- Theravāda Vinayapiṭaka
- Cūḷavagga
Bản dịch
Kd 17 — Chương chia rẽ hội chúng
17. Saṅghabhedakakkhandhaka
TỤNG PHẨM THỨ NHẤT:
SỰ XUẤT GIA CỦA SÁU VỊ DÒNG SAKYA:
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngụ tại Anupiyā. Anupiyā là tên của một thị trấn của xứ Malla. Vào lúc bấy giờ, nhiều vương tử rất danh tiếng thuộc dòng dõi Sakya xuất gia noi theo gương đức Thế Tôn (là người) đã xuất gia. Vào lúc bấy giờ, Mahānāma dòng Sakya và Anuruddha dòng Sakya là hai anh em. Anuruddha dòng Sakya là người mảnh mai. Vị ấy có ba tòa lâu đài: một dành cho mùa lạnh, một dành cho mùa nóng, một dành cho mùa mưa. Vào bốn tháng mùa mưa ở trong tòa lâu đài dành cho mùa mưa, trong lúc được phục vụ bởi các nữ công tấu nhạc, chàng không bước xuống phía dưới của tòa lâu đài.
Khi ấy, Manānāma dòng Sakya đã khởi ý điều này: “Hiện nay nhiều vương tử rất danh tiếng thuộc dòng dõi Sakya đã xuất gia noi theo gương đức Thế Tôn (là người) đã xuất gia. Còn gia tộc của chúng ta thì không có người nào rời nhà xuất gia sống không nhà cả. Có lẽ hoặc là ta hoặc là Anuruddha nên xuất gia?” Sau đó, Mahānāma dòng Sakya đã đi đến gặp Anuruddha dòng Sakya, sau khi đến đã nói với Anuruddha dòng Sakya điều này:—“Này Anuruddha yêu dấu, hiện nay nhiều vương tử rất danh tiếng thuộc dòng dõi Sakya đã xuất gia noi theo gương đức Thế Tôn (là người) đã xuất gia. Còn gia tộc của chúng ta thì không có người nào rời nhà xuất gia sống không nhà cả. Chính vì điều ấy, hoặc là em hoặc là anh nên xuất gia.”
—“Em thì mảnh mai, em không thể rời nhà xuất gia sống không nhà. Anh hãy xuất gia đi.”
—“Anuruddha yêu dấu, hãy đến. Anh sẽ chỉ dạy công việc gia đình cho em. Trước tiên, cần bảo cày xới ruộng nương, sau khi bảo cày xới rồi cần bảo gieo hạt, sau khi bảo gieo hạt rồi cần bảo đưa nước vào, sau khi bảo đưa nước vào rồi cần bảo tưới nước đều khắp các ruộng, sau khi bảo tưới nước đều khắp các ruộng cần bảo nhổ cỏ, sau khi bảo nhổ cỏ rồi cần bảo gặt hái, sau khi bảo gặt hái rồi cần bảo thâu hoạch, sau khi bảo thâu hoạch rồi cần bảo chất thành đống, sau khi bảo chất thành đống rồi cần bảo đập giũ, sau khi bảo đập giũ rồi cần bảo tách rơm ra, sau khi bảo tách rơm ra cần bảo tách trấu ra, sau khi bảo tách trấu ra cần bảo sàng sảy, sau khi bảo sàng sảy rồi cần bảo đem cất vào kho, sau khi bảo đem cất vào kho rồi vào mùa tới cũng cần được làm y như thế, vào mùa tới nữa cũng cần được làm y như thế.”
—“Thế các công việc không được ngưng lại hay sao? Sự chấm dứt của các công việc không được biết đến hay sao? Khi nào các công việc sẽ được ngưng lại? Khi nào sự chấm dứt các công việc sẽ được biết đến? Khi nào chúng ta mới được rảnh rỗi mà hưởng thụ năm phần dục lạc đã được ban cho, đã được sở hữu?”
—“Này Anuruddha yêu dấu, công việc không được ngưng lại. Sự chấm dứt của các công việc không được biết đến. Khi công việc vẫn chưa ngưng lại, cha mẹ và ông đã qua đời.”
—“Chính vì điều ấy nên chính anh hãy biết lấy công việc gia đình. Em sẽ rời nhà xuất gia sống không nhà.”
Inda-bh 2~2Sau đó, Anuruddha dòng Sakya đã đi đến gặp người mẹ, sau khi đến đã nói với người mẹ điều này:—“Thưa mẹ, con muốn rời nhà xuất gia sống không nhà. Mẹ hãy cho phép con rời nhà xuất gia sống không nhà.” Khi được nói như thế, mẹ của Anuruddha dòng Sakya đã nói với Anuruddha dòng Sakya điều này:—“Này Anuruddha yêu dấu, các con là hai người con trai thân thương, quý mến, yêu dấu của mẹ. Chỉ có sự chết thì mẹ đành phải xa con một cách miễn cưỡng; làm sao trong lúc con đang còn sống mẹ lại cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà được?”
Đến lần thứ nhì, Anuruddha dòng Sakya đã nói với người mẹ điều này:—“Thưa mẹ, con muốn rời nhà xuất gia sống không nhà. Mẹ hãy cho phép con rời nhà xuất gia sống không nhà.”
—“Này Anuruddha yêu dấu, các con là hai người con trai thân thương, quý mến, yêu dấu của mẹ. Chỉ có sự chết thì mẹ đành phải xa con một cách miễn cưỡng; làm sao trong lúc con đang còn sống mẹ lại cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà được?”
Đến lần thứ ba, Anuruddha đã nói với người mẹ điều này:—“Thưa mẹ, con muốn rời nhà xuất gia sống không nhà. Mẹ hãy cho phép con rời nhà xuất gia sống không nhà.”
Vào lúc bấy giờ, đức vua Bhaddiya dòng Sakya trị vì lãnh thổ Sakya. Và đức vua là bạn của Anuruddha dòng Sakya. Khi ấy, mẹ của Anuruddha dòng Sakya (nghĩ rằng): ‘Đức vua Bhaddiya dòng Sakya này trị vì lãnh thổ Sakya là bạn của Anuruddha dòng Sakya. Vị ấy không nhiệt tình rời nhà xuất gia sống không nhà!’ nên đã nói với Anuruddha dòng Sakya điều này:—“Này Anuruddha yêu dấu, nếu đức vua Bhaddiya dòng Sakya rời nhà xuất gia sống không nhà, như vậy thì con cũng hãy xuất gia.”
Inda-bh 3~3Sau đó, Anuruddha dòng Sakya đã đi đến gặp đức vua Bhaddiya dòng Sakya, sau khi đến đã nói với đức vua Bhaddiya dòng Sakya điều này:—“Này bạn, việc xuất gia của tôi tùy thuộc vào bạn đó.”
—“Này bạn, nếu việc xuất gia của bạn tùy thuộc vào tôi, hãy làm cho nó không còn tùy thuộc nữa. Tôi với bạn ... cứ việc xuất gia một cách thoải mái.”354
—“Này bạn, hãy đến. Cả hai ta sẽ rời nhà xuất gia sống không nhà.”
—“Này bạn, tôi không thể rời nhà xuất gia sống không nhà. Điều gì khác mà tôi có thể làm cho bạn thì tôi sẽ làm cho bạn. Bạn hãy xuất gia đi.”
—“Này bạn, mẹ đã nói với tôi như vầy: ‘Này Anuruddha yêu dấu, nếu đức vua Bhaddiya dòng Sakya rời nhà xuất gia sống không nhà, như vậy thì con cũng hãy xuất gia.’ Này bạn, hơn nữa bạn đã nói lời nói này: ‘Này bạn, nếu việc xuất gia của bạn tùy thuộc vào tôi, hãy làm cho nó không còn tùy thuộc nữa. Tôi với bạn ... cứ việc xuất gia một cách thoải mái.’ Này bạn, hãy đến. Cả hai ta sẽ rời nhà xuất gia sống không nhà.”
Vào lúc bấy giờ, loài người nói năng chân thật, tôn trọng sự chân thật. Khi ấy, đức vua Bhaddiya dòng Sakya đã nói với Anuruddha dòng Sakya điều này:—“Này bạn, hãy chờ đợi bảy năm. Sau bảy năm, cả hai chúng ta sẽ rời nhà xuất gia sống không nhà.”
—“Này bạn, bảy năm quá lâu. Tôi không thể chờ đợi bảy năm.”
—“Này bạn, hãy chờ đợi sáu năm. … (như trên) … năm năm. … (như trên) … bốn năm. … (như trên) … ba năm. … (như trên) … hai năm. … (như trên) … một năm. Sau một năm, cả hai chúng ta sẽ rời nhà xuất gia sống không nhà.”
—“Này bạn, một năm quá lâu. Tôi không thể chờ đợi một năm.”
—“Này bạn, hãy chờ đợi bảy tháng. Sau bảy tháng, cả hai chúng ta sẽ rời nhà xuất gia sống không nhà.”
—“Này bạn, bảy tháng quá lâu. Tôi không thể chờ đợi bảy tháng.”
—“Này bạn, hãy chờ đợi sáu tháng. … (như trên) … năm tháng. … (như trên) … bốn tháng. … (như trên) … ba tháng. … (như trên) … hai tháng. … (như trên) … một tháng. … (như trên) … nửa tháng. Sau nửa tháng, cả hai chúng ta sẽ rời nhà xuất gia sống không nhà.”
—“Này bạn, nửa tháng quá lâu. Tôi không thể chờ đợi nửa tháng.”
—“Này bạn, hãy chờ đợi bảy ngày đến khi tôi trao lại vương quốc cho các người con trai và các người em trai xong.”
—“Này bạn, bảy ngày không lâu lắm. Tôi sẽ chờ đợi.”
Inda-bh 4~4Khi ấy, đức vua Bhaddiya dòng Sakya, Anuruddha, Ānanda, Bhagu, Kimbila, Devadatta, với thợ cạo Upāli là người thứ bảy, giống như trước đây họ đã đi ra khu vườn hoa cùng với bốn loại quân binh, tương tợ y như thế, họ đã đi ra cùng với bốn loại quân binh. Khi đi đã xa, họ đã cho quân binh trở về. Sau khi đi sang lãnh thổ khác, họ đã cởi các đồ trang sức ra, dùng y khoác ngoài buộc lại thành gói, rồi đã nói với thợ cạo Upāli điều này:—“Này khanh Upāli, ngươi nên trở lại. Nhiêu đây cũng đủ cho cả đời của ngươi.”
Sau đó, trong khi đi trở về thợ cạo Upāli đã khởi ý điều này: “Những người dòng Sakya thật là ác độc (nghĩ rằng): ‘Các vương tử đã bỏ đi vì gã này,’ cũng có thể ra lệnh giết ta. Chính các vương tử dòng Sakya này còn rời nhà xuất gia sống không nhà, việc gì ta lại không?” Vị ấy đã mở gói đồ ra rồi treo gói đồ ấy ở trên cây, nói rằng: “Ai thấy được cứ việc lấy món quà” rồi đã đi đến gặp các vương tử dòng Sakya. Các vương tử dòng Sakya ấy đã nhìn thấy thợ cạo Upāli đang từ đàng xa đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói với thợ cạo Upāli điều này:—“Này khanh Upāli, vì sao ngươi quay lại?”
—“Thưa các vương tử, ở đây trong khi quay trở về tôi đã khởi ý điều này: ‘Những người dòng Sakya thật là ác độc (nghĩ rằng): ‘Các vương tử đã bỏ đi vì gã này,’ cũng có thể ra lệnh giết ta. Chính các vương tử dòng Sakya này còn rời nhà xuất gia sống không nhà, việc gì ta lại không?’ Thưa các vương tử, tôi đây đã mở gói đồ ra treo gói đồ ấy ở trên cây, nói rằng: ‘Ai thấy được cứ việc lấy món quà’ rồi từ đó tôi đã quay lại.”
—“Này khanh Upāli, ngươi đã hành động đúng về việc người đã quay trở lại vì những người dòng Sakya quả là ác độc (nghĩ rằng): ‘Các vương tử đã bỏ đi vì gã này,’ cũng có thể ra lệnh giết ngươi.”
Inda-bh 5~5Sau đó, các vương tử dòng Sakya ấy đã đưa thợ cạo Upāli đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, các vương tử dòng Sakya ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, chúng tôi thuộc dòng Sakya có sự ngã mạn. Bạch ngài, thợ cạo Upāli này là người hầu cận của chúng tôi lâu nay. Xin đức Thế Tôn cho người này xuất gia trước tiên. Chúng tôi sẽ thực hiện việc đảnh lễ, việc đứng dậy, việc chắp tay, hành động thích hợp đối với ông ta. Như thế, sự ngã mạn của dòng Sakya trong những người Sakya chúng tôi sẽ không còn nữa.”
Khi ấy, đức Thế Tôn đã cho thợ cạo Upāli xuất gia trước tiên kế đến là các vương tử dòng Sakya ấy. Sau đó ngay trong năm ấy, đại đức Bhaddiya đã chứng ngộ ba Minh, đại đức Anuruddha đã chứng đạt Thiên nhãn, đại đức Ānanda đã chứng ngộ quả Nhập Lưu, Devadatta đã thành tựu được thần thông của phàm nhân.
Vào lúc bấy giờ, đại đức Bhaddiya mặc dầu ở trong rừng, mặc dầu ở dưới cội cây, mặc dầu ở nơi đồng trống vẫn thường xuyên thốt lên lời cảm hứng rằng: “Ôi sự an lạc! Ôi sự an lạc!” Khi ấy, nhiều vị tỳ khưu đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, các tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, đại đức Bhaddiya mặc dầu ở trong rừng, mặc dầu ở dưới cội cây, mặc dầu ở nơi đồng trống vẫn thường xuyên thốt lên lời cảm hứng rằng: ‘Ôi sự an lạc! Ôi sự an lạc!’ Bạch ngài, chắc chắn rằng đại đức Bhaddiya không thỏa thích thực hành Phạm hạnh, hoặc là trong khi hồi tưởng lại chính sự khoái lạc vương giả ấy trước đây, (vị ấy) mặc dầu ở trong rừng, mặc dầu ở dưới cội cây, mặc dầu ở nơi đồng trống đã thường xuyên thốt lên lời cảm hứng rằng: ‘Ôi sự an lạc! Ôi sự an lạc!’”
Inda-bh 6~6Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo một vị tỳ khưu khác rằng:—“Này tỳ khưu, hãy đến. Ngươi hãy nhân danh ta đi đến nói với tỳ khưu Bhaddiya rằng: ‘Này đại đức Bhaddiya, bậc Đạo Sư cho gọi đại đức.’”—“Bạch ngài, xin vâng.” Rồi vị tỳ khưu ấy nghe theo đức Thế Tôn đã đi đến gặp đại đức Bhaddiya, sau khi đến đã nói với đại đức Bhaddiya điều này:—“Này đại đức Bhaddiya, bậc Đạo Sư cho gọi đại đức.”
—“Này đại đức, xin vâng.” Rồi đại đức Bhaddiya nghe theo vị tỳ khưu ấy đã đi đến gặp đức Thế tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đại đức Bhaddiya đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Bhaddiya điều này:—“Này Bhaddiya, nghe nói ngươi mặc dầu ở trong rừng, mặc dầu ở dưới cội cây, mặc dầu ở nơi đồng trống vẫn thường xuyên thốt lên lời cảm hứng rằng: ‘Ôi sự an lạc! Ôi sự an lạc!’ có đúng không vậy?”
—“Bạch ngài, đúng vậy.”
—“Này Bhaddiya, trong khi cảm nhận được lợi ích gì khiến ngươi, mặc dầu ở trong rừng, mặc dầu ở dưới cội cây, mặc dầu ở nơi đồng trống, thường xuyên thốt lên lời cảm hứng: ‘Ôi sự an lạc! Ôi sự an lạc!’ vậy?”
—“Bạch ngài, trước đây khi con làm vua, mặc dầu có sự bảo vệ được sắp đặt cẩn thận bên trong hậu cung, mặc dầu có sự bảo vệ được sắp đặt cẩn thận bên ngoài hậu cung, mặc dầu có sự bảo vệ được sắp đặt cẩn thận bên trong thành phố, mặc dầu có sự bảo vệ được sắp đặt cẩn thận bên ngoài thành phố, mặc dầu có sự bảo vệ được sắp đặt cẩn thận bên trong xứ sở, mặc dầu có sự bảo vệ được sắp đặt cẩn thận bên ngoài xứ sở, bạch ngài, trong khi được bảo vệ và được an toàn như vậy, con đây sống vẫn cảm thấy sợ hãi, khiếp đảm, lo âu, hồi hộp. Bạch ngài, thế mà giờ đây con chỉ một mình, mặc dầu ở trong rừng, mặc dầu ở dưới cội cây, mặc dầu ở nơi đồng trống lại không sợ hãi, không khiếp đảm, không lo âu, không hồi hộp, vô tư lự, điềm tĩnh, tùy thuận sự bố thí của người khác, sống với tâm như loài thú rừng. Bạch ngài, mặc dầu ở trong rừng, mặc dầu ở dưới cội cây, mặc dầu ở nơi đồng trống, con đây cảm nhận được sự lợi ích này nên thường xuyên thốt lên lời cảm hứng rằng: ‘Ôi sự an lạc! Ôi sự an lạc!’”
Sau đó, khi hiểu ra sự việc ấy, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Đối với người nào mà các sự sân hận không hiện diện ở trong tâm, đã vượt qua khỏi hữu và phi hữu như thế, vị ấy đã không còn sự sợ hãi, có sự an lạc, không sầu muộn, chư Thiên không đạt được việc nhìn thấy vị ấy.”
Inda-bh 7~7Sau đó, khi đã ngự ở Anupiyā theo như ý thích đức Thế Tôn đức Thế Tôn trong khi tuần tự du hành đã ngự đến thành Kosambi. Tại nơi đó, trong thành Kosambi, đức Thế Tôn ngự ở tu viện Ghosita. Khi ấy, Devadatta trong lúc độc cư thiền tịnh đã có ý nghĩ suy tầm như vầy sanh khởi: “Ta nên làm cho ai tin tưởng để khi người ấy đã đặt niềm tin nơi ta rồi thì nhiều lợi lộc và sự trọng vọng có thể phát sanh?”
Khi ấy, điều này đã khởi lên cho Devadatta: “Hoàng tử Ajātasattu này còn trẻ và có tương lai rạng rỡ. Hay là ta nên làm cho hoàng tử Ajātasattu tin tưởng để khi vị ấy đã đặt niềm tin nơi ta rồi thì nhiều lợi lộc và sự trọng vọng sẽ phát sanh?”
Sau đó, Devadatta đã thu xếp sàng tọa rồi cầm y bát đi đến thành Rājagaha. Theo tuần tự, vị ấy đã đến được thành Rājagaha. Khi ấy, Devadatta đã thay đổi hình dạng của mình và biến thành hình dạng đứa bé trai mình quấn đầy rắn xuất hiện ở trên bắp vế của hoàng tử Ajātasattu. Khi ấy, hoàng tử Ajātasattuđã trở nên sợ hãi, khiếp đảm, lo âu, hồi hộp. Khi ấy, Devadatta đã nói với hoàng tử Ajātasattu điều này:
—“Hoàng tử, ngài sợ tôi hay sao?”
—“Vâng, ta sợ lắm. Ngươi là ai?”
—“Tôi là Devadatta.”
—“Thưa ngài, nếu ngươi là ngài đại đức Devadatta, xin hãy hiện ra với hình dáng của chính ngài đi.”
Inda-bh 8~8Sau đó, Devadatta đã thay đổi hình dạng đứa bé trai và hiện ra đứng trước hoàng tử Ajātasattu có mang y hai lớp và y bát. Khi ấy, hoàng tử Ajātasattu vô cùng ngưỡng mộ thần thông kỳ diệu này của Devadatta nên sáng chiều đã đi đến phục vụ cùng với đoàn xe năm trăm chiếc và vật cúng dường về thực phẩm là năm trăm phần cơm nấu với sữa được mang lại.
Khi ấy, Devadatta với tâm đã bị chế ngự, đã bị ám ảnh bởi sự lợi lộc, trọng vọng, và tôn vinh khiến điều tham muốn như vầy đã khởi lên: ‘Ta sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu.’ Cùng lúc với sự sanh khởi của tâm, Devadatta đã mất đi thần thông ấy.
Vào lúc bấy giờ, thị giả của đại đức Mahāmoggallāna tên là Kakudha con trai của Koḷiya vừa mới từ trần và tái sanh vào thân khác do ý tạo. Vị ấy đạt được bản thể có hình dạng như là hai hay ba cánh đồng làng ở xứ Magadha. Với sự thành tựu bản thể đó, vị ấy vẫn không hề làm tổn thương chính mình hay người khác.
Khi ấy, Thiên tử Kakudha đã đi đến gặp đại đức Mahāmoggallāna, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Mahāmoggallāna rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, Thiên tử Kakudha đã nói với đại đức Mahāmoggallāna điều này:—“Thưa ngài, Devadatta với tâm đã bị chế ngự, đã bị ám ảnh bởi sự lợi lộc, trọng vọng, và tôn vinh khiến điều tham muốn như vầy đã khởi lên: ‘Ta sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu.’ Thưa ngài, cùng lúc với sự sanh khởi của tâm, Devadatta đã mất đi thần thông ấy.” Thiên tử Kakudha đã nói lên điều ấy. Sau khi nói lên điều ấy, vị ấy đã đảnh lễ đại đức Mahāmoggallāna, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi biến mất ngay tại chỗ ấy.
Inda-bh 9~9Sau đó, đại đức Mahāmoggallāna đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Mahāmoggallāna đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, thị giả của con tên là Kakudha con trai dòng Koḷiya vừa mới từ trần và tái sanh vào thân khác do ý tạo. Vị ấy đạt được bản thể có hình dạng như là hai hay ba cánh đồng làng ở xứ Magadha. Với sự thành tựu bản thể đó, vị ấy vẫn không hề làm tổn thương chính mình hay người khác. Bạch ngài, khi ấy Thiên tử Kakudha đã đi đến gặp con, sau khi đến đã đảnh lễ con rồi đã đứng một bên. Khi đã đứng một bên, Thiên tử Kakudha đã nói với con điều này: ‘Thưa ngài, Devadatta với tâm đã bị chế ngự, đã bị ám ảnh bởi sự lợi lộc, trọng vọng, và tôn vinh khiến điều tham muốn như vầy đã khởi lên: Ta sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu. Thưa ngài, chính do sự sanh khởi của tâm, Devadatta đã mất đi thần thông của mình.’Thiên tử Kakudha đã nói lên điều ấy. Sau khi nói lên điều ấy, vị ấy đã đảnh lễ con, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi biến mất ngay tại chỗ ấy.”
—“Này Moggallāna, có phải Thiên tử Kakudha với ngươi có tâm hiểu và biết (lẫn nhau) bằng tâm nên bất cứ điều gì Thiên tử Kakudha nói (ngươi biết được) tất cả điều ấy đều theo chính cách ấy, chứ không phải cách nào khác?”
—“Bạch ngài, Thiên tử Kakudha với con có tâm hiểu và biết (lẫn nhau) bằng tâm nên bất cứ điều gì Thiên tử Kakudha nói (con biết được) tất cả điều ấy đều theo chính cách ấy, chứ không phải cách nào khác.”
—“Này Moggallāna, hãy giữ kín lời nói này. Này Moggallāna, hãy giữ kín lời nói này. Đã đến lúc kẻ rồ dại ấy tự chính mình sẽ làm bộc lộ bản thân.”
Inda-bh 10~10Này Moggallāna, có năm hạng đạo sư này đang hiện hữu ở trên đời. Thế nào là năm?
Này Moggallāna, ở đây có hạng đạo sư trong khi có giới không thanh tịnh lại tỏ ra rằng: ‘Ta có giới thanh tịnh’ và ‘Giới của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Các đệ tử biết về chính vị ấy như vầy: “Ngài đạo sư này trong khi có giới không thanh tịnh lại tỏ ra rằng: ‘Ta có giới thanh tịnh’ và ‘Giới của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Nếu chúng ta nói cho các cư sĩ, ông ta sẽ không hoan hỷ. Điều mà ông ta không hoan hỷ, tại sao chúng ta lại gây nên điều ấy cho ông ta? Vả lại, ông ta được hài lòng với vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh; điều gì ông ta sẽ làm, chính ông ta sẽ biết điều ấy.”
Này Moggallāna, như vậy là các đệ tử bảo vệ vị đạo sư về giới, và như vậy là vị đạo sư mong đợi sự bảo vệ về giới từ các đệ tử.
Này Moggallāna, còn có điều khác nữa, ở đây có hạng đạo sư trong khi có sự nuôi mạng không thanh tịnh lại tỏ ra rằng: ‘Ta có sự nuôi mạng thanh tịnh’ và ‘Sự nuôi mạng của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Các đệ tử biết về chính vị ấy như vầy: “Ngài đạo sư này trong khi có sự nuôi mạng không thanh tịnh lại tỏ ra rằng: ‘Ta có sự nuôi mạng thanh tịnh’ và ‘Sự nuôi mạng của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Nếu chúng ta nói cho các cư sĩ, ông ta sẽ không hoan hỷ. Điều mà ông ta không hoan hỷ, tại sao chúng ta lại gây nên điều ấy cho ông ta? Vả lại, ông ta được hài lòng với vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh; điều gì ông ta sẽ làm, chính ông ta sẽ biết điều ấy.”
Này Moggallāna, như vậy là các đệ tử bảo vệ vị đạo sư về việc nuôi mạng, và như vậy là vị đạo sư mong đợi sự bảo vệ về việc nuôi mạng từ các đệ tử.
Này Moggallāna, còn có điều khác nữa, ở đây có hạng đạo sư trong khi có sự thuyết pháp không thanh tịnh lại tỏ ra rằng: ‘Ta có sự thuyết pháp thanh tịnh’ và ‘Sự thuyết pháp của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Các đệ tử biết về chính vị ấy như vầy: “Ngài đạo sư này trong khi có sự thuyết pháp không thanh tịnh lại tỏ ra rằng: ‘Ta có sự thuyết pháp thanh tịnh’ và ‘Sự thuyết pháp của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Nếu chúng ta nói cho các cư sĩ, ông ta sẽ không hoan hỷ. Điều mà ông ta không hoan hỷ, tại sao chúng ta lại gây nên điều ấy cho ông ta? Vả lại, ông ta được hài lòng với vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh; điều gì ông ta sẽ làm, chính ông ta sẽ biết điều ấy.”
Này Moggallāna, như vậy là các đệ tử bảo vệ vị đạo sư về việc thuyết pháp, và như vậy là vị đạo sư mong đợi sự bảo vệ về việc thuyết pháp từ các đệ tử.
Này Moggallāna, còn có điều khác nữa, ở đây có hạng đạo sư trong khi có lối giải thích không thanh tịnh lại tỏ ra rằng: ‘Ta có lối giải thích thanh tịnh’ và ‘Lối giải thích của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Các đệ tử biết về chính vị ấy như vầy: “Ngài đạo sư này trong khi có lối giải thích không thanh tịnh lại tỏ ra rằng: ‘Ta có lối giải thích thanh tịnh’ và ‘Lối giải thích của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Nếu chúng ta nói cho các cư sĩ, ông ta sẽ không hoan hỷ. Điều mà ông ta không hoan hỷ, tại sao chúng ta lại gây nên điều ấy cho ông ta? Vả lại, ông ta được hài lòng với vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh; điều gì ông ta sẽ làm, chính ông ta sẽ biết điều ấy.”
Này Moggallāna, như vậy là các đệ tử bảo vệ vị đạo sư về lối giải thích, và như vậy là vị đạo sư mong đợi sự bảo vệ về lối giải thích từ các đệ tử.
Này Moggallāna, còn có điều khác nữa, ở đây có hạng đạo sư trong khi có tri kiến không thanh tịnh lại tỏ ra rằng: ‘Ta có tri kiến thanh tịnh’ và ‘Tri kiến của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Các đệ tử biết về chính vị ấy như vầy: “Ngài đạo sư này trong khi có tri kiến không thanh tịnh lại tỏ ra rằng: ‘Ta có tri kiến thanh tịnh’ và ‘Tri kiến của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Nếu chúng ta nói cho các cư sĩ, ông ta sẽ không hoan hỷ. Điều mà ông ta không hoan hỷ, tại sao chúng ta lại gây nên điều ấy cho ông ta? Vả lại, ông ta được hài lòng với vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh; điều gì ông ta sẽ làm, chính ông ta sẽ biết điều ấy.”
Này Moggallāna, như vậy là các đệ tử bảo vệ vị đạo sư về tri kiến, và như vậy là vị đạo sư mong đợi sự bảo vệ về tri kiến từ các đệ tử.”
Này Moggallāna, năm hạng đạo sư này đang hiện hữu ở trên đời.
Và này Moggallāna, ta có giới thanh tịnh và biết rằng: ‘Ta có giới thanh tịnh’ và ‘Giới của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Các đệ tử không cần bảo vệ ta về giới, và ta cũng không mong đợi sự bảo vệ về giới từ các đệ tử.
Ta nuôi mạng thanh tịnh và biết rằng: ‘Ta có sự nuôi mạng thanh tịnh’ và ‘Sự nuôi mạng của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Các đệ tử không cần bảo vệ ta về sự nuôi mạng, và ta cũng không mong đợi sự bảo vệ về sự nuôi mạng từ các đệ tử.
Ta thuyết pháp thanh tịnh và biết rằng: ‘Ta có sự thuyết pháp thanh tịnh’ và ‘Sự thuyết pháp của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Các đệ tử không cần bảo vệ ta về sự thuyết pháp, và ta cũng không mong đợi sự bảo vệ về sự thuyết pháp từ các đệ tử.
Ta có lối giải thích thanh tịnh và biết rằng: ‘Ta có lối giải thích thanh tịnh’ và ‘Lối giải thích của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Các đệ tử không cần bảo vệ ta về lối giải thích, và ta cũng không mong đợi sự bảo vệ về lối giải thích từ các đệ tử.
Ta có tri kiến thanh tịnh và biết rằng: ‘Ta có tri kiến thanh tịnh’ và ‘Tri kiến của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Các đệ tử không cần bảo vệ ta về tri kiến, và ta cũng không mong đợi sự bảo vệ về tri kiến từ các đệ tử.”
Inda-bh 11~11Sau đó, khi đã ngự tại Kosambi theo như ý thích đức Thế Tôn đã lên đường du hành đi đến thành Rājagaha. Trong khi du hành theo tuần tự ngài đã ngự đến thành Rājagaha.
Tại nơi đó, trong thành Rājagaha, đức Thế Tôn ngự tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc.
Khi ấy, nhiều vị tỳ khưu đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, các tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, hoàng tử Ajātasattu sáng chiều đi đến phục vụ Devadatta cùng với đoàn xe năm trăm chiếc, và vật cúng dường về thực phẩm là năm trăm phần cơm nấu với sữa được mang lại.”
—“Này các tỳ khưu, chớ có ganh tỵ với Devadatta về sự lợi lộc, trọng vọng, và tôn vinh. Này các tỳ khưu, cho đến khi nào hoàng tử Ajātasattu còn sáng chiều đi đến phục vụ Devadatta cùng với đoàn xe năm trăm chiếc, và vật cúng dường về thực phẩm là năm trăm phần cơm nấu với sữa còn được mang lại thì này các tỳ khưu, việc suy giảm trong các thiện pháp là điều sẽ xảy đến cho Devadatta, chứ không phải sự tiến triển.
Này các tỳ khưu, cũng giống như người ta làm vỡ túi mật ở mũi của con chó dữ tợn; này các tỳ khưu, bởi vì như vậy con chó ấy sẽ trở nên dữ tợn hơn trước. Tương tợ như thế, này các tỳ khưu, cho đến khi nào hoàng tử Ajātasattu còn sáng chiều đi đến phục vụ Devadatta cùng với đoàn xe năm trăm chiếc, và vật cúng dường về thực phẩm là năm trăm phần cơm nấu với sữa còn được mang lại thì này các tỳ khưu, việc suy giảm trong các thiện pháp là điều sẽ xảy đến cho Devadatta, chứ không phải sự tiến triển.
Này các tỳ khưu, sự lợi lộc, trọng vọng, và tôn vinh đã đem lại cho Devadatta sự hư hỏng của bản thân; sự lợi lộc, trọng vọng, và tôn vinh đã đem lại cho Devadatta sự tiêu hoại. Này các tỳ khưu, giống như cây chuối khi trổ quả thì đưa đến sự hư hỏng của thân cây, khi trổ quả thì đưa đến sự tiêu hoại; tương tợ như thế, sự lợi lộc, trọng vọng, và tôn vinh đã đem lại cho Devadatta sự hư hỏng của bản thân; lợi lộc, vinh hiển, và danh vọng đã đem lại cho Devadatta sự tiêu hoại.
Này các tỳ khưu, giống như cây tre khi kết trái thì đưa đến sự hư hỏng của thân cây, khi kết trái thì đưa đến sự tiêu hoại; tương tợ như thế, sự lợi lộc, trọng vọng, và tôn vinh đã đem lại cho Devadatta sự hư hỏng của bản thân; sự lợi lộc, trọng vọng, và tôn vinh đã đem lại cho Devadatta sự tiêu hoại.
Này các tỳ khưu, giống như cây sậy khi kết trái thì đưa đến sự hư hỏng của thân cây, khi kết trái thì đưa đến sự tiêu hoại; tương tợ như thế, sự lợi lộc, trọng vọng, và tôn vinh đã đem lại cho Devadatta sự hư hỏng của bản thân; sự lợi lộc, trọng vọng, và tôn vinh đã đem lại cho Devadatta sự tiêu hoại.
Này các tỳ khưu, giống như con lừa cái khi mang thai thì đưa đến sự hư hỏng của bản thân, khi mang thai thì đưa đến sự tiêu hoại; tương tợ như thế, sự lợi lộc, trọng vọng, và tôn vinh đã đem lại cho Devadatta sự hư hỏng của bản thân; sự lợi lộc, trọng vọng, và tôn vinh đã đem lại cho Devadatta sự tiêu hoại.”
“Đúng vậy, (sự kết) trái hại chết cây chuối, (sự kết) trái hại chết cây tre, (sự kết) trái hại chết cây sậy, sự trọng vọng hại chết kẻ ngu tương tợ như bào thai hại chết con lừa.”
Tụng phẩm thứ nhất.
Inda-bh 12~12Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn được vây quanh bởi hội chúng đông đảo có cả đức vua, đang thuyết giảng Giáo Pháp. Khi ấy, Devadatta đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay hướng về đức Thế Tôn, và đã nói với đức Thế Tôn điều này:
—“Bạch ngài, đức Thế Tôn nay đã tàn tạ, già cả, lớn tuổi, đã sống thọ, đã đạt đến đoạn cuối cuộc đời. Bạch ngài, giờ đây xin đức Thế Tôn hãy sống gắn bó vào sự lạc trú trong hiện tại, còn hội chúng tỳ khưu hãy bàn giao cho tôi, tôi sẽ cai quản hội chúng tỳ khưu.”
—“Này Devadatta, thôi đi. Ngươi chớ có mong để được cai quản hội chúng tỳ khưu.”
Đến lần thứ nhì, Devadatta … (như trên) … Đến lần thứ ba, Devadatta đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, đức Thế Tôn nay đã tàn tạ, già cả, lớn tuổi, đã sống thọ, đã đạt đến đoạn cuối cuộc đời. Bạch ngài, giờ đây xin đức Thế Tôn hãy sống gắn bó vào sự lạc trú trong hiện tại, còn hội chúng tỳ khưu hãy bàn giao cho tôi, tôi sẽ cai quản hội chúng tỳ khưu.”
—“Này Devadatta, ngay cả Sāriputta và Moggallāna ta còn không thể bàn giao hội chúng tỳ khưu, làm sao (có thể bàn giao) cho kẻ tồi tệ đáng phỉ nhổ như ngươi được?”
Khi ấy, Devadatta (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã bôi nhọ ta bằng cách gọi là kẻ đáng phỉ nhổ trước hội chúng có cả nhà vua và còn ca tụng Sāriputta và Moggallāna nữa!” nên tức tối, có sự không hài lòng, rồi đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, và ra đi.
Như thế, đây đã là mối ác cảm thứ nhất của Devadatta đối với đức Thế Tôn.
Inda-bh 13~13Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy thực hiện hành sự công bố về Devadatta trong thành Rājagaha rằng: ‘Bản chất của Devadatta trước đây khác, nay bản chất đã khác. Việc gì Devadatta làm bằng thân hoặc bằng lời nói, không nên xem điều ấy là (của) đức Phật, Giáo Pháp, hoặc Hội Chúng, mà nên xem điều ấy là (của) chính Devadatta.’
Và này các tỳ khưu, nên thực hiện như vậy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thực hiện hành sự công bố về Devadatta trong thành Rājagaha rằng: ‘Bản chất của Devadatta trước đây khác, nay bản chất đã khác. Việc gì Devadatta làm bằng thân hoặc bằng lời nói, không nên xem điều ấy là (của) đức Phật, Giáo Pháp, hoặc Hội Chúng, mà nên xem điều ấy là (của) chính Devadatta.’ Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng thực hiện hành sự công bố về Devadatta trong thành Rājagaha rằng: ‘Bản chất của Devadatta trước đây khác, nay bản chất đã khác. Việc gì Devadatta làm bằng thân hoặc bằng lời nói, không nên xem điều ấy là (của) đức Phật, Giáo Pháp, hoặc Hội Chúng, mà nên xem điều ấy là (của) chính Devadatta.’ Đại đức nào đồng ý sự thực hiện hành sự công bố về Devadatta trong thành Rājagaha rằng: ‘Bản chất của Devadatta trước đây khác, nay bản chất đã khác. Việc gì Devadatta làm bằng thân hoặc bằng lời nói, không nên xem điều ấy là (của) đức Phật, Giáo Pháp, hoặc Hội Chúng, mà nên xem điều ấy là (của) chính Devadatta’ xin im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.
Hành sự công bố về Devadatta trong thành Rājagaha rằng: ‘Bản chất của Devadatta trước đây khác, nay bản chất đã khác. Việc gì Devadatta làm bằng thân hoặc bằng lời nói, không nên xem điều ấy là (của) đức Phật, Giáo Pháp, hoặc Hội Chúng, mà nên xem điều ấy là (của) chính Devadatta’ đã được hội chúng thực hiện. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 14~14Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Sāriputta rằng:—“Này Sāriputta, chính vì điều ấy ngươi hãy công bố về Devadatta ở trong thành Rājagaha.”
—“Bạch ngài, trước đây ở trong thành Rājagaha con đã khen ngợi về Devadatta rằng: ‘Con trai của Godhi có đại thần lực! Con trai của Godhi có đại năng lực!’ Bạch ngài, làm sao con công bố về Devadatta ở trong thành Rājagaha được?”
—“Này Sāriputta, khi ngươi khen ngợi về Devadatta ở trong thành Rājagaha rằng: ‘Con trai của Godhi có đại thần lực! Con trai của Godhi có đại năng lực!’ phải chăng là đúng sự thật?”
—“Bạch ngài, đúng vậy.”
—“Này Sāriputta, cũng tương tợ như vậy, ngươi hãy công bố đúng sự thật về Devadatta ở trong thành Rājagaha.”
—“Bạch ngài, xin vâng.” Đại đức Sāriputta đã đáp lời đức Thế Tôn.
Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy chỉ định Sāriputta để công bố về Devadatta ở trong thành Rājagaha rằng: ‘Bản chất của Devadatta trước đây khác, nay bản chất đã khác. Việc gì Devadatta làm bằng thân hoặc bằng lời nói, không nên xem điều ấy là (của) đức Phật, Giáo Pháp, hoặc Hội Chúng, mà nên xem điều ấy là (của) chính Devadatta.’ Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước tiên, Sāriputta cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông qua bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định Sāriputta để công bố về Devadatta ở trong thành Rājagaha rằng: ‘Bản chất của Devadatta trước đây khác, … (như trên) … mà nên xem điều ấy là (của) chính Devadatta.’ Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định Sāriputta để công bố về Devadatta trong thành Rājagaha rằng: ‘Bản chất của Devadatta trước đây khác, … (như trên) … mà nên xem điều ấy là (của) chính Devadatta.’ Đại đức nào đồng ý sự chỉ định Sāriputta để công bố về Devadatta trong thành Rājagaha rằng: ‘Bản chất của Devadatta trước đây khác, … (như trên) … mà nên xem điều ấy là (của) chính Devadatta’ xin im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.
Đại đức Sāriputta đã được hội chúng chỉ định để công bố về Devadatta trong thành Rājagaha rằng: ‘Bản chất của Devadatta trước đây khác, … (như trên) … mà nên xem điều ấy là (của) chính Devadatta.’ Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Và khi đã được chỉ định, đại đức Sāriputta cùng với nhiều vị tỳ khưu đã đi vào thành Rājagaha và đã công bố về Devadatta trong thành Rājagaha rằng: “Bản chất của Devadatta trước đây khác, nay bản chất đã khác. … (như trên) … mà nên xem điều ấy là (của) chính Devadatta.” Ở nơi ấy, những người nào không có đức tin, không mộ đạo, kém sáng suốt, những người ấy đã nói như vầy: “Các Sa-môn Thích tử này ganh tỵ. Họ ganh tỵ với sự lợi lộc và trọng vọng của Devadatta.” Còn những người nào có đức tin, mộ đạo, sáng suốt, những người ấy đã nói như vầy: “Việc đức Thế Tôn cho công bố về Devadatta trong thành Rājagaha như thế này chẳng có gì sai trái!”
Inda-bh 15~15Sau đó, Devadatta đã đi đến gặp hoàng tử Ajātasattu, sau khi đến đã nói với hoàng tử Ajātasattu điều này:—“Tâu hoàng tử, trước đây loài người sống thọ, bây giờ yểu thọ. Điều thực tế cần được biết là ngài có thể chết đi trong lúc vẫn còn là hoàng tử; tâu hoàng tử, chính vì điều ấy ngài hãy giết cha và lên làm vua. Ta sẽ giết đức Thế Tôn và trở thành đức Phật.”
Sau đó, hoàng tử Ajātasattu (nghĩ rằng): ‘Ngài Devadatta có đại thần lực, có đại năng lực; ngài Devadatta đương nhiên có thể biết được’ nên vào lúc sáng sớm đã buộc con dao găm ở đùi, rồi (với vẻ) khiếp đảm, sợ hãi, lo âu, hồi hộp đã xông vào hậu cung một cách vội vã. Các vị quan đại thần bảo vệ hậu cung đã nhìn thấy hoàng tử Ajātasattu vào lúc sáng sớm (với vẻ) khiếp đảm, sợ hãi, lo âu, hồi hộp đang xông vào hậu cung một cách vội vã, sau khi nhìn thấy họ đã giữ lại. Trong lúc khám xét, họ đã thấy con dao găm buộc ở đùi nên đã nói với hoàng tử Ajātasattu điều này:—“Tâu hoàng tử, ngài có ý định làm điều gì vậy?”
—“Ta có ý định giết cha.”
—“Do ai xúi giục?”
—“Do ngài đại đức Devadatta.”
Một số quan đại thần đã đưa ý kiến như vầy:—“Hoàng tử phải bị giết chết, Devadatta và tất cả các tỳ khưu phải bị giết chết.”
Một số quan đại thần khác đã đưa ý kiến như vầy:—“Các tỳ khưu không phải chết. Các vị tỳ khưu không làm tổn hại điều gì. Còn hoàng tử và Devadatta phải bị giết chết.”
Một số quan đại thần khác đã đưa ý kiến như vầy:—“Hoàng tử không phải chết, Devadatta cũng không. Các tỳ khưu cũng không phải chết. Nên trình báo lên đức vua. Đức vua ra lệnh như thế nào thì chúng ta sẽ làm như thế ấy.”
Sau đó, các quan đại thần ấy đã đưa hoàng tử Ajātasattu đi đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã trình báo sự việc ấy lên đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.
—“Này các khanh, các quan đại thần đã có ý kiến thế nào?”
—“Tâu bệ hạ, một số quan đại thần đã đưa ý kiến như vầy: ‘Hoàng tử phải bị giết chết, Devadatta và tất cả các tỳ khưu phải bị giết chết.’ Một số quan đại thần khác đã đưa ý kiến như vầy: ‘Các tỳ khưu không phải chết. Các vị tỳ khưu không làm điều gì tổn hại. Còn hoàng tử và Devadatta phải bị giết chết.’ Một số quan đại thần khác đã đưa ý kiến như vầy: ‘Hoàng tử không phải chết, Devadatta cũng không. Các tỳ khưu cũng không phải chết. Nên trình báo lên đức vua. Đức vua ra lệnh như thế nào thì chúng ta sẽ làm thế ấy.’”
—“Này các khanh, đức Phật, hoặc Giáo Pháp, hoặc Hội Chúng sẽ làm điều gì? Chẳng phải đức Thế Tôn đã cảnh giác và đã cho công bố về Devadatta trong thành Rājagaha rằng: ‘Bản chất của Devadatta trước đây khác, nay bản chất đã khác. Việc gì Devadatta làm bằng thân hoặc bằng lời nói, không nên xem điều ấy là (của) đức Phật, Giáo Pháp, hoặc Hội Chúng, mà nên xem điều ấy là (của) chính Devadatta’ hay sao?”
Tại nơi ấy, những quan đại thần nào đã đưa ý kiến như vầy: “Hoàng tử phải bị giết chết, Devadatta và tất cả các tỳ khưu phải bị giết chết,” đức vua đã cách chức những vị ấy. Những quan đại thần nào đã đưa ý kiến như vầy: “Các tỳ khưu không phải chết. Các vị tỳ khưu không làm điều gì tổn hại. Chỉ có hoàng tử và Devadatta phải bị giết chết,” đức vua đã giáng chức những vị ấy. Những quan đại thần nào đã đưa ý kiến như vầy: “Hoàng tử không phải chết, Devadatta cũng không. Các tỳ khưu cũng không phải chết. Nên trình báo lên đức vua. Đức vua ra lệnh như thế nào thì chúng ta sẽ làm thế ấy,” đức vua đã thăng chức những vị ấy.
Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với hoàng tử Ajātasattu điều này:—“Này hoàng tử, tại sao con có ý định giết ta?”—“Tâu bệ hạ, con muốn được vương quyền.”
—“Này hoàng tử, nếu con muốn được vương quyền, thì vương quyền này là của con.” Rồi đã trao vương quyền cho hoàng tử Ajātasattu.
Inda-bh 16~16Sau đó, Devadatta đã đi đến gặp hoàng tử Ajātasatthu, sau khi đến đã nói với hoàng tử Ajātasattu điều này:—“Tâu đại vương, hãy ra lệnh cho các nam nhân để họ sẽ đoạt mạng sống của Sa-môn Gotama.” Khi ấy, hoàng tử Ajātasattu đã ra lệnh cho mọi người rằng:—“Này các khanh, ngài đại đức Devadatta đã nói như thế nào, các người hãy làm theo như thế ấy.”
Sau đó, Devadatta đã ra lệnh cho một người đàn ông rằng:—“Này ông bạn, Sa-môn Gotama ngụ ở nơi đó; hãy đoạt mạng sống của ông ta rồi hãy trở về bằng con đường này.” Rồi trên con đường ấy, Devadatta đã xếp đặt hai người đàn ông (bảo rằng):—“Người đàn ông nào một mình trở về bằng con đường này; hãy đoạt mạng sống của hắn ta rồi hãy trở về bằng con đường này.” Rồi trên con đường ấy, Devadatta đã xếp đặt bốn người đàn ông (bảo rằng):—“Hai người đàn ông nào trở về bằng con đường này; hãy đoạt mạng sống của chúng rồi hãy trở về bằng con đường này.” Rồi trên con đường ấy, Devadatta đã xếp đặt tám người đàn ông (bảo rằng):—“Bốn người đàn ông nào trở về bằng con đường này; hãy đoạt mạng sống của chúng rồi hãy trở về bằng con đường này.” Rồi trên con đường ấy, Devadatta đã xếp đặt mười sáu người đàn ông (bảo rằng):—“Tám người đàn ông nào trở về bằng con đường này; hãy đoạt mạng sống của chúng rồi hãy trở về bằng con đường này.”
Sau đó, người đàn ông ấy một mình cầm gươm và bao gươm, mang cung và túi tên đã đi đến gặp đức Thế Tôn; sau khi đến còn cách đức Thế Tôn một khoảng không xa, thì trở nên khiếp đảm, sợ hãi, lo âu, hồi hộp, đã đứng với thân thể cứng đơ. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy người đàn ông ấy (với vẻ) khiếp đảm, sợ hãi, lo âu, hồi hộp, đang đứng với thân thể cứng đơ, sau khi nhìn thấy đã nói với người đàn ông ấy điều này:—“Này đạo hữu, hãy đến. Chớ có sợ hãi.”
Khi ấy, người đàn ông ấy đã bỏ gươm và bao gươm ở một góc, để cung và túi tên xuống, rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đê đầu ở hai chân của đức Thế Tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, tội lỗi đã chiếm ngự lấy con khiến con như là ngu khờ, như là mê muội, như là không có đạo đức nên con đi đến đây với tâm độc ác, với tâm giết hại. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn ghi nhận tội lỗi ấy của con đây là tội lỗi hầu để ngăn ngừa trong tương lai.”
“Này đạo hữu, đúng như vậy, tội lỗi đã chiếm ngự lấy ngươi khiến ngươi như là ngu khờ, như là mê muội, như là không có đạo đức nên ngươi đi đến đây với tâm độc ác, với tâm giết hại. Này đạo hữu, chính từ việc ấy, ngươi đã thấy được tội lỗi là tội lỗi và sửa đổi đúng theo Pháp, nay ta nhận biết điều ấy cho ngươi. Này đạo hữu, chính điều này là sự tiến bộ trong giới luật của bậc Thánh: Người nào sau khi thấy được tội lỗi là tội lỗi và sửa đổi đúng theo Pháp sẽ có được sự ngăn ngừa trong tương lai.”
Sau đó, đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến người đàn ông ấy. Tức là ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự tai hại sự thấp kém sự ô nhiễm của các dục, sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được tâm của người ấy đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được Chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải đã được làm sạch, không còn vết nhơ, có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến người đàn ông ấy: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư không còn cần sự trợ duyên của người khác, người đàn ông ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): ‘Những người có mắt sẽ nhìn thấy được các hình dáng;’ tương tợ như thế, Pháp đã được đức Thế Tôn giảng rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn ấy, Giáo Pháp, và Hội Chúng tỳ khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.” Sau đó, đức Thế Tôn đã nói với người đàn ông ấy điều này:—“Này đạo hữu, chớ đi bằng con đường ấy, hãy đi bằng con đường này.” Ngài đã chỉ cho đi bằng con đường khác.
Inda-bh 17~17Sau đó, hai người đàn ông ấy (nghĩ rằng): “Gã đàn ông ấy một mình sao lại lâu đến quá vậy?” rồi trong khi đi dọc theo con đường ấy đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang ngồi ở gốc cây nọ, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến những người ấy. … (như trên) … vào Giáo Pháp của bậc đạo sư không còn cần sự trợ duyên của người khác, họ đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! … (như trên) … Xin đức Thế Tôn chấp nhận chúng con là các nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.”
Sau đó, đức Thế Tôn đã nói với những người đàn ông ấy điều này:—“Này các đạo hữu, chớ đi bằng con đường ấy, hãy đi bằng con đường này.” Ngài đã chỉ cho đi bằng con đường khác.
Sau đó, bốn người đàn ông ấy (nghĩ rằng): “Hai gã đàn ông ấy sao lại lâu đến quá vậy?” rồi trong khi đi dọc theo con đường ấy đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang ngồi ở gốc cây nọ, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến những người ấy. … (như trên) … vào Giáo Pháp của bậc đạo sư không còn cần sự trợ duyên của người khác, họ đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! … (như trên) … Xin đức Thế Tôn chấp nhận chúng con là các nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.” Sau đó, đức Thế Tôn đã nói với những người đàn ông ấy điều này:—“Này các đạo hữu, chớ đi bằng con đường ấy, hãy đi bằng con đường này.” Ngài đã chỉ cho đi bằng con đường khác.
Sau đó, tám người đàn ông ấy (nghĩ rằng): “Bốn gã đàn ông ấy sao lại lâu đến quá vậy?” rồi trong khi đi dọc theo con đường ấy đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang ngồi ở gốc cây nọ, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến những người ấy. … (như trên) … vào Giáo Pháp của bậc đạo sư không còn cần sự trợ duyên của người khác, họ đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! … (như trên) … Xin đức Thế Tôn chấp nhận chúng con là các nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.” Sau đó, đức Thế Tôn đã nói với những người đàn ông ấy điều này:—“Này các đạo hữu, chớ đi bằng con đường ấy, hãy đi bằng con đường này.” Ngài đã chỉ cho đi bằng con đường khác.
Sau đó, mười sáu người đàn ông ấy (nghĩ rằng): “Tám gã đàn ông ấy sao lại lâu đến quá vậy?” rồi trong khi đi dọc theo con đường ấy đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang ngồi ở gốc cây nọ, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến những người ấy. … (như trên) … vào Giáo Pháp của bậc đạo sư không còn cần sự trợ duyên của người khác, họ đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! … (như trên) … Xin đức Thế Tôn chấp nhận chúng con là các nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.”
Sau đó, đức Thế Tôn đã nói với những người đàn ông ấy điều này:—“Này các đạo hữu, chớ đi bằng con đường ấy, hãy đi bằng con đường này.” Ngài đã chỉ cho đi bằng con đường khác.
Sau đó, người đàn ông ấy một mình đã đi đến gặp Devadatta, sau khi đến đã nói với Devadatta điều này:—“Thưa ngài, tôi không thể đoạt lấy mạng sống của đức Thế tôn ấy. Đức Thế Tôn ấy có đại thần lực, có đại năng lực.”
—“Này ông bạn, thôi đi. Ngươi chớ đoạt lấy mạng sống của Sa-môn Gotama, chính ta sẽ đoạt lấy mạng sống của Sa-môn Gotama.”
Inda-bh 18~18Vào lúc bấy giờ, đức Thế tôn đang đi kinh hành ở bóng râm của ngọn núi Gijjhakūṭa. Khi ấy, Devadatta đã leo lên ngọn núi Gijjhakūṭa và xô xuống tảng đá lớn (nghĩ rằng): “Ta sẽ đoạt lấy mạng sống của Sa-môn Gotama bằng vật này.” Hai đỉnh núi đã giao nhau và chận tảng đá ấy lại. Do đó, những mảnh vụn đã văng ra và làm chảy máu ở bàn chân của đức Thế Tôn.
Khi ấy, đức Thế Tôn đã ngước nhìn lên phía trên và đã nói với Devadatta điều này:—“Này kẻ rồ dại, nhiều điều vô phước nghiêm trọng đã gây nên bởi ngươi, là việc ngươi có tâm độc ác, có tâm giết hại đã làm chảy máu của Như Lai.”
Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các vị tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, đây là nghiệp vô gián đầu tiên mà Devadatta đã tích lũy, là việc đã làm chảy máu của Như Lai bằng tâm độc ác, bằng tâm giết hại.”
Các tỳ khưu đã nghe rằng: “Nghe nói Devadatta mưu đồ giết hại đức Thế Tôn.” Và các vị tỳ khưu ấy đi kinh hành vòng quanh trú xá của đức Thế Tôn tạo nên âm thanh ồn tiếng động lớn trong khi đọc tụng để bảo vệ, che chở, và canh gác cho đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nghe tiếng động ồn, tiếng động lớn, tiếng đọc tụng, sau khi nghe đã bảo đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, tiếng động ồn, tiếng động lớn, tiếng đọc tụng ấy là gì vậy?”
—“Bạch ngài, các tỳ khưu đã nghe rằng: ‘Nghe nói Devadatta mưu đồ giết hại đức Thế Tôn.’ Bạch ngài, và các vị tỳ khưu ấy đi kinh hành vòng quanh trú xá của đức Thế Tôn tạo nên âm thanh ồn và âm thanh lớn trong khi đọc tụng để bảo vệ, che chở, và canh gác cho đức Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, đó là tiếng động ồn, tiếng động lớn, tiếng đọc tụng ấy.”
—“Này Ānanda, chính vì điều ấy ngươi hãy gọi các tỳ khưu ấy với lời nói của ta rằng: ‘Bậc Đạo Sư gọi các đại đức.’”
—“Bạch ngài, xin vâng.” Rồi đại đức Ānanda nghe theo đức Thế Tôn đã đi đến gặp các vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này:—“Bậc Đạo Sư gọi các đại đức.”
—“Này đại đức, xin vâng.” Rồi các vị tỳ khưu ấy nghe theo đại đức Ānanda đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã nói với các vị tỳ khưu ấy đang ngồi một bên điều này:
Inda-bh 19~19—“Này các tỳ khưu, việc người nào có thể tước đoạt mạng sống của đức Như Lai bằng sự hãm hại là không hợp lý và không có cơ sở. Này các tỳ khưu, các đức Như Lai Vô Dư Niết Bàn không do sự hãm hại.
Này các tỳ khưu, có năm hạng đạo sư này đang hiện hữu ở trên đời. Thế nào là năm? Này các tỳ khưu, ở đây có hạng đạo sư trong khi có giới không thanh tịnh lại tỏ ra rằng: ‘Ta có giới thanh tịnh’ và ‘Giới của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Các đệ tử biết về chính vị ấy như vầy: “Ngài đạo sư này trong khi có giới không thanh tịnh lại tỏ ra rằng: ‘Ta có giới thanh tịnh’ và ‘Giới của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Nếu chúng ta nói cho các cư sĩ, ông ta sẽ không hoan hỷ. Điều mà ông ta không hoan hỷ, tại sao chúng ta lại gây nên điều ấy cho ông ta? Vả lại, ông ta được hài lòng với vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh; điều gì ông ta sẽ làm, chính ông ta sẽ biết điều ấy.” Này các tỳ khưu, như vậy là các đệ tử bảo vệ vị đạo sư về giới, và như vậy là vị đạo sư mong đợi sự bảo vệ về giới từ các đệ tử.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, ở đây có hạng đạo sư trong khi có sự nuôi mạng không thanh tịnh lại tỏ ra rằng: ‘Ta có sự nuôi mạng thanh tịnh’ … (như trên) … Này các tỳ khưu, như vậy là các đệ tử bảo vệ vị đạo sư về việc nuôi mạng, và như vậy là vị đạo sư mong đợi sự bảo vệ về việc nuôi mạng từ các đệ tử.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, ở đây có hạng đạo sư trong khi có sự thuyết pháp không thanh tịnh lại tỏ ra rằng: ‘Ta có sự thuyết pháp thanh tịnh’ … (như trên) … Này các tỳ khưu, như vậy là các đệ tử bảo vệ vị đạo sư về việc thuyết pháp, và như vậy là vị đạo sư mong đợi sự bảo vệ về việc thuyết pháp từ các đệ tử.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, ở đây có hạng đạo sư trong khi có lối giải thích không thanh tịnh lại tỏ ra rằng: ‘Ta có lối giải thích thanh tịnh’ … (như trên) … Này các tỳ khưu, như vậy là các đệ tử bảo vệ vị đạo sư về lối giải thích, và như vậy là vị đạo sư mong đợi sự bảo vệ về lối giải thích từ các đệ tử.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa, ở đây có hạng đạo sư trong khi có tri kiến không thanh tịnh lại tỏ ra rằng: ‘Ta có tri kiến thanh tịnh’ … (như trên) … Này các tỳ khưu, như vậy là các đệ tử bảo vệ vị đạo sư về tri kiến, và như vậy là vị đạo sư mong đợi sự bảo vệ về tri kiến từ các đệ tử. Này các tỳ khưu, năm hạng đạo sư này đang hiện hữu ở trên đời.
Và này các tỳ khưu, ta có giới thanh tịnh và biết rằng: ‘Ta có giới thanh tịnh’ và ‘Giới của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Các đệ tử không cần bảo vệ ta về giới, và ta cũng không mong đợi sự bảo vệ về giới từ các đệ tử.
Này các tỳ khưu, ta nuôi mạng thanh tịnh và biết rằng: ‘Ta có sự nuôi mạng thanh tịnh’ và ‘Sự nuôi mạng của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Các đệ tử không cần bảo vệ ta về sự nuôi mạng, và ta cũng không mong đợi sự bảo vệ về sự nuôi mạng từ các đệ tử.
Này các tỳ khưu, ta thuyết pháp thanh tịnh và biết rằng: ‘Ta có sự thuyết pháp thanh tịnh’ và ‘Sự thuyết pháp của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Các đệ tử không cần bảo vệ ta về sự thuyết pháp, và ta cũng không mong đợi sự bảo vệ về sự thuyết pháp từ các đệ tử.
Này các tỳ khưu, ta có lối giải thích thanh tịnh và biết rằng: ‘Ta có lối giải thích thanh tịnh’ và ‘Lối giải thích của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Các đệ tử không cần bảo vệ ta về lối giải thích, và ta cũng không mong đợi sự bảo vệ về lối giải thích từ các đệ tử.
Này các tỳ khưu, ta có tri kiến thanh tịnh và biết rằng: ‘Ta có tri kiến thanh tịnh’ và ‘Tri kiến của ta thanh tịnh, trong sạch, không bị hoen ố.’ Các đệ tử không cần bảo vệ ta về tri kiến, và ta cũng không mong đợi sự bảo vệ về tri kiến từ các đệ tử.
Này các tỳ khưu, việc người nào có thể tước đoạt mạng sống của đức Như Lai bằng sự hãm hại là không hợp lý và không có cơ sở. Này các tỳ khưu, các đức Như Lai Vô Dư Niết Bàn không do sự hãm hại.
Này các tỳ khưu, các ngươi hãy đi về trú xá của mỗi người. Này các tỳ khưu, các đức Như Lai không cần được bảo vệ.”
Inda-bh 20~20Vào lúc bấy giờ, ở thành Rājagaha có con voi dữ tợn tên Nālāgiri là con thú giết người. Khi ấy, Devadatta sau khi vào thành Rājagaha đã đi đến chuồng voi và đã nói với những người quản tượng điều này:—“Này các người, chúng tôi là những thân quyến của đức vua, có quyền lực để đưa kẻ có chức vụ thấp lên chức vụ cao, còn làm tăng thêm luôn cả thực phẩm và lương bổng nữa. Này các người, chính vì điều ấy khi nào Sa-môn Gotama đi vào con đường này, khi ấy các ngươi hãy thả con voi Nālāgiri này ra và cho đi theo con đường này.”—“Thưa ngài, xin vâng.” Những người quản tượng ấy đã trả lời Devadatta.
Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y cầm y bát cùng với nhiều vị tỳ khưu đã đi vào thành Rājagaha để khất thực. Sau đó, đức Thế Tôn đã đi vào con đường ấy. Những người quản tượng ấy đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang đi vào con đường ấy, sau khi nhìn thấy đã thả con voi Nālāgiri và cho đi theo con đường ấy. Con voi Nālāgiri đã nhìn thấy đức Thế Tôn từ đàng xa đang đi lại gần, sau khi nhìn thấy đã vươn vòi lên, tai và đuôi dựng đứng, rồi đã chạy lại đức Thế Tôn. Các vị tỳ khưu ấy đã nhìn thấy con voi Nālāgiri từ đàng xa đang đi lại gần, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, con voi Nālāgiri này dữ tợn, là con thú giết người đã đi vào con đường này. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy trở lui, xin đấng Thiện Thệ hãy trở lui.”—“Này các tỳ khưu, hãy đi đến, chớ có sợ hãi. Này các tỳ khưu, việc người nào có thể tước đoạt mạng sống của đức Như Lai bằng sự hãm hại là không hợp lý và không có cơ sở. Này các tỳ khưu, các đức Như Lai Vô Dư Niết Bàn không do sự hãm hại.”
Đến lần thứ nhì, các vị tỳ khưu ấy … (như trên) … Đến lần thứ ba, các vị tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, con voi Nālāgiri này dữ tợn, là con thú giết người đã đi vào con đường này. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy trở lui, xin đấng Thiện Thệ hãy trở lui.”
—“Này các tỳ khưu, hãy đi đến, chớ có sợ hãi. Này các tỳ khưu, việc người nào có thể tước đoạt mạng sống của đức Như Lai bằng sự hãm hại là không hợp lý và không có cơ sở. Này các tỳ khưu, các đức Như Lai Vô Dư Niết Bàn không do sự hãm hại.”
Inda-bh 21~21Vào lúc bấy giờ, dân chúng trèo lên và nấp ở các tòa nhà dài, ở các khu nhà lớn, ở các mái che. Ở nơi ấy, những người nào không có đức tin, không mộ đạo, kém sáng suốt, những người ấy đã nói như vầy:—“Này quý vị, chắc chắn ngài Đại Sa-môn Gotama đẹp trai sẽ bị con long tượng gây thương tích.” Còn những người nào có đức tin, mộ đạo, sáng suốt, những người ấy đã nói như vầy:—“Này quý vị, chốc nữa thôi chắc chắn con long tượng này sẽ bị Tượng Chúa khuất phục.”
Khi ấy, đức Thế Tôn đã rải tâm từ đến con voi Nālāgiri. Sau đó, con voi Nālāgiri đã được đức Thế Tôn rải luồng tâm từ đến nên đã hạ vòi xuống rồi đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi đến đã đứng ở phía trước đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã dùng tay phải xoa ở trán của con voi Nālāgiri rồi đã nói với con voi Nālāgiri những lời kệ này:
“Này voi, chớ có đối đầu với Tượng Chúa. Này voi, bởi vì đối đầu với Tượng Chúa là khổ. Này voi, bởi vì cõi trời là không có cho kẻ giết Tượng Chúa, từ cõi này (sẽ) đi đến cõi khác.
Và chớ có ngạo mạn, và chớ có xao lãng, bởi vì những kẻ bị xao lãng không về được cõi trời. Bằng cách nào ngươi sẽ đi về cõi trời thì chính ngươi sẽ làm theo như cách ấy.”
Khi ấy, con voi Nālāgiri đã dùng vòi lấy các hạt bụi ở bàn chân của đức Thế Tôn rắc trên đầu nó, đã khum xuống chào, rồi đã bước lui trong lúc vẫn nhìn đức Thế Tôn. Sau đó, con voi Nālāgiri đã về lại chuồng và đứng tại chỗ của nó. Và như thế, con voi Nālāgiri đã trở nên thuần phục. Vào lúc bấy giờ, dân chúng ngâm nga bài kệ này:
“Nhiều kẻ được thuần hóa bằng gậy gộc, bằng các gậy móc câu, và bằng các roi vọt, con voi được vị Đại Ẩn Sĩ điều phục không bằng gậy gộc, không bằng vũ khí.”
Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Devadatta này quả thật ác độc, không biết xấu hổ, bởi vì ở nơi đây lại dám ra sức giết hại Sa-môn Gotama là vị có đại thần lực như thế này, có đại năng lực như thế này.”
Lợi lộc và sự trọng vọng của Devadatta đã sút giảm. Còn lợi lộc và sự trọng vọng của đức Thế Tôn đã tăng trưởng.
Inda-bh 22~22Vào lúc bấy giờ, Devadatta do lợi lộc và sự trọng vọng bị sút giảm nên phải cùng phe nhóm liên tục yêu cầu ở các gia đình rồi thọ thực. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử này lại liên tục yêu cầu ở các gia đình rồi thọ thực? Ai lại không thích sự sung túc? Ai lại không hài lòng với đồ ăn ngọt ngào?”
Các tỳ khưu đã nghe dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao Devadatta cùng phe nhóm lại liên tục yêu cầu ở các gia đình rồi thọ thực?”
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này Devadatta, nghe nói ngươi cùng phe nhóm liên tục yêu cầu ở các gia đình rồi thọ thực, có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy đối với các tỳ khưu ta sẽ quy định vật thực theo nhóm ba vị ở các gia đình vì ba lý do: “Nhằm kiềm chế những kẻ tồi tệ, vì sự sống an lạc của các tỳ khưu hiền thiện: ‘Chớ để các tỳ khưu ác xấu nương tựa vào phe cánh mà chia rẽ hội chúng,’ và vì lòng trắc ẩn đối với các gia đình. Và trong việc vật thực dâng chung nhóm, nên được hành xử theo Pháp.”392
Inda-bh 23~23Sau đó, Devadatta đã đi đến gặp Kokālika, Kaṭamorakatissa con trai của Khaṇḍadevī, và Samuddadatto, sau khi đến đã nói với Kokālika, Kaṭamorakatissa con trai của Khaṇḍadevī, và Samuddadatto điều này:—“Này các đại đức, hãy đến. Chúng ta sẽ tiến hành việc chia rẽ hội chúng của Sa-môn Gotama, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo.”
Khi được nói như thế, Kokālika đã nói với Devadatta điều này:—“Này đại đức, Sa-môn Gotama thật sự có đại thần lực, có đại năng lực. Làm thế nào chúng ta sẽ tiến hành việc chia rẽ hội chúng của Sa-môn Gotama, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo được?”
—“Này các đại đức, hãy đến. Chúng ta sẽ đi đến gặp Sa-môn Gotama và yêu cầu năm sự việc: ‘Bạch ngài, đức Thế Tôn là người khen ngợi sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, đây là năm sự việc đưa đến sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức.
Bạch ngài, lành thay các tỳ khưu nên là các vị sống ở rừng cho đến trọn đời, vị nào cư ngụ trong làng thì vị ấy phạm tội.
Là các vị khất thực cho đến trọn đời, vị nào ưng thuận sự thỉnh mời thì vị ấy phạm tội.
Là các vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ cho đến trọn đời, vị nào ưng thuận y của gia chủ thì vị ấy phạm tội.
Là các vị sống ở gốc cây cho đến trọn đời, vị nào đi đến mái che thì vị ấy phạm tội.
Không ăn cá thịt cho đến trọn đời, vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm tội.’
Sa-môn Gotama sẽ không cho phép năm sự việc này. Và chúng ta đây sẽ công bố cho dân chúng biết về năm sự việc này.”
—“Này đại đức, với năm sự việc này có thể tiến hành việc chia rẽ hội chúng của Sa-môn Gotama, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo. Này đại đức, bởi vì dân chúng có niềm tin với khổ hạnh.”
Inda-bh 24~24Sau đó, Devadatta cùng phe nhóm đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Devadatta đã nói với đức Thế Tôn điều này:
—“Bạch ngài, đức Thế Tôn là người khen ngợi sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, đây là năm sự việc đưa đến sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức.
Bạch ngài, lành thay các tỳ khưu nên là các vị sống ở rừng cho đến trọn đời, vị nào cư ngụ trong làng thì vị ấy phạm tội.
Là các vị khất thực cho đến trọn đời, vị nào ưng thuận sự thỉnh mời thì vị ấy phạm tội.
Là các vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ cho đến trọn đời, vị nào ưng thuận y của gia chủ thì vị ấy phạm tội.
Là các vị sống ở gốc cây cho đến trọn đời, vị nào đi đến mái che thì vị ấy phạm tội.
Không ăn cá thịt cho đến trọn đời, vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm tội.”
—“Này Devadatta, thôi đi. Vị nào muốn thì hãy trở thành vị sống ở rừng, vị nào muốn thì hãy cư ngụ ở trong làng.
Vị nào muốn thì hãy trở thành vị khất thực, vị nào muốn thì hãy ưng thuận việc thỉnh mời.
Vị nào muốn thì hãy là vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ, vị nào muốn thì hãy ưng thuận y của gia chủ.
Này Devadatta, chỗ trú ngụ là gốc cây trong tám tháng được ta cho phép, cá thịt thanh tịnh với ba điều kiện: ‘Không thấy, không nghe, không nghi’ được ta cho phép.”
Inda-bh 25~25Khi ấy, Devadatta (biết rằng): ‘Đức Thế Tôn không cho phép năm sự việc này’ nên mừng rỡ, phấn chấn cùng phe nhóm đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, Devadatta cùng phe nhóm đã đi vào thành Rājagaha công bố cho dân chúng biết về năm sự việc:
—“Này các đạo hữu, chúng tôi đã đi đến gặp Sa-môn Gotama và đã yêu cầu năm sự việc: ‘Bạch ngài, đức Thế Tôn là người khen ngợi sự ít ham muốn, … (như trên) … là người khen ngợi sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, đây là năm sự việc đưa đến sự ít ham muốn, … (như trên) … sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, lành thay các tỳ khưu nên là các vị sống ở rừng cho đến trọn đời, … (như trên) … Không ăn cá thịt cho đến trọn đời, vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm tội.’ Sa-môn Gotama không cho phép năm sự việc này. Còn chúng tôi đây thọ trì và thực hành năm sự việc này.”
Ở nơi ấy, những người nào không có đức tin, không mộ đạo, kém sáng suốt, những người ấy đã nói như vầy:—“Các Sa-môn Thích tử này đúng là có sự từ bỏ, có sở hành đoạn trừ; còn Sa-môn Gotama là kẻ xa hoa nên nghĩ đến việc xa hoa.” Còn những người nào có đức tin, mộ đạo, sáng suốt, những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao Devadatta lại ra sức việc chia rẽ hội chúng của đức Thế Tôn, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo?” Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao Devadatta lại ra sức việc chia rẽ hội chúng của đức Thế Tôn, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo?”
Inda-bh 26~26Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này Devadatta, nghe nói ngươi ra sức việc chia rẽ hội chúng, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo, có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
—“Này Devadatta, thôi đi. Ngươi chớ có thích thú việc chia rẽ hội chúng. Này Devadatta, chia rẽ hội chúng là việc nghiêm trọng. Này Devadatta, kẻ nào phá vỡ sự hợp nhất, kẻ ấy gây nên tội lỗi tồn tại trọn kiếp và bị nung nấu trong địa ngục trọn kiếp. Và này Devadatta, người nào làm hợp nhất hội chúng bị chia rẽ người ấy tạo nên phước báu của Phạm Thiên và sẽ được an vui ở cõi trời trọn kiếp. Này Devadatta, thôi đi. Ngươi chớ có thích thú việc chia rẽ hội chúng. Này Devadatta, chia rẽ hội chúng là việc nghiêm trọng.”
Sau đó vào buổi sáng, đại đức Ānanda đã mặc y, cầm y bát, đi vào thành Rājagaha để khất thực. Devadatta đã nhìn thấy đại đức Ānanda đang đi khất thực ở trong thành Rājagaha, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp đại đức Ānanda, sau khi đến đã nói với đại đức Ānanda điều này:—“Này đại đức Ānanda, từ nay trở đi tôi sẽ hành lễ Uposatha và sẽ thực hiện các hành sự của hội chúng không cần đến đức Thế Tôn, không cần đến hội chúng tỳ khưu.”
Sau đó, khi đã đi khất thực ở trong thành Rājagaha xong, đại đức Ānanda sau bữa ăn trên đường đi khất thực trở về đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Ānanda đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, nơi đây vào buổi sáng, con đã mặc y, cầm y bát, rồi đi vào thành Rājagaha để khất thực. Bạch ngài, Devadatta đã nhìn thấy con đang đi khất thực ở trong thành Rājagaha, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp con, sau khi đến đã nói với con điều này: ‘Này đại đức Ānanda, từ nay trở đi tôi sẽ hành lễ Uposatha và sẽ thực hiện các hành sự của hội chúng không cần đến đức Thế Tôn, không cần đến hội chúng tỳ khưu.’ Bạch ngài, kể từ nay Devadatta sẽ chia rẽ hội chúng.”
Sau đó, khi đã hiểu ra sự việc ấy, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Điều tốt là dễ làm bởi người tốt, điều tốt là khó làm bởi kẻ xấu. Điều ác là dễ làm bởi kẻ xấu, điều ác là khó làm bởi các vị Thánh.”
Tụng phẩm thứ nhì.
Inda-bh 1~27Khi ấy, vào ngày lễ Uposatha, Devadatta đã từ chỗ ngồi đứng dậy phân phát thẻ biểu quyết (nói rằng):—“Này các đại đức, chúng tôi đã đi đến gặp Sa-môn Gotama và đã yêu cầu năm sự việc:
‘Bạch ngài, đức Thế Tôn là người khen ngợi sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, đây là năm sự việc đưa đến sự ít ham muốn, … (như trên) … sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, lành thay các tỳ khưu nên là các vị sống ở rừng cho đến trọn đời, vị nào cư ngụ trong làng thì vị ấy phạm tội. … (như trên) … Không ăn cá thịt cho đến trọn đời, vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm tội.’ Sa-môn Gotama không cho phép năm sự việc này. Còn chúng tôi đây thọ trì và thực hành năm sự việc này. Đại đức nào đồng ý năm sự việc này xin hãy nhận lãnh thẻ biểu quyết.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu dòng dõi Vajji ở thành Vesali có số lượng năm trăm vị vừa mới xuất gia và không hiểu biết rõ sự việc. Các vị ấy (nghĩ rằng): ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư’ nên đã nhận lấy thẻ biểu quyết.
Khi ấy, Devadatta đã chia rẽ hội chúng và dẫn năm trăm tỳ khưu ra đi về phía đỉnh đồi Gayā.
Sau đó, Sāriputta và Moggallāna đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Sāriputta đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, Devadatta đã chia rẽ hội chúng và dẫn năm trăm tỳ khưu ra đi về phía đỉnh đồi Gayā.”
—“Này Sāriputta và Moggallāna, không lẽ các ngươi không có lòng trắc ẩn đối với các tỳ khưu mới tu ấy hay sao? Này Sāriputta và Moggallāna, các ngươi hãy đi đến trước khi các tỳ khưu ấy tạo nên điều sai trái và hư hỏng.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Rồi Sāriputta và Moggallāna nghe theo đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi đã ra đi về phía đỉnh đồi Gayā.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đứng không xa đức Thế Tôn đang khóc lóc. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:—“Này tỳ khưu, vì sao ngươi khóc?”
—“Bạch ngài, ngay cả hai vị Thinh Văn hàng đầu của đức Thế Tôn là Sāriputta và Moggallāna cũng thích thú với giáo lý của Devadatta và đi đến với Devadatta rồi.”
—“Này tỳ khưu, việc Sāriputta và Moggallāna có thể thích thú với giáo lý của Devadatta là việc không hợp lý và không có cơ sở; tuy nhiên, họ đã đi để cảnh tỉnh các tỳ khưu.”
Inda-bh 2~28Vào lúc bấy giờ, Devadatta được hội chúng đông đảo vây quanh đang thuyết giảng Giáo Pháp. Devadatta đã nhìn thấy Sāriputta và Moggallāna đang từ đàng xa đi lại, sau khi nhìn thấy đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, hãy nhìn xem giáo lý của ta được khéo thuyết như thế nào; ngay cả các Thinh Văn hàng đầu của Sa-môn Gotama là Sāriputta và Moggallāna cũng thích thú với giáo lý của ta và đi đến với ta nữa.” Khi được nói như thế, Kokālika đã nói với Devadatta điều này:—“Này đại đức Devadatta, chớ có tin tưởng Sāriputta và Moggallāna. Sāriputta và Moggallāna có ước muốn xấu xa, bị chi phối bởi những ước muốn xấu xa.”
—“Này đại đức, thôi đi. Hãy chào mừng bọn họ bởi vì họ thích thú với giáo lý của ta.”
Sau đó, Devadatta đã mời đại đức Sāriputta với một nửa chỗ ngồi (của mình):—“Này đại đức Sāriputta, hãy đến. Hãy ngồi xuống ở đây.”
—“Này đại đức, thôi đi.” Rồi đại đức Sāriputta đã chọn chỗ ngồi khác và đã ngồi xuống ở một góc. Còn đại đức Mahāmoggallāna cũng đã chọn chỗ ngồi khác và đã ngồi xuống ở một góc.
Khi ấy, Devadatta đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho các tỳ khưu bằng bài Pháp thoại gần như trọn đêm rồi đã yêu cầu đại đức Sāriputta rằng:—“Này đại đức Sāriputta, hội chúng tỳ khưu đã qua cơn dã dượi và buồn ngủ. Này đại đức Sāriputta, mong rằng có bài Pháp thoại dành cho các tỳ khưu khởi đến cho ngươi. Lưng tôi bị mỏi nên tôi sẽ nằm duỗi lưng ra.”—“Này đại đức, được rồi.” Đại đức Sāriputta đã trả lời Devadatta.
Sau đó, Devadatta đã xếp y hai lớp lại làm tư rồi thực hiện thế nằm ở phía bên hông phải. Trong khi vị ấy mệt mỏi, thất niệm, không tỉnh giác nên chỉ chốc lát đã chìm vào giấc ngủ.
Khi ấy, đại đức Sāriputta đã giáo huấn và giảng dạy cho các tỳ khưu với bài Pháp thoại giảng dạy về sự kỳ diệu của thần thông về giáo hóa. Đại đức Mahāmoggallāna đã giáo huấn và giảng dạy cho các tỳ khưu bằng bài Pháp thoại giảng dạy về sự kỳ diệu của thần thông. Sau đó, trong khi đang được giáo huấn và giảng dạy bởi đại đức Sāriputta với sự giảng dạy về sự kỳ diệu của thần thông về giáo hóa và bởi đại đức Mahāmoggallāna với sự giảng dạy về sự kỳ diệu của thần thông thì Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi cho các tỳ khưu ấy: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
Khi ấy, đại đức Sāriputta đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, chúng ta hãy đi đến với đức Thế Tôn. Vị nào thích thú với Giáo Pháp của đức Thế Tôn ấy, vị ấy hãy đi đến.” Sau đó, Sāriputta và Moggallāna đã đưa năm trăm vị tỳ khưu ấy đi đến Veḷuvana. Khi ấy, Kokālika đã đánh thức Devadatta:—“Này đại đức Devadatta, hãy dậy đi. Các tỳ khưu ấy đã bị Sāriputta và Moggallāna dẫn đi rồi. Này đại đức Devadatta, không phải tôi đã nói với đại đức rằng: ‘Này đại đức Devadatta, chớ có tin tưởng Sāriputta và Moggallāna. Sāriputta và Moggallāna có ước muốn xấu xa, bị chi phối bởi những ước muốn xấu xa.’” Khi ấy, ngay tại chỗ ấy máu nóng đã ứa ra từ miệng của Devadatta.
Inda-bh 3~29Sau đó, Sāriputta và Moggallāna đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Sāriputta đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, lành thay nếu các tỳ khưu là những người ủng hộ kẻ chia rẽ (hội chúng) có thể tu lên bậc trên lại.”
—“Này Sāriputta, thôi đi. Ngươi chớ có thích thú với việc tu lên bậc trên lại của các tỳ khưu là những người ủng hộ kẻ chia rẽ. Này Sāriputta, chính vì điều ấy ngươi hãy cho các tỳ khưu là những người ủng hộ kẻ chia rẽ trình báo tội thullaccaya. Này Sāriputta, Devadatta đã cư xử với ngươi như thế nào?”
—“Bạch ngài, cũng tương tợ như đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho các tỳ khưu bằng bài Pháp thoại gần như trọn đêm rồi đã yêu cầu con rằng: ‘Này Sāriputta, hội chúng tỳ khưu đã qua cơn dã dượi và buồn ngủ. Này Sāriputta, mong rằng có bài Pháp thoại dành cho các tỳ khưu khởi đến cho ngươi. Lưng ta bị mỏi nên ta sẽ nằm duỗi lưng ra.’ Bạch ngài, Devadatta đã thực hành đúng y như vậy.”
Khi ấy, đức Thế tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, vào thời trước đây, có cái hồ lớn trong khu vực toàn là rừng. Các con long tượng sống nương tựa vào cái hồ đó. Chúng lặn xuống cái hồ ấy, dùng vòi nhổ lên cọng và ngó sen, rửa kỹ lưỡng cho sạch sẽ, rồi đã nhai (cọng và ngó sen) không còn bùn và nuốt xuống. Điều ấy đem lại cho chúng vóc dáng và sức mạnh. Không vì lý do đó mà chúng phải chết đi hoặc khổ như là chết. Này các tỳ khưu, nhưng trong số các con long tượng khổng lồ ấy có những con còn nhỏ, trẻ, non nớt, đang học hỏi. Những con này đã lặn xuống cái hồ ấy, dùng vòi nhổ lên cọng và ngó sen, đã không rửa kỹ lưỡng cho sạch sẽ, rồi đã nhai (cọng và ngó sen) còn dính bùn và nuốt xuống. Điều ấy đã không đem lại cho chúng vóc dáng và sức mạnh. Vì lý do đó chúng phải chết đi hoặc khổ như là chết. Này các tỳ khưu, tương tợ như thế Devadatta là kẻ tội nghiệp trong khi bắt chước ta sẽ phải tiêu hoại.”
“Con long tượng khổng lồ làm lay chuyển trái đất trong khi đang ăn cọng sen và quan sát các dòng sông, kẻ tội nghiệp trong khi bắt chước ta, ví như con voi con sau khi ăn đất bùn, sẽ phải chết.”
Inda-bh 4~30“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có tám yếu tố xứng đáng để đi làm sứ giả. Tám yếu tố ấy là gì? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu là người lắng nghe, là người làm cho (kẻ khác) lắng nghe, là người hướng dẫn, là người hiểu rộng, là người có sự nhận thức, là người làm cho (kẻ khác) có sự nhận thức, là người rành rẽ về việc có lợi ích hoặc không có lợi ích, không phải là người gây nên các sự tranh cãi. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có tám yếu tố này xứng đáng để đi làm sứ giả.
Này các tỳ khưu, Sāriputta có tám yếu tố xứng đáng để đi làm sứ giả. Tám yếu tố ấy là gì? Này các tỳ khưu, ở đây Sāriputta là người lắng nghe, là người làm cho (kẻ khác) lắng nghe, là người hướng dẫn, là người hiểu rộng, là người có sự nhận thức, là người làm cho (kẻ khác) có sự nhận thức, là người rành rẽ về việc có lợi ích hoặc không có lợi ích, không phải là người gây nên các sự tranh cãi. Này các tỳ khưu, Sāriputta có tám yếu tố này xứng đáng để đi làm sứ giả.”
“Nếu vị nào không run sợ sau khi đi đến nơi hội chúng có sự tranh cãi ồn ào, là vị không bỏ dở lời nói, và không che giấu lời giảng dạy, vị nói có sự mạch lạc, bị chất vấn không nổi sân; vị tỳ khưu như thế xứng đang đi làm vị sứ giả.”
“Này các tỳ khưu, Devadatta có tâm bị chế ngự, bị ám ảnh bởi tám điều không đúng Chánh Pháp là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được. Tám điều ấy là gì? Này các tỳ khưu, Devadatta có tâm bị chế ngự, bị ám ảnh bởi lợi lộc, là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được. Này các tỳ khưu, ... bởi không lợi lộc … (như trên) … Này các tỳ khưu, ... bởi danh vọng … (như trên) … Này các tỳ khưu, ... bởi không danh vọng … (như trên) … Này các tỳ khưu, ... bởi sự trọng vọng … (như trên) … Này các tỳ khưu, ... bởi sự không trọng vọng … (như trên) … Này các tỳ khưu, ... bởi ước muốn xấu xa … (như trên) … Này các tỳ khưu, Devadatta có tâm bị chế ngự, bị ám ảnh bởi bạn bè xấu xa, là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được. Này các tỳ khưu, Devadatta có tâm bị chế ngự, bị ám ảnh bởi tám điều không đúng Chánh Pháp này là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được.
Này các tỳ khưu, tốt đẹp thay vị tỳ khưu có thể sống hoàn toàn chế ngự lợi lộc đã được sanh khởi, … (như trên) … không lợi lộc đã được sanh khởi, … (như trên) … danh vọng đã được sanh khởi, … (như trên) … không danh vọng đã được sanh khởi, … (như trên) … sự trọng vọng đã được sanh khởi, … (như trên) … sự không trọng vọng đã được sanh khởi, … (như trên) … ước muốn xấu xa đã được sanh khởi, … (như trên) … có thể sống hoàn toàn chế ngự bạn hữu xấu xa đã được sanh khởi.
Và này các tỳ khưu, tùy thuận lợi ích và ý định gì mà vị tỳ khưu có thể sống hoàn toàn chế ngự lợi lộc đã được sanh khởi, ―nt― không lợi lộc đã được sanh khởi, ―nt― danh vọng đã được sanh khởi, ―nt― không danh vọng đã được sanh khởi, ―nt― sự trọng vọng đã được sanh khởi, ―nt― sự không trọng vọng đã được sanh khởi, ―nt― ước muốn xấu xa đã được sanh khởi, ―nt― có thể sống hoàn toàn chế ngự bạn hữu xấu xa đã được sanh khởi? Này các tỳ khưu, bởi vì đối với vị ấy trong khi sống hoàn toàn không chế ngự lợi lộc đã được sanh khởi, các lậu hoặc có đặc tính phá hoại và thiêu đốt có thể sanh khởi (đến vị ấy); trong khi sống hoàn toàn chế ngự lợi lộc đã được sanh khởi, như thế các lậu hoặc có đặc tính phá hoại và thiêu đốt ấy không hình thành được.
Này các tỳ khưu, bởi vì đối với vị ấy trong khi sống hoàn toàn không chế ngự không lợi lộc đã được sanh khởi, ―nt― danh vọng đã được sanh khởi, ―nt― không danh vọng đã được sanh khởi, ―nt― sự trọng vọng đã được sanh khởi, ―nt― sự không trọng vọng đã được sanh khởi, ―nt― ước muốn xấu xa đã được sanh khởi, ―nt― bạn hữu xấu xa đã được sanh khởi, các lậu hoặc có đặc tính phá hoại và thiêu đốt có thể sanh khởi (đến vị ấy); trong khi sống hoàn toàn chế ngự bạn hữu xấu xa đã được sanh khởi, như thế các lậu hoặc có đặc tính phá hoại và thiêu đốt ấy không thể hình thành được.
Này các tỳ khưu, tùy thuận lợi ích và ý định này mà vị tỳ khưu có thể sống hoàn toàn chế ngự lợi lộc đã được sanh khởi, … (như trên) … không lợi lộc đã được sanh khởi, ―nt― danh vọng đã được sanh khởi, ―nt― không danh vọng đã được sanh khởi, ―nt― sự trọng vọng đã được sanh khởi, ―nt― sự không trọng vọng đã được sanh khởi, ―nt― ước muốn xấu xa đã được sanh khởi, ―nt― vị ấy có thể sống hoàn toàn chế ngự bạn hữu xấu xa đã được sanh khởi.
Này các tỳ khưu, do đó, ở đây chúng ta sẽ sống hoàn toàn chế ngự lợi lộc đã được sanh khởi, ―nt― không lợi lộc đã được sanh khởi, ―nt― danh vọng đã được sanh khởi, ―nt― không danh vọng đã được sanh khởi, ―nt― sự trọng vọng đã được sanh khởi, ―nt― sự không trọng vọng đã được sanh khởi, ―nt― ước muốn xấu xa đã được sanh khởi, chúng ta sẽ sống hoàn toàn chế ngự bạn hữu xấu xa đã được sanh khởi.’ Này các tỳ khưu, các ngươi nên học tập y như thế ấy.”
Inda-bh 5~31“Này các tỳ khưu, Devadatta có tâm bị chế ngự, bị ám ảnh bởi ba điều không đúng Chánh Pháp là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được. Ba điều ấy là gì? Ước muốn xấu xa, bạn hữu xấu xa, đã đạt đến sự dừng lại ở khoảng giữa với sự đắc chứng đặc biệt có tính chất thấp thỏi (là các tầng thiền và các pháp thần thông). Này các tỳ khưu, Devadatta có tâm bị chế ngự, bị ám ảnh bởi ba điều không đúng Chánh Pháp này là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được.”
i. “Hiển nhiên, các ngươi chớ để bất cứ ước muốn xấu xa nào ở thế gian sanh khởi. Cũng bởi điều này đây, các ngươi hãy biết là có cảnh giới tương ứng đối với các ước muốn xấu xa.
ii. Devadatta, được biết là ‘người sáng trí,’ được công nhận ‘bản thân đã chứng thiền,’ đã trụ vững như là đang chói sáng với danh vọng, là điều tôi đã được nghe.
iii. Kẻ ấy, thực hành theo sự xao lãng, sau khi công kích đấng Như Lai ấy, đã đi đến địa ngục Avīci có bốn cửa chốn gây nên nỗi kinh hoàng.
iv. Bởi vì kẻ gây hại đến bậc không (có tâm địa) xấu xa không làm việc ác, (quả) ác xấu xảy đến cho chính kẻ có tâm địa xấu xa, không nhân hậu ấy.
v. Kẻ nào suy nghĩ để làm ô nhiễm đại dương bằng lọ thuốc độc, với vật ấy kẻ ấy không thể làm ô nhiễm bởi vì đại dương là bao la, to lớn.
vi. Tương tợ y như thế, kẻ nào dùng lời nói (bôi nhọ) hãm hại đấng Thiện Thệ là bậc đã đạt đến sự hoàn hảo, có tâm thanh tịnh; lời nói (bôi nhọ) không có tác động ở nơi vị ấy.
vii. Bậc sáng trí nên kết bạn hữu với hạng người như thế ấy, và nên phục vụ người ấy. Vị tỳ khưu theo đường lối của người ấy sẽ đạt được sự chấm dứt khổ đau.”
“Ekato upāli eko hoti ekato dve, catuttho anusāveti salākaṁ gāheti: ‘Ayaṁ dhammo ayaṁ vinayo idaṁ satthusāsanaṁ imaṁ gaṇhatha imaṁ rocethā ’ti, evampi kho upāli saṅgharāji hoti no ca saṅghabhedo.
Ekato upāli dve honti ekato dve, pañcamo anusāveti salākaṁ gāheti: ‘Ayaṁ dhammo ayaṁ vinayo idaṁ satthusāsanaṁ imaṁ gaṇhatha imaṁ rocethā ’ti, evampi kho upāli saṅgharāji hoti no ca saṅghabhedo.
Ekato upāli dve honti ekato tayo, chaṭṭho anusāveti salākaṁ gāheti: ‘Ayaṁ dhammo ayaṁ vinayo idaṁ satthusāsanaṁ imaṁ gaṇhatha imaṁ rocethā ’ti, evampi kho upāli saṅgharāji hoti no ca saṅghabhedo.
Ekato upāli tayo honti ekato tayo, sattamo anusāveti salākaṁ gāheti: ‘Ayaṁ dhammo ayaṁ vinayo idaṁ satthusāsanaṁ imaṁ gaṇhatha imaṁ rocethā ’ti, evampi kho upāli saṅgharāji hoti no ca saṅghabhedo.
Ekato upāli tayo honti ekato cattāro, aṭṭhamo anusāveti salākaṁ gāheti: ‘Ayaṁ dhammo ayaṁ vinayo idaṁ satthusāsanaṁ imaṁ gaṇhatha imaṁ rocethā ’ti, evampi kho upāli saṅgharāji hoti no ca saṅghabhedo.
Inda-bh 6~32Khi ấy, đại đức Upāli đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Upāli đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, có điều nói rằng: ‘Sự bất đồng trong hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng.’ Bạch ngài, cho đến như thế nào được gọi là sự bất đồng trong hội chúng mà không là sự chia rẽ hội chúng? Cho đến như thế nào được gọi là sự bất đồng trong hội chúng và là sự chia rẽ hội chúng?”
—“Này Upāli, một bên có một người, một bên có hai người, người thứ tư phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, như vậy chỉ là sự bất đồng trong hội chúng mà không là sự chia rẽ hội chúng.
Này Upāli, một bên có hai người, một bên có hai người, người thứ năm phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, như vậy chỉ là sự bất đồng trong hội chúng mà không là sự chia rẽ hội chúng.
Này Upāli, một bên có hai người, một bên có ba người, người thứ sáu phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, như vậy chỉ là sự bất đồng trong hội chúng mà không là sự chia rẽ hội chúng.
Này Upāli, một bên có ba người, một bên có ba người, người thứ bảy phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, như vậy chỉ là sự bất đồng trong hội chúng mà không là sự chia rẽ hội chúng.
Này Upāli, một bên có ba người, một bên có bốn người, người thứ tám phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, như vậy chỉ là sự bất đồng trong hội chúng mà không là sự chia rẽ hội chúng.
Này Upāli, một bên có bốn người, một bên có bốn người, người thứ chín phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, như vậy là sự bất đồng trong hội chúng và là sự chia rẽ hội chúng. Này Upāli, chín hoặc hơn chín là sự bất đồng trong hội chúng và là sự chia rẽ hội chúng.
Này Upāli, tỳ khưu ni không chia rẽ hội chúng và cũng không nỗ lực để đưa đến sự chia rẽ. Cô ni tu tập sự không chia rẽ hội chúng và cũng không nỗ lực để đưa đến sự chia rẽ. Vị sa di không chia rẽ hội chúng và cũng không nỗ lực để đưa đến sự chia rẽ. Vị sa di ni không chia rẽ hội chúng và cũng không nỗ lực để đưa đến sự chia rẽ. Nam cư sĩ không chia rẽ hội chúng và cũng không nỗ lực để đưa đến sự chia rẽ. Nữ cư sĩ không chia rẽ hội chúng và cũng không nỗ lực để đưa đến sự chia rẽ. Này Upāli, vị tỳ khưu bình thường là vị có sự đồng cộng trú, đứng chung ranh giới có thể chia rẽ hội chúng.”
Inda-bh 7~33“Bạch ngài, có điều nói rằng: ‘Sự chia rẽ hội chúng, sự chia rẽ hội chúng.’ Bạch ngài, cho đến như thế nào thì hội chúng bị chia rẽ?”
—“Ở đây, này Upāli, các tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp;’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp;’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật;’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật;’ tuyên bố điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được thực hành bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều không được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được quy định bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được quy định bởi đức Như Lai;’ tuyên bố vô tội là: ‘Phạm tội;’ tuyên bố phạm tội là: ‘Vô tội;’ tuyên bố tội nhẹ là: ‘Tội nặng;’ tuyên bố tội nặng là: ‘Tội nhẹ;’ tuyên bố tội còn dư sót là: ‘Tội không còn dư sót;’ tuyên bố tội không còn dư sót là: ‘Tội còn dư sót;’ tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội không xấu xa;’ tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội xấu xa.’ Do mười tám sự việc này, các vị ấy tách ra và tách rời hẳn, chúng thực hiện lễ Uposatha riêng rẽ, chúng thực hiện lễ Pavāraṇā riêng rẽ, chúng thực hiện hành sự của hội chúng riêng rẽ. Này Upāli, cho đến như vậy thì hội chúng bị chia rẽ.”
Inda-bh 8~34“Bạch ngài, có điều nói rằng: ‘Sự hợp nhất hội chúng, sự hợp nhất hội chúng.’ Bạch ngài, cho đến như thế nào thì hội chúng có sự hợp nhất?”
“Ở đây, này Upāli, các tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Phi Pháp;’ tuyên bố Pháp là: ‘Pháp;’ tuyên bố phi Luật là: ‘Phi Luật;’ tuyên bố Luật là: ‘Luật;’ tuyên bố điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được thực hành bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã không được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được quy định bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được quy định bởi đức Như Lai;’ tuyên bố vô tội là: ‘Vô tội;’ tuyên bố phạm tội là: ‘Phạm tội;’ tuyên bố tội nặng là: ‘Tội nặng;’ tuyên bố tội nhẹ là: ‘Tội nhẹ;’ tuyên bố tội còn dư sót là: ‘Tội còn dư sót;’ tuyên bố tội không còn dư sót là: ‘Tội không còn dư sót;’ tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội xấu xa;’ tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội không xấu xa.’ Với mười tám sự việc này, các vị ấy không tách ra và không tách rời hẳn, không thực hiện lễ Uposatha riêng rẽ, không thực hiện lễ Pavāraṇā riêng rẽ, không thực hiện hành sự của hội chúng riêng rẽ. Này Upāli, cho đến như vậy thì hội chúng có sự hợp nhất.”
Inda-bh 9~35—“Bạch ngài, sau khi chia rẽ hội chúng hợp nhất, kẻ ấy gây nên điều gì?”
—“Này Upāli, sau khi chia rẽ hội chúng hợp nhất, kẻ gây nên tội lỗi chịu đựng trọn kiếp, bị nung nấu trong địa ngục trọn kiếp.”
“Kẻ chia rẽ hội chúng là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp. Kẻ thích thú với phe nhóm, sống sai Pháp, làm tiêu hoại sự an ổn của thiền, sau khi đã chia rẽ hội chúng có sự hợp nhất, bị nung nấu trong địa ngục trọn kiếp.”
—“Bạch ngài, sau khi làm hợp nhất hội chúng đã bị chia rẽ, vị ấy tạo được điều gì?”
—“Này Upāli, sau khi làm hợp nhất hội chúng đã bị chia rẽ, vị ấy tạo được phước báu của Phạm Thiên, được vui hưởng ở cõi trời trọn kiếp.”
“An lạc thay sự hợp nhất của hội chúng, và tán đồng với những ai sống hợp nhất. Vị thích thú với sự hợp nhất, sống đúng theo Pháp, không làm tiêu hoại sự an ổn của thiền, sau khi đã làm cho hội chúng có sự hợp nhất, được vui hưởng ở cõi trời trọn kiếp.”
Inda-bh 10~36“Bạch ngài, có thể nào kẻ chia rẽ hội chúng sẽ là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được?”
—“Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có thể sẽ là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được.”
—“Bạch ngài, có thể nào kẻ chia rẽ hội chúng sẽ không là kẻ sanh đọa xứ, không là kẻ đi địa ngục, không phải chịu đựng trọn kiếp, có thể sửa đổi được?”
—“Này Upāli, kẻ chia rẽ hội chúng có thể sẽ không là kẻ sanh đọa xứ, không là kẻ đi địa ngục, không phải chịu đựng trọn kiếp, có thể sửa đổi được.”
—“Bạch ngài, thế nào là kẻ chia rẽ hội chúng (sẽ) là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được?”
—“Này Upāli, trường hợp vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là: ‘Pháp.’ (Vị ấy) có quan điểm là sai Pháp về việc ấy, có quan điểm là sai Pháp về việc chia rẽ, sau khi che giấu quan điểm, sau khi che giấu điều mong mỏi, sau khi che giấu điều khao khát, sau khi che giấu ý định, rồi phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, đây là kẻ chia rẽ hội chúng (sẽ) là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được.
Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là: ‘Pháp.’ (Vị ấy) có quan điểm là sai Pháp về việc ấy, có quan điểm là đúng Pháp về việc chia rẽ, sau khi che giấu quan điểm, sau khi che giấu điều mong mỏi, sau khi che giấu điều khao khát, sau khi che giấu ý định, rồi phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, đây là kẻ chia rẽ hội chúng (sẽ) là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được.
Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là: ‘Pháp.’ (Vị ấy) có quan điểm là sai Pháp về việc ấy, có hoài nghi về việc chia rẽ, sau khi che giấu quan điểm, sau khi che giấu điều mong mỏi, sau khi che giấu điều khao khát, sau khi che giấu ý định, rồi phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, đây là kẻ chia rẽ hội chúng (sẽ) là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được.
Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là: ‘Pháp.’ (Vị ấy) có quan điểm là đúng Pháp về việc ấy, có quan điểm là sai Pháp về việc chia rẽ, sau khi che giấu quan điểm, sau khi che giấu điều mong mỏi, sau khi che giấu điều khao khát, sau khi che giấu ý định, rồi phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, đây là kẻ chia rẽ hội chúng (sẽ) là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được.
Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là: ‘Pháp.’ (Vị ấy) có quan điểm là đúng Pháp về việc ấy, có quan điểm là đúng Pháp về việc chia rẽ, sau khi che giấu quan điểm, sau khi che giấu điều mong mỏi, sau khi che giấu điều khao khát, sau khi che giấu ý định, rồi phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, đây là kẻ chia rẽ hội chúng (sẽ) là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được.
Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là: ‘Pháp.’ (Vị ấy) có quan điểm là đúng Pháp về việc ấy, có hoài nghi về việc chia rẽ, sau khi che giấu quan điểm, sau khi che giấu điều mong mỏi, sau khi che giấu điều khao khát, sau khi che giấu ý định, rồi phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, đây là kẻ chia rẽ hội chúng (sẽ) là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được.
Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là: ‘Pháp.’ (Vị ấy) có hoài nghi về điều ấy, có quan điểm là sai Pháp về việc chia rẽ, sau khi che giấu quan điểm, sau khi che giấu điều mong mỏi, sau khi che giấu điều khao khát, sau khi che giấu ý định, rồi phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, đây là kẻ chia rẽ hội chúng (sẽ) là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được.
Inda-bh 11~37Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp.’ (Vị ấy) có hoài nghi về điều ấy, có quan điểm là đúng Pháp về việc chia rẽ, sau khi che giấu quan điểm, sau khi che giấu điều mong mỏi, sau khi che giấu điều khao khát, sau khi che giấu ý định, rồi phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, đây là kẻ chia rẽ hội chúng (sẽ) là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được.
Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp.’ (Vị ấy) có hoài nghi về điều ấy, có hoài nghi về về việc chia rẽ, sau khi che giấu quan điểm, sau khi che giấu điều mong mỏi, sau khi che giấu điều khao khát, sau khi che giấu ý định, rồi phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, đây là kẻ chia rẽ hội chúng (sẽ) là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được.
Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp,’ tuyên bố phi Luật là ‘Luật;’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật;’ tuyên bố điều không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được thực hành bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều không được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được quy định bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều không được quy định bởi đức Như Lai;’ tuyên bố vô tội là: ‘Phạm tội;’ tuyên bố phạm tội là: ‘Vô tội;’ tuyên bố tội nhẹ là: ‘Tội nặng;’ tuyên bố tội nặng là: ‘Tội nhẹ;’ tuyên bố tội còn dư sót là: ‘Tội không còn dư sót;’ tuyên bố tội không còn dư sót là: ‘Tội còn dư sót;’ tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội không xấu xa;’ tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội xấu xa.’ (Vị ấy) có quan điểm là sai Pháp về việc ấy, có quan điểm là sai Pháp về việc chia rẽ, sau khi che giấu quan điểm, sau khi che giấu điều mong mỏi, sau khi che giấu điều khao khát, sau khi che giấu ý định, rồi phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, đây là kẻ chia rẽ hội chúng (sẽ) là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được.
Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu tuyên bố Pháp là ‘Phi Pháp.’ … (như trên) … tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội xấu xa.’ (Vị ấy) có quan điểm là sai Pháp về việc ấy, có quan điểm là đúng Pháp về việc chia rẽ, … (như trên) …
(Vị ấy) có quan điểm là sai Pháp về việc ấy, có hoài nghi về việc chia rẽ, … (như trên) …
(Vị ấy) có quan điểm là đúng Pháp về việc ấy, … (như trên) … (Vị ấy) có quan điểm là đúng Pháp về việc ấy, có hoài nghi về việc chia rẽ, … (như trên) …
(Vị ấy) có hoài nghi về điều ấy, có quan điểm là sai Pháp về việc chia rẽ, … (như trên) …
(Vị ấy) có hoài nghi về điều ấy, có quan điểm là đúng Pháp về việc chia rẽ, … (như trên) …
(Vị ấy) có hoài nghi về điều ấy, có hoài nghi về về việc chia rẽ, sau khi che giấu quan điểm, sau khi che giấu điều mong mỏi, sau khi che giấu điều khao khát, sau khi che giấu ý định, rồi phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, đây là kẻ chia rẽ hội chúng (sẽ) là kẻ sanh đọa xứ, là kẻ đi địa ngục, phải chịu đựng trọn kiếp, không thể sửa đổi được.”
Inda-bh 12~38—“Bạch ngài, thế nào là kẻ chia rẽ hội chúng (sẽ) không là kẻ sanh đọa xứ, không là kẻ đi địa ngục, không phải chịu đựng trọn kiếp, có thể sửa đổi được?”
—“Này Upāli, trường hợp vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là: ‘Phi Pháp.’ (Vị ấy) có quan điểm là đúng Pháp về việc ấy, có quan điểm là đúng Pháp về việc chia rẽ, sau khi không che giấu quan điểm, sau khi không che giấu điều mong mỏi, sau khi không che giấu điều khao khát, sau khi không che giấu ý định, rồi phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, đây là kẻ chia rẽ hội chúng (sẽ) không là kẻ sanh đọa xứ, không là kẻ đi địa ngục, không phải chịu đựng trọn kiếp, có thể sửa đổi được.
Này Upāli, còn có trường hợp khác nữa, vị tỳ khưu tuyên bố Pháp là: ‘Pháp.’ (Vị ấy) có quan điểm là đúng Pháp về việc ấy, có quan điểm là đúng Pháp về việc chia rẽ, … (như trên) … tuyên bố phi Luật là ‘Phi Luật;’ … (như trên) … tuyên bố Luật là: ‘Luật;’ tuyên bố điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được thực hành bởi đức Như Lai;’ —
— tuyên bố điều đã không được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được quy định bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được quy định bởi đức Như Lai;’ tuyên bố phạm tội là: ‘Phạm tội;’ tuyên bố vô tội là: ‘Vô tội;’ tuyên bố tội nặng là: ‘Tội nặng;’ tuyên bố tội nhẹ là: ‘Tội nhẹ;’ tuyên bố tội còn dư sót là: ‘Tội còn dư sót;’ tuyên bố tội không còn dư sót là: ‘Tội không còn dư sót;’ tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội xấu xa;’ tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội không xấu xa.’ (Vị ấy) có quan điểm là đúng Pháp về việc ấy, có quan điểm là đúng Pháp về việc chia rẽ, sau khi không che giấu quan điểm, sau khi không che giấu điều mong mỏi, sau khi không che giấu điều khao khát, sau khi không che giấu ý định, rồi phân phát thẻ biểu quyết tuyên bố rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư. Hãy nhận lấy thẻ này, hãy ủng hộ việc này.’ Này Upāli, đây là kẻ chia rẽ hội chúng (sẽ) không là kẻ sanh đọa xứ, không là kẻ đi địa ngục, không phải chịu đựng trọn kiếp, có thể sửa đổi được.”
Tụng phẩm thứ ba.
Chương Chia Rẽ Hội Chúng là thứ bảy.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Ở Anupiyā, những người có danh tiếng, vị mảnh mai không muốn, các việc cày xới, gieo hạt, đưa nước vào, tưới nước, nhổ cỏ, gặt hái, thâu hoạch, chất thành đống, đập giũ, (tách) rơm và trấu ra, sàng sảy, rồi cất vào kho.
Ngay cả trong tương lai, (các công việc) vẫn không được ngưng lại, cả người cha lẫn người ông. Các vị Bhaddiya, và Anuruddha, Ānanda, Bhagu, Kimbila, tự hào là dòng Sakya. Và chuyện ở Kosambi, vị đã bị mất (thần thông), và Thiên tử Kakudha.
Vị đã công bố, và đối với người cha, các nam nhân, tảng đá, voi Nāḷāgiri, ba (lần hãm hại), năm (sự việc), việc nghiêm trọng, kẻ đã chia rẽ, với tội thullaccaya, ba nhóm gồm tám điều, rồi lại ba điều (không đúng Chánh Pháp), sự bất đồng, sự chia rẽ, có thể sẽ là.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Small Division
The chapter on schism in the Sangha
The first section for recitation
7. Chương về Sự Chia Rẽ Tăng Chúng
1.1 Chasakyapabbajjākathā
1. The account of the going forth of the six Sakyans
Câu Chuyện về Sáu Vị Thích Ca Xuất Gia
Tena samayena buddho bhagavā anupiyāyaṁ viharati, anupiyaṁ nāma mallānaṁ nigamo. Tena kho pana samayena abhiññātā abhiññātā sakyakumārā bhagavantaṁ pabbajitaṁ anupabbajanti.
Tena kho pana samayena mahānāmo ca sakko anuruddho ca sakko dvebhātikā honti. Anuruddho sakko sukhumālo hoti. Tassa tayo pāsādā honti—eko hemantiko, eko gimhiko, eko vassiko. So vassike pāsāde cattāro māse nippurisehi tūriyehi paricārayamāno na heṭṭhāpāsādaṁ orohati.
Atha kho mahānāmassa sakkassa etadahosi—“etarahi kho abhiññātā abhiññātā sakyakumārā bhagavantaṁ pabbajitaṁ anupabbajanti. Amhākañca pana kulā natthi koci agārasmā anagāriyaṁ pabbajito. Yannūnāhaṁ vā pabbajeyyaṁ, anuruddho vā”ti. Atha kho mahānāmo sakko yena anuruddho sakko tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā anuruddhaṁ sakkaṁ etadavoca—“etarahi, tāta anuruddha, abhiññātā abhiññātā sakyakumārā bhagavantaṁ pabbajitaṁ anupabbajanti. Amhākañca pana kulā natthi koci agārasmā anagāriyaṁ pabbajito. Tena hi tvaṁ vā pabbaja, ahaṁ vā pabbajissāmī”ti. “Ahaṁ kho sukhumālo, nāhaṁ sakkomi agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ. Tvaṁ pabbajāhī”ti.
“Ehi kho te, tāta anuruddha, gharāvāsatthaṁ anusāsissāmi. Paṭhamaṁ khettaṁ kasāpetabbaṁ. Kasāpetvā vapāpetabbaṁ. Vapāpetvā udakaṁ abhinetabbaṁ. Udakaṁ abhinetvā udakaṁ ninnetabbaṁ. Udakaṁ ninnetvā niddhāpetabbaṁ. Niddhāpetvā lavāpetabbaṁ. Lavāpetvā ubbāhāpetabbaṁ. Ubbāhāpetvā puñjaṁ kārāpetabbaṁ. Puñjaṁ kārāpetvā maddāpetabbaṁ. Maddāpetvā palālāni uddharāpetabbāni. Palālāni uddharāpetvā bhusikā uddharāpetabbā. Bhusikaṁ uddharāpetvā opunāpetabbaṁ. Opunāpetvā atiharāpetabbaṁ. Atiharāpetvā āyatimpi vassaṁ evameva kātabbaṁ, āyatimpi vassaṁ evameva kātabban”ti.
“Na kammā khīyanti? Na kammānaṁ anto paññāyati? Kadā kammā khīyissanti? Kadā kammānaṁ anto paññāyissati? Kadā mayaṁ appossukkā pañcahi kāmaguṇehi samappitā samaṅgībhūtā paricāressāmā”ti?
“Na hi, tāta anuruddha, kammā khīyanti. Na kammānaṁ anto paññāyati. Akhīṇeva kamme pitaro ca pitāmahā ca kālaṅkatā”ti.
“Tena hi tvaññeva gharāvāsatthena upajānāhi. Ahaṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmī”ti.
At one time the Buddha was staying at the Mallian town of Anupiyā. At that time a number of well-known young Sakyans had followed the Buddha in going forth.
Then there were the brothers Mahānāma and Anuruddha. Anuruddha had been brought up in great comfort. He had three stilt houses: one for the winter, one for the summer, and one for the rainy season. He spent the four months of the rainy season in the rainy-season house, attended on only by female musicians, never descending from that house.
Mahānāma thought, “A number of well-known young Sakyans have just followed the Buddha in going forth, but no-one from our household. Why doesn’t Anuruddha or I go forth?” He then went to Anuruddha and told him what he had thought. Anuruddha replied, “I’ve been brought up in great comfort. I’m not able to go forth. You go forth.”
“Come, then, let me teach you how to run the family business. First you must plow the fields, then sow the seeds, irrigate, and drain, and then weed. Next you must cut the harvest, gather it together, and make sheaves. You must then thresh it, remove the straw and husk, and then winnow it before you bring it into storage. And next year you must do the same, and the next.”
“But when does the work stop? I can’t see any end to it. When can you enjoy yourself with worldly pleasures, free from bother?”
“The work doesn’t stop and you won’t see any end to it. While the work was still unfinished, our fathers and grandfathers have all died.”
“Well then, you go ahead and run the family business. I’ll go forth into homelessness.”
330. Vào lúc bấy giờ, Đức Phật, bậc Thế Tôn, đang trú tại Anupiyā, một thị trấn của dân chúng Malla. Vào lúc bấy giờ, các vương tử Thích Ca nổi tiếng đã nối gót Đức Thế Tôn mà xuất gia. Vào lúc bấy giờ, có hai anh em là vương tử Thích Ca Mahānāma và vương tử Thích Ca Anuruddha. Vương tử Thích Ca Anuruddha là người yểu điệu. Vị ấy có ba cung điện: một cho mùa đông, một cho mùa hè, và một cho mùa mưa. Trong bốn tháng mùa mưa, vị ấy ở trong cung điện mùa mưa, được các nữ nhạc công phục vụ, và không đi xuống tầng dưới của cung điện. Khi ấy, vương tử Thích Ca Mahānāma suy nghĩ rằng: “Hiện nay, các vương tử Thích Ca nổi tiếng đã nối gót Đức Thế Tôn mà xuất gia. Nhưng từ gia đình của chúng ta, chưa có ai từ bỏ đời sống tại gia để sống đời không nhà. Hay là ta hoặc Anuruddha nên xuất gia.” Khi ấy, vương tử Thích Ca Mahānāma đi đến chỗ vương tử Thích Ca Anuruddha, sau khi đến, đã nói với vương tử Thích Ca Anuruddha điều này: “Này em Anuruddha, hiện nay các vương tử Thích Ca nổi tiếng đã nối gót Đức Thế Tôn mà xuất gia. Nhưng từ gia đình của chúng ta, chưa có ai từ bỏ đời sống tại gia để sống đời không nhà. Vì vậy, hoặc em hãy xuất gia, hoặc anh sẽ xuất gia.” “Thưa anh, em là người yểu điệu, em không thể từ bỏ đời sống tại gia để sống đời không nhà. Anh hãy xuất gia đi.” “Này em Anuruddha, lại đây, anh sẽ dạy em về việc gia đình. Trước hết, phải cho cày ruộng. Sau khi cho cày, phải cho gieo hạt. Sau khi cho gieo, phải cho dẫn nước vào. Sau khi cho dẫn nước vào, phải cho tháo nước ra. Sau khi cho tháo nước ra, phải cho nhổ cỏ. Sau khi cho nhổ cỏ, phải cho gặt. Sau khi cho gặt, phải cho mang về. Sau khi cho mang về, phải cho chất thành đống. Sau khi cho chất thành đống, phải cho đập lúa. Sau khi cho đập lúa, phải cho dọn rơm đi. Sau khi cho dọn rơm, phải cho dọn trấu đi. Sau khi cho dọn trấu, phải cho sàng sảy. Sau khi cho sàng sảy, phải cho mang vào kho. Sau khi cho mang vào kho, năm sau cũng phải làm y như vậy, năm sau nữa cũng phải làm y như vậy.” “Công việc không bao giờ kết thúc sao? Không thấy được sự kết thúc của công việc sao? Khi nào công việc sẽ kết thúc? Khi nào sẽ thấy được sự kết thúc của công việc? Khi nào chúng ta mới có thể không lo lắng, được cung phụng và tận hưởng năm loại dục lạc?” “Này em Anuruddha, quả thật công việc không bao giờ kết thúc. Không thấy được sự kết thúc của công việc. Cha và ông của chúng ta đã qua đời khi công việc vẫn chưa kết thúc.” “Nếu vậy, chính anh hãy lo liệu việc gia đình. Em sẽ từ bỏ đời sống tại gia để sống đời không nhà.”
Atha kho anuruddho sakko yena mātā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā mātaraṁ etadavoca—“icchāmahaṁ, amma, agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ. Anujānāhi maṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti. Evaṁ vutte, anuruddhassa sakkassa mātā anuruddhaṁ sakkaṁ etadavoca—
“tumhe kho me, tāta anuruddha, dve puttā piyā manāpā appaṭikūlā. Maraṇenapi vo akāmakā vinā bhavissāmi. Kiṁ panāhaṁ tumhe jīvante anujānissāmi agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti?
Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho anuruddho sakko mātaraṁ etadavoca—“icchāmahaṁ, amma, agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ. Anujānāhi maṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti.
Tena kho pana samayena bhaddiyo sakyarājā sakyānaṁ rajjaṁ kāreti. So ca anuruddhassa sakkassa sahāyo hoti. Atha kho anuruddhassa sakkassa mātā—“ayaṁ kho bhaddiyo sakyarājā sakyānaṁ rajjaṁ kāreti; anuruddhassa sakkassa sahāyo; so na ussahati agārasmā anagāriyaṁ pabbajitun”ti—anuruddhaṁ sakkaṁ etadavoca—“sace, tāta anuruddha, bhaddiyo sakyarājā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, evaṁ tvampi pabbajāhī”ti.
Atha kho anuruddho sakko yena bhaddiyo sakyarājā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhaddiyaṁ sakyarājānaṁ etadavoca—“mama kho, samma, pabbajjā tava paṭibaddhā”ti.
“Sace te, samma, pabbajjā mama paṭibaddhā vā appaṭibaddhā vā sā hotu, ahaṁ tayā; yathā sukhaṁ pabbajāhī”ti.
“Ehi, samma, ubho agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmā”ti.
“Nāhaṁ, samma, sakkomi agārasmā anagāriyaṁ pabbajitunti. Yaṁ te sakkā aññaṁ mayā kātuṁ, kyāhaṁ karissāmi. Tvaṁ pabbajāhī”ti.
“Mātā kho maṁ, samma, evamāha—‘sace, tāta anuruddha, bhaddiyo sakyarājā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, evaṁ tvampi pabbajāhī’”ti. “Bhāsitā kho pana te, samma, esā vācā. Sace te, samma, pabbajjā mama paṭibaddhā vā, appaṭibaddhā vā sā hotu, ahaṁ tayā; yathā sukhaṁ pabbajāhī”ti. “Ehi, samma, ubho agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmā”ti.
Anuruddha then went to his mother and said, “Mom, I wish to go forth into homelessness. Please allow me.”
“Both of you, Anuruddha, my two sons, are dear and beloved to me. Even if you died, I would lose you against my wishes. So how can I allow you to go forth into homelessness while you’re still living?”
A second time Anuruddha asked the same question and got the same reply. He then asked a third time.
At that time the Sakyans were ruled by King Bhaddiya, a friend of Anuruddha’s. Anuruddha’s mother considered this and thought, “Bhaddiya won’t be able to go forth into homelessness.” And she said to Anuruddha, “If King Bhaddiya goes forth, you may go forth too.”
Anuruddha then went to King Bhaddiya and said, “My going forth depends on yours.”
“Don’t worry about whether your going forth depends on mine or not. I’m with you. Just go forth when you like.”
“Come, let’s go forth together.”
“I’m not able to go forth. I’m not able to do what you do. There’s nothing I can do about it. You go forth.”
“My mother told me that I may go forth only if you go forth. And then you said, ‘Don’t worry about whether your going forth depends on mine or not. I’m with you. Just go forth when you like.’ So come, let’s go forth together.”
Bấy giờ, vương tử Anuruddha dòng Sakya đi đến chỗ mẫu thân, sau khi đến, đã thưa với mẫu thân rằng: ‘Thưa mẫu thân, con muốn từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia. Xin mẫu thân cho phép con từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia.’ Khi được nói như vậy, mẫu thân của vương tử Anuruddha dòng Sakya đã nói với vương tử Anuruddha dòng Sakya rằng: ‘Này con Anuruddha thân yêu, đối với mẹ, hai người con là các con thật đáng yêu, đáng quý, không đáng ghét. Ngay cả khi chết, mẹ cũng không muốn phải xa lìa các con. Huống nữa là khi các con còn sống, làm sao mẹ có thể cho phép các con từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia được chứ?’ Lần thứ hai... lần thứ ba, vương tử Anuruddha dòng Sakya đã thưa với mẫu thân rằng: ‘Thưa mẫu thân, con muốn từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia. Xin mẫu thân cho phép con từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia.’ Vào lúc bấy giờ, vua Bhaddiya dòng Sakya đang trị vì vương quốc của dòng Sakya. Vị ấy là bạn của vương tử Anuruddha dòng Sakya. Bấy giờ, mẫu thân của vương tử Anuruddha dòng Sakya suy nghĩ rằng: ‘Vua Bhaddiya dòng Sakya này đang trị vì vương quốc của dòng Sakya; là bạn của Anuruddha dòng Sakya; vị ấy sẽ không thể nào từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia được,’ rồi nói với vương tử Anuruddha dòng Sakya rằng: ‘Này con Anuruddha thân yêu, nếu vua Bhaddiya dòng Sakya từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia, thì con cũng hãy xuất gia như vậy.’ Bấy giờ, vương tử Anuruddha dòng Sakya đi đến chỗ vua Bhaddiya dòng Sakya, sau khi đến, đã nói với vua Bhaddiya dòng Sakya rằng: ‘Thưa bạn hiền, việc xuất gia của tôi có liên quan đến bạn.’ ‘Thưa bạn hiền, việc xuất gia của bạn có liên quan đến tôi hay không, cứ để việc ấy như vậy. Về phần tôi, bạn cứ xuất gia tùy thích.’ ‘Này bạn hiền, chúng ta hãy đến, cả hai chúng ta sẽ từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia.’ ‘Thưa bạn hiền, tôi không thể từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia được. Việc gì khác mà tôi có thể làm cho bạn, tôi sẽ làm việc ấy. Bạn hãy xuất gia đi.’ ‘Thưa bạn hiền, mẫu thân đã nói với tôi rằng: ‘Này con Anuruddha thân yêu, nếu vua Bhaddiya dòng Sakya từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia, thì con cũng hãy xuất gia như vậy.’’ ‘Thưa bạn hiền, chẳng phải bạn đã nói lời này sao: ‘Thưa bạn hiền, việc xuất gia của bạn có liên quan đến tôi hay không, cứ để việc ấy như vậy. Về phần tôi, bạn cứ xuất gia tùy thích.’? Này bạn hiền, chúng ta hãy đến, cả hai chúng ta sẽ từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia.’
Tena kho pana samayena manussā saccavādino honti, saccapaṭiññā. Atha kho bhaddiyo sakyarājā anuruddhaṁ sakkaṁ etadavoca—“āgamehi, samma, sattavassāni. Sattannaṁ vassānaṁ accayena ubho agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmā”ti.
“Aticiraṁ, samma, sattavassāni. Nāhaṁ sakkomi sattavassāni āgametun”ti.
“Āgamehi, samma, chavassāni …pe… pañcavassāni … cattāri vassāni … tīṇi vassāni … dve vassāni … ekaṁ vassaṁ. Ekassa vassassa accayena ubho agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmā”ti.
“Aticiraṁ, samma, ekavassaṁ. Nāhaṁ sakkomi ekaṁ vassaṁ āgametun”ti.
“Āgamehi, samma, sattamāse. Sattannaṁ māsānaṁ accayena ubhopi agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmā”ti.
“Aticiraṁ, samma, sattamāsā. Nāhaṁ sakkomi sattamāse āgametun”ti.
“Āgamehi, samma, cha māse …pe… pañca māse … cattāro māse … tayo māse … dve māse … ekaṁ māsaṁ … aḍḍhamāsaṁ. Aḍḍhamāsassa accayena ubhopi agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmā”ti.
“Aticiraṁ, samma, aḍḍhamāso. Nāhaṁ sakkomi aḍḍhamāsaṁ āgametun”ti.
“Āgamehi, samma, sattāhaṁ yāvāhaṁ putte ca bhātaro ca rajjaṁ niyyādemī”ti.
“Na ciraṁ, samma, sattāho, āgamessāmī”ti.
At that time people spoke the truth, and so Bhaddiya said to Anuruddha, “Please wait seven years. Then we’ll go forth together.”
“That’s too long. I’m not able to wait for seven years.”
“Then wait six years … five years … four years … three years … two years … one year, and we’ll go forth together.”
“That’s too long. I’m not able to wait for one year.”
“Then wait seven months, and we’ll go forth together.”
“That’s too long. I’m not able to wait for seven months.”
“Then wait six months … five months … four months … three months … two months … one month … half a month, and we’ll go forth together.”
“That’s too long. I’m not able to wait for half a month.”
“Then wait seven days, while I hand over the rulership to my sons and brothers.”
“Seven days isn’t long. I’ll wait.”
Vào lúc bấy giờ, loài người thường nói lời chân thật, giữ đúng lời hứa. Bấy giờ, vua Bhaddiya dòng Sakya đã nói với vương tử Anuruddha dòng Sakya rằng: ‘Thưa bạn hiền, hãy đợi bảy năm. Sau bảy năm, cả hai chúng ta sẽ từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia.’ ‘Thưa bạn hiền, bảy năm là quá lâu. Tôi không thể đợi bảy năm được.’ ‘Thưa bạn hiền, hãy đợi sáu năm... năm năm... bốn năm... ba năm... hai năm... một năm. Sau một năm, cả hai chúng ta sẽ từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia.’ ‘Thưa bạn hiền, một năm là quá lâu. Tôi không thể đợi một năm được.’ ‘Thưa bạn hiền, hãy đợi bảy tháng. Sau bảy tháng, cả hai chúng ta sẽ từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia.’ ‘Thưa bạn hiền, bảy tháng là quá lâu. Tôi không thể đợi bảy tháng được.’ ‘Thưa bạn hiền, hãy đợi sáu tháng... năm tháng... bốn tháng... ba tháng... hai tháng... một tháng... nửa tháng. Sau nửa tháng, cả hai chúng ta sẽ từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia.’ ‘Thưa bạn hiền, nửa tháng là quá lâu. Tôi không thể đợi nửa tháng được.’ ‘Thưa bạn hiền, hãy đợi bảy ngày trong khi tôi giao lại vương quốc cho các con trai và các em trai.’ ‘Thưa bạn hiền, bảy ngày thì không lâu, tôi sẽ đợi.’
Atha kho bhaddiyo ca sakyarājā anuruddho ca ānando ca bhagu ca kimilo ca devadatto ca, upālikappakena sattamā, yathā pure caturaṅginiyā senāya uyyānabhūmiṁ niyyanti, evameva caturaṅginiyā senāya niyyiṁsu. Te dūraṁ gantvā senaṁ nivattāpetvā paravisayaṁ okkamitvā ābharaṇaṁ omuñcitvā uttarāsaṅgena bhaṇḍikaṁ bandhitvā upāliṁ kappakaṁ etadavocuṁ—“handa, bhaṇe upāli, nivattassu; alaṁ te ettakaṁ jīvikāyā”ti. Atha kho upālissa kappakassa nivattantassa etadahosi—“caṇḍā kho sākiyā; iminā kumārā nippātitāti ghātāpeyyumpi maṁ. Ime hi nāma sakyakumārā agārasmā anagāriyaṁ pabbajissanti. Kimaṅgaṁ panāhan”ti.
Bhaṇḍikaṁ muñcitvā taṁ bhaṇḍaṁ rukkhe ālaggetvā “yo passati, dinnaṁyeva haratū”ti vatvā yena te sakyakumārā tenupasaṅkami.
Addasāsuṁ kho te sakyakumārā upāliṁ kappakaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna upāliṁ kappakaṁ etadavocuṁ—“kissa, bhaṇe upāli, nivattesī”ti? “Idha me, ayyaputtā, nivattantassa etadahosi—‘caṇḍā kho sākiyā; iminā kumārā nippātitāti ghātāpeyyumpi maṁ. Ime hi nāma sakyakumārā agārasmā anagāriyaṁ pabbajissanti. Kimaṅgaṁ panāhan’ti. So kho ahaṁ, ayyaputtā, bhaṇḍikaṁ muñcitvā taṁ bhaṇḍaṁ rukkhe ālaggetvā ‘yo passati, dinnaññeva haratū’ti vatvā tatomhi paṭinivatto”ti. “Suṭṭhu, bhaṇe upāli, akāsi yampi na nivatto. Caṇḍā kho sākiyā; iminā kumārā nippātitāti ghātāpeyyumpi tan”ti.
Soon afterwards King Bhaddiya, Anuruddha, Ānanda, Bhagu, Kimila, and Devadatta, with the barber Upāli as the seventh, went out to the park with the fourfold army, just as they had in the past. After going a good distance, they turned back the army. They then entered a foreign territory, removed their ornaments, bound them into a bundle with an upper robe, and said to Upāli, “Now turn back, Upāli. This is enough for you to live on.” As Upāli was returning, he thought, “The Sakyans are temperamental. They may think that I’m responsible for the departure of these young men and have me executed. Now, if these young Sakyans are going forth into homelessness, why shouldn’t I?”
Undoing the bundle, he hung the goods from a tree, saying, “This is given to whoever sees it. They may take it away.” And he returned to the young Sakyans.
Seeing Upāli coming, they said to him, “Why are you coming back, Upāli?” And he told what he had done. “You have done the right thing. The Sakyans are indeed temperamental. They might well have held you responsible for our departure and have had you executed.”
331. Bấy giờ, vương tử dòng Sākya là Bhaddiya, Anuruddha, Ānanda, Bhagu, Kimila, và Devadatta, cùng với người thợ hớt tóc Upāli là người thứ bảy, đã ra đi với bốn binh chủng, cũng giống như trước kia họ đã đi đến khu vườn ngự uyển với bốn binh chủng. Sau khi đã đi được một quãng đường xa, họ cho quân đội quay về, đi vào lãnh địa của nước khác, cởi bỏ các món trang sức, dùng thượng y gói lại thành một bọc, rồi nói với người thợ hớt tóc Upāli điều này: ‘Này bạn Upāli, hãy quay về đi; chừng ấy là đủ cho bạn sinh sống.’ Khi ấy, trong lúc đang quay về, người thợ hớt tóc Upāli đã suy nghĩ như vầy: ‘Những người dòng Sākya quả là hung dữ. Họ có thể sẽ cho giết ta vì nghĩ rằng: ‘Các vương tử đã bị người này dẫn đi.’ Các vương tử dòng Sākya này còn từ bỏ gia đình, sống không gia đình, để xuất gia. Còn ta thì sao chứ?’ Sau khi cởi bọc đồ ra, treo các món đồ ấy lên một cành cây và nói rằng: ‘Ai thấy thì cứ lấy đi, xem như đã được cho,’ rồi vị ấy đã đi đến chỗ các vương tử dòng Sākya. Các vương tử dòng Sākya đã nhìn thấy người thợ hớt tóc Upāli từ xa đang đi đến. Sau khi nhìn thấy, họ đã nói với người thợ hớt tóc Upāli điều này: ‘Này bạn Upāli, vì sao bạn lại quay về?’ ‘Thưa các công tử, trong lúc đang quay về, tôi đã suy nghĩ như vầy: ‘Những người dòng Sākya quả là hung dữ. Họ có thể sẽ cho giết ta vì nghĩ rằng: ‘Các vương tử đã bị người này dẫn đi.’ Các vương tử dòng Sākya này còn từ bỏ gia đình, sống không gia đình, để xuất gia. Còn ta thì sao chứ?’ Thưa các công tử, chính vì thế, tôi đã cởi bọc đồ ra, treo các món đồ ấy lên một cành cây và nói rằng: ‘Ai thấy thì cứ lấy đi, xem như đã được cho,’ rồi từ đó tôi đã quay trở lại.’ ‘Này bạn Upāli, bạn đã làm rất tốt khi không quay về. Những người dòng Sākya quả là hung dữ. Họ có thể sẽ cho giết bạn vì nghĩ rằng: ‘Các vương tử đã bị người này dẫn đi.’’
Atha kho sakyakumārā upāliṁ kappakaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te sakyakumārā bhagavantaṁ etadavocuṁ—“mayaṁ, bhante, sākiyā nāma mānassino. Ayaṁ, bhante, upāli kappako amhākaṁ dīgharattaṁ paricārako. Imaṁ bhagavā paṭhamaṁ pabbājetu. Imassa mayaṁ abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammaṁ karissāma. Evaṁ amhākaṁ sākiyānaṁ sākiyamāno nimmānāyissatī”ti.
The young Sakyans then took Upāli with them and went to the Buddha, where they bowed, sat down, and said, “Sir, we Sakyans are proud. This barber Upāli has been serving us for a long time. Please let him go forth first. We’ll then bow down to him, rise up for him, raise our joined palms to him, and do acts of respect toward him. In this way our Sakyan pride will be humbled.”
Khi ấy, các vương tử dòng Sākya dẫn theo người thợ hớt tóc Upāli đi đến chỗ của Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, các vương tử dòng Sākya ấy đã bạch với Thế Tôn điều này: ‘Bạch Thế Tôn, chúng con là những người dòng Sākya, vốn có lòng kiêu mạn. Bạch Thế Tôn, người thợ hớt tóc Upāli này đã phục vụ chúng con trong một thời gian dài. Xin Thế Tôn hãy cho vị này xuất gia trước. Chúng con sẽ thực hiện việc đảnh lễ, đứng dậy đón chào, chắp tay, và các hành vi tôn kính đối với vị này. Như vậy, lòng kiêu mạn của dòng Sākya nơi chúng con sẽ được dẹp bỏ.’
Atha kho āyasmā bhaddiyo teneva antaravassena tisso vijjā sacchākāsi. Āyasmā anuruddho dibbacakkhuṁ uppādesi. Āyasmā ānando sotāpattiphalaṁ sacchākāsi. Devadatto pothujjanikaṁ iddhiṁ abhinipphādesi.
During that very rainy season Venerable Bhaddiya realized the three insights, Venerable Anuruddha obtained clairvoyance, Venerable Ānanda realized streamentry, whereas Devadatta obtained supernormal powers, but no stage of awakening.
Khi ấy, Thế Tôn đã cho người thợ hớt tóc Upāli xuất gia trước, sau đó là các vương tử dòng Sākya. Khi ấy, trong mùa mưa năm đó, trưởng lão Bhaddiya đã chứng ngộ ba minh. Trưởng lão Anuruddha đã phát sinh thiên nhãn. Trưởng lão Ānanda đã chứng ngộ quả Dự Lưu. Devadatta đã tạo ra thần thông của hàng phàm phu.
Tena kho pana samayena āyasmā bhaddiyo araññagatopi rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi abhikkhaṇaṁ udānaṁ udānesi—“aho sukhaṁ, aho sukhan”ti. Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ—“āyasmā, bhante, bhaddiyo araññagatopi rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi abhikkhaṇaṁ udānaṁ udānesi—‘aho sukhaṁ, aho sukhan’ti. Nissaṁsayaṁ kho, bhante, āyasmā bhaddiyo anabhiratova brahmacariyaṁ carati. Taṁyeva vā purimaṁ rajjasukhaṁ samanussaranto araññagatopi rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi abhikkhaṇaṁ udānaṁ udānesi—‘aho sukhaṁ, aho sukhan’”ti.
Then, when Bhaddiya was in the wilderness, at the foot of a tree, or in an empty dwelling, he frequently uttered this heartfelt exclamation: “Oh, what happiness! Oh, what happiness!” A number of monks went to the Buddha, bowed, sat down, and told him what was happening, adding, “No doubt Bhaddiya is dissatisfied with the spiritual life. He’s saying this because he’s recalling his former happiness as a king.”
332. Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Bhaddiya, dù đang ở trong rừng, dù đang ở dưới gốc cây, hay dù đang ở trong một ngôi nhà trống, vẫn thường thốt lên lời cảm hứng: ‘Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay!’ Khi ấy, nhiều vị tỳ khưu đã đi đến chỗ của Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, các vị tỳ khưu ấy đã bạch với Thế Tôn điều này: ‘Bạch Thế Tôn, trưởng lão Bhaddiya, dù đang ở trong rừng, dù đang ở dưới gốc cây, hay dù đang ở trong một ngôi nhà trống, vẫn thường thốt lên lời cảm hứng: ‘Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay!’ Bạch Thế Tôn, chắc chắn rằng trưởng lão Bhaddiya đang thực hành phạm hạnh mà không có sự hoan hỷ, hoặc là vị ấy đang hồi tưởng lại niềm an lạc của đời sống vương giả trước kia nên dù đang ở trong rừng, dù đang ở dưới gốc cây, hay dù đang ở trong một ngôi nhà trống, vẫn thường thốt lên lời cảm hứng: ‘Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay!’
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi—“ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena bhaddiyaṁ bhikkhuṁ āmantehi—‘satthā taṁ, āvuso bhaddiya, āmantetī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yenāyasmā bhaddiyo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ bhaddiyaṁ etadavoca—“satthā taṁ, āvuso bhaddiya, āmantetī”ti. “Evamāvuso”ti kho āyasmā bhaddiyo tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ bhaddiyaṁ bhagavā etadavoca—“saccaṁ kira tvaṁ, bhaddiya, araññagatopi rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi abhikkhaṇaṁ udānaṁ udānesi—‘aho sukhaṁ, aho sukhan’”ti?
“Evaṁ, bhante”ti.
“Kiṁ pana tvaṁ, bhaddiya, atthavasaṁ sampassamāno araññagatopi rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi abhikkhaṇaṁ udānaṁ udānesi—‘aho sukhaṁ, aho sukhan’”ti?
“Pubbe me, bhante, rañño satopi antopi antepure rakkhā susaṁvihitā hoti, bahipi antepure rakkhā susaṁvihitā hoti, antopi nagare rakkhā susaṁvihitā hoti, bahipi nagare rakkhā susaṁvihitā hoti, antopi janapade rakkhā susaṁvihitā hoti, bahipi janapade rakkhā susaṁvihitā hoti. So kho ahaṁ, bhante, evaṁ rakkhitopi gopitopi santo bhīto ubbiggo ussaṅkī utrasto viharāmi. Etarahi kho pana ahaṁ eko, bhante, araññagatopi rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi abhīto anubbiggo anussaṅkī anutrasto appossukko pannalomo paradattavutto migabhūtena cetasā viharāmīti. Imaṁ kho ahaṁ, bhante, atthavasaṁ sampassamāno araññagatopi rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi abhikkhaṇaṁ udānaṁ udānemi—‘aho sukhaṁ, aho sukhan’”ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi—
The Buddha addressed a certain monk: “Go, monk, and in my name say to Bhaddiya, ‘Bhaddiya, the Teacher is calling you.’”
Saying, “Yes, sir,” he did just that. Bhaddiya consented. He then went to the Buddha, bowed, and sat down. The Buddha said to him, “Is it true, Bhaddiya, that when you’re in the wilderness, at the foot of a tree, or in an empty dwelling, you frequently utter this heartfelt exclamation: ‘Oh, what happiness! Oh, what happiness!’?”
“Yes, venerable sir.”
“But why do you say this?”
“In the past, sir, when I was a king, I was well protected within and outside the royal compound, within and outside of town, and within and outside the country. But although I was protected and guarded in this way, I was fearful, agitated, and distrustful. But now, sir, when I’m in the wilderness, at the foot of a tree, or in an empty dwelling, I’m free from fear, agitation, and distrust. I’m free from bother, relaxed, living on what’s given by others, with a mind as free as a wild animal. That’s why I say this.”
Seeing the significance of this, on that occasion the Buddha uttered a heartfelt exclamation:
Bấy giờ, Đức Thế Tôn gọi một vị tỳ khưu: "Này tỳ khưu, hãy lại đây, ông hãy nhân danh ta gọi tỳ khưu Bhaddiya: 'Này hiền giả Bhaddiya, Bậc Đạo Sư cho gọi hiền giả.'" "Vâng, bạch Thế Tôn." Vị tỳ khưu ấy vâng lời Đức Thế Tôn, đi đến chỗ Tôn giả Bhaddiya; đến nơi, nói với Tôn giả Bhaddiya rằng: "Này hiền giả Bhaddiya, Bậc Đạo Sư cho gọi hiền giả." "Vâng, hiền giả." Tôn giả Bhaddiya vâng lời vị tỳ khưu ấy, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn nói với Tôn giả Bhaddiya đang ngồi một bên rằng: "Này Bhaddiya, có thật chăng ông, khi đi vào rừng, hoặc đến gốc cây, hoặc vào ngôi nhà trống, thường thốt lên lời cảm hứng: 'Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay!'?" "Bạch Thế Tôn, đúng vậy." "Này Bhaddiya, thấy được lợi ích gì mà ông, khi đi vào rừng, hoặc đến gốc cây, hoặc vào ngôi nhà trống, thường thốt lên lời cảm hứng: 'Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay!'?" "Bạch Thế Tôn, trước đây, khi con là vua, bên trong nội cung việc canh phòng được sắp đặt chu đáo, bên ngoài nội cung việc canh phòng được sắp đặt chu đáo, bên trong thành việc canh phòng được sắp đặt chu đáo, bên ngoài thành việc canh phòng được sắp đặt chu đáo, bên trong xứ việc canh phòng được sắp đặt chu đáo, bên ngoài xứ việc canh phòng cũng được sắp đặt chu đáo. Bạch Thế Tôn, con dù được canh phòng, bảo vệ như vậy, vẫn sống trong sợ hãi, kinh hoàng, nghi ngờ, run rẩy. Nhưng nay, bạch Thế Tôn, con một mình, khi đi vào rừng, hoặc đến gốc cây, hoặc vào ngôi nhà trống, con sống không sợ hãi, không kinh hoàng, không nghi ngờ, không run rẩy, không bận tâm, lòng không kiêu mạn, sống bằng vật thực của người khác cúng dường, với tâm như loài nai. Bạch Thế Tôn, con thấy được lợi ích này nên khi đi vào rừng, hoặc đến gốc cây, hoặc vào ngôi nhà trống, con thường thốt lên lời cảm hứng: 'Ôi, an lạc thay! Ôi, an lạc thay!'" Bấy giờ, Đức Thế Tôn, biết được ý nghĩa ấy, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Yassantarato na santi kopā, Iti bhavābhavatañca vītivatto; Taṁ vigatabhayaṁ sukhiṁ asokaṁ, Devā nānubhavanti dassanāyā”ti.
“They who have no anger within, Gone beyond any kind of existence, Happy, free from fear and sorrow—Even the gods are unable to see them.”
"Vị nào bên trong không còn sân hận, đã vượt qua sự hiện hữu và không hiện hữu này; vị ấy không còn sợ hãi, được an lạc, không sầu muộn, chư thiên cũng không thể thấy được."
1.2. Devadattavatthu
2. The account of Devadatta
Câu chuyện về Devadatta
Atha kho bhagavā anupiyāyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena kosambī tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena kosambī tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Atha kho devadattassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—“kaṁ nu kho ahaṁ pasādeyyaṁ, yasmiṁ me pasanne bahulābhasakkāro uppajjeyyā”ti? Atha kho devadattassa etadahosi—“ayaṁ kho ajātasattu kumāro taruṇo ceva āyatiṁ bhaddo ca. Yannūnāhaṁ ajātasattuṁ kumāraṁ pasādeyyaṁ. Tasmiṁ me pasanne bahulābhasakkāro uppajjissatī”ti.
When the Buddha had stayed at Anupiyā for as long as he liked, he set out wandering toward Kosambī. When he eventually arrived, he stayed in Ghosita’s Monastery.
Then, while reflecting in private, Devadatta thought, “Who might I inspire to have confidence in me, so that I’d get much material support and honor?” And it occurred to him, “Prince Ajātasattu is young and has a bright future. Why don’t I inspire him to have confidence in me? Then I’ll get much material support and honor.”
333. Bấy giờ, Đức Thế Tôn sau khi trú tại Anupiyā tùy thích, đã lên đường du hành đến Kosambī. Du hành tuần tự, Ngài đã đến Kosambī. Tại đấy, Đức Thế Tôn trú ở tu viện Ghosita tại Kosambī. Bấy giờ, khi Devadatta đang ở nơi vắng vẻ, độc cư, một suy nghĩ như vầy khởi lên trong tâm: "Ta nên làm cho ai có tín tâm đây, người mà khi có tín tâm nơi ta thì sẽ phát sinh nhiều lợi lộc và cung kính?" Bấy giờ, Devadatta nghĩ thế này: "Thái tử Ajātasattu này vừa trẻ tuổi, tương lai lại tốt đẹp. Hay là ta làm cho thái tử Ajātasattu có tín tâm. Khi vị ấy có tín tâm nơi ta, sẽ phát sinh nhiều lợi lộc và cung kính."
Atha kho devadatto senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya yena rājagahaṁ tena pakkāmi. Anupubbena yena rājagahaṁ tadavasari. Atha kho devadatto sakavaṇṇaṁ paṭisaṁharitvā kumārakavaṇṇaṁ abhinimminitvā ahimekhalikāya ajātasattussa kumārassa ucchaṅge pāturahosi. Atha kho ajātasattu kumāro bhīto ahosi, ubbiggo ussaṅkī utrasto. Atha kho devadatto ajātasattuṁ kumāraṁ etadavoca—“bhāyasi maṁ tvaṁ, kumārā”ti?
“Āma bhāyāmi. Kosi tvan”ti?
“Ahaṁ devadatto”ti.
“Sace kho tvaṁ, bhante, ayyo devadatto, iṅgha sakeneva vaṇṇena pātubhavassū”ti. Atha kho devadatto kumārakavaṇṇaṁ paṭisaṁharitvā saṅghāṭipattacīvaradharo ajātasattussa kumārassa purato aṭṭhāsi.
Atha kho ajātasattu kumāro devadattassa iminā iddhipāṭihāriyena abhippasanno pañcahi rathasatehi sāyaṁ pātaṁ upaṭṭhānaṁ gacchati, pañca ca thālipākasatāni bhattābhihāro abhiharīyati. Atha kho devadattassa lābhasakkārasilokena abhibhūtassa pariyādinnacittassa evarūpaṁ icchāgataṁ uppajji—“ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī”ti. Saha cittuppādāva devadatto tassā iddhiyā parihāyi.
Tena kho pana samayena kakudho nāma koḷiyaputto, āyasmato mahāmoggallānassa upaṭṭhāko, adhunā kālaṅkato aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapanno. Tassa evarūpo attabhāvappaṭilābho hoti—seyyathāpi nāma dve vā tīṇi vā māgadhakāni gāmakkhettāni. So tena attabhāvappaṭilābhena neva attānaṁ na paraṁ byābādheti.
He put his dwelling in order, took his bowl and robes, and left for Rājagaha, where he eventually arrived. He then transformed himself into a boy wearing a snake as a belt and appeared on Prince Ajātasattu’s lap. When Ajātasattu became fearful and agitated, Devadatta said to him, “Are you afraid of me, prince?”
“I am. Who are you?”
“I’m Devadatta.”
“If you’re Venerable Devadatta, please appear in your own form.” Devadatta abandoned the form of a boy and stood in front of Ajātasattu, wearing his robes and carrying his bowl.
By means of this wonder Devadatta was able to inspire Ajātasattu to have confidence in him. Ajātasattu then attended on him morning and evening, with five hundred carriages and a meal offering of five hundred dishes of food. Overcome by material support, honor, and praise, Devadatta started desiring to lead the Sangha of monks. But with the appearance of that thought, his supernormal powers disappeared.
At that time Kakudha the Koḷiyan, the attendant to Venerable Mahāmoggallāna, had recently died and been reborn in a mind-made body. He had acquired a body two or three times the size of the fields of a Magadhan village. Yet he harmed neither himself nor others with that body.
Bấy giờ, Devadatta dọn dẹp chỗ ở, lấy y bát rồi lên đường đến Rājagaha. Tuần tự, y đã đến Rājagaha. Bấy giờ, Devadatta ẩn đi hình dạng của mình, hóa thành hình dạng một đứa trẻ với con rắn làm thắt lưng, rồi hiện ra trong lòng thái tử Ajātasattu. Bấy giờ, thái tử Ajātasattu sợ hãi, kinh hoàng, nghi ngờ, run rẩy. Bấy giờ, Devadatta nói với thái tử Ajātasattu: "Này thái tử, ông sợ ta sao?" "Vâng, tôi sợ. Ông là ai?" "Ta là Devadatta." "Bạch ngài, nếu ngài là Tôn giả Devadatta, xin hãy hiện ra với hình dạng của chính ngài." Bấy giờ, Devadatta ẩn đi hình dạng đứa trẻ, mang theo y tăng-già-lê, bát và y, đứng trước mặt thái tử Ajātasattu. Bấy giờ, thái tử Ajātasattu vô cùng tín tâm bởi thần thông này của Devadatta, nên sáng chiều đến hầu bằng năm trăm cỗ xe, và năm trăm phần cơm được mang đến cúng dường. Bấy giờ, Devadatta, bị lợi lộc, cung kính, danh tiếng lấn át, tâm bị chiếm đoạt, một ước muốn xấu xa như vầy khởi lên: "Ta sẽ lãnh đạo Tăng chúng." Ngay khi tâm niệm ấy khởi lên, Devadatta liền bị mất thần thông ấy.
Atha kho kakudho devaputto yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho kakudho devaputto āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca—“devadattassa, bhante, lābhasakkārasilokena abhibhūtassa pariyādinnacittassa evarūpaṁ icchāgataṁ uppajji—‘ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī’ti. Saha cittuppādāva, bhante, devadatto tassā iddhiyā parihīno”ti. Idamavoca kakudho devaputto. Idaṁ vatvā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tattheva antaradhāyi.
Soon afterwards the god Kakudha approached Mahāmoggallāna, bowed down, and told him about Devadatta’s desire and the disappearance of his supernormal powers. He then bowed down, circumambulated Mahāmoggallāna with his right side toward him, and disappeared right there.
Vào lúc bấy giờ, người thị giả của trưởng lão Mahāmoggallāna là vương tử dòng Koḷiya tên Kakudha, vừa mới mệnh chung, đã được sanh vào một thân do ý tạo nào đó. Sự thành tựu về thân thể của vị ấy là như vầy – giống như là hai hoặc ba khu đất canh tác ở xứ Māgadha. Với sự thành tựu về thân thể ấy, vị ấy không làm tổn hại chính mình cũng không làm tổn hại người khác. Rồi thiên tử Kakudha đã đi đến chỗ trưởng lão Mahāmoggallāna, sau khi đến gần, đã đảnh lễ trưởng lão Mahāmoggallāna rồi đứng một bên. Đứng một bên, thiên tử Kakudha đã nói với trưởng lão Mahāmoggallāna điều này: – ‘Bạch ngài, đối với Devadatta, người bị lợi lộc, cung kính, và danh vọng chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, ý muốn xấu xa như vầy đã khởi lên: – ‘Ta sẽ lãnh đạo hội chúng tỳ khưu.’ Bạch ngài, ngay khi tâm niệm vừa khởi lên, Devadatta đã bị suy thoái khỏi thần thông ấy.’ Thiên tử Kakudha đã nói điều này. Sau khi nói điều này, đã đảnh lễ trưởng lão Mahāmoggallāna, đi nhiễu bên phải rồi biến mất ngay tại chỗ ấy.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahāmoggallāno bhagavantaṁ etadavoca—“kakudho nāma, bhante, koḷiyaputto mama upaṭṭhāko adhunā kālaṅkato aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapanno. Tassa evarūpo attabhāvappaṭilābho—seyyathāpi nāma dve vā tīṇi vā māgadhakāni gāmakkhettāni. So tena attabhāvappaṭilābhena neva attānaṁ na paraṁ byābādheti. Atha kho, bhante, kakudho devaputto yenāhaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho, bhante, kakudho devaputto maṁ etadavoca—‘devadattassa, bhante, lābhasakkārasilokena abhibhūtassa pariyādinnacittassa evarūpaṁ icchāgataṁ uppajji—ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmīti. Saha cittuppādāva, bhante, devadatto tassā iddhiyā parihīno’ti. Idamavoca, bhante, kakudho devaputto. Idaṁ vatvā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tattheva antaradhāyī”ti.
Mahāmoggallāna then went to the Buddha, bowed, sat down, and told him all that had happened.
Rồi trưởng lão Mahāmoggallāna đã đi đến chỗ đức Thế Tôn, sau khi đến gần, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi một bên. Ngồi một bên, trưởng lão Mahāmoggallāna đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch Thế Tôn, người thị giả của con là vương tử dòng Koḷiya tên Kakudha, vừa mới mệnh chung, đã được sanh vào một thân do ý tạo nào đó. Sự thành tựu về thân thể của vị ấy là như vầy – giống như là hai hoặc ba khu đất canh tác ở xứ Māgadha. Với sự thành tựu về thân thể ấy, vị ấy không làm tổn hại chính mình cũng không làm tổn hại người khác. Rồi, bạch Thế Tôn, thiên tử Kakudha đã đi đến chỗ con, sau khi đến gần, đã đảnh lễ con rồi đứng một bên. Đứng một bên, bạch Thế Tôn, thiên tử Kakudha đã nói với con điều này: – ‘Bạch ngài, đối với Devadatta, người bị lợi lộc, cung kính, và danh vọng chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, ý muốn xấu xa như vầy đã khởi lên: – ‘Ta sẽ lãnh đạo hội chúng tỳ khưu.’ Bạch ngài, ngay khi tâm niệm vừa khởi lên, Devadatta đã bị suy thoái khỏi thần thông ấy.’ Bạch Thế Tôn, thiên tử Kakudha đã nói điều này. Sau khi nói điều này, đã đảnh lễ con, đi nhiễu bên phải rồi biến mất ngay tại chỗ ấy.’
“Cetasā ceto paricca vidito ca me, bhante, kakudho devaputto. Yaṁ kiñci kakudho devaputto bhāsati sabbaṁ taṁ tatheva hoti, no aññathā”ti.
“Rakkhassetaṁ, moggallāna, vācaṁ. Rakkhassetaṁ, moggallāna, vācaṁ. Idāni so moghapuriso attanāva attānaṁ pātukarissati.
“I have, venerable sir.”
“Remember these words, Moggallāna! Soon that fool will show himself as he truly is.”
– Này Moggallāna, có phải thiên tử Kakudha đã được ngươi biết đến bằng cách dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của vị ấy không? Bất cứ điều gì thiên tử Kakudha nói, tất cả những điều ấy đều là như vậy, không phải khác đi, có phải không? – Bạch Thế Tôn, thiên tử Kakudha đã được con biết đến bằng cách dùng tâm của mình để thấu suốt tâm của vị ấy. Bất cứ điều gì thiên tử Kakudha nói, tất cả những điều ấy đều là như vậy, không phải khác đi. – Này Moggallāna, hãy ghi nhớ lời nói này. Này Moggallāna, hãy ghi nhớ lời nói này. Giờ đây, kẻ ngu si ấy sẽ tự mình bộc lộ chính mình.
1.3. Pañcasatthukathā
3. Discussion of the five kinds of teachers
Câu chuyện về năm vị thầy
Pañcime, moggallāna, satthāro santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame pañca? Idha, moggallāna, ekacco satthā aparisuddhasīlo samāno ‘parisuddhasīlomhī’ti paṭijānāti ‘parisuddhaṁ me sīlaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan’ti ca. Tamenaṁ sāvakā evaṁ jānanti—‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā aparisuddhasīlo samāno “parisuddhasīlomhī”ti paṭijānāti “parisuddhaṁ me sīlaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan”ti ca. Mayañceva kho pana gihīnaṁ āroceyyāma, nāssassa manāpaṁ. Yaṁ kho panassa amanāpaṁ, kathaṁ naṁ mayaṁ tena samudācareyyāma? Sammannati kho pana cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena—yaṁ tumo karissati, tumova tena paññāyissatī’ti. Evarūpaṁ kho, moggallāna, satthāraṁ sāvakā sīlato rakkhanti; evarūpo ca pana satthā sāvakehi sīlato rakkhaṁ paccāsīsati.
“Moggallāna, there are five kinds of teachers in the world. One kind of teacher is impure in behavior, while claiming it is pure. His disciples know about this, but think, ‘It would be unpleasant for him if we inform the householders. And it’s because of him that we’re honored with gifts of robe-cloth, almsfood, dwellings, and medicinal supplies. How, then, can we inform them? He’ll be known through his own actions.’ The disciples conceal the impure behavior of such a teacher, and the teacher expects them to do so.
334. – Này Moggallāna, có năm vị thầy này đang hiện hữu, có mặt ở trên đời. Năm vị nào? Này Moggallāna, ở đây, có vị thầy nọ, trong khi có giới không trong sạch, lại tự nhận rằng: ‘Ta có giới trong sạch,’ và rằng: ‘Giới của ta trong sạch, thanh tịnh, không ô nhiễm.’ Các đệ tử của vị ấy biết về vị ấy như vầy: – ‘Vị thầy đáng kính này, trong khi có giới không trong sạch, lại tự nhận rằng: ‘Ta có giới trong sạch,’ và rằng: ‘Giới của ta trong sạch, thanh tịnh, không ô nhiễm.’ Nếu chúng ta nói cho hàng tại gia biết thì điều ấy sẽ không làm vị ấy hài lòng. Điều gì không làm vị ấy hài lòng, làm sao chúng ta có thể đối xử với vị ấy bằng cách ấy? Vị ấy được tôn trọng bằng y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và dược phẩm trị bệnh. Bất cứ điều gì vị ấy sẽ làm, chính vị ấy sẽ được biết đến qua việc ấy.’ Này Moggallāna, các đệ tử bảo vệ vị thầy như vậy về phương diện giới hạnh; và vị thầy như vậy cũng mong đợi sự bảo vệ về phương diện giới hạnh từ các đệ tử.
Puna caparaṁ, moggallāna, idhekacco satthā aparisuddhājīvo samāno ‘parisuddhājīvomhī’ti paṭijānāti ‘parisuddho me ājīvo pariyodāto asaṅkiliṭṭho’ti ca. Tamenaṁ sāvakā evaṁ jānanti—‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā aparisuddhājīvo samāno “parisuddhājīvomhī”ti paṭijānāti “parisuddho me ājīvo pariyodāto asaṅkiliṭṭho”ti ca. Mayañceva kho pana gihīnaṁ āroceyyāma, nāssassa manāpaṁ. Yaṁ kho panassa amanāpaṁ, kathaṁ naṁ mayaṁ tena samudācareyyāma? Sammannati kho pana cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena—yaṁ tumo karissati, tumova tena paññāyissatī’ti.
Another kind of teacher is impure in livelihood, while claiming it is pure. His disciples know about this, but think, ‘It would be unpleasant for him if we inform the householders. And it’s because of him that we’re honored with gifts of robe-cloth, almsfood, dwellings, and medicinal supplies. How, then, can we inform them? He’ll be known through his own actions.’
– Lại nữa, này Moggallāna, ở đây, có vị thầy nọ, trong khi có sanh kế không trong sạch, lại tự nhận rằng: ‘Ta có sanh kế trong sạch,’ và rằng: ‘Sanh kế của ta trong sạch, thanh tịnh, không ô nhiễm.’ Các đệ tử của vị ấy biết về vị ấy như vầy: – ‘Vị thầy đáng kính này, trong khi có sanh kế không trong sạch, lại tự nhận rằng: ‘Ta có sanh kế trong sạch,’ và rằng: ‘Sanh kế của ta trong sạch, thanh tịnh, không ô nhiễm.’ Nếu chúng ta nói cho hàng tại gia biết thì điều ấy sẽ không làm vị ấy hài lòng. Điều gì không làm vị ấy hài lòng, làm sao chúng ta có thể đối xử với vị ấy bằng cách ấy? Vị ấy được tôn trọng bằng y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và dược phẩm trị bệnh. Bất cứ điều gì vị ấy sẽ làm, chính vị ấy sẽ được biết đến qua việc ấy.’ Này Moggallāna, các đệ tử bảo vệ vị thầy như vậy về phương diện sanh kế; và vị thầy như vậy cũng mong đợi sự bảo vệ về phương diện sanh kế từ các đệ tử.
Puna caparaṁ, moggallāna, idhekacco satthā aparisuddhadhammadesano samāno ‘parisuddhadhammadesanomhī’ti paṭijānāti ‘parisuddhā me dhammadesanā pariyodātā asaṅkiliṭṭhā’ti ca. Tamenaṁ sāvakā evaṁ jānanti—‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā aparisuddhadhammadesano samāno “parisuddhadhammadesanomhī”ti paṭijānāti “parisuddhā me dhammadesanā pariyodātā asaṅkiliṭṭhā”ti ca. Mayañceva kho pana gihīnaṁ āroceyyāma, nāssassa manāpaṁ. Yaṁ kho panassa amanāpaṁ, kathaṁ naṁ mayaṁ tena samudācareyyāma? Sammannati kho pana cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena—yaṁ tumo karissati, tumova tena paññāyissatī’ti. Evarūpaṁ kho, moggallāna, satthāraṁ sāvakā dhammadesanato rakkhanti; evarūpo ca pana satthā sāvakehi dhammadesanato rakkhaṁ paccāsīsati.
Still another kind of teacher gives impure teachings, while claiming they are pure. His disciples know about this, but think, ‘It would be unpleasant for him if we inform the householders. And it’s because of him that we’re honored with gifts of robe-cloth, almsfood, dwellings, and medicinal supplies. How, then, can we inform them? He’ll be known through his own actions.’ The disciples conceal the impure teachings of such a teacher, and the teacher expects them to do so.
Này Moggallāna, lại nữa, ở đây, có vị đạo sư có thuyết pháp không trong sạch, nhưng lại tự nhận rằng: ‘Ta có thuyết pháp trong sạch’, và: ‘Pháp do ta thuyết là trong sạch, thuần tịnh, không ô nhiễm’. Các đệ tử của vị ấy biết như vầy: ‘Vị tôn sư này có thuyết pháp không trong sạch, nhưng lại tự nhận rằng: ‘Ta có thuyết pháp trong sạch’, và: ‘Pháp do ta thuyết là trong sạch, thuần tịnh, không ô nhiễm’. Nếu chúng ta trình báo việc này cho hàng tại gia, điều ấy sẽ không làm vị ấy hài lòng. Việc gì không làm vị ấy hài lòng, tại sao chúng ta lại đối xử với vị ấy bằng cách đó? Vị ấy được tôn trọng vì y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh. Việc gì vị ấy sẽ làm, tự vị ấy sẽ được biết đến qua việc ấy’. Này Moggallāna, đối với vị đạo sư như vậy, các đệ tử che chở về mặt thuyết pháp; và vị đạo sư như vậy cũng mong đợi sự che chở từ các đệ tử về mặt thuyết pháp.
Puna caparaṁ, moggallāna, idhekacco satthā aparisuddhaveyyākaraṇo samāno ‘parisuddhaveyyākaraṇomhī’ti paṭijānāti ‘parisuddhaṁ me veyyākaraṇaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan’ti ca. Tamenaṁ sāvakā evaṁ jānanti—‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā aparisuddhaveyyākaraṇo samāno “parisuddhaveyyākaraṇomhī”ti paṭijānāti “parisuddhaṁ me veyyākaraṇaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan”ti ca. Mayañceva kho pana gihīnaṁ āroceyyāma, nāssassa manāpaṁ. Yaṁ kho panassa amanāpaṁ, kathaṁ naṁ mayaṁ tena samudācareyyāma? Sammannati kho pana cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena—yaṁ tumo karissati, tumova tena paññāyissatī’ti. Evarūpaṁ kho, moggallāna, satthāraṁ sāvakā veyyākaraṇato rakkhanti; evarūpo ca pana satthā sāvakehi veyyākaraṇato rakkhaṁ paccāsīsati.
Still another kind of teacher gives impure explanations, while claiming they are pure. His disciples know about this, but think, ‘It would be unpleasant for him if we inform the householders. And it’s because of him that we’re honored with gifts of robe-cloth, almsfood, dwellings, and medicinal supplies. How, then, can we inform them? He’ll be known through his own actions.’ The disciples conceal the impure explanations of such a teacher, and the teacher expects them to do so.
Này Moggallāna, lại nữa, ở đây, có vị đạo sư có sự giảng giải không trong sạch, nhưng lại tự nhận rằng: ‘Ta có sự giảng giải trong sạch’, và: ‘Sự giảng giải của ta là trong sạch, thuần tịnh, không ô nhiễm’. Các đệ tử của vị ấy biết như vầy: ‘Vị tôn sư này có sự giảng giải không trong sạch, nhưng lại tự nhận rằng: ‘Ta có sự giảng giải trong sạch’, và: ‘Sự giảng giải của ta là trong sạch, thuần tịnh, không ô nhiễm’. Nếu chúng ta trình báo việc này cho hàng tại gia, điều ấy sẽ không làm vị ấy hài lòng. Việc gì không làm vị ấy hài lòng, tại sao chúng ta lại đối xử với vị ấy bằng cách đó? Vị ấy được tôn trọng vì y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh. Việc gì vị ấy sẽ làm, tự vị ấy sẽ được biết đến qua việc ấy’. Này Moggallāna, đối với vị đạo sư như vậy, các đệ tử che chở về mặt giảng giải; và vị đạo sư như vậy cũng mong đợi sự che chở từ các đệ tử về mặt giảng giải.
Puna caparaṁ, moggallāna, idhekacco satthā aparisuddhañāṇadassano samāno ‘parisuddhañāṇadassanomhī’ti paṭijānāti ‘parisuddhaṁ me ñāṇadassanaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan’ti ca. Tamenaṁ sāvakā evaṁ jānanti—‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā aparisuddhañāṇadassano samāno “parisuddhañāṇadassanomhī”ti paṭijānāti “parisuddhaṁ me ñāṇadassanaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan”ti ca. Mayañceva kho pana gihīnaṁ āroceyyāma, nāssassa manāpaṁ. Yaṁ kho panassa amanāpaṁ, kathaṁ naṁ mayaṁ tena samudācareyyāma? Sammannati kho pana cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena—yaṁ tumo karissati, tumova tena paññāyissatī’ti. Evarūpaṁ kho, moggallāna, satthāraṁ sāvakā ñāṇadassanato rakkhanti; evarūpo ca pana satthā sāvakehi ñāṇadassanato rakkhaṁ paccāsīsatīti. Ime kho, moggallāna, pañca satthāro santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Still another kind of teacher has impure knowledge and vision, while claiming they are pure. His disciples know about this, but think, ‘It would be unpleasant for him if we inform the householders. And it’s because of him that we’re honored with gifts of robe-cloth, almsfood, dwellings, and medicinal supplies. How, then, can we inform them? He’ll be known through his own actions.’ The disciples conceal the impure knowledge and vision of such a teacher, and the teacher expects them to do so.
Này Moggallāna, lại nữa, ở đây, có vị đạo sư có tri kiến không trong sạch, nhưng lại tự nhận rằng: ‘Ta có tri kiến trong sạch’, và: ‘Tri kiến của ta là trong sạch, thuần tịnh, không ô nhiễm’. Các đệ tử của vị ấy biết như vầy: ‘Vị tôn sư này có tri kiến không trong sạch, nhưng lại tự nhận rằng: ‘Ta có tri kiến trong sạch’, và: ‘Tri kiến của ta là trong sạch, thuần tịnh, không ô nhiễm’. Nếu chúng ta trình báo việc này cho hàng tại gia, điều ấy sẽ không làm vị ấy hài lòng. Việc gì không làm vị ấy hài lòng, tại sao chúng ta lại đối xử với vị ấy bằng cách đó? Vị ấy được tôn trọng vì y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh. Việc gì vị ấy sẽ làm, tự vị ấy sẽ được biết đến qua việc ấy’. Này Moggallāna, đối với vị đạo sư như vậy, các đệ tử che chở về mặt tri kiến; và vị đạo sư như vậy cũng mong đợi sự che chở từ các đệ tử về mặt tri kiến. Này Moggallāna, đây là năm hạng đạo sư đang hiện hữu có mặt ở trên đời.
Ahaṁ kho pana, moggallāna, parisuddhasīlo samāno ‘parisuddhasīlomhī’ti paṭijānāmi ‘parisuddhaṁ me sīlaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan’ti ca. Na ca maṁ sāvakā sīlato rakkhanti; na cāhaṁ sāvakehi sīlato rakkhaṁ paccāsīsāmi. Parisuddhājīvo samāno …pe… parisuddhadhammadesano samāno …pe… parisuddhaveyyākaraṇo samāno …pe… parisuddhañāṇadassano samāno ‘parisuddhañāṇadassanomhī’ti paṭijānāmi ‘parisuddhaṁ me ñāṇadassanaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan’ti ca. Na ca maṁ sāvakā ñāṇadassanato rakkhanti; na cāhaṁ sāvakehi ñāṇadassanato rakkhaṁ paccāsīsāmī”ti.
But in my case, Moggallāna, I claim my behavior is pure because it is. My disciples don’t conceal my behavior, and I don’t expect them to do so. I claim my livelihood is pure … I claim my teachings are pure … I claim my explanations are pure … I claim my knowledge and vision are pure because they are. My disciples don’t conceal my knowledge and vision, and I don’t expect them to do so.”
Còn Ta, này Moggallāna, có giới hạnh trong sạch, nên Ta tự nhận rằng: ‘Ta có giới hạnh trong sạch’, và: ‘Giới hạnh của Ta là trong sạch, thuần tịnh, không ô nhiễm’. Và các đệ tử không che chở Ta về mặt giới hạnh; Ta cũng không mong đợi sự che chở từ các đệ tử về mặt giới hạnh. Có mạng sống trong sạch ... như trên ... có thuyết pháp trong sạch ... như trên ... có sự giảng giải trong sạch ... như trên ... có tri kiến trong sạch, nên Ta tự nhận rằng: ‘Ta có tri kiến trong sạch’, và: ‘Tri kiến của Ta là trong sạch, thuần tịnh, không ô nhiễm’. Và các đệ tử không che chở Ta về mặt tri kiến; Ta cũng không mong đợi sự che chở từ các đệ tử về mặt tri kiến.
Atha kho bhagavā kosambiyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena rājagahaṁ tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena rājagahaṁ tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ—“devadattassa, bhante, ajātasattu kumāro pañcahi rathasatehi sāyaṁ pātaṁ upaṭṭhānaṁ gacchati; pañca ca thālipākasatāni bhattābhihāro abhiharīyatī”ti.
“Mā, bhikkhave, devadattassa lābhasakkārasilokaṁ pihayittha. Yāvakīvañca, bhikkhave, devadattassa ajātasattu kumāro pañcahi rathasatehi sāyaṁ pātaṁ upaṭṭhānaṁ gamissati, pañca ca thālipākasatāni bhattābhihāro abhiharīyissati, hāniyeva, bhikkhave, devadattassa pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no vuḍḍhi.
When the Buddha had stayed at Kosambī for as long as he liked, he set out wandering toward Rājagaha. When he eventually arrived, he stayed in the Bamboo Grove, the squirrel sanctuary.
Then a number of monks went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “Sir, Prince Ajātasattu attends on Devadatta morning and evening, with five hundred carriages and a meal offering of five hundred dishes of food.”
“Monks, don’t envy Devadatta his material support, honor, and praise. So long as Prince Ajātasattu treats him like this, Devadatta can be expected to decline in good qualities.
335. Bấy giờ, Thế Tôn sau khi trú ở Kosambī tùy theo ý thích, đã lên đường du hành đến Rājagaha. Du hành tuần tự, ngài đã đi đến Rājagaha. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Bấy giờ, đông đảo các vị tỳ khưu đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các vị tỳ khưu ấy bạch với Thế Tôn điều này: ‘Bạch Thế Tôn, vương tử Ajātasattu, vào buổi sáng và buổi chiều, đi đến hầu hạ Devadatta với năm trăm cỗ xe; và năm trăm phần cơm nấu trong nồi được mang đến dâng cúng’. ‘Này các tỳ khưu, chớ có ganh tỵ với lợi lộc, cung kính, và danh tiếng của Devadatta. Này các tỳ khưu, trong khi vương tử Ajātasattu còn đi đến hầu hạ Devadatta với năm trăm cỗ xe vào buổi sáng và buổi chiều, và năm trăm phần cơm nấu trong nồi còn được mang đến dâng cúng, thì này các tỳ khưu, đối với Devadatta, chỉ có sự tổn giảm trong các thiện pháp là điều được trông đợi, chứ không phải sự tăng trưởng.’
Seyyathāpi, bhikkhave, caṇḍassa kukkurassa nāsāya pittaṁ bhindeyyuṁ, evañhi so, bhikkhave, kukkuro bhiyyoso mattāya caṇḍataro assa; evameva kho, bhikkhave, yāvakīvañca devadattassa ajātasattu kumāro pañcahi rathasatehi sāyaṁ pātaṁ upaṭṭhānaṁ gamissati, pañca ca thālipākasatāni bhattābhihāro abhiharīyissati, hāniyeva, bhikkhave, devadattassa pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no vuḍḍhi.
Just as a fierce dog would get even fiercer if you break a gall bladder on its nose, so too, so long as Prince Ajātasattu treats him like this, Devadatta can be expected to decline in good qualities.
“Này các tỳ khưu, ví như người ta có thể làm vỡ mật (động vật) vào mũi của con chó hung dữ; này các tỳ khưu, như vậy con chó ấy sẽ trở nên hung dữ hơn quá mức. Tương tự y như thế, này các tỳ khưu, chừng nào mà thái tử Ajātasattu còn đến hầu hạ Devadatta vào buổi sáng và buổi chiều với năm trăm cỗ xe, và năm trăm phần cơm nấu trong nồi còn được mang đến dâng cúng, thì này các tỳ khưu, đối với Devadatta chỉ có thể trông đợi sự suy giảm trong các thiện pháp, chứ không phải sự tăng trưởng.”
Attavadhāya, bhikkhave, devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
“Này các tỳ khưu, lợi lộc, cung kính, và danh tiếng đã sanh khởi cho Devadatta để tự hủy hoại, lợi lộc, cung kính, và danh tiếng đã sanh khởi cho Devadatta để bị suy vong.”
Seyyathāpi, bhikkhave, kadalī attavadhāya phalaṁ deti, parābhavāya phalaṁ deti; evameva kho, bhikkhave, attavadhāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
Just as a plantain banana tree produces fruit to its own destruction and ruin, so too will Devadatta’s material support, honor, and praise cause his own destruction and ruin.
“Này các tỳ khưu, ví như cây chuối ra quả để tự hủy hoại, ra quả để bị suy vong. Tương tự y như thế, này các tỳ khưu, lợi lộc, cung kính, và danh tiếng đã sanh khởi cho Devadatta để tự hủy hoại, lợi lộc, cung kính, và danh tiếng đã sanh khởi cho Devadatta để bị suy vong.”
Seyyathāpi, bhikkhave, veḷu attavadhāya phalaṁ deti, parābhavāya phalaṁ deti; evameva kho, bhikkhave, attavadhāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
Just as a bamboo produces fruit to its own destruction and ruin, so too will Devadatta’s material support, honor, and praise cause his own destruction and ruin.
“Này các tỳ khưu, ví như cây tre ra quả để tự hủy hoại, ra quả để bị suy vong. Tương tự y như thế, này các tỳ khưu, lợi lộc, cung kính, và danh tiếng đã sanh khởi cho Devadatta để tự hủy hoại, lợi lộc, cung kính, và danh tiếng đã sanh khởi cho Devadatta để bị suy vong.”
Seyyathāpi, bhikkhave, naḷo attavadhāya phalaṁ deti, parābhavāya phalaṁ deti; evameva kho, bhikkhave, attavadhāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
Just as a <i lang='pi' translate='no'>naḷa</i> reed produces fruit to its own destruction and ruin, so too will Devadatta’s material support, honor, and praise cause his own destruction and ruin.
“Này các tỳ khưu, ví như cây sậy ra quả để tự hủy hoại, ra quả để bị suy vong. Tương tự y như thế, này các tỳ khưu, lợi lộc, cung kính, và danh tiếng đã sanh khởi cho Devadatta để tự hủy hoại, lợi lộc, cung kính, và danh tiếng đã sanh khởi cho Devadatta để bị suy vong.”
Seyyathāpi, bhikkhave, assatarī attavadhāya gabbhaṁ gaṇhāti, parābhavāya gabbhaṁ gaṇhāti; evameva kho, bhikkhave, attavadhāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādīti.
Just as a mule becomes pregnant to its own destruction and ruin, so too will Devadatta’s material support, honor, and praise cause his own destruction and ruin.”
“Này các tỳ khưu, ví như con la cái mang thai để tự hủy hoại, mang thai để bị suy vong. Tương tự y như thế, này các tỳ khưu, lợi lộc, cung kính, và danh tiếng đã sanh khởi cho Devadatta để tự hủy hoại, lợi lộc, cung kính, và danh tiếng đã sanh khởi cho Devadatta để bị suy vong.”
Phalaṁ ve kadaliṁ hanti, phalaṁ veḷuṁ phalaṁ naḷaṁ; Sakkāro kāpurisaṁ hanti, gabbho assatariṁ yathā”ti.
“The fruit destroys the plantain, And the bamboo and the reed. Honor destroys the bad person, As the fetus destroys the mule.”
“Quả thật giết cây chuối, quả giết cây tre, quả giết cây sậy; sự cung kính giết kẻ hạ tiện, như bào thai giết con la cái.”
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
The first section for recitation is finished.
The second section
Phẩm thứ nhất đã kết thúc.
2.1. Pakāsanīyakamma
4. The legal procedure of announcement
Yết-ma Tuyên Cáo
Tena kho pana samayena bhagavā mahatiyā parisāya parivuto dhammaṁ desento nisinno hoti sarājikāya parisāya. Atha kho devadatto uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca—“jiṇṇo dāni, bhante, bhagavā vuḍḍho mahallako addhagato vayoanuppatto. Appossukko dāni, bhante, bhagavā diṭṭhadhammasukhavihāraṁ anuyutto viharatu, mamaṁ bhikkhusaṅghaṁ nissajjatu. Ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī”ti.
“Alaṁ, devadatta, mā te rucci bhikkhusaṅghaṁ pariharitun”ti.
Dutiyampi kho devadatto …pe… tatiyampi kho devadatto bhagavantaṁ etadavoca—“jiṇṇo dāni, bhante, bhagavā vuḍḍho mahallako addhagato vayoanuppatto. Appossukko dāni, bhante, bhagavā diṭṭhadhammasukhavihāraṁ anuyutto viharatu, mamaṁ bhikkhusaṅghaṁ nissajjatu. Ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī”ti.
“Sāriputtamoggallānānampi kho ahaṁ, devadatta, bhikkhusaṅghaṁ na nissajjeyyaṁ, kiṁ pana tuyhaṁ chavassa kheḷāsakassā”ti.
Atha kho devadatto—sarājikāya maṁ bhagavā parisāya kheḷāsakavādena apasādeti, sāriputtamoggallāneva ukkaṁsatīti—kupito anattamano bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Ayañcarahi devadattassa bhagavati paṭhamo āghāto ahosi.
Soon afterwards the Buddha was seated giving a teaching surrounded by a large gathering of people, including the king. Devadatta then got up from his seat, arranged his upper robe over one shoulder, raised his joined palms, and said, “Sir, you’re now old and close to the end of life. You should live free from bother and enjoy the happiness of meditation. Hand the Sangha of monks over to me. Let me lead the Sangha.”
“Let it be, Devadatta, don’t think of leading the Sangha of monks.”
A second time Devadatta said the same thing and got the same reply. He then said it a third time, and the Buddha replied:
“I wouldn’t even hand the Sangha over to Sāriputta and Mogallāna, so why then to you, a wretched devourer of junk?”
Devadatta thought, “The Buddha disparages me in front of a gathering that includes the king as a devourer of junk, while praising Sāriputta and Mogallāna,” and he bowed down in anger, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left. This was the first time Devadatta had ill will toward the Buddha.
336. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đang ngồi thuyết Pháp, được hội chúng đông đảo vây quanh, trong hội chúng có cả nhà vua. Khi ấy, Devadatta đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đắp thượng y một bên vai, chắp tay hướng về đức Thế Tôn và bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, nay đức Thế Tôn đã già, đã cao tuổi, đã là bậc trưởng lão, đã đi hết cuộc hành trình, đã đến tuổi xế chiều. Bạch ngài, nay xin đức Thế Tôn hãy sống không bận tâm, chuyên chú vào sự an trú hạnh phúc trong hiện tại, xin hãy giao phó Tăng chúng tỳ khưu lại cho con. Con sẽ lãnh đạo Tăng chúng tỳ khưu.’ ‘Thôi đi, Devadatta, ngươi chớ có ý muốn lãnh đạo Tăng chúng tỳ khưu.’ Lần thứ hai... lần thứ ba, Devadatta bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, nay đức Thế Tôn đã già, đã cao tuổi, đã là bậc trưởng lão, đã đi hết cuộc hành trình, đã đến tuổi xế chiều. Bạch ngài, nay xin đức Thế Tôn hãy sống không bận tâm, chuyên chú vào sự an trú hạnh phúc trong hiện tại, xin hãy giao phó Tăng chúng tỳ khưu lại cho con. Con sẽ lãnh đạo Tăng chúng tỳ khưu.’ ‘Này Devadatta, ngay cả Sāriputta và Moggallāna, ta cũng không giao phó Tăng chúng tỳ khưu, huống hồ là giao cho ngươi, kẻ thấp hèn, kẻ nuốt nước bọt!’ Khi ấy, Devadatta nghĩ rằng: ‘Giữa hội chúng có cả nhà vua, đức Thế Tôn đã bác bỏ ta bằng lời lẽ của kẻ nuốt nước bọt, chỉ tán dương Sāriputta và Moggallāna,’ rồi nổi giận, không vui lòng, đã đảnh lễ đức Thế Tôn, đi quanh bên phải rồi rời đi. Đây là mối ác cảm đầu tiên của Devadatta đối với đức Thế Tôn.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—
“tena hi, bhikkhave, saṅgho devadattassa rājagahe pakāsanīyaṁ kammaṁ karotu—‘pubbe devadattassa aññā pakati ahosi, idāni aññā pakati. Yaṁ devadatto kareyya kāyena vācāya, na tena buddho vā dhammo vā saṅgho vā daṭṭhabbo, devadattova tena daṭṭhabbo’ti. Evañca pana, bhikkhave, kātabbaṁ. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
Soon afterwards the Buddha addressed the monks:
“Well then, the Sangha should do a legal procedure for the purpose of making an announcement about Devadatta in Rājagaha—‘Devadatta’s character has changed. Whatever Devadatta does by body or speech has nothing to do with the Buddha, the Teaching, or the Sangha, but only with Devadatta.’ And it should be done in this way. A competent and capable monk should inform the Sangha:
Khi ấy, đức Thế Tôn gọi các tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, vậy thì Tăng chúng hãy thực hiện yết-ma tuyên cáo đối với Devadatta tại thành Rājagaha rằng: ‘Trước đây bản chất của Devadatta là một khác, nay bản chất là một khác. Bất cứ điều gì Devadatta làm bằng thân hay bằng lời, không nên xem đó là Phật, là Pháp, hay là Tăng, mà chỉ nên xem đó là của Devadatta mà thôi.’ Này các tỳ khưu, và điều này cần phải được thực hiện như sau. Một vị tỳ khưu có năng lực, có khả năng, nên trình cho Tăng chúng biết:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ saṅgho devadattassa rājagahe pakāsanīyaṁ kammaṁ kareyya—“pubbe devadattassa aññā pakati ahosi, idāni aññā pakati. Yaṁ devadatto kareyya kāyena vācāya, na tena buddho vā dhammo vā saṅgho vā daṭṭhabbo, devadattova tena daṭṭhabbo”ti. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should do a legal procedure for the purpose of making an announcement about Devadatta in Rājagaha—“Devadatta’s character has changed. Whatever Devadatta does by body or speech has nothing to do with the Buddha, the Teaching, or the Sangha, but only with Devadatta.” This is the motion.
337. “‘Bạch chư tôn giả, xin Tăng chúng hãy nghe con. Nếu Tăng chúng thấy đã đến lúc thích hợp, Tăng chúng nên thực hiện yết-ma tuyên cáo đối với Devadatta tại thành Rājagaha rằng: ‘Trước đây bản chất của Devadatta là một khác, nay bản chất là một khác. Bất cứ điều gì Devadatta làm bằng thân hay bằng lời, không nên xem đó là Phật, là Pháp, hay là Tăng, mà chỉ nên xem đó là của Devadatta mà thôi.’ Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho devadattassa rājagahe pakāsanīyaṁ kammaṁ karoti—“pubbe devadattassa aññā pakati ahosi, idāni aññā pakati. Yaṁ devadatto kareyya kāyena vācāya, na tena buddho vā dhammo vā saṅgho vā daṭṭhabbo, devadattova tena daṭṭhabbo”ti. Yassāyasmato khamati devadattassa rājagahe pakāsanīyassa kammassa karaṇaṁ—“pubbe devadattassa aññā pakati ahosi, idāni aññā pakati, yaṁ devadatto kareyya kāyena vācāya, na tena buddho vā dhammo vā saṅgho vā daṭṭhabbo, devadattova tena daṭṭhabbo”ti—so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha does a legal procedure for the purpose of making an announcement about Devadatta in Rājagaha—“Devadatta’s character has changed. Whatever Devadatta does by body or speech has nothing to do with the Buddha, the Teaching, or the Sangha, but only with Devadatta.” Any monk who approves of doing a legal procedure for the purpose of making an announcement about Devadatta in Rājagaha—“Devadatta’s character has changed. Whatever Devadatta does by body or speech has nothing to do with the Buddha, the Teaching, or the Sangha, but only with Devadatta.”—should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“‘Bạch chư tôn giả, xin Tăng chúng hãy nghe con. Tăng chúng đang thực hiện yết-ma tuyên cáo đối với Devadatta tại thành Rājagaha rằng: ‘Trước đây bản chất của Devadatta là một khác, nay bản chất là một khác. Bất cứ điều gì Devadatta làm bằng thân hay bằng lời, không nên xem đó là Phật, là Pháp, hay là Tăng, mà chỉ nên xem đó là của Devadatta mà thôi.’ Vị tôn giả nào chấp thuận việc thực hiện yết-ma tuyên cáo đối với Devadatta tại thành Rājagaha rằng: ‘Trước đây bản chất của Devadatta là một khác, nay bản chất là một khác, bất cứ điều gì Devadatta làm bằng thân hay bằng lời, không nên xem đó là Phật, là Pháp, hay là Tăng, mà chỉ nên xem đó là của Devadatta mà thôi,’ thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, thì hãy nói lên.’”
Kataṁ saṅghena devadattassa rājagahe pakāsanīyaṁ kammaṁ—“pubbe devadattassa aññā pakati ahosi, idāni aññā pakati. Yaṁ devadatto kareyya kāyena vācāya, na tena buddho vā dhammo vā saṅgho vā daṭṭhabbo, devadattova tena daṭṭhabbo”ti. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has done a legal procedure for the purpose of making an announcement about Devadatta in Rājagaha—“Devadatta’s character has changed. Whatever Devadatta does by body or speech has nothing to do with the Buddha, the Teaching, or the Sangha, but only with Devadatta.” The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
Tăng chúng đã thực hiện yết-ma tuyên cáo đối với Devadatta tại thành Vương Xá (Rājagaha) rằng: “Trước đây, Devadatta có bản tính khác, nay có bản tính khác. Bất cứ điều gì Devadatta làm bằng thân hay bằng lời, không vì thế mà xem đó là (hành động của) đức Phật, Pháp hay Tăng, mà chỉ nên xem đó là (hành động của) chính Devadatta.” Điều này được Tăng chúng chấp thuận, do đó im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi—“tena hi tvaṁ, sāriputta, devadattaṁ rājagahe pakāsehī”ti.
“Pubbe mayā, bhante, devadattassa rājagahe vaṇṇo bhāsito—‘mahiddhiko godhiputto, mahānubhāvo godhiputto’ti. Kathāhaṁ, bhante, devadattaṁ rājagahe pakāsemī”ti?
“Nanu tayā, sāriputta, bhūtoyeva devadattassa rājagahe vaṇṇo bhāsito—‘mahiddhiko godhiputto, mahānubhāvo godhiputto’”ti?
“Evaṁ, bhante”ti.
“Evameva kho tvaṁ, sāriputta, bhūtaṁyeva devadattaṁ rājagahe pakāsehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā sāriputto bhagavato paccassosi.
The Buddha then addressed Sāriputta: “Well then, Sāriputta, make that announcement about Devadatta in Rājagaha.”
“In the past, sir, I have praised Devadatta in Rājagaha, saying, ‘Godhiputta is powerful and mighty.’ How, then, can I now make this announcement about him?”
“Didn’t you praise him truthfully when you said that?”
“I did.”
“In the same way, you should make this announcement truthfully.”
“Yes, sir.”
338. Khi ấy, Thế Tôn gọi trưởng lão Sāriputta và dạy rằng: “Này Sāriputta, vậy thì ngươi hãy tuyên cáo về Devadatta ở thành Rājagaha.” – “Bạch Thế Tôn, trước đây tại thành Rājagaha, con đã từng tán thán Devadatta rằng: ‘Vị Godhiputta có đại thần lực, vị Godhiputta có đại oai lực.’ Bạch Thế Tôn, làm sao con có thể tuyên cáo về Devadatta ở thành Rājagaha được?” – “Này Sāriputta, há không phải ngươi đã tán thán Devadatta ở thành Rājagaha đúng với sự thật rằng: ‘Vị Godhiputta có đại thần lực, vị Godhiputta có đại oai lực’ hay sao?” – “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” – “Này Sāriputta, cũng chính như vậy, ngươi hãy tuyên cáo về Devadatta ở thành Rājagaha đúng với sự thật.” – “Bạch Thế Tôn, xin vâng.” Trưởng lão Sāriputta đã vâng lời Thế Tôn.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—“tena hi, bhikkhave, saṅgho sāriputtaṁ sammannatu devadattaṁ rājagahe pakāsetuṁ—‘pubbe devadattassa aññā pakati ahosi, idāni aññā pakati. Yaṁ devadatto kareyya kāyena vācāya, na tena buddho vā dhammo vā saṅgho vā daṭṭhabbo, devadattova tena daṭṭhabbo’ti. Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbo. Paṭhamaṁ sāriputto yācitabbo. Yācitvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
The Buddha then addressed the monks: “Well then, the Sangha should appoint Sāriputta to make that announcement about Devadatta in Rājagaha. And he should be appointed like this. First Sāriputta should be asked, and then a competent and capable monk should inform the Sangha:
Khi ấy, Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu và dạy rằng: “Này các tỳ khưu, vậy thì Tăng chúng hãy chỉ định Sāriputta để tuyên cáo về Devadatta ở thành Rājagaha rằng: ‘Trước đây, bản chất của Devadatta là một khác, bây giờ bản chất là một khác. Bất cứ điều gì Devadatta làm bằng thân hay bằng lời, không nên xem đó là (hành động của) đức Phật, Pháp, hay Tăng, mà chỉ nên xem đó là (hành động của) chính Devadatta.’ Này các tỳ khưu, và việc chỉ định nên được thực hiện như sau: Trước hết, nên thỉnh cầu Sāriputta. Sau khi thỉnh cầu, một vị tỳ khưu có năng lực, có khả năng, nên trình cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho āyasmantaṁ sāriputtaṁ sammanneyya devadattaṁ rājagahe pakāsetuṁ—“pubbe devadattassa aññā pakati ahosi, idāni aññā pakati. Yaṁ devadatto kareyya kāyena vācāya, na tena buddho vā dhammo vā saṅgho vā daṭṭhabbo, devadattova tena daṭṭhabbo”ti. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should appoint Venerable Sāriputta to make an announcement about Devadatta in Rājagaha—“Devadatta’s character has changed. Whatever Devadatta does by body or speech has nothing to do with the Buddha, the Teaching, or the Sangha, but only with Devadatta.” This is the motion.
“Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng lắng nghe con. Nếu Tăng chúng đã đến thời điểm thích hợp, Tăng chúng nên chỉ định trưởng lão Sāriputta để tuyên cáo về Devadatta ở thành Rājagaha rằng: ‘Trước đây, bản chất của Devadatta là một khác, bây giờ bản chất là một khác. Bất cứ điều gì Devadatta làm bằng thân hay bằng lời, không nên xem đó là (hành động của) đức Phật, Pháp, hay Tăng, mà chỉ nên xem đó là (hành động của) chính Devadatta.’ Đây là lời tác bạch.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho āyasmantaṁ sāriputtaṁ sammannati devadattaṁ rājagahe pakāsetuṁ—“pubbe devadattassa aññā pakati ahosi, idāni aññā pakati, yaṁ devadatto kareyya kāyena vācāya, na tena buddho vā dhammo vā saṅgho vā daṭṭhabbo, devadattova tena daṭṭhabbo”ti. Yassāyasmato khamati, āyasmato sāriputtassa sammuti devadattaṁ rājagahe pakāsetuṁ—“pubbe devadattassa aññā pakati ahosi, idāni aññā pakati, yaṁ devadatto kareyya kāyena vācāya, na tena buddho vā dhammo vā saṅgho vā daṭṭhabbo, devadattova tena daṭṭhabbo”ti—so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha appoints Venerable Sāriputta to make an announcement about Devadatta in Rājagaha—“Devadatta’s character has changed. Whatever Devadatta does by body or speech has nothing to do with the Buddha, the Teaching, or the Sangha, but only with Devadatta.” Any monk who approves of appointing Venerable Sāriputta to make an announcement about Devadatta in Rājagaha—“Devadatta’s character has changed. Whatever Devadatta does by body or speech has nothing to do with the Buddha, the Teaching, or the Sangha, but only with Devadatta.”—should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng lắng nghe con. Tăng chúng chỉ định trưởng lão Sāriputta để tuyên cáo về Devadatta ở thành Rājagaha rằng: ‘Trước đây, bản chất của Devadatta là một khác, bây giờ bản chất là một khác; bất cứ điều gì Devadatta làm bằng thân hay bằng lời, không nên xem đó là (hành động của) đức Phật, Pháp, hay Tăng, mà chỉ nên xem đó là (hành động của) chính Devadatta.’ Vị trưởng lão nào chấp thuận việc chỉ định trưởng lão Sāriputta để tuyên cáo về Devadatta ở thành Rājagaha rằng: ‘Trước đây, bản chất của Devadatta là một khác, bây giờ bản chất là một khác; bất cứ điều gì Devadatta làm bằng thân hay bằng lời, không nên xem đó là (hành động của) đức Phật, Pháp, hay Tăng, mà chỉ nên xem đó là (hành động của) chính Devadatta,’ thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, thì hãy lên tiếng.
Sammato saṅghena āyasmā sāriputto devadattaṁ rājagahe pakāsetuṁ—“pubbe devadattassa aññā pakati ahosi, idāni aññā pakati. Yaṁ devadatto kareyya kāyena vācāya, na tena buddho vā dhammo vā saṅgho vā daṭṭhabbo, devadattova tena daṭṭhabbo”ti. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has appointed Venerable Sāriputta to make an announcement about Devadatta in Rājagaha—“Devadatta’s character has changed. Whatever Devadatta does by body or speech has nothing to do with the Buddha, the Teaching, or the Sangha, but only with Devadatta.” The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Trưởng lão Sāriputta đã được Tăng chúng chỉ định để tuyên cáo về Devadatta ở thành Rājagaha rằng: ‘Trước đây, bản chất của Devadatta là một khác, bây giờ bản chất là một khác. Bất cứ điều gì Devadatta làm bằng thân hay bằng lời, không nên xem đó là (hành động của) đức Phật, Pháp, hay Tăng, mà chỉ nên xem đó là (hành động của) chính Devadatta.’ Điều này được Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Sammato ca āyasmā sāriputto sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ rājagahaṁ pavisitvā devadattaṁ rājagahe pakāsesi—“pubbe devadattassa aññā pakati ahosi, idāni aññā pakati. Yaṁ devadatto kareyya kāyena vācāya, na tena buddho vā dhammo vā saṅgho vā daṭṭhabbo, devadattova tena daṭṭhabbo”ti. Tattha ye te manussā assaddhā appasannā dubbuddhino, te evamāhaṁsu—“usūyakā ime samaṇā sakyaputtiyā devadattassa lābhasakkāraṁ usūyantī”ti. Ye pana te manussā saddhā pasannā paṇḍitā byattā buddhimanto, te evamāhaṁsu—“na kho idaṁ orakaṁ bhavissati yathā bhagavā devadattaṁ rājagahe pakāsāpetī”ti.
When he had been appointed, Sāriputta entered Rājagaha accompanied by a number of monks. He then made that announcement about Devadatta—“Devadatta’s character has changed. Whatever Devadatta does by body or speech has nothing to do with the Buddha, the Teaching, or the Sangha, but only with Devadatta.” The foolish people there, those with little faith and confidence, said, “These Sakyan monastics are envious of Devadatta’s material support and honor.” But the wise ones, those with faith and confidence, said, “This must be a serious matter, seeing as the Buddha has had an announcement made about Devadatta in Rājagaha.”
Sau khi được chỉ định, trưởng lão Sāriputta cùng với nhiều vị tỳ khưu đi vào thành Rājagaha và tuyên cáo về Devadatta ở thành Rājagaha rằng: “Trước đây, bản chất của Devadatta là một khác, bây giờ bản chất là một khác. Bất cứ điều gì Devadatta làm bằng thân hay bằng lời, không nên xem đó là (hành động của) đức Phật, Pháp, hay Tăng, mà chỉ nên xem đó là (hành động của) chính Devadatta.” Trong số những người ở đó, những người không có đức tin, không có lòng tịnh tín, thiếu trí tuệ, đã nói như sau: “Các vị sa-môn Thích tử này ganh tỵ, họ ganh tỵ với lợi lộc và sự cung kính của Devadatta.” Còn những người có đức tin, có lòng tịnh tín, là bậc hiền trí, thông minh, có trí tuệ, thì nói như sau: “Việc Thế Tôn cho tuyên cáo về Devadatta ở thành Rājagaha chắc chắn không phải là chuyện tầm thường.”
2.2. Ajātasattukumāravatthu
5. The account of Prince Ajātasattu
Câu chuyện về vương tử Ajātasattu
Atha kho devadatto yena ajātasattu kumāro tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā ajātasattuṁ kumāraṁ etadavoca—“pubbe kho, kumāra, manussā dīghāyukā, etarahi appāyukā. Ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati yaṁ tvaṁ kumārova samāno kālaṁ kareyyāsi. Tena hi tvaṁ, kumāra, pitaraṁ hantvā rājā hohi. Ahaṁ bhagavantaṁ hantvā buddho bhavissāmī”ti.
Soon afterwards Devadatta went to Prince Ajātasattu and said, “In the past, prince, people were long-lived, but now they’re short-lived. It’s possible that you might die while still a prince. So then, kill your father and become the king. And I’ll kill the Buddha and take his place.”
339. Khi ấy, Devadatta đi đến chỗ vương tử Ajātasattu, sau khi đến, đã nói với vương tử Ajātasattu điều này: “Này vương tử, trước đây loài người sống lâu, bây giờ họ sống ngắn. Có khả năng là ngài sẽ chết khi vẫn còn là một vương tử. Vì vậy, này vương tử, ngài hãy giết cha và trở thành vua. Ta sẽ giết Thế Tôn và trở thành một vị Phật.”
Atha kho ajātasattu kumāro—“ayyo kho devadatto mahiddhiko mahānubhāvo, jāneyyāsi ayyo devadatto”ti—ūruyā potthanikaṁ bandhitvā divā divassa bhīto ubbiggo ussaṅkī utrasto sahasā antepuraṁ pāvisi. Addasāsuṁ kho antepure upacārakā mahāmattā ajātasattuṁ kumāraṁ divā divassa bhītaṁ ubbiggaṁ ussaṅkiṁ utrastaṁ sahasā antepuraṁ pavisantaṁ; disvāna aggahesuṁ. Te vicinantā ūruyā potthanikaṁ baddhaṁ disvāna ajātasattuṁ kumāraṁ etadavocuṁ—“kiṁ tvaṁ, kumāra, kattukāmosī”ti?
“Pitaramhi hantukāmo”ti.
“Kenāsi ussāhito”ti?
“Ayyena devadattenā”ti.
Ekacce mahāmattā evaṁ matiṁ akaṁsu—“kumāro ca hantabbo, devadatto ca, sabbe ca bhikkhū hantabbā”ti. Ekacce mahāmattā evaṁ matiṁ akaṁsu—“na bhikkhū hantabbā. Na bhikkhū kiñci aparajjhanti. Kumāro ca hantabbo, devadatto cā”ti. Ekacce mahāmattā evaṁ matiṁ akaṁsu—“na kumāro ca hantabbo, na devadatto. Na bhikkhū hantabbā. Rañño ārocetabbaṁ. Yathā rājā vakkhati tathā karissāmā”ti.
Ajātasattu thought, “Venerable Devadatta is powerful and mighty. He would know.” He then bound a dagger to his thigh, and while fearful and agitated, he hastily entered the royal compound in the middle of the day. The officials there saw Ajātasattu’s strange behavior and seized him. When they examined him, they found the dagger tied to his thigh. They asked him what he was up to.
“I wish to kill my father.”
“Has anyone encouraged you?”
“Venerable Devadatta.”
Some officials said, “The prince should be executed, together with Devadatta and all the monks.” Others said, “The monks shouldn’t be executed. They haven’t done anything wrong. The prince should be executed, together with Devadatta.” Still others said, “Neither the prince nor Devadatta nor the monks should be executed. The king should be informed, and we should do as he says.”
Bấy giờ, thái tử Ajātasattu – (nghĩ rằng): ‘Thật vậy, trưởng lão Devadatta có đại thần lực, có đại oai đức, mong rằng trưởng lão Devadatta sẽ biết được điều này,’ – đã cột con dao găm vào bắp vế rồi vào giữa ban ngày, trong trạng thái sợ hãi, hoảng hốt, nghi ngờ, kinh hoàng, đã vội vã đi vào nội cung. Các vị đại thần hầu cận ở trong nội cung đã trông thấy thái tử Ajātasattu vào giữa ban ngày, trong trạng thái sợ hãi, hoảng hốt, nghi ngờ, kinh hoàng, đang vội vã đi vào nội cung; sau khi trông thấy, họ đã bắt giữ. Trong khi lục soát, họ đã trông thấy con dao găm được cột ở bắp vế, và đã nói với thái tử Ajātasattu điều này: ‘Thưa thái tử, ngài có ý định làm gì vậy?’ – ‘Ta có ý định giết cha.’ – ‘Ai đã xúi giục ngài?’ – ‘Do trưởng lão Devadatta.’ Một số vị đại thần đã có ý kiến như vầy: ‘Thái tử cần phải bị giết, và Devadatta, và tất cả các vị tỳ khưu cần phải bị giết.’ Một số vị đại thần đã có ý kiến như vầy: ‘Không nên giết các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu không có lỗi gì cả. Thái tử cần phải bị giết, và Devadatta.’ Một số vị đại thần đã có ý kiến như vầy: ‘Không nên giết thái tử, và không nên giết Devadatta. Không nên giết các vị tỳ khưu. Việc này cần được tâu lên đức vua. Đức vua sẽ dạy bảo thế nào, chúng ta sẽ làm như thế ấy.’
Atha kho te mahāmattā ajātasattuṁ kumāraṁ ādāya yena rājā māgadho seniyo bimbisāro tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa etamatthaṁ ārocesuṁ. “Kathaṁ, bhaṇe, mahāmattehi mati katā”ti? “Ekacce, deva, mahāmattā evaṁ matiṁ akaṁsu—‘kumāro ca hantabbo, devadatto ca, sabbe ca bhikkhū hantabbā’ti. Ekacce mahāmattā evaṁ matiṁ akaṁsu—‘na bhikkhū hantabbā. Na bhikkhū kiñci aparajjhanti. Kumāro ca hantabbo, devadatto cā’ti. Ekacce mahāmattā evaṁ matiṁ akaṁsu—‘na kumāro ca hantabbo, na devadatto. Na bhikkhū hantabbā. Rañño ārocetabbaṁ. Yathā rājā vakkhati tathā karissāmā’”ti.
“Kiṁ, bhaṇe, karissati buddho vā dhammo vā saṅgho vā? Nanu bhagavatā paṭikacceva devadatto rājagahe pakāsāpito—‘pubbe devadattassa aññā pakati ahosi, idāni aññā pakati. Yaṁ devadatto kareyya kāyena vācāya, na tena buddho vā dhammo vā saṅgho vā daṭṭhabbo, devadattova tena daṭṭhabbo’”ti? Tattha ye te mahāmattā evaṁ matiṁ akaṁsu—“kumāro ca hantabbo devadatto ca; sabbe ca bhikkhū hantabbā”ti; te aṭṭhāne akāsi. Ye te mahāmattā evaṁ matiṁ akaṁsu—“na bhikkhū hantabbā; na bhikkhū kiñci aparajjhanti; kumāro ca hantabbo devadatto cā”ti; te nīce ṭhāne ṭhapesi. Ye te mahāmattā evaṁ matiṁ akaṁsu—“na kumāro ca hantabbo, na devadatto; na bhikkhū hantabbā; rañño ārocetabbaṁ; yathā rājā vakkhati tathā karissāmā”ti; te ucce ṭhāne ṭhapesi.
Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro ajātasattuṁ kumāraṁ etadavoca—“kissa maṁ tvaṁ, kumāra, hantukāmosī”ti?
“Rajjenāmhi, deva, atthiko”ti.
“Sace kho tvaṁ, kumāra, rajjena atthiko, etaṁ te rajjan”ti ajātasattussa kumārassa rajjaṁ niyyādesi.
They took Ajātasattu with them and went to King Seniya Bimbisāra of Magadha to inform him of what had happened. The king said, “What do you all make of this?” They told him their views.
The king then said, “What’s this got to do with the Buddha, the Teaching, and the Sangha? Didn’t the Buddha have an announcement made in Rājagaha as a warning: ‘Devadatta’s character has changed. Whatever Devadatta does by body or speech has nothing to do with the Buddha, the Teaching, or the Sangha, but only with Devadatta’?” He then fired those officials who had suggested to execute the prince, Devadatta, and the Sangha; he demoted those who had suggested to execute the prince and Devadatta; and he promoted those who had suggested to act according to the king’s orders.
And he said to Ajātasattu, “Why do you want to kill me?”
“I want to rule, sir.”
“If you want to rule, the kingdom is yours.” And he handed the rulership over to the prince.
Bấy giờ, các vị đại thần ấy đã dẫn thái tử Ajātasattu đến nơi vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha; sau khi đến, họ đã tâu lên vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha về sự việc này. – ‘Này các khanh, các vị đại thần đã có ý kiến thế nào?’ – ‘Tâu đại vương, một số vị đại thần đã có ý kiến như vầy: ‘Thái tử cần phải bị giết, và Devadatta, và tất cả các vị tỳ khưu cần phải bị giết.’ Một số vị đại thần đã có ý kiến như vầy: ‘Không nên giết các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu không có lỗi gì cả. Thái tử cần phải bị giết, và Devadatta.’ Một số vị đại thần đã có ý kiến như vầy: ‘Không nên giết thái tử, và không nên giết Devadatta. Không nên giết các vị tỳ khưu. Việc này cần được tâu lên đức vua. Đức vua sẽ dạy bảo thế nào, chúng ta sẽ làm như thế ấy.’’ – ‘Này các khanh, đức Phật, hoặc Chánh Pháp, hoặc chư Tăng sẽ làm gì được chứ? Chẳng phải đức Thế Tôn đã cho công bố về Devadatta ở thành Rājagaha từ trước rồi hay sao: ‘Trước đây, bản chất của Devadatta là một khác, bây giờ bản chất là một khác. Bất cứ điều gì Devadatta làm bằng thân hay bằng lời, không nên vì điều ấy mà nhìn nhận về đức Phật, hoặc Chánh Pháp, hoặc chư Tăng; chỉ nên vì điều ấy mà nhìn nhận về chính Devadatta mà thôi.’? Ở đó, những vị đại thần nào đã có ý kiến như vầy: ‘Thái tử cần phải bị giết và Devadatta; và tất cả các vị tỳ khưu cần phải bị giết;’ ngài đã cách chức các vị ấy. Những vị đại thần nào đã có ý kiến như vầy: ‘Không nên giết các vị tỳ khưu; các vị tỳ khưu không có lỗi gì cả; thái tử cần phải bị giết và Devadatta;’ ngài đã đặt các vị ấy vào chức vụ thấp hơn. Những vị đại thần nào đã có ý kiến như vầy: ‘Không nên giết thái tử, và không nên giết Devadatta; không nên giết các vị tỳ khưu; việc này cần được tâu lên đức vua; đức vua sẽ dạy bảo thế nào, chúng ta sẽ làm như thế ấy;’ ngài đã đặt các vị ấy vào chức vụ cao hơn. Bấy giờ, vua Bimbisāra, thuộc dòng Seniya, xứ Māgadha đã nói với thái tử Ajātasattu điều này: ‘Này thái tử, vì sao con lại có ý định giết ta?’ – ‘Tâu đại vương, con muốn có vương quốc.’ – ‘Này thái tử, nếu con muốn có vương quốc, thì đây là vương quốc của con,’ (nói xong), ngài đã trao vương quốc lại cho thái tử Ajātasattu.
2.3. Abhimārapesana
6. The sending of assassins
Việc Sai Phái Kẻ Sát Nhân
Atha kho devadatto yena ajātasattu kumāro tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā ajātasattuṁ kumāraṁ etadavoca—“purise, mahārāja, āṇāpehi, ye samaṇaṁ gotamaṁ jīvitā voropessantī”ti. Atha kho ajātasattu kumāro manusse āṇāpesi—“yathā, bhaṇe, ayyo devadatto āha tathā kareyyāthā”ti.
Atha kho devadatto ekaṁ purisaṁ āṇāpesi—“gacchāvuso, amukasmiṁ okāse samaṇo gotamo viharati. Taṁ jīvitā voropetvā iminā maggena āgacchā”ti. Tasmiṁ magge dve purise ṭhapesi—“yo iminā maggena eko puriso āgacchati, taṁ jīvitā voropetvā iminā maggena āgacchathā”ti. Tasmiṁ magge cattāro purise ṭhapesi—“ye iminā maggena dve purisā āgacchanti, te jīvitā voropetvā iminā maggena āgacchathā”ti. Tasmiṁ magge aṭṭha purise ṭhapesi—“ye iminā maggena cattāro purisā āgacchanti, te jīvitā voropetvā iminā maggena āgacchathā”ti. Tasmiṁ magge soḷasa purise ṭhapesi—“ye iminā maggena aṭṭha purisā āgacchanti, te jīvitā voropetvā āgacchathā”ti.
Soon afterwards Devadatta went to Ajātasattu and said, “Great king, please order your men to kill the ascetic Gotama.” And the king told his men, “Do as Venerable Devadatta says.”
Devadatta then told one man, “Go to such and such a place where the ascetic Gotama is staying. Kill him and return via that path.” On that path he stationed two men, saying, “Kill the man who comes along this path and return via that path.” On that path he stationed four men, saying, “Kill the two men who come along this path and return via that path.” On that path he stationed eight men, saying, “Kill the four men who come along this path and return via that path.” On that path he stationed sixteen men, saying, “Kill the eight men who come along this path and then return.”
340. Bấy giờ, Devadatta đã đi đến nơi thái tử Ajātasattu; sau khi đến, đã nói với thái tử Ajātasattu điều này: ‘Tâu đại vương, xin hãy ra lệnh cho những người đàn ông, những người sẽ đoạt mạng sống của sa-môn Gotama.’ Bấy giờ, thái tử Ajātasattu đã ra lệnh cho những người ấy: ‘Này các khanh, trưởng lão Devadatta nói thế nào, hãy làm như thế ấy.’ Bấy giờ, Devadatta đã ra lệnh cho một người đàn ông: ‘Này đạo hữu, hãy đi đến nơi kia, sa-môn Gotama đang trú ngụ ở địa điểm ấy. Sau khi đoạt mạng sống của vị ấy, hãy trở về bằng con đường này.’ Trên con đường ấy, y đã bố trí hai người đàn ông (và dặn): ‘Người đàn ông nào đi một mình đến bằng con đường này, sau khi đoạt mạng sống của kẻ ấy, các ngươi hãy trở về bằng con đường này.’ Trên con đường ấy, y đã bố trí bốn người đàn ông (và dặn): ‘Hai người đàn ông nào đi đến bằng con đường này, sau khi đoạt mạng sống của họ, các ngươi hãy trở về bằng con đường này.’ Trên con đường ấy, y đã bố trí tám người đàn ông (và dặn): ‘Bốn người đàn ông nào đi đến bằng con đường này, sau khi đoạt mạng sống của họ, các ngươi hãy trở về bằng con đường này.’ Trên con đường ấy, y đã bố trí mười sáu người đàn ông (và dặn): ‘Tám người đàn ông nào đi đến bằng con đường này, sau khi đoạt mạng sống của họ, các ngươi hãy trở về.’
Atha kho so eko puriso asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavato avidūre bhīto ubbiggo ussaṅkī utrasto patthaddhena kāyena aṭṭhāsi. Addasā kho bhagavā taṁ purisaṁ bhītaṁ ubbiggaṁ ussaṅkiṁ utrastaṁ patthaddhena kāyena ṭhitaṁ. Disvāna taṁ purisaṁ etadavoca—“ehāvuso, mā bhāyī”ti.
Atha kho so puriso asicammaṁ ekamantaṁ karitvā dhanukalāpaṁ nikkhipitvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavoca—“accayo maṁ, bhante, accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yohaṁ duṭṭhacitto vadhakacitto idhūpasaṅkanto. Tassa me, bhante, bhagavā accayaṁ accayato paṭiggaṇhātu āyatiṁ saṁvarāyā”ti.
“Taggha tvaṁ, āvuso, accayo accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yaṁ tvaṁ duṭṭhacitto vadhakacitto idhūpasaṅkanto. Yato ca kho tvaṁ, āvuso, accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikarosi, taṁ te mayaṁ paṭiggaṇhāma. Vuḍḍhi hesā, āvuso, ariyassa vinaye—yo accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikaroti, āyatiṁ saṁvaraṁ āpajjatī”ti.
Soon afterwards that one man armed himself with a bow and arrows, as well as a sword and shield, and went to the Buddha. As he got close, he became fearful and agitated, standing rigidly. The Buddha saw him and said, “Come, don’t be afraid.”
He then placed his sword and shield to one side, put down his bow and arrows, and went up to the Buddha. He bowed down with his head at the Buddha’s feet, and said, “Sir, I’ve made a mistake. I’ve been foolish, confused, and unskillful in coming here with a malicious mind intent on murder. Please forgive me so that I may restrain myself in the future.”
“You have certainly made a mistake. You’ve been foolish, confused, and unskillful. But since you acknowledge your mistake and make proper amends, I forgive you. For this is called growth in the training of the noble ones: acknowledging a mistake, making proper amends, and undertaking restraint for the future.”
Bấy giờ, người đàn ông ấy tay cầm gươm và khiên, vai mang cung và ống tên, đi đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến, người ấy đứng ở một nơi không xa đức Thế Tôn, trong trạng thái sợ hãi, kinh hoàng, nghi ngại, hốt hoảng, thân thể cứng đờ. Đức Thế Tôn thấy người đàn ông ấy đang đứng với thân thể cứng đờ, sợ hãi, kinh hoàng, nghi ngại, hốt hoảng. Sau khi thấy, Ngài nói với người đàn ông ấy rằng: ‘Này hiền hữu, hãy lại đây, đừng sợ hãi.’ Bấy giờ, người đàn ông ấy đặt gươm và khiên sang một bên, để cung và ống tên xuống, rồi đi đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến, người ấy cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn và bạch rằng: ‘Bạch ngài, lỗi lầm đã xâm chiếm con, do con ngu si, mê muội, bất thiện. Con đã đến đây với tâm ác độc, với tâm sát hại. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy chấp nhận lỗi lầm của con là lỗi lầm, để con được thu thúc trong tương lai.’ ‘Này hiền hữu, quả thật lỗi lầm đã xâm chiếm ông, do ông ngu si, mê muội, bất thiện, vì ông đã đến đây với tâm ác độc, với tâm sát hại. Này hiền hữu, vì ông đã thấy lỗi lầm là lỗi lầm và sửa chữa đúng theo Chánh pháp, nên chúng tôi chấp nhận điều đó từ ông. Này hiền hữu, đây là sự tăng trưởng trong giới luật của bậc Thánh: người nào thấy lỗi lầm là lỗi lầm, sửa chữa đúng theo Chánh pháp, và thực hành sự thu thúc trong tương lai.’
Atha kho bhagavā tassa purisassa anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ, kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ, nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi. Yadā taṁ bhagavā aññāsi kallacittaṁ, muducittaṁ, vinīvaraṇacittaṁ, udaggacittaṁ, pasannacittaṁ, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā taṁ pakāsesi—dukkhaṁ, samudayaṁ, nirodhaṁ, maggaṁ. Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaheyya; evameva tassa purisassa tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi—“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Atha kho so puriso diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane bhagavantaṁ etadavoca—“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya—‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti—evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi, dhammañca, bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Atha kho bhagavā taṁ purisaṁ etadavoca—“mā kho tvaṁ, āvuso, iminā maggena gaccha, iminā maggena gacchāhī”ti aññena maggena uyyojesi.
Atha kho te dve purisā—“kiṁ nu kho so eko puriso cirena āgacchatī”ti—paṭipathaṁ gacchantā addasāsuṁ bhagavantaṁ aññatarasmiṁ rukkhamūle nisinnaṁ. Disvāna yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
The Buddha then gave him a progressive talk—on generosity, morality, and heaven; on the downside, degradation, and defilement of worldly pleasures; and he revealed the benefits of renunciation. When the Buddha knew that his mind was ready, supple, without hindrances, joyful, and confident, he revealed the teaching unique to the Buddhas: suffering, its origin, its end, and the path. And just as a clean and stainless cloth absorbs dye properly, so too, while he was sitting right there, he experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.”
He had seen the Truth, had reached, understood, and penetrated it. He had gone beyond doubt and uncertainty, had attained to confidence, and had become independent of others in the Teacher’s instruction. And he said to the Buddha, “Wonderful, sir, wonderful! Just as one might set upright what’s overturned, or reveal what’s hidden, or show the way to one who’s lost, or bring a lamp into the dark so that one with eyes might see what’s there—just so has the Buddha made the Teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, the Teaching, and the Sangha of monks. Please accept me as a lay follower who’s gone for refuge for life.”
The Buddha then said to him, “Don’t go back along this path, go along that one.” And he sent him down a different path.
The two men thought, “Why is it taking that one man so long to arrive?” As they were walking along that path in the opposite direction, they saw the Buddha seated at the foot of a tree. They approached him, bowed, and sat down.
Bấy giờ, đức Thế Tôn thuyết cho người đàn ông ấy một bài pháp tuần tự, nghĩa là: thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về các cõi trời; Ngài tuyên thuyết về sự nguy hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các dục vọng, và về lợi ích của sự xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết người ấy có tâm sẵn sàng, tâm nhu nhuyến, tâm không triền cái, tâm phấn chấn, tâm trong sạch, Ngài bèn thuyết bài pháp mà chư Phật đã tự mình chứng ngộ, đó là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Ví như tấm vải trong sạch, không còn vết đen, có thể thấm đều thuốc nhuộm; cũng vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không bụi, không bẩn đã khởi lên cho người đàn ông ấy: ‘Phàm vật gì có tánh sanh khởi, tất cả vật ấy đều có tánh đoạn diệt.’ Bấy giờ, người đàn ông ấy đã thấy Pháp, đã đạt đến Pháp, đã hiểu rõ Pháp, đã thâm nhập Pháp, đã vượt qua hoài nghi, đã hết phân vân, đã đạt đến sự vững tin, không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư, bèn bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Thật vi diệu, bạch ngài! Thật vi diệu, bạch ngài! Bạch ngài, ví như người ta lật ngửa vật bị úp, mở ra vật bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hoặc đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy được các hình sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được đức Thế Tôn trình bày bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, con xin quy y đức Thế Tôn, quy y Pháp, và quy y Tăng chúng Tỳ khưu. Mong đức Thế Tôn ghi nhận con là một nam cư sĩ đã quy y trọn đời, kể từ hôm nay.’ Bấy giờ, đức Thế Tôn nói với người đàn ông ấy rằng: ‘Này hiền hữu, ông chớ đi con đường này, hãy đi con đường này,’ rồi cho người ấy đi bằng một con đường khác.
Atha kho bhagavā te purise etadavoca—“mā kho tumhe, āvuso, iminā maggena gacchittha, iminā maggena gacchathā”ti aññena maggena uyyojesi.
The Buddha then said to them, “Don’t go back along this path, go along that one.” And he sent them down a different path.
Bấy giờ, hai người đàn ông kia nghĩ rằng: ‘Tại sao người đàn ông nọ lại đi lâu đến thế?’ rồi đi ngược đường để tìm. Họ thấy đức Thế Tôn đang ngồi dưới một gốc cây. Sau khi thấy, họ đi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn thuyết cho họ một bài pháp tuần tự... cho đến... không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư, họ bèn bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Thật vi diệu, bạch ngài!... cho đến... Mong đức Thế Tôn ghi nhận chúng con là những nam cư sĩ đã quy y trọn đời, kể từ hôm nay.’ Bấy giờ, đức Thế Tôn nói với những người đàn ông ấy rằng: ‘Này các hiền hữu, các ông chớ đi con đường này, hãy đi con đường này,’ rồi cho họ đi bằng một con đường khác.
Atha kho te cattāro purisā …pe… atha kho te aṭṭha purisā …pe… atha kho te soḷasa purisā—kiṁ nu kho te aṭṭha purisā cirena āgacchantīti—paṭipathaṁ gacchantā addasāsuṁ bhagavantaṁ aññatarasmiṁ rukkhamūle nisinnaṁ. Disvāna yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Tesaṁ bhagavā anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ …pe… aparappaccayā satthusāsane bhagavantaṁ etadavocuṁ—“abhikkantaṁ, bhante …pe… upāsake no bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gate”ti.
Atha kho bhagavā te purise etadavoca—“mā kho tumhe, āvuso, iminā maggena gacchittha, iminā maggena gacchathā”ti aññena maggena uyyojesi.
The four men … the eight men … the sixteen men thought, “Why is it taking those eight men so long to arrive?” As they were walking along that path in the opposite direction, they saw the Buddha seated at the foot of a tree. They approached him, bowed, and sat down. The Buddha gave them a progressive talk … and they had become independent of others in the Teacher’s instruction. And they said to the Buddha, “Wonderful, sir … Please accept us as lay followers who have gone for refuge for life.”
Bấy giờ, bốn người đàn ông kia... cho đến... Bấy giờ, tám người đàn ông kia... cho đến... Bấy giờ, mười sáu người đàn ông kia nghĩ rằng: ‘Tại sao tám người đàn ông nọ lại đi lâu đến thế?’ rồi đi ngược đường để tìm. Họ thấy đức Thế Tôn đang ngồi dưới một gốc cây. Sau khi thấy, họ đi đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn thuyết cho họ một bài pháp tuần tự, nghĩa là: thuyết về bố thí... cho đến... không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư, họ bèn bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘Thật vi diệu, bạch ngài!... cho đến... Mong đức Thế Tôn ghi nhận chúng con là những nam cư sĩ đã quy y trọn đời, kể từ hôm nay.’ Bấy giờ, đức Thế Tôn nói với những người đàn ông ấy rằng: ‘Này các hiền hữu, các ông chớ đi con đường này, hãy đi con đường này,’ rồi cho họ đi bằng một con đường khác.
Atha kho so eko puriso yena devadatto tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā devadattaṁ etadavoca—“nāhaṁ, bhante, sakkomi taṁ bhagavantaṁ jīvitā voropetuṁ; mahiddhiko so bhagavā mahānubhāvo”ti.
“Alaṁ, āvuso; mā tvaṁ samaṇaṁ gotamaṁ jīvitā voropesi. Ahameva samaṇaṁ gotamaṁ jīvitā voropessāmī”ti.
Soon afterwards that one man went to Devadatta and said, “I wasn’t able to kill him, sir. He’s powerful and mighty, that Buddha.”
“Never mind. There’s no need for you to kill the ascetic Gotama. I’ll do it myself.”
Bấy giờ, một người đàn ông đi đến chỗ của Devadatta. Sau khi đến, người ấy nói với Devadatta rằng: ‘Bạch ngài, con không thể đoạt mạng sống của đức Thế Tôn ấy; đức Thế Tôn ấy có đại thần lực, có đại oai đức.’ ‘Thôi đủ rồi, hiền hữu; ông đừng đoạt mạng sống của Sa-môn Gotama nữa. Chính ta sẽ đoạt mạng sống của Sa-môn Gotama.’
2.4. Lohituppādakakamma
7. Causing the Buddha to bleed
Nghiệp Làm Chảy Máu Phật
Tena kho pana samayena bhagavā gijjhakūṭassa pabbatassa chāyāyaṁ caṅkamati. Atha kho devadatto gijjhakūṭaṁ pabbataṁ āruhitvā mahatiṁ silaṁ pavijjhi—imāya samaṇaṁ gotamaṁ jīvitā voropessāmīti. Dve pabbatakūṭā samāgantvā taṁ silaṁ sampaṭicchiṁsu. Tato papatikā uppatitvā bhagavato pāde ruhiraṁ uppādesi. Atha kho bhagavā uddhaṁ ulloketvā devadattaṁ etadavoca—“bahuṁ tayā, moghapurisa, apuññaṁ pasutaṁ, yaṁ tvaṁ duṭṭhacitto vadhakacitto tathāgatassa ruhiraṁ uppādesī”ti. Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—
“idaṁ, bhikkhave, devadattena paṭhamaṁ ānantariyaṁ kammaṁ upacitaṁ, yaṁ duṭṭhacittena vadhakacittena tathāgatassa ruhiraṁ uppāditan”ti.
Soon afterwards the Buddha was doing walking meditation in the shade of the Vulture Peak. Devadatta climbed the peak and threw down a large stone, thinking, “With this I’ll kill the ascetic Gotama.” But the stone got stuck in the junction of two outcrops. A chip flew off, striking the Buddha’s foot and causing him to bleed. The Buddha looked up and said to Devadatta, “Foolish man, you’ve made much demerit. With a malicious mind intent on murder you’ve made the Buddha bleed.” Soon afterwards the Buddha addressed the monks:
“With a malicious mind intent on murder Devadatta has made the Buddha bleed. This is his first action with consequences in his very next life.”
341. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đang đi kinh hành trong bóng mát của ngọn núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu). Khi ấy, Devadatta leo lên núi Gijjhakūṭa rồi lăn một tảng đá lớn, (nghĩ rằng): ‘Với tảng đá này, ta sẽ đoạt mạng sống của sa-môn Gotama.’ Hai đỉnh núi đã hợp lại và hứng lấy tảng đá ấy. Từ đó, một mảnh đá văng ra, làm cho máu tuôn ra ở chân của đức Thế Tôn. Bấy giờ, đức Thế Tôn ngước nhìn lên và nói với Devadatta điều này: ‘Này kẻ ngu si, ngươi đã tạo ra nhiều điều vô phước, vì ngươi với tâm ác độc, với tâm sát hại, đã làm cho máu của Như Lai tuôn ra.’ Khi ấy, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ-khưu: ‘Này các tỳ-khưu, đây là nghiệp vô gián đầu tiên đã được Devadatta tích lũy, đó là với tâm ác độc, với tâm sát hại, đã làm cho máu của Như Lai tuôn ra.’”
Assosuṁ kho bhikkhū—“devadattena kira bhagavato vadho payutto”ti. Te ca bhikkhū bhagavato vihārassa parito parito caṅkamanti uccāsaddā mahāsaddā sajjhāyaṁ karontā, bhagavato rakkhāvaraṇaguttiyā. Assosi kho bhagavā uccāsaddaṁ mahāsaddaṁ sajjhāyasaddaṁ. Sutvāna āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi—“kiṁ nu kho so, ānanda, uccāsaddo mahāsaddo sajjhāyasaddo”ti? “Assosuṁ kho, bhante, bhikkhū—‘devadattena kira bhagavato vadho payutto’ti. Te ca, bhante, bhikkhū bhagavato vihārassa parito parito caṅkamanti uccāsaddā mahāsaddā sajjhāyaṁ karontā, bhagavato rakkhāvaraṇaguttiyā. So eso, bhagavā, uccāsaddo mahāsaddo sajjhāyasaddo”ti. “Tena hānanda, mama vacanena te bhikkhū āmantehi—satthā āyasmante āmantetī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā yena te bhikkhū tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca—“satthā āyasmante āmantetī”ti. “Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato ānandassa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te bhikkhū bhagavā etadavoca—
When the monks heard that Devadatta was trying to murder the Buddha, they walked back and forth on all sides of the Buddha’s dwelling, trying to protect him by reciting loudly. The Buddha heard that loud sound of recitation. He asked Ānanda what it was, and Ānanda told him. The Buddha said, “Well then, Ānanda, tell those monks in my name that the Teacher calls them.”
Saying, “Yes, sir,” he did just that. The monks consented. They then went to the Buddha, bowed, and sat down. The Buddha said to them:
Các vị tỳ-khưu đã nghe được rằng: ‘Nghe nói Devadatta đã nỗ lực sát hại đức Thế Tôn.’ Và các vị tỳ-khưu ấy đi kinh hành xung quanh, xung quanh tịnh xá của đức Thế Tôn, với tiếng lớn, tiếng ồn ào, đang tụng đọc, để bảo vệ, phòng hộ, giữ gìn cho đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nghe được tiếng lớn, tiếng ồn ào, tiếng tụng đọc. Sau khi nghe, ngài gọi tôn giả Ānanda: ‘Này Ānanda, tiếng lớn, tiếng ồn ào, tiếng tụng đọc ấy là gì vậy?’ ‘Bạch ngài, các vị tỳ-khưu đã nghe được rằng: ‘Nghe nói Devadatta đã nỗ lực sát hại đức Thế Tôn.’ Và bạch ngài, các vị tỳ-khưu ấy đi kinh hành xung quanh, xung quanh tịnh xá của đức Thế Tôn, với tiếng lớn, tiếng ồn ào, đang tụng đọc, để bảo vệ, phòng hộ, giữ gìn cho đức Thế Tôn. Thưa đức Thế Tôn, tiếng lớn, tiếng ồn ào, tiếng tụng đọc ấy là như vậy.’ ‘Vậy thì này Ānanda, hãy nhân danh ta gọi các vị tỳ-khưu ấy: ‘Bậc Đạo Sư gọi các hiền giả.’’ ‘Vâng, bạch ngài.’ Tôn giả Ānanda vâng lời đức Thế Tôn rồi đi đến chỗ các vị tỳ-khưu ấy. Sau khi đến, tôn giả nói với các vị tỳ-khưu ấy điều này: ‘Bậc Đạo Sư gọi các hiền giả.’ ‘Vâng, thưa hiền giả.’ Các vị tỳ-khưu ấy vâng lời tôn giả Ānanda rồi đi đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến, họ đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi các vị tỳ-khưu ấy đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Aṭṭhānametaṁ, bhikkhave, anavakāso, yaṁ parūpakkamena tathāgataṁ jīvitā voropeyya. Anupakkamena, bhikkhave, tathāgatā parinibbāyanti.
“It’s impossible, monks, for anyone to kill me through an act of violence. The Buddha won’t attain final extinguishment through an act of violence.
‘Này các tỳ-khưu, đây là điều không thể xảy ra, là điều không có cơ hội, việc mà một người khác có thể nỗ lực đoạt mạng sống của một vị Như Lai. Này các tỳ-khưu, các vị Như Lai viên tịch không do sự nỗ lực (sát hại) của người khác.
Pañcime, bhikkhave, satthāro santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame pañca?
Idha, bhikkhave, ekacco satthā aparisuddhasīlo samāno ‘parisuddhasīlomhī’ti paṭijānāti ‘parisuddhaṁ me sīlaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan’ti ca. Tamenaṁ sāvakā evaṁ jānanti—‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā aparisuddhasīlo samāno “parisuddhasīlomhī”ti paṭijānāti “parisuddhaṁ me sīlaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan”ti ca. Mayañceva kho pana gihīnaṁ āroceyyāma, nāssassa manāpaṁ. Yaṁ kho panassa amanāpaṁ, kathaṁ naṁ mayaṁ tena samudācareyyāma? Sammannati kho pana cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena—yaṁ tumo karissati, tumova tena paññāyissatī’ti. Evarūpaṁ kho, bhikkhave, satthāraṁ sāvakā sīlato rakkhanti; evarūpo ca pana satthā sāvakehi sīlato rakkhaṁ paccāsīsati.
Monks, there are five kinds of teachers in the world.
One kind of teacher is impure in behavior, while claiming to be pure. His disciples know about this, but think, ‘It would be unpleasant for him if we inform the householders. And it’s because of him that we’re honored with gifts of robe-cloth, almsfood, dwellings, and medicinal supplies. How, then, can we inform them? He’ll be known through his own actions.’ The disciples conceal the impure behavior of such a teacher, and the teacher expects them to do so.
‘Này các tỳ-khưu, có năm hạng đạo sư này đang hiện hữu, có mặt ở trên đời. Năm hạng nào? ‘Ở đây, này các tỳ-khưu, có hạng đạo sư có giới không trong sạch nhưng lại tự nhận rằng: ‘Ta có giới trong sạch,’ và: ‘Giới của ta trong sạch, thanh tịnh, không tỳ vết.’ Các đệ tử của vị ấy biết về vị ấy như sau: ‘Vị tôn sư này có giới không trong sạch nhưng lại tự nhận rằng: ‘Ta có giới trong sạch,’ và: ‘Giới của ta trong sạch, thanh tịnh, không tỳ vết.’ Nếu chúng ta nói cho hàng cư sĩ biết thì điều ấy sẽ không làm cho vị ấy hài lòng. Điều gì không làm cho vị ấy hài lòng, làm sao chúng ta có thể đối xử với vị ấy bằng cách đó được? Vị ấy được tôn trọng bằng y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và dược phẩm trị bệnh. Việc gì vị ấy tự làm, tự vị ấy sẽ được biết đến qua việc ấy.’ Này các tỳ-khưu, các đệ tử bảo vệ một vị đạo sư như vậy về phương diện giới hạnh; và một vị đạo sư như vậy cũng mong đợi sự bảo vệ về phương diện giới hạnh từ các đệ tử.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco satthā aparisuddhājīvo samāno …pe… aparisuddhadhammadesano samāno …pe… aparisuddhaveyyākaraṇo samāno …pe… aparisuddhañāṇadassano samāno ‘parisuddhañāṇadassanomhī’ti paṭijānāti ‘parisuddhaṁ me ñāṇadassanaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan’ti ca. Tamenaṁ sāvakā evaṁ jānanti—‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā aparisuddhañāṇadassano samāno “parisuddhañāṇadassanomhī”ti paṭijānāti “parisuddhaṁ me ñāṇadassanaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan”ti ca. Mayañceva kho pana gihīnaṁ āroceyyāma, nāssassa manāpaṁ. Yaṁ kho panassa amanāpaṁ, kathaṁ na mayaṁ tena samudācareyyāma? Sammannati kho pana cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena—yaṁ tumo karissati, tumova tena paññāyissatī’ti. Evarūpaṁ kho, bhikkhave, satthāraṁ sāvakā ñāṇadassanato rakkhanti; evarūpo ca pana satthā sāvakehi ñāṇadassanato rakkhaṁ paccāsīsati. Ime kho, bhikkhave, pañca satthāro santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Ahaṁ kho pana, bhikkhave, parisuddhasīlo samāno ‘parisuddhasīlomhī’ti paṭijānāmi ‘parisuddhaṁ me sīlaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan’ti ca. Na ca maṁ sāvakā sīlato rakkhanti; na cāhaṁ sāvakehi sīlato rakkhaṁ paccāsīsāmi. Ahaṁ kho pana, bhikkhave, parisuddhājīvo samāno …pe… parisuddhadhammadesano samāno …pe… parisuddhaveyyākaraṇo samāno …pe… parisuddhañāṇadassano samāno “parisuddhañāṇadassanomhī”ti paṭijānāmi “parisuddhaṁ me ñāṇadassanaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan”ti ca, na ca maṁ sāvakā ñāṇadassanato rakkhanti, na cāhaṁ sāvakehi ñāṇadassanato rakkhaṁ paccāsīsāmi.
“Aṭṭhānametaṁ, bhikkhave, anavakāso, yaṁ parūpakkamena tathāgataṁ jīvitā voropeyya. Anupakkamena, bhikkhave, tathāgatā parinibbāyanti. Gacchatha tumhe, bhikkhave, yathāvihāraṁ. Arakkhiyā, bhikkhave, tathāgatā”ti.
Another kind of teacher is impure in livelihood … gives impure teachings … gives impure explanations … has impure knowledge and vision, while claiming they’re pure. His disciples know about this, but think, ‘It would be unpleasant for him if we inform the householders. And it’s because of him that we’re honored with gifts of robe-cloth, almsfood, dwellings, and medicinal supplies. How, then, can we inform them? He’ll be known through his own actions.’ The disciples conceal the impure knowledge and vision of such a teacher, and the teacher expects them to do so.
But in my case, I claim my behavior is pure because it is. My disciples don’t conceal my behavior, and I don’t expect them to do so. I claim my livelihood is pure … I claim my teachings are pure … I claim my explanations are pure … I claim my knowledge and vision are pure because they are. My disciples don’t conceal my knowledge and vision, and I don’t expect them to do so.
It’s impossible for anyone to kill me through an act of violence. The Buddha won’t attain final extinguishment through an act of violence. Go to your dwellings, monks. I don’t need any protection.”
“Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây có vị đạo sư có sanh kế không trong sạch, ... (như trên) ... có thuyết pháp không trong sạch, ... (như trên) ... có giải thích không trong sạch, ... (như trên) ... có tri kiến không trong sạch, lại tự nhận rằng: ‘Ta có tri kiến trong sạch,’ và: ‘Tri kiến của ta trong sạch, thanh tịnh, không ô nhiễm.’ Các đệ tử của vị ấy biết như vầy: ‘Vị tôn sư này có tri kiến không trong sạch mà lại tự nhận rằng: ‘Ta có tri kiến trong sạch,’ và: ‘Tri kiến của ta trong sạch, thanh tịnh, không ô nhiễm.’ Nếu chúng ta nói cho hàng tại gia biết thì điều ấy sẽ không làm ngài hài lòng. Điều gì không làm ngài hài lòng, làm sao chúng ta có thể đối xử với ngài bằng cách ấy? Vả lại, ngài được tôn trọng bằng y phục, vật thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Việc gì ngài làm, chính ngài sẽ được biết đến qua việc ấy.’ Này các tỳ khưu, các đệ tử bảo vệ vị đạo sư như thế về mặt tri kiến; và vị đạo sư như thế cũng mong mỏi sự bảo vệ từ các đệ tử về mặt tri kiến. Này các tỳ khưu, đây là năm hạng đạo sư có mặt, hiện hữu ở trên đời. “Còn Ta, này các tỳ khưu, trong khi có giới hạnh trong sạch, Ta tự nhận rằng: ‘Ta có giới hạnh trong sạch,’ và: ‘Giới hạnh của Ta trong sạch, thanh tịnh, không ô nhiễm.’ Các đệ tử không bảo vệ Ta về mặt giới hạnh; và Ta cũng không mong mỏi sự bảo vệ từ các đệ tử về mặt giới hạnh. Còn Ta, này các tỳ khưu, trong khi có sanh kế trong sạch, ... (như trên) ... có thuyết pháp trong sạch, ... (như trên) ... có giải thích trong sạch, ... (như trên) ... có tri kiến trong sạch, Ta tự nhận rằng: ‘Ta có tri kiến trong sạch,’ và: ‘Tri kiến của Ta trong sạch, thanh tịnh, không ô nhiễm.’ Các đệ tử không bảo vệ Ta về mặt tri kiến; và Ta cũng không mong mỏi sự bảo vệ từ các đệ tử về mặt tri kiến. “Này các tỳ khưu, không có trường hợp, không có cơ hội để người khác có thể mưu hại mà đoạt mạng sống của Như Lai. Này các tỳ khưu, các vị Như Lai nhập diệt không do mưu hại. Này các tỳ khưu, các ngươi hãy đi về trú xứ của mình. Này các tỳ khưu, các vị Như Lai không cần được bảo vệ.”
2.5. Nāḷāgiripesana
8. The letting loose of Nāḷāgiri
Việc Thả Voi Nāḷāgiri
Tena kho pana samayena rājagahe nāḷāgiri nāma hatthī caṇḍo hoti, manussaghātako. Atha kho devadatto rājagahaṁ pavisitvā hatthisālaṁ gantvā hatthibhaṇḍe etadavoca—“mayaṁ kho, bhaṇe, rājañātakā nāma paṭibalā nīcaṭṭhāniyaṁ uccaṭṭhāne ṭhapetuṁ, bhattampi vetanampi vaḍḍhāpetuṁ. Tena hi, bhaṇe, yadā samaṇo gotamo imaṁ racchaṁ paṭipanno hoti, tadā imaṁ nāḷāgiriṁ hatthiṁ muñcetvā imaṁ racchaṁ paṭipādethā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te hatthibhaṇḍā devadattassa paccassosuṁ.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ rājagahaṁ piṇḍāya pāvisi. Atha kho bhagavā taṁ racchaṁ paṭipajji. Addasāsuṁ kho te hatthibhaṇḍā bhagavantaṁ taṁ racchaṁ paṭipannaṁ. Disvāna nāḷāgiriṁ hatthiṁ muñcitvā taṁ racchaṁ paṭipādesuṁ. Addasā kho nāḷāgiri hatthī bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna soṇḍaṁ ussāpetvā pahaṭṭhakaṇṇavālo yena bhagavā tena abhidhāvi. Addasāsuṁ kho te bhikkhū nāḷāgiriṁ hatthiṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna bhagavantaṁ etadavocuṁ—“ayaṁ, bhante, nāḷāgiri hatthī caṇḍo manussaghātako imaṁ racchaṁ paṭipanno. Paṭikkamatu, bhante, bhagavā; paṭikkamatu sugato”ti.
“Āgacchatha, bhikkhave, mā bhāyittha. Aṭṭhānametaṁ, bhikkhave, anavakāso, yaṁ parūpakkamena tathāgataṁ jīvitā voropeyya. Anupakkamena, bhikkhave, tathāgatā parinibbāyantī”ti.
Dutiyampi kho te bhikkhū …pe… tatiyampi kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ—“ayaṁ, bhante, nāḷāgiri hatthī caṇḍo manussaghātako imaṁ racchaṁ paṭipanno. Paṭikkamatu, bhante, bhagavā; paṭikkamatu sugato”ti. “Āgacchatha, bhikkhave, mā bhāyittha. Aṭṭhānametaṁ, bhikkhave, anavakāso, yaṁ parūpakkamena tathāgataṁ jīvitā voropeyya. Anupakkamena, bhikkhave, tathāgatā parinibbāyantī”ti.
At that time in Rājagaha there was a fierce and man-killing elephant called Nāḷāgiri. Just then Devadatta entered Rājagaha, went to the elephant stables, and said to the elephant keepers, “We who are relatives of the king are capable of having people promoted and getting them a raise. So then, when the ascetic Gotama comes walking along this street, release the elephant Nāḷāgiri down it.”
“Yes, sir.”
Then, one morning, the Buddha robed up, took his bowl and robe, and entered Rājagaha for alms together with a number of monks. And the Buddha walked down that very street. When the elephant keepers saw the Buddha coming, they released Nāḷāgiri down the same street. Nāḷāgiri saw the Buddha coming. He blew his trunk, and with ears and tail bristling, he charged toward the Buddha. When the monks saw Nāḷāgiri coming, they said to the Buddha, “This elephant coming down the street is the fierce, man-killer Nāḷāgiri. Please retreat, venerable sir.”
“Come, don’t be afraid. It’s impossible for anyone to kill the Buddha through an act of violence. The Buddha won’t attain final extinguishment through an act of violence.”
A second time and a third time those monks said the same thing to the Buddha, each time getting the same reply.
342. Vào lúc bấy giờ, ở thành Rājagaha có con voi tên là Nāḷāgiri, rất hung dữ, hay giết người. Khi ấy, Devadatta đi vào thành Rājagaha, đến chuồng voi và nói với những người quản tượng điều này: ‘Này các khanh, chúng ta là người hoàng tộc, có khả năng đặt người ở địa vị thấp lên địa vị cao, cũng có khả năng tăng bổng lộc. Vì vậy, này các khanh, khi Sa-môn Gotama đi vào con đường này, lúc ấy hãy thả con voi Nāḷāgiri này ra và cho nó đi vào con đường này.’ ‘Vâng, thưa ngài.’ – những người quản tượng ấy đã vâng lời Devadatta. Khi ấy, vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, cầm y bát, cùng với nhiều vị tỳ khưu đi vào thành Rājagaha để khất thực. Khi ấy, Đức Thế Tôn đi vào con đường ấy. Những người quản tượng ấy đã thấy Đức Thế Tôn đi vào con đường ấy. Thấy vậy, họ thả voi Nāḷāgiri ra và cho nó đi vào con đường ấy. Voi Nāḷāgiri từ xa đã thấy Đức Thế Tôn đang đi đến. Thấy vậy, nó giương vòi lên, vểnh tai và đuôi, chạy thẳng đến chỗ Đức Thế Tôn. Các vị tỳ khưu ấy từ xa đã thấy voi Nāḷāgiri đang đi đến. Thấy vậy, họ bạch với Đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch Thế Tôn, con voi Nāḷāgiri này hung dữ, hay giết người, đang đi vào con đường này. Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy lui lại; bạch Thiện Thệ, xin hãy lui lại.’ ‘Này các tỳ khưu, hãy đến đây, đừng sợ hãi. Này các tỳ khưu, không có trường hợp, không có cơ hội để người khác có thể mưu hại mà đoạt mạng sống của Như Lai. Này các tỳ khưu, các vị Như Lai nhập diệt không do mưu hại.’ Lần thứ hai, các vị tỳ khưu ấy... (như trên)... Lần thứ ba, các vị tỳ khưu ấy bạch với Đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch Thế Tôn, con voi Nāḷāgiri này hung dữ, hay giết người, đang đi vào con đường này. Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy lui lại; bạch Thiện Thệ, xin hãy lui lại.’ ‘Này các tỳ khưu, hãy đến đây, đừng sợ hãi. Này các tỳ khưu, không có trường hợp, không có cơ hội để người khác có thể mưu hại mà đoạt mạng sống của Như Lai. Này các tỳ khưu, các vị Như Lai nhập diệt không do mưu hại.’”
Tena kho pana samayena manussā pāsādesupi hammiyesupi chadanesupi āruḷhā acchanti. Tattha ye te manussā assaddhā appasannā dubbuddhino, te evamāhaṁsu—“abhirūpo vata, bho, mahāsamaṇo nāgena viheṭhīyissatī”ti. Ye pana te manussā saddhā pasannā paṇḍitā byattā buddhimanto, te evamāhaṁsu—“nacirassaṁ vata, bho, nāgo nāgena saṅgāmessatī”ti.
Atha kho bhagavā nāḷāgiriṁ hatthiṁ mettena cittena phari. Atha kho nāḷāgiri hatthī bhagavato mettena cittena phuṭṭho soṇḍaṁ oropetvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavato purato aṭṭhāsi. Atha kho bhagavā dakkhiṇena hatthena nāḷāgirissa hatthissa kumbhaṁ parāmasanto nāḷāgiriṁ hatthiṁ imāhi gāthāhi ajjhabhāsi—
On that occasion people had ascended their stilt houses and even their roofs. The foolish people with little faith and confidence said, “The elephant will hurt the handsome, great ascetic.” But the wise people with faith and confidence said, “Soon the great man and the great elephant will meet in battle.”
The Buddha then pervaded Nāḷāgiri with a mind of love. Feeling it, Nāḷāgiri lowered his trunk, went up to the Buddha, and stood in front of him. And while stroking Nāḷāgiri on the forehead with his right hand, the Buddha spoke these verses:
Vào lúc bấy giờ, dân chúng leo lên đứng ở các lâu đài, các lầu son, và các mái nhà. Trong số ấy, những người không có đức tin, không có tịnh tín, là hạng người có ác tuệ, họ đã nói như vầy: “– Này quý vị, thật là tuyệt hảo thay, vị đại sa-môn sẽ bị con voi làm cho khốn đốn.” Còn những người có đức tin, có tịnh tín, là bậc hiền trí, là người thông thái, có trí tuệ, họ đã nói như vầy: “– Này quý vị, chẳng bao lâu nữa, con voi chúa sẽ giao chiến với con voi chúa.” Sau đó, đức Thế Tôn đã trải tâm từ đến con voi Nāḷāgiri. Bấy giờ, con voi Nāḷāgiri được tâm từ của đức Thế Tôn chạm đến nên đã hạ vòi xuống rồi đi đến chỗ đức Thế Tôn, sau khi đến đã đứng lại ở phía trước đức Thế Tôn. Sau đó, đức Thế Tôn dùng tay phải xoa đầu con voi Nāḷāgiri rồi nói với con voi Nāḷāgiri bằng những câu kệ này:
“Mā kuñjara nāgamāsado, Dukkhañhi kuñjara nāgamāsado; Na hi nāgahatassa kuñjara, Sugati hoti ito paraṁ yato.
“Do not, elephant, attack a great man; Painful it is to attack a great man. For a killer of a great man, The next birth is not good.
– Này voi chúa, chớ có xúc phạm đến voi chúa, này voi chúa, việc xúc phạm đến voi chúa là điều đau khổ. Này voi chúa, kẻ sát hại voi chúa thì sau khi từ đây ra đi sẽ không có cõi lành.
Mā ca mado mā ca pamādo, Na hi pamattā sugatiṁ vajanti te; Tvaññeva tathā karissasi, Yena tvaṁ sugatiṁ gamissasī”ti.
Don’t be intoxicated or heedless, For the heedless are not happily reborn. Only do those things That take you to a good destination.”
– Chớ có say sưa, chớ có dể duôi, những kẻ dể duôi thì không đi đến cõi lành. Chính ngươi hãy làm theo cách thức nào để ngươi sẽ được đi đến cõi lành.
Atha kho nāḷāgiri hatthī soṇḍāya bhagavato pādapaṁsūni gahetvā uparimuddhani ākiritvā paṭikuṭiyova osakki, yāva bhagavantaṁ addakkhi. Atha kho nāḷāgiri hatthī hatthisālaṁ gantvā sake ṭhāne aṭṭhāsi. Tathā danto ca pana nāḷāgiri hatthī ahosi. Tena kho pana samayena manussā imaṁ gāthaṁ gāyanti—
Nāḷāgiri sucked the dust from the Buddha’s feet with his trunk and scattered it overhead. He then walked backward while looking at the Buddha, and returned to his stall in the elephant stables. That is how tame Nāḷāgiri had become. On that occasion people chanted this verse:
Sau đó, con voi Nāḷāgiri dùng vòi lấy bụi chân của đức Thế Tôn rồi rắc lên đầu mình, và đã lui lại phía sau trong khi vẫn còn nhìn thấy đức Thế Tôn. Sau đó, con voi Nāḷāgiri đi đến chuồng voi rồi đứng lại ở chỗ của mình. Con voi Nāḷāgiri đã được điều phục như thế ấy. Vào lúc bấy giờ, dân chúng hát câu kệ này:
“Daṇḍeneke damayanti, aṅkusehi kasāhi ca; Adaṇḍena asatthena, nāgo danto mahesinā”ti.
“Some are tamed with sticks, And some with goads and whips. Without stick or sword, The great sage tamed the elephant.”
– Có những người điều phục bằng roi vọt, bằng móc câu, và bằng roi da. Không roi vọt, không khí giới, con voi đã được bậc Đại Sĩ điều phục.
Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“yāva pāpo ayaṁ devadatto, alakkhiko, yatra hi nāma samaṇassa gotamassa evaṁmahiddhikassa evaṁmahānubhāvassa vadhāya parakkamissatī”ti. Devadattassa lābhasakkāro parihāyi. Bhagavato ca lābhasakkāro abhivaḍḍhi.
And people complained and criticized Devadatta, “How evil and indiscriminate he is, this Devadatta, in trying to kill the ascetic Gotama so powerful and mighty!” Devadatta’s material support and honor declined, whereas those of the Buddha increased.
Dân chúng phàn nàn, chê bai, và đả kích rằng: “– Devadatta này thật là ác độc, thật là vô phước, vì đã nỗ lực trong việc sát hại sa-môn Gotama, là bậc có đại thần lực, có đại oai lực như thế.” Lợi lộc và danh vọng của Devadatta bị suy giảm, còn lợi lộc và danh vọng của đức Thế Tôn được tăng trưởng.
2.6. Pañcavatthuyācanakathā
9. The account of the request for the five points
Câu chuyện về việc yêu cầu năm điều
Tena kho pana samayena devadatto parihīnalābhasakkāro sapariso kulesu viññāpetvā viññāpetvā bhuñjati. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā kulesu viññāpetvā viññāpetvā bhuñjissanti. Kassa sampannaṁ na manāpaṁ, kassa sāduṁ na ruccatī”ti.
Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma devadatto sapariso kulesu viññāpetvā viññāpetvā bhuñjissatī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira tvaṁ, devadatta, sapariso kulesu viññāpetvā viññāpetvā bhuñjasī”ti? “Saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“tena hi, bhikkhave, bhikkhūnaṁ kulesu tikabhojanaṁ paññapessāmi tayo atthavase paṭicca—dummaṅkūnaṁ puggalānaṁ niggahāya; pesalānaṁ bhikkhūnaṁ phāsuvihārāya, ‘mā pāpicchā pakkhaṁ nissāya saṅghaṁ bhindeyyun’ti; kulānuddayāya ca. Gaṇabhojane yathādhammo kāretabbo”ti.
Because of his loss of material support and honor, Devadatta and his followers had to ask families repeatedly to get invited to meals. People complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics repeatedly ask families to get invited to meals? Who doesn’t like nice food? Who doesn’t prefer tasty food?”
The monks heard the complaints of those people, and the monks of few desires complained and criticized those monks, “How can Devadatta and his followers repeatedly ask families to get invited to meals?” They told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned Devadatta: “Is it true, Devadatta, that you do this?” “It’s true, sir.” … After rebuking him … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“Well then, for monks eating among families, I’ll lay down a rule against eating in groups of more than three, for these three reasons: for the restraint of bad people; for the ease of good monks, stopping those with bad desires from creating a faction and then a schism in the Sangha; and out of compassion for families. Anyone eating in a group is to be dealt with according to the rule.”
343. Vào lúc bấy giờ, Devadatta bị suy giảm lợi lộc và danh vọng, cùng với hội chúng của mình, đã ăn uống bằng cách xin đi xin lại ở các gia đình. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và đả kích rằng: “– Tại sao các sa-môn Thích tử lại ăn uống bằng cách xin đi xin lại ở các gia đình! Ai lại không hài lòng với vật thực dồi dào, ai lại không ưa thích vật thực ngon ngọt!” Các vị tỳ khưu đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, và đả kích của những người ấy. Các vị tỳ khưu có thiểu dục ... (như trên) ... các vị ấy phàn nàn, chê bai, và đả kích rằng: “– Tại sao Devadatta cùng với hội chúng của mình lại ăn uống bằng cách xin đi xin lại ở các gia đình!” Rồi trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... (như trên) ... “– Này Devadatta, có thật là ngươi cùng với hội chúng của mình đã ăn uống bằng cách xin đi xin lại ở các gia đình không?” – “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.” ... (như trên) ... Sau khi quở trách ... (như trên) ... sau khi nói pháp thoại, ngài gọi các vị tỳ khưu: “– Này các tỳ khưu, vì thế ta sẽ chế định cho các vị tỳ khưu về bữa ăn cho ba người ở các gia đình, do nương vào ba lý do: để trấn áp những người có tà hạnh, để cho các vị tỳ khưu có giới hạnh khả ái được sống an lạc, và để cho những kẻ có ác dục không nương tựa vào phe nhóm mà chia rẽ Tăng chúng, và cũng là để thương tưởng các gia đình. Về bữa ăn tập thể, cần phải được thực hiện theo đúng Pháp.”
Atha kho devadatto yena kokāliko kaṭamodakatissako khaṇḍadeviyā putto samuddadatto tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā kokālikaṁ kaṭamodakatissakaṁ khaṇḍadeviyā puttaṁ samuddadattaṁ etadavoca—“etha, mayaṁ, āvuso, samaṇassa gotamassa saṅghabhedaṁ karissāma cakkabhedan”ti.
Evaṁ vutte, kokāliko devadattaṁ etadavoca—“samaṇo kho, āvuso, gotamo mahiddhiko mahānubhāvo. Kathaṁ mayaṁ samaṇassa gotamassa saṅghabhedaṁ karissāma cakkabhedan”ti?
“Etha, mayaṁ, āvuso, samaṇaṁ gotamaṁ upasaṅkamitvā pañca vatthūni yācissāma—‘bhagavā, bhante, anekapariyāyena appicchassa santuṭṭhassa sallekhassa dhutassa pāsādikassa apacayassa vīriyārambhassa vaṇṇavādī. Imāni, bhante, pañca vatthūni anekapariyāyena appicchatāya santuṭṭhiyā sallekhāya dhutatāya pāsādikatāya apacayāya vīriyārambhāya saṁvattanti.
- Sādhu, bhante, bhikkhū yāvajīvaṁ āraññikā assu; yo gāmantaṁ osareyya, vajjaṁ naṁ phuseyya.
- Yāvajīvaṁ piṇḍapātikā assu; yo nimantanaṁ sādiyeyya, vajjaṁ naṁ phuseyya.
- Yāvajīvaṁ paṁsukūlikā assu; yo gahapaticīvaraṁ sādiyeyya, vajjaṁ naṁ phuseyya.
- Yāvajīvaṁ rukkhamūlikā assu; yo channaṁ upagaccheyya, vajjaṁ naṁ phuseyya.
- Yāvajīvaṁ macchamaṁsaṁ na khādeyyuṁ; yo macchamaṁsaṁ khādeyya, vajjaṁ naṁ phuseyyā’ti.
Imāni pañca vatthūni samaṇo gotamo nānujānissati. Te mayaṁ imehi pañcahi vatthūhi janaṁ saññāpessāmā”ti.
“Sakkā kho, āvuso, imehi pañcahi vatthūhi samaṇassa gotamassa saṅghabhedo kātuṁ cakkabhedo. Lūkhappasannā hi, āvuso, manussā”ti.
Soon afterwards Devadatta went to Kokālika, Kaṭamodakatissaka, Khaṇḍadeviyāputta, and Samuddadatta. He said to them, “Let’s cause a schism in the Sangha of the ascetic Gotama. Let’s break its authority.”
Kokālika said to Devadatta, “The ascetic Gotama is powerful and mighty. How can we achieve this?”
“Well, let’s go to the ascetic Gotama and request five things: ‘In many ways, sir, you praise fewness of wishes, contentment, self-effacement, ascetic practices, being inspiring, the reduction in things, and being energetic. And there are five things that lead to just that:
- It would be good, sir, if the monks stayed in the wilderness for life, and whoever stayed near an inhabited area would commit an offense;
- if they ate only almsfood for life, and whoever accepted an invitational meal would commit an offense;
- if they wore rag-robes for life, and whoever accepted robe-cloth from a householder would commit an offense;
- if they lived at the foot of a tree for life, and whoever took shelter would commit an offense;
- if they didn’t eat fish or meat for life, and whoever did would commit an offense.’
The ascetic Gotama won’t allow this. We’ll then be able to win people over with these five points.”
Kokālika said, “It might be possible to cause a schism in the Sangha with these five points, for people have confidence in austerity.”
Sau đó, Devadatta đi đến chỗ của Kokālika, Kaṭamodakatissaka, và Samuddadatta là con trai của bà Khaṇḍadevī, sau khi đến đã nói với Kokālika, Kaṭamodakatissaka, và Samuddadatta là con trai của bà Khaṇḍadevī điều này: “– Này chư hiền, chúng ta hãy đến, chúng ta sẽ thực hiện việc chia rẽ Tăng chúng và phá vỡ vòng quay của sa-môn Gotama.” Khi được nói vậy, Kokālika đã nói với Devadatta điều này: “– Thưa hiền giả, sa-môn Gotama có đại thần lực, có đại oai lực. Làm sao chúng ta có thể thực hiện việc chia rẽ Tăng chúng và phá vỡ vòng quay của sa-môn Gotama?” – “Này chư hiền, chúng ta hãy đến, chúng ta sẽ đi đến sa-môn Gotama rồi yêu cầu năm điều: ‘Bạch ngài, đức Thế Tôn đã dùng nhiều phương cách để tán dương về sự thiểu dục, sự biết đủ, sự khổ hạnh, sự rũ bỏ, sự khả ái, sự giảm thiểu, và sự nỗ lực tinh tấn. Bạch ngài, năm điều này dùng nhiều phương cách để đưa đến sự thiểu dục, sự biết đủ, sự khổ hạnh, sự rũ bỏ, sự khả ái, sự giảm thiểu, và sự nỗ lực tinh tấn. Bạch ngài, thật là tốt đẹp, mong rằng các vị tỳ khưu trọn đời là những vị sống ở rừng; vị nào đi vào xóm làng, tội lỗi hãy chạm đến vị ấy. Trọn đời là những vị chỉ ăn đồ khất thực; vị nào chấp nhận lời mời, tội lỗi hãy chạm đến vị ấy. Trọn đời là những vị mặc y phấn tảo; vị nào chấp nhận y của gia chủ, tội lỗi hãy chạm đến vị ấy. Trọn đời là những vị sống ở gốc cây; vị nào đi vào chỗ có mái che, tội lỗi hãy chạm đến vị ấy. Trọn đời không ăn cá và thịt; vị nào ăn cá và thịt, tội lỗi hãy chạm đến vị ấy.’ Sa-môn Gotama sẽ không cho phép năm điều này. Khi ấy, chúng ta sẽ dùng năm điều này để thuyết phục dân chúng.” – “Thưa hiền giả, quả thật là có thể dùng năm điều này để thực hiện việc chia rẽ Tăng chúng và phá vỡ vòng quay của sa-môn Gotama. Thưa hiền giả, vì dân chúng có khuynh hướng tịnh tín nơi sự khổ hạnh.”
Atha kho devadatto sapariso yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho devadatto bhagavantaṁ etadavoca—“bhagavā, bhante, anekapariyāyena appicchassa santuṭṭhassa sallekhassa dhutassa pāsādikassa apacayassa vīriyārambhassa vaṇṇavādī. Imāni, bhante, pañca vatthūni anekapariyāyena appicchatāya santuṭṭhiyā sallekhāya dhutatāya pāsādikatāya apacayāya vīriyārambhāya saṁvattanti. Sādhu, bhante, bhikkhū yāvajīvaṁ āraññikā assu; yo gāmantaṁ osareyya, vajjaṁ naṁ phuseyya. Yāvajīvaṁ piṇḍapātikā assu; yo nimantanaṁ sādiyeyya, vajjaṁ naṁ phuseyya. Yāvajīvaṁ paṁsukūlikā assu; yo gahapaticīvaraṁ sādiyeyya, vajjaṁ naṁ phuseyya. Yāvajīvaṁ rukkhamūlikā assu; yo channaṁ upagaccheyya, vajjaṁ naṁ phuseyya. Yāvajīvaṁ macchamaṁsaṁ na khādeyyuṁ; yo macchamaṁsaṁ khādeyya, vajjaṁ naṁ phuseyyā”ti. “Alaṁ, devadatta. Yo icchati, āraññiko hotu; yo icchati, gāmante viharatu. Yo icchati, piṇḍapātiko hotu; yo icchati, nimantanaṁ sādiyatu. Yo icchati, paṁsukūliko hotu; yo icchati, gahapaticīvaraṁ sādiyatu. Aṭṭhamāse kho mayā, devadatta, rukkhamūlasenāsanaṁ anuññātaṁ; tikoṭiparisuddhaṁ macchamaṁsaṁ—adiṭṭhaṁ, assutaṁ, aparisaṅkitan”ti.
Atha kho devadatto—“na bhagavā imāni pañca vatthūni anujānātī”ti—haṭṭho udaggo sapariso uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Devadatta and his followers then went to the Buddha, bowed, sat down, and Devadatta made his request. The Buddha replied, “No, Devadatta. Those who wish may stay in the wilderness and those who wish may live near inhabited areas. Those who wish may eat only almsfood and those who wish may accept invitations. Those who wish may wear rag-robes and those who wish may accept robe-cloth from householders. I have allowed the foot of a tree as a resting place for eight months of the year, as well as fish and meat that are pure in three respects: one hasn’t seen, heard, or suspected that the animal was specifically killed to feed a monastic.”
Devadatta thought, “The Buddha doesn’t allow the five points.” Glad and elated, he got up from his seat, bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left with his followers.
Bấy giờ, Devadatta cùng với tùy tùng đi đến nơi đức Thế Tôn đang ngự; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, Devadatta bạch với đức Thế Tôn lời này: – ‘Bạch đức Thế Tôn, đức Thế Tôn bằng nhiều cách thường tán thán người ít ham muốn, biết đủ, sống viễn ly, rũ bỏ, đáng kính tín, không tích trữ, tinh cần tinh tấn. Bạch đức Thế Tôn, năm điều này bằng nhiều cách đưa đến sự ít ham muốn, biết đủ, sống viễn ly, rũ bỏ, đáng kính tín, không tích trữ, tinh cần tinh tấn. Lành thay, bạch đức Thế Tôn, mong rằng các tỳ khưu trọn đời sống ở rừng; vị nào đi vào làng, vị ấy phạm tội. Trọn đời chỉ đi khất thực; vị nào chấp nhận lời mời, vị ấy phạm tội. Trọn đời mặc y phấn tảo; vị nào chấp nhận y do gia chủ cúng dường, vị ấy phạm tội. Trọn đời ở dưới gốc cây; vị nào đi vào trú xứ có mái che, vị ấy phạm tội. Trọn đời không ăn cá và thịt; vị nào ăn cá và thịt, vị ấy phạm tội.’ – ‘Thôi đi, Devadatta. Vị nào muốn, hãy sống ở rừng; vị nào muốn, hãy ở trong làng. Vị nào muốn, hãy đi khất thực; vị nào muốn, hãy chấp nhận lời mời. Vị nào muốn, hãy mặc y phấn tảo; vị nào muốn, hãy chấp nhận y do gia chủ cúng dường. Này Devadatta, Ta đã cho phép trú xứ dưới gốc cây trong tám tháng; (Ta đã cho phép) cá và thịt tam tịnh nhục – không thấy, không nghe, không nghi.’ Bấy giờ Devadatta – (nghĩ rằng) ‘Đức Thế Tôn không cho phép năm điều này’ – hoan hỷ, phấn khởi, cùng với tùy tùng đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi ra về.
Atha kho devadatto sapariso rājagahaṁ pavisitvā pañcahi vatthūhi janaṁ saññāpesi—“mayaṁ, āvuso, samaṇaṁ gotamaṁ upasaṅkamitvā pañca vatthūni yācimhā—‘bhagavā, bhante, anekapariyāyena appicchassa …pe… vīriyārambhassa vaṇṇavādī. Imāni, bhante, pañca vatthūni anekapariyāyena appicchatāya …pe… vīriyārambhāya saṁvattanti. Sādhu, bhante, bhikkhū yāvajīvaṁ āraññikā assu; yo gāmantaṁ osareyya, vajjaṁ naṁ phuseyya …pe… yāvajīvaṁ macchamaṁsaṁ na khādeyyuṁ; yo macchamaṁsaṁ khādeyya, vajjaṁ naṁ phuseyyā’ti. Imāni pañca vatthūni samaṇo gotamo nānujānāti. Te mayaṁ imehi pañcahi vatthūhi samādāya vattāmā”ti.
Devadatta then entered Rājagaha and won people over with the five points, saying, “The ascetic Gotama doesn’t agree to them, but we practice in accordance with them.”
Bấy giờ, Devadatta cùng với tùy tùng, sau khi vào thành Rājagaha, đã làm cho dân chúng biết về năm điều rằng: – ‘Này các hiền hữu, chúng tôi đã đến gặp Sa-môn Gotama và đã thỉnh cầu năm điều: – “Bạch đức Thế Tôn, đức Thế Tôn bằng nhiều cách thường tán thán người ít ham muốn... (v.v.)... tinh cần tinh tấn. Bạch đức Thế Tôn, năm điều này bằng nhiều cách đưa đến sự ít ham muốn... (v.v.)... tinh cần tinh tấn. Lành thay, bạch đức Thế Tôn, mong rằng các tỳ khưu trọn đời sống ở rừng; vị nào đi vào làng, vị ấy phạm tội... (v.v.)... trọn đời không ăn cá và thịt; vị nào ăn cá và thịt, vị ấy phạm tội.” Sa-môn Gotama không cho phép năm điều này. Chúng tôi đây sẽ thọ trì và thực hành theo năm điều này.’
Tattha ye te manussā assaddhā appasannā dubbuddhino, te evamāhaṁsu—“ime kho samaṇā sakyaputtiyā dhutā sallekhavuttino. Samaṇo pana gotamo bāhulliko bāhullāya cetetī”ti. Ye pana te manussā saddhā pasannā paṇḍitā byattā buddhimanto, te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma devadatto bhagavato saṅghabhedāya parakkamissati cakkabhedāyā”ti.
Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma devadatto saṅghabhedāya parakkamissati cakkabhedāyā”ti.
Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“saccaṁ kira tvaṁ, devadatta, saṅghabhedāya parakkamasi cakkabhedāyā”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
“Alaṁ, devadatta. Mā te rucci saṅghabhedo. Garuko kho, devadatta, saṅghabhedo. Yo kho, devadatta, samaggaṁ saṅghaṁ bhindati, kappaṭṭhikaṁ kibbisaṁ pasavati, kappaṁ nirayamhi paccati. Yo ca kho, devadatta, bhinnaṁ saṅghaṁ samaggaṁ karoti, brahmaṁ puññaṁ pasavati, kappaṁ saggamhi modati. Alaṁ, devadatta. Mā te rucci saṅghabhedo. Garuko kho, devadatta, saṅghabhedo”ti.
The foolish people with little faith and confidence said, “These Sakyan monastics are practicing asceticism and living with the aim of self-effacement. But the ascetic Gotama is extravagant and has chosen a life of indulgence.” But the wise people who had faith and confidence complained and criticized Devadatta, “How can Devadatta pursue schism in the Sangha of the Buddha? How can he break its authority?”
The monks heard the criticism of those people, and the monks of few desires complained and criticized him in the same way.
They then told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned Devadatta:
“Is it true, Devadatta, that you are doing this?”
“It’s true, sir.”
“Let it be, Devadatta, don’t cause a schism in the Sangha. Schism in the Sangha is a serious matter. Whoever causes a schism in a united Sangha does a bad act with effect for an eon. He’s boiled in hell for an eon. But whoever unites a divided Sangha generates the supreme merit. He rejoices in heaven for an eon. So let it be, Devadatta, don’t cause a schism in the Sangha. It’s a serious matter.”
Trong số đó, những người không có đức tin, không có tịnh tín, trí tuệ thấp kém, họ đã nói như vầy: – ‘Các vị Sa-môn Thích tử này quả là những người đã rũ bỏ, sống khổ hạnh. Còn Sa-môn Gotama thì sống sung túc và hướng đến sự sung túc.’ Nhưng những người có đức tin, có tịnh tín, bậc hiền trí, thông minh, có trí tuệ, họ đã phàn nàn, chê bai, chỉ trích: – ‘Làm sao mà Devadatta lại có thể cố gắng gây chia rẽ Tăng chúng của đức Thế Tôn, gây chia rẽ pháp luân được chứ!’ Các tỳ khưu đã nghe được (lời) phàn nàn, chê bai, chỉ trích của những người ấy. Những vị tỳ khưu ít ham muốn... (v.v.)... họ đã phàn nàn, chê bai, chỉ trích: – ‘Làm sao mà Devadatta lại có thể cố gắng gây chia rẽ Tăng chúng, gây chia rẽ pháp luân được chứ!’ Bấy giờ, các tỳ khưu ấy đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn... (v.v.)... ‘Có thật không, này Devadatta, ngươi đang cố gắng gây chia rẽ Tăng chúng, gây chia rẽ pháp luân?’ – ‘Bạch đức Thế Tôn, là thật.’ – ‘Thôi đi, Devadatta. Ngươi chớ có thích việc chia rẽ Tăng chúng. Này Devadatta, việc chia rẽ Tăng chúng là trọng tội. Này Devadatta, người nào phá vỡ Tăng chúng hòa hợp, người ấy tạo ra tội lỗi kéo dài một kiếp, phải chịu khổ trong địa ngục suốt một kiếp. Và này Devadatta, người nào làm cho Tăng chúng đã bị chia rẽ trở lại hòa hợp, người ấy tạo ra phước báu cao thượng, được hưởng vui ở cõi trời suốt một kiếp. Thôi đi, Devadatta. Ngươi chớ có thích việc chia rẽ Tăng chúng. Này Devadatta, việc chia rẽ Tăng chúng là trọng tội.’
Atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisi. Addasā kho devadatto āyasmantaṁ ānandaṁ rājagahe piṇḍāya carantaṁ. Disvāna yenāyasmā ānando tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca—“ajjataggedānāhaṁ, āvuso ānanda, aññatreva bhagavatā, aññatreva bhikkhusaṅghā, uposathaṁ karissāmi saṅghakammaṁ karissāmī”ti.
Soon afterwards, Venerable Ānanda robed up in the morning, took his bowl and robe, and entered Rājagaha for alms. When Devadatta saw him, he went up to him, and said, “From today on, Ānanda, I’ll do the observance-day ceremony and the legal procedures of the Sangha separate from the Buddha and the Sangha of monks.”
Bấy giờ, vào buổi sáng, Tôn giả Ānanda đắp y, mang bát, vào thành Rājagaha để khất thực. Devadatta đã thấy Tôn giả Ānanda đang đi khất thực trong thành Rājagaha. Sau khi thấy, đã đi đến nơi Tôn giả Ānanda đang ở; sau khi đến, đã nói với Tôn giả Ānanda lời này: – ‘Này hiền hữu Ānanda, kể từ hôm nay, tôi sẽ làm lễ Uposatha và các Tăng sự riêng, ngoài đức Thế Tôn, ngoài chúng Tỳ khưu.’
Atha kho āyasmā ānando rājagahe piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca—“idhāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisiṁ. Addasā kho maṁ, bhante, devadatto rājagahe piṇḍāya carantaṁ. Disvāna yenāhaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā maṁ etadavoca—‘ajjataggedānāhaṁ, āvuso ānanda, aññatreva bhagavatā, aññatreva bhikkhusaṅghā, uposathaṁ karissāmi saṅghakammaṁ karissāmī’ti. Ajjatagge, bhante, devadatto saṅghaṁ bhindissatī”ti. Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi—
When Ānanda had completed his almsround, eaten his meal, and returned, he went to the Buddha, bowed, sat down, and told him what had happened, adding, “From today, sir, Devadatta has caused a schism in the Sangha.” Understanding the significance of this, on that occasion the Buddha uttered a heartfelt exclamation:
Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda, sau khi đi khất thực ở thành Rājagaha, sau bữa ăn, đã trở về từ nơi khất thực, liền đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch với đức Thế Tôn rằng: – ‘Bạch đức Thế Tôn, vào buổi sáng, sau khi đắp y, con mang y bát vào thành Rājagaha để khất thực. Bạch đức Thế Tôn, Devadatta đã thấy con đang đi khất thực ở thành Rājagaha. Sau khi thấy, y đã đi đến chỗ con; sau khi đến, y đã nói với con lời này: ‘Thưa hiền giả Ānanda, kể từ hôm nay, tôi sẽ làm lễ uposatha và các tăng sự riêng, không có đức Thế Tôn, không có Tăng chúng.’ Bạch đức Thế Tôn, kể từ hôm nay, Devadatta sẽ chia rẽ Tăng đoàn.’ Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi biết rõ sự việc ấy, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Sukaraṁ sādhunā sādhuṁ, Sādhuṁ pāpena dukkaraṁ; Pāpaṁ pāpena sukaraṁ, Pāpamariyehi dukkaran”ti.
“For the good, doing good is easy; For the bad, doing good is hard. For the bad, doing evil is easy; For the noble ones, doing evil is hard.”
“Người tốt dễ làm điều thiện, điều thiện kẻ ác khó làm; điều ác kẻ ác dễ làm, điều ác bậc Thánh khó làm.”
Dutiyabhāṇavāro niṭṭhito.
The second section for recitation is finished.
The third section
Dứt phẩm thứ hai.
3.1. Saṅghabhedakathā
10. The account of schism in the Sangha
Câu Chuyện Về Sự Chia Rẽ Tăng Đoàn
Atha kho devadatto tadahuposathe uṭṭhāyāsanā salākaṁ gāhesi—“mayaṁ, āvuso, samaṇaṁ gotamaṁ upasaṅkamitvā pañca vatthūni yācimhā—‘bhagavā, bhante, anekapariyāyena appicchassa …pe… vīriyārambhassa vaṇṇavādī. Imāni, bhante, pañca vatthūni anekapariyāyena appicchatāya …pe… vīriyārambhāya saṁvattanti.
- Sādhu, bhante, bhikkhū yāvajīvaṁ āraññikā assu; yo gāmantaṁ osareyya, vajjaṁ naṁ phuseyya …pe…
- yāvajīvaṁ macchamaṁsaṁ na khādeyyuṁ; yo macchamaṁsaṁ khādeyya, vajjaṁ naṁ phuseyyā’ti.
Imāni pañca vatthūni samaṇo gotamo nānujānāti. Te mayaṁ imehi pañcahi vatthūhi samādāya vattāma. Yassāyasmato imāni pañca vatthūni khamanti, so salākaṁ gaṇhātū”ti.
On the observance day soon afterwards, Devadatta got up from his seat and distributed ballots, saying, “We have gone to the ascetic Gotama and asked for five things: ‘In many ways, sir, you praise fewness of wishes, contentment, self-effacement, ascetic practices, being inspiring, the reduction in things, and being energetic. And there are five things that lead to just that:
- It would be good, sir, if the monks stayed in the wilderness for life, and whoever stayed near inhabited areas would commit an offense;
- if they were alms-collectors for life, and whoever accepted an invitation would commit an offense;
- if they were rag-robe wearers for life, and whoever accepted robe-cloth from a householder would commit an offense;
- if they dwelt at the foot of a tree for life, and whoever took shelter would commit an offense;
- if they didn’t eat fish or meat for life, and whoever did would commit an offense.’
The ascetic Gotama doesn’t agree to them, but we practice in accordance with them. Any monk who approves of these five things should vote in favor.”
344. Lúc bấy giờ, vào ngày uposatha ấy, Devadatta đứng dậy khỏi chỗ ngồi và cho lấy thẻ: – ‘Thưa chư hiền, chúng ta đã đến gặp Sa-môn Gotama và đã xin năm điều: ‘Bạch đức Thế Tôn, đức Thế Tôn bằng nhiều cách đã tán thán sự thiểu dục... sự tinh cần. Bạch đức Thế Tôn, năm điều này bằng nhiều cách đưa đến sự thiểu dục... sự tinh cần. Lành thay, bạch đức Thế Tôn, mong rằng các tỳ khưu trọn đời sống ở rừng; vị nào đi vào làng, vị ấy phạm tội... trọn đời không ăn cá thịt; vị nào ăn cá thịt, vị ấy phạm tội.’ Sa-môn Gotama không cho phép năm điều này. Chúng ta đây sẽ thọ trì và thực hành theo năm điều này. Vị tôn giả nào chấp nhận năm điều này, hãy nhận lấy thẻ.’”
Tena kho pana samayena vesālikā vajjiputtakā pañcamattāni bhikkhusatāni navakā ceva honti appakataññuno ca. Te—“ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanan”ti salākaṁ gaṇhiṁsu.
Atha kho devadatto saṅghaṁ bhinditvā pañcamattāni bhikkhusatāni ādāya yena gayāsīsaṁ tena pakkāmi.
Atha kho sāriputtamoggallānā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca—“devadatto, bhante, saṅghaṁ bhinditvā pañcamattāni bhikkhusatāni ādāya yena gayāsīsaṁ tena pakkanto”ti.
“Na hi nāma tumhākaṁ, sāriputtā, tesu navakesu bhikkhūsu kāruññampi bhavissati? Gacchatha tumhe, sāriputtā, purā te bhikkhū anayabyasanaṁ āpajjantī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho sāriputtamoggallānā bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena gayāsīsaṁ tenupasaṅkamiṁsu.
On that occasion five hundred Vajjian monks from Vesālī, newly ordained and ignorant, were present. Thinking, “This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction,” they voted in favor.
Then, after causing a schism in the Sangha, Devadatta left for Gayāsīsa together with the five hundred monks.
Soon afterwards Sāriputta and Moggallāna went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “Sir, Devadatta has split the Sangha and left for Gayāsīsa together with five hundred monks.”
“You have compassion for those five hundred newly ordained monks, don’t you? Go then, Sāriputta and Moggallāna, before they’re afflicted with misfortune and disaster.”
Saying, “Yes, sir,” they got up from their seats, bowed down, circumambulated the Buddha with their right sides toward him, and went to Gayāsīsa.
Vào lúc ấy, có khoảng năm trăm vị tỳ khưu người Vajjī ở Vesālī, vừa là tỳ khưu mới, vừa không thông thạo. Các vị ấy nghĩ rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là giáo huấn của bậc Đạo Sư,’ rồi nhận lấy thẻ. Bấy giờ, Devadatta, sau khi chia rẽ Tăng đoàn, đã dẫn khoảng năm trăm vị tỳ khưu đi đến Gayāsīsa. Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Moggallāna đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta bạch với đức Thế Tôn rằng: – ‘Bạch đức Thế Tôn, Devadatta, sau khi chia rẽ Tăng đoàn, đã dẫn khoảng năm trăm vị tỳ khưu đi đến Gayāsīsa.’ – ‘Này các Sāriputta, sao các ông lại không có lòng bi mẫn đối với các tỳ khưu mới ấy? Này các Sāriputta, các ông hãy đi, trước khi các tỳ khưu ấy gặp phải tai họa, bất hạnh.’ – ‘Vâng, bạch đức Thế Tôn.’ Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Moggallāna vâng lời đức Thế Tôn, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi đi đến Gayāsīsa.
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu bhagavato avidūre rodamāno ṭhito hoti. Atha kho bhagavā taṁ bhikkhuṁ etadavoca—“kissa tvaṁ, bhikkhu, rodasī”ti? “Yepi te, bhante, bhagavato aggasāvakā sāriputtamoggallānā tepi devadattassa santike gacchanti devadattassa dhammaṁ rocentā”ti.
“Aṭṭhānametaṁ, bhikkhu, anavakāso, yaṁ sāriputtamoggallānā devadattassa dhammaṁ roceyyuṁ, api ca te gatā bhikkhūnaṁ saññattiyā”ti.
Just then a certain monk who was standing near the Buddha was crying. The Buddha asked him why. He said, “Sir, even Sāriputta and Moggallāna, the Buddha’s chief disciples, are going to Devadatta because they approve of his teaching.”
“It’s impossible for Sāriputta and Moggallāna to approve of Devadatta’s teaching. In fact, they’ve gone to win those monks over.”
Vào lúc ấy, có một vị tỳ khưu đang đứng khóc ở một nơi không xa đức Thế Tôn. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói với vị tỳ khưu ấy: – ‘Này tỳ khưu, vì sao ông khóc?’ – ‘Bạch đức Thế Tôn, cả hai vị Thượng thủ Thinh văn của đức Thế Tôn là Sāriputta và Moggallāna cũng đi đến chỗ Devadatta vì ưa thích giáo pháp của Devadatta.’ – ‘Này tỳ khưu, không có lý do, không có trường hợp mà Sāriputta và Moggallāna lại ưa thích giáo pháp của Devadatta. Mà thật ra, họ đi là để thuyết phục các tỳ khưu kia.’
Tena kho pana samayena devadatto mahatiyā parisāya parivuto dhammaṁ desento nisinno hoti. Addasā kho devadatto sāriputtamoggallāne dūratova āgacchante. Disvāna bhikkhū āmantesi—“passatha, bhikkhave, yāva svākkhāto mayā dhammo, yepi te samaṇassa gotamassa aggasāvakā sāriputtamoggallānā tepi mama santike āgacchanti. Mama dhammaṁ rocentā”ti.
Evaṁ vutte, kokāliko devadattaṁ etadavoca—“mā, āvuso devadatta, sāriputtamoggallāne vissasi. Pāpicchā sāriputtamoggallānā, pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gatā”ti.
“Alaṁ, āvuso. Svāgataṁ tesaṁ yato me dhammaṁ rocentī”ti.
At that time Devadatta was seated giving a teaching surrounded by a large gathering. When Devadatta saw Sāriputta and Moggallāna coming, he said to his monks, “See how well-taught my teaching is, as even Sāriputta and Moggallāna, the ascetic Gotama’s chief disciples, are coming here because they approve of it.”
But Kokālika said, “Don’t trust Sāriputta and Moggallāna. They have bad desires. They’re in the grip of bad desires.”
“Don’t worry. Anyone who comes to approve of my teaching is welcome.”
345. Vào lúc ấy, Devadatta đang ngồi thuyết pháp, có đại chúng vây quanh. Devadatta thấy Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Moggallāna đang đi đến từ xa. Sau khi thấy, y gọi các tỳ khưu: – ‘Này các tỳ khưu, hãy xem, giáo pháp của ta đã được khéo thuyết giảng đến mức nào, đến cả hai vị Thượng thủ Thinh văn của Sa-môn Gotama là Sāriputta và Moggallāna cũng đến đây với ta, vì ưa thích giáo pháp của ta.’ Khi được nói vậy, Kokālika nói với Devadatta: – ‘Thưa hiền giả Devadatta, chớ có tin tưởng Sāriputta và Moggallāna. Sāriputta và Moggallāna có ác dục, bị các ác dục chi phối.’ – ‘Thôi đi, hiền giả. Sự đến của họ là điều tốt lành, vì họ ưa thích giáo pháp của ta.’
Atha kho devadatto āyasmantaṁ sāriputtaṁ upaḍḍhāsanena nimantesi—“ehāvuso sāriputta, idha nisīdāhī”ti. “Alaṁ, āvuso”ti kho āyasmā sāriputto aññataraṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi. Āyasmāpi kho mahāmoggallāno aññataraṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi. Atha kho devadatto bahudeva rattiṁ bhikkhū dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ ajjhesi—“vigatathinamiddho kho, āvuso sāriputta, bhikkhusaṅgho. Paṭibhātu taṁ, āvuso sāriputta, bhikkhūnaṁ dhammī kathā, piṭṭhi me āgilāyati, tamahaṁ āyamissāmī”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā sāriputto devadattassa paccassosi.
Atha kho devadatto catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapetvā dakkhiṇena passena seyyaṁ kappesi. Tassa kilamantassa muṭṭhassatissa asampajānassa muhuttakeneva niddā okkami.
Devadatta invited Venerable Sāriputta to sit on a seat half the height of his own. Saying, “There’s no need,” Sāriputta took another seat and sat down to one side, as did Mahāmoggallāna. After spending most of the night instructing, inspiring, and gladdening the monks with a teaching, Devadatta invited Sāriputta, saying “The Sangha of monks is without dullness and drowsiness. Give a teaching, Sāriputta. My back is aching. I need to stretch it.”
“Yes.”
Devadatta then folded his upper robe in four and lay down on his right side. Because he was tired, absentminded, and heedless, he fell asleep immediately.
Bấy giờ, Devadatta mời Tôn giả Sāriputta ngồi chung nửa ghế: "Này hiền giả Sāriputta, hãy đến đây, hãy ngồi đây." Tôn giả Sāriputta đáp: "Thôi, thưa hiền giả," rồi lấy một chỗ ngồi khác và ngồi xuống một bên. Tôn giả Mahāmoggallāna cũng lấy một chỗ ngồi khác và ngồi xuống một bên. Bấy giờ, Devadatta đã thuyết pháp cho các tỳ khưu suốt một thời gian dài trong đêm, làm cho họ thấy rõ, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ, rồi thỉnh cầu Tôn giả Sāriputta: "Này hiền giả Sāriputta, Tăng chúng đã hết hôn trầm thụy miên. Này hiền giả Sāriputta, mong hiền giả hãy thuyết pháp cho các tỳ khưu. Lưng của tôi bị đau, tôi sẽ duỗi lưng ra." Tôn giả Sāriputta đã vâng lời Devadatta: "Vâng, thưa hiền giả." Bấy giờ, Devadatta trải tăng-già-lê gấp tư, rồi nằm xuống nghiêng về bên phải. Do mệt mỏi, thất niệm, không tỉnh giác, ông ta đã chìm vào giấc ngủ chỉ trong một khoảnh khắc.
Atha kho āyasmā sāriputto ādesanāpāṭihāriyānusāsaniyā bhikkhū dhammiyā kathāya ovadi anusāsi. Āyasmā mahāmoggallāno iddhipāṭihāriyānusāsaniyā bhikkhū dhammiyā kathāya ovadi anusāsi. Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ āyasmatā sāriputtena ādesanāpāṭihāriyānusāsaniyā āyasmatā ca mahāmoggallānena iddhipāṭihāriyānusāsaniyā ovadiyamānānaṁ anusāsiyamānānaṁ virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi—“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Venerable Sāriputta then used the wonder of mind reading to instruct those monks, and Venerable Mahāmoggallāna used the wonder of supernormal powers to the same effect. While they were being instructed like this, they experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.”
Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta đã dùng pháp thoại với giáo hóa thần thông để khuyên dạy và chỉ bảo các tỳ khưu. Tôn giả Mahāmoggallāna đã dùng pháp thoại với thần túc thần thông để khuyên dạy và chỉ bảo các tỳ khưu. Bấy giờ, trong khi được Tôn giả Sāriputta khuyên dạy và chỉ bảo bằng giáo hóa thần thông, và được Tôn giả Mahāmoggallāna khuyên dạy và chỉ bảo bằng thần túc thần thông, pháp nhãn không còn bụi bặm, không còn cấu uế đã khởi lên cho các tỳ khưu ấy: "Phàm cái gì có sanh khởi, tất cả cái ấy đều có diệt tận."
Atha kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi—“gacchāma mayaṁ, āvuso, bhagavato santike. Yo tassa bhagavato dhammaṁ rocesi so āgacchatū”ti. Atha kho sāriputtamoggallānā tāni pañcabhikkhusatāni ādāya yena veḷuvanaṁ tenupasaṅkamiṁsu.
Atha kho kokāliko devadattaṁ uṭṭhāpesi—“uṭṭhehi, āvuso devadatta, nītā te bhikkhū sāriputtamoggallānehi. Nanu tvaṁ, āvuso devadatta, mayā vutto—‘mā, āvuso devadatta, sāriputtamoggallāne vissāsi. Pāpicchā sāriputtamoggallānā, pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gatā’”ti? Atha kho devadattassa tattheva uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggañchi.
And Sāriputta addressed them: “We’re going to the Buddha. Whoever approves of the Teaching of the Buddha should come along.” Sāriputta and Moggallāna then went to the Bamboo Grove accompanied by those five hundred monks.
In the meantime Kokālika woke up Devadatta, saying, “Get up, Devadatta, your monks are being led away by Sāriputta and Moggallāna. Didn’t I tell you not to trust Sāriputta and Moggallāna? Didn’t I say that they have bad desires, that they are in the grip of bad desires?” And Devadatta vomited hot blood right there.
Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta gọi các tỳ khưu: "Này chư hiền, chúng ta hãy đi đến chỗ Thế Tôn. Vị nào ưa thích giáo pháp của Thế Tôn thì hãy đi theo." Bấy giờ, Sāriputta và Moggallāna dẫn năm trăm vị tỳ khưu ấy đi đến Trúc Lâm. Bấy giờ, Kokālika đánh thức Devadatta dậy: "Hãy dậy đi, hiền giả Devadatta, các tỳ khưu của ông đã bị Sāriputta và Moggallāna dẫn đi rồi. Này hiền giả Devadatta, chẳng phải tôi đã nói với ông rằng: 'Này hiền giả Devadatta, đừng tin tưởng Sāriputta và Moggallāna. Sāriputta và Moggallāna có ác dục, đã bị các ác dục chi phối' hay sao?" Bấy giờ, ngay tại chỗ ấy, máu nóng đã phọt ra từ miệng của Devadatta.
Atha kho sāriputtamoggallānā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdisuṁ. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca—“sādhu, bhante, bhedakānuvattakā bhikkhū puna upasampajjeyyun”ti.
“Alaṁ, sāriputta. Mā te rucci bhedakānuvattakānaṁ bhikkhūnaṁ puna upasampadā. Tena hi tvaṁ, sāriputta, bhedakānuvattake bhikkhū thullaccayaṁ desāpehi. Kathaṁ pana te, sāriputta, devadatto paṭipajjī”ti?
“Yatheva, bhante, bhagavā bahudeva rattiṁ bhikkhū dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā maṁ ajjhesati—‘vigatathinamiddho kho, sāriputta, bhikkhusaṅgho; paṭibhātu taṁ, sāriputta, bhikkhūnaṁ dhammī kathā, piṭṭhi me āgilāyati, tamahaṁ āyamissāmī’ti. Evameva kho, bhante, devadatto paṭipajjī”ti.
Sāriputta and Moggallāna then went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “Sir, may we reordain the monks who supported the schism?”
“Let it be, Sāriputta, don’t think of reordaining the monks who supported the schism. Instead, have them confess a serious offense. And Devadatta, how did he treat you?”
“Just as you, sir, spend most of the night instructing, inspiring, and gladdening the monks with a teaching, and then invite me, saying, ‘The Sangha of monks is without dullness and drowsiness. Give a teaching, Sāriputta. My back is aching. I need to stretch it,’ that’s how Devadatta treated us.”
Bấy giờ, Sāriputta và Moggallāna đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta bạch với Thế Tôn điều này: "Bạch Thế Tôn, lành thay nếu các tỳ khưu theo phe phá hoại được thọ cụ túc giới lại." "Thôi, Sāriputta. Con chớ có ưa thích việc thọ cụ túc giới lại cho các tỳ khưu theo phe phá hoại. Vậy thì, này Sāriputta, con hãy cho các tỳ khưu theo phe phá hoại sám hối tội thô. Mà này Sāriputta, Devadatta đã đối xử với con như thế nào?" "Bạch Thế Tôn, cũng giống như Thế Tôn, sau khi đã thuyết pháp cho các tỳ khưu suốt một thời gian dài trong đêm, làm cho họ thấy rõ, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ, rồi thỉnh cầu con: 'Này Sāriputta, Tăng chúng đã hết hôn trầm thụy miên; này Sāriputta, mong hiền giả hãy thuyết pháp cho các tỳ khưu, lưng của ta bị đau, ta sẽ duỗi lưng ra.' Bạch Thế Tôn, Devadatta đã đối xử y như vậy."
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—
“bhūtapubbaṁ, bhikkhave, araññāyatane mahāsarasī. Taṁ nāgā upanissāya vihariṁsu. Te taṁ sarasiṁ ogāhetvā, soṇḍāya bhisamuḷālaṁ abbuhitvā, suvikkhālitaṁ vikkhāletvā, akaddamaṁ saṅkhāditvā ajjhoharanti. Tesaṁ taṁ vaṇṇāya ceva hoti, balāya ca. Na ca tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchanti, maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Tesaṁyeva kho pana, bhikkhave, mahānāgānaṁ anusikkhamānā taruṇā bhiṅkacchāpā. Te taṁ sarasiṁ ogāhetvā, soṇḍāya bhisamuḷālaṁ abbuhitvā, na suvikkhālitaṁ vikkhāletvā, sakaddamaṁ saṅkhāditvā, ajjhoharanti. Tesaṁ taṁ neva vaṇṇāya hoti, na balāya. Tatonidānañca maraṇaṁ vā nigacchanti, maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ. Evameva kho, bhikkhave, devadatto mamānukrubbaṁ kapaṇo marissatīti.
The Buddha then addressed the monks:
“Once upon a time there was a great lake in a wilderness area with elephants living nearby. After plunging into the lake, they pulled up lotus roots and tubers with their trunks. They gave them a good rinse to remove the mud, before chewing and swallowing them. That gave them beauty and strength. And they didn’t die or experience death-like suffering because of that.
Then the baby elephants tried to imitate those great elephants. After plunging into the lake, they pulled up lotus roots and tubers with their trunks. But they didn’t give them a good rinse to remove the mud, and so they chewed and swallowed them while muddy. That didn’t give them any beauty or strength. And they died or experienced death-like suffering because of that. Just so, by imitating me, Devadatta will die miserably.
346. Bấy giờ, Thế Tôn gọi các tỳ khưu: "Này các tỳ khưu, thuở xưa, trong một khu rừng có một hồ lớn. Các con voi sống nương tựa vào hồ ấy. Chúng lội xuống hồ, dùng vòi nhổ lên các củ và ngó sen, rửa cho thật sạch, rồi nhai và nuốt phần không có bùn. Việc ấy giúp chúng có được sắc đẹp và sức mạnh. Và do nhân duyên ấy, chúng không đi đến chỗ chết, hay chịu khổ đau đến mức gần chết. Nhưng này các tỳ khưu, có những con voi con còn non dại bắt chước những con voi lớn ấy. Chúng lội xuống hồ, dùng vòi nhổ lên các củ và ngó sen, nhưng không rửa cho thật sạch, rồi nhai và nuốt luôn cả phần có bùn. Việc ấy không giúp chúng có được sắc đẹp, cũng không có sức mạnh. Và do nhân duyên ấy, chúng đi đến chỗ chết, hay chịu khổ đau đến mức gần chết. Cũng vậy, này các tỳ khưu, Devadatta trong khi bắt chước Ta sẽ phải chết một cách khốn khổ."
Mahāvarāhassa mahiṁ vikrubbato, Bhisaṁ ghasānassa nadīsu jaggato; Bhiṅkova paṅkaṁ abhibhakkhayitvā, Mamānukrubbaṁ kapaṇo marissatīti.
‘While the great being removes the earth, Eats the tuber, and is alert in the rivers, He’s like a baby elephant that’s eaten mud: By imitating me, he’ll die miserably.’
"Như voi con bắt chước voi chúa đào đất, ăn ngó sen, đi lại trong các dòng sông, rồi ăn phải bùn lầy mà chết; cũng vậy, Devadatta trong khi bắt chước Ta sẽ phải chết một cách khốn khổ."
Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato bhikkhu dūteyyaṁ gantumarahati. Katamehi aṭṭhahi? Idha, bhikkhave, bhikkhu sotā ca hoti, sāvetā ca, uggahetā ca, dhāretā ca, viññātā ca, viññāpetā ca, kusalo ca sahitāsahitassa, no ca kalahakārako—imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahaṅgehi samannāgato bhikkhu dūteyyaṁ gantumarahati.
“Monks, a monk who has eight qualities is qualified to take messages. He listens and communicates, he learns and remembers, he understands and gets things across, he’s skilled in what is and what isn’t relevant, he’s not argumentative.
347. "Này các tỳ khưu, một tỳ khưu hội đủ tám pháp thì xứng đáng đi làm sứ giả. Thế nào là tám? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu là người biết lắng nghe, biết trình bày lại, biết học hỏi, biết ghi nhớ, biết thông hiểu, biết làm cho người khác thông hiểu, khéo léo trong việc lợi ích và không lợi ích, và không phải là người gây ra tranh cãi. Này các tỳ khưu, một tỳ khưu hội đủ tám pháp này thì xứng đáng đi làm sứ giả."
Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato sāriputto dūteyyaṁ gantumarahati.
Katamehi aṭṭhahi? Idha, bhikkhave, sāriputto sotā ca hoti, sāvetā ca, uggahetā ca, dhāretā ca, viññātā ca, viññāpetā ca, kusalo ca sahitāsahitassa, no ca kalahakārako—imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahaṅgehi samannāgato sāriputto dūteyyaṁ gantumarahatīti.
Because he has these eight qualities, Sāriputta is qualified to take messages.
Này các tỳ khưu, Sāriputta hội đủ tám pháp, xứng đáng làm sứ giả. Tám pháp ấy là gì? Này các tỳ khưu, ở đây, Sāriputta là người biết lắng nghe, là người biết làm cho người khác lắng nghe, là người biết học hỏi, là người biết ghi nhớ, là người biết thấu hiểu, là người biết làm cho người khác thấu hiểu, là người thiện xảo về điều lợi ích và không lợi ích, và không phải là người gây ra tranh cãi. Này các tỳ khưu, Sāriputta hội đủ tám pháp này, xứng đáng làm sứ giả.
Yo ve na byathati patvā, parisaṁ uggavādiniṁ; Na ca hāpeti vacanaṁ, na ca chādeti sāsanaṁ.
‘He doesn’t tremble when faced With a gathering of fierce debaters. He doesn’t neglect the words Or fail to get the instruction across.
Vị nào đến hội chúng, có lời nói thô bạo, mà không run sợ; không làm giảm bớt lời nói, và không che giấu thông điệp.
Asandiddho ca akkhāti, Pucchito ca na kuppati; Sa ve tādisako bhikkhu, Dūteyyaṁ gantumarahatīti.
He speaks with confidence And isn’t agitated when questioned. This kind of monk, indeed, Is qualified to take messages.’
Vị ấy trình bày không nghi ngờ, và khi được hỏi thì không tức giận; vị tỳ khưu như thế, thật xứng đáng làm sứ giả.
Aṭṭhahi, bhikkhave, asaddhammehi abhibhūto pariyādinnacitto devadatto āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho. Katamehi aṭṭhahi? Lābhena, bhikkhave, abhibhūto pariyādinnacitto devadatto āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho; alābhena, bhikkhave …pe… yasena, bhikkhave …pe… ayasena, bhikkhave …pe… sakkārena, bhikkhave …pe… asakkārena, bhikkhave …pe… pāpicchatāya, bhikkhave …pe… pāpamittatāya bhikkhave, abhibhūto pariyādinnacitto devadatto āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho—imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahi asaddhammehi abhibhūto pariyādinnacitto devadatto āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho.
“It’s because he’s overcome and consumed by eight bad qualities that Devadatta is irredeemably destined to an eon in hell. What eight? Material support, lack of material support, being popular, being unpopular, honor, lack of honor, bad desires, and bad friendship.
348. Này các tỳ khưu, Devadatta bị tám phi pháp này chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, sẽ sanh vào cõi dữ, vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa. Tám pháp ấy là gì? Này các tỳ khưu, Devadatta bị lợi dưỡng chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, sẽ sanh vào cõi dữ, vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa; này các tỳ khưu, bị không lợi dưỡng...; này các tỳ khưu, bị danh vọng...; này các tỳ khưu, bị không danh vọng...; này các tỳ khưu, bị cung kính...; này các tỳ khưu, bị không cung kính...; này các tỳ khưu, bị ác dục...; này các tỳ khưu, bị ác hữu chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, Devadatta sẽ sanh vào cõi dữ, vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa. Này các tỳ khưu, Devadatta bị tám phi pháp này chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, sẽ sanh vào cõi dữ, vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa.
Sādhu, bhikkhave, bhikkhu uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya, uppannaṁ alābhaṁ …pe… uppannaṁ yasaṁ … uppannaṁ ayasaṁ … uppannaṁ sakkāraṁ … uppannaṁ asakkāraṁ … uppannaṁ pāpicchataṁ … uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya, uppannaṁ alābhaṁ …pe… uppannaṁ yasaṁ … uppannaṁ ayasaṁ … uppannaṁ sakkāraṁ … uppannaṁ asakkāraṁ … uppannaṁ pāpicchataṁ … uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya?
Yaṁ hissa, bhikkhave, uppannaṁ lābhaṁ anabhibhuyya viharato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya abhibhuyya viharato evaṁsate āsavā vighātapariḷāhā na honti. Yaṁ hissa, bhikkhave, uppannaṁ alābhaṁ …pe… uppannaṁ yasaṁ … uppannaṁ ayasaṁ … uppannaṁ sakkāraṁ … uppannaṁ asakkāraṁ … uppannaṁ pāpicchataṁ … uppannaṁ pāpamittataṁ anabhibhuyya viharato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya abhibhuyya viharato evaṁsate āsavā vighātapariḷāhā na honti.
Idaṁ kho, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya, uppannaṁ alābhaṁ …pe… uppannaṁ yasaṁ … uppannaṁ ayasaṁ … uppannaṁ sakkāraṁ … uppannaṁ asakkāraṁ … uppannaṁ pāpicchataṁ … uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyya. Tasmātiha, bhikkhave, uppannaṁ lābhaṁ abhibhuyya abhibhuyya viharissāma, uppannaṁ alābhaṁ …pe… uppannaṁ yasaṁ … uppannaṁ ayasaṁ … uppannaṁ sakkāraṁ … uppannaṁ asakkāraṁ … uppannaṁ pāpicchataṁ … uppannaṁ pāpamittataṁ abhibhuyya abhibhuyya viharissāmāti; evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbanti.
It’s good for a monk to overcome whatever material support he’s affected by, whatever lack of material support he’s affected by, whatever popularity he’s affected by, whatever unpopularity he’s affected by, whatever honor he’s affected by, whatever lack of honor he’s affected by, whatever bad desires he’s affected by, and whatever bad friendship he’s affected by.
For what reason should a monk overcome these things?
If he doesn’t overcome whatever material support he’s affected by, he will experience distressful and feverish corruptions. But if he overcomes whatever material support he’s affected by, he won’t have those distressful and feverish corruptions. If he doesn’t overcome whatever lack of material support he’s affected by, whatever popularity he’s affected by, whatever unpopularity he’s affected by, whatever honor he’s affected by, whatever lack of honor he’s affected by, whatever bad desires he’s affected by, or whatever bad friendship he’s affected by, he will experience distressful and feverish corruptions. But if he overcomes whatever bad friendship he’s affected by, he won’t have those distressful and feverish corruptions.
And so, you should overcome whatever material support you’re affected by, whatever lack of material support you’re affected by, whatever popularity you’re affected by, whatever unpopularity you’re affected by, whatever honor you’re affected by, whatever lack of honor you’re affected by, whatever bad desires you’re affected by, and whatever bad friendship you’re affected by. This is how you should train yourselves.
349. Này các tỳ khưu, thật tốt lành thay, vị tỳ khưu hãy sống chế ngự, chế ngự lợi dưỡng đã sanh khởi; chế ngự, chế ngự sự không lợi dưỡng đã sanh khởi... chế ngự, chế ngự danh vọng... chế ngự, chế ngự sự không danh vọng... chế ngự, chế ngự sự cung kính... chế ngự, chế ngự sự không cung kính... chế ngự, chế ngự ác dục... chế ngự, chế ngự ác hữu đã sanh khởi. Và này các tỳ khưu, do duyên vào lợi ích gì mà vị tỳ khưu hãy sống chế ngự, chế ngự lợi dưỡng đã sanh khởi; ... chế ngự, chế ngự ác hữu đã sanh khởi? Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu sống không chế ngự lợi dưỡng đã sanh khởi, các lậu hoặc, phiền não, nhiệt não có thể sanh khởi. Đối với vị tỳ khưu sống chế ngự, chế ngự lợi dưỡng đã sanh khởi, các lậu hoặc, phiền não, nhiệt não ấy không sanh khởi. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu sống không chế ngự sự không lợi dưỡng đã sanh khởi... ác hữu đã sanh khởi, các lậu hoặc, phiền não, nhiệt não có thể sanh khởi. Đối với vị tỳ khưu sống chế ngự, chế ngự ác hữu đã sanh khởi, các lậu hoặc, phiền não, nhiệt não ấy không sanh khởi. Này các tỳ khưu, do duyên vào lợi ích này mà hãy sống chế ngự, chế ngự lợi dưỡng đã sanh khởi; ... chế ngự, chế ngự ác hữu đã sanh khởi. Do vậy, này các tỳ khưu, ở đây, các ngươi phải học tập như sau: ‘Chúng ta sẽ sống chế ngự, chế ngự lợi dưỡng đã sanh khởi; ... chúng ta sẽ sống chế ngự, chế ngự ác hữu đã sanh khởi.’ Này các tỳ khưu, các ngươi phải học tập như vậy.
Tīhi, bhikkhave, asaddhammehi abhibhūto pariyādinnacitto devadatto āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekiccho. Katamehi tīhi? Pāpicchatā, pāpamittatā, oramattakena visesādhigamena antarā vosānaṁ āpādi—imehi kho, bhikkhave, tīhi asaddhammehi abhibhūto pariyādinnacitto devadatto āpāyiko nerayiko kappaṭṭho atekicchoti.
And, monks, it’s because he’s overcome and consumed by three bad qualities that Devadatta is irredeemably destined to an eon in hell. What three? Bad desires; bad friendship; and after trifling successes, he has stopped short of the goal.”
350. Này các tỳ khưu, Devadatta bị ba phi pháp này chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, sẽ sanh vào cõi dữ, vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa. Ba pháp ấy là gì? Ác dục, ác hữu, và đã đi đến chỗ chấm dứt giữa chừng chỉ vì chứng đắc một pháp thù thắng nhỏ nhoi. Này các tỳ khưu, Devadatta bị ba phi pháp này chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, sẽ sanh vào cõi dữ, vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa.
Mā jātu koci lokasmiṁ, pāpiccho udapajjatha; Tadamināpi jānātha, pāpicchānaṁ yathāgati.
“No-one with bad desires Is ever reborn in this world. In this way you may know The destination of those with bad desires.
Mong rằng trong thế gian, không một ai có ác dục khởi lên; qua điều này, hãy biết cảnh giới của những kẻ có ác dục.
Paṇḍitoti samaññāto, bhāvitattoti sammato; Jalaṁva yasasā aṭṭhā, devadattoti me sutaṁ.
Designated as “wise”, Agreed upon as “highly developed”, It was as if he was shining with fame—I have heard Devadatta was like this.
Ta nghe rằng Devadatta, được biết đến là bậc hiền trí, được xem là người đã tu tập, đứng vững với danh vọng rực rỡ.
So pamādaṁ anuciṇṇo, āsajja naṁ tathāgataṁ; Avīcinirayaṁ patto, catudvāraṁ bhayānakaṁ.
He was heedless, And after hurting the Buddha, He’s gone to the Avīci hell, Frightful and with four doors.
Vị ấy đã thực hành sự phóng dật, xúc phạm đến Như Lai, nên đã sa vào địa ngục Avīci, có bốn cửa, thật đáng kinh sợ.
Aduṭṭhassa hi yo dubbhe, pāpakammaṁ akrubbato; Tameva pāpaṁ phusati, duṭṭhacittaṁ anādaraṁ.
If you hurt one free from anger, One who doesn’t do anything bad, You experience that evil yourself, Having a malicious mind and being disrespectful.
Kẻ nào hãm hại người không ác ý, người không làm điều ác, thì điều ác ấy quay trở lại chính kẻ đó, kẻ có tâm ác ý, không tôn trọng.
Samuddaṁ visakumbhena, yo maññeyya padūsituṁ; Na so tena padūseyya, bhesmā hi udadhī mahā.
You might think to pollute The ocean with a pot of poison, But you would not be able to do so, For the ocean is frightfully large.
Kẻ nào nghĩ rằng có thể làm ô uế biển cả bằng một hũ thuốc độc, kẻ ấy không thể làm ô uế được, vì đại dương thật vĩ đại và đáng sợ.
Evameva tathāgataṁ, yo vādenupahiṁsati; Samaggataṁ santacittaṁ, vādo tamhi na rūhati.
It’s the same with the Buddha: If by speech one tries to harm him—He with right conduct and a peaceful mind—That speech doesn’t affect him.
Cũng vậy, kẻ nào dùng lời nói hãm hại Như Lai, người đã đạt đến sự hòa hợp, có tâm tịch tịnh, lời nói ấy không thể chạm đến Ngài.
Tādisaṁ mittaṁ krubbetha, tañca sevetha paṇḍito; Yassa maggānugo bhikkhu, khayaṁ dukkhassa pāpuṇe”ti.
3.2. Upālipañhā
The wise make friends with such a person, And they associate with him. The monk who follows his path, Achieves the end of suffering.”
11. Upāli’s questions
Hãy kết bạn với người như vậy, và người trí hãy thân cận vị ấy; vị tỳ khưu đi theo con đường của vị ấy, có thể đạt đến sự đoạn tận khổ đau.
Atha kho āyasmā upāli yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā upāli bhagavantaṁ etadavoca—“saṅgharāji saṅgharājīti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, saṅgharāji hoti, no ca saṅghabhedo? Kittāvatā ca pana saṅgharāji ceva hoti saṅghabhedo cā”ti?
On one occasion Upāli went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “Sir, we speak of ‘fracture in the Sangha’. But how is there a fracture in the Sangha, yet not a schism in the Sangha? And how is there both a fracture and a schism in the Sangha?”
351. Lúc bấy giờ, tôn giả Upāli đi đến nơi Thế Tôn đang ngự; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, tôn giả Upāli bạch với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, người ta nói: ‘Rạn nứt trong Tăng đoàn, rạn nứt trong Tăng đoàn.’ Bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào thì có sự rạn nứt trong Tăng đoàn, nhưng chưa phải là sự chia rẽ Tăng đoàn? Và cho đến mức độ nào thì vừa có sự rạn nứt trong Tăng đoàn, vừa có sự chia rẽ Tăng đoàn?’
- “Ekato, upāli, eko hoti, ekato dve, catuttho anussāveti, salākaṁ gāheti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Evampi kho, upāli, saṅgharāji hoti, no ca saṅghabhedo.
- Ekato, upāli, dve honti, ekato dve, pañcamo anussāveti, salākaṁ gāheti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Evampi kho, upāli, saṅgharāji hoti, no ca saṅghabhedo.
- Ekato, upāli, dve honti, ekato tayo, chaṭṭho anussāveti, salākaṁ gāheti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Evampi kho, upāli, saṅgharāji hoti, no ca saṅghabhedo.
- Ekato, upāli, tayo honti, ekato tayo, sattamo anussāveti, salākaṁ gāheti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Evampi kho, upāli, saṅgharāji hoti, no ca saṅghabhedo.
- Ekato, upāli, tayo honti, ekato cattāro, aṭṭhamo anussāveti, salākaṁ gāheti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Evampi kho, upāli, saṅgharāji hoti, no ca saṅghabhedo.
- Ekato, upāli, cattāro honti, ekato cattāro, navamo anussāveti, salākaṁ gāheti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Evaṁ kho, upāli, saṅgharāji ceva hoti saṅghabhedo ca.
Navannaṁ vā, upāli, atirekanavannaṁ vā saṅgharāji ceva hoti saṅghabhedo ca.
Na kho, upāli, bhikkhunī saṅghaṁ bhindati, api ca bhedāya parakkamati, na sikkhamānā saṅghaṁ bhindati …pe… na sāmaṇero saṅghaṁ bhindati, na sāmaṇerī saṅghaṁ bhindati, na upāsako saṅghaṁ bhindati, na upāsikā saṅghaṁ bhindati, api ca bhedāya parakkamati.
Bhikkhu kho, upāli, pakatatto, samānasaṁvāsako, samānasīmāyaṁ ṭhito, saṅghaṁ bhindatī”ti.
- “If, Upāli, there is one monk on one side and two on the other, and a fourth makes the proclamation and distributes ballots, saying, ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; take this, approve of this,’ then this is a fracture in the Sangha, but not a schism in the Sangha.
- If there are two monks on one side and two on the other, and a fifth makes the proclamation and distributes ballots, saying, ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; take this, approve of this,’ then this is a fracture in the Sangha, but not a schism in the Sangha.
- If there are two monks on one side and three on the other, and a sixth makes the proclamation and distributes ballots, saying, ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; take this, approve of this,’ then this is a fracture in the Sangha, but not a schism in the Sangha.
- If there are three monks on one side and three on the other, and a seventh makes the proclamation and distributes ballots, saying, ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; take this, approve of this,’ then this is a fracture in the Sangha, but not a schism in the Sangha.
- If there are three monks on one side and four on the other, and an eighth makes the proclamation and distributes ballots, saying, ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; take this, approve of this,’ then this is a fracture in the Sangha, but not a schism in the Sangha.
- But if there are four monks on one side and four on the other, and a ninth makes the proclamation and distributes ballots, saying, ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; take this, approve of this,’ then this is both a fracture in the Sangha and also a schism in the Sangha.
If there are nine or more monks, then this is both a fracture in the Sangha and also a schism in the Sangha.
A nun cannot cause a schism in the Sangha, even if she makes an effort to do so. A trainee nun, a novice monk, a novice nun, a male lay follower, or a female lay follower cannot cause a schism in the Sangha, even if she makes an effort to do so.
Only a monk of regular standing, one who belongs to the same Buddhist sect and is present within the same monastery zone, can cause a schism in the Sangha.”
Này Upāli, một bên có một vị, một bên có hai vị, vị thứ tư tuyên bố, cho lấy thẻ biểu quyết rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư, hãy chấp nhận điều này, hãy tán thành điều này.’ Này Upāli, như vậy chỉ là sự rạn nứt trong Tăng chúng, chứ không phải là sự chia rẽ Tăng chúng. Này Upāli, một bên có hai vị, một bên có hai vị, vị thứ năm tuyên bố, cho lấy thẻ biểu quyết rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư, hãy chấp nhận điều này, hãy tán thành điều này.’ Này Upāli, như vậy chỉ là sự rạn nứt trong Tăng chúng, chứ không phải là sự chia rẽ Tăng chúng. Này Upāli, một bên có hai vị, một bên có ba vị, vị thứ sáu tuyên bố, cho lấy thẻ biểu quyết rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư, hãy chấp nhận điều này, hãy tán thành điều này.’ Này Upāli, như vậy chỉ là sự rạn nứt trong Tăng chúng, chứ không phải là sự chia rẽ Tăng chúng. Này Upāli, một bên có ba vị, một bên có ba vị, vị thứ bảy tuyên bố, cho lấy thẻ biểu quyết rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư, hãy chấp nhận điều này, hãy tán thành điều này.’ Này Upāli, như vậy chỉ là sự rạn nứt trong Tăng chúng, chứ không phải là sự chia rẽ Tăng chúng. Này Upāli, một bên có ba vị, một bên có bốn vị, vị thứ tám tuyên bố, cho lấy thẻ biểu quyết rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư, hãy chấp nhận điều này, hãy tán thành điều này.’ Này Upāli, như vậy chỉ là sự rạn nứt trong Tăng chúng, chứ không phải là sự chia rẽ Tăng chúng. Này Upāli, một bên có bốn vị, một bên có bốn vị, vị thứ chín tuyên bố, cho lấy thẻ biểu quyết rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư, hãy chấp nhận điều này, hãy tán thành điều này.’ Này Upāli, như vậy vừa là sự rạn nứt trong Tăng chúng, vừa là sự chia rẽ Tăng chúng. Này Upāli, đối với chín vị hoặc hơn chín vị thì vừa có sự rạn nứt trong Tăng chúng, vừa có sự chia rẽ Tăng chúng. Này Upāli, vị tỳ khưu ni không làm chia rẽ Tăng chúng, tuy nhiên có thể cố gắng để gây chia rẽ; vị thức-xoa-ma-na không làm chia rẽ Tăng chúng; vị sa-di không làm chia rẽ Tăng chúng; vị sa-di-ni không làm chia rẽ Tăng chúng; nam cận sự không làm chia rẽ Tăng chúng; nữ cận sự không làm chia rẽ Tăng chúng, tuy nhiên có thể cố gắng để gây chia rẽ. Này Upāli, chính vị tỳ khưu có trạng thái bình thường, sống trong sự hòa hợp, đang ở trong cùng một cương giới, mới làm chia rẽ Tăng chúng.”
“Saṅghabhedo saṅghabhedoti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, saṅgho bhinno hotī”ti?
“Sir, we speak of ‘schism in the Sangha’. But how is there a schism in the Sangha?”
352. “Bạch Ngài, được gọi là ‘chia rẽ Tăng chúng, chia rẽ Tăng chúng.’ Bạch Ngài, Tăng chúng được xem là bị chia rẽ đến mức độ nào?”
- “Idhupāli, bhikkhū adhammaṁ dhammoti dīpenti.
- Dhammaṁ adhammoti dīpenti.
- Avinayaṁ vinayoti dīpenti.
- Vinayaṁ avinayoti dīpenti.
- Abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatena bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatenāti dīpenti.
- Bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatena abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatenāti dīpenti.
- Anāciṇṇaṁ tathāgatena āciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpenti.
- Āciṇṇaṁ tathāgatena anāciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpenti.
- Apaññattaṁ tathāgatena paññattaṁ tathāgatenāti dīpenti.
- Paññattaṁ tathāgatena apaññattaṁ tathāgatenāti dīpenti.
- Anāpattiṁ āpattīti dīpenti.
- Āpattiṁ anāpattīti dīpenti.
- Lahukaṁ āpattiṁ garukā āpattīti dīpenti.
- Garukaṁ āpattiṁ lahukā āpattīti dīpenti.
- Sāvasesaṁ āpattiṁ anavasesā āpattīti dīpenti.
- Anavasesaṁ āpattiṁ sāvasesā āpattīti dīpenti.
- Duṭṭhullaṁ āpattiṁ aduṭṭhullā āpattīti dīpenti.
- “Take the case when monks proclaim what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it.
- They proclaim what’s in accordance with the Teaching as contrary to it.
- They proclaim what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it.
- They proclaim what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it.
- They proclaim what hasn’t been spoken by the Buddha as spoken by him.
- They proclaim what’s been spoken by the Buddha as not spoken by him.
- They proclaim what wasn’t practiced by the Buddha as practiced by him.
- They proclaim what was practiced by the Buddha as not practiced by him.
- They proclaim what wasn’t laid down by the Buddha as laid down by him.
- They proclaim what was laid down by the Buddha as not laid down by him.
- They proclaim a non-offense as an offense.
- They proclaim an offense as a non-offense.
- They proclaim a light offense as heavy.
- They proclaim a heavy offense as light.
- They proclaim a curable offense as incurable.
- They proclaim an incurable offense as curable.
- They proclaim a grave offense as minor.
“Này Upāli, ở đây các vị tỳ khưu trình bày điều phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là điều phi Pháp, trình bày điều phi Luật là Luật, trình bày Luật là điều phi Luật, trình bày điều không được Như Lai nói, không được Như Lai tuyên bố là điều được Như Lai nói, được Như Lai tuyên bố; trình bày điều được Như Lai nói, được Như Lai tuyên bố là điều không được Như Lai nói, không được Như Lai tuyên bố; trình bày điều không được Như Lai thực hành là điều được Như Lai thực hành; trình bày điều được Như Lai thực hành là điều không được Như Lai thực hành; trình bày điều không được Như Lai chế định là điều được Như Lai chế định; trình bày điều được Như Lai chế định là điều không được Như Lai chế định; trình bày điều không phải là tội là tội; trình bày tội là điều không phải là tội; trình bày tội nhẹ là tội nặng; trình bày tội nặng là tội nhẹ; trình bày tội có dư tàn là tội không có dư tàn; trình bày tội không có dư tàn là tội có dư tàn; trình bày tội thô lậu là tội không thô lậu; trình bày tội không thô lậu là tội thô lậu. Các vị ấy lôi kéo, chia rẽ bằng mười tám sự việc này, thực hiện lễ Bố-tát riêng, thực hiện lễ Tự tứ riêng, thực hiện các Tăng sự riêng. Này Upāli, Tăng chúng được xem là bị chia rẽ đến mức độ như thế ấy.”
Te imehi aṭṭhārasahi vatthūhi apakassanti, avapakassanti, āveniṁ uposathaṁ karonti, āveniṁ pavāraṇaṁ karonti, āveniṁ saṅghakammaṁ karonti. Ettāvatā kho, upāli, saṅgho bhinno hotī”ti.
“Saṅghasāmaggī saṅghasāmaggīti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, saṅgho samaggo hotī”ti?
- “Idhupāli, bhikkhū adhammaṁ adhammoti dīpenti.
- Dhammaṁ dhammoti dīpenti.
- Avinayaṁ avinayoti dīpenti.
- Vinayaṁ vinayoti dīpenti.
- Abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatena abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatenāti dīpenti.
- Bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatena bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatenāti dīpenti.
- Anāciṇṇaṁ tathāgatena anāciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpenti.
- Āciṇṇaṁ tathāgatena āciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpenti.
- Apaññattaṁ tathāgatena apaññattaṁ tathāgatenāti dīpenti.
- Paññattaṁ tathāgatena paññattaṁ tathāgatenāti dīpenti.
- Anāpattiṁ anāpattīti dīpenti.
- Āpattiṁ āpattīti dīpenti.
- Lahukaṁ āpattiṁ lahukā āpattīti dīpenti.
- Garukaṁ āpattiṁ garukā āpattīti dīpenti.
- Sāvasesaṁ āpattiṁ sāvasesā āpattīti dīpenti.
- Anavasesaṁ āpattiṁ anavasesā āpattīti dīpenti.
- Duṭṭhullaṁ āpattiṁ duṭṭhullā āpattīti dīpenti.
- Aduṭṭhullaṁ āpattiṁ aduṭṭhullā āpattīti dīpenti.
Te imehi aṭṭhārasahi vatthūhi na apakassanti, na avapakassanti, na āveniṁ uposathaṁ karonti, na āveniṁ pavāraṇaṁ karonti, na āveniṁ saṅghakammaṁ karonti. Ettāvatā kho, upāli, saṅgho samaggo hotī”ti.
If, based on any of these eighteen grounds, they pull away and separate, and they do the observance-day ceremony, the invitation ceremony, or legal procedures of the Sangha separately, then there is a schism in the Sangha.”
“Sir, we speak of ‘unity in the Sangha’. But how is there unity in the Sangha?”
- “Take the case when monks proclaim what’s contrary to the Teaching as such.
- They proclaim what’s in accordance with the Teaching as such.
- They proclaim what’s contrary to the Monastic Law as such.
- They proclaim what’s in accordance with the Monastic Law as such.
- They proclaim what hasn’t been spoken by the Buddha as such.
- They proclaim what’s been spoken by the Buddha as such.
- They proclaim what wasn’t practiced by the Buddha as such.
- They proclaim what was practiced by the Buddha as such.
- They proclaim what wasn’t laid down by the Buddha as such.
- They proclaim what was laid down by the Buddha as such.
- They proclaim a non-offense as such.
- They proclaim an offense as such.
- They proclaim a light offense as light.
- They proclaim a heavy offense as heavy.
- They proclaim a curable offense as curable.
- They proclaim an incurable offense as incurable.
- They proclaim a grave offense as grave.
- They proclaim a minor offense as minor.
If, based on any of these eighteen grounds, they don’t pull away or separate, and they don’t do the observance-day ceremony, the invitation ceremony, or legal procedures of the Sangha separately, then there is unity in the Sangha.”
353. “Bạch Ngài, được gọi là ‘hòa hợp Tăng chúng, hòa hợp Tăng chúng.’ Bạch Ngài, Tăng chúng được xem là hòa hợp đến mức độ nào?” “Này Upāli, ở đây các vị tỳ khưu trình bày điều phi Pháp là điều phi Pháp, trình bày Pháp là Pháp, trình bày điều phi Luật là điều phi Luật, trình bày Luật là Luật, trình bày điều không được Như Lai nói, không được Như Lai tuyên bố là điều không được Như Lai nói, không được Như Lai tuyên bố; trình bày điều được Như Lai nói, được Như Lai tuyên bố là điều được Như Lai nói, được Như Lai tuyên bố; trình bày điều không được Như Lai thực hành là điều không được Như Lai thực hành; trình bày điều được Như Lai thực hành là điều được Như Lai thực hành; trình bày điều không được Như Lai chế định là điều không được Như Lai chế định; trình bày điều được Như Lai chế định là điều được Như Lai chế định; trình bày điều không phải là tội là điều không phải là tội; trình bày tội là tội; trình bày tội nhẹ là tội nhẹ; trình bày tội nặng là tội nặng; trình bày tội có dư tàn là tội có dư tàn; trình bày tội không có dư tàn là tội không có dư tàn; trình bày tội thô lậu là tội thô lậu; trình bày tội không thô lậu là tội không thô lậu. Các vị ấy không lôi kéo, không chia rẽ bằng mười tám sự việc này, không thực hiện lễ Bố-tát riêng, không thực hiện lễ Tự tứ riêng, không thực hiện các Tăng sự riêng. Này Upāli, Tăng chúng được xem là hòa hợp đến mức độ như thế ấy.”
“Samaggaṁ pana, bhante, saṅghaṁ bhinditvā kiṁ so pasavatī”ti?
“Samaggaṁ kho, upāli, saṅghaṁ bhinditvā kappaṭṭhikaṁ kibbisaṁ pasavati, kappaṁ nirayamhi paccatīti.
“But, sir, what’s the consequence of causing a schism in a united Sangha?”
“Anyone who causes a schism in a united Sangha does an evil act with effect for an eon. He’s boiled in hell for an eon.”
354. – Bạch ngài, sau khi phá vỡ Tăng chúng hòa hợp, người ấy tạo ra điều gì? – Này Upāli, sau khi phá vỡ Tăng chúng hòa hợp, người ấy tạo ra điều ác tồn tại suốt một kiếp, bị nấu trong địa ngục suốt một kiếp.
Āpāyiko nerayiko, Kappaṭṭho saṅghabhedako; Vaggarato adhammaṭṭho, Yogakkhemā padhaṁsati; Saṅghaṁ samaggaṁ bhinditvā, Kappaṁ nirayamhi paccatī”ti.
“Going downwards, bound for hell—The schismatic stays there for an eon. Delighting in division and immoral, Barred from sanctuary, Having divided a united Sangha, He boils in hell for an eon.”
“Kẻ phá hoại Tăng chúng, sanh vào cõi dữ, sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp; người ưa thích bè phái, an trú trong phi pháp, bị rơi khỏi sự an ổn khỏi các ách phược. Sau khi phá vỡ Tăng chúng hòa hợp, người ấy bị nấu trong địa ngục suốt một kiếp.”
“Bhinnaṁ pana, bhante, saṅghaṁ samaggaṁ katvā kiṁ so pasavatī”ti?
“Bhinnaṁ kho, upāli, saṅghaṁ samaggaṁ katvā brahmaṁ puññaṁ pasavati, kappaṁ saggamhi modatīti.
“But, sir, what’s the consequence of uniting a schismatic sangha?”
“Anyone who unites a schismatic sangha generates supreme merit. He rejoices in heaven for an eon.”
– Bạch ngài, sau khi làm cho Tăng chúng bị chia rẽ trở nên hòa hợp, người ấy tạo ra điều gì? – Này Upāli, sau khi làm cho Tăng chúng bị chia rẽ trở nên hòa hợp, người ấy tạo ra phước báu cao thượng, được hoan hỷ ở cõi trời suốt một kiếp.
Sukhā saṅghassa sāmaggī, samaggānañca anuggaho; Samaggarato dhammaṭṭho, yogakkhemā na dhaṁsati; Saṅghaṁ samaggaṁ katvāna, kappaṁ saggamhi modatī”ti.
“Pleasant is unity in the Sangha, And to help the fostering of harmony. Delighting in unity and moral, Not barred from sanctuary, Having united the Sangha, He rejoices in heaven for an eon.”
“Sự hòa hợp của Tăng chúng là an lạc, và sự nâng đỡ những vị hòa hợp (cũng là an lạc). Người ưa thích sự hòa hợp, an trú trong Chánh pháp, không bị rơi khỏi sự an ổn khỏi các ách phược. Sau khi làm cho Tăng chúng trở nên hòa hợp, người ấy được hoan hỷ ở cõi trời suốt một kiếp.”
“Siyā nu kho, bhante, saṅghabhedako āpāyiko, nerayiko, kappaṭṭho, atekiccho”ti?
“Siyā, upāli, saṅghabhedako āpāyiko, nerayiko, kappaṭṭho, atekiccho”ti.
“Might one who causes a schism in the Sangha be irredeemably destined to an eon in hell?”
“He might.”
355. – Bạch ngài, có phải kẻ phá hoại Tăng chúng là người sanh vào cõi dữ, sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được không? – Này Upāli, kẻ phá hoại Tăng chúng là người sanh vào cõi dữ, sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được.
“Siyā pana, bhante, saṅghabhedako na āpāyiko, na nerayiko, na kappaṭṭho, na atekiccho”ti?
“Siyā, upāli, saṅghabhedako na āpāyiko, na nerayiko, na kappaṭṭho, na atekiccho”ti.
“Might one who causes a schism in the Sangha not be irredeemably destined to an eon in hell?”
“He might.”
Schismatics destined to hell
– Bạch ngài, lại nữa, có phải kẻ phá hoại Tăng chúng là người không sanh vào cõi dữ, không sanh vào địa ngục, không tồn tại suốt một kiếp, có thể cứu chữa được không? – Này Upāli, kẻ phá hoại Tăng chúng là người không sanh vào cõi dữ, không sanh vào địa ngục, không tồn tại suốt một kiếp, có thể cứu chữa được.
“Katamo pana, bhante, saṅghabhedako āpāyiko, nerayiko, kappaṭṭho, atekiccho”ti?
“Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti. Tasmiṁ adhammadiṭṭhi, bhede adhammadiṭṭhi, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ, anussāveti, salākaṁ gāheti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Ayampi kho, upāli, saṅghabhedako āpāyiko, nerayiko, kappaṭṭho, atekiccho.
“What sort of person who causes a schism in the Sangha is irredeemably destined to an eon in hell?”
“In this case a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it. He has the view that what he says is illegitimate and the view that the schism is illegitimate. He misrepresents his view of what’s true, his belief of what’s true, his acceptance of what’s true, or his sentiment of what’s true. He makes a proclamation and distributes ballots, saying, ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; take this, approve of this.’ When such a person causes a schism in the Sangha, he’s irredeemably destined to an eon in hell.
– Bạch ngài, vậy kẻ phá hoại Tăng chúng nào là người sanh vào cõi dữ, sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được? – Này Upāli, ở đây có vị tỳ khưu trình bày phi pháp là Chánh pháp. Về điều ấy, vị ấy có tà kiến, trong sự chia rẽ vị ấy có tà kiến, sau khi an lập tà kiến, sau khi an lập sự kham nhẫn, sau khi an lập sở thích, sau khi an lập bản chất, vị ấy cho loan truyền, cho nhận thẻ biểu quyết rằng: ‘Đây là Chánh pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư. Hãy chấp nhận điều này, hãy ưa thích điều này.’ Này Upāli, kẻ phá hoại Tăng chúng này là người sanh vào cõi dữ, sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được.
Puna caparaṁ, upāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti. Tasmiṁ adhammadiṭṭhi, bhede dhammadiṭṭhi, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ, anussāveti, salākaṁ gāheti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Ayampi kho, upāli, saṅghabhedako āpāyiko, nerayiko, kappaṭṭho, atekiccho.
Again, a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it. He has the view that what he says is illegitimate, but the view that the schism is legitimate. He misrepresents his view of what’s true, his belief of what’s true, his acceptance of what’s true, or his sentiment of what’s true. He makes a proclamation and distributes ballots, saying, ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; take this, approve of this.’ When such a person causes a schism in the Sangha, he too is irredeemably destined to an eon in hell.
– Lại nữa, này Upāli, có vị tỳ khưu trình bày phi pháp là Chánh pháp. Về điều ấy, vị ấy có tà kiến, trong sự chia rẽ vị ấy có chánh kiến, sau khi an lập tà kiến, sau khi an lập sự kham nhẫn, sau khi an lập sở thích, sau khi an lập bản chất, vị ấy cho loan truyền, cho nhận thẻ biểu quyết rằng: ‘Đây là Chánh pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư. Hãy chấp nhận điều này, hãy ưa thích điều này.’ Này Upāli, kẻ phá hoại Tăng chúng này cũng là người sanh vào cõi dữ, sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được.
Puna caparaṁ, upāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti. Tasmiṁ adhammadiṭṭhi, bhede vematiko, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ, anussāveti, salākaṁ gāheti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Ayampi kho, upāli, saṅghabhedako āpāyiko, nerayiko, kappaṭṭho, atekiccho.
Again, a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it. He has the view that what he says is illegitimate, but is unsure about the schism. He misrepresents his view of what’s true, his belief of what’s true, his acceptance of what’s true, or his sentiment of what’s true. He makes a proclamation and distributes ballots, saying, ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; take this, approve of this.’ When such a person causes a schism in the Sangha, he too is irredeemably destined to an eon in hell.
– Lại nữa, này Upāli, có vị tỳ khưu trình bày phi pháp là Chánh pháp. Về điều ấy, vị ấy có tà kiến, trong sự chia rẽ vị ấy có sự hoài nghi, sau khi an lập tà kiến, sau khi an lập sự kham nhẫn, sau khi an lập sở thích, sau khi an lập bản chất, vị ấy cho loan truyền, cho nhận thẻ biểu quyết rằng: ‘Đây là Chánh pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư. Hãy chấp nhận điều này, hãy ưa thích điều này.’ Này Upāli, kẻ phá hoại Tăng chúng này cũng là người sanh vào cõi dữ, sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được.
Puna caparaṁ, upāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti. Tasmiṁ dhammadiṭṭhi, bhede adhammadiṭṭhi …pe… tasmiṁ dhammadiṭṭhi bhede dhammadiṭṭhi. Tasmiṁ dhammadiṭṭhi bhede vematiko. Tasmiṁ vematiko bhede adhammadiṭṭhi. Tasmiṁ vematiko bhede dhammadiṭṭhi. Tasmiṁ vematiko bhede vematiko vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ, anussāveti, salākaṁ gāheti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Ayampi kho, upāli, saṅghabhedako āpāyiko, nerayiko, kappaṭṭho, atekiccho.
Again, a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it. He has the view that what he says is legitimate, but the view that the schism is illegitimate … He has the view that what he says is legitimate, but is unsure about the schism … He is unsure about what he says, but has the view that the schism is illegitimate … He is unsure about what he says, but has the view that the schism is legitimate … He is unsure about what he says and is unsure about the schism. He misrepresents his view of what’s true, his belief of what’s true, his acceptance of what’s true, or his sentiment of what’s true. He makes a proclamation and distributes ballots, saying, ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; take this, approve of this.’ When such a person causes a schism in the Sangha, he too is irredeemably destined to an eon in hell.
– Lại nữa, này Upāli, có vị tỳ khưu trình bày phi pháp là Chánh pháp. Về điều ấy, vị ấy có chánh kiến, trong sự chia rẽ vị ấy có tà kiến... cho đến... (về điều ấy, vị ấy có chánh kiến, trong sự chia rẽ vị ấy có chánh kiến). Về điều ấy, vị ấy có chánh kiến, trong sự chia rẽ vị ấy có sự hoài nghi. Về điều ấy, vị ấy có sự hoài nghi, trong sự chia rẽ vị ấy có tà kiến. Về điều ấy, vị ấy có sự hoài nghi, trong sự chia rẽ vị ấy có chánh kiến. Về điều ấy, vị ấy có sự hoài nghi, trong sự chia rẽ vị ấy có sự hoài nghi, sau khi an lập tà kiến, sau khi an lập sự kham nhẫn, sau khi an lập sở thích, sau khi an lập bản chất, vị ấy cho loan truyền, cho nhận thẻ biểu quyết rằng: ‘Đây là Chánh pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư. Hãy chấp nhận điều này, hãy ưa thích điều này.’ Này Upāli, kẻ phá hoại Tăng chúng này cũng là người sanh vào cõi dữ, sanh vào địa ngục, tồn tại suốt một kiếp, không thể cứu chữa được.
Puna caparaṁ, upāli, bhikkhu dhammaṁ adhammoti dīpeti …pe… avinayaṁ vinayoti dīpeti … vinayaṁ avinayoti dīpeti … abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatena bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatenāti dīpeti … bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatena abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatenāti dīpeti … anāciṇṇaṁ tathāgatena āciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpeti … āciṇṇaṁ tathāgatena anāciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpeti … apaññattaṁ tathāgatena paññattaṁ tathāgatenāti dīpeti … paññattaṁ tathāgatena apaññattaṁ tathāgatenāti dīpeti … anāpattiṁ āpattīti dīpeti … āpattiṁ anāpattīti dīpeti … lahukaṁ āpattiṁ garukā āpattīti dīpeti … garukaṁ āpattiṁ lahukā āpattīti dīpeti … sāvasesaṁ āpattiṁ anavasesā āpattīti dīpeti … anavasesaṁ āpattiṁ sāvasesā āpattīti dīpeti … duṭṭhullaṁ āpattiṁ aduṭṭhullā āpattīti dīpeti … aduṭṭhullaṁ āpattiṁ duṭṭhullā āpattīti dīpeti … tasmiṁ adhammadiṭṭhi, bhede adhammadiṭṭhi …pe… tasmiṁ adhammadiṭṭhi, bhede dhammadiṭṭhi … tasmiṁ adhammadiṭṭhi, bhede vematiko … tasmiṁ dhammadiṭṭhi, bhede adhammadiṭṭhi … tasmiṁ dhammadiṭṭhi, bhede dhammadiṭṭhi … tasmiṁ dhammadiṭṭhi, bhede vematiko … tasmiṁ vematiko, bhede adhammadiṭṭhi … tasmiṁ vematiko, bhede dhammadiṭṭhi … tasmiṁ vematiko, bhede vematiko, vinidhāya diṭṭhiṁ, vinidhāya khantiṁ, vinidhāya ruciṁ, vinidhāya bhāvaṁ, anussāveti, salākaṁ gāheti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Ayampi kho, upāli, saṅghabhedako āpāyiko, nerayiko, kappaṭṭho, atekiccho”ti.
Again, a monk proclaims what’s in accordance with the Teaching as contrary to it, what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it, what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it, what hasn’t been spoken by the Buddha as spoken by him, what’s been spoken by the Buddha as not spoken by him, what wasn’t practiced by the Buddha as practiced by him, what was practiced by the Buddha as not practiced by him, what wasn’t laid down by the Buddha as laid down by him, what was laid down by the Buddha as not laid down by him, a non-offense as an offense, an offense as a non-offense, a light offense as heavy, a heavy offense as light, a curable offense as incurable, an incurable offense as curable, a grave offense as minor, or a minor offense as grave. He has the view that what he says is illegitimate and the view that the schism is illegitimate. … He has the view that what he says is illegitimate, but the view that the schism is legitimate. … He has the view that what he says is illegitimate, but is unsure about the schism. … He has the view that what he says is legitimate, but the view that the schism is illegitimate. … He has the view that what he says is legitimate, but is unsure about the schism. … He is unsure about what he says, but has the view that the schism is illegitimate. … He is unsure about what he says, but has the view that the schism is legitimate. … He is unsure about what he says and unsure about the schism. He misrepresents his view of what’s true, his belief of what’s true, his acceptance of what’s true, or his sentiment of what’s true. He makes a proclamation and distributes ballots, saying, ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; take this, approve of this.’ When such a person causes a schism in the Sangha, he too is irredeemably destined to an eon in hell.”
Schismatics not destined to hell
Này Upāli, lại nữa, vị tỳ-khưu trình bày phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp... trình bày phi Luật là Luật, trình bày Luật là phi Luật... trình bày điều không được Như Lai nói, không được Như Lai tuyên bố là điều được Như Lai nói, được Như Lai tuyên bố... trình bày điều được Như Lai nói, được Như Lai tuyên bố là điều không được Như Lai nói, không được Như Lai tuyên bố... trình bày điều không được Như Lai thực hành là điều được Như Lai thực hành... trình bày điều được Như Lai thực hành là điều không được Như Lai thực hành... trình bày điều không được Như Lai chế định là điều được Như Lai chế định... trình bày điều được Như Lai chế định là điều không được Như Lai chế định... trình bày sự không phạm tội là sự phạm tội, trình bày sự phạm tội là sự không phạm tội... trình bày tội nhẹ là tội nặng, trình bày tội nặng là tội nhẹ... trình bày tội còn dư tàn là tội không còn dư tàn, trình bày tội không còn dư tàn là tội còn dư tàn... trình bày tội thô lậu là tội không thô lậu, trình bày tội không thô lậu là tội thô lậu... vị ấy có ý kiến là phi Pháp về việc đó, có ý kiến là phi Pháp về sự chia rẽ... vị ấy có ý kiến là phi Pháp về việc đó, có ý kiến là Pháp về sự chia rẽ... vị ấy có ý kiến là phi Pháp về việc đó, có sự phân vân về sự chia rẽ... vị ấy có ý kiến là Pháp về việc đó, có ý kiến là phi Pháp về sự chia rẽ... (vị ấy có ý kiến là Pháp về việc đó, có ý kiến là Pháp về sự chia rẽ)... vị ấy có ý kiến là Pháp về việc đó, có sự phân vân về sự chia rẽ... vị ấy có sự phân vân về việc đó, có ý kiến là phi Pháp về sự chia rẽ... vị ấy có sự phân vân về việc đó, có ý kiến là Pháp về sự chia rẽ... vị ấy có sự phân vân về việc đó, có sự phân vân về sự chia rẽ; vị ấy thay đổi quan điểm, thay đổi sự chấp thuận, thay đổi sở thích, thay đổi ý định, rồi thông báo, cho nhận thăm biểu quyết rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư. Hãy tiếp nhận điều này, hãy ưa thích điều này.’ Này Upāli, kẻ gây chia rẽ Tăng này cũng bị đọa lạc vào khổ cảnh, địa ngục, ở lại suốt một kiếp, và không thể cứu chữa.
“Katamo pana, bhante, saṅghabhedako na āpāyiko, na nerayiko, na kappaṭṭho, na atekiccho”ti?
“Idhupāli, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti. Tasmiṁ dhammadiṭṭhi, bhede dhammadiṭṭhi, avinidhāya diṭṭhiṁ, avinidhāya khantiṁ, avinidhāya ruciṁ, avinidhāya bhāvaṁ, anussāveti, salākaṁ gāheti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Ayampi kho, upāli, saṅghabhedako na āpāyiko, na nerayiko, na kappaṭṭho, na atekiccho.
“What sort of person who causes a schism in the Sangha isn’t irredeemably destined to an eon in hell?”
“In this case a monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it. He has the view that what he says is legitimate and the view that the schism is legitimate. He doesn’t misrepresent his view of what’s true, his belief of what’s true, his acceptance of what’s true, or his sentiment of what’s true. He makes a proclamation and distributes ballots, saying, ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; take this, approve of this.’ When such a person causes a schism in the Sangha, he’s not irredeemably destined to an eon in hell.
‘Bạch ngài, kẻ gây chia rẽ Tăng chúng nào không bị sanh vào cõi khổ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại đến hết kiếp, và không phải là không thể cứu chữa?’ ‘Này Upāli, ở đây, vị tỳ khưu trình bày phi Pháp là Pháp. Vị ấy có chánh kiến về Pháp ấy, có chánh kiến về sự chia rẽ, không sắp đặt quan điểm, không sắp đặt sự kham nhẫn, không sắp đặt sở thích, không sắp đặt bản chất, rồi cho loan truyền, cho nhận thẻ biểu quyết rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư. Hãy tiếp nhận điều này, hãy ưa thích điều này.’ Này Upāli, kẻ gây chia rẽ Tăng chúng này không bị sanh vào cõi khổ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại đến hết kiếp, và không phải là không thể cứu chữa.
Puna caparaṁ, upāli, bhikkhu dhammaṁ adhammoti dīpeti …pe… duṭṭhullaṁ āpattiṁ aduṭṭhullā āpattīti dīpeti. Tasmiṁ dhammadiṭṭhi, bhede dhammadiṭṭhi, avinidhāya diṭṭhiṁ, avinidhāya khantiṁ, avinidhāya ruciṁ, avinidhāya bhāvaṁ, anussāveti, salākaṁ gāheti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Ayampi kho, upāli, saṅghabhedako na āpāyiko, na nerayiko, na kappaṭṭho, na atekiccho”ti.
Again, a monk proclaims what’s in accordance with the Teaching as contrary to it … or a minor offense as grave. He has the view that what he says is legitimate and the view that the schism is legitimate. He doesn’t misrepresent his view of what’s true, his belief of what’s true, his acceptance of what’s true, or his sentiment of what’s true. He makes a proclamation and distributes ballots, saying, ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; take this, approve of this.’ When such a person causes a schism in the Sangha, he too isn’t irredeemably destined to an eon in hell.”
Này Upāli, lại nữa, vị tỳ khưu trình bày Pháp là phi Pháp… (lược)… trình bày tội thô lậu là tội không thô lậu. Vị ấy có chánh kiến về Pháp ấy, có chánh kiến về sự chia rẽ, không sắp đặt quan điểm, không sắp đặt sự kham nhẫn, không sắp đặt sở thích, không sắp đặt bản chất, rồi cho loan truyền, cho nhận thẻ biểu quyết rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư. Hãy tiếp nhận điều này, hãy ưa thích điều này.’ Này Upāli, kẻ gây chia rẽ Tăng chúng này cũng không bị sanh vào cõi khổ, không bị sanh vào địa ngục, không tồn tại đến hết kiếp, và không phải là không thể cứu chữa.
Tatiyabhāṇavāro niṭṭhito.
The third section for recitation is finished.
Phẩm Tụng Thứ Ba đã chấm dứt.
Saṅghabhedakakkhandhako sattamo.
Tassuddānaṁ
The seventh chapter on schism in the Sangha is finished.
This is the summary:
Chương Phá Hoà Hợp Tăng, thứ bảy.
Anupiye abhiññātā, sukhumālo na icchati; Kasā vapā abhi ninne, niddhā lāve ca ubbahe.
“At Anupiya, well-known, Great comfort, did not wish; Plow, sow, irrigate, drain, Weed, and cut, gather.
Tại Anupiya, những người nổi tiếng, người lịch sự không muốn; cày, gieo, dẫn nước vào, làm cỏ, gặt, và mang đi.
Puñjamaddapalālañca, bhusaophuṇanīhare; Āyatimpi na khīyanti, pitaro ca pitāmahā.
Sheaves, thresh, and straw, Husk, winnow, storage; Also the future, they never stop, And fathers, grandfathers.
Chất đống, đập lúa, và rơm rạ, sàng sảy trấu và mang đi; trong tương lai cũng không hết được, các người cha và các người ông.
Bhaddiyo anuruddho ca, ānando bhagu kimilo; Sakyamāno ca kosambiṁ, parihāyi kakudhena ca.
Bhaddiya, and Anuruddha, Ānanda, Bhagu, Kimila; And Sakyan pride, Kosambī, Disappeared, and with Kakudha.
Bhaddiya và Anuruddha, Ānanda, Bhagu, Kimila; lòng kiêu mạn của dòng Sākya và tại Kosambī, sự suy thoái và bởi Kakudha.
Pakāsesi pituno ca, purise silaṁ nāḷāgiriṁ; Tikapañcagaruko kho, bhindi thullaccayena ca; Tayo aṭṭha puna tīṇi, rāji bhedā siyā nu khoti.
He announced, and of the father, Men, stone, Nāḷāgiri; A triad, five, serious, He split, and with a serious offense; Three, eight, again, three, Fracture, schism, might there be.”
Đã tuyên bố, và của người cha, các người đàn ông, cung tên, Nāḷāgiri; ba, năm, nặng nề, đã gây chia rẽ và bởi tội thullaccaya; ba, tám, lại ba, đường rạn nứt, sự chia rẽ, liệu có thể chăng.
Saṅghabhedakakkhandhako niṭṭhito.
The chapter on schism in the Sangha is finished.
Chương Phá Hoà Hợp Tăng đã chấm dứt.