- Theravāda Vinayapiṭaka
- Cūḷavagga
Bản dịch
Kd 18 — Chương phận sự
18. Vattakkhandhaka
1. PHẬN SỰ CỦA VỊ VÃNG LAI:
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu vãng lai đi vào tu viện vẫn mang dép, đi vào tu viện vẫn căng dù, đi vào tu viện vẫn trùm đầu, vẫn đội y ở đầu rồi đi vào tu viện, rửa các bàn chân với nước dùng để uống, không đảnh lễ các tỳ khưu thường trú thâm niên hơn, không hỏi về chỗ trú ngụ.
Có vị tỳ khưu vãng lai nọ đã mở chốt gài, đẩy cánh cửa, rồi vội vã đi vào trú xá không có người ở. Có con rắn từ đà ngang phía trên đã rơi xuống vị ấy. Vị ấy hoảng sợ đã kêu thét lên. Các tỳ khưu đã chạy lại và đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:—“Này đại đức, tại sao đại đức kêu thét lên vậy?” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu vãng lai lại đi vào tu viện vẫn mang dép, đi vào tu viện vẫn căng dù, … (như trên) … không hỏi về chỗ trú ngụ?”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu vãng lai đi vào tu viện vẫn mang dép, … (như trên) … không hỏi về chỗ trú ngụ, có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu vãng lai lại đi vào tu viện vẫn mang dép, … (như trên) … không hỏi về chỗ trú ngụ? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.” Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự cho các tỳ khưu vãng lai, các tỳ khưu vãng lai nên thực hành như thế. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu vãng lai (nghĩ rằng): ‘Bây giờ ta sẽ đi vào tu viện,’ nên tháo dép ra, để dưới thấp, giũ sạch, rồi cầm lấy, hạ dù xuống, cởi đầu trần, lấy y ở đầu để xuống ở vai, rồi đi vào tu viện một cách nghiêm trang không vội vã. Khi đi vào tu viện, nên quan sát xem: ‘Các tỳ khưu thường trú tụ hội ở đâu?’ Các tỳ khưu thường trú tụ hội ở nơi nào: trong phòng hội họp, ở mái hiên, hay ở gốc cây, sau khi đi đến nơi ấy, nên để bình bát xuống một bên, nên để y xuống một bên, nên chọn chỗ ngồi thích hợp, rồi ngồi xuống. Nên hỏi về nước uống, nên hỏi về nước rửa: ‘Nước nào là nước uống? Nước nào là nước rửa?’ Nếu có sự cần dùng với nước uống, sau khi lấy nước uống rồi nên uống. Nếu có sự cần dùng với nước rửa, sau khi lấy nước rửa rồi nên rửa hai bàn chân. Trong khi rửa hai bàn chân, nên xối nước bằng một tay, nên rửa bàn chân bằng một tay. Không nên xối nước chỉ bằng tay ấy, không nên rửa bàn chân chỉ bằng tay ấy.
Nên hỏi miếng giẻ lau dép rồi lau đôi dép. Trong khi lau đôi dép, trước tiên nên lau với miếng giẻ khô sau đó với miếng giẻ ướt. Sau khi giặt miếng giẻ lau dép rồi nên phơi ở một góc. Nếu vị tỳ khưu thường trú thâm niên hơn thì nên đảnh lễ. Nếu là vị mới tu thì nên để vị ấy đảnh lễ.
Nên hỏi về chỗ trú ngụ: ‘Chỗ trú ngụ nào dành cho tôi?’ Nên hỏi (chỗ trú ngụ ấy) có người ở hay không có. Nên hỏi về khu vực đi khất thực, nên hỏi về khu vực không thể đi khất thực. Nên hỏi về các gia đình được xác định là Thánh Hữu Học. Nên hỏi về chỗ tiêu, nên hỏi về chỗ tiểu, nên hỏi về (chỗ lấy) nước uống, nên hỏi về (chỗ lấy) nước rửa, nên hỏi về gậy để chống, nên hỏi về qui định của hội chúng: ‘Giờ nào có thể đi vào? Giờ nào có thể đi ra?’
Inda-bh 2~2Nếu trú xá không có người, nên gõ vào cánh cửa lớn, chờ trong chốc lát, rồi tháo chốt gài, mở cánh cửa lớn ra, nên đứng bên ngoài nhìn vào bên trong. Nếu trú xá có rác bẩn hoặc là giường được chồng lên giường hoặc là ghế được chồng lên ghế và vật nằm ngồi được chất thành đống ở bên trên, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên gỡ thảm trải nền đem ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc.
Nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc. Nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc. Nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc.
Nếu ở trú xá có mạng nhện, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ bị đốm loang lỗ, nên thấm ướt khăn chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen bị đốm loang lỗ, nên thấm ướt khăn chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được thực hiện, nên rải rắc với nước rồi quét (nghĩ rằng): ‘Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.’ Nên gom rác lại rồi đem đổ bỏ ở một góc.
Sau khi phơi nắng tấm trải nền ở một góc, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa, rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa, rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.
Inda-bh 3~3Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế, rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống.
Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.
Nếu phòng có rác bẩn, nên quét phòng. Nếu cổng có rác bẩn, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác bẩn, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác bẩn, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác bẩn, nên quét nhà vệ sinh.
Nếu nước uống không có, nên đem lại nước uống. Nếu nước rửa không có, nên đem lại nước rửa. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.
Này các tỳ khưu, đây là phận sự của các tỳ khưu vãng lai, các tỳ khưu vãng lai nên thực hành như thế.”
2. PHẬN SỰ CỦA VỊ THƯỜNG TRÚ:
Inda-bh 4~4Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu thường trú khi thấy các tỳ khưu vãng lai không chịu sắp xếp chỗ ngồi, không đem đến nước rửa chân, không (đem đến) ghế kê chân, không (đem đến) tấm chà chân. Sau khi đi ra đón tiếp, họ không rước y bát, không hỏi về nước uống, không hỏi về nước rửa, cũng không đảnh lễ các tỳ khưu vãng lai thâm niên hơn, không sắp xếp chỗ trú ngụ. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu thường trú khi thấy các tỳ khưu vãng lai lại không chịu sắp xếp chỗ ngồi, … (như trên) … không sắp xếp chỗ trú ngụ?”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, nghe nói … (như trên) … có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) …
Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự cho các tỳ khưu thường trú, các tỳ khưu thường trú nên thực hành như thế.
Inda-bh 5~5Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thường trú khi thấy vị tỳ khưu vãng lai thâm niên hơn nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem đến nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Sau khi đi ra đón tiếp, nên rước y bát, nên hỏi (dâng) nước uống. Nếu có nỗ lực, (vị thường trú) nên lau đôi dép (của vị kia). Trong khi lau đôi dép, trước tiên nên lau bằng miếng giẻ khô sau đó bằng miếng giẻ ướt. Sau khi giặt miếng giẻ lau dép rồi nên phơi ở một góc. Nên đảnh lễ vị tỳ khưu vãng lai thâm niên hơn. Nên sắp xếp chỗ trú ngụ: ‘Chỗ trú ngụ này dành cho đại đức.’ Nên nói rõ (chỗ trú ngụ ấy) có người ở hay không có. Nên nói rõ về khu vực đi khất thực, nên nói rõ về khu vực không nên đi khất thực. Nên nói rõ về các gia đình được xác định là Thánh Hữu Học. Nên nói rõ về chỗ tiêu, nên nói rõ về chỗ tiểu. Nên nói rõ về (chỗ lấy) nước uống, nên nói rõ về (chỗ lấy) nước rửa. Nên nói rõ về gậy để chống. Nên nói rõ về qui định của hội chúng: ‘Giờ này có thể đi vào. Giờ này có thể đi ra.’
Nếu (vị vãng lai) là vị mới tu, vị (thường trú) vẫn ngồi nên nói rõ: ‘Để bình bát chỗ này, để y chỗ này, ngồi ở chỗ ngồi này.’ Nên nói rõ chỗ nước uống, nên nói rõ chỗ nước rửa. Nên nói rõ về giẻ lau đôi dép. Nên để cho vị tỳ khưu vãng lai mới tu đảnh lễ. Nên nói rõ chỗ trú ngụ: ‘Chỗ trú ngụ này dành cho đại đức.’ Nên nói rõ (chỗ trú ngụ ấy) có người ở hay không có. Nên nói rõ về khu vực đi khất thực, nên nói rõ về khu vực nào không nên đi khất thực. Nên nói rõ về các gia đình được xác định là Thánh Hữu Học. Nên nói rõ về chỗ tiêu, nên nói rõ về chỗ tiểu. Nên nói rõ về (chỗ lấy) nước uống, nên nói rõ về (chỗ lấy) nước rửa. Nên nói rõ về gậy để chống. Nên nói rõ về qui định của hội chúng: ‘Giờ này có thể đi vào. Giờ này có thể đi ra.’
Này các tỳ khưu, đây là phận sự của các tỳ khưu thường trú, các tỳ khưu thường trú nên thực hành như thế.”
3. PHẬN SỰ CỦA VỊ XUẤT HÀNH:
Inda-bh 6~6Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu xuất hành không thu xếp các đồ vật bằng gỗ và các đồ vật bằng đất nung, mở ra cửa lớn và cửa sổ, không thông báo về chỗ trú ngụ, rồi ra đi. Các đồ vật bằng gỗ và các đồ vật bằng đất nung bị mất mát. Chỗ trú ngụ không được bảo quản. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu xuất hành lại không thu xếp các đồ vật bằng gỗ và các đồ vật bằng đất nung, mở ra cửa lớn và cửa sổ, không thông báo về chỗ trú ngụ, rồi ra đi khiến các đồ vật bằng gỗ và các đồ vật bằng đất nung bị mất mát, chỗ trú ngụ không được bảo quản?”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, nghe nói … (như trên) … có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) …
Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự cho các tỳ khưu xuất hành, các tỳ khưu xuất hành nên thực hành như thế.
Inda-bh 7~7Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xuất hành trước khi ra đi nên thu xếp các đồ vật bằng gỗ và các đồ vật bằng đất nung, nên đóng lại cửa lớn và cửa sổ, nên thông báo về chỗ trú ngụ. Nếu không có tỳ khưu, nên thông báo cho vị sa di. Nếu không có sa di, nên thông báo cho người phụ việc chùa. Nếu không có người phụ việc chùa, nên thông báo cho nam cư sĩ. Nếu tỳ khưu, hoặc sa di, hoặc người phụ việc chùa, hoặc nam cư sĩ đều không có, nên sắp xếp cái giường lên trên bốn hòn đá, rồi đặt cái giường lên trên cái giường, đặt cái ghế lên trên cái ghế, còn sàng tọa nên chất thành đống ở phía bên trên, nên thu xếp các đồ vật bằng gỗ và các đồ vật bằng đất nung, nên đóng lại cửa lớn và cửa sổ, rồi mới nên ra đi.
Nếu trú xá bị dột nước mưa, nên lợp lại nếu có nỗ lực, hoặc nên thực hiện sự nỗ lực (nghĩ rằng): ‘Làm thế nào để trú xá có thể được lợp?’ Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp; nếu không đạt được, tại vị trí nào không bị nước mưa dột thì tại chỗ đó nên sắp xếp cái giường lên trên bốn hòn đá, rồi đặt cái giường lên trên cái giường, đặt cái ghế lên trên cái ghế, còn sàng tọa nên chất thành đống ở phía bên trên, nên thu xếp các đồ vật bằng gỗ và các đồ vật bằng đất nung, nên đóng lại cửa lớn và cửa sổ, rồi mới nên ra đi.
Nếu toàn bộ trú xá đều bị nước mưa dột, nên mang sàng tọa vào làng nếu có nỗ lực, hoặc nên thực hiện sự nỗ lực (nghĩ rằng): ‘Làm thế nào để sàng tọa có thể được mang vào làng?’ Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp; nếu không đạt được, nên sắp xếp cái giường lên trên bốn hòn đá ở ngoài trời, rồi đặt cái giường lên trên cái giường, đặt cái ghế lên trên cái ghế, còn sàng tọa nên chất thành đống ở phía bên trên. Nên thu xếp các đồ vật bằng gỗ và các đồ vật bằng đất nung. Nên lấy cỏ hoặc lá phủ lên, rồi mới nên ra đi (nghĩ rằng): ‘Có lẽ các thứ này sẽ còn được tồn tại.’
Này các tỳ khưu, đây là phận sự của các tỳ khưu xuất hành, các tỳ khưu xuất hành nên thực hành như thế.”
4. PHẬN SỰ TÙY HỶ:
Inda-bh 8~8Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu không nói lời tùy hỷ ở chỗ thọ thực. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại không nói lời tùy hỷ ở chỗ thọ thực?” Các tỳ khưu đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép nói lời tùy hỷ ở chỗ thọ thực.”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Vị nào sẽ nói lời tùy hỷ ở chỗ thọ thực?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão nói lời tùy hỷ ở chỗ thọ thực.”
Vào lúc bấy giờ, có bữa trai phạn dâng đến hội chúng của nhóm người nọ. Đại đức Sāriputta là trưởng lão của hội chúng. Các vị tỳ khưu (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn đã cho phép vị tỳ khưu trưởng lão nói lời tùy hỷ ở chỗ thọ thực’ nên đã để đại đức Sāriputta ở lại mỗi một mình rồi ra đi. Khi ấy, đại đức Sāriputta đã làm hoan hỷ những người ấy rồi đã đi về chỉ mỗi một mình sau cùng. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy đại đức Sāriputta mỗi một mình đang đi lại từ đàng xa, sau khi nhìn thấy đã nói với đại đức Sāriputta điều này:—“Này Sāriputta, chắc hẳn bữa thọ thực đã được tốt đẹp?”—“Bạch ngài, bữa thọ thực đã được tốt đẹp. Tuy nhiên các tỳ khưu đã để con ở lại mỗi một mình và ra đi.”
Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép bốn hay năm vị tỳ khưu trưởng lão hoặc kế tiếp vị trưởng lão chờ đợi ở chỗ thọ thực.”
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu trưởng lão nọ bị mắc tiêu đã chờ đợi ở chỗ thọ thực. Trong lúc không thể kiềm chế việc đại tiện, vị ấy bị ngất xỉu ngã xuống. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ra đi khi có việc cần làm sau khi đã thông báo cho vị tỳ khưu kế bên.”
5. PHẬN SỰ Ở CHỖ THỌ THỰC:
Inda-bh 9~9Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, không đúng quy cách đi đến chỗ thọ thực, tách ra rồi đi lên phía trước các tỳ khưu trưởng lão, chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống, còn xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi, lại còn trải ra y hai lớp rồi ngồi xuống ở trong xóm nhà. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, không đúng quy cách lại đi đến chỗ thọ thực, tách ra rồi đi lên phía trước các tỳ khưu trưởng lão, chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống, còn xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi, lại còn trải ra y hai lớp rồi ngồi xuống ở trong xóm nhà?”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, không đúng quy cách đi đến chỗ thọ thực, … (như trên) … lại còn trải ra y hai lớp rồi ngồi xuống ở trong xóm nhà, có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự ở chỗ thọ thực cho các tỳ khưu, các tỳ khưu ở chỗ thọ thực nên thực hành như thế.
Inda-bh 10~10Nếu thời giờ được thông báo ở trong tu viện, vị (tỳ khưu) nên mặc y nội tròn đều với sự che phủ ba vòng tròn, nên buộc dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trùm lên, nên thắt lại dây buộc, nên rửa bình bát rồi cầm lấy, nên đi vào làng một cách nghiêm trang không hấp tấp. Không nên tách ra rồi đi lên phía trước các tỳ khưu trưởng lão. Nên đi ở nơi xóm nhà với y được che kín đáo. Nên ―nt― với (thái độ) khéo thu thúc. Nên ―nt― với mắt nhìn xuống. Không nên ―nt― với thân bị vén hở ra. Không nên ―nt― với tiếng cười vang. Nên ―nt― với giọng nói nhỏ nhẹ. Không nên ―nt― với sự đung đưa thân. Không nên ―nt― với sự đung đưa cánh tay. Không nên ―nt― với sự lắc lư đầu. Không nên ―nt― với tay chống nạnh. Không nên ―nt― với (đầu) được trùm lại. Không nên đi ở nơi xóm nhà với sự nhón gót.
Nên ngồi ở trong nhà với y được che kín đáo. Nên ―nt― với (thái độ) khéo thu thúc. Nên ―nt― với mắt nhìn xuống. Không nên ―nt― với thân bị vén hở ra. Không nên ―nt― với tiếng cười vang. Nên ―nt― với giọng nói nhỏ nhẹ. Không nên ―nt― với sự đung đưa thân. Không nên ―nt― với sự đung đưa cánh tay. Không nên ―nt― với sự lắc lư đầu. Không nên ―nt― với tay chống nạnh. Không nên ―nt― với (đầu) được trùm lại. Không nên ―nt― với sự ôm đầu gối. Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Không nên trải ra y hai lớp rồi ngồi xuống ở trong nhà.
Inda-bh 11~11Trong khi được dâng nước, nên cầm bình bát bằng hai tay và thọ lãnh nước. Nên hạ thấp xuống rồi rửa bình bát một cách cẩn thận không chà xát mạnh. Nếu có vật chứa nước rửa, nên hạ thấp xuống rồi đổ nước vào trong vật chứa nước rửa (nghĩ rằng): ‘Chớ làm vật chứa nước rửa bị văng nước tung tóe, chớ làm các tỳ khưu xung quanh bị nước văng nhằm, chớ làm y hai lớp bị dính nước.’
Nếu vật chứa nước rửa không có, nên hạ thấp xuống rồi tưới lên trên mặt đất (nghĩ rằng): ‘Chớ làm các tỳ khưu xung quanh bị nước văng nhằm, chớ làm y hai lớp bị dính nước.’
Trong khi được dâng cơm, nên cầm bình bát bằng hai tay rồi thọ lãnh cơm. Nên chừa chỗ cho xúp. Nếu có bơ lỏng, hoặc dầu ăn, hoặc thức ăn ngon, vị trưởng lão nên nói rằng: ‘Nên chia đều ra cho tất cả.’
Nên thọ lãnh vật thực một cách nghiêm trang. Nên thọ lãnh vật thực với sự chú tâm ở bình bát. Nên thọ lãnh vật thực với lượng xúp tương xứng. Nên thọ lãnh vật thực vừa ngang miệng (bình bát). Vị trưởng lão không nên thọ thực khi tất cả chưa được đầy đủ cơm.
Nên thọ dụng vật thực một cách nghiêm trang. Nên thọ dụng vật thực với sự chú tâm ở bình bát. Nên thọ dụng vật thực theo tuần tự. Nên thọ dụng vật thực với lượng xúp tương xứng. Không nên vun lên thành đống rồi thọ dụng vật thực. Không nên dùng cơm che lấp xúp hoặc thức ăn với ý muốn được nhiều hơn. Vị không bị bệnh không nên yêu cầu xúp và cơm vì nhu cầu của bản thân rồi thọ thực.
Inda-bh 12~12Không nên nhìn vào bình bát của các vị khác với ý định tìm lỗi. Không nên làm vắt cơm quá lớn. Nên làm vắt cơm tròn đều. Không nên há miệng ra khi vắt cơm chưa được đưa đến. Không nên đưa trọn bàn tay vào miệng trong lúc thọ thực. Không nên nói chuyện với miệng có vắt cơm. Không nên thọ thực theo lối đưa thức ăn vào miệng một cách liên tục. Không nên thọ thực theo lối cắn vắt cơm từng chút một. Không nên thọ thực theo lối làm phồng má. Không nên thọ thực có sự vung rảy bàn tay. Không nên thọ thực có sự làm rơi đổ cơm. Không nên thọ thực có sự le lưỡi. Không nên thọ thực có làm tiếng chép chép. Không nên thọ thực có làm tiếng rột rột. Không nên thọ thực có sự liếm tay. Không nên thọ thực có sự nạo vét bình bát. Không nên thọ thực có sự liếm môi. Không nên thọ lãnh tô nước uống bằng bàn tay có dính thức ăn.
Vị trưởng lão không nên thọ lãnh nước khi tất cả còn chưa thọ thực xong. Trong khi được dâng nước, nên cầm bình bát bằng hai tay rồi thọ lãnh nước. Nên hạ thấp xuống rồi rửa bình bát một cách cẩn thận không chà xát mạnh. Nếu có vật chứa nước rửa, nên hạ thấp xuống rồi đổ nước vào trong vật chứa nước rửa (nghĩ rằng): ‘Chớ làm vật chứa nước rửa bị văng nước tung tóe, chớ làm các tỳ khưu xung quanh bị nước văng nhằm, chớ làm y hai lớp bị dính nước.’ Nếu vật chứa nước rửa không có, nên hạ thấp xuống rồi tưới lên trên mặt đất (nghĩ rằng): ‘Chớ làm các tỳ khưu xung quanh bị nước văng nhằm, chớ làm y hai lớp bị dính nước.’ Không nên đổ bỏ nước rửa bình bát có lẫn cơm ở nơi xóm nhà.
Trong khi đi trở về, các tỳ khưu mới tu nên đi về trước tiên, sau đó là các vị trưởng lão. Nên đi ở nơi xóm nhà với y được che kín đáo. Nên ―nt― với (thái độ) khéo thu thúc. Nên ―nt― với mắt nhìn xuống. Không nên ―nt― với thân bị vén hở ra. Không nên ―nt― với tiếng cười vang. Nên ―nt― với giọng nói nhỏ nhẹ. Không nên ―nt― với sự đung đưa thân. Không nên ―nt― với sự đung đưa cánh tay. Không nên ―nt― với sự lắc lư đầu. Không nên ―nt― với tay chống nạnh. Không nên ―nt― với (đầu) được trùm lại. Không nên đi ở nơi xóm nhà với sự nhón gót.
Này các tỳ khưu, đây là phận sự ở chỗ thọ thực của các tỳ khưu, các tỳ khưu ở chỗ thọ thực nên thực hành như thế.”
Tụng phẩm thứ nhất.
6. PHẬN SỰ CỦA VỊ ĐI KHẤT THỰC:
Inda-bh 1~13Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi khất thực mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, không đúng quy cách rồi đi khất thực. Các vị đi vào tư gia không suy xét trước, đi ra không suy xét trước, đi vào vô cùng vội vã, đi ra cũng vô cùng vội vã, đứng quá xa, đứng quá gần, đứng lại quá lâu, và quay đi quá lẹ.
Còn có vị tỳ khưu đi khất thực nọ đã đi vào tư gia không suy xét trước. Và vị ấy trong khi nghĩ là cửa lớn rồi đã bước (lầm) vào hậu phòng nọ. Và ở trong hậu phòng ấy, có người đàn bà khỏa thân đang nằm ngửa ra. Vị tỳ khưu ấy đã nhìn thấy người đàn bà ấy khỏa thân đang nằm ngửa ra, sau khi nhìn thấy (nghĩ rằng): ‘Đây không phải là cửa lớn, đây là hậu phòng’ rồi đã từ hậu phòng ấy đi ra. Chồng của người đàn bà ấy đã nhìn thấy người đàn bà ấy khỏa thân đang nằm ngửa ra, sau khi nhìn thấy (nghĩ rằng): ‘Vợ của ta đã bị gã tỳ khưu này làm nhơ’ nên đã giữ vị tỳ khưu ấy lại và đánh đòn.
Khi ấy, người đàn bà ấy đã thức dậy vì tiếng động ấy và đã nói với người chồng ấy điều này:—“Phu quân, vì sao ông lại đánh đòn vị tỳ khưu này vậy?”
—“Gã tỳ khưu này đã làm nhơ bà.”
—“Phu quân, thiếp không có bị vị tỳ khưu này làm nhơ. Vị tỳ khưu ấy không có làm.” Và đã bảo thả vị tỳ khưu ấy.
Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã đi đến tu viện và kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu đi khất thực lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, không đúng quy cách rồi đi khất thực, đi vào tư gia không suy xét trước, đi ra không suy xét trước, đi vào vô cùng vội vã, đi ra cũng vô cùng vội vã, đứng quá xa, đứng quá gần, đứng lại quá lâu, và quay đi quá lẹ?”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, nghe nói … (như trên) … có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự cho các tỳ khưu đi khất thực, các tỳ khưu đi khất thực nên thực hành như thế.
Inda-bh 2~14Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đi khất thực (nghĩ rằng): ‘Bây giờ ta sẽ đi vào làng,’ thì nên mặc y nội tròn đều với sự che phủ ba vòng tròn, nên buộc dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trùm lên, nên thắt lại dây buộc, nên rửa bình bát rồi cầm lấy, nên đi vào làng một cách nghiêm trang không hấp tấp. Nên đi ở nơi xóm nhà với y được che kín đáo. Nên ―nt― với (thái độ) khéo thu thúc. Nên ―nt― với mắt nhìn xuống. Không nên ―nt― với thân bị vén hở ra. Không nên ―nt― với tiếng cười vang. Nên ―nt― với giọng nói nhỏ nhẹ. Không nên ―nt― với sự đung đưa thân. Không nên ―nt― với sự đung đưa cánh tay. Không nên ―nt― với sự lắc lư đầu. Không nên ―nt― với tay chống nạnh. Không nên ―nt― với (đầu) được trùm lại. Không nên đi ở nơi xóm nhà với sự nhón gót.
Trong khi đi vào tư gia nên suy xét rằng: ‘Ta sẽ đi vào lối này, ta sẽ đi ra bằng lối này.’ Không nên đi vào quá vội vã. Không nên đi ra quá vội vã. Không nên đứng quá xa. Không nên đứng quá gần. Không nên đứng lại quá lâu. Không nên quay đi quá lẹ. Khi đứng nên suy xét rằng: ‘(Gia chủ) có ý muốn bố thí vật thực hay không có ý muốn bố thí?’ Nếu (gia chủ) ngưng công việc, hoặc từ chỗ ngồi đứng dậy, hoặc đụng đến cái muỗng, hoặc đụng đến cái đĩa, hoặc thỉnh đứng lại thì nên đứng lại (nghĩ rằng): ‘Dường như có ý định bố thí.’ Trong khi được dâng vật thực, nên dùng bàn tay trái vén y hai lớp lên, dùng bàn tay phải mở nắp bình bát, rồi dùng hai tay ôm bình bát và thọ lãnh vật thực. Và không nên nhìn mặt người nữ thí chủ bố thí vật thực.466
Nên suy xét rằng: ‘(Gia chủ) có ý muốn bố thí xúp hay không có ý muốn bố thí?’ Nếu (gia chủ) đụng đến cái muỗng, hoặc đụng đến cái đĩa, hoặc thỉnh đứng lại thì nên đứng lại (nghĩ rằng): ‘Dường như có ý định bố thí.’ Khi vật thực đã được bố thí, nên dùng y hai lớp che bình bát lại rồi quay đi một cách nghiêm trang không hấp tấp.
Inda-bh 3~15Nên đi ở nơi xóm nhà với y được che kín đáo. Nên ―nt― với (thái độ) khéo thu thúc. Nên ―nt― với mắt nhìn xuống. Không nên ―nt― với thân bị vén hở ra. Không nên ―nt― với tiếng cười vang. Nên ―nt― với giọng nói nhỏ nhẹ. Không nên ―nt― với sự đung đưa thân. Không nên ―nt― với sự đung đưa cánh tay. Không nên ―nt― với sự lắc lư đầu. Không nên ―nt― với tay chống nạnh. Không nên ―nt― với (đầu) được trùm lại. Không nên đi ở nơi xóm nhà với sự nhón gót.
Vị nào đi khất thực từ làng trở về trước tiên, vị ấy nên sắp xếp chỗ ngồi; nên chuẩn bị nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên rửa chậu đựng đồ thừa rồi đem lại. Nên đem lại nước uống và nước rửa. Vị nào đi khất thực từ làng trở về sau cùng, nếu vật thực được ăn còn thừa lại, nếu muốn thì vị ấy ăn; nếu không muốn, thì đem quăng bỏ ở nơi không có cỏ xanh hoặc đổ xuống nước không có sinh vật.
Vị ấy nên xếp chỗ ngồi lại. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên rửa chậu đựng đồ thừa rồi cất đi. Nên dọn dẹp nước uống, nước rửa. Nên quét nhà ăn. Vị nào thấy lu nước uống, hoặc lu nước rửa, hoặc lu nước nhà vệ sinh hết nước, trống trơn, vị ấy nên đổ nước vào. Nếu vị ấy không làm nổi, thì nên mời vị thứ hai lại với dấu hiệu bằng tay và nhờ phụ giúp với hành động bằng tay, và không vì lý do đó mà nói ra bằng lời.
Này các tỳ khưu, đây là phận sự của các tỳ khưu đi khất thực, các tỳ khưu đi khất thực nên thực hành như thế.”
7. PHẬN SỰ CỦA VỊ NGỤ Ở RỪNG:
Inda-bh 4~16Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu cư ngụ ở trong rừng. Các vị ấy không dự trữ nước uống, không dự trữ nước rửa, không dự trữ lửa, không dự trữ vật tạo lửa, không biết về các vị trí của những ngôi sao, không biết phương hướng và khu vực. Bọn trộm cướp sau khi đi đến nơi ấy đã nói với các tỳ khưu ấy điều này:—“Thưa ngài có nước uống không?”
—“Anh bạn à, không có.”
—“Thưa ngài, có nước rửa không?”
—“Anh bạn à, không có.”
—“Thưa ngài, có lửa không?”
—“Anh bạn à, không có.”
—“Thưa ngài, có vật tạo lửa không?”
—“Anh bạn à, không có.”
—“Thưa ngài, có các vị trí của những ngôi sao không?”
—“Anh bạn à, chúng tôi không biết.”
—“Thưa ngài, có phương hướng và khu vực không?”
—“Anh bạn à, chúng tôi không biết.”
—“Thưa ngài, hôm nay liên quan đến điều gì?”
—“Anh bạn à, chúng tôi không biết.”
—“Thưa ngài, hướng này là hướng gì?”
—“Anh bạn à, chúng tôi không biết.”
Khi ấy, bọn trộm cướp ấy (nghĩ rằng): ‘Những người này không có nước uống, không có nước rửa, không có lửa, không có vật tạo lửa, không biết các vị trí của những ngôi sao, không biết phương hướng và khu vực; những người này là trộm cướp, những người này không phải là các tỳ khưu’ nên đã đánh đập rồi bỏ đi. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự cho các tỳ khưu ở rừng, các tỳ khưu ở rừng nên thực hành như thế.
Inda-bh 5~17Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ngụ ở rừng sau khi thức dậy vào lúc sáng sớm nên để bình bát vào trong túi xách, đeo lên vai, khoác y lên người, mang dép vào, thu xếp các đồ vật bằng gỗ và các đồ vật bằng đất nung lại, đóng cửa lớn và cửa sổ, rồi rời chỗ trú ngụ (nghĩ rằng): ‘Bây giờ, ta sẽ đi vào làng.’ Nên tháo dép ra, để ở chỗ thấp, giũ sạch, rồi bỏ vào túi xách, đeo lên vai, nên mặc y nội tròn đều với sự che phủ ba vòng tròn, nên buộc dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trùm lên, nên thắt lại dây buộc, nên rửa bình bát rồi cầm lấy, nên đi vào làng một cách nghiêm trang không hấp tấp. Nên đi ở nơi xóm nhà với y được che kín đáo. Nên ―nt― với (thái độ) khéo thu thúc. Nên ―nt― với mắt nhìn xuống. Không nên ―nt― với thân bị vén hở ra. Không nên ―nt― với tiếng cười vang. Nên ―nt― với giọng nói nhỏ nhẹ. Không nên ―nt― với sự đung đưa thân. Không nên ―nt― với sự đung đưa cánh tay. Không nên ―nt― với sự lắc lư đầu. Không nên ―nt― với tay chống nạnh. Không nên ―nt― với (đầu) được trùm lại. Không nên đi ở nơi xóm nhà với sự nhón gót.
Trong khi đi vào tư gia nên suy xét rằng: ‘Ta sẽ đi vào lối này, ta sẽ đi ra bằng lối này.’ Không nên đi vào quá vội vã. Không nên đi ra quá vội vã. Không nên đứng quá xa. Không nên đứng quá gần. Không nên đứng lại quá lâu. Không nên quay đi quá lẹ. Khi đứng nên suy xét rằng: ‘(Gia chủ) có ý muốn bố thí vật thực hay không có ý muốn bố thí?’ Nếu (gia chủ) ngưng công việc, hoặc từ chỗ ngồi đứng dậy, hoặc đụng đến cái muỗng, hoặc đụng đến cái đĩa, hoặc thỉnh đứng lại thì nên đứng lại (nghĩ rằng): ‘Dường như có ý định bố thí.’ Trong khi được dâng vật thực, nên dùng bàn tay trái vén y hai lớp lên, dùng bàn tay phải mở nắp bình bát, rồi dùng hai tay ôm bình bát và thọ lãnh vật thực. Và không nên nhìn mặt người nữ thí chủ bố thí vật thực. Nên suy xét rằng: ‘(Gia chủ) có ý muốn bố thí xúp hay không có ý muốn bố thí?’ Nếu (gia chủ) đụng đến cái muỗng, hoặc đụng đến cái đĩa, hoặc thỉnh đứng lại thì nên đứng lại (nghĩ rằng): ‘Dường như có ý định bố thí.’ Khi vật thực đã được bố thí, nên dùng y hai lớp che bình bát lại rồi quay đi một cách nghiêm trang không hấp tấp. Nên đi ở nơi xóm nhà với y được che kín đáo. … (như trên) … Không nên đi ở nơi xóm nhà với sự nhón gót.
Sau khi đi ra khỏi làng, nên để bình bát vào trong túi xách, đeo lên vai, cuốn tròn y lại, đội lên đầu, mang dép vào, rồi đi về.
Inda-bh 6~18Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ngụ ở rừng nên dự trữ nước uống. Nên dự trữ nước rửa. Nên dự trữ lửa. Nên dự trữ vật tạo lửa. Nên dự trữ cây gậy để chống. Nên học về các vị trí của những ngôi sao toàn bộ hoặc một phần. Nên rành rẽ về các phương hướng. Này các tỳ khưu, đây là phận sự của các tỳ khưu ở rừng, các tỳ khưu ở rừng nên thực hành như thế.”
8. PHẬN SỰ Ở NƠI CƯ NGỤ:
Inda-bh 7~19Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu đang may y ở ngoài trời. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã đập giũ sàng tọa ngược chiều gió ở trước mái hiên. Các vị tỳ khưu đã bị lấm bụi. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại đập giũ sàng tọa ngược chiều gió ở trước mái hiên khiến các tỳ khưu bị lấm bụi?”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư đập giũ sàng tọa ngược chiều gió ở trước mái hiên khiến các tỳ khưu bị lấm bụi, có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự ở nơi cư ngụ cho các tỳ khưu, các tỳ khưu ở nơi cư ngụ nên thực hành như thế.
Inda-bh 8~20Vị (tỳ khưu) cư ngụ trong trú xá nào, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nên làm sạch sẽ nếu có nỗ lực. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc. Nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc. Nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc.
Nếu ở trú xá có mạng nhện, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che. Nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ bị đốm loang lỗ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen bị đốm loang lỗ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu phần nền không được thực hiện, nên rải rắc với nước rồi quét (nghĩ rằng): ‘Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.’ Nên gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc. Không nên đập giũ sàng tọa ở gần các tỳ khưu. Không nên đập giũ sàng tọa ở gần các trú xá. Không nên đập giũ sàng tọa ở gần nước uống. Không nên đập giũ sàng tọa ở gần nước rửa. Không nên đập giũ sàng tọa ngược chiều gió ở trước mái hiên. Nên đập giũ sàng tọa ở phía dưới gió.
Inda-bh 9~21Sau khi phơi nắng tấm trải nền ở một góc, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa, rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa, rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.
Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống.
Inda-bh 10~22Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.
Nếu phòng có rác bẩn, nên quét phòng. Nếu cổng có rác bẩn, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác bẩn, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác bẩn, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác bẩn, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên lại đem nước uống. Nếu nước rửa không có, nên đem lại nước rửa. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.
Nếu cư ngụ trong trú xá với vị thâm niên, khi chưa xin phép vị thâm niên không nên đọc tụng, không nên đưa ra các câu hỏi, không nên học bài, không nên giảng Pháp, không nên thắp đèn, không nên thổi tắt đèn, không nên mở cửa sổ, không nên đóng cửa sổ. Nếu đi kinh hành cùng với vị thâm niên trên cùng một đường kinh hành, khi đối đầu với vị thâm niên thì nên xoay lại và không nên va chạm vị thâm niên dù là bằng chéo y hai lớp.
Này các tỳ khưu, đây là phận sự ở nơi cư ngụ của các tỳ khưu, các tỳ khưu ở nơi cư ngụ nên thực hành như thế.”
9. PHẬN SỰ Ở NHÀ TẮM HƠI:
Inda-bh 11~23Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư ở trong nhà tắm hơi trong khi bị cản trở bởi các tỳ khưu trưởng lão, do không kính trọng nên đem lại nhiều củi, đốt lửa, đóng cửa ra vào, và ngồi xuống ở cửa ra vào. Các tỳ khưu bị hành hạ bởi sức nóng, không mở cửa được, nên bị ngất xỉu ngã xuống. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư ở trong nhà tắm hơi trong khi bị cản trở bởi các tỳ khưu trưởng lão, do không kính trọng nên đem lại nhiều củi, đốt lửa, đóng cửa ra vào, và ngồi xuống ở cửa ra vào khiến các tỳ khưu bị hành hạ bởi sức nóng, không mở cửa được, nên bị ngất xỉu ngã xuống?”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư ở trong nhà tắm hơi trong khi bị cản trở bởi các tỳ khưu trưởng lão, do không kính trọng nên đem lại nhiều củi, đốt lửa, đóng cửa ra vào, và ngồi xuống ở cửa ra vào khiến các tỳ khưu bị hành hạ bởi sức nóng, không mở cửa được, nên bị ngất xỉu ngã xuống, có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, ở trong nhà tắm hơi trong khi bị cản trở bởi các tỳ khưu trưởng lão, do không kính trọng không nên đem lại nhiều củi và đốt lửa; vị nào đốt thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, không nên đóng cửa ra vào rồi ngồi xuống ở cửa ra vào; vị nào ngồi thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 12~24Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự ở nhà tắm hơi cho các tỳ khưu, các tỳ khưu ở nhà tắm hơi nên thực hành như thế.
Vị nào đi vào nhà tắm hơi trước tiên, nếu tro tích lũy nhiều (vị ấy) nên đem tro đi đổ. Nếu nhà tắm hơi có rác bẩn, nên quét nhà tắm hơi. Nếu bục nền xung quanh có rác bẩn, nên quét bục nền xung quanh. Nếu căn phòng có rác bẩn nên quét căn phòng. Nếu cổng có rác bẩn, nên quét cổng. Nếu gian phòng lớn của nhà tắm hơi có rác bẩn, nên quét gian phòng lớn của nhà tắm hơi. Nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét, nên đổ nước vào máng nước. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi, nếu có nỗ lực nên kỳ cọ cho các tỳ khưu trưởng lão. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi ra khỏi nhà tắm hơi. Ở trong nước, nếu có nỗ lực nên kỳ cọ cho các tỳ khưu trưởng lão. Không nên tắm ở phía trước, không nên tắm ở phía trên các tỳ khưu trưởng lão. Vị đã tắm xong trong khi đi ra (khỏi nước) nên nhường đường cho vị đi xuống. Vị nào rời nhà tắm hơi cuối cùng, nếu nhà tắm hơi bị lầy lội nên rửa sạch, nên rửa sạch máng đất sét, nên dọn dẹp ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên dập tắt lửa, nên đóng cửa, rồi đi ra.
Này các tỳ khưu, đây là phận sự ở nhà tắm hơi của các tỳ khưu, các tỳ khưu ở nhà tắm hơi nên thực hành như thế.”
10. PHẬN SỰ Ở NHÀ VỆ SINH:
Inda-bh 13~25Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ dòng dõi Bà-la-môn đại tiện xong không muốn rửa sạch (nghĩ rằng): “Ai lại đụng đến đồ hôi hám hạ tiện này?” Có con giun đũa đã dính ở hậu môn của vị ấy. Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu.
—“Này đại đức, có phải đại đức đại tiện xong mà không rửa sạch?”
—“Này các đại đức, đúng vậy.”
Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao vị tỳ khưu đại tiện xong lại không rửa sạch?”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này tỳ khưu, nghe nói ngươi đại tiện xong lại không rửa sạch, có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, sau khi đại tiện xong nếu có nước không nên không rửa sạch; vị nào không rửa sạch thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 14~26Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi đại tiện ở nhà vệ sinh theo thứ tự thâm niên. Các tỳ khưu mới tu đi đến trước tiên bị mắc tiêu vẫn chờ đợi. Trong lúc kiềm chế việc đại tiện, các vị ấy bị ngất xỉu ngã xuống. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói … (như trên) … có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, việc đại tiện ở nhà vệ sinh không nên thực hành theo thứ tự thâm niên; vị nào thực hành thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện việc đại tiện theo thứ tự đi đến.”
Inda-bh 15~27Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đi vào nhà vệ sinh vô cùng vội vã, vén y lên rồi đi vào, đại tiện rặn thành tiếng, đại tiện trong lúc nhai gỗ chà răng, đại tiện ra ngoài máng đựng phân, tiểu tiện ra ngoài máng nước tiểu, khạc nhổ vào máng nước tiểu, chùi bằng khúc cây chùi bị sần sùi, làm rơi khúc cây chùi vào hố phân, đi ra vô cùng vội vã, vén y lên rồi đi ra, rửa ráy có làm tiếng chắt lưỡi, chừa lại nước ở trong gáo múc nước rửa. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại đi vào nhà vệ sinh vô cùng vội vã, … (như trên) … chừa lại nước ở trong gáo múc nước rửa?”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này tỳ khưu, nghe nói … (như trên) … có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự ở nhà vệ sinh cho các tỳ khưu, các tỳ khưu ở nhà vệ sinh nên thực hành như thế.
Vị đi đến nhà vệ sinh, đứng ở bên ngoài, nên tằng hắng. Vị ngồi bên trong cũng nên tằng hắng. Nên máng y lên sào treo y hoặc dây phơi y rồi nên đi vào nhà vệ sinh một cách cẩn thận không hấp tấp. Không nên đi vào quá vội vã. Không nên vén y (nội) lên rồi đi vào. Khi đã đứng trên bệ nhà vệ sinh mới nên kéo y (nội) lên. Không nên đại tiện rặn thành tiếng. Không nên đại tiện trong lúc nhai gỗ chà răng. Không nên đại tiện ra ngoài máng đựng phân. Không nên tiểu tiện ra ngoài máng nước tiểu. Không nên khạc nhổ vào máng nước tiểu. Không nên chùi với khúc cây chùi bị sần sùi. Không nên làm rơi khúc cây chùi vào hố phân. Khi còn đứng trên bệ nhà vệ sinh, nên che lại kín đáo. Không nên đi ra vô cùng vội vã. Không nên vén y (nội) lên rồi đi ra. Khi đã đứng ở sàn rửa mới nên vén y lên. Không nên rửa ráy có làm tiếng chắt lưỡi. Không nên chừa lại nước ở trong gáo múc nước rửa. Khi còn đứng ở sàn rửa, nên che lại kín đáo. Nếu nhà vệ sinh bị dơ nên rửa sạch. Nếu thùng đựng đồ chùi bị đầy, nên đổ bỏ các khúc cây chùi. Nếu nhà vệ sinh có rác bẩn nên quét nhà vệ sinh. Nếu bục nền xung quanh có rác bẩn nên quét bục nền xung quanh. Nếu căn phòng có rác bẩn nên quét căn phòng. Nếu cổng có rác bẩn nên quét cổng. Nếu lu nước rửa không có nước, nên đổ nước vào lu nước rửa.
Này các tỳ khưu, đây là phận sự ở nhà vệ sinh của các tỳ khưu, các tỳ khưu ở nhà vệ sinh nên thực hành như thế.”
11. PHẬN SỰ ĐỐI VỚI THẦY TẾ ĐỘ:
Inda-bh 16~28Vào lúc bấy giờ, các người đệ tử không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các người đệ tử lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ?”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, nghe nói các người đệ tử không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ, có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, vì sao các người đệ tử lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.” Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự đối với các vị thầy tế độ cho các người đệ tử, đối với các vị thầy tế độ các người đệ tử nên thực hành như thế.
Này các tỳ khưu, người đệ tử nên thực hành phận sự đúng đắn đối với vị thầy tế độ. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này:
Nên thức dậy vào lúc sáng sớm, cởi dép ra, đắp thượng y một bên vai, rồi nên dâng gỗ chà răng. Nên dâng nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa tô rồi đem cháo lại. Khi thầy đã uống cháo xong, nên dâng nước, nên nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất. Khi thầy tế độ đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi.
Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy. Nếu thầy tế độ có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, nên nhận lại y lót trong (đã thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi dâng lên. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. Nếu thầy tế độ muốn có vị Sa-môn hầu cận, (người đệ tử) nên mặc y nội tròn đều với sự che phủ ba vòng tròn, buộc dây thắt lưng, gấp y hai lớp thành nếp rồi đắp lên, thắt lại dây buộc, rửa bình bát và cầm lấy, rồi làm vị Sa-môn hầu cận cho thầy tế độ. Không nên đi quá xa, không nên đi quá gần. Nên nhận lấy bình bát được (vị thầy) hoán đổi.
Khi thầy tế độ đang nói, không nên cắt ngang lời nói nửa chừng. Khi thầy tế độ có khả năng phạm tội lúc đang nói thì nên ngăn lại. Khi quay trở về, nên đi về trước tiên và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Sau khi đi ra đón tiếp, nên rước y và bình bát. Nên trao y lót trong (trước đây), nên nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn y ở chỗ nắng. Nên gấp y lại. Trong khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): ‘Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.’ Nên đặt dây thắt lưng ở phần y đã gấp lại.
Inda-bh 17~29Nếu có đồ ăn khất thực và thầy tế độ có ý muốn thọ dụng thì nên dâng nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý thầy tế độ về nước uống. Khi thầy ăn xong nên dâng nước (rửa), nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn bình bát ở chỗ nắng. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót.
Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống.
Khi thầy tế độ đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy.
Nếu thầy tế độ có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng. Nếu thầy tế độ có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi rồi đi đến từ phía sau lưng và trao ghế ngồi của nhà tắm hơi cho thầy tế độ, nên nhận lấy y và để ở một bên. Nên trao bột tắm, nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi.
Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho thầy tế độ. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi. Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho thầy tế độ. Khi đã tắm xong nên đi ra (khỏi nước) trước tiên, nên lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của thầy tế độ. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý thầy tế độ về nước uống.
Inda-bh 18~30Nếu có ý muốn thỉnh (thầy) đọc tụng, nên thỉnh (thầy) đọc tụng. Nếu có ý muốn hỏi đạo, thì có thể hỏi đạo. Ở trú xá nào thầy tế độ cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc. Nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc. Nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc.
Nếu ở trú xá có mạng nhện, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che. Nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ bị đốm loang lỗ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen bị đốm loang lỗ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu phần nền không được thực hiện, nên rải rắc với nước rồi quét (nghĩ rằng): ‘Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.’ Nên gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc.
Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa, rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất) không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa, rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.
Inda-bh 19~31Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống.
Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại.
Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.
Nếu phòng có rác bẩn, nên quét phòng. Nếu cổng có rác bẩn, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác bẩn, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác bẩn, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác bẩn, nên quét nhà vệ sinh.
Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.
Inda-bh 20~32Nếu sự bực bội sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu nỗi nghi hoặc sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu tà kiến sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu thầy tế độ bị phạm tội nặng xứng đáng hình phạt parivāsa, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt parivāsa cho thầy tế độ?’
Nếu thầy tế độ xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể đưa thầy tế độ về lại (hình phạt) ban đầu?’ Nếu thầy tế độ xứng đáng hình phạt mānatta, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt mānatta cho thầy tế độ?’ Nếu thầy tế độ xứng đáng sự giải tội, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho thầy tế độ?’ Nếu hội chúng có ý định thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với thầy tế độ, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi thực hiện hành sự đối với thầy tế độ, hoặc đổi thành nhẹ hơn?’ Khi hội chúng đã thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với thầy tế độ, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thầy tế độ có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?’
Inda-bh 21~33Nếu y của thầy tế độ cần phải giặt, người đệ tử nên giặt hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của thầy tế độ được giặt?’ Nếu y của thầy tế độ cần phải may, người đệ tử nên may hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của thầy tế độ được may?’ Nếu thuốc nhuộm của thầy tế độ cần phải nấu, người đệ tử nên nấu hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm của thầy tế độ được nấu?’ Nếu y của thầy tế độ cần phải nhuộm, người đệ tử nên nhuộm hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của thầy tế độ được nhuộm?’ Trong khi nhuộm y, nên nhuộm bằng cách đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng.
Không có phép của thầy tế độ, không nên cho bình bát đến người khác, không nên thọ lãnh bình bát của người khác, không nên cho y đến người khác, không nên thọ lãnh y của người khác, không nên cho vật dụng đến người khác, không nên thọ lãnh vật dụng của người khác, không nên cạo tóc cho người khác, không nên bảo người khác cạo tóc, không nên kỳ cọ người khác, không nên bảo người khác kỳ cọ, không nên hầu hạ người khác, không nên bảo người khác hầu hạ, không nên làm vị Sa-môn hầu cận cho người khác, không nên nhận người khác làm vị Sa-môn hầu cận, không nên mang đồ ăn khất thực lại dùm người khác, không nên nhờ người khác mang dùm đồ ăn khất thực lại.
Chưa xin phép thầy tế độ không nên đi vào làng, không nên đi đến mộ địa, không nên bỏ đi hướng khác. Nếu thầy tế độ bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời, nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục.
Này các tỳ khưu, đây là phận sự đối với các vị thầy tế độ của các người đệ tử, các người đệ tử đối với các vị thầy tế độ nên thực hành như thế.”
12. PHẬN SỰ ĐỐI VỚI ĐỆ TỬ:
Inda-bh 22~34Vào lúc bấy giờ, các vị thầy tế độ không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người đệ tử. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các vị thầy tế độ lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người đệ tử?”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói các vị thầy tế độ không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người đệ tử, có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự đối với các người đệ tử cho các vị thầy tế độ, các vị thầy tế độ đối với các người đệ tử nên thực hành như thế.
Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ nên thực hành phận sự đúng đắn đối với người đệ tử. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này:
Này các tỳ khưu, thầy tế độ nên quan tâm đến người đệ tử, nên giúp đỡ bằng sự đọc tụng, bằng sự vấn hỏi, bằng sự giáo huấn, bằng sự giảng dạy. Nếu thầy tế độ có bình bát và người đệ tử không có bình bát, thầy tế độ nên cho bình bát đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để bình bát có thể phát sanh đến đệ tử?’ Nếu thầy tế độ có y và người đệ tử không có y, thầy tế độ nên cho y đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y có thể phát sanh đến đệ tử?’ Nếu thầy tế độ có vật dụng và người đệ tử không có vật dụng, thầy tế độ nên cho vật dụng đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để vật dụng có thể phát sanh đến đệ tử?’
Inda-bh 23~35Nếu người đệ tử bị bệnh, (vị thầy tế độ) nên thức dậy vào lúc sáng sớm. Nên trao gỗ chà răng. Nên trao nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa tô rồi đem cháo lại. Khi người đệ tử đã uống cháo xong, nên trao nước (rửa), nên nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất. Khi người đệ tử đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy.
Nếu người đệ tử có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, nên nhận lại y lót trong (đã thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trao cho. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. (Nghĩ rằng): ‘Đến lúc vị ấy sắp trở về,’ nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Sau khi đi ra đón tiếp, nên rước y và bình bát. Nên trao y lót trong (trước đây), nên nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn y ở chỗ nắng. Nên gấp y lại. Trong khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): ‘Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.’ Nên đặt dây thắt lưng ở phần y đã gấp lại.
Nếu có đồ ăn khất thực và người đệ tử có ý muốn thọ dụng thì nên trao nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý người đệ tử về nước uống. Khi người đệ tử ăn xong nên trao nước (rửa). Nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn bình bát ở chỗ nắng. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót.
Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống. Khi người đệ tử đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy.
Inda-bh 24~36Nếu người đệ tử có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng. Nếu người đệ tử có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm. Nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi đến, trao ghế ngồi của nhà tắm hơi, nhận lấy y, rồi nên đem để ở một bên. Nên trao bột tắm. Nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi.
Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho người đệ tử. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi. Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho người đệ tử. Khi đã tắm xong nên đi ra (khỏi nước) trước tiên, nên lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của người đệ tử. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý người đệ tử về nước uống. Ở trú xá nào người đệ tử cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nếu có nỗ lực thì (vị thầy) nên làm sạch sẽ. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y và bình bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc. ―nt― Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng. Nếu sự bực bội sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu nỗi nghi hoặc sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu tà kiến sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.
Inda-bh 25~37Nếu người đệ tử bị phạm tội nặng xứng đáng hình phạt parivāsa, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt parivāsa cho đệ tử?’ Nếu người đệ tử xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể đưa đệ tử về lại (hình phạt) ban đầu?’ Nếu người đệ tử xứng đáng hình phạt mānatta, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt mānatta cho đệ tử?’ Nếu người đệ tử xứng đáng sự giải tội, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho đệ tử?’
Nếu hội chúng có ý định thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người đệ tử, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi thực hiện hành sự đối với đệ tử, hoặc đổi thành nhẹ hơn?’ Khi hội chúng đã thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người đệ tử, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để đệ tử có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?’
Nếu y của người đệ tử cần phải giặt, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên giặt như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của đệ tử được giặt?’ Nếu y của người đệ tử cần phải may, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên may như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của đệ tử được may?’ Nếu thuốc nhuộm của người đệ tử cần phải nấu, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên nấu như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm của đệ tử được nấu?’ Nếu y của người đệ tử cần phải nhuộm, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên nhuộm như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của đệ tử được nhuộm?’ Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng. Nếu người đệ tử bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục.
Này các tỳ khưu, đây là phận sự đối với các người đệ tử của các vị thầy tế độ. Các vị thầy tế độ đối với các người đệ tử nên thực hành như thế.”
Dứt tụng phẩm thứ nhì.
13. PHẬN SỰ ĐỐI VỚI THẦY DẠY HỌC:
Inda-bh 26~38Vào lúc bấy giờ, các người học trò không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy dạy học. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các người học trò lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy dạy học?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, nghe nói các người học trò không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy dạy học, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự đối với các vị thầy dạy học cho các người học trò, các người học trò đối với các vị thầy dạy học nên thực hành như thế.
Này các tỳ khưu, người học trò nên thực hành phận sự đúng đắn đối với vị thầy dạy học. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này:
Nên thức dậy vào lúc sáng sớm, cởi dép ra, đắp thượng y một bên vai, rồi nên dâng gỗ chà răng, nên dâng nước súc miệng, nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa tô rồi đem cháo lại. Khi thầy đã uống cháo xong, nên dâng nước, nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất. Khi thầy dạy học đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi.
Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy. Nếu thầy dạy học có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, nên nhận lại y lót trong (đã thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi dâng lên. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. Nếu thầy dạy học muốn có vị Sa-môn hầu cận, vị ấy nên mặc y nội tròn đều với sự che phủ ba vòng tròn, buộc dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trùm lên, thắt lại dây buộc, rửa bình bát và cầm lấy, rồi làm vị Sa-môn hầu cận cho thầy dạy học. Không nên đi quá xa, không nên đi quá gần. Nên nhận lấy bình bát được (vị thầy) hoán đổi.
Inda-bh 27~39Khi thầy dạy học đang nói, không nên cắt ngang lời nói nửa chừng. Khi thầy dạy học có khả năng phạm tội lúc đang nói thì nên ngăn lại. Khi quay trở về, nên đi về trước tiên và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Sau khi đi ra đón tiếp, nên rước y và bình bát. Nên trao y lót trong (trước đây), nên nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn y ở chỗ nắng. Nên gấp y lại. Trong khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): ‘Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.’ Nên đặt dây thắt lưng ở phần y đã gấp lại.
Nếu có đồ ăn khất thực và thầy dạy học có ý muốn thọ dụng thì nên dâng nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý thầy dạy học về nước uống. Khi thầy ăn xong nên dâng nước (rửa), nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn bình bát ở chỗ nắng. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống.
Khi thầy dạy học đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy.
Nếu thầy dạy học có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu (thầy dạy học) có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng. Nếu thầy dạy học có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi rồi đi đến từ phía sau lưng và trao ghế ngồi của nhà tắm hơi cho thầy dạy học, nên nhận lấy y, và để ở một bên, nên trao bột tắm, nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi.
Inda-bh 28~40Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho thầy dạy học. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi. Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho thầy dạy học. Khi đã tắm xong nên đi ra (khỏi nước) trước tiên, nên lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của thầy dạy học. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý thầy dạy học về nước uống. Nếu có ý muốn thỉnh (thầy) đọc tụng, nên thỉnh (thầy) đọc tụng. Nếu có ý muốn hỏi đạo, thì có thể hỏi đạo.
Ở trú xá nào thầy dạy học cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc. Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc.
Nếu ở trú xá có mạng nhện, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ bị đốm loang lỗ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen bị đốm loang lỗ, nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được thực hiện, nên rải rắc với nước rồi quét (nghĩ rằng): ‘Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.’ Nên gom rác lại rồi đem đổ bỏ ở một góc.
Inda-bh 29~41Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn và khung cửa rồi sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây).
Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và đồ trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.
Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống.
Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm. Nếu phòng có rác bẩn, nên quét phòng. Nếu cổng có rác bẩn, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác bẩn, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác bẩn, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác bẩn, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.
Inda-bh 30~42Nếu sự bực bội sanh khởi ở thầy dạy học, người học trò nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu nỗi nghi hoặc sanh khởi ở thầy dạy học, người học trò nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu tà kiến sanh khởi ở thầy dạy học, người học trò nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu thầy dạy học bị phạm tội nặng xứng đáng hình phạt parivāsa, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt parivāsa cho thầy dạy học?’
Nếu thầy dạy học xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể đưa thầy dạy học về lại (hình phạt) ban đầu?’ Nếu thầy dạy học xứng đáng hình phạt mānatta, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt mānatta cho thầy dạy học?’ Nếu thầy dạy học xứng đáng sự giải tội, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho thầy dạy học?’ Nếu hội chúng có ý định thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với thầy dạy học, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi thực hiện hành sự đối với thầy dạy học, hoặc đổi thành nhẹ hơn?’ Khi hội chúng đã thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với vị thầy dạy học, người học trò nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thầy dạy học có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?’
Nếu y của thầy dạy học cần phải giặt, người học trò nên giặt hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của thầy dạy học được giặt?’ Nếu y của thầy dạy học cần phải may, người học trò nên may hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của thầy dạy học được may?’ Nếu thuốc nhuộm của thầy dạy học cần phải nấu, người học trò nên nấu hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm của thầy dạy học được nấu?’ Nếu y của thầy dạy học cần phải nhuộm, người học trò nên nhuộm hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của thầy dạy học được nhuộm?’ Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng.
Không có phép của thầy dạy học, không nên cho bình bát đến người khác. Không nên thọ lãnh bình bát của người khác. Không nên cho y đến người khác. Không nên thọ lãnh y của người khác. Không nên cho vật dụng đến người khác. Không nên thọ lãnh vật dụng của người khác. Không nên cạo tóc cho người khác. Không nên bảo người khác cạo tóc. Không nên kỳ cọ người khác. Không nên bảo người khác kỳ cọ. Không nên hầu hạ người khác. Không nên bảo người khác hầu hạ. Không nên làm vị Sa-môn hầu cận cho người khác. Không nên nhận người khác làm vị Sa-môn hầu cận. Không nên mang đồ ăn khất thực lại dùm người khác. Không nên nhờ người khác mang dùm đồ ăn khất thực lại.
Chưa xin phép thầy dạy học không nên đi vào làng, không nên đi đến mộ địa, không nên bỏ đi hướng khác. Nếu thầy dạy học bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục.
Này các tỳ khưu, đây là phận sự đối với các vị thầy dạy học của các người học trò, các người học trò đối với các vị thầy dạy học nên thực hành như thế.”
14. PHẬN SỰ ĐỐI VỚI HỌC TRÒ:
Inda-bh 31~43Vào lúc bấy giờ, các vị thầy dạy học không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người học trò. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các vị thầy dạy học lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người học trò?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói các vị thầy dạy học không thực hành phận sự đúng đắn đối với các người học trò, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự đối với các người học trò cho các vị thầy dạy học, các vị thầy dạy học đối với các người học trò nên thực hành như thế.
Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học nên thực hành phận sự đúng đắn đối với người học trò. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này:
Này các tỳ khưu, thầy dạy học nên quan tâm đến người học trò, nên giúp đỡ bằng sự đọc tụng, bằng sự vấn hỏi, bằng sự giáo huấn, bằng sự giảng dạy. Nếu thầy dạy học có bình bát và người học trò không có bình bát, thầy dạy học nên cho bình bát đến người học trò, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để bình bát có thể phát sanh đến học trò?’
Nếu thầy dạy học có y và người học trò không có y, thầy dạy học nên cho y đến người học trò, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y có thể phát sanh đến học trò?’
Nếu thầy dạy học có vật dụng và người học trò không có vật dụng, thầy dạy học nên cho vật dụng đến người học trò, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để vật dụng có thể phát sanh đến học trò?’
Inda-bh 32~44Nếu người học trò bị bệnh, (vị thầy dạy học) nên thức dậy vào lúc sáng sớm. Nên trao gỗ chà răng. Nên trao nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa tô rồi đem cháo lại. Khi người học trò đã uống cháo xong, nên cho nước, nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất. Khi người học trò đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy.
Nếu người học trò có ý định đi vào làng, nên trao y lót trong, nên nhận lại y lót trong (đã thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trao cho. Nên trao bình bát còn đẫm nước sau khi đã rửa sạch. (Nghĩ rằng): ‘Đến lúc vị ấy sắp trở về,’ nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Sau khi đi ra đón tiếp, nên rước y và bình bát. Nên trao y lót trong (trước đây), nên nhận lại y lót trong (mặc lúc đi).
Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn y ở chỗ nắng. Nên gấp y lại. Trong khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): ‘Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.’ Nên đặt dây thắt lưng ở phần y đã gấp lại.
Inda-bh 33~45Nếu có đồ ăn khất thực và người học trò có ý muốn thọ dụng thì nên trao nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ý người học trò về nước uống. Khi người học trò ăn xong nên trao nước (rửa). Nên nhận lại bình bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên để luôn bình bát ở chỗ nắng. Nên đem cất y và bình bát. Trong khi đặt bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, còn phần gấp lại ở bên này, rồi máng y xuống. Khi người học trò đã đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân.
Nếu khu vực ấy có rác bẩn thì nên quét khu vực ấy. Nếu người học trò có ý muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu (người học trò) có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng. Nếu người học trò có ý muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi đến, trao ghế ngồi của nhà tắm hơi, nhận lấy y, rồi để ở một bên. Nên trao bột tắm. Nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Trong khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi.
Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho người học trò. Trong khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi. Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho người học trò. Khi đã tắm xong nên đi ra (khỏi nước) trước tiên, nên lau khô nước ở thân thể của mình, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của người học trò. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ý người học trò về nước uống. Ở trú xá nào người học trò cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác bẩn, nếu có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Trong khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc. … (như trên) … Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.
Inda-bh 34~46Nếu sự bực bội sanh khởi ở người học trò, vị thầy dạy học nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu nỗi nghi hoặc sanh khởi ở người học trò, vị thầy dạy học nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu tà kiến sanh khởi ở người học trò, vị thầy dạy học nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.
Nếu người học trò bị phạm tội nặng xứng đáng hình phạt parivāsa, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt parivāsa cho học trò?’ Nếu người học trò xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể đưa học trò về lại (hình phạt) ban đầu?’ Nếu người học trò xứng đáng hình phạt mānatta, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể ban hình phạt mānatta cho học trò?’ Nếu người học trò xứng đáng sự giải tội, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho học trò?’
Nếu hội chúng có ý định thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người học trò, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi thực hiện hành sự đối với học trò, hoặc đổi thành nhẹ hơn?’ Khi hội chúng đã thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo đối với người học trò, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để học trò có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?’
Nếu y của người học trò cần phải giặt, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên giặt như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của học trò được giặt?’ Nếu y của học trò cần phải may, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên may như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của học trò được may?’ Nếu thuốc nhuộm của người học trò cần phải nấu, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên nấu như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm của học trò được nấu?’
Nếu y của người học trò cần phải nhuộm, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: ‘Ngươi nên nhuộm như vầy,’ hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: ‘Làm thế nào để y của học trò được nhuộm?’ Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng. Nếu người học trò bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. nên chờ đợi (đến khi) vị ấy có sự hồi phục.
Này các tỳ khưu, đây là phận sự đối với các người học trò của các vị thầy dạy học. Các vị thầy dạy học đối với các người học trò nên thực hành như thế.”
Chương Phận Sự là thứ tám.
Trong chương này có năm mươi lăm sự việc.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Inda-bh 1~47Có mang dép, và che dù, trùm đầu, đội y, nước uống, với sự không đảnh lễ, không hỏi (về chỗ ngụ), con rắn, các vị hiền thiện phàn nàn.
Inda-bh 2~48Vị đã cởi (dép), (hạ) dù, ở vai, và không vội vã trong khi đi đến, đã đặt y và bát xuống, và (chỗ ngồi) thích hợp, (các việc) đã được hỏi.
Inda-bh 3~49Nên xối nước, với vị đã rửa, (lau) giày dép với khăn khô, rồi ướt, vị trưởng thượng, vị mới tu, nên hỏi, (phòng) đã có người ở, và khu vực đi khất thực.
Inda-bh 4~50Các vị Thánh Hữu Học, nhà tiêu, nước uống, nước rửa, cây gậy chống, điều qui định từ nơi ấy, giờ giấc, (chờ) trong chốc lát, rác bẩn, nên đem ra ngoài thảm trải nền.
Inda-bh 5~51Khung giường, nệm gối, giường, ghế, và ống nhổ, tấm ván kê, tấm màn che, các hốc kẹt, màu đỏ, màu đen, (nền) không được thực hiện.
Inda-bh 6~52Rác, và tấm thảm trải nền, khung giường, giường và ghế, nệm gối, vật lót ngồi, ống nhổ, và tấm ván kê đầu.
Inda-bh 7~53Y và bình bát, và mặt đất, mép y phía bên kia, phần gấp lại ở bên này, từ hướng đông, và từ hướng tây, từ hướng bắc, rồi từ hướng nam.
Inda-bh 8~54Và khi lạnh khi nóng, ban ngày, ban đêm, căn phòng, cổng ra vào, phòng hội họp, nhà đốt lửa, và phận sự ở các nhà vệ sinh.
Inda-bh 9~55Nước uống, nước rửa, và hũ nước cho các việc súc miệng, phận sự đã được bậc Vô Song quy định, các điều này (nên được thực hành) bởi các vị vãng lai.
Inda-bh 10~56Không chịu (sắp xếp) chỗ ngồi, không nước, không đón tiếp, và không nước uống, không đảnh lễ, không sắp xếp (chỗ ngụ), và các vị hiền thiện phàn nàn.
Inda-bh 11~57Chỗ ngồi cho vị thâm niên, và nước rửa, sau khi đi ra đón tiếp, và nước uống, (nên lau) đôi dép, (phơi) ở một góc, nên đảnh lễ và nên sắp xếp (chỗ ngụ).
Inda-bh 12~58Đã có người ở, khu vực đi khất thực, và vị Thánh Hữu Học, chỗ nước uống và nước rửa, cây gậy chống, điều quy định, giờ giấc, đối với vị mới tu, về vị vẫn ngồi.
Inda-bh 13~59Nên cho đảnh lễ, nên chỉ rõ, tương tợ như đường lối dưới đây, phận sự đã được vị Hướng Dẫn Đoàn Xe chỉ dạy, các điều này (nên được thực hành) bởi các vị thường trú.
Inda-bh 14~60Vị xuất hành, đồ gỗ, và các đồ đất nung, sau khi mở ra, không được thông báo, các vật bị mất, và không được bảo vệ, và các vị hiền thiện phàn nàn.
Inda-bh 15~61Sau khi thu xếp, sau khi đóng cửa, sau khi thông báo rồi nên ra đi, vị tỳ khưu, hoặc sa di, hoặc người phụ việc chùa, hoặc cư sĩ.
Inda-bh 16~62Ở trên các hòn đá, và nên thu xếp thành đống, và nên đóng cửa, hoặc vị có nỗ lực, hoặc (thực hiện) sự nỗ lực, và tương tợ y như thế ở chỗ không dột.
Inda-bh 17~63Toàn bộ đều bị dột, (nên mang) vào làng, và tương tợ y như thế ở ngoài trời (nghĩ rằng): ‘Có lẽ các thứ này sẽ còn được tồn tại,’ phận sự (nên được thực hành) bởi vị tỳ khưu xuất hành.
Inda-bh 18~64Các vị không nói lời tùy hỷ, bởi vị trưởng lão, sau khi để ở lại, với bốn hay năm vị, bị mắc tiêu, đã bị ngất xỉu, các điều này là các phận sự trong các việc nói lời tùy hỷ.
Inda-bh 19~65Các vị nhóm Lục Sư mặc y luộm thuộm, và lại còn trùm y luộm thuộm, không đúng quy cách, và sau khi tách ra, chen vào (chỗ) các vị trưởng lão.
Inda-bh 20~66Và (đuổi) các vị mới tu, (trải ra) y hai lớp, và các vị hiền thiện phàn nàn, sau khi quấn che ba vòng tròn, dây thắt lưng, với nếp gấp, dây buộc.
Inda-bh 21~67Không tách ra, được che kín, khéo thu thúc, với mắt nhìn xuống, bị vén hở ra, với tiếng cười vang, âm thanh (giọng nói), và còn thêm ba sự đung đưa.
Inda-bh 22~68Chống nạnh, trùm đầu, nhón gót, được che kín, khéo thu thúc, với mắt nhìn xuống, bị vén hở ra, tiếng cười vang, giọng nói nhỏ nhẹ, ba sự đung đưa.
Inda-bh 23~69Chống nạnh, trùm đầu, ôm đầu gối, việc chen vào, ở chỗ ngồi, sau khi trải ra, nước, sau khi hạ thấp xuống, không nên làm văng nước.
Inda-bh 24~70Vật chứa nước rửa, ở xung quanh, y hai lớp, và khi (được dâng) cơm, nên thọ lãnh, xúp, với thức ăn ngon, cho tất cả, và ngang miệng (bát).
Inda-bh 25~71Nghiêm trang, và có sự chú tâm ở bình bát, và theo tuần tự, với lượng xúp, không vun thành đống, che lấp, yêu cầu, với ý định tìm lỗi.
Inda-bh 26~72(Vắt cơm) lớn, tròn đều, cửa miệng, trọn bàn tay, không nói chuyện, đưa thức ăn liên tục, việc cắn (từng chút), phồng má, vung rảy tay, sự làm rơi đổ cơm.
Inda-bh 27~73Và luôn cả việc le lưỡi, tiếng chép chép, và với tiếng rột rột, liếm tay, vét bình bát, liếm môi, có dính thức ăn, về việc thọ lãnh.
Inda-bh 28~74Không (thọ nhận) nước rửa cho đến khi tất cả (đã ăn xong), sau khi hạ thấp, không nên làm văng, vật chứa nước rửa, ở xung quanh, y hai lớp, sau khi hạ thấp, và ở mặt đất.
Inda-bh 29~75(Nước) có lẫn cơm, trong khi đi trở về, được che kín đáo, sự nhón gót, đây là phận sự ở nhà ăn đã được quy định bởi bậc Pháp Vương.
Inda-bh 30~76Mặc y phục luộm thuộm, không đúng quy cách, sau khi không suy xét, và vội vã, xa, gần, lâu, mau, tương tợ y như thế là vị đi khất thực.
Inda-bh 31~77Với sự che kín rồi nên đi, khéo thu thúc, với mắt nhìn xuống, bị vén hở ra, với tiếng cười vang, âm thanh (giọng nói), và còn thêm ba sự đung đưa.
Inda-bh 32~78Chống nạnh, trùm đầu, nhón gót, sau khi không suy xét, và vội vã, xa, gần, lâu, mau, sự đụng đến, cái muỗng.
Inda-bh 33~79Hoặc cái đĩa, và thỉnh đứng lại, sau khi vén y lên, sau khi mở ra, nên thọ lãnh, không nên nhìn, về các món xúp, điều ấy cũng tương tợ y như thế.
Inda-bh 34~80Vị tỳ khưu, nên che đậy bằng y saṅghāṭi, được che kín rồi mới nên đi, khéo thu thúc, với mắt nhìn xuống, bị vén hở ra, và tiếng cười vang.
Inda-bh 35~81Với giọng nói nhỏ nhẹ, ba sự đung đưa, chống nạnh, trùm đầu, nhón gót, (về) trước tiên, chỗ ngồi, chậu đựng đồ thừa, nước uống, nước rửa, (vị) về sau, (nếu) muốn, có thể ăn, có thể đổ xuống, nên xếp lại cất đi.
Inda-bh 36~82Có thể dọn dẹp, nên quét, hết nước, trống trơn, nên đem (nước) lại, về dấu hiệu bằng tay, (không) nên nói ra lời, và phận sự về việc khất thực.
Inda-bh 37~83Nước uống, nước rửa, ngọn lửa, vật tạo lửa, sao, phương hướng, và bọn trộm cướp, ‘tất cả đều không có,’ sau khi đánh đập, vai mang bình bát, y, từ nơi ấy.
Inda-bh 38~84Giờ đây, sau khi mang ở vai, đều đặn ba vòng tròn, giống như phận sự của vị đi khất thực, phương thức cho các vị sống ở rừng cũng thế.
Inda-bh 39~85Vai mang bình bát, y (đội) ở đầu, sau khi mang (dép) vào, và nước uống, nước rửa, ngọn lửa, vật tạo lửa, và luôn cả gậy chống.
Inda-bh 40~86Ngôi sao, hoặc toàn bộ khu vực, nên rành rẽ về các phương hướng, các điều này là phận sự cho các vị ngụ ở rừng đã được quy định bởi bậc Tối Thượng của Chúng Sanh.
Inda-bh 41~87Ở ngoài trời, các vị đã bị lấm bụi, và các vị hiền thiện phàn nàn, nếu trú xá có rác bẩn, trước tiên là y và bình bát.
Inda-bh 42~88Nệm gối, giường, ghế, và ống nhổ, tấm ván kê đầu, lỗ thông gió và các hốc kẹt, màu đỏ, màu đen, và (nền) chưa được thực hiện.
Inda-bh 43~89Rác rến, gần các vị tỳ khưu, (gần) sàng tọa, (gần) trú xá và nước uống, gần nước rửa, ngược chiều gió, và ở mái hiên.
Inda-bh 44~90Phía dưới gió, thảm trải nền, khung giường, và giường, ghế, nệm, vật lót ngồi, ống nhổ, và tấm ván kê đầu.
Inda-bh 45~91Y và bình bát, và mặt đất, mép y phía bên kia, phần gấp lại ở bên này, từ hướng đông, và từ hướng tây, từ hướng bắc, rồi từ hướng nam.
Inda-bh 46~92Và khi lạnh khi nóng, ban ngày, ban đêm, và căn phòng, cổng ra vào, và phòng hội họp, nhà đốt lửa, nhà vệ sinh, và nước uống.
Inda-bh 47~93Hũ nước súc miệng, và vị thâm niên, việc đọc tụng, các câu hỏi, việc học bài, (việc giảng) Pháp, nên thổi tắt ngọn đèn, không nên mở ra, cũng không nên đóng lại.
Inda-bh 48~94Khi đối đầu với vị thâm niên thì nên xoay lại, không nên va chạm dù là bằng chéo y, đấng Đại Hùng đã quy định điều ấy là phận sự ở các nơi cư ngụ.
Inda-bh 49~95Các vị trong khi bị cản trở, (đóng) cửa ra vào, đã bị ngất xỉu, các vị hiền thiện phàn nàn, nên đổ tro, nhà tắm hơi, và bục nền xung quanh tương tợ y như thế.
Inda-bh 50~96Căn phòng, cổng, gian phòng lớn, bột tắm, đất sét, máng nước, khuôn mặt, ở phía trước, không (chen vào) các vị trưởng lão, không nên (xua đuổi) các vị mới tu, nếu có nỗ lực.
Inda-bh 51~97(Tắm) ở phía trước, ở phía trên, đường đi, bị lầy lội, (máng) đất sét, ghế ngồi, sau khi tắt lửa, nên đi ra, các điều này là phận sự ở các nhà tắm hơi.
Inda-bh 52~98Vị không rửa sạch, theo thâm niên, theo thứ tự, và với sự vội vã, đã vén y lên, việc rặn, gỗ (chà răng), việc đại tiện, việc tiểu tiện, việc khạc nhổ.
Inda-bh 53~99Bị sần sùi, hố phân, với sự vội vã, đã vén y lên, tiếng chép chép, với (nước) chừa lại, vị ở bên ngoài, và ở bên trong, nên tằng hắng, giây phơi, và sự không hấp tấp.
Inda-bh 54~100Với sự vội vã, sau khi vén y lên, về việc rặn, gỗ (chà răng), việc đại tiện, việc tiểu tiện, việc khạc nhổ, (khúc cây chùi) bị sần sùi, hố phân, bệ nhà vệ sinh.
Inda-bh 55~101Với sự không vội vã, đã vén y lên, ở sàn rửa, tiếng chép chép, không nên chừa lại (nước), nên che kín, bị dơ, với thùng đựng.
Inda-bh 56~102Nhà vệ sinh, bục nền xung quanh, và căn phòng, cổng, và nước để rửa ráy, các điều này là phận sự ở nhà vệ sinh.
Inda-bh 57~103Đôi dép, gỗ chà răng, và nước súc miệng, chỗ ngồi, cháo, nước, sau khi rửa, nên thu xếp, rác bẩn, và vào làng.
Inda-bh 58~104Y lót trong, dây thắt lưng, có nếp gấp, bình bát còn đẫm nước, vị thị giả, và luôn cả ba vòng, (mặc y nội) tròn đều, dây thắt lưng.
Inda-bh 59~105Có nếp gấp, sau khi rửa, vị (Sa-môn) hầu cận, không quá xa, nên nhận lấy, khi đang nói, tội vi phạm, sau khi đi về trước tiên, chỗ ngồi.
Inda-bh 60~106Nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sau khi đi ra đón, y lót trong, nên phơi nắng, để luôn, vết gấp, ở phần đã gấp lại, để thọ thực, nên đem lại.
Inda-bh 61~107Nước uống, nước rửa, chỗ thấp, trong chốc lát, và không nên để luôn, y và bình bát, và mặt đất, mép y phía bên kia, phần gấp lại ở bên này.
Inda-bh 62~108Nên thu xếp, và nên dọn dẹp, rác bẩn, và (có ý muốn) tắm, (nước) lạnh, (nước) nóng, nhà tắm hơi, bột tắm, đất sét, từ phía sau lưng.
Inda-bh 63~109Và ghế ngồi, y, bột tắm, đất sét, nếu có nỗ lực, khuôn mặt, phía trước, (chen vào) các vị trưởng lão, và (xua đuổi) các vị mới tu, và việc kỳ cọ, nên rời khỏi.
Inda-bh 64~110Ở phía trước, lúc ở trong nước, khi đã tắm, sau khi quấn y lại, (lau khô) thầy tế độ, và y lót trong, y hai lớp, ghế (nhà tắm hơi), và với chỗ ngồi.
Inda-bh 65~111Nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ lau chân, nước uống, việc đọc tụng, việc hỏi đạo, rác bẩn, nên khéo làm sạch sẽ, trước tiên là y và bình bát.
Inda-bh 66~112Vật lót ngồi, tấm trải nằm, nệm và các gối, giường, ghế, khung giường, ống nhổ, và tấm ván kê đầu.
Inda-bh 67~113(Tấm trải) nền nhà, mạng nhện, lỗ thông gió, màu đỏ, màu đen, không được thực hiện, tấm trải nền, khung giường, giường, ghế, gối.
Inda-bh 68~114Vật lót ngồi và tấm trải nằm, ống nhổ, tấm ván kê đầu, y và bình bát, từ hướng đông, và luôn cả từ hướng tây, từ hướng bắc, rồi từ hướng nam.
Inda-bh 69~115Và khi lạnh khi nóng, ban ngày, ban đêm, và căn phòng, cổng ra vào, phòng hội họp, và nhà đốt lửa, nhà vệ sinh, nước uống, nước rửa.
Inda-bh 70~116Việc súc miệng, sự bực bội, nỗi nghi hoặc, tà kiến, và tội nặng, từ đầu, hình phạt mànatta, việc giải tội, (hành sự) khiển trách, chỉ dạy.
Inda-bh 71~117(Hành sự) xua đuổi, hòa giải, và treo tội, nếu đã được thực hiện, nên giặt, nên thể hiện, và việc nhuộm, nên nhuộm, việc trộn đều.
Inda-bh 72~118Và bình bát, và luôn cả y nữa, và vật dụng, việc cạo (tóc), việc kỳ cọ, việc hầu hạ, Sa-môn hầu cận, đồ khất thực, sự đi vào.
Inda-bh 73~119Không mộ địa, và luôn cả hướng (khác), cho đến trọn đời nên phục vụ, việc này (nên được thực hành) bởi người đệ tử, các điều này là phận sự đối với các vị thầy tế độ.
Inda-bh 74~120Sự giáo huấn, giảng dạy, đọc tụng, vấn hỏi, bình bát, và y, vật dụng, và vị bị bệnh, không nên là vị Sa-môn hầu cận.
Inda-bh 75~121Các phận sự nào đối với các vị thầy tế độ thì cũng như vậy đối với các vị thầy dạy học, các phận sự đối với các người đệ tử thì tương tợ y như thế đối với người học trò.
Inda-bh 76~122Các phận sự dành cho các vị vãng lai, và dành cho các vị thường trú nữa, các vị xuất hành, các vị nói lời tùy hỷ ở nơi thọ thực, và về vị đi khất thực.
Inda-bh 77~123Phận sự dành cho các vị ngụ ở rừng, và luôn cả ở các nơi cư ngụ, ở nhà tắm hơi, các nhà vệ sinh, các vị thầy tế độ, đối với người đệ tử.
Inda-bh 78~124Phận sự đối với các vị thầy dạy học, tương tợ y như thế đối với người học trò, có mười chín sự việc đã được nói đến ở mười sáu phần.
Inda-bh 79~125Trong khi không làm tròn phận sự thì không đầy đủ về giới, vị có giới không trong sạch, có tuệ kém, không có được nhất tâm.
Inda-bh 80~126Với tâm bị xáo trộn, không trụ một điểm, không nhìn thấy Pháp một cách đúng đắn, trong khi không nhìn thấy Chánh Pháp, không hoàn toàn thoát khỏi khổ đau.
Inda-bh 81~127Trong khi làm đầy đủ phận sự, thì cũng làm đầy đủ về giới, là vị có giới thanh tịnh, có tuệ, đạt được luôn cả nhất tâm.
Inda-bh 82~128Tâm không bị xáo trộn, trụ một điểm, nhìn thấy rõ Pháp một cách đúng đắn, trong khi bản thân nhìn thấy Chánh Pháp, vị ấy hoàn toàn thoát khỏi khổ đau.
Inda-bh 83~129Chính vì điều ấy, người con trai sáng suốt của đấng Chiến Thắng, nên làm đầy đủ phận sự, lời giáo huấn của đức Phật tối thượng, từ đó hãy đi đến Niết Bàn.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Small Division
The chapter on proper conduct
8. Chương về các Bổn Phận
1. Āgantukavattakathā
1. Discussion of the proper conduct for newly-arrived monks
1. Luận về Bổn Phận của Vị Khách Tăng
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena āgantukā bhikkhū saupāhanāpi ārāmaṁ pavisanti, chattappaggahitāpi ārāmaṁ pavisanti, oguṇṭhitāpi ārāmaṁ pavisanti, sīsepi cīvaraṁ karitvā ārāmaṁ pavisanti, pānīyenapi pāde dhovanti, vuḍḍhatarepi āvāsike bhikkhū na abhivādenti, napi senāsanaṁ pucchanti. Aññataropi āgantuko bhikkhu anajjhāvuṭṭhaṁ vihāraṁ ghaṭikaṁ ugghāṭetvā kavāṭaṁ paṇāmetvā sahasā pāvisi. Tassa uparipiṭṭhito ahi khandhe papati. So bhīto vissaramakāsi. Bhikkhū upadhāvitvā taṁ bhikkhuṁ etadavocuṁ—“kissa tvaṁ, āvuso, vissaramakāsī”ti? Atha kho so bhikkhu bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma āgantukā bhikkhū saupāhanāpi ārāmaṁ pavisissanti, chattappaggahitāpi ārāmaṁ pavisissanti, oguṇṭhitāpi ārāmaṁ pavisissanti, sīsepi cīvaraṁ karitvā ārāmaṁ pavisissanti, pānīyenapi pāde dhovissanti, vuḍḍhatarepi āvāsike bhikkhū na abhivādessanti, napi senāsanaṁ pucchissantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, āgantukā bhikkhū saupāhanāpi ārāmaṁ pavisanti, chattappaggahitāpi ārāmaṁ pavisanti, oguṇṭhitāpi ārāmaṁ pavisanti, sīsepi cīvaraṁ karitvā ārāmaṁ pavisanti, pānīyenapi pāde dhovanti, vuḍḍhatarepi āvāsike bhikkhū na abhivādenti, napi senāsanaṁ pucchantī”ti.
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma bhikkhave āgantukā bhikkhū saupāhanāpi ārāmaṁ pavisissanti, chattappaggahitāpi ārāmaṁ pavisissanti, oguṇṭhitāpi ārāmaṁ pavisissanti, sīsepi cīvaraṁ karitvā ārāmaṁ pavisissanti, pānīyenapi pāde dhovissanti, vuḍḍhatarepi āvāsike bhikkhū na abhivādessanti, napi senāsanaṁ pucchissanti, netaṁ bhikkhave appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time newly-arrived monks entered the monastery wearing sandals, holding sunshades, with their heads covered, with their robes on their heads; and they washed their feet with drinking water, did not bow down to the resident monks who were senior to them, and did not ask about dwellings. A certain newly-arrived monk lifted the latch of an unoccupied dwelling, opened the door, and entered hastily. A snake fell from above the door frame onto his shoulders. Terrified, he screamed. The monks came running and asked him why he was screaming. And he told them what had happened.
The monks of few desires complained and criticized them, “How can the newly-arrived monks enter the monastery wearing sandals, holding sunshades, with their heads covered, with their robe on their head; and wash their feet with drinking water, not bow down to the resident monks who are senior to them, and not ask about dwellings?” They told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that the newly-arrived monks are acting like this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “How can the newly-arrived monks act like this? This will affect people’s confidence …” After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
356. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đấng Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika tại Jetavana. Cũng vào lúc ấy, các vị tỳ khưu khách đi vào tu viện mà vẫn mang giày dép, đi vào tu viện mà vẫn che dù, đi vào tu viện mà vẫn trùm đầu, đi vào tu viện mà vẫn vắt y trên đầu, lại còn dùng nước uống để rửa chân, không đảnh lễ các vị tỳ khưu trú ngụ lớn tuổi hơn, và cũng không hỏi về chỗ ở. Có một vị tỳ khưu khách nọ, sau khi mở chốt, đẩy cửa một ngôi tịnh xá không có người ở, rồi vội vã bước vào. Một con rắn từ phía trên khung cửa rơi xuống vai của vị ấy. Vị ấy sợ hãi la lớn lên. Các vị tỳ khưu chạy đến và hỏi vị tỳ khưu ấy rằng: “Này hiền giả, tại sao hiền giả lại la lớn như vậy?” Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy đã trình bày sự việc này cho các vị tỳ khưu. Những vị tỳ khưu thiểu dục ... (v.v.) ... đã khiển trách, phàn nàn, và chê bai rằng: “Tại sao các vị tỳ khưu khách lại có thể đi vào tu viện mà vẫn mang giày dép, đi vào tu viện mà vẫn che dù, đi vào tu viện mà vẫn trùm đầu, đi vào tu viện mà vẫn vắt y trên đầu, lại còn dùng nước uống để rửa chân, không đảnh lễ các vị tỳ khưu trú ngụ lớn tuổi hơn, và cũng không hỏi về chỗ ở chứ!” Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc này lên đấng Thế Tôn ... (v.v.) ... “Này các tỳ khưu, có thật là các vị tỳ khưu khách đi vào tu viện mà vẫn mang giày dép, đi vào tu viện mà vẫn che dù, đi vào tu viện mà vẫn trùm đầu, đi vào tu viện mà vẫn vắt y trên đầu, lại còn dùng nước uống để rửa chân, không đảnh lễ các vị tỳ khưu trú ngụ lớn tuổi hơn, và cũng không hỏi về chỗ ở không?” “Bạch Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật, đấng Thế Tôn đã quở trách ... (v.v.) ... “Này các tỳ khưu, tại sao các vị tỳ khưu khách lại có thể đi vào tu viện mà vẫn mang giày dép, đi vào tu viện mà vẫn che dù, đi vào tu viện mà vẫn trùm đầu, đi vào tu viện mà vẫn vắt y trên đầu, lại còn dùng nước uống để rửa chân, không đảnh lễ các vị tỳ khưu trú ngụ lớn tuổi hơn, và cũng không hỏi về chỗ ở chứ? Này các tỳ khưu, việc này không đem lại niềm tin cho những người chưa có niềm tin ... (v.v.) ...” Sau khi quở trách ... (v.v.) ... và thuyết một bài pháp thoại, ngài đã gọi các vị tỳ khưu lại và dạy rằng:
“Tena hi, bhikkhave, āgantukānaṁ bhikkhūnaṁ vattaṁ paññapessāmi yathā āgantukehi bhikkhūhi sammā vattitabbaṁ. Āgantukena, bhikkhave, bhikkhunā ‘idāni ārāmaṁ pavisissāmī’ti upāhanā omuñcitvā nīcaṁ katvā papphoṭetvā gahetvā chattaṁ apanāmetvā sīsaṁ vivaritvā sīse cīvaraṁ khandhe katvā sādhukaṁ ataramānena ārāmo pavisitabbo. Ārāmaṁ pavisantena sallakkhetabbaṁ—‘kattha āvāsikā bhikkhū paṭikkamantī’ti? Yattha āvāsikā bhikkhū paṭikkamanti—upaṭṭhānasālāya vā maṇḍape vā rukkhamūle vā—tattha gantvā ekamantaṁ patto nikkhipitabbo; ekamantaṁ cīvaraṁ nikkhipitabbaṁ; patirūpaṁ āsanaṁ gahetvā nisīditabbaṁ; pānīyaṁ pucchitabbaṁ, paribhojanīyaṁ pucchitabbaṁ—‘katamaṁ pānīyaṁ, katamaṁ paribhojanīyan’ti? Sace pānīyena attho hoti, pānīyaṁ gahetvā pātabbaṁ. Sace paribhojanīyena attho hoti, paribhojanīyaṁ gahetvā pādā dhovitabbā. Pāde dhovantena ekena hatthena udakaṁ āsiñcitabbaṁ, ekena hatthena pādā dhovitabbā. Na teneva udakaṁ āsiñcitabbaṁ na teneva hatthena pādā dhovitabbā. Upāhanāpuñchanacoḷakaṁ pucchitvā upāhanā puñchitabbā. Upāhanā puñchantena paṭhamaṁ sukkhena coḷakena puñchitabbā, pacchā allena. Upāhanāpuñchanacoḷakaṁ dhovitvā ekamantaṁ vissajjetabbaṁ.
“Well then, I’ll lay down the proper conduct for newly-arrived monks. When a newly-arrived monk enters a monastery, he should remove his sandals, hold them low, knock them together, and carry them along; he should lower his sunshade, uncover his head, and put his robe over his shoulders; he should then enter the monastery carefully and without hurry. As he enters the monastery, he should look out for where the resident monks gather—whether in the assembly hall, under a roof cover, or at the foot of a tree—and he should go there. He should then put down his bowl and robe, find a suitable seat, and sit down. He should ask which is the water for drinking and which the water for washing. If he needs water to drink, he may take some and drink. If he needs water to wash, he may take some and wash his feet. When he washes his feet, he should pour the water with one hand and wash with the other. He shouldn’t pour the water and wash his feet with the same hand. He should ask for a sandal-wiping cloth, and then wipe them. When he wipes his sandals, he should first wipe them with a dry cloth, then with a wet one. He should wash the cloth and spread it out.
357. “Này các tỳ khưu, vì thế, Ta sẽ chế định phận sự cho các vị tỳ khưu khách, theo đó các vị tỳ khưu khách phải thực hành cho đúng đắn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu khách, khi nghĩ rằng ‘Bây giờ ta sẽ đi vào tu viện,’ nên cởi giày dép, cầm xuống thấp, giũ sạch rồi cầm lấy, hạ dù xuống, mở khăn trùm đầu, vắt y (đang ở trên đầu) lên vai, rồi nên đi vào tu viện một cách cẩn trọng, không vội vã. Khi đi vào tu viện, vị ấy nên để ý xem: ‘Các vị tỳ khưu trú ngụ đang ở đâu?’ Nơi nào các vị tỳ khưu trú ngụ đang ở – hoặc tại nhà hội họp, hoặc tại nhà tròn, hoặc dưới một gốc cây – vị ấy nên đi đến đó, đặt bát xuống một bên, đặt y xuống một bên, lấy một chỗ ngồi thích hợp rồi ngồi xuống. Nên hỏi về nước uống, hỏi về nước dùng: ‘Loại nào là nước uống, loại nào là nước dùng?’ Nếu cần nước uống, nên lấy nước uống rồi uống. Nếu cần nước dùng, nên lấy nước dùng rồi rửa chân. Khi rửa chân, nên dùng một tay để múc nước, và dùng tay kia để rửa chân. Không nên dùng cùng một tay để vừa múc nước vừa rửa chân. Nên hỏi mượn giẻ lau giày dép rồi lau giày dép. Khi lau giày dép, trước tiên nên lau bằng giẻ khô, sau đó lau bằng giẻ ướt. Sau khi giặt giẻ lau giày dép, nên phơi nó ở một nơi thích hợp.
Sace āvāsiko bhikkhu vuḍḍho hoti, abhivādetabbo. Sace navako hoti, abhivādāpetabbo. Senāsanaṁ pucchitabbaṁ—‘katamaṁ me senāsanaṁ pāpuṇātī’ti? Ajjhāvuṭṭhaṁ vā anajjhāvuṭṭhaṁ vā pucchitabbaṁ, gocaro pucchitabbo, agocaro pucchitabbo, sekkhasammatāni kulāni pucchitabbāni, vaccaṭṭhānaṁ pucchitabbaṁ, passāvaṭṭhānaṁ pucchitabbaṁ, pānīyaṁ pucchitabbaṁ, paribhojanīyaṁ pucchitabbaṁ, kattaradaṇḍo pucchitabbo, saṅghassa katikasaṇṭhānaṁ pucchitabbaṁ—‘kaṁ kālaṁ pavisitabbaṁ, kaṁ kālaṁ nikkhamitabban’ti?
Sace vihāro anajjhāvuttho hoti, kavāṭaṁ ākoṭetvā muhuttaṁ āgametvā ghaṭikaṁ ugghāṭetvā kavāṭaṁ paṇāmetvā bahi ṭhitena nilloketabbo.
If a resident monk is senior to him, the newly-arrived monk should bow down to him. If a resident monk is junior, he should bow down to the newly-arrived monk. The newly-arrived monk should ask which dwelling he may stay in and whether it’s occupied or not. He should ask about where to go for alms and where not to go, about any families designated as “in training”, about the place for defecating and the place for urinating, about the water for drinking and the water for washing, about walking sticks, and about the Sangha’s agreements concerning the right time to enter and the right time to leave.
If the dwelling is unoccupied, he should knock on the door, wait for a moment, then lift the latch, open the door, and look inside while standing outside.
“Nếu vị tỳ khưu trú ngụ lớn tuổi hơn, nên đảnh lễ vị ấy. Nếu vị ấy nhỏ tuổi hơn, nên để vị ấy đảnh lễ mình. Nên hỏi về chỗ ở: ‘Chỗ ở nào được dành cho con?’ Nên hỏi xem (chỗ ở) đã có người ở hay chưa có người ở, nên hỏi về khu vực khất thực, khu vực không phải để khất thực, nên hỏi về các gia đình được xem là hữu học, nên hỏi về nơi đi đại tiện, nơi đi tiểu tiện, nên hỏi về nước uống, nước dùng, nên hỏi về gậy chống, nên hỏi về quy định của Tăng chúng: ‘Nên đi vào lúc nào, nên đi ra lúc nào?’ Nếu tịnh xá là nơi chưa có người ở, nên gõ cửa, chờ một lát, mở chốt, đẩy cửa, rồi đứng bên ngoài nhìn vào bên trong.
Sace vihāro uklāpo hoti, mañce vā mañco āropito hoti, pīṭhe vā pīṭhaṁ āropitaṁ hoti, senāsanaṁ upari puñjīkataṁ hoti, sace ussahati, sodhetabbo. Vihāraṁ sodhentena paṭhamaṁ bhūmattharaṇaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; mañcapaṭipādakā nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbā; bhisibibbohanaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; nisīdanapaccattharaṇaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; mañco nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbo; pīṭhaṁ nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; kheḷamallako nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbo; apassenaphalakaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ. Sace vihāre santānakaṁ hoti, ullokā paṭhamaṁ ohāretabbaṁ, ālokasandhikaṇṇabhāgā pamajjitabbā. Sace gerukaparikammakatā bhitti kaṇṇakitā hoti, coḷakaṁ temetvā pīḷetvā pamajjitabbā. Sace kāḷavaṇṇakatā bhūmi kaṇṇakitā hoti, coḷakaṁ temetvā pīḷetvā pamajjitabbā. Sace akatā hoti bhūmi, udakena paripphositvā sammajjitabbā—mā vihāro rajena uhaññīti. Saṅkāraṁ vicinitvā ekamantaṁ chaḍḍetabbaṁ.
If the dwelling is dirty, and if the beds or benches are stacked on top of one another with furniture piled on top, he should clean it if he’s able. When he’s cleaning the dwelling, he should first take out the floor cover and put it aside. He should take out the bed supports and put them aside. He should take out the mattress and the pillow and put them aside. He should take out the sitting mat and the sheet and put them aside. Holding the bed low, he should carefully take it out without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it aside. Holding the bench low, he should carefully take it out without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it aside. He should take out the spittoon and put it aside. He should take out the leaning board and put it aside. If the dwelling has cobwebs, he should first remove them from the ceiling cloth, and he should then wipe the windows and the corners of the room. If the walls have been treated with red ocher and they’re moldy, he should moisten a cloth, wring it out, and wipe the walls. If the floor has been treated with a black finish and it’s moldy, he should moisten a cloth, wring it out, and wipe the floor. If the floor is untreated, he should sprinkle it with water and then sweep it, trying to avoid stirring up dust. He should look out for any trash and discard it.
Nếu trú xá có rác, hoặc giường được chất lên giường, hoặc ghế được chất lên ghế, hoặc sàng tọa bị chất đống lên trên, nếu có thể, nên dọn dẹp. Vị tỳ khưu dọn dẹp trú xá trước tiên nên mang tấm trải sàn ra ngoài rồi đặt ở một nơi; nên mang các chân giường ra ngoài rồi đặt ở một nơi; nên mang nệm và gối ra ngoài rồi đặt ở một nơi; nên mang tấm lót ngồi ra ngoài rồi đặt ở một nơi; nên hạ thấp giường xuống, cẩn thận không để cọ xát, không để va chạm vào cánh cửa và khung cửa, rồi mang ra ngoài đặt ở một nơi; nên hạ thấp ghế xuống, cẩn thận không để cọ xát, không để va chạm vào cánh cửa và khung cửa, rồi mang ra ngoài đặt ở một nơi; nên mang ống nhổ ra ngoài rồi đặt ở một nơi; nên mang tấm ván dựa lưng ra ngoài rồi đặt ở một nơi. Nếu trong trú xá có mạng nhện, trước tiên nên quét từ trần nhà xuống, nên lau chùi các góc cạnh của cửa sổ. Nếu vách tường được trét đất son bị mốc, nên nhúng miếng giẻ, vắt khô rồi lau chùi. Nếu nền nhà được tô màu đen bị mốc, nên nhúng miếng giẻ, vắt khô rồi lau chùi. Nếu là nền đất chưa được xử lý, nên vẩy nước rồi quét, tâm niệm rằng: ‘Mong rằng trú xá không bị bụi bặm làm phiền.’ Nên gom rác lại rồi đổ ở một nơi.
Bhūmattharaṇaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāṭhāne paññapetabbaṁ. Mañcapaṭipādakā otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbā. Mañco otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, atiharitvā yathāṭhāne paññapetabbo. Pīṭhaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, atiharitvā yathāṭhāne paññapetabbaṁ. Bhisibibbohanaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathābhāgaṁ paññapetabbaṁ. Nisīdanapaccattharaṇaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathābhāgaṁ paññapetabbaṁ. Kheḷamallako otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathābhāgaṁ ṭhapetabbo. Apassenaphalakaṁ otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathābhāgaṁ ṭhapetabbaṁ. Pattacīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Pattaṁ nikkhipantena ekena hatthena pattaṁ gahetvā ekena hatthena heṭṭhāmañcaṁ vā heṭṭhāpīṭhaṁ vā parāmasitvā patto nikkhipitabbo. Na ca anantarahitāya bhūmiyā patto nikkhipitabbo. Cīvaraṁ nikkhipantena ekena hatthena cīvaraṁ gahetvā ekena hatthena cīvaravaṁsaṁ vā cīvararajjuṁ vā pamajjitvā pārato antaṁ orato bhogaṁ katvā cīvaraṁ nikkhipitabbaṁ.
He should sun the floor cover, clean it, beat it, bring it back inside, and put it back as before. He should sun the bed supports, wipe them, bring them back inside, and put them back where they were. He should sun the bed, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the bench, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the mattress and the pillow, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the sitting mat and the sheet, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the spittoon, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should sun the leaning board, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should put away the bowl and robe. When putting away the bowl, he should hold the bowl in one hand, feel under the bed or the bench with the other, and then put it away. He shouldn’t put the bowl away on the bare floor. When putting away the robe, he should hold the robe in one hand, wipe the bamboo robe rack or the clothesline with the other, and then put it away by folding the robe over it, making the ends face the wall and the fold face out.
Nên phơi nắng tấm trải sàn, dọn dẹp, giũ sạch, rồi mang trở lại trải ở chỗ cũ. Nên phơi nắng các chân giường, lau chùi, rồi mang trở lại đặt ở chỗ cũ. Nên phơi nắng giường, dọn dẹp, giũ sạch, hạ thấp xuống, cẩn thận không để cọ xát, không để va chạm vào cánh cửa và khung cửa, rồi mang trở lại trải ở chỗ cũ. Nên phơi nắng ghế, dọn dẹp, giũ sạch, hạ thấp xuống, cẩn thận không để cọ xát, không để va chạm vào cánh cửa và khung cửa, rồi mang trở lại trải ở chỗ cũ. Nên phơi nắng nệm và gối, dọn dẹp, giũ sạch, rồi mang trở lại trải ở vị trí của nó. Nên phơi nắng tấm lót ngồi, dọn dẹp, giũ sạch, rồi mang trở lại trải ở vị trí của nó. Nên phơi nắng ống nhổ, lau chùi, rồi mang trở lại đặt ở vị trí của nó. Nên phơi nắng tấm ván dựa lưng, lau chùi, rồi mang trở lại đặt ở vị trí của nó. Nên cất giữ y bát. Vị tỳ khưu cất bát, một tay cầm bát, một tay sờ dưới gầm giường hoặc dưới gầm ghế rồi nên đặt bát xuống. Và không nên đặt bát xuống nền đất không có vật lót. Vị tỳ khưu cất y, một tay cầm y, một tay lau chùi sào phơi y hoặc dây phơi y, rồi nên gấp y lại, để phần đầu y ở phía ngoài và phần cuộn ở phía trong, rồi cất y.
Sace puratthimā sarajā vātā vāyanti, puratthimā vātapānā thaketabbā. Sace pacchimā sarajā vātā vāyanti, pacchimā vātapānā thaketabbā. Sace uttarā sarajā vātā vāyanti, uttarā vātapānā thaketabbā. Sace dakkhiṇā sarajā vātā vāyanti, dakkhiṇā vātapānā thaketabbā. Sace sītakālo hoti, divā vātapānā vivaritabbā, rattiṁ thaketabbā. Sace uṇhakālo hoti, divā vātapānā thaketabbā, rattiṁ vivaritabbā.
If dusty winds are blowing from the east, he should close the windows on the eastern side. If dusty winds are blowing from the west, he should close the windows on the western side. If dusty winds are blowing from the north, he should close the windows on the northern side. If dusty winds are blowing from the south, he should close the windows on the southern side. If the weather is cold, he should open the windows during the day and close them at night. If the weather is hot, he should close the windows during the day and open them at night.
Nếu gió bụi từ hướng đông thổi đến, nên đóng các cửa sổ hướng đông. Nếu gió bụi từ hướng tây thổi đến, nên đóng các cửa sổ hướng tây. Nếu gió bụi từ hướng bắc thổi đến, nên đóng các cửa sổ hướng bắc. Nếu gió bụi từ hướng nam thổi đến, nên đóng các cửa sổ hướng nam. Nếu là mùa lạnh, ban ngày nên mở cửa sổ, ban đêm nên đóng lại. Nếu là mùa nóng, ban ngày nên đóng cửa sổ, ban đêm nên mở ra.
Sace pariveṇaṁ uklāpaṁ hoti, pariveṇaṁ sammajjitabbaṁ. Sace koṭṭhako uklāpo hoti, koṭṭhako sammajjitabbo. Sace upaṭṭhānasālā uklāpā hoti, upaṭṭhānasālā sammajjitabbā. Sace aggisālā uklāpā hoti, aggisālā sammajjitabbā. Sace vaccakuṭi uklāpā hoti, vaccakuṭi sammajjitabbā. Sace pānīyaṁ na hoti, pānīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ. Sace paribhojanīyaṁ na hoti, paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ. Sace ācamanakumbhiyā udakaṁ na hoti, ācamanakumbhiyā udakaṁ āsiñcitabbaṁ.
Idaṁ kho, bhikkhave, āgantukānaṁ bhikkhūnaṁ vattaṁ yathā āgantukehi bhikkhūhi sammā vattitabban”ti.
If the yard is dirty, he should sweep it. If the gatehouse is dirty, he should sweep it. If the assembly hall is dirty, he should sweep it. If the water-boiling shed is dirty, he should sweep it. If the restroom is dirty, he should sweep it. If there’s no water for drinking, he should get some. If there’s no water for washing, he should get some. If there’s no water in the restroom ablutions pot, he should fill it.
This is the proper conduct for newly-arrived monks.”
Nếu khuôn viên có rác, nên quét dọn khuôn viên. Nếu cổng ra vào có rác, nên quét dọn cổng ra vào. Nếu nhà hội có rác, nên quét dọn nhà hội. Nếu nhà lửa có rác, nên quét dọn nhà lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác, nên quét dọn nhà vệ sinh. Nếu không có nước uống, nên chuẩn bị nước uống. Nếu không có nước dùng, nên chuẩn bị nước dùng. Nếu trong lu nước rửa không có nước, nên đổ nước vào lu nước rửa. Này các Tỳ khưu, đây là phận sự của các tỳ khưu khách, mà các tỳ khưu khách nên thực hành đúng đắn.
2. Āvāsikavattakathā
2. Discussion of the proper conduct for resident monks
2. Câu chuyện về phận sự của tỳ khưu chủ nhà
Tena kho pana samayena āvāsikā bhikkhū āgantuke bhikkhū disvā neva āsanaṁ paññapenti, na pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipanti, na paccuggantvā pattacīvaraṁ paṭiggaṇhanti, na pānīyena pucchanti, na vuḍḍhatarepi āgantuke bhikkhū abhivādenti, na senāsanaṁ paññapenti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma āvāsikā bhikkhū āgantuke bhikkhū disvā neva āsanaṁ paññapessanti, na pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipissanti, na paccuggantvā pattacīvaraṁ paṭiggahissanti, na pānīyena pucchissanti, vuḍḍhatarepi āgantuke bhikkhū na abhivādessanti, na senāsanaṁ paññapessantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave …pe… “saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“Tena hi, bhikkhave, āvāsikānaṁ bhikkhūnaṁ vattaṁ paññapessāmi yathā āvāsikehi bhikkhūhi sammā vattitabbaṁ.
At that time, when they saw newly-arrived monks, the resident monks did not prepare seats, or put out foot stools, foot scrapers, or water for washing the feet. They did not go out to meet them to receive their bowls and robes, or ask if they wanted water to drink. They did not bow down to newly-arrived monks who were senior to them or assign dwellings to them.
The monks of few desires complained and criticized them, “How can the resident monks act like this?” They told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that the resident monks are acting like this?” “It’s true, sir.” … After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“Well then, I’ll lay down the proper conduct for resident monks.
358. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu chủ nhà sau khi thấy các tỳ khưu khách đã không soạn chỗ ngồi, không đặt sẵn nước rửa chân, ghế để chân, và đồ chùi chân, không đi ra đón và nhận y bát, không hỏi thăm về nước uống, cũng không đảnh lễ các vị tỳ khưu khách lớn tuổi hơn, không soạn sàng tọa. Những vị tỳ khưu thiểu dục ... vị ấy ... đã phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: ‘Tại sao các tỳ khưu chủ nhà sau khi thấy các tỳ khưu khách lại không soạn chỗ ngồi, không đặt sẵn nước rửa chân, ghế để chân, và đồ chùi chân, không đi ra đón và nhận y bát, không hỏi thăm về nước uống, cũng không đảnh lễ các vị tỳ khưu khách lớn tuổi hơn, không soạn sàng tọa chứ!’ Bấy giờ, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... ‘Này các Tỳ khưu, có thật vậy không?’ ... ‘Bạch đức Thế Tôn, là thật vậy.’ ... sau khi quở trách ... sau khi thuyết một bài pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ khưu:
359. “Này các tỳ khưu, nếu vậy, Ta sẽ chế định phận sự cho các tỳ khưu trú ngụ, để các tỳ khưu trú ngụ thực hành cho đúng đắn. Này các tỳ khưu, tỳ khưu trú ngụ, khi thấy vị tỳ khưu khách lớn tuổi hơn, nên soạn chỗ ngồi, nên đặt gần nước rửa chân, ghế rửa chân, đồ chà chân; nên đi ra đón, nhận lấy y bát; nên hỏi về nước uống. Nếu có thể, nên lau giày dép. Khi lau giày dép, trước tiên nên lau bằng miếng giẻ khô, sau đó bằng miếng giẻ ướt. Miếng giẻ lau giày dép sau khi giặt xong nên phơi ở một nơi.”
Āgantuko bhikkhu vuḍḍhataro abhivādetabbo. Senāsanaṁ paññapetabbaṁ—‘etaṁ te senāsanaṁ pāpuṇātī’ti. Ajjhāvuṭṭhaṁ vā anajjhāvuṭṭhaṁ vā ācikkhitabbaṁ. Gocaro ācikkhitabbo. Agocaro ācikkhitabbo. Sekkhasammatāni kulāni ācikkhitabbāni. Vaccaṭṭhānaṁ ācikkhitabbaṁ. Passāvaṭṭhānaṁ ācikkhitabbaṁ. Pānīyaṁ ācikkhitabbaṁ. Paribhojanīyaṁ ācikkhitabbaṁ. Kattaradaṇḍo ācikkhitabbo. Saṅghassa katikasaṇṭhānaṁ ācikkhitabbaṁ—‘imaṁ kālaṁ pavisitabbaṁ, imaṁ kālaṁ nikkhamitabban’ti.
If the newly-arrived monk is senior to him, the resident monk should bow down to him. He should assign him a dwelling, tell him where it is, and inform him whether it’s occupied or not. He should tell him where to go for alms and where not to go, and about any families designated as ‘in training’. He should point out the place for defecating and the place for urinating, the water for drinking and the water for washing, and the walking sticks. He should tell him about the Sangha’s agreements concerning the right time to enter and the right time to leave.
“Vị tỳ khưu khách lớn tuổi hơn nên được đảnh lễ. Nên soạn chỗ ở và nói: ‘Chỗ ở này thuộc về ngài.’ Nên chỉ cho biết (chỗ ở) đã có người ở hay chưa có người ở. Nên chỉ cho biết nơi khất thực. Nên chỉ cho biết nơi không phải khất thực. Nên chỉ cho biết các gia đình được xem là hữu học. Nên chỉ cho biết nơi đại tiện. Nên chỉ cho biết nơi tiểu tiện. Nên chỉ cho biết nước uống. Nên chỉ cho biết nước dùng. Nên chỉ cho biết cây gậy chống. Nên chỉ cho biết quy định của Tăng chúng: ‘Giờ này nên vào, giờ này nên ra.’”
Sace navako hoti, nisinnakeneva ācikkhitabbaṁ—‘atra pattaṁ nikkhipāhi, atra cīvaraṁ nikkhipāhi, idaṁ āsanaṁ nisīdāhī’ti. Pānīyaṁ ācikkhitabbaṁ. Paribhojanīyaṁ ācikkhitabbaṁ. Upāhanāpuñchanacoḷakaṁ ācikkhitabbaṁ.
Āgantuko bhikkhu navako abhivādāpetabbo. Senāsanaṁ ācikkhitabbaṁ—‘etaṁ te senāsanaṁ pāpuṇātī’ti. Ajjhāvuṭṭhaṁ vā anajjhāvuṭṭhaṁ vā ācikkhitabbaṁ. Gocaro ācikkhitabbo. Agocaro ācikkhitabbo. Sekkhasammatāni kulāni ācikkhitabbāni. Vaccaṭṭhānaṁ ācikkhitabbaṁ. Passāvaṭṭhānaṁ ācikkhitabbaṁ. Pānīyaṁ ācikkhitabbaṁ. Paribhojanīyaṁ ācikkhitabbaṁ. Kattaradaṇḍo ācikkhitabbo. Saṅghassa katikasaṇṭhānaṁ ācikkhitabbaṁ—‘imaṁ kālaṁ pavisitabbaṁ, imaṁ kālaṁ nikkhamitabban’ti.
Idaṁ kho, bhikkhave, āvāsikānaṁ bhikkhūnaṁ vattaṁ yathā āvāsikehi bhikkhūhi sammā vattitabban”ti.
If the newly-arrived monk is junior to him, the resident monk should remain seated while telling him where to put his bowl and robe, and which seat to sit on. He should point out the water for drinking and the water for washing, as well as a sandal-wiping cloth.
If the newly-arrived monk is junior to the resident monk, he should bow down to him. The resident monk should tell him which dwelling he may stay in and whether it’s occupied or not. He should tell him where to go for alms and where not to go, and about any families designated as ‘in training’. He should point out the place for defecating and the place for urinating, the water for drinking and the water for washing, and the walking sticks. He should tell him about the Sangha’s agreements concerning the right time to enter and the right time to leave.
This is the proper conduct for resident monks.”
“Nếu là vị (tỳ khưu khách) nhỏ tuổi, nên chỉ bảo ngay trong lúc đang ngồi: ‘Hãy đặt bát ở đây, hãy đặt y ở đây, đây là chỗ ngồi, hãy ngồi xuống.’ Nên chỉ cho biết nước uống. Nên chỉ cho biết nước dùng. Nên chỉ cho biết miếng giẻ lau giày dép. Vị tỳ khưu khách nhỏ tuổi nên được bảo đảnh lễ. Nên chỉ cho biết chỗ ở: ‘Chỗ ở này thuộc về ngài.’ Nên chỉ cho biết (chỗ ở) đã có người ở hay chưa có người ở. Nên chỉ cho biết nơi khất thực. Nên chỉ cho biết nơi không phải khất thực. Nên chỉ cho biết các gia đình được xem là hữu học. Nên chỉ cho biết nơi đại tiện. Nên chỉ cho biết nơi tiểu tiện. Nên chỉ cho biết nước uống. Nên chỉ cho biết nước dùng. Nên chỉ cho biết cây gậy chống. Nên chỉ cho biết quy định của Tăng chúng: ‘Giờ này nên vào, giờ này nên ra.’ Này các tỳ khưu, đây chính là phận sự của các tỳ khưu trú ngụ, để các tỳ khưu trú ngụ thực hành cho đúng đắn.”
3. Gamikavattakathā
3. Discussion of the proper conduct for departing monks
3. Câu chuyện về phận sự của tỳ khưu du hành
Tena kho pana samayena gamikā bhikkhū dārubhaṇḍaṁ mattikābhaṇḍaṁ appaṭisāmetvā dvāravātapānaṁ vivaritvā senāsanaṁ anāpucchā pakkamanti. Dārubhaṇḍaṁ mattikābhaṇḍaṁ nassati. Senāsanaṁ aguttaṁ hoti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma gamikā bhikkhū dārubhaṇḍaṁ mattikābhaṇḍaṁ appaṭisāmetvā dvāravātapānaṁ vivaritvā senāsanaṁ anāpucchā pakkamissanti. Dārubhaṇḍaṁ mattikābhaṇḍaṁ nassati. Senāsanaṁ aguttaṁ hotī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave …pe… “saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
At that time there were monks who departed without putting the wooden and ceramic goods in order, without closing the door and the windows, and without informing anyone. The wooden and ceramic goods were lost and the dwelling was unprotected.
The monks of few desires complained and criticized them, “How can the departing monks act like this?” They told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that the departing monks are acting like this?” “It’s true, sir.” … After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
360. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu du hành không cất dọn đồ gỗ và đồ đất, mở cửa chính và cửa sổ, rồi ra đi mà không báo cho ai biết về chỗ ở. Đồ gỗ và đồ đất bị hư hại. Chỗ ở không được trông coi. Những vị tỳ khưu thiểu dục ... họ phàn nàn, chê bai, khiển trách rằng: “Làm sao mà các tỳ khưu du hành lại không cất dọn đồ gỗ và đồ đất, mở cửa chính và cửa sổ, rồi ra đi mà không báo cho ai biết về chỗ ở! Đồ gỗ và đồ đất bị hư hại. Chỗ ở không được trông coi.” Bấy giờ, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... “Này các tỳ khưu, có thật như vậy không?” ... “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.” ... (Ngài) đã quở trách ... sau khi thuyết pháp thoại, đã gọi các tỳ khưu:
“Tena hi, bhikkhave, gamikānaṁ bhikkhūnaṁ vattaṁ paññapessāmi yathā gamikehi bhikkhūhi sammā vattitabbaṁ. Gamikena, bhikkhave, bhikkhunā dārubhaṇḍaṁ mattikābhaṇḍaṁ paṭisāmetvā dvāravātapānaṁ thaketvā senāsanaṁ āpucchā pakkamitabbaṁ. Sace bhikkhu na hoti, sāmaṇero āpucchitabbo. Sace sāmaṇero na hoti, ārāmiko āpucchitabbo. Sace ārāmiko na hoti, upāsako āpucchitabbo. Sace na hoti bhikkhu vā sāmaṇero vā ārāmiko vā upāsako vā, catūsu pāsāṇesu mañcaṁ paññapetvā mañce mañcaṁ āropetvā pīṭhe pīṭhaṁ āropetvā senāsanaṁ upari puñjaṁ karitvā dārubhaṇḍaṁ mattikābhaṇḍaṁ paṭisāmetvā dvāravātapānaṁ thaketvā pakkamitabbaṁ.
Sace vihāro ovassati, sace ussahati, chādetabbo, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—‘kinti nu kho vihāro chādiyethā’ti. Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ. No ce labhetha, yo deso anovassako hoti, tattha catūsu pāsāṇesu mañcaṁ paññapetvā mañce mañcaṁ āropetvā pīṭhe pīṭhaṁ āropetvā senāsanaṁ upari puñjaṁ karitvā dārubhaṇḍaṁ mattikābhaṇḍaṁ paṭisāmetvā dvāravātapānaṁ thaketvā pakkamitabbaṁ. Sace sabbo vihāro ovassati, sace ussahati, senāsanaṁ gāmaṁ atiharitabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—‘kinti nu kho senāsanaṁ gāmaṁ atihariyethā’ti. Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ. No ce labhetha, ajjhokāse catūsu pāsāṇesu mañcaṁ paññapetvā mañce mañcaṁ āropetvā pīṭhe pīṭhaṁ āropetvā senāsanaṁ upari puñjaṁ karitvā dārubhaṇḍaṁ mattikābhaṇḍaṁ paṭisāmetvā tiṇena vā paṇṇena vā paṭicchādetvā pakkamitabbaṁ—appeva nāma aṅgānipi seseyyunti.
Idaṁ kho, bhikkhave, gamikānaṁ bhikkhūnaṁ vattaṁ yathā gamikehi bhikkhūhi sammā vattitabban”ti.
“Well then, I’ll lay down the proper conduct for departing monks. Before a monk departs, he should put the wooden and ceramic goods in order, close the door and the windows, and inform someone. If there are no monks, he should inform a novice monk; if there are no novice monks, he should inform a monastery worker; if there are no monastery workers, he should inform a lay follower. If there are no monks, novice monks, monastery workers, or lay followers, he should place the bed on four rocks. He should then stack the beds and benches on top of one another, with the other furniture piled on top, and put away the wooden and ceramic goods. He should close the door and the windows, and then depart.
If rain enters the dwelling, he should cover it if he’s able, or he should make an effort to have it covered. If this works out, all is well. If not, he should place the bed on four rocks in a dry spot. He should then stack the beds and benches on top of one another, with the other furniture piled on top, and put away the wooden and ceramic goods. He should close the door and the windows, and then depart. If the whole dwelling is getting wet, he should carry the furniture to the village if he’s able, or he should make an effort to have it carried to the village. If this works out, all is well. If not, he should place the bed on four rocks outside. He should then stack the beds and benches on top of one another, with the other furniture piled on top, and he should put away the wooden and ceramic goods. He should cover it all with grass and leaves and then depart, thinking, ‘Hopefully the requisites will be okay.’
This is the proper conduct for departing monks.”
361. “Này các tỳ khưu, nếu vậy, Ta sẽ chế định phận sự cho các tỳ khưu du hành, để các tỳ khưu du hành thực hành cho đúng đắn. Này các tỳ khưu, tỳ khưu du hành nên cất dọn đồ gỗ và đồ đất, đóng cửa chính và cửa sổ, báo cho biết về chỗ ở rồi mới ra đi. Nếu không có tỳ khưu, nên báo cho sa-di. Nếu không có sa-di, nên báo cho người giữ vườn. Nếu không có người giữ vườn, nên báo cho cận sự nam. Nếu không có tỳ khưu, sa-di, người giữ vườn, hay cận sự nam, nên đặt giường trên bốn tảng đá, đặt giường này lên giường kia, đặt ghế này lên ghế kia, chất đống đồ đạc trong chỗ ở lên trên, cất dọn đồ gỗ và đồ đất, đóng cửa chính và cửa sổ rồi mới ra đi. Nếu trú xá bị dột, nếu có thể, nên lợp lại, hoặc nên cố gắng: ‘Làm sao để lợp lại trú xá đây?’ Nếu làm được như vậy thì tốt. Nếu không làm được, ở nơi nào không bị dột, nên đặt giường trên bốn tảng đá, đặt giường này lên giường kia, đặt ghế này lên ghế kia, chất đống đồ đạc trong chỗ ở lên trên, cất dọn đồ gỗ và đồ đất, đóng cửa chính và cửa sổ rồi mới ra đi. Nếu toàn bộ trú xá bị dột, nếu có thể, nên mang đồ đạc trong chỗ ở vào làng, hoặc nên cố gắng: ‘Làm sao để mang đồ đạc trong chỗ ở vào làng đây?’ Nếu làm được như vậy thì tốt. Nếu không làm được, ở ngoài trời, nên đặt giường trên bốn tảng đá, đặt giường này lên giường kia, đặt ghế này lên ghế kia, chất đống đồ đạc trong chỗ ở lên trên, cất dọn đồ gỗ và đồ đất, dùng cỏ hoặc lá cây che đậy lại rồi ra đi, với ý nghĩ rằng: ‘Mong sao các bộ phận (của giường ghế) còn lại.’ Này các tỳ khưu, đây chính là phận sự của các tỳ khưu du hành, để các tỳ khưu du hành thực hành cho đúng đắn.”
4. Anumodanavattakathā
4. Discussion of the proper conduct in connection with the expression of appreciation
4. Câu chuyện về phận sự tùy hỷ
Tena kho pana samayena bhikkhū bhattagge na anumodanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā bhattagge na anumodissantī”ti. Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, bhattagge anumoditun”ti.
Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“kena nu kho bhattagge anumoditabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, therena bhikkhunā bhattagge anumoditun”ti.
At that time there were monks who did not express their appreciation in the dining hall. People complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics not express their appreciation in the dining hall?” The monks heard the complaints of those people and they told the Buddha. The Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You should express your appreciation in the dining hall.”
The monks thought, “Who should give the expression of appreciation?” They told the Buddha. He gave a teaching and addressed the monks:
“The most senior monk should give the expression of appreciation in the dining hall.”
362. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu không tùy hỷ ở nhà ăn. Quần chúng phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: ‘Tại sao các vị sa-môn Thích tử lại không tùy hỷ ở nhà ăn chứ!’ Các vị tỳ khưu đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, và chỉ trích của quần chúng ấy. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các vị tỳ khưu lại và dạy rằng: ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép tùy hỷ ở nhà ăn.’ Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã khởi lên suy nghĩ rằng: ‘Vậy ai nên là người tùy hỷ ở nhà ăn?’ Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các vị tỳ khưu lại và dạy rằng: ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu trưởng lão tùy hỷ ở nhà ăn.’
Tena kho pana samayena aññatarassa pūgassa saṅghabhattaṁ hoti. Āyasmā sāriputto saṅghatthero hoti. Bhikkhū—“bhagavatā anuññātaṁ therena bhikkhunā bhattagge anumoditun”ti—āyasmantaṁ sāriputtaṁ ekakaṁ ohāya pakkamiṁsu. Atha kho āyasmā sāriputto te manusse paṭisammoditvā pacchā ekako agamāsi. Addasā kho bhagavā āyasmantaṁ sāriputtaṁ dūratova ekakaṁ āgacchantaṁ. Disvāna āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca—“kacci, sāriputta, bhattaṁ iddhaṁ ahosī”ti?
“Iddhaṁ kho, bhante, bhattaṁ ahosi; api ca maṁ bhikkhū ekakaṁ ohāya pakkantā”ti. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, bhattagge catūhi pañcahi therānutherehi bhikkhūhi āgametun”ti.
Soon afterwards a certain association was offering a meal to the Sangha. Venerable Sāriputta was the most senior monk. Because the Buddha had said the most senior monk should give the expression of appreciation, the other monks left, leaving Sāriputta behind by himself. After giving the expression of appreciation, he left by himself. The Buddha saw him coming and asked, “Did the meal go well?”
“The meal went well, sir, but the monks all left, leaving me behind by myself.” Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“The four or five most senior monks should wait in the dining hall.”
Vào lúc bấy giờ, có một đoàn thể nọ cúng dường bữa ăn đến chư Tăng. Đại đức Sāriputta là vị trưởng lão của Tăng chúng. Các vị tỳ khưu, với suy nghĩ rằng: ‘Đức Thế Tôn đã cho phép vị tỳ khưu trưởng lão tùy hỷ ở nhà ăn,’ đã bỏ lại một mình đại đức Sāriputta rồi ra về. Sau đó, đại đức Sāriputta sau khi làm cho những người ấy hoan hỷ đã đi về một mình sau đó. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy đại đức Sāriputta từ xa đang đi đến một mình. Sau khi thấy, ngài đã nói với đại đức Sāriputta điều này: ‘Này Sāriputta, có phải bữa ăn được thịnh soạn không?’ ‘Bạch ngài, bữa ăn quả thật thịnh soạn; tuy nhiên, các vị tỳ khưu đã bỏ lại một mình con rồi ra về.’ Nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các vị tỳ khưu lại và dạy rằng: ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép bốn hoặc năm vị tỳ khưu, gồm các vị trưởng lão và các vị kế trưởng lão, chờ đợi ở nhà ăn.’
Tena kho pana samayena aññataro thero bhattagge vaccito āgamesi. So vaccaṁ sandhāretuṁ asakkonto mucchito papati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sati karaṇīye ānantarikaṁ bhikkhuṁ āpucchitvā gantun”ti.
On one occasion a senior monk who needed to defecate was waiting in the dining hall. Being unable to hold out, he fainted and fell over. They told the Buddha.
“When there’s something to be done, I allow you to go after informing the monk next to you.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị trưởng lão nọ bị mắc đại tiện đã phải chờ đợi ở nhà ăn. Vị ấy, do không thể nín giữ việc đại tiện, đã bị ngất xỉu và ngã xuống. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy rằng:) ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép, khi có việc cần làm, sau khi xin phép vị tỳ khưu ngồi kế bên rồi ra đi.’
5. Bhattaggavattakathā
5. Discussion of the proper conduct in relation to dining halls
5. Câu chuyện về phận sự ở nhà ăn
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū dunnivatthā duppārutā anākappasampannā bhattaggaṁ gacchanti, vokkammapi therānaṁ bhikkhūnaṁ purato purato gacchanti, therepi bhikkhū anupakhajja nisīdanti, navepi bhikkhū āsanena paṭibāhanti, saṅghāṭimpi ottharitvā antaraghare nisīdanti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma chabbaggiyā bhikkhū dunnivatthā duppārutā anākappasampannā bhattaggaṁ gacchissanti, vokkammapi therānaṁ bhikkhūnaṁ purato purato gacchissanti, therepi bhikkhū anupakhajja nisīdissanti, navepi bhikkhū āsanenapi paṭibāhissanti, saṅghāṭimpi ottharitvā antaraghare nisīdissantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, chabbaggiyā bhikkhū dunnivatthā duppārutā anākappasampannā bhattaggaṁ gacchanti, vokkammapi therānaṁ bhikkhūnaṁ purato purato gacchanti, therepi bhikkhū anupakhajja nisīdanti, navepi bhikkhū āsanena paṭibāhanti, saṅghāṭimpi ottharitvā antaraghare nisīdantī”ti? “Saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
At that time the monks from the group of six walked to the dining hall shabbily dressed and improper in appearance. Taking a short cut, they walked in front of the senior monks. They sat down encroaching on the senior monks and blocked the junior monks from getting a seat. And they spread out their upper robes and sat on them in inhabited areas.
The monks of few desires complained and criticized them, “How can the monks from the group of six act like this?” They told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that the monks from the group of six are acting like this?” “It’s true, sir.” … After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
363. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu mặc y không chỉnh tề, khoác y không tề chỉnh, không có oai nghi thích hợp, đi đến nhà ăn; họ cũng vượt qua và đi trước mặt các vị tỳ khưu trưởng lão; họ cũng chen lấn các vị tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống; họ cũng dùng chỗ ngồi để cản các vị tỳ khưu mới; họ cũng đè lên y tăng-già-lê rồi ngồi xuống ở trong làng. Những vị tỳ khưu thiểu dục ... họ phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: ‘Tại sao nhóm sáu vị tỳ khưu lại mặc y không chỉnh tề, khoác y không tề chỉnh, không có oai nghi thích hợp, đi đến nhà ăn; lại còn vượt qua và đi trước mặt các vị tỳ khưu trưởng lão; lại còn chen lấn các vị tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống; lại còn dùng chỗ ngồi để cản các vị tỳ khưu mới; lại còn đè lên y tăng-già-lê rồi ngồi xuống ở trong làng chứ!’ Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... ‘Có thật chăng, này các tỳ khưu, rằng nhóm sáu vị tỳ khưu mặc y không chỉnh tề, khoác y không tề chỉnh, không có oai nghi thích hợp, đi đến nhà ăn; cũng vượt qua và đi trước mặt các vị tỳ khưu trưởng lão; cũng chen lấn các vị tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống; cũng dùng chỗ ngồi để cản các vị tỳ khưu mới; cũng đè lên y tăng-già-lê rồi ngồi xuống ở trong làng?’ ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ ... sau khi quở trách ... sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các vị tỳ khưu lại và dạy rằng:
“Tena hi, bhikkhave, bhikkhūnaṁ bhattaggavattaṁ paññapessāmi yathā bhikkhūhi bhattagge sammā vattitabbaṁ. Sace ārāme kālo ārocito hoti, timaṇḍalaṁ paṭicchādentena parimaṇḍalaṁ nivāsetvā kāyabandhanaṁ bandhitvā saguṇaṁ katvā saṅghāṭiyo pārupitvā gaṇṭhikaṁ paṭimuñcitvā dhovitvā pattaṁ gahetvā sādhukaṁ ataramānena gāmo pavisitabbo.
“Well then, I’ll lay down the proper conduct in relation to dining halls. In a monastery where the time for departure gets announced, a monk should put on his sarong evenly all around, covering the navel and the knees. He should put on a belt. Putting the upper robes together, overlapping each other edge-to-edge, he should put them on and fasten the toggle. He should rinse his bowl, bring it along, and enter the village carefully and without hurry.
364. ‘Vậy thì, này các tỳ khưu, Ta sẽ ban hành phận sự ở nhà ăn cho các tỳ khưu, để các tỳ khưu thực hành đúng đắn ở nhà ăn. Nếu ở trong tu viện, thời gian đã được thông báo, vị ấy nên che kín ba vòng, mặc y nội tròn đều, thắt dây lưng, gấp y tăng-già-lê làm hai lớp rồi khoác lên, gài nút, rửa sạch, cầm lấy bát, rồi nên đi vào làng một cách cẩn thận, không vội vã.
Na vokkamma therānaṁ bhikkhūnaṁ purato purato gantabbaṁ. Suppaṭicchannena antaraghare gantabbaṁ. Susaṁvutena antaraghare gantabbaṁ. Okkhittacakkhunā antaraghare gantabbaṁ. Na ukkhittakāya antaraghare gantabbaṁ. Na ujjagghikāya antaraghare gantabbaṁ. Appasaddena antaraghare gantabbaṁ. Na kāyappacālakaṁ antaraghare gantabbaṁ. Na bāhuppacālakaṁ antaraghare gantabbaṁ. Na sīsappacālakaṁ antaraghare gantabbaṁ. Na khambhakatena antaraghare gantabbaṁ. Na oguṇṭhitena antaraghare gantabbaṁ. Na ukkuṭikāya antaraghare gantabbaṁ.
He shouldn’t take a short cut and walk in front of the senior monks. He should be well-covered while walking in inhabited areas; he should be well-restrained while walking in inhabited areas; he should lower his eyes while walking in inhabited areas; he shouldn’t lift his robe while walking in inhabited areas; he shouldn’t laugh loudly while walking in inhabited areas; he shouldn’t be noisy while walking in inhabited areas; he shouldn’t sway his body while walking in inhabited areas; he shouldn’t swing his arms while walking in inhabited areas; he shouldn’t sway his head while walking in inhabited areas; he shouldn’t have his hands on his hips while walking in inhabited areas; he shouldn’t cover his head while walking in inhabited areas; he shouldn’t move about while squatting on his heels in inhabited areas.
‘Không nên vượt qua và đi trước mặt các vị tỳ khưu trưởng lão. Nên đi trong làng với y che kín cẩn thận. Nên đi trong làng với các căn được thu thúc. Nên đi trong làng với mắt nhìn xuống. Không nên đi trong làng với thân vén y lên. Không nên đi trong làng trong khi cười lớn tiếng. Nên đi trong làng với tiếng nói nhỏ nhẹ. Không nên đi trong làng trong khi lắc lư thân. Không nên đi trong làng trong khi vung vẩy cánh tay. Không nên đi trong làng trong khi lắc lư đầu. Không nên đi trong làng trong khi chống nạnh. Không nên đi trong làng trong khi trùm đầu. Không nên đi trong làng bằng cách đi nhón gót.’
Suppaṭicchannena antaraghare nisīditabbaṁ. Susaṁvutena antaraghare nisīditabbaṁ. Okkhittacakkhunā antaraghare nisīditabbaṁ. Na ukkhittakāya antaraghare nisīditabbaṁ na ujjagghikāya antaraghare nisīditabbaṁ, appasaddena antaraghare nisīditabbaṁ. Na kāyappacālakaṁ antaraghare nisīditabbaṁ. Na bāhuppacālakaṁ antaraghare nisīditabbaṁ. Na sīsappacālakaṁ antaraghare nisīditabbaṁ. Na khambhakatena antaraghare nisīditabbaṁ. Na oguṇṭhitena antaraghare nisīditabbaṁ. Na pallatthikāya antaraghare nisīditabbaṁ. Na there bhikkhū anupakhajja nisīditabbaṁ. Na navā bhikkhū āsanena paṭibāhitabbā. Na saṅghāṭiṁ ottharitvā antaraghare nisīditabbaṁ.
He should be well-covered while sitting in inhabited areas; he should be well-restrained while sitting in inhabited areas; he should lower his eyes while sitting in inhabited areas; he shouldn’t lift his robe while sitting in inhabited areas; he shouldn’t laugh loudly while sitting in inhabited areas; he shouldn’t be noisy while sitting in inhabited areas; he shouldn’t sway his body while sitting in inhabited areas; he shouldn’t swing his arms while sitting in inhabited areas; he shouldn’t sway his head while sitting in inhabited areas; he shouldn’t have his hands on his hips while sitting in inhabited areas; he shouldn’t cover his head while sitting in inhabited areas; he shouldn’t clasp his knees while sitting in inhabited areas. He shouldn’t sit encroaching on the senior monks or block the junior monks from getting a seat. He shouldn’t spread out his upper robe and sit on it in inhabited areas.
“Nên che đậy kỹ càng khi ngồi trong khu dân cư. Nên thu thúc lục căn khi ngồi trong khu dân cư. Nên nhìn xuống khi ngồi trong khu dân cư. Không nên vén y khi ngồi trong khu dân cư, không nên cười lớn tiếng khi ngồi trong khu dân cư, nên ngồi với tiếng nói nhỏ nhẹ trong khu dân cư. Không nên lắc lư thân mình khi ngồi trong khu dân cư. Không nên lắc lư cánh tay khi ngồi trong khu dân cư. Không nên lắc lư đầu khi ngồi trong khu dân cư. Không nên chống nạnh khi ngồi trong khu dân cư. Không nên trùm đầu khi ngồi trong khu dân cư. Không nên ngồi chéo chân khi ngồi trong khu dân cư. Không nên ngồi chen lấn các vị tỳ khưu trưởng lão. Không nên dùng chỗ ngồi để ngăn cản các vị tỳ khưu trẻ. Không nên ngồi đè lên y tăng-già-lê trong khu dân cư.
Udake diyyamāne ubhohi hatthehi pattaṁ paṭiggahetvā udakaṁ paṭiggahetabbaṁ. Nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena patto dhovitabbo. Sace udakappaṭiggāhako hoti, nīcaṁ katvā udakappaṭiggahe udakaṁ āsiñcitabbaṁ—mā udakappaṭiggāhako udakena osiñci, mā sāmantā bhikkhū udakena osiñciṁsu, mā saṅghāṭi udakena osiñcīti. Sace udakappaṭiggāhako na hoti, nīcaṁ katvā chamāya udakaṁ āsiñcitabbaṁ—mā sāmantā bhikkhū udakena osiñciṁsu, mā saṅghāṭi udakena osiñcīti.
When given water, he should receive it while holding his bowl with both hands. Holding the bowl low, he should rinse it carefully without scratching it. If there’s someone to receive the water, he should hold his bowl low and pour the water into the container, trying to avoid splashing the person receiving the water, the monks sitting nearby, and his upper robe. If there’s no-one to receive the water, he should hold his bowl low and pour the water on the ground, trying to avoid splashing the monks sitting nearby and his upper robe.
“Khi nước được dâng, nên cầm bát bằng hai tay và nhận lấy nước. Nên hạ thấp bát, rửa cẩn thận, không để va chạm. Nếu có đồ đựng nước rửa tay, nên hạ thấp bát và đổ nước vào đồ đựng ấy, và nên tác ý rằng: ‘Mong cho đồ đựng nước rửa tay không bị nước làm ướt, mong cho các vị tỳ khưu ở gần không bị nước làm ướt, mong cho y tăng-già-lê không bị nước làm ướt.’ Nếu không có đồ đựng nước rửa tay, nên hạ thấp bát và đổ nước xuống đất, và nên tác ý rằng: ‘Mong cho các vị tỳ khưu ở gần không bị nước làm ướt, mong cho y tăng-già-lê không bị nước làm ướt.’
Odane diyyamāne ubhohi hatthehi pattaṁ paṭiggahetvā odano paṭiggahetabbo, sūpassa okāso kātabbo. Sace hoti sappi vā telaṁ vā uttaribhaṅgaṁ vā, therena vattabbo—‘sabbesaṁ samakaṁ sampādehī’ti. Sakkaccaṁ piṇḍapāto paṭiggahetabbo. Pattasaññinā piṇḍapāto paṭiggahetabbo. Samasūpako piṇḍapāto paṭiggahetabbo. Samatittiko piṇḍapāto paṭiggahetabbo.
When given rice, he should receive it while holding his bowl with both hands, leaving room for the curry. If there’s ghee, oil, or special curry, the senior monk should say, ‘Everyone gets an equal share.’ He should receive the almsfood respectfully; he should receive the almsfood with attention on the bowl; he should receive the almsfood with the right proportion of bean curry; he should receive an even level of almsfood.
“Khi cơm được dâng, nên cầm bát bằng hai tay và nhận lấy cơm, nên chừa chỗ cho món canh. Nếu có bơ, dầu, hoặc thức ăn thêm, vị trưởng lão nên nói rằng: ‘Hãy chia cho tất cả được đồng đều.’ Nên cung kính nhận vật thực khất thực. Nên chú tâm vào bát khi nhận vật thực khất thực. Nên nhận vật thực khất thực với lượng canh vừa đủ. Nên nhận vật thực khất thực vừa bằng vành bát.
Na tāva therena bhuñjitabbaṁ yāva na sabbesaṁ odano sampatto hoti. Sakkaccaṁ piṇḍapāto bhuñjitabbo. Pattasaññinā piṇḍapāto bhuñjitabbo. Sapadānaṁ piṇḍapāto bhuñjitabbo. Samasūpako piṇḍapāto bhuñjitabbo. Na thūpakato omadditvā piṇḍapāto bhuñjitabbo. Na sūpaṁ vā byañjanaṁ vā odanena paṭicchādetabbaṁ bhiyyokamyataṁ upādāya. Na sūpaṁ vā odanaṁ vā agilānena attano atthāya viññāpetvā bhuñjitabbaṁ. Na ujjhānasaññinā paresaṁ patto oloketabbo. Nātimahanto kabaḷo kātabbo. Parimaṇḍalo ālopo kātabbo. Na anāhaṭe kabaḷe mukhadvāraṁ vivaritabbaṁ. Na bhuñjamānena sabbo hattho mukhe pakkhipitabbo. Na sakabaḷena mukhena byāharitabbaṁ. Na piṇḍukkhepakaṁ bhuñjitabbaṁ. Na kabaḷāvacchedakaṁ bhuñjitabbaṁ. Na avagaṇḍakārakaṁ bhuñjitabbaṁ. Na hatthaniddhunakaṁ bhuñjitabbaṁ. Na sitthāvakārakaṁ bhuñjitabbaṁ. Na jivhānicchārakaṁ bhuñjitabbaṁ. Na capucapukārakaṁ bhuñjitabbaṁ. Na surusurukārakaṁ bhuñjitabbaṁ. Na hatthanillehakaṁ bhuñjitabbaṁ. Na pattanillehakaṁ bhuñjitabbaṁ. Na oṭṭhanillehakaṁ bhuñjitabbaṁ.
The senior monk shouldn’t start eating until everyone has received rice. A monk should eat almsfood respectfully; he should eat almsfood with attention on the bowl; he should eat almsfood in order; he should eat almsfood with the right proportion of bean curry; he shouldn’t eat almsfood after making a heap; he shouldn’t cover his curries with rice because he wants more; when not sick, he shouldn’t request bean curry and rice for himself and then eat it; he shouldn’t look at another’s almsbowl finding fault; he shouldn’t make mouthfuls that are too large; he should make rounded mouthfuls; he shouldn’t open his mouth without bringing a mouthful to it; he shouldn’t put his whole hand in his mouth while eating; he shouldn’t speak with food in his mouth; he shouldn’t eat from a lifted ball of food; he shouldn’t eat breaking up mouthfuls; he shouldn’t eat stuffing his cheeks; he shouldn’t eat shaking his hand; he shouldn’t eat scattering rice; he shouldn’t eat sticking out his tongue; he shouldn’t make a chomping sound while eating; he shouldn’t slurp while eating; he shouldn’t lick his hand while eating; he shouldn’t lick his almsbowl while eating; he shouldn’t lick his lips while eating;
Vị trưởng lão không nên thọ thực chừng nào cơm chưa được mang đến đủ cho tất cả (các vị tỳ-khưu). Nên thọ thực vật thực khất thực một cách cung kính. Nên thọ thực vật thực khất thực với sự chú tâm vào bát. Nên thọ thực vật thực khất thực theo thứ tự. Nên thọ thực vật thực khất thực với lượng canh vừa đủ. Không nên thọ thực vật thực khất thực bằng cách ấn xuống từ trên chóp. Không nên dùng cơm che đậy canh hoặc thức ăn khác vì muốn được nhiều hơn. Vị tỳ-khưu không bệnh không nên xin canh hoặc cơm cho riêng mình rồi thọ thực. Không nên nhìn vào bát của người khác với ý định chê bai. Không nên làm miếng cơm quá lớn. Nên làm miếng cơm tròn trịa. Không nên mở miệng khi miếng cơm chưa đưa đến. Khi đang thọ thực, không nên cho cả bàn tay vào miệng. Không nên nói chuyện khi miệng đang còn miếng cơm. Không nên thọ thực kiểu tung vắt cơm. Không nên thọ thực kiểu cắn dở miếng cơm. Không nên thọ thực kiểu phồng má. Không nên thọ thực kiểu vẩy tay. Không nên thọ thực kiểu làm rơi vãi hạt cơm. Không nên thọ thực kiểu lè lưỡi. Không nên thọ thực phát ra tiếng ‘chép chép’. Không nên thọ thực phát ra tiếng ‘sột soạt’. Không nên thọ thực kiểu liếm tay. Không nên thọ thực kiểu liếm bát. Không nên thọ thực kiểu liếm môi.
Na tāva therena udakaṁ paṭiggahetabbaṁ yāva na sabbeva bhuttāvino honti. Udake diyyamāne ubhohi hatthehi pattaṁ paṭiggahetvā udakaṁ paṭiggahetabbaṁ. Nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena patto dhovitabbo. Sace udakappaṭiggāhako hoti, nīcaṁ katvā udakappaṭiggahe udakaṁ āsiñcitabbaṁ—mā udakappaṭiggāhako udakena osiñci, mā sāmantā bhikkhū udakena osiñciṁsu, mā saṅghāṭi udakena osiñcīti. Sace udakappaṭiggāhako na hoti, nīcaṁ katvā chamāya udakaṁ āsiñcitabbaṁ—mā sāmantā bhikkhū udakena osiñciṁsu, mā saṅghāṭi udakena osiñcīti. Na sasitthakaṁ pattadhovanaṁ antaraghare chaḍḍetabbaṁ.
The senior monk shouldn’t receive water for washing until all the monks are finished eating. When given water, a monk should receive it while holding his bowl with both hands. Holding the bowl low, he should rinse it carefully without scratching it. If there’s someone to receive the water, he should hold his bowl low and pour the water into the container, trying to avoid splashing the person receiving the water, the monks sitting nearby, and his upper robe. If there’s no-one to receive the water, he should hold his bowl low and pour the water on the ground, trying to avoid splashing the monks sitting nearby and his upper robe. He shouldn’t discard bowl-washing water containing rice in inhabited areas.
“Không nên cầm ly nước uống bằng tay còn dính thức ăn. Vị trưởng lão không nên nhận nước cho đến khi tất cả mọi người đều đã dùng bữa xong. Khi nước được dâng, nên cầm bát bằng hai tay và nhận lấy nước. Nên hạ thấp bát, rửa cẩn thận, không để va chạm. Nếu có đồ đựng nước rửa tay, nên hạ thấp bát và đổ nước vào đồ đựng ấy, và nên tác ý rằng: ‘Mong cho đồ đựng nước rửa tay không bị nước làm ướt, mong cho các vị tỳ khưu ở gần không bị nước làm ướt, mong cho y tăng-già-lê không bị nước làm ướt.’ Nếu không có đồ đựng nước rửa tay, nên hạ thấp bát và đổ nước xuống đất, và nên tác ý rằng: ‘Mong cho các vị tỳ khưu ở gần không bị nước làm ướt, mong cho y tăng-già-lê không bị nước làm ướt.’ Không nên đổ nước rửa bát còn dính cơm trong khu dân cư.
Nivattantena navakehi bhikkhūhi paṭhamataraṁ nivattitabbaṁ, pacchā therehi. Suppaṭicchannena antaraghare gantabbaṁ. Susaṁvutena antaraghare gantabbaṁ. Okkhittacakkhunā antaraghare gantabbaṁ. Na ukkhittakāya antaraghare gantabbaṁ. Na ujjagghikāya antaraghare gantabbaṁ. Appasaddena antaraghare gantabbaṁ. Na kāyappacālakaṁ antaraghare gantabbaṁ. Na bāhuppacālakaṁ antaraghare gantabbaṁ. Na sīsappacālakaṁ antaraghare gantabbaṁ. Na khambhakatena antaraghare gantabbaṁ. Na oguṇṭhitena antaraghare gantabbaṁ. Na ukkuṭikāya antaraghare gantabbaṁ.
Idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhūnaṁ bhattaggavattaṁ yathā bhikkhūhi bhattagge sammā vattitabban”ti.
When returning, the junior monks should go first and then the senior monks. A monk should be well-covered while walking in inhabited areas; he should be well-restrained while walking in inhabited areas; he should lower his eyes while walking in inhabited areas; he shouldn’t lift his robe while walking in inhabited areas; he shouldn’t laugh loudly while walking in inhabited areas; he shouldn’t be noisy while walking in inhabited areas; he shouldn’t sway his body while walking in inhabited areas; he shouldn’t swing his arms while walking in inhabited areas; he shouldn’t sway his head while walking in inhabited areas; he shouldn’t have his hands on his hips while walking in inhabited areas; he shouldn’t cover his head while walking in inhabited areas; he shouldn’t move about while squatting on his heels in inhabited areas.
This is the proper conduct in relation to dining halls.”
“Khi trở về, các vị tỳ khưu trẻ nên trở về trước. Các vị trưởng lão nên đi sau. Nên che đậy kỹ càng khi đi trong khu dân cư. Nên thu thúc lục căn khi đi trong khu dân cư. Nên nhìn xuống khi đi trong khu dân cư. Không nên vén y khi đi trong khu dân cư. Không nên cười lớn tiếng khi đi trong khu dân cư. Nên đi với tiếng nói nhỏ nhẹ trong khu dân cư. Không nên lắc lư thân mình khi đi trong khu dân cư. Không nên lắc lư cánh tay khi đi trong khu dân cư. Không nên lắc lư đầu khi đi trong khu dân cư. Không nên chống nạnh khi đi trong khu dân cư. Không nên trùm đầu khi đi trong khu dân cư. Không nên đi nhón gót trong khu dân cư. Này các tỳ khưu, đây là phận sự của các tỳ khưu tại nhà ăn, các tỳ khưu nên thực hành đúng đắn tại nhà ăn như vậy.”
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
The first section for recitation is finished.
Dứt chương tụng thứ nhất.
6. Piṇḍacārikavattakathā
6. Discussion of the proper conduct for alms collectors
6. Câu chuyện về phận sự của người đi khất thực
Tena kho pana samayena piṇḍacārikā bhikkhū dunnivatthā duppārutā anākappasampannā piṇḍāya caranti, asallakkhetvāpi nivesanaṁ pavisanti, asallakkhetvāpi nikkhamanti, atisahasāpi pavisanti, atisahasāpi nikkhamanti, atidūrepi tiṭṭhanti, accāsannepi tiṭṭhanti, aticirampi tiṭṭhanti, atilahumpi nivattanti.
Aññataropi piṇḍacāriko bhikkhu asallakkhetvā nivesanaṁ pāvisi. So ca dvāraṁ maññamāno aññataraṁ ovarakaṁ pāvisi. Tasmimpi ovarake itthī naggā uttānā nipannā hoti. Addasā kho so bhikkhu taṁ itthiṁ naggaṁ uttānaṁ nipannaṁ. Disvāna—“nayidaṁ dvāraṁ, ovarakaṁ idan”ti tamhā ovarakā nikkhami. Addasā kho tassā itthiyā sāmiko taṁ itthiṁ naggaṁ uttānaṁ nipannaṁ. Disvāna—“iminā me bhikkhunā pajāpatī dūsitā”ti taṁ bhikkhuṁ gahetvā ākoṭesi. Atha kho sā itthī tena saddena paṭibujjhitvā taṁ purisaṁ etadavoca—“kissa tvaṁ, ayya, imaṁ bhikkhuṁ ākoṭesī”ti?
“Imināsi tvaṁ bhikkhunā dūsitā”ti?
“Nāhaṁ, ayya, iminā bhikkhunā dūsitā; akārako so bhikkhū”ti taṁ bhikkhuṁ muñcāpesi. Atha kho so bhikkhu ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma piṇḍacārikā bhikkhū dunnivatthā duppārutā anākappasampannā piṇḍāya carissanti, asallakkhetvāpi nivesanaṁ pavisissanti, asallakkhetvāpi nikkhamissanti, atisahasāpi pavisissanti, atisahasāpi nikkhamissanti, atidūrepi tiṭṭhissanti, accāsannepi tiṭṭhissanti, aticirampi tiṭṭhissanti, atilahumpi nivattissantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave …pe… “saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
At that time there were alms-collecting monks who were shabbily dressed and improper in appearance. They entered and left houses without being attentive, entered and left too hastily, stood too far away or too close, and waited too long or left too soon.
On one occasion a certain monk entered a house without being attentive. Thinking it was the main door, he entered a room where a woman was lying naked. When he saw her, he left the room. But when her husband saw her there, he thought, “My wife has been raped by this monk,” and he took hold of that monk and gave him a beating. The woman woke up from the commotion and asked her husband, “Why are you beating this monk?”
“Didn’t he rape you?”
“No he didn’t. He’s innocent.” And she had him release that monk. The monk then returned to the monastery and told the monks what had happened.
The monks of few desires complained and criticized him, “How can the alms-collecting monks act like this?” They told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that the alms-collecting monks are acting like this?” “It’s true, sir.” … After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
365. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đi khất thực mặc y không tề chỉnh, khoác y không tề chỉnh, không có oai nghi thích hợp, đi khất thực; họ đi vào nhà mà không quan sát, đi ra cũng không quan sát; đi vào quá vội vã, đi ra cũng quá vội vã; đứng quá xa, đứng quá gần; đứng quá lâu, và quay về quá nhanh. Một vị tỳ khưu đi khất thực nọ đã đi vào một ngôi nhà mà không quan sát. Vị ấy, do tưởng là cửa ra vào, đã đi vào một phòng riêng. Trong phòng riêng ấy, có một người phụ nữ đang nằm ngửa, không mặc quần áo. Vị tỳ khưu ấy đã nhìn thấy người phụ nữ ấy đang nằm ngửa, không mặc quần áo. Sau khi thấy, (nghĩ rằng): ‘Đây không phải là cửa ra vào, đây là phòng riêng,’ vị ấy đã đi ra khỏi phòng riêng ấy. Người chồng của người phụ nữ ấy đã nhìn thấy người phụ nữ ấy đang nằm ngửa, không mặc quần áo. Sau khi thấy, (nghĩ rằng): ‘Vợ ta đã bị vị tỳ khưu này làm nhục,’ ông ta đã bắt lấy vị tỳ khưu ấy và đánh đập. Bấy giờ, người phụ nữ ấy do tiếng động đó đã tỉnh dậy và nói với người đàn ông ấy điều này: ‘Thưa ngài, vì sao ngài lại đánh đập vị tỳ khưu này?’ – ‘Cô đã bị vị tỳ khưu này làm nhục.’ – ‘Thưa ngài, tôi không bị vị tỳ khưu này làm nhục; vị tỳ khưu ấy không làm gì cả.’ (Nói xong), bà đã cho thả vị tỳ khưu ấy đi. Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy sau khi đi đến tu viện đã trình báo sự việc ấy cho các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu thiểu dục... (như trên)... đã phàn nàn, chê bai, và nói rộng ra rằng: ‘Tại sao các vị tỳ khưu đi khất thực lại có thể mặc y không tề chỉnh, khoác y không tề chỉnh, không có oai nghi thích hợp, đi khất thực; đi vào nhà mà không quan sát, đi ra cũng không quan sát; đi vào quá vội vã, đi ra cũng quá vội vã; đứng quá xa, đứng quá gần; đứng quá lâu, và quay về quá nhanh chứ!’ Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn... (như trên)... – Này các tỳ khưu, có thật vậy không?... (như trên)... – Bạch đức Thế Tôn, là sự thật... (như trên)... Sau khi quở trách... (như trên)... sau khi thuyết pháp thoại, ngài đã gọi các vị tỳ khưu:
“Tena hi, bhikkhave, piṇḍacārikānaṁ bhikkhūnaṁ vattaṁ paññapessāmi yathā piṇḍacārikehi bhikkhūhi sammā vattitabbaṁ. Piṇḍacārikena, bhikkhave, bhikkhunā—‘idāni gāmaṁ pavisissāmī’ti timaṇḍalaṁ paṭicchādentena parimaṇḍalaṁ nivāsetvā kāyabandhanaṁ bandhitvā saguṇaṁ katvā saṅghāṭiyo pārupitvā gaṇṭhikaṁ paṭimuñcitvā dhovitvā pattaṁ gahetvā sādhukaṁ ataramānena gāmo pavisitabbo.
“Well then, I’ll lay down the proper conduct for alms-collecting monks. When an alms-collecting monk is about to enter the village, he should put on his sarong evenly all around, covering the navel and the knees. He should put on a belt. Putting the upper robes together, overlapping each other edge-to-edge, he should put them on and fasten the toggle. He should rinse his bowl, bring it along, and enter the village carefully and without hurry.
366. – Này các tỳ khưu, nếu vậy, Ta sẽ chế định phận sự cho các vị tỳ khưu đi khất thực, để các vị tỳ khưu đi khất thực thực hành cho đúng đắn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đi khất thực, sau khi tác ý rằng: ‘Bây giờ ta sẽ vào làng,’ nên che kín ba vòng, mặc y nội cho ngay ngắn, thắt dây lưng, khoác y tăng-già-lê đã được xếp lại, cài nút, rửa bát rồi cầm lấy, và nên đi vào làng một cách cẩn thận, không vội vã.
Suppaṭicchannena antaraghare gantabbaṁ. Susaṁvutena antaraghare gantabbaṁ. Okkhittacakkhunā antaraghare gantabbaṁ. Na ukkhittakāya antaraghare gantabbaṁ. Na ujjagghikāya antaraghare gantabbaṁ. Appasaddena antaraghare gantabbaṁ. Na kāyappacālakaṁ antaraghare gantabbaṁ. Na bāhuppacālakaṁ antaraghare gantabbaṁ. Na sīsappacālakaṁ antaraghare gantabbaṁ. Na khambhakatena antaraghare gantabbaṁ. Na oguṇṭhitena antaraghare gantabbaṁ. Na ukkuṭikāya antaraghare gantabbaṁ.
He should be well-covered while walking in an inhabited areas; he should be well-restrained while walking in inhabited areas; he should lower his eyes while walking in inhabited areas; he shouldn’t lift his robe while walking in inhabited areas; he shouldn’t laugh loudly while walking in inhabited areas; he shouldn’t be noisy while walking in inhabited areas; he shouldn’t sway his body while walking in inhabited areas; he shouldn’t swing his arms while walking in inhabited areas; he shouldn’t sway his head while walking in inhabited areas; he shouldn’t have his hands on his hips while walking in inhabited areas; he shouldn’t cover his head while walking in inhabited areas; he shouldn’t move about while squatting on his heels in inhabited areas.
Nên đi trong làng với thân được che đậy kỹ lưỡng. Nên đi trong làng với (các căn) được phòng hộ kỹ lưỡng. Nên đi trong làng với mắt nhìn xuống. Không nên đi trong làng mà vén y lên. Không nên đi trong làng mà cười lớn tiếng. Nên đi trong làng với tiếng động nhỏ. Không nên đi trong làng mà lắc lư thân. Không nên đi trong làng mà vung vẩy cánh tay. Không nên đi trong làng mà lắc lư đầu. Không nên đi trong làng mà chống nạnh. Không nên đi trong làng mà trùm đầu. Không nên đi trong làng mà đi nhón gót.
Nivesanaṁ pavisantena sallakkhetabbaṁ—‘iminā pavisissāmi, iminā nikkhamissāmī’ti. Nātisahasā pavisitabbaṁ. Nātisahasā nikkhamitabbaṁ. Nātidūre ṭhātabbaṁ. Nāccāsanne ṭhātabbaṁ. Nāticiraṁ ṭhātabbaṁ. Nātilahuṁ nivattitabbaṁ. Ṭhitakena sallakkhetabbaṁ—‘bhikkhaṁ dātukāmā vā adātukāmā vā’ti. Sace kammaṁ vā nikkhipati, āsanā vā vuṭṭhāti, kaṭacchuṁ vā parāmasati, bhājanaṁ vā parāmasati, ṭhapeti vā—dātukāmassāti ṭhātabbaṁ. Bhikkhāya diyyamānāya vāmena hatthena saṅghāṭiṁ uccāretvā dakkhiṇena hatthena pattaṁ paṇāmetvā ubhohi hatthehi pattaṁ paṭiggahetvā bhikkhā paṭiggahetabbā. Na ca bhikkhādāyikāya mukhaṁ ulloketabbaṁ. Sallakkhetabbaṁ—‘sūpaṁ dātukāmā vā adātukāmā vā’ti. Sace kaṭacchuṁ vā parāmasati, bhājanaṁ vā parāmasati, ṭhapeti vā—dātukāmassāti ṭhātabbaṁ. Bhikkhāya dinnāya saṅghāṭiyā pattaṁ paṭicchādetvā sādhukaṁ ataramānena nivattitabbaṁ.
When entering a house, he should be attentive to where to enter and where to leave. He shouldn’t enter or leave too hastily, stand too far away or too close, or wait too long or leave too soon. While waiting, he should be attentive to whether they wish to give alms or not. If they put down their work, get up from their seat, take hold of a serving spoon or a vessel, or they tell him to wait, then he should assume they wish to give, and he should wait. When they give him almsfood, he should lift his upper robe with his left hand, stretch out his bowl with his right hand, and receive the alms while holding the bowl with both hands. He shouldn’t look the donor in the face. He should be attentive to whether they wish to give curry or not. If they take hold of a serving spoon or a vessel, or they tell him to wait, then he should assume they wish to give, and he should wait. When they have given alms, he should cover the bowl with his upper robe, and leave carefully and without hurry.
Khi đi vào nhà, nên ghi nhận rằng: ‘Ta sẽ vào bằng lối này, ta sẽ ra bằng lối này.’ Không nên đi vào quá vội vã. Không nên đi ra quá vội vã. Không nên đứng quá xa. Không nên đứng quá gần. Không nên đứng quá lâu. Không nên quay về quá nhanh. Trong khi đứng, nên ghi nhận rằng: ‘Họ có muốn cúng dường vật thực hay không muốn cúng dường?’ Nếu họ đặt công việc đang làm xuống, hoặc đứng dậy khỏi chỗ ngồi, hoặc sờ đến cái vá, hoặc sờ đến cái bát, hoặc đặt (vật gì đó) xuống, nên đứng lại (với ý nghĩ): ‘Họ có ý muốn cúng dường.’ Khi vật thực được dâng cúng, nên dùng tay trái vén y tăng-già-lê lên, dùng tay phải đưa bát ra, và nên nhận vật thực bằng cả hai tay cầm bát. Và không nên nhìn vào mặt của người nữ thí chủ dâng vật thực. Nên ghi nhận rằng: ‘Họ có muốn cúng dường canh hay không muốn cúng dường?’ Nếu họ sờ đến cái vá, hoặc sờ đến cái bát, hoặc đặt (vật gì đó) xuống, nên đứng lại (với ý nghĩ): ‘Họ có ý muốn cúng dường.’ Sau khi vật thực đã được cúng dường, nên dùng y tăng-già-lê che bát lại và nên quay về một cách cẩn thận, không vội vã.
Suppaṭicchannena antaraghare gantabbaṁ. Susaṁvutena antaraghare gantabbaṁ. Okkhittacakkhunā antaraghare gantabbaṁ. Na ukkhittakāya antaraghare gantabbaṁ. Na ujjagghikāya antaraghare gantabbaṁ. Appasaddena antaraghare gantabbaṁ. Na kāyappacālakaṁ antaraghare gantabbaṁ. Na bāhuppacālakaṁ antaraghare gantabbaṁ. Na sīsappacālakaṁ antaraghare gantabbaṁ. Na khambhakatena antaraghare gantabbaṁ. Na oguṇṭhitena antaraghare gantabbaṁ. Na ukkuṭikāya antaraghare gantabbaṁ.
Yo paṭhamaṁ gāmato piṇḍāya paṭikkamati, tena āsanaṁ paññapetabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipitabbaṁ, avakkārapāti dhovitvā upaṭṭhāpetabbā, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ.
Yo pacchā gāmato piṇḍāya paṭikkamati, sace hoti bhuttāvaseso, sace ākaṅkhati, bhuñjitabbaṁ. No ce ākaṅkhati, appaharite vā chaḍḍetabbaṁ, appāṇake vā udake opilāpetabbaṁ. Tena āsanaṁ uddharitabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ paṭisāmetabbaṁ, avakkārapāti dhovitvā paṭisāmetabbā, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ paṭisāmetabbaṁ, bhattaggaṁ sammajjitabbaṁ.
Yo passati pānīyaghaṭaṁ vā paribhojanīyaghaṭaṁ vā vaccaghaṭaṁ vā rittaṁ tucchaṁ tena upaṭṭhāpetabbaṁ. Sacassa hoti avisayhaṁ, hatthavikārena dutiyaṁ āmantetvā hatthavilaṅghakena upaṭṭhāpetabbaṁ, na ca tappaccayā vācā bhinditabbā.
Idaṁ kho, bhikkhave, piṇḍacārikānaṁ bhikkhūnaṁ vattaṁ yathā piṇḍacārikehi bhikkhūhi sammā vattitabban”ti.
He should be well-covered while walking in inhabited areas; he should be well-restrained while walking in inhabited areas; he should lower his eyes while walking in inhabited areas; he shouldn’t lift his robe while walking in inhabited areas; he shouldn’t laugh loudly while walking in inhabited areas; he shouldn’t be noisy while walking in inhabited areas; he shouldn’t sway his body while walking in inhabited areas; he shouldn’t swing his arms while walking in inhabited areas; he shouldn’t sway his head while walking in inhabited areas; he shouldn’t have his hands on his hips while walking in inhabited areas; he shouldn’t cover his head while walking in inhabited areas; he shouldn’t move about while squatting on his heels in inhabited areas.
Whoever returns first from almsround in the village should prepare the seats and set out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He should wash the bowl for leftovers and put it back out, and set out water for drinking and water for washing.
Whoever returns last from almsround may eat whatever is left over, or he should discard it where there are no cultivated plants or in water without life. He should put away the seats and also the foot stool, the foot scraper, and the water for washing the feet. He should wash the bowl for leftovers and put it away, put away the water for drinking and the water for washing, and sweep the dining hall.
Whoever sees that the pot for drinking water, the pot for washing water, or the restroom pot is empty should fill it. If he can’t do it by himself, he should call someone over by hand signal and they should fill it together. He shouldn’t speak because of that.
This is the proper conduct for alms collectors.”
“Nên đi vào xóm làng với (thân) được che đậy kỹ lưỡng. Nên đi vào xóm làng với (các căn) được thu thúc khéo léo. Nên đi vào xóm làng với mắt nhìn xuống. Không nên đi vào xóm làng với (y) vén lên. Không nên đi vào xóm làng trong lúc cười lớn tiếng. Nên đi vào xóm làng với tiếng động nhỏ. Không nên đi vào xóm làng trong lúc lắc lư thân. Không nên đi vào xóm làng trong lúc vung vẩy cánh tay. Không nên đi vào xóm làng trong lúc lắc lư đầu. Không nên đi vào xóm làng trong lúc chống nạnh. Không nên đi vào xóm làng trong lúc trùm đầu. Không nên đi vào xóm làng bằng cách đi kiễng gót. Vị nào đi khất thực từ làng về trước, vị ấy nên dọn dẹp chỗ ngồi, nên đặt sẵn nước rửa chân, ghế rửa chân, đồ chà chân, nên rửa sạch và đặt sẵn đồ đựng vật thực cúng dường đầu tiên, nên đặt sẵn nước uống, nước dùng. Vị nào đi khất thực từ làng về sau, nếu có vật thực còn lại, nếu muốn thì nên dùng. Nếu không muốn, nên đổ bỏ ở nơi không có cỏ xanh hoặc nhận chìm trong nước không có chúng sanh. Vị ấy nên dọn dẹp chỗ ngồi, nên cất dọn nước rửa chân, ghế rửa chân, đồ chà chân, nên rửa sạch và cất dọn đồ đựng vật thực cúng dường đầu tiên, nên cất dọn nước uống, nước dùng, nên quét dọn nhà ăn. Vị nào thấy lu nước uống, hoặc lu nước dùng, hoặc lu nước trong nhà vệ sinh trống không, vị ấy nên đổ đầy. Nếu việc ấy ngoài sức của mình, nên ra dấu bằng tay gọi người thứ hai, rồi cùng nhau khiêng đặt, và không nên nói lời nào vì lý do ấy. Này các tỳ khưu, đây là phận sự của các tỳ khưu đi khất thực, các tỳ khưu đi khất thực nên thực hành đúng đắn như vậy.”
7. Āraññikavattakathā
7. Discussion of the proper conduct for those staying in the wilderness
7. Câu chuyện về phận sự của vị ở trong rừng
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū araññe viharanti. Te neva pānīyaṁ upaṭṭhāpenti, na paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpenti, na aggiṁ upaṭṭhāpenti, na araṇisahitaṁ upaṭṭhāpenti, na nakkhattapadāni jānanti, na disābhāgaṁ jānanti.
Corā tattha gantvā te bhikkhū etadavocuṁ—“atthi, bhante, pānīyan”ti? “Natthāvuso”ti. “Atthi, bhante, paribhojanīyan”ti? “Natthāvuso”ti. “Atthi, bhante, aggī”ti? “Natthāvuso”ti. “Atthi, bhante, araṇisahitan”ti? “Natthāvuso”ti. (…) “Kenajja, bhante, yuttan”ti? “Na kho mayaṁ, āvuso, jānāmā”ti. “Katamāyaṁ, bhante, disā”ti? “Na kho mayaṁ, āvuso, jānāmā”ti. Atha kho te corā—“nevimesaṁ pānīyaṁ atthi, na paribhojanīyaṁ atthi, na aggi atthi, na araṇisahitaṁ atthi, na nakkhattapadāni jānanti, na disābhāgaṁ jānanti; corā ime, nayime bhikkhū”ti—ākoṭetvā pakkamiṁsu.
Atha kho te bhikkhū bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesuṁ. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
At that time there was a number of monks staying in the wilderness. They did not set out water for drinking or water for washing, did not light fires or provide fire-making implements, and did not know the constellations or the regions.
Criminals went to that place and asked the monks, “Sir, is there any water for drinking?” —“No, there isn’t.” —“Is there any water for washing?” —“No.” —“Is there any fire?” —“No.” —“Are there any fire-making implements?” —“No.” —“Which constellation is the moon in today?” —“We don’t know.” —“Which region is this?” —“We don’t know.” Thinking, “They’re not monks; they’re criminals,” they beat them up and left.
The monks told other monks what had happened and they in turn told the Buddha. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
367. Vào lúc bấy giờ, nhiều tỳ khưu sống trong rừng. Các vị ấy không chuẩn bị sẵn nước uống, không chuẩn bị sẵn nước dùng, không chuẩn bị sẵn lửa, không chuẩn bị sẵn đồ đánh lửa, không biết về các chòm sao, không biết về phương hướng. Bọn cướp đi đến đấy và hỏi các tỳ khưu ấy rằng: – “Thưa ngài, có nước uống không?” – “Này các hiền giả, không có.” – “Thưa ngài, có nước dùng không?” – “Này các hiền giả, không có.” – “Thưa ngài, có lửa không?” – “Này các hiền giả, không có.” – “Thưa ngài, có đồ đánh lửa không?” – “Này các hiền giả, không có.” – “Thưa ngài, hôm nay là sao gì?” – “Này các hiền giả, chúng tôi không biết.” – “Thưa ngài, đây là phương nào?” – “Này các hiền giả, chúng tôi không biết.” Khi ấy, bọn cướp ấy (nghĩ rằng): ‘Các vị này không có nước uống, không có nước dùng, không có lửa, không có đồ đánh lửa, không biết về các chòm sao, không biết về phương hướng; những người này là bọn cướp, không phải là tỳ khưu,’ rồi đánh đập và bỏ đi. Khi ấy, các tỳ khưu ấy đã trình báo sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các tỳ khưu và dạy rằng:
“Tena hi, bhikkhave, āraññikānaṁ bhikkhūnaṁ vattaṁ paññapessāmi yathā āraññikehi bhikkhūhi sammā vattitabbaṁ. Āraññikena, bhikkhave, bhikkhunā kālasseva uṭṭhāya pattaṁ thavikāya pakkhipitvā aṁse ālaggetvā cīvaraṁ khandhe karitvā upāhanā ārohitvā dārubhaṇḍaṁ mattikābhaṇḍaṁ paṭisāmetvā dvāravātapānaṁ thaketvā senāsanā otaritabbaṁ—
idāni gāmaṁ pavisissāmīti. Upāhanā omuñcitvā nīcaṁ katvā papphoṭetvā thavikāya pakkhipitvā aṁse ālaggetvā timaṇḍalaṁ paṭicchādentena parimaṇḍalaṁ nivāsetvā kāyabandhanaṁ bandhitvā saguṇaṁ katvā saṅghāṭiyo pārupitvā gaṇṭhikaṁ paṭimuñcitvā dhovitvā pattaṁ gahetvā sādhukaṁ ataramānena gāmo pavisitabbo.
Suppaṭicchannena antaraghare gantabbaṁ …pe… na khambhakatena antaraghare gantabbaṁ. Na oguṇṭhitena antaraghare gantabbaṁ. Na ukkuṭikāya antaraghare gantabbaṁ.
“Well then, I’ll lay down the proper conduct for monks staying in the wilderness. After getting up early in the morning, a monk who is staying in the wilderness should put his bowl in its bag, hang it from his shoulder, put his robe over his shoulders, put on his sandals, put the wooden and ceramic goods in order, close the door and windows, and come down from his dwelling.
When he’s about to enter the village, he should remove his sandals, hold them low and knock them together. He should put them in a bag, which he should hang from his shoulder. He should put on his sarong evenly all around, covering the navel and the knees, and he should put on a belt. Putting the upper robes together, overlapping each other edge-to-edge, he should put them on and fasten the toggle. He should rinse his bowl, bring it along, and enter the village carefully and without hurry.
He should be well-covered while walking in inhabited areas; he should be well-restrained while walking in inhabited areas; he should lower his eyes while walking in inhabited areas; he shouldn’t lift his robe while walking in inhabited areas; he shouldn’t laugh loudly while walking in inhabited areas; he shouldn’t be noisy while walking in inhabited areas; he shouldn’t sway his body while walking in inhabited areas; he shouldn’t swing his arms while walking in inhabited areas; he shouldn’t sway his head while walking in inhabited areas; he shouldn’t have his hands on his hips while walking in inhabited areas; he shouldn’t cover his head while walking in inhabited areas; he shouldn’t move about while squatting on his heels in inhabited areas.
368. “Này các tỳ khưu, nếu vậy, Ta sẽ ban hành phận sự cho các tỳ khưu ở trong rừng, để các tỳ khưu ở trong rừng thực hành đúng đắn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ở trong rừng nên thức dậy sớm, bỏ bát vào túi, đeo lên vai, vắt y trên vai, mang giày dép, cất dọn đồ gỗ, đồ đất, đóng cửa chính và cửa sổ, rồi đi xuống khỏi trú xứ, (nghĩ rằng): ‘Bây giờ ta sẽ vào làng.’ Nên cởi giày dép, làm cho thấp xuống, giũ sạch, bỏ vào túi, treo lên vai, che kín tam y, mặc y nội cho ngay ngắn, thắt dây lưng, đắp y tăng-già-lê làm hai lớp, cài nút, rửa sạch bát, cầm lấy, rồi nên đi vào làng một cách cẩn thận, không vội vã. Nên đi vào xóm làng với (thân) được che đậy kỹ lưỡng... v.v... không nên đi vào xóm làng trong lúc chống nạnh. Không nên đi vào xóm làng trong lúc trùm đầu. Không nên đi vào xóm làng bằng cách đi kiễng gót.”
Nivesanaṁ pavisantena sallakkhetabbaṁ—‘iminā pavisissāmi, iminā nikkhamissāmī’ti. Nātisahasā pavisitabbaṁ. Nātisahasā nikkhamitabbaṁ. Nātidūre ṭhātabbaṁ. Nāccāsanne ṭhātabbaṁ. Nāticiraṁ ṭhātabbaṁ. Nātilahuṁ nivattitabbaṁ. Ṭhitakena sallakkhetabbaṁ—‘bhikkhaṁ dātukāmā vā adātukāmā vā’ti. Sace kammaṁ vā nikkhipati, āsanā vā vuṭṭhāti, kaṭacchuṁ vā parāmasati, bhājanaṁ vā parāmasati, ṭhapeti vā—dātukāmassāti ṭhātabbaṁ. Bhikkhāya diyyamānāya vāmena hatthena saṅghāṭiṁ uccāretvā dakkhiṇena hatthena pattaṁ paṇāmetvā ubhohi hatthehi pattaṁ paṭiggahetvā bhikkhā paṭiggahetabbā. Na ca bhikkhādāyikāya mukhaṁ ulloketabbaṁ. Sallakkhetabbaṁ—‘sūpaṁ dātukāmā vā adātukāmā vā’ti. Sace kaṭacchuṁ vā parāmasati, bhājanaṁ vā parāmasati, ṭhapeti vā—dātukāmassāti ṭhātabbaṁ. Bhikkhāya dinnāya saṅghāṭiyā pattaṁ paṭicchādetvā sādhukaṁ ataramānena nivattitabbaṁ.
When entering a house, he should be attentive to where to enter and where to leave. He shouldn’t enter or leave too hastily, stand too far away or too close, or wait too long or leave too soon. While waiting, he should be attentive to whether they wish to give alms or not. If they put down their work, get up from their seat, take hold of a serving spoon or a vessel, or they tell him to wait, then he should assume they wish to give, and he should wait. When they give him almsfood, he should lift his upper robe with his left hand, stretch out his bowl with his right hand, and receive the alms while holding the bowl with both hands. He shouldn’t look the donor in the face. He should be attentive to whether they wish to give curry or not. If they take hold of a serving spoon or a vessel, or they tell him to wait, then he should assume they wish to give, and he should wait. When they have given alms, he should cover the bowl with his upper robe, and return carefully and without hurry.
Khi đi vào nhà, vị tỳ khưu nên ghi nhận rằng: ‘Ta sẽ đi vào bằng lối này, ta sẽ đi ra bằng lối này.’ Không nên đi vào quá vội vàng. Không nên đi ra quá vội vàng. Không nên đứng quá xa. Không nên đứng quá gần. Không nên đứng quá lâu. Không nên quay về quá nhanh. Trong khi đứng, nên ghi nhận rằng: ‘Họ có muốn cúng dường vật thực hay không?’ Nếu họ đặt công việc đang làm xuống, hoặc đứng dậy khỏi chỗ ngồi, hoặc cầm lấy vá múc, hoặc cầm lấy vật đựng, hoặc đặt (vật gì đó) xuống, nên đứng lại với ý nghĩ rằng: ‘Họ có ý muốn cúng dường.’ Khi vật thực được cúng dường, nên vén y tăng-già-lê lên bằng tay trái, đưa bát ra bằng tay phải, và nên nhận vật thực bằng cách đỡ lấy bát bằng cả hai tay. Và không nên nhìn vào mặt của người nữ thí chủ cúng dường vật thực. Nên ghi nhận rằng: ‘Họ có muốn cúng dường canh hay không?’ Nếu họ cầm lấy vá múc, hoặc cầm lấy vật đựng, hoặc đặt (vật gì đó) xuống, nên đứng lại với ý nghĩ rằng: ‘Họ có ý muốn cúng dường.’ Sau khi vật thực đã được cúng dường, nên đậy bát lại bằng y tăng-già-lê rồi quay về một cách cẩn thận, không vội vã.
Suppaṭicchannena antaraghare gantabbaṁ …pe… na ukkuṭikāya antaraghare gantabbaṁ. Gāmato nikkhamitvā pattaṁ thavikāya pakkhipitvā aṁse ālaggetvā cīvaraṁ saṅgharitvā sīse karitvā upāhanā ārohitvā gantabbaṁ.
He should be well-covered while walking in inhabited areas; he should be well-restrained while walking in inhabited areas; he should lower his eyes while walking in inhabited areas; he shouldn’t lift his robe while walking in inhabited areas; he shouldn’t laugh loudly while walking in inhabited areas; he shouldn’t be noisy while walking in inhabited areas; he shouldn’t sway his body while walking in inhabited areas; he shouldn’t swing his arms while walking in inhabited areas; he shouldn’t sway his head while walking in inhabited areas; he shouldn’t have his hands on his hips while walking in inhabited areas; he shouldn’t cover his head while walking in inhabited areas; he shouldn’t move about while squatting on his heels in inhabited areas. When he has left the village, he should put his bowl in its bag and hang it from his shoulder, fold up his robe and put it on his head, and put on his sandals and go.
Nên đi trong xóm làng với thân được che đậy kỹ càng... v.v... không nên đi trong xóm làng bằng cách ngồi chồm hổm. Sau khi ra khỏi làng, nên bỏ bát vào túi, đeo lên vai, xếp y lại, đội lên đầu, mang dép rồi đi.
Āraññikena, bhikkhave, bhikkhunā pānīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ, paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ, aggi upaṭṭhāpetabbo, araṇisahitaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ, kattaradaṇḍo upaṭṭhāpetabbo, nakkhattapadāni uggahetabbāni—sakalāni vā ekadesāni vā, disākusalena bhavitabbaṁ.
Idaṁ kho, bhikkhave, āraññikānaṁ bhikkhūnaṁ vattaṁ yathā āraññikehi bhikkhūhi sammā vattitabban”ti.
A monk who is staying in the wilderness should set out water for drinking and water for washing, should light a fire and provide fire-making implements, should provide a walking stick, and should learn the constellations—either all of them or a portion—and become skilled in the regions.
This is the proper conduct for those staying in the wilderness.”
Này các Tỳ khưu, vị tỳ khưu sống trong rừng nên chuẩn bị sẵn nước uống, nên chuẩn bị sẵn nước dùng, nên chuẩn bị sẵn lửa, nên chuẩn bị sẵn dụng cụ đánh lửa, nên chuẩn bị sẵn gậy chống, nên học hỏi về các chòm sao – hoặc toàn bộ hoặc một phần, và nên thông thạo về các phương hướng. Này các Tỳ khưu, đây chính là phận sự của các tỳ khưu sống trong rừng, theo đó các tỳ khưu sống trong rừng nên thực hành đúng đắn.
8. Senāsanavattakathā
8. Discussion of the proper conduct in regard to dwellings
8. Câu chuyện về Phận sự đối với Chỗ ở
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū ajjhokāse cīvarakammaṁ karonti. Chabbaggiyā bhikkhū paṭivāte aṅgaṇe senāsanaṁ papphoṭesuṁ. Bhikkhū rajena okiriṁsu.
On one occasion when a number of monks were making robes outside, the monks from the group of six were beating furniture in an open space upwind from them. The robe-making monks became dusty.
369. Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu đang làm công việc may y ở ngoài trời. Nhóm sáu vị tỳ khưu đã giũ chỗ ở tại khoảng sân ở đầu hướng gió. Bụi đã phủ lên các vị tỳ khưu. Những vị tỳ khưu thiểu dục... v.v... đã phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: ‘Tại sao nhóm sáu vị tỳ khưu lại giũ chỗ ở tại khoảng sân ở đầu hướng gió chứ! Bụi đã phủ lên các vị tỳ khưu.’ Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình báo sự việc này lên đức Thế Tôn... v.v... ‘Này các Tỳ khưu, có thật là nhóm sáu vị tỳ khưu đã giũ chỗ ở tại khoảng sân ở đầu hướng gió, và bụi đã phủ lên các vị tỳ khưu không?’ ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’... v.v... Sau khi quở trách... v.v... và thuyết một bài pháp thoại, Ngài đã gọi các vị tỳ khưu và dạy rằng:
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma chabbaggiyā bhikkhū paṭivāte aṅgaṇe senāsanaṁ papphoṭessanti. Bhikkhū rajena okiriṁsū”ti.
Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, chabbaggiyā bhikkhū paṭivāte aṅgaṇe senāsanaṁ papphoṭenti, bhikkhū rajena okiriṁsū”ti? “Saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“Tena hi, bhikkhave, bhikkhūnaṁ senāsanavattaṁ paññapessāmi yathā bhikkhūhi senāsane sammā vattitabbaṁ. Yasmiṁ vihāre viharati, sace so vihāro uklāpo hoti, sace ussahati, sodhetabbo.
The monks of few desires complained and criticized them, “How can the monks from the group of six do this?”
They told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that the monks from the group of six did this?” “It’s true, sir.” … After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“Well then, I’ll lay down the proper conduct in regard to dwellings. If the dwelling he’s staying in is dirty, a monk should clean it if he’s able.
371. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu, dù bị các tỳ khưu trưởng lão ngăn cản, đã vì không tôn trọng mà chất nhiều củi, đốt lửa trong nhà xông hơi, rồi đóng cửa lại và ngồi ở ngoài cửa. Các tỳ khưu (bên trong) bị nóng bức, không tìm được cửa ra, đã ngất xỉu và ngã xuống. Những vị tỳ khưu thiểu dục…pe… phê phán, chỉ trích, chê bai rằng: “Tại sao nhóm sáu tỳ khưu, dù bị các tỳ khưu trưởng lão ngăn cản, lại vì không tôn trọng mà chất nhiều củi, đốt lửa trong nhà xông hơi, rồi đóng cửa lại và ngồi ở ngoài cửa! Các tỳ khưu (bên trong) bị nóng bức, không tìm được cửa ra, đã ngất xỉu và ngã xuống.” Bấy giờ, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn…pe… “Này các tỳ khưu, có thật là nhóm sáu tỳ khưu, dù bị các tỳ khưu trưởng lão ngăn cản, đã vì không tôn trọng mà chất nhiều củi, đốt lửa trong nhà xông hơi, rồi đóng cửa lại và ngồi ở ngoài cửa; và các tỳ khưu (bên trong) bị nóng bức, không tìm được cửa ra, đã ngất xỉu và ngã xuống không?” “Bạch đức Thế Tôn, là thật.”…pe… Sau khi quở trách…pe… nói một bài pháp thoại, ngài gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, khi bị một tỳ khưu trưởng lão ngăn cản, không được vì không tôn trọng mà chất nhiều củi và đốt lửa trong nhà xông hơi. Vị nào làm vậy, phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các tỳ khưu, không được đóng cửa rồi ngồi ở cửa. Vị nào ngồi như vậy, phạm tội tác ác (dukkaṭa).”
Na bhikkhusāmantā senāsanaṁ papphoṭetabbaṁ. Na vihārasāmantā senāsanaṁ papphoṭetabbaṁ. Na pānīyasāmantā senāsanaṁ papphoṭetabbaṁ.
He shouldn’t beat the furniture near other monks, near other dwellings, near water for drinking,
Tại trú xá nào mà thầy tế độ ở, nếu trú xá ấy có rác, nếu có thể, nên dọn dẹp. Người dọn dẹp trú xá, trước tiên nên mang y bát ra, cất vào một nơi; nên mang tấm lót ngồi và trải nằm ra, cất vào một nơi; nên mang gối và nệm ra, cất vào một nơi; nên hạ thấp giường xuống, cẩn thận không cho cọ xát, không va chạm vào cánh cửa và khung cửa, mang ra, cất vào một nơi; nên hạ thấp ghế xuống, cẩn thận không cho cọ xát, không va chạm vào cánh cửa và khung cửa, mang ra, cất vào một nơi; nên mang các chân giường ra, cất vào một nơi; nên mang ống nhổ ra, cất vào một nơi; nên mang tấm ván dựa ra, cất vào một nơi; nên ghi nhớ cách trải tấm lót sàn, mang ra, cất vào một nơi. Nếu trong trú xá có mạng nhện, trước tiên nên quét từ trần nhà xuống, nên lau chùi các góc và khe cửa sổ. Nếu bức tường được trát bằng đất son bị mốc, nên nhúng ướt miếng vải, vắt khô rồi lau chùi. Nếu nền nhà được tô bằng màu đen bị mốc, nên nhúng ướt miếng vải, vắt khô rồi lau chùi. Nếu là nền đất không được tô trát, nên vẩy nước rồi quét – (nghĩ rằng) ‘mong rằng trú xá không bị bụi bẩn làm phiền.’ Nên thu gom rác rồi đổ vào một nơi.
Không nên giũ chỗ ở gần vị tỳ khưu. Không nên giũ chỗ ở gần trú xá. Không nên giũ chỗ ở gần nước uống. Không nên giũ chỗ ở gần nước dùng. Không nên giũ chỗ ở tại khoảng sân ở đầu hướng gió. Nên giũ chỗ ở ở cuối hướng gió.
Bhummattharaṇaṁ ekamantaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Mañcapaṭipādakā ekamantaṁ otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbā. Mañco ekamantaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbo. Pīṭhaṁ ekamantaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Bhisibibbohanaṁ ekamantaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Nisīdanapaccattharaṇaṁ ekamantaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Kheḷamallako ekamantaṁ otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbo. Apassenaphalakaṁ ekamantaṁ otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbaṁ. Pattacīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Pattaṁ nikkhipantena ekena hatthena pattaṁ gahetvā ekena hatthena heṭṭhāmañcaṁ vā heṭṭhāpīṭhaṁ vā parāmasitvā patto nikkhipitabbo. Na ca anantarahitāya bhūmiyā patto nikkhipitabbo. Cīvaraṁ nikkhipantena ekena hatthena cīvaraṁ gahetvā ekena hatthena cīvaravaṁsaṁ vā cīvararajjuṁ vā pamajjitvā pārato antaṁ orato bhogaṁ katvā cīvaraṁ nikkhipitabbaṁ.
He should sun the floor cover, clean it, beat it, bring it back inside, and put it back as before. He should sun the bed supports, wipe them, bring them back inside, and put them back where they were. He should sun the bed, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the bench, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the mattress and the pillow, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the sitting mat and the sheet, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the spittoon, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should sun the leaning board, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should put away the bowl and robe. When putting away the bowl, he should hold the bowl in one hand, feel under the bed or the bench with the other, and then put it away. He shouldn’t put the bowl away on the bare floor. When putting away the robe, he should hold the robe in one hand, wipe the bamboo robe rack or the clothesline with the other, and then put it away by folding the robe over it, making the ends face the wall and the fold face out.
“Tấm trải sàn nên được mang đến một nơi thích hợp, phơi nắng, lau sạch, giũ bụi, rồi mang trở lại và trải ra như cũ. Các chân giường nên được mang đến một nơi thích hợp, phơi nắng, lau chùi, rồi mang trở lại và đặt vào đúng vị trí. Cái giường nên được mang đến một nơi thích hợp, phơi nắng, lau sạch, giũ bụi, rồi hạ thấp xuống, cẩn thận không để cọ xát xuống đất, không để va chạm vào cánh cửa và khung cửa, rồi mang trở lại và đặt ra như cũ. Cái ghế nên được mang đến một nơi thích hợp, phơi nắng, lau sạch, giũ bụi, rồi hạ thấp xuống, cẩn thận không để cọ xát xuống đất, không để va chạm vào cánh cửa và khung cửa, rồi mang trở lại và đặt ra như cũ. Gối và nệm nên được mang đến một nơi thích hợp, phơi nắng, lau sạch, giũ bụi, rồi mang trở lại và đặt ra như cũ. Tấm trải để ngồi nên được mang đến một nơi thích hợp, phơi nắng, lau sạch, giũ bụi, rồi mang trở lại và đặt ra như cũ. Ống nhổ nên được mang đến một nơi thích hợp, phơi nắng, lau chùi, rồi mang trở lại và đặt vào đúng vị trí. Tấm ván dựa lưng nên được mang đến một nơi thích hợp, phơi nắng, lau chùi, rồi mang trở lại và đặt vào đúng vị trí. Nên cất giữ y bát. Vị tỳ khưu khi cất bát, một tay cầm bát, một tay sờ dưới gầm giường hoặc gầm ghế rồi mới nên đặt bát xuống. Và không nên đặt bát trên nền đất không có vật trải. Vị tỳ khưu khi cất y, một tay cầm y, một tay lau sào phơi y hoặc dây phơi y, rồi gấp mép bên kia vào mép bên này, rồi nên cất y.”
Sace puratthimā sarajā vātā vāyanti, puratthimā vātapānā thaketabbā. Sace pacchimā sarajā vātā vāyanti, pacchimā vātapānā thaketabbā. Sace uttarā sarajā vātā vāyanti uttarā vātapānā thaketabbā. Sace dakkhiṇā sarajā vātā vāyanti, dakkhiṇā vātapānā thaketabbā. Sace sītakālo hoti, divā vātapānā vivaritabbā, rattiṁ thaketabbā. Sace uṇhakālo hoti, divā vātapānā thaketabbā, rattiṁ vivaritabbā.
If dusty winds are blowing from the east, he should close the windows on the eastern side. If dusty winds are blowing from the west, he should close the windows on the western side. If dusty winds are blowing from the north, he should close the windows on the northern side. If dusty winds are blowing from the south, he should close the windows on the southern side. If the weather is cold, he should open the windows during the day and close them at night. If the weather is hot, he should close the windows during the day and open them at night.
“Nếu gió bụi từ hướng đông thổi đến, nên đóng các cửa sổ hướng đông. Nếu gió bụi từ hướng tây thổi đến, nên đóng các cửa sổ hướng tây. Nếu gió bụi từ hướng bắc thổi đến, nên đóng các cửa sổ hướng bắc. Nếu gió bụi từ hướng nam thổi đến, nên đóng các cửa sổ hướng nam. Nếu là mùa lạnh, ban ngày nên mở cửa sổ, ban đêm nên đóng lại. Nếu là mùa nóng, ban ngày nên đóng cửa sổ, ban đêm nên mở ra.”
Sace pariveṇaṁ uklāpaṁ hoti, pariveṇaṁ sammajjitabbaṁ. Sace koṭṭhako uklāpo hoti, koṭṭhako sammajjitabbo. Sace upaṭṭhānasālā uklāpā hoti, upaṭṭhānasālā sammajjitabbā. Sace aggisālā uklāpā hoti, aggisālā sammajjitabbā. Sace vaccakuṭi uklāpā hoti, vaccakuṭi sammajjitabbā. Sace pānīyaṁ na hoti, pānīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ. Sace paribhojanīyaṁ na hoti, paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ. Sace ācamanakumbhiyā udakaṁ na hoti, ācamanakumbhiyā udakaṁ āsiñcitabbaṁ.
If the yard is dirty, he should sweep it. If the gatehouse is dirty, he should sweep it. If the assembly hall is dirty, he should sweep it. If the water-boiling shed is dirty, he should sweep it. If the restroom is dirty, he should sweep it. If there’s no water for drinking, he should get some. If there’s no water for washing, he should get some. If there’s no water in the restroom ablutions pot, he should fill it.
“Nếu khuôn viên có rác, nên quét dọn khuôn viên. Nếu cổng có rác, nên quét dọn cổng. Nếu pháp đường có rác, nên quét dọn pháp đường. Nếu nhà lửa có rác, nên quét dọn nhà lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác, nên quét dọn nhà vệ sinh. Nếu không có nước uống, nên chuẩn bị nước uống. Nếu không có nước dùng, nên chuẩn bị nước dùng. Nếu trong lu nước rửa không có nước, nên đổ nước vào lu nước rửa.”
Sace vuḍḍhena saddhiṁ ekavihāre viharati, na vuḍḍhaṁ anāpucchā uddeso dātabbo, na paripucchā dātabbā, na sajjhāyo kātabbo, na dhammo bhāsitabbo, na padīpo kātabbo, na padīpo vijjhāpetabbo, na vātapānā vivaritabbā, na vātapānā thaketabbā. Sace vuḍḍhena saddhiṁ ekacaṅkame caṅkamati, yena vuḍḍho tena parivattitabbaṁ, na ca vuḍḍho saṅghāṭikaṇṇena ghaṭṭetabbo.
Idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhūnaṁ senāsanavattaṁ yathā bhikkhūhi senāsane sammā vattitabban”ti.
If he’s staying in the same dwelling as a more senior monk, he shouldn’t do any of the following without asking him for permission: recite, question, rehearse, teach, turn a lamp on or off, or open or close a window. If he’s doing walking meditation on the same walking path as a more senior monk, they should turn around according to seniority, but he shouldn’t touch the senior monk with the corner of his robe.
This is the proper conduct in regard to dwellings.”
“Nếu sống trong cùng một trú xứ với một vị trưởng lão, không được dạy Pāli, không được hỏi, không được tụng đọc, không được thuyết pháp mà không xin phép vị trưởng lão. Không được thắp đèn, không được dập tắt đèn. Không được mở cửa sổ, không được đóng cửa sổ. Nếu đi kinh hành trên cùng một đường kinh hành với vị trưởng lão, nên xoay mặt về hướng có vị trưởng lão. Và không nên để góc y tăng-già-lê chạm vào vị trưởng lão. Này các tỳ khưu, đây chính là phận sự về trú xứ của các tỳ khưu, theo đó các tỳ khưu nên hành xử đúng đắn trong trú xứ.”
9. Jantāgharavattakathā
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū jantāghare therehi bhikkhūhi nivāriyamānā anādariyaṁ paṭicca pahūtaṁ kaṭṭhaṁ āropetvā aggiṁ datvā dvāraṁ thaketvā dvāre nisīdanti. Bhikkhū uṇhābhitattā dvāraṁ alabhamānā mucchitā papatanti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma chabbaggiyā bhikkhū jantāghare therehi bhikkhūhi nivāriyamānā anādariyaṁ paṭicca pahūtaṁ kaṭṭhaṁ āropetvā aggiṁ datvā dvāraṁ thaketvā dvāre nisīdissanti. Bhikkhū uṇhābhitattā dvāraṁ alabhamānā mucchitā papatantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, chabbaggiyā bhikkhū jantāghare therehi bhikkhūhi nivāriyamānā anādariyaṁ paṭicca pahūtaṁ kaṭṭhaṁ āropetvā aggiṁ datvā dvāraṁ thaketvā dvāre nisīdanti; bhikkhū uṇhābhitattā dvāraṁ alabhamānā mucchitā papatantī”ti? “Saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, jantāghare therena bhikkhunā nivāriyamānena anādariyaṁ paṭicca pahūtaṁ kaṭṭhaṁ āropetvā aggi dātabbo. Yo dadeyya, āpatti dukkaṭassa.
Na, bhikkhave, dvāraṁ thaketvā dvāre nisīditabbaṁ. Yo nisīdeyya, āpatti dukkaṭassa.
9. Discussion of the proper conduct in regard to saunas
On one occasion the monks from the group of six were kept out of the sauna by the senior monks. Then, out of disrespect, they stacked up much firewood, lit it, closed the door, and sat down against it. The monks overheated, but being unable to open the door, they fainted and collapsed.
The monks of few desires complained and criticized them, “How can the monks from the group of six do this?” They told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that the monks from the group of six did this?” “It’s true, sir.” … After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“If you’re kept out of the sauna by senior monks, you shouldn’t, out of disrespect, stack up much firewood and light it. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
And you shouldn’t close the door and sit down against it. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
9. Câu chuyện về phận sự trong nhà xông hơi
Tena hi, bhikkhave, bhikkhūnaṁ jantāgharavattaṁ paññapessāmi yathā bhikkhūhi jantāghare sammā vattitabbaṁ. Yo paṭhamaṁ jantāgharaṁ gacchati, sace chārikā ussannā hoti, chārikā chaḍḍetabbā. Sace jantāgharaṁ uklāpaṁ hoti, jantāgharaṁ sammajjitabbaṁ. Sace paribhaṇḍaṁ uklāpaṁ hoti, paribhaṇḍaṁ sammajjitabbaṁ. Sace pariveṇaṁ uklāpaṁ hoti, pariveṇaṁ sammajjitabbaṁ. Sace koṭṭhako uklāpo hoti, koṭṭhako sammajjitabbo. Sace jantāgharasālā uklāpā hoti, jantāgharasālā sammajjitabbā.
Well then, I’ll lay down the proper conduct in regard to saunas. The monk who goes first to the sauna should discard any ashes that are building up. If the sauna is dirty, he should sweep it. If the area surrounding the sauna is dirty, he should sweep it. If the yard is dirty, he should sweep it. If the gatehouse is dirty, he should sweep it. If the sauna shed is dirty, he should sweep it.
372. “Này các tỳ khưu, nếu vậy, Ta sẽ ban hành các phận sự trong nhà tắm hơi cho các tỳ khưu, để các tỳ khưu thực hành đúng đắn trong nhà tắm hơi. Vị nào đi đến nhà tắm hơi trước tiên, nếu có nhiều tro thì nên dọn tro đi. Nếu nhà tắm hơi có rác thì nên quét dọn nhà tắm hơi. Nếu phòng thay đồ có rác thì nên quét dọn phòng thay đồ. Nếu khuôn viên có rác thì nên quét dọn khuôn viên. Nếu cổng vòm có rác thì nên quét dọn cổng vòm. Nếu sảnh của nhà tắm hơi có rác thì nên quét dọn sảnh của nhà tắm hơi.”
Cuṇṇaṁ sannetabbaṁ, mattikā temetabbā, udakadoṇikāya udakaṁ āsiñcitabbaṁ. Jantāgharaṁ pavisantena mattikāya mukhaṁ makkhetvā purato ca pacchato ca paṭicchādetvā jantāgharaṁ pavisitabbaṁ. Na there bhikkhū anupakhajja nisīditabbaṁ. Na navā bhikkhū āsanena paṭibāhitabbā. Sace ussahati, jantāghare therānaṁ bhikkhūnaṁ parikammaṁ kātabbaṁ. Jantāgharā nikkhamantena jantāgharapīṭhaṁ ādāya purato ca pacchato ca paṭicchādetvā jantāgharā nikkhamitabbaṁ.
Sace ussahati, udakepi therānaṁ bhikkhūnaṁ parikammaṁ kātabbaṁ. Na therānaṁ bhikkhūnaṁ puratopi nahāyitabbaṁ, na uparitopi nahāyitabbaṁ. Nahātena uttarantena otarantānaṁ maggo dātabbo.
Yo pacchā jantāgharā nikkhamati, sace jantāgharaṁ cikkhallaṁ hoti, dhovitabbaṁ. Mattikādoṇikaṁ dhovitvā jantāgharapīṭhaṁ paṭisāmetvā aggiṁ vijjhāpetvā dvāraṁ thaketvā pakkamitabbaṁ.
Idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhūnaṁ jantāgharavattaṁ yathā bhikkhūhi jantāghare sammā vattitabban”ti.
He should knead bath powder, moisten the clay, and fill the water trough with water. When entering the sauna, he should smear his face with clay, cover himself front and back, and then enter. He shouldn’t sit encroaching on the senior monks, or block the junior monks from getting a seat. If he’s able, he should provide assistance to the senior monks in the sauna. When leaving the sauna, he should take the sauna bench, cover himself front and back, and then leave.
If he’s able, he should also provide assistance to the senior monks in the water. He shouldn’t bathe in front of the senior monks or upstream from them. When he’s coming out of the water after bathing, he should give way to those who are entering the water.
If the sauna is muddy, the last monk to leave it should clean it. He should wash the clay trough, put away the sauna bench, extinguish the fire, close the door, and then leave.
This is the proper conduct in regard to saunas.”
“Nên nhào bột thơm, nên làm ẩm đất sét, nên đổ nước vào máng nước. Khi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, che đậy phía trước và phía sau rồi mới vào nhà tắm hơi. Không nên ngồi chen lấn các vị trưởng lão. Không nên dùng chỗ ngồi để cản các vị tỳ khưu mới. Nếu có khả năng, nên làm công việc phục vụ cho các vị trưởng lão trong nhà tắm hơi. Khi ra khỏi nhà tắm hơi, nên lấy ghế của nhà tắm hơi, che đậy phía trước và phía sau rồi mới ra khỏi nhà tắm hơi. Nếu có khả năng, cũng nên làm công việc phục vụ cho các vị trưởng lão ở chỗ tắm. Không nên tắm ở phía trước các vị trưởng lão, không nên tắm ở phía trên. Người đã tắm xong khi đi lên nên nhường đường cho những người đang đi xuống. Vị nào ra khỏi nhà tắm hơi sau cùng, nếu nhà tắm hơi có bùn lầy thì nên rửa sạch. Nên rửa máng đựng đất sét, cất dọn ghế của nhà tắm hơi, dập tắt lửa, đóng cửa rồi ra về. Này các tỳ khưu, đây chính là các phận sự trong nhà tắm hơi cho các tỳ khưu, để các tỳ khưu thực hành đúng đắn trong nhà tắm hơi.”
10. Vaccakuṭivattakathā
10. Discussion of the proper conduct in regard to restrooms
10. Câu chuyện về các phận sự tại nhà vệ sinh
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu brāhmaṇajātiko vaccaṁ katvā na icchati ācametuṁ—“ko imaṁ vasalaṁ duggandhaṁ āmasissatī”ti. Tassa vaccamagge kimi saṇṭhāti. Atha kho so bhikkhu bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi. “Kiṁ pana tvaṁ, āvuso, vaccaṁ katvā na ācamesī”ti?
“Evamāvuso”ti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhikkhu vaccaṁ katvā na ācamessatī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira tvaṁ, bhikkhu, vaccaṁ katvā na ācamesī”ti? “Saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, vaccaṁ katvā sati udake nācametabbaṁ. Yo nācameyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time a monk who had been born as a brahmin did not want to wash after defecating, thinking, “Who would touch this foul, stinking stuff?” As a result, a worm settled in his rectum. He told the monks, who said, “So you don’t wash after defecating?”
“That’s right.”
The monks of few desires complained and criticized him, “How can a monk not wash after defecating?” They told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monk, that you don’t wash after defecating?” “It’s true, sir.” … After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“When there’s water available, you should wash after defecating. If you don’t, you commit an offense of wrong conduct.”
373. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu xuất thân từ dòng dõi Bà-la-môn, sau khi đi đại tiện đã không muốn rửa ráy, nghĩ rằng: “Ai sẽ chạm vào thứ hạ tiện, hôi thối này?” Giòi bọ sinh ra trong hậu môn của vị ấy. Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy đã trình bày sự việc ấy cho các tỳ khưu. (Các vị ấy hỏi:) “Này hiền hữu, có phải hiền hữu sau khi đi đại tiện đã không rửa ráy chăng?” (Vị ấy đáp:) “Thưa vâng, hiền hữu.” Các vị tỳ khưu thiểu dục... họ đã phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: “Làm sao mà một tỳ khưu sau khi đi đại tiện lại không rửa ráy chứ!” Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn... “Này tỳ khưu, có thật là ngươi sau khi đi đại tiện đã không rửa ráy không?” “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.”... Sau khi quở trách... thuyết một bài pháp thoại, ngài đã nói với các tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu, sau khi đi đại tiện, có nước mà không rửa ráy là không được. Vị nào không rửa ráy thì phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena bhikkhū vaccakuṭiyā yathāvuḍḍhaṁ vaccaṁ karonti. Navakā bhikkhū paṭhamataraṁ āgantvā vaccitā āgamenti. Te vaccaṁ sandhārentā mucchitā papatanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave …pe… “saccaṁ, bhagavā”ti …pe…
“na, bhikkhave, vaccakuṭiyā yathāvuḍḍhaṁ vacco kātabbo. Yo kareyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, āgatapaṭipāṭiyā vaccaṁ kātun”ti.
At that time the monks used the restrooms according to seniority. Junior monks who had arrived first had to wait to defecate. Unable to hold out, they fainted and collapsed. They told the Buddha. … “Is it true, monks, that this is happening?” “It’s true, sir.” …
“The restrooms shouldn’t be used according to seniority. If you do, you commit an offense of wrong conduct. You should use the restroom according to the order of arrival.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi đại tiện trong nhà vệ sinh theo thứ tự hạ lạp. Các vị tỳ khưu mới đến trước, bị mắc đại tiện, phải chờ đợi. Họ cố nhịn đại tiện nên bị ngất xỉu và ngã xuống. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn... có thật là, này các tỳ khưu... “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.”... “Này các tỳ khưu, không được đi đại tiện trong nhà vệ sinh theo thứ tự hạ lạp. Vị nào làm vậy thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép đi đại tiện theo thứ tự người đến.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū atisahasāpi vaccakuṭiṁ pavisanti, ubbhajitvāpi pavisanti, nitthunantāpi vaccaṁ karonti, dantakaṭṭhaṁ khādantāpi vaccaṁ karonti, bahiddhāpi vaccadoṇikāya vaccaṁ karonti, bahiddhāpi passāvadoṇikāya passāvaṁ karonti, passāvadoṇikāyapi kheḷaṁ karonti, pharusenapi kaṭṭhena avalekhanti, avalekhanakaṭṭhampi vaccakūpamhi pātenti, atisahasāpi nikkhamanti, ubbhajitvāpi nikkhamanti, capucapukārakampi ācamenti, ācamanasarāvakepi udakaṁ sesenti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma chabbaggiyā bhikkhū atisahasāpi vaccakuṭiṁ pavisissanti, ubbhajitvāpi pavisissanti, nitthunantāpi vaccaṁ karissanti, dantakaṭṭhaṁ khādantāpi vaccaṁ karissanti, bahiddhāpi vaccadoṇikāya vaccaṁ karissanti, bahiddhāpi passāvadoṇikāya passāvaṁ karissanti, passāvadoṇikāyapi kheḷaṁ karissanti, pharusenapi kaṭṭhena avalekhissanti, avalekhanakaṭṭhampi vaccakūpamhi pātessanti, atisahasāpi nikkhamissanti, ubbhajitvāpi nikkhamissanti, capucapukārakampi ācamessanti, ācamanasarāvakepi udakaṁ sesessantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave …pe… “saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
At that time the monks from the group of six entered the restrooms too hastily, pulled up their robes before entering, groaned while defecating, cleaned their teeth while defecating, defecated outside the toilet, urinated outside the urinal, spat in the urinal, used coarse wiping sticks, threw the wiping sticks in the cesspit, left the restroom too hastily, came out with their robes still pulled up, made a chomping sound while washing, and they left water in the ablutions scoop.
The monks of few desires complained and criticized them, “How can the monks from the group of six act like this?” They told the Buddha. … “Is it true, monks, that the monks from the group of six are acting like this?” “It’s true, sir.” … After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu đi vào nhà vệ sinh một cách quá vội vàng, cũng vén y mà vào, cũng rên rỉ khi đi đại tiện, cũng nhai tăm xỉa răng khi đi đại tiện, cũng đi đại tiện bên ngoài máng đại tiện, cũng đi tiểu tiện bên ngoài máng tiểu tiện, cũng khạc nhổ vào máng tiểu tiện, cũng chùi bằng que gỗ thô ráp, cũng vứt que gỗ đã chùi vào hố xí, cũng ra ngoài một cách quá vội vàng, cũng vén y mà ra ngoài, cũng rửa ráy tạo ra tiếng ‘chóp chép’, cũng để lại nước thừa trong bát rửa. Các vị tỳ khưu thiểu dục... họ đã phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: “Làm sao mà nhóm sáu tỳ khưu lại đi vào nhà vệ sinh một cách quá vội vàng, cũng vén y mà vào, cũng rên rỉ khi đi đại tiện, cũng nhai tăm xỉa răng khi đi đại tiện, cũng đi đại tiện bên ngoài máng đại tiện, cũng đi tiểu tiện bên ngoài máng tiểu tiện, cũng khạc nhổ vào máng tiểu tiện, cũng chùi bằng que gỗ thô ráp, cũng vứt que gỗ đã chùi vào hố xí, cũng ra ngoài một cách quá vội vàng, cũng vén y mà ra ngoài, cũng rửa ráy tạo ra tiếng ‘chóp chép’, cũng để lại nước thừa trong bát rửa chứ!” Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn... “Này các tỳ khưu, có thật là...”... “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.”... Sau khi quở trách... thuyết một bài pháp thoại, ngài đã nói với các tỳ khưu rằng –
“Tena hi, bhikkhave, bhikkhūnaṁ vaccakuṭivattaṁ paññapessāmi yathā bhikkhūhi vaccakuṭiyā sammā vattitabbaṁ. Yo vaccakuṭiṁ gacchati tena bahi ṭhitena ukkāsitabbaṁ. Anto nisinnenapi ukkāsitabbaṁ. Cīvaravaṁse vā cīvararajjuyā vā cīvaraṁ nikkhipitvā sādhukaṁ ataramānena vaccakuṭi pavisitabbā. Nātisahasā pavisitabbā. Na ubbhajitvā pavisitabbā. Vaccapādukāya ṭhitena ubbhajitabbaṁ. Na nitthunantena vacco kātabbo. Na dantakaṭṭhaṁ khādantena vacco kātabbo. Na bahiddhā vaccadoṇikāya vacco kātabbo. Na bahiddhā passāvadoṇikāya passāvo kātabbo. Na passāvadoṇikāya kheḷo kātabbo. Na pharusena kaṭṭhena avalekhitabbaṁ. Na avalekhanakaṭṭhaṁ vaccakūpamhi pātetabbaṁ. Vaccapādukāya ṭhitena paṭicchādetabbaṁ. Nātisahasā nikkhamitabbaṁ. Na ubbhajitvā nikkhamitabbaṁ. Ācamanapādukāya ṭhitena ubbhajitabbaṁ. Na capucapukārakaṁ ācametabbaṁ. Na ācamanasarāvake udakaṁ sesetabbaṁ. Ācamanapādukāya ṭhitena paṭicchādetabbaṁ.
“Well then, I’ll lay down the proper conduct in regard to restrooms. When a monk goes to the restroom, he should stand outside and clear his throat. Anyone sitting inside should also clear his throat. After hanging his robe on a bamboo robe rack or a clothesline, he should enter the restroom carefully and without hurry. He shouldn’t enter the restroom too hastily; he shouldn’t pull up his robe before he has entered; he should pull up his robe when he’s standing on the foot stands for defecating; he shouldn’t groan while defecating; he shouldn’t clean his teeth while defecating; he shouldn’t defecate outside the toilet; he shouldn’t urinate outside the urinal; he shouldn’t spit in the urinal; he shouldn’t use coarse wiping sticks; he shouldn’t throw the wiping sticks in the cesspit; he should cover himself while still standing on the foot stands for defecating; he shouldn’t leave the restroom too hastily; he shouldn’t come out with his robe still pulled up; he should pull up his robe when standing on the ablutions foot stands; he shouldn’t make a chomping sound while washing; he shouldn’t leave water in the ablutions scoop; he should cover himself while still standing on the ablutions foot stands.
374. Này các tỳ khưu, nếu vậy, Ta sẽ chế định phận sự ở nhà xí cho các tỳ khưu để các tỳ khưu thực hành đúng cách ở nhà xí. Vị nào đi đến nhà xí, vị ấy nên đứng ở bên ngoài và hắng giọng. Vị ngồi ở bên trong cũng nên hắng giọng. Sau khi đặt y trên cây sào treo y hoặc trên sợi dây treo y, nên đi vào nhà xí một cách cẩn thận, không vội vã. Không nên đi vào quá hấp tấp. Không nên vừa đi vào vừa vén y lên. Nên đứng trên dép đi nhà xí rồi vén y lên. Không nên rặn khi đi đại tiện. Không nên vừa nhai tăm xỉa răng vừa đi đại tiện. Không nên đi đại tiện ở bên ngoài máng chứa đồ đại tiện. Không nên đi tiểu tiện ở bên ngoài máng chứa đồ tiểu tiện. Không nên nhổ nước bọt vào máng chứa đồ tiểu tiện. Không nên chùi bằng que gỗ thô cứng. Không nên vứt que chùi vào hố xí. Nên đứng trên dép đi nhà xí rồi đậy lại. Không nên đi ra quá hấp tấp. Không nên vừa đi ra vừa vén y lên. Nên đứng trên dép rửa chân rồi vén y lên. Không nên súc miệng tạo ra tiếng chóp chép. Không nên để thừa nước trong bát súc miệng. Nên đứng trên dép rửa chân rồi đậy lại.
Sace vaccakuṭi uhatā hoti, dhovitabbā. Sace avalekhanapidharo pūro hoti, avalekhanakaṭṭhaṁ chaḍḍetabbaṁ. Sace vaccakuṭi uklāpā hoti, vaccakuṭi sammajjitabbā. Sace paribhaṇḍaṁ uklāpaṁ hoti, paribhaṇḍaṁ sammajjitabbaṁ. Sace pariveṇaṁ uklāpaṁ hoti, pariveṇaṁ sammajjitabbaṁ. Sace koṭṭhako uklāpo hoti, koṭṭhako sammajjitabbo. Sace ācamanakumbhiyā udakaṁ na hoti, ācamanakumbhiyā udakaṁ āsiñcitabbaṁ.
Idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhūnaṁ vaccakuṭivattaṁ yathā bhikkhūhi vaccakuṭiyā sammā vattitabban”ti.
If the restroom is dirty, he should clean it. If the wiping-stick container is full, he should discard the wiping sticks. If the restroom is dirty, he should sweep it. If the area surrounding the restroom is dirty, he should sweep it. If the yard is dirty, he should sweep it. If the gatehouse is dirty, he should sweep it. If there’s no water in the restroom ablutions pot, he should fill it.
This is the proper conduct in regard to restrooms.”
Nếu nhà xí bị vấy bẩn, nên dọn rửa. Nếu giỏ đựng que chùi đã đầy, nên vứt bỏ que chùi. Nếu nhà xí có rác, nên quét dọn nhà xí. Nếu đồ dùng có rác, nên quét dọn đồ dùng. Nếu khuôn viên có rác, nên quét dọn khuôn viên. Nếu cổng vòm có rác, nên quét dọn cổng vòm. Nếu trong lu nước rửa tay không có nước, nên đổ nước vào lu nước rửa tay. Này các tỳ khưu, đây chính là phận sự ở nhà xí của các tỳ khưu, để các tỳ khưu thực hành đúng cách ở nhà xí.
11. Upajjhāyavattakathā
11. Discussion of the proper conduct toward a preceptor
11. Câu chuyện về phận sự đối với thầy tế độ
Tena kho pana samayena saddhivihārikā upajjhāyesu na sammā vattanti. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma saddhivihārikā upajjhāyesu na sammā vattissantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, saddhivihārikā upajjhāyesu na sammā vattantī”ti? “Saccaṁ, bhagavā”ti vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma, bhikkhave, saddhivihārikā upajjhāyesu na sammā vattissanti. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
At that time the students were not conducting themselves properly toward their preceptors. The monks of few desires complained and criticized them, “How can the students not conduct themselves properly toward their preceptors?” They told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that the students are not conducting themselves properly toward their preceptors?” “It’s true, sir.” … The Buddha rebuked them … “How can they act like this? This will affect people’s confidence …” After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
375. Vào lúc bấy giờ, các vị sống chung không thực hành đúng cách đối với các thầy tế độ. Các vị tỳ khưu thiểu dục ... họ phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: "Tại sao các vị sống chung lại không thực hành đúng cách đối với các thầy tế độ chứ?" Rồi các vị tỳ khưu ấy đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn... "Này các tỳ khưu, có thật là các vị sống chung không thực hành đúng cách đối với các thầy tế độ không?" "Bạch đức Thế Tôn, là sự thật." Đức Phật, đức Thế Tôn đã khiển trách... "Này các tỳ khưu, tại sao các vị sống chung lại không thực hành đúng cách đối với các thầy tế độ chứ! Này các tỳ khưu, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin... Sau khi khiển trách... sau khi thuyết một bài pháp thoại, Ngài đã gọi các tỳ khưu:
“Tena hi, bhikkhave, saddhivihārikānaṁ upajjhāyesu vattaṁ paññapessāmi yathā saddhivihārikehi upajjhāyesu sammā vattitabbaṁ. Saddhivihārikena, bhikkhave, upajjhāyamhi sammā vattitabbaṁ. Tatrāyaṁ sammāvattanā—
Kālasseva uṭṭhāya upāhanā omuñcitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā dantakaṭṭhaṁ dātabbaṁ, mukhodakaṁ dātabbaṁ, āsanaṁ paññapetabbaṁ. Sace yāgu hoti, bhājanaṁ dhovitvā yāgu upanāmetabbā. Yāguṁ pītassa udakaṁ datvā bhājanaṁ paṭiggahetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena dhovitvā paṭisāmetabbaṁ. Upajjhāyamhi vuṭṭhite āsanaṁ uddharitabbaṁ. Sace so deso uklāpo hoti, so deso sammajjitabbo.
Sace upajjhāyo gāmaṁ pavisitukāmo hoti, nivāsanaṁ dātabbaṁ, paṭinivāsanaṁ paṭiggahetabbaṁ, kāyabandhanaṁ dātabbaṁ, saguṇaṁ katvā saṅghāṭiyo dātabbā, dhovitvā patto sodako dātabbo. Sace upajjhāyo pacchāsamaṇaṁ ākaṅkhati, timaṇḍalaṁ paṭicchādentena parimaṇḍalaṁ nivāsetvā kāyabandhanaṁ bandhitvā saguṇaṁ katvā saṅghāṭiyo pārupitvā gaṇṭhikaṁ paṭimuñcitvā dhovitvā pattaṁ gahetvā upajjhāyassa pacchāsamaṇena hotabbaṁ.
Nātidūre gantabbaṁ, nāccāsanne gantabbaṁ, pattapariyāpannaṁ paṭiggahetabbaṁ. Na upajjhāyassa bhaṇamānassa antarantarā kathā opātetabbā. Upajjhāyo āpattisāmantā bhaṇamāno nivāretabbo.
Nivattantena paṭhamataraṁ āgantvā āsanaṁ paññapetabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipitabbaṁ, paccuggantvā pattacīvaraṁ paṭiggahetabbaṁ, paṭinivāsanaṁ dātabbaṁ, nivāsanaṁ paṭiggahetabbaṁ. Sace cīvaraṁ sinnaṁ hoti, muhuttaṁ uṇhe otāpetabbaṁ, na ca uṇhe cīvaraṁ nidahitabbaṁ. Cīvaraṁ saṅgharitabbaṁ. Cīvaraṁ saṅgharantena caturaṅgulaṁ kaṇṇaṁ ussāretvā cīvaraṁ saṅgharitabbaṁ—mā majjhe bhaṅgo ahosīti. Obhoge kāyabandhanaṁ kātabbaṁ.
“Well then, I’ll lay down the proper conduct for a student toward his preceptor. A student should conduct himself properly toward his preceptor. This is the proper conduct:
Meals and almsround
Having gotten up at the appropriate time, the student should remove his sandals and arrange his upper robe over one shoulder. He should then give his preceptor a tooth cleaner and water for rinsing the mouth, and he should prepare a seat for him. If there’s congee, he should rinse a vessel and bring the congee to his preceptor. When he has drunk the congee, the student should give him water and receive the vessel. Holding it low, he should wash it carefully without scratching it and then put it away. When the preceptor has gotten up, the student should put away the seat. If the place is dirty, he should sweep it.
If the preceptor wants to enter the village, the student should give him a sarong and receive the one he’s wearing in return. He should give him a belt. He should put the upper robes together, overlapping each other edge-to-edge, and then give them to him. He should rinse his preceptor’s bowl and give it to him while wet. If the preceptor wants an attendant, the student should put on his sarong evenly all around, covering the navel and the knees. He should put on a belt. Putting the upper robes together, overlapping each other edge-to-edge, he should put them on and fasten the toggle. He should rinse his bowl, bring it along, and be his preceptor’s attendant.
He shouldn’t walk too far behind his preceptor or too close to him. He should receive the contents of his bowl. He shouldn’t interrupt his preceptor when he’s speaking. But if the preceptor’s speech is bordering on an offense, he should stop him.
When returning, the student should go first to prepare a seat and to set out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He should go out to meet the preceptor and receive his bowl and robe. He should give him a sarong and receive the one he’s wearing in return. If the robe is damp, he should sun it for a short while, but shouldn’t leave it in the heat. He should fold the robe, offsetting the edges by seven centimeters, so that the fold doesn’t become worn. He should place the belt in the fold.
376. Này các tỳ khưu, nếu vậy, Ta sẽ chế định phận sự đối với các thầy tế độ cho các vị sống chung, để các vị sống chung thực hành đúng cách đối với các thầy tế độ. Này các tỳ khưu, vị sống chung nên thực hành đúng cách đối với thầy tế độ. Ở đây, đây là sự thực hành đúng cách:
Sace piṇḍapāto hoti, upajjhāyo ca bhuñjitukāmo hoti, udakaṁ datvā piṇḍapāto upanāmetabbo. Upajjhāyo pānīyena pucchitabbo. Bhuttāvissa udakaṁ datvā pattaṁ paṭiggahetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena dhovitvā vodakaṁ katvā muhuttaṁ uṇhe otāpetabbo. Na ca uṇhe patto nidahitabbo.
Pattacīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Pattaṁ nikkhipantena ekena hatthena pattaṁ gahetvā ekena hatthena heṭṭhāmañcaṁ vā heṭṭhāpīṭhaṁ vā parāmasitvā patto nikkhipitabbo. Na ca anantarahitāya bhūmiyā patto nikkhipitabbo. Cīvaraṁ nikkhipantena ekena hatthena cīvaraṁ gahetvā ekena hatthena cīvaravaṁsaṁ vā cīvararajjuṁ vā pamajjitvā pārato antaṁ orato bhogaṁ katvā cīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Upajjhāyamhi vuṭṭhite āsanaṁ uddharitabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ paṭisāmetabbaṁ. Sace so deso uklāpo hoti, so deso sammajjitabbo.
Sace upajjhāyo nahāyitukāmo hoti, nahānaṁ paṭiyādetabbaṁ. Sace sītena attho hoti, sītaṁ paṭiyādetabbaṁ. Sace uṇhena attho hoti, uṇhaṁ paṭiyādetabbaṁ.
Sace upajjhāyo jantāgharaṁ pavisitukāmo hoti, cuṇṇaṁ sannetabbaṁ, mattikā temetabbā, jantāgharapīṭhaṁ ādāya upajjhāyassa piṭṭhito piṭṭhito gantvā jantāgharapīṭhaṁ datvā cīvaraṁ paṭiggahetvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ, cuṇṇaṁ dātabbaṁ, mattikā dātabbā. Sace ussahati, jantāgharaṁ pavisitabbaṁ. Jantāgharaṁ pavisantena mattikāya mukhaṁ makkhetvā purato ca pacchato ca paṭicchādetvā jantāgharaṁ pavisitabbaṁ. Na there bhikkhū anupakhajja nisīditabbaṁ. Na navā bhikkhū āsanena paṭibāhitabbā. Jantāghare upajjhāyassa parikammaṁ kātabbaṁ. Jantāgharā nikkhamantena jantāgharapīṭhaṁ ādāya purato ca pacchato ca paṭicchādetvā jantāgharā nikkhamitabbaṁ.
If there’s almsfood and his preceptor wants to eat, the student should give him water and then the almsfood. He should ask his preceptor if he wants water to drink. When the preceptor has eaten, the student should give him water and receive his bowl. Holding it low, he should wash it carefully without scratching it. He should then dry it and sun it for a short while, but shouldn’t leave it in the heat.
The student should put away the robe and bowl. When putting away the bowl, he should hold the bowl in one hand, feel under the bed or the bench with the other, and then put it away. He shouldn’t put the bowl away on the bare floor. When putting away the robe, he should hold the robe in one hand, wipe the bamboo robe rack or the clothesline with the other, and then put it away by folding the robe over it, making the ends face the wall and the fold face out. When the preceptor has gotten up, the student should put away the seat and also the foot stool, the foot scraper, and the water for washing the feet. If the place is dirty, he should sweep it.”
Bathing
“If the preceptor wants to bathe, the student should prepare a bath. If he wants a cold bath, he should prepare that; if he wants a hot bath, he should prepare that.
If the preceptor wants to take a sauna, the student should knead bath powder, moisten the clay, take a sauna bench, and follow behind his preceptor. After giving his preceptor the sauna bench, receiving his robe, and putting it aside, he should give him the bath powder and the clay. If he’s able, he should enter the sauna. When entering the sauna, he should smear his face with clay, cover himself front and back, and then enter. He shouldn’t sit encroaching on the senior monks, or block the junior monks from getting a seat. While in the sauna, he should provide assistance to his preceptor. When leaving the sauna, he should take the sauna bench, cover himself front and back, and then leave.
Nếu có vật thực khất thực, và thầy tế độ muốn dùng, nên dâng nước rồi dâng vật thực khất thực. Nên hỏi thầy tế độ về nước uống. Sau khi (thầy) đã dùng xong, nên dâng nước, nhận lấy bát, hạ thấp xuống, rửa cẩn thận không cho cọ xát, làm cho ráo nước, rồi phơi nắng một lát. Và không nên để bát ngoài nắng (lâu). Nên cất y bát. Người cất bát, một tay cầm bát, một tay rờ bên dưới giường hoặc bên dưới ghế rồi nên cất bát. Và không nên cất bát trên nền đất không có vật lót. Người cất y, một tay cầm y, một tay lau sào phơi y hoặc dây phơi y, rồi làm cho đầu y bên kia cuộn lại về phía bên này mà cất y. Khi thầy tế độ đã đứng dậy, nên dọn dẹp chỗ ngồi; nên cất dọn nước rửa chân, ghế rửa chân, mảnh sành chùi chân. Nếu nơi ấy có rác, nên quét dọn nơi ấy.
Udakepi upajjhāyassa parikammaṁ kātabbaṁ. Nahātena paṭhamataraṁ uttaritvā attano gattaṁ vodakaṁ katvā nivāsetvā upajjhāyassa gattato udakaṁ pamajjitabbaṁ, nivāsanaṁ dātabbaṁ, saṅghāṭi dātabbā, jantāgharapīṭhaṁ ādāya paṭhamataraṁ āgantvā āsanaṁ paññapetabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipitabbaṁ. Upajjhāyo pānīyena pucchitabbo. Sace uddisāpetukāmo hoti, uddisitabbo. Sace paripucchitukāmo hoti, paripucchitabbo.
Yasmiṁ vihāre upajjhāyo viharati, sace so vihāro uklāpo hoti, sace ussahati, sodhetabbo. Vihāraṁ sodhentena paṭhamaṁ pattacīvaraṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; nisīdanapaccattharaṇaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; bhisibibbohanaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; mañco nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbo; pīṭhaṁ nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; mañcapaṭipādakā nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbā; kheḷamallako nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbo; apassenaphalakaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; bhūmattharaṇaṁ yathāpaññattaṁ sallakkhetvā nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ. Sace vihāre santānakaṁ hoti, ullokā paṭhamaṁ ohāretabbaṁ, ālokasandhikaṇṇabhāgā pamajjitabbā. Sace gerukaparikammakatā bhitti kaṇṇakitā hoti, coḷakaṁ temetvā pīḷetvā pamajjitabbā. Sace kāḷavaṇṇakatā bhūmi kaṇṇakitā hoti, coḷakaṁ temetvā pīḷetvā pamajjitabbā. Sace akatā hoti bhūmi, udakena paripphositvā paripphositvā sammajjitabbā—mā vihāro rajena uhaññīti. Saṅkāraṁ vicinitvā ekamantaṁ chaḍḍetabbaṁ.
Bhūmattharaṇaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Mañcapaṭipādakā otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbā. Mañco otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbo. Pīṭhaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Bhisibibbohanaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Nisīdanapaccattharaṇaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Kheḷamallako otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbo. Apassenaphalakaṁ otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbaṁ. Pattacīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Pattaṁ nikkhipantena ekena hatthena pattaṁ gahetvā ekena hatthena heṭṭhāmañcaṁ vā heṭṭhāpīṭhaṁ vā parāmasitvā patto nikkhipitabbo. Na ca anantarahitāya bhūmiyā patto nikkhipitabbo. Cīvaraṁ nikkhipantena ekena hatthena cīvaraṁ gahetvā ekena hatthena cīvaravaṁsaṁ vā cīvararajjuṁ vā pamajjitvā pārato antaṁ orato bhogaṁ katvā cīvaraṁ nikkhipitabbaṁ.
Sace puratthimā sarajā vātā vāyanti, puratthimā vātapānā thaketabbā. Sace pacchimā sarajā vātā vāyanti, pacchimā vātapānā thaketabbā. Sace uttarā sarajā vātā vāyanti, uttarā vātapānā thaketabbā. Sace dakkhiṇā sarajā vātā vāyanti, dakkhiṇā vātapānā thaketabbā. Sace sītakālo hoti, divā vātapānā vivaritabbā, rattiṁ thaketabbā. Sace uṇhakālo hoti, divā vātapānā thaketabbā, rattiṁ vivaritabbā.
Sace pariveṇaṁ uklāpaṁ hoti, pariveṇaṁ sammajjitabbaṁ. Sace koṭṭhako uklāpo hoti, koṭṭhako sammajjitabbo. Sace upaṭṭhānasālā uklāpā hoti, upaṭṭhānasālā sammajjitabbā. Sace aggisālā uklāpā hoti, aggisālā sammajjitabbā. Sace vaccakuṭi uklāpā hoti, vaccakuṭi sammajjitabbā. Sace pānīyaṁ na hoti, pānīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ. Sace paribhojanīyaṁ na hoti, paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ. Sace ācamanakumbhiyā udakaṁ na hoti, ācamanakumbhiyā udakaṁ āsiñcitabbaṁ.
Sace upajjhāyassa anabhirati uppannā hoti, saddhivihārikena vūpakāsetabbo, vūpakāsāpetabbo, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace upajjhāyassa kukkuccaṁ uppannaṁ hoti, saddhivihārikena vinodetabbaṁ, vinodāpetabbaṁ, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace upajjhāyassa diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti, saddhivihārikena vivecetabbaṁ, vivecāpetabbaṁ, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace upajjhāyo garudhammaṁ ajjhāpanno hoti parivāsāraho, saddhivihārikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho upajjhāyassa parivāsaṁ dadeyyāti. Sace upajjhāyo mūlāyapaṭikassanāraho hoti, saddhivihārikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho upajjhāyaṁ mūlāya paṭikasseyyāti. Sace upajjhāyo mānattāraho hoti, saddhivihārikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho upajjhāyassa mānattaṁ dadeyyāti. Sace upajjhāyo abbhānāraho hoti, saddhivihārikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho upajjhāyaṁ abbheyyāti.
Sace saṅgho upajjhāyassa kammaṁ kattukāmo hoti, tajjanīyaṁ vā niyassaṁ vā pabbājanīyaṁ vā paṭisāraṇīyaṁ vā ukkhepanīyaṁ vā, saddhivihārikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho upajjhāyassa kammaṁ na kareyya, lahukāya vā pariṇāmeyyāti. Kataṁ vā panassa hoti saṅghena kammaṁ, tajjanīyaṁ vā niyassaṁ vā pabbājanīyaṁ vā paṭisāraṇīyaṁ vā ukkhepanīyaṁ vā, saddhivihārikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho upajjhāyo sammā vatteyya, lomaṁ pāteyya, netthāraṁ vatteyya, saṅgho taṁ kammaṁ paṭippassambheyyāti.
Sace upajjhāyassa cīvaraṁ dhovitabbaṁ hoti, saddhivihārikena dhovitabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho upajjhāyassa cīvaraṁ dhoviyethāti. Sace upajjhāyassa cīvaraṁ kātabbaṁ hoti, saddhivihārikena kātabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho upajjhāyassa cīvaraṁ kariyethāti. Sace upajjhāyassa rajanā pacitabbā hoti, saddhivihārikena pacitabbā, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho upajjhāyassa rajanaṁ paciyethāti. Sace upajjhāyassa cīvaraṁ rajitabbaṁ hoti, saddhivihārikena rajitabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho upajjhāyassa cīvaraṁ rajiyethāti.
He should also provide assistance to his preceptor in the water. When he has bathed, he should be the first to come out. He should dry himself and put on his sarong. He should then wipe the water off his preceptor’s body, and he should give him his sarong and then his upper robe. Taking the sauna bench, he should be the first to return. He should prepare a seat, and also set out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He should ask his preceptor if he wants water to drink. If the preceptor wants him to recite, he should do so. If the preceptor wants to question him, he should be questioned.”
The dwelling
“If the dwelling where the preceptor is staying is dirty, the student should clean it if he’s able. When he’s cleaning the dwelling, he should first take out the bowl and robe and put them aside. He should take out the sitting mat and the sheet and put them aside. He should take out the mattress and the pillow and put them aside. Holding the bed low, he should carefully take it out without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it aside. Holding the bench low, he should carefully take it out without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it aside. He should take out the bed supports and put them aside. He should take out the spittoon and put it aside. He should take out the leaning board and put it aside. After taking note of its position, he should take out the floor cover and put it aside. If the dwelling has cobwebs, he should first remove them from the ceiling cloth, and he should then wipe the windows and the corners of the room. If the walls have been treated with red ocher and they’re moldy, he should moisten a cloth, wring it out, and wipe the walls. If the floor has been treated with a black finish and it’s moldy, he should moisten a cloth, wring it out, and wipe the floor. If the floor is untreated, he should sprinkle it with water and then sweep it, trying to avoid stirring up dust. He should look out for any trash and discard it.
He should sun the floor cover, clean it, beat it, bring it back inside, and put it back as before. He should sun the bed supports, wipe them, bring them back inside, and put them back where they were. He should sun the bed, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the bench, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the mattress and the pillow, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the sitting mat and the sheet, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the spittoon, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should sun the leaning board, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should put away the bowl and robe. When putting away the bowl, he should hold the bowl in one hand, feel under the bed or the bench with the other, and then put it away. He shouldn’t put the bowl away on the bare floor. When putting away the robe, he should hold the robe in one hand, wipe the bamboo robe rack or the clothesline with the other, and then put it away by folding the robe over it, making the ends face the wall and the fold face out.
If dusty winds are blowing from the east, he should close the windows on the eastern side. If dusty winds are blowing from the west, he should close the windows on the western side. If dusty winds are blowing from the north, he should close the windows on the northern side. If dusty winds are blowing from the south, he should close the windows on the southern side. If the weather is cold, he should open the windows during the day and close them at night. If the weather is hot, he should close the windows during the day and open them at night.
If the yard is dirty, he should sweep it. If the gatehouse is dirty, he should sweep it. If the assembly hall is dirty, he should sweep it. If the water-boiling shed is dirty, he should sweep it. If the restroom is dirty, he should sweep it. If there’s no water for drinking, he should get some. If there’s no water for washing, he should get some. If there’s no water in the restroom ablutions pot, he should fill it.”
Spiritual support, etc.
“If the preceptor becomes discontent with the spiritual life, the student should send him away or have him sent away, or he should give him a teaching. If the preceptor becomes anxious, the student should dispel it or have it dispelled, or he should give him a teaching. If the preceptor has wrong view, the student should make him give it up or have someone else do it, or he should give him a teaching. If the preceptor has committed a heavy offense and deserves probation, the student should try to get the Sangha to give it to him. If the preceptor has committed a heavy offense and deserves to be sent back to the beginning, the student should try to get the Sangha to do it. If the preceptor has committed a heavy offense and deserves the trial period, the student should try to get the Sangha to give it to him. If the preceptor has committed a heavy offense and deserves rehabilitation, the student should try to get the Sangha to give it to him.
If the Sangha wants to do a legal procedure against his preceptor—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection—the student should make an effort to stop it or to reduce the penalty. But if the Sangha has already done a legal procedure against his preceptor—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection—the student should help the preceptor conduct himself properly and suitably so as to deserve to be released, and try to get the Sangha to lift that procedure.
If the preceptor’s robe needs washing, the student should do it himself, or he should make an effort to get it done. If the preceptor needs a robe, the student should make one himself, or he should make an effort to get one made. If the preceptor needs dye, the student should make it himself, or he should make an effort to get it made. If the preceptor’s robe needs dyeing, the student should do it himself, or he should make an effort to get it done.
Ở trong nước cũng nên làm các công việc (phục vụ) cho thầy tế độ. Người đã tắm xong, nên lên bờ trước, làm cho thân mình ráo nước, mặc y nội, rồi nên lau nước trên thân của thầy tế độ. Nên đưa y nội. Nên đưa y tăng-già-lê. Lấy ghế nhà xông hơi, đến trước, nên trải chỗ ngồi. Nên đặt gần nước rửa chân, ghế rửa chân, mảnh sành chùi chân. Nên hỏi thầy tế độ về nước uống. Nếu (thầy) muốn cho học thuộc lòng, nên (đọc cho thầy) học thuộc lòng. Nếu (thầy) muốn cho hỏi (về nghĩa), nên (giải thích cho thầy) hỏi.
Na upajjhāyaṁ anāpucchā ekaccassa patto dātabbo, na ekaccassa patto paṭiggahetabbo; na ekaccassa cīvaraṁ dātabbaṁ, na ekaccassa cīvaraṁ paṭiggahetabbaṁ; na ekaccassa parikkhāro dātabbo, na ekaccassa parikkhāro paṭiggahetabbo; na ekaccassa kesā chedetabbā, na ekaccena kesā chedāpetabbā; na ekaccassa parikammaṁ kātabbaṁ, na ekaccena parikammaṁ kārāpetabbaṁ; na ekaccassa veyyāvacco kātabbo, na ekaccena veyyāvacco kārāpetabbo; na ekaccassa pacchāsamaṇena hotabbaṁ, na ekacco pacchāsamaṇo ādātabbo; na ekaccassa piṇḍapāto nīharitabbo, na ekaccena piṇḍapāto nīharāpetabbo; na upajjhāyaṁ anāpucchā gāmo pavisitabbo; na susānaṁ gantabbaṁ; na disā pakkamitabbā. Sace upajjhāyo gilāno hoti, yāvajīvaṁ upaṭṭhātabbo, vuṭṭhānamassa āgametabbaṁ.
Idaṁ kho, bhikkhave, saddhivihārikānaṁ upajjhāyesu vattaṁ yathā saddhivihārikehi upajjhāyesu sammā vattitabban”ti.
12. Saddhivihārikavattakathā
Tena kho pana samayena upajjhāyā saddhivihārikesu na sammā vattanti. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma upajjhāyā saddhivihārikesu na sammā vattissantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, upajjhāyā saddhivihārikesu na sammā vattantī”ti? “Saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“Tena hi, bhikkhave, upajjhāyānaṁ saddhivihārikesu vattaṁ paññapessāmi yathā upajjhāyehi saddhivihārikesu sammā vattitabbaṁ. Upajjhāyena, bhikkhave, saddhivihārikamhi sammā vattitabbaṁ. Tatrāyaṁ sammāvattanā—
Upajjhāyena, bhikkhave, saddhivihāriko saṅgahetabbo anuggahetabbo uddesena paripucchāya ovādena anusāsaniyā. Sace upajjhāyassa patto hoti, saddhivihārikassa patto na hoti, upajjhāyena saddhivihārikassa patto dātabbo, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho saddhivihārikassa patto uppajjiyethāti. Sace upajjhāyassa cīvaraṁ hoti, saddhivihārikassa cīvaraṁ na hoti, upajjhāyena saddhivihārikassa cīvaraṁ dātabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho saddhivihārikassa cīvaraṁ uppajjiyethāti. Sace upajjhāyassa parikkhāro hoti, saddhivihārikassa parikkhāro na hoti, upajjhāyena saddhivihārikassa parikkhāro dātabbo, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho saddhivihārikassa parikkhāro uppajjiyethāti.
Sace saddhivihāriko gilāno hoti, kālasseva uṭṭhāya dantakaṭṭhaṁ dātabbaṁ, mukhodakaṁ dātabbaṁ, āsanaṁ paññapetabbaṁ. Sace yāgu hoti, bhājanaṁ dhovitvā yāgu upanāmetabbā. Yāguṁ pītassa udakaṁ datvā bhājanaṁ paṭiggahetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena dhovitvā paṭisāmetabbaṁ. Saddhivihārikamhi vuṭṭhite āsanaṁ uddharitabbaṁ. Sace so deso uklāpo hoti, so deso sammajjitabbo.
Sace saddhivihāriko gāmaṁ pavisitukāmo hoti, nivāsanaṁ dātabbaṁ, paṭinivāsanaṁ paṭiggahetabbaṁ, kāyabandhanaṁ dātabbaṁ, saguṇaṁ katvā saṅghāṭiyo dātabbā, dhovitvā patto sodako dātabbo.
Ettāvatā nivattissatīti āsanaṁ paññapetabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipitabbaṁ, paccuggantvā pattacīvaraṁ paṭiggahetabbaṁ, paṭinivāsanaṁ dātabbaṁ, nivāsanaṁ paṭiggahetabbaṁ. Sace cīvaraṁ sinnaṁ hoti, muhuttaṁ uṇhe otāpetabbaṁ, na ca uṇhe cīvaraṁ nidahitabbaṁ. Cīvaraṁ saṅgharitabbaṁ. Cīvaraṁ saṅgharantena caturaṅgulaṁ kaṇṇaṁ ussāretvā cīvaraṁ saṅgharitabbaṁ—mā majjhe bhaṅgo ahosīti. Obhoge kāyabandhanaṁ kātabbaṁ.
Sace piṇḍapāto hoti, saddhivihāriko ca bhuñjitukāmo hoti, udakaṁ datvā piṇḍapāto upanāmetabbo. Saddhivihāriko pānīyena pucchitabbo. Bhuttāvissa udakaṁ datvā pattaṁ paṭiggahetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena dhovitvā vodakaṁ katvā muhuttaṁ uṇhe otāpetabbo, na ca uṇhe patto nidahitabbo. Pattacīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Pattaṁ nikkhipantena ekena hatthena pattaṁ gahetvā ekena hatthena heṭṭhāmañcaṁ vā heṭṭhāpīṭhaṁ vā parāmasitvā patto nikkhipitabbo. Na ca anantarahitāya bhūmiyā patto nikkhipitabbo. Cīvaraṁ nikkhipantena ekena hatthena cīvaraṁ gahetvā ekena hatthena cīvaravaṁsaṁ vā cīvararajjuṁ vā pamajjitvā pārato antaṁ orato bhogaṁ katvā cīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Saddhivihārikamhi vuṭṭhite āsanaṁ uddharitabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ paṭisāmetabbaṁ. Sace so deso uklāpo hoti, so deso sammajjitabbo.
Sace saddhivihāriko nahāyitukāmo hoti, nahānaṁ paṭiyādetabbaṁ. Sace sītena attho hoti, sītaṁ paṭiyādetabbaṁ. Sace uṇhena attho hoti, uṇhaṁ paṭiyādetabbaṁ.
Sace saddhivihāriko jantāgharaṁ pavisitukāmo hoti, cuṇṇaṁ sannetabbaṁ, mattikā temetabbā, jantāgharapīṭhaṁ ādāya gantvā jantāgharapīṭhaṁ datvā cīvaraṁ paṭiggahetvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ, cuṇṇaṁ dātabbaṁ, mattikā dātabbā. Sace ussahati jantāgharaṁ pavisitabbaṁ. Jantāgharaṁ pavisantena mattikāya mukhaṁ makkhetvā purato ca pacchato ca paṭicchādetvā jantāgharaṁ pavisitabbaṁ. Na there bhikkhū anupakhajja nisīditabbaṁ, na navā bhikkhū āsanena paṭibāhitabbā. Jantāghare saddhivihārikassa parikammaṁ kātabbaṁ. Jantāgharā nikkhamantena jantāgharapīṭhaṁ ādāya purato ca pacchato ca paṭicchādetvā jantāgharā nikkhamitabbaṁ.
Udakepi saddhivihārikassa parikammaṁ kātabbaṁ. Nahātena paṭhamataraṁ uttaritvā attano gattaṁ vodakaṁ katvā nivāsetvā saddhivihārikassa gattato udakaṁ pamajjitabbaṁ, nivāsanaṁ dātabbaṁ, saṅghāṭi dātabbā, jantāgharapīṭhaṁ ādāya paṭhamataraṁ āgantvā āsanaṁ paññapetabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipitabbaṁ. Saddhivihāriko pānīyena pucchitabbo.
Yasmiṁ vihāre saddhivihāriko viharati, sace so vihāro uklāpo hoti, sace ussahati, sodhetabbo. Vihāraṁ sodhentena paṭhamaṁ pattacīvaraṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ …pe…
sace ācamanakumbhiyā udakaṁ na hoti, ācamanakumbhiyā udakaṁ āsiñcitabbaṁ.
Sace saddhivihārikassa anabhirati uppannā hoti, upajjhāyena vūpakāsetabbo, vūpakāsāpetabbo, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace saddhivihārikassa kukkuccaṁ uppannaṁ hoti, upajjhāyena vinodetabbaṁ, vinodāpetabbaṁ, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace saddhivihārikassa diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti, upajjhāyena vivecetabbaṁ, vivecāpetabbaṁ, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace saddhivihāriko garudhammaṁ ajjhāpanno hoti parivāsāraho, upajjhāyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho saddhivihārikassa parivāsaṁ dadeyyāti. Sace saddhivihāriko mūlāyapaṭikassanāraho hoti, upajjhāyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho saddhivihārikaṁ mūlāya paṭikasseyyāti. Sace saddhivihāriko mānattāraho hoti, upajjhāyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho saddhivihārikassa mānattaṁ dadeyyāti. Sace saddhivihāriko abbhānāraho hoti, upajjhāyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho saddhivihārikaṁ abbheyyāti.
Sace saṅgho saddhivihārikassa kammaṁ kattukāmo hoti, tajjanīyaṁ vā niyassaṁ vā pabbājanīyaṁ vā paṭisāraṇīyaṁ vā ukkhepanīyaṁ vā, upajjhāyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho saddhivihārikassa kammaṁ na kareyya, lahukāya vā pariṇāmeyyāti. Kataṁ vā panassa hoti saṅghena kammaṁ, tajjanīyaṁ vā niyassaṁ vā pabbājanīyaṁ vā paṭisāraṇīyaṁ vā, ukkhepanīyaṁ vā, upajjhāyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saddhivihāriko sammā vatteyya lomaṁ pāteyya, netthāraṁ vatteyya, saṅgho taṁ kammaṁ paṭippassambheyyāti.
Without asking his preceptor for permission, he shouldn’t do any of the following: give away or receive a bowl; give away or receive a robe; give away or receive a requisite; cut anyone’s hair or get it cut; provide assistance to anyone or have assistance provided by anyone; do a service for anyone or get a service done by anyone; be the attendant monk for anyone or take anyone as his attendant monk; bring back almsfood for anyone or get almsfood brought back by anyone; enter the village, go to the charnel ground, or leave for another region. If his preceptor is sick, he should nurse him for as long as he lives or wait until he has recovered.
This is the proper conduct of a student toward his preceptor.”
12. Discussion of the proper conduct toward a student
At that time the preceptors were not conducting themselves properly toward their students. The monks of few desires complained and criticized them, “How can the preceptors not conduct themselves properly toward their students?” They told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that the preceptors are not conducting themselves properly toward their students?” “It’s true, sir.” … After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“Well then, I’ll lay down the proper conduct for preceptors toward their students. A preceptor should conduct himself properly toward his student. This is the proper conduct:
A preceptor should help and take care of his student through recitation, questioning, and instruction. If the preceptor has a bowl, but not the student, the preceptor should give it to him, or he should make an effort to get him one. If the preceptor has a robe, but not the student, the preceptor should give it to him, or he should make an effort to get him one. If the preceptor has a requisite, but not the student, the preceptor should give it to him, or he should make an effort to get him one.”
Meals and almsround
“If the student is sick, the preceptor should get up at the appropriate time and give his student a tooth cleaner and water for rinsing the mouth, and he should prepare a seat for him. If there’s congee, he should rinse a vessel and bring the congee to his student. When he has drunk the congee, the preceptor should give him water and receive the vessel. Holding it low, he should wash it carefully without scratching it and then put it away. When the student has gotten up, the preceptor should put away the seat. If the place is dirty, he should sweep it.
If the student wants to enter the village, the preceptor should give him a sarong and receive the one he’s wearing in return. He should give him a belt. He should put the upper robes together, overlapping each other edge-to-edge, and then give them to him. He should rinse his student’s bowl and give it to him while wet.
Before he’s due back, the preceptor should prepare a seat and set out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He should go out to meet the student and receive his bowl and robe. He should give him a sarong and receive the one he’s wearing in return. If the robe is damp, he should sun it for a short while, but shouldn’t leave it in the heat. He should fold the robe, offsetting the edges by seven centimeters, so that the fold doesn’t become worn. He should place the belt in the fold.
If there’s almsfood and his student wants to eat, the preceptor should give him water and then the almsfood. He should ask his student if he wants water to drink. When the student has eaten, the preceptor should give him water and receive his bowl. Holding it low, he should wash it carefully without scratching it. He should then dry it and sun it for a short while, but shouldn’t leave it in the heat. The preceptor should put away the robe and bowl. When putting away the bowl, he should hold the bowl in one hand, feel under the bed or the bench with the other, and then put it away. He shouldn’t put the bowl away on the bare floor. When putting away the robe, he should hold the robe in one hand, wipe the bamboo robe rack or the clothesline with the other, and then put it away by folding the robe over it, making the ends face the wall and the fold face out. When the student has gotten up, the preceptor should put away the seat and also the foot stool, the foot scraper, and the water for washing the feet. If the place is dirty, he should sweep it.”
Bathing
“If the student wants to bathe, the preceptor should prepare a bath. If he wants a cold bath, he should prepare that; if he wants a hot bath, he should prepare that.
If the student wants to take a sauna, the preceptor should knead bath powder, moisten the clay, take a sauna bench, and go to the sauna. After giving his student the sauna bench, receiving his robe, and putting it aside, he should give him the bath powder and the clay. If he’s able, he should enter the sauna. When entering the sauna, he should smear his face with clay, cover himself front and back, and then enter. He shouldn’t sit encroaching on the senior monks, or block the junior monks from getting a seat. While in the sauna, he should provide assistance to his student. When leaving the sauna, he should take the sauna bench, cover himself front and back, and then leave.
The preceptor should also provide assistance to his student in the water. When the preceptor has bathed, he should be the first to come out. He should dry himself and put on his sarong. He should then wipe the water off his student’s body, and he should give him his sarong and then his upper robe. Taking the sauna bench, he should be the first to return. He should prepare a seat, and also set out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He should ask his student if he wants water to drink.”
The dwelling
“If the dwelling where the student is staying is dirty, the preceptor should clean it if he’s able. When he’s cleaning the dwelling, he should first take out the bowl and robe and put them aside. He should take out the sitting mat and the sheet and put them aside. He should take out the mattress and the pillow and put them aside. Holding the bed low, he should carefully take it out without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it aside. Holding the bench low, he should carefully take it out without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it aside. He should take out the bed supports and put them aside. He should take out the spittoon and put it aside. He should take out the leaning board and put it aside. After taking note of its position, he should take out the floor cover and put it aside. If the dwelling has cobwebs, he should first remove them from the ceiling cloth, and he should then wipe the windows and the corners of the room. If the walls have been treated with red ocher and they’re moldy, he should moisten a cloth, wring it out, and wipe the walls. If the floor has been treated with a black finish and it’s moldy, he should moisten a cloth, wring it out, and wipe the floor. If the floor is untreated, he should sprinkle it with water and then sweep it, trying to avoid stirring up dust. He should look out for any trash and discard it.
He should sun the floor cover, clean it, beat it, bring it back inside, and put it back as before. He should sun the bed supports, wipe them, bring them back inside, and put them back where they were. He should sun the bed, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the bench, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the mattress and the pillow, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back the way they were. He should sun the sitting mat and the sheet, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back the way they were. He should sun the spittoon, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should sun the leaning board, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should put away the bowl and robe. When putting away the bowl, he should hold the bowl in one hand, feel under the bed or the bench with the other, and then put it away. He shouldn’t put the bowl away on the bare floor. When putting away the robe, he should hold the robe in one hand, wipe the bamboo robe rack or the clothesline with the other, and then put it away by folding the robe over it, making the ends face the wall and the fold face out.
If dusty winds are blowing from the east, he should close the windows on the eastern side. If dusty winds are blowing from the west, he should close the windows on the western side. If dusty winds are blowing from the north, he should close the windows on the northern side. If dusty winds are blowing from the south, he should close the windows on the southern side. If the weather is cold, he should open the windows during the day and close them at night. If the weather is hot, he should close the windows during the day and open them at night.
If the yard is dirty, he should sweep it. If the gatehouse is dirty, he should sweep it. If the assembly hall is dirty, he should sweep it. If the water-boiling shed is dirty, he should sweep it. If the restroom is dirty, he should sweep it. If there’s no water for drinking, he should get some. If there’s no water for washing, he should get some. If there’s no water in the restroom ablutions pot, he should fill it.”
Spiritual support, etc.
“If the student becomes discontent with the spiritual life, the preceptor should send him away or have him sent away, or he should give him a teaching. If the student becomes anxious, the preceptor should dispel it or have it dispelled, or he should give him a teaching. If the student has wrong view, the preceptor should make him give it up or have someone else do it, or he should give him a teaching. If the student has committed a heavy offense and deserves probation, the preceptor should try to get the Sangha to give it to him. If the student has committed a heavy offense and deserves to be sent back to the beginning, the preceptor should try to get the Sangha to do it. If the student has committed a heavy offense and deserves the trial period, the preceptor should try to get the Sangha to give it to him. If the student has committed a heavy offense and deserves rehabilitation, the preceptor should try to get the Sangha to give it to him.
If the Sangha wants to do a legal procedure against his student—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection—the preceptor should make an effort to stop it or to reduce the penalty. But if the Sangha has already done a legal procedure against his student—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection—the preceptor should help the student conduct himself properly and suitably so as to deserve to be released, and try to get the Sangha to lift that procedure.
“Nếu y của vị đồng trú cần phải được giặt, vị thầy tế độ nên chỉ bảo: ‘Con hãy giặt như thế này,’ hoặc nên quan tâm rằng: ‘Làm thế nào để y của vị đồng trú được giặt đây?’ Nếu y của vị đồng trú cần phải được may, vị thầy tế độ nên chỉ bảo: ‘Con hãy may như thế này,’ hoặc nên quan tâm rằng: ‘Làm thế nào để y của vị đồng trú được may đây?’ Nếu thuốc nhuộm của vị đồng trú cần phải được nấu, vị thầy tế độ nên chỉ bảo: ‘Con hãy nấu như thế này,’ hoặc nên quan tâm rằng: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm của vị đồng trú được nấu đây?’ Nếu y của vị đồng trú cần phải được nhuộm, vị thầy tế độ nên chỉ bảo: ‘Con hãy nhuộm như thế này,’ hoặc nên quan tâm rằng: ‘Làm thế nào để y của vị đồng trú được nhuộm đây?’ Trong khi nhuộm y, nên nhuộm cho kỹ, lật qua lật lại, và không nên bỏ đi khi thuốc nhuộm còn đang nhỏ giọt chưa dứt. Nếu vị đồng trú bị bệnh, vị ấy cần được chăm sóc cho đến trọn đời, và nên trông chờ sự bình phục của vị ấy. Này các tỳ khưu, đây là phận sự của các thầy tế độ đối với các vị đồng trú, theo đó các thầy tế độ nên hành xử đúng đắn đối với các vị đồng trú.”
Sace saddhivihārikassa cīvaraṁ dhovitabbaṁ hoti, upajjhāyena ācikkhitabbaṁ—evaṁ dhoveyyāsīti, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho saddhivihārikassa cīvaraṁ dhoviyethāti. Sace saddhivihārikassa cīvaraṁ kātabbaṁ hoti, upajjhāyena ācikkhitabbaṁ—evaṁ kareyyāsīti, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho saddhivihārikassa cīvaraṁ kariyethāti. Sace saddhivihārikassa rajanaṁ pacitabbaṁ hoti, upajjhāyena ācikkhitabbaṁ—evaṁ paceyyāsīti, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho saddhivihārikassa rajanaṁ paciyethāti. Sace saddhivihārikassa cīvaraṁ rajitabbaṁ hoti, upajjhāyena ācikkhitabbaṁ—evaṁ rajeyyāsīti, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho saddhivihārikassa cīvaraṁ rajiyethāti. Cīvaraṁ rajantena sādhukaṁ samparivattakaṁ samparivattakaṁ rajitabbaṁ, na ca acchinne theve pakkamitabbaṁ. Sace saddhivihāriko gilāno hoti, yāvajīvaṁ upaṭṭhātabbo, vuṭṭhānamassa āgametabbaṁ.
Idaṁ kho, bhikkhave, upajjhāyānaṁ saddhivihārikesu vattaṁ yathā upajjhāyehi saddhivihārikesu sammā vattitabban”ti.
Dutiyabhāṇavāro niṭṭhito.
13. Ācariyavattakathā
Tena kho pana samayena antevāsikā ācariyesu na sammā vattanti.
If the student’s robe needs washing, the preceptor should show him how to do it, or he should make an effort to get it done. If the student needs a robe, the preceptor should show him how to make one, or he should make an effort to get one made. If the student needs dye, the preceptor should show him how to make it, or he should make an effort to get it made. If the student’s robe needs dyeing, the preceptor should show him how to do it, or he should make an effort to get it done. When he’s dyeing the robe, he should carefully and repeatedly turn it over, and shouldn’t go away while it’s still dripping. If his student is sick, he should nurse him for as long as he lives or wait until he has recovered.
This is the proper conduct of a preceptor toward his student.”
The second section for recitation is finished.
13. Discussion of the proper conduct toward a teacher
At that time the pupils were not conducting themselves properly toward their teachers.
Nếu y của vị đệ tử sống gần cần được giặt, vị thầy nên chỉ dạy rằng: ‘Hãy giặt như thế này,’ hoặc nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để y của vị đệ tử sống gần được giặt?’ Nếu y của vị đệ tử sống gần cần được may, vị thầy nên chỉ dạy rằng: ‘Hãy may như thế này,’ hoặc nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để y của vị đệ tử sống gần được may?’ Nếu thuốc nhuộm cho vị đệ tử sống gần cần được nấu, vị thầy nên chỉ dạy rằng: ‘Hãy nấu như thế này,’ hoặc nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm của vị đệ tử sống gần được nấu?’ Nếu y của vị đệ tử sống gần cần được nhuộm, vị thầy nên chỉ dạy rằng: ‘Hãy nhuộm như thế này,’ hoặc nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để y của vị đệ tử sống gần được nhuộm?’ Khi nhuộm y, nên lật qua lật lại kỹ càng. Không nên rời đi khi thuốc nhuộm vẫn còn nhỏ giọt. Nếu vị đệ tử sống gần bị bệnh, vị thầy nên chăm sóc suốt đời, và nên chờ đợi cho đến khi vị ấy bình phục. Này các tỳ khưu, đây là phận sự của các vị thầy đối với các đệ tử sống gần, các vị thầy nên hành xử đúng đắn với các đệ tử sống gần như vậy.
“Tena hi, bhikkhave, antevāsikānaṁ ācariyesu vattaṁ paññapessāmi yathā antevāsikehi ācariyesu sammā vattitabbaṁ. Antevāsikena, bhikkhave, ācariyamhi sammā vattitabbaṁ. Tatrāyaṁ sammāvattanā—
“Well then, I’ll lay down the proper conduct for a pupil toward his teacher. A pupil should conduct himself properly toward his teacher. This is the proper conduct:
Meals and almsround
Họ nghĩ rằng: ‘Trước khi các tỳ khưu đức hạnh đình chỉ Pātimokkha đối với chúng ta,’ rồi đã đình chỉ Pātimokkha đối với các tỳ khưu trong sạch, không có tội, một cách sớm sủa, không có sự việc, không có nguyên nhân. Các vị tỳ khưu thiểu dục ... đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: ‘Tại sao nhóm sáu vị tỳ khưu lại đình chỉ Pātimokkha đối với các tỳ khưu trong sạch, không có tội, không có sự việc, không có nguyên nhân chứ?’ Rồi các vị tỳ khưu ấy đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... ‘Này các tỳ khưu, có thật chăng việc nhóm sáu vị tỳ khưu đã đình chỉ Pātimokkha đối với các tỳ khưu trong sạch, không có tội, không có sự việc, không có nguyên nhân?’ ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ ... Sau khi quở trách ... sau khi thuyết pháp thoại, ngài gọi các tỳ khưu và dạy rằng: ‘Này các tỳ khưu, không nên đình chỉ Pātimokkha đối với các tỳ khưu trong sạch, không có tội, không có sự việc, không có nguyên nhân. Vị nào đình chỉ, phạm tội dukkaṭa (tác ác).’
Kālasseva uṭṭhāya upāhanā omuñcitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā dantakaṭṭhaṁ dātabbaṁ, mukhodakaṁ dātabbaṁ, āsanaṁ paññapetabbaṁ. Sace yāgu hoti, bhājanaṁ dhovitvā yāgu upanāmetabbā. Yāguṁ pītassa udakaṁ datvā bhājanaṁ paṭiggahetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena dhovitvā paṭisāmetabbaṁ. Ācariyamhi vuṭṭhite āsanaṁ uddharitabbaṁ. Sace so deso uklāpo hoti, so deso sammajjitabbo.
Having gotten up at the appropriate time, the pupil should remove his sandals, and arrange his upper robe over one shoulder. He should then give his teacher a tooth cleaner and water for rinsing the mouth, and he should prepare a seat for him. If there’s congee, he should rinse a vessel and bring the congee to his teacher. When he has drunk the congee, the pupil should give him water and receive the vessel. Holding it low, he should wash it carefully without scratching it and then put it away. When the teacher has gotten up, the pupil should put away the seat. If the place is dirty, he should sweep it.
Nên thức dậy sớm, cởi giày dép, vắt thượng y qua một bên vai rồi dâng tăm xỉa răng, dâng nước rửa mặt, và trải chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa bát rồi dâng cháo. Sau khi (thầy) đã dùng cháo xong, nên dâng nước, nhận lại bát, giữ thấp xuống, rửa cẩn thận không để cọ xát, rồi cất đi. Khi thầy tế độ đã đứng dậy, nên dọn dẹp chỗ ngồi. Nếu nơi ấy có rác, nên quét dọn nơi ấy.
Sace ācariyo gāmaṁ pavisitukāmo hoti, nivāsanaṁ dātabbaṁ, paṭinivāsanaṁ paṭiggahetabbaṁ, kāyabandhanaṁ dātabbaṁ, saguṇaṁ katvā saṅghāṭiyo dātabbā, dhovitvā patto sodako dātabbo. Sace ācariyo pacchāsamaṇaṁ ākaṅkhati, timaṇḍalaṁ paṭicchādentena parimaṇḍalaṁ nivāsetvā kāyabandhanaṁ bandhitvā saguṇaṁ katvā saṅghāṭiyo pārupitvā gaṇṭhikaṁ paṭimuñcitvā dhovitvā pattaṁ gahetvā ācariyassa pacchāsamaṇena hotabbaṁ.
Nātidūre gantabbaṁ, nāccāsanne gantabbaṁ, pattapariyāpannaṁ paṭiggahetabbaṁ. Na ācariyassa bhaṇamānassa antarantarā kathā opātetabbā. Ācariyo āpattisāmantā bhaṇamāno nivāretabbo.
If the teacher wants to enter the village, the pupil should give him a sarong and receive the one he’s wearing in return. He should give him a belt. He should put the upper robes together, overlapping each other edge-to-edge, and then give them to him. He should rinse his teacher’s bowl and give it to him while wet. If the teacher wants an attendant, the pupil should put on his sarong evenly all around, covering the navel and the knees. He should put on a belt. Putting the upper robes together, overlapping each other edge-to-edge, he should put them on and fasten the toggle. He should rinse his bowl, bring it along, and be his teacher’s attendant.
He shouldn’t walk too far behind his teacher or too close to him. He should receive the contents of his bowl. He shouldn’t interrupt his teacher when he’s speaking. But if the teacher’s speech is bordering on an offense, he should stop him.
Nếu thầy tế độ muốn đi vào làng, nên dâng y nội, nhận lại y nội (đã thay ra), dâng dây thắt lưng, dâng các y tăng-già-lê đã được xếp lại, dâng bát đã được rửa và có nước. Nếu thầy tế độ muốn có thị giả đi theo, nên mặc y nội che ba vòng và ngay ngắn, thắt dây lưng, khoác các y tăng-già-lê đã được xếp lại, cài nút, rửa bát rồi cầm lấy, và trở thành thị giả của thầy tế độ. Không nên đi quá xa, không nên đi quá gần. Nên nhận lấy vật thực đã được đặt vào bát. Không nên xen vào giữa chừng khi thầy tế độ đang nói chuyện. Nếu thầy tế độ nói điều gì gần với tội, nên ngăn lại.
Nivattantena paṭhamataraṁ āgantvā āsanaṁ paññapetabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipitabbaṁ, paccuggantvā pattacīvaraṁ paṭiggahetabbaṁ, paṭinivāsanaṁ dātabbaṁ, nivāsanaṁ paṭiggahetabbaṁ. Sace cīvaraṁ sinnaṁ hoti, muhuttaṁ uṇhe otāpetabbaṁ, na ca uṇhe cīvaraṁ nidahitabbaṁ. Cīvaraṁ saṅgharitabbaṁ. Cīvaraṁ saṅgharantena caturaṅgulaṁ kaṇṇaṁ ussāretvā cīvaraṁ saṅgharitabbaṁ—mā majjhe bhaṅgo ahosīti. Obhoge kāyabandhanaṁ kātabbaṁ.
Sace piṇḍapāto hoti, ācariyo ca bhuñjitukāmo hoti, udakaṁ datvā piṇḍapāto upanāmetabbo. Ācariyo pānīyena pucchitabbo. Bhuttāvissa udakaṁ datvā pattaṁ paṭiggahetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena dhovitvā vodakaṁ katvā muhuttaṁ uṇhe otāpetabbo, na ca uṇhe patto nidahitabbo.
Pattacīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Pattaṁ nikkhipantena ekena hatthena pattaṁ gahetvā ekena hatthena heṭṭhāmañcaṁ vā heṭṭhāpīṭhaṁ vā parāmasitvā patto nikkhipitabbo. Na ca anantarahitāya bhūmiyā patto nikkhipitabbo. Cīvaraṁ nikkhipantena ekena hatthena cīvaraṁ gahetvā ekena hatthena cīvaravaṁsaṁ vā cīvararajjuṁ vā pamajjitvā pārato antaṁ orato bhogaṁ katvā cīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Ācariyamhi vuṭṭhite āsanaṁ uddharitabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ paṭisāmetabbaṁ. Sace so deso uklāpo hoti, so deso sammajjitabbo.
When returning, the pupil should go first to prepare a seat and to set out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He should go out to meet the teacher and receive his bowl and robe. He should give him a sarong and receive the one he’s wearing in return. If the robe is damp, he should sun it for a short while, but shouldn’t leave it in the heat. He should fold the robe, offsetting the edges by seven centimeters, so that the fold doesn’t become worn. He should place the belt in the fold.
If there’s almsfood and his teacher wants to eat, the pupil should give him water and then the almsfood. He should ask his teacher if he wants water to drink. When the teacher has eaten, the pupil should give him water and receive his bowl. Holding it low, he should wash it carefully without scratching it. He should then dry it and sun it for a short while, but shouldn’t leave it in the heat.
The pupil should put away the robe and bowl. When putting away the bowl, he should hold the bowl in one hand, feel under the bed or the bench with the other, and then put it away. He shouldn’t put the bowl away on the bare floor. When putting away the robe, he should hold the robe in one hand, wipe the bamboo robe rack or the clothesline with the other, and then put it away by folding the robe over it, making the ends face the wall and the fold face out. When the teacher has gotten up, the pupil should put away the seat and also the foot stool, the foot scraper, and the water for washing the feet. If the place is dirty, he should sweep it.”
Bathing
Khi trở về, nên đến trước, trải chỗ ngồi, đặt sẵn nước rửa chân, ghế rửa chân, và đồ chùi chân. Nên ra đón, nhận lấy bát và y, dâng y nội (để thay), nhận lấy y nội (đã mặc). Nếu y bị ướt mồ hôi, nên phơi nắng một lát, nhưng không nên để y ngoài nắng. Nên xếp y lại. Khi xếp y, nên chừa ra một góc rộng bốn ngón tay rồi mới xếp y, với ý nghĩ: 'Mong rằng ở giữa không có nếp gãy.' Nên đặt dây thắt lưng vào trong nếp gấp của y.
Sace ācariyo nahāyitukāmo hoti, nahānaṁ paṭiyādetabbaṁ. Sace sītena attho hoti, sītaṁ paṭiyādetabbaṁ. Sace uṇhena attho hoti, uṇhaṁ paṭiyādetabbaṁ.
“If the teacher wants to bathe, the pupil should prepare a bath. If he wants a cold bath, he should prepare that; if he wants a hot bath, he should prepare that.
Nếu thầy tế độ muốn tắm, nên chuẩn bị nước tắm. Nếu có nhu cầu dùng nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh. Nếu có nhu cầu dùng nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.
Sace ācariyo jantāgharaṁ pavisitukāmo hoti, cuṇṇaṁ sannetabbaṁ, mattikā temetabbā, jantāgharapīṭhaṁ ādāya ācariyassa piṭṭhito piṭṭhito gantvā jantāgharapīṭhaṁ datvā cīvaraṁ paṭiggahetvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ, cuṇṇaṁ dātabbaṁ, mattikā dātabbā. Sace ussahati, jantāgharaṁ pavisitabbaṁ. Jantāgharaṁ pavisantena mattikāya mukhaṁ makkhetvā purato ca pacchato ca paṭicchādetvā jantāgharaṁ pavisitabbaṁ. Na there bhikkhū anupakhajja nisīditabbaṁ. Na navā bhikkhū āsanena paṭibāhitabbā. Jantāghare ācariyassa parikammaṁ kātabbaṁ. Jantāgharā nikkhamantena jantāgharapīṭhaṁ ādāya purato ca pacchato ca paṭicchādetvā jantāgharā nikkhamitabbaṁ.
Udakepi ācariyassa parikammaṁ kātabbaṁ. Nahātena paṭhamataraṁ uttaritvā attano gattaṁ vodakaṁ katvā nivāsetvā ācariyassa gattato udakaṁ pamajjitabbaṁ, nivāsanaṁ dātabbaṁ, saṅghāṭi dātabbā, jantāgharapīṭhaṁ ādāya paṭhamataraṁ āgantvā āsanaṁ paññapetabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipitabbaṁ. Ācariyo pānīyena pucchitabbo. Sace uddisāpetukāmo hoti, uddisitabbo. Sace paripucchitukāmo hoti, paripucchitabbo.
Yasmiṁ vihāre ācariyo viharati, sace so vihāro uklāpo hoti, sace ussahati, sodhetabbo. Vihāraṁ sodhentena paṭhamaṁ pattacīvaraṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; nisīdanapaccattharaṇaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; bhisibibbohanaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; mañco nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbo; pīṭhaṁ nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; mañcapaṭipādakā nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbā; kheḷamallako nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbo; apassenaphalakaṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ; bhūmattharaṇaṁ yathāpaññattaṁ sallakkhetvā nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ. Sace vihāre santānakaṁ hoti, ullokā paṭhamaṁ ohāretabbaṁ, ālokasandhikaṇṇabhāgā pamajjitabbā. Sace gerukaparikammakatā bhitti kaṇṇakitā hoti, coḷakaṁ temetvā pīḷetvā pamajjitabbā. Sace kāḷavaṇṇakatā bhūmi kaṇṇakitā hoti, coḷakaṁ temetvā pīḷetvā pamajjitabbā. Sace akatā hoti bhūmi, udakena paripphositvā paripphositvā sammajjitabbā—mā vihāro rajena uhaññīti. Saṅkāraṁ vicinitvā ekamantaṁ chaḍḍetabbaṁ.
If the teacher wants to take a sauna, the pupil should knead bath powder, moisten the clay, take a sauna bench, and follow behind his teacher. After giving his teacher the sauna bench, receiving his robe, and putting it aside, he should give him the bath powder and the clay. If he’s able, he should enter the sauna. When entering the sauna, he should smear his face with clay, cover himself front and back, and then enter. He shouldn’t sit encroaching on the senior monks, or block the junior monks from getting a seat. While in the sauna, he should provide assistance to his teacher. When leaving the sauna, he should take the sauna bench, cover himself front and back, and then leave.
He should also provide assistance to his teacher in the water. When he has bathed, he should be the first to come out. He should dry himself and put on his sarong. He should then wipe the water off his teacher’s body, and he should give him his sarong and then his upper robe. Taking the sauna bench, he should be the first to return. He should prepare a seat, and also set out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He should ask his teacher if he wants water to drink. If the teacher wants him to recite, he should do so. If the teacher wants to question him, he should be questioned.”
The dwelling
“If the dwelling where the teacher is staying is dirty, the pupil should clean it if he’s able. When he’s cleaning the dwelling, he should first take out the bowl and robe and put them aside. He should take out the sitting mat and the sheet and put them aside. He should take out the mattress and the pillow and put them aside. Holding the bed low, he should carefully take it out without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it aside. Holding the bench low, he should carefully take it out without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it aside. He should take out the bed supports and put them aside. He should take out the spittoon and put it aside. He should take out the leaning board and put it aside. After taking note of its position, he should take out the floor cover and put it aside. If the dwelling has cobwebs, he should first remove them from the ceiling cloth, and he should then wipe the windows and the corners of the room. If the walls have been treated with red ocher and they’re moldy, he should moisten a cloth, wring it out, and wipe the walls. If the floor has been treated with a black finish and it’s moldy, he should moisten a cloth, wring it out, and wipe the floor. If the floor is untreated, he should sprinkle it with water and then sweep it, trying to avoid stirring up dust. He should look out for any trash and discard it.
Nếu thầy tế độ muốn vào nhà xông hơi, nên nhào bột tắm, nên làm ướt đất sét. Lấy ghế nhà xông hơi, đi theo sau thầy tế độ, đưa ghế nhà xông hơi, nhận lấy y rồi cất vào một nơi. Nên đưa bột tắm, nên đưa đất sét. Nếu có thể, nên vào nhà xông hơi. Người vào nhà xông hơi nên thoa đất sét lên mặt, che phía trước và phía sau rồi vào nhà xông hơi. Không nên ngồi chen lấn các vị tỳ khưu trưởng lão. Không nên dùng chỗ ngồi để cản các vị tỳ khưu trẻ. Nên làm các công việc (phục vụ) cho thầy tế độ trong nhà xông hơi. Người ra khỏi nhà xông hơi, lấy ghế nhà xông hơi, che phía trước và phía sau rồi ra khỏi nhà xông hơi.
Bhūmattharaṇaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Mañcapaṭipādakā otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbā. Mañco otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbo. Pīṭhaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena, asaṅghaṭṭentena kavāṭapiṭṭhaṁ, atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Bhisibibbohanaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Nisīdanapaccattharaṇaṁ otāpetvā sodhetvā papphoṭetvā atiharitvā yathāpaññattaṁ paññapetabbaṁ. Kheḷamallako otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbo. Apassenaphalakaṁ otāpetvā pamajjitvā atiharitvā yathāṭhāne ṭhapetabbaṁ. Pattacīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Pattaṁ nikkhipantena ekena hatthena pattaṁ gahetvā ekena hatthena heṭṭhāmañcaṁ vā heṭṭhāpīṭhaṁ vā parāmasitvā patto nikkhipitabbo. Na ca anantarahitāya bhūmiyā patto nikkhipitabbo. Cīvaraṁ nikkhipantena ekena hatthena cīvaraṁ gahetvā ekena hatthena cīvaravaṁsaṁ vā cīvararajjuṁ vā pamajjitvā pārato antaṁ orato bhogaṁ katvā cīvaraṁ nikkhipitabbaṁ.
He should sun the floor cover, clean it, beat it, bring it back inside, and put it back as before. He should sun the bed supports, wipe them, bring them back inside, and put them back where they were. He should sun the bed, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the bench, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the mattress and the pillow, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the sitting mat and the sheet, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the spittoon, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should sun the leaning board, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should put away the bowl and robe. When putting away the bowl, he should hold the bowl in one hand, feel under the bed or the bench with the other, and then put it away. He shouldn’t put the bowl away on the bare floor. When putting away the robe, he should hold the robe in one hand, wipe the bamboo robe rack or the clothesline with the other, and then put it away by folding the robe over it, making the ends face the wall and the fold face out.
Tấm trải sàn nên được phơi nắng, lau chùi, giũ sạch, mang về và trải lại như cũ. Các chân giường nên được phơi nắng, lau chùi, mang về và đặt lại ở vị trí cũ. Cái giường nên được phơi nắng, lau chùi, giũ sạch, hạ thấp xuống, cẩn thận mang về không để cọ xát, không để va chạm vào cánh cửa hay khung cửa, và trải lại như cũ. Cái ghế nên được phơi nắng, lau chùi, giũ sạch, hạ thấp xuống, cẩn thận mang về không để cọ xát, không để va chạm vào cánh cửa hay khung cửa, và trải lại như cũ. Gối và nệm nên được phơi nắng, lau chùi, giũ sạch, mang về và trải lại như cũ. Tấm trải để ngồi nên được phơi nắng, lau chùi, giũ sạch, mang về và trải lại như cũ. Ống nhổ nên được phơi nắng, lau chùi, mang về và đặt lại ở vị trí cũ. Tấm ván dựa nên được phơi nắng, lau chùi, mang về và đặt lại ở vị trí cũ. Y bát nên được cất đặt. Vị đang cất đặt bình bát, một tay cầm bình bát, một tay sờ dưới gầm giường hoặc dưới gầm ghế rồi nên cất đặt bình bát. Và không nên cất đặt bình bát trên nền đất không có vật trải lót. Vị đang cất đặt y, một tay cầm y, một tay lau chùi sào phơi y hoặc dây phơi y, rồi nên cất đặt y bằng cách làm thành cuộn từ phía bên này với đầu y ở phía bên kia.
Sace puratthimā sarajā vātā vāyanti, puratthimā vātapānā thaketabbā. Sace pacchimā sarajā vātā vāyanti, pacchimā vātapānā thaketabbā. Sace uttarā sarajā vātā vāyanti, uttarā vātapānā thaketabbā. Sace dakkhiṇā sarajā vātā vāyanti, dakkhiṇā vātapānā thaketabbā. Sace sītakālo hoti, divā vātapānā vivaritabbā, rattiṁ thaketabbā. Sace uṇhakālo hoti, divā vātapānā thaketabbā, rattiṁ vivaritabbā.
If dusty winds are blowing from the east, he should close the windows on the eastern side. If dusty winds are blowing from the west, he should close the windows on the western side. If dusty winds are blowing from the north, he should close the windows on the northern side. If dusty winds are blowing from the south, he should close the windows on the southern side. If the weather is cold, he should open the windows during the day and close them at night. If the weather is hot, he should close the windows during the day and open them at night.
Nếu những ngọn gió bụi từ hướng đông thổi đến, các cửa sổ hướng đông nên được đóng lại. Nếu những ngọn gió bụi từ hướng tây thổi đến, các cửa sổ hướng tây nên được đóng lại. Nếu những ngọn gió bụi từ hướng bắc thổi đến, các cửa sổ hướng bắc nên được đóng lại. Nếu những ngọn gió bụi từ hướng nam thổi đến, các cửa sổ hướng nam nên được đóng lại. Nếu là mùa lạnh, ban ngày các cửa sổ nên được mở ra, ban đêm nên được đóng lại. Nếu là mùa nóng, ban ngày các cửa sổ nên được đóng lại, ban đêm nên được mở ra.
Sace pariveṇaṁ uklāpaṁ hoti, pariveṇaṁ sammajjitabbaṁ. Sace koṭṭhako uklāpo hoti, koṭṭhako sammajjitabbo. Sace upaṭṭhānasālā uklāpā hoti, upaṭṭhānasālā sammajjitabbā. Sace aggisālā uklāpā hoti, aggisālā sammajjitabbā. Sace vaccakuṭi uklāpā hoti, vaccakuṭi sammajjitabbā. Sace pānīyaṁ na hoti, pānīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ. Sace paribhojanīyaṁ na hoti, paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpetabbaṁ. Sace ācamanakumbhiyā udakaṁ na hoti, ācamanakumbhiyā udakaṁ āsiñcitabbaṁ.
If the yard is dirty, he should sweep it. If the gatehouse is dirty, he should sweep it. If the assembly hall is dirty, he should sweep it. If the water-boiling shed is dirty, he should sweep it. If the restroom is dirty, he should sweep it. If there’s no water for drinking, he should get some. If there’s no water for washing, he should get some. If there’s no water in the restroom ablutions pot, he should fill it.”
Spiritual support, etc.
Nếu khuôn viên có rác, khuôn viên nên được quét dọn. Nếu cổng ra vào có rác, cổng ra vào nên được quét dọn. Nếu phòng hội họp có rác, phòng hội họp nên được quét dọn. Nếu nhà lửa có rác, nhà lửa nên được quét dọn. Nếu nhà vệ sinh có rác, nhà vệ sinh nên được quét dọn. Nếu không có nước uống, nước uống nên được chuẩn bị. Nếu không có nước dùng, nước dùng nên được chuẩn bị. Nếu trong lu nước rửa không có nước, nước nên được đổ vào lu nước rửa.
Sace ācariyassa anabhirati uppannā hoti, antevāsikena vūpakāsetabbo, vūpakāsāpetabbo, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace ācariyassa kukkuccaṁ uppannaṁ hoti, antevāsikena vinodetabbaṁ, vinodāpetabbaṁ, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace ācariyassa diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti, antevāsikena vivecetabbaṁ, vivecāpetabbaṁ, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace ācariyo garudhammaṁ ajjhāpanno hoti, parivāsāraho, antevāsikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho ācariyassa parivāsaṁ dadeyyāti. Sace ācariyo mūlāyapaṭikassanāraho hoti, antevāsikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho ācariyaṁ mūlāya paṭikasseyyāti. Sace ācariyo mānattāraho hoti, antevāsikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho ācariyassa mānattaṁ dadeyyāti. Sace ācariyo abbhānāraho hoti, antevāsikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho ācariyaṁ abbheyyāti.
Sace saṅgho ācariyassa kammaṁ kattukāmo hoti, tajjanīyaṁ vā niyassaṁ vā pabbājanīyaṁ vā paṭisāraṇīyaṁ vā ukkhepanīyaṁ vā, antevāsikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho ācariyassa kammaṁ na kareyya, lahukāya vā pariṇāmeyyāti. Kataṁ vā panassa hoti saṅghena kammaṁ, tajjanīyaṁ vā niyassaṁ vā pabbājanīyaṁ vā paṭisāraṇīyaṁ vā ukkhepanīyaṁ vā, antevāsikena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho ācariyo sammā vatteyya, lomaṁ pāteyya, netthāraṁ vatteyya, saṅgho taṁ kammaṁ paṭippassambheyyāti.
“If the teacher becomes discontent with the spiritual life, the pupil should send him away or have him sent away, or he should give him a teaching. If the teacher becomes anxious, the pupil should dispel it or have it dispelled, or he should give him a teaching. If the teacher has wrong view, the pupil should make him give it up or have someone else do it, or he should give him a teaching. If the teacher has committed a heavy offense and deserves probation, the pupil should try to get the Sangha to give it to him. If the teacher has committed a heavy offense and deserves to be sent back to the beginning, the pupil should try to get the Sangha to do it. If the teacher has committed a heavy offense and deserves the trial period, the pupil should try to get the Sangha to give it to him. If the teacher has committed a heavy offense and deserves rehabilitation, the pupil should try to get the Sangha to give it to him.
If the Sangha wants to do a legal procedure against his teacher—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection—the pupil should make an effort to stop it or to reduce the penalty. But if the Sangha has already done a legal procedure against his teacher—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection—the pupil should help the teacher conduct himself properly and suitably so as to deserve to be released, and try to get the Sangha to lift that procedure.
Nếu sự không hoan hỷ khởi lên nơi vị thầy tế độ, vị đệ tử cùng ở nên làm cho thầy khuây khỏa, hoặc nên nhờ người khác làm cho thầy khuây khỏa, hoặc nên nói pháp thoại cho thầy nghe. Nếu sự hối tiếc khởi lên nơi vị thầy tế độ, vị đệ tử cùng ở nên làm cho tan biến, hoặc nên nhờ người khác làm cho tan biến, hoặc nên nói pháp thoại cho thầy nghe. Nếu tà kiến khởi lên nơi vị thầy tế độ, vị đệ tử cùng ở nên làm cho từ bỏ, hoặc nên nhờ người khác làm cho từ bỏ, hoặc nên nói pháp thoại cho thầy nghe. Nếu vị thầy tế độ đã phạm trọng tội, đáng chịu hình phạt biệt trú, vị đệ tử cùng ở nên nỗ lực rằng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng ban hình phạt biệt trú cho thầy tế độ?’ Nếu vị thầy tế độ đáng bị phạt trở về lại từ đầu, vị đệ tử cùng ở nên nỗ lực rằng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng phạt thầy tế độ trở về lại từ đầu?’ Nếu vị thầy tế độ đáng chịu hình phạt sám hối, vị đệ tử cùng ở nên nỗ lực rằng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng ban hình phạt sám hối cho thầy tế độ?’ Nếu vị thầy tế độ đáng được giải tội, vị đệ tử cùng ở nên nỗ lực rằng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng giải tội cho thầy tế độ?’ Nếu Tăng chúng có ý muốn hành yết-ma khiển trách, hoặc yết-ma hạ bậc, hoặc yết-ma trục xuất, hoặc yết-ma hòa giải, hoặc yết-ma treo giò đối với vị thầy tế độ, vị đệ tử cùng ở nên nỗ lực rằng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng không hành yết-ma đối với thầy tế độ, hoặc chuyển thành hình phạt nhẹ hơn?’ Hoặc nếu Tăng chúng đã hành yết-ma khiển trách, hoặc yết-ma hạ bậc, hoặc yết-ma trục xuất, hoặc yết-ma hòa giải, hoặc yết-ma treo giò đối với vị ấy, vị đệ tử cùng ở nên nỗ lực rằng: ‘Làm thế nào để vị thầy tế độ hành xử đúng đắn, hạ mình, thực hành để thoát khỏi hình phạt, và Tăng chúng sẽ hủy bỏ yết-ma ấy?’
Sace ācariyassa cīvaraṁ dhovitabbaṁ hoti, antevāsikena dhovitabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho ācariyassa cīvaraṁ dhoviyethāti. Sace ācariyassa cīvaraṁ kātabbaṁ hoti, antevāsikena kātabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho ācariyassa cīvaraṁ kariyethāti. Sace ācariyassa rajanaṁ pacitabbaṁ hoti, antevāsikena pacitabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho ācariyassa rajanaṁ paciyethāti. Sace ācariyassa cīvaraṁ rajitabbaṁ hoti, antevāsikena rajitabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho ācariyassa cīvaraṁ rajiyethāti. Cīvaraṁ rajantena sādhukaṁ samparivattakaṁ samparivattakaṁ rajitabbaṁ, na ca acchinne theve pakkamitabbaṁ.
If the teacher’s robe needs washing, the pupil should do it himself, or he should make an effort to get it done. If the teacher needs a robe, the pupil should make one himself, or he should make an effort to get one made. If the teacher needs dye, the pupil should make it himself, or he should make an effort to get it made. If the teacher’s robe needs dyeing, the pupil should do it himself, or he should make an effort to get it done. When he’s dyeing the robe, he should carefully and repeatedly turn it over, and shouldn’t go away while it’s still dripping.
“Nếu y của thầy tế độ cần được giặt, vị sống chung nên giặt, hoặc nên nỗ lực (suy nghĩ) rằng: ‘Làm thế nào để y của thầy tế độ được giặt đây?’ Nếu y của thầy tế độ cần được may, vị sống chung nên may, hoặc nên nỗ lực (suy nghĩ) rằng: ‘Làm thế nào để y của thầy tế độ được may đây?’ Nếu thuốc nhuộm của thầy tế độ cần được nấu, vị sống chung nên nấu, hoặc nên nỗ lực (suy nghĩ) rằng: ‘Làm thế nào để thuốc nhuộm của thầy tế độ được nấu đây?’ Nếu y của thầy tế độ cần được nhuộm, vị sống chung nên nhuộm, hoặc nên nỗ lực (suy nghĩ) rằng: ‘Làm thế nào để y của thầy tế độ được nhuộm đây?’ Trong khi nhuộm y, nên lật qua lật lại kỹ lưỡng mà nhuộm, và không nên bỏ đi khi thuốc nhuộm còn đang nhỏ giọt chưa dứt.
Na ācariyaṁ anāpucchā ekaccassa patto dātabbo, na ekaccassa patto paṭiggahetabbo; na ekaccassa cīvaraṁ dātabbaṁ, na ekaccassa cīvaraṁ paṭiggahetabbaṁ; na ekaccassa parikkhāro dātabbo, na ekaccassa parikkhāro paṭiggahetabbo; na ekaccassa kesā cheditabbā, na ekaccena kesā chedāpetabbā; na ekaccassa parikammaṁ kātabbaṁ, na ekaccena parikammaṁ kārāpetabbaṁ; na ekaccassa veyyāvacco kātabbo, na ekaccena veyyāvacco kārāpetabbo; na ekaccassa pacchāsamaṇena hotabbaṁ, na ekacco pacchāsamaṇo ādātabbo; na ekaccassa piṇḍapāto nīharitabbo, na ekaccena piṇḍapāto nīharāpetabbo; na ācariyaṁ anāpucchā gāmo pavisitabbo; na susānaṁ gantabbaṁ; na disā pakkamitabbā. Sace ācariyo gilāno hoti, yāvajīvaṁ upaṭṭhātabbo, vuṭṭhānamassa āgametabbaṁ.
Idaṁ kho, bhikkhave, antevāsikānaṁ ācariyesu vattaṁ yathā antevāsikehi ācariyesu sammā vattitabban”ti.
Without asking his teacher for permission, he shouldn’t do any of the following: give away or receive a bowl; give away or receive a robe; give away or receive a requisite; cut anyone’s hair or get it cut; provide assistance to anyone or have assistance provided by anyone; do a service for anyone or get a service done by anyone; be the attendant monk for anyone or take anyone as his attendant monk; bring back almsfood for anyone or get almsfood brought back by anyone; enter the village, go to the charnel ground, or leave for another region. If his teacher is sick, he should nurse him for as long as he lives or wait until he has recovered.
This is the proper conduct of a pupil toward his teacher.”
Không được đưa bát cho một người nào, không được nhận bát của một người nào nếu chưa thưa hỏi vị thầy; không được đưa y cho một người nào, không được nhận y của một người nào; không được đưa vật dụng cho một người nào, không được nhận vật dụng của một người nào; không được cắt tóc cho một người nào, không được nhờ một người nào cắt tóc; không được làm công việc phục vụ cho một người nào, không được nhờ một người nào làm công việc phục vụ; không được làm công việc vặt cho một người nào, không được nhờ một người nào làm công việc vặt; không được làm thị giả đi sau cho một người nào, không được nhận một người nào làm thị giả đi sau; không được mang vật thực khất thực cho một người nào, không được nhờ một người nào mang vật thực khất thực. Không được vào làng nếu chưa thưa hỏi vị thầy; không được đi đến nghĩa địa; không được đi đến phương khác. Nếu vị thầy bị bệnh, nên chăm sóc cho đến trọn đời, nên chờ đợi sự bình phục của vị ấy. Này các tỳ khưu, đây là phận sự của các đệ tử đối với các vị thầy, theo đó các đệ tử nên hành xử đúng đắn đối với các vị thầy.
14. Antevāsikavattakathā
14. Discussion of the proper conduct toward a pupil
14. Câu chuyện về phận sự của người đệ tử
Tena kho pana samayena ācariyā antevāsikesu na sammā vattanti. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma ācariyā antevāsikesu na sammā vattissantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—“saccaṁ kira, bhikkhave, ācariyā antevāsikesu na sammā vattantī”ti? “Saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
At that time the teachers were not conducting themselves properly toward their pupils. The monks of few desires complained and criticized them, “How can the teachers not conduct themselves properly toward their pupils?” They told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that the teachers are not conducting themselves properly toward their pupils?” “It’s true, sir.” … After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
381. Vào lúc bấy giờ, các vị thầy không hành xử đúng đắn đối với các đệ tử. Các vị tỳ khưu ít ham muốn ... họ phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: ‘Tại sao các vị thầy lại không hành xử đúng đắn đối với các đệ tử?’ Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Bấy giờ, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn đã cho triệu tập chúng tỳ khưu và hỏi các vị tỳ khưu rằng: ‘Này các tỳ khưu, có thật là các vị thầy không hành xử đúng đắn đối với các đệ tử không?’ ‘Bạch đức Thế Tôn, là thật.’ ... (Đức Phật) đã khiển trách ... đã nói pháp thoại và gọi các vị tỳ khưu:
“Tena hi, bhikkhave, ācariyānaṁ antevāsikesu vattaṁ paññapessāmi yathā ācariyehi antevāsikesu sammā vattitabbaṁ. Ācariyena, bhikkhave, antevāsikamhi sammā vattitabbaṁ. Tatrāyaṁ sammāvattanā—
“Well then, I’ll lay down the proper conduct for a teacher toward his pupil. A teacher should conduct himself properly toward his pupil. This is the proper conduct:
382. Này các tỳ khưu, vậy thì Ta sẽ chế định phận sự của các vị thầy đối với các đệ tử, theo đó các vị thầy nên hành xử đúng đắn đối với các đệ tử. Này các tỳ khưu, vị thầy nên hành xử đúng đắn đối với đệ tử. Ở đây, đây là sự hành xử đúng đắn:
Ācariyena, bhikkhave, antevāsiko saṅgahetabbo anuggahetabbo uddesena paripucchāya ovādena anusāsaniyā. Sace ācariyassa patto hoti, antevāsikassa patto na hoti, ācariyena antevāsikassa patto dātabbo, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho antevāsikassa patto uppajjiyethāti. Sace ācariyassa cīvaraṁ hoti, antevāsikassa cīvaraṁ na hoti, ācariyena antevāsikassa cīvaraṁ dātabbaṁ, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho antevāsikassa cīvaraṁ uppajjiyethāti. Sace ācariyassa parikkhāro hoti, antevāsikassa parikkhāro na hoti, ācariyena antevāsikassa parikkhāro dātabbo, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho antevāsikassa parikkhāro uppajjiyethāti.
A teacher should help and take care of his pupil through recitation, questioning, and instruction. If the teacher has a bowl, but not the pupil, the teacher should give it to him, or he should make an effort to get him one. If the teacher has a robe, but not the pupil, the teacher should give it to him, or he should make an effort to get him one. If the teacher has a requisite, but not the pupil, the teacher should give it to him, or he should make an effort to get him one.”
Meals and almsround
Này các tỳ khưu, vị thầy nên giúp đỡ, nên hỗ trợ người đệ tử chung trú bằng cách dạy đọc Pāli, bằng cách hỏi đáp, bằng lời khuyên dạy, bằng lời chỉ giáo. Nếu vị thầy có bình bát, còn người đệ tử chung trú không có bình bát, vị thầy nên cho người đệ tử chung trú bình bát, hoặc nên nỗ lực (nghĩ rằng): ‘Làm thế nào để người đệ tử chung trú có được bình bát?’ Nếu vị thầy có y, còn người đệ tử chung trú không có y, vị thầy nên cho người đệ tử chung trú y, hoặc nên nỗ lực (nghĩ rằng): ‘Làm thế nào để người đệ tử chung trú có được y?’ Nếu vị thầy có vật dụng, còn người đệ tử chung trú không có vật dụng, vị thầy nên cho người đệ tử chung trú vật dụng, hoặc nên nỗ lực (nghĩ rằng): ‘Làm thế nào để người đệ tử chung trú có được vật dụng?’
Sace antevāsiko gilāno hoti, kālasseva uṭṭhāya dantakaṭṭhaṁ dātabbaṁ, mukhodakaṁ dātabbaṁ, āsanaṁ paññapetabbaṁ. Sace yāgu hoti, bhājanaṁ dhovitvā yāgu upanāmetabbā. Yāguṁ pītassa udakaṁ datvā bhājanaṁ paṭiggahetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena dhovitvā paṭisāmetabbaṁ. Antevāsikamhi vuṭṭhite āsanaṁ uddharitabbaṁ. Sace so deso uklāpo hoti, so deso sammajjitabbo.
“If the pupil is sick, the teacher should get up at the appropriate time and give his pupil a tooth cleaner and water for rinsing the mouth, and he should prepare a seat for him. If there’s congee, he should rinse a vessel and bring the congee to his pupil. When he has drunk the congee, the teacher should give him water and receive the vessel. Holding it low, he should wash it carefully without scratching it and then put it away. When the pupil has gotten up, the teacher should put away the seat. If the place is dirty, he should sweep it.
Nếu người đệ tử chung trú bị bệnh, (vị thầy) nên thức dậy sớm, nên dâng tăm xỉa răng, nên dâng nước rửa mặt, nên sửa soạn chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa vật đựng rồi dâng cháo. Sau khi (đệ tử) đã uống cháo, nên dâng nước, nên nhận lấy vật đựng, nên cầm thấp xuống, nên rửa cẩn thận không cho cọ xát rồi cất đi. Khi người đệ tử chung trú đã đứng dậy, nên dọn dẹp chỗ ngồi. Nếu nơi ấy có rác, nên quét dọn nơi ấy.
Sace antevāsiko gāmaṁ pavisitukāmo hoti, nivāsanaṁ dātabbaṁ, paṭinivāsanaṁ paṭiggahetabbaṁ, kāyabandhanaṁ dātabbaṁ, saguṇaṁ katvā saṅghāṭiyo dātabbā, dhovitvā patto sodako dātabbo.
If the pupil wants to enter the village, the teacher should give him a sarong and receive the one he’s wearing in return. He should give him a belt. He should put the upper robes together, overlapping each other edge-to-edge, and then give them to him. He should rinse his pupil’s bowl and give it to him while wet.
Nếu người đệ tử chung trú muốn đi vào làng, nên đưa y nội (để mặc), nên nhận lấy y nội (đã thay ra), nên đưa dây thắt lưng, nên xếp y tăng-già-lê làm hai rồi đưa, nên rửa bình bát rồi đưa cùng với nước.
Ettāvatā nivattissatīti āsanaṁ paññapetabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipitabbaṁ, paccuggantvā pattacīvaraṁ paṭiggahetabbaṁ, paṭinivāsanaṁ dātabbaṁ, nivāsanaṁ paṭiggahetabbaṁ. Sace cīvaraṁ sinnaṁ hoti, muhuttaṁ uṇhe otāpetabbaṁ, na ca uṇhe cīvaraṁ nidahitabbaṁ. Cīvaraṁ saṅgharitabbaṁ. Cīvaraṁ saṅgharantena caturaṅgulaṁ kaṇṇaṁ ussāretvā cīvaraṁ saṅgharitabbaṁ—mā majjhe bhaṅgo ahosīti. Obhoge kāyabandhanaṁ kātabbaṁ.
Before he’s due back, the teacher should prepare a seat and set out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He should go out to meet the pupil and receive his bowl and robe. He should give him a sarong and receive the one he’s wearing in return. If the robe is damp, he should sun it for a short while, but shouldn’t leave it in the heat. He should fold the robe, offsetting the edges by seven centimeters, so that the fold doesn’t become worn. He should place the belt in the fold.
(Nghĩ rằng): ‘(Đệ tử) sẽ trở về vào khoảng giờ này,’ nên sửa soạn chỗ ngồi, nên đặt sẵn nước rửa chân, ghế rửa chân, và đồ chà chân. Nên đi ra đón, nên nhận lấy y bát, nên đưa y nội (để mặc), nên nhận lấy y nội (đã thay ra). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi nắng một lúc, và không nên để y ngoài nắng (quá lâu). Nên xếp y. Trong khi xếp y, nên chừa lại một góc rộng bốn ngón tay rồi xếp y, (nghĩ rằng): ‘Cầu mong không có nếp gấp ở giữa.’ Nên đặt dây thắt lưng vào trong nếp gấp.
Sace piṇḍapāto hoti, antevāsiko ca bhuñjitukāmo hoti, udakaṁ datvā piṇḍapāto upanāmetabbo. Antevāsiko pānīyena pucchitabbo. Bhuttāvissa udakaṁ datvā pattaṁ paṭiggahetvā nīcaṁ katvā sādhukaṁ appaṭighaṁsantena dhovitvā vodakaṁ katvā muhuttaṁ uṇhe otāpetabbo, na ca uṇhe patto nidahitabbo. Pattacīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Pattaṁ nikkhipantena …pe… cīvaraṁ nikkhipantena …pe… pārato antaṁ orato bhogaṁ katvā cīvaraṁ nikkhipitabbaṁ. Antevāsikamhi uṭṭhite āsanaṁ uddharitabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ paṭisāmetabbaṁ. Sace so deso uklāpo hoti, so deso sammajjitabbo.
If there’s almsfood and his pupil wants to eat, the teacher should give him water and then the almsfood. He should ask his pupil if he wants water to drink. When the pupil has eaten, the teacher should give him water and receive his bowl. Holding it low, he should wash it carefully without scratching it. He should then dry it and sun it for a short while, but shouldn’t leave it in the heat. The teacher should put away the robe and bowl. When putting away the bowl, he should hold the bowl in one hand, feel under the bed or the bench with the other, and then put it away. He shouldn’t put the bowl away on the bare floor. When putting away the robe, he should hold the robe in one hand, wipe the bamboo robe rack or the clothesline with the other, and then put it away by folding the robe over it, making the ends face the wall and the fold face out. When the pupil has gotten up, the teacher should put away the seat and also the foot stool, the foot scraper, and the water for washing the feet. If the place is dirty, he should sweep it.”
Bathing
Nếu có vật thực khất thực và người đệ tử chung trú muốn dùng, nên dâng nước rồi dâng vật thực khất thực. Nên hỏi người đệ tử chung trú về nước uống. Sau khi (đệ tử) đã dùng xong, nên dâng nước, nên nhận lấy bình bát, nên cầm thấp xuống, nên rửa cẩn thận không cho cọ xát, làm cho ráo nước rồi phơi nắng một lúc, và không nên để bình bát ngoài nắng (quá lâu). Nên cất y bát. Trong khi cất bình bát... trong khi cất y... nên cuộn y từ mép xa vào mép gần rồi cất đi. Khi người đệ tử chung trú đã đứng dậy, nên dọn dẹp chỗ ngồi, nên cất nước rửa chân, ghế rửa chân, và đồ chà chân. Nếu nơi ấy có rác, nên quét dọn nơi ấy.
Sace antevāsiko nahāyitukāmo hoti, nahānaṁ paṭiyādetabbaṁ. Sace sītena attho hoti, sītaṁ paṭiyādetabbaṁ. Sace uṇhena attho hoti, uṇhaṁ paṭiyādetabbaṁ.
“If the pupil wants to bathe, the teacher should prepare a bath. If he wants a cold bath, he should prepare that; if he wants a hot bath, he should prepare that.
Nếu người đệ tử chung trú muốn tắm, nên chuẩn bị nước tắm. Nếu (đệ tử) cần nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh. Nếu (đệ tử) cần nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.
Sace antevāsiko jantāgharaṁ pavisitukāmo hoti, cuṇṇaṁ sannetabbaṁ, mattikā temetabbā, jantāgharapīṭhaṁ ādāya gantvā jantāgharapīṭhaṁ datvā cīvaraṁ paṭiggahetvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ, cuṇṇaṁ dātabbaṁ, mattikā dātabbā. Sace ussahati jantāgharaṁ pavisitabbaṁ. Jantāgharaṁ pavisantena mattikāya mukhaṁ makkhetvā purato ca pacchato ca paṭicchādetvā jantāgharaṁ pavisitabbaṁ. Na there bhikkhū anupakhajja nisīditabbaṁ. Na navā bhikkhū āsanena paṭibāhitabbā. Jantāghare antevāsikassa parikammaṁ kātabbaṁ. Jantāgharā nikkhamantena jantāgharapīṭhaṁ ādāya purato ca pacchato ca paṭicchādetvā jantāgharā nikkhamitabbaṁ.
If the pupil wants to take a sauna, the teacher should knead bath powder, moisten the clay, take a sauna bench, and go to the sauna. After giving his pupil the sauna bench, receiving his robe, and putting it aside, he should give him the bath powder and the clay. If he’s able, he should enter the sauna. When entering the sauna, he should smear his face with clay, cover himself front and back, and then enter. He shouldn’t sit encroaching on the senior monks, or block the junior monks from getting a seat. While in the sauna, he should provide assistance to his pupil. When leaving the sauna, he should take the sauna bench, cover himself front and back, and then leave.
Nếu người đệ tử chung trú muốn vào nhà xông hơi, nên trộn bột tắm, nên làm ẩm đất sét. Nên mang theo ghế nhà xông hơi, đưa ghế, nhận lấy y rồi cất ở một nơi thích hợp, nên đưa bột tắm, nên đưa đất sét. Nếu có thể, nên vào nhà xông hơi. Khi vào nhà xông hơi, nên thoa đất sét lên mặt, che phía trước và phía sau rồi vào nhà xông hơi. Không nên ngồi chen lấn các vị tỳ khưu trưởng lão. Không nên cản chỗ ngồi của các vị tỳ khưu tân học. Ở trong nhà xông hơi, nên phục vụ người đệ tử chung trú. Khi ra khỏi nhà xông hơi, nên mang theo ghế nhà xông hơi, che phía trước và phía sau rồi ra khỏi nhà xông hơi.
Udakepi antevāsikassa parikammaṁ kātabbaṁ. Nahātena paṭhamataraṁ uttaritvā attano gattaṁ vodakaṁ katvā nivāsetvā antevāsikassa gattato udakaṁ pamajjitabbaṁ, nivāsanaṁ dātabbaṁ, saṅghāṭi dātabbā, jantāgharapīṭhaṁ ādāya paṭhamataraṁ āgantvā āsanaṁ paññapetabbaṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipitabbaṁ, antevāsiko pānīyena pucchitabbo.
The teacher should also provide assistance to his pupil in the water. When the teacher has bathed, he should be the first to come out. He should dry himself and put on his sarong. He should then wipe the water off his pupil’s body, and he should give him his sarong and then his upper robe. Taking the sauna bench, he should be the first to return. He should prepare a seat, and also set out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He should ask his pupil if he wants water to drink.”
The dwelling
Ngay cả ở chỗ tắm, cũng nên phục vụ người đệ tử chung trú. Sau khi tắm xong, (vị thầy) nên lên bờ trước, lau khô người, mặc y nội, rồi lau nước trên người của đệ tử chung trú, nên đưa y nội, nên đưa y tăng-già-lê. Nên mang theo ghế nhà xông hơi, trở về trước, sửa soạn chỗ ngồi, đặt sẵn nước rửa chân, ghế rửa chân, và đồ chà chân. Nên hỏi người đệ tử chung trú về nước uống.
Yasmiṁ vihāre antevāsiko viharati, sace so vihāro uklāpo hoti, sace ussahati, sodhetabbo. Vihāraṁ sodhentena paṭhamaṁ pattacīvaraṁ nīharitvā ekamantaṁ nikkhipitabbaṁ
…pe…
ācamanakumbhiyā udakaṁ na hoti, ācamanakumbhiyā udakaṁ āsiñcitabbaṁ.
“If the dwelling where the pupil is staying is dirty, the teacher should clean it if he’s able. When he’s cleaning the dwelling, he should first take out the bowl and robe and put them aside. He should take out the sitting mat and the sheet and put them aside. He should take out the mattress and the pillow and put them aside. Holding the bed low, he should carefully take it out without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it aside. Holding the bench low, he should carefully take it out without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it aside. He should take out the bed supports and put them aside. He should take out the spittoon and put it aside. He should take out the leaning board and put it aside. After taking note of its position, he should take out the floor cover and put it aside. If the dwelling has cobwebs, he should first remove them from the ceiling cloth, and he should then wipe the windows and the corners of the room. If the walls have been treated with red ocher and they’re moldy, he should moisten a cloth, wring it out, and wipe the walls. If the floor has been treated with a black finish and it’s moldy, he should moisten a cloth, wring it out, and wipe the floor. If the floor is untreated, he should sprinkle it with water and then sweep it, trying to avoid stirring up dust. He should look out for any trash and discard it.
He should sun the floor cover, clean it, beat it, bring it back inside, and put it back as before. He should sun the bed supports, wipe them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the bed, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the bench, clean it, and beat it. Holding it low, he should carefully bring it back inside without scratching it or knocking it against the door or the door frame, and he should put it back as before. He should sun the mattress and the pillow, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the sitting mat and the sheet, clean them, beat them, bring them back inside, and put them back as before. He should sun the spittoon, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should sun the leaning board, wipe it, bring it back inside, and put it back where it was. He should put away the bowl and robe. When putting away the bowl, he should hold the bowl in one hand, feel under the bed or the bench with the other, and then put it away. He shouldn’t put the bowl away on the bare floor. When putting away the robe, he should hold the robe in one hand, wipe the bamboo robe rack or the clothesline with the other, and then put it away by folding the robe over it, making the ends face the wall and the fold face out.
If dusty winds are blowing from the east, he should close the windows on the eastern side. If dusty winds are blowing from the west, he should close the windows on the western side. If dusty winds are blowing from the north, he should close the windows on the northern side. If dusty winds are blowing from the south, he should close the windows on the southern side. If the weather is cold, he should open the windows during the day and close them at night. If the weather is hot, he should close the windows during the day and open them at night.
If the yard is dirty, he should sweep it. If the gateway is dirty, he should sweep it. If the assembly hall is dirty, he should sweep it. If the water-boiling shed is dirty, he should sweep it. If the restroom is dirty, he should sweep it. If there’s no water for drinking, he should get some. If there’s no water for washing, he should get some. If there’s no water in the restroom ablutions pot, he should fill it.”
Spiritual support, etc.
Tịnh xá nơi người đệ tử chung trú ở, nếu tịnh xá ấy có rác, nếu có thể, nên dọn dẹp. Trong khi dọn dẹp tịnh xá, trước tiên nên mang y bát ra ngoài và cất ở một nơi thích hợp... nếu trong bình không có nước rửa tay, nên đổ nước vào bình nước rửa tay.
Sace antevāsikassa anabhirati uppannā hoti, ācariyena vūpakāsetabbo, vūpakāsāpetabbo, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace antevāsikassa kukkuccaṁ uppannaṁ hoti, ācariyena vinodetabbaṁ, vinodāpetabbaṁ, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace antevāsikassa diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti, ācariyena vivecetabbaṁ, vivecāpetabbaṁ, dhammakathā vāssa kātabbā. Sace antevāsiko garudhammaṁ ajjhāpanno hoti, parivāsāraho, ācariyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho antevāsikassa parivāsaṁ dadeyyāti. Sace antevāsiko mūlāyapaṭikassanāraho hoti, ācariyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho antevāsikaṁ mūlāya paṭikasseyyāti. Sace antevāsiko mānattāraho hoti, ācariyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho antevāsikassa mānattaṁ dadeyyāti. Sace antevāsiko abbhānāraho hoti, ācariyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho antevāsikaṁ abbheyyāti.
Sace saṅgho antevāsikassa kammaṁ kattukāmo hoti, tajjanīyaṁ vā niyassaṁ vā pabbājanīyaṁ vā paṭisāraṇīyaṁ vā ukkhepanīyaṁ vā, ācariyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho saṅgho antevāsikassa kammaṁ na kareyya, lahukāya vā pariṇāmeyyāti. Kataṁ vā panassa hoti, saṅghena kammaṁ, tajjanīyaṁ vā niyassaṁ vā pabbājanīyaṁ vā paṭisāraṇīyaṁ vā ukkhepanīyaṁ vā, ācariyena ussukkaṁ kātabbaṁ—kinti nu kho antevāsiko sammā vatteyya, lomaṁ pāteyya, netthāraṁ vatteyya, saṅgho taṁ kammaṁ paṭippassambheyyāti.
Sace antevāsikassa cīvaraṁ dhovitabbaṁ hoti, ācariyena ācikkhitabbaṁ—evaṁ dhoveyyāsīti, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho antevāsikassa cīvaraṁ dhoviyethāti. Sace antevāsikassa cīvaraṁ kātabbaṁ hoti, ācariyena ācikkhitabbaṁ—evaṁ kareyyāsīti, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho antevāsikassa cīvaraṁ kariyethāti. Sace antevāsikassa rajanaṁ pacitabbaṁ hoti, ācariyena ācikkhitabbaṁ—evaṁ paceyyāsīti, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho antevāsikassa rajanaṁ paciyethāti. Sace antevāsikassa cīvaraṁ rajitabbaṁ hoti, ācariyena ācikkhitabbaṁ—evaṁ rajeyyāsīti, ussukkaṁ vā kātabbaṁ—kinti nu kho antevāsikassa cīvaraṁ rajiyethāti. Cīvaraṁ rajantena sādhukaṁ samparivattakaṁ samparivattakaṁ rajitabbaṁ. Na ca acchinne theve pakkamitabbaṁ. Sace antevāsiko gilāno hoti, yāvajīvaṁ upaṭṭhātabbo, vuṭṭhānamassa āgametabbaṁ.
Idaṁ kho, bhikkhave, ācariyānaṁ antevāsikesu vattaṁ yathā ācariyehi antevāsikesu sammā vattitabban”ti.
“If the pupil becomes discontent with the spiritual life, the teacher should send him away or have him sent away, or he should give him a teaching. If the pupil becomes anxious, the teacher should dispel it or have it dispelled, or he should give him a teaching. If the pupil has wrong view, the teacher should make him give it up or have someone else do it, or he should give him a teaching. If the pupil has committed a heavy offense and deserves probation, the teacher should try to get the Sangha to give it to him. If the pupil has committed a heavy offense and deserves to be sent back to the beginning, the teacher should try to get the Sangha to do it. If the pupil has committed a heavy offense and deserves the trial period, the teacher should try to get the Sangha to give it to him. If the pupil has committed a heavy offense and deserves rehabilitation, the teacher should try to get the Sangha to give it to him.
If the Sangha wants to do a legal procedure against his pupil—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection—the teacher should make an effort to stop it or to reduce the penalty. But if the Sangha has already done a legal procedure against his pupil—whether a procedure of condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection—the teacher should help the pupil conduct himself properly and suitably so as to deserve to be released, and try to get the Sangha to lift that procedure.
If the pupil’s robe needs washing, the teacher should show him how to do it, or he should make an effort to get it done. If the pupil needs a robe, the teacher should show him how to make one, or he should make an effort to get one made. If the pupil needs dye, the teacher should show him how to make it, or he should make an effort to get it made. If the pupil’s robe needs dyeing, the teacher should show him how to do it, or he should make an effort to get it done. When he’s dyeing the robe, he should carefully and repeatedly turn it over, and shouldn’t go away while it’s still dripping. If his pupil is sick, he should nurse him for as long as he lives or wait until he has recovered.
This is the proper conduct of a teacher toward his pupil.”
Nếu vị đệ tử sống gần (antevāsika) sanh tâm không hoan hỷ, vị thầy (ācariya) nên làm cho nguôi ngoai, hoặc nhờ người khác làm cho nguôi ngoai, hoặc nên thuyết pháp cho vị ấy. Nếu vị đệ tử sống gần sanh tâm hối hận, vị thầy nên làm cho tiêu tan, hoặc nhờ người khác làm cho tiêu tan, hoặc nên thuyết pháp cho vị ấy. Nếu vị đệ tử sống gần có tà kiến sanh khởi, vị thầy nên làm cho từ bỏ, hoặc nhờ người khác làm cho từ bỏ, hoặc nên thuyết pháp cho vị ấy. Nếu vị đệ tử sống gần đã phạm tội nặng (garudhamma), đáng bị biệt trú (parivāsa), vị thầy nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng có thể ban hành hình phạt biệt trú cho vị đệ tử sống gần?’ Nếu vị đệ tử sống gần đáng bị phạt hạ bậc (mūlāyapaṭikassanāraho), vị thầy nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng có thể phạt hạ bậc vị đệ tử sống gần?’ Nếu vị đệ tử sống gần đáng bị thi hành hình phạt sám hối (mānatta), vị thầy nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng có thể ban hành hình phạt sám hối cho vị đệ tử sống gần?’ Nếu vị đệ tử sống gần đáng được giải tội (abbhāna), vị thầy nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng có thể giải tội cho vị đệ tử sống gần?’ Nếu Tăng chúng có ý định thi hành một trong các hình phạt khiển trách (tajjanīya), hạ bậc (niyassa), trục xuất (pabbājanīya), sám hối (paṭisāraṇīya), hay treo giò (ukkhepanīya) đối với vị đệ tử sống gần, vị thầy nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để Tăng chúng không thi hành hình phạt đối với vị đệ tử sống gần, hoặc có thể giảm nhẹ hình phạt?’ Hoặc nếu Tăng chúng đã thi hành một trong các hình phạt khiển trách, hạ bậc, trục xuất, sám hối, hay treo giò đối với vị ấy, vị thầy nên nỗ lực nghĩ rằng: ‘Làm thế nào để vị đệ tử sống gần có thể hành xử đúng đắn, từ bỏ lòng kiêu mạn, thực hành theo sự sửa đổi, và Tăng chúng có thể thu hồi hình phạt ấy?’
Vattakkhandhako aṭṭhamo. Imamhi khandhake vatthū ekūnavīsati, vattā cuddasa.
Tassuddānaṁ
The eighth chapter on proper conduct is finished. In this chapter there are nineteen topics and fourteen kinds of proper conduct.
This is the summary:
Chương Phận Sự, thứ tám.
Saupāhanā chattā ca, oguṇṭhi sīsaṁ pānīyaṁ; Nābhivāde na pucchanti, ahi ujjhanti pesalā.
“With sandals, and sunshades, Covered, head, drinking water; Would not bow down, they did not ask, Snake, the good monks complained.
Mang giày, che dù, trùm đầu, y trên đầu, nước uống; không đảnh lễ, không hỏi thăm, con rắn, các vị khả ái khiển trách.
Omuñci chattaṁ khandhe ca, atarañca paṭikkamaṁ; Pattacīvaraṁ nikkhipā, patirūpañca pucchitā.
Removed, sunshade, and on the shoulder, Without hurry, gather; Put down bowl and robe, And suitable, asked.
Cởi giày, dù, vai, không vội vàng, lui ra; đặt bát y, nơi thích hợp, và đã hỏi.
Āsiñceyya dhovitena, sukkhenallenupāhanā; Vuḍḍho navako puccheyya, ajjhāvuṭṭhañca gocarā.
Should pour, with washed, With dry, with wet, sandals; Senior, junior, should ask, And occupied, where to go for alms.
Nên dội nước, với (khăn) đã giặt, khô và ướt, đôi giày; vị trưởng lão, vị tân tỳ khưu, nên hỏi, nơi đã ở, và nơi khất thực.
Sekkhā vaccā pānī pari, kattaraṁ katikaṁ tato; Kālaṁ muhuttaṁ uklāpo, bhūmattharaṇaṁ nīhare.
Training, excrement, drinking water, washing water, Walking stick, then agreement; The right time, moment, dirty, Should take out the floor cover.
Hữu học, nhà vệ sinh, nước uống, nước dùng, gậy chống, quy ước, sau đó; thời gian, khoảnh khắc, rác rưởi, nên mang tấm trải sàn ra.
Paṭipādo bhisibibbo, mañcapīṭhañca mallakaṁ; Apassenullokakaṇṇā, gerukā kāḷa akatā.
Bed support, mattress, pillow, Bed, and bench, spittoon; Leaning board, ceiling cloth, corners, Red ocher, black, untreated.
Chân giường, nệm, gối, giường và ghế, ống nhổ; vách tựa, trần nhà, góc, đất son, màu đen, chưa làm.
Saṅkārañca bhūmattharaṇaṁ, paṭipādakaṁ mañcapīṭhaṁ; Bhisi nisīdanampi, mallakaṁ apassena ca.
And trash, floor cover, Bed support, bed, bench; Mattress, also sitting mat, Spittoon, and leaning board.
Rác, tấm trải sàn, chân giường, giường và ghế; nệm, và tọa cụ, ống nhổ, và vách tựa.
Pattacīvaraṁ bhūmi ca, pārantaṁ orato bhogaṁ; Puratthimā pacchimā ca, uttarā atha dakkhiṇā.
Bowl, robe, and floor, Ends far, folds near; From the east, and from the west, From the north, then from the south.
Bát y, và đất, mép xa, cuộn từ mép gần; gió đông, và gió tây, gió bắc, rồi gió nam.
Sītuṇhe ca divārattiṁ, pariveṇañca koṭṭhako; Upaṭṭhānaggi sālā ca, vattaṁ vaccakuṭīsu ca.
And day and night in the cold and heat, And yard, gatehouse; Assembly, and water-boiling shed, And conduct in the restrooms.
Lạnh và nóng, ngày và đêm, khuôn viên, và cổng vòm; nhà hội, nhà lửa, và phận sự trong các nhà vệ sinh.
Pānī paribhojaniyā, kumbhi ācamanesu ca; Anopamena paññattaṁ, vattaṁ āgantukehime.
Drinking water, washing water, And pot for ablutions; Laid down by the Incomparable one, These make up the conduct for newly-arrived monks.
Nước uống, nước dùng, và trong các bình nước rửa tay; phận sự đối với các vị khách Tăng này đã được bậc Vô Song chế định.
Nevāsanaṁ na udakaṁ, na paccu na ca pāniyaṁ; Nābhivāde na paññape, ujjhāyanti ca pesalā.
No seat, no water, No going to meet, and no drinking water; Would not bow down, would not assign, And the good monks complained.
Không chỗ ngồi, không nước, không ra đón, và không nước uống; không đảnh lễ, không sắp đặt, và các vị khả ái khiển trách.
Vuḍḍhāsanañca udakaṁ, paccuggantvā ca pāniyaṁ; Upāhane ekamantaṁ, abhivāde ca paññape.
Senior, and seat, water, And having gone to meet, drinking water; Sandals, aside, And should bow down, should assign.
Chỗ ngồi cho trưởng lão, và nước, ra đón, và nước uống; đôi giày, một nơi riêng, đảnh lễ, và sắp đặt.
Vutthaṁ gocarasekkho ca, ṭhānaṁ pāniyabhojanaṁ; Kattaraṁ katikaṁ kālaṁ, navakassa nisinnake.
Occupied, and where to go for alms, training, Place, drinking water, washing water; Walking stick, agreement, right time, Remain seated for one who is junior.
Đã ở, nơi khất thực, và hữu học, nơi (vệ sinh), nước uống, nước dùng; gậy chống, quy ước, thời gian, khi vị tân tỳ khưu đang ngồi.
Abhivādaye ācikkhe, yathā heṭṭhā tathā naye; Niddiṭṭhaṁ satthavāhena, vattaṁ āvāsikehime.
Should bow down, should point out, The same method as above; Declared by the Caravan Leader, These make up the conduct for resident monks.
Nên đảnh lễ, nên chỉ bảo, như bên dưới, nên thực hành như vậy; phận sự đối với các vị trú ngụ này đã được bậc Đạo Sư chỉ dạy.
Gamikā dārumatti ca, vivaritvā na pucchiya; Nassanti ca aguttañca, ujjhāyanti ca pesalā.
Departing, and wood and ceramic, Leaving open, no informing; And they were lost, and unprotected, And the good monks complained,
Các vị đi xa, đồ gỗ và đồ đất, mở ra, không hỏi; chúng bị hư hoại, và không được bảo quản, và các vị khả ái khiển trách.
Paṭisāmetvā thaketvā, āpucchitvāva pakkame; Bhikkhu vā sāmaṇero vā, ārāmiko upāsako.
Having put in order, having closed, Having informed, he should depart; A monk or a novice, A monastery worker, a lay follower.
Sau khi cất dọn, sau khi đóng lại, chỉ sau khi hỏi ý kiến mới nên rời đi; dù là tỳ khưu, sa di, người giữ vườn, hay cận sự nam.
Pāsāṇakesu ca puñjaṁ, paṭisāme thakeyya ca; Sace ussahati ussukkaṁ, anovasse tatheva ca.
And a pile on rocks, He should put away, and he should close; If he is able, effort, And just so in a dry spot.
Và trong các đống đá, nên cất dọn, và nên che đậy; nếu có thể, hãy nỗ lực, ở nơi không bị mưa ướt, cũng như vậy.
Sabbo ovassati gāmaṁ, ajjhokāse tatheva ca; Appevaṅgāni seseyyuṁ, vattaṁ gamikabhikkhunā.
The whole gets wet, village, And just so in the open; Hopefully the requisites will be okay, The proper conduct for a departing monk.
Tất cả đều bị mưa ướt, (mang) vào làng, ở ngoài trời, cũng như vậy; mong sao các bộ phận còn lại, phận sự của tỳ khưu đi xa.
Nānumodanti therena, ohāya catupañcahi; Vaccito mucchito āsi, vattānumodanesume.
They did not express their appreciation, by the most senior, Left behind, by four or five; Needing to defecate, he fainted, These make up the conduct for the expression of appreciation.
Không tùy hỷ, bởi vị trưởng lão, bỏ lại, bởi bốn năm vị; bị tiêu chảy, đã ngất xỉu, phận sự trong việc tùy hỷ này.
Chabbaggiyā dunnivatthā, athopi ca duppārutā; Anākappā ca vokkamma, there anupakhajjane.
The group of six were shabbily dressed, And then also badly dressed; And improper appearance, short cut, In encroaching on the senior monks.
Nhóm sáu vị, mặc y không ngay ngắn, và cũng đắp y không ngay ngắn; không có oai nghi, và đi tránh, chen lấn các vị trưởng lão.
Nave bhikkhū ca saṅghāṭi, ujjhāyanti ca pesalā; Timaṇḍalaṁ nivāsetvā, kāyasaguṇagaṇṭhikā.
And the junior monks, upper robe, And the good monks complained; Putting on the sarong while covering the navel and knees, Belt, putting together, toggle.
Các tỳ khưu trẻ và y tăng-già-lê, và các vị khả ái đã khiển trách; (không) mặc y che ba vòng, dây lưng, y gấp và nút thắt dây lưng.
Na vokkamma paṭicchannaṁ, susaṁvutokkhittacakkhu; Ukkhittojjagghikāsaddo, tayo ceva pacālanā.
No short cut, covered, Well-restrained, lowered eyes; Lifted, laugh loudly, noisy, And three on swaying.
Không tránh né, che đậy, khéo thu thúc, mắt nhìn xuống; vén y, cười lớn, tiếng động nhỏ, và ba sự rung lắc.
Khambhoguṇṭhiukkuṭikā, paṭicchannaṁ susaṁvuto; Okkhittukkhittaujjagghi, appasaddo tayo calā.
Hands on hips, covering the head, squatting on the heels, Covered, well-restrained; Lowered, lifted, laugh loudly, Little noise, three on swaying.
Chống nạnh, trùm đầu, ngồi xổm; che đậy, khéo thu thúc; mắt nhìn xuống, (không) vén y, (không) cười lớn, ít tiếng động, ba sự lay động.
Khambhoguṇṭhipallatthi ca, anupakhajja nāsane; Ottharitvāna udake, nīcaṁ katvāna siñciyā.
And hands on hips, covering the head, clasping the knees, Encroaching, no seat; Spread out, water, Holding low, poured.
Chống nạnh, trùm đầu, và ngồi bó gối; không lấn chiếm chỗ ngồi; sau khi lên khỏi nước, nên cúi thấp mà dội.
Paṭi sāmantā saṅghāṭi, odane ca paṭiggahe; Sūpaṁ uttaribhaṅgena, sabbesaṁ samatitthi ca.
Receiving, nearby, upper robe, And rice, he should receive; Curry, with special curry, For everyone, and even level.
Ở gần, y tăng-già-lê, và khi nhận cơm; món canh với món ăn thêm, cho tất cả, nên nhận bằng vành bát.
Sakkaccaṁ pattasaññī ca, sapadānañca sūpakaṁ; Na thūpato paṭicchāde, viññattujjhānasaññinā.
Respectfully, and attention on the bowl, And in order, bean curry; Not from a heap, should cover, Asking, finding fault.
Cung kính, chú tâm đến bát, nhận theo thứ tự và món canh; không vun cơm lên thành đống, nên che đậy (món ăn); (không) xin với tâm muốn chê bai.
Mahantamaṇḍaladvāraṁ, sabbahattho na byāhare; Ukkhepo chedanāgaṇḍa, dhunaṁ sitthāvakārakaṁ.
Large, rounded, mouth, The whole hand, he should not speak; Lifted, breaking up, cheeks, Shaking, scattering rice.
Miếng cơm lớn, miếng cơm tròn, cửa miệng (khi ăn), cả bàn tay (cho vào miệng), không nói chuyện; tung, cắt, ngậm (phồng má), giũ, làm rơi vãi cơm.
Jivhānicchārakañceva, capucapu surusuru; Hatthapattoṭṭhanillehaṁ, sāmisena paṭiggahe.
And sticking out his tongue, Chomping, slurping; Licking the hand, the bowl, the lips, Soiled with food, should receive.
Và thè lưỡi, ăn chép miệng, ăn sột soạt; liếm tay, liếm bát, liếm môi, và nhận (nước) với tay dính thức ăn.
Yāva na sabbe udake, nīcaṁ katvāna siñciyaṁ; Paṭi sāmantā saṅghāṭi, nīcaṁ katvā chamāya ca.
Not until everyone, water, Holding low, poured; Receiving, nearby, upper robe, Holding low, and on the ground.
Chừng nào tất cả chưa (ăn) xong, nên cúi thấp mà dội nước; ở gần, y tăng-già-lê, và nên đặt thấp trên đất.
Sasitthakaṁ nivattante, suppaṭicchannamukkuṭi; Dhammarājena paññattaṁ, idaṁ bhattaggavattanaṁ.
Dunnivatthā anākappā, asallakkhetvā ca sahasā; Dūre acca ciraṁ lahuṁ,
Containing rice, returning, Well-covered, squatting on the heels; Laid down by the King of the Teaching, This is the proper conduct in regard to dining halls.
Shabbily dressed, improper in appearance, And non-attentive, hasty; Far, too near, long, soon,
(Nước rửa bát) còn dính cơm khi trở về, che đậy kỹ, ngồi xổm; bởi Pháp Vương, phận sự tại nhà ăn này đã được chế định.
Mặc y không ngay ngắn, không đúng oai nghi, không quan sát, và vội vàng; (đứng) quá xa, quá gần, quá lâu, quá nhanh; cũng như vậy đối với người đi khất thực.
Paṭicchannova gaccheyya, susaṁvutokkhittacakkhu; Ukkhittojjagghikāsaddo, tayo ceva pacālanā.
He should go covered, Well-restrained, lowered eyes; Lifted, laugh loudly, without noise, And three on swaying.
Nên đi trong khi che đậy, khéo thu thúc, mắt nhìn xuống; vén y, cười lớn, tiếng động nhỏ, và ba sự rung lắc.
Khambhoguṇṭhiukkuṭikā, sallakkhetvā ca sahasā; Dūre acca ciraṁ lahuṁ, āsanakaṁ kaṭacchukā.
Hands on hips, covering the head, squatting on the heels, And attentive, hastily; Far, too near, long, soon, Seat, serving spoon.
Chống nạnh, trùm đầu, ngồi xổm; và sau khi quan sát, (không) vội vàng; (không đứng) quá xa, quá gần, quá lâu, quá nhanh; chỗ ngồi, cái muỗng.
Bhājanaṁ vā ṭhapeti ca, uccāretvā paṇāmetvā; Paṭiggahe na ulloke, sūpesupi tatheva taṁ.
Or a vessel, and make wait, Having lifted up, having stretched out; He should receive, he should not look, And just so for curry.
Hoặc đặt vật đựng, và sau khi dời đi và dâng lên; khi nhận, không nên nhìn lên; đối với các món canh cũng như vậy.
Bhikkhu saṅghāṭiyā chāde, paṭicchanneva gacchiyaṁ; Saṁvutokkhittacakkhu ca, ukkhittojjagghikāya ca; Appasaddo tayo cālā, khambhoguṇṭhikaukkuṭi.
The monk should cover with the upper robe, He should go covered; And well-restrained, lowered eyes, And lifted, laugh loudly; Not noisy, three swaying, Hands on hips, covering the head, squatting on the heels.
Tỳ khưu nên che mình bằng y tăng-già-lê, nên đi trong khi che đậy; thu thúc, mắt nhìn xuống, và vén y và cười lớn; ít tiếng động, ba sự lay động, chống nạnh, trùm đầu, ngồi xổm.
Paṭhamāsanavakkāra, pāniyaṁ paribhojanī; Pacchākaṅkhati bhuñjeyya, opilāpeyya uddhare.
First, seat, leftovers, Drinking water, washing water; The last may eat if he desires, Should discard, should put away.
Trước tiên là chỗ ngồi, đồ đựng vật thừa, nước uống, nước dùng; sau đó nếu muốn, có thể ăn, nên đổ đi, nên dọn dẹp.
Paṭisāmeyya sammajje, rittaṁ tucchaṁ upaṭṭhape; Hatthavikāre bhindeyya, vattidaṁ piṇḍacārike.
Should put away, should sweep, Empty, hollow, he should fill; Hand signal, he should not break into speech, This is the conduct for the alms collector.
Nên cất dọn, nên quét dọn, nên đặt (vật đựng) trống không; nên chấm dứt cử chỉ bằng tay, đây là phận sự của người đi khất thực.
Pānī pari aggiraṇi, nakkhattadisacorā ca; Sabbaṁ natthīti koṭṭetvā, pattaṁse cīvaraṁ tato.
Drinking water, washing water, fire, fire-making implements, Constellations, regions, and criminals; “None of it is,” having beaten up, Bowl, on the shoulder, so robe.
Nước uống, nước dùng, lửa, que đánh lửa, các vì sao, phương hướng, và kẻ trộm; sau khi bị đánh và nói "không có gì cả", rồi bát trên vai, y phục.
Idāni aṁse laggetvā, timaṇḍalaṁ parimaṇḍalaṁ; Yathā piṇḍacārivattaṁ, naye āraññakesupi.
Now, hanging on the shoulder, Covering navel and knees, evenly all around; As the conduct for the alms collector, So the method for those staying in the wilderness.
Bây giờ, sau khi mang trên vai, (mặc y) che ba vòng cho tròn trịa; như là phận sự của người đi khất thực, cũng nên áp dụng cho các vị ở rừng.
Pattaṁse cīvaraṁ sīse, ārohitvā ca pāniyaṁ; Paribhojaniyaṁ aggi, araṇī cāpi kattaraṁ.
Bowl, on the shoulder, robe, on the head, And having put on, drinking water; Washing water, fire, And also fire-making implements, walking stick.
Bát trên vai, y trên đầu, và sau khi mang lên; nước uống, nước dùng, lửa, và cả que đánh lửa, gậy chống.
Nakkhattaṁ sappadesaṁ vā, disāpi kusalo bhave; Sattuttamena paññattaṁ, vattaṁ āraññakesume.
Constellations, or a portion, Should be skilled also in the regions; Laid down by the Supreme Teacher, These make up the conduct for those staying in the wilderness.
Nên thiện xảo về các vì sao, một phần hay toàn bộ, và cả các phương hướng; bởi bậc Tối Thắng giữa chúng sanh, phận sự này cho các vị ở rừng đã được chế định.
Ajjhokāse okiriṁsu, ujjhāyanti ca pesalā; Sace vihāro uklāpo, paṭhamaṁ pattacīvaraṁ.
Outside, they were covered, And the good monks complained; If the dwelling is dirty, First the bowl and robe.
Họ đã vứt rác ở ngoài trời, và các vị khả ái đã khiển trách; nếu trú xá có rác, trước tiên (nên dời) y bát.
Bhisibibbohanaṁ mañcaṁ, pīṭhañca kheḷamallakaṁ; Apassenullokakaṇṇā, gerukā kāḷa akatā.
Mattress, pillow, bed, Bench, spittoon; Leaning board, ceiling cloth, corners, Red ocher, black, untreated.
Nệm, gối, giường, ghế, và ống nhổ; tấm dựa, cửa sổ, mạng nhện, đất son, đất đen, (nền đất) chưa được xử lý.
Saṅkāraṁ bhikkhusāmantā, senāvihārapāniyaṁ; Paribhojanasāmantā, paṭivāte ca aṅgaṇe.
Trash, near monks, Furniture, dwelling, drinking water; Near washing water, And in an open area upwind.
Rác rưởi ở gần tỳ khưu, chỗ ở, trú xá, nước uống; gần nước dùng, nên (đổ) ở đầu hướng gió và trong sân.
Adhovāte attharaṇaṁ, paṭipādakamañco ca; Pīṭhaṁ bhisi nisīdanaṁ, mallakaṁ apassena ca.
Downwind, cover, And supports, bed; Bench, mattress, sitting mat, Spittoon, and leaning board.
Ở cuối hướng gió, (phơi) tấm trải sàn, đồ kê chân giường và giường; ghế, nệm, tọa cụ, ống nhổ, và tấm dựa.
Pattacīvaraṁ bhūmi ca, pārantaṁ orato bhogaṁ; Puratthimā ca pacchimā, uttarā atha dakkhiṇā.
Bowl, robe, and floor, Ends far, folds near; East, and west, North, then south.
Y bát và nền đất, mép xa, mép gần, cuộn lại; từ phía đông và phía tây, phía bắc rồi phía nam.
Sītuṇhe ca divā rattiṁ, pariveṇañca koṭṭhako; Upaṭṭhānaggisālā ca, vaccakuṭī ca pāniyaṁ.
And day and night in the cold and heat, And yard, gatehouse; Assembly, and water-boiling shed, And restroom, drinking water.
Trong lúc lạnh và nóng, ban ngày và ban đêm; khuôn viên, cổng ra vào; nhà hội, nhà lửa, nhà vệ sinh, và (chỗ) nước uống.
Ācamanakumbhi vuḍḍhe ca, uddesapucchanā sajjhā; Dhammo padīpaṁ vijjhāpe, na vivare napi thake.
Restroom ablutions pot, and a senior monk, Recitation, question, rehearse; Teaching, should turn off a lamp, Should not open, and also not close.
Bình nước rửa, và đối với các trưởng lão; học thuộc lòng, hỏi nghĩa, tụng đọc; Pháp thoại, nên dập tắt đèn, không nên mở cũng không nên đóng (cửa).
Yena vuḍḍho parivatti, kaṇṇenapi na ghaṭṭaye; Paññapesi mahāvīro, vattaṁ senāsanesu taṁ.
Turning around according to seniority, Should not touch even with a corner; Laid down by the Great Hero, That is the proper conduct in regard to dwellings.
Nên xoay về hướng có vị trưởng lão, không nên chạm phải dù chỉ bằng vạt y; bậc Đại Hùng đã chế định phận sự ấy trong các trú xứ.
Nivāriyamānā dvāraṁ, mucchitujjhanti pesalā; Chārikaṁ chaḍḍaye jantā, paribhaṇḍaṁ tatheva ca.
Were being kept out, door, Fainted, the good monks complained; He should discard the ashes, sauna, And just so the area outside.
Bị ngăn cản ở cửa, họ đã ngất xỉu và các vị khả ái đã khiển trách; nên vứt bỏ tro từ nhà tắm hơi, và vữa trát cũng như vậy.
Pariveṇaṁ koṭṭhako sālā, cuṇṇamattikadoṇikā; Mukhaṁ purato na there, na nave ussahati sace.
Yard, gatehouse, sauna shed, Bath powder, clay, trough; Face, in front, not the senior monks, Not the junior monks, if he is able.
Khuôn viên, cổng chào, nhà nghỉ, bột thơm, đất sét, máng nước; mặt, phía trước, không (chen lấn) các trưởng lão, không ngăn cản các vị tân tỳ khưu, nếu có khả năng.
Purato uparimaggo, cikkhallaṁ matti pīṭhakaṁ; Vijjhāpetvā thaketvā ca, vattaṁ jantāgharesume.
In front, upstream, way, Muddy, clay, bench; Having extinguished, and having closed, These make up the conduct in regard to saunas.
Phía trước, con đường phía trên nguồn, vũng bùn, đất sét, ghế thấp; sau khi dập tắt (lửa) và sau khi đóng lại, đây là những phận sự trong nhà xông hơi.
Nācameti yathāvuḍḍhaṁ, paṭipāṭi ca sahasā; Ubbhaji nitthuno kaṭṭhaṁ, vaccaṁ passāva kheḷakaṁ.
He did not wash, according to seniority, And order, hastily; Pulled up, groaning, tooth cleaner, Feces, urine, spit.
Không dùng nước rửa, theo thứ tự hạ lạp, theo thứ tự và vội vàng; vén (y), rên rỉ, que cời, nơi đại tiện, nơi tiểu tiện, nước bọt.
Pharusā kūpa sahasā, ubbhaji capu sesena; Bahi anto ca ukkāse, rajju ataramānañca.
Coarse, cesspit, hastily, And pulled up, chomping, with remainder; Outside, and inside, should clear his throat, Clothesline, and without hurry.
Que cời thô, hố (phân), vội vàng, vén (y), tiếng chép chép, để lại (nước rửa); cả bên ngoài và bên trong nên hắng giọng, dây (phơi y) và không vội vàng.
Sahasā ubbhaji ṭhite, nitthune kaṭṭha vaccañca; Passāva kheḷa pharusā, kūpañca vaccapāduke.
Hastily, pulled up, when standing, Groaning, tooth cleaner, and feces; Urine, spit, coarse, Cesspit, foot stands for defecating.
Vội vàng đứng vén (y), rên rỉ, que cời và nơi đại tiện; nơi tiểu tiện, nước bọt, que cời thô, và hố (phân), trên tấm ván để chân trong nhà vệ sinh.
Nātisahasā ubbhaji, pādukāya capucapu; Na sesaye paṭicchāde, uhatapidharena ca.
Not too hastily, pulled up, Foot stands, chomping; He should not leave, he should cover, Stained, and with container.
Không quá vội vàng vén (y), trên tấm ván để chân (gây ra) tiếng chép chép; không nên để lại (nước rửa), nên che đậy, (phân) dính vấy bẩn và đồ đựng que cời.
Vaccakuṭī paribhaṇḍaṁ, pariveṇañca koṭṭhako; Ācamane ca udakaṁ, vattaṁ vaccakuṭīsume.
Restroom, area outside, And yard, gatehouse; And water for ablutions, These make up the conduct in regard to restrooms.
Nhà vệ sinh, đồ dùng, khuôn viên và cổng chào; và nước ở nơi rửa ráy, đây là những phận sự trong các nhà vệ sinh.
Upāhanā dantakaṭṭhaṁ, mukhodakañca āsanaṁ; Yāgu udakaṁ dhovitvā, uddhāruklāpa gāma ca.
Sandals, tooth cleaner, And water for rinsing the mouth, seat; Congee, water, having washed, Put away, dirty, and village.
Giày dép, tăm xỉa răng, nước rửa mặt và chỗ ngồi; cháo, nước, sau khi rửa, dọn dẹp, rác, và làng.
Nivāsanā kāyabandhā, saguṇaṁ pattasodakaṁ; Pacchā timaṇḍalo ceva, parimaṇḍala bandhanaṁ.
Sarong, belt, Putting together, wet bowl; Attendant, and the navel and the knees, Evenly all around, belt.
Y nội, dây thắt lưng, (y) hai lớp, bát có nước; phía sau, và ba vòng, tròn đều, dây thắt lưng.
Saguṇaṁ dhovitvā pacchā, nātidūre paṭiggahe; Bhaṇamānassa āpatti, paṭhamāgantvāna āsanaṁ.
Putting together, rinsed, attendant, Not too far, he should receive; When speaking, offense, Go first, seat.
(Y) hai lớp, sau khi giặt, sau đó, nên nhận lấy ở nơi không quá xa; lời nói gần với tội của người đang nói, sau khi đi trước, chỗ ngồi.
Udakaṁ pīṭhakathali, paccuggantvā nivāsanaṁ; Otāpe nidahi bhaṅgo, obhoge bhuñjitu name.
Water, stool, scraper, Having gone to meet, sarong; He should sun, he left it, fold, In the fold, to eat, should give.
Nước, ghế thấp, mảnh sành chà chân, đi ra đón, y nội; phơi nắng, đặt xuống, nếp gấp, bên trong cuộn (y), để ăn, nên dâng.
Pānīyaṁ udakaṁ nīcaṁ, muhuttaṁ na ca nidahe; Pattacīvaraṁ bhūmi ca, pārantaṁ orato bhogaṁ.
Drinking water, water, low, A short while, and he should not leave it; Bowl and robe, and floor, Ends far, folds near.
Nước uống, nước (dùng), thấp, một chốc lát, và không nên đặt (lâu); y bát, và đất, mép bên kia, cuộn bên này.
Uddhare paṭisāme ca, uklāpo ca nahāyituṁ; Sītaṁ uṇhaṁ jantāgharaṁ, cuṇṇaṁ mattika piṭṭhito.
He should put away, and he should put away, And dirty, to bathe; Cold, hot, sauna, Bath powder, clay, behind.
Nên dọn dẹp và nên cất giữ, và rác, để tắm; nước lạnh, nước nóng, nhà xông hơi, bột thơm, đất sét, từ phía sau.
Pīṭhañca cīvaraṁ cuṇṇaṁ, mattikussahati mukhaṁ; Purato there nave ca, parikammañca nikkhame.
And bench, robe, bath powder, Clay, he is able, face; Front, the seniors, and the juniors, And provide assistance, he should leave.
Và ghế thấp, y, bột thơm, đất sét, nếu có thể, mặt; phía trước, trưởng lão, và tân tỳ khưu, và việc xoa bóp, nên đi ra.
Purato udake nhāte, nivāsetvā upajjhāyaṁ; Nivāsanañca saṅghāṭi, pīṭhakaṁ āsanena ca.
Front, in the water, when he has bathed, Having put on the sarong, preceptor; And the sarong, upper robe, Bench, and with a seat.
Phía trước, trong nước, sau khi tắm, sau khi mặc y nội, thầy tế độ; và y nội, y hai lớp, ghế thấp, và bằng chỗ ngồi.
Pādo pīṭhaṁ kathaliñca, pānīyuddesapucchanā; Uklāpaṁ susodheyya, paṭhamaṁ pattacīvaraṁ.
Foot, stool, and scraper, Drinking water, reciting, questioning; Dirty, he should clean it well, First the bowl and robe.
Nước rửa chân, ghế thấp, và mảnh sành chà chân, nước uống, việc học thuộc lòng Pāli, việc hỏi (ý nghĩa); nên dọn dẹp rác sạch sẽ, trước tiên là y bát.
Nisīdanapaccattharaṇaṁ, bhisi bibbohanāni ca; Mañco pīṭhaṁ paṭipādaṁ, mallakaṁ apassena ca.
Sitting mat and sheet, Mattress, and pillow; Bed, bench, support, Spittoon, and leaning board.
Tấm lót ngồi và tấm trải giường, nệm và những cái gối; giường, ghế thấp, đồ kê chân giường, ống nhổ, và tấm dựa.
Bhūma santāna āloka, gerukā kāḷa akatā; Bhūmattharapaṭipādā, mañco pīṭhaṁ bibbohanaṁ.
Floor, cobweb, window, Red ocher, black, untreated; Floor cover, supports, Bed, bench, pillow.
Sàn nhà, mạng nhện, cửa sổ, đất son, đất đen, sàn chưa trát; tấm trải sàn, đồ kê chân giường, giường, ghế thấp, gối.
Nisīdattharaṇaṁ kheḷa, apasse pattacīvaraṁ; Puratthimā pacchimā ca, uttarā atha dakkhiṇā.
Sitting mat, sheet, spittoon, Leaning board, bowl and robe; From the east, and from the west, From the north, then from the south.
Tấm lót ngồi, ống nhổ, tấm dựa, y bát; (gió) từ hướng đông, và từ hướng tây, từ hướng bắc, rồi từ hướng nam.
Sītuṇhañca divā rattiṁ, pariveṇañca koṭṭhako; Upaṭṭhānaggisālā ca, vaccapāniyabhojanī.
And day and night in the cold and heat, And yard, gatehouse; Assembly, and water-boiling shed, Restroom, water for drinking, water for washing.
Và lạnh và nóng, ban ngày, ban đêm, và khuôn viên, cổng chào; và nhà hội, nhà bếp, nhà vệ sinh, nước uống, nước dùng.
Ācamaṁ anabhirati, kukkuccaṁ diṭṭhi ca garu; Mūlamānattaabbhānaṁ, tajjanīyaṁ niyassakaṁ.
Ablutions, discontent, Anxious, and view, heavy; Beginning, trial period, rehabilitation, Condemnation, demotion.
Nước rửa, không hoan hỷ, hối tiếc, và tà kiến, tội nặng; (biệt trú) về lại từ đầu, hành phạt mānatta, phục vị, khiển trách, y chỉ.
Pabbāja paṭisāraṇī, ukkhepañca kataṁ yadi; Dhove kātabbaṁ rajañca, raje samparivattakaṁ.
Banishment, reconciliation, And ejection, or done; He should wash, should make, and dye, He should dye, turning over.
Trục xuất, sám hối cư sĩ, và đình chỉ, nếu đã được thực hiện; nên giặt, nên làm, và thuốc nhuộm, nên nhuộm, lật qua lật lại.
Pattañca cīvarañcāpi, parikkhārañca chedanaṁ; Parikammaṁ veyyāvaccaṁ, pacchā piṇḍaṁ pavisanaṁ.
And bowl, and also robe, And requisite, cutting; Provide assistance, service, Attendant, alms, entering.
Và bát, và cả y, và vật dụng, cạo tóc; xoa bóp, công việc phục vụ, đi theo sau, vật thực khất thực, đi vào.
Na susānaṁ disā ceva, yāvajīvaṁ upaṭṭhahe; Saddhivihārikenetaṁ, vattupajjhāyakesume.
Charnel ground, and regions, He should nurse for as long as he lives; This is for a student, These make up the conduct for a preceptor.
Không (đi đến) nghĩa địa, và (không đi đến) phương khác, nên phục vụ trọn đời; đây là phận sự của đệ tử cùng ở đối với các thầy tế độ.
Ovādasāsanuddesā, pucchā pattañca cīvaraṁ; Parikkhāro gilāno ca, na pacchāsamaṇo bhave.
Instruction, teaching, recitation, Questioning, and bowl, robe; Requisite, and sick, He should not be the attendant.
Lời giáo huấn, lời chỉ dạy, việc dạy Pāli, việc hỏi (ý nghĩa), và bát, y; vật dụng, và (khi) bệnh, không nên có sa di đi theo sau.
Upajjhāyesu ye vattā, evaṁ ācariyesupi; Saddhivihārike vattā, tatheva antevāsike.
This conduct toward preceptors, Thus too toward teachers; The conduct toward a student, Just so toward a pupil.
Những phận sự nào đối với các thầy tế độ, cũng như vậy đối với các vị thầy (giáo thọ); những phận sự (của thầy) đối với đệ tử cùng ở, cũng như vậy đối với đệ tử thân cận.
Āgantukesu ye vattā, puna āvāsikesu ca; Gamikānumodanikā, bhattagge piṇḍacārike.
The conduct concerning those newly arrived, And again concerning the residents; Those departing, and those expressing appreciation, About the dining hall, about the alms collector.
Những phận sự nào đối với các tỳ khưu khách, lại nữa, những phận sự ấy (cũng áp dụng) đối với các tỳ khưu trú tại trú xứ; (phận sự) của người đi, (phận sự) tùy hỷ, (phận sự) trong nhà ăn, (phận sự) của người đi khất thực.
Āraññakesu yaṁ vattaṁ, yañca senāsanesupi; Jantāghare vaccakuṭī, upajjhā saddhivihārike.
The conduct for those staying in the wilderness, And also concerning dwellings; About the sauna, restroom, Preceptors, toward a student.
Phận sự nào trong các trú xứ trong rừng, và phận sự nào trong các trú xứ; (phận sự) trong nhà xông hơi, trong nhà vệ sinh, (đối với) thầy tế độ, (đối với) đệ tử cùng ở.
Ācariyesu yaṁ vattaṁ, tatheva antevāsike; Ekūnavīsati vatthū, vattā cuddasa khandhake.
The conduct toward teachers, Just so toward a pupil; Nineteen topics, Fourteen on proper conduct in this chapter.
Phận sự nào đối với các vị thầy (giáo thọ), cũng như vậy đối với đệ tử thân cận; có mười chín câu chuyện, mười bốn phận sự trong chương này.
Vattaṁ aparipūrento, na sīlaṁ paripūrati; Asuddhasīlo duppañño, cittekaggaṁ na vindati.
If you do not fulfill the proper conduct, Then you do not fulfill your virtue; Impure in virtue, weak in wisdom, You do not know the unity of mind.
Người không chu toàn phận sự, không thể làm cho giới được viên mãn; người có giới không trong sạch, có trí tuệ yếu kém, không đạt được sự nhất tâm.
Vikkhittacittonekaggo, sammā dhammaṁ na passati; Apassamāno saddhammaṁ, dukkhā na parimuccati.
A mind distracted, not unified, Does not see the teaching rightly; Not seeing the true teaching, You are not released from suffering.
Tâm tán loạn, nhiều đối tượng, không thấy chánh pháp; không thấy được diệu pháp, không giải thoát khỏi khổ đau.
Yaṁ vattaṁ paripūrento, sīlampi paripūrati; Visuddhasīlo sappañño, cittekaggampi vindati.
But if you do fulfill the proper conduct, Then you also fulfill your virtue; Pure in virtue, possessed of wisdom, You also know the unity of mind.
Khi làm tròn bổn phận, giới cũng được viên mãn; người giới thanh tịnh, có trí tuệ, cũng đạt được nhất tâm.
Avikkhittacitto ekaggo, sammā dhammaṁ vipassati; Sampassamāno saddhammaṁ, dukkhā so parimuccati.
A non-distracted mind, unified, Sees the teaching rightly; Seeing the true teaching, You are released from suffering.
Tâm không tán loạn, một đối tượng, thấy rõ chánh pháp; thấy rõ được diệu pháp, vị ấy giải thoát khỏi khổ đau.
Tasmā hi vattaṁ pūreyya, jinaputto vicakkhaṇo; Ovādaṁ buddhaseṭṭhassa, tato nibbānamehitīti.
So, fulfill the proper conduct, You the Son of the Victor, possessed of insight; The instruction of the Buddha, the best—Go from that to extinguishment, in this way.”
Do vậy, người con của Đấng Chiến Thắng có trí tuệ nên làm tròn bổn phận, (đó là) lời giáo huấn của Đức Phật Tối Thắng, do đó sẽ đạt đến Niết-bàn.
Vattakkhandhako niṭṭhito.
The chapter on proper conduct is finished.
Chương Bổn Phận đã kết thúc.