- Theravāda Vinayapiṭaka
- Cūḷavagga
Bản dịch
Kd 15 — Chương các tiểu sự
15. Khuddakavatthukkhandhaka
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
1. CÁC TIỂU SỰ:
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư cọ xát cơ thể, luôn cả bắp chân, cánh tay, ngực, và lưng vào thân cây trong lúc tắm. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử trong lúc tắm lại cọ xát cơ thể, luôn cả bắp chân, cánh tay, ngực, và lưng vào thân cây, giống như những võ sĩ đấu vật và những người thành phố tô điểm làn da vậy?” Các tỳ khưu đã nghe được những người dân ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và hỏi các vị tỳ khưu hỏi rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư trong lúc tắm cọ xát cơ thể, luôn cả bắp chân, cánh tay, ngực, và lưng vào thân cây, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho những kẻ rồ dại ấy, thật không hợp lẽ, không thích đáng, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm. Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy trong lúc tắm lại cọ xát cơ thể, luôn cả bắp chân, cánh tay, ngực, và lưng vào thân cây vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.” Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu trong lúc tắm không nên cọ xát cơ thể vào thân cây; vị nào cọ xát thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 2~2Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư trong lúc tắm cọ xát cơ thể, luôn cả bắp chân, cánh tay, ngực, và lưng vào cột trụ. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử trong lúc tắm lại cọ xát cơ thể, luôn cả bắp chân, cánh tay, ngực, và lưng vào cột trụ, giống như những võ sĩ đấu vật và những người thành phố tô điểm làn da vậy?” Các tỳ khưu đã nghe được những người dân ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói … (như trên) … có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu trong lúc tắm không nên cọ xát cơ thể vào cột trụ; vị nào cọ xát thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 3~3Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư trong lúc tắm cọ xát cơ thể, luôn cả bắp chân, cánh tay, ngực, và lưng vào tường nhà. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử trong lúc tắm lại cọ xát cơ thể, luôn cả bắp chân, cánh tay, ngực, và lưng vào tường nhà, giống như những võ sĩ đấu vật và những người thành phố tô điểm làn da vậy?” … (như trên) … Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, trong lúc tắm không nên cọ xát cơ thể vào tường nhà; vị nào cọ xát thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 4~4Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục sư tắm (cọ xát) ở tấm ván xẻ. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao … (như trên) … và lưng ở tấm ván xẻ, giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy?” Các tỳ khưu đã nghe được những người dân ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói … (như trên) … có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, không nên tắm (cọ xát) ở tấm ván xẻ; vị nào tắm thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 5~5Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư tắm với cây kỳ cọ hình giống bàn tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: “Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” … (như trên) … Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, không nên tắm với cây kỳ cọ hình giống bàn tay; vị nào tắm thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 6~6Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư tắm với chuỗi hột chà lưng. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” … (như trên) … Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, không nên tắm với chuỗi hột chà lưng; vị nào tắm thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 7~7Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư bảo vị khác kỳ cọ theo cách dùng thân thể cọ xát lẫn nhau. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” … (như trên) … Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, không nên bảo vị khác kỳ cọ theo cách dùng thân thể cọ xát lẫn nhau; vị nào bảo làm thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 8~8Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư tắm với cây chà lưng (làm bằng răng cá kiếm). Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” … (như trên) … Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, không nên tắm với cây chà lưng; vị nào tắm thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 9~9Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh ghẻ. Đối với vị ấy không có cây chà lưng không được thoải mái. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép cây chà lưng chưa được chế biến đối với vị bị bệnh.”
Inda-bh 10~10Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ già cả yếu đuối trong lúc tắm không thể kỳ cọ cơ thể của mình. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép việc dùng dây vải.”
Inda-bh 11~11Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ ngần ngại làm công việc kỳ cọ phần lưng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép dùng tay như thường lệ.”
Inda-bh 12-19Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đeo hoa tai … (như trên) … đeo hoa tai dạng chuỗi … (như trên) … đeo xâu chuỗi ở cổ … (như trên) … đeo xâu chuỗi ở hông … (như trên) … đeo vòng … (như trên) … đeo vòng ở ngực … (như trên) … đeo đồ trang sức ở tay … (như trên) … đeo nhẫn ở ngón. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các tỳ khưu đã nghe được những người dân ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư đeo hoa tai … (như trên) … đeo hoa tai dạng chuỗi … (như trên) … đeo xâu chuỗi ở cổ … (như trên) … đeo xâu chuỗi ở hông … (như trên) … đeo vòng … (như trên) … đeo vòng ở ngực … (như trên) … đeo đồ trang sức ở tay … (như trên) … đeo nhẫn ở ngón, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, không nên đeo hoa tai, không nên đeo hoa tai dạng chuỗi, không nên đeo dây chuỗi ở cổ, không nên đeo dây chuỗi ở hông, không nên đeo vòng, không nên đeo vòng ở ngực, không nên đeo đồ trang sức ở tay, không nên đeo nhẫn; vị nào đeo thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 20~12Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư để tóc dài. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, không nên để tóc dài; vị nào để (tóc dài) thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép (để tóc) hai tháng hoặc (để dài) hai lóng tay.”
Inda-bh 21-25Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư chải tóc bằng lược … (như trên) … chải tóc bằng vật giống hình mang rắn … (như trên) … chải tóc bằng tay xòe ra … (như trên) … chải tóc với sáp ong … (như trên) … chải tóc với dầu nước. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, không nên chải tóc bằng lược, không nên chải tóc bằng vật giống hình mang rắn, không nên chải tóc bằng tay xòe ra, không nên chải tóc với sáp ong, không nên chải tóc với dầu nước; vị nào chải tóc thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 26~13Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư nhìn nét mặt ở gương soi, và ở trong chậu nước nữa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên nhìn nét mặt ở gương soi hoặc ở trong chậu nước; vị nào nhìn thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 27~14Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị vết thương ở mặt. Vị ấy đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, vết thương của tôi ra làm sao?” Các tỳ khưu đã nói như sau:—“Này đại đức, vết thương của ngài là như thế đó.” Vị ấy không tin. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, do nhân duyên bệnh ta cho phép nhìn nét mặt ở gương soi hoặc ở trong chậu nước.”
Inda-bh 28~15Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư thoa dầu khuôn mặt, xoa bóp khuôn mặt, thoa phấn khuôn mặt, tô điểm khuôn mặt bằng bột phấn đỏ, vẽ màu ở thân thể, vẽ màu ở khuôn mặt, vẽ màu ở thân thể và ở khuôn mặt. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, không nên thoa dầu khuôn mặt, không nên xoa bóp khuôn mặt, không nên thoa phấn khuôn mặt, không nên tô điểm khuôn mặt bằng bột phấn đỏ, không nên vẽ màu ở thân thể, không nên vẽ màu ở khuôn mặt, không nên vẽ màu ở thân thể và ở khuôn mặt; vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 29~16Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh ở mắt. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, do nhân duyên bệnh ta cho phép thoa dầu khuôn mặt.”
Inda-bh 30~17Vào lúc bấy giờ, tại thành Rājagaha có lễ hội Giraggasamajja. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã đi xem lễ hội Giraggasamajja. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại đi xem vũ, ca, luôn cả tấu nhạc giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, không nên đi xem vũ, ca, hoặc tấu nhạc; vị nào đi thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 31~18Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư ngâm nga Pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Các Sa-môn Thích tử này ngâm nga Pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài giống y như chúng ta ca hát vậy.” Các tỳ khưu đã nghe được những người dân ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại ngâm nga Pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói … (như trên) … có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi thuyết Pháp thoại, ngài đã bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, đây là năm điều bất lợi khi ngâm nga Pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài: Bản thân vị ấy bị say đắm trong âm điệu, luôn cả những kẻ khác cũng bị say đắm trong âm điệu, hàng tại gia phàn nàn, trong khi ra sức thể hiện âm điệu thiền định bị phân tán, người đời sau bị rơi vào xu hướng theo quan điểm sai trái. Này các tỳ khưu, đây là năm điều bất lợi khi ngâm nga Pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài. Này các tỳ khưu, không nên ngâm nga Pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài; vị nào ngâm nga thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ngần ngại trong khi thuyết giảng với giọng có âm điệu. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép việc thuyết giảng với giọng có âm điệu.”
Inda-bh 32~19Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư mặc áo choàng có phủ lông phía bên ngoài. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, không nên mặc áo choàng có phủ lông phía bên ngoài; vị nào mặc thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 33~20Vào lúc bấy giờ, trong khu vườn của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, các cây xoài đang ra trái. Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã cho phép rằng:—“Hãy để các ngài đại đức thọ dụng xoài một cách thoải mái.” Các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã bảo hái luôn cả xoài non rồi thọ thực. Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha muốn dùng xoài. Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra lệnh cho mọi người rằng:—“Này các khanh, hãy đi đến vườn và mang xoài lại.”—“Tâu bệ hạ, xin vâng.” Những người ấy theo lệnh đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến vườn và nói với các người giữ vườn điều này:—“Này các ngươi, đức vua muốn dùng xoài. Các ngươi hãy dâng xoài.”—“Các ngài ơi, không còn xoài nữa. Các tỳ khưu đã bảo hái luôn cả xoài non và thọ dụng.”
Sau đó, những người ấy đã trình sự việc ấy lên đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.—“Này các khanh, xoài đã được các ngài đại đức thọ dụng ngon lành; tuy nhiên, sự chừng mực đã được đức Thế Tôn ngợi khen cơ mà!” Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại thọ dụng xoài của đức vua không biết chừng mực vậy?” Các tỳ khưu đã nghe được những người dân ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, không nên thọ dụng xoài; vị nào thọ dụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 34~21Vào lúc bấy giờ, có bữa trai phạn dâng đến hội chúng của nhóm người nọ. Các miếng xoài đã được bỏ vào trong món xúp. Các tỳ khưu ngần ngại không thọ lãnh.
—“Này các tỳ khưu, hãy thọ lãnh và thọ dụng. Này các tỳ khưu, ta cho phép (thọ dụng) xoài miếng.”
Vào lúc bấy giờ, có bữa trai phạn dâng đến hội chúng của nhóm người nọ. Họ đã không học hỏi để làm xoài thành miếng. Ở phòng ăn, họ đã tiến hành với các trái xoài hãy còn nguyên vẹn. Các tỳ khưu ngần ngại không thọ lãnh.
—“Này các tỳ khưu, hãy thọ lãnh và thọ dụng. Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng trái cây đã được làm thành được phép đối với Sa-môn theo năm cách: đã được hoại bởi lửa, đã được hoại bởi dao, đã được hoại bởi móng tay, không có hột, và hột đã được lấy ra là cách thứ năm. Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ dụng trái cây đã được làm thành được phép đối với Sa-môn theo năm cách này.”
Inda-bh 35~22Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị rắn cắn và chết đi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, chắc chắn là vị tỳ khưu ấy đã không rải tâm từ đến bốn loài rắn chúa này rồi. Này các tỳ khưu, bởi vì nếu vị tỳ khưu ấy rải tâm từ đến bốn loài rắn chúa này, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy dầu bị rắn cắn cũng không thể nào chết được. Bốn loài rắn chúa là các loài nào? Loài rắn chúa Virūpakkha, loài rắn chúa Erāpatha, loài rắn chúa Chabyāputta, loài rắn chúa Kaṇhāgotamaka. Này các tỳ khưu, chắc chắn là tỳ khưu ấy đã không rải tâm từ đến bốn loài rắn chúa này rồi. Này các tỳ khưu, bởi vì nếu vị tỳ khưu ấy rải tâm từ đến bốn loài rắn chúa này, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy dầu bị rắn cắn cũng không thể nào chết được. Này các tỳ khưu, ta cho phép rải tâm từ đến bốn loài rắn chúa này để thực hiện sự hộ trì bản thân nhằm gìn giữ bản thân, nhằm bảo vệ bản thân. Và này các tỳ khưu, nên thực hành như vầy:
‘Tôi có tâm từ đối với các Virūpakkha, tôi có tâm từ đối với các Erāpatha, tôi có tâm từ đối với các Chabyāputta, và tôi có tâm từ đối với các Kaṇhāgotamaka.
Tôi có tâm từ đối với các loài không chân, tôi có tâm từ đối với các loài hai chân, tôi có tâm từ đối với các loài bốn chân, tôi có tâm từ đối với các loài nhiều chân.
Loài không chân đừng hãm hại tôi, loài hai chân đừng hãm hại tôi, loài bốn chân đừng hãm hại tôi, loài nhiều chân đừng hãm hại tôi.
Hỡi tất cả chúng sanh, tất cả các sinh vật, tất cả các sanh linh và toàn thể, xin tất cả hãy nhìn thấy các điều lành, điều xấu xa chớ có xảy đến bất cứ ai.
Đức Phật là vô lượng,
Giáo Pháp là vô lượng, Hội Chúng là vô lượng.
Các loài bò sát (như là) các loài rắn, bọ cạp, rết, nhện, thằn lằn, chuột là có hạn lượng. Tôi đã thực hiện các sự bảo vệ, tôi đã thực hiện sự hộ trì, xin các sanh linh hãy tránh xa.
Tôi đây kính lễ đức Thế Tôn,
kính lễ bảy vị Chánh Đẳng Giác.’”
Inda-bh 36~23Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị dằn vặt bởi sự không được thỏa thích nên đã cắt đi dương vật của bản thân. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, trong khi vật khác cần được đoạn trừ, kẻ rồ dại ấy lại đoạn trừ vật khác. Này các tỳ khưu, không nên cắt đi dương vật của bản thân; vị nào cắt thì phạm tội thullaccaya.”
Inda-bh 37~24Vào lúc bấy giờ, nhà đại phú ở thành Rājagaha có được khúc gỗ trầm hương của lõi gỗ trầm hương rất quý giá. Khi ấy, nhà đại phú thành Rājagaha đã khởi ý điều này: “Hay là ta cho đẽo thành cái bình bát với khúc gỗ trầm hương này? Và phần gỗ vụn sẽ là vật sử dụng của ta, còn cái bình bát ta sẽ cho đi làm quà biếu.” Sau đó, nhà đại phú thành Rājagaha đã cho đẽo thành cái bình bát với khúc gỗ trầm hương ấy rồi kéo lên bằng sợi dây và treo ở ngọn cây tre, xong buộc nhiều cây tre tiếp nối nhau và nói như vầy:—“Vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào là vị A-la-hán và lại có thần thông nữa thì hãy lấy quà biếu chính là cái bình bát xuống.”
Khi ấy, Pūraṇa Kassapa đã đi đến gặp nhà đại phú thành Rājagaha, sau khi đến đã nói với nhà đại phú thành Rājagaha điều này:—“Này gia chủ, chính ta là vị A-la-hán và lại có thần thông nữa, ngươi hãy dâng cái bình bát cho ta.”—“Thưa ngài, nếu ngài là vị A-la-hán và lại có thần thông nữa thì ngài hãy lấy quà biếu chính là cái bình bát xuống đi.”
Sau đó, Makkhaligosāla, Ajita Kesakambala, Pakudha Kaccāyana, Sañjaya Belaṭṭhiputta, Nigaṇṭha Nātaputta đã đi đến gặp nhà đại phú thành Rājagaha, sau khi đến đã nói với nhà đại phú thành Rājagaha điều này:—“Này gia chủ, chính ta là vị A-la-hán và lại có thần thông nữa, ngươi hãy dâng cái bình bát cho ta.”—“Thưa ngài, nếu ngài là vị A-la-hán và lại có thần thông nữa thì ngài hãy lấy quà biếu chính là cái bình bát xuống đi.”
Vào lúc bấy giờ, đại đức Mahāmoggallāna và đại đức Piṇḍolabhāradvāja vào buổi sáng đã mặc y, cầm y bát, rồi đi vào thành Rājagaha để khất thực. Khi ấy, đại đức Piṇḍolabhāradvāja đã nói với đại đức Mahāmoggallāna điều này:—“Đại đức Mahāmoggallāna quả là vị A-la-hán và lại có thần thông nữa. Này đại đức Mahāmoggallāna, hãy đi và lấy xuống cái bình bát này. Cái bình bát ấy là của đại đức.”—“Đại đức Piṇḍolabhāradvāja cũng là vị A-la-hán và lại có thần thông nữa. Này đại đức Piṇḍolabhāradvāja, hãy đi và lấy xuống cái bình bát này đi. Cái bình bát ấy là của đại đức.” Khi ấy, đại đức Piṇḍolabhāradvāja đã bay lên không trung, cầm lấy cái bình bát ấy, và đi (trên không) quanh thành Rājagaha ba vòng.
Vào lúc bấy giờ, nhà đại phú thành Rājagaha cùng vợ và con đang đứng ở tại nhà của họ, hai tay chắp lên, thành kính làm lễ rằng:—“Thưa ngài, xin ngài đại đức Bhāradvāja hãy ngự đến nhà của chúng tôi ở ngay chỗ này.” Sau đó, đại đức Piṇḍolabhāradvāja đã ngự đến tư gia của nhà đại phú thành Rājagaha. Khi ấy, nhà đại phú thành Rājagaha đã nhận lấy cái bình bát từ tay của đại đức Piṇḍolabhāradvāja, chất đầy vật thực cứng loại đắt giá rồi dâng lại cho đại đức Piṇḍolabhāradvāja. Khi ấy, đại đức Piṇḍolabhāradvāja đã nhận lại bình bát ấy rồi đi về tu viện. Dân chúng đã nghe rằng: “Nghe nói cái bình bát của nhà đại phú thành Rājagaha đã được lấy xuống bởi ngài đại đức Piṇḍolabhāradvāja.” Và các người ấy với âm thanh ồn ào, với âm thanh ầm ĩ, đã nối đuôi nhau đi phía sau đại đức Piṇḍolabhāradvāja. Đức Thế Tôn đã nghe âm thanh ồn ào âm thanh ầm ĩ, sau khi nghe đã bảo đại đức Ānanda rằng:—“Này Ānanda, âm thanh ồn ào âm thanh ầm ĩ ấy là gì vậy?”
—“Bạch ngài, cái bình bát của nhà đại phú thành Rājagaha đã được lấy xuống bởi đại đức Piṇḍolabhāradvāja. Bạch ngài, dân chúng đã nghe rằng: ‘Nghe nói cái bình bát của nhà đại phú thành Rājagaha đã được lấy xuống bởi ngài đại đức Piṇḍolabhāradvāja.’ Và bạch ngài, những người ấy với âm thanh ồn ào, với âm thanh ầm ĩ, đã nối đuôi nhau tuần tự đi phía sau đại đức Piṇḍolabhāradvāja. Bạch ngài, bạch Thế Tôn, âm thanh ồn ào, âm thanh ầm ĩ kia là chuyện ấy.”
Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Piṇḍolabhāradvāja rằng:—“Này Bhāradvāja, nghe nói cái bình bát của nhà đại phú thành Rājagaha đã được nhà ngươi lấy xuống, có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này Bhāradvāja, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không thích đáng, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm. Này Bhāradvāja, vì sao ngươi lại phô bày pháp thượng nhân tức là sự kỳ diệu của phép thần thông đến hàng tại gia vì nguyên nhân của cái bình bát gỗ tầm thường? Này Bhāradvāja, cũng giống như người đàn bà cho xem chỗ kín vì nguyên nhân của đồng bạc tầm thường; này Bhāradvāja, tương tợ như thế vì nguyên nhân cái bình bát gỗ tầm thường, pháp thượng nhân tức là sự kỳ diệu của phép thần thông đã bị ngươi phô bày đến hàng tại gia. Này Bhāradvāja, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.”
Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, không nên phô bày pháp thượng nhân tức là sự kỳ diệu của phép thần thông đến hàng tại gia; vị nào phô bày thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, hãy đập vỡ bình bát gỗ ấy, nghiền thành bột mịn, rồi hãy dâng đến các tỳ khưu làm hương liệu của thuốc cao. Này các tỳ khưu, không nên sử dụng bình bát bằng gỗ; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 38~25Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng những bình bát đủ loại làm bằng vàng, làm bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng bình bát làm bằng vàng, không nên sử dụng bình bát làm bằng bạc, không nên sử dụng bình bát làm bằng ngọc ma-ni, không nên sử dụng bình bát làm bằng ngọc bích, không nên sử dụng bình bát làm bằng pha-lê, không nên sử dụng bình bát làm bằng đồng đỏ, không nên sử dụng bình bát làm bằng thủy tinh, không nên sử dụng bình bát làm bằng thiếc, không nên sử dụng bình bát làm bằng chì, không nên sử dụng bình bát làm bằng đồng thau; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép hai loại bình bát: bình bát sắt và bình bát đất.”
Inda-bh 39~26Vào lúc bấy giờ, phần đáy bình bát bị trầy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) vòng đế bình bát.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng các vòng đế bình bát đủ loại làm bằng vàng, làm bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng các vòng đế bình bát đủ loại; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép hai loại vòng đế bình bát: loại làm bằng thiếc và loại làm bằng chì.”
Những vòng đế dày cộm không giữ yên (bình bát). Các vị đã trình việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đẽo gọt bớt.”
Chúng bị lỏng chỏng. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép cắt răng cá kiếm (cắm vào để giữ bình bát).”
Inda-bh 40~27Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng các vòng đế bình bát màu sặc sỡ: loại có tranh vẽ, loại có đắp hình nổi. Các vị đi đó đây phô trương những thứ ấy ngay cả ở nơi đường phố. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng các vòng đế bình bát màu sặc sỡ: loại có tranh vẽ, loại có đắp hình nổi; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép loại vòng đế bình thường.”41
Inda-bh 41~28Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đem cất bình bát còn đẫm nước. Bình bát bị hư hỏng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên đem cất bình bát còn đẫm nước; vị nào đem cất thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép đem cất bình bát sau khi phơi nắng.”
Inda-bh 42~29Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đem phơi nắng bình bát còn nước. Bình bát có mùi hôi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên đem phơi nắng bình bát còn nước; vị nào đem phơi nắng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép đem cất bình bát sau khi làm ráo nước và đem phơi nắng.”
Inda-bh 43~30Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu để luôn bình bát ở chỗ nóng. Màu sắc của bình bát bị hoại. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên để luôn bình bát ở chỗ nóng; vị nào để luôn thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép đem cất bình bát sau khi phơi nắng ở chỗ nóng trong chốc lát.”
Inda-bh 44~31Vào lúc bấy giờ, có nhiều bình bát được đặt xuống ở ngoài trời không có vật kềm giữ. Do cơn gió xoáy, các bình bát đã quay vòng và bị vỡ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) giá giữ bình bát.”
Inda-bh 45~32Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đặt bình bát xuống ở mép của giường đúc. Bình bát rơi xuống và bị vỡ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên đặt bình bát xuống ở mép của giường đúc; vị nào đặt xuống thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 46~33Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đặt bình bát xuống ở mép của bục nền xung quanh. Bình bát rơi xuống và bị vỡ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên đặt bình bát xuống ở mép của bục nền xung quanh; vị nào đặt xuống thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 47~34Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu lật úp bình bát ở trên mặt đất. Vành miệng (bình bát) bị trầy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) miếng lót bằng cỏ.”
Miếng lót bằng cỏ bị các con mối ăn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) mảnh vải.”
Mảnh vải bị các con mối ăn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) bục kê bình bát.”
Bình bát rơi từ bục kê bình bát và bị vỡ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) giỏ mây chứa bình bát.”
Ở trong giỏ mây chứa bình bát, bình bát bị trầy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) túi đựng bình bát.”
Dây mang vai không có. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) dây mang vai là chỉ kết lại.”
Inda-bh 48~35Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu treo bình bát ở chốt đinh gắn vào tường và ở móc ngà voi. Bình bát rơi xuống và bị vỡ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên treo bình bát; vị nào treo thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 49~36Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đặt bình bát xuống ở giường. Trong khi ngồi xuống do sự lẫn lộn về ghi nhớ nên đè lên và làm vỡ bình bát. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên đặt bình bát xuống ở giường; vị nào đặt xuống thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 50~37Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đặt bình bát xuống ở ghế. Trong khi ngồi xuống do sự lẫn lộn về ghi nhớ nên đè lên và làm vỡ bình bát. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên đặt bình bát xuống ở ghế; vị nào đặt xuống thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 51~38Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đặt bình bát xuống ở bắp vế. Do sự lẫn lộn về ghi nhớ các vị đứng lên khiến bình bát rơi xuống và bị vỡ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên đặt bình bát xuống ở bắp vế; vị nào đặt xuống thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 52~39Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đặt bình bát xuống ở trên cái dù. Do cơn gió xoáy, cái dù bị bật lên khiến bình bát rơi xuống và bị vỡ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên đặt bình bát xuống ở trên cái dù; vị nào đặt xuống thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 53~40Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu mở cửa với bình bát ở tay. Cánh cửa bật trở lại khiến bình bát bị vỡ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên mở cửa với bình bát ở tay; vị nào mở cửa thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 54~41Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi khất thực (chứa) ở bầu đựng nước. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các tu sĩ ngoại đạo vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên đi khất thực (chứa) ở bầu đựng nước; vị nào đi (khất thực như thế) thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 55~42Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi khất thực (chứa) ở chậu đựng nước. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các tu sĩ ngoại đạo vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, không nên đi khất thực (chứa) ở chậu đựng nước; vị nào đi (khất thực như thế) thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 56~43Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ chỉ sử dụng các vật bị quăng bỏ. Vị ấy sử dụng bình bát (làm bằng) đầu lâu của người chết. Có phụ nữ nọ nhìn thấy, hoảng sợ, đã mất tự chủ (thét lên):—“Làm tôi hết hồn, gã này đúng là quỷ sứ!” Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại sử dụng bình bát (làm bằng) đầu lâu của người chết, giống như kẻ thờ phụng quỷ thần vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng bình bát (làm bằng) đầu lâu của người chết; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, không nên sinh tồn chỉ nhờ vào các vật bị quăng bỏ; vị nào sinh tồn (như thế) thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 57~44Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu dùng bình bát để mang đi các đồ thừa thãi, xương xóc, và nước cặn. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Các vị Sa-môn Thích tử này thọ thực trong chính cái vật đựng (rác) của bọn họ!” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, không nên dùng bình bát để mang đi các đồ thừa thãi, xương xóc, hay nước cặn; vị nào mang đi thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) vật đựng (rác).”
Inda-bh 58~45Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu xé (vải) bằng tay rồi may y. Y không thẩm mỹ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) dao nhỏ có vỏ bọc.”
Inda-bh 59~46Vào lúc bấy giờ, dao nhỏ có cán được phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) dao nhỏ có cán.”
Inda-bh 60~47Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng các cán dao đủ loại làm bằng vàng, làm bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng các cán dao đủ loại; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép làm bằng xương, làm bằng ngà răng, làm bằng sừng, làm bằng sậy, làm bằng tre, làm bằng gỗ, làm bằng nhựa cây, làm bằng trái cây, làm bằng đồng, làm bằng vỏ sò.”
Inda-bh 61~48Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu may y bằng lông gà và lạt tre. Y được may vụng về. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) kim khâu.”
Các kim khâu bị rỉ sét.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ống đựng kim khâu.”
Cho dù ở trong ống đựng, các kim khâu cũng bị rỉ sét.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép phủ đầy với bột gây men.”
Cho dù ở trong bột gây men, các kim khâu cũng bị rỉ sét.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép phủ đầy với bột lúa mạch.”
Cho dù ở trong bột lúa mạch, các kim khâu cũng bị rỉ sét.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) bột đá.”
Cho dù với bột đá, các kim khâu cũng bị rỉ sét.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép trộn với mật và sáp ong.”
Bột đá bị rời rạc.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (trộn) bột đá với nhựa cây.”
Inda-bh 62~49Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu cắm cọc ở các nơi, buộc (vải) lại với nhau rồi may y. Y có các góc không vuông vức. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) tấm y mẫu, dây buộc ở tấm y mẫu, sau khi buộc y vào chỗ này chỗ kia rồi may.”
Các vị trải ra tấm y mẫu ở chỗ không bằng phẳng. Tấm y mẫu bị rời ra.
—“Này các tỳ khưu, không nên trải ra tấm y mẫu ở chỗ không bằng phẳng; vị nào trải ra thì phạm tội dukkaṭa.”
Các vị trải ra tấm y mẫu ở trên mặt đất. Tấm y mẫu bị dơ.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) thảm cỏ.”
Đường viền của tấm y mẫu bị sờn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thiết lập đường biên tức là vòng đai xung quanh.”
Tấm y mẫu không đạt kích thước.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép buộc y vào khung y mẫu, vào thanh gỗ dẹp, vào cọc gỗ, vào dây buộc, vào chỉ buộc rồi may.”
Các khoảng cách của các đường chỉ không đều nhau.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép việc đo đạc.”
Các đường chỉ bị cong quẹo.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đường chỉ may tạm.”
Inda-bh 63~50Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu bước lên tấm y mẫu với các bàn chân chưa rửa. Tấm y mẫu bị dơ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên bước lên tấm y mẫu với các bàn chân chưa rửa; vị nào bước lên thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 64~51Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu bước lên tấm y mẫu với các bàn chân đẫm nước. Tấm y mẫu bị dơ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên bước lên tấm y mẫu với các bàn chân đẫm nước; vị nào bước lên thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 65~52Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu mang giày dép bước lên tấm y mẫu. Tấm y mẫu bị dơ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên mang giày dép bước lên tấm y mẫu; vị nào bước lên thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 66~53Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu cầm (kim) bằng ngón tay trong khi may y. Các ngón tay bị đau. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) vật bao ngón tay.”
Inda-bh 67~54Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng các vật bao ngón tay đủ loại làm bằng vàng, làm bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng các vật bao ngón tay đủ loại; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép làm bằng xương, làm bằng ngà răng, làm bằng sừng, làm bằng sậy, làm bằng tre, làm bằng gỗ, làm bằng nhựa cây, làm bằng trái cây, làm bằng đồng, làm bằng vỏ sò.”
Inda-bh 68~55Vào lúc bấy giờ, những kim khâu, những con dao nhỏ, luôn cả những vật bao ngón tay bị thất lạc. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) thùng chứa.”
Chúng bị lẫn lộn trong thùng chứa. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) túi để đựng vật bao ngón tay.”
Dây mang vai không có.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) dây mang vai là chỉ kết lại.”
Inda-bh 69~56Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu trong khi may y ở ngoài trời bị mệt mỏi vì lạnh và nóng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) nhà may y, mái che tạm để may y.”
Nhà may y có nền thấp nên bị ngập nước. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nền cao.”
Nền móng bị đổ xuống.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xây dựng ba loại nền móng: nền móng bằng gạch, nền móng bằng đá, nền móng bằng gỗ.”
Các vị bị khó khăn trong khi bước lên.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ba loại bậc thang: bậc thang bằng gạch, bậc thang bằng đá, bậc thang bằng gỗ.”
Các vị bị té trong khi bước lên (bậc thang).
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) tay cầm để vịn.”
Vào lúc bấy giờ, rác cỏ rơi vào trong nhà may y.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nẹp cây rồi trét vữa bên trên và bên dưới, việc sơn màu trắng, sơn màu đen, trét màu đỏ, trang hoàng hình vòng hoa, trang hoàng hình tua, chốt treo bằng răng cá kiếm, vải trang hoàng năm loại, sào máng y, dây treo y.”
Inda-bh 70~57Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sau khi may y xong đã bỏ bê tấm y mẫu ngay tại chỗ ấy rồi ra đi. Tấm y mẫu bị gặm nhấm bởi các con chuột và các con mối. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép gấp tấm y mẫu lại.”
Tấm y mẫu bị rời ra.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đặt cây gỗ hoặc tre ở bên trong rồi cuốn lại.”
Tấm y mẫu bị bung ra.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép dây buộc.”
Inda-bh 71~58Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đã đưa tấm y mẫu lên cất ở trên vách tường hoặc ở trên cột nhà rồi ra đi. Tấm y mẫu rơi xuống và bị bung ra. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép treo lên ở chốt đinh gắn vào tường hoặc ở móc ngà voi.”
Inda-bh 72~59Sau đó, khi đã ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích đức Thế Tôn đã lên đường đi đến thành Vesāli. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đã dùng bát chứa đựng kim khâu, dao nhỏ, và thuốc men rồi ra đi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) túi đựng thuốc men.”
Dây mang vai không có.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) dây mang vai là chỉ kết lại.”
Inda-bh 73~60Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã buộc đôi dép bằng dây thắt lưng rồi đi vào làng để khất thực. Có nam cư sĩ nọ trong khi đảnh lễ vị tỳ khưu ấy đã bị đôi dép chạm vào đầu. Vị tỳ khưu ấy đã bị xấu hổ. Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã đi đến tu viện và kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) túi đựng dép.”
Dây mang vai không có.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) dây mang vai là chỉ kết lại.”
Inda-bh 74~61Vào lúc bấy giờ, ở khoảng giữa cuộc hành trình nước chưa được làm thành đúng phép. Đồ lược nước không có. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) đồ lược nước.”
Mảnh vải lược không có hiệu quả.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) đồ lược nước gắn ở gáo múc.”
Mảnh vải lược không có hiệu quả.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đồ lọc nước thông thường.”
Inda-bh 75~62Vào lúc bấy giờ, có hai vị tỳ khưu đang đi đường xa trong xứ Kosaka. Một tỳ khưu hành xử điều sai trái. Vị tỳ khưu thứ hai đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:—“Này đại đức, chớ làm như thế. Điều ấy không được phép.” Vị ấy đã kết oán với vị kia. Sau đó, vị tỳ khưu kia bị khó chịu vì khát nước đã nói với vị tỳ khưu kết oán điều này:—“Này đại đức, hãy đưa cho tôi đồ lược nước, tôi sẽ uống nước.” Vị tỳ khưu kết oán đã không đưa cho. Vị tỳ khưu kia bị khó chịu vì khát nước đã chết đi. Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã đi đến tu viện và kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu.—“Này đại đức, có phải đại đức đã không đưa cho khi được hỏi mượn đồ lược nước?”—“Này các đại đức, đúng vậy.” Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao vị tỳ khưu lại không đưa cho khi được hỏi mượn đồ lược nước?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và hỏi vị tỳ khưu ấy rằng:—“Này tỳ khưu, nghe nói ngươi đã không đưa cho khi được hỏi mượn đồ lược nước, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này kẻ rồ dại kia, thật không đúng đắn cho ngươi, thật không hợp lẽ, không thích đáng, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm. Này kẻ rồ dại kia, vì sao ngươi lại không đưa cho khi được hỏi mượn đồ lược nước vậy? Này kẻ rồ dại kia, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.”
Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đi đường xa khi được hỏi mượn đồ lược nước không thể không đưa cho; vị nào không đưa cho thì phạm tội dukkaṭa. Và này các tỳ khưu, vị không có đồ lược nước không nên đi đường xa; vị nào đi thì phạm tội dukkaṭa. Nếu không có đồ lược nước hoặc đồ lọc nước thông thường, có thể chú nguyện chéo y hai lớp: ‘Tôi sẽ uống sau khi lược nước bằng vật này.’”
Inda-bh 76~63Sau đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến thành Vesāli. Tại nơi đó trong xứ Vesāli, đức Thế Tôn ngự tại Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu thực hiện công trình (xây dựng) mới. Đồ lược nước không làm trong (nước) được. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đồ lược nước gắn ở các cây gậy. Đồ lược nước gắn ở các cây gậy không làm trong (nước) được. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) vại lọc nước.”
Inda-bh 77~64Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu bị khuấy rối bởi các con muỗi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) lều chống muỗi.”
Inda-bh 78~65Vào lúc bấy giờ, ở xứ Vesāli, sự luân phiên bữa ăn gồm các thức ăn hảo hạng được xác định. Các tỳ khưu thọ dụng các thức ăn hảo hạng nên cơ thể béo phì, có nhiều chứng bệnh. Khi ấy, (thầy thuốc) Jīvaka Komārabhacca đã đi đến Vesāli do công việc cần làm nào đó. Jīvaka Komārabhacca đã nhìn thấy các tỳ khưu có cơ thể béo phì, có nhiều chứng bệnh, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Jīvaka Komārabhacca đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, hiện nay các tỳ khưu có cơ thể béo phì, có nhiều chứng bệnh. Bạch ngài, lành thay xin đức Thế Tôn cho phép các tỳ khưu (sử dụng) đường kinh hành và phòng tắm hơi; như thế, các tỳ khưu sẽ bớt bệnh.”
Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Jīvaka Komārabhacca bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, Jīvaka Komārabhacca đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) đường kinh hành và phòng tắm hơi.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi kinh hành ở đường kinh hành không bằng phẳng. Các bàn chân bị đau. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm cho bằng phẳng.”
Đường kinh hành có nền thấp nên bị ngập nước.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nền cao.”
Nền móng bị đổ xuống.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xây dựng ba loại nền móng: nền móng bằng gạch, nền móng bằng đá, nền móng bằng gỗ.”
Các vị bị khó khăn trong khi bước lên.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ba loại bậc thang: bậc thang bằng gạch, bậc thang bằng đá, bậc thang bằng gỗ.”
Các vị bị té trong khi bước lên (bậc thang).—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) tay cầm để vịn.”
Inda-bh 79~66Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu trong khi đi kinh hành ở đường kinh hành bị té. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) viền rào ở đường kinh hành.”
Inda-bh 80~67Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu trong khi đi kinh hành ở ngoài trời bị mệt mỏi vì lạnh và nóng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) nhà đi kinh hành.”
Rác cỏ rơi vào trong nhà đi kinh hành.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nẹp cây rồi trét vữa bên trên và bên dưới, việc sơn màu trắng, sơn màu đen, trét màu đỏ, trang hoàng hình vòng hoa, trang hoàng hình tua, chốt treo bằng răng cá kiếm, vải trang hoàng năm loại, sào máng y, dây treo y.”
Inda-bh 81~68Vào lúc bấy giờ, phòng tắm hơi có nền thấp nên bị ngập nước.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nền cao.”
Nền móng bị đổ xuống.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xây dựng ba loại nền móng: nền móng bằng gạch, nền móng bằng đá, nền móng bằng gỗ.”
Các vị bị khó khăn trong khi bước lên.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ba loại bậc thang: bậc thang bằng gạch, bậc thang bằng đá, bậc thang bằng gỗ.”
Các vị bị té trong khi bước lên (bậc thang).—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) tay cầm để vịn.”
Phòng tắm hơi không có cửa.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) cánh cửa, trụ cửa, rãnh xoay, chốt xoay, tay nắm, chốt gài, đinh khóa chốt, chốt phụ, lỗ khóa, lỗ để xỏ dây, dây thừng để luồn qua.”
Inda-bh 82~69Chân tường của phòng tắm hơi bị hư hỏng.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xây mô tròn.”
Phòng tắm hơi không có ống thông khói.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) ống thông khói.”
Inda-bh 83~70Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu làm chỗ đốt lửa ở giữa phòng tắm hơi có khuôn viên hẹp. Lối đi lại không có.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm chỗ đốt lửa một bên góc ở phòng tắm hơi có khuôn viên hẹp, ở giữa (phòng tắm hơi) có khuôn viên rộng.”
Trong phòng tắm hơi, ngọn lửa đốt nóng mặt (các tỳ khưu).—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) đất sét (đắp) ở mặt.”
Các vị nhồi ướt đất sét ở tay.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) máng đựng đất sét.”
Đất sét có mùi hôi.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ủ (đất sét).”
Vào lúc bấy giờ, ở trong phòng tắm hơi ngọn lửa đốt nóng thân thể (các tỳ khưu).—“Này các tỳ khưu, ta cho phép mang nước lại.” Các vị mang nước lại bằng nắp bình bát và bằng bình bát.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) vại chứa nước (và) gáo múc nước.”
Inda-bh 84~71Mái lợp cỏ làm phòng tắm hơi trở nên dơ bẩn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nẹp cây rồi trét vữa bên trên và bên dưới.”
Phòng tắm hơi bị lầy lội.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép lót nền bằng ba loại nền: nền gạch, nền đá, nền gỗ.” (Phòng tắm hơi) vẫn còn bị lầy lội.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép rửa sạch.”
Nước còn đọng lại.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (làm) rãnh thoát nước.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ngồi xuống trên nền đất của phòng tắm hơi, các phần thân thể bị ngứa ngáy.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ghế ngồi ở phòng tắm hơi.”
Inda-bh 85~72Vào lúc bấy giờ, phòng tắm hơi không được rào lại.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép rào quanh (bằng) ba loại hàng rào: hàng rào bằng gạch, hàng rào bằng đá, hàng rào bằng gỗ.”
Không có nhà kho chứa đồ.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) nhà kho chứa đồ.”
Nhà kho chứa đồ có nền thấp nên bị ngập nước.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nền cao.”
Nền móng bị đổ xuống.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xây dựng ba loại nền móng: nền móng bằng gạch, nền móng bằng đá, nền móng bằng gỗ.”
Các vị bị khó khăn trong khi bước lên.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ba loại bậc thang: bậc thang bằng gạch, bậc thang bằng đá, bậc thang bằng gỗ.”
Các vị bị té trong khi bước lên (bậc thang).—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) tay cầm để vịn.”
Nhà kho chứa đồ không có cửa.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) cánh cửa, trụ cửa, rãnh xoay, chốt xoay, tay nắm, chốt gài, đinh khóa chốt, chốt cửa, lỗ khóa, lỗ để xỏ dây, dây thừng để luồn qua.”
Vào lúc bấy giờ, rác cỏ rơi ở nhà kho chứa đồ.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nẹp cây rồi trét vữa bên trên và bên dưới, việc sơn màu trắng, sơn màu đen, trét màu đỏ, trang hoàng hình vòng hoa, trang hoàng hình tua, chốt treo bằng răng cá kiếm, vải trang hoàng năm loại.”
Căn phòng bị lầy lội.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép rải cát.”
Các vị không thành công.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép trải đá phiến.”
Nước còn đọng lại.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (làm) rãnh thoát nước.”
Inda-bh 86~73Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu (đang) ở trần đảnh lễ vị ở trần, (đang) ở trần bảo vị (đang) ở trần đảnh lễ, (đang) ở trần phục vụ vị ở trần, (đang) ở trần bảo (người khác) phục vụ vị ở trần, (đang) ở trần dâng đồ cho vị ở trần, thọ nhận (lúc đang) ở trần, nhai (lúc đang) ở trần, ăn (lúc đang) ở trần, ngủ (lúc đang) ở trần, uống (lúc đang) ở trần. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, vị (đang) ở trần không nên đảnh lễ vị ở trần, vị nào đảnh lễ thì phạm tội dukkaṭa. Vị (đang) ở trần không nên bảo vị (đang) ở trần đảnh lễ, … (như trên) … Vị (đang) ở trần không nên đảnh lễ, … (như trên) … Vị (đang) ở trần không nên bảo (vị khác) đảnh lễ, … (như trên) … Vị (đang) ở trần không nên phục vụ vị ở trần, … (như trên) … Vị (đang) ở trần không nên được bảo phục vụ vị ở trần, … (như trên) … Vị (đang) ở trần không nên dâng đồ cho vị ở trần, … (như trên) … Không nên thọ nhận (lúc đang) ở trần, … (như trên) … Không nên nhai (lúc đang) ở trần, … (như trên) … Không nên ăn (lúc đang) ở trần, … (như trên) … Không nên ngủ (lúc đang) ở trần, … (như trên) … Không nên uống (lúc đang) ở trần, vị nào uống (lúc đang ở trần) thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 87~74Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu để y xuống trên nền đất của phòng tắm hơi. Y bị dơ bẩn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) sào máng y, dây treo y ở phòng tắm hơi.”
Lúc trời mưa, mưa rơi ở y.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) gian nhà lớn ở phòng tắm hơi.”
Gian nhà lớn ở phòng tắm hơi có nền thấp nên bị ngập nước.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nền cao.”
Nền móng bị đổ xuống.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xây dựng ba loại nền móng: … (như trên) … Các vị bị khó khăn trong khi bước lên. … (như trên) … Các vị bị té trong khi bước lên (bậc thang).—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) tay cầm để vịn.”
Vào lúc bấy giờ, rác cỏ rơi vào trong gian nhà lớn của phòng tắm hơi.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nẹp cây rồi trét vữa bên trên và bên dưới, việc sơn màu trắng, sơn màu đen, trét màu đỏ, trang hoàng hình vòng hoa, trang hoàng hình tua, chốt treo bằng răng cá kiếm, vải trang hoàng năm loại, sào máng y, dây treo y.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đang ở trần ngần ngại làm công việc kỳ cọ lưng ở trong phòng tắm hơi, ở trong nước. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ba loại tấm choàng: tấm choàng ở phòng tắm hơi, tấm choàng ở trong nước, và tấm choàng bằng vải.”
Inda-bh 88~75Vào lúc bấy giờ, trong phòng tắm hơi không có nước. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) giếng nước.”
Thành giếng bị sụp đổ.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xây dựng ba loại nền móng: nền móng bằng gạch, nền móng bằng đá, nền móng bằng gỗ.”
Giếng nước có nền thấp nên bị ngập nước.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nền cao.”
Nền móng bị đổ xuống. … (như trên) … Các vị bị khó khăn trong khi bước lên. … (như trên) … Các vị bị té trong khi bước lên (bậc thang).—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) tay cầm để vịn.”
Inda-bh 89~76Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu kéo nước lên bằng dây rừng, bằng dây thắt lưng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) dây thừng để kéo nước.”
Hai tay bị đau.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cần giọt, cần trục quay, bánh xe ròng rọc.”
Các thùng (kéo nước) bị bể nhiều.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ba loại gàu (kéo nước): gàu bằng thiếc, gàu bằng gỗ, loại có (gắn) các sợi da thuộc.”
Inda-bh 90~77Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu trong khi kéo nước ở ngoài trời bị mệt mỏi vì lạnh và nóng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) gian nhà ở giếng.”
Rác cỏ rơi vào trong gian nhà ở giếng.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nẹp cây rồi trét vữa bên trên và bên dưới, việc sơn màu trắng, sơn màu đen, trét màu đỏ, trang hoàng hình vòng hoa, trang hoàng hình tua, chốt treo bằng răng cá kiếm, vải trang hoàng năm loại, sào máng y, dây treo y.”
Vào lúc bấy giờ, giếng không được che đậy nên bị các rác cỏ luôn cả các vật dơ rơi vào.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) nắp đậy.”
Vào lúc bấy giờ, vật chứa nước không có.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) máng đựng nước, chậu đựng nước.”
Inda-bh 91~78Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu tắm ở nơi này nơi kia trong khuôn viên tu viện. Tu viện trở nên lầy lội. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) hồ nước (để tắm).”
Hồ tắm không được kín đáo. Các tỳ khưu hổ thẹn khi tắm.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép rào quanh (bằng) ba loại hàng rào: hàng rào bằng gạch, hàng rào bằng đá, hàng rào bằng gỗ.”
Hồ tắm bị lầy lội.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép lót nền bằng ba loại nền: nền gạch, nền đá, nền gỗ.”
Nước còn đọng lại.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (làm) rãnh thoát nước.”
Inda-bh 92~79Vào lúc bấy giờ, các phần cơ thể của các tỳ khưu bị lạnh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm ráo (nước) cho dù chỉ bằng miếng vải thấm nước.”
Vào lúc bấy giờ, có nam cư sĩ nọ có ý định cho xây dựng hồ trữ nước nhằm sự lợi ích của hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) hồ trữ nước.”
Bờ thành của hồ trữ nước bị sụp đổ.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xây dựng ba loại nền móng: nền móng bằng gạch, nền móng bằng đá, nền móng bằng gỗ.”
Các vị bị khó khăn trong khi bước lên.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ba loại bậc thang: bậc thang bằng gạch, bậc thang bằng đá, bậc thang bằng gỗ.”
Các vị bị té trong khi bước lên (bậc thang).—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) tay cầm để vịn.”
Nước trong hồ trữ nước bị ôi.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ống dẫn nước, ống tháo nước.”
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định cho thực hiện phòng tắm hơi có mái vòm nhằm sự lợi ích cho hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) phòng tắm hơi có mái vòm.”
Inda-bh 93~80Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư lìa xa tọa cụ trong bốn tháng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên lìa xa tọa cụ trong bốn tháng; vị nào lìa xa thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 94~81Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư nằm trên những chỗ nằm có rải hoa. Dân chúng trong khi dạo quanh tu viện nhìn thấy nên phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên nằm trên những chỗ nằm có rải hoa; vị nào nằm thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, dân chúng đi đến tu viện mang theo dầu thơm và vòng hoa. Các tỳ khưu trong khi ngần ngại không thọ lãnh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép sau khi nhận dầu thơm rồi thì in dấu năm ngón tay lên cửa, sau khi nhận hoa rồi thì đem đặt ở một góc ở trong trú xá.”
Inda-bh 95~82Vào lúc bấy giờ, có tấm thảm len đã phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) thảm len.”
Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý như vầy: “Thảm len nên được chú nguyện để dùng riêng hay là nên được chú nguyện để dùng chung?”—“Này các tỳ khưu, thảm len không nên được chú nguyện để dùng riêng, không nên được chú nguyện để dùng chung.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư thọ thực (dựa vào) gối kê được rắc dầu thơm. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên thọ thực (dựa vào) gối kê được rắc dầu thơm; vị nào thọ thực (như thế) thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 96~83Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Vị ấy trong khi ăn không thể kềm giữ bình bát bằng tay được. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) giá đỡ bình bát.”
Inda-bh 97~84Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư ăn chung trong một đĩa, uống chung trong một cốc, nằm chung trên một giường, nằm chung một tấm trải, nằm chung một tấm đắp, nằm chung một tấm trải và tấm đắp. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên ăn chung trong một đĩa, không nên uống chung trong một cốc, không nên nằm chung trên một giường, không nên nằm chung một tấm trải, không nên nằm chung một tấm đắp, không nên nằm chung một tấm trải và tấm đắp; vị nào nằm chung thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 98~85Vào lúc bấy giờ, Vaḍḍha Licchavi là thân hữu của các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka. Khi ấy, Vaḍḍha Licchavi đã đi đến gặp các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka, sau khi đến đã nói với các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka điều này:—“Tôi xin chào các ngài đại đức.” Khi được nói như vậy, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã không đáp lại. Đến lần thứ nhì, Vaḍḍha Licchavi đã nói với các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka điều này:—“Tôi xin chào các ngài đại đức.” Đến lần thứ nhì, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã không đáp lại. Đến lần thứ ba, Vaḍḍha Licchavi đã nói với các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka điều này:—“Tôi xin chào các ngài đại đức.” Đến lần thứ ba, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã không đáp lại.—“Có phải tôi làm phật lòng các ngài đại đức? Tại sao các ngài đại đức không nói chuyện với tôi?”—“Này đạo hữu Vaḍḍha, bởi vì ngươi vẫn dửng dưng như thế trong khi chúng tôi bị Dabba Mallaputta làm tổn hại.”
—“Thưa các ngài đại đức, tôi làm được điều gì?”
—“Này đạo hữu Vaḍḍha, nếu ngươi chịu làm thì ngay trong ngày hôm nay đức Thế Tôn có thể trục xuất đại đức Dabba Mallaputta.”
—“Thưa các ngài đại đức, tôi làm được điều gì? Tôi có thể làm điều gì?”
—“Này đạo hữu Vaḍḍha, hãy đến. Ngươi hãy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến hãy nói với đức Thế Tôn như vầy: ‘Bạch ngài, điều này là không đúng đắn, không thích đáng. Bạch ngài, chính ở quốc độ nào không có sự sợ hãi, không có tai họa, không có sầu khổ thì chính ở quốc độ ấy có sự sợ hãi, có tai họa, và có sầu khổ. Từ nơi nào gió lặng đi thì từ nơi ấy có bão tố. Con nghĩ rằng nước đã bùng cháy lên rồi; vợ con đã bị ô nhục bởi ngài đại đức Dabba Mallaputta.’”
—“Thưa các ngài đại đức, xin vâng.” Rồi Vaḍḍha Licchavi nghe theo các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Vaḍḍha Licchavi đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, điều này là không đúng đắn, không thích đáng. Bạch ngài, chính ở quốc độ nào không có sự sợ hãi, không có tai họa, không có sầu khổ thì chính ở quốc độ ấy có sự sợ hãi, có tai họa, và có sầu khổ. Từ nơi nào gió lặng đi thì từ nơi ấy có bão tố. Con nghĩ rằng nước đã bùng cháy lên rồi; vợ con đã bị ô nhục bởi ngài đại đức Dabba Mallaputta.”
Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và hỏi đại đức Dabba Mallaputta rằng:—“Này Dabba, ngươi có nhớ ngươi là kẻ đã làm việc như thế, giống như điều vị Vaḍḍha này đã nói không?”
—“Bạch ngài, con như thế nào đức Thế Tôn biết mà.”
Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn … (như trên) … Đến lần thứ ba, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Dabba Mallaputta điều này:—“Này Dabba, ngươi có nhớ ngươi là kẻ đã làm việc như thế, giống như điều vị Vaḍḍha này đã nói không?”
—“Bạch ngài, con như thế nào đức Thế Tôn biết mà.”
—“Này Dabba, các vị (dòng dõi) Dabba không phủ nhận như thế. Nếu ngươi có làm, hãy nói: ‘Có làm;’ nếu không làm, hãy nói: ‘Không làm.’”
—“Bạch ngài, từ khi con được sanh ra con không thấy mình là kẻ đã thực hành việc đôi lứa ngay cả trong lúc ngủ mơ, huống gì là tỉnh thức.”
Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy úp ngược bình bát đối với Vaḍḍha Licchavi (tức là) hãy thực thi việc không cùng thọ hưởng với hội chúng. Này các tỳ khưu, bình bát nên được úp ngược đối với nam cư sĩ có tám yếu tố: Vị ra sức làm cho các tỳ khưu không được lợi lộc, ra sức làm cho các tỳ khưu không được sự lợi ích, ra sức làm cho các tỳ khưu không có chỗ ngụ, vị mắng nhiếc gièm pha các tỳ khưu, chia rẽ các tỳ khưu với các tỳ khưu, vị phỉ báng đức Phật, vị phỉ báng Giáo Pháp, vị phỉ báng Hội Chúng. Này các tỳ khưu, ta cho phép úp ngược bình bát đối với nam cư sĩ có tám yếu tố này.
Và này các tỳ khưu, nên úp ngược (bình bát) như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vaḍḍha Licchavi bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên úp ngược bình bát đối với Vaḍḍha Licchavi, (tức là) nên thực thi việc không cùng thọ hưởng với hội chúng. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vaḍḍha Licchavi bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Hội chúng úp ngược bình bát đối với Vaḍḍha Licchavi, (tức là) thực thi việc không cùng thọ hưởng với hội chúng. Đại đức nào đồng ý việc úp ngược bình bát đối với Vaḍḍha Licchavi, (tức là) thực thi việc không cùng thọ hưởng với hội chúng xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Bình bát đã được hội chúng úp ngược đối với Vaḍḍha Licchavi, (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng (đã được thực thi). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 99~86Sau đó vào buổi sáng, đại đức Ānanda đã mặc y, cầm y bát, đi đến tư gia của Vaḍḍha Licchavi, sau khi đến đã nói với Vaḍḍha Licchavi điều này:—“Này đạo hữu Vaḍḍha, bình bát đã được hội chúng úp ngược đối với ngươi, ngươi có sự không cùng thọ hưởng với hội chúng.” Khi ấy, Vaḍḍha Licchavi (biết rằng): ‘Nghe nói bình bát đã được hội chúng úp ngược đối với ta, nghe nói ta có sự không cùng thọ hưởng với hội chúng’ nên bị ngất xỉu ngã xuống ngay tại chỗ ấy. Sau đó, bạn bè thân hữu, thân quyến ruột thịt của Vaḍḍha Licchavi đã nói với Vaḍḍha Licchavi rằng:—“Này đạo hữu Vaḍḍha, thôi đi. Chớ có than van, chớ có rên rỉ. Chúng ta sẽ làm cho đức Thế Tôn và hội chúng tỳ khưu tin tưởng.”
Sau đó, Vaḍḍha Licchavi với y phục ướt đẫm, với đầu tóc ướt đẫm, cùng vợ con, bạn bè thân hữu, và thân quyến ruột thịt đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và đã nói điều này:—“Bạch ngài, tội lỗi đã chiếm ngự lấy con khiến con như là ngu khờ, như là mê muội, như là không có đạo đức, nên con đã bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Bạch ngài, đối với con đây xin đức Thế Tôn ghi nhận tội lỗi là tội lỗi hầu để ngăn ngừa trong tương lai.”
—“Này đạo hữu Vaḍḍha, đúng như thế. Tội lỗi đã chiếm ngự lấy ngươi khiến ngươi như là ngu khờ, như là mê muội, như là không có đạo đức nên ngươi đã bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Này đạo hữu Vaḍḍha, chính từ việc đó ngươi đã thấy được tội lỗi là tội lỗi và sửa đổi đúng theo Pháp, chúng ta ghi nhận điều ấy cho ngươi. Này đạo hữu Vaḍḍha, chính điều này là sự tiến bộ trong Luật của bậc Thánh: ‘Người nào sau khi thấy được tội lỗi là tội lỗi và sửa đổi đúng theo Pháp sẽ thực hành sự ngăn ngừa trong tương lai.’”
Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy mở bình bát đối với Vaḍḍha Licchavi, hãy thực thi việc cùng thọ hưởng với hội chúng. Này các tỳ khưu, bình bát nên được mở ra đối với nam cư sĩ có tám yếu tố: Vị không ra sức làm cho các tỳ khưu không được lợi lộc, không ra sức làm cho các tỳ khưu không được sự lợi ích, không ra sức làm cho các tỳ khưu không có chỗ ngụ, vị không mắng nhiếc không gièm pha các tỳ khưu, không chia rẽ các tỳ khưu với các tỳ khưu, không phỉ báng đức Phật, không phỉ báng Giáo Pháp, không phỉ báng Hội Chúng. Này các tỳ khưu, ta cho phép mở bình bát đối với nam cư sĩ có tám yếu tố này.
Và này các tỳ khưu, nên mở ra như vầy: Này các tỳ khưu, Vaḍḍha Licchavi ấy cần đi đến gặp hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, bình bát đã được hội chúng úp ngược đối với con, con có sự không cùng thọ hưởng với hội chúng. Bạch các ngài, con đây làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ con thỉnh cầu hội chúng việc mở bình bát.’ Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba. Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Bình bát đã được hội chúng úp ngược đối với Vaḍḍha Licchavi, (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng. Vị ấy làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu hội chúng việc mở bình bát. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên mở bình bát đối với Vaḍḍha Licchavi, (tức là) nên thực thi việc cùng thọ hưởng với hội chúng. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Bình bát đã được hội chúng úp ngược đối với Vaḍḍha Licchavi, (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng. Vị ấy làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu hội chúng việc mở bình bát. Hội chúng mở bình bát đối với Vaḍḍha Licchavi (tức là) thực thi việc cùng thọ hưởng với hội chúng. Đại đức nào đồng ý việc mở bình bát đối với Vaḍḍha Licchavi (tức là) việc cùng thọ hưởng với hội chúng xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Bình bát đã được hội chúng mở ra đối với Vaḍḍha Licchavi (tức là) việc cùng thọ hưởng với hội chúng (đã được thực hiện). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Tụng phẩm thứ nhì.
TỤNG PHẨM THỨ BA
Inda-bh 100~87Sau đó, khi đã ngự tại thành Vesāli theo như ý thích đức Thế Tôn đã lên đường đi đến xứ Bhaggā. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến xứ Bhaggā. Tại nơi đó ở xứ Bhaggā, đức Thế Tôn ngự tại Suṁsumāragira, trong khu rừng Bhesakalā, nơi vườn nai.
Vào lúc bấy giờ, lâu đài tên Kokanada của vương tử Bodhi vừa mới được xây dựng không bao lâu, chưa có Sa-môn hoặc Bà-la-môn hay bất cứ người nào vào cư ngụ.
Khi ấy, vương tử Bodhi đã bảo chàng thanh niên con trai bà Sañjikā rằng:—“Này con trai của bà Sañjikā mến, hãy đến. Ngươi hãy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến hãy đê đầu đảnh lễ ở chân của đức Thế Tôn nhân danh ta hỏi thăm (ngài) về sự ít bệnh, ít đau, trạng thái nhẹ nhàng, khỏe mạnh, sống thoải mái (như vầy): ‘Bạch ngài, vương tử Bodhi xin đê đầu đảnh lễ ở chân của đức Thế Tôn, và hỏi thăm (ngài) về sự ít bệnh, ít đau, trạng thái nhẹ nhàng, khỏe mạnh, sống thoải mái.’ Và ngươi hãy nói như vầy: ‘Bạch đức Thế Tôn, xin ngài cùng với hội chúng tỳ khưu nhận lời bữa thọ trai vào ngày mai của vương tử Bodhi.’”
—“Thưa ngài, xin vâng.” Rồi chàng thanh niên con trai bà Sañjikā nghe lời vương tử Bodhi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã bày tỏ sự thân thiện đối với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, chàng thanh niên con trai bà Sañjikā đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Vương tử Bodhi xin đê đầu đảnh lễ ngài Gotama và hỏi thăm (ngài) về sự ít bệnh, ít đau, trạng thái nhẹ nhàng, khỏe mạnh, sống thoải mái. Và nói như vầy: ‘Xin ngài Gotama cùng với hội chúng tỳ khưu nhận lời bữa thọ trai vào ngày mai của vương tử Bodhi.’” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng.
Khi ấy, chàng thanh niên con trai bà Sañjikā sau khi biết được sự nhận lời của đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến gặp vương tử Bodhi, sau khi đến đã nói với vương tử Bodhi điều này:—“Thưa ngài, chúng tôi đã bạch đức Thế Tôn Gotama ấy với lời nói của ngài là: ‘Vương tử Bodhi xin đê đầu đảnh lễ ngài Gotama và hỏi thăm (ngài) về sự ít bệnh, ít đau, trạng thái nhẹ nhàng, khỏe mạnh, sống thoải mái. Và nói như vầy: Xin ngài Gotama cùng với hội chúng tỳ khưu nhận lời bữa thọ trai vào ngày mai của vương tử Bodhi.’ Và Sa-môn Gotama đã nhận lời.”
Inda-bh 101~88Sau đó, khi trải qua đêm ấy vương tử Bodhi đã cho chuẩn bị vật thực hảo hạng loại cứng loại mềm rồi ra lệnh trải các tấm vải trắng ở lâu đài Kokanada cho đến tận bậc cấp ở ngoài cùng, xong đã bảo chàng thanh niên con trai bà Sañjikā rằng:—“Này con trai của bà Sañjikā mến, hãy đến. Ngươi hãy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến hãy thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch ngài, đã đến giờ; bữa ăn đã chuẩn bị xong.’”—“Thưa ngài, xin vâng.” Rồi chàng thanh niên con trai bà Sañjikā nghe lời vương tử Bodhi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn rằng:—“Bạch ngài Gotama, đã đến giờ; bữa ăn đã chuẩn bị xong.”
Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến tư gia của vương tử Bodhi cùng với hội chúng tỳ khưu. Vào lúc bấy giờ, vương tử Bodhi đứng ở bên ngoài cổng ra vào đang chờ đợi đức Thế Tôn. Rồi vương tử Bodhi đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang từ đàng xa đi lại, sau khi nhìn thấy vương tử Bodhi đã từ chỗ ấy đi ra đón tiếp, sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn, thỉnh ngài đi phía trước rồi đã đi đến lâu đài Kokanada.
Khi ấy, đức Thế Tôn đã đứng lại cạnh bậc cấp ở ngoài cùng. Rồi vương tử Bodhi đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy bước lên các tấm vải. Bạch ngài, xin đấng Thiện Thệ hãy bước lên các tấm vải, việc ấy sẽ đem lại cho con sự lợi ích và an vui lâu dài.” Khi được nói như vậy, đức Thế Tôn đã im lặng. Đến lần thứ nhì, … (như trên) … Đến lần thứ ba, vương tử Bodhi đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy bước lên các tấm vải. Bạch ngài, xin đấng Thiện Thệ hãy bước lên các tấm vải, việc ấy sẽ đem lại cho con sự lợi ích và an vui lâu dài.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã nhìn sang đại đức Ānanda. Rồi đại đức Ānanda đã nói với vương tử Bodhi điều này:—“Thưa vương tử, xin hãy gấp các tấm vải lại. Đức Thế Tôn sẽ không bước lên tấm thảm trải bằng vải. Đấng Như Lai có lòng thương tưởng đến chúng sanh sau này.”91
Sau đó, vương tử Bodhi đã bảo gấp lại các tấm vải và cho sắp đặt chỗ ngồi ở phía trên của lâu đài Kokanada. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bước lên lâu đài Kokanada và ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu. Sau đó, vương tử Bodhi đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật dẫn đầu bằng thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong, có bàn tay đã rời bình bát, vương tử Bodhi đã ngồi xuống một bên.
Khi vương tử Bodhi đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho vương tử Bodhi bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Sau đó, nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đức Thế Tôn đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên bước lên các tấm thảm trải bằng vải; vị nào bước lên thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 102~89Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà bị sẩy thai nọ đã thỉnh các tỳ khưu đến rồi trải ra tấm vải và đã nói điều này:—“Thưa các ngài, xin hãy bước lên tấm vải.” Các tỳ khưu trong khi ngần ngại không bước lên.
—“Thưa các ngài, xin hãy bước lên tấm vải để đem lại sự may mắn.” Các tỳ khưu trong khi ngần ngại đã không bước lên.
Khi ấy, người đàn bà ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các ngài đại đức trong khi được thỉnh cầu để đem lại sự may mắn lại không bước lên tấm thảm trải bằng vải?” Các tỳ khưu đã nghe người đàn bà ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …—“Này các tỳ khưu, các gia chủ tin vào sự may mắn. Này các tỳ khưu, ta cho phép bước lên tấm thảm trải bằng vải trong khi được thỉnh cầu để đem lại sự may mắn.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ngần ngại không bước lên tấm vải chùi chân. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …—“Này các tỳ khưu, ta cho phép bước lên tấm vải chùi chân.”
Inda-bh 103~90Vào lúc bấy giờ, sau khi ngự tại xứ Bhaggā theo như ý thích đức Thế Tôn đã lên đường đi đến thành Sāvatthi. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Sāvatthi. Tại nơi đó trong thành Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự tại Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Khi ấy, Visākhā mẹ của Migāra mang theo cái chum, vật chà chân (bằng đất nung), và cái chổi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Visākhā mẹ của Migāra đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn thọ nhận cái chum, vật chà chân (bằng đất nung), và cái chổi của con; việc ấy sẽ đem lại cho con sự lợi ích và an vui lâu dài.” Đức Thế Tôn đã thọ nhận các chum và cái chổi. Đức Thế Tôn đã không thọ nhận vật chà chân (bằng đất nung).
Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Visākhā mẹ của Migāra bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, Visākhā mẹ của Migāra đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cái chum và cái chổi. Này các tỳ khưu, không nên sử dụng vật chà chân (bằng đất nung); vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ba vật chà chân: cát, sỏi, và đá bọt biển.”
Inda-bh 104~91Khi ấy, Visākhā mẹ của Migāra mang theo cái quạt (hình vuông) và cái quạt lá cọ (hình tròn) đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Visākhā mẹ của Migāra đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn thọ nhận cái quạt (hình vuông) và cái quạt lá cọ (hình tròn) của con; việc ấy sẽ đem lại cho con sự lợi ích và an vui lâu dài.”
Đức Thế Tôn đã thọ nhận cái quạt (hình vuông) và cái quạt lá cọ (hình tròn). Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Visākhā mẹ của Migāra bằng bài Pháp thoại. Sau đó, Visākhā mẹ của Migāra … (như trên) … hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cái quạt (hình vuông) và cái quạt lá cọ (hình tròn).”
Inda-bh 105~92Vào lúc bấy giờ, quạt đuổi muỗi được phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) quạt đuổi muỗi.”
Quạt đuôi bò rừng được phát sanh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng quạt đuôi bò rừng; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ba loại quạt: làm bằng vỏ cây, làm bằng loại rễ cây usīra, làm bằng lông đuôi chim công.”
Inda-bh 106~93Vào lúc bấy giờ, ô dù được phát sanh đến hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ô dù.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư mang ô dù đi lại đó đây. Vào lúc bấy giờ, có nam cư sĩ nọ đã đi đến công viên cùng với nhiều tín đồ của đạo lõa thể. Các tín đồ của đạo lõa thể đã nhìn thấy từ đàng xa các tỳ khưu nhóm Lục Sư mang ô dù đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói với nam cư sĩ ấy điều này:—“Này ông, các bậc khả kính kia của ông mang ô dù đi đến kìa, giống như đám quan đại thần vậy.”
—“Này quý vị, các vị ấy không phải là các tỳ khưu, là các du sĩ ngoại đạo.”
—‘Là các tỳ khưu, không phải là các tỳ khưu,’ họ đã thực hiện việc cá độ. Sau đó, nam cư sĩ ấy khi đi lại gần biết được rõ ràng nên mới phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các ngài đại đức lại mang ô dù đi đó đây?”
Các tỳ khưu đã nghe được nam cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói … (như trên) … có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng ô dù; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 107~94Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Đối với vị ấy không có ô dù không được thoải mái. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) ô dù đối với tỳ khưu bị bệnh.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu (nghĩ rằng): “Ô dù đã được đức Thế Tôn cho phép đối với tỳ khưu bị bệnh, không cho đối với vị không bị bệnh” rồi ngần ngại che ô dù ở trong tu viện, ở vùng phụ cận tu viện. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tỳ khưu không bị bệnh che ô dù ở trong tu viện, ở vùng phụ cận tu viện.”
Inda-bh 108~95Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ buộc bình bát bằng sợi dây thừng treo ở cây gậy rồi đi ngang qua cổng của ngôi làng nọ vào lúc chiều tối. Dân chúng (bàn bạc rằng): “Này các vị, gã trộm kia đang đi, gươm của gã lấp lánh kìa” rồi đã đuổi theo, giữ lại, đến khi biết rõ, đã thả ra. Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã đi đến tu viện và kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu.
—“Này đại đức, có phải đại đức mang theo gậy và dây thừng?”
—“Này các đại đức, đúng vậy.”
Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao tỳ khưu lại mang theo gậy và dây thừng?”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này tỳ khưu, nghe nói ngươi mang theo gậy và dây thừng, có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên mang theo gậy và dây thừng; vị nào mang theo thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 109~96Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh không có cây gậy không thể đi lại đó đây. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ban cho sự đồng ý về (việc sử dụng) gậy đến tỳ khưu bị bệnh. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Vị tỳ khưu bị bệnh ấy cần đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:
‘Bạch các ngài, tôi bị bệnh không có cây gậy không thể đi lại. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng sự đồng ý về (việc sử dụng) gậy.’ Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba. Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên (như vầy) bị bệnh, không có cây gậy không thể đi lại. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng sự đồng ý về (việc sử dụng) gậy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho sự đồng ý về (việc sử dụng) gậy đến tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên (như vầy) bị bệnh, không có cây gậy không thể đi lại. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng sự đồng ý về (việc sử dụng) gậy. Hội chúng ban cho sự đồng ý về (việc sử dụng) gậy đến tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc ban cho sự đồng ý về (việc sử dụng) gậy đến tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Sự đồng ý về (việc sử dụng) gậy đã được hội chúng ban cho tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 110~97Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh không có sợi dây thừng không thể mang bình bát. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ban cho sự đồng ý về (việc sử dụng) dây thừng đến tỳ khưu bị bệnh. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Vị tỳ khưu bị bệnh ấy cần đi đến gặp hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, tôi bị bệnh không có sợi dây thừng không thể mang bình bát. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng sự đồng ý về (việc sử dụng) dây thừng.’ Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba. Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên (như vầy) bị bệnh, không có sợi dây thừng không thể mang bình bát. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng sự đồng ý về (việc sử dụng) dây thừng. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho sự đồng ý về (việc sử dụng) dây thừng đến tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên (như vầy) bị bệnh, không có sợi dây thừng không thể mang bình bát. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng sự đồng ý về (việc sử dụng) dây thừng. Hội chúng ban cho sự đồng ý về (việc sử dụng) dây thừng đến tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc ban cho sự đồng ý về (việc sử dụng) dây thừng đến tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Sự đồng ý về (việc sử dụng) dây thừng đã được hội chúng ban cho tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 111~98Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh không có cây gậy không thể đi lại đó đây, không có sợi dây thừng không thể mang bình bát. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ban cho sự đồng ý về (việc sử dụng) gậy và dây thừng đến tỳ khưu bị bệnh. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Vị tỳ khưu bị bệnh ấy cần đi đến gặp hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, tôi bị bệnh không có cây gậy không thể đi lại đó đây, không có sợi dây thừng không thể mang bình bát. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng sự đồng ý về (việc sử dụng) gậy và dây thừng.’ Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba. Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên (như vầy) bị bệnh, không có cây gậy không thể đi lại đó đây, không có sợi dây thừng không thể mang bình bát. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng sự đồng ý về (việc sử dụng) gậy và dây thừng. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho sự đồng ý về (việc sử dụng) gậy và dây thừng đến tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên (như vầy) bị bệnh, không có cây gậy không thể đi lại đó đây, không có sợi dây thừng không thể mang bình bát. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng sự đồng ý về (việc sử dụng) gậy và dây thừng. Hội chúng ban cho sự đồng ý về (việc sử dụng) gậy và dây thừng đến tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc ban cho sự đồng ý về (việc sử dụng) gậy và dây thừng đến tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Sự đồng ý về (việc sử dụng) gậy và dây thừng đã được hội chúng ban cho tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 112~99Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có tật nhai lại thức ăn. Vị ấy nhai đi nhai lại (thức ăn) rồi nuốt xuống. Các tỳ khưu phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vị tỳ khưu này ăn vật thực lúc sái thời.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy trước đây không lâu thuộc nòi giống trâu bò đã bị chết đi. Này các tỳ khưu, ta cho phép việc nhai lại đối với vị có tật nhai lại. Và này các tỳ khưu, sau khi ợ lên ở cửa miệng (vật đã ăn vào) không nên nuốt xuống; vị nào nuốt xuống thì nên được hành xử theo Pháp.”105
Inda-bh 113~100Vào lúc bấy giờ, có bữa trai phạn dâng đến hội chúng của nhóm người nọ. Nhiều hột cơm đã bị rơi vãi trong phòng ăn. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử trong khi được dâng cơm lại không thọ lãnh một cách thận trọng, vì mỗi một hột cơm được tạo nên bởi trăm công sức?” Các tỳ khưu đã nghe được những người dân ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, vật nào bị rơi xuống trong khi được dâng cúng, ta cho phép tự thân nhặt lên và thọ dụng vật ấy. Này các tỳ khưu, vật ấy đã được xả thí bởi các thí chủ.”
Inda-bh 114~101Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi khất thực với các móng được để dài. Có người đàn bà nọ đã nhìn thấy rồi nói với vị tỳ khưu ấy điều này:—“Ngài ơi, hãy đến. Hãy thực hiện việc lứa đôi đi.”
—“Này chị gái, thôi đi. Việc ấy không được phép.”
—“Ngài ơi, nếu ngài không thực hiện, giờ đây tôi sẽ cào cấu khắp mình mẩy bằng các móng tay của mình rồi sẽ làm ầm ĩ: ‘Tỳ khưu này xúc phạm tôi.’”
—“Này chị gái, cô nên biết điều.”
Khi ấy, người đàn bà ấy đã cào cấu khắp mình mẩy bằng các móng tay của mình rồi đã làm ầm ĩ: “Tỳ khưu này xúc phạm tôi.”
Dân chúng đã chạy lại và bắt giữ vị tỳ khưu ấy. Rồi những người ấy đã nhìn thấy da và máu ở móng tay của người đàn bà ấy, sau khi nhìn thấy (biết được rằng): ‘Hành động này là của chính người đàn bà này, vị tỳ khưu không phải là người làm’ rồi đã thả vị tỳ khưu ấy ra.
Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã đi đến tu viện và kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu.
—“Này đại đức, có phải đại đức đã để dài các móng?”
—“Này các đại đức, đúng vậy.”
Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu lại để dài các móng?”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, các móng không nên để dài; vị nào để dài thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 115~102Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu xé móng bằng móng tay, cắn móng bằng miệng, mài móng ở tường. Các ngón bị đau. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép việc cắt móng.”
Các vị cắt móng làm chảy máu. Các ngón bị đau.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép cắt móng đến sát phần thịt.”
Inda-bh 116~103Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư bảo trau chuốt hai mươi (móng tay và chân). Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên bảo trau chuốt hai mươi (móng tay và chân); vị nào bảo trau chuốt thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép lấy đất ra (từ các móng).”
Inda-bh 117~104Vào lúc bấy giờ, tóc của các tỳ khưu bị dài. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, các tỳ khưu có khả năng để xuống tóc cho nhau không?”
—“Bạch Thế Tôn, có khả năng.”
Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) dao cạo, đá mài dao cạo, bao đựng dao cạo, miếng vải len, tất cả vật dụng liên quan đến dao cạo.”
Inda-bh 118~105Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư tỉa râu, để râu dài ra, tạo dáng chòm râu dưới cằm, tạo dáng chòm râu hình vuông, tạo dáng lông ngực, tạo dáng lông bụng, làm đứng giống ngà voi, nhổ (cạo) lông ở chỗ kín. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên tỉa râu, không nên để râu dài ra, không nên tạo dáng chòm râu dưới cằm, không nên tạo dáng chòm râu hình vuông, không nên tạo dáng lông ngực, không nên tạo dáng lông bụng, không nên làm đứng giống ngà voi, không nên nhổ (cạo) lông ở chỗ kín; vị nào nhổ (cạo) thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 119~106Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị vết thương ở chỗ kín. Thuốc không thể bám vào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép nhổ (cạo) lông ở chỗ kín do duyên cớ bệnh.”
Inda-bh 120~107Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư bảo cắt tóc bằng kéo. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên bảo cắt tóc bằng kéo; vị nào bảo cắt thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 121~108Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị vết thương ở trên đầu, không thể xuống tóc bằng dao cạo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép bảo cắt tóc bằng kéo do duyên cớ bệnh.”
Inda-bh 122~109Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu để lông mũi dài. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ thờ phụng quỷ thần vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên để lông mũi dài; vị nào để thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 123~110Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu lấy lông mũi ra với mảnh sành hoặc bằng sáp ong. Hai lỗ mũi bị đau. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) cái nhíp (nhổ lông).”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư bảo nhổ tóc bạc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên bảo nhổ tóc bạc; vị nào bảo nhổ thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 124~111Vào lúc bấy giờ, các lỗ tai của vị tỳ khưu nọ bị các ráy tai che bít. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) đồ lấy ráy tai.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng các đồ lấy ráy tai đủ loại làm bằng vàng, làm bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng các đồ lấy ráy tai đủ loại; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép làm bằng xương, làm bằng ngà răng, làm bằng sừng, làm bằng sậy, làm bằng tre, làm bằng gỗ, làm bằng nhựa cây, làm bằng trái cây, làm bằng đồng, làm bằng vỏ sò.”
Inda-bh 125~112Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư tích trữ nhiều đồ vật làm bằng đồng thau và đồ vật làm bằng đồng đỏ. Dân chúng trong khi dạo quanh tu viện nhìn thấy rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử lại tích trữ nhiều đồ vật làm bằng đồng thau và đồ vật làm bằng đồng đỏ giống như nhà buôn bán đồ đồng vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên tích trữ đồ vật làm bằng đồng thau và đồ vật làm bằng đồng đỏ; vị nào tích trữ thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ngần ngại (sử dụng) thuốc cao, que bôi thuốc cao, đồ lấy ráy tai, và vật dùng làm cán (tay cầm). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) thuốc cao, que bôi thuốc cao, đồ lấy ráy tai, vật dùng làm cán (tay cầm).”
Inda-bh 126~113Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư ngồi ôm đầu gối bằng y hai lớp. Các lớp vải của y hai lớp bị tơi tả. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên ngồi ôm đầu gối bằng y hai lớp; vị nào ngồi thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Không có vải băng bó, vị ấy không được thoải mái. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) vải băng bó.”
Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý điều này: “Vải băng bó nên được làm ra như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) khung dệt, con thoi, sợi dệt, kim dệt, và tất cả vật dụng liên quan đến việc dệt.”
Inda-bh 127~114Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ không buộc dây thắt lưng đã đi vào làng để khất thực. Ở trên đường đi, y nội của vị ấy đã bị tuột xuống. Dân chúng đã kêu ồ lên. Vị tỳ khưu đã bị xấu hổ. Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã đi đến tu viện và kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, vị không buộc dây thắt lưng không nên đi vào làng; vị nào đi vào thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép dây thắt lưng.”
Inda-bh 128~115Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng các dây thắt lưng đủ loại: loại do nhiều sợi bện lại, loại giống hình đầu rắn nước, loại có bện cái trống nhỏ, loại giống như dây xích. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng các dây thắt lưng đủ loại: loại do nhiều sợi bện lại, loại giống hình đầu rắn nước, loại có bện cái trống nhỏ, loại giống như dây xích; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) hai loại dây thắt lưng: loại bằng vải, và cái ruột tượng.”
Các mép của dây thắt lưng bị sờn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) loại có bện cái trống nhỏ, loại giống như dây xích.”
Đầu chóp của dây thắt lưng bị sờn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép khâu tròn (hai đầu chóp), thắt nút (hai đầu chóp).”
Hai đầu chóp của dây thắt lưng đã khâu lại bị sờn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) khóa thắt lưng.”
Inda-bh 129~116Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng các khóa thắt lưng đủ loại làm bằng vàng, làm bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng các khóa thắt lưng đủ loại; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép làm bằng xương, làm bằng ngà răng, làm bằng sừng, làm bằng sậy, làm bằng tre, làm bằng gỗ, làm bằng nhựa cây, làm bằng trái cây, làm bằng đồng, làm bằng vỏ sò, làm bằng chỉ sợi.”
Inda-bh 130~117Vào lúc bấy giờ, đại đức Ānanda đã đắp các y hai lớp mỏng nhẹ rồi đi vào làng để khất thực. Do cơn gió xoáy, các y hai lớp đã bị tốc lên. Sau đó, đại đức Ānanda đã đi về lại tu viện và kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) hột nút, cái nơ buộc.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sử dụng các hột nút đủ loại làm bằng vàng, làm bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên sử dụng các hột nút đủ loại; vị nào sử dụng thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép làm bằng xương, làm bằng ngà răng, làm bằng sừng, làm bằng sậy, làm bằng tre, làm bằng gỗ, làm bằng nhựa cây, làm bằng trái cây, làm bằng đồng, làm bằng vỏ sò, làm bằng chỉ sợi.”
Inda-bh 131~118Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu cài hột nút, cài cái nơ buộc ở trên y. Y bị sờn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) hột nút hình dẹp, cái nơ buộc hình dẹp.”
Các vị cài hột nút hình dẹp, cài cái nơ buộc hình dẹp ở góc chéo (của y). Phần cuối (của y) bị mở ra. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép cài hột nút hình dẹp ở góc chéo (của y), cài cái nơ buộc hình dẹp sau khi lùi vào bảy lóng tay hoặc tám lóng tay.”
Inda-bh 132~119Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư mặc vải lót trong của người tại gia: loại quấn như vòi voi, loại vắt lên như đuôi cá, loại để hở bốn góc, loại vải có tua, loại vải thật dài. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên mặc vải lót trong của người tại gia: loại quấn như vòi voi, loại vắt lên như đuôi cá, loại để hở bốn góc, loại vải có tua, loại vải thật dài; vị nào mặc thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 133~120Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư mặc váy. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như phu mang vác của đức vua vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên mặc váy; vị nào mặc thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư trùm loại vải choàng bên ngoài của người tại gia. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên trùm loại vải choàng bên ngoài của người tại gia; vị nào trùm thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 134~121Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đeo túi quàng ở hai vai. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như phu mang vác của đức vua vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên đeo túi quàng ở hai vai; vị nào đeo thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép túi đeo một bên vai, túi hai người xách, vật đội trên đầu, vật mang ở vai, vật mang ở hông, túi xách.”
Inda-bh 135~122Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu không nhai gỗ chà răng. Miệng trở nên có mùi hôi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, đây là năm điều bất lợi trong việc không nhai gỗ chà răng: Không có ích lợi cho mắt, miệng trở nên có mùi hôi, các vị giác không tinh tế, mật và đờm che lấp thức ăn, vị ấy không hứng thú với thức ăn. Này các tỳ khưu, đây là năm điều bất lợi trong việc không nhai gỗ chà răng.
Này các tỳ khưu, đây là năm điều lợi ích trong việc nhai gỗ chà răng: Có ích lợi cho mắt, miệng không có mùi hôi, các vị giác được tinh tế, mật và đờm không che lấp thức ăn, vị ấy hứng thú với thức ăn. Này các tỳ khưu, đây là năm điều lợi ích trong việc nhai gỗ chà răng.”
Inda-bh 136~123Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư nhai gỗ chà răng loại dài. Các vị còn đánh (gõ) các sa di bằng chính những cây gỗ ấy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên nhai gỗ chà răng loại dài; vị nào nhai thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép gỗ chà răng dài tối đa tám ngón tay và không nên đánh (gõ) sa di bằng cây gỗ ấy; vị nào đánh thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 137~124Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong khi nhai cây gỗ chà răng quá ngắn nên bị vướng ở cổ họng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên nhai gỗ chà răng quá ngắn; vị nào nhai thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép gỗ chà răng ngắn tối thiểu bốn ngón tay.”
Inda-bh 138~125Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đốt đám lửa lớn. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như thợ đốt lò vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên đốt đám lửa lớn; vị nào đốt thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, các tu viện có cỏ rậm rạp. Trong khi đám lửa lớn bị phát cháy, các tu viện bị phát cháy. Các tỳ khưu ngần ngại (không) tạo nên ngọn lửa nghịch chiều để thực hiện sự bảo vệ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, khi đám lửa lớn phát cháy ta cho phép tạo nên ngọn lửa nghịch chiều để thực hiện sự bảo vệ.”
Inda-bh 139~126Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư trèo lên cây, chuyền từ cây này sang cây khác. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các con khỉ vậy?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên trèo lên cây; vị nào trèo lên thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong khi đi đến thành Sāvatthi ở xứ sở Kosala, giữa đường đã có con voi đứng chận. Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã chạy lại gần gốc cây, trong lúc ngần ngại đã không trèo lên cây. Con voi ấy đã đi sang hướng khác. Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã đi đến thành Sāvatthi và kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép trèo lên cây với tầm cao của con người khi có việc cần làm, và đến tầm cao cần thiết trong những lúc hiểm nguy.”
Inda-bh 140~127Vào lúc bấy giờ, hai tỳ khưu tên Yameḷu và Tekula là hai anh em xuất thân dòng dõi Bà-la-môn có lời nói nhã nhặn với âm điệu ngọt ngào. Họ đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, các tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, hiện nay các tỳ khưu có tên gọi khác nhau, có dòng dõi khác nhau, có giai cấp khác nhau, có gia tộc khác nhau đã xuất gia. Các vị ấy làm hỏng lời dạy của đức Phật bằng tiếng địa phương của chính họ. Bạch ngài, hãy để chúng con hoán chuyển lời dạy của đức Phật sang dạng có niêm luật.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này những kẻ rồ dại kia, vì sao các ngươi lại nói như vầy: ‘Bạch ngài, hãy để chúng con hoán chuyển lời dạy của đức Phật sang dạng có niêm luật?’ Này những kẻ rồ dại kia, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.” Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, không nên hoán chuyển lời dạy của chư Phật sang dạng có niêm luật; vị nào hoán chuyển thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép học tập lời dạy của đức Phật bằng tiếng địa phương của chính bản thân.”
Inda-bh 141~128Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư học tập việc giải đoán điềm lành dữ. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các tỳ khưu đã nghe được những người dân ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, kẻ chuyên chú trong việc giải đoán điềm lành dữ có thể đạt được sự tiến triển, sự tăng trưởng, sự lớn mạnh trong Pháp và Luật này không?”
—“Bạch ngài, không có điều ấy.”
—“Hoặc vị chuyên chú trong Pháp và Luật này có thể học tập việc giải đoán điềm lành dữ không?”
—“Bạch ngài, không có điều ấy.”
—“Này các tỳ khưu, không nên học tập việc giải đoán điềm lành dữ; vị nào học tập thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư dạy việc giải đoán điềm lành dữ. … (như trên) … Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên dạy việc giải đoán điềm lành dữ; vị nào dạy thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư học tập kiến thức nhảm nhí. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên học tập kiến thức nhảm nhí; vị nào học tập thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư dạy kiến thức nhảm nhí. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Giống như các kẻ tại gia hưởng dục vậy.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, không nên dạy kiến thức nhảm nhí; vị nào dạy thì phạm tội dukkaṭa.”
Inda-bh 142~129Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn, được vây quanh bởi hội chúng đông đảo, trong lúc đang giảng Pháp đã hắt hơi. Các tỳ khưu đã gây nên âm thanh ồn tiếng động lớn rằng: ‘Bạch ngài, mong rằng đức Thế Tôn hãy sống, mong rằng đấng Thiện Thệ hãy sống.’ Do âm thanh ấy sự giảng Pháp đã bị gián đoạn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, khi hắt hơi mà được nói rằng: ‘Mong rằng người hãy sống,’ do duyên ấy có thể tiếp tục sống hay có thể chết đi?”
—“Bạch ngài, không có điều ấy.”
—“Này các tỳ khưu, khi (ai đó) hắt hơi không nên nói rằng: ‘Mong rằng người hãy sống.’ Vị nào nói thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, khi các tỳ khưu hắt hơi, dân chúng nói rằng:—“Thưa các ngài, mong rằng các ngài hãy sống.” Các tỳ khưu trong khi ngần ngại không đáp lại. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử khi được nói rằng: ‘Thưa ngài, mong rằng ngài hãy sống’ lại không đáp lời?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, những người tại gia mong điều tốt lành. Này các tỳ khưu, khi được nói rằng: ‘Thưa ngài, mong rằng ngài hãy sống,’ ta cho phép đáp lại người tại gia rằng: ‘Mong rằng người sống lâu.’”
Inda-bh 143~130Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn được hội chúng đông đảo vây quanh đang ngồi giảng Pháp. Có vị tỳ khưu nọ vừa mới nhai tỏi. Vị ấy(nghĩ rằng): ‘Chớ để các tỳ khưu bị phiền toái,’ nên đã ngồi xuống ở một góc. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đã ngồi xuống ở một góc, sau khi nhìn thấy ngài đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ấy đã ngồi xuống ở một góc vậy?”
—“Bạch ngài, vị tỳ khưu ấy vừa mới nhai tỏi. Vị ấy (nghĩ rằng): ‘Chớ để các tỳ khưu bị phiền toái’ nên đã ngồi xuống ở một góc.”
—“Này các tỳ khưu, sau khi nhai một vật gì mà phải bị loại ra khỏi cuộc giảng Pháp như thế này thì có nên nhai vật ấy không?”
—“Bạch ngài, điều ấy không nên.”
—“Này các tỳ khưu, không nên nhai tỏi; vị nào nhai thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, đại đức Sāriputta bị bệnh đau bụng gió. Khi ấy, đại đức Mahāmoggallāna đã đi đến gặp đại đức Sāriputta, sau khi đến đã nói với đại đức Sāriputta điều này:
—“Này đại đức Sāriputta, trước đây khi bị bệnh đau bụng gió, đại đức được thoải mái nhờ vật gì?”
—“Này đại đức, đối với tôi nhờ tỏi.”
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép nhai tỏi do duyên cớ bệnh.”
Inda-bh 144~131Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu tiểu tiện đó đây trong tu viện. Tu viện trở nên dơ bẩn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tiểu tiện ở một góc.”
Tu viện trở nên có mùi hôi.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) lu nước tiểu.”
Các vị đi tiểu tiện, ngồi xuống một cách khó khăn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) bục tiểu tiện.”
Bục tiểu tiện ở nơi trống trải. Các tỳ khưu hổ thẹn khi tiểu tiện.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép rào quanh (bằng) ba loại hàng rào: hàng rào bằng gạch, hàng rào bằng đá, hàng rào bằng gỗ.”
Lu nước tiểu không được đậy lại nên có mùi hôi.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nắp đậy.”
Inda-bh 145~132Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đại tiện đó đây trong tu viện. Tu viện trở nên dơ bẩn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép đại tiện ở một góc.”
Tu viện trở nên có mùi hôi.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) hố tiêu.”
Thành hố tiêu bị sụp xuống.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (xây dựng) ba loại nền móng: nền móng bằng gạch, nền móng bằng đá, nền móng bằng gỗ.”
Hố tiêu có nền thấp nên bị ngập nước.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nền cao.”
Nền móng bị đổ xuống.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép xây dựng ba loại nền móng: nền móng bằng gạch, nền móng bằng đá, nền móng bằng gỗ.”
Các vị bị khó khăn trong khi bước lên.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ba loại bậc thang: bậc thang bằng gạch, bậc thang bằng đá, bậc thang bằng gỗ.”
Các vị bị té trong khi bước lên (bậc thang).—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) tay cầm để vịn.”
Ngồi ở rìa mép, các vị bị té trong khi đại tiện.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép trải lót, làm cái lỗ ở giữa để đại tiện.”
Các vị đi đại tiện, ngồi xuống một cách khó khăn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) bục đại tiện.”
Các vị tiểu tiện ra ở bên ngoài.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) rãnh dẫn nước tiểu.”
Gỗ chùi không có.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) gỗ chùi.”
Thùng chứa đồ chùi không có.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) thùng chứa đồ chùi.”
Hố phân không được đậy lại nên có mùi hôi.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nắp đậy.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu trong khi đại tiện ở ngoài trời bị mệt mỏi vì lạnh và nóng.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) nhà tiêu.”
Nhà tiêu không có cửa.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) cánh cửa, trụ cửa, rãnh xoay, chốt xoay, tay nắm, chốt gài, đinh khóa chốt, chốt cửa, lỗ khóa, lỗ để xỏ dây, dây thừng để luồn qua.”
Rác cỏ rơi vào trong nhà tiêu.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nẹp cây rồi trét vữa bên trên và bên dưới, việc sơn màu trắng, sơn màu đen, trét màu đỏ, trang hoàng hình vòng hoa, trang hoàng hình tua, chốt treo bằng răng cá kiếm, vải trang hoàng năm loại, sào máng y, dây treo y.”
Inda-bh 146~133Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ già yếu đại tiện xong trong khi đứng dậy bị té. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế tôn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) tay vịn.”
Vào lúc bấy giờ, nhà tiêu không được rào lại.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép rào quanh (bằng) ba loại hàng rào: hàng rào bằng gạch, hàng rào bằng đá, hàng rào bằng gỗ.”
Không có nhà kho chứa đồ.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) nhà kho chứa đồ.”
Nhà kho chứa đồ có nền thấp … (như trên) …—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nền cao.” Nền móng bị đổ xuống. … (như trên) … Các vị bị khó khăn trong khi bước lên. … (như trên) …—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ba loại bậc thang: … (như trên) …—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) tay cầm để vịn.”
Nhà kho chứa đồ không có cửa.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (thực hiện) cánh cửa, trụ cửa, rãnh xoay, chốt xoay, tay nắm, chốt gài, đinh khóa chốt, chốt cửa, lỗ khóa, lỗ để xỏ dây, dây thừng để luồn qua.”
Rác cỏ rơi ở nhà kho chứa đồ.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép làm nẹp cây rồi trét vữa bên trên và bên dưới, việc sơn màu trắng, sơn màu đen, trét màu đỏ, trang hoàng hình vòng hoa, trang hoàng hình tua, chốt treo bằng răng cá kiếm, vải trang hoàng năm loại.”
Căn phòng bị lầy lội.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép rải cát.”
Các vị không thành công.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép trải đá phiến.”
Nước còn đọng lại.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (làm) rãnh thoát nước.”
Lu nước rửa không có.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) lu nước rửa.”
Gáo múc nước để rửa không có.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) gáo múc nước để rửa.”
Các vị rửa, ngồi xuống một cách khó khăn.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) bục ngồi rửa.”
Bục ngồi rửa ở nơi trống trải. Các tỳ khưu hổ thẹn khi rửa.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép rào quanh (bằng) ba loại hàng rào: hàng rào bằng gạch, hàng rào bằng đá, hàng rào bằng gỗ.”
Lu nước rửa không được đậy lại nên bị các rác cỏ luôn cả các vật dơ rơi vào.
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép (sử dụng) nắp đậy.”
Inda-bh 147~134Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư cư xử hành vi sai trái có hình thức như vầy: Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết hai mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm thảm hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đội đầu, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đeo tai, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa che ngực.
Họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng tràng hoa kết một mặt, đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng tràng hoa kết hai mặt, đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng thảm hoa, đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa, đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa đội đầu, đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa đeo tai, đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa che ngực cho những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình.
Họ cùng với những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình ăn chung trong một đĩa, uống chung trong một cốc, ngồi chung trên một chỗ ngồi, nằm chung trên một giường, nằm chung một tấm trải, nằm chung một tấm đắp, nằm chung một tấm trải và tấm đắp. Họ ăn sái giờ, họ uống rượu, họ đeo dây chuyền, xức nước hoa và phấn thơm. Họ nhảy múa, họ ca hát, họ tấu đàn, họ vui đùa. Họ lại còn nhảy múa cùng với người nữ đang nhảy múa, ca hát cùng với người nữ đang nhảy múa, tấu đàn cùng với người nữ đang nhảy múa, vui đùa cùng với người nữ đang nhảy múa; họ lại còn nhảy múa, ... ca hát, ... tấu đàn, ... vui đùa cùng với người nữ đang ca hát; họ lại còn nhảy múa, ... ca hát, ... tấu đàn, ... vui đùa cùng với người nữ đang tấu đàn; họ lại còn nhảy múa cùng với người nữ đang vui đùa, ca hát cùng với người nữ đang vui đùa, tấu đàn cùng với người nữ đang vui đùa, vui đùa cùng với người nữ đang vui đùa.
Họ còn tiêu khiển cờ tám ô vuông, cờ mười ô vuông, họ chơi với bàn cờ tưởng tượng ở trên không, họ chơi lối sắp vòng tròn, họ chơi lối rút quân cờ, họ chơi ném xúc xắc, họ chơi đánh gậy, họ chơi trò vẽ bằng tay, họ chơi trò sấp ngửa, họ chơi trò thổi kèn bằng lá cây, họ chơi trò uốn dẻo, họ chơi trò nhào lộn, họ chơi trò dùng lá cọ giả làm cối xay gió, họ chơi trò đo lường, họ chơi trò đua xe, họ thi bắn cung, họ chơi trò đố chữ, họ chơi trò đoán ý, họ chơi trò nhái điệu bộ, họ tập cỡi voi, họ tập cỡi ngựa, họ tập điều khiển xe, họ tập bắn cung, họ tập đao kiếm, họ chạy phía trước voi, họ chạy phía trước ngựa, họ chạy đi chạy lại phía trước xe; họ huýt sáo, họ vỗ tay, họ vật lộn, họ đánh nhau bằng các nắm tay. Họ trải y ca-sa hai lớp ở giữa nhà rồi mời cô vũ nữ rằng: ‘Này cô em, hãy nhảy ở đây này,’ họ còn vỗ tay tán thưởng. Họ cư xử hành vi sai trái theo nhiều cách. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) …—“Này các tỳ khưu, không nên cư xử hành vi sai trái theo nhiều cách; vị nào cư xử thì nên được hành xử theo Pháp.”
Inda-bh 148~135Vào lúc bấy giờ, khi đại đức Uruvelakassapa xuất gia, nhiều đồ vật bằng kim loại, đồ vật bằng gỗ, đồ vật bằng gốm sứ được phát sanh đến hội chúng. Khi ấy, các tỳ khưu đã khởi ý rằng: “Đồ vật bằng kim loại nào đã được đức Thế Tôn cho phép, đồ vật nào không được cho phép? Đồ vật bằng gỗ nào đã được đức Thế Tôn cho phép, đồ vật nào không được cho phép? Đồ vật bằng gốm sứ nào đã được đức Thế Tôn cho phép, đồ vật nào không được cho phép?”
Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, ta cho phép tất cả đồ vật bằng kim loại ngoại trừ vũ khí, tất cả đồ vật bằng gỗ ngoại trừ ghế trường kỷ, ghế nệm lông thú, bình bát bằng gỗ, giày dép bằng gỗ, tất cả đồ vật bằng gốm sứ ngoại trừ đồ chà chân và loại lu lớn.”
Chương Các Tiểu Sự là thứ năm.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Inda-bh 1~136Ở thân cây, ở cột trụ, và ở tường nhà, ở tấm ván xẻ, với cây kỳ cọ, và chuỗi hột, cọ xát (thân thể lẫn nhau), cây chà lưng, bệnh ghẻ, và vị già cả, (dùng) bàn tay như thường lệ.
Inda-bh 2~137Không nên mang ngay cả hoa tai, hoa dạng chuỗi, dây chuỗi ở cổ, ở hông, vòng, vòng ở ngực, đồ trang sức ở tay, và nhẫn.
Inda-bh 3~138(Về tóc) dài, lược chải, vật hình mang rắn, bàn tay (xòe ra), (thoa) sáp ong, dầu nước, giương soi, và chậu nước, dầu (thoa), việc xoa bóp, và thoa phấn.
Inda-bh 4~139Các vị tô điểm, việc vẽ màu ở thân hình, và tô màu ở mặt, rồi cả hai việc, bệnh ở mắt, và ở trên đỉnh núi, sự (ngâm nga) kéo dài, âm điệu, (áo khoác) ở bên ngoài.
Inda-bh 5~140Xoài miếng, với các trái còn nguyên, con rắn, vị đã cắt đứt, và khúc gỗ trầm hương, các bình bát đủ loại, phần đáy bình bát, bằng vàng, bị dày cộm, bị lỏng chỏng.
Inda-bh 6~141Có màu sặc sỡ, bị hư hỏng, có mùi hôi, ở chỗ nắng, chúng đã bị vỡ, ở băng ghế, giường đúc, (tấm lót) cỏ, miếng vải, bục nền xung quanh, và ở giỏ mây, túi đựng, dây mang vai, tương tợ như thế về dây đeo bằng chỉ kết lại.
Inda-bh 7~142Ở chốt đinh, và ở giường, ở ghế, ở bắp vế, ở cái dù, việc mở cửa, bầu đựng nước, cái hũ, cái sọ từ thây người, các đồ thừa thãi, vật chứa.
Inda-bh 8~143Vị đã xé (bằng tay), dao có cán, bằng vàng, lông (gà), lạt tre, và ống đựng kim khâu, bột gây men, bột lúa mạch, bột đá, mật và sáp ong, nhựa cây.
Inda-bh 9~144Không vuông vức, đã buộc vào, chỗ không bằng phẳng, ở trên mặt đất, bị sờn, và không đạt kích thước, việc đo đạc, và đường chỉ may tạm, chân chưa rửa, đẫm nước, mang giày dép.
Inda-bh 10~145Các ngón tay, đồ bao ngón tay, thùng chứa đồ, các dây mang vai, ở ngoài trời, nền thấp, và luôn cả nền móng, các vị bị khó khăn.
Inda-bh 11~146Vị bị té, rác cỏ, việc tô vữa trong và ngoài, màu trắng, việc sơn màu đen, và việc chuẩn bị màu đỏ.
Inda-bh 12~147Việc trang hoàng hình vòng hoa, trang hoàng hình tua, chốt treo bằng răng cá kiếm, vải trang hoàng, sào máng y, và dây treo y, vị Lãnh Đạo đã cho phép.
Inda-bh 13~148Sau khi bỏ bê, các vị ra đi, bị gặm nhấm, bị rời ra, bị bung ra, ngay cả ở trên tường, mang theo bằng bình bát, rồi ra đi.
Inda-bh 14~149Túi đựng, và dây mang bằng chỉ kết lại, sau khi buộc đôi dép (ở hông), và cái túi đựng dép, dây vải mang vai là chỉ kết lại.
Inda-bh 15~150Nước uống chưa được làm thành đúng phép, ở trên đường, đồ lược nước, miếng vải lược, đồ lọc nước thông thường, hai vị tỳ khưu, vị Hiền Sĩ đã đi đến Vesāli.
Inda-bh 16~151Ở tại nơi ấy, Ngài đã cho phép đồ lọc có hai lớp, bể lọc nước, đồ lược nước, bởi các con muỗi, với thức ăn hảo hạng, nhiều chứng bệnh, và thầy thuốc Jīvaka.
Inda-bh 17~152Đường kinh hành, nhà tắm hơi, ở nơi không bằng phẳng, các nền bị thấp, ba loại nền móng, các vị gặp khó khăn, bậc thang và tay cầm, lan can.
Inda-bh 18~153Ở ngoài trời, rác cỏ, việc tô vữa trong và ngoài, màu trắng, việc sơn màu đen, và việc chuẩn bị màu đỏ.
Inda-bh 19~154Việc trang hoàng hình vòng hoa, trang hoàng hình tua, chốt treo bằng răng cá kiếm, vải trang hoàng, sào máng y, và dây treo y, và các vị làm nền cao.
Inda-bh 20~155Ba loại bậc thang, và tay cầm, cánh cửa, trụ cửa, rãnh xoay, chốt xoay, tay nắm, và chốt gài.
Inda-bh 21~156Đinh khóa chốt, chốt cửa, lỗ khóa, lỗ để xỏ dây, và sợi dây. Mô tròn, và ống thông khói, ở giữa, và đất sét đắp ở mặt.
Inda-bh 22~157Máng đựng đất sét, có mùi hôi, bị phỏng, vại chứa nước, gáo múc nước, làm ra mồ hôi, (nền) bị lầy lội, đã rửa sạch, rãnh thoát nước.
Inda-bh 23~158Ghế ngồi, ở nhà kho, công việc làm, cát, và đá phiến, rãnh thoát nước, các vị ở trần, ở nền đất, trời đang mưa, ba loại tấm choàng tại nơi ấy.
Inda-bh 24~159Giếng nước, và bị sụp đổ, bằng dây rừng, sợi dây thắt lưng, cần giọt, cần trục quay, ròng rọc, nhiều gàu múc bị bể.
Inda-bh 25~160(Gàu) bằng thiếc, bằng gỗ, bằng da thuộc, gian nhà, rác cỏ, và nắp đậy, máng chứa nước, hồ tắm, hàng rào, bị lầy lội, và bằng rãnh thoát nước.
Inda-bh 26~161Việc bị lạnh, hồ trữ nước, và nước bị ôi, mái vòng cung, bốn tháng, và các vị nằm, tấm thảm len, không nên chú nguyện để dùng riêng.
Inda-bh 27~162Được rắc dầu thơm, giá đỡ bình bát, các vị ăn chung trong một (tô), đã nằm chung, chuyện Vaḍḍha, chuyện Bodhi, Ngài đã không bước lên, cái chum, vật chà chân (bằng đất nung), cái chổi.
Inda-bh 28~163Cát, sỏi, và đá bọt biển là vật chà chân, cái quạt (hình vuông), cái quạt lá cọ, quạt đuổi muỗi, và luôn cả quạt đuôi bò.
Inda-bh 29~164Ô dù, và không có, ở trong tu viện, ba sự đồng ý về sợi dây, tật nhai lại, cơm rơi, các móng dài, các vị cắt, các ngón tay bị đau.
Inda-bh 30~165Có bị chảy máu, và cắt sát (phần thịt), hai mươi (ngón), việc để tóc dài, dao cạo, đá mài, bao đựng, miếng vải len, vật dụng để cạo.
Inda-bh 31~166Các vị tỉa râu, các vị để râu, râu dưới cằm, râu hình vuông, lông ngực, lông bụng, giống ngà voi, các vị nhổ (cạo) lông.
Inda-bh 32~167Các chứng bệnh, cái kéo, vết thương, (lông mũi) dài, và bằng mảnh sành, tóc bạc, bị bít kín (lỗ tai), đủ các loại, vật bằng đồng thau và thuốc cao.
Inda-bh 33~168Ngồi ôm đầu gối, và vải băng bó, sợi dệt, kim dệt, dây thắt lưng, loại do nhiều sợi bện lại, loại giống hình đầu rắn nước, loại có bện cái trống nhỏ, loại giống như dây xích.
Inda-bh 34~169Loại bằng vải, và loại hai đầu được thắt lại, các mép (bị sờn), loại có bện cái trống nhỏ, loại giống như dây xích, đầu chóp, khâu tròn, và còn thắt nút nữa, đầu chóp đã khâu lại bị sờn.
Inda-bh 35~170Về khóa thắt lưng, hột nút, và cái nơ buộc, và loại có loại hình dẹp ở góc chéo (của y) và nên lùi vào, vải lót trong của người tại gia: loại quấn như vòi voi, loại vắt lên như đuôi cá, loại để hở bốn góc.
Inda-bh 36~171Loại vải có tua, loại vải thật dài, cái váy, trùm loại vải choàng bên ngoài của người tại gia, không nên đeo túi quàng ở hai vai, gỗ chà răng, việc đánh (gõ bằng gỗ chà răng).
Inda-bh 37~172Bị vướng ở cổ họng, và đám lửa lớn, ngọn lửa nghịch chiều, (trèo) cây, bởi con voi, vị Yameḷu, việc giải đoán điềm lành dữ, các vị đã học, các vị đã dạy lại.
Inda-bh 38~173Kiến thức nhảm nhí, việc dạy, Ngài đã hắt hơi, điều tốt lành, và (nhai) tỏi, bệnh gió, trở nên dơ bẩn, và có mùi hôi, khó khăn, bục (tiểu tiện).
Inda-bh 39~174Các vị hổ thẹn, không được đậy, có mùi hôi, và các vị đại tiện đó đây, có mùi hôi, hố tiêu, bị sụp xuống, nền cao, và các loại nền móng.
Inda-bh 40~175Bậc thang, tay cầm để vịn, ở rìa mép, bị khó khăn, và bục đại tiện, (tiểu) ra ngoài, khe rãnh, và gỗ chùi, thùng chứa, và không được đậy lại.
Inda-bh 41~176Nhà tiêu, và cánh cửa, và luôn cả trụ cửa, rãnh xoay và chốt xoay, tay nắm, và chốt gài.
Inda-bh 42~177Đinh khóa chốt, chốt cửa, lỗ khóa, và luôn cả lỗ để xỏ dây, dây thừng, việc trét vữa bên trên và bên dưới, việc sơn màu trắng, và màu đen.
Inda-bh 43~178Việc trang hoàng hình vòng hoa, trang hoàng hình tua, chốt treo bằng răng cá kiếm, vải trang hoàng năm loại, sào máng y, và dây treo, vị già yếu, hàng rào.
Inda-bh 44~179Và về căn phòng ở ngay tại nơi ấy nữa, việc rải cát, các đá phiến, bị đọng nước, rãnh thoát nước, luôn cả lu nước, và gáo múc.
Inda-bh 45~180Bị khó khăn, hổ thẹn, các nắp đậy, các vị đã cư xử hành vi sai trái, Ngài đã cho phép đồ vật bằng kim loại ngoại trừ vũ khí.
Inda-bh 46~181Ngoại trừ ghế trường kỷ, ghế nệm lông thú, bình bát bằng gỗ, và giày dép (bằng gỗ), bậc Đại Hiền Sĩ đã cho phép tất cả các đồ vật làm bằng gỗ.
Inda-bh 47~182Ngoại trừ đồ chà chân và loại lu lớn, đức Như Lai, đấng Bi Mẫn cũng đã cho phép tất cả đồ vật bằng gốm sứ.
Inda-bh 48~183Đối với sự việc nào, sự chỉ dẫn là tương tợ với sự việc trước và đã đã được tóm tắt ở trong phần tóm lược, sự việc ấy nên biết đến theo phương thức hướng dẫn.
Inda-bh 49~184Như vậy một trăm mười sự việc ở trong phần Các Tiểu Sự thuộc Tạng Luật là sự trợ giúp cho các vị hiền thiện trong việc duy trì Chánh Pháp.
Inda-bh 50~185Vị rành rẽ về Luật đã được học tập khéo léo, có tâm tốt lành, vô cùng hiền thiện, làm công việc giảng giải, thông minh, nghe nhiều, là vị xứng đáng việc cúng dường.”
Dứt Phần Tóm Lược.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Small Division
The chapter on minor topics
Bathing
5. Chương về các vấn đề nhỏ nhặt
Tena samayena buddho bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū nahāyamānā rukkhe kāyaṁ ugghaṁsenti, ūrumpi bāhumpi urampi piṭṭhimpi. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā nahāyamānā rukkhe kāyaṁ ugghaṁsessanti, ūrumpi bāhumpi urampi piṭṭhimpi, seyyathāpi mallamuṭṭhikā gāmamoddavā”ti. Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—
“saccaṁ kira, bhikkhave, chabbaggiyā bhikkhū nahāyamānā rukkhe kāyaṁ ugghaṁsenti, ūrumpi bāhumpi urampi piṭṭhimpī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, bhikkhave, tesaṁ moghapurisānaṁ ananulomikaṁ appatirūpaṁ assāmaṇakaṁ akappiyaṁ akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma te, bhikkhave, moghapurisā nahāyamānā rukkhe kāyaṁ ugghaṁsessanti, ūrumpi bāhumpi urampi piṭṭhimpi? Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, nahāyamānena bhikkhunā rukkhe kāyo ugghaṁsetabbo. Yo ugghaṁseyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time the Buddha was staying at Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrel sanctuary. At that time the monks from the group of six rubbed their bodies—thighs, arms, chest, and back—against trees while bathing. People complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics do this? They’re just like boxers and city slickers who beautify their bodies!” The monks heard the complaints of those people and they told the Buddha. Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks:
“Is it true, monks, that the monks from the group of six are doing this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them, “It’s not suitable for those foolish men, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How can they do this? This will affect people’s confidence …” After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t rub your body against a tree while bathing. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
243. Vào lúc bấy giờ, Đức Phật Thế Tôn đang trú tại Rājagaha, trong khu vườn Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Khi ấy, nhóm tỳ khưu Lục Sư trong khi tắm đã chà xát thân mình vào cây, cả đùi, cả cánh tay, cả ngực, cả lưng. Người đời phàn nàn, chê bai, chỉ trích: “Tại sao các sa-môn Thích tử trong khi tắm lại chà xát thân mình vào cây, cả đùi, cả cánh tay, cả ngực, cả lưng, giống như các đô vật, những kẻ trai làng lực lưỡng?” Các tỳ khưu đã nghe những người ấy phàn nàn, chê bai, chỉ trích. Sau đó, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc này lên Đức Thế Tôn. Khi ấy, Đức Thế Tôn nhân sự việc này, nhân duyên này, đã cho triệu tập Tăng chúng và hỏi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, có thật là nhóm tỳ khưu Lục Sư trong khi tắm đã chà xát thân mình vào cây, cả đùi, cả cánh tay, cả ngực, cả lưng không?” “Bạch Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật Thế Tôn đã quở trách: “Này các tỳ khưu, việc làm của những kẻ ngu si ấy là không thích hợp, không tương xứng, không phải phép, không phải hạnh của sa-môn, không được phép, không nên làm. Này các tỳ khưu, tại sao những kẻ ngu si ấy trong khi tắm lại chà xát thân mình vào cây, cả đùi, cả cánh tay, cả ngực, cả lưng? Này các tỳ khưu, việc này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin… (v.v.)…” Sau khi quở trách… (v.v.)… và thuyết một bài pháp, Ngài đã bảo các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, tỳ khưu đang tắm không được chà xát thân mình vào cây. Vị nào chà xát, phạm tội tác ác (dukkaṭa).”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū nahāyamānā thambhe kāyaṁ ugghaṁsenti, ūrumpi bāhumpi urampi piṭṭhimpi. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā nahāyamānā thambhe kāyaṁ ugghaṁsessanti, ūrumpi bāhumpi urampi piṭṭhimpi, seyyathāpi mallamuṭṭhikā gāmamoddavā”ti. Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, nahāyamānena bhikkhunā thambhe kāyo ugghaṁsetabbo. Yo ugghaṁseyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six rubbed their bodies—thighs, arms, chest, and back—against posts while bathing. People complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics do this? They’re just like boxers and city slickers who beautify their bodies!” The monks heard the complaints of those people and they told the Buddha. … “It’s true, sir.” … After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t rub your body against a post while bathing. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Khi ấy, nhóm tỳ khưu Lục Sư trong khi tắm đã chà xát thân mình vào cột, cả đùi, cả cánh tay, cả ngực, cả lưng. Người đời phàn nàn, chê bai, chỉ trích: “Tại sao các sa-môn Thích tử trong khi tắm lại chà xát thân mình vào cột, cả đùi, cả cánh tay, cả ngực, cả lưng, giống như các đô vật, những kẻ trai làng lực lưỡng?” Các tỳ khưu đã nghe những người ấy phàn nàn, chê bai, chỉ trích. Sau đó, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc này lên Đức Thế Tôn… (v.v.)… “Bạch Thế Tôn, là sự thật.”… (v.v.)… Sau khi quở trách… (v.v.)… và thuyết một bài pháp, Ngài đã bảo các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, tỳ khưu đang tắm không được chà xát thân mình vào cột. Vị nào chà xát, phạm tội tác ác (dukkaṭa).”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū nahāyamānā kuṭṭe kāyaṁ ugghaṁsenti, ūrumpi bāhumpi urampi piṭṭhimpi. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā nahāyamānā kuṭṭe kāyaṁ ugghaṁsessanti, ūrumpi bāhumpi urampi piṭṭhimpi, seyyathāpi mallamuṭṭhikā gāmamoddavā”ti …pe…
“na, bhikkhave, nahāyamānena bhikkhunā kuṭṭe kāyo ugghaṁsetabbo. Yo ugghaṁseyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū aṭṭāne nahāyanti.
At that time the monks from the group of six rubbed their bodies—thighs, arms, chest, and back—against walls while bathing. People complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics do this? They’re just like boxers and city slickers who beautify their bodies!” …
“You shouldn’t rub your body against a wall while bathing. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
At that time the monks from the group of six rubbed their bodies—thighs, arms, chest, and back—against a rubbing board while bathing.
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư trong khi đang tắm đã chà xát thân thể vào vách tường; họ chà xát cả đùi, cả cánh tay, cả ngực, cả lưng. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – “Tại sao các sa-môn Thích tử trong khi đang tắm lại chà xát thân thể vào vách tường, chà xát cả đùi, cả cánh tay, cả ngực, cả lưng, giống như là các đô vật, các người làng trang điểm vậy?” ... (cho đến) ... – “Này các tỳ khưu, tỳ khưu đang tắm không nên chà xát thân thể vào vách tường. Vị nào chà xát thì phạm tội dukkaṭa.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư tắm ở nơi có cột để cọ xát. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: ... (cho đến) ... “Giống như là các người tại gia hưởng thụ các dục!” Các tỳ khưu đã nghe được tiếng phàn nàn, chê bai, phao tin của những người ấy. Sau đó, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... (cho đến) ... – “Bạch Thế Tôn, là sự thật.” ... (cho đến) ... Sau khi quở trách ... (cho đến) ... sau khi thuyết pháp thoại, ngài gọi các tỳ khưu lại và dạy rằng: – “Này các tỳ khưu, không được tắm ở nơi có cột để cọ xát. Vị nào tắm thì phạm tội dukkaṭa.”
“na, bhikkhave, aṭṭāne nahāyitabbaṁ. Yo nahāyeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū gandhabbahatthakena nahāyanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti …pe… seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“na, bhikkhave, gandhabbahatthakena nahāyitabbaṁ. Yo nahāyeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū kuruvindakasuttiyā nahāyanti.
“You shouldn’t rub your body against a rubbing board while bathing. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
At that time the monks from the group of six bathed with a wooden rubbing-hand. People complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics do this? They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” The monks heard the complaints of those people and they told the Buddha.
“You shouldn’t bathe with a wooden rubbing-hand. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
At that time the monks from the group of six bathed with a string of cinnabar beads.
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư tắm bằng dụng cụ hình bàn tay. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: ... (cho đến) ... “Giống như là các người tại gia hưởng thụ các dục!” Các tỳ khưu đã nghe được tiếng phàn nàn, chê bai, phao tin của những người ấy. Sau đó, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... (cho đến) ... – “Này các tỳ khưu, không được tắm bằng dụng cụ hình bàn tay. Vị nào tắm thì phạm tội dukkaṭa.”
“Na, bhikkhave, kuruvindakasuttiyā nahāyitabbaṁ. Yo nahāyeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū viggayha parikammaṁ kārāpenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti …pe… seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, viggayha parikammaṁ kārāpetabbaṁ. Yo kārāpeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū mallakena nahāyanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti …pe… seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, mallakena nahāyitabbaṁ. Yo nahāyeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno kacchurogābādho hoti.
“You shouldn’t bathe with a string of cinnabar beads. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
At that time the monks from the group of six massaged one another. People complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics do this? They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t massage one another. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
At that time the monks from the group of six bathed with an ornamented scrubber. People complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics do this? They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” … They told the Buddha.
“You shouldn’t bathe with an ornamented scrubber. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Soon afterwards a certain monk had an itchy skin disease.
Vào lúc bấy giờ, có một tỳ khưu già yếu, trong khi tắm không thể tự mình cọ xát thân thể. (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) miếng vải bện lại.”
“Anujānāmi, bhikkhave, gilānassa akatamallakan”ti.
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu jarādubbalo nahāyamāno na sakkoti attano kāyaṁ ugghaṁsetuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ukkāsikan”ti.
“I allow a plain scrubber for those who are sick.”
At that time a monk who was weak from old age was unable to rub his own body while bathing.
“I allow gloves of cloth.”
244. Vào lúc bấy giờ, có một tỳ khưu bị bệnh ghẻ. Vị ấy không được dễ chịu nếu không có dụng cụ cọ xát. (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (sử dụng) dụng cụ cọ xát không chạm trổ cho vị bị bệnh.”
Tena kho pana samayena bhikkhū piṭṭhiparikammaṁ kātuṁ kukkuccāyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, puthupāṇikan”ti.
Being afraid of wrongdoing, the monks did not give back massages.
“I allow a massage with the flat of the hand.”
Personal beautification
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu có sự áy náy về việc kỳ cọ ở lưng. (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) mu bàn tay.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū vallikaṁ dhārenti …pe… pāmaṅgaṁ dhārenti …pe… kaṇṭhasuttakaṁ dhārenti …pe… kaṭisuttakaṁ dhārenti …pe… ovaṭṭikaṁ dhārenti …pe… kāyuraṁ dhārenti …pe… hatthābharaṇaṁ dhārenti …pe… aṅgulimuddikaṁ dhārenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti …pe… seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Saccaṁ kira, bhikkhave, chabbaggiyā bhikkhū vallikaṁ dhārenti …pe… pāmaṅgaṁ dhārenti, kaṇṭhasuttakaṁ dhārenti, kaṭisuttakaṁ dhārenti, ovaṭṭikaṁ dhārenti, kāyuraṁ dhārenti, hatthābharaṇaṁ dhārenti, aṅgulimuddikaṁ dhārentī”ti? “Saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, vallikā dhāretabbā …pe… na pāmaṅgo dhāretabbo … na kaṇṭhasuttakaṁ dhāretabbaṁ … na kaṭisuttakaṁ dhāretabbaṁ … na ovaṭṭikaṁ dhāretabbaṁ … na kāyuraṁ dhāretabbaṁ … na hatthābharaṇaṁ dhāretabbaṁ … na aṅgulimuddikā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six wore earrings, ornamental hanging strings, necklaces, ornamental girdles, bangles, armlets, bracelets, and rings. People complained and criticized them, “… They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” The monks heard the complaints of those people. They told the Buddha.
“Is it true, monks, that the monks from the group of six are wearing these things?” “It’s true, sir.” … After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t wear earrings, an ornamental hanging string, a necklace, an ornamental girdle, a bangle, an armlet, a bracelet, or a ring. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
245. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đeo bông tai ... (cho đến) ... đeo dây chuyền đeo chéo ... (cho đến) ... đeo vòng cổ ... (cho đến) ... đeo dây thắt lưng ... (cho đến) ... đeo vòng tay ... (cho đến) ... đeo vòng chân ... (cho đến) ... đeo trang sức ở tay ... (cho đến) ... đeo nhẫn. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: ... (cho đến) ... “Giống như là các người tại gia hưởng thụ các dục!” Các tỳ khưu đã nghe được tiếng phàn nàn, chê bai, phao tin của những người ấy. Sau đó, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – “Này các tỳ khưu, có thật là các tỳ khưu nhóm Lục Sư đeo bông tai ... (cho đến) ... đeo dây chuyền đeo chéo, đeo vòng cổ, đeo dây thắt lưng, đeo vòng tay, đeo vòng chân, đeo trang sức ở tay, đeo nhẫn không?” – “Bạch Thế Tôn, là sự thật.” ... (cho đến) ... Sau khi quở trách ... (cho đến) ... sau khi thuyết pháp thoại, ngài gọi các tỳ khưu lại và dạy rằng: – “Này các tỳ khưu, không được đeo bông tai ... (cho đến) ... không được đeo dây chuyền đeo chéo ... không được đeo vòng cổ ... không được đeo dây thắt lưng ... không được đeo vòng tay ... không được đeo vòng chân ... không được đeo trang sức ở tay ... không được đeo nhẫn. Vị nào đeo thì phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū dīghe kese dhārenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, dīghā kesā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, dumāsikaṁ vā duvaṅgulaṁ vā”ti.
At that time the monks from the group of six grew their hair long. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t grow your hair long. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow you to grow it to a length of 3.5 centimeters or for two months at the most.”
246. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư để tóc dài. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – “Giống như là các người tại gia hưởng thụ các dục!” (Các vị) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – “Này các tỳ khưu, không được để tóc dài. Vị nào để thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép (để tóc dài) hai tháng hoặc hai lóng tay.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū kocchena kese osaṇṭhenti …pe… phaṇakena kese osaṇṭhenti, hatthaphaṇakena kese osaṇṭhenti, sitthatelakena kese osaṇṭhenti, udakatelakena kese osaṇṭhenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, kocchena kesā osaṇṭhetabbā …pe… na sitthatelakena kesā osaṇṭhetabbā … na udakatelakena kesā osaṇṭhetabbā. Yo osaṇṭheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six brushed their hair, and they combed it, combed it with their hands, smoothed it with beeswax, and smoothed it with water and oil. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t brush your hair, or comb it, comb it with your hands, smooth it with beeswax, or smooth it with water and oil. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu dùng bàn chải bằng lông heo để chải tóc ... cho đến ... dùng lược để chải tóc, dùng lược tay để chải tóc, dùng dầu sáp để chải tóc, dùng dầu pha nước để chải tóc. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: “Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục lạc.” Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) “Này các tỳ khưu, không được dùng bàn chải bằng lông heo để chải tóc ... cho đến ... không được dùng dầu sáp để chải tóc ... không được dùng dầu pha nước để chải tóc. Vị nào chải, vị ấy phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū ādāsepi udakapattepi mukhanimittaṁ olokenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, ādāse vā udakapatte vā mukhanimittaṁ oloketabbaṁ. Yo olokeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six looked at their faces in mirrors and in bowls of water. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t look at your face in a mirror or in a bowl of water. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
247. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu ngắm nhìn hình ảnh của khuôn mặt ở trong gương và cả ở trong bát nước. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: “Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục lạc.” Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) “Này các tỳ khưu, không được ngắm nhìn hình ảnh của khuôn mặt ở trong gương hay ở trong bát nước. Vị nào ngắm nhìn, vị ấy phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno mukhe vaṇo hoti. So bhikkhū pucchi—“kīdiso me, āvuso, vaṇo”ti? Bhikkhū evamāhaṁsu—“ediso te, āvuso vaṇo”ti. So na saddahati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ābādhappaccayā ādāse vā udakapatte vā mukhanimittaṁ oloketun”ti.
Soon afterwards a certain monk had a sore on his face. He asked the monks, “What kind of sore is it?” They replied, “It’s this kind of sore.” He did not trust them.
“I allow you to look at your face in a mirror or in a bowl of water if you have a disease.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị mụn nhọt ở trên mặt. Vị ấy hỏi các tỳ khưu rằng: “Thưa chư hiền, mụn nhọt của tôi như thế nào?” Các tỳ khưu đã nói như vầy: “Thưa hiền giả, mụn nhọt của ngài như thế này.” Vị ấy không tin. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép ngắm nhìn hình ảnh của khuôn mặt ở trong gương hay ở trong bát nước do bởi duyên bệnh tật.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū mukhaṁ ālimpanti …pe… mukhaṁ ummaddenti, mukhaṁ cuṇṇenti, manosilikāya mukhaṁ lañchenti, aṅgarāgaṁ karonti, mukharāgaṁ karonti, aṅgarāgamukharāgaṁ karonti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, mukhaṁ ālimpitabbaṁ …pe… na mukhaṁ ummadditabbaṁ, na mukhaṁ cuṇṇetabbaṁ, na manosilikāya mukhaṁ lañchetabbaṁ, na aṅgarāgo kātabbo, na mukharāgo kātabbo, na aṅgarāgamukharāgo kātabbo. Yo kareyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six used facial ointments, applied facial creams, powdered their face, applied rouge to their face, wore cosmetics on the body, wore cosmetics on the face, and wore cosmetics on the body and face. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t use facial ointments, apply facial creams, powder your face, apply rouge to your face, wear cosmetics on the body, wear cosmetics on the face, or wear cosmetics on the body and face. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu thoa mặt ... cho đến ... xoa bóp mặt, thoa phấn lên mặt, dùng hùng hoàng để vẽ lên mặt, trang điểm thân thể, trang điểm môi, trang điểm thân thể và môi. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: “Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục lạc.” Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) “Này các tỳ khưu, không được thoa mặt ... cho đến ... không được xoa bóp mặt, không được thoa phấn lên mặt, không được dùng hùng hoàng để vẽ lên mặt, không được trang điểm thân thể, không được trang điểm môi, không được trang điểm thân thể và môi. Vị nào thực hiện, vị ấy phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno cakkhurogābādho hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ābādhappaccayā mukhaṁ ālimpitun”ti.
Tena kho pana samayena rājagahe giraggasamajjo hoti.
Soon afterwards a certain monk had an eye disease.
“I allow facial ointments for those who are sick.”
Entertainment, etc.
On one occasion in Rājagaha there was a hilltop fair,
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh đau mắt. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép thoa mặt do bởi duyên bệnh tật.”
“Na, bhikkhave, naccaṁ vā gītaṁ vā vāditaṁ vā dassanāya gantabbaṁ. Yo gaccheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
“You shouldn’t go and see dancing, singing, and music. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
248. Vào lúc bấy giờ, ở thành Rājagaha có lễ hội trên đỉnh núi. Nhóm sáu tỳ khưu đã đi xem lễ hội trên đỉnh núi. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: “Tại sao các sa-môn Thích tử lại đi xem nhảy múa, ca hát, và nhạc cụ, giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục lạc!” Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) “Này các tỳ khưu, không được đi xem nhảy múa, hoặc ca hát, hoặc nhạc cụ. Vị nào đi, vị ấy phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū āyatakena gītassarena dhammaṁ gāyanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“yatheva mayaṁ gāyāma, evamevime samaṇā sakyaputtiyā āyatakena gītassarena dhammaṁ gāyantī”ti. Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma chabbaggiyā bhikkhū āyatakena gītassarena dhammaṁ gāyissantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Saccaṁ kira, bhikkhave …pe… “saccaṁ, bhagavā”ti …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“pañcime, bhikkhave, ādīnavā āyatakena gītassarena dhammaṁ gāyantassa. Attanāpi tasmiṁ sare sārajjati, parepi tasmiṁ sare sārajjanti, gahapatikāpi ujjhāyanti, sarakuttimpi nikāmayamānassa samādhissa bhaṅgo hoti, pacchimā janatā diṭṭhānugatiṁ āpajjati—
ime kho, bhikkhave, pañca ādīnavā āyatakena gītassarena dhammaṁ gāyantassa.
Na, bhikkhave, āyatakena gītassarena dhammo gāyitabbo. Yo gāyeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six were singing the Teaching with a drawn-out voice. People complained and criticized them, “These Sakyan monastics sing with a drawn-out voice just like we do.” The monks heard the complaints of those people, and the monks of few desires complained and criticized them, “How can the monks from the group of six sing like this?” They told the Buddha.
“Is it true, monks, that the monks from the group of six are singing like this?” “It’s true, sir.” … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“There are these five drawbacks to singing the Teaching with a drawn-out voice: one delights in the sound; others delight in the sound; householders criticize it; when one who takes pleasure in performing with the voice, one’s stillness is disrupted; later generations follow one’s example.
You shouldn’t sing the Teaching with a drawn-out voice. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
249. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu đọc tụng Giáo pháp với giọng ngân dài như hát. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: “Giống như chúng tôi hát, các sa-môn Thích tử này cũng đọc tụng Giáo pháp với giọng ngân dài như hát y như vậy!” Các tỳ khưu đã nghe được lời phàn nàn, chê bai, phỉ báng của những người ấy. Các vị tỳ khưu ít ham muốn ... cho đến ... đã phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: “Tại sao nhóm sáu tỳ khưu lại đọc tụng Giáo pháp với giọng ngân dài như hát?” Sau đó, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài hỏi:) “Này các tỳ khưu, có thật như vậy không?” ... cho đến ... “Bạch Thế Tôn, sự việc là có thật.” ... cho đến ... sau khi thuyết một bài pháp, ngài gọi các tỳ khưu lại và dạy rằng: “Này các tỳ khưu, có năm điều nguy hại này đối với việc đọc tụng Giáo pháp với giọng ngân dài như hát. Tự mình cũng bị say đắm trong âm điệu ấy, những người khác cũng bị say đắm trong âm điệu ấy, hàng tại gia cũng phàn nàn, sự định tâm bị phá vỡ đối với người có ý muốn trau chuốt giọng, và thế hệ về sau sẽ bắt chước theo. Này các tỳ khưu, đây là năm điều nguy hại đối với việc đọc tụng Giáo pháp với giọng ngân dài như hát. Này các tỳ khưu, không được đọc tụng Giáo pháp với giọng ngân dài như hát. Vị nào đọc tụng, vị ấy phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena bhikkhū sarabhaññe kukkuccāyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sarabhaññan”ti.
Being afraid of wrongdoing, the monks did not chant. They told the Buddha.
“I allow chanting.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu có sự áy náy về việc đọc tụng có âm điệu. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc đọc tụng có âm điệu.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū bāhiralomiṁ uṇṇiṁ dhārenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bāhiyalomi uṇṇi dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six wore fleecy woolen robes with fleece on the outside. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t wear a fleecy woolen robe with fleece on the outside. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Fruit
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu mặc y bằng len có lông ở bên ngoài. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: “Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục lạc.” Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy:) “Này các tỳ khưu, không được mặc y bằng len có lông ở bên ngoài. Vị nào mặc, vị ấy phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa ārāme ambā phalino honti. Raññā māgadhena seniyena bimbisārena anuññātaṁ hoti—“yathāsukhaṁ ayyā ambaṁ paribhuñjantū”ti. Chabbaggiyā bhikkhū taruṇaññeva ambaṁ pātāpetvā paribhuñjiṁsu. Rañño ca māgadhassa seniyassa bimbisārassa ambena attho hoti. Atha kho rājā māgadho seniyo bimbisāro manusse āṇāpesi—“gacchatha, bhaṇe, ārāmaṁ gantvā ambaṁ āharathā”ti. “Evaṁ, devā”ti kho te manussā rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa paṭissutvā ārāmaṁ gantvā ārāmapālaṁ etadavocuṁ—“devassa, bhaṇe, ambena attho, ambaṁ dethā”ti.
“Natthāyyā, ambaṁ. Taruṇaññeva ambaṁ pātāpetvā bhikkhū paribhuñjiṁsū”ti.
Atha kho te manussā rañño māgadhassa seniyassa bimbisārassa etamatthaṁ ārocesuṁ. “Suparibhuttaṁ, bhaṇe, ayyehi ambaṁ, api ca bhagavatā mattā vaṇṇitā”ti.
Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā na mattaṁ jānitvā rañño ambaṁ paribhuñjissantī”ti. Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, ambaṁ paribhuñjitabbaṁ. Yo paribhuñjeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion when the mango trees in King Bimbisāra’s park were bearing fruit, the king allowed the monks to eat as many mangoes as they wished. The monks from the group of six plucked and ate them all, even the unripe ones. Just then the king needed mangoes. He told his people, “Go to the park and bring back mangoes.” Saying, “Yes, sir,” they went to the park and said to the park keeper, “The king needs mangoes. Please get some.”
“There aren’t any. The monks plucked and ate them all, including the unripe ones.”
They reported it to the king. He said, “It’s good that the venerables have eaten the mangoes. Still, the Buddha has praised moderation.”
People complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics eat the king’s mangoes without moderation?” The monks heard the complaints of those people and then told the Buddha.
“You shouldn’t eat mangoes. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
250. Vào lúc bấy giờ, trong khu vườn của vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha, các cây xoài đang có trái. Vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha đã cho phép rằng: ‘Mong các ngài hãy dùng xoài tùy thích.’ Các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã hái cả xoài còn non để dùng. Vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha cũng có nhu cầu về xoài. Khi ấy, vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha đã ra lệnh cho các người hầu rằng: ‘Này các khanh, hãy đi đến khu vườn, rồi mang xoài về đây.’ ‘Tâu đức vua, vâng ạ.’ những người ấy đã vâng lời vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha, đi đến khu vườn và nói với người giữ vườn điều này: ‘Này khanh, đức vua có nhu cầu về xoài, hãy đưa xoài đây.’ ‘Thưa các ngài, không có xoài. Các tỳ khưu đã hái cả xoài còn non để dùng rồi.’ Khi ấy, những người ấy đã trình bày sự việc này lên vua Bimbisāra, hiệu Seniya, xứ Māgadha. (Vua nói): ‘Này các khanh, các ngài đã dùng xoài rất tốt, tuy nhiên đức Thế Tôn đã tán thán sự biết chừng mực.’ Dân chúng phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: ‘Làm sao mà các sa-môn Thích tử lại không biết chừng mực mà dùng xoài của đức vua chứ!’ Các tỳ khưu đã nghe được những lời phàn nàn, chê bai, chỉ trích của những người ấy. Khi ấy, các tỳ khưu ấy đã trình bày sự việc này lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): ‘Này các tỳ khưu, không được dùng xoài. Vị nào dùng, phạm tội dukkaṭa (tác ác).’
Tena kho pana samayena aññatarassa pūgassa saṅghabhattaṁ hoti. Sūpe ambapesikāyo pakkhittā honti. Bhikkhū kukkuccāyantā nappaṭiggaṇhanti …pe…
“paṭiggaṇhatha, bhikkhave, paribhuñjatha. Anujānāmi, bhikkhave, ambapesikan”ti.
Soon afterwards a certain association was offering a meal to the Sangha. They had prepared mango curry. Being afraid of wrongdoing, the monks did not accept it.
“Accept, monks, and eat it. I allow pieces of mango.”
Vào lúc bấy giờ, có một hội chúng nọ cúng dường bữa ăn đến chư Tăng. Trong món canh có bỏ vào các miếng xoài. Các tỳ khưu do dự nên không nhận. (Đức Phật phán): ‘Này các tỳ khưu, hãy nhận, hãy dùng. Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) miếng xoài.’
Tena kho pana samayena aññatarassa pūgassa saṅghabhattaṁ hoti. Te na pariyāpuṇiṁsu ambapesikaṁ kātuṁ, bhattagge sakaleheva ambehi denti. Bhikkhū kukkuccāyantā nappaṭiggaṇhanti.
“Paṭiggaṇhatha, bhikkhave, paribhuñjatha. Anujānāmi, bhikkhave, pañcahi samaṇakappehi phalaṁ paribhuñjituṁ—aggiparicitaṁ, satthaparicitaṁ, nakhaparicitaṁ, abījaṁ, nibbattabījaññeva pañcamaṁ. Anujānāmi, bhikkhave, imehi pañcahi samaṇakappehi phalaṁ paribhuñjitun”ti.
Soon afterwards a certain association was offering a meal to the Sangha. They were unable to prepare mango pieces and so gave whole mangoes in the dining hall. Being afraid of wrongdoing, the monks did not accept them.
“Accept, monks, and eat it. I allow you to eat fruit that’s allowable for monastics for any of five reasons: it’s been damaged by fire, a knife, or a fingernail, or it’s seedless, or the seeds have been removed.”
Protection
Vào lúc bấy giờ, có một hội chúng nọ cúng dường bữa ăn đến chư Tăng. Họ không có thời gian để làm thành miếng xoài, nên đã dâng cúng nguyên cả trái xoài tại trai đường. Các tỳ khưu do dự nên không nhận. (Đức Phật phán): ‘Này các tỳ khưu, hãy nhận, hãy dùng. Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng trái cây với năm cách làm cho hợp lệ đối với sa-môn: được làm cho hợp lệ bằng lửa, được làm cho hợp lệ bằng dao, được làm cho hợp lệ bằng móng tay, loại không có hạt, và thứ năm là loại đã được lấy hạt ra. Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng trái cây với năm cách làm cho hợp lệ này.’
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu ahinā daṭṭho kālaṅkato hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na hi nūna so, bhikkhave, bhikkhu imāni cattāri ahirājakulāni mettena cittena phari. Sace hi so, bhikkhave, bhikkhu imāni cattāri ahirājakulāni mettena cittena phareyya, na hi so, bhikkhave, bhikkhu ahinā daṭṭho kālaṁ kareyya. Katamāni cattāri ahirājakulāni? Virūpakkhaṁ ahirājakulaṁ, erāpathaṁ ahirājakulaṁ, chabyāputtaṁ ahirājakulaṁ, kaṇhāgotamaṁ ahirājakulaṁ. Na hi nūna so, bhikkhave, bhikkhu imāni cattāri ahirājakulāni mettena cittena phari. Sace hi so, bhikkhave, bhikkhu imāni cattāri ahirājakulāni mettena cittena phareyya, na hi so, bhikkhave, bhikkhu ahinā daṭṭho kālaṁ kareyya. Anujānāmi, bhikkhave, imāni cattāri ahirājakulāni mettena cittena pharituṁ, attaguttiyā attarakkhāya attaparittaṁ kātuṁ. Evañca pana, bhikkhave, kātabbaṁ—
On one occasion a monk had been bitten by a snake and died. They told the Buddha.
“That monk hadn’t spread good will to the four royal snake clans. Had he done so, he wouldn’t have died. What are the four clans? The Virūpakkhas, the Erāpathas, the Chabyāputtas, and the Kaṇhāgotamas. To protect yourselves, monks, you should spread good will to these four royal snake clans. And it should be done like this:
251. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị rắn cắn đã mệnh chung. (Các tỳ khưu) đã trình bày sự việc này lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): ‘Này các tỳ khưu, chắc chắn vị tỳ khưu ấy đã không rải tâm từ đến bốn dòng dõi vua rắn này. Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu ấy đã rải tâm từ đến bốn dòng dõi vua rắn này, thì này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy đã không bị rắn cắn mà mệnh chung. Bốn dòng dõi vua rắn là những gì? Dòng dõi vua rắn Virūpakkha, dòng dõi vua rắn Erāpatha, dòng dõi vua rắn Chabyāputta, dòng dõi vua rắn Kaṇhāgotama. Này các tỳ khưu, chắc chắn vị tỳ khưu ấy đã không rải tâm từ đến bốn dòng dõi vua rắn này. Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu ấy đã rải tâm từ đến bốn dòng dõi vua rắn này, thì này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy đã không bị rắn cắn mà mệnh chung. Này các tỳ khưu, Ta cho phép rải tâm từ đến bốn dòng dõi vua rắn này để tự bảo vệ, để tự hộ trì, để làm bài kinh hộ trì cho bản thân. Và này các tỳ khưu, nên làm như thế này:’
‘Virūpakkhehi me mettaṁ, Mettaṁ erāpathehi me; Chabyāputtehi me mettaṁ, Mettaṁ kaṇhāgotamakehi ca.
I have good will toward the Virūpakkhas, Toward the Erāpathas I have good will; I have good will toward the Chabyāputtas, And toward the Kaṇhāgotamas.
‘Tâm từ của tôi (hướng) đến dòng Virūpakkha, tâm từ của tôi (hướng) đến dòng Erāpatha; tâm từ của tôi (hướng) đến dòng Chabyāputta, và tâm từ của tôi (hướng) đến dòng Kaṇhāgotamaka.’
Apādakehi me mettaṁ, mettaṁ dvipādakehi me; Catuppadehi me mettaṁ, mettaṁ bahuppadehi me.
I have good will toward the legless, Toward the two-legged I have good will; I have good will toward the four-legged, And toward the many-legged.
‘Tâm từ của tôi (hướng) đến loài không chân, tâm từ của tôi (hướng) đến loài hai chân; tâm từ của tôi (hướng) đến loài bốn chân, tâm từ của tôi (hướng) đến loài nhiều chân.’
Mā maṁ apādako hiṁsi, mā maṁ hiṁsi dvipādako; Mā maṁ catuppado hiṁsi, mā maṁ hiṁsi bahuppado.
May the legless not hurt me, May the two-legged not hurt me. May the four-legged not hurt me, May the many-legged not hurt me.
‘Mong loài không chân đừng hại tôi, mong loài hai chân đừng hại tôi; mong loài bốn chân đừng hại tôi, mong loài nhiều chân đừng hại tôi.’
Sabbe sattā sabbe pāṇā, sabbe bhūtā ca kevalā; Sabbe bhadrāni passantu, mā kiñci pāpamāgamā.
All beings, all creatures, All living beings everywhere, May they all have good fortune, May none meet with anything bad.
‘Tất cả chúng sanh, tất cả sinh vật, tất cả các loài hiện hữu một cách toàn diện; mong tất cả hãy thấy những điều tốt lành, mong không có điều ác nào đến với bất cứ ai.’
Appamāṇo buddho, Appamāṇo dhammo; Appamāṇo saṅgho, Pamāṇavantāni sarīsapāni.
The Buddha is unlimited, The Teaching is unlimited, The Sangha is unlimited. But creeping animals are limited:
‘Đức Phật là vô lượng, Pháp là vô lượng, Tăng là vô lượng. Các loài bò sát là hữu lượng:
Ahi vicchikā satapadī, Uṇṇanābhi sarabū mūsikā; Katā me rakkhā kataṁ me parittaṁ, Paṭikkamantu bhūtāni;
Snakes, scorpions, centipedes, Spiders, lizards, and mice. I’m now protected and guarded; May the creatures turn back.
rắn, bọ cạp, rết, nhện, thằn lằn, chuột. Sự bảo vệ đã được tôi thực hiện, sự hộ trì đã được tôi thực hiện, mong các chúng sanh hãy lui đi.’
‘Tôi ấy xin đảnh lễ đức Thế Tôn, xin đảnh lễ bảy vị Chánh Đẳng Giác.’
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu anabhiratiyā pīḷito attano aṅgajātaṁ chindi. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. “Aññamhi so, bhikkhave, moghapuriso chetabbamhi, aññaṁ chindi.
Na, bhikkhave, attano aṅgajātaṁ chetabbaṁ. Yo chindeyya, āpatti thullaccayassā”ti.
On one occasion a monk who was plagued by lust cut off his own penis. They told the Buddha. He said, “This fool has cut off one thing, when he should’ve cut off something else.
You shouldn’t cut off your own penis. If you do, you commit a serious offense.”
Bowls
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị sự không hoan hỷ bức bách nên đã tự cắt bộ phận sinh dục của mình. (Các tỳ khưu) đã trình bày sự việc này lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): ‘Này các tỳ khưu, kẻ trống rỗng ấy, trong khi nên cắt một thứ khác, lại đi cắt một thứ khác. Này các tỳ khưu, không được tự cắt bộ phận sinh dục của mình. Vị nào cắt, phạm tội thullaccaya (trọng tội).’
Tena kho pana samayena rājagahakassa seṭṭhissa mahagghassa candanassa candanagaṇṭhi uppannā hoti. Atha kho rājagahakassa seṭṭhissa etadahosi—“yannūnāhaṁ imāya candanagaṇṭhiyā pattaṁ lekhāpeyyaṁ. Lekhañca me paribhogaṁ bhavissati, pattañca dānaṁ dassāmī”ti. Atha kho rājagahako seṭṭhi tāya candanagaṇṭhiyā pattaṁ lekhāpetvā sikkāya uḍḍitvā veḷagge ālaggetvā veḷuparamparāya bandhitvā evamāha—“yo samaṇo vā brāhmaṇo vā arahā ceva iddhimā ca dinnaṁyeva pattaṁ oharatū”ti.
Atha kho pūraṇo kassapo yena rājagahako seṭṭhi tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā rājagahakaṁ seṭṭhiṁ etadavoca—“ahañhi, gahapati, arahā ceva iddhimā ca, dehi me pattan”ti.
“Sace, bhante, āyasmā arahā ceva iddhimā ca dinnaṁyeva pattaṁ oharatū”ti.
Atha kho makkhali gosālo … ajito kesakambalo … pakudho kaccāyano … sañcayo belaṭṭhaputto … nigaṇṭho nāṭaputto yena rājagahako seṭṭhi tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā rājagahakaṁ seṭṭhiṁ etadavoca—“ahañhi, gahapati, arahā ceva iddhimā ca, dehi me pattan”ti. “Sace, bhante, āyasmā arahā ceva iddhimā ca, dinnaṁyeva pattaṁ oharatū”ti.
On one occasion a wealthy merchant of Rājagaha had obtained a valuable block of sandalwood. He thought, “Why don’t I have a bowl carved from this block of sandal? I’d use the chips myself, but give the bowl away as a gift.” He then had a bowl carved, put it in a carrying net, hung it at the end of a succession of vertical bamboo poles, and announced, “I’ll give this bowl to any perfected monastic or brahmin who brings it down by supernormal power.”
Pūraṇa Kassapa went to that merchant and said, “I’m perfected and have supernormal powers. Give me the bowl.”
“If you’re perfected and have supernormal powers, then bring it down and it’s yours.”
The same thing happened with Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambala, Pakudha Kaccāyana, Sañcaya Belaṭṭhaputta, and the Jain ascetic from Ñātika.
252. Vào lúc bấy giờ, có một vị trưởng giả ở thành Rājagaha (Vương Xá) nhận được một khúc gỗ chiên-đàn quý giá. Bấy giờ, vị trưởng giả ở thành Rājagaha đã suy nghĩ như vầy: – ‘Chắc chắn ta sẽ cho tiện cái bát bằng khúc gỗ chiên-đàn này. Vụn gỗ sẽ để cho ta dùng, và cái bát thì ta sẽ làm vật bố thí.’ Sau đó, vị trưởng giả ở thành Rājagaha đã cho tiện cái bát bằng khúc gỗ chiên-đàn ấy, đặt vào trong một cái đãy, treo lên ngọn cây tre, rồi dùng nhiều cây tre nối lại với nhau và nói như vầy: – ‘Vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào là bậc A-la-hán và có thần thông, hãy tự lấy xuống cái bát đã được dâng cúng này.’ Bấy giờ, Pūraṇa Kassapa (Phú-lan-na Ca-diếp) đã đi đến chỗ vị trưởng giả ở thành Rājagaha, sau khi đến đã nói với vị trưởng giả ở thành Rājagaha điều này: – ‘Này gia chủ, chính ta là bậc A-la-hán và có thần thông, hãy cho ta cái bát.’ (Vị trưởng giả đáp:) – ‘Thưa ngài, nếu tôn giả là bậc A-la-hán và có thần thông, xin hãy tự lấy xuống cái bát đã được dâng cúng.’ Sau đó, Makkhali Gosāla (Mặc-già-lê Câu-xá-lợi)... Ajita Kesakambala (A-di-đa Kê-sa-cấm-bà-la)... Pakudha Kaccāyana (Bà-phù-đà Ca-chiên-diên)... Sañcaya Belaṭṭhaputta (San-xà-da Tỳ-la-thí-tử)... Nigaṇṭha Nāṭaputta (Ni-kiền-tử Nhã-đề-tử) đã đi đến chỗ vị trưởng giả ở thành Rājagaha, sau khi đến đã nói với vị trưởng giả ở thành Rājagaha điều này: – ‘Này gia chủ, chính ta là bậc A-la-hán và có thần thông, hãy cho ta cái bát.’ (Vị trưởng giả đáp:) – ‘Thưa ngài, nếu tôn giả là bậc A-la-hán và có thần thông, xin hãy tự lấy xuống cái bát đã được dâng cúng.’
Tena kho pana samayena āyasmā ca mahāmoggallāno āyasmā ca piṇḍolabhāradvājo pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pavisiṁsu. Atha kho āyasmā piṇḍolabhāradvājo āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca—“āyasmā kho mahāmoggallāno arahā ceva iddhimā ca. Gacchāvuso, moggallāna, etaṁ pattaṁ ohara. Tuyheso patto”ti.
“Āyasmā kho bhāradvājo arahā ceva iddhimā ca. Gacchāvuso, bhāradvāja, etaṁ pattaṁ ohara. Tuyheso patto”ti.
Atha kho āyasmā piṇḍolabhāradvājo vehāsaṁ abbhuggantvā taṁ pattaṁ gahetvā tikkhattuṁ rājagahaṁ anupariyāyi.
Soon afterwards, after robing up in the morning, Venerable Mahāmoggallāna and Venerable Piṇḍola Bhāradvāja took their bowls and robes and entered Rājagaha for alms. Piṇḍola Bhāradvāja said to Mahāmoggallāna, “Venerable, you’re perfected and have supernormal powers. If you go and bring down that bowl, it’s yours.”
“Venerable, you too are perfected and have supernormal powers. If you bring it down, it’s yours.”
Piṇḍola Bhāradvāja then rose into the air, took hold of that bowl, and circled around Rājagaha three times.
Vào lúc bấy giờ, Đại đức Mahāmoggallāna (Mục-kiền-liên) và Đại đức Piṇḍolabhāradvāja (Tân-đầu-lô-phả-la-đọa) vào buổi sáng, sau khi đắp y, đã mang y bát đi vào thành Rājagaha để khất thực. Bấy giờ, Đại đức Piṇḍolabhāradvāja đã nói với Đại đức Mahāmoggallāna điều này: – ‘Chắc chắn Đại đức Mahāmoggallāna là bậc A-la-hán và có thần thông. Này hiền giả Moggallāna, hãy đi lấy cái bát ấy xuống. Cái bát ấy là của hiền giả.’ (Đại đức Mahāmoggallāna đáp:) – ‘Chắc chắn Đại đức Bhāradvāja là bậc A-la-hán và có thần thông. Này hiền giả Bhāradvāja, hãy đi lấy cái bát ấy xuống. Cái bát ấy là của hiền giả.’ Sau đó, Đại đức Piṇḍolabhāradvāja bay lên không trung, lấy cái bát ấy rồi bay quanh thành Rājagaha ba vòng.
Tena kho pana samayena rājagahako seṭṭhi saputtadāro sake nivesane ṭhito hoti pañjaliko namassamāno—idheva, bhante, ayyo bhāradvājo amhākaṁ nivesane patiṭṭhātūti. Atha kho āyasmā piṇḍolabhāradvājo rājagahakassa seṭṭhissa nivesane patiṭṭhāsi. Atha kho rājagahako seṭṭhi āyasmato piṇḍolabhāradvājassa hatthato pattaṁ gahetvā mahagghassa khādanīyassa pūretvā āyasmato piṇḍolabhāradvājassa adāsi. Atha kho āyasmā piṇḍolabhāradvājo taṁ pattaṁ gahetvā ārāmaṁ agamāsi.
Assosuṁ kho manussā—ayyena kira piṇḍolabhāradvājena rājagahakassa seṭṭhissa patto ohāritoti. Te ca manussā uccāsaddā mahāsaddā āyasmantaṁ piṇḍolabhāradvājaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhiṁsu.
Just then that merchant, together with his wives and children, was standing in his own house, raising his joined palms in homage, thinking, “May Venerable Piṇḍola Bhāradvāja land right here at our house.” And Piṇḍola Bhāradvāja did just that. The merchant then took the bowl from his hands, filled it with expensive fresh foods, and gave it back to Piṇḍola Bhāradvāja, who then left for the monastery.
People heard that Piṇḍola Bhāradvāja had taken down the merchant’s bowl, and making a great uproar, they followed right behind him.
Vào lúc bấy giờ, vị trưởng giả ở thành Rājagaha cùng với vợ con đang đứng ở nhà mình, chắp tay vái lạy và (thỉnh rằng): – ‘Bạch ngài, xin Tôn giả Bhāradvāja hãy dừng lại ngay tại nhà của chúng con.’ Sau đó, Đại đức Piṇḍolabhāradvāja đã dừng lại ở nhà của vị trưởng giả ở thành Rājagaha. Bấy giờ, vị trưởng giả ở thành Rājagaha đã nhận lấy cái bát từ tay của Đại đức Piṇḍolabhāradvāja, đổ đầy các món vật thực quý giá, rồi dâng lên Đại đức Piṇḍolabhāradvāja. Sau đó, Đại đức Piṇḍolabhāradvāja đã nhận lấy cái bát ấy rồi đi về tu viện. Dân chúng đã nghe tin rằng: – ‘Nghe nói, Tôn giả Piṇḍolabhāradvāja đã lấy xuống cái bát của vị trưởng giả ở thành Rājagaha.’ Và những người ấy đã la lớn tiếng, làm ồn ào, đi theo sau lưng Đại đức Piṇḍolabhāradvāja.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā āyasmantaṁ piṇḍolabhāradvājaṁ paṭipucchi—“saccaṁ kira tayā, bhāradvāja, rājagahakassa seṭṭhissa patto ohārito”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, bhāradvāja, ananulomikaṁ appatirūpaṁ assāmaṇakaṁ akappiyaṁ akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma tvaṁ, bhāradvāja, chavassa dārupattassa kāraṇā gihīnaṁ uttari manussadhammaṁ iddhipāṭihāriyaṁ dassessasi. Seyyathāpi, bhāradvāja, mātugāmo chavassa māsakarūpassa kāraṇā kopinaṁ dasseti; evameva kho tayā, bhāradvāja, chavassa dārupattassa kāraṇā gihīnaṁ uttari manussadhammaṁ iddhipāṭihāriyaṁ dassitaṁ. Netaṁ, bhāradvāja, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, gihīnaṁ uttarimanussadhammaṁ iddhipāṭihāriyaṁ dassetabbaṁ. Yo dasseyya, āpatti dukkaṭassa.
Bhindathetaṁ, bhikkhave, dārupattaṁ sakalikaṁ sakalikaṁ katvā, bhikkhūnaṁ añjanupapisanaṁ detha.
Na ca, bhikkhave, dārupatto dhāretabbo. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Soon afterwards the Buddha had the Sangha of monks gathered and questioned Piṇḍola Bhāradvāja: “Is it true, Bhāradvāja, that you brought down that merchant’s bowl?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked him, “It’s not suitable, Bhāradvāja, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How could you show a superhuman ability, a wonder of supernormal power, to householders for the sake of a miserable wooden bowl? It’s just like a woman showing her private parts for a miserable <i lang='pi' translate='no'>māsaka</i> coin. This will affect people’s confidence …” After rebuking him … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t show a superhuman ability, a wonder of supernormal power, to householders. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
Now destroy that wooden bowl and turn it into splinters. Give these to the monks to use as scent in ointments.
And you shouldn’t use a wooden bowl. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Đức Thế Tôn đã nghe được tiếng la lớn, tiếng ồn ào; sau khi nghe, Ngài gọi Đại đức Ānanda và hỏi: – ‘Này Ānanda, tiếng la lớn, tiếng ồn ào kia là gì vậy?’ – ‘Bạch ngài, Đại đức Piṇḍolabhāradvāja đã lấy xuống cái bát của vị trưởng giả ở thành Rājagaha. Bạch ngài, dân chúng đã nghe tin rằng: – ‘Nghe nói, Tôn giả Piṇḍolabhāradvāja đã lấy xuống cái bát của vị trưởng giả ở thành Rājagaha.’ Bạch ngài, và những người ấy đã la lớn tiếng, làm ồn ào, đi theo sau lưng Đại đức Piṇḍolabhāradvāja. Bạch Đức Thế Tôn, đó chính là tiếng la lớn, tiếng ồn ào ấy.’ Bấy giờ, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, Đức Thế Tôn đã cho hội họp chúng Tỳ-khưu và hỏi Đại đức Piṇḍolabhāradvāja: – ‘Này Bhāradvāja, có thật là ngươi đã lấy xuống cái bát của vị trưởng giả ở thành Rājagaha không?’ – ‘Bạch Đức Thế Tôn, là sự thật.’ Đức Phật, Đức Thế Tôn đã quở trách: – ‘Này Bhāradvāja, (việc làm này) không thích hợp, không tương xứng, không phải phép, không phải hạnh của Sa-môn, không được phép, không nên làm. Này Bhāradvāja, tại sao ngươi lại vì một cái bát gỗ tầm thường mà phô diễn pháp thượng nhân, thần thông kỳ diệu, cho hàng tại gia thấy chứ! Này Bhāradvāja, ví như người đàn bà vì một đồng tiền tầm thường mà để lộ phần kín của mình, cũng vậy, này Bhāradvāja, ngươi đã vì một cái bát gỗ tầm thường mà phô diễn pháp thượng nhân, thần thông kỳ diệu, cho hàng tại gia thấy. Này Bhāradvāja, việc này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin...’... sau khi quở trách... sau khi thuyết pháp, Ngài gọi các vị Tỳ-khưu: – ‘Này các Tỳ-khưu, không được phô diễn pháp thượng nhân, thần thông kỳ diệu, cho hàng tại gia. Vị nào phô diễn, phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các Tỳ-khưu, hãy đập vỡ cái bát gỗ này. Sau khi đập thành từng mảnh, hãy đưa cho các Tỳ-khưu để nghiền thuốc nhỏ mắt. Và này các Tỳ-khưu, không được dùng bát gỗ. Vị nào dùng, phạm tội dukkaṭa (tác ác).’
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū uccāvace patte dhārenti sovaṇṇamayaṁ rūpiyamayaṁ. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, sovaṇṇamayo patto dhāretabbo …pe… na rūpiyamayo patto dhāretabbo … na maṇimayo patto dhāretabbo … na veḷuriyamayo patto dhāretabbo … na phalikamayo patto dhāretabbo … na kaṁsamayo patto dhāretabbo … na kācamayo patto dhāretabbo … na tipumayo patto dhāretabbo … na sīsamayo patto dhāretabbo … na tambalohamayo patto dhāretabbo. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, dve patte—ayopattaṁ, mattikāpattan”ti.
At that time the monks from the group of six used luxurious bowls made with gold and silver. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t use almsbowls made with gold, silver, gems, beryl, crystal, bronze, glass, tin, lead, or copper. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow two kinds of almsbowls: iron bowls and ceramic bowls.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm Lục sư tỳ khưu sử dụng các loại bình bát cao sang và thấp hèn, (cụ thể là) bình bát bằng vàng, bình bát bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và dị nghị rằng: “Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục.” (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, không được sử dụng bình bát bằng vàng, ... không được sử dụng bình bát bằng bạc, ... không được sử dụng bình bát bằng ngọc ma-ni, ... không được sử dụng bình bát bằng ngọc lưu ly, ... không được sử dụng bình bát bằng pha lê, ... không được sử dụng bình bát bằng đồng điếu, ... không được sử dụng bình bát bằng thủy tinh, ... không được sử dụng bình bát bằng thiếc, ... không được sử dụng bình bát bằng chì, ... không được sử dụng bình bát bằng đồng đỏ. Vị nào sử dụng, vị ấy phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các tỳ khưu, Ta cho phép hai loại bình bát: bình bát bằng sắt và bình bát bằng đất.”
Tena kho pana samayena pattamūlaṁ ghaṁsiyati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pattamaṇḍalan”ti.
At that time the bottoms of the bowls became scratched.
“I allow a circular bowl rest.”
253. Vào lúc bấy giờ, đáy bình bát bị mòn. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép vành chân (đế) bình bát.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū uccāvacāni pattamaṇḍalāni dhārenti sovaṇṇamayaṁ rūpiyamayaṁ. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, uccāvacāni pattamaṇḍalāni dhāretabbāni. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, dve pattamaṇḍalāni—tipumayaṁ, sīsamayan”ti.
Bahalāni maṇḍalāni na acchupiyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, likhitun”ti.
Valī honti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, makaradantakaṁ chinditun”ti.
Soon afterwards the monks from the group of six used luxurious bowl rests made with gold and silver. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t use luxurious bowl rests. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow two kinds of bowl rests: bowl-rests made of tin and a bowl-rests made of lead.”
There were thick bowl rests on which the bowls did not sit properly.
“I allow you to carve them out.”
There were marks left from the carving.
“I allow you to cut a shark-teeth pattern.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm Lục sư tỳ khưu sử dụng các loại vành chân bình bát cao sang và thấp hèn, (cụ thể là) vành chân bình bát bằng vàng, vành chân bình bát bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và dị nghị rằng: “Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục.” (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, không được sử dụng các loại vành chân bình bát cao sang và thấp hèn. Vị nào sử dụng, vị ấy phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các tỳ khưu, Ta cho phép hai loại vành chân bình bát: bằng thiếc và bằng chì.” Các vành chân (đế) dày thì không vừa khít. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép gọt (cho mỏng).” (Sau khi gọt) có các nếp nhăn. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép cắt hình răng cá sấu (makara).”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū citrāni pattamaṇḍalāni dhārenti rūpakākiṇṇāni bhittikammakatāni. Tāni rathikāyapi dassentā āhiṇḍanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, citrāni pattamaṇḍalāni dhāretabbāni rūpakākiṇṇāni bhittikammakatāni. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, pakatimaṇḍalan”ti.
Soon the monks from the group of six used colorful bowl rests, decorated like walls. As they were walking about, they showed them off in the streets. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t use colorful bowl rests, decorated like a wall. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow ordinary bowl rests.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm Lục sư tỳ khưu sử dụng các loại vành chân bình bát được trang trí, có nhiều hình vẽ, được làm như tranh tường. Họ đi vòng quanh khoe những vật ấy ngay cả ở trên đường. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và dị nghị rằng: “Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục.” (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, không được sử dụng các loại vành chân bình bát được trang trí, có nhiều hình vẽ, được làm như tranh tường. Vị nào sử dụng, vị ấy phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các tỳ khưu, Ta cho phép vành chân (đế) bình thường.”
Tena kho pana samayena bhikkhū sodakaṁ pattaṁ paṭisāmenti. Patto dussati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, sodako patto paṭisāmetabbo. Yo paṭisāmeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, otāpetvā pattaṁ paṭisāmetun”ti.
Tena kho pana samayena bhikkhū sodakaṁ pattaṁ otāpenti.
At this time there were monks who put away their bowls while still wet. The bowls were stained.
“You shouldn’t put away your bowl while still wet. If you do, you commit an offense of wrong conduct. You should sun your bowl and then put it away.”
Soon afterwards there were monks who sunned their bowls while still wet.
254. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu cất giữ bình bát còn dính nước. Bình bát bị hư. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, không được cất giữ bình bát còn dính nước. Vị nào cất giữ, vị ấy phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các tỳ khưu, Ta cho phép cất giữ bình bát sau khi đã phơi nắng.”
“Na, bhikkhave, sodako patto otāpetabbo. Yo otāpeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, vodakaṁ katvā otāpetvā pattaṁ paṭisāmetun”ti.
“You shouldn’t sun your bowl while still wet. If you do, you commit an offense of wrong conduct. You should dry the bowl and then sun it before you put it away.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu phơi nắng bình bát còn dính nước. Bình bát có mùi hôi. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, không được phơi nắng bình bát còn dính nước. Vị nào phơi nắng, vị ấy phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các tỳ khưu, Ta cho phép cất giữ bình bát sau khi đã làm cho ráo nước rồi phơi nắng.”
Tena kho pana samayena bhikkhū uṇhe pattaṁ nidahanti. Pattassa vaṇṇo dussati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, uṇhe patto nidahitabbo. Yo nidaheyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, muhuttaṁ uṇhe otāpetvā pattaṁ paṭisāmetun”ti.
Monks left their bowls in the heat of the sun. The bowls became discolored.
“You shouldn’t leave your bowl in the heat of the sun. If you do, you commit an offense of wrong conduct. You should sun it in the heat for a short time and then put it away.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu để bình bát ở ngoài nắng. Màu sắc của bình bát bị hư. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, không được để bình bát ở ngoài nắng. Vị nào để, vị ấy phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các tỳ khưu, Ta cho phép cất giữ bình bát sau khi đã phơi nắng một lát ở ngoài nắng.”
Tena kho pana samayena sambahulā pattā ajjhokāse anādhārā nikkhittā honti. Vātamaṇḍalikāya āvaṭṭetvā pattā bhijjiṁsu. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pattādhārakan”ti.
Tena kho pana samayena bhikkhū miḍḍhante pattaṁ nikkhipanti. Paripatitvā patto bhijjati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
On one occasion a number of almsbowls had been put down outside without support. A whirlwind rolled the bowls around and as a result they broke.
“I allow a bowl rack.”
On one occasion there were monks who had put their bowls on the edge of a bench. They fell down and broke.
Vào lúc bấy giờ, nhiều bình bát được đặt ở nơi trống trải không có vật đỡ. Do bị gió lốc cuốn đi, các bình bát đã bị bể. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép giá để bát.”
“Na, bhikkhave, miḍḍhante patto nikkhipitabbo. Yo nikkhipeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
“You shouldn’t put your almsbowl on the edge of a bench. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đặt bình bát ở trên gờ tường bên trong. Do bị rơi xuống, bình bát bị bể. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, không được đặt bình bát ở trên gờ tường bên trong. Vị nào đặt, vị ấy phạm tội tác ác (dukkaṭa).”
Tena kho pana samayena bhikkhū paribhaṇḍante pattaṁ nikkhipanti. Paripatitvā patto bhijjati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, paribhaṇḍante patto nikkhipitabbo. Yo nikkhipeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion there were monks who had put their bowls on the edge of a ledge. They fell down and broke.
“You shouldn’t put your almsbowl on the edge of a ledge. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đặt bình bát ở trên gờ tường bên ngoài. Do bị rơi xuống, bình bát bị bể. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, không được đặt bình bát ở trên gờ tường bên ngoài. Vị nào đặt, vị ấy phạm tội tác ác (dukkaṭa).”
Tena kho pana samayena bhikkhū chamāya pattaṁ nikkujjanti. Oṭṭho ghaṁsiyati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, tiṇasanthārakan”ti.
Tiṇasanthārako upacikāhi khajjati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, coḷakan”ti.
Coḷakaṁ upacikāhi khajjati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pattamāḷakan”ti.
Pattamāḷako paripatitvā patto bhijjati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pattakuṇḍolikan”ti.
Pattakuṇḍolikāya patto ghaṁsiyati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, pattatthavikan”ti.
Aṁsabaddhako na hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, aṁsabaddhakaṁ bandhanasuttakan”ti.
At that time the monks put their bowls upside down on the ground. The edges of the bowls were scratched.
“I allow a spread of grass.”
The grass was eaten by termites.
“I allow a cloth.”
The cloth was eaten by termites.
“I allow a platform for bowls.”
The bowls fell off the platform and broke.
“I allow a storage container for almsbowls.”
The bowls were scratched in the storage containers.
“I allow a bowl bag.”
There were no shoulder straps.
“I allow a shoulder strap and a string for fastening.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu úp bình bát ở trên mặt đất. Miệng bình bát bị mòn. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép tấm lót bằng cỏ.” Tấm lót bằng cỏ bị mối ăn. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép miếng vải.” Miếng vải bị mối ăn. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép giá để bát.” Giá để bát bị ngã đổ làm bình bát bị bể. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép cái giỏ đựng bát.” Bình bát bị cọ xát ở trong giỏ đựng bát. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép túi đựng bát.” (Túi đựng bát) không có quai đeo vai. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép quai đeo vai và dây buộc.”
Tena kho pana samayena bhikkhū bhittikhilepi nāgadantakepi pattaṁ laggenti. Paripatitvā patto bhijjati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, patto laggetabbo. Yo laggeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time there were monks who hung their bowls from wall pegs. The bowls fell down and broke.
“You shouldn’t hang up your almsbowl. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu treo bình bát ở trên cọc tường và ở trên móc hình ngà voi. Do bị rơi xuống, bình bát bị bể. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): “Này các tỳ khưu, không được treo bình bát. Vị nào treo, vị ấy phạm tội tác ác (dukkaṭa).”
Tena kho pana samayena bhikkhū mañce pattaṁ nikkhipanti, satisammosā nisīdantā ottharitvā pattaṁ bhindenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, mañce patto nikkhipitabbo. Yo nikkhipeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time there were monks who placed their bowls on beds. Sitting down absentmindedly, they crushed the bowls, breaking them.
“You shouldn’t place your bowl on a bed. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đặt bình bát ở trên giường. Do đãng trí, trong khi ngồi xuống, các vị ấy đè lên làm vỡ bình bát. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – Này các tỳ khưu, không được đặt bình bát ở trên giường. Vị nào đặt, (vị ấy) phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū pīṭhe pattaṁ nikkhipanti, satisammosā nisīdantā ottharitvā pattaṁ bhindenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, pīṭhe patto nikkhipitabbo. Yo nikkhipeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time monks placed their bowls on benches. Sitting down absentmindedly, they crushed the bowls, breaking them.
“You shouldn’t place your bowl on a bench. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đặt bình bát ở trên ghế thấp. Do đãng trí, trong khi ngồi xuống, các vị ấy đè lên làm vỡ bình bát. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – Này các tỳ khưu, không được đặt bình bát ở trên ghế thấp. Vị nào đặt, (vị ấy) phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū aṅke pattaṁ nikkhipanti, satisammosā uṭṭhahanti. Paripatitvā patto bhijjati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, aṅke patto nikkhipitabbo. Yo nikkhipeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time there were monks who put their bowls in their laps. When they got up absentmindedly, the bowls fell down and broke.
“You shouldn’t put your bowl in your lap. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đặt bình bát ở trong lòng. Do đãng trí, các vị ấy đứng dậy. Bình bát bị rơi xuống rồi bị vỡ. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – Này các tỳ khưu, không được đặt bình bát ở trong lòng. Vị nào đặt, (vị ấy) phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū chatte pattaṁ nikkhipanti. Vātamaṇḍalikāya chattaṁ ukkhipiyati paripatitvā patto bhijjati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, chatte patto nikkhipitabbo. Yo nikkhipeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time there were monks who put their bowls on a sunshade. A whirlwind lifted the sunshade, and the bowls fell down and broke.
“You shouldn’t put your bowl on a sunshade. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đặt bình bát ở trên cây dù. Cây dù bị gió lốc thổi bay, bình bát bị rơi xuống rồi bị vỡ. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – Này các tỳ khưu, không được đặt bình bát ở trên cây dù. Vị nào đặt, (vị ấy) phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū pattahatthā kavāṭaṁ paṇāmenti. Kavāṭo āvaṭṭitvā patto bhijjati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, pattahatthena kavāṭaṁ paṇāmetabbaṁ. Yo paṇāmeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time there were monks who opened doors with a bowl in their hand. The doors swung back and the bowls broke.
“You shouldn’t open a door with an almsbowl in your hand. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
255. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu tay cầm bình bát đẩy cánh cửa. Cánh cửa xoay lại làm vỡ bình bát. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – Này các tỳ khưu, (vị tỳ khưu) tay cầm bình bát không được đẩy cánh cửa. Vị nào đẩy, (vị ấy) phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū tumbakaṭāhe piṇḍāya caranti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi titthiyā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, tumbakaṭāhe piṇḍāya caritabbaṁ. Yo careyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Tena kho pana samayena bhikkhū ghaṭikaṭāhe piṇḍāya caranti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi titthiyā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At that time there were monks who walked for alms with gourds as bowls. People complained and criticized them, “They’re just like the monastics of other religions.”
“You shouldn’t walk for alms with a gourd as a bowl. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
At that time there were monks who walked for alms with waterpots as bowls. People complained and criticized them, “They’re just like the monastics of other religions.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đi khất thực bằng vỏ trái bầu khô. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – Giống như các người theo ngoại đạo. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – Này các tỳ khưu, không được đi khất thực bằng vỏ trái bầu khô. Vị nào đi, (vị ấy) phạm tội tác ác.
“Na, bhikkhave, ghaṭikaṭāhe piṇḍāya caritabbaṁ. Yo careyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
“You shouldn’t walk for alms with a waterpot as a bowl. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đi khất thực bằng cái nồi đất. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – Giống như các người theo ngoại đạo. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – Này các tỳ khưu, không được đi khất thực bằng cái nồi đất. Vị nào đi, (vị ấy) phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu sabbapaṁsukūliko hoti. So chavasīsassa pattaṁ dhāreti. Aññatarā itthī passitvā bhītā vissaramakāsi—“abhuṁ me pisāco vatāyan”ti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā chavasīsassa pattaṁ dhāressanti, seyyathāpi pisācillikā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, chavasīsassa patto dhāretabbo. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa. Na ca, bhikkhave, sabbapaṁsukūlikena bhavitabbaṁ. Yo bhaveyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time a certain monk who only used discarded things used a skull as a bowl. A woman who saw this was terrified, screaming, “Oh my God, a demon!” People complained and criticized him, “How can the Sakyan monastics use skulls as bowls? They’re just like goblins.”
“You shouldn’t use a skull as a bowl. If you do, you commit an offense of wrong conduct. And you shouldn’t use only discarded things. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu là người chỉ dùng y phấn tảo. Vị ấy mang cái bát làm bằng sọ người. Có một người phụ nữ trông thấy, hoảng sợ nên đã la lớn lên rằng: – Ôi thôi, ta tiêu rồi! Kẻ này chắc chắn là quỷ ăn thịt người! Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – Tại sao các sa-môn Thích tử lại có thể mang cái bát làm bằng sọ người, giống như bọn quỷ sứ vậy? Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – Này các tỳ khưu, không được mang cái bát làm bằng sọ người. Vị nào mang, (vị ấy) phạm tội tác ác. Và này các tỳ khưu, không nên là người chỉ dùng y phấn tảo. Vị nào là người như thế, (vị ấy) phạm tội tác ác.
Tena kho pana samayena bhikkhū calakānipi aṭṭhikānipi ucchiṭṭhodakampi pattena nīharanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“yasmiṁ yevime samaṇā sakyaputtiyā bhuñjanti sova nesaṁ paṭiggaho”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na bhikkhave, calakāni vā aṭṭhikāni vā ucchiṭṭhodakaṁ vā pattena nīharitabbaṁ. Yo nīhareyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, paṭiggahan”ti.
At that time there were monks who carried away chewed food remnants, bones, and wastewater in their bowls. People complained and criticized them, “These Sakyan monastics use the vessel they’re eating from as a trash can.”
“You shouldn’t carry away chewed food remnants, bones, and wastewater in your almsbowl. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow trash cans.”
Robe making
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu dùng bình bát để mang đi các thứ như đồ ăn thừa, xương, và nước súc miệng. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – Các sa-môn Thích tử này dùng chính cái (bát) mà họ ăn để làm đồ chứa đồ dơ! Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – Này các tỳ khưu, không được dùng bình bát để mang đi đồ ăn thừa, hoặc xương, hoặc nước súc miệng. Vị nào mang đi, (vị ấy) phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) đồ chứa đồ dơ.
Tena kho pana samayena bhikkhū hatthena vipphāḷetvā cīvaraṁ sibbenti. Cīvaraṁ vilomikaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, satthakaṁ namatakan”ti.
At that time the monks tore cloth to pieces by hand and then sewed robes. The robes were ugly. They told the Buddha.
“I allow a knife and a felt sheath.”
256. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu dùng tay xé rồi may y. Tấm y bị làm một cách vụng về. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) dao nhỏ và tấm vải thô.
Tena kho pana samayena saṅghassa daṇḍasatthakaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, daṇḍasatthakan”ti.
Soon afterwards the Sangha was offered a knife with a handle.
“I allow a knife with a handle.”
Vào lúc bấy giờ, một con dao nhỏ có cán đã được dâng đến cho tăng chúng. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) dao nhỏ có cán.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū uccāvace satthakadaṇḍe dhārenti sovaṇṇamayaṁ rūpiyamayaṁ. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, uccāvacā satthakadaṇḍā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, aṭṭhimayaṁ dantamayaṁ visāṇamayaṁ naḷamayaṁ veḷumayaṁ kaṭṭhamayaṁ jatumayaṁ phalamayaṁ lohamayaṁ saṅkhanābhimayan”ti.
At this time the monks from the group of six used luxurious knife handles made with gold and silver. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t use luxurious knife handles. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow knife handles made of bone, ivory, horn, reed, bamboo, wood, resin, fruit, metal, or shell.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu mang các loại cán dao khác nhau, (làm bằng) vàng, (làm bằng) bạc. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: – Giống như các gia chủ hưởng thụ các dục! Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – Này các tỳ khưu, không được mang các loại cán dao khác nhau. Vị nào mang, (vị ấy) phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép (cán dao làm bằng) xương, (bằng) ngà, (bằng) sừng, (bằng) sậy, (bằng) tre, (bằng) gỗ, (bằng) nhựa cây, (bằng) trái cây, (bằng) kim loại, (bằng) vỏ ốc.
Tena kho pana samayena bhikkhū kukkuṭapattenapi veḷupesikāyapi cīvaraṁ sibbenti. Cīvaraṁ dussibbitaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sūcin”ti.
Sūciyo kaṇṇakitāyo honti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, sūcināḷikan”ti.
Sūcināḷikāyapi kaṇṇakitāyo honti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, kiṇṇena pūretun”ti.
Kiṇṇepi kaṇṇakitāyo honti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, sattuyā pūretun”ti.
Sattuyāpi kaṇṇakitāyo honti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, saritakan”ti.
Saritakepi kaṇṇakitāyo honti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, madhusitthakena sāretun”ti.
Saritakaṁ paribhijjati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, saritakasipāṭikan”ti.
Tena kho pana samayena bhikkhū tattha tattha khilaṁ nikkhaṇitvā sambandhitvā cīvaraṁ sibbenti. Cīvaraṁ vikaṇṇaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At that time the monks used chicken feathers and pieces of bamboo to sew robes. The robes were badly sewn.
“I allow needles.”
The needles rusted.
“I allow a cylinder for the needles.”
The needles still rusted.
“I allow you to fill them with yeast.”
The needles still rusted.
“I allow you to fill them with flour.”
The needles still rusted.
“I allow stone powder.”
The needles still rusted.
“I allow you to mix it with beeswax.”
The stone powder broke apart.
“I allow a case.”
At that time the monks erected posts here and there, bound them together, and sewed robes. The corners of the robes were deformed. They told the Buddha.
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu may y bằng lông gà và bằng thanh tre. Tấm y được may một cách vụng về. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) kim. Các cây kim bị rỉ sét ... cho đến ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) ống đựng kim. Trong ống đựng kim, các cây kim cũng bị rỉ sét ... cho đến ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép nhét đầy (ống kim) bằng men. Trong men, các cây kim cũng bị rỉ sét ... cho đến ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép nhét đầy (ống kim) bằng bột. Trong bột, các cây kim cũng bị rỉ sét ... cho đến ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) đá mài. Trong đá mài, các cây kim cũng bị rỉ sét ... cho đến ... – Này các tỳ khưu, Ta cho phép thoa bằng sáp ong. Đá mài bị vỡ vụn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) túi đựng đá mài.
“Anujānāmi, bhikkhave, kathinaṁ kathinarajjuṁ tattha tattha obandhitvā cīvaraṁ sibbetun”ti.
Visame kathinaṁ pattharanti. Kathinaṁ paribhijjati …pe…
“na, bhikkhave, visame kathinaṁ pattharitabbaṁ. Yo patthareyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
“I allow a frame and a string. You should tie down the cloth to the frame as required, before sewing the robe.”
They laid the frame on uneven ground. The frame broke.
“You shouldn’t lay the frame on uneven ground. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đóng cọc ở chỗ này chỗ kia, buộc dây rồi may y. Tấm y bị không đều góc. (Các vị) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) khung kaṭhina và dây kaṭhina, (cho phép) căng ở chỗ này chỗ kia để may y.” (Các vị) trải khung kaṭhina ở nơi không bằng phẳng. Khung kaṭhina bị hư hỏng... v.v... “Này các tỳ khưu, không được trải khung kaṭhina ở nơi không bằng phẳng. Vị nào trải, phạm tội dukkaṭa.”
Chamāya kathinaṁ pattharanti. Kathinaṁ paṁsukitaṁ hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, tiṇasanthārakan”ti.
Kathinassa anto jīrati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, anuvātaṁ paribhaṇḍaṁ āropetun”ti.
Kathinaṁ nappahoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, daṇḍakathinaṁ bidalakaṁ salākaṁ vinandhanarajjuṁ vinandhanasuttaṁ vinandhitvā cīvaraṁ sibbetun”ti.
Suttantarikāyo visamā honti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, kaḷimbhakan”ti.
Suttā vaṅkā honti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, moghasuttakan”ti.
They laid the frame on the ground. The frame got dirty.
“I allow a spread of grass.”
The edges of the frame deteriorated.
“I allow you to add an edge lengthwise and crosswise.”
The frame was not the right size.
“I allow an inner frame, folding a straw mat to fit the frame, spacers, strings for tying together, and strings for tying down. After tying it together, you should sew the robe.”
The seams were unevenly spaced.
“I allow a ruler.”
The seams were not straight.
“I allow you to make a guide line.”
(Các vị) trải khung kaṭhina trên đất. Khung kaṭhina bị dính đầy bụi đất... v.v... “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) tấm lót bằng cỏ.” Phần trong của khung kaṭhina bị mục... v.v... “Này các tỳ khưu, Ta cho phép gắn thêm viền dọc và viền ngang.” Khung kaṭhina không đủ (kích thước)... v.v... “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) khung kaṭhina có tay cầm, thanh nẹp, thanh tre, dây buộc, chỉ buộc, (cho phép) buộc lại rồi may y.” Khoảng cách giữa các đường chỉ không đều... v.v... “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) dụng cụ đo.” Các đường chỉ bị cong... v.v... “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) dây bật mực.”
Tena kho pana samayena bhikkhū adhotehi pādehi kathinaṁ akkamanti. Kathinaṁ dussati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, adhotehi pādehi kathinaṁ akkamitabbaṁ. Yo akkameyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
There were monks who stepped on the frame with dirty feet. The frame got dirty.
“You shouldn’t step on the frame with dirty feet. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu dùng chân chưa rửa dẫm lên khung kaṭhina. Khung kaṭhina bị hư. (Các vị) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, không được dùng chân chưa rửa dẫm lên khung kaṭhina. Vị nào dẫm lên, phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena bhikkhū allehi pādehi kathinaṁ akkamanti. Kathinaṁ dussati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, allehi pādehi kathinaṁ akkamitabbaṁ. Yo akkameyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
There were monks who stepped on the frame with wet feet. The frame got dirty.
“You shouldn’t step on the frame with wet feet. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu dùng chân còn ướt dẫm lên khung kaṭhina. Khung kaṭhina bị hư. (Các vị) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, không được dùng chân còn ướt dẫm lên khung kaṭhina. Vị nào dẫm lên, phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena bhikkhū saupāhanā kathinaṁ akkamanti. Kathinaṁ dussati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, saupāhanena kathinaṁ akkamitabbaṁ. Yo akkameyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
There were monks who stepped on the frame while wearing sandals. The frame got dirty.
“You shouldn’t step on the frame while wearing sandals. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu mang giày dép dẫm lên khung kaṭhina. Khung kaṭhina bị hư. (Các vị) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, (vị tỳ khưu) mang giày dép không được dẫm lên khung kaṭhina. Vị nào dẫm lên, phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena bhikkhū cīvaraṁ sibbantā aṅguliyā paṭiggaṇhanti. Aṅguliyo dukkhā honti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, paṭiggahan”ti.
When sewing robes, the monks used their bare fingers. They pricked their fingers.
“I allow thimbles.”
Vào lúc bấy giờ, trong khi may y, các vị tỳ khưu dùng ngón tay để đỡ. Các ngón tay bị đau. (Các vị) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) cái đê.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū uccāvace paṭiggahe dhārenti sovaṇṇamayaṁ rūpiyamayaṁ. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, uccāvacā paṭiggahā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, aṭṭhimayaṁ …pe… saṅkhanābhimayan”ti.
Soon the monks from the group of six used luxurious thimbles made with gold and silver. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t use luxurious thimbles. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow a thimble made of bone, ivory, horn, reed, bamboo, wood, resin, fruit, metal, or shell.”
257. Vào lúc bấy giờ, nhóm tỳ khưu Lục Sư mang những cái đê đủ loại, (cái) bằng vàng, (cái) bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: “Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục.” (Các vị) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, không được mang những cái đê đủ loại. Vị nào mang, phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng cái đê) bằng xương... v.v... (cái đê) bằng rốn ốc xà cừ.”
Tena kho pana samayena sūciyopi satthakāpi paṭiggahāpi nassanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, āvesanavitthakan”ti.
Āvesanavitthake samākulā honti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, paṭiggahathavikan”ti.
Aṁsabaddhako na hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, aṁsabaddhakaṁ bandhanasuttakan”ti.
Needles, knives, and thimbles got lost.
“I allow a small bowl.”
The small bowls became crowded.
“I allow a bag for thimbles.”
There was no shoulder strap.
“I allow a shoulder strap and a string for fastening.”
Vào lúc bấy giờ, kim, dao nhỏ, và cả đê may bị thất lạc. (Các vị) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) túi đựng đồ may.” Trong túi đựng đồ may, (các vật) bị lộn xộn. (Các vị) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) túi đựng đê.” Không có dây đeo vai. (Các vị) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) dây đeo vai và dây buộc.”
Tena kho pana samayena bhikkhū abbhokāse cīvaraṁ sibbantā sītenapi uṇhenapi kilamanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, kathinasālaṁ kathinamaṇḍapan”ti.
Kathinasālā nīcavatthukā hoti, udakena otthariyyati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, uccavatthukaṁ kātun”ti.
Cayo paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, cinituṁ tayo caye—iṭṭhakācayaṁ, silācayaṁ, dārucayan”ti.
Ārohantā vihaññanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, tayo sopāne—iṭṭhakāsopānaṁ, silāsopānaṁ, dārusopānan”ti.
Ārohantā paripatanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ālambanabāhan”ti.
Kathinasālāya tiṇacuṇṇaṁ paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ogumphetvā ullittāvalittaṁ kātuṁ—setavaṇṇaṁ kāḷavaṇṇaṁ gerukaparikammaṁ mālākammaṁ latākammaṁ makaradantakaṁ pañcapaṭikaṁ cīvaravaṁsaṁ cīvararajjukan”ti.
Tena kho pana samayena bhikkhū cīvaraṁ sibbetvā tattheva kathinaṁ ujjhitvā pakkamanti, undūrehipi upacikāhipi khajjati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, kathinaṁ saṅgharitun”ti.
Kathinaṁ paribhijjati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, goghaṁsikāya kathinaṁ saṅgharitun”ti.
Kathinaṁ viniveṭhiyati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, bandhanarajjun”ti.
When sewing robes outside, the monks were troubled by the cold and heat. They told the Buddha.
“I allow sewing sheds and roof covers.”
They built the sewing shed on a low base. It was flooded.
“I allow you to raise the base.”
The mound collapsed.
“I allow you to construct three kinds of raised foundations: raised foundations of brick, stone, and wood.”
It was difficult to get up to the sewing sheds.
“I allow three kinds of stairs: stairs of brick, stone, and wood.”
People fell down while climbing the stairs.
“I allow rails.”
Grass and dust fell into the sewing sheds.
“I allow you to firm up the structure and then to plaster it inside and outside, including: treating with white color, black color, and red ocher; making garland patterns, creeper patterns, shark-teeth patterns, and the fivefold pattern; putting up bamboo robe racks and clotheslines.”
At that time, when they had finished sewing a robe, there were monks who abandoned the frame right there and left. Rats and termites ate it.
“You should fold up the frame.”
The frame broke.
“You should fold it up with a rod for support.”
The frame unfolded.
“You should tie it up with a rope.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu may y ở ngoài trời, bị mệt mỏi vì lạnh và vì nóng. (Các vị) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dựng) nhà kaṭhina, lều kaṭhina.” Nhà kaṭhina có nền thấp, bị ngập nước. (Các vị) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm nền cao.” Nền bị sụp... v.v... “Này các tỳ khưu, Ta cho phép xây ba loại nền: nền gạch, nền đá, nền gỗ.” (Các vị) đi lên bị mệt... v.v... “Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba loại bậc thang: bậc thang gạch, bậc thang đá, bậc thang gỗ.” (Các vị) đi lên bị té ngã... v.v... “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) tay vịn.” Bụi cỏ từ nhà kaṭhina rơi xuống... v.v... “Này các tỳ khưu, Ta cho phép phủi sạch rồi trét vữa trong ngoài, (cho phép dùng) màu trắng, màu đen, trang trí bằng đất son, hình vòng hoa, hình dây leo, hình răng cá sấu, hình năm dải, (cho phép dùng) sào phơi y, dây phơi y.”
Tena kho pana samayena bhikkhū kuṭṭepi thambhepi kathinaṁ ussāpetvā pakkamanti.
At that time there were monks who leaned the frame against a wall or a pillar and left.
Vào lúc bấy giờ, sau khi may y xong, các vị tỳ khưu bỏ lại khung kaṭhina ngay tại đó rồi ra đi; (khung) bị chuột và mối gặm nhấm. (Các vị) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép cuốn lại khung kaṭhina.” Khung kaṭhina bị hư hỏng... v.v... “Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng cây sào bò để cuốn lại khung kaṭhina.” Khung kaṭhina bị bung ra... v.v... “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) dây buộc.”
“Anujānāmi, bhikkhave, bhittikhile vā nāgadante vā laggetun”ti.
“You should hang it from a wall peg.”
Various allowable requisites
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu dựng khung kaṭhina vào tường, vào cột rồi ra đi. (Khung) bị ngã đổ và hư hỏng. (Các vị) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép treo (khung) lên cọc tường hoặc móc ngà voi.”
Atha kho bhagavā rājagahe yathābhirantaṁ viharitvā yena vesālī tena cārikaṁ pakkāmi. Tena kho pana samayena bhikkhū sūcikampi satthakampi bhesajjampi pattena ādāya gacchanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, bhesajjatthavikan”ti.
Aṁsabaddhako na hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, aṁsabaddhakaṁ bandhanasuttakan”ti.
When the Buddha had stayed at Rājagaha for as long as he liked, he set out wandering toward Vesālī. And so did the monks, having put their needles, knives, and medicines in their almsbowls. They told the Buddha.
“I allow a medicine bag.”
There was no shoulder strap.
“I allow a shoulder strap and a string for fastening it.”
258. Bấy giờ, sau khi an trú tại thành Rājagaha cho đến khi nào Ngài muốn, đức Thế Tôn đã du hành đến Vesālī. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu mang theo cả kim, cả dao nhỏ, cả thuốc men bằng bát. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép túi đựng thuốc." (Khi ấy) không có dây đeo vai ... (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép dây đeo vai và dây buộc."
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu upāhanāyo kāyabandhanena bandhitvā gāmaṁ piṇḍāya pāvisi. Aññataro upāsako taṁ bhikkhuṁ abhivādento upāhanāyo sīsena ghaṭṭeti. So bhikkhu maṅku ahosi. Atha kho so bhikkhu ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, upāhanatthavikan”ti.
Aṁsabaddhako na hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, aṁsabaddhakaṁ bandhanasuttakan”ti.
On one occasion a certain monk bound his sandals to his belt and entered the village for alms. A lay follower who bowed to him hit his head against those sandals. The monk was embarrassed. When he had returned to the monastery, he told the monks what had happened, who in turn told the Buddha.
“I allow a bag for sandals.”
There was no shoulder strap.
“I allow a shoulder strap and a string for fastening it.”
Vào lúc bấy giờ, một vị tỳ khưu nào đó buộc đôi giày dép bằng dây thắt lưng rồi đi vào làng để khất thực. Một vị cận sự nam nào đó trong khi đảnh lễ vị tỳ khưu ấy đã chạm đầu vào đôi giày dép. Vị tỳ khưu ấy đã bối rối. Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy sau khi đi đến tu viện đã kể lại sự việc ấy cho các vị tỳ khưu. Các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép túi đựng giày dép." (Khi ấy) không có dây đeo vai ... (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép dây đeo vai và dây buộc."
Tena kho pana samayena antarāmagge udakaṁ akappiyaṁ hoti. Parissāvanaṁ na hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, parissāvanan”ti.
Coḷakaṁ nappahoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, kaṭacchuparissāvanan”ti.
Coḷakaṁ nappahoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, dhammakaraṇan”ti.
While they were traveling, there was only unallowable water, but no water filter.
“I allow a water filter.”
There was no suitable cloth.
“I allow a filter with a handle.”
There was still no suitable cloth.
“I allow a water strainer.”
Vào lúc bấy giờ, ở giữa đường có nước không thích hợp (để uống). (Các vị ấy) không có đồ lọc nước. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép đồ lọc nước." Miếng vải không đủ... (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép đồ lọc nước có ba chân (kaṭacchuparissāvana)." Miếng vải không đủ... (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép đồ lọc nước dhammakaraṇa."
Tena kho pana samayena dve bhikkhū kosalesu janapade addhānamaggappaṭipannā honti. Eko bhikkhu anācāraṁ ācarati. Dutiyo bhikkhu taṁ bhikkhuṁ etadavoca—“mā, āvuso, evarūpaṁ akāsi. Netaṁ kappatī”ti. So tasmiṁ upanandhi.
Atha kho so bhikkhu pipāsāya pīḷito upanaddhaṁ bhikkhuṁ etadavoca—“dehi me, āvuso, parissāvanaṁ, pānīyaṁ pivissāmī”ti. Upanaddho bhikkhu na adāsi. So bhikkhu pipāsāya pīḷito kālamakāsi. Atha kho so bhikkhu ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi.
“Kiṁ pana tvaṁ, āvuso, parissāvanaṁ yāciyamāno na adāsī”ti?
“Evamāvuso”ti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhikkhu parissāvanaṁ yāciyamāno na dassatī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā taṁ bhikkhuṁ paṭipucchi—
“saccaṁ kira tvaṁ, bhikkhu, parissāvanaṁ yāciyamāno na adāsī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, moghapurisa, ananulomikaṁ appatirūpaṁ assāmaṇakaṁ akappiyaṁ akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, parissāvanaṁ yāciyamāno na dassasi. Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, addhānamaggappaṭipannena bhikkhunā parissāvanaṁ yāciyamānena na dātabbaṁ. Yo na dadeyya, āpatti dukkaṭassa. Na ca, bhikkhave, aparissāvanakena addhāno paṭipajjitabbo. Yo paṭipajjeyya, āpatti dukkaṭassa. Sace na hoti parissāvanaṁ vā dhammakaraṇo vā, saṅghāṭikaṇṇopi adhiṭṭhātabbo—iminā parissāvetvā pivissāmī”ti.
Atha kho bhagavā anupubbena cārikaṁ caramāno yena vesālī tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ. Tena kho pana samayena bhikkhū navakammaṁ karonti. Parissāvanaṁ na sammati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, daṇḍaparissāvanan”ti.
Daṇḍaparissāvanaṁ na sammati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ottharakan”ti.
On one occasion, there were two monks traveling through the Kosalan country. One monk misbehaved, and the other monk said to him, “Don’t do that. It’s not allowable.” Because of that, the first monk became resentful.
Soon afterwards the other monk was very thirsty. He asked the resentful monk to borrow his water filter. He refused and the other monk died from thirst. When the resentful monk arrived at the monastery, he told the monks what had happened.
“So you refused to lend your water filter when asked?”
“Yes.”
The monks of few desires complained and criticized him, “How could a monk do such a thing?” They told the Buddha. Soon afterwards the Buddha had the monks gathered and questioned that monk:
“Is it true, monk, that you did this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked him, “It’s not suitable, foolish man, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How could you refuse to lend your water filter when asked? This will affect people’s confidence …” After rebuking him … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“If you’re traveling with a monk and he asks to borrow your water filter, you should lend it. If you don’t, you commit an offense of wrong conduct. On the other hand, you shouldn’t travel without a water filter. If you do, you commit an offense of wrong conduct. If there’s no water filter or strainer, you should determine a corner of your robe: ‘I’ll drink after filtering with this.’”
The Buddha eventually arrived at Vesālī where he stayed in the house with the peaked roof in the Great Wood. At this time the monks were doing building work, but there were not enough water filters. They told the Buddha.
“I allow a water filter of cloth fitted to a wooden framework.”
There were still not enough filters.
“I allow you to filter by spreading cloth on water.”
259. Vào lúc bấy giờ, có hai vị tỳ khưu đang đi trên một đoạn đường dài ở xứ Kosala. Một vị tỳ khưu đã có hành vi không đúng đắn. Vị tỳ khưu thứ hai đã nói với vị tỳ khưu kia rằng: "Này hiền giả, chớ có làm việc như vậy. Việc này không hợp lệ." Vị kia đã ôm lòng oán hận vị này. Bấy giờ, vị tỳ khưu này bị cơn khát hành hạ, đã nói với vị tỳ khưu đang oán hận rằng: "Này hiền giả, hãy cho tôi đồ lọc nước, tôi sẽ uống nước." Vị tỳ khưu đang oán hận đã không cho. Vị tỳ khưu này bị cơn khát hành hạ nên đã mệnh chung. Bấy giờ, vị tỳ khưu kia sau khi đi đến tu viện đã kể lại sự việc ấy cho các vị tỳ khưu. (Các vị tỳ khưu hỏi): "Này hiền giả, có phải hiền giả đã không cho đồ lọc nước khi được hỏi xin phải không?" (Vị ấy đáp): "Thưa các hiền giả, đúng vậy." Các vị tỳ khưu thiểu dục ... đã khiển trách, chê bai, phàn nàn rằng: "Tại sao một vị tỳ khưu lại có thể không cho đồ lọc nước khi được hỏi xin chứ!" Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Bấy giờ, nhân sự việc này, nhân duyên cớ này, đức Thế Tôn đã cho triệu tập tăng chúng và hỏi vị tỳ khưu kia: "Này tỳ khưu, có thật là ngươi đã không cho đồ lọc nước khi được hỏi xin phải không?" (Vị ấy thưa): "Bạch đức Thế Tôn, là sự thật." Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách: "Này kẻ rỗng tuếch, (việc làm này) không thích hợp, không tương xứng, không phải phép, không phải hạnh của sa-môn, không hợp lệ, không nên làm. Này kẻ rỗng tuếch, tại sao ngươi lại có thể không cho đồ lọc nước khi được hỏi xin? Này kẻ rỗng tuếch, việc này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin... " ... sau khi quở trách ... sau khi thuyết một bài pháp, Ngài đã gọi các vị tỳ khưu: "Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang đi trên một đoạn đường dài không được không cho đồ lọc nước khi được hỏi xin. Vị nào không cho, vị ấy phạm tội tác ác. Và này các tỳ khưu, không được đi trên một đoạn đường dài mà không có đồ lọc nước. Vị nào đi, vị ấy phạm tội tác ác. Nếu không có đồ lọc nước hay đồ lọc nước dhammakaraṇa, thì nên quyết định dùng cả đến góc của y tăng-già-lê, (nghĩ rằng): 'Ta sẽ lọc bằng cái này rồi uống.'" Bấy giờ, đức Thế Tôn trong khi du hành tuần tự đã đi đến Vesālī. Tại đó, đức Thế Tôn đã an trú ở Vesālī, trong Đại Lâm, tại giảng đường có mái nhọn. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đang làm công việc xây dựng mới. Đồ lọc nước không đủ dùng. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép đồ lọc nước có khung (daṇḍaparissāvana)." Đồ lọc nước có khung không đủ dùng. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép đồ lọc nước nhúng (ottharaka)."
Tena kho pana samayena bhikkhū makasehi ubbāḷhā honti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, makasakuṭikan”ti.
At this time the monks were troubled by mosquitoes.
“I allow a mosquito tent.”
Buildings
Walking paths
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị muỗi làm phiền. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng mùng chống muỗi."
Tena kho pana samayena vesāliyaṁ paṇītānaṁ bhattānaṁ bhattapaṭipāṭi aṭṭhitā hoti. Bhikkhū paṇītāni bhojanāni bhuñjitvā abhisannakāyā honti bahvābādhā.
Atha kho jīvako komārabhacco vesāliṁ agamāsi kenacideva karaṇīyena. Addasā kho jīvako komārabhacco bhikkhū abhisannakāye bahvābādhe. Disvāna yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho jīvako komārabhacco bhagavantaṁ etadavoca—“etarahi, bhante, bhikkhū abhisannakāyā bahvābādhā. Sādhu, bhante, bhagavā bhikkhūnaṁ caṅkamañca jantāgharañca anujānātu. Evaṁ bhikkhū appābādhā bhavissantī”ti. Atha kho bhagavā jīvakaṁ komārabhaccaṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho jīvako komārabhacco bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, caṅkamañca jantāgharañcā”ti.
At this time in Vesālī people had arranged a succession of fine meals. After eating the fine food, the monks were often sick, their bodies being full of impurities.
Just then Jīvaka Komārabhacca was in Vesālī on some business, and he saw those monks. He went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “At present, sir, there are monks who are often sick, their bodies being full of impurities. Please allow walking-meditation paths and saunas. In this way the monks will rarely get sick.” The Buddha then instructed, inspired, and gladdened him with a teaching, after which Jīvaka got up from his seat, bowed, circumambulated the Buddha with his right side toward him, and left. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“I allow walking-meditation paths and saunas.”
260. Vào lúc bấy giờ, ở Vesālī, có một thông lệ cúng dường các vật thực hảo hạng được thiết lập. Các vị tỳ khưu sau khi dùng các vật thực hảo hạng, thân thể bị tích tụ đàm và mật, và bị nhiều bệnh tật. Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đi đến Vesālī vì một công việc nào đó. Y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã nhìn thấy các vị tỳ khưu có thân thể bị tích tụ đàm và mật, và bị nhiều bệnh tật. Sau khi thấy vậy, y sĩ đã đi đến nơi đức Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch ngài, hiện nay các vị tỳ khưu có thân thể bị tích tụ đàm và mật, và bị nhiều bệnh tật. Lành thay, bạch ngài, mong đức Thế Tôn cho phép các vị tỳ khưu được kinh hành và nhà xông hơi. Như vậy, các vị tỳ khưu sẽ ít bệnh tật.’ Khi ấy, đức Thế Tôn đã thuyết một bài pháp thoại cho y sĩ Jīvaka Komārabhacca, làm cho y sĩ thấy rõ, nhận lấy, phấn khởi, và hoan hỷ. Khi ấy, y sĩ Jīvaka Komārabhacca, sau khi được đức Thế Tôn làm cho thấy rõ, nhận lấy, phấn khởi, và hoan hỷ bằng một bài pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh phía bên phải rồi ra về. Khi ấy, đức Thế Tôn, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, sau khi thuyết một bài pháp thoại, đã gọi các vị tỳ khưu: – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép kinh hành và nhà xông hơi.’
Tena kho pana samayena bhikkhū visame caṅkame caṅkamanti. Pādā dukkhā honti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, samaṁ kātun”ti.
Caṅkamo nīcavatthuko hoti. Udakena otthariyyati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, uccavatthukaṁ kātun”ti.
Cayo paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, cinituṁ tayo caye—iṭṭhakācayaṁ, silācayaṁ, dārucayan”ti.
Ārohantā vihaññanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, tayo sopāne—iṭṭhakāsopānaṁ, silāsopānaṁ, dārusopānan”ti.
Ārohantā paripatanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ālambanabāhan”ti.
Monks did walking meditation on uneven walking paths. As a result their feet hurt.
“I allow you to even them out.”
They built walking-meditation paths on a low base. They were flooded.
“I allow you to raise the base.”
The mound collapsed.
“I allow you to construct three kinds of raised foundations: raised foundations of brick, stone, and wood.”
It was difficult to get up on the walking-meditation paths.
“I allow three kinds of stairs: stairs of brick, stone, and wood.”
People fell down while climbing the stairs.
“I allow rails.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu kinh hành trên đường kinh hành không bằng phẳng. Chân bị đau. Họ đã trình báo việc này lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm cho bằng phẳng.’ Đường kinh hành có nền thấp, bị nước ngập… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm nền cao lên.’ Nền đất bị sụp lở… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép xây ba loại nền: nền gạch, nền đá, nền gỗ.’ Các vị đi lên bị mệt… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba loại bậc thang: bậc thang gạch, bậc thang đá, bậc thang gỗ.’ Các vị đi lên bị té ngã… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép tay vịn.’
Tena kho pana samayena bhikkhū caṅkame caṅkamantā paripatanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, caṅkamanavedikan”ti.
Monks fell off while doing walking meditation.
“I allow railings.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu khi đang kinh hành trên đường kinh hành thì bị té ngã. Họ đã trình báo việc này lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép lan can đường kinh hành.’
Tena kho pana samayena bhikkhū ajjhokāse caṅkamantā sītenapi uṇhenapi kilamanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, caṅkamanasālan”ti.
Caṅkamanasālāyaṁ tiṇacuṇṇaṁ paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ogumphetvā ullittāvalittaṁ kātuṁ—setavaṇṇaṁ kāḷavaṇṇaṁ gerukaparikammaṁ mālākammaṁ latākammaṁ makaradantakaṁ pañcapaṭikaṁ cīvaravaṁsaṁ cīvararajjun”ti.
Jantāgharaṁ nīcavatthukaṁ hoti, udakena otthariyyati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, uccavatthukaṁ kātun”ti.
Cayo paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, cinituṁ tayo caye—iṭṭhakācayaṁ, silācayaṁ, dārucayan”ti.
Ārohantā vihaññanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, tayo sopāne—iṭṭhakāsopānaṁ, silāsopānaṁ, dārusopānan”ti.
Ārohantā paripatanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ālambanabāhan”ti.
Jantāgharassa kavāṭaṁ na hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, kavāṭaṁ piṭṭhasaṅghāṭaṁ udukkhalikaṁ uttarapāsakaṁ aggaḷavaṭṭiṁ kapisīsakaṁ sūcikaṁ ghaṭikaṁ tāḷacchiddaṁ āviñchanachiddaṁ āviñchanarajjun”ti.
Jantāgharassa kuṭṭapādo jīrati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, maṇḍalikaṁ kātun”ti.
Jantāgharassa dhūmanettaṁ na hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, dhūmanettan”ti.
Doing walking meditation outside, monks were troubled by the cold and the heat. They told the Buddha.
“I allow indoor walking-meditation paths.”
Grass and dust fell into the indoor walking-meditation paths.
“I allow you to firm up the structure and then to plaster it inside and outside, including: treating with white color, black color, and red ocher; making garland patterns, creeper patterns, shark-teeth patterns, and the fivefold pattern; putting up bamboo robe racks and clotheslines.”
Saunas
They built saunas on a low base. They were flooded.
“I allow you to raise the base.”
The mound collapsed.
“I allow you to construct three kinds of raised foundations: raised foundations of brick, stone, and wood.”
It was difficult to get up to the saunas.
“I allow three kinds of stairs: stairs of brick, stone, and wood.”
People fell down while climbing the stairs.
“I allow rails.”
The saunas didn’t have doors.
“I allow doors, door frames, lower hinges, upper hinges, door jambs, bolt sockets, bolts, latches, keyholes, door-pulling holes, and door-pulling ropes.”
The base of the sauna walls deteriorated.
“I allow you to make encircling trenches.”
The saunas didn’t have flues.
“I allow flues.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu khi kinh hành ngoài trời thì bị mệt mỏi vì lạnh và vì nóng. Họ đã trình báo việc này lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép nhà kinh hành.’ Trong nhà kinh hành, bụi cỏ rơi xuống… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép quét sạch rồi trát vữa bên trong và bên ngoài, sơn màu trắng, sơn màu đen, dùng đất son để trang trí, vẽ hình vòng hoa, vẽ hình dây leo, hình răng cá sấu, hình năm dải, làm sào phơi y, làm dây phơi y.’ Nhà xông hơi có nền thấp, bị nước ngập… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm nền cao lên.’ Nền đất bị sụp lở… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép xây ba loại nền: nền gạch, nền đá, nền gỗ.’ Các vị đi lên bị mệt… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba loại bậc thang: bậc thang gạch, bậc thang đá, bậc thang gỗ.’ Các vị đi lên bị té ngã… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép tay vịn.’ Nhà xông hơi không có cánh cửa… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép cánh cửa, khung cửa, cối cửa, vòng cửa trên, trụ gài then, móc cửa hình tay khỉ, then nhỏ, then lớn, lỗ tra chìa khóa, lỗ để kéo, dây để kéo.’ Chân tường của nhà xông hơi bị mục nát… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm nền tròn.’ Nhà xông hơi không có ống khói… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép ống khói.’
Tena kho pana samayena bhikkhū khuddake jantāghare majjhe aggiṭṭhānaṁ karonti. Upacāro na hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, khuddake jantāghare ekamantaṁ aggiṭṭhānaṁ kātuṁ, mahallake majjhe”ti.
Jantāghare aggi mukhaṁ ḍahati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, mukhamattikan”ti.
Hatthe mattikaṁ tementi …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, mattikādoṇikan”ti.
Mattikā duggandhā hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, vāsetun”ti.
Jantāghare aggi kāyaṁ ḍahati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, udakaṁ atiharitun”ti.
Pātiyāpi pattenapi udakaṁ atiharanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, udakaṭṭhānaṁ, udakasarāvakan”ti.
Jantāgharaṁ tiṇacchadanaṁ na sedeti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ogumphetvā ullittāvalittaṁ kātun”ti.
Jantāgharaṁ cikkhallaṁ hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, santharituṁ tayo santhare—iṭṭhakāsantharaṁ, silāsantharaṁ, dārusantharan”ti.
Cikkhallaṁyeva hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, dhovitun”ti.
Udakaṁ santiṭṭhati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, udakaniddhamanan”ti.
At that time the monks built a fireplace in the middle of a small sauna. There was no access around the fireplace.
“In a small sauna, you should make the fireplace to one side, but in a large one in the middle.”
The fire in the sauna scorched their faces.
“I allow clay for the face.”
They moistened the clay in their hands.
“I allow a trough for the clay.”
The clay was smelly.
“I allow you to add scent.”
The fire in the sauna scorched their bodies.
“I allow you to bring water.”
They brought the water in basins and bowls.
“I allow a place for the water and a water scoop.”
Because the sauna had a grass roof, they did not sweat.
“I allow you to firm up the structure and then to plaster it inside and outside.”
The sauna was muddy.
“I allow three kinds of floors: floors of brick, stone, and wood.”
It was still muddy.
“You should wash it.”
The water remained.
“I allow water drains.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đặt lò sưởi ở giữa nhà xông hơi nhỏ, không có không gian xung quanh. Họ đã trình báo việc này lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép đặt lò sưởi ở một bên trong nhà xông hơi nhỏ, và ở giữa trong nhà xông hơi lớn.’ Trong nhà xông hơi, lửa làm bỏng mặt… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng đất sét thoa mặt.’ Họ làm ướt đất sét trong tay… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép dùng chậu đựng đất sét.’ Đất sét có mùi hôi… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép ướp hương.’ Trong nhà xông hơi, lửa làm bỏng thân… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép mang nước vào.’ Họ mang nước vào bằng bát nhỏ và bằng bình bát… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép nơi để nước và bát đựng nước.’ Nhà xông hơi lợp cỏ không giữ được hơi nóng… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép quét sạch rồi trát vữa bên trong và bên ngoài.’ Nhà xông hơi bị lầy lội… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép lót ba loại sàn: sàn gạch, sàn đá, sàn gỗ.’ Vẫn bị lầy lội… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép rửa sạch.’ Nước bị ứ đọng… (Ngài phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm cống thoát nước.’
Tena kho pana samayena bhikkhū jantāghare chamāya nisīdanti, gattāni kaṇḍūvanti.
Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, jantāgharapīṭhan”ti.
Tena kho pana samayena jantāgharaṁ aparikkhittaṁ hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, parikkhipituṁ tayo pākāre—iṭṭhakāpākāraṁ, silāpākāraṁ, dārupākāran”ti.
Koṭṭhako na hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, koṭṭhakan”ti.
Koṭṭhako nīcavatthuko hoti, udakena otthariyyati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, uccavatthukaṁ kātun”ti.
Cayo paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, cinituṁ tayo caye—iṭṭhakācayaṁ, silācayaṁ, dārucayan”ti.
Ārohantā vihaññanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, tayo sopāne—iṭṭhakāsopānaṁ, silāsopānaṁ, dārusopānan”ti.
Ārohantā paripatanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ālambanabāhan”ti.
Koṭṭhakassa kavāṭaṁ na hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, kavāṭaṁ piṭṭhasaṅghāṭaṁ udukkhalikaṁ uttarapāsakaṁ aggaḷavaṭṭiṁ kapisīsakaṁ sūcikaṁ ghaṭikaṁ tāḷacchiddaṁ āviñchanachiddaṁ āviñchanarajjun”ti.
Koṭṭhake tiṇacuṇṇaṁ paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ogumphetvā ullittāvalittaṁ kātuṁ—setavaṇṇaṁ kāḷavaṇṇaṁ gerukaparikammaṁ mālākammaṁ latākammaṁ makaradantakaṁ pañcapaṭikan”ti.
Pariveṇaṁ cikkhallaṁ hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, marumbaṁ upakiritun”ti.
Na pariyāpuṇanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, padarasilaṁ nikkhipitun”ti.
Udakaṁ santiṭṭhati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, udakaniddhamanan”ti.
The monks sat on the ground and their limbs became itchy.
“I allow sauna benches.”
At that time the saunas were unenclosed.
“I allow three kinds of encircling walls: walls of brick, stone, and wood.”
There were no gatehouses.
“I allow gatehouses.”
They built the gatehouses on a low base. They were flooded.
“I allow you to raise the base.”
The mound collapsed.
“I allow you to construct three kinds of raised foundations: raised foundations of brick, stone, and wood.”
It was difficult to get up to the gatehouses.
“I allow three kinds of stairs: stairs of brick, stone, and wood.”
People fell down while climbing the stairs.
“I allow rails.”
The gatehouses didn’t have doors.
“I allow doors, door frames, lower hinges, upper hinges, door jambs, bolt sockets, bolts, latches, keyholes, door-pulling holes, and door-pulling ropes.”
Grass and dust fell into the gatehouses.
“I allow you to firm up the structure and then to plaster it inside and outside, including: treating with white color, black color, and red ocher; making garland patterns, creeper patterns, shark-teeth patterns, and the fivefold pattern.”
The yards were muddy.
“I allow a you to cover them with gravel.”
They were unable to do it.
“I allow you to lay paving stones.”
The water remained.
“I allow water drains.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ngồi trên nền đất ở trong nhà tắm hơi, thân thể bị ngứa. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) ghế trong nhà tắm hơi.” Vào lúc bấy giờ, nhà tắm hơi không có hàng rào ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép rào ba loại hàng rào: hàng rào bằng gạch, hàng rào bằng đá, hàng rào bằng gỗ. Cổng vòm không có ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) cổng vòm. Cổng vòm có nền thấp, bị nước ngập ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm nền cao. Đất đắp bị sụp lở ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép xây ba cách xây: xây bằng gạch, xây bằng đá, xây bằng gỗ. Khi đi lên bị mệt nhọc ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba loại bậc thang: bậc thang bằng gạch, bậc thang bằng đá, bậc thang bằng gỗ. Khi đi lên bị té ngã ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) tay vịn. Cổng vòm không có cánh cửa ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) cánh cửa, khung cửa, chốt cối, vòng khuyên trên, trụ gài then, then móc, then nhỏ, then lớn, lỗ khóa, lỗ để kéo, và dây để kéo. Bụi cỏ rơi xuống ở cổng vòm ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép phủi sạch rồi trát trong trát ngoài, (được phép trang trí) màu trắng, màu đen, trang trí bằng đất son, vẽ hình vòng hoa, vẽ hình dây leo, chạm hình răng cá sấu, vẽ hình năm dải. Khuôn viên bị lầy lội ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép rải sỏi. (Sỏi) không đủ ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép lát phiến đá. Nước bị ứ đọng ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) ống thoát nước.
Tena kho pana samayena bhikkhū naggā naggaṁ abhivādenti …pe… naggā naggaṁ abhivādāpenti, naggā naggassa parikammaṁ karonti, naggā naggassa parikammaṁ kārāpenti, naggā naggassa denti, naggā paṭiggaṇhanti, naggā khādanti, naggā bhuñjanti, naggā sāyanti, naggā pivanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, naggena naggo abhivādetabbo …pe… na naggena abhivādetabbaṁ … na naggena naggo abhivādāpetabbo … na naggena abhivādāpetabbaṁ … na naggena naggassa parikammaṁ kātabbaṁ … na naggena naggassa parikammaṁ kārāpetabbaṁ … na naggena naggassa dātabbaṁ … na naggena paṭiggahetabbaṁ … na naggena khāditabbaṁ … na naggena bhuñjitabbaṁ … na naggena sāyitabbaṁ … na naggena pātabbaṁ. Yo piveyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time naked monks bowed down to other naked monks, had other naked monks bow down to them, provided assistance to other naked monks, had other naked monks provide assistance to them, gave to other naked monks, received, ate fresh foods, ate cooked foods, ate other foods, and drank. They told the Buddha.
“One who is naked shouldn’t bow down to one who is naked, shouldn’t bow down to anyone, shouldn’t have a naked monk bow down to him, shouldn’t have anyone bow down to him, shouldn’t provide assistance to a naked monk, shouldn’t have a naked monk provide assistance to him, shouldn’t give to a naked monk, shouldn’t receive, shouldn’t eat fresh foods, shouldn’t eat cooked food, shouldn’t eat anything, and shouldn’t drink. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
261. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu không mặc y phục đã đảnh lễ vị (tỳ khưu) không mặc y phục ... các tỳ khưu không mặc y phục đã khiến (người khác) đảnh lễ vị không mặc y phục, các tỳ khưu không mặc y phục đã chà lưng cho vị không mặc y phục, các tỳ khưu không mặc y phục đã khiến (người khác) chà lưng cho vị không mặc y phục, các tỳ khưu không mặc y phục đã cho vị không mặc y phục, các vị không mặc y phục đã nhận, các vị không mặc y phục đã ăn vật cứng, các vị không mặc y phục đã ăn vật mềm, các vị không mặc y phục đã liếm, các vị không mặc y phục đã uống. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, vị không mặc y phục không được đảnh lễ vị không mặc y phục ... không được đảnh lễ khi không mặc y phục ... vị không mặc y phục không được khiến (người khác) đảnh lễ vị không mặc y phục ... không được khiến (người khác) đảnh lễ khi không mặc y phục ... vị không mặc y phục không được chà lưng cho vị không mặc y phục ... vị không mặc y phục không được khiến (người khác) chà lưng cho vị không mặc y phục ... vị không mặc y phục không được cho vị không mặc y phục ... vị không mặc y phục không được nhận ... vị không mặc y phục không được ăn vật cứng ... vị không mặc y phục không được ăn vật mềm ... vị không mặc y phục không được liếm ... vị không mặc y phục không được uống. Vị nào uống, phạm tội dukkaṭa.”
Tena kho pana samayena bhikkhū jantāghare chamāya cīvaraṁ nikkhipanti. Cīvaraṁ paṁsukitaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, cīvaravaṁsaṁ cīvararajjun”ti.
Deve vassante cīvaraṁ ovassati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, jantāgharasālan”ti.
Jantāgharasālā nīcavatthukā hoti, udakena otthariyyati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, uccavatthukaṁ kātun”ti.
Cayo paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, cinituṁ …pe…
ārohantā vihaññanti …pe…
ārohantā paripatanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ālambanabāhan”ti.
Jantāgharasālāya tiṇacuṇṇaṁ paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ogumphetvā ullittāvalittaṁ kātuṁ …pe… cīvaravaṁsaṁ cīvararajjun”ti.
At that time the monks put their robes on the ground in the sauna. The robes got dirty. They told the Buddha.
“I allow bamboo robe racks and clotheslines.”
It rained and the robes became wet.
“I allow sauna sheds.”
They built the sauna sheds on a low base. They were flooded.
“I allow you to raise the base.”
The mound collapsed.
“I allow you to construct three kinds of raised foundations: raised foundations of brick, stone, and wood.”
It was difficult to get up to the sauna sheds.
“I allow three kinds of stairs: stairs of brick, stone, and wood.”
People fell down while climbing the stairs.
“I allow rails.”
Grass and dust fell into the sauna sheds.
“I allow you to firm up the structure and then to plaster it inside and outside, including: treating with white color, black color, and red ocher; making garland patterns, creeper patterns, shark-teeth patterns, and the fivefold pattern; putting up bamboo robe racks and clotheslines.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đặt y trên nền đất ở trong nhà tắm hơi. Y bị dính bụi. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) sào phơi y và dây phơi y.” Khi trời mưa, y bị ướt ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép (xây) nhà phụ của nhà tắm hơi. Nhà phụ của nhà tắm hơi có nền thấp, bị nước ngập ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm nền cao. Đất đắp bị sụp lở ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép xây ... Khi đi lên bị mệt nhọc ... Khi đi lên bị té ngã ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) tay vịn. Bụi cỏ rơi xuống ở nhà phụ của nhà tắm hơi ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép phủi sạch rồi trát trong trát ngoài ... (làm) sào phơi y và dây phơi y.
Tena kho pana samayena bhikkhū jantāgharepi udakepi parikammaṁ kātuṁ kukkuccāyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, tisso paṭicchādiyo—jantāgharapaṭicchādiṁ, udakapaṭicchādiṁ, vatthapaṭicchādin”ti.
Being afraid of wrongdoing, the monks did not provide assistance to one another either in the sauna or in the water.
“I allow you to regard three things as a ‘covering’: a sauna, water, and a cloth.”
Wells
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu áy náy về việc chà mình ở trong nhà tắm hơi và ở trong nước. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba sự che kín: sự che kín bằng nhà tắm hơi, sự che kín bằng nước, và sự che kín bằng y phục.”
Tena kho pana samayena jantāghare udakaṁ na hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, udapānan”ti.
Udapānassa kūlaṁ lujjati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, cinituṁ tayo caye—iṭṭhakācayaṁ, silācayaṁ, dārucayan”ti.
Udapāno nīcavatthuko hoti, udakena otthariyyati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, uccavatthukaṁ kātun”ti.
Cayo paripatati …pe…
ārohantā vihaññanti …pe…
ārohantā paripatanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ālambanabāhan”ti.
On one occasion there was no water in the sauna. They told the Buddha.
“I allow a well.”
The edge of the well collapsed.
“I allow you to construct three kinds of foundations: foundations of brick, stone, and wood.”
The well was situated at a low point. It was flooded.
“I allow you to raise the base.”
The mound collapsed.
“I allow you to construct three kinds of raised foundations: raised foundations of brick, stone, and wood.”
It was difficult to get up to the well.
“I allow three kinds of stairs: stairs of brick, stone, and wood.”
People fell down while climbing the stairs.
“I allow rails.”
Vào lúc bấy giờ, ở nhà tắm hơi không có nước. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (đào) giếng nước.” Thành giếng bị sụp lở ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép xây ba cách xây: xây bằng gạch, xây bằng đá, xây bằng gỗ. Giếng nước có nền thấp, bị nước ngập ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm nền cao. Đất đắp bị sụp lở ... Khi đi lên bị mệt nhọc ... Khi đi lên bị té ngã ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) tay vịn.
Tena kho pana samayena bhikkhū vallikāyapi kāyabandhanenapi udakaṁ vāhenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, udakavāhanarajjun”ti.
Hatthā dukkhā honti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, tulaṁ karakaṭakaṁ cakkavaṭṭakan”ti.
Bhājanā bahū bhijjanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, tayo vārake—lohavārakaṁ, dāruvārakaṁ, cammakkhaṇḍan”ti.
At that time the monks used creepers and belts to haul water.
“I allow a water-hauling rope.”
It hurt their hands.
“I allow a well-sweep, a pulley, and well-wheels.”
Many vessels broke.
“I allow three kinds of buckets: buckets made of iron, wood, and hide.”
262. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu kéo nước bằng dây leo và bằng dây thắt lưng. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) dây kéo nước.” Tay bị đau ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) đòn bẩy, ròng rọc, và bánh xe guồng nước. Nhiều đồ đựng bị bể ... Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba loại gàu múc: gàu bằng kim loại, gàu bằng gỗ, và gàu bằng da.
Tena kho pana samayena bhikkhū ajjhokāse udakaṁ vāhentā sītenapi uṇhenapi kilamanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, udapānasālan”ti.
Udapānasālāya tiṇacuṇṇaṁ paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ogumphetvā ullittāvalittaṁ kātuṁ—setavaṇṇaṁ kāḷavaṇṇaṁ gerukaparikammaṁ mālākammaṁ latākammaṁ makaradantakaṁ pañcapaṭikaṁ cīvaravaṁsaṁ cīvararajjun”ti.
Udapāno apāruto hoti, tiṇacuṇṇehipi paṁsukehipi okiriyyati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, apidhānan”ti.
Udakabhājanaṁ na saṁvijjati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, udakadoṇiṁ udakakaṭāhan”ti.
Hauling water outside, the monks were troubled by the cold and the heat. They told the Buddha.
“I allow well houses.”
Grass and dust fell into the well houses.
“I allow you to firm up the structure and then to plaster it inside and outside, including: treating with white color, black color, and red ocher; making garland patterns, creeper patterns, shark-teeth patterns, and the fivefold pattern; putting up bamboo robe racks and clotheslines.”
The wells were not covered. Grass, dust, and dirt fell into them.
“I allow covers.”
There were no vessels for the water.
“I allow water troughs and waterpots.”
Other structures
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu khi múc nước ở ngoài trời thì bị mệt mỏi vì lạnh và vì nóng. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (xây) nhà giếng.” Cỏ vụn rơi vào trong nhà giếng ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép sau khi phủi sạch, trát tô bên trong và bên ngoài, làm màu trắng, màu đen, trang trí bằng đất son, hình vòng hoa, hình dây leo, hình răng cá sấu, hình năm dải, (làm) sào phơi y, (và) dây phơi y.” Giếng không có nắp đậy, bị cỏ vụn và bụi đất rơi vào ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép nắp đậy.” Không có đồ đựng nước ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép máng nước, chảo đựng nước.”
Tena kho pana samayena bhikkhū ārāme tahaṁ tahaṁ nahāyanti. Ārāmo cikkhallo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, candanikan”ti.
Candanikā pākaṭā hoti. Bhikkhū hiriyanti nahāyituṁ …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, parikkhipituṁ tayo pākāre—iṭṭhakāpākāraṁ, silāpākāraṁ, dārupākāran”ti.
Candanikā cikkhallā hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, santharituṁ tayo santhare—iṭṭhakāsantharaṁ, silāsantharaṁ, dārusantharan”ti.
Udakaṁ santiṭṭhati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, udakaniddhamanan”ti.
At that time the monks bathed here and there in the monastery. The monastery became muddy. They told the Buddha.
“I allow a waste-water disposal area.”
The area was unenclosed. The monks were embarrassed to bathe there.
“I allow three kinds of encircling walls: walls of brick, stone, and wood.”
The area became muddy.
“I allow three kinds of deckings: deckings of brick, stone, and wood.”
The water remained.
“I allow water drains.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu tắm ở chỗ này chỗ kia trong tu viện. Tu viện trở nên lầy lội. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép sàn tắm.” Sàn tắm ở nơi trống trải. Các tỳ khưu cảm thấy hổ thẹn khi tắm ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép rào quanh bằng ba loại tường rào – tường rào bằng gạch, tường rào bằng đá, tường rào bằng gỗ.” Sàn tắm bị lầy lội ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép lót bằng ba loại sàn – sàn gạch, sàn đá, sàn gỗ.” Nước bị ứ đọng ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép ống thoát nước.”
Tena kho pana samayena bhikkhūnaṁ gattāni sītigatāni honti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, udakapuñchaniṁ coḷakenapi paccuddharitun”ti.
The monks were cold.
“I allow a water wiper and a towel to dry yourselves.”
Vào lúc bấy giờ, thân thể của các tỳ khưu bị nhiễm lạnh. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) khăn lau nước, và cũng cho phép lau mình bằng cả mảnh vải thô.”
Tena kho pana samayena aññataro upāsako saṅghassa atthāya pokkharaṇiṁ kāretukāmo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, pokkharaṇin”ti.
Pokkharaṇiyā kūlaṁ lujjati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, cinituṁ tayo caye—iṭṭhakācayaṁ, silācayaṁ, dārucayan”ti.
Ārohantā vihaññanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, tayo sopāne—iṭṭhakāsopānaṁ, silāsopānaṁ, dārusopānan”ti.
Ārohantā paripatanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ālambanabāhan”ti.
Pokkharaṇiyā udakaṁ purāṇaṁ hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, udakamātikaṁ udakaniddhamanan”ti.
On one occasion a lay follower wanted to build a lotus bathing tank for the benefit of the Sangha. They told the Buddha.
“I allow lotus bathing tanks.”
The edges of the tank collapsed.
“I allow you to construct three kinds of foundations: foundations of brick, stone, and wood.”
It was difficult to get up to the tank.
“I allow three kinds of stairs: stairs of brick, stone, and wood.”
People fell down while climbing the stairs.
“I allow rails.”
The water in the tanks became stagnant.
“I allow a channel and a drain.”
263. Vào lúc bấy giờ, có một nam cận sự muốn cho làm một hồ sen vì lợi ích của Tăng chúng. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép hồ sen.” Bờ của hồ sen bị sạt lở ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép xây bằng ba loại vật liệu – xây bằng gạch, xây bằng đá, xây bằng gỗ.” (Các tỳ khưu) đi lên bị mệt ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba loại bậc thang – bậc thang bằng gạch, bậc thang bằng đá, bậc thang bằng gỗ.” (Các tỳ khưu) đi lên bị té ngã ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép tay vịn.” Nước trong hồ sen bị cũ ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép mương dẫn nước vào và ống thoát nước ra.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu saṅghassa atthāya nillekhaṁ jantāgharaṁ kattukāmo hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, nillekhaṁ jantāgharan”ti.
On one occasion a certain monk wanted to build a sauna with a pointed roof for the benefit of the Sangha.
“I allow saunas with pointed roofs.”
Various regulations on proper conduct and allowable requisites
Vào lúc bấy giờ, có một tỳ khưu muốn làm một nhà tắm hơi không có hình vẽ vì lợi ích của Tăng chúng. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép nhà tắm hơi không có hình vẽ.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū cātumāsaṁ nisīdanena vippavasanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“na, bhikkhave, cātumāsaṁ nisīdanena vippavasitabbaṁ. Yo vippavaseyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time the monks from the group of six did not have sitting mats for a period of four months. They told the Buddha.
“You shouldn’t be without a sitting mat for a period of four months. If you are, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư sống xa rời tấm lót ngồi suốt bốn tháng. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, không được sống xa rời tấm lót ngồi suốt bốn tháng. Vị nào sống xa rời, phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū pupphābhikiṇṇesu sayanesu sayanti. Manussā vihāracārikaṁ āhiṇḍantā passitvā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, pupphābhikiṇṇesu sayanesu sayitabbaṁ. Yo sayeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six slept in beds covered in flowers. When people walking about the dwellings saw this, they complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t sleep in a bed covered in flowers. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
264. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư nằm trên các giường ngủ rải đầy hoa. Những người thế tục trong khi đi dạo quanh tu viện, sau khi thấy (cảnh ấy) đã phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: “Giống như các người tại gia hưởng thụ các dục.” (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, không được nằm trên các giường ngủ rải đầy hoa. Vị nào nằm, phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena manussā gandhampi mālampi ādāya ārāmaṁ āgacchanti. Bhikkhū kukkuccāyantā na paṭiggaṇhanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gandhaṁ gahetvā kavāṭe pañcaṅgulikaṁ dātuṁ, pupphaṁ gahetvā vihāre ekamantaṁ nikkhipitun”ti.
Soon, people brought scents and garlands to the monastery. Being afraid of wrongdoing, the monks did not accept.
“I allow you to accept scent to make the five-finger mark on your door and to accept flowers to place to one side in your dwelling.”
Vào lúc bấy giờ, những người thế tục mang theo hương và vòng hoa đi đến tu viện. Các tỳ khưu do dự nên không nhận. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép nhận hương rồi bôi dấu năm ngón tay lên cánh cửa, và nhận hoa rồi đặt ở một nơi thích hợp trong trú xá.”
Tena kho pana samayena saṅghassa namatakaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, namatakan”ti.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“namatakaṁ adhiṭṭhātabbaṁ nu kho udāhu vikappetabban”ti …pe…
“na, bhikkhave, namatakaṁ adhiṭṭhātabbaṁ, na vikappetabban”ti.
On one occasion the Sangha was offered a piece of felt.
“I allow felt.”
The monks thought, “Should it be determined or assigned to another?”
“It should neither be determined nor assigned to another.”
Vào lúc bấy giờ, một tấm nỉ phát sanh đến Tăng chúng. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép tấm nỉ.” Khi ấy, các tỳ khưu có suy nghĩ này: “Tấm nỉ này có cần phải chú nguyện không, hay là có cần phải xả tế không?” ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, tấm nỉ không cần phải chú nguyện, không cần phải xả tế.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū āsittakūpadhāne bhuñjanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“na, bhikkhave, āsittakūpadhāne bhuñjitabbaṁ. Yo bhuñjeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
The monks from the group of six ate food on a stand with a heating device. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t eat food on a stand with a heating device. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư ăn trong các hộp đựng có nắp bằng đồng hoặc bạc. Những người thế tục đã phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: “Giống như các người tại gia hưởng thụ các dục.” (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, không được ăn trong các hộp đựng có nắp bằng đồng hoặc bạc. Vị nào ăn, phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gilāno hoti. So bhuñjamāno na sakkoti hatthena pattaṁ sandhāretuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, maḷorikan”ti.
On one occasion a certain sick monk was unable to hold his bowl with his hands while eating.
“I allow a stand.”
Vào lúc bấy giờ, có một tỳ khưu bị bệnh. Vị ấy trong khi ăn đã không thể giữ vững bình bát bằng tay. (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép giá đỡ bình bát.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū ekabhājanepi bhuñjanti …pe… ekathālakepi pivanti, ekamañcepi tuvaṭṭenti, ekattharaṇāpi tuvaṭṭenti, ekapāvuraṇāpi tuvaṭṭenti, ekattharaṇapāvuraṇāpi tuvaṭṭenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, ekabhājane bhuñjitabbaṁ …pe… na ekathālake pātabbaṁ … na ekamañce tuvaṭṭitabbaṁ … na ekattharaṇā tuvaṭṭitabbaṁ … na ekapāvuraṇā tuvaṭṭitabbaṁ … na ekattharaṇapāvuraṇā tuvaṭṭitabbaṁ. Yo tuvaṭṭeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six ate from the same vessel and drank from the same vessel, and they lay down on the same bed, on the same sheet, under the same cover, and both on the same sheet and under the same cover. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t eat from the same vessel, drink from the same vessel, lie down on the same bed, lie down on the same sheet, lie down under the same cover, or lie down both on the same sheet and under the same cover. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Overturning the bowl
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư ăn chung một bát ... uống chung một ly, ngủ chung một giường, ngủ chung một tấm trải, đắp chung một tấm mền, nằm chung một tấm trải và đắp chung một tấm mền. Những người thế tục đã phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: “Giống như các người tại gia hưởng thụ các dục.” (Họ) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, không được ăn chung một bát ... không được uống chung một ly ... không được ngủ chung một giường ... không được ngủ chung một tấm trải ... không được đắp chung một tấm mền ... không được nằm chung một tấm trải và đắp chung một tấm mền. Vị nào ngủ (như vậy), phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena vaḍḍho licchavī mettiyabhūmajakānaṁ bhikkhūnaṁ sahāyo hoti. Atha kho vaḍḍho licchavī yena mettiyabhūmajakā bhikkhū tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā mettiyabhūmajake bhikkhū etadavoca—“vandāmi, ayyā”ti. Evaṁ vutte, mettiyabhūmajakā bhikkhū nālapiṁsu. Dutiyampi kho vaḍḍho licchavī mettiyabhūmajake bhikkhū etadavoca—“vandāmi, ayyā”ti. Dutiyampi kho mettiyabhūmajakā bhikkhū nālapiṁsu. Tatiyampi kho vaḍḍho licchavī mettiyabhūmajake bhikkhū etadavoca—“vandāmi, ayyā”ti. Tatiyampi kho mettiyabhūmajakā bhikkhū nālapiṁsu.
“Kyāhaṁ ayyānaṁ aparajjhāmi, kissa maṁ ayyā nālapantī”ti?
“Tathā hi pana tvaṁ, āvuso vaḍḍha, amhe dabbena mallaputtena viheṭhiyamāne ajjhupekkhasī”ti.
“Kyāhaṁ, ayyā, karomī”ti?
“Sace kho tvaṁ, āvuso vaḍḍha, iccheyyāsi, ajjeva bhagavā āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ nāsāpeyyā”ti.
“Kyāhaṁ, ayyā, karomi, kiṁ mayā sakkā kātun”ti?
“Ehi tvaṁ, āvuso vaḍḍha, yena bhagavā tenupasaṅkama, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ evaṁ vadehi—‘idaṁ, bhante, nacchannaṁ nappatirūpaṁ. Yāyaṁ, bhante, disā abhayā anītikā anupaddavā sāyaṁ disā sabhayā saītikā saupaddavā; yato nivātaṁ tato savātaṁ; udakaṁ maññe ādittaṁ; ayyena me dabbena mallaputtena pajāpati dūsitā’”ti.
“Evaṁ, ayyā”ti kho vaḍḍho licchavī mettiyabhūmajakānaṁ bhikkhūnaṁ paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vaḍḍho licchavī bhagavantaṁ etadavoca—“idaṁ, bhante, nacchannaṁ nappatirūpaṁ. Yāyaṁ, bhante, disā abhayā anītikā anupaddavā sāyaṁ disā sabhayā saītikā saupaddavā; yato nivātaṁ tato savātaṁ; udakaṁ maññe ādittaṁ; ayyena me dabbena mallaputtena pajāpati dūsitā”ti.
At one time Vaḍḍha the Licchavī was a friend of the monks Mettiya and Bhūmajaka. On one occasion he went to them and said, “Respectful greetings, venerables.” They did not respond. A second time and a third time he said the same thing, but they still did not respond.
“Have I done something wrong? Why don’t you respond?”
“It’s because we’ve been treated badly by Dabba the Mallian, and you’re not taking an interest.”
“But what can I do?”
“If you like, you could make the Buddha expel Dabba.”
“And how can I do that?”
“Go to the Buddha and say, ‘Sir, this is not proper or appropriate. There’s fear, distress, and oppression in this district, where none of these should exist. It’s windy where it should be calm. It’s as if water is burning. Venerable Dabba the Mallian has raped my wife.’”
Saying, “Alright, venerables,” he went to the Buddha, bowed, sat down, and repeated what he had been told to say.
265. Vào lúc bấy giờ, có vị Licchavi tên là Vaḍḍha là bạn của các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka. Rồi Vaḍḍha người Licchavi đi đến chỗ các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka; sau khi đến, vị ấy đã nói với các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka rằng: “Kính bạch quý ngài, con xin đảnh lễ.” Khi được nói như vậy, các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka đã không lên tiếng. Lần thứ hai, Vaḍḍha người Licchavi cũng nói với các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka điều này: “Kính bạch quý ngài, con xin đảnh lễ.” Lần thứ hai, các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka cũng không lên tiếng. Lần thứ ba, Vaḍḍha người Licchavi cũng nói với các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka điều này: “Kính bạch quý ngài, con xin đảnh lễ.” Lần thứ ba, các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka cũng không lên tiếng. “Con đã có lỗi gì với quý ngài? Tại sao quý ngài không nói chuyện với con?” “Này hiền hữu Vaḍḍha, bởi vì hiền hữu đã làm lơ khi chúng tôi bị Dabba Mallaputta quấy nhiễu.” “Kính bạch quý ngài, con phải làm gì?” “Này hiền hữu Vaḍḍha, nếu hiền hữu muốn, ngay hôm nay Thế Tôn có thể khiến cho trưởng lão Dabba Mallaputta bị trục xuất.” “Kính bạch quý ngài, con phải làm gì? Con có thể làm được gì?” “Này hiền hữu Vaḍḍha, hiền hữu hãy đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, hãy bạch với Thế Tôn như sau: ‘Bạch Thế Tôn, việc này không thích hợp, không tương xứng. Bạch Thế Tôn, phương nào vốn không có sợ hãi, không có tai họa, không có nguy hiểm, thì phương ấy nay lại có sợ hãi, có tai họa, có nguy hiểm. Nơi nào vốn lặng gió thì nay lại có gió. Con nghĩ rằng nước đang bốc cháy. Vợ của con đã bị trưởng lão Dabba Mallaputta làm cho hư hỏng.’” “Vâng, thưa quý ngài.” Vaḍḍha người Licchavi sau khi vâng lời các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Vaḍḍha người Licchavi đã bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, việc này không thích hợp, không tương xứng. Bạch Thế Tôn, phương nào vốn không có sợ hãi, không có tai họa, không có nguy hiểm, thì phương ấy nay lại có sợ hãi, có tai họa, có nguy hiểm. Nơi nào vốn lặng gió thì nay lại có gió. Con nghĩ rằng nước đang bốc cháy. Vợ của con đã bị trưởng lão Dabba Mallaputta làm cho hư hỏng.”
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ paṭipucchi—“sarasi tvaṁ, dabba, evarūpaṁ kattā yathāyaṁ vaḍḍho āhā”ti?
“Yathā maṁ, bhante, bhagavā jānātī”ti.
Dutiyampi kho bhagavā …pe… tatiyampi kho bhagavā āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ etadavoca—“sarasi tvaṁ, dabba, evarūpaṁ kattā yathāyaṁ vaḍḍho āhā”ti? “Yathā maṁ, bhante, bhagavā jānātī”ti. “Na kho, dabba, dabbā evaṁ nibbeṭhenti. Sace tayā kataṁ, katanti vadehi; sace akataṁ, akatanti vadehī”ti.
“Yato ahaṁ, bhante, jāto nābhijānāmi supinantenapi methunaṁ dhammaṁ paṭisevitā, pageva jāgaro”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—“tena hi, bhikkhave, saṅgho vaḍḍhassa licchavissa pattaṁ nikkujjatu, asambhogaṁ saṅghena karotu.
Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned Dabba: “Dabba, do you remember doing as Vaḍḍha says?”
“Sir, you know what I’m like.”
A second and a third time the Buddha asked the same question and got the same response. He then said, “Dabba, the Dabbas don’t give such evasive answers. If it was done by you, say so; if it wasn’t, then say that.”
“Since I was born, sir, I don’t recall having sexual intercourse even in a dream, let alone when awake.”
The Buddha addressed the monks: “Well then, monks, the Sangha should overturn the almsbowl against Vaḍḍha the Licchavī, prohibiting him from interacting with the Sangha.
Rồi Thế Tôn, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, sau khi cho triệu tập Tăng chúng, đã hỏi trưởng lão Dabba Mallaputta rằng: “Này Dabba, ngươi có nhớ đã làm một việc như vậy như lời Vaḍḍha này đã nói không?” “Bạch Thế Tôn, như Thế Tôn biết về con thế nào (thì sự việc là như vậy).” Lần thứ hai, Thế Tôn... Lần thứ ba, Thế Tôn cũng nói với trưởng lão Dabba Mallaputta điều này: “Này Dabba, ngươi có nhớ đã làm một việc như vậy như lời Vaḍḍha này đã nói không?” “Bạch Thế Tôn, như Thế Tôn biết về con thế nào (thì sự việc là như vậy).” “Này Dabba, những người khôn ngoan không trả lời lảng tránh như vậy. Nếu ngươi đã làm, hãy nói là đã làm; nếu không làm, hãy nói là không làm.” “Bạch Thế Tôn, từ khi con được sinh ra, con không hề biết đến việc hành dâm dục ngay cả trong giấc mộng, huống nữa là khi thức.” Rồi Thế Tôn bảo các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng hãy úp bát đối với Vaḍḍha người Licchavi, hãy thực hiện việc không giao hảo với Tăng chúng.
Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa upāsakassa patto nikkujjitabbo—bhikkhūnaṁ alābhāya parisakkati, bhikkhūnaṁ anatthāya parisakkati, bhikkhūnaṁ avāsāya parisakkati, bhikkhū akkosati paribhāsati, bhikkhū bhikkhūhi bhedeti, buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati.
Anujānāmi, bhikkhave, imehi aṭṭhahaṅgehi samannāgatassa upāsakassa pattaṁ nikkujjituṁ.
Evañca pana, bhikkhave, nikkujjitabbo. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
When a lay follower has eight qualities, you should overturn your bowl against him: he’s trying to stop monks from getting material support; he’s trying to harm monks; he’s trying to get monks to lose their place of residence; he abuses and reviles monks; he causes division between monks; he disparages the Buddha; he disparages the Teaching; he disparages the Sangha.
And the overturning of the bowl is to be done like this. A competent and capable monk should inform the Sangha:
“Này các tỳ khưu, đối với người cận sự nam hội đủ tám yếu tố, cần phải úp bát: cố gắng làm cho các tỳ khưu không có lợi lộc, cố gắng làm cho các tỳ khưu không có lợi ích, cố gắng làm cho các tỳ khưu không có chỗ ở, mắng nhiếc và chửi rủa các tỳ khưu, gây chia rẽ giữa các tỳ khưu, nói xấu đức Phật, nói xấu Pháp, nói xấu Tăng. Này các tỳ khưu, Ta cho phép úp bát đối với người cận sự nam hội đủ tám yếu tố này. Và này các tỳ khưu, việc úp bát cần được thực hiện như sau. Một tỳ khưu có năng lực, có khả năng nên trình cho Tăng chúng biết:”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Vaḍḍho licchavī āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ amūlikāya sīlavipattiyā anuddhaṁseti. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho vaḍḍhassa licchavissa pattaṁ nikkujjeyya, asambhogaṁ saṅghena kareyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. Vaḍḍha the Licchavī is groundlessly charging Venerable Dabba the Mallian with failure in morality. If the Sangha is ready, it should overturn the bowl against Vaḍḍha the Licchavī, prohibiting him from interacting with the Sangha. This is the motion.
266. “Kính bạch chư tôn đức, Tăng chúng hãy nghe con. Vaḍḍha người Licchavi đã vu khống trưởng lão Dabba Mallaputta về sự hư hỏng giới hạnh một cách vô căn cứ. Nếu đây là thời điểm thích hợp cho Tăng chúng, Tăng chúng nên úp bát đối với Vaḍḍha người Licchavi, nên thực hiện việc không giao hảo với Tăng chúng. Đây là lời tuyên ngôn.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Vaḍḍho licchavī āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ amūlikāya sīlavipattiyā anuddhaṁseti. Saṅgho vaḍḍhassa licchavissa pattaṁ nikkujjati, asambhogaṁ saṅghena karoti. Yassāyasmato khamati vaḍḍhassa licchavissa pattassa nikkujjanā, asambhogaṁ saṅghena karaṇaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. Vaḍḍha the Licchavī is groundlessly charging Venerable Dabba the Mallian with failure in morality. The Sangha overturns the bowl against Vaḍḍha the Licchavī, prohibiting him from interacting with the Sangha. Any monk who approves of overturning the bowl against Vaḍḍha the Licchavī, prohibiting him from interacting with the Sangha, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư tôn đức, Tăng chúng hãy nghe con. Vaḍḍha người Licchavi đã vu khống trưởng lão Dabba Mallaputta về sự hư hỏng giới hạnh một cách vô căn cứ. Tăng chúng úp bát đối với Vaḍḍha người Licchavi, thực hiện việc không giao hảo với Tăng chúng. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc úp bát đối với Vaḍḍha người Licchavi và việc Tăng chúng thực hiện không giao hảo, vị ấy nên im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy nên nói.
Nikkujjito saṅghena vaḍḍhassa licchavissa patto, asambhogo saṅghena. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has overturned the bowl against Vaḍḍha the Licchavī, prohibiting him from interacting with the Sangha. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
Turning the bowl upright
“Cái bát đã được Tăng chúng úp đối với Vaḍḍha người Licchavi, việc không giao hảo đã được Tăng chúng thực hiện. Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận điều này như vậy.”
Atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena vaḍḍhassa licchavissa nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā vaḍḍhaṁ licchaviṁ etadavoca—“saṅghena te, āvuso vaḍḍha, patto nikkujjito. Asambhogosi saṅghenā”ti. Atha kho vaḍḍho licchavī—saṅghena kira me patto nikkujjito, asambhogomhi kira saṅghenāti—tattheva mucchito papato. Atha kho vaḍḍhassa licchavissa mittāmaccā ñātisālohitā vaḍḍhaṁ licchaviṁ etadavocuṁ—“alaṁ, āvuso vaḍḍha, mā soci, mā paridevi. Mayaṁ bhagavantaṁ pasādessāma bhikkhusaṅghañcā”ti.
After robing up the following morning, Venerable Ānanda took his bowl and robe, went to the house of Vaḍḍha the Licchavī, and told him, “Vaḍḍha, the Sangha has overturned the bowl against you. You’re prohibited from interacting with the Sangha.” And Vaḍḍha fainted right there. But Vaḍḍha’s friends and relatives said to him, “Don’t be sad, Vaḍḍha. We’ll reconcile you with the Buddha and the Sangha of monks.”
Khi ấy, vào buổi sáng, trưởng lão Ānanda đắp y, mang y bát, đi đến trú xá của người Licchavi tên là Vaḍḍha. Sau khi đến, vị ấy nói với người Licchavi tên Vaḍḍha rằng: ‘Này hiền hữu Vaḍḍha, Tăng chúng đã úp bát đối với hiền hữu. Hiền hữu không được giao hảo với Tăng chúng.’ Bấy giờ, người Licchavi tên Vaḍḍha (nghĩ rằng): ‘Tăng chúng đã úp bát đối với ta, ta không được giao hảo với Tăng chúng,’ rồi ngất xỉu và ngã xuống ngay tại chỗ. Khi ấy, bạn bè, bộ trưởng, và bà con huyết thống của người Licchavi tên Vaḍḍha nói với người Licchavi tên Vaḍḍha rằng: ‘Thôi nào, hiền hữu Vaḍḍha, đừng sầu muộn, đừng than khóc. Chúng tôi sẽ làm cho đức Thế Tôn và chư Tăng hài lòng.’
Atha kho vaḍḍho licchavī saputtadāro samittāmacco sañātisālohito allavattho allakeso yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavoca—“accayo maṁ, bhante, accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yohaṁ ayyaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ amūlikāya sīlavipattiyā anuddhaṁsesiṁ. Tassa me, bhante, bhagavā accayaṁ accayato paṭiggaṇhātu āyatiṁ saṁvarāyā”ti.
“Taggha tvaṁ, āvuso vaḍḍha, accayo accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yaṁ tvaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ amūlikāya sīlavipattiyā anuddhaṁsesi. Yato ca kho tvaṁ, āvuso vaḍḍha, accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikarosi, taṁ te mayaṁ paṭiggaṇhāma. Vuḍḍhihesā, āvuso vaḍḍha, ariyassa vinaye yo accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikaroti, āyatiṁ saṁvaraṁ āpajjatī”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—“tena hi, bhikkhave, saṅgho vaḍḍhassa licchavissa pattaṁ ukkujjatu, sambhogaṁ saṅghena karotu.
Soon afterwards Vaḍḍha, together with his wives and children, together with his friends and relatives, with wet clothes and wet hair, went to the Buddha. He bowed down at the Buddha’s feet and said, “Sir, I’ve made a mistake. I’ve been foolish, confused, and unskillful. Please forgive me so that I may restrain myself in the future.”
“You have certainly made a mistake. You’ve been foolish, confused, and unskillful. But since you acknowledge your mistake and make proper amends, I forgive you. For this is called growth in the training of the noble ones: acknowledging a mistake, making proper amends, and undertaking restraint in the future.”
The Buddha then addressed the monks: “Well then, the Sangha should turn the almsbowl upright for Vaḍḍha the Licchavī, allowing him to interact with the Sangha.
Khi ấy, người Licchavi tên Vaḍḍha cùng với vợ con, bạn bè, bộ trưởng, và bà con huyết thống, mình mặc y phục ướt, tóc còn ướt, đi đến chỗ đức Thế Tôn. Sau khi đến, ông gieo mình, cúi đầu dưới chân đức Thế Tôn và bạch với Ngài rằng: ‘Bạch đức Thế Tôn, lỗi lầm đã xâm chiếm con, do con ngu si, do con mê muội, do con bất thiện, vì con đã vu khống trưởng lão Dabba Mallaputta về một sự hư hỏng giới hạnh không có căn cứ. Bạch đức Thế Tôn, xin đức Thế Tôn hãy chấp nhận lỗi lầm này của con là một lỗi lầm, để con được phòng hộ trong tương lai.’ ‘Này hiền hữu Vaḍḍha, quả thật lỗi lầm đã xâm chiếm hiền hữu, do hiền hữu ngu si, do hiền hữu mê muội, do hiền hữu bất thiện, vì hiền hữu đã vu khống Dabba Mallaputta về một sự hư hỏng giới hạnh không có căn cứ. Và này hiền hữu Vaḍḍha, vì hiền hữu đã thấy lỗi lầm là lỗi lầm và sám hối đúng theo Pháp, nên chúng tôi chấp nhận điều đó từ hiền hữu. Này hiền hữu Vaḍḍha, đây là sự tăng trưởng trong giới luật của bậc Thánh, tức là người nào thấy lỗi lầm là lỗi lầm, sám hối đúng theo Pháp, và thực hành sự phòng hộ trong tương lai.’ Khi ấy, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, vậy thì Tăng chúng hãy lật ngửa bát lại cho người Licchavi tên Vaḍḍha, hãy cho phép ông ấy giao hảo với Tăng chúng.’
Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa upāsakassa patto ukkujjitabbo—na bhikkhūnaṁ alābhāya parisakkati, na bhikkhūnaṁ anatthāya parisakkati, na bhikkhūnaṁ avāsāya parisakkati, na bhikkhū akkosati paribhāsati, na bhikkhū bhikkhūhi bhedeti, na buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, na dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, na saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati.
Anujānāmi, bhikkhave, imehi aṭṭhahaṅgehi samannāgatassa upāsakassa pattaṁ ukkujjituṁ.
Evañca pana, bhikkhave, ukkujjitabbo. Tena, bhikkhave, vaḍḍhena licchavinā saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—
‘saṅghena me, bhante, patto nikkujjito, asambhogomhi saṅghena. Sohaṁ, bhante, sammā vattāmi, lomaṁ pātemi, netthāraṁ vattāmi, saṅghaṁ pattukkujjanaṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbo. Tatiyampi yācitabbo. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
When a lay follower has eight qualities, you should turn your bowl upright for him: he’s not trying to stop monks from getting material support; he’s not trying to harm monks; he’s not trying to get monks to lose their place of residence; he doesn’t abuse or revile monks; he doesn’t cause division between monks; he doesn’t disparage the Buddha; he doesn’t disparage the Teaching; he doesn’t disparage the Sangha.
And the turning of the bowl upright is to be done like this. Vaḍḍha the Licchavī should approach the Sangha, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say:
‘Venerables, the Sangha has overturned the bowl against me, prohibiting me from interacting with the Sangha. I’m now conducting myself properly and suitably so as to deserve to be released. I ask the Sangha to turn the bowl upright for me.’ And he should ask a second and a third time. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
‘Này các tỳ khưu, nên lật ngửa bát lại cho vị cận sự nam hội đủ tám yếu tố: không nỗ lực làm cho các tỳ khưu không có lợi lộc, không nỗ lực làm cho các tỳ khưu không có lợi ích, không nỗ lực làm cho các tỳ khưu không có trú xứ, không mắng nhiếc chửi rủa các tỳ khưu, không chia rẽ các tỳ khưu với nhau, không nói lời chê bai đức Phật, không nói lời chê bai Giáo Pháp, không nói lời chê bai Tăng chúng. Này các tỳ khưu, Ta cho phép lật ngửa bát lại cho vị cận sự nam hội đủ tám yếu tố này. Và này các tỳ khưu, nên lật ngửa bát lại như sau: Này các tỳ khưu, người Licchavi tên Vaḍḍha ấy nên đi đến Tăng chúng, vắt thượng y qua một bên vai, đảnh lễ dưới chân các vị tỳ khưu, ngồi xổm, chắp tay và nói như sau: ‘Bạch chư tôn đức, Tăng chúng đã úp bát đối với con, con không được giao hảo với Tăng chúng. Bạch chư tôn đức, con xin hành xử đúng đắn, con xin từ bỏ lòng kiêu mạn, con xin thực hành sự phục thiện, con xin Tăng chúng lật ngửa bát lại.’ Vị ấy nên thỉnh cầu lần thứ hai. Vị ấy nên thỉnh cầu lần thứ ba. Một vị tỳ khưu có năng lực, có khả năng nên trình cho Tăng chúng biết:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅghena vaḍḍhassa licchavissa patto nikkujjito, asambhogo saṅghena. So sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, saṅghaṁ pattukkujjanaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho vaḍḍhassa licchavissa pattaṁ ukkujjeyya, sambhogaṁ saṅghena kareyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has overturned the bowl against Vaḍḍha the Licchavī, prohibiting him from interacting with the Sangha. He is now conducting himself properly and suitably so as to deserve to be released, and is asking the Sangha to turn the bowl upright for him. If the Sangha is ready, it should turn the bowl upright for Vaḍḍha the Licchavī, allowing him to interact with the Sangha. This is the motion.
267. ‘Bạch chư tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe con. Tăng chúng đã úp bát đối với người Licchavi tên Vaḍḍha, ông ấy không được giao hảo với Tăng chúng. Vị ấy đang hành xử đúng đắn, đang từ bỏ lòng kiêu mạn, đang thực hành sự phục thiện, và đang thỉnh cầu Tăng chúng lật ngửa bát lại. Nếu Tăng chúng nhận thấy đã đến lúc thích hợp, Tăng chúng hãy lật ngửa bát lại cho người Licchavi tên Vaḍḍha, hãy cho phép ông ấy giao hảo với Tăng chúng. Đây là lời tác bạch.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅghena vaḍḍhassa licchavissa patto nikkujjito, asambhogo saṅghena. So sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, saṅghaṁ pattukkujjanaṁ yācati. Saṅgho vaḍḍhassa licchavissa pattaṁ ukkujjati, sambhogaṁ saṅghena karoti. Yassāyasmato khamati vaḍḍhassa licchavissa pattassa ukkujjanā, sambhogaṁ saṅghena karaṇaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has overturned the bowl against Vaḍḍha the Licchavī, prohibiting him from interacting with the Sangha. He is now conducting himself properly and suitably so as to deserve to be released, and is asking the Sangha to turn the bowl upright for him. The Sangha turns the bowl upright for Vaḍḍha the Licchavī, allowing him to interact with the Sangha. Any monk who approves of turning the bowl upright for Vaḍḍha the Licchavī, allowing him to interact with the Sangha, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Bạch chư tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe con. Tăng chúng đã úp bát đối với người Licchavi tên Vaḍḍha, ông ấy không được giao hảo với Tăng chúng. Vị ấy đang hành xử đúng đắn, đang từ bỏ lòng kiêu mạn, đang thực hành sự phục thiện, và đang thỉnh cầu Tăng chúng lật ngửa bát lại. Tăng chúng nay lật ngửa bát lại cho người Licchavi tên Vaḍḍha, cho phép ông ấy giao hảo với Tăng chúng. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc lật ngửa bát lại cho người Licchavi tên Vaḍḍha và cho phép ông ấy giao hảo với Tăng chúng thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng.’
Ukkujjito saṅghena vaḍḍhassa licchavissa patto, sambhogo saṅghena. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has turned the bowl upright for Vaḍḍha the Licchavī, allowing him to interact with the Sangha. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
Stepping on cloth
‘Tăng chúng đã lật ngửa bát lại cho người Licchavi tên Vaḍḍha, đã cho phép ông ấy giao hảo với Tăng chúng. Việc này được Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên Tăng chúng im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Atha kho bhagavā vesāliyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā yena bhaggā tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena bhaggā tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā bhaggesu viharati susumāragire bhesakaḷāvane migadāye.
Tena kho pana samayena bodhissa rājakumārassa kokanado nāma pāsādo acirakārito hoti, anajjhāvuttho samaṇena vā brāhmaṇena vā kenaci vā manussabhūtena.
Atha kho bodhi rājakumāro sañcikāputtaṁ māṇavaṁ āmantesi—“ehi tvaṁ, samma sañcikāputta, yena bhagavā tenupasaṅkama, upasaṅkamitvā mama vacanena bhagavato pāde sirasā vanda; appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ puccha—‘bodhi, bhante, rājakumāro bhagavato pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchatī’ti. Evañca vadehi—‘adhivāsetu kira, bhante, bhagavā bodhissa rājakumārassa svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā’”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho sañcikāputto māṇavo bodhissa rājakumārassa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho sañcikāputto māṇavo bhagavantaṁ etadavoca—“bodhi kho rājakumāro bhoto gotamassa pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchati. Evañca vadeti—‘adhivāsetu kira bhavaṁ gotamo bodhissa rājakumārassa svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā’”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho sañcikāputto māṇavo bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā yena bodhi rājakumāro tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bodhiṁ rājakumāraṁ etadavoca—“avocumha kho mayaṁ bhoto vacanena taṁ bhavantaṁ gotamaṁ—‘bodhi kho rājakumāro bhoto gotamassa pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchati. Evañca vadeti—adhivāsetu kira bhavaṁ gotamo bodhissa rājakumārassa svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā’ti. Adhivutthañca pana samaṇena gotamenā”ti.
When the Buddha had stayed at Vesālī for as long as he liked, he set out wandering toward the country of Bhaggā. When he eventually arrived, he stayed at Susumāragira in the Bhesakaḷā Grove, the deer park.
At this time Prince Bodhi had recently built the Kokanada stilt house. It had not yet been inhabited by any monastic or brahmin, or anyone else.
The prince said to the young brahmin Sañcikāputta, “My dear Sañcikāputta, please go to the Buddha, bow down in my name with your head at his feet, and ask if he’s healthy, strong, and living at ease. And then say, ‘Sir, please accept tomorrow’s meal from Prince Bodhi together with the Sangha of monks.’”
Saying, “Yes, sir,” Sañcikāputta went to the Buddha and exchanged pleasantries with him. He then sat down and told the Buddha all he had been asked to say, concluding with the invitation for the meal on the following day. The Buddha consented by remaining silent. Knowing that the Buddha had consented, Sañcikāputta got up from his seat, returned to the prince, and told him what had happened.
268. Bấy giờ, Thế Tôn, sau khi trú ở Vesālī tùy thích, đã khởi hành du hành đến xứ Bhagga. Du hành tuần tự, ngài đã đến xứ Bhagga. Tại đó, ở xứ Bhagga, Thế Tôn trú tại Susumāragira, trong khu rừng Bhesakaḷā, tại vườn Lộc Uyển. Vào lúc bấy giờ, vương tử Bodhi có một cung điện tên là Kokanada vừa mới được xây xong, chưa có Sa-môn, Bà-la-môn, hay bất cứ người nào ở. Bấy giờ, vương tử Bodhi gọi thanh niên Sañcikāputta và nói: 'Này bạn Sañcikāputta, hãy đến đây. Bạn hãy đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, nhân danh ta, hãy cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn; và hãy hỏi thăm ngài có ít bệnh, ít não, khỏe mạnh, có sức lực, và an trú thoải mái hay không: 'Bạch Thế Tôn, vương tử Bodhi cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, và hỏi thăm ngài có ít bệnh, ít não, khỏe mạnh, có sức lực, và an trú thoải mái hay không.' Và hãy thưa như vầy: 'Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cùng với Tăng chúng nhận lời mời dùng bữa của vương tử Bodhi vào ngày mai.' 'Thưa vâng, tôn giả.' Thanh niên Sañcikāputta vâng lời vương tử Bodhi, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đã cùng Thế Tôn nói lên những lời chào hỏi thân hữu. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, thanh niên Sañcikāputta bạch với Thế Tôn: 'Thưa tôn giả Gotama, vương tử Bodhi cúi đầu đảnh lễ dưới chân tôn giả Gotama, và hỏi thăm ngài có ít bệnh, ít não, khỏe mạnh, có sức lực, và an trú thoải mái hay không. Và vương tử có lời nhắn như sau: 'Mong tôn giả Gotama cùng với Tăng chúng nhận lời mời dùng bữa của vương tử Bodhi vào ngày mai.' Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng. Bấy giờ, thanh niên Sañcikāputta, biết được sự nhận lời của Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến chỗ vương tử Bodhi, sau khi đến, đã thưa với vương tử Bodhi: 'Chúng tôi đã nhân danh tôn giả thưa với tôn giả Gotama rằng: 'Thưa tôn giả Gotama, vương tử Bodhi cúi đầu đảnh lễ dưới chân tôn giả Gotama, và hỏi thăm ngài có ít bệnh, ít não, khỏe mạnh, có sức lực, và an trú thoải mái hay không. Và vương tử có lời nhắn như sau: 'Mong tôn giả Gotama cùng với Tăng chúng nhận lời mời dùng bữa của vương tử Bodhi vào ngày mai.' Và Sa-môn Gotama đã nhận lời.'
Atha kho bodhi rājakumāro tassā rattiyā accayena paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā, kokanadañca pāsādaṁ odātehi dussehi santharāpetvā yāva pacchimasopānakaḷevarā, sañcikāputtaṁ māṇavaṁ āmantesi—“ehi tvaṁ, samma sañcikāputta, yena bhagavā tenupasaṅkama, upasaṅkamitvā bhagavato kālaṁ ārocehi—‘kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan’”ti. “Evaṁ, bho”ti kho sañcikāputto māṇavo bodhissa rājakumārassa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavato kālaṁ ārocesi—“kālo, bho gotama, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
The next morning Prince Bodhi had various kinds of fine foods prepared, and had the entire Kokanada stilt house covered with white cloth, all the way to the bottom step of the staircase. He then said to Sañcikāputta, “Go to the Buddha and tell him the meal is ready.” And Sañcikāputta did as instructed.
Bấy giờ, vương tử Bodhi, sau khi đêm ấy đã qua, đã cho chuẩn bị các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, và cho trải vải trắng khắp cung điện Kokanada cho đến bậc thang cuối cùng, rồi gọi thanh niên Sañcikāputta và nói: 'Này bạn Sañcikāputta, hãy đến đây. Bạn hãy đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, hãy báo thời giờ cho Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.' 'Thưa vâng, tôn giả.' Thanh niên Sañcikāputta vâng lời vương tử Bodhi, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đã báo thời giờ cho Thế Tôn: 'Thưa tôn giả Gotama, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.'
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena bodhissa rājakumārassa nivesanaṁ tenupasaṅkami. Tena kho pana samayena bodhi rājakumāro bahidvārakoṭṭhake ṭhito hoti, bhagavantaṁ āgamayamāno. Addasā kho bodhi rājakumāro bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna tato paccuggantvā bhagavantaṁ abhivādetvā purekkhatvā yena kokanado pāsādo tenupasaṅkami.
Atha kho bhagavā pacchimasopānakaḷevaraṁ nissāya aṭṭhāsi. Atha kho bodhi rājakumāro bhagavantaṁ etadavoca—“akkamatu, bhante, bhagavā dussāni, akkamatu sugato dussāni, yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti. Evaṁ vutte, bhagavā tuṇhī ahosi. Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho bodhi rājakumāro bhagavantaṁ etadavoca—“akkamatu, bhante, bhagavā dussāni, akkamatu sugato dussāni, yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti. Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ apalokesi. Atha kho āyasmā ānando bodhiṁ rājakumāraṁ etadavoca—“saṁharantu, rājakumāra, dussāni. Na bhagavā celapaṭikaṁ akkamissati pacchimaṁ janataṁ tathāgato anukampatī”ti.
Soon afterwards, the Buddha robed up in the morning, took his bowl and robe, and went the prince’s house. The prince was standing outside the gatehouse, waiting for the Buddha. When he saw the Buddha coming, he went out to meet him, bowed down to him, and then returned to the Kokanada stilt house with the Buddha in front.
But the Buddha stopped at the bottom stair of that staircase. The prince said, “Sir, please step on the cloth. It will be for my long-term benefit and happiness.” The Buddha remained silent. A second time the prince repeated his request, but the Buddha still remained silent. When the prince made his request for the third time, the Buddha looked at Venerable Ānanda. And Ānanda said to the prince, “Please fold up the cloth. The Buddha doesn’t step on cloth coverings. He has compassion for later generations.”
Bấy giờ, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang y bát, đi đến trú sở của vương tử Bodhi. Vào lúc bấy giờ, vương tử Bodhi đang đứng ở cổng ngoài, chờ đợi Thế Tôn. Vương tử Bodhi thấy Thế Tôn từ xa đi đến. Thấy vậy, vương tử từ đó đi ra đón, đảnh lễ Thế Tôn, rồi đi trước dẫn đường đến cung điện Kokanada. Bấy giờ, Thế Tôn dừng lại, đứng dựa vào bậc thang cuối cùng. Bấy giờ, vương tử Bodhi bạch với Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy bước lên những tấm vải này. Bạch Thiện Thệ, mong ngài hãy bước lên những tấm vải này. Việc ấy sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc cho con trong một thời gian dài.' Khi được thưa như vậy, Thế Tôn vẫn im lặng. Lần thứ hai... lần thứ ba, vương tử Bodhi lại bạch với Thế Tôn: 'Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy bước lên những tấm vải này. Bạch Thiện Thệ, mong ngài hãy bước lên những tấm vải này. Việc ấy sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc cho con trong một thời gian dài.' Bấy giờ, Thế Tôn nhìn về phía tôn giả Ānanda. Bấy giờ, tôn giả Ānanda thưa với vương tử Bodhi: 'Thưa vương tử, xin hãy dọn dẹp những tấm vải này. Thế Tôn sẽ không bước lên tấm thảm vải. Như Lai có lòng thương tưởng đến thế hệ mai sau.'
Atha kho bodhi rājakumāro dussāni saṁharāpetvā uparikokanade pāsāde āsanaṁ paññapesi. Atha kho bhagavā kokanadaṁ pāsādaṁ abhiruhitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena. Atha kho bodhi rājakumāro buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā, bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ, ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho bodhiṁ rājakumāraṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, celapaṭikā akkamitabbā. Yo akkameyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
The prince then had the cloth folded up and had a seat prepared up in the stilt house. The Buddha ascended the house and sat down on the prepared seat together with the Sangha of monks. The prince personally served the various kinds of fine foods to the Sangha of monks headed by the Buddha. When the Buddha had finished his meal and had washed his hands and bowl, the prince sat down to one side. The Buddha instructed, inspired, and gladdened him with a teaching, after which he got up from his seat and left.
Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t step on a cloth covering. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Bấy giờ, vương tử Bodhi cho dọn dẹp các tấm vải rồi cho dọn chỗ ngồi ở lầu đài Kokanada phía trên. Rồi đức Thế Tôn đi lên lầu đài Kokanada và ngồi xuống chỗ ngồi đã được dọn sẵn cùng với chúng tỳ khưu. Sau đó, vương tử Bodhi đã tự tay phục vụ chúng tỳ khưu có đức Phật dẫn đầu với các món vật thực loại cứng và loại mềm thượng hạng cho đến khi các vị hài lòng và nói đã đủ, sau khi đức Thế Tôn đã dùng xong, đã rút tay ra khỏi bát, (vương tử) đã ngồi xuống một nơi hợp lẽ. Sau khi vương tử Bodhi đã ngồi xuống một nơi hợp lẽ, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ bằng bài pháp thoại, rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về. Nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn đã thuyết một bài pháp thoại rồi gọi các tỳ khưu rằng: – Này các tỳ khưu, không được dẫm lên tấm lót bằng vải. Vị nào dẫm lên, vị ấy phạm tội dukkaṭa.
Tena kho pana samayena aññatarā itthī apagatagabbhā bhikkhū nimantetvā dussaṁ paññapetvā etadavoca—“akkamatha, bhante, dussan”ti. Bhikkhū kukkuccāyantā na akkamanti. “Akkamatha, bhante, dussaṁ maṅgalatthāyā”ti. Bhikkhū kukkuccāyantā na akkamiṁsu. Atha kho sā itthī ujjhāyati khiyyati vipāceti—“kathañhi nāma ayyā maṅgalatthāya yāciyamānā celapaṭikaṁ na akkamissantī”ti. Assosuṁ kho bhikkhū tassā itthiyā ujjhāyantiyā khiyyantiyā vipācentiyā. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Gihī, bhikkhave, maṅgalikā. Anujānāmi, bhikkhave, gihīnaṁ maṅgalatthāya yāciyamānena celapaṭikaṁ akkamitun”ti.
On one occasion a woman who was unable to conceive invited the monks, prepared a cloth, and said, “Venerables, please step on the cloth.” But being afraid of wrongdoing, they refused. “Please step on the cloth as a blessing.” They still refused. That woman complained and criticized them, “How can the venerables not step on a cloth as a blessing when asked?” The monks heard the complaints of that woman, and they told the Buddha what had happened.
“Householders want blessings. I allow you, when asked, to step on a cloth covering as a blessing for householders.”
Vào lúc bấy giờ, có một người phụ nữ bị sẩy thai đã thỉnh mời các tỳ khưu, trải tấm vải ra, và thưa rằng: – Kính bạch chư Đại đức, xin hãy dẫm lên tấm vải. Các tỳ khưu áy náy nên không dẫm lên. – Kính bạch chư Đại đức, xin hãy dẫm lên tấm vải để được điềm lành. Các tỳ khưu áy náy nên đã không dẫm lên. Bấy giờ, người phụ nữ ấy đã phàn nàn, chê bai, và rêu rao rằng: – Tại sao chư Tôn giả được thỉnh mời vì điềm lành mà lại không dẫm lên tấm lót bằng vải chứ? Các tỳ khưu đã nghe được người phụ nữ ấy phàn nàn, chê bai, và rêu rao. Sau đó, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, hàng tại gia là những người ưa thích điềm lành. Này các tỳ khưu, Ta cho phép dẫm lên tấm lót bằng vải khi được hàng tại gia thỉnh mời vì điềm lành.
Tena kho pana samayena bhikkhū dhotapādakaṁ akkamituṁ kukkuccāyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, dhotapādakaṁ akkamitun”ti.
Being afraid of wrongdoing, the monks did not step on a towel after washing their feet.
“I allow you to step on a towel after washing your feet.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu áy náy về việc dẫm lên tấm lót chân sạch. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép dẫm lên tấm lót chân sạch.
Dutiyabhāṇavāro niṭṭhito.
The second section for recitation is finished.
More regulations on proper conduct and allowable requisites.
Phần tụng đọc thứ nhì đã kết thúc.
Atha kho bhagavā bhaggesu yathābhirantaṁ viharitvā yena sāvatthi tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sāvatthi tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho visākhā migāramātā ghaṭakañca katakañca sammajjaniñca ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho visākhā migāramātā bhagavantaṁ etadavoca—“paṭiggaṇhātu me, bhante, bhagavā ghaṭakañca katakañca sammajjaniñca, yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti. Paṭiggahesi bhagavā ghaṭakañca sammajjaniñca. Na bhagavā katakaṁ paṭiggahesi. Atha kho bhagavā visākhaṁ migāramātaraṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho visākhā migāramātā bhagavatā dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
When the Buddha had stayed in the country of Bhaggā for as long as he liked, he set out wandering toward Sāvatthī. When he eventually arrived, he stayed in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery.
Soon Visākhā Migāramātā went to the Buddha, taking a waterpot, a ceramic foot scrubber, and a broom. She bowed to the Buddha, sat down, and said, “Sir, for my long-term benefit and happiness, please accept this waterpot, foot scrubber, and broom.” The Buddha accepted the waterpot and the broom, but not the ceramic foot scrubber. He then instructed, inspired, and gladdened her with a teaching, after which she got up from her seat, bowed down, circumambulated him with her right side toward him, and left.
269. Bấy giờ, sau khi đã an trú tại xứ Bhagga tùy thích, đức Thế Tôn đã khởi hành chuyến du hành đến Sāvatthī. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã đi đến Sāvatthī. Tại đấy, đức Thế Tôn an trú ở tu viện của ông Anāthapiṇḍika, tại Jetavana, gần Sāvatthī. Khi ấy, bà Visākhā, mẹ của Migāra, mang theo bình nước, vật chà chân, và cây chổi, đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, bà đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một nơi hợp lẽ. Sau khi đã ngồi xuống một nơi hợp lẽ, bà Visākhā, mẹ của Migāra, đã thưa với đức Thế Tôn rằng: – Kính bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy nhận lấy bình nước, vật chà chân, và cây chổi của con, việc ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc cho con trong một thời gian dài. Đức Thế Tôn đã nhận lấy bình nước và cây chổi. Đức Thế Tôn đã không nhận vật chà chân. Sau đó, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ bà Visākhā, mẹ của Migāra, bằng bài pháp thoại. Bấy giờ, sau khi được đức Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ bằng bài pháp thoại, bà Visākhā, mẹ của Migāra, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, thân bên phải hướng về ngài rồi ra về.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, ghaṭakañca sammajjaniñca. Na, bhikkhave, katakaṁ paribhuñjitabbaṁ. Yo paribhuñjeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, tisso pādaghaṁsaniyo—sakkharaṁ, kathalaṁ, samuddapheṇakan”ti.
Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“I allow waterpots and brooms. But you shouldn’t use a ceramic foot scrubber. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow three kinds of foot scrubbers: stones, pebbles, and pumice.”
Nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn đã thuyết một bài pháp thoại rồi gọi các tỳ khưu rằng: – Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) bình nước và cây chổi. Này các tỳ khưu, không được sử dụng vật chà chân. Vị nào sử dụng, vị ấy phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba loại vật chà chân: sỏi, mảnh sành, và bọt biển.
Atha kho visākhā migāramātā vidhūpanañca tālavaṇṭañca ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho visākhā migāramātā bhagavantaṁ etadavoca—“paṭiggaṇhātu me, bhante, bhagavā vidhūpanañca tālavaṇṭañca, yaṁ mama assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti. Paṭiggahesi bhagavā vidhūpanañca tālavaṇṭañca.
Visākhā again went to the Buddha, now taking a standard fan and a palm-leaf fan. She bowed, sat down, and said, “Sir, for my long-term benefit and happiness, please accept this standard fan and this palm-leaf fan.” The Buddha accepted both.
Khi ấy, bà Visākhā, mẹ của Migāra, mang theo quạt vuông và quạt lá cọ, đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, bà đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một nơi hợp lẽ. Sau khi đã ngồi xuống một nơi hợp lẽ, bà Visākhā, mẹ của Migāra, đã thưa với đức Thế Tôn rằng: – Kính bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy nhận lấy quạt vuông và quạt lá cọ của con, việc ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc cho con trong một thời gian dài. Đức Thế Tôn đã nhận lấy quạt vuông và quạt lá cọ.
Atha kho bhagavā visākhaṁ migāramātaraṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi …pe… padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, vidhūpanañca tālavaṇṭañcā”ti.
He then instructed, inspired, and gladdened her with a teaching, after which she got up from her seat, bowed, circumambulated him with her right side toward him, and left. Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“I allow standard fans and a palm-leaf fans.”
Sau đó, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ bà Visākhā, mẹ của Migāra, bằng bài pháp thoại ...v.v... thân bên phải hướng về ngài rồi ra về. Nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn đã thuyết một bài pháp thoại rồi gọi các tỳ khưu rằng: – Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) quạt vuông và quạt lá cọ.
Tena kho pana samayena saṅghassa makasabījanī uppannā hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, makasabījanin”ti.
Cāmaribījanī uppannā hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, cāmaribījanī dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, tisso bījaniyo—vākamayaṁ, usīramayaṁ, morapiñchamayan”ti.
On one occasion the Sangha was offered a mosquito whisk.
“I allow mosquito whisks.”
The Sangha was offered a yak-tail whisk.
“You shouldn’t use a yak-tail whisk. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow three kinds of whisks: those made of bark, vetiver grass, and peacocks’ tail feathers.”
Vào lúc bấy giờ, chúng Tăng có được một cái phất trần đuổi muỗi. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) phất trần đuổi muỗi. Có một cái phất trần làm bằng đuôi bò Tây Tạng được cúng dường. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, không được mang phất trần làm bằng đuôi bò Tây Tạng. Vị nào mang, vị ấy phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba loại phất trần: loại làm bằng vỏ cây, loại làm bằng cỏ vetiver, loại làm bằng lông công.
Tena kho pana samayena saṅghassa chattaṁ uppannaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, chattan”ti.
On one occasion the Sangha was offered a sunshade.
“I allow sunshades.”
270. Vào lúc bấy giờ, chúng Tăng có được một cây dù. Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) dù.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū chattappaggahitā āhiṇḍanti. Tena kho pana samayena aññataro upāsako sambahulehi ājīvakasāvakehi saddhiṁ uyyānaṁ agamāsi. Addasāsuṁ kho te ājīvakasāvakā chabbaggiye bhikkhū dūratova chattappaggahite āgacchante. Disvāna taṁ upāsakaṁ etadavocuṁ—“ete kho ayyā tumhākaṁ bhadantā chattappaggahitā āgacchanti, seyyathāpi gaṇakamahāmattā”ti.
“Nāyyā ete bhikkhū, paribbājakā”ti. “Bhikkhū na bhikkhū”ti abbhutaṁ akaṁsu.
Atha kho so upāsako upagate sañjānitvā ujjhāyati khiyyati vipāceti—“kathañhi nāma bhadantā chattappaggahitā āhiṇḍissantī”ti. Assosuṁ kho bhikkhū tassa upāsakassa ujjhāyantassa khiyyantassa vipācentassa. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Saccaṁ kira, bhikkhave …pe… “saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, chattaṁ dhāretabbaṁ. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Soon afterwards the monks from the group of six walked about holding sunshades. Then, as a certain Buddhist lay follower and a number of Ājīvaka disciples were going to the park, the Ājīvakas saw those monks in the distance with their sunshades. They said to that lay follower, “These venerables of yours are coming. They’re holding sunshades, just like accountants and government officials.”
“These aren’t monks. They’re wanderers.” And they made a bet on whether they were monks or not.
When the monks came close, that lay follower recognized them. And he complained and criticized them, “How can the venerables walk about holding sunshades?” The monks heard the complaints of that lay follower and they told the Buddha.
“Is it true, monks, that the monks from the group of six are doing this?” “It’s true, sir.” … After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t use a sunshade. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư che dù đi lại. Vào lúc bấy giờ, một người cận sự nam cùng với nhiều đệ tử của phái lõa thể đi đến khu vườn. Các đệ tử của phái lõa thể ấy đã nhìn thấy các vị tỳ khưu nhóm Lục Sư che dù đi đến từ xa. Sau khi nhìn thấy, họ đã nói với người cận sự nam ấy lời này: ‘Này ông, các vị tôn giả của ông đang che dù đi đến, giống như các vị đại thần kế toán vậy.’ ‘Này các ông, các vị ấy không phải là tỳ khưu, là các du sĩ ngoại đạo.’ Họ đã cá cược rằng: ‘Là tỳ khưu, không phải là tỳ khưu.’ Bấy giờ, người cận sự nam ấy sau khi nhận ra (họ) lúc đến gần đã khiển trách, chê bai, phỉ báng rằng: ‘Tại sao các tôn giả lại che dù đi lại chứ!’ Các vị tỳ khưu đã nghe được (lời) của người cận sự nam ấy đang khiển trách, chê bai, phỉ báng. Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ‘Này các tỳ khưu, có thật chăng ... v.v...’ ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ ... v.v... Sau khi quở trách ... v.v... sau khi thuyết pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, không được mang dù. Vị nào mang, phạm tội dukkaṭa (tác ác).’
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gilāno hoti. Tassa bhikkhuno vinā chattaṁ na phāsu hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gilānassa chattaṁ dhāretun”ti.
Soon afterwards a certain sick monk was not comfortable without a sunshade.
“I allow sick monks to use sunshades.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh. Vị tỳ khưu ấy không có dù thì không được an ổn. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép vị tỳ khưu bị bệnh được mang dù.’
Tena kho pana samayena bhikkhū—gilānasseva bhagavatā chattaṁ anuññātaṁ no agilānassāti—ārāme ārāmūpacāre chattaṁ dhāretuṁ kukkuccāyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, agilānenapi ārāme ārāmūpacāre chattaṁ dhāretun”ti.
When they heard that the Buddha had allowed sunshades for the sick, but not for the healthy, and being afraid of wrongdoing, the monks did not use sunshades in the monastery or in the vicinity of the monastery.
“I allow you to use a sunshade in a monastery and in the vicinity of a monastery, even if you’re healthy.”
Carrying nets and staffs, etc.
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nghĩ rằng: ‘Đức Thế Tôn chỉ cho phép mang dù cho vị bị bệnh, không cho phép cho vị không bệnh,’ nên đã do dự về việc mang dù ở trong tu viện và ở vùng phụ cận tu viện. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép cả vị tỳ khưu không bệnh cũng được mang dù ở trong tu viện và ở vùng phụ cận tu viện.’
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu sikkāya pattaṁ uṭṭitvā daṇḍe ālaggetvā vikāle aññatarena gāmadvārena atikkamati. Manussā—“esayyo coro gacchati, asissa vijjotalatī”ti anupatitvā gahetvā sañjānitvā muñciṁsu.
Atha kho so bhikkhu ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi. “Kiṁ pana tvaṁ, āvuso, daṇḍasikkaṁ dhāresī”ti?
“Evamāvuso”ti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhikkhu daṇḍasikkaṁ dhāressasī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, daṇḍasikkā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion a monk put his almsbowl in a carrying net, hung it from a staff, and passed through the gateway to a certain village at an unusual hour. People said, “This must be a gangster coming with his gleaming sword.” They pounced and seized him, but when they recognized him, they let him go.
He returned to the monastery and told the monks what had happened. They said, “So you used a carrying net and a staff?”
“Yes.”
The monks of few desires complained and criticized him, “How can a monk use a carrying net and a staff?” They told the Buddha … “It’s true, sir.” … After rebuking him … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t use a carrying net and a staff. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, một vị tỳ khưu bỏ bát vào trong túi lưới, treo lên cây gậy, đi qua một cổng làng nào đó vào lúc phi thời. Dân chúng nói rằng: ‘Này ông, tên trộm kia đang đi kìa, thanh gươm của nó đang sáng lấp lánh,’ rồi đuổi theo, bắt lấy, sau khi nhận ra (là tỳ khưu) thì đã thả ra. Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy đi đến tu viện, đã kể lại sự việc ấy cho các vị tỳ khưu. (Các vị tỳ khưu) hỏi: ‘Này hiền hữu, có phải hiền hữu đã mang túi lưới treo trên gậy không?’ (Vị ấy) đáp: ‘Thưa các hiền hữu, đúng vậy.’ Các vị tỳ khưu thiểu dục ... v.v... các vị ấy đã khiển trách, chê bai, phỉ báng rằng: ‘Tại sao một vị tỳ khưu lại mang túi lưới treo trên gậy chứ!’ Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... v.v... ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ ... v.v... Sau khi quở trách ... v.v... sau khi thuyết pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, không được mang túi lưới treo trên gậy. Vị nào mang, phạm tội dukkaṭa (tác ác).’
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gilāno hoti, na sakkoti vinā daṇḍena āhiṇḍituṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gilānassa bhikkhuno daṇḍasammutiṁ dātuṁ. Evañca pana, bhikkhave, dātabbā. Tena gilānena bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vuḍḍhānaṁ bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—
‘ahaṁ, bhante, gilāno; na sakkomi vinā daṇḍena āhiṇḍituṁ. Sohaṁ, bhante, saṅghaṁ daṇḍasammutiṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbā. Tatiyampi yācitabbā. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
On one occasion there was a sick monk who was unable to walk about without a staff.
“I allow you to give a sick monk permission to use a staff. And it should be given like this. The sick monk should approach the Sangha, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say:
‘Venerables, I’m sick. I’m unable to walk about without a staff. I ask the Sangha for permission to use a staff.’ And he should ask a second and a third time. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh, không thể đi lại nếu không có gậy. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép ban sự đồng thuận về cây gậy cho vị tỳ khưu bị bệnh. Và này các tỳ khưu, nên ban như thế này: Vị tỳ khưu bị bệnh ấy nên đi đến Tăng chúng, vắt thượng y qua một bên vai, đảnh lễ chân các vị tỳ khưu trưởng lão, ngồi xổm, chắp tay, và nên nói lời như vầy: ‘Bạch chư tôn đức, con bị bệnh, không thể đi lại nếu không có gậy. Bạch chư tôn đức, con xin Tăng chúng sự đồng thuận về cây gậy.’ Nên xin lần thứ hai. Nên xin lần thứ ba. Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên tác bạch cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu gilāno, na sakkoti vinā daṇḍena āhiṇḍituṁ. So saṅghaṁ daṇḍasammutiṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmassa bhikkhuno daṇḍasammutiṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. Monk so-and-so is sick. He is unable to walk about without a staff. He is asking the Sangha for permission to use a staff. If the Sangha is ready, it should give monk so-and-so permission to use a staff. This is the motion.
‘Bạch chư tôn đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Vị tỳ khưu tên là... này bị bệnh, không thể đi lại nếu không có gậy. Vị ấy xin Tăng chúng sự đồng thuận về cây gậy. Nếu Tăng chúng đã đến thời điểm thích hợp, Tăng chúng nên ban sự đồng thuận về cây gậy cho vị tỳ khưu tên là... Đây là lời tác bạch.’
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu gilāno, na sakkoti vinā daṇḍena āhiṇḍituṁ. So saṅghaṁ daṇḍasammutiṁ yācati. Saṅgho itthannāmassa bhikkhuno daṇḍasammutiṁ deti. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno daṇḍasammutiyā dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. Monk so-and-so is sick. He is unable to walk about without a staff. He is asking the Sangha for permission to use a staff. The Sangha gives monk so-and-so permission to use a staff. Any monk who approves of giving monk so-and-so permission to use a staff should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Bạch chư tôn đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Vị tỳ khưu tên là... này bị bệnh, không thể đi lại nếu không có gậy. Vị ấy xin Tăng chúng sự đồng thuận về cây gậy. Tăng chúng ban sự đồng thuận về cây gậy cho vị tỳ khưu tên là... Vị trưởng lão nào chấp thuận việc ban sự đồng thuận về cây gậy cho vị tỳ khưu tên là..., vị ấy nên im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy nên nói.’
Dinnā saṅghena itthannāmassa bhikkhuno daṇḍasammuti. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given monk so-and-so permission to use a staff. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
‘Sự đồng thuận về cây gậy đã được Tăng chúng ban cho vị tỳ khưu tên là... Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con ghi nhận sự việc này như vậy.’
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gilāno hoti, na sakkoti vinā sikkāya pattaṁ pariharituṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gilānassa bhikkhuno sikkāsammutiṁ dātuṁ. Evañca pana, bhikkhave, dātabbā. Tena gilānena bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vuḍḍhānaṁ bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—
‘ahaṁ, bhante, gilāno; na sakkomi vinā sikkāya pattaṁ pariharituṁ. Sohaṁ, bhante, saṅghaṁ sikkāsammutiṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbā. Tatiyampi yācitabbā. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
On one occasion there was a sick monk who was unable to carry his almsbowl without a carrying net. They told the Buddha.
“I allow you to give a sick monk permission to use a carrying net. And it should be given like this. The sick monk should approach the Sangha, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say:
‘Venerables, I’m sick. I’m unable to carry my bowl without a carrying net. I ask the Sangha for permission to use a carrying net.’ And he should ask a second and a third time. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
271. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh, không thể mang bát đi nếu không có túi lưới. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán): ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép ban sự đồng thuận về túi lưới cho vị tỳ khưu bị bệnh. Và này các tỳ khưu, nên ban như thế này: Vị tỳ khưu bị bệnh ấy nên đi đến Tăng chúng, vắt thượng y qua một bên vai, đảnh lễ chân các vị tỳ khưu trưởng lão, ngồi xổm, chắp tay, và nên nói lời như vầy: ‘Bạch chư tôn đức, con bị bệnh, không thể mang bát đi nếu không có túi lưới. Bạch chư tôn đức, con xin Tăng chúng sự đồng thuận về túi lưới.’ Nên xin lần thứ hai. Nên xin lần thứ ba. Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên tác bạch cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu gilāno, na sakkoti vinā sikkāya pattaṁ pariharituṁ. So saṅghaṁ sikkāsammutiṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmassa bhikkhuno sikkāsammutiṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. Monk so-and-so is sick. He is unable to carry his bowl without a carrying net. He is asking the Sangha for permission to use a carrying net. If the Sangha is ready, it should give monk so-and-so permission to use a carrying net. This is the motion.
“Kính bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy lắng nghe lời của tôi. Vị tỳ khưu tên như vầy đang bị bệnh, không thể mang bát đi nếu không có túi lưới. Vị ấy xin Tăng chúng sự đồng thuận cho phép dùng túi lưới. Nếu thời điểm thích hợp đã đến cho Tăng chúng, Tăng chúng nên ban cho tỳ khưu tên như vầy sự đồng thuận cho phép dùng túi lưới. Đây là lời tuyên cáo.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu gilāno, na sakkoti vinā sikkāya pattaṁ pariharituṁ. So saṅghaṁ sikkāsammutiṁ yācati. Saṅgho itthannāmassa bhikkhuno sikkāsammutiṁ deti. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno sikkāsammutiyā dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. Monk so-and-so is sick. He is unable to carry his bowl without a carrying net. He is asking the Sangha for permission to use a carrying net. The Sangha gives monk so-and-so permission to use a carrying net. Any monk who approves of giving monk so-and-so permission to use a carrying net should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy lắng nghe lời của tôi. Vị tỳ khưu tên như vầy đang bị bệnh, không thể mang bát đi nếu không có túi lưới. Vị ấy xin Tăng chúng sự đồng thuận cho phép dùng túi lưới. Tăng chúng ban cho tỳ khưu tên như vầy sự đồng thuận cho phép dùng túi lưới. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc ban sự đồng thuận cho phép dùng túi lưới cho tỳ khưu tên như vầy thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng.”
Dinnā saṅghena itthannāmassa bhikkhuno sikkāsammuti. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given monk so-and-so permission to use a carrying net. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Sự đồng thuận cho phép dùng túi lưới đã được Tăng chúng ban cho tỳ khưu tên như vầy. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gilāno hoti, na sakkoti vinā daṇḍena āhiṇḍituṁ, na sakkoti vinā sikkāya pattaṁ pariharituṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gilānassa bhikkhuno daṇḍasikkāsammutiṁ dātuṁ. Evañca pana, bhikkhave, dātabbā. Tena gilānena bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vuḍḍhānaṁ bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—
‘ahaṁ, bhante, gilāno; na sakkomi vinā daṇḍena āhiṇḍituṁ; na sakkomi vinā sikkāya pattaṁ pariharituṁ. Sohaṁ, bhante, saṅghaṁ daṇḍasikkāsammutiṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbā. Tatiyampi yācitabbā. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
On one occasion there was a sick monk who was unable to walk about without a staff or to carry his almsbowl without a carrying net. They told the Buddha.
“I allow you to give a sick monk permission to use a staff and a carrying net. And it should be given like this. The sick monk should approach the Sangha, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say:
‘Venerables, I’m sick. I’m unable to walk about without a staff or to carry my bowl without a carrying net. I ask the Sangha for permission to use a staff and a carrying net.’ And he should ask a second and a third time. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
272. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh, không thể đi lại nếu không có gậy, không thể mang bát đi nếu không có túi lưới. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép ban sự đồng thuận cho phép dùng gậy và túi lưới cho vị tỳ khưu bị bệnh. Và này các tỳ khưu, nên ban theo cách như sau: Vị tỳ khưu bị bệnh ấy nên đi đến Tăng chúng, vắt thượng y qua một bên vai, đảnh lễ chân các vị tỳ khưu trưởng lão, ngồi xổm, chắp tay và nên nói như vầy: ‘Kính bạch chư Đại đức, con bị bệnh; con không thể đi lại nếu không có gậy; con không thể mang bát đi nếu không có túi lưới. Do đó, kính bạch chư Đại đức, con xin Tăng chúng sự đồng thuận cho phép dùng gậy và túi lưới.’ Nên xin lần thứ hai. Nên xin lần thứ ba. Một vị tỳ khưu có khả năng và thẩm quyền nên trình Tăng chúng biết rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu gilāno, na sakkoti vinā daṇḍena āhiṇḍituṁ, na sakkoti vinā sikkāya pattaṁ pariharituṁ. So saṅghaṁ daṇḍasikkāsammutiṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmassa bhikkhuno daṇḍasikkāsammutiṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. Monk so-and-so is sick. He is unable to walk about without a staff or to carry his bowl without a carrying net. He is asking the Sangha for permission to use a staff and a carrying net. If the Sangha is ready, it should give monk so-and-so permission to use a staff and a carrying net. This is the motion.
“Kính bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy lắng nghe lời của tôi. Vị tỳ khưu tên như vầy đang bị bệnh, không thể đi lại nếu không có gậy, không thể mang bát đi nếu không có túi lưới. Vị ấy xin Tăng chúng sự đồng thuận cho phép dùng gậy và túi lưới. Nếu thời điểm thích hợp đã đến cho Tăng chúng, Tăng chúng nên ban cho tỳ khưu tên như vầy sự đồng thuận cho phép dùng gậy và túi lưới. Đây là lời tuyên cáo.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu gilāno na sakkoti vinā daṇḍena āhiṇḍituṁ, na sakkoti vinā sikkāya pattaṁ pariharituṁ. So saṅghaṁ daṇḍasikkāsammutiṁ yācati. Saṅgho itthannāmassa bhikkhuno daṇḍasikkāsammutiṁ deti. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno daṇḍasikkāsammutiyā dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. Monk so-and-so is sick. He is unable to walk about without a staff or to carry his bowl without a carrying net. He is asking the Sangha for permission to use a staff and a carrying net. The Sangha gives monk so-and-so permission to use a staff and a carrying net. Any monk who approves of giving monk so-and-so permission to use a staff and a carrying net should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy lắng nghe lời của tôi. Vị tỳ khưu tên như vầy đang bị bệnh, không thể đi lại nếu không có gậy, không thể mang bát đi nếu không có túi lưới. Vị ấy xin Tăng chúng sự đồng thuận cho phép dùng gậy và túi lưới. Tăng chúng ban cho tỳ khưu tên như vầy sự đồng thuận cho phép dùng gậy và túi lưới. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc ban sự đồng thuận cho phép dùng gậy và túi lưới cho tỳ khưu tên như vầy thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng.”
Dinnā saṅghena itthannāmassa bhikkhuno daṇḍasikkāsammuti. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given monk so-and-so permission to use a staff and a carrying net. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Sự đồng thuận cho phép dùng gậy và túi lưới đã được Tăng chúng ban cho tỳ khưu tên như vầy. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu romanthako hoti. So romanthitvā romanthitvā ajjhoharati. Bhikkhū ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“vikālāyaṁ bhikkhu bhojanaṁ bhuñjatī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Eso, bhikkhave, bhikkhu aciraṅgoyoniyā cuto. Anujānāmi, bhikkhave, romanthakassa romanthanaṁ. Na ca, bhikkhave, bahimukhadvāraṁ nīharitvā ajjhoharitabbaṁ. Yo ajjhohareyya, yathādhammo kāretabbo”ti.
At that time there was a monk who was a regurgitator. After regurgitating, he would swallow. The monks complained and criticized him, “This monk is eating at the wrong time.” They told the Buddha.
“This monk has only recently passed away as a cow. I allow a regurgitator to regurgitate. But you shouldn’t take it out of the mouth and then swallow it. If you do, you should be dealt with according to the rule.”
273. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu có thói quen nhai lại. Vị ấy cứ nhai đi nhai lại rồi nuốt. Các vị tỳ khưu phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: “Vị tỳ khưu này ăn vật thực vào giờ phi thời.” Họ đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này vừa mới chết từ loài bò. Này các tỳ khưu, Ta cho phép việc nhai lại đối với người có thói quen nhai lại. Tuy nhiên, này các tỳ khưu, không được đưa (thức ăn) ra khỏi miệng rồi nuốt lại. Vị nào nuốt lại thì nên được xử trị theo Pháp.”
Tena kho pana samayena aññatarassa pūgassa saṅghabhattaṁ hoti. Bhattagge bahusitthāni pakiriyiṁsu. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā odane diyyamāne na sakkaccaṁ paṭiggahessanti, ekamekaṁ sitthaṁ kammasatena niṭṭhāyatī”ti. Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, yaṁ diyyamānaṁ patati, taṁ sāmaṁ gahetvā paribhuñjituṁ. Pariccattaṁ taṁ, bhikkhave, dāyakehī”ti.
Soon afterwards a certain association was offering a meal to the Sangha. Lots of rice fell on the floor in the dining hall. People complained and criticized them, “When they’re given rice, how can the Sakyan monastics not receive it with care? Each lump of rice is the result of hard work.” The monks heard the complaints of those people. They told the Buddha.
“I allow you to pick up and eat what falls down while being given. It has been relinquished by the donors.”
Personal grooming
Vào lúc bấy giờ, có một nhóm người cúng dường bữa ăn đến Tăng chúng. Tại nhà ăn, nhiều hạt cơm đã bị rơi vãi. Những người ấy phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: “Tại sao các sa-môn Thích tử, khi được dâng cơm, lại không nhận một cách cẩn trọng? Mỗi một hạt cơm được làm ra với cả trăm công sức!” Các vị tỳ khưu đã nghe những lời phàn nàn, chê bai, dị nghị của những người ấy. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, Ta cho phép tự mình nhặt lên và dùng vật thực nào bị rơi rớt trong khi đang được dâng cúng. Này các tỳ khưu, vật thực ấy đã được các thí chủ từ bỏ rồi.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu dīghehi nakhehi piṇḍāya carati. Aññatarā itthī passitvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca—“ehi, bhante, methunaṁ dhammaṁ paṭisevā”ti.
“Alaṁ, bhagini, netaṁ kappatī”ti.
“Sace kho tvaṁ, bhante, nappaṭisevissasi, idānāhaṁ attano nakhehi gattāni vilikhitvā kuppaṁ karissāmi—ayaṁ maṁ bhikkhu vippakarotī”ti.
“Pajānāhi tvaṁ, bhaginī”ti.
Atha kho sā itthī attano nakhehi gattāni vilikhitvā kuppaṁ akāsi—“ayaṁ maṁ bhikkhu vippakarotī”ti. Manussā upadhāvitvā taṁ bhikkhuṁ aggahesuṁ. Addasāsuṁ kho te manussā tassā itthiyā nakhe chavimpi lohitampi. Disvāna—“imissāyeva itthiyā idaṁ kammaṁ, akārako bhikkhū”ti—taṁ bhikkhuṁ muñciṁsu. Atha kho so bhikkhu ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi.
“Kiṁ pana tvaṁ, āvuso, dīghe nakhe dhāresī”ti?
“Evamāvuso”ti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhikkhu dīghe nakhe dhāressasī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, dīghā nakhā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion a certain monk with long nails was walking for alms. A woman who saw him said to him, “Come, venerable, and have sex.”
“It’s not allowable.”
“If you don’t, I’ll scratch my limbs with my nails and make a scene, saying that you abused me.”
“That’s your business, sister.”
Yet that woman did as she had threatened. People rushed up and took hold of that monk. But when they saw the skin and blood on that woman’s nails, they realized she had done it herself, and they released the monk. He then returned to the monastery and told the monks what had happened.
“So you grow your nails long?”
“Yes.”
The monks of few desires complained and criticized him, “How can a monk grow his nails long?” They told the Buddha.
“You shouldn’t grow your nails long. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
274. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi khất thực với móng tay dài. Một người phụ nữ nọ sau khi nhìn thấy đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: – “Bạch ngài, hãy đến đây, hãy thực hành dâm pháp.” – “Thôi đi, này chị, việc ấy không được phép.” – “Bạch ngài, nếu ngài không thực hành thì bây giờ tôi sẽ tự lấy móng tay của mình cào cấu thân thể rồi la lối lên rằng: ‘Vị tỳ khưu này đã hãm hiếp tôi.’” – “Này chị, chị hãy tự biết (việc mình làm).” Bấy giờ, người phụ nữ ấy đã tự lấy móng tay của mình cào cấu thân thể rồi la lối lên rằng: “Vị tỳ khưu này đã hãm hiếp tôi.” Dân chúng chạy đến và bắt giữ vị tỳ khưu ấy. Những người ấy đã nhìn thấy cả da lẫn máu ở móng tay của người phụ nữ kia. Sau khi thấy vậy, (họ nghĩ rằng): “Việc này là do chính người phụ nữ này làm, vị tỳ khưu không phải là người làm,” rồi đã thả vị tỳ khưu ấy ra. Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy sau khi đi đến tu viện đã trình báo sự việc ấy cho các tỳ khưu. (Các vị ấy hỏi): – “Này hiền hữu, có phải hiền hữu để móng tay dài không?” – “Thưa vâng, các hiền hữu.” Các vị tỳ khưu thiểu dục ... (cho đến) ... đã chê bai, chỉ trích, phàn nàn rằng: – “Tại sao một vị tỳ khưu lại có thể để móng tay dài được chứ!” Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – “Này các tỳ khưu, không được để móng tay dài. Vị nào để, phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena bhikkhū nakhenapi nakhaṁ chindanti, mukhenapi nakhaṁ chindanti, kuṭṭepi ghaṁsanti. Aṅguliyo dukkhā honti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, nakhacchedanan”ti.
Salohitaṁ nakhaṁ chindanti. Aṅguliyo dukkhā honti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, maṁsappamāṇena nakhaṁ chinditun”ti.
Soon afterwards the monks were cutting their nails with their nails and teeth, or by grinding them on walls. Their fingers hurt.
“I allow nail clippers.”
They cut their nails so short that they bled. Their fingers hurt.
“You should cut your nails so that they’re even with the tip of the flesh.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu dùng móng tay để cắt móng tay, dùng miệng để cắn móng tay, và chà xát vào tường. Các ngón tay bị đau nhức. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) đồ cắt móng tay.” (Các vị ấy) cắt móng tay đến chảy máu. Các ngón tay bị đau nhức ... (cho đến) ... (Ngài phán): – “Này các tỳ khưu, Ta cho phép cắt móng tay ngang bằng với phần thịt.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū vīsatimaṭṭhaṁ kārāpenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, vīsatimaṭṭhaṁ kārāpetabbaṁ. Yo kārāpeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, malamattaṁ apakaḍḍhitun”ti.
At this time the monks from the group of six polished their fingernails and toenails. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t polish your fingernails and toenails. If you do, you commit an offense of wrong conduct. But I allow you to remove dirt.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu cho làm láng bóng hai mươi móng tay. Dân chúng chê bai, chỉ trích, phàn nàn rằng: – “Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục lạc.” (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – “Này các tỳ khưu, không được cho làm láng bóng hai mươi móng tay. Vị nào cho làm, phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép cạo bỏ phần chất bẩn mà thôi.”
Tena kho pana samayena bhikkhūnaṁ kesā dīghā honti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Ussahanti pana, bhikkhave, bhikkhū aññamaññaṁ kese oropetun”ti?
“Ussahanti, bhagavā”ti.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā …pe… bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, khuraṁ khurasilaṁ khurasipāṭikaṁ namatakaṁ sabbaṁ khurabhaṇḍan”ti.
At that time there were monks who had long hair. They told the Buddha.
“Are you able to shave each other’s heads?”
“We are.”
The Buddha then gave a teaching and addressed the monks:
“I allow a razor, a whetstone, a razor case, felt, and all barber equipment.”
275. Vào lúc bấy giờ, tóc của các tỳ khưu bị dài ra. (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn hỏi): – “Này các tỳ khưu, các tỳ khưu có thể cạo tóc cho nhau được không?” – “Bạch đức Thế Tôn, có thể được ạ.” Bấy giờ, nhân sự việc này, trong trường hợp này, đức Thế Tôn đã cho triệu tập hội chúng tỳ khưu ... (cho đến) ... đã gọi các tỳ khưu và phán rằng: – “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) dao cạo, đá mài dao cạo, túi đựng dao cạo, vải quấn, tất cả các vật dụng của thợ cạo.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū massuṁ kappāpenti …pe… massuṁ vaḍḍhāpenti … golomikaṁ kārāpenti … caturassakaṁ kārāpenti … parimukhaṁ kārāpenti … aḍḍhadukaṁ kārāpenti … dāṭhikaṁ ṭhapenti … sambādhe lomaṁ saṁharāpenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, massu kappāpetabbaṁ …pe… na massu vaḍḍhāpetabbaṁ … na golomikaṁ kārāpetabbaṁ … na caturassakaṁ kārāpetabbaṁ … na parimukhaṁ kārāpetabbaṁ … na aḍḍhadukaṁ kārāpetabbaṁ … na dāṭhikā ṭhapetabbā … na sambādhe lomaṁ saṁharāpetabbaṁ. Yo saṁharāpeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At this time the monks from the group of six trimmed their beards, grew their beards long, grew goatees, grew sideburns, grew circle beards, sculpted their chest hair, grew mustaches, and removed the hair from their private parts. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t trim your beards, grow your beard long, grow goatees, grow sideburns, grow circle beards, sculpt your chest hair, grow mustaches, or remove the hair from your private parts. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu cho tỉa râu ... (cho đến) ... cho nuôi râu dài ... cho làm râu dê ... cho làm râu hình vuông ... cho cạo lông ngực ... cho tạo hình trên lông ngực ... để ria mép ... cho cạo lông ở chỗ kín. Dân chúng chê bai, chỉ trích, phàn nàn rằng: – “Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục lạc.” (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – “Này các tỳ khưu, không được cho tỉa râu ... (cho đến) ... không được cho nuôi râu dài ... không được cho làm râu dê ... không được cho làm râu hình vuông ... không được cho cạo lông ngực ... không được cho tạo hình trên lông ngực ... không được để ria mép ... không được cho cạo lông ở chỗ kín. Vị nào cho cạo, phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno sambādhe vaṇo hoti. Bhesajjaṁ na santiṭṭhati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ābādhappaccayā sambādhe lomaṁ saṁharāpetun”ti.
A certain monk had a sore on his private parts, and the medicine did not stick.
“I allow you to remove hair from the private parts if you have a disease.”
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị một vết thương ở chỗ kín. Thuốc không dính được. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – “Này các tỳ khưu, do duyên bệnh tật, Ta cho phép cạo lông ở chỗ kín.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū kattarikāya kese chedāpenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, kattarikāya kesā chedāpetabbā. Yo chedāpeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six cut their hair with scissors. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t cut your hair with scissors. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu cho cắt tóc bằng kéo. Dân chúng chê bai, chỉ trích, phàn nàn rằng: – “Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục lạc.” (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – “Này các tỳ khưu, không được cho cắt tóc bằng kéo. Vị nào cho cắt, phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno sīse vaṇo hoti, na sakkoti khurena kese oropetuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ābādhappaccayā kattarikāya kese chedāpetun”ti.
A monk who had a sore on his head was unable to shave with a razor.
“I allow you to cut your hair with scissors if you have a disease.”
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị một vết thương ở trên đầu, không thể cạo tóc bằng dao cạo. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – “Này các tỳ khưu, do duyên bệnh tật, Ta cho phép cắt tóc bằng kéo.”
Tena kho pana samayena bhikkhū dīghāni nāsikālomāni dhārenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi pisācillikā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, dīghaṁ nāsikālomaṁ dhāretabbaṁ. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At this time there were monks who grew their nasal hair long. People complained and criticized them, “They’re just like goblins!”
“You shouldn’t grow your nasal hair long. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu để lông mũi dài. Dân chúng chê bai, chỉ trích, phàn nàn rằng: – “Giống như loài quỷ pisācillikā.” (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – “Này các tỳ khưu, không được để lông mũi dài. Vị nào để, phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena bhikkhū sakkharikāyapi madhusitthakenapi nāsikālomaṁ gāhāpenti. Nāsikā dukkhā honti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, saṇḍāsan”ti.
The monks had their nasal hair removed with small stones and beeswax. Their noses hurt.
“I allow tweezers.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu cho nhổ lông mũi bằng sỏi và bằng sáp ong. Mũi bị đau nhức. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) cái nhíp.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū palitaṁ gāhāpenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, palitaṁ gāhāpetabbaṁ. Yo gāhāpeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
The monks from the group of six had their gray hairs removed. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t remove gray hairs. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu cho nhổ tóc bạc. Dân chúng chê bai, chỉ trích, phàn nàn rằng: – “Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục lạc.” (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): – “Này các tỳ khưu, không được cho nhổ tóc bạc. Vị nào cho nhổ, phạm tội tác ác.”
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno kaṇṇagūthakehi kaṇṇā thakitā honti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, kaṇṇamalaharaṇin”ti.
On one occasion a monk’s ear was blocked by earwax.
“I allow earpicks.”
276. Vào lúc bấy giờ, hai tai của một vị tỳ khưu nào đó bị ráy tai làm bít lại. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) cái lấy ráy tai."
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū uccāvacā kaṇṇamalaharaṇiyo dhārenti sovaṇṇamayaṁ rūpiyamayaṁ. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, uccāvacā kaṇṇamalaharaṇiyo dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassāti. Anujānāmi, bhikkhave, aṭṭhimayaṁ dantamayaṁ visāṇamayaṁ naḷamayaṁ veḷumayaṁ kaṭṭhamayaṁ jatumayaṁ phalamayaṁ lohamayaṁ saṅkhanābhimayan”ti.
Soon the monks from the group of six used luxurious earpicks made with gold and silver. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t use luxurious earpicks. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow earpicks made of bone, ivory, horn, reed, bamboo, wood, resin, fruit, metal, or shell.”
More regulations on proper conduct and allowable requisites
Vào lúc bấy giờ, nhóm tỳ khưu Lục Sư sử dụng các loại dụng cụ lấy ráy tai sang hèn, (loại) làm bằng vàng, (loại) làm bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: "Giống như hàng tại gia hưởng thụ dục lạc." (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, không được sử dụng các loại dụng cụ lấy ráy tai sang hèn. Vị nào sử dụng, phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dụng cụ lấy ráy tai) làm bằng xương, bằng ngà, bằng sừng, bằng sậy, bằng tre, bằng gỗ, bằng nhựa cây, bằng quả cây, bằng kim loại, bằng vỏ ốc."
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū bahuṁ lohabhaṇḍaṁ kaṁsabhaṇḍaṁ sannicayaṁ karonti. Manussā vihāracārikaṁ āhiṇḍantā passitvā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā bahuṁ lohabhaṇḍaṁ kaṁsabhaṇḍaṁ sannicayaṁ karissanti, seyyathāpi kaṁsapattharikā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, bahuṁ lohabhaṇḍaṁ kaṁsabhaṇḍaṁ sannicayo kātabbo. Yo kareyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At one time the monks from the group of six had amassed a large number of metal and bronze goods. When people walking about the dwellings saw this, they complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics amass a large number of metal and bronze goods? They’re just like merchants.”
“You shouldn’t amass a large number of metal and bronze goods. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
277. Vào lúc bấy giờ, nhóm tỳ khưu Lục Sư tích trữ nhiều đồ dùng bằng sắt và đồ dùng bằng đồng. Dân chúng đi dạo quanh các ngôi tịnh xá, sau khi nhìn thấy đã phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: "Làm sao mà các sa-môn Thích tử lại có thể tích trữ nhiều đồ dùng bằng sắt và đồ dùng bằng đồng, giống như những người buôn đồ đồng vậy!" (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, không được tích trữ nhiều đồ dùng bằng sắt và đồ dùng bằng đồng. Vị nào làm (như thế), phạm tội tác ác."
Tena kho pana samayena bhikkhū añjanimpi añjanisalākampi kaṇṇamalaharaṇimpi bandhanamattampi kukkuccāyanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, añjaniṁ añjanisalākaṁ kaṇṇamalaharaṇiṁ bandhanamattan”ti.
Being afraid of wrongdoing, the monks did not accept ointment boxes, ointment sticks, earpicks, or even metal used for binding.
“I allow ointment boxes, ointment sticks, earpicks, and metal used for binding.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu áy náy về cả hộp đựng thuốc nhỏ mắt, que thoa thuốc mắt, cái lấy ráy tai, và cả một cái đai nhỏ. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép hộp đựng thuốc nhỏ mắt, que thoa thuốc mắt, cái lấy ráy tai, và một cái đai nhỏ."
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū saṅghāṭipallatthikāya nisīdanti. Saṅghāṭiyā pattā lujjanti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, saṅghāṭipallatthikāya nisīditabbaṁ. Yo nisīdeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks from the group of six were sitting with their upper robes as a back-and-knee strap. The panels of the robes were torn apart.
“You shouldn’t sit with your upper robe as a back-and-knee strap. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm tỳ khưu Lục Sư ngồi theo kiểu dùng y tăng-già-lê để bó (quanh người). Các mép viền của y tăng-già-lê bị hư hỏng. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, không được ngồi theo kiểu dùng y tăng-già-lê để bó. Vị nào ngồi (như thế), phạm tội tác ác."
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu gilāno hoti. Tassa vinā āyogena na phāsu hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, āyogan”ti.
Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kathaṁ nu kho āyogo kātabbo”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, tantakaṁ vemaṁ kavaṭaṁ salākaṁ sabbaṁ tantabhaṇḍakan”ti.
There was a sick monk who was not comfortable without a back-and-knee strap.
“I allow back-and-knee straps.”
The monks thought, “How are the back-and-knee straps to be made?”
“I allow a warp, a reed, a weft, a shuttle, and all weaving equipment.”
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu bị bệnh. Vị ấy không có dây đai bó thì không được thoải mái. (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) dây đai bó." Bấy giờ, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ: "Dây đai bó nên được làm như thế nào?" (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) khung cửi, con thoi, lược dệt, thanh gỗ, tất cả các dụng cụ dệt."
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu akāyabandhano gāmaṁ piṇḍāya pāvisi. Tassa rathikāya antaravāsako pabhassittha. Manussā ukkuṭṭhimakaṁsu. So bhikkhu maṅku ahosi. Atha kho so bhikkhu ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, akāyabandhanena gāmo pavisitabbo. Yo paviseyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, kāyabandhanan”ti.
On one occasion a monk went to the village for alms without a belt. His sarong fell off on the street. People shouted out, and he felt humiliated. When he had returned to the monastery, he told the monks what had happened. They in turn told the Buddha, who said:
“You shouldn’t enter an inhabited area without a belt. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow belts.”
278. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu không có dây thắt lưng đã đi vào làng để khất thực. Y nội của vị ấy bị tuột xuống ở ngoài đường. Dân chúng la ó lên. Vị tỳ khưu ấy cảm thấy bối rối. Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy đi về tu viện, kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, không được đi vào làng mà không có dây thắt lưng. Vị nào đi vào, phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) dây thắt lưng."
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū uccāvacāni kāyabandhanāni dhārenti—kalābukaṁ, deḍḍubhakaṁ, murajaṁ, maddavīṇaṁ. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, uccāvacāni kāyabandhanāni dhāretabbāni—kalābukaṁ, deḍḍubhakaṁ, murajaṁ, maddavīṇaṁ. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, dve kāyabandhanāni—paṭṭikaṁ, sūkarantakan”ti.
Kāyabandhanassa dasā jīranti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, murajaṁ maddavīṇan”ti.
Kāyabandhanassa anto jīrati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, sobhaṇaṁ guṇakan”ti.
Kāyabandhanassa pavananto jīrati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, vidhan”ti.
Soon the monks from the group of six wore luxurious belts: belts with multiple strings, belts like the head of a water snake, belts of twisted strings of various colors, belts like ornamental ropes. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t wear luxurious belts. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow two kinds of belts: belts made from strips of cloth and from pigs’ intestines.”
The edges of the belts wore away.
“I allow belts of twisted strings of various colors and belts like ornamental ropes.”
The ends of the belts wore away.
“I allow making a loop and a knot.”
The loop at the end wore away.
“I allow buckles.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm tỳ khưu Lục Sư sử dụng các loại dây thắt lưng sang hèn: loại bện nhiều sợi, loại hình đầu rắn nước, loại hình trống mrdanga, loại hình đàn maddavīṇa. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: "Giống như hàng tại gia hưởng thụ dục lạc." (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, không được sử dụng các loại dây thắt lưng sang hèn: loại bện nhiều sợi, loại hình đầu rắn nước, loại hình trống mrdanga, loại hình đàn maddavīṇa. Vị nào sử dụng, phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép hai loại dây thắt lưng: loại dẹt và loại hình ruột heo." Các tua của dây thắt lưng bị sờn... (v.v)... (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm tua) hình trống mrdanga, hình đàn maddavīṇa." Đầu dây thắt lưng bị sờn... (v.v)... (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép viền mép và bện lại." Đầu có khoen của dây thắt lưng bị sờn... (v.v)... (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) cái khóa."
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū uccāvace vidhe dhārenti sovaṇṇamayaṁ rūpiyamayaṁ. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, uccāvacā vidhā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, aṭṭhimayaṁ …pe… saṅkhanābhimayaṁ suttamayan”ti.
Soon the monks from the group of six wore luxurious buckles made with gold and silver. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t wear luxurious buckles. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow buckles made of bone, ivory, horn, reed, bamboo, wood, resin, fruit, metal, shell, or string.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm tỳ khưu Lục Sư sử dụng các loại khóa sang hèn, (loại) làm bằng vàng, (loại) làm bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: "Giống như hàng tại gia hưởng thụ dục lạc." (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, không được sử dụng các loại khóa sang hèn. Vị nào sử dụng, phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép (khóa) làm bằng xương... (v.v)... bằng vỏ ốc, bằng chỉ."
Tena kho pana samayena āyasmā ānando lahukā saṅghāṭiyo pārupitvā gāmaṁ piṇḍāya pāvisi. Vātamaṇḍalikāya saṅghāṭiyo ukkhipiyiṁsu. Atha kho āyasmā ānando ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gaṇṭhikaṁ pāsakan”ti.
On one occasion Venerable Ānanda robed up in light upper robes and went to the village for alms. A whirlwind lifted up his robes. When he had returned to the monastery, he told the monks what had happened. They in turn told the Buddha.
“I allow toggles and loops.”
279. Vào lúc bấy giờ, Đại đức Ānanda đắp các y tăng-già-lê mỏng rồi đi vào làng để khất thực. Một cơn gió lốc đã thổi bay các y tăng-già-lê lên. Bấy giờ, Đại đức Ānanda đi về tu viện, kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các vị tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) cái nút và cái khuy."
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū uccāvacā gaṇṭhikāyo dhārenti sovaṇṇamayaṁ rūpiyamayaṁ. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, uccāvacā gaṇṭhikā dhāretabbā. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, aṭṭhimayaṁ dantamayaṁ visāṇamayaṁ naḷamayaṁ veḷumayaṁ kaṭṭhamayaṁ jatumayaṁ phalamayaṁ lohamayaṁ saṅkhanābhimayaṁ suttamayan”ti.
Soon the monks from the group of six wore luxurious toggles made with gold and silver. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t wear luxurious toggles. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow toggles made of bone, ivory, horn, reed, bamboo, wood, resin, fruit, metal, shell, or string.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm tỳ khưu Lục Sư sử dụng các loại nút sang hèn, (loại) làm bằng vàng, (loại) làm bằng bạc. Dân chúng phàn nàn, chê bai, phỉ báng rằng: "Giống như hàng tại gia hưởng thụ dục lạc." (Các vị tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): "Này các tỳ khưu, không được sử dụng các loại nút sang hèn. Vị nào sử dụng, phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép (nút) làm bằng xương, bằng ngà, bằng sừng, bằng sậy, bằng tre, bằng gỗ, bằng nhựa cây, bằng quả cây, bằng kim loại, bằng vỏ ốc, bằng chỉ."
Tena kho pana samayena bhikkhū gaṇṭhikampi pāsakampi cīvare appenti. Cīvaraṁ jīrati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gaṇṭhikaphalakaṁ pāsakaphalakan”ti.
Gaṇṭhikaphalakampi pāsakaphalakampi ante appenti. Koṭṭo vivariyati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, gaṇṭhikaphalakaṁ ante appetuṁ; pāsakaphalakaṁ sattaṅgulaṁ vā aṭṭhaṅgulaṁ vā ogāhetvā appetun”ti.
When the monks fastened toggles and loops to their robes, they caused the robes to wear.
“I allow toggle shields and loop shields.”
They fastened the toggle shields and the loop shields on the edge of the robe. The corners of the robe separated.
“I allow you to fasten the toggle shields at the edge and the loop shields twelve or thirteen centimeters in from the edge.”
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu gắn nút và khuy vào y. Y bị hư rách. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) "Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) miếng đệm nút và miếng đệm khuy." (Các vị ấy) gắn miếng đệm nút và miếng đệm khuy ở mép y. Viền y bị hở ra. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) "Này các tỳ khưu, Ta cho phép gắn miếng đệm nút ở mép y; và cho phép gắn miếng đệm khuy lùi vào trong khoảng bảy hoặc tám ngón tay."
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū gihinivatthaṁ nivāsenti—hatthisoṇḍakaṁ, macchavāḷakaṁ, catukaṇṇakaṁ, tālavaṇṭakaṁ, satavalikaṁ. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, gihinivatthaṁ nivāsetabbaṁ—hatthisoṇḍakaṁ, macchavāḷakaṁ, catukaṇṇakaṁ, tālavaṇṭakaṁ, satavalikaṁ. Yo nivāseyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At this time the monks from the group of six wore their sarongs like householders—in the elephant-trunk style, the fish-tail style, the four-corner style, the palm-leaf style, and the hundred-fold style. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t wear your sarong like householders—in the elephant-trunk style, the fish-tail style, the four-corner style, the palm-leaf style, or the hundred-fold style. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
280. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu vận y theo kiểu của người thế tục – (kiểu) vòi voi, (kiểu) đuôi cá, (kiểu) bốn góc, (kiểu) quạt lá cọ, (kiểu) trăm nếp gấp. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và truyền đi rằng: "Giống hệt như những người tại gia hưởng thụ các dục lạc." (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) "Này các tỳ khưu, không được vận y theo kiểu của người thế tục – (kiểu) vòi voi, (kiểu) đuôi cá, (kiểu) bốn góc, (kiểu) quạt lá cọ, (kiểu) trăm nếp gấp. Vị nào vận y (như thế) thì phạm tội tác ác."
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū gihipārutaṁ pārupanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, gihipārutaṁ pārupitabbaṁ. Yo pārupeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
The monks from the group of six wore their upper robes like householders. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t wear your upper robe like householders. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu choàng y theo kiểu của người thế tục. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và truyền đi rằng: "Giống hệt như những người tại gia hưởng thụ các dục lạc." (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) "Này các tỳ khưu, không được choàng y theo kiểu của người thế tục. Vị nào choàng y (như thế) thì phạm tội tác ác."
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū saṁvelliyaṁ nivāsenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi rañño muṇḍavaṭṭī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, saṁvelliyaṁ nivāsetabbaṁ. Yo nivāseyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
The monks from the group of six wore their sarongs like loin cloths. People complained and criticized them, “They’re just like the king’s porters!”
“You shouldn’t wear your sarong like a loin cloth. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu vận y theo kiểu đóng khố. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và truyền đi rằng: "Giống hệt như những người phục dịch cho nhà vua." (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) "Này các tỳ khưu, không được vận y theo kiểu đóng khố. Vị nào vận y (như thế) thì phạm tội tác ác."
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū ubhatokājaṁ haranti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi rañño muṇḍavaṭṭī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, ubhatokājaṁ haritabbaṁ. Yo hareyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, ekatokājaṁ antarākājaṁ sīsabhāraṁ khandhabhāraṁ kaṭibhāraṁ olambakan”ti.
At that time the monks from the group of six used carrying poles with loads on both ends. People complained and criticized them, “They’re just like the king’s porters!”
“You shouldn’t use a carrying pole with loads on both ends. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow a carrying pole with a load on one end, a two-person carrying pole with a load in the middle, loads for the head, loads for the shoulder, loads for the hip, and hanging loads.”
281. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu mang gánh hai đầu. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và truyền đi rằng: "Giống hệt như những người phục dịch cho nhà vua." (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) "Này các tỳ khưu, không được mang gánh hai đầu. Vị nào mang thì phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép (mang) gánh một đầu, gánh ở giữa, đội trên đầu, vác trên vai, mang bên hông, và xách tay."
Tena kho pana samayena bhikkhū dantakaṭṭhaṁ na khādanti. Mukhaṁ duggandhaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At that time there were monks who did not clean their teeth. As a result, they had bad breath. They told the Buddha.
282. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu không dùng tăm xỉa răng. Miệng bị hôi. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
“Pañcime, bhikkhave, ādīnavā dantakaṭṭhassa akhādane. Acakkhussaṁ, mukhaṁ duggandhaṁ hoti, rasaharaṇiyo na visujjhanti, pittaṁ semhaṁ bhattaṁ pariyonandhati, bhattamassa nacchādeti—ime kho, bhikkhave, pañca ādīnavā dantakaṭṭhassa akhādane.
“There are these five drawbacks to not cleaning your teeth: it’s bad for your eyes; you get bad breath; your taste buds aren’t cleansed; bile and phlegm cover the food; you don’t enjoy the food.
"Này các tỳ khưu, có năm điều nguy hại này trong việc không dùng tăm xỉa răng. Mắt không sáng, miệng bị hôi, các dây thần kinh vị giác không được trong sạch, đàm và mật bao phủ đồ ăn, vị ấy ăn không ngon miệng. Này các tỳ khưu, đây là năm điều nguy hại trong việc không dùng tăm xỉa răng."
Pañcime, bhikkhave, ānisaṁsā dantakaṭṭhassa khādane. Cakkhussaṁ, mukhaṁ na duggandhaṁ hoti, rasaharaṇiyo visujjhanti, pittaṁ semhaṁ bhattaṁ na pariyonandhati, bhattamassa chādeti—
ime kho, bhikkhave, pañca ānisaṁsā dantakaṭṭhassa khādane.
Anujānāmi, bhikkhave, dantakaṭṭhan”ti.
There are these five benefits of cleaning your teeth: it’s good for your eyes; you don’t get bad breath; your taste buds are cleansed; bile and phlegm don’t cover the food; you enjoy the food.
I allow tooth cleaners.”
"Này các tỳ khưu, có năm điều lợi ích này trong việc dùng tăm xỉa răng. Mắt sáng, miệng không bị hôi, các dây thần kinh vị giác được trong sạch, đàm và mật không bao phủ đồ ăn, vị ấy ăn ngon miệng. Này các tỳ khưu, đây là năm điều lợi ích trong việc dùng tăm xỉa răng. Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) tăm xỉa răng."
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū dīghāni dantakaṭṭhāni khādanti, teheva sāmaṇeraṁ ākoṭenti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, dīghaṁ dantakaṭṭhaṁ khāditabbaṁ. Yo khādeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, aṭṭhaṅgulaparamaṁ dantakaṭṭhaṁ, na ca tena sāmaṇero ākoṭetabbo. Yo ākoṭeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
The monks from the group of six used long tooth cleaners, which they even used to smack the novices.
“You shouldn’t use long tooth cleaners. If you do, you commit an offense of wrong conduct. I allow tooth cleaners that are at most thirteen centimeters long. And you shouldn’t use them to smack the novice monks. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu dùng tăm xỉa răng dài, và dùng chính những cây tăm ấy để đánh các vị sa-di. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) "Này các tỳ khưu, không được dùng tăm xỉa răng dài. Vị nào dùng thì phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) tăm xỉa răng dài tối đa là tám ngón tay, và không được dùng nó để đánh sa-di. Vị nào đánh thì phạm tội tác ác."
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno atimaṭāhakaṁ dantakaṭṭhaṁ khādantassa kaṇṭhe vilaggaṁ hoti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, atimaṭāhakaṁ dantakaṭṭhaṁ khāditabbaṁ. Yo khādeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, caturaṅgulapacchimaṁ dantakaṭṭhan”ti.
On one occasion a monk used a tooth cleaner that was too short and it got stuck in his throat.
“You shouldn’t use tooth cleaners that are too short. If you do, you commit an offense of wrong conduct. You shouldn’t use tooth cleaners shorter than seven centimeters.”
Vào lúc bấy giờ, trong khi một tỳ khưu nọ đang dùng một cây tăm xỉa răng quá ngắn thì bị mắc nghẹn ở cổ. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) "Này các tỳ khưu, không được dùng tăm xỉa răng quá ngắn. Vị nào dùng thì phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) tăm xỉa răng ngắn tối thiểu là bốn ngón tay."
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū dāyaṁ ālimpenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi davaḍāhakā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, dāyo ālimpitabbo. Yo ālimpeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the monks from the group of six set fire to a forest. People complained and criticized them, “They’re just like land clearers.”
“You shouldn’t set fire to a forest. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
283. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu đốt rừng. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và truyền đi rằng: "Giống hệt như những người đốt rừng." (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) "Này các tỳ khưu, không được đốt rừng. Vị nào đốt thì phạm tội tác ác."
Tena kho pana samayena vihārā tiṇagahanā honti, davaḍāhe ḍayhamāne vihārā ḍayhanti. Bhikkhū kukkuccāyanti paṭaggiṁ dātuṁ, parittaṁ kātuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, davaḍāhe ḍayhamāne paṭaggiṁ dātuṁ, parittaṁ kātun”ti.
On one occasion the dwellings were overgrown with grass. There was a forest fire and the dwellings burned down. Being afraid of wrongdoing, the monks had not lit a counterfire for protection.
“When there is a forest fire, I allow you to light a counterfire for protection.”
Vào lúc bấy giờ, các ngôi tịnh xá bị cỏ mọc um tùm, khi có cháy rừng thì các tịnh xá bị cháy. Các tỳ khưu áy náy về việc đốt lửa chặn lại hoặc làm một vành đai bảo vệ. (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) "Này các tỳ khưu, khi có cháy rừng, Ta cho phép đốt lửa chặn lại hoặc làm một vành đai bảo vệ."
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū rukkhaṁ abhiruhanti, rukkhā rukkhaṁ saṅkamanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi makkaṭā”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, rukkho abhiruhitabbo. Yo abhiruheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six climbed trees and then jumped between them. People complained and criticized them, “They’re just like monkeys!”
“You shouldn’t climb trees. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
284. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu trèo cây, chuyền từ cây này sang cây khác. Dân chúng phàn nàn, chê bai, và truyền đi rằng: "Giống hệt như loài khỉ." (Họ) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) "Này các tỳ khưu, không được trèo cây. Vị nào trèo thì phạm tội tác ác."
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno kosalesu janapade sāvatthiṁ gacchantassa antarāmagge hatthī pariyuṭṭhāti. Atha kho so bhikkhu rukkhamūlaṁ upadhāvitvā kukkuccāyanto rukkhaṁ na abhiruhi. So hatthī aññena agamāsi. Atha kho so bhikkhu sāvatthiṁ gantvā bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, sati karaṇīye porisaṁ rukkhaṁ abhiruhituṁ āpadāsu yāvadatthan”ti.
Tena kho pana samayena yameḷakekuṭā nāma bhikkhū dve bhātikā honti brāhmaṇajātikā kalyāṇavācā kalyāṇavākkaraṇā.
On one occasion a certain monk was walking on a road through the Kosalan country on his way to Sāvatthī when he was blocked by an elephant. He quickly went up to a tree, but being afraid of wrongdoing, he did not climb it. Soon the elephant went away. When he arrived at Sāvatthī, he told the monks what had happened. They in turn told the Buddha.
“I allow you to climb a tree to the height of a man if there’s something to be done, or as far as you need if there’s an emergency.”
Teaching, etc.
At this time there were two monks called Yameḷa and Kekuṭa, brothers born into a brahmin family, who were well-spoken and had good voices.
Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ-khưu đang trên đường đi đến Sāvatthī, ở xứ Kosala, thì bị một con voi rượt đuổi ở giữa đường. Khi ấy, vị tỳ-khưu ấy chạy đến gốc cây, nhưng do áy náy nên đã không trèo lên cây. Con voi ấy đã đi ngả khác. Khi ấy, vị tỳ-khưu ấy đi đến Sāvatthī và trình sự việc ấy cho các tỳ-khưu. Các tỳ-khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) 'Này các tỳ-khưu, Ta cho phép, khi có việc cần, được trèo lên cây cao bằng một tầm người; và trong lúc nguy hiểm, được trèo (cao) tùy ý.'
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma tumhe, moghapurisā, evaṁ vakkhatha—“handa mayaṁ, bhante, buddhavacanaṁ chandaso āropemā”ti. Netaṁ, moghapurisā, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, buddhavacanaṁ chandaso āropetabbaṁ. Yo āropeyya, āpatti dukkaṭassa. Anujānāmi, bhikkhave, sakāya niruttiyā buddhavacanaṁ pariyāpuṇitun”ti.
The Buddha rebuked them, “Foolish men, how can you suggest such a thing? This will affect people’s confidence …” After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t give metrical form to the word of the Buddha. If you do, you commit an offense of wrong conduct. You should learn the word of the Buddha using its own expressions.”
285. Vào lúc bấy giờ, ở làng Yameḷaka, có hai vị tỳ-khưu anh em tên là Kuṭa, xuất thân từ dòng dõi Bà-la-môn, có lời nói tốt đẹp, có giọng nói hay. Hai vị ấy đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, hai vị tỳ-khưu ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Kính bạch ngài, hiện nay các tỳ-khưu có nhiều tên gọi khác nhau, nhiều dòng họ khác nhau, nhiều giai cấp khác nhau, xuất gia từ nhiều gia đình khác nhau. Họ làm hỏng lời Phật dạy bằng ngôn ngữ của riêng họ. Kính bạch ngài, giờ đây, chúng con xin được diễn đạt lời Phật dạy theo thi luật (Sanskrit).’ Đức Phật, bậc Thế Tôn, đã quở trách ... – ‘Này các kẻ ngu kia, sao các ngươi lại nói như vầy: ‘Kính bạch ngài, giờ đây, chúng con xin được diễn đạt lời Phật dạy theo thi luật (Sanskrit).’ Này các kẻ ngu kia, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin được phát sinh đức tin ...’ Sau khi quở trách ... và thuyết một bài pháp, ngài đã gọi các tỳ-khưu: – ‘Này các tỳ-khưu, không được diễn đạt lời Phật dạy theo thi luật (Sanskrit). Vị nào diễn đạt, phạm tội tác ác. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép học tập lời Phật dạy bằng ngôn ngữ của riêng mình.’”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū lokāyataṁ pariyāpuṇanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Api nu kho, bhikkhave, lokāyate sāradassāvī imasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ viruḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Imasmiṁ vā pana dhammavinaye sāradassāvī lokāyataṁ pariyāpuṇeyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Na, bhikkhave, lokāyataṁ pariyāpuṇitabbaṁ. Yo pariyāpuṇeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
At that time the monks from the group of six were studying cosmological theory. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” The monks heard the complaints of those lay people and told the Buddha.
“Is there any growth and fulfillment on this spiritual path, monks, for one who sees cosmological theory as the essence?”
“No, sir.”
“Would anyone who sees this spiritual path as the essence learn cosmological theory?”
“No.”
“You shouldn’t learn cosmological theory. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
286. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ-khưu học tập luận thuyết về thế gian (Lokāyata). Người đời phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: – ‘Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục.’ Các tỳ-khưu đã nghe được (lời) phàn nàn, chê bai, dị nghị của những người ấy. Khi ấy, các vị tỳ-khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật hỏi:) – ‘Này các tỳ-khưu, một người xem luận thuyết thế gian là cốt lõi có thể nào đạt được sự tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh trong Giáo pháp và Giới luật này hay không?’ – ‘Kính bạch ngài, không thể được.’ – ‘Hay là một người xem Giáo pháp và Giới luật này là cốt lõi có nên học tập luận thuyết thế gian hay không?’ – ‘Kính bạch ngài, không thể được.’ – ‘Này các tỳ-khưu, không được học tập luận thuyết thế gian. Vị nào học tập, phạm tội tác ác.’”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū lokāyataṁ vācenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, lokāyataṁ vācetabbaṁ. Yo vāceyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
The monks from the group of six taught cosmological theory. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” They told the Buddha.
“You shouldn’t teach cosmological theory. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ-khưu dạy luận thuyết về thế gian (Lokāyata). Người đời phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: – ‘Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục.’ (Các tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) – ‘Này các tỳ-khưu, không được dạy luận thuyết về thế gian. Vị nào dạy, phạm tội tác ác.’”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū tiracchānavijjaṁ pariyāpuṇanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, tiracchānavijjā pariyāpuṇitabbā. Yo pariyāpuṇeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
The monks from the group of six studied worldly subjects. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!” The monks heard the complaints of those lay people and told the Buddha.
“You shouldn’t study worldly subjects. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
287. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ-khưu học tập tà thuật. Người đời phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: – ‘Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục.’ (Các tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) – ‘Này các tỳ-khưu, không được học tập tà thuật. Vị nào học tập, phạm tội tác ác.’”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū tiracchānavijjaṁ vācenti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“seyyathāpi gihī kāmabhogino”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Na, bhikkhave, tiracchānavijjā vācetabbā. Yo vāceyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
The monks from the group of six taught worldly subjects. People complained and criticized them, “They’re just like householders who indulge in worldly pleasures!”
“You shouldn’t teach worldly subjects. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ-khưu dạy tà thuật. Người đời phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: – ‘Giống như hàng tại gia hưởng thụ các dục.’ (Các tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) – ‘Này các tỳ-khưu, không được dạy tà thuật. Vị nào dạy, phạm tội tác ác.’”
Tena kho pana samayena bhagavā mahatiyā parisāya parivuto dhammaṁ desento khipi. Bhikkhū—“jīvatu, bhante, bhagavā; jīvatu sugato”ti—uccāsaddaṁ mahāsaddaṁ akaṁsu. Tena saddena dhammakathā antarā ahosi. Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—
“api nu kho, bhikkhave, khipite ‘jīvā’ti vutto tappaccayā jīveyya vā mareyya vā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Na, bhikkhave, khipite ‘jīvā’ti vattabbo. Yo vadeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion the Buddha sneezed while teaching a large gathering. The monks made an uproar, saying, “May you live long, venerable sir!” Because of the noise, the teaching was interrupted. The Buddha said to the monks:
“If you say, ‘May you live long!’ to one who sneezes, will they live or die because of that?”
“No, sir.”
“You shouldn’t say, ‘May you live long!’ to one who sneezes. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
288. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đang thuyết Pháp, có hội chúng đông đảo vây quanh, thì ngài hắt hơi. Các tỳ-khưu đã đồng thanh la lớn: – ‘Kính bạch ngài, mong đức Thế Tôn được trường thọ! Mong đức Thiện Thệ được trường thọ!’ Do tiếng ồn đó, bài Pháp thoại đã bị gián đoạn. Khi ấy, đức Thế Tôn gọi các tỳ-khưu: – ‘Này các tỳ-khưu, khi có người hắt hơi, được nói là ‘trường thọ,’ thì do nhân duyên ấy mà người đó có thể sống hay chết hay không?’ – ‘Kính bạch ngài, không thể được.’ – ‘Này các tỳ-khưu, khi có người hắt hơi, không được nói ‘trường thọ.’ Vị nào nói, phạm tội tác ác.’”
Tena kho pana samayena manussā bhikkhūnaṁ khipite “jīvatha, bhante”ti vadanti. Bhikkhū kukkuccāyantā nālapanti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā ‘jīvatha, bhante’ti vuccamānā nālapissantī”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Gihī, bhikkhave, maṅgalikā. Anujānāmi, bhikkhave, gihīnaṁ ‘jīvatha, bhante’ti vuccamānena ‘ciraṁ jīvā’ti vattun”ti.
At that time when monks sneezed, people said, “May you live long, venerable!” Being afraid of wrongdoing, the monks did not respond. People complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics not respond when spoken to like this?” They told the Buddha.
“Monks, householders want blessings. When householders say, ‘May you live long!’ I allow you to respond with similar words.”
Vào lúc bấy giờ, khi các tỳ-khưu hắt hơi, người đời nói rằng: – ‘Kính bạch các ngài, mong các ngài được trường thọ.’ Các tỳ-khưu do áy náy nên không đáp lời. Người đời phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: – ‘Tại sao các sa-môn Thích tử, khi được nói ‘Kính bạch các ngài, mong các ngài được trường thọ,’ lại không đáp lời chứ!’ (Các tỳ-khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán:) – ‘Này các tỳ-khưu, hàng tại gia là những người ưa thích điềm lành. Này các tỳ-khưu, Ta cho phép vị tỳ-khưu, khi được hàng tại gia nói ‘Kính bạch ngài, mong ngài được trường thọ,’ được đáp lại rằng ‘Mong (bạn) được sống lâu.’”
Tena kho pana samayena bhagavā mahatiyā parisāya parivuto dhammaṁ desento nisinno hoti. Aññatarena bhikkhunā lasuṇaṁ khāyitaṁ hoti. So—mā bhikkhū byābādhiṁsūti—ekamantaṁ nisīdi. Addasā kho bhagavā taṁ bhikkhuṁ ekamantaṁ nisinnaṁ. Disvāna bhikkhū āmantesi—“kiṁ nu kho so, bhikkhave, bhikkhu ekamantaṁ nisinno”ti? “Etena, bhante, bhikkhunā lasuṇaṁ khāyitaṁ. So—mā bhikkhū byābādhiṁsūti—ekamantaṁ nisinno”ti. “Api nu kho, bhikkhave, taṁ khāditabbaṁ, yaṁ khāditvā evarūpāya dhammakathāya paribāhiyo assā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Na, bhikkhave, lasuṇaṁ khāditabbaṁ. Yo khādeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
On one occasion when the Buddha was seated teaching a large gathering, there was a monk who had eaten garlic. Not to annoy the other monks, he was sitting at a distance. The Buddha saw him and asked the monks why he was sitting there. The monks told him and the Buddha said, “Monks, should one eat anything that would stop one from hearing a teaching such as this?”
“No, sir.”
“You shouldn’t eat garlic. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
289. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đang ngồi thuyết Pháp, có đông đảo hội chúng vây quanh. Có vị tỳ khưu nọ đã ăn tỏi. Vị ấy suy nghĩ: “Mong rằng các tỳ khưu không bị làm phiền,” rồi ngồi ở một nơi riêng. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đang ngồi ở một nơi riêng. Sau khi nhìn thấy, ngài gọi các tỳ khưu và hỏi: “Này các tỳ khưu, vì sao vị tỳ khưu kia lại ngồi ở một nơi riêng vậy?” – “Bạch ngài, vị tỳ khưu này đã ăn tỏi. Vị ấy suy nghĩ: ‘Mong rằng các tỳ khưu không bị làm phiền,’ nên đã ngồi ở một nơi riêng.” – “Này các tỳ khưu, có nên ăn vật mà sau khi ăn vào lại phải đứng ngoài một buổi thuyết Pháp như thế này không?” – “Bạch ngài, không nên ạ.” – “Này các tỳ khưu, không được ăn tỏi. Vị nào ăn, phạm tội dukkaṭa (tác ác).”
Tena kho pana samayena āyasmato sāriputtassa udaravātābādho hoti. Atha kho āyasmā mahāmoggallāno yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca—“pubbe te, āvuso sāriputta, udaravātābādho kena phāsu hotī”ti?
“Lasuṇena me, āvuso”ti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ābādhappaccayā lasuṇaṁ khāditun”ti.
On one occasion Venerable Sāriputta had a stomachache. Venerable Mahāmoggallāna went to him and said, “When you had a stomachache in the past, Sāriputta, what made you better?”
“Garlic.” They told the Buddha.
“I allow you to eat garlic if you’re sick.”
Restrooms
Vào lúc bấy giờ, Đại đức Sāriputta (Xá-lợi-phất) bị bệnh đau bụng do gió. Khi ấy, Đại đức Mahāmoggallāna (Mục-kiền-liên) đi đến chỗ Đại đức Sāriputta; sau khi đến, đã nói với Đại đức Sāriputta điều này: “Này hiền giả Sāriputta, trước đây bệnh đau bụng do gió của hiền giả được thuyên giảm nhờ vật gì?” – “Thưa hiền giả, nhờ tỏi ạ.” (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép ăn tỏi vì duyên bệnh tật.”
Tena kho pana samayena bhikkhū ārāme tahaṁ tahaṁ passāvaṁ karonti. Ārāmo dussati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ekamantaṁ passāvaṁ kātun”ti.
Ārāmo duggandho hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, passāvakumbhin”ti.
Dukkhaṁ nisinnā passāvaṁ karonti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, passāvapādukan”ti.
Passāvapādukā pākaṭā honti. Bhikkhū hiriyanti passāvaṁ kātuṁ …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, parikkhipituṁ tayo pākāre—iṭṭhakāpākāraṁ, silāpākāraṁ, dārupākāran”ti.
Passāvakumbhī apārutā duggandhā hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, apidhānan”ti.
At that time there were monks who urinated here and there in the monastery. The monastery became filthy.
“You should urinate in one location.”
The monastery became smelly.
“I allow urine-collection pots.”
It was painful to sit there while urinating.
“I allow foot stands for urinating.”
The foot stands were unenclosed. The monks were embarrassed to urinate there.
“I allow three kinds of encircling walls: walls of brick, stone, and wood.”
Not being covered, the urine-collection pots were smelly.
“I allow lids.”
290. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi tiểu tiện chỗ này chỗ kia trong tu viện. Tu viện bị ô uế. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép đi tiểu tiện ở một nơi riêng.” Tu viện có mùi hôi. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) bình tiểu.” (Các tỳ khưu) phải ngồi tiểu một cách khó khăn. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) tấm lót chân ở nhà tiểu.” Các tấm lót chân ở nhà tiểu bị lộ ra ngoài. Các tỳ khưu cảm thấy xấu hổ khi đi tiểu. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép che chắn bằng ba loại tường rào: tường rào bằng gạch, tường rào bằng đá, tường rào bằng gỗ.” Bình tiểu không được đậy nắp nên có mùi hôi. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) nắp đậy.”
Tena kho pana samayena bhikkhū ārāme tahaṁ tahaṁ vaccaṁ karonti. Ārāmo dussati. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, ekamantaṁ vaccaṁ kātun”ti.
Ārāmo duggandho hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, vaccakūpan”ti.
Vaccakūpassa kūlaṁ lujjati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, cinituṁ tayo caye—iṭṭhakācayaṁ, silācayaṁ, dārucayan”ti.
Vaccakūpo nīcavatthuko hoti, udakena otthariyyati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, uccavatthukaṁ kātun”ti.
Cayo paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, cinituṁ tayo caye—iṭṭhakācayaṁ, silācayaṁ, dārucayan”ti.
Ārohantā vihaññanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, tayo sopāne—iṭṭhakāsopānaṁ, silāsopānaṁ, dārusopānan”ti.
Ārohantā paripatanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ālambanabāhan”ti.
Ante nisinnā vaccaṁ karontā paripatanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, santharitvā majjhe chiddaṁ katvā vaccaṁ kātun”ti.
Dukkhaṁ nisinnā vaccaṁ karonti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, vaccapādukan”ti.
Bahiddhā passāvaṁ karonti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, passāvadoṇikan”ti.
Avalekhanakaṭṭhaṁ na hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, avalekhanakaṭṭhan”ti.
Avalekhanapiṭharo na hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, avalekhanapiṭharan”ti.
Vaccakūpo apāruto duggandho hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, apidhānan”ti.
Ajjhokāse vaccaṁ karontā sītenapi uṇhenapi kilamanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, vaccakuṭin”ti.
Vaccakuṭiyā kavāṭaṁ na hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, kavāṭaṁ piṭṭhasaṅghāṭaṁ udukkhalikaṁ uttarapāsakaṁ aggaḷavaṭṭiṁ kapisīsakaṁ sūcikaṁ ghaṭikaṁ tāḷacchiddaṁ āviñchanacchiddaṁ āviñchanarajjun”ti.
Vaccakuṭiyā tiṇacuṇṇaṁ paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ogumphetvā ullittāvalittaṁ kātuṁ—setavaṇṇaṁ kāḷavaṇṇaṁ gerukaparikammaṁ mālākammaṁ latākammaṁ makaradantakaṁ pañcapaṭikaṁ cīvaravaṁsaṁ cīvararajjun”ti.
At that time there were monks who defecated here and there in the monastery. The monastery became filthy.
“You should defecate in one location.”
The monastery became smelly.
“I allow cesspits.”
The edge of the cesspit collapsed.
“I allow you to construct three kinds of foundations: foundations of brick, stone, and wood.”
The cesspit was situated at a low point. It was flooded.
“I allow you to raise the base.”
The mound collapsed.
“I allow you to construct three kinds of raised foundations: raised foundations of brick, stone, and wood.”
It was difficult to get up to the cesspit.
“I allow three kinds of stairs: stairs of brick, stone, and wood.”
People fell down while climbing the stairs.
“I allow rails.”
When seated on the edge to defecate, they fell down.
“I allow you to lay a floor with a gap in the middle for defecating.”
It was painful to sit there while defecating.
“I allow foot stands for defecating.”
They urinated outside the cesspit.
“I allow urinals.”
There were no wiping sticks.
“I allow wiping sticks.”
There was no container for the wiping sticks.
“I allow containers for wiping sticks.”
Not being covered, the cesspit was smelly.
“I allow lids.”
Because they were defecating outdoors, the monks were troubled by the cold and the heat.
“I allow restrooms.”
The restrooms didn’t have doors.
“I allow doors, door frames, lower hinges, upper hinges, door jambs, bolt sockets, bolts, latches, keyholes, door-pulling holes, and door-pulling ropes.”
Grass and dust fell into the restrooms.
“I allow you to firm up the structure and then to plaster it inside and outside, including: treating with white color, black color, and red ocher; making garland patterns, creeper patterns, shark-teeth patterns, and the fivefold pattern; putting up bamboo robe racks and clotheslines.”
291. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đi đại tiện chỗ này chỗ kia trong tu viện. Tu viện bị ô uế. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép đi đại tiện ở một nơi riêng.” Tu viện có mùi hôi. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) hố xí.” Bờ của hố xí bị sạt lở. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép xây lót bằng ba loại vật liệu: lót gạch, lót đá, lót gỗ.” Hố xí ở vùng đất thấp, bị ngập nước. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép làm ở nơi đất cao.” Chỗ xây lót bị sụp đổ. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép xây lót bằng ba loại vật liệu: lót gạch, lót đá, lót gỗ.” (Các tỳ khưu) đi lên bị mệt nhọc. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) ba loại bậc thang: bậc thang gạch, bậc thang đá, bậc thang gỗ.” (Các tỳ khưu) đi lên bị té ngã. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (làm) tay vịn.” (Các tỳ khưu) ngồi ở mép đi đại tiện bị té ngã. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép trải tấm ván, khoét lỗ ở giữa để đi đại tiện.” (Các tỳ khưu) phải ngồi đại tiện một cách khó khăn. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) tấm lót chân ở nhà đại tiện.” (Các tỳ khưu) đi tiểu tiện ở bên ngoài. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) máng tiểu.” Không có que chùi. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) que chùi.” Không có giỏ đựng que chùi. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) giỏ đựng que chùi.” Hố xí không được đậy nắp nên có mùi hôi. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) nắp đậy.” (Các tỳ khưu) đi đại tiện ở ngoài trời bị khổ sở vì lạnh và nóng. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) nhà xí.” Nhà xí không có cánh cửa. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép (dùng) cánh cửa, khung cửa, cối cửa, chốt trên, trụ cài then, then cửa hình đầu khỉ, then nhỏ, ổ khóa, lỗ tra chìa, lỗ dây kéo, dây kéo.” Bụi cỏ rơi xuống trong nhà xí. ... (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, Ta cho phép trát vữa trong ngoài, (trang trí) màu trắng, màu đen, trang trí bằng đất son, vẽ hình vòng hoa, vẽ hình dây leo, hình răng cá sấu, hình năm dải, (làm) sào phơi y, dây phơi y.”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu jarādubbalo vaccaṁ katvā vuṭṭhahanto paripatati.
Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, olambakan”ti.
Vaccakuṭi aparikkhittā hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, parikkhipituṁ tayo pākāre—iṭṭhakāpākāraṁ, silāpākāraṁ, dārupākāran”ti.
Koṭṭhako na hoti …pe…
“ anujānāmi, bhikkhave, koṭṭhakan”ti.
Koṭṭhakassa kavāṭaṁ na hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, kavāṭaṁ piṭṭhasaṅghāṭaṁ udukkhalikaṁ uttarapāsakaṁ aggaḷavaṭṭiṁ kapisīsakaṁ sūcikaṁ ghaṭikaṁ tāḷacchiddaṁ āviñchanacchiddaṁ āviñchanarajjun”ti.
Koṭṭhake tiṇacuṇṇaṁ paripatati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ogumphetvā ullittāvalittaṁ kātuṁ—setavaṇṇaṁ kāḷavaṇṇaṁ gerukaparikammaṁ mālākammaṁ latākammaṁ makaradantakaṁ pañcapaṭikan”ti.
Pariveṇaṁ cikkhallaṁ hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, marumbaṁ pakiritun”ti.
Na pariyāpuṇanti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, padarasilaṁ nikkhipitun”ti.
Udakaṁ santiṭṭhati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, udakaniddhamanan”ti.
Ācamanakumbhī na hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ācamanakumbhin”ti.
Ācamanasarāvako na hoti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ācamanasarāvakan”ti.
Dukkhaṁ nisinnā ācamenti …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, ācamanapādukan”ti.
Ācamanapādukā pākaṭā honti, bhikkhū hiriyanti ācametuṁ …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, parikkhipituṁ tayo pākāre—iṭṭhakāpākāraṁ, silāpākāraṁ, dārupākāran”ti.
Ācamanakumbhī apārutā hoti, tiṇacuṇṇehipi paṁsukehipi okiriyyati …pe…
“anujānāmi, bhikkhave, apidhānan”ti.
On one occasion a monk who was weak from old age fell over as he was getting up after defecating.
“I allow suspended ropes to hold onto.”
The restrooms were unenclosed.
“I allow three kinds of encircling walls: walls of brick, stone, and wood.”
There were no gatehouses.
“I allow gatehouses.”
The gatehouses didn’t have doors.
“I allow doors, door frames, lower hinges, upper hinges, door jambs, bolt sockets, bolts, latches, keyholes, door-pulling holes, and door-pulling ropes.”
Grass and dust fell into the gatehouses.
“I allow you to firm up the structure and then to plaster it inside and outside, including: treating with white color, black color, and red ocher; making garland patterns, creeper patterns, shark-teeth patterns, and the fivefold pattern.”
The yards were muddy.
“I allow you to cover them with gravel.”
They were unable to do it.
“I allow you to lay paving stones.”
The water remained.
“I allow water drains.”
There were no restroom ablution pots.
“I allow restroom ablution pots.”
There were no scoops for the ablution pots.
“I allow scoops for the ablution pots.”
It was painful to sit there while washing.
“I allow ablution foot stands.”
The foot stands were unenclosed. The monks were embarrassed to wash there.
“I allow three kinds of encircling walls: walls of brick, stone, and wood.”
The restroom ablution pots were not covered. Grass, dust, and dirt fell into them.
“I allow lids.”
Even more regulations on proper conduct and allowable requisites
292. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ già yếu, sau khi đi đại tiện, trong lúc đứng dậy đã bị té ngã. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép (dùng) tay vịn.” Nhà vệ sinh không được rào quanh. ... (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép rào quanh bằng ba loại tường rào: tường rào bằng gạch, tường rào bằng đá, tường rào bằng gỗ.” Cổng ra vào không có. ... (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép (làm) cổng ra vào.” (Cổng ra vào không có cánh cửa). ... (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép (dùng) cánh cửa, khung cửa, chốt cửa hình cối nhỏ, vòng khuyên ở trên, trụ gài then, móc cửa hình đầu khỉ, kim chốt, chốt gài, lỗ khóa, lỗ để kéo dây, và dây kéo.” Cỏ vụn rơi vào trong cổng. ... (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép quét dọn rồi trét vữa bên trong và bên ngoài, (được trang trí) màu trắng, màu đen, công việc bằng đất son, hình vòng hoa, hình dây leo, hình răng cá sấu, hình năm dải.” Khuôn viên bị lầy lội. ... (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép rải sỏi.” (Sỏi) không đủ. ... (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép đặt phiến đá.” Nước bị ứ đọng. ... (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép (làm) cống thoát nước.” Không có bình nước rửa. ... (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép (dùng) bình nước rửa.” Không có gáo múc nước rửa. ... (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép (dùng) gáo múc nước rửa.” (Các vị) ngồi rửa một cách khó khăn. ... (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép (dùng) bệ đứng để rửa.” Các bệ đứng để rửa ở nơi trống trải, các tỳ-khưu cảm thấy e ngại khi rửa. ... (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép rào quanh bằng ba loại tường rào: tường rào bằng gạch, tường rào bằng đá, tường rào bằng gỗ.” Bình nước rửa không có nắp đậy, bị cỏ vụn và bụi bặm rơi vào. ... (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, Ta cho phép (dùng) nắp đậy.”
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū evarūpaṁ anācāraṁ ācaranti—
mālāvacchaṁ ropentipi ropāpentipi, siñcantipi siñcāpentipi, ocinantipi ocināpentipi, ganthentipi ganthāpentipi, ekatovaṇṭikamālaṁ karontipi kārāpentipi, ubhatovaṇṭikamālaṁ karontipi kārāpentipi, mañjarikaṁ karontipi kārāpentipi, vidhūtikaṁ karontipi kārāpentipi, vaṭaṁsakaṁ karontipi kārāpentipi, āveḷaṁ karontipi kārāpentipi, uracchadaṁ karontipi kārāpentipi. Te kulitthīnaṁ kuladhītānaṁ kulakumārīnaṁ kulasuṇhānaṁ kuladāsīnaṁ ekatovaṇṭikamālaṁ harantipi harāpentipi, ubhatovaṇṭikamālaṁ harantipi harāpentipi, mañjarikaṁ harantipi harāpentipi, vidhūtikaṁ harantipi harāpentipi, vaṭaṁsakaṁ harantipi harāpentipi, āveḷaṁ harantipi harāpentipi, uracchadaṁ harantipi harāpentipi.
Te kulitthīhi kuladhītāhi kulakumārīhi kulasuṇhāhi kuladāsīhi saddhiṁ ekabhājanepi bhuñjanti, ekathālakepi pivanti, ekāsanepi nisīdanti, ekamañcepi tuvaṭṭenti, ekattharaṇāpi tuvaṭṭenti, ekapāvuraṇāpi tuvaṭṭenti, ekattharaṇapāvuraṇāpi tuvaṭṭenti, vikālepi bhuñjanti, majjampi pivanti, mālāgandhavilepanampi dhārenti, naccantipi, gāyantipi, vādentipi, lāsentipi; naccantiyāpi naccanti, naccantiyāpi gāyanti, naccantiyāpi vādenti, naccantiyāpi lāsenti …pe… lāsentiyāpi naccanti, lāsentiyāpi gāyanti, lāsentiyāpi vādenti, lāsentiyāpi lāsenti;
aṭṭhapadepi kīḷanti, dasapadepi kīḷanti, ākāsepi kīḷanti, parihārapathepi kīḷanti, santikāyapi kīḷanti, khalikāyapi kīḷanti, ghaṭikāyapi kīḷanti, salākahatthenapi kīḷanti, akkhenapi kīḷanti, paṅgacīrenapi kīḷanti, vaṅkakenapi kīḷanti, mokkhacikāyapi kīḷanti, ciṅgulakenapi kīḷanti, pattāḷhakenapi kīḷanti, rathakenapi kīḷanti, dhanukenapi kīḷanti, akkharikāyapi kīḷanti, manesikāyapi kīḷanti, yathāvajjenapi kīḷanti;
hatthismimpi sikkhanti, assasmimpi sikkhanti, rathasmimpi sikkhanti, dhanusmimpi sikkhanti; tharusmimpi sikkhanti; hatthissapi purato dhāvanti, assassapi purato dhāvanti, rathassapi purato dhāvantipi ādhāvantipi; usseḷentipi, apphoṭentipi, nibbujjhantipi, muṭṭhīhipi yujjhanti; raṅgamajjhepi saṅghāṭiṁ pattharitvā naccakiṁ evaṁ vadanti—“idha, bhagini, naccassū”ti; nalāṭikampi denti; vividhampi anācāraṁ ācaranti.
Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“na, bhikkhave, vividhaṁ anācāraṁ ācaritabbaṁ. Yo ācareyya, yathādhammo kāretabbo”ti.
At one time the monks from the group of six were misbehaving in many ways.
They planted flowering trees, watered and plucked them, and then tied the flowers together. They made the flowers into garlands, garlands with stalks on one side and garlands with stalks on both sides. They made flower arrangements, wreaths, ornaments for the head, ornaments for the ears, and ornaments for the chest. And they had others do the same. They then took these things, or sent them, to the women, the daughters, the girls, the daughters-in-law, and the female slaves of respectable families.
They ate from the same plates as these women and drank from the same vessels. They sat on the same seats as them, and they lay down on the same beds, on the same sheets, under the same covers, and both on the same sheets and under the same covers. They ate at the wrong time, drank alcohol, and wore garlands, perfumes, and cosmetics. They danced, sang, played instruments, and performed. While the women were dancing, singing, playing instruments, and performing, so would they.
They played various games: eight-row checkers, ten-row checkers, imaginary checkers, hopscotch, pick-up-sticks, board games, tipcat, painting with the hand, dice, leaf flutes, toy plows, somersaults, pinwheels, toy measures, toy carriages, toy bows, guessing from syllables, thought guessing, mimicking deformities.
They trained in elephant riding, in horsemanship, in carriage riding, in archery, in swordsmanship. And they ran in front of elephants, horses, and carriages, and they ran backward and forward. They whistled, clapped their hands, wrestled, and boxed. They spread their outer robe on a stage and said to the dancing girls, “Dance here, sister,” and they made gestures of approval. And they misbehaved in a variety of ways.
They told the Buddha. Soon afterwards he gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t engage in various kinds of misbehavior. If you do, you should be dealt with according to the rule.”
293. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ-khưu đã có những hành vi không đúng đắn như sau: họ tự trồng và bảo người khác trồng cây hoa nhỏ; tự tưới và bảo người khác tưới; tự hái và bảo người khác hái; tự kết và bảo người khác kết; tự làm và bảo người khác làm vòng hoa một cuống, tự làm và bảo người khác làm vòng hoa hai cuống, tự làm và bảo người khác làm chùm hoa, tự làm và bảo người khác làm vòng hoa đeo tay, tự làm và bảo người khác làm hoa cài đầu, tự làm và bảo người khác làm hoa trang sức, tự làm và bảo người khác làm hoa trang sức ngực. Họ tự mang và bảo người khác mang vòng hoa một cuống, tự mang và bảo người khác mang vòng hoa hai cuống, tự mang và bảo người khác mang chùm hoa, tự mang và bảo người khác mang vòng hoa đeo tay, tự mang và bảo người khác mang hoa cài đầu, tự mang và bảo người khác mang hoa trang sức, tự mang và bảo người khác mang hoa trang sức ngực cho các phụ nữ đã có gia đình, các thiếu nữ, các bé gái, các con dâu, các nữ tỳ trong gia đình. Họ cùng ăn chung một đĩa, cùng uống chung một ly, cùng ngồi chung một ghế, cùng ngủ chung một giường, cùng ngủ chung một tấm trải, cùng đắp chung một tấm mền, cùng ngủ chung một tấm trải và đắp chung một tấm mền với các phụ nữ đã có gia đình, các thiếu nữ, các bé gái, các con dâu, các nữ tỳ trong gia đình. Họ cũng ăn vào giờ phi thời, uống rượu, mang vòng hoa, dùng hương thơm và vật thoa. Họ tự nhảy múa, tự ca hát, tự chơi nhạc cụ, tự biểu diễn; họ nhảy múa cùng vũ nữ, ca hát cùng vũ nữ, chơi nhạc cụ cùng vũ nữ, biểu diễn cùng vũ nữ; ... họ nhảy múa cùng người biểu diễn, ca hát cùng người biểu diễn, chơi nhạc cụ cùng người biểu diễn, biểu diễn cùng người biểu diễn. Họ chơi cờ tám ô, chơi cờ mười ô, chơi cờ trên không, chơi cờ theo lối đi vòng, chơi trò búng hạt, chơi trò xúc xắc, chơi trò đánh gậy, chơi trò vẽ bằng tay, chơi trò bi, chơi trò thổi lá, chơi trò cày nhỏ, chơi trò nhào lộn, chơi trò chong chóng lá, chơi trò đo bằng lá, chơi trò xe nhỏ, chơi trò cung nhỏ, chơi trò đoán chữ, chơi trò đoán ý, chơi trò giả làm người khuyết tật. Họ học về voi, học về ngựa, học về xe, học về cung; học về kiếm. Họ chạy phía trước voi, chạy phía trước ngựa, chạy phía trước và chạy đến xe. Họ la hét, vỗ tay, vật lộn, và đánh nhau bằng nắm đấm. Họ cũng trải tấm saṅghāṭi giữa sân khấu và nói với vũ nữ rằng: “Này chị, hãy nhảy múa ở đây.” Họ cũng búng tay vào trán. Họ đã có nhiều hành vi không đúng đắn khác nhau. Sự việc ấy được trình lên đức Thế Tôn. ... (Ngài phán): “Này các tỳ-khưu, không được có những hành vi không đúng đắn khác nhau. Vị nào vi phạm, cần phải được xử lý theo đúng Pháp.”
Tena kho pana samayena āyasmante uruvelakassape pabbajite saṅghassa bahuṁ lohabhaṇḍaṁ dārubhaṇḍaṁ mattikābhaṇḍaṁ uppannaṁ hoti. Atha kho bhikkhūnaṁ etadahosi—“kiṁ nu kho bhagavatā lohabhaṇḍaṁ anuññātaṁ, kiṁ ananuññātaṁ; kiṁ dārubhaṇḍaṁ anuññātaṁ, kiṁ ananuññātaṁ; kiṁ mattikābhaṇḍaṁ anuññātaṁ, kiṁ ananuññātan”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“anujānāmi, bhikkhave, ṭhapetvā paharaṇiṁ sabbaṁ lohabhaṇḍaṁ, ṭhapetvā āsandiṁ pallaṅkaṁ dārupattaṁ dārupādukaṁ sabbaṁ dārubhaṇḍaṁ, ṭhapetvā katakañca kumbhakārikañca sabbaṁ mattikābhaṇḍan”ti.
At the time of Venerable Uruvelakassapa’s going forth, the Sangha was offered a large number of iron, wooden, and ceramic goods. The monks thought, “Which iron, wooden, and ceramic goods have been allowed by the Buddha, and which not?” They told the Buddha. The Buddha then gave a teaching and addressed the monks:
“I allow all iron goods except weapons; all wooden goods except high couches, luxurious couches, wooden almsbowls, and wooden shoes; and all ceramic goods except ceramic foot scrubbers and clay huts.”
Vào lúc bấy giờ, sau khi trưởng lão Uruvelakassapa đã xuất gia, nhiều vật dụng bằng kim loại, vật dụng bằng gỗ, và vật dụng bằng đất sét đã được phát sanh cho Tăng chúng. Bấy giờ, các tỳ khưu khởi lên suy nghĩ rằng: – “Thế Tôn đã cho phép những vật dụng bằng kim loại nào, không cho phép những vật dụng nào? Đã cho phép những vật dụng bằng gỗ nào, không cho phép những vật dụng nào? Đã cho phép những vật dụng bằng đất sét nào, không cho phép những vật dụng nào?” Họ đã trình sự việc ấy lên Thế Tôn. Khi ấy, nhân sự việc này, trong trường hợp này, sau khi thuyết một bài pháp thoại, Thế Tôn đã gọi các tỳ khưu và dạy rằng: – “Này các tỳ khưu, Ta cho phép tất cả vật dụng bằng kim loại, ngoại trừ vũ khí; Ta cho phép tất cả vật dụng bằng gỗ, ngoại trừ ghế dài, giường có chân hình thú dữ, bình bát bằng gỗ, và dép guốc bằng gỗ; Ta cho phép tất cả vật dụng bằng đất sét, ngoại trừ dụng cụ chà chân có gai và nhà bằng đất.”
Khuddakavatthukkhandhako pañcamo.
Tassuddānaṁ
The fifth chapter on minor topics is finished.
This is the summary:
Dứt thiên Tiểu Sự thứ năm.
Rukkhe thambhe ca kuṭṭe ca, aṭṭāne gandhasuttiyā; Vigayha mallako kacchu, jarā ca puthupāṇikā.
“On a tree, and on a post, and against a wall, On a rubbing board, rubbing-hand, and with a string; Massage, scrubber, itchy, And old age, ordinary hand massage.
Trên cây, trên cột, và trên tường, trên ván kẻ ô, với bột gỗ thơm; chà xát lẫn nhau, dụng cụ chà ghét, bệnh ghẻ, vị tỳ khưu già, và việc chà bằng gót bàn tay.
Vallikāpi ca pāmaṅgo, kaṇṭhasuttaṁ na dhāraye; Kaṭi ovaṭṭi kāyuraṁ, hatthābharaṇamuddikā.
And earrings, hanging strings, shouldn’t wear a necklace; Hips, bangles, armlets, Bracelets, rings.
Bông tai và vòng đeo chéo, không nên mang dây chuyền cổ; dây thắt lưng, vòng tay, vòng chân, trang sức tay và nhẫn.
Dīghe kocche phaṇe hatthe, sitthā udakatelake; Ādāsudapattavaṇā, ālepommaddacuṇṇanā.
Long, brush, comb, hands, Beeswax, water and oil; Sores in a mirror or bowl of water, Ointment, creams, powder.
Tóc dài, lược chải râu, lược, lược tay, sáp ong trộn dầu, dầu trộn nước; gương, chén nước, xem vết thương, việc thoa, xoa bóp, và xoa bột.
Lañchenti aṅgarāgañca, mukharāgaṁ tadūbhayaṁ; Cakkhurogaṁ giraggañca, āyataṁ sarabāhiraṁ.
They applied, and body cosmetics, Facial cosmetics, both; Eye disease, and hilltop, drawn-out voice, outside.
Việc xăm mình, việc sơn móng, sơn môi, cả hai việc ấy; bệnh mắt, lễ hội trên đỉnh núi, giọng kéo dài, và áo choàng bên ngoài.
Ambapesisakalehi, ahicchindi ca candanaṁ; Uccāvacā pattamūlā, suvaṇṇo bahalā valī.
Mangoes, pieces, with whole, Snake, and cut off, sandal; Luxurious, bowl bottoms, Gold, thick, marks.
Miếng xoài, quả xoài nguyên, bị rắn cắn, cắt bỏ, và gỗ đàn hương; các loại cao thấp, đáy bình bát, vành bằng vàng, dày, và lung lay.
Citrā dussati duggandho, uṇhe bhijjiṁsu miḍḍhiyā; Paribhaṇḍaṁ tiṇaṁ coḷaṁ, mālaṁ kuṇḍolikāya ca.
Colorful, stained, smelly, In the heat, they broke, on a bench; Ledge, straw, cloth, Platform, and container.
Vành được trang trí, bị hư, mùi hôi, phơi nắng, bị vỡ, trên gờ tường bên trong; trên gờ tường bên ngoài, cỏ, vải, kệ, và trong nồi rộng miệng.
Thavikā aṁsabaddhañca, tathā bandhanasuttakā; Khile mañce ca pīṭhe ca, aṅke chatte paṇāmanā.
Bag, and shoulder strap, So a string for fastening; From a peg, and on a bed, and on a bench, In the lap, on a sunshade, opening.
Túi đựng bát và dây đeo vai, cũng vậy là dây buộc; trên cọc, trên giường, và trên ghế, trong lòng, trên dù, và việc đẩy tới.
Tumbaghaṭichavasīsaṁ, calakāni paṭiggaho; Vipphālidaṇḍasovaṇṇaṁ, patte pesi ca nāḷikā.
Gourd, waterpots, skull, Chewed food remnants, trash can; Tore, handle, gold, Feather, and piece, cylinder.
Vỏ bầu, mảnh nồi, sọ người, thức ăn thừa, ống nhổ; việc xé rách, dao có cán bằng vàng, vá bằng lông vũ, mảnh tre, và ống đựng kim.
Kiṇṇasattu saritañca, madhusitthaṁ sipāṭikaṁ; Vikaṇṇaṁ bandhivisamaṁ, chamājirapahoti ca.
Yeast, flour, and stone powder, Beeswax, case; Deformed corners, tied down, uneven, Ground, deteriorating, and not right.
Men, bột rang, và bột đá, sáp ong, túi đựng; mép không đều, buộc, nơi không bằng phẳng, mặt đất, mục nát, và không đủ.
Kaḷimbhaṁ moghasuttañca, adhotallaṁ upāhanā; Aṅgule paṭiggahañca, vitthakaṁ thavikabaddhakā.
Ruler, and guide line, Dirty, wet, sandals; Finger, and thimble, Small bowl, bag, strap.
Việc đo, dây bật mực, và chân chưa rửa, giày dép; ngón tay, vật lót tay, túi, và dây túi đeo.
Ajjhokāse nīcavatthu, cayo cāpi vihaññare; Paripati tiṇacuṇṇaṁ, ullittaavalittakaṁ.
Outside, low base, And also the mound, they had difficulty; Fell down, grass and dust, Plaster inside and outside.
Ngoài trời, nền thấp, việc đắp nền và bị mệt nhọc; bụi cỏ rơi xuống, việc trát trong và ngoài.
Setaṁ kāḷakavaṇṇañca, parikammañca gerukaṁ; Mālākammaṁ latākammaṁ, makaradantakapāṭikaṁ.
White, and black color, And treating with red ocher; Making a garland pattern, and a creeper pattern, A shark-teeth pattern, pattern.
Màu trắng và màu đen, việc trang trí bằng đất son; hình vòng hoa, hình dây leo, hình răng cá sấu, và hình bậc thang.
Cīvaravaṁsaṁ rajjuñca, anuññāsi vināyako; Ujjhitvā pakkamanti ca, kathinaṁ paribhijjati.
Bamboo robe rack, and line, Did the Leader allow; Abandoned and left, The frame broke.
Sào phơi y và dây phơi, bậc Lãnh Đạo đã cho phép; việc bỏ đi, và khung kaṭhina bị hỏng.
Viniveṭhiyati kuṭṭepi, pattenādāya gacchare; Thavikā bandhasuttañca, bandhitvā ca upāhanā.
Unfolded, and against a wall, Taking their bowls they went; Bag, and fastening string, And bound the sandals.
Việc tháo ra, trên tường, lấy bằng bát rồi đi; túi thuốc, dây buộc, và việc buộc giày dép.
Upāhanatthavikañca, aṁsabaddhañca suttakaṁ; Udakākappiyaṁ magge, parissāvanacoḷakaṁ.
And sandal bag, And shoulder strap, string; Unallowable water while traveling, Water filter, cloth.
Túi đựng giày dép, dây đeo vai, và dây buộc; nước không thích hợp trên đường, và vải lọc nước.
Dhammakaraṇaṁ dve bhikkhū, vesāliṁ agamā muni; Daṇḍaṁ ottharakaṁ tattha, anuññāsi parissāvanaṁ.
Water strainer, two monks, The Sage went to Vesālī; Wooden frame, spreading there, He allowed a filter.
Dụng cụ lọc nước dhammakaraṇa, hai vị tỳ khưu, bậc Mâu-ni đã đi đến Vesālī; tại đó, Ngài đã cho phép cái lọc nước có khung.
Makasehi paṇītena, bahvābādhā ca jīvako; Caṅkamanajantāgharaṁ, visame nīcavatthuko.
With mosquitoes, with fine, And often sick, Jīvaka; Walking-meditation paths, sauna, On uneven, low base.
Bởi muỗi, với vật thực hảo hạng, nhiều bệnh, và Jīvaka; nhà kinh hành, nhà tắm hơi, nơi không bằng phẳng, và nền thấp.
Tayo caye vihaññanti, sopānālambavedikaṁ; Ajjhokāse tiṇacuṇṇaṁ, ullittaavalittakaṁ.
Three foundations, they had difficulty, Stairs, rails, railings; Outside, grass and dust, Plastered inside and outside.
Ba cách đắp nền, bị mệt nhọc, cầu thang, tay vịn, lan can; ngoài trời, bụi cỏ, việc trát trong và ngoài.
Setakaṁ kāḷavaṇṇañca, parikammañca gerukaṁ; Mālākammaṁ latākammaṁ, makaradantakapāṭikaṁ.
White, and black color, And treating with red ocher; Making a garland pattern, and a creeper pattern, A shark-teeth pattern, pattern.
Màu trắng và màu đen, việc trang trí bằng đất son; hình vòng hoa, hình dây leo, hình răng cá sấu, và hình bậc thang.
Vaṁsaṁ cīvararajjuñca, uccañca vatthukaṁ kare; Cayo sopānabāhañca, kavāṭaṁ piṭṭhasaṅghāṭaṁ.
Bamboo, and clothesline, And should raise the base; Mound, and stairs, rails, Door, door frame.
Sào và dây phơi y, nên làm nền cao; việc đắp nền, tay vịn cầu thang, cánh cửa, và khung cửa.
Udukkhaluttarapāsakaṁ, vaṭṭiñca kapisīsakaṁ; Sūcighaṭitāḷacchiddaṁ, āviñchanañca rajjukaṁ.
Lower hinge, upper hinge, Door jamb, bolt socket; Bolt, latch, keyhole, And door-pulling, rope.
Lỗ cối dưới, vòng khuyên trên, then cửa, và móc hình đầu khỉ; then nhỏ, then lớn, lỗ khóa, lỗ xỏ dây, và dây kéo.
Maṇḍalaṁ dhūmanettañca, majjhe ca mukhamattikā; Doṇi duggandhā dahati, udakaṭṭhānaṁ sarāvakaṁ.
Encircling trench, and flue, And in the middle, clay for the face; Trough, smelly, scorched, Water place, scoop.
Nền tròn và ống khói, ở giữa và đất sét thoa mặt; máng nước, mùi hôi, bị cháy, chỗ chứa nước, và chén nước.
Na sedeti ca cikkhallaṁ, dhovi niddhamanaṁ kare; Pīṭhañca koṭṭhake kammaṁ, marumbā silā niddhamanaṁ.
And did not sweat, muddy, Wash, should make a drain; And bench, gatehouse, making, Gravel, stones, drain.
Việc lợp mái, và bùn lầy, việc rửa, nên làm ống thoát nước; ghế, trong cổng vòm, công việc, sỏi, đá, và ống thoát nước.
Naggā chamāya vassante, paṭicchādī tayo tahiṁ; Udapānaṁ lujjati nīcaṁ, valliyā kāyabandhane.
Naked, on the ground, raining, Three coverings there; Well, collapsed, low, With creepers, belt.
Trần truồng, trên đất, khi trời mưa, ba loại che đậy ở đó; giếng nước bị sụp đổ, nền thấp, dây leo, và dây thắt lưng.
Tulaṁ kaṭakaṭaṁ cakkaṁ, bahū bhijjanti bhājanā; Lohadārucammakhaṇḍaṁ, sālātiṇāpidhāni ca.
Well-sweep, pulley, wheel, Many vessels broke; Iron, wood, hide, House, grass, and cover.
Đòn bẩy, ròng rọc, bánh xe, nhiều thùng bị vỡ; thùng bằng kim loại, gỗ, da, nhà nghỉ, cỏ, và nắp đậy.
Doṇicandani pākāraṁ, cikkhallaṁ niddhamanena ca; Sītigataṁ pokkharaṇiṁ, purāṇañca nillekhaṇaṁ.
Trough, disposal area, wall, Muddy, and with a drain; Cold, lotus bathing tank, And stagnant, pointed roof.
Máng nước, sàn ván, tường rào, bùn lầy và bằng ống thoát nước; bị lạnh, hồ sen, nước cũ, và không có hình vẽ.
Cātumāsaṁ sayanti ca, namatakañca nadhiṭṭhahe; Āsittakaṁ maḷorikaṁ, bhuñjantekaṁ tuvaṭṭeyyuṁ.
Four months, and they slept, And piece of felt, should not determine; Heating, stand, They ate from one, they lay down.
Ngủ trong bốn tháng, tấm nỉ và không chú nguyện; bình có vòi, chân bát hình ngọn giáo, ăn chung một bát, và ngủ chung một giường.
Vaḍḍho bodhi na akkami, ghaṭaṁ katakasammajjani; Sakkharaṁ kathalañceva, pheṇakaṁ pādaghaṁsanī.
Vaḍḍha, Bodhi, he did not step on, Waterpot, ceramic foot scrubber, broom; Stone, and pebbles, Pumice foot scrubbers.
Vaddha, Bodhi, không dẫm đạp, ghè nước, đồ chà chân bằng sành, chổi; mảnh sành sỏi, bọt biển, đồ chà chân.
Vidhūpanaṁ tālavaṇṭaṁ, makasañcāpi cāmarī; Chattaṁ vinā ca ārāme, tayo sikkāya sammuti.
Standard fan, palm-leaf fan, And mosquito, yak-tail; Sunshade, and without, in a monastery, Three with agreement on carrying net.
Quạt vuông, quạt lá cọ, phất trần đuổi muỗi và phất trần lông bò Tây Tạng; ngoại trừ cây dù trong khuôn viên, ba sự đồng thuận về cái đãy.
Romasitthā nakhā dīghā, chindantaṅgulikā dukkhā; Salohitaṁ pamāṇañca, vīsati dīghakesatā.
Regurgitator, rice, long nails, Cutting, the fingers hurt; Bled, and even, Twenty, long haired.
Tỳ khưu nhai lại, cơm rơi vãi, móng tay dài, việc cắt, các ngón tay bị đau; có máu, mức độ vừa phải, hai mươi (móng), tóc dài.
Khuraṁ silaṁ sipāṭikaṁ, namatakaṁ khurabhaṇḍakaṁ; Massuṁ kappenti vaḍḍhenti, golomicaturassakaṁ.
Razor, stone, case, Felt, barber equipment; They trimmed beards, grew them long, Goatee, sideburns.
Đá mài dao cạo, bao đựng dao cạo, vải lót bằng nỉ, dụng cụ cạo râu; cạo râu, để râu dài, râu dê, râu hình vuông.
Parimukhaṁ aḍḍhadukañca, dāṭhisambādhasaṁhare; Ābādhā kattarivaṇo, dīghaṁ sakkharikāya ca.
Circle beard, and chest hair, Mustache, would remove from private parts; Disease, sore with scissors, Long, and small stones.
Cạo lông ngực, để lại hai hàng lông ngực, râu quai nón, cạo lông ở chỗ kín; bệnh, cái kéo, vết thương, (lông mũi) dài, và bằng sỏi.
Palitaṁ thakitaṁ uccā, lohabhaṇḍañjanī saha; Pallatthikañca āyogo, vaṭaṁ salākabandhanaṁ.
Gray, blocked, luxurious, Metal goods, with ointment box; And clasping the knees, back-and-knee strap, Weft, shuttle, belt.
Tóc bạc, được đóng lại, cao quý, vật dụng bằng kim loại cùng với ống đựng thuốc nhỏ mắt; ngồi vắt chéo y, dây āyoga, tấm giáp, dây lưng bằng thẻ.
Kalābukaṁ deḍḍubhakaṁ, murajaṁ maddavīṇakaṁ; Paṭṭikā sūkarantañca, dasā murajaveṇikā; Anto sobhaṁ guṇakañca, pavanantopi jīrati.
Multiple string belt, water snake head belt, Belts of twisted strings of various colors, belts like ornamental ropes; Strips of cloth, and pigs’ intestines, Edges, twisted strings of various colors, ornamental ropes; End, loop, and knot, Also the loop at the end wore away.
Dây lưng nhiều sợi, dây lưng hình rắn nước, hình trống muraja, hình cái đục; dây lưng bản dẹp, hình ruột heo, tua rua hình trống muraja và hình bím tóc; đầu tua, viền đẹp, kiểu may đuôi kỳ đà, và mép y bị sờn rách.
Gaṇṭhikā uccāvacañca, phalakantepi ogāhe; Gihivatthaṁ hatthisoṇḍaṁ, macchakaṁ catukaṇṇakaṁ.
Toggles, and luxurious, Also should insert a shield at the edge; Sarongs like householders, elephant trunk, Fish style, four-corner style.
Khuy áo, các loại khác nhau, túi đựng khuy, ở mép, mặc chùng xuống; mặc y như người thế tục, kiểu vòi voi, kiểu đuôi cá, kiểu bốn góc.
Tālavaṇṭaṁ satavali, gihipārutapārupaṁ; Saṁvelli ubhatokājaṁ, dantakaṭṭhaṁ ākoṭane.
Palm leaf, hundred fold, Wearing upper robes like householders; Loin cloths, carrying poles with loads on both ends, Tooth cleaner, smacking.
Kiểu quạt lá cọ, trăm nếp gấp, đắp y như người thế tục; đóng khố, đòn gánh hai vai, tăm xỉa răng, việc đập.
Kaṇṭhe vilaggaṁ dāyañca, paṭaggi rukkhahatthinā; Yameḷe lokāyatakaṁ, pariyāpuṇiṁsu vācayuṁ.
Stuck in the throat, and forest, Counterfire, tree, with elephant; Yameḷa, cosmological theory, They learned, they taught.
Mắc ở cổ, việc đốt lửa, việc châm lửa, cây, voi; ở Yameḷa, đã học và đã dạy thế gian luận.
Tiracchānakathā vijjā, khipi maṅgalaṁ khādi ca; Vātābādho dussati ca, duggandho dukkhapādukā.
Worldly talk, knowledge, He sneezed, blessing, and he ate; Stomachache, and became filthy, Smelly, painful, foot stands.
Học thuật bàng sanh, hắt hơi, điềm lành, đã ăn; bệnh gió, bị hư hoại, mùi hôi, sự khó khăn, dép.
Hiriyanti pāruduggandho, tahaṁ tahaṁ karonti ca; Duggandho kūpaṁ lujjanti, uccavatthu cayena ca.
They were embarrassed, covered, smelly, And they did it here and there; Smelly, cesspit, collapsed, Raised base, and with foundation.
Xấu hổ, không che đậy, mùi hôi, họ làm ở chỗ này chỗ kia; mùi hôi, hố bị sụp lở, nền đất cao, và bằng cách chất đống.
Sopānālambanabāhā, ante dukkhañca pādukā; Bahiddhā doṇi kaṭṭhañca, piṭharo ca apāruto.
Stairs, rails, On the edge, and painful, foot stands; Outside, urinal, and sticks, And container, uncovered.
Cầu thang, tay vịn, ở cuối, sự khó khăn, và dép; bên ngoài, máng tiểu, que gạt, và cái giỏ không có nắp đậy.
Vaccakuṭiṁ kavāṭañca, piṭṭhasaṅghāṭameva ca; Udukkhaluttarapāso, vaṭṭiñca kapisīsakaṁ.
Restroom, and door, And just the door frame; Lower hinge, upper hinge, And door jamb, bolt socket.
Nhà vệ sinh, cánh cửa, và khung cửa; then trên cối dưới, then cửa, và móc cửa hình tay khỉ.
Sūcighaṭitāḷacchiddaṁ, āviñchanacchiddameva ca; Rajju ullittāvalittaṁ, setavaṇṇañca kāḷakaṁ.
Bolt, latch, keyhole, And just a door-pulling hole; Rope, plastered inside and outside, And white color, black.
Then nhỏ, then lớn, lỗ khóa, và lỗ kéo; dây kéo, trét trong trét ngoài, màu trắng, và màu đen.
Mālākammaṁ latākammaṁ, makaraṁ pañcapaṭikaṁ; Cīvaravaṁsaṁ rajjuñca, jarādubbalapākāraṁ.
Making a garland pattern, a creeper pattern, Shark, the fivefold pattern; Bamboo robe rack, and line, Weak from old age, wall.
Hình vòng hoa, hình dây leo, hình cá sấu, hình năm lớp; sào phơi y, dây phơi y, hàng rào cho người già yếu.
Koṭṭhake cāpi tatheva, marumbaṁ padarasilā; Santiṭṭhati niddhamanaṁ, kumbhiñcāpi sarāvakaṁ.
And so also just a gatehouse, Gravel, paving stones; Remained, drain, And also pot, scoop.
Ở cổng vòm cũng như vậy, sỏi, phiến đá; nước đọng lại, ống thoát nước, ghè nước, và chén nhỏ.
Dukkhaṁ hiri apidhānaṁ, anācārañca ācaruṁ; Lohabhaṇḍaṁ anuññāsi, ṭhapayitvā paharaṇiṁ.
Painful, embarrassed, lid, And they misbehaved; He allowed iron goods, Except weapons.
Sự khó khăn, sự xấu hổ, nắp đậy, họ đã hành xử không đúng đắn; đã cho phép vật dụng bằng kim loại, ngoại trừ vũ khí.
Ṭhapayitvāsandipallaṅkaṁ, dārupattañca pādukaṁ; Sabbaṁ dārumayaṁ bhaṇḍaṁ, anuññāsi mahāmuni.
Except high couches and luxurious couches, And wooden almsbowls, wooden shoes; All wooden goods, The Great Sage allowed.
Ngoại trừ giường cao và ngai, bình bát bằng gỗ và dép bằng gỗ; bậc Đại Mâu-ni đã cho phép tất cả vật dụng bằng gỗ.
Katakaṁ kumbhakārañca, ṭhapayitvā tathāgato; Sabbampi mattikābhaṇḍaṁ, anuññāsi anukampako.
Ceramic foot scrubbers, and clay huts, The Buddha having excepted; Also all clay goods, The Compassionate One allowed.
Ngoại trừ đồ chà chân bằng sành và nhà bằng đất của thợ gốm, bậc Như Lai, đấng có lòng bi mẫn, đã cho phép tất cả vật dụng bằng đất.
Yassa vatthussa niddeso, purimena yadi samaṁ; Tampi saṅkhittaṁ uddāne, nayato taṁ vijāniyā.
The details of the topics, If the same as the preceding, Is also found in brief in the summary verses, For the purpose of guiding those who have understood it.
Nếu sự giải thích của câu chuyện nào giống với câu chuyện trước, câu chuyện đó cũng được tóm tắt trong kệ tóm tắt; nên biết điều đó theo phương pháp.
Evaṁ dasasatā vatthū, vinaye khuddakavatthuke; Saddhammaṭṭhitiko ceva, pesalānañcanuggaho.
Thus there are one hundred and ten topics In the chapter on minor topics in the Monastic Law. Indeed, the true Teaching will be long lived, And good people will be supported.
Như vậy, có một trăm mười câu chuyện trong Luật, chương Tiểu Sự; vì sự tồn tại của Chánh pháp và sự hỗ trợ cho các vị có giới hạnh đáng mến.
Susikkhito vinayadharo, hitacitto supesalo; Padīpakaraṇo dhīro, pūjāraho bahussutoti.
A well-trained expert in the Monastic Law, A good person intent on what’s beneficial, A wise one, lighting a lamp—This is a learned one worthy of homage.”
Vị trì luật được học tập tốt, có tâm lợi ích, có giới hạnh rất đáng mến; bậc trí làm nên ngọn đèn, bậc đa văn đáng được cúng dường.
Khuddakavatthukkhandhako niṭṭhito.
The chapter on minor topics is finished.
Chương Tiểu Sự đã kết thúc.