế Tôn rằng: “Này hiền hữu, các căn của ngài thật trong sáng, màu da của ngài thật thanh tịnh, rạng rỡ. Này hiền hữu, ngài xuất gia vì ai? Ai là thầy của ngài? Ngài ưa thích giáo pháp của ai?” Khi được hỏi như vậy, Thế Tôn đã trả lời du sĩ ngoại đạo Upaka bằng những bài kệ:
“Sabbābhibhū sabbavidūhamasmi, Sabbesu dhammesu anūpalitto; Sabbañjaho taṇhākkhaye vimutto, Sayaṁ abhiññāya kamuddiseyyaṁ.
“I’m the victor, the knower of all. Abandoning all, I’m not soiled by anything. Through my own insight, I’m freed by the ending of craving—So who should I refer to as a teacher?
“Ta là bậc chinh phục tất cả, bậc biết tất cả, không nhiễm ô trong mọi pháp. Ta đã từ bỏ tất cả, được giải thoát nhờ đoạn tận ái dục. Tự mình chứng ngộ, ta biết chỉ ai làm thầy?
Na me ācariyo atthi, sadiso me na vijjati; Sadevakasmiṁ lokasmiṁ, natthi me paṭipuggalo.
I have no teacher; No-one like me exists. In the world with its gods, I have no equal.
“Ta không có thầy, không ai sánh bằng ta. Trong thế giới cùng với chư thiên, không có ai đối thủ của ta.
Ahañhi arahā loke, ahaṁ satthā anuttaro; Ekomhi sammāsambuddho, sītibhūtosmi nibbuto.
For I’m the Perfected One, The supreme teacher. I alone am fully awakened; I’m cool and extinguished.
“Ta là bậc A-la-hán trong đời, ta là bậc đạo sư vô thượng. Ta là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác duy nhất, đã trở nên thanh lương, đã đạt Niết-bàn.
Dhammacakkaṁ pavattetuṁ, Gacchāmi kāsinaṁ puraṁ; Andhībhūtasmiṁ lokasmiṁ, Āhañchaṁ amatadundubhin”ti.
I’m going to the city of Kāsi, To set rolling the wheel of the Teaching. In this world immersed in darkness, I’ll beat the drum of freedom from death.”
“Để chuyển bánh xe Pháp, ta đi đến thành của người Kāsī. Trong thế gian mù lòa này, ta sẽ đánh trống bất tử.”
“Yathā kho tvaṁ, āvuso, paṭijānāsi, arahasi anantajino”ti.
“According to your own claim you must be a universal Victor.”
“Này hiền hữu, theo như lời ngài tự nhận, ngài có xứng đáng là bậc Toàn Thắng vô biên chăng?”
“Mādisā ve jinā honti, ye pattā āsavakkhayaṁ; Jitā me pāpakā dhammā, tasmāhamupaka jino”ti.
“Indeed, those like me are victors, Those who have ended the corruptions. I have conquered all bad traits—Therefore, Upaka, I’m a Victor.”
“Này Upaka, những bậc như ta, những vị đã đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thực sự là những bậc Toàn Thắng. Ta đã chiến thắng các pháp ác bất thiện, vì thế, này Upaka, ta là bậc Toàn Thắng.”
Evaṁ vutte, upako ājīvako hupeyyapāvusoti vatvā sīsaṁ okampetvā ummaggaṁ gahetvā pakkāmi.
Saying, “May it be so,” Upaka shook his head, chose the wrong path, and left.
Khi được nghe như vậy, tà sư lõa thể Upaka nói: “Có thể như vậy lắm, hiền hữu,” rồi lắc đầu, đi theo một con đường khác và rời khỏi nơi ấy.
Atha kho bhagavā anupubbena cārikaṁ caramāno yena bārāṇasī isipatanaṁ migadāyo, yena pañcavaggiyā bhikkhū tenupasaṅkami.
Addasaṁsu kho pañcavaggiyā bhikkhū bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ; disvāna aññamaññaṁ katikaṁ saṇṭhapesuṁ—“ayaṁ, āvuso, samaṇo gotamo āgacchati, bāhulliko padhānavibbhanto āvatto bāhullāya. So neva abhivādetabbo, na paccuṭṭhātabbo, nāssa pattacīvaraṁ paṭiggahetabbaṁ; api ca kho āsanaṁ ṭhapetabbaṁ, sace so ākaṅkhissati nisīdissatī”ti. Yathā yathā kho bhagavā pañcavaggiye bhikkhū upasaṅkamati tathā tathā pañcavaggiyā bhikkhū nāsakkhiṁsu sakāya katikāya saṇṭhātuṁ. Asaṇṭhahantā bhagavantaṁ paccuggantvā eko bhagavato pattacīvaraṁ paṭiggahesi, eko āsanaṁ paññapesi, eko pādodakaṁ, eko pādapīṭhaṁ, eko pādakaṭhalikaṁ upanikkhipi. Nisīdi bhagavā paññatte āsane; nisajja kho bhagavā pāde pakkhālesi. Apissu bhagavantaṁ nāmena ca āvusovādena ca samudācaranti.
Evaṁ vutte, bhagavā pañcavaggiye bhikkhū etadavoca—“mā, bhikkhave, tathāgataṁ nāmena ca āvusovādena ca samudācaratha. Arahaṁ, bhikkhave, tathāgato sammāsambuddho, odahatha, bhikkhave, sotaṁ, amatamadhigataṁ, ahamanusāsāmi, ahaṁ dhammaṁ desemi. Yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamānā nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.
Evaṁ vutte, pañcavaggiyā bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ—“tāyapi kho tvaṁ, āvuso gotama, iriyāya, tāya paṭipadāya, tāya dukkarakārikāya nevajjhagā uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ, kiṁ pana tvaṁ etarahi, bāhulliko padhānavibbhanto āvatto bāhullāya, adhigamissasi uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesan”ti?
Evaṁ vutte, bhagavā pañcavaggiye bhikkhū etadavoca—“na, bhikkhave, tathāgato bāhulliko, na padhānavibbhanto, na āvatto bāhullāya; arahaṁ, bhikkhave, tathāgato sammāsambuddho. Odahatha, bhikkhave, sotaṁ, amatamadhigataṁ ahamanusāsāmi, ahaṁ dhammaṁ desemi. Yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamānā nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.
Dutiyampi kho pañcavaggiyā bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ …pe…. Dutiyampi kho bhagavā pañcavaggiye bhikkhū etadavoca …pe…. Tatiyampi kho pañcavaggiyā bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ—“tāyapi kho tvaṁ, āvuso gotama, iriyāya, tāya paṭipadāya, tāya dukkarakārikāya nevajjhagā uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ, kiṁ pana tvaṁ etarahi, bāhulliko padhānavibbhanto āvatto bāhullāya, adhigamissasi uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesan”ti?
Evaṁ vutte bhagavā pañcavaggiye bhikkhū etadavoca—“abhijānātha me no tumhe, bhikkhave, ito pubbe evarūpaṁ pabhāvitametan”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Arahaṁ, bhikkhave, tathāgato sammāsambuddho, odahatha, bhikkhave, sotaṁ, amatamadhigataṁ ahamanusāsāmi, ahaṁ dhammaṁ desemi. Yathānusiṭṭhaṁ tathā paṭipajjamānā nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.
Asakkhi kho bhagavā pañcavaggiye bhikkhū saññāpetuṁ. Atha kho pañcavaggiyā bhikkhū bhagavantaṁ sussūsiṁsu, sotaṁ odahiṁsu, aññā cittaṁ upaṭṭhāpesuṁ.
The Buddha continued wandering toward the deer park at Isipatana near Benares. When he eventually arrived, he went to the group of five monks.
Seeing him coming, the group of five made an agreement with one another: “Here comes the ascetic Gotama, who has given up his striving and returned to a life of indulgence. We shouldn’t bow down to him, stand up for him, or receive his bowl and robe, but we should prepare a seat. If he wishes, he may sit down.” But as the Buddha approached, the group of five monks was unable to keep the agreement. One went to meet him to receive his bowl and robe, another prepared a seat, another set out water for washing the feet, yet another set out a foot stool, and the last one put out a foot scraper. The Buddha sat down on the prepared seat and washed his feet. But they still addressed him by name and as “friend”.
The Buddha said to the group of five monks, “Monks, don’t address the Buddha by name or as ‘friend’. Listen, I’m perfected and fully awakened. I have discovered the freedom from death. I will instruct you and teach you the Truth. When you practice as instructed, in this very life you will soon realize with your own insight the supreme goal of the spiritual life for which gentlemen rightly go forth into homelessness.”
They replied, “Friend Gotama, by practicing extreme austerities you didn’t gain any superhuman quality, any distinction in knowledge and vision worthy of noble ones. Since you have given up your striving and returned to a life of indulgence, how could you now have achieved any of this?”
The Buddha said, “I haven’t given up striving and returned to a life of indulgence,” and he repeated what he had said before.
A second time the group of five monks repeated their question and a second time the Buddha repeated his reply. A third time they repeated their question, and the Buddha then said, “Have you ever heard me speak like this?”
“No, sir.”
“Then listen. I’m perfected and fully awakened. I have discovered the freedom from death. I will instruct you and teach you the Truth. When you practice as instructed, in this very life you will soon realize with your own insight the supreme goal of the spiritual life for which gentlemen rightly go forth into homelessness.”
The Buddha was able to persuade the group of five monks. They then listened to the Buddha, paid careful attention, and applied their minds to understand.
12. Bấy giờ, đức Thế Tôn tuần tự du hành đến thành Bārāṇasī, tại vườn Lộc Uyển ở Isipatana, nơi nhóm năm vị tỳ khưu đang ở. Nhóm năm vị tỳ khưu thấy đức Thế Tôn từ xa đi đến; thấy vậy, họ bàn với nhau: “Này chư hiền, sa-môn Gotama đang đến, ngài là người sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh tấn, quay về với đời sống vật chất. Chúng ta không nên đảnh lễ, không nên đứng dậy chào đón, không nên nhận lấy y bát của ngài; tuy nhiên, cũng nên soạn một chỗ ngồi, nếu ngài muốn thì sẽ ngồi.” Khi đức Thế Tôn càng đến gần nhóm năm vị tỳ khưu, họ càng không thể giữ được giao ước của mình. Không giữ được giao ước, họ ra đón đức Thế Tôn, một người nhận lấy y bát của ngài, một người soạn chỗ ngồi, một người dâng nước rửa chân, một người đặt ghế để chân, một người đặt đồ lau chân. Đức Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã soạn; sau khi ngồi, đức Thế Tôn rửa chân. Họ còn gọi đức Thế Tôn bằng tên và bằng từ “hiền hữu”. Khi họ nói vậy, đức Thế Tôn bảo nhóm năm vị tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, đừng gọi Như Lai bằng tên và bằng từ ‘hiền hữu’. Này các tỳ khưu, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác. Này các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe, bất tử đã được chứng đắc. Ta sẽ giáo huấn, ta sẽ thuyết pháp. Khi thực hành theo lời giáo huấn, không bao lâu các ngươi sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh, vì mục đích ấy mà các thiện gia nam tử đã chân chính từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình.” Khi được nghe như vậy, nhóm năm vị tỳ khưu thưa với đức Thế Tôn: “Này hiền hữu Gotama, với oai nghi ấy, với pháp hành ấy, với khổ hạnh ấy, ngài đã không chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng bậc thánh. Huống nữa là bây giờ, khi ngài sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh tấn, quay về với đời sống vật chất, làm sao ngài có thể chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng bậc thánh?” Khi họ nói vậy, đức Thế Tôn bảo nhóm năm vị tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, Như Lai không sống trong sự sung túc, không từ bỏ tinh tấn, không quay về với đời sống vật chất. Này các tỳ khưu, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác. Hãy lắng tai nghe, này các tỳ khưu, bất tử đã được chứng đắc. Ta sẽ giáo huấn, ta sẽ thuyết pháp. Khi thực hành theo lời giáo huấn, không bao lâu các ngươi sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh, vì mục đích ấy mà các thiện gia nam tử đã chân chính từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình.” Lần thứ hai, nhóm năm vị tỳ khưu lại thưa với đức Thế Tôn như vậy... Lần thứ hai, đức Thế Tôn lại bảo nhóm năm vị tỳ khưu như vậy... Lần thứ ba, nhóm năm vị tỳ khưu lại thưa với đức Thế Tôn: “Này hiền hữu Gotama, với oai nghi ấy, với pháp hành ấy, với khổ hạnh ấy, ngài đã không chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng bậc thánh. Huống nữa là bây giờ, khi ngài sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh tấn, quay về với đời sống vật chất, làm sao ngài có thể chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng bậc thánh?” Khi họ nói vậy, đức Thế Tôn bảo nhóm năm vị tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, các ngươi có nhớ rằng từ trước đến nay ta đã từng nói những lời như thế này chưa?” “Bạch đức Thế Tôn, chưa từng ạ.” “Này các tỳ khưu, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác. Này các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe, bất tử đã được chứng đắc. Ta sẽ giáo huấn, ta sẽ thuyết pháp. Khi thực hành theo lời giáo huấn, không bao lâu các ngươi sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh, vì mục đích ấy mà các thiện gia nam tử đã chân chính từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình.” Đức Thế Tôn đã có thể thuyết phục được nhóm năm vị tỳ khưu. Bấy giờ, nhóm năm vị tỳ khưu đã lắng nghe đức Thế Tôn, họ lắng tai và hướng tâm đến chánh trí.
Atha kho bhagavā pañcavaggiye bhikkhū āmantesi—
And the Buddha addressed them:
13. Bấy giờ, đức Thế Tôn gọi nhóm năm vị tỳ khưu và bảo:
“Dveme, bhikkhave, antā pabbajitena na sevitabbā. Katame dve? Yo cāyaṁ kāmesu kāmasukhallikānuyogo hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṁhito, yo cāyaṁ attakilamathānuyogo dukkho anariyo anatthasaṁhito. Ete kho, bhikkhave, ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Katamā ca sā, bhikkhave, majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi. Ayaṁ kho sā, bhikkhave, majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
“There are these two opposites that should not be pursued by one who has gone forth. One is the devotion to worldly pleasures, which is inferior, crude, common, ignoble, and unbeneficial. The other is the devotion to self-torment, which is painful, ignoble, and unbeneficial. By avoiding these opposites, I have awakened to the middle path, which produces vision and knowledge, which leads to peace, insight, awakening, and extinguishment.
And what, monks, is that middle path? It’s just this noble eightfold path, that is, right view, right aim, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right stillness.
Này các Tỳ khưu, có hai cực đoan này mà người xuất gia không nên thực hành theo. Hai cực đoan ấy là gì? Đó là sự đam mê trong các dục lạc, là hạ liệt, thấp kém, phàm tục, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến lợi ích; và đó là sự thực hành khổ hạnh, là đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến lợi ích. Này các Tỳ khưu, không đi đến hai cực đoan này, con đường trung đạo đã được Như Lai hoàn toàn giác ngộ, tạo ra nhãn quan, tạo ra tri kiến, đưa đến sự an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này các Tỳ khưu, con đường trung đạo đã được Như Lai hoàn toàn giác ngộ, tạo ra nhãn quan, tạo ra tri kiến, đưa đến sự an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn là gì? Chính là Bát Thánh Đạo này, tức là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này các Tỳ khưu, đây chính là con đường trung đạo đã được Như Lai hoàn toàn giác ngộ, tạo ra nhãn quan, tạo ra tri kiến, đưa đến sự an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Idaṁ kho pana, bhikkhave, dukkhaṁ ariyasaccaṁ. Jātipi dukkhā, jarāpi dukkhā, byādhipi dukkho, maraṇampi dukkhaṁ, appiyehi sampayogo dukkho, piyehi vippayogo dukkho, yampicchaṁ na labhati tampi dukkhaṁ. Saṅkhittena, pañcupādānakkhandhā dukkhā.
Idaṁ kho pana, bhikkhave, dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ—yāyaṁ taṇhā ponobbhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, seyyathidaṁ—kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā.
And this is noble truth of suffering: birth is suffering, old age is suffering, sickness is suffering, death is suffering, association with what is disliked is suffering, separation from what is liked is suffering, not getting what you want is suffering. In brief, the five aspects of existence affected by grasping are suffering.
And this is noble truth of the origin of suffering: the craving that leads to rebirth, that comes with delight and sensual desire, ever delighting in this and that, that is, craving for worldly pleasures, craving for existence, and craving for non-existence.
14. Này các Tỳ khưu, đây là Thánh đế về Khổ. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, gặp gỡ người mình không ưa là khổ, xa lìa người mình thương yêu là khổ, mong cầu mà không được cũng là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. Này các Tỳ khưu, đây là Thánh đế về Nguồn Gốc của Khổ: chính là ái dục này, đưa đến tái sanh, đi cùng với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là: Dục ái, Hữu ái, và Vô hữu ái.
Idaṁ kho pana, bhikkhave, dukkhanirodhaṁ ariyasaccaṁ—yo tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho, cāgo, paṭinissaggo, mutti, anālayo.
Idaṁ kho pana, bhikkhave, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṁ—ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi.
And this is noble truth of the end of suffering: the full fading away and ending of that very craving; giving it up, relinquishing it, releasing it, letting it go.
And this is noble truth of the path leading to the end of suffering: just this noble eightfold path, that is, right view, right aim, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right stillness.
Này các Tỳ khưu, đây là Thánh đế về sự Diệt Khổ: đó là sự đoạn diệt không còn tàn dư, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ vào chính ái dục ấy. Này các Tỳ khưu, đây là Thánh đế về Con Đường đưa đến Diệt Khổ: chính là Bát Thánh Đạo này, tức là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
Idaṁ dukkhaṁ ariyasaccanti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. Taṁ kho panidaṁ dukkhaṁ ariyasaccaṁ pariññeyyanti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. Taṁ kho panidaṁ dukkhaṁ ariyasaccaṁ pariññātanti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
I knew that this is the noble truth of suffering. Vision, knowledge, wisdom, understanding, and light arose in me regarding things I had never heard before. I knew that this noble truth of suffering should be fully understood. Vision, knowledge, wisdom, understanding, and light arose in me regarding things I had never heard before. I knew that this noble truth of suffering had been fully understood. Vision, knowledge, wisdom, understanding, and light arose in me regarding things I had never heard before.
15. Này các Tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nơi Ta, nhãn đã sanh, trí đã sanh, tuệ đã sanh, minh đã sanh, quang đã sanh khởi rằng: ‘Đây là Thánh đế về Khổ’. Này các Tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nơi Ta, nhãn đã sanh, trí đã sanh, tuệ đã sanh, minh đã sanh, quang đã sanh khởi rằng: ‘Thánh đế về Khổ này cần phải được liễu tri’. Này các Tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nơi Ta, nhãn đã sanh, trí đã sanh, tuệ đã sanh, minh đã sanh, quang đã sanh khởi rằng: ‘Thánh đế về Khổ này đã được liễu tri’.
Idaṁ dukkhasamudayaṁ ariyasaccanti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. Taṁ kho panidaṁ dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ pahātabbanti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. Taṁ kho panidaṁ dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ pahīnanti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
I knew that this is the noble truth of the origin of suffering. Vision, knowledge, wisdom, understanding, and light arose in me regarding things I had never heard before. I knew that this noble truth of the origin of suffering should be fully abandoned. Vision, knowledge, wisdom, understanding, and light arose in me regarding things I had never heard before. I knew that this noble truth of the origin of suffering had been fully abandoned. Vision, knowledge, wisdom, understanding, and light arose in me regarding things I had never heard before.
Này các Tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nơi Ta, nhãn đã sanh, trí đã sanh, tuệ đã sanh, minh đã sanh, quang đã sanh khởi rằng: ‘Đây là Thánh đế về Nguồn Gốc của Khổ’. Này các Tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nơi Ta, nhãn đã sanh, trí đã sanh, tuệ đã sanh, minh đã sanh, quang đã sanh khởi rằng: ‘Thánh đế về Nguồn Gốc của Khổ này cần phải được đoạn tận’. Này các Tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nơi Ta, nhãn đã sanh, trí đã sanh, tuệ đã sanh, minh đã sanh, quang đã sanh khởi rằng: ‘Thánh đế về Nguồn Gốc của Khổ này đã được đoạn tận’.
Idaṁ dukkhanirodhaṁ ariyasaccanti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. Taṁ kho panidaṁ dukkhanirodhaṁ ariyasaccaṁ sacchikātabbanti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. Taṁ kho panidaṁ dukkhanirodhaṁ ariyasaccaṁ sacchikatanti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
I knew that this is the noble truth of the end of suffering. Vision, knowledge, wisdom, understanding, and light arose in me regarding things I had never heard before. I knew that this noble truth of the end of suffering should be fully experienced. Vision, knowledge, wisdom, understanding, and light arose in me regarding things I had never heard before. I knew that this noble truth of the end of suffering had been fully experienced. Vision, knowledge, wisdom, understanding, and light arose in me regarding things I had never heard before.
Này các Tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nơi Ta, nhãn đã sanh, trí đã sanh, tuệ đã sanh, minh đã sanh, quang đã sanh khởi rằng: ‘Đây là Thánh đế về sự Diệt Khổ’. Này các Tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nơi Ta, nhãn đã sanh, trí đã sanh, tuệ đã sanh, minh đã sanh, quang đã sanh khởi rằng: ‘Thánh đế về sự Diệt Khổ này cần phải được chứng ngộ’. Này các Tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nơi Ta, nhãn đã sanh, trí đã sanh, tuệ đã sanh, minh đã sanh, quang đã sanh khởi rằng: ‘Thánh đế về sự Diệt Khổ này đã được chứng ngộ’.
Idaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccanti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. Taṁ kho panidaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṁ bhāvetabbanti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi. Taṁ kho panidaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṁ bhāvitanti me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
I knew that this is the noble truth of the path leading to the end of suffering. Vision, knowledge, wisdom, understanding, and light arose in me regarding things I had never heard before. I knew that this noble truth of the path leading to the end of suffering should be fully developed. Vision, knowledge, wisdom, understanding, and light arose in me regarding things I had never heard before. I knew that this noble truth of the path leading to the end of suffering had been fully developed. Vision, knowledge, wisdom, understanding, and light arose in me regarding things I had never heard before.
Này các Tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nơi Ta, nhãn đã sanh, trí đã sanh, tuệ đã sanh, minh đã sanh, quang đã sanh khởi rằng: ‘Đây là Thánh đế về Con Đường đưa đến Diệt Khổ’. Này các Tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nơi Ta, nhãn đã sanh, trí đã sanh, tuệ đã sanh, minh đã sanh, quang đã sanh khởi rằng: ‘Thánh đế về Con Đường đưa đến Diệt Khổ này cần phải được tu tập’. Này các Tỳ khưu, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nơi Ta, nhãn đã sanh, trí đã sanh, tuệ đã sanh, minh đã sanh, quang đã sanh khởi rằng: ‘Thánh đế về Con Đường đưa đến Diệt Khổ này đã được tu tập’.
Yāvakīvañca me, bhikkhave, imesu catūsu ariyasaccesu evaṁ tiparivaṭṭaṁ dvādasākāraṁ yathābhūtaṁ ñāṇadassanaṁ na suvisuddhaṁ ahosi, neva tāvāhaṁ, bhikkhave, sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddhoti paccaññāsiṁ.
Yato ca kho me, bhikkhave, imesu catūsu ariyasaccesu evaṁ tiparivaṭṭaṁ dvādasākāraṁ yathābhūtaṁ ñāṇadassanaṁ suvisuddhaṁ ahosi, athāhaṁ, bhikkhave, sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddhoti paccaññāsiṁ. Ñāṇañca pana me dassanaṁ udapādi—akuppā me vimutti, ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo”ti.
Idamavoca bhagavā attamanā pañcavaggiyā bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
So long as I had not fully purified my knowledge and vision according to reality of these four noble truths with their three stages and twelve characteristics, I didn’t claim the supreme full awakening in this world with its gods, lords of death, and supreme beings, in this society with its monastics and brahmins, its gods and humans.
But when I had fully purified my knowledge and vision according to reality of these four noble truths with their three stages and twelve characteristics, then I did claim the supreme full awakening in this world with its gods, lords of death, and supreme beings, in this society with its monastics and brahmins, its gods and humans. And knowledge and vision arose in me: ‘My freedom is unshakable, this is my last birth, now there is no further rebirth.’”
This is what the Buddha said. The monks from the group of five were pleased and they rejoiced in the Buddha’s exposition.
16. Này các Tỳ khưu, khi nào đối với bốn Thánh đế này, trí kiến như thật với ba chuyển và mười hai hành tướng của Như Lai chưa được hoàn toàn trong sạch, thì này các Tỳ khưu, chừng ấy Như Lai không xác chứng trước thế giới gồm có chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người rằng Như Lai đã chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Và này các Tỳ khưu, khi nào đối với bốn Thánh đế này, trí kiến như thật với ba chuyển và mười hai hành tướng của Như Lai đã được hoàn toàn trong sạch, thì này các Tỳ khưu, bấy giờ Như Lai mới xác chứng trước thế giới gồm có chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người rằng Như Lai đã chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Trí và kiến khởi lên nơi Như Lai: ‘Sự giải thoát của ta là bất động. Đây là đời sống cuối cùng. Nay không còn tái sanh nữa.’ Đức Thế Tôn đã thuyết như vậy. Nhóm năm vị Tỳ khưu hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.
Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne āyasmato koṇḍaññassa virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi—“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
And while this exposition was being spoken, Venerable Koṇḍañña experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.”
Và khi bài pháp giải thích này được thuyết giảng, pháp nhãn không còn bụi bặm, không còn cấu uế đã khởi lên cho Tôn giả Koṇḍañña: ‘Phàm pháp gì có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có đoạn diệt.’
Pavattite ca pana bhagavatā dhammacakke, bhummā devā saddamanussāvesuṁ—“etaṁ bhagavatā bārāṇasiyaṁ isipatane migadāye anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitaṁ, appaṭivattiyaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmin”ti. Bhummānaṁ devānaṁ saddaṁ sutvā cātumahārājikā devā saddamanussāvesuṁ …pe… cātumahārājikānaṁ devānaṁ saddaṁ sutvā tāvatiṁsā devā …pe… yāmā devā …pe… tusitā devā …pe… nimmānaratī devā …pe… paranimmitavasavattī devā …pe… brahmakāyikā devā saddamanussāvesuṁ—“etaṁ bhagavatā bārāṇasiyaṁ isipatane migadāye anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitaṁ appaṭivattiyaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmin”ti.
Itiha tena khaṇena, tena layena, tena muhuttena yāva brahmalokā saddo abbhuggacchi. Ayañca dasasahassilokadhātu saṅkampi sampakampi sampavedhi; appamāṇo ca uḷāro obhāso loke pāturahosi, atikkamma devānaṁ devānubhāvaṁ.
Atha kho bhagavā imaṁ udānaṁ udānesi—“aññāsi vata bho koṇḍañño, aññāsi vata bho koṇḍañño”ti. Iti hidaṁ āyasmato koṇḍaññassa “aññāsikoṇḍañño” tveva nāmaṁ ahosi.
When the Buddha had set rolling the wheel of the Teaching, the earth gods cried out, “At Benares, in the deer park at Isipatana, the Buddha has set rolling the supreme wheel of the Teaching. It can’t be stopped by any monastic, brahmin, god, lord of death, supreme being, or anyone in the world.” Hearing the earth gods, the gods of the four great kings cried out … Hearing the gods of the four great kings, the gods of the Thirty-three cried out … the Yāma gods … the contented gods … the gods who delight in creation … the gods who control the creations of others … the gods of the realm of the supreme beings cried out, “At Benares, in the deer park at Isipatana, the Buddha has set rolling the supreme wheel of the Teaching. It can’t be stopped by any monastic, brahmin, god, lord of death, supreme being, or anyone in the world.”
In that instant the news spread as far as the world of the supreme beings. Ten thousand solar systems shook and trembled. And there appeared in the world an immeasurable and glorious radiance, surpassing the splendor of the gods.
Then the Buddha uttered a heartfelt exclamation: “Koṇḍañña has understood! Indeed, Koṇḍañña has understood!” That’s how Koṇḍañña got the name “Aññāsikoṇḍañña”, “Koṇḍañña who has understood.”
17. Và khi Đức Thế Tôn chuyển Pháp luân, các vị Địa thiên đồng thanh loan tin: ‘Tại Bārāṇasī, ở Isipatana, trong vườn Lộc Uyển, Đức Thế Tôn đã chuyển bánh xe Pháp vô thượng, mà không một Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất kỳ ai ở trên đời có thể đảo ngược được.’ Nghe tiếng của các vị Địa thiên, chư Thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương đồng thanh loan tin... (vân vân)... chư Thiên ở cõi Phạm thiên đồng thanh loan tin: ‘Tại Bārāṇasī, ở Isipatana, trong vườn Lộc Uyển, Đức Thế Tôn đã chuyển bánh xe Pháp vô thượng, mà không một Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất kỳ ai ở trên đời có thể đảo ngược được.’ Cứ như thế, trong khoảnh khắc ấy, trong chốc lát ấy, trong sát-na ấy, tiếng loan truyền vang đến tận cõi Phạm thiên. Và hệ thống mười ngàn thế giới này rung chuyển, chấn động, chuyển động mạnh. Một ánh sáng vô lượng, huy hoàng hiện ra trong thế gian, vượt hơn cả uy lực của chư Thiên. Bấy giờ, Đức Thế Tôn thốt lên lời cảm hứng này: ‘Này, Koṇḍañña đã thật sự hiểu rõ! Này, Koṇḍañña đã thật sự hiểu rõ!’ Do đó, Tôn giả Koṇḍañña có tên là ‘Aññāsikoṇḍañña’ (Koṇḍañña người đã hiểu rõ).
Atha kho āyasmā aññāsikoṇḍañño diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane bhagavantaṁ etadavoca—“labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti. “Ehi bhikkhū”ti bhagavā avoca—“svākkhāto dhammo, cara brahmacariyaṁ sammā dukkhassa antakiriyāyā”ti. Sāva tassa āyasmato upasampadā ahosi.
Aññāsikoṇḍañña had seen the Truth, had reached, understood, and penetrated it. He had gone beyond doubt and uncertainty, had attained to confidence, and had become independent of others in the Teacher’s instruction. He then said to the Buddha, “Sir, I wish to receive the going forth in your presence. I wish to receive the full ordination.” The Buddha replied, “Come, monk. The Teaching is well-proclaimed. Practice the spiritual life to make a complete end of suffering.” That was the full ordination of that venerable.
18. Bấy giờ, Tôn giả Aññāsikoṇḍañña, người đã thấy Pháp, đã đạt đến Pháp, đã biết Pháp, đã thâm nhập Pháp, đã vượt qua nghi ngờ, đã hết do dự, đã đạt được sự tự tin, không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư, đã bạch với Đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, con mong được xuất gia dưới sự chỉ dạy của Đức Thế Tôn, mong được thọ cụ túc giới.’ Đức Thế Tôn phán: ‘Hãy đến, Tỳ khưu. Giáo pháp đã được khéo thuyết giảng. Hãy thực hành phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau.’ Đó chính là lễ thọ cụ túc giới của Tôn giả ấy.
Atha kho bhagavā tadavasese bhikkhū dhammiyā kathāya ovadi anusāsi. Atha kho āyasmato ca vappassa āyasmato ca bhaddiyassa bhagavatā dhammiyā kathāya ovadiyamānānaṁ anusāsiyamānānaṁ virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi—“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
The Buddha then instructed and taught the rest of the monks. While they were being instructed and taught, Venerable Vappa and Venerable Bhaddiya experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.”
19. Bấy giờ, Đức Thế Tôn dùng pháp thoại để giáo huấn, chỉ dạy các vị Tỳ khưu còn lại. Khi được Đức Thế Tôn dùng pháp thoại để giáo huấn, chỉ dạy, pháp nhãn không còn bụi bặm, không còn cấu uế đã khởi lên cho Tôn giả Vappa và Tôn giả Bhaddiya: ‘Phàm pháp gì có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có đoạn diệt.’
Họ, những người đã thấy Pháp, đã đạt đến Pháp, đã biết Pháp, đã thâm nhập Pháp, đã vượt qua nghi ngờ, đã hết do dự, đã đạt được sự tự tin, không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư, đã bạch với Đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, chúng con mong được xuất gia dưới sự chỉ dạy của Đức Thế Tôn, mong được thọ cụ túc giới.’ Đức Thế Tôn phán: ‘Hãy đến, các Tỳ khưu. Giáo pháp đã được khéo thuyết giảng. Hãy thực hành phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau.’ Đó chính là lễ thọ cụ túc giới của các Tôn giả ấy.
Atha kho bhagavā tadavasese bhikkhū nīhārabhatto dhammiyā kathāya ovadi anusāsi. Yaṁ tayo bhikkhū piṇḍāya caritvā āharanti, tena chabbaggo yāpeti. Atha kho āyasmato ca mahānāmassa āyasmato ca assajissa bhagavatā dhammiyā kathāya ovadiyamānānaṁ anusāsiyamānānaṁ virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi—“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti. Te diṭṭhadhammā pattadhammā viditadhammā pariyogāḷhadhammā tiṇṇavicikicchā vigatakathaṅkathā vesārajjappattā aparappaccayā satthusāsane bhagavantaṁ etadavocuṁ—“labheyyāma mayaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyāma upasampadan”ti. “Etha bhikkhavo”ti bhagavā avoca—“svākkhāto dhammo, caratha brahmacariyaṁ sammā dukkhassa antakiriyāyā”ti. Sāva tesaṁ āyasmantānaṁ upasampadā ahosi.
Living on the food brought to him, the Buddha then instructed and taught the remaining monks. The six of them lived on the almsfood brought by three. While they were being instructed and taught, Venerable Mahānāma and Venerable Assaji experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.” They had seen the Truth, had reached, understood, and penetrated it; they had gone beyond doubt and uncertainty, had attained to confidence, and had become independent of others in the Teacher’s instruction. They then said to the Buddha, “Sir, we wish to receive the going forth in your presence. We wish to receive the full ordination.” The Buddha replied, “Come, monks. The Teaching is well-proclaimed. Practice the spiritual life to make a complete end of suffering.” That was the full ordination of those venerables.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn, trong khi dùng vật thực do các vị Tỳ khưu mang về, đã dùng pháp thoại để giáo huấn, chỉ dạy các vị Tỳ khưu còn lại. Vật thực mà ba vị Tỳ khưu đi khất thực mang về đủ cho cả nhóm sáu người dùng. Khi được Đức Thế Tôn dùng pháp thoại để giáo huấn, chỉ dạy, pháp nhãn không còn bụi bặm, không còn cấu uế đã khởi lên cho Tôn giả Mahānāma và Tôn giả Assaji: ‘Phàm pháp gì có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có đoạn diệt.’ Họ, những người đã thấy Pháp, đã đạt đến Pháp, đã biết Pháp, đã thâm nhập Pháp, đã vượt qua nghi ngờ, đã hết do dự, đã đạt được sự tự tin, không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư, đã bạch với Đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, chúng con mong được xuất gia dưới sự chỉ dạy của Đức Thế Tôn, mong được thọ cụ túc giới.’ Đức Thế Tôn phán: ‘Hãy đến, các Tỳ khưu. Giáo pháp đã được khéo thuyết giảng. Hãy thực hành phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau.’ Đó chính là lễ thọ cụ túc giới của các Tôn giả ấy.
Atha kho bhagavā pañcavaggiye bhikkhū āmantesi—
Then the Buddha addressed the group of five:
20. Bấy giờ, Đức Thế Tôn gọi các Tỳ khưu thuộc nhóm năm vị:
“Rūpaṁ, bhikkhave, anattā. Rūpañca hidaṁ, bhikkhave, attā abhavissa, nayidaṁ rūpaṁ ābādhāya saṁvatteyya, labbhetha ca rūpe—‘evaṁ me rūpaṁ hotu, evaṁ me rūpaṁ mā ahosī’ti. Yasmā ca kho, bhikkhave, rūpaṁ anattā, tasmā rūpaṁ ābādhāya saṁvattati, na ca labbhati rūpe—‘evaṁ me rūpaṁ hotu, evaṁ me rūpaṁ mā ahosī’ti.
Vedanā anattā. Vedanā ca hidaṁ, bhikkhave, attā abhavissa, nayidaṁ vedanā ābādhāya saṁvatteyya, labbhetha ca vedanāya—‘evaṁ me vedanā hotu, evaṁ me vedanā mā ahosī’ti. Yasmā ca kho, bhikkhave, vedanā anattā, tasmā vedanā ābādhāya saṁvattati, na ca labbhati vedanāya—‘evaṁ me vedanā hotu, evaṁ me vedanā mā ahosī’ti.
Saññā anattā. Saññā ca hidaṁ, bhikkhave, attā abhavissa, nayidaṁ saññā ābādhāya saṁvatteyya, labbhetha ca saññāya—‘evaṁ me saññā hotu, evaṁ me saññā mā ahosī’ti. Yasmā ca kho, bhikkhave, saññā anattā, tasmā saññā ābādhāya saṁvattati, na ca labbhati saññāya—‘evaṁ me saññā hotu, evaṁ me saññā mā ahosī’ti.
Saṅkhārā anattā. Saṅkhārā ca hidaṁ, bhikkhave, attā abhavissaṁsu, nayidaṁ saṅkhārā ābādhāya saṁvatteyyuṁ, labbhetha ca saṅkhāresu—‘evaṁ me saṅkhārā hontu, evaṁ me saṅkhārā mā ahesun’ti. Yasmā ca kho, bhikkhave, saṅkhārā anattā, tasmā saṅkhārā ābādhāya saṁvattanti, na ca labbhati saṅkhāresu—‘evaṁ me saṅkhārā hontu, evaṁ me saṅkhārā mā ahesun’ti.
Viññāṇaṁ anattā. Viññāṇañca hidaṁ, bhikkhave, attā abhavissa, nayidaṁ viññāṇaṁ ābādhāya saṁvatteyya, labbhetha ca viññāṇe—‘evaṁ me viññāṇaṁ hotu, evaṁ me viññāṇaṁ mā ahosī’ti. Yasmā ca kho, bhikkhave, viññāṇaṁ anattā, tasmā viññāṇaṁ ābādhāya saṁvattati, na ca labbhati viññāṇe—‘evaṁ me viññāṇaṁ hotu, evaṁ me viññāṇaṁ mā ahosī’ti.
“Form is not your essence. For if form were your essence, it would not lead to suffering, and you could make it be like this and not be like that. But because form is not your essence, it leads to suffering, and you can’t make it be like this and not be like that.
Feeling is not your essence. For if feeling were your essence, it would not lead to suffering, and you could make it be like this and not be like that. But because feeling is not your essence, it leads to suffering, and you can’t make it be like this and not be like that.
Perception is not your essence. For if perception were your essence, it would not lead to suffering, and you could make it be like this and not be like that. But because perception is not your essence, it leads to suffering, and you can’t make it be like this and not be like that.
Intentional activities are not your essence. For if intentional activities were your essence, they would not lead to suffering, and you could make them be like this and not be like that. But because intentional activities are not your essence, they lead to suffering, and you can’t make them be like this and not be like that.
Consciousness is not your essence. For if consciousness were your essence, it would not lead to suffering, and you could make it be like this and not be like that. But because consciousness is not your essence, it leads to suffering, and you can’t make it be like this and not be like that.
Này các Tỳ khưu, sắc là vô ngã. Này các Tỳ khưu, nếu sắc này là tự ngã, sắc này sẽ không dẫn đến khổ não, và người ta có thể có được quyền đối với sắc rằng: ‘Mong rằng sắc của tôi hãy như thế này, mong rằng sắc của tôi đừng như thế kia.’ Và này các Tỳ khưu, chính vì sắc là vô ngã, do đó sắc dẫn đến khổ não, và người ta không thể có được quyền đối với sắc rằng: ‘Mong rằng sắc của tôi hãy như thế này, mong rằng sắc của tôi đừng như thế kia.’ Thọ là vô ngã. Này các Tỳ khưu, nếu thọ này là tự ngã, thọ này sẽ không dẫn đến khổ não, và người ta có thể có được quyền đối với thọ rằng: ‘Mong rằng thọ của tôi hãy như thế này, mong rằng thọ của tôi đừng như thế kia.’ Và này các Tỳ khưu, chính vì thọ là vô ngã, do đó thọ dẫn đến khổ não, và người ta không thể có được quyền đối với thọ rằng: ‘Mong rằng thọ của tôi hãy như thế này, mong rằng thọ của tôi đừng như thế kia.’ Tưởng là vô ngã. Này các Tỳ khưu, nếu tưởng này là tự ngã, tưởng này sẽ không dẫn đến khổ não, và người ta có thể có được quyền đối với tưởng rằng: ‘Mong rằng tưởng của tôi hãy như thế này, mong rằng tưởng của tôi đừng như thế kia.’ Và này các Tỳ khưu, chính vì tưởng là vô ngã, do đó tưởng dẫn đến khổ não, và người ta không thể có được quyền đối với tưởng rằng: ‘Mong rằng tưởng của tôi hãy như thế này, mong rằng tưởng của tôi đừng như thế kia.’ Các hành là vô ngã. Này các Tỳ khưu, nếu các hành này là tự ngã, các hành này sẽ không dẫn đến khổ não, và người ta có thể có được quyền đối với các hành rằng: ‘Mong rằng các hành của tôi hãy như thế này, mong rằng các hành của tôi đừng như thế kia.’ Và này các Tỳ khưu, chính vì các hành là vô ngã, do đó các hành dẫn đến khổ não, và người ta không thể có được quyền đối với các hành rằng: ‘Mong rằng các hành của tôi hãy như thế này, mong rằng các hành của tôi đừng như thế kia.’ Thức là vô ngã. Này các Tỳ khưu, nếu thức này là tự ngã, thức này sẽ không dẫn đến khổ não, và người ta có thể có được quyền đối với thức rằng: ‘Mong rằng thức của tôi hãy như thế này, mong rằng thức của tôi đừng như thế kia.’ Và này các Tỳ khưu, chính vì thức là vô ngã, do đó thức dẫn đến khổ não, và người ta không thể có được quyền đối với thức rằng: ‘Mong rằng thức của tôi hãy như thế này, mong rằng thức của tôi đừng như thế kia.’
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti? “Dukkhaṁ, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ—etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā”ti? “No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā niccā vā aniccā vā”ti? “Aniccā, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti? “Dukkhaṁ, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ—etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā”ti? “No hetaṁ, bhante”.
“Saññā niccā vā aniccā vā”ti? “Aniccā, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti? “Dukkhaṁ, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ—etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā”ti? “No hetaṁ, bhante”.
“Saṅkhārā niccā vā aniccā vā”ti? “Aniccā, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti? “Dukkhaṁ, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ—etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā”ti? “No hetaṁ, bhante”.
“Viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti? “Aniccaṁ, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti? “Dukkhaṁ, bhante”. “Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ—etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā”ti? “No hetaṁ, bhante”.
What do you think, monks: is form permanent or impermanent?”—“Impermanent, sir.”—“Is what is impermanent suffering or happiness?”—“Suffering.”—“And that which is impermanent, suffering, and changeable by nature, is it proper to regard it like this: ‘This is mine, I am this, this is my essence?’”—“Definitely not.”
“What do you think: is feeling permanent or impermanent?”—“Impermanent.”—“Is what is impermanent suffering or happiness?”—“Suffering.”—“And that which is impermanent, suffering, and changeable by nature, is it proper to regard it like this: ‘This is mine, I am this, this is my essence?’”—“Definitely not.”
“What do you think: is perception permanent or impermanent?”—“Impermanent.”—“Is what is impermanent suffering or happiness?”—“Suffering.”—“And that which is impermanent, suffering, and changeable by nature, is it proper to regard it like this: ‘This is mine, I am this, this is my essence?’”—“Definitely not.”
“What do you think: are intentional activities permanent or impermanent?”—“Impermanent.”—“Is what is impermanent suffering or happiness?”—“Suffering.”—“And that which is impermanent, suffering, and changeable by nature, is it proper to regard it like this: ‘This is mine, I am this, this is my essence?’”—“Definitely not.”
“What do you think: is consciousness permanent or impermanent?”—“Impermanent.”—“Is what is impermanent suffering or happiness?”—“Suffering.”—“And that which is impermanent, suffering, and changeable by nature, is it proper to regard it like this: ‘This is mine, I am this, this is my essence?’”—“Definitely not.”
21. Này các Tỳ khưu, các ông nghĩ thế nào về điều này: Sắc là thường hay vô thường? – Bạch Thế Tôn, là vô thường. – Cái gì vô thường là khổ hay lạc? – Bạch Thế Tôn, là khổ. – Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có hợp lý chăng khi xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’? – Bạch Thế Tôn, không hợp lý. Thọ là thường hay vô thường? – Bạch Thế Tôn, là vô thường. – Cái gì vô thường là khổ hay lạc? – Bạch Thế Tôn, là khổ. – Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có hợp lý chăng khi xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’? – Bạch Thế Tôn, không hợp lý. Tưởng là thường hay vô thường? – Bạch Thế Tôn, là vô thường. – Cái gì vô thường là khổ hay lạc? – Bạch Thế Tôn, là khổ. – Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có hợp lý chăng khi xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’? – Bạch Thế Tôn, không hợp lý. Các hành là thường hay vô thường? – Bạch Thế Tôn, là vô thường. – Cái gì vô thường là khổ hay lạc? – Bạch Thế Tôn, là khổ. – Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có hợp lý chăng khi xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’? – Bạch Thế Tôn, không hợp lý. Thức là thường hay vô thường? – Bạch Thế Tôn, là vô thường. – Cái gì vô thường là khổ hay lạc? – Bạch Thế Tôn, là khổ. – Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có hợp lý chăng khi xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’? – Bạch Thế Tôn, không hợp lý.
“Tasmātiha, bhikkhave, yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ—netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attāti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Yā kāci vedanā atītānāgatapaccuppannā ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikā vā sukhumā vā hīnā vā paṇītā vā yā dūre santike vā, sabbā vedanā—netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attāti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Yā kāci saññā atītānāgatapaccuppannā ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikā vā sukhumā vā hīnā vā paṇītā vā yā dūre santike vā, sabbā saññā—netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attāti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Ye keci saṅkhārā atītānāgatapaccuppannā ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikā vā sukhumā vā hīnā vā paṇītā vā ye dūre santike vā, sabbe saṅkhārā—netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attāti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ—netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attāti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
“So, whatever form there is—whether past, present, or future, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near—it should all be seen with right wisdom according to reality: ‘This is not mine, I am not this, this is not my essence.’
Whatever feeling there is—whether past, present, or future, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near—it should all be seen with right wisdom according to reality: ‘This is not mine, I am not this, this is not my essence.’
Whatever perception there is—whether past, present, or future, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near—it should all be seen with right wisdom according to reality: ‘This is not mine, I am not this, this is not my essence.’
Whatever intentional activities there are—whether past, present, or future, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near—they should all be seen with right wisdom according to reality: ‘This is not mine, I am not this, this is not my essence.’
Whatever consciousness there is—whether past, present, or future, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near—it should all be seen with right wisdom according to reality: ‘This is not mine, I am not this, this is not my essence.’
22. “Này các Tỳ khưu, do vậy, bất cứ sắc nào, quá khứ, vị lai, hay hiện tại, ở trong hay ở ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, tất cả sắc ấy cần phải được thấy với chánh trí tuệ đúng theo thực tánh rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Bất cứ thọ nào quá khứ, vị lai, hay hiện tại, ở trong hay ở ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, tất cả thọ ấy cần phải được thấy với chánh trí tuệ đúng theo thực tánh rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Bất cứ tưởng nào quá khứ, vị lai, hay hiện tại, ở trong hay ở ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, tất cả tưởng ấy cần phải được thấy với chánh trí tuệ đúng theo thực tánh rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Bất cứ các hành nào quá khứ, vị lai, hay hiện tại, ở trong hay ở ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, tất cả các hành ấy cần phải được thấy với chánh trí tuệ đúng theo thực tánh rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Bất cứ thức nào, quá khứ, vị lai, hay hiện tại, ở trong hay ở ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, tất cả thức ấy cần phải được thấy với chánh trí tuệ đúng theo thực tánh rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’”
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati, saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati; nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti, ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
A learned noble disciple who sees this is repelled by form, repelled by feeling, repelled by perception, repelled by intentional activities, and repelled by consciousness. Being repelled, they become desireless. Because they are desireless, they are freed. When they are freed, they know they are freed. They understand that birth has come to an end, that the spiritual life has been fulfilled, that the job has been done, that there is no further state of existence.”
23. “Này các Tỳ khưu, khi thấy như vậy, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều trở nên nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí tuệ biết rằng: ‘Ta đã được giải thoát.’ Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’”
Idamavoca bhagavā. Attamanā pañcavaggiyā bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti. Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne pañcavaggiyānaṁ bhikkhūnaṁ anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsu.
Tena kho pana samayena cha loke arahanto honti.
This is what the Buddha said. The monks from the group of five were pleased and they rejoiced in the Buddha’s exposition. And while this exposition was being spoken to the monks from the group of five, their minds were freed from the corruptions through letting go.
Then there were six perfected ones in the world.
24. Đức Thế Tôn đã thuyết như vậy. Nhóm năm vị Tỳ khưu hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn. Và trong khi bài pháp giải thích này đang được thuyết giảng, tâm của nhóm năm vị Tỳ khưu được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ. Vào lúc bấy giờ, trên thế gian có sáu vị A-la-hán.
Pañcavaggiyakathā niṭṭhitā.
The account of the group of five is finished.
Câu chuyện về nhóm năm vị đã kết thúc.
Paṭhamabhāṇavāro.
The first section for recitation is finished.
Phẩm tụng thứ nhất.
7. Câu chuyện về sự xuất gia
Tena kho pana samayena bārāṇasiyaṁ yaso nāma kulaputto seṭṭhiputto sukhumālo hoti. Tassa tayo pāsādā honti—eko hemantiko, eko gimhiko, eko vassiko.
So vassike pāsāde cattāro māse nippurisehi tūriyehi paricārayamāno na heṭṭhāpāsādaṁ orohati. Atha kho yasassa kulaputtassa pañcahi kāmaguṇehi samappitassa samaṅgībhūtassa paricārayamānassa paṭikacceva niddā okkami, parijanassapi niddā okkami, sabbarattiyo ca telapadīpo jhāyati. Atha kho yaso kulaputto paṭikacceva pabujjhitvā addasa sakaṁ parijanaṁ supantaṁ—aññissā kacche vīṇaṁ, aññissā kaṇṭhe mudiṅgaṁ, aññissā kacche āḷambaraṁ, aññaṁ vikesikaṁ, aññaṁ vikkheḷikaṁ, aññā vippalapantiyo, hatthappattaṁ susānaṁ maññe. Disvānassa ādīnavo pāturahosi, nibbidāya cittaṁ saṇṭhāsi. Atha kho yaso kulaputto udānaṁ udānesi—“upaddutaṁ vata bho, upassaṭṭhaṁ vata bho”ti.
At that time in Benares there was a gentleman called Yasa, the son of a wealthy merchant, who had been brought up in great comfort. He had three stilt houses: one for the winter, one for the summer, and one for the rainy season.
While Yasa was spending the four months of the rainy season in the rainy-season house, he was attended on by female musicians, and he did not come down from that house. On one occasion, while he was enjoying himself with worldly pleasures, he fell asleep before his attendants. He then woke up first, while the oil lamp was still burning. He saw his attendants sleeping: one with a lute in her armpit, another with a tabor on her neck, still another with a drum in her armpit; one with hair disheveled, another drooling, still another talking in her sleep. It was like a charnel ground before his very eyes. When he saw this, the downside became clear, and a feeling of repulsion stayed with him. He uttered a heartfelt exclamation: “Oh the oppression! Oh the affliction!”
25. Vào lúc bấy giờ, tại thành Ba-la-nại, có một thiện gia nam tử tên là Yasa, con của một trưởng giả, sống rất tinh tế. Vị ấy có ba tòa lâu đài: một cho mùa đông, một cho mùa hạ, và một cho mùa mưa. Vị ấy ở trong tòa lâu đài mùa mưa suốt bốn tháng, được các nữ nhạc công phục vụ, không có nam nhân, và không đi xuống tầng dưới của lâu đài. Bấy giờ, trong khi thiện gia nam tử Yasa đang được phục vụ, thụ hưởng và đắm mình trong năm dục lạc, giấc ngủ đã đến với vị ấy trước tiên, và đoàn tùy tùng cũng chìm vào giấc ngủ. Đèn dầu được thắp sáng suốt cả đêm. Khi ấy, thiện gia nam tử Yasa tỉnh dậy trước tiên và nhìn thấy đoàn tùy tùng của mình đang ngủ: người thì có cây đàn vina dưới nách, người thì có trống mudiṅga trên cổ, người thì có trống āḷambara dưới nách, người thì tóc tai rối bời, người thì chảy nước dãi, những người khác thì nói mê, trông giống như một bãi tha ma vừa tầm tay. Sau khi thấy vậy, sự nguy hại hiện rõ ra cho vị ấy, tâm sanh nhàm chán. Bấy giờ, thiện gia nam tử Yasa thốt lên lời cảm hứng: ‘Ôi, thật là phiền não! Ôi, thật là bức bách!’
Atha kho yaso kulaputto suvaṇṇapādukāyo ārohitvā yena nivesanadvāraṁ tenupasaṅkami. Amanussā dvāraṁ vivariṁsu—“mā yasassa kulaputtassa koci antarāyamakāsi agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti. Atha kho yaso kulaputto yena nagaradvāraṁ tenupasaṅkami. Amanussā dvāraṁ vivariṁsu—“mā yasassa kulaputtassa koci antarāyamakāsi agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti. Atha kho yaso kulaputto yena isipatanaṁ migadāyo tenupasaṅkami.
He then put on his golden shoes and went to the entrance door. Spirits opened the door, thinking, “No-one should create any obstacle for Yasa going forth into homelessness.” He went to the town gate, and again it was opened by spirits. He then went to the deer park at Isipatana.
Khi ấy, thiện gia nam tử Yasa mang đôi dép vàng, đi đến chỗ cổng nhà. Các phi nhân mở cổng ra, (nghĩ rằng): ‘Mong rằng không ai gây chướng ngại cho việc thiện gia nam tử Yasa xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình.’ Khi ấy, thiện gia nam tử Yasa đi đến chỗ cổng thành. Các phi nhân mở cổng ra, (nghĩ rằng): ‘Mong rằng không ai gây chướng ngại cho việc thiện gia nam tử Yasa xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình.’ Khi ấy, thiện gia nam tử Yasa đi đến chỗ vườn Lộc Uyển ở Isipatana.
Tena kho pana samayena bhagavā rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya ajjhokāse caṅkamati. Addasā kho bhagavā yasaṁ kulaputtaṁ dūratova āgacchantaṁ, disvāna caṅkamā orohitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho yaso kulaputto bhagavato avidūre udānaṁ udānesi—“upaddutaṁ vata bho, upassaṭṭhaṁ vata bho”ti.
Atha kho bhagavā yasaṁ kulaputtaṁ etadavoca—“idaṁ kho, yasa, anupaddutaṁ, idaṁ anupassaṭṭhaṁ. Ehi, yasa, nisīda, dhammaṁ te desessāmī”ti.
Atha kho yaso kulaputto—“idaṁ kira anupaddutaṁ, idaṁ anupassaṭṭhan”ti haṭṭho udaggo suvaṇṇapādukāhi orohitvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnassa kho yasassa kulaputtassa bhagavā anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ, kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ, nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi. Yadā bhagavā aññāsi yasaṁ kulaputtaṁ kallacittaṁ, muducittaṁ, vinīvaraṇacittaṁ, udaggacittaṁ, pasannacittaṁ, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā taṁ pakāsesi—dukkhaṁ, samudayaṁ, nirodhaṁ, maggaṁ. Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya; evameva yasassa kulaputtassa tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi—“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Just then, after getting up early in the morning, the Buddha was doing walking meditation outside. When the Buddha saw Yasa coming, he stepped down from his walking path and sat down on the prepared seat.
As he was getting close to the Buddha, Yasa uttered the same heartfelt exclamation: “Oh the oppression! Oh the affliction!”
The Buddha said, “This isn’t oppressive, Yasa, this isn’t afflictive. Come and sit down. I’ll give you a teaching.”
Thinking, “Apparently this isn’t oppressive, apparently it’s not afflictive!” excited and joyful, Yasa removed his shoes, approached the Buddha, bowed, and sat down.
The Buddha then gave Yasa a progressive talk—on generosity, morality, and heaven; on the downside, degradation, and defilement of worldly pleasures; and he revealed the benefits of renunciation. When the Buddha knew that Yasa’s mind was ready, supple, without hindrances, joyful, and confident, he revealed the teaching unique to the Buddhas: suffering, its origin, its end, and the path. Just as a clean and stainless cloth absorbs dye properly, so too, while he was sitting right there, Yasa experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.”
26. Vào lúc ấy, đức Thế Tôn thức dậy vào lúc rạng đông của ban đêm rồi đi kinh hành ở ngoài trời. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy thiện nam tử Yasa đang đi đến từ xa. Sau khi nhìn thấy, ngài đi xuống khỏi nơi kinh hành và ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Khi ấy, thiện nam tử Yasa ở không xa đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng rằng: “Ôi, thật là phiền não! Ôi, thật là bức bách!” Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói điều này với thiện nam tử Yasa: “Này Yasa, nơi đây không phiền não, nơi đây không bức bách. Này Yasa, hãy lại đây, hãy ngồi xuống, ta sẽ thuyết Pháp cho ngươi.” Khi ấy, thiện nam tử Yasa, với tâm hoan hỷ phấn khởi (nghĩ rằng): “Nơi đây quả thật không phiền não, nơi đây quả thật không bức bách,” đã cởi đôi dép vàng ra rồi đi đến nơi đức Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết bài pháp tuần tự cho thiện nam tử Yasa đang ngồi một bên, tức là: pháp thoại về bố thí, pháp thoại về giới, pháp thoại về cõi trời; ngài đã tuyên thuyết về sự nguy hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các dục và về lợi ích của sự xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết thiện nam tử Yasa có tâm đã sẵn sàng, tâm đã nhu nhuyến, tâm không còn triền cái, tâm hân hoan, tâm trong sạch, bấy giờ, ngài đã tuyên thuyết bài pháp mà chư Phật đã tự mình chứng ngộ, tức là Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Ví như tấm vải trong sạch, không còn vết đen, có thể thấm đều thuốc nhuộm, cũng như thế ấy, ngay tại chỗ ngồi đó, pháp nhãn không còn bụi bặm, không còn cấu uế đã khởi lên cho thiện nam tử Yasa (với trí tuệ rằng): “Bất cứ cái gì có sanh khởi, tất cả cái ấy đều có diệt tận.”
Atha kho yasassa kulaputtassa mātā pāsādaṁ abhiruhitvā yasaṁ kulaputtaṁ apassantī yena seṭṭhi gahapati tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā seṭṭhiṁ gahapatiṁ etadavoca—“putto te, gahapati, yaso na dissatī”ti. Atha kho seṭṭhi gahapati catuddisā assadūte uyyojetvā sāmaṁyeva yena isipatanaṁ migadāyo tenupasaṅkami. Addasā kho seṭṭhi gahapati suvaṇṇapādukānaṁ nikkhepaṁ, disvāna taṁyeva anugamāsi.
Addasā kho bhagavā seṭṭhiṁ gahapatiṁ dūratova āgacchantaṁ, disvāna bhagavato etadahosi—“yannūnāhaṁ tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkhareyyaṁ yathā seṭṭhi gahapati idha nisinno idha nisinnaṁ yasaṁ kulaputtaṁ na passeyyā”ti. Atha kho bhagavā tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkharesi.
Atha kho seṭṭhi gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca—“api, bhante, bhagavā yasaṁ kulaputtaṁ passeyyā”ti?
“Tena hi, gahapati, nisīda, appeva nāma idha nisinno idha nisinnaṁ yasaṁ kulaputtaṁ passeyyāsī”ti.
Atha kho seṭṭhi gahapati—“idheva kirāhaṁ nisinno idha nisinnaṁ yasaṁ kulaputtaṁ passissāmī”ti haṭṭho udaggo bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnassa kho seṭṭhissa gahapatissa bhagavā anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ, kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ, nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi. Yadā bhagavā aññāsi seṭṭhiṁ gahapatiṁ kallacittaṁ, muducittaṁ, vinīvaraṇacittaṁ, udaggacittaṁ, pasannacittaṁ, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā, taṁ pakāsesi—dukkhaṁ, samudayaṁ, nirodhaṁ, maggaṁ. Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya; evameva seṭṭhissa gahapatissa tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi—“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Atha kho seṭṭhi gahapati diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane bhagavantaṁ etadavoca—“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya—‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi, dhammañca, bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti. Sova loke paṭhamaṁ upāsako ahosi tevāciko.
Soon afterwards Yasa’s mother went up to his stilt house. Not seeing him, she went to her husband and said, “I can’t find your son Yasa.” The merchant then dispatched horsemen to the four directions, while he himself went to the deer park at Isipatana. He saw the imprints of the golden shoes on the ground and he followed along.
When the Buddha saw the wealthy merchant coming, he thought, “Why don’t I use my supernormal powers so that the merchant, when he sits down, doesn’t see Yasa seated next to him?” And he did just that.
The merchant approached the Buddha and said, “Sir, have you seen Yasa by any chance?”
“Please sit down, householder. Perhaps you’ll get to see Yasa.”
When the merchant heard this, he was elated and joyful. And he bowed and sat down.
The Buddha then gave him a progressive talk—on generosity, morality, and heaven; on the downside, degradation, and defilement of worldly pleasures; and he revealed the benefits of renunciation. When the Buddha knew that his mind was ready, supple, without hindrances, joyful, and confident, he revealed the teaching unique to the Buddhas: suffering, its origin, its end, and the path. And just as a clean and stainless cloth absorbs dye properly, so too, while he was sitting right there, the merchant experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.”
He had seen the Truth, had reached, understood, and penetrated it. He had gone beyond doubt and uncertainty, had attained to confidence, and had become independent of others in the Teacher’s instruction. And he said to the Buddha, “Wonderful, sir, wonderful! Just as one might set upright what’s overturned, or reveal what’s hidden, or show the way to one who’s lost, or bring a lamp into the dark so that one with eyes might see what’s there—just so has the Buddha made the Teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, the Teaching, and the Sangha of monks. Please accept me as a lay follower who’s gone for refuge for life.” He was the first person in the world to become a lay follower by means of the triple refuge.
27. Khi ấy, mẹ của thiện nam tử Yasa, sau khi đi lên lầu đài, không nhìn thấy thiện nam tử Yasa nên đã đi đến nơi vị trưởng giả gia chủ. Sau khi đến, bà đã nói điều này với vị trưởng giả gia chủ: “Thưa gia chủ, con trai của ngài là Yasa không được trông thấy.” Khi ấy, vị trưởng giả gia chủ sau khi phái các sứ giả cưỡi ngựa đi bốn phương đã tự mình đi đến vườn Lộc Uyển ở Isipatana. Vị trưởng giả gia chủ đã nhìn thấy chỗ để đôi dép vàng. Sau khi nhìn thấy, vị ấy đã đi theo dấu vết ấy. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy vị trưởng giả gia chủ đang đi đến từ xa. Sau khi nhìn thấy, ý nghĩ này đã khởi lên nơi đức Thế Tôn: “Ta hãy thực hiện một loại thần thông tác thành để vị trưởng giả gia chủ đang ngồi ở đây không thể nhìn thấy thiện nam tử Yasa đang ngồi ở đây.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã thực hiện một loại thần thông tác thành như thế. Khi ấy, vị trưởng giả gia chủ đã đi đến nơi đức Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, đức Thế Tôn có nhìn thấy thiện nam tử Yasa không ạ?” – “Này gia chủ, vậy thì hãy ngồi xuống. Có lẽ khi ngồi ở đây, ngươi sẽ nhìn thấy thiện nam tử Yasa đang ngồi ở đây.” Khi ấy, vị trưởng giả gia chủ, với tâm hoan hỷ phấn khởi (nghĩ rằng): “Quả thật, khi ngồi ngay tại đây, ta sẽ nhìn thấy thiện nam tử Yasa đang ngồi ngay tại đây,” đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết bài pháp tuần tự cho vị trưởng giả gia chủ đang ngồi một bên, tức là: pháp thoại về bố thí, pháp thoại về giới, pháp thoại về cõi trời; ngài đã tuyên thuyết về sự nguy hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các dục và về lợi ích của sự xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết vị trưởng giả gia chủ có tâm đã sẵn sàng, tâm đã nhu nhuyến, tâm không còn triền cái, tâm hân hoan, tâm trong sạch, bấy giờ, ngài đã tuyên thuyết bài pháp mà chư Phật đã tự mình chứng ngộ, tức là Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Ví như tấm vải trong sạch, không còn vết đen, có thể thấm đều thuốc nhuộm, cũng như thế ấy, ngay tại chỗ ngồi đó, pháp nhãn không còn bụi bặm, không còn cấu uế đã khởi lên cho vị trưởng giả gia chủ (với trí tuệ rằng): “Bất cứ cái gì có sanh khởi, tất cả cái ấy đều có diệt tận.” Khi ấy, vị trưởng giả gia chủ đã thấy Pháp, đã đạt đến Pháp, đã hiểu rõ Pháp, đã thâm nhập Pháp, đã vượt qua hoài nghi, đã hết phân vân, đã đạt đến sự tự tín, không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư, đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Thật vi diệu, bạch ngài! Thật vi diệu, bạch ngài! Bạch ngài, ví như người ta lật ngửa vật bị úp, hay mở ra vật bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc, hay đem đèn dầu vào trong bóng tối với ý nghĩ: ‘Những ai có mắt sẽ thấy được các sắc,’ cũng như thế ấy, Pháp đã được đức Thế Tôn tuyên thuyết bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, con xin quy y đức Thế Tôn, quy y Pháp, và quy y chúng Tỳ khưu. Mong đức Thế Tôn hãy ghi nhận con là người cận sự nam đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.” Vị ấy đã là người cận sự nam đầu tiên ở trên đời quy y Tam Bảo bằng lời nói.
Atha kho yasassa kulaputtassa pituno dhamme desiyamāne yathādiṭṭhaṁ yathāviditaṁ bhūmiṁ paccavekkhantassa anupādāya āsavehi cittaṁ vimucci. Atha kho bhagavato etadahosi—“yasassa kho kulaputtassa pituno dhamme desiyamāne yathādiṭṭhaṁ yathāviditaṁ bhūmiṁ paccavekkhantassa anupādāya āsavehi cittaṁ vimuttaṁ. Abhabbo kho yaso kulaputto hīnāyāvattitvā kāme paribhuñjituṁ, seyyathāpi pubbe agārikabhūto; yannūnāhaṁ taṁ iddhābhisaṅkhāraṁ paṭippassambheyyan”ti. Atha kho bhagavā taṁ iddhābhisaṅkhāraṁ paṭippassambhesi.
Addasā kho seṭṭhi gahapati yasaṁ kulaputtaṁ nisinnaṁ disvāna, yasaṁ kulaputtaṁ etadavoca—“mātā te, tāta yasa, paridevasokasamāpannā, dehi mātuyā jīvitan”ti. Atha kho yaso kulaputto bhagavantaṁ ullokesi. Atha kho bhagavā seṭṭhiṁ gahapatiṁ etadavoca—“taṁ kiṁ maññasi, gahapati, yassa sekkhena ñāṇena sekkhena dassanena dhammo diṭṭho vidito seyyathāpi tayā, tassa yathādiṭṭhaṁ yathāviditaṁ bhūmiṁ paccavekkhantassa anupādāya āsavehi cittaṁ vimuttaṁ. Bhabbo nu kho so, gahapati, hīnāyāvattitvā kāme paribhuñjituṁ seyyathāpi pubbe agārikabhūto”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Yasassa kho, gahapati, kulaputtassa sekkhena ñāṇena sekkhena dassanena dhammo diṭṭho vidito seyyathāpi tayā, tassa yathādiṭṭhaṁ yathāviditaṁ bhūmiṁ paccavekkhantassa anupādāya āsavehi cittaṁ vimuttaṁ. Abhabbo kho, gahapati, yaso kulaputto hīnāyāvattitvā kāme paribhuñjituṁ seyyathāpi pubbe agārikabhūto”ti.
“Lābhā, bhante, yasassa kulaputtassa, suladdhaṁ, bhante, yasassa kulaputtassa, yathā yasassa kulaputtassa anupādāya āsavehi cittaṁ vimuttaṁ. Adhivāsetu me, bhante, bhagavā ajjatanāya bhattaṁ yasena kulaputtena pacchāsamaṇenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho seṭṭhi gahapati bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho yaso kulaputto acirapakkante seṭṭhimhi gahapatimhi bhagavantaṁ etadavoca—“labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti. “Ehi bhikkhū”ti bhagavā avoca—“svākkhāto dhammo, cara brahmacariyaṁ sammā dukkhassa antakiriyāyā”ti. Sāva tassa āyasmato upasampadā ahosi. Tena kho pana samayena satta loke arahanto honti.
While his father was given this teaching, Yasa reviewed what he had already seen and understood, and his mind was freed from the corruptions through letting go. Realizing what had happened, the Buddha thought, “Yasa is incapable of returning to the lower life to enjoy worldly pleasures as he did while still a householder. Let me stop using my supernormal powers.” And he did.
The merchant saw Yasa sitting there and he said to him, “Dear Yasa, your mother is grieving and lamenting. Please give her back her life.” Yasa looked to the Buddha, and the Buddha said to the merchant, “What do you think, householder: suppose the mind of one such as you—who has seen and understood the Truth with the trainee’s knowledge and vision—while he was reviewing what he had already seen and understood, was freed from the corruptions through letting go. Would he be able to return to the lower life to enjoy worldly pleasures as he did while still a householder?”
“Definitely not.”
“But this is what has happened to Yasa. He is now unable to return to the lower life.”
“It’s a great gain for Yasa that his mind has been freed from the corruptions through letting go! Sir, please accept today’s meal from me with Yasa as your attendant.” The Buddha consented by remaining silent.
Knowing that the Buddha had consented, the merchant got up from his seat, bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left. Soon after the merchant had left, Yasa said to the Buddha, “Sir, I wish to receive the going forth in your presence. I wish to receive the full ordination.” The Buddha said, “Come, monk. The Teaching is well-proclaimed. Practice the spiritual life to make a complete end of suffering.” That was the full ordination of that venerable. Then there were seven perfected ones in the world.
28. Bấy giờ, trong khi Pháp đang được thuyết giảng cho người cha của thiện nam tử Yasa, tâm của thiện nam tử Yasa, trong khi đang quán xét thực tại như đã thấy, như đã biết, đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ. Bấy giờ, đức Thế Tôn khởi lên ý nghĩ này: 'Trong khi Pháp đang được thuyết giảng cho người cha, tâm của thiện nam tử Yasa, trong khi đang quán xét thực tại như đã thấy, như đã biết, đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ. Thiện nam tử Yasa nay không còn có khả năng quay trở lại đời sống thấp hèn để hưởng thụ các dục lạc như trước kia khi còn là người tại gia. Ta nên làm cho sự vận hành thần thông ấy được an tịnh lại.' Bấy giờ, đức Thế Tôn làm cho sự vận hành thần thông ấy được an tịnh lại. Vị trưởng giả gia chủ thấy thiện nam tử Yasa đang ngồi, sau khi thấy, ông nói với thiện nam tử Yasa rằng: 'Này con Yasa, mẹ của con đang chìm trong than khóc sầu muộn. Hãy trả lại sự sống cho mẹ con.' Bấy giờ, thiện nam tử Yasa nhìn lên đức Thế Tôn. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói với vị trưởng giả gia chủ rằng: 'Này gia chủ, ông nghĩ thế nào? Đối với người đã thấy và biết Pháp bằng trí tuệ của bậc hữu học, bằng kiến của bậc hữu học, cũng giống như ông; và đối với người ấy, trong khi đang quán xét thực tại như đã thấy, như đã biết, tâm đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ. Này gia chủ, người ấy có còn khả năng quay trở lại đời sống thấp hèn để hưởng thụ các dục lạc như trước kia khi còn là người tại gia không?' 'Bạch ngài, không thể được.' 'Này gia chủ, thiện nam tử Yasa đã thấy và biết Pháp bằng trí tuệ của bậc hữu học, bằng kiến của bậc hữu học, cũng giống như ông. Đối với người ấy, trong khi đang quán xét thực tại như đã thấy, như đã biết, tâm đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ. Này gia chủ, thiện nam tử Yasa không còn có khả năng quay trở lại đời sống thấp hèn để hưởng thụ các dục lạc như trước kia khi còn là người tại gia.' 'Bạch ngài, thật là một lợi ích cho thiện nam tử Yasa! Bạch ngài, thật là một lợi ích lớn lao cho thiện nam tử Yasa, vì tâm của thiện nam tử Yasa đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ. Bạch ngài, mong đức Thế Tôn, cùng với thiện nam tử Yasa làm thị giả, nhận lời mời dùng bữa ăn hôm nay của con.' Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng. Bấy giờ, vị trưởng giả gia chủ, biết được sự chấp thuận của đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh ngài theo chiều bên phải rồi ra về. Bấy giờ, không lâu sau khi vị trưởng giả gia chủ ra về, thiện nam tử Yasa bạch với đức Thế Tôn rằng: 'Bạch ngài, con mong được xuất gia dưới sự hiện diện của đức Thế Tôn, con mong được thọ cụ túc giới.' 'Hãy đến, tỳ khưu,' đức Thế Tôn nói, 'Pháp đã được khéo thuyết giảng. Hãy thực hành phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau.' Đó chính là lễ cụ túc giới của vị tôn giả ấy. Vào lúc bấy giờ, có bảy vị A-la-hán ở trên đời.
Yasassa pabbajjā niṭṭhitā.
The going forth of Yasa is finished.
Phần xuất gia của Yasa đã hoàn tất.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya āyasmatā yasena pacchāsamaṇena yena seṭṭhissa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho āyasmato yasassa mātā ca purāṇadutiyikā ca yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Tāsaṁ bhagavā anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ, kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ, nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi. Yadā tā bhagavā aññāsi kallacittā, muducittā, vinīvaraṇacittā, udaggacittā, pasannacittā, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā taṁ pakāsesi—dukkhaṁ, samudayaṁ, nirodhaṁ, maggaṁ. Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya; evameva tāsaṁ tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi—“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Tā diṭṭhadhammā pattadhammā viditadhammā pariyogāḷhadhammā tiṇṇavicikicchā vigatakathaṅkathā vesārajjappattā aparappaccayā satthusāsane bhagavantaṁ etadavocuṁ—“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante …pe… etā mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāma, dhammañca, bhikkhusaṅghañca. Upāsikāyo no bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetā saraṇaṁ gatā”ti. Tā ca loke paṭhamaṁ upāsikā ahesuṁ tevācikā.
The following morning the Buddha robed up, took his bowl and robe, and, with Venerable Yasa as his attendant, went to the house of that merchant where he sat down on the prepared seat. Yasa’s mother and ex-wife approached the Buddha, bowed, and sat down.
The Buddha gave them a progressive talk—on generosity, morality, and heaven; on the downside, degradation, and defilement of worldly pleasures; and he revealed the benefits of renunciation. When the Buddha knew that their minds were ready, supple, without hindrances, joyful, and confident, he revealed the teaching unique to the Buddhas: suffering, its origin, its end, and the path. And just as a clean and stainless cloth absorbs dye properly, so too, while they were sitting right there, they experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.”
They had seen the Truth, had reached, understood, and penetrated it. They had gone beyond doubt and uncertainty, had attained to confidence, and had become independent of others in the Teacher’s instruction. And they said to the Buddha, “Wonderful, sir, wonderful! … We go for refuge to the Buddha, the Teaching, and the Sangha of monks. Please accept us as lay followers who have gone for refuge for life.” And they were the first women in the world to become lay followers by means of the triple refuge.
29. Bấy giờ, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đắp y, mang bát và y, cùng với tôn giả Yasa làm thị giả, đi đến nhà của vị trưởng giả gia chủ. Sau khi đến, ngài ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Bấy giờ, mẹ và người vợ cũ của tôn giả Yasa đi đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến, họ đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn thuyết cho họ một bài pháp tuần tự, nghĩa là: thuyết về bố thí, thuyết về giới hạnh, thuyết về cõi trời; ngài trình bày về sự nguy hại, sự thấp kém, sự ô uế của các dục lạc, và lợi ích của sự xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết tâm của họ đã sẵn sàng, nhu nhuyến, không còn chướng ngại, phấn chấn, và trong sáng, ngài bèn thuyết giảng bài pháp cốt tủy của chư Phật: khổ, tập, diệt, đạo. Ví như tấm vải trong sạch, không còn vết đen, có thể thấm đều thuốc nhuộm, cũng vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không còn bụi bặm, không còn vết nhơ đã khởi lên trong họ: 'Bất cứ cái gì có bản chất sanh khởi, tất cả cái đó đều có bản chất đoạn diệt.' Họ, những người đã thấy Pháp, đã đạt đến Pháp, đã hiểu rõ Pháp, đã thâm nhập Pháp, đã vượt qua hoài nghi, đã thoát khỏi sự phân vân, đã đạt được sự tự tin, không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư, đã bạch với đức Thế Tôn rằng: 'Thật vi diệu, bạch ngài! Thật vi diệu, bạch ngài! ... Bạch ngài, chúng con xin quy y đức Thế Tôn, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn tỳ khưu. Mong đức Thế Tôn ghi nhận chúng con là những nữ cận sự đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.' Và họ đã trở thành những nữ cận sự đầu tiên trên đời quy y Tam Bảo bằng lời nói.
Atha kho āyasmato yasassa mātā ca pitā ca purāṇadutiyikā ca bhagavantañca āyasmantañca yasaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā, bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ, ekamantaṁ nisīdiṁsu. Atha kho bhagavā āyasmato yasassa mātarañca pitarañca purāṇadutiyikañca dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Yasa’s mother, father, and ex-wife personally served various kinds of fine foods to the Buddha and Yasa. When the Buddha had finished his meal, they sat down. The Buddha then instructed, inspired, and gladdened them with a teaching, before getting up from his seat and leaving.
Bấy giờ, mẹ, cha, và người vợ cũ của tôn giả Yasa đã tự tay dâng cúng và làm cho đức Thế Tôn và tôn giả Yasa thỏa mãn với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cho đến khi các ngài không dùng nữa. Khi đức Thế Tôn đã dùng bữa xong, tay đã rời khỏi bát, họ ngồi xuống một bên. Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ mẹ, cha, và người vợ cũ của tôn giả Yasa, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về.
Assosuṁ kho āyasmato yasassa cattāro gihisahāyakā bārāṇasiyaṁ seṭṭhānuseṭṭhīnaṁ kulānaṁ puttā—vimalo, subāhu, puṇṇaji, gavampati—yaso kira kulaputto kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitoti. Sutvāna nesaṁ etadahosi—“na hi nūna so orako dhammavinayo, na sā orakā pabbajjā, yattha yaso kulaputto kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito”ti. Te yenāyasmā yaso tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ yasaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu.
Atha kho āyasmā yaso te cattāro gihisahāyake ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā yaso bhagavantaṁ etadavoca—“ime me, bhante, cattāro gihisahāyakā bārāṇasiyaṁ seṭṭhānuseṭṭhīnaṁ kulānaṁ puttā—vimalo, subāhu, puṇṇaji, gavampati. Ime bhagavā ovadatu anusāsatū”ti.
Tesaṁ bhagavā anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi. Yadā te bhagavā aññāsi kallacitte muducitte vinīvaraṇacitte udaggacitte pasannacitte, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā, taṁ pakāsesi dukkhaṁ samudayaṁ nirodhaṁ maggaṁ. Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya; evameva tesaṁ tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi—“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Te diṭṭhadhammā pattadhammā viditadhammā pariyogāḷhadhammā tiṇṇavicikicchā vigatakathaṅkathā vesārajjappattā aparappaccayā satthusāsane bhagavantaṁ etadavocuṁ—“labheyyāma mayaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyāma upasampadan”ti. “Etha bhikkhavo”ti bhagavā avoca—“svākkhāto dhammo, caratha brahmacariyaṁ sammā dukkhassa antakiriyāyā”ti. Sāva tesaṁ āyasmantānaṁ upasampadā ahosi. Atha kho bhagavā te bhikkhū dhammiyā kathāya ovadi anusāsi. Tesaṁ bhagavatā dhammiyā kathāya ovadiyamānānaṁ anusāsiyamānānaṁ anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsu. Tena kho pana samayena ekādasa loke arahanto honti.
Now Yasa had four friends—Vimala, Subāhu, Puṇṇaji, and Gavampati—who were from the wealthiest merchant families in Benares. When they heard that Yasa had shaved off his hair and beard, put on ocher robes, and gone forth into homelessness, they said to one another, “This must be an extraordinary spiritual path, an extraordinary going forth, for Yasa to have done this.” And they went to Yasa and bowed down to him.
Yasa then took his four friends to the Buddha. He bowed, sat down, and said, “Sir, these four friends of mine—Vimala, Subāhu, Puṇṇaji, and Gavampati—are from the wealthiest merchant families in Benares. Please instruct them.”
The Buddha gave them a progressive talk: on generosity, morality, and heaven; on the downside, degradation, and defilement of worldly pleasures; and he revealed the benefits of renunciation. When the Buddha knew that their minds were ready, supple, without hindrances, joyful, and confident, he revealed the teaching unique to the Buddhas: suffering, its origin, its end, and the path. And just as a clean and stainless cloth absorbs dye properly, so too, while they were sitting right there, they experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.”
They had seen the Truth, had reached, understood, and penetrated it. They had gone beyond doubt and uncertainty, had attained to confidence, and had become independent of others in the Teacher’s instruction. And they said to the Buddha, “Sir, we wish to receive the going forth in your presence. We wish to receive the full ordination.” The Buddha said, “Come, monks. The Teaching is well-proclaimed. Practice the spiritual life to make a complete end of suffering.” That was the full ordination of those venerables. Then, as the Buddha instructed those monks in the Teaching, their minds were freed from the corruptions through letting go. And there were eleven perfected ones in the world.
30. Bốn người bạn tại gia của trưởng lão Yasa, là con của các gia tộc trưởng giả kế thừa ở Bārāṇasī – tên là Vimala, Subāhu, Puṇṇaji, và Gavampati – đã nghe tin rằng: “Thiện gia nam tử Yasa đã cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đã xuất gia.” Sau khi nghe, họ đã suy nghĩ như vầy: “Chắc chắn Giáo pháp và Giới luật ấy không phải là thấp kém, sự xuất gia ấy không phải là thấp kém, nơi mà thiện gia nam tử Yasa đã cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đã xuất gia.” Họ đã đi đến chỗ trưởng lão Yasa; sau khi đến, họ đảnh lễ trưởng lão Yasa rồi đứng một bên. Bấy giờ, trưởng lão Yasa dẫn bốn người bạn tại gia ấy đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, ngài đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, trưởng lão Yasa bạch với đức Thế Tôn rằng: “Bạch đức Thế Tôn, đây là bốn người bạn tại gia của con, là con của các gia tộc trưởng giả kế thừa ở Bārāṇasī – tên là Vimala, Subāhu, Puṇṇaji, và Gavampati. Xin đức Thế Tôn hãy giáo huấn, chỉ dạy cho họ.” Đức Thế Tôn đã thuyết cho họ bài pháp tuần tự, tức là: thuyết về bố thí, thuyết về giới hạnh, thuyết về các cõi trời; Ngài tuyên thuyết về sự nguy hại, sự hạ liệt, sự ô nhiễm của các dục và về lợi ích của sự xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết tâm của họ đã sẵn sàng, nhu nhuyến, không còn triền cái, hân hoan, và trong sạch, bấy giờ Ngài tuyên thuyết bài pháp cao diệu của chư Phật, tức là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Giống như tấm vải trong sạch, không còn vết dơ, có thể thấm đều thuốc nhuộm, cũng vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không trần cấu, không vết nhơ đã khởi lên nơi họ: “Phàm pháp gì có sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có đoạn diệt.” Họ đã thấy pháp, đã đạt đến pháp, đã liễu tri pháp, đã thâm nhập pháp, đã vượt qua hoài nghi, đã hết phân vân, đã đạt đến sự vững tin, không còn tùy thuộc vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư, họ đã bạch với đức Thế Tôn rằng: “Bạch đức Thế Tôn, mong rằng chúng con được xuất gia dưới sự hiện diện của đức Thế Tôn, mong rằng chúng con được thọ cụ túc giới.” Đức Thế Tôn phán: “Hãy đến, này các Tỳ khưu. Giáo pháp đã được khéo thuyết giảng. Hãy thực hành phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau.” Đó chính là lễ cụ túc giới của các vị trưởng lão ấy. Bấy giờ, đức Thế Tôn đã giáo huấn, chỉ dạy các vị Tỳ khưu ấy bằng một bài pháp thoại. Trong khi được đức Thế Tôn giáo huấn, chỉ dạy bằng bài pháp thoại, tâm của họ đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ. Vào lúc bấy giờ, trên thế gian có mười một vị A-la-hán.
Catugihisahāyakapabbajjā niṭṭhitā.
The going forth of the four friends is finished.
Phẩm Xuất Gia Của Bốn Người Bạn Tại Gia, Dứt.
Assosuṁ kho āyasmato yasassa paññāsamattā gihisahāyakā jānapadā pubbānupubbakānaṁ kulānaṁ puttā—yaso kira kulaputto kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitoti. Sutvāna nesaṁ etadahosi—“na hi nūna so orako dhammavinayo, na sā orakā pabbajjā, yattha yaso kulaputto kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito”ti. Te yenāyasmā yaso tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ yasaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu.
Atha kho āyasmā yaso te paññāsamatte gihisahāyake ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā yaso bhagavantaṁ etadavoca—“ime me, bhante, paññāsamattā gihisahāyakā jānapadā pubbānupubbakānaṁ kulānaṁ puttā. Ime bhagavā ovadatu anusāsatū”ti.
Tesaṁ bhagavā anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi. Yadā te bhagavā aññāsi kallacitte muducitte vinīvaraṇacitte udaggacitte pasannacitte, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā, taṁ pakāsesi dukkhaṁ samudayaṁ nirodhaṁ maggaṁ. Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya; evameva tesaṁ tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi—“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Te diṭṭhadhammā pattadhammā viditadhammā pariyogāḷhadhammā tiṇṇavicikicchā vigatakathaṅkathā vesārajjappattā aparappaccayā satthusāsane bhagavantaṁ etadavocuṁ—“labheyyāma mayaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyāma upasampadan”ti. “Etha bhikkhavo”ti bhagavā avoca—“svākkhāto dhammo, caratha brahmacariyaṁ sammā dukkhassa antakiriyāyā”ti. Sāva tesaṁ āyasmantānaṁ upasampadā ahosi. Atha kho bhagavā te bhikkhū dhammiyā kathāya ovadi anusāsi. Tesaṁ bhagavatā dhammiyā kathāya ovadiyamānānaṁ anusāsiyamānānaṁ anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsu. Tena kho pana samayena ekasaṭṭhi loke arahanto honti.
Fifty of Yasa’s friends from leading families in the countryside also heard that Yasa had shaved off his hair and beard, put on ocher robes, and gone forth into homelessness. They too said to one another, “This must be an extraordinary spiritual path, an extraordinary going forth, for Yasa to have done this.” And they went to Yasa and bowed down to him.
Yasa then took his fifty friends to the Buddha. He bowed, sat down, and said, “Sir, these fifty friends of mine are from leading families in the countryside. Please instruct them.”
The Buddha then gave them a progressive talk—on generosity, morality, and heaven; on the downside, degradation, and defilement of worldly pleasures; and he revealed the benefits of renunciation. When the Buddha knew that their minds were ready, supple, without hindrances, joyful, and confident, he revealed the teaching unique to the Buddhas: suffering, its origin, its end, and the path. And just as a clean and stainless cloth absorbs dye properly, so too, while they were sitting right there, they experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.”
They had seen the Truth, had reached, understood, and penetrated it. They had gone beyond doubt and uncertainty, had attained to confidence, and had become independent of others in the Teacher’s instruction. And they said to the Buddha, “Sir, we wish to receive the going forth in your presence. We wish to receive the full ordination.” The Buddha said, “Come, monks. The Teaching is well-proclaimed. Practice the spiritual life to make a complete end of suffering.” That was the full ordination of those venerables. Then, as the Buddha instructed those monks in the Teaching, their minds were freed from the corruptions through letting go. And there were sixty-one perfected ones in the world.
31. Năm mươi người bạn tại gia của trưởng lão Yasa, là con trai của các gia đình danh giá nối tiếp nhiều đời ở miền quê, đã nghe được rằng: “Thiện gia nam tử Yasa đã cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia rồi.” Sau khi nghe, họ đã suy nghĩ như vầy: “Chắc chắn Pháp và Luật ấy không phải là thấp kém, sự xuất gia ấy không phải là thấp kém, nơi mà thiện gia nam tử Yasa đã cạo bỏ râu tóc, đắp y cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia.” Họ đã đi đến chỗ trưởng lão Yasa, sau khi đến, họ đã đảnh lễ trưởng lão Yasa rồi đứng một bên. Bấy giờ, trưởng lão Yasa đã dẫn năm mươi người bạn tại gia ấy đi đến chỗ đức Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi một bên. Ngồi một bên, trưởng lão Yasa đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, đây là năm mươi người bạn tại gia của con, là con trai của các gia đình danh giá nối tiếp nhiều đời ở miền quê. Xin đức Thế Tôn hãy giáo huấn, hãy chỉ dạy cho những người này.” Đức Thế Tôn đã thuyết cho họ bài pháp tuần tự, tức là: thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về cõi trời; Ngài đã tuyên thuyết về sự nguy hại, sự hạ liệt, sự ô nhiễm của các dục và về lợi ích trong sự xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết họ có tâm sẵn sàng, tâm nhu nhuyến, tâm không triền cái, tâm hân hoan, tâm tịnh tín, bấy giờ Ngài đã tuyên thuyết bài pháp mà chư Phật đã tự mình chứng ngộ, tức là khổ, tập, diệt, đạo. Ví như tấm vải thuần tịnh đã được gột sạch vết dơ có thể thấm đều thuốc nhuộm, cũng vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không trần cấu, không vết nhơ đã khởi lên nơi họ rằng: “Phàm vật gì có tánh sanh khởi, tất cả vật ấy đều có tánh đoạn diệt.” Họ đã thấy Pháp, đã đạt đến Pháp, đã liễu tri Pháp, đã thâm nhập Pháp, đã vượt qua hoài nghi, đã hết phân vân, đã đạt đến sự vững tin, không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư, họ đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, mong rằng chúng con được xuất gia, được thọ cụ túc giới nơi sự hiện diện của đức Thế Tôn.” Đức Thế Tôn đã nói: “Hãy đến, này các tỳ khưu. Giáo pháp đã được khéo thuyết. Hãy thực hành phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau.” Và đó chính là lễ thọ cụ túc giới của các vị trưởng lão ấy. Bấy giờ, đức Thế Tôn đã giáo huấn, chỉ dạy các vị tỳ khưu ấy bằng một bài pháp thoại. Trong khi được đức Thế Tôn giáo huấn, chỉ dạy bằng bài pháp thoại, tâm của các vị ấy đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ. Và vào lúc bấy giờ, ở trên đời có sáu mươi mốt vị A-la-hán.
Paññāsagihisahāyakapabbajjā niṭṭhitā.
The going forth of the fifty friends is finished.
Phần xuất gia của năm mươi người bạn tại gia đã kết thúc.
Atha kho bhagavā te bhikkhū āmantesi—“muttāhaṁ, bhikkhave, sabbapāsehi, ye dibbā ye ca mānusā. Tumhepi, bhikkhave, muttā sabbapāsehi, ye dibbā ye ca mānusā. Caratha, bhikkhave, cārikaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ. Mā ekena dve agamittha. Desetha, bhikkhave, dhammaṁ ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsetha. Santi sattā apparajakkhajātikā, assavanatā dhammassa parihāyanti, bhavissanti dhammassa aññātāro. Ahampi, bhikkhave, yena uruvelā senānigamo tenupasaṅkamissāmi dhammadesanāyā”ti.
Then the Buddha addressed those monks: “I’m free from all snares, both human and divine. You, too, are free from all snares, both human and divine. Go wandering, monks, for the benefit and happiness of humanity, out of compassion for the world, for the good, benefit, and happiness of gods and humans. You should each go a different way. Proclaim the Teaching that is good in the beginning, good in the middle, and good in the end, that has a true goal and is well articulated. Set out the perfectly complete and pure spiritual life. There are beings with little dust in their eyes who are ruined because of not hearing the Teaching. There will be those who understand. I too will go to Uruvelā, to Senānigama, to proclaim the Teaching.”
8. Bấy giờ, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, Ta đã được giải thoát khỏi tất cả các tròng thòng lọng, dù là của chư thiên hay của loài người. Này các tỳ khưu, các ngươi cũng đã được giải thoát khỏi tất cả các tròng thòng lọng, dù là của chư thiên hay của loài người. Này các tỳ khưu, hãy ra đi, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Chớ đi hai người trên cùng một con đường. Này các tỳ khưu, hãy thuyết giảng giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn tự. Hãy tuyên dương phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Có những chúng sanh ít bụi trong mắt, do không được nghe giáo pháp nên bị suy thoái. Sẽ có những người thấu hiểu giáo pháp. Này các tỳ khưu, Ta cũng sẽ đi đến Uruvelā, đến làng Senāni để thuyết pháp.”
Atha kho māro pāpimā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi—
Then the Lord of Death, the Evil One, went up to the Buddha and spoke to him in verse:
32. Bấy giờ, Ác ma Māra đi đến chỗ đức Thế Tôn, sau khi đến, đã nói với đức Thế Tôn bằng một bài kệ:
“Baddhosi sabbapāsehi, ye dibbā ye ca mānusā; Mahābandhanabaddhosi, na me samaṇa mokkhasī”ti.
“Muttāhaṁ sabbapāsehi, Ye dibbā ye ca mānusā;
“You’re bound by all snares, Both human and divine. You’re bound by the great bond: You’re not free from me, monastic.”
“I’m free from all snares, Both human and divine.
33. “Ngươi bị trói buộc bởi tất cả các tròng thòng lọng, dù là của chư thiên hay của loài người. Ngươi bị trói buộc bởi sự trói buộc vĩ đại. Này sa-môn, ngươi không thoát khỏi ta đâu.”
“Ta đã được giải thoát khỏi tất cả các tròng thòng lọng, dù là của chư thiên hay của loài người. Ta đã được giải thoát khỏi sự trói buộc vĩ đại. Này Kẻ chấm dứt, ngươi đã bị đánh bại.”
“Antalikkhacaro pāso, yvāyaṁ carati mānaso; Tena taṁ bādhayissāmi, na me samaṇa mokkhasī”ti.
“The snare is ethereal, And it comes from the mind. With that I’ll bind you: You’re not free from me, monastic.”
“Tròng thòng lọng đi trong không gian, cái thuộc về tâm ý này đang di chuyển, ta sẽ dùng nó để trói buộc ngươi. Này sa-môn, ngươi không thoát khỏi ta đâu.”
“Rūpā saddā rasā gandhā, Phoṭṭhabbā ca manoramā; Ettha me vigato chando, Nihato tvamasi antakā”ti.
“Sights, sounds, tastes, smells, And tangibles, the mind’s delights—For these I have no desire: Terminator, you’re defeated!”
“Các sắc, thanh, hương, vị, và xúc chạm khả ái, lòng tham muốn của ta đối với những thứ ấy đã tiêu tan. Này Kẻ chấm dứt, ngươi đã bị đánh bại.”
Atha kho māro pāpimā—“jānāti maṁ bhagavā, jānāti maṁ sugato”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Then the Lord of Death, the Evil One, thought, “The Buddha knows me, the Happy One knows me,” and, sad and miserable, he disappeared right there.
Bấy giờ, Ác ma Māra, đau khổ, buồn rầu (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn biết ta, đức Thiện Thệ biết ta.”
Mārakathā niṭṭhitā.
The account of the Lord of Death is finished.
Câu chuyện về Ma vương đã kết thúc.
Câu chuyện về việc xuất gia và thọ cụ túc giới
Tena kho pana samayena bhikkhū nānādisā nānājanapadā pabbajjāpekkhe ca upasampadāpekkhe ca ānenti—“bhagavā ne pabbājessati upasampādessatī”ti. Tattha bhikkhū ceva kilamanti pabbajjāpekkhā ca upasampadāpekkhā ca.
Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—“etarahi kho bhikkhū nānādisā nānājanapadā pabbajjāpekkhe ca upasampadāpekkhe ca ānenti—‘bhagavā ne pabbājessati upasampādessatī’ti. Tattha bhikkhū ceva kilamanti pabbajjāpekkhā ca upasampadāpekkhā ca. Yannūnāhaṁ bhikkhūnaṁ anujāneyyaṁ—tumheva dāni, bhikkhave, tāsu tāsu disāsu tesu tesu janapadesu pabbājetha upasampādethā”ti.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—“idha mayhaṁ, bhikkhave, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—etarahi kho bhikkhū nānādisā nānājanapadā pabbajjāpekkhe ca upasampadāpekkhe ca ānenti—‘bhagavā ne pabbājessati upasampādessatī’ti, Tattha bhikkhū ceva kilamanti pabbajjāpekkhā ca upasampadāpekkhā ca.
Yannūnāhaṁ bhikkhūnaṁ anujāneyyaṁ tumheva dāni, bhikkhave, tāsu tāsu disāsu tesu tesu janapadesu pabbājetha upasampādethāti, Anujānāmi, bhikkhave, tumheva dāni tāsu tāsu disāsu tesu tesu janapadesu pabbājetha upasampādetha.
Evañca pana, bhikkhave, pabbājetabbo upasampādetabbo—
Soon afterwards, the monks were bringing back, from various regions and countries, people desiring the going forth and the full ordination, thinking, “The Buddha will ordain them.” The monks became tired, as did those seeking ordination.
Then, while reflecting in private, the Buddha thought, “Why don’t I allow the monks to give the going forth and the full ordination right there in those various regions and countries?”
In the evening, the Buddha came out from seclusion, gave a teaching, and told the monks what he had thought, adding:
“I allow you to give the going forth and the full ordination in those various regions and countries.
And, monks, it should be done like this.
34. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu từ nhiều phương xứ, nhiều địa phương khác nhau dẫn đến những người muốn xuất gia và những người muốn thọ cụ túc giới, (nghĩ rằng): “Thế Tôn sẽ cho họ xuất gia, sẽ cho họ thọ cụ túc giới.” Trong việc ấy, các tỳ khưu cũng mệt mỏi, và những người muốn xuất gia, những người muốn thọ cụ túc giới cũng (mệt mỏi). Bấy giờ, trong khi Thế Tôn đang ở nơi thanh vắng, độc cư, một suy nghĩ như vầy đã khởi lên trong tâm: “Hiện nay, các tỳ khưu từ nhiều phương xứ, nhiều địa phương khác nhau dẫn đến những người muốn xuất gia và những người muốn thọ cụ túc giới, (nghĩ rằng): ‘Thế Tôn sẽ cho họ xuất gia, sẽ cho họ thọ cụ túc giới.’ Trong việc ấy, các tỳ khưu cũng mệt mỏi, và những người muốn xuất gia, những người muốn thọ cụ túc giới cũng (mệt mỏi). Hay là ta nên cho phép các tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, từ nay chính các ngươi hãy cho xuất gia, cho thọ cụ túc giới ở tại các phương xứ ấy, các địa phương ấy.’” Bấy giờ, vào buổi chiều, Thế Tôn rời khỏi nơi độc cư, nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, sau khi thuyết một bài pháp thoại, đã gọi các tỳ khưu và bảo: “Này các tỳ khưu, ở đây, trong khi ta đang ở nơi thanh vắng, độc cư, một suy nghĩ như vầy đã khởi lên trong tâm: ‘Hiện nay, các tỳ khưu từ nhiều phương xứ, nhiều địa phương khác nhau dẫn đến những người muốn xuất gia và những người muốn thọ cụ túc giới, (nghĩ rằng): ‘Thế Tôn sẽ cho họ xuất gia, sẽ cho họ thọ cụ túc giới,’ trong việc ấy, các tỳ khưu cũng mệt mỏi, và những người muốn xuất gia, những người muốn thọ cụ túc giới cũng (mệt mỏi), hay là ta nên cho phép các tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, từ nay chính các ngươi hãy cho xuất gia, cho thọ cụ túc giới ở tại các phương xứ ấy, các địa phương ấy.’’” “Này các tỳ khưu, Ta cho phép, từ nay chính các ngươi hãy cho xuất gia, cho thọ cụ túc giới ở tại các phương xứ ấy, các địa phương ấy. Và này các tỳ khưu, việc cho xuất gia, cho thọ cụ túc giới nên được thực hiện như thế này:
‘Buddhaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Dhammaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Saṅghaṁ saraṇaṁ gacchāmi.
Dutiyampi buddhaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Dutiyampi dhammaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Dutiyampi saṅghaṁ saraṇaṁ gacchāmi.
Tatiyampi buddhaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Tatiyampi dhammaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Tatiyampi saṅghaṁ saraṇaṁ gacchāmī’ti.
Anujānāmi, bhikkhave, imehi tīhi saraṇagamanehi pabbajjaṁ upasampadan”ti.
‘I go for refuge to the Buddha, I go for refuge to the Teaching, I go for refuge to the Sangha.
For the second time, I go for refuge to the Buddha, For the second time, I go for refuge to the Teaching, For the second time, I go for refuge to the Sangha.
For the third time, I go for refuge to the Buddha, For the third time, I go for refuge to the Teaching, For the third time, I go for refuge to the Sangha.’
You should give the going forth and the full ordination through the taking of the three refuges.”
Trước tiên, cho cạo tóc râu, cho mặc y cà-sa, cho đắp thượng y lệch một bên vai, cho đảnh lễ chân các tỳ khưu, cho ngồi xổm, cho chắp tay, rồi nên bảo rằng: ‘Hãy nói như vầy: Con xin về nương tựa Phật, con xin về nương tựa Pháp, con xin về nương tựa Tăng; lần thứ nhì, con xin về nương tựa Phật, lần thứ nhì, con xin về nương tựa Pháp, lần thứ nhì, con xin về nương tựa Tăng; lần thứ ba, con xin về nương tựa Phật, lần thứ ba, con xin về nương tựa Pháp, lần thứ ba, con xin về nương tựa Tăng.’ Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc xuất gia và thọ cụ túc giới bằng ba lần quy y này.
Tīhi saraṇagamanehi upasampadākathā niṭṭhitā.
The discussion of the full ordination through the taking of the three refuges is finished.
Dứt câu chuyện về việc thọ cụ túc giới bằng ba lần quy y.
10. Câu chuyện thứ hai về Ma-vương
Atha kho bhagavā vassaṁvuṭṭho bhikkhū āmantesi—“mayhaṁ kho, bhikkhave, yoniso manasikārā yoniso sammappadhānā anuttarā vimutti anuppattā, anuttarā vimutti sacchikatā. Tumhepi, bhikkhave, yoniso manasikārā yoniso sammappadhānā anuttaraṁ vimuttiṁ anupāpuṇātha, anuttaraṁ vimuttiṁ sacchikarothā”ti.
Atha kho māro pāpimā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi—
When the Buddha had completed the rainy-season residence, he said to the monks, “Through wise attention and wise right effort, I have reached the supreme freedom, realized the supreme freedom. And you, monks, have done the same.”
Then the Lord of Death, the Evil One, went up to the Buddha and spoke to him in verse:
35. Bấy giờ, Thế Tôn, sau khi đã an cư mùa mưa, đã gọi các tỳ khưu và bảo: “Này các tỳ khưu, quả thật đối với ta, do sự tác ý như lý, do sự tinh cần chân chánh như lý, sự giải thoát vô thượng đã được đạt đến, sự giải thoát vô thượng đã được chứng ngộ. Này các tỳ khưu, các ngươi cũng vậy, do sự tác ý như lý, do sự tinh cần chân chánh như lý, hãy đạt đến sự giải thoát vô thượng, hãy chứng ngộ sự giải thoát vô thượng.” Bấy giờ, Ma-vương độc ác đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã nói với Thế Tôn bằng một bài kệ:
“Baddhosi mārapāsehi, ye dibbā ye ca mānusā; Mahābandhanabaddhosi, na me samaṇa mokkhasī”ti.
“You’re bound by the snares of the Lord of Death, Both human and divine. You’re bound by the great bond: You’re not free from me, monastic.”
“Ngươi bị trói bởi bẫy Ma-vương, những bẫy trời và cả bẫy người; ngươi bị trói bởi sự trói buộc lớn lao, này Sa-môn, ngươi không thoát khỏi ta.”
“Muttāhaṁ mārapāsehi, Ye dibbā ye ca mānusā; Mahābandhanamuttomhi, Nihato tvamasi antakā”ti.
“I’m free from the snares of the Lord of Death, Both human and divine. I’m free from the great bond: Terminator, you’re defeated!”
“Ta đã thoát khỏi bẫy Ma-vương, những bẫy trời và cả bẫy người; Ta đã thoát khỏi sự trói buộc lớn lao, ngươi đã bị đánh bại, này Kẻ Tận Diệt.”
Atha kho māro pāpimā—“jānāti maṁ bhagavā, jānāti maṁ sugato”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyi.
Then the Lord of Death, the Evil One, thought, “The Buddha knows me, the Happy One knows me,” and sad and miserable he disappeared right there.
Bấy giờ, Ma-vương độc ác (nghĩ rằng): “Thế Tôn biết ta, Thiện Thệ biết ta,” rồi trở nên đau khổ, buồn rầu,
Dutiyamārakathā niṭṭhitā.
The second account of the Lord of Death is finished.
Dứt câu chuyện thứ hai về Ma-vương.
11. Câu chuyện về nhóm Bhaddavaggiya
Atha kho bhagavā bārāṇasiyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena uruvelā tena cārikaṁ pakkāmi. Atha kho bhagavā maggā okkamma yena aññataro vanasaṇḍo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā taṁ vanasaṇḍaṁ ajjhogāhetvā aññatarasmiṁ rukkhamūle nisīdi.
Tena kho pana samayena tiṁsamattā bhaddavaggiyā sahāyakā sapajāpatikā tasmiṁ vanasaṇḍe paricārenti. Ekassa pajāpati nāhosi; tassa atthāya vesī ānītā ahosi. Atha kho sā vesī tesu pamattesu paricārentesu bhaṇḍaṁ ādāya palāyittha. Atha kho te sahāyakā sahāyakassa veyyāvaccaṁ karontā, taṁ itthiṁ gavesantā, taṁ vanasaṇḍaṁ āhiṇḍantā addasaṁsu bhagavantaṁ aññatarasmiṁ rukkhamūle nisinnaṁ. Disvāna yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavocuṁ—“api, bhante, bhagavā ekaṁ itthiṁ passeyyā”ti?
“Kiṁ pana vo, kumārā, itthiyā”ti?
“Idha mayaṁ, bhante, tiṁsamattā bhaddavaggiyā sahāyakā sapajāpatikā imasmiṁ vanasaṇḍe paricārimhā.
Ekassa pajāpati nāhosi; tassa atthāya vesī ānītā ahosi. Atha kho sā, bhante, vesī amhesu pamattesu paricārentesu bhaṇḍaṁ ādāya palāyittha. Te mayaṁ, bhante, sahāyakā sahāyakassa veyyāvaccaṁ karontā, taṁ itthiṁ gavesantā, imaṁ vanasaṇḍaṁ āhiṇḍāmā”ti.
“Taṁ kiṁ maññatha vo, kumārā, katamaṁ nu kho tumhākaṁ varaṁ—yaṁ vā tumhe itthiṁ gaveseyyātha, yaṁ vā attānaṁ gaveseyyāthā”ti?
“Etadeva, bhante, amhākaṁ varaṁ yaṁ mayaṁ attānaṁ gaveseyyāmā”ti.
“Tena hi vo, kumārā, nisīdatha, dhammaṁ vo desessāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhaddavaggiyā sahāyakā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Tesaṁ bhagavā anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi. Yadā te bhagavā aññāsi kallacitte muducitte vinīvaraṇacitte udaggacitte pasannacitte, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā, taṁ pakāsesi dukkhaṁ samudayaṁ nirodhaṁ maggaṁ. Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya; evameva tesaṁ tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi—“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Te diṭṭhadhammā pattadhammā viditadhammā pariyogāḷhadhammā tiṇṇavicikicchā vigatakathaṅkathā vesārajjappattā aparappaccayā satthusāsane bhagavantaṁ etadavocuṁ—“labheyyāma mayaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyāma upasampadan”ti. “Etha bhikkhavo”ti bhagavā avoca—“svākkhāto dhammo, caratha brahmacariyaṁ sammā dukkhassa antakiriyāyā”ti. Sāva tesaṁ āyasmantānaṁ upasampadā ahosi.
When the Buddha had stayed at Benares for as long as he liked, he set out wandering toward Uruvelā. At a certain point he left the road, entered a forest grove, and sat down at the foot of a tree.
Just then a fine group of thirty friends and their wives were enjoying themselves in that forest grove. Because one of them did not have a wife, they had brought him a sex worker. While they were all carelessly enjoying themselves, that sex worker took that man’s possessions and ran away. To help their friend, they all went searching for that woman. And as they walked about that forest grove, they saw the Buddha seated at the foot of a tree. They approached him and said, “Sir, have you seen a woman by any chance?”
“But, young men, why look for a woman?”
They told him what had happened.
“What do you think is better for you: that you search for a woman, or that you search for yourselves?”
“It’s better that we search for ourselves.”
“Well then, sit down, and I’ll give you a teaching.”
Saying, “Yes, sir,” they bowed to the Buddha and sat down.
The Buddha then gave them a progressive talk—on generosity, morality, and heaven; on the downside, degradation, and defilement of worldly pleasures; and he revealed the benefits of renunciation. When the Buddha knew that their minds were ready, supple, without hindrances, joyful, and confident, he revealed the teaching unique to the Buddhas: suffering, its origin, its end, and the path. And just as a clean and stainless cloth absorbs dye properly, so too, while they were sitting right there, they experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.”
They had seen the Truth, had reached, understood, and penetrated it. They had gone beyond doubt and uncertainty, had attained to confidence, and had become independent of others in the Teacher’s instruction. And they said to the Buddha, “Sir, we wish to receive the going forth in your presence. We wish to receive the full ordination.” The Buddha said, “Come, monks. The Teaching is well-proclaimed. Practice the spiritual life to make a complete end of suffering.” That was the full ordination of those venerables.
36. Bấy giờ, sau khi trú tại Bārāṇasī tùy nghi thích ý, đức Thế Tôn lên đường du hành đến Uruvelā. Bấy giờ, đức Thế Tôn đi lệch khỏi con đường, đi đến một khu rừng nọ; sau khi đi đến, Ngài đi sâu vào khu rừng ấy rồi ngồi xuống dưới một gốc cây. Vào lúc bấy giờ, có ba mươi vị công tử thuộc nhóm Bhaddavaggiya là bạn bè của nhau, cùng với vợ của mình, đang vui chơi trong khu rừng ấy. Một vị không có vợ; vì lợi ích của vị ấy, một cô kỹ nữ đã được đưa đến. Bấy giờ, trong lúc họ đang vui chơi lơ đãng, cô kỹ nữ ấy đã lấy đồ đạc rồi bỏ trốn. Bấy giờ, các vị bạn hữu ấy, trong khi giúp đỡ bạn mình, đã đi lang thang trong khu rừng ấy để tìm kiếm người phụ nữ kia, và đã trông thấy đức Thế Tôn đang ngồi dưới một gốc cây. Sau khi trông thấy, họ đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đi đến, họ thưa với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, đức Thế Tôn có thấy một người phụ nữ nào không?” “Này các công tử, các ông cần gì đến người phụ nữ?” “Bạch ngài, ở đây, chúng con là ba mươi vị công tử thuộc nhóm Bhaddavaggiya, là bạn bè của nhau, cùng với vợ của mình, đã vui chơi trong khu rừng này. Một vị không có vợ; vì lợi ích của vị ấy, một cô kỹ nữ đã được đưa đến. Bạch ngài, bấy giờ, trong lúc chúng con đang vui chơi lơ đãng, cô kỹ nữ ấy đã lấy đồ đạc rồi bỏ trốn. Bạch ngài, chúng con là bạn bè, trong khi giúp đỡ bạn mình, đã đi lang thang trong khu rừng này để tìm kiếm người phụ nữ kia.” “Này các công tử, các ông nghĩ thế nào? Điều gì là tốt hơn cho các ông – các ông đi tìm người phụ nữ, hay các ông đi tìm chính mình?” “Bạch ngài, điều này là tốt hơn cho chúng con, ấy là chúng con đi tìm chính mình.” “Vậy thì, này các công tử, các ông hãy ngồi xuống, ta sẽ thuyết pháp cho các ông.” “Vâng, bạch ngài.” Các vị công tử thuộc nhóm Bhaddavaggiya ấy đã vâng lời, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết cho họ bài pháp tuần tự, nghĩa là: thuyết về bố thí, thuyết về giới hạnh, thuyết về cõi trời; Ngài tuyên thuyết về sự nguy hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các dục vọng và về lợi ích của sự xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết rằng tâm của họ đã sẵn sàng, tâm đã nhu nhuyến, tâm không còn triền cái, tâm đã hân hoan, tâm đã trong sạch, bấy giờ Ngài tuyên thuyết bài pháp vi diệu mà chư Phật đã tự mình chứng ngộ: khổ, tập, diệt, đạo. Giống như tấm vải trong sạch, không còn vết đen, có thể thấm đều thuốc nhuộm, cũng vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không còn bụi bặm, không còn cấu uế đã khởi lên nơi họ: “Phàm cái gì có sanh khởi, tất cả cái ấy đều có diệt tận.” Họ đã thấy Pháp, đã đạt đến Pháp, đã hiểu rõ Pháp, đã thâm nhập vào Pháp, đã vượt qua sự nghi ngờ, đã hết sự phân vân, đã đạt đến sự tự tin, không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư. Họ thưa với đức Thế Tôn điều này: “Bạch ngài, mong rằng chúng con được xuất gia dưới sự hiện diện của đức Thế Tôn, mong rằng chúng con được thọ cụ túc giới.” Đức Thế Tôn nói: “Hãy đến, này các tỳ khưu. Giáo pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy thực hành phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau.” Và đó chính là lễ thọ cụ túc giới của các vị tôn giả ấy.
Bhaddavaggiyasahāyakānaṁ vatthu niṭṭhitaṁ.
The account of the fine group of friends is finished.
Câu chuyện về các vị bạn hữu Bhaddavaggiya chấm dứt.
Dutiyabhāṇavāro.
The second section for recitation is finished.
Phẩm thứ hai.
12. Câu chuyện về các phép thần thông ở Uruvelā
Atha kho bhagavā anupubbena cārikaṁ caramāno yena uruvelā tadavasari. Tena kho pana samayena uruvelāyaṁ tayo jaṭilā paṭivasanti—uruvelakassapo, nadīkassapo, gayākassapoti. Tesu uruvelakassapo jaṭilo pañcannaṁ jaṭilasatānaṁ nāyako hoti, vināyako aggo pamukho pāmokkho. Nadīkassapo jaṭilo tiṇṇaṁ jaṭilasatānaṁ nāyako hoti, vināyako aggo pamukho pāmokkho. Gayākassapo jaṭilo dvinnaṁ jaṭilasatānaṁ nāyako hoti, vināyako aggo pamukho pāmokkho.
Atha kho bhagavā yena uruvelakassapassa jaṭilassa assamo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā uruvelakassapaṁ jaṭilaṁ etadavoca—“sace te, kassapa, agaru, vaseyyāma ekarattaṁ agyāgāre”ti?
“Na kho me, mahāsamaṇa, garu, caṇḍettha nāgarājā iddhimā āsiviso ghoraviso, so taṁ mā viheṭhesī”ti.
Dutiyampi kho bhagavā uruvelakassapaṁ jaṭilaṁ etadavoca—“sace te, kassapa, agaru, vaseyyāma ekarattaṁ agyāgāre”ti? “Na kho me, mahāsamaṇa, garu, caṇḍettha nāgarājā iddhimā āsiviso ghoraviso, so taṁ mā viheṭhesī”ti.
Tatiyampi kho bhagavā uruvelakassapaṁ jaṭilaṁ etadavoca—“sace te, kassapa, agaru, vaseyyāma ekarattaṁ agyāgāre”ti? “Na kho me, mahāsamaṇa, garu, caṇḍettha nāgarājā iddhimā āsiviso ghoraviso, so taṁ mā viheṭhesī”ti. “Appeva maṁ na viheṭheyya, iṅgha tvaṁ, kassapa, anujānāhi agyāgāran”ti.
“Vihara, mahāsamaṇa, yathāsukhan”ti.
Atha kho bhagavā agyāgāraṁ pavisitvā tiṇasanthārakaṁ paññapetvā nisīdi pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
The Buddha continued his wandering and eventually arrived at Uruvelā. At that time there were three dreadlocked ascetics living there: Uruvelā Kassapa, Nadī Kassapa, and Gayā Kassapa. Uruvelā Kassapa was the leader and chief of five hundred dreadlocked ascetics, Nadī Kassapa of three hundred, and Gayā Kassapa of two hundred.
The Buddha went to the hermitage of Uruvelā Kassapa and said to him, “If it’s not inconvenient for you, Kassapa, may I stay for one night in your fire hut?”
“It’s not inconvenient for me, Great Ascetic, but there’s a fierce and highly venomous dragon king with supernormal powers there. I don’t want it to harm you.”
The Buddha asked a second and a third time, and on both occasions Uruvelā Kassapa replied as before.
The Buddha then said, “Perhaps it won’t harm me. Come on, Kassapa, let me to stay in the fire hut.”
“Well then, do as you like.”
The Buddha entered the fire hut and prepared a spread of grass. He sat down, crossed his legs, straightened his body, and established mindfulness in front of him.
37. Bấy giờ, đức Thế Tôn tuần tự du hành, đã đi đến Uruvelā. Vào lúc bấy giờ, tại Uruvelā có ba vị đạo sĩ bện tóc anh em trú ngụ: Uruvelakassapa, Nadīkassapa, và Gayākassapa. Trong số ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa là vị lãnh đạo, người hướng dẫn, bậc tối cao, người đứng đầu, vị thủ lĩnh của năm trăm vị đạo sĩ bện tóc. Đạo sĩ bện tóc Nadīkassapa là vị lãnh đạo, người hướng dẫn, bậc tối cao, người đứng đầu, vị thủ lĩnh của ba trăm vị đạo sĩ bện tóc. Đạo sĩ bện tóc Gayākassapa là vị lãnh đạo, người hướng dẫn, bậc tối cao, người đứng đầu, vị thủ lĩnh của hai trăm vị đạo sĩ bện tóc. Bấy giờ, đức Thế Tôn đi đến am thất của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa; sau khi đi đến, Ngài nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này: “Này Kassapa, nếu không phiền cho ông, chúng tôi muốn ở lại một đêm trong nhà lửa.” “Thưa Đại Sa-môn, tôi không phiền đâu, nhưng ở đây có một con rồng chúa hung dữ, có thần lực, nọc độc nhanh, nọc độc ghê gớm. Mong rằng nó không làm hại ngài.” Lần thứ hai, đức Thế Tôn lại nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này: “Này Kassapa, nếu không phiền cho ông, chúng tôi muốn ở lại một đêm trong nhà lửa.” “Thưa Đại Sa-môn, tôi không phiền đâu, nhưng ở đây có một con rồng chúa hung dữ, có thần lực, nọc độc nhanh, nọc độc ghê gớm. Mong rằng nó không làm hại ngài.” Lần thứ ba, đức Thế Tôn lại nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này: “Này Kassapa, nếu không phiền cho ông, chúng tôi muốn ở lại một đêm trong nhà lửa.” “Thưa Đại Sa-môn, tôi không phiền đâu, nhưng ở đây có một con rồng chúa hung dữ, có thần lực, nọc độc nhanh, nọc độc ghê gớm. Mong rằng nó không làm hại ngài.” “Chắc chắn nó sẽ không làm hại ta đâu. Này Kassapa, thôi thì ông hãy cho phép về nhà lửa đi.” “Thưa Đại Sa-môn, xin ngài cứ ở tùy nghi.” Bấy giờ, đức Thế Tôn đi vào nhà lửa, trải một tấm lót bằng cỏ, rồi ngồi xuống, xếp bằng kiết-già, giữ thân thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt.
Addasā kho so nāgo bhagavantaṁ paviṭṭhaṁ, disvāna dummano padhūpāyi. Atha kho bhagavato etadahosi—“yannūnāhaṁ imassa nāgassa anupahacca chaviñca cammañca maṁsañca nhāruñca aṭṭhiñca aṭṭhimiñjañca tejasā tejaṁ pariyādiyeyyan”ti.
Atha kho bhagavā tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā padhūpāyi. Atha kho so nāgo makkhaṁ asahamāno pajjali. Bhagavāpi tejodhātuṁ samāpajjitvā pajjali. Ubhinnaṁ sajotibhūtānaṁ agyāgāraṁ ādittaṁ viya hoti sampajjalitaṁ sajotibhūtaṁ. Atha kho te jaṭilā agyāgāraṁ parivāretvā evamāhaṁsu—“abhirūpo vata bho mahāsamaṇo nāgena viheṭhiyatī”ti.
Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena tassa nāgassa anupahacca chaviñca cammañca maṁsañca nhāruñca aṭṭhiñca aṭṭhimiñjañca tejasā tejaṁ pariyādiyitvā patte pakkhipitvā uruvelakassapassa jaṭilassa dassesi—“ayaṁ te, kassapa, nāgo pariyādinno assa tejasā tejo”ti.
When the dragon saw that the Buddha had entered, he was displeased and emitted smoke. The Buddha thought, “Let me overpower this dragon, using fire against fire, but without harming it in the slightest way.”
The Buddha then used his supernormal powers so that he, too, emitted smoke. The dragon, being unable to contain his rage, emitted flames. The Buddha entered the fire element and he, too, emitted flames. With both of them emitting flames, it was as if the fire hut was ablaze and burning. Those dreadlocked ascetics gathered around the fire hut, saying, “The Great Ascetic is handsome, but the dragon is harming him.”
The next morning the Buddha had overcome that dragon, using fire against fire, but without harming it in the slightest way. He put it in his almsbowl and showed it to Uruvelā Kassapa: “Here is your dragon, Kassapa, his fire overpowered by fire.”
38. Con rồng ấy thấy đức Thế Tôn đi vào, sau khi thấy xong, nó không vui và phun khói. Bấy giờ, đức Thế Tôn khởi lên ý nghĩ này: “Chắc chắn ta sẽ không làm tổn hại đến lớp da ngoài, lớp da trong, thịt, gân, xương, và tủy xương của con rồng này, và sẽ dùng lửa thần thông để chế ngự lửa thần thông của nó.” Sau đó, đức Thế Tôn đã thực hiện một loại thần thông biến hóa như vậy rồi phun khói. Bấy giờ, con rồng ấy không thể chịu đựng được sự tức giận nên đã phun ra lửa. Đức Thế Tôn cũng nhập vào thiền định có đề mục là biến xứ lửa rồi phun ra lửa. Do cả hai đều có ngọn lửa, nhà lửa dường như bốc cháy, rực sáng, và có ngọn lửa. Bấy giờ, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã vây quanh nhà lửa và nói như vầy: “Ôi thôi! Vị Đại Sa-môn có dung sắc xinh đẹp đang bị con rồng làm hại.” Sau đó, vào lúc đêm ấy đã mãn, đức Thế Tôn đã không làm tổn hại đến lớp da ngoài, lớp da trong, thịt, gân, xương, và tủy xương của con rồng ấy, đã dùng lửa thần thông để chế ngự lửa thần thông của nó, đã đặt nó vào trong bát, rồi cho vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa xem và nói: “Này Kassapa, đây là con rồng của ông. Lửa thần thông của nó đã bị lửa thần thông của ta chế ngự.” Bấy giờ, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa khởi lên ý nghĩ này: “Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực, vì ngài đã có thể dùng lửa thần thông để chế ngự lửa thần thông của con rồng chúa hung dữ, có thần lực, có nọc độc nhanh chóng, có nọc độc ghê gớm. Tuy nhiên, vị ấy vẫn không phải là bậc A-la-hán giống như ta.”
Atha kho uruvelakassapassa jaṭilassa etadahosi—“mahiddhiko kho mahāsamaṇo mahānubhāvo, yatra hi nāma caṇḍassa nāgarājassa iddhimato āsivisassa ghoravisassa tejasā tejaṁ pariyādiyissati, na tveva ca kho arahā yathā ahan”ti.
Nerañjarāyaṁ bhagavā, Uruvelakassapaṁ jaṭilaṁ avoca; “Sace te kassapa agaru, Viharemu ajjaṇho aggisālamhī”ti.
“Na kho me mahāsamaṇa garu, Phāsukāmova taṁ nivāremi; Caṇḍettha nāgarājā, Iddhimā āsiviso ghoraviso; So taṁ mā viheṭhesī”ti.
“Appeva maṁ na viheṭheyya, Iṅgha tvaṁ kassapa anujānāhi agyāgāran”ti;
Uruvelā Kassapa thought, “The Great Ascetic is powerful and mighty. Using fire against fire, he has overcome that fierce and highly venomous dragon king with its supernormal powers. But he’s not a perfected one like me.”
At the Nerañjara the Buddha said To the dreadlocked ascetic Uruvelā Kassapa, “If it’s convenient for you, Kassapa, May I stay for a night in your fire hut?”
“It’s convenient for me, Great Ascetic, But for your own good, I bar you. A fierce dragon king is there, Highly venomous, with supernormal powers: I don’t want it to harm you.”
“Perhaps it won’t harm me. Come on, Kassapa, Let me stay in the fire hut.”
40. Bấy giờ, đức Thế Tôn trú ở một khu rừng nhỏ nào đó, không xa am thất của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa. Bấy giờ, vào lúc đêm đã khuya, Tứ Đại Thiên Vương, với dung sắc thù thắng, đã tỏa sáng toàn bộ khu rừng nhỏ, rồi đi đến nơi đức Thế Tôn đang ở. Sau khi đến, họ đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở bốn phương, giống như những khối lửa lớn. Bấy giờ, vào lúc đêm ấy đã mãn, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến nơi đức Thế Tôn đang ở. Sau khi đến, ông đã bạch với đức Thế Tôn rằng: “Thưa Đại Sa-môn, đã đến giờ, vật thực đã sẵn sàng. Thưa Đại Sa-môn, vào lúc đêm đã khuya, những ai, với dung sắc thù thắng, đã tỏa sáng toàn bộ khu rừng nhỏ, rồi đi đến nơi ngài đang ở? Sau khi đến, họ đã đảnh lễ ngài rồi đứng ở bốn phương, giống như những khối lửa lớn?” “Này Kassapa, đó là Tứ Đại Thiên Vương, họ đã đến chỗ ta để nghe Pháp.” Bấy giờ, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa khởi lên ý nghĩ này: “Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực, vì ngay cả Tứ Đại Thiên Vương cũng đến để nghe Pháp. Tuy nhiên, vị ấy vẫn không phải là bậc A-la-hán giống như ta.” Sau đó, đức Thế Tôn, sau khi đã dùng vật thực của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa, đã trú tại chính khu rừng nhỏ ấy.
“Có lẽ nó sẽ không làm hại ta. Này Kassapa, xin ông hãy cho phép về nhà lửa.” Sau khi biết rằng đã được cho phép, bậc đã vượt qua sự sợ hãi, không còn sợ hãi, đã đi vào.
Disvā isiṁ paviṭṭhaṁ, Ahināgo dummano padhūpāyi; Sumanamanaso adhimano, Manussanāgopi tattha padhūpāyi.
Seeing the sage who had entered, The angry dragon emitted smoke. With a mind of good will, The Great Man, too, emitted smoke.
Thấy vị ẩn sĩ đi vào, con rồng rắn không vui và phun khói. Bậc Nhân Long, với tâm hoan hỷ, với tâm cao thượng, cũng phun khói ở nơi ấy.
Makkhañca asahamāno, Ahināgo pāvakova pajjali; Tejodhātusukusalo, Manussanāgopi tattha pajjali.
Unable to contain his rage, The dragon emitted fire. Well-skilled in the fire element, The Great Man, too, emitted fire.
Không thể chịu đựng được sự tức giận, con rồng rắn đã phun lửa như ngọn lửa. Bậc Nhân Long, bậc thiện xảo về các biến xứ lửa, cũng phun lửa ở nơi ấy.
Ubhinnaṁ sajotibhūtānaṁ, Agyāgāraṁ ādittaṁ hoti sampajjalitaṁ sajotibhūtaṁ; Udicchare jaṭilā, “Abhirūpo vata bho mahāsamaṇo; Nāgena viheṭhiyatī”ti bhaṇanti.
With both of them emitting flames, The fire hut was glowing and blazing. Looking on, the dreadlocked ascetics said, “He’s handsome, the Great Ascetic, But the dragon is harming him.”
Do cả hai đều có ngọn lửa, nhà lửa bốc cháy, rực sáng, và có ngọn lửa. Các vị đạo sĩ bện tóc nhìn lên và nói: “Ôi thôi! Vị Đại Sa-môn có dung sắc xinh đẹp đang bị con rồng làm hại.”
Atha tassā rattiyā accayena, Hatā nāgassa acciyo honti; Iddhimato pana ṭhitā, Anekavaṇṇā acciyo honti.
Yet the following morning The dragon’s flames were extinguished, While the One with supernormal powers Had flames of various colors.
Sau đó, vào lúc đêm ấy đã mãn, các ngọn lửa của con rồng đã bị dập tắt. Nhưng các ngọn lửa của bậc có thần lực vẫn còn đó, là những ngọn lửa nhiều màu sắc.
Nīlā atha lohitikā, Mañjiṭṭhā pītakā phalikavaṇṇāyo; Aṅgīrasassa kāye, Anekavaṇṇā acciyo honti.
Blue, red, and magenta, Yellow, and the color of crystal: Flames of various colors remained In the body of Aṅgīrasa.
Màu xanh, rồi màu đỏ, màu hồng sẫm, màu vàng, màu pha lê. Trên thân của bậc Aṅgīrasa, có những ngọn lửa nhiều màu sắc.
Pattamhi odahitvā, Ahināgaṁ brāhmaṇassa dassesi; “Ayaṁ te kassapa nāgo, Pariyādinno assa tejasā tejo”ti.
Putting the dragon in his bowl, He showed it to the brahmin: “Here is your dragon, Kassapa, His fire overpowered by fire.”
Sau khi đặt con rồng rắn vào trong bát, ngài cho vị Bà-la-môn xem và nói: “Này Kassapa, đây là con rồng của ông. Lửa thần thông của nó đã bị lửa thần thông của ta chế ngự.”
Atha kho uruvelakassapo jaṭilo bhagavato iminā iddhipāṭihāriyena abhippasanno bhagavantaṁ etadavoca—“idheva, mahāsamaṇa, vihara, ahaṁ te dhuvabhattenā”ti.
Because of this wonder of supernormal power, Uruvelā Kassapa gained confidence in the Buddha and said to him, “Great Ascetic, please stay right here. I’ll supply you with food.”
Bấy giờ, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa, do vô cùng hoan hỷ với phép thần thông này của đức Thế Tôn, đã bạch với đức Thế Tôn rằng: “Thưa Đại Sa-môn, xin ngài hãy ở lại chính nơi đây. Tôi sẽ cúng dường ngài vật thực thường xuyên.”
Paṭhamaṁ pāṭihāriyaṁ.
Atha kho bhagavā uruvelakassapassa jaṭilassa assamassa avidūre aññatarasmiṁ vanasaṇḍe vihāsi. Atha kho cattāro mahārājāno abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ vanasaṇḍaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā catuddisā aṭṭhaṁsu seyyathāpi mahantā aggikkhandhā.
Atha kho uruvelakassapo jaṭilo tassā rattiyā accayena yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca—“kālo, mahāsamaṇa, niṭṭhitaṁ bhattaṁ. Ke nu kho te, mahāsamaṇa, abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ vanasaṇḍaṁ obhāsetvā yena tvaṁ tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā taṁ abhivādetvā catuddisā aṭṭhaṁsu seyyathāpi mahantā aggikkhandhā”ti.
“Ete kho, kassapa, cattāro mahārājāno yenāhaṁ tenupasaṅkamiṁsu dhammassavanāyā”ti.
Atha kho uruvelakassapassa jaṭilassa etadahosi—“mahiddhiko kho mahāsamaṇo mahānubhāvo, yatra hi nāma cattāropi mahārājāno upasaṅkamissanti dhammassavanāya, na tveva ca kho arahā yathā ahan”ti.
Atha kho bhagavā uruvelakassapassa jaṭilassa bhattaṁ bhuñjitvā tasmiṁyeva vanasaṇḍe vihāsi.
The first wonder is finished.
Soon afterwards the Buddha stayed in a forest grove not far from Uruvelā Kassapa’s hermitage. Then, when the night was well advanced, the magnificent four great kings approached the Buddha, illuminating the whole forest grove. They bowed down to the Buddha and stood at the four cardinal points, appearing like great bonfires.
The next morning Uruvelā Kassapa went to the Buddha and said, “It’s time, Great Ascetic, the meal is ready. And who was it that visited you last night?”
“That was the four great kings. They came to me to hear the Teaching.”
Uruvelā Kassapa thought, “The Great Ascetic is powerful and mighty, in that even the four great kings go to him to hear the Teaching. But he’s not a perfected one like me.”
The Buddha ate his meal and continued to stay in the same forest grove.
Hết phép thần thông thứ nhất.
Dutiyaṁ pāṭihāriyaṁ.
The second wonder is finished.
Hết phép thần thông thứ hai.
Atha kho sakko devānamindo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ vanasaṇḍaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi seyyathāpi mahāaggikkhandho, purimāhi vaṇṇanibhāhi abhikkantataro ca paṇītataro ca.
Atha kho uruvelakassapo jaṭilo tassā rattiyā accayena yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca—“kālo, mahāsamaṇa, niṭṭhitaṁ bhattaṁ. Ko nu kho so, mahāsamaṇa, abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ vanasaṇḍaṁ obhāsetvā yena tvaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā taṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi seyyathāpi mahāaggikkhandho, purimāhi vaṇṇanibhāhi abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti?
“Eso kho, kassapa, sakko devānamindo yenāhaṁ tenupasaṅkami dhammassavanāyā”ti.
Atha kho uruvelakassapassa jaṭilassa etadahosi—“mahiddhiko kho mahāsamaṇo mahānubhāvo, yatra hi nāma sakkopi devānamindo upasaṅkamissati dhammassavanāya, na tveva ca kho arahā yathā ahan”ti.
Atha kho bhagavā uruvelakassapassa jaṭilassa bhattaṁ bhuñjitvā tasmiṁyeva vanasaṇḍe vihāsi.
Once again when the night was well advanced, Sakka, the magnificent ruler of the gods, approached the Buddha, illuminating the whole forest grove. He bowed down to the Buddha and stood up, appearing just like a great bonfire. But it was more splendid and sublime than the previous ones.
The next morning Uruvelā Kassapa went to the Buddha and said, “It’s time, Great Ascetic, the meal is ready. And who was it that visited you last night?”
“That was Sakka, the ruler of the gods. He came to me to hear the Teaching.”
Uruvelā Kassapa thought, “The Great Ascetic is powerful and mighty, in that even Sakka, the ruler of gods, goes to him to hear the Teaching. But he’s not a perfected one like me.”
The Buddha ate his meal and continued to stay in the same forest grove.
41. Rồi, vào lúc đêm đã khuya, Thiên chủ Sakka, với dung sắc thù thắng, làm cho toàn thể khu rừng tỏa sáng, đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên, giống như một khối lửa lớn, có dung sắc quang minh thù thắng hơn và vi diệu hơn những vị (chư Thiên) trước. Bấy giờ, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa, sau khi đêm ấy đã mãn, đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Thưa Đại Sa-môn, đã đến giờ, vật thực đã sẵn sàng. Thưa Đại Sa-môn, vào lúc đêm đã khuya, vị nào với dung sắc thù thắng, làm cho toàn thể khu rừng tỏa sáng, đã đi đến chỗ ngài; sau khi đến, đã đảnh lễ ngài rồi đứng một bên, giống như một khối lửa lớn, có dung sắc quang minh thù thắng hơn và vi diệu hơn những vị trước vậy?’ – ‘Này Kassapa, vị ấy là Thiên chủ Sakka, đã đi đến chỗ ta để nghe Pháp.’ Bấy giờ, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi lên ý nghĩ này: – ‘Vị Đại Sa-môn quả là có đại thần lực, có đại oai lực, đến nỗi cả Thiên chủ Sakka cũng phải đi đến để nghe Pháp, tuy nhiên, vị ấy vẫn không phải là bậc A-la-hán như ta.’ Rồi, đức Thế Tôn sau khi dùng vật thực của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa, đã lưu trú tại chính khu rừng ấy.
Tatiyaṁ pāṭihāriyaṁ.
The third wonder is finished.
Phép thần thông thứ ba.
Atha kho brahmā sahampati abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ vanasaṇḍaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi seyyathāpi mahāaggikkhandho, purimāhi vaṇṇanibhāhi abhikkantataro ca paṇītataro ca.
Atha kho uruvelakassapo jaṭilo tassā rattiyā accayena yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca—“kālo, mahāsamaṇa, niṭṭhitaṁ bhattaṁ. Ko nu kho so, mahāsamaṇa, abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ vanasaṇḍaṁ obhāsetvā yena tvaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā taṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi seyyathāpi mahāaggikkhandho, purimāhi vaṇṇanibhāhi abhikkantataro ca paṇītataro cā”ti?
“Eso kho, kassapa, brahmā sahampati yenāhaṁ tenupasaṅkami dhammassavanāyā”ti.
Atha kho uruvelakassapassa jaṭilassa etadahosi—“mahiddhiko kho mahāsamaṇo mahānubhāvo, yatra hi nāma brahmāpi sahampati upasaṅkamissati dhammassavanāya, na tveva ca kho arahā yathā ahan”ti.
Atha kho bhagavā uruvelakassapassa jaṭilassa bhattaṁ bhuñjitvā tasmiṁyeva vanasaṇḍe vihāsi.
Once again when the night was well advanced, Sahampati, the magnificent supreme being, approached the Buddha, illuminating the whole forest grove. He bowed down to the Buddha and stood up, appearing just like a great bonfire. But it was even more splendid and sublime than the previous ones.
The next morning Uruvelā Kassapa went to the Buddha and said, “It’s time, Great Ascetic, the meal is ready. And who was it that visited you last night?”
“That was Sahampati, the supreme being. He came to me to hear the Teaching.”
Uruvelā Kassapa thought, “The Great Ascetic is powerful and mighty, in that even Sahampati, the supreme being, goes to him to hear the Teaching. But he’s not a perfected one like me.”
The Buddha ate his meal and continued to stay in the same forest grove.
42. Rồi, vào lúc đêm đã khuya, Phạm thiên Sahampati, với dung sắc thù thắng, làm cho toàn thể khu rừng tỏa sáng, đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên, giống như một khối lửa lớn, có dung sắc quang minh thù thắng hơn và vi diệu hơn những vị (chư Thiên) trước. Bấy giờ, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa, sau khi đêm ấy đã mãn, đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Thưa Đại Sa-môn, đã đến giờ, vật thực đã sẵn sàng. Thưa Đại Sa-môn, vào lúc đêm đã khuya, vị nào với dung sắc thù thắng, làm cho toàn thể khu rừng tỏa sáng, đã đi đến chỗ ngài; sau khi đến, đã đảnh lễ ngài rồi đứng một bên, giống như một khối lửa lớn, có dung sắc quang minh thù thắng hơn và vi diệu hơn những vị trước vậy?’ – ‘Này Kassapa, vị ấy là Phạm thiên Sahampati, đã đi đến chỗ ta để nghe Pháp.’ Bấy giờ, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi lên ý nghĩ này: – ‘Vị Đại Sa-môn quả là có đại thần lực, có đại oai lực, đến nỗi cả Phạm thiên Sahampati cũng phải đi đến để nghe Pháp, tuy nhiên, vị ấy vẫn không phải là bậc A-la-hán như ta.’ Rồi, đức Thế Tôn sau khi dùng vật thực của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa, đã lưu trú tại chính khu rừng ấy.
Catutthaṁ pāṭihāriyaṁ.
The fourth wonder is finished.
Phép thần thông thứ tư.
Tena kho pana samayena uruvelakassapassa jaṭilassa mahāyañño paccupaṭṭhito hoti, kevalakappā ca aṅgamagadhā pahūtaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ ādāya abhikkamitukāmā honti. Atha kho uruvelakassapassa jaṭilassa etadahosi—“etarahi kho me mahāyañño paccupaṭṭhito, kevalakappā ca aṅgamagadhā pahūtaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ ādāya abhikkamissanti. Sace mahāsamaṇo mahājanakāye iddhipāṭihāriyaṁ karissati, mahāsamaṇassa lābhasakkāro abhivaḍḍhissati, mama lābhasakkāro parihāyissati. Aho nūna mahāsamaṇo svātanāya nāgaccheyyā”ti.
Atha kho bhagavā uruvelakassapassa jaṭilassa cetasā cetoparivitakkamaññāya uttarakuruṁ gantvā tato piṇḍapātaṁ āharitvā anotattadahe paribhuñjitvā tattheva divāvihāraṁ akāsi.
Atha kho uruvelakassapo jaṭilo tassā rattiyā accayena yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca—“kālo, mahāsamaṇa, niṭṭhitaṁ bhattaṁ. Kiṁ nu kho, mahāsamaṇa, hiyyo nāgamāsi? Api ca mayaṁ taṁ sarāma—kiṁ nu kho mahāsamaṇo nāgacchatīti? Khādanīyassa ca bhojanīyassa ca te paṭivīso ṭhapito”ti.
“Nanu te, kassapa, etadahosi—‘etarahi kho me mahāyañño paccupaṭṭhito, kevalakappā ca aṅgamagadhā pahūtaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ ādāya abhikkamissanti, sace mahāsamaṇo mahājanakāye iddhipāṭihāriyaṁ karissati, mahāsamaṇassa lābhasakkāro abhivaḍḍhissati, mama lābhasakkāro parihāyissati, aho nūna mahāsamaṇo svātanāya nāgaccheyyā’ti. So kho ahaṁ, kassapa, tava cetasā cetoparivitakkamaññāya uttarakuruṁ gantvā tato piṇḍapātaṁ āharitvā anotattadahe paribhuñjitvā tattheva divāvihāraṁ akāsin”ti.
Atha kho uruvelakassapassa jaṭilassa etadahosi—“mahiddhiko kho mahāsamaṇo mahānubhāvo, yatra hi nāma cetasāpi cittaṁ pajānissati, na tveva ca kho arahā yathā ahan”ti.
Atha kho bhagavā uruvelakassapassa jaṭilassa bhattaṁ bhuñjitvā tasmiṁyeva vanasaṇḍe vihāsi.
At this time Uruvelā Kassapa was holding a great sacrifice, and the whole of Aṅga and Magadha wanted to attend with much food of various kinds. Uruvelā Kassapa considered this and thought, “If the Great Ascetic performs a wonder of supernormal power for the great crowd, he’ll get more material support and honor, whereas I’ll get less. I hope he doesn’t come tomorrow.”
The Buddha read the mind of Uruvelā Kassapa. He then went to Uttarakuru, collected almsfood there, ate it at the Anotatta lake, and stayed there for the day’s meditation.
The next morning Uruvelā Kassapa went to the Buddha and said, “It’s time, Great Ascetic, the meal is ready. And why didn’t you come yesterday? We did think of you and set aside a share of various kinds of food.”
“But, Kassapa, didn’t you think, ‘I hope he doesn’t come tomorrow’? Because I read your mind, I went to Uttarakuru, collected almsfood there, ate it at the Anotatta lake, and stayed there for the day’s meditation.”
Uruvelā Kassapa thought, “The Great Ascetic is powerful and mighty, in that he can read the minds of others. But he’s not a perfected one like me.”
The Buddha ate his meal and continued to stay in the same forest grove.
43. Vào lúc bấy giờ, một đại lễ tế đàn đã được chuẩn bị cho đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa, và toàn thể dân chúng xứ Aṅga và Magadhā, mang theo nhiều vật thực loại cứng và loại mềm, đã có ý định đi đến. Bấy giờ, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi lên ý nghĩ này: – ‘Hiện nay, một đại lễ tế đàn đã được chuẩn bị cho ta, và toàn thể dân chúng xứ Aṅga và Magadhā, mang theo nhiều vật thực loại cứng và loại mềm, sẽ đi đến. Nếu vị Đại Sa-môn thực hiện phép thần thông giữa đám đông dân chúng, thì lợi lộc và danh vọng của vị Đại Sa-môn sẽ tăng trưởng, còn lợi lộc và danh vọng của ta sẽ bị suy giảm. Ôi, mong sao vị Đại Sa-môn ngày mai đừng đến!’ Rồi, đức Thế Tôn, với tâm của mình, biết được ý nghĩ trong tâm của Uruvelakassapa, đã đi đến xứ Uttarakuru, từ đấy mang về vật thực khất thực, đã dùng bữa tại hồ Anotatta, và đã an trú ban ngày tại chính nơi ấy. Bấy giờ, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa, sau khi đêm ấy đã mãn, đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Thưa Đại Sa-môn, đã đến giờ, vật thực đã sẵn sàng. Thưa Đại Sa-môn, tại sao hôm qua ngài đã không đến? Và chúng tôi đã nhớ đến ngài: – ‘Tại sao vị Đại Sa-môn lại không đến?’ Phần vật thực loại cứng và loại mềm của ngài đã được để dành.’ – ‘Này Kassapa, có phải ngươi đã khởi lên ý nghĩ này: – ‘Hiện nay, một đại lễ tế đàn đã được chuẩn bị cho ta, và toàn thể dân chúng xứ Aṅga và Magadhā, mang theo nhiều vật thực loại cứng và loại mềm, sẽ đi đến. Nếu vị Đại Sa-môn thực hiện phép thần thông giữa đám đông dân chúng, thì lợi lộc và danh vọng của vị Đại Sa-môn sẽ tăng trưởng, còn lợi lộc và danh vọng của ta sẽ bị suy giảm. Ôi, mong sao vị Đại Sa-môn ngày mai đừng đến!’ Ta đây, này Kassapa, với tâm của mình, biết được ý nghĩ trong tâm của ngươi, đã đi đến xứ Uttarakuru, từ đấy mang về vật thực khất thực, đã dùng bữa tại hồ Anotatta, và đã an trú ban ngày tại chính nơi ấy.’ Bấy giờ, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi lên ý nghĩ này: – ‘Vị Đại Sa-môn quả là có đại thần lực, có đại oai lực, đến nỗi có thể dùng tâm của mình mà biết được tâm của người khác, tuy nhiên, vị ấy vẫn không phải là bậc A-la-hán như ta.’ Rồi, đức Thế Tôn sau khi dùng vật thực của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa, đã lưu trú tại chính khu rừng ấy.
Pañcamaṁ pāṭihāriyaṁ.
The fifth wonder is finished.
Phép thần thông thứ năm.
Tena kho pana samayena bhagavato paṁsukūlaṁ uppannaṁ hoti. Atha kho bhagavato etadahosi—“kattha nu kho ahaṁ paṁsukūlaṁ dhoveyyan”ti? Atha kho sakko devānamindo bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya pāṇinā pokkharaṇiṁ khaṇitvā bhagavantaṁ etadavoca—“idha, bhante, bhagavā paṁsukūlaṁ dhovatū”ti.
Atha kho bhagavato etadahosi—“kimhi nu kho ahaṁ paṁsukūlaṁ parimaddeyyan”ti? Atha kho sakko devānamindo bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya mahatiṁ silaṁ upanikkhipi—“idha, bhante, bhagavā paṁsukūlaṁ parimaddatū”ti.
Atha kho bhagavato etadahosi—“kimhi nu kho ahaṁ ālambitvā uttareyyan”ti? Atha kho kakudhe adhivatthā devatā bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya sākhaṁ onāmesi—“idha, bhante, bhagavā ālambitvā uttaratū”ti.
Atha kho bhagavato etadahosi—“kimhi nu kho ahaṁ paṁsukūlaṁ vissajjeyyan”ti? Atha kho sakko devānamindo bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya mahatiṁ silaṁ upanikkhipi—“idha, bhante, bhagavā paṁsukūlaṁ vissajjetū”ti.
Atha kho uruvelakassapo jaṭilo tassā rattiyā accayena yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca—“kālo, mahāsamaṇa, niṭṭhitaṁ bhattaṁ. Kiṁ nu kho, mahāsamaṇa, nāyaṁ pubbe idha pokkharaṇī, sāyaṁ idha pokkharaṇī. Nayimā silā pubbe upanikkhittā. Kenimā silā upanikkhittā? Nayimassa kakudhassa pubbe sākhā onatā, sāyaṁ sākhā onatā”ti.
“Idha me, kassapa, paṁsukūlaṁ uppannaṁ ahosi. Tassa mayhaṁ, kassapa, etadahosi—‘kattha nu kho ahaṁ paṁsukūlaṁ dhoveyyan’ti? Atha kho, kassapa, sakko devānamindo mama cetasā cetoparivitakkamaññāya pāṇinā pokkharaṇiṁ khaṇitvā maṁ etadavoca—‘idha, bhante, bhagavā paṁsukūlaṁ dhovatū’ti. Sāyaṁ, kassapa, amanussena pāṇinā khaṇitā pokkharaṇī. Tassa mayhaṁ, kassapa, etadahosi—‘kimhi nu kho ahaṁ paṁsukūlaṁ parimaddeyyan’ti? Atha kho, kassapa, sakko devānamindo mama cetasā cetoparivitakkamaññāya mahatiṁ silaṁ upanikkhipi—‘idha, bhante, bhagavā paṁsukūlaṁ parimaddatū’ti. Sāyaṁ, kassapa, amanussena upanikkhittā silā. Tassa mayhaṁ, kassapa, etadahosi—‘kimhi nu kho ahaṁ ālambitvā uttareyyan’ti? Atha kho, kassapa, kakudhe adhivatthā devatā mama cetasā cetoparivitakkamaññāya sākhaṁ onāmesi—‘idha, bhante, bhagavā ālambitvā uttaratū’ti. Svāyaṁ āharahattho kakudho. Tassa mayhaṁ, kassapa, etadahosi—‘kimhi nu kho ahaṁ paṁsukūlaṁ vissajjeyyan’ti? Atha kho, kassapa, sakko devānamindo mama cetasā cetoparivitakkamaññāya mahatiṁ silaṁ upanikkhipi—‘idha, bhante, bhagavā paṁsukūlaṁ vissajjetū’ti. Sāyaṁ, kassapa, amanussena upanikkhittā silā”
Atha kho uruvelakassapassa jaṭilassa etadahosi—“mahiddhiko kho mahāsamaṇo mahānubhāvo, yatra hi nāma sakkopi devānamindo veyyāvaccaṁ karissati, na tveva ca kho arahā yathā ahan”ti.
Atha kho bhagavā uruvelakassapassa jaṭilassa bhattaṁ bhuñjitvā tasmiṁyeva vanasaṇḍe vihāsi.
Soon afterwards the Buddha got a rag and he thought, “Where can I wash it?” Reading the Buddha’s mind, Sakka dug a pond with his hand. And he said to the Buddha, “Sir, please wash it here.”
The Buddha thought, “Where can I beat it?” Reading the Buddha’s mind once again, Sakka placed a boulder there. And he said to the Buddha, “Sir, please beat it here.”
The Buddha thought, “What can I hold onto to get out of this pond?” A god living in an arjun tree read the Buddha’s mind. She then bent down a branch and said to the Buddha, “Sir, please come out by holding onto this.”
The Buddha thought, “Where can I dry this rag?” Reading the Buddha’s mind yet again, Sakka placed another boulder there. And he said to the Buddha, “Sir, please dry it here.”
The next morning Uruvelā Kassapa went to the Buddha and said, “It’s time, Great Ascetic, the meal is ready. But what’s going on? There was no pond here before, but now there is. These boulders were not here before. Who placed them here? And this arjun tree didn’t have a bent branch, but now it does.”
When the Buddha told him what had happened, Uruvelā Kassapa thought, “The Great Ascetic is powerful and mighty, in that even Sakka, the ruler of the gods, performs services for him. But he’s not a perfected one like me.”
The Buddha ate his meal and continued to stay in the same forest grove.
44. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nhận được một y phấn tảo. Bấy giờ, đức Thế Tôn khởi lên suy nghĩ: “Ta nên giặt y phấn tảo này ở đâu?”. Khi ấy, Sakka, vua của chư Thiên, với tâm của mình biết được ý nghĩ trong tâm của đức Thế Tôn, liền dùng tay đào một hồ sen và bạch với đức Thế Tôn rằng: “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy giặt y phấn tảo ở đây”. Bấy giờ, đức Thế Tôn khởi lên suy nghĩ: “Ta nên vò y phấn tảo này trên vật gì?”. Khi ấy, Sakka, vua của chư Thiên, với tâm của mình biết được ý nghĩ trong tâm của đức Thế Tôn, liền đặt xuống một tảng đá lớn: “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy vò y phấn tảo ở đây”. Bấy giờ, đức Thế Tôn khởi lên suy nghĩ: “Ta nên vịn vào đâu để vắt y?”. Khi ấy, vị trời trú ngụ ở cây Kakudha, với tâm của mình biết được ý nghĩ trong tâm của đức Thế Tôn, liền làm cho một cành cây cong xuống: “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy vịn vào đây để vắt y”. Bấy giờ, đức Thế Tôn khởi lên suy nghĩ: “Ta nên phơi y phấn tảo này ở đâu?”. Khi ấy, Sakka, vua của chư Thiên, với tâm của mình biết được ý nghĩ trong tâm của đức Thế Tôn, liền đặt xuống một tảng đá lớn: “Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy phơi y phấn tảo ở đây”. Bấy giờ, sau khi đêm ấy đã mãn, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy nói với đức Thế Tôn điều này: “Thưa Đại Sa-môn, đã đến giờ, vật thực đã sẵn sàng. Thưa Đại Sa-môn, sao vậy? Trước đây ở chỗ này không có hồ sen này, nay ở đây lại có hồ sen này. Trước đây những tảng đá này không được đặt xuống. Ai đã đặt những tảng đá này xuống? Trước đây cành của cây Kakudha này không cong xuống, nay cành ấy lại cong xuống”. “Này Kassapa, ở đây ta đã nhận được một y phấn tảo. Này Kassapa, khi ấy ta đã khởi lên suy nghĩ: ‘Ta nên giặt y phấn tảo này ở đâu?’. Bấy giờ, này Kassapa, Sakka, vua của chư Thiên, với tâm của mình biết được ý nghĩ trong tâm của ta, liền dùng tay đào một hồ sen và nói với ta điều này: ‘Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy giặt y phấn tảo ở đây’. Này Kassapa, hồ sen ấy đã được đào bằng tay bởi một phi nhân. Này Kassapa, khi ấy ta đã khởi lên suy nghĩ: ‘Ta nên vò y phấn tảo này trên vật gì?’. Bấy giờ, này Kassapa, Sakka, vua của chư Thiên, với tâm của mình biết được ý nghĩ trong tâm của ta, liền đặt xuống một tảng đá lớn: ‘Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy vò y phấn tảo ở đây’. Này Kassapa, tảng đá ấy đã được đặt xuống bởi một phi nhân. Này Kassapa, khi ấy ta đã khởi lên suy nghĩ: ‘Ta nên vịn vào đâu để vắt y?’. Bấy giờ, này Kassapa, vị trời trú ngụ ở cây Kakudha, với tâm của mình biết được ý nghĩ trong tâm của ta, liền làm cho một cành cây cong xuống: ‘Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy vịn vào đây để vắt y’. Cây Kakudha này có cành trong tầm tay. Này Kassapa, khi ấy ta đã khởi lên suy nghĩ: ‘Ta nên phơi y phấn tảo này ở đâu?’. Bấy giờ, này Kassapa, Sakka, vua của chư Thiên, với tâm của mình biết được ý nghĩ trong tâm của ta, liền đặt xuống một tảng đá lớn: ‘Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy phơi y phấn tảo ở đây’. Này Kassapa, tảng đá ấy đã được đặt xuống bởi một phi nhân”. Bấy giờ, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa khởi lên suy nghĩ: “Vị Đại Sa-môn thật có đại thần lực, đại oai đức, đến nỗi vua trời Sakka cũng phải đến hầu hạ. Tuy nhiên, vị ấy vẫn chưa phải là bậc A-la-hán như ta”. Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi dùng vật thực của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa, đã lưu trú tại khu rừng ấy.
Atha kho uruvelakassapo jaṭilo tassā rattiyā accayena yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavato kālaṁ ārocesi—“kālo, mahāsamaṇa, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
“Gaccha tvaṁ, kassapa, āyāmahan”ti uruvelakassapaṁ jaṭilaṁ uyyojetvā yāya jambuyā “jambudīpo” paññāyati, tato phalaṁ gahetvā paṭhamataraṁ āgantvā agyāgāre nisīdi.
Addasā kho uruvelakassapo jaṭilo bhagavantaṁ agyāgāre nisinnaṁ, disvāna bhagavantaṁ etadavoca—“katamena tvaṁ, mahāsamaṇa, maggena āgato? Ahaṁ tayā paṭhamataraṁ pakkanto, so tvaṁ paṭhamataraṁ āgantvā agyāgāre nisinno”ti.
“Idhāhaṁ, kassapa, taṁ uyyojetvā yāya jambuyā ‘jambudīpo’ paññāyati, tato phalaṁ gahetvā paṭhamataraṁ āgantvā agyāgāre nisinno. Idaṁ kho, kassapa, jambuphalaṁ vaṇṇasampannaṁ gandhasampannaṁ rasasampannaṁ. Sace ākaṅkhasi paribhuñjā”ti.
“Alaṁ, mahāsamaṇa, tvaṁyeva taṁ arahasi, tvaṁyeva taṁ paribhuñjāhī”ti.
Atha kho uruvelakassapassa jaṭilassa etadahosi—“mahiddhiko kho mahāsamaṇo mahānubhāvo, yatra hi nāma maṁ paṭhamataraṁ uyyojetvā yāya jambuyā ‘jambudīpo’ paññāyati, tato phalaṁ gahetvā paṭhamataraṁ āgantvā agyāgāre nisīdissati, na tveva ca kho arahā yathā ahan”ti.
Atha kho bhagavā uruvelakassapassa jaṭilassa bhattaṁ bhuñjitvā tasmiṁyeva vanasaṇḍe vihāsi.
The next morning Uruvelā Kassapa went to the Buddha and said, “It’s time, Great Ascetic, the meal is ready.”
“You just go ahead, Kassapa, I’ll come.” After dismissing him, he took a fruit from a rose-apple tree—the tree after which the Rose-apple Land of India is named—and then arrived first in the fire hut where he sat down.
When Uruvelā Kassapa saw the Buddha sitting there, he said to him, “Which path did you take? I left first, but you’re already here.”
The Buddha told him what he had done and added, “This rose apple has a good color, and it’s fragrant and delicious, too. You can have it, if you wish.”
“There’s no need. You deserve it and you should have it.”
Uruvelā Kassapa thought, “The Great Ascetic is powerful and mighty, in that he dismissed me, then took a fruit from a rose-apple tree, and still arrived first in the fire hut. But he’s not a perfected one like me.”
The Buddha ate his meal and continued to stay in the same forest grove.
Bấy giờ, sau khi đêm ấy đã mãn, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy báo giờ cho đức Thế Tôn: “Thưa Đại Sa-môn, đã đến giờ, vật thực đã sẵn sàng”. “Này Kassapa, ông cứ đi, ta sẽ đến”. Sau khi cho đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đi, ngài đi đến cây Jambu mà nhờ đó cõi này được biết đến là ‘Jambudīpa’, lấy một quả từ cây ấy, rồi đến trước tiên và ngồi trong nhà lửa. Đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã thấy đức Thế Tôn đang ngồi trong nhà lửa; sau khi thấy, vị ấy nói với đức Thế Tôn điều này: “Thưa Đại Sa-môn, ngài đã đến bằng con đường nào? Tôi đã đi trước ngài, vậy mà ngài lại đến trước tiên và đang ngồi trong nhà lửa”. “Này Kassapa, ở đây, sau khi cho ông đi, ta đã đến cây Jambu mà nhờ đó cõi này được biết đến là ‘Jambudīpa’, lấy một quả từ cây ấy, rồi đến đây trước tiên và ngồi trong nhà lửa. Này Kassapa, quả Jambu này đầy đủ sắc, hương, vị. Nếu ông muốn, hãy dùng đi”. “Thôi, thưa Đại Sa-môn, chính ngài mới xứng đáng với quả ấy, chính ngài hãy dùng nó”. Bấy giờ, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa khởi lên suy nghĩ: “Vị Đại Sa-môn thật có đại thần lực, đại oai đức, đến nỗi đã cho ta đi trước, rồi đến cây Jambu mà nhờ đó cõi này được biết đến là ‘Jambudīpa’, lấy quả từ cây ấy, rồi đến đây trước tiên và ngồi trong nhà lửa. Tuy nhiên, vị ấy vẫn chưa phải là bậc A-la-hán như ta”. Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi dùng vật thực của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa, đã lưu trú tại khu rừng ấy.
Atha kho uruvelakassapo jaṭilo tassā rattiyā accayena yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavato kālaṁ ārocesi—“kālo, mahāsamaṇa, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
“Gaccha tvaṁ, kassapa, āyāmahan”ti uruvelakassapaṁ jaṭilaṁ uyyojetvā yāya jambuyā “jambudīpo” paññāyati, tassā avidūre ambo …pe… tassā avidūre āmalakī …pe… tassā avidūre harītakī …pe… tāvatiṁsaṁ gantvā pāricchattakapupphaṁ gahetvā paṭhamataraṁ āgantvā agyāgāre nisīdi.
Addasā kho uruvelakassapo jaṭilo bhagavantaṁ agyāgāre nisinnaṁ, disvāna bhagavantaṁ etadavoca—“katamena tvaṁ, mahāsamaṇa, maggena āgato? Ahaṁ tayā paṭhamataraṁ pakkanto, so tvaṁ paṭhamataraṁ āgantvā agyāgāre nisinno”ti.
“Idhāhaṁ, kassapa, taṁ uyyojetvā tāvatiṁsaṁ gantvā pāricchattakapupphaṁ gahetvā paṭhamataraṁ āgantvā agyāgāre nisinno. Idaṁ kho, kassapa, pāricchattakapupphaṁ vaṇṇasampannaṁ gandhasampannaṁ. Sace ākaṅkhasi gaṇhā”ti.
“Alaṁ, mahāsamaṇa, tvaṁyeva taṁ arahasi, tvaṁyeva taṁ gaṇhā”ti.
Atha kho uruvelakassapassa jaṭilassa etadahosi—“mahiddhiko kho mahāsamaṇo mahānubhāvo, yatra hi nāma maṁ paṭhamataraṁ uyyojetvā tāvatiṁsaṁ gantvā pāricchattakapupphaṁ gahetvā paṭhamataraṁ āgantvā agyāgāre nisīdissati, na tveva ca kho arahā yathā ahan”ti.
The next morning Uruvelā Kassapa went to the Buddha and said, “It’s time, Great Ascetic, the meal is ready.”
“You just go ahead, Kassapa, I’ll come.” After dismissing him, he took a fruit from a mango tree not far from the rose-apple tree … he took a fruit from an emblic myrobalan tree not far from the mango tree … he took a fruit from a chebulic myrobalan tree not far from the emblic myrobalan tree … he went to Tāvatiṁsa heaven, took a flower from an orchid tree, and then arrived first in the fire hut where he sat down.
When Uruvelā Kassapa saw the Buddha sitting there, he said to him, “Which path did you take? I left first, but you’re already here.”
The Buddha told him what he had done, and added, “This orchid tree flower is colorful and fragrant. You can have it, if you wish.”
“There’s no need. You deserve it and you should have it.”
Uruvelā Kassapa thought, “The Great Ascetic is powerful and mighty, in that he dismissed me, then went to Tāvatiṁsa heaven, took an orchid tree flower, and still arrived first in the fire hut. But he’s not a perfected one like me.”
45. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa, sau khi đêm ấy đã mãn, đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã báo giờ cho đức Thế Tôn rằng: – ‘Thưa Đại Sa-môn, đã đến giờ, vật thực đã được chuẩn bị.’ – ‘Này Kassapa, ông cứ đi, ta sẽ đến.’ Sau khi cho đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đi, (đức Thế Tôn, sau khi đi qua nơi có cây Jambu mà nhờ đó châu Diêm-phù-đề được biết đến, và gần đó có cây xoài... v.v... gần đó có cây amla... v.v... gần đó có cây haritaki... v.v...) đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba, lấy đóa hoa Pāricchattaka, rồi trở về trước tiên và ngồi trong am lửa. Đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã thấy đức Thế Tôn đang ngồi trong am lửa; sau khi thấy, đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Thưa Đại Sa-môn, ngài đã đi đến bằng con đường nào? Tôi đã khởi hành trước ngài, vậy mà ngài đã đến trước tiên và đang ngồi trong am lửa.’ – ‘Này Kassapa, ở đây, sau khi cho ông đi, ta đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba, lấy đóa hoa Pāricchattaka, rồi trở về trước tiên và đang ngồi trong am lửa. Này Kassapa, đóa hoa Pāricchattaka này có màu sắc và hương thơm tốt đẹp. (Nếu ông muốn, hãy nhận lấy.’ – ‘Thôi đủ rồi, thưa Đại Sa-môn, chính ngài mới xứng đáng với nó, chính ngài hãy nhận lấy nó.’) Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi lên suy nghĩ này: – ‘Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực, vì rằng sau khi cho ta đi trước, ngài đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba, lấy đóa hoa Pāricchattaka, rồi trở về trước tiên và ngồi trong am lửa. Tuy nhiên, ngài vẫn không phải là bậc A-la-hán như ta.’
Tena kho pana samayena te jaṭilā aggiṁ paricaritukāmā na sakkonti kaṭṭhāni phāletuṁ. Atha kho tesaṁ jaṭilānaṁ etadahosi—“nissaṁsayaṁ kho mahāsamaṇassa iddhānubhāvo, yathā mayaṁ na sakkoma kaṭṭhāni phāletun”ti.
Atha kho bhagavā uruvelakassapaṁ jaṭilaṁ etadavoca—“phāliyantu, kassapa, kaṭṭhānī”ti.
“Phāliyantu, mahāsamaṇā”ti. Sakideva pañca kaṭṭhasatāni phāliyiṁsu.
Atha kho uruvelakassapassa jaṭilassa etadahosi—“mahiddhiko kho mahāsamaṇo mahānubhāvo, yatra hi nāma kaṭṭhānipi phāliyissanti, na tveva ca kho arahā yathā ahan”ti.
Soon afterwards those dreadlocked ascetics wanted to tend the sacred fire, but were unable to split the logs. They thought, “This must be because of the supernormal powers of the Great Ascetic.”
The Buddha said to Uruvelā Kassapa, “May the logs be split, Kassapa.”
“Yes, may they,” he replied. And five hundred logs were split all at once.
Uruvelā Kassapa thought, “The Great Ascetic is powerful and mighty, in that he can split logs just like that. But he’s not a perfected one like me.”
46. Vào lúc ấy, các vị đạo sĩ bện tóc muốn phụng sự lửa nhưng không thể chẻ củi được. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy khởi lên suy nghĩ này: – ‘Chắc chắn đây là do thần lực của vị Đại Sa-môn, vì thế mà chúng ta không thể chẻ củi được.’ Khi ấy, đức Thế Tôn nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này: – ‘Này Kassapa, có muốn củi được chẻ ra không?’ – ‘Thưa Đại Sa-môn, xin hãy cho chúng được chẻ ra.’ Ngay lập tức, năm trăm khúc củi đã được chẻ ra. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi lên suy nghĩ này: – ‘Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực, vì rằng ngài có thể làm cho cả củi cũng được chẻ ra. Tuy nhiên, ngài vẫn không phải là bậc A-la-hán như ta.’
Tena kho pana samayena te jaṭilā aggiṁ paricaritukāmā na sakkonti aggiṁ ujjaletuṁ. Atha kho tesaṁ jaṭilānaṁ etadahosi—“nissaṁsayaṁ kho mahāsamaṇassa iddhānubhāvo, yathā mayaṁ na sakkoma aggiṁ ujjaletun”ti.
Atha kho bhagavā uruvelakassapaṁ jaṭilaṁ etadavoca—“ujjaliyantu, kassapa, aggī”ti.
“Ujjaliyantu, mahāsamaṇā”ti. Sakideva pañca aggisatāni ujjaliyiṁsu.
Atha kho uruvelakassapassa jaṭilassa etadahosi—“mahiddhiko kho mahāsamaṇo mahānubhāvo, yatra hi nāma aggīpi ujjaliyissanti, na tveva ca kho arahā yathā ahan”ti.
Those ascetics still wanted to tend the sacred fire, but were unable to light it. They thought, “This must be because of the supernormal powers of the Great Ascetic.”
The Buddha said to Uruvelā Kassapa, “May the fires be lit, Kassapa.”
“Yes, may they,” he replied. And five hundred fires were lit all at once.
Uruvelā Kassapa thought, “The Great Ascetic is powerful and mighty, in that he can light fires just like that. But he’s not a perfected one like me.”
47. Vào lúc ấy, các vị đạo sĩ bện tóc muốn phụng sự lửa nhưng không thể nhóm lửa lên được. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy khởi lên suy nghĩ này: – ‘Chắc chắn đây là do thần lực của vị Đại Sa-môn, vì thế mà chúng ta không thể nhóm lửa lên được.’ Khi ấy, đức Thế Tôn nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này: – ‘Này Kassapa, có muốn các ngọn lửa được nhóm lên không?’ – ‘Thưa Đại Sa-môn, xin hãy cho chúng được nhóm lên.’ Ngay lập tức, năm trăm ngọn lửa đã bùng cháy. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi lên suy nghĩ này: – ‘Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực, vì rằng ngài có thể làm cho cả các ngọn lửa cũng được nhóm lên. Tuy nhiên, ngài vẫn không phải là bậc A-la-hán như ta.’
Tena kho pana samayena te jaṭilā aggiṁ paricaritvā na sakkonti aggiṁ vijjhāpetuṁ. Atha kho tesaṁ jaṭilānaṁ etadahosi—“nissaṁsayaṁ kho mahāsamaṇassa iddhānubhāvo, yathā mayaṁ na sakkoma aggiṁ vijjhāpetun”ti.
Atha kho bhagavā uruvelakassapaṁ jaṭilaṁ etadavoca—“vijjhāyantu, kassapa, aggī”ti.
“Vijjhāyantu, mahāsamaṇā”ti. Sakideva pañca aggisatāni vijjhāyiṁsu.
Atha kho uruvelakassapassa jaṭilassa etadahosi—“mahiddhiko kho mahāsamaṇo mahānubhāvo, yatra hi nāma aggīpi vijjhāyissanti, na tveva ca kho arahā yathā ahan”ti.
When those ascetics had tended the sacred fires, they were unable to extinguish them. They thought, “This must be because of the supernormal powers of the Great Ascetic.”
The Buddha said to Uruvelā Kassapa, “May the fires be extinguished, Kassapa.”
“Yes, may they,” he replied. And the five hundred fires were extinguished all at once.
Uruvelā Kassapa thought, “The Great Ascetic is powerful and mighty, in that he can extinguish fires just like that. But he’s not a perfected one like me.”
48. Vào lúc ấy, các vị đạo sĩ bện tóc sau khi phụng sự lửa xong nhưng không thể dập tắt lửa được. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy khởi lên suy nghĩ này: – ‘Chắc chắn đây là do thần lực của vị Đại Sa-môn, vì thế mà chúng ta không thể dập tắt lửa được.’ Khi ấy, đức Thế Tôn nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này: – ‘Này Kassapa, có muốn các ngọn lửa được dập tắt không?’ – ‘Thưa Đại Sa-môn, xin hãy cho chúng được dập tắt.’ Ngay lập tức, năm trăm ngọn lửa đã được dập tắt. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi lên suy nghĩ này: – ‘Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực, vì rằng ngài có thể làm cho cả các ngọn lửa cũng được dập tắt. Tuy nhiên, ngài vẫn không phải là bậc A-la-hán như ta.’
Tena kho pana samayena te jaṭilā sītāsu hemantikāsu rattīsu antaraṭṭhakāsu himapātasamaye najjā nerañjarāya ummujjantipi, nimujjantipi, ummujjananimujjanampi karonti.
Atha kho bhagavā pañcamattāni mandāmukhisatāni abhinimmini, yattha te jaṭilā uttaritvā visibbesuṁ. Atha kho tesaṁ jaṭilānaṁ etadahosi—“nissaṁsayaṁ kho mahāsamaṇassa iddhānubhāvo, yathayimā mandāmukhiyo nimmitā”ti.
Atha kho uruvelakassapassa jaṭilassa etadahosi—“mahiddhiko kho mahāsamaṇo mahānubhāvo, yatra hi nāma tāva bahū mandāmukhiyopi abhinimminissati, na tveva ca kho arahā yathā ahan”ti.
At that time it was midwinter, with cold days and snow. During this period those ascetics emerged from the Nerañjara river, immersed themselves in it, and repeatedly emerged and immersed themselves.
Then the Buddha manifested five hundred pans with hot coals, where those ascetics could warm themselves after coming out of the water. They thought, “These were no doubt created by the supernormal powers of the Great Ascetic.”
Uruvelā Kassapa thought, “The Great Ascetic is powerful and mighty, in that he can manifest so many pans with hot coals. But he’s not a perfected one like me.”
49. Vào lúc ấy, trong những đêm mùa đông lạnh giá, vào thời điểm giữa tám ngày có sương giá rơi, các vị đạo sĩ bện tóc ấy ở sông Nerañjarā, họ vừa lặn xuống, vừa trồi lên, họ thực hành việc lặn xuống và trồi lên. Khi ấy, đức Thế Tôn đã hóa hiện ra năm trăm lò lửa, nơi mà các vị đạo sĩ bện tóc ấy sau khi lên khỏi mặt nước đã sưởi ấm. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy khởi lên suy nghĩ này: – ‘Chắc chắn đây là do thần lực của vị Đại Sa-môn, nhờ đó mà các lò lửa này đã được hóa hiện.’ Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi lên suy nghĩ này: – ‘Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai lực, vì rằng ngài có thể hóa hiện ra rất nhiều lò lửa như vậy. Tuy nhiên, ngài vẫn không phải là bậc A-la-hán như ta.’
Tena kho pana samayena mahā akālamegho pāvassi, mahā udakavāhako sañjāyi. Yasmiṁ padese bhagavā viharati, so padeso udakena na otthaṭo hoti. Atha kho bhagavato etadahosi—“yannūnāhaṁ samantā udakaṁ ussāretvā majjhe reṇuhatāya bhūmiyā caṅkameyyan”ti. Atha kho bhagavā samantā udakaṁ ussāretvā majjhe reṇuhatāya bhūmiyā caṅkami.
Atha kho uruvelakassapo jaṭilo—“mā heva kho mahāsamaṇo udakena vūḷho ahosī”ti nāvāya sambahulehi jaṭilehi saddhiṁ yasmiṁ padese bhagavā viharati taṁ padesaṁ agamāsi. Addasā kho uruvelakassapo jaṭilo bhagavantaṁ samantā udakaṁ ussāretvā majjhe reṇuhatāya bhūmiyā caṅkamantaṁ, disvāna bhagavantaṁ etadavoca—“idaṁ nu tvaṁ, mahāsamaṇā”ti?
“Ayamahamasmi, kassapā”ti
bhagavā vehāsaṁ abbhuggantvā nāvāya paccuṭṭhāsi. Atha kho uruvelakassapassa jaṭilassa etadahosi—“mahiddhiko kho mahāsamaṇo mahānubhāvo, yatra hi nāma udakampi na pavāhissati, na tveva ca kho arahā yathā ahan”ti.
Soon afterwards an unseasonal storm poured down, producing a great flood. The spot where the Buddha was staying was inundated. The Buddha thought, “Why don’t I drive back the water on all sides and walk on the dry ground in the middle?” And he did.
Uruvelā Kassapa thought, “I hope the Great Ascetic hasn’t been swept away by the water.” Together with a number of ascetics he went by boat to where the Buddha was staying. He saw that the Buddha had driven back the water on all sides and was walking on the dry ground in the middle. And he said to the Buddha, “Is that you, Great Ascetic?”
“It’s me, Kassapa.”
The Buddha rose up into the air and landed in the boat. Uruvelā Kassapa thought, “The Great Ascetic is powerful and mighty, in that he can displace the water. But he’s not a perfected one like me.”
50. Vào lúc ấy, một trận mưa lớn trái mùa đã đổ xuống, một dòng nước lớn đã hình thành. Nơi mà đức Thế Tôn đang trú ngụ, nơi ấy không bị ngập bởi nước. Bấy giờ, đức Thế Tôn khởi lên ý nghĩ này: “Hay là ta nên làm cho nước rẽ ra xung quanh và đi kinh hành ở giữa trên vùng đất khô ráo bụi bay lên.” Bấy giờ, đức Thế Tôn đã làm cho nước rẽ ra xung quanh và đi kinh hành ở giữa trên vùng đất khô ráo bụi bay lên. Bấy giờ, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa nghĩ rằng: “Mong rằng vị Đại Sa-môn không bị nước cuốn trôi đi,” rồi cùng với nhiều đạo sĩ bện tóc khác đi thuyền đến nơi đức Thế Tôn đang trú ngụ. Đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang đi kinh hành ở giữa trên vùng đất khô ráo bụi bay lên, sau khi đã làm cho nước rẽ ra xung quanh. Sau khi nhìn thấy, ông đã nói với đức Thế Tôn lời này: “Này Đại Sa-môn, có phải ngài đang ở đây không?” “Này Kassapa, chính ta đang ở đây.” Nói xong, đức Thế Tôn bay vút lên không trung rồi đứng trên chiếc thuyền. Bấy giờ, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa khởi lên ý nghĩ này: “Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai đức, đến nỗi nước cũng không thể cuốn trôi được. Tuy nhiên, vị ấy vẫn chưa phải là bậc A-la-hán như ta.”
Atha kho bhagavato etadahosi—“cirampi kho imassa moghapurisassa evaṁ bhavissati—‘mahiddhiko kho mahāsamaṇo mahānubhāvo, na tveva ca kho arahā yathā ahan’ti; yannūnāhaṁ imaṁ jaṭilaṁ saṁvejeyyan”ti. Atha kho bhagavā uruvelakassapaṁ jaṭilaṁ etadavoca—“neva ca kho tvaṁ, kassapa, arahā, nāpi arahattamaggasamāpanno. Sāpi te paṭipadā natthi, yāya tvaṁ arahā vā assasi, arahattamaggaṁ vā samāpanno”ti.
Atha kho uruvelakassapo jaṭilo bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavoca—“labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
“Tvaṁ khosi, kassapa, pañcannaṁ jaṭilasatānaṁ nāyako vināyako aggo pamukho pāmokkho. Tepi tāva apalokehi, yathā te maññissanti tathā te karissantī”ti.
Atha kho uruvelakassapo jaṭilo yena te jaṭilā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā te jaṭile etadavoca—“icchāmahaṁ, bho, mahāsamaṇe brahmacariyaṁ carituṁ, yathā bhavanto maññanti tathā karontū”ti.
“Cirapaṭikā mayaṁ, bho, mahāsamaṇe abhippasannā, sace bhavaṁ, mahāsamaṇe brahmacariyaṁ carissati, sabbeva mayaṁ mahāsamaṇe brahmacariyaṁ carissāmā”ti.
Atha kho te jaṭilā kesamissaṁ jaṭāmissaṁ khārikājamissaṁ aggihutamissaṁ udake pavāhetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavocuṁ—“labheyyāma mayaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyāma upasampadan”ti.
“Etha bhikkhavo”ti bhagavā avoca—“svākkhāto dhammo, caratha brahmacariyaṁ sammā dukkhassa antakiriyāyā”ti. Sāva tesaṁ āyasmantānaṁ upasampadā ahosi.
Then the Buddha thought, “For a long time this foolish man has thought, ‘The Great Ascetic is powerful and mighty, but he’s not a perfected one like me.’ Let me stir him up.” And he said to Uruvelā Kassapa, “Kassapa, you’re not a perfected one or on the path to perfection. You don’t have the practice that might make you a perfected one or one on the path to perfection.”
At that Uruvelā Kassapa bowed down with his head at the Buddha’s feet and said, “Sir, I wish to receive the going forth in your presence. I wish to receive the full ordination.”
“Kassapa, you’re the leader and chief of five hundred dreadlocked ascetics. Tell them first, so that they may take appropriate action.”
Uruvelā Kassapa then went to those ascetics and said, “I wish to practice the spiritual life under the Great Ascetic. Please do whatever you think is appropriate.”
“Sir, we’ve had confidence in the Great Ascetic for a long time. If you are to practice the spiritual life under him, so will all of us.”
Then, after letting their hair and dreadlocks, their carrying poles and bundles, and their fire-worship implements be carried away by the water, they went to the Buddha. They bowed down with their heads at his feet and said, “Sir, we wish to receive the going forth in your presence. We wish to receive the full ordination.”
The Buddha said, “Come, monks. The Teaching is well-proclaimed. Practice the spiritual life to make a complete end of suffering.” And that was the full ordination of those venerables.
51. Bấy giờ, đức Thế Tôn khởi lên ý nghĩ này: “Kẻ ngu si này đã từ lâu có ý nghĩ như vầy: ‘Vị Đại Sa-môn quả thật có đại thần lực, có đại oai đức, tuy nhiên vẫn chưa phải là bậc A-la-hán như ta.’ Hay là ta nên làm cho đạo sĩ bện tóc này kinh sợ.” Bấy giờ, đức Thế Tôn đã nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa lời này: “Này Kassapa, ngươi không phải là bậc A-la-hán, cũng không phải là người đã đạt đến đạo quả A-la-hán. Ngươi cũng không có con đường thực hành nào mà nhờ đó ngươi có thể trở thành bậc A-la-hán hoặc đạt đến đạo quả A-la-hán.” Bấy giờ, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn và bạch với đức Thế Tôn lời này: “Bạch ngài, con xin được xuất gia, xin được thọ cụ túc giới nơi đức Thế Tôn.” “Này Kassapa, ngươi là người lãnh đạo, người hướng dẫn, người đứng đầu, người tiên phong, người thủ lĩnh của năm trăm vị đạo sĩ bện tóc. Ngươi hãy hỏi ý kiến họ trước đã. Họ nghĩ thế nào thì họ sẽ làm như vậy.” Bấy giờ, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đi đến chỗ các vị đạo sĩ bện tóc ấy, sau khi đến, ông nói với các vị đạo sĩ bện tóc ấy lời này: “Này các vị, tôi muốn thực hành phạm hạnh nơi vị Đại Sa-môn. Các vị nghĩ thế nào thì hãy làm như vậy.” “Thưa ngài, chúng tôi đã có lòng tịnh tín sâu sắc nơi vị Đại Sa-môn từ lâu rồi. Nếu ngài thực hành phạm hạnh nơi vị Đại Sa-môn, thì tất cả chúng tôi cũng sẽ thực hành phạm hạnh nơi vị Đại Sa-môn.” Bấy giờ, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã ném các vật dụng của đạo sĩ gồm tóc, bối tóc, gậy mang đồ, và muỗng cúng lửa xuống nước, rồi đi đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến, họ cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn và bạch với đức Thế Tôn lời này: “Bạch ngài, chúng con xin được xuất gia, xin được thọ cụ túc giới nơi đức Thế Tôn.” Đức Thế Tôn nói: “Hãy đến đây, các Tỳ-kheo. Giáo pháp đã được khéo thuyết giảng. Hãy thực hành phạm hạnh một cách chân chánh để chấm dứt khổ đau.” Đó chính là sự thọ cụ túc giới của các vị tôn giả ấy.
Addasā kho nadīkassapo jaṭilo kesamissaṁ jaṭāmissaṁ khārikājamissaṁ aggihutamissaṁ udake vuyhamāne, disvānassa etadahosi—“mā heva me bhātuno upasaggo ahosī”ti. Jaṭile pāhesi—“gacchatha me bhātaraṁ jānāthā”ti. Sāmañca tīhi jaṭilasatehi saddhiṁ yenāyasmā uruvelakassapo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ uruvelakassapaṁ etadavoca—“idaṁ nu kho, kassapa, seyyo”ti?
“Āmāvuso, idaṁ seyyo”ti.
Atha kho te jaṭilā kesamissaṁ jaṭāmissaṁ khārikājamissaṁ aggihutamissaṁ udake pavāhetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavocuṁ—“labheyyāma mayaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyāma upasampadan”ti.
“Etha bhikkhavo”ti bhagavā avoca—“svākkhāto dhammo, caratha brahmacariyaṁ sammā dukkhassa antakiriyāyā”ti. Sāva tesaṁ āyasmantānaṁ upasampadā ahosi.
Nadī Kassapa saw those things being carried away by the water, and he thought, “I hope my brother is okay.” He dispatched his ascetics, saying, “Go and check on my brother.” Together with the three hundred ascetics he then went to Uruvelā Kassapa and said, “Is this better, Kassapa?”
“Yes, this is better.”
Then, after letting their hair and dreadlocks, their carrying poles and bundles, and their fire-worship implements be carried away by the water, they went to the Buddha. They bowed down with their heads at his feet and said, “Sir, we wish to receive the going forth in your presence. We wish to receive the full ordination.”
The Buddha said, “Come, monks. The Teaching is well-proclaimed. Practice the spiritual life to make a complete end of suffering.” And that was the full ordination of those venerables.
52. Đạo sĩ bện tóc Nadīkassapa đã nhìn thấy các vật dụng của đạo sĩ gồm tóc, bối tóc, gậy mang đồ, và muỗng cúng lửa đang trôi trên dòng nước. Sau khi nhìn thấy, ông khởi lên ý nghĩ này: “Mong rằng không có tai họa nào xảy đến cho anh trai của ta.” Ông đã sai các đạo sĩ bện tóc đi: “Hãy đi tìm hiểu về anh trai của ta.” Và chính ông cùng với ba trăm vị đạo sĩ bện tóc đi đến chỗ tôn giả Uruvelakassapa. Sau khi đến, ông nói với tôn giả Uruvelakassapa lời này: “Này Kassapa, có phải việc xuất gia này là tốt đẹp hơn không?” “Đúng vậy, thưa hiền hữu, việc này là tốt đẹp hơn.” Bấy giờ, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã ném các vật dụng của đạo sĩ gồm tóc, bối tóc, gậy mang đồ, và muỗng cúng lửa xuống nước, rồi đi đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến, họ cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn và bạch với đức Thế Tôn lời này: “Bạch ngài, chúng con xin được xuất gia, xin được thọ cụ túc giới nơi đức Thế Tôn.” Đức Thế Tôn nói: “Hãy đến đây, các Tỳ-kheo. Giáo pháp đã được khéo thuyết giảng. Hãy thực hành phạm hạnh một cách chân chánh để chấm dứt khổ đau.” Đó chính là sự thọ cụ túc giới của các vị tôn giả ấy.
Addasā kho gayākassapo jaṭilo kesamissaṁ jaṭāmissaṁ khārikājamissaṁ aggihutamissaṁ udake vuyhamāne, disvānassa etadahosi—“mā heva me bhātūnaṁ upasaggo ahosī”ti. Jaṭile pāhesi—“gacchatha me bhātaro jānāthā”ti. Sāmañca dvīhi jaṭilasatehi saddhiṁ yenāyasmā uruvelakassapo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ uruvelakassapaṁ etadavoca—“idaṁ nu kho, kassapa, seyyo”ti?
“Āmāvuso, idaṁ seyyo”ti.
Atha kho te jaṭilā kesamissaṁ jaṭāmissaṁ khārikājamissaṁ aggihutamissaṁ udake pavāhetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavocuṁ—“labheyyāma mayaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyāma upasampadan”ti.
“Etha bhikkhavo”ti bhagavā avoca—“svākkhāto dhammo, caratha brahmacariyaṁ sammā dukkhassa antakiriyāyā”ti. Sāva tesaṁ āyasmantānaṁ upasampadā ahosi.
Gayā Kassapa saw those things being carried away by the water, and he thought, “I hope my brothers are okay.” He dispatched his ascetics, saying, “Go and check on my brothers.” Together with the two hundred ascetics he then went to Uruvelā Kassapa and said, “Is this better, Kassapa?”
“Yes, this is better.”
Then, after letting their hair and dreadlocks, their carrying poles and bundles, and their fire-worship implements be carried away by the water, they went to the Buddha. They bowed down with their heads at his feet and said, “Sir, we wish to receive the going forth in your presence. We wish to receive the full ordination.”
The Buddha said, “Come, monks. The Teaching is well-proclaimed. Practice the spiritual life to make a complete end of suffering.” And that was the full ordination of those venerables.
53. Khi ấy, đạo sĩ Gayākassapo đã thấy các vật dụng của đạo sĩ gồm tóc, bối tóc, đòn gánh mang hành lý, và muỗng cúng dường lửa đang trôi trên dòng nước. Thấy vậy, vị ấy đã khởi lên ý nghĩ này: “Mong rằng tai họa đã không xảy đến cho các anh của ta.” Vị ấy đã sai các đạo sĩ đi và nói: “Hãy đi tìm hiểu về các anh của ta.” Và chính vị ấy cùng với hai trăm vị đạo sĩ đã đi đến chỗ của Tôn giả Uruvelakassapa. Sau khi đến nơi, vị ấy đã nói với Tôn giả Uruvelakassapa lời này: “Này Kassapa, có phải đời sống này là cao thượng hơn không?” – “Thưa hiền hữu, vâng, đời sống này là cao thượng hơn.” Bấy giờ, các vị đạo sĩ ấy đã ném các vật dụng của đạo sĩ gồm tóc, bối tóc, đòn gánh mang hành lý, và muỗng cúng dường lửa xuống dòng nước, rồi đi đến chỗ của Đức Thế Tôn. Sau khi đến nơi, họ đã cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn và bạch với ngài lời này: “Bạch ngài, mong rằng chúng con được xuất gia, được thọ cụ túc giới nơi Đức Thế Tôn.” Đức Thế Tôn đã phán: “Hãy đến đây, các tỳ khưu. Giáo pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy thực hành phạm hạnh để chân chánh chấm dứt khổ đau.” Đó chính là lễ thọ cụ túc giới của các vị tôn giả ấy.
Bhagavato adhiṭṭhānena pañca kaṭṭhasatāni na phāliyiṁsu, phāliyiṁsu; aggī na ujjaliyiṁsu, ujjaliyiṁsu; na vijjhāyiṁsu, vijjhāyiṁsu; pañcamandāmukhisatāni abhinimmini. Etena nayena aḍḍhuḍḍhapāṭihāriyasahassāni honti.
By an act of supernormal determination the Buddha stopped five hundred logs from being split before splitting them; he stopped fires from being lit before lighting them; he stopped them from being extinguished before extinguishing them; and he manifested five hundred pans with hot coals. In this way, there were three and a half thousand wonders.
Do sự chú nguyện của Đức Thế Tôn, năm trăm khúc củi đã không thể chẻ ra, rồi lại chẻ ra được; các ngọn lửa đã không thể cháy lên, rồi lại cháy lên được; đã không thể tắt, rồi lại tắt được; ngài đã hóa hiện ra năm trăm lò lửa. Bằng phương pháp này, đã có ba ngàn năm trăm phép thần thông.
Atha kho bhagavā uruvelāyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena gayāsīsaṁ tena pakkāmi mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ bhikkhusahassena sabbeheva purāṇajaṭilehi. Tatra sudaṁ bhagavā gayāyaṁ viharati gayāsīse saddhiṁ bhikkhusahassena.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi—
After staying at Uruvelā for as long as he liked, the Buddha went to Gayāsīsa together with that large sangha of one thousand monks, all of them previously dreadlocked ascetics, and they stayed there.
Then the Buddha addressed the monks:
54. Bấy giờ, sau khi đã an trú tại Uruvelā tùy thích, Đức Thế Tôn đã lên đường đi đến Gayāsīsa cùng với một Tăng chúng đông đảo gồm một ngàn vị tỳ khưu, tất cả đều là các đạo sĩ trước đây. Tại đó, Đức Thế Tôn an trú ở Gayā, tại Gayāsīsa, cùng với một ngàn vị tỳ khưu. Tại đó, Đức Thế Tôn đã gọi các vị tỳ khưu và nói:
“Sabbaṁ, bhikkhave, ādittaṁ. Kiñca, bhikkhave, sabbaṁ ādittaṁ? Cakkhu ādittaṁ, rūpā ādittā, cakkhuviññāṇaṁ ādittaṁ, cakkhusamphasso āditto, yamidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi ādittaṁ. Kena ādittaṁ? Rāgagginā dosagginā mohagginā ādittaṁ, jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi ādittanti vadāmi.
Sotaṁ ādittaṁ, saddā ādittā, sotaviññāṇaṁ ādittaṁ, sotasamphasso āditto, yamidaṁ sotasamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi ādittaṁ. Kena ādittaṁ? Rāgagginā dosagginā mohagginā ādittaṁ, jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi ādittanti vadāmi.
Ghānaṁ ādittaṁ, gandhā ādittā, ghānaviññāṇaṁ ādittaṁ, ghānasamphasso āditto, yamidaṁ ghānasamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi ādittaṁ. Kena ādittaṁ? Rāgagginā dosagginā mohagginā ādittaṁ, jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi ādittanti vadāmi.
Jivhā ādittā, rasā ādittā, jivhāviññāṇaṁ ādittaṁ jivhāsamphasso āditto, yamidaṁ jivhāsamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi ādittaṁ. Kena ādittaṁ? Rāgagginā dosagginā mohagginā ādittaṁ, jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi ādittanti vadāmi.
Kāyo āditto, phoṭṭhabbā ādittā, kāyaviññāṇaṁ ādittaṁ kāyasamphasso āditto, yamidaṁ kāyasamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi ādittaṁ. Kena ādittaṁ? Rāgagginā dosagginā mohagginā ādittaṁ, jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi ādittanti vadāmi.
Mano āditto, dhammā ādittā, manoviññāṇaṁ ādittaṁ manosamphasso āditto, yamidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi ādittaṁ. Kena ādittaṁ? Rāgagginā dosagginā mohagginā ādittaṁ, jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi ādittanti vadāmi.
“Everything is burning. What is that everything that is burning? The eye is burning. Sights are burning. Eye consciousness is burning. Eye contact is burning. Whatever feeling arises because of eye contact—whether pleasant, painful, or neither-pleasant-nor-painful—that too is burning. Burning with what? Burning with the fire of sensual desire, the fire of ill will, and the fire of confusion; burning with birth, old age, and death; burning with grief, sorrow, pain, aversion, and distress, I say.
The ear is burning. Sounds are burning. Ear consciousness is burning. Ear contact is burning. Whatever feeling arises because of ear contact—whether pleasant, painful, or neither-pleasant-nor-painful—that too is burning. Burning with what? Burning with the fire of sensual desire, the fire of ill will, and the fire of confusion; burning with birth, old age, and death; burning with grief, sorrow, pain, aversion, and distress, I say.
The nose is burning. Smells are burning. Nose consciousness is burning. Nose contact is burning. Whatever feeling arises because of nose contact—whether pleasant, painful, or neither-pleasant-nor-painful—that too is burning. Burning with what? Burning with the fire of sensual desire, the fire of ill will, and the fire of confusion; burning with birth, old age, and death; burning with grief, sorrow, pain, aversion, and distress, I say.
The tongue is burning. Tastes are burning. Tongue consciousness is burning. Tongue contact is burning. Whatever feeling arises because of tongue contact—whether pleasant, painful, or neither-pleasant-nor-painful—that too is burning. Burning with what? Burning with the fire of sensual desire, the fire of ill will, and the fire of confusion; burning with birth, old age, and death; burning with grief, sorrow, pain, aversion, and distress, I say.
The body is burning. Touches are burning. Body consciousness is burning. Body contact is burning. Whatever feeling arises because of body contact—whether pleasant, painful, or neither-pleasant-nor-painful—that too is burning. Burning with what? Burning with the fire of sensual desire, the fire of ill will, and the fire of confusion; burning with birth, old age, and death; burning with grief, sorrow, pain, aversion, and distress, I say.
The mind is burning. Mental phenomena are burning. Mind consciousness is burning. Mind contact is burning. Whatever feeling arises because of mind contact—whether pleasant, painful, or neither-pleasant-nor-painful—that too is burning. Burning with what? Burning with the fire of sensual desire, the fire of ill will, and the fire of confusion; burning with birth, old age, and death; burning with grief, sorrow, pain, aversion, and distress, I say.
“Này các tỳ khưu, tất cả đều đang bốc cháy. Và này các tỳ khưu, cái gì là tất cả đang bốc cháy? Mắt đang bốc cháy, các sắc đang bốc cháy, nhãn thức đang bốc cháy, nhãn xúc đang bốc cháy, và cảm thọ nào khởi lên do duyên nhãn xúc, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, cảm thọ ấy cũng đang bốc cháy. Bốc cháy bởi cái gì? Bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si; Ta nói rằng nó bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Tai đang bốc cháy, các âm thanh đang bốc cháy, nhĩ thức đang bốc cháy, nhĩ xúc đang bốc cháy, và cảm thọ nào khởi lên do duyên nhĩ xúc, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, cảm thọ ấy cũng đang bốc cháy. Bốc cháy bởi cái gì? Bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si; Ta nói rằng nó bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Mũi đang bốc cháy, các mùi hương đang bốc cháy, tỷ thức đang bốc cháy, tỷ xúc đang bốc cháy, và cảm thọ nào khởi lên do duyên tỷ xúc, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, cảm thọ ấy cũng đang bốc cháy. Bốc cháy bởi cái gì? Bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si; Ta nói rằng nó bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Lưỡi đang bốc cháy, các vị đang bốc cháy, thiệt thức đang bốc cháy, thiệt xúc đang bốc cháy, và cảm thọ nào khởi lên do duyên thiệt xúc, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, cảm thọ ấy cũng đang bốc cháy. Bốc cháy bởi cái gì? Bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si; Ta nói rằng nó bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Thân đang bốc cháy, các vật xúc chạm đang bốc cháy, thân thức đang bốc cháy, thân xúc đang bốc cháy, và cảm thọ nào khởi lên do duyên thân xúc, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, cảm thọ ấy cũng đang bốc cháy. Bốc cháy bởi cái gì? Bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si; Ta nói rằng nó bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ý đang bốc cháy, các pháp đang bốc cháy, ý thức đang bốc cháy, ý xúc đang bốc cháy, và cảm thọ nào khởi lên do duyên ý xúc, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, cảm thọ ấy cũng đang bốc cháy. Bốc cháy bởi cái gì? Bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si; Ta nói rằng nó bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.”
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati, rūpesupi nibbindati, cakkhuviññāṇepi nibbindati, cakkhusamphassepi nibbindati, yamidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, tasmimpi nibbindati.
Sotasmimpi nibbindati, saddesupi nibbindati …pe…
ghānasmimpi nibbindati, gandhesupi nibbindati …pe…
jivhāyapi nibbindati, rasesupi nibbindati …pe…
kāyasmimpi nibbindati, phoṭṭhabbesupi nibbindati …pe…
manasmimpi nibbindati, dhammesupi nibbindati, manoviññāṇepi nibbindati, manosamphassepi nibbindati, yamidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tasmimpi nibbindati,
nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati, vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti. Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
When they see this, the learned noble disciple is repelled by the eye, repelled by sights, repelled by eye consciousness, repelled by eye contact, and repelled by whatever pleasant, painful, or neither-pleasant-nor-painful feeling that arises because of eye contact.
They are repelled by the ear, repelled by sounds, repelled by ear consciousness, repelled by ear contact, and repelled by whatever pleasant, painful, or neither-pleasant-nor-painful feeling that arises because of ear contact.
They are repelled by the nose, repelled by smells, repelled by nose consciousness, repelled by nose contact, and repelled by whatever pleasant, painful, or neither-pleasant-nor-painful feeling that arises because of nose contact.
They are repelled by the tongue, repelled by tastes, repelled by tongue consciousness, repelled by tongue contact, and repelled by whatever pleasant, painful, or neither-pleasant-nor-painful feeling that arises because of tongue contact.
They are repelled by the body, repelled by touches, repelled by body consciousness, repelled by body contact, and repelled by whatever pleasant, painful, or neither-pleasant-nor-painful feeling that arises because of body contact.
They are repelled by the mind, repelled by mental phenomena, repelled by mind consciousness, repelled by mind contact, and repelled by whatever pleasant, painful, or neither-pleasant-nor-painful feeling that arises because of mind contact.
Being repelled, they become desireless. Because they are desireless, they are freed. When they are freed, they know they are freed. They understand that birth has come to an end, that the spiritual life has been fulfilled, that the job has been done, that there is no further state of existence.”
“Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, khi thấy như vậy, liền nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc, và đối với cảm thọ lạc, khổ, hay không khổ không lạc khởi lên do duyên nhãn xúc, vị ấy cũng nhàm chán. Vị ấy nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với các tiếng... (v.v.)... nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với các mùi... (v.v.)... nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với các vị... (v.v.)... nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với các vật xúc chạm... (v.v.)... nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc, và đối với cảm thọ lạc, khổ, hay không khổ không lạc khởi lên do duyên ý xúc, vị ấy cũng nhàm chán. Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên rằng: ‘Đã được giải thoát’. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’.”
Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne tassa bhikkhusahassassa anupādāya āsavehi cittāni vimucciṁsu.
And while this exposition was being spoken, the minds of those one thousand monks were freed from the corruptions through letting go.
Và trong khi bài pháp văn xuôi này đang được thuyết giảng, tâm của một ngàn vị Tỳ khưu ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
Ādittapariyāyasuttaṁ niṭṭhitaṁ.
The discourse on burning is finished.
Kinh Bài Pháp Về Sự Cháy chấm dứt.
Uruvelapāṭihāriyaṁ tatiyabhāṇavāro niṭṭhito.
The third section for recitation on the wonders at Uruvelā is finished.
Phẩm tụng thứ ba về Thần thông ở Uruvelā chấm dứt.
13. Câu chuyện về cuộc gặp gỡ vua Bimbisāra
Atha kho bhagavā gayāsīse yathābhirantaṁ viharitvā yena rājagahaṁ tena cārikaṁ pakkāmi, mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ bhikkhusahassena sabbeheva purāṇajaṭilehi. Atha kho bhagavā anupubbena cārikaṁ caramāno yena rājagahaṁ tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā rājagahe viharati laṭṭhivane suppatiṭṭhe cetiye.
Assosi kho rājā māgadho seniyo bimbisāro—“samaṇo khalu bho gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito rājagahaṁ anuppatto rājagahe viharati laṭṭhivane suppatiṭṭhe cetiye. Taṁ kho pana bhagavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato—
itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
After staying at Gayāsīsa for as long as he liked, the Buddha set out wandering toward Rājagaha with that large sangha of one thousand monks, all of them previously dreadlocked ascetics. When he eventually arrived, he stayed in Cane Grove at the Suppatiṭṭha Shrine.
King Seniya Bimbisāra of Magadha was told: “Sir, the ascetic Gotama, the Sakyan, who has gone forth from the Sakyan clan, has arrived at Rājagaha and is staying in the Cane Grove at the Suppatiṭṭha Shrine. That good Gotama has a fine reputation:
‘He is a Buddha, perfected and fully awakened, complete in insight and conduct, happy, knower of the world, supreme leader of trainable people, teacher of gods and humans, awakened, a Buddha. With his own insight he has seen this world with its gods, its lords of death, and its supreme beings, this society with its monastics and brahmins, its gods and humans, and he makes it known to others. He has a Teaching that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end. It has a true goal and is well articulated. He sets out a perfectly complete and pure spiritual life.’ It’s good to see such perfected ones.”
55. Bấy giờ, Thế Tôn sau khi trú tại Gayāsīsa tùy thích, liền du hành đến Rājagaha cùng với đại chúng Tỳ khưu, với một ngàn vị Tỳ khưu, tất cả đều là các đạo sĩ bện tóc trước kia. Bấy giờ, Thế Tôn tuần tự du hành và đã đến Rājagaha. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Rājagaha, trong khu rừng Laṭṭhivana, tại điện thờ Suppatiṭṭha. Vua xứ Māgadha là Seniya Bimbisāra nghe được rằng: ‘Này quý vị, nghe nói Sa-môn Gotama, là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Sakya, đã đến Rājagaha và đang trú tại Rājagaha, trong khu rừng Laṭṭhivana, tại điện thờ Suppatiṭṭha. Tiếng lành đồn xa về Thế Tôn Gotama ấy như sau: “Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Ngài sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã tuyên thuyết thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người. Ngài thuyết pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; Ngài trình bày phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Thật tốt thay, được yết kiến các bậc A-la-hán như vậy.’
Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro dvādasanahutehi māgadhikehi brāhmaṇagahapatikehi parivuto yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Tepi kho dvādasanahutā māgadhikā brāhmaṇagahapatikā appekacce bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu, appekacce bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu, appekacce yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu, appekacce bhagavato santike nāmagottaṁ sāvetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu, appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Atha kho tesaṁ dvādasanahutānaṁ māgadhikānaṁ brāhmaṇagahapatikānaṁ etadahosi—“kiṁ nu kho mahāsamaṇo uruvelakassape brahmacariyaṁ carati, udāhu uruvelakassapo mahāsamaṇe brahmacariyaṁ caratī”ti?
Atha kho bhagavā tesaṁ dvādasanahutānaṁ māgadhikānaṁ brāhmaṇagahapatikānaṁ cetasā cetoparivitakkamaññāya āyasmantaṁ uruvelakassapaṁ gāthāya ajjhabhāsi—
“Kimeva disvā uruvelavāsi, Pahāsi aggiṁ kisakovadāno; Pucchāmi taṁ kassapa etamatthaṁ,
Then, accompanied by one hundred and twenty thousand brahmin householders from Magadha, King Bimbisāra went to the Buddha, bowed, and sat down. Among those brahmins, some bowed to the Buddha and then sat down, some exchanged pleasantries with him and then sat down, some raised their joined palms and then sat down, some announced their name and family and then sat down, and some sat down in silence. They thought, “Is the Great Ascetic practicing the spiritual life under Uruvelā Kassapa, or is Uruvelā Kassapa practicing the spiritual life under the Great Ascetic?”
Reading their minds, the Buddha spoke to Venerable Uruvelā Kassapa in verse:
“The resident of Uruvelā, known as The Emaciated One—What did he see that he abandoned the fire? Kassapa, I ask you this:
Bấy giờ, vua xứ Māgadha là Seniya Bimbisāra, được vây quanh bởi mười hai vạn người Bà-la-môn và gia chủ xứ Māgadha, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Mười hai vạn người Bà-la-môn và gia chủ xứ Māgadha ấy, một số sau khi đảnh lễ Thế Tôn liền ngồi xuống một bên; một số nói chuyện thân mật với Thế Tôn, sau khi trao đổi những lời chào hỏi đáng ghi nhớ, liền ngồi xuống một bên; một số chắp tay hướng về phía Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số xưng tên và họ của mình ở gần Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số im lặng ngồi xuống một bên. Bấy giờ, mười hai vạn người Bà-la-môn và gia chủ xứ Māgadha ấy khởi lên ý nghĩ rằng: ‘Không biết Đại Sa-môn sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Uruvela Kassapa, hay Uruvela Kassapa sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Đại Sa-môn?’ Bấy giờ, Thế Tôn, với tâm của mình, biết được sự suy tầm trong tâm của mười hai vạn người Bà-la-môn và gia chủ xứ Māgadha ấy, liền nói với Tôn giả Uruvela Kassapa bằng một bài kệ:
“Này vị ở Uruvelā, người gầy ốm và là thầy dạy, thấy được điều gì mà ông từ bỏ việc thờ lửa? Này Kassapa, Ta hỏi ông về việc này, làm thế nào mà việc thờ lửa của ông đã được từ bỏ?”
“Rūpe ca sadde ca atho rase ca, Kāmitthiyo cābhivadanti yaññā; Etaṁ malanti upadhīsu ñatvā, Tasmā na yiṭṭhe na hute arañjin”ti.
“As a reward for the sacrifice, they promise worldly pleasures: Sights, sounds, and tastes, and women, too. But knowing the stain of ownership, I found no delight in worship and sacrifice.”
“Các lễ tế tự tuyên bố về các sắc, các tiếng, và cả các vị, cùng những người phụ nữ đáng khao khát. Sau khi biết rằng đây là cấu uế trong các chấp thủ, do đó, con không còn hoan hỷ trong các lễ tế lớn hay nhỏ.”
“Ettheva te mano na ramittha, (kassapāti bhagavā) Rūpesu saddesu atho rasesu; Atha ko carahi devamanussaloke, Rato mano kassapa brūhi metan”ti.
“So your mind didn’t delight there—In sights, sounds, or tastes. What then, in the world of gods and humans, Does your mind delight in? Tell me this, Kassapa.”
“Này Kassapa, nếu tâm ông không hoan hỷ chính ở đây, trong các sắc, các tiếng, và cả các vị, vậy thì tâm ông hoan hỷ ở đâu trong thế giới của chư Thiên và loài người? Này Kassapa, hãy nói cho Ta biết điều đó.”
“Disvā padaṁ santamanūpadhīkaṁ, Akiñcanaṁ kāmabhave asattaṁ; Anaññathābhāvimanaññaneyyaṁ, Tasmā na yiṭṭhe na hute arañjin”ti.
“I saw the state of peace that is detached from sensual existence, Where there is nothing and no ownership; It doesn’t change, and can’t be found through another. That’s why I found no delight in worship and sacrifice.”
“Sau khi thấy được trạng thái tịch tịnh, không còn chấp thủ, không còn chướng ngại, không dính mắc trong cõi dục, không biến đổi, không thể đạt được bằng cách khác, do đó, con không còn hoan hỷ trong các lễ tế lớn hay nhỏ.”
Atha kho āyasmā uruvelakassapo uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavoca—“satthā me, bhante, bhagavā, sāvakohamasmi; satthā me, bhante, bhagavā, sāvakohamasmī”ti.
Atha kho tesaṁ dvādasanahutānaṁ māgadhikānaṁ brāhmaṇagahapatikānaṁ etadahosi—“uruvelakassapo mahāsamaṇe brahmacariyaṁ caratī”ti. Atha kho bhagavā tesaṁ dvādasanahutānaṁ māgadhikānaṁ brāhmaṇagahapatikānaṁ cetasā cetoparivitakkamaññāya anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi. Yadā te bhagavā aññāsi kallacitte muducitte vinīvaraṇacitte udaggacitte pasannacitte, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā, taṁ pakāsesi—dukkhaṁ, samudayaṁ, nirodhaṁ, maggaṁ. Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya; evameva ekādasanahutānaṁ māgadhikānaṁ brāhmaṇagahapatikānaṁ bimbisārappamukhānaṁ tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi—“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti. Ekanahutaṁ upāsakattaṁ paṭivedesi.
Uruvelā Kassapa got up from his seat, arranged his upper robe over one shoulder, bowed down with his head at the Buddha’s feet, and said, “Sir, you’re my teacher, I’m your disciple; you’re my teacher, I’m your disciple.”
The one hundred and twenty thousand brahmin householders from Magadha thought, “So Uruvelā Kassapa is practicing the spiritual life under the Great Ascetic.” Reading their minds, the Buddha gave them a progressive talk—on generosity, morality, and heaven; on the downside, degradation, and defilement of worldly pleasures; and he revealed the benefits of renunciation. When the Buddha knew that their minds were ready, supple, without hindrances, joyful, and confident, he revealed the teaching unique to the Buddhas: suffering, its origin, its end, and the path. And just as a clean and stainless cloth absorbs dye properly, so too, while they were sitting right there, one hundred and ten thousand of those brahmin householders headed by Bimbisāra experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.” The remaining ten thousand declared themselves as lay followers.
56. Bấy giờ, tôn giả Uruvelakassapa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, cúi đầu đảnh lễ dưới chân của đức Thế Tôn, rồi bạch với đức Thế Tôn lời này: “Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư của con, con là người đệ tử. Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư của con, con là người đệ tử.” Bấy giờ, mười hai vạn người gồm các vị bà-la-môn và gia chủ ở xứ Māgadha có suy nghĩ này: “Vị Uruvelakassapa đang thực hành phạm hạnh ở nơi vị đại Sa-môn.” Bấy giờ, đức Thế Tôn với tâm của mình biết được sự suy nghĩ trong tâm của mười hai vạn người gồm các vị bà-la-môn và gia chủ ở xứ Māgadha ấy, ngài đã thuyết bài pháp tuần tự, nghĩa là: thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về cõi trời, ngài đã trình bày về sự nguy hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các dục và về lợi ích trong sự xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được họ có tâm sẵn sàng, có tâm nhu nhuyến, có tâm không còn triền cái, có tâm hân hoan, có tâm tịnh tín, bấy giờ ngài đã trình bày bài pháp mà chư Phật đã tự mình chứng ngộ, đó là: khổ, tập, diệt, đạo. Ví như tấm vải trong sạch, không còn vết đen, có thể thấm đều thuốc nhuộm; tương tự y như thế, pháp nhãn không còn bụi bặm, không còn cấu uế đã sanh khởi đến mười một vạn người gồm các vị bà-la-môn và gia chủ ở xứ Māgadha có vua Bimbisāra đứng đầu, ngay tại chỗ ngồi ấy: “Bất cứ cái gì có bản chất sanh lên, tất cả cái ấy đều có bản chất hoại diệt.” Một vạn người đã tự tuyên bố là cận sự nam.
Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane bhagavantaṁ etadavoca—“pubbe me, bhante, kumārassa sato pañca assāsakā ahesuṁ, te me etarahi samiddhā. Pubbe me, bhante, kumārassa sato etadahosi—‘aho vata maṁ rajje abhisiñceyyun’ti, ayaṁ kho me, bhante, paṭhamo assāsako ahosi, so me etarahi samiddho. ‘Tassa ca me vijitaṁ arahaṁ sammāsambuddho okkameyyā’ti, ayaṁ kho me, bhante, dutiyo assāsako ahosi, so me etarahi samiddho. ‘Tañcāhaṁ bhagavantaṁ payirupāseyyan’ti, ayaṁ kho me, bhante, tatiyo assāsako ahosi, so me etarahi samiddho. ‘So ca me bhagavā dhammaṁ deseyyā’ti, ayaṁ kho me, bhante, catuttho assāsako ahosi, so me etarahi samiddho. ‘Tassa cāhaṁ bhagavato dhammaṁ ājāneyyan’ti, ayaṁ kho me, bhante, pañcamo assāsako ahosi, so me etarahi samiddho. Pubbe me, bhante, kumārassa sato ime pañca assāsakā ahesuṁ, te me etarahi samiddhā. Abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya—‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi, dhammañca, bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ, bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gataṁ, adhivāsetu ca me, bhante, bhagavā, svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro tassā rattiyā accayena paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi—“kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
King Bimbisāra had seen the Truth, had reached, understood, and penetrated it. He had gone beyond doubt and uncertainty, had attained to confidence, and had become independent of others in the Teacher’s instruction. He then said to the Buddha, “Sir, when I was a prince, I had five wishes, and they have now been fulfilled. When I was a prince, I thought, ‘Oh, I wish they would anoint me as the king!’ That was my first wish, which has now been fulfilled. ‘May one who is perfected and fully awakened come to my kingdom!’ That was my second wish, which has now been fulfilled. ‘May I get to visit that Buddha!’ That was my third wish, which has now been fulfilled. ‘May that Buddha give me a teaching!’ That was my fourth wish, which has now been fulfilled. ‘May I understand the Teaching of that Buddha!’ That was my fifth wish, which has now been fulfilled. Wonderful, sir, wonderful! Just as one might set upright what’s overturned, or reveal what’s hidden, or show the way to one who’s lost, or bring a lamp into the dark so that one with eyes might see what’s there—just so has the Buddha made the Teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, the Teaching, and the Sangha of monks. Please accept me as a lay follower who’s gone for refuge for life. And please accept tomorrow’s meal from me together with the Sangha of monks.” The Buddha consented by remaining silent. Knowing that the Buddha had consented, the king got up from his seat, bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left.
The following morning King Bimbisāra had various kinds of fine foods prepared. He then had the Buddha informed that the meal was ready.
57. Bấy giờ, vua Seniya Bimbisāra xứ Māgadha đã thấy được Giáo pháp, đã đạt đến Giáo pháp, đã hiểu rõ Giáo pháp, đã thâm nhập Giáo pháp, đã vượt qua sự hoài nghi, đã không còn sự phân vân, đã đạt đến sự tự tin, không còn phụ thuộc vào người khác trong lời dạy của bậc Đạo Sư, đã bạch với đức Thế Tôn lời này: “Bạch ngài, trước đây, khi còn là thái tử, con đã có năm niềm ao ước, giờ đây những điều ấy đã được thành tựu cho con. Bạch ngài, trước đây, khi còn là thái tử, con đã có suy nghĩ này: ‘Ôi, mong sao ta được làm lễ đăng quang lên ngôi vua!’ Bạch ngài, đây là niềm ao ước thứ nhất của con, giờ đây điều ấy đã được thành tựu cho con. ‘Và mong sao một vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác quang lâm đến vương quốc của ta!’ Bạch ngài, đây là niềm ao ước thứ hai của con, giờ đây điều ấy đã được thành tựu cho con. ‘Và mong sao con được hầu cận đức Thế Tôn ấy!’ Bạch ngài, đây là niềm ao ước thứ ba của con, giờ đây điều ấy đã được thành tựu cho con. ‘Và mong sao đức Thế Tôn ấy thuyết giảng Giáo pháp cho con!’ Bạch ngài, đây là niềm ao ước thứ tư của con, giờ đây điều ấy đã được thành tựu cho con. ‘Và mong sao con hiểu được Giáo pháp của đức Thế Tôn ấy!’ Bạch ngài, đây là niềm ao ước thứ năm của con, giờ đây điều ấy đã được thành tựu cho con. Bạch ngài, trước đây, khi còn là thái tử, con đã có năm niềm ao ước này, giờ đây những điều ấy đã được thành tựu cho con. Thật vi diệu, bạch ngài! Thật vi diệu, bạch ngài! Bạch ngài, ví như người ta có thể lật ngửa vật bị úp xuống, hoặc có thể mở ra vật bị che đậy, hoặc có thể chỉ đường cho người bị lạc lối, hoặc có thể cầm ngọn đèn dầu trong bóng tối để những người có mắt có thể nhìn thấy các hình sắc. Tương tự y như thế, Giáo pháp đã được đức Thế Tôn trình bày bằng nhiều phương cách. Bạch ngài, con xin quy y đức Thế Tôn, quy y Giáo pháp, và quy y chúng Tỳ khưu. Mong đức Thế Tôn hãy ghi nhận con là người cận sự nam đã quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Và bạch ngài, mong đức Thế Tôn cùng với chúng Tỳ khưu hãy nhận lời mời của con về bữa ăn vào ngày mai.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng. Bấy giờ, vua Seniya Bimbisāra xứ Māgadha, sau khi biết được sự nhận lời của đức Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi vòng quanh theo chiều bên phải rồi ra về. Bấy giờ, vua Seniya Bimbisāra xứ Māgadha, sau khi đêm ấy đã trôi qua, đã cho chuẩn bị các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, rồi cho người đi báo thời gian đến đức Thế Tôn: “Bạch ngài, đã đến giờ, bữa ăn đã được chuẩn bị xong.”
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ pāvisi mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ bhikkhusahassena sabbeheva purāṇajaṭilehi. Tena kho pana samayena sakko devānamindo māṇavakavaṇṇaṁ abhinimminitvā buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa purato purato gacchati imā gāthāyo gāyamāno—
The Buddha robed up, took his bowl and robe, and together with a large sangha of a thousand monks, all previously dreadlocked ascetics, he entered Rājagaha. Just then Sakka, the ruler of the gods, had transformed himself into a young brahmin. He walked in front of the Sangha of monks headed by the Buddha, chanting these verses:
58. Bấy giờ, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đắp y, cầm y bát, đi vào thành Rājagaha cùng với đại chúng Tỳ khưu, với một ngàn vị Tỳ khưu mà tất cả đều là các vị đạo sĩ bện tóc trước đây. Và vào lúc bấy giờ, Sakka, vua của chư Thiên, đã hóa hiện thành hình dáng của một thanh niên, đi ở phía trước chúng Tỳ khưu có đức Phật dẫn đầu, vừa đi vừa hát những câu kệ này:
“Danto dantehi saha purāṇajaṭilehi, Vippamutto vippamuttehi; Siṅgīnikkhasavaṇṇo, Rājagahaṁ pāvisi bhagavā.
“The Tamed One with the tamed ones, previously dreadlocked; The Liberated One with the liberated ones: Golden in color, The Buddha entered Rājagaha.
“Vị đã được điều phục cùng với các vị đã được điều phục, là các đạo sĩ bện tóc trước đây; vị đã được giải thoát cùng với các vị đã được giải thoát; vị có màu da như vàng ròng, đức Thế Tôn đã đi vào thành Rājagaha.”
Mutto muttehi saha purāṇajaṭilehi, Vippamutto vippamuttehi; Siṅgīnikkhasavaṇṇo, Rājagahaṁ pāvisi bhagavā.
The Freed One with the freed ones, previously dreadlocked; The Liberated One with the liberated ones: Golden in color, The Buddha entered Rājagaha.
“Vị đã được thoát khỏi cùng với các vị đã được thoát khỏi, là các đạo sĩ bện tóc trước đây; vị đã được giải thoát cùng với các vị đã được giải thoát; vị có màu da như vàng ròng, đức Thế Tôn đã đi vào thành Rājagaha.”
Tiṇṇo tiṇṇehi saha purāṇajaṭilehi, Vippamutto vippamuttehi;
The One Crossed Over with the ones crossed over, previously dreadlocked; The Liberated One with the liberated ones:
“Vị đã vượt qua cùng với các vị đã vượt qua, là các đạo sĩ bện tóc trước đây; vị đã được giải thoát cùng với các vị đã được giải thoát; vị có màu da như vàng ròng; đức Thế Tôn đã đi vào thành Rājagaha.”
Santo santehi saha purāṇajaṭilehi, Vippamutto vippamuttehi; Siṅgīnikkhasavaṇṇo, Rājagahaṁ pāvisi bhagavā.
The Peaceful One with the peaceful ones, previously dreadlocked; The Liberated One with the liberated ones: Golden in color, The Buddha entered Rājagaha.
“Vị đã được an tịnh cùng với các vị đã được an tịnh, là các đạo sĩ bện tóc trước đây; vị đã được giải thoát cùng với các vị đã được giải thoát; vị có màu da như vàng ròng; đức Thế Tôn đã đi vào thành Rājagaha.”
Dasavāso dasabalo, Dasadhammavidū dasabhi cupeto; So dasasataparivāro, Rājagahaṁ pāvisi bhagavā”ti.
He has ten abidings and ten powers; He knows ten truths and has ten qualities—With a following of ten times one hundred, The Buddha entered Rājagaha.”
“Vị có mười sự an trú, mười năng lực, vị biết mười pháp, và vị thành tựu mười (pháp vô học); đức Thế Tôn ấy với một ngàn vị tùy tùng đã đi vào thành Rājagaha.”
Manussā sakkaṁ devānamindaṁ passitvā evamāhaṁsu—“abhirūpo vatāyaṁ māṇavako, dassanīyo vatāyaṁ māṇavako, pāsādiko vatāyaṁ māṇavako. Kassa nu kho ayaṁ māṇavako”ti? Evaṁ vutte, sakko devānamindo te manusse gāthāya ajjhabhāsi—
People saw Sakka, and they said, “This young brahmin is handsome and graceful. Who is he?” Sakka replied to them in verse:
Dân chúng sau khi nhìn thấy Sakka, vua của chư Thiên, đã nói như vầy: “Ôi, thanh niên này thật đẹp trai! Ôi, thanh niên này thật đáng nhìn! Ôi, thanh niên này thật đáng mến! Thanh niên này là người hầu của ai vậy?” Khi được nói như thế, Sakka, vua của chư Thiên, đã nói với những người ấy bằng câu kệ:
“Yo dhīro sabbadhi danto, suddho appaṭipuggalo; Arahaṁ sugato loke, tassāhaṁ paricārako”ti.
“Unwavering and tamed in all respects, Purified, perfected, and without equal; The one in the world who is happy—I’m his servant.”
“Vị nào là bậc kiên trì, đã được nhiếp phục trong tất cả (các căn), thanh tịnh, không có người sánh bằng; là bậc A-la-hán, bậc Thiện Thệ ở trên đời, tôi là người phục vụ của vị ấy.”
Atha kho bhagavā yena rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena. Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnassa kho rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa etadahosi—“kattha nu kho bhagavā vihareyya? Yaṁ assa gāmato neva atidūre na accāsanne, gamanāgamanasampannaṁ, atthikānaṁ atthikānaṁ manussānaṁ abhikkamanīyaṁ, divā appākiṇṇaṁ, rattiṁ appasaddaṁ appanigghosaṁ vijanavātaṁ, manussarāhasseyyakaṁ, paṭisallānasāruppan”ti. Atha kho rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa etadahosi—“idaṁ kho amhākaṁ veḷuvanaṁ uyyānaṁ gāmato neva atidūre na accāsanne gamanāgamanasampannaṁ atthikānaṁ atthikānaṁ manussānaṁ abhikkamanīyaṁ divā appākiṇṇaṁ rattiṁ appasaddaṁ appanigghosaṁ vijanavātaṁ manussarāhasseyyakaṁ paṭisallānasāruppaṁ. Yannūnāhaṁ veḷuvanaṁ uyyānaṁ buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa dadeyyan”ti.
Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro sovaṇṇamayaṁ bhiṅkāraṁ gahetvā bhagavato oṇojesi—“etāhaṁ, bhante, veḷuvanaṁ uyyānaṁ buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa dammī”ti. Paṭiggahesi bhagavā ārāmaṁ. Atha kho bhagavā rājānaṁ māgadhaṁ seniyaṁ bimbisāraṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, ārāman”ti.
The Buddha then went to King Bimbisāra’s house where he sat down on the prepared seat, together with the Sangha of monks. The king personally served various kinds of fine foods to the Sangha of monks headed by the Buddha. When the Buddha had finished his meal, the king sat down to one side. And he thought, “Where will the Buddha stay that’s neither too far from habitation nor too close, that has good access roads and is easily accessible for people who seek him, that has few people during the day and is quiet at night, that’s free from chatter and offers solitude, a private resting place suitable for seclusion?” And it occurred to him, “My Bamboo Grove park has all these qualities. Why don’t I give it to the Sangha of monks headed by the Buddha?”
The king then took hold of a golden ceremonial vessel and dedicated the park to the Buddha, saying, “I give this park, the Bamboo Grove, to the Sangha of monks headed by the Buddha.” The Buddha accepted the park. After instructing, inspiring, and gladdening the king with a teaching, he got up from his seat and left. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“I allow monasteries.”
59. Bấy giờ, đức Thế Tôn đi đến cung điện của vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha. Sau khi đến, ngài đã ngồi xuống trên chỗ đã được soạn sẵn cùng với Tăng chúng. Khi ấy, vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha, đã tự tay dâng cúng các món ăn loại cứng và loại mềm thượng vị cho Tăng chúng có đức Phật dẫn đầu cho đến khi các vị hài lòng và từ chối không nhận thêm. Sau khi đức Thế Tôn đã dùng xong, tay đã rời khỏi bát, vua ngồi xuống một bên. Trong khi ngồi một bên, vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha, đã suy nghĩ như sau: “Đức Thế Tôn nên trú ngụ ở đâu? Nơi ấy không nên quá xa làng, cũng không quá gần, thuận tiện cho việc đi lại, dễ dàng cho những người có nhu cầu đến viếng, ban ngày không ồn ào, ban đêm ít tiếng động, không huyên náo, không có hơi người, thích hợp cho việc an trú của con người, và phù hợp cho việc độc cư thiền định.” Bấy giờ, vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha, đã suy nghĩ như sau: “Khu vườn Trúc Lâm này của chúng ta không quá xa làng, cũng không quá gần, thuận tiện cho việc đi lại, dễ dàng cho những người có nhu cầu đến viếng, ban ngày không ồn ào, ban đêm ít tiếng động, không huyên náo, không có hơi người, thích hợp cho việc an trú của con người, và phù hợp cho việc độc cư thiền định. Ta nên cúng dường khu vườn Trúc Lâm cho Tăng chúng có đức Phật dẫn đầu.” Khi ấy, vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha, lấy bình nước bằng vàng, đã cúng dường đến đức Thế Tôn rằng: “Bạch ngài, con xin cúng dường khu vườn Trúc Lâm này cho Tăng chúng có đức Phật dẫn đầu.” Đức Thế Tôn đã nhận lấy ngôi tịnh xá. Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha, bằng một bài pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Bấy giờ, nhân sự việc này, nhân duyên này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (nhận) tịnh xá.”
Bimbisārasamāgamakathā niṭṭhitā.
The account of the meeting with Bimbisāra is finished.
Câu chuyện về cuộc gặp gỡ vua Bimbisāra kết thúc.
14. Câu chuyện về sự xuất gia của Sāriputta và Moggallāna
Tena kho pana samayena sañcayo paribbājako rājagahe paṭivasati mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ aḍḍhateyyehi paribbājakasatehi. Tena kho pana samayena sāriputtamoggallānā sañcaye paribbājake brahmacariyaṁ caranti. Tehi katikā katā hoti—“yo paṭhamaṁ amataṁ adhigacchati, so itarassa ārocetū”ti.
Atha kho āyasmā assaji pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisi pāsādikena abhikkantena paṭikkantena ālokitena vilokitena samiñjitena pasāritena, okkhittacakkhu iriyāpathasampanno. Addasā kho sāriputto paribbājako āyasmantaṁ assajiṁ rājagahe piṇḍāya carantaṁ pāsādikena abhikkantena paṭikkantena ālokitena vilokitena samiñjitena pasāritena okkhittacakkhuṁ iriyāpathasampannaṁ. Disvānassa etadahosi—“ye vata loke arahanto vā arahattamaggaṁ vā samāpannā, ayaṁ tesaṁ bhikkhu aññataro. Yannūnāhaṁ imaṁ bhikkhuṁ upasaṅkamitvā puccheyyaṁ—‘kaṁsi tvaṁ, āvuso, uddissa pabbajito, ko vā te satthā, kassa vā tvaṁ dhammaṁ rocesī’”ti? Atha kho sāriputtassa paribbājakassa etadahosi—“akālo kho imaṁ bhikkhuṁ pucchituṁ, antaragharaṁ paviṭṭho piṇḍāya carati. Yannūnāhaṁ imaṁ bhikkhuṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandheyyaṁ, atthikehi upaññātaṁ maggan”ti.
Atha kho āyasmā assaji rājagahe piṇḍāya caritvā piṇḍapātaṁ ādāya paṭikkami. Atha kho sāriputtopi paribbājako yenāyasmā assaji tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmatā assajinā saddhiṁ sammodi, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho sāriputto paribbājako āyasmantaṁ assajiṁ etadavoca—“vippasannāni kho te, āvuso, indriyāni, parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto. Kaṁsi tvaṁ, āvuso, uddissa pabbajito, ko vā te satthā, kassa vā tvaṁ dhammaṁ rocesī”ti?
“Atthāvuso, mahāsamaṇo sakyaputto sakyakulā pabbajito, tāhaṁ bhagavantaṁ uddissa pabbajito, so ca me bhagavā satthā, tassa cāhaṁ bhagavato dhammaṁ rocemī”ti.
“Kiṁvādī panāyasmato satthā, kimakkhāyī”ti?
“Ahaṁ kho, āvuso, navo acirapabbajito, adhunāgato imaṁ dhammavinayaṁ, na tāhaṁ sakkomi vitthārena dhammaṁ desetuṁ, api ca te saṅkhittena atthaṁ vakkhāmī”ti.
Atha kho sāriputto paribbājako āyasmantaṁ assajiṁ etadavoca—“hotu, āvuso—
At that time the wanderer Sañcaya was staying at Rājagaha with a large group of two hundred and fifty wanderers, including Sāriputta and Moggallāna. The two of them had made an agreement that whoever reached freedom from death first would inform the other.
Just then, Venerable Assaji robed up in the morning, took his bowl and robe, and entered Rājagaha for almsfood. He was pleasing in his conduct: in going out and coming back, in looking ahead and looking aside, in bending and stretching his arms. His eyes were lowered, and he was perfect in deportment. The wanderer Sāriputta observed all this and thought, “This monk is one of those in the world who are perfected or on the path to perfection. Why don’t I go up to him and ask in whose name he has gone forth, and who his teacher is or whose teachings he follows?” But it occurred to him, “It’s the wrong time to ask him while he’s walking for almsfood among the houses. Let me follow behind him, for one who seeks the path will find it.”
After walking for alms in Rājagaha, Assaji turned back with his almsfood. Sāriputta then went up to him and exchanged pleasantries with him. And he asked, “Venerable, your senses are clear and your skin is pure and bright. In whose name have you gone forth? Who is your teacher or whose teaching do you follow?”
“There’s a great ascetic, a Sakyan who has gone forth from the Sakyan clan. I’ve gone forth in his name, he’s my teacher, and I follow his teaching.”
“But what does he teach?”
“I’ve only recently gone forth; I’m new to this spiritual path. I’m not able to give you the Teaching in full, but I can tell you the meaning in brief.”
Sāriputta replied, “Yes, please,” and he added:
60. Vào lúc bấy giờ, du sĩ Sañcaya đang cư ngụ ở thành Rājagaha cùng với một đoàn du sĩ đông đảo gồm hai trăm năm mươi vị. Và vào lúc bấy giờ, Sāriputta và Moggallāna đang thực hành phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của du sĩ Sañcaya. Hai vị đã có giao ước với nhau rằng: “Ai chứng ngộ được pháp bất tử trước, người ấy hãy báo cho người kia.” Bấy giờ, vào buổi sáng, trưởng lão Assaji đắp y, mang y bát, đi vào thành Rājagaha để khất thực, với dáng đi tới, lui, nhìn thẳng, nhìn nghiêng, co tay, duỗi tay đầy khả kính; mắt nhìn xuống, oai nghi đầy đủ. Du sĩ Sāriputta đã nhìn thấy trưởng lão Assaji đang đi khất thực trong thành Rājagaha, với dáng đi tới, lui, nhìn thẳng, nhìn nghiêng, co tay, duỗi tay đầy khả kính; mắt nhìn xuống, oai nghi đầy đủ. Sau khi nhìn thấy, vị ấy đã suy nghĩ như sau: “Trong đời, những vị nào là A-la-hán hoặc đã đạt đến A-la-hán đạo, vị tỳ khưu này là một trong số các vị ấy. Ta nên đi đến gần vị tỳ khưu này và hỏi rằng: ‘Thưa hiền giả, ngài xuất gia vì ai? Vị thầy của ngài là ai? Ngài ưa thích giáo pháp của ai?’” Bấy giờ, du sĩ Sāriputta đã suy nghĩ như sau: “Chưa phải lúc để hỏi vị tỳ khưu này, ngài đang đi vào trong nhà dân để khất thực. Ta nên đi theo sau vị tỳ khưu này, con đường đã được những người tìm cầu chân lý khám phá ra.” Bấy giờ, sau khi đi khất thực ở thành Rājagaha, trưởng lão Assaji mang theo vật thực đã nhận được và quay trở về. Khi ấy, du sĩ Sāriputta cũng đi đến chỗ trưởng lão Assaji. Sau khi đến, vị ấy đã chào hỏi thân mật với trưởng lão Assaji. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện, đáng ghi nhớ, vị ấy đứng sang một bên. Đứng một bên, du sĩ Sāriputta đã nói với trưởng lão Assaji điều này: “Thưa hiền giả, các căn của ngài thật trong sáng, màu da của ngài thật thanh tịnh, trong sạch. Thưa hiền giả, ngài xuất gia vì ai? Vị thầy của ngài là ai? Ngài ưa thích giáo pháp của ai?” “Thưa hiền giả, có vị Đại Sa-môn, là Thích tử, đã xuất gia từ dòng họ Sakya. Tôi đã xuất gia vì đức Thế Tôn ấy, và đức Thế Tôn ấy là thầy của tôi, và tôi ưa thích giáo pháp của đức Thế Tôn ấy.” “Vậy, thưa trưởng lão, thầy của ngài chủ trương điều gì, tuyên thuyết điều gì?” “Thưa hiền giả, tôi là người mới, xuất gia chưa bao lâu, vừa mới đến với giáo pháp và giới luật này. Tôi không thể thuyết giảng giáo pháp một cách chi tiết, tuy nhiên tôi sẽ nói tóm tắt về ý nghĩa cho ngài.” Bấy giờ, du sĩ Sāriputta đã nói với trưởng lão Assaji điều này: “Xin cứ như vậy, thưa hiền giả –”
Appaṁ vā bahuṁ vā bhāsassu, Atthaṁyeva me brūhi; Attheneva me attho, Kiṁ kāhasi byañjanaṁ bahun”ti.
“Speak little or much, But do tell me the meaning. I just want the meaning, For what’s the point of a detailed exposition?”
“Dù ít hay nhiều, xin ngài hãy nói, xin hãy chỉ nói ý nghĩa cho tôi; tôi chỉ cần ý nghĩa, cần gì nhiều lời văn?”
Atha kho āyasmā assaji sāriputtassa paribbājakassa imaṁ dhammapariyāyaṁ abhāsi—
And Assaji gave this teaching to the wanderer Sāriputta:
Bấy giờ, trưởng lão Assaji đã nói bài pháp ngắn này cho du sĩ Sāriputta:
“Ye dhammā hetuppabhavā, Tesaṁ hetuṁ tathāgato āha; Tesañca yo nirodho, Evaṁvādī mahāsamaṇo”ti.
“Of causally arisen things, The Buddha has declared their cause, As well as their ending. This is the teaching of the Great Ascetic.”
“Các pháp nào sinh từ nhân, Như Lai đã thuyết về nhân ấy; và sự diệt của các pháp ấy, bậc Đại Sa-môn có thuyết như vậy.”
Atha kho sāriputtassa paribbājakassa imaṁ dhammapariyāyaṁ sutvā virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi—“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
When he had heard this teaching, Sāriputta experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.”
Bấy giờ, sau khi nghe bài pháp này, pháp nhãn không bụi, không uế đã sanh khởi nơi du sĩ Sāriputta: “Phàm pháp gì có tánh sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có tánh đoạn diệt.”
“Eseva dhammo yadi tāvadeva, Paccabyattha padamasokaṁ; Adiṭṭhaṁ abbhatītaṁ, Bahukehi kappanahutehī”ti.
“Now this is the truth, even just this much—The sorrowless state that you have penetrated, Unseen and neglected For innumerable eons.”
Nếu chỉ có chừng ấy, thì đây chính là Pháp, các ngài đã chứng ngộ trạng thái vô ưu; (trạng thái) chưa từng thấy này đã trôi qua trong nhiều vô số kiếp.
Atha kho sāriputto paribbājako yena moggallāno paribbājako tenupasaṅkami. Addasā kho moggallāno paribbājako sāriputtaṁ paribbājakaṁ dūratova āgacchantaṁ, disvāna sāriputtaṁ paribbājakaṁ etadavoca—“vippasannāni kho te, āvuso, indriyāni, parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto. Kacci no tvaṁ, āvuso, amataṁ adhigato”ti?
“Āmāvuso, amataṁ adhigato”ti.
“Yathākathaṁ pana tvaṁ, āvuso, amataṁ adhigato”ti?
“Idhāhaṁ, āvuso, addasaṁ assajiṁ bhikkhuṁ rājagahe piṇḍāya carantaṁ pāsādikena abhikkantena paṭikkantena ālokitena vilokitena samiñjitena pasāritena okkhittacakkhuṁ iriyāpathasampannaṁ.
Disvāna me etadahosi—‘ye vata loke arahanto vā arahattamaggaṁ vā samāpannā, ayaṁ tesaṁ bhikkhu aññataro. Yannūnāhaṁ imaṁ bhikkhuṁ upasaṅkamitvā puccheyyaṁ—kaṁsi tvaṁ, āvuso, uddissa pabbajito, ko vā te satthā, kassa vā tvaṁ dhammaṁ rocesī’ti. Tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi—‘akālo kho imaṁ bhikkhuṁ pucchituṁ antaragharaṁ paviṭṭho piṇḍāya carati, yannūnāhaṁ imaṁ bhikkhuṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandheyyaṁ atthikehi upaññātaṁ maggan’ti. Atha kho, āvuso, assaji bhikkhu rājagahe piṇḍāya caritvā piṇḍapātaṁ ādāya paṭikkami. Atha khvāhaṁ, āvuso, yena assaji bhikkhu tenupasaṅkamiṁ, upasaṅkamitvā assajinā bhikkhunā saddhiṁ sammodiṁ, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsiṁ. Ekamantaṁ ṭhito kho ahaṁ, āvuso, assajiṁ bhikkhuṁ etadavocaṁ—‘vippasannāni kho te, āvuso, indriyāni, parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto. Kaṁsi tvaṁ, āvuso, uddissa pabbajito, ko vā te satthā, kassa vā tvaṁ dhammaṁ rocesī’ti? ‘Atthāvuso, mahāsamaṇo sakyaputto sakyakulā pabbajito, tāhaṁ bhagavantaṁ uddissa pabbajito, so ca me bhagavā satthā, tassa cāhaṁ bhagavato dhammaṁ rocemī’ti. ‘Kiṁvādī panāyasmato satthā kimakkhāyī’ti. ‘Ahaṁ kho, āvuso, navo acirapabbajito adhunāgato imaṁ dhammavinayaṁ, na tāhaṁ sakkomi vitthārena dhammaṁ desetuṁ, api ca te saṅkhittena atthaṁ vakkhāmī’ti. Atha khvāhaṁ, āvuso, assajiṁ bhikkhuṁ etadavocaṁ—‘hotu, āvuso,
Then the wanderer Sāriputta went to the wanderer Moggallāna. When Moggallāna saw him coming, he said to Sāriputta, “Your senses are clear and your skin is pure and bright. You haven’t attained freedom from death, have you?”
“I have.”
“But how did it happen?”
Sāriputta told him everything up to and including the teaching given by Assaji. When he had heard this teaching, Moggallāna experienced the stainless vision of the Truth:
61. Bấy giờ, du sĩ Sāriputta đi đến chỗ du sĩ Moggallāna. Du sĩ Moggallāna thấy du sĩ Sāriputta từ xa đi lại, thấy rồi nói với du sĩ Sāriputta lời này: “Này hiền giả, các căn của hiền giả thật trong sáng, màu da thanh tịnh, trong sạch. Này hiền giả, có phải hiền giả đã chứng đắc bất tử chăng?” “Thưa vâng, hiền giả, tôi đã chứng đắc bất tử.” “Nhưng này hiền giả, hiền giả đã chứng đắc bất tử như thế nào?” “Này hiền giả, ở tại thành Rājagaha này, tôi đã thấy tỳ khưu Assaji đang đi khất thực, với dáng điệu trang nghiêm, bước tới, bước lui, nhìn thẳng, nhìn nghiêng, co tay, duỗi tay, mắt nhìn xuống, đầy đủ oai nghi. Thấy vậy, tôi đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Những vị nào trên đời là bậc A-la-hán hoặc đã đạt đến A-la-hán đạo, vị tỳ khưu này chắc chắn là một trong số các vị ấy. Ta nên đi đến gần vị tỳ khưu này và hỏi: ‘Thưa hiền giả, ngài xuất gia vì ai? Ai là bậc đạo sư của ngài? Ngài ưa thích giáo pháp của ai?’’ Này hiền giả, rồi tôi lại khởi lên ý nghĩ này: ‘Đây không phải là lúc để hỏi vị tỳ khưu này, ngài đang vào trong làng, đi khất thực. Ta nên đi theo sau vị tỳ khưu này, con đường mà những người có mục đích đã tìm ra.’ Bấy giờ, này hiền giả, tỳ khưu Assaji sau khi đi khất thực ở thành Rājagaha, mang theo vật thực, đã quay trở về. Bấy giờ, này hiền giả, tôi đi đến chỗ tỳ khưu Assaji; sau khi đến, tôi đã cùng tỳ khưu Assaji chào hỏi thân mật; sau khi trao đổi những lời chào hỏi đáng ghi nhớ, tôi đứng sang một bên. Đứng một bên, này hiền giả, tôi đã nói với tỳ khưu Assaji lời này: ‘Này hiền giả, các căn của hiền giả thật trong sáng, màu da thanh tịnh, trong sạch. Thưa hiền giả, ngài xuất gia vì ai? Ai là bậc đạo sư của ngài? Ngài ưa thích giáo pháp của ai?’ ‘Này hiền giả, có bậc Đại Sa-môn, là con trai dòng Sakya, xuất gia từ dòng tộc Sakya. Tôi xuất gia vì vị Thế Tôn ấy, và vị Thế Tôn ấy là bậc đạo sư của tôi, và tôi ưa thích giáo pháp của vị Thế Tôn ấy.’ ‘Nhưng bậc đạo sư của tôn giả chủ trương điều gì, thuyết giảng điều gì?’ ‘Này hiền giả, tôi là người mới, tu học chưa lâu, mới đến với Pháp và Luật này. Tôi không thể thuyết giảng giáo pháp một cách rộng rãi cho hiền giả được, nhưng tôi sẽ nói tóm tắt ý nghĩa cho hiền giả.’ Bấy giờ, này hiền giả, tôi đã nói với tỳ khưu Assaji lời này: ‘Thưa hiền giả, xin cứ nói,
Appaṁ vā bahuṁ vā bhāsassu, Atthaṁyeva me brūhi; Attheneva me attho, Kiṁ kāhasi byañjanaṁ bahun’ti.
Xin ngài hãy nói, ít hay nhiều, xin chỉ nói cho tôi về ý nghĩa. Tôi chỉ cần ý nghĩa, cần gì nhiều lời văn?”
Atha kho, āvuso, assaji bhikkhu imaṁ dhammapariyāyaṁ abhāsi—
Bấy giờ, này hiền giả, tỳ khưu Assaji đã nói bài pháp này:
‘Ye dhammā hetuppabhavā, Tesaṁ hetuṁ tathāgato āha; Tesañca yo nirodho, Evaṁvādī mahāsamaṇo’”ti.
“Các pháp nào sanh từ nhân, Như Lai đã thuyết về nhân ấy; Và sự diệt của các pháp ấy, Bậc Đại Sa-môn có thuyết như vậy.”
Atha kho moggallānassa paribbājakassa imaṁ dhammapariyāyaṁ sutvā virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi—“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhammanti.
“Anything that has a beginning has an end.”
Bấy giờ, sau khi nghe bài pháp này, pháp nhãn không bụi, không uế đã sanh khởi nơi du sĩ Moggallāna: “Phàm pháp gì có tánh sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có tánh đoạn diệt.”
Eseva dhammo yadi tāvadeva, Paccabyattha padamasokaṁ; Adiṭṭhaṁ abbhatītaṁ, Bahukehi kappanahutehī”ti.
“Now this is the truth, even just this much—The sorrowless state that you have penetrated, Unseen and neglected For innumerable eons.”
Nếu chỉ có chừng ấy, thì đây chính là Pháp, các ngài đã chứng ngộ trạng thái vô ưu; (trạng thái) chưa từng thấy này đã trôi qua trong nhiều vô số kiếp.
Atha kho moggallāno paribbājako sāriputtaṁ paribbājakaṁ etadavoca—“gacchāma mayaṁ, āvuso, bhagavato santike, so no bhagavā satthā”ti.
“Imāni kho, āvuso, aḍḍhateyyāni paribbājakasatāni amhe nissāya amhe sampassantā idha viharanti, tepi tāva apalokema. Yathā te maññissanti, tathā te karissantī”ti. Atha kho sāriputtamoggallānā yena te paribbājakā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā te paribbājake etadavocuṁ—“gacchāma mayaṁ, āvuso, bhagavato santike, so no bhagavā satthā”ti.
“Mayaṁ āyasmante nissāya āyasmante sampassantā idha viharāma, sace āyasmantā mahāsamaṇe brahmacariyaṁ carissanti, sabbeva mayaṁ mahāsamaṇe brahmacariyaṁ carissāmā”ti.
Atha kho sāriputtamoggallānā yena sañcayo paribbājako tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā sañcayaṁ paribbājakaṁ etadavocuṁ—“gacchāma mayaṁ, āvuso, bhagavato santike, so no bhagavā satthā”ti.
“Alaṁ, āvuso, mā agamittha, sabbeva tayo imaṁ gaṇaṁ pariharissāmā”ti.
Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho sāriputtamoggallānā sañcayaṁ paribbājakaṁ etadavocuṁ—“gacchāma mayaṁ, āvuso, bhagavato santike, so no bhagavā satthā”ti. “Alaṁ, āvuso, mā agamittha, sabbeva tayo imaṁ gaṇaṁ pariharissāmā”ti. Atha kho sāriputtamoggallānā tāni aḍḍhateyyāni paribbājakasatāni ādāya yena veḷuvanaṁ tenupasaṅkamiṁsu. Sañcayassa pana paribbājakassa tattheva uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggañchi.
Moggallāna said to Sāriputta, “Let’s go to the Buddha. He’s our teacher.”
“But these two hundred and fifty wanderers look to us for support. We must tell them first, so that they may take appropriate action.” And they went to those wanderers and said, “We’re going over to the Buddha. He’s our teacher.”
“But we look to you for support. If you are to practice the spiritual life under the Great Ascetic, so will all of us.”
Then Sāriputta and Moggallāna went to Sañcaya and said, “We’re going over to the Buddha. He’s our teacher.”
“Don’t go! The three of us can look after this community together.”
Sāriputta and Moggallāna said the same thing a second time and a third time, and they got the same reply. They then took those two hundred and fifty wanderers and went to the Bamboo Grove. But the wanderer Sañcaya vomited hot blood right there.
62. Khi ấy, du sĩ Moggallāna nói với du sĩ Sāriputta rằng: ‘Này hiền hữu, chúng ta hãy đi đến chỗ đức Thế Tôn, đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng ta.’ – ‘Này hiền hữu, có hai trăm năm mươi vị du sĩ này đang sống ở đây, nương tựa vào chúng ta, trông chờ nơi chúng ta. Trước tiên, chúng ta hãy báo cho họ biết đã. Tùy theo ý họ nghĩ thế nào, họ sẽ làm như thế ấy.’ Bấy giờ, Sāriputta và Moggallāna đi đến chỗ các vị du sĩ ấy, sau khi đến, đã nói với các vị du sĩ ấy rằng: ‘Này các hiền hữu, chúng tôi sẽ đi đến chỗ đức Thế Tôn, đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng tôi.’ – ‘Chúng tôi đang sống ở đây, nương tựa vào các tôn giả, trông chờ nơi các tôn giả. Nếu các tôn giả thực hành phạm hạnh ở chỗ vị Đại Sa-môn, tất cả chúng tôi cũng sẽ thực hành phạm hạnh ở chỗ vị Đại Sa-môn.’ Bấy giờ, Sāriputta và Moggallāna đi đến chỗ du sĩ Sañcaya, sau khi đến, đã nói với du sĩ Sañcaya rằng: ‘Này hiền hữu, chúng tôi sẽ đi đến chỗ đức Thế Tôn, đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng tôi.’ – ‘Thôi đi, các hiền hữu, đừng đi. Cả ba chúng ta sẽ cùng nhau lãnh đạo hội chúng này.’ Lần thứ hai... Lần thứ ba, Sāriputta và Moggallāna lại nói với du sĩ Sañcaya rằng: ‘Này hiền hữu, chúng tôi sẽ đi đến chỗ đức Thế Tôn, đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng tôi.’ – ‘Thôi đi, các hiền hữu, đừng đi. Cả ba chúng ta sẽ cùng nhau lãnh đạo hội chúng này.’ Bấy giờ, Sāriputta và Moggallāna dẫn theo hai trăm năm mươi vị du sĩ ấy đi đến Trúc Lâm. Còn du sĩ Sañcaya, ngay tại chỗ ấy, máu nóng đã phọt ra từ miệng.
Addasā kho bhagavā sāriputtamoggallāne dūratova āgacchante, disvāna bhikkhū āmantesi—“ete, bhikkhave, dve sahāyakā āgacchanti, kolito upatisso ca. Etaṁ me sāvakayugaṁ bhavissati aggaṁ bhaddayugan”ti.
When the Buddha saw Sāriputta and Moggallāna coming, he said to the monks, “The two friends Kolita and Upatissa are coming. They will become my most eminent disciples, an excellent pair.”
Đức Thế Tôn đã nhìn thấy Sāriputta và Moggallāna đang đi đến từ xa. Sau khi thấy, ngài gọi các vị tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, hai người bạn đồng hành kia, Kolita và Upatissa, đang đi đến. Họ sẽ là cặp đệ tử hàng đầu, cặp đệ tử tốt lành của ta.’
Gambhīre ñāṇavisaye, Anuttare upadhisaṅkhaye; Vimutte appatte veḷuvanaṁ, Atha ne satthā byākāsi.
They had not even reached the Bamboo Grove, Yet had a profound range of knowledge, About the supreme end of ownership, about freedom. And the Teacher said of them:
Trong cảnh giới trí tuệ thâm sâu, nơi sự đoạn tận các sanh y vô thượng, các vị ấy đã được giải thoát. Khi họ chưa đến Trúc Lâm, khi ấy bậc Đạo Sư đã thọ ký về họ.
“Ete dve sahāyakā, Āgacchanti kolito upatisso ca; Etaṁ me sāvakayugaṁ, Bhavissati aggaṁ bhaddayugan”ti.
“These two friends are coming, Kolita and Upatissa. They will be an excellent pair, My most eminent disciples.”
‘Hai người bạn đồng hành kia, Kolita và Upatissa, đang đi đến. Họ sẽ là cặp đệ tử của ta, cặp đệ tử hàng đầu, cặp đệ tử tốt lành.’
Atha kho sāriputtamoggallānā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavocuṁ—
Sāriputta and Moggallāna approached the Buddha, bowed down with their heads at his feet, and said,
Bấy giờ, Sāriputta và Moggallāna đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến,
họ đã cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn và bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch ngài, cúi xin chúng con được xuất gia, được thọ cụ túc giới nơi đức Thế Tôn.’ Đức Thế Tôn đã nói: ‘Hãy đến, các tỳ khưu! Giáo pháp đã được khéo thuyết giảng. Hãy thực hành phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau.’ Việc ấy chính là lễ thọ cụ túc giới của các vị tôn giả ấy.
Sự xuất gia của những người danh tiếng
Tena kho pana samayena abhiññātā abhiññātā māgadhikā kulaputtā bhagavati brahmacariyaṁ caranti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“aputtakatāya paṭipanno samaṇo gotamo, vedhabyāya paṭipanno samaṇo gotamo, kulupacchedāya paṭipanno samaṇo gotamo, idāni anena jaṭilasahassaṁ pabbājitaṁ, imāni ca aḍḍhateyyāni paribbājakasatāni sañcayāni pabbājitāni. Ime ca abhiññātā abhiññātā māgadhikā kulaputtā samaṇe gotame brahmacariyaṁ carantī”ti. Apissu bhikkhū disvā imāya gāthāya codenti—
At that time many well-known gentlemen from Magadha were practicing the spiritual life under the Buddha. People complained and criticized him, “The ascetic Gotama is making us childless; he’s making us widows. He’s breaking up respectable families! A thousand dreadlocked ascetics have now gone forth because of him, and also these two hundred and fifty wanderers who were disciples of Sañcaya. All these well-known gentlemen from Magadha are practicing the spiritual life under the ascetic Gotama.” And when they saw monks, they confronted them with this verse:
63. Vào lúc bấy giờ, các thiện gia nam tử danh tiếng ở xứ Māgadha đang thực hành phạm hạnh nơi đức Thế Tôn. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và dị nghị rằng: ‘Sa-môn Gotama đang hành động để gây ra tình trạng không có con, Sa-môn Gotama đang hành động để gây ra tình trạng góa bụa, Sa-môn Gotama đang hành động để làm cho dòng dõi bị tuyệt tự. Vừa rồi, vị này đã cho xuất gia một ngàn vị bện tóc, và hai trăm năm mươi vị du sĩ đệ tử của Sañcaya này cũng đã được cho xuất gia. Và các thiện gia nam tử danh tiếng ở xứ Māgadha này cũng đang thực hành phạm hạnh nơi Sa-môn Gotama.’ Hơn nữa, khi thấy các vị tỳ khưu, họ còn khiển trách bằng câu kệ này:
“Āgato kho mahāsamaṇo, māgadhānaṁ giribbajaṁ; Sabbe sañcaye netvāna, kaṁsu dāni nayissatī”ti.
“The Great Ascetic has arrived At Giribbaja in Magadha. After leading away all of Sañcaya’s disciples, Who will he lead away next?”
‘Vị Đại Sa-môn đã đến Giribbaja của xứ Māgadha. Sau khi đã dẫn đi tất cả đệ tử của Sañcaya, bây giờ ngài sẽ dẫn đi ai đây?’
Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “na, bhikkhave, so saddo ciraṁ bhavissati, sattāhameva bhavissati, sattāhassa accayena antaradhāyissati. Tena hi, bhikkhave, ye tumhe imāya gāthāya codenti—
The monks heard the complaints of those people and they told the Buddha. … “The complaining will soon stop. It will only go on for seven days. Still, when people confront you like this, you can confront them in return with this verse:
Các vị tỳ khưu đã nghe được những lời phàn nàn, chê bai, và dị nghị của những người ấy. Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã trình bày sự việc ấy lên đức Thế Tôn... ‘Này các tỳ khưu, tiếng đồn ấy sẽ không kéo dài lâu đâu. Nó sẽ chỉ tồn tại trong bảy ngày. Sau bảy ngày, nó sẽ biến mất. Vì vậy, này các tỳ khưu, những ai khiển trách các con bằng câu kệ này:
‘Āgato kho mahāsamaṇo, māgadhānaṁ giribbajaṁ; Sabbe sañcaye netvāna, kaṁsu dāni nayissatī’ti.
‘Vị Đại Sa-môn đã đến Giribbaja của xứ Māgadha. Sau khi đã dẫn đi tất cả đệ tử của Sañcaya, bây giờ ngài sẽ dẫn đi ai đây?’
Te tumhe imāya gāthāya paṭicodetha—
Các con hãy đáp trả họ bằng câu kệ này:
‘Nayanti ve mahāvīrā, saddhammena tathāgatā; Dhammena nayamānānaṁ, kā usūyā vijānatan’”ti.
Tena kho pana samayena manussā bhikkhū disvā imāya gāthāya codenti—
‘Indeed, the Great Heroes, the Buddhas, Lead by means of a good teaching. When you understand this, what indignation can there be Toward those who lead legitimately?’”
Soon, when they saw monks, people confronted them with the same verse:
‘Quả thật, các bậc Đại Hùng, các đấng Như Lai, dẫn dắt bằng Chánh pháp. Đối với các bậc trí tuệ đang dẫn dắt bằng Chánh pháp, làm gì có sự ganh tỵ?’
“Āgato kho mahāsamaṇo, māgadhānaṁ giribbajaṁ; Sabbe sañcaye netvāna, kaṁsu dāni nayissatī”ti.
“The Great Ascetic has arrived At Giribbaja in Magadha. After leading away all of Sañcaya’s disciples, Who will he lead away next?”
‘Vị Đại Sa-môn đã đến Giribbaja của xứ Māgadha. Sau khi đã dẫn đi tất cả đệ tử của Sañcaya, bây giờ ngài sẽ dẫn đi ai đây?’
Bhikkhū te manusse imāya gāthāya paṭicodenti—
And the monks confronted them in return with this verse:
Các vị tỳ khưu đã đáp trả những người ấy bằng câu kệ này:
“Nayanti ve mahāvīrā, saddhammena tathāgatā; Dhammena nayamānānaṁ, kā usūyā vijānatan”ti.
“Indeed, the Great Heroes, the Buddhas, Lead by means of a good teaching. When you understand this, what indignation can there be Toward those who lead legitimately?”
‘Quả thật, các bậc Đại Hùng, các đấng Như Lai, dẫn dắt bằng Chánh pháp. Đối với các bậc trí tuệ đang dẫn dắt bằng Chánh pháp, làm gì có sự ganh tỵ?’
Manussā dhammena kira samaṇā sakyaputtiyā nenti no adhammenāti sattāhameva so saddo ahosi, sattāhassa accayena antaradhāyi.
People thought, “So it seems the Sakyan monastics lead legitimately, not illegitimately.” The complaining went on for seven days and then stopped.
Dân chúng (nghĩ rằng): ‘Quả thật, các vị Sa-môn Thích tử dẫn dắt bằng Chánh pháp, không phải bằng phi pháp.’ Tiếng đồn ấy chỉ tồn tại trong bảy ngày. Sau bảy ngày, nó đã biến mất.
Sāriputtamoggallānapabbajjākathā niṭṭhitā.
The account of the going forth of Sāriputta and Moggallāna is finished.
Câu chuyện về sự xuất gia của Sāriputta và Moggallāna đến đây là kết thúc.
Catutthabhāṇavāro niṭṭhito.
The fourth section for recitation is finished.
Phẩm thứ tư đến đây là kết thúc.
Tena kho pana samayena bhikkhū anupajjhāyakā anācariyakā anovadiyamānā ananusāsiyamānā dunnivatthā duppārutā anākappasampannā piṇḍāya caranti; manussānaṁ bhuñjamānānaṁ uparibhojanepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmenti, uparikhādanīyepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmenti, uparisāyanīyepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmenti, uparipānīyepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmenti; sāmaṁ sūpampi odanampi viññāpetvā bhuñjanti; bhattaggepi uccāsaddā mahāsaddā viharanti.
At that time the monks did not have preceptors or teachers, and as a result they were not being instructed. When walking for almsfood, they were shabbily dressed and improper in appearance. While people were eating, they held out their almsbowls to receive leftovers, even right over their food, whether it was cooked or fresh food, delicacies or drinks. They ate bean curry and rice that they themselves had asked for, and they were noisy in the dining hall.
15. Câu chuyện về Bổn phận đối với Thầy Tế độ
64. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu không có thầy tế độ, không có thầy giáo thọ, không được chỉ dạy, không được khuyên răn, đã mặc y không tề chỉnh, đắp y không tề chỉnh, không có oai nghi, đi khất thực; trong khi các cư sĩ đang ăn, các vị ấy đưa bát đến trên vật thực, đưa bát đến trên vật cứng, đưa bát đến trên vật liếm, đưa bát đến trên vật uống; tự mình xin canh và cơm rồi ăn; ở tại nhà ăn cũng làm tiếng động lớn, tiếng động ồn ào. Các cư sĩ phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – “Làm sao mà các vị sa-môn Thích tử lại mặc y không tề chỉnh, đắp y không tề chỉnh, không có oai nghi, đi khất thực; trong khi các cư sĩ đang ăn, lại đưa bát đến trên vật thực, đưa bát đến trên vật cứng, đưa bát đến trên vật liếm, đưa bát đến trên vật uống; tự mình xin canh và cơm rồi ăn; ở tại nhà ăn cũng làm tiếng động lớn, tiếng động ồn ào, giống như các vị bà-la-môn trong bữa ăn của bà-la-môn vậy?”
Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Ye te bhikkhū appicchā santuṭṭhā lajjino kukkuccakā sikkhākāmā, te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhikkhū dunnivatthā duppārutā anākappasampannā piṇḍāya carissanti;
manussānaṁ bhuñjamānānaṁ, uparibhojanepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmessanti, uparikhādanīyepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmessanti, uparisāyanīyepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmessanti, uparipānīyepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmessanti; sāmaṁ sūpampi odanampi viññāpetvā bhuñjissanti; bhattaggepi uccāsaddā mahāsaddā viharissantī”ti.
Atha kho te bhikkhū …pe… bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
The monks heard the complaints of those people. The monks of few desires, who had a sense of conscience, and who were contented, afraid of wrongdoing, and fond of the training, complained and criticized them, “How can monks act like this?” They then told the Buddha. …
Các tỳ khưu đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, phao tin của các cư sĩ ấy. Những vị tỳ khưu nào thiểu dục, biết đủ, có lòng hổ thẹn, có sự hối hận, ham muốn học tập, các vị ấy cũng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – “Làm sao mà các tỳ khưu lại mặc y không tề chỉnh, đắp y không tề chỉnh, không có oai nghi, đi khất thực; trong khi các cư sĩ đang ăn, lại đưa bát đến trên vật thực, đưa bát đến trên vật cứng, đưa bát đến trên vật liếm, đưa bát đến trên vật uống; tự mình xin canh và cơm rồi ăn; ở tại nhà ăn cũng làm tiếng động lớn, tiếng động ồn ào vậy?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—“saccaṁ kira, bhikkhave, bhikkhū dunnivatthā duppārutā anākappasampannā piṇḍāya caranti, manussānaṁ bhuñjamānānaṁ uparibhojanepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmenti, uparikhādanīyepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmenti, uparisāyanīyepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmenti, uparipānīyepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmenti, sāmaṁ sūpampi odanampi viññāpetvā bhuñjanti, bhattaggepi uccāsaddā mahāsaddā viharantī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, bhikkhave, tesaṁ moghapurisānaṁ ananulomikaṁ appatirūpaṁ assāmaṇakaṁ akappiyaṁ akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma te, bhikkhave, moghapurisā dunnivatthā duppārutā anākappasampannā piṇḍāya carissanti, manussānaṁ bhuñjamānānaṁ uparibhojanepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmessanti, uparikhādanīyepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmessanti, uparisāyanīyepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmessanti, uparipānīyepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmessanti, sāmaṁ sūpampi odanampi viññāpetvā bhuñjissanti, bhattaggepi uccāsaddā mahāsaddā viharissanti. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya, pasannānaṁ vā bhiyyobhāvāya. Atha khvetaṁ, bhikkhave, appasannānañceva appasādāya, pasannānañca ekaccānaṁ aññathattāyā”ti.
Atha kho bhagavā te bhikkhū anekapariyāyena vigarahitvā dubbharatāya dupposatāya mahicchatāya asantuṭṭhitāya saṅgaṇikāya kosajjassa avaṇṇaṁ bhāsitvā anekapariyāyena subharatāya suposatāya appicchassa santuṭṭhassa sallekhassa dhutassa pāsādikassa apacayassa vīriyārambhassa vaṇṇaṁ bhāsitvā bhikkhūnaṁ tadanucchavikaṁ tadanulomikaṁ dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that monks act like this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them, “It’s not suitable for those foolish men, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How can they act like this? This will affect people’s confidence, and cause some to lose it.”
Then the Buddha spoke in many ways in dispraise of being difficult to support and maintain, in dispraise of great desires, discontent, socializing, and laziness; but he spoke in many ways in praise of being easy to support and maintain, of fewness of wishes, contentment, self-effacement, ascetic practices, serenity, reduction in things, and being energetic. After giving a teaching on what is right and proper, he addressed the monks:
Sau đó, đức Thế Tôn nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, cho hội họp Tăng chúng rồi hỏi các tỳ khưu: – “Này các tỳ khưu, có thật là các tỳ khưu mặc y không tề chỉnh, đắp y không tề chỉnh, không có oai nghi, đi khất thực, trong khi các cư sĩ đang ăn, đưa bát đến trên vật thực, đưa bát đến trên vật cứng, đưa bát đến trên vật liếm, đưa bát đến trên vật uống, tự mình xin canh và cơm rồi ăn, ở tại nhà ăn cũng làm tiếng động lớn, tiếng động ồn ào hay không?” – “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách: – “Này các tỳ khưu, việc làm của những kẻ ngu si ấy là không thích hợp, không tương xứng, không đáng, không phải hạnh sa-môn, không được phép, không nên làm. Này các tỳ khưu, làm sao mà những kẻ ngu si ấy lại mặc y không tề chỉnh, đắp y không tề chỉnh, không có oai nghi, đi khất thực, trong khi các cư sĩ đang ăn, đưa bát đến trên vật thực, đưa bát đến trên vật cứng, đưa bát đến trên vật liếm, đưa bát đến trên vật uống, tự mình xin canh và cơm rồi ăn, ở tại nhà ăn cũng làm tiếng động lớn, tiếng động ồn ào? Này các tỳ khưu, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin được phát sinh đức tin, hay làm cho những người đã có đức tin được tăng trưởng đức tin. Mà trái lại, này các tỳ khưu, việc này chỉ để làm cho những người chưa có đức tin không phát sinh đức tin, và làm cho một số người đã có đức tin bị thay đổi khác đi.” Sau đó, đức Thế Tôn sau khi đã quở trách các vị tỳ khưu ấy bằng nhiều cách, đã nói lên những điều bất lợi của việc khó phục vụ, khó nuôi dưỡng, tham lam, không biết đủ, thích hội chúng, biếng nhác; và sau khi đã nói lên bằng nhiều cách những điều lợi ích của việc dễ phục vụ, dễ nuôi dưỡng, của người thiểu dục, biết đủ, sống viễn ly, trừ khử phiền não, sống tinh cần, không tích lũy, nỗ lực tinh tấn, ngài đã thuyết một bài pháp thoại thích hợp, tương xứng cho các tỳ khưu, rồi gọi các vị tỳ khưu:
“Anujānāmi, bhikkhave, upajjhāyaṁ.
Upajjhāyo, bhikkhave, saddhivihārikamhi puttacittaṁ upaṭṭhapessati, saddhivihāriko upajjhāyamhi pitucittaṁ upaṭṭhapessati. Evaṁ te aññamaññaṁ sagāravā sappatissā sabhāgavuttino viharantā imasmiṁ dhammavinaye vuḍḍhiṁ viruḷhiṁ vepullaṁ āpajjissanti.
Evañca pana, bhikkhave, upajjhāyo gahetabbo—ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘upajjhāyo me, bhante, hohi; upajjhāyo me, bhante, hohi; upajjhāyo me, bhante, hohī’ti. Sāhūti vā lahūti vā opāyikanti vā patirūpanti vā pāsādikena sampādehīti vā kāyena viññāpeti, vācāya viññāpeti, kāyena vācāya viññāpeti, gahito hoti upajjhāyo; na kāyena viññāpeti, na vācāya viññāpeti, na kāyena vācāya viññāpeti, na gahito hoti upajjhāyo.
“There should be a preceptor.
The preceptor should think of his student as a son and the student his preceptor as a father. In this way they will respect, esteem, and be considerate toward each other, and they will grow and reach greatness on this spiritual path.
A preceptor should be chosen like this. After arranging his upper robe over one shoulder, a student should pay respect at the feet of the potential preceptor. He should then squat on his heels, raise his joined palms, and say, ‘Venerable, please be my preceptor.’ And he should repeat this a second and a third time. If the other conveys the following by body, by speech, or by body and speech: ‘Yes;’ ‘No problem;’ ‘It’s suitable;’ ‘It’s appropriate;’ or, ‘Carry on with inspiration’—then a preceptor has been chosen. If the other doesn’t convey this by body, by speech, or by body and speech, then a preceptor hasn’t been chosen.
65. “Ta cho phép có thầy tế độ, này các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, thầy tế độ nên khởi tâm xem đệ tử cùng ở như con trai, đệ tử cùng ở nên khởi tâm xem thầy tế độ như cha. Như vậy, họ sống với nhau có sự tôn trọng, kính nể, có cùng cách sống, sẽ đạt đến sự tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh trong Giáo pháp và Luật này. Và này các tỳ khưu, thầy tế độ nên được thọ nhận như vầy: đắp y thượng lệch một bên vai, đảnh lễ chân, ngồi xổm, chắp tay, rồi nên nói như vầy: ‘Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy tế độ của con; bạch ngài, xin ngài hãy là thầy tế độ của con; bạch ngài, xin ngài hãy là thầy tế độ của con.’ Bằng lời nói ‘Tốt lắm,’ hoặc ‘Nhẹ nhàng,’ hoặc ‘Thích hợp,’ hoặc ‘Xứng đáng,’ hoặc ‘Hãy làm cho trọn vẹn với oai nghi đáng kính,’ vị ấy cho biết bằng thân, cho biết bằng lời, hoặc cho biết bằng thân và lời, thì thầy tế độ đã được thọ nhận; vị ấy không cho biết bằng thân, không cho biết bằng lời, không cho biết bằng thân và lời, thì thầy tế độ đã không được thọ nhận.
Saddhivihārikena, bhikkhave, upajjhāyamhi sammā vattitabbaṁ. Tatrāyaṁ sammāvattanā—
“A student should conduct himself properly toward his preceptor. This is the proper conduct:
66. “Này các tỳ khưu, đệ tử cùng ở nên hành xử đúng đắn đối với thầy tế độ. Ở đây, đây là cách hành xử đúng đắn: –
Kālasseva vuṭṭhāya upāhanā omuñcitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā dantakaṭṭhaṁ dātabbaṁ, mukhodakaṁ dātabbaṁ, āsanaṁ paññapetabbaṁ. Sace yāgu hoti, bhājanaṁ dhovitvā yāgu upanāmetabbā. Yāguṁ pītassa udakaṁ datvā bhājanaṁ paṭiggahetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena dhovitvā paṭisāmetabbaṁ. Upajjhāyamhi vuṭṭhite āsanaṁ uddharitabbaṁ. Sace so deso uklāpo hoti, so deso sammajjitabbo.
Having gotten up at the appropriate time, the student should remove his sandals and arrange his upper robe over one shoulder. He should then give his preceptor a tooth cleaner and water for rinsing the mouth, and he should prepare a seat for him. If there is congee, he should rinse a vessel and bring the congee to his preceptor. When he has drunk the congee, the student should give him water and receive the vessel. Holding it low, he should wash it carefully without scratching it and then put it away. When the preceptor has gotten up, the student should put away the seat. If the place is dirty, he should sweep it.
Nên thức dậy sớm, tháo giày dép, vắt thượng y qua một bên vai rồi dâng tăm xỉa răng, dâng nước rửa mặt, soạn chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa vật đựng rồi dâng cháo. Khi (thầy) đã dùng cháo xong, nên dâng nước, nhận lại vật đựng, hạ thấp xuống, rửa sạch kỹ lưỡng không cho cọ xát (xuống đất) rồi cất đi. Khi thầy Tế độ đã đứng dậy, nên dọn dẹp chỗ ngồi. Nếu nơi ấy có rác, nên quét dọn nơi ấy.
Sace upajjhāyo gāmaṁ pavisitukāmo hoti, nivāsanaṁ dātabbaṁ, paṭinivāsanaṁ paṭiggahetabbaṁ, kāyabandhanaṁ dātabbaṁ, saguṇaṁ katvā saṅghāṭiyo dātabbā, dhovitvā patto sodako dātabbo. Sace upajjhāyo pacchāsamaṇaṁ ākaṅkhati, timaṇḍalaṁ paṭicchādentena parimaṇḍalaṁ nivāsetvā kāyabandhanaṁ bandhitvā saguṇaṁ katvā saṅghāṭiyo pārupitvā gaṇṭhikaṁ paṭimuñcitvā dhovitvā pattaṁ gahetvā upajjhāyassa pacchāsamaṇena hotabbaṁ.
Nātidūre gantabbaṁ, nāccāsanne gantabbaṁ, pattapariyāpannaṁ paṭiggahetabbaṁ. Na upajjhāyassa bhaṇamānassa antarantarā kathā opātetabbā. Upajjhāyo āpattisāmantā bhaṇamāno nivāretabbo.
If the preceptor wants to enter the village, the student should give him a sarong and receive the one he’s wearing in return. He should give him a belt. He should put the upper robes together, overlapping each other edge-to-edge, and then give them to him. He should rinse his preceptor’s bowl and give it to him while wet. If the preceptor wants an attendant, the student should put on his sarong evenly all around, covering the navel and the knees. He should put on a belt. Putting the upper robes together, overlapping each other edge-to-edge, he should put them on and fasten the toggle. He should rinse his bowl, bring it along, and be his preceptor’s attendant.
He shouldn’t walk too far behind his preceptor or too close to him. He should receive the contents of his bowl. He shouldn’t interrupt his preceptor when he’s speaking. But if the preceptor’s speech is bordering on an offense, he should stop him.
Nếu thầy Tế độ muốn vào làng, nên dâng y nội (để mặc vào làng), nhận lại y nội (đã mặc ở trú xứ), dâng dây lưng, xếp y hai lớp (saṅghāṭi) rồi dâng lên, rửa sạch bình bát rồi dâng cùng với nước. Nếu thầy Tế độ cần vị sa-môn đi theo sau, (vị ấy) nên mặc y nội cho ngay ngắn che kín ba vùng, thắt dây lưng, khoác y hai lớp đã được xếp, cài nút, rửa sạch bình bát rồi cầm lấy để làm vị sa-môn đi theo sau thầy Tế độ. Không nên đi quá xa, không nên đi quá gần, nên nhận lấy bát (khi có vật thực được cúng dường). Không nên xen vào lời nói khi thầy Tế độ đang nói. Khi thầy Tế độ đang nói điều gì gần với tội, nên ngăn cản.
Nivattantena paṭhamataraṁ āgantvā āsanaṁ paññapetabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipitabbaṁ, paccuggantvā pattacīvaraṁ paṭiggahetabbaṁ, paṭinivāsanaṁ dātabbaṁ, nivāsanaṁ paṭiggahetabbaṁ. Sace cīvaraṁ sinnaṁ hoti, muhuttaṁ uṇhe otāpetabbaṁ, na ca uṇhe cīvaraṁ nidahitabbaṁ; cīvaraṁ saṅgharitabbaṁ, cīvaraṁ saṅgharantena caturaṅgulaṁ kaṇṇaṁ ussāretvā cīvaraṁ saṅgharitabbaṁ—mā majjhe bhaṅgo ahosīti. Obhoge kāyabandhanaṁ kātabbaṁ.
When returning, the student should go first to prepare a seat and to set out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He should go out to meet the preceptor and receive his bowl and robe. He should give him a sarong and receive the one he’s wearing in return. If the robe is damp, he should sun it for a short while, but shouldn’t leave it in the heat. He should fold the robe, offsetting the edges by seven centimeters, so that the fold doesn’t become worn. He should place the belt in the fold.
Khi trở về, nên đến trước, soạn chỗ ngồi, đặt sẵn nước rửa chân, ghế rửa chân, và đồ chùi chân. Nên ra đón, nhận lấy y bát, dâng y nội (để mặc ở trú xứ), nhận lại y nội (đã mặc vào làng). Nếu y bị ướt, nên phơi nắng một lát, nhưng không nên để y ngoài nắng (lâu). Nên xếp y lại. Khi xếp y, nên chừa ra một góc bề ngang bốn ngón tay rồi xếp y lại (với ý nghĩ): ‘Mong rằng sẽ không có nếp gấp ở giữa.’ Nên đặt dây lưng vào trong nếp gấp của y.
Sace piṇḍapāto hoti, upajjhāyo ca bhuñjitukāmo hoti, udakaṁ datvā piṇḍapāto upanāmetabbo. Upajjhāyo pānīyena pucchitabbo. Bhuttāvissa udakaṁ datvā pattaṁ paṭiggahetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena dhovitvā vodakaṁ katvā muhuttaṁ uṇhe otāpetabbo, na ca uṇhe patto nidahitabbo.
Pattacīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Pattaṁ nikkhipantena ekena hatthena pattaṁ gahetvā ekena hatthena heṭṭhāmañcaṁ vā heṭṭhāpīṭhaṁ vā parāmasitvā patto nikkhipitabbo. Na ca anantarahitāya bhūmiyā patto nikkhipitabbo. Cīvaraṁ nikkhipantena ekena hatthena cīvaraṁ gahetvā ekena hatthena cīvaravaṁsaṁ vā cīvararajjuṁ vā pamajjitvā pārato antaṁ orato bhogaṁ katvā cīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Upajjhāyamhi vuṭṭhite āsanaṁ uddharitabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ paṭisāmetabbaṁ. Sace so deso uklāpo hoti, so deso sammajjitabbo.
If there is almsfood and his preceptor wants to eat, the student should give him water and then the almsfood. He should ask his preceptor if he wants water to drink. When the preceptor has eaten, the student should give him water and receive his bowl. Holding it low, he should wash it carefully without scratching it. He should then dry it and sun it for a short while, but shouldn’t leave it in the heat.
The student should put away the robe and bowl. When putting away the bowl, he should hold the bowl in one hand, feel under the bed or the bench with the other, and then put it away. He shouldn’t put the bowl away on the bare floor. When putting away the robe, he should hold the robe in one hand, wipe the bamboo robe rack or the clothesline with the other, and then put it away by folding the robe over it, making the ends face the wall and the fold face out. When the preceptor has gotten up, the student should put away the seat and also the foot stool, the foot scraper, and the water for washing the feet. If the place is dirty, he should sweep it.
Nếu có vật thực khất thực và thầy Tế độ muốn dùng, nên dâng nước rồi dâng vật thực khất thực. Nên hỏi thầy Tế độ về nước uống. Khi thầy đã dùng xong, nên dâng nước, nhận lại bình bát, hạ thấp xuống, rửa sạch kỹ lưỡng không cho cọ xát (xuống đất), làm cho ráo nước, phơi nắng một lát, nhưng không nên để bình bát ngoài nắng (lâu). Nên cất y bát. Khi cất bình bát, nên một tay cầm bình bát, một tay rờ dưới giường hoặc dưới ghế rồi mới đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên nền đất không có đồ lót. Khi cất y, nên một tay cầm y, một tay phủi sạch sào phơi y hoặc dây phơi y, rồi đặt y lên, để đầu y ở phía xa và phần gấp ở phía gần. Khi thầy Tế độ đã đứng dậy, nên dọn dẹp chỗ ngồi, cất nước rửa chân, ghế rửa chân, và đồ chùi chân. Nếu nơi ấy có rác, nên quét dọn nơi ấy.
Sace upajjhāyo nahāyitukāmo hoti, nahānaṁ paṭiyādetabbaṁ. Sace sītena attho hoti, sītaṁ paṭiyādetabbaṁ. Sace uṇhena attho hoti, uṇhaṁ paṭiyādetabbaṁ.
If the preceptor wants to bathe, the student should prepare a bath. If he wants a cold bath, he should prepare that; if he wants a hot bath, he should prepare that.
Nếu thầy Tế độ muốn tắm, nên chuẩn bị nước tắm. Nếu cần nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh. Nếu cần nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.
Sace upajjhāyo jantāgharaṁ pavisitukāmo hoti, cuṇṇaṁ sannetabbaṁ, mattikā temetabbā, jantāgharapīṭhaṁ ādāya upajjhāyassa piṭṭhito piṭṭhito gantvā jantāgharapīṭhaṁ datvā cīvaraṁ paṭiggahetvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ, cuṇṇaṁ dātabbaṁ, mattikā dātabbā. Sace ussahati, jantāgharaṁ pavisitabbaṁ. Jantāgharaṁ pavisantena mattikāya mukhaṁ makkhetvā purato ca pacchato ca paṭicchādetvā jantāgharaṁ pavisitabbaṁ. Na there bhikkhū anupakhajja nisīditabbaṁ. Na navā bhikkhū āsanena paṭibāhitabbā. Jantāghare upajjhāyassa parikammaṁ kātabbaṁ. Jantāgharā nikkhamantena jantāgharapīṭhaṁ ādāya purato ca pacchato ca paṭicchādetvā jantāgharā nikkhamitabbaṁ.
If the preceptor wants to take a sauna, the student should knead bath powder, moisten the clay, take a sauna bench, and follow behind his preceptor. After giving the preceptor the sauna bench, receiving his robe, and putting it aside, he should give him the bath powder and the clay. If he’s able, he should enter the sauna. When entering the sauna, he should smear his face with clay, cover himself front and back, and then enter. He shouldn’t sit encroaching on the senior monks, and he shouldn’t block the junior monks from getting a seat. While in the sauna, he should provide assistance to his preceptor. When leaving the sauna, he should take the sauna bench, cover himself front and back, and then leave.
Nếu thầy Tế độ muốn vào nhà xông hơi, nên nhào bột thơm, làm ẩm đất sét. Nên cầm ghế nhà xông hơi đi theo sau thầy Tế độ, dâng ghế nhà xông hơi, nhận lấy y rồi cất ở một nơi. Nên dâng bột thơm, dâng đất sét. Nếu có thể, nên vào nhà xông hơi. Khi vào nhà xông hơi, nên thoa đất sét lên mặt, che kín phía trước và phía sau rồi vào nhà xông hơi. Không nên ngồi chen lấn các vị tỳ-khưu trưởng lão. Không nên chiếm chỗ ngăn cản các vị tỳ-khưu trẻ. Nên làm công việc phục vụ cho thầy Tế độ trong nhà xông hơi. Khi ra khỏi nhà xông hơi, nên cầm ghế nhà xông hơi, che kín phía trước và phía sau rồi ra khỏi nhà xông hơi.
Udakepi upajjhāyassa parikammaṁ kātabbaṁ. Nahātena paṭhamataraṁ uttaritvā attano gattaṁ vodakaṁ katvā nivāsetvā upajjhāyassa gattato udakaṁ pamajjitabbaṁ, nivāsanaṁ dātabbaṁ, saṅghāṭi dātabbā, jantāgharapīṭhaṁ ādāya paṭhamataraṁ āgantvā āsanaṁ paññapetabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipitabbaṁ, upajjhāyo pānīyena pucchitabbo. Sace uddisāpetukāmo hoti, uddisitabbo. Sace paripucchitukāmo hoti, paripucchitabbo.
He should also provide assistance to his preceptor in the water. When he has bathed, he should be the first to come out. He should dry himself and put on his sarong. He should then wipe the water off his preceptor’s body, and he should give him his sarong and then his upper robe. Taking the sauna bench, he should be the first to return. He should prepare a seat, and also set out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He should ask his preceptor if he wants water to drink. If the preceptor wants him to recite, he should do so. If the preceptor wants to question him, he should be questioned.
Ở trong nước cũng nên làm công việc phục vụ cho thầy Tế độ. Sau khi tắm, nên lên bờ trước, lau khô người, mặc y nội, rồi lau nước trên người của thầy Tế độ. Nên dâng y nội, dâng y hai lớp (saṅghāṭi). Nên cầm ghế nhà xông hơi đến trước, soạn chỗ ngồi, đặt sẵn nước rửa chân, ghế rửa chân, và đồ chùi chân. Nên hỏi thầy Tế độ về nước uống. Nếu (thầy) muốn được đọc cho nghe, nên đọc cho (thầy) nghe. Nếu (thầy) muốn được hỏi, nên hỏi (thầy).
Yasmiṁ vihāre upajjhāyo viharati, sace so vihāro uklāpo hoti, sace ussahati, sodhetabbo. Vihāraṁ sodhentena paṭhamaṁ pattacīvaraṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ. Nisīdanapaccattharaṇaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ.
If the dwelling where the preceptor is staying is dirty, the student should clean it if he’s able. When he’s cleaning the dwelling, he should first take out the bowl and robe and put them aside. He should take out the sitting mat and the sheet and put them aside.
“Tại ngôi trú xá mà vị Thầy Tế độ đang ở, nếu ngôi trú xá ấy có rác, nếu có thể kham nổi thì nên dọn dẹp. Người dọn dẹp trú xá trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để ở một nơi. Nên đem tấm lót ngồi và tấm trải giường ra ngoài rồi để ở một nơi. Nên đem gối và nệm ra ngoài rồi để ở một nơi. Nên hạ thấp giường xuống, cẩn thận không kéo lê, không va chạm vào cánh cửa và khung cửa, rồi đem ra ngoài để ở một nơi. Nên hạ thấp ghế xuống, cẩn thận không kéo lê, không va chạm vào cánh cửa và khung cửa, rồi đem ra ngoài để ở một nơi. Nên đem các chân giường ra ngoài rồi để ở một nơi. Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để ở một nơi. Nên đem tấm ván dựa lưng ra ngoài rồi để ở một nơi. Nên ghi nhớ cách trải tấm lót sàn rồi đem ra ngoài để ở một nơi. Nếu trong trú xá có mạng nhện, trước tiên nên quét từ trên trần xuống, nên lau chùi các góc cửa sổ và các góc phòng. Nếu bức tường được tô bằng đất son bị mốc, nên nhúng miếng vải, vắt khô rồi lau chùi. Nếu nền nhà được tô màu đen bị mốc, nên nhúng miếng vải, vắt khô rồi lau chùi. Nếu là nền đất chưa được tô trát, nên rảy nước rồi quét dọn với ý nghĩ rằng: ‘Mong rằng trú xá không bị bụi bặm bay lên.’ Nên thu gom rác rồi đổ bỏ ở một nơi.
“Trú xá nào có vị đồng trú đang ở, nếu trú xá ấy dơ bẩn, nếu có khả năng, nên dọn dẹp. Vị dọn dẹp trú xá trước tiên nên đem y bát ra ngoài và đặt ở một nơi thích hợp; nên đem tấm lót ngồi và tấm trải giường ra ngoài và đặt ở một nơi thích hợp; nên đem gối và nệm ra ngoài và đặt ở một nơi thích hợp; nên hạ thấp giường xuống, một cách cẩn thận, không kéo lê, không va chạm vào cánh cửa và khung cửa, rồi đem ra ngoài và đặt ở một nơi thích hợp; nên hạ thấp ghế xuống, một cách cẩn thận, không kéo lê, không va chạm vào cánh cửa và khung cửa, rồi đem ra ngoài và đặt ở một nơi thích hợp; nên đem các chân giường ra ngoài và đặt ở một nơi thích hợp; nên đem ống nhổ ra ngoài và đặt ở một nơi thích hợp; nên đem tấm ván dựa lưng ra ngoài và đặt ở một nơi thích hợp; nên ghi nhớ vị trí đã trải của tấm trải sàn rồi đem ra ngoài và đặt ở một nơi thích hợp. Nếu trong trú xá có mạng nhện, trước tiên nên quét từ trần nhà xuống, nên lau chùi các góc cửa sổ và các góc phòng. Nếu bức tường đã được tô bằng đất son bị mốc, nên thấm ướt miếng vải, vắt khô rồi lau chùi. Nếu nền nhà đã được tô màu đen bị mốc, nên thấm ướt miếng vải, vắt khô rồi lau chùi. Nếu nền nhà chưa được xử lý, nên rảy nước rồi quét dọn – với ý nghĩ rằng ‘mong rằng trú xá không bị bụi bẩn bay lên.’ Nên thu gom rác lại rồi đổ ở một nơi thích hợp.
Bhūmattharaṇaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Mañcapaṭipādakā otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbā. Mañco otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbo. Pīṭhaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Bhisibibbohanaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Nisīdanapaccattharaṇaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Kheḷamallako otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbo. Apassenaphalakaṁ otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbaṁ. Pattacīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Pattaṁ nikkhipantena ekena hatthena pattaṁ gahetvā ekena hatthena heṭṭhāmañcaṁ vā heṭṭhāpīṭhaṁ vā parāmasitvā patto nikkhipitabbo. Na ca anantarahitāya bhūmiyā patto nikkhipitabbo. Cīvaraṁ nikkhipantena ekena hatthena cīvaraṁ gahetvā ekena hatthena cīvaravaṁsaṁ vā cīvararajjuṁ vā pamajjitvā pārato antaṁ orato bhogaṁ katvā cīvaraṁ nikkhipitabbaṁ.
He should sun the floor cover, clean it, beat it, bring it back inside, and put it back as before. He should sun the bed supports, wipe them, bring them back inside, and put them back where they were. He should sun the bed, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the bench, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the mattress and the pillow, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the sitting mat and the sheet, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the spittoon, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should sun the leaning board, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should put away the bowl and robe. When putting away the bowl, he should hold the bowl in one hand, feel under the bed or the bench with the other, and then put it away. He shouldn’t put the bowl away on the bare floor. When putting away the robe, he should hold the robe in one hand, wipe the bamboo robe rack or the clothesline with the other, and then put it away by folding the robe over it, making the ends face the wall and the fold face out.
“Nên phơi nắng tấm trải sàn, lau chùi, giũ sạch, rồi đem vào trải lại như vị trí cũ. Nên phơi nắng các chân giường, lau chùi, rồi đem vào đặt lại ở vị trí cũ. Nên phơi nắng giường, lau chùi, giũ sạch, hạ thấp xuống, một cách cẩn thận, không kéo lê, không va chạm vào cánh cửa và khung cửa, rồi đem vào trải lại như vị trí cũ. Nên phơi nắng ghế, lau chùi, giũ sạch, hạ thấp xuống, một cách cẩn thận, không kéo lê, không va chạm vào cánh cửa và khung cửa, rồi đem vào trải lại như vị trí cũ. Nên phơi nắng gối và nệm, lau chùi, giũ sạch, rồi đem vào trải lại như vị trí cũ. Nên phơi nắng tấm lót ngồi và tấm trải giường, lau chùi, giũ sạch, rồi đem vào trải lại như vị trí cũ. Nên phơi nắng ống nhổ, lau chùi, rồi đem vào đặt lại ở vị trí cũ. Nên phơi nắng tấm ván dựa lưng, lau chùi, rồi đem vào đặt lại ở vị trí cũ. Nên cất y bát. Vị cất bình bát, một tay cầm bình bát, một tay dò phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên nền đất không có vật lót. Vị cất y, một tay cầm y, một tay lau chùi sào phơi y hoặc dây phơi y, rồi nên cất y bằng cách để một đầu ở phía bên kia và cuộn lại ở phía bên này.
Sace puratthimā sarajā vātā vāyanti, puratthimā vātapānā thaketabbā. Sace pacchimā sarajā vātā vāyanti, pacchimā vātapānā thaketabbā. Sace uttarā sarajā vātā vāyanti, uttarā vātapānā thaketabbā. Sace dakkhiṇā sarajā vātā vāyanti, dakkhiṇā vātapānā thaketabbā. Sace sītakālo hoti, divā vātapānā vivaritabbā, rattiṁ thaketabbā. Sace uṇhakālo hoti, divā vātapānā thaketabbā, rattiṁ vivaritabbā.
If dusty winds are blowing from the east, he should close the windows on the eastern side. If dusty winds are blowing from the west, he should close the windows on the western side. If dusty winds are blowing from the north, he should close the windows on the northern side. If dusty winds are blowing from the south, he should close the windows on the southern side. If the weather is cold, he should open the windows during the day and close them at night. If the weather is hot, he should close the windows during the day and open them at night.
“Nếu có gió bụi từ hướng đông thổi đến, nên đóng các cửa sổ hướng đông. Nếu có gió bụi từ hướng tây thổi đến, nên đóng các cửa sổ hướng tây. Nếu có gió bụi từ hướng bắc thổi đến, nên đóng các cửa sổ hướng bắc. Nếu có gió bụi từ hướng nam thổi đến, nên đóng các cửa sổ hướng nam. Nếu là mùa lạnh, ban ngày nên mở các cửa sổ, ban đêm nên đóng lại. Nếu là mùa nóng, ban ngày nên đóng các cửa sổ, ban đêm nên mở ra.
Sace pariveṇaṁ uklāpaṁ hoti, pariveṇaṁ sammajjitabbaṁ. Sace koṭṭhako uklāpo hoti, koṭṭhako sammajjitabbo. Sace upaṭṭhānasālā uklāpā hoti, upaṭṭhānasālā sammajjitabbā. Sace aggisālā uklāpā hoti, aggisālā sammajjitabbā. Sace vaccakuṭi uklāpā hoti, vaccakuṭi sammajjitabbā. Sace pānīyaṁ na hoti, pānīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ. Sace paribhojanīyaṁ na hoti, paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ. Sace ācamanakumbhiyā udakaṁ na hoti, ācamanakumbhiyā udakaṁ āsiñcitabbaṁ.
If the yard is dirty, he should sweep it. If the gatehouse is dirty, he should sweep it. If the assembly hall is dirty, he should sweep it. If the water-boiling shed is dirty, he should sweep it. If the restroom is dirty, he should sweep it. If there is no water for drinking, he should get some. If there is no water for washing, he should get some. If there is no water in the restroom ablutions pot, he should fill it.
“Nếu khuôn viên bị dơ bẩn, nên quét dọn khuôn viên. Nếu cổng ra vào bị dơ bẩn, nên quét dọn cổng ra vào. Nếu nhà hội họp bị dơ bẩn, nên quét dọn nhà hội họp. Nếu nhà bếp bị dơ bẩn, nên quét dọn nhà bếp. Nếu nhà vệ sinh bị dơ bẩn, nên quét dọn nhà vệ sinh. Nếu không có nước uống, nên chuẩn bị sẵn nước uống. Nếu không có nước dùng, nên chuẩn bị sẵn nước dùng. Nếu trong lu nước rửa không có nước, nên đổ nước vào lu nước rửa.
Sace upajjhāyassa anabhirati uppannā hoti, saddhivihārikena vūpakāsetabbo, vūpakāsāpetabbo, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace upajjhāyassa kukkuccaṁ uppannaṁ hoti, saddhivihārikena vinodetabbaṁ, vinodāpetabbaṁ, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace upajjhāyassa diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti, saddhivihārikena vivecetabbaṁ, vivecāpetabbaṁ, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace upajjhāyo garudhammaṁ ajjhāpanno hoti parivāsāraho, saddhivihārikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho upajjhāyassa parivāsaṁ dadeyyāti. Sace upajjhāyo mūlāyapaṭikassanāraho hoti, saddhivihārikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho upajjhāyaṁ mūlāya paṭikasseyyāti. Sace upajjhāyo mānattāraho hoti, saddhivihārikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho upajjhāyassa mānattaṁ dadeyyāti. Sace upajjhāyo abbhānāraho hoti, saddhivihārikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho upajjhāyaṁ abbheyyāti.
Sace saṅgho upajjhāyassa kammaṁ kattukāmo hoti tajjanīyaṁ vā niyassaṁ vā pabbājanīyaṁ vā paṭisāraṇīyaṁ vā ukkhepanīyaṁ vā, saddhivihārikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho upajjhāyassa kammaṁ na kareyya lahukāya vā pariṇāmeyyāti. Kataṁ vā panassa hoti saṅghena kammaṁ tajjanīyaṁ vā niyassaṁ vā pabbājanīyaṁ vā paṭisāraṇīyaṁ vā ukkhepanīyaṁ vā, saddhivihārikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho upajjhāyo sammā vatteyya, lomaṁ pāteyya, netthāraṁ vatteyya, saṅgho taṁ kammaṁ paṭippassambheyyāti.
If the preceptor becomes discontent with the spiritual life, the student should send him away or have him sent away, or he should give him a teaching. If the preceptor becomes anxious, the student should dispel it or have it dispelled, or he should give him a teaching. If the preceptor has wrong view, the student should make him give it up or have someone else do it, or he should give him a teaching. If the preceptor has committed a heavy offense and deserves probation, the student should try to get the Sangha to give it to him. If the preceptor has committed a heavy offense and deserves to be sent back to the beginning, the student should try to get the Sangha to do it. If the preceptor has committed a heavy offense and deserves the trial period, the student should try to get the Sangha to give it to him. If the preceptor has committed a heavy offense and deserves rehabilitation, the student should try to get the Sangha to give it to him.
If the Sangha wants to do a legal procedure against his preceptor—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection—the student should make an effort to stop it or to reduce the penalty. But if the Sangha has already done a legal procedure against his preceptor—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection—the student should help the preceptor conduct himself properly and suitably so as to deserve to be released, and try to get the Sangha to lift that procedure.
Nếu vị đồng trú không hoan hỷ, vị thầy tế độ nên đưa đi nơi khác, hoặc nhờ người đưa đi, hoặc nên thuyết pháp cho vị ấy. Nếu vị đồng trú có sự hối tiếc sanh khởi, vị thầy tế độ nên làm cho tiêu tan, hoặc nhờ người làm cho tiêu tan, hoặc nên thuyết pháp cho vị ấy. Nếu vị đồng trú có tà kiến sanh khởi, vị thầy tế độ nên làm cho từ bỏ, hoặc nhờ người làm cho từ bỏ, hoặc nên thuyết pháp cho vị ấy. Nếu vị đồng trú đã phạm tội nặng và đáng bị biệt trú, vị thầy tế độ nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng có thể ban hành biệt trú cho vị đồng trú?’ Nếu vị đồng trú đáng bị phạt trở lại từ đầu, vị thầy tế độ nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng có thể phạt vị đồng trú trở lại từ đầu?’ Nếu vị đồng trú đáng chịu hành phạt, vị thầy tế độ nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng có thể ban hành hành phạt cho vị đồng trú?’ Nếu vị đồng trú đáng được giải tội, vị thầy tế độ nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng có thể giải tội cho vị đồng trú?’ Nếu Tăng chúng có ý định thi hành một nghiệp sự đối với vị đồng trú, hoặc là khiển trách, hoặc là y chỉ, hoặc là trục xuất, hoặc là sám hối, hoặc là đình chỉ, vị thầy tế độ nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng không thi hành nghiệp sự đối với vị đồng trú, hoặc có thể giảm nhẹ đi?’ Hoặc giả, Tăng chúng đã thi hành nghiệp sự đối với vị ấy, hoặc là khiển trách, hoặc là y chỉ, hoặc là trục xuất, hoặc là sám hối, hoặc là đình chỉ, vị thầy tế độ nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để vị đồng trú có thể hành xử đúng đắn, từ bỏ lòng kiêu mạn, thực hành để được phục hồi, và Tăng chúng có thể thu hồi nghiệp sự ấy?’
Sace upajjhāyassa cīvaraṁ dhovitabbaṁ hoti, saddhivihārikena dhovitabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho upajjhāyassa cīvaraṁ dhoviyethāti. Sace upajjhāyassa cīvaraṁ kātabbaṁ hoti, saddhivihārikena kātabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho upajjhāyassa cīvaraṁ kariyethāti. Sace upajjhāyassa rajanaṁ pacitabbaṁ hoti, saddhivihārikena pacitabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho upajjhāyassa rajanaṁ paciyethāti. Sace upajjhāyassa cīvaraṁ rajitabbaṁ hoti, saddhivihārikena rajitabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho upajjhāyassa cīvaraṁ rajiyethāti. Cīvaraṁ rajantena sādhukaṁ samparivattakaṁ samparivattakaṁ rajitabbaṁ, na ca acchinne theve pakkamitabbaṁ.
Na upajjhāyaṁ anāpucchā ekaccassa patto dātabbo, na ekaccassa patto paṭiggahetabbo; na ekaccassa cīvaraṁ dātabbaṁ, na ekaccassa cīvaraṁ paṭiggahetabbaṁ; na ekaccassa parikkhāro dātabbo, na ekaccassa parikkhāro paṭiggahetabbo; na ekaccassa kesā chedetabbā, na ekaccena kesā chedāpetabbā; na ekaccassa parikammaṁ kātabbaṁ, na ekaccena parikammaṁ kārāpetabbaṁ; na ekaccassa veyyāvacco kātabbo, na ekaccena veyyāvacco kārāpetabbo; na ekaccassa pacchāsamaṇena hotabbaṁ, na ekacco pacchāsamaṇo ādātabbo; na ekaccassa piṇḍapāto nīharitabbo, na ekaccena piṇḍapāto nīharāpetabbo; na upajjhāyaṁ anāpucchā gāmo pavisitabbo; na susānaṁ gantabbaṁ; na disā pakkamitabbā. Sace upajjhāyo gilāno hoti, yāvajīvaṁ upaṭṭhātabbo; vuṭṭhānamassa āgametabban”ti.
Upajjhāyavattaṁ niṭṭhitaṁ.
“Upajjhāyena, bhikkhave, saddhivihārikamhi sammā vattitabbaṁ. Tatrāyaṁ sammāvattanā—
Upajjhāyena, bhikkhave, saddhivihāriko saṅgahetabbo anuggahetabbo uddesena paripucchāya ovādena anusāsaniyā. Sace upajjhāyassa patto hoti, saddhivihārikassa patto na hoti, upajjhāyena saddhivihārikassa patto dātabbo, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho saddhivihārikassa patto uppajjiyethāti. Sace upajjhāyassa cīvaraṁ hoti, saddhivihārikassa cīvaraṁ na hoti, upajjhāyena saddhivihārikassa cīvaraṁ dātabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho saddhivihārikassa cīvaraṁ uppajjiyethāti. Sace upajjhāyassa parikkhāro hoti, saddhivihārikassa parikkhāro na hoti, upajjhāyena saddhivihārikassa parikkhāro dātabbo, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho saddhivihārikassa parikkhāro uppajjiyethāti.
Sace saddhivihāriko gilāno hoti, kālasseva uṭṭhāya dantakaṭṭhaṁ dātabbaṁ, mukhodakaṁ dātabbaṁ, āsanaṁ paññapetabbaṁ. Sace yāgu hoti, bhājanaṁ dhovitvā yāgu upanāmetabbā. Yāguṁ pītassa udakaṁ datvā bhājanaṁ paṭiggahetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena dhovitvā paṭisāmetabbaṁ. Saddhivihārikamhi vuṭṭhite āsanaṁ uddharitabbaṁ. Sace so deso uklāpo hoti, so deso sammajjitabbo.
Sace saddhivihāriko gāmaṁ pavisitukāmo hoti, nivāsanaṁ dātabbaṁ, paṭinivāsanaṁ paṭiggahetabbaṁ, kāyabandhanaṁ dātabbaṁ, saguṇaṁ katvā saṅghāṭiyo dātabbā, dhovitvā patto sodako dātabbo. Ettāvatā nivattissatīti āsanaṁ paññapetabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipitabbaṁ, paccuggantvā pattacīvaraṁ paṭiggahetabbaṁ, paṭinivāsanaṁ dātabbaṁ, nivāsanaṁ paṭiggahetabbaṁ. Sace cīvaraṁ sinnaṁ hoti, muhuttaṁ uṇhe otāpetabbaṁ, na ca uṇhe cīvaraṁ nidahitabbaṁ; cīvaraṁ saṅgharitabbaṁ, cīvaraṁ saṅgharantena caturaṅgulaṁ kaṇṇaṁ ussāretvā cīvaraṁ saṅgharitabbaṁ—mā majjhe bhaṅgo ahosīti. Obhoge kāyabandhanaṁ kātabbaṁ.
Sace piṇḍapāto hoti, saddhivihāriko ca bhuñjitukāmo hoti, udakaṁ datvā piṇḍapāto upanāmetabbo. Saddhivihāriko pānīyena pucchitabbo. Bhuttāvissa udakaṁ datvā pattaṁ paṭiggahetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena dhovitvā vodakaṁ katvā muhuttaṁ uṇhe otāpetabbo, na ca uṇhe patto nidahitabbo. Pattacīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Pattaṁ nikkhipantena ekena hatthena pattaṁ gahetvā ekena hatthena heṭṭhāmañcaṁ vā heṭṭhāpīṭhaṁ vā parāmasitvā patto nikkhipitabbo. Na ca anantarahitāya bhūmiyā patto nikkhipitabbo. Cīvaraṁ nikkhipantena ekena hatthena cīvaraṁ gahetvā ekena hatthena cīvaravaṁsaṁ vā cīvararajjuṁ vā pamajjitvā pārato antaṁ orato bhogaṁ katvā cīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Saddhivihārikamhi vuṭṭhite āsanaṁ uddharitabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ paṭisāmetabbaṁ. Sace so deso uklāpo hoti, so deso sammajjitabbo.
Sace saddhivihāriko nahāyitukāmo hoti, nahānaṁ paṭiyādetabbaṁ. Sace sītena attho hoti, sītaṁ paṭiyādetabbaṁ. Sace uṇhena attho hoti, uṇhaṁ paṭiyādetabbaṁ.
If the preceptor’s robe needs washing, the student should do it himself, or he should make an effort to get it done. If the preceptor needs a robe, the student should make one himself, or he should make an effort to get one made. If the preceptor needs dye, the student should make it himself, or he should make an effort to get it made. If the preceptor’s robe needs dyeing, the student should do it himself, or he should make an effort to get it done. When he’s dyeing the robe, he should carefully and repeatedly turn it over, and shouldn’t go away while it’s still dripping.
Without asking his preceptor for permission, he shouldn’t do any of the following: give away or receive a bowl; give away or receive a robe; give away or receive a requisite; cut anyone’s hair or have it cut; provide assistance to anyone or have assistance provided by anyone; do a service for anyone or get a service done by anyone; be the attendant monk for anyone or take anyone as his attendant monk; bring back almsfood for anyone or get almsfood brought back by anyone; enter the village, go to the charnel ground, or leave for another region. If his preceptor is sick, he should nurse him for as long as he lives, or he should wait until he’s recovered.”
The proper conduct toward the preceptor is finished.
“And a preceptor should conduct himself properly toward his student. This is the proper conduct:
A preceptor should help and take care of his student through recitation, questioning, and instruction. If the preceptor has a bowl, but not the student, the preceptor should give it to him, or he should make an effort to get him one. If the preceptor has a robe, but not the student, the preceptor should give it to him, or he should make an effort to get him one. If the preceptor has a requisite, but not the student, the preceptor should give it to him, or he should make an effort to get him one.
If the student is sick, the preceptor should get up at the appropriate time and give his student a tooth cleaner and water for rinsing the mouth, and he should prepare a seat for him. If there is congee, he should rinse a vessel and bring the congee to his student. When he has drunk the congee, the preceptor should give him water and receive the vessel. Holding it low, he should wash it carefully without scratching it and then put it away. When the student has gotten up, the preceptor should put away the seat. If the place is dirty, he should sweep it.
If the student wants to enter the village, the preceptor should give him a sarong and receive the one he’s wearing in return. He should give him a belt. He should put the upper robes together, overlapping each other edge-to-edge, and then give them to him. He should rinse his student’s bowl and give it to him while wet. Before he’s due back, the preceptor should prepare a seat and set out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He should go out to meet the student and receive his bowl and robe. He should give him a sarong and receive the one he’s wearing in return. If the robe is damp, he should sun it for a short while, but shouldn’t leave it in the heat. He should fold the robe, offsetting the edges by seven centimeters, so that the fold doesn’t become worn. He should place the belt in the fold.
If there is almsfood and his student wants to eat, the preceptor should give him water and then the almsfood. He should ask his student if he wants water to drink. When the student has eaten, the preceptor should give him water and receive his bowl. Holding it low, he should wash it carefully without scratching it. He should then dry it and sun it for a short while, but shouldn’t leave it in the heat. The preceptor should put away the robe and bowl. When putting away the bowl, he should hold the bowl in one hand, feel under the bed or the bench with the other, and then put it away. He shouldn’t put the bowl away on the bare floor. When putting away the robe, he should hold the robe in one hand, wipe the bamboo robe rack or the clothesline with the other, and then put it away by folding the robe over it, making the ends face the wall and the fold face out. When the student has gotten up, the preceptor should put away the seat and also the foot stool, the foot scraper, and the water for washing the feet. If the place is dirty, he should sweep it.
If the student wants to bathe, the preceptor should prepare a bath. If he wants a cold bath, he should prepare that; if he wants a hot bath, he should prepare that.
Nếu y của vị đồng trú cần được giặt, vị thầy tế độ nên chỉ bảo rằng: ‘Nên giặt như thế này,’ hoặc nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để y của vị đồng trú có thể được giặt?’ Nếu y của vị đồng trú cần được may, vị thầy tế độ nên chỉ bảo rằng: ‘Nên may như thế này,’ hoặc nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để y của vị đồng trú có thể được may?’ Nếu thuốc nhuộm cho vị đồng trú cần được nấu, vị thầy tế độ nên chỉ bảo rằng: ‘Nên nấu như thế này,’ hoặc nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm cho vị đồng trú có thể được nấu?’ Nếu y của vị đồng trú cần được nhuộm, vị thầy tế độ nên chỉ bảo rằng: ‘Nên nhuộm như thế này,’ hoặc nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để y của vị đồng trú có thể được nhuộm?’ Khi nhuộm y, nên nhuộm cho kỹ, lật qua lật lại. Và không nên rời đi khi thuốc nhuộm chưa ráo. Nếu vị đồng trú bị bệnh, nên chăm sóc cho đến trọn đời, nên chờ đợi cho đến khi vị ấy bình phục.
Sace saddhivihāriko jantāgharaṁ pavisitukāmo hoti, cuṇṇaṁ sannetabbaṁ, mattikā temetabbā, jantāgharapīṭhaṁ ādāya gantvā jantāgharapīṭhaṁ datvā cīvaraṁ paṭiggahetvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ, cuṇṇaṁ dātabbaṁ, mattikā dātabbā. Sace ussahati, jantāgharaṁ pavisitabbaṁ. Jantāgharaṁ pavisantena mattikāya mukhaṁ makkhetvā purato ca pacchato ca paṭicchādetvā jantāgharaṁ pavisitabbaṁ. Na there bhikkhū anupakhajja nisīditabbaṁ. Na navā bhikkhū āsanena paṭibāhitabbā. Jantāghare saddhivihārikassa parikammaṁ kātabbaṁ. Jantāgharā nikkhamantena jantāgharapīṭhaṁ ādāya purato ca pacchato ca paṭicchādetvā jantāgharā nikkhamitabbaṁ.
Udakepi saddhivihārikassa parikammaṁ kātabbaṁ. Nahātena paṭhamataraṁ uttaritvā attano gattaṁ vodakaṁ katvā nivāsetvā saddhivihārikassa gattato udakaṁ pamajjitabbaṁ, nivāsanaṁ dātabbaṁ, saṅghāṭi dātabbā. Jantāgharapīṭhaṁ ādāya paṭhamataraṁ āgantvā āsanaṁ paññapetabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipitabbaṁ. Saddhivihāriko pānīyena pucchitabbo.
Yasmiṁ vihāre saddhivihāriko viharati, sace so vihāro uklāpo hoti, sace ussahati, sodhetabbo. Vihāraṁ sodhentena paṭhamaṁ pattacīvaraṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; nisīdanapaccattharaṇaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; bhisibibbohanaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; mañco nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbo; pīṭhaṁ nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; mañcapaṭipādakā nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbā; kheḷamallako nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbo; apassenaphalakaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; bhūmattharaṇaṁ yathāpaññattaṁ sallakkhetvā nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ. Sace vihāre santānakaṁ hoti, ullokā paṭhamaṁ ohāretabbaṁ, ālokasandhikaṇṇabhāgā pamajjitabbā. Sace gerukaparikammakatā bhitti kaṇṇakitā hoti, coḷakaṁ temetvā pīḷetvā pamajjitabbā. Sace kāḷavaṇṇakatā bhūmi kaṇṇakitā hoti, coḷakaṁ temetvā pīḷetvā pamajjitabbā. Sace akatā hoti bhūmi, udakena paripphositvā sammajjitabbā—mā vihāro rajena uhaññīti. Saṅkāraṁ vicinitvā ekamantaṁ chaḍḍetabbaṁ.
Bhūmattharaṇaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Mañcapaṭipādakā otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbā. Mañco otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbo. Pīṭhaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Bhisibibbohanaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Nisīdanapaccattharaṇaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Kheḷamallako otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbo. Apassenaphalakaṁ otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbaṁ. Pattacīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Pattaṁ nikkhipantena ekena hatthena pattaṁ gahetvā ekena hatthena heṭṭhāmañcaṁ vā heṭṭhāpīṭhaṁ vā parāmasitvā patto nikkhipitabbo. Na ca anantarahitāya bhūmiyā patto nikkhipitabbo. Cīvaraṁ nikkhipantena ekena hatthena cīvaraṁ gahetvā ekena hatthena cīvaravaṁsaṁ vā cīvararajjuṁ vā pamajjitvā pārato antaṁ orato bhogaṁ katvā cīvaraṁ nikkhipitabbaṁ.
Sace puratthimā sarajā vātā vāyanti, puratthimā vātapānā thaketabbā. Sace pacchimā sarajā vātā vāyanti, pacchimā vātapānā thaketabbā. Sace uttarā sarajā vātā vāyanti, uttarā vātapānā thaketabbā. Sace dakkhiṇā sarajā vātā vāyanti, dakkhiṇā vātapānā thaketabbā. Sace sītakālo hoti, divā vātapānā vivaritabbā, rattiṁ thaketabbā. Sace uṇhakālo hoti, divā vātapānā thaketabbā, rattiṁ vivaritabbā.
Sace pariveṇaṁ uklāpaṁ hoti, pariveṇaṁ sammajjitabbaṁ. Sace koṭṭhako uklāpo hoti, koṭṭhako sammajjitabbo. Sace upaṭṭhānasālā uklāpā hoti, upaṭṭhānasālā sammajjitabbā. Sace aggisālā uklāpā hoti, aggisālā sammajjitabbā. Sace vaccakuṭi uklāpā hoti, vaccakuṭi sammajjitabbā. Sace pānīyaṁ na hoti, pānīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ. Sace paribhojanīyaṁ na hoti, paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ. Sace ācamanakumbhiyā udakaṁ na hoti, ācamanakumbhiyā udakaṁ āsiñcitabbaṁ.
Sace saddhivihārikassa anabhirati uppannā hoti, upajjhāyena vūpakāsetabbo, vūpakāsāpetabbo, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace saddhivihārikassa kukkuccaṁ uppannaṁ hoti, upajjhāyena vinodetabbaṁ, vinodāpetabbaṁ, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace saddhivihārikassa diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti, upajjhāyena vivecetabbaṁ, vivecāpetabbaṁ, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace saddhivihāriko garudhammaṁ ajjhāpanno hoti parivāsāraho, upajjhāyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho saddhivihārikassa parivāsaṁ dadeyyāti. Sace saddhivihāriko mūlāyapaṭikassanāraho hoti, upajjhāyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho saddhivihārikaṁ mūlāya paṭikasseyyāti. Sace saddhivihāriko mānattāraho hoti, upajjhāyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho saddhivihārikassa mānattaṁ dadeyyāti. Sace saddhivihāriko abbhānāraho hoti, upajjhāyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho saddhivihārikaṁ abbheyyāti.
Sace saṅgho saddhivihārikassa kammaṁ kattukāmo hoti, tajjanīyaṁ vā niyassaṁ vā pabbājanīyaṁ vā paṭisāraṇīyaṁ vā ukkhepanīyaṁ vā, upajjhāyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho saddhivihārikassa kammaṁ na kareyya, lahukāya vā pariṇāmeyyāti. Kataṁ vā panassa hoti saṅghena kammaṁ, tajjanīyaṁ vā niyassaṁ vā pabbājanīyaṁ vā paṭisāraṇīyaṁ vā ukkhepanīyaṁ vā, upajjhāyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saddhivihāriko sammā vatteyya, lomaṁ pāteyya, netthāraṁ vatteyya, saṅgho taṁ kammaṁ paṭippassambheyyāti.
If the student wants to take a sauna, the preceptor should knead bath powder, moisten the clay, take a sauna bench, and go to the sauna. After giving the student the sauna bench, receiving his robe, and putting it aside, he should give him the bath powder and the clay. If he’s able, he should enter the sauna. When entering the sauna, he should smear his face with clay, cover himself front and back, and then enter. He shouldn’t sit encroaching on the senior monks, and he shouldn’t block the junior monks from getting a seat. While in the sauna, he should provide assistance to his student. When leaving the sauna, he should take the sauna bench, cover himself front and back, and then leave.
The preceptor should also provide assistance to his student in the water. When the preceptor has bathed, he should be the first to come out. He should dry himself and put on his sarong. He should then wipe the water off his student’s body, and he should give him his sarong and then his upper robe. Taking the sauna bench, he should be the first to return. He should prepare a seat, and also set out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He should ask his student if he wants water to drink.
If the dwelling where the student is staying is dirty, the preceptor should clean it if he’s able. When he’s cleaning the dwelling, he should first take out the bowl and robe and put them aside. He should take out the sitting mat and the sheet and put them aside. He should take out the mattress and the pillow and put them aside. Holding the bed low, he should carefully take it out without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it aside. Holding the bench low, he should carefully take it out without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it aside. He should take out the bed supports and put them aside. He should take out the spittoon and put it aside. He should take out the leaning board and put it aside. After taking note of its position, he should take out the floor cover and put it aside. If the dwelling has cobwebs, he should first remove them from the ceiling cloth, and he should then wipe the windows and the corners of the room. If the walls have been treated with red ocher and they’re moldy, he should moisten a cloth, wring it out, and wipe the walls. If the floor has been treated with a black finish and it’s moldy, he should moisten a cloth, wring it out, and wipe the floor. If the floor is untreated, he should sprinkle it with water and then sweep it, trying to avoid stirring up dust. He should look out for any trash and discard it.
He should sun the floor cover, clean it, beat it, bring it back inside, and put it back as before. He should sun the bed supports, wipe them, bring them back inside, and put them back where they were. He should sun the bed, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the bench, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the mattress and the pillow, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the sitting mat and the sheet, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the spittoon, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should sun the leaning board, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should put away the bowl and robe. When putting away the bowl, he should hold the bowl in one hand, feel under the bed or the bench with the other, and then put it away. He shouldn’t put the bowl away on the bare floor. When putting away the robe, he should hold the robe in one hand, wipe the bamboo robe rack or the clothesline with the other, and then put it away by folding the robe over it, making the ends face the wall and the fold face out.
If dusty winds are blowing from the east, he should close the windows on the eastern side. If dusty winds are blowing from the west, he should close the windows on the western side. If dusty winds are blowing from the north, he should close the windows on the northern side. If dusty winds are blowing from the south, he should close the windows on the southern side. If the weather is cold, he should open the windows during the day and close them at night. If the weather is hot, he should close the windows during the day and open them at night.
If the yard is dirty, he should sweep it. If the gatehouse is dirty, he should sweep it. If the assembly hall is dirty, he should sweep it. If the water-boiling shed is dirty, he should sweep it. If the restroom is dirty, he should sweep it. If there is no water for drinking, he should get some. If there is no water for washing, he should get some. If there is no water in the restroom ablutions pot, he should fill it.
If the student becomes discontent with the spiritual life, the preceptor should send him away or have him sent away, or he should give him a teaching. If the student becomes anxious, the preceptor should dispel it or have it dispelled, or he should give him a teaching. If the student has wrong view, the preceptor should make him give it up or have someone else do it, or he should give him a teaching. If the student has committed a heavy offense and deserves probation, the preceptor should try to get the Sangha to give it to him. If the student has committed a heavy offense and deserves to be sent back to the beginning, the preceptor should try to get the Sangha to do it. If the student has committed a heavy offense and deserves the trial period, the preceptor should try to get the Sangha to give it to him. If the student has committed a heavy offense and deserves rehabilitation, the preceptor should try to get the Sangha to give it to him.
If the Sangha wants to do a legal procedure against his student—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection—the preceptor should make an effort to stop it or to reduce the penalty. But if the Sangha has already done a legal procedure against his student—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection—the preceptor should help the student conduct himself properly and suitably so as to deserve to be released, and try to get the Sangha to lift that procedure.
“Nếu vị đệ tử sống cùng muốn vào nhà xông hơi, nên trộn bột tắm, nên làm ẩm đất sét, nên lấy ghế của nhà xông hơi đi đến, sau khi đưa ghế của nhà xông hơi, nên nhận lấy y, rồi đặt ở một nơi thích hợp; nên đưa bột tắm, nên đưa đất sét. Nếu có thể, nên vào nhà xông hơi. Vị vào nhà xông hơi nên thoa đất sét lên mặt, che phía trước và phía sau, rồi nên vào nhà xông hơi. Không nên ngồi chen lấn các vị tỳ khưu trưởng lão, không nên cản chỗ ngồi của các vị tỳ khưu mới. Ở trong nhà xông hơi, nên làm công việc phục vụ cho vị đệ tử sống cùng. Vị đi ra khỏi nhà xông hơi nên lấy ghế của nhà xông hơi, che phía trước và phía sau, rồi nên đi ra khỏi nhà xông hơi.
Sace saddhivihārikassa cīvaraṁ dhovitabbaṁ hoti, upajjhāyena ācikkhitabbaṁ evaṁ dhoveyyāsīti, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho saddhivihārikassa cīvaraṁ dhoviyethāti. Sace saddhivihārikassa cīvaraṁ kātabbaṁ hoti, upajjhāyena ācikkhitabbaṁ evaṁ kareyyāsīti, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho saddhivihārikassa cīvaraṁ kariyethāti. Sace saddhivihārikassa rajanaṁ pacitabbaṁ hoti, upajjhāyena ācikkhitabbaṁ evaṁ paceyyāsīti, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho saddhivihārikassa rajanaṁ paciyethāti. Sace saddhivihārikassa cīvaraṁ rajitabbaṁ hoti, upajjhāyena ācikkhitabbaṁ, evaṁ rajeyyāsīti, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho saddhivihārikassa cīvaraṁ rajiyethāti. Cīvaraṁ rajantena sādhukaṁ samparivattakaṁ samparivattakaṁ rajitabbaṁ. Na ca acchinne theve pakkamitabbaṁ. Sace saddhivihāriko gilāno hoti, yāvajīvaṁ upaṭṭhātabbo, vuṭṭhānamassa āgametabban”ti.
Saddhivihārikavattaṁ niṭṭhitaṁ.
Tena kho pana samayena saddhivihārikā upajjhāyesu na sammā vattanti.
If the student’s robe needs washing, the preceptor should show him how to do it, or he should make an effort to get it done. If the student needs a robe, the preceptor should show him how to make one, or he should make an effort to get one made. If the student needs dye, the preceptor should show him how to make it, or he should make an effort to get it made. If the student’s robe needs dyeing, the preceptor should show him how to do it, or he should make an effort to get it done. When he’s dyeing the robe, he should carefully and repeatedly turn it over, and shouldn’t go away while it’s still dripping. If his student is sick, he should nurse him for as long as he lives, or he should wait until he’s recovered.”
The proper conduct toward a student is finished.
On a later occasion the students did not conduct themselves properly toward their preceptors.
Nếu y của đệ tử thân cận cần được giặt, vị thầy nên chỉ bảo: ‘Nên giặt như thế này,’ hoặc nên nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của đệ tử thân cận có thể được giặt?’ Nếu y của đệ tử thân cận cần được may, vị thầy nên chỉ bảo: ‘Nên may như thế này,’ hoặc nên nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của đệ tử thân cận có thể được may?’ Nếu thuốc nhuộm của đệ tử thân cận cần được nấu, vị thầy nên chỉ bảo: ‘Nên nấu như thế này,’ hoặc nên nỗ lực: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm của đệ tử thân cận có thể được nấu?’ Nếu y của đệ tử thân cận cần được nhuộm, vị thầy nên chỉ bảo: ‘Nên nhuộm như thế này,’ hoặc nên nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của đệ tử thân cận có thể được nhuộm?’ Khi nhuộm y, nên nhuộm một cách kỹ lưỡng, lật qua lật lại, và không nên rời đi khi thuốc nhuộm còn đang nhỏ giọt. Nếu đệ tử thân cận bị bệnh, nên chăm sóc suốt đời, và nên chờ đợi sự bình phục của vị ấy.
“saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma, bhikkhave, saddhivihārikā upajjhāyesu na sammā vattissantīti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, saddhivihārikena upajjhāyamhi na sammā vattitabbaṁ. Yo na sammā vatteyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Neva sammā vattanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, asammāvattantaṁ paṇāmetuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, paṇāmetabbo—‘paṇāmemi tan’ti vā, ‘māyidha paṭikkamī’ti vā, ‘nīhara te pattacīvaran’ti vā, ‘nāhaṁ tayā upaṭṭhātabbo’ti vā, kāyena viññāpeti, vācāya viññāpeti, kāyena vācāya viññāpeti, paṇāmito hoti saddhivihāriko; na kāyena viññāpeti, na vācāya viññāpeti, na kāyena vācāya viññāpeti, na paṇāmito hoti saddhivihāriko”ti.
Tena kho pana samayena saddhivihārikā paṇāmitā na khamāpenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, khamāpetun”ti.
Neva khamāpenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, paṇāmitena na khamāpetabbo. Yo na khamāpeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Tena kho pana samayena upajjhāyā khamāpiyamānā na khamanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, khamitun”ti.
Neva khamanti. Saddhivihārikā pakkamantipi vibbhamantipi titthiyesupi saṅkamanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
Na, bhikkhave, khamāpiyamānena na khamitabbaṁ. Yo na khameyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Tena kho pana samayena upajjhāyā sammāvattantaṁ paṇāmenti, asammāvattantaṁ na paṇāmenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, sammāvattanto paṇāmetabbo. Yo paṇāmeyya, āpatti dukkaṭassa.
Na ca, bhikkhave, asammāvattanto na paṇāmetabbo. Yo na paṇāmeyya, āpatti dukkaṭassāti.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato saddhivihāriko paṇāmetabbo. Upajjhāyamhi nādhimattaṁ pemaṁ hoti, nādhimatto pasādo hoti, nādhimattā hirī hoti, nādhimatto gāravo hoti, nādhimattā bhāvanā hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgato saddhivihāriko paṇāmetabbo.
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “How can students not conduct themselves properly toward their preceptors?” … After rebuking them … he gave a teaching and addressed the monks:
“A student should conduct himself properly toward his preceptor. If he doesn’t, he commits an offense of wrong conduct.”
They still did not conduct themselves properly. They told the Buddha.
“You should dismiss one who doesn’t conduct himself properly.
And this is how he should be dismissed. If the preceptor conveys the following by body, by speech, or by body and speech: ‘I dismiss you;’ ‘Don’t come back here;’ ‘Remove your bowl and robe;’ or, ‘You shouldn’t attend on me’—then the student has been dismissed. If he doesn’t convey this by body, by speech, or by body and speech, then the student hasn’t been dismissed.”
Students who had been dismissed did not ask for forgiveness. They told the Buddha.
“You should ask for forgiveness.”
They still did not ask for forgiveness. They told the Buddha.
“One who has been dismissed should ask for forgiveness. If he doesn’t, he commits an offense of wrong conduct.”
Preceptors who were asked for forgiveness did not forgive. They told the Buddha.
“You should forgive.”
They still did not forgive. The students left, disrobed, and joined the monastics of other religions. They told the Buddha.
“When asked for forgiveness, you should forgive. If you don’t, you commit an offense of wrong conduct.”
Preceptors dismissed students who were conducting themselves properly and did not dismiss those who were not. They told the Buddha.
“You shouldn’t dismiss someone who is conducting himself properly. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
And you should dismiss someone who isn’t conducting himself properly. If you don’t, you commit an offense of wrong conduct.
If a student has five qualities, he should be dismissed: he doesn’t have much affection for his preceptor; he doesn’t have much confidence in his preceptor; he doesn’t have much conscience in regard to his preceptor; he doesn’t have much respect for his preceptor; he hasn’t developed his mind much under his preceptor.
82. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu (nghĩ rằng): “Chúng tôi đã đủ mười hạ, chúng tôi đã đủ mười hạ” rồi trong khi là người ngu dốt, không thành thạo đã trao sự nương nhờ. Đã có những trường hợp được thấy là các vị thầy giáo thọ thì ngu dốt, các vị đệ tử sống chung thì sáng suốt. Đã có những trường hợp được thấy là các vị thầy giáo thọ thì không thành thạo, các vị đệ tử sống chung thì thành thạo. Đã có những trường hợp được thấy là các vị thầy giáo thọ thì ít nghe, các vị đệ tử sống chung thì nghe nhiều. Đã có những trường hợp được thấy là các vị thầy giáo thọ thì có trí tuệ thấp kém, các vị đệ tử sống chung thì có trí tuệ. Các vị tỳ khưu thiểu dục ... họ đã phàn nàn, chê bai, nói rộng ra rằng: “Tại sao các tỳ khưu (nghĩ rằng): ‘Chúng tôi đã đủ mười hạ, chúng tôi đã đủ mười hạ’ rồi trong khi là người ngu dốt, không thành thạo lại trao sự nương nhờ? Đã có những trường hợp được thấy là các vị thầy giáo thọ thì ngu dốt, các vị đệ tử sống chung thì sáng suốt; đã có những trường hợp được thấy là các vị thầy giáo thọ thì không thành thạo, các vị đệ tử sống chung thì thành thạo; đã có những trường hợp được thấy là các vị thầy giáo thọ thì ít nghe, các vị đệ tử sống chung thì nghe nhiều; đã có những trường hợp được thấy là các vị thầy giáo thọ thì có trí tuệ thấp kém, các vị đệ tử sống chung thì có trí tuệ.” Sau đó, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... “Này các tỳ khưu, có thật chăng việc các tỳ khưu (nghĩ rằng): ‘Chúng tôi đã đủ mười hạ, chúng tôi đã đủ mười hạ’ rồi trong khi là người ngu dốt, không thành thạo đã trao sự nương nhờ ...?” – “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật, đấng Thế Tôn, đã khiển trách ... sau khi khiển trách ... sau khi thuyết pháp thoại đã bảo các tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu, vị (tỳ khưu) ngu dốt, không thành thạo không nên trao sự nương nhờ. Vị nào trao, phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu thành thạo, có khả năng, đã đủ mười hạ hoặc hơn mười hạ được trao sự nương nhờ.”
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato saddhivihāriko na paṇāmetabbo. Upajjhāyamhi adhimattaṁ pemaṁ hoti, adhimatto pasādo hoti, adhimattā hirī hoti, adhimatto gāravo hoti, adhimattā bhāvanā hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgato saddhivihāriko na paṇāmetabbo.
If a student has five qualities, he shouldn’t be dismissed: he has much affection for his preceptor; he has much confidence in his preceptor; he has much conscience in regard to his preceptor; he has much respect for his preceptor; he has developed his mind much under his preceptor.
- Này các tỳ khưu, vị đệ tử sống chung hội đủ năm yếu tố thì không nên được đuổi đi. (Vị ấy) có tình thương yêu quá mức, có sự trong sạch tín thành quá mức, có sự hổ thẹn quá mức, có sự tôn trọng quá mức, có sự tu tập (từ tâm) quá mức đối với thầy tế độ. Này các tỳ khưu, vị đệ tử sống chung hội đủ năm yếu tố này thì không nên được đuổi đi.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato saddhivihāriko alaṁ paṇāmetuṁ. Upajjhāyamhi nādhimattaṁ pemaṁ hoti, nādhimatto pasādo hoti, nādhimattā hirī hoti, nādhimatto gāravo hoti, nādhimattā bhāvanā hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgato saddhivihāriko alaṁ paṇāmetuṁ.
If a student has five qualities, he deserves to be dismissed: he doesn’t have much affection for his preceptor; he doesn’t have much confidence in his preceptor; he doesn’t have much conscience in regard to his preceptor; he doesn’t have much respect for his preceptor; he hasn’t developed his mind much under his preceptor.
- Này các tỳ khưu, vị đệ tử sống chung hội đủ năm yếu tố thì thích hợp để đuổi đi. (Vị ấy) không có tình thương yêu quá mức, không có sự trong sạch tín thành quá mức, không có sự hổ thẹn quá mức, không có sự tôn trọng quá mức, không có sự tu tập (từ tâm) quá mức đối với thầy tế độ. Này các tỳ khưu, vị đệ tử sống chung hội đủ năm yếu tố này thì thích hợp để đuổi đi.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato saddhivihāriko nālaṁ paṇāmetuṁ. Upajjhāyamhi adhimattaṁ pemaṁ hoti, adhimatto pasādo hoti, adhimattā hirī hoti, adhimatto gāravo hoti, adhimattā bhāvanā hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgato saddhivihāriko nālaṁ paṇāmetuṁ.
If a student has five qualities, he doesn’t deserve to be dismissed: he has much affection for his preceptor; he has much confidence in his preceptor; he has much conscience in regard to his preceptor; he has much respect for his preceptor; he has developed his mind much under his preceptor.
- Này các tỳ khưu, vị đệ tử sống chung hội đủ năm yếu tố thì không thích hợp để đuổi đi. (Vị ấy) có tình thương yêu quá mức, có sự trong sạch tín thành quá mức, có sự hổ thẹn quá mức, có sự tôn trọng quá mức, có sự tu tập (từ tâm) quá mức đối với thầy tế độ. Này các tỳ khưu, vị đệ tử sống chung hội đủ năm yếu tố này thì không thích hợp để đuổi đi.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ saddhivihārikaṁ appaṇāmento upajjhāyo sātisāro hoti, paṇāmento anatisāro hoti. Upajjhāyamhi nādhimattaṁ pemaṁ hoti, nādhimatto pasādo hoti, nādhimattā hirī hoti, nādhimatto gāravo hoti, nādhimattā bhāvanā hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgataṁ saddhivihārikaṁ appaṇāmento upajjhāyo sātisāro hoti, paṇāmento anatisāro hoti.
If a student has five qualities, the preceptor is at fault if he doesn’t dismiss him, but not if he does: the student doesn’t have much affection for his preceptor; he doesn’t have much confidence in his preceptor; he doesn’t have much conscience in regard to his preceptor; he doesn’t have much respect for his preceptor; he hasn’t developed his mind much under his preceptor.
- Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ không đuổi đi vị đệ tử sống chung hội đủ năm yếu tố là người có lỗi, (vị thầy tế độ) đuổi đi là người không có lỗi. (Vị đệ tử ấy) không có tình thương yêu quá mức, không có sự trong sạch tín thành quá mức, không có sự hổ thẹn quá mức, không có sự tôn trọng quá mức, không có sự tu tập (từ tâm) quá mức đối với thầy tế độ. Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ không đuổi đi vị đệ tử sống chung hội đủ năm yếu tố này là người có lỗi, (vị thầy tế độ) đuổi đi là người không có lỗi.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ saddhivihārikaṁ paṇāmento upajjhāyo sātisāro hoti, appaṇāmento anatisāro hoti. Upajjhāyamhi adhimattaṁ pemaṁ hoti, adhimatto pasādo hoti, adhimattā hirī hoti, adhimatto gāravo hoti, adhimattā bhāvanā hoti—
imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgataṁ saddhivihārikaṁ paṇāmento upajjhāyo sātisāro hoti, appaṇāmento anatisāro hotī”ti.
If a student has five qualities, the preceptor is at fault if he dismisses him, but not if he doesn’t: the student has much affection for his preceptor; he has much confidence in his preceptor; he has much conscience in regard to his preceptor; he has much respect for his preceptor; he has developed his mind much under his preceptor.”
- Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ đuổi đi vị đệ tử sống chung hội đủ năm yếu tố là người có lỗi, (vị thầy tế độ) không đuổi đi là người không có lỗi. (Vị đệ tử ấy) có tình thương yêu quá mức, có sự trong sạch tín thành quá mức, có sự hổ thẹn quá mức, có sự tôn trọng quá mức, có sự tu tập (từ tâm) quá mức đối với thầy tế độ. Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ đuổi đi vị đệ tử sống chung hội đủ năm yếu tố này là người có lỗi, (vị thầy tế độ) không đuổi đi là người không có lỗi.
Tena kho pana samayena aññataro brāhmaṇo bhikkhū upasaṅkamitvā pabbajjaṁ yāci. Taṁ bhikkhū na icchiṁsu pabbājetuṁ. So bhikkhūsu pabbajjaṁ alabhamāno kiso ahosi lūkho dubbaṇṇo uppaṇḍuppaṇḍukajāto dhamanisanthatagatto. Addasā kho bhagavā taṁ brāhmaṇaṁ kisaṁ lūkhaṁ dubbaṇṇaṁ uppaṇḍuppaṇḍukajātaṁ dhamanisanthatagattaṁ, disvāna bhikkhū āmantesi—“kiṁ nu kho so, bhikkhave, brāhmaṇo kiso lūkho dubbaṇṇo uppaṇḍuppaṇḍukajāto dhamanisanthatagatto”ti? “Eso, bhante, brāhmaṇo bhikkhū upasaṅkamitvā pabbajjaṁ yāci.
Taṁ bhikkhū na icchiṁsu pabbājetuṁ. So bhikkhūsu pabbajjaṁ alabhamāno kiso lūkho dubbaṇṇo uppaṇḍuppaṇḍukajāto dhamanisanthatagatto”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—“ko nu kho, bhikkhave, tassa brāhmaṇassa adhikāraṁ sarasī”ti?
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca—“ahaṁ kho, bhante, tassa brāhmaṇassa adhikāraṁ sarāmī”ti.
“Kiṁ pana tvaṁ, sāriputta, tassa brāhmaṇassa adhikāraṁ sarasī”ti?
“Idha me, bhante, so brāhmaṇo rājagahe piṇḍāya carantassa kaṭacchubhikkhaṁ dāpesi. Imaṁ kho ahaṁ, bhante, tassa brāhmaṇassa adhikāraṁ sarāmī”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta, kataññuno hi, sāriputta, sappurisā katavedino. Tena hi tvaṁ, sāriputta, taṁ brāhmaṇaṁ pabbājehi upasampādehī”ti.
“Kathāhaṁ, bhante, taṁ brāhmaṇaṁ pabbājemi upasampādemī”ti?
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“yā sā, bhikkhave, mayā tīhi saraṇagamanehi upasampadā anuññātā, taṁ ajjatagge paṭikkhipāmi. Anujānāmi, bhikkhave, ñatticatutthena kammena upasampādetuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, upasampādetabbo. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
On one occasion a brahmin went to the monks and asked for the going forth, but the monks declined. As a result, he became thin, haggard, and pale, with veins protruding all over his body. The Buddha saw him, and he asked the monks, “Why is that brahmin looking so sickly?” They told him what had happened.
The Buddha said, “Does anyone remember any act of service from that brahmin?”
Venerable Sāriputta replied, “I do, sir.”
“What service do you remember, Sāriputta?”
“When I was walking for almsfood here in Rājagaha, that brahmin gave a ladleful of food.”
“Good, good, Sāriputta, superior people have gratitude. Well then, Sāriputta, give that brahmin the going forth and the full ordination.”
“But how should I do it?”
The Buddha then gave a teaching and addressed the monks:
“From today I rescind the full ordination through the taking of the three refuges. Instead you should give the full ordination through a legal procedure consisting of one motion and three announcements.
And the ordination should be done like this. A competent and capable monk should inform the Sangha:
69. Vào lúc bấy giờ, có người bà-la-môn nọ đi đến các tỳ khưu và xin được xuất gia. Các tỳ khưu đã không muốn cho vị ấy xuất gia. Do không được các tỳ khưu cho xuất gia, vị bà-la-môn ấy đã trở nên gầy gò, thô xấu, da dẻ xấu xí, xanh xao vàng vọt, thân nổi đầy gân. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy người bà-la-môn ấy gầy gò, thô xấu, da dẻ xấu xí, xanh xao vàng vọt, thân nổi đầy gân; sau khi nhìn thấy, ngài gọi các tỳ khưu: - Này các tỳ khưu, vì lý do gì mà người bà-la-môn kia gầy gò, thô xấu, da dẻ xấu xí, xanh xao vàng vọt, thân nổi đầy gân vậy? - Bạch ngài, người bà-la-môn này đã đi đến các tỳ khưu và xin được xuất gia. Các tỳ khưu đã không muốn cho vị ấy xuất gia. Do không được các tỳ khưu cho xuất gia, vị ấy đã trở nên gầy gò, thô xấu, da dẻ xấu xí, xanh xao vàng vọt, thân nổi đầy gân. Khi ấy, đức Thế Tôn gọi các tỳ khưu: - Này các tỳ khưu, có ai nhớ đến việc làm hữu ích của người bà-la-môn kia không? Khi được nói vậy, Đại đức Sāriputta đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, chính con nhớ đến việc làm hữu ích của người bà-la-môn kia. - Này Sāriputta, vậy con nhớ đến việc làm hữu ích nào của người bà-la-môn kia? - Bạch ngài, ở tại thành Rājagaha này, trong lúc con đang đi khất thực, người bà-la-môn kia đã dâng cúng một muỗng vật thực. Bạch ngài, chính con nhớ đến việc làm hữu ích này của người bà-la-môn kia. - Lành thay, lành thay, Sāriputta! Này Sāriputta, bậc chân nhân là người biết ơn và nhớ ơn. Vì thế, này Sāriputta, con hãy cho người bà-la-môn kia xuất gia và làm lễ cụ túc. - Bạch ngài, làm thế nào con có thể cho người bà-la-môn kia xuất gia và làm lễ cụ túc? Khi ấy, nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết pháp thoại đã gọi các tỳ khưu: - Này các tỳ khưu, lễ cụ túc với ba lần quy y mà đã được Như Lai cho phép, kể từ hôm nay Như Lai bãi bỏ điều ấy. Này các tỳ khưu, Như Lai cho phép làm lễ cụ túc bằng hành sự có bạch văn làm thứ tư. Và này các tỳ khưu, nên làm lễ cụ túc như sau: Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo itthannāmassa āyasmato upasampadāpekkho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ upasampādeyya itthannāmena upajjhāyena. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so wants the full ordination with venerable so-and-so. If the Sangha is ready, it should give the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor. This is the motion.
70. - Kính bạch chư Đại đức, Tăng chúng hãy nghe con. Vị này tên là ... là người cầu xin lễ cụ túc của Đại đức tên là ... Nếu Tăng chúng đã đến thời điểm thích hợp, Tăng chúng hãy làm lễ cụ túc cho vị tên là ... với thầy tế độ là vị tên là ... Đây là lời bạch văn.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo itthannāmassa āyasmato upasampadāpekkho. Saṅgho itthannāmaṁ upasampādeti itthannāmena upajjhāyena. Yassāyasmato khamati itthannāmassa upasampadā itthannāmena upajjhāyena, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so wants the full ordination with venerable so-and-so. The Sangha gives the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor. Any monk who approves of giving the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng xin hãy lắng nghe lời của con. Giới tử tên là ... này là người mong cầu tu lên bậc trên của Trưởng lão tên là ... Tăng chúng truyền giới Cụ túc cho giới tử tên là ... với vị Thầy Tế độ tên là ... Vị Trưởng lão nào chấp thuận sự tu lên bậc trên của giới tử tên là ... với vị Thầy Tế độ tên là ..., vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo itthannāmassa āyasmato upasampadāpekkho. Saṅgho itthannāmaṁ upasampādeti itthannāmena upajjhāyena. Yassāyasmato khamati itthannāmassa upasampadā itthannāmena upajjhāyena, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the second time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so wants the full ordination with venerable so-and-so. The Sangha gives the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor. Any monk who approves of giving the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Lần thứ nhì, con cũng xin nói lên điều này: Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng xin hãy lắng nghe lời của con. Giới tử tên là ... này là người mong cầu tu lên bậc trên của Trưởng lão tên là ... Tăng chúng truyền giới Cụ túc cho giới tử tên là ... với vị Thầy Tế độ tên là ... Vị Trưởng lão nào chấp thuận sự tu lên bậc trên của giới tử tên là ... với vị Thầy Tế độ tên là ..., vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.
Tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo itthannāmassa āyasmato upasampadāpekkho. Saṅgho itthannāmaṁ upasampādeti itthannāmena upajjhāyena. Yassāyasmato khamati itthannāmassa upasampadā itthannāmena upajjhāyena, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so wants the full ordination with venerable so-and-so. The Sangha gives the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor. Any monk who approves of giving the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Lần thứ ba, con cũng xin nói lên điều này: Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng xin hãy lắng nghe lời của con. Giới tử tên là ... này là người mong cầu tu lên bậc trên của Trưởng lão tên là ... Tăng chúng truyền giới Cụ túc cho giới tử tên là ... với vị Thầy Tế độ tên là ... Vị Trưởng lão nào chấp thuận sự tu lên bậc trên của giới tử tên là ... với vị Thầy Tế độ tên là ..., vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.
Upasampanno saṅghena itthannāmo itthannāmena upajjhāyena. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Giới tử tên là ... đã được Tăng chúng truyền giới Cụ túc với vị Thầy Tế độ tên là ... Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận việc này là như vậy.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu upasampannasamanantarā anācāraṁ ācarati. Bhikkhū evamāhaṁsu—“māvuso, evarūpaṁ akāsi, netaṁ kappatī”ti. So evamāha—
“nevāhaṁ āyasmante yāciṁ upasampādetha manti. Kissa maṁ tumhe ayācitā upasampāditthā”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, ayācitena upasampādetabbo. Yo upasampādeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, yācitena upasampādetuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, yācitabbo. Tena upasampadāpekkhena saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘saṅghaṁ, bhante, upasampadaṁ yācāmi, ullumpatu maṁ, bhante, saṅgho anukampaṁ upādāyā’ti. Dutiyampi yācitabbo. Tatiyampi yācitabbo. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
On a later occasion, a monk misbehaved immediately after his full ordination. The monks told him, “Don’t do that. It’s not allowable.”
“But I didn’t ask you to ordain me. Why did you ordain me without being asked?” They told the Buddha.
“You shouldn’t give the full ordination to someone who hasn’t asked. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow you to give the full ordination to someone who has asked.
And this is how they should ask. After approaching the Sangha, the one who wants the full ordination should arrange his upper robe over one shoulder and pay respect at the feet of the monks. He should then squat on his heels, raise his joined palms, and say: ‘Venerables, I ask the Sangha for the full ordination. Please lift me up out of compassion.’ And he should ask a second and a third time. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
71. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu ngay sau khi được tu lên bậc trên đã có hành vi không đúng đắn. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: “Này hiền giả, xin đừng làm việc như vậy, việc này không hợp lệ.” Vị ấy đã nói như vầy: “Tôi đã không thỉnh cầu các ngài Trưởng lão rằng ‘xin hãy truyền giới Cụ túc cho tôi.’ Tại sao các ngài lại truyền giới Cụ túc cho tôi khi không được thỉnh cầu?” (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, không được truyền giới Cụ túc cho người không thỉnh cầu. Vị nào truyền giới, vị ấy phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép truyền giới Cụ túc cho người có thỉnh cầu. Và này các tỳ khưu, nên thỉnh cầu như vầy: Người mong cầu tu lên bậc trên ấy nên đi đến Tăng chúng, vắt y trên một bên vai, đảnh lễ dưới chân các vị tỳ khưu, ngồi xổm, chắp tay, rồi nên nói như vầy: ‘Kính bạch chư Tôn đức, con xin Tăng chúng cho con được tu lên bậc trên. Kính bạch chư Tôn đức, mong Tăng chúng vì lòng thương tưởng mà hãy nâng đỡ con.’ Nên thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu lần thứ ba. Một vị tỳ khưu có khả năng và thông thạo nên trình cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo itthannāmassa āyasmato upasampadāpekkho. Itthannāmo saṅghaṁ upasampadaṁ yācati itthannāmena upajjhāyena. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ upasampādeyya itthannāmena upajjhāyena. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so wants the full ordination with venerable so-and-so. So-and-so is asking the Sangha for the full ordination with so-and-so as his preceptor. If the Sangha is ready, it should give the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor. This is the motion.
72. “Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng xin hãy lắng nghe lời của con. Giới tử tên là ... này là người mong cầu tu lên bậc trên của Trưởng lão tên là ... Giới tử tên là ... xin Tăng chúng cho được tu lên bậc trên với vị Thầy Tế độ tên là ... Nếu đây là thời điểm thích hợp cho Tăng chúng, Tăng chúng hãy truyền giới Cụ túc cho giới tử tên là ... với vị Thầy Tế độ tên là ... Đây là lời tuyên cáo.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo itthannāmassa āyasmato upasampadāpekkho. Itthannāmo saṅghaṁ upasampadaṁ yācati itthannāmena upajjhāyena. Saṅgho itthannāmaṁ upasampādeti itthannāmena upajjhāyena. Yassāyasmato khamati itthannāmassa upasampadā itthannāmena upajjhāyena, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so wants the full ordination with venerable so-and-so. So-and-so is asking the Sangha for the full ordination with so-and-so as his preceptor. The Sangha gives the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor. Any monk who approves of giving the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng xin hãy lắng nghe lời của con. Giới tử tên là ... này là người mong cầu tu lên bậc trên của Trưởng lão tên là ... Giới tử tên là ... xin Tăng chúng cho được tu lên bậc trên với vị Thầy Tế độ tên là ... Tăng chúng truyền giới Cụ túc cho giới tử tên là ... với vị Thầy Tế độ tên là ... Vị Trưởng lão nào chấp thuận sự tu lên bậc trên của giới tử tên là ... với vị Thầy Tế độ tên là ..., vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
“Lần thứ nhì, con cũng xin nói lên điều này... (lược bỏ)... Lần thứ ba, con cũng xin nói lên điều này... (lược bỏ)...
Upasampanno saṅghena itthannāmo itthannāmena upajjhāyena. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Giới tử tên là ... đã được Tăng chúng truyền giới Cụ túc với vị Thầy Tế độ tên là ... Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận việc này là như vậy.”
Tena kho pana samayena rājagahe paṇītānaṁ bhattānaṁ bhattapaṭipāṭi aṭṭhitā hoti. Atha kho aññatarassa brāhmaṇassa etadahosi—“ime kho samaṇā sakyaputtiyā sukhasīlā sukhasamācārā, subhojanāni bhuñjitvā nivātesu sayanesu sayanti. Yannūnāhaṁ samaṇesu sakyaputtiyesu pabbajeyyan”ti.
Atha kho so brāhmaṇo bhikkhū upasaṅkamitvā pabbajjaṁ yāci. Taṁ bhikkhū pabbājesuṁ upasampādesuṁ. Tasmiṁ pabbajite bhattapaṭipāṭi khīyittha. Bhikkhū evamāhaṁsu—“ehi dāni, āvuso, piṇḍāya carissāmā”ti. So evamāha—
“nāhaṁ, āvuso, etaṅkāraṇā pabbajito piṇḍāya carissāmīti. Sace me dassatha bhuñjissāmi, no ce me dassatha vibbhamissāmī”ti.
“Kiṁ pana tvaṁ, āvuso, udarassa kāraṇā pabbajito”ti?
“Evamāvuso”ti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhikkhu evaṁ svākkhāte dhammavinaye udarassa kāraṇā pabbajissatī”ti.
Te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira tvaṁ, bhikkhu, udarassa kāraṇā pabbajito”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, evaṁ svākkhāte dhammavinaye udarassa kāraṇā pabbajissasi. Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya pasannānaṁ vā bhiyyobhāvāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, upasampādentena cattāro nissaye ācikkhituṁ—
At that time in Rājagaha, there was a succession of fine meals. A certain brahmin thought, “These Sakyan monastics have pleasant habits and a happy life. They eat nice food and sleep in beds sheltered from the wind. Why don’t I go forth with the Sakyan monastics?”
Then that brahmin went to the monks and asked for the going forth. The monks gave him the going forth and the full ordination. When he had gone forth, that succession of meals came to a stop. The monks said to him, “Come, let’s walk for alms.”
“I didn’t go forth to walk for alms. If you give me some, I’ll eat it. If not, I’ll disrobe.”
“But did you go forth for the sake of your stomach?”
“Yes.”
The monks of few desires complained and criticized him, “How could a monk go forth on this well-proclaimed spiritual path for the sake of his stomach?”
They told the Buddha. … “Is it true, monk, that you did this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked him … “Foolish man, how could you go forth on this well-proclaimed spiritual path for the sake of your stomach? This will affect people’s confidence …” After rebuking him … he gave a teaching and addressed the monks:
“When you are giving the full ordination, you should point out the four supports:
73. Vào lúc bấy giờ, ở thành Rājagaha, có lệ cúng dường các bữa ăn thịnh soạn được duy trì. Khi ấy, một người bà-la-môn nọ khởi lên suy nghĩ rằng: – ‘Quả thật, các vị sa-môn Thích tử này có giới hạnh an lạc, có hạnh kiểm an lạc, sau khi dùng các món ăn ngon, các vị ấy ngủ nghỉ ở những nơi trú ẩn kín gió. Hay là ta nên xuất gia với các vị sa-môn Thích tử!’ Sau đó, người bà-la-môn ấy đi đến các vị tỳ-khưu và xin được xuất gia. Các vị tỳ-khưu đã cho người ấy xuất gia, làm lễ cụ túc. Khi vị ấy đã xuất gia, lệ cúng dường các bữa ăn đã chấm dứt. Các vị tỳ-khưu nói như vầy: – ‘Này hiền giả, bây giờ hãy đi khất thực thôi.’ Vị ấy nói như vầy: – ‘Thưa các hiền giả, tôi xuất gia không phải vì lý do này, tức là để đi khất thực. Nếu các ngài cho tôi, tôi sẽ ăn; nếu các ngài không cho tôi, tôi sẽ hoàn tục.’ – ‘Này hiền giả, vậy là ông xuất gia vì lý do cái bụng sao?’ – ‘Thưa các hiền giả, đúng vậy.’ Các vị tỳ-khưu ít ham muốn ... (như trên) ... đã chê trách, khiển trách, phàn nàn rằng: – ‘Làm sao một vị tỳ-khưu lại có thể xuất gia vì lý do cái bụng trong Pháp và Luật đã được khéo giảng dạy như thế này?’ Các vị tỳ-khưu ấy đã trình sự việc này lên đức Thế Tôn ... (như trên) ... – ‘Này tỳ-khưu, có thật là ông đã xuất gia vì lý do cái bụng không?’ – ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách ... (như trên) ... – ‘Này kẻ rỗng tuếch, làm sao ngươi lại có thể xuất gia vì lý do cái bụng trong Pháp và Luật đã được khéo giảng dạy như thế này? Này kẻ rỗng tuếch, việc này không đưa đến làm phát sinh đức tin cho những người chưa có đức tin, hay làm tăng trưởng đức tin cho những người đã có đức tin.’ ... (như trên) ... Sau khi quở trách ... (như trên) ... và thuyết một bài pháp, ngài đã gọi các vị tỳ-khưu: – ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép vị làm lễ cụ túc nói rõ về bốn pháp y chỉ. – Sự xuất gia y chỉ vào vật thực nhận được từng miếng trong bình bát; ở đó, con phải nỗ lực trọn đời. Lợi lộc phụ trội là: vật thực cúng dường đến tăng chúng, vật thực cúng dường chỉ định, vật thực do được mời, vật thực cúng dường theo thẻ, vật thực cúng dường theo mỗi nửa tháng, vật thực cúng dường vào ngày trai giới, vật thực cúng dường vào ngày đầu tháng. – Sự xuất gia y chỉ vào y phấn tảo; ở đó, con phải nỗ lực trọn đời. Lợi lộc phụ trội là: y bằng vải lanh, y bằng vải bông, y bằng vải lụa, y bằng vải len, y bằng vải gai, y bằng vải gai dầu. – Sự xuất gia y chỉ vào sàng tọa dưới gốc cây; ở đó, con phải nỗ lực trọn đời. Lợi lộc phụ trội là: tu viện, nhà một mái, lầu đài, nhà nóc bằng, hang động. – Sự xuất gia y chỉ vào dược phẩm là nước tiểu mục hoại; ở đó, con phải nỗ lực trọn đời. Lợi lộc phụ trội là: bơ lỏng, bơ tươi, dầu, mật ong, đường mật.’
Upajjhāyavattabhāṇavāro niṭṭhito pañcamo.
The fifth section for recitation on the proper conduct toward the preceptor is finished.
Thiên về Bổn phận đối với Thầy Tế độ, thứ năm, đã kết thúc.
Câu chuyện về Bổn phận đối với Thầy Giáo thọ
Tena kho pana samayena aññataro māṇavako bhikkhū upasaṅkamitvā pabbajjaṁ yāci. Tassa bhikkhū paṭikacceva nissaye ācikkhiṁsu. So evamāha—“sace me, bhante, pabbajite nissaye ācikkheyyātha, abhirameyyāmahaṁ. Na dānāhaṁ, bhante, pabbajissāmi; jegucchā me nissayā paṭikūlā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, paṭikacceva nissayā ācikkhitabbā. Yo ācikkheyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, upasampannasamanantarā nissaye ācikkhitun”ti.
Soon afterwards a young brahmin went to the monks and asked for the going forth. The monks told him about the four supports. He said, “Venerables, if you had told me about this after my going forth, I would have been fine. But now I won’t go forth, for these supports are disgusting and repulsive to me.” They told the Buddha.
“You shouldn’t point out the supports beforehand. If you do, you commit an offense of wrong conduct. You should point out the supports immediately after the full ordination.”
Vào lúc bấy giờ, một thanh niên nọ đi đến các vị tỳ-khưu và xin được xuất gia. Các vị tỳ-khưu đã nói rõ về các pháp y chỉ cho người ấy ngay từ đầu. Người ấy nói như vầy: – ‘Bạch các ngài, nếu sau khi con xuất gia, các ngài mới nói rõ về các pháp y chỉ thì con sẽ hoan hỷ. Bạch các ngài, bây giờ thì con sẽ không xuất gia nữa; các pháp y chỉ ấy đối với con thật đáng ghê tởm, thật đáng kinh tởm.’ Sự việc này đã được trình lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ-khưu, không được nói rõ về các pháp y chỉ ngay từ đầu. Vị nào nói rõ, vị ấy phạm tội tác ác. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép nói rõ về các pháp y chỉ ngay sau khi làm lễ cụ túc.’
Tena kho pana samayena bhikkhū duvaggenapi tivaggenapi gaṇena upasampādenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, ūnadasavaggena gaṇena upasampādetabbo. Yo upasampādeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, dasavaggena vā atirekadasavaggena vā gaṇena upasampādetun”ti.
At that time, monks in groups of two and three gave the full ordination. They told the Buddha.
“You shouldn’t give the full ordination in groups of less than ten. If you do, you commit an offense of wrong conduct. You should give the full ordination in groups of ten or more than ten.”
18. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ-khưu làm lễ cụ túc với một nhóm gồm hai vị và cả với một nhóm gồm ba vị. Sự việc này đã được trình lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ-khưu, không được làm lễ cụ túc với một nhóm dưới mười vị. Vị nào làm lễ, vị ấy phạm tội tác ác. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép làm lễ cụ túc với một nhóm gồm mười vị hoặc một nhóm trên mười vị.’
Tena kho pana samayena bhikkhū ekavassāpi duvassāpi saddhivihārikaṁ upasampādenti. Āyasmāpi upaseno vaṅgantaputto ekavasso saddhivihārikaṁ upasampādesi.
So vassaṁvuṭṭho duvasso ekavassaṁ saddhivihārikaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Āciṇṇaṁ kho panetaṁ buddhānaṁ bhagavantānaṁ āgantukehi bhikkhūhi saddhiṁ paṭisammodituṁ. Atha kho bhagavā āyasmantaṁ upasenaṁ vaṅgantaputtaṁ etadavoca—“kacci, bhikkhu, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ, kacci tvaṁ appakilamathena addhānaṁ āgato”ti?
“Khamanīyaṁ, bhagavā, yāpanīyaṁ, bhagavā. Appakilamathena mayaṁ, bhante, addhānaṁ āgatā”ti.
Jānantāpi tathāgatā pucchanti, jānantāpi na pucchanti, kālaṁ viditvā pucchanti, kālaṁ viditvā na pucchanti; atthasaṁhitaṁ tathāgatā pucchanti; no anatthasaṁhitaṁ. Anatthasaṁhite setughāto tathāgatānaṁ. Dvīhi ākārehi buddhā bhagavanto bhikkhū paṭipucchanti— dhammaṁ vā desessāma, sāvakānaṁ vā sikkhāpadaṁ paññapessāmāti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ upasenaṁ vaṅgantaputtaṁ etadavoca— “kativassosi tvaṁ, bhikkhū”ti?
“Duvassohaṁ, bhagavā”ti.
“Ayaṁ pana bhikkhu kativasso”ti?
“Ekavasso, bhagavā”ti.
“Kiṁ tāyaṁ bhikkhu hotī”ti?
“Saddhivihāriko me, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, moghapurisa, ananulomikaṁ appatirūpaṁ assāmaṇakaṁ akappiyaṁ akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, aññehi ovadiyo anusāsiyo aññaṁ ovadituṁ anusāsituṁ maññissasi. Atilahuṁ kho tvaṁ, moghapurisa, bāhullāya āvatto, yadidaṁ gaṇabandhikaṁ. Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya pasannānaṁ vā bhiyyobhāvāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, ūnadasavassena upasampādetabbo. Yo upasampādeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, dasavassena vā atirekadasavassena vā upasampādetun”ti.
At that time monks who only had one or two years of seniority gave the full ordination, among them Venerable Upasena of Vaṅganta.
After completing the rainy-season residence, he had two years of seniority and his student had one. The two of them went to the Buddha, bowed, and sat down. Since it is the custom for Buddhas to greet newly-arrived monks, the Buddha said to Upasena, “I hope you’re keeping well, monk, I hope you’re getting by? I hope you’re not tired from traveling?”
“I’m keeping well, sir, I’m getting by. I’m not tired from traveling.”
When Buddhas know what is going on, sometimes they ask and sometimes not. They know the right time to ask and when not to ask. Buddhas ask when it is beneficial, otherwise not, for Buddhas are incapable of doing what is unbeneficial. Buddhas question the monks for two reasons: to give a teaching or to lay down a training rule.
The Buddha said to Upasena, “How long have you been a monk?”
“Two years, sir.”
“And this monk?”
“One year.”
“And what’s his relationship to you?”
“He’s my student.”
The Buddha rebuked him, “It’s not suitable, foolish man, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. You ought to be taught and instructed by others. What, then, makes you think that you should teach and instruct another person? You have turned to indulgence too readily, that is, by forming a group. This will affect people’s confidence …” After rebuking him … he gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t give the full ordination if you have less than ten years of seniority. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow you to give the full ordination if you have ten or more years of seniority.”
75. Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu một hạ hay hai hạ cũng tế độ cho đệ tử cùng ở. Tôn giả Upasena, con của bà-la-môn Vanganta, trong khi mới một hạ cũng đã tế độ cho đệ tử cùng ở. Vị ấy, sau khi an cư, được hai hạ, đã dẫn theo vị đệ tử cùng ở một hạ đi đến nơi đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đây là thường lệ của các đức Phật, các đức Thế Tôn là cùng nói lời chào mừng với các vị tỳ-khưu mới đến. Bấy giờ, đức Thế Tôn đã nói với Tôn giả Upasena, con của bà-la-môn Vanganta, điều này: “Này tỳ-khưu, thầy có kham nhẫn được không, có khỏe mạnh không, thầy đi đường xa có ít mệt nhọc không?” “Bạch đức Thế Tôn, con kham nhẫn được, bạch đức Thế Tôn, con khỏe mạnh. Bạch ngài, chúng con đi đường xa ít mệt nhọc.” Các đấng Như Lai dù biết vẫn hỏi, dù biết vẫn không hỏi; biết thời điểm nên hỏi, biết thời điểm nên không hỏi. Các đấng Như Lai hỏi điều liên quan đến lợi ích, không hỏi điều không liên quan đến lợi ích. Đối với điều không liên quan đến lợi ích, các đấng Như Lai đã đoạn trừ bằng cây cầu (thánh đạo). Các đức Phật, các đức Thế Tôn hỏi các vị tỳ-khưu vì hai lý do: “Hoặc là Ta sẽ thuyết pháp, hoặc là Ta sẽ chế định học giới cho các đệ tử.” Bấy giờ, đức Thế Tôn đã nói với Tôn giả Upasena, con của bà-la-môn Vanganta, điều này: “Này tỳ-khưu, thầy được bao nhiêu hạ?” “Bạch đức Thế Tôn, con được hai hạ.” “Còn vị tỳ-khưu này được bao nhiêu hạ?” “Bạch đức Thế Tôn, được một hạ.” “Vị tỳ-khưu này là gì của thầy?” “Bạch đức Thế Tôn, là đệ tử cùng ở của con.” Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách: “Này kẻ trống rỗng, (việc này) không thích hợp, không tương xứng, không đúng đắn, không phải hạnh sa-môn, không được phép, không nên làm. Này kẻ trống rỗng, làm sao ngươi, người cần được kẻ khác chỉ dạy, khuyên bảo, lại có thể nghĩ đến việc chỉ dạy, khuyên bảo người khác? Này kẻ trống rỗng, ngươi đã hành động quá vội vàng để làm cho phe nhóm đông đảo lên. Này kẻ trống rỗng, việc này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin, hay làm cho những người đã có đức tin được tăng trưởng hơn.” ... sau khi quở trách ... sau khi nói một bài pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ-khưu: “Này các tỳ-khưu, không được tế độ cho người chưa đủ mười hạ. Vị nào tế độ, phạm tội tác ác. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép vị (tỳ-khưu) đã được mười hạ hoặc hơn mười hạ được tế độ.”
Tena kho pana samayena bhikkhū—dasavassamhā dasavassamhāti—bālā abyattā upasampādenti. Dissanti upajjhāyā bālā, saddhivihārikā paṇḍitā. Dissanti upajjhāyā abyattā, saddhivihārikā byattā. Dissanti upajjhāyā appassutā, saddhivihārikā bahussutā. Dissanti upajjhāyā duppaññā, saddhivihārikā paññavanto. Aññataropi aññatitthiyapubbo upajjhāyena sahadhammikaṁ vuccamāno upajjhāyassa vādaṁ āropetvā taṁyeva titthāyatanaṁ saṅkami.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhikkhū—dasavassamhā dasavassamhāti—bālā abyattā upasampādessanti. Dissanti upajjhāyā bālā saddhivihārikā paṇḍitā, dissanti upajjhāyā abyattā saddhivihārikā byattā, dissanti upajjhāyā appassutā saddhivihārikā bahussutā, dissanti upajjhāyā duppaññā, saddhivihārikā paññavanto”ti.
Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Saccaṁ kira, bhikkhave, bhikkhū—dasavassamhā dasavassamhāti—bālā abyattā upasampādenti. Dissanti upajjhāyā bālā, saddhivihārikā paṇḍitā, dissanti upajjhāyā abyattā saddhivihārikā byattā, dissanti upajjhāyā appassutā, saddhivihārikā bahussutā, dissanti upajjhāyā duppaññā, saddhivihārikā paññavanto”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… “kathañhi nāma te, bhikkhave, moghapurisā—dasavassamhā dasavassamhāti—bālā abyattā upasampādessanti. Dissanti upajjhāyā bālā, saddhivihārikā paṇḍitā, dissanti upajjhāyā abyattā saddhivihārikā byattā, dissanti upajjhāyā appassutā, saddhivihārikā bahussutā, dissanti upajjhāyā duppaññā, saddhivihārikā paññavanto. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, bālena abyattena upasampādetabbo. Yo upasampādeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, byattena bhikkhunā paṭibalena dasavassena vā atirekadasavassena vā upasampādetun”ti.
Then, once they had ten years of seniority, ignorant and incompetent monks gave the full ordination. As a result there were ignorant preceptors with knowledgeable students, incompetent preceptors with competent students, uneducated preceptors with learned students, and foolish preceptors with wise students. A monk who had been a monastic in another religion even refuted his preceptor, despite being legitimately corrected by him. He then returned to that religious community.
The monks of few desires complained and criticized them, “How can ignorant and incompetent monks give the full ordination just because they have ten years of seniority? There are ignorant preceptors with knowledgeable students, incompetent preceptors with competent students, uneducated preceptors with learned students, and foolish preceptors with wise students.”
They told the Buddha. He said, “Is it true, monks, that this is happening?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “How can those foolish men give the full ordination just because they have ten years of seniority? The consequences are evident. This will affect people’s confidence …” After rebuking them … he gave a teaching and addressed the monks:
“An ignorant and incompetent monk shouldn’t give the full ordination. If he does, he commits an offense of wrong conduct. I allow a competent and capable monk who has ten or more years of seniority to give the full ordination.”
76. Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu, (nghĩ rằng) “chúng tôi đã mười hạ, chúng tôi đã mười hạ,” dù ngu dốt, không thông thạo, vẫn tế độ. Thấy có những vị thầy tế độ ngu dốt, (nhưng) đệ tử cùng ở thì thông thái. Thấy có những vị thầy tế độ không thông thạo, (nhưng) đệ tử cùng ở thì thông thạo. Thấy có những vị thầy tế độ ít nghe, (nhưng) đệ tử cùng ở thì nghe nhiều. Thấy có những vị thầy tế độ trí tuệ kém, (nhưng) đệ tử cùng ở thì có trí tuệ. Một người nào đó trước kia là ngoại đạo, khi được thầy tế độ nói lời đúng pháp, đã đổ lỗi cho thầy tế độ và quay trở lại nơi ở của ngoại đạo ấy. Những vị tỳ-khưu thiểu dục ... đã phàn nàn, chê bai, chỉ trích: “Làm sao mà các tỳ-khưu, (nghĩ rằng) ‘chúng tôi đã mười hạ, chúng tôi đã mười hạ,’ dù ngu dốt, không thông thạo, lại có thể tế độ? Thấy có những vị thầy tế độ ngu dốt, (nhưng) đệ tử cùng ở thì thông thái; thấy có những vị thầy tế độ không thông thạo, (nhưng) đệ tử cùng ở thì thông thạo; thấy có những vị thầy tế độ ít nghe, (nhưng) đệ tử cùng ở thì nghe nhiều; thấy có những vị thầy tế độ trí tuệ kém, (nhưng) đệ tử cùng ở thì có trí tuệ.” Bấy giờ, các vị tỳ-khưu ấy đã trình báo việc này lên đức Thế Tôn. “Này các tỳ-khưu, có thật là các tỳ-khưu, (nghĩ rằng) ‘chúng tôi đã mười hạ, chúng tôi đã mười hạ,’ dù ngu dốt, không thông thạo, vẫn tế độ? Thấy có những vị thầy tế độ ngu dốt, (nhưng) đệ tử cùng ở thì thông thái; thấy có những vị thầy tế độ không thông thạo, (nhưng) đệ tử cùng ở thì thông thạo; thấy có những vị thầy tế độ ít nghe, (nhưng) đệ tử cùng ở thì nghe nhiều; thấy có những vị thầy tế độ trí tuệ kém, (nhưng) đệ tử cùng ở thì có trí tuệ?” “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách ... “Này các tỳ-khưu, làm sao những kẻ trống rỗng ấy, (nghĩ rằng) ‘chúng tôi đã mười hạ, chúng tôi đã mười hạ,’ dù ngu dốt, không thông thạo, lại có thể tế độ? Thấy có những vị thầy tế độ ngu dốt, (nhưng) đệ tử cùng ở thì thông thái; thấy có những vị thầy tế độ không thông thạo, (nhưng) đệ tử cùng ở thì thông thạo; thấy có những vị thầy tế độ ít nghe, (nhưng) đệ tử cùng ở thì nghe nhiều; thấy có những vị thầy tế độ trí tuệ kém, (nhưng) đệ tử cùng ở thì có trí tuệ. Này các tỳ-khưu, việc này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin...” ... sau khi quở trách ... sau khi nói một bài pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ-khưu: “Này các tỳ-khưu, người ngu dốt, không thông thạo không được tế độ. Vị nào tế độ, phạm tội tác ác. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép vị tỳ-khưu thông thạo, có khả năng, đã được mười hạ hoặc hơn mười hạ được tế độ.”
Tena kho pana samayena bhikkhū upajjhāyesu pakkantesupi vibbhantesupi kālaṅkatesupi pakkhasaṅkantesupi anācariyakā anovadiyamānā ananusāsiyamānā dunnivatthā duppārutā anākappasampannā piṇḍāya caranti, manussānaṁ bhuñjamānānaṁ uparibhojanepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmenti, uparikhādanīyepi uparisāyanīyepi uparipānīyepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmenti; sāmaṁ sūpampi odanampi viññāpetvā bhuñjanti; bhattaggepi uccāsaddā mahāsaddā viharanti.
Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā dunnivatthā duppārutā anākappasampannā piṇḍāya carissanti; manussānaṁ bhuñjamānānaṁ uparibhojanepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmessanti, uparikhādanīyepi uparisāyanīyepi uparipānīyepi uttiṭṭhapattaṁ upanāmessanti; sāmaṁ sūpampi odanampi viññāpetvā bhuñjissanti; bhattaggepi uccāsaddā mahāsaddā viharissanti, seyyathāpi brāhmaṇā brāhmaṇabhojane”ti.
Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ …pe… atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Saccaṁ kira, bhikkhave …pe…
“saccaṁ, bhagavā”ti …pe…
vigarahitvā dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
At that time there were preceptors who went away, disrobed, died, or joined another religion or sect, and as a result their students were not being instructed. When walking for almsfood, they were shabbily dressed and improper in appearance. While people were eating, they held out their almsbowls to receive leftovers, even right over their food, whether it was cooked or fresh food, delicacies or drinks. They ate bean curry and rice that they themselves had asked for, and they were noisy in the dining hall.
People complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics act like this? They are just like brahmins at a brahminical meal.”
The monks heard the complaints of those people. … They then told the Buddha. “Is it true, monks … ?”
“It’s true, sir.” …
After rebuking them, the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
77. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu, trong khi các vị thầy tế độ đã đi nơi khác, hoặc đã hoàn tục, hoặc đã mệnh chung, hoặc đã đi theo phe phái khác, thì không có thầy dạy, không được chỉ bảo, không được khuyên răn, nên đã mặc y không tề chỉnh, đắp y không tề chỉnh, không có oai nghi thích hợp, đi khất thực. Trong khi các cư sĩ đang dùng bữa, họ đưa bát đã được nâng lên phía trên vật thực, họ đưa bát đã được nâng lên phía trên vật thực cứng, phía trên vật thực mềm, phía trên vật uống. Họ tự mình xin canh và cơm rồi dùng. Ở tại nhà ăn, họ ở với tiếng nói ồn ào, tiếng nói lớn lối. Các cư sĩ phàn nàn, chê bai, và phổ biến rằng: – ‘Tại sao các vị sa-môn Thích tử lại mặc y không tề chỉnh, đắp y không tề chỉnh, không có oai nghi thích hợp, đi khất thực? Trong khi các cư sĩ đang dùng bữa, tại sao họ lại đưa bát đã được nâng lên phía trên vật thực, đưa bát đã được nâng lên phía trên vật thực cứng, phía trên vật thực mềm, phía trên vật uống? Tại sao họ lại tự mình xin canh và cơm rồi dùng? Tại sao ở tại nhà ăn, họ lại ở với tiếng nói ồn ào, tiếng nói lớn lối, giống như các vị bà-la-môn trong bữa tiệc của bà-la-môn vậy?’ Các vị tỳ khưu đã nghe được các cư sĩ ấy phàn nàn, chê bai, và phổ biến như thế ... cho đến ... Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, có thật như vậy không? ... cho đến ... – Bạch đức Thế Tôn, là sự thật. ... cho đến ... Sau khi đã quở trách và thuyết pháp thoại, ngài gọi các vị tỳ khưu:
“Anujānāmi, bhikkhave, ācariyaṁ.
Ācariyo, bhikkhave, antevāsikamhi puttacittaṁ upaṭṭhāpessati, antevāsiko ācariyamhi pitucittaṁ upaṭṭhāpessati. Evaṁ te aññamaññaṁ sagāravā sappatissā sabhāgavuttino viharantā imasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ viruḷhiṁ vepullaṁ āpajjissanti.
Anujānāmi, bhikkhave, dasavassaṁ nissāya vatthuṁ, dasavassena nissayaṁ dātuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, ācariyo gahetabbo. Ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘ācariyo me, bhante, hohi, āyasmato nissāya vacchāmi; ācariyo me, bhante, hohi, āyasmato nissāya vacchāmi; ācariyo me, bhante, hohi, āyasmato nissāya vacchāmī’ti. ‘Sāhū’ti vā ‘lahū’ti vā ‘opāyikan’ti vā ‘patirūpan’ti vā ‘pāsādikena sampādehī’ti vā kāyena viññāpeti, vācāya viññāpeti, kāyena vācāya viññāpeti, gahito hoti ācariyo; na kāyena viññāpeti, na vācāya viññāpeti, na kāyena vācāya viññāpeti, na gahito hoti ācariyo.
“There should be a teacher.
The teacher should think of his pupil as a son and the pupil his teacher as a father. In this way they will respect, esteem, and be considerate toward each other, and they will grow and reach greatness on this spiritual path.
You should live with formal support for ten years. And I allow a monk of ten years’ seniority to give such support.
A teacher should be chosen like this. After arranging his upper robe over one shoulder, a pupil should pay respect at the feet of a potential teacher. He should then squat on his heels, raise his joined palms, and say, ‘Venerable, please be my teacher. I wish to live with formal support from you.’ And he should repeat this a second and a third time. If the other conveys the following by body, by speech, or by body and speech: ‘Yes;’ ‘No problem;’ ‘It’s suitable;’ ‘It’s appropriate;’ or, ‘Carry on with inspiration’—then a teacher has been chosen. If the other doesn’t convey this by body, by speech, or by body and speech, then a teacher hasn’t been chosen.
– Này các tỳ khưu, Ta cho phép (vị) thầy (y chỉ). Này các tỳ khưu, vị thầy nên có tâm niệm như con đối với vị đệ tử sống gần, vị đệ tử sống gần nên có tâm niệm như cha đối với vị thầy. Như vậy, họ sống với sự tôn trọng lẫn nhau, kính nể lẫn nhau, có sự sống chung hòa hợp, sẽ đạt đến sự tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh ở trong Pháp và Luật này. Này các tỳ khưu, Ta cho phép sống nương nhờ vị (tỳ khưu) mười tuổi hạ, và cho phép vị (tỳ khưu) mười tuổi hạ ban sự nương nhờ. Và này các tỳ khưu, vị thầy nên được thọ nhận như vầy: Sau khi mặc thượng y lệch một bên vai, đảnh lễ hai bàn chân, ngồi xổm, chắp tay, lời này nên được nói lên rằng: ‘Bạch Đại đức, xin ngài hãy là thầy của con, con sẽ nương nhờ Đại đức. Bạch Đại đức, xin ngài hãy là thầy của con, con sẽ nương nhờ Đại đức. Bạch Đại đức, xin ngài hãy là thầy của con, con sẽ nương nhờ Đại đức.’ Vị ấy cho biết bằng thân, bằng lời, hoặc bằng thân và lời rằng: ‘Lành thay,’ hoặc ‘Việc nhẹ nhàng,’ hoặc ‘Thật thích hợp,’ hoặc ‘Thật tương xứng,’ hoặc ‘Hãy làm cho trọn vẹn với sự tịnh tín,’ thì vị thầy đã được thọ nhận. Vị ấy không cho biết bằng thân, không cho biết bằng lời, không cho biết bằng thân và lời, thì vị thầy đã không được thọ nhận.
Antevāsikena, bhikkhave, ācariyamhi sammā vattitabbaṁ. Tatrāyaṁ sammāvattanā—
“A pupil should conduct himself properly toward his teacher. This is the proper conduct:
78. – Này các tỳ khưu, vị đệ tử sống gần nên có bổn phận đúng đắn đối với vị thầy. Ở đây, đây là bổn phận đúng đắn:
Kālasseva uṭṭhāya upāhanaṁ omuñcitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā dantakaṭṭhaṁ dātabbaṁ, mukhodakaṁ dātabbaṁ, āsanaṁ paññapetabbaṁ. Sace yāgu hoti, bhājanaṁ dhovitvā yāgu upanāmetabbā. Yāguṁ pītassa udakaṁ datvā bhājanaṁ paṭiggahetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena dhovitvā paṭisāmetabbaṁ. Ācariyamhi vuṭṭhite āsanaṁ uddharitabbaṁ. Sace so deso uklāpo hoti, so deso sammajjitabbo.
Having gotten up at the appropriate time, the pupil should remove his sandals, and arrange his upper robe over one shoulder. He should then give his teacher a tooth cleaner and water for rinsing the mouth, and he should prepare a seat for him. If there is congee, he should rinse a vessel and bring the congee to his teacher. When he has drunk the congee, the pupil should give him water and receive the vessel. Holding it low, he should wash it carefully without scratching it and then put it away. When the teacher has gotten up, the pupil should put away the seat. If the place is dirty, he should sweep it.
Nên thức dậy sớm, cởi giày dép, mặc thượng y lệch một bên vai, rồi dâng tăm xỉa răng, dâng nước rửa mặt, soạn chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa bát rồi dâng cháo. Khi (vị thầy) đã dùng cháo xong, nên dâng nước, nhận lấy bát, hạ thấp xuống, rửa cẩn thận không để cọ xát, rồi cất đi. Khi vị thầy đã đứng dậy, nên dọn dẹp chỗ ngồi. Nếu nơi ấy có rác, nên quét dọn nơi ấy.
Sace ācariyo gāmaṁ pavisitukāmo hoti, nivāsanaṁ dātabbaṁ, paṭinivāsanaṁ paṭiggahetabbaṁ, kāyabandhanaṁ dātabbaṁ, saguṇaṁ katvā saṅghāṭiyo dātabbā, dhovitvā patto sodako dātabbo. Sace ācariyo pacchāsamaṇaṁ ākaṅkhati, timaṇḍalaṁ paṭicchādentena parimaṇḍalaṁ nivāsetvā kāyabandhanaṁ bandhitvā saguṇaṁ katvā saṅghāṭiyo pārupitvā gaṇṭhikaṁ paṭimuñcitvā dhovitvā pattaṁ gahetvā ācariyassa pacchāsamaṇena hotabbaṁ.
Nātidūre gantabbaṁ, nāccāsanne gantabbaṁ, pattapariyāpannaṁ paṭiggahetabbaṁ. Na ācariyassa bhaṇamānassa antarantarā kathā opātetabbā. Ācariyo āpattisāmantā bhaṇamāno nivāretabbo.
If the teacher wants to enter the village, the pupil should give him a sarong and receive the one he’s wearing in return. He should give him a belt. He should put the upper robes together, overlapping each other edge-to-edge, and then give them to him. He should rinse his teacher’s bowl and give it to him while wet. If the teacher wants an attendant, the pupil should put on his sarong evenly all around, covering the navel and the knees. He should put on a belt. Putting the upper robes together, overlapping each other edge-to-edge, he should put them on and fasten the toggle. He should rinse his bowl, bring it along, and be his teacher’s attendant.
He shouldn’t walk too far behind his teacher or too close to him. He should receive the contents of his bowl. He shouldn’t interrupt his teacher when he’s speaking. But if the teacher’s speech is bordering on an offense, he should stop him.
Nếu vị thầy muốn đi vào làng, nên dâng y nội (để mặc vào làng), nhận lấy y nội (đang mặc), dâng dây thắt lưng, xếp y tăng-già-lê rồi dâng lên, rửa bát rồi dâng bát cùng với nước. Nếu vị thầy cần một vị sa-môn đi theo sau, (vị đệ tử) nên che ba vòng, mặc y nội cho ngay ngắn, thắt dây lưng, khoác y tăng-già-lê đã được xếp, cài nút, rửa bát, cầm lấy bát, rồi làm vị sa-môn đi theo sau vị thầy. Không nên đi quá xa, không nên đi quá gần. Nên nhận lấy vật thực đã được đặt vào bát. Không nên xen vào giữa chừng khi vị thầy đang nói chuyện. Khi vị thầy đang nói điều gì gần với tội, nên ngăn cản.
Nivattantena paṭhamataraṁ āgantvā āsanaṁ paññapetabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipitabbaṁ, paccuggantvā pattacīvaraṁ paṭiggahetabbaṁ, paṭinivāsanaṁ dātabbaṁ, nivāsanaṁ paṭiggahetabbaṁ. Sace cīvaraṁ sinnaṁ hoti, muhuttaṁ uṇhe otāpetabbaṁ, na ca uṇhe cīvaraṁ nidahitabbaṁ. Cīvaraṁ saṅgharitabbaṁ. Cīvaraṁ saṅgharantena caturaṅgulaṁ kaṇṇaṁ ussāretvā cīvaraṁ saṅgharitabbaṁ—mā majjhe bhaṅgo ahosīti. Obhoge kāyabandhanaṁ kātabbaṁ.
When returning, the pupil should go first to prepare a seat and to set out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He should go out to meet the teacher and receive his bowl and robe. He should give him a sarong and receive the one he’s wearing in return. If the robe is damp, he should sun it for a short while, but shouldn’t leave it in the heat. He should fold the robe, offsetting the edges by seven centimeters, so that the fold doesn’t become worn. He should place the belt in the fold.
Khi trở về, nên đến trước, soạn chỗ ngồi, đặt sẵn nước rửa chân, ghế rửa chân, và đồ chà chân. Nên đi ra đón, nhận lấy bát và y. Nên dâng y nội (để mặc trong trú xứ), nhận lấy y nội (đã mặc vào làng). Nếu y bị ẩm ướt, nên phơi nắng một lúc, nhưng không nên để y ngoài nắng. Nên xếp y lại. Khi xếp y, nên chừa ra một góc bốn ngón tay rồi mới xếp y, với ý nghĩ rằng: ‘Mong rằng sẽ không có nếp gấp ở giữa.’ Nên đặt dây thắt lưng vào trong nếp gấp.
Sace piṇḍapāto hoti, ācariyo ca bhuñjitukāmo hoti, udakaṁ datvā piṇḍapāto upanāmetabbo. Ācariyo pānīyena pucchitabbo. Bhuttāvissa udakaṁ datvā pattaṁ paṭiggahetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena dhovitvā vodakaṁ katvā muhuttaṁ uṇhe otāpetabbo, na ca uṇhe patto nidahitabbo.
Pattacīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Pattaṁ nikkhipantena ekena hatthena pattaṁ gahetvā ekena hatthena heṭṭhāmañcaṁ vā heṭṭhāpīṭhaṁ vā parāmasitvā patto nikkhipitabbo. Na ca anantarahitāya bhūmiyā patto nikkhipitabbo. Cīvaraṁ nikkhipantena ekena hatthena cīvaraṁ gahetvā ekena hatthena cīvaravaṁsaṁ vā cīvararajjuṁ vā pamajjitvā pārato antaṁ orato bhogaṁ katvā cīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Ācariyamhi vuṭṭhite āsanaṁ uddharitabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ paṭisāmetabbaṁ. Sace so deso uklāpo hoti, so deso sammajjitabbo.
If there is almsfood and his teacher wants to eat, the pupil should give him water and then the almsfood. He should ask his teacher if he wants water to drink. When the teacher has eaten, the pupil should give him water and receive his bowl. Holding it low, he should wash it carefully without scratching it. He should then dry it and sun it for a short while, but shouldn’t leave it in the heat.
The pupil should put away the robe and bowl. When putting away the bowl, he should hold the bowl in one hand, feel under the bed or the bench with the other, and then put it away. He shouldn’t put the bowl away on the bare floor. When putting away the robe, he should hold the robe in one hand, wipe the bamboo robe rack or the clothesline with the other, and then put it away by folding the robe over it, making the ends face the wall and the fold face out. When the teacher has gotten up, the pupil should put away the seat and also the foot stool, the foot scraper, and the water for washing the feet. If the place is dirty, he should sweep it.
Nếu có vật thực khất thực và vị thầy muốn dùng, nên dâng nước rồi dâng vật thực khất thực. Nên hỏi vị thầy về nước uống. Khi vị thầy đã dùng xong, nên dâng nước, nhận lấy bát, hạ thấp xuống, rửa một cách cẩn thận không để cọ xát, làm cho ráo nước, rồi nên phơi nắng một lát; và không nên để bát ngoài nắng lâu. Nên cất y bát. Người cất bát, một tay nên cầm bát, một tay nên sờ dưới giường hoặc dưới ghế rồi mới đặt bát xuống. Và không nên đặt bát trên nền đất không có vật lót. Người cất y, một tay nên cầm y, một tay nên phủi sào phơi y hoặc dây phơi y, để đầu y ở phía bên kia, phần cuộn ở phía bên này, rồi cất y. Khi vị thầy đứng dậy, nên dọn dẹp chỗ ngồi; nên cất dọn nước rửa chân, ghế rửa chân, và đồ chà chân. Nếu nơi ấy có rác, nên quét dọn nơi ấy.
Sace ācariyo nahāyitukāmo hoti, nahānaṁ paṭiyādetabbaṁ. Sace sītena attho hoti, sītaṁ paṭiyādetabbaṁ. Sace uṇhena attho hoti, uṇhaṁ paṭiyādetabbaṁ.
If the teacher wants to bathe, the pupil should prepare a bath. If he wants a cold bath, he should prepare that; if he wants a hot bath, he should prepare that.
Nếu vị thầy muốn tắm, nên chuẩn bị nước tắm. Nếu vị thầy cần nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh. Nếu vị thầy cần nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.
Sace ācariyo jantāgharaṁ pavisitukāmo hoti, cuṇṇaṁ sannetabbaṁ, mattikā temetabbā, jantāgharapīṭhaṁ ādāya ācariyassa piṭṭhito piṭṭhito gantvā jantāgharapīṭhaṁ datvā cīvaraṁ paṭiggahetvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ, cuṇṇaṁ dātabbaṁ, mattikā dātabbā. Sace ussahati, jantāgharaṁ pavisitabbaṁ. Jantāgharaṁ pavisantena mattikāya mukhaṁ makkhetvā purato ca pacchato ca paṭicchādetvā jantāgharaṁ pavisitabbaṁ. Na there bhikkhū anupakhajja nisīditabbaṁ. Na navā bhikkhū āsanena paṭibāhitabbā. Jantāghare ācariyassa parikammaṁ kātabbaṁ. Jantāgharā nikkhamantena jantāgharapīṭhaṁ ādāya purato ca pacchato ca paṭicchādetvā jantāgharā nikkhamitabbaṁ.
If the teacher wants to take a sauna, the pupil should knead bath powder, moisten the clay, take a sauna bench, and follow behind his teacher. After giving the teacher the sauna bench, receiving his robe, and putting it aside, he should give him the bath powder and the clay. If he’s able, he should enter the sauna. When entering the sauna, he should smear his face with clay, cover himself front and back, and then enter. He shouldn’t sit encroaching on the senior monks, and he shouldn’t block the junior monks from getting a seat. While in the sauna, he should provide assistance to his teacher. When leaving the sauna, he should take the sauna bench, cover himself front and back, and then leave.
Nếu vị thầy muốn vào nhà xông hơi, nên trộn bột tắm, làm ẩm đất sét. Nên lấy ghế nhà xông hơi, đi theo sau lưng vị thầy, đưa ghế nhà xông hơi, nhận lấy y rồi đặt ở một nơi thích hợp. Nên đưa bột tắm, nên đưa đất sét. Nếu có thể, nên vào nhà xông hơi. Người vào nhà xông hơi nên thoa đất sét lên mặt, che đậy phía trước và phía sau rồi vào nhà xông hơi. Không nên ngồi chen lấn các vị tỳ khưu trưởng lão. Không nên dùng chỗ ngồi để cản trở các vị tỳ khưu mới. Nên làm công việc phục vụ cho vị thầy trong nhà xông hơi. Người ra khỏi nhà xông hơi nên lấy ghế nhà xông hơi, che đậy phía trước và phía sau rồi ra khỏi nhà xông hơi.
Udakepi ācariyassa parikammaṁ kātabbaṁ. Nahātena paṭhamataraṁ uttaritvā attano gattaṁ vodakaṁ katvā nivāsetvā ācariyassa gattato udakaṁ pamajjitabbaṁ, nivāsanaṁ dātabbaṁ, saṅghāṭi dātabbā, jantāgharapīṭhaṁ ādāya paṭhamataraṁ āgantvā āsanaṁ paññapetabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipitabbaṁ. Ācariyo pānīyena pucchitabbo. Sace uddisāpetukāmo hoti, uddisāpetabbo. Sace paripucchitukāmo hoti, paripucchitabbo.
He should also provide assistance to his teacher in the water. When he has bathed, he should be the first to come out. He should dry himself and put on his sarong. He should then wipe the water off his teacher’s body, and he should give him his sarong and then his upper robe. Taking the sauna bench, he should be first to return. He should prepare a seat, and also set out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He should ask his teacher if he wants water to drink. If the teacher wants him to recite, he should do so. If the teacher wants to question him, he should be questioned.
Ngay cả ở chỗ tắm, cũng nên làm công việc phục vụ cho vị thầy. Sau khi tắm xong, nên lên bờ trước, làm cho thân mình ráo nước, mặc y nội, rồi nên lau nước trên thân của vị thầy. Nên đưa y nội, nên đưa y tăng-già-lê. Nên lấy ghế nhà xông hơi, đến trước, sắp đặt chỗ ngồi, đặt gần đó nước rửa chân, ghế rửa chân, và đồ chà chân. Nên hỏi vị thầy về nước uống. Nếu vị thầy muốn học thuộc lòng, nên đọc cho vị thầy nghe. Nếu vị thầy muốn hỏi, nên hỏi vị thầy.
Yasmiṁ vihāre ācariyo viharati, sace so vihāro uklāpo hoti, sace ussahati, sodhetabbo. Vihāraṁ sodhentena paṭhamaṁ pattacīvaraṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; nisīdanapaccattharaṇaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; bhisibibbohanaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; mañco nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbo; pīṭhaṁ nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; mañcapaṭipādakā nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbā; kheḷamallako nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbo; apassenaphalakaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; bhūmattharaṇaṁ yathāpaññattaṁ sallakkhetvā nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ. Sace vihāre santānakaṁ hoti, ullokā paṭhamaṁ ohāretabbaṁ, ālokasandhikaṇṇabhāgā pamajjitabbā. Sace gerukaparikammakatā bhitti kaṇṇakitā hoti, coḷakaṁ temetvā pīḷetvā pamajjitabbā. Sace kāḷavaṇṇakatā bhūmi kaṇṇakitā hoti, coḷakaṁ temetvā pīḷetvā pamajjitabbā. Sace akatā hoti bhūmi, udakena paripphositvā sammajjitabbā—mā vihāro rajena uhaññīti. Saṅkāraṁ vicinitvā ekamantaṁ chaḍḍetabbaṁ.
If the dwelling where the teacher is staying is dirty, the pupil should clean it if he’s able. When he’s cleaning the dwelling, he should first take out the bowl and robe and put them aside. He should take out the sitting mat and the sheet and put them aside. He should take out the mattress and the pillow and put them aside. Holding the bed low, he should carefully take it out without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it aside. Holding the bench low, he should carefully take it out without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it aside. He should take out the bed supports and put them aside. He should take out the spittoon and put it aside. He should take out the leaning board and put it aside. After taking note of its position, he should take out the floor cover and put it aside. If the dwelling has cobwebs, he should first remove them from the ceiling cloth, and he should then wipe the windows and the corners of the room. If the walls have been treated with red ocher and they’re moldy, he should moisten a cloth, wring it out, and wipe the walls. If the floor has been treated with a black finish and it’s moldy, he should moisten a cloth, wring it out, and wipe the floor. If the floor is untreated, he should sprinkle it with water and then sweep it, trying to avoid stirring up dust. He should look out for any trash and discard it.
Tại trú xá nào mà vị thầy ở, nếu trú xá ấy có rác, nếu có thể, nên dọn dẹp. Người dọn dẹp trú xá, trước tiên nên mang y bát ra ngoài, đặt ở một nơi thích hợp; nên mang tấm lót ngồi và trải giường ra ngoài, đặt ở một nơi thích hợp; nên mang nệm và gối ra ngoài, đặt ở một nơi thích hợp; nên hạ thấp giường xuống, một cách cẩn thận, không cọ xát, không va chạm vào cánh cửa và khung cửa, mang ra ngoài, đặt ở một nơi thích hợp; nên hạ thấp ghế xuống, một cách cẩn thận, không cọ xát, không va chạm vào cánh cửa và khung cửa, mang ra ngoài, đặt ở một nơi thích hợp; nên mang chân giường ra ngoài, đặt ở một nơi thích hợp; nên mang ống nhổ ra ngoài, đặt ở một nơi thích hợp; nên mang tấm ván dựa lưng ra ngoài, đặt ở một nơi thích hợp; nên ghi nhớ cách trải tấm lót sàn, mang ra ngoài, đặt ở một nơi thích hợp. Nếu trong trú xá có mạng nhện, trước tiên nên quét từ trần nhà xuống; nên lau chùi các góc và khe hở của cửa sổ. Nếu bức tường được trát bằng đất son bị mốc, nên làm ẩm miếng giẻ, vắt khô rồi lau chùi. Nếu nền nhà được sơn màu đen bị mốc, nên làm ẩm miếng giẻ, vắt khô rồi lau chùi. Nếu là nền đất chưa được xử lý, nên rảy nước rồi quét – với ý nghĩ 'mong rằng bụi trong trú xá không bay lên'. Nên thu gom rác và đổ ở một nơi thích hợp.
Bhūmattharaṇaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Mañcapaṭipādakā otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbā. Mañco otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbo. Pīṭhaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Bhisibibbohanaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Nisīdanapaccattharaṇaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Kheḷamallako otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbo. Apassenaphalakaṁ otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbaṁ. Pattacīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Pattaṁ nikkhipantena ekena hatthena pattaṁ gahetvā ekena hatthena heṭṭhāmañcaṁ vā heṭṭhāpīṭhaṁ vā parāmasitvā patto nikkhipitabbo. Na ca anantarahitāya bhūmiyā patto nikkhipitabbo. Cīvaraṁ nikkhipantena ekena hatthena cīvaraṁ gahetvā ekena hatthena cīvaravaṁsaṁ vā cīvararajjuṁ vā pamajjitvā pārato antaṁ orato bhogaṁ katvā cīvaraṁ nikkhipitabbaṁ.
He should sun the floor cover, clean it, beat it, bring it back inside, and put it back as before. He should sun the bed supports, wipe them, bring them back inside, and put them back where they were. He should sun the bed, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the bench, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the mattress and the pillow, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the sitting mat and the sheet, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the spittoon, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should sun the leaning board, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should put away the bowl and robe. When putting away the bowl, he should hold the bowl in one hand, feel under the bed or the bench with the other, and then put it away. He shouldn’t put the bowl away on the bare floor. When putting away the robe, he should hold the robe in one hand, wipe the bamboo robe rack or the clothesline with the other, and then put it away by folding the robe over it, making the ends face the wall and the fold face out.
Tấm trải sàn nên được đem phơi nắng, lau chùi, giũ sạch, mang về và trải lại như cũ. Các chân giường nên được đem phơi nắng, lau chùi, mang về và đặt lại chỗ cũ. Cái giường nên được đem phơi nắng, lau chùi, giũ sạch, hạ thấp xuống, một cách cẩn thận, không kéo lê trên đất, không va chạm vào cánh cửa và khung cửa, mang về và trải lại như cũ. Cái ghế nên được đem phơi nắng, lau chùi, giũ sạch, hạ thấp xuống, một cách cẩn thận, không kéo lê trên đất, không va chạm vào cánh cửa và khung cửa, mang về và trải lại như cũ. Gối và nệm nên được đem phơi nắng, lau chùi, giũ sạch, mang về và trải lại như cũ. Tấm trải để ngồi nên được đem phơi nắng, lau chùi, giũ sạch, mang về và trải lại như cũ. Ống nhổ nên được đem phơi nắng, lau chùi, mang về và đặt lại chỗ cũ. Tấm ván dựa lưng nên được đem phơi nắng, lau chùi, mang về và đặt lại chỗ cũ. Y bát nên được cất đặt. Khi cất đặt bình bát, nên dùng một tay cầm lấy bình bát, dùng tay kia rờ soát dưới gầm giường hoặc dưới gầm ghế, rồi mới nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên nền đất không có vật trải lót. Khi cất đặt y, nên dùng một tay cầm lấy y, dùng tay kia lau chùi sào phơi y hoặc dây phơi y, rồi gấp y lại, để đầu y ở phía xa, phần cuộn ở phía gần, rồi mới nên cất đặt y.
Sace puratthimā sarajā vātā vāyanti, puratthimā vātapānā thaketabbā. Sace pacchimā sarajā vātā vāyanti, pacchimā vātapānā thaketabbā. Sace uttarā sarajā vātā vāyanti, uttarā vātapānā thaketabbā. Sace dakkhiṇā sarajā vātā vāyanti, dakkhiṇā vātapānā thaketabbā. Sace sītakālo hoti, divā vātapānā vivaritabbā, rattiṁ thaketabbā. Sace uṇhakālo hoti, divā vātapānā thaketabbā, rattiṁ vivaritabbā.
If dusty winds are blowing from the east, he should close the windows on the eastern side. If dusty winds are blowing from the west, he should close the windows on the western side. If dusty winds are blowing from the north, he should close the windows on the northern side. If dusty winds are blowing from the south, he should close the windows on the southern side. If the weather is cold, he should open the windows during the day and close them at night. If the weather is hot, he should close the windows during the day and open them at night.
Nếu những ngọn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được đóng lại. Nếu những ngọn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được đóng lại. Nếu những ngọn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được đóng lại. Nếu những ngọn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được đóng lại. Nếu là mùa lạnh, ban ngày các cửa sổ nên được mở ra, ban đêm nên được đóng lại. Nếu là mùa nóng, ban ngày các cửa sổ nên được đóng lại, ban đêm nên được mở ra.
Sace pariveṇaṁ uklāpaṁ hoti, pariveṇaṁ sammajjitabbaṁ. Sace koṭṭhako uklāpo hoti, koṭṭhako sammajjitabbo. Sace upaṭṭhānasālā uklāpā hoti, upaṭṭhānasālā sammajjitabbā. Sace aggisālā uklāpā hoti, aggisālā sammajjitabbā. Sace vaccakuṭi uklāpā hoti, vaccakuṭi sammajjitabbā. Sace pānīyaṁ na hoti, pānīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ. Sace paribhojanīyaṁ na hoti, paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ. Sace ācamanakumbhiyaṁ udakaṁ na hoti, ācamanakumbhiyā udakaṁ āsiñcitabbaṁ.
If the yard is dirty, he should sweep it. If the gatehouse is dirty, he should sweep it. If the assembly hall is dirty, he should sweep it. If the water-boiling shed is dirty, he should sweep it. If the restroom is dirty, he should sweep it. If there is no water for drinking, he should get some. If there is no water for washing, he should get some. If there is no water in the restroom ablutions pot, he should fill it.
Nếu khuôn viên có rác, khuôn viên nên được quét dọn. Nếu cổng ra vào có rác, cổng ra vào nên được quét dọn. Nếu nhà hội có rác, nhà hội nên được quét dọn. Nếu nhà bếp có rác, nhà bếp nên được quét dọn. Nếu nhà vệ sinh có rác, nhà vệ sinh nên được quét dọn. Nếu không có nước uống, nước uống nên được chuẩn bị sẵn. Nếu không có nước dùng, nước dùng nên được chuẩn bị sẵn. Nếu trong lu nước rửa tay không có nước, nước nên được đổ vào trong lu nước rửa tay.
Sace ācariyassa anabhirati uppannā hoti, antevāsikena vūpakāsetabbo, vūpakāsāpetabbo, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace ācariyassa kukkuccaṁ uppannaṁ hoti, antevāsikena vinodetabbaṁ, vinodāpetabbaṁ, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace ācariyassa diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti, antevāsikena vivecetabbaṁ, vivecāpetabbaṁ, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace ācariyo garudhammaṁ ajjhāpanno hoti parivāsāraho, antevāsikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho ācariyassa parivāsaṁ dadeyyāti. Sace ācariyo mūlāyapaṭikassanāraho hoti, antevāsikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho ācariyaṁ mūlāya paṭikasseyyāti. Sace ācariyo mānattāraho hoti, antevāsikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho ācariyassa mānattaṁ dadeyyāti. Sace ācariyo abbhānāraho hoti, antevāsikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho ācariyaṁ abbheyyāti.
Sace saṅgho ācariyassa kammaṁ kattukāmo hoti, tajjanīyaṁ vā niyassaṁ vā pabbājanīyaṁ vā paṭisāraṇīyaṁ vā ukkhepanīyaṁ vā, antevāsikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho ācariyassa kammaṁ na kareyya, lahukāya vā pariṇāmeyyāti. Kataṁ vā panassa hoti saṅghena kammaṁ, tajjanīyaṁ vā niyassaṁ vā pabbājanīyaṁ vā paṭisāraṇīyaṁ vā ukkhepanīyaṁ vā, antevāsikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho ācariyo sammā vatteyya, lomaṁ pāteyya, netthāraṁ vatteyya, saṅgho taṁ kammaṁ paṭippassambheyyāti.
If the teacher becomes discontent with the spiritual life, the pupil should send him away or have him sent away, or he should give him a teaching. If the teacher becomes anxious, the pupil should dispel it or have it dispelled, or he should give him a teaching. If the teacher has wrong view, the pupil should make him give it up or have someone else do it, or he should give him a teaching. If the teacher has committed a heavy offense and deserves probation, the pupil should try to get the Sangha to give it to him. If the teacher has committed a heavy offense and deserves to be sent back to the beginning, the pupil should try to get the Sangha to do it. If the teacher has committed a heavy offense and deserves the trial period, the pupil should try to get the Sangha to give it to him. If the teacher has committed a heavy offense and deserves rehabilitation, the pupil should try to get the Sangha to give it to him.
If the Sangha wants to do a legal procedure against his teacher—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection—the pupil should make an effort to stop it or to reduce the penalty. But if the Sangha has already done a legal procedure against his teacher—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection—the pupil should help the teacher conduct himself properly and suitably so as to deserve to be released, and try to get the Sangha to lift that procedure.
Nếu vị thầy sanh tâm không hoan hỷ, người đệ tử nên làm cho thầy an lòng, hoặc nhờ người khác làm cho thầy an lòng, hoặc nên thuyết pháp cho vị ấy nghe. Nếu vị thầy sanh tâm hối hận, người đệ tử nên làm cho tiêu tan, hoặc nhờ người khác làm cho tiêu tan, hoặc nên thuyết pháp cho vị ấy nghe. Nếu vị thầy sanh khởi tà kiến, người đệ tử nên phân giải, hoặc nhờ người khác phân giải, hoặc nên thuyết pháp cho vị ấy nghe. Nếu vị thầy đã phạm tội nặng, đáng chịu biệt trú, người đệ tử nên cố gắng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng có thể ban hình phạt biệt trú cho vị thầy?’ Nếu vị thầy đáng bị phạt hạ bậc, người đệ tử nên cố gắng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng có thể phạt hạ bậc vị thầy?’ Nếu vị thầy đáng chịu hành phạt, người đệ tử nên cố gắng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng có thể ban hình phạt hành phạt cho vị thầy?’ Nếu vị thầy đáng được giải tội, người đệ tử nên cố gắng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng có thể giải tội cho vị thầy?’ Nếu Tăng chúng có ý định thực hiện yết-ma đối với vị thầy, hoặc là yết-ma khiển trách, hoặc yết-ma y chỉ, hoặc yết-ma tẩn xuất, hoặc yết-ma sám hối, hoặc yết-ma cử tội, người đệ tử nên cố gắng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng không thực hiện yết-ma đối với vị thầy, hoặc có thể chuyển thành hình phạt nhẹ hơn?’ Hoặc nếu Tăng chúng đã thực hiện yết-ma đối với vị ấy, hoặc là yết-ma khiển trách, hoặc yết-ma y chỉ, hoặc yết-ma tẩn xuất, hoặc yết-ma sám hối, hoặc yết-ma cử tội, người đệ tử nên cố gắng: ‘Làm thế nào để vị thầy có thể hành xử đúng đắn, từ bỏ ngã mạn, thực hành để được phục hồi, và để Tăng chúng có thể đình chỉ yết-ma ấy?’
Sace ācariyassa cīvaraṁ dhovitabbaṁ hoti, antevāsikena dhovitabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho ācariyassa cīvaraṁ dhoviyethāti. Sace ācariyassa cīvaraṁ kātabbaṁ hoti, antevāsikena kātabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho ācariyassa cīvaraṁ kariyethāti. Sace ācariyassa rajanaṁ pacitabbaṁ hoti, antevāsikena pacitabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho ācariyassa rajanaṁ paciyethāti. Sace ācariyassa cīvaraṁ rajitabbaṁ hoti, antevāsikena rajitabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho ācariyassa cīvaraṁ rajiyethāti. Cīvaraṁ rajantena sādhukaṁ samparivattakaṁ samparivattakaṁ rajitabbaṁ, na ca acchinne theve pakkamitabbaṁ.
If the teacher’s robe needs washing, the pupil should do it himself, or he should make an effort to get it done. If the teacher needs a robe, the pupil should make one himself, or he should make an effort to get one made. If the teacher needs dye, the pupil should make it himself, or he should make an effort to get it made. If the teacher’s robe needs dyeing, the pupil should do it himself, or he should make an effort to get it done. When he’s dyeing the robe, he should carefully and repeatedly turn it over, and shouldn’t go away while it’s still dripping.
Nếu y của vị thầy cần được giặt, người đệ tử nên giặt, hoặc nên cố gắng: ‘Làm thế nào để y của vị thầy có thể được giặt?’ Nếu y của vị thầy cần được may, người đệ tử nên may, hoặc nên cố gắng: ‘Làm thế nào để y của vị thầy có thể được may?’ Nếu thuốc nhuộm cho vị thầy cần được nấu, người đệ tử nên nấu, hoặc nên cố gắng: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm cho vị thầy có thể được nấu?’ Nếu y của vị thầy cần được nhuộm, người đệ tử nên nhuộm, hoặc nên cố gắng: ‘Làm thế nào để y của vị thầy có thể được nhuộm?’ Khi nhuộm y, nên nhuộm một cách kỹ lưỡng, lật qua lật lại nhiều lần, và không nên rời đi khi thuốc nhuộm còn chưa ráo.
Na ācariyaṁ anāpucchā ekaccassa patto dātabbo, na ekaccassa patto paṭiggahetabbo; na ekaccassa cīvaraṁ dātabbaṁ; na ekaccassa cīvaraṁ paṭiggahetabbaṁ; na ekaccassa parikkhāro dātabbo; na ekaccassa parikkhāro paṭiggahetabbo; na ekaccassa kesā chedetabbā; na ekaccena kesā chedāpetabbā; na ekaccassa parikammaṁ kātabbaṁ; na ekaccena parikammaṁ kārāpetabbaṁ; na ekaccassa veyyāvacco kātabbo; na ekaccena veyyāvacco kārāpetabbo; na ekaccassa pacchāsamaṇena hotabbaṁ; na ekacco pacchāsamaṇo ādātabbo; na ekaccassa piṇḍapāto nīharitabbo; na ekaccena piṇḍapāto nīharāpetabbo. Na ācariyaṁ anāpucchā gāmo pavisitabbo, na susānaṁ gantabbaṁ, na disā pakkamitabbā. Sace ācariyo gilāno hoti, yāvajīvaṁ upaṭṭhātabbo, vuṭṭhānamassa āgametabban”ti.
Without asking his teacher for permission, he shouldn’t do any of the following: give away or receive a bowl; give away or receive a robe; give away or receive a requisite; cut anyone’s hair or have it cut; provide assistance to anyone or have assistance provided by anyone; do a service for anyone or get a service done by anyone; be the attendant monk for anyone or take anyone as his attendant monk; bring back almsfood for anyone or get almsfood brought back by anyone; enter the village, go to the charnel ground, or leave for another region. If his teacher is sick, he should nurse him for as long as he lives, or he should wait until he’s recovered.”
“Không hỏi ý kiến thầy tế độ, không được cho bình bát đến một vị nào đó, không được nhận bình bát của một vị nào đó; không được cho y đến một vị nào đó; không được nhận y của một vị nào đó; không được cho vật dụng đến một vị nào đó; không được nhận vật dụng của một vị nào đó; không được cạo tóc cho một vị nào đó; không được nhờ một vị nào đó cạo tóc cho mình; không được làm công việc phục vụ cho một vị nào đó; không được nhờ một vị nào đó làm công việc phục vụ cho mình; không được làm việc lặt vặt cho một vị nào đó; không được nhờ một vị nào đó làm việc lặt vặt cho mình; không được làm thị giả đi theo sau một vị nào đó; không được nhận một vị nào đó làm thị giả đi theo sau; không được mang vật thực khất thực cho một vị nào đó; không được nhờ một vị nào đó mang vật thực khất thực cho mình. Không hỏi ý kiến thầy tế độ, không được đi vào làng, không được đi đến nghĩa địa, không được đi đến phương khác. Nếu thầy tế độ bị bệnh, vị ấy phải được hầu hạ cho đến trọn đời, và phải chờ đợi sự bình phục của vị thầy ấy.”
Ācariyavattaṁ niṭṭhitaṁ.
The proper conduct toward a teacher is finished.
Phận sự đối với thầy tế độ đã xong.
19. Luận về phận sự đối với đệ tử
“Ācariyena, bhikkhave, antevāsikamhi sammā vattitabbaṁ. Tatrāyaṁ sammāvattanā—
“And a teacher should conduct himself properly toward his pupil. This is the proper conduct:
79. “Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ nên hành xử đúng đắn đối với đệ tử. Đây là sự hành xử đúng đắn –
Ācariyena, bhikkhave, antevāsiko saṅgahetabbo anuggahetabbo uddesena paripucchāya ovādena anusāsaniyā. Sace ācariyassa patto hoti, antevāsikassa patto na hoti, ācariyena antevāsikassa patto dātabbo, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho antevāsikassa patto uppajjiyethāti. Sace ācariyassa cīvaraṁ hoti, antevāsikassa cīvaraṁ na hoti, ācariyena antevāsikassa cīvaraṁ dātabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho antevāsikassa cīvaraṁ uppajjiyethāti. Sace ācariyassa parikkhāro hoti, antevāsikassa parikkhāro na hoti, ācariyena antevāsikassa parikkhāro dātabbo, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho antevāsikassa parikkhāro uppajjiyethāti.
A teacher should help and take care of his pupil through recitation, questioning, and instruction. If the teacher has a bowl, but not the pupil, the teacher should give it to him, or he should make an effort to get him one. If the teacher has a robe, but not the pupil, the teacher should give it to him, or he should make an effort to get him one. If the teacher has a requisite, but not the pupil, the teacher should give it to him, or he should make an effort to get him one.
“Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ nên nhiếp hộ, nâng đỡ đệ tử bằng việc dạy đọc thuộc lòng, bằng việc hỏi han, bằng lời khuyên dạy, bằng lời giáo huấn. Nếu thầy tế độ có bình bát, mà đệ tử không có bình bát, vị thầy tế độ nên cho đệ tử bình bát, hoặc nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để bình bát có thể phát sanh cho đệ tử?’ Nếu thầy tế độ có y, mà đệ tử không có y, vị thầy tế độ nên cho đệ tử y, hoặc nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để y có thể phát sanh cho đệ tử?’ Nếu thầy tế độ có vật dụng, mà đệ tử không có vật dụng, vị thầy tế độ nên cho đệ tử vật dụng, hoặc nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để vật dụng có thể phát sanh cho đệ tử?’”
Sace antevāsiko gilāno hoti, kālasseva uṭṭhāya dantakaṭṭhaṁ dātabbaṁ, mukhodakaṁ dātabbaṁ, āsanaṁ paññapetabbaṁ. Sace yāgu hoti, bhājanaṁ dhovitvā yāgu upanāmetabbā. Yāguṁ pītassa udakaṁ datvā bhājanaṁ paṭiggahetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena dhovitvā paṭisāmetabbaṁ. Antevāsikamhi vuṭṭhite āsanaṁ uddharitabbaṁ. Sace so deso uklāpo hoti, so deso sammajjitabbo.
If the pupil is sick, the teacher should get up at the appropriate time and give his pupil a tooth cleaner and water for rinsing the mouth, and he should prepare a seat for him. If there is congee, he should rinse a vessel and bring the congee to his pupil. When he has drunk the congee, the teacher should give him water and receive the vessel. Holding it low, he should wash it carefully without scratching it and then put it away. When the pupil has gotten up, the teacher should put away the seat. If the place is dirty, he should sweep it.
“Nếu đệ tử bị bệnh, nên thức dậy sớm, đưa tăm xỉa răng, đưa nước rửa mặt, soạn chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa vật đựng rồi dâng cháo. Sau khi đệ tử đã uống cháo, nên đưa nước, nhận lấy vật đựng, để xuống thấp, rửa cẩn thận không để va chạm, rồi cất đi. Khi đệ tử đã đứng dậy, nên dọn dẹp chỗ ngồi. Nếu nơi đó có rác, nên quét dọn nơi đó.”
Sace antevāsiko gāmaṁ pavisitukāmo hoti, nivāsanaṁ dātabbaṁ, paṭinivāsanaṁ paṭiggahetabbaṁ, kāyabandhanaṁ dātabbaṁ, saguṇaṁ katvā saṅghāṭiyo dātabbā, dhovitvā patto sodako dātabbo.
If the pupil wants to enter the village, the teacher should give him a sarong and receive the one he’s wearing in return. He should give him a belt. He should put the upper robes together, overlapping each other edge-to-edge, and then give them to him. He should rinse his pupil’s bowl and give it to him while wet.
“Nếu đệ tử muốn đi vào làng, nên đưa y nội (để mặc), nhận lấy y nội (đang mặc), đưa dây thắt lưng, xếp y tăng-già-lê làm hai rồi đưa, rửa bình bát rồi đưa cùng với nước.”
Ettāvatā nivattissatīti āsanaṁ paññapetabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipitabbaṁ, paccuggantvā pattacīvaraṁ paṭiggahetabbaṁ, paṭinivāsanaṁ dātabbaṁ, nivāsanaṁ paṭiggahetabbaṁ. Sace cīvaraṁ sinnaṁ hoti, muhuttaṁ uṇhe otāpetabbaṁ, na ca uṇhe cīvaraṁ nidahitabbaṁ. Cīvaraṁ saṅgharitabbaṁ. Cīvaraṁ saṅgharantena caturaṅgulaṁ kaṇṇaṁ ussāretvā cīvaraṁ saṅgharitabbaṁ—mā majjhe bhaṅgo ahosīti. Obhoge kāyabandhanaṁ kātabbaṁ.
Before he’s due back, the teacher should prepare a seat and set out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He should go out to meet the pupil and receive his bowl and robe. He should give him a sarong and receive the one he’s wearing in return. If the robe is damp, he should sun it for a short while, but shouldn’t leave it in the heat. He should fold the robe, offsetting the edges by seven centimeters, so that the fold doesn’t become worn. He should place the belt in the fold.
“Nghĩ rằng: ‘Đến chừng này vị ấy sẽ trở về,’ nên soạn chỗ ngồi, đặt sẵn nước rửa chân, ghế rửa chân, và đồ chà chân ở gần. Nên đi ra đón, nhận lấy y bát, đưa y nội (để mặc ở tu viện), nhận lấy y nội (đã mặc). Nếu y bị ướt, nên phơi nắng một lát, và không nên để y ngoài nắng lâu. Nên xếp y. Khi xếp y, nên chừa ra một góc bốn ngón tay rồi xếp y, (nghĩ rằng): ‘Mong rằng nếp gấp ở giữa sẽ không bị gãy.’ Nên đặt dây thắt lưng vào trong nếp gấp.”
Sace piṇḍapāto hoti, antevāsiko ca bhuñjitukāmo hoti, udakaṁ datvā piṇḍapāto upanāmetabbo. Antevāsiko pānīyena pucchitabbo. Bhuttāvissa udakaṁ datvā pattaṁ paṭiggahetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena dhovitvā vodakaṁ katvā muhuttaṁ uṇhe otāpetabbo, na ca uṇhe patto nidahitabbo. Pattacīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Pattaṁ nikkhipantena ekena hatthena pattaṁ gahetvā ekena hatthena heṭṭhāmañcaṁ vā heṭṭhāpīṭhaṁ vā parāmasitvā patto nikkhipitabbo. Na ca anantarahitāya bhūmiyā patto nikkhipitabbo. Cīvaraṁ nikkhipantena ekena hatthena cīvaraṁ gahetvā ekena hatthena cīvaravaṁsaṁ vā cīvararajjuṁ vā pamajjitvā pārato antaṁ orato bhogaṁ katvā cīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Antevāsikamhi vuṭṭhite āsanaṁ uddharitabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ paṭisāmetabbaṁ. Sace so deso uklāpo hoti, so deso sammajjitabbo.
If there is almsfood and his pupil wants to eat, the teacher should give him water and then the almsfood. He should ask his pupil if he wants water to drink. When the pupil has eaten, the teacher should give him water and receive his bowl. Holding it low, he should wash it carefully without scratching it. He should then dry it and sun it for a short while, but shouldn’t leave it in the heat. The teacher should put away the robe and bowl. When putting away the bowl, he should hold the bowl in one hand, feel under the bed or the bench with the other, and then put it away. He shouldn’t put the bowl away on the bare floor. When putting away the robe, he should hold the robe in one hand, wipe the bamboo robe rack or the clothesline with the other, and then put it away by folding the robe over it, making the ends face the wall and the fold face out. When the pupil has gotten up, the teacher should put away the seat and also the foot stool, the foot scraper, and the water for washing the feet. If the place is dirty, he should sweep it.
“Nếu có vật thực khất thực và đệ tử muốn dùng, nên đưa nước rồi dâng vật thực. Nên hỏi đệ tử về nước uống. Sau khi vị ấy đã dùng xong, nên đưa nước, nhận lấy bình bát, để xuống thấp, rửa cẩn thận không để va chạm, làm cho ráo nước, phơi nắng một lát, và không nên để bình bát ngoài nắng lâu. Nên cất y bát. Khi cất bình bát, một tay cầm bình bát, một tay sờ dưới giường hoặc dưới ghế rồi đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên nền đất không có đồ lót. Khi cất y, một tay cầm y, một tay lau sào phơi y hoặc dây phơi y, để mép y bên kia, nếp gấp bên này rồi cất y. Khi đệ tử đã đứng dậy, nên dọn dẹp chỗ ngồi, cất nước rửa chân, ghế rửa chân, và đồ chà chân. Nếu nơi đó có rác, nên quét dọn nơi đó.”
Sace antevāsiko nahāyitukāmo hoti, nahānaṁ paṭiyādetabbaṁ. Sace sītena attho hoti, sītaṁ paṭiyādetabbaṁ. Sace uṇhena attho hoti, uṇhaṁ paṭiyādetabbaṁ.
Sace antevāsiko jantāgharaṁ pavisitukāmo hoti, cuṇṇaṁ sannetabbaṁ, mattikā temetabbā, jantāgharapīṭhaṁ ādāya gantvā jantāgharapīṭhaṁ datvā cīvaraṁ paṭiggahetvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ, cuṇṇaṁ dātabbaṁ, mattikā dātabbā. Sace ussahati, jantāgharaṁ pavisitabbaṁ. Jantāgharaṁ pavisantena mattikāya mukhaṁ makkhetvā purato ca pacchato ca paṭicchādetvā jantāgharaṁ pavisitabbaṁ. Na ca there bhikkhū anupakhajja nisīditabbaṁ, na navā bhikkhū āsanena paṭibāhitabbā. Jantāghare antevāsikassa parikammaṁ kātabbaṁ. Jantāgharā nikkhamantena jantāgharapīṭhaṁ ādāya purato ca pacchato ca paṭicchādetvā jantāgharā nikkhamitabbaṁ.
If the pupil wants to bathe, the teacher should prepare a bath. If he wants a cold bath, he should prepare that; if he wants a hot bath, he should prepare that.
If the pupil wants to take a sauna, the teacher should knead bath powder, moisten the clay, take a sauna bench, and go to the sauna. After giving the pupil the sauna bench, receiving his robe, and putting it aside, he should give him the bath powder and the clay. If he’s able, he should enter the sauna. When entering the sauna, he should smear his face with clay, cover himself front and back, and then enter. He shouldn’t sit encroaching on the senior monks, and he shouldn’t block the junior monks from getting a seat. While in the sauna, he should provide assistance to his pupil. When leaving the sauna, he should take the sauna bench, cover himself front and back, and then leave.
“Nếu đệ tử muốn tắm, nên chuẩn bị nước tắm. Nếu cần nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh. Nếu cần nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.”
Udakepi antevāsikassa parikammaṁ kātabbaṁ. Nahātena paṭhamataraṁ uttaritvā attano gattaṁ vodakaṁ katvā nivāsetvā antevāsikassa gattato udakaṁ pamajjitabbaṁ, nivāsanaṁ dātabbaṁ, saṅghāṭi dātabbā, jantāgharapīṭhaṁ ādāya paṭhamataraṁ āgantvā āsanaṁ paññapetabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipitabbaṁ. Antevāsiko pānīyena pucchitabbo.
The teacher should also provide assistance to his pupil in the water. When the teacher has bathed, he should be the first to come out. He should dry himself and put on his sarong. He should then wipe the water off his pupil’s body, and he should give him his sarong and then his upper robe. Taking the sauna bench, he should be first to return. He should prepare a seat, and also set out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He should ask his pupil if he wants water to drink.
“Cũng ở chỗ tắm, nên làm công việc phục vụ cho vị đệ tử sống cùng. Vị đã tắm xong nên lên trước, làm cho thân mình khô ráo, mặc y nội, rồi nên lau nước trên thân của vị đệ tử sống cùng; nên đưa y nội, nên đưa y tăng-già-lê; nên lấy ghế của nhà xông hơi, đến trước, rồi nên sửa soạn chỗ ngồi; nên đặt sẵn nước rửa chân, ghế rửa chân, và vật chà chân. Nên hỏi vị đệ tử sống cùng về nước uống.
Yasmiṁ vihāre antevāsiko viharati, sace so vihāro uklāpo hoti, sace ussahati, sodhetabbo. Vihāraṁ sodhentena paṭhamaṁ pattacīvaraṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; nisīdanapaccattharaṇaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; bhisibibbohanaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; mañco nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbo; pīṭhaṁ nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; mañcapaṭipādakā nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbā; kheḷamallako nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbo; apassenaphalakaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; bhūmattharaṇaṁ yathāpaññattaṁ sallakkhetvā nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ. Sace vihāre santānakaṁ hoti, ullokā paṭhamaṁ otāretabbaṁ, ālokasandhikaṇṇabhāgā pamajjitabbā. Sace gerukaparikammakatā bhitti kaṇṇakitā hoti, coḷakaṁ temetvā pīḷetvā pamajjitabbā. Sace kāḷavaṇṇakatā bhūmi kaṇṇakitā hoti, coḷakaṁ temetvā pīḷetvā pamajjitabbā. Sace akatā hoti bhūmi, udakena paripphositvā sammajjitabbā—mā vihāro rajena uhaññīti. Saṅkāraṁ vicinitvā ekamantaṁ chaḍḍetabbaṁ.
If the dwelling where the pupil is staying is dirty, the teacher should clean it if he’s able. When he’s cleaning the dwelling, he should first take out the bowl and robe and put them aside. He should take out the sitting mat and the sheet and put them aside. He should take out the mattress and the pillow and put them aside. Holding the bed low, he should carefully take it out without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it aside. Holding the bench low, he should carefully take it out without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it aside. He should take out the bed supports and put them aside. He should take out the spittoon and put it aside. He should take out the leaning board and put it aside. After taking note of its position, he should take out the floor cover and put it aside. If the dwelling has cobwebs, he should first remove them from the ceiling cloth, and he should then wipe the windows and the corners of the room. If the walls have been treated with red ocher and they’re moldy, he should moisten a cloth, wring it out, and wipe the walls. If the floor has been treated with a black finish and it’s moldy, he should moisten a cloth, wring it out, and wipe the floor. If the floor is untreated, he should sprinkle it with water and then sweep it, trying to avoid stirring up dust. He should look out for any trash and discard it.
“Nếu trú xá nơi vị đệ tử sống cùng ở có rác rưởi, nếu có thể, nên dọn dẹp. Vị dọn dẹp trú xá trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi đặt ở một nơi thích hợp; nên đem tấm lót ngồi và tấm trải sàn ra ngoài rồi đặt ở một nơi thích hợp; nên đem nệm gối ra ngoài rồi đặt ở một nơi thích hợp; nên hạ thấp giường xuống, một cách cẩn thận, không kéo lê, không va chạm vào cánh cửa và khung cửa, đem ra ngoài rồi đặt ở một nơi thích hợp; nên hạ thấp ghế xuống, một cách cẩn thận, không kéo lê, không va chạm vào cánh cửa và khung cửa, đem ra ngoài rồi đặt ở một nơi thích hợp; nên đem các chân giường ra ngoài rồi đặt ở một nơi thích hợp; nên đem ống nhổ ra ngoài rồi đặt ở một nơi thích hợp; nên đem tấm ván dựa lưng ra ngoài rồi đặt ở một nơi thích hợp; nên ghi nhớ cách trải tấm lót sàn rồi đem ra ngoài, đặt ở một nơi thích hợp. Nếu trong trú xá có mạng nhện, trước tiên nên quét từ trên trần xuống; nên lau chùi các khe cửa sổ và các góc. Nếu bức tường được trét bằng đất hoàng thổ bị mốc, nên làm ẩm miếng giẻ, vắt khô rồi lau chùi. Nếu nền nhà được tô bằng màu đen bị mốc, nên làm ẩm miếng giẻ, vắt khô rồi lau chùi. Nếu là nền đất không được tô trét, nên rảy nước rồi quét – với ý nghĩ ‘mong rằng trú xá không bị bụi bặm bay lên.’ Nên thu gom rác rồi đổ ở một nơi thích hợp.
Bhūmattharaṇaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Mañcapaṭipādakā otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbā. Mañco otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbo. Pīṭhaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Bhisibibbohanaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Nisīdanapaccattharaṇaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Kheḷamallako otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbo. Apassenaphalakaṁ otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbaṁ. Pattacīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Pattaṁ nikkhipantena ekena hatthena pattaṁ gahetvā ekena hatthena heṭṭhāmañcaṁ vā heṭṭhāpīṭhaṁ vā parāmasitvā patto nikkhipitabbo. Na ca anantarahitāya bhūmiyā patto nikkhipitabbo. Cīvaraṁ nikkhipantena ekena hatthena cīvaraṁ gahetvā ekena hatthena cīvaravaṁsaṁ vā cīvararajjuṁ vā pamajjitvā pārato antaṁ orato bhogaṁ katvā cīvaraṁ nikkhipitabbaṁ.
He should sun the floor cover, clean it, beat it, bring it back inside, and put it back as before. He should sun the bed supports, wipe them, bring them back inside, and put them back where they were. He should sun the bed, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the bench, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the mattress and the pillow, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the sitting mat and the sheet, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the spittoon, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should sun the leaning board, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should put away the bowl and robe. When putting away the bowl, he should hold the bowl in one hand, feel under the bed or the bench with the other, and then put it away. He shouldn’t put the bowl away on the bare floor. When putting away the robe, he should hold the robe in one hand, wipe the bamboo robe rack or the clothesline with the other, and then put it away by folding the robe over it, making the ends face the wall and the fold face out.
“Nên phơi nắng tấm lót sàn, lau chùi, giũ sạch, đem vào lại rồi trải ra như cũ. Nên phơi nắng các chân giường, lau sạch, đem vào lại rồi đặt vào đúng chỗ. Nên phơi nắng giường, lau chùi, giũ sạch, hạ thấp xuống, một cách cẩn thận, không kéo lê, không va chạm vào cánh cửa và khung cửa, đem vào lại rồi trải ra như cũ. Nên phơi nắng ghế, lau chùi, giũ sạch, hạ thấp xuống, một cách cẩn thận, không kéo lê, không va chạm vào cánh cửa và khung cửa, đem vào lại rồi trải ra như cũ. Nên phơi nắng nệm gối, lau chùi, giũ sạch, đem vào lại rồi trải ra như cũ. Nên phơi nắng tấm lót ngồi và tấm trải sàn, lau chùi, giũ sạch, đem vào lại rồi trải ra như cũ. Nên phơi nắng ống nhổ, lau sạch, đem vào lại rồi đặt vào đúng chỗ. Nên phơi nắng tấm ván dựa lưng, lau sạch, đem vào lại rồi đặt vào đúng chỗ. Nên cất y bát. Vị cất bát, một tay nên cầm bát, một tay nên rờ bên dưới giường hoặc bên dưới ghế, rồi nên đặt bát xuống. Và không nên đặt bát trên nền đất không có vật lót. Vị cất y, một tay nên cầm y, một tay nên lau sào phơi y hoặc dây phơi y, để một đầu y ở phía bên kia và xếp nếp ở phía bên này, rồi nên cất y.
Sace puratthimā sarajā vātā vāyanti, puratthimā vātapānā thaketabbā. Sace pacchimā sarajā vātā vāyanti, pacchimā vātapānā thaketabbā. Sace uttarā sarajā vātā vāyanti, uttarā vātapānā thaketabbā. Sace dakkhiṇā sarajā vātā vāyanti, dakkhiṇā vātapānā thaketabbā. Sace sītakālo hoti, divā vātapānā vivaritabbā, rattiṁ thaketabbā. Sace uṇhakālo hoti, divā vātapānā thaketabbā, rattiṁ vivaritabbā.
If dusty winds are blowing from the east, he should close the windows on the eastern side. If dusty winds are blowing from the west, he should close the windows on the western side. If dusty winds are blowing from the north, he should close the windows on the northern side. If dusty winds are blowing from the south, he should close the windows on the southern side. If the weather is cold, he should open the windows during the day and close them at night. If the weather is hot, he should close the windows during the day and open them at night.
“Nếu những ngọn gió bụi bặm từ hướng đông thổi đến, nên đóng các cửa sổ hướng đông. Nếu những ngọn gió bụi bặm từ hướng tây thổi đến, nên đóng các cửa sổ hướng tây. Nếu những ngọn gió bụi bặm từ hướng bắc thổi đến, nên đóng các cửa sổ hướng bắc. Nếu những ngọn gió bụi bặm từ hướng nam thổi đến, nên đóng các cửa sổ hướng nam. Nếu là mùa lạnh, ban ngày nên mở các cửa sổ, ban đêm nên đóng lại. Nếu là mùa nóng, ban ngày nên đóng các cửa sổ, ban đêm nên mở ra.
Sace pariveṇaṁ uklāpaṁ hoti, pariveṇaṁ sammajjitabbaṁ. Sace koṭṭhako uklāpo hoti, koṭṭhako sammajjitabbo. Sace upaṭṭhānasālā uklāpā hoti, upaṭṭhānasālā sammajjitabbā. Sace aggisālā uklāpā hoti, aggisālā sammajjitabbā. Sace vaccakuṭi uklāpā hoti, vaccakuṭi sammajjitabbā. Sace pānīyaṁ na hoti, pānīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ. Sace paribhojanīyaṁ na hoti, paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ. Sace ācamanakumbhiyā udakaṁ na hoti, ācamanakumbhiyā udakaṁ āsiñcitabbaṁ.
If the yard is dirty, he should sweep it. If the gatehouse is dirty, he should sweep it. If the assembly hall is dirty, he should sweep it. If the water-boiling shed is dirty, he should sweep it. If the restroom is dirty, he should sweep it. If there is no water for drinking, he should get some. If there is no water for washing, he should get some. If there is no water in the restroom ablutions pot, he should fill it.
Nếu khuôn viên có rác, nên quét dọn khuôn viên. Nếu cổng vòm có rác, nên quét dọn cổng vòm. Nếu nhà hội họp có rác, nên quét dọn nhà hội họp. Nếu nhà bếp có rác, nên quét dọn nhà bếp. Nếu nhà vệ sinh có rác, nên quét dọn nhà vệ sinh. Nếu không có nước uống, nên chuẩn bị sẵn nước uống. Nếu không có nước dùng, nên chuẩn bị sẵn nước dùng. Nếu trong lu nước rửa tay không có nước, nên đổ nước vào lu nước rửa tay.
Sace antevāsikassa anabhirati uppannā hoti, ācariyena vūpakāsetabbo, vūpakāsāpetabbo, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace antevāsikassa kukkuccaṁ uppannaṁ hoti, ācariyena vinodetabbaṁ, vinodāpetabbaṁ, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace antevāsikassa diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti, ācariyena vivecetabbaṁ, vivecāpetabbaṁ, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace antevāsiko garudhammaṁ ajjhāpanno hoti parivāsāraho, ācariyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho, antevāsikassa parivāsaṁ dadeyyāti. Sace antevāsiko mūlāyapaṭikassanāraho hoti, ācariyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho antevāsikaṁ mūlāya paṭikasseyyāti. Sace antevāsiko mānattāraho hoti, ācariyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho antevāsikassa mānattaṁ dadeyyāti. Sace antevāsiko abbhānāraho hoti, ācariyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho antevāsikaṁ abbheyyāti.
Sace saṅgho antevāsikassa kammaṁ kattukāmo hoti, tajjanīyaṁ vā niyassaṁ vā pabbājanīyaṁ vā paṭisāraṇīyaṁ vā ukkhepanīyaṁ vā, ācariyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho antevāsikassa kammaṁ na kareyya, lahukāya vā pariṇāmeyyāti. Kataṁ vā panassa hoti saṅghena kammaṁ, tajjanīyaṁ vā niyassaṁ vā pabbājanīyaṁ vā paṭisāraṇīyaṁ vā ukkhepanīyaṁ vā, ācariyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho antevāsiko sammā vatteyya, lomaṁ pāteyya, netthāraṁ vatteyya, saṅgho taṁ kammaṁ paṭippassambheyyāti.
Sace antevāsikassa cīvaraṁ dhovitabbaṁ hoti, ācariyena ācikkhitabbaṁ—‘evaṁ dhoveyyāsī’ti, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho antevāsikassa cīvaraṁ dhoviyethāti. Sace antevāsikassa cīvaraṁ kātabbaṁ hoti, ācariyena ācikkhitabbaṁ—‘evaṁ kareyyāsī’ti, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho antevāsikassa cīvaraṁ kariyethāti. Sace antevāsikassa rajanaṁ pacitabbaṁ hoti, ācariyena ācikkhitabbaṁ—‘evaṁ paceyyāsī’ti, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho antevāsikassa rajanaṁ paciyethāti. Sace antevāsikassa cīvaraṁ rajitabbaṁ hoti, ācariyena ācikkhitabbaṁ—‘evaṁ rajeyyāsī’ti, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho antevāsikassa cīvaraṁ rajiyethāti. Cīvaraṁ rajantena sādhukaṁ samparivattakaṁ samparivattakaṁ rajitabbaṁ, na ca acchinne theve pakkamitabbaṁ. Sace antevāsiko gilāno hoti, yāvajīvaṁ upaṭṭhātabbo, vuṭṭhānamassa āgametabban”ti.
If the pupil becomes discontent with the spiritual life, the teacher should send him away or have him sent away, or he should give him a teaching. If the pupil becomes anxious, the teacher should dispel it or have it dispelled, or he should give him a teaching. If the pupil has wrong view, the teacher should make him give it up or have someone else do it, or he should give him a teaching. If the pupil has committed a heavy offense and deserves probation, the teacher should try to get the Sangha to give it to him. If the pupil has committed a heavy offense and deserves to be sent back to the beginning, the teacher should try to get the Sangha to do it. If the pupil has committed a heavy offense and deserves the trial period, the teacher should try to get the Sangha to give it to him. If the pupil has committed a heavy offense and deserves rehabilitation, the teacher should try to get the Sangha to give it to him.
If the Sangha wants to do a legal procedure against his pupil—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection—the teacher should make an effort to stop it or to reduce the penalty. But if the Sangha has already done a legal procedure against his pupil—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection—the teacher should help the pupil conduct himself properly and suitably so as to deserve to be released, and try to get the Sangha to lift that procedure.
If the pupil’s robe needs washing, the teacher should show him how to do it, or he should make an effort to get it done. If the pupil needs a robe, the teacher should show him how to make one, or he should make an effort to get one made. If the pupil needs dye, the teacher should show him how to make it, or he should make an effort to get it made. If the pupil’s robe needs dyeing, the teacher should show him how to do it, or he should make an effort to get it done. When he’s dyeing the robe, he should carefully and repeatedly turn it over, and shouldn’t go away while it’s still dripping. If his pupil is sick, he should nurse him for as long as he lives, or he should wait until he’s recovered.”
Nếu đệ tử thân cận sanh tâm không hoan hỷ, vị thầy nên dẫn đi nơi khác, hoặc nhờ người khác dẫn đi, hoặc nên thuyết pháp cho vị ấy. Nếu đệ tử thân cận sanh tâm hối tiếc, vị thầy nên làm cho tiêu tan, hoặc nhờ người khác làm cho tiêu tan, hoặc nên thuyết pháp cho vị ấy. Nếu đệ tử thân cận sanh khởi tà kiến, vị thầy nên làm cho từ bỏ, hoặc nhờ người khác làm cho từ bỏ, hoặc nên thuyết pháp cho vị ấy. Nếu đệ tử thân cận đã phạm tội nặng, đáng phải chịu hình phạt biệt trú, vị thầy nên nỗ lực: ‘Làm thế nào để Tăng chúng có thể ban hành phạt biệt trú cho đệ tử thân cận?’ Nếu đệ tử thân cận đáng bị kéo về lại từ đầu, vị thầy nên nỗ lực: ‘Làm thế nào để Tăng chúng có thể kéo đệ tử thân cận về lại từ đầu?’ Nếu đệ tử thân cận đáng phải chịu hình phạt mānatta, vị thầy nên nỗ lực: ‘Làm thế nào để Tăng chúng có thể ban hành phạt mānatta cho đệ tử thân cận?’ Nếu đệ tử thân cận đáng được giải tội, vị thầy nên nỗ lực: ‘Làm thế nào để Tăng chúng có thể giải tội cho đệ tử thân cận?’ Nếu Tăng chúng muốn hành yết-ma khiển trách, hoặc y chỉ, hoặc khu trục, hoặc sám hối, hoặc tẩn xuất đối với đệ tử thân cận, vị thầy nên nỗ lực: ‘Làm thế nào để Tăng chúng không hành yết-ma đối với đệ tử thân cận, hoặc có thể giảm nhẹ hình phạt?’ Hoặc nếu Tăng chúng đã hành yết-ma khiển trách, hoặc y chỉ, hoặc khu trục, hoặc sám hối, hoặc tẩn xuất đối với vị ấy, vị thầy nên nỗ lực: ‘Làm thế nào để đệ tử thân cận có thể hành xử đúng đắn, có thể hạ mình, có thể thực hành để thoát khỏi hình phạt, và để Tăng chúng có thể đình chỉ yết-ma ấy?’
Antevāsikavattaṁ niṭṭhitaṁ.
Chaṭṭho bhāṇavāro.
The proper conduct toward a pupil is finished.
The sixth section for recitation is finished.
Phận sự đối với đệ tử thân cận đã chấm dứt.
20. Sự đuổi đi và sự xin tha thứ
Tena kho pana samayena antevāsikā ācariyesu na sammā vattanti …pe… bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“na, bhikkhave, antevāsikena ācariyamhi na sammā vattitabbaṁ. Yo na sammā vatteyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Neva sammā vattanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, asammāvattantaṁ paṇāmetuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, paṇāmetabbo—paṇāmemi tanti vā, māyidha paṭikkamīti vā, nīhara te pattacīvaranti vā, nāhaṁ tayā upaṭṭhātabboti vā. Kāyena viññāpeti, vācāya viññāpeti, kāyena vācāya viññāpeti, paṇāmito hoti antevāsiko; na kāyena viññāpeti, na vācāya viññāpeti, na kāyena vācāya viññāpeti, na paṇāmito hoti antevāsiko”ti.
On a later occasion the pupils did not conduct themselves properly toward their teachers. … They told the Buddha. …
“A pupil should conduct himself properly toward his teacher. If he doesn’t, he commits an offense of wrong conduct.”
They still did not conduct themselves properly. They told the Buddha. …
“You should dismiss one who doesn’t conduct himself properly.
And this is how he should be dismissed. If the teacher conveys the following by body, by speech, or by body and speech: ‘I dismiss you;’ ‘Don’t come back here;’ ‘Remove your bowl and robe;’ or, ‘You shouldn’t attend on me’—then the pupil has been dismissed. If he doesn’t convey this by body, by speech, or by body and speech, then the pupil hasn’t been dismissed.”
80. Vào lúc bấy giờ, các đệ tử thân cận không hành xử đúng đắn đối với các vị thầy ... (như trên) ... các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... (như trên) ... Này các tỳ khưu, không phải là đệ tử thân cận không nên hành xử đúng đắn đối với vị thầy. Vị nào không hành xử đúng đắn, vị ấy phạm tội tác ác. Các vị ấy vẫn không hành xử đúng đắn. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... (như trên) ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép đuổi đi vị (đệ tử) không hành xử đúng đắn. Và này các tỳ khưu, nên đuổi đi như sau: bằng cách nói ‘Ta đuổi ngươi đi,’ hoặc ‘Ngươi đừng quay lại đây,’ hoặc ‘Hãy mang y bát của ngươi đi,’ hoặc ‘Ngươi không được hầu hạ ta.’ Nếu vị ấy làm cho biết bằng thân, bằng lời, hoặc bằng thân và lời, thì đệ tử thân cận ấy đã bị đuổi đi; nếu vị ấy không làm cho biết bằng thân, không làm cho biết bằng lời, không làm cho biết bằng thân và lời, thì đệ tử thân cận ấy không bị đuổi đi.
Tena kho pana samayena antevāsikā paṇāmitā na khamāpenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, khamāpetun”ti.
Neva khamāpenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, paṇāmitena na khamāpetabbo. Yo na khamāpeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Pupils who had been dismissed did not ask for forgiveness. They told the Buddha.
“You should ask for forgiveness.”
They still did not ask for forgiveness. They told the Buddha.
“One who has been dismissed should ask for forgiveness. If he doesn’t, he commits an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các đệ tử thân cận đã bị đuổi đi nhưng không xin tha thứ. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc xin tha thứ. Các vị ấy vẫn không xin tha thứ. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, không phải là người bị đuổi đi không nên xin tha thứ. Vị nào không xin tha thứ, vị ấy phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena ācariyā khamāpiyamānā na khamanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, khamitun”ti.
Neva khamanti. Antevāsikā pakkamantipi vibbhamantipi titthiyesupi saṅkamanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, khamāpiyamānena na khamitabbaṁ. Yo na khameyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Teachers who were asked for forgiveness did not forgive. They told the Buddha.
“You should forgive.”
They still did not forgive. The pupils left, disrobed, and joined the monastics of other religions. They told the Buddha.
“When asked for forgiveness, you should forgive. If you don’t, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị thầy, khi được xin tha thứ, đã không tha thứ. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc tha thứ. Các vị ấy vẫn không tha thứ. Các đệ tử thân cận đã bỏ đi, hoặc đã hoàn tục, hoặc đã gia nhập các hàng ngũ ngoại đạo. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, không phải là người được xin tha thứ không nên tha thứ. Vị nào không tha thứ, vị ấy phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena ācariyā sammāvattantaṁ paṇāmenti, asammāvattantaṁ na paṇāmenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, sammāvattanto paṇāmetabbo. Yo paṇāmeyya, āpatti dukkaṭassa.
Na ca, bhikkhave, asammāvattanto na paṇāmetabbo. Yo na paṇāmeyya, āpatti dukkaṭassāti.
Teachers dismissed pupils who were conducting themselves properly and did not dismiss those who were not. They told the Buddha.
“You shouldn’t dismiss someone who is conducting himself properly. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
And you should dismiss someone who isn’t conducting himself properly. If you don’t, you commit an offense of wrong conduct.
Vào lúc bấy giờ, các vị thầy giáo thọ đã đuổi đi vị đệ tử sống chung có hạnh kiểm tốt, không đuổi đi vị đệ tử sống chung có hạnh kiểm không tốt. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) “Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi vị (đệ tử) có hạnh kiểm tốt. Vị nào đuổi đi, phạm tội tác ác. Và này các tỳ khưu, không phải là không nên đuổi đi vị (đệ tử) có hạnh kiểm không tốt. Vị nào không đuổi đi, phạm tội tác ác.”
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato antevāsiko paṇāmetabbo. Ācariyamhi nādhimattaṁ pemaṁ hoti, nādhimatto pasādo hoti, nādhimattā hirī hoti, nādhimatto gāravo hoti, nādhimattā bhāvanā hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgato antevāsiko paṇāmetabbo.
If a pupil has five qualities, he should be dismissed: he doesn’t have much affection for his teacher; he doesn’t have much confidence in his teacher; he doesn’t have much conscience in regard to his teacher; he doesn’t have much respect for his teacher; he hasn’t developed his mind much under his teacher.
81. “Này các tỳ khưu, vị đệ tử sống chung hội đủ năm pháp nên được đuổi đi. (Vị ấy) không có tình thương mến vượt bậc ở nơi thầy giáo thọ, không có lòng tịnh tín vượt bậc, không có sự hổ thẹn vượt bậc, không có lòng tôn kính vượt bậc, không có sự tu tập (tâm từ) vượt bậc. Này các tỳ khưu, vị đệ tử sống chung hội đủ năm pháp này nên được đuổi đi.”
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato antevāsiko na paṇāmetabbo. Ācariyamhi adhimattaṁ pemaṁ hoti, adhimatto pasādo hoti, adhimattā hirī hoti, adhimatto gāravo hoti, adhimattā bhāvanā hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgato antevāsiko na paṇāmetabbo.
If a pupil has five qualities, he shouldn’t be dismissed: he has much affection for his teacher; he has much confidence in his teacher; he has much conscience in regard to his teacher; he has much respect for his teacher; he has developed his mind much under his teacher.
“Này các tỳ khưu, vị đệ tử sống chung hội đủ năm pháp không nên được đuổi đi. (Vị ấy) có tình thương mến vượt bậc ở nơi thầy giáo thọ, có lòng tịnh tín vượt bậc, có sự hổ thẹn vượt bậc, có lòng tôn kính vượt bậc, có sự tu tập (tâm từ) vượt bậc. Này các tỳ khưu, vị đệ tử sống chung hội đủ năm pháp này không nên được đuổi đi.”
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato antevāsiko alaṁ paṇāmetuṁ. Ācariyamhi nādhimattaṁ pemaṁ hoti, nādhimatto pasādo hoti, nādhimattā hirī hoti, nādhimatto gāravo hoti, nādhimattā bhāvanā hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgato antevāsiko alaṁ paṇāmetuṁ.
If a pupil has five qualities, he deserves to be dismissed: he doesn’t have much affection for his teacher; he doesn’t have much confidence in his teacher; he doesn’t have much conscience in regard to his teacher; he doesn’t have much respect for his teacher; he hasn’t developed his mind much under his teacher.
“Này các tỳ khưu, vị đệ tử sống chung hội đủ năm pháp là thích hợp để đuổi đi. (Vị ấy) không có tình thương mến vượt bậc ở nơi thầy giáo thọ, không có lòng tịnh tín vượt bậc, không có sự hổ thẹn vượt bậc, không có lòng tôn kính vượt bậc, không có sự tu tập (tâm từ) vượt bậc. Này các tỳ khưu, vị đệ tử sống chung hội đủ năm pháp này là thích hợp để đuổi đi.”
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato antevāsiko nālaṁ paṇāmetuṁ. Ācariyamhi adhimattaṁ pemaṁ hoti, adhimatto pasādo hoti, adhimattā hirī hoti, adhimatto gāravo hoti, adhimattā bhāvanā hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgato antevāsiko nālaṁ paṇāmetuṁ.
If a pupil has five qualities, he doesn’t deserve to be dismissed: he has much affection for his teacher; he has much confidence in his teacher; he has much conscience in regard to his teacher; he has much respect for his teacher; he has developed his mind much under his teacher.
“Này các tỳ khưu, vị đệ tử sống chung hội đủ năm pháp là không thích hợp để đuổi đi. (Vị ấy) có tình thương mến vượt bậc ở nơi thầy giáo thọ, có lòng tịnh tín vượt bậc, có sự hổ thẹn vượt bậc, có lòng tôn kính vượt bậc, có sự tu tập (tâm từ) vượt bậc. Này các tỳ khưu, vị đệ tử sống chung hội đủ năm pháp này là không thích hợp để đuổi đi.”
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ antevāsikaṁ appaṇāmento ācariyo sātisāro hoti, paṇāmento anatisāro hoti. Ācariyamhi nādhimattaṁ pemaṁ hoti, nādhimatto pasādo hoti, nādhimattā hirī hoti, nādhimatto gāravo hoti, nādhimattā bhāvanā hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgataṁ antevāsikaṁ appaṇāmento ācariyo sātisāro hoti, paṇāmento anatisāro hoti.
If a pupil has five qualities, the teacher is at fault if he doesn’t dismiss him, but not if he does: the pupil doesn’t have much affection for his teacher; he doesn’t have much confidence in his teacher; he doesn’t have much conscience in regard to his teacher; he doesn’t have much respect for his teacher; he hasn’t developed his mind much under his teacher.
“Này các tỳ khưu, vị thầy giáo thọ không đuổi đi vị đệ tử sống chung hội đủ năm pháp là người có lỗi, (còn) vị đuổi đi là người không có lỗi. (Vị ấy) không có tình thương mến vượt bậc ở nơi thầy giáo thọ, không có lòng tịnh tín vượt bậc, không có sự hổ thẹn vượt bậc, không có lòng tôn kính vượt bậc, không có sự tu tập (tâm từ) vượt bậc. Này các tỳ khưu, vị thầy giáo thọ không đuổi đi vị đệ tử sống chung hội đủ năm pháp này là người có lỗi, (còn) vị đuổi đi là người không có lỗi.”
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ antevāsikaṁ paṇāmento ācariyo sātisāro hoti, appaṇāmento anatisāro hoti. Ācariyamhi adhimattaṁ pemaṁ hoti, adhimatto pasādo hoti, adhimattā hirī hoti, adhimatto gāravo hoti, adhimattā bhāvanā hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgataṁ antevāsikaṁ paṇāmento ācariyo sātisāro hoti, appaṇāmento anatisāro hotī”ti.
If a pupil has five qualities, the teacher is at fault if he dismisses him, but not if he doesn’t: the pupil has much affection for his teacher; he has much confidence in his teacher; he has much conscience in regard to his teacher; he has much respect for his teacher; he has developed his mind much under his teacher.”
“Này các tỳ khưu, vị thầy giáo thọ đuổi đi vị đệ tử sống chung hội đủ năm pháp là người có lỗi, (còn) vị không đuổi đi là người không có lỗi. (Vị ấy) có tình thương mến vượt bậc ở nơi thầy giáo thọ, có lòng tịnh tín vượt bậc, có sự hổ thẹn vượt bậc, có lòng tôn kính vượt bậc, có sự tu tập (tâm từ) vượt bậc. Này các tỳ khưu, vị thầy giáo thọ đuổi đi vị đệ tử sống chung hội đủ năm pháp này là người có lỗi, (còn) vị không đuổi đi là người không có lỗi.”
Paṇāmanā khamāpanā niṭṭhitā.
Asking for forgiveness when dismissed is finished.
(Phần) đuổi đi và xin tha thứ đã kết thúc.
Tena kho pana samayena bhikkhū, dasavassamhā dasavassamhāti, bālā abyattā nissayaṁ denti. Dissanti ācariyā bālā, antevāsikā paṇḍitā. Dissanti ācariyā abyattā, antevāsikā byattā. Dissanti ācariyā appassutā, antevāsikā bahussutā. Dissanti ācariyā duppaññā, antevāsikā paññavanto.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhikkhū—dasavassamhā dasavassamhāti—bālā abyattā nissayaṁ dassanti. Dissanti ācariyā bālā antevāsikā paṇḍitā, dissanti ācariyā abyattā antevāsikā byattā, dissanti ācariyā appassutā antevāsikā bahussutā, dissanti ācariyā duppaññā antevāsikā paññavanto”ti.
Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, bhikkhū—dasavassamhā dasavassamhāti—bālā abyattā nissayaṁ denti …pe…
“saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, bālena abyattena nissayo dātabbo. Yo dadeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, byattena bhikkhunā paṭibalena dasavassena vā atirekadasavassena vā nissayaṁ dātun”ti.
Then, once they had ten years of seniority, ignorant and incompetent monks gave formal support. As a result there were ignorant teachers with knowledgeable pupils, incompetent teachers with competent pupils, uneducated teachers with learned pupils, and foolish teachers with wise pupils.
The monks of few desires complained and criticized them, “How can ignorant and incompetent monks give formal support, just because they have ten years of seniority? There are ignorant teachers with knowledgeable pupils, incompetent teachers with competent pupils, uneducated teachers with learned pupils, and foolish teachers with wise pupils.”
They told the Buddha. … “Is it true, monks, that this is happening?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … He then gave a teaching and addressed the monks:
“An ignorant and incompetent monk shouldn’t give formal support. If he does, he commits an offense of wrong conduct. I allow a competent and capable monk who has ten or more years of seniority to give formal support.”
21. Câu chuyện về (vị tỳ khưu) ngu dốt và không thành thạo.
Bālaabyattavatthu niṭṭhitaṁ.
The section on the ignorant and incompetent is finished.
Câu chuyện về (vị tỳ khưu) ngu dốt và không thành thạo đã kết thúc.
22. Lời dạy về việc chấm dứt sự nương nhờ.
Tena kho pana samayena bhikkhū ācariyupajjhāyesu pakkantesupi vibbhantesupi kālaṅkatesupi pakkhasaṅkantesupi nissayapaṭippassaddhiyo na jānanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At that time there were preceptors and teachers who went away, disrobed, died, or joined another religion or sect, but their pupils did not know about the ending of support. They told the Buddha.
83. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đã không biết về các trường hợp chấm dứt sự nương nhờ trong khi các vị thầy giáo thọ và thầy tế độ đã đi nơi khác, hoặc đã hoàn tục, hoặc đã mệnh chung, hoặc đã đi sang phe phái khác. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
“Pañcimā, bhikkhave, nissayapaṭippassaddhiyo upajjhāyamhā—upajjhāyo pakkanto vā hoti, vibbhanto vā, kālaṅkato vā, pakkhasaṅkanto vā, āṇattiyeva pañcamī. Imā kho, bhikkhave, pañca nissayapaṭippassaddhiyo upajjhāyamhā.
“There are these five reasons why the formal support from a preceptor comes to an end: the preceptor goes away; the preceptor disrobes; the preceptor dies; the preceptor joins another religion or sect; or the preceptor orders it.
“Này các tỳ khưu, có năm trường hợp chấm dứt sự nương nhờ này từ vị thầy tế độ: Vị thầy tế độ đã đi nơi khác, hoặc đã hoàn tục, hoặc đã mệnh chung, hoặc đã đi sang phe phái khác, và trường hợp thứ năm chính là do mệnh lệnh (đuổi đi). Này các tỳ khưu, có năm trường hợp chấm dứt sự nương nhờ này từ vị thầy tế độ.”
Chayimā, bhikkhave, nissayapaṭippassaddhiyo ācariyamhā—ācariyo pakkanto vā hoti, vibbhanto vā, kālaṅkato vā, pakkhasaṅkanto vā, āṇattiyeva pañcamī, upajjhāyena vā samodhānagato hoti. Imā kho, bhikkhave, cha nissayapaṭippassaddhiyo ācariyamhā.
Nissayapaṭippassaddhikathā niṭṭhitā.
There are these six reasons why the formal support from a teacher comes to an end: the teacher goes away; the teacher disrobes; the teacher dies; the teacher joins another religion or sect; the teacher orders it; or one is reunited with one’s preceptor.”
The discussion of the ending of formal support is finished.
“Này các tỳ khưu, có sáu trường hợp chấm dứt sự nương nhờ này từ vị thầy giáo thọ: Vị thầy giáo thọ đã đi nơi khác, hoặc đã hoàn tục, hoặc đã mệnh chung, hoặc đã đi sang phe phái khác, và trường hợp thứ năm chính là do mệnh lệnh (đuổi đi), hoặc đã sum họp với vị thầy tế độ. Này các tỳ khưu, có sáu trường hợp chấm dứt sự nương nhờ này từ vị thầy giáo thọ.”
23. Năm pháp về (vị tỳ khưu) nên cho thọ lễ Cụ túc.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
“A monk who has five qualities shouldn’t give the full ordination, give formal support, or have a novice monk attend on him.
84. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm pháp thì không nên truyền giới cụ túc, không nên cho nương tựa, không nên để cho sa di phục vụ. (Vị ấy) không hội đủ giới uẩn vô học, không hội đủ định uẩn vô học, không hội đủ tuệ uẩn vô học, không hội đủ giải thoát uẩn vô học, không hội đủ giải thoát tri kiến uẩn vô học. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm pháp này thì không nên truyền giới cụ túc, không nên cho nương tựa, không nên để cho sa di phục vụ.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Asekkhena sīlakkhandhena samannāgato hoti, asekkhena samādhikkhandhena samannāgato hoti, asekkhena paññākkhandhena samannāgato hoti, asekkhena vimuttikkhandhena samannāgato hoti, asekkhena vimuttiñāṇadassanakkhandhena samannāgato hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
But a monk who has five qualities may give the full ordination, give formal support, and have a novice monk attend on him. He has the virtue, stillness, wisdom, freedom, and knowledge and vision of freedom of one who is fully trained.
85. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có sáu pháp thì không được truyền giới cụ túc, không được cho nương tựa, không được cho sa di phục vụ. Vị ấy không thành tựu uẩn giới vô học, không thành tựu uẩn định vô học, không thành tựu uẩn tuệ vô học, không thành tựu uẩn giải thoát vô học, không thành tựu uẩn giải thoát tri kiến vô học, có hạ lạp dưới mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có sáu pháp này thì không được truyền giới cụ túc, không được cho nương tựa, không được cho sa di phục vụ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Attanā na asekkhena sīlakkhandhena samannāgato hoti, na paraṁ asekkhe sīlakkhandhe samādapetā; attanā na asekkhena samādhikkhandhena samannāgato hoti, na paraṁ asekkhe samādhikkhandhe samādapetā; attanā na asekkhena paññākkhandhena samannāgato hoti, na paraṁ asekkhe paññākkhandhe samādapetā; attanā na asekkhena vimuttikkhandhena samannāgato hoti, na paraṁ asekkhe vimuttikkhandhe samādapetā; attanā na asekkhena vimuttiñāṇadassanakkhandhena samannāgato hoti, na paraṁ asekkhe vimuttiñāṇadassanakkhandhe samādapetā—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Attanā asekkhena sīlakkhandhena samannāgato hoti, paraṁ asekkhe sīlakkhandhe samādapetā; attanā asekkhena samādhikkhandhena samannāgato hoti, paraṁ asekkhe samādhikkhandhe samādapetā; attanā asekkhena paññākkhandhena samannāgato hoti, paraṁ asekkhe paññākkhandhe samādapetā; attanā asekkhena vimuttikkhandhena samannāgato hoti, paraṁ asekkhe vimuttikkhandhe samādapetā; attanā asekkhena vimuttiñāṇadassanakkhandhena samannāgato hoti, paraṁ asekkhe vimuttiñāṇadassanakkhandhe samādapetā—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Assaddho hoti, ahiriko hoti, anottappī hoti, kusīto hoti, muṭṭhassati hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Saddho hoti, hirimā hoti, ottappī hoti, āraddhavīriyo hoti, upaṭṭhitassati hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Adhisīle sīlavipanno hoti, ajjhācāre ācāravipanno hoti, atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti, appassuto hoti, duppañño hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Na adhisīle sīlavipanno hoti, na ajjhācāre ācāravipanno hoti, na atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti, bahussuto hoti, paññavā hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Na paṭibalo hoti antevāsiṁ vā saddhivihāriṁ vā gilānaṁ upaṭṭhātuṁ vā upaṭṭhāpetuṁ vā, anabhirataṁ vūpakāsetuṁ vā vūpakāsāpetuṁ vā, uppannaṁ kukkuccaṁ dhammato vinodetuṁ āpattiṁ na jānāti, āpattiyā vuṭṭhānaṁ na jānāti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
“A monk who has another five qualities shouldn’t give the full ordination, give formal support, or have a novice monk attend on him. He neither has it himself nor encourages others in the virtue, stillness, wisdom, freedom, or knowledge and vision of freedom of one who is fully trained.
But a monk who has five qualities may give the full ordination, give formal support, and have a novice monk attend on him. He both has it himself and encourages others in the virtue, stillness, wisdom, freedom, and knowledge and vision of freedom of one who is fully trained.
“A monk who has another five qualities shouldn’t give the full ordination, give formal support, or have a novice monk attend on him. He has no faith, conscience, or moral prudence; and he is lazy and absentminded.
But a monk who has five qualities may give the full ordination, give formal support, and have a novice monk attend on him. He has faith, conscience, moral prudence, energy, and mindfulness.
“A monk who has another five qualities shouldn’t give the full ordination, give formal support, or have a novice monk attend on him. He has failed in the higher morality, the higher conduct, and the higher view; and he’s ignorant and foolish.
But a monk who has five qualities may give the full ordination, give formal support, and have a novice monk attend on him. He hasn’t failed in the higher morality, the higher conduct, or the higher view; he’s learned and wise.
“A monk who has another five qualities shouldn’t give the full ordination, give formal support, or have a novice monk attend on him. He’s not capable of three things in regard to a student: to nurse him or have him nursed when he’s sick; to send him away or have him sent away when he’s discontent with the spiritual life; and to use the Teaching to dispel anxiety. And he doesn’t know the offenses; and he doesn’t know how offenses are cleared.
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu có sáu pháp thì không được truyền giới cụ túc, không được cho nương tựa, không được cho sa di phục vụ. Tự mình không thành tựu uẩn giới vô học, và không làm cho người khác an trú trong uẩn giới vô học; tự mình không thành tựu uẩn định vô học, và không làm cho người khác an trú trong uẩn định vô học; tự mình không thành tựu uẩn tuệ vô học, và không làm cho người khác an trú trong uẩn tuệ vô học; tự mình không thành tựu uẩn giải thoát vô học, và không làm cho người khác an trú trong uẩn giải thoát vô học; tự mình không thành tựu uẩn giải thoát tri kiến vô học, và không làm cho người khác an trú trong uẩn giải thoát tri kiến vô học; có hạ lạp dưới mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có sáu pháp này thì không được truyền giới cụ túc, không được cho nương tựa, không được cho sa di phục vụ.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Paṭibalo hoti antevāsiṁ vā saddhivihāriṁ vā gilānaṁ upaṭṭhātuṁ vā upaṭṭhāpetuṁ vā, anabhirataṁ vūpakāsetuṁ vā vūpakāsāpetuṁ vā, uppannaṁ kukkuccaṁ dhammato vinodetuṁ āpattiṁ jānāti, āpattiyā vuṭṭhānaṁ jānāti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Na paṭibalo hoti antevāsiṁ vā saddhivihāriṁ vā abhisamācārikāya sikkhāya sikkhāpetuṁ, ādibrahmacariyakāya sikkhāya vinetuṁ, abhidhamme vinetuṁ, abhivinaye vinetuṁ, uppannaṁ diṭṭhigataṁ dhammato vivecetuṁ—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
But a monk who has five qualities may give the full ordination, give formal support, and have a novice monk attend on him. He’s capable of three things in regard to a student: to nurse him or have him nursed when he’s sick; to send him away or have him sent away when he’s discontent with the spiritual life; and to use the Teaching to dispel anxiety. And he knows the offenses; and he knows how offenses are cleared.
“A monk who has another five qualities shouldn’t give the full ordination, give formal support, or have a novice monk attend on him. He’s not capable of five things in regard to a student: to train him in good conduct; to train him in the basics of the spiritual life; to train him in the Teaching; to train him in the Monastic Law; to use the Teaching to make him give up wrong views.
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ sáu chi phần khác không nên cho thọ cụ túc, không nên cho nương tựa, không nên cho sa di phục vụ. (Vị ấy) không có khả năng tự mình chăm sóc hoặc nhờ người khác chăm sóc đệ tử ở gần hay đệ tử cùng ở đang bị bệnh; không có khả năng tự mình làm cho an ổn hoặc nhờ người khác làm cho an ổn đệ tử ở gần hay đệ tử cùng ở đang không hoan hỷ; không có khả năng loại trừ đúng theo Pháp sự hối tiếc đã sanh khởi; không biết tội, không biết cách ra khỏi tội, là người dưới mười hạ. Này các tỳ khưu, chính do hội đủ sáu chi phần này, vị tỳ khưu không nên cho thọ cụ túc, không nên cho nương tựa, không nên cho sa di phục vụ.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Paṭibalo hoti antevāsiṁ vā saddhivihāriṁ vā abhisamācārikāya sikkhāya sikkhāpetuṁ, ādibrahmacariyakāya sikkhāya vinetuṁ, abhidhamme vinetuṁ, abhivinaye vinetuṁ, uppannaṁ diṭṭhigataṁ dhammato vivecetuṁ—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Āpattiṁ na jānāti, anāpattiṁ na jānāti, lahukaṁ āpattiṁ na jānāti, garukaṁ āpattiṁ na jānāti, ubhayāni kho panassa pātimokkhāni vitthārena na svāgatāni honti na suvibhattāni na suppavattīni na suvinicchitāni suttaso anubyañjanaso—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
But a monk who has five qualities may give the full ordination, give formal support, and have a novice monk attend on him. He’s capable of five things in regard to a student: to train him in good conduct; to train him in the basics of the spiritual life; to train him in the Teaching; to train him in the Monastic Law; to use the Teaching to make him give up wrong views.
“A monk who has another five qualities shouldn’t give the full ordination, give formal support, or have a novice monk attend on him. He doesn’t know the offenses; he doesn’t know the non-offenses; he doesn’t know which offenses are light; he doesn’t know which offenses are heavy; neither Monastic Code has been properly learned by him in detail, and he hasn’t analyzed them well, thoroughly mastered them, or investigated them well, either in terms of the rules or their detailed exposition.
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ sáu chi phần khác không nên cho thọ cụ túc, không nên cho nương tựa, không nên cho sa di phục vụ. (Vị ấy) không có khả năng huấn luyện đệ tử ở gần hay đệ tử cùng ở trong học giới thuộc về oai nghi tốt đẹp, không có khả năng giáo huấn trong học giới thuộc về phần đầu của phạm hạnh, không có khả năng giáo huấn trong A-tỳ-đàm, không có khả năng giáo huấn trong toàn bộ Luật, không có khả năng làm cho từ bỏ đúng theo Pháp tà kiến đã sanh khởi, là người dưới mười hạ. Này các tỳ khưu, chính do hội đủ sáu chi phần này, vị tỳ khưu không nên cho thọ cụ túc, không nên cho nương tựa, không nên cho sa di phục vụ.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Āpattiṁ jānāti, anāpattiṁ jānāti, lahukaṁ āpattiṁ jānāti, garukaṁ āpattiṁ jānāti, ubhayāni kho panassa pātimokkhāni vitthārena svāgatāni honti suvibhattāni suppavattīni suvinicchitāni suttaso anubyañjanaso—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Āpattiṁ na jānāti, anāpattiṁ na jānāti, lahukaṁ āpattiṁ na jānāti, garukaṁ āpattiṁ na jānāti, ūnadasavasso hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Āpattiṁ jānāti, anāpattiṁ jānāti, lahukaṁ āpattiṁ jānāti, garukaṁ āpattiṁ jānāti, dasavasso vā hoti atirekadasavasso vā—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo”ti.
Upasampādetabbapañcakasoḷasavāro niṭṭhito.
But a monk who has five qualities may give the full ordination, give formal support, and have a novice monk attend on him. He knows the offenses; he knows the non-offenses; he knows which offenses are light; he knows which offenses are heavy; he has properly learned both Monastic Codes in detail, and he has analyzed them well, thoroughly mastered them, and investigated them well, both in terms of the rules and their detailed exposition.
“A monk who has another five qualities shouldn’t give the full ordination, give formal support, or have a novice monk attend on him. He doesn’t know the offenses; he doesn’t know the non-offenses; he doesn’t know which offenses are light; he doesn’t know which offenses are heavy; he has less than ten years of seniority.
But a monk who has five qualities may give the full ordination, give formal support, and have a novice monk attend on him. He knows the offenses; he knows the non-offenses; he knows which offenses are light; he knows which offenses are heavy; he has ten or more years of seniority.”
The section consisting of sixteen groups of five requirements for giving the full ordination is finished.
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ sáu chi phần khác không nên cho thọ cụ túc, không nên cho nương tựa, không nên cho sa di phục vụ. (Vị ấy) không biết tội, không biết không phải tội, không biết tội nhẹ, không biết tội nặng; và hai bộ Pātimokkha của vị ấy không được tiếp nhận tốt đẹp một cách rộng rãi, không được phân tích tốt đẹp, không được thực hành tốt đẹp, không được quyết đoán tốt đẹp theo từng điều khoản và theo từng từ ngữ; là người dưới mười hạ. Này các tỳ khưu, chính do hội đủ sáu chi phần này, vị tỳ khưu không nên cho thọ cụ túc, không nên cho nương tựa, không nên cho sa di phục vụ.
“Chahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Na asekkhena sīlakkhandhena samannāgato hoti, na asekkhena samādhikkhandhena samannāgato hoti, na asekkhena paññākkhandhena samannāgato hoti, na asekkhena vimuttikkhandhena samannāgato hoti, na asekkhena vimuttiñāṇadassanakkhandhena samannāgato hoti, ūnadasavasso hoti—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
Chahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Asekkhena sīlakkhandhena samannāgato hoti, asekkhena samādhikkhandhena samannāgato hoti, asekkhena paññākkhandhena samannāgato hoti, asekkhena vimuttikkhandhena samannāgato hoti, asekkhena vimuttiñāṇadassanakkhandhena samannāgato hoti, dasavasso vā hoti atirekadasavasso vā—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
Aparehipi, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Attanā na asekkhena sīlakkhandhena samannāgato hoti, na paraṁ asekkhe sīlakkhandhe samādapetā; attanā na asekkhena samādhikkhandhena samannāgato hoti, na paraṁ asekkhe samādhikkhandhe samādapetā; attanā na asekkhena paññākkhandhena samannāgato hoti, na paraṁ asekkhe paññākkhandhe samādapetā;
“A monk who has six qualities shouldn’t give the full ordination, give formal support, or have a novice monk attend on him. He doesn’t have the virtue, stillness, wisdom, freedom, or knowledge and vision of freedom of one who is fully trained, and he has less than ten years of seniority.
But a monk who has six qualities may give the full ordination, give formal support, and have a novice monk attend on him. He has the virtue, stillness, wisdom, freedom, and knowledge and vision of freedom of one who is fully trained, and he has ten or more years of seniority.
“A monk who has another six qualities shouldn’t give the full ordination, give formal support, or have a novice monk attend on him. He neither has it himself nor encourages others in the virtue, stillness, wisdom,
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu chi phần nên cho thọ cụ túc, nên cho nương tựa, nên cho sa di phục vụ. (Vị ấy) biết tội, biết không phải tội, biết tội nhẹ, biết tội nặng; và hai bộ Pātimokkha của vị ấy được tiếp nhận tốt đẹp một cách rộng rãi, được phân tích tốt đẹp, được thực hành tốt đẹp, được quyết đoán tốt đẹp theo từng điều khoản và theo từng từ ngữ; là người có mười hạ hoặc hơn mười hạ. Này các tỳ khưu, chính do hội đủ sáu chi phần này, vị tỳ khưu nên cho thọ cụ túc, nên cho nương tựa, nên cho sa di phục vụ.
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu hội đủ năm pháp khác thì không nên truyền giới cụ túc, không nên cho nương tựa, không nên để cho sa di phục vụ. Tự thân không hội đủ giới uẩn vô học, và không thể làm cho người khác an trú vào giới uẩn vô học; tự thân không hội đủ định uẩn vô học, và không thể làm cho người khác an trú vào định uẩn vô học; tự thân không hội đủ tuệ uẩn vô học, và không thể làm cho người khác an trú vào tuệ uẩn vô học; tự thân không hội đủ giải thoát uẩn vô học, và không thể làm cho người khác an trú vào giải thoát uẩn vô học; tự thân không hội đủ giải thoát tri kiến uẩn vô học, và không thể làm cho người khác an trú vào giải thoát tri kiến uẩn vô học. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm pháp này thì không nên truyền giới cụ túc, không nên cho nương tựa, không nên để cho sa di phục vụ.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp khác nữa không nên truyền cụ túc giới, không nên cho nương tựa, không nên cho sa di phục vụ. (Vị ấy) không biết về tội, không biết về không phải tội, không biết về tội nhẹ, không biết về tội nặng, và là người chưa đủ mười hạ. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này không nên truyền cụ túc giới, không nên cho nương tựa, không nên cho sa di phục vụ.
Chahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
But a monk who has six qualities may give the full ordination, give formal support, and have a novice monk attend on him.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có sáu pháp thì được truyền giới cụ túc, được cho nương tựa, được cho sa di phục vụ. Vị ấy thành tựu uẩn giới vô học, thành tựu uẩn định vô học, thành tựu uẩn tuệ vô học, thành tựu uẩn giải thoát vô học, thành tựu uẩn giải thoát tri kiến vô học, có hạ lạp mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có sáu pháp này thì được truyền giới cụ túc, được cho nương tựa, được cho sa di phục vụ.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có sáu pháp thì được truyền giới cụ túc, được cho nương tựa, được cho sa di phục vụ. Tự mình thành tựu uẩn giới vô học, và làm cho người khác an trú trong uẩn giới vô học; tự mình thành tựu uẩn định vô học, và làm cho người khác an trú trong uẩn định vô học; tự mình thành tựu uẩn tuệ vô học, và làm cho người khác an trú trong uẩn tuệ vô học; tự mình thành tựu uẩn giải thoát vô học, và làm cho người khác an trú trong uẩn giải thoát vô học; tự mình thành tựu uẩn giải thoát tri kiến vô học, và làm cho người khác an trú trong uẩn giải thoát tri kiến vô học; có hạ lạp mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có sáu pháp này thì được truyền giới cụ túc, được cho nương tựa, được cho sa di phục vụ.
Aparehipi, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Assaddho hoti, ahiriko hoti, anottappī hoti, kusīto hoti, muṭṭhassati hoti, ūnadasavasso hoti—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
“A monk who has another six qualities shouldn’t give the full ordination, give formal support, or have a novice monk attend on him. He has no faith, conscience, or moral prudence; he is lazy and absentminded; and he has less than ten years of seniority.
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu có sáu pháp thì không được truyền giới cụ túc, không được cho nương tựa, không được cho sa di phục vụ. Vị ấy không có đức tin, không có tàm, không có quý, biếng nhác, thất niệm, có hạ lạp dưới mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có sáu pháp này thì không được truyền giới cụ túc, không được cho nương tựa, không được cho sa di phục vụ.
Chahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Saddho hoti, hirimā hoti, ottappī hoti, āraddhavīriyo hoti, upaṭṭhitassati hoti, dasavasso vā hoti atirekadasavasso vā—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
But a monk who has six qualities may give the full ordination, give formal support, and have a novice monk attend on him. He has faith, conscience, moral prudence, energy, mindfulness, and ten or more years of seniority.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có sáu pháp thì được truyền giới cụ túc, được cho nương tựa, được cho sa di phục vụ. Vị ấy có đức tin, có tàm, có quý, tinh tấn, an trú niệm, có hạ lạp mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có sáu pháp này thì được truyền giới cụ túc, được cho nương tựa, được cho sa di phục vụ.
Aparehipi, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Adhisīle sīlavipanno hoti, ajjhācāre ācāravipanno hoti, atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti, appassuto hoti, duppañño hoti, ūnadasavasso hoti—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
“A monk who has another six qualities shouldn’t give the full ordination, give formal support, or have a novice monk attend on him. He has failed in the higher morality, the higher conduct, and the higher view; he’s ignorant and foolish; and he has less than ten years of seniority.
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu có sáu pháp thì không được truyền giới cụ túc, không được cho nương tựa, không được cho sa di phục vụ. Vị ấy hư hỏng về giới trong tăng thượng giới, hư hỏng về hạnh trong tăng thượng hạnh, hư hỏng về tri kiến trong tăng thượng tri kiến, ít học, liệt tuệ, có hạ lạp dưới mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có sáu pháp này thì không được truyền giới cụ túc, không được cho nương tựa, không được cho sa di phục vụ.
Chahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Na adhisīle sīlavipanno hoti, na ajjhācāre ācāravipanno hoti, na atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti, bahussuto hoti, paññavā hoti, dasavasso vā hoti atirekadasavasso vā—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
Aparehipi, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Na paṭibalo hoti antevāsiṁ vā saddhivihāriṁ vā gilānaṁ upaṭṭhātuṁ vā upaṭṭhāpetuṁ vā, anabhirataṁ vūpakāsetuṁ vā vūpakāsāpetuṁ vā, uppannaṁ kukkuccaṁ dhammato vinodetuṁ, āpattiṁ na jānāti, āpattiyā vuṭṭhānaṁ na jānāti, ūnadasavasso hoti—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
But a monk who has six qualities may give the full ordination, give formal support, and have a novice monk attend on him. He hasn’t failed in the higher morality, the higher conduct, or the higher view; he’s learned and wise; and he has ten or more years of seniority.
“A monk who has another six qualities shouldn’t give the full ordination, give formal support, or have a novice monk attend on him. He’s not capable of three things in regard to a student: to nurse him or have him nursed when he’s sick; to send him away or have him sent away when he’s discontent with the spiritual life; to use the Teaching to dispel anxiety. And he doesn’t know the offenses; he doesn’t know how offenses are cleared; and he has less than ten years of seniority.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu chi phần nên cho thọ cụ túc, nên cho nương tựa, nên cho sa di phục vụ. (Vị ấy) không bị hư hỏng về giới trong tăng thượng giới, không bị hư hỏng về oai nghi trong tăng thượng oai nghi, không bị hư hỏng về tri kiến trong tăng thượng tri kiến, là người đa văn, là người có trí tuệ, là người có mười hạ hoặc hơn mười hạ. Này các tỳ khưu, chính do hội đủ sáu chi phần này, vị tỳ khưu nên cho thọ cụ túc, nên cho nương tựa, nên cho sa di phục vụ.
Chahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Paṭibalo hoti antevāsiṁ vā saddhivihāriṁ vā gilānaṁ upaṭṭhātuṁ vā upaṭṭhāpetuṁ vā, anabhirataṁ vūpakāsetuṁ vā vūpakāsāpetuṁ vā, uppannaṁ kukkuccaṁ dhammato vinodetuṁ, āpattiṁ jānāti, āpattiyā vuṭṭhānaṁ jānāti, dasavasso vā hoti atirekadasavasso vā—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
Aparehipi, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Na paṭibalo hoti antevāsiṁ vā saddhivihāriṁ vā abhisamācārikāya sikkhāya sikkhāpetuṁ, ādibrahmacariyakāya sikkhāya vinetuṁ, abhidhamme vinetuṁ, abhivinaye vinetuṁ, uppannaṁ diṭṭhigataṁ dhammato vivecetuṁ, ūnadasavasso hoti—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
But a monk who has six qualities may give the full ordination, give formal support, and have a novice monk attend on him. He’s capable of three things in regard to a student: to nurse him or have him nursed when he’s sick; to send him away or have him sent away when he’s discontent with the spiritual life; to use the Teaching to dispel anxiety. And he knows the offenses; he knows how offenses are cleared; and he has ten or more years of seniority.
“A monk who has another six qualities shouldn’t give the full ordination, give formal support, or have a novice monk attend on him. He’s not capable of five things in regard to a student: to train him in good conduct; to train him in the basics of the spiritual life; to train him in the Teaching; to train him in the Monastic Law; or to use the Teaching to make him give up wrong views. And he has less than ten years of seniority.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu chi phần nên cho thọ cụ túc, nên cho nương tựa, nên cho sa di phục vụ. (Vị ấy) có khả năng tự mình chăm sóc hoặc nhờ người khác chăm sóc đệ tử ở gần hay đệ tử cùng ở đang bị bệnh; có khả năng tự mình làm cho an ổn hoặc nhờ người khác làm cho an ổn đệ tử ở gần hay đệ tử cùng ở đang không hoan hỷ; có khả năng loại trừ đúng theo Pháp sự hối tiếc đã sanh khởi; biết tội, biết cách ra khỏi tội, là người có mười hạ hoặc hơn mười hạ. Này các tỳ khưu, chính do hội đủ sáu chi phần này, vị tỳ khưu nên cho thọ cụ túc, nên cho nương tựa, nên cho sa di phục vụ.
Chahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Paṭibalo hoti antevāsiṁ vā saddhivihāriṁ vā abhisamācārikāya sikkhāya sikkhāpetuṁ ādibrahmacariyakāya sikkhāya vinetuṁ, abhidhamme vinetuṁ, abhivinaye vinetuṁ, uppannaṁ diṭṭhigataṁ dhammato vivecetuṁ, dasavasso vā hoti atirekadasavasso vā—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
Aparehipi, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Āpattiṁ na jānāti, anāpattiṁ na jānāti, lahukaṁ āpattiṁ na jānāti, garukaṁ āpattiṁ na jānāti, ubhayāni kho panassa pātimokkhāni vitthārena na svāgatāni honti na suvibhattāni na suppavattīni na suvinicchitāni suttaso anubyañjanaso, ūnadasavasso hoti—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na upasampādetabbaṁ, na nissayo dātabbo, na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo.
Chahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo. Āpattiṁ jānāti, anāpattiṁ jānāti, lahukaṁ āpattiṁ jānāti, garukaṁ āpattiṁ jānāti, ubhayāni kho panassa pātimokkhāni vitthārena svāgatāni honti suvibhattāni suppavattīni suvinicchitāni suttaso anubyañjanaso, dasavasso vā hoti atirekadasavasso vā—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ, nissayo dātabbo, sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo”ti.
But a monk who has six qualities may give the full ordination, give formal support, and have a novice monk attend on him. He’s capable of five things in regard to a student: to train him in good conduct; to train him in the basics of the spiritual life; to train him in the Teaching; to train him in the Monastic Law; and to use the Teaching to make him give up wrong views. And he has ten or more years of seniority.
“A monk who has another six qualities shouldn’t give the full ordination, give formal support, or have a novice monk attend on him. He doesn’t know the offenses; he doesn’t know the non-offenses; he doesn’t know which offenses are light; he doesn’t know which offenses are heavy; neither Monastic Code has been properly learned by him in detail, and he hasn’t analyzed them well, thoroughly mastered them, or investigated them well, either in terms of the rules or their detailed exposition; he has less than ten years of seniority.
But a monk who has six qualities may give the full ordination, give formal support, and have a novice monk attend on him. He knows the offenses; he knows the non-offenses; he knows which offenses are light; he knows which offenses are heavy; he has properly learned both Monastic Codes in detail, and he has analyzed them well, thoroughly mastered them, and investigated them well, both in terms of the rules and their detailed exposition; he has ten or more years of seniority.”
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu chi phần nên cho thọ cụ túc, nên cho nương tựa, nên cho sa di phục vụ. (Vị ấy) có khả năng huấn luyện đệ tử ở gần hay đệ tử cùng ở trong học giới thuộc về oai nghi tốt đẹp, giáo huấn trong học giới thuộc về phần đầu của phạm hạnh, giáo huấn trong A-tỳ-đàm, giáo huấn trong toàn bộ Luật, làm cho từ bỏ đúng theo Pháp tà kiến đã sanh khởi, là người có mười hạ hoặc hơn mười hạ. Này các tỳ khưu, chính do hội đủ sáu chi phần này, vị tỳ khưu nên cho thọ cụ túc, nên cho nương tựa, nên cho sa di phục vụ.
Upasampādetabbachakkacuddasavāro niṭṭhito.
The section consisting of fourteen groups of six requirements for giving the full ordination is finished.
Phần sáu pháp về việc nên cho thọ cụ túc đã kết thúc.
25. Câu chuyện về người trước đây là ngoại đạo
Tena kho pana samayena yo so aññatitthiyapubbo upajjhāyena sahadhammikaṁ vuccamāno upajjhāyassa vādaṁ āropetvā taṁyeva titthāyatanaṁ saṅkami. So puna paccāgantvā bhikkhū upasampadaṁ yāci. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Yo so, bhikkhave, aññatitthiyapubbo upajjhāyena sahadhammikaṁ vuccamāno upajjhāyassa vādaṁ āropetvā taṁyeva titthāyatanaṁ saṅkanto, so āgato na upasampādetabbo.
Yo so, bhikkhave, aññopi aññatitthiyapubbo imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhati pabbajjaṁ, ākaṅkhati upasampadaṁ, tassa cattāro māse parivāso dātabbo.
Evañca pana, bhikkhave, dātabbo—paṭhamaṁ kesamassuṁ ohārāpetvā kāsāyāni vatthāni acchādāpetvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ kārāpetvā bhikkhūnaṁ pāde vandāpetvā ukkuṭikaṁ nisīdāpetvā añjaliṁ paggaṇhāpetvā ‘evaṁ vadehī’ti vattabbo—
‘Buddhaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Dhammaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Saṅghaṁ saraṇaṁ gacchāmi.
Dutiyampi buddhaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Dutiyampi dhammaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Dutiyampi saṅghaṁ saraṇaṁ gacchāmi.
Tatiyampi buddhaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Tatiyampi dhammaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Tatiyampi saṅghaṁ saraṇaṁ gacchāmī’ti.
Soon afterwards that monk who had been a monastic of another religion, and who had returned to that religious community after refuting his preceptor, came back to the monks and asked for the full ordination. The monks told the Buddha.
“Monks, when someone who has been a monastic of another religion refutes his preceptor after being legitimately corrected by him and then returns to that religion, but then comes back from that religious community once more, he shouldn’t be given the full ordination.
Anyone else who has been a monastic of another religion, and who wants the going forth and the full ordination on this spiritual path, should be given four months of probation.
And it should be given like this. First he should shave off his hair and beard and put on the ocher robes. He should then arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the monks, squat on his heels, and raise his joined palms. He should then be told to say this:
‘I go for refuge to the Buddha, I go for refuge to the Teaching, I go for refuge to the Sangha.
For the second time, I go for refuge to the Buddha, For the second time, I go for refuge to the Teaching, For the second time, I go for refuge to the Sangha.
For the third time, I go for refuge to the Buddha, For the third time, I go for refuge to the Teaching, For the third time, I go for refuge to the Sangha.’
86. Vào lúc bấy giờ, có người trước đây là ngoại đạo, khi được thầy tế độ nói đúng theo Chánh pháp, đã gán tội cho lời dạy của thầy tế độ rồi quay trở về lại trú xứ ngoại đạo ấy. Vị ấy lại quay trở về và xin các tỳ khưu cho được tu lên bậc trên. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật dạy:) Này các tỳ khưu, người nào trước đây là ngoại đạo, khi được thầy tế độ nói đúng theo Chánh pháp, đã gán tội cho lời dạy của thầy tế độ rồi quay trở về lại trú xứ ngoại đạo ấy, người ấy khi trở về thì không nên cho tu lên bậc trên. Này các tỳ khưu, người nào khác trước đây là ngoại đạo mong muốn được xuất gia, mong muốn được tu lên bậc trên ở trong Pháp và Luật này thì nên cho người ấy biệt trú trong bốn tháng. Này các tỳ khưu, và nên cho (biệt trú) theo cách như sau: Trước tiên, sau khi cho cạo bỏ râu tóc, cho đắp các y màu kāṣāya, cho mặc thượng y chừa một bên vai, cho đảnh lễ chân của các tỳ khưu, cho ngồi xổm, cho chắp tay, nên bảo người ấy nói lên như vầy: ‘Con xin về nương tựa Phật, con xin về nương tựa Pháp, con xin về nương tựa Tăng; lần thứ nhì, con xin về nương tựa Phật, lần thứ nhì, con xin về nương tựa Pháp, lần thứ nhì, con xin về nương tựa Tăng; lần thứ ba, con xin về nương tựa Phật, lần thứ ba, con xin về nương tựa Pháp, lần thứ ba, con xin về nương tựa Tăng.’
Tena, bhikkhave, aññatitthiyapubbena saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘ahaṁ, bhante, aññatitthiyapubbo imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhāmi upasampadaṁ. Sohaṁ, bhante, saṅghaṁ cattāro māse parivāsaṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbo. Tatiyampi yācitabbo. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
Then, after approaching the Sangha, he who had been a monastic of another religion should arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the monks, squat on his heels, and raise his joined palms. He should then say this: ‘Venerables, I have been a monastic of another religion, and I wish for the full ordination on this spiritual path. I ask the Sangha for four months of probation.’ And he should ask a second and a third time. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
Này các tỳ khưu, người trước đây là ngoại đạo ấy, sau khi đi đến Tăng chúng, mặc thượng y chừa một bên vai, đảnh lễ chân của các tỳ khưu, ngồi xổm, chắp tay, rồi nên nói lên như vầy: ‘Bạch chư Đại đức, con là người trước đây là ngoại đạo, mong muốn được tu lên bậc trên ở trong Pháp và Luật này. Bạch chư Đại đức, chính con đây xin Tăng chúng cho biệt trú trong bốn tháng.’ Nên xin đến lần thứ nhì. Nên xin đến lần thứ ba. Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo aññatitthiyapubbo imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhati upasampadaṁ. So saṅghaṁ cattāro māse parivāsaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ saṅgho itthannāmassa aññatitthiyapubbassa cattāro māse parivāsaṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so, who has been a monastic of another religion, wants the full ordination on this spiritual path. He is asking the Sangha for four months of probation. If the Sangha is ready, it should give four months of probation to so-and-so, who has been a monastic of another religion. This is the motion.
‘Bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Người này, tên là vậy, trước đây là ngoại đạo, mong muốn được tu lên bậc trên ở trong Pháp và Luật này. Vị ấy xin Tăng chúng cho biệt trú trong bốn tháng. Nếu việc làm là đúng thời đối với Tăng chúng, Tăng chúng nên cho người trước đây là ngoại đạo tên là vậy được biệt trú trong bốn tháng. Đây là lời tuyên ngôn.’
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo aññatitthiyapubbo imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhati upasampadaṁ. So saṅghaṁ cattāro māse parivāsaṁ yācati. Saṅgho itthannāmassa aññatitthiyapubbassa cattāro māse parivāsaṁ deti. Yassāyasmato khamati itthannāmassa aññatitthiyapubbassa cattāro māse parivāsassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so, who has been a monastic of another religion, wants the full ordination on this spiritual path. He is asking the Sangha for four months of probation. The Sangha gives four months of probation to so-and-so, who has been a monastic of another religion. Any monk who approves of giving four months of probation to so-and-so, who has been a monastic of another religion, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Người này, tên là vậy, trước đây là ngoại đạo, mong muốn được tu lên bậc trên ở trong Pháp và Luật này. Vị ấy xin Tăng chúng cho biệt trú trong bốn tháng. Tăng chúng cho người trước đây là ngoại đạo tên là vậy được biệt trú trong bốn tháng. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc cho người trước đây là ngoại đạo tên là vậy được biệt trú trong bốn tháng thì vị ấy nên im lặng; vị nào không chấp thuận thì vị ấy nên nói lên.’
Dinno saṅghena itthannāmassa aññatitthiyapubbassa cattāro māse parivāso. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
The Sangha has given so-and-so, who has been a monastic of another religion, four months of probation. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
‘Việc biệt trú trong bốn tháng đã được Tăng chúng cho người trước đây là ngoại đạo tên là vậy. Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con ghi nhận việc này là như vậy.’
Evaṁ kho, bhikkhave, aññatitthiyapubbo ārādhako hoti, evaṁ anārādhako. Kathañca, bhikkhave, aññatitthiyapubbo anārādhako hoti?
And this is how someone who has been a monastic of another religion fails his probation:
87. Này các tỳ khưu, như thế này là người trước đây là ngoại đạo làm hài lòng (Tăng chúng), như thế này là không làm hài lòng. Và này các tỳ khưu, thế nào là người trước đây là ngoại đạo không làm hài lòng? Này các tỳ khưu, ở đây, người trước đây là ngoại đạo đi vào làng quá sớm, trở về quá muộn. Này các tỳ khưu, như vậy cũng là người trước đây là ngoại đạo không làm hài lòng.
Lại nữa, này các tỳ khưu, người trước đây là ngoại đạo có kỹ nữ là nơi thường lui tới, hoặc có góa phụ là nơi thường lui tới, hoặc có thiếu nữ lớn tuổi là nơi thường lui tới, hoặc có người ái nam ái nữ là nơi thường lui tới, hoặc có tỳ khưu ni là nơi thường lui tới. Này các tỳ khưu, như vậy cũng là người trước đây là ngoại đạo không làm hài lòng.
Lại nữa, này các tỳ khưu, người trước đây là ngoại đạo đối với các công việc lớn nhỏ của các vị đồng phạm hạnh, ở đó không được khéo léo, không được siêng năng, không có trí tuệ thẩm sát về phương tiện ở đó, không có khả năng để làm, không có khả năng để sắp xếp. Này các tỳ khưu, như vậy cũng là người trước đây là ngoại đạo không làm hài lòng.
Lại nữa, này các tỳ khưu, người trước đây là ngoại đạo không có ước muốn mãnh liệt trong việc học thuộc lòng, trong việc hỏi han, trong giới hạnh cao thượng, trong tâm cao thượng, trong tuệ cao thượng. Này các tỳ khưu, như vậy cũng là người trước đây là ngoại đạo không làm hài lòng.
Evaṁ anārādhako kho, bhikkhave, aññatitthiyapubbo āgato na upasampādetabbo.
When he fails in this way, he shouldn’t be given the full ordination.
Lại nữa, này các tỳ khưu, người trước đây là ngoại đạo đã từ trú xứ ngoại đạo của vị thầy nào mà đến, khi lời chê bai về vị thầy ấy, về quan điểm của vị ấy, về sự kham nhẫn của vị ấy, về sở thích của vị ấy, về sự chấp thủ của vị ấy được nói lên thì bị tức giận, không vừa lòng, không hoan hỷ; còn khi lời chê bai về đức Phật, hoặc về Giáo pháp, hoặc về Tăng chúng được nói lên thì lại vừa lòng, phấn khởi, hoan hỷ. Hoặc nữa, người đã từ trú xứ ngoại đạo của vị thầy nào mà đến, khi lời tán dương về vị thầy ấy, về quan điểm của vị ấy, về sự kham nhẫn của vị ấy, về sở thích của vị ấy, về sự chấp thủ của vị ấy được nói lên thì lại vừa lòng, phấn khởi, hoan hỷ; còn khi lời tán dương về đức Phật, hoặc về Giáo pháp, hoặc về Tăng chúng được nói lên thì bị tức giận, không vừa lòng, không hoan hỷ. Này các tỳ khưu, đây là dấu hiệu nhận biết về việc không làm hài lòng của người trước đây là ngoại đạo. Này các tỳ khưu, như vậy cũng là người trước đây là ngoại đạo không làm hài lòng. Này các tỳ khưu, người trước đây là ngoại đạo không làm hài lòng như vậy khi trở về thì không nên cho tu lên bậc trên.
Kathañca, bhikkhave, aññatitthiyapubbo ārādhako hoti?
And this is how someone who has been a monastic of another religion passes his probation:
Này các tỳ khưu, thế nào là người từng là ngoại đạo làm cho (Tăng chúng) hài lòng? Này các tỳ khưu, ở đây, người từng là ngoại đạo không vào làng quá sớm, không trở về quá muộn. Này các tỳ khưu, như vậy người từng là ngoại đạo làm cho (Tăng chúng) hài lòng.
Lại nữa, này các tỳ khưu, người từng là ngoại đạo không có nơi khất thực là kỹ nữ, không có nơi khất thực là góa phụ, không có nơi khất thực là thiếu nữ quá lứa, không có nơi khất thực là người ái nam ái nữ, không có nơi khất thực là tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, như vậy người từng là ngoại đạo làm cho (Tăng chúng) hài lòng.
Lại nữa, này các tỳ khưu, người từng là ngoại đạo đối với các công việc lớn nhỏ của các vị đồng phạm hạnh, vị ấy khéo léo, không biếng nhác, có trí tuệ thẩm sát về phương pháp để hoàn thành công việc ấy, có khả năng tự làm, có khả năng sắp xếp. Này các tỳ khưu, như vậy người từng là ngoại đạo làm cho (Tăng chúng) hài lòng.
Lại nữa, này các tỳ khưu, người từng là ngoại đạo có ước muốn mãnh liệt trong việc học hỏi, trong việc tra vấn, trong tăng thượng giới, trong tăng thượng tâm, trong tăng thượng tuệ. Này các tỳ khưu, như vậy người từng là ngoại đạo làm cho (Tăng chúng) hài lòng.
Evaṁ ārādhako kho, bhikkhave, aññatitthiyapubbo āgato upasampādetabbo.
When he passes in this way, he should be given the full ordination.
Lại nữa, này các tỳ khưu, người từng là ngoại đạo, khi nghe nói đến những lời chê bai về vị thầy, về quan điểm, về sự chấp nhận, về sở thích, về chủ trương mà từ đó vị ấy đã từ bỏ ra đi, thì vị ấy hoan hỷ, phấn khởi, vui mừng. Khi nghe nói đến những lời chê bai về đức Phật, về Giáo pháp, hay về Tăng chúng, thì vị ấy tức giận, không hoan hỷ, không vui mừng. Và khi nghe nói đến những lời tán thán về vị thầy, về quan điểm, về sự chấp nhận, về sở thích, về chủ trương mà từ đó vị ấy đã từ bỏ ra đi, thì vị ấy tức giận, không hoan hỷ, không vui mừng. Khi nghe nói đến những lời tán thán về đức Phật, về Giáo pháp, hay về Tăng chúng, thì vị ấy hoan hỷ, phấn khởi, vui mừng. Này các tỳ khưu, đây là dấu hiệu nhận biết của người từng là ngoại đạo trong việc làm cho (Tăng chúng) hài lòng. Này các tỳ khưu, như vậy người từng là ngoại đạo làm cho (Tăng chúng) hài lòng. Này các tỳ khưu, người từng là ngoại đạo mà làm cho (Tăng chúng) hài lòng như vậy, khi đến, nên được cho thọ cụ túc giới.
Sace, bhikkhave, aññatitthiyapubbo naggo āgacchati, upajjhāyamūlakaṁ cīvaraṁ pariyesitabbaṁ. Sace acchinnakeso āgacchati, saṅgho apaloketabbo bhaṇḍukammāya. Ye te, bhikkhave, aggikā jaṭilakā, te āgatā upasampādetabbā, na tesaṁ parivāso dātabbo. Taṁ kissa hetu? Kammavādino ete, bhikkhave, kiriyavādino. Sace, bhikkhave, jātiyā sākiyo aññatitthiyapubbo āgacchati, so āgato upasampādetabbo, na tassa parivāso dātabbo. Imāhaṁ, bhikkhave, ñātīnaṁ āveṇikaṁ parihāraṁ dammī”ti.
If someone who has been a monastic of another religion arrives naked, a robe should be sought through his preceptor. If he arrives with hair, he should get permission from the Sangha to shave. But any dreadlocked, fire-worshiping ascetic who comes to be ordained should be given the full ordination without probation. Why is that? Because they believe that deeds and actions have results. And if someone comes to be ordained who has been a monastic of another religion but is a Sakyan by birth, he should be given the full ordination without probation. I give this special privilege to my relatives.”
Này các tỳ khưu, nếu người từng là ngoại đạo đến trong tình trạng lõa thể, cần phải tìm y phục, bắt đầu từ vị thầy tế độ. Nếu vị ấy đến với tóc chưa cắt, cần phải thông báo cho Tăng chúng để làm lễ cạo tóc. Này các tỳ khưu, những vị tu khổ hạnh thờ lửa, bện tóc, khi họ đến, nên được cho thọ cụ túc giới, không cần phải cho họ biệt trú. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, vì những vị này là người chủ trương về nghiệp, người chủ trương về hành động. Này các tỳ khưu, nếu người từng là ngoại đạo thuộc dòng dõi Sākya đến, vị ấy khi đến nên được cho thọ cụ túc giới, không cần phải cho vị ấy biệt trú. Này các tỳ khưu, Ta ban cho các quyến thuộc của Ta đặc ân riêng này.
Aññatitthiyapubbakathā niṭṭhitā.
Sattamo bhāṇavāro.
The discussion on those who have been monastics of another religion is finished.
The seventh section for recitation is finished.
Phần câu chuyện về người từng là ngoại đạo đã kết thúc.
26. Câu chuyện về năm loại bệnh
Tena kho pana samayena magadhesu pañca ābādhā ussannā honti—kuṭṭhaṁ, gaṇḍo, kilāso, soso, apamāro. Manussā pañcahi ābādhehi phuṭṭhā jīvakaṁ komārabhaccaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadanti—“sādhu no, ācariya, tikicchāhī”ti.
“Ahaṁ khvayyo, bahukicco bahukaraṇīyo; rājā ca me māgadho seniyo bimbisāro upaṭṭhātabbo itthāgārañca buddhappamukho ca bhikkhusaṅgho; nāhaṁ sakkomi tikicchitun”ti.
“Sabbaṁ sāpateyyañca te, ācariya, hotu; mayañca te dāsā; sādhu, no, ācariya, tikicchāhī”ti.
“Ahaṁ khvayyo, bahukicco bahukaraṇīyo rājā ca me māgadho seniyo bimbisāro upaṭṭhātabbo itthāgārañca buddhappamukho ca bhikkhusaṅgho; nāhaṁ sakkomi tikicchitun”ti. Atha kho tesaṁ manussānaṁ etadahosi—“ime kho samaṇā sakyaputtiyā sukhasīlā sukhasamācārā, subhojanāni bhuñjitvā nivātesu sayanesu sayanti. Yannūna mayaṁ samaṇesu sakyaputtiyesu pabbajeyyāma. Tattha bhikkhū ceva upaṭṭhahissanti, jīvako ca komārabhacco tikicchissatī”ti.
Atha kho te manussā bhikkhū upasaṅkamitvā pabbajjaṁ yāciṁsu. Te bhikkhū pabbājesuṁ, upasampādesuṁ. Te bhikkhū ceva upaṭṭhahiṁsu jīvako ca komārabhacco tikicchi.
Tena kho pana samayena bhikkhū bahū gilāne bhikkhū upaṭṭhahantā yācanabahulā viññattibahulā viharanti—“gilānabhattaṁ detha, gilānupaṭṭhākabhattaṁ detha, gilānabhesajjaṁ dethā”ti. Jīvakopi komārabhacco bahū gilāne bhikkhū tikicchanto aññataraṁ rājakiccaṁ parihāpesi.
At that time in Magadha, there were five common diseases: leprosy, abscesses, mild leprosy, tuberculosis, and epilepsy. When people were sick with any of these, they went to Jīvaka Komārabhacca and said, “Doctor, please treat us.”
He replied, “I’m very busy. I look after King Seniya Bimbisāra of Magadha and his harem. I also look after the Sangha of monks headed by the Buddha. I’m not able to treat you.”
“We’ll give you everything we own, and we’ll be your slave, too. Please treat us, doctor.”
Jīvaka repeated what he had already said. And those people thought, “These Sakyan monastics have pleasant habits and a happy life. They eat nice food and sleep in beds sheltered from the wind. Why don’t we go forth with the Sakyan monastics? If we do, the monks will nurse us and Jīvaka Komārabhacca will treat us.”
They then went to the monks and asked for the going forth. The monks gave them the going forth and the full ordination. And the monks nursed them, and Jīvaka treated them.
At one time the monks were nursing many sick monks. As a result, they kept on asking, “Please give a meal for the sick and for those nursing the sick. Please give medicines for the sick.” And because Jīvaka was treating many sick monks, he was unable to fulfill his duty to King Bimbisāra.
88. Vào lúc bấy giờ, ở xứ Magadha có năm loại bệnh lan tràn: bệnh hủi, ung nhọt, lang ben, lao phổi, động kinh. Những người bị năm loại bệnh này hành hạ đã đến gặp y sĩ Jīvaka Komārabhacca và nói như sau: ‘Thưa ngài, xin ngài vui lòng chữa trị cho chúng tôi.’ – ‘Thưa các vị, tôi có nhiều công việc, nhiều phận sự phải làm; tôi phải chăm sóc vua Bimbisāra xứ Magadha, hiệu Seniya, và cả hậu cung, cùng với Tăng chúng do đức Phật dẫn đầu; tôi không thể chữa trị được.’ – ‘Thưa ngài, xin tất cả tài sản của chúng tôi sẽ thuộc về ngài, và chúng tôi sẽ là người hầu của ngài; thưa ngài, xin ngài vui lòng chữa trị cho chúng tôi.’ – ‘Thưa các vị, tôi có nhiều công việc, nhiều phận sự phải làm; tôi phải chăm sóc vua Bimbisāra xứ Magadha, hiệu Seniya, và cả hậu cung, cùng với Tăng chúng do đức Phật dẫn đầu; tôi không thể chữa trị được.’ Bấy giờ, những người ấy đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Các vị sa-môn Thích tử này sống an lạc, có hạnh kiểm an lạc, sau khi dùng các món ăn ngon, họ ngủ nghỉ ở những nơi kín gió. Hay là chúng ta hãy xuất gia với các vị sa-môn Thích tử. Ở đó, các tỳ khưu sẽ chăm sóc và y sĩ Jīvaka Komārabhacca cũng sẽ chữa trị.’ Sau đó, những người ấy đã đến gặp các tỳ khưu và xin được xuất gia. Các tỳ khưu đã cho họ xuất gia, cho họ thọ cụ túc giới. Các tỳ khưu đã chăm sóc họ và y sĩ Jīvaka Komārabhacca cũng đã chữa trị. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu trong khi chăm sóc nhiều tỳ khưu bị bệnh đã sống trong tình trạng xin xỏ nhiều, thỉnh cầu nhiều: ‘Xin hãy cho vật thực cho người bệnh, xin hãy cho vật thực cho người chăm sóc bệnh, xin hãy cho thuốc men cho người bệnh.’ Y sĩ Jīvaka Komārabhacca cũng vì chữa trị cho nhiều tỳ khưu bị bệnh mà đã sao lãng một công việc nào đó của nhà vua.
Aññataropi puriso pañcahi ābādhehi phuṭṭho jīvakaṁ komārabhaccaṁ upasaṅkamitvā etadavoca—“sādhu maṁ, ācariya, tikicchāhī”ti.
“Ahaṁ khvayyo, bahukicco, bahukaraṇīyo, rājā ca me māgadho seniyo bimbisāro upaṭṭhātabbo itthāgārañca buddhappamukho ca bhikkhusaṅgho; nāhaṁ sakkomi tikicchitun”ti.
“Sabbaṁ sāpateyyañca te, ācariya, hotu, ahañca te dāso; sādhu maṁ, ācariya, tikicchāhī”ti.
“Ahaṁ khvayyo, bahukicco bahukaraṇīyo, rājā ca me māgadho seniyo bimbisāro upaṭṭhātabbo itthāgārañca buddhappamukho ca bhikkhusaṅgho, nāhaṁ sakkomi tikicchitun”ti. Atha kho tassa purisassa etadahosi—“ime kho samaṇā sakyaputtiyā sukhasīlā sukhasamācārā, subhojanāni bhuñjitvā nivātesu sayanesu sayanti. Yannūnāhaṁ samaṇesu sakyaputtiyesu pabbajeyyaṁ. Tattha bhikkhū ceva upaṭṭhahissanti, jīvako ca komārabhacco tikicchissati. Somhi arogo vibbhamissāmī”ti.
Atha kho so puriso bhikkhu upasaṅkamitvā pabbajjaṁ yāci. Taṁ bhikkhū pabbājesuṁ, upasampādesuṁ. Taṁ bhikkhū ceva upaṭṭhahiṁsu, jīvako ca komārabhacco tikicchi. So arogo vibbhami.
Addasā kho jīvako komārabhacco taṁ purisaṁ vibbhantaṁ, disvāna taṁ purisaṁ etadavoca—“nanu tvaṁ, ayyo, bhikkhūsu pabbajito ahosī”ti?
“Evaṁ, ācariyā”ti.
“Kissa pana tvaṁ, ayyo, evarūpamakāsī”ti?
Atha kho so puriso jīvakassa komārabhaccassa etamatthaṁ ārocesi. Jīvako komārabhacco ujjhāyati khiyyati vipāceti—“kathañhi nāma bhadantā pañcahi ābādhehi phuṭṭhaṁ pabbājessantī”ti.
Atha kho jīvako komārabhacco yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho jīvako komārabhacco bhagavantaṁ etadavoca—“sādhu, bhante, ayyā pañcahi ābādhehi phuṭṭhaṁ na pabbājeyyun”ti. Atha kho bhagavā jīvakaṁ komārabhaccaṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho jīvako komārabhacco bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, pañcahi ābādhehi phuṭṭho pabbājetabbo. Yo pabbājeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Then a certain man who was afflicted with one of the five diseases went to Jīvaka and said, “Doctor, please treat me.”
He replied, “I’m very busy. I look after the king of Magadha and his harem. I also look after the Sangha of monks headed by the Buddha. I’m not able to treat you.”
“I will give you everything I own, and I’ll be your slave, too. Please treat me, doctor.”
Jīvaka repeated what he had already said. That man thought, “These Sakyan monastics have pleasant habits and a happy life. They eat nice food and sleep in beds sheltered from the wind. Why don’t I go forth with the Sakyan monastics? If I do, the monks will nurse me, and Jīvaka Komārabhacca will treat me. And when I’m healthy, I’ll disrobe.”
He then went to the monks and asked for the going forth. The monks gave him the going forth and the full ordination, after which they nursed him and Jīvaka treated him. When he was healthy again, he disrobed.
Jīvaka saw that man after he had disrobed, and he asked him, “Didn’t you go forth with the monks?”
“Yes, doctor.”
“And why did you do it?”
When that man had told him what had happened, Jīvaka complained and criticized the monks, “How could the venerables allow one with the five diseases to go forth?”
He went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “Please, sir, may the venerables not allow those with the five diseases to go forth.” The Buddha instructed, inspired, and gladdened him with a teaching. Jīvaka then got up from his seat, bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t give the going forth to anyone afflicted with any of the five diseases. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
89. Cũng vậy, có một người đàn ông bị nhiễm năm thứ bệnh đã đi đến gặp y sĩ Jīvaka Komārabhacca và thưa rằng: – ‘Thưa thầy, xin thầy vui lòng chữa trị cho tôi.’ – ‘Này hiền hữu, tôi thực sự bận rộn, có nhiều việc phải làm. Tôi phải hầu hạ đức vua Bimbisāra Seniya xứ Māgadha, cả hậu cung, và chúng Tăng với đức Phật là vị đứng đầu; tôi không thể chữa trị được.’ – ‘Thưa thầy, xin tất cả tài sản của tôi hãy thuộc về thầy, và tôi xin làm nô lệ cho thầy; thưa thầy, xin thầy vui lòng chữa trị cho tôi.’ – ‘Này hiền hữu, tôi thực sự bận rộn, có nhiều việc phải làm. Tôi phải hầu hạ đức vua Bimbisāra Seniya xứ Māgadha, cả hậu cung, và chúng Tăng với đức Phật là vị đứng đầu; tôi không thể chữa trị được.’ Bấy giờ, người đàn ông ấy đã suy nghĩ như sau: – ‘Các vị Sa-môn Thích tử này sống an lạc, có hạnh kiểm an vui, sau khi dùng các món ngon vật lạ, các vị ấy ngủ nghỉ ở những nơi kín gió. Hay là ta nên xuất gia với các vị Sa-môn Thích tử. Ở đó, các tỳ khưu sẽ chăm sóc, và y sĩ Jīvaka Komārabhacca cũng sẽ chữa trị. Sau khi khỏi bệnh, ta sẽ hoàn tục.’ Bấy giờ, người đàn ông ấy đi đến gặp các tỳ khưu và xin xuất gia. Các tỳ khưu đã cho người ấy xuất gia, cho thọ cụ túc. Các tỳ khưu đã chăm sóc người ấy, và y sĩ Jīvaka Komārabhacca cũng đã chữa trị. Sau khi khỏi bệnh, người ấy đã hoàn tục. Y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã nhìn thấy người đàn ông ấy trong lúc hoàn tục, sau khi thấy, ông đã nói với người đàn ông ấy rằng: – ‘Này hiền hữu, chẳng phải ông đã xuất gia với các tỳ khưu sao?’ – ‘Thưa vâng, thưa thầy.’ – ‘Này hiền hữu, tại sao ông lại làm việc như vậy?’ Bấy giờ, người đàn ông ấy đã trình bày sự việc ấy cho y sĩ Jīvaka Komārabhacca. Y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: – ‘Tại sao các ngài Đại đức lại có thể cho người bị nhiễm năm thứ bệnh xuất gia?’ Bấy giờ, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đi đến nơi đức Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã bạch với đức Thế Tôn rằng: – ‘Bạch đức Thế Tôn, lành thay, nếu các ngài không cho người bị nhiễm năm thứ bệnh xuất gia.’ Bấy giờ, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ y sĩ Jīvaka Komārabhacca bằng một bài pháp thoại. Bấy giờ, y sĩ Jīvaka Komārabhacca, sau khi được đức Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ bằng một bài pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh bên phải rồi ra về. Bấy giờ, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các tỳ khưu: – ‘Này các tỳ khưu, người bị nhiễm năm thứ bệnh không được cho xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội tác ác.’
27. Câu chuyện về người phục vụ cho đức vua
Tena kho pana samayena rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa paccanto kupito hoti. Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro senānāyake mahāmatte āṇāpesi—“gacchatha, bhaṇe, paccantaṁ uccinathā”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho senānāyakā mahāmattā rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa paccassosuṁ.
Atha kho abhiññātānaṁ abhiññātānaṁ yodhānaṁ etadahosi—“mayaṁ kho yuddhābhinandino gacchantā pāpañca karoma, bahuñca apuññaṁ pasavāma. Kena nu kho mayaṁ upāyena pāpā ca virameyyāma kalyāṇañca kareyyāmā”ti?
Atha kho tesaṁ yodhānaṁ etadahosi—“ime kho samaṇā sakyaputtiyā dhammacārino samacārino brahmacārino saccavādino sīlavanto kalyāṇadhammā. Sace kho mayaṁ samaṇesu sakyaputtiyesu pabbajeyyāma, evaṁ mayaṁ pāpā ca virameyyāma kalyāṇañca kareyyāmā”ti. Atha kho te yodhā bhikkhū upasaṅkamitvā pabbajjaṁ yāciṁsu. Te bhikkhū pabbājesuṁ, upasampādesuṁ.
Senānāyakā mahāmattā rājabhaṭe pucchiṁsu—“kiṁ nu kho, bhaṇe, itthannāmo ca itthannāmo ca yodhā na dissantī”ti?
“Itthannāmo ca itthannāmo ca, sāmi, yodhā bhikkhūsu pabbajitā”ti.
Senānāyakā mahāmattā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā rājabhaṭaṁ pabbājessantī”ti. Senānāyakā mahāmattā rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa etamatthaṁ ārocesuṁ.
Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro vohārike mahāmatte pucchi—“yo, bhaṇe, rājabhaṭaṁ pabbājeti, kiṁ so pasavatī”ti?
“Upajjhāyassa, deva, sīsaṁ chetabbaṁ, anussāvakassa jivhā uddharitabbā, gaṇassa upaḍḍhaphāsukā bhañjitabbā”ti.
Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rājā māgadho seniyo bimbisāro bhagavantaṁ etadavoca—“santi, bhante, rājāno assaddhā appasannā. Te appamattakenapi bhikkhū viheṭheyyuṁ. Sādhu, bhante, ayyā rājabhaṭaṁ na pabbājeyyun”ti. Atha kho bhagavā rājānaṁ māgadhaṁ seniyaṁ bimbisāraṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, rājabhaṭo pabbājetabbo. Yo pabbājeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion unrest erupted in the outlying districts governed by King Bimbisāra. The king told his generals, “Go and sort out those districts.”
“Yes, sir.”
But the most distinguished soldiers thought, “If we go and enjoy the battle, we’ll do what’s bad and make much demerit. How can we avoid what’s bad and do what’s good instead?”
It occurred to them, “These Sakyan monastics have integrity. They’re celibate and their conduct is good, and they’re truthful, moral, and have a good character. If we go forth with them, we’ll avoid what’s bad and do what’s good.” Those soldiers then went to the monks and asked for the going forth. And the monks gave them the going forth and the full ordination.
Soon afterwards the generals asked among the king’s employees, “Where are the soldiers so-and-so and so-and-so?”
“They’ve gone forth with the monks.”
The generals complained and criticized the monks, “How could the Sakyan monastics give the going forth to those who are employed by the king?” They told King Bimbisāra.
The king then asked the judges, “What’s the penalty for one who gives the going forth to someone employed by the king?”
“The preceptor should have his head cut off, the one who does the formal proclamation should have his tongue cut out, and the participating group should have half their ribs broken.”
The king went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “Sir, there are kings with little faith and confidence. They would give the monks a hard time even over small matters. Please, may the venerables not give the going forth to those employed by a king.” The Buddha instructed, inspired, and gladdened him with a teaching. The king then got up from his seat, bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t give the going forth to anyone employed by a king. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
90. Vào lúc bấy giờ, vùng biên giới của vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha, bị náo động. Khi ấy, vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha, đã ra lệnh cho các vị tướng lãnh và đại thần rằng: ‘Này các khanh, hãy đi dẹp yên vùng biên giới.’ Các vị tướng lãnh và đại thần ấy đã vâng lệnh vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha, rằng: ‘Tâu Đại vương, xin vâng.’ Bấy giờ, các binh sĩ thiện chiến nổi danh đã suy nghĩ như sau: ‘Chúng ta là những người ưa thích chiến trận, khi ra đi, chúng ta sẽ làm điều ác và tạo ra nhiều điều bất thiện. Làm thế nào để chúng ta có thể tránh xa điều ác và làm điều lành đây?’ Rồi các binh sĩ ấy lại suy nghĩ như sau: ‘Các vị Sa-môn Thích tử này là những người sống theo Chánh pháp, sống đúng đắn, sống đời phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp. Nếu chúng ta xuất gia với các vị Sa-môn Thích tử, như vậy chúng ta có thể tránh xa điều ác và làm điều lành.’ Sau đó, các binh sĩ ấy đã đi đến các vị tỳ-khưu và xin được xuất gia. Các vị tỳ-khưu đã cho họ xuất gia và làm lễ cụ túc. Các vị tướng lãnh và đại thần đã hỏi các người lính hầu của vua rằng: ‘Này các khanh, tại sao không thấy các binh sĩ tên này tên này?’ – ‘Thưa các ngài, các binh sĩ tên này tên này đã xuất gia với các vị tỳ-khưu.’ Các vị tướng lãnh và đại thần đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: ‘Làm sao mà các vị Sa-môn Thích tử lại có thể cho một người lính của vua xuất gia chứ?’ Các vị tướng lãnh và đại thần đã trình sự việc ấy lên vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha. Khi ấy, vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha, đã hỏi các vị đại thần pháp quan rằng: ‘Này các khanh, người nào cho một người lính của vua xuất gia thì phải chịu hình phạt gì?’ – ‘Tâu Đại vương, đầu của vị thầy tế độ phải bị chặt, lưỡi của vị thầy yết-ma phải bị cắt, và một nửa xương sườn của tăng chúng (trong hội đồng) phải bị bẻ gãy.’ Bấy giờ, vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha, đã đi đến nơi đức Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha, đã bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch ngài, có những vị vua không có đức tin, không có lòng tịnh tín. Họ có thể làm hại các vị tỳ-khưu chỉ vì một lý do nhỏ nhặt. Lành thay, bạch ngài, mong rằng các bậc tôn giả không cho người lính của vua xuất gia.’ Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha, bằng một bài pháp thoại. Sau đó, vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha, được đức Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ bằng một bài pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi ra về. Bấy giờ, nhân sự việc này, nhân duyên cớ này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các vị tỳ-khưu: ‘Này các tỳ-khưu, không được cho người lính của vua xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội tác ác.’
28. Câu chuyện về tên cướp Aṅgulimāla
Tena kho pana samayena coro aṅgulimālo bhikkhūsu pabbajito hoti. Manussā passitvā ubbijjantipi, uttasantipi, palāyantipi, aññenapi gacchanti, aññenapi mukhaṁ karonti, dvārampi thakenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā dhajabandhaṁ coraṁ pabbājessantī”ti. Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“na, bhikkhave, dhajabandho coro pabbājetabbo. Yo pabbājeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the criminal Aṅgulimāla had gone forth with the monks. When people saw him, they became alarmed and fearful. They turned away, took a different path, ran off, and closed their doors. People complained and criticized the monks, “How could the Sakyan monastics give the going forth to a notorious criminal?” The monks heard the complaints of those people. They then told the Buddha. …
“You shouldn’t give the going forth to a notorious criminal. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
91. Vào lúc bấy giờ, tên cướp Aṅgulimāla đã được xuất gia với các vị tỳ-khưu. Dân chúng khi trông thấy đã kinh hãi, sợ sệt, và bỏ chạy. Họ đi lối khác, ngoảnh mặt đi nơi khác, và cũng đóng cửa lại. Dân chúng đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: ‘Làm sao mà các vị Sa-môn Thích tử lại có thể cho một tên cướp khét tiếng xuất gia chứ?’ Các vị tỳ-khưu đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, và chỉ trích của dân chúng ấy. Khi ấy, các vị tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn... (vắn tắt)... Này các tỳ-khưu, không được cho tên cướp khét tiếng xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội tác ác.
29. Câu chuyện về tên cướp phá ngục
Tena kho pana samayena raññā māgadhena seniyena bimbisārena anuññātaṁ hoti—“ye samaṇesu sakyaputtiyesu pabbajanti, na te labbhā kiñci kātuṁ; svākkhāto dhammo, carantu brahmacariyaṁ sammā dukkhassa antakiriyāyā”ti.
Tena kho pana samayena aññataro puriso corikaṁ katvā kārāya baddho hoti. So kāraṁ bhinditvā palāyitvā bhikkhūsu pabbajito hoti. Manussā passitvā evamāhaṁsu—“ayaṁ so kārabhedako coro. Handa naṁ nemā”ti. Ekacce evamāhaṁsu—“māyyo, evaṁ avacuttha. Anuññātaṁ raññā māgadhena seniyena bimbisārena—‘ye samaṇesu sakyaputtiyesu pabbajanti, na te labbhā kiñci kātuṁ; svākkhāto dhammo, carantu brahmacariyaṁ sammā dukkhassa antakiriyāyā’”ti.
Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“abhayūvarā ime samaṇā sakyaputtiyā, nayime labbhā kiñci kātuṁ. Kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā kārabhedakaṁ coraṁ pabbājessantī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, kārabhedako coro pabbājetabbo. Yo pabbājeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time King Bimbisāra had made the following declaration: “Nothing should be done to anyone who has gone forth with the Sakyan monastics. The Teaching is well-proclaimed. Allow them to practice the spiritual life to make a complete end of suffering.”
Soon afterwards a certain thief was put in prison. But he escaped, ran away, and went forth with the monks. When people saw him, they said, “There’s that criminal who escaped from prison. Let’s get him!” But some said, “No, the king has declared that nothing should be done to anyone gone forth with the Sakyan monastics.”
People complained and criticized the monks, “These Sakyan monastics are untouchable; you can’t do anything to them. So how could they give the going forth to an escaped criminal?” They told the Buddha.
“You shouldn’t give the going forth to an escaped criminal. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
92. Vào lúc bấy giờ, vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha, đã cho phép rằng: ‘Những ai xuất gia với các vị Sa-môn Thích tử thì không thể bị làm hại gì cả; Chánh pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy để họ thực hành phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau.’ Vào lúc bấy giờ, có một người đàn ông nọ sau khi phạm tội trộm cắp đã bị giam trong ngục. Người ấy đã phá ngục, trốn thoát, và xuất gia với các vị tỳ-khưu. Dân chúng khi trông thấy đã nói rằng: ‘Đây là tên cướp phá ngục. Nào, chúng ta hãy bắt hắn.’ Một số người khác lại nói: ‘Này các ông, đừng nói vậy. Vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha, đã cho phép rằng: “Những ai xuất gia với các vị Sa-môn Thích tử thì không thể bị làm hại gì cả; Chánh pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy để họ thực hành phạm hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau.”’ Dân chúng đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: ‘Các vị Sa-môn Thích tử này là nơi trú ẩn an toàn, không ai có thể làm gì được họ. Làm sao mà các vị Sa-môn Thích tử lại có thể cho một tên cướp phá ngục xuất gia chứ?’ Sự việc ấy đã được trình lên đức Thế Tôn. Này các tỳ-khưu, không được cho tên cướp phá ngục xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội tác ác.
30. Câu chuyện về tên cướp bị truy nã
Tena kho pana samayena aññataro puriso corikaṁ katvā palāyitvā bhikkhūsu pabbajito hoti. So ca rañño antepure likhito hoti—yattha passati, tattha hantabboti.
Manussā passitvā evamāhaṁsu—“ayaṁ so likhitako coro. Handa naṁ hanāmā”ti.
Ekacce evamāhaṁsu—“māyyo, evaṁ avacuttha. Anuññātaṁ raññā māgadhena seniyena bimbisārena ‘ye samaṇesu sakyaputtiyesu pabbajanti, na te labbhā kiñci kātuṁ, svākkhāto dhammo, carantu brahmacariyaṁ sammā dukkhassa antakiriyāyā’”ti.
Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“abhayūvarā ime samaṇā sakyaputtiyā, nayime labbhā kiñci kātuṁ. Kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā likhitakaṁ coraṁ pabbājessantī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, likhitako coro pabbājetabbo. Yo pabbājeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion a certain man stole something, ran away, and then went forth with the monks. Yet the king’s court had issued a statement: “He should be executed wherever he’s seen.”
When people saw him, they said, “There’s that wanted criminal. Let’s execute him!”
But some said, “No, King Bimbisāra has declared that nothing should be done to anyone gone forth with the Sakyan monastics.”
People complained and criticized the monks, “These Sakyan monastics are untouchable; you can’t do anything to them. So how could they give the going forth to a wanted criminal?” They told the Buddha.
“You shouldn’t give the going forth to a wanted criminal. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
93. Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ sau khi trộm cắp đã bỏ trốn rồi xuất gia trong hàng tỳ-khưu. Và người ấy đã bị ghi vào danh sách trong hoàng cung của đức vua rằng: ‘Hễ thấy ở đâu thì giết ở đó.’ Dân chúng trông thấy bèn nói rằng: ‘Đây là tên trộm đã bị ghi vào danh sách. Này, chúng ta hãy giết hắn.’ Một số người nói rằng: ‘Này quý vị, chớ có nói như thế. Đức vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha đã cho phép rằng: ‘Những ai xuất gia trong hàng sa-môn Thích tử thì không thể làm gì được đến họ. Giáo Pháp đã được khéo thuyết giảng, mong rằng họ thực hành phạm hạnh một cách chân chánh để chấm dứt khổ đau.’ Dân chúng phàn nàn, chê bai, và đồn rằng: ‘Các sa-môn Thích tử này là nơi trú ẩn an toàn, không thể làm gì được đến họ. Tại sao các sa-môn Thích tử lại có thể cho xuất gia tên trộm đã bị ghi vào danh sách chứ?’ (Các tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy): ‘Này các tỳ-khưu, không được cho tên trộm đã bị ghi vào danh sách được xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.’”
31. Câu chuyện về người bị đánh bằng roi.
Tena kho pana samayena aññataro puriso kasāhato katadaṇḍakammo bhikkhūsu pabbajito hoti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā kasāhataṁ katadaṇḍakammaṁ pabbājessantī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, kasāhato katadaṇḍakammo pabbājetabbo. Yo pabbājeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time a certain man who had been whipped as a penalty went forth with the monks. People complained and criticized the monks, “How could the Sakyan monastics give the going forth to one who has been whipped as a penalty?” They told the Buddha.
“You shouldn’t give the going forth to one who has been whipped as a penalty. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
94. Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bị đánh bằng roi, đã chịu hình phạt, rồi xuất gia trong hàng tỳ-khưu. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và đồn rằng: ‘Tại sao các sa-môn Thích tử lại có thể cho xuất gia người bị đánh bằng roi, đã chịu hình phạt chứ?’ (Các tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy): ‘Này các tỳ-khưu, không được cho người bị đánh bằng roi, đã chịu hình phạt được xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.’”
32. Câu chuyện về người bị đóng dấu.
Tena kho pana samayena aññataro puriso lakkhaṇāhato katadaṇḍakammo bhikkhūsu pabbajito hoti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā lakkhaṇāhataṁ katadaṇḍakammaṁ pabbājessantī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, lakkhaṇāhato katadaṇḍakammo pabbājetabbo. Yo pabbājeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time a certain man who had been branded as a penalty went forth with the monks. People complained and criticized the monks, “How could the Sakyan monastics give the going forth to one who has been branded as a penalty?” They told the Buddha.
“You shouldn’t give the going forth to one who has been branded as a penalty. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
95. Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bị đóng dấu, đã chịu hình phạt, rồi xuất gia trong hàng tỳ-khưu. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và đồn rằng: ‘Tại sao các sa-môn Thích tử lại có thể cho xuất gia người bị đóng dấu, đã chịu hình phạt chứ?’ (Các tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy): ‘Này các tỳ-khưu, không được cho người bị đóng dấu, đã chịu hình phạt được xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.’”
33. Câu chuyện về người mắc nợ.
Tena kho pana samayena aññataro puriso iṇāyiko palāyitvā bhikkhūsu pabbajito hoti. Dhaniyā passitvā evamāhaṁsu—“ayaṁ so amhākaṁ iṇāyiko. Handa naṁ nemā”ti.
Ekacce evamāhaṁsu—“māyyo, evaṁ avacuttha. Anuññātaṁ raññā māgadhena seniyena bimbisārena—‘ye samaṇesu sakyaputtiyesu pabbajanti, na te labbhā kiñci kātuṁ; svākkhāto dhammo, carantu brahmacariyaṁ sammā dukkhassa antakiriyāyā’”ti.
Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“abhayūvarā ime samaṇā sakyaputtiyā. Nayime labbhā kiñci kātuṁ. Kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā iṇāyikaṁ pabbājessantī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, iṇāyiko pabbājetabbo. Yo pabbājeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion a certain indebted man ran away and went forth with the monks. Soon afterwards the creditors saw him and said, “There’s that man who owes us. Let’s get him!”
But some said, “No, King Bimbisāra has declared that nothing should be done to anyone gone forth with the Sakyan monastics.”
People complained and criticized the monks, “These Sakyan monastics are untouchable; you can’t do anything to them. So how could they give the going forth to an indebted person?” They told the Buddha.
“You shouldn’t give the going forth to one who is indebted. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
96. Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ là người mắc nợ đã bỏ trốn rồi xuất gia trong hàng tỳ-khưu. Các chủ nợ trông thấy bèn nói rằng: ‘Đây là người mắc nợ của chúng ta. Này, chúng ta hãy bắt hắn.’ Một số người nói rằng: ‘Này quý vị, chớ có nói như thế. Đức vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha đã cho phép rằng: ‘Những ai xuất gia trong hàng sa-môn Thích tử thì không thể làm gì được đến họ. Giáo Pháp đã được khéo thuyết giảng, mong rằng họ thực hành phạm hạnh một cách chân chánh để chấm dứt khổ đau.’ Dân chúng phàn nàn, chê bai, và đồn rằng: ‘Các sa-môn Thích tử này là nơi trú ẩn an toàn, không thể làm gì được đến họ. Tại sao các sa-môn Thích tử lại có thể cho xuất gia người mắc nợ chứ?’ (Các tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy): ‘Này các tỳ-khưu, không được cho người mắc nợ được xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.’”
Tena kho pana samayena aññataro dāso palāyitvā bhikkhūsu pabbajito hoti. Ayyakā passitvā evamāhaṁsu—“ayaṁ so amhākaṁ dāso. Handa naṁ nemā”ti.
Ekacce evamāhaṁsu—“māyyo, evaṁ avacuttha, anuññātaṁ raññā māgadhena seniyena bimbisārena ‘ye samaṇesu sakyaputtiyesu pabbajanti, na te labbhā kiñci kātuṁ, svākkhāto dhammo, carantu brahmacariyaṁ sammā dukkhassa antakiriyāyā’”ti.
Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“abhayūvarā ime samaṇā sakyaputtiyā, nayime labbhā kiñci kātuṁ. Kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā dāsaṁ pabbājessantī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, dāso pabbājetabbo. Yo pabbājeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion a certain slave ran away and went forth with the monks. Soon afterwards the owners saw him and said, “There’s our slave. Let’s get him!”
But some said, “No, King Bimbisāra has declared that nothing should be done to anyone gone forth with the Sakyan monastics.”
People complained and criticized the monks, “These Sakyan monastics are untouchable; you can’t do anything to them. So how could they give the going forth to a slave?” They told the Buddha.
“You shouldn’t give the going forth to a slave. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
97. Vào lúc bấy giờ, có người nô lệ nọ đã bỏ trốn rồi xuất gia trong hàng tỳ-khưu. Các người chủ trông thấy bèn nói rằng: ‘Đây là người nô lệ của chúng ta. Này, chúng ta hãy bắt hắn.’ Một số người nói rằng: ‘Này quý vị, chớ có nói như thế. Đức vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha đã cho phép rằng: ‘Những ai xuất gia trong hàng sa-môn Thích tử thì không thể làm gì được đến họ. Giáo Pháp đã được khéo thuyết giảng, mong rằng họ thực hành phạm hạnh một cách chân chánh để chấm dứt khổ đau.’ Dân chúng phàn nàn, chê bai, và đồn rằng: ‘Các sa-môn Thích tử này là nơi trú ẩn an toàn, không thể làm gì được đến họ. Tại sao các sa-môn Thích tử lại có thể cho xuất gia người nô lệ chứ?’ (Các tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy): ‘Này các tỳ-khưu, không được cho người nô lệ được xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.’”
35. Câu chuyện về Kammārabhaṇḍu.
Tena kho pana samayena aññataro kammārabhaṇḍu mātāpitūhi saddhiṁ bhaṇḍitvā ārāmaṁ gantvā bhikkhūsu pabbajito hoti. Atha kho tassa kammārabhaṇḍussa mātāpitaro taṁ kammārabhaṇḍuṁ vicinantā ārāmaṁ gantvā bhikkhū pucchiṁsu—“api, bhante, evarūpaṁ dārakaṁ passeyyāthā”ti? Bhikkhū ajānaṁyeva āhaṁsu—“na jānāmā”ti, apassaṁyeva āhaṁsu—“na passāmā”ti.
Atha kho tassa kammārabhaṇḍussa mātāpitaro taṁ kammārabhaṇḍuṁ vicinantā bhikkhūsu pabbajitaṁ disvā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“alajjino ime samaṇā sakyaputtiyā, dussīlā musāvādino. Jānaṁyeva āhaṁsu—‘na jānāmā’ti, passaṁyeva āhaṁsu—‘na passāmā’ti. Ayaṁ dārako bhikkhūsu pabbajito”ti. Assosuṁ kho bhikkhū tassa kammārabhaṇḍussa mātāpitūnaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, saṅghaṁ apaloketuṁ bhaṇḍukammāyā”ti.
At that time a certain shaven-headed smith had quarreled with his parents. He then went to the monastery and went forth with the monks. While looking for their son, the parents came to that monastery. They asked the monks, “Venerables, have you by any chance seen such-and-such a boy?” Because they had not, they said, “No.”
Soon afterwards those parents saw that their son had gone forth as a monk. They then complained and criticized the monks, “These Sakyan monastics are shameless and immoral liars. They deny knowing what they know and having seen what they’ve seen. Our boy has gone forth as a monk.” The monks heard the complaints of those parents. They told the Buddha.
“You should get permission from the Sangha to shave someone’s head.”
98. Vào lúc bấy giờ, có người tên là Kammārabhaṇḍu nọ sau khi cãi nhau với cha mẹ đã đi đến tu viện rồi xuất gia trong hàng tỳ-khưu. Sau đó, cha mẹ của Kammārabhaṇḍu ấy trong khi tìm kiếm Kammārabhaṇḍu ấy đã đi đến tu viện và hỏi các tỳ-khưu rằng: ‘Bạch chư tôn đức, quý ngài có thấy đứa bé như thế không?’ Các tỳ-khưu, vì không biết, đã nói rằng: ‘Chúng tôi không biết.’ Vì không thấy, đã nói rằng: ‘Chúng tôi không thấy.’ Sau đó, cha mẹ của Kammārabhaṇḍu ấy trong khi tìm kiếm Kammārabhaṇḍu ấy đã trông thấy (con mình) đã xuất gia trong hàng tỳ-khưu nên đã phàn nàn, chê bai, và đồn rằng: ‘Các sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn, có giới hạnh xấu xa, hay nói dối. Rõ ràng là biết mà lại nói: ‘Chúng tôi không biết.’ Rõ ràng là thấy mà lại nói: ‘Chúng tôi không thấy.’ Đứa bé này đã xuất gia trong hàng tỳ-khưu.’ Các tỳ-khưu đã nghe được (lời nói của) cha mẹ của Kammārabhaṇḍu ấy đang phàn nàn, chê bai, và đồn đãi. Sau đó, các tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy): ‘Này các tỳ-khưu, Ta cho phép hỏi ý kiến của Tăng chúng về việc cạo tóc.’”
36. Câu chuyện về cậu bé Upāli.
Tena kho pana samayena rājagahe sattarasavaggiyā dārakā sahāyakā honti. Upālidārako tesaṁ pāmokkho hoti.
Atha kho upālissa mātāpitūnaṁ etadahosi—“kena nu kho upāyena upāli amhākaṁ accayena sukhañca jīveyya, na ca kilameyyā”ti? Atha kho upālissa mātāpitūnaṁ etadahosi—“sace kho upāli lekhaṁ sikkheyya, evaṁ kho upāli amhākaṁ accayena sukhañca jīveyya, na ca kilameyyā”ti. Atha kho upālissa mātāpitūnaṁ etadahosi—“sace kho upāli lekhaṁ sikkhissati, aṅguliyo dukkhā bhavissanti. Sace kho upāli gaṇanaṁ sikkheyya, evaṁ kho upāli amhākaṁ accayena sukhañca jīveyya, na ca kilameyyā”ti. Atha kho upālissa mātāpitūnaṁ etadahosi—“sace kho upāli gaṇanaṁ sikkhissati, urassa dukkho bhavissati. Sace kho upāli rūpaṁ sikkheyya, evaṁ kho upāli amhākaṁ accayena sukhañca jīveyya, na ca kilameyyā”ti. Atha kho upālissa mātāpitūnaṁ etadahosi—“sace kho upāli rūpaṁ sikkhissati, akkhīni dukkhā bhavissanti. Ime kho samaṇā sakyaputtiyā sukhasīlā sukhasamācārā, subhojanāni bhuñjitvā nivātesu sayanesu sayanti. Sace kho upāli samaṇesu sakyaputtiyesu pabbajeyya, evaṁ kho upāli amhākaṁ accayena sukhañca jīveyya, na ca kilameyyā”ti.
At that time in Rājagaha, there was a group of seventeen boys who were friends and had Upāli as their leader.
On one occasion Upāli’s parents thought, “How can we make sure that Upāli is able to live happily without exhausting himself after we’ve passed away? He could become a clerk, but then his fingers will hurt. Or he could become an accountant, but then his chest will hurt. Or he could become a banker, but then his eyes will hurt. These Sakyan monastics, however, have pleasant habits and a happy life. They eat nice food and sleep in beds sheltered from the wind. If Upāli goes forth with them, he’ll be able to live happily without exhausting himself after we’ve passed away.”
99. Vào lúc bấy giờ, tại thành Rājagaha có một nhóm mười bảy cậu bé là bạn bè của nhau. Cậu bé Upāli là người đứng đầu trong số ấy. Bấy giờ, cha mẹ của Upāli có suy nghĩ như vầy: – ‘Bằng phương cách nào, sau khi chúng ta qua đời, Upāli có thể sống một cách an lạc mà không phải mệt nhọc?’ Bấy giờ, cha mẹ của Upāli có suy nghĩ như vầy: – ‘Nếu Upāli học nghề viết chữ, như vậy sau khi chúng ta qua đời, Upāli có thể sống một cách an lạc mà không phải mệt nhọc.’ Bấy giờ, cha mẹ của Upāli có suy nghĩ như vầy: – ‘Nếu Upāli học nghề viết chữ, các ngón tay sẽ bị đau. Nếu Upāli học nghề tính toán, như vậy sau khi chúng ta qua đời, Upāli có thể sống một cách an lạc mà không phải mệt nhọc.’ Bấy giờ, cha mẹ của Upāli có suy nghĩ như vầy: – ‘Nếu Upāli học nghề tính toán, ngực sẽ bị đau. Nếu Upāli học nghề kim hoàn, như vậy sau khi chúng ta qua đời, Upāli có thể sống một cách an lạc mà không phải mệt nhọc.’ Bấy giờ, cha mẹ của Upāli có suy nghĩ như vầy: – ‘Nếu Upāli học nghề kim hoàn, mắt sẽ bị đau. Các vị sa-môn Thích tử này có giới hạnh an lạc, có cách sống an lạc, sau khi dùng các món ăn ngon, các vị ấy ngủ nghỉ ở những nơi kín gió. Nếu Upāli xuất gia với các vị sa-môn Thích tử, như vậy sau khi chúng ta qua đời, Upāli có thể sống một cách an lạc mà không phải mệt nhọc.’
Assosi kho upālidārako mātāpitūnaṁ imaṁ kathāsallāpaṁ. Atha kho upālidārako yena te dārakā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā te dārake etadavoca—“etha mayaṁ, ayyā, samaṇesu sakyaputtiyesu pabbajissāmā”ti.
“Sace kho tvaṁ, ayya, pabbajissasi, evaṁ mayampi pabbajissāmā”ti.
Atha kho te dārakā ekamekassa mātāpitaro upasaṅkamitvā etadavocuṁ—“anujānātha maṁ agārasmā anāgāriyaṁ pabbajjāyā”ti. Atha kho tesaṁ dārakānaṁ mātāpitaro—“sabbepime dārakā samānacchandā kalyāṇādhippāyā”ti—anujāniṁsu. Te bhikkhū upasaṅkamitvā pabbajjaṁ yāciṁsu. Te bhikkhū pabbājesuṁ upasampādesuṁ.
Te rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya rodanti—“yāguṁ detha, bhattaṁ detha, khādanīyaṁ dethā”ti.
Bhikkhū evamāhaṁsu—“āgametha, āvuso, yāva ratti vibhāyati. Sace yāgu bhavissati pivissatha, sace bhattaṁ bhavissati bhuñjissatha, sace khādanīyaṁ bhavissati khādissatha; no ce bhavissati yāgu vā bhattaṁ vā khādanīyaṁ vā, piṇḍāya caritvā bhuñjissathā”ti. Evampi kho te bhikkhū bhikkhūhi vuccamānā rodantiyeva “yāguṁ detha, bhattaṁ detha, khādanīyaṁ dethā”ti; senāsanaṁ uhadantipi ummihantipi.
Upāli overheard this conversation between his parents. He then went to the other boys and said, “Come, let’s go forth with the Sakyan monastics.”
“If you go forth, so will we.”
The boys went each to his own parents and said, “Please allow me to go forth into homelessness.” Because the parents knew that all the boys had the same desire and good intentions, they gave their approval. The boys then went to the monks and asked them for the going forth, and the monks gave them the going forth and the full ordination.
Soon afterwards they got up early in the morning and cried, “Give us congee, give us a meal, give us fresh food!”
The monks said, “Wait until it gets light. If any of that becomes available then, you can have it. If not, you’ll eat after walking for alms.” But they carried on as before. And they defecated and urinated on the furniture.
Cậu bé Upāli đã nghe được cuộc trò chuyện này của cha mẹ. Bấy giờ, cậu bé Upāli đi đến chỗ các cậu bé kia, sau khi đến đã nói với các cậu bé ấy điều này: – ‘Này các bạn, chúng ta hãy đến xuất gia với các vị sa-môn Thích tử.’ – ‘Này bạn, nếu bạn xuất gia thì chúng tôi cũng sẽ xuất gia.’ Bấy giờ, các cậu bé ấy đi đến chỗ cha mẹ của từng người, sau khi đến đã nói điều này: – ‘Xin hãy cho phép con được xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình.’ Bấy giờ, cha mẹ của các cậu bé ấy đã cho phép với ý nghĩ: – ‘Tất cả các cậu bé này đều có cùng ý muốn, có chí hướng tốt đẹp.’ Các vị ấy sau khi đi đến chỗ các vị tỳ-khưu đã xin được xuất gia. Các vị tỳ-khưu đã cho các vị ấy xuất gia và làm lễ cụ túc. Các vị ấy thức dậy vào lúc rạng đông, vào ban đêm, và khóc lóc: – ‘Hãy cho cháo, hãy cho cơm, hãy cho vật thực cứng.’ Các vị tỳ-khưu đã nói như vầy: – ‘Này chư hiền, hãy chờ cho đến khi đêm tàn. Nếu có cháo, các vị sẽ được uống; nếu có cơm, các vị sẽ được ăn; nếu có vật thực cứng, các vị sẽ được ăn. Nếu không có cháo, hoặc cơm, hoặc vật thực cứng, các vị sẽ đi khất thực rồi ăn.’ Dầu đã được các vị tỳ-khưu nói như vậy, các vị tỳ-khưu (trẻ) ấy vẫn cứ khóc lóc: – ‘Hãy cho cháo, hãy cho cơm, hãy cho vật thực cứng;’ và các vị ấy còn đại tiện và tiểu tiện ở nơi trú ngụ.
Assosi kho bhagavā rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya dārakasaddaṁ. Sutvāna āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi—“kiṁ nu kho so, ānanda, dārakasaddo”ti? Atha kho āyasmā ānando bhagavato etamatthaṁ ārocesi …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, bhikkhū jānaṁ ūnavīsativassaṁ puggalaṁ upasampādentī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma te, bhikkhave, moghapurisā jānaṁ ūnavīsativassaṁ puggalaṁ upasampādessanti. Ūnavīsativasso, bhikkhave, puggalo akkhamo hoti sītassa uṇhassa jighacchāya pipāsāya ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ duruttānaṁ durāgatānaṁ vacanapathānaṁ uppannānaṁ sārīrikānaṁ vedanānaṁ dukkhānaṁ tibbānaṁ kharānaṁ kaṭukānaṁ asātānaṁ amanāpānaṁ pāṇaharānaṁ anadhivāsakajātiko hoti. Vīsativassova kho, bhikkhave, puggalo khamo hoti sītassa uṇhassa jighacchāya pipāsāya ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ duruttānaṁ durāgatānaṁ vacanapathānaṁ, uppannānaṁ sārīrikānaṁ vedanānaṁ dukkhānaṁ tibbānaṁ kharānaṁ kaṭukānaṁ asātānaṁ amanāpānaṁ pāṇaharānaṁ adhivāsakajātiko hoti. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya, pasannānaṁ vā bhiyyobhāvāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, jānaṁ ūnavīsativasso puggalo upasampādetabbo. Yo upasampādeyya, yathādhammo kāretabbo”ti.
After rising early in the morning, the Buddha heard the sound of those boys. He asked Venerable Ānanda, who told him what was happening. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that the monks give the full ordination to people they know are less than twenty years old?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “How can those foolish men do this? A person who’s less than twenty years old is unable to endure cold and heat; hunger and thirst; horseflies, mosquitoes, wind, and the burning sun; creeping animals and insects; and rude and unwelcome speech. And they’re unable to bear up with bodily feelings that are painful, severe, sharp, and destructive of life. But a person who’s twenty is able to endure these things. This will affect people’s confidence …” After rebuking them … he gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t give the full ordination to a person you know is less than twenty years old. If you do, you should be dealt with according to the rule.”
Vào lúc rạng đông, vào ban đêm, sau khi thức dậy, đức Thế Tôn đã nghe được tiếng trẻ con. Sau khi nghe, ngài gọi Đại đức Ānanda: – ‘Này Ānanda, tiếng trẻ con đó là gì vậy?’ Bấy giờ, Đại đức Ānanda đã trình bày sự việc ấy lên đức Thế Tôn... (bỏ qua)... – ‘Này các tỳ-khưu, có thật là các tỳ-khưu đã biết mà vẫn làm lễ cụ túc cho người chưa đủ hai mươi tuổi không?’ – ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách... (bỏ qua)... – ‘Này các tỳ-khưu, tại sao những kẻ rỗng tuếch kia đã biết mà vẫn làm lễ cụ túc cho người chưa đủ hai mươi tuổi? Này các tỳ-khưu, người chưa đủ hai mươi tuổi thì không có khả năng chịu đựng lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, các loài bò sát; không có bản chất kham nhẫn đối với những lời nói khó nghe, khó chịu, đối với các cảm thọ về thân đã sanh khởi, khổ đau, mãnh liệt, gay gắt, nhói buốt, không vừa lòng, không vừa ý, có thể đoạt mạng. Này các tỳ-khưu, chỉ người đủ hai mươi tuổi mới có khả năng chịu đựng lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, các loài bò sát; có bản chất kham nhẫn đối với những lời nói khó nghe, khó chịu, đối với các cảm thọ về thân đã sanh khởi, khổ đau, mãnh liệt, gay gắt, nhói buốt, không vừa lòng, không vừa ý, có thể đoạt mạng. Này các tỳ-khưu, việc này không làm cho những người chưa có đức tin được phát sanh đức tin, hoặc làm cho những người đã có đức tin được tăng trưởng... (bỏ qua)... sau khi quở trách... (bỏ qua)... sau khi thuyết pháp thoại, ngài đã gọi các vị tỳ-khưu: – ‘Này các tỳ-khưu, không được biết mà vẫn làm lễ cụ túc cho người chưa đủ hai mươi tuổi. Vị nào làm lễ cụ túc thì phải được xử lý theo đúng Pháp.’
37. Câu chuyện về bệnh dịch tả
Tena kho pana samayena aññataraṁ kulaṁ ahivātakarogena kālaṅkataṁ hoti. Tassa pitāputtakā sesā honti. Te bhikkhūsu pabbajitvā ekatova piṇḍāya caranti. Atha kho so dārako pituno bhikkhāya dinnāya upadhāvitvā etadavoca—“mayhampi, tāta, dehi; mayhampi, tāta, dehī”ti.
Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“abrahmacārino ime samaṇā sakyaputtiyā. Ayampi dārako bhikkhuniyā jāto”ti. Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, ūnapannarasavasso dārako pabbājetabbo. Yo pabbājeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time most of the members of a particular family had died from a deadly and contagious disease. Only a father and son were left. After going forth as monks, they walked together for alms. Then, when the boy had handed over his almsfood to his father, he said, “Give to me too, daddy!”
People complained and criticized the monks, “These Sakyan monastics are not celibate. This boy was born to a nun!” The monks heard the complaints of those people and they told the Buddha.
“You shouldn’t give the going forth to a boy less than fifteen years old. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
100. Vào lúc bấy giờ, có một gia đình nọ bị chết vì bệnh dịch hạch. Chỉ còn lại hai cha con. Hai người ấy xuất gia với các vị tỳ-kheo rồi cùng nhau đi khất thực. Khi ấy, lúc người cha được cúng dường vật thực, đứa bé trai ấy chạy đến và nói rằng: ‘Thưa cha, xin hãy cho con nữa; thưa cha, xin hãy cho con nữa.’ Dân chúng phàn nàn, chê bai, và dị nghị rằng: ‘Các vị sa-môn Thích tử này không phải là người sống phạm hạnh. Đứa bé trai này là do một vị tỳ-kheo-ni sanh ra.’ Các vị tỳ-kheo đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, và dị nghị của những người ấy. Sau đó, các vị tỳ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) ‘Này các tỳ-kheo, không được cho đứa bé trai chưa đủ mười lăm tuổi xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).’
Tena kho pana samayena āyasmato ānandassa upaṭṭhākakulaṁ saddhaṁ pasannaṁ ahivātakarogena kālaṅkataṁ hoti, dve ca dārakā sesā honti. Te porāṇakena āciṇṇakappena bhikkhū passitvā upadhāvanti. Bhikkhū apasādenti. Te bhikkhūhi apasādiyamānā rodanti.
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘na ūnapannarasavasso dārako pabbājetabbo’ti. Ime ca dārakā ūnapannarasavassā. Kena nu kho upāyena ime dārakā na vinasseyyun”ti? Atha kho āyasmā ānando bhagavato etamatthaṁ ārocesi.
“Ussahanti pana te, ānanda, dārakā kāke uḍḍāpetun”ti?
“Ussahanti, bhagavā”ti. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, ūnapannarasavassaṁ dārakaṁ kākuḍḍepakaṁ pabbājetun”ti.
At that time there was a family with faith and confidence that was supporting Venerable Ānanda. Then most of its members died from a deadly and contagious disease, and only two boys were left behind. When they saw the monks, they ran up to them, as they had done before. When the monks dismissed them, they cried.
Ānanda thought, “The Buddha has laid down a rule that a boy less than fifteen years old shouldn’t be given the going forth, which applies to these boys. How then can I make sure that these boys don’t perish?” He told the Buddha.
“Are they able, Ānanda, to scare away crows?”
“Yes.” The Buddha then gave a teaching and addressed the monks:
“I allow you to give the going forth to a boy less than fifteen years old if he’s able to scare away crows.”
Vào lúc bấy giờ, gia đình hộ độ của đại đức Ānanda, là những người có đức tin và lòng trong sạch, đã bị chết vì bệnh dịch hạch, chỉ còn lại hai đứa bé trai. Do thói quen từ trước, chúng chạy đến khi nhìn thấy các vị tỳ-kheo. Các vị tỳ-kheo xua đuổi chúng. Bị các vị tỳ-kheo xua đuổi, chúng khóc lóc. Khi ấy, đại đức Ānanda đã suy nghĩ rằng: ‘Đức Thế Tôn đã chế định rằng: ‘Không được cho đứa bé trai chưa đủ mười lăm tuổi xuất gia.’ Và những đứa bé trai này chưa đủ mười lăm tuổi. Có phương cách nào để những đứa bé trai này không bị hoại vong chăng?’ Sau đó, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật hỏi:) ‘Này Ānanda, những đứa bé trai ấy có thể xua đuổi quạ được không?’ (Ānanda thưa:) ‘Bạch đức Thế Tôn, chúng có thể.’ Sau đó, nhân sự việc này, trong trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các vị tỳ-kheo lại và phán rằng: ‘Này các tỳ-kheo, Ta cho phép xuất gia cho đứa bé trai chưa đủ mười lăm tuổi nhưng có thể xua đuổi quạ.’
38. Câu chuyện về Kaṇṭaka
Tena kho pana samayena āyasmato upanandassa sakyaputtassa dve sāmaṇerā honti—kaṇṭako ca mahako ca. Te aññamaññaṁ dūsesuṁ. Bhikkhū ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma sāmaṇerā evarūpaṁ anācāraṁ ācarissantī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, ekena dve sāmaṇerā upaṭṭhāpetabbā. Yo upaṭṭhāpeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time Venerable Upananda the Sakyan had two novice monks, Kaṇṭaka and Mahaka. They had sex with each other. The monks complained and criticized them, “How could novice monks misbehave like this?” They told the Buddha.
“A single monk shouldn’t have two novice monks attend on him. If he does, he commits an offense of wrong conduct.”
101. Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda dòng Thích-ca có hai vị sa-di là Kaṇṭaka và Mahaka. Hai vị ấy đã làm hư hỏng lẫn nhau. Các vị tỳ-kheo phàn nàn, chê bai, và dị nghị rằng: ‘Làm thế nào mà các vị sa-di lại có thể có hành vi không đúng đắn như thế?’ (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) ‘Này các tỳ-kheo, một vị (tỳ-kheo) không nên có hai vị sa-di phục dịch. Vị nào có (hai vị sa-di) phục dịch thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).’
39. Câu chuyện về sự chật hẹp
Tena kho pana samayena bhagavā tattheva rājagahe vassaṁ vasi, tattha hemantaṁ, tattha gimhaṁ. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“āhundarikā samaṇānaṁ sakyaputtiyānaṁ disā andhakārā, na imesaṁ disā pakkhāyantī”ti.
Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi—“gacchānanda, avāpuraṇaṁ ādāya anupariveṇiyaṁ bhikkhūnaṁ ārocehi—‘icchatāvuso bhagavā dakkhiṇāgiriṁ cārikaṁ pakkamituṁ. Yassāyasmato attho, so āgacchatū’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissuṇitvā avāpuraṇaṁ ādāya anupariveṇiyaṁ bhikkhūnaṁ ārocesi—
“icchatāvuso, bhagavā dakkhiṇāgiriṁ cārikaṁ pakkamituṁ. Yassāyasmato attho, so āgacchatū”ti.
Bhikkhū evamāhaṁsu—“bhagavatā, āvuso ānanda, paññattaṁ dasavassāni nissāya vatthuṁ, dasavassena nissayaṁ dātuṁ. Tattha ca no gantabbaṁ bhavissati, nissayo ca gahetabbo bhavissati, ittaro ca vāso bhavissati, puna ca paccāgantabbaṁ bhavissati, puna ca nissayo gahetabbo bhavissati. Sace amhākaṁ ācariyupajjhāyā gamissanti, mayampi gamissāma; no ce amhākaṁ ācariyupajjhāyā gamissanti, mayampi na gamissāma. Lahucittakatā no, āvuso ānanda, paññāyissatī”ti.
Atha kho bhagavā ogaṇena bhikkhusaṅghena dakkhiṇāgiriṁ cārikaṁ pakkāmi.
At one time the Buddha was staying right there at Rājagaha during the rainy season, the winter, and the summer. People complained, “The districts are left in darkness and obscurity by the Sakyan monastics. They don’t brighten them up by their presence.”
The monks heard the complaints of those people and told the Buddha. He said to Venerable Ānanda, “Take a key, Ānanda, and go around the yards, informing the monks that the Buddha wishes to go wandering in the Southern Hills. Anyone is welcome to join him.”
Saying, “Yes, sir,” he did just that.
The monks said, “Ānanda, the Buddha has laid down a rule that one must live with formal support for ten years and that one who has ten years’ seniority can give such support. If we were to go, we would have to obtain support for a short time, and when we returned, we would have to obtain support once again. So, if our preceptors and teachers go, we’ll go too. If they don’t, neither will we. We don’t want the burden.”
As a result, the Buddha went wandering in the Southern Hills with a small group of monks.
102. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đã an cư mùa mưa, rồi trải qua mùa đông, rồi trải qua mùa hạ ngay tại thành Rājagaha. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và dị nghị rằng: ‘Các phương trời của các vị sa-môn Thích tử đã bị chật hẹp, đã bị tối tăm, các phương trời của các vị này không được sáng sủa hay sao?’ Các vị tỳ-kheo đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, và dị nghị của những người ấy. Sau đó, các vị tỳ-kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Sau đó, đức Thế Tôn đã gọi đại đức Ānanda và phán rằng: ‘Này Ānanda, hãy đi lấy then cài cửa rồi thông báo cho các vị tỳ-kheo ở từng khu vực tịnh xá rằng: ‘Thưa chư hiền, đức Thế Tôn có ý muốn du hành đến Dakkhiṇāgiri. Vị tôn giả nào có nhu cầu thì vị ấy hãy đi đến.’’ ‘Dạ vâng, bạch ngài,’ đại đức Ānanda đã vâng lời đức Thế Tôn rồi lấy then cài cửa và thông báo cho các vị tỳ-kheo ở từng khu vực tịnh xá rằng: ‘Thưa chư hiền, đức Thế Tôn có ý muốn du hành đến Dakkhiṇāgiri. Vị tôn giả nào có nhu cầu thì vị ấy hãy đi đến.’ Các vị tỳ-kheo đã nói như sau: ‘Thưa hiền giả Ānanda, đức Thế Tôn đã chế định là phải sống nương theo (vị thầy) trong mười năm, và (vị tỳ-kheo) đủ mười năm thì được trao sự nương tựa. Nếu chúng tôi phải đi đến nơi ấy, chúng tôi sẽ phải thọ nhận sự nương tựa, và thời gian ở lại sẽ ngắn ngủi, rồi sẽ phải quay trở lại, rồi sẽ phải thọ nhận sự nương tựa lần nữa. Nếu các vị thầy tế độ và thầy yết-ma của chúng tôi đi thì chúng tôi cũng sẽ đi; nếu các vị thầy tế độ và thầy yết-ma của chúng tôi không đi thì chúng tôi cũng sẽ không đi. Thưa hiền giả Ānanda, sự hời hợt của chúng tôi sẽ bị lộ rõ.’ Sau đó, đức Thế Tôn đã du hành đến Dakkhiṇāgiri với một nhóm nhỏ tỳ-kheo.
40. Lời dạy về việc thoát khỏi sự nương tựa
Atha kho bhagavā dakkhiṇāgirismiṁ yathābhirantaṁ viharitvā punadeva rājagahaṁ paccāgacchi. Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi—“kiṁ nu kho, ānanda, tathāgato ogaṇena bhikkhusaṅghena dakkhiṇāgiriṁ cārikaṁ pakkanto”ti? Atha kho āyasmā ānando bhagavato etamatthaṁ ārocesi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, byattena bhikkhunā paṭibalena pañcavassāni nissāya vatthuṁ, abyattena yāvajīvaṁ.
After staying in the Southern Hills for as long as he liked, the Buddha returned to Rājagaha. He then asked Ānanda, “Why was it so small, Ānanda, the group of monks that came wandering with me in the Southern Hills?” Ānanda told him what had happened. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“A competent and capable monk should live with formal support for five years, but one who is incompetent should live with formal support for life.
103. Sau đó, đức Thế Tôn sau khi đã trú ngụ ở Dakkhiṇāgiri tùy theo ý thích đã quay trở lại thành Rājagaha. Sau đó, đức Thế Tôn đã gọi đại đức Ānanda và hỏi rằng: ‘Này Ānanda, vì lý do gì mà Như Lai đã du hành đến Dakkhiṇāgiri với một nhóm nhỏ tỳ-kheo?’ Sau đó, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Sau đó, nhân sự việc này, trong trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các vị tỳ-kheo lại và phán rằng: ‘Này các tỳ-kheo, Ta cho phép vị tỳ-kheo có khả năng và có năng lực được sống nương tựa trong năm năm, vị không có khả năng thì trọn đời.’
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā na anissitena vatthabbaṁ. Na asekkhena sīlakkhandhena samannāgato hoti na asekkhena samādhikkhandhena, na asekkhena paññākkhandhena na asekkhena vimuttikkhandhena na asekkhena vimuttiñāṇadassanakkhandhena samannāgato hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na anissitena vatthabbaṁ.
A monk who has five qualities should live with formal support: he doesn’t have the virtue, stillness, wisdom, freedom, or knowledge and vision of freedom of one who is fully trained.
‘Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo hội đủ năm yếu tố không nên sống không nương tựa. (Vị ấy) không hội đủ uẩn giới của bậc vô học, không hội đủ uẩn định của bậc vô học, không hội đủ uẩn tuệ của bậc vô học, không hội đủ uẩn giải thoát của bậc vô học, không hội đủ uẩn giải thoát tri kiến của bậc vô học. Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo hội đủ năm yếu tố này không nên sống không nương tựa.’
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā anissitena vatthabbaṁ. Asekkhena sīlakkhandhena samannāgato hoti asekkhena samādhikkhandhena. Asekkhena paññākkhandhena … asekkhena vimuttikkhandhena … asekkhena vimuttiñāṇadassanakkhandhena samannāgato hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā anissitena vatthabbaṁ.
But a monk who has five qualities may live without formal support: he has the virtue, stillness, wisdom, freedom, and knowledge and vision of freedom of one who is fully trained.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp thì được phép sống không nương tựa. (Vị ấy) đã thành tựu uẩn giới vô học, đã thành tựu uẩn định vô học, đã thành tựu uẩn tuệ vô học, đã thành tựu uẩn giải thoát vô học, đã thành tựu uẩn giải thoát tri kiến vô học. Này các tỳ khưu, chính do đã thành tựu năm pháp này nên vị tỳ khưu được phép sống không nương tựa.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na anissitena vatthabbaṁ. Assaddho hoti, ahiriko hoti, anottappī hoti, kusīto hoti, muṭṭhassati hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na anissitena vatthabbaṁ.
“A monk who has another five qualities should live with formal support: he has no faith, conscience, or moral prudence, and is lazy and absentminded.
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp thì không được phép sống không nương tựa. (Vị ấy) không có đức tin, không có hổ thẹn, không có ghê sợ, biếng nhác, thất niệm. Này các tỳ khưu, chính do đã thành tựu năm pháp này nên vị tỳ khưu không được phép sống không nương tựa.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā anissitena vatthabbaṁ. Saddho hoti, hirimā hoti, ottappī hoti, āraddhavīriyo hoti, upaṭṭhitassati hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā anissitena vatthabbaṁ.
But a monk who has five qualities may live without formal support: he has faith, conscience, moral prudence, energy, and mindfulness.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp thì được phép sống không nương tựa. (Vị ấy) có đức tin, có hổ thẹn, có ghê sợ, tinh tấn, an trú chánh niệm. Này các tỳ khưu, chính do đã thành tựu năm pháp này nên vị tỳ khưu được phép sống không nương tựa.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na anissitena vatthabbaṁ. Adhisīle sīlavipanno hoti, ajjhācāre ācāravipanno hoti, atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti, appassuto hoti, duppañño hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na anissitena vatthabbaṁ.
“A monk who has another five qualities should live with formal support: he has failed in the higher morality, the higher conduct, and the higher view; he’s ignorant and foolish.
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp thì không được phép sống không nương tựa. (Vị ấy) bị hư hỏng về tăng thượng giới, bị hư hỏng về tăng thượng hạnh kiểm, bị hư hỏng về tăng thượng tri kiến, ít nghe học, và thiểu tuệ. Này các tỳ khưu, chính do đã thành tựu năm pháp này nên vị tỳ khưu không được phép sống không nương tựa.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā anissitena vatthabbaṁ. Na adhisīle sīlavipanno hoti, na ajjhācāre ācāravipanno hoti, na atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti, bahussuto hoti, paññavā hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā anissitena vatthabbaṁ.
But a monk who has five qualities may live without formal support: he hasn’t failed in the higher morality, the higher conduct, or the higher view; he’s learned and wise.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp thì được phép sống không nương tựa. (Vị ấy) không bị hư hỏng về tăng thượng giới, không bị hư hỏng về tăng thượng hạnh kiểm, không bị hư hỏng về tăng thượng tri kiến, là người nghe học nhiều, và có trí tuệ. Này các tỳ khưu, chính do đã thành tựu năm pháp này nên vị tỳ khưu được phép sống không nương tựa.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na anissitena vatthabbaṁ. Āpattiṁ na jānāti, anāpattiṁ na jānāti, lahukaṁ āpattiṁ na jānāti, garukaṁ āpattiṁ na jānāti, ubhayāni kho panassa pātimokkhāni vitthārena na svāgatāni honti na suvibhattāni na suppavattīni na suvinicchitāni suttaso anubyañjanaso—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na anissitena vatthabbaṁ.
“A monk who has another five qualities should live with formal support: he doesn’t know the offenses; he doesn’t know the non-offenses; he doesn’t know which offenses are light; he doesn’t know which offenses are heavy; neither Monastic Code has been properly learned by him in detail, and he hasn’t analyzed them well, thoroughly mastered them, or investigated them well, either in terms of the rules or their detailed exposition.
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp thì không được phép sống không nương tựa. (Vị ấy) không biết về tội, không biết về không phải tội, không biết về tội nhẹ, không biết về tội nặng; và đối với vị ấy, hai bộ Pātimokkha đã không được tiếp nhận tốt đẹp, không được phân tích tốt đẹp, không được tụng đọc trôi chảy, không được quyết trạch tốt đẹp một cách rộng rãi theo từng điều khoản và theo từng chi tiết. Này các tỳ khưu, chính do đã thành tựu năm pháp này nên vị tỳ khưu không được phép sống không nương tựa.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā anissitena vatthabbaṁ. Āpattiṁ jānāti, anāpattiṁ jānāti, lahukaṁ āpattiṁ jānāti, garukaṁ āpattiṁ jānāti, ubhayāni kho panassa pātimokkhāni vitthārena svāgatāni honti suvibhattāni suppavattīni suvinicchitāni suttaso anubyañjanaso—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā anissitena vatthabbaṁ.
But a monk who has five qualities may live without formal support: he knows the offenses; he knows the non-offenses; he knows which offenses are light; he knows which offenses are heavy; he has properly learned both Monastic Codes in detail, and he has analyzed them well, thoroughly mastered them, and investigated them well, both in terms of the rules and their detailed exposition.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp thì được phép sống không nương tựa. (Vị ấy) biết về tội, biết về không phải tội, biết về tội nhẹ, biết về tội nặng; và đối với vị ấy, hai bộ Pātimokkha đã được tiếp nhận tốt đẹp, được phân tích tốt đẹp, được tụng đọc trôi chảy, được quyết trạch tốt đẹp một cách rộng rãi theo từng điều khoản và theo từng chi tiết. Này các tỳ khưu, chính do đã thành tựu năm pháp này nên vị tỳ khưu được phép sống không nương tựa.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na anissitena vatthabbaṁ. Āpattiṁ na jānāti, anāpattiṁ na jānāti, lahukaṁ āpattiṁ na jānāti, garukaṁ āpattiṁ na jānāti, ūnapañcavasso hoti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na anissitena vatthabbaṁ.
“A monk who has another five qualities should live with formal support: he doesn’t know the offenses; he doesn’t know the non-offenses; he doesn’t know which offenses are light; he doesn’t know which offenses are heavy; he has less than five years of seniority.
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp thì không được phép sống không nương tựa. (Vị ấy) không biết về tội, không biết về không phải tội, không biết về tội nhẹ, không biết về tội nặng, và chưa đủ năm hạ. Này các tỳ khưu, chính do đã thành tựu năm pháp này nên vị tỳ khưu không được phép sống không nương tựa.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā anissitena vatthabbaṁ. Āpattiṁ jānāti, anāpattiṁ jānāti, lahukaṁ āpattiṁ jānāti, garukaṁ āpattiṁ jānāti, pañcavasso vā hoti atirekapañcavasso vā—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā anissitena vatthabbaṁ.
But a monk who has five qualities may live without formal support: he knows the offenses; he knows the non-offenses; he knows which offenses are light; he knows which offenses are heavy; he has five or more years of seniority.”
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đã thành tựu năm pháp thì được phép sống không nương tựa. (Vị ấy) biết về tội, biết về không phải tội, biết về tội nhẹ, biết về tội nặng, và đã đủ năm hạ hoặc hơn năm hạ. Này các tỳ khưu, chính do đã thành tựu năm pháp này nên vị tỳ khưu được phép sống không nương tựa.
Pañcakadasavāro niṭṭhito.
The section consisting of ten groups of five is finished.
Phẩm Mười về Năm Pháp đã chấm dứt.
Chahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā na anissitena vatthabbaṁ. Na asekkhena sīlakkhandhena samannāgato hoti, na asekkhena samādhikkhandhena, na asekkhena paññākkhandhena, na asekkhena vimuttikkhandhena, na asekkhena vimuttiñāṇadassanakkhandhena samannāgato hoti, ūnapañcavasso hoti—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na anissitena vatthabbaṁ.
“A monk who has six qualities should live with formal support: he doesn’t have the virtue, stillness, wisdom, freedom, or knowledge and vision of freedom of one who is fully trained, and he has less than five years of seniority.
104. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đã thành tựu sáu pháp thì không được phép sống không nương tựa. (Vị ấy) không thành tựu uẩn giới vô học, không thành tựu uẩn định vô học, không thành tựu uẩn tuệ vô học, không thành tựu uẩn giải thoát vô học, không thành tựu uẩn giải thoát tri kiến vô học, và chưa đủ năm hạ. Này các tỳ khưu, chính do đã thành tựu sáu pháp này nên vị tỳ khưu không được phép sống không nương tựa.
Chahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā anissitena vatthabbaṁ. Asekkhena sīlakkhandhena samannāgato hoti, asekkhena samādhikkhandhena, asekkhena paññākkhandhena, asekkhena vimuttikkhandhena, asekkhena vimuttiñāṇadassanakkhandhena samannāgato hoti, pañcavasso vā hoti atirekapañcavasso vā—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā anissitena vatthabbaṁ.
But a monk who has six qualities may live without formal support: he has the virtue, stillness, wisdom, freedom, and knowledge and vision of freedom of one who is fully trained, and he has five or more years of seniority.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đã thành tựu sáu pháp thì được phép sống không nương tựa. (Vị ấy) đã thành tựu uẩn giới vô học, đã thành tựu uẩn định vô học, đã thành tựu uẩn tuệ vô học, đã thành tựu uẩn giải thoát vô học, đã thành tựu uẩn giải thoát tri kiến vô học, và đã đủ năm hạ hoặc hơn năm hạ. Này các tỳ khưu, chính do đã thành tựu sáu pháp này nên vị tỳ khưu được phép sống không nương tựa.
Aparehipi, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na anissitena vatthabbaṁ. Assaddho hoti, ahiriko hoti, anottappī hoti, kusīto hoti, muṭṭhassati hoti, ūnapañcavasso hoti—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na anissitena vatthabbaṁ.
“A monk who has another six qualities should live with formal support: he has no faith, conscience, or moral prudence; he is lazy and absentminded; and he has less than five years of seniority.
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu đã thành tựu sáu pháp thì không được phép sống không nương tựa. (Vị ấy) không có đức tin, không có hổ thẹn, không có ghê sợ, biếng nhác, thất niệm, và chưa đủ năm hạ. Này các tỳ khưu, chính do đã thành tựu sáu pháp này nên vị tỳ khưu không được phép sống không nương tựa.
Chahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā anissitena vatthabbaṁ. Saddho hoti, hirimā hoti, ottappī hoti, āraddhavīriyo hoti, upaṭṭhitassati hoti, pañcavasso vā hoti atirekapañcavasso vā—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā anissitena vatthabbaṁ.
But a monk who has six qualities may live without formal support: he has faith, conscience, moral prudence, energy, mindfulness, and five or more years of seniority.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đã hội đủ sáu pháp nên sống không nương tựa. Vị ấy có đức tin, có tàm, có quý, có tinh tấn được khởi xướng, có niệm được an lập, có năm hạ hoặc hơn năm hạ. Này các tỳ khưu, chính do đã hội đủ sáu pháp này, vị tỳ khưu nên sống không nương tựa.
Aparehipi, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na anissitena vatthabbaṁ. Adhisīle sīlavipanno hoti, ajjhācāre ācāravipanno hoti, atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti, appassuto hoti, duppañño hoti, ūnapañcavasso hoti—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na anissitena vatthabbaṁ.
“A monk who has another six qualities should live with formal support: he has failed in the higher morality, the higher conduct, and the higher view; he’s ignorant and foolish; he has less than five years of seniority.
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu đã hội đủ sáu pháp không nên sống không nương tựa. Vị ấy bị hư hỏng về tăng thượng giới, bị hư hỏng về tăng thượng hạnh, bị hư hỏng về tăng thượng kiến, là người ít nghe, là người thiểu trí, có ít hơn năm hạ. Này các tỳ khưu, chính do đã hội đủ sáu pháp này, vị tỳ khưu không nên sống không nương tựa.
Chahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā anissitena vatthabbaṁ. Na adhisīle sīlavipanno hoti, na ajjhācāre ācāravipanno hoti, na atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti, bahussuto hoti, paññavā hoti, pañcavasso vā hoti atirekapañcavasso vā—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā anissitena vatthabbaṁ.
But a monk who has six qualities may live without formal support: he hasn’t failed in the higher morality, the higher conduct, or the higher view; he’s learned and wise; he has five or more years of seniority.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đã hội đủ sáu pháp nên sống không nương tựa. Vị ấy không bị hư hỏng về tăng thượng giới, không bị hư hỏng về tăng thượng hạnh, không bị hư hỏng về tăng thượng kiến, là người nghe nhiều, là người có trí tuệ, có năm hạ hoặc hơn năm hạ. Này các tỳ khưu, chính do đã hội đủ sáu pháp này, vị tỳ khưu nên sống không nương tựa.
Aparehipi, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na anissitena vatthabbaṁ. Āpattiṁ na jānāti, anāpattiṁ na jānāti, lahukaṁ āpattiṁ na jānāti, garukaṁ āpattiṁ na jānāti, ubhayāni kho panassa pātimokkhāni vitthārena na svāgatāni honti na suvibhattāni na suppavattīni na suvinicchitāni suttaso anubyañjanaso, ūnapañcavasso hoti—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā na anissitena vatthabbaṁ.
“A monk who has another six qualities should live with formal support: he doesn’t know the offenses; he doesn’t know the non-offenses; he doesn’t know which offenses are light; he doesn’t know which offenses are heavy; neither Monastic Code has been properly learned by him in detail, and he hasn’t analyzed them well, thoroughly mastered them, or investigated them well, either in terms of the rules or their detailed exposition; he has less than five years of seniority.
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu đã hội đủ sáu pháp không nên sống không nương tựa. Vị ấy không biết về điều phạm, không biết về không phải điều phạm, không biết về điều phạm nhẹ, không biết về điều phạm nặng; và hai bộ Pātimokkha đã không được vị ấy thuộc lòng, không được phân tích tốt đẹp, không được tụng đọc trôi chảy, không được quyết định tốt đẹp về chi tiết, về từng điều khoản và từng chi tiết; có ít hơn năm hạ. Này các tỳ khưu, chính do đã hội đủ sáu pháp này, vị tỳ khưu không nên sống không nương tựa.
Chahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatena bhikkhunā anissitena vatthabbaṁ. Āpattiṁ jānāti, anāpattiṁ jānāti, lahukaṁ āpattiṁ jānāti, garukaṁ āpattiṁ jānāti, ubhayāni kho panassa pātimokkhāni vitthārena svāgatāni honti suvibhattāni suppavattīni suvinicchitāni suttaso anubyañjanaso, pañcavasso vā hoti atirekapañcavasso vā—imehi kho, bhikkhave, chahaṅgehi samannāgatena bhikkhunā anissitena vatthabban”ti.
But a monk who has six qualities may live without formal support: he knows the offenses; he knows the non-offenses; he knows which offenses are light; he knows which offenses are heavy; he has properly learned both Monastic Codes in detail, and he has analyzed them well, thoroughly mastered them, and investigated them well, both in terms of the rules and their detailed exposition; he has five or more years of seniority.”
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đã hội đủ sáu pháp nên sống không nương tựa. Vị ấy biết về điều phạm, biết về không phải điều phạm, biết về điều phạm nhẹ, biết về điều phạm nặng; và hai bộ Pātimokkha đã được vị ấy thuộc lòng, được phân tích tốt đẹp, được tụng đọc trôi chảy, được quyết định tốt đẹp về chi tiết, về từng điều khoản và từng chi tiết; có năm hạ hoặc hơn năm hạ. Này các tỳ khưu, chính do đã hội đủ sáu pháp này, vị tỳ khưu nên sống không nương tựa.
Abhayūvarabhāṇavāro niṭṭhito aṭṭhamo.
The eighth section for recitation on untouchable is finished.
Phẩm Tụng Vô Úy Thượng Hạng thứ tám đã kết thúc.
Câu chuyện về Rāhula
Atha kho bhagavā rājagahe yathābhirantaṁ viharitvā yena kapilavatthu tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena kapilavatthu tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena suddhodanassa sakkassa nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho rāhulamātā devī rāhulaṁ kumāraṁ etadavoca—“eso te, rāhula, pitā. Gacchassu, dāyajjaṁ yācāhī”ti. Atha kho rāhulo kumāro yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavato purato, aṭṭhāsi—“sukhā te, samaṇa, chāyā”ti. Atha kho bhagavā uṭṭhāyāsanā pakkāmi. Atha kho rāhulo kumāro bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhi—“dāyajjaṁ me, samaṇa, dehi; dāyajjaṁ me, samaṇa, dehī”ti. Atha kho bhagavā āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi—“tena hi tvaṁ, sāriputta, rāhulaṁ kumāraṁ pabbājehī”ti.
“Kathāhaṁ, bhante, rāhulaṁ kumāraṁ pabbājemī”ti?
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, tīhi saraṇagamanehi sāmaṇerapabbajjaṁ.
Evañca pana, bhikkhave, pabbājetabbo—paṭhamaṁ kesamassuṁ ohārāpetvā kāsāyāni vatthāni acchādāpetvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ kārāpetvā bhikkhūnaṁ pāde vandāpetvā ukkuṭikaṁ nisīdāpetvā añjaliṁ paggaṇhāpetvā ‘evaṁ vadehī’ti vattabbo—
‘Buddhaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Dhammaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Saṅghaṁ saraṇaṁ gacchāmi.
Dutiyampi buddhaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Dutiyampi dhammaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Dutiyampi saṅghaṁ saraṇaṁ gacchāmi.
Tatiyampi buddhaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Tatiyampi dhammaṁ saraṇaṁ gacchāmi, Tatiyampi saṅghaṁ saraṇaṁ gacchāmī’ti.
Anujānāmi, bhikkhave, imehi tīhi saraṇagamanehi sāmaṇerapabbajjan”ti.
Atha kho āyasmā sāriputto rāhulaṁ kumāraṁ pabbājesi.
After staying at Rājagaha for as long as he liked, the Buddha set out wandering toward Kapilavatthu in the Sakyan country. When he eventually arrived, he stayed in the Banyan Tree Monastery.
In the morning the Buddha robed up, took his bowl and robe, and went to Suddhodana the Sakyan’s house where he sat down on the prepared seat. The queen, the mother of Rāhula, said to the boy, “This is your father, Rāhula. Go and ask for your inheritance.” Rāhula went up to the Buddha, stood in front of him, and said, “Ascetic, your shadow is pleasant.” When the Buddha got up from his seat and left, Rāhula followed behind, saying “Give me my inheritance! Give me my inheritance!” The Buddha said to Venerable Sāriputta, “Well then, Sāriputta, give Rāhula the going forth.”
“But how, sir?”
The Buddha then gave a teaching and addressed the monks:
“The going forth as a novice monk should be given through the taking of the three refuges.
It should be done like this. First the candidate should shave off his hair and beard and put on ocher robes. He should then arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the monks, squat on his heels, and raise his joined palms. He should then be told to say this:
‘I go for refuge to the Buddha, I go for refuge to the Teaching, I go for refuge to the Sangha.
For the second time, I go for refuge to the Buddha, For the second time, I go for refuge to the Teaching, For the second time, I go for refuge to the Sangha.
For the third time, I go for refuge to the Buddha, For the third time, I go for refuge to the Teaching, For the third time, I go for refuge to the Sangha.’”
And Sāriputta gave Rāhula the going forth.
41. Khi ấy, sau khi đã lưu trú ở Rājagaha theo như ý thích, đức Thế Tôn đã khởi hành chuyến du hành đến Kapilavatthu. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã đi đến Kapilavatthu. Tại nơi ấy, đức Thế Tôn trú ở tu viện Nigrodha tại Kapilavatthu, xứ của dòng họ Sakka. Khi ấy, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đắp y, cầm y bát và đi đến nơi ở của Suddhodana người dòng Sakka. Sau khi đến, ngài ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được dọn sẵn. Khi ấy, hoàng hậu là mẹ của Rāhula đã nói với hoàng tử Rāhula điều này: ‘Này Rāhula, vị Sa-môn kia là cha của con. Con hãy đi đến và xin tài sản thừa kế.’ Khi ấy, hoàng tử Rāhula đã đi đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đã đứng ở trước mặt đức Thế Tôn và nói: ‘Thưa Sa-môn, bóng của ngài thật là an lạc.’ Khi ấy, đức Thế Tôn đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi. Khi ấy, hoàng tử Rāhula đã đi theo phía sau, phía sau đức Thế Tôn và nói: ‘Thưa Sa-môn, hãy cho con tài sản thừa kế. Thưa Sa-môn, hãy cho con tài sản thừa kế.’ Khi ấy, đức Thế Tôn gọi trưởng lão Sāriputta: ‘Này Sāriputta, vậy thì ngươi hãy xuất gia cho hoàng tử Rāhula.’ ‘Bạch ngài, con sẽ xuất gia cho hoàng tử Rāhula bằng cách nào?’ Khi ấy, nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, sau khi thuyết bài pháp thoại, đức Thế Tôn gọi các tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc xuất gia Sa-di bằng ba sự quy y. Và này các tỳ khưu, nên cho xuất gia theo cách này: Trước tiên, sau khi cho cạo tóc râu, cho mặc các y màu kāṣāya, cho quấn thượng y lệch một bên vai, cho đảnh lễ chân của các vị tỳ khưu, cho ngồi xổm, cho chắp tay, rồi nên bảo rằng: ‘Hãy nói như vầy: – ‘Con xin quy y Phật, con xin quy y Pháp, con xin quy y Tăng. Lần thứ nhì, con xin quy y Phật, con xin quy y Pháp, con xin quy y Tăng. Lần thứ ba, con xin quy y Phật, con xin quy y Pháp, con xin quy y Tăng.’ Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc xuất gia Sa-di bằng ba sự quy y này.’ Khi ấy, trưởng lão Sāriputta đã xuất gia cho hoàng tử Rāhula.
Atha kho suddhodano sakko yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho suddhodano sakko bhagavantaṁ etadavoca—“ekāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ varaṁ yācāmī”ti.
“Atikkantavarā kho, gotama, tathāgatā”ti.
“Yañca, bhante, kappati, yañca anavajjan”ti.
“Vadehi, gotamā”ti.
“Bhagavati me, bhante, pabbajite anappakaṁ dukkhaṁ ahosi, tathā nande, adhimattaṁ rāhule. Puttapemaṁ, bhante, chaviṁ chindati, chaviṁ chetvā cammaṁ chindati, cammaṁ chetvā maṁsaṁ chindati, maṁsaṁ chetvā nhāruṁ chindati, nhāruṁ chetvā aṭṭhiṁ chindati, aṭṭhiṁ chetvā aṭṭhimiñjaṁ āhacca tiṭṭhati. Sādhu, bhante, ayyā ananuññātaṁ mātāpitūhi puttaṁ na pabbājeyyun”ti.
Atha kho bhagavā suddhodanaṁ sakkaṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho suddhodano sakko bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, ananuññāto mātāpitūhi putto pabbājetabbo. Yo pabbājeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Soon afterwards Suddhodana went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “Sir, I want to ask for a favor.”
“Buddhas don’t grant favors, Gotama.”
“It’s allowable and blameless.”
“Well then, say what it is.”
“When the Buddha went forth, it was very painful for me, and the same when Nanda went forth. With Rāhula, it’s even worse. Affection for a child cuts deep. It cuts through the outer and inner skin; it cuts through the flesh, the sinews, and the bones, and it reaches all the way to the bone-marrow. Please, may the venerables not give the going forth to a child without the parents’ permission.”
The Buddha then instructed, inspired, and gladdened him with a teaching, after which Suddhodana got up from his seat, bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t give the going forth to a child without the parents’ permission. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Khi ấy, vua Suddhodana dòng Sakka đi đến nơi đức Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, vua Suddhodana dòng Sakka đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch ngài, con xin đức Thế Tôn một điều ước.’ – ‘Này Gotama, các đấng Như Lai đã vượt qua các điều ước.’ – ‘Bạch ngài, điều nào là thích hợp và điều nào là không có tội lỗi.’ – ‘Này Gotama, hãy nói đi.’ – ‘Bạch ngài, khi đức Thế Tôn xuất gia, con đã có nỗi khổ không nhỏ; cũng vậy đối với Nanda; và tột cùng đối với Rāhula. Bạch ngài, tình thương con cắt xuyên qua lớp da mỏng, sau khi cắt lớp da mỏng, nó cắt xuyên qua lớp da dày, sau khi cắt lớp da dày, nó cắt xuyên qua thịt, sau khi cắt thịt, nó cắt xuyên qua gân, sau khi cắt gân, nó cắt xuyên qua xương, sau khi cắt xương, nó chạm đến tủy xương rồi dừng lại. Lành thay, bạch ngài, mong rằng các bậc tôn giả không nên cho xuất gia người con trai chưa được cha mẹ cho phép.’ Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ vua Suddhodana dòng Sakka bằng bài pháp thoại. Khi ấy, vua Suddhodana dòng Sakka, sau khi được đức Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ bằng bài pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi ra về. Khi ấy, nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các vị tỳ khưu: – ‘Này các tỳ khưu, không được cho xuất gia người con trai chưa được cha mẹ cho phép. Vị nào cho xuất gia, vị ấy phạm tội tác ác.’
Atha kho bhagavā kapilavatthusmiṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena sāvatthi tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sāvatthi tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena āyasmato sāriputtassa upaṭṭhākakulaṁ āyasmato sāriputtassa santike dārakaṁ pāhesi—“imaṁ dārakaṁ thero pabbājetū”ti.
Atha kho āyasmato sāriputtassa etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘na ekena dve sāmaṇerā upaṭṭhāpetabbā’ti. Ayañca me rāhulo sāmaṇero. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesi.
“Anujānāmi, bhikkhave, byattena bhikkhunā paṭibalena ekena dve sāmaṇere upaṭṭhāpetuṁ, yāvatake vā pana ussahati ovadituṁ anusāsituṁ tāvatake upaṭṭhāpetun”ti.
After staying at Kapilavatthu for as long as he liked, the Buddha set out wandering toward Sāvatthī. When he eventually arrived, he stayed in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery.
At this time a family that was supporting Sāriputta sent him a boy with this message: “Please give the going forth to this boy.”
Sāriputta thought, “The Buddha has laid down a rule that a monk shouldn’t have two novices attend on him. I already have the novice Rāhula. So what should I do now?” He told the Buddha.
“I allow a competent and capable monk to have two novice monks attend on him, or however many he’s able to teach and instruct.”
Khi ấy, sau khi trú ở Kapilavatthu tùy thích, đức Thế Tôn đã lên đường du hành đến Sāvatthī. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã đi đến Sāvatthī. Tại đó, đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của Anāthapiṇḍika. Và vào lúc bấy giờ, một gia đình hộ độ của trưởng lão Sāriputta đã gửi một cậu bé đến chỗ trưởng lão Sāriputta với lời nhắn: ‘Mong trưởng lão hãy cho cậu bé này xuất gia.’ Khi ấy, trưởng lão Sāriputta đã suy nghĩ như sau: ‘Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không được một vị (tỳ khưu) chăm sóc hai vị sa-di.’ Và ta đã có sa-di Rāhula này. Ta nên thực hành như thế nào đây?’ (Ngài) đã trình bày sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép một vị tỳ khưu có năng lực, có khả năng, được chăm sóc hai vị sa-di, hoặc bao nhiêu vị mà vị ấy có thể nỗ lực để khuyên dạy, để chỉ bảo thì được chăm sóc bấy nhiêu vị.’
Lời về các học giới
Atha kho sāmaṇerānaṁ etadahosi—“kati nu kho amhākaṁ sikkhāpadāni, kattha ca amhehi sikkhitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, sāmaṇerānaṁ dasa sikkhāpadāni, tesu ca sāmaṇerehi sikkhituṁ—
Anujānāmi, bhikkhave, sāmaṇerānaṁ imāni dasa sikkhāpadāni, imesu ca sāmaṇerehi sikkhitun”ti.
Soon afterwards the novices thought, “How many training rules do we have that we should train in?” They told the Buddha. …
“There are ten training rules for the novice monks:
42. Khi ấy, các vị sa-di đã suy nghĩ như sau: ‘Chúng ta có bao nhiêu học giới, và chúng ta nên học tập ở đâu?’ Họ đã trình bày sự việc ấy lên đức Thế Tôn... (đức Thế Tôn phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép các vị sa-di mười học giới, và (cho phép) các vị sa-di học tập trong các học giới ấy: – Từ bỏ việc lấy đi mạng sống, từ bỏ việc lấy của không cho, từ bỏ hành vi không phạm hạnh, từ bỏ lời nói dối, từ bỏ việc dùng các chất gây say, rượu men, rượu nấu là cơ sở của sự dễ duôi, từ bỏ việc ăn vào thời phi thời, từ bỏ việc xem múa, hát, nhạc, các buổi trình diễn, từ bỏ việc trang sức, tô điểm bằng vòng hoa, hương liệu, và vật phết thoa, từ bỏ giường cao và giường lớn, từ bỏ việc nhận vàng và bạc. Này các tỳ khưu, Ta cho phép các vị sa-di mười học giới này, và (cho phép) các vị sa-di học tập trong các học giới này.’
106. Câu chuyện về hình phạt
Tena kho pana samayena sāmaṇerā bhikkhūsu agāravā appatissā asabhāgavuttikā viharanti. Bhikkhū ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma sāmaṇerā bhikkhūsu agāravā appatissā asabhāgavuttikā viharissantī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa sāmaṇerassa daṇḍakammaṁ kātuṁ.
anujānāmi, bhikkhave, imehi pañcahaṅgehi samannāgatassa sāmaṇerassa daṇḍakammaṁ kātun”ti.
Soon the novice monks were being disrespectful, undeferential, and rude toward the monks. The monks complained and criticized them, “How can the novices behave like this?” They told the Buddha. …
“I allow you to penalize a novice monk who has five qualities:
Và vào lúc bấy giờ, các vị sa-di sống không tôn trọng, không kính nể, không hòa hợp với các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu đã phàn nàn, chê bai, chỉ trích: ‘Làm sao mà các vị sa-di lại có thể sống không tôn trọng, không kính nể, không hòa hợp với các vị tỳ khưu được chứ?’ Họ đã trình bày sự việc ấy lên đức Thế Tôn... (đức Thế Tôn phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép thực hiện hình phạt đối với vị sa-di có đủ năm yếu tố. (Vị ấy) cố gắng làm cho các vị tỳ khưu không có lợi lộc, cố gắng làm cho các vị tỳ khưu không có lợi ích, cố gắng làm cho các vị tỳ khưu không có chỗ ở, (vị ấy) mắng nhiếc, phỉ báng các vị tỳ khưu, (vị ấy) chia rẽ các vị tỳ khưu với các vị tỳ khưu. Này các tỳ khưu, Ta cho phép thực hiện hình phạt đối với vị sa-di có đủ năm yếu tố này.’
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kiṁ nu kho daṇḍakammaṁ kātabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, āvaraṇaṁ kātun”ti.
The monks didn’t know which penalty to impose. They told the Buddha.
“I allow you to place restrictions on the novice monks.”
43. Khi ấy, các vị tỳ khưu đã suy nghĩ như sau: ‘Hình phạt nào nên được thực hiện?’ Họ đã trình bày sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép thực hiện việc ngăn cấm.’
Tena kho pana samayena bhikkhū sāmaṇerānaṁ sabbaṁ saṅghārāmaṁ āvaraṇaṁ karonti. Sāmaṇerā ārāmaṁ pavisituṁ alabhamānā pakkamantipi, vibbhamantipi, titthiyesupi saṅkamanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, sabbo saṅghārāmo āvaraṇaṁ kātabbo. Yo kareyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, yattha vā vasati, yattha vā paṭikkamati, tattha āvaraṇaṁ kātun”ti.
The monks restricted the novices from the whole monastery. Because they were unable to enter the monastery, the novices left, disrobed, and joined the monastics of other religions. They told the Buddha.
“You shouldn’t restrict anyone from a whole monastery. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow you to make restrictions for the place you’re staying and its access areas.”
107. Và vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đã thực hiện việc ngăn cấm các vị sa-di vào toàn bộ tu viện của Tăng chúng. Các vị sa-di, do không được phép vào tu viện, đã bỏ đi, cũng có vị hoàn tục, cũng có vị gia nhập các hàng ngũ ngoại đạo. Họ đã trình bày sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): ‘Này các tỳ khưu, không được thực hiện việc ngăn cấm toàn bộ tu viện của Tăng chúng. Vị nào làm vậy, vị ấy phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép thực hiện việc ngăn cấm ở nơi (vị tỳ khưu) ở, hoặc ở nơi (vị tỳ khưu) đi lại.’
Tena kho pana samayena bhikkhū sāmaṇerānaṁ mukhadvārikaṁ āhāraṁ āvaraṇaṁ karonti. Manussā yāgupānampi saṅghabhattampi karontā sāmaṇere evaṁ vadenti—“etha, bhante, yāguṁ pivatha; etha, bhante, bhattaṁ bhuñjathā”ti.
Sāmaṇerā evaṁ vadenti—“nāvuso, labbhā. Bhikkhūhi āvaraṇaṁ katan”ti.
Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhadantā sāmaṇerānaṁ mukhadvārikaṁ āhāraṁ āvaraṇaṁ karissantī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, mukhadvāriko āhāro āvaraṇaṁ kātabbo. Yo kareyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
The monks placed restrictions on the novices’ food. People making congee and meals for the Sangha said to the novices, “Come, venerables, and drink congee. Come and eat a meal.”
The novices replied, “We can’t. The monks have placed a restriction on us.”
People complained and criticized them, “How can the venerables restrict the novices’ food?” They told the Buddha.
“You shouldn’t place restrictions on food. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ngăn cản các vị sa-di về vật thực được đưa vào bằng cửa miệng. Các thí chủ trong khi đang chuẩn bị cháo và vật thực cúng dường đến chư Tăng đã nói với các vị sa-di như vầy: “Bạch quý ngài, mời đến dùng cháo. Bạch quý ngài, mời đến dùng vật thực.” Các vị sa-di nói như vầy: “Này các hiền hữu, không được phép. Việc ngăn cản đã được các tỳ khưu thực hiện.” Các thí chủ đã phàn nàn, chê bai, và nói rộng ra rằng: “Tại sao các ngài đại đức lại có thể ngăn cản các vị sa-di về vật thực được đưa vào bằng cửa miệng?” Chư tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, không được thực hiện việc ngăn cản vật thực được đưa vào bằng cửa miệng. Vị nào thực hiện, vị ấy phạm tội dukkaṭa (tác ác).”
Daṇḍakammavatthu niṭṭhitaṁ.
The account of penalties is finished.
Câu chuyện về sự trừng phạt đã kết thúc.
44. Câu chuyện về việc ngăn cản không hỏi trước
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū upajjhāye anāpucchā sāmaṇerānaṁ āvaraṇaṁ karonti. Upajjhāyā gavesanti—“kathaṁ nu kho amhākaṁ sāmaṇerā na dissantī”ti. Bhikkhū evamāhaṁsu—“chabbaggiyehi, āvuso, bhikkhūhi āvaraṇaṁ katan”ti. Upajjhāyā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma chabbaggiyā bhikkhū amhe anāpucchā amhākaṁ sāmaṇerānaṁ āvaraṇaṁ karissantī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, upajjhāye anāpucchā āvaraṇaṁ kātabbaṁ. Yo kareyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks from the group of six placed restrictions on novices without asking their preceptors for permission. The preceptors could not find their novices. When other monks told them what had happened, the preceptors complained and criticized those monks, “How could the monks from the group of six place restrictions on our novices without asking us for permission?” They told the Buddha.
“You shouldn’t place a restriction without asking permission from the preceptor. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
108. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu đã ngăn cản các vị sa-di mà không hỏi ý kiến các vị thầy tế độ. Các vị thầy tế độ tìm kiếm (và tự hỏi): “Tại sao các vị sa-di của chúng ta lại không được trông thấy?” Các tỳ khưu đã nói như vầy: “Này chư hiền, việc ngăn cản đã được nhóm sáu tỳ khưu thực hiện.” Các vị thầy tế độ đã phàn nàn, chê bai, và nói rộng ra rằng: “Tại sao nhóm sáu tỳ khưu lại có thể ngăn cản các vị sa-di của chúng ta mà không hỏi ý kiến chúng ta?” Chư tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, không được thực hiện việc ngăn cản mà không hỏi ý kiến vị thầy tế độ. Vị nào thực hiện, vị ấy phạm tội dukkaṭa (tác ác).”
45. Câu chuyện về việc dụ dỗ
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū therānaṁ bhikkhūnaṁ sāmaṇere apalāḷenti. Therā sāmaṁ dantakaṭṭhampi mukhodakampi gaṇhantā kilamanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, aññassa parisā apalāḷetabbā. Yo apalāḷeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time the monks from the group of six were luring away the novices of the senior monks. The senior monks had to get their own tooth cleaners and water for rinsing the mouth. As a result, they became tired. They told the Buddha.
“You shouldn’t lure away another’s followers. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu đã dụ dỗ các vị sa-di của các tỳ khưu trưởng lão. Các vị trưởng lão đã bị mệt nhọc trong khi tự mình lấy tăm xỉa răng và nước rửa mặt. Chư tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, không được dụ dỗ đồ chúng của người khác. Vị nào dụ dỗ, vị ấy phạm tội dukkaṭa (tác ác).”
46. Câu chuyện về sa-di Kaṇṭaka
Tena kho pana samayena āyasmato upanandassa sakyaputtassa kaṇṭako nāma sāmaṇero kaṇṭakiṁ nāma bhikkhuniṁ dūsesi. Bhikkhū ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma sāmaṇero evarūpaṁ anācāraṁ ācarissatī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, dasahaṅgehi samannāgataṁ sāmaṇeraṁ nāsetuṁ.
anujānāmi, bhikkhave, imehi dasahaṅgehi samannāgataṁ sāmaṇeraṁ nāsetun”ti.
At one time Venerable Upananda the Sakyan had a novice monk called Kaṇṭaka who raped a nun called Kaṇṭakī. The monks complained and criticized him, “How could a novice monk misbehave in this way?” They told the Buddha.
“I allow you to expel a novice monk who has ten qualities:
Vào lúc bấy giờ, vị sa-di tên là Kaṇṭaka của trưởng lão Upananda dòng dõi Sakya đã làm hại tỳ khưu ni tên là Kaṇṭakī. Các tỳ khưu đã phàn nàn, chê bai, và nói rộng ra rằng: “Tại sao vị sa-di lại có thể thực hành hành vi không đúng đắn như vậy?” Chư tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép trục xuất vị sa-di có đầy đủ mười yếu tố. (Đó là:) là người sát sanh, là người trộm cắp, là người không phạm hạnh, là người nói dối, là người uống rượu, nói lời chê bai đức Phật, nói lời chê bai Giáo pháp, nói lời chê bai chư Tăng, là người có tà kiến, là người làm hại tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, Ta cho phép trục xuất vị sa-di có đầy đủ mười yếu tố này.”
47. Câu chuyện về người ái nam ái nữ
Tena kho pana samayena aññataro paṇḍako bhikkhūsu pabbajito hoti. So dahare dahare bhikkhū upasaṅkamitvā evaṁ vadeti—“etha, maṁ āyasmanto dūsethā”ti.
Bhikkhū apasādenti—“nassa, paṇḍaka, vinassa, paṇḍaka, ko tayā attho”ti.
So bhikkhūhi apasādito mahante mahante moḷigalle sāmaṇere upasaṅkamitvā evaṁ vadeti—“etha, maṁ āvuso dūsethā”ti. Sāmaṇerā apasādenti—“nassa, paṇḍaka, vinassa, paṇḍaka, ko tayā attho”ti. So sāmaṇerehi apasādito hatthibhaṇḍe assabhaṇḍe upasaṅkamitvā evaṁ vadeti—“etha, maṁ āvuso dūsethā”ti. Hatthibhaṇḍā assabhaṇḍā dūsesuṁ.
Te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“paṇḍakā ime samaṇā sakyaputtiyā. Yepi imesaṁ na paṇḍakā, tepi ime paṇḍake dūsenti. Evaṁ ime sabbeva abrahmacārino”ti.
Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ hatthibhaṇḍānaṁ assabhaṇḍānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Paṇḍako, bhikkhave, anupasampanno na upasampādetabbo, upasampanno nāsetabbo”ti.
At one time a certain <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> had gone forth as a monk. He went to the young monks and said, “Come, venerables, have sex with me.”
The monks dismissed him, “Go away, <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>. We don’t want you.”
He went to the big and fat novices, said the same thing, and got the same response. He then went to the elephant keepers and the horse keepers and once again said the same thing. And they had sex with him.
They complained and criticized him, “These Sakyan monastics are <i lang='pi' translate='no'>paṇḍakas</i>. And those who are not have sex with them. None of them is celibate.”
The monks heard their complaints and told the Buddha.
“A <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> shouldn’t be given the full ordination. If it has been given, he should be expelled.”
109. Vào lúc bấy giờ, có một người ái nam ái nữ nọ đã được xuất gia ở giữa các tỳ khưu. Vị ấy đi đến các tỳ khưu trẻ tuổi và nói như vầy: “Này quý ngài, hãy đến làm hại tôi.” Các tỳ khưu xua đuổi: “Này người ái nam ái nữ, hãy cút đi! Này người ái nam ái nữ, hãy biến đi! Có ích lợi gì với ngươi chứ?” Vị ấy bị các tỳ khưu xua đuổi, rồi đi đến các vị sa-di to lớn, vạm vỡ và nói như vầy: “Này các hiền hữu, hãy đến làm hại tôi.” Các vị sa-di xua đuổi: “Này người ái nam ái nữ, hãy cút đi! Này người ái nam ái nữ, hãy biến đi! Có ích lợi gì với ngươi chứ?” Vị ấy bị các vị sa-di xua đuổi, rồi đi đến những người giữ voi, những người giữ ngựa và nói như vầy: “Này các hiền hữu, hãy đến làm hại tôi.” Những người giữ voi, những người giữ ngựa đã làm hại vị ấy. Họ đã phàn nàn, chê bai, và nói rộng ra rằng: “Các vị sa-môn Thích tử này là những người ái nam ái nữ. Ngay cả những vị không phải là người ái nam ái nữ ở trong số họ cũng làm hại những người ái nam ái nữ này. Như vậy, tất cả những vị này đều không phạm hạnh.” Các tỳ khưu đã nghe được (lời lẽ) của những người giữ voi, những người giữ ngựa ấy đang phàn nàn, chê bai, và nói rộng ra. Sau đó, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, người ái nam ái nữ chưa được tế độ thì không nên cho tế độ, đã được tế độ thì nên trục xuất.”
48. Câu chuyện về người chung sống bằng cách trộm cắp
Tena kho pana samayena aññataro purāṇakulaputto khīṇakolañño sukhumālo hoti. Atha kho tassa purāṇakulaputtassa khīṇakolaññassa etadahosi—“ahaṁ kho sukhumālo, na paṭibalo anadhigataṁ vā bhogaṁ adhigantuṁ, adhigataṁ vā bhogaṁ phātiṁ kātuṁ. Kena nu kho ahaṁ upāyena sukhañca jīveyyaṁ, na ca kilameyyan”ti? Atha kho tassa purāṇakulaputtassa khīṇakolaññassa etadahosi—“ime kho samaṇā sakyaputtiyā sukhasīlā sukhasamācārā, subhojanāni bhuñjitvā nivātesu sayanesu sayanti. Yannūnāhaṁ sāmaṁ pattacīvaraṁ paṭiyādetvā kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā ārāmaṁ gantvā bhikkhūhi saddhiṁ saṁvaseyyan”ti.
Atha kho so purāṇakulaputto khīṇakolañño sāmaṁ pattacīvaraṁ paṭiyādetvā kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā ārāmaṁ gantvā bhikkhū abhivādeti. Bhikkhū evamāhaṁsu—“kativassosi tvaṁ, āvuso”ti?
“Kiṁ etaṁ, āvuso, kativasso nāmā”ti?
“Ko pana te, āvuso, upajjhāyo”ti?
“Kiṁ etaṁ, āvuso, upajjhāyo nāmā”ti?
Bhikkhū āyasmantaṁ upāliṁ etadavocuṁ—“iṅghāvuso upāli, imaṁ pabbajitaṁ anuyuñjāhī”ti.
Atha kho so purāṇakulaputto khīṇakolañño āyasmatā upālinā anuyuñjīyamāno etamatthaṁ ārocesi. Āyasmā upāli bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Theyyasaṁvāsako, bhikkhave, anupasampanno na upasampādetabbo, upasampanno nāsetabboti.
Titthiyapakkantako, bhikkhave, anupasampanno na upasampādetabbo, upasampanno nāsetabbo”ti.
At one time there was a gentleman who had been brought up in comfort, but whose entire family had died. He thought, “I’ve been brought up in comfort and I’m incapable of making money. How can I live happily without exhausting myself?” It occurred to him, “These Sakyan monastics have pleasant habits and a happy life. They eat nice food and sleep in beds sheltered from the wind. Why don’t I just get myself a bowl and robes, shave off my hair and beard, put on ocher robes, and then go to the monastery and live with the monks?” And he did just that.
When he came to the monastery, he bowed down to the monks. The monks asked him, “How many rains do you have?”
“What does ‘How many rains’ mean?”
“Who’s your preceptor?”
“What’s a preceptor?”
The monks said to Venerable Upāli, “Upāli, please examine this person.”
He then told Upāli what had happened. Upāli told the monks, who in turn told the Buddha.
“A fake monk shouldn’t be given the full ordination. If it has been given, they should be expelled.
Anyone who has previously left to join the monastics of another religion shouldn’t be given the full ordination. If it has been given, they should be expelled.”
110. Vào lúc bấy giờ, có một người con trai của gia tộc cũ đã bị suy tàn, là người có tánh mỏng manh. Rồi người con trai của gia tộc cũ đã bị suy tàn ấy đã có suy nghĩ này: ‘Ta là người có tánh mỏng manh, không có khả năng để thủ đắc của cải chưa thủ đắc, hoặc làm cho của cải đã thủ đắc được phát triển. Bằng phương tiện nào, ta có thể vừa sống được an lạc, lại vừa không bị mệt nhọc?’ Rồi người con trai của gia tộc cũ đã bị suy tàn ấy đã có suy nghĩ này: ‘Các vị Sa-môn Thích tử này có giới hạnh an lạc, có hạnh kiểm an lạc, sau khi dùng các vật thực ngon lành, các vị ấy ngủ nghỉ ở những chỗ ở kín gió. Chắc chắn ta nên tự mình chuẩn bị y bát, cạo bỏ râu tóc, đắp các y cà-sa, đi đến ngôi tự viện, rồi sống chung với các vị tỳ khưu.’ Sau đó, người con trai của gia tộc cũ đã bị suy tàn ấy đã tự mình chuẩn bị y bát, cạo bỏ râu tóc, đắp các y cà-sa, đi đến ngôi tự viện, rồi đảnh lễ các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: ‘Này hiền hữu, hiền hữu được bao nhiêu tuổi hạ?’ – ‘Thưa các hiền hữu, điều này là gì, cái gọi là bao nhiêu tuổi hạ?’ – ‘Này hiền hữu, còn ai là thầy tế độ của hiền hữu?’ – ‘Thưa các hiền hữu, điều này là gì, cái gọi là thầy tế độ?’ Các vị tỳ khưu đã nói với đại đức Upāli điều này: ‘Này hiền hữu Upāli, hãy đến đây, hiền hữu hãy thẩm vấn vị đã xuất gia này.’ Sau đó, người con trai của gia tộc cũ đã bị suy tàn ấy, trong khi được đại đức Upāli thẩm vấn, đã trình bày sự việc ấy. Đại đức Upāli đã trình bày sự việc ấy đến các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu đã trình bày sự việc ấy đến đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, người sống chung lén lút, nếu chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên; nếu đã được tu lên bậc trên thì nên bị loại bỏ. Này các tỳ khưu, người đã đi theo ngoại đạo, nếu chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên; nếu đã được tu lên bậc trên thì nên bị loại bỏ.
49. Câu chuyện về loài bàng sanh
Tena kho pana samayena aññataro nāgo nāgayoniyā aṭṭīyati harāyati jigucchati. Atha kho tassa nāgassa etadahosi—“kena nu kho ahaṁ upāyena nāgayoniyā ca parimucceyyaṁ khippañca manussattaṁ paṭilabheyyan”ti. Atha kho tassa nāgassa etadahosi—“ime kho samaṇā sakyaputtiyā dhammacārino samacārino brahmacārino saccavādino sīlavanto kalyāṇadhammā. Sace kho ahaṁ samaṇesu sakyaputtiyesu pabbajeyyaṁ, evāhaṁ nāgayoniyā ca parimucceyyaṁ, khippañca manussattaṁ paṭilabheyyan”ti.
Atha kho so nāgo māṇavakavaṇṇena bhikkhū upasaṅkamitvā pabbajjaṁ yāci. Taṁ bhikkhū pabbājesuṁ, upasampādesuṁ.
Tena kho pana samayena so nāgo aññatarena bhikkhunā saddhiṁ paccantime vihāre paṭivasati. Atha kho so bhikkhu rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya ajjhokāse caṅkamati. Atha kho so nāgo tassa bhikkhuno nikkhante vissaṭṭho niddaṁ okkami. Sabbo vihāro ahinā puṇṇo, vātapānehi bhogā nikkhantā honti. Atha kho so bhikkhu vihāraṁ pavisissāmīti kavāṭaṁ paṇāmento addasa sabbaṁ vihāraṁ ahinā puṇṇaṁ, vātapānehi bhoge nikkhante, disvāna bhīto vissaramakāsi. Bhikkhū upadhāvitvā taṁ bhikkhuṁ etadavocuṁ—“kissa tvaṁ, āvuso, vissaramakāsī”ti? “Ayaṁ, āvuso, sabbo vihāro ahinā puṇṇo, vātapānehi bhogā nikkhantā”ti.
Atha kho so nāgo tena saddena paṭibujjhitvā sake āsane nisīdi. Bhikkhū evamāhaṁsu—“kosi tvaṁ, āvuso”ti? “Ahaṁ, bhante, nāgo”ti.
“Kissa pana tvaṁ, āvuso, evarūpaṁ akāsī”ti? Atha kho so nāgo bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā taṁ nāgaṁ etadavoca—“tumhe khottha nāgā aviruḷhidhammā imasmiṁ dhammavinaye. Gaccha tvaṁ, nāga, tattheva cātuddase pannarase aṭṭhamiyā ca pakkhassa uposathaṁ upavasa, evaṁ tvaṁ nāgayoniyā ca parimuccissasi, khippañca manussattaṁ paṭilabhissasī”ti.
Atha kho so nāgo aviruḷhidhammo kirāhaṁ imasmiṁ dhammavinayeti dukkhī dummano assūni pavattayamāno vissaraṁ katvā pakkāmi. Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—
“dveme, bhikkhave, paccayā nāgassa sabhāvapātukammāya. Yadā ca sajātiyā methunaṁ dhammaṁ paṭisevati, yadā ca vissaṭṭho niddaṁ okkamati—ime kho, bhikkhave, dve paccayā nāgassa sabhāvapātukammāya.
Tiracchānagato, bhikkhave, anupasampanno na upasampādetabbo, upasampanno nāsetabbo”ti.
At one time there was a dragon who was troubled, ashamed, and disgusted with his existence as a dragon. He thought, “How can I get released from this existence and quickly become human?” It occurred to him, “These Sakyan monastics have integrity. They’re celibate and their conduct is good, and they’re truthful, moral, and have a good character. If I were to go forth with them, I would be released from this existence as a dragon and quickly become human.”
Then, taking on the appearance of a young brahmin, that dragon went to the monks and asked for the going forth. The monks gave him the going forth and the full ordination.
Soon afterwards that dragon was sharing a remote dwelling with a certain monk. After getting up early one morning, that monk did walking meditation outside. When the monk had left, the dragon relaxed and fell asleep. As a result, the serpent filled the whole dwelling, its coils even protruding from the windows. Just then that monk decided to go back inside. When he opened the door, he saw the serpent filling the whole dwelling. Terrified, he screamed. Monks came running to and asked him why he was screaming. And he told them what had seen.
The dragon woke up from the noise and sat down on his seat. The monks asked him who he was. He replied, “I’m a dragon.”
“Why did you do this?” The dragon told them what had happened, and they told the Buddha.
He then had the Sangha of monks gathered and said to the dragon, “Dragons are unable to make progress on this spiritual path. Go, dragon, and keep the observance days of the fourteenth, the fifteenth, and the eighth of the lunar half-month. In this way you’ll be released from existence as a dragon and quickly become human.”
When he heard this, the dragon wept. Sad and miserable, he cried out in distress and left. And the Buddha addressed the monks:
“There are two occasions when dragons appear in their own form: when they have sexual intercourse with each other, and when they relax and fall asleep.
Monks, an animal shouldn’t be given the full ordination. If it has been given, it should be expelled.”
111. Vào lúc bấy giờ, có một con rồng naga chán ngán, hổ thẹn, ghê tởm đối với thân rồng naga. Rồi con rồng naga ấy đã có suy nghĩ này: ‘Bằng phương tiện nào, ta có thể vừa thoát khỏi thân rồng naga, lại vừa mau chóng thủ đắc được thân người?’ Rồi con rồng naga ấy đã có suy nghĩ này: ‘Các vị Sa-môn Thích tử này là những vị sống theo Chánh Pháp, sống theo hạnh kiểm tốt đẹp, sống theo phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có các pháp tốt lành. Nếu ta xuất gia ở nơi các vị Sa-môn Thích tử, như thế ta sẽ vừa thoát khỏi thân rồng naga, lại vừa mau chóng thủ đắc được thân người.’ Sau đó, con rồng naga ấy, với hình dạng của người thanh niên, sau khi đi đến các vị tỳ khưu đã xin xuất gia. Các vị tỳ khưu đã cho vị ấy xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Vào lúc bấy giờ, con rồng naga ấy sống cùng với một vị tỳ khưu khác ở một ngôi tự viện nơi biên địa. Rồi vị tỳ khưu ấy, vào lúc rạng đông của ban đêm, sau khi thức dậy sớm đã đi kinh hành ở ngoài trời. Sau đó, con rồng naga ấy, trong khi vị tỳ khưu kia đã đi ra ngoài, đã ngủ say không phòng bị. Toàn thể ngôi tự viện đã đầy dẫy bởi con rắn, các khúc mình đã thò ra từ các cửa sổ. Rồi vị tỳ khưu ấy, trong khi đẩy cánh cửa với ý định: ‘Ta sẽ đi vào tự viện,’ đã nhìn thấy toàn thể ngôi tự viện đầy dẫy bởi con rắn, các khúc mình thò ra từ các cửa sổ. Sau khi nhìn thấy, do sợ hãi, vị ấy đã thét lên. Các vị tỳ khưu sau khi chạy đến đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: ‘Này hiền hữu, vì sao hiền hữu lại thét lên?’ – ‘Thưa các hiền hữu, toàn thể ngôi tự viện này đầy dẫy bởi con rắn, các khúc mình thò ra từ các cửa sổ.’ Sau đó, con rồng naga ấy, sau khi thức giấc bởi tiếng động ấy, đã ngồi xuống ở chỗ của mình. Các vị tỳ khưu đã nói như vầy: ‘Này hiền hữu, hiền hữu là ai?’ – ‘Bạch các ngài, tôi là rồng naga.’ – ‘Này hiền hữu, vì sao hiền hữu lại làm việc như thế này?’ Sau đó, con rồng naga ấy đã trình bày sự việc ấy đến các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu đã trình bày sự việc ấy đến đức Thế Tôn. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do này, nhân sự việc này, sau khi cho hội chúng tỳ khưu nhóm họp, đã nói với con rồng naga ấy điều này: ‘Này các rồng naga, các ngươi là loài có pháp không tăng trưởng ở trong Pháp và Luật này. Này rồng naga, ngươi hãy đi đi. Ngay tại nơi ấy, ngươi hãy thực hành lễ Bố-tát vào ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mùng tám của mỗi nửa tháng. Như thế, ngươi sẽ vừa thoát khỏi thân rồng naga, lại vừa mau chóng thủ đắc được thân người.’ Sau đó, con rồng naga ấy, với ý nghĩ: ‘Ta quả là loài có pháp không tăng trưởng ở trong Pháp và Luật này,’ bị đau khổ, buồn rầu, trong khi để nước mắt tuôn rơi, sau khi kêu la đã bỏ đi. Sau đó, đức Thế Tôn đã gọi các vị tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, có hai duyên này đưa đến sự hiện ra bản chất của loài rồng naga. Khi nó hành dâm sự với loài đồng chủng, và khi nó ngủ say không phòng bị. Này các tỳ khưu, đây là hai duyên đưa đến sự hiện ra bản chất của loài rồng naga. Này các tỳ khưu, loài bàng sanh, nếu chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên; nếu đã được tu lên bậc trên thì nên bị loại bỏ.’
50. Câu chuyện về người giết mẹ
Tena kho pana samayena aññataro māṇavako mātaraṁ jīvitā voropesi. So tena pāpakena kammena aṭṭīyati harāyati jigucchati. Atha kho tassa māṇavakassa etadahosi—“kena nu kho ahaṁ upāyena imassa pāpakassa kammassa nikkhantiṁ kareyyan”ti? Atha kho tassa māṇavakassa etadahosi—“ime kho samaṇā sakyaputtiyā dhammacārino samacārino brahmacārino saccavādino sīlavanto kalyāṇadhammā. Sace kho ahaṁ samaṇesu sakyaputtiyesu pabbajeyyaṁ, evāhaṁ imassa pāpakassa kammassa nikkhantiṁ kareyyan”ti.
Atha kho so māṇavako bhikkhū upasaṅkamitvā pabbajjaṁ yāci. Bhikkhū āyasmantaṁ upāliṁ etadavocuṁ—“pubbepi kho, āvuso upāli, nāgo māṇavakavaṇṇena bhikkhūsu pabbajito. Iṅghāvuso upāli, imaṁ māṇavakaṁ anuyuñjāhī”ti.
Atha kho so māṇavako āyasmatā upālinā anuyuñjīyamāno etamatthaṁ ārocesi. Āyasmā upāli bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“mātughātako, bhikkhave, anupasampanno na upasampādetabbo, upasampanno nāsetabbo”ti.
At one time there was a young brahmin who had murdered his mother. He was troubled, ashamed, and disgusted by what he had done, and he thought, “How can I escape from this terrible action?” It occurred to him, “These Sakyan monastics have integrity. They’re celibate and their conduct is good, and they’re truthful, moral, and have a good character. If I were to go forth with them, I might be released from this bad deed.”
He then went to the monks and asked for the going forth. The monks said to Upāli, “Previously a dragon appearing as a young brahmin asked for the going forth. So, please examine this young brahmin, Upāli.”
The young brahmin told Upāli what had happened. Upāli told the monks, who in turn told the Buddha.
“A matricide shouldn’t be given the full ordination. If it has been given, he should be expelled.”
112. Vào lúc bấy giờ, có một thanh niên nọ đã giết mẹ. Do ác nghiệp ấy, người ấy khổ tâm, hổ thẹn, ghê tởm. Bấy giờ, thanh niên ấy suy nghĩ rằng: “Do phương tiện nào, ta có thể thoát khỏi ác nghiệp này?” Bấy giờ, thanh niên ấy lại suy nghĩ rằng: “Các vị Sa-môn Thích tử này là những người sống theo Chánh pháp, sống đời sống hòa hợp, sống đời sống phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp. Nếu ta xuất gia trong hàng Sa-môn Thích tử, như vậy ta có thể thoát khỏi ác nghiệp này.” Bấy giờ, thanh niên ấy đi đến các vị tỳ-kheo và xin xuất gia. Các vị tỳ-kheo thưa với trưởng lão Upāli điều này: “Thưa hiền giả Upāli, trước đây cũng có một con rồng đã hiện thành hình người thanh niên và xuất gia trong hàng tỳ-kheo. Này hiền giả Upāli, xin ngài hãy gạn hỏi thanh niên này.” Bấy giờ, khi được trưởng lão Upāli gạn hỏi, thanh niên ấy đã trình bày sự việc ấy. Trưởng lão Upāli đã trình bày sự việc ấy cho các vị tỳ-kheo. Các vị tỳ-kheo đã trình bạch sự việc ấy lên đức Thế Tôn... (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ-kheo, kẻ giết mẹ là người chưa thọ cụ túc giới, không được cho thọ cụ túc giới; nếu đã thọ cụ túc giới thì phải bị trục xuất.”
51. Câu chuyện về kẻ giết cha
Tena kho pana samayena aññataro māṇavako pitaraṁ jīvitā voropesi. So tena pāpakena kammena aṭṭīyati harāyati jigucchati. Atha kho tassa māṇavakassa etadahosi—“kena nu kho ahaṁ upāyena imassa pāpakassa kammassa nikkhantiṁ kareyyan”ti. Atha kho tassa māṇavakassa etadahosi—“ime kho samaṇā sakyaputtiyā dhammacārino samacārino brahmacārino saccavādino sīlavanto kalyāṇadhammā, sace kho ahaṁ samaṇesu sakyaputtiyesu pabbajeyyaṁ, evāhaṁ imassa pāpakassa kammassa nikkhantiṁ kareyyan”ti.
Atha kho so māṇavako bhikkhū upasaṅkamitvā pabbajjaṁ yāci. Bhikkhū āyasmantaṁ upāliṁ etadavocuṁ—“pubbepi kho, āvuso upāli, nāgo māṇavakavaṇṇena bhikkhūsu pabbajito. Iṅghāvuso, upāli, imaṁ māṇavakaṁ anuyuñjāhī”ti.
Atha kho so māṇavako āyasmatā upālinā anuyuñjīyamāno etamatthaṁ ārocesi. Āyasmā upāli bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Pitughātako, bhikkhave, anupasampanno na upasampādetabbo, upasampanno nāsetabbo”ti.
At one time there was a young brahmin who had murdered his father. He was troubled, ashamed, and disgusted by what he had done, and he thought, “How can I escape from this terrible action?” It occurred to him, “These Sakyan monastics have integrity. They’re celibate and their conduct is good, and they’re truthful, moral, and have a good character. If I were to go forth with them, I might be released from this bad action.”
He then went to the monks and asked for the going forth. The monks said to Upāli, “Previously a dragon appearing as a young brahmin asked for the going forth. So, please examine this young brahmin, Upāli.”
The young brahmin told Upāli what had happened. Upāli told the monks, who in turn told the Buddha.
“A patricide shouldn’t be given the full ordination. If it has been given, he should be expelled.”
113. Vào lúc bấy giờ, có một thanh niên nọ đã giết cha. Do ác nghiệp ấy, người ấy khổ tâm, hổ thẹn, ghê tởm. Bấy giờ, thanh niên ấy suy nghĩ rằng: “Do phương tiện nào, ta có thể thoát khỏi ác nghiệp này?” Bấy giờ, thanh niên ấy lại suy nghĩ rằng: “Các vị Sa-môn Thích tử này là những người sống theo Chánh pháp, sống đời sống hòa hợp, sống đời sống phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp. Nếu ta xuất gia trong hàng Sa-môn Thích tử, như vậy ta có thể thoát khỏi ác nghiệp này.” Bấy giờ, thanh niên ấy đi đến các vị tỳ-kheo và xin xuất gia. Các vị tỳ-kheo thưa với trưởng lão Upāli điều này: “Thưa hiền giả Upāli, trước đây cũng có một con rồng đã hiện thành hình người thanh niên và xuất gia trong hàng tỳ-kheo. Này hiền giả, Upāli, xin ngài hãy gạn hỏi thanh niên này.” Bấy giờ, khi được trưởng lão Upāli gạn hỏi, thanh niên ấy đã trình bày sự việc ấy. Trưởng lão Upāli đã trình bày sự việc ấy cho các vị tỳ-kheo. Các vị tỳ-kheo đã trình bạch sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ-kheo, kẻ giết cha là người chưa thọ cụ túc giới, không được cho thọ cụ túc giới; nếu đã thọ cụ túc giới thì phải bị trục xuất.”
52. Câu chuyện về kẻ giết A-la-hán
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū sāketā sāvatthiṁ addhānamaggappaṭipannā honti. Antarāmagge corā nikkhamitvā ekacce bhikkhū acchindiṁsu, ekacce bhikkhū haniṁsu.
Sāvatthiyā rājabhaṭā nikkhamitvā ekacce core aggahesuṁ, ekacce corā palāyiṁsu. Ye te palāyiṁsu te bhikkhūsu pabbajiṁsu, ye te gahitā te vadhāya oniyyanti. Addasaṁsu kho te palāyitvā pabbajitā te core vadhāya oniyyamāne, disvāna evamāhaṁsu—“sādhu kho mayaṁ palāyimhā, sacā ca mayaṁ gayheyyāma, mayampi evameva haññeyyāmā”ti.
Bhikkhū evamāhaṁsu—“kiṁ pana tumhe, āvuso, akatthā”ti? Atha kho te pabbajitā bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesuṁ. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Arahanto ete, bhikkhave, bhikkhū.
Arahantaghātako, bhikkhave, anupasampanno na upasampādetabbo, upasampanno nāsetabbo”ti.
On one occasion a number of monks were traveling from Sāketa to Sāvatthī. While on their way, they were attacked by gangsters. Some of the monks were robbed and some were killed.
The king’s men came out from Sāvatthī. They caught some of the criminals, while others escaped. Those who escaped went forth with the monks, but those who were caught were taken away for execution. Those who had gone forth saw the others being taken away for execution. They said, “It’s good that we escaped. Had we been caught, we would’ve been executed, too.”
The monks asked, “But what have you done?” They told the monks what had happened, and the monks told the Buddha.
“Those monks were perfected ones.
A murderer of a perfected one shouldn’t be given the full ordination. If it has been given, he should be expelled.”
114. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ-kheo đang trên đường dài từ Sāketa đến Sāvatthī. Dọc đường, bọn cướp xông ra, cướp bóc một số vị tỳ-kheo, và giết hại một số vị tỳ-kheo. Quân lính của vua từ Sāvatthī đi ra, bắt giữ một số tên cướp, một số tên cướp khác thì bỏ chạy. Những kẻ bỏ chạy đã xuất gia trong hàng tỳ-kheo, còn những kẻ bị bắt thì bị dẫn đi hành quyết. Những kẻ đã bỏ chạy và xuất gia ấy thấy những tên cướp kia đang bị dẫn đi hành quyết, thấy vậy họ nói rằng: “May thay chúng ta đã bỏ chạy, nếu chúng ta bị bắt, chúng ta cũng sẽ bị giết như thế này.” Các vị tỳ-kheo hỏi rằng: “Này các hiền giả, các vị đã làm gì vậy?” Bấy giờ, những người xuất gia ấy đã trình bày sự việc ấy cho các vị tỳ-kheo. Các vị tỳ-kheo đã trình bạch sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ-kheo, những vị tỳ-kheo ấy là các vị A-la-hán. Này các tỳ-kheo, kẻ giết A-la-hán là người chưa thọ cụ túc giới, không được cho thọ cụ túc giới; nếu đã thọ cụ túc giới thì phải bị trục xuất.”
53. Câu chuyện về kẻ làm hại tỳ-kheo-ni
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhuniyo sāketā sāvatthiṁ addhānamaggappaṭipannā honti. Antarāmagge corā nikkhamitvā ekaccā bhikkhuniyo acchindiṁsu, ekaccā bhikkhuniyo dūsesuṁ.
Sāvatthiyā rājabhaṭā nikkhamitvā ekacce core aggahesuṁ, ekacce corā palāyiṁsu. Ye te palāyiṁsu, te bhikkhūsu pabbajiṁsu. Ye te gahitā, te vadhāya oniyyanti. Addasaṁsu kho te palāyitvā pabbajitā te core vadhāya oniyyamāne, disvāna evamāhaṁsu—“sādhu kho mayaṁ palāyimhā, sacā ca mayaṁ gayheyyāma, mayampi evameva haññeyyāmā”ti.
Bhikkhū evamāhaṁsu—“kiṁ pana tumhe, āvuso, akatthā”ti. Atha kho te pabbajitā bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesuṁ. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Bhikkhunidūsako, bhikkhave, anupasampanno na upasampādetabbo, upasampanno nāsetabboti.
Saṅghabhedako, bhikkhave, anupasampanno na upasampādetabbo, upasampanno nāsetabboti.
Lohituppādako, bhikkhave, anupasampanno na upasampādetabbo, upasampanno nāsetabbo”ti.
On one occasion a number of nuns were traveling from Sāketa to Sāvatthī. While on their way, they were attacked by gangsters. Some of the nuns were robbed and some were raped.
The king’s men came out from Sāvatthī. They caught some of the criminals, while others escaped. Those who escaped went forth with the monks, but those who were caught were taken away for execution. Those who had gone forth saw the others being taken away for execution. They said, “It’s good that we escaped. Had we been caught, we would’ve been executed, too.”
The monks asked, “But what have you done?” They told the monks what had happened, and the monks told the Buddha.
“One who has raped a nun shouldn’t be given the full ordination. If it has been given, he should be expelled.
One who has caused a schism in the Sangha shouldn’t be given the full ordination. If it has been given, he should be expelled.
One who has caused the Buddha to bleed shouldn’t be given the full ordination. If it has been given, he should be expelled.”
115. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ-kheo-ni đang trên đường dài từ Sāketa đến Sāvatthī. Dọc đường, bọn cướp xông ra, cướp bóc một số vị tỳ-kheo-ni, và làm hại một số vị tỳ-kheo-ni. Quân lính của vua từ Sāvatthī đi ra, bắt giữ một số tên cướp, một số tên cướp khác thì bỏ chạy. Những kẻ bỏ chạy đã xuất gia trong hàng tỳ-kheo. Còn những kẻ bị bắt thì bị dẫn đi hành quyết. Những kẻ đã bỏ chạy và xuất gia ấy thấy những tên cướp kia đang bị dẫn đi hành quyết, thấy vậy họ nói rằng: “May thay chúng ta đã bỏ chạy, nếu chúng ta bị bắt, chúng ta cũng sẽ bị giết như thế này.” Các vị tỳ-kheo hỏi rằng: “Này các hiền giả, các vị đã làm gì vậy?” Bấy giờ, những người xuất gia ấy đã trình bày sự việc ấy cho các vị tỳ-kheo. Các vị tỳ-kheo đã trình bạch sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ-kheo, kẻ làm hại tỳ-kheo-ni là người chưa thọ cụ túc giới, không được cho thọ cụ túc giới; nếu đã thọ cụ túc giới thì phải bị trục xuất. Này các tỳ-kheo, kẻ phá hòa hợp Tăng là người chưa thọ cụ túc giới, không được cho thọ cụ túc giới; nếu đã thọ cụ túc giới thì phải bị trục xuất. Này các tỳ-kheo, kẻ làm thân Phật chảy máu là người chưa thọ cụ túc giới, không được cho thọ cụ túc giới; nếu đã thọ cụ túc giới thì phải bị trục xuất.”
54. Câu chuyện về người có hai tướng
Tena kho pana samayena aññataro ubhatobyañjanako bhikkhūsu pabbajito hoti. So karotipi kārāpetipi. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Ubhatobyañjanako, bhikkhave, anupasampanno na upasampādetabbo, upasampanno nāsetabbo”ti.
At one time a gynandromorph had gone forth as a monk. He had sex and made others have it. They told the Buddha.
“A gynandromorph shouldn’t be given the full ordination. If it has been given, he should be expelled.”
116. Vào lúc bấy giờ, có một người có hai tướng đã xuất gia trong hàng tỳ-kheo. Người ấy vừa thực hiện (hành vi của nam giới) vừa để cho người khác thực hiện (hành vi đối với mình). (Các vị tỳ-kheo) đã trình bạch sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ-kheo, người có hai tướng là người chưa thọ cụ túc giới, không được cho thọ cụ túc giới; nếu đã thọ cụ túc giới thì phải bị trục xuất.”
55. Các câu chuyện về người không có thầy tế độ, v.v...
Tena kho pana samayena bhikkhū anupajjhāyakaṁ upasampādenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, anupajjhāyako upasampādetabbo. Yo upasampādeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks gave the full ordination to someone without a preceptor. They told the Buddha.
“You shouldn’t give the full ordination to someone without a preceptor. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
117. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu làm lễ cụ túc cho người không có thầy tế độ. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) – Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc cho người không có thầy tế độ. Vị nào làm lễ cụ túc thì phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū saṅghena upajjhāyena upasampādenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, saṅghena upajjhāyena upasampādetabbo. Yo upasampādeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks gave the full ordination to someone with the Sangha as preceptor. They told the Buddha.
“You shouldn’t give the full ordination with the Sangha as preceptor. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu làm lễ cụ túc với vị thầy tế độ là Tăng chúng. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) – Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc với vị thầy tế độ là Tăng chúng. Vị nào làm lễ cụ túc thì phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū gaṇena upajjhāyena upasampādenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, gaṇena upajjhāyena upasampādetabbo. Yo upasampādeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks gave the full ordination to someone with a group as preceptor. They told the Buddha.
“You shouldn’t give the full ordination with a group as preceptor. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu làm lễ cụ túc với vị thầy tế độ là một nhóm. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) – Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc với vị thầy tế độ là một nhóm. Vị nào làm lễ cụ túc thì phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū paṇḍakupajjhāyena upasampādenti …pe… theyyasaṁvāsakupajjhāyena upasampādenti …pe… titthiyapakkantakupajjhāyena upasampādenti …pe… tiracchānagatupajjhāyena upasampādenti …pe… mātughātakupajjhāyena upasampādenti …pe… pitughātakupajjhāyena upasampādenti …pe… arahantaghātakupajjhāyena upasampādenti …pe… bhikkhunidūsakupajjhāyena upasampādenti …pe… saṅghabhedakupajjhāyena upasampādenti …pe… lohituppādakupajjhāyena upasampādenti …pe… ubhatobyañjanakupajjhāyena upasampādenti bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, paṇḍakupajjhāyena upasampādetabbo …pe… na, bhikkhave, theyyasaṁvāsakupajjhāyena upasampādetabbo …pe… na, bhikkhave, titthiyapakkantakupajjhāyena upasampādetabbo …pe… na, bhikkhave, tiracchānagatupajjhāyena upasampādetabbo …pe… na, bhikkhave, mātughātakupajjhāyena upasampādetabbo …pe… na, bhikkhave, pitughātakupajjhāyena upasampādetabbo …pe… na, bhikkhave, arahantaghātakupajjhāyena upasampādetabbo …pe… na, bhikkhave, bhikkhunidūsakupajjhāyena upasampādetabbo …pe… na, bhikkhave, saṅghabhedakupajjhāyena upasampādetabbo …pe… na, bhikkhave, lohituppādakupajjhāyena upasampādetabbo …pe… na, bhikkhave, ubhatobyañjanakupajjhāyena upasampādetabbo. Yo upasampādeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks gave the full ordination with a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> as preceptor … with a fake monk as preceptor … with one who has previously left to join the monastics of another religion as preceptor … with an animal as preceptor … with a matricide as preceptor … with a patricide as preceptor … with a murderer of a perfected one as preceptor … with one who had raped a nun as preceptor … with one who had caused a schism in the Sangha as preceptor … with one who had caused the Buddha to bleed as preceptor … with a gynandromorph as preceptor. They told the Buddha.
“You shouldn’t give the full ordination with a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i> as preceptor, with a fake monk as preceptor, with one who has previously left to join the monastics of another religion as preceptor, with an animal as preceptor, with a matricide as preceptor, with a patricide as preceptor, with a murderer of a perfected one as preceptor, with one who has raped a nun as preceptor, with one who has caused a schism in the Sangha as preceptor, with one who has caused the Buddha to bleed as preceptor, or with a gynandromorph as preceptor. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu làm lễ cụ túc với vị thầy tế độ là người ái nam ái nữ ... (tương tự) ... với vị thầy tế độ là người sống chung lén lút ... với vị thầy tế độ là người đã theo ngoại đạo ... với vị thầy tế độ là loài thú ... với vị thầy tế độ là người giết mẹ ... với vị thầy tế độ là người giết cha ... với vị thầy tế độ là người giết A-la-hán ... với vị thầy tế độ là người làm hại tỳ khưu ni ... với vị thầy tế độ là người gây chia rẽ Tăng ... với vị thầy tế độ là người làm chảy máu (Như Lai) ... với vị thầy tế độ là người có hai bộ phận sinh dục. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) – Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc với vị thầy tế độ là người ái nam ái nữ ... (tương tự) ... Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc với vị thầy tế độ là người sống chung lén lút ... Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc với vị thầy tế độ là người đã theo ngoại đạo ... Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc với vị thầy tế độ là loài thú ... Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc với vị thầy tế độ là người giết mẹ ... Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc với vị thầy tế độ là người giết cha ... Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc với vị thầy tế độ là người giết A-la-hán ... Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc với vị thầy tế độ là người làm hại tỳ khưu ni ... Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc với vị thầy tế độ là người gây chia rẽ Tăng ... Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc với vị thầy tế độ là người làm chảy máu (Như Lai) ... Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc với vị thầy tế độ là người có hai bộ phận sinh dục. Vị nào làm lễ cụ túc thì phạm tội tác ác.
56. Câu chuyện về người không có bát, v.v.
Tena kho pana samayena bhikkhū apattakaṁ upasampādenti. Hatthesu piṇḍāya caranti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi titthiyā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, apattako upasampādetabbo. Yo upasampādeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks gave the full ordination to someone without an almsbowl. When walking for alms, he received it in his hands. People complained and criticized him, “He’s just like the monastics of other religions.” They told the Buddha.
“You shouldn’t give the full ordination to someone without an almsbowl. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
118. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu làm lễ cụ túc cho người không có bát. (Các vị ấy) đi khất thực bằng tay. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – Giống như các người theo ngoại đạo. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) – Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc cho người không có bát. Vị nào làm lễ cụ túc thì phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū acīvarakaṁ upasampādenti. Naggā piṇḍāya caranti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi titthiyā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, acīvarako upasampādetabbo. Yo upasampādeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks gave the full ordination to someone without robes. He walked naked for alms. People complained and criticized him, “He’s just like the monastics of other religions.” They told the Buddha.
“You shouldn’t give the full ordination to someone without robes. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu làm lễ cụ túc cho người không có y. (Các vị ấy) đi khất thực trong tình trạng lõa thể. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – Giống như các người theo ngoại đạo. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) – Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc cho người không có y. Vị nào làm lễ cụ túc thì phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū apattacīvarakaṁ upasampādenti. Naggā hatthesu piṇḍāya caranti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi titthiyā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, apattacīvarako upasampādetabbo. Yo upasampādeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks gave the full ordination to someone with neither almsbowl nor robes. He walked naked for alms and received it in his hands. People complained and criticized him, “He’s just like the monastics of other religions.” They told the Buddha.
“You shouldn’t give the full ordination to someone with neither almsbowl nor robes. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu làm lễ cụ túc cho người không có bát và y. (Các vị ấy) đi khất thực bằng tay trong tình trạng lõa thể. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – Giống như các người theo ngoại đạo. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) – Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc cho người không có bát và y. Vị nào làm lễ cụ túc thì phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū yācitakena pattena upasampādenti. Upasampanne pattaṁ paṭiharanti. Hatthesu piṇḍāya caranti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi titthiyā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, yācitakena pattena upasampādetabbo. Yo upasampādeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks gave the full ordination to someone with a borrowed almsbowl. When he had been ordained, they took back the bowl. Then, when walking for alms, he received it in his hands. People complained and criticized him, “He’s just like the monastics of other religions.” They told the Buddha.
“You shouldn’t give the full ordination to someone with a borrowed almsbowl. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu làm lễ cụ túc với cái bát đi mượn. Sau khi được tu lên bậc trên, (chủ bát) đã lấy lại cái bát. (Các vị ấy) đi khất thực bằng tay. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – Giống như các người theo ngoại đạo. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) – Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc với cái bát đi mượn. Vị nào làm lễ cụ túc thì phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū yācitakena cīvarena upasampādenti. Upasampanne cīvaraṁ paṭiharanti. Naggā piṇḍāya caranti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi titthiyā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, yācitakena cīvarena upasampādetabbo. Yo upasampādeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks gave the full ordination to someone with borrowed robes. When he had been ordained, they took back the robes. He then walked naked for alms. People complained and criticized him, “He’s just like the monastics of other religions.” They told the Buddha.
“You shouldn’t give the full ordination to someone with borrowed robes. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu làm lễ cụ túc với bộ y đi mượn. Sau khi được tu lên bậc trên, (chủ y) đã lấy lại bộ y. (Các vị ấy) đi khất thực trong tình trạng lõa thể. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – Giống như các người theo ngoại đạo. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) – Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc với bộ y đi mượn. Vị nào làm lễ cụ túc thì phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū yācitakena pattacīvarena upasampādenti. Upasampanne pattacīvaraṁ paṭiharanti. Naggā hatthesu piṇḍāya caranti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi titthiyā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, yācitakena pattacīvarena upasampādetabbo. Yo upasampādeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks gave the full ordination to someone with a borrowed almsbowl and borrowed robes. When he had been ordained, they took back the bowl and the robes. He then walked naked for alms and received it in his hands. People complained and criticized him, “He’s just like the monastics of other religions.” They told the Buddha.
“You shouldn’t give the full ordination to someone with a borrowed almsbowl and borrowed robes. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu làm lễ cụ túc với bát và y đi mượn. Sau khi được tu lên bậc trên, (chủ nhân) đã lấy lại bát và y. (Các vị ấy) đi khất thực bằng tay trong tình trạng lõa thể. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – Giống như các người theo ngoại đạo. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) – Này các tỳ khưu, không được làm lễ cụ túc với bát và y đi mượn. Vị nào làm lễ cụ túc thì phạm tội tác ác.
Naupasampādetabbekavīsativāro niṭṭhito.
The section consisting of twenty-one cases when the full ordination is not to be given is finished.
Dứt hai mươi mốt trường hợp không được làm lễ cụ túc.
57. Ba mươi hai trường hợp không được cho xuất gia.
Tena kho pana samayena bhikkhū hatthacchinnaṁ pabbājenti …pe… pādacchinnaṁ pabbājenti …pe… hatthapādacchinnaṁ pabbājenti …pe… kaṇṇacchinnaṁ pabbājenti …pe… nāsacchinnaṁ pabbājenti …pe… kaṇṇanāsacchinnaṁ pabbājenti …pe… aṅgulicchinnaṁ pabbājenti …pe… aḷacchinnaṁ pabbājenti …pe… kaṇḍaracchinnaṁ pabbājenti …pe… phaṇahatthakaṁ pabbājenti …pe… khujjaṁ pabbājenti …pe… vāmanaṁ pabbājenti …pe… galagaṇḍiṁ pabbājenti …pe… lakkhaṇāhataṁ pabbājenti …pe… kasāhataṁ pabbājenti …pe… likhitakaṁ pabbājenti …pe… sīpadiṁ pabbājenti …pe… pāparogiṁ pabbājenti …pe… parisadūsakaṁ pabbājenti …pe… kāṇaṁ pabbājenti …pe… kuṇiṁ pabbājenti …pe… khañjaṁ pabbājenti …pe… pakkhahataṁ pabbājenti …pe… chinniriyāpathaṁ pabbājenti …pe… jarādubbalaṁ pabbājenti …pe… andhaṁ pabbājenti …pe… mūgaṁ pabbājenti …pe… badhiraṁ pabbājenti …pe… andhamūgaṁ pabbājenti …pe… andhabadhiraṁ pabbājenti …pe… mūgabadhiraṁ pabbājenti …pe… andhamūgabadhiraṁ pabbājenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“na, bhikkhave, hatthacchinno pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, pādacchinno pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, hatthapādacchinno pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, kaṇṇacchinno pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, nāsacchinno pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, kaṇṇanāsacchinno pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, aṅgulicchinno pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, aḷacchinno pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, kaṇḍaracchinno pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, phaṇahatthako pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, khujjo pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, vāmano pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, galagaṇḍī pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, lakkhaṇāhato pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, kasāhato pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, likhitako pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, sīpadī pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, pāparogī pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, parisadūsako pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, kāṇo pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, kuṇī pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, khañjo pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, pakkhahato pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, chinniriyāpatho pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, jarādubbalo pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, andho pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, mūgo pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, badhiro pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, andhamūgo pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, andhabadhiro pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, mūgabadhiro pabbājetabbo …pe… na, bhikkhave, andhamūgabadhiro pabbājetabbo. Yo pabbājeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks gave the going forth to someone without a hand … to someone without a foot … to someone without a hand and foot … to someone without an ear … to someone without a nose … to someone without an ear and nose … to someone without a finger or toe … to someone with a cut tendon … to someone with joined fingers … to a hunchback … to a dwarf … to someone with goiter … to someone who had been branded … to someone who had been whipped … to a wanted criminal … to someone with elephantiasis … to someone with a serious sickness … to someone with abnormal appearance … to someone blind in one eye … to someone with a crooked limb … to someone lame … to someone paralyzed on one side … to someone crippled … to someone weak from old age … to someone blind … to a mute … to someone deaf … to someone blind and mute … to someone blind and deaf … to someone mute and deaf … to someone blind, mute, and deaf. They told the Buddha. …
“You shouldn’t give the going forth to someone without a hand, to someone without a foot, to someone without a hand and foot, to someone without an ear, to someone without a nose, to someone without an ear and nose, to someone without a finger or toe, to someone with a cut tendon, to someone with joined fingers, to a hunchback, to a dwarf, to someone with goiter, to someone who has been branded, to someone who has been whipped, to a wanted criminal, to someone with elephantiasis, to someone with a serious sickness, to someone with abnormal appearance, to someone blind in one eye, to someone with a crooked limb, to someone lame, to someone paralyzed on one side, to someone crippled, to someone weak from old age, to someone blind, to a mute, to someone deaf, to someone blind and mute, to someone blind and deaf, to someone mute and deaf, or to someone blind, mute, and deaf. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
119. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu cho xuất gia người bị cụt tay, ...(v.v)... người bị cụt chân, ...(v.v)... người bị cụt cả tay lẫn chân, ...(v.v)... người bị xẻo tai, ...(v.v)... người bị xẻo mũi, ...(v.v)... người bị xẻo cả tai lẫn mũi, ...(v.v)... người bị cụt ngón tay, ...(v.v)... người bị cụt ngón tay cái, ...(v.v)... người bị đứt gân, ...(v.v)... người có bàn tay như rắn hổ mang, ...(v.v)... người gù, ...(v.v)... người lùn, ...(v.v)... người có bướu cổ, ...(v.v)... người bị đóng dấu, ...(v.v)... người bị đánh bằng roi, ...(v.v)... người bị ghi dấu, ...(v.v)... người bị bệnh chân voi, ...(v.v)... người có bệnh hiểm nghèo, ...(v.v)... người làm ô uế hội chúng, ...(v.v)... người chột mắt, ...(v.v)... người có tay co quắp, ...(v.v)... người thọt, ...(v.v)... người bị liệt nửa người, ...(v.v)... người có dáng điệu bị hủy hoại, ...(v.v)... người già yếu, ...(v.v)... người mù, ...(v.v)... người câm, ...(v.v)... người điếc, ...(v.v)... người vừa mù vừa câm, ...(v.v)... người vừa mù vừa điếc, ...(v.v)... người vừa câm vừa điếc, ...(v.v)... người vừa mù vừa câm vừa điếc. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(v.v)... (Đức Thế Tôn phán:) – Này các tỳ khưu, không được cho xuất gia người bị cụt tay, ...(v.v)... không được cho xuất gia người bị cụt chân, ...(v.v)... không được cho xuất gia người bị cụt cả tay lẫn chân, ...(v.v)... không được cho xuất gia người bị xẻo tai, ...(v.v)... không được cho xuất gia người bị xẻo mũi, ...(v.v)... không được cho xuất gia người bị xẻo cả tai lẫn mũi, ...(v.v)... không được cho xuất gia người bị cụt ngón tay, ...(v.v)... không được cho xuất gia người bị cụt ngón tay cái, ...(v.v)... không được cho xuất gia người bị đứt gân, ...(v.v)... không được cho xuất gia người có bàn tay như rắn hổ mang, ...(v.v)... không được cho xuất gia người gù, ...(v.v)... không được cho xuất gia người lùn, ...(v.v)... không được cho xuất gia người có bướu cổ, ...(v.v)... không được cho xuất gia người bị đóng dấu, ...(v.v)... không được cho xuất gia người bị đánh bằng roi, ...(v.v)... không được cho xuất gia người bị ghi dấu, ...(v.v)... không được cho xuất gia người bị bệnh chân voi, ...(v.v)... không được cho xuất gia người có bệnh hiểm nghèo, ...(v.v)... không được cho xuất gia người làm ô uế hội chúng, ...(v.v)... không được cho xuất gia người chột mắt, ...(v.v)... không được cho xuất gia người có tay co quắp, ...(v.v)... không được cho xuất gia người thọt, ...(v.v)... không được cho xuất gia người bị liệt nửa người, ...(v.v)... không được cho xuất gia người có dáng điệu bị hủy hoại, ...(v.v)... không được cho xuất gia người già yếu, ...(v.v)... không được cho xuất gia người mù, ...(v.v)... không được cho xuất gia người câm, ...(v.v)... không được cho xuất gia người điếc, ...(v.v)... không được cho xuất gia người vừa mù vừa câm, ...(v.v)... không được cho xuất gia người vừa mù vừa điếc, ...(v.v)... không được cho xuất gia người vừa câm vừa điếc, ...(v.v)... này các tỳ khưu, không được cho xuất gia người vừa mù vừa câm vừa điếc. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội tác ác.
Napabbājetabbadvattiṁsavāro niṭṭhito.
The section consisting of thirty-two cases when the going forth is not to be given is finished.
Phần về ba mươi hai hạng người không được cho xuất gia đã kết thúc.
Dāyajjabhāṇavāro niṭṭhito navamo.
The ninth section for recitation on inheritance is finished.
Phần Tụng Về Tài Sản Thừa Kế, chương thứ chín, đã kết thúc.
58. Các câu chuyện về sự nương tựa hạng vô liêm sỉ.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū alajjīnaṁ nissayaṁ denti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, alajjīnaṁ nissayo dātabbo. Yo dadeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six gave formal support to shameless monks. They told the Buddha.
“You shouldn’t give formal support to shameless monks. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
120. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu cho các vị vô liêm sỉ nương tựa. (Người ta) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) – Này các tỳ khưu, không được cho các vị vô liêm sỉ nương tựa. Vị nào cho nương tựa thì phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū alajjīnaṁ nissāya vasanti. Tepi nacirasseva alajjino honti pāpakā. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, alajjīnaṁ nissāya vatthabbaṁ. Yo vaseyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time monks lived with formal support from shameless monks. Soon they too became shameless and bad. They told the Buddha.
“You shouldn’t live with formal support from shameless monks. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sống nương tựa vào các vị vô liêm sỉ. Không bao lâu sau, chính các vị ấy cũng trở thành các tỳ khưu xấu xa, vô liêm sỉ. (Người ta) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) – Này các tỳ khưu, không được sống nương tựa vào các vị vô liêm sỉ. Vị nào sống (như thế) thì phạm tội tác ác.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘na alajjīnaṁ nissayo dātabbo, na alajjīnaṁ nissāya vatthabban’ti. Kathaṁ nu kho mayaṁ jāneyyāma lajjiṁ vā alajjiṁ vā”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, catūhapañcāhaṁ āgametuṁ yāva bhikkhusabhāgataṁ jānāmī”ti.
The monks thought, “The Buddha has laid down a rule that one should neither give formal support to shameless monks nor live with formal support from them. But how do we know who is shameless and who is not?” They told the Buddha.
“I allow you to wait for four or five days to find out if he is keeping the same standard as the monks.”
Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi lên suy nghĩ rằng: – ‘Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không được cho các vị vô liêm sỉ nương tựa, không được sống nương tựa vào các vị vô liêm sỉ.’ Vậy làm thế nào chúng ta có thể biết được ai là người có liêm sỉ, ai là người vô liêm sỉ?’ Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) – Này các tỳ khưu, Ta cho phép chờ đợi bốn hoặc năm ngày cho đến khi biết được tư cách tương đồng của một tỳ khưu.
59. Các câu chuyện về sự nương tựa của vị đi đường và các trường hợp khác.
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu kosalesu janapade addhānamaggappaṭipanno hoti. Atha kho tassa bhikkhuno etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘na anissitena vatthabban’ti. Ahañcamhi nissayakaraṇīyo addhānamaggappaṭipanno, kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, addhānamaggappaṭipannena bhikkhunā nissayaṁ alabhamānena anissitena vatthun”ti.
On one occasion a certain monk was traveling through the Kosalan country. He thought, “The Buddha has laid down a rule that a monk like me shouldn’t live without formal support. But I’m traveling. So what should I do?” They told the Buddha.
“If you are traveling and unable to obtain formal support, I allow you to live without.”
121. Vào lúc bấy giờ, có một tỳ khưu đang đi trên một đoạn đường dài ở xứ Kosala. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi lên suy nghĩ rằng: – ‘Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không được sống mà không có sự nương tựa.’ Còn ta đây là người cần phải có sự nương tựa lại đang đi trên một đoạn đường dài. Ta nên thực hành như thế nào đây?’ (Người ta) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) – Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu đang đi trên một đoạn đường dài, trong khi không tìm được sự nương tựa, được sống không có sự nương tựa.
Tena kho pana samayena dve bhikkhū kosalesu janapade addhānamaggappaṭipannā honti. Te aññataraṁ āvāsaṁ upagacchiṁsu. Tattha eko bhikkhu gilāno hoti. Atha kho tassa gilānassa bhikkhuno etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘na anissitena vatthabban’ti. Ahañcamhi nissayakaraṇīyo gilāno, kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gilānena bhikkhunā nissayaṁ alabhamānena anissitena vatthun”ti.
On one occasion two monks were traveling through the country of Kosala, when they arrived at a certain monastery. Just then one of them got sick. He thought, “The Buddha has laid down a rule that a monk like me shouldn’t live without formal support. But I’m sick. So what should I do?” They told the Buddha.
“If you are sick and unable to obtain formal support, I allow you to live without.”
Vào lúc bấy giờ, có hai vị tỳ khưu đang đi trên một đoạn đường dài ở xứ Kosala. Các vị ấy đã đi đến một trú xứ nọ. Ở đấy, một vị tỳ khưu bị bệnh. Khi ấy, vị tỳ khưu bị bệnh ấy đã khởi lên suy nghĩ rằng: – ‘Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không được sống mà không có sự nương tựa.’ Còn ta đây là người cần phải có sự nương tựa lại đang bị bệnh. Ta nên thực hành như thế nào đây?’ (Người ta) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) – Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu bị bệnh, trong khi không tìm được sự nương tựa, được sống không có sự nương tựa.
Atha kho tassa gilānupaṭṭhākassa bhikkhuno etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘na anissitena vatthabban’ti. Ahañcamhi nissayakaraṇīyo, ayañca bhikkhu gilāno, kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gilānupaṭṭhākena bhikkhunā nissayaṁ alabhamānena yāciyamānena anissitena vatthun”ti.
Then the monk who was nursing him thought, “The Buddha has laid down a rule that a monk like me shouldn’t live without formal support. But this monk is sick. So what should I do?” They told the Buddha.
“If you have been asked to nurse someone who is sick and you are unable to obtain formal support, I allow you to live without.”
Bấy giờ, vị tỳ khưu chăm sóc bệnh nhân khởi lên suy nghĩ: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không được sống không nương tựa.’ Ta đây là người cần phải thọ y chỉ, và vị tỳ khưu này lại đang bị bệnh, ta nên thực hành như thế nào đây?” (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu chăm sóc bệnh nhân, khi không tìm được thầy y chỉ, nếu được (vị bệnh nhân) thỉnh cầu, được sống không nương tựa.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu araññe viharati. Tassa ca tasmiṁ senāsane phāsu hoti. Atha kho tassa bhikkhuno etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘na anissitena vatthabban’ti. Ahañcamhi nissayakaraṇīyo araññe viharāmi, mayhañca imasmiṁ senāsane phāsu hoti, kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, āraññikena bhikkhunā phāsuvihāraṁ sallakkhentena nissayaṁ alabhamānena anissitena vatthuṁ—yadā patirūpo nissayadāyako āgacchissati, tadā tassa nissāya vasissāmī”ti.
At one time there was a certain monk who was staying in the wilderness. He was enjoying his dwelling. He thought, “The Buddha has laid down a rule that a monk like me shouldn’t live without formal support. Yet I’m enjoying my dwelling in the wilderness. So what should I do?” They told the Buddha.
“If you notice that you are enjoying your stay in the wilderness, but unable to obtain formal support, I allow you to live without. When a suitable support-giver comes, you should live with formal support from him.”
Vào lúc bấy giờ, có một tỳ khưu nọ sống ở trong rừng. Vị ấy cảm thấy thoải mái tại trú xứ ấy. Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy khởi lên suy nghĩ: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không được sống không nương tựa.’ Ta đây là người cần phải thọ y chỉ và đang sống trong rừng, và ta lại cảm thấy thoải mái tại trú xứ này, ta nên thực hành như thế nào đây?” (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu sống trong rừng, khi nhận thấy trú xứ là thoải mái và không tìm được thầy y chỉ, được sống không nương tựa, (với suy nghĩ rằng:) ‘Khi nào có vị thầy ban y chỉ thích hợp đến, khi ấy ta sẽ nương tựa vị ấy mà sống.’”
60. Sự cho phép tuyên đọc (yết-ma) theo dòng họ.
Tena kho pana samayena āyasmato mahākassapassa upasampadāpekkho hoti. Atha kho āyasmā mahākassapo āyasmato ānandassa santike dūtaṁ pāhesi—“āgacchatu ānando imaṁ anussāvessatū”ti. Āyasmā ānando evamāha—“nāhaṁ ussahāmi therassa nāmaṁ gahetuṁ, garu me thero”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gottenapi anussāvetun”ti.
At one time a certain person wanted the full ordination with Venerable Mahākassapa. Mahākassapa sent a message to Venerable Ānanda: “Please come, Ānanda, and do the proclamation.” Ānanda thought, “Because I respect the elder so much, I can’t say his name.” They told the Buddha.
“I allow you to do the proclamation also using the family name.”
122. Vào lúc bấy giờ, Tôn giả Mahākassapa có một người cầu xin thọ cụ túc giới. Bấy giờ, Tôn giả Mahākassapa phái một sứ giả đến chỗ Tôn giả Ānanda, (nhắn rằng:) “Mong Ānanda hãy đến, hãy tuyên đọc (yết-ma) cho người này.” Tôn giả Ānanda nói như vầy: “Tôi không dám gọi tên của vị trưởng lão, vị trưởng lão là bậc đáng kính của tôi.” (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép tuyên đọc (yết-ma) theo dòng họ.”
61. Câu chuyện về hai người cầu thọ cụ túc giới, v.v.
Tena kho pana samayena āyasmato mahākassapassa dve upasampadāpekkhā honti. Te vivadanti—“ahaṁ paṭhamaṁ upasampajjissāmi, ahaṁ paṭhamaṁ upasampajjissāmī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, dve ekānussāvane kātun”ti.
At one time there were two people who wanted the full ordination with Venerable Mahākassapa. They argued about who should be ordained first. They told the Buddha.
“I allow you to give the full ordination to two people with a single proclamation.”
123. Vào lúc bấy giờ, Tôn giả Mahākassapa có hai người cầu xin thọ cụ túc giới. Họ tranh cãi với nhau: “Tôi sẽ thọ giới trước, tôi sẽ thọ giới trước.” (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép thực hiện (việc truyền giới) cho hai người trong một lần tuyên đọc.”
Tena kho pana samayena sambahulānaṁ therānaṁ upasampadāpekkhā honti. Te vivadanti—“ahaṁ paṭhamaṁ upasampajjissāmi, ahaṁ paṭhamaṁ upasampajjissāmī”ti. Therā evamāhaṁsu—“handa mayaṁ, āvuso, sabbeva ekānussāvane karomā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, dve tayo ekānussāvane kātuṁ, tañca kho ekena upajjhāyena, na tveva nānupajjhāyenā”ti.
At one time there were a number of people who wanted the full ordination with several senior monks. They argued with one another about who should be ordained first. The senior monks said, “Well then, let’s ordain all of them with a single proclamation.” They told the Buddha.
“I allow you to give the full ordination to two or three people with a single proclamation, but only with a single preceptor, not with many.”
Vào lúc bấy giờ, nhiều vị trưởng lão có những người cầu xin thọ cụ túc giới. Họ tranh cãi với nhau: “Tôi sẽ thọ giới trước, tôi sẽ thọ giới trước.” Các vị trưởng lão nói như vầy: “Này chư hiền, nào, chúng ta hãy thực hiện (việc truyền giới) cho tất cả các vị trong một lần tuyên đọc.” (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép thực hiện (việc truyền giới) cho hai hoặc ba người trong một lần tuyên đọc, và việc ấy phải được thực hiện với cùng một vị thầy tế độ, chứ không phải với các vị thầy tế độ khác nhau.”
62. Sự cho phép thọ cụ túc giới cho người hai mươi tuổi tính cả tuổi trong thai.
Tena kho pana samayena āyasmā kumārakassapo gabbhavīso upasampanno ahosi. Atha kho āyasmato kumārakassapassa etadahosi—“bhagavatā paññattaṁ—‘na ūnavīsativasso puggalo upasampādetabbo’ti. Ahañcamhi gabbhavīso upasampanno. Upasampanno nu khomhi, nanu kho upasampanno”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
Yaṁ, bhikkhave, mātukucchismiṁ paṭhamaṁ cittaṁ uppannaṁ, paṭhamaṁ viññāṇaṁ pātubhūtaṁ, tadupādāya sāvassa jāti. “Anujānāmi, bhikkhave, gabbhavīsaṁ upasampādetun”ti.
At that time Venerable Kumārakassapa had been given the full ordination twenty years after he appeared in the womb. He thought, “The Buddha has laid down a rule that a person less than twenty years old shouldn’t be given the full ordination. I was ordained twenty years after appearing in the womb. I wonder, have I been ordained or not?” They told the Buddha.
“When the mind first appears in the mother’s womb, when the consciousness first manifests, that’s a person’s birth. I allow you to give the full ordination to someone who is twenty years old since appearing in the womb.”
124. Vào lúc bấy giờ, Tôn giả Kumārakassapa đã thọ cụ túc giới khi được hai mươi tuổi tính cả tuổi trong thai. Bấy giờ, Tôn giả Kumārakassapa khởi lên suy nghĩ: “Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không được truyền cụ túc giới cho người chưa đủ hai mươi tuổi.’ Ta đây đã thọ cụ túc giới khi được hai mươi tuổi tính cả tuổi trong thai. Vậy ta có phải là người đã thọ cụ túc giới hay không phải là người đã thọ cụ túc giới?” (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, tâm đầu tiên khởi lên, thức đầu tiên xuất hiện trong bụng mẹ, sự sinh của người ấy (bắt đầu) từ đó. Này các tỳ khưu, Ta cho phép truyền cụ túc giới cho người được hai mươi tuổi tính cả tuổi trong thai.”
Tena kho pana samayena upasampannā dissanti kuṭṭhikāpi gaṇḍikāpi kilāsikāpi sosikāpi apamārikāpi. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At that time the full ordination had been given to people who had leprosy, abscesses, mild leprosy, tuberculosis, and epilepsy. They told the Buddha.
63. Nghi thức truyền cụ túc giới.
“Anujānāmi, bhikkhave, upasampādentena terasa antarāyike dhamme pucchituṁ.
Evañca pana, bhikkhave, pucchitabbo—‘santi te evarūpā ābādhā—kuṭṭhaṁ, gaṇḍo, kilāso, soso, apamāro? Manussosi? Purisosi? Bhujissosi? Aṇaṇosi? Nasi rājabhaṭo? Anuññātosi mātāpitūhi? Paripuṇṇavīsativassosi? Paripuṇṇaṁ te pattacīvaraṁ? Kiṁnāmosi? Konāmo te upajjhāyo’”ti?
“The one who is giving the full ordination should ask about thirteen obstacles.
It should be done like this: ‘Do you have any of these diseases: leprosy, abscesses, mild leprosy, tuberculosis, or epilepsy? Are you human? Are you a man? Are you free from slavery? Are you free from debt? Are you employed by the king? Do you have your parents’ permission? Are you twenty years old? Do you have a full set of bowl and robes? What’s your name? What’s the name of your preceptor?’”
125. Vào lúc bấy giờ, người ta thấy có những vị đã thọ cụ túc giới bị bệnh hủi, bệnh ung nhọt, bệnh bạch biến, bệnh lao, bệnh động kinh. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị truyền giới hỏi về mười ba pháp chướng ngại. Và này các tỳ khưu, nên hỏi như vầy: ‘Bạn có những bệnh như vầy không: bệnh hủi, bệnh ung nhọt, bệnh bạch biến, bệnh lao, bệnh động kinh? Bạn có phải là người không? Bạn có phải là nam nhân không? Bạn có phải là người tự do không? Bạn có phải là người không mắc nợ không? Bạn không phải là người phục vụ cho vua chúa chứ? Bạn đã được cha mẹ cho phép chưa? Bạn đã đủ hai mươi tuổi chưa? Y bát của bạn đã đầy đủ chưa? Bạn tên là gì? Thầy tế độ của bạn tên là gì?’”
Tena kho pana samayena bhikkhū ananusiṭṭhe upasampadāpekkhe antarāyike dhamme pucchanti. Upasampadāpekkhā vitthāyanti, maṅkū honti, na sakkonti vissajjetuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, paṭhamaṁ anusāsitvā pacchā antarāyike dhamme pucchitun”ti.
Soon afterwards they asked those seeking the full ordination about the obstacles without first instructing them. They were embarrassed, humiliated, and unable to respond. They told the Buddha.
“You should instruct first and then ask about the obstacles.
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu hỏi những người cầu thọ cụ túc giới chưa được chỉ dạy về các pháp chướng ngại. Những người cầu thọ cụ túc giới cảm thấy bối rối, hổ thẹn, không thể trả lời được. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép hỏi về các pháp chướng ngại sau khi đã chỉ dạy trước.”
Tattheva saṅghamajjhe anusāsanti. Upasampadāpekkhā tatheva vitthāyanti, maṅkū honti, na sakkonti vissajjetuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ekamantaṁ anusāsitvā saṅghamajjhe antarāyike dhamme pucchituṁ.
Evañca pana, bhikkhave, anusāsitabbo—
They instructed them right there in the midst of the Sangha. Once more those seeking the full ordination were embarrassed, humiliated, and unable to respond. They told the Buddha.
“You should instruct them at a distance and then ask about the obstacles in the midst of the Sangha.
And it should be done like this.
(Các tỳ khưu) chỉ dạy ngay giữa Tăng chúng. Những người cầu thọ cụ túc giới cũng giống như vậy, cảm thấy bối rối, hổ thẹn, không thể trả lời được. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép hỏi về các pháp chướng ngại giữa Tăng chúng sau khi đã chỉ dạy ở một nơi riêng biệt. Và này các tỳ khưu, nên chỉ dạy như vầy:”
126. “Trước tiên, nên cho (người cầu thọ giới) nhận thầy tế độ. Sau khi đã cho nhận thầy tế độ, nên chỉ cho y bát: ‘Đây là bát của bạn, đây là y tăng-già-lê, đây là y thượng, đây là y hạ. Hãy đi, hãy đứng ở nơi kia.’”
Bālā abyattā anusāsanti. Duranusiṭṭhā upasampadāpekkhā vitthāyanti, maṅkū honti, na sakkonti vissajjetuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bālena abyattena anusāsitabbo. Yo anusāseyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, byattena bhikkhunā paṭibalena anusāsitun”ti.
Then they were instructed by monks who were ignorant and incompetent. And because they were badly instructed, they were once again embarrassed, humiliated, and unable to respond. They told the Buddha.
“A monk who is ignorant and incompetent shouldn’t instruct. If he does, he commits an offense of wrong conduct. A monk who is competent and capable should instruct.”
Những vị (tỳ khưu) ngu dốt, không khéo léo đã chỉ dạy. Những người cầu thọ cụ túc giới được chỉ dạy không tốt đã cảm thấy bối rối, hổ thẹn, không thể trả lời được. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, không nên để vị (tỳ khưu) ngu dốt, không khéo léo chỉ dạy. Vị nào chỉ dạy (như thế) thì phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu khéo léo, có khả năng được chỉ dạy.”
Asammatā anusāsanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, asammatena anusāsitabbo. Yo anusāseyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, sammatena anusāsituṁ.
Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbo—
They instructed without having been appointed. They told the Buddha.
“A monk shouldn’t instruct if he hasn’t been appointed. If he does, he commits an offense of wrong conduct. I allow a monk to instruct if he’s been appointed to do so.
And it should be done like this.
Các vị chưa được chỉ định đã giáo huấn. (Chư tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các tỳ khưu, vị chưa được chỉ định không nên giáo huấn. Vị nào giáo huấn thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị đã được chỉ định được giáo huấn. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Hoặc tự mình chỉ định cho chính mình, hoặc người khác chỉ định cho người khác.
‘suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmo itthannāmassa āyasmato upasampadāpekkho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ itthannāmaṁ anusāseyyan’ti.
Evaṁ attanāva attānaṁ sammannitabbaṁ.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. If the Sangha is ready, I will instruct so-and-so.’
Và thế nào là tự mình chỉ định cho chính mình? Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết rằng: ‘Kính bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Người có tên như vầy là người cầu xin thọ Cụ túc giới của Đại đức có tên như vầy. Nếu Tăng chúng thấy là hợp thời, con sẽ giáo huấn người có tên như vầy.’ Như vậy là tự mình chỉ định cho chính mình.
Kathañca pana parena paro sammannitabbo? Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmo itthannāmassa āyasmato upasampadāpekkho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, itthannāmo itthannāmaṁ anusāseyyā’ti.
Evaṁ parena paro sammannitabbo.
And how is one appointed through someone else? A competent and capable monk should inform the Sangha:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. If the Sangha is ready, so-and-so will instruct so-and-so.’
Và thế nào là người khác chỉ định cho người khác? Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết rằng: ‘Kính bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Người có tên như vầy là người cầu xin thọ Cụ túc giới của Đại đức có tên như vầy. Nếu Tăng chúng thấy là hợp thời, vị có tên như vầy sẽ giáo huấn người có tên như vầy.’ Như vậy là người khác chỉ định cho người khác.
Tena sammatena bhikkhunā upasampadāpekkho upasaṅkamitvā evamassa vacanīyo—
‘suṇasi, itthannāma, ayaṁ te saccakālo bhūtakālo. Yaṁ jātaṁ taṁ saṅghamajjhe pucchante santaṁ atthīti vattabbaṁ, asantaṁ natthīti vattabbaṁ. Mā kho vitthāyi, mā kho maṅku ahosi. Evaṁ taṁ pucchissanti—santi te evarūpā ābādhā—kuṭṭhaṁ, gaṇḍo, kilāso, soso, apamāro? Manussosi? Purisosi? Bhujissosi? Aṇaṇosi? Nasi rājabhaṭo? Anuññātosi mātāpitūhi? Paripuṇṇavīsativassosi? Paripuṇṇaṁ te pattacīvaraṁ? Kiṁnāmosi? Konāmo te upajjhāyo’”ti?
The appointed monk should go to the one who is seeking the full ordination and say this:
‘Listen, so-and-so. Now is the time for you to tell the truth. You will be asked in the midst of the Sangha about various matters. If something is true, you should say, “Yes,” and if it’s not, you should say, “No.” Don’t be embarrassed or humiliated. This is what they’ll ask you: “Do you have any of these diseases: leprosy, abscesses, mild leprosy, tuberculosis, or epilepsy? Are you human? Are you a man? Are you free from slavery? Are you free from debt? Are you employed by the king? Do you have your parents’ permission? Are you twenty years old? Do you have a full set of bowl and robes? What’s your name? What’s the name of your preceptor?”’”
Vị tỳ khưu đã được chỉ định ấy, sau khi đi đến người cầu xin thọ Cụ túc giới, nên nói với người ấy như vầy: ‘Này người có tên như vầy, hãy nghe đây. Đây là lúc nói sự thật, lúc nói sự việc có thật của ngươi. Khi được hỏi ở giữa Tăng chúng về những việc đã xảy ra, việc có thật thì nên nói là ‘có,’ việc không có thật thì nên nói là ‘không.’ Chớ có do dự, chớ có bối rối. Họ sẽ hỏi ngươi như vầy: ‘Ngươi có những loại bệnh như vầy không: bệnh cùi, ung nhọt, ghẻ lở, lao phổi, động kinh? Ngươi có phải là người không? Ngươi có phải là nam nhân không? Ngươi có phải là người tự do không? Ngươi có phải là người không mắc nợ không? Ngươi không phải là người phục vụ trong hoàng gia chứ? Ngươi đã được cha mẹ cho phép chưa? Ngươi đã đủ hai mươi tuổi chưa? Y bát của ngươi đã đầy đủ chưa? Ngươi tên là gì? Thầy tế độ của ngươi tên là gì?’
Ekato āgacchanti.
“Na, bhikkhave, ekato āgantabbaṁ. Anusāsakena paṭhamataraṁ āgantvā saṅgho ñāpetabbo—
‘suṇātu me, bhante, saṅgho. Itthannāmo itthannāmassa āyasmato upasampadāpekkho. Anusiṭṭho so mayā. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, itthannāmo āgaccheyyā’ti.
‘Āgacchāhī’ti vattabbo.
They then returned to the Sangha together.
The Buddha said, “They shouldn’t return together. The instructor should come first and inform the Sangha:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. He’s been instructed by me. If the Sangha is ready, so-and-so should come.’
And he should be told to come.
(Vị giáo huấn và người cầu xin) đến cùng một lúc. - Này các tỳ khưu, không nên đến cùng một lúc. Vị giáo huấn nên đến trước rồi trình cho Tăng chúng biết rằng: ‘Kính bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Người có tên như vầy là người cầu xin thọ Cụ túc giới của Đại đức có tên như vầy. Người ấy đã được con giáo huấn. Nếu Tăng chúng thấy là hợp thời, người có tên như vầy có thể đến.’ Nên nói rằng: ‘Hãy đến đây.’
‘saṅghaṁ, bhante, upasampadaṁ yācāmi. Ullumpatu maṁ, bhante, saṅgho anukampaṁ upādāya. Dutiyampi, bhante, saṅghaṁ upasampadaṁ yācāmi. Ullumpatu maṁ, bhante, saṅgho anukampaṁ upādāya. Tatiyampi, bhante, saṅghaṁ upasampadaṁ yācāmi. Ullumpatu maṁ, bhante, saṅgho anukampaṁ upādāyā’ti. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Venerables, I ask the Sangha for the full ordination. Please lift me up out of compassion. For the second time, venerables, I ask the Sangha for the full ordination. Please lift me up out of compassion. For the third time, venerables, I ask the Sangha for the full ordination. Please lift me up out of compassion.’ A competent and capable monk should then inform the Sangha:
Nên bảo người ấy vắt thượng y qua một bên vai, đảnh lễ chân của chư tỳ khưu, ngồi chồm hổm, chắp tay, rồi xin thọ Cụ túc giới rằng: ‘Kính bạch chư Đại đức, con xin Tăng chúng cho thọ Cụ túc giới. Kính bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng vì lòng bi mẫn mà nâng đỡ con lên. Lần thứ nhì, kính bạch chư Đại đức, con xin Tăng chúng cho thọ Cụ túc giới. Mong Tăng chúng vì lòng bi mẫn mà nâng đỡ con lên. Lần thứ ba, kính bạch chư Đại đức, con xin Tăng chúng cho thọ Cụ túc giới. Mong Tăng chúng vì lòng bi mẫn mà nâng đỡ con lên.’ Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo itthannāmassa āyasmato upasampadāpekkho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ itthannāmaṁ antarāyike dhamme puccheyyanti?
Suṇasi, itthannāma, ayaṁ te saccakālo bhūtakālo. Yaṁ jātaṁ taṁ pucchāmi. Santaṁ atthīti vattabbaṁ, asantaṁ natthīti vattabbaṁ. Santi te evarūpā ābādhā—kuṭṭhaṁ gaṇḍo kilāso soso apamāro? Manussosi? Purisosi? Bhujissosi? Aṇaṇosi? Nasi rājabhaṭo? Anuññātosi mātāpitūhi? Paripuṇṇavīsativassosi? Paripuṇṇaṁ te pattacīvaraṁ? Kiṁnāmosi? Konāmo te upajjhāyo’ti?
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. If the Sangha is ready, I will ask so-and-so about the obstacles.
Listen, so-and-so. Now is the time for you to tell the truth. I will ask you about various matters. If something is true, you should say, “Yes,” and if it’s not, you should say, “No.” Do you have any of these diseases: leprosy, abscesses, mild leprosy, tuberculosis, or epilepsy? Are you human? Are you a man? Are you free from slavery? Are you free from debt? Are you employed by the king? Do you have your parents’ permission? Are you twenty years old? Do you have a full set of bowl and robes? What’s your name? What’s the name of your preceptor?’
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
‘Kính bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Người này, có tên như vầy, là người cầu xin thọ Cụ túc giới của Đại đức có tên như vầy. Nếu Tăng chúng thấy là hợp thời, con sẽ hỏi người có tên như vầy về các pháp chướng ngại.’ ‘Này người có tên như vầy, hãy nghe đây. Đây là lúc nói sự thật, lúc nói sự việc có thật của ngươi. Ta hỏi ngươi về những việc đã xảy ra. Việc có thật thì nên nói là ‘có,’ việc không có thật thì nên nói là ‘không.’ Ngươi có những loại bệnh như vầy không: bệnh cùi, ung nhọt, ghẻ lở, lao phổi, động kinh? Ngươi có phải là người không? Ngươi có phải là nam nhân không? Ngươi có phải là người tự do không? Ngươi có phải là người không mắc nợ không? Ngươi không phải là người phục vụ trong hoàng gia chứ? Ngươi đã được cha mẹ cho phép chưa? Ngươi đã đủ hai mươi tuổi chưa? Y bát của ngươi đã đầy đủ chưa? Ngươi tên là gì? Thầy tế độ của ngươi tên là gì?’ Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo itthannāmassa āyasmato upasampadāpekkho, parisuddho antarāyikehi dhammehi, paripuṇṇassa pattacīvaraṁ. Itthannāmo saṅghaṁ upasampadaṁ yācati itthannāmena upajjhāyena. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ upasampādeyya itthannāmena upajjhāyena. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. He is free from obstacles and his bowl and robes are complete. So-and-so is asking the Sangha for the full ordination with so-and-so as his preceptor. If the Sangha is ready, it should give the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor. This is the motion.
127. ‘Kính bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Người này, có tên như vầy, là người cầu xin thọ Cụ túc giới của Đại đức có tên như vầy, đã thanh tịnh khỏi các pháp chướng ngại, y bát của người ấy đã đầy đủ. Người có tên như vầy xin Tăng chúng cho thọ Cụ túc giới với vị tế độ có tên như vầy. Nếu Tăng chúng thấy là hợp thời, Tăng chúng hãy cho người có tên như vầy thọ Cụ túc giới với vị tế độ có tên như vầy. Đây là lời tác bạch.’
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo itthannāmassa āyasmato upasampadāpekkho, parisuddho antarāyikehi dhammehi, paripuṇṇassa pattacīvaraṁ. Itthannāmo saṅghaṁ upasampadaṁ yācati itthannāmena upajjhāyena. Saṅgho itthannāmaṁ upasampādeti itthannāmena upajjhāyena. Yassāyasmato khamati itthannāmassa upasampadā itthannāmena upajjhāyena, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. He is free from obstacles and his bowl and robes are complete. So-and-so is asking the Sangha for the full ordination with so-and-so as his preceptor. The Sangha gives the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor. Any monk who approves of giving the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Kính bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Người này, có tên như vầy, là người cầu xin thọ Cụ túc giới của Đại đức có tên như vầy, đã thanh tịnh khỏi các pháp chướng ngại, y bát của người ấy đã đầy đủ. Người có tên như vầy xin Tăng chúng cho thọ Cụ túc giới với vị tế độ có tên như vầy. Tăng chúng cho người có tên như vầy thọ Cụ túc giới với vị tế độ có tên như vầy. Vị Đại đức nào chấp thuận việc cho người có tên như vầy thọ Cụ túc giới với vị tế độ có tên như vầy thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.’
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo itthannāmassa āyasmato upasampadāpekkho, parisuddho antarāyikehi dhammehi, paripuṇṇassa pattacīvaraṁ. Itthannāmo saṅghaṁ upasampadaṁ yācati itthannāmena upajjhāyena. Saṅgho itthannāmaṁ upasampādeti itthannāmena upajjhāyena. Yassāyasmato khamati itthannāmassa upasampadā itthannāmena upajjhāyena, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the second time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. He is free from obstacles and his bowl and robes are complete. So-and-so is asking the Sangha for the full ordination with so-and-so as his preceptor. The Sangha gives the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor. Any monk who approves of giving the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Lần thứ nhì, con nói lên điều này: Kính bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Người này, có tên như vầy, là người cầu xin thọ Cụ túc giới của Đại đức có tên như vầy, đã thanh tịnh khỏi các pháp chướng ngại, y bát của người ấy đã đầy đủ. Người có tên như vầy xin Tăng chúng cho thọ Cụ túc giới với vị tế độ có tên như vầy. Tăng chúng cho người có tên như vầy thọ Cụ túc giới với vị tế độ có tên như vầy. Vị Đại đức nào chấp thuận việc cho người có tên như vầy thọ Cụ túc giới với vị tế độ có tên như vầy thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.’
Tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo itthannāmassa āyasmato upasampadāpekkho, parisuddho antarāyikehi dhammehi, paripuṇṇassa pattacīvaraṁ. Itthannāmo saṅghaṁ upasampadaṁ yācati itthannāmena upajjhāyena. Saṅgho itthannāmaṁ upasampādeti itthannāmena upajjhāyena. Yassāyasmato khamati itthannāmassa upasampadā itthannāmena upajjhāyena, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. So-and-so is seeking the full ordination with venerable so-and-so. He is free from obstacles and his bowl and robes are complete. So-and-so is asking the Sangha for the full ordination with so-and-so as his preceptor. The Sangha gives the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor. Any monk who approves of giving the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
Lần thứ ba, tôi xin nói lên điều này: Kính bạch chư Đại đức, Tăng chúng hãy lắng nghe con. Giới tử tên là ... này là người cầu thọ cụ túc giới của Đại đức tên là ..., đã thanh tịnh các pháp chướng ngại, đã có đủ y bát. Giới tử tên là ... xin Tăng chúng cho thọ cụ túc giới với thầy tế độ tên là .... Tăng chúng làm lễ cụ túc giới cho giới tử tên là ... với thầy tế độ tên là .... Vị Đại đức nào chấp thuận việc làm lễ cụ túc giới cho giới tử tên là ... với thầy tế độ tên là ... thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng.
Upasampanno saṅghena itthannāmo itthannāmena upajjhāyena. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given the full ordination to so-and-so with so-and-so as his preceptor. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
Giới tử tên là ... đã được Tăng chúng làm lễ cụ túc giới với thầy tế độ tên là .... Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như thế.
Upasampadākammaṁ niṭṭhitaṁ.
The procedure of full ordination is finished.
Yết-ma cụ túc giới đã hoàn tất.
64. Bốn Pháp Y Chỉ
“Tāvadeva chāyā metabbā, utuppamāṇaṁ ācikkhitabbaṁ, divasabhāgo ācikkhitabbo, saṅgīti ācikkhitabbā, cattāro nissayā ācikkhitabbā—
“Straightaway the time should be noted and the date should be pointed out. These should be declared jointly to everyone. And the four supports should be pointed out to him:
128. Ngay lúc ấy, nên đo bóng nắng, nên nói rõ về thời tiết, nên nói rõ về thời gian trong ngày, nên nói rõ về sự tổng hợp (của các điều trên), và nên nói rõ về bốn pháp y chỉ:
Piṇḍiyālopabhojanaṁ nissāya pabbajjā. Tattha te yāvajīvaṁ ussāho karaṇīyo. Atirekalābho—saṅghabhattaṁ, uddesabhattaṁ, nimantanaṁ, salākabhattaṁ, pakkhikaṁ, uposathikaṁ, pāṭipadikaṁ.
‘One gone forth is supported by almsfood. You should persevere with this for life. There are these additional allowances: a meal for the Sangha, a meal for designated monks, an invitational meal, a meal for which lots are drawn, a half-monthly meal, a meal on the observance day, and a meal on the day after the observance day.
Đời sống xuất gia nương vào vật thực nhận được do khất thực. Về điều này, thầy phải cố gắng trọn đời. Lợi lộc phụ trội (được phép thọ dụng) là: vật thực của Tăng chúng, vật thực cúng dường chỉ định, vật thực do mời thỉnh, vật thực nhận theo thẻ, vật thực cúng dường theo mỗi nửa tháng, vật thực cúng dường vào ngày trai giới, vật thực cúng dường vào ngày mồng một (của mỗi nửa tháng).
Paṁsukūlacīvaraṁ nissāya pabbajjā. Tattha te yāvajīvaṁ ussāho karaṇīyo. Atirekalābho—khomaṁ, kappāsikaṁ, koseyyaṁ, kambalaṁ, sāṇaṁ, bhaṅgaṁ.
One gone forth is supported by rag-robes. You should persevere with this for life. There are these additional allowances: linen, cotton, silk, wool, sunn hemp, and hemp.
Đời sống xuất gia nương vào y phấn tảo. Về điều này, thầy phải cố gắng trọn đời. Lợi lộc phụ trội (được phép thọ dụng) là: y bằng vải lanh, y bằng vải bông, y bằng vải tơ, y bằng vải len, y bằng vải gai, y bằng vải hỗn hợp.
Rukkhamūlasenāsanaṁ nissāya pabbajjā. Tattha te yāvajīvaṁ ussāho karaṇīyo. Atirekalābho—vihāro, aḍḍhayogo, pāsādo, hammiyaṁ, guhā.
One gone forth is supported by the foot of a tree as a resting place. You should persevere with this for life. There are these additional allowances: a dwelling, a stilt house, and a cave.
Đời sống xuất gia nương vào sàng tọa dưới gốc cây. Về điều này, thầy phải cố gắng trọn đời. Lợi lộc phụ trội (được phép thọ dụng) là: tịnh xá, nhà một mái, lầu đài, nhà nóc bằng, hang động.
Pūtimuttabhesajjaṁ nissāya pabbajjā. Tattha te yāvajīvaṁ ussāho karaṇīyo. Atirekalābho—sappi, navanītaṁ, telaṁ, madhu, phāṇitan”ti.
One gone forth is supported by medicine of fermented urine. You should persevere with this for life. There are these additional allowances: ghee, butter, oil, honey, and syrup.’”
Đời sống xuất gia nương vào dược phẩm là nước tiểu hôi thúi. Về điều này, thầy phải cố gắng trọn đời. Lợi lộc phụ trội (được phép thọ dụng) là: bơ lỏng, bơ tươi, dầu, mật ong, đường phèn.
Cattāro nissayā niṭṭhitā.
The four supports are finished.
Bốn pháp y chỉ đã hoàn tất.
65. Bốn Điều Không Được Làm
Tena kho pana samayena bhikkhū aññataraṁ bhikkhuṁ upasampādetvā ekakaṁ ohāya pakkamiṁsu. So pacchā ekakova āgacchanto antarāmagge purāṇadutiyikāya samāgañchi. Sā evamāha—“kiṁ dāni pabbajitosī”ti?
“Āma pabbajitomhī”ti.
“Dullabho kho pabbajitānaṁ methuno dhammo; ehi, methunaṁ dhammaṁ paṭisevā”ti. So tassā methunaṁ dhammaṁ paṭisevitvā cirena agamāsi.
Bhikkhū evamāhaṁsu—“kissa tvaṁ, āvuso, evaṁ ciraṁ akāsī”ti? Atha kho so bhikkhu bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, upasampādetvā dutiyaṁ dātuṁ, cattāri ca akaraṇīyāni ācikkhituṁ—
On one occasion, the monks gave the full ordination to someone and then departed. The newly ordained monk lagged behind, walking by himself. On the way he met his old wife. She said, “Have you now gone forth?”
“Yes.”
“It’s difficult for those gone forth to get sex. Come, let’s have intercourse.” He had intercourse with her.
When he caught up with the monks, they asked him what had taken him so long. He told them what had happened, and they told the Buddha.
“When you have given the full ordination to someone, you should give him a companion and point out the four things not to be done:
129. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sau khi làm lễ cụ túc giới cho một tỳ khưu nọ đã bỏ vị ấy lại một mình rồi ra đi. Về sau, trong khi vị ấy đang đi một mình trên đường thì gặp lại người vợ cũ. Người ấy nói rằng: 'Bây giờ thầy đã xuất gia rồi sao?' 'Phải, tôi đã xuất gia.' 'Pháp dâm dục quả là khó có được đối với người xuất gia. Hãy lại đây, chúng ta hãy hành dâm.' Rồi vị ấy đã hành dâm với người kia và đã đến trễ. Các tỳ khưu nói rằng: 'Này hiền giả, tại sao thầy lại đến trễ như vậy?' Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Này các tỳ khưu, Ta cho phép sau khi làm lễ cụ túc giới, nên cho một người đi kèm và nên nói rõ về bốn điều không được làm:
Upasampannena bhikkhunā methuno dhammo na paṭisevitabbo, antamaso tiracchānagatāyapi. Yo bhikkhu methunaṁ dhammaṁ paṭisevati, assamaṇo hoti asakyaputtiyo. Seyyathāpi nāma puriso sīsacchinno abhabbo tena sarīrabandhanena jīvituṁ; evameva bhikkhu methunaṁ dhammaṁ paṭisevitvā assamaṇo hoti asakyaputtiyo. Taṁ te yāvajīvaṁ akaraṇīyaṁ.
A monk who’s fully ordained shouldn’t have sexual intercourse, not even with an animal. If he has sexual intercourse, he’s not an ascetic, not a Sakyan monastic. Just as a man with his head cut off is unable to continue living by reconnecting it to the body, so too is a monk who has had sexual intercourse not an ascetic, not a Sakyan monastic. You shouldn’t do this for as long as you live.
Vị tỳ khưu đã thọ cụ túc giới không được hành dâm, cho đến cả với loài thú vật. Vị tỳ khưu nào hành dâm thì không phải là sa-môn, không phải là Thích tử. Ví như người bị chặt đầu không thể nào sống lại được bằng cách nối thân với cái đầu ấy, cũng vậy, vị tỳ khưu sau khi đã hành dâm thì không phải là sa-môn, không phải là Thích tử. Thầy không được làm điều ấy trọn đời.
Upasampannena bhikkhunā adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ na ādātabbaṁ, antamaso tiṇasalākaṁ upādāya. Yo bhikkhu pādaṁ vā pādārahaṁ vā atirekapādaṁ vā adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyati, assamaṇo hoti asakyaputtiyo. Seyyathāpi nāma paṇḍupalāso bandhanā pavutto abhabbo haritatthāya; evameva bhikkhu pādaṁ vā pādārahaṁ vā atirekapādaṁ vā adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyitvā assamaṇo hoti asakyaputtiyo. Taṁ te yāvajīvaṁ akaraṇīyaṁ.
A monk who’s fully ordained shouldn’t steal, not even a straw. If he steals a <i lang='pi' translate='no'>pāda</i> coin, the value of a <i lang='pi' translate='no'>pāda</i>, or more than a <i lang='pi' translate='no'>pāda</i>, he’s not an ascetic, not a Sakyan monastic. Just as a fallen, withered leaf is incapable of becoming green again, so too is a monk who, intending to steal, takes an ungiven <i lang='pi' translate='no'>pāda</i> coin, the value of a <i lang='pi' translate='no'>pāda</i>, or more than a <i lang='pi' translate='no'>pāda</i> not an ascetic, not a Sakyan monastic. You shouldn’t do this for as long as you live.
Vị tỳ khưu đã thọ cụ túc giới không được lấy vật không được cho, với ý định trộm cắp, cho đến cả cọng cỏ. Vị tỳ khưu nào lấy vật không được cho, với ý định trộm cắp, trị giá một pāda, hay đáng giá một pāda, hay hơn một pāda, thì không phải là sa-môn, không phải là Thích tử. Ví như chiếc lá vàng đã rụng khỏi cuống không thể nào xanh tươi trở lại, cũng vậy, vị tỳ khưu sau khi đã lấy vật không được cho, với ý định trộm cắp, trị giá một pāda, hay đáng giá một pāda, hay hơn một pāda, thì không phải là sa-môn, không phải là Thích tử. Thầy không được làm điều ấy trọn đời.
Upasampannena bhikkhunā sañcicca pāṇo jīvitā na voropetabbo, antamaso kunthakipillikaṁ upādāya. Yo bhikkhu sañcicca manussaviggahaṁ jīvitā voropeti, antamaso gabbhapātanaṁ upādāya, assamaṇo hoti asakyaputtiyo. Seyyathāpi nāma puthusilā dvedhā bhinnā appaṭisandhikā hoti; evameva bhikkhu sañcicca manussaviggahaṁ jīvitā voropetvā assamaṇo hoti asakyaputtiyo. Taṁ te yāvajīvaṁ akaraṇīyaṁ.
A monk who’s fully ordained shouldn’t intentionally kill a living being, not even a small insect. If he intentionally kills a human being, even causing an abortion, he’s not an ascetic, not a Sakyan monastic. Just as an ordinary stone that has broken in half cannot be put back together again, so too is a monk who has intentionally killed a human being not an ascetic, not a Sakyan monastic. You shouldn’t do this for as long as you live.
Vị tỳ khưu đã thọ cụ túc giới không được cố ý tước đoạt mạng sống của chúng sinh, cho đến cả loài kiến, loài mối. Vị tỳ khưu nào cố ý tước đoạt mạng sống của con người, cho đến cả việc làm cho hư thai, thì không phải là sa-môn, không phải là Thích tử. Ví như tảng đá lớn bị bể làm hai không thể nào gắn liền lại được, cũng vậy, vị tỳ khưu sau khi đã cố ý tước đoạt mạng sống của con người thì không phải là sa-môn, không phải là Thích tử. Thầy không được làm điều ấy trọn đời.
Upasampannena bhikkhunā uttarimanussadhammo na ullapitabbo, antamaso ‘suññāgāre abhiramāmī’ti. Yo bhikkhu pāpiccho icchāpakato asantaṁ abhūtaṁ uttarimanussadhammaṁ ullapati jhānaṁ vā vimokkhaṁ vā samādhiṁ vā samāpattiṁ vā maggaṁ vā phalaṁ vā, assamaṇo hoti asakyaputtiyo. Seyyathāpi nāma tālo matthakacchinno abhabbo puna viruḷhiyā; evameva bhikkhu pāpiccho icchāpakato asantaṁ abhūtaṁ uttarimanussadhammaṁ ullapitvā assamaṇo hoti asakyaputtiyo. Taṁ te yāvajīvaṁ akaraṇīyan”ti.
A monk who’s fully ordained shouldn’t claim a superhuman quality, not even just saying, ‘I delight in solitude.’ If, because he has bad desires and is overcome by desire, he claims to have a non-existent superhuman quality—whether absorption, release, stillness, attainment, path, or fruit—he’s not an ascetic, not a Sakyan monastic. Just as a palm tree with its crown cut off is incapable of further growth, so too is a monk with bad desires, overcome by desire, who claims to have non-existent superhuman quality not an ascetic, not a Sakyan monastic. You shouldn’t do this for as long as you live.”
Vị tỳ khưu đã thọ cụ túc giới không được khoe khoang về pháp thượng nhân, cho đến cả việc nói rằng: 'Tôi thích thú ở trong trú xứ vắng vẻ.' Vị tỳ khưu nào do ác dục, bị lòng tham chi phối, khoe khoang về pháp thượng nhân không có thật, không hiện hữu, hoặc là thiền, hoặc là giải thoát, hoặc là định, hoặc là nhập định, hoặc là đạo, hoặc là quả, thì không phải là sa-môn, không phải là Thích tử. Ví như cây thốt nốt bị chặt ngọn không thể nào mọc lại được nữa, cũng vậy, vị tỳ khưu do ác dục, bị lòng tham chi phối, sau khi đã khoe khoang về pháp thượng nhân không có thật, không hiện hữu, thì không phải là sa-môn, không phải là Thích tử. Thầy không được làm điều ấy trọn đời.
Cattāri akaraṇīyāni niṭṭhitāni.
The four things not to be done are finished.
Bốn điều không được làm đã hoàn tất.
66. Các câu chuyện về người bị cử tội vì không thấy tội
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu āpattiyā adassane ukkhittako vibbhami. So puna paccāgantvā bhikkhū upasampadaṁ yāci. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At one time a certain monk disrobed after being ejected for not recognizing an offense. He then returned and asked the monks for the full ordination. They told the Buddha.
130. Vào lúc bấy giờ, một tỳ khưu nọ bị cử tội vì không thấy tội đã hoàn tục. Vị ấy sau khi quay trở lại đã xin các tỳ khưu cho thọ cụ túc giới. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
“Idha pana, bhikkhave, bhikkhu āpattiyā adassane ukkhittako vibbhamati. So puna paccāgantvā bhikkhū upasampadaṁ yācati. So evamassa vacanīyo—‘passissasi taṁ āpattin’ti? Sacāhaṁ passissāmīti, pabbājetabbo. Sacāhaṁ na passissāmīti, na pabbājetabbo.
Pabbājetvā vattabbo—‘passissasi taṁ āpattin’ti? Sacāhaṁ passissāmīti, upasampādetabbo. Sacāhaṁ na passissāmīti, na upasampādetabbo.
Upasampādetvā vattabbo—‘passissasi taṁ āpattin’ti? Sacāhaṁ passissāmīti, osāretabbo. Sacāhaṁ na passissāmīti, na osāretabbo.
Osāretvā vattabbo—‘passasi taṁ āpattin’ti? Sace passati, iccetaṁ kusalaṁ. No ce passati, labbhamānāya sāmaggiyā puna ukkhipitabbo. Alabbhamānāya sāmaggiyā anāpatti sambhoge saṁvāse.
“When a monk disrobes after being ejected for not recognizing an offense, but then returns and asks the monks for the full ordination, he should be asked, ‘Will you recognize that offense?’ If he says, ‘I will,’ he should be given the going forth. If he says, ‘I won’t,’ he should not.
When he’s been given the going forth, he should be asked again, ‘Will you recognize that offense?’ If he says, ‘I will,’ he should be given the full ordination. If he says, ‘I won’t,’ he should not.
When he’s been given the full ordination, he should be asked again, ‘Will you recognize that offense?’ If he says, ‘I will,’ he should be readmitted. If he says, ‘I won’t,’ he should not.
When he’s been readmitted, he should be asked again, ‘Do you recognize that offense?’ If he recognizes it, it’s good. If he doesn’t recognize it and you’re unanimous, he should be ejected once more. If you’re not unanimous, there’s no offense in living with him or in doing formal meetings of the community together.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu bị trục xuất vì không nhận thấy tội, rồi hoàn tục. Vị ấy sau khi quay trở lại, xin các tỳ khưu cho thọ cụ túc giới. Vị ấy nên được hỏi như vầy: ‘Ngươi sẽ nhận thấy tội ấy chứ?’ Nếu (vị ấy nói): ‘Tôi sẽ nhận thấy,’ thì nên cho xuất gia. Nếu (vị ấy nói): ‘Tôi sẽ không nhận thấy,’ thì không nên cho xuất gia. Sau khi đã cho xuất gia, nên hỏi: ‘Ngươi sẽ nhận thấy tội ấy chứ?’ Nếu (vị ấy nói): ‘Tôi sẽ nhận thấy,’ thì nên cho thọ cụ túc giới. Nếu (vị ấy nói): ‘Tôi sẽ không nhận thấy,’ thì không nên cho thọ cụ túc giới. Sau khi đã cho thọ cụ túc giới, nên hỏi: ‘Ngươi sẽ nhận thấy tội ấy chứ?’ Nếu (vị ấy nói): ‘Tôi sẽ nhận thấy,’ thì nên phục hồi. Nếu (vị ấy nói): ‘Tôi sẽ không nhận thấy,’ thì không nên phục hồi. Sau khi đã phục hồi, nên nói: ‘Ngươi hãy nhận thấy tội ấy.’ Nếu vị ấy nhận thấy, điều ấy là tốt lành. Nếu vị ấy không nhận thấy, khi sự hòa hợp (của Tăng chúng) có thể đạt được thì nên trục xuất lần nữa. Khi sự hòa hợp không thể đạt được, không có tội trong việc cùng hưởng dụng, cùng chung sống.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu āpattiyā appaṭikamme ukkhittako vibbhamati. So puna paccāgantvā bhikkhū upasampadaṁ yācati. So evamassa vacanīyo—‘paṭikarissasi taṁ āpattin’ti? Sacāhaṁ paṭikarissāmīti, pabbājetabbo. Sacāhaṁ na paṭikarissāmīti, na pabbājetabbo.
Pabbājetvā vattabbo—‘paṭikarissasi taṁ āpattin’ti? Sacāhaṁ paṭikarissāmīti, upasampādetabbo. Sacāhaṁ na paṭikarissāmīti, na upasampādetabbo.
Upasampādetvā vattabbo—‘paṭikarissasi taṁ āpattin’ti? Sacāhaṁ paṭikarissāmīti, osāretabbo. Sacāhaṁ na paṭikarissāmīti, na osāretabbo.
Osāretvā vattabbo—‘paṭikarohi taṁ āpattin’ti. Sace paṭikaroti, iccetaṁ kusalaṁ. No ce paṭikaroti labbhamānāya sāmaggiyā puna ukkhipitabbo. Alabbhamānāya sāmaggiyā anāpatti sambhoge saṁvāse.
“When a monk disrobes after being ejected for not making amends for an offense, but then returns and asks the monks for the full ordination, he should be asked, ‘Will you make amends for that offense?’ If he says, ‘I will,’ he should be given the going forth. If he says, ‘I won’t,’ he should not.
When he’s been given the going forth, he should be asked again, ‘Will you make amends for that offense?’ If he says, ‘I will,’ he should be given the full ordination. If he says, ‘I won’t,’ he should not.
When he’s been given the full ordination, he should be asked again, ‘Will you make amends for that offense?’ If he says, ‘I will,’ he should be readmitted. If he says, ‘I won’t,’ he should not.
When he’s been readmitted, he should be told, ‘Make amends for that offense.’ If he does, it’s good. If he doesn’t and you’re unanimous, he should be ejected once more. If you’re not unanimous, there’s no offense in living with him or in doing formal meetings of the community together.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu bị trục xuất vì không khắc phục tội, rồi hoàn tục. Vị ấy sau khi quay trở lại, xin các tỳ khưu cho thọ cụ túc giới. Vị ấy nên được hỏi như vầy: ‘Ngươi sẽ khắc phục tội ấy chứ?’ Nếu (vị ấy nói): ‘Tôi sẽ khắc phục,’ thì nên cho xuất gia. Nếu (vị ấy nói): ‘Tôi sẽ không khắc phục,’ thì không nên cho xuất gia. Sau khi đã cho xuất gia, nên hỏi: ‘Ngươi sẽ khắc phục tội ấy chứ?’ Nếu (vị ấy nói): ‘Tôi sẽ khắc phục,’ thì nên cho thọ cụ túc giới. Nếu (vị ấy nói): ‘Tôi sẽ không khắc phục,’ thì không nên cho thọ cụ túc giới. Sau khi đã cho thọ cụ túc giới, nên hỏi: ‘Ngươi sẽ khắc phục tội ấy chứ?’ Nếu (vị ấy nói): ‘Tôi sẽ khắc phục,’ thì nên phục hồi. Nếu (vị ấy nói): ‘Tôi sẽ không khắc phục,’ thì không nên phục hồi. Sau khi đã phục hồi, nên nói: ‘Ngươi hãy khắc phục tội ấy.’ Nếu vị ấy khắc phục, điều ấy là tốt lành. Nếu vị ấy không khắc phục, khi sự hòa hợp (của Tăng chúng) có thể đạt được thì nên trục xuất lần nữa. Khi sự hòa hợp không thể đạt được, không có tội trong việc cùng hưởng dụng, cùng chung sống.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhittako vibbhamati. So puna paccāgantvā bhikkhū upasampadaṁ yācati. So evamassa vacanīyo—‘paṭinissajjissasi taṁ pāpikaṁ diṭṭhin’ti? Sacāhaṁ paṭinissajjissāmīti, pabbājetabbo. Sacāhaṁ na paṭinissajjissāmīti, na pabbājetabbo.
Pabbājetvā vattabbo—‘paṭinissajjissasi taṁ pāpikaṁ diṭṭhin’ti? Sacāhaṁ paṭinissajjissāmīti, upasampādetabbo. Sacāhaṁ na paṭinissajjissāmīti, na upasampādetabbo.
Upasampādetvā vattabbo—‘paṭinissajjissasi taṁ pāpikaṁ diṭṭhin’ti? Sacāhaṁ paṭinissajjissāmīti, osāretabbo. Sacāhaṁ na paṭinissajjissāmīti, na osāretabbo.
Osāretvā vattabbo—‘paṭinissajjehi taṁ pāpikaṁ diṭṭhin’ti. Sace paṭinissajjati, iccetaṁ kusalaṁ. No ce paṭinissajjati, labbhamānāya sāmaggiyā puna ukkhipitabbo. Alabbhamānāya sāmaggiyā anāpatti sambhoge saṁvāse”ti.
“When a monk disrobes after being ejected for not giving up a bad view, but then returns and asks the monks for the full ordination, he should be asked, ‘Will you give up that bad view?’ If he says, ‘I will,’ he should be given the going forth. If he says, ‘I won’t,’ he should not.
When he’s been given the going forth, he should be asked again, ‘Will you give up that bad view?’ If he says, ‘I will,’ he should be given the full ordination. If he says, ‘I won’t,’ he should not.
When he’s been given the full ordination, he should be asked again, ‘Will you give up that bad view?’ If he says, ‘I will,’ he should be readmitted. If he says, ‘I won’t,’ he should not.
When he’s been readmitted, he should be told, ‘Give up that bad view.’ If he does, it’s good. If he doesn’t and you’re unanimous, he should be ejected once more. If you’re not unanimous, there’s no offense in living with him or in doing formal meetings of the community together.”
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu bị trục xuất vì không từ bỏ tà kiến, rồi hoàn tục. Vị ấy sau khi quay trở lại, xin các tỳ khưu cho thọ cụ túc giới. Vị ấy nên được hỏi như vầy: ‘Ngươi sẽ từ bỏ tà kiến ấy chứ?’ Nếu (vị ấy nói): ‘Tôi sẽ từ bỏ,’ thì nên cho xuất gia. Nếu (vị ấy nói): ‘Tôi sẽ không từ bỏ,’ thì không nên cho xuất gia. Sau khi đã cho xuất gia, nên hỏi: ‘Ngươi sẽ từ bỏ tà kiến ấy chứ?’ Nếu (vị ấy nói): ‘Tôi sẽ từ bỏ,’ thì nên cho thọ cụ túc giới. Nếu (vị ấy nói): ‘Tôi sẽ không từ bỏ,’ thì không nên cho thọ cụ túc giới. Sau khi đã cho thọ cụ túc giới, nên hỏi: ‘Ngươi sẽ từ bỏ tà kiến ấy chứ?’ Nếu (vị ấy nói): ‘Tôi sẽ từ bỏ,’ thì nên phục hồi. Nếu (vị ấy nói): ‘Tôi sẽ không từ bỏ,’ thì không nên phục hồi. Sau khi đã phục hồi, nên nói: ‘Ngươi hãy từ bỏ tà kiến ấy.’ Nếu vị ấy từ bỏ, điều ấy là tốt lành. Nếu vị ấy không từ bỏ, khi sự hòa hợp (của Tăng chúng) có thể đạt được thì nên trục xuất lần nữa. Khi sự hòa hợp không thể đạt được, không có tội trong việc cùng hưởng dụng, cùng chung sống.
Mahākhandhako paṭhamo.
Tassuddānaṁ
The great chapter, the first, is finished.
This is the summary:
Đại Phẩm thứ nhất (đã hết).
Vinayamhi mahatthesu, pesalānaṁ sukhāvahe; Niggahānañca pāpicche, lajjīnaṁ paggahesu ca.
“In the great Monastic Law, Which brings happiness to those who are good, Restrains those who have bad desires, And helps those with a sense of conscience;
Trong Luật tạng, có nhiều lợi ích lớn lao, mang lại an lạc cho những người ái mộ (giới hạnh); và trong việc khiển trách những kẻ có ước muốn xấu xa, và trong việc tán dương những người có lòng tàm quý.
Sāsanādhāraṇe ceva, sabbaññujinagocare; Anaññavisaye kheme, supaññatte asaṁsaye.
And which is for the upkeep of Buddhism, In the sphere of the Omniscient Victor, Not within range of anyone else; Which is safe, carefully laid down, without doubt—
Và trong việc duy trì giáo pháp, là địa hạt của bậc Toàn Giác Chánh Đẳng Giác; không phải là lĩnh vực của người khác, là nơi an ổn, được khéo thuyết, không còn nghi ngờ.
Khandhake vinaye ceva, parivāre ca mātike; Yathātthakārī kusalo, paṭipajjati yoniso.
That is, the Chapters and the Monastic Law, The Compendium and the Key Terms—In this the skillful who does what’s beneficial, Practices wisely.
Trong các Phẩm (Khandhaka), trong Luật (Vinaya-vibhaṅga), và trong Tập Yếu (Parivāra), và trong Giới Bổn (Mātika), vị tỳ khưu thiện xảo, hành động đúng như thật, thực hành một cách như lý.
Yo gavaṁ na vijānāti, na so rakkhati gogaṇaṁ; Evaṁ sīlaṁ ajānanto, kiṁ so rakkheyya saṁvaraṁ.
One who doesn’t understand cattle, Doesn’t guard the herd; In the same way, not understanding virtue, How would one guard restraint?
Người nào không biết rõ về bò, người ấy không thể bảo vệ đàn bò; cũng vậy, người không biết về giới, làm sao người ấy có thể giữ gìn sự thu thúc?
Pamuṭṭhamhi ca suttante, abhidhamme ca tāvade; Vinaye avinaṭṭhamhi, puna tiṭṭhati sāsanaṁ.
When the discourses are forgotten, And the same for philosophy, But the Monastic Law isn’t lost, Then Buddhism still remains.
Khi Kinh tạng và A-tỳ-đạt-ma tạng đã bị lãng quên, nhưng chừng nào Luật tạng chưa bị hoại diệt, thì giáo pháp vẫn còn tồn tại.
Tasmā saṅgāhaṇāhetuṁ, uddānaṁ anupubbaso; Pavakkhāmi yathāñāyaṁ, suṇātha mama bhāsato.
Therefore, for the purpose of making a collection, I’ll expound the summary, successively, According to the right method. Listen to me speak:
Vì vậy, vì lý do tổng hợp, tôi sẽ tuần tự đọc lên phần tóm lược, theo như sự hiểu biết. Các vị hãy lắng nghe lời tôi nói.
Vatthu nidānaṁ āpatti, nayā peyyālameva ca; Dukkaraṁ taṁ asesetuṁ, nayato taṁ vijānathāti.
Topic, origin story, offense, Method, and repetition. It’s hard to complete without remainder—You should know it from the method.”
Sự việc, nhân duyên, tội, phương pháp, và cả phần tỉnh lược; thật khó để trình bày tất cả những điều ấy một cách đầy đủ. Các vị hãy biết điều đó qua phương pháp (tóm tắt).
Bodhi rājāyatanañca, ajapālo sahampati; Brahmā āḷāro udako, bhikkhu ca upako isi.
“Bodhi tree, and ape-flower tree, The goatherd’s tree, Sahamapati The supreme being, Ālāra, Udaka, And monk, the sage Upaka.
Cây Bồ Đề, cây Rājāyatana, cây Ajapāla, Phạm thiên Sahampati; Āḷāra, Udaka, các vị tỳ khưu, Upaka, và bậc ẩn sĩ (đến Isipatana).
Koṇḍañño vappo bhaddiyo, mahānāmo ca assaji; Yaso cattāro paññāsa, sabbe pesesi so disā.
Koṇḍañña, Vappa, Bhaddiya, And Mahānāma, Assaji; Yasa, four, fifty, He sent all to the districts.
Koṇḍañña, Vappa, Bhaddiya, Mahānāma, và Assaji; Yasa, bốn người (bạn), năm mươi người (bạn), vị ấy (Đức Phật) đã phái tất cả đi các phương.
Vatthu mārehi tiṁsā ca, uruvelaṁ tayo jaṭī; Agyāgāraṁ mahārājā, sakko brahmā ca kevalā.
Topic, with the lords of death, and thirty, Uruvelā, three dreadlocked ascetics; Fire hut, great kings, Sakka, and the supreme being, the whole.
Sự việc (xuất gia bằng tam quy), (đối thoại) với Ma vương, và ba mươi vị (Bhaddavaggiyā), Uruvelā, ba vị bện tóc; nhà lửa, các vị Đại vương, Sakka, và Phạm thiên, toàn thể (khu rừng).
Paṁsukūlaṁ pokkharaṇī, silā ca kakudho silā; Jambu ambo ca āmalo, pāripupphañca āhari.
Rag, pond, And boulder, arjun tree, boulder; Rose-apple tree, and mango tree, emblic myrobalan tree, And he brought an orchid tree flower.
Y phấn tảo, hồ sen, tảng đá, cây Kakudha, tảng đá (khác); (Đế Thích) đã mang đến quả Jambu, quả xoài, quả amala, và hoa pāricchattaka.
Phāliyantu ujjalantu, vijjhāyantu ca kassapa; Nimujjanti mukhī megho, gayā laṭṭhi ca māgadho.
May they split, may they be lit, And may they be extinguished, Kassapa; They immersed themselves, coal pans, cloud, Gayā, and Cane, of Magadha.
‘Hãy tách ra, hãy bốc cháy, hãy tắt đi,’ hỡi Kassapa; (năm trăm vị) lặn xuống, (năm trăm) bếp lửa, trận mưa, Gayā, (vườn) Laṭṭhi, và vua xứ Māgadha.
Upatisso kolito ca, abhiññātā ca pabbajuṁ; Dunnivatthā paṇāmanā, kiso lūkho ca brāhmaṇo.
Upatissa and Kolita, And the well-known went forth; Shabbily dressed, dismissal, The thin and haggard brahmin.
Upatissa và Kolita, và những người nổi tiếng đã xuất gia; mặc y không đúng cách, việc khiển trách, vị bà-la-môn gầy gò, thô kệch.
Anācāraṁ ācarati, udaraṁ māṇavo gaṇo; Vassaṁ bālehi pakkanto, dasa vassāni nissayo.
He misbehaved, Stomach, young brahmin, group; Seniority, by those who are ignorant, went away, Ten years of formal support.
Hành xử việc không đúng đắn, (xuất gia) vì cái bụng, người thanh niên, nhóm (tỳ khưu); (một) mùa mưa, (xuất gia) bởi những người ngu, (thầy tế độ) đã đi xa, mười hạ và sự nương tựa.
Na vattanti paṇāmetuṁ, bālā passaddhi pañca cha; Yo so añño ca naggo ca, acchinnajaṭilasākiyo.
They did not conduct themselves, to dismiss, The ignorant, ending, five, six; He who was from another religion, and naked, Uncut, dreadlocked ascetic, and Sakyan.
(Đệ tử) không hành xử đúng, việc trục xuất, những người ngu, sự chấm dứt (nương tựa), năm và sáu (trường hợp); người từng là ngoại đạo, người lõa thể, người không cắt tóc, người bện tóc, người dòng Sākiya.
Magadhesu pañcābādhā, eko rājā ca aṅguli; Māgadho ca anuññāsi, kārā likhi kasāhato.
The five diseases in Magadha, And one king, finger; And (the king) of Magadha declared, Prison, wanted, whipped.
Ở xứ Māgadha, năm loại bệnh, một (cậu bé), nhà vua, và Aṅgulimāla; vua xứ Māgadha đã cho phép, (kẻ phá) ngục, người bị ghi dấu, người bị đánh bằng roi.
Lakkhaṇā iṇā dāso ca, bhaṇḍuko upāli ahi; Saddhaṁ kulaṁ kaṇṭako ca, āhundarikameva ca.
Branded, debt, and slave, Shaven, Upāli, deadly disease; Family with faith, and Kaṇṭaka, And the obscure.
Người bị đóng dấu, người mắc nợ, và người nô lệ, Bhaṇḍu, Upāli, con rắn; gia đình có đức tin, và Kaṇṭaka, và cả việc (không gian) chật hẹp.
Vatthumhi dārako sikkhā, viharanti ca kiṁ nu kho; Sabbaṁ mukhaṁ upajjhāye, apalāḷana kaṇṭako.
To live, the boy, the training, And they were, which; The whole, the mouth, the preceptors, Luring away, Kaṇṭaka.
Tại Vatthu (Kapilavatthu), đứa trẻ (Rāhula), các học giới, và (các sa-di) sống (không cung kính), ‘vậy thì phải làm sao;’ tất cả (vật dụng), (vật thực bỏ vào) miệng, đối với thầy tế độ, việc dụ dỗ (đệ tử người khác), Kaṇṭaka.
Paṇḍako theyyapakkanto, ahi ca mātarī pitā; Arahantabhikkhunībhedā, ruhirena ca byañjanaṁ.
<i lang='pi' translate='no'>Paṇḍakas</i>, theft, and left, And serpent, about mother, father; Perfected one, nun, and schism, And with blood, gynandromorph.
Người ái nam ái nữ, người sống chung lén lút, người đã đi theo ngoại đạo, con rắn (Nāga), người giết mẹ, người giết cha, người giết A-la-hán, người làm hại Tỳ-khưu-ni, người gây chia rẽ Tăng, người làm chảy máu (Phật), người lưỡng tính.
Anupajjhāyasaṅghena, gaṇapaṇḍakapattako; Acīvaraṁ tadubhayaṁ, yācitenapi ye tayo.
Without preceptor, and with the Sangha, Group, <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>, and one without almsbowl; Without robe, both of them, Also the same three with borrowed.
Không có thầy tế độ, (thầy tế độ là) Tăng chúng, nhóm, người ái nam ái nữ; người không có bát, không có y, không có cả hai, (y bát) do mượn, cùng với ba trường hợp kia.
Hatthā pādā hatthapādā, kaṇṇā nāsā tadūbhayaṁ; Aṅguliaḷakaṇḍaraṁ, phaṇaṁ khujjañca vāmanaṁ.
Hand, foot, hand and foot, Ear, nose, both of them; Finger, toe, and tendon, Joined, and hunchback, dwarf.
Cụt tay, cụt chân, cụt cả tay chân, cụt tai, cụt mũi, cụt cả hai, cụt ngón tay, cụt ngón cái, đứt gân, người có màng (ngón tay dính liền), người gù, người lùn.
Galagaṇḍī lakkhaṇā ceva, kasā likhitasīpadī; Pāpaparisadūsī ca, kāṇaṁ kuṇi tatheva ca.
Goiter, and branded, Whipped, wanted, and elephantiasis; Serious, and abnormal appearance, Blind in one eye, and so crooked limb.
Bướu cổ, người bị đóng dấu (hình phạt), người bị đánh bằng roi, người bị ghi tội (truy nã), người bị chân voi, người bị bệnh xấu, người làm hư hoại hội chúng, người chột, người co quắp tay chân, và cũng như thế.
Khañjaṁ pakkhahatañceva, sacchinnairiyāpathaṁ; Jarāndhamūgabadhiraṁ, andhamūgañca yaṁ tahiṁ.
Lame, and paralyzed on one side, Who is crippled; Old age, blind, mute, and deaf, And in regard to the blind and mute.
Người què, người bị liệt nửa người, người bị bại liệt, người già yếu, người mù, người câm, người điếc, người vừa mù vừa câm ở trong số ấy.
Andhabadhiraṁ yaṁ vuttaṁ, mūgabadhirameva ca; Andhamūgabadhirañca, alajjīnañca nissayaṁ.
What is called blind and deaf, And mute and deaf; And blind, mute, and deaf, And formal support for the shameless.
Người vừa mù vừa điếc, người vừa câm vừa điếc, người vừa mù vừa câm vừa điếc; việc cho nương tựa đến những vị không có lòng hổ thẹn.
Vatthabbañca tathāddhānaṁ, yācamānena lakkhaṇā; Āgacchatu vivadanti, ekupajjhāyena kassapo.
And should live, so traveling, By one who is asked, notice; Please come, they argued, With one preceptor, Kassapa.
Việc phải sống nương tựa, cũng như việc đi đường xa, vì người bệnh thỉnh cầu, việc chờ đợi (thầy tế độ) đang đến; sự tranh cãi (của các giới tử), (thọ giới) với một thầy tế độ, (trường hợp của) Kassapa.
Dissanti upasampannā, ābādhehi ca pīḷitā; Ananusiṭṭhā vitthenti, tattheva anusāsanā.
And ordained people were seen Oppressed by sicknesses; The uninstructed were embarrassed, Instructing just there.
Các vị đã thọ cụ túc bị các bệnh tật bức não; các giới tử không được hướng dẫn (vắng mặt) thì lúng túng, sự hướng dẫn ngay tại chỗ.
Saṅghepi ca atho bālā, asammatā ca ekato; Ullumpatupasampadā, nissayo ekako tayoti.
And so in the Sangha, then the ignorant, And not appointed, together; Please lift up, full ordination, Support, by himself, three.”
Cả Tăng chúng, rồi những vị ngu dốt, và những vị chưa được chỉ định; (giới tử) đến cùng một lúc; lời thỉnh cầu nâng đỡ (truyền giới), sự thọ cụ túc, sự nương tựa, (truyền giới cho) ba người cùng một lúc.
Imamhi khandhake vatthūni ekasatañca dvāsattati.
In this chapter there are one hundred and seventy-two topics.
Trong chương này có một trăm bảy mươi hai câu chuyện.
Mahākhandhako niṭṭhito.
The great chapter is finished.
Dứt chương Đại Phẩm.