- Theravāda Vinayapiṭaka
- Cūḷavagga
Bản dịch
Kd 16 — Chương sàng tọa
16. Senāsanakkhandhaka
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, chỗ trú ngụ chưa được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu. Và các tỳ khưu ấy cư ngụ ở nơi này nơi khác, ở trong rừng rậm, ở gốc cây, nơi sườn núi, nơi thung lũng, trong hang núi, nơi bãi tha ma, trong khu rừng thưa, nơi đồng trống, ở đống rơm. Các vị ấy, vào lúc sáng sớm, đã đi ra từ nơi này nơi khác, từ trong rừng rậm, từ gốc cây, từ sườn núi, từ thung lũng, từ trong hang núi, từ bãi tha ma, từ khu rừng thưa, từ đồng trống, từ đống rơm với nét tươi tỉnh khi đi tới đi lui, khi nhìn qua nhìn lại, khi co duỗi (tay chân), với đôi mắt nhìn xuống, được thành tựu về các oai nghi.
Inda-bh 2~2Vào lúc bấy giờ, có nhà đại phú ở thành Rājagaha đã đi đến công viên vào lúc sáng sớm. Nhà đại phú thành Rājagaha đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy vào lúc sáng sớm đang đi ra từ nơi này nơi khác, từ trong rừng rậm, từ gốc cây, từ sườn núi, từ thung lũng, từ trong hang núi, từ bãi tha ma, từ khu rừng thưa, từ đồng trống, từ đống rơm với nét tươi tỉnh khi đi tới đi lui, khi nhìn qua nhìn lại, khi co duỗi (tay chân), với đôi mắt nhìn xuống, được thành tựu về các oai nghi. Sau khi nhìn thấy, tâm của vị ấy đã ngưỡng mộ. Khi ấy, nhà đại phú thành Rājagaha đã đi đến gặp các vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này:—“Thưa các ngài, nếu tôi có thể cho xây dựng các trú xá, các ngài có thể cư ngụ trong các trú xá của tôi không?”
Inda-bh 3~3—“Này gia chủ, các trú xá chưa được đức Thế tôn cho phép.”—“Thưa các ngài, chính vì điều ấy các ngài có thể hỏi đức Thế Tôn rồi báo cho tôi hay.”
—“Này gia chủ, đúng vậy.” Rồi các vị tỳ khưu ấy nghe theo nhà đại phú thành Rājagaha đã đi đến gặp đức Thế tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, các vị tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, nhà đại phú ở thành Rājagaha có ý muốn cho xây dựng các trú xá. Bạch ngài, vậy nên được thực hành như thế nào?” Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép năm loại chỗ trú ngụ là trú xá, nhà một mái, tòa nhà dài, khu nhà lớn, hang động.”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã đi đến gặp nhà đại phú thành Rājagaha, sau khi đến đã nói với nhà đại phú thành Rājagaha điều này:—“Này gia chủ, các trú xá đã được đức Thế Tôn cho phép, giờ đây gia chủ hãy biết về thời điểm của việc ấy.” Sau đó, nhà đại phú thành Rājagaha đã cho dựng lên sáu mươi trú xá chỉ trong một ngày.
Inda-bh 4~4Sau đó, khi đã hoàn tất sáu mươi trú xá ấy, nhà đại phú thành Rājagaha đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, nhà đại phú thành Rājagaha đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn cùng với hội chúng tỳ khưu nhận lời bữa trai phạn của tôi vào ngày mai.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, nhà đại phú thành Rājagaha hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Sau đó, khi trải qua đêm ấy nhà đại phú thành Rājagaha đã bảo chuẩn bị thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm rồi cho thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn:—“Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.” Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, và đi đến tư gia của nhà đại phú thành Rājagaha, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt cùng với hội chúng tỳ khưu. Sau đó, nhà đại phú thành Rājagaha đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, nhà đại phú thành Rājagaha đã ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, nhà đại phú thành Rājagaha đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, sáu mươi trú xá này đã được tôi cho xây dựng vì mục đích phước báu, vì mục đích cõi trời. Bạch ngài, tôi nên thực hành như thế nào về những trú xá này?”
—“Này gia chủ, chính vì điều ấy ngươi hãy cho thiết lập sáu mươi trú xá ấy dành cho hội chúng bốn phương hiện tại và vị lai.”190
—“Bạch ngài, xin vâng.” Rồi nhà đại phú thành Rājagaha nghe theo đức Thế Tôn đã thiết lập sáu mươi trú xá ấy dành cho hội chúng bốn phương hiện tại và vị lai.
Inda-bh 5~5Sau đó, đức Thế Tôn đã nói lời tùy hỷ với nhà đại phú thành Rājagaha bằng những lời kệ này:
“Trú xá ngăn ngừa sự nóng, sự lạnh, và hơn thế nữa các loài thú dữ, các loài rắn, và các muỗi mòng, và luôn cả luôn các cơn mưa lạnh.
Từ nơi ấy, cơn gió nóng dữ dội đã sanh lên bị dội lại. Với mục đích về sự nương náu, với mục đích về sự an lạc, để thiền định, và để hành minh sát.
Sự bố thí trú xá đến hội chúng đã được đức Phật ngợi khen là tối thắng. Vì thế người sáng trí, trong khi nhìn thấy lợi ích cho mình ...
... nên cho xây dựng trú xá đẹp, nên thỉnh các bậc nghe nhiều (học rộng) ngụ tại nơi ấy. (Nên cúng dường) cơm, nước, vải vóc, và chỗ nằm ngồi đến các vị ấy.
Với tâm ý trong sạch, nên cúng dường ở các bậc có bản chất ngay thẳng. Các vị ấy thuyết Pháp đến người (thí chủ) ấy, là Pháp có sự xua tan tất cả khổ đau. Sau khi biết được Pháp ấy, người (thí chủ) ấy trong đời này chứng ngộ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
Sau đó, khi đã nói lời tùy hỷ đến nhà đại phú thành Rājagaha bằng những lời kệ ấy, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Inda-bh 6~6Dân chúng đã nghe rằng: “Nghe nói các trú xá đã được đức Thế Tôn cho phép” rồi cho xây dựng các trú xá một cách tươm tất. Các trú xá ấy không có cửa nên các con rắn, các con bọ cạp, và các con rết bò vào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (làm) cánh cửa.”
Sau khi đục lỗ ở tường, họ đã buộc cánh cửa bằng dây leo và dây thừng. Các con chuột và các con mối đã gặm nhấm (dây buộc). Các cánh cửa có dây buộc đã bị gặm nhấm rơi xuống. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (làm) trụ cửa, rãnh xoay, và chốt xoay.”
Các cánh cửa không được sát vào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (làm) dây thừng để luồn qua.”
Các cánh cửa không được đóng kín. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (làm) tay nắm, chốt gài, đinh khóa chốt, chốt cửa.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu không thể khóa cửa được. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (làm) lỗ khóa. Có ba loại khóa: khóa bằng đồng, khóa bằng gỗ, khóa bằng sừng.”
(Khi) các vị tháo chốt và đi vào trong, các trú xá không được an toàn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (làm) then cài, đinh khóa chốt.”
Inda-bh 7~7Vào lúc bấy giờ, các trú xá có mái lợp cỏ nên lạnh lẽo vào mùa lạnh, nóng nực vào mùa nóng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép che kín mái rồi trét vữa bên trên và bên dưới.”
Inda-bh 8~8Vào lúc bấy giờ, các trú xá không có cửa sổ nên không tốt cho mắt và có mùi hôi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ba loại cửa sổ: cửa sổ chấn song ngang, cửa sổ gắn lưới, cửa sổ chấn song dọc.”
Các con sóc và dơi đi vào do các khe hở ở cửa sổ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (làm) màn che cửa sổ.”
Các con sóc và dơi đi vào do các khe hở của màn che. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (làm) cánh cửa sổ, tấm chắn cửa sổ.”
Inda-bh 9~9Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nằm ở nền đất. Các phần thân thể và các y bị dơ bẩn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) thảm trải bằng cỏ.”
Thảm trải bằng cỏ bị các con chuột và mối ăn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) giường đúc.”
Nằm trên giường đúc, cơ thể bị ê ẩm. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) giường vạt tre.”
Inda-bh 10~10Vào lúc bấy giờ, giường lắp ráp dùng để khiêng xác chết được phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) giường lắp ráp.”
Ghế lắp ráp được phát sanh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ghế lắp ráp.”
Vào lúc bấy giờ, giường xếp dùng để khiêng xác chết được phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) giường xếp.”
Ghế xếp được phát sanh. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ghế xếp.”
Vào lúc bấy giờ, giường có chân đẽo cong dùng để khiêng xác chết được phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) giường có chân đẽo cong.”
Ghế có chân đẽo cong được phát sanh. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ghế có chân đẽo cong.”
Vào lúc bấy giờ, giường có chân tháo rời được dùng để khiêng xác chết được phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) giường có chân tháo rời được.”
Ghế có chân tháo rời được phát sanh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ghế có chân tháo rời được.”
Inda-bh 11~11Vào lúc bấy giờ, ghế gỗ vuông được phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ghế gỗ vuông.”
Ghế gỗ vuông loại cao được phát sanh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) luôn cả ghế vuông loại cao.”
Ghế dựa dài được phát sanh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ghế dựa dài.”
Ghế dựa dài loại cao được phát sanh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) luôn cả ghế dựa dài loại cao.”
Ghế làm bằng các thanh ráp lại được phát sanh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ghế làm bằng các thanh ráp lại.”
Ghế lót vải được phát sanh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ghế lót vải.”
Ghế có chỗ gác chân được phát sanh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ghế có chỗ gác chân.”
Ghế có nhiều chân được phát sanh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ghế có nhiều chân.”
Tấm ván được phát sanh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) tấm ván.”
Ghế mây được phát sanh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ghế mây.”
Ghế lót rơm được phát sanh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ghế lót rơm.”
Inda-bh 12~12Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư nằm ở giường cao. Dân chúng trong khi đi dạo quanh các trú xá nhìn thấy rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên nằm giường cao; vị nào nằm thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong khi nằm ở giường thấp đã bị rắn cắn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) khung giường.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng khung giường loại cao. Các vị đu đưa với các khung giường loại cao. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng khung giường loại cao; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép khung giường cao tối đa tám ngón tay.”
Inda-bh 13~13Vào lúc bấy giờ, chỉ sợi được phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đan chỉ ở giường.”
Các góc tốn nhiều chỉ. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xuyên lỗ ở các thanh và đan thành ô vuông.”
Mảnh vải được phát sanh. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép dùng làm thảm lót nền.”
Bông gòn được phát sanh. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tháo ra dùng làm gối. Có ba loại bông gòn: bông gòn từ cây, bông gòn từ dây leo, bông gòn từ cỏ.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng các gối dài nửa thân người. Dân chúng trong khi đi dạo quanh các trú xá nhìn thấy rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng các gối dài nửa thân người; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép thực hiện gối có kích thước của cái đầu.”
Inda-bh 14~14Vào lúc bấy giờ, có lễ hội trên đỉnh núi ở thành Rājagaha. Dân chúng chuẩn bị các loại nệm để phục vụ các quan đại thần là ‘nệm len, nệm vải, nệm sợi vỏ cây, nệm cỏ, nệm lá.’ Khi lễ hội đã xong, họ tháo lấy các bao nệm rồi đem đi. Các tỳ khưu đã nhìn thấy tại chỗ lễ hội nhiều sợi len, sợi vải, sợi từ vỏ cây, cỏ, và lá bị quăng bỏ, sau khi nhìn thấy các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép năm loại nệm: nệm len, nệm vải, nệm sợi vỏ cây, nệm cỏ, nệm lá.”
Vào lúc bấy giờ, vải phụ tùng của giường ghế được phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) để bọc nệm.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu trải nệm của giường ở ghế, trải nệm của ghế ở giường. Các nệm bị tơi tả. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép giường được bọc nệm, ghế được bọc nệm.”
Các vị trải lên nhưng không làm tấm lót nên đã bị rơi ra từ bên dưới. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm tấm lót (bên dưới), trải đều ra, rồi bọc nệm.”
Họ tháo bao nệm rồi lấy (bao nệm) đem đi. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép bôi màu (bao nệm).”
Họ vẫn lấy đem đi. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép việc thực hiện các đường vẽ (ở bao nệm).”
Họ vẫn lấy đem đi. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép các đường vẽ bằng bàn tay (ở bao nệm).”
Inda-bh 15~15Vào lúc bấy giờ, các chỗ nằm của các ngoại đạo có màu trắng, nền được làm màu đen, tường được trét màu đỏ. Số đông dân chúng đi đến để ngắm các chỗ nằm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sơn) màu trắng, màu đen, trét màu đỏ ở trú xá.”
Vào lúc bấy giờ, màu trắng không bám được ở tường bị lồi lõm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép để nắm vỏ trấu vào, dùng cái bay gạt bằng, rồi bôi màu trắng lên.”
Màu trắng không dính chặt vào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép để đất sét dẻo vào, dùng cái bay gạt bằng, rồi bôi màu trắng lên.”
Màu trắng không dính chặt vào. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép dùng nhựa cây, bột nghiền.”
Vào lúc bấy giờ, màu đỏ không bám được ở tường bị lồi lõm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép để nắm vỏ trấu vào, dùng cái bay gạt bằng, rồi bôi màu đỏ lên.”
Màu đỏ không dính chặt vào. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép dùng đất sét trộn với cám đỏ, dùng cái bay gạt bằng, rồi bôi màu đỏ lên.”
Màu đỏ không dính chặt vào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép dùng bột trái mù tạt, dầu sáp ong.”
(Chất ấy) bị đóng thành từng cục. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chùi đi bằng miếng giẻ.”
Inda-bh 16~16Vào lúc bấy giờ, màu đen không bám được ở nền đất bị lồi lõm. … (như trên) …—“Này các tỳ khưu, ta cho phép để nắm vỏ trấu vào, dùng cái bay gạt bằng, rồi bôi màu đen lên.”
Màu đen không dính chặt vào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thêm vào phân trùn và đất sét, dùng cái bay gạt bằng, rồi bôi màu đen lên.”
Màu đen không dính chặt vào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép dùng nhựa cây, chất làm đông.”
Inda-bh 17~17Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục sư bảo thực hiện hình ảnh gợi cảm ở trú xá: hình ảnh người nữ, hình ảnh người nam. Dân chúng trong khi đi dạo quanh các trú xá nhìn thấy rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên bảo thực hiện hình ảnh gợi cảm ở trú xá: hình ảnh người nữ, hình ảnh người nam; vị nào bảo thực hiện thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép trang hoàng hình vòng hoa, trang hoàng hình tua, chốt treo bằng răng cá kiếm, vải trang hoàng năm loại.”
Inda-bh 18~18Vào lúc bấy giờ, các trú xá có nền thấp nên bị ngập nước. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nền cao.”
Nền móng bị đổ xuống. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xây dựng ba loại nền móng: nền móng bằng gạch, nền móng bằng đá, nền móng bằng gỗ.”
Các vị bị khó khăn trong khi bước lên. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ba loại bậc thang: bậc thang bằng gạch, bậc thang bằng đá, bậc thang bằng gỗ.”
Các vị bị té trong khi bước lên (bậc thang). … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) tay cầm để vịn.”
Inda-bh 19~19Vào lúc bấy giờ, các trú xá trở nên đông đảo người. Các tỳ khưu ái ngại khi nằm xuống. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) màn che.”
Họ vén màn che lên nhìn vào. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) bức tường thấp.”
Họ nhìn vào từ phía trên của bức tường thấp. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) ba loại phòng: phòng vuông, phòng chữ nhật, phòng ở trên gác xép.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu làm phòng ở chính giữa trong trú xá nhỏ. Khu vực xung quanh không có. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) phòng ở một bên trong trú xá nhỏ, ở chính giữa trong trú xá lớn.”
Inda-bh 20~20Vào lúc bấy giờ, chân tường của trú xá bị hư hỏng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cây gỗ áp vào.”
Tường của trú xá bị thấm nước mưa. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) tấm chắn bảo vệ, vữa hồ.”221
Vào lúc bấy giờ, rắn từ mái cỏ rơi xuống trên vai của vị tỳ khưu nọ. Bị hoảng sợ, vị ấy đã kêu thét lên. Các tỳ khưu đã chạy lại và nói với vị tỳ khưu ấy điều này:—“Này đại đức, vì sao đại đức đã kêu thét lên vậy?” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã kể lại cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) vòm che ở mái.”
Inda-bh 21~21Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu treo các túi ở chân giường và ở cả chân ghế nữa. Chúng đã bị các con chuột và mối ăn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) chốt đinh ở tường, móc ngà voi.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu để y ở trên giường và ở cả trên ghế nữa. Y bị tả tơi (thành từng mảnh). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) sào máng y, dây treo y ở trú xá.”
Vào lúc bấy giờ, các trú xá không có các mái hiên nên không che chắn (ánh nắng) được. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) mái hiên, sân có mái che, sân ở phía trong, hàng hiên có mái che.”
Các mái hiên trở thành nơi công cộng. Các tỳ khưu ái ngại khi nằm xuống. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) màn che di chuyển bằng bánh xe, màn che loại kéo lên.”
Inda-bh 22~22Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu trong khi tiến hành việc phân phối bữa ăn ở ngoài trời bị mệt mỏi vì lạnh, vì nóng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (xây dựng) phòng hội họp.”
Phòng hội họp có nền thấp nên bị ngập nước. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nền cao.”
Nền móng bị đổ xuống. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xây dựng ba loại nền móng: nền móng bằng gạch, nền móng bằng đá, nền móng bằng gỗ.”
Các vị bị khó khăn trong khi bước lên. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ba loại bậc thang: bậc thang bằng gạch, bậc thang bằng đá, bậc thang bằng gỗ.”
Các vị bị té trong khi bước lên (bậc thang). … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) tay cầm để vịn.”
Rác cỏ rơi vào trong phòng hội họp. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nẹp cây rồi trét vữa bên trên và bên dưới, việc sơn màu trắng, sơn màu đen, trét màu đỏ, trang hoàng hình vòng hoa, trang hoàng hình tua, chốt treo bằng răng cá kiếm, vải trang hoàng năm loại, sào máng y, dây treo y.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu phơi y trên nền đất ở ngoài trời. Y bị dơ bẩn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) sào máng y, dây treo y ở ngoài trời.”
Nước uống bị nắng sưởi ấm. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) nhà nước uống, mái che chỗ nước uống.”
Nhà nước uống có nền thấp nên bị ngập nước. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nền cao.”
Nền móng bị đổ xuống. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xây dựng ba loại nền móng: nền móng bằng gạch, nền móng bằng đá, nền móng bằng gỗ.”
Các vị bị khó khăn trong khi bước lên. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ba loại bậc thang: bậc thang bằng gạch, bậc thang bằng đá, bậc thang bằng gỗ.”
Các vị bị té trong khi bước lên (bậc thang). … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) tay cầm để vịn.”
Rác cỏ rơi vào trong nhà nước uống. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nẹp cây rồi trét vữa bên trên và bên dưới, việc sơn màu trắng, sơn màu đen, trét màu đỏ, trang hoàng hình vòng hoa, trang hoàng hình tua, chốt treo bằng răng cá kiếm, vải trang hoàng năm loại, sào máng y, dây treo y.”
Tô uống nước không có. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) vỏ sò để uống nước, cốc để uống nước.”
Inda-bh 23~23Vào lúc bấy giờ, các trú xá không được rào lại. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép rào quanh ba loại hàng rào: hàng rào bằng gạch, hàng rào bằng đá, và hàng rào bằng gỗ.”
Cổng ra vào không có. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép cổng ra vào.”
Cổng ra vào có nền thấp nên bị ngập nước. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nền cao.”
Cổng ra vào không có cửa. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) cánh cửa, trụ cửa, rãnh xoay, chốt xoay, tay nắm, chốt gài, đinh khóa chốt, chốt cửa, lỗ khóa, lỗ để xỏ dây, dây thừng để luồn qua.”
Rác cỏ rơi ở cổng ra vào. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nẹp cây rồi trét vữa bên trên và bên dưới, việc sơn màu trắng, sơn màu đen, trét màu đỏ, trang hoàng hình vòng hoa, trang hoàng hình tua, chốt treo bằng răng cá kiếm, vải trang hoàng năm loại.”
Inda-bh 24~24Vào lúc bấy giờ, căn phòng bị lầy lội. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép rải cát.”
Các vị làm không có kết quả.
-Này các tỳ khưu, ta cho phép trải đá phiến.”
Nước còn đọng lại. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (đào) rãnh thoát nước.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu thực hiện chỗ đốt lửa ở nơi này nơi nọ trong căn phòng. Căn phòng bị rác bẩn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (xây dựng) nhà để đốt lửa ở một góc.”
Nhà để đốt lửa có nền thấp nên bị ngập nước. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nền cao.”
Nền móng bị đổ xuống. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xây dựng ba loại nền móng: nền móng bằng gạch, nền móng bằng đá, nền móng bằng gỗ.”
Các vị bị khó khăn trong khi bước lên. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ba loại bậc thang: bậc thang bằng gạch, bậc thang bằng đá, bậc thang bằng gỗ.”
Các vị bị té trong khi bước lên (bậc thang). … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) tay cầm để vịn.”
Nhà để đốt lửa không có cửa. … (như trên) …
-Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) cánh cửa, trụ cửa, rãnh xoay, chốt xoay, tay nắm, chốt gài, đinh khóa chốt, chốt cửa, lỗ khóa, lỗ để xỏ dây, dây thừng để luồn qua.”
Rác cỏ rơi vào trong nhà để đốt lửa. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nẹp cây rồi trét vữa bên trên và bên dưới, việc sơn màu trắng, sơn màu đen, trét màu đỏ, trang hoàng hình vòng hoa, trang hoàng hình tua, chốt treo bằng răng cá kiếm, vải trang hoàng năm loại, sào máng y, dây treo y.”
Inda-bh 25~25Vào lúc bấy giờ, tu viện không được rào lại. Các con dê và các con thú nhỏ phá hoại các cây trồng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép bao bọc quanh bằng ba loại rào ngăn: rào ngăn bằng tre, rào ngăn bằng cây gai, và hào rãnh.”
Cổng ra vào không có. Tương tợ y như thế, các con dê và các con thú nhỏ phá hoại các cây trồng. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép cổng ra vào, hai cánh cửa gắn nhánh cây có gai, vòm cổng, và móc khóa.”
Rác cỏ rơi ở cổng ra vào. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nẹp cây rồi trét vữa bên trên và bên dưới, việc sơn màu trắng, sơn màu đen, trét màu đỏ, trang hoàng hình vòng hoa, trang hoàng hình tua, chốt treo bằng răng cá kiếm, vải trang hoàng năm loại.”
Tu viện bị lầy lội. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép rải cát.”
Các vị làm không có kết quả. … (như trên) …
-Này các tỳ khưu, ta cho phép trải đá phiến.”
Nước còn đọng lại. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (đào) rãnh thoát nước.”
Inda-bh 26~26Vào lúc bấy giờ, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha có ý định cho xây dựng tòa nhà dài có tô vữa hồ đất sét nhằm sự lợi ích cho hội chúng. Khi ấy, các tỳ khưu khởi ý điều này: “Mái che loại nào đã được đức Thế Tôn cho phép, loại nào không được cho phép?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép năm loại mái che: mái che lợp ngói, mái che lợp đá phiến, mái che bằng vữa hồ, mái che lợp cỏ, mái che lợp lá.”
Tụng phẩm thứ nhất.
Inda-bh 27~27Vào lúc bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika có người vợ là em gái của nhà đại phú ở thành Rājagaha. Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika đã đi đến thành Rājagaha vì công việc cần làm nào đó. Vào lúc bấy giờ, nhà đại phú thành Rājagaha đã thỉnh mời hội chúng có đức Phật đứng đầu vào ngày hôm sau. Khi ấy, nhà đại phú thành Rājagaha đã sai bảo đám tôi tớ và các người làm công rằng:—“Này các người, chính vì việc ấy các người phải thức dậy thật sớm, nấu cháo, nấu thức ăn, chuẩn bị các món canh, chuẩn bị các món ăn ngon.”
Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika đã khởi ý điều này: “Trước đây mỗi khi ta đến, gia chủ này bỏ hết mọi công việc và đã trò chuyện với mình ta thôi. Sao hôm nay ông ta có vẻ khẩn trương đã sai bảo đám tôi tớ và các người làm công rằng: ‘Này các người, chính vì việc ấy các người phải thức dậy thật sớm, nấu cháo, nấu thức ăn, chuẩn bị các món canh, chuẩn bị các món ăn ngon.’ Không lẽ vào ngày mai gia chủ này có đám rước dâu, hay là có đám đưa dâu, hay là sắp xếp cho buổi đại lễ cúng tế, hay là có mời thỉnh đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha cùng với đội quân binh?”
Sau đó, khi đã sai bảo đám tôi tớ và các người làm công xong, nhà đại phú thành Rājagaha đã đi đến gặp gia chủ Anāthapiṇḍika, sau khi đến đã chào hỏi gia chủ Anāthapiṇḍika rồi ngồi xuống một bên. Khi nhà đại phú thành Rājagaha đã ngồi xuống một bên, gia chủ Anāthapiṇḍika đã nói với nhà đại phú thành Rājagaha điều này:—“Này gia chủ, trước đây mỗi khi ta đến, ông bỏ hết mọi công việc và đã trò chuyện với mình ta thôi. Sao hôm nay ông có vẻ khẩn trương đã sai bảo đám tôi tớ và các người làm công rằng: ‘Này các người, chính vì việc ấy các người phải thức dậy thật sớm, nấu cháo, nấu thức ăn, chuẩn bị các món canh, chuẩn bị các món ăn ngon.’ Này gia chủ, không lẽ vào ngày mai ông có đám rước dâu, hay là có đám đưa dâu, hay là sắp xếp cho buổi đại lễ cúng tế, hay là có mời thỉnh đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha cùng với đội quân binh?”
—“Này gia chủ, không phải tôi có đám rước dâu, cũng không có đám đưa dâu, cũng không có mời thỉnh đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha cùng với đội quân binh, nhưng mà tôi sắp xếp cho buổi đại lễ cúng dường. Hội chúng có đức Phật đứng đầu đã được thỉnh mời vào ngày mai.”
Inda-bh 28~28—“Này gia chủ, có phải ngươi nói: ‘Đức Phật’?”
—“Ồ gia chủ, tôi nói là: ‘Đức Phật.’”
—“Này gia chủ, có phải ngươi nói: ‘Đức Phật’?”
—“Ồ gia chủ, tôi nói là: ‘Đức Phật.’”
—“Này gia chủ, có phải ngươi nói: ‘Đức Phật?”
—“Ồ gia chủ, tôi nói là: ‘Đức Phật.’”
—“Này gia chủ, cái âm này thật khó được nghe ở thế gian, đó là từ: ‘Đức Phật.’ Này gia chủ, vào giờ này tôi có thể đi đến để diện kiến đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy không vậy?”
—“Này gia chủ, giờ này không phải là lúc để đi đến để diện kiến đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy. Để đến sáng sớm ngày mai, dượng sẽ đi đến để diện kiến đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy vậy.”
Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika (nghĩ rằng): ‘Sáng sớm ngày mai, ta sẽ đi đến để diện kiến đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy vậy,’ rồi đã nằm xuống với niệm tưởng về đức Phật, và đã thức giấc trong đêm ba lần, nghĩ rằng trời đã sáng. Sau đó, gia chủ Anāthapiṇḍika đã đi đến cổng thành dẫn đến khu rừng Sīta. Các phi nhân đã mở cổng thành. Khi ấy, trong lúc gia chủ Anāthapiṇḍika đang đi ra khỏi thành thì ánh sáng đã biến mất, bóng tối đã xuất hiện. Nỗi sợ hãi, run rẩy, lông tóc dựng đứng đã sanh khởi đến gia chủ Anāthapiṇḍika, chính vì thế đã có ý muốn quay trở lui.
Khi ấy, dạ xoa Sīvaka không có hiện hình đã nói lời rằng:
—“Một trăm con voi, một trăm con ngựa, một trăm xe kéo bởi lừa, một trăm ngàn thiếu nữ (trang điểm) với ngọc trai, ngọc ma-ni, và các bông hoa tai, mười sáu lần như thế không giá trị bằng một bước chân đi tới.”
“Này gia chủ hãy bước tới, này gia chủ hãy bước tới. Đối với người, việc bước tới thì tốt hơn, không có việc quay lui.”
Khi ấy, bóng tối đã biến mất và ánh sáng đã hiện ra. Nỗi sợ hãi, run rẩy, lông tóc dựng đứng đã sanh khởi đến gia chủ Anāthapiṇḍika đã được lắng xuống.
Đến lần thứ nhì, … (như trên) … Đến lần thứ ba, ánh sáng đã biến mất, bóng tối đã xuất hiện. Nỗi sợ hãi, run rẩy, lông tóc dựng đứng đã sanh khởi đến gia chủ Anāthapiṇḍika, chính vì thế đã có ý muốn quay trở lui. Đến lần thứ ba, dạ xoa Sīvaka không có hiện hình đã nói lời rằng:
—“Một trăm con voi, một trăm con ngựa, một trăm xe kéo bởi lừa, một trăm ngàn thiếu nữ (trang điểm) với ngọc trai, ngọc ma-ni, và các bông hoa tai, mười sáu lần như thế không giá trị bằng một bước chân đi tới.”
“Này gia chủ hãy bước tới, này gia chủ hãy bước tới. Đối với người, việc bước tới thì tốt hơn, không có việc quay lui.”
Đến lần thứ ba, bóng tối đã biến mất và ánh sáng đã hiện ra. Nỗi sợ hãi, run rẩy, lông tóc dựng đứng đã sanh khởi đến gia chủ Anāthapiṇḍika đã được lắng xuống. Sau đó, gia chủ Anāthapiṇḍika đã đi đến khu rừng Sīta. Vào lúc bấy giờ, sau khi thức dậy trong đêm vào lúc hừng sáng, đức Thế Tôn đi kinh hành ở ngoài trời. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy gia chủ Anāthapiṇḍika từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đức Thế Tôn đã rời đường kinh hành đi đến ngồi ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn.
Inda-bh 29~29Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đã nói với gia chủ Anāthapiṇḍika điều này:—“Này Sudatta, hãy đến.” Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn gọi ta bằng tên’ nên đã mừng rỡ, phấn chấn đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi đến đã quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế tôn và đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, chắc hẳn rằng đức Thế Tôn đã nghỉ ngơi được thoải mái?”
—“Đúng thế, vị Bà-la-môn đã chứng ngộ Niết Bàn luôn luôn nghỉ ngơi được thoải mái, là người không bị vấy nhơ trong các dục, có trạng thái mát mẻ, không còn mầm tái sanh.
Sau khi đoạn lìa các sự vướng mắc, vị ấy có thể điều phục nỗi khổ trong tâm, được an tịnh, nghỉ ngơi được thoải mái, sau khi tâm đã đạt được Niết Bàn.”
Sau đó, đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến gia chủ Anāthapiṇḍika. Tức là ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cõi trời, sự tai hại sự thấp kém sự ô nhiễm của các dục, sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được tâm của gia chủ Anāthapiṇḍika đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được Chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải đã được làm sạch, không còn vết nhơ, có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến gia chủ Anāthapiṇḍika: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
Inda-bh 30~30Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, gia chủ Anāthapiṇḍika đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): ‘Những người có mắt sẽ nhìn thấy được các hình dáng;’ tương tợ như thế Pháp đã được đức Thế Tôn giảng rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn ấy, Giáo Pháp, và Hội Chúng tỳ khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn và hội chúng tỳ khưu nhận lời bữa trai phạn của con vào ngày mai.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Nhà đại phú thành Rājagaha đã nghe rằng: “Nghe nói gia chủ Anātha-piṇḍika đã thỉnh mời hội chúng có đức Phật đứng đầu vào ngày mai.” Khi ấy, nhà đại phú thành Rājagaha đã nói với gia chủ Anāthapiṇḍika điều này:—“Này gia chủ, nghe nói dượng đã thỉnh mời hội chúng có đức Phật đứng đầu vào ngày mai và dượng lại là khách vãng lai. Này gia chủ, hãy để tôi cho dượng tài chánh; nhờ đó dượng có thể thực hiện buổi trai phạn dâng đến hội chúng có đức Phật đứng đầu.”—“Này gia chủ, thôi đi. Tôi có tài chánh, với số đó tôi sẽ thực hiện buổi trai phạn dâng đến hội chúng có đức Phật đứng đầu.”
Inda-bh 31~31Vị thị trưởng thành Rājagaha đã nghe rằng: “Nghe nói gia chủ Anāthapiṇḍika đã thỉnh mời hội chúng có đức Phật đứng đầu vào ngày mai.” Khi ấy, vị thị trưởng thành Rājagaha đã nói với gia chủ Anāthapiṇḍika điều này:—“Này gia chủ, nghe nói ông đã thỉnh mời hội chúng có đức Phật đứng đầu vào ngày mai và ông lại là khách vãng lai. Này gia chủ, hãy để ta cho ông tài chánh; nhờ đó ông có thể thực hiện buổi trai phạn dâng đến hội chúng có đức Phật đứng đầu.”—“Thưa ngài, thôi đi. Tôi có tài chánh, với số đó tôi sẽ thực hiện buổi trai phạn dâng đến hội chúng có đức Phật đứng đầu.”
Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nghe rằng: “Nghe nói gia chủ Anāthapiṇḍika đã thỉnh mời hội chúng có đức Phật đứng đầu vào ngày mai.” Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nói với gia chủ Anāthapiṇḍika điều này:—“Này gia chủ, nghe nói khanh đã thỉnh mời hội chúng có đức Phật đứng đầu vào ngày mai và khanh lại là khách vãng lai. Này gia chủ, hãy để trẫm cho khanh tài chánh; nhờ đó khanh có thể thực hiện buổi trai phạn dâng đến hội chúng có đức Phật đứng đầu.”—“Tâu bệ hạ, thôi đi. Thần có tài chánh, với số đó thần sẽ thực hiện buổi trai phạn dâng đến hội chúng có đức Phật đứng đầu.”
Inda-bh 32~32Sau đó, khi trải qua đêm ấy gia chủ Anāthapiṇḍika đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm tại tư gia của nhà đại phú thành Rājagaha rồi cho thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn:—“Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.” Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, đi đến tư gia của nhà đại phú thành Rājagaha, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu.
Sau đó, gia chủ Anāthapiṇḍika đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, gia chủ Anāthapiṇḍika đã ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, gia chủ Anāthapiṇḍika đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời con về việc an cư mùa mưa tại thành Sāvatthi cùng với hội chúng tỳ khưu.”
—“Này gia chủ, các đức Như Lai chỉ thỏa thích ở trú xứ thanh vắng.”
—“Bạch Thế Tôn, con đã biết được. Bạch Thiện Thệ, con đã được biết.”
Sau đó, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho gia chủ Anāthapiṇḍika bằng bài Pháp thoại, rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Inda-bh 33~33Vào lúc bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika có nhiều bạn bè, có nhiều cộng sự, có lời nói uy tín. Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika sau khi hoàn tất công việc cần làm ấy ở thành Rājagaha đã ra đi trở về thành Sāvatthi. Sau đó, trên đường đi gia chủ Anāthapiṇḍika đã bảo với dân chúng rằng:—“Quý vị ơi, hãy xây dựng các tu viện, hãy cho thiết lập các trú xá, hãy chuẩn bị các vật cúng dường. Giờ đây, đức Phật đã xuất hiện ở trên đời. Và đức Thế Tôn ấy được tôi thỉnh mời sẽ đi đến bằng con đường này.” Khi ấy, đám người ấy được cổ vũ bởi gia chủ Anāthapiṇḍika đã xây dựng các tu viện, đã cho thiết lập các trú xá, và đã chuẩn bị các vật cúng dường.
Sau đó, khi đã về đến thành Sāvatthi gia chủ Anāthapiṇḍika đã xem xét quanh thành Sāvatthi (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn nên ngụ ở nơi nào đây? Đối với ngài, chỗ ấy không nên xa làng mạc lắm, cũng không quá gần, thuận tiện cho việc tới lui, dân chúng có thể đi đến mỗi khi có ước muốn, ban ngày không đông đảo, ban đêm ít âm thanh, ít tiếng ồn, có bầu không gian vắng vẻ, tách biệt với dân chúng, thích hợp cho việc thiền tịnh.”
Gia chủ Anāthapiṇḍika đã nhìn thấy khu vườn của vương tử Jeta là không xa làng mạc lắm, cũng không quá gần, thuận tiện cho việc tới lui, dân chúng có thể đi đến mỗi khi có ước muốn, ban ngày không đông đảo, ban đêm ít âm thanh, ít tiếng ồn, có bầu không gian vắng vẻ, tách biệt với dân chúng, thích hợp cho việc thiền tịnh, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp vương tử Jeta, sau khi đến đã nói với vương tử Jeta điều này:—“Thưa công tử, hãy cho tôi khu vườn để xây dựng tu viện.”
—“Này gia chủ, khu vườn không thể cho, ngay cả với việc trải ra mười triệu.”
—“Thưa công tử, khu vườn đã được bán.”
—“Này gia chủ, khu vườn chưa được bán.”
(Họ đã cãi nhau): “Đã được bán, chưa được bán,” rồi đã hỏi các viên đại thần lo việc xử án. Các viên quan đại thần đã nói như vầy:—“Thưa công tử, bởi vì giá cả đã được ngài quy định nên khu vườn đã được bán.”
Inda-bh 34~34Sau đó, gia chủ Anāthapiṇḍika đã bảo chở tiền vàng lại bằng các xe kéo và cho trải ra mười triệu tiền vàng ở Jetavana (khu rừng của Jeta). Tiền vàng chở lại một lần ấy còn thiếu cho khoảng trống nhỏ xung quanh chỗ cổng ra vào. Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika đã bảo dân chúng rằng:—“Này các người, hãy đi, hãy đem tiền vàng lại. Tôi sẽ trải lên khoảng trống này.”
Khi ấy, vương tử Jeta đã khởi ý điều này: “Việc này sẽ không là tầm thường bởi vì vị gia chủ này hy sinh nhiều tiền vàng đến chừng nầy,” nên đã nói với gia chủ Anāthapiṇḍika điều này:—“Này gia chủ, được rồi, ông không cần phải trải lên khoảng trống này nữa. Hãy cho ta khoảng trống này. Việc bố thí ấy sẽ là của ta.”
Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika (nghĩ rằng): ‘Vương tử Jeta này nổi tiếng, là người nổi danh. Niềm tin trong Pháp và Luật này của những người nổi tiếng như thế quả có lợi ích lớn lao!’ nên đã nhường khoảng trống đó cho vương tử Jeta. Sau đó, vương tử Jeta đã cho dựng lên cổng ra vào ở khoảng trống đó.
Sau đó, gia chủ Anāthapiṇḍika đã cho xây dựng ở Jetavana các trú xá, đã cho xây dựng các căn phòng, đã cho xây dựng các nhà kho, đã cho xây dựng các phòng hội họp, đã cho xây dựng các nhà để đốt lửa, đã cho xây dựng các nhà làm thành được phép, đã cho xây dựng các nhà tiêu, đã cho xây dựng các nhà tiểu, đã cho xây dựng các đường kinh hành, đã cho xây dựng các gian nhà ở các đường kinh hành, đã cho xây dựng các giếng nước, đã cho xây dựng các gian nhà ở các giếng nước, đã cho xây dựng các phòng tắm hơi, đã cho xây dựng các gian nhà ở các phòng tắm hơi, đã cho xây dựng các hồ trữ nước, đã cho xây dựng các mái che.
Inda-bh 35~35Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích đức Thế Tôn đã lên đường đi về phía thành Vesāli. Trong khi tuần tự du hành ngài đã ngự đến thành Vesāli. Tại nơi đó ở Vesāli, đức Thế Tôn ngự tại Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra. Vào lúc bấy giờ, dân chúng thực hiện công trình mới một cách tươm tất. Ngay cả các tỳ khưu phụ trách công trình mới cũng được phục vụ một cách chu đáo với vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh.
Khi ấy, có người thợ may nghèo nọ đã khởi ý điều này: “Theo như cách những người này thực hiện công trình mới một cách tươm tất như vầy thì việc này sẽ không là tầm thường; hay là ta cũng nên thực hiện công trình mới vậy?”
Sau đó, người thợ may nghèo ấy đã đích thân trộn hồ, chồng chất các viên gạch, rồi xây lên bức tường. Các viên gạch được ông ta chồng chất không khéo léo nên bức tường bị cong rồi đổ xuống. Đến lần thứ nhì, … (như trên) … Đến lần thứ ba, người thợ may nghèo ấy đã đích thân trộn hồ, chồng chất các viên gạch, rồi xây lên các bức tường. Các viên gạch được ông ta chồng chất không khéo léo nên bức tường bị cong rồi đổ xuống.
Khi ấy, người thợ may nghèo ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Người ta cúng dường vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh đến các Sa-môn Thích tử này nên các vị chỉ bảo, hướng dẫn họ, và phụ trách công trình mới của họ. Trái lại, tôi thì nghèo nên không ai chỉ bảo, hướng dẫn tôi, hay phụ trách công trình mới (của tôi).”
Inda-bh 36~36Các tỳ khưu đã nghe được người thợ may nghèo ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép giao công trình mới. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu là vị phụ trách công trình mới sẽ thể hiện sự tích cực (suy nghĩ rằng): ‘Có cách gì để trú xá có thể đạt đến việc hoàn thành nhanh chóng?’ và sẽ sửa chữa chỗ bị đổ vỡ và hư hỏng. Và này các tỳ khưu, nên giao như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu. Sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên giao công trình mới là trú xá của gia chủ tên (như vầy) đến vị tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng giao công trình mới là trú xá của gia chủ tên (như vầy) đến vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc giao công trình mới là trú xá của gia chủ tên (như vầy) đến vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Công trình mới là trú xá của gia chủ tên (như vầy) đã được giao đến vị tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 37~37Sau đó, khi đã ngự tại thành Vesāli theo như ý thích đức Thế Tôn đã lên đường đi về phía thành Sāvatthi. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đệ tử của các tỳ khưu nhóm Lục Sư đi vượt lên phía trước hội chúng có đức Phật dẫn đầu rồi giành phần các trú xá, giành phần các chỗ nằm (nói rằng): “Chỗ này sẽ dành cho các thầy tế độ của chúng ta, chỗ này sẽ dành cho các thầy dạy học của chúng ta, chỗ này sẽ dành cho chúng ta.”
Khi ấy, đại đức Sāriputta đi theo phía sau hội chúng có đức Phật dẫn đầu, vì các trú xá đã bị giành phần và các chỗ nằm đã bị giành phần, trong lúc không có chỗ nằm đã ngồi xuống ở gốc cây nọ. Sau đó, đức Thế Tôn trong đêm vào lúc hừng sáng, sau khi thức dậy đã đằng hắng. Đại đức Sāriputta cũng đã đằng hắng.—“Ai ở nơi này vậy?”
—“Bạch ngài, con là Sāriputta.”
—“Này Sāriputta, vì sao ngươi lại ngồi ở đây?”
Khi ấy, đại đức Sāriputta đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu đệ tử của các tỳ khưu nhóm Lục Sư đi vượt lên phía trước hội chúng có đức Phật dẫn đầu rồi giành phần các trú xá, giành phần các chỗ nằm (nói rằng): ‘Chỗ này sẽ dành cho các thầy tế độ của chúng ta, chỗ này sẽ dành cho các thầy dạy học của chúng ta, chỗ này sẽ dành cho chúng ta,’ có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại đi vượt lên phía trước hội chúng có đức Phật dẫn đầu rồi giành phần các trú xá, giành phần các chỗ nằm (nói rằng): ‘Chỗ này sẽ dành cho các thầy tế độ của chúng ta, chỗ này sẽ dành cho các thầy dạy học của chúng ta, chỗ này sẽ dành cho chúng ta.’ Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.” Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, vị nào xứng đáng chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, vật thực tốt nhất?”
Inda-bh 38~38Một số tỳ khưu đã nói như vầy:—“Bạch Thế Tôn, vị nào xuất gia từ dòng dõi vua chúa vị ấy xứng đáng chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, vật thực tốt nhất.”
Một số tỳ khưu đã nói như vầy:—“Bạch Thế Tôn, vị nào xuất gia từ dòng dõi Bà-la-môn vị ấy xứng đáng chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, vật thực tốt nhất.”
Một số tỳ khưu đã nói như vầy:—“Bạch Thế Tôn, vị nào xuất gia từ dòng dõi gia chủ vị ấy xứng đáng chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, vật thực tốt nhất.”
Một số tỳ khưu đã nói như vầy:—“Bạch Thế Tôn, vị nào chuyên về Kinh vị ấy xứng đáng chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, vật thực tốt nhất.”
Một số tỳ khưu đã nói như vầy:—“Bạch Thế Tôn, vị nào rành rẽ về Luật vị ấy xứng đáng chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, vật thực tốt nhất.”
Một số tỳ khưu đã nói như vầy:—“Bạch Thế Tôn, vị nào là Pháp sư vị ấy xứng đáng chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, vật thực tốt nhất.”
Một số tỳ khưu đã nói như vầy:—“Bạch Thế Tôn, vị nào đạt sơ thiền vị ấy xứng đáng chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, vật thực tốt nhất.”
Một số tỳ khưu đã nói như vầy:—“Bạch Thế Tôn, vị nào đạt nhị thiền … (như trên) …—“Bạch Thế Tôn, vị nào đạt tam thiền … (như trên) …—“Bạch Thế Tôn, vị nào đạt tứ thiền vị ấy xứng đáng chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, vật thực tốt nhất.”
Một số tỳ khưu đã nói như vầy:—“Bạch Thế Tôn, vị nào là bậc Nhập Lưu vị ấy xứng đáng chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, vật thực tốt nhất.”
Một số tỳ khưu đã nói như vầy:—“Bạch Thế Tôn, vị nào là bậc Nhất Lai … (như trên) …—“Bạch Thế Tôn, vị nào là bậc Bất Lai … (như trên) …—“Bạch Thế Tôn, vị nào là bậc A-la-hán vị ấy xứng đáng chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, vật thực tốt nhất.”
Một số tỳ khưu đã nói như vầy:—“Bạch Thế Tôn, vị nào là bậc có ba Minh vị ấy xứng đáng chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, vật thực tốt nhất.”
Một số tỳ khưu đã nói như vầy:—“Bạch Thế Tôn, vị nào là bậc có sáu Thắng Trí vị ấy xứng đáng chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, vật thực tốt nhất.”
Inda-bh 39~39Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, trước đây ở sườn núi của Hy Mã Lạp Sơn có cây đa cổ thụ. Có ba bạn hữu là con chim đa đa, con khỉ, và con long tượng đã sống nương tựa vào cây ấy. Chúng sống không có sự kính trọng, không có sự phục tùng, không có thái độ quan tâm lẫn nhau. Này các tỳ khưu, sau đó ba bạn hữu ấy đã khởi ý điều này: ‘Này, chúng ta nên biết ai trong chúng ta là lớn nhất tính theo sự sinh ra để chúng ta có thể trọng vọng, có thể cung kính, có thể sùng bái, có thể cúng dường vị ấy, và chúng ta có thể tồn tại trong sự giáo huấn của vị ấy.’
Này các tỳ khưu, khi ấy con chim đa đa và con khỉ đã hỏi con long tượng rằng:—‘Này bạn, bạn nhớ gì về thời xa xưa?’
—‘Hai bạn à, khi tôi còn nhỏ tôi thường để cây đa này ở giữa hai chân rồi bước qua, ngọn cây chạm vào bụng của tôi. Hai bạn à, đó là điều tôi nhớ được về thời xa xưa.’
Này các tỳ khưu, sau đó con chim đa đa và con long tượng đã hỏi con khỉ rằng:—‘Này bạn, bạn nhớ gì về thời xa xưa?’
—‘Hai bạn à, khi tôi còn nhỏ tôi thường ngồi trên mặt đất nhai đọt non của cây đa này. Hai bạn à, đó là điều tôi nhớ được về thời xa xưa.’
Này các tỳ khưu, sau đó con khỉ và con long tượng đã hỏi con chim đa đa rằng:—‘Này bạn, bạn nhớ gì về thời xa xưa?’
—‘Hai bạn à, ở khu vực kia đã có cây đa cổ thụ. Tại đó, tôi đã ăn trái cây rồi đại tiện ở chỗ này, từ đó cây đa này đã được sanh ra. Hai bạn à, như thế tính theo sự sinh ra thì tôi là lớn nhất.’
Này các tỳ khưu, sau đó con khỉ và con long tượng đã nói với con chim đa đa điều này:—‘Bạn à, bạn là lớn nhất tính theo sự sinh ra. Chúng tôi sẽ trọng vọng, sẽ cung kính, sẽ sùng bái, sẽ cúng dường bạn, và chúng tôi sẽ sinh tồn trong sự giáo huấn của bạn.’
Này các tỳ khưu, sau đó con chim đa đa đã cho con khỉ và con long tượng thọ trì năm giới, và bản thân nó cũng thọ trì và thực hành theo năm giới. Chúng đã sống có sự kính trọng, có sự phục tùng, có thái độ quan tâm lẫn nhau, đến khi hoại rã thân này chết đi, chúng đã sanh về chốn an vui là cõi trời. Này các tỳ khưu, con chim đa đa ấy đã nổi danh là bậc hành Phạm hạnh.
Những người nào tôn kính bậc cao niên những người rành rẽ về Pháp, được khen ngợi ngay trong kiếp này, và có cảnh giới an lạc trong kiếp sau.
Này các tỳ khưu, ngay cả các chúng sanh là các con thú ấy còn sinh sống có sự kính trọng, có sự phục tùng, và có thái độ quan tâm lẫn nhau. Này các tỳ khưu, ở đây các ngươi hãy làm rạng rỡ việc các ngươi xuất gia làm Sa-môn trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy, các ngươi nên sống có sự kính trọng, có sự phục tùng, và có thái độ quan tâm lẫn nhau. Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.” Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép việc đảnh lễ, việc đứng dậy, hành động chắp tay, hành động thích hợp, chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, vật thực tốt nhất tính theo thâm niên. Này các tỳ khưu, việc liên quan đến hội chúng được tính theo thâm niên không được xâm phạm; vị nào xâm phạm thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 40~40Này các tỳ khưu, đây là mười hạng không nên được đảnh lễ: Vị tu lên bực trên sau không nên được đảnh lễ bởi vị tu lên bậc trên trước, vị chưa tu lên bậc trên không nên được đảnh lễ, vị thâm niên hơn thuộc nhóm cộng trú khác nói sai Pháp không nên được đảnh lễ, phụ nữ không nên được đảnh lễ, người vô căn không nên được đảnh lễ, vị thực hành hình phạt parivāsa không nên được đảnh lễ, vị xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu không nên được đảnh lễ, vị xứng đáng hình phạt mānatta không nên được đảnh lễ, vị thực hành hình phạt mānatta không nên được đảnh lễ, vị xứng đáng sự giải tội không nên được đảnh lễ. Này các tỳ khưu, đây là mười hạng không nên được đảnh lễ.
Này các tỳ khưu, đây là ba hạng nên được đảnh lễ: Vị tu lên bực trên trước nên được đảnh lễ bởi vị tu lên bậc trên sau, vị thâm niên hơn thuộc nhóm cộng trú khác nói đúng Pháp nên được đảnh lễ, này các tỳ khưu, trong thế gian gồm có chư Thiên, Ma vương, Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, các hạng chư Thiên và loài người, đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác nên được đảnh lễ. Này các tỳ khưu, đây là ba trường hợp nên được đảnh lễ.”
Inda-bh 41~41Vào lúc bấy giờ, dân chúng chuẩn bị mái che, chuẩn bị thảm trải, chuẩn bị chỗ trống dành riêng cho hội chúng. Các tỳ khưu đệ tử của các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): ‘Chính việc liên quan đến hội chúng mới được đức Thế Tôn cho phép tính theo thâm niên, chứ không phải việc được làm để dành riêng (cho hội chúng),’ rồi đi vượt lên phía trước hội chúng có đức Phật dẫn đầu và giành phần các mái che, giành phần các thảm trải, giành phần các chỗ trống (nói rằng): “Chỗ này sẽ dành cho các thầy tế độ của chúng ta, chỗ này sẽ dành cho các thầy dạy học của chúng ta, chỗ này sẽ dành cho chúng ta.”
Khi ấy, đại đức Sāriputta đi theo phía sau hội chúng có đức Phật dẫn đầu, vì các mái che đã bị giành phần, các thảm trải đã bị giành phần, các chỗ trống đã bị giành phần, trong lúc không có chỗ trống đã ngồi xuống ở gốc cây nọ. Sau đó, đức Thế Tôn trong đêm vào lúc hừng sáng, sau khi thức dậy đã đằng hắng. Đại đức Sāriputta cũng đã đằng hắng.—“Ai ở nơi này vậy?”—“Bạch Thế Tôn, con là Sāriputta.”—“Này Sāriputta, vì sao ngươi lại ngồi ở đây?”
Khi ấy, đại đức Sāriputta đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu đệ tử của các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): ‘Chính việc liên quan đến hội chúng mới được đức Thế Tôn cho phép tính theo thâm niên, chứ không phải việc được làm để dành riêng (cho hội chúng),’ rồi đi vượt lên phía trước hội chúng có đức Phật dẫn đầu và giành phần các mái che, giành phần các thảm trải, giành phần các chỗ trống (nói rằng): ‘Chỗ này sẽ dành cho các thầy tế độ của chúng ta, chỗ này sẽ dành cho các thầy dạy học của chúng ta, chỗ này sẽ dành cho chúng ta,’ có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ngay cả việc được làm dành riêng (cho hội chúng) cũng được tính theo thâm niên không được xâm phạm; vị nào xâm phạm thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 42~42Vào lúc bấy giờ, dân chúng sắp xếp ở trong phòng ăn, ở trong nhà các chỗ ngồi cao và các chỗ ngồi rộng như là: ghế trường kỷ, ghế nệm lông thú, thảm lông cừu dài sợi, thảm lông nhiều màu, thảm lông cừu màu trắng, thảm thêu bông hoa, thảm bông gòn, thảm dệt có nhiều hình thú, thảm có lông mặt trên, thảm có lông một bên góc, thảm dệt sợi vàng, thảm lụa, thảm lớn để nhảy múa, thảm ở mình voi, thảm ở mình ngựa, thảm lót xe, thảm da beo, thảm da nai giống quý, thảm có che phủ ở bên trên và có màu đỏ ở hai đầu. Các tỳ khưu trong khi ngần ngại không ngồi lên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ngoại trừ ba thứ là ghế trường kỷ, ghế nệm lông thú, thảm bông gòn, ta cho phép ngồi lên chỗ đã được trưng bày bởi gia chủ nhưng không được nằm lên.”
Vào lúc bấy giờ, dân chúng sắp xếp ở trong phòng ăn, ở trong nhà loại giường và ghế độn bông gòn. Các tỳ khưu trong khi ngần ngại không ngồi lên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ngồi lên chỗ đã được trưng bày bởi gia chủ nhưng không được nằm lên.”
Inda-bh 43~43Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến thành Sāvatthi. Tại nơi đó trong thành Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự tại Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, gia chủ Anāthapiṇḍika đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn cùng với hội chúng tỳ khưu nhận lời bữa trai phạn của con vào ngày mai.” Đức Thế tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng.
Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, khi trải qua đêm ấy gia chủ Anāthapiṇḍika đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm rồi đã cho thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn:—“Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.”
Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y cầm y bát đi đến tư gia của gia chủ Anāthapiṇḍika, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu. Sau đó, gia chủ Anāthapiṇḍika đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, gia chủ Anāthapiṇḍika đã ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, gia chủ Anāthapiṇḍika đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, con tiến hành như thế nào về Jetavana?”
—“Này gia chủ, chính vì điều ấy ngươi hãy cho thiết lập Jetavana dành cho hội chúng bốn phương hiện tại và vị lai.”
—“Bạch ngài, xin vâng.” Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika nghe theo đức Thế Tôn đã thiết lập Jetavana dành cho hội chúng bốn phương hiện tại và vị lai.
Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói lời tùy hỷ với gia chủ Anāthapiṇḍika bằng những lời kệ này:
Inda-bh 44~44“Từ nơi ấy, chúng (các trú xá) ngăn ngừa sự nóng, sự lạnh, và các loài thú dữ, các loài rắn, và các muỗi mòng, và luôn cả luôn các cơn mưa lạnh.
Từ nơi ấy, cơn gió nóng dữ dội đã sanh lên bị dội lại. Với mục đích về sự nương náu, với mục đích về sự an lạc, để thiền định, và để hành minh sát.
Sự bố thí trú xá đến hội chúng đã được đức Phật ngợi khen là tối thắng. Vì thế người sáng trí, trong khi nhìn thấy lợi ích cho mình ...
... nên cho xây dựng trú xá đẹp, nên thỉnh các bậc nghe nhiều (học rộng) ngụ tại nơi ấy. (Nên cúng dường) cơm, nước, vải vóc, và chỗ nằm ngồi đến các vị ấy.
Với tâm ý trong sạch, nên cúng dường ở các bậc có bản chất ngay thẳng. Các vị ấy thuyết Pháp đến người (thí chủ) ấy, là Pháp có sự xua tan tất cả khổ đau. Sau khi biết được Pháp ấy, người (thí chủ) ấy trong đời này chứng ngộ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
Sau đó, khi đã nói lời tùy hỷ với gia chủ Anāthapiṇḍika bằng những lời kệ này đức Thế Tôn đã rời chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Inda-bh 45~45Vào lúc bấy giờ, có bữa trai phạn dâng đến hội chúng của vị quan đại thần nọ là đệ tử đạo lõa thể. Đại đức Upanananda con trai dòng Sakya đi đến trễ và đã làm cho vị tỳ khưu ngồi kế cận có sự thọ thực chưa xong phải đứng dậy. Nhà ăn đã có sự xáo động. Khi ấy, vị quan đại thần ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử đi đến trễ lại còn làm cho các vị tỳ khưu ngồi kế cận có sự thọ thực chưa xong phải đứng dậy khiến nhà ăn đã có sự xáo động? Ngay cả khi được ngồi chỗ khác, không lẽ không thể thọ thực theo như nhu cầu hay sao?” Các tỳ khưu đã nghe vị quan đại thần phàn nàn, phê phán, chê bai.
Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao đại đức Upananda đi đến trễ lại còn làm cho vị tỳ khưu ngồi kế cận có sự thọ thực chưa xong phải đứng dậy khiến nhà ăn đã có sự xáo động?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này Upananda, nghe nói ngươi đi đến trễ còn làm cho vị tỳ khưu ngồi kế cận có sự thọ thực chưa xong phải đứng dậy khiến nhà ăn đã có sự xáo động, có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi đi đến trễ lại còn cho vị tỳ khưu ngồi kế cận có sự thọ thực chưa xong phải đứng dậy khiến nhà ăn đã có sự xáo động vây? Này kẻ rồ dại, việc ấy không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, không nên bảo vị tỳ khưu ngồi kế cận có sự thọ thực chưa xong đứng dậy; vị nào bảo đứng dậy thì phạm tội dukkaṭa. Nếu bảo đứng dậy, nên nói với vị được yêu cầu (đứng dậy) rằng: ‘Hãy đi lấy nước đem lại.’ Nếu việc ấy đạt được như thế, việc ấy như vậy là tốt đẹp. Nếu không đạt được như vậy, (vị đang ăn) nên nuốt xuống các hạt cơm một cách khéo léo rồi nhường lại chỗ ngồi cho vị tỳ khưu thâm niên hơn. Này các tỳ khưu, nhưng ta không nói rằng: ‘Chỗ ngồi của vị tỳ khưu thâm niên hơn có thể bị xâm phạm bởi bất cứ phương thức nào;’ vị nào xâm phạm thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 46~46Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư bảo các tỳ khưu bị bệnh phải đứng dậy. Các vị bị bệnh nói như vầy:—“Này các đại đức, chúng tôi không thể đứng dậy, chúng tôi bị bệnh.”—“Chúng tôi sẽ làm cho các đại đức đứng dậy.” Rồi họ đã nắm lấy, lôi đứng dậy, và buông ra để cho các vị ấy đứng. Các vị bệnh bị ngất xỉu ngã xuống. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên bảo các vị bị bệnh phải đứng dậy, vị nào bảo đứng dậy thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư (bảo rằng): ‘Chúng tôi bị bệnh, không nên bảo chúng tôi đứng dậy’ rồi chiếm chỗ nằm tốt nhất. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép nhường chỗ nằm thích hợp cho vị bị bệnh.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư dùng mánh lới xâm chiếm chỗ trú ngụ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên dùng mánh lới xâm chiếm chỗ trú ngụ; vị nào xâm chiếm thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 47~47Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư sửa chữa ngôi trú xá lớn nọ ở vùng lân cận (nghĩ rằng): “Chúng ta sẽ an cư mùa mưa ở chỗ này.” Các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã nhìn thấy các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư đang sửa chữa ngôi trú xá, sau khi nhìn thấy đã nói như vầy:—“Này các đại đức, các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư này sửa chữa ngôi trú xá. Giờ chúng ta sẽ bảo họ tránh ra.” Một số vị đã nói như vầy:—“Này các đại đức, hãy chờ đợi trong lúc họ sửa chữa. Khi đã được sửa chữa xong, chúng ta sẽ bảo họ tránh ra.”
Sau đó, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã nói với các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư điều này:—“Này các đại đức, hãy tránh ra. Trú xá thuộc về chúng tôi.”
—“Này các đại đức, không phải là điều cần phải được báo trước hay sao? Và chúng tôi đã có thể sửa chữa cái khác.”
—“Này các đại đức, không phải trú xá thuộc về hội chúng hay sao?”
—“Này các đại đức, đúng vậy. Trú xá thuộc về hội chúng.”
—“Này các đại đức, hãy tránh ra. Trú xá thuộc về chúng tôi.”
—“Này các đại đức, trú xá thì lớn, các vị ở được, chúng tôi cũng sẽ ở được.”
—“Này các đại đức, hãy tránh ra. Trú xá thuộc về chúng tôi.” Rồi (các tỳ khưu nhóm Lục Sư) nổi giận, bất bình nắm (các vị kia) ở cổ lôi kéo ra ngoài. Trong khi bị lôi kéo ra ngoài, các vị kia khóc lóc. Các tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này các đại đức, vì sao các vị khóc?”
—“Thưa các đại đức, những tỳ khưu nhóm Lục Sư này nổi giận, bất bình rồi lôi kéo chúng tôi ra khỏi trú xá thuộc về hội chúng.”
Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư này nổi giận, bất bình lại lôi kéo các tỳ khưu ra khỏi trú xá thuộc về hội chúng?”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc lên đức Thế Tôn. … (như trên) …—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư nổi giận, bất bình rồi lôi kéo các tỳ khưu ra khỏi trú xá thuộc về hội chúng, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, vị nổi giận, bất bình không nên lôi kéo các tỳ khưu ra khỏi trú xá thuộc về hội chúng; vị nào lôi kéo ra thì nên hành xử đúng theo Pháp. Này các tỳ khưu, ta cho phép phân phối chỗ trú ngụ.”
Inda-bh 48~48Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Chỗ trú ngụ nên được phân phối bởi vị nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị phân phối chỗ trú ngụ là vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị biết (chỗ trú ngụ) đã được nhận hoặc chưa được nhận. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy:
Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu, sau khi yêu cầu hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân phối chỗ trú ngụ. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân phối chỗ trú ngụ. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân phối chỗ trú ngụ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị phân phối chỗ trú ngụ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Khi ấy, các tỳ khưu là các vị phân phối chỗ trú ngụ đã khởi ý điều này: “Chỗ trú ngụ nên được phân phối như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép trước tiên đếm số lượng tỳ khưu; sau khi đếm số lượng tỳ khưu rồi đếm số lượng chỗ nằm; sau khi đếm số lượng chỗ nằm thì phân phối theo chỗ nằm.”
Trong khi phân phối theo chỗ nằm, các chỗ nằm đã được thừa ra.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép phân phối theo trú xá.”
Trong khi phân phối theo trú xá, các trú xá đã được thừa ra. ―nt―
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép phân phối theo phòng ở.”
Trong khi phân phối theo phòng ở, các phòng ở đã được thừa ra.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép phân phối luôn cả phần còn lại. Khi phần còn lại đã được nhận, có vị tỳ khưu khác đi đến, nếu (các vị) không sẵn lòng thì không cần phải cho.”
Inda-bh 49~49Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu phân phối chỗ trú ngụ cho vị đứng ở ngoài ranh giới. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên phân phối sàng tọa cho vị đứng ở ngoài ranh giới; vị nào phân phối thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sau khi nhận chỗ trú ngụ rồi chiếm giữ luôn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, sau khi nhận chỗ trú ngụ không nên chiếm giữ luôn; vị nào chiếm giữ thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép chiếm giữ trong ba tháng của mùa mưa, mùa khác không được chiếm giữ.”
Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Có bao nhiêu thời điểm phân phối chỗ trú ngụ?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, đây là ba thời điểm phân phối chỗ trú ngụ: thời điểm trước, thời điểm sau, thời điểm trung gian. Vào ngày kế ngày rằm của tháng Āsāḷhā là thời điểm trước nên được phân phối, một tháng kế sau ngày rằm của tháng Āsāḷhā là thời điểm sau nên được phân phối, một ngày sau lễ Pavāraṇā cho đến lần an cư mùa mưa kế là thời điểm trung gian nên được phân phối. Này các tỳ khưu, đây là ba thời điểm phân phối chỗ trú ngụ.”
Dứt tụng phẩm thứ nhì.
Inda-bh 50~50Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai dòng Sakya sau khi được phân phối chỗ trú ngụ ở thành Sāvatthi đã đi đến trú ngụ ở ngôi làng khác. Ngay cả ở nơi ấy, vị ấy đã được phân phối chỗ trú ngụ. Khi ấy, các tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Này các đại đức, đại đức Upananda con trai dòng Sakya này là vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và bất hòa trong hội chúng. Nếu vị này sẽ an cư mùa mưa ở đây, chính tất cả chúng ta sẽ sống không được thoải mái; vậy chúng ta hãy hỏi vị ấy đi.”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã nói với đại đức Upananda con trai dòng Sakya điều này:
—“Này đại đức Upananda, không phải đại đức đã nhận chỗ trú ngụ ở thành Sāvatthi rồi hay sao?”
—“Này các đại đức, đúng vậy.”
—“Này đại đức Upananda, tại sao đại đức là một lại chiếm giữ hai?”
—“Này các đại đức, giờ tôi bỏ cái chỗ này, giữ lại cái chỗ kia.”
Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao đại đức Upananda con trai dòng Sakya là một lại chiếm giữ hai?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Upananda rằng:—“Này Upananda, nghe nói ngươi là một lại chiếm giữ hai, có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi là một lại chiếm giữ hai? Này kẻ rồ dại, chỗ kia ngươi giữ lại, chỗ này ngươi bỏ; chỗ này ngươi giữ lại, chỗ kia ngươi bỏ. Này kẻ rồ dại, như thế ở cả hai nơi người đều bị loại ra ngoài. Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.” Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, một vị không nên chiếm giữ hai (chỗ trú ngụ), vị nào chiếm giữ thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 51~51Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn thuyết giảng về Luật cho các tỳ khưu theo nhiều phương thức, ngài ngợi khen Luật, ngợi khen sự nghiên cứu về Luật, ngợi khen đại đức Upāli như thế này như thế khác. Các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Bằng nhiều phương thức, đức Thế Tôn thuyết giảng về Luật, ngợi khen Luật, ngợi khen sự nghiên cứu về Luật, ngợi khen đại đức Upāli như thế này như thế khác. Này các đại đức, vậy chúng ta hãy học tập về Luật với đại đức Upāli.” Và các vị ấy gồm nhiều tỳ khưu trưởng lão, mới tu, và trung niên học tập về Luật với đại đức Upāli. Vì tôn trọng các tỳ khưu trưởng lão, đại đức Upāli chỉ đứng để giảng giải. Vì tôn kính Giáo Pháp, các tỳ khưu trưởng lão cũng chỉ đứng để nghe giảng. Trong trường hợp ấy, các tỳ khưu trưởng lão luôn cả đại đức Upāli đều bị mệt mỏi.
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu mới tu ngồi chỗ ngồi ngang bằng hoặc cao hơn trong khi giảng giải vì tôn kính Giáo Pháp; vị tỳ khưu trưởng lão ngồi chỗ ngồi ngang bằng hoặc thấp hơn trong khi nghe giảng vì tôn kính Giáo Pháp.”
Vào lúc bấy giờ, trong sự hiện diện của đại đức Upāli nhiều vị tỳ khưu chỉ đứng trong khi chờ đợi bài giảng nên bị mệt mỏi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ngồi (chung) với những vị có đồng đẳng cấp.”
Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Giới hạn đến đâu gọi là có đồng đẳng cấp?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ngồi với vị (chênh lệch) khoảng cách ba năm (trở lại).”
Vào lúc bấy giờ, nhiều tỳ khưu có đồng đẳng cấp đã ngồi xuống trên một cái giường và đã làm gãy cái giường, đã ngồi xuống trên một cái ghế và đã làm gãy cái ghế. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép giường đối với nhóm ba vị, ghế đối với nhóm ba vị.”
Ngay cả nhóm ba vị ngồi xuống trên cái giường cũng đã làm gãy cái giường, ngồi xuống trên cái ghế cũng đã làm gãy cái ghế.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép giường đối với nhóm hai vị, ghế đối với nhóm hai vị.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ngần ngại không ngồi xuống trên ghế dài cùng với các vị không đồng đẳng cấp. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ngồi trên ghế dài cùng với những vị không đồng đẳng cấp ngoại trừ người vô căn, phụ nữ, người lưỡng căn.”
Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Vậy ghế dài tối thiểu (ngắn nhất) là bao nhiêu?” … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ghế dài có chiều dài tối thiểu là đủ cho ba người.”
Inda-bh 52~52Vào lúc bấy giờ, bà Visākhā mẹ của Migāra có ý muốn cho xây dựng tòa nhà dài có mái hiên hình đầu voi nhằm sự lợi ích cho hội chúng. Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Ở công trình phụ của tòa nhà dài việc gì được đức Thế Tôn cho phép, việc gì không được cho phép?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tất cả công trình phụ của tòa nhà dài.”
Vào lúc bấy giờ, bà nội của đức vua Pasenadi xứ Kosala từ trần. Khi bà ta từ trần, nhiều vật dụng không được phép đã phát sanh đến hội chúng như là: ghế trường kỷ, ghế nệm lông thú, thảm lông cừu dài sợi, thảm lông nhiều màu, thảm lông cừu màu trắng, thảm thêu bông hoa, thảm bông gòn, thảm dệt có nhiều hình thú, thảm có lông mặt trên, thảm có lông một bên góc, thảm dệt sợi vàng, thảm lụa, thảm lớn để nhảy múa, thảm ở mình voi, thảm ở mình ngựa, thảm lót xe, thảm da beo, thảm da nai giống quý, thảm có che phủ ở bên trên và có màu đỏ ở hai đầu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép sử dụng sau khi cắt ngắn các chân của ghế trường kỷ, (cho phép) sử dụng sau khi đã hủy đi lông ở ghế nệm lông thú, (cho phép) tháo gỡ nệm bông gòn để làm gối, (cho phép) dùng làm thảm lót trên nền đất các vật còn lại.”
Inda-bh 53~53Vào lúc bấy giờ, ở ngôi làng nọ không xa thành Sāvatthi, các tỳ khưu thường trú bị bận rộn trong khi sắp xếp sàng tọa cho các tỳ khưu vãng lai và xuất hành. Khi ấy, các tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Này các đại đức, hiện nay chúng ta bị bận rộn trong khi sắp xếp sàng tọa cho các tỳ khưu vãng lai và xuất hành. Này các đại đức, vậy chúng ta hãy cho tất cả sàng tọa thuộc về hội chúng đến một vị rồi chúng ta sẽ sử dụng đồ đạc của vị ấy.” Họ đã cho tất cả sàng tọa thuộc về hội chúng đến một vị. Các tỳ khưu vãng lai đã nói với các tỳ khưu ấy điều này:—“Này các đại đức, hãy xếp đặt sàng tọa cho chúng tôi.”
—“Này các đại đức, sàng tọa thuộc về hội chúng không có, chúng tôi đã cho tất cả đến một vị.”—“Này các đại đức, có phải các vị phân tán sàng tọa thuộc về hội chúng?”
—“Này các đại đức, đúng vậy.” Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu lại phân tán sàng tọa thuộc về hội chúng?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu phân tán sàng tọa thuộc về hội chúng, có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại phân tán sàng tọa thuộc về hội chúng? Này các tỳ khưu, việc ấy không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, đây là năm vật không nên phân tán, không được phân tán bởi hội chúng, hoặc bởi nhóm, hoặc bởi cá nhân. Ngay cả những vật đã được phân tán vẫn là chưa được phân tán; vị nào phân tán thì phạm tội thullaccaya. Năm vật ấy là gì?”
Tu viện và khu đất của tu viện; đây là vật thứ nhất không nên phân tán, không được phân tán bởi hội chúng, hoặc bởi nhóm, hoặc bởi cá nhân. Ngay cả vật đã được phân tán vẫn là chưa được phân tán; vị nào phân tán thì phạm tội thullaccaya.
Trú xá và khu đất của trú xá; đây là vật thứ nhì không nên phân tán, không được phân tán bởi hội chúng, hoặc bởi nhóm, hoặc bởi cá nhân. Ngay cả vật đã được phân tán vẫn là chưa được phân tán; vị nào phân tán thì phạm tội thullaccaya.
Giường, ghế, nệm, gối; đây là vật thứ ba không nên phân tán, không được phân tán bởi hội chúng, hoặc bởi nhóm, hoặc bởi cá nhân. Ngay cả vật đã được phân tán vẫn là chưa được phân tán; vị nào phân tán thì phạm tội thullaccaya.
Chum bằng kim loại, vại bằng kim loại, hũ bằng kim loại, chậu bằng kim loại, dao, rìu, búa, cuốc, xẻng; đây là vật thứ tư không nên phân tán, không được phân tán bởi hội chúng, hoặc bởi nhóm, hoặc bởi cá nhân. Ngay cả vật đã được phân tán vẫn là chưa được phân tán; vị nào phân tán thì phạm tội thullaccaya.
Dây thừng, tre, cỏ muñja, cỏ babbaja, cỏ dại, đất sét, vật làm bằng gỗ, vật làm bằng đất sét; đây là vật thứ năm không nên phân tán, không được phân tán bởi hội chúng, hoặc bởi nhóm, hoặc bởi cá nhân. Ngay cả vật đã được phân tán vẫn là chưa được phân tán; vị nào phân tán thì phạm tội thullaccaya.
Này các tỳ khưu, năm vật này không nên phân tán, không được phân tán bởi hội chúng, hoặc bởi nhóm, hoặc bởi cá nhân. Ngay cả những vật đã được phân tán vẫn là chưa được phân tán; vị nào phân tán thì phạm tội thullaccaya.”
Inda-bh 54~54Sau đó, khi đã ngự tại thành Sāvatthi theo như ý thích đức Thế Tôn đã lên đường du hành đi đến Kīṭāgiri cùng với đại chúng tỳ khưu gồm năm trăm vị tỳ khưu có cả Sāriputta và Moggallāna. Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn đi đến Kīṭāgiri cùng với đại chúng tỳ khưu gồm năm trăm vị tỳ khưu có cả Sāriputta và Moggallāna. Này các đại đức, vậy chúng ta hãy phân chia tất cả sàng tọa thuộc về hội chúng. Sāriputta và Moggallāna có lòng tham muốn sái quấy, bị chi phối bởi lòng tham muốn sái quấy, chúng ta sẽ không sắp đặt chỗ trú ngụ cho họ” rồi các vị ấy đã phân chia tất cả sàng tọa thuộc về hội chúng.
Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến Kīṭāgiri. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo nhiều vị tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, các ngươi hãy đi (trước). Khi đi đến gặp các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka, các ngươi hãy nói như vầy: ‘Này các đại đức, đức Thế Tôn đi đến cùng với đại chúng tỳ khưu gồm năm trăm vị tỳ khưu có cả Sāriputta và Moggallāna. Này các đại đức, hãy sắp đặt chỗ trú ngụ cho đức Thế Tôn cùng hội chúng tỳ khưu có cả Sāriputta và Moggallāna.’”
—“Bạch ngài, xin vâng.” Rồi các vị tỳ khưu ấy nghe theo đức Thế Tôn đã đi đến gặp các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka, sau khi đến đã nói với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka điều này:—“Này các đại đức, đức Thế Tôn đi đến cùng với đại chúng tỳ khưu gồm năm trăm vị tỳ khưu luôn cả Sāriputta và Moggallāna. Này các đại đức, hãy sắp đặt chỗ trú ngụ cho đức Thế Tôn cùng hội chúng tỳ khưu có cả Sāriputta và Moggallāna.”
—“Này các đại đức, sàng tọa thuộc về hội chúng không có. Tất cả đã được chúng tôi chia nhau. Này các đại đức, hoan nghênh đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn thích trú xá nào thì ngài sẽ ngự ở trú xá ấy. Sāriputta và Moggallāna có lòng tham muốn sái quấy, bị chi phối bởi lòng tham muốn sái quấy, chúng tôi sẽ không sắp đặt chỗ trú ngụ cho họ.”
—“Này các đại đức, có phải các vị đã phân chia sàng tọa thuộc về hội chúng?”
—“Này các đại đức, đúng vậy.”
Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka lại phân chia sàng tọa thuộc về hội chúng?”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế tôn.
—“Này các tỳ khưu, nghe nói … (như trên) … có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
—“Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại phân chia sàng tọa thuộc về hội chúng? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, đây là năm vật không nên phân chia, không được phân chia bởi hội chúng, hoặc bởi nhóm, hoặc bởi cá nhân. Ngay cả những vật đã được phân chia vẫn là chưa được phân chia; vị nào phân chia thì phạm tội thullaccaya. Năm vật ấy là gì?
Tu viện và khu đất của tu viện; đây là vật thứ nhất không nên phân chia, không được phân chia bởi hội chúng, hoặc bởi nhóm, hoặc bởi cá nhân. Ngay cả vật đã được phân chia vẫn là chưa được phân chia; vị nào phân chia thì phạm tội thullaccaya.
Trú xá và khu đất của trú xá; đây là vật thứ nhì không nên phân chia, … (như trên) …
Giường, ghế, nệm, gối; đây là vật thứ ba không nên phân chia, … (như trên) …
Chum bằng kim loại, vại bằng kim loại, hũ bằng kim loại, chậu bằng kim loại, dao, rìu, búa, cuốc, xẻng; đây là vật thứ tư không nên phân chia, … (như trên) …
Dây thừng, tre, cỏ muñja, cỏ babbaja, cỏ dại, đất sét, vật làm bằng gỗ, vật làm bằng đất sét; đây là vật thứ năm không nên phân chia, không được phân chia bởi hội chúng, hoặc bởi nhóm, hoặc bởi cá nhân. Ngay cả vật đã được phân chia vẫn là chưa được phân chia; vị nào phân chia thì phạm tội thullaccaya.
Này các tỳ khưu, năm vật này không nên phân chia, không được phân chia bởi hội chúng, hoặc bởi nhóm, hoặc bởi cá nhân. Ngay cả vật đã được phân chia vẫn là chưa được phân chia; vị nào phân chia thì phạm tội thullaccaya.”
Inda-bh 55~55Sau đó, khi đã ngự tại Kīṭāgiri theo như ý thích đức Thế Tôn đã lên đường đi đến Āḷavī. Trong khi du hành theo tuần tự ngài đã ngự đến Āḷavī. Tại nơi đó ở Āḷavī, đức Thế Tôn ngự ở trong điện thờ chính của Āḷavī.
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở Āḷavī giao các công trình mới có hình thức như sau: họ giao công trình mới chỉ với mỗi một việc bảo chất lại thành đống, họ giao công trình mới chỉ với mỗi một việc tô vữa bức tường, họ giao công trình mới chỉ với mỗi một việc lắp đặt cánh cửa, họ giao công trình mới chỉ với mỗi một việc làm tay nắm, họ giao công trình mới chỉ với mỗi một việc làm cửa sổ, họ giao công trình mới chỉ với mỗi một việc sơn màu trắng, họ giao công trình mới chỉ với mỗi một việc sơn màu đen, họ giao công trình mới chỉ với mỗi một việc trét màu phấn đỏ, họ giao công trình mới chỉ với mỗi một việc lợp mái che, họ giao công trình mới chỉ với mỗi một việc lắp ráp, họ giao công trình mới chỉ với mỗi một việc đặt thanh ngang ở cửa, họ giao công trình mới chỉ với mỗi một việc sửa chữa các chỗ hư hỏng, họ giao công trình mới chỉ với mỗi một việc làm bục nền xung quanh, họ giao công trình mới đến hai mươi năm, họ giao công trình mới đến ba mươi năm, họ giao công trình mới đến trọn đời, họ giao công trình mới là trú xá đã được hoàn tất cho đến khi (chết và) hỏa táng.
Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Āḷavaka lại giao các công trình mới có hình thức như sau: họ giao công trình mới chỉ với mỗi một việc bảo chất lại thành đống, … (như trên) … họ giao công trình mới là trú xá đã được hoàn tất cho đến khi (chết và) hỏa táng?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, nghe nói … (như trên) … có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, không nên giao công trình mới với mỗi một việc bảo chất lại thành đống, không nên giao công trình mới với mỗi một việc tô vữa bức tường, không nên giao công trình mới với mỗi một việc lắp đặt cánh cửa, không nên giao công trình mới với mỗi một việc làm tay nắm, không nên giao công trình mới với mỗi một việc làm cửa sổ, không nên giao công trình mới với mỗi một việc sơn màu trắng, không nên giao công trình mới với mỗi một việc sơn màu đen, không nên giao công trình mới với mỗi một việc trét màu phấn đỏ, không nên giao công trình mới với mỗi một việc lợp mái che, không nên giao công trình mới với mỗi một việc lắp ráp, không nên giao công trình mới với mỗi một việc đặt thanh ngang ở cửa, không nên giao công trình mới với mỗi một việc sửa chữa các chỗ hư hỏng, không nên giao công trình mới với mỗi một việc làm bục nền xung quanh, không nên giao công trình mới đến hai mươi năm, không nên giao công trình mới đến ba mươi năm, không nên giao công trình mới đến trọn đời, không nên giao công trình mới là trú xá đã được hoàn tất đến khi (chết và) hoả táng; vị nào giao thì phạm tội dukkaṭa.
Này các tỳ khưu, ta cho phép giao công trình mới chưa khởi công hoặc chưa hoàn tất, (cho phép) xem xét công việc ở trú xá nhỏ rồi giao công trình mới năm hoặc sáu năm, (cho phép) xem xét công việc ở nhà một mái rồi giao công trình mới bảy hoặc tám năm, (cho phép) xem xét công việc ở trú xá lớn rồi giao công trình mới mười hoặc mười hai năm.”
Inda-bh 56~56Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu giao công trình mới là toàn bộ trú xá. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên giao công trình mới là toàn bộ trú xá; vị nào giao thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu giao hai công trình mới đến một vị. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên giao hai (công trình mới) đến một vị; vị nào giao thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, sau khi nhận lãnh công trình mới các tỳ khưu cho vị khác trú ngụ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, sau khi nhận lãnh công trình mới không nên cho vị khác trú ngụ; vị nào cho trú ngụ thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, sau khi nhận lãnh công trình mới các tỳ khưu chiếm giữ vật thuộc về hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, sau khi nhận lãnh công trình mới không nên chiếm giữ vật thuộc về hội chúng; vị nào chiếm giữ thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép nhận lãnh một chỗ nằm tốt nhất.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu giao công trình mới đến vị đứng ở ngoài ranh giới. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
“Này các tỳ khưu, không nên giao công trình mới đến vị đứng ở ngoài ranh giới; vị nào giao thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, sau khi nhận lãnh công trình mới các tỳ khưu chiếm giữ luôn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, sau khi nhận lãnh công trình mới không nên chiếm giữ luôn; vị nào chiếm giữ thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép chiếm giữ trong ba tháng mùa mưa, mùa khác không được chiếm giữ.”
Inda-bh 57~57Vào lúc bấy giờ, sau khi nhận lãnh công trình mới các tỳ khưu bỏ đi, hoàn tục, từ trần, được biết là (xuống) sa di, được biết là người đã xả bỏ sự học tập, được biết là vị phạm tội cực nặng, được biết là vị bị điên, được biết là bị loạn trí, được biết là vị bị thọ khổ hành hạ, được biết là vị bị án treo về việc không nhìn nhận tội, được biết là vị bị án treo về việc không sửa chữa lỗi, được biết là vị bị án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác, được biết là người vô căn, được biết là kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu), được biết là kẻ đã đi theo ngoại đạo, được biết là thú vật, được biết là kẻ giết mẹ, được biết là kẻ giết cha, được biết là kẻ giết A-la-hán, được biết là kẻ làm nhơ tỳ khưu ni, được biết là kẻ chia rẽ hội chúng, được biết là kẻ làm chảy máu (đức Phật), được biết là người lưỡng căn.
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, trường hợp sau khi nhận lãnh công trình mới, vị tỳ khưu bỏ đi. (Nên nghĩ rằng): ‘Chớ làm tổn hại đến hội chúng’ rồi nên giao cho vị khác. Này các tỳ khưu, trường hợp sau khi nhận lãnh công trình mới, vị tỳ khưu hoàn tục, từ trần, được biết là (xuống) sa di, được biết là người đã xả bỏ sự học tập, được biết là vị phạm tội cực nặng, được biết là vị bị điên, được biết là bị loạn trí, được biết là vị bị thọ khổ hành hạ, được biết là vị bị án treo về việc không nhìn nhận tội, được biết là vị bị án treo về việc không sửa chữa lỗi, được biết là vị bị án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác, được biết là người vô căn, được biết là kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu), được biết là kẻ đã đi theo ngoại đạo, được biết là thú vật, được biết là kẻ giết mẹ, được biết là kẻ giết cha, được biết là kẻ giết A-la-hán, được biết là kẻ làm nhơ tỳ khưu ni, được biết là kẻ chia rẽ hội chúng, được biết là kẻ làm chảy máu (đức Phật), được biết là người lưỡng căn. (Nên nghĩ rằng): ‘Chớ làm tổn hại đến hội chúng’ rồi nên giao cho vị khác.
Này các tỳ khưu, trường hợp sau khi nhận lãnh công trình mới, trong khi chưa hoàn tất, vị tỳ khưu bỏ đi. (Nên nghĩ rằng): ‘Chớ làm tổn hại đến hội chúng’ rồi nên giao cho vị khác. Này các tỳ khưu, trường hợp sau khi nhận lãnh công trình mới, trong khi chưa hoàn tất, vị tỳ khưu hoàn tục, từ trần … (như trên) … được biết là người lưỡng căn. (Nên nghĩ rằng): ‘Chớ làm tổn hại đến hội chúng’ rồi nên giao cho vị khác.
Này các tỳ khưu, trường hợp sau khi nhận lãnh công trình mới, khi đã hoàn tất, vị tỳ khưu bỏ đi; công trình ấy còn thuộc về vị ấy (trong mùa mưa năm ấy). Này các tỳ khưu, trường hợp sau khi nhận lãnh công trình mới, khi đã hoàn tất, vị tỳ khưu hoàn tục, chết đi, được biết là (xuống) sa di, được biết là người đã xả bỏ sự học tập, được biết là vị phạm tội cực nặng; hội chúng là chủ quản.
Này các tỳ khưu, trường hợp sau khi nhận lãnh công trình mới, khi đã hoàn tất, vị tỳ khưu được biết là vị bị điên, được biết là bị loạn trí, được biết là vị bị thọ khổ hành hạ, được biết là vị bị án treo về việc không nhìn nhận tội, được biết là vị bị án treo về việc không sửa chữa lỗi, được biết là vị bị án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác; công trình ấy còn thuộc về vị ấy (trong mùa mưa năm ấy).
Này các tỳ khưu, trường hợp sau khi nhận lãnh công trình mới, khi đã hoàn tất, vị tỳ khưu được biết là người vô căn, được biết kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu), được biết là kẻ đã đi theo ngoại đạo, được biết là thú vật, được biết là kẻ giết mẹ, được biết là kẻ giết cha, được biết là kẻ giết A-la-hán, được biết là kẻ làm nhơ tỳ khưu ni, được biết là kẻ chia rẽ hội chúng, được biết là kẻ làm chảy máu (đức Phật), được biết là người lưỡng căn; hội chúng là chủ quản.”
Inda-bh 58~58Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sử dụng sàng tọa là vật dụng trong trú xá của nam cư sĩ nọ tại một địa điểm khác. Khi ấy, nam cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các ngài đại đức lại sử dụng đồ đạc của địa điểm này tại địa điểm khác?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng đồ đạc của địa điểm này tại địa điểm khác; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu trong khi ngần ngại di chuyển (thảm lót) đến nhà hành lễ Uposatha và nơi tụ hội nên ngồi xuống ở nền nhà. Các phần thân thể và các y bị dơ bẩn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép di chuyển có tính cách tạm thời.”
Vào lúc bấy giờ, trú xá lớn của hội chúng bị sụp đổ. Các tỳ khưu trong khi ngần ngại không di chuyển sàng tọa. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép di chuyển vì mục đích bảo quản.”
Vào lúc bấy giờ, có mền len đắt giá là vật phụ thuộc của sàng tọa phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép trao đổi (vật khác) để công việc được thuận tiện.”
Vào lúc bấy giờ, có tấm vải dệt đắt giá là vật phụ thuộc của sàng tọa phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép trao đổi (vật khác) để công việc được thuận tiện.”
Inda-bh 59~59Vào lúc bấy giờ, có tấm da gấu phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm vật chùi chân.”
Vào lúc bấy giờ, có tấm vải len phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm vật chùi chân.”
Vào lúc bấy giờ, có tấm vải phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm vật chùi chân.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu bước lên chỗ nằm ngồi với các bàn chân chưa rửa. Chỗ nằm ngồi bị dơ bẩn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên bước lên chỗ nằm ngồi với các bàn chân chưa rửa; vị nào bước lên thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu bước lên chỗ nằm ngồi với các bàn chân bị ướt. Chỗ nằm ngồi bị dơ bẩn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên bước lên chỗ nằm ngồi với các bàn chân bị ướt; vị nào bước lên thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu mang dép bước lên chỗ nằm ngồi. Chỗ nằm ngồi bị dơ bẩn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên mang dép bước lên chỗ nằm ngồi; vị nào bước lên thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 60~60Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhổ lên mặt nền đã được làm mới khiến màu bị lem luốc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên nhổ lên mặt nền đã được làm mới; vị nào nhổ thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ống nhổ.”
Vào lúc bấy giờ, các chân giường và các chân ghế làm trầy mặt nền được làm mới. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
“Này các tỳ khưu, ta cho phép dùng vải bọc tròn lại.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu tựa vào tường đã được làm mới khiến màu bị lem luốc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên tựa vào tường đã được làm mới; vị nào tựa thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) tấm bảng để dựa vào.”
Tấm bảng để dựa vào làm trầy mặt nền ở bên dưới và bức tường ở bên trên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép bọc lại ở bên dưới và bên trên với mảnh vải.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu có chân đã rửa sạch ngần ngại nằm xuống. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép nằm xuống sau khi đã trải ra tấm lót.”
Inda-bh 61~61Sau đó, khi đã ngự tại Āḷavī theo như ý thích đức Thế Tôn đã lên đường đi đến thành Rājagaha. Trong khi du hành theo tuần tự ngài đã ngự đến thành Rājagaha. Tại nơi đó ở thành Rājagaha, đức Thế Tôn ngự tại Veḷuvana nơi nuôi dưỡng các con sóc.
Inda-bh 62~62Vào lúc bấy giờ, thành Rājagaha có sự khó khăn về vật thực. Dân chúng không thể thực hiện bữa trai phạn dâng đến hội chúng nên muốn thực hiện bữa ăn đến các vị được chỉ định, sự thỉnh mời, bữa ăn dâng theo thẻ, vào mỗi nửa tháng, vào mỗi kỳ Uposatha, vào ngày đầu của mỗi nửa tháng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép bữa trai phạn dâng đến hội chúng, bữa ăn dâng đến các vị được chỉ định, sự thỉnh mời, bữa ăn dâng theo thẻ, vào mỗi nửa tháng, vào mỗi kỳ Uposatha, vào ngày đầu của mỗi nửa tháng.”
Inda-bh 63~63Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư lấy cho bản thân các bữa ăn thượng hạng và cho các tỳ khưu các bữa ăn tầm thường. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị sắp xếp các bữa ăn là vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị biết (bữa ăn) đã được sắp xếp hay chưa được sắp xếp. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu, sau khi yêu cầu hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị sắp xếp các bữa ăn. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị sắp xếp các bữa ăn. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị sắp xếp các bữa ăn xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị sắp xếp các bữa ăn. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Khi ấy, các tỳ khưu là những vị sắp xếp các bữa ăn đã khởi ý điều này: “Bữa ăn nên được sắp xếp như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc vào thẻ hoặc tấm phiếu, lần lượt rút ra, rồi sắp xếp các bữa ăn.”
Inda-bh 64~64Vào lúc bấy giờ, hội chúng không có vị phân bố chỗ trú ngụ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị phân bố chỗ trú ngụ là vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị biết vật đã được phân bố và chưa được phân bố. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu, sau khi yêu cầu hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân bố chỗ trú ngụ. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân bố chỗ trú ngụ. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân bố chỗ trú ngụ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị phân bố chỗ trú ngụ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 65~65Vào lúc bấy giờ, hội chúng không có vị giữ kho đồ đạc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị giữ kho đồ đạc là vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị biết vật đã được cất giữ và chưa được cất giữ. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu, sau khi yêu cầu hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị giữ kho đồ đạc. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị giữ kho đồ đạc. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị giữ kho đồ đạc xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị giữ kho đồ đạc. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 66~66Vào lúc bấy giờ, hội chúng không có vị tiếp nhận y. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị tiếp nhận y là vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị biết vật đã được tiếp nhận và chưa được tiếp nhận. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu, sau khi yêu cầu hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị tiếp nhận y. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị tiếp nhận y. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị tiếp nhận y xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị tiếp nhận y. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 67~67Vào lúc bấy giờ, hội chúng không có vị phân chia y. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị phân chia y là vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị biết vật đã được phân chia và chưa được phân chia. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy:
Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu, sau khi yêu cầu hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân chia y. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân chia y. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân chia y xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị phân chia y. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 68~68Vào lúc bấy giờ, hội chúng không có vị phân chia cháo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị phân chia cháo là vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, … (như trên) … vị biết vật đã được phân chia và chưa được phân chia. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy:
Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu, sau khi yêu cầu … (như trên) … Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị phân chia cháo. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Vào lúc bấy giờ, hội chúng không có vị phân chia trái cây. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị phân chia trái cây là vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, … (như trên) … vị biết vật đã được phân chia và chưa được phân chia. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu, … (như trên) … Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị phân chia trái cây. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 69~69Vào lúc bấy giờ, hội chúng không có vị phân chia thức ăn khô. Thức ăn khô không được phân chia nên bị hư. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị phân chia thức ăn khô là vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị biết vật đã được phân chia và chưa được phân chia. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu, sau khi yêu cầu hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân chia thức ăn khô. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân chia thức ăn khô. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân chia thức ăn khô xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị phân chia thức ăn khô. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 70~70Vào lúc bấy giờ, vật dụng linh tinh ở trong kho của hội chúng là dồi dào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị phân phát vật linh tinh là vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, … (như trên) … vị biết vật đã được phân chia và chưa được phân chia.
Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu nên được yêu cầu, sau khi yêu cầu hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân phát vật linh tinh. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân phát vật linh tinh. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân phát vật linh tinh xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị phân phát vật linh tinh. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Vị tỳ khưu là vị phân phát các vật linh tinh nên trao mỗi vị một cây kim, nên trao cây kéo, nên trao đôi dép, nên trao dây thắt lưng, nên trao dây quàng ở vai, nên trao đồ lược nước, nên trao đồ lọc nước thông thường, nên trao dải nối theo chiều dọc (của y), nên trao dải nối theo chiều ngang (của y), nên trao mảnh lớn thuộc dải điều (của y), nên trao mảnh nhỏ thuộc dải điều (của y), nên trao vải may đường biên (của y), nên trao vải may đường viền xung quanh (của y). Nếu hội chúng có bơ lỏng, hoặc dầu ăn, hoặc mật ong, hoặc đường mía thì nên trao tức thời để sử dụng. Nếu vật cần dùng có thêm thì nên trao tiếp tục.”
Inda-bh 71~71Vào lúc bấy giờ, hội chúng không có vị phân phối vải choàng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị phân phối vải choàng là vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, … (như trên) … vị biết được vật đã được nhận hoặc chưa được nhận. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu, sau khi yêu cầu hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân phối vải choàng. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân phối vải choàng. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân phối vải choàng xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị phân phối vải choàng. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Vào lúc bấy giờ, hội chúng không có vị phân phối bình bát. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị phân phối bình bát là vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, … (như trên) … vị biết được vật đã được nhận hoặc chưa được nhận.
Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu, sau khi yêu cầu … (như trên) … Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 72~72Vào lúc bấy giờ, hội chúng không có vị quản trị các người phụ việc chùa. Các người phụ việc chùa không được quản trị nên không làm công việc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị quản trị các người phụ việc chùa là vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, … (như trên) … vị biết được việc cần quản trị và việc không cần quản trị. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: … (như trên) … nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Vào lúc bấy giờ, hội chúng không có vị quản trị các sa di. Các sa di không được quản trị nên không làm công việc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định vị quản trị các sa di là vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, vị biết được việc cần quản trị và việc không cần quản trị. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu, sau khi yêu cầu hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quản trị các sa di. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quản trị các sa di. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quản trị các sa di xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị quản trị các sa di. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Tụng phẩm thứ ba.
Dứt Chương Sàng Tọa là thứ sáu.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Inda-bh 1~73Vào thời ấy trú xá vẫn chưa được quy định bởi đức Phật tối thượng, các vị đệ tử ấy của đấng Chiến Thắng bước ra từ chỗ ngụ ở nơi này nơi khác.
Inda-bh 2~74Người gia chủ đại phú sau khi nhìn thấy các vị ấy đã nói với các vị tỳ khưu điều này: Tôi có thể cho làm, các ngài có thể cư ngụ. Các vị đã hỏi bậc Lãnh Đạo.
Inda-bh 3~75Ngài đã cho phép năm loại chỗ ngụ là: trú xá, nhà một mái, tòa nhà dài, khu nhà lớn, và hang động. Nhà đại phú hộ đã cho xây dựng các trú xá.
Inda-bh 4~76Người ta cho xây dựng trú xá không có cửa, không đóng được, cánh cửa, trụ cửa, rãnh xoay, và cái chốt xoay ở trên.
Inda-bh 5~77Lỗ để luồn, sợi dây thừng, và tay nắm, cái chốt gài, đinh khóa chốt, chốt cửa, lỗ khóa, khóa bằng đồng, bằng gỗ, và bằng sừng.
Inda-bh 6~78Then cài, đinh khóa chốt, mái che, việc trét vữa bên trên và bên dưới, (cửa sổ) chấn song ngang, gắn lưới, chấn song dọc, và màn che, với thảm trải.
Inda-bh 7~79Giường đúc, và giường bằng vạt tre, ván khiêng tử thi, loại lắp ráp, loại xếp lại, có chân đẽo cong, tháo rời được, ghế vuông loại cao.
Inda-bh 8~80Ghế dựa dài, ghế làm bằng các thanh ráp lại, ghế lót vải, ghế có chỗ gác chân, ghế có nhiều chân, tấm ván, ghế mây, và luôn cả ghế lót rơm nữa.
Inda-bh 9~81Ở giường cao, và con rắn, khung giường, khung giường cao tám ngón tay, chỉ sợi, dệt chéo ô nhỏ, mảnh vải, đệm bông gòn, (gối dài) nửa thân người.
Inda-bh 10~82Trên đỉnh núi, và luôn cả các loại nệm, vải bọc, và luôn cả sàng tọa, đã được bọc lại, rơi ra từ bên dưới, sau khi tháo ra, và họ lấy đem đi.
Inda-bh 11~83Việc thực hiện các đường vẽ, và các đường vẽ bằng bàn tay, đức Thiện Thệ cho phép, màu trắng, màu đen, cũng ở tại trú xá, vỏ trấu, và đất sét loại dẻo.
Inda-bh 12~84Nhựa cây, cái bay thợ nề, cám đỏ, bột mù tạt, dầu sáp ong, bị đóng cục, để chùi, bị lồi lõm, đất sét trộn phân trùn.
Inda-bh 13~85Nhựa cây, và hình ảnh gợi cảm, bị thấp, và nền móng, việc leo lên, các vị bị té, đông đảo người, bức tường thấp, lại là ba (loại phòng).
Inda-bh 14~86Ở (trú xá) nhỏ, chân tường, thấm nước mưa, tiếng la lớn, chốt tường, sào máng y, và dây (treo y), mái hiên, với màn che.
Inda-bh 15~87Tay cầm để vịn, rác cỏ, nên thực hiện theo phương thức ở phần dưới, ngoài trời, bị hâm nóng, gian nhà, và tô uống nước ở phần dưới.
Inda-bh 16~88Trú xá, và luôn cả cổng ra vào, căn phòng, nhà để đốt lửa, về tu viện, và luôn cả cổng ra vào, nên thực hiện theo phương thức ở phần bên dưới.
Inda-bh 17~89Vữa hồ, và ông Cấp Cô Độc có đức tin đã đi đến khu rừng Sīta, đã thấy được Pháp, đã mời thỉnh đấng Lãnh Đạo cùng với hội chúng.
Inda-bh 18~90Trên đường đi đã kêu gọi, nhóm người đã cho xây dựng tu viện, ở Vesāli, công trình mới, đi trước, và giành phần.
Inda-bh 19~91Vị nào xứng đáng phần ăn hạng nhất, chim đa đa, và các hạng không đáng đảnh lễ, bị giành phần, ở trong nhà, (độn) bông gòn, đã ngự đến Sāvatthi.
Inda-bh 20~92Vị ấy đã thiết lập tu viện, và sự ồn ào ở nhà ăn, các vị bị bệnh, các giường tốt nhất, và do mánh lới, nhóm Mười Bảy Sư, ở nơi đó.
Inda-bh 21~93Bởi vị nào? Như thế nào? Đã phân chia theo trú xá, theo phòng ở, và phần còn lại, có thể không ban cho phần chia nếu không thích.
Inda-bh 22~94Ở ngoài ranh giới, và chiếm giữ luôn mọi lúc, ba (thời điểm) về chỗ ngụ, vị Upananda, và Ngài đã ngợi khen, các vị đứng, và cùng ngồi chung chỗ.
Inda-bh 23~95Chỗ ngồi đồng đẳng cấp, các vị đã làm gãy, nhóm ba vị, và nhóm hai vị, với những vị không đồng đẳng cấp, ghế dài, mái hiên hình đầu voi, (cho phép) để sử dụng.
Inda-bh 24~96Và bà nội (của đức vua), không xa, và đã được phân chia, ở Kīṭāgiri, ở Āḷavī, với việc chất đống, và (tô vữa) bức tường, (lắp đặt) cánh cửa, (làm) tay nắm.
Inda-bh 25~97Cửa sổ, (sơn) màu trắng, màu đen, màu đỏ, (lợp) mái che, và việc lắp ráp, đặt thanh ngang, chỗ hư hỏng, bục nền xung quanh, hai mươi năm, ba mươi năm, và trọn đời.
Inda-bh 26~98Đã được hoàn tất, chưa khởi công, ở (trú xá) nhỏ, nên giao sáu hoặc năm năm, về nhà một mái thì bảy hoặc tám năm, và (trú xá) lớn thì mười hoặc mười hai năm.
Inda-bh 27~99(Công trình là) toàn bộ trú xá, (giao hai công trình) cho một vị, cho vị khác ngụ, (chiếm giữ) vật thuộc về hội chúng, ở ngoài ranh giới, (chiếm giữ) luôn mọi lúc, các vị bỏ đi, hoàn tục.
Inda-bh 28~100Và chết đi, (xuống) sa di, vị đã xả bỏ sự học tập, (tội) cực nặng, các vị bị điên, có tâm rối loạn, và bị thọ khổ, do việc không nhìn nhận tội.
Inda-bh 29~101Do việc không sửa chữa lỗi, do tà kiến, các người vô căn, những kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu), và theo ngoại đạo, thú vật, kẻ giết mẹ, cha, A-la-hán, làm nhơ (tỳ khưu ni).
Inda-bh 30~102Những kẻ chia rẽ, làm chảy máu (đức Phật), và luôn cả những người lưỡng căn, (nghĩ rằng): ‘Chớ làm tổn hại đến hội chúng’ rồi nên giao công trình cho vị khác.
Inda-bh 31~103Trong khi chưa hoàn tất, giao vị khác, đã hoàn tất, bỏ đi, vẫn còn thuộc vị ấy. Vị hoàn tục, chết đi, và xuống lại sa di.
Inda-bh 32~104Và vị đã xả bỏ sự học tập, phạm tội cực nặng, nếu là người vô căn, hội chúng là chủ quản. Vị bị điên, có tâm rối loạn, bị thọ khổ.
Inda-bh 33~105Về việc không nhìn nhận tội, không sửa chữa lỗi, tà kiến, thì vẫn còn thuộc về vị ấy. Người vô căn, kẻ trộm tướng mạo (tỳ khưu), theo ngoại đạo, thú vật, kẻ giết mẹ, giết cha.
Inda-bh 34~106Kẻ giết (A-la-hán), và luôn cả kẻ làm nhơ (tỳ khưu ni), kẻ chia rẽ (hội chúng), kẻ làm chảy máu (đức Phật), người lưỡng căn, nếu vị ấy thú nhận, thì chính hội chúng chủ quản.
Inda-bh 35~107Các vị đem nơi khác, có sự ngần ngại, (trú xá) bị sụp đổ, và mền len, tấm vải dệt, tấm da thú, tấm vải len, tấm vải, và các vị bước lên.
Inda-bh 36~108(Bàn chân) bị ướt, có giày dép, việc phun nhổ, các vị làm trầy, và các vị dựa vào, có tấm dựa, hoặc khi đã bị trầy, đã được rửa sạch, và với tấm trải.
Inda-bh 37~109Ở Rājagaha, các vị không thể nào, (bữa ăn) tầm thường, vị sắp xếp bữa ăn, vậy thì như thế nào, vị phân bố (chỗ ngụ), việc chỉ định vị giữ kho.
Inda-bh 38~110Vị tiếp nhận và vị phân chia (y), và luôn cả về cháo, và vị phân chia trái cây, vị phân chia thức ăn khô, và luôn cả phân phát vật linh tinh nữa.
Inda-bh 39~111Và luôn cả vị phân phối vải choàng, tương tợ y như thế là vị phân phối bình bát, và việc chỉ định vị quản trị các người phụ việc tu viện, và các vị sa di.
Inda-bh 40~112Đấng Toàn Tri, bậc Hiểu Biết Thế Gian, vị có tâm tốt lành, là vị Lãnh Đạo, vì lợi ích của chỗ trú ngụ, và vì lợi ích của sự an lạc, để tham thiền, và để minh sát.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Small Division
The chapter on resting places
The first section for recitation
6. Chương về Chỗ ở
1.1. Vihārānujānana
1. The allowance for dwellings
Sự Cho Phép về Trú Xá
Tena samayena buddho bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena bhagavatā bhikkhūnaṁ senāsanaṁ apaññattaṁ hoti. Te ca bhikkhū tahaṁ tahaṁ viharanti—araññe, rukkhamūle, pabbate, kandarāyaṁ, giriguhāyaṁ, susāne, vanapatthe, ajjhokāse, palālapuñje. Te kālasseva tato tato upanikkhamanti—araññā rukkhamūlā pabbatā kandarā giriguhā susānā vanapatthā ajjhokāsā palālapuñjā, pāsādikena abhikkantena paṭikkantena, ālokitena vilokitena, samiñjitena pasāritena, okkhittacakkhū, iriyāpathasampannā.
Tena kho pana samayena rājagahako seṭṭhī kālasseva uyyānaṁ agamāsi. Addasā kho rājagahako seṭṭhī te bhikkhū kālasseva tato tato upanikkhamante—araññā rukkhamūlā pabbatā kandarā giriguhā susānā vanapatthā ajjhokāsā palālapuñjā, pāsādikena abhikkantena paṭikkantena, ālokitena vilokitena, samiñjitena pasāritena, okkhittacakkhū, iriyāpathasampanne. Disvānassa cittaṁ pasīdi. Atha kho rājagahako seṭṭhī yena te bhikkhū tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca—“sacāhaṁ, bhante, vihāre kārāpeyyaṁ, vaseyyātha me vihāresū”ti?
“Na kho, gahapati, bhagavatā vihārā anuññātā”ti.
“Tena hi, bhante, bhagavantaṁ paṭipucchitvā mama āroceyyāthā”ti.
“Evaṁ, gahapatī”ti
kho te bhikkhū rājagahakassa seṭṭhissa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ—“rājagahako, bhante, seṭṭhī vihāre kārāpetukāmo. Kathaṁ nu kho, bhante, amhehi paṭipajjitabban”ti? Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, pañca leṇāni—vihāraṁ, aḍḍhayogaṁ, pāsādaṁ, hammiyaṁ, guhan”ti.
At one time the Buddha was staying at Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrel sanctuary. At this time the Buddha had not yet allowed dwellings. As a result, the monks stayed here and there: in the wilderness, at the foot of a tree, on a hill, in a gorge, in a hillside cave, in a charnel ground, in the forest, in the open, on a heap of straw. Early in the morning, they would emerge from those places. They were pleasing in their conduct: in going out and coming back, in looking ahead and looking aside, in bending and stretching their arms. Their eyes were lowered, and they were perfect in deportment.
One morning a wealthy merchant of Rājagaha was going to a park when he saw those monks. Being inspired, he approached them and said, “If I build dwellings, sirs, would you stay in them?”
“The Buddha hasn’t allowed dwellings.”
“Well then, please ask the Buddha and let me know his response.”
“Yes.”
Those monks then went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “Sir, a wealthy merchant in Rājagaha wants to build dwellings. What should we do?” Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“I allow five kinds of shelters: dwellings, three kinds of stilt houses, and caves.”
294. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn ngự tại Rājagaha, trong khu rừng Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Và vào lúc ấy, đức Thế Tôn vẫn chưa quy định về chỗ ở cho các tỳ khưu. Và các tỳ khưu ấy sống ở nơi này nơi kia – trong rừng, dưới gốc cây, trên núi, trong khe núi, trong hang núi, ở nghĩa địa, trong lùm cây, ngoài trời, trong đống rơm. Các vị ấy vào lúc sáng sớm đi ra từ những nơi này nơi kia – từ rừng, từ gốc cây, từ núi, từ khe núi, từ hang núi, từ nghĩa địa, từ lùm cây, từ ngoài trời, từ đống rơm – với dáng đi tới, lui trang nghiêm, với cách nhìn thẳng, nhìn nghiêng trang nghiêm, với cách co, duỗi tay chân trang nghiêm, mắt nhìn xuống, oai nghi đầy đủ. Và vào lúc ấy, một vị trưởng giả ở Rājagaha đã đi đến khu vườn vào lúc sáng sớm. Vị trưởng giả ở Rājagaha đã nhìn thấy các tỳ khưu ấy vào lúc sáng sớm đi ra từ những nơi này nơi kia – từ rừng, từ gốc cây, từ núi, từ khe núi, từ hang núi, từ nghĩa địa, từ lùm cây, từ ngoài trời, từ đống rơm – với dáng đi tới, lui trang nghiêm, với cách nhìn thẳng, nhìn nghiêng trang nghiêm, với cách co, duỗi tay chân trang nghiêm, mắt nhìn xuống, oai nghi đầy đủ. Sau khi nhìn thấy, tâm của ông trở nên trong sạch. Khi ấy, vị trưởng giả ở Rājagaha đi đến chỗ các tỳ khưu ấy; sau khi đến, đã nói với các tỳ khưu ấy điều này: "Bạch các ngài, nếu con cho xây cất các trú xá, các ngài có ở trong các trú xá của con không?" "Này gia chủ, đức Thế Tôn vẫn chưa cho phép các trú xá." "Bạch các ngài, nếu vậy, xin các ngài hỏi đức Thế Tôn rồi báo lại cho con." "Thưa vâng, gia chủ." Các tỳ khưu ấy sau khi nhận lời của vị trưởng giả ở Rājagaha, đã đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các tỳ khưu ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: "Bạch đức Thế Tôn, vị trưởng giả ở Rājagaha muốn cho xây cất các trú xá. Bạch đức Thế Tôn, chúng con nên thực hành như thế nào?" Khi ấy, đức Thế Tôn, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, sau khi thuyết một bài pháp thoại, đã gọi các tỳ khưu: "Này các tỳ khưu, Ta cho phép năm loại chỗ ở: trú xá, nhà một mái, lâu đài, nhà có sân thượng, và hang động."
Atha kho te bhikkhū yena rājagahako seṭṭhī tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā rājagahakaṁ seṭṭhiṁ etadavocuṁ—“anuññātā kho, gahapati, bhagavatā vihārā; yassadāni kālaṁ maññasī”ti. Atha kho rājagahako seṭṭhī ekāheneva saṭṭhivihāre patiṭṭhāpesi. Atha kho rājagahako seṭṭhī te saṭṭhivihāre pariyosāpetvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rājagahako seṭṭhī bhagavantaṁ etadavoca—“adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho rājagahako seṭṭhī bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
The monks went to that merchant and said, “The Buddha has allowed dwellings. Please do as you think appropriate.” Then, on a single day, that merchant built sixty dwellings. When the dwellings were finished, he went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “Sir, please accept tomorrow’s meal from me together with the Sangha of monks.” The Buddha consented by remaining silent. Knowing that the Buddha had consented, he got up from his seat, bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left.
Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đi đến chỗ trưởng giả ở thành Rājagaha, sau khi đến đã nói với vị trưởng giả ở thành Rājagaha điều này: – ‘Này gia chủ, các trú xá đã được đức Thế Tôn cho phép. Bây giờ, ngài nghĩ là đã đến lúc (thì hãy thực hiện).’ Khi ấy, vị trưởng giả ở thành Rājagaha đã cho thiết lập sáu mươi trú xá chỉ trong một ngày. Khi ấy, vị trưởng giả ở thành Rājagaha sau khi cho hoàn tất sáu mươi trú xá ấy đã đi đến chỗ đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, vị trưởng giả ở thành Rājagaha đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch ngài, xin đức Thế Tôn cùng với Tăng chúng tỳ khưu nhận lời mời dùng bữa ăn của con vào ngày mai.’ Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng. Khi ấy, vị trưởng giả ở thành Rājagaha sau khi biết được sự nhận lời của đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, thực hiện việc đi quanh bên phải rồi ra về.
Atha kho rājagahako seṭṭhī tassā rattiyā accayena paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi—“kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti. Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena rājagahakassa seṭṭhissa nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena. Atha kho rājagahako seṭṭhī buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā, bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ, ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rājagahako seṭṭhī bhagavantaṁ etadavoca—“ete me, bhante, saṭṭhivihārā puññatthikena saggatthikena kārāpitā. Kathāhaṁ, bhante, tesu vihāresu paṭipajjāmī”ti?
“Tena hi tvaṁ, gahapati, te saṭṭhivihāre āgatānāgatassa cātuddisassa saṅghassa patiṭṭhāpehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho rājagahako seṭṭhī bhagavato paṭissutvā te saṭṭhivihāre āgatānāgatassa cātuddisassa saṅghassa patiṭṭhāpesi.
The next morning he had various kinds of fine foods prepared and then had the Buddha informed that the meal was ready. The Buddha robe up, took his bowl and robe, and went to the house of that merchant where he sat down on the prepared seat together with the Sangha of monks. That merchant personally served various kinds of fine foods to the Sangha of monks headed by the Buddha. When the Buddha had finished his meal and had washed his hands and bowl, the merchant sat down to one side and said, “Sir, I’ve had these sixty dwellings built in order to make merit and for the purpose of going to heaven. What should I do now?”
“Well then, give those sixty dwellings to the Sangha as a whole, both present and future.”
Saying, “Yes, sir,” he did just that.
Khi ấy, vị trưởng giả ở thành Rājagaha, sau khi đêm ấy đã trôi qua, đã cho chuẩn bị các món ăn loại cứng và loại mềm thượng hạng rồi cho người báo tin thời điểm đến đức Thế Tôn: – ‘Bạch ngài, đã đến giờ, bữa ăn đã được chuẩn bị xong.’ Khi ấy, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã đắp y, cầm y bát rồi đi đến tư gia của vị trưởng giả ở thành Rājagaha, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được dọn sẵn cùng với Tăng chúng tỳ khưu. Khi ấy, vị trưởng giả ở thành Rājagaha đã tự tay phục vụ Tăng chúng tỳ khưu có đức Phật dẫn đầu với các món ăn loại cứng và loại mềm thượng hạng cho đến khi các vị hài lòng và tỏ ý đã đủ, sau khi đức Thế Tôn đã dùng bữa xong và đã rời tay khỏi bát, vị ấy đã ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, vị trưởng giả ở thành Rājagaha đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch ngài, sáu mươi trú xá này đã được con cho xây dựng vì mong cầu phước báu, vì mong cầu cảnh trời. Bạch ngài, con nên thực hành như thế nào đối với các trú xá ấy?’ – ‘Này gia chủ, nếu vậy thì ngươi hãy thiết lập sáu mươi trú xá ấy cho Tăng chúng bốn phương, những vị đã đến và sẽ đến.’ – ‘Xin vâng, bạch ngài.’ Vị trưởng giả ở thành Rājagaha đã vâng lời đức Thế Tôn rồi thiết lập sáu mươi trú xá ấy cho Tăng chúng bốn phương, những vị đã đến và sẽ đến.
Atha kho bhagavā rājagahakaṁ seṭṭhiṁ imāhi gāthāhi anumodi—
The Buddha then expressed his appreciation to the merchant with these verses:
295. Khi ấy, đức Thế Tôn đã tùy hỷ với vị trưởng giả ở thành Rājagaha bằng những câu kệ này:
“Sītaṁ uṇhaṁ paṭihanti, tato vāḷamigāni ca; Sarīsape ca makase, sisire cāpi vuṭṭhiyo.
“Cold and heat are kept away, And so are predatory beasts, And creeping animals and mosquitoes, And also chill and rain.
‘(Trú xá) ngăn ngừa lạnh và nóng, và cả các loài thú dữ; Cùng các loài bò sát, muỗi mòng, và cả sương giá, mưa dầm.
Tato vātātapo ghoro, sañjāto paṭihaññati; Leṇatthañca sukhatthañca, jhāyituñca vipassituṁ.
They keep away the wind and burning sun, When those awful things arise. Their purpose is to shelter and for happiness, To attain absorption and to see clearly.
‘Và gió, nắng gay gắt phát sanh cũng được ngăn chặn; Để ẩn náu, để được an lạc, để thiền định và để quán chiếu.
Vihāradānaṁ saṅghassa, Aggaṁ buddhena vaṇṇitaṁ; Tasmā hi paṇḍito poso, Sampassaṁ atthamattano.
Giving dwellings to the Sangha Is praised as the best by the Buddha. Therefore the wise man, Seeing what’s beneficial for himself,
‘Việc cúng dường trú xá đến Tăng chúng đã được đức Phật tán thán là tối thượng; Do đó, người hiền trí, bậc trượng phu, khi thấy được lợi ích của mình,
Vihāre kāraye ramme, vāsayettha bahussute; Tesaṁ annañca pānañca, vatthasenāsanāni ca.
Dadeyya ujubhūtesu, Vippasannena cetasā;
Should build delightful dwellings And have the learned stay there. Food, drink, robes, and dwellings—With an inspired mind,
He should give to them, The upright ones.
‘Nên cho xây dựng các trú xá khả ái, và nên cho các bậc đa văn trú ngụ ở đấy; Nên cúng dường đến các vị ấy, những bậc chân chánh, với tâm tịnh tín trong sáng: cả vật thực, thức uống, y phục và chỗ ở.
‘Các vị ấy thuyết giảng Pháp cho người thí chủ, là Pháp đoạn trừ mọi khổ đau; Vị ấy, sau khi đã liễu tri Pháp ấy ở đây, là bậc vô lậu, đạt đến tịch tịnh Niết-bàn.’
Atha kho bhagavā rājagahakaṁ seṭṭhiṁ imāhi gāthāhi anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
The Buddha then got up from his seat and left.
Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi đã tùy hỷ với vị trưởng giả ở thành Rājagaha bằng những câu kệ này, đã từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra về.
Assosuṁ kho manussā—“bhagavatā kira vihārā anuññātā”ti sakkaccaṁ vihāre kārāpenti. Te vihārā akavāṭakā honti; ahīpi vicchikāpi satapadiyopi pavisanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, kavāṭan”ti.
Bhittichiddaṁ karitvā valliyāpi rajjuyāpi kavāṭaṁ bandhanti. Undūrehipi upacikāhipi khajjanti. Khayitabandhanāni kavāṭāni patanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, piṭṭhasaṅghāṭaṁ udukkhalikaṁ uttarapāsakan”ti.
Kavāṭā na phusīyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, āviñchanacchiddaṁ āviñchanarajjun”ti.
Kavāṭā na thakiyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, aggaḷavaṭṭiṁ kapisīsakaṁ sūcikaṁ ghaṭikan”ti.
Hearing that the Buddha had allowed dwellings, people had dwellings built with care. But because the dwellings did not have doors, snakes, scorpions, and centipedes came inside. They told the Buddha.
“I allow doors.”
They made a hole in the wall and bound the doors with creepers and ropes. Rats and termites ate the creepers and ropes, and the doors fell off.
“I allow door frames, and lower and upper hinges.”
The doors did not fit the door frames.
“I allow a hole in the door and a rope for pulling.”
The doors did not stay closed.
“I allow door jambs, bolt sockets, bolts, and latches.”
296. Các người dân đã nghe được rằng: ‘Nghe nói các trú xá đã được đức Thế Tôn cho phép,’ rồi đã cho xây dựng các trú xá một cách trang trọng. Các trú xá ấy không có cánh cửa; rắn, bò cạp, và rết cũng đi vào. Họ đã trình báo sự việc này lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép cánh cửa.’ Họ khoét lỗ ở tường rồi buộc cánh cửa bằng dây leo hoặc bằng dây thừng. Chúng bị chuột và mối gặm nhấm. Các cánh cửa có dây buộc bị gặm đứt đã rơi xuống. Họ đã trình báo sự việc này lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép khung cửa, cối cửa, và vòng khuyên trên.’ Các cánh cửa không khít. Họ đã trình báo sự việc này lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép lỗ kéo và dây kéo.’ Các cánh cửa không đóng lại được. Họ đã trình báo sự việc này lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép thanh cài, chốt cửa hình đầu khỉ, then nhỏ, và then lớn.’
Tena kho pana samayena bhikkhū na sakkonti kavāṭaṁ apāpurituṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, tāḷacchiddaṁ. Tīṇi tāḷāni—lohatāḷaṁ, kaṭṭhatāḷaṁ, visāṇatāḷan”ti.
Yehi te ugghāṭetvā pavisanti, vihārā aguttā honti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, yantakaṁ sūcikan”ti.
The monks were unable to open the doors.
“I allow a keyhole and three kinds of keys: metal keys, wooden keys, and keys made of horn.”
They lifted the latches with the keys and entered, but the dwellings were unprotected.
“I allow bolts.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu không thể mở được cánh cửa. Họ đã trình báo sự việc này lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép lỗ khóa và ba loại chìa khóa: chìa khóa bằng kim loại, chìa khóa bằng gỗ, chìa khóa bằng sừng.’ Họ dùng các thứ ấy để mở cửa và đi vào. Các trú xá không được bảo vệ. Họ đã trình báo sự việc này lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép ổ khóa và chìa khóa.’
Tena kho pana samayena vihārā tiṇacchadanā honti; sītakāle sītā, uṇhakāle uṇhā. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ogumphetvā ullittāvalittaṁ kātun”ti.
At that time the dwellings had roofs of straw. When the weather was cold, they were cold, and when the weather was hot, they were hot.
“I allow you to firm up the structure and then to plaster it inside and outside.”
Vào lúc bấy giờ, các trú xá được lợp bằng cỏ; vào mùa lạnh thì lạnh, vào mùa nóng thì nóng. Họ đã trình báo sự việc này lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc trát vữa bên trong và bên ngoài sau khi đã phủ lên.’
Tena kho pana samayena vihārā avātapānakā honti acakkhussā duggandhā. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, tīṇi vātapānāni—vedikāvātapānaṁ, jālavātapānaṁ, salākavātapānan”ti.
Vātapānantarikāya kāḷakāpi vagguliyopi pavisanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, vātapānacakkalikan”ti.
Cakkalikantarikāyapi kāḷakāpi vagguliyopi pavisanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, vātapānakavāṭakaṁ vātapānabhisikan”ti.
At that time the dwellings did not have windows. It was hard to see and the dwellings were smelly. They told the Buddha.
“I allow three kinds of windows: railing windows, lattice windows, and windows with bars.”
Squirrels and bats entered the dwellings through the gaps in the windows.
“I allow cloth covers.”
The squirrels and bats entered in the gaps around the cloth cover.
“I allow shutters.”
Vào lúc bấy giờ, các trú xá không có cửa sổ thông gió, gây hại cho mắt và có mùi hôi. Họ đã trình báo sự việc này lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba loại cửa sổ thông gió: cửa sổ chấn song, cửa sổ có lưới, và cửa sổ có thanh ngang.’ Sóc và dơi đi vào qua khoảng hở của cửa sổ thông gió. Họ đã trình báo sự việc này lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép tấm vải che cửa sổ.’ Sóc và dơi cũng đi vào qua khoảng hở của tấm vải che. Họ đã trình báo sự việc này lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép cánh cửa sổ và tấm đệm cửa sổ.’
Tena kho pana samayena bhikkhū chamāyaṁ sayanti. Gattānipi cīvarānipi paṁsukitāni honti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, tiṇasanthārakan”ti.
Tiṇasanthārako undūrehipi upacikāhipi khajjati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, miḍḍhin”ti.
Miḍḍhiyā gattāni dukkhā honti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bidalamañcakan”ti.
At that time the monks lay down on the ground. They got dirty, as did their robes.
“I allow a spread of grass.”
The grass was eaten by rats and termites.
“I allow benches.”
The benches were painful to lie on.
“I allow wicker beds.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nằm ngủ trên nền đất. Cả thân thể lẫn y phục đều bị dính bụi đất. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) tấm trải bằng cỏ.” Tấm trải bằng cỏ bị chuột và mối ăn. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) đất sét (để trét lên).” Do việc trét đất sét, thân thể bị đau nhức. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) giường đan bằng dây leo.”
1.2. Mañcapīṭhādianujānana
2. The allowance for beds and benches
(Chương về) việc cho phép (sử dụng) giường, ghế, v.v…
Tena kho pana samayena saṅghassa sosāniko masārako mañco uppanno hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, masārakaṁ mañcan”ti.
Masārakaṁ pīṭhaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, masārakaṁ pīṭhan”ti.
Soon afterwards the Sangha was offered various kinds of beds with legs and frames from a charnel ground. They told the Buddha.
“I allow the various kinds of beds with legs and frames.”
The Sangha was offered various kinds of benches with legs and frames.
“I allow the various kinds of benches with legs and frames.”
297. Vào lúc bấy giờ, một cái giường có chân rời được gắn vào thành giường, là vật dụng ở nghĩa địa, đã được phát sanh đến cho tăng chúng. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) giường có chân rời được gắn vào thành giường.” Một cái ghế có chân rời được gắn vào thành ghế đã được phát sanh. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) ghế có chân rời được gắn vào thành ghế.”
Tena kho pana samayena saṅghassa sosāniko bundikābaddho mañco uppanno hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bundikābaddhaṁ mañcan”ti.
Bundikābaddhaṁ pīṭhaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bundikābaddhaṁ pīṭhan”ti.
Vào lúc bấy giờ, một cái giường có chân được nối liền với thành giường, là vật dụng ở nghĩa địa, đã được phát sanh đến cho tăng chúng. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) giường có chân được nối liền với thành giường.” Một cái ghế có chân được nối liền với thành ghế đã được phát sanh. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) ghế có chân được nối liền với thành ghế.”
Tena kho pana samayena saṅghassa sosāniko kuḷīrapādako mañco uppanno hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, kuḷīrapādakaṁ mañcan”ti.
Kuḷīrapādakaṁ pīṭhaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, kuḷīrapādakaṁ pīṭhan”ti.
The Sangha was offered a bed with crooked legs from a charnel ground.
“I allow beds with crooked legs.”
The Sangha was offered a bench with crooked legs.
“I allow benches with crooked legs.”
Vào lúc bấy giờ, một cái giường có chân hình càng cua, là vật dụng ở nghĩa địa, đã được phát sanh đến cho tăng chúng. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) giường có chân hình càng cua.” Một cái ghế có chân hình càng cua đã được phát sanh. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) ghế có chân hình càng cua.”
Tena kho pana samayena saṅghassa sosāniko āhaccapādako mañco uppanno hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, āhaccapādakaṁ mañcan”ti.
Āhaccapādakaṁ pīṭhaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, āhaccapādakaṁ pīṭhan”ti.
The Sangha was offered a bed with detachable legs from a charnel ground.
“I allow beds with detachable legs.”
The Sangha was offered a bench with detachable legs.
“I allow benches with detachable legs.”
Vào lúc bấy giờ, một cái giường có chân tháo ráp được, là vật dụng ở nghĩa địa, đã được phát sanh đến cho tăng chúng. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) giường có chân tháo ráp được.” Một cái ghế có chân tháo ráp được đã được phát sanh. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) ghế có chân tháo ráp được.”
Tena kho pana samayena saṅghassa āsandiko uppanno hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, āsandikan”ti.
Uccako āsandiko uppanno hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, uccakampi āsandikan”ti.
Sattaṅgo uppanno hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sattaṅgan”ti.
Uccako sattaṅgo uppanno hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, uccakampi sattaṅgan”ti.
Bhaddapīṭhaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bhaddapīṭhan”ti.
Pīṭhikā uppannā hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pīṭhikan”ti.
Eḷakapādakaṁ pīṭhaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, eḷakapādakaṁ pīṭhan”ti.
Āmalakavaṭṭikaṁ pīṭhaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, āmalakavaṭṭikaṁ pīṭhan”ti.
Phalakaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, phalakan”ti.
Kocchaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, kocchan”ti.
Palālapīṭhaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, palālapīṭhan”ti.
The Sangha was offered a square bench.
“I allow square benches.”
The Sangha was offered a tall square bench.
“I also allow tall square benches.”
The Sangha was offered a sofa.
“I allow sofas.”
The Sangha was offered a high sofa.
“I also allow high sofas.”
The Sangha was offered a cane bench.
“I allow cane benches.”
The Sangha was offered a small bench bound with pieces of cloth.
“I allow small benches bound with pieces of cloth.”
The Sangha was offered a bench with ram-like legs.
“I allow benches with ram-like legs.”
The Sangha was offered a bench with many legs.
“I allow benches with many legs.”
The Sangha was offered a plank as a bench.
“I allow plank benches.”
The Sangha was offered a stool.
“I allow stools.”
The Sangha was offered a bench made of straw.
“I allow benches made of straw.”
Vào lúc bấy giờ, một cái ghế dài đã được phát sanh đến cho tăng chúng. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) ghế dài.” Một cái ghế dài và cao đã được phát sanh. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) cả ghế dài và cao.” Một cái giường bảy thành phần đã được phát sanh. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) giường bảy thành phần.” Một cái giường bảy thành phần và cao đã được phát sanh. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) cả giường bảy thành phần và cao.” Một cái ghế đan bằng dây leo đã được phát sanh. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) ghế đan bằng dây leo.” Một cái ghế nhỏ đã được phát sanh. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) ghế nhỏ.” Một cái ghế có chân hình chân dê đã được phát sanh. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) ghế có chân hình chân dê.” Một cái ghế có chân hình trái me rừng đã được phát sanh. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) ghế có chân hình trái me rừng.” Một tấm ván đã được phát sanh. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) tấm ván.” Một tấm thảm dệt bằng vỏ cây đã được phát sanh. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) tấm thảm dệt bằng vỏ cây.” Một cái ghế bằng rơm đã được phát sanh. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) ghế bằng rơm.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū ucce mañce sayanti. Manussā vihāracārikaṁ āhiṇḍantā passitvā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, ucce mañce sayitabbaṁ. Yo sayeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six slept on high beds. When people walking about the dwellings saw this, they complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“You shouldn’t sleep on high beds. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu nằm ngủ trên giường cao. Những người đi dạo quanh các trú xứ, sau khi nhìn thấy đã phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: “Giống như các hàng tại gia hưởng thụ các dục lạc.” (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, không được nằm ngủ trên giường cao. Vị nào nằm ngủ, (vị ấy) phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu nīce mañce sayanto ahinā daṭṭho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, mañcapaṭipādakan”ti.
Soon afterwards a monk was bitten by a snake while sleeping on a low bed.
“I allow bed supports.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ đang nằm ngủ trên giường thấp đã bị rắn cắn. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) vật kê chân giường.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū ucce mañcapaṭipādake dhārenti, saha mañcapaṭipādakehi pavedhenti. Manussā vihāracārikaṁ āhiṇḍantā passitvā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, uccā mañcapaṭipādakā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, aṭṭhaṅgulaparamaṁ mañcapaṭipādakan”ti.
The monks from the group of six used high bed supports and then made the beds shake. When people walking about the dwellings saw this, they complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t use high bed supports. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow bed supports that are at the most eight standard fingerbreadths long.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu sử dụng các vật kê chân giường cao, và họ rung lắc cùng với các vật kê chân giường. Những người đi dạo quanh các trú xứ, sau khi nhìn thấy đã phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: “Giống như các hàng tại gia hưởng thụ các dục lạc.” (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, không được sử dụng các vật kê chân giường cao. Vị nào sử dụng, (vị ấy) phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) vật kê chân giường có chiều cao tối đa là tám ngón tay.”
Tena kho pana samayena saṅghassa suttaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, suttaṁ mañcaṁ veṭhetun”ti.
Aṅgāni bahusuttaṁ pariyādiyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, aṅge vijjhitvā aṭṭhapadakaṁ veṭhetun”ti.
Coḷakaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, cimilikaṁ kātun”ti.
Tūlikā uppannā hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, vijaṭetvā bibbohanaṁ kātuṁ. Tīṇi tūlāni—rukkhatūlaṁ, latātūlaṁ, poṭakitūlan”ti.
The Sangha was offered string.
“I allow you to wrap the beds with string.”
The limbs of the bed took up a lot of string.
“I allow you to perforate the limbs and wrap with a cross weaving.”
The Sangha was offered a cloth.
“I allow you to make a mat underlay.”
The Sangha was offered a cotton-down quilt.
“I allow you to remove the cotton down and make pillows. There are three kinds of cotton down: cotton down from trees, cotton down from creepers, and cotton down from grass.”
Vào lúc bấy giờ, chỉ sợi đã được phát sanh đến cho tăng chúng. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) chỉ sợi để đan giường.” Các bộ phận (của giường) làm tốn nhiều chỉ sợi. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép khoan lỗ ở các bộ phận (của giường) rồi đan theo kiểu bàn cờ.” Vải vụn đã được phát sanh. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm tấm lót sàn.” Nệm bông gòn đã được phát sanh. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép tháo tung ra để làm gối. (Có) ba loại bông gòn (là): bông gòn từ cây, bông gòn từ dây leo, bông gòn từ cỏ.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū addhakāyikāni bibbohanāni dhārenti. Manussā vihāracārikaṁ āhiṇḍantā passitvā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, aḍḍhakāyikāni bibbohanāni dhāretabbāni. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, sīsappamāṇaṁ bibbohanaṁ kātun”ti.
The monks from the group of six used pillows that were half the size of the body. When people walking about the dwellings saw this, they complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t use pillows that are half the size of the body. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow you to make pillows the size of the head.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu sử dụng các loại gối có kích thước bằng nửa thân người. Dân chúng đi dạo quanh các ngôi tịnh xá nhìn thấy rồi phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: – Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục lạc. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, không được sử dụng các loại gối có kích thước bằng nửa thân người. Vị nào sử dụng thì phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm gối có kích thước bằng cái đầu.
Tena kho pana samayena rājagahe giraggasamajjo hoti. Manussā mahāmattānaṁ atthāya bhisiyo paṭiyādenti—uṇṇabhisiṁ, coḷabhisiṁ, vākabhisiṁ, tiṇabhisiṁ, paṇṇabhisiṁ. Te vītivatte samajje chaviṁ uppāṭetvā haranti. Addasāsuṁ kho bhikkhū samajjaṭṭhāne bahuṁ uṇṇampi coḷakampi vākampi tiṇampi paṇṇampi chaṭṭitaṁ. Disvāna bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pañca bhisiyo—uṇṇabhisiṁ, coḷabhisiṁ, vākabhisiṁ, tiṇabhisiṁ, paṇṇabhisin”ti.
On one occasion in Rājagaha there was a hilltop fair. People prepared mattresses for the government officials: mattresses stuffed with wool, cloth, bark, grass, or leaves. When the fair was over, they removed the covers and took them away. The monks saw a large quantity of wool, cloth, bark, grass, and leaves abandoned on the ground. They told the Buddha.
“I allow five kinds of mattresses: mattresses stuffed with wool, cloth, bark, grass, or leaves.”
Vào lúc bấy giờ, ở thành Rājagaha có lễ hội trên đỉnh núi. Dân chúng chuẩn bị các loại nệm cho các vị đại thần – nệm nhồi len, nệm nhồi vải vụn, nệm nhồi vỏ cây, nệm nhồi cỏ, nệm nhồi lá cây. Sau khi lễ hội kết thúc, họ lột lấy vỏ bọc rồi mang đi. Các tỳ khưu đã nhìn thấy nhiều len, vải vụn, vỏ cây, cỏ, và lá cây bị vứt bỏ ở nơi lễ hội. Sau khi thấy vậy, (họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép năm loại nệm: nệm nhồi len, nệm nhồi vải vụn, nệm nhồi vỏ cây, nệm nhồi cỏ, nệm nhồi lá cây.
Tena kho pana samayena saṅghassa senāsanaparikkhārikaṁ dussaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bhisiṁ onandhitun”ti.
Tena kho pana samayena bhikkhū mañcabhisiṁ pīṭhe santharanti, pīṭhabhisiṁ mañce santharanti. Bhisiyo paribhijjanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
The Sangha was offered furniture cloth.
“I allow you to cover the mattresses.”
The monks laid a bed mattress on a bench and a bench mattress on a bed. The mattresses split open.
Vào lúc bấy giờ, có tấm vải là vật dụng thuộc sàng tọa đã được phát sanh đến cho tăng chúng. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng vải để) bọc nệm.
“Anujānāmi, bhikkhave, onaddhamañcaṁ onaddhapīṭhan”ti.
Ullokaṁ akaritvā santharanti, heṭṭhato nipatanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ullokaṁ karitvā santharitvā bhisiṁ onandhitun”ti.
Chaviṁ uppāṭetvā haranti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, phositun”ti.
Harantiyeva …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, bhattikamman”ti.
Harantiyeva …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, hatthabhattikamman”ti.
Harantiyeva …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, hatthabhattin”ti.
“I allow upholstered beds and upholstered benches.”
They laid out mattresses without an underlay. They sank down.
“I allow you to arrange an underlay, then to lay down a mattress, and then to cover it.”
The covers were removed and taken away.
“I allow you to sprinkle them.”
They were still taken away.
“I allow you to make multi-colored lines.”
They were still taken away.
“I allow you to make multi-colored lines by hand.”
They were still taken away.
“I allow multi-colored lines by hand.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu trải nệm của giường lên ghế, trải nệm của ghế lên giường. Các tấm nệm bị hư hỏng. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép giường được bọc và ghế được bọc. (Họ) trải mà không làm tấm lót bên dưới, (vật liệu) bị rơi rớt từ phía dưới ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm tấm lót bên dưới, trải ra rồi bọc nệm. (Kẻ trộm) lột lấy vỏ bọc rồi mang đi ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép vẩy (thuốc nhuộm). (Kẻ trộm) vẫn cứ mang đi ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc trang trí hoa văn. (Kẻ trộm) vẫn cứ mang đi ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc trang trí hoa văn bằng bàn tay. (Kẻ trộm) vẫn cứ mang đi ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép (trang trí) hoa văn hình bàn tay.
1.3. Setavaṇṇādianujānana
3. The allowance for the color white, etc.
Sự cho phép về màu trắng, v.v.
Tena kho pana samayena titthiyānaṁ seyyāyo setavaṇṇā honti, kāḷavaṇṇakatā bhūmi, gerukaparikammakatā bhitti. Bahū manussā seyyāpekkhakā gacchanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, vihāre setavaṇṇaṁ kāḷavaṇṇaṁ gerukaparikamman”ti.
At that time the monastics of other religions had white beds, black floors, and red ocher walls. Many people went to see their beds.
“I allow the colors white, black, and red ocher in the dwellings.”
298. Vào lúc bấy giờ, các trú xá của các người ngoại đạo có màu trắng, nền nhà được làm thành màu đen, vách tường được trang trí bằng đất son. Nhiều người muốn xem trú xá nên đã đi đến. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép màu trắng, màu đen, và việc trang trí bằng đất son ở trong tịnh xá.
Tena kho pana samayena pharusāya bhittiyā setavaṇṇo na nipatati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, thusapiṇḍaṁ datvā pāṇikāya paṭibāhetvā setavaṇṇaṁ nipātetun”ti.
Setavaṇṇo anibandhanīyo hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, saṇhamattikaṁ datvā pāṇikāya paṭibāhetvā setavaṇṇaṁ nipātetun”ti.
Setavaṇṇo anibandhanīyo hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ikkāsaṁ piṭṭhamaddan”ti.
The white color did not adhere to the rough walls.
“I allow you to apply balls of husk, smooth with a trowel, and then apply the white color.”
The white color still did not adhere.
“I allow you to apply soft clay, smooth with a trowel, and then apply the white color.”
The white color still did not adhere.
“I allow sap and flour paste.”
Vào lúc bấy giờ, màu trắng không bám dính vào vách tường thô nhám. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép trét một vắt đất trộn trấu, dùng cạnh bàn tay chà xát rồi làm cho màu trắng bám dính. Màu trắng không có chất kết dính ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép trét đất sét mịn, dùng cạnh bàn tay chà xát rồi làm cho màu trắng bám dính. Màu trắng không có chất kết dính ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng nhựa cây và bột nhão.
Tena kho pana samayena pharusāya bhittiyā gerukā na nipatati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, thusapiṇḍaṁ datvā pāṇikāya paṭibāhetvā gerukaṁ nipātetun”ti.
Gerukā anibandhanīyā hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, kuṇḍakamattikaṁ datvā pāṇikāya paṭibāhetvā gerukaṁ nipātetun”ti.
Gerukā anibandhanīyā hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, sāsapakuṭṭaṁ sitthatelakan”ti.
Accussannaṁ hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, coḷakena paccuddharitun”ti.
The red ocher did not adhere to the rough walls.
“I allow you to apply balls of husk, smooth with a trowel, and then apply the red ocher.”
The red ocher still did not adhere.
“I allow you to apply clay mixed with bran, smooth with a trowel, and then apply the red ocher.”
The red ocher still did not adhere.
“I allow mustard powder and beeswax.”
It was too thick.
“I allow you to wipe it off with a cloth.”
Vào lúc bấy giờ, đất son không bám dính vào vách tường thô nhám. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép trét một vắt đất trộn trấu, dùng cạnh bàn tay chà xát rồi làm cho đất son bám dính. Đất son không có chất kết dính ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép trét đất trộn tấm, dùng cạnh bàn tay chà xát rồi làm cho đất son bám dính. Đất son không có chất kết dính ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng bột hạt cải và dầu sáp. (Lớp sơn) bị quá dày ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng vải vụn để lau bớt.
Tena kho pana samayena pharusāya bhūmiyā kāḷavaṇṇo na nipatati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, thusapiṇḍaṁ datvā pāṇikāya paṭibāhetvā kāḷavaṇṇaṁ nipātetun”ti.
Kāḷavaṇṇo anibandhanīyo hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, gaṇḍumattikaṁ datvā pāṇikāya paṭibāhetvā kāḷavaṇṇaṁ nipātetun”ti.
Kāḷavaṇṇo anibandhanīyo hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ikkāsaṁ kasāvan”ti.
The black color did not adhere to the rough floors.
“I allow you to apply balls of husk, smooth with a trowel, and then apply the black color.”
The black color still did not adhere.
“I allow you to apply excreted clay, smooth with a trowel, and then apply the black color.”
The black color still did not adhere.
“I allow sap and bitter substances.”
Vào lúc bấy giờ, màu đen không bám dính vào nền nhà thô nhám. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép trét một vắt đất trộn trấu, dùng cạnh bàn tay chà xát rồi làm cho màu đen bám dính. Màu đen không có chất kết dính ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép trét đất giun, dùng cạnh bàn tay chà xát rồi làm cho màu đen bám dính. Màu đen không có chất kết dính ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng nhựa cây và nước chát.
1.4. Paṭibhānacittapaṭikkhepa
4. The prohibition against pictures
Sự ngăn cấm về tranh ảnh tưởng tượng
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū vihāre paṭibhānacittaṁ kārāpenti—itthirūpakaṁ purisarūpakaṁ. Manussā vihāracārikaṁ āhiṇḍantā passitvā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, paṭibhānacittaṁ kārāpetabbaṁ—itthirūpakaṁ purisarūpakaṁ. Yo kārāpeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, mālākammaṁ latākammaṁ makaradantakaṁ pañcapaṭikan”ti.
At that time the monks from the group of six had pictures of women and men drawn in a dwelling. When people walking about the dwellings saw this, they complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“You shouldn’t have pictures drawn of women and men. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow you to make garland patterns, creeper patterns, shark-teeth patterns, and the fivefold pattern.”
299. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu đã cho làm các tranh ảnh tưởng tượng ở trong tịnh xá – hình ảnh người nữ, hình ảnh người nam. Dân chúng đi dạo quanh các ngôi tịnh xá nhìn thấy rồi phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: – Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục lạc. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, không được cho làm các tranh ảnh tưởng tượng – hình ảnh người nữ, hình ảnh người nam. Vị nào cho làm thì phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép các kiểu trang trí hình vòng hoa, các kiểu trang trí hình dây leo, hình răng quái vật makara, và hình năm dải màu.
1.5. Iṭṭhakācayādianujānana
5. The allowance for foundations of bricks, etc.
Sự cho phép về việc xây bằng gạch, v.v.
Tena kho pana samayena vihārā nīcavatthukā honti, udakena otthariyyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, uccavatthukaṁ kātun”ti.
Cayo paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, cinituṁ tayo caye—iṭṭhakācayaṁ, silācayaṁ, dārucayan”ti.
Ārohantā vihaññanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, tayo sopāne—iṭṭhakāsopānaṁ, silāsopānaṁ, dārusopānan”ti.
Ārohantā paripatanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ālambanabāhan”ti.
At that time the dwellings were built on a low base. They were flooded.
“I allow you to raise the base.”
The mound collapsed.
“I allow you to construct three kinds of raised foundations: raised foundations of brick, stone, and wood.”
It was difficult to get up to the dwelling.
“I allow three kinds of stairs: stairs of brick, stone, and wood.”
People fell down while climbing the stairs.
“I allow rails.”
300. Vào lúc bấy giờ, các tịnh xá có nền móng thấp nên bị ngập nước. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm nền móng cao. Đống (đất) bị sụp đổ ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép xây ba loại nền móng: nền móng bằng gạch, nền móng bằng đá, nền móng bằng gỗ. (Các tỳ khưu) đi lên bị mệt nhọc ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba loại cầu thang: cầu thang gạch, cầu thang đá, cầu thang gỗ. (Các tỳ khưu) đi lên bị té ngã ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm tay vịn.
Tena kho pana samayena vihārā āḷakamandā honti. Bhikkhū hiriyanti nipajjituṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, tirokaraṇin”ti.
Tirokaraṇiṁ ukkhipitvā olokenti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, aḍḍhakuṭṭakan”ti.
Aḍḍhakuṭṭakā uparito olokenti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, tayo gabbhe—sivikāgabbhaṁ, nāḷikāgabbhaṁ, hammiyagabbhan”ti.
At that time the dwellings were accessible to the public. The monks were embarrassed to lie down there.
“I allow curtains.”
People lifted them up and looked in.
“I allow half walls.”
People looked over the half walls.
“I allow three kinds of rooms: rectangular rooms, long rooms, and upper rooms.”
Vào lúc bấy giờ, các trú xá bị trống trải. Các vị tỳ khưu cảm thấy ngại ngùng khi nằm nghỉ. Họ trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) tấm màn che.” (Họ) vén tấm màn che lên và nhìn vào... (Họ lại trình sự việc lên đức Thế Tôn. Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dựng) bức tường lửng.” (Họ) nhìn từ phía trên bức tường lửng... (Họ lại trình sự việc lên đức Thế Tôn. Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba loại phòng trong: phòng hình kiệu, phòng hình ống, và phòng có mái bằng.”
Tena kho pana samayena bhikkhū khuddake vihāre majjhe gabbhaṁ karonti. Upacāro na hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, khuddake vihāre ekamantaṁ gabbhaṁ kātuṁ, mahallake majjhe”ti.
On one occasion the monks made a room in the middle of a small dwelling. There was no access around the room.
“In a small dwelling you should make the room on the side, but in a large dwelling in the middle.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu làm một phòng trong ở giữa trú xá nhỏ. Không có khoảng không gian sinh hoạt. Họ trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm phòng trong ở một bên đối với trú xá nhỏ, và ở giữa đối với trú xá lớn.”
Tena kho pana samayena vihārassa kuṭṭapādo jīrati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, kulaṅkapādakan”ti.
Vihārassa kuṭṭo ovassati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, parittāṇakiṭikaṁ uddasudhan”ti.
At that time the base of the wall of a certain dwelling was deteriorating.
“I allow timber supports.”
It rained through the wall.
“I allow protection screens and plaster.”
Vào lúc bấy giờ, chân tường của một trú xá bị mục nát. Họ trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) chân tường chống đỡ.” Tường của trú xá bị mưa dột... (Họ trình sự việc lên đức Thế Tôn. Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) tấm che mưa và vữa trát.”
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno tiṇacchadanā ahi khandhe patati. So bhīto vissaramakāsi. Bhikkhū upadhāvitvā taṁ bhikkhuṁ etadavocuṁ—“kissa tvaṁ, āvuso, vissaramakāsī”ti? Atha kho so bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, vitānan”ti.
On one occasion a snake fell from the grass roof onto the shoulder of a certain monk. Terrified, he screamed. Other monks ran up to him and asked him why he was screaming. He told them.
“I allow canopies.”
Vào lúc bấy giờ, một con rắn từ mái tranh rơi xuống vai của một vị tỳ khưu. Vị ấy hoảng sợ, la hét lên. Các vị tỳ khưu chạy đến và nói với vị tỳ khưu ấy điều này: “Này hiền giả, tại sao hiền giả lại la hét lên như vậy?” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc ấy cho các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) trần nhà.”
Tena kho pana samayena bhikkhū mañcapādepi pīṭhapādepi thavikāyo laggenti. Undūrehipi upacikāhipi khajjanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bhittikhilaṁ nāgadantakan”ti.
At that time the monks hung their bags from the legs of the beds and benches. Rats and termites ate them.
“I allow wall pegs.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu treo các túi xách ở chân giường và cả ở chân ghế. (Các túi xách) bị chuột và mối ăn. Họ trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) cọc đóng tường và móc hình ngà voi.”
Tena kho pana samayena bhikkhū mañcepi pīṭhepi cīvaraṁ nikkhipanti. Cīvaraṁ paribhijji. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, vihāre cīvaravaṁsaṁ cīvararajjun”ti.
Tena kho pana samayena vihārā anāḷindakā honti appaṭissaraṇā. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At that time the monks lay their robes on their beds and benches. The robes tore.
“I allow bamboo robe racks and clotheslines in the dwellings.”
At that time the dwellings were not protected by porches.
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đặt y trên giường và cả trên ghế. Y bị hư hỏng. Họ trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) sào phơi y và dây phơi y ở trong trú xá.”
“Anujānāmi, bhikkhave, āḷindaṁ paghanaṁ pakuṭṭaṁ osārakan”ti.
Āḷindā pākaṭā honti. Bhikkhū hiriyanti nipajjituṁ …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, saṁsaraṇakiṭikaṁ ugghāṭanakiṭikan”ti.
“I allow porches, screened doorsteps, encircling corridors, and entrance roofs.”
The porches were unenclosed. The monks were embarrassed to lie down there.
“I allow sliding screens and shutters.”
Vào lúc bấy giờ, các trú xá không có hiên và không có chỗ nương tựa. Họ trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) hiên, mái hiên, hành lang và mái dốc.” Các hiên bị để ngỏ. Các vị tỳ khưu cảm thấy ngại ngùng khi nằm nghỉ... (Họ trình sự việc lên đức Thế Tôn. Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) tấm chắn có bánh xe và tấm chắn có bản lề.”
1.6. Upaṭṭhānasālāanujānana
6. The allowance for an assembly hall
Sự cho phép về nhà hội trường.
Tena kho pana samayena bhikkhū ajjhokāse bhattavissaggaṁ karontā sītenapi uṇhenapi kilamanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, upaṭṭhānasālan”ti.
Upaṭṭhānasālā nīcavatthukā hoti, udakena otthariyyati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, uccavatthukaṁ kātun”ti.
Cayo paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, cinituṁ tayo caye—iṭṭhakācayaṁ, silācayaṁ, dārucayan”ti.
Ārohantā vihaññanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, tayo sopāne—iṭṭhakāsopānaṁ, silāsopānaṁ, dārusopānan”ti.
Ārohantā paripatanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ālambanabāhan”ti.
Upaṭṭhānasālāya tiṇacuṇṇaṁ paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ogumphetvā ullittāvalittaṁ kātuṁ—setavaṇṇaṁ kāḷavaṇṇaṁ gerukaparikammaṁ mālākammaṁ latākammaṁ makaradantakaṁ pañcapaṭikaṁ cīvaravaṁsaṁ cīvararajjun”ti.
At that time the monks were taking their meals outside. They were troubled by the cold and the heat.
“I allow assembly halls.”
The assembly halls were built on a low base. They were flooded.
“I allow you to raise the base.”
The mound collapsed.
“I allow you to construct three kinds of raised foundations: raised foundations of brick, stone, and wood.”
It was difficult to get up to the assembly halls.
“I allow three kinds of stairs: stairs of brick, stone, and wood.”
People fell down while climbing the stairs.
“I allow rails.”
Grass and dust fell into the assembly halls.
“I allow you to firm up the structure and then to plaster it inside and outside, including: treating with white color, black color, and red ocher; making garland patterns, creeper patterns, shark-teeth patterns, and the fivefold pattern; putting up bamboo robe racks and clotheslines.”
301. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu trong khi dùng vật thực ở ngoài trời đã bị mệt mỏi vì lạnh và cả vì nóng. Họ trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (xây dựng) nhà hội trường.” Nhà hội trường có nền thấp, bị ngập nước... (Họ trình sự việc lên đức Thế Tôn. Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm nền cao.” Nền đất bị sụp đổ... (Họ trình sự việc lên đức Thế Tôn. Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép xây ba loại nền: nền gạch, nền đá, nền gỗ.” (Các vị tỳ khưu) đi lên bị mệt mỏi... (Họ trình sự việc lên đức Thế Tôn. Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba loại bậc thang: bậc thang gạch, bậc thang đá, bậc thang gỗ.” (Các vị tỳ khưu) đi lên bị té ngã... (Họ trình sự việc lên đức Thế Tôn. Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) tay vịn.” Bụi cỏ rơi xuống trong nhà hội trường... (Họ trình sự việc lên đức Thế Tôn. Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép phủ lên rồi trát vữa bên trong và bên ngoài, (cho phép) màu trắng, màu đen, việc trang trí bằng đất son, hình vòng hoa, hình dây leo, hình răng cá sấu, hình năm dải, sào phơi y, và dây phơi y.”
Tena kho pana samayena bhikkhū ajjhokāse chamāya cīvaraṁ pattharanti. Cīvaraṁ paṁsukitaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ajjhokāse cīvaravaṁsaṁ cīvararajjun”ti.
Pānīyaṁ otappati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, pānīyasālaṁ pānīyamaṇḍapan”ti.
Pānīyasālā nīcavatthukā hoti, udakena otthariyyati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, uccavatthukaṁ kātun”ti.
Cayo paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, cinituṁ tayo caye—iṭṭhakācayaṁ, silācayaṁ, dārucayan”ti.
Ārohantā vihaññanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, tayo sopāne—iṭṭhakāsopānaṁ, silāsopānaṁ, dārusopānan”ti.
Ārohantā paripatanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ālambanabāhan”ti.
Pānīyasālāya tiṇacuṇṇaṁ paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ogumphetvā ullittāvalittaṁ kātuṁ—setavaṇṇaṁ kāḷavaṇṇaṁ gerukaparikammaṁ mālākammaṁ latākammaṁ makaradantakaṁ pañcapaṭikaṁ cīvaravaṁsaṁ cīvararajjun”ti.
Pānīyabhājanaṁ na saṁvijjati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, pānīyasaṅkhaṁ pānīyasarāvakan”ti.
At that time the monks spread their robes on the ground outside. The robes got dirty.
“I allow bamboo robe racks and clotheslines outside.”
The drinking water became warm.
“I allow sheds and roof covers for the drinking water.”
The drinking-water sheds were built on a low base. They were flooded.
“I allow you to raise the base.”
The mound collapsed.
“I allow you to construct three kinds of raised foundations: raised foundations of brick, stone, and wood.”
It was difficult to get up to the sheds.
“I allow three kinds of stairs: stairs of brick, stone, and wood.”
People fell down while climbing the stairs.
“I allow rails.”
Grass and dust fell into the drinking-water sheds.
“I allow you to firm up the structure and then to plaster it inside and outside, including: treating with white color, black color, and red ocher; making garland patterns, creeper patterns, shark-teeth patterns, and the fivefold pattern; putting up bamboo robe racks and clotheslines.”
There were no vessels for the drinking water.
“I allow shells and scoops.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu trải y trên mặt đất ở ngoài trời. Y bị dính bụi đất. Họ trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) sào phơi y và dây phơi y ở ngoài trời.” Nước uống bị nóng... (Họ trình sự việc lên đức Thế Tôn. Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (xây) nhà để nước và lều để nước.” Nhà để nước có nền thấp, bị ngập nước... (Họ trình sự việc lên đức Thế Tôn. Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm nền cao.” Nền đất bị sụp đổ... (Họ trình sự việc lên đức Thế Tôn. Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép xây ba loại nền: nền gạch, nền đá, nền gỗ.” (Các vị tỳ khưu) đi lên bị mệt mỏi... (Họ trình sự việc lên đức Thế Tôn. Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba loại bậc thang: bậc thang gạch, bậc thang đá, bậc thang gỗ.” (Các vị tỳ khưu) đi lên bị té ngã... (Họ trình sự việc lên đức Thế Tôn. Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) tay vịn.” Bụi cỏ rơi xuống trong nhà để nước... (Họ trình sự việc lên đức Thế Tôn. Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép phủ lên rồi trát vữa bên trong và bên ngoài, (cho phép) màu trắng, màu đen, việc trang trí bằng đất son, hình vòng hoa, hình dây leo, hình răng cá sấu, hình năm dải, sào phơi y, và dây phơi y.” Không có đồ đựng nước uống... (Họ trình sự việc lên đức Thế Tôn. Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) vỏ ốc để uống nước và chén nhỏ để uống nước.”
1.7. Pākārādianujānana
7. The allowance for encircling walls, etc.
Sự cho phép về tường rào, v.v...
Tena kho pana samayena vihārā aparikkhittā honti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, parikkhipituṁ tayo pākāre—iṭṭhakāpākāraṁ, silāpākāraṁ, dārupākāran”ti.
Koṭṭhako na hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, koṭṭhakan”ti.
Koṭṭhako nīcavatthuko hoti, udakena otthariyyati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, uccavatthukaṁ kātun”ti.
Koṭṭhakassa kavāṭaṁ na hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, kavāṭaṁ piṭṭhasaṅghāṭaṁ udukkhalikaṁ uttarapāsakaṁ aggaḷavaṭṭiṁ kapisīsakaṁ sūcikaṁ ghaṭikaṁ tāḷacchiddaṁ āviñchanacchiddaṁ āviñchanarajjun”ti.
Koṭṭhake tiṇacuṇṇaṁ paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ogumphetvā ullittāvalittaṁ kātuṁ—setavaṇṇaṁ kāḷavaṇṇaṁ gerukaparikammaṁ mālākammaṁ latākammaṁ makaradantakaṁ pañcapaṭikan”ti.
At that time the dwellings were unenclosed.
“I allow you to make enclosures with three kinds of encircling walls: brick walls, stone walls, and wooden walls.”
There were no gatehouses.
“I allow gatehouses.”
They built the gatehouses on a low base. They were flooded.
“I allow you to raise the base.”
The gatehouses didn’t have doors.
“I allow doors, door frames, lower hinges, upper hinges, door jambs, bolt sockets, bolts, latches, keyholes, door-pulling holes, and door-pulling ropes.”
Grass and dust fell into the gatehouses.
“I allow you to firm up the structure and then to plaster it inside and outside, including: treating with white color, black color, and red ocher; making garland patterns, creeper patterns, shark-teeth patterns, and the fivefold pattern.”
302. Vào lúc bấy giờ, các ngôi tịnh xá không có tường rào. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép xây dựng ba loại tường rào: tường gạch, tường đá, tường gỗ.” Cổng ra vào không có ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) cổng ra vào.” Cổng ra vào có nền thấp, bị ngập nước ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm nền cao.” Cổng ra vào không có cánh cửa ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) cánh cửa, khung cửa, cối cửa dưới, chốt cửa trên, thanh cài, đầu khỉ (then cửa), chốt nhỏ, chốt lớn, lỗ khóa, lỗ để kéo, dây để kéo.” Bụi cỏ rơi vào trong cổng ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép quét dọn rồi trát vữa bên trong và bên ngoài, (trang trí) màu trắng, màu đen, trang trí bằng đất son, hình vòng hoa, hình dây leo, hình răng cá sấu makara, hình năm dải.”
Tena kho pana samayena pariveṇaṁ cikkhallaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, marumbaṁ upakiritun”ti.
Na pariyāpuṇanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, padarasilaṁ nikkhipitun”ti.
Udakaṁ santiṭṭhati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, udakaniddhamanan”ti.
The yards were muddy.
“I allow you to cover them with gravel.”
They were unable to do it.
“I allow you to lay paving stones.”
The water remained.
“I allow water drains.”
Vào lúc bấy giờ, khuôn viên (tịnh xá) bị lầy lội. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép rải sỏi.” (Sỏi) không đủ ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép lát đá phiến.” Nước bị ứ đọng ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) cống thoát nước.”
Tena kho pana samayena bhikkhū pariveṇe tahaṁ tahaṁ aggiṭṭhānaṁ karonti. Pariveṇaṁ uklāpaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ekamantaṁ aggisālaṁ kātun”ti.
Aggisālā nīcavatthukā hoti, udakena otthariyyati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, uccavatthukaṁ kātun”ti.
Cayo paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, cinituṁ tayo caye—iṭṭhakācayaṁ, silācayaṁ, dārucayan”ti.
Ārohantā vihaññanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, tayo sopāne—iṭṭhakāsopānaṁ, silāsopānaṁ, dārusopānan”ti.
Ārohantā paripatanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ālambanabāhan”ti.
Aggisālāya kavāṭaṁ na hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, kavāṭaṁ piṭṭhasaṅghāṭaṁ udukkhalikaṁ uttarapāsakaṁ aggaḷavaṭṭiṁ kapisīsakaṁ sūcikaṁ ghaṭikaṁ tāḷacchiddaṁ āviñchanacchiddaṁ āviñchanarajjun”ti.
Aggisālāya tiṇacuṇṇaṁ paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ogumphetvā ullittāvalittaṁ kātuṁ—setavaṇṇaṁ kāḷavaṇṇaṁ gerukaparikammaṁ mālākammaṁ latākammaṁ makaradantakaṁ pañcapaṭikaṁ cīvaravaṁsaṁ cīvararajjun”ti.
At that time the monks made firepits here and there in the yards. The yards got dirty.
“I allow you to build water-boiling sheds out of the way.”
They built the water-boiling sheds on a low base. They were flooded.
“I allow you to raise the base.”
The mound collapsed.
“I allow you to construct three kinds of raised foundations: raised foundations of brick, stone, and wood.”
It was difficult to get up to the water-boiling sheds.
“I allow three kinds of stairs: stairs of brick, stone, and wood.”
People fell down while climbing the stairs.
“I allow rails.”
The water-boiling sheds didn’t have doors.
“I allow doors, door frames, lower hinges, upper hinges, door jambs, bolt sockets, bolts, latches, keyholes, door-pulling holes, and door-pulling ropes.”
Grass and dust fell into the water-boiling sheds.
“I allow you to firm up the structure and then to plaster it inside and outside, including: treating with white color, black color, and red ocher; making garland patterns, creeper patterns, shark-teeth patterns, and the fivefold pattern; putting up bamboo robe racks and clotheslines.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu làm các nơi đốt lửa chỗ này chỗ kia trong khuôn viên. Khuôn viên trở nên bừa bãi. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm một nhà lửa ở một nơi riêng biệt.” Nhà lửa có nền thấp, bị ngập nước ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm nền cao.” Chỗ đắp đất bị sụp lở ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép xây ba loại bờ kè: bờ kè gạch, bờ kè đá, bờ kè gỗ.” (Các tỳ khưu) đi lên bị mệt ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) ba loại cầu thang: cầu thang gạch, cầu thang đá, cầu thang gỗ.” (Các tỳ khưu) đi lên bị té ngã ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) tay vịn.” Nhà lửa không có cánh cửa ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) cánh cửa, khung cửa, cối cửa dưới, chốt cửa trên, thanh cài, đầu khỉ (then cửa), chốt nhỏ, chốt lớn, lỗ khóa, lỗ để kéo, dây để kéo.” Bụi cỏ rơi vào trong nhà lửa ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép quét dọn rồi trát vữa bên trong và bên ngoài, (trang trí) màu trắng, màu đen, trang trí bằng đất son, hình vòng hoa, hình dây leo, hình răng cá sấu makara, hình năm dải, (làm) sào phơi y, dây phơi y.”
1.8. Ārāmaparikkhepaanujānana
8. The allowance to enclose a monastery
Sự cho phép về việc rào khu vườn.
Tena kho pana samayena ārāmo aparikkhitto hoti. Ajakāpi pasukāpi uparope viheṭhenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, parikkhipituṁ tayo vāṭe—veḷuvāṭaṁ, kaṇḍakavāṭaṁ, parikkhan”ti.
Koṭṭhako na hoti. Tatheva ajakāpi pasukāpi uparope viheṭhenti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, koṭṭhakaṁ apesiṁ yamakakavāṭaṁ toraṇaṁ palighan”ti.
Koṭṭhake tiṇacuṇṇaṁ paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ogumphetvā ullittāvalittaṁ kātuṁ—setavaṇṇaṁ kāḷavaṇṇaṁ gerukaparikammaṁ mālākammaṁ latākammaṁ makaradantakaṁ pañcapaṭikan”ti.
Ārāmo cikkhallo hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, marumbaṁ upakiritun”ti.
Na pariyāpuṇanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, padarasilaṁ nikkhipitun”ti.
Udakaṁ santiṭṭhati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, udakaniddhamanan”ti.
At that time the monasteries were unenclosed. Goats and domesticated animals harmed the saplings.
“I allow you to make three kinds of enclosures: enclosures of bamboo, enclosures of thorny branches, and trenches.”
There were no gatehouses. Goats and domesticated animals harmed the saplings just the same.
“I allow gatehouses, gates of wood and thorny branches, double doors, arches, and crossbars.”
Grass and dust fell into the gatehouses.
“I allow you to firm up the structure and then to plaster it inside and outside, including: treating with white color, black color, and red ocher; making garland patterns, creeper patterns, shark-teeth patterns, and the fivefold pattern.”
The monasteries were muddy.
“I allow you to cover them with gravel.”
They were unable to do it.
“I allow you to lay paving stones.”
The water remained.
“I allow water drains.”
303. Vào lúc bấy giờ, khu vườn (của tịnh xá) không có hàng rào. Dê và gia súc phá hoại các cây non được trồng. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm ba loại hàng rào: hàng rào tre, hàng rào gai, và hào nước.” Cổng ra vào không có. Cũng giống như thế, dê và gia súc phá hoại các cây non được trồng ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) cổng ra vào, cửa gai, cửa hai cánh, cổng chào, thanh chắn ngang.” Bụi cỏ rơi vào trong cổng ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép quét dọn rồi trát vữa bên trong và bên ngoài, (trang trí) màu trắng, màu đen, trang trí bằng đất son, hình vòng hoa, hình dây leo, hình răng cá sấu makara, hình năm dải.” Khu vườn bị lầy lội ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép rải sỏi.” (Sỏi) không đủ ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép lát đá phiến.” Nước bị ứ đọng ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) cống thoát nước.”
Tena kho pana samayena rājā māgadho seniyo bimbisāro saṅghassa atthāya sudhāmattikālepanaṁ pāsādaṁ kāretukāmo hoti. Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kiṁ nu kho bhagavatā chadanaṁ anuññātaṁ, kiṁ ananuññātan”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pañca chadanāni—iṭṭhakāchadanaṁ, silāchadanaṁ, sudhāchadanaṁ, tiṇacchadanaṁ, paṇṇacchadanan”ti.
On one occasion King Seniya Bimbisāra of Magadha wanted to build a stilt house smeared with clay plaster for the Sangha. The monks thought, “Which roofing materials has the Buddha allowed and which hasn’t he?”
“I allow five kinds of roofing materials: tiles, slate, plaster, grass, and leaves.”
Vào lúc bấy giờ, vua của xứ Māgadha là Seniya Bimbisāra có ý muốn cho xây dựng một tòa lâu đài được trát vữa đất sét vì lợi ích của Tăng chúng. Bấy giờ, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ rằng: “Đức Thế Tôn đã cho phép loại mái lợp nào, và không cho phép loại nào?” (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép năm loại mái lợp: mái lợp bằng ngói, mái lợp bằng đá, mái lợp bằng vữa, mái lợp bằng cỏ, mái lợp bằng lá.”
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
The first section for recitation is finished.
The second section for recitation
Dứt chương tụng thứ nhất.
2.1. Anāthapiṇḍikavatthu
9. The account of Anāthapiṇḍika
Câu chuyện về trưởng giả Anāthapiṇḍika
Tena kho pana samayena anāthapiṇḍiko gahapati rājagahakassa seṭṭhissa bhaginipatiko hoti. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati rājagahaṁ agamāsi kenacideva karaṇīyena. Tena kho pana samayena rājagahakena seṭṭhinā svātanāya buddhappamukho saṅgho nimantito hoti. Atha kho rājagahako seṭṭhī dāse ca kammakāre ca āṇāpesi—“tena hi, bhaṇe, kālasseva uṭṭhāya yāguyo pacatha, bhattāni pacatha, sūpāni sampādetha, uttaribhaṅgāni sampādethā”ti. Atha kho anāthapiṇḍikassa gahapatissa etadahosi—“pubbe khvāyaṁ gahapati mayi āgate sabbakiccāni nikkhipitvā mamaññeva saddhiṁ paṭisammodati. Sodānāyaṁ vikkhittarūpo dāse ca kammakāre ca āṇāpesi—‘tena hi, bhaṇe, kālasseva uṭṭhāya yāguyo pacatha, bhattāni pacatha, sūpāni sampādetha, uttaribhaṅgāni sampādethā’ti. Kiṁ nu kho imassa gahapatissa āvāho vā bhavissati, vivāho vā bhavissati, mahāyañño vā paccupaṭṭhito, rājā vā māgadho seniyo bimbisāro nimantito svātanāya saddhiṁ balakāyenā”ti?
At that time the householder Anāthapiṇḍika had a brother in law in Rājagaha who was a wealthy merchant. On one occasion when Anāthapiṇḍika was in Rājagaha on business, that merchant had invited the Sangha headed by the Buddha for the meal on the following day. The merchant was telling his slaves and workers to get up early, to cook rice and congee, and to prepare various kinds of curry. Anāthapiṇḍika thought, “When I’ve arrived here previously, this householder put aside all his business to greet me. But this time he’s all over the place, telling his workers what to do. Is he preparing for a wedding or a great sacrifice, or has he invited King Seniya Bimbisāra of Magadha and the army for a meal?”
304. Vào lúc bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika là em rể của vị trưởng giả ở thành Rājagaha. Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika đã đi đến thành Rājagaha vì một công việc nào đó. Vào lúc bấy giờ, vị trưởng giả ở thành Rājagaha đã thỉnh mời chúng Tăng có đức Phật dẫn đầu cho ngày mai. Rồi vị trưởng giả ở thành Rājagaha đã ra lệnh cho các người phục dịch và các người làm công rằng: "Này các khanh, vậy thì hãy dậy sớm, nấu cháo, nấu cơm, chuẩn bị các món canh, chuẩn bị các món ăn thêm." Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika khởi lên suy nghĩ này: "Trước đây, khi ta đến, vị gia chủ này gác lại mọi công việc và chỉ cùng ta thăm hỏi vui vẻ. Bây giờ, vị ấy có vẻ bận rộn, ra lệnh cho các người phục dịch và các người làm công rằng: 'Này các khanh, vậy thì hãy dậy sớm, nấu cháo, nấu cơm, chuẩn bị các món canh, chuẩn bị các món ăn thêm.' Phải chăng vị gia chủ này sắp có lễ gả con gái, hay lễ cưới con trai, hay một đại lễ tế đàn đã được chuẩn bị, hay là vua Bimbisāra xứ Māgadha, hiệu Seniya, cùng với quân đội đã được thỉnh mời cho ngày mai?"
Atha kho rājagahako seṭṭhī dāse ca kammakāre ca āṇāpetvā yena anāthapiṇḍiko gahapati tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā anāthapiṇḍikena gahapatinā saddhiṁ paṭisammoditvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho rājagahakaṁ seṭṭhiṁ anāthapiṇḍiko gahapati etadavoca—“pubbe kho tvaṁ, gahapati, mayi āgate sabbakiccāni nikkhipitvā mamaññeva saddhiṁ paṭisammodasi. Sodāni tvaṁ vikkhittarūpo dāse ca kammakāre ca āṇāpesi—‘tena hi, bhaṇe, kālasseva uṭṭhāya yāguyo pacatha, bhattāni pacatha, sūpāni sampādetha, uttaribhaṅgāni sampādethā’ti. Kiṁ nu kho te, gahapati, āvāho vā bhavissati, vivāho vā bhavissati, mahāyañño vā paccupaṭṭhito, rājā vā māgadho seniyo bimbisāro nimantito svātanāya saddhiṁ balakāyenā”ti? “Na me, gahapati, āvāho vā bhavissati, nāpi vivāho vā bhavissati, nāpi rājā vā māgadho seniyo bimbisāro nimantito svātanāya saddhiṁ balakāyena; api ca me mahāyañño paccupaṭṭhito; svātanāya buddhappamukho saṅgho nimantito”ti.
“Buddhoti tvaṁ, gahapati, vadesī”ti? “Buddho tyāhaṁ, gahapati, vadāmī”ti. “Buddhoti tvaṁ, gahapati, vadesī”ti? “Buddho tyāhaṁ, gahapati, vadāmī”ti. “Buddhoti tvaṁ, gahapati, vadesī”ti? “Buddho tyāhaṁ, gahapati, vadāmī”ti.
“Ghosopi kho eso, gahapati, dullabho lokasmiṁ yadidaṁ—buddho buddhoti. Sakkā nu kho, gahapati, imaṁ kālaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ arahantaṁ sammāsambuddhan”ti?
“Akālo kho, gahapati, imaṁ kālaṁ taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamituṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ. Svedāni tvaṁ kālena taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamissasi arahantaṁ sammāsambuddhan”ti.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati—svedānāhaṁ kālena taṁ bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamissāmi arahantaṁ sammāsambuddhanti—buddhagatāya satiyā nipajjitvā rattiyā sudaṁ tikkhattuṁ vuṭṭhāsi pabhātaṁ maññamāno.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena sivakadvāraṁ tenupasaṅkami.
When the merchant was finished with instructing his workers, he went up to Anāthapiṇḍika, greeted him, and sat down. Anāthapiṇḍika then told him what he had observed and asked him what was happening. The merchant replied, “I’m not preparing for a wedding, nor have I invited King Seniya Bimbisāra of Magadha and the army. I’m preparing for a great sacrifice. I’ve invited the Sangha headed by the Buddha for a meal tomorrow.”
“Did you say, ‘Buddha’?” —“I did.” —“Did you say, ‘Buddha’?” —“I did.” —“Did you say, ‘Buddha’?” —“I did.”
“It’s rare in the world to hear the word ‘Buddha’. Is it possible right now to go and visit that Buddha, that fully awakened and perfected one?”
“Now is the wrong time to visit the Buddha. Tomorrow morning is a good time.”
Because he went to bed preoccupied with the Buddha—“Tomorrow morning I will go and visit that Buddha, that fully awakened and perfected one!”—he got up three times during the night thinking it was light.
Anāthapiṇḍika then went to the Sivaka gate,
Rồi vị trưởng giả ở thành Rājagaha, sau khi ra lệnh cho các người phục dịch và các người làm công, đã đi đến chỗ gia chủ Anāthapiṇḍika; sau khi đến, cùng gia chủ Anāthapiṇḍika thăm hỏi vui vẻ rồi ngồi xuống một bên. Khi vị trưởng giả ở thành Rājagaha đang ngồi một bên, gia chủ Anāthapiṇḍika đã nói điều này: "Này gia chủ, trước đây khi tôi đến, ngài gác lại mọi công việc và chỉ cùng tôi thăm hỏi vui vẻ. Bây giờ ngài có vẻ bận rộn, ra lệnh cho các người phục dịch và các người làm công rằng: 'Này các khanh, vậy thì hãy dậy sớm, nấu cháo, nấu cơm, chuẩn bị các món canh, chuẩn bị các món ăn thêm.' Phải chăng ngài, này gia chủ, sắp có lễ gả con gái, hay lễ cưới con trai, hay một đại lễ tế đàn đã được chuẩn bị, hay là vua Bimbisāra xứ Māgadha, hiệu Seniya, cùng với quân đội đã được thỉnh mời cho ngày mai?" "Này gia chủ, tôi không có lễ gả con gái, cũng không có lễ cưới con trai, cũng không thỉnh mời vua Bimbisāra xứ Māgadha, hiệu Seniya, cùng với quân đội cho ngày mai; nhưng tôi có một đại lễ tế đàn đã được chuẩn bị; chúng Tăng có đức Phật dẫn đầu đã được thỉnh mời cho ngày mai." "Này gia chủ, ngài nói 'Phật' ư?" "Này gia chủ, tôi nói 'Phật'." "Này gia chủ, ngài nói 'Phật' ư?" "Này gia chủ, tôi nói 'Phật'." "Này gia chủ, ngài nói 'Phật' ư?" "Này gia chủ, tôi nói 'Phật'." "Này gia chủ, âm thanh này thật là hiếm có ở trên đời, đó là 'Phật, Phật'. Này gia chủ, liệu có thể nào vào lúc này đến yết kiến bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ấy không?" "Này gia chủ, đây không phải là lúc để đến yết kiến bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Ngày mai, vào thời điểm thích hợp, ngài sẽ được đến yết kiến bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác." Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika, với ý nghĩ "Vậy ngày mai, vào thời điểm thích hợp, ta sẽ được đến yết kiến bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác," đã nằm xuống với niệm tưởng đến đức Phật, và trong đêm đã thức dậy đến ba lần, cứ ngỡ trời đã sáng.
305. Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika đã đi đến cổng nghĩa địa. Các phi nhân đã mở cổng. Bấy giờ, khi gia chủ Anāthapiṇḍika vừa ra khỏi thành, ánh sáng biến mất, bóng tối hiện ra, sự sợ hãi, sự kinh hoàng, sự dựng tóc gáy khởi lên; từ đó, ông muốn quay trở lại. Rồi dạ-xoa Sivaka, đang ẩn mình, đã làm cho nghe một âm thanh:
“Sataṁ hatthī sataṁ assā, Sataṁ assatarīrathā; Sataṁ kaññāsahassāni, Āmukkamaṇikuṇḍalā; Ekassa padavītihārassa, Kalaṁ nāgghanti soḷasiṁ.
“A hundred elephants, a hundred horses, A hundred carriages drawn by mules, A hundred thousand girls Wearing jeweled earrings—None is worth a sixteenth part Of a single step forward.
"Một trăm voi, một trăm ngựa, một trăm cỗ xe do lừa la kéo; Một trăm ngàn thiếu nữ, đeo bông tai ngọc ma-ni; Cũng không bằng một phần mười sáu, của một bước chân tiến tới."
Abhikkama gahapati abhikkama gahapati, Abhikkantaṁ te seyyo no paṭikkantan”ti.
Go forward, householder, go forward! Going forward is better for you than going back.”
"Hãy tiến tới, này gia chủ, hãy tiến tới, này gia chủ! Việc tiến tới của ngài là tốt hơn, việc lùi lại thì không."
Atha kho anāthapiṇḍikassa gahapatissa andhakāro antaradhāyi, āloko pāturahosi. Yaṁ ahosi bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁso so paṭippassambhi. Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho … anāthapiṇḍikassa gahapatissa āloko antaradhāyi, andhakāro pāturahosi, bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁso udapādi, tatova puna nivattitukāmo ahosi. Tatiyampi kho sivako yakkho antarahito saddamanussāvesi—
The light returned, the darkness disappeared, and his fear subsided. A second and a third time the light disappeared and he was paralyzed with fear, upon which the spirit proclaimed the same verses. And on both occasions the light returned, the darkness disappeared, and his fear subsided.
Bấy giờ, đối với gia chủ Anāthapiṇḍika, bóng tối biến mất, ánh sáng hiện ra. Sự sợ hãi, sự kinh hoàng, sự dựng tóc gáy nào đã có, nó đã được lắng dịu. Lần thứ hai cũng vậy... lần thứ ba cũng vậy, đối với gia chủ Anāthapiṇḍika, ánh sáng biến mất, bóng tối hiện ra, sự sợ hãi, sự kinh hoàng, sự dựng tóc gáy khởi lên; từ đó, ông lại muốn quay trở lại. Lần thứ ba, dạ-xoa Sivaka, đang ẩn mình, đã làm cho nghe một âm thanh:
“Sataṁ hatthī sataṁ assā, Sataṁ assatarīrathā; Sataṁ kaññāsahassāni, Āmukkamaṇikuṇḍalā; Ekassa padavītihārassa, Kalaṁ nāgghanti soḷasiṁ.
"Một trăm voi, một trăm ngựa, một trăm cỗ xe do lừa la kéo; Một trăm ngàn thiếu nữ, đeo bông tai ngọc ma-ni; Cũng không bằng một phần mười sáu, của một bước chân tiến tới."
Abhikkama gahapati abhikkama gahapati, Abhikkantaṁ te seyyo no paṭikkantan”ti.
"Hãy tiến tới, này gia chủ, hãy tiến tới, này gia chủ! Việc tiến tới của ngài là tốt hơn, việc lùi lại thì không."
Tatiyampi kho anāthapiṇḍikassa gahapatissa andhakāro antaradhāyi, āloko pāturahosi, yaṁ ahosi bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁso, so paṭippassambhi.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena sītavanaṁ tenupasaṅkami. Tena kho pana samayena bhagavā rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya ajjhokāse caṅkamati. Addasā kho bhagavā anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna caṅkamā orohitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavoca—“ehi, sudattā”ti. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati—“nāmena maṁ bhagavā ālapatī”ti—haṭṭho udaggo yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavoca—“kacci, bhante, bhagavā sukhaṁ sayitthā”ti?
Anāthapiṇḍika then went to the Sītavana, the Cool Grove. Just then the Buddha was doing walking meditation outside, having gotten up early in the morning. When the Buddha saw Anāthapiṇḍika coming, he stepped down from the walking path, sat down on the prepared seat, and said, “Come, Sudatta.” Anāthapiṇḍika thought, “The Buddha is calling me by name!” and glad and joyful he went up to him, bowed down with his head at the Buddha’s feet, and said, “Sir, I hope you have slept well?”
Lần thứ ba cũng vậy, đối với gia chủ Anāthapiṇḍika, bóng tối tan biến, ánh sáng hiện ra; sự sợ hãi, sự run rẩy, sự dựng tóc gáy nào đã khởi lên, sự ấy đã được lắng dịu. Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika đi đến nơi có khu rừng Sītavana. Và vào lúc ấy, Thế Tôn, vào lúc rạng đông của đêm, sau khi thức dậy, đang đi kinh hành ở ngoài trời. Thế Tôn đã thấy gia chủ Anāthapiṇḍika đang đi đến từ xa. Sau khi thấy, Ngài đi xuống khỏi nơi kinh hành và ngồi trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với gia chủ Anāthapiṇḍika lời này: – Này Sudatta, hãy lại đây. Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika, (nghĩ rằng): “Thế Tôn gọi ta bằng tên,” liền hoan hỷ, phấn khởi, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn và bạch với Thế Tôn lời này: – Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có ngủ được an lạc không ạ?
“Sabbadā ve sukhaṁ seti, brāhmaṇo parinibbuto; Yo na limpati kāmesu, sītibhūto nirūpadhi.
“Indeed, he always sleeps well, The brahmin who’s extinguished, Who’s not soiled among worldly pleasures, But is cool and without ownership.
“Vị Bà-la-môn đã tịch tịnh, thật vậy, luôn luôn ngủ an lạc; người không dính mắc vào các dục, đã trở nên mát mẻ, không còn phiền não.
Sabbā āsattiyo chetvā, vineyya hadaye daraṁ; Upasanto sukhaṁ seti, santiṁ pappuyya cetasā”ti.
After cutting all attachments, After removing distress from the heart, Calmed, he sleeps well, Having attained peace of mind.”
Sau khi cắt đứt mọi ái luyến, loại trừ sự lo âu trong tâm; người đã an tịnh, đạt được sự an tịnh bằng tâm, ngủ một cách an lạc.”
Atha kho bhagavā anāthapiṇḍikassa gahapatissa anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ, kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ, nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi. Yadā bhagavā aññāsi anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ kallacittaṁ muducittaṁ vinīvaraṇacittaṁ udaggacittaṁ pasannacittaṁ, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā taṁ pakāsesi—dukkhaṁ, samudayaṁ, nirodhaṁ, maggaṁ. Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya; evameva anāthapiṇḍikassa gahapatissa tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi—“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane bhagavantaṁ etadavoca—“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya—‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi, dhammañca, bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gataṁ. Adhivāsetu ca me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
The Buddha then gave him a progressive talk—on generosity, morality, and heaven; on the downside, degradation, and defilement of worldly pleasures; and he revealed the benefits of renunciation. When the Buddha knew that his mind was ready, supple, without hindrances, joyful, and confident, he revealed the teaching unique to the Buddhas: suffering, its origin, its end, and the path. And just as a clean and stainless cloth absorbs dye properly, so too, while he was sitting right there, Anāthapiṇḍika experienced the stainless vision of the Truth: “Anything that has a beginning has an end.”
He had seen the Truth, had reached, understood, and penetrated it. He had gone beyond doubt and uncertainty, had attained to confidence, and had become independent of others in the Teacher’s instruction. He then said to the Buddha, “Wonderful, sir, wonderful! Just as one might set upright what’s overturned, or reveal what’s hidden, or show the way to one who’s lost, or bring a lamp into the dark so that one with eyes might see what’s there—just so has the Buddha made the Teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, the Teaching, and the Sangha of monks. Please accept me as a lay follower who’s gone for refuge for life. And please accept tomorrow’s meal from me together with the Sangha of monks.” The Buddha consented by remaining silent.
Bấy giờ, Thế Tôn thuyết cho gia chủ Anāthapiṇḍika một bài pháp tuần tự, nghĩa là: thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về cõi trời; Ngài tuyên thuyết về sự nguy hại, sự hạ liệt, sự ô nhiễm của các dục và lợi ích của sự xuất ly. Khi Thế Tôn biết gia chủ Anāthapiṇḍika có tâm sẵn sàng, tâm nhu nhuyến, tâm không triền cái, tâm hân hoan, tâm tịnh tín, bấy giờ Ngài tuyên thuyết bài pháp vi diệu của chư Phật, đó là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Ví như tấm vải trong sạch, không vết đen, có thể nhuộm màu một cách hoàn hảo; cũng vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không bụi, không uế nhiễm đã khởi lên cho gia chủ Anāthapiṇḍika: “Bất cứ cái gì có bản chất sanh khởi, tất cả cái đó đều có bản chất đoạn diệt.” Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika, người đã thấy Pháp, đã đạt được Pháp, đã hiểu rõ Pháp, đã thâm nhập vào Pháp, đã vượt qua hoài nghi, đã hết phân vân, đã đạt được sự tự tin, không còn phụ thuộc vào người khác trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư, đã bạch với Thế Tôn lời này: – Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, ví như người ta lật ngửa vật bị úp, hoặc mở ra vật bị che kín, hoặc chỉ đường cho người bị lạc, hoặc đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các hình sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn tuyên thuyết bằng nhiều phương tiện. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỳ-khưu Tăng. Mong Thế Tôn hãy nhận con làm một người cận sự nam, đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời. Và bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cùng với Tỳ-khưu Tăng hãy nhận lời mời dùng bữa của con vào ngày mai. Thế Tôn đã nhận lời bằng sự im lặng.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Assosi kho rājagahako seṭṭhī—“anāthapiṇḍikena kira gahapatinā svātanāya buddhappamukho saṅgho nimantito”ti.
Knowing that the Buddha had consented, Anāthapiṇḍika got up from his seat, bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left.
The merchant heard that Anāthapiṇḍika had invited the Sangha headed by the Buddha for a meal on the following day.
Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika, sau khi biết được sự chấp thuận của Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi ra đi. Vị trưởng giả ở thành Rājagaha nghe được rằng: “Gia chủ Anāthapiṇḍika đã thỉnh Tăng đoàn do Đức Phật dẫn đầu cho ngày mai.”
“Alaṁ, gahapati, atthi me veyyāyikaṁ yenāhaṁ buddhappamukhassa saṅghassa bhattaṁ karissāmī”ti.
“There’s no need. I have the means.”
306. Bấy giờ, vị trưởng giả ở thành Rājagaha nói với gia chủ Anāthapiṇḍika lời này: – Thưa gia chủ, nghe nói ngài đã thỉnh Tăng đoàn do Đức Phật dẫn đầu cho ngày mai. Và ngài là khách. Thưa gia chủ, tôi xin cung cấp cho ngài các phương tiện để ngài có thể chuẩn bị bữa ăn cho Tăng đoàn do Đức Phật dẫn đầu. – Thôi, thưa gia chủ. Tôi có đủ phương tiện để tôi chuẩn bị bữa ăn cho Tăng đoàn do Đức Phật dẫn đầu.
Assosi kho rājagahako negamo—“anāthapiṇḍikena kira gahapatinā svātanāya buddhappamukho saṅgho nimantito”ti. Atha kho rājagahako negamo anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavoca—“tayā kira, gahapati, svātanāya buddhappamukho saṅgho nimantito. Tvañcāsi āgantuko. Demi te, gahapati, veyyāyikaṁ yena tvaṁ buddhappamukhassa saṅghassa bhattaṁ kareyyāsī”ti.
“Alaṁ, ayya; atthi me veyyāyikaṁ yenāhaṁ buddhappamukhassa saṅghassa bhattaṁ karissāmī”ti.
The householder association of Rājagaha heard that Anāthapiṇḍika had invited the Sangha headed by the Buddha for a meal on the following day. They said to Anāthapiṇḍika, “You’ve invited the Sangha headed by the Buddha, yet you’ve just arrived here. We’ll pay for it.”
“There’s no need, sirs. I have the means.”
Vị thương gia ở thành Rājagaha nghe được rằng: “Gia chủ Anāthapiṇḍika đã thỉnh Tăng đoàn do Đức Phật dẫn đầu cho ngày mai.” Bấy giờ, vị thương gia ở thành Rājagaha nói với gia chủ Anāthapiṇḍika lời này: – Thưa gia chủ, nghe nói ngài đã thỉnh Tăng đoàn do Đức Phật dẫn đầu cho ngày mai. Và ngài là khách. Thưa gia chủ, tôi xin cung cấp cho ngài các phương tiện để ngài có thể chuẩn bị bữa ăn cho Tăng đoàn do Đức Phật dẫn đầu. – Thôi, thưa ngài. Tôi có đủ phương tiện để tôi chuẩn bị bữa ăn cho Tăng đoàn do Đức Phật dẫn đầu.
Assosi kho rājā māgadho seniyo bimbisāro—“anāthapiṇḍikena kira gahapatinā svātanāya buddhappamukho saṅgho nimantito”ti. Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavoca—“tayā kira, gahapati, svātanāya buddhappamukho saṅgho nimantito. Tvañcāsi āgantuko. Demi te, gahapati, veyyāyikaṁ yena tvaṁ buddhappamukhassa saṅghassa bhattaṁ kareyyāsī”ti.
“Alaṁ, deva; atthi me veyyāyikaṁ yenāhaṁ buddhappamukhassa saṅghassa bhattaṁ karissāmī”ti.
King Seniya Bimbisāra of Magadha heard that Anāthapiṇḍika had invited the Sangha headed by the Buddha for a meal on the following day. He said to Anāthapiṇḍika, “You’ve invited the Sangha headed by the Buddha, yet you’ve just arrived here. I’ll pay for it.”
“There’s no need, sir. I have the means.”
Vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha nghe được rằng: “Gia chủ Anāthapiṇḍika đã thỉnh Tăng đoàn do Đức Phật dẫn đầu cho ngày mai.” Bấy giờ, vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha nói với gia chủ Anāthapiṇḍika lời này: – Thưa gia chủ, nghe nói ngài đã thỉnh Tăng đoàn do Đức Phật dẫn đầu cho ngày mai. Và ngài là khách. Thưa gia chủ, tôi xin cung cấp cho ngài các phương tiện để ngài có thể chuẩn bị bữa ăn cho Tăng đoàn do Đức Phật dẫn đầu. – Thôi, tâu Đại vương. Tôi có đủ phương tiện để tôi chuẩn bị bữa ăn cho Tăng đoàn do Đức Phật dẫn đầu.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati tassā rattiyā accayena rājagahakassa seṭṭhissa nivesane paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi—“kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti. Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena rājagahakassa seṭṭhissa nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā, bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ, ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho anāthapiṇḍiko gahapati bhagavantaṁ etadavoca—“adhivāsetu me, bhante, bhagavā sāvatthiyaṁ vassāvāsaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
“Suññāgāre kho, gahapati, tathāgatā abhiramantī”ti.
“Aññātaṁ, bhagavā, aññātaṁ, sugatā”ti.
Atha kho bhagavā anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
The following morning, in that wealthy merchant’s house, Anāthapiṇḍika had various kinds of fine foods prepared. He then had the Buddha informed that the meal was ready. The Buddha robed up, took his bowl and robe, and went to that merchant’s house where he sat down on the prepared seat together with the Sangha of monks. Anāthapiṇḍika then personally served the various kinds of fine foods to the Sangha of monks headed by the Buddha. When the Buddha had finished his meal and had washed his hands and bowl, Anāthapiṇḍika sat down to one side and said, “Sir, please spend the rainy-season residence at Sāvatthī together with the Sangha of monks.”
“Buddhas delight in solitude, householder.”
“I understand, sir, I understand!”
Then, after instructing, inspiring, and gladdening him with a teaching, the Buddha got up from his seat and left.
Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika, sau khi đêm ấy đã qua, tại tư gia của vị trưởng giả ở thành Rājagaha, đã cho dọn sẵn các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, rồi cho người báo thời giờ đến đức Thế Tôn: “Bạch ngài, đã đến giờ, vật thực đã sẵn sàng.” Bấy giờ, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đắp y, mang y bát, đi đến tư gia của vị trưởng giả ở thành Rājagaha. Sau khi đến, ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn cùng với Tăng chúng. Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika đã tự tay dâng cúng các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm cho Tăng chúng với đức Phật dẫn đầu cho đến khi các vị hài lòng và tỏ ý đã đủ. Khi thấy đức Thế Tôn đã dùng xong, tay đã rời khỏi bát, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, gia chủ Anāthapiṇḍika bạch với đức Thế Tôn rằng: “Bạch ngài, mong đức Thế Tôn cùng với Tăng chúng nhận lời an cư mùa mưa tại thành Sāvatthi của con.” “Này gia chủ, các đấng Như Lai ưa thích những nơi vắng vẻ.” “Con đã hiểu, bạch đức Thế Tôn, con đã hiểu, bạch đức Thiện Thệ.” Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi dùng pháp thoại chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ gia chủ Anāthapiṇḍika, ngài từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi.
Tena kho pana samayena anāthapiṇḍiko gahapati bahumitto hoti bahusahāyo ādeyyavāco. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati rājagahe taṁ karaṇīyaṁ tīretvā yena sāvatthi tena pakkāmi. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati antarāmagge manusse āṇāpesi—“ārāme, ayyā, karotha, vihāre patiṭṭhāpetha, dānāni paṭṭhapetha. Buddho loke uppanno. So ca mayā bhagavā nimantito iminā maggena āgacchissatī”ti. Atha kho te manussā anāthapiṇḍikena gahapatinā uyyojitā ārāme akaṁsu, vihāre patiṭṭhāpesuṁ, dānāni paṭṭhapesuṁ.
After finishing his business in Rājagaha, Anāthapiṇḍika set out for Sāvatthī. Now at that time Anāthapiṇḍika had many friends and acquaintances who took his advice. On his way to Sāvatthī he told people to establish monasteries, build dwellings, and prepare offerings, saying, “There’s a Buddha in the world! He’s been invited by me and will be traveling this way.” And that’s what they did.
307. Vào lúc bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika là người có nhiều bạn bè, nhiều thân hữu, và có lời nói được tin theo. Bấy giờ, sau khi hoàn tất công việc ở thành Rājagaha, gia chủ Anāthapiṇḍika lên đường đi đến thành Sāvatthi. Bấy giờ, trên đường đi, gia chủ Anāthapiṇḍika đã ra lệnh cho những người của mình rằng: “Này các khanh, hãy xây dựng các khu vườn, hãy thiết lập các tu viện, hãy tổ chức các buổi bố thí. Đức Phật đã xuất hiện ở đời. Và đức Thế Tôn ấy đã được ta thỉnh mời, ngài sẽ đi đến bằng con đường này.” Bấy giờ, những người ấy, được gia chủ Anāthapiṇḍika khuyến khích, đã xây dựng các khu vườn, đã thiết lập các tu viện, đã tổ chức các buổi bố thí.
Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika sau khi đến thành Sāvatthi đã đi xem xét khắp xung quanh thành Sāvatthi (với suy nghĩ): “Đức Thế Tôn có thể trú ngụ ở nơi nào nhỉ? Một nơi không quá xa làng, không quá gần, thuận tiện cho việc đi lại, dễ dàng cho những người có nhu cầu tìm đến, ban ngày không đông đúc, ban đêm ít tiếng động, ít ồn ào, không khí vắng lặng, thích hợp cho sự riêng tư của con người, phù hợp cho việc độc cư thiền định.”
Addasā kho anāthapiṇḍiko gahapati jetassa kumārassa uyyānaṁ—gāmato neva atidūre na accāsanne, gamanāgamanasampannaṁ, atthikānaṁ atthikānaṁ manussānaṁ abhikkamanīyaṁ, divā appākiṇṇaṁ, rattiṁ appasaddaṁ, appanigghosaṁ, vijanavātaṁ, manussarāhasseyyakaṁ, paṭisallānasāruppaṁ. Disvāna yena jeto kumāro tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā jetaṁ kumāraṁ etadavoca—“dehi me, ayyaputta, uyyānaṁ ārāmaṁ kātun”ti.
“Adeyyo, gahapati, ārāmo api koṭisantharenā”ti.
“Gahito, ayyaputta, ārāmo”ti.
“Na, gahapati, gahito ārāmo”ti.
“Gahito na gahito”ti vohārike mahāmatte pucchiṁsu. Mahāmattā evamāhaṁsu—“yato tayā, ayyaputta, aggho kato, gahito ārāmo”ti.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati sakaṭehi hiraññaṁ nibbāhāpetvā jetavanaṁ koṭisantharaṁ santharāpesi. Sakiṁ nīhaṭaṁ hiraññaṁ thokassa okāsassa koṭṭhakasāmantā nappahoti. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati manusse āṇāpesi—“gacchatha, bhaṇe, hiraññaṁ āharatha; imaṁ okāsaṁ santharissāmā”ti.
Anāthapiṇḍika saw that Prince Jeta’s park had all these qualities. He then went to Prince Jeta and said, “Sir, please give me your park to set up a monastery.”
“I wouldn’t give it away even if you covered the park with ten million gold coins.”
“It’s a deal!”
“No it isn’t!”
They then asked judges to decide on the matter. They said, “Sir, since you gave a price, the park is sold.”
Anāthapiṇḍika then had gold coins brought out in carts and covered the Jeta Grove with ten million coins. After yet another load had been brought out, there was still a small area near the entrance that was not covered. Anāthapiṇḍika told his people, “Go and get more coins. We’ll cover this area too.”
Gia chủ Anāthapiṇḍika đã thấy khu vườn của hoàng tử Jeta – một nơi không quá xa làng, không quá gần, thuận tiện cho việc đi lại, dễ dàng cho những người có nhu cầu tìm đến, ban ngày không đông đúc, ban đêm ít tiếng động, ít ồn ào, không khí vắng lặng, thích hợp cho sự riêng tư của con người, phù hợp cho việc độc cư thiền định. Sau khi thấy vậy, ông đi đến chỗ hoàng tử Jeta. Sau khi đến, ông nói với hoàng tử Jeta rằng: “Thưa điện hạ, xin hãy nhượng lại cho tôi khu vườn để xây dựng một ngôi tịnh xá.” “Này gia chủ, khu vườn này không thể nhượng lại, trừ phi được trải bằng tiền vàng.” “Thưa điện hạ, khu vườn đã được mua rồi.” “Này gia chủ, khu vườn chưa được mua.” (Họ bèn hỏi) các vị đại thần xét xử rằng: “Đã mua hay chưa mua?” Các vị đại thần đã nói như sau: “Thưa điện hạ, vì ngài đã ra giá, nên khu vườn đã được mua.” Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika cho xe chở vàng đến và cho người trải một lớp tiền vàng khắp khu vườn Jeta. Số vàng được mang đến một lần không đủ cho một khoảng nhỏ gần cổng. Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika ra lệnh cho những người của mình: “Này các khanh, hãy đi lấy vàng lại đây; chúng ta sẽ trải nốt khoảng đất này.”
Atha kho jetassa kumārassa etadahosi—“na kho idaṁ orakaṁ bhavissati, yathāyaṁ gahapati tāva bahuṁ hiraññaṁ pariccajatī”ti. Anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavoca—“alaṁ, gahapati; mā taṁ okāsaṁ santharāpesi. Dehi me etaṁ okāsaṁ. Mametaṁ dānaṁ bhavissatī”ti.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati—ayaṁ kho jeto kumāro abhiññāto ñātamanusso; mahatthiko kho pana evarūpānaṁ ñātamanussānaṁ imasmiṁ dhammavinaye pasādoti—taṁ okāsaṁ jetassa kumārassa pādāsi. Atha kho jeto kumāro tasmiṁ okāse koṭṭhakaṁ māpesi.
But Prince Jeta thought, “This must be really worthwhile, as he’s giving up so much money.” And he said to Anāthapiṇḍika, “That’s enough, householder, don’t cover that area. Let me keep it. It will be my gift.”
Anāthapiṇḍika thought, “Prince Jeta is a well-known person. It’s very beneficial that such well-known people gain confidence in this spiritual path.” And he granted that area to Prince Jeta. Prince Jeta then had a gatehouse built at that place.
Bấy giờ, hoàng tử Jeta khởi lên suy nghĩ: “Chắc hẳn đây không phải là một việc tầm thường, khi mà vị gia chủ này lại chịu từ bỏ nhiều vàng bạc đến thế.” (Hoàng tử) nói với gia chủ Anāthapiṇḍika rằng: “Thôi đủ rồi, thưa gia chủ; xin đừng cho người trải (vàng) ở khoảng đất ấy nữa. Xin hãy nhượng lại khoảng đất ấy cho tôi. Đây sẽ là phần cúng dường của tôi.” Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika (suy nghĩ): “Hoàng tử Jeta này là người có danh tiếng, một nhân vật được nhiều người biết đến; niềm tin của những nhân vật danh tiếng như vậy đối với Giáo pháp và Giới luật này sẽ có lợi ích lớn lao,” (nghĩ vậy) ông đã nhượng lại khoảng đất ấy cho hoàng tử Jeta. Bấy giờ, hoàng tử Jeta đã cho xây dựng một cổng thành ở khoảng đất ấy.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati jetavane vihāre kārāpesi, pariveṇāni kārāpesi, koṭṭhake kārāpesi, upaṭṭhānasālāyo kārāpesi, aggisālāyo kārāpesi, kappiyakuṭiyo kārāpesi, vaccakuṭiyo kārāpesi, caṅkame kārāpesi, caṅkamanasālāyo kārāpesi, udapāne kārāpesi, udapānasālāyo kārāpesi, jantāghare kārāpesi, jantāgharasālāyo kārāpesi, pokkharaṇiyo kārāpesi, maṇḍape kārāpesi.
But Anāthapiṇḍika had dwellings built in the Jeta Grove, and yards, gatehouses, assembly halls, water-boiling sheds, food-storage huts, restrooms, walking-meditation paths, indoor walking-meditation paths, wells, well houses, saunas, sauna sheds, ponds, and roof-covers.
Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika đã cho xây dựng trong khu vườn Jeta: các tu viện, các khu nhà ở, các cổng thành, các giảng đường, các nhà bếp, các nhà kho, các nhà vệ sinh, các đường kinh hành, các mái che trên đường kinh hành, các giếng nước, các mái che trên giếng nước, các nhà tắm hơi, các mái che nhà tắm hơi, các hồ nước, và các nhà thủy tạ.
2.2. Navakammadāna
10. Putting in charge of building work
Sự cúng dường công trình mới.
Atha kho bhagavā rājagahe yathābhirantaṁ viharitvā yena vesālī tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena vesālī tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Tena kho pana samayena manussā sakkaccaṁ navakammaṁ karonti. Yepi bhikkhū navakammaṁ adhiṭṭhenti tepi sakkaccaṁ upaṭṭhenti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena. Atha kho aññatarassa daliddassa tunnavāyassa etadahosi—“na kho idaṁ orakaṁ bhavissati, yathayime manussā sakkaccaṁ navakammaṁ karonti; yannūnāhampi navakammaṁ kareyyan”ti. Atha kho so daliddo tunnavāyo sāmaṁ cikkhallaṁ madditvā iṭṭhakāyo cinitvā kuṭṭaṁ uṭṭhāpesi. Tena akusalakena citā vaṅkā bhitti paripati. Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho so daliddo tunnavāyo sāmaṁ cikkhallaṁ madditvā iṭṭhakāyo cinitvā kuṭṭaṁ uṭṭhāpesi. Tena akusalakena citā vaṅkā bhitti paripati. Atha kho so daliddo tunnavāyo ujjhāyati khiyyati vipāceti—“ye imesaṁ samaṇānaṁ sakyaputtiyānaṁ denti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ, te ime ovadanti anusāsanti, tesañca navakammaṁ adhiṭṭhenti. Ahaṁ panamhi daliddo. Na maṁ koci ovadati vā anusāsati vā navakammaṁ vā adhiṭṭhetī”ti.
Assosuṁ kho bhikkhū tassa daliddassa tunnavāyassa ujjhāyantassa khiyyantassa vipācentassa. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, navakammaṁ dātuṁ.
Navakammiko, bhikkhave, bhikkhu ussukkaṁ āpajjissati—‘kinti nu kho vihāro khippaṁ pariyosānaṁ gaccheyyā’ti; khaṇḍaṁ phullaṁ paṭisaṅkharissati.
Evañca pana, bhikkhave, dātabbaṁ. Paṭhamaṁ bhikkhu yācitabbo, yācitvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
When the Buddha had stayed at Rājagaha for as long as he liked, he set out wandering toward Vesālī. When he eventually arrived, he stayed in the house with the peaked roof in the Great Wood.
At that time people were doing building work out of respect. And the monks who supervised the building work were respectfully supported with robe-cloth, almsfood, dwellings, and medicinal supplies. Then a certain poor tailor thought, “This must be really worthwhile, seeing as these people do building work with such respect. Why don’t I too do building work?” He then made a mixture of mud, made bricks out of it, and built a wall. But because of his lack of skill, the wall was crooked and fell down. A second and a third time the same thing happened. He then complained and criticized the monks, “These Sakyan monastics teach and instruct only those who give them robe-cloth, almsfood, dwellings, and medicinal supplies. They only supervise their building work. But since I’m poor, nobody teaches, instructs, or supervises me.”
The monks heard the complaints of that poor tailor. They told the Buddha, who then gave a teaching and addressed the monks:
“You should put a monk in charge of the building work.
He should make an effort to complete the dwelling as quickly as possible and should repair what’s broken or damaged.
And he should be put in charge like this. First a monk should be asked, and then a competent and capable monk should inform the Sangha:
308. Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi đã an trú tại thành Rājagaha tùy theo ý thích, ngài đã lên đường du hành đến nơi có thành Vesālī. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã đi đến nơi có thành Vesālī. Tại đó, đức Thế Tôn an trú ở ngôi giảng đường có mái nhọn (kūṭāgārasālā) trong khu Đại Lâm (Mahāvana) ở thành Vesālī. Vào lúc bấy giờ, dân chúng đang sốt sắng thực hiện công việc xây cất mới. Những vị tỳ khưu nào trông nom công việc xây cất mới, họ cũng sốt sắng hỗ trợ các vị ấy bằng y phục, vật thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh. Bấy giờ, một người thợ may nghèo khó đã suy nghĩ thế này: ‘Việc này chắc không phải là tầm thường, khi mà những người này đang sốt sắng thực hiện công việc xây cất mới. Hay là ta cũng nên thực hiện công việc xây cất mới.’ Khi ấy, người thợ may nghèo khó ấy tự mình nhào bùn, xếp gạch, rồi dựng lên bức tường. Do người ấy không khéo léo nên bức tường được xây bị cong vẹo rồi sụp đổ. Lần thứ hai cũng vậy... Lần thứ ba, người thợ may nghèo khó ấy tự mình nhào bùn, xếp gạch, rồi dựng lên bức tường. Do người ấy không khéo léo nên bức tường được xây bị cong vẹo rồi sụp đổ. Bấy giờ, người thợ may nghèo khó ấy phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: ‘Những người nào cúng dường y phục, vật thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh cho các vị sa-môn Thích tử này thì được các vị ấy chỉ dạy, khuyên bảo, và trông nom công việc xây cất mới cho họ. Còn ta thì nghèo khó. Không có ai chỉ dạy, khuyên bảo, hay trông nom công việc xây cất mới cho ta cả.’ Các vị tỳ khưu đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, chỉ trích của người thợ may nghèo khó ấy. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Bấy giờ, nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các tỳ khưu và dạy rằng: ‘Này các tỳ khưu, ta cho phép giao phó công việc xây cất mới. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nhận công việc xây cất mới sẽ nỗ lực với suy nghĩ: ‘Làm thế nào để ngôi tịnh xá được nhanh chóng hoàn thành?’ và sẽ sửa chữa chỗ bị hư hỏng, đổ nát. Và này các tỳ khưu, việc giao phó phải được thực hiện như vầy: Trước tiên, vị tỳ khưu phải được thỉnh cầu. Sau khi được thỉnh cầu, một vị tỳ khưu có năng lực, có khả năng, nên trình cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmassa gahapatino vihāraṁ itthannāmassa bhikkhuno navakammaṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should put monk so-and-so in charge of the building work relating to the dwelling of householder so-and-so. This is the motion.
309. ‘Bạch chư tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Nếu Tăng chúng đã đến thời điểm thích hợp, Tăng chúng nên giao phó công việc xây cất mới ngôi tịnh xá của gia chủ tên là... cho tỳ khưu tên là... Đây là lời tác bạch.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho itthannāmassa gahapatino vihāraṁ itthannāmassa bhikkhuno navakammaṁ deti. Yassāyasmato khamati itthannāmassa gahapatino vihāraṁ itthannāmassa bhikkhuno navakammassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha puts monk so-and-so in charge of the building work relating to the dwelling of householder so-and-so. Any monk who approves of putting monk so-and-so in charge of the building work relating to the dwelling of householder so-and-so should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Bạch chư tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Tăng chúng giao phó công việc xây cất mới ngôi tịnh xá của gia chủ tên là... cho tỳ khưu tên là... Việc giao phó công việc xây cất mới ngôi tịnh xá của gia chủ tên là... cho tỳ khưu tên là..., vị trưởng lão nào chấp thuận thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng.
Dinno saṅghena itthannāmassa gahapatino vihāro itthannāmassa bhikkhuno navakammaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has put monk so-and-so in charge of the building work relating to the dwelling of householder so-and-so. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
‘Công việc xây cất mới ngôi tịnh xá của gia chủ tên là... đã được Tăng chúng giao phó cho tỳ khưu tên là... Việc này được Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên Tăng chúng im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này là như vậy.’
2.3. Aggāsanādianujānana
11. The instruction on the best seat, etc.
Sự cho phép về chỗ ngồi hàng đầu, v.v...
Atha kho bhagavā vesāliyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena sāvatthi tena cārikaṁ pakkāmi. Tena kho pana samayena chabbaggiyānaṁ bhikkhūnaṁ antevāsikā bhikkhū buddhappamukhassa saṅghassa purato purato gantvā vihāre pariggaṇhanti, seyyāyo pariggaṇhanti—“idaṁ amhākaṁ upajjhāyānaṁ bhavissati, idaṁ amhākaṁ ācariyānaṁ bhavissati, idaṁ amhākaṁ bhavissatī”ti.
When the Buddha had stayed at Vesālī for as long as he liked, he set out wandering toward Sāvatthī. On that occasion the monks who were the pupils of the monks from the group of six went ahead of the Sangha headed by the Buddha. They then took possession of dwellings and beds, thinking, “This will be for our preceptors and teachers, and also for ourselves.”
310. Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi đã an trú tại thành Vesālī tùy theo ý thích, ngài đã lên đường du hành đến nơi có thành Sāvatthī. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đệ tử của nhóm sáu vị tỳ khưu đi trước Tăng chúng do đức Phật dẫn đầu, rồi chiếm giữ các tịnh xá, chiếm giữ các sàng tọa và nói rằng: ‘Chỗ này sẽ dành cho các vị thầy tế độ của chúng tôi, chỗ này sẽ dành cho các vị thầy dạy dỗ của chúng tôi, chỗ này sẽ dành cho chúng tôi.’
Atha kho āyasmā sāriputto buddhappamukhassa saṅghassa piṭṭhito piṭṭhito gantvā vihāresu pariggahitesu, seyyāsu pariggahitāsu, seyyaṁ alabhamāno aññatarasmiṁ rukkhamūle nisīdi.
Atha kho bhagavā rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya ukkāsi. Āyasmāpi sāriputto ukkāsi.
“Ko etthā”ti?
“Ahaṁ, bhagavā, sāriputto”ti.
“Kissa tvaṁ, sāriputta, idha nisinno”ti?
Atha kho āyasmā sāriputto bhagavato etamatthaṁ ārocesi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—
“saccaṁ kira, bhikkhave, chabbaggiyānaṁ bhikkhūnaṁ antevāsikā bhikkhū buddhappamukhassa saṅghassa purato purato gantvā vihāre pariggaṇhanti, seyyāyo pariggaṇhanti—idaṁ amhākaṁ upajjhāyānaṁ bhavissati, idaṁ amhākaṁ ācariyānaṁ bhavissati, idaṁ amhākaṁ bhavissatī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma te, bhikkhave, moghapurisā buddhappamukhassa saṅghassa purato purato gantvā vihāre pariggahessanti, seyyāyo pariggahessanti—idaṁ amhākaṁ upajjhāyānaṁ bhavissati, idaṁ amhākaṁ ācariyānaṁ bhavissati, idaṁ amhākaṁ bhavissatīti. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“ko, bhikkhave, arahati aggāsanaṁ aggodakaṁ aggapiṇḍan”ti?
Ekacce bhikkhū evamāhaṁsu—“yo, bhagavā, khattiyakulā pabbajito so arahati aggāsanaṁ aggodakaṁ aggapiṇḍan”ti.
Following behind the Sangha, Venerable Sāriputta was unable to get a bed—the dwellings and beds having all been taken. And so he sat down at the foot of a tree.
Getting up early in the morning, the Buddha cleared his throat. Sāriputta, too, cleared his throat.
“Who’s there?”
“It’s me, sir, Sāriputta.”
“Why are you sitting here?”
Sāriputta told the Buddha what had happened. Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks:
“Is it true, monks, that the monks who are the pupils of the monks from the group of six did this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “How can they act like this? This will affect people’s confidence …” After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“Who, monks, deserves the best seat, the best water, and the best almsfood?”
Some monks said, “Those who’ve gone forth from an aristocratic family deserve the best seat, water, and almsfood.”
Bấy giờ, trưởng lão Sāriputta đi phía sau Tăng chúng do đức Phật dẫn đầu. Do các tịnh xá đã bị chiếm giữ, các sàng tọa đã bị chiếm giữ, nên ngài không tìm được sàng tọa và đã ngồi xuống ở dưới gốc cây. Khi ấy, vào lúc gần sáng, đức Thế Tôn thức dậy và hắng giọng. Trưởng lão Sāriputta cũng hắng giọng. ‘Ai ở đó vậy?’ ‘Bạch đức Thế Tôn, con là Sāriputta.’ ‘Này Sāriputta, tại sao con lại ngồi ở đây?’ Bấy giờ, trưởng lão Sāriputta đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn đã cho hội họp Tăng chúng lại rồi hỏi các tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, có thật là các vị tỳ khưu đệ tử của nhóm sáu vị tỳ khưu đã đi trước Tăng chúng do đức Phật dẫn đầu, rồi chiếm giữ các tịnh xá, chiếm giữ các sàng tọa và nói rằng: ‘Chỗ này sẽ dành cho các vị thầy tế độ của chúng tôi, chỗ này sẽ dành cho các vị thầy dạy dỗ của chúng tôi, chỗ này sẽ dành cho chúng tôi’ hay không?’ ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ Đức Phật, bậc Thế Tôn, đã quở trách... ‘Này các tỳ khưu, tại sao những kẻ rỗng tuếch ấy lại đi trước Tăng chúng do đức Phật dẫn đầu, rồi chiếm giữ các tịnh xá, chiếm giữ các sàng tọa và nói rằng: ‘Chỗ này sẽ dành cho các vị thầy tế độ của chúng tôi, chỗ này sẽ dành cho các vị thầy dạy dỗ của chúng tôi, chỗ này sẽ dành cho chúng tôi’ chứ! Này các tỳ khưu, việc này không đem lại niềm tin cho những người chưa có niềm tin...’ Sau khi quở trách... sau khi thuyết một bài pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ khưu và hỏi rằng: ‘Này các tỳ khưu, ai là người xứng đáng với chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, và vật thực hàng đầu?’
Một số vị tỳ khưu đã nói như vầy: – ‘Bạch ngài, vị nào xuất gia từ dòng dõi Sát-đế-lỵ, vị ấy xứng đáng được chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, vật thực hàng đầu.’ Một số vị tỳ khưu đã nói như vầy: – ‘Bạch ngài, vị nào xuất gia từ dòng dõi Bà-la-môn, vị ấy xứng đáng được chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, vật thực hàng đầu.’ Một số vị tỳ khưu đã nói như vầy: – ‘Bạch ngài, vị nào xuất gia từ dòng dõi gia chủ, vị ấy xứng đáng được chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, vật thực hàng đầu.’ Một số vị tỳ khưu đã nói như vầy: – ‘Bạch ngài, vị nào là người thông thuộc Kinh Tạng, vị ấy xứng đáng được chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, vật thực hàng đầu.’ Một số vị tỳ khưu đã nói như vầy: – ‘Bạch ngài, vị nào là người thông thuộc Luật Tạng, vị ấy xứng đáng được chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, vật thực hàng đầu.’ Một số vị tỳ khưu đã nói như vầy: – ‘Bạch ngài, vị nào là người thuyết Pháp, vị ấy xứng đáng được chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, vật thực hàng đầu.’ Một số vị tỳ khưu đã nói như vầy: – ‘Bạch ngài, vị nào là người đắc Sơ Thiền, vị ấy xứng đáng được chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, vật thực hàng đầu.’ Một số vị tỳ khưu đã nói như vầy: – ‘Bạch ngài, vị nào là người đắc Nhị Thiền, vị ấy xứng đáng được chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, vật thực hàng đầu.’ Một số vị tỳ khưu đã nói như vầy: – ‘Bạch ngài, vị nào là người đắc Tam Thiền, vị ấy xứng đáng được chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, vật thực hàng đầu.’ Một số vị tỳ khưu đã nói như vầy: – ‘Bạch ngài, vị nào là người đắc Tứ Thiền, vị ấy xứng đáng được chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, vật thực hàng đầu.’ Một số vị tỳ khưu đã nói như vầy: – ‘Bạch ngài, vị nào là bậc Dự Lưu, vị ấy xứng đáng được chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, vật thực hàng đầu.’ Một số vị tỳ khưu đã nói như vầy: – ‘Bạch ngài, vị nào là bậc Nhất Lai, ... cho đến ... vị nào là bậc Bất Lai, ... cho đến ... vị nào là bậc A-la-hán, vị ấy xứng đáng được chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, vật thực hàng đầu.’ Một số vị tỳ khưu đã nói như vầy: – ‘Bạch ngài, vị nào là bậc Tam Minh, vị ấy xứng đáng được chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, vật thực hàng đầu.’ Một số vị tỳ khưu đã nói như vầy: – ‘Bạch ngài, vị nào là bậc Lục Thông, vị ấy xứng đáng được chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, vật thực hàng đầu.’
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—
“bhūtapubbaṁ, bhikkhave, himavantapadese mahānigrodho ahosi. Taṁ tayo sahāyā upanissāya vihariṁsu—tittiro ca, makkaṭo ca, hatthināgo ca. Te aññamaññaṁ agāravā appatissā asabhāgavuttikā viharanti. Atha kho, bhikkhave, tesaṁ sahāyānaṁ etadahosi—‘aho nūna mayaṁ jāneyyāma yaṁ amhākaṁ jātiyā mahantataraṁ taṁ mayaṁ sakkareyyāma garuṁ kareyyāma māneyyāma pūjeyyāma, tassa ca mayaṁ ovāde tiṭṭheyyāmā’ti.
The Buddha then addressed the monks:
Jātaka
“Once upon a time, monks, there was a great banyan tree on the slopes of the Himalayas. Three friends lived near it: a partridge, a monkey, and an elephant. They were disrespectful, undeferential, and rude toward one another. They thought, ‘If we only knew which one of us was the oldest. We would honor, respect, and esteem him, and we would wait for his instructions.’
311. Khi ấy, đức Thế Tôn gọi các tỳ khưu: – ‘Này các tỳ khưu, thuở xưa, ở vùng Hy-mã-lạp có một cây đa lớn. Có ba người bạn nương nhờ nơi ấy để sinh sống: một con chim đa đa, một con khỉ, và một con voi chúa. Chúng sống với nhau không tôn trọng, không nể vì, không hòa thuận. Này các tỳ khưu, khi ấy, những người bạn ấy đã có suy nghĩ thế này: ‘Ôi, thật tốt thay nếu chúng ta biết được ai trong chúng ta là người lớn tuổi hơn về mặt sanh trưởng. Chúng ta sẽ cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường vị ấy, và chúng ta sẽ vâng theo lời chỉ dạy của vị ấy.’
Atha kho, bhikkhave, tittiro ca makkaṭo ca hatthināgaṁ pucchiṁsu—‘tvaṁ, samma, kiṁ porāṇaṁ sarasī’ti?
‘Yadāhaṁ, sammā, poto homi, imaṁ nigrodhaṁ antarā satthīnaṁ karitvā atikkamāmi, aggaṅkurakaṁ me udaraṁ chupati. Imāhaṁ, sammā, porāṇaṁ sarāmī’ti.
The partridge and the monkey then asked the elephant, ‘What’s your first memory?’
‘When I was young, I stepped over this banyan tree, keeping it between my legs, and the top shoots touched my belly. That’s my first memory.’
‘Này các tỳ khưu, khi ấy, chim đa đa và khỉ đã hỏi voi chúa rằng: ‘Này bạn, bạn nhớ được việc gì trong quá khứ?’ ‘Này các bạn, khi tôi còn là voi con, tôi đã bước qua cây đa này bằng cách kẹp nó giữa hai đùi, và ngọn non của nó chạm vào bụng tôi. Này các bạn, đó là việc trong quá khứ mà tôi nhớ được.’
Atha kho, bhikkhave, tittiro ca hatthināgo ca makkaṭaṁ pucchiṁsu—‘tvaṁ, samma, kiṁ porāṇaṁ sarasī’ti?
‘Yadāhaṁ, sammā, chāpo homi, chamāyaṁ nisīditvā imassa nigrodhassa aggaṅkurakaṁ khādāmi. Imāhaṁ, sammā, porāṇaṁ sarāmī’ti.
The partridge and the elephant asked the monkey, ‘What’s your first memory?’
‘When I was young, I sat on the ground and ate the top shoots of this banyan tree. That’s my first memory.’
‘Này các tỳ khưu, khi ấy, chim đa đa và voi chúa đã hỏi con khỉ rằng: ‘Này bạn, bạn nhớ được việc gì trong quá khứ?’ ‘Này các bạn, khi tôi còn là khỉ con, tôi ngồi dưới đất và ăn được ngọn non của cây đa này. Này các bạn, đó là việc trong quá khứ mà tôi nhớ được.’
Atha kho, bhikkhave, makkaṭo ca hatthināgo ca tittiraṁ pucchiṁsu—‘tvaṁ, samma, kiṁ porāṇaṁ sarasī’ti?
‘Amukasmiṁ, sammā, okāse mahānigrodho ahosi. Tato ahaṁ phalaṁ bhakkhitvā imasmiṁ okāse vaccaṁ akāsiṁ; tassāyaṁ nigrodho jāto. Tadāhaṁ, sammā, jātiyā mahantataro’ti.
The monkey and the elephant asked the partridge, ‘What’s your first memory?’
‘In such and such a spot there was a great banyan tree. I ate one of its fruits and defecated here. This banyan tree has grown from that. Well then, I must be the oldest one.’
‘Này các tỳ khưu, khi ấy, khỉ và voi chúa đã hỏi chim đa đa rằng: ‘Này bạn, bạn nhớ được việc gì trong quá khứ?’ ‘Này các bạn, ở một nơi nọ có một cây đa lớn. Tôi đã ăn một trái cây từ đó rồi đi đại tiện ở nơi này; cây đa này đã mọc lên từ đó. Vì thế, này các bạn, tôi là người lớn tuổi hơn về mặt sanh trưởng.’
Atha kho, bhikkhave, makkaṭo ca hatthināgo ca tittiraṁ etadavocuṁ—‘tvaṁ, samma, amhākaṁ jātiyā mahantataro. Taṁ mayaṁ sakkarissāma garuṁ karissāma mānessāma pūjessāma, tuyhañca mayaṁ ovāde patiṭṭhissāmā’ti.
Atha kho, bhikkhave, tittiro makkaṭañca hatthināgañca pañcasu sīlesu samādapesi, attanā ca pañcasu sīlesu samādāya vattati. Te aññamaññaṁ sagāravā sappatissā sabhāgavuttikā viharitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjiṁsu. Evaṁ kho taṁ, bhikkhave, tittiriyaṁ nāma brahmacariyaṁ ahosi.
The monkey and the elephant said to the partridge, ‘You’re the oldest. We will honor, respect, and esteem you, and we’ll wait for your instructions.’
The partridge had the monkey and the elephant take the five precepts, and he also undertook them himself. They were respectful, deferential, and courteous toward one another. And when they died, they were reborn in a happy, heavenly destination. In this way the spiritual life called <i lang='pi' translate='no'>tittiriya</i> came to be.
‘Này các tỳ khưu, khi ấy, khỉ và voi chúa đã nói với chim đa đa điều này: ‘Này bạn, bạn là người lớn tuổi hơn chúng tôi về mặt sanh trưởng. Chúng tôi sẽ cung kính, tôn trọng, quý mến, cúng dường bạn, và chúng tôi sẽ vâng theo lời chỉ dạy của bạn.’ Này các tỳ khưu, khi ấy, chim đa đa đã khuyên khỉ và voi chúa thọ trì năm giới, và tự mình cũng thọ trì và thực hành năm giới. Chúng sống với nhau trong sự tôn trọng, nể vì, hòa thuận, sau khi thân hoại mạng chung, đã được sanh vào cõi lành, thế giới chư thiên. Này các tỳ khưu, như vậy, phạm hạnh ấy được gọi là ‘phạm hạnh của chim đa đa.’
‘Ye vuḍḍhamapacāyanti, narā dhammassa kovidā; Diṭṭhe dhamme ca pāsaṁsā, samparāye ca suggatī’ti.
Those who respect the seniors, And who are learned in the Teaching, They are praised while still alive, And then go to a good destination.
‘Những người nào kính trọng bậc trưởng thượng, là người thông thạo Chánh Pháp; họ được tán dương ngay trong đời này, và đời sau được sanh về cõi lành.’
Te hi nāma, bhikkhave, tiracchānagatā pāṇā aññamaññaṁ sagāravā sappatissā sabhāgavuttikā viharissanti. Idha kho taṁ, bhikkhave, sobhetha yaṁ tumhe evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitā samānā aññamaññaṁ agāravā appatissā asabhāgavuttikā vihareyyātha? Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, yathāvuḍḍhaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ, añjalikammaṁ, sāmīcikammaṁ, aggāsanaṁ, aggodakaṁ, aggapiṇḍaṁ.
Na ca, bhikkhave, saṅghikaṁ yathāvuḍḍhaṁ paṭibāhitabbaṁ. Yo paṭibāheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
“Even those animals, monks, were respectful, deferential, and courteous toward one another. Having gone forth on this well-proclaimed spiritual path, will you look good if you are disrespectful, undeferential, and rude toward one another? This will affect people’s confidence …” After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You should do these things according to seniority: bowing down, standing up, raising your joined palms, doing acts of respect, giving the best seat, giving the best water, and giving the best almsfood.
But what belongs to the Sangha shouldn’t be reserved according to seniority. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
‘Này các tỳ khưu, ngay cả những chúng sanh thuộc loài súc sanh kia còn có thể sống với nhau trong sự tôn trọng, nể vì, hòa thuận. Này các tỳ khưu, ở đây, lẽ nào lại tốt đẹp khi các thầy, là những người đã xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như thế này, lại sống với nhau không tôn trọng, không nể vì, không hòa thuận? Này các tỳ khưu, điều này không đưa đến sự phát sanh đức tin cho những người chưa có đức tin, ... cho đến ... Sau khi quở trách, ... cho đến ... sau khi thuyết một bài pháp thoại, ngài gọi các tỳ khưu: – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc đảnh lễ, việc đứng dậy, việc chắp tay, việc làm bổn phận, chỗ ngồi hàng đầu, nước uống hàng đầu, vật thực hàng đầu theo thứ tự hạ lạp. Và này các tỳ khưu, không được ngăn cản (việc phân chia) vật dụng của Tăng chúng theo thứ tự hạ lạp. Vị nào ngăn cản, vị ấy phạm tội tác ác.’
2.4. Avandiyādipuggala
12. Persons one should not pay respect to, etc.
Các hạng người không nên đảnh lễ, v.v...
“Dasayime, bhikkhave, avandiyā—pure upasampannena pacchā upasampanno avandiyo, anupasampanno avandiyo, nānāsaṁvāsako vuḍḍhataro adhammavādī avandiyo, mātugāmo avandiyo, paṇḍako avandiyo, pārivāsiko avandiyo, mūlāyapaṭikassanāraho avandiyo, mānattāraho avandiyo, mānattacāriko avandiyo, abbhānāraho avandiyo. Ime kho, bhikkhave, dasa avandiyā.
“Monks, you shouldn’t pay respect to any of these ten kinds of persons: one who’s been given the full ordination after you; one who isn’t fully ordained; one who belongs to a different Buddhist sect who’s senior to you, but who speaks contrary to the Teaching; a woman; a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>; one who’s on probation; one who deserves to be sent back to the beginning; one who deserves the trial period; one who’s undertaking the trial period; one who deserves rehabilitation.
312. “Này các tỳ khưu, có mười hạng người này không đáng được đảnh lễ: Vị đã thọ cụ túc trước không nên đảnh lễ vị thọ cụ túc sau, không nên đảnh lễ người chưa thọ cụ túc, không nên đảnh lễ vị trưởng lão sống riêng biệt là người tà kiến, không nên đảnh lễ người nữ, không nên đảnh lễ người á nam á nữ, không nên đảnh lễ vị đang thọ biệt trú, không nên đảnh lễ vị đáng bị phạt dẫn về gốc, không nên đảnh lễ vị đáng bị phạt ma-na-đỏa, không nên đảnh lễ vị đang thi hành ma-na-đỏa, không nên đảnh lễ vị đáng được giải tội. Này các tỳ khưu, đây là mười hạng người không đáng được đảnh lễ.”
Tayome, bhikkhave, vandiyā—pacchā upasampannena pure upasampanno vandiyo, nānāsaṁvāsako vuḍḍhataro dhammavādī vandiyo, sadevake bhikkhave loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya tathāgato arahaṁ sammāsambuddho vandiyo. Ime kho, bhikkhave, tayo vandiyā”ti.
But you should pay respect to these three kinds of persons: one who’s been given the full ordination before you; one who belongs to a different Buddhist sect who’s senior to you and who speaks in accordance with the Teaching; and in this world with its gods, lords of death, and supreme beings, in this society with its monastics and brahmins, its gods and humans, you should pay respect to the Buddha, perfected and fully awakened.”
“Này các tỳ khưu, có ba hạng người này đáng được đảnh lễ: Vị đã thọ cụ túc sau nên đảnh lễ vị thọ cụ túc trước, nên đảnh lễ vị trưởng lão sống riêng biệt là người chánh kiến; và này các tỳ khưu, trong thế gian cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, trong chúng sanh cùng với Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đáng được đảnh lễ. Này các tỳ khưu, đây là ba hạng người đáng được đảnh lễ.”
2.5. Āsanappaṭibāhanapaṭikkhepa
13. The prohibition against reserving seats
Sự Bác Bỏ Việc Ngăn Cản Chỗ Ngồi
Tena kho pana samayena manussā saṅghaṁ uddissa maṇḍape paṭiyādenti, santhare paṭiyādenti, okāse paṭiyādenti. Chabbaggiyānaṁ bhikkhūnaṁ antevāsikā bhikkhū—“saṅghikaññeva bhagavatā yathāvuḍḍhaṁ anuññātaṁ, no uddissakatan”ti buddhappamukhassa saṅghassa purato purato gantvā maṇḍapepi pariggaṇhanti, santharepi pariggaṇhanti, okāsepi pariggaṇhanti—“idaṁ amhākaṁ upajjhāyānaṁ bhavissati, idaṁ amhākaṁ ācariyānaṁ bhavissati, idaṁ amhākaṁ bhavissatī”ti.
Atha kho āyasmā sāriputto buddhappamukhassa saṅghassa piṭṭhito piṭṭhito gantvā maṇḍapesu pariggahitesu, santharesu pariggahitesu, okāsesu pariggahitesu, okāsaṁ alabhamāno aññatarasmiṁ rukkhamūle nisīdi.
Atha kho bhagavā rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya ukkāsi. Āyasmāpi sāriputto ukkāsi.
“Ko etthā”ti?
“Ahaṁ, bhagavā, sāriputto”ti.
“Kissa tvaṁ, sāriputta, idha nisinno”ti?
Atha kho āyasmā sāriputto bhagavato etamatthaṁ ārocesi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—“saccaṁ kira, bhikkhave, chabbaggiyānaṁ bhikkhūnaṁ antevāsikā bhikkhū—‘saṅghikaññeva bhagavatā yathāvuḍḍhaṁ anuññātaṁ, no uddissakatan’ti buddhappamukhassa saṅghassa purato purato gantvā maṇḍape pariggaṇhanti, santhare pariggaṇhanti, okāse pariggaṇhanti—idaṁ amhākaṁ upajjhāyānaṁ bhavissati, idaṁ amhākaṁ ācariyānaṁ bhavissati, idaṁ amhākaṁ bhavissatī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti …pe…
vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, uddissakatampi yathāvuḍḍhaṁ paṭibāhitabbaṁ. Yo paṭibāheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time people prepared roof covers, mats, and places to stay for the Sangha. The monks who were the pupils of the monks from the group of six, thought, “The Buddha has instructed that what belongs to the Sangha shouldn’t be reserved according to seniority. But he’s given no such instruction about what has merely been prepared for the Sangha.” They then went ahead of the Sangha headed by the Buddha and took possession of the roof-covers, mats, and places to stay, thinking, “This will be for our preceptors and teachers, and also for ourselves.”
Following behind the Sangha, Venerable Sāriputta was unable to find a place to stay—the roof-covers, the mats, and the places to stay having all been taken. And so he sat down at the foot of a tree.
Getting up early in the morning, the Buddha cleared his throat. Sāriputta, too, cleared his throat.
“Who’s there?”
“It’s me, sir, Sāriputta.”
“Why are you sitting here?”
Sāriputta told the Buddha what had happened. Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that the monks who are the pupils of the monks from the group of six did this?”
“It’s true, sir.” …
After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“Even what has merely been prepared for the Sangha shouldn’t be reserved according to seniority. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
313. Vào lúc bấy giờ, dân chúng chuẩn bị các gian nhà lều, chuẩn bị các vật trải, chuẩn bị các chỗ ngồi để cúng dường đến Tăng chúng. Các vị tỳ khưu đệ tử của nhóm sáu vị tỳ khưu nói rằng: ‘Đức Thế Tôn chỉ cho phép (phân chia) vật của Tăng chúng theo hạ lạp, chứ không cho phép vật được chỉ định cúng dường,’ rồi đi trước Tăng chúng do đức Phật dẫn đầu, chiếm lấy các gian nhà lều, chiếm lấy các vật trải, chiếm lấy các chỗ ngồi và nói rằng: ‘Cái này sẽ dành cho các vị thầy tế độ của chúng tôi, cái này sẽ dành cho các vị thầy giáo thọ của chúng tôi, cái này sẽ dành cho chúng tôi.’ Bấy giờ, trưởng lão Sāriputta đi sau Tăng chúng do đức Phật dẫn đầu, do các gian nhà lều đã bị chiếm, các vật trải đã bị chiếm, các chỗ ngồi đã bị chiếm, nên không tìm được chỗ ngồi, đã ngồi xuống ở một gốc cây nọ. Khi ấy, vào lúc gần sáng, Đức Thế Tôn thức dậy và đằng hắng. Trưởng lão Sāriputta cũng đằng hắng. (Đức Phật hỏi:) ‘Ai ở đó?’ – ‘Bạch Đức Thế Tôn, con là Sāriputta.’ – ‘Này Sāriputta, tại sao thầy lại ngồi ở đây?’ Bấy giờ, trưởng lão Sāriputta đã trình bày sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. Do nhân duyên này, trong trường hợp này, Đức Thế Tôn đã cho triệu tập chúng tỳ khưu và hỏi các tỳ khưu rằng: ‘Này các tỳ khưu, có thật chăng các vị tỳ khưu đệ tử của nhóm sáu vị tỳ khưu đã nói rằng: ‘Đức Thế Tôn chỉ cho phép (phân chia) vật của Tăng chúng theo hạ lạp, chứ không cho phép vật được chỉ định cúng dường,’ rồi đi trước Tăng chúng do đức Phật dẫn đầu, chiếm lấy các gian nhà lều, chiếm lấy các vật trải, chiếm lấy các chỗ ngồi và nói rằng: ‘Cái này sẽ dành cho các vị thầy tế độ của chúng tôi, cái này sẽ dành cho các vị thầy giáo thọ của chúng tôi, cái này sẽ dành cho chúng tôi’?’ – ‘Bạch Đức Thế Tôn, là sự thật.’ ... (Đức Phật) quở trách ... sau khi thuyết pháp thoại, đã bảo các tỳ khưu rằng: ‘Này các tỳ khưu, không được ngăn cản (việc phân chia) theo hạ lạp cả đối với vật được chỉ định cúng dường. Vị nào ngăn cản, vị ấy phạm tội tác ác.’”
2.6. Gihivikataanujānana
14. The allowance for what belongs to a householder
Sự Cho Phép (Dùng) Vật Dụng Của Cư Sĩ
Tena kho pana samayena manussā bhattagge antaraghare uccāsayanamahāsayanāni paññapenti, seyyathidaṁ—āsandiṁ, pallaṅkaṁ, gonakaṁ, cittakaṁ, paṭikaṁ, paṭalikaṁ, tūlikaṁ, vikatikaṁ, uddalomiṁ, ekantalomiṁ, kaṭṭissaṁ, koseyyaṁ, kuttakaṁ, hatthattharaṁ, assattharaṁ, rathattharaṁ, ajinapaveṇiṁ, kadalimigapavarapaccattharaṇaṁ, sauttaracchadaṁ, ubhatolohitakūpadhānaṁ. Bhikkhū kukkuccāyantā nābhinisīdanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ṭhapetvā tīṇi—āsandiṁ, pallaṅkaṁ, tūlikaṁ—
At that time people prepared high and luxurious resting places in the dining halls in inhabited areas, that is: high couches, luxurious couches, long-fleeced woolen rugs, multi-colored woolen rugs, white woolen rugs, red woolen rugs, cotton-down quilts, woolen rugs decorated with the images of predatory animals, woolen rugs with long fleece on one side, woolen rugs with long fleece on both sides, sheets of silk embroidered with gems, silken sheets, woolen rugs like a dancer’s rug, elephant-back rugs, horse-back rugs, carriage-seat rugs, rugs made of black antelope hide, exquisite sheets made of <i lang='pi' translate='no'>kadalī</i>-deer hide, seats with canopies, seats with red cushions at each end. Being afraid of wrongdoing, the monks did not sit on them. They told the Buddha.
“Apart from high couches, luxurious couches, and cotton-down quilts,
314. Vào lúc bấy giờ, dân chúng ở trong nhà, tại nhà ăn, chuẩn bị các loại giường ghế cao và lớn, ví dụ như: ghế dài, giường có chân hình thú, thảm len dài, thảm len nhiều màu, thảm len trắng, thảm len có hình hoa, nệm bông gòn, thảm len có hình sư tử hổ, thảm len có tua hai bên, thảm len có tua một bên, thảm có đính ngọc và tơ vàng, thảm lụa, thảm len lớn đủ cho mười sáu vũ nữ đứng múa, tấm trải lưng voi, tấm trải lưng ngựa, tấm trải xe, tấm da sơn dương, tấm da linh dương tốt nhất, (giường) có lọng che phía trên và có gối đỏ ở hai đầu. Các tỳ khưu áy náy nên không ngồi xuống. Họ đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) “Ta cho phép, này các tỳ khưu, ngồi trên vật dụng của cư sĩ, ngoại trừ ba thứ: ghế dài, giường có chân hình thú, và nệm bông gòn; nhưng không cho phép nằm.”
Tena kho pana samayena manussā bhattagge antaraghare tūlonaddhaṁ mañcampi pīṭhampi paññapenti. Bhikkhū kukkuccāyantā nābhinisīdanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gihivikataṁ abhinisīdituṁ, na tveva abhinipajjitun”ti.
At that time people prepared beds and benches upholstered with cotton down in the dining halls in inhabited areas. Being afraid of wrongdoing, the monks did not sit on them. They told the Buddha.
“I allow you to sit down on what belongs to householders, but not to lie down on it.”
Vào lúc bấy giờ, dân chúng ở trong nhà, tại nhà ăn, chuẩn bị giường và ghế có nhồi bông gòn. Các tỳ khưu áy náy nên không ngồi xuống. Họ đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) “Ta cho phép, này các tỳ khưu, ngồi trên vật dụng của cư sĩ, nhưng không cho phép nằm.”
2.7. Jetavanavihārānumodanā
15. The expression of appreciation for the Jeta Grove dwellings
Sự Tùy Hỷ Về Tịnh Xá Jetavana
Atha kho bhagavā anupubbena cārikaṁ caramāno yena sāvatthi tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho anāthapiṇḍiko gahapati bhagavantaṁ etadavoca—“adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati tassā rattiyā accayena paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi—“kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti. Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena anāthapiṇḍikassa gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā, bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ, ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho anāthapiṇḍiko gahapati bhagavantaṁ etadavoca—“kathāhaṁ, bhante, jetavane paṭipajjāmī”ti?
“Tena hi tvaṁ, gahapati, jetavanaṁ āgatānāgatassa cātuddisassa saṅghassa patiṭṭhapehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho anāthapiṇḍiko gahapati bhagavato paṭissutvā jetavanaṁ āgatānāgatassa cātuddisassa saṅghassa patiṭṭhāpesi.
Wandering on, the Buddha eventually arrived at Sāvatthī, where he stayed in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. Anāthapiṇḍika then went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “Sir, please accept tomorrow’s meal from me together with the Sangha of monks.” The Buddha consented by remaining silent. Knowing that the Buddha had consented, Anāthapiṇḍika got up from his seat, bowed down, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left.
The following morning Anāthapiṇḍika had various kinds of fine foods prepared. He then had the Buddha informed that the meal was ready. The Buddha robed up, took his bowl and robe, and went to Anāthapiṇḍika’s house where he sat down on the prepared seat together with the Sangha of monks. Anāthapiṇḍika then personally served various kinds of fine foods to the Sangha of monks headed by the Buddha. When the Buddha had finished his meal and had washed his hands and bowl, Anāthapiṇḍika sat down to one side and said, “Sir, what should I do in regard to the Jeta Grove?”
“You should dedicate the Jeta Grove to the Sangha as a whole, both present and future.”
“Yes, sir.” And he did just that.
315. Khi ấy, Thế Tôn tuần tự du hành, đã đi đến nơi có thành Sāvatthī. Tại đó, ở Sāvatthī, Thế Tôn ngự tại tu viện Jetavana, trong khu vườn của trưởng giả Anāthapiṇḍika. Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, gia chủ Anāthapiṇḍika đã bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn cùng với chúng Tỳ khưu nhận lời dùng bữa ăn của con vào ngày mai.” Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng. Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika, sau khi biết được sự nhận lời của Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi ra về. Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika, sau khi đêm ấy trôi qua, đã cho chuẩn bị các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, rồi cho người báo tin về thời gian đến Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.” Khi ấy, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát và y, đi đến nhà của gia chủ Anāthapiṇḍika; sau khi đến, đã ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn cùng với chúng Tỳ khưu. Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika đã tự tay phục vụ chúng Tỳ khưu có đức Phật dẫn đầu bằng các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cho đến khi các vị hài lòng và nói thôi. Khi Thế Tôn đã dùng bữa xong, tay đã rời khỏi bát, (gia chủ Anāthapiṇḍika) đã ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, gia chủ Anāthapiṇḍika đã bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, con nên thực hành như thế nào ở Jetavana?” “Này gia chủ, nếu vậy, ngươi hãy thiết lập tu viện Jetavana cho chúng Tăng bốn phương, những vị đã đến và sẽ đến.” “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” Gia chủ Anāthapiṇḍika đã vâng lời Thế Tôn và đã thiết lập tu viện Jetavana cho chúng Tăng bốn phương, những vị đã đến và sẽ đến.
Atha kho bhagavā anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ imāhi gāthāhi anumodi—
The Buddha then expressed his appreciation with these verses:
Khi ấy, Thế Tôn đã tùy hỷ với gia chủ Anāthapiṇḍika bằng những bài kệ này:
“Sītaṁ uṇhaṁ paṭihanti, tato vāḷamigāni ca; Sarīsape ca makase, sisire cāpi vuṭṭhiyo.
“Cold and heat are kept away, And so are predatory beasts, And creeping animals and mosquitoes, And also chill and rain.
“(Tu viện) ngăn ngừa được lạnh và nóng, và sau đó là các loài thú dữ; cả các loài bò sát, muỗi mòng, và cả những cơn mưa trong mùa lạnh.”
Tato vātātapo ghoro, sañjāto paṭihaññati; Leṇatthañca sukhatthañca, jhāyituñca vipassituṁ.
They keep away the wind and burning sun, When those awful things arise. Their purpose is to shelter and for happiness, To attain absorption and to see clearly.
“Từ đó, gió và nắng gắt phát sinh cũng được ngăn chặn; (tu viện) là để trú ẩn, để được an lạc, để thiền định và để tu tập minh sát.”
Vihāradānaṁ saṅghassa, aggaṁ buddhena vaṇṇitaṁ; Tasmā hi paṇḍito poso, sampassaṁ atthamattano.
Giving dwellings to the Sangha Is praised as the best by the Buddha. Therefore the wise man, Seeing what’s beneficial for himself,
“Việc cúng dường tu viện cho chúng Tăng đã được đức Phật tán thán là tối thượng. Vì thế, người hiền trí, khi thấy được lợi ích của bản thân,”
Vihāre kāraye ramme, vāsayettha bahussute; Tesaṁ annañca pānañca, vatthasenāsanāni ca.
Dadeyya ujubhūtesu, Vippasannena cetasā;
Should build delightful dwellings And have the learned stay there. Food, drink, cloth, and dwellings—With an inspired mind,
He should give to them, The upright ones.
“Nên xây dựng các tu viện khả ái và mời các bậc đa văn trú ngụ tại đó. Đối với các vị ấy, những bậc chân chánh, nên cúng dường đồ ăn, thức uống, y phục và sàng tọa với tâm ý trong sạch, hoan hỷ.”
“Các vị ấy thuyết giảng cho người ấy Giáo pháp, pháp đoạn trừ mọi khổ đau; người ấy, sau khi đã hiểu được Giáo pháp ấy ở đây, sẽ tịch diệt Niết-bàn, không còn lậu hoặc.”
Atha kho bhagavā anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ imāhi gāthāhi anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
The Buddha then got up from his seat and left.
Khi ấy, Thế Tôn, sau khi tùy hỷ với gia chủ Anāthapiṇḍika bằng những bài kệ này, đã từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra về.
2.8. Āsanappaṭibāhanādi
16. Reservation of seats, etc.
Về việc ngăn cản chỗ ngồi, v.v.
Tena kho pana samayena aññatarassa ājīvakasāvakassa mahāmattassa saṅghabhattaṁ hoti. Āyasmā upanando sakyaputto pacchā āgantvā vippakatabhojanaṁ ānantarikaṁ bhikkhuṁ vuṭṭhāpesi. Bhattaggaṁ kolāhalaṁ ahosi. Atha kho so mahāmatto ujjhāyati khiyyati vipāceti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā pacchā āgantvā vippakatabhojanaṁ ānantarikaṁ bhikkhuṁ vuṭṭhāpessanti. Bhattaggaṁ kolāhalaṁ ahosi. Nanu nāma labbhā aññatrāpi nisinnena yāvadatthaṁ bhuñjitun”ti?
Assosuṁ kho bhikkhū tassa mahāmattassa ujjhāyantassa khiyyantassa vipācentassa. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma āyasmā upanando sakyaputto pacchā āgantvā vippakatabhojanaṁ ānantarikaṁ bhikkhuṁ vuṭṭhāpessati. Bhattaggaṁ kolāhalaṁ ahosī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Saccaṁ kira tvaṁ, upananda, pacchā āgantvā vippakatabhojanaṁ ānantarikaṁ bhikkhuṁ vuṭṭhāpesi, bhattaggaṁ kolāhalaṁ ahosī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, pacchā āgantvā vippakatabhojanaṁ ānantarikaṁ bhikkhuṁ vuṭṭhāpessasi? Bhattaggaṁ kolāhalaṁ ahosi. Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, vippakatabhojano bhikkhu vuṭṭhāpetabbo. Yo vuṭṭhāpeyya, āpatti dukkaṭassa.
Sace vuṭṭhāpeti, pavārito ca hoti, ‘gaccha udakaṁ āharā’ti vattabbo. Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ. No ce labhetha, sādhukaṁ sitthāni gilitvā vuḍḍhatarassa bhikkhuno āsanaṁ dātabbaṁ. Na tvevāhaṁ, bhikkhave, kenaci pariyāyena vuḍḍhatarassa bhikkhuno āsanaṁ paṭibāhitabbanti vadāmi. Yo paṭibāheyya, āpatti dukkaṭassāti”.
On one occasion a certain government official who was an Ājīvaka disciple was offering a meal to the Sangha. Arriving late, Venerable Upananda the Sakyan made the nearest monk get up before he had finished his meal. There was an uproar in the dining hall. That official then complained and criticized him, “How can the Sakyan monastics arrive late and make the nearest monk get up in the middle of his meal? There was an uproar in the dining hall. It’s impossible to eat as much as you like when you’re not seated.”
The monks heard the complaints of that official, and the monks of few desires complained and criticized Upananda, “How could he act like this?” They told the Buddha what had happened.
“Is it true, Upananda, that you acted like this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked him … “Foolish man, how could you act like this? This will affect people’s confidence …” After rebuking him … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t make a monk get up who hasn’t finished his meal. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
If you’re asked to get up, and you’ve already refused an invitation to eat more, you should say, “Please go and get some water.” If the other goes, all is well. If not, you should properly swallow the mouthful and give the seat to the more senior monk. Under no circumstances should you block a more senior monk from a seat. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
316. Vào lúc bấy giờ, có một bữa cúng dường chúng Tăng của một vị đại thần, là đệ tử của một vị lõa thể ngoại đạo. Tôn giả Upananda, thuộc dòng dõi Sakya, đến sau, đã khiến một vị Tỳ khưu ngồi kế bên, đang ăn dở, phải đứng dậy. Nhà ăn trở nên ồn ào. Khi ấy, vị đại thần ấy phàn nàn, chê bai, chỉ trích: “Tại sao các sa-môn Thích tử lại đến sau rồi khiến một vị Tỳ khưu ngồi kế bên, đang ăn dở, phải đứng dậy! Nhà ăn đã trở nên ồn ào. Chẳng lẽ ngồi ở chỗ khác thì không được ăn thỏa thích hay sao?” Các vị Tỳ khưu đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, chỉ trích của vị đại thần ấy. Những vị Tỳ khưu thiểu dục... các vị ấy đã phàn nàn, chê bai, chỉ trích: “Tại sao Tôn giả Upananda, thuộc dòng dõi Sakya, lại đến sau rồi khiến một vị Tỳ khưu ngồi kế bên, đang ăn dở, phải đứng dậy! Nhà ăn đã trở nên ồn ào.” Khi ấy, các vị Tỳ khưu ấy đã trình báo sự việc này lên Thế Tôn. “Này Upananda, có thật là ngươi đã đến sau rồi khiến một vị Tỳ khưu ngồi kế bên, đang ăn dở, phải đứng dậy, và nhà ăn đã trở nên ồn ào không?” “Bạch Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật, Thế Tôn đã quở trách... “Này kẻ rỗng tuếch, tại sao ngươi lại đến sau rồi khiến một vị Tỳ khưu ngồi kế bên, đang ăn dở, phải đứng dậy? Nhà ăn đã trở nên ồn ào. Này kẻ rỗng tuếch, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin...” ... sau khi quở trách... sau khi thuyết một bài pháp, đã bảo các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu, không được khiến một vị Tỳ khưu đang ăn dở phải đứng dậy. Vị nào khiến đứng dậy, phạm tội tác ác (dukkaṭa). Nếu khiến đứng dậy, và vị ấy đã pavārita (ăn xong), thì nên nói: ‘Hãy đi lấy nước.’ Nếu được như vậy thì tốt. Nếu không được, nên nuốt kỹ các miếng cơm rồi nhường chỗ ngồi cho vị Tỳ khưu lớn tuổi hơn. Này các Tỳ khưu, Ta không hề nói rằng, vì bất cứ lý do gì, lại được phép ngăn cản chỗ ngồi của một vị Tỳ khưu lớn tuổi hơn. Vị nào ngăn cản, phạm tội tác ác (dukkaṭa).”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū gilāne bhikkhū vuṭṭhāpenti. Gilānā evaṁ vadenti—“na mayaṁ, āvuso, sakkoma vuṭṭhātuṁ, gilānāmhā”ti.
“Mayaṁ āyasmante vuṭṭhāpessāmā”ti pariggahetvā vuṭṭhāpetvā ṭhitake muñcanti. Gilānā mucchitā papatanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, gilāno vuṭṭhāpetabbo. Yo vuṭṭhāpeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks from the group of six asked the sick monks to get up. The sick monks said, “We’re not able to get up. We’re sick.”
Saying, “We’ll make the venerables get up,” they took hold of them, lifted them up, and then released them when they were standing. The sick monks fainted and collapsed.
“You shouldn’t make the sick get up. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm tỳ-khưu Lục Sư bắt các tỳ-khưu đang bệnh phải đứng dậy. Các vị bị bệnh nói rằng: “Thưa chư hiền, chúng tôi không thể đứng dậy được, chúng tôi đang bị bệnh.” Nhóm Lục Sư nói: “Chúng tôi sẽ đỡ các ngài đứng dậy”, rồi nắm lấy, đỡ dậy, và khi các vị ấy đã đứng vững thì buông ra. Các tỳ-khưu bị bệnh bị choáng váng rồi ngã xuống. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Ngài phán: “Này các tỳ-khưu, không được bắt tỳ-khưu bị bệnh đứng dậy. Vị nào bắt đứng dậy thì phạm tội Đột-cát-la (Dukkaṭa).”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū—“gilānā mayamhā avuṭṭhāpanīyā”ti varaseyyāyo palibuddhenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gilānassa patirūpaṁ seyyaṁ dātun”ti.
The monks from the group of six took possession of the best beds, saying, “We’re sick and no-one can make us get up.”
“You should give suitable beds to those who are sick.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm tỳ-khưu Lục Sư nói rằng: “Chúng tôi bị bệnh, là những người không được bắt đứng dậy,” rồi chiếm giữ các chỗ nghỉ tốt nhất. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Ngài phán: “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép cấp chỗ nghỉ thích hợp cho tỳ-khưu bị bệnh.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū lesakappena senāsanaṁ paṭibāhanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, lesakappena senāsanaṁ paṭibāhitabbaṁ. Yo paṭibāheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
The monks from the group of six used a pretext to reserve resting places.
“You shouldn’t use a pretext to reserve a resting place. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu nhóm Lục Sư lấy cớ nhỏ nhặt để ngăn cản chỗ nghỉ ngơi. Các tỳ-khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này các tỳ-khưu, không được lấy cớ nhỏ nhặt để ngăn cản chỗ nghỉ ngơi. Vị nào ngăn cản thì phạm tội Đột-cát-la.”
Tena kho pana samayena sattarasavaggiyā bhikkhū aññataraṁ paccantimaṁ mahāvihāraṁ paṭisaṅkharonti—“idha mayaṁ vassaṁ vasissāmā”ti. Addasaṁsu kho chabbaggiyā bhikkhū sattarasavaggiye bhikkhū vihāraṁ paṭisaṅkharonte. Disvāna evamāhaṁsu—“ime, āvuso, sattarasavaggiyā bhikkhū vihāraṁ paṭisaṅkharonti. Handa ne vuṭṭhāpessāmā”ti. Ekacce evamāhaṁsu—“āgamethāvuso, yāva paṭisaṅkharonti, paṭisaṅkhate vuṭṭhāpessāmā”ti.
Atha kho chabbaggiyā bhikkhū sattarasavaggiye bhikkhū etadavocuṁ—“uṭṭhethāvuso, amhākaṁ vihāro pāpuṇātī”ti.
“Nanu, āvuso, paṭikacceva ācikkhitabbaṁ? Mayañcaññaṁ paṭisaṅkhareyyāmā”ti.
“Nanu, āvuso, saṅghiko vihāro”ti?
“Āmāvuso, saṅghiko vihāro”ti.
“Uṭṭhethāvuso, amhākaṁ vihāro pāpuṇātī”ti.
“Mahallako, āvuso, vihāro; tumhepi vasatha, mayampi vasissāmā”ti.
“Uṭṭhethāvuso, amhākaṁ vihāro pāpuṇātī”ti kupitā anattamanā gīvāyaṁ gahetvā nikkaḍḍhanti. Te nikkaḍḍhiyamānā rodanti. Bhikkhū evamāhaṁsu—“kissa tumhe, āvuso, rodathā”ti? “Ime, āvuso, chabbaggiyā bhikkhū kupitā anattamanā amhe saṅghikā vihārā nikkaḍḍhantī”ti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma chabbaggiyā bhikkhū kupitā anattamanā bhikkhū saṅghikā vihārā nikkaḍḍhissantī”ti.
Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, tumhe bhikkhave, kupitā anattamanā saṅghikā vihārā bhikkhū nikkaḍḍhathā”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti …pe…
vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, kupitena anattamanena bhikkhu saṅghikā vihārā nikkaḍḍhitabbo. Yo nikkaḍḍheyya, yathādhammo kāretabbo. Anujānāmi, bhikkhave, senāsanaṁ gāhetun”ti.
At that time the monks from the group of seventeen were repairing a large dwelling nearby, intending to stay there for the rainy season. The monks from the group of six saw this and said, “These monks from the group of seventeen are repairing a dwelling. Let’s throw them out.” But some of them said, “Let’s wait until they’ve finished repairing it.”
Soon afterwards the monks from the group of six said to those from the group of seventeen, “Leave, this dwelling is ours.”
“Shouldn’t you have told us beforehand? We would have repaired another one.”
“Doesn’t this dwelling belong to the Sangha?”
“Yes it does.”
“Well then, leave. This dwelling is ours.”
“The dwelling is large. You can stay here and so can we.”
But they said, “Leave, this dwelling is ours,” and they grabbed them by the necks and threw them out in anger. The monks from the group of seventeen cried. When other monks asked them why, they told them what had happened.
The monks of few desires complained and criticized them, “How could the monks from the group of six angrily throw other monks out of a dwelling belonging to the Sangha?”
They told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that you did this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … and after giving a teaching, he addressed the monks:
“You shouldn’t, in anger, throw a monk out of a dwelling belonging to the Sangha. If you do, you should be dealt with according to the rule. You should allocate the dwellings.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ-khưu nhóm mười bảy đang tu sửa một ngôi đại tự ở vùng biên địa với ý nghĩ: “Chúng ta sẽ an cư mùa mưa ở đây.” Các tỳ-khưu nhóm Lục Sư trông thấy các tỳ-khưu nhóm mười bảy đang tu sửa trú xá. Thấy vậy, họ nói với nhau rằng: “Này các hiền giả, các tỳ-khưu nhóm mười bảy này đang tu sửa trú xá. Nào, chúng ta hãy đuổi họ đi.” Một số vị nói: “Này các hiền giả, hãy đợi đã, cứ để họ tu sửa, khi đã tu sửa xong chúng ta sẽ đuổi họ đi.” Sau đó, các tỳ-khưu nhóm Lục Sư đã nói với các tỳ-khưu nhóm mười bảy rằng: “Này các hiền giả, hãy đứng dậy đi ra, trú xá này đến lượt chúng tôi.” — “Này các hiền giả, chẳng phải các vị nên báo trước sao? Để chúng tôi còn tu sửa nơi khác.” — “Này các hiền giả, chẳng phải trú xá là của Tăng sao?” — “Đúng vậy, thưa các hiền giả, trú xá là của Tăng.” — “Này các hiền giả, hãy đứng dậy đi ra, trú xá này đến lượt chúng tôi.” — “Này các hiền giả, trú xá này rộng lớn; các vị cũng ở đây, chúng tôi cũng sẽ ở đây.” — “Này các hiền giả, hãy đứng dậy đi ra, trú xá này đến lượt chúng tôi,” rồi nổi giận, không hài lòng, nắm cổ lôi các vị ấy ra. Khi bị lôi ra, các vị ấy khóc. Các tỳ-khưu khác hỏi rằng: “Này các hiền giả, tại sao các vị khóc?” — “Này các hiền giả, các tỳ-khưu nhóm Lục Sư này nổi giận, không hài lòng, lôi chúng tôi ra khỏi trú xá của Tăng.” Các tỳ-khưu ít ham muốn... phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Tại sao các tỳ-khưu nhóm Lục Sư lại nổi giận, không hài lòng mà lôi các tỳ-khưu ra khỏi trú xá của Tăng được chứ!” Sau đó, các tỳ-khưu ấy đã trình sự việc lên đức Thế Tôn... Ngài hỏi: “Này các tỳ-khưu, có thật là các ông nổi giận, không hài lòng mà lôi các tỳ-khưu ra khỏi trú xá của Tăng không?” — “Bạch đức Thế Tôn, đúng như vậy.” ... Sau khi quở trách... thuyết pháp thoại, Ngài bảo các tỳ-khưu rằng: “Này các tỳ-khưu, không được nổi giận, không hài lòng mà lôi tỳ-khưu ra khỏi trú xá của Tăng. Vị nào lôi ra, phải bị xử lý theo đúng pháp. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép việc nhận lãnh chỗ nghỉ ngơi.”
2.9. Senāsanaggāhāpakasammuti
17. The appointment of an allocator of dwellings
Sự chỉ định vị phân chia chỗ ở
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kena nu kho senāsanaṁ gāhetabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgataṁ bhikkhuṁ senāsanaggāhāpakaṁ sammannituṁ—yo na chandāgatiṁ gaccheyya, na dosāgatiṁ gaccheyya, na mohāgatiṁ gaccheyya, na bhayāgatiṁ gaccheyya, gahitāgahitañca jāneyya. Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbo—
The monks thought, “Who should allocate the dwellings?” They told the Buddha, who then gave a teaching and addressed the monks:
“You should appoint a monk who has five qualities as the allocator of dwellings: he’s not biased by favoritism, ill will, confusion, or fear, and he knows which dwellings have and have not been allocated. And he should be appointed like this.
317. Khi ấy, các tỳ khưu khởi lên ý nghĩ: “Ai nên là người phân chia chỗ ở?” (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn… (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép chỉ định một tỳ khưu hội đủ năm yếu tố làm người phân chia chỗ ở: vị ấy không đi theo thiên vị, không đi theo sân hận, không đi theo si mê, không đi theo sợ hãi, và biết được chỗ đã được nhận và chỗ chưa được nhận. Này các tỳ khưu, và vị ấy nên được chỉ định như sau:
“Trước tiên, vị tỳ khưu (được chọn) nên được thỉnh cầu. Sau khi thỉnh cầu, một tỳ khưu có năng lực, có khả năng nên thông báo cho Tăng chúng biết:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ senāsanaggāhāpakaṁ sammanneyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should appoint monk so-and-so as the allocator of dwellings. This is the motion.
“Bạch chư Tôn giả, Tăng chúng xin hãy lắng nghe con. Nếu đã đến thời điểm thích hợp cho Tăng chúng, Tăng chúng xin hãy chỉ định tỳ khưu tên là… làm người phân chia chỗ ở. Đây là lời tuyên ngôn (ñatti).”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ senāsanaggāhāpakaṁ sammannati. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno senāsanaggāhāpakassa sammuti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha appoints monk so-and-so as the allocator of dwellings. Any monk who approves of appointing monk so-and-so as the allocator of dwellings should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Bạch chư Tôn giả, Tăng chúng xin hãy lắng nghe con. Tăng chúng chỉ định tỳ khưu tên là… làm người phân chia chỗ ở. Vị tôn giả nào chấp thuận sự chỉ định tỳ khưu tên là… làm người phân chia chỗ ở thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng.”
Sammato saṅghena itthannāmo bhikkhu senāsanaggāhāpako. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has appointed monk so-and-so as the allocator of dwellings. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Tỳ khưu tên là… đã được Tăng chúng chỉ định làm người phân chia chỗ ở. Việc này được Tăng chúng chấp thuận, do đó Tăng chúng im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này như vậy.”
Atha kho senāsanaggāhāpakānaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“kathaṁ nu kho senāsanaṁ gāhetabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, paṭhamaṁ bhikkhū gaṇetuṁ, bhikkhū gaṇetvā seyyā gaṇetuṁ, seyyā gaṇetvā seyyaggena gāhetun”ti.
Seyyaggena gāhentā seyyā ussārayiṁsu …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, vihāraggena gāhetun”ti.
Vihāraggena gāhentā vihārā ussārayiṁsu …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, pariveṇaggena gāhetun”ti.
Pariveṇaggena gāhentā pariveṇā ussārayiṁsu …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, anubhāgampi dātuṁ. Gahite anubhāge añño bhikkhu āgacchati, akāmā na dātabbo”ti.
The allocators of dwellings thought, “How should we allocate the dwellings?” They told the Buddha.
“First you should count the monks and the beds. You should then allocate one monk to each bed.”
When they had allocated the beds, there were beds left over.
“You should allocate one monk to each dwelling.”
When they had allocated the dwellings, there were dwellings left over.
“You should allocate one monk to each yard.”
When they had allocated the yards, there were yards left over.
“You should give out additional shares. If another monk arrives after the additional shares have been allocated, then, if you’re unwilling, you need not give him a share.”
318. Khi ấy, các tỳ khưu được chỉ định làm người phân chia chỗ ở khởi lên ý nghĩ: “Nên phân chia chỗ ở như thế nào?” (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép trước tiên đếm số tỳ khưu, sau khi đếm số tỳ khưu thì đếm số giường, sau khi đếm số giường thì phân chia theo từng phần giường.” Khi họ phân chia theo từng phần giường thì số giường bị dư ra… (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép phân chia theo từng phần trú xá.” Khi họ phân chia theo từng phần trú xá thì số trú xá bị dư ra… (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép phân chia theo từng phần khu vực.” Khi họ phân chia theo từng phần khu vực thì số khu vực bị dư ra… (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cũng cho phép cấp phần sau. Khi phần sau đã được nhận, nếu có tỳ khưu khác đến, không cần phải cấp nếu không muốn.”
Tena kho pana samayena bhikkhū nissīme ṭhitassa senāsanaṁ gāhenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, nissīme ṭhitassa senāsanaṁ gāhetabbaṁ. Yo gāheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks allocated a dwelling to one who was outside the monastery zone.
“You shouldn’t allocate a dwelling to one outside the monastery zone. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhận chỗ ở cho vị (tỳ khưu) đang đứng ở ngoài ranh giới. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): – Này các tỳ khưu, không được nhận chỗ ở cho vị (tỳ khưu) đang đứng ở ngoài ranh giới. Vị nào nhận, phạm tội dukkaṭa.
Tena kho pana samayena bhikkhū senāsanaṁ gahetvā sabbakālaṁ paṭibāhanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, senāsanaṁ gahetvā sabbakālaṁ paṭibāhitabbaṁ. Yo paṭibāheyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, vassānaṁ temāsaṁ paṭibāhituṁ, utukālaṁ pana na paṭibāhitun”ti.
After accepting a dwelling, the monks reserved it at all times.
“After accepting a dwelling, you shouldn’t reserve it at all times. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow you to reserve it for the three months of the rainy-season residence, but not at other times.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sau khi đã nhận chỗ ở rồi thì ngăn cản suốt cả thời gian. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): – Này các tỳ khưu, sau khi đã nhận chỗ ở rồi thì không được ngăn cản suốt cả thời gian. Vị nào ngăn cản, phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép ngăn cản trong ba tháng mùa mưa, nhưng không (cho phép) ngăn cản trong thời gian của các mùa khác.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kati nu kho senāsanaggāhā”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tayo me, bhikkhave, senāsanaggāhā—purimako, pacchimako, antarāmuttako. Aparajjugatāya āsāḷhiyā purimako gāhetabbo. Māsagatāya āsāḷhiyā pacchimako gāhetabbo. Aparajjugatāya pavāraṇāya āyatiṁ vassāvāsatthāya antarāmuttako gāhetabbo. Ime kho, bhikkhave, tayo senāsanaggāhā”ti.
The monks thought, “How many times are there for the allocation of dwellings?”
“There are three times for the allocation of dwellings: the first, the second, and the one freed up in between. The first allocation is on the day after the full moon of July. The second allocation is one month after the full moon of July. The allocation of the one freed up in between is on the day after the invitation ceremony and is for the purpose of spending the next rains residence.”
Khi ấy, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ rằng: – Có bao nhiêu cách nhận chỗ ở nhỉ? (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): – Này các tỳ khưu, có ba việc nhận chỗ ở này: việc nhận cho tiền an cư, việc nhận cho hậu an cư, và việc nhận ngoài mùa an cư. Việc nhận cho tiền an cư nên được thực hiện vào ngày hôm sau ngày rằm tháng Āsāḷhī. Việc nhận cho hậu an cư nên được thực hiện khi một tháng đã trôi qua kể từ ngày rằm tháng Āsāḷhī. Việc nhận ngoài mùa an cư nên được thực hiện vào ngày hôm sau ngày lễ Pavāraṇā vì mục đích an cư mùa mưa trong tương lai. Này các tỳ khưu, đây là ba việc nhận chỗ ở.
Dutiyabhāṇavāro niṭṭhito.
The second section for recitation is finished.
The third section for recitation
Regulations on dwellings, furniture, etc.
Dứt chương thứ hai.
Tena kho pana samayena āyasmā upanando sakyaputto sāvatthiyaṁ senāsanaṁ gahetvā aññataraṁ gāmakāvāsaṁ agamāsi. Tatthapi senāsanaṁ aggahesi. Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“ayaṁ, āvuso, āyasmā upanando sakyaputto bhaṇḍanakārako kalahakārako vivādakārako bhassakārako saṅghe adhikaraṇakārako. Sacāyaṁ idha vassaṁ vasissati, sabbeva mayaṁ na phāsu bhavissāma. Handa naṁ pucchāmā”ti.
Atha kho te bhikkhū āyasmantaṁ upanandaṁ sakyaputtaṁ etadavocuṁ—“nanu tayā, āvuso upananda, sāvatthiyaṁ senāsanaṁ gahitan”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Kiṁ pana tvaṁ, āvuso upananda, eko dve paṭibāhasī”ti?
“Idha dānāhaṁ, āvuso, muñcāmi; tattha gaṇhāmī”ti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma āyasmā upanando sakyaputto eko dve paṭibāhessatī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira tvaṁ, upananda, eko dve paṭibāhasī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, eko dve paṭibāhissasi? Tattha tayā, moghapurisa, gahitaṁ idha muttaṁ, idha tayā gahitaṁ tatra muttaṁ. Evaṁ kho tvaṁ, moghapurisa, ubhayattha paribāhiro. Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, ekena dve paṭibāhitabbā. Yo paṭibāheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion Venerable Upananda the Sakyan had accepted a dwelling at Sāvatthī, but then went to a certain village monastery, where he was also allocated a dwelling. The monks there thought, “This Upananda is quarrelsome and argumentative, and creates legal issues in the Sangha. If he spends the rainy season here, none of us will be at ease. Well then, let’s question him.”
And they said to Upananda, “Haven’t you been allocated a dwelling at Sāvatthī?”
“Yes, I have.”
“But if it’s only you, why do you reserve two dwellings?”
“I’ll give up this one and take the one at Sāvatthī.”
The monks of few desires complained and criticized him, “How could Upananda reserve two dwellings for himself?” They told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned Upananda: “Is it true, Upananda, that you did this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked him … “Foolish man, how could you reserve two dwellings for yourself? When you accepted a dwelling there, the dwelling here was given up, and when you accepted a dwelling here, the dwelling there was given up. You’re now excluded from both. This will affect people’s confidence …” After rebuking him … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“A single monk shouldn’t reserve two dwellings. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
319. Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Upananda, người thuộc dòng dõi Sakya, sau khi đã nhận chỗ ở tại Sāvatthī lại đi đến một trú xứ ở làng nọ. Tại nơi ấy, vị ấy cũng đã nhận chỗ ở. Khi ấy, các tỳ khưu ở đó khởi lên suy nghĩ rằng: – Thưa các hiền giả, trưởng lão Upananda, người thuộc dòng dõi Sakya này, là người hay gây gổ, hay cãi vã, hay tranh luận, hay nói nhiều, là người gây ra các vụ tranh tụng trong Tăng chúng. Nếu vị này an cư mùa mưa ở đây, tất cả chúng ta sẽ không được an ổn. Nào, chúng ta hãy hỏi vị ấy. Khi ấy, các tỳ khưu ấy đã nói với trưởng lão Upananda, người thuộc dòng dõi Sakya, điều này: – Thưa hiền giả Upananda, không phải ngài đã nhận chỗ ở tại Sāvatthī rồi sao? – Thưa các hiền giả, đúng vậy. – Thưa hiền giả Upananda, vậy sao một mình ngài lại ngăn cản hai (chỗ ở)? – Thưa các hiền giả, bây giờ tôi từ bỏ (chỗ ở) tại đây; tôi nhận (chỗ ở) tại đó. Các vị tỳ khưu thiểu dục ... họ khiển trách, chê bai, phàn nàn rằng: – Tại sao trưởng lão Upananda, người thuộc dòng dõi Sakya, một mình lại có thể ngăn cản hai (chỗ ở) được chứ! (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... – Này Upananda, có thật là ngươi một mình lại ngăn cản hai (chỗ ở) không? – Bạch đức Thế Tôn, là sự thật. Đức Phật, đức Thế Tôn, đã quở trách ... – Này kẻ rỗng tuếch, tại sao ngươi một mình lại có thể ngăn cản hai (chỗ ở) được chứ? Này kẻ rỗng tuếch, khi ngươi đã nhận ở đó thì ở đây đã được từ bỏ, khi ngươi đã nhận ở đây thì ở đó đã được từ bỏ. Này kẻ rỗng tuếch, như thế ngươi bị loại ra ở cả hai nơi. Này kẻ rỗng tuếch, việc này không ... vì sự tăng trưởng niềm tin cho những người chưa có niềm tin ... sau khi đã quở trách ... sau khi đã thuyết một bài pháp thoại, ngài đã nói với các tỳ khưu rằng: – Này các tỳ khưu, một người không được ngăn cản hai (chỗ ở). Vị nào ngăn cản, phạm tội dukkaṭa.
Tena kho pana samayena bhagavā bhikkhūnaṁ anekapariyāyena vinayakathaṁ kathesi, vinayassa vaṇṇaṁ bhāsati, vinayapariyattiyā vaṇṇaṁ bhāsati, ādissa ādissa āyasmato upālissa vaṇṇaṁ bhāsati. Bhikkhūnaṁ etadahosi—“bhagavā kho anekapariyāyena vinayakathaṁ katheti, vinayassa vaṇṇaṁ bhāsati, vinayapariyattiyā vaṇṇaṁ bhāsati, ādissa ādissa āyasmato upālissa vaṇṇaṁ bhāsati. Handa mayaṁ, āvuso, āyasmato upālissa santike vinayaṁ pariyāpuṇāmā”ti. Tedha bahū bhikkhū therā ca navā ca majjhimā ca āyasmato upālissa santike vinayaṁ pariyāpuṇanti.
Āyasmā upāli ṭhitakova uddisati therānaṁ bhikkhūnaṁ gāravena. Therāpi bhikkhū ṭhitakāva uddisāpenti dhammagāravena. Tattha therā ceva bhikkhū kilamanti, āyasmā ca upāli kilamati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, navakena bhikkhunā uddisantena samake vā āsane nisīdituṁ, uccatare vā dhammagāravena; therena bhikkhunā uddisāpentena samake vā āsane nisīdituṁ, nīcatare vā dhammagāravenā”ti.
At one time the Buddha was giving many talks on the Monastic Law. He spoke in praise of it and of learning it, and he repeatedly praised Venerable Upāli. When they heard this, the monks thought, “Well then, let’s learn the Monastic Law from Venerable Upāli.” And many monks, both senior and junior, as well as those of middle standing, learned the Monastic Law from Upāli.
Out of respect for the senior monks, Upāli taught while standing. And out of respect for the Teaching, the senior monks, too, were standing. They all became tired. They told the Buddha.
“A junior monk who’s teaching should sit on a similar or higher seat out of respect for the Teaching. A senior monk who’s being taught should sit on a similar or lower seat out of respect for the Teaching.”
320. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bằng nhiều phương cách đã thuyết bài pháp thoại về Luật cho các tỳ khưu, ngài nói lên lời tán dương về Luật, ngài nói lên lời tán dương về việc học thuộc lòng Luật, ngài đặc biệt nói lên lời tán dương về trưởng lão Upāli. Các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ rằng: – Đức Thế Tôn bằng nhiều phương cách đã thuyết bài pháp thoại về Luật, ngài nói lên lời tán dương về Luật, ngài nói lên lời tán dương về việc học thuộc lòng Luật, ngài đặc biệt nói lên lời tán dương về trưởng lão Upāli. Nào, thưa các hiền giả, chúng ta hãy học thuộc lòng Luật nơi trưởng lão Upāli. Khi ấy, nhiều vị tỳ khưu, cả trưởng lão, tỳ khưu mới, và tỳ khưu trung bình, đã học thuộc lòng Luật nơi trưởng lão Upāli. Trưởng lão Upāli đã đứng đọc tụng cho các vị tỳ khưu trưởng lão vì lòng tôn kính. Các vị tỳ khưu trưởng lão cũng đã đứng để được đọc tụng cho vì lòng tôn kính Pháp. Trong việc ấy, các vị tỳ khưu trưởng lão bị mệt mỏi, và trưởng lão Upāli cũng bị mệt mỏi. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): – Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu mới trong khi đọc tụng được ngồi trên chỗ ngồi ngang bằng hoặc trên chỗ ngồi cao hơn vì lòng tôn kính Pháp; (Ta cho phép) vị tỳ khưu trưởng lão trong khi được đọc tụng cho được ngồi trên chỗ ngồi ngang bằng hoặc trên chỗ ngồi thấp hơn vì lòng tôn kính Pháp.
Tena kho pana samayena bahū bhikkhū āyasmato upālissa santike ṭhitakā uddesaṁ paṭimānentā kilamanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, samānāsanikehi saha nisīditun”ti.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kittāvatā nu kho samānāsaniko hotī”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ—
“anujānāmi, bhikkhave, tivassantarena saha nisīditun”ti.
On one occasion many monks were standing in the presence of Upāli, honoring the recitation. They became tired.
“I allow those who are entitled to sit on the same seat to sit together.”
The monks thought, “Who are entitled to sit on the same seat?”
“I allow those with a difference of three years or less in seniority to sit together.”
Vào lúc bấy giờ, nhiều tỳ khưu bị mệt mỏi trong khi đứng chờ đợi việc đọc tụng nơi trưởng lão Upāli. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): – Này các tỳ khưu, Ta cho phép ngồi cùng với những người có chỗ ngồi ngang bằng. Khi ấy, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ rằng: – Đến mức độ nào thì được xem là người có chỗ ngồi ngang bằng nhỉ? (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): – Này các tỳ khưu, Ta cho phép ngồi cùng với (vị tỳ khưu) trong khoảng ba năm hạ.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū samānāsanikā mañce nisīditvā mañcaṁ bhindiṁsu, pīṭhe nisīditvā pīṭhaṁ bhindiṁsu. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, tivaggassa mañcaṁ, tivaggassa pīṭhan”ti.
Tivaggopi mañce nisīditvā mañcaṁ bhindi, pīṭhe nisīditvā pīṭhaṁ bhindi …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, duvaggassa mañcaṁ, duvaggassa pīṭhan”ti.
On one occasion a number of monks who were entitled to sit on the same seat were seated on a bed. The bed broke. They were seated on the same bench, and the bench broke.
“I allow a maximum of three on the same bed or bench.”
The beds and benches still broke.
“I allow a maximum of two on the same bed or bench.”
Vào lúc bấy giờ, nhiều tỳ khưu có chỗ ngồi ngang bằng sau khi ngồi trên giường đã làm gãy giường, sau khi ngồi trên ghế đã làm gãy ghế. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): – Này các tỳ khưu, Ta cho phép một cái giường cho nhóm ba người, một cái ghế cho nhóm ba người. Nhóm ba người cũng sau khi ngồi trên giường đã làm gãy giường, sau khi ngồi trên ghế đã làm gãy ghế ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép một cái giường cho nhóm hai người, một cái ghế cho nhóm hai người.
Tena kho pana samayena bhikkhū asamānāsanikehi saha dīghāsane nisīdituṁ kukkuccāyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ṭhapetvā paṇḍakaṁ, mātugāmaṁ, ubhatobyañjanakaṁ, asamānāsanikehi saha dīghāsane nisīditun”ti.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kittakaṁ pacchimaṁ nu kho dīghāsanaṁ hotī”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, yaṁ tiṇṇaṁ pahoti, ettakaṁ pacchimaṁ dīghāsanan”ti.
At that time, being afraid of wrongdoing, monks who were not entitled to sit on the same seat did not sit together on a long seat.
“I allow those who aren’t entitled to sit on the same seat to sit together on a long seat, except with a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>, a woman, or a gynandromorph.”
The monks thought, “What’s the size of the smallest long seat?”
“A seat for three is the smallest long seat.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu áy náy về việc ngồi trên ghế dài cùng với những vị không đồng chỗ ngồi. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) "Này các tỳ khưu, Ta cho phép ngồi trên ghế dài cùng với những vị không đồng chỗ ngồi, ngoại trừ người ái nam ái nữ, người nữ, và người lưỡng tính." Bấy giờ, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ này: "Thế nào là chiếc ghế dài tối thiểu?" (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) "Này các tỳ khưu, Ta cho phép chiếc ghế dài tối thiểu là loại đủ cho ba người ngồi."
Tena kho pana samayena visākhā migāramātā saṅghassa atthāya sāḷindaṁ pāsādaṁ kārāpetukāmā hoti hatthinakhakaṁ. Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kiṁ nu kho bhagavatā pāsādaparibhogo anuññāto kiṁ ananuññāto”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sabbaṁ pāsādaparibhogan”ti.
At one time Visākhā Migāramātā wanted to build a stilt house for the benefit of the Sangha, including a porch and elephant globes. The monks thought, “What stilt-house equipment has the Buddha allowed and what hasn’t he allowed?” They told the Buddha.
“I allow all stilt-house equipment.”
Vào lúc bấy giờ, bà Visākhā, mẹ của Migāra, có ý muốn cho xây dựng một ngôi lầu có hiên và có móng hình móng voi vì lợi ích của Tăng chúng. Bấy giờ, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ này: "Việc sử dụng lầu đài đã được đức Thế Tôn cho phép hay chưa được cho phép?" (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) "Này các tỳ khưu, Ta cho phép tất cả việc sử dụng lầu đài."
Tena kho pana samayena rañño pasenadissa kosalassa ayyikā kālaṅkatā hoti. Tassa kālaṅkiriyāya saṅghassa bahuṁ akappiyabhaṇḍaṁ uppannaṁ hoti, seyyathidaṁ—āsandi, pallaṅko, gonako, cittako, paṭikā, paṭalikā, tūlikā, vikatikā, uddalomī, ekantalomī, kaṭṭissaṁ, koseyyaṁ, kuttakaṁ, hatthattharaṁ, assattharaṁ, rathattharaṁ, ajinapaveṇi, kadalimigapavarapaccattharaṇaṁ, sauttaracchadaṁ, ubhatolohitakūpadhānaṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, āsandiyā pāde chinditvā paribhuñjituṁ, pallaṅkassa vāḷe bhinditvā paribhuñjituṁ, tūlikaṁ vijaṭetvā bibbohanaṁ kātuṁ, avasesaṁ bhūmattharaṇaṁ kātun”ti.
At one time King Pasenadi of Kosala’s grandmother had just died. As a result, many unallowable goods were offered to the Sangha, that is: high couches, luxurious couches, long-fleeced woolen rugs, multi-colored woolen rugs, white woolen rugs, red woolen rugs, cotton-down quilts, woolen rugs decorated with the images of predatory animals, woolen rugs with long fleece on one side, woolen rugs with long fleece on both sides, sheets of silk embroidered with gems, silken sheets, woolen rugs like a dancer’s rug, elephant-back rugs, horse-back rugs, carriage-seat rugs, rugs made of black antelope hide, exquisite sheets made of <i lang='pi' translate='no'>kadalī</i>-deer hide, seats with canopies, and seats with red cushions at each end.
“I allow you to use a high couch after cutting its legs down to size, to use a luxurious couch after removing the images of predatory animals, to make a pillow after removing the cotton down from the cotton-down quilt, and to make floor covers of the rest.”
Vào lúc bấy giờ, bà của vua Pasenadi xứ Kosala đã mệnh chung. Do sự mệnh chung của bà, nhiều vật dụng không thích hợp đã phát sinh cho Tăng chúng, ví như là: ghế dài quá khổ, giường có chân hình thú dữ, thảm len lông dài, tấm trải bằng len nhiều màu sắc, tấm trải bằng len màu trắng, tấm trải bằng len có thêu hình hoa, nệm nhồi bông gòn, tấm trải bằng len có hình các con thú, tấm trải bằng len có lông ở hai mặt, tấm trải bằng len có lông ở một mặt, tấm trải bằng lụa có viền vàng, tấm trải bằng lụa có đính châu báu, tấm thảm lớn (đủ cho mười sáu vũ nữ), tấm trải lưng voi, tấm trải lưng ngựa, tấm trải trên xe, tấm trải làm bằng da sơn dương đen, tấm trải quý làm bằng da con hoẵng, (giường) có lọng che màu đỏ bên trên và có gối ở hai đầu màu đỏ. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) "Này các tỳ khưu, Ta cho phép chặt chân của ghế dài quá khổ rồi sử dụng, phá bỏ hình thú dữ ở chân giường rồi sử dụng, tháo bông gòn trong nệm ra để làm gối, và dùng những tấm trải còn lại để làm thảm trải sàn."
3.1. Avissajjiyavatthu
19. What is not to be given away
Câu chuyện về các vật không được từ bỏ
Tena kho pana samayena sāvatthiyā avidūre aññatarasmiṁ gāmakāvāse āvāsikā bhikkhū upaddutā honti āgantukagamikānaṁ bhikkhūnaṁ senāsanaṁ paññapentā. Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“etarahi kho mayaṁ, āvuso, upaddutā āgantukagamikānaṁ bhikkhūnaṁ senāsanaṁ paññapentā. Handa mayaṁ, āvuso, sabbaṁ saṅghikaṁ senāsanaṁ ekassa dema. Tassa santakaṁ paribhuñjissāmā”ti. Te sabbaṁ saṅghikaṁ senāsanaṁ ekassa adaṁsu.
Āgantukā bhikkhū te bhikkhū etadavocuṁ—“amhākaṁ, āvuso, senāsanaṁ paññapethā”ti. “Natthāvuso, saṅghikaṁ senāsanaṁ; sabbaṁ amhehi ekassa dinnan”ti.
“Kiṁ pana tumhe, āvuso, saṅghikaṁ senāsanaṁ vissajjethā”ti?
“Evamāvuso”ti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhikkhū saṅghikaṁ senāsanaṁ vissajjessantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, bhikkhū saṅghikaṁ senāsanaṁ vissajjentī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma te, bhikkhave, moghapurisā saṅghikaṁ senāsanaṁ vissajjessanti? Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
At one time in a village monastery not far from Sāvatthī the resident monks were fed up with assigning dwellings to monks who were coming and going. They considered this and thought, “Well, let’s give all the dwellings belonging to the Sangha to one of us. We’ll then use what belongs to him.” And they did just that.
When newly-arrived monks said to them, “Please assign us a dwelling,” they replied, “There aren’t any dwellings belonging to the Sangha. We’ve given them to one monk.”
“So you’ve given away the dwellings belonging to the Sangha?”
“Yes.”
The monks of few desires complained and criticized them, “How could they give away the dwellings belonging to the Sangha?” They told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that they did this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them, “How could those foolish men give away dwellings belonging to the Sangha? This will affect people’s confidence …” After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
321. Vào lúc bấy giờ, tại một ngôi chùa ở làng nhỏ không xa thành Sāvatthī, các tỳ khưu thường trú bị phiền nhiễu khi phải sắp đặt chỗ ở cho các tỳ khưu khách và các tỳ khưu bộ hành. Bấy giờ, các tỳ khưu ấy khởi lên suy nghĩ này: "Này chư hiền, hiện nay chúng ta bị phiền nhiễu khi phải sắp đặt chỗ ở cho các tỳ khưu khách và các tỳ khưu bộ hành. Này chư hiền, chúng ta hãy trao tất cả chỗ ở của Tăng chúng cho một vị. Chúng ta sẽ sử dụng vật sở hữu của vị ấy." Họ đã trao tất cả chỗ ở của Tăng chúng cho một vị. Các tỳ khưu khách đến và nói với các tỳ khưu ấy rằng: "Này chư hiền, xin hãy sắp đặt chỗ ở cho chúng tôi." (Họ đáp:) "Này chư hiền, không có chỗ ở của Tăng chúng; chúng tôi đã trao tất cả cho một vị rồi." (Các tỳ khưu khách hỏi:) "Này chư hiền, vậy các vị đã từ bỏ chỗ ở của Tăng chúng sao?" (Họ đáp:) "Đúng vậy, chư hiền." Các vị tỳ khưu thiểu dục ... đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: "Làm sao mà các tỳ khưu lại có thể từ bỏ chỗ ở của Tăng chúng được chứ!" Bấy giờ, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... (Ngài hỏi:) "Này các tỳ khưu, có thật là các tỳ khưu đã từ bỏ chỗ ở của Tăng chúng không?" (Họ thưa:) "Bạch đức Thế Tôn, là thật." Đức Phật, đức Thế Tôn, đã quở trách ... "Này các tỳ khưu, làm sao mà những người ngu si ấy lại có thể từ bỏ chỗ ở của Tăng chúng? Này các tỳ khưu, việc này không đem lại niềm tin cho những người chưa có niềm tin ..." Sau khi quở trách ... và thuyết một bài pháp, ngài đã gọi các tỳ khưu và dạy rằng:
“Pañcimāni, bhikkhave, avissajjiyāni, na vissajjetabbāni, saṅghena vā gaṇena vā puggalena vā. Vissajjitānipi avissajjitāni honti. Yo vissajjeyya, āpatti thullaccayassa.
Katamāni pañca?
- Ārāmo, ārāmavatthu—idaṁ paṭhamaṁ avissajjiyaṁ, na vissajjetabbaṁ, saṅghena vā gaṇena vā puggalena vā. Vissajjitampi avissajjitaṁ hoti. Yo vissajjeyya, āpatti thullaccayassa.
“There are five things not to be given away, either by a sangha, a group, or an individual. Even if given away, they’re not actually given away. If you give any of them away, you commit a serious offense.
What five?
- A monastery or the site of a monastery
"Này các tỳ khưu, có năm vật này không được từ bỏ, không được Tăng chúng, hoặc một nhóm, hoặc một cá nhân từ bỏ. Dù đã từ bỏ, chúng vẫn được xem là chưa từ bỏ. Vị nào từ bỏ, vị ấy phạm tội thullaccaya. Năm vật ấy là gì? Khu vườn, đất vườn – đây là vật không được từ bỏ thứ nhất, không được Tăng chúng, hoặc một nhóm, hoặc một cá nhân từ bỏ. Dù đã từ bỏ, nó vẫn được xem là chưa từ bỏ. Vị nào từ bỏ, vị ấy phạm tội thullaccaya.
"Tịnh xá, đất tịnh xá – đây là vật không được từ bỏ thứ hai, không được Tăng chúng, hoặc một nhóm, hoặc một cá nhân từ bỏ. Dù đã từ bỏ, nó vẫn được xem là chưa từ bỏ. Vị nào từ bỏ, vị ấy phạm tội thullaccaya.
"Giường, ghế, nệm, gối – đây là vật không được từ bỏ thứ ba, không được Tăng chúng, hoặc một nhóm, hoặc một cá nhân từ bỏ. Dù đã từ bỏ, nó vẫn được xem là chưa từ bỏ. Vị nào từ bỏ, vị ấy phạm tội thullaccaya.
Imāni kho, bhikkhave, pañca avissajjiyāni, na vissajjetabbāni, saṅghena vā gaṇena vā puggalena vā. Vissajjitānipi avissajjitāni honti. Yo vissajjeyya, āpatti thullaccayassā”ti.
"Nồi đồng, chậu đồng, vại đồng, chảo đồng, cái bào, cái rìu, cái búa, cái cuốc, cái đục – đây là vật không được từ bỏ thứ tư, không được Tăng chúng, hoặc một nhóm, hoặc một cá nhân từ bỏ. Dù đã từ bỏ, nó vẫn được xem là chưa từ bỏ. Vị nào từ bỏ, vị ấy phạm tội thullaccaya.
3.2. Avebhaṅgiyavatthu
20. What is not to be distributed
Câu chuyện về các vật không được phân chia
Atha kho bhagavā sāvatthiyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena kīṭāgiri tena cārikaṁ pakkāmi mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi sāriputtamoggallānehi ca. Assosuṁ kho assajipunabbasukā bhikkhū—“bhagavā kira kīṭāgiriṁ āgacchati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi sāriputtamoggallānehi ca. Handa mayaṁ, āvuso, sabbaṁ saṅghikaṁ senāsanaṁ bhājema. Pāpicchā sāriputtamoggallānā, pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gatā; na mayaṁ tesaṁ senāsanaṁ paññapessāmā”ti, te sabbaṁ saṅghikaṁ senāsanaṁ bhājesuṁ.
Atha kho bhagavā anupubbena cārikaṁ caramāno yena kīṭāgiri tadavasari. Atha kho bhagavā sambahule bhikkhū āmantesi—“gacchatha tumhe, bhikkhave; assajipunabbasuke bhikkhū upasaṅkamitvā evaṁ vadetha—‘bhagavā, āvuso, āgacchati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi sāriputtamoggallānehi ca. Bhagavato ca, āvuso, senāsanaṁ paññapetha, bhikkhusaṅghassa ca, sāriputtamoggallānānañcā’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paṭissutvā yena assajipunabbasukā bhikkhū tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā assajipunabbasuke bhikkhū etadavocuṁ—“bhagavā, āvuso, āgacchati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi sāriputtamoggallānehi ca. Bhagavato ca, āvuso, senāsanaṁ paññapetha, bhikkhusaṅghassa ca, sāriputtamoggallānānañcā”ti.
“Natthāvuso, saṅghikaṁ senāsanaṁ. Sabbaṁ amhehi bhājitaṁ. Svāgataṁ, āvuso, bhagavato. Yasmiṁ vihāre bhagavā icchissati tasmiṁ vihāre vasissati. Pāpicchā sāriputtamoggallānā, pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gatā. Na mayaṁ tesaṁ senāsanaṁ paññapessāmā”ti.
“Kiṁ pana tumhe, āvuso, saṅghikaṁ senāsanaṁ bhājitthā”ti?
“Evamāvuso”ti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma assajipunabbasukā bhikkhū saṅghikaṁ senāsanaṁ bhājessantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave …pe…
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma te, bhikkhave, moghapurisā saṅghikaṁ senāsanaṁ bhājessanti? Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
When the Buddha had stayed at Sāvatthī for as long as he liked, he set out wandering toward Kīṭāgiri with a large sangha of five hundred monks, including Sāriputta and Mahāmoggallāna. The monks Assaji and Punabbasuka heard about this and said, “Well then, let’s distribute all the dwellings belonging to the Sangha. Sāriputta and Mahāmoggallāna are in the grip of bad desires. So let’s not assign them any dwellings.” And they distributed all the dwellings belonging to the Sangha.
When the Buddha eventually arrived at Kīṭāgiri, he said to a group of monks, “Go to the monks Assaji and Punabbasuka and say, ‘The Buddha is coming with a large sangha of five hundred monks, including Sāriputta and Mahāmoggallāna. Please assign dwellings to the Buddha, to the Sangha of monks, and to Sāriputta and Mahāmoggallāna.’”
Saying, “Yes, sir,” they did just that.
The monks Assaji and Punabbasuka replied, “There aren’t any dwellings belonging to the Sangha. We’ve shared them all out. The Buddha is welcome and he may stay wherever he likes. But Sāriputta and Mahāmoggallāna are in the grip of bad desires. We won’t assign them any dwellings.”
“So you’ve distributed the dwellings belonging to the Sangha?”
“Yes.”
The monks of few desires complained and criticized them, “How could they distribute the dwellings belonging to the Sangha?” They told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that they did this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them, “How could those foolish men distribute the dwellings belonging to the Sangha? This will affect people’s confidence …” After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
322. Bấy giờ, sau khi đã an trú ở Sāvatthī tùy thích, đức Thế Tôn đã khởi hành đi du hành đến xứ Kīṭāgiri cùng với đại chúng tỳ khưu, với khoảng năm trăm vị tỳ khưu, và với Sāriputta và Moggallāna. Các tỳ khưu Assaji và Punabbasu đã nghe được rằng: ‘Nghe nói đức Thế Tôn đang đi đến Kīṭāgiri cùng với đại chúng tỳ khưu, với khoảng năm trăm vị tỳ khưu, và với Sāriputta và Moggallāna.’ (Họ nói:) ‘Này chư hiền, chúng ta hãy phân chia tất cả chỗ ở thuộc về Tăng chúng. Sāriputta và Moggallāna có những ước muốn xấu xa, đã bị các ước muốn xấu xa chi phối; chúng ta sẽ không sắp đặt chỗ ở cho họ.’ Họ đã phân chia tất cả chỗ ở thuộc về Tăng chúng. Bấy giờ, đức Thế Tôn trong khi đi du hành tuần tự đã đến Kīṭāgiri. Bấy giờ, đức Thế Tôn đã cho gọi nhiều vị tỳ khưu và nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, các ngươi hãy đi đến, sau khi đến gặp các tỳ khưu Assaji và Punabbasu, hãy nói như vầy: ‘Thưa chư hiền, đức Thế Tôn đang đi đến cùng với đại chúng tỳ khưu, với khoảng năm trăm vị tỳ khưu, và với Sāriputta và Moggallāna. Thưa chư hiền, hãy sắp đặt chỗ ở cho đức Thế Tôn, cho Tăng chúng tỳ khưu, và cho Sāriputta và Moggallāna.’’ ‘Xin vâng, bạch Thế Tôn.’ Các tỳ khưu ấy sau khi vâng lời đức Thế Tôn đã đi đến nơi các tỳ khưu Assaji và Punabbasu đang ở; sau khi đến, họ đã nói điều này với các tỳ khưu Assaji và Punabbasu: ‘Thưa chư hiền, đức Thế Tôn đang đi đến cùng với đại chúng tỳ khưu, với khoảng năm trăm vị tỳ khưu, và với Sāriputta và Moggallāna. Thưa chư hiền, hãy sắp đặt chỗ ở cho đức Thế Tôn, cho Tăng chúng tỳ khưu, và cho Sāriputta và Moggallāna.’ (Họ đáp:) ‘Thưa chư hiền, không có chỗ ở thuộc về Tăng chúng. Tất cả đã được chúng tôi phân chia rồi. Thưa chư hiền, sự quang lâm của đức Thế Tôn thật là tốt lành. Đức Thế Tôn muốn ở trú xá nào thì sẽ ở trú xá ấy. Sāriputta và Moggallāna có những ước muốn xấu xa, đã bị các ước muốn xấu xa chi phối. Chúng tôi sẽ không sắp đặt chỗ ở cho họ.’ ‘Nhưng thưa chư hiền, các vị đã phân chia chỗ ở thuộc về Tăng chúng sao?’ ‘Đúng vậy, thưa chư hiền.’ Các vị tỳ khưu ít ham muốn ... (v.v.) ... đã phàn nàn, chê bai, và nói xấu rằng: ‘Tại sao các tỳ khưu Assaji và Punabbasu lại có thể phân chia chỗ ở thuộc về Tăng chúng chứ!’ Bấy giờ, các tỳ khưu ấy đã trình báo sự việc này lên đức Thế Tôn ... (v.v.) ... ‘Này các tỳ khưu, có thật như vậy không?’ ... (v.v.) ... ‘Bạch Thế Tôn, là sự thật.’ Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách ... (v.v.) ... ‘Này các tỳ khưu, tại sao những kẻ ngu si ấy lại có thể phân chia chỗ ở thuộc về Tăng chúng chứ? Này các tỳ khưu, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin được phát sinh đức tin ... (v.v.) ...’ Sau khi quở trách ... (v.v.) ... sau khi thuyết một bài pháp thoại, ngài đã cho gọi các tỳ khưu và nói rằng:
“Pañcimāni, bhikkhave, avebhaṅgiyāni, na vibhajitabbāni, saṅghena vā gaṇena vā puggalena vā. Vibhattānipi avibhattāni honti. Yo vibhajeyya, āpatti thullaccayassa.
Katamāni pañca?
- Ārāmo, ārāmavatthu—idaṁ paṭhamaṁ avebhaṅgiyaṁ, na vibhajitabbaṁ, saṅghena vā gaṇena vā puggalena vā. Vibhattampi avibhattaṁ hoti. Yo vibhajeyya, āpatti thullaccayassa.
“There are five things not to be distributed, either by a sangha, a group, or an individual. Even if distributed, they’re not actually distributed. If you distribute any of them, you commit a serious offense.
What five?
- A monastery or the site of a monastery
‘Này các tỳ khưu, có năm thứ tài vật không thể phân chia này, không được phân chia bởi Tăng chúng, hoặc bởi một nhóm, hoặc bởi một cá nhân. Dù đã được phân chia, chúng vẫn là chưa được phân chia. Vị nào phân chia, phạm tội thullaccaya (trọng tội). Năm thứ ấy là gì? Khuôn viên tịnh xá, đất tịnh xá – đây là tài vật không thể phân chia thứ nhất, không được phân chia bởi Tăng chúng, hoặc bởi một nhóm, hoặc bởi một cá nhân. Dù đã được phân chia, nó vẫn là chưa được phân chia. Vị nào phân chia, phạm tội thullaccaya.
‘Trú xá, đất trú xá – đây là tài vật không thể phân chia thứ hai, không được phân chia bởi Tăng chúng, hoặc bởi một nhóm, hoặc bởi một cá nhân. Dù đã được phân chia, nó vẫn là chưa được phân chia. Vị nào phân chia, phạm tội thullaccaya.
‘Giường, ghế, nệm, gối – đây là tài vật không thể phân chia thứ ba, không được phân chia bởi Tăng chúng, hoặc bởi một nhóm, hoặc bởi một cá nhân. Dù đã được phân chia, nó vẫn là chưa được phân chia. Vị nào phân chia, phạm tội thullaccaya.
‘Nồi đồng, chậu đồng, vại đồng, chảo đồng, rìu nhỏ, rìu lớn, dao rựa, cuốc, đục – đây là tài vật không thể phân chia thứ tư, không được phân chia bởi Tăng chúng, hoặc bởi một nhóm, hoặc bởi một cá nhân. Dù đã được phân chia, nó vẫn là chưa được phân chia. Vị nào phân chia, phạm tội thullaccaya.
Imāni kho, bhikkhave, pañca avebhaṅgiyāni, na vibhajitabbāni, saṅghena vā gaṇena vā puggalena vā. Vibhattānipi avibhattāni honti. Yo vibhajeyya, āpatti thullaccayassā”ti.
‘Dây leo, tre, cỏ lau, cỏ sậy, cỏ thường, đất sét, đồ gỗ, đồ đất sét – đây là tài vật không thể phân chia thứ năm, không được phân chia bởi Tăng chúng, hoặc bởi một nhóm, hoặc bởi một cá nhân. Dù đã được phân chia, nó vẫn là chưa được phân chia. Vị nào phân chia, phạm tội thullaccaya. Này các tỳ khưu, đây chính là năm thứ tài vật không thể phân chia, không được phân chia bởi Tăng chúng, hoặc bởi một nhóm, hoặc bởi một cá nhân. Dù đã được phân chia, chúng vẫn là chưa được phân chia. Vị nào phân chia, phạm tội thullaccaya.’
3.3. Navakammadānakathā
21. Discussion on putting in charge of building work
Câu chuyện về việc giao công việc mới
Atha kho bhagavā kīṭāgirismiṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena āḷavī tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena āḷavī tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā āḷaviyaṁ viharati aggāḷave cetiye.
Tena kho pana samayena āḷavakā bhikkhū evarūpāni navakammāni denti—piṇḍanikkhepanamattenapi navakammaṁ denti; kuṭṭalepanamattenapi navakammaṁ denti; dvāraṭṭhapanamattenapi navakammaṁ denti; aggaḷavaṭṭikaraṇamattenapi navakammaṁ denti; ālokasandhikaraṇamattenapi navakammaṁ denti; setavaṇṇakaraṇamattenapi navakammaṁ denti; kāḷavaṇṇakaraṇamattenapi navakammaṁ denti; gerukaparikammakaraṇamattenapi navakammaṁ denti; chādanamattenapi navakammaṁ denti; bandhanamattenapi navakammaṁ denti; bhaṇḍikāṭṭhapanamattenapi navakammaṁ denti; khaṇḍaphullapaṭisaṅkharaṇamattenapi navakammaṁ denti; paribhaṇḍakaraṇamattenapi navakammaṁ denti; vīsativassikampi navakammaṁ denti; tiṁsavassikampi navakammaṁ denti; yāvajīvikampi navakammaṁ denti; dhūmakālikampi pariyositaṁ vihāraṁ navakammaṁ denti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma āḷavakā bhikkhū evarūpāni navakammāni dassanti—piṇḍanikkhepanamattenapi navakammaṁ dassanti; kuṭṭalepanamattenapi … dvāraṭṭhapanamattenapi … aggaḷavaṭṭikaraṇamattenapi … ālokasandhikaraṇamattenapi … setavaṇṇakaraṇamattenapi … kāḷavaṇṇakaraṇamattenapi … gerukaparikammakaraṇamattenapi … chādanamattenapi … bandhanamattenapi … bhaṇḍikāṭṭhapanamattenapi … khaṇḍaphullapaṭisaṅkharaṇamattenapi … paribhaṇḍakaraṇamattenapi … vīsativassikampi … tiṁsavassikampi … yāvajīvikampi … dhūmakālikampi pariyositaṁ vihāraṁ navakammaṁ dassantī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave …pe… “saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, piṇḍanikkhepanamattena navakammaṁ dātabbaṁ …pe… na kuṭṭalepanamattena navakammaṁ dātabbaṁ. Na dvāraṭṭhapanamattena navakammaṁ dātabbaṁ. Na aggaḷavaṭṭikaraṇamattena navakammaṁ dātabbaṁ. Na ālokasandhikaraṇamattena navakammaṁ dātabbaṁ. Na setavaṇṇakaraṇamattena navakammaṁ dātabbaṁ. Na kāḷavaṇṇakaraṇamattena navakammaṁ dātabbaṁ. Na gerukaparikammakaraṇamattena navakammaṁ dātabbaṁ. Na chādanamattena navakammaṁ dātabbaṁ. Na bandhanamattena navakammaṁ dātabbaṁ. Na bhaṇḍikāṭṭhapanamattena navakammaṁ dātabbaṁ. Na khaṇḍaphullapaṭisaṅkharaṇamattena navakammaṁ dātabbaṁ. Na paribhaṇḍakaraṇamattena navakammaṁ dātabbaṁ. Na vīsativassikaṁ navakammaṁ dātabbaṁ. Na tiṁsavassikaṁ navakammaṁ dātabbaṁ. Na yāvajīvikaṁ navakammaṁ dātabbaṁ. Na dhūmakālikampi pariyositaṁ vihāraṁ navakammaṁ dātabbaṁ. Yo dadeyya, āpatti dukkaṭassa.
Anujānāmi, bhikkhave, akataṁ vā vippakataṁ vā navakammaṁ dātuṁ, khuddake vihāre kammaṁ oloketvā chappañcavassikaṁ navakammaṁ dātuṁ, aḍḍhayoge kammaṁ oloketvā sattaṭṭhavassikaṁ navakammaṁ dātuṁ, mahallake vihāre pāsāde vā kammaṁ oloketvā dasadvādasavassikaṁ navakammaṁ dātun”ti.
When the Buddha had stayed at Kīṭāgiri for as long as he liked, he set out wandering toward Āḷavī. When he eventually arrived, he stayed at Aggāḷava Shrine.
At that time the monks of Āḷavī put monks in charge of building work such as this: the mere filling of gaps, the mere plastering of walls, the mere hanging of doors, the mere making of door jambs, the mere making of windows, the mere application of white coloring, the mere application of black coloring, the mere treatment with red ocher, the mere covering with a roof, the mere fastening of a roof, the mere fixing of cornices, the mere repair of what was defective or broken, and the mere plastering of floors; and they put monks in charge of building work for twenty years, for thirty years, and for life; and they put monks in charge of building work for life on finished dwellings.
The monks of few desires complained and criticized them, “How can the monks at Āḷavī put monks in charge of such kinds of work?” They told the Buddha. … “Is it true, monks, that they do this?” “It’s true, sir.” … After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t put monks in charge of building work such as this: the mere filling of gaps, the mere plastering of walls, the mere hanging of doors, the mere making of door jambs, the mere making of windows, the mere application of white coloring, the mere application of black coloring, the mere treatment with red ocher, the mere covering with a roof, the mere fastening of a roof, the mere fixing of cornices, the mere repair of what is defective or broken, or the mere plastering of floors; and you shouldn’t put monks in charge of building work for twenty years, for thirty years, or for life, or put monks in charge of building work for life on finished dwellings. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
I allow you to put monks in charge of building work that isn’t yet started or that’s partially complete. For a small dwelling, you should inspect the work and then put a monk in charge of the building work for five or six years. For a small stilt house, you should inspect the work and then put a monk in charge of the building work for seven or eight years. For a large dwelling or stilt house, you should inspect the work and then put a monk in charge of the building work for ten or twelve years.”
323. Bấy giờ, sau khi Thế Tôn đã an trú tại Kīṭāgiri tùy theo ý thích, ngài đã khởi hành đi du hành đến xứ Āḷavī. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã đi đến xứ Āḷavī. Tại đó, Thế Tôn trú ở ngôi đền Aggāḷava tại Āḷavī. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở Āḷavī đã giao các công tác xây cất mới như sau: họ giao công tác mới chỉ vì việc đặt một cục vữa; họ giao công tác mới chỉ vì việc trát vách; họ giao công tác mới chỉ vì việc lắp cửa; họ giao công tác mới chỉ vì việc làm thanh cài cửa; họ giao công tác mới chỉ vì việc làm cửa sổ thông gió; họ giao công tác mới chỉ vì việc sơn màu trắng; họ giao công tác mới chỉ vì việc sơn màu đen; họ giao công tác mới chỉ vì việc trang trí bằng đất son; họ giao công tác mới chỉ vì việc lợp mái; họ giao công tác mới chỉ vì việc cột trói; họ giao công tác mới chỉ vì việc đặt kệ để vật dụng; họ giao công tác mới chỉ vì việc sửa chữa chỗ hư hỏng; họ giao công tác mới chỉ vì việc tráng lớp bảo vệ; họ cũng giao công tác mới cho hai mươi năm; họ cũng giao công tác mới cho ba mươi năm; họ cũng giao công tác mới cho đến trọn đời; họ cũng giao công tác mới cho một trú xá đã hoàn tất cho đến khi còn khói bốc lên. Các vị tỳ khưu thiểu dục ... (vân vân) ... các vị ấy đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: ‘Tại sao các tỳ khưu ở Āḷavī lại có thể giao các công tác xây cất mới như thế? – họ giao công tác mới chỉ vì việc đặt một cục vữa; chỉ vì việc trát vách... chỉ vì việc lắp cửa... chỉ vì việc làm thanh cài cửa... chỉ vì việc làm cửa sổ thông gió... chỉ vì việc sơn màu trắng... chỉ vì việc sơn màu đen... chỉ vì việc trang trí bằng đất son... chỉ vì việc lợp mái... chỉ vì việc cột trói... chỉ vì việc đặt kệ để vật dụng... chỉ vì việc sửa chữa chỗ hư hỏng... chỉ vì việc tráng lớp bảo vệ... họ cũng giao công tác mới cho hai mươi năm... cho ba mươi năm... cho đến trọn đời... họ cũng giao công tác mới cho một trú xá đã hoàn tất cho đến khi còn khói bốc lên!’ (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên Thế Tôn ... (vân vân) ... – Này các tỳ khưu, có thật như vậy không? ... (vân vân) ... – Bạch Thế Tôn, là sự thật. ... (vân vân) ... Sau khi đã quở trách ... (vân vân) ... sau khi thuyết pháp thoại, ngài gọi các tỳ khưu và dạy rằng: – Này các tỳ khưu, không được giao công tác mới chỉ vì việc đặt một cục vữa; không được giao công tác mới chỉ vì việc trát vách. Không được giao công tác mới chỉ vì việc lắp cửa. Không được giao công tác mới chỉ vì việc làm thanh cài cửa. Không được giao công tác mới chỉ vì việc làm cửa sổ thông gió. Không được giao công tác mới chỉ vì việc sơn màu trắng. Không được giao công tác mới chỉ vì việc sơn màu đen. Không được giao công tác mới chỉ vì việc trang trí bằng đất son. Không được giao công tác mới chỉ vì việc lợp mái. Không được giao công tác mới chỉ vì việc cột trói. Không được giao công tác mới chỉ vì việc đặt kệ để vật dụng. Không được giao công tác mới chỉ vì việc sửa chữa chỗ hư hỏng. Không được giao công tác mới chỉ vì việc tráng lớp bảo vệ. Không được giao công tác mới cho hai mươi năm. Không được giao công tác mới cho ba mươi năm. Không được giao công tác mới cho đến trọn đời. Cũng không được giao công tác mới cho một trú xá đã hoàn tất cho đến khi còn khói bốc lên. Vị nào giao, phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép giao công tác mới cho công trình chưa làm hoặc đang làm dở dang, cho phép giao công tác mới từ năm đến sáu năm sau khi xem xét công việc ở trú xá nhỏ, cho phép giao công tác mới từ bảy đến tám năm sau khi xem xét công việc ở trú xá có mái một bên, và cho phép giao công tác mới từ mười đến mười hai năm sau khi xem xét công việc ở trú xá lớn hoặc ở lâu đài.
Tena kho pana samayena bhikkhū sabbe vihāre navakammaṁ denti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, sabbe vihāre navakammaṁ dātabbaṁ. Yo dadeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks put one person in charge of the building work on all the dwellings.
“You shouldn’t put one person in charge of the building work on all the dwellings. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu giao công tác mới cho tất cả các trú xá. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên Thế Tôn. (Ngài dạy:) – Này các tỳ khưu, không được giao công tác mới cho tất cả các trú xá. Vị nào giao, phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū ekassa dve denti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, ekassa dve dātabbā. Yo dadeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks put one person in charge of the building work on two dwellings.
“You shouldn’t put one person in charge of the building work on two dwellings. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu giao hai (trú xá) cho một vị. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên Thế Tôn. (Ngài dạy:) – Này các tỳ khưu, không được giao hai (trú xá) cho một vị. Vị nào giao, phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū navakammaṁ gahetvā aññaṁ vāsenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, navakammaṁ gahetvā añño vāsetabbo. Yo vāseyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks who had taken on building work had someone else stay in that dwelling.
“When you have taken on building work, you shouldn’t have someone else stay in that dwelling. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sau khi đã nhận công tác mới lại cho vị khác ở. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên Thế Tôn. (Ngài dạy:) – Này các tỳ khưu, sau khi đã nhận công tác mới, không được cho vị khác ở. Vị nào cho ở, phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū navakammaṁ gahetvā saṅghikaṁ paṭibāhenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, navakammaṁ gahetvā saṅghikaṁ paṭibāhitabbaṁ. Yo paṭibāheyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, ekaṁ varaseyyaṁ gahetun”ti.
At one time monks who had taken on building work reserved what belonged to the Sangha.
“When you have taken on building work, you shouldn’t reserve what belongs to the Sangha. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow you to take one good bed.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sau khi đã nhận công tác mới lại ngăn cản (việc sử dụng) trú xá của Tăng chúng. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên Thế Tôn. (Ngài dạy:) – Này các tỳ khưu, sau khi đã nhận công tác mới, không được ngăn cản (việc sử dụng) trú xá của Tăng chúng. Vị nào ngăn cản, phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép nhận lấy một chỗ ở tốt.
Tena kho pana samayena bhikkhū nissīme ṭhitassa navakammaṁ denti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, nissīme ṭhitassa navakammaṁ dātabbaṁ. Yo dadeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks put one who was outside the monastery zone in charge of building work.
“You shouldn’t put one who’s outside the monastery zone in charge of building work. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu giao công tác mới cho vị đang ở ngoài ranh giới (sīmā). (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên Thế Tôn. (Ngài dạy:) – Này các tỳ khưu, không được giao công tác mới cho vị đang ở ngoài ranh giới (sīmā). Vị nào giao, phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū navakammaṁ gahetvā sabbakālaṁ paṭibāhanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, navakammaṁ gahetvā sabbakālaṁ paṭibāhitabbaṁ. Yo paṭibāheyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, vassānaṁ temāsaṁ paṭibāhituṁ, utukālaṁ pana na paṭibāhitun”ti.
At one time the monks who had taken on building work reserved a dwelling at all times.
“When you have taken on building work, you shouldn’t reserve a dwelling at all times. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow you to reserve it for the three months of the rainy-season residence, but not at other times.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sau khi đã nhận công việc mới đã ngăn cản (người khác) trong tất cả thời gian. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, sau khi đã nhận công việc mới, không được ngăn cản trong tất cả thời gian. Vị nào ngăn cản, vị ấy phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, Ta cho phép ngăn cản trong ba tháng mùa mưa, còn về thời gian khác thì không được ngăn cản.
Tena kho pana samayena bhikkhū navakammaṁ gahetvā pakkamantipi, vibbhamantipi, kālampi karonti; sāmaṇerāpi paṭijānanti; sikkhaṁ paccakkhātakāpi paṭijānanti; antimavatthuṁ ajjhāpannakāpi paṭijānanti; ummattakāpi paṭijānanti; khittacittāpi paṭijānanti; vedanāṭṭāpi paṭijānanti; āpattiyā adassane ukkhittakāpi paṭijānanti; āpattiyā appaṭikamme ukkhittakāpi paṭijānanti; pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhittakāpi paṭijānanti; paṇḍakāpi paṭijānanti; theyyasaṁvāsakāpi paṭijānanti; titthiyapakkantakāpi paṭijānanti;
At that time monks who had taken on building work left, disrobed, died, admitted to being novice monks, admitted to having renounced the training, admitted to having committed the worst kind of offense, admitted to being insane, admitted to being deranged, admitted to being overwhelmed by pain, admitted to having been ejected for not recognizing an offense, admitted to having been ejected for not making amends for an offense, admitted to having been ejected for not giving up a bad view, admitted to being <i lang='pi' translate='no'>paṇḍakas</i>, admitted to being fake monks, admitted to previously having left to join the monastics of another religion,
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sau khi đã nhận công việc mới, (có vị) đã bỏ đi, (có vị) đã hoàn tục, (có vị) đã mệnh chung; (có vị) tự nhận là sa-di; (có vị) tự nhận là người đã bỏ học pháp; (có vị) tự nhận là người đã phạm tội bất cộng trụ; (có vị) tự nhận là người điên; (có vị) tự nhận là người loạn trí; (có vị) tự nhận là người bị cảm thọ áp bức; (có vị) tự nhận là người bị treo giò vì không thấy tội; (có vị) tự nhận là người bị treo giò vì không sửa trị tội; (có vị) tự nhận là người bị treo giò vì không từ bỏ tà kiến; (có vị) tự nhận là người ái nam ái nữ; (có vị) tự nhận là người sống chung lén lút; (có vị) tự nhận là người đã đi theo ngoại đạo;
(có vị) tự nhận là người thuộc loài bàng sanh; (có vị) tự nhận là người giết mẹ; (có vị) tự nhận là người giết cha; (có vị) tự nhận là người giết A-la-hán; (có vị) tự nhận là người làm hại tỳ khưu ni; (có vị) tự nhận là người chia rẽ Tăng chúng; (có vị) tự nhận là người làm chảy máu (thân) Như Lai; (có vị) tự nhận là người có hai bộ phận sinh dục. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
“Idha pana, bhikkhave, bhikkhu navakammaṁ gahetvā pakkamati—mā saṅghassa hāyīti aññassa dātabbaṁ.
“If a monk who’s taken on building work departs, it should be given to another, with the thought, ‘What belongs to the Sangha shouldn’t be allowed to deteriorate.’
– Này các tỳ khưu, ở đây, tỳ khưu sau khi đã nhận công việc mới rồi bỏ đi thì nên giao lại cho vị khác với suy nghĩ rằng: ‘Mong rằng Tăng chúng không bị tổn thất.’
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu navakammaṁ gahetvā vibbhamati …pe… kālaṁ karoti, sāmaṇero paṭijānāti, sikkhaṁ paccakkhātako paṭijānāti, antimavatthuṁ ajjhāpannako paṭijānāti, ummattako paṭijānāti, khittacitto paṭijānāti, vedanāṭṭo paṭijānāti, āpattiyā adassane ukkhittako paṭijānāti, āpattiyā appaṭikamme ukkhittako paṭijānāti, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhittako paṭijānāti, paṇḍako paṭijānāti, theyyasaṁvāsako paṭijānāti, titthiyapakkantako paṭijānāti, tiracchānagato paṭijānāti, mātughātako paṭijānāti, pitughātako paṭijānāti, arahantaghātako paṭijānāti, bhikkhunidūsako paṭijānāti, saṅghabhedako paṭijānāti, lohituppādako paṭijānāti, ubhatobyañjanako paṭijānāti—mā saṅghassa hāyīti aññassa dātabbaṁ.
If a monk who’s taken on building work disrobes, dies, admits to being a novice monk, admits to having renounced the training, admits to having committed the worst kind of offense, admits to being insane, admits to being deranged, admits to being overwhelmed by pain, admits to having been ejected for not recognizing an offense, admits to having been ejected for not making amends for an offense, admits to having been ejected for not giving up a bad view, admits to being a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>, admits to being a fake monk, admits to previously having left to join the monastics of another religion, admits to being an animal, admits to being a matricide, admits to being a patricide, admits to being a murderer of a perfected one, admits to having raped a nun, admits to having caused a schism in the Sangha, admits to having caused the Buddha to bleed, or admits to being a gynandromorph, it should be given to another, with the thought, ‘What belongs to the Sangha shouldn’t be allowed to deteriorate.’
Này các tỳ khưu, ở đây, tỳ khưu sau khi đã nhận công việc mới rồi hoàn tục, ... cho đến ... mệnh chung, tự nhận là sa-di, tự nhận là người đã bỏ học pháp, tự nhận là người đã phạm tội bất cộng trụ, tự nhận là người điên, tự nhận là người loạn trí, tự nhận là người bị cảm thọ áp bức, tự nhận là người bị treo giò vì không thấy tội, tự nhận là người bị treo giò vì không sửa trị tội, tự nhận là người bị treo giò vì không từ bỏ tà kiến, tự nhận là người ái nam ái nữ, tự nhận là người sống chung lén lút, tự nhận là người đã đi theo ngoại đạo, tự nhận là người thuộc loài bàng sanh, tự nhận là người giết mẹ, tự nhận là người giết cha, tự nhận là người giết A-la-hán, tự nhận là người làm hại tỳ khưu ni, tự nhận là người chia rẽ Tăng chúng, tự nhận là người làm chảy máu (thân) Như Lai, tự nhận là người có hai bộ phận sinh dục thì nên giao lại cho vị khác với suy nghĩ rằng: ‘Mong rằng Tăng chúng không bị tổn thất.’
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu navakammaṁ gahetvā vippakate pakkamati—mā saṅghassa hāyīti aññassa dātabbaṁ.
If a monk who’s taken on building work departs while it’s still unfinished, it should be given to another, with the thought, ‘What belongs to the Sangha shouldn’t be allowed to deteriorate.’
Này các tỳ khưu, ở đây, tỳ khưu sau khi đã nhận công việc mới, trong khi (công việc) chưa hoàn tất mà bỏ đi thì nên giao lại cho vị khác với suy nghĩ rằng: ‘Mong rằng Tăng chúng không bị tổn thất.’
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu navakammaṁ gahetvā vippakate vibbhamati …pe… ubhatobyañjanako paṭijānāti—mā saṅghassa hāyīti aññassa dātabbaṁ.
If a monk who’s taken on building work disrobes while it’s still unfinished … or admits to being a gynandromorph while it’s still unfinished, it should be given to another, with the thought, ‘What belongs to the Sangha shouldn’t be allowed to deteriorate.’
Này các tỳ khưu, ở đây, tỳ khưu sau khi đã nhận công việc mới, trong khi (công việc) chưa hoàn tất mà hoàn tục, ... cho đến ... tự nhận là người có hai bộ phận sinh dục thì nên giao lại cho vị khác với suy nghĩ rằng: ‘Mong rằng Tăng chúng không bị tổn thất.’
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu navakammaṁ gahetvā pariyosite pakkamati—tassevetaṁ.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu navakammaṁ gahetvā pariyosite vibbhamati …pe…
If a monk who’s taken on building work departs when it’s finished, then it’s still for him.
If a monk who’s taken on building work disrobes when it’s finished;
Này các tỳ khưu, ở đây, tỳ khưu sau khi đã nhận công việc mới, sau khi (công việc) đã hoàn tất mà bỏ đi thì vật ấy là của chính vị ấy.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu navakammaṁ gahetvā pariyosite ummattako paṭijānāti, khittacitto paṭijānāti, vedanāṭṭo paṭijānāti, āpattiyā adassane ukkhittako paṭijānāti, āpattiyā appaṭikamme ukkhittako paṭijānāti, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhittako paṭijānāti—tassevetaṁ.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu navakammaṁ gahetvā pariyosite paṇḍako paṭijānāti, theyyasaṁvāsako paṭijānāti, titthiyapakkantako paṭijānāti, tiracchānagato paṭijānāti, mātughātako paṭijānāti, pitughātako paṭijānāti, arahantaghātako paṭijānāti, bhikkhunidūsako paṭijānāti, saṅghabhedako paṭijānāti, lohituppādako paṭijānāti, ubhatobyañjanako paṭijānāti—
If a monk who’s taken on building work admits, when it’s finished, to being insane; admits, when it’s finished, to being deranged; admits, when it’s finished, to being overwhelmed by pain; admits, when it’s finished, to having been ejected for not recognizing an offense; admits, when it’s finished, to having been ejected for not making amends for an offense; or admits, when it’s finished, to having been ejected for not giving up a bad view—then it’s still for him.
If a monk who’s taken on building work admits, when it’s finished, to being a <i lang='pi' translate='no'>paṇḍaka</i>; admits, when it’s finished, to being a fake monk; admits, when it’s finished, to previously having left to join the monastics of another religion; admits, when it’s finished, to being an animal; admits, when it’s finished, to being a matricide; admits, when it’s finished, to being a patricide; admits, when it’s finished, to being a murderer of a perfected one; admits, when it’s finished, to having raped a nun; admits, when it’s finished, to having caused a schism in the Sangha; admits, when it’s finished, to having caused the Buddha to bleed; or admits, when it’s finished, to being a gynandromorph—
Này các tỳ khưu, ở đây, tỳ khưu sau khi đã nhận công việc mới, sau khi (công việc) đã hoàn tất mà hoàn tục, ... cho đến ... mệnh chung, tự nhận là sa-di, tự nhận là người đã bỏ học pháp, tự nhận là người đã phạm tội bất cộng trụ thì Tăng chúng là chủ sở hữu.
Này các tỳ khưu, ở đây, tỳ khưu sau khi đã nhận công việc mới, sau khi (công việc) đã hoàn tất mà tự nhận là người ái nam ái nữ, tự nhận là người sống chung lén lút, tự nhận là người đã đi theo ngoại đạo, tự nhận là người thuộc loài bàng sanh, tự nhận là người giết mẹ, tự nhận là người giết cha, tự nhận là người giết A-la-hán, tự nhận là người làm hại tỳ khưu ni, tự nhận là người chia rẽ Tăng chúng, tự nhận là người làm chảy máu (thân) Như Lai, tự nhận là người có hai bộ phận sinh dục thì Tăng chúng là chủ sở hữu.
3.4. Aññatraparibhogapaṭikkhepādi
22. The prohibition against using equipment where it doesn’t belong, etc.
Sự ngăn cấm về việc sử dụng ở nơi khác, v.v...
Tena kho pana samayena bhikkhū aññatarassa upāsakassa vihāraparibhogaṁ senāsanaṁ aññatra paribhuñjanti. Atha kho so upāsako ujjhāyati khiyyati vipāceti—“kathañhi nāma bhadantā aññatra paribhogaṁ aññatra paribhuñjissantī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, aññatra paribhogo aññatra paribhuñjitabbo. Yo paribhuñjeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time the monks used a certain lay follower’s equipment where it did not belong. That lay follower complained and criticized them, “How can the venerables use equipment where it doesn’t belong?” They told the Buddha.
“You shouldn’t use equipment where it doesn’t belong. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
324. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đã sử dụng sàng tọa, là vật dụng của trú xá của một nam cư sĩ nọ, ở một nơi khác. Khi ấy, nam cư sĩ ấy đã phàn nàn, chê bai, và nói xấu rằng: ‘Tại sao các ngài đại đức lại sử dụng vật dụng của một nơi ở một nơi khác chứ?’ (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, vật dụng của một nơi không được sử dụng ở một nơi khác. Vị nào sử dụng, vị ấy phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Tena kho pana samayena bhikkhū uposathaggampi sannisajjampi harituṁ kukkuccāyantā chamāya nisīdanti. Gattānipi cīvarānipi paṁsukitāni honti.
Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, tāvakālikaṁ haritun”ti.
Being afraid of wrongdoing, the monks did not bring anything to the observance-day hall or to meetings, and they sat down on the bare ground. They got dirty, as did their robes.
“I allow you to borrow.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu do có sự phân vân về việc mang (sàng tọa) đến nhà lễ Uposatha và đến nơi hội họp nên đã ngồi trên đất. Thân thể và y phục đã bị lấm bụi. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép mang đi trong chốc lát.
Tena kho pana samayena saṅghassa mahāvihāro undriyati. Bhikkhū kukkuccāyantā senāsanaṁ nātiharanti.
Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, guttatthāya haritun”ti.
At that time a large dwelling belonging to the Sangha was decaying. Being afraid of wrongdoing, the monks did not remove the furniture.
“I allow you to move it for the purpose of protection.”
Vào lúc bấy giờ, ngôi đại tự của Tăng chúng bị hư hỏng. Các tỳ khưu do có sự phân vân nên đã không di dời sàng tọa. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép di dời vì mục đích giữ gìn.
Tena kho pana samayena saṅghassa senāsanaparikkhāriko mahaggho kambalo uppanno hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, phātikammatthāya parivattetun”ti.
On one occasion the Sangha had been given a valuable, woolen furniture cloth.
“I allow you to do a beneficial trade.”
Vào lúc bấy giờ, một tấm mền len quý giá là vật dụng thuộc về trú xứ đã được phát sanh đến cho hội chúng. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép đổi chác vì mục đích làm cho tăng trưởng.”
Tena kho pana samayena saṅghassa senāsanaparikkhārikaṁ mahagghaṁ dussaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, phātikammatthāya parivattetun”ti.
On one occasion the Sangha was offered a valuable furniture cloth.
“I allow you to do a beneficial trade.”
Vào lúc bấy giờ, một tấm vải quý giá là vật dụng thuộc về trú xứ đã được phát sanh đến cho hội chúng. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép đổi chác vì mục đích làm cho tăng trưởng.”
Tena kho pana samayena saṅghassa acchacammaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pādapuñchaniṁ kātun”ti.
On one occasion the Sangha was offered a bear skin.
“I allow you to make it into a doormat.”
Vào lúc bấy giờ, một tấm da gấu đã được phát sanh đến cho hội chúng. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm tấm chùi chân.”
Tena kho pana samayena saṅghassa cakkalikaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pādapuñchaniṁ kātun”ti.
On one occasion the Sangha was offered a round pad.
“I allow you to make it into a doormat.”
Vào lúc bấy giờ, một tấm thảm tròn đã được phát sanh đến cho hội chúng. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm tấm chùi chân.”
Tena kho pana samayena saṅghassa coḷakaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pādapuñchaniṁ kātun”ti.
On one occasion the Sangha was offered a cloth.
“I allow you to make it into a doormat.”
Vào lúc bấy giờ, một miếng vải thô đã được phát sanh đến cho hội chúng. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm tấm chùi chân.”
Tena kho pana samayena bhikkhū adhotehi pādehi senāsanaṁ akkamanti. Senāsanaṁ dussati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, adhotehi pādehi senāsanaṁ akkamitabbaṁ. Yo akkameyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time there were monks who stepped into the dwellings with dirty feet. The dwellings got dirty.
“You shouldn’t step into a dwelling with dirty feet. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi lại trên sàng tọa với đôi chân chưa rửa. Sàng tọa bị dơ bẩn. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng:) “Này các tỳ khưu, không được đi lại trên sàng tọa với đôi chân chưa rửa. Vị nào đi lại, (vị ấy) phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena bhikkhū allehi pādehi senāsanaṁ akkamanti. Senāsanaṁ dussati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, allehi pādehi senāsanaṁ akkamitabbaṁ. Yo akkameyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time there were monks who stepped into the dwellings with wet feet. The dwellings got dirty.
“You shouldn’t step into a dwelling with wet feet. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi lại trên sàng tọa với đôi chân còn ướt. Sàng tọa bị dơ bẩn. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng:) “Này các tỳ khưu, không được đi lại trên sàng tọa với đôi chân còn ướt. Vị nào đi lại, (vị ấy) phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena bhikkhū saupāhanā senāsanaṁ akkamanti. Senāsanaṁ dussati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, saupāhanena senāsanaṁ akkamitabbaṁ. Yo akkameyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time there were monks who stepped into the dwellings with their sandals on. The dwellings got dirty.
“You shouldn’t step into a dwelling with your sandals on. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi lại trên sàng tọa trong khi đang mang giày dép. Sàng tọa bị dơ bẩn. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng:) “Này các tỳ khưu, không được đi lại trên sàng tọa trong khi đang mang giày dép. Vị nào đi lại, (vị ấy) phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena bhikkhū parikammakatāya bhūmiyā niṭṭhubhanti. Vaṇṇo dussati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, parikammakatāya bhūmiyā niṭṭhubhitabbaṁ. Yo niṭṭhubheyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, kheḷamallakan”ti.
At that time there were monks who spat on treated floors. The coloring was spoiled.
“You shouldn’t spit on treated floors. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow spittoons.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu khạc nhổ trên nền đất đã được sửa soạn. Vẻ mỹ quan bị hư hoại. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng:) “Này các tỳ khưu, không được khạc nhổ trên nền đất đã được sửa soạn. Vị nào khạc nhổ, (vị ấy) phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép ống nhổ.”
Tena kho pana samayena mañcapādāpi pīṭhapādāpi parikammakataṁ bhūmiṁ vilikhanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, coḷakena paliveṭhetun”ti.
At that time the legs of the beds and benches scratched the treated floors. The coloring was spoiled.
“You should wrap the legs in cloth.”
Vào lúc bấy giờ, các chân giường và cả chân ghế đã làm trầy xước nền đất đã được sửa soạn. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng miếng vải thô để quấn (chân giường, chân ghế).”
Tena kho pana samayena bhikkhū parikammakataṁ bhittiṁ apassenti. Vaṇṇo dussati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, parikammakatā bhitti apassetabbā. Yo apasseyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, apassenaphalakan”ti.
Apassenaphalakaṁ heṭṭhato bhūmiṁ vilikhati, uparito bhittiñca. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, heṭṭhato ca uparito ca coḷakena paliveṭhetun”ti.
At that time there were monks who leaned on treated walls. The coloring was spoiled.
“You shouldn’t lean on treated walls. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow leaning boards.”
The lower edge of the leaning boards scratched the floor and the upper edge scratched the wall.
“You should wrap the lower and upper edges in cloth.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu tựa vào vách tường đã được sửa soạn. Vẻ mỹ quan bị hư hoại. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng:) “Này các tỳ khưu, không được tựa vào vách tường đã được sửa soạn. Vị nào tựa vào, (vị ấy) phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép tấm ván để tựa.” Tấm ván để tựa làm trầy xước nền đất ở bên dưới và cả vách tường ở bên trên. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng miếng vải thô để quấn ở bên dưới và ở bên trên.”
Tena kho pana samayena bhikkhū dhotapādakā nipajjituṁ kukkuccāyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, paccattharitvā nipajjitun”ti.
Being afraid of wrongdoing, the monks did not lie down with washed feet.
“You should spread a sheet and then lie down.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu có chân đã được rửa sạch áy náy về việc nằm xuống. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép trải (vật gì đó) rồi nằm xuống.”
3.5. Saṅghabhattādianujānana
23. The allowance for meals for the Sangha, etc.
Sự cho phép về các bữa ăn của hội chúng, v.v...
Atha kho bhagavā āḷaviyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena rājagahaṁ tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena rājagahaṁ tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena rājagahaṁ dubbhikkhaṁ hoti. Manussā na sakkonti saṅghabhattaṁ kātuṁ; icchanti uddesabhattaṁ nimantanaṁ salākabhattaṁ pakkhikaṁ uposathikaṁ pāṭipadikaṁ kātuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, saṅghabhattaṁ uddesabhattaṁ nimantanaṁ salākabhattaṁ pakkhikaṁ uposathikaṁ pāṭipadikan”ti.
When the Buddha had stayed at Āḷavī for as long as he liked, he set out wandering toward Rājagaha. When he eventually arrived, he stayed in the Bamboo Grove, the squirrel sanctuary.
At that time Rājagaha was short of food and people were unable to make meals for the whole Sangha. Instead they wished to make meals for designated monks, invitational meals, meals for which lots are drawn, half-monthly meals, meals on the observance day, and meals on the day after the observance day.
“I allow meals for the Sangha, meals for designated monks, invitational meals, meals for which lots are drawn, half-monthly meals, meals on the observance days, and meals on the day after the observance days.”
325. Khi ấy, sau khi đã trú ngụ ở Āḷavī tùy theo ý thích, đức Thế Tôn đã lên đường du hành đến nơi có thành Rājagaha. Trong khi du hành tuần tự, ngài đã đi đến nơi có thành Rājagaha. Tại đấy, đức Thế Tôn trú ở tu viện Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc, tại thành Rājagaha. Vào lúc bấy giờ, thành Rājagaha bị nạn đói. Dân chúng không thể làm các bữa ăn cho hội chúng; họ muốn làm bữa ăn chỉ định, bữa ăn mời thỉnh, bữa ăn theo thẻ thăm, (bữa ăn) mỗi nửa tháng, (bữa ăn) vào ngày lễ uposatha, (bữa ăn) vào ngày mồng một. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép bữa ăn cho hội chúng, bữa ăn chỉ định, bữa ăn mời thỉnh, bữa ăn theo thẻ thăm, (bữa ăn) mỗi nửa tháng, (bữa ăn) vào ngày lễ uposatha, (bữa ăn) vào ngày mồng một.”
3.6. Bhattuddesakasammuti
24. The appointment of a designator of meals
Sự chỉ định vị phân phối các bữa ăn
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū attano varabhattāni gahetvā lāmakāni bhattāni bhikkhūnaṁ denti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgataṁ bhikkhuṁ bhattuddesakaṁ sammannituṁ—yo na chandāgatiṁ gaccheyya, na dosāgatiṁ gaccheyya, na mohāgatiṁ gaccheyya, na bhayāgatiṁ gaccheyya, uddiṭṭhānuddiṭṭhañca jāneyya. Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbo. Paṭhamaṁ bhikkhu yācitabbo, yācitvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
At that time the monks from the group of six took the best meals for themselves and gave the inferior ones to the other monks. They told the Buddha.
“You should appoint a monk who has five qualities as the designator of meals: he’s not biased by favoritism, ill will, confusion, or fear, and he knows what has and has not been designated. And he should be appointed like this. First a monk should be asked, and then a competent and capable monk should inform the Sangha:
326. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sau khi đã lấy các bữa ăn ngon cho chính mình đã dâng các bữa ăn tồi tệ đến các tỳ khưu. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán rằng:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép chỉ định vị tỳ khưu phân phối các bữa ăn là người hội đủ năm yếu tố: vị nào không đi theo đường lối sai lạc vì tham dục, không đi theo đường lối sai lạc vì sân hận, không đi theo đường lối sai lạc vì si mê, không đi theo đường lối sai lạc vì sợ hãi, và biết được (bữa ăn) đã được chỉ định và chưa được chỉ định. Và này các tỳ khưu, vị ấy nên được chỉ định như vầy: Trước tiên, vị tỳ khưu nên được yêu cầu. Sau khi đã yêu cầu, hội chúng nên được một vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực cho biết rằng: –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ bhattuddesakaṁ sammanneyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should appoint monk so-and-so as the designator of meals. This is the motion.
“Bạch chư Tôn đức, mong hội chúng hãy nghe con. Nếu đã đến thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng hãy chỉ định vị tỳ khưu tên là... làm vị phân phối các bữa ăn. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ bhattuddesakaṁ sammannati. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno bhattuddesakassa sammuti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha appoints monk so-and-so as the designator of meals. Any monk who approves of appointing monk so-and-so as the designator of meals should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Bạch chư Tôn đức, mong hội chúng hãy nghe con. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên là... làm vị phân phối các bữa ăn. Vị trưởng lão nào chấp thuận sự chỉ định vị tỳ khưu tên là... làm vị phân phối các bữa ăn thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.”
Sammato saṅghena itthannāmo bhikkhu bhattuddesako. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has appointed monk so-and-so as the designator of meals. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Vị tỳ khưu tên là... đã được hội chúng chỉ định làm vị phân phối các bữa ăn. Hội chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Atha kho bhattuddesakānaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“kathaṁ nu kho bhattaṁ uddisitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, salākāya vā paṭṭikāya vā upanibandhitvā opuñjitvā bhattaṁ uddisitun”ti.
The monks who were designators of meals thought, “How should we designate the meals?”
“You should mark tickets, make a heap of them, and then designate the meals.”
Bấy giờ, các vị tỳ khưu chỉ định vật thực đã khởi lên suy nghĩ này: “Vật thực nên được chỉ định như thế nào đây?” (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép chỉ định vật thực bằng cách ghi vào thẻ tre hoặc thẻ lá rồi trộn lẫn lên.”
3.7. Senāsanapaññāpakādisammuti
25. The appointment of an assigner of dwellings, etc.
Sự chỉ định vị sắp đặt chỗ ở, v.v...
Tena kho pana samayena saṅghassa senāsanapaññāpako na hoti …pe… bhaṇḍāgāriko na hoti …pe… cīvarappaṭiggāhako na hoti …pe… cīvarabhājako na hoti …pe… yāgubhājako na hoti …pe… phalabhājako na hoti …pe… khajjakabhājako na hoti. Khajjakaṁ abhājiyamānaṁ nassati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgataṁ bhikkhuṁ khajjakabhājakaṁ sammannituṁ—yo na chandāgatiṁ gaccheyya, na dosāgatiṁ gaccheyya, na mohāgatiṁ gaccheyya, na bhayāgatiṁ gaccheyya, bhājitābhājitañca jāneyya. Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbo. Paṭhamaṁ bhikkhu yācitabbo, yācitvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
At that time there was no assigner of dwellings … no storeman … no receiver of robe-cloth … no distributor of robe-cloth … no distributor of congee … no distributor of fruit … no distributor of fresh food. Because it was not distributed, the fresh food perished.
“You should appoint a monk who has five qualities as the distributor of fresh food: he’s not biased by favoritism, ill will, confusion, or fear, and he knows what has and has not been distributed. And he should be appointed like this. First a monk should be asked, and then a competent and capable monk should inform the Sangha:
327. 327. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, hội chúng không có vị tỳ khưu sắp đặt chỗ ở ... không có vị quản lý kho ... không có vị nhận y ... không có vị phân phát y ... không có vị phân phát cháo ... không có vị phân phát trái cây ... không có vị phân phát vật thực cứng. Vật thực cứng không được phân phát nên bị hư hỏng. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép chỉ định vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố làm người phân phát vật thực cứng: là người không đi theo thiên vị do tham muốn, không đi theo thiên vị do sân hận, không đi theo thiên vị do si mê, không đi theo thiên vị do sợ hãi, và biết được (vật) đã phân phát và chưa phân phát. Này các tỳ khưu, và nên chỉ định như vầy: Trước tiên, nên thỉnh cầu vị tỳ khưu. Sau khi thỉnh cầu, vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên tác bạch cho hội chúng được biết –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ khajjakabhājakaṁ sammanneyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should appoint monk so-and-so as the distributor of fresh food. This is the motion.
“Bạch chư Đại đức, mong hội chúng lắng nghe con. Nếu hội chúng đã đến thời điểm thích hợp, hội chúng nên chỉ định tỳ khưu tên là ... làm người phân phát vật thực cứng. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ khajjakabhājakaṁ sammannati. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno khajjakabhājakassa sammuti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha appoints monk so-and-so as the distributor of fresh food. Any monk who approves of appointing monk so-and-so as the distributor of fresh food should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Bạch chư Đại đức, mong hội chúng lắng nghe con. Hội chúng chỉ định tỳ khưu tên là ... làm người phân phát vật thực cứng. Sự chỉ định tỳ khưu tên là ... làm người phân phát vật thực cứng này, vị nào chấp thuận thì nên im lặng; vị nào không chấp thuận thì nên nói lên.”
Sammato saṅghena itthannāmo bhikkhu khajjakabhājako. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has appointed monk so-and-so as the distributor of fresh food. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Tỳ khưu tên là ... đã được hội chúng chỉ định làm người phân phát vật thực cứng. Hội chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con ghi nhận sự việc này là như vậy.”
3.8. Appamattakavissajjakasammuti
26. The appointment of a distributor of minor requisites
Sự chỉ định vị phân phát vật dụng nhỏ nhặt.
Tena kho pana samayena saṅghassa bhaṇḍāgāre appamattako parikkhāro uppanno hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgataṁ bhikkhuṁ appamattakavissajjakaṁ sammannituṁ—yo na chandāgatiṁ gaccheyya, na dosāgatiṁ gaccheyya, na mohāgatiṁ gaccheyya, na bhayāgatiṁ gaccheyya, vissajjitāvissajjitañca jāneyya. Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbo. Paṭhamaṁ bhikkhu yācitabbo, yācitvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
At that time there were minor requisites in the storeroom. They told the Buddha.
“You should appoint a monk who has five qualities as the distributor of minor requisites: he’s not biased by favoritism, ill will, confusion, or fear, and he knows what has and has not been distributed. And he should be appointed like this. First a monk should be asked, and then a competent and capable monk should inform the Sangha:
328. 328. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, một số vật dụng nhỏ nhặt đã phát sanh trong kho của hội chúng. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép chỉ định vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố làm người phân phát vật dụng nhỏ nhặt: là người không đi theo thiên vị do tham muốn, không đi theo thiên vị do sân hận, không đi theo thiên vị do si mê, không đi theo thiên vị do sợ hãi, và biết được (vật) đã phân phát và chưa phân phát. Này các tỳ khưu, và nên chỉ định như vầy: Trước tiên, nên thỉnh cầu vị tỳ khưu. Sau khi thỉnh cầu, vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên tác bạch cho hội chúng được biết –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ appamattakavissajjakaṁ sammanneyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should appoint monk so-and-so as the distributor of minor requisites. This is the motion.
“Bạch chư Đại đức, mong hội chúng lắng nghe con. Nếu hội chúng đã đến thời điểm thích hợp, hội chúng nên chỉ định tỳ khưu tên là ... làm người phân phát vật dụng nhỏ nhặt. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ appamattakavissajjakaṁ sammannati. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno appamattakavissajjakassa sammuti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha appoints monk so-and-so as the distributor of minor requisites. Any monk who approves of appointing monk so-and-so as the distributor of minor requisites should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Bạch chư Đại đức, mong hội chúng lắng nghe con. Hội chúng chỉ định tỳ khưu tên là ... làm người phân phát vật dụng nhỏ nhặt. Sự chỉ định tỳ khưu tên là ... làm người phân phát vật dụng nhỏ nhặt này, vị nào chấp thuận thì nên im lặng; vị nào không chấp thuận thì nên nói lên.”
Sammato saṅghena itthannāmo bhikkhu appamattakavissajjako. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has appointed monk so-and-so as the distributor of minor requisites. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Tỳ khưu tên là ... đã được hội chúng chỉ định làm người phân phát vật dụng nhỏ nhặt. Hội chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Tena appamattakavissajjakena bhikkhunā ekā sūci dātabbā, satthakaṁ dātabbaṁ, upāhanā dātabbā, kāyabandhanaṁ dātabbaṁ, aṁsabaddhako dātabbo, parissāvanaṁ dātabbaṁ, dhammakaraṇo dātabbo, kusi dātabbā, aḍḍhakusi dātabbā, maṇḍalaṁ dātabbaṁ, aḍḍhamaṇḍalaṁ dātabbaṁ, anuvāto dātabbo, paribhaṇḍaṁ dātabbaṁ.
Sace hoti saṅghassa sappi vā telaṁ vā madhu vā phāṇitaṁ vā, sakiṁ paṭisāyituṁ dātabbaṁ. Sace punapi attho hoti, punapi dātabbaṁ.
The monk who is the distributor of minor requisites should give things out one by one: needles, knives, sandals, belts, shoulder straps, water filters, and water strainers, and also robe material for long inter-panel strips, for short inter-panel strips, for large panels, for medium-sized panels, for lengthwise borders, and for crosswise borders.
If the Sangha has ghee, oil, honey, or syrup, he should give it out for a single use. If it is needed again, he should give it out again.
Vị tỳ khưu phân phát vật dụng nhỏ nhặt ấy nên cấp một cây kim, nên cấp một con dao nhỏ, nên cấp đôi dép, nên cấp một dây thắt lưng, nên cấp một dây đeo vai, nên cấp một túi lọc nước, nên cấp một cái lọc nước dhammakaraṇa, nên cấp một miếng viền dài, nên cấp một miếng viền ngắn, nên cấp một miếng vải tròn, nên cấp một miếng vải nửa vòng tròn, nên cấp một miếng viền dọc, nên cấp một miếng viền ngang. Nếu hội chúng có bơ, hoặc dầu, hoặc mật ong, hoặc đường phèn, nên cấp cho dùng một lần. Nếu lại có nhu cầu, nên cấp thêm lần nữa.
3.9. Sāṭiyaggāhāpakādisammuti
27. The appointment of a distributor of rainy-season bathing cloths, etc.
Sự chỉ định vị cấp phát y tắm mưa, v.v...
Tena kho pana samayena saṅghassa sāṭiyaggāhāpako na hoti …pe… pattaggāhāpako na hoti …pe… ārāmikapesako na hoti …pe… sāmaṇerapesako na hoti. Sāmaṇerā apesiyamānā kammaṁ na karonti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgataṁ bhikkhuṁ sāmaṇerapesakaṁ sammannituṁ—yo na chandāgatiṁ gaccheyya, na dosāgatiṁ gaccheyya, na mohāgatiṁ gaccheyya, na bhayāgatiṁ gaccheyya, pesitāpesitañca jāneyya. Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbo. Paṭhamaṁ bhikkhu yācitabbo, yācitvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
At that time there was no distributor of rainy-season bathing cloths … no distributor of almsbowls … no supervisor of monastery workers … no supervisor of novice monks. Not being supervised, the novice monks didn’t do their work.
“You should appoint a monk who has five qualities as the supervisor of novice monks: he’s not biased by favoritism, ill will, confusion, or fear, and he knows who is and isn’t supervised. And he should be appointed like this. First a monk should be asked, and then a competent and capable monk should inform the Sangha:
329. 329. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, hội chúng không có vị cấp phát y tắm mưa ... không có vị cấp phát bát ... không có vị sai bảo người phục vụ tự viện ... không có vị sai bảo sa-di. Các vị sa-di không được sai bảo nên không làm công việc. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép chỉ định vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố làm người sai bảo sa-di: là người không đi theo thiên vị do tham muốn, không đi theo thiên vị do sân hận, không đi theo thiên vị do si mê, không đi theo thiên vị do sợ hãi, và biết được (người) đã được sai bảo và chưa được sai bảo. Này các tỳ khưu, và nên chỉ định như vầy: Trước tiên, nên thỉnh cầu vị tỳ khưu. Sau khi thỉnh cầu, vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên tác bạch cho hội chúng được biết –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ sāmaṇerapesakaṁ sammanneyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should appoint monk so-and-so as the supervisor of novice monks. This is the motion.
“Bạch chư Đại đức, mong hội chúng lắng nghe con. Nếu hội chúng đã đến thời điểm thích hợp, hội chúng nên chỉ định tỳ khưu tên là ... làm người sai bảo sa-di. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ sāmaṇerapesakaṁ sammannati. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno sāmaṇerapesakassa sammuti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha appoints monk so-and-so as the supervisor of novice monks. Any monk who approves of appointing monk so-and-so as the supervisor of novice monks should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Bạch chư Đại đức, mong hội chúng lắng nghe con. Hội chúng chỉ định tỳ khưu tên là ... làm người sai bảo sa-di. Sự chỉ định tỳ khưu tên là ... làm người sai bảo sa-di này, vị nào chấp thuận thì nên im lặng; vị nào không chấp thuận thì nên nói lên.”
Sammato saṅghena itthannāmo bhikkhu sāmaṇerapesako. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has appointed monk so-and-so as the supervisor of novice monks. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Tỳ khưu tên là ... đã được hội chúng chỉ định làm người sai bảo sa-di. Hội chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Tatiyabhāṇavāro niṭṭhito.
The third section for recitation is finished.
Dứt chương tụng thứ ba.
Senāsanakkhandhako chaṭṭho.
Tassuddānaṁ
The sixth chapter on resting places is finished.
This is the summary:
Chương về Chỗ ở, thứ sáu.
Vihāraṁ buddhaseṭṭhena, apaññattaṁ tadā ahu; Tahaṁ tahaṁ nikkhamanti, vāsā te jinasāvakā.
“Dwellings by the excellent Buddha, Had then not been allowed; The disciples of the Victor emerged, From their resting places here and there.
Bậc Tối Thắng, đức Phật, khi ấy chưa chế định (về) trú xá; các vị đệ tử của Đấng Chiến Thắng ấy đã ở nơi này nơi kia, rồi rời khỏi các nơi ở ấy.
Seṭṭhī gahapati disvā, bhikkhūnaṁ idamabravi; Kārāpeyyaṁ vaseyyātha, paṭipucchiṁsu nāyakaṁ.
The wealthy merchant having seen this, Said this to the monks; If I make, will you dwell, They asked the Leader.
Vị trưởng giả gia chủ sau khi thấy đã nói điều này với các tỳ khưu: “(Nếu con) cho xây cất, (các ngài) có ở không?” (Các vị ấy) đã bạch hỏi lại bậc Lãnh Đạo.
Vihāraṁ aḍḍhayogañca, pāsādaṁ hammiyaṁ guhaṁ; Pañcaleṇaṁ anuññāsi, vihāre seṭṭhi kārayi.
Dwellings, and stilt houses, Of three kinds, caves; He allowed five kinds of shelters, The merchant had dwellings made.
(Ngài) đã cho phép năm loại trú xứ: tịnh xá (vihāra), nhà nóc cong một mái (aḍḍhayoga), lầu đài (pāsāda), nhà có sân thượng (hammiya), và hang động (guha). Vị trưởng giả đã cho xây dựng các tịnh xá.
Jano vihāraṁ kāreti, akavāṭaṁ asaṁvutaṁ; Kavāṭaṁ piṭṭhasaṅghāṭaṁ, udukkhalañca uttari.
People had dwellings made, Without door it was unguarded; Door, door frame, And hinge below, above.
Dân chúng cho xây dựng tịnh xá không có cánh cửa, không được che chắn. (Ngài đã cho phép) cánh cửa, khung cửa, cối cửa, và vòng cửa trên.
Āviñchanacchiddaṁ rajjuṁ, vaṭṭiñca kapisīsakaṁ; Sūcighaṭitāḷacchiddaṁ, lohakaṭṭhavisāṇakaṁ.
Hole for pulling, rope, And door jamb, bolt socket; Bolt, latch, keyhole, Metal, wood, horn.
Lỗ để kéo, dây kéo, thanh chốt, móc cửa hình đầu khỉ, lỗ khóa và chìa khóa, chìa khóa bằng kim loại, bằng gỗ, hoặc bằng sừng.
Yantakaṁ sūcikañceva, chadanaṁ ullittāvalittaṁ; Vedijālasalākañca, cakkali santharena ca.
<i lang='pi' translate='no'>Yantaka</i>-bolts, and just bolts, Roof, plaster inside and outside; Railing, lattice, and bars, Cloth covers, and with a mat.
(Ngài đã cho phép) máy móc, chốt cửa, mái che, việc trát vữa bên trong và bên ngoài, lan can, cửa sổ lưới, cửa sổ chấn song, tấm chùi chân hình tròn, và cả tấm trải bằng cỏ.
Miḍḍhi bidalamañcañca, sosānikamasārako; Bundikuḷirapādañca, āhaccāsandi uccake.
Bench, and wicker bed, Charnel ground, <i lang='pi' translate='no'>masāraka</i>; <i lang='pi' translate='no'>Bundi</i>, and having crooked legs; Detachable, square bench, about a tall one.
Việc trát đất sét, giường đan bằng tre nứa, giường từ nghĩa địa có chân tháo rời, ghế có lưng dựa, ghế chân cong, ghế có chân lắp vào được, ghế dài, và ghế cao.
Sattaṅgo ca bhaddapīṭhaṁ, pīṭhakeḷakapādakaṁ; Āmalāphalakā kocchā, palālapīṭhameva ca.
And sofa, cane bench, Small bench with cloth, ram-like legs; Many legs, plank, stools, And just a bench of straw.
Ghế bảy phần, ghế bện, ghế bọc vải, ghế có chân hình chân dê, ghế hình quả amla, ghế ván, ghế dựa, và ghế rơm.
Uccāhipaṭipādakā, aṭṭhaṅguli ca pādakā; Suttaṁ aṭṭhapadaṁ coḷaṁ, tūlikaṁ aḍḍhakāyikaṁ.
High, snake, supports, And supports of eight fingerbreadths; String, cross weaving, cloth, Cotton-down quilt, half the size of the body.
Giường cao, (tỳ khưu bị) rắn (cắn), chân giường phụ, chân giường dài tám ngón tay, chỉ, (vải) hình bàn cờ, vải thô, nệm gòn, và gối dài nửa thân người.
Giraggo bhisiyo cāpi, dussaṁ senāsanampi ca; Onaddhaṁ heṭṭhā patati, uppāṭetvā haranti ca.
Hilltop fair, and also mattresses, And also furniture cloth; Upholstered, sank down, And removed and taken away.
Lễ hội trên đỉnh núi, nệm ngồi, và cả tấm vải lót chỗ ở; (vải) được buộc, rơi xuống dưới, và (người ta) tháo ra rồi lấy đi.
Bhattiñca hatthabhattiñca, anuññāsi tathāgato; Titthiyā vihāre cāpi, thusaṁ saṇhañca mattikā.
Multi-colored lines, and multi-colored lines by hand, Was allowed by the Buddha; And also in the dwellings of monastics of other religions, Husk, and soft clay.
Đức Như Lai đã cho phép việc trang trí và trang trí bằng hình bàn tay; cũng như (việc sử dụng) đất sét mịn và đất sét trộn trấu trong tịnh xá của ngoại đạo và (tịnh xá của) các tỳ khưu.
Ikkāsaṁ pāṇikaṁ kuṇḍaṁ, sāsapaṁ sitthatelakaṁ; Ussanne paccuddharituṁ, pharusaṁ gaṇḍumattikaṁ.
Sap, trowel, bran, Mustard seed, beeswax; To wipe off when thick, Rough, excreted clay.
(Ngài đã cho phép) dùng nhựa cây, cái bay, đất trộn cám, đất trộn bột cải và dầu sáp; khi (lớp trát) quá dày, được phép cạo bỏ bớt; (cũng như dùng) đất thô và đất giun.
Ikkāsaṁ paṭibhānañca, nīcā cayo ca āruhaṁ; Paripatanti āḷakā, aḍḍhakuṭṭaṁ tayo puna.
Sap, and picture, Low, and mound, getting up; They fell down, accessible to the public, A half wall, again three.
Nhựa cây, tranh vẽ, giường thấp, giường (thường), tỳ khưu leo lên bị té ngã, (nơi ở) đông đúc, tường lửng, và lại có ba (loại phòng).
Khuddake kuṭṭapādo ca, ovassati saraṁ khilaṁ; Cīvaravaṁsaṁ rajjuñca, āḷindaṁ kiṭikena ca.
A small one, and base of a wall, Rains through, scream, peg; Bamboo robe rack, and line, Porch, and with a screen.
Trong tịnh xá nhỏ, chân tường bị mưa tạt, tiếng ồn ào, cọc đóng tường, sào phơi y, dây phơi y, và hiên nhà có cửa sổ.
Ālambanaṁ tiṇacuṇṇaṁ, heṭṭhāmagge nayaṁ kare; Ajjhokāse otappati, sālaṁ heṭṭhā ca bhājanaṁ.
Rails, grass and dust, The method should be applied in the above way; Outside, it became warm, Shed, and as above, vessel.
Tay vịn, bột cỏ, nên làm theo phương pháp đã nêu trước; ở ngoài trời bị nắng nóng, nhà để nước, (nên làm theo) cách đã nêu trước, và đồ đựng (nước).
Vihāro koṭṭhako ceva, pariveṇaggisālakaṁ; Ārāme ca puna koṭṭhe, heṭṭhaññeva nayaṁ kare.
Dwelling, and just a gatehouse, Yard, water-boiling shed; And about a monastery, again about a gatehouse, The same method should be applied as above.
Tịnh xá, nhà cổng, sân trong, nhà lửa; và trong khuôn viên, lại có nhà cổng, nên làm theo phương pháp đã nêu trước.
Sudhaṁ anāthapiṇḍi ca, saddho sītavanaṁ agā; Diṭṭhadhammo nimantesi, saha saṅghena nāyakaṁ.
Plaster, and Anāthapiṇḍika, Faith, went to Cool Grove; Having seen the Truth, he invited, The Leader together with the Sangha.
Lầu đài trát vữa, và trưởng giả Anāthapiṇḍika, người có đức tin, đã đi đến rừng Sītavana; người đã thấy Pháp đã thỉnh mời bậc Lãnh Đạo cùng với Tăng chúng.
Āṇāpesantarāmagge, ārāmaṁ kārayī gaṇo; Vesāliyaṁ navakammaṁ, purato ca pariggahi.
On his way he told, The group built a monastery; Building work in Vesālī, And ahead possession was taken.
(Vị ấy) đã ra lệnh trên đường đi, đoàn người đã cho xây dựng ngôi tịnh viên; ở Vesālī, công việc xây dựng mới cũng đã được chấp thuận từ trước.
Ko arahati bhattagge, tittirañca avandiyā; Pariggahitantaragharā, tūlo sāvatthi osari.
Who deserves in the dining hall, And partridge, not to be paid respect; Took possession, inhabited areas, Cotton down, he entered Sāvatthī.
Ai là người xứng đáng trong nhà ăn, (câu chuyện về) chim đa đa, những người không đáng được đảnh lễ; (vật dụng) đã được nhận ở trong làng, nệm gòn, (vị ấy) đã đến Sāvatthī.
Patiṭṭhāpesi ārāmaṁ, bhattagge ca kolāhalaṁ; Gilānā varaseyyā ca, lesā sattarasā tahiṁ.
He dedicated the monastery, And an uproar in the dining hall; The sick, and the best beds, Pretext, seventeen there,
(Vị ấy) đã thiết lập tịnh viên, và có sự huyên náo trong nhà ăn; các tỳ khưu bệnh, chỗ ở tốt đẹp, và nhóm mười bảy vị ở đó đã dùng mưu mẹo.
Kena nu kho kathaṁ nu kho, vihāraggena bhājayi; Pariveṇaṁ anubhāgañca, akāmā bhāgaṁ no dade.
Who, how, One was allocated to each dwelling; Yard, and an additional share, Unwillingly a share should not be given.
Do ai và bằng cách nào, (chỗ ở) đã được phân chia theo phần tịnh xá; sân trong và phần phụ, nếu không muốn thì không nên chia phần.
Nissīmaṁ sabbakālañca, gāhā senāsane tayo; Upanando ca vaṇṇesi, ṭhitakā samakāsanā.
Outside the zone, and at all times, Three allocations of dwellings; And Upananda, he praised, Standing, a similar seat.
Ngoài ranh giới, vào mọi lúc, có ba cách nhận chỗ ở; và Upananda đã tán dương, các tỳ khưu đang đứng, các tỳ khưu có cùng chỗ ở.
Samānāsanikā bhindiṁsu, tivaggā ca duvaggikaṁ; Asamānāsanikā dīghaṁ, sāḷindaṁ paribhuñjituṁ.
Those entitled to the same seats, they broke, And a group of three, group of two; Not entitled to the same seat, long, Including a porch, to use.
Các tỳ khưu có cùng chỗ ở đã phá hỏng (chỗ ở của) nhóm hai vị; nhóm ba vị, các tỳ khưu không có cùng chỗ ở, (được phép) sử dụng chỗ ngồi dài và có hiên nhà.
Ayyikā ca avidūre, bhājitañca kīṭāgire; Āḷavī piṇḍakakuṭṭehi, dvāraaggaḷavaṭṭikā.
And grandmother, not far, And distributed, in Kīṭāgiri; Āḷavī, fill, with walls, Door, door jamb.
Bà ngoại ở không xa, (chỗ ở) đã được phân chia ở Kīṭāgiri; các tỳ khưu ở Āḷavī (trang trí) bằng các hình vòng hoa và trát tường, (lắp) cửa, then cài, và thanh chốt.
Ālokasetakāḷañca, geruchādanabandhanā; Bhaṇḍikhaṇḍaparibhaṇḍaṁ, vīsa tiṁsā ca kālikā.
Window, white, and black, Red ocher, roof, fastening; Cornice, defective, plastering the floor, Twenty, and thirty, for life.
Cửa sổ được quét vôi trắng và sơn đen, dùng đất son, lợp mái, và buộc lại; giá để đồ, sửa chữa đồ hư hỏng, và trát lại; (cho ở) hai mươi, ba mươi (năm), và cho ở tạm thời.
Osite akataṁ vippaṁ, khudde chappañcavassikaṁ; Aḍḍhayoge ca sattaṭṭha, mahalle dasa dvādasa.
When inhabited, not started, unfinished, Five or six years in a small one; And seven or eight in a small stilt house, Ten or twelve in a large one.
(Chỗ ở) đã hoàn thành, chưa hoàn thành, và đang dở dang; trong tịnh xá nhỏ là năm hoặc sáu năm; trong nhà một mái là bảy hoặc tám (năm); trong (tịnh xá) lớn là mười hoặc mười hai (năm).
Sabbaṁ vihāraṁ ekassa, aññaṁ vāsenti saṅghikaṁ; Nissīmaṁ sabbakālañca, pakkami vibbhamanti ca.
All dwellings to one, Had someone else stay, belonging to the Sangha; Outside the zone, and at all times, Left, and disrobed.
Toàn bộ tịnh xá (được giao) cho một vị, họ cho vị khác ở, (dù đó là) của Tăng chúng; ngoài ranh giới, vào mọi lúc, (vị ấy) đã bỏ đi, và (những vị khác) đã hoàn tục.
Kālañca sāmaṇerañca, sikkhāpaccakkhaantimaṁ; Ummattakhittacittā ca, vedanāpattidassanā.
And died, and novice monk, Renounced the training, the worst; Insane, and deranged, Pain, not recognizing an offense.
(Vị ấy) đã chết, là sa-di, đã từ bỏ giới học, đã phạm tội tột cùng; bị điên, tâm trí tán loạn, bị đau đớn hành hạ, và không thấy tội của mình.
Appaṭikammadiṭṭhiyā, paṇḍakā theyyatitthiyā; Tiracchānamātupitu, arahantā ca dūsakā.
Not making amends, of a view, <i lang='pi' translate='no'>Paṇḍakā</i>, fake, monastics of another religion; Animal, mother, father, And perfected ones, rapists.
Không sửa chữa (tội lỗi), (không từ bỏ) tà kiến, là người ái nam ái nữ, kẻ trộm (gia nhập Tăng đoàn), và người theo ngoại đạo; là loài vật, kẻ giết mẹ, giết cha, giết A-la-hán, và kẻ làm hại tỳ khưu ni.
Bhedakā lohituppādā, ubhato cāpi byañjanakā; Mā saṅghassa parihāyi, kammaṁ aññassa dātave.
Schismatics, those who cause the Buddha to bleed, And also gynandromorphs; Let not the belongings of the Sangha deteriorate. The work should be given to another.
Kẻ gây chia rẽ, kẻ làm chảy máu (Phật), và người có cả hai giới tính; suy nghĩ rằng: "Mong rằng (công việc) của Tăng chúng không bị tổn thất," (Ngài) đã cho phép giao công việc cho vị khác.
Vippakate ca aññassa, kate tasseva pakkame; Vibbhamati kālaṅkato, sāmaṇero ca jāyati.
And when unfinished to another, When finished it’s just for him should he depart; He disrobes, dies, And becomes a novice.
Khi (công việc) đang dở dang, (nên giao) cho vị khác; khi đã hoàn thành, (nó thuộc) về chính vị ấy. (Nếu vị ấy) bỏ đi, hoàn tục, qua đời, hoặc trở thành sa-di.
Paccakkhāto ca sikkhāya, antimajjhāpannako yadi; Saṅghova sāmiko hoti, ummattakhittavedanā.
And renounces the training, If he has committed the worst; Just the Sangha is the owner, Insane, deranged, pain.
Nếu (vị ấy) từ bỏ giới học, phạm tội tột cùng, hoặc là người ái nam ái nữ; Tăng chúng là người sở hữu. (Trường hợp) bị điên, tâm trí tán loạn, và bị đau đớn.
Adassanāppaṭikamme, diṭṭhi tasseva hoti taṁ; Paṇḍako theyyatitthī ca, tiracchānamātupettikaṁ.
Not recognizing, not making amends, He has just that view; <i lang='pi' translate='no'>Paṇḍaka</i>, fake, and monastic of another religion, Animal, mother, paternal.
Do không thấy, không sửa trị, và tà kiến, trú xứ ấy thuộc về vị ấy. Người ái nam ái nữ, kẻ trộm (danh vị tỳ-khưu), người theo ngoại đạo, loài bàng sanh, kẻ giết mẹ, giết cha.
Ghātako dūsako cāpi, bhedalohitabyañjanā; Paṭijānāti yadi so, saṅghova hoti sāmiko.
A murderer, and also a rapist, Schismatic, blood, gynandromorph; If he admits, Just the Sangha is the owner.
Kẻ giết (A-la-hán), kẻ làm hại (tỳ-khưu-ni), kẻ gây chia rẽ, kẻ làm chảy máu (Phật), và người lưỡng tính; nếu vị ấy thừa nhận thì chính Tăng chúng là người chủ.
Harantaññatra kukkuccaṁ, undriyati ca kambalaṁ; Dussañca cammacakkalī, coḷakaṁ akkamanti ca.
Took elsewhere, anxious, And it decayed, woolen cloth; And cloth, skin, round pad, Cloth, and they stepped.
Mang đi nơi khác, sự áy náy, tấm thảm len bị hư hỏng; và vải, da thuộc, dép da, và họ dẫm lên mảnh vải.
Allā upāhanāniṭṭhu, likhanti apassenti ca; Apassenaṁ likhateva, dhotapaccattharena ca.
Wet, sandals, spitting, They spoiled, and they leaned; The leaning board scratched, Washed, and with a sheet.
(Dẫm lên) với chân ướt, với dép, khạc nhổ, họ vẽ vạch, và họ tựa vào; họ còn vẽ vạch bằng tấm ván tựa, và với tấm trải sàn sau khi rửa chân.
Rājagahe na sakkonti, lāmakaṁ bhattuddesakaṁ; Kathaṁ nu kho paññāpakaṁ, bhaṇḍāgārikasammuti.
In Rājagaha they were unable, Inferior, a designator of meals; How, an assigner, Appointment of a storeman.
Tại thành Rājagaha, họ không thể (chuẩn bị vật thực); vật thực kém cỏi, vị chỉ định vật thực; làm thế nào để (chỉ định) vị sắp đặt chỗ ngồi; sự chỉ định vị quản lý kho.
Paṭiggāhabhājako cāpi, yāgu ca phalabhājako; Khajjakabhājako ceva, appamattakavissajje.
A receiver, and also a distributor, And congee, a distributor of fruit; And just a distributor of fresh food, About a distributor of minor requisites.
Vị phân phát vật dụng được cúng dường, vị phân phát cháo, vị phân phát trái cây; và vị phân phát thực phẩm cứng, vị phân phát các vật dụng nhỏ.
Sāṭiyaggāhāpako ceva, tatheva pattaggāhako; Ārāmikasāmaṇera, pesakassa ca sammuti.
And also a distributor of rainy-season bathing cloths. Just so a distributor of almsbowls; Monastery worker, novice monk, And agreement for a supervisor.
Vị lo việc nhận y tắm mưa, cũng như vậy là vị lo việc nhận bát; và sự chỉ định vị sai bảo người phục vụ tự viện và sa-di.
Sabbābhibhū lokavidū, hitacitto vināyako; Leṇatthañca sukhatthañca, jhāyituñca vipassitunti.
He has conquered all and knows the world, The Leader intent on what’s beneficial: They’re for the sake of shelter and happiness, To attain absorption and to see clearly.”
Bậc Toàn Thắng, bậc Thông Tỏ Thế Gian, bậc có tâm lợi ích, bậc Lãnh Đạo, (đã cho phép trú xứ) vì mục đích ẩn dật, vì mục đích an lạc, để hành thiền, và để tu tập minh sát.
Senāsanakkhandhako niṭṭhito.
The chapter on resting places is finished.
Chương về Trú Xứ đã kết thúc.