- Theravāda Vinayapiṭaka
- Cūḷavagga
Bản dịch
Kd 14 — Chương dàn xếp
14. Samathakkhandhaka
1. HÀNH XỬ LUẬT VỚI SỰ HIỆN DIỆN:
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư thực hiện các hành sự khiển trách, chỉ dạy, xua đuổi, hòa giải, án treo đối với các vị tỳ khưu không có hiện diện. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại thực hiện các hành sự khiển trách, chỉ dạy, xua đuổi, hòa giải, án treo cho các tỳ khưu không có hiện diện?”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Lục Sư thực hiện các hành sự khiển trách, chỉ dạy, xua đuổi, hòa giải, án treo cho các tỳ khưu không có hiện diện, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho những kẻ rồ dại ấy, thật không hợp lẽ, không thích đáng, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm. Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại thực hiện các hành sự khiển trách, chỉ dạy, xua đuổi, hòa giải, án treo cho các tỳ khưu không có hiện diện? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, … (như trên) … ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên thực hiện hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo cho các tỳ khưu không có hiện diện; vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa.”
CHÍN TRƯỜNG HỢP NÓI SAI PHÁP:
Một người nói sai Pháp, nhiều người nói sai Pháp, hội chúng nói sai Pháp. Một người nói đúng Pháp, nhiều người nói đúng Pháp, hội chúng nói đúng Pháp.
Inda-bh 1~1Một người nói sai Pháp khiến một người nói đúng Pháp biết được, nhận thức được, thấy được, thấy rõ được, hiểu được, hiểu rõ được: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy ưa thích điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết sai Pháp theo hình thức của cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Inda-bh 2~2Một người nói sai Pháp khiến nhiều người nói đúng Pháp biết được, nhận thức được, thấy được, thấy rõ được, hiểu được, hiểu rõ được: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy ưa thích điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết sai Pháp theo hình thức của cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Inda-bh 3~3Một người nói sai Pháp khiến hội chúng nói đúng Pháp biết được, nhận thức được, thấy được, thấy rõ được, hiểu được, hiểu rõ được: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy ưa thích điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết sai Pháp theo hình thức của cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Inda-bh 4~4Nhiều người nói sai Pháp khiến một người nói đúng Pháp biết được, nhận thức được, thấy được, thấy rõ được, hiểu được, hiểu rõ được: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy ưa thích điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết sai Pháp theo hình thức của cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Inda-bh 5~5Nhiều người nói sai Pháp khiến nhiều người nói đúng Pháp biết được, nhận thức được, thấy được, thấy rõ được, hiểu được, hiểu rõ được: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy ưa thích điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết sai Pháp theo hình thức của cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Inda-bh 6~6Nhiều người nói sai Pháp khiến hội chúng nói đúng Pháp biết được, nhận thức được, thấy được, thấy rõ được, hiểu được, hiểu rõ được: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy ưa thích điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết sai Pháp theo hình thức của cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Inda-bh 7~7Hội chúng nói sai Pháp khiến một người nói đúng Pháp biết được, nhận thức được, thấy được, thấy rõ được, hiểu được, hiểu rõ được: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy ưa thích điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết sai Pháp theo hình thức của cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Inda-bh 8~8Hội chúng nói sai Pháp khiến nhiều người nói đúng Pháp biết được, nhận thức được, thấy được, thấy rõ được, hiểu được, hiểu rõ được: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy ưa thích điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết sai Pháp theo hình thức của cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Inda-bh 9~9Hội chúng nói sai Pháp khiến hội chúng nói đúng Pháp biết được, nhận thức được, thấy được, thấy rõ được, hiểu được, hiểu rõ được: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy ưa thích điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết sai Pháp theo hình thức của cách hành xử Luật với sự hiện diện.”
Dứt chín trường hợp nói sai pháp.
CHÍN TRƯỜNG HỢP NÓI ĐÚNG PHÁP:
Inda-bh 1~10Một người nói đúng Pháp khiến một người nói sai Pháp biết được, nhận thức được, thấy được, thấy rõ được, hiểu được, hiểu rõ được: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy ưa thích điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết đúng Pháp theo cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Inda-bh 2~11Một người nói đúng Pháp khiến nhiều người nói sai Pháp biết được, nhận thức được, thấy được, thấy rõ được, hiểu được, hiểu rõ được: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy ưa thích điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết đúng Pháp theo cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Inda-bh 3~12Một người nói đúng Pháp khiến hội chúng nói sai Pháp biết được, nhận thức được, thấy được, thấy rõ được, hiểu được, hiểu rõ được: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy ưa thích điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết đúng Pháp theo cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Inda-bh 4~13Nhiều người nói đúng Pháp khiến một người nói sai Pháp biết được, nhận thức được, thấy được, thấy rõ được, hiểu được, hiểu rõ được: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy ưa thích điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết đúng Pháp theo cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Inda-bh 5~14Nhiều người nói đúng Pháp khiến nhiều người nói sai Pháp biết được, nhận thức được, thấy được, thấy rõ được, hiểu được, hiểu rõ được: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy ưa thích điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết đúng Pháp theo cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Inda-bh 6~15Nhiều người nói đúng Pháp khiến hội chúng nói sai Pháp biết được, nhận thức được, thấy được, thấy rõ được, hiểu được, hiểu rõ được: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy ưa thích điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết đúng Pháp theo cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Inda-bh 7~16Hội chúng nói đúng Pháp khiến một người nói sai Pháp biết được, nhận thức được, thấy được, thấy rõ được, hiểu được, hiểu rõ được: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy ưa thích điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết đúng Pháp theo cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Inda-bh 8~17Hội chúng nói đúng Pháp khiến nhiều người nói sai Pháp biết được, nhận thức được, thấy được, thấy rõ được, hiểu được, hiểu rõ được: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy ưa thích điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết đúng Pháp theo cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Inda-bh 9~18Hội chúng nói đúng Pháp khiến hội chúng nói sai Pháp biết được, nhận thức được, thấy được, thấy rõ được, hiểu được, hiểu rõ được: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư, hãy chọn lấy điều này, hãy ưa thích điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được giải quyết như thế là được giải quyết đúng Pháp theo cách hành xử Luật với sự hiện diện.”
Dứt chín trường hợp nói đúng pháp.
2. HÀNH XỬ LUẬT BẰNG SỰ GHI NHỚ:
Inda-bh 1~19Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, phẩm vị A-la-hán đã được đại đức Dabba Mallaputta chứng ngộ vào lúc bảy tuổi. Vị ấy đã đạt được tất cả những gì vị đệ tử cần phải đạt đến. Và đối với vị ấy, không có bất cứ việc gì cao thượng hơn cần phải làm hoặc sự tích lũy thêm đối với việc đã làm. Khi ấy, đại đức Dabba Mallaputta trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã khởi lên: “Phẩm vị A-la-hán đã được ta chứng ngộ vào lúc bảy tuổi. Ta đã đạt được tất cả những gì vị đệ tử cần phải đạt đến. Và đối với ta, không có bất cứ việc gì cao thượng hơn cần phải làm hoặc sự tích lũy thêm đối với việc đã làm. Vậy ta nên thực hiện việc phục vụ gì cho hội chúng?” Rồi điều này đã khởi đến cho đại đức Dabba Mallaputta: “Hay là ta nên phân bố chỗ cư ngụ và sắp xếp các bữa ăn cho hội chúng?”
Inda-bh 2~20Sau đó vào buổi tối, đại đức Dabba Mallaputta đã xuất khỏi thiền tịnh và đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Dabba Mallaputta đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, trường hợp con trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã khởi lên: ‘Phẩm vị A-la-hán đã được ta chứng ngộ vào lúc bảy tuổi. Ta đã đạt được tất cả những gì vị đệ tử cần phải đạt đến. Và đối với ta, không có bất cứ việc gì cao thượng hơn cần phải làm hoặc sự tích lũy thêm đối với việc đã làm. Vậy ta nên thực hiện việc phục vụ gì cho hội chúng?’ Bạch ngài, rồi điều này đã khởi đến cho con: ‘Hay là ta nên phân bố chỗ cư ngụ và sắp xếp các bữa ăn cho hội chúng?’ Bạch ngài, con muốn phân bố chỗ cư ngụ và sắp xếp các bữa ăn cho hội chúng.”—“Này Dabba, tốt lắm, tốt lắm! Chính vì điều ấy ngươi hãy phân bố chỗ cư ngụ và sắp xếp các bữa ăn cho hội chúng.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Đại đức Dabba Mallaputta đã đáp lại đức Thế Tôn.
Inda-bh 3~21Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các vị tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy chỉ định Dabba Mallaputta là vị phân bố chỗ trú và là vị sắp xếp các bữa ăn. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, Dabba cần được yêu cầu. Sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định đại đức Dabba Mallaputta là vị phân bố chỗ trú và là vị sắp xếp các bữa ăn. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định đại đức Dabba Mallaputta là vị phân bố chỗ trú và là vị sắp xếp các bữa ăn. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định đại đức Dabba Mallaputta là vị phân bố chỗ trú và là vị sắp xếp các bữa ăn xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Đại đức Dabba Mallaputta đã được hội chúng chỉ định là vị phân bố chỗ trú và là vị sắp xếp các bữa ăn. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Inda-bh 4~22Và khi đã được chỉ định, đại đức Dabba Mallaputta phân bố chỗ trú chung một khu vực cho các tỳ khưu có cùng sở hành. Vị ấy phân bố chỗ trú chung một khu vực cho các tỳ khưu chuyên về Kinh (nghĩ rằng): ‘Các vị sẽ tụng đọc Kinh với nhau.’ Vị ấy phân bố chỗ trú chung một khu vực cho các tỳ khưu rành rẽ về Luật (nghĩ rằng): ‘Các vị sẽ xác định về Luật với nhau.’ Vị ấy phân bố chỗ trú chung một khu vực cho các tỳ khưu chuyên giảng Pháp (nghĩ rằng): ‘Các vị sẽ thảo luận về Pháp với nhau.’ Vị ấy phân bố chỗ trú chung một khu vực cho các tỳ khưu chuyên về thiền (nghĩ rằng): ‘Các vị sẽ không quấy rầy lẫn nhau.’ Vị ấy phân bố chỗ trú chung một khu vực cho các tỳ khưu chuyên nói chuyện thế tục, sinh hoạt có nhiều sự năng động về thân (nghĩ rằng): ‘Các đại đức này cũng sẽ yên ổn với thú vui ấy.’ Còn các tỳ khưu đi đến vào buổi tối, vị ấy thể nhập vào hỏa giới và phân bố chỗ trú cho các vị ấy bằng chính ánh sáng ấy.
Inda-bh 5~23Cho nên, các tỳ khưu cố ý đi đến vào buổi tối (nghĩ rằng): ‘Chúng ta sẽ chứng kiến sự kỳ diệu về thần thông của đại đức Dabba Mallaputta.’ Sau khi đi đến gặp đại đức Dabba Mallaputta, các vị ấy nói như vầy:—“Này đại đức Dabba, hãy phân bố chỗ trú cho chúng tôi.” Đại đức Dabba Mallaputta nói với các vị ấy như vầy:—“Các đại đức thích chỗ nào? Tôi sẽ phân bố chỗ nào?” Các vị ấy cố ý đề cập các chỗ xa xôi:—“Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ở núi Gijjhakūṭa. Này đại đức, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ở khe núi Kẻ Cướp. Này đại đức, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ở sườn núi Isigili, chỗ tảng đá Đen. Này đại đức, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ở sườn núi Vebhāra, hang Sattapaṇṇa. Này đại đức, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ở Sītavana, động Sappasoṇḍika. Này đại đức, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ở hẻm núi Gotama. Này đại đức, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ở hẻm núi Tinduka. Này đại đức, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ở hẻm núi Tapoda. Này đại đức, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ở khu vườn Tapoda. Này đại đức, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ở vườn xoài của Jīvaka. Này đại đức, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ở Maddakucchi, nơi vườn nai.”
Inda-bh 6~24Đối với các vị ấy, đại đức Dabba Mallaputta đã thể nhập vào hỏa giới và đi ở phía trước với ngón tay đang được thắp sáng. Chính nhờ ánh sáng ấy, các vị ấy đi theo sát ở phía sau đại đức Dabba Mallaputta. Đại đức Dabba Mallaputta phân bố chỗ trú cho các vị ấy như vầy:—“Đây là giường, đây là ghế, đây là nệm, đây là gối, đây là chỗ tiêu, đây là chỗ tiểu, đây là nước uống, đây là nước rửa, đây là gậy chống, đây là qui định của hội chúng: ‘Giờ này có thể đi vào. Giờ này có thể đi ra.’” Sau khi đã phân bố chỗ trú cho các vị ấy, đại đức Daba Mallaputta quay trở về lại Veḷuvana.
Inda-bh 7~25Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka chỉ là các vị mới tu và phước báu ít ỏi. Các vị ấy thường nhận được những chỗ trú kém thuộc về hội chúng và những bữa ăn tồi. Vào lúc bấy giờ, dân chúng ở Rājagaha mong muốn cúng dường đến các tỳ khưu trưởng lão thức ăn được chuẩn bị hoàn hảo gồm có bơ lỏng, dầu ăn, phần ăn thượng hạng, và thường dâng đến các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka vật bình thường theo khả năng gồm có cơm tấm và món thứ hai là cháo chua. Các vị ấy khi đi thọ thực về sau bữa ăn thường hỏi các tỳ khưu trưởng lão rằng:—“Này các đại đức, các vị đã có thức gì ở tại nhà ăn? Các vị đã có thức gì?” Một số trưởng lão trả lời như vầy:—“Này các đại đức, chúng tôi có bơ lỏng, có dầu ăn, có phần ăn thượng hạng.” Các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka nói như vầy:—“Này các đại đức, chúng tôi đã không được gì cả, chỉ là vật bình thường theo khả năng gồm có cơm tấm và món thứ hai là cháo chua.”
Inda-bh 8~26Vào lúc bấy giờ, có vị gia chủ là người có bữa ăn ngon thường cúng dường đến hội chúng bữa ăn gồm bốn phần là bữa ăn thường lệ. Vị ấy cùng vợ và các con thường hiện diện và phục vụ ở nhà ăn. Họ dâng các vị này cơm, dâng các vị kia canh, dâng các vị nọ dầu ăn, và dâng các vị khác phần ăn thượng hạng. Vào lúc bấy giờ, bữa ăn vào ngày hôm sau của vị gia chủ có bữa ăn ngon đã được sắp xếp cho các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka. Hôm ấy, vị gia chủ có bữa ăn ngon đã đi đến tu viện bởi công việc cần làm nào đó. Vị ấy đã đi đến đại đức Dabba Mallaputta, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Dabba Mallaputta rồi ngồi xuống một bên. Khi vị gia chủ có bữa ăn ngon đã ngồi xuống một bên, đại đức Dabba Mallaputta đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho vị gia chủ có bữa ăn ngon bằng bài Pháp thoại.
Inda-bh 9~27Sau đó, khi đã được đại đức Dabba Mallaputta chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, vị gia chủ có bữa ăn ngon đã nói với đại đức Dabba Mallaputta điều này:—“Thưa ngài, bữa ăn vào ngày mai ở nhà chúng tôi đã được sắp xếp cho vị nào?”—“Này gia chủ, bữa ăn vào ngày mai ở nhà gia chủ đã được sắp xếp cho các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka.” Khi ấy, vị gia chủ có bữa ăn ngon đã không được hài lòng (nghĩ rằng): “Tại sao các tỳ khưu tồi lại thọ thực ở nhà của chúng ta?” rồi đã đi về nhà và dặn dò người tớ gái rằng:—“Này con, hãy xếp đặt chỗ ngồi cho các vị đến thọ thực vào ngày mai ở nhà kho và hãy phục vụ các vị ấy với cơm tấm và món thứ hai là cháo chua.”—“Thưa ông chủ, xin vâng.” Người tớ gái ấy đã đáp lại vị gia chủ có bữa ăn ngon.”
Inda-bh 10~28Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka (bàn bạc rằng):—“Này các đại đức, hôm qua bữa ăn của vị gia chủ là người có bữa ăn ngon đã được sắp xếp cho chúng ta. Vào ngày mai, vị gia chủ có bữa ăn ngon cùng vợ và các con sẽ hiện diện và phục vụ chúng ta. Họ sẽ dâng các vị này cơm, sẽ dâng các vị kia canh, sẽ dâng các vị nọ dầu ăn, và sẽ dâng các vị khác phần ăn thượng hạng.” Do chính tâm vui mừng ấy, ban đêm các vị đã không ngủ được như ý.
Inda-bh 11~29Sau đó vào buổi sáng, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã mặc y, cầm y bát, đi đến nhà của vị gia chủ có bữa ăn ngon. Cô tớ gái ấy đã nhìn thấy các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã xếp đặt chỗ ngồi ở nhà kho và nói với các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka điều này:—“Thưa các ngài, xin hãy ngồi.” Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka khởi ý điều này: “Chắc hẳn đến giờ này bữa ăn vẫn chưa hoàn tất nên chúng ta mới được cho ngồi ở nhà kho như thế này!” Sau đó, cô tớ gái ấy đã trở lại với cơm tấm và món thứ hai là cháo chua (nói rằng):—“Thưa các ngài, xin hãy thọ thực.”—“Này chị gái, chúng tôi là các vị thọ nhận bữa ăn thường lệ.”—“Tôi biết các ngài đại đức là các vị thọ nhận bữa ăn thường lệ. Tuy nhiên, chính ngày hôm qua tôi đã được vị gia chủ dặn dò rằng: ‘Này con, hãy xếp đặt chỗ ngồi cho các vị đến thọ thực vào ngày mai ở nhà kho và hãy phục vụ các vị ấy với cơm tấm và món thứ hai là cháo chua.’ Thưa các ngài, xin hãy thọ thực.”
Inda-bh 12~30Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka (bàn bạc rằng):—“Này các đại đức, hôm qua vị gia chủ có bữa ăn ngon đã đi đến tu viện gặp Dabba Mallaputta. Chắc chắn rằng chúng ta đã bị Dabba Mallaputta ly gián với vị gia chủ!” Chính vì tâm bực bội ấy, các vị ấy đã không thọ thực được như ý. Sau đó, khi trở về từ chỗ thọ thực sau bữa ăn, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã đi đến tu viện, bỏ bê y bát, rồi ngồi xuống ôm đầu gối bằng y hai lớp ở phía bên ngoài cổng ra vào của tu viện, im lặng, rút vai lại, mặt cúi xuống, trầm ngâm, không nói năng.
Inda-bh 13~31Khi ấy, tỳ khưu ni Mettiyā đã đi đến gặp các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka, sau khi đến đã nói với các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka điều này:—“Tôi xin chào các ngài đại đức.” Khi được nói như thế, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã không đáp lại. Đến lần thứ nhì, … (như trên) … Đến lần thứ ba, tỳ khưu ni Mettiyā đã nói với các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka điều này:—“Tôi xin chào các ngài đại đức.” Đến lần thứ ba, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã không đáp lại.—“Có phải tôi làm phật lòng các ngài đại đức? Tại sao các ngài đại đức không nói chuyện với tôi?”—“Này chị gái, bởi vì cô vẫn dửng dưng như thế trong khi chúng tôi bị Dabba Mallaputta làm tổn hại.”—“Thưa các ngài đại đức, tôi làm được điều gì?”—“Này chị gái, nếu cô chịu làm thì ngay trong ngày hôm nay đức Thế Tôn có thể trục xuất Dabba Mallaputta.”—“Thưa các ngài đại đức, tôi làm được điều gì? Tôi có thể làm điều gì?”
Inda-bh 14~32—“Này chị gái, hãy đến. Cô hãy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến hãy nói với đức Thế Tôn như vầy: ‘Bạch ngài, điều này là không đúng đắn, không thích đáng. Bạch ngài, chính ở quốc độ nào không có sự sợ hãi, không có tai họa, không có sầu khổ thì chính ở quốc độ ấy có sự sợ hãi, có tai họa, và có sầu khổ. Từ nơi nào gió lặng đi thì từ nơi ấy có bão tố. Con nghĩ rằng nước đã bùng cháy lên rồi; con đã bị ô nhục bởi ngài đại đức Dabba Mallaputta.’”—“Thưa các ngài đại đức, xin vâng.” Rồi tỳ khưu ni Mettiyā nghe theo các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, tỳ khưu ni Mettiyā đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, điều này là không đúng đắn, không thích đáng. Bạch ngài, chính ở quốc độ nào không có sự sợ hãi, không có tai họa, không có sầu khổ thì chính ở quốc độ ấy có sự sợ hãi, có tai họa, và có sầu khổ. Từ nơi nào gió lặng đi thì từ nơi ấy có bão tố. Con nghĩ rằng nước đã bùng cháy lên rồi; con đã bị ô nhục bởi ngài đại đức Dabba Mallaputta.”
Inda-bh 15~33Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Dabba Mallaputta rằng:—“Này Dabba, ngươi có nhớ ngươi là kẻ đã làm việc như thế, giống như điều tỳ khưu ni này đã nói không?”—“Bạch ngài, con như thế nào thì đức Thế Tôn biết mà.” Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Dabba Mallaputta điều này:—“Này Dabba, ngươi có nhớ ngươi là kẻ đã làm việc như thế, giống như điều tỳ khưu ni này đã nói không?”—“Bạch ngài, con như thế nào thì đức Thế Tôn biết mà.” … (như trên) … Đến lần thứ ba, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Dabba Mallaputta điều này:—“Này Dabba, ngươi có nhớ ngươi là kẻ đã làm việc như thế, giống như điều tỳ khưu ni này đã nói không?”—“Bạch ngài, con như thế nào thì đức Thế Tôn biết mà.”—“Này Dabba, các vị (dòng dõi) Dabba không phủ nhận như thế. Nếu ngươi có làm, hãy nói: ‘Có làm;’ nếu ngươi không làm, hãy nói: ‘Không làm.’”—“Bạch ngài, từ khi con được sanh ra, con không thấy mình là kẻ đã thực hành việc đôi lứa ngay cả trong lúc ngủ mơ, huống gì là tỉnh thức.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy các ngươi hãy trục xuất tỳ khưu ni Mettiyā và hãy tra hỏi các tỳ khưu này.” Nói xong điều ấy, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào trú xá.
Inda-bh 16~34Sau đó, các tỳ khưu ấy đã trục xuất tỳ khưu ni Mettiyā. Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã nói với các tỳ khưu ấy điều này:—“Này các đại đức, chớ có trục xuất tỳ khưu ni Mettiyā, cô ta không làm sai điều gì. Vì chúng tôi nổi giận, không hài lòng, có ý định loại trừ nên xúi giục cô ta thôi.”—“Này các đại đức, có phải các vị bôi nhọ đại đức Dabba Malla-putta với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ?”—“Này các đại đức, đúng vậy.” Các tỳ khưu nào ít ham muốn, ―nt― các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka lại bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ?”
Inda-bh 17~35Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi bôi nhọ Dabba Mallaputta với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng … (như trên) … Sau khi khiển trách, … (như trên) … ngài đã nói Pháp thoại thích đáng và phù hợp cho các tỳ khưu rồi bảo các tỳ khưu rằng:
Inda-bh 18~36—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy ban cho cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đến Dabba Mallaputta là vị thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, Dabba Mallaputta ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka này bôi nhọ tôi với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Bạch các ngài, là người thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ tôi đây thỉnh cầu hội chúng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ.’ Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. … (như trên) … Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba. ‘Bạch các ngài, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka này bôi nhọ tôi với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Bạch các ngài, là người thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ tôi đây thỉnh cầu hội chúng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ lần thứ ba.’
Inda-bh 19~37Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka này bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Là vị thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ, đại đức Dabba Mallaputta thỉnh cầu hội chúng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đến đại đức Dabba Mallaputta là vị thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka này bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Là vị thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ, đại đức Dabba Mallaputta thỉnh cầu hội chúng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ. Hội chúng ban cho cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đến đại đức Dabba Mallaputta là vị thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ. Đại đức nào đồng ý việc ban cho cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đến đại đức Dabba Mallaputta là vị thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka này bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Là vị thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ, đại đức Dabba Mallaputta thỉnh cầu hội chúng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ. Hội chúng ban cho cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đến đại đức Dabba Mallaputta là vị thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ. Đại đức nào đồng ý việc ban cho cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đến đại đức Dabba Mallaputta là vị thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đã được hội chúng ban cho đại đức Dabba Mallaputta là vị thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Này các tỳ khưu, đây là năm sự ban cho đúng Pháp của cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ: Vị tỳ khưu được trong sạch không có phạm tội, các vị (khác) vu cáo vị ấy, vị ấy thỉnh cầu, hội chúng ban cho cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đến vị ấy đúng Pháp, với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, đây là năm sự ban cho đúng Pháp của cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ.”
Dứt cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ.
3. HÀNH XỬ LUẬT KHI KHÔNG ĐIÊN CUỒNG:
Inda-bh 1~38Vào lúc bấy giờ, tỳ khưu Gagga bị điên và bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện bởi vị ấy khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Các tỳ khưu khiển trách tỳ khưu Gagga với tội đã được thực hiện (bởi vị ấy) khi bị điên, bị thay đổi tâm tính:—“Vị đại đức có nhớ là đã là có phạm tội như thế này không?” Vị ấy nói như vầy:—“Này các đại đức, tôi đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Tôi không nhớ được điều ấy. Điều ấy đã được làm bởi tôi khi bị điên cuồng.” Mặc dầu được vị ấy nói như vậy, các vị vẫn khiển trách rằng:—“Vị đại đức có nhớ là đã là có phạm tội như thế này không?”
Inda-bh 2~39Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu lại khiển trách tỳ khưu Gagga với tội đã được thực hiện khi vị ấy bị điên, bị thay đổi tâm tính: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Vị ấy nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Tôi không nhớ được điều ấy. Điều ấy đã được làm bởi tôi khi bị điên cuồng.’ Mặc dầu được vị ấy nói như vậy, các vị vẫn khiển trách rằng: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu … (như trên) … có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng … (như trên) … Sau khi khiển trách, … (như trên) … ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
Inda-bh 3~40—Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến tỳ khưu Gagga khi không bị điên cuồng. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Gagga ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:—“Bạch các ngài, tôi đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Các tỳ khưu khiển trách tôi với tội đã được thực hiện khi bị điên, bị thay đổi tâm tính: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Tôi nói với các vị ấy như vầy:
‘Này các đại đức, tôi đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Tôi không nhớ được điều ấy. Điều ấy đã được làm bởi tôi khi bị điên cuồng.’ Mặc dầu được tôi nói như vậy, các vị vẫn khiển trách rằng: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Bạch các ngài, giờ không điên cuồng tôi đây thỉnh cầu hội chúng cách hành xử Luật khi không điên cuồng.”
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. … (như trên) …
Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba. “Bạch các ngài, tôi đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Các tỳ khưu khiển trách tôi với tội đã được thực hiện khi bị điên, bị thay đổi tâm tính: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Tôi nói với các vị ấy như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Tôi không nhớ được điều ấy. Điều ấy đã được làm bởi tôi khi bị điên cuồng.’ Mặc dầu được tôi nói như vậy, các vị vẫn khiển trách rằng: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Bạch các ngài, giờ không bị điên cuồng tôi đây thỉnh cầu hội chúng cách hành xử Luật khi không điên cuồng lần thứ ba.”
Inda-bh 4~41Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Gagga này đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện bởi vị ấy khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Các tỳ khưu khiển trách tỳ khưu Gagga với tội đã được thực hiện khi bị điên, bị thay đổi tâm tính: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Vị ấy nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Tôi không nhớ được điều ấy. Điều ấy đã được làm bởi tôi khi bị điên cuồng.’ Mặc dầu được vị ấy nói như vậy, các vị vẫn khiển trách rằng: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Vị ấy giờ không bị điên cuồng nên thỉnh cầu hội chúng cách hành xử Luật khi không điên cuồng. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến tỳ khưu Gagga khi không bị điên cuồng. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Gagga này đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện bởi vị ấy khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Các tỳ khưu khiển trách tỳ khưu Gagga với tội đã được thực hiện khi bị điên, bị thay đổi tâm tính: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Vị ấy nói như vầy:
‘Này các đại đức, tôi đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Tôi không nhớ được điều ấy. Điều ấy đã được làm bởi tôi khi bị điên cuồng.’ Mặc dầu được vị ấy nói như vậy, các vị vẫn khiển trách rằng: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Vị ấy giờ không bị điên cuồng nên thỉnh cầu hội chúng cách hành xử Luật khi không điên cuồng. Hội chúng ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến tỳ khưu Gagga khi không bị điên cuồng. Đại đức nào đồng ý việc ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến tỳ khưu Gagga khi không bị điên cuồng xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Cách hành xử Luật khi không điên cuồng đã được hội chúng ban cho tỳ khưu Gagga khi không bị điên cuồng. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 5~42Này các tỳ khưu, đây là ba sự ban cho sai Pháp của cách hành xử Luật khi không điên cuồng, ba (sự ban cho) là đúng Pháp.
Thế nào là ba sự ban cho sai Pháp của cách hành xử Luật khi không điên cuồng?—Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu vi phạm tội. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Vị ấy dầu có nhớ, vẫn nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi không nhớ là đã phạm tội như thế.’ Hội chúng ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến vị ấy. Việc ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng là sai Pháp.
Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu vi phạm tội. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Vị ấy dầu có nhớ, vẫn nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi nhớ như là từ giấc mơ vậy.’ Hội chúng ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến vị ấy. Việc ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng là sai Pháp.
Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu vi phạm tội. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Vị ấy, là vị không bị điên, (giả vờ) hành động trên cơ sở bị điên (nói rằng): ‘Tôi cũng làm như thế. Các vị cũng làm như thế. Điều ấy cũng được phép đối với tôi. Điều ấy cũng được phép đối với các vị.’ Hội chúng ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến vị ấy. Việc ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng là sai Pháp. Đây là ba sự ban cho sai Pháp của cách hành xử Luật khi không điên cuồng.
Inda-bh 6~43Thế nào là ba sự ban cho đúng Pháp của cách hành xử Luật khi không điên cuồng?—Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu bị điên, bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động được thực hiện bởi vị ấy khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Vị ấy thật không nhớ được nên nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi không nhớ được là đã phạm tội như thế.’ Hội chúng ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến vị ấy. Việc ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng là đúng Pháp.
Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu bị điên, bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động được thực hiện bởi vị ấy khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Vị ấy thật không nhớ được nên nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi nhớ như là từ giấc mơ vậy.’ Hội chúng ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến vị ấy. Việc ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng là đúng Pháp.
Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu bị điên, bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động được thực hiện bởi vị ấy khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Vị ấy là vị bị điên, hành động trên cơ sở bị điên (nói rằng): ‘Tôi cũng làm như thế. Các vị cũng làm như thế. Điều ấy cũng được phép đối với tôi. Điều ấy cũng được phép đối với các vị.’ Hội chúng ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến vị ấy. Việc ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng là đúng Pháp.
Đây là ba sự ban cho đúng Pháp của cách hành xử Luật khi không điên cuồng.”
4. VIỆC PHÁN XỬ THEO TỘI ĐÃ ĐƯỢC THỪA NHẬN:
Inda-bh 7~44Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư thực hiện các hành sự khiển trách, chỉ dạy, xua đuổi, hòa giải, và án treo đối với các tỳ khưu không có sự thừa nhận. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại thực hiện các hành sự khiển trách, chỉ dạy, xua đuổi, hòa giải, và án treo đối các tỳ khưu không có sự thừa nhận?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói … (như trên) … có đúng không vậy?”
—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc hòa giải, hoặc án treo không nên thực hiện đối với các tỳ khưu không có sự thừa nhận; vị nào thực hiện thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 8~45Này các tỳ khưu, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận như vầy là sai Pháp, như vầy là đúng Pháp. Và này các tỳ khưu, thế nào là việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là sai Pháp?—Vị tỳ khưu phạm tội pārājika. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: ‘Có phải vị đại đức đã phạm tội pārājika?’ Vị ấy nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã không phạm tội pārājika, tôi đã phạm tội saṅghādisesa.’ Hội chúng hành sự cho vị ấy với tội saṅghādisesa. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là sai Pháp.
Vị tỳ khưu phạm tội pārājika. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: ‘Có phải vị đại đức đã phạm tội pārājika?’ Vị ấy nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã không phạm tội pārājika, tôi đã phạm tội thullaccaya. … (như trên) … tội pācittiya. … (như trên) … tội pāṭidesanīya. … (như trên) … tội dukkaṭa. … (như trên) … tội dubbhāsita.’ Hội chúng hành sự cho vị ấy với tội dubbhāsita. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là sai Pháp.
Vị tỳ khưu phạm tội saṅghādisesa. … (như trên) … tội thullaccaya. … (như trên) … tội pācittiya. … (như trên) … tội pāṭidesanīya. … (như trên) … tội dukkaṭa. … (như trên) … tội dubbhāsita. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: ‘Có phải vị đại đức đã phạm tội dubbhāsita?’ Vị ấy nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã không phạm tội dubbhāsita, tôi đã phạm tội pārājika.’ Hội chúng hành sự cho vị ấy với tội pārājika. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là sai Pháp.
Vị tỳ khưu phạm tội dubbhāsita. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: ‘Có phải vị đại đức đã phạm tội dubbhāsita?’ Vị ấy nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã không phạm tội dubbhāsita, tôi đã phạm tội saṅghādisesa.… (như trên) … tôi đã phạm tội thullaccaya. … (như trên) … tội pācittiya. … (như trên) … tội pāṭidesanīya. … (như trên) … tội dukkaṭa.’ Hội chúng hành sự cho vị ấy với tội dukkaṭa. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là sai Pháp. Này các tỳ khưu, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận như thế gọi là sai Pháp.
Inda-bh 9~46Này các tỳ khưu, thế nào là việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là đúng Pháp?—Vị tỳ khưu phạm tội pārājika. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: ‘Có phải vị đại đức đã phạm tội pārājika?’ Vị ấy nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã phạm tội pārājika.’ Hội chúng hành sự cho vị ấy với tội pārājika. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là đúng Pháp.
Vị tỳ khưu phạm tội saṅghādisesa. … (như trên) … tội thullaccaya. … (như trên) … tội pācittiya. … (như trên) … tội pāṭidesanīya. … (như trên) … tội dukkaṭa. … (như trên) … tội dubbhāsita. Hội chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một vị khiển trách vị ấy về điều ấy: ‘Có phải vị đại đức đã phạm tội dubbhāsita?’ Vị ấy nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã phạm tội dubbhāsita.’ Hội chúng hành sự cho vị ấy với tội dubbhāsita. Việc phán xử theo tội đã được thừa nhận là đúng Pháp.
Này các tỳ khưu, việc phán xử theo tội đã được thừa nhận như thế gọi là đúng Pháp.”
5. THUẬN THEO SỐ ĐÔNG:
Inda-bh 10~47Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sống có nảy sinh các sự xung đột giữa hội chúng, có nảy sinh các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, và làm tổn thương lẫn nhau bằng các vũ khí của mồm miệng. Họ không thể giải quyết sự tranh tụng ấy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép giải quyết sự tranh tụng có hình thức như thế thuận theo số đông.
Inda-bh 11~48Vị tỳ khưu có năm yếu tố nên được chỉ định làm vị phân phát thẻ: Là vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, và là vị biết (thẻ) đã được nhận hay đã không được nhận. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân phát thẻ. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân phát thẻ. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân phát thẻ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị phân phát thẻ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Inda-bh 12~49Này các tỳ khưu, đây là mười sự phân phát thẻ sai Pháp, mười (sự phân phát thẻ) đúng Pháp.
Thế nào là mười sự phân phát thẻ sai Pháp?—Khi sự tranh tụng là việc nhỏ nhặt, chưa đến mức phải xử lý, không được nhớ lại hoặc (không được) làm cho nhớ lại, (vị phân phát thẻ) biết rằng: ‘Các vị nói sai Pháp là nhiều hơn,’ (nghĩ rằng): ‘Có lẽ các vị nói sai Pháp là nhiều hơn,’ biết rằng: ‘Hội chúng sẽ bị chia rẽ,’ (nghĩ rằng): ‘Có lẽ hội chúng sẽ bị chia rẽ,’ các vị nhận lãnh thẻ không được hợp lệ, các vị có sự chia phe nhóm khi nhận lãnh thẻ, các vị nhận lãnh không theo quan điểm (của bản thân). Đây là mười sự phân phát thẻ sai Pháp.
Thế nào là mười sự phân phát thẻ đúng Pháp?—Khi sự tranh tụng không phải là việc nhỏ nhặt, đã đến mức phải xử lý, được nhớ lại hoặc (được) làm cho nhớ lại, (vị phân phát thẻ) biết rằng: ‘Các vị nói đúngPháp là nhiều hơn,’ (nghĩ rằng): ‘Có lẽ các vị nói đúng Pháp là nhiều hơn,’ biết rằng: ‘Hội chúng sẽ không bị chia rẽ,’ (nghĩ rằng): ‘Có lẽ hội chúng sẽ không bị chia rẽ,’ các vị nhận lãnh thẻ một cách hợp lệ, các vị có sự hợp nhất khi nhận lãnh thẻ, các vị nhận lãnh theo quan điểm (của bản thân). Đây là mười sự phân phát thẻ đúng Pháp.”
6. THEO TỘI CỦA VỊ ẤY:
Inda-bh 13~50Vào lúc bấy giờ, tỳ khưu Uvāḷa trong khi được thẩm vấn về tội giữa hội chúng đã phủ nhận rồi lại thừa nhận, đã thừa nhận rồi lại phủ nhận, tránh né tội ấy bằng một tội khác, cố tình nói lời dối trá.
Các tỳ khưu nào ít ham muốn … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao tỳ khưu Uvāḷa trong khi được thẩm vấn về tội giữa hội chúng đã phủ nhận rồi lại thừa nhận, đã thừa nhận rồi lại phủ nhận, tránh né tội ấy bằng một tội khác, cố tình nói lời dối trá?”
Inda-bh 14~51Sau đó, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói … (như trên) … có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy thực hiện hành sự theo tội của vị ấy đến tỳ khưu Uvāḷa. Và này các tỳ khưu, nên thực hiện như vầy: Trước hết, tỳ khưu Uvāḷa cần được quở trách; sau khi quở trách cần được nhắc nhở; sau khi nhắc nhở rồi cần được xác định tội; sau khi được xác định tội, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Uvāḷa này trong khi được thẩm vấn về tội giữa hội chúng đã phủ nhận rồi lại thừa nhận, đã thừa nhận rồi lại phủ nhận, tránh né tội ấy bằng một tội khác, cố tình nói lời dối trá. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thực hiện hành sự theo tội của vị ấy đến tỳ khưu Uvāḷa. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Uvāḷa này trong khi được thẩm vấn về tội giữa hội chúng đã phủ nhận rồi lại thừa nhận, đã thừa nhận rồi lại phủ nhận, tránh né tội ấy bằng một tội khác, cố tình nói lời dối trá. Hội chúng thực hiện hành sự theo tội của vị ấy đến tỳ khưu Uvāḷa. Đại đức nào đồng ý việc thực hiện hành sự theo tội của vị ấy đến tỳ khưu Uvāḷa xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Hành sự theo tội của vị ấy đã được hội chúng thực hiện đến tỳ khưu Uvāḷa. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Này các tỳ khưu, đây là năm sự thực hiện đúng Pháp của hành sự theo tội của vị ấy: Là vị không trong sạch, không có hổ thẹn, có sự khiển trách, hội chúng thực hiện hành sự theo tội của vị ấy cho vị ấy đúng theo Pháp, với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, đây là năm sự thực hiện đúng Pháp của hành sự theo tội của vị ấy.
Inda-bh 15~52Này các tỳ khưu, hành sự theo tội của vị ấy là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố: Được thực hiện thiếu sự hiện diện, được thực hiện thiếu sự tra hỏi, được thực hiện với sự không thừa nhận. … (như trên) … Được thực hiện khi chưa xác định tội, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. Này các tỳ khưu, hành sự theo tội của vị ấy có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi. [Nên được giải thích chi tiết như hành sự khiển trách].
MƯỜI HAI HÀNH SỰ ĐÚNG PHÁP:
Inda-bh 16~53Này các tỳ khưu, hành sự theo tội của vị ấy là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố: Được thực hiện với sự hiện diện, được thực hiện từ sự tra hỏi, được thực hiện với sự thừa nhận. … (như trên) … Được thực hiện sau khi xác định tội, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, hành sự theo tội của vị ấy có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp. [Nên được giải thích chi tiết như phần sáng ở hành sự khiển trách].
SÁU TRƯỜNG HỢP ‘TRONG KHI MONG MUỐN’:
Inda-bh 17~54Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự theo tội của vị ấy đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố: Vị thường gây nên sự xung đột, thường gây nên sự xung đột, thường gây nên sự cãi cọ, thường gây nên sự tranh luận, thường gây nên sự nói chuyện nhảm nhí, thường gây nên sự tranh tụng trong hội chúng; hạng ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội); hạng sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia.
Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự theo tội của vị ấy đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố này. (1)
Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự theo tội của vị ấy đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố khác nữa: Vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, vị bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, vị bị hư hỏng về tri kiến thuộc tà kiến cực đoan. Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba đặc tính này. (2)
Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba đặc tính khác nữa: Vị chê bai đức Phật, vị chê bai Giáo Pháp, vị chê bai Hội Chúng. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự theo tội của vị ấy đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố này. (3)
Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự theo tội của vị ấy đối với ba hạng tỳ khưu: Hạng thường gây nên sự xung đột, … (như trên) … thường gây nên sự tranh tụng trong hội chúng; hạng ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội); hạng sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự theo tội của vị ấy đối với ba hạng tỳ khưu này. (4)
Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự theo tội của vị ấy đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, hạng bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, hạng bị hư hỏng về tri kiến thuộc tà kiến cực đoan. Này các tỳ khưu, … (như trên) … đối với ba hạng tỳ khưu này. (5)
Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba hạng tỳ khưu khác nữa: hạng chê bai đức Phật, hạng chê bai Giáo Pháp, hạng chê bai Hội Chúng. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự theo tội của vị ấy đối với ba hạng tỳ khưu này. (6)
Dứt sáu trường hợp ‘trong khi mong muốn’.
MƯỜI TÁM PHẬN SỰ:
Inda-bh 18~55Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu được thực hiện hành sự theo tội của vị ấy nên làm phận sự đúng đắn. Trong trường hợp này, các phận sự đúng đắn ấy là: Không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên ban cho phép nương nhờ, không nên bảo sa di phục vụ, không nên ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, không nên giảng dạy tỳ khưu ni dầu đã được chỉ định, … (như trên) … (không nên) cấu kếtvới các tỳ khưu.”
Sau đó, hội chúng đã thực hiện hành sự theo tội của vị ấy đối với tỳ khưu Uvāḷa.
7. CÁCH DÙNG CỎ CHE LẤP:
Inda-bh 19~56Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện. Khi ấy, điều này đã khởi đến các vị tỳ khưu ấy: “Chúng ta trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện. Nếu chúng ta xử lý lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến lủng củng, đưa đến sôi động, đưa đến chia rẽ (hội chúng) nữa; vậy chúng ta nên thực hành như thế nào?”
Inda-bh 20~57Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện. Này các tỳ khưu, trong trường hợp ấy nếu các tỳ khưu (nghĩ) như vầy: ‘Chúng ta trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, có nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hiện. Nếu chúng ta xử lý lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến lủng củng, đưa đến sôi động, đưa đến chia rẽ (hội chúng) nữa?’” “Này các tỳ khưu, ta cho phép giải quyết sự tranh tụng có hình thức như thế bằng cách dùng cỏ che lấp.
Và này các tỳ khưu, nên giải quyết như vầy: Toàn bộ tất cả nên tụ họp lại một chỗ; sau khi tụ họp lại, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hành. Nếu chúng ta xử lý lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến lủng củng, đưa đến sôi động, đưa đến chia rẽ (hội chúng) nữa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên giải quyết sự tranh tụng này bằng cách dùng cỏ che lấp, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ.’
Inda-bh 21~58Một vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực trong số các tỳ khưu cùng thuộc về một phe nên thông báo đến phe của mình rằng: ‘Bạch chư đại đức, xin hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hành. Nếu chúng ta xử lý lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến lủng củng, đưa đến sôi động, đưa đến chia rẽ (hội chúng) nữa. Nếu là thời điểm thích hợp cho chư đại đức, tôi sẽ trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng tội của chính chư đại đức và tội của tôi vì sự lợi ích của chính chư đại đức và vì sự lợi ích của tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ.’
Rồi một vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực trong số các tỳ khưu cùng thuộc về phe kia nên thông báo đến phe của mình rằng:
‘Bạch chư đại đức, xin hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là Sa-môn … (như trên) … đưa đến chia rẽ (hội chúng) nữa. Nếu là thời điểm thích hợp cho chư đại đức, tôi sẽ trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng tội của chính chư đại đức và tội của tôi vì sự lợi ích của chính chư đại đức và vì sự lợi ích của tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ.’
Inda-bh 22~59Sau đó, hội chúng nên được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực trong số các tỳ khưu cùng thuộc về một phe rằng:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là Sa-môn … (như trên) … đưa đến chia rẽ (hội chúng) nữa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi xin trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng tội của chính các đại đức này và tội của tôi vì sự lợi ích của chính các đại đức này và vì sự lợi ích của tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là Sa-môn … (như trên) … đưa đến chia rẽ (hội chúng) nữa. Vì sự lợi ích của chính các đại đức này và vì sự lợi ích của tôi, tôi xin trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng tội của chính các đại đức này và tội của tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ. Đại đức nào đồng ý việc trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng đối với các tội này của chúng tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ, xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Các tội này của chúng tôi đã được trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Inda-bh 23~60Rồi hội chúng nên được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực trong số các tỳ khưu cùng thuộc về phe kia rằng:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là Sa-môn … (như trên) … đưa đến chia rẽ (hội chúng) nữa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi xin trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng … (như trên) … ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là Sa-môn … (như trên) … đưa đến chia rẽ (hội chúng) nữa. Vì sự lợi ích của chính các đại đức này và vì sự lợi ích của tôi, tôi xin trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng … (như trên) … ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ. Đại đức nào đồng ý việc trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng đối với các tội này của chúng tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ, xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Các tội này của chúng tôi đã được trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Và này các tỳ khưu, như thế các tỳ khưu ấy đã được thoát khỏi các tội ấy ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ, ngoại trừ (các vị) có quan điểm khác về hành sự này, ngoại trừ các vị không hiện diện ở đó.”
8. BỐN SỰ TRANH TỤNG:
Inda-bh 24~61Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu tranh cãi với các tỳ khưu ni, các tỳ khưu ni cũng tranh cãi với các tỳ khưu. Tỳ khưu Channa sau khi theo phe các tỳ khưu ni cũng tranh cãi với các tỳ khưu và được xem là thuộc phe các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao tỳ khưu Channa sau khi theo phe các tỳ khưu ni lại tranh cãi với các tỳ khưu và được xem là thuộc phe các tỳ khưu ni?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói … (như trên) … có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) …
Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
Inda-bh 25~62—“Này các tỳ khưu, đây là bốn sự tranh tụng: Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, và sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.
Ở đây, thế nào là sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi?—Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu tranh cãi rằng: ‘Đây là Pháp,’ hoặc ‘Đây không phải là Pháp,’ hoặc ‘Đây là Luật,’ hoặc ‘Đây không phải là Luật,’ hoặc ‘Điều ấy đã được đấng Thiện Thệ thuyết giảng và nói đến,’ hoặc ‘Điều ấy đã không được đấng Thiện Thệ thuyết giảng và nói đến,’ hoặc ‘Điều ấy đã được đấng Thiện Thệ thực hành,’ hoặc ‘Điều ấy đã không được đấng Thiện Thệ thực hành,’ hoặc ‘Điều ấy đã được đấng Thiện Thệ quy định,’ hoặc ‘Điều ấy đã không được đấng Thiện Thệ quy định,’ hoặc ‘Điều ấy là phạm tội,’ hoặc ‘Điều ấy là không phạm tội,’ hoặc ‘Điều ấy là tội nhẹ,’ hoặc ‘Điều ấy là tội nặng,’ hoặc ‘Tội còn dư sót,’ hoặc ‘Tội không còn dư sót,’ hoặc ‘Tội xấu xa,’ hoặc ‘Tội không xấu xa.’ Ở đây, việc nào là sự xung đột, sự gây gỗ, sự tranh luận, sự tranh cãi, nhiều quan điểm, khác quan điểm, sự nói lời thô lỗ, sự cãi vã; việc ấy được gọi là sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi.
Ở đây, thế nào là sự tranh tụng liên quan đến khiển trách?—Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu khiển trách vị tỳ khưu với sự hư hỏng về giới, hoặc với sự hư hỏng về hạnh kiểm, hoặc với sự hư hỏng về tri kiến, hoặc với sự hư hỏng về nuôi mạng. Trong trường hợp ấy, việc nào là sự khiển trách, sự xoi mói, sự buộc tội, sự chỉ trích, sự moi móc, sự xúi giục, sự khích động; việc ấy được gọi là sự tranh tụng liên quan đến khiển trách.
Ở đây, thế nào là sự tranh tụng liên quan đến tội?—Năm nhóm tội là sự tranh tụng liên quan đến tội, bảy nhóm tội là sự tranh tụng liên quan đến tội; việc ấy được gọi là sự tranh tụng liên quan đến tội.
Ở đây, thế nào là sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ?—Việc gì thuộc về hội chúng cần phải hoàn thành cần phải thực hiện (tức là) hành sự với lời công bố, hành sự với lời đề nghị, hành sự có lời đề nghị đến lần thứ hai, hành sự có lời đề nghị đến lần thứ tư. Việc ấy được gọi là sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.
Inda-bh 26~63Nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi là gì?—Có sáu nguyên nhân tranh cãi là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi. Cũng có ba nguyên nhân không tốt đẹp là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi và cũng có ba nguyên nhân tốt đẹp là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi.
Sáu nguyên nhân tranh cãi nào là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi?—Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu trở nên giận dữ có sự hằn học. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào trở nên giận dữ, có sự hằn học, vị ấy sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, sống không tôn kính không phục tùng Giáo Pháp, sống không tôn kính không phục tùng hội chúng, có sự thực hành không trọn vẹn việc học tập. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, … (như trên) … Giáo Pháp, … (như trên) … Hội Chúng, … (như trên) … có sự thực hành không trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây nên sự tranh cãi trong hội chúng. Đó là sự tranh cãi đem lại sự không lợi ích cho nhiều người, đem lại sự không an lạc cho nhiều người, đem lại sự không tấn hóa cho nhiều người, đem lại sự không lợi ích và khổ đau cho chư Thiên và nhân loại. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi nhận thức được nguyên nhân tranh cãi có hình thức như thế một cách chủ quan và khách quan, này các tỳ khưu, trong trường hợp ấy các ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi không nhận thức được nguyên nhân tranh cãi có hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, này các tỳ khưu, trong trường hợp ấy các ngươi nên thực hành để không đem lại sự hỗ trợ trong tương lai cho chính nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy. Như thế nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy có được sự chấm dứt. Như thế nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy không có được sự hỗ trợ trong tương lai.
Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa: Có vị tỳ khưu trở nên đạo đức giả dối trá, … (như trên) … trở nên đố kỵ bỏn xẻn, … (như trên) … trở nên mưu mẹo xảo trá, … (như trên) … trở nên ác dục tà kiến, … (như trên) … trở nên chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào trở nên chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi, vị ấy sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, sống không tôn kính không phục tùng Giáo Pháp, sống không tôn kính không phục tùng Hội Chúng, có sự thực hành không trọn vẹn việc học tập. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, … (như trên) … Giáo Pháp, … (như trên) … Hội Chúng, … (như trên) … có sự thực hành không trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây nên sự tranh cãi trong hội chúng. Đó là sự tranh cãi đem lại sự không lợi ích cho nhiều người, đem lại sự không an lạc cho nhiều người, đem lại sự không tấn hóa cho nhiều người, đem lại sự không lợi ích và khổ đau cho chư Thiên và nhân loại. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi nhận thức được nguyên nhân tranh cãi có hình thức như thế một cách chủ quan và khách quan, này các tỳ khưu, trong trường hợp ấy các ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi không nhận thức được nguyên nhân tranh cãi có hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, này các tỳ khưu, trong trường hợp ấy các ngươi nên thực hành để không đem lại sự hỗ trợ trong tương lai cho chính nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy. Như thế nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy có được sự chấm dứt. Như thế nguyên nhân tranh cãi xấu xa ấy không có được sự hỗ trợ trong tương lai. Sáu nguyên nhân tranh cãi này là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi.
Inda-bh 27~64Ba nguyên nhân không tốt đẹp nào là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi?
—Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu tranh cãi do tâm tham lam, tranh cãi do tâm xấu xa, tranh cãi do tâm mê muội rằng: ‘Đây là Pháp,’ hoặc ‘Đây không phải là Pháp,’ hoặc ‘Đây là Luật,’ hoặc ‘Đây không phải là Luật,’ hoặc ‘Điều ấy đã được đấng Thiện Thệ thuyết giảng và nói đến,’ hoặc ‘Điều ấy đã không được đấng Thiện Thệ thuyết giảng và nói đến,’ hoặc ‘Điều ấy đã được đấng Thiện Thệ thực hành,’ hoặc ‘Điều ấy đã không được đấng Thiện Thệ thực hành,’ hoặc ‘Điều ấy đã được đấng Thiện Thệ quy định,’ hoặc ‘Điều ấy đã không được đấng Thiện Thệ quy định,’ hoặc ‘Điều ấy là phạm tội,’ hoặc ‘Điều ấy là không phạm tội,’ hoặc ‘Điều ấy là tội nhẹ,’ hoặc ‘Điều ấy là tội nặng,’ hoặc ‘Tội còn dư sót,’ hoặc ‘Tội không còn dư sót,’ hoặc ‘Tội xấu xa,’ hoặc ‘Tội không xấu xa.’ Ba nguyên nhân không tốt đẹp này là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi.
Ba nguyên nhân tốt đẹp nào là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi?—Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu tranh cãi do tâm không tham lam, tranh cãi do tâm không xấu xa, tranh cãi do tâm không mê muội rằng: ‘Đây là Pháp,’ hoặc ‘Đây không phải là Pháp,’ … (như trên) … hoặc ‘Tội xấu xa,’ hoặc ‘Tội không xấu xa.’ Ba nguyên nhân tốt đẹp này là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi.
Inda-bh 28~65Nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách là gì?—Có sáu nguyên nhân khiển trách là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách. Cũng có ba nguyên nhân không tốt đẹp là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, và cũng có ba nguyên nhân tốt đẹp là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách. Cơ thể (thân) cũng là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, và lời nói (khẩu) cũng là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách.
Sáu nguyên nhân khiển trách nào là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách?—Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu trở nên giận dữ có sự hằn học. Vị tỳ khưu nào trở nên giận dữ, có sự hằn học, vị ấy sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, sống không tôn kính không phục tùng Giáo Pháp, sống không tôn kính không phục tùng Hội Chúng, có sự thực hành không trọn vẹn việc học tập. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, … (như trên) … Giáo Pháp, … (như trên) … Hội Chúng, … (như trên) … có sự thực hành không trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây nên sự khiển trách trong hội chúng là sự khiển trách đem lại sự không lợi ích cho nhiều người, đem lại sự không an lạc cho nhiều người, đem lại sự không tấn hóa cho nhiều người, đem lại sự không lợi ích và khổ đau cho chư Thiên và nhân loại. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi nhận thức được nguyên nhân khiển trách có hình thức như thế một cách chủ quan và khách quan, này các tỳ khưu, trong trường hợp ấy các ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi không nhận thức được nguyên nhân khiển trách có hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, này các tỳ khưu, trong trường hợp ấy các ngươi nên thực hành để không đem lại sự hỗ trợ trong tương lai cho chính nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy. Như thế nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy có được sự chấm dứt. Như thế nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy không có được sự hỗ trợ trong tương lai.
Inda-bh 29~66Này các tỳ khưu, còn có điều khác nữa: Có vị tỳ khưu trở nên đạo đức giả dối trá, … (như trên) … trở nên đố kỵ bỏn xẻn, … (như trên) … trở nên mưu mẹo xảo trá, … (như trên) … trở nên ác dục tà kiến, … (như trên) … trở nên chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào trở nên chấp thủ một cách lộ liễu, ương ngạnh, khó sửa đổi, vị ấy sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, sống không tôn kính không phục tùng Giáo Pháp, sống không tôn kính không phục tùng Hội Chúng, có sự thực hành không trọn vẹn việc học tập. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào sống không tôn kính không phục tùng bậc Đạo Sư, … (như trên) … Giáo Pháp, … (như trên) … Hội Chúng, … (như trên) … có sự thực hành không trọn vẹn việc học tập, vị ấy gây nên sự khiển trách trong hội chúng là sự khiển trách đem lại sự không lợi ích cho nhiều người, đem lại sự không an lạc cho nhiều người, đem lại sự không tấn hóa cho nhiều người, đem lại sự không lợi ích và khổ đau cho chư Thiên và nhân loại. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi nhận thức được nguyên nhân khiển trách có hình thức như thế một cách chủ quan và khách quan, này các tỳ khưu, trong trường hợp ấy các ngươi nên nỗ lực cho sự chấm dứt của chính nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi không nhận thức được nguyên nhân khiển trách có hình thức như thế một cách chủ quan hoặc khách quan, này các tỳ khưu, trong trường hợp ấy các ngươi nên thực hành để không đem lại sự hỗ trợ trong tương lai cho chính nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy. Như thế nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy có được sự chấm dứt. Như thế nguyên nhân khiển trách xấu xa ấy không có được sự hỗ trợ trong tương lai. Sáu nguyên nhân khiển trách này là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách.
Inda-bh 30~67Ba nguyên nhân không tốt đẹp nào là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách?—Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu khiển trách vị tỳ khưu do tâm tham lam, khiển trách do tâm xấu xa, khiển trách do tâm mê muội với sự hư hỏng về giới, hoặc với sự hư hỏng về hạnh kiểm, hoặc với sự hư hỏng về tri kiến, hoặc với sự hư hỏng về nuôi mạng. Ba nguyên nhân không tốt đẹp này là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách.
Ba nguyên nhân tốt đẹp nào là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách?—Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu khiển trách vị tỳ khưu do tâm không tham lam, khiển trách do tâm không xấu xa, khiển trách do tâm không mê muội với sự hư hỏng về giới, với sự hư hỏng về hạnh kiểm, với sự hư hỏng về tri kiến, hoặc với sự hư hỏng về nuôi mạng. Ba nguyên nhân tốt đẹp này là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách.
Inda-bh 31~68Cơ thể (thân) như thế nào là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách?—Ở đây có vị có màu da tối, có vóc dáng xấu xí, lùn tịt, nhiều bệnh: hoặc là chột mắt, hoặc là chân bị tật, hoặc bị què, hoặc bị liệt nửa thân, các vị khiển trách vị ấy về điều ấy. Cơ thể (thân) như thế ấy là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách.
Lời nói (khẩu) như thế nào là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách?—Ở đây có vị có giọng nói khó (nghe), có tật cà lăm, có giọng nói khàn khàn, các vị khiển trách vị ấy về điều ấy. Lời nói (khẩu) như thế ấy là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến khiển trách.
Inda-bh 32~69Nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tội là gì?—Sáu nguồn sanh tội là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tội. Có sự phạm tội sanh lên do thân, không do khẩu không do ý. Có sự phạm tội sanh lên do khẩu, không do thân không do ý. Có sự phạm tội sanh lên do thân và do khẩu, không do ý. Có sự phạm tội sanh lên do thân và do ý, không do khẩu. Có sự phạm tội sanh lên do khẩu và do ý, không do thân. Có sự phạm tội sanh lên do thân, do khẩu, và do ý. Sáu nguồn sanh tội này là nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến tội.
Inda-bh 33~70Nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ là gì?—Có một nguyên nhân của sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ là: Hội chúng.
Inda-bh 34~71Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi là tốt, là xấu, (hay) là không tốt không xấu?—Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi có thể là tốt, có thể là xấu, có thể là không tốt không xấu.
Ở đây, sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi nào là tốt?—Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu tranh cãi do tâm thiện: ‘Đây là Pháp,’ hoặc ‘Đây không phải là Pháp,’ … (như trên) … hoặc ‘Tội xấu xa,’ hoặc ‘Tội không xấu xa.’ Trong trường hợp ấy, việc nào là sự xung đột, gây gỗ, tranh luận, tranh cãi, nhiều quan điểm, khác quan điểm, sự nói lời thô lỗ, sự cãi vã; việc ấy tức là sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi được gọi là tốt.
Ở đây, sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi nào là xấu?—Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu tranh cãi do tâm bất thiện: ‘Đây là Pháp,’ hoặc ‘Đây không phải là Pháp,’ … (như trên) … ‘Tội xấu xa,’ hoặc ‘Tội không xấu xa.’ Trong trường hợp ấy, việc nào là sự xung đột, gây gỗ, tranh luận, tranh cãi, nhiều quan điểm, khác quan điểm, sự nói lời thô lỗ, sự cãi vã; việc ấy tức là sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi được gọi là xấu.
Ở đây, sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi nào là không tốt không xấu?—Này các tỳ khưu, trường hợp các vị tỳ khưu tranh cãi với tâm vô ký: ‘Đây là Pháp,’ hoặc ‘Đây không phải là Pháp,’ … (như trên) … hoặc ‘Tội xấu xa,’ hoặc ‘Tội không xấu xa.’ Trong trường hợp ấy, việc nào là sự xung đột, gây gỗ, … (như trên) … sự nói lời thô lỗ, sự cãi vã; việc ấy tức là sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi được gọi là không tốt không xấu.
Sự tranh tụng liên quan đến khiển trách là tốt, là xấu, (hay) là không tốt không xấu?—Sự tranh tụng liên quan đến khiển trách có thể là tốt, có thể là xấu, có thể là không tốt không xấu.
Ở đây, sự tranh tụng liên quan đến khiển trách nào là tốt?—Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu do tâm thiện khiển trách vị tỳ khưu với sự hư hỏng về giới, với sự hư hỏng về hạnh kiểm, với sự hư hỏng về tri kiến, hoặc với sự hư hỏng về nuôi mạng. Trong trường hợp ấy, việc nào là sự khiển trách, sự xoi mói, sự buộc tội, sự chỉ trích, sự moi móc, sự xúi giục, sự khích động; việc ấy tức là sự tranh tụng liên quan đến khiển trách được gọi là tốt.
Ở đây, sự tranh tụng liên quan đến khiển trách nào là xấu?—Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu do tâm bất thiện khiển trách vị tỳ khưu với sự hư hỏng về giới, hoặc với sự hư hỏng về hạnh kiểm, hoặc với sự hư hỏng về tri kiến, hoặc với sự hư hỏng về nuôi mạng. Trong trường hợp ấy, việc nào là sự khiển trách, sự xoi mói, sự buộc tội, sự chỉ trích, sự moi móc, sự xúi giục, sự khích động; việc ấy tức là sự tranh tụng liên quan đến khiển trách được gọi là xấu.
Ở đây, sự tranh tụng liên quan đến khiển trách nào là không tốt không xấu?—Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu do tâm vô ký khiển trách vị tỳ khưu với sự hư hỏng về giới, với sự hư hỏng về hạnh kiểm, với sự hư hỏng về tri kiến, hoặc với sự hư hỏng về nuôi mạng. Trong trường hợp ấy, việc nào là sự khiển trách, sự xoi mói, sự buộc tội, sự chỉ trích, sự moi móc, sự xúi giục, sự khích động; việc ấy tức là sự tranh tụng liên quan đến khiển trách được gọi là không tốt không xấu.
Inda-bh 36~72Sự tranh tụng liên quan đến tội là xấu (hay) là không tốt không xấu?—Sự tranh tụng liên quan đến tội có thể là xấu, có thể là không tốt không xấu, không có sự tranh tụng liên quan đến tội là tốt.
Ở đây, sự tranh tụng liên quan đến tội nào là xấu?—Việc (vị tỳ khưu) có sự vi phạm trong khi nhận biết, trong khi nhận thức rõ, đã cố ý, rồi vượt qua; việc ấy tức là sự tranh tụng liên quan đến tội được gọi là xấu.
Ở đây, sự tranh tụng liên quan đến tội nào là không tốt không xấu?—Này các tỳ khưu, việc (vị tỳ khưu) có sự vi phạm trong khi không nhận biết, trong khi không nhận thức rõ, đã không cố ý, rồi không vượt qua; việc ấy tức là sự tranh tụng liên quan đến tội được gọi là không tốt không xấu.
Inda-bh 37~73Sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ là tốt, là xấu, (hay) là không tốt không xấu?—Sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ có thể là tốt, có thể là xấu, có thể là không tốt không xấu.
Ở đây, sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ nào là tốt?—Việc hội chúng thực hiện hành sự với lời công bố, hành sự với lời đề nghị, hành sự có lời đề nghị đến lần thứ hai, hành sự có lời đề nghị đến lần thứ tư với tâm thiện; việc ấy tức là sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được gọi là tốt.
Ở đây, sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ nào là xấu?—Việc hội chúng thực hiện hành sự với lời công bố, hành sự với lời đề nghị, hành sự có lời đề nghị đến lần thứ hai, hành sự có lời đề nghị đến lần thứ tư với tâm bất thiện; việc ấy tức là sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được gọi là xấu.
Ở đây, sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ nào là không tốt không xấu?—Việc hội chúng thực hiện hành sự với lời công bố, hành sự với lời đề nghị, hành sự có lời đề nghị đến lần thứ hai, hành sự có lời đề nghị đến lần thứ tư với tâm vô ký; việc ấy tức là sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được gọi là không tốt không xấu.
Inda-bh 38~74(Một việc có thể) là sự tranh cãi (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, là sự tranh cãi không là sự tranh tụng, là sự tranh tụng không là sự tranh cãi, vừa là sự tranh tụng vừa là sự tranh cãi (hay không)?—(Một việc) có thể là sự tranh cãi (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, có thể là sự tranh cãi không là sự tranh tụng, có thể là sự tranh tụng không là sự tranh cãi, có thể vừa là sự tranh tụng vừa là sự tranh cãi.
Ở đây, việc nào là sự tranh cãi (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi?—Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu tranh cãi rằng: ‘Đây là Pháp,’ hoặc ‘Đây không phải là Pháp,’ … (như trên) … hoặc ‘Tội xấu xa,’ hoặc ‘Tội không xấu xa.’ Trong trường hợp ấy, việc nào là sự xung đột, gây gỗ, tranh luận, tranh cãi, nhiều quan điểm, khác quan điểm, sự nói lời thô lỗ, sự cãi vã; việc ấy là sự tranh cãi (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi.
Ở đây, việc nào là sự tranh cãi không là sự tranh tụng?—Mẹ tranh cãi với con trai, con trai tranh cãi với mẹ, cha tranh cãi với con trai, con trai tranh cãi với cha, anh em trai tranh cãi với anh em trai, anh em trai tranh cãi với chị em gái, chị em gái tranh cãi với anh em trai, bạn bè tranh cãi với bạn bè; việc ấy là sự tranh cãi không là sự tranh tụng.
Ở đây, việc nào là sự tranh tụng không là sự tranh cãi?—Sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ; việc ấy là sự tranh tụng không là sự tranh cãi.
Ở đây, việc nào vừa là sự tranh tụng vừa là sự tranh cãi?—Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi vừa là sự tranh tụng vừa là sự tranh cãi.
Inda-bh 39~75(Một việc có thể) là sự khiển trách (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, là sự khiển trách không là sự tranh tụng, là sự tranh tụng không là sự khiển trách, vừa là sự tranh tụng vừa là sự khiển trách (hay không)?—(Một việc) có thể là sự khiển trách (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, có thể là sự khiển trách không là sự tranh tụng, có thể là sự tranh tụng không là sự khiển trách, có thể vừa là sự tranh tụng vừa là sự khiển trách.
Ở đây, việc nào là sự khiển trách (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến khiển trách?—Này các tỳ khưu, trường hợp các tỳ khưu khiển trách vị tỳ khưu với sự hư hỏng về giới, hoặc với sự hư hỏng về hạnh kiểm, hoặc với sự hư hỏng về tri kiến, hoặc với sự hư hỏng về nuôi mạng. Trong trường hợp ấy, việc nào là sự khiển trách, sự xoi mói, sự buộc tội, sự chỉ trích, sự moi móc, sự xúi giục, sự khích động; việc ấy là sự khiển trách (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến khiển trách.
Ở đây, việc nào là sự khiển trách nào không là sự tranh tụng?—Mẹ khiển trách con trai, con trai khiển trách mẹ, cha khiển trách con trai, con trai khiển trách cha, anh em trai khiển trách anh em trai, anh em trai khiển trách chị em gái, chị em gái khiển trách anh em trai, bạn bè khiển trách bạn bè; việc ấy là sự khiển trách không là sự tranh tụng.
Ở đây, việc nào là sự tranh tụng không là sự khiển trách?—Sự tranh tụng liên quan đến tội, sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi; việc ấy là sự tranh tụng không là sự khiển trách.
Ở đây, việc nào vừa là sự tranh tụng vừa là sự khiển trách?—Sự tranh tụng liên quan đến khiển trách vừa là sự tranh tụng vừa là sự khiển trách.
Inda-bh 40~76(Một việc có thể) là sự phạm tội (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến tội, là sự phạm tội không là sự tranh tụng, là sự tranh tụng không là sự phạm tội, vừa là sự tranh tụng vừa là sự phạm tội (hay không)?—(Một việc) có thể là sự phạm tội (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến tội, có thể là sự phạm tội không là sự tranh tụng, có thể là sự tranh tụng không là sự phạm tội, có thể vừa là sự tranh tụng vừa là sự phạm tội.
Ở đây, việc nào là sự phạm tội (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến tội?—Năm nhóm tội là sự tranh tụng liên quan đến tội, và bảy nhóm tội là sự tranh tụng liên quan đến tội; việc ấy là sự phạm tội (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến tội.
Ở đây, việc nào là āpatti (sự phạm tội) không là sự tranh tụng?—Quả vị Nhập Lưu (Sotāpatti), sự thành đạt (samāpatti); việc ấy là āpatti (có tiếp vĩ ngữ āpatti) không là sự tranh tụng.
Ở đây, việc nào là sự tranh tụng không là sự phạm tội?—Sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển trách; việc ấy là sự tranh tụng không là sự phạm tội.
Ở đây, việc nào vừa là sự tranh tụng vừa là sự phạm tội?—Sự tranh tụng liên quan đến tội vừa là sự tranh tụng vừa là sự phạm tội.
Inda-bh 41~77(Một việc có thể) là nhiệm vụ (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, là nhiệm vụ không là sự tranh tụng, là sự tranh tụng không là nhiệm vụ, vừa là sự tranh tụng vừa là nhiệm vụ (hay không)?—(Một việc) có thể là nhiệm vụ (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, có thể là nhiệm vụ không là sự tranh tụng, có thể là sự tranh tụng không là nhiệm vụ, có thể vừa là sự tranh tụng vừa là nhiệm vụ.
Ở đây, việc nào là nhiệm vụ (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ?—Việc nào thuộc về hội chúng cần phải hoàn thành, cần phải thực hiện (tức là) hành sự với lời công bố, hành sự với lời đề nghị, hành sự có lời đề nghị đến lần thứ hai, hành sự có lời đề nghị đến lần thứ tư; việc ấy là nhiệm vụ (hoặc là) sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.
Ở đây, việc nào là nhiệm vụ không là sự tranh tụng?—Nhiệm vụ của thầy giáo thọ, nhiệm vụ của thầy tế độ, nhiệm vụ của các vị chung thầy tế độ, nhiệm vụ của các vị chung thầy giáo thọ; việc ấy là nhiệm vụ không là sự tranh tụng.
Ở đây, việc nào là sự tranh tụng không là nhiệm vụ?—Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội; việc ấy là sự tranh tụng không là nhiệm vụ.
Ở đây, việc nào vừa là sự tranh tụng vừa là nhiệm vụ?—Sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ vừa là sự tranh tụng vừa là nhiệm vụ.
9. CÁCH GIẢI QUYẾT SỰ TRANH TỤNG:
HÀNH XỬ LUẬT VỚI SỰ HIỆN DIỆN:
Inda-bh 42~78Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi được lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp?—Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi được lắng dịu bởi hai cách dàn xếp: bằng cách hành xử Luật với sự hiện diện và bằng cách thuận theo số đông.
Nếu sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi không đi đến một cách dàn xếp là thuận theo số đông, thì có thể được lắng dịu bằng một cách dàn xếp là cách hành xử Luật với sự hiện diện hay không?—Nên trả lời rằng: ‘Có thể.’ Như vậy là thế nào?—Trường hợp các tỳ khưu tranh cãi: ‘Đây là Pháp,’ hoặc ‘Đây không phải là Pháp,’ hoặc ‘Đây là Luật,’ hoặc ‘Đây không phải là Luật,’ hoặc ‘Điều ấy đã được đấng Thiện Thệ thuyết giảng và nói đến,’ hoặc ‘Điều ấy đã không được đấng Thiện Thệ thuyết giảng và nói đến,’ hoặc ‘Điều ấy đã được đấng Thiện Thệ thực hành,’ hoặc ‘Điều ấy đã không được đấng Thiện Thệ thực hành,’ hoặc ‘Điều ấy đã được đấng Thiện Thệ quy định,’ hoặc ‘Điều ấy đã không được đấng Thiện Thệ quy định,’ hoặc ‘Điều ấy là phạm tội,’ hoặc ‘Điều ấy là không phạm tội,’ hoặc ‘Điều ấy là tội nhẹ,’ hoặc ‘Điều ấy là tội nặng,’ hoặc ‘Tội còn dư sót,’ hoặc ‘Tội không còn dư sót,’ hoặc ‘Tội xấu xa,’ hoặc ‘Tội không xấu xa.’ Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy có thể giải quyết sự tranh tụng ấy, này các tỳ khưu, điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào điều gì?—Nhờ vào cách hành xử Luật với sự hiện diện.
Inda-bh 43~79Và ở đây, điều gì là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện?—Sự hiện diện của hội chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự.
Và ở đây, sự hiện diện của hội chúng là gì?—Các tỳ khưu theo số lượng cần thiết cho hành sự đã đi đến, sự tùy thuận của các vị xứng đáng gởi sự tùy thuận đã được đem lại, các vị hiện diện không phản đối; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của hội chúng.
Và ở đây, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật là gì?—Với Pháp nào, với Luật nào, với lời giảng dạy nào của bậc Đạo Sư, sự tranh tụng ấy được giải quyết; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của Pháp, là sự hiện diện của Luật.
Và ở đây, sự hiện diện của nhân sự là gì?—Vị tranh cãi, vị tranh cãi với vị ấy, cả hai phe đối địch với nhau đều hiện diện; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của nhân sự.
Này các tỳ khưu, nếu có vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm tội pācittiya; (nếu) vị gởi thỏa thuận phê phán, vị phê phán phạm tội pācittiya.
Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy không thể giải quyết sự tranh tụng ấy tại trú xứ ấy, này các tỳ khưu, các tỳ khưu ấy nên đi đến trú xứ có nhiều tỳ khưu hơn. Này các tỳ khưu, trong lúc đang đi trên đường đến trú xứ kia, nếu các tỳ khưu ấy có thể giải quyết sự tranh tụng ấy; này các tỳ khưu, điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào điều gì?—Nhờ vào cách hành xử Luật với sự hiện diện. Và ở đây, điều gì là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện?—Sự hiện diện của hội chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự.
Inda-bh 44~80Và ở đây, sự hiện diện của hội chúng là gì?—Các tỳ khưu theo số lượng cần thiết cho hành sự đã đi đến, sự tùy thuận của các vị xứng đáng gởi sự tùy thuận đã được đem lại, các vị hiện diện không phản đối; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của hội chúng.
Và ở đây, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật là gì?—Với Pháp nào, với Luật nào, với lời giảng dạy nào của bậc Đạo Sư sự tranh tụng ấy được giải quyết; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của Pháp, là sự hiện diện của Luật.
Và ở đây, sự hiện diện của nhân sự là gì?—Vị tranh cãi, vị tranh cãi với vị ấy, cả hai phe đối địch với nhau đều hiện diện; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của nhân sự. Này các tỳ khưu, nếu có vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm tội pācittiya; (nếu) vị gởi thỏa thuận phê phán, vị phê phán phạm tội pācittiya.
Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy trong lúc đang đi trên đường đến trú xứ kia, không thể giải quyết sự tranh tụng ấy; này các tỳ khưu, sau khi đi đến trú xứ kia, các tỳ khưu ấy nên nói các tỳ khưu thường trú như vầy: ‘Này các đại đức, sự tranh tụng này đã sanh khởi như vầy, đã diễn tiến như vầy, lành thay xin các đại đức hãy giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp theo Luật theo lời dạy của bậc Đạo sư; như thế sự tranh tụng này có thể đã được giải quyết tốt đẹp.’
Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu thường trú thâm niên hơn và các tỳ khưu đi đến là kém thâm niên, này các tỳ khưu, các tỳ khưu thường trú nên nói với các tỳ khưu đi đến như vầy: ‘Này các đại đức, các vị hãy sang một bên trong chốc lát để chúng tôi còn hội ý.’ Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu thường trú kém thâm niên và các tỳ khưu đi đến là thâm niên hơn, này các tỳ khưu, các tỳ khưu thường trú nên nói với các tỳ khưu đi đến như vầy: ‘Này các đại đức, chính vì điều ấy xin các vị hãy chờ tại đây trong chốc lát để chúng tôi còn hội ý.’
Inda-bh 45~81Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu thường trú trong lúc hội ý khởi lên như vầy: ‘Chúng ta không thể giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp theo Luật theo lời dạy của bậc Đạo sư được,’ các tỳ khưu thường trú không nên nhận lãnh sự tranh tụng ấy.
Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu thường trú trong lúc hội ý khởi lên như vầy: ‘Chúng ta có thể giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp theo Luật theo lời dạy của bậc Đạo sư;’ này các tỳ khưu, các tỳ khưu thường trú ấy nên nói với các tỳ khưu đi đến như vầy: ‘Này các đại đức, nếu các vị trình bày cho chúng tôi sự tranh tụng này đã sanh khởi như thế nào đã diễn tiến như thế nào, chúng tôi sẽ giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp, theo Luật, theo lời dạy của bậc Đạo sư theo cách sẽ được giải quyết tốt đẹp; như vậy chúng tôi sẽ nhận lãnh sự tranh tụng này. Này các đại đức, nếu các vị không trình bày cho chúng tôi sự tranh tụng này đã sanh khởi như thế nào đã diễn tiến như thế nào, chúng tôi sẽ giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp, theo Luật, theo lời dạy của bậc Đạo sư theo cách sẽ không đã được giải quyết tốt đẹp; như vậy chúng tôi sẽ không nhận lãnh sự tranh tụng này.’ Này các tỳ khưu, sau khi xem xét kỹ lưỡng như vậy, các tỳ khưu thường trú nên nhận lãnh sự tranh tụng ấy.
Inda-bh 46~82Này các tỳ khưu, các tỳ khưu đi đến ấy nên nói với các tỳ khưu thường trú như vầy: ‘Chúng tôi sẽ trình bày cho các đại đức sự tranh tụng này đã sanh khởi như thế nào đã diễn tiến như thế nào. Nếu các đại đức có thể giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp, theo Luật, theo lời dạy của bậc Đạo sư trong khoảng thời gian chừng này hoặc chừng này, như thế (sự tranh tụng) sẽ được giải quyết tốt đẹp; như vậy, chúng tôi sẽ giao phó sự tranh tụng này cho các đại đức. Nếu các đại đức không thể giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp, theo Luật, theo lời dạy của bậc Đạo sư trong khoảng thời gian chừng này hoặc chừng này, như thế (sự tranh tụng) sẽ không đã được giải quyết tốt đẹp; như vậy, chúng tôi sẽ không giao phó sự tranh tụng này cho các đại đức, chính chúng tôi sẽ là người chủ trì sự tranh tụng này.’
Này các tỳ khưu, sau khi xem xét kỹ lưỡng như vậy, các tỳ khưu đi đến nên giao phó sự tranh tụng ấy cho các tỳ khưu thường trú. Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy có thể giải quyết sự tranh tụng ấy, này các tỳ khưu, điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết.
Được giải quyết nhờ vào điều gì?—Nhờ vào cách hành xử Luật với sự hiện diện. Và ở đây, điều gì là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện?—Sự hiện diện của hội chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự. … (như trên) … Này các tỳ khưu, nếu có vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm tội pācittiya; (nếu) vị gởi thỏa thuận phê phán, vị phê phán phạm tội pācittiya.
CÁCH GIẢI QUYẾT THEO LỐI ĐẠI BIỂU:
Inda-bh 47~83Này các tỳ khưu, trong khi các tỳ khưu ấy phán xét sự tranh tụng ấy, nếu các lời bàn cãi vô bổ được sanh khởi và không lời phát biểu nào có ý nghĩa; này các tỳ khưu, ta cho phép giải quyết sự tranh tụng như thế ấy theo lối đại biểu.
Theo lối đại biểu, cần chỉ định vị tỳ khưu có được mười yếu tố: Là vị có giới hạnh, sống thu thúc theo sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, thành tựu về hạnh kiểm và chốn đi lại, thấy được sự nguy hiểm trong những tội lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và thực hành theo các điều học; là vị nghe nhiều, nắm giữ và tích lũy các điều đã được nghe, các pháp nào là tốt đẹp phần đầu, tốt đẹp phần giữa, tốt đẹp phần cuối, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự, giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ; các pháp có hình thức như thế được (vị ấy) nghe nhiều, ghi nhớ, ôn đọc ra lời, dùng trí quán sát, dùng tri kiến phân tích; cả hai bộ giới bổn Pātimokkha đã khéo được truyền thừa với chi tiết đến vị ấy, khéo được phân tích, khéo được ứng dụng, khéo được xác định theo từng điều học, theo từng từ ngữ; là vị tinh xảo về Luật không có bối rối; là vị có năng lực làm cho cả hai phe đối địch với nhau hiểu biết được, làm cho suy nghĩ lại, làm cho suy tư, làm cho thấy được, và làm cho hoan hỷ; khéo léo giải quyết sự sanh khởi của cuộc tranh tụng; vị hiểu biết sự tranh tụng; hiểu biết nguyên cớ của cuộc tranh tụng; hiểu biết sự chấm dứt của cuộc tranh tụng; hiểu biết đường lối thực hành để chấm dứt cuộc tranh tụng. Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ định theo lối đại biểu vị tỳ khưu có được mười yếu tố này.
Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Trong khi chúng ta phán xét sự tranh tụng này, các lời bàn cãi vô bổ được sanh khởi và không lời phát biểu nào có ý nghĩa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để giải quyết sự tranh tụng này theo lối đại biểu. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Trong khi chúng ta phán xét sự tranh tụng này, các lời bàn cãi vô bổ được sanh khởi và không lời phát biểu nào có ý nghĩa. Hội chúng chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để giải quyết sự tranh tụng này theo lối đại biểu. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để giải quyết sự tranh tụng này theo lối đại biểu xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định để giải quyết sự tranh tụng này theo lối đại biểu. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy có thể giải quyết sự tranh tụng ấy theo lối đại biểu, này các tỳ khưu, điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào điều gì?—Nhờ vào cách hành xử Luật với sự hiện diện. Và ở đây, điều gì là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện?—Sự hiện diện của hội chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật. … (như trên) … Này các tỳ khưu, nếu có vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm tội pācittiya.
Này các tỳ khưu, trong khi các tỳ khưu ấy đang phán xét sự tranh tụng ấy, nếu ở đó, có vị tỳ khưu là Pháp sư nhưng vị ấy là không được truyền thừa về Kinh điển, về sự phân tích giới bổn, vị ấy trong khi không xem xét ý nghĩa lại phủ nhận ý nghĩa ẩn sau các văn tự. Các tỳ khưu ấy cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch chư đại đức, xin hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên (như vầy) là Pháp sư nhưng vị ấy là không được truyền thừa về Kinh điển, về sự phân tích giới bổn, vị ấy trong khi không xem xét ý nghĩa lại phủ nhận ý nghĩa ẩn sau các văn tự. Nếu là thời điểm thích hợp cho chư đại đức, chúng ta nên loại ra vị tỳ khưu tên (như vầy) và những người còn lại (chúng ta) sẽ giải quyết sự tranh tụng này.’
Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy sau khi loại vị tỳ khưu ấy ra có thể giải quyết sự tranh tụng ấy; này các tỳ khưu, điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào điều gì?—Nhờ vào cách hành xử Luật với sự hiện diện. Và ở đây, điều gì là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện?—Sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự. … (như trên) … Này các tỳ khưu, nếu có vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm tội pācittiya.
Này các tỳ khưu, trong khi các vị tỳ khưu ấy đang phán xét sự tranh tụng ấy, nếu ở đó, có vị tỳ khưu là Pháp sư bởi vì vị ấy là được truyền thừa về Kinh điển (nhưng) thiếu về sự phân tích giới bổn, vị ấy trong khi không xem xét ý nghĩa lại phủ nhận ý nghĩa ẩn sau các văn tự. Các tỳ khưu ấy cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch chư đại đức, xin hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên (như vầy) là Pháp sư bởi vì vị ấy là được truyền thừa về Kinh điển (nhưng) thiếu về sự phân tích giới bổn, vị ấy trong khi không xem xét ý nghĩa lại phủ nhận ý nghĩa ẩn sau các văn tự. Nếu là thời điểm thích hợp cho chư đại đức, chúng ta nên loại ra vị tỳ khưu tên (như vầy) và những người còn lại (chúng ta) sẽ giải quyết sự tranh tụng này.’
Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy sau khi loại vị tỳ khưu ấy ra có thể giải quyết sự tranh tụng ấy; này các tỳ khưu, điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào điều gì?—Nhờ vào cách hành xử Luật với sự hiện diện. Và ở đây, điều gì là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện?—Sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự. … (như trên) … Này các tỳ khưu, nếu có vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm tội pācittiya.
CÁCH HÀNH XỬ LUẬT THUẬN THEO SỐ ĐÔNG:
Inda-bh 48~84Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy không thể giải quyết sự tranh tụng ấy theo lối đại biểu, này các tỳ khưu, các tỳ khưu ấy nên giao lại sự tranh tụng ấy cho hội chúng:—‘Bạch các ngài, chúng tôi không thể giải quyết sự tranh tụng này theo lối đại biểu. Hãy để hội chúng giải quyết sự tranh tụng này.’ Này các tỳ khưu, ta cho phép giải quyết thuận theo số đông sự tranh tụng có hình thức như thế.
Cần chỉ định vị phân phát thẻ là vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, và vị biết (thẻ) đã được nhận hay chưa được nhận. … (như trên) … Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị tỳ khưu cần được yêu cầu. Sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân phát thẻ. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân phát thẻ. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định tỳ khưu tên (như vầy) là vị phân phát thẻ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị phân phát thẻ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Vị tỳ khưu phân phát thẻ ấy nên phân phát các thẻ. (Trường hợp) các tỳ khưu là các vị nói đúng Pháp có (số lượng) nhiều hơn nói (nên giải quyết) như thế nào, thì sự tranh tụng ấy nên được giải quyết như thế ấy. Này các tỳ khưu, điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào điều gì?—Nhờ vào cách hành xử Luật với sự hiện diện và thuận theo số đông. Và ở đây, điều gì là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện?—Sự hiện diện của hội chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự. Và ở đây, sự hiện diện của hội chúng là gì?—Các tỳ khưu theo số lượng cần thiết cho hành sự đã đi đến, sự tùy thuận của các vị xứng đáng gởi sự tùy thuận đã được đem lại, các vị hiện diện không phản đối; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của hội chúng.
Và ở đây, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật là gì?—Với Pháp nào, với Luật nào, với lời giảng dạy nào của bậc Đạo Sư sự tranh tụng ấy được giải quyết; ở đây điều ấy là sự hiện diện của Pháp, là sự hiện diện của Luật.
Và ở đây, sự hiện diện của nhân sự là gì?—Vị tranh cãi, vị tranh cãi với vị ấy, cả hai phe đối địch với nhau đều hiện diện; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của nhân sự.
Và ở đây, điều gì là liên quan đến thuận theo số đông?—Điều nào là sự thực hiện, sự hành động, sự đạt đến, sự thỏa thuận, sự chấp nhận, sự không phản đối thuộc về hành sự thuận theo số đông; ở đây điều ấy là liên quan đến thuận theo số đông.
Này các tỳ khưu, nếu có vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm tội pācittiya; (nếu) vị gởi thỏa thuận phê phán, vị phê phán phạm tội pācittiya.”
BA CÁCH PHÂN PHÁT THẺ:
Inda-bh 49~85Vào lúc bấy giờ, ở Sāvatthi có sự tranh tụng đã xảy ra như vầy, đã sanh khởi như vầy. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy không hài lòng với lối giải quyết tranh tụng của hội chúng ở Sāvatthi và đã nghe rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia có nhiều trưởng lão cư ngụ là các vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, là các bậc sáng trí, có khả năng, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Nếu các trưởng lão ấy có thể giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp, theo Luật, theo lời dạy của bậc Đạo sư, như vậy sự tranh tụng này sẽ được giải quyết tốt đẹp.” Sau đó, các tỳ khưu ấy đã đi đến trú xứ ấy và đã nói với các trưởng lão ấy điều này:—“Thưa các ngài, sự tranh tụng này đã sanh khởi như vầy, đã diễn tiến như vầy. Thưa các ngài, lành thay các trưởng lão hãy giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp, theo Luật, theo lời dạy của bậc Đạo sư, như vậy sự tranh tụng này sẽ được giải quyết tốt đẹp.”
Inda-bh 50~86Khi ấy, các trưởng lão ấy (nghĩ rằng): ‘Sự tranh tụng đã được hội chúng ở Sāvatthi giải quyết như thế ấy là đã được giải quyết tốt đẹp’ rồi đã giải quyết sự tranh tụng ấy như thế.
Sau đó, các tỳ khưu ấy không hài lòng với lối giải quyết tranh tụng của hội chúng ở Sāvatthi, không hài lòng với lối giải quyết tranh tụng của nhiều vị trưởng lão và đã nghe rằng: “Nghe nói ở trú xứ kia có ba vị trưởng lão cư ngụ… (như trên) …có hai vị trưởng lão cư ngụ… (như trên) … có một vị trưởng lão cư ngụ là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, sáng trí, có khả năng, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Nếu trưởng lão ấy có thể giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp, theo Luật, theo lời dạy của bậc Đạo sư, như vậy sự tranh tụng này sẽ được giải quyết tốt đẹp.”
Inda-bh 51~87Sau đó, các tỳ khưu ấy đã đi đến trú xứ ấy và đã nói với vị trưởng lão ấy điều này:—“Thưa ngài, sự tranh tụng này đã sanh khởi như vầy, đã diễn tiến như vầy. Thưa ngài, lành thay ngài trưởng lão hãy giải quyết sự tranh tụng này theo Pháp, theo Luật, theo lời dạy của bậc Đạo sư, như thế sự tranh tụng này sẽ được giải quyết tốt đẹp.”
Khi ấy, vị trưởng lão ấy (nghĩ rằng): ‘Sự tranh tụng đã được hội chúng ở Sāvatthi giải quyết như thế ấy, sự tranh tụng đã được nhiều vị trưởng lão giải quyết như thế ấy, sự tranh tụng đã được ba vị trưởng lão giải quyết như thế ấy, sự tranh tụng đã được hai vị trưởng lão giải quyết như thế ấy là đã được giải quyết tốt đẹp,’ rồi đã giải quyết sự tranh tụng ấy như thế.
Inda-bh 52~88Sau đó, các tỳ khưu ấy không hài lòng với lối giải quyết tranh tụng của hội chúng ở Sāvatthi, không hài lòng với lối giải quyết tranh tụng của nhiều vị trưởng lão, không hài lòng với lối giải quyết tranh tụng của ba vị trưởng lão, không hài lòng với lối giải quyết tranh tụng của hai vị trưởng lão, không hài lòng với lối giải quyết tranh tụng của một vị trưởng lão nên đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
—“Này các tỳ khưu, sự tranh tụng này đã được dứt điểm, đã được yên lặng, và đã được giải quyết, đã được giải quyết tốt đẹp. Này các tỳ khưu, vì sự nhận thức rõ ràng của các tỳ khưu ấy, ta cho phép ba cách phân phát thẻ: lối kín đáo, sự nói nhỏ vào tai, lối công khai.”
Và này các tỳ khưu, thế nào là cách phân phát thẻ theo lối kín đáo?—Vị tỳ khưu phân phát thẻ nên làm các thẻ khác nhau rồi đi đến gặp từng vị tỳ khưu một và nên nói như vầy: ‘Thẻ này là cho vị nói như vầy, thẻ này là cho vị nói như kia. Đại đức thích cái nào thì nhận cái ấy.’ Khi giao nên nói rằng: ‘Và chớ cho bất cứ ai thấy.’ Nếu vị ấy biết rằng: ‘Các vị nói sai Pháp là nhiều hơn,’ nên thâu hồi lại (nói rằng): ‘(Các thẻ) bị lấy lầm lẫn.’ Nếu vị ấy biết rằng: ‘Các vị nói đúng Pháp là nhiều hơn,’ nên công bố rằng: ‘(Các thẻ) được nhận lấy tốt đẹp.’ Này các tỳ khưu, như vậy là cách phân phát thẻ theo lối kín đáo.
Và này các tỳ khưu, thế nào là cách phân phát thẻ với sự nói nhỏ vào tai?—Vị tỳ khưu phân phát thẻ nên nói vào tai của từng vị tỳ khưu một rằng: ‘Thẻ này là cho vị nói như vầy, thẻ này là cho vị nói như kia. Đại đức thích cái nào thì nhận cái ấy.’ Khi giao nên nói rằng: ‘Và chớ nói cho bất cứ ai.’ Nếu vị ấy biết rằng: ‘Các vị nói sai Pháp là nhiều hơn,’ nên thâu hồi lại (nói rằng): ‘(Các thẻ) bị lấy lầm lẫn.’ Nếu vị ấy biết rằng: ‘Các vị nói đúng Pháp là nhiều hơn,’ nên công bố rằng: ‘(Các thẻ) được nhận lấy tốt đẹp.’ Này các tỳ khưu, như vậy là cách phân phát thẻ với sự nói nhỏ vào tai.
Và này các tỳ khưu, thế nào là cách phân phát thẻ theo lối công khai?—Nếu vị ấy biết rằng: ‘Các vị nói đúng Pháp là nhiều hơn,’ chính nhờ vào sự quả quyết nên phân phát (thẻ) bằng cách phân phát thẻ theo lối công khai. Này các tỳ khưu, như vậy là cách phân phát thẻ theo lối công khai.
Này các tỳ khưu, đây là ba cách phân phát thẻ.”
HÀNH XỬ LUẬT BẰNG SỰ GHI NHỚ:
Inda-bh 53~89Sự tranh tụng liên quan đến khiển trách được lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp?—Sự tranh tụng liên quan đến khiển trách được lắng dịu bởi bốn cách dàn xếp: bằng cách hành xử Luật với sự hiện diện, bằng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ, bằng cách hành xử Luật khi không điên cuồng, và theo tội của vị ấy.
Nếu sự tranh tụng liên quan đến khiển trách không đi đến hai cách dàn xếp là cách hành xử Luật khi không điên cuồng và theo tội của vị ấy thì có thể được lắng dịu bằng hai cách dàn xếp là cách hành xử Luật với sự hiện diện và cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ hay không?—Nên trả lời rằng: ‘Có thể.’
Như vậy là thế nào?—Trường hợp các tỳ khưu bôi nhọ vị tỳ khưu với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu được thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ, cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ nên được ban cho.
Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, các tỳ khưu bôi nhọ tôi với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Bạch các ngài, là người được thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ, tôi đây thỉnh cầu hội chúng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ.’ Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu bôi nhọ vị tỳ khưu tên (như vầy) với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Là người được thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ, vị ấy thỉnh cầu hội chúng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đến vị tỳ khưu tên (như vầy), là người thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu bôi nhọ vị tỳ khưu tên (như vầy) với sự hư hỏng về giới không có nguyên cớ. Là người thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ, vị ấy thỉnh cầu hội chúng cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ. Hội chúng ban cho cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đến vị tỳ khưu tên (như vầy) là người thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ. Đại đức nào đồng ý việc ban cho cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đến vị tỳ khưu tên (như vầy) là người thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ đã được hội chúng ban cho vị tỳ khưu tên (như vầy) là người thành tựu đầy đủ về sự ghi nhớ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Này các tỳ khưu, điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào điều gì?—Nhờ vào cách hành xử Luật với sự hiện diện và cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ. Và ở đây, điều gì là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện?—Sự hiện diện của hội chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự. … (như trên) … Và ở đây, sự hiện diện của nhân sự là gì?—Vị khiển trách và vị bị vị ấy khiển trách, cả hai phe đối địch với nhau đều hiện diện; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của nhân sự. Và ở đây, điều gì là ở trong cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ?—Điều nào là sự thực hiện, sự hành động, sự đạt đến, sự thỏa thuận, sự chấp nhận, sự không phản đối thuộc về hành sự hành xử Luật bằng sự ghi nhớ; ở đây điều ấy là ở trong cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ. Này các tỳ khưu, nếu có vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm tội pācittiya; (nếu) vị gởi thỏa thuận phê phán, vị phê phán phạm tội pācittiya.
HÀNH XỬ LUẬT KHI KHÔNG ĐIÊN CUỒNG:
Inda-bh 54~90Nếu sự tranh tụng liên quan đến khiển trách không đi đến hai cách dàn xếp là cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ và theo tội của vị ấy thì có thể được lắng dịu bằng hai cách dàn xếp là cách hành xử Luật với sự hiện diện và cách hành xử Luật khi không điên cuồng hay không?—Nên trả lời rằng: ‘Có thể.’
Như vậy là thế nào?—Trường hợp vị tỳ khưu bị điên, bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hành bởi vị ấy khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Các tỳ khưu buộc tội vị ấy với tội đã được thực hiện khi bị điên, bị thay đổi tâm tính: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Vị ấy nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hành bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Tôi không nhớ được điều ấy. Điều ấy đã được làm bởi tôi khi bị điên cuồng.’ Mặc dầu được vị ấy nói như vậy, các vị vẫn khiển trách rằng: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Này các tỳ khưu, nên ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến vị tỳ khưu ấy khi không bị điên cuồng.
Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:
“Bạch các ngài, tôi đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hành bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Các tỳ khưu khiển trách tôi với tội đã được thực hiện khi bị điên, bị thay đổi tâm tính: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Tôi nói với các vị ấy như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hành bởi tôi đây khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Tôi không nhớ được điều ấy. Điều ấy đã được làm bởi tôi khi bị điên cuồng.’ Mặc dầu được vị ấy nói như vậy, các vị vẫn khiển trách rằng: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Bạch các ngài, giờ không bị điên cuồng tôi đây thỉnh cầu hội chúng cách hành xử Luật khi không điên cuồng.”
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. Nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hành bởi vị ấy khi bị điên, bị thay đổi tâm tính. Các tỳ khưu đã khiển trách vị ấy với tội đã được thực hiện khi bị điên, bị thay đổi tâm tính: ‘Vị đại đức có nhớ là đã phạm tội như thế này không?’ Vị ấy nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã bị điên, … (như trên) … Giờ không bị điên cuồng, vị ấy thỉnh cầu hội chúng cách hành xử Luật khi không điên cuồng. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến vị tỳ khưu tên (như vầy) khi không bị điên cuồng. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. … (như trên) … Vị ấy nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã bị điên, đã bị thay đổi tâm tính. … (như trên) … Giờ không bị điên cuồng, vị ấy thỉnh cầu hội chúng cách hành xử Luật khi không điên cuồng. Hội chúng ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến tỳ khưu tên (như vầy) khi không điên cuồng. Đại đức nào đồng ý việc ban cho cách hành xử Luật khi không điên cuồng đến tỳ khưu tên (như vầy) khi không bị điên cuồng xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Cách hành xử Luật khi không điên cuồng đã được hội chúng ban cho tỳ khưu tên (như vầy) khi không bị điên cuồng. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Này các tỳ khưu, điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào điều gì?—Nhờ vào cách hành xử Luật với sự hiện diện và cách hành xử Luật khi không điên cuồng. Và ở đây, điều gì là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện?—Sự hiện diện của hội chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự. Và ở đây, điều gì là ở trong cách hành xử Luật khi không điên cuồng?—Điều nào là sự thực hiện, sự hành động, sự đạt đến, sự thỏa thuận, sự chấp nhận, sự không phản đối thuộc về hành sự hành xử Luật khi không điên cuồng; ở đây điều ấy là ở trong cách hành xử Luật khi không điên cuồng. Này các tỳ khưu, nếu có vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm tội pācittiya; (nếu) vị gởi thỏa thuận phê phán, vị phê phán phạm tội pācittiya.
THEO TỘI CỦA VỊ ẤY:
Inda-bh 55~91Nếu sự tranh tụng liên quan đến khiển trách không đi đến hai cách dàn xếp là cách hành xử Luật bằng sự ghi nhớ và cách hành xử Luật khi không điên cuồng thì có thể được lắng dịu bằng hai cách dàn xếp là cách hành xử Luật với sự hiện diện và theo tội của vị ấy hay không?—Nên trả lời rằng: ‘Có thể.’
Như vậy là thế nào?—Trường hợp vị tỳ khưu buộc tội vị tỳ khưu (khác) giữa hội chúng với tội nặng: ‘Đại đức có nhớ là đã phạm tội nặng như thế này, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika không?’
Vị ấy nói như vầy: ‘Này đại đức, tôi không nhớ là đã phạm tội nặng như thế ấy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika.’
Trong khi vị ấy chối từ, vị kia lại già lý lẽ hơn nữa: ‘Này đại đức hãy suy xét thật kỹ lưỡng xem thử có nhớ lại là đã phạm tội nặng như thế này, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika không?’
Vị ấy nói như vầy: ‘Này đại đức, tôi không nhớ là đã phạm tội như thế ấy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika, tôi chỉ nhớ là đã phạm tội nhỏ nhoi như thế ấy.’
Trong khi vị ấy chối từ, vị kia lại già lý lẽ hơn nữa: ‘Này đại đức, hãy suy xét thật kỹ lưỡng xem thử có nhớ lại là đã phạm tội nặng như thế này, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika không?’
Vị ấy nói như vầy: ‘Này đại đức, bởi vì sau khi phạm tội ấy, cho dầu là nhỏ nhoi tôi sẽ thú nhận dầu không được hỏi đến. Sau khi phạm tội nặng như thế ấy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika, không lẽ tôi lại không thú nhận khi được hỏi đến hay sao?’
Vị kia nói như vầy: ‘Này đại đức, bởi vì sau khi phạm tội ấy, mặc dù là nhỏ nhoi đại đức sẽ không thú nhận khi không được hỏi đến. Thì sau khi phạm tội nặng như thế ấy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika, không lẽ đại đức lại thú nhận khi không được hỏi đến? Này đại đức, hãy suy xét thật kỹ lưỡng xem thử có nhớ lại là đã phạm tội nặng như thế này là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika không?’
Vị ấy nói như vầy: ‘Này đại đức, tôi nhớ ra là đã phạm tội như thế ấy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika. Điều nói rằng: Tôi không nhớ là đã phạm tội như thế ấy, là tội pārājika hoặc gần với tội pārājika, điều này được tôi nói vội, điều này được tôi nói theo thói quen.’
Inda-bh 56~92Này các tỳ khưu, hành sự theo tội của vị ấy nên được ban cho tỳ khưu ấy. Và này các tỳ khưu, nên thực hiện như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) trong khi được tra hỏi tội nặng giữa hội chúng đã phủ nhận rồi thừa nhận, đã thừa nhận rồi phủ nhận, tránh né tội ấy bằng một tội khác, cố tình nói lời dối trá. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thực hiện hành sự theo tội của vị ấy đến tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) trong khi được tra hỏi tội nặng giữa hội chúng đã phủ nhận rồi thừa nhận, đã thừa nhận rồi phủ nhận, tránh né tội ấy bằng một tội khác, cố tình nói lời dối trá. Hội chúng thực hiện hành sự theo tội của vị ấy đến tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc thực hiện hành sự theo tội của vị ấy đến tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Hành sự theo tội của vị ấy đã được hội chúng thực hiện đến tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Này các tỳ khưu, điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào điều gì?—Nhờ vào cách hành xử Luật với sự hiện diện và theo tội của vị ấy. Và ở đây, điều gì là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện?—Sự hiện diện của hội chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự. … (như trên) … Và ở đây, điều gì là ở trong (cách giải quyết) theo tội của vị ấy?—Điều nào là sự thực hiện, sự hành động, sự đạt đến, sự thỏa thuận, sự chấp nhận, sự không phản đối thuộc về hành sự theo tội của vị ấy; ở đây điều ấy là ở trong (cách giải quyết) theo tội của vị ấy. Này các tỳ khưu, nếu có vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm tội pācittiya; (nếu) vị gởi thỏa thuận phê phán, vị phê phán phạm tội pācittiya.
VIỆC PHÁN XỬ THEO TỘI ĐÃ ĐƯỢC THỪA NHẬN:
Inda-bh 57~93Sự tranh tụng liên quan đến tội được lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp?—Sự tranh tụng liên quan đến tội được lắng dịu bởi ba cách dàn xếp: bằng cách hành xử Luật với sự hiện diện, bằng việc phán xử theo tội đã được thừa nhận, và bằng cách dùng cỏ che lấp.
Nếu sự tranh tụng liên quan đến tội không đi đến một cách dàn xếp là cách dùng cỏ che lấp thì có thể được lắng dịu bằng hai cách dàn xếp là cách hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận hay không?—Nên trả lời rằng: ‘Có thể.’
Như vậy là thế nào?—Trường hợp này, vị tỳ khưu là phạm tội nhẹ. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến gặp một vị tỳ khưu (khác), đắp thượng y một bên vai, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:—‘Thưa đại đức, tôi đã phạm tội tên (như vầy), tôi xin trình tội ấy.’ Vị kia nên nói rằng:—‘Đại đức có nhận thấy (tội) không?’—‘Thưa có, tôi nhận thấy.’—‘Đại đức hãy thu thúc trong tương lai.’
Này các tỳ khưu, điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào điều gì?—Nhờ vào cách hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận. Và ở đây, điều gì là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện?—Sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự. … (như trên) … Và ở đây, sự hiện diện của nhân sự là gì?—Vị khai báo (tội) và vị chứng minh vị ấy khai báo (tội), cả hai đều hiện diện; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của nhân sự. Và ở đây, điều gì là ở trong việc phán xử theo tội đã được thừa nhận?—Điều nào là sự thực hiện, sự hành động, sự đạt đến, sự thỏa thuận, sự chấp nhận, sự không phản đối thuộc về hành sự phán xử theo tội đã được thừa nhận; ở đây điều ấy là ở trong việc phán xử theo tội đã được thừa nhận. Này các tỳ khưu, khi đã được giải quyết như thế, nếu vị ghi nhận (tội) khơi lại sự tranh tụng, vị khơi lại phạm tội pācittiya.
Inda-bh 58~94Nếu vị ấy chấp nhận như thế, theo đó việc ấy là tốt đẹp. Nếu vị ấy không chấp nhận như thế, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến gặp nhiều vị tỳ khưu, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:—‘Thưa các ngài, tôi đã phạm tội tên (như vầy), tôi xin trình tội ấy.’
Các vị tỳ khưu ấy cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:—‘Bạch chư đại đức, xin hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) nhớ được, bộc lộ ra, nói ra bằng lời, trình ra sự phạm tội. Nếu là thời điểm thích hợp cho chư đại đức, tôi nên ghi nhận tội của vị tỳ khưu tên (như vầy).’
Vị ấy nên nói rằng:—‘Đại đức có nhận thấy (tội) không?’—‘Thưa có, tôi nhận thấy.’—‘Đại đức hãy thu thúc trong tương lai.’
Này các tỳ khưu, điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào điều gì?—Nhờ vào cách hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận. Và ở đây, điều gì là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện?—Sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự. … (như trên) … Và ở đây, sự hiện diện của nhân sự là gì?—Vị khai báo (tội) và vị chứng minh vị ấy khai báo (tội), cả hai đều hiện diện; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của nhân sự. Và ở đây, điều gì là ở trong việc phán xử theo tội đã được thừa nhận?—Điều nào là sự thực hiện, sự hành động, sự đạt đến, sự thỏa thuận, sự chấp nhận, sự không phản đối thuộc về hành sự phán xử theo tội đã được thừa nhận; ở đây điều ấy là ở trong việc phán xử theo tội đã được thừa nhận. Này các tỳ khưu, khi đã được giải quyết như thế, nếu vị ghi nhận (tội) khơi lại sự tranh tụng, vị khơi lại phạm tội pācittiya.
Inda-bh 59~95Nếu vị ấy chấp nhận như thế, theo đó việc ấy là tốt đẹp. Nếu vị ấy không chấp nhận như thế, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:—‘Bạch các ngài, tôi đã phạm tội tên (như vầy), tôi xin trình tội ấy.’
Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) nhớ được, bộc lộ ra, nói ra bằng lời, trình ra sự phạm tội. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi nên ghi nhận tội của vị tỳ khưu tên (như vầy).’
Vị ấy nên nói rằng:—‘Đại đức có nhận thấy (tội) không?’—Thưa có, tôi nhận thấy.’—‘Đại đức hãy thu thúc trong tương lai.’
Này các tỳ khưu, điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào điều gì?—Nhờ vào cách hành xử Luật với sự hiện diện và việc phán xử theo tội đã được thừa nhận. Và ở đây, điều gì là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện?—Sự hiện diện của hội chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự. … (như trên) … Này các tỳ khưu, nếu có vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm tội pācittiya; (nếu) vị gởi thỏa thuận phê phán, vị phê phán phạm tội pācittiya.
CÁCH DÙNG CỎ CHE LẤP:
Inda-bh 60~96Nếu sự tranh tụng liên quan đến tội không đi đến một cách dàn xếp là việc phán xử theo tội đã được thừa nhận thì có thể được lắng dịu bằng hai cách dàn xếp là cách hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp hay không?—Nên trả lời rằng: ‘Có thể.’
Như vậy là thế nào?—Trường hợp các tỳ khưu trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hành. Trong trường hợp ấy nếu các tỳ khưu (nghĩ) như vầy: ‘Chúng ta trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, có nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hành. Nếu chúng ta xử lý lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đưa đến lủng củng, đưa đến sôi động, đưa đến chia rẽ (hội chúng) nữa.’ Này các tỳ khưu, ta cho phép giải quyết sự tranh tụng có hình thức như thế bằng cách dùng cỏ che lấp.
Và này các tỳ khưu, nên giải quyết như vậy: Tất cả nên tụ họp lại một chỗ; sau khi tụ họp lại, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực: ‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hành. Nếu chúng ta xử lý lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến lủng củng, đưa đến sôi động, đưa đến chia rẽ (hội chúng) nữa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên giải quyết sự tranh tụng này bằng cách dùng cỏ che lấp, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ.’
Một vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực trong số các tỳ khưu cùng thuộc về một phe nên thông báo đến phe của mình rằng: ‘Bạch chư đại đức, xin hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là Sa-môn bằng lời nói và hành động đã được thực hành. Nếu chúng ta xử lý lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến lủng củng, đưa đến sôi động, đưa đến chia rẽ (hội chúng) nữa. Nếu là thời điểm thích hợp cho chư đại đức, tôi sẽ trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng tội của chính chư đại đức và tội của tôi vì sự lợi ích của chính chư đại đức và vì sự lợi ích của tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ.’
Rồi một vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực trong số các tỳ khưu cùng thuộc về phe kia nên thông báo đến phe của mình rằng: ‘Bạch chư đại đức, xin hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, … (như trên) … tôi sẽ trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng … (như trên) … ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ.’
Sau đó, hội chúng nên được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực trong số các tỳ khưu cùng thuộc về một phe rằng:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, nhiều việc không xứng là Sa-môn … (như trên) … đã được thực hành. Nếu chúng ta xử lý lẫn nhau bằng các tội này, sự tranh tụng ấy còn có thể đưa đến lủng củng, đưa đến sôi động, đưa đến chia rẽ (hội chúng) nữa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi xin trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng tội của chính các đại đức này và tội của tôi vì sự lợi ích của chính các đại đức này và vì sự lợi ích của tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, … (như trên) … tôi xin trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng tội của chính các đại đức này và tội của tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ. Đại đức nào đồng ý việc trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng đối với các tội này của chúng tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ, xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Các tội này của chúng tôi đã được trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Rồi hội chúng nên được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực trong số các tỳ khưu cùng thuộc về phe kia rằng:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, … (như trên) … tôi xin trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng … (như trên) … ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Chúng ta trong khi sống có nảy sinh các sự xung đột, các sự gây gỗ, đưa đến tranh cãi, … (như trên) … tôi xin trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng tội của chính các đại đức này và tội của tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ. Đại đức nào đồng ý việc trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng đối với các tội này của chúng tôi, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ, xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Các tội này của chúng tôi đã được trình báo bằng cách dùng cỏ che lấp giữa hội chúng, ngoại trừ trường hợp có lỗi nghiêm trọng, ngoại trừ trường hợp có liên quan đến cư sĩ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Inda-bh 61~97Này các tỳ khưu, điều ấy được gọi là sự tranh tụng đã được giải quyết. Được giải quyết nhờ vào điều gì?—Nhờ vào cách hành xử Luật với sự hiện diện và cách dùng cỏ che lấp.
Và ở đây, điều gì là ở trong cách hành xử Luật với sự hiện diện?—Sự hiện diện của hội chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của nhân sự.
Và ở đây, sự hiện diện của hội chúng là gì?—Các tỳ khưu theo số lượng cần thiết cho hành sự đã đi đến, sự tùy thuận của các vị xứng đáng gởi sự tùy thuận đã được đem lại, các vị hiện diện không phản đối; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của hội chúng. Và ở đây, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật là gì?—Với Pháp nào, với Luật nào, với lời giảng dạy nào của bậc Đạo Sư sự tranh tụng ấy được giải quyết; ở đây điều ấy là sự hiện diện của Pháp, là sự hiện diện của Luật. Và ở đây, sự hiện diện của nhân sự là gì?—Vị khai báo (tội) và vị chứng minh vị ấy khai báo (tội), cả hai đều hiện diện; ở đây, điều ấy là sự hiện diện của nhân sự.
Và ở đây, điều gì là ở trong việc dùng cỏ che lấp?—Điều nào là sự thực hiện, sự hành động, sự đạt đến, sự thỏa thuận, sự chấp nhận, sự không phản đối thuộc về hành sự dùng cỏ che lấp; ở đây điều ấy là ở trong việc dùng cỏ che lấp. Này các tỳ khưu, nếu có vị khơi lại sự tranh tụng đã được giải quyết như thế, vị khơi lại phạm tội pācittiya; (nếu) vị gởi thỏa thuận phê phán, vị phê phán phạm tội pācittiya.
Sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được lắng dịu bởi bao nhiêu cách dàn xếp?—Sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ được lắng dịu bởi một cách dàn xếp: bằng cách hành xử Luật với sự hiện diện.”
Dứt Chương Dàn Xếp là thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Small Division
The chapter on the settling of legal issues
4. Chương Dàn Xếp
1. Sammukhāvinaya
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū asammukhībhūtānaṁ bhikkhūnaṁ kammāni karonti—tajjanīyampi, niyassampi, pabbājanīyampi, paṭisāraṇīyampi, ukkhepanīyampi. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma chabbaggiyā bhikkhū asammukhībhūtānaṁ bhikkhūnaṁ kammāni karissanti—tajjanīyampi, niyassampi, pabbājanīyampi, paṭisāraṇīyampi, ukkhepanīyampī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“saccaṁ kira, bhikkhave, chabbaggiyā bhikkhū asammukhībhūtānaṁ bhikkhūnaṁ kammāni karonti—tajjanīyampi, niyassampi, pabbājanīyampi, paṭisāraṇīyampi, ukkhepanīyampī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, bhikkhave, tesaṁ moghapurisānaṁ ananulomikaṁ appatirūpaṁ assāmaṇakaṁ akappiyaṁ akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma te, bhikkhave, moghapurisā asammukhībhūtānaṁ bhikkhūnaṁ kammāni karissanti—
1. Resolution face-to-face
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time the monks from the group of six did legal procedures—condemnation, demotion, banishment, reconciliation, and ejection—against monks who were absent. The monks of few desires complained and criticized them, “How can the monks from the group of six do this?” They told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha of monks gathered and questioned them:
“Is it true, monks, that the monks from the group of six are doing this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them, “It’s not suitable for those foolish men, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How can they do this?
187. Cá nhân phi pháp thuyết phục cá nhân đúng pháp, làm cho hiểu, làm cho suy xét, làm cho xem xét, làm cho quán xét, chỉ cho thấy, trình bày rằng: – ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư. Hãy chấp nhận điều này, hãy tán thành điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được dàn xếp như vậy, nó được dàn xếp một cách phi pháp, bằng một sự mô phỏng luật hiện diện.
“Na, bhikkhave, asammukhībhūtānaṁ bhikkhūnaṁ kammaṁ kātabbaṁ—tajjanīyaṁ vā, niyassaṁ vā, pabbājanīyaṁ vā, paṭisāraṇīyaṁ vā, ukkhepanīyaṁ vā. Yo kareyya, āpatti dukkaṭassa.
“You shouldn’t do legal procedures—condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection—against monks who are absent. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
185. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn đang trú ngụ ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của Anāthapiṇḍika. Cũng vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu đã thực hiện các yết-ma đối với các tỳ khưu vắng mặt – cả yết-ma khiển trách (tajjanīya), cả yết-ma y chỉ (niyassa), cả yết-ma trục xuất (pabbājanīya), cả yết-ma sám hối (paṭisāraṇīya), cả yết-ma cử tội (ukkhepanīya). Các vị tỳ khưu thiểu dục… (vân vân)… đã phàn nàn, chê bai, và nói xấu rằng: – ‘Làm sao mà nhóm sáu tỳ khưu lại có thể thực hiện các yết-ma đối với các tỳ khưu vắng mặt – cả yết-ma khiển trách, cả yết-ma y chỉ, cả yết-ma trục xuất, cả yết-ma sám hối, cả yết-ma cử tội chứ!’ Khi ấy, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn… (vân vân)… – ‘Này các tỳ khưu, có thật là nhóm sáu tỳ khưu đã thực hiện các yết-ma đối với các tỳ khưu vắng mặt – cả yết-ma khiển trách, cả yết-ma y chỉ, cả yết-ma trục xuất, cả yết-ma sám hối, cả yết-ma cử tội không?’ – ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách: – ‘Này các tỳ khưu, việc làm của những kẻ rỗng tuếch ấy là không thích hợp, không tương xứng, không phải phép, không phải hạnh sa-môn, không được phép, không nên làm. Này các tỳ khưu, làm sao mà những kẻ rỗng tuếch ấy lại có thể thực hiện các yết-ma đối với các tỳ khưu vắng mặt – cả yết-ma khiển trách, cả yết-ma y chỉ, cả yết-ma trục xuất, cả yết-ma sám hối, cả yết-ma cử tội chứ! Này các tỳ khưu, việc này không thể làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin… (vân vân)…’ Sau khi quở trách… (vân vân)… sau khi thuyết một bài pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ khưu: – ‘Này các tỳ khưu, không được thực hiện yết-ma đối với các tỳ khưu vắng mặt – dù là yết-ma khiển trách, hay yết-ma y chỉ, hay yết-ma trục xuất, hay yết-ma sám hối, hay yết-ma cử tội. Vị nào thực hiện, vị ấy phạm tội tác ác (dukkaṭa).’
Adhammavādī puggalo adhammavādī sambahulā adhammavādī saṅgho. Dhammavādī puggalo dhammavādī sambahulā dhammavādī saṅgho.
An individual who speaks contrary to the Teaching; several people who speak contrary to the Teaching; a sangha that speaks contrary to the Teaching. An individual who speaks in accordance with the Teaching; several people who speak in accordance with the Teaching; a sangha that speaks in accordance with the Teaching.”
186. Cá nhân phi pháp, nhiều vị phi pháp, Tăng chúng phi pháp. Cá nhân đúng pháp, nhiều vị đúng pháp, Tăng chúng đúng pháp.
1.1. Kaṇhapakkhanavaka
Adhammavādī puggalo dhammavādiṁ puggalaṁ saññāpeti nijjhāpeti pekkheti anupekkheti dasseti anudasseti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhāhi, imaṁ rocehī’ti. Evañcetaṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, adhammena vūpasammati sammukhāvinayapatirūpakena.
The group of nine on the dark side
“An individual who speaks contrary to the Teaching persuades an individual who speaks in accordance with the Teaching—convinces him, makes him see, makes him consider, shows him, teaches him: ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; learn this, accept this.’ If a legal issue is resolved like this, it’s resolved illegitimately by a face-to-face-like resolution.
Phẩm Hắc Phần (Kaṇhapakkha)
Adhammavādī puggalo dhammavādī sambahule saññāpeti nijjhāpeti pekkheti anupekkheti dasseti anudasseti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Evañcetaṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, adhammena vūpasammati sammukhāvinayapatirūpakena.
An individual who speaks contrary to the Teaching persuades several people who speak in accordance with the Teaching—convinces them, makes them see, makes them consider, shows them, teaches them: ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; learn this, accept this.’ If a legal issue is resolved like this, it’s resolved illegitimately by a face-to-face-like resolution.
Cá nhân phi pháp thuyết phục nhiều vị đúng pháp, làm cho hiểu, làm cho suy xét, làm cho xem xét, làm cho quán xét, chỉ cho thấy, trình bày rằng: – ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư. Các vị hãy chấp nhận điều này, các vị hãy tán thành điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được dàn xếp như vậy, nó được dàn xếp một cách phi pháp, bằng một sự mô phỏng luật hiện diện.
Adhammavādī puggalo dhammavādiṁ saṅghaṁ saññāpeti nijjhāpeti pekkheti anupekkheti dasseti anudasseti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhāhi, imaṁ rocehī’ti. Evañcetaṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, adhammena vūpasammati sammukhāvinayapatirūpakena.
An individual who speaks contrary to the Teaching persuades a sangha that speaks in accordance with the Teaching—convinces it, makes it see, makes it consider, shows it, teaches it: ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; learn this, accept this.’ If a legal issue is resolved like this, it’s resolved illegitimately by a face-to-face-like resolution.
Cá nhân phi pháp thuyết phục Tăng chúng đúng pháp, làm cho hiểu, làm cho suy xét, làm cho xem xét, làm cho quán xét, chỉ cho thấy, trình bày rằng: – ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư. Hãy chấp nhận điều này, hãy tán thành điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được dàn xếp như vậy, nó được dàn xếp một cách phi pháp, bằng một sự mô phỏng luật hiện diện.
Adhammavādī sambahulā dhammavādiṁ puggalaṁ saññāpenti nijjhāpenti pekkhenti anupekkhenti dassenti anudassenti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhāhi, imaṁ rocehī’ti. Evañcetaṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, adhammena vūpasammati sammukhāvinayapatirūpakena.
Several people who speak contrary to the Teaching persuade an individual who speaks in accordance with the Teaching—convince him, make him see, make him consider, show him, teach him: ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; learn this, accept this.’ If a legal issue is resolved like this, it’s resolved illegitimately by a face-to-face-like resolution.
Nhiều vị phi pháp thuyết phục cá nhân đúng pháp, làm cho hiểu, làm cho suy xét, làm cho xem xét, làm cho quán xét, chỉ cho thấy, trình bày rằng: – ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư. Hãy chấp nhận điều này, hãy tán thành điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được dàn xếp như vậy, nó được dàn xếp một cách phi pháp, bằng một sự mô phỏng luật hiện diện.
Adhammavādī sambahulā dhammavādī sambahule saññāpenti nijjhāpenti pekkhenti anupekkhenti dassenti anudassenti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Evañcetaṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, adhammena vūpasammati sammukhāvinayapatirūpakena.
Several people who speak contrary to the Teaching persuade several people who speak in accordance with the Teaching—convince them, make them see, make them consider, show them, teach them: ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; learn this, accept this.’ If a legal issue is resolved like this, it’s resolved illegitimately by a face-to-face-like resolution.
Nhiều vị phi pháp thuyết phục nhiều vị đúng pháp, làm cho hiểu, làm cho suy xét, làm cho xem xét, làm cho quán xét, chỉ cho thấy, trình bày rằng: – ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư. Các vị hãy chấp nhận điều này, các vị hãy tán thành điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được dàn xếp như vậy, nó được dàn xếp một cách phi pháp, bằng một sự mô phỏng luật hiện diện.
Adhammavādī sambahulā dhammavādiṁ saṅghaṁ saññāpenti nijjhāpenti pekkhenti anupekkhenti dassenti anudassenti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhāhi, imaṁ rocehī’ti. Evañcetaṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, adhammena vūpasammati sammukhāvinayapatirūpakena.
Several people who speak contrary to the Teaching persuade a sangha that speaks in accordance with the Teaching—convince it, make it see, make it consider, show it, teach it: ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; learn this, accept this.’ If a legal issue is resolved like this, it’s resolved illegitimately by a face-to-face-like resolution.
Nhiều vị phi pháp thuyết phục Tăng chúng đúng pháp, làm cho hiểu, làm cho suy xét, làm cho xem xét, làm cho quán xét, chỉ cho thấy, trình bày rằng: – ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư. Hãy chấp nhận điều này, hãy tán thành điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được dàn xếp như vậy, nó được dàn xếp một cách phi pháp, bằng một sự mô phỏng luật hiện diện.
Adhammavādī saṅgho dhammavādiṁ puggalaṁ saññāpeti nijjhāpeti pekkheti anupekkheti dasseti anudasseti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhāhi, imaṁ rocehī’ti. Evañcetaṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, adhammena vūpasammati sammukhāvinayapatirūpakena.
A sangha that speaks contrary to the Teaching persuades an individual who speaks in accordance with the Teaching—convinces him, makes him see, makes him consider, shows him, teaches him: ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; learn this, accept this.’ If a legal issue is resolved like this, it’s resolved illegitimately by a face-to-face-like resolution.
Tăng chúng phi pháp thuyết phục cá nhân đúng pháp, làm cho hiểu, làm cho suy xét, làm cho xem xét, làm cho quán xét, chỉ cho thấy, trình bày rằng: – ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư. Hãy chấp nhận điều này, hãy tán thành điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được dàn xếp như vậy, nó được dàn xếp một cách phi pháp, bằng một sự mô phỏng luật hiện diện.
Adhammavādī saṅgho dhammavādī sambahule saññāpeti nijjhāpeti pekkheti anupekkheti dasseti anudasseti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Evañcetaṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, adhammena vūpasammati sammukhāvinayapatirūpakena.
A sangha that speaks contrary to the Teaching persuades several people who speak in accordance with the Teaching—convinces them, makes them see, makes them consider, shows them, teaches them: ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; learn this, accept this.’ If a legal issue is resolved like this, it’s resolved illegitimately by a face-to-face-like resolution.
Tăng chúng phi pháp thuyết phục nhiều vị đúng pháp, làm cho hiểu, làm cho suy xét, làm cho xem xét, làm cho quán xét, chỉ cho thấy, trình bày rằng: – ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư. Các vị hãy chấp nhận điều này, các vị hãy tán thành điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được dàn xếp như vậy, nó được dàn xếp một cách phi pháp, bằng một sự mô phỏng luật hiện diện.
Adhammavādī saṅgho dhammavādiṁ saṅghaṁ saññāpeti nijjhāpeti pekkheti anupekkheti dasseti anudasseti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhāhi, imaṁ rocehī’ti. Evañcetaṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, adhammena vūpasammati sammukhāvinayapatirūpakena.
A sangha that speaks contrary to the Teaching persuades a sangha that speaks in accordance with the Teaching—convinces it, makes it see, makes it consider, shows it, teaches it: ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; learn this, accept this.’ If a legal issue is resolved like this, it’s resolved illegitimately by a face-to-face-like resolution.”
Tăng chúng phi pháp thuyết phục Tăng chúng đúng pháp, làm cho hiểu, làm cho suy xét, làm cho xem xét, làm cho quán xét, chỉ cho thấy, trình bày rằng: – ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo Sư. Hãy chấp nhận điều này, hãy tán thành điều này.’ Nếu sự tranh tụng ấy được dàn xếp như vậy, nó được dàn xếp một cách phi pháp, bằng một sự mô phỏng luật hiện diện.
Kaṇhapakkhanavakaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of nine on the dark side is finished.
Dứt phẩm Hắc Phần (Kaṇhapakkha).
1.2. Sukkapakkhanavaka
The group of nine on the bright side
Phẩm Bạch Phần (Sukkapakkha)
Dhammavādī puggalo adhammavādiṁ puggalaṁ saññāpeti nijjhāpeti pekkheti anupekkheti dasseti anudasseti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhāhi, imaṁ rocehī’ti. Evañcetaṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, dhammena vūpasammati sammukhāvinayena.
“An individual who speaks in accordance with the Teaching persuades an individual who speaks contrary to the Teaching—convinces him, makes him see, makes him consider, shows him, teaches him: ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; learn this, accept this.’ If a legal issue is resolved like this, it’s resolved legitimately by face-to-face resolution.
188. “Vị nói đúng Pháp làm cho người nói phi Pháp hiểu rõ, quán sát, xem xét, xem xét kỹ, chỉ ra, chỉ rõ rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của Bậc Đạo Sư. Hãy tiếp nhận điều này, hãy hài lòng với điều này.’ Và nếu vụ việc ấy được dàn xếp như thế, thì được gọi là dàn xếp đúng Pháp, bằng phương thức đối mặt (Sammukhāvinaya).”
Dhammavādī puggalo adhammavādī sambahule saññāpeti nijjhāpeti pekkheti anupekkheti dasseti anudasseti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Evañcetaṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, dhammena vūpasammati sammukhāvinayena.
An individual who speaks in accordance with the Teaching persuades several people who speak contrary to the Teaching—convinces them, makes them see, makes them consider, shows them, teaches them: ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; learn this, accept this.’ If a legal issue is resolved like this, it’s resolved legitimately by face-to-face resolution.
“Vị nói đúng Pháp làm cho nhiều người nói phi Pháp hiểu rõ, quán sát, xem xét, xem xét kỹ, chỉ ra, chỉ rõ rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của Bậc Đạo Sư. Các vị hãy tiếp nhận điều này, các vị hãy hài lòng với điều này.’ Và nếu vụ việc ấy được dàn xếp như thế, thì được gọi là dàn xếp đúng Pháp, bằng phương thức đối mặt (Sammukhāvinaya).”
Dhammavādī puggalo adhammavādiṁ saṅghaṁ saññāpeti nijjhāpeti pekkheti anupekkheti dasseti anudasseti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhāhi, imaṁ rocehī’ti. Evañcetaṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, dhammena vūpasammati sammukhāvinayena.
An individual who speaks in accordance with the Teaching persuades a sangha that speaks contrary to the Teaching—convinces it, makes it see, makes it consider, shows it, teaches it: ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; learn this, accept this.’ If a legal issue is resolved like this, it’s resolved legitimately by face-to-face resolution.
“Vị nói đúng Pháp làm cho Tăng chúng nói phi Pháp hiểu rõ, quán sát, xem xét, xem xét kỹ, chỉ ra, chỉ rõ rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của Bậc Đạo Sư. Hãy tiếp nhận điều này, hãy hài lòng với điều này.’ Và nếu vụ việc ấy được dàn xếp như thế, thì được gọi là dàn xếp đúng Pháp, bằng phương thức đối mặt (Sammukhāvinaya).”
Dhammavādī sambahulā adhammavādiṁ puggalaṁ saññāpenti nijjhāpenti pekkhenti anupekkhenti dassenti anudassenti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhāhi, imaṁ rocehī’ti. Evañcetaṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, dhammena vūpasammati sammukhāvinayena.
Several people who speak in accordance with the Teaching persuade an individual who speaks contrary to the Teaching—convince him, make him see, make him consider, show him, teach him: ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; learn this, accept this.’ If a legal issue is resolved like this, it’s resolved legitimately by face-to-face resolution.
“Nhiều vị nói đúng Pháp làm cho người nói phi Pháp hiểu rõ, quán sát, xem xét, xem xét kỹ, chỉ ra, chỉ rõ rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của Bậc Đạo Sư. Hãy tiếp nhận điều này, hãy hài lòng với điều này.’ Và nếu vụ việc ấy được dàn xếp như thế, thì được gọi là dàn xếp đúng Pháp, bằng phương thức đối mặt (Sammukhāvinaya).”
Dhammavādī sambahulā adhammavādī sambahule saññāpenti nijjhāpenti pekkhenti anupekkhenti dassenti anudassenti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Evañcetaṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, dhammena vūpasammati sammukhāvinayena.
Several people who speak in accordance with the Teaching persuade several people who speak contrary to the Teaching—convince them, make them see, make them consider, show them, teach them: ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; learn this, accept this.’ If a legal issue is resolved like this, it’s resolved legitimately by face-to-face resolution.
“Nhiều vị nói đúng Pháp thuyết phục nhiều vị nói không đúng Pháp, làm cho hiểu rõ, làm cho quán xét, xem xét, xem xét kỹ, chỉ ra, và giải thích rõ rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của Bậc Đạo Sư. Các vị hãy thọ trì điều này, các vị hãy hài lòng với điều này.’ Và nếu vụ tranh tụng ấy được dàn xếp như thế, thì nó được dàn xếp đúng theo Pháp, bằng phương pháp đối mặt (Sammukhāvinaya).”
Dhammavādī sambahulā adhammavādiṁ saṅghaṁ saññāpenti nijjhāpenti pekkhenti anupekkhenti dassenti anudassenti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhāhi, imaṁ rocehī’ti. Evañcetaṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, dhammena vūpasammati sammukhāvinayena.
Several people who speak in accordance with the Teaching persuade a sangha that speaks contrary to the Teaching—convince it, make it see, make it consider, show it, teach it: ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; learn this, accept this.’ If a legal issue is resolved like this, it’s resolved legitimately by face-to-face resolution.
“Nhiều vị nói đúng Pháp thuyết phục Tăng chúng nói không đúng Pháp, làm cho hiểu rõ, làm cho quán xét, xem xét, xem xét kỹ, chỉ ra, và giải thích rõ rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của Bậc Đạo Sư. Hãy thọ trì điều này, hãy hài lòng với điều này.’ Và nếu vụ tranh tụng ấy được dàn xếp như thế, thì nó được dàn xếp đúng theo Pháp, bằng phương pháp đối mặt (Sammukhāvinaya).”
Dhammavādī saṅgho adhammavādiṁ puggalaṁ saññāpeti nijjhāpeti pekkheti anupekkheti dasseti anudasseti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhāhi, imaṁ rocehī’ti. Evañcetaṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, dhammena vūpasammati sammukhāvinayena.
A sangha that speaks in accordance with the Teaching persuades an individual who speaks contrary to the Teaching—convinces him, makes him see, makes him consider, shows him, teaches him: ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; learn this, accept this.’ If a legal issue is resolved like this, it’s resolved legitimately by face-to-face resolution.
“Tăng chúng nói đúng Pháp thuyết phục cá nhân nói không đúng Pháp, làm cho hiểu rõ, làm cho quán xét, xem xét, xem xét kỹ, chỉ ra, và giải thích rõ rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của Bậc Đạo Sư. Hãy thọ trì điều này, hãy hài lòng với điều này.’ Và nếu vụ tranh tụng ấy được dàn xếp như thế, thì nó được dàn xếp đúng theo Pháp, bằng phương pháp đối mặt (Sammukhāvinaya).”
Dhammavādī saṅgho adhammavādī sambahule saññāpeti nijjhāpeti pekkheti anupekkheti dasseti anudasseti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhatha, imaṁ rocethā’ti. Evañcetaṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, dhammena vūpasammati sammukhāvinayena.
A sangha that speaks in accordance with the Teaching persuades several people who speak contrary to the Teaching—convinces them, makes them see, makes them consider, shows them, teaches them: ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; learn this, accept this.’ If a legal issue is resolved like this, it’s resolved legitimately by face-to-face resolution.
“Tăng chúng nói đúng Pháp thuyết phục nhiều vị nói không đúng Pháp, làm cho hiểu rõ, làm cho quán xét, xem xét, xem xét kỹ, chỉ ra, và giải thích rõ rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của Bậc Đạo Sư. Các vị hãy thọ trì điều này, các vị hãy hài lòng với điều này.’ Và nếu vụ tranh tụng ấy được dàn xếp như thế, thì nó được dàn xếp đúng theo Pháp, bằng phương pháp đối mặt (Sammukhāvinaya).”
Dhammavādī saṅgho adhammavādiṁ saṅghaṁ saññāpeti nijjhāpeti pekkheti anupekkheti dasseti anudasseti—‘ayaṁ dhammo, ayaṁ vinayo, idaṁ satthusāsanaṁ, imaṁ gaṇhāhi, imaṁ rocehī’ti. Evañcetaṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati, dhammena vūpasammati sammukhāvinayenā”ti.
A sangha that speaks in accordance with the Teaching persuades a sangha that speaks contrary to the Teaching—convinces it, makes it see, makes it consider, shows it, teaches it: ‘This is the Teaching, this is the Monastic Law, this is the Teacher’s instruction; learn this, accept this.’ If a legal issue is resolved like this, it’s resolved legitimately by face-to-face resolution.”
“Tăng chúng nói đúng Pháp thuyết phục Tăng chúng nói không đúng Pháp, làm cho hiểu rõ, làm cho quán xét, xem xét, xem xét kỹ, chỉ ra, và giải thích rõ rằng: ‘Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời giáo huấn của Bậc Đạo Sư. Hãy thọ trì điều này, hãy hài lòng với điều này.’ Và nếu vụ tranh tụng ấy được dàn xếp như thế, thì nó được dàn xếp đúng theo Pháp, bằng phương pháp đối mặt (Sammukhāvinaya).”
Sukkapakkhanavakaṁ niṭṭhitaṁ.
2. Sativinaya
The group of nine on the bright side is finished.
2. Resolution through recollection
Phẩm Chín Về Bạch Phần đã kết thúc.
Tena samayena buddho bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena āyasmatā dabbena mallaputtena jātiyā sattavassena arahattaṁ sacchikataṁ hoti. Yaṁ kiñci sāvakena pattabbaṁ sabbaṁ tena anuppattaṁ hoti. Natthi cassa kiñci uttari karaṇīyaṁ, katassa vā paticayo. Atha kho āyasmato dabbassa mallaputtassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—“mayā kho jātiyā sattavassena arahattaṁ sacchikataṁ. Yaṁ kiñci sāvakena pattabbaṁ sabbaṁ mayā anuppattaṁ. Natthi ca me kiñci uttarikaraṇīyaṁ, katassa vā paticayo. Kiṁ nu kho ahaṁ saṅghassa veyyāvaccaṁ kareyyan”ti.
At one time when the Buddha was staying at Rājagaha in the Bamboo Grove, Venerable Dabba the Mallian realized perfection at the age of seven. He had achieved all there is to achieve by a disciple and had nothing further to do. Then, while reflecting in private, he thought, “How can I be of service to the Sangha?
189. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, bậc Thế Tôn, đang trú ngụ ở Rājagaha, tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Và cũng vào lúc bấy giờ, Tôn giả Dabba Mallaputta, vào lúc bảy tuổi tính từ khi sinh ra, đã chứng ngộ quả A-la-hán. Bất cứ điều gì một vị thinh văn cần phải đạt đến, tất cả điều ấy đã được vị ấy đạt đến. Vị ấy không còn việc gì cao hơn phải làm, cũng không có sự tích lũy thêm cho việc đã làm. Khi ấy, Tôn giả Dabba Mallaputta, trong khi ở nơi thanh vắng, độc cư, một tư duy như vầy đã khởi lên trong tâm: “Ta, vào lúc bảy tuổi tính từ khi sinh ra, đã chứng ngộ quả A-la-hán. Bất cứ điều gì một vị thinh văn cần phải đạt đến, tất cả điều ấy đã được ta đạt đến. Ta không còn việc gì cao hơn phải làm, cũng không có sự tích lũy thêm cho việc đã làm. Ta nên làm công việc phục vụ gì cho Tăng chúng đây?”
“Sādhu sādhu, dabba. Tena hi tvaṁ, dabba, saṅghassa senāsanañca paññapehi bhattāni ca uddisāhī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā dabbo mallaputto bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—“tena hi, bhikkhave, saṅgho dabbaṁ mallaputtaṁ senāsanapaññāpakañca bhattuddesakañca sammannatu. Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbo. Paṭhamaṁ dabbo mallaputto yācitabbo. Yācitvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
“Good, good, Dabba, please do so.”
“Yes, sir.”
Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks: “Monks, the Sangha should appoint Dabba the Mallian as the assigner of dwellings and the designator of meals. And he should be appointed like this. First Dabba should be asked. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
Bấy giờ, Tôn giả Dabba con trai của người Mallā khởi lên ý nghĩ này: “Thật tốt thay nếu ta sắp xếp chỗ ở và phân chia vật thực cho chư Tăng.” Bấy giờ, Tôn giả Dabba con trai của người Mallā, vào buổi chiều, sau khi rời khỏi nơi độc cư, đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Dabba con trai của người Mallā đã bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, ở đây, khi con đang ở nơi thanh vắng, độc cư, ý nghĩ này đã khởi lên trong tâm con: ‘Ta đã chứng đắc A-la-hán quả vào năm lên bảy tuổi kể từ khi sinh ra. Bất cứ điều gì một vị đệ tử cần phải chứng đắc, tất cả những điều ấy ta đã chứng đắc. Ta không còn việc gì phải làm thêm nữa, cũng không cần phải vun bồi thêm cho những gì đã làm. Ta có thể làm công việc phục vụ gì cho chư Tăng đây?’ Bạch Thế Tôn, khi ấy, ý nghĩ này đã khởi lên nơi con: ‘Thật tốt thay nếu ta sắp xếp chỗ ở và phân chia vật thực cho chư Tăng.’ Bạch Thế Tôn, con mong muốn được sắp xếp chỗ ở và phân chia vật thực cho chư Tăng.” “Lành thay, lành thay, Dabba. Này Dabba, vậy thì ngươi hãy sắp xếp chỗ ở và phân chia vật thực cho chư Tăng.” “Vâng, bạch Thế Tôn.” Tôn giả Dabba con trai của người Mallā đã vâng lời Thế Tôn. Bấy giờ, nhân sự việc này, trong bối cảnh này, Thế Tôn đã thuyết một bài pháp thoại và gọi các vị tỳ-kheo: “Này các tỳ-kheo, vậy thì Tăng chúng hãy cử nhiệm Dabba con trai của người Mallā làm người sắp xếp chỗ ở và người phân chia vật thực. Và này các tỳ-kheo, nên cử nhiệm như sau. Trước hết, nên thỉnh cầu Dabba con trai của người Mallā. Sau khi thỉnh cầu, một vị tỳ-kheo có năng lực, có khả năng nên bạch cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ senāsanapaññāpakañca bhattuddesakañca sammanneyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should appoint Venerable Dabba the Mallian as the assigner of dwellings and the designator of meals. This is the motion.
190. “Kính bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng lắng nghe con. Nếu thời điểm đã thích hợp đối với Tăng chúng, Tăng chúng nên cử nhiệm Tôn giả Dabba con trai của người Mallā làm người sắp xếp chỗ ở và người phân chia vật thực. Đây là lời tác bạch.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ senāsanapaññāpakañca bhattuddesakañca sammannati. Yassāyasmato khamati āyasmato dabbassa mallaputtassa senāsanapaññāpakassa ca bhattuddesakassa ca sammuti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha appoints Venerable Dabba the Mallian as the assigner of dwellings and the designator of meals. Any monk who approves of appointing Venerable Dabba as the assigner of dwellings and the designator of meals should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Đại đức Tăng, xin Tăng chúng lắng nghe con. Tăng chúng cử nhiệm Tôn giả Dabba con trai của người Mallā làm người sắp xếp chỗ ở và người phân chia vật thực. Vị Tôn giả nào chấp thuận việc cử nhiệm Tôn giả Dabba con trai của người Mallā làm người sắp xếp chỗ ở và người phân chia vật thực thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng.
Sammato saṅghena āyasmā dabbo mallaputto senāsanapaññāpako ca bhattuddesako ca. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has appointed Venerable Dabba the Mallian as the assigner of dwellings and the designator of meals. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Tôn giả Dabba con trai của người Mallā đã được Tăng chúng cử nhiệm làm người sắp xếp chỗ ở và người phân chia vật thực. Tăng chúng đã chấp thuận, vì vậy nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Sammato ca panāyasmā dabbo mallaputto sabhāgānaṁ bhikkhūnaṁ ekajjhaṁ senāsanaṁ paññapeti. Ye te bhikkhū suttantikā tesaṁ ekajjhaṁ senāsanaṁ paññapeti—“te aññamaññaṁ suttantaṁ saṅgāyissantī”ti. Ye te bhikkhū vinayadharā tesaṁ ekajjhaṁ senāsanaṁ paññapeti—“te aññamaññaṁ vinayaṁ vinicchinissantī”ti. Ye te bhikkhū dhammakathikā tesaṁ ekajjhaṁ senāsanaṁ paññapeti—“te aññamaññaṁ dhammaṁ sākacchissantī”ti. Ye te bhikkhū jhāyino tesaṁ ekajjhaṁ senāsanaṁ paññapeti—“te aññamaññaṁ na byābādhissantī”ti. Ye te bhikkhū tiracchānakathikā kāyadaḷhibahulā viharanti tesampi ekajjhaṁ senāsanaṁ paññapeti—“imāyapime āyasmanto ratiyā acchissantī”ti.
Yepi te bhikkhū vikāle āgacchanti tesampi tejodhātuṁ samāpajjitvā teneva ālokena senāsanaṁ paññapeti; apissu bhikkhū sañcicca vikāle āgacchanti—“mayaṁ āyasmato dabbassa mallaputtassa iddhipāṭihāriyaṁ passissāmā”ti.
Dabba assigned dwellings to the monks according to their character. He assigned dwellings in the same place to those monks who were experts on the discourses, thinking, “They’ll recite the discourses to one another.” And he did likewise for the experts on the Monastic Law, thinking, “They’ll discuss the Monastic Law;” for the expounders of the Teaching, thinking, “They’ll discuss the Teaching;” for the meditators, thinking, “They won’t disturb one another;” and for the gossips and the bodybuilders, thinking, “In this way even these venerables will be happy.”
When monks arrived at night, he entered the fire element and assigned dwellings with the help of that light. Monks even arrived late on purpose, hoping to see the marvel of Dabba’s supernormal powers.
191. Sau khi được cử nhiệm, Tôn giả Dabba con trai của người Mallā đã sắp xếp chỗ ở chung cho các vị tỳ-kheo có cùng khuynh hướng. Với các vị tỳ-kheo chuyên về Kinh tạng, ngài sắp xếp chỗ ở chung cho họ, nghĩ rằng: ‘Họ sẽ cùng nhau tụng đọc Kinh điển.’ Với các vị tỳ-kheo chuyên về Luật tạng, ngài sắp xếp chỗ ở chung cho họ, nghĩ rằng: ‘Họ sẽ cùng nhau phân xử về Luật.’ Với các vị tỳ-kheo là những nhà thuyết pháp, ngài sắp xếp chỗ ở chung cho họ, nghĩ rằng: ‘Họ sẽ cùng nhau thảo luận về Giáo pháp.’ Với các vị tỳ-kheo chuyên về thiền định, ngài sắp xếp chỗ ở chung cho họ, nghĩ rằng: ‘Họ sẽ không làm phiền lẫn nhau.’ Với các vị tỳ-kheo hay nói chuyện thế gian, chú trọng đến việc rèn luyện thân thể, ngài cũng sắp xếp chỗ ở chung cho họ, nghĩ rằng: ‘Các vị Tôn giả này sẽ sống với niềm vui này.’ Và với những vị tỳ-kheo đến vào lúc phi thời, ngài nhập vào hỏa đại biến và dùng chính ánh sáng đó để sắp xếp chỗ ở cho họ; thậm chí có những vị tỳ-kheo cố tình đến vào lúc phi thời, nghĩ rằng: ‘Chúng ta sẽ được thấy thần thông của Tôn giả Dabba con trai của người Mallā.’”
“kattha āyasmantā icchanti kattha paññapemī”ti?
Te sañcicca dūre apadisanti—“amhākaṁ, āvuso dabba, gijjhakūṭe pabbate senāsanaṁ paññapehi. Amhākaṁ, āvuso, corapapāte senāsanaṁ paññapehi. Amhākaṁ, āvuso, isigilipasse kāḷasilāyaṁ senāsanaṁ paññapehi. Amhākaṁ, āvuso, vebhārapasse sattapaṇṇiguhāyaṁ senāsanaṁ paññapehi. Amhākaṁ, āvuso, sītavane sappasoṇḍikapabbhāre senāsanaṁ paññapehi. Amhākaṁ, āvuso, gotamakakandarāyaṁ senāsanaṁ paññapehi. Amhākaṁ, āvuso, tindukakandarāyaṁ senāsanaṁ paññapehi. Amhākaṁ, āvuso, tapodakandarāyaṁ senāsanaṁ paññapehi. Amhākaṁ, āvuso, tapodārāme senāsanaṁ paññapehi. Amhākaṁ, āvuso, jīvakambavane senāsanaṁ paññapehi. Amhākaṁ, āvuso, maddakucchimhi migadāye senāsanaṁ paññapehī”ti.
“Where would you like to stay?”
They would intentionally suggest somewhere far away: “On the Vulture Peak,” “At Robbers’ Cliff,” “On Black Rock on the slope of Mount Isigili,” “In the Sattapaṇṇi Cave on the slope of Mount Vebhāra,” “In Cool Grove on the hill at the Snake’s Pool,” “At Gotamaka Gorge,” “At Tinduka Gorge,” “At Tapoda Gorge,” “In Tapoda Park,” “In Jīvaka’s Mango Grove,” “In the deer park at Maddakucchi.”
Họ đến gặp Tôn giả Dabba con trai của người Mallā và nói rằng: “Này hiền giả Dabba, hãy sắp xếp chỗ ở cho chúng tôi.” Tôn giả Dabba con trai của người Mallā nói với họ rằng: “Các Tôn giả muốn ở đâu, để tôi sắp xếp ở đó?” Họ cố tình chỉ những nơi ở xa: “Này hiền giả Dabba, hãy sắp xếp chỗ ở cho chúng tôi trên núi Gijjhakūṭa. Này hiền giả, hãy sắp xếp chỗ ở cho chúng tôi tại vực Corapapāta. Này hiền giả, hãy sắp xếp chỗ ở cho chúng tôi tại tảng đá đen bên sườn núi Isigili. Này hiền giả, hãy sắp xếp chỗ ở cho chúng tôi tại hang Sattapaṇṇi bên sườn núi Vebhāra. Này hiền giả, hãy sắp xếp chỗ ở cho chúng tôi tại sườn núi Sappasoṇḍika trong rừng Sītavana. Này hiền giả, hãy sắp xếp chỗ ở cho chúng tôi tại khe núi Gotamaka. Này hiền giả, hãy sắp xếp chỗ ở cho chúng tôi tại khe núi Tinduka. Này hiền giả, hãy sắp xếp chỗ ở cho chúng tôi tại khe núi Tapoda. Này hiền giả, hãy sắp xếp chỗ ở cho chúng tôi tại tu viện Tapodārāma. Này hiền giả, hãy sắp xếp chỗ ở cho chúng tôi tại vườn xoài của Jīvaka. Này hiền giả, hãy sắp xếp chỗ ở cho chúng tôi tại vườn Lộc Uyển ở Maddakucchi.”
Tesaṁ āyasmā dabbo mallaputto tejodhātuṁ samāpajjitvā aṅguliyā jalamānāya purato purato gacchati. Tepi teneva ālokena āyasmato dabbassa mallaputtassa piṭṭhito piṭṭhito gacchanti. Tesaṁ āyasmā dabbo mallaputto evaṁ senāsanaṁ paññapeti—“ayaṁ mañco, idaṁ pīṭhaṁ, ayaṁ bhisi, idaṁ bibbohanaṁ, idaṁ vaccaṭṭhānaṁ, idaṁ passāvaṭṭhānaṁ, idaṁ pānīyaṁ, idaṁ paribhojanīyaṁ, ayaṁ kattaradaṇḍo, idaṁ saṅghassa katikasaṇṭhānaṁ, imaṁ kālaṁ pavisitabbaṁ, imaṁ kālaṁ nikkhamitabban”ti. Tesaṁ āyasmā dabbo mallaputto evaṁ senāsanaṁ paññapetvā punadeva veḷuvanaṁ paccāgacchati.
Dabba then entered the fire element, and with his finger glowing, he walked in front of those monks. They followed behind him with the help of that light. And he would assign them dwellings: “This is the bed, this the bench, this the mattress, this the pillow, this the place for defecating, this the place for urinating, this the water for drinking, this the water for washing, this the walking stick; these are the Sangha’s agreements concerning the right time to enter and the right time to leave.” Dabba then returned to the Bamboo Grove.
Đối với các vị ấy, trưởng lão Dabba Mallaputta sau khi nhập hỏa đại, đi ở phía trước phía trước với ngón tay đang cháy sáng. Và các vị ấy cũng đi theo sau lưng sau lưng của trưởng lão Dabba Mallaputta bằng chính ánh sáng ấy. Trưởng lão Dabba Mallaputta đã sắp đặt chỗ ở cho các vị ấy như vầy: – ‘Đây là giường, đây là ghế, đây là nệm, đây là gối, đây là chỗ đại tiện, đây là chỗ tiểu tiện, đây là nước uống, đây là nước dùng, đây là cây gậy, đây là quy định của Tăng chúng, vào giờ này nên đi vào, vào giờ này nên đi ra.’ Trưởng lão Dabba Mallaputta sau khi đã sắp đặt chỗ ở cho các vị ấy như vậy, lại trở về tu viện Veḷuvana.
Te pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā there bhikkhū pucchanti—“tumhākaṁ, āvuso, bhattagge kiṁ ahosi, tumhākaṁ kiṁ ahosī”ti?
Ekacce therā evaṁ vadanti—“amhākaṁ, āvuso, sappi ahosi, telaṁ ahosi, uttaribhaṅgaṁ ahosī”ti.
Mettiyabhūmajakā pana bhikkhū evaṁ vadanti—“amhākaṁ, āvuso, na kiñci ahosi—pākatikaṁ yathārandhaṁ kaṇājakaṁ bilaṅgadutiyan”ti.
When they had eaten their meal and returned from almsround, they asked the senior monks, “What did you get at the dining hall?”
Some said, “We got ghee, oil, and special curries.”
But the monks Mettiya and Bhūmajaka said, “We didn’t get anything except ordinary food of porridge and broken rice.”
192. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka vừa là người mới tu, vừa ít phước đức. Những chỗ ở nào của Tăng chúng là tồi tàn thì những chỗ ở ấy đến với họ, và các vật thực tồi tàn cũng vậy. Vào lúc bấy giờ, ở thành Rājagaha, dân chúng muốn dâng cúng vật thực khất thực được chuẩn bị đặc biệt cho các vị tỳ khưu trưởng lão – cả bơ, cả dầu, cả món ăn thêm. Nhưng đối với các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka, họ dâng cúng đồ bình thường – cơm tấm nấu như thường lệ với nước chua làm món thứ hai. Sau bữa ăn, sau khi đã đi khất thực về, họ hỏi các vị tỳ khưu trưởng lão: – ‘Thưa chư hiền, ở nhà ăn, các ngài đã có gì, các ngài đã có gì?’ Một số trưởng lão nói như vầy: – ‘Thưa chư hiền, chúng tôi đã có bơ, đã có dầu, đã có món ăn thêm.’ Nhưng các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka nói như vầy: – ‘Thưa chư hiền, chúng tôi đã không có gì cả – chỉ có cơm tấm bình thường nấu như thường lệ với nước chua làm món thứ hai.’
Tena kho pana samayena kalyāṇabhattiko gahapati saṅghassa catukkabhattaṁ deti niccabhattaṁ. So bhattagge saputtadāro upatiṭṭhitvā parivisati—aññe odanena pucchanti, aññe sūpena pucchanti, aññe telena pucchanti, aññe uttaribhaṅgena pucchanti.
Tena kho pana samayena kalyāṇabhattikassa gahapatino bhattaṁ svātanāya mettiyabhūmajakānaṁ bhikkhūnaṁ uddiṭṭhaṁ hoti. Atha kho kalyāṇabhattiko gahapati ārāmaṁ agamāsi kenacideva karaṇīyena. So yenāyasmā dabbo mallaputto tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho kalyāṇabhattikaṁ gahapatiṁ āyasmā dabbo mallaputto dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho kalyāṇabhattiko gahapati āyasmatā dabbena mallaputtena dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ etadavoca—“kassa, bhante, amhākaṁ ghare svātanāya bhattaṁ uddiṭṭhan”ti?
“Mettiyabhūmajakānaṁ kho, gahapati, bhikkhūnaṁ tumhākaṁ ghare svātanāya bhattaṁ uddiṭṭhan”ti.
Atha kho kalyāṇabhattiko gahapati anattamano ahosi. Kathañhi nāma pāpabhikkhū amhākaṁ ghare bhuñjissantīti gharaṁ gantvā dāsiṁ āṇāpesi—“ye, je, sve bhattikā āgacchanti te koṭṭhake āsanaṁ paññapetvā kaṇājakena bilaṅgadutiyena parivisā”ti.
“Evaṁ, ayyā”ti kho sā dāsī kalyāṇabhattikassa gahapatino paccassosi.
At that time there was a householder who gave a regular meal of fine food to four monks. He made his offering in the dining hall together with his wives and children. Some of them offered rice, some bean curry, some oil, and some special curries.
On one occasion the meal to be given by this householder on the following day had been designated to the monks Mettiya and Bhūmajaka. Just then that householder went to the monastery on some business. He approached Dabba, bowed, and sat down. Dabba instructed, inspired, and gladdened him with a teaching. After the talk, he asked Dabba, “Sir, who has been designated to receive tomorrow’s meal in our house?”
“Mettiya and Bhūmajaka.”
He was disappointed, and thought, “Why should bad monks eat in our house?” After returning to his house, he told a female slave, “For those who are coming for tomorrow’s meal, prepare seats in the gatehouse and serve them broken rice and porridge.”
“Yes, sir.”
Vào lúc bấy giờ, gia chủ Kalyāṇabhattika dâng cúng vật thực thường xuyên cho Tăng chúng, là vật thực cho bốn vị. Vị ấy cùng với vợ con đứng hầu ở nhà ăn và phục vụ – một số vị được hỏi với cơm, một số vị được hỏi với canh, một số vị được hỏi với dầu, một số vị được hỏi với món ăn thêm. Vào lúc bấy giờ, vật thực của gia chủ Kalyāṇabhattika cho ngày mai được chỉ định cho các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka. Khi ấy, gia chủ Kalyāṇabhattika đã đi đến tu viện vì một công việc nào đó. Vị ấy đi đến chỗ trưởng lão Dabba Mallaputta, sau khi đến gần, đã đảnh lễ trưởng lão Dabba Mallaputta rồi ngồi xuống một bên. Trưởng lão Dabba Mallaputta đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho hăng hái, làm cho hoan hỷ gia chủ Kalyāṇabhattika đang ngồi một bên bằng bài pháp thoại. Khi ấy, gia chủ Kalyāṇabhattika, sau khi được trưởng lão Dabba Mallaputta chỉ dạy, khuyến khích, làm cho hăng hái, làm cho hoan hỷ bằng bài pháp thoại, đã nói với trưởng lão Dabba Mallaputta lời này: – ‘Bạch ngài, vật thực cho ngày mai ở nhà của chúng con được chỉ định cho ai?’ – ‘Này gia chủ, vật thực cho ngày mai ở nhà của ông được chỉ định cho các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka.’ Khi ấy, gia chủ Kalyāṇabhattika đã không hài lòng. ‘Làm sao mà các tỳ khưu ác lại có thể dùng bữa ở nhà chúng ta được chứ?’ rồi đi về nhà và ra lệnh cho người nữ tỳ: – ‘Này cô, ngày mai, những vị nào đến dùng bữa, cô hãy dọn chỗ ngồi ở cổng và phục vụ bằng cơm tấm với nước chua làm món thứ hai.’ – ‘Vâng, thưa ông chủ,’ người nữ tỳ ấy đã vâng lời gia chủ Kalyāṇabhattika.
Atha kho mettiyabhūmajakā bhikkhū—“hiyyo kho, āvuso, amhākaṁ kalyāṇabhattikassa gahapatino bhattaṁ uddiṭṭhaṁ; sve amhe kalyāṇabhattiko gahapati saputtadāro upatiṭṭhitvā parivisissati; aññe odanena pucchissanti, aññe sūpena pucchissanti, aññe telena pucchissanti, aññe uttaribhaṅgena pucchissantī”ti. Te teneva somanassena na cittarūpaṁ rattiyā supiṁsu.
Atha kho mettiyabhūmajakā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena kalyāṇabhattikassa gahapatino nivesanaṁ tenupasaṅkamiṁsu. Addasā kho sā dāsī mettiyabhūmajake bhikkhū dūratova āgacchante; disvāna koṭṭhake āsanaṁ paññapetvā mettiyabhūmajake bhikkhū etadavoca—“nisīdatha, bhante”ti.
Atha kho mettiyabhūmajakānaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“nissaṁsayaṁ kho na tāva bhattaṁ siddhaṁ bhavissati yathā mayaṁ koṭṭhake nisīdāpiyāmā”ti. Atha kho sā dāsī kaṇājakena bilaṅgadutiyena upagañchi—“bhuñjatha, bhante”ti.
“Mayaṁ kho, bhagini, niccabhattikā”ti.
“Jānāmi ayyā niccabhattikāti. Api cāhaṁ hiyyova gahapatinā āṇattā—‘ye, je, sve bhattikā āgacchanti, te koṭṭhake āsanaṁ paññapetvā kaṇājakena bilaṅgadutiyena parivisā’ti. Bhuñjatha, bhante”ti.
Atha kho mettiyabhūmajakā bhikkhū—“hiyyo kho, āvuso, kalyāṇabhattiko gahapati ārāmaṁ agamāsi dabbassa mallaputtassa santike. Nissaṁsayaṁ kho mayaṁ dabbena mallaputtena gahapatino antare paribhinnā”ti. Te teneva domanassena na cittarūpaṁ bhuñjiṁsu. Atha kho mettiyabhūmajakā bhikkhū pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā ārāmaṁ gantvā pattacīvaraṁ paṭisāmetvā bahārāmakoṭṭhake saṅghāṭipallatthikāya nisīdiṁsu tuṇhībhūtā maṅkubhūtā pattakkhandhā adhomukhā pajjhāyantā appaṭibhānā.
The monks Mettiya and Bhūmajaka said to each other, “Yesterday we were designated a meal from that householder who offers fine food. Tomorrow he’ll serve us together with his wives and children. Some of them will offer us rice, some bean curry, some oil, and some special curries.” And because they were excited, they did not sleep properly that night.
The following morning they robed up, took their bowls and robes, and went to the house of that householder. When the female slave saw them coming, she prepared seats in the gatehouse and said to them, “Please sit, venerables.”
They thought, “The meal can’t be ready, since we’re given seats in the gatehouse.” She then brought them broken rice and porridge, and said, “Eat, sirs.”
“But, sister, we’ve come for the regular meal.”
“I know. But yesterday I was told by the head of the household to serve you like this. Please eat.”
They said to each other, “Yesterday this householder came to the monastery and spoke with Dabba. Dabba must be responsible for this split between the householder and us.” And because they were dejected, they did not eat as much as they had intended. When they had eaten their meal and returned from almsround, they put their bowls and robes away and squatted on their heels outside the monastery gatehouse, using their upper robes as a back-and-knee strap. They were silent and humiliated, with shoulders drooping and heads down, glum and speechless.
Bấy giờ, các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka (nghĩ rằng): – Này chư hiền, hôm qua vật thực của gia chủ Kalyāṇabhattika đã được chỉ định cho chúng ta; ngày mai, gia chủ Kalyāṇabhattika cùng với vợ con sẽ đứng hầu và phục vụ chúng ta; người khác sẽ hỏi (mời) bằng cơm, người khác sẽ hỏi (mời) bằng canh, người khác sẽ hỏi (mời) bằng dầu, người khác sẽ hỏi (mời) bằng món ăn thêm. Do sự hân hoan ấy, các vị ấy đã không ngủ được theo ý muốn trong đêm. Rồi, vào buổi sáng, các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka đắp y, cầm y bát, đi đến trú xá của gia chủ Kalyāṇabhattika. Nữ tỳ kia đã nhìn thấy các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka từ xa đang đi đến; sau khi thấy, cô ta đã dọn chỗ ngồi ở cổng ngoài và nói với các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka rằng: – Xin các ngài ngồi. Bấy giờ, các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka đã khởi lên ý nghĩ này: – Chắc chắn là vật thực vẫn chưa được nấu xong, vì thế chúng ta được mời ngồi ở cổng ngoài. Rồi, nữ tỳ kia đã mang đến cháo tấm với nước chua và nói: – Xin các ngài dùng. – Này chị, chúng tôi là những người nhận vật thực thường xuyên. – Con biết các ngài là những người nhận vật thực thường xuyên. Hơn nữa, hôm qua con đã được gia chủ ra lệnh rằng: ‘Này cô kia, ngày mai những vị nào đến dùng bữa, cô hãy dọn chỗ ngồi ở cổng ngoài và phục vụ họ bằng cháo tấm với nước chua.’ Xin các ngài dùng. Bấy giờ, các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka (nghĩ rằng): – Này chư hiền, hôm qua gia chủ Kalyāṇabhattika đã đi đến tu viện, đến chỗ của Dabba con trai của người Mallā. Chắc chắn chúng ta đã bị Dabba con trai của người Mallā chia rẽ với gia chủ. Do sự bất mãn ấy, các vị ấy đã không dùng bữa theo ý muốn. Rồi, sau bữa ăn, sau khi đi khất thực về, các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka đi vào tu viện, cất dọn y bát, rồi ngồi ở cổng ngoài của tu viện, vắt y tăng-già-lê qua vai, im lặng, bối rối, vai rũ xuống, mặt cúi gằm, trầm tư, không nói nên lời.
Atha kho mettiyā bhikkhunī yena mettiyabhūmajakā bhikkhū tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā mettiyabhūmajake bhikkhū etadavoca—“vandāmi, ayyā”ti. Evaṁ vutte, mettiyabhūmajakā bhikkhū nālapiṁsu. Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho mettiyā bhikkhunī mettiyabhūmajake bhikkhū etadavoca—“vandāmi, ayyā”ti. Tatiyampi kho mettiyabhūmajakā bhikkhū nālapiṁsu.
“Kyāhaṁ ayyānaṁ aparajjhāmi? Kissa maṁ ayyā nālapantī”ti?
“Tathā hi pana tvaṁ, bhagini, amhe dabbena mallaputtena viheṭhiyamāne ajjhupekkhasī”ti?
“Kyāhaṁ, ayyā, karomī”ti?
“Sace kho tvaṁ, bhagini, iccheyyāsi, ajjeva bhagavā āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ nāsāpeyyā”ti.
“Kyāhaṁ, ayyā, karomi? Kiṁ mayā sakkā kātun”ti?
“Ehi tvaṁ, bhagini, yena bhagavā tenupasaṅkama, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ evaṁ vadehi—‘idaṁ, bhante, nacchannaṁ nappatirūpaṁ, yāyaṁ, bhante, disā abhayā anītikā anupaddavā sāyaṁ disā sabhayā saītikā saupaddavā; yato nivātaṁ tato savātaṁ; udakaṁ maññe ādittaṁ; ayyenamhi dabbena mallaputtena dūsitā’”ti.
“Evaṁ, ayyā”ti kho mettiyā bhikkhunī mettiyabhūmajakānaṁ bhikkhūnaṁ paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho mettiyā bhikkhunī bhagavantaṁ etadavoca—“idaṁ, bhante, nacchannaṁ nappatirūpaṁ, yāyaṁ, bhante, disā abhayā anītikā anupaddavā sāyaṁ disā sabhayā saītikā saupaddavā; yato nivātaṁ tato savātaṁ; udakaṁ maññe ādittaṁ; ayyenamhi dabbena mallaputtena dūsitā”ti.
Just then the nun Mettiyā came to them and said, “My respectful greetings to you, venerables.” But they did not respond. A second time and a third time she said the same thing, but they still did not respond.
“Have I done something wrong? Why don’t you respond?”
“It’s because we’ve been badly treated by Dabba the Mallian, and you’re not taking an interest.”
“But what can I do?”
“If you like, you could make the Buddha expel Dabba.”
“And how can I do that?”
“Go to the Buddha and say, ‘Sir, this isn’t proper or appropriate. There’s fear, distress, and oppression in this district, where none of these should exist. It’s windy where it should be calm. It’s as if water is burning. Venerable Dabba the Mallian has raped me.’”
Saying, “Alright, venerables,” she went to the Buddha, bowed, and repeated what she had been told to say.
Bấy giờ, tỳ khưu ni Mettiyā đi đến chỗ các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka; sau khi đến, cô đã nói với các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka rằng: – Con đảnh lễ các ngài. Khi được nói vậy, các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka đã không nói gì. Lần thứ nhì... Lần thứ ba, tỳ khưu ni Mettiyā đã nói với các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka rằng: – Con đảnh lễ các ngài. Lần thứ ba, các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka cũng đã không nói gì. – Con đã phạm lỗi gì với các ngài? Tại sao các ngài không nói chuyện với con? – Này chị, quả thật chị đã thờ ơ khi chúng tôi bị Dabba con trai của người Mallā quấy nhiễu. – Thưa các ngài, con phải làm gì? – Này chị, nếu chị muốn, ngay hôm nay Thế Tôn có thể trục xuất Tôn giả Dabba con trai của người Mallā. – Thưa các ngài, con phải làm gì? Con có thể làm được gì? – Này chị, hãy đến đây. Chị hãy đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, hãy bạch với Thế Tôn như vầy: ‘Bạch Thế Tôn, điều này không thích hợp, không tương xứng. Bạch Thế Tôn, phương nào vốn được an ổn, không có tai họa, không có hiểm nguy, thì phương ấy nay lại có sự sợ hãi, có tai họa, có hiểm nguy; nơi nào vốn lặng gió, nay lại có gió; con ngỡ như nước đang bốc cháy; con đã bị Tôn giả Dabba con trai của người Mallā làm hại.’ – Thưa các ngài, xin vâng. Tỳ khưu ni Mettiyā đã vâng lời các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka rồi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, cô đã đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, tỳ khưu ni Mettiyā đã bạch với Thế Tôn rằng: – Bạch Thế Tôn, điều này không thích hợp, không tương xứng. Bạch Thế Tôn, phương nào vốn được an ổn, không có tai họa, không có hiểm nguy, thì phương ấy nay lại có sự sợ hãi, có tai họa, có hiểm nguy; nơi nào vốn lặng gió, nay lại có gió; con ngỡ như nước đang bốc cháy; con đã bị Tôn giả Dabba con trai của người Mallā làm hại.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ paṭipucchi—“sarasi tvaṁ, dabba, evarūpaṁ kattā yathāyaṁ bhikkhunī āhā”ti?
“Yathā maṁ, bhante, bhagavā jānātī”ti.
Dutiyampi kho bhagavā āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ etadavoca—“sarasi tvaṁ, dabba, evarūpaṁ kattā yathāyaṁ bhikkhunī āhā”ti? “Yathā maṁ, bhante, bhagavā jānātī”ti. Tatiyampi kho bhagavā āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ etadavoca—“sarasi tvaṁ, dabba, evarūpaṁ kattā yathāyaṁ bhikkhunī āhā”ti? “Yathā maṁ, bhante, bhagavā jānātī”ti. “Na kho, dabba, dabbā evaṁ nibbeṭhenti. Sace tayā kataṁ katanti vadehi. Sace akataṁ akatanti vadehī”ti.
“Yatohaṁ, bhante, jāto nābhijānāmi supinantenapi methunaṁ dhammaṁ paṭisevitā, pageva jāgaro”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—“tena hi, bhikkhave, mettiyaṁ bhikkhuniṁ nāsetha. Ime ca bhikkhū anuyuñjathā”ti. Idaṁ vatvā bhagavā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.
Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned Dabba: “Dabba, do you remember doing as the nun Mettiyā says?”
“Sir, you know what I’m like.”
A second and a third time the Buddha asked the same question and got the same response. He then said, “Dabba, the Dabbas don’t give such evasive answers. If it was done by you, say so; if it wasn’t, then say that.”
“Since I was born, sir, I don’t recall having sexual intercourse even in a dream, let alone when awake.”
The Buddha addressed the monks: “Well then, monks, expel the nun Mettiyā, and call these monks to account.” The Buddha then got up from his seat and entered his dwelling.
193. Bấy giờ, Thế Tôn nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đã cho hội họp tăng chúng và hỏi Tôn giả Dabba con trai của người Mallā rằng: – Này Dabba, ngươi có nhớ đã làm một việc như vậy, giống như lời tỳ khưu ni này đã nói không? – Bạch Thế Tôn, như Thế Tôn biết về con. Lần thứ nhì, Thế Tôn đã nói với Tôn giả Dabba con trai của người Mallā rằng: – Này Dabba, ngươi có nhớ đã làm một việc như vậy, giống như lời tỳ khưu ni này đã nói không? – Bạch Thế Tôn, như Thế Tôn biết về con. Lần thứ ba, Thế Tôn đã nói với Tôn giả Dabba con trai của người Mallā rằng: – Này Dabba, ngươi có nhớ đã làm một việc như vậy, giống như lời tỳ khưu ni này đã nói không? – Bạch Thế Tôn, như Thế Tôn biết về con. – Này Dabba, những người khôn ngoan không trả lời lảng tránh như vậy. Nếu ngươi đã làm, hãy nói là đã làm. Nếu không làm, hãy nói là không làm. – Bạch Thế Tôn, từ khi con được sinh ra, con không hề biết đến việc thực hành dâm pháp ngay cả trong giấc mơ, huống chi là khi thức. Bấy giờ, Thế Tôn đã gọi các tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, vậy thì hãy trục xuất tỳ khưu ni Mettiyā. Và hãy thẩm tra các tỳ khưu này. Sau khi nói điều này, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tịnh xá.
Atha kho te bhikkhū mettiyaṁ bhikkhuniṁ nāsesuṁ. Atha kho mettiyabhūmajakā bhikkhū te bhikkhū etadavocuṁ—“māvuso, mettiyaṁ bhikkhuniṁ nāsetha, na sā kiñci aparajjhati; amhehi sā ussāhitā kupitehi anattamanehi cāvanādhippāyehī”ti.
“Kiṁ pana tumhe, āvuso, āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ amūlikāya sīlavipattiyā anuddhaṁsethā”ti?
“Evamāvuso”ti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma mettiyabhūmajakā bhikkhū āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ amūlikāya sīlavipattiyā anuddhaṁsessantī”ti.
Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, mettiyabhūmajakā bhikkhū dabbaṁ mallaputtaṁ amūlikāya sīlavipattiyā anuddhaṁsentī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti …pe…
vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
When the monks had expelled the nun Mettiyā, the monks Mettiya and Bhūmajaka said to them, “Don’t expel the nun Mettiyā; she hasn’t done anything wrong. She was urged on by us. We were angry and displeased, and trying to make Dabba give up the monastic life.”
“But did you groundlessly charge Venerable Dabba with failure in morality?”
“Yes.”
The monks of few desires … complained and criticized them, “How could the monks Mettiya and Bhūmajaka groundlessly charge Venerable Dabba with failure in morality?”
They then told the Buddha. … “Is it true, monks, that you did this?”
“It’s true, sir.” …
After rebuking them … he gave a teaching and addressed the monks:
Khi ấy, các tỳ khưu ấy đã làm hại tỳ khưu ni Mettiyā. Khi ấy, các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka đã nói với các tỳ khưu ấy điều này: – ‘Này chư hiền, chớ làm hại tỳ khưu ni Mettiyā, vị ấy không có phạm lỗi gì cả; chính chúng tôi là những người đã xúi giục vị ấy, do tức giận, không hoan hỷ, và có ý muốn làm cho sa ngã.’ – ‘Này chư hiền, có phải các vị đã vu khống trưởng lão Dabba Mallaputta về tội thất đức vô căn cứ không?’ – ‘Thưa vâng, chư hiền.’ Các vị tỳ khưu thiểu dục ... vị ấy ... đã khiển trách, đã chê bai, đã phàn nàn rằng: – ‘Tại sao các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka lại có thể vu khống trưởng lão Dabba Mallaputta về tội thất đức vô căn cứ được chứ!’ Khi ấy, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... ... – ‘Này các tỳ khưu, có thật chăng, các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka đang vu khống Dabba Mallaputta về tội thất đức vô căn cứ?’ – ‘Bạch Thế Tôn, là sự thật.’ ... ... sau khi quở trách ... ... sau khi thuyết pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ khưu:
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho dabbassa mallaputtassa sativepullappattassa sativinayaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, dātabbo—tena, bhikkhave, dabbena mallaputtena saṅghaṁ upasaṅkamitvā, ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā, vuḍḍhānaṁ bhikkhūnaṁ pāde vanditvā, ukkuṭikaṁ nisīditvā, añjaliṁ paggahetvā, evamassa vacanīyo—
‘ime maṁ, bhante, mettiyabhūmajakā bhikkhū amūlikāya sīlavipattiyā anuddhaṁsenti. Sohaṁ, bhante, sativepullappatto saṅghaṁ sativinayaṁ yācāmī’ti.
Dutiyampi yācitabbo. Tatiyampi yācitabbo—
‘ime maṁ, bhante, mettiyabhūmajakā bhikkhū amūlikāya sīlavipattiyā anuddhaṁsenti. Sohaṁ sativepullappatto tatiyampi, bhante, saṅghaṁ sativinayaṁ yācāmī’ti.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
“Well then, because of his great clarity of memory, grant resolution through recollection to Dabba the Mallian. And it should be granted like this. Dabba should approach the Sangha, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say:
‘Venerables, these monks Mettiya and Bhūmajaka are groundlessly charging me with failure in morality. Because of my great clarity of memory, I ask the Sangha for resolution through recollection.
Venerables, these monks Mettiya and Bhūmajaka are groundlessly charging me with failure in morality. Because of my great clarity of memory, for the second time, I ask the Sangha for resolution through recollection.
Venerables, these monks Mettiya and Bhūmajaka are groundlessly charging me with failure in morality. Because of my great clarity of memory, for the third time, I ask the Sangha for resolution through recollection.’
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
– ‘Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng hãy ban hành Sativinaya (Biện Minh Bằng Trí Nhớ) cho Dabba Mallaputta, người đã đạt đến sự sung mãn về chánh niệm. Và này các tỳ khưu, nên ban hành như vầy: – ‘Này các tỳ khưu, vị Dabba Mallaputta ấy nên đi đến Tăng chúng, mặc thượng y lệch một bên vai, đảnh lễ chân các vị trưởng lão tỳ khưu, ngồi xổm, chắp tay, rồi nên nói như vầy: – ‘Bạch chư Đại đức, các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka này đang vu khống con về tội thất đức vô căn cứ. Bạch chư Đại đức, con, người đã đạt đến sự sung mãn về chánh niệm, xin Tăng chúng ban hành Sativinaya.’ Nên xin lần thứ nhì. Nên xin lần thứ ba: – ‘Bạch chư Đại đức, các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka này đang vu khống con về tội thất đức vô căn cứ. Con, người đã đạt đến sự sung mãn về chánh niệm, bạch chư Đại đức, lần thứ ba xin Tăng chúng ban hành Sativinaya.’ – ‘Một vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ime mettiyabhūmajakā bhikkhū āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ amūlikāya sīlavipattiyā anuddhaṁsenti. Āyasmā dabbo mallaputto sativepullappatto saṅghaṁ sativinayaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho āyasmato dabbassa mallaputtassa sativepullappattassa sativinayaṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. These monks Mettiya and Bhūmajaka are groundlessly charging Venerable Dabba the Mallian with failure in morality. Because of Venerable Dabba the Mallian’s great clarity of memory, he is asking the Sangha for resolution through recollection. If the Sangha is ready, then, because of Venerable Dabba the Mallian’s great clarity of memory, the Sangha should grant him resolution through recollection. This is the motion.
194. – ‘Bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka này đang vu khống trưởng lão Dabba Mallaputta về tội thất đức vô căn cứ. Trưởng lão Dabba Mallaputta, người đã đạt đến sự sung mãn về chánh niệm, đang xin Tăng chúng ban hành Sativinaya. Nếu Tăng chúng xét thấy đã đến lúc thích hợp, Tăng chúng hãy ban hành Sativinaya cho trưởng lão Dabba Mallaputta, người đã đạt đến sự sung mãn về chánh niệm. Đây là lời tác bạch.’
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ime mettiyabhūmajakā bhikkhū āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ amūlikāya sīlavipattiyā anuddhaṁsenti. Āyasmā dabbo mallaputto sativepullappatto saṅghaṁ sativinayaṁ yācati. Saṅgho āyasmato dabbassa mallaputtassa sativepullappattassa sativinayaṁ deti. Yassāyasmato khamati āyasmato dabbassa mallaputtassa sativepullappattassa sativinayassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. These monks Mettiya and Bhūmajaka are groundlessly charging Venerable Dabba the Mallian with failure in morality. Because of Venerable Dabba the Mallian’s great clarity of memory, he is asking the Sangha for resolution through recollection. Because of Venerable Dabba the Mallian’s great clarity of memory, the Sangha grants him resolution through recollection. Any monk who approves, because of Venerable Dabba the Mallian’s great clarity of memory, of granting him resolution through recollection should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
– ‘Bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka này đang vu khống trưởng lão Dabba Mallaputta về tội thất đức vô căn cứ. Trưởng lão Dabba Mallaputta, người đã đạt đến sự sung mãn về chánh niệm, đang xin Tăng chúng ban hành Sativinaya. Tăng chúng ban hành Sativinaya cho trưởng lão Dabba Mallaputta, người đã đạt đến sự sung mãn về chánh niệm. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc ban hành Sativinaya cho trưởng lão Dabba Mallaputta, người đã đạt đến sự sung mãn về chánh niệm, thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.’
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ime mettiyabhūmajakā bhikkhū āyasmantaṁ dabbaṁ mallaputtaṁ amūlikāya sīlavipattiyā anuddhaṁsenti. Āyasmā dabbo mallaputto sativepullappatto saṅghaṁ sativinayaṁ yācati. Saṅgho āyasmato dabbassa mallaputtassa sativepullappattassa sativinayaṁ deti. Yassāyasmato khamati āyasmato dabbassa mallaputtassa sativepullappattassa sativinayassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. These monks Mettiya and Bhūmajaka are groundlessly charging Venerable Dabba the Mallian with failure in morality. Because of Venerable Dabba the Mallian’s great clarity of memory, he is asking the Sangha for resolution through recollection. Because of Venerable Dabba the Mallian’s great clarity of memory, the Sangha grants him resolution through recollection. Any monk who approves, because of Venerable Dabba the Mallian’s great clarity of memory, of granting him resolution through recollection should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
– ‘Lần thứ nhì, con cũng nói lên sự việc này ... ... Lần thứ ba, con cũng nói lên sự việc này: – ‘Bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Các tỳ khưu Mettiyabhūmajaka này đang vu khống trưởng lão Dabba Mallaputta về tội thất đức vô căn cứ. Trưởng lão Dabba Mallaputta, người đã đạt đến sự sung mãn về chánh niệm, đang xin Tăng chúng ban hành Sativinaya. Tăng chúng ban hành Sativinaya cho trưởng lão Dabba Mallaputta, người đã đạt đến sự sung mãn về chánh niệm. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc ban hành Sativinaya cho trưởng lão Dabba Mallaputta, người đã đạt đến sự sung mãn về chánh niệm, thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.’
Dinno saṅghena āyasmato dabbassa mallaputtassa sativepullappattassa sativinayo. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
Because of Venerable Dabba the Mallian’s great clarity of memory, the Sangha has granted him resolution through recollection. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
– ‘Sativinaya đã được Tăng chúng ban hành cho trưởng lão Dabba Mallaputta, người đã đạt đến sự sung mãn về chánh niệm. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này như vậy.’
Pañcimāni, bhikkhave, dhammikāni sativinayassa dānāni. Suddho hoti bhikkhu anāpattiko, anuvadanti ca naṁ, yācati ca, tassa saṅgho sativinayaṁ deti dhammena samaggena—imāni kho, bhikkhave, pañca dhammikāni sativinayassa dānānī”ti.
3. Amūḷhavinaya
There are five factors for the legitimate granting of resolution through recollection: the monk is pure and free of offenses; he has been accused; he asks for resolution through recollection; the Sangha grants him resolution through recollection; the legal procedure is legitimate and done by a unanimous assembly.”
3. Resolution because of past insanity
195. – ‘Này các tỳ khưu, có năm trường hợp ban hành Sativinaya hợp pháp này. Vị tỳ khưu trong sạch, không có tội, và họ vu khống vị ấy, và vị ấy xin, Tăng chúng ban hành Sativinaya cho vị ấy một cách hợp pháp và hòa hợp – này các tỳ khưu, đây chính là năm trường hợp ban hành Sativinaya hợp pháp.’
Tena kho pana samayena gaggo bhikkhu ummattako hoti, cittavipariyāsakato. Tena ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ hoti bhāsitaparikkantaṁ. Bhikkhū gaggaṁ bhikkhuṁ ummattakena cittavipariyāsakatena ajjhāciṇṇena āpattiyā codenti—“saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā”ti? So evaṁ vadeti—
“ahaṁ kho, āvuso, ummattako ahosiṁ cittavipariyāsakato. Tena me ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Nāhaṁ taṁ sarāmi. Mūḷhena me etaṁ katan”ti.
Evampi naṁ vuccamānā codenteva—“saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā”ti? Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhikkhū gaggaṁ bhikkhuṁ ummattakena cittavipariyāsakatena ajjhāciṇṇena āpattiyā codessanti—‘saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā’ti. So evaṁ vadeti—‘ahaṁ kho, āvuso, ummattako ahosiṁ cittavipariyāsakato. Tena me ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Nāhaṁ taṁ sarāmi. Mūḷhena me etaṁ katan’ti. Evampi naṁ vuccamānā codenteva—‘saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā’”ti?
Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave …pe…
saccaṁ, bhagavā”ti …pe…
vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
At one time the monk Gagga was insane and suffering from psychosis. Because of this, he did and said many things unworthy of a monastic. The monks accused him of an offense, saying, “Venerable, do you remember committing such-and-such an offense?”
“I was insane and suffering from psychosis. Because of that, I did and said many things unworthy of a monastic. I don’t remember it. I did it because I was insane.”
But they kept on accusing him in the same way. The monks of few desires … complained and criticized them, “How can these monks keep on accusing Gagga when he says he was insane?”
They told the Buddha. … He said, “Is it true, monks, that these monks are doing this?”
“It’s true, sir.” …
After rebuking them … he gave a teaching and addressed the monks:
196. Vào lúc bấy giờ, tỳ khưu Gagga bị điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn. Vị ấy, trong lúc điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn, đã thường xuyên có nhiều hành vi không phải của sa-môn, đã nói và đã làm. Các tỳ khưu đã chất vấn tỳ khưu Gagga về tội đã vi phạm trong lúc điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn rằng: ‘Thưa ngài, mong ngài hãy nhớ lại là ngài đã phạm tội như thế này.’ Vị ấy nói như vầy: ‘Thưa các hiền hữu, thật vậy, tôi đã bị điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn. Do tôi bị điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn nên đã thường xuyên có nhiều hành vi không phải của sa-môn, đã nói và đã làm. Tôi không nhớ lại việc ấy. Việc ấy đã được tôi thực hiện trong lúc mê muội.’ Dầu được nói như thế, các vị ấy vẫn cứ chất vấn rằng: ‘Thưa ngài, mong ngài hãy nhớ lại là ngài đã phạm tội như thế này.’ Các tỳ khưu ít ham muốn ... họ khiển trách, chê bai, phàn nàn rằng: ‘Tại sao các tỳ khưu lại có thể chất vấn tỳ khưu Gagga về tội đã vi phạm trong lúc điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn rằng: ‘Thưa ngài, mong ngài hãy nhớ lại là ngài đã phạm tội như thế này!’ Vị ấy đã nói như vầy: ‘Thưa các hiền hữu, thật vậy, tôi đã bị điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn. Do tôi bị điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn nên đã thường xuyên có nhiều hành vi không phải của sa-môn, đã nói và đã làm. Tôi không nhớ lại việc ấy. Việc ấy đã được tôi thực hiện trong lúc mê muội.’ Dầu được nói như thế, các vị ấy vẫn cứ chất vấn rằng: ‘Thưa ngài, mong ngài hãy nhớ lại là ngài đã phạm tội như thế này.’ Sau đó, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... ‘Này các tỳ khưu, có thật vậy không?’ ... ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ ... sau khi quở trách ... sau khi thuyết pháp thoại, ngài gọi các tỳ khưu:
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho gaggassa bhikkhuno amūḷhassa amūḷhavinayaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, dātabbo—tena, bhikkhave, gaggena bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā, ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā, vuḍḍhānaṁ bhikkhūnaṁ pāde vanditvā, ukkuṭikaṁ nisīditvā, añjaliṁ paggahetvā, evamassa vacanīyo—
‘ahaṁ, bhante, ummattako ahosiṁ cittavipariyāsakato. Tena me ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Maṁ bhikkhū ummattakena cittavipariyāsakatena ajjhāciṇṇena āpattiyā codenti—“saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā”ti? Tyāhaṁ evaṁ vadāmi—“ahaṁ kho, āvuso, ummattako ahosiṁ cittavipariyāsakato. Tena me ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Nāhaṁ taṁ sarāmi. Mūḷhena me etaṁ katan”ti. Evampi maṁ vuccamānā codenteva—“saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā”ti? Sohaṁ, bhante, amūḷho saṅghaṁ amūḷhavinayaṁ yācāmī’ti.
Dutiyampi yācitabbo. Tatiyampi yācitabbo—
‘ahaṁ, bhante, ummattako ahosiṁ cittavipariyāsakato. Tena me ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Maṁ bhikkhū ummattakena cittavipariyāsakatena ajjhāciṇṇena āpattiyā codenti—“saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā”ti? Tyāhaṁ evaṁ vadāmi—“ahaṁ kho, āvuso, ummattako ahosiṁ cittavipariyāsakato. Tena me ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Nāhaṁ taṁ sarāmi mūḷhena me etaṁ katan”ti. Evampi maṁ vuccamānā codenteva—“saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā”ti? Sohaṁ amūḷho tatiyampi, bhante, saṅghaṁ amūḷhavinayaṁ yācāmī’ti.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ gaggo bhikkhu ummattako ahosi cittavipariyāsakato. Tena ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Bhikkhū gaggaṁ bhikkhuṁ ummattakena cittavipariyāsakatena ajjhāciṇṇena āpattiyā codenti—“saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā”ti? So evaṁ vadeti—“ahaṁ kho, āvuso, ummattako ahosiṁ cittavipariyāsakato. Tena me ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Nāhaṁ taṁ sarāmi, mūḷhena me etaṁ katan”ti. Evampi naṁ vuccamānā codenteva—“saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā”ti? So amūḷho saṅghaṁ amūḷhavinayaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho gaggassa bhikkhuno amūḷhassa amūḷhavinayaṁ dadeyya. Esā ñatti.
“Well then, since he’s now sane, grant the monk Gagga resolution because of past insanity. And it should be granted like this. The monk Gagga should approach the Sangha, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say:
‘Venerables, I’ve been insane and suffering from psychosis. Because of that, I did and said many things unworthy of a monastic. The monks accused me of an offense, saying, “Venerable, do you remember committing such-and-such an offense?” I replied, “I was insane and suffering from psychosis. Because of that, I did and said many things unworthy of a monastic. I don’t remember it. I did it because I was insane.” But they kept on accusing me in the same way. Because I’m now sane, I ask the Sangha for resolution because of past insanity.’
And he should ask a second and a third time:
‘Venerables, I’ve been insane and suffering from psychosis. Because of that, I did and said many things unworthy of a monastic. The monks accused me of an offense, saying, “Venerable, do you remember committing such-and-such an offense?” I replied, “I was insane and suffering from psychosis. Because of that, I did and said many things unworthy of a monastic. I don’t remember it. I did it because I was insane.” But they kept on accusing me in the same way. Because I’m now sane, for the third time, I ask the Sangha for resolution because of past insanity.’
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Gagga has been insane and suffering from psychosis. Because of that insanity and psychosis, he did and said many things unworthy of a monastic. Because of that insanity and psychosis, the monks accused the monk Gagga of an offense, saying, “Venerable, do you remember committing such-and-such an offense?” He replied, “I was insane and suffering from psychosis. Because of that insanity and psychosis, I did and said many things unworthy of a monastic. I don’t remember it. I did it because I was insane.” But even though he said this, they kept on accusing him, “Venerable, do you remember committing such-and-such an offense?” Because he is now sane, he is asking the Sangha for resolution because of past insanity. If the Sangha is ready, then, because the monk Gagga is now sane, the Sangha should grant him resolution because of past insanity. This is the motion.
‘Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng hãy ban cho tỳ khưu Gagga, người đã mê muội, pháp hành xử về sự mê muội. Và này các tỳ khưu, nên được ban như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Gagga ấy nên đi đến Tăng chúng, mặc thượng y lệch một bên vai, đảnh lễ chân các tỳ khưu trưởng lão, ngồi xuống theo kiểu xổm, chắp tay lên, và lời này nên được nói: ‘Bạch chư Đại đức, tôi đã bị điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn. Do tôi bị điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn nên đã thường xuyên có nhiều hành vi không phải của sa-môn, đã nói và đã làm. Các tỳ khưu đã chất vấn tôi về tội đã vi phạm trong lúc điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn rằng: ‘Thưa ngài, mong ngài hãy nhớ lại là ngài đã phạm tội như thế này.’ Tôi đã nói với các vị ấy như vầy: ‘Thưa các hiền hữu, thật vậy, tôi đã bị điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn. Do tôi bị điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn nên đã thường xuyên có nhiều hành vi không phải của sa-môn, đã nói và đã làm. Tôi không nhớ lại việc ấy. Việc ấy đã được tôi thực hiện trong lúc mê muội.’ Dầu được nói như thế, các vị ấy vẫn cứ chất vấn tôi rằng: ‘Thưa ngài, mong ngài hãy nhớ lại là ngài đã phạm tội như thế này.’ Bạch chư Đại đức, tôi ấy, người đã mê muội, xin Tăng chúng pháp hành xử về sự mê muội.’ Nên xin lần thứ nhì. Nên xin lần thứ ba: ‘Bạch chư Đại đức, tôi đã bị điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn. Do tôi bị điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn nên đã thường xuyên có nhiều hành vi không phải của sa-môn, đã nói và đã làm. Các tỳ khưu đã chất vấn tôi về tội đã vi phạm trong lúc điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn rằng: ‘Thưa ngài, mong ngài hãy nhớ lại là ngài đã phạm tội như thế này.’ Tôi đã nói với các vị ấy như vầy: ‘Thưa các hiền hữu, thật vậy, tôi đã bị điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn. Do tôi bị điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn nên đã thường xuyên có nhiều hành vi không phải của sa-môn, đã nói và đã làm. Tôi không nhớ lại việc ấy, việc ấy đã được tôi thực hiện trong lúc mê muội.’ Dầu được nói như thế, các vị ấy vẫn cứ chất vấn tôi rằng: ‘Thưa ngài, mong ngài hãy nhớ lại là ngài đã phạm tội như thế này.’ Bạch chư Đại đức, tôi ấy, người đã mê muội, xin Tăng chúng pháp hành xử về sự mê muội lần thứ ba.’ Tăng chúng nên được một tỳ khưu có khả năng, có thẩm quyền tuyên bố cho biết:
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ gaggo bhikkhu ummattako ahosi cittavipariyāsakato. Tena ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Bhikkhū gaggaṁ bhikkhuṁ ummattakena cittavipariyāsakatena ajjhāciṇṇena āpattiyā codenti—“saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā”ti? So evaṁ vadeti—“ahaṁ kho, āvuso, ummattako ahosiṁ cittavipariyāsakato. Tena me ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Nāhaṁ taṁ sarāmi mūḷhena me etaṁ katan”ti. Evampi naṁ vuccamānā codenteva—“saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā”ti? So amūḷho saṅghaṁ amūḷhavinayaṁ yācati. Saṅgho gaggassa bhikkhuno amūḷhassa amūḷhavinayaṁ deti. Yassāyasmato khamati gaggassa bhikkhuno amūḷhassa amūḷhavinayassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
Dinno saṅghena gaggassa bhikkhuno amūḷhassa amūḷhavinayo. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Gagga has been insane and suffering from psychosis. Because of that insanity and psychosis, he did and said many things unworthy of a monastic. Because of that insanity and psychosis, the monks accused the monk Gagga of an offense, saying, “Venerable, do you remember committing such-and-such an offense?” He replied, “I was insane and suffering from psychosis. Because of that insanity and psychosis, I did and said many things unworthy of a monastic. I don’t remember it. I did it because I was insane.” But even though he said this, they kept on accusing him, “Venerable, do you remember committing such-and-such an offense?” Because he is now sane, he is asking the Sangha for resolution because of past insanity. Because the monk Gagga is now sane, the Sangha grants him resolution because of past insanity. Any monk who approves of granting to the monk Gagga, who is now sane, resolution because of past insanity should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
Because the monk Gagga is now sane, the Sangha has granted him resolution because of past insanity. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
“Kính bạch chư Tôn đức, mong Tăng chúng hãy lắng nghe con. Vị tỳ khưu Gagga này đã bị điên loạn do tâm trí bị đảo lộn. Do bị điên loạn, tâm trí bị đảo lộn, vị ấy đã thường xuyên vi phạm nhiều điều không phải là hạnh của sa-môn, đã nói và đã làm. Các tỳ khưu cáo tội tỳ khưu Gagga về tội đã thường xuyên vi phạm do bị điên loạn, tâm trí bị đảo lộn rằng: ‘Mong trưởng lão hãy nhớ lại rằng ngài đã phạm tội như thế này.’ Vị ấy nói như vầy: ‘Thưa các hiền giả, quả thật tôi đã bị điên loạn do tâm trí bị đảo lộn. Do tôi bị điên loạn, tâm trí bị đảo lộn, tôi đã thường xuyên vi phạm nhiều điều không phải là hạnh của sa-môn, đã nói và đã làm. Tôi không nhớ điều đó, việc này đã được tôi làm trong lúc mê muội.’ Dù được nói như vậy, các vị ấy vẫn cứ cáo tội rằng: ‘Mong trưởng lão hãy nhớ lại rằng ngài đã phạm tội như thế này.’ Vị ấy, người bị mê muội, xin Tăng chúng (ban cho) pháp luật về sự mê muội. Tăng chúng ban cho tỳ khưu Gagga, người bị mê muội, pháp luật về sự mê muội. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc ban cho tỳ khưu Gagga, người bị mê muội, pháp luật về sự mê muội thì vị ấy nên im lặng; vị nào không chấp thuận thì vị ấy nên nói lên.”
Tīṇimāni, bhikkhave, adhammikāni amūḷhavinayassa dānāni, tīṇi dhammikāni. Katamāni tīṇi adhammikāni amūḷhavinayassa dānāni?
There are three illegitimate and three legitimate grantings of resolution because of past insanity. What are the three illegitimate grantings of resolution because of past insanity?
198. “Này các tỳ khưu, có ba trường hợp ban cho pháp luật về sự mê muội không đúng Pháp này, và có ba trường hợp đúng Pháp. Ba trường hợp ban cho pháp luật về sự mê muội không đúng Pháp là những trường hợp nào?”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu āpattiṁ āpanno hoti. Tamenaṁ codeti saṅgho vā, sambahulā vā, ekapuggalo vā—‘saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā’ti? So saramānova evaṁ vadeti—‘na kho ahaṁ, āvuso, sarāmi evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā’ti. Tassa saṅgho amūḷhavinayaṁ deti. Adhammikaṁ amūḷhavinayassa dānaṁ.
It may be that a monk has committed an offense. The Sangha, several monks, or a single monk accuses him, saying, ‘Venerable, do you remember committing such-and-such an offense?’ Although he remembers, he says he doesn’t. If the Sangha grants him resolution because of past insanity, then that granting is illegitimate.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có vị tỳ khưu đã phạm tội. Vị ấy bị Tăng chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một người cáo tội rằng: ‘Mong trưởng lão hãy nhớ lại rằng ngài đã phạm tội như thế này.’ Vị ấy, trong khi vẫn nhớ, lại nói như vầy: ‘Thưa các hiền giả, quả thật tôi không nhớ là đã phạm tội như thế này.’ Tăng chúng ban cho vị ấy pháp luật về sự mê muội. Đây là sự ban cho pháp luật về sự mê muội không đúng Pháp.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu āpattiṁ āpanno hoti. Tamenaṁ codeti saṅgho vā, sambahulā vā, ekapuggalo vā—‘saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā’ti? So saramānova evaṁ vadeti—‘sarāmi kho ahaṁ, āvuso, yathāsupinantenā’ti. Tassa saṅgho amūḷhavinayaṁ deti. Adhammikaṁ amūḷhavinayassa dānaṁ.
It may be that a monk has committed an offense. The Sangha, several monks, or a single monk accuses him, saying, ‘Venerable, do you remember committing such-and-such an offense?’ Although he remembers, he says, ‘I remember as if in a dream.’ If the Sangha grants him resolution because of past insanity, then that granting is illegitimate.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có vị tỳ khưu đã phạm tội. Vị ấy bị Tăng chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một người cáo tội rằng: ‘Mong trưởng lão hãy nhớ lại rằng ngài đã phạm tội như thế này.’ Vị ấy, trong khi vẫn nhớ, lại nói như vầy: ‘Thưa các hiền giả, quả thật tôi nhớ, giống như trong giấc mơ.’ Tăng chúng ban cho vị ấy pháp luật về sự mê muội. Đây là sự ban cho pháp luật về sự mê muội không đúng Pháp.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu āpattiṁ āpanno hoti. Tamenaṁ codeti saṅgho vā, sambahulā vā, ekapuggalo vā—‘saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā’ti? So anummattako ummattakālayaṁ karoti—‘ahampi kho evaṁ karomi. Tumhepi evaṁ karotha. Mayhampi etaṁ kappati. Tumhākampetaṁ kappatī’ti. Tassa saṅgho amūḷhavinayaṁ deti. Adhammikaṁ amūḷhavinayassa dānaṁ.
Imāni tīṇi adhammikāni amūḷhavinayassa dānāni.
It may be that a monk has committed an offense. The Sangha, several monks, or a single monk accuses him, saying, ‘Venerable, do you remember committing such-and-such an offense?’ Although he’s sane, he acts insane, saying, ‘I do this, and so do you. This is allowable for me, and also for you.’ If the Sangha grants him resolution because of past insanity, then that granting is illegitimate.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có vị tỳ khưu đã phạm tội. Vị ấy bị Tăng chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một người cáo tội rằng: ‘Mong trưởng lão hãy nhớ lại rằng ngài đã phạm tội như thế này.’ Vị ấy không điên nhưng lại giả vờ điên rằng: ‘Quả thật tôi cũng làm như vậy. Các vị cũng hãy làm như vậy. Điều này thích hợp với tôi. Điều này cũng thích hợp với các vị.’ Tăng chúng ban cho vị ấy pháp luật về sự mê muội. Đây là sự ban cho pháp luật về sự mê muội không đúng Pháp. Đây là ba trường hợp ban cho pháp luật về sự mê muội không đúng Pháp.”
Katamāni tīṇi dhammikāni amūḷhavinayassa dānāni?
And what are the three legitimate grantings of resolution because of past insanity?
199. “Ba trường hợp ban cho pháp luật về sự mê muội đúng Pháp là những trường hợp nào?”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu ummattako hoti cittavipariyāsakato. Tena ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ hoti bhāsitaparikkantaṁ. Tamenaṁ codeti saṅgho vā, sambahulā vā, ekapuggalo vā—‘saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā’ti? So assaramānova evaṁ vadeti—‘na kho ahaṁ, āvuso, sarāmi evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā’ti. Tassa saṅgho amūḷhavinayaṁ deti. Dhammikaṁ amūḷhavinayassa dānaṁ.
It may be that a monk has been insane and suffering from psychosis. Because of that, he did and said many things unworthy of a monastic. The Sangha, several monks, or a single monk accuses him, saying, ‘Venerable, do you remember committing such-and-such an offense?’ Not remembering, he says he doesn’t. If the Sangha grants him resolution because of past insanity, then that granting is legitimate.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có vị tỳ khưu bị điên loạn do tâm trí bị đảo lộn. Do bị điên loạn, tâm trí bị đảo lộn, vị ấy đã thường xuyên vi phạm nhiều điều không phải là hạnh của sa-môn, đã nói và đã làm. Vị ấy bị Tăng chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một người cáo tội rằng: ‘Mong trưởng lão hãy nhớ lại rằng ngài đã phạm tội như thế này.’ Vị ấy, trong khi không nhớ, lại nói như vầy: ‘Thưa các hiền giả, quả thật tôi không nhớ là đã phạm tội như thế này.’ Tăng chúng ban cho vị ấy pháp luật về sự mê muội. Đây là sự ban cho pháp luật về sự mê muội đúng Pháp.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu ummattako hoti cittavipariyāsakato. Tena ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ hoti bhāsitaparikkantaṁ. Tamenaṁ codeti saṅgho vā, sambahulā vā, ekapuggalo vā—‘saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā’ti? So assaramānova evaṁ vadeti—‘sarāmi kho ahaṁ, āvuso, yathāsupinantenā’ti. Tassa saṅgho amūḷhavinayaṁ deti. Dhammikaṁ amūḷhavinayassa dānaṁ.
It may be that a monk has been insane and suffering from psychosis. Because of that, he did and said many things unworthy of a monastic. The Sangha, several monks, or a single monk accuses him, saying, ‘Venerable, do you remember committing such-and-such an offense?’ Not remembering, he says, ‘I remember as if in a dream.’ If the Sangha grants him resolution because of past insanity, then that granting is legitimate.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có vị tỳ khưu bị điên loạn do tâm trí bị đảo lộn. Do bị điên loạn, tâm trí bị đảo lộn, vị ấy đã thường xuyên vi phạm nhiều điều không phải là hạnh của sa-môn, đã nói và đã làm. Vị ấy bị Tăng chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một người cáo tội rằng: ‘Mong trưởng lão hãy nhớ lại rằng ngài đã phạm tội như thế này.’ Vị ấy, trong khi không nhớ, lại nói như vầy: ‘Thưa các hiền giả, quả thật tôi nhớ, giống như trong giấc mơ.’ Tăng chúng ban cho vị ấy pháp luật về sự mê muội. Đây là sự ban cho pháp luật về sự mê muội đúng Pháp.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu ummattako hoti cittavipariyāsakato. Tena ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ hoti bhāsitaparikkantaṁ. Tamenaṁ codeti saṅgho vā, sambahulā vā, ekapuggalo vā—‘saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā’ti? So ummattako ummattakālayaṁ karoti—‘ahampi evaṁ karomi. Tumhepi evaṁ karotha. Mayhampi etaṁ kappati. Tumhākampetaṁ kappatī’ti. Tassa saṅgho amūḷhavinayaṁ deti. Dhammikaṁ amūḷhavinayassa dānaṁ. Imāni tīṇi dhammikāni amūḷhavinayassa dānānī”ti.
It may be that a monk has been insane and suffering from psychosis. Because of that, he did and said many things unworthy of a monastic. The Sangha, several monks, or a single monk accuses him, saying, ‘Venerable, do you remember committing such-and-such an offense?’ Being insane, he acts insane, saying, ‘I do this, and so do you. This is allowable for me, and also for you.’ If the Sangha grants him resolution because of past insanity, then that granting is legitimate.”
“Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có vị tỳ khưu bị điên loạn do tâm trí bị đảo lộn. Do bị điên loạn, tâm trí bị đảo lộn, vị ấy đã thường xuyên vi phạm nhiều điều không phải là hạnh của sa-môn, đã nói và đã làm. Vị ấy bị Tăng chúng, hoặc nhiều vị, hoặc một người cáo tội rằng: ‘Mong trưởng lão hãy nhớ lại rằng ngài đã phạm tội như thế này.’ Vị ấy, trong khi bị điên, lại giả vờ điên rằng: ‘Tôi cũng làm như vậy. Các vị cũng hãy làm như vậy. Điều này thích hợp với tôi. Điều này cũng thích hợp với các vị.’ Tăng chúng ban cho vị ấy pháp luật về sự mê muội. Đây là sự ban cho pháp luật về sự mê muội đúng Pháp. Đây là ba trường hợp ban cho pháp luật về sự mê muội đúng Pháp.”
4. Paṭiññātakaraṇa
4. Acting according to what has been admitted
4. Hành sự theo sự thừa nhận.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū appaṭiññāya bhikkhūnaṁ kammāni karonti—tajjanīyampi, niyassampi, pabbājanīyampi, paṭisāraṇīyampi, ukkhepanīyampi. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma chabbaggiyā bhikkhū appaṭiññāya bhikkhūnaṁ kammāni karissanti—tajjanīyampi, niyassampi, pabbājanīyampi, paṭisāraṇīyampi, ukkhepanīyampī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“saccaṁ kira, bhikkhave …pe… “saccaṁ, bhagavā”ti …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, appaṭiññāya bhikkhūnaṁ kammaṁ kātabbaṁ—tajjanīyaṁ vā, niyassaṁ vā, pabbājanīyaṁ vā, paṭisāraṇīyaṁ vā, ukkhepanīyaṁ vā. Yo kareyya, āpatti dukkaṭassa.
At one time the monks from the group of six did legal procedures—condemnation, demotion, banishment, reconciliation, and ejection—against other monks without their admission. The monks of few desires complained and criticized them, “How can the monks from the group of six do this?” They told the Buddha. …
“Is it true, monks, that the monks from the group of six are doing this?” “It’s true, sir.” … After rebuking them … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“You shouldn’t do legal procedures—condemnation, demotion, banishment, reconciliation, or ejection—against monks without their admission. If you do, you commit an offense of wrong conduct.
200. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu tỳ khưu đã thực hiện các nghiệp sự đối với các tỳ khưu không có sự thú nhận – đó là khiển trách, y chỉ, trục xuất, sám hối, và cử tội. Các vị tỳ khưu thiểu dục ... (như trên) ... đã phàn nàn, chê bai, và nói xấu rằng: – ‘Tại sao nhóm sáu tỳ khưu lại có thể thực hiện các nghiệp sự đối với các tỳ khưu không có sự thú nhận – đó là khiển trách, y chỉ, trục xuất, sám hối, và cử tội chứ!’ Bấy giờ, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... (như trên) ... – ‘Này các tỳ khưu, có thật như vậy không?’ ... (như trên) ... – ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ ... (như trên) ... Sau khi quở trách ... (như trên) ... sau khi thuyết pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ khưu: – ‘Này các tỳ khưu, không được thực hiện nghiệp sự đối với các tỳ khưu không có sự thú nhận – hoặc là khiển trách, hoặc là y chỉ, hoặc là trục xuất, hoặc là sám hối, hoặc là cử tội. Vị nào thực hiện, phạm tội tác ác.’
Evaṁ kho, bhikkhave, adhammikaṁ hoti paṭiññātakaraṇaṁ, evaṁ dhammikaṁ. Kathañca, bhikkhave, adhammikaṁ hoti paṭiññātakaraṇaṁ?
And how’s acting according to what’s been admitted illegitimate?
201. – ‘Này các tỳ khưu, như thế này là việc thực hiện theo sự thú tội không đúng Pháp, và như thế này là đúng Pháp. Và này các tỳ khưu, thế nào là việc thực hiện theo sự thú tội không đúng Pháp?’
Bhikkhu pārājikaṁ ajjhāpanno hoti. Tamenaṁ codeti saṅgho vā, sambahulā vā, ekapuggalo vā—‘pārājikaṁ āyasmā ajjhāpanno’ti? So evaṁ vadeti—‘na kho ahaṁ, āvuso, pārājikaṁ ajjhāpanno, saṅghādisesaṁ ajjhāpanno’ti. Taṁ saṅgho saṅghādisesena kāreti. Adhammikaṁ paṭiññātakaraṇaṁ.
It may be that a monk has committed an offense entailing expulsion. The Sangha, several monks, or a single monk accuses him, saying, ‘Venerable, you’ve committed an offense entailing expulsion.’ He says, ‘I haven’t committed an offense entailing expulsion, but one entailing suspension.’ If the Sangha makes him act according to an offense entailing suspension, then that acting according to what’s been admitted is illegitimate.
‘Vị tỳ khưu đã phạm tội bất cộng trụ. Vị ấy bị Tăng chúng, hoặc nhiều người, hoặc một cá nhân chất vấn rằng: – ‘Thưa Đại đức, Đại đức đã phạm tội bất cộng trụ phải không?’ Vị ấy nói như vầy: – ‘Thưa chư hiền, tôi không phạm tội bất cộng trụ, tôi đã phạm tội tăng tàn.’ Tăng chúng xử lý vị ấy theo tội tăng tàn. Đây là việc thực hiện theo sự thú tội không đúng Pháp.’
Bhikkhu pārājikaṁ ajjhāpanno hoti. Tamenaṁ codeti saṅgho vā, sambahulā vā, ekapuggalo vā—‘pārājikaṁ āyasmā ajjhāpanno’ti? So evaṁ vadeti—‘na kho ahaṁ, āvuso, pārājikaṁ ajjhāpanno, thullaccayaṁ …pe… pācittiyaṁ …pe… pāṭidesanīyaṁ …pe… dukkaṭaṁ …pe… dubbhāsitaṁ ajjhāpanno’ti. Taṁ saṅgho dubbhāsitena kāreti. Adhammikaṁ paṭiññātakaraṇaṁ.
It may be that a monk has committed an offense entailing expulsion. The Sangha, several monks, or a single monk accuses him, saying, ‘Venerable, you’ve committed an offense entailing expulsion.’ He says, ‘I haven’t committed an offense entailing expulsion, but a serious offense … but an offense entailing confession … but an offense entailing acknowledgment … but an offense of wrong conduct … but an offense of wrong speech.’ If the Sangha makes him act according to an offense of wrong speech, then that acting according to what’s been admitted is illegitimate.
‘Vị tỳ khưu đã phạm tội bất cộng trụ. Vị ấy bị Tăng chúng, hoặc nhiều người, hoặc một cá nhân chất vấn rằng: – ‘Thưa Đại đức, Đại đức đã phạm tội bất cộng trụ phải không?’ Vị ấy nói như vầy: – ‘Thưa chư hiền, tôi không phạm tội bất cộng trụ, tôi đã phạm tội thâu lan giá ... (như trên) ... tội ba dật đề ... (như trên) ... tội hối quá ... (như trên) ... tội tác ác ... (như trên) ... tôi đã phạm tội ác khẩu.’ Tăng chúng xử lý vị ấy theo tội ác khẩu. Đây là việc thực hiện theo sự thú tội không đúng Pháp.’
Bhikkhu saṅghādisesaṁ …pe… thullaccayaṁ …pe… pācittiyaṁ …pe… pāṭidesanīyaṁ …pe… dukkaṭaṁ …pe… dubbhāsitaṁ ajjhāpanno hoti. Tamenaṁ codeti saṅgho vā, sambahulā vā, ekapuggalo vā—‘dubbhāsitaṁ āyasmā ajjhāpanno’ti? So evaṁ vadeti—‘na kho ahaṁ, āvuso, dubbhāsitaṁ ajjhāpanno, pārājikaṁ ajjhāpanno’ti. Taṁ saṅgho pārājikena kāreti. Adhammikaṁ paṭiññātakaraṇaṁ.
It may be that a monk has committed an offense entailing suspension … a serious offense … an offense entailing confession … an offense entailing acknowledgment … an offense of wrong conduct … an offense of wrong speech. The Sangha, several monks, or a single monk accuses him, saying, ‘Venerable, you’ve committed an offense of wrong speech.’ He says, ‘I haven’t committed an offense of wrong speech, but an offense entailing expulsion.’ If the Sangha makes him act according to an offense entailing expulsion, then that acting according to what’s been admitted is illegitimate.
‘Vị tỳ khưu đã phạm tội tăng tàn ... (như trên) ... thâu lan giá ... (như trên) ... ba dật đề ... (như trên) ... hối quá ... (như trên) ... tác ác ... (như trên) ... đã phạm tội ác khẩu. Vị ấy bị Tăng chúng, hoặc nhiều người, hoặc một cá nhân chất vấn rằng: – ‘Thưa Đại đức, Đại đức đã phạm tội ác khẩu phải không?’ Vị ấy nói như vầy: – ‘Thưa chư hiền, tôi không phạm tội ác khẩu, tôi đã phạm tội bất cộng trụ.’ Tăng chúng xử lý vị ấy theo tội bất cộng trụ. Đây là việc thực hiện theo sự thú tội không đúng Pháp.’
Bhikkhu dubbhāsitaṁ ajjhāpanno hoti. Tamenaṁ codeti saṅgho vā, sambahulā vā, ekapuggalo vā—‘dubbhāsitaṁ āyasmā ajjhāpanno’ti? So evaṁ vadeti—‘na kho ahaṁ, āvuso, dubbhāsitaṁ ajjhāpanno, saṅghādisesaṁ …pe… thullaccayaṁ …pe… pācittiyaṁ …pe… pāṭidesanīyaṁ …pe… dukkaṭaṁ ajjhāpanno’ti. Taṁ saṅgho dukkaṭena kāreti. Adhammikaṁ paṭiññātakaraṇaṁ.
Evaṁ kho, bhikkhave, adhammikaṁ hoti paṭiññātakaraṇaṁ.
It may be that a monk has committed an offense of wrong speech. The Sangha, several monks, or a single monk accuses him, saying, ‘Venerable, you’ve committed an offense of wrong speech.’ He says, ‘I haven’t committed an offense of wrong speech, but an offense entailing suspension … but a serious offense … but an offense entailing confession … but an offense entailing acknowledgment … but an offense of wrong conduct.’ If the Sangha makes him act according to an offense of wrong conduct, then that acting according to what’s been admitted is illegitimate.
‘Vị tỳ khưu đã phạm tội ác khẩu. Vị ấy bị Tăng chúng, hoặc nhiều người, hoặc một cá nhân chất vấn rằng: – ‘Thưa Đại đức, Đại đức đã phạm tội ác khẩu phải không?’ Vị ấy nói như vầy: – ‘Thưa chư hiền, tôi không phạm tội ác khẩu, tôi đã phạm tội tăng tàn ... (như trên) ... thâu lan giá ... (như trên) ... ba dật đề ... (như trên) ... hối quá ... (như trên) ... tôi đã phạm tội tác ác.’ Tăng chúng xử lý vị ấy theo tội tác ác. Đây là việc thực hiện theo sự thú tội không đúng Pháp. Này các tỳ khưu, như thế ấy là việc thực hiện theo sự thú tội không đúng Pháp.’
Kathañca, bhikkhave, dhammikaṁ hoti paṭiññātakaraṇaṁ?
Bhikkhu pārājikaṁ ajjhāpanno hoti. Tamenaṁ codeti saṅgho vā, sambahulā vā, ekapuggalo vā—‘pārājikaṁ āyasmā ajjhāpanno’ti? So evaṁ vadeti—‘āma, āvuso, pārājikaṁ ajjhāpanno’ti. Taṁ saṅgho pārājikena kāreti. Dhammikaṁ paṭiññātakaraṇaṁ.
And how’s acting according to what’s been admitted legitimate?
It may be that a monk has committed an offense entailing expulsion. The Sangha, several monks, or a single monk accuses him, saying, ‘Venerable, you’ve committed an offense entailing expulsion.’ He says, ‘Yes, I’ve committed an offense entailing expulsion.’ If the Sangha makes him act according to an offense entailing expulsion, then that acting according to what’s been admitted is legitimate.
‘Và này các tỳ khưu, thế nào là việc thực hiện theo sự thú tội đúng Pháp? Vị tỳ khưu đã phạm tội bất cộng trụ. Vị ấy bị Tăng chúng, hoặc nhiều người, hoặc một cá nhân chất vấn rằng: – ‘Thưa Đại đức, Đại đức đã phạm tội bất cộng trụ phải không?’ Vị ấy nói như vầy: – ‘Thưa chư hiền, đúng vậy, tôi đã phạm tội bất cộng trụ.’ Tăng chúng xử lý vị ấy theo tội bất cộng trụ. Đây là việc thực hiện theo sự thú tội đúng Pháp.’
Bhikkhu saṅghādisesaṁ …pe… thullaccayaṁ …pe… pācittiyaṁ …pe… pāṭidesanīyaṁ …pe… dukkaṭaṁ …pe… dubbhāsitaṁ ajjhāpanno hoti. Tamenaṁ codeti saṅgho vā, sambahulā vā, ekapuggalo vā—‘dubbhāsitaṁ āyasmā ajjhāpanno’ti? So evaṁ vadeti—‘āma, āvuso, dubbhāsitaṁ ajjhāpanno’ti. Taṁ saṅgho dubbhāsitena kāreti. Dhammikaṁ paṭiññātakaraṇaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, dhammikaṁ hoti paṭiññātakaraṇan”ti.
It may be that a monk has committed an offense entailing suspension … a serious offense … an offense entailing confession … an offense entailing acknowledgment … an offense of wrong conduct … an offense of wrong speech. The Sangha, several monks, or a single monk accuses him, saying, ‘Venerable, you’ve committed an offense of wrong speech.’ He says, ‘Yes, I’ve committed an offense of wrong speech.’ If the Sangha makes him act according to an offense wrong speech, then that acting according to what’s been admitted is legitimate.”
‘Vị tỳ khưu đã phạm tội tăng tàn ... (như trên) ... thâu lan giá ... (như trên) ... ba dật đề ... (như trên) ... hối quá ... (như trên) ... tác ác ... (như trên) ... đã phạm tội ác khẩu. Vị ấy bị Tăng chúng, hoặc nhiều người, hoặc một cá nhân chất vấn rằng: – ‘Thưa Đại đức, Đại đức đã phạm tội ác khẩu phải không?’ Vị ấy nói như vầy: – ‘Thưa chư hiền, đúng vậy, tôi đã phạm tội ác khẩu.’ Tăng chúng xử lý vị ấy theo tội ác khẩu. Đây là việc thực hiện theo sự thú tội đúng Pháp. Này các tỳ khưu, như thế ấy là việc thực hiện theo sự thú tội đúng Pháp.’
5. Yebhuyyasikā
5. Majority decision
5. Yebhuyyasikā (Đa số quyết)
Tena kho pana samayena bhikkhū saṅghamajjhe bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti, na sakkonti taṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, evarūpaṁ adhikaraṇaṁ yebhuyyasikāya vūpasametuṁ.
Pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu salākaggāhāpako sammannitabbo—yo na chandāgatiṁ gaccheyya, na dosāgatiṁ gaccheyya, na mohāgatiṁ gaccheyya, na bhayāgatiṁ gaccheyya, gahitāgahitañca jāneyya.
Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbo. Paṭhamaṁ bhikkhu yācitabbo, yācitvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
At one time the monks were arguing and disputing in the midst of the Sangha, attacking one another verbally, and they were unable to resolve that legal issue. They told the Buddha.
“I allow you to resolve such legal issues by majority decision.
You should appoint a monk who has five qualities as the manager of the vote: he’s not biased by favoritism, ill will, confusion, or fear, and he knows who has and who hasn’t voted.
And he should be appointed like this. First a monk should be asked, and then a competent and capable monk should inform the Sangha:
202. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở giữa Tăng chúng sanh ra cãi cọ, sanh ra tranh chấp, đi đến tranh luận, sống đâm chọc lẫn nhau bằng những ngọn giáo miệng, không thể dập tắt được vụ tranh tụng ấy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép dập tắt vụ tranh tụng như thế bằng phương pháp đa số quyết. Vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố cần được chỉ định làm người phân phát thẻ biểu quyết: là người không đi đến thiên vị, không đi đến sân hận, không đi đến si mê, không đi đến sợ hãi, và biết được người đã nhận và chưa nhận thẻ. Và này các tỳ khưu, vị ấy cần được chỉ định như sau. Trước tiên, vị tỳ khưu cần được thỉnh cầu. Sau khi thỉnh cầu, Tăng chúng cần được một vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực tuyên bố rằng:’
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ salākaggāhāpakaṁ sammanneyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should appoint monk so-and-so as the manager of the vote. This is the motion.
203. – ‘Bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Nếu Tăng chúng đã đến thời điểm thích hợp, Tăng chúng nên chỉ định tỳ khưu tên là ... làm người phân phát thẻ biểu quyết. Đây là lời tác bạch.’
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ salākaggāhāpakaṁ sammannati. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno salākaggāhāpakassa sammuti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha appoints monk so-and-so as the manager of the vote. Any monk who approves of appointing monk so-and-so as the manager of the vote should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
– ‘Bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Tăng chúng chỉ định tỳ khưu tên là ... làm người phân phát thẻ biểu quyết. Việc chỉ định tỳ khưu tên là ... làm người phân phát thẻ biểu quyết, nếu vị nào chấp thuận thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.’
Sammato saṅghena itthannāmo bhikkhu salākaggāhāpako. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
The Sangha has appointed monk so-and-so as the manager of the vote. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
– ‘Tỳ khưu tên là ... đã được Tăng chúng chỉ định làm người phân phát thẻ biểu quyết. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này là như thế.’
Dasayime, bhikkhave, adhammikā salākaggāhā, dasa dhammikā. Katame dasa adhammikā salākaggāhā? Oramattakañca adhikaraṇaṁ hoti, na ca gatigataṁ hoti, na ca saritasāritaṁ hoti, jānāti adhammavādī bahutarāti, appeva nāma adhammavādī bahutarā assūti, jānāti saṅgho bhijjissatīti, appeva nāma saṅgho bhijjeyyāti, adhammena gaṇhanti, vaggā gaṇhanti, na ca yathādiṭṭhiyā gaṇhanti—ime dasa adhammikā salākaggāhā.
There are ten reasons why a vote is illegitimate: it’s only a minor legal issue; the full process for settling it hasn’t run its course; they haven’t tried to remember offenses and remind about offenses; the manager knows that those who speak contrary to the Teaching are in the majority; the manager expects that those who speak contrary to the Teaching will be in the majority; the manager knows that the Sangha will split; the manager expects that the Sangha will split; they vote illegitimately; they vote with an incomplete assembly; they don’t vote according to their own views.
204. Này các tỳ khưu, có mười cách lấy thẻ bỏ phiếu phi pháp này, và mười cách hợp pháp. Mười cách lấy thẻ bỏ phiếu phi pháp là gì? (1) Vụ tranh tụng chỉ là nhỏ nhặt, (2) chưa được giải quyết dứt điểm, (3) chưa được nhắc đi nhắc lại, (4) vị ấy biết rằng: ‘Phe phi pháp đông hơn,’ (5) vị ấy biết rằng: ‘Có lẽ phe phi pháp sẽ đông hơn,’ (6) vị ấy biết rằng: ‘Tăng chúng sẽ bị chia rẽ,’ (7) vị ấy biết rằng: ‘Có lẽ Tăng chúng sẽ bị chia rẽ,’ (8) họ lấy thẻ một cách phi pháp, (9) họ lấy thẻ một cách bè phái, (10) và họ không lấy thẻ theo đúng kiến giải. Đây là mười cách lấy thẻ bỏ phiếu phi pháp.
Katame dasa dhammikā salākaggāhā? Na ca oramattakaṁ adhikaraṇaṁ hoti, gatigatañca hoti, saritasāritañca hoti, jānāti dhammavādī bahutarāti, appeva nāma dhammavādī bahutarā assūti, jānāti saṅgho na bhijjissatīti, appeva nāma saṅgho na bhijjeyyāti, dhammena gaṇhanti, samaggā gaṇhanti, yathādiṭṭhiyā ca gaṇhanti—ime dasa dhammikā salākaggāhā”ti.
And there are ten reasons why a vote is legitimate: it’s not a minor legal issue; the full process for settling it has run its course; they’ve tried to remember offenses and remind about offenses; the manager knows that those who speak in accordance with the Teaching are in the majority; the manager expects that those who speak in accordance with the Teaching will be in the majority; the manager knows that the Sangha won’t split; the manager expects that the Sangha won’t split; they vote legitimately; they vote with a complete assembly; they vote according to their own views.”
Mười cách lấy thẻ bỏ phiếu hợp pháp là gì? (1) Vụ tranh tụng không phải là nhỏ nhặt, (2) đã được giải quyết dứt điểm, (3) đã được nhắc đi nhắc lại, (4) vị ấy biết rằng: ‘Phe chánh pháp đông hơn,’ (5) vị ấy biết rằng: ‘Có lẽ phe chánh pháp sẽ đông hơn,’ (6) vị ấy biết rằng: ‘Tăng chúng sẽ không bị chia rẽ,’ (7) vị ấy biết rằng: ‘Có lẽ Tăng chúng sẽ không bị chia rẽ,’ (8) họ lấy thẻ một cách hợp pháp, (9) họ lấy thẻ một cách hòa hợp, (10) và họ lấy thẻ theo đúng kiến giải. Đây là mười cách lấy thẻ bỏ phiếu hợp pháp.
6. Tassapāpiyasikā
6. Further penalty
6. Biện pháp Tassapāpiyasikā
Tena kho pana samayena upavāḷo bhikkhu saṅghamajjhe āpattiyā anuyuñjiyamāno avajānitvā paṭijānāti, paṭijānitvā avajānāti, aññenaññaṁ paṭicarati, sampajānamusā bhāsati. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma upavāḷo bhikkhu saṅghamajjhe āpattiyā anuyuñjiyamāno avajānitvā paṭijānissati, paṭijānitvā avajānissati, aññenaññaṁ paṭicarissati, sampajānamusā bhāsissatī”ti.
Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave …pe…
“saccaṁ, bhagavā”ti …pe…
vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“tena hi, bhikkhave, saṅgho upavāḷassa bhikkhuno tassapāpiyasikākammaṁ karotu. Evañca pana, bhikkhave, kātabbaṁ. Paṭhamaṁ upavāḷo bhikkhu codetabbo, codetvā sāretabbo, sāretvā āpattiṁ āropetabbo, āpattiṁ āropetvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
On one occasion, when the monk Upavāḷa was being examined in the midst of the Sangha about an offense, he asserted things after denying them, denied things after asserting them, evaded the issue, and lied. The monks of few desires complained and criticized him, “How can the monk Upavāḷa act like this?”
They told the Buddha. … “Is it true, monks, that the monk Upavāḷa is acting like this?”
“It’s true, sir.” …
After rebuking him … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“Well then, the Sangha should do a legal procedure of further penalty against the monk Upavāḷa. And it should be done like this. First you should accuse the monk Upavāḷa. He should then be reminded of what he has done, before he’s charged with an offense. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
205. Vào lúc bấy giờ, tỳ khưu Upavāḷa, khi đang bị chất vấn về một tội ở giữa Tăng chúng, sau khi chối lại thừa nhận, sau khi thừa nhận lại chối, dùng chuyện này để lảng tránh chuyện khác, và cố ý nói dối. Các vị tỳ khưu ít ham muốn ... vị ấy ... đã khiển trách, chỉ trích, phàn nàn rằng: – ‘Tại sao tỳ khưu Upavāḷa, khi đang bị chất vấn về một tội ở giữa Tăng chúng, sau khi chối lại thừa nhận, sau khi thừa nhận lại chối, dùng chuyện này để lảng tránh chuyện khác, và cố ý nói dối chứ!’ Rồi các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... – ‘Này các tỳ khưu, có thật không ...?’ – ‘Bạch đức Thế Tôn, là thật.’ ... Sau khi quở trách ... sau khi thuyết pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng hãy thực hiện hành vi Tassapāpiyasikā đối với tỳ khưu Upavāḷa. Và này các tỳ khưu, việc ấy nên được thực hiện như sau: Trước tiên, tỳ khưu Upavāḷa phải bị khiển trách. Sau khi khiển trách, vị ấy phải được nhắc nhở. Sau khi nhắc nhở, vị ấy phải được quy tội. Sau khi quy tội, một tỳ khưu có năng lực, có khả năng nên thông báo cho Tăng chúng biết:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ upavāḷo bhikkhu saṅghamajjhe āpattiyā anuyuñjiyamāno avajānitvā paṭijānāti, paṭijānitvā avajānāti, aññenaññaṁ paṭicarati, sampajānamusā bhāsati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho upavāḷassa bhikkhuno tassapāpiyasikākammaṁ kareyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Upavāḷa, while being examined in the midst of the Sangha about an offense, asserted things after denying them, denied things after asserting them, evaded the issue, and lied. If the Sangha is ready, it should do a legal procedure of further penalty against the monk Upavāḷa. This is the motion.
206. – ‘Kính bạch chư Tôn giả, mong Tăng chúng hãy lắng nghe con. Tỳ khưu Upavāḷa này, khi đang bị chất vấn về một tội ở giữa Tăng chúng, sau khi chối lại thừa nhận, sau khi thừa nhận lại chối, dùng chuyện này để lảng tránh chuyện khác, và cố ý nói dối. Nếu Tăng chúng thấy đã đến lúc thích hợp, Tăng chúng nên thực hiện hành vi Tassapāpiyasikā đối với tỳ khưu Upavāḷa. Đây là lời tuyên ngôn.’
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ upavāḷo bhikkhu saṅghamajjhe āpattiyā anuyuñjiyamāno avajānitvā paṭijānāti, paṭijānitvā avajānāti, aññenaññaṁ paṭicarati, sampajānamusā bhāsati. Saṅgho upavāḷassa bhikkhuno tassapāpiyasikākammaṁ karoti. Yassāyasmato khamati upavāḷassa bhikkhuno tassapāpiyasikākammassa karaṇaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Upavāḷa, while being examined in the midst of the Sangha about an offense, asserted things after denying them, denied things after asserting them, evaded the issue, and lied. The Sangha does a legal procedure of further penalty against the monk Upavāḷa. Any monk who approves of doing a legal procedure of further penalty against the monk Upavāḷa should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
– ‘Kính bạch chư Tôn giả, mong Tăng chúng hãy lắng nghe con. Tỳ khưu Upavāḷa này, khi đang bị chất vấn về một tội ở giữa Tăng chúng, sau khi chối lại thừa nhận, sau khi thừa nhận lại chối, dùng chuyện này để lảng tránh chuyện khác, và cố ý nói dối. Tăng chúng thực hiện hành vi Tassapāpiyasikā đối với tỳ khưu Upavāḷa. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc thực hiện hành vi Tassapāpiyasikā đối với tỳ khưu Upavāḷa thì nên im lặng; vị nào không chấp thuận thì nên nói lên.’
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
– ‘Lần thứ hai, tôi cũng nói lên điều này ... Lần thứ ba, tôi cũng nói lên điều này ...’
Kataṁ saṅghena upavāḷassa bhikkhuno tassapāpiyasikākammaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
The Sangha has done a legal procedure of further penalty against the monk Upavāḷa. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
– ‘Hành vi Tassapāpiyasikā đối với tỳ khưu Upavāḷa đã được Tăng chúng thực hiện. Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Pañcimāni, bhikkhave, dhammikāni tassapāpiyasikākammassa karaṇāni. Asuci ca hoti, alajjī ca, sānuvādo ca, tassa saṅgho tassapāpiyasikākammaṁ karoti dhammena, samaggena—imāni kho, bhikkhave, pañca dhammikāni tassapāpiyasikākammassa karaṇāni.
There are five factors of a legitimate legal procedure of further penalty: the subject of the procedure is impure; he’s shameless; he has been accused; the procedure is legitimate; the procedure is done by a unanimous assembly.”
207. Này các tỳ khưu, có năm điều này là việc thực hiện hành vi Tassapāpiyasikā hợp pháp. Vị ấy có hạnh không trong sạch, không biết hổ thẹn, và bị khiển trách; Tăng chúng thực hiện hành vi Tassapāpiyasikā đối với vị ấy đúng theo pháp, và trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, đây chính là năm điều là việc thực hiện hành vi Tassapāpiyasikā hợp pháp.
6.1. Adhammakammadvādasaka
The group of twelve on illegitimate legal procedures
Mười hai loại hành vi phi pháp
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ tassapāpiyasikākammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Asammukhā kataṁ hoti, appaṭipucchākataṁ hoti, appaṭiññāya kataṁ hoti …pe…
… adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—
imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tassapāpiyasikākammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
“When a legal procedure of further penalty has three qualities, it’s illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done in the absence of the accused, it’s done without questioning the accused, it’s done without the admission of the accused.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and not properly resolved: it’s done against one who hasn’t committed any offense, it’s done against one who’s committed an offense that isn’t clearable by confession, it’s done against one who’s confessed their offense.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and not properly resolved: it’s done without having accused the person of their offense, it’s done without having reminded the person of their offense, it’s done without having charged the person with their offense.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and not properly resolved: it’s done in the absence of the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and not properly resolved: it’s done without questioning the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and not properly resolved: it’s done without the admission of the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and not properly resolved: it’s done against one who hasn’t committed any offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and not properly resolved: it’s done against one who’s committed an offense that isn’t clearable by confession, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and not properly resolved: it’s done against one who’s confessed their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and not properly resolved: it’s done without having accused the person of their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and not properly resolved: it’s done without having reminded the person of their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having charged the person with their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.”
208. Này các tỳ khưu, hành vi Tassapāpiyasikā được hội đủ ba yếu tố là hành vi phi pháp, hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp một cách tồi tệ. (Đó là) được thực hiện khi vắng mặt, được thực hiện mà không hỏi ý kiến, được thực hiện mà không có sự thừa nhận ... được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một phe nhóm. Này các tỳ khưu, hành vi Tassapāpiyasikā được hội đủ ba yếu tố này là hành vi phi pháp, hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp một cách tồi tệ.
6.2. Dhammakammadvādasaka
The group of twelve on legitimate legal procedures
Mười hai loại hành vi hợp pháp
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ tassapāpiyasikākammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Sammukhā kataṁ hoti, paṭipucchākataṁ hoti, paṭiññāya kataṁ hoti …pe…
… dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tassapāpiyasikākammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
“When a legal procedure of further penalty has three qualities, it’s legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done in the presence of the accused, it’s done with the questioning of the accused, it’s done with the admission of the accused.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly resolved: it’s done against one who’s committed an offense, it’s done against one who’s committed an offense that’s clearable by confession, it’s done against one who hasn’t confessed their offense.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly resolved: it’s done after having accused the person of their offense, it’s done after having reminded the person of their offense, it’s done after having charged the person with their offense.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly resolved: it’s done in the presence of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly resolved: it’s done with the questioning of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly resolved: it’s done with the admission of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly resolved: it’s done against one who’s committed an offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly resolved: it’s done against one who’s committed an offense that’s clearable by confession, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly resolved: it’s done against one who hasn’t confessed their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly resolved: it’s done after having accused the person of their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly resolved: it’s done after having reminded the person of their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of further penalty has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after charging the person with their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.”
209. Này các tỳ khưu, hành vi Tassapāpiyasikā được hội đủ ba yếu tố là hành vi hợp pháp, hành vi hợp luật, và là hành vi được dàn xếp một cách tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện khi có mặt, được thực hiện sau khi hỏi ý kiến, được thực hiện khi có sự thừa nhận ... được thực hiện một cách hợp pháp, được thực hiện trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, hành vi Tassapāpiyasikā được hội đủ ba yếu tố này là hành vi hợp pháp, hành vi hợp luật, và là hành vi được dàn xếp một cách tốt đẹp.
6.3. Ākaṅkhamānachakka
The group of six on wishing
Sáu trường hợp (có thể thực hiện hành vi) nếu muốn
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno ākaṅkhamāno saṅgho tassapāpiyasikākammaṁ kareyya. Bhaṇḍanakārako hoti kalahakārako vivādakārako bhassakārako saṅghe adhikaraṇakārako; bālo hoti abyatto āpattibahulo anapadāno; gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno ākaṅkhamāno saṅgho tassapāpiyasikākammaṁ kareyya.
“When a monk has three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a legal procedure of further penalty against him: he’s quarrelsome, argumentative, and a creator of legal issues in the Sangha; he’s ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries; he’s constantly and improperly socializing with householders.
210. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu hội đủ ba yếu tố, Tăng chúng nếu muốn có thể thực hiện hành vi Tassapāpiyasikā. (1) Vị ấy hay gây tranh cãi, cãi vã, tranh luận, nói nhiều, và hay gây ra các vụ tranh tụng trong Tăng chúng; (2) vị ấy ngu dốt, không khéo léo, phạm nhiều tội, không có giới hạn về tội lỗi; (3) vị ấy sống giao du với hàng tại gia qua những mối quan hệ không thích hợp. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu hội đủ ba yếu tố này, Tăng chúng nếu muốn có thể thực hiện hành vi Tassapāpiyasikā.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno ākaṅkhamāno saṅgho tassapāpiyasikākammaṁ kareyya. Adhisīle sīlavipanno hoti, ajjhācāre ācāravipanno hoti, atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti—imehi kho, bhikkhave …pe….
When a monk has another three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of further penalty against him: he has failed in the higher morality; he has failed in the higher conduct; he has failed in the higher view.
“Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu hội đủ ba pháp khác nữa, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện tác pháp Tassapāpiyasikā. Vị ấy bị hư hỏng về giới trong tăng thượng giới, bị hư hỏng về hạnh kiểm trong tăng thượng hạnh kiểm, bị hư hỏng về tri kiến trong tăng thượng tri kiến. Này các tỳ khưu, chính do các pháp này ...v.v...
Aparehipi, bhikkhave …pe… buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno ākaṅkhamāno saṅgho tassapāpiyasikākammaṁ kareyya.
When a monk has another three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of further penalty against him: he disparages the Buddha; he disparages the Teaching; he disparages the Sangha.
“Này các tỳ khưu, các pháp khác nữa ...v.v... Vị ấy nói lời không tán thán đức Phật, nói lời không tán thán Pháp, nói lời không tán thán Tăng. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu hội đủ ba pháp này, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện tác pháp Tassapāpiyasikā.”
Tiṇṇaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ ākaṅkhamāno saṅgho tassapāpiyasikākammaṁ kareyya. Eko bhaṇḍanakārako hoti …pe… saṅghe adhikaraṇakārako; eko bālo hoti abyatto āpattibahulo anapadāno; eko gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ ākaṅkhamāno saṅgho tassapāpiyasikākammaṁ kareyya.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of further penalty against three kinds of monks: those who are quarrelsome, argumentative, and creators of legal issues in the Sangha; those who are ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries; those who are constantly and improperly socializing with householders.
“Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện tác pháp Tassapāpiyasikā. Một hạng là người hay gây tranh cãi ...v.v... là người gây ra tranh tụng trong Tăng chúng; một hạng là người ngu si, không sáng suốt, phạm nhiều tội, không có giới hạn; một hạng sống giao du với hàng tại gia bằng những mối giao du không thích hợp. Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu này, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện tác pháp Tassapāpiyasikā.”
Aparesampi, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ ākaṅkhamāno saṅgho tassapāpiyasikākammaṁ kareyya. Eko adhisīle sīlavipanno hoti, eko ajjhācāre ācāravipanno hoti, eko atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti—imesaṁ kho, bhikkhave …pe….
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of further penalty against three other kinds of monks: those who’ve failed in the higher morality; those who’ve failed in the higher conduct; those who’ve failed in the higher view.
“Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện tác pháp Tassapāpiyasikā. Một hạng bị hư hỏng về giới trong tăng thượng giới, một hạng bị hư hỏng về hạnh kiểm trong tăng thượng hạnh kiểm, một hạng bị hư hỏng về tri kiến trong tăng thượng tri kiến. Này các tỳ khưu, đối với các vị này ...v.v...”
Aparesampi, bhikkhave …pe… eko buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, eko dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, eko saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ ākaṅkhamāno saṅgho tassapāpiyasikākammaṁ kareyya.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of further penalty against three other kinds of monks: those who disparage the Buddha; those who disparage the Teaching; those who disparage the Sangha.”
“Này các tỳ khưu, các hạng khác nữa ...v.v... một hạng nói lời không tán thán đức Phật, một hạng nói lời không tán thán Pháp, một hạng nói lời không tán thán Tăng. Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu này, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện tác pháp Tassapāpiyasikā.”
6.4. Aṭṭhārasavatta
The eighteen kinds of conduct
Mười tám phận sự
Tassapāpiyasikākammakatena, bhikkhave, bhikkhunā sammā vattitabbaṁ. Tatrāyaṁ sammāvattanā—
“A monk who’s had a legal procedure of further penalty done against him should conduct himself properly. This is the proper conduct:
211. “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đã bị thực hiện tác pháp Tassapāpiyasikā cần phải hành xử đúng đắn. Ở đây, đây là cách hành xử đúng đắn:”
- Na upasampādetabbaṁ,
- na nissayo dātabbo,
- na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo,
- na bhikkhunovādakasammuti sāditabbā,
- sammatenapi bhikkhuniyo na ovaditabbā …pe…
- na bhikkhūhi sampayojetabban”ti.
Atha kho saṅgho upavāḷassa bhikkhuno tassapāpiyasikākammaṁ akāsi.
- He shouldn’t give the full ordination.
- He shouldn’t give formal support.
- He shouldn’t have a novice monk attend on him.
- He shouldn’t accept being appointed as an instructor of the nuns.
- Even if appointed, he shouldn’t instruct the nuns.
- He shouldn’t commit the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of further penalty against him.
- He shouldn’t commit an offense similar to the offense for which the Sangha did the procedure of further penalty against him.
- He shouldn’t commit an offense worse than the offense for which the Sangha did the procedure of further penalty against him.
- He shouldn’t criticize the procedure.
- He shouldn’t criticize those who did the procedure.
- He shouldn’t cancel the observance-day procedure of a regular monk.
- He shouldn’t cancel the invitation of a regular monk.
- He shouldn’t direct a regular monk.
- He shouldn’t give instructions to a regular monk.
- He shouldn’t ask a regular monk for permission to accuse him of an offense.
- He shouldn’t accuse a regular monk of an offense.
- He shouldn’t remind a regular monk of an offense.
- He shouldn’t associate inappropriately with other monks.”
The Sangha then did a legal procedure of further penalty against the monk Upavāḷa.
“Không được cho thọ cụ túc giới, không được cho nương tựa, không được có sa-di phục vụ, không được chấp nhận sự chỉ định làm người giáo giới tỳ khưu ni, dù đã được chỉ định cũng không được giáo giới các tỳ khưu ni ...v.v... không được giao du với các tỳ khưu.” Và khi ấy, Tăng chúng đã thực hiện tác pháp Tassapāpiyasikā đối với tỳ khưu Upavāḷa.
7. Tiṇavatthāraka
7. Covering over as if with grass
7. Tiṇavatthāraka (Dàn xếp bằng cách lấy cỏ che)
Tena kho pana samayena bhikkhūnaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ hoti bhāsitaparikkantaṁ. Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi—“amhākaṁ kho bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Sace mayaṁ imāhi āpattīhi aññamaññaṁ kāressāma, siyāpi taṁ adhikaraṇaṁ kakkhaḷattāya vāḷattāya bhedāya saṁvatteyya. Kathaṁ nu kho amhehi paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At one time, while the monks were arguing and disputing, they did and said many things unworthy of monastics. They considered this and thought, “If we deal with one another for these offenses, this legal issue might lead to harshness, nastiness, and schism. So what should we do now?” They told the Buddha.
212. Vào lúc bấy giờ, trong khi các tỳ khưu đang sống trong sự tranh cãi, xung đột, và bất hòa, nhiều hành vi không xứng với sa-môn đã được thường xuyên thực hiện, cả bằng lời nói lẫn hành động. Khi ấy, các tỳ khưu ấy đã khởi lên suy nghĩ này: “Trong khi chúng ta đang sống trong sự tranh cãi, xung đột, và bất hòa, nhiều hành vi không xứng với sa-môn đã được thường xuyên thực hiện, cả bằng lời nói lẫn hành động. Nếu chúng ta xử phạt lẫn nhau về những tội này, việc tranh tụng ấy có thể dẫn đến sự cứng rắn, thô bạo, và chia rẽ. Chúng ta nên hành động như thế nào đây?” Họ đã trình bày việc này lên đức Thế Tôn.
“Idha pana, bhikkhave, bhikkhūnaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ hoti bhāsitaparikkantaṁ. Tatra ce bhikkhūnaṁ evaṁ hoti—‘amhākaṁ kho bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ; sace mayaṁ imāhi āpattīhi aññamaññaṁ kāressāma, siyāpi taṁ adhikaraṇaṁ kakkhaḷattāya vāḷattāya bhedāya saṁvatteyyā’ti, anujānāmi, bhikkhave, evarūpaṁ adhikaraṇaṁ tiṇavatthārakena vūpasametuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, vūpasametabbaṁ. Sabbeheva ekajjhaṁ sannipatitabbaṁ, sannipatitvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
“It may be, monks, that monks who are arguing and disputing do and say many things unworthy of monastics. If they consider this and think, ‘If we deal with one another for these offenses, this legal issue might lead to harshness, nastiness, and schism,’ then I allow you to resolve that legal issue by covering over as if with grass.
And it should be resolved like this. Everyone should gather in one place. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
“Này các tỳ khưu, ở đây, trong khi các tỳ khưu đang sống trong sự tranh cãi, xung đột, và bất hòa, nhiều hành vi không xứng với sa-môn đã được thường xuyên thực hiện, cả bằng lời nói lẫn hành động. Nếu khi ấy các tỳ khưu có suy nghĩ rằng: ‘Trong khi chúng ta đang sống trong sự tranh cãi, xung đột, và bất hòa, nhiều hành vi không xứng với sa-môn đã được thường xuyên thực hiện, cả bằng lời nói lẫn hành động; nếu chúng ta xử phạt lẫn nhau về những tội này, việc tranh tụng ấy có thể dẫn đến sự cứng rắn, thô bạo, và chia rẽ,’ thì này các tỳ khưu, Ta cho phép dàn xếp việc tranh tụng như vậy bằng phương pháp Tiṇavatthāraka. Và này các tỳ khưu, việc dàn xếp nên được thực hiện như sau: Tất cả nên tụ họp lại một nơi. Sau khi đã tụ họp, một vị tỳ khưu có năng lực, sáng suốt nên trình cho Tăng chúng biết:”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Amhākaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Sace mayaṁ imāhi āpattīhi aññamaññaṁ kāressāma, siyāpi taṁ adhikaraṇaṁ kakkhaḷattāya vāḷattāya bhedāya saṁvatteyya. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho imaṁ adhikaraṇaṁ tiṇavatthārakena vūpasameyya, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttan’ti.
Ekatopakkhikānaṁ bhikkhūnaṁ byattena bhikkhunā paṭibalena sako pakkho ñāpetabbo—
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. While we were arguing and disputing, we did and said many things unworthy of monastics. If we deal with one another for these offenses, this legal issue might lead to harshness, nastiness, and schism. If the Sangha is ready, it should resolve this legal issue by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders.’
The monks belonging to one side should then be informed by a competent and capable monk belonging to their own side:
“‘Kính bạch chư Tôn đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Trong khi chúng con đang sống trong sự tranh cãi, xung đột, và bất hòa, nhiều hành vi không xứng với sa-môn đã được thường xuyên thực hiện, cả bằng lời nói lẫn hành động. Nếu chúng con xử phạt lẫn nhau về những tội này, việc tranh tụng ấy có thể dẫn đến sự cứng rắn, thô bạo, và chia rẽ. Nếu Tăng chúng thấy là phải thời, mong Tăng chúng hãy dàn xếp việc tranh tụng này bằng phương pháp Tiṇavatthāraka, ngoại trừ tội trọng và tội liên quan đến hàng tại gia.’ Một vị tỳ khưu có năng lực, sáng suốt trong một phe nên trình cho phe của mình biết:”
‘Suṇantu me āyasmantā. Amhākaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Sace mayaṁ imāhi āpattīhi aññamaññaṁ kāressāma, siyāpi taṁ adhikaraṇaṁ kakkhaḷattāya vāḷattāya bhedāya saṁvatteyya. Yadāyasmantānaṁ pattakallaṁ, ahaṁ yā ceva āyasmantānaṁ āpatti, yā ca attano āpatti, āyasmantānañceva atthāya, attano ca atthāya, saṅghamajjhe tiṇavatthārakena deseyyaṁ, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttan’ti.
‘Please, venerables, I ask you to listen. While we were arguing and disputing, we did and said many things unworthy of monastics. If we deal with one another for these offenses, this legal issue might lead to harshness, nastiness, and schism. If the venerables are ready, then, for your benefit and for my own, I will confess in the midst of the Sangha both your and my own offenses by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders.’
“‘Kính thưa chư Hiền, mong chư Hiền hãy nghe tôi. Trong khi chúng ta đang sống trong sự tranh cãi, xung đột, và bất hòa, nhiều hành vi không xứng với sa-môn đã được thường xuyên thực hiện, cả bằng lời nói lẫn hành động. Nếu chúng ta xử phạt lẫn nhau về những tội này, việc tranh tụng ấy có thể dẫn đến sự cứng rắn, thô bạo, và chia rẽ. Nếu chư Hiền thấy là phải thời, tôi sẽ, vì lợi ích của chư Hiền và vì lợi ích của chính tôi, sám hối giữa Tăng chúng bằng phương pháp Tiṇavatthāraka về các tội của chư Hiền và các tội của chính tôi, ngoại trừ tội trọng và tội liên quan đến hàng tại gia.’”
Athāparesaṁ ekatopakkhikānaṁ bhikkhūnaṁ byattena bhikkhunā paṭibalena sako pakkho ñāpetabbo—
And the monks belonging to the other side should be informed by a competent and capable monk belonging to their own side:
“Sau đó, một vị tỳ khưu có năng lực, sáng suốt trong phe còn lại nên trình cho phe của mình biết:”
‘Suṇantu me āyasmantā. Amhākaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Sace mayaṁ imāhi āpattīhi aññamaññaṁ kāressāma, siyāpi taṁ adhikaraṇaṁ kakkhaḷattāya vāḷattāya bhedāya saṁvatteyya. Yadāyasmantānaṁ pattakallaṁ, ahaṁ yā ceva āyasmantānaṁ āpatti, yā ca attano āpatti, āyasmantānañceva atthāya, attano ca atthāya, saṅghamajjhe tiṇavatthārakena deseyyaṁ, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttan’ti.
‘Please, venerables, I ask you to listen. While we were arguing and disputing, we did and said many things unworthy of monastics. If we deal with one another for these offenses, this legal issue might lead to harshness, nastiness, and schism. If the venerables are ready, then, for your benefit and for my own, I will confess in the midst of the Sangha both your and my own offenses by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders.’
“Mong các Tôn giả lắng nghe tôi. Trong khi chúng tôi đang sống trong tình trạng tranh cãi, sanh khởi cãi vã, đi đến tranh luận, nhiều điều không phải Sa-môn hạnh đã được thực hành và vi phạm, đã được nói đến và xúc phạm. Nếu chúng tôi giải quyết lẫn nhau về các tội này, việc tranh tụng ấy có thể đưa đến sự cứng rắn, sự thô bạo, sự chia rẽ. Nếu đây là thời điểm thích hợp cho các Tôn giả, tôi sẽ xin sám hối bằng phương pháp tiṇavatthāraka ở giữa Tăng chúng về các tội của các Tôn giả và các tội của chính tôi, vì lợi ích của các Tôn giả và vì lợi ích của chính tôi, ngoại trừ tội trọng, ngoại trừ tội liên quan đến hàng tại gia.”
Athāparesaṁ ekatopakkhikānaṁ bhikkhūnaṁ byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
A competent and capable monk belonging to one side should then inform the Sangha:
213. “Sau đó, vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực ở phía bên kia nên trình cho Tăng chúng biết rằng:”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Amhākaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Sace mayaṁ imāhi āpattīhi aññamaññaṁ kāressāma, siyāpi taṁ adhikaraṇaṁ kakkhaḷattāya vāḷattāya bhedāya saṁvatteyya. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ yā ceva imesaṁ āyasmantānaṁ āpatti, yā ca attano āpatti, imesañceva āyasmantānaṁ atthāya, attano ca atthāya, saṅghamajjhe tiṇavatthārakena deseyyaṁ, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttaṁ. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. While we were arguing and disputing, we did and said many things unworthy of monastics. If we deal with one another for these offenses, this legal issue might lead to harshness, nastiness, and schism. If the Sangha is ready, then, for the benefit of these venerables and myself, I will confess in the midst of the Sangha both their and my own offenses by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders. This is the motion.
“Kính bạch chư Đại đức Tăng, mong Tăng chúng lắng nghe con. Trong khi chúng tôi đang sống trong tình trạng tranh cãi, sanh khởi cãi vã, đi đến tranh luận, nhiều điều không phải Sa-môn hạnh đã được thực hành và vi phạm, đã được nói đến và xúc phạm. Nếu chúng tôi giải quyết lẫn nhau về các tội này, việc tranh tụng ấy có thể đưa đến sự cứng rắn, sự thô bạo, sự chia rẽ. Nếu đây là thời điểm thích hợp cho Tăng chúng, con sẽ xin sám hối bằng phương pháp tiṇavatthāraka ở giữa Tăng chúng về các tội của các Tôn giả này và các tội của chính con, vì lợi ích của các Tôn giả này và vì lợi ích của chính con, ngoại trừ tội trọng, ngoại trừ tội liên quan đến hàng tại gia. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Amhākaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Sace mayaṁ imāhi āpattīhi aññamaññaṁ kāressāma, siyāpi taṁ adhikaraṇaṁ kakkhaḷattāya vāḷattāya bhedāya saṁvatteyya. Ahaṁ yā ceva imesaṁ āyasmantānaṁ āpatti, yā ca attano āpatti, imesañceva āyasmantānaṁ atthāya, attano ca atthāya, saṅghamajjhe tiṇavatthārakena desemi, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttaṁ. Yassāyasmato khamati amhākaṁ imāsaṁ āpattīnaṁ saṅghamajjhe tiṇavatthārakena desanā, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. While we were arguing and disputing, we did and said many things unworthy of monastics. If we deal with one another for these offenses, this legal issue might lead to harshness, nastiness, and schism. For the benefit of these venerables and myself, I confess in the midst of the Sangha both their and my own offenses by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders. Any monk who approves of confessing our offenses in the midst of the Sangha by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Đại đức Tăng, mong Tăng chúng lắng nghe con. Trong khi chúng tôi đang sống trong tình trạng tranh cãi, sanh khởi cãi vã, đi đến tranh luận, nhiều điều không phải Sa-môn hạnh đã được thực hành và vi phạm, đã được nói đến và xúc phạm. Nếu chúng tôi giải quyết lẫn nhau về các tội này, việc tranh tụng ấy có thể đưa đến sự cứng rắn, sự thô bạo, sự chia rẽ. Con xin sám hối bằng phương pháp tiṇavatthāraka ở giữa Tăng chúng về các tội của các Tôn giả này và các tội của chính con, vì lợi ích của các Tôn giả này và vì lợi ích của chính con, ngoại trừ tội trọng, ngoại trừ tội liên quan đến hàng tại gia. Vị Tôn giả nào chấp thuận việc sám hối các tội này của chúng tôi bằng phương pháp tiṇavatthāraka ở giữa Tăng chúng, ngoại trừ tội trọng, ngoại trừ tội liên quan đến hàng tại gia, vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.”
Desitā amhākaṁ imā āpattiyo saṅghamajjhe tiṇavatthārakena, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
We have confessed our offenses in the midst of the Sangha by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
“Các tội này của chúng tôi đã được sám hối bằng phương pháp tiṇavatthāraka ở giữa Tăng chúng, ngoại trừ tội trọng, ngoại trừ tội liên quan đến hàng tại gia. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Athāparesaṁ ekatopakkhikānaṁ bhikkhūnaṁ byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
And a competent and capable monk belonging to the other side should inform the Sangha:
214. “Sau đó, vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực ở phía bên kia nên trình cho Tăng chúng biết rằng:”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Amhākaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Sace mayaṁ imāhi āpattīhi aññamaññaṁ kāressāma, siyāpi taṁ adhikaraṇaṁ kakkhaḷattāya vāḷattāya bhedāya saṁvatteyya. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ yā ceva imesaṁ āyasmantānaṁ āpatti, yā ca attano āpatti, imesañceva āyasmantānaṁ atthāya, attano ca atthāya, saṅghamajjhe tiṇavatthārakena deseyyaṁ, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttaṁ. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. While we were arguing and disputing, we did and said many things unworthy of monastics. If we deal with one another for these offenses, this legal issue might lead to harshness, nastiness, and schism. If the Sangha is ready, then, for the benefit of these venerables and myself, I will confess in the midst of the Sangha both their and my own offenses by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders. This is the motion.
“Kính bạch chư Đại đức Tăng, mong Tăng chúng lắng nghe con. Trong khi chúng tôi đang sống trong tình trạng tranh cãi, sanh khởi cãi vã, đi đến tranh luận, nhiều điều không phải Sa-môn hạnh đã được thực hành và vi phạm, đã được nói đến và xúc phạm. Nếu chúng tôi giải quyết lẫn nhau về các tội này, việc tranh tụng ấy có thể đưa đến sự cứng rắn, sự thô bạo, sự chia rẽ. Nếu đây là thời điểm thích hợp cho Tăng chúng, con sẽ xin sám hối bằng phương pháp tiṇavatthāraka ở giữa Tăng chúng về các tội của các Tôn giả này và các tội của chính con, vì lợi ích của các Tôn giả này và vì lợi ích của chính con, ngoại trừ tội trọng, ngoại trừ tội liên quan đến hàng tại gia. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Amhākaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Sace mayaṁ imāhi āpattīhi aññamaññaṁ kāressāma, siyāpi taṁ adhikaraṇaṁ kakkhaḷattāya vāḷattāya bhedāya saṁvatteyya. Ahaṁ yā ceva imesaṁ āyasmantānaṁ āpatti, yā ca attano āpatti, imesañceva āyasmantānaṁ atthāya, attano ca atthāya, saṅghamajjhe tiṇavatthārakena desemi, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttaṁ. Yassāyasmato khamati amhākaṁ imāsaṁ āpattīnaṁ saṅghamajjhe tiṇavatthārakena desanā, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. While we were arguing and disputing, we did and said many things unworthy of monastics. If we deal with one another for these offenses, this legal issue might lead to harshness, nastiness, and schism. For the benefit of these venerables and myself, I confess in the midst of the Sangha both their and my own offenses by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders. Any monk who approves of confessing our offenses in the midst of the Sangha by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Đại đức Tăng, mong Tăng chúng lắng nghe con. Trong khi chúng tôi đang sống trong tình trạng tranh cãi, sanh khởi cãi vã, đi đến tranh luận, nhiều điều không phải Sa-môn hạnh đã được thực hành và vi phạm, đã được nói đến và xúc phạm. Nếu chúng tôi giải quyết lẫn nhau về các tội này, việc tranh tụng ấy có thể đưa đến sự cứng rắn, sự thô bạo, sự chia rẽ. Con xin sám hối bằng phương pháp tiṇavatthāraka ở giữa Tăng chúng về các tội của các Tôn giả này và các tội của chính con, vì lợi ích của các Tôn giả này và vì lợi ích của chính con, ngoại trừ tội trọng, ngoại trừ tội liên quan đến hàng tại gia. Vị Tôn giả nào chấp thuận việc sám hối các tội này của chúng tôi bằng phương pháp tiṇavatthārakena ở giữa Tăng chúng, ngoại trừ tội trọng, ngoại trừ tội liên quan đến hàng tại gia, vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.”
Desitā amhākaṁ imā āpattiyo saṅghamajjhe tiṇavatthārakena, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
We have confessed our offenses in the midst of the Sangha by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
“Các tội này của chúng tôi đã được sám hối bằng phương pháp tiṇavatthāraka ở giữa Tăng chúng, ngoại trừ tội trọng, ngoại trừ tội liên quan đến hàng tại gia. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Evañca pana, bhikkhave, te bhikkhū tāhi āpattīhi vuṭṭhitā honti, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttaṁ, ṭhapetvā diṭṭhāvikammaṁ, ṭhapetvā ye na tattha hontī”ti.
8. Adhikaraṇa
In this way those monks are cleared of those offenses, except for heavy offenses and offenses connected with householders, and except for those monks who voice their disapproval and those who are absent.”
8. Legal issues
“Này các tỳ khưu, và như thế, các vị tỳ khưu ấy được xem là đã ra khỏi các tội ấy, ngoại trừ tội trọng, ngoại trừ tội liên quan đến hàng tại gia, ngoại trừ việc làm cho thấy rõ tà kiến, ngoại trừ những vị không có mặt ở đó.”
Tena kho pana samayena bhikkhūpi bhikkhūhi vivadanti, bhikkhūpi bhikkhunīhi vivadanti, bhikkhuniyopi bhikkhūhi vivadanti, channopi bhikkhu bhikkhunīnaṁ anupakhajja bhikkhūhi saddhiṁ vivadati, bhikkhunīnaṁ pakkhaṁ gāheti. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma channo bhikkhu bhikkhunīnaṁ anupakhajja bhikkhūhi saddhiṁ vivadissati, bhikkhunīnaṁ pakkhaṁ gāhessatīti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… saccaṁ kira, bhikkhave …pe…
saccaṁ, bhagavā”ti …pe…
vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
On one occasion monks were disputing with monks, monks with nuns, and nuns with monks. Standing with the nuns, the monk Channa disputed with the monks, making others side with the nuns. The monks of few desires … complained and criticized him, “How can the monk Channa act like this?” They told the Buddha. … “Is it true, monks, that the monk Channa is acting like this?”
“It’s true, sir.” …
After rebuking him … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
Definitions
215. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu cũng tranh cãi với các tỳ khưu ni, các tỳ khưu ni cũng tranh cãi với các tỳ khưu. Tỳ khưu Channa cũng chen vào giữa các tỳ khưu ni rồi tranh cãi cùng với các tỳ khưu, và bênh vực phe của các tỳ khưu ni. Những vị tỳ khưu thiểu dục ... la ó, chê bai, phàn nàn rằng: 'Làm thế nào mà tỳ khưu Channa lại có thể chen vào giữa các tỳ khưu ni rồi tranh cãi cùng với các tỳ khưu, và bênh vực phe của các tỳ khưu ni được chứ!' Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... 'Này các tỳ khưu, có thật như vậy không?' ... 'Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.' ... Sau khi quở trách ... sau khi thuyết pháp thoại, ngài gọi các tỳ khưu và dạy rằng:
“Cattārimāni, bhikkhave, adhikaraṇāni— vivādādhikaraṇaṁ, anuvādādhikaraṇaṁ, āpattādhikaraṇaṁ, kiccādhikaraṇaṁ.
“Monks, there are four kinds of legal issues: legal issues arising from disputes; legal issues arising from accusations; legal issues arising from offenses; legal issues arising from business.
Này các tỳ khưu, có bốn loại tranh tụng này: tranh tụng do tranh cãi, tranh tụng do khiển trách, tranh tụng do phạm tội, và tranh tụng do phận sự.
Tattha katamaṁ vivādādhikaraṇaṁ? Idha pana, bhikkhave, bhikkhū vivadanti—
What’s a legal issue arising from a dispute? It may be that monks are disputing, saying,
Trong ấy, thế nào là tranh tụng do tranh cãi? Này các tỳ khưu, ở đây, các tỳ khưu tranh cãi: là Pháp hay không phải là Pháp, là Luật hay không phải là Luật, là điều được Như Lai nói ra, tuyên thuyết hay không phải là điều được Như Lai nói ra, tuyên thuyết; là điều được Như Lai thực hành hay không phải là điều được Như Lai thực hành; là điều được Như Lai chế định hay không phải là điều được Như Lai chế định; là tội hay không phải là tội; là tội nhẹ hay là tội nặng; là tội còn dư hay là tội không còn dư; là tội thô hay không phải là tội thô. Sự cãi vã, sự xung đột, sự xô xát, sự tranh luận, sự nói khác nhau, sự nói sai lệch, sự nói năng gây phiền não, sự gây gổ ở trong đó — đây được gọi là tranh tụng do tranh cãi.
Tattha katamaṁ anuvādādhikaraṇaṁ? Idha pana, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ anuvadanti sīlavipattiyā vā ācāravipattiyā vā diṭṭhivipattiyā vā ājīvavipattiyā vā. Yo tattha anuvādo anuvadanā anullapanā anubhaṇanā anusampavaṅkatā abbhussahanatā anubalappadānaṁ—idaṁ vuccati anuvādādhikaraṇaṁ.
Tattha katamaṁ āpattādhikaraṇaṁ? Pañcapi āpattikkhandhā āpattādhikaraṇaṁ, sattapi āpattikkhandhā āpattādhikaraṇaṁ—idaṁ vuccati āpattādhikaraṇaṁ.
Tattha katamaṁ kiccādhikaraṇaṁ? Yā saṅghassa kiccayatā, karaṇīyatā, apalokanakammaṁ, ñattikammaṁ, ñattidutiyakammaṁ, ñatticatutthakammaṁ—idaṁ vuccati kiccādhikaraṇaṁ.
Vivādādhikaraṇassa kiṁ mūlaṁ? Cha vivādamūlāni vivādādhikaraṇassa mūlaṁ. Tīṇipi akusalamūlāni vivādādhikaraṇassa mūlaṁ, tīṇipi kusalamūlāni vivādādhikaraṇassa mūlaṁ.
Katamāni cha vivādamūlāni vivādādhikaraṇassa mūlaṁ? Idha pana, bhikkhave, bhikkhu kodhano hoti upanāhī. Yo so, bhikkhave, bhikkhu kodhano hoti upanāhī, so sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi agāravo viharati appatisso, saṅghepi agāravo viharati appatisso, sikkhāyapi na paripūrakārī hoti. Yo so, bhikkhave, bhikkhu sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi …pe… saṅghepi …pe… sikkhāyapi na paripūrakārī, so saṅghe vivādaṁ janeti. Yo hoti vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Evarūpañce tumhe, bhikkhave, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā samanupasseyyātha, tatra tumhe, bhikkhave, tasseva pāpakassa vivādamūlassa pahānāya vāyameyyātha.
What’s a legal issue arising from an accusation? It may be that monks accuse a monk of failure in morality, failure in conduct, failure in view, or failure in livelihood. In regard to this, whatever there is of accusations, accusing, allegations, blame, taking sides because of friendship, taking part in the accusation, or supporting the accusation—this is called a legal issue arising from an accusation.
What’s a legal issue arising from an offense? There are legal issues arising from offenses because of the five classes of offenses, and there are legal issues arising from offenses because of the seven classes of offenses—these are called legal issues arising from offenses.
What’s a legal issue arising from business? Whatever is the duty or the business of the Sangha—a legal procedure consisting of getting permission, a legal procedure consisting of one motion, a legal procedure consisting of one motion and one announcement, a legal procedure consisting of one motion and three announcements—this is called a legal issue arising from business.”
The roots of legal issues arising from disputes
“What’s the root of legal issues arising from disputes? There are six roots of disputes that in turn are the root of legal issues arising from disputes. There are also three unwholesome and three wholesome roots of legal issues arising from disputes.
What are the six roots of disputes that in turn are the root of legal issues arising from disputes? It may be that a monk is angry and resentful. One who’s angry and resentful is disrespectful and undeferential toward the Teacher, the Teaching, and the Sangha, and he doesn’t fulfill the training. Such a person creates disputes in the Sangha. Disputes are unbeneficial and a cause of unhappiness for humanity; they’re harmful, detrimental, and a cause of suffering for gods and humans. Monks, when you see such a root of disputes either in yourself or in others, you should make an effort to get rid of it.
228. “Sự tranh tụng về tranh cãi được dập tắt bằng bao nhiêu pháp an chỉ? Sự tranh tụng về tranh cãi được dập tắt bằng hai pháp an chỉ – là hiện diện luật và đa số quyết. Có thể nào sự tranh tụng về tranh cãi, không cần đến một pháp an chỉ là đa số quyết, mà có thể được dập tắt bằng một pháp an chỉ – là hiện diện luật không? Nên trả lời rằng: ‘Có thể.’ Giống như thế nào? Này các tỳ khưu, ở đây các tỳ khưu tranh cãi với nhau – ‘đây là Pháp’ hay ‘đây không phải là Pháp,’ ‘đây là Luật’ hay ‘đây không phải là Luật,’ ‘điều này đã được Như Lai nói, đã được tuyên bố’ hay ‘điều này đã không được Như Lai nói, đã không được tuyên bố,’ ‘điều này đã được Như Lai thực hành’ hay ‘điều này đã không được Như Lai thực hành,’ ‘điều này đã được Như Lai chế định’ hay ‘điều này đã không được Như Lai chế định,’ ‘đây là tội’ hay ‘đây không phải là tội,’ ‘đây là tội nhẹ’ hay ‘đây là tội nặng,’ ‘đây là tội có dư’ hay ‘đây là tội không có dư,’ ‘đây là tội thô’ hay ‘đây là tội không thô.’
216. Gốc rễ của tranh tụng do tranh cãi là gì? Sáu gốc rễ của sự tranh cãi là gốc rễ của tranh tụng do tranh cãi. Ba gốc rễ bất thiện cũng là gốc rễ của tranh tụng do tranh cãi, ba gốc rễ thiện cũng là gốc rễ của tranh tụng do tranh cãi. Sáu gốc rễ của sự tranh cãi nào là gốc rễ của tranh tụng do tranh cãi? Này các tỳ khưu, ở đây, tỳ khưu hay phẫn nộ, hay oán hận. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào hay phẫn nộ, hay oán hận, vị ấy sống không kính trọng, không vâng lời đối với bậc Đạo Sư; sống không kính trọng, không vâng lời đối với Pháp; sống không kính trọng, không vâng lời đối với Tăng; và không phải là người thực hành đầy đủ học giới. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào sống không kính trọng, không vâng lời đối với bậc Đạo Sư... đối với Pháp... đối với Tăng... và không phải là người thực hành đầy đủ học giới, vị ấy gây ra sự tranh cãi trong Tăng chúng. Sự tranh cãi ấy đưa đến bất hạnh cho nhiều người, không an lạc cho nhiều người, không lợi ích, bất hạnh, đau khổ cho chư thiên và loài người. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi nhận thấy một gốc rễ tranh cãi như vậy ở bên trong hay bên ngoài, này các tỳ khưu, ở đó các ngươi nên cố gắng để đoạn trừ chính gốc rễ tranh cãi xấu xa ấy. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi không nhận thấy một gốc rễ tranh cãi như vậy ở bên trong hay bên ngoài, này các tỳ khưu, ở đó các ngươi nên thực hành để chính gốc rễ tranh cãi xấu xa ấy không phát sinh trong tương lai. Như vậy là sự đoạn trừ gốc rễ tranh cãi xấu xa này. Như vậy là sự không phát sinh trong tương lai của gốc rễ tranh cãi xấu xa này.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu makkhī hoti paḷāsī …pe… issukī hoti maccharī, saṭho hoti māyāvī, pāpiccho hoti micchādiṭṭhī, sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī. Yo so, bhikkhave, bhikkhu sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī, so sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi agāravo viharati appatisso, saṅghepi agāravo viharati appatisso, sikkhāyapi na paripūrakārī hoti. Yo so, bhikkhave, bhikkhu sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi …pe… saṅghepi …pe… sikkhāyapi na paripūrakārī, so saṅghe vivādaṁ janeti. Yo hoti vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Evarūpañce tumhe, bhikkhave, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā samanupasseyyātha, tatra tumhe, bhikkhave, tasseva pāpakassa vivādamūlassa pahānāya vāyameyyātha. Evarūpañce tumhe, bhikkhave, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā na samanupasseyyātha, tatra tumhe, bhikkhave, tasseva pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavāya paṭipajjeyyātha. Evametassa pāpakassa vivādamūlassa pahānaṁ hoti. Evametassa pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavo hoti. Imāni cha vivādamūlāni vivādādhikaraṇassa mūlaṁ.
Or it may be that a monk is denigrating and domineering, envious and stingy, treacherous and deceitful, one who has bad desires and wrong views, or one who obstinately grasps his own views and only gives them up with difficulty. Such a monk is disrespectful and undeferential toward the Teacher, the Teaching, and the Sangha, and he doesn’t fulfill the training. Such a person creates disputes in the Sangha. Disputes are unbeneficial and a cause of unhappiness for humanity; they’re harmful, detrimental, and a cause of suffering for gods and humans. Monks, when you see such a root of disputes either in yourself or in others, you should make an effort to get rid of it. If you don’t see such a root either in yourself or in others, you should practice so that it doesn’t emerge in the future. In this way that bad root of disputes is abandoned and doesn’t emerge in the future.
“Này các tỳ-khưu, lại nữa, vị tỳ-khưu là người hay phủi ơn, hay cạnh tranh ... hay ganh tỵ, hay bỏn xẻn, là người xảo trá, là người gian manh, có ác dục, có tà kiến, là người cố chấp quan điểm của mình, nắm giữ kiên quyết và khó từ bỏ. Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu nào cố chấp quan điểm của mình, nắm giữ kiên quyết và khó từ bỏ, vị ấy sống không tôn kính, không vâng phục đối với bậc Đạo Sư; sống không tôn kính, không vâng phục đối với Pháp; sống không tôn kính, không vâng phục đối với Tăng chúng; và không thực hành đầy đủ các học giới. Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu nào sống không tôn kính, không vâng phục đối với bậc Đạo Sư; đối với Pháp ... đối với Tăng chúng ... và không thực hành đầy đủ các học giới, vị ấy gây ra sự tranh cãi trong Tăng chúng. Sự tranh cãi ấy đưa đến bất lợi cho đa số, bất lạc cho đa số, đưa đến sự tổn hại, bất hạnh và đau khổ cho chư thiên và nhân loại. Này các tỳ-khưu, nếu các thầy thấy nguồn gốc tranh cãi như vậy ở nội bộ hay ở bên ngoài, này các tỳ-khưu, các thầy nên nỗ lực để đoạn trừ nguồn gốc tranh cãi ác hại ấy. Này các tỳ-khưu, nếu các thầy không thấy nguồn gốc tranh cãi như vậy ở nội bộ hay ở bên ngoài, này các tỳ-khưu, các thầy nên thực hành để nguồn gốc tranh cãi ác hại ấy không phát sinh trong tương lai. Như vậy là sự đoạn trừ nguồn gốc tranh cãi ác hại này. Như vậy là sự không phát sinh trong tương lai của nguồn gốc tranh cãi ác hại này. Sáu điều này là những nguồn gốc của loại tranh tụng về tranh cãi.”
Katamāni tīṇi akusalamūlāni vivādādhikaraṇassa mūlaṁ? Idha pana, bhikkhave, bhikkhū luddhacittā vivadanti, duṭṭhacittā vivadanti, mūḷhacittā vivadanti—dhammoti vā adhammoti vā, vinayoti vā avinayoti vā, bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatenāti vā abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatenāti vā, āciṇṇaṁ tathāgatenāti vā anāciṇṇaṁ tathāgatenāti vā, paññattaṁ tathāgatenāti vā apaññattaṁ tathāgatenāti vā, āpattīti vā anāpattīti vā, lahukā āpattīti vā garukā āpattīti vā, sāvasesā āpattīti vā anavasesā āpattīti vā, duṭṭhullā āpattīti vā aduṭṭhullā āpattīti vā. Imāni tīṇi akusalamūlāni vivādādhikaraṇassa mūlaṁ.
What are the three unwholesome roots of legal issues arising from disputes? It may be that monks dispute with a mind of greed, ill will, or delusion, saying, ‘This is the Teaching’, ‘This is contrary to the Teaching’, ‘This is the Monastic Law’, ‘This is contrary to the Monastic Law’, ‘This was spoken by the Buddha’, ‘This wasn’t spoken by the Buddha’, ‘This was practiced by the Buddha’, ‘This wasn’t practiced by the Buddha’, ‘This was laid down by the Buddha’, ‘This wasn’t laid down by the Buddha’, ‘This is an offense’, ‘This isn’t an offense’, ‘This is a light offense’, ‘This is a heavy offense’, ‘This is a curable offense’, ‘This is an incurable offense’, ‘This is a grave offense’, or ‘This is a minor offense.’
“Thế nào là ba căn nguyên bất thiện là nguồn gốc của tranh tụng về tranh cãi? Này các tỳ-khưu, ở đây, các tỳ-khưu tranh cãi với tâm tham, tranh cãi với tâm sân, tranh cãi với tâm si rằng: ‘Đây là Pháp’ hay ‘Đây không phải là Pháp,’ ‘Đây là Luật’ hay ‘Đây không phải là Luật,’ ‘Điều này đã được Như Lai nói, đã được tuyên bố’ hay ‘Điều này không được Như Lai nói, không được tuyên bố,’ ‘Điều này đã được Như Lai thực hành’ hay ‘Điều này không được Như Lai thực hành,’ ‘Điều này đã được Như Lai chế định’ hay ‘Điều này không được Như Lai chế định,’ ‘Đây là tội’ hay ‘Đây không phải là tội,’ ‘Đây là tội nhẹ’ hay ‘Đây là tội nặng,’ ‘Đây là tội có dư sót’ hay ‘Đây là tội không dư sót,’ ‘Đây là tội thô’ hay ‘Đây không phải là tội thô.’ Ba căn nguyên bất thiện này là nguồn gốc của tranh tụng về tranh cãi.”
Katamāni tīṇi kusalamūlāni vivādādhikaraṇassa mūlaṁ? Idha pana, bhikkhave, bhikkhū aluddhacittā vivadanti, aduṭṭhacittā vivadanti, amūḷhacittā vivadanti—dhammoti vā adhammoti vā …pe… duṭṭhullā āpattīti vā aduṭṭhullā āpattīti vā. Imāni tīṇi kusalamūlāni vivādādhikaraṇassa mūlaṁ.
What are the three wholesome roots of legal issues arising from disputes? It may be that monks dispute with a mind free from greed, ill will, and delusion, saying, ‘This is the Teaching’, ‘This is contrary to the Teaching’ … ‘This is a grave offense’, or ‘This is a minor offense.’”
The roots of legal issues arising from accusations
“Thế nào là ba căn nguyên thiện là nguồn gốc của tranh tụng về tranh cãi? Này các tỳ-khưu, ở đây, các tỳ-khưu tranh cãi với tâm vô tham, tranh cãi với tâm vô sân, tranh cãi với tâm vô si rằng: ‘Đây là Pháp’ hay ‘Đây không phải là Pháp,’ ... ‘Đây là tội thô’ hay ‘Đây không phải là tội thô.’ Ba căn nguyên thiện này là nguồn gốc của tranh tụng về tranh cãi.”
“Anuvādādhikaraṇassa kiṁ mūlaṁ? Cha anuvādamūlāni anuvādādhikaraṇassa mūlaṁ. Tīṇipi akusalamūlāni anuvādādhikaraṇassa mūlaṁ, tīṇipi kusalamūlāni anuvādādhikaraṇassa mūlaṁ, kāyopi anuvādādhikaraṇassa mūlaṁ, vācāpi anuvādādhikaraṇassa mūlaṁ.
Katamāni cha anuvādamūlāni anuvādādhikaraṇassa mūlaṁ? Idha pana, bhikkhave, bhikkhu kodhano hoti upanāhī. Yo so, bhikkhave, bhikkhu kodhano hoti upanāhī, so sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi agāravo viharati appatisso, saṅghepi agāravo viharati appatisso, sikkhāyapi na paripūrakārī hoti. Yo so, bhikkhave, bhikkhu sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi …pe… saṅghepi …pe… sikkhāyapi na paripūrakārī, so saṅghe anuvādaṁ janeti. Yo hoti anuvādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Evarūpañce tumhe, bhikkhave, anuvādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā samanupasseyyātha, tatra tumhe, bhikkhave, tasseva pāpakassa anuvādamūlassa pahānāya vāyameyyātha. Evarūpañce tumhe, bhikkhave, anuvādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā na samanupasseyyātha, tatra tumhe, bhikkhave, tasseva pāpakassa anuvādamūlassa āyatiṁ anavassavāya paṭipajjeyyātha. Evametassa pāpakassa anuvādamūlassa pahānaṁ hoti. Evametassa pāpakassa anuvādamūlassa āyatiṁ anavassavo hoti.
“What’s the root of legal issues arising from accusations? There are six roots of accusations that in turn are the root of legal issues arising from accusations. There are also three unwholesome and three wholesome roots of legal issues arising from accusations. The body, too, is a root of legal issues arising from accusations, as is speech.
What are the six roots of accusations that in turn are the root of legal issues arising from accusations? It may be that a monk is angry and resentful. One who’s angry and resentful is disrespectful and undeferential toward the Teacher, the Teaching, and the Sangha, and he doesn’t fulfill the training. Such a person makes accusations in the Sangha. Accusations are unbeneficial and a cause of unhappiness for humanity; they’re harmful, detrimental, and a cause of suffering for gods and humans. Monks, when you see such a root of accusations either in yourself or in others, you should make an effort to get rid of it. If you don’t see such a root either in yourself or in others, you should practice so that it doesn’t emerge in the future. In this way that bad root of accusations is abandoned and doesn’t emerge in the future.
217. Căn nguyên của tranh tụng về khiển trách là gì? Sáu nguồn gốc khiển trách là căn nguyên của tranh tụng về khiển trách. Ba căn nguyên bất thiện cũng là căn nguyên của tranh tụng về khiển trách, ba căn nguyên thiện cũng là căn nguyên của tranh tụng về khiển trách, thân cũng là căn nguyên của tranh tụng về khiển trách, lời nói cũng là căn nguyên của tranh tụng về khiển trách. Thế nào là sáu nguồn gốc khiển trách là căn nguyên của tranh tụng về khiển trách? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu là người hay phẫn nộ, hay cột oán. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào là người hay phẫn nộ, hay cột oán, vị ấy sống không tôn kính, không vâng lời đối với bậc Đạo Sư; sống không tôn kính, không vâng lời đối với Pháp; sống không tôn kính, không vâng lời đối với chúng Tăng; và không phải là người thực hành đầy đủ các học giới. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào sống không tôn kính, không vâng lời đối với bậc Đạo Sư; đối với Pháp ... đối với chúng Tăng ... và không phải là người thực hành đầy đủ các học giới, vị ấy tạo ra sự khiển trách trong chúng Tăng. Sự khiển trách ấy đưa đến bất hạnh cho đa số, bất lạc cho đa số, đưa đến sự vô ích, bất hạnh, và đau khổ cho chư thiên và nhân loại. Này các tỳ khưu, nếu các thầy thấy được nguồn gốc khiển trách như vậy ở nội bộ hay ở bên ngoài, này các tỳ khưu, ở đó các thầy nên cố gắng để loại trừ nguồn gốc khiển trách xấu xa ấy. Này các tỳ khưu, nếu các thầy không thấy được nguồn gốc khiển trách như vậy ở nội bộ hay ở bên ngoài, này các tỳ khưu, ở đó các thầy nên thực hành để nguồn gốc khiển trách xấu xa ấy không tiếp diễn trong tương lai. Như vậy là sự loại trừ nguồn gốc khiển trách xấu xa này. Như vậy là sự không tiếp diễn trong tương lai của nguồn gốc khiển trách xấu xa này.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu makkhī hoti paḷāsī …pe… issukī hoti maccharī, saṭho hoti māyāvī, pāpiccho hoti micchādiṭṭhī, sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī. Yo so, bhikkhave, bhikkhu sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī, so sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi agāravo viharati appatisso, saṅghepi agāravo viharati appatisso, sikkhāyapi na paripūrakārī hoti. Yo so, bhikkhave, bhikkhu sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi …pe… saṅghepi …pe… sikkhāyapi na paripūrakārī, so saṅghe anuvādaṁ janeti. Yo hoti anuvādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ. Evarūpañce tumhe, bhikkhave, anuvādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā samanupasseyyātha, tatra tumhe, bhikkhave, tasseva pāpakassa anuvādamūlassa pahānāya vāyameyyātha. Evarūpañce tumhe, bhikkhave, anuvādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā na samanupasseyyātha, tatra tumhe, bhikkhave, tasseva pāpakassa anuvādamūlassa āyatiṁ anavassavāya paṭipajjeyyātha.
Evametassa pāpakassa anuvādamūlassa pahānaṁ hoti. Evametassa pāpakassa anuvādamūlassa āyatiṁ anavassavo hoti. Imāni cha anuvādamūlāni anuvādādhikaraṇassa mūlaṁ.
Or it may be that a monk is denigrating and domineering, envious and stingy, treacherous and deceitful, one who has bad desires and wrong views, or one who obstinately grasps his own views and only gives them up with difficulty. Such a monk is disrespectful and undeferential toward the Teacher, the Teaching, and the Sangha, and he doesn’t fulfill the training. Such a person makes accusations in the Sangha. Accusations are unbeneficial and a cause of unhappiness for humanity; they’re harmful, detrimental, and a cause of suffering for gods and humans. Monks, when you see such a root of accusations either in yourself or in others, you should make an effort to get rid of it. If you don’t see such a root either in yourself or in others, you should practice so that it doesn’t emerge in the future.
In this way that bad root of accusations is abandoned and doesn’t emerge in the future.
Này các tỳ khưu, lại nữa, vị tỳ khưu là người hay gièm pha, hay cạnh tranh... là người tật đố, bỏn xẻn, là người xảo trá, gian trá, là người có ước muốn xấu xa, có tà kiến, là người cố chấp vào tà kiến của mình, chấp giữ kiên cố, khó từ bỏ. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào là người cố chấp vào tà kiến của mình, chấp giữ kiên cố, khó từ bỏ, vị ấy sống không tôn kính, không vâng lời đối với bậc Đạo Sư, sống không tôn kính, không vâng lời đối với Pháp, sống không tôn kính, không vâng lời đối với Tăng, và không phải là người thực hành đầy đủ học giới. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào sống không tôn kính, không vâng lời đối với bậc Đạo Sư, ... đối với Pháp, ... đối với Tăng, ... không phải là người thực hành đầy đủ học giới, vị ấy làm phát sinh sự khiển trách trong Tăng chúng. Sự khiển trách ấy đưa đến không lợi ích cho đa số, không an lạc cho đa số, đưa đến sự bất hạnh, không lợi ích, đau khổ cho chư thiên và loài người. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi thấy được nguồn gốc của sự khiển trách như vậy ở bên trong hay bên ngoài, thì này các tỳ khưu, các ngươi nên cố gắng để đoạn trừ chính nguồn gốc khiển trách xấu xa ấy. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi không thấy được nguồn gốc của sự khiển trách như vậy ở bên trong hay bên ngoài, thì này các tỳ khưu, các ngươi nên thực hành để cho nguồn gốc khiển trách xấu xa ấy không phát sinh trong tương lai. Như vậy là sự đoạn trừ nguồn gốc khiển trách xấu xa này. Như vậy là sự không phát sinh trong tương lai của nguồn gốc khiển trách xấu xa này. Sáu nguồn gốc khiển trách này là căn nguyên của sự tranh tụng do khiển trách.
Katamāni tīṇi akusalamūlāni anuvādādhikaraṇassa mūlaṁ? Idha pana, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ luddhacittā anuvadanti, duṭṭhacittā anuvadanti, mūḷhacittā anuvadanti—sīlavipattiyā vā, ācāravipattiyā vā, diṭṭhivipattiyā vā, ājīvavipattiyā vā. Imāni tīṇi akusalamūlāni anuvādādhikaraṇassa mūlaṁ.
What are the three unwholesome roots of legal issues arising from accusations? It may be that monks, because of greed, ill will, or delusion, accuse a monk of failure in morality, conduct, view, or livelihood.
Thế nào là ba căn nguyên bất thiện, là căn nguyên của sự tranh tụng do khiển trách? Này các tỳ khưu, ở đây, các tỳ khưu khiển trách một vị tỳ khưu với tâm tham, khiển trách với tâm sân, khiển trách với tâm si – hoặc do giới bị hư hoại, hoặc do hạnh kiểm bị hư hoại, hoặc do tri kiến bị hư hoại, hoặc do sanh kế bị hư hoại. Ba căn nguyên bất thiện này là căn nguyên của sự tranh tụng do khiển trách.
Katamāni tīṇi kusalamūlāni anuvādādhikaraṇassa mūlaṁ? Idha pana, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ aluddhacittā anuvadanti, aduṭṭhacittā anuvadanti, amūḷhacittā anuvadanti—sīlavipattiyā vā, ācāravipattiyā vā, diṭṭhivipattiyā vā, ājīvavipattiyā vā. Imāni tīṇi kusalamūlāni anuvādādhikaraṇassa mūlaṁ.
Katamo kāyo anuvādādhikaraṇassa mūlaṁ?
What are the three wholesome roots of legal issues arising from accusations? It may be that monks, because of non-greed, non-ill will, and non-delusion, accuse a monk of failure in morality, conduct, view, or livelihood.
How’s the body a root of legal issues arising from accusations?
Thế nào là ba căn nguyên thiện, là căn nguyên của sự tranh tụng do khiển trách? Này các tỳ khưu, ở đây, các tỳ khưu khiển trách một vị tỳ khưu với tâm không tham, khiển trách với tâm không sân, khiển trách với tâm không si – hoặc do giới bị hư hoại, hoặc do hạnh kiểm bị hư hoại, hoặc do tri kiến bị hư hoại, hoặc do sanh kế bị hư hoại. Ba căn nguyên thiện này là căn nguyên của sự tranh tụng do khiển trách.
Thân nào là căn nguyên của sự tranh tụng do khiển trách? Ở đây, có người có dung sắc xấu, khó nhìn, thấp lùn, nhiều bệnh tật, hoặc bị mù, hoặc bị gù, hoặc bị què, hoặc bị bại liệt, do đó mà họ khiển trách người ấy. Thân này là căn nguyên của sự tranh tụng do khiển trách.
Katamā vācā anuvādādhikaraṇassa mūlaṁ? Idhekacco dubbaco hoti, mammano, eḷagalavāco, yāya naṁ anuvadanti. Ayaṁ vācā anuvādādhikaraṇassa mūlaṁ.
How’s speech a root of legal issues arising from accusations? It may be that someone is difficult to correct, or he stutters or dribbles while speaking, and they blame him for that.”
The roots of legal issues arising from offenses and business
Lời nói nào là căn nguyên của sự tranh tụng do khiển trách? Ở đây, có người khó nói, nói lắp, nói không rõ ràng, do đó mà họ khiển trách người ấy. Lời nói này là căn nguyên của sự tranh tụng do khiển trách.
Āpattādhikaraṇassa kiṁ mūlaṁ? Cha āpattisamuṭṭhānā āpattādhikaraṇassa mūlaṁ. Atthāpatti kāyato samuṭṭhāti, na vācato, na cittato. Atthāpatti vācato samuṭṭhāti, na kāyato, na cittato. Atthāpatti kāyato ca vācato ca samuṭṭhāti, na cittato. Atthāpatti kāyato ca cittato ca samuṭṭhāti, na vācato. Atthāpatti vācato ca cittato ca samuṭṭhāti, na kāyato. Atthāpatti kāyato ca vācato ca cittato ca samuṭṭhāti. Ime cha āpattisamuṭṭhānā āpattādhikaraṇassa mūlaṁ.
“What’s the root of legal issues arising from offenses? There are six originations of offenses that in turn are the root of legal issues arising from offenses. There are offenses that originate from body, but not from speech or mind. There are offenses that originate from speech, but not from body or mind. There are offenses that originate from body and speech, but not from mind. There are offenses that originate from body and mind, but not from speech. There are offenses that originate from speech and mind, but not from body. There are offenses that originate from body, speech, and mind.
218. Căn nguyên của sự tranh tụng do phạm tội là gì? Sáu nguồn gốc phát sinh tội là căn nguyên của sự tranh tụng do phạm tội. Có tội phát sinh từ thân, không từ lời nói, không từ tâm. Có tội phát sinh từ lời nói, không từ thân, không từ tâm. Có tội phát sinh từ thân và lời nói, không từ tâm. Có tội phát sinh từ thân và tâm, không từ lời nói. Có tội phát sinh từ lời nói và tâm, không từ thân. Có tội phát sinh từ thân, lời nói và tâm. Sáu nguồn gốc phát sinh tội này là căn nguyên của sự tranh tụng do phạm tội.
Kiccādhikaraṇassa kiṁ mūlaṁ? Kiccādhikaraṇassa ekaṁ mūlaṁ—saṅgho.
What’s the root of legal issues arising from business? There’s one root of legal issues arising from business: the Sangha.”
Ethical qualities of legal issues arising from disputes
219. Căn nguyên của sự tranh tụng do phận sự là gì? Căn nguyên duy nhất của sự tranh tụng do phận sự là Tăng chúng.
Vivādādhikaraṇaṁ kusalaṁ, akusalaṁ, abyākataṁ. Vivādādhikaraṇaṁ siyā kusalaṁ, siyā akusalaṁ, siyā abyākataṁ. Tattha katamaṁ vivādādhikaraṇaṁ kusalaṁ? Idha pana, bhikkhave, bhikkhū kusalacittā vivadanti—dhammoti vā adhammoti vā …pe… duṭṭhullā āpattīti vā aduṭṭhullā āpattīti vā. Yaṁ tattha bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo nānāvādo aññathāvādo vipaccatāya vohāro medhagaṁ—idaṁ vuccati vivādādhikaraṇaṁ kusalaṁ.
“Is a legal issue arising from a dispute wholesome, unwholesome, or indeterminate? A legal issue arising from a dispute may be wholesome, unwholesome, or indeterminate. What’s a wholesome legal issue arising from a dispute? It may be that monks dispute with a wholesome mind, saying, ‘This is the Teaching’, ‘This is contrary to the Teaching’ … ‘This is a grave offense’, or ‘This is a minor offense.’ In regard to this, whatever there is of quarreling, arguing, conflict, disputing, variety in opinion, difference in opinion, heated speech, or strife—this is called a wholesome legal issue arising from a dispute.
220. Sự tranh tụng do tranh cãi là thiện, là bất thiện, là vô ký. Sự tranh tụng do tranh cãi có khi là thiện, có khi là bất thiện, có khi là vô ký. Trong đó, thế nào là sự tranh tụng do tranh cãi là thiện? Này các tỳ khưu, ở đây, các tỳ khưu tranh cãi với tâm thiện – hoặc là 'đây là Pháp', hoặc là 'đây không phải là Pháp', ... hoặc là 'đây là tội trọng', hoặc là 'đây không phải là tội trọng'. Sự cãi vã, sự xung đột, sự tranh chấp, sự tranh luận, sự nói khác nhau, sự nói cách khác, sự nói gây phiền não, sự gây gổ ở đó – điều này được gọi là sự tranh tụng do tranh cãi là thiện.
Tattha katamaṁ vivādādhikaraṇaṁ akusalaṁ? Idha pana, bhikkhave, bhikkhū akusalacittā vivadanti—dhammoti vā adhammoti vā …pe… duṭṭhullā āpattīti vā aduṭṭhullā āpattīti vā. Yaṁ tattha bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo nānāvādo aññathāvādo vipaccatāya vohāro medhagaṁ—idaṁ vuccati vivādādhikaraṇaṁ akusalaṁ.
What’s an unwholesome legal issue arising from a dispute? It may be that monks dispute with an unwholesome mind, saying, ‘This is the Teaching’, ‘This is contrary to the Teaching’ … ‘This is a grave offense’, or ‘This is a minor offense.’ In regard to this, whatever there is of quarreling, arguing, conflict, disputing, variety in opinion, difference in opinion, heated speech, or strife—this is called an unwholesome legal issue arising from a dispute.
Trong đó, thế nào là sự tranh tụng do tranh cãi là bất thiện? Này các tỳ khưu, ở đây, các tỳ khưu tranh cãi với tâm bất thiện – hoặc là 'đây là Pháp', hoặc là 'đây không phải là Pháp', ... hoặc là 'đây là tội trọng', hoặc là 'đây không phải là tội trọng'. Sự cãi vã, sự xung đột, sự tranh chấp, sự tranh luận, sự nói khác nhau, sự nói cách khác, sự nói gây phiền não, sự gây gổ ở đó – điều này được gọi là sự tranh tụng do tranh cãi là bất thiện.
Tattha katamaṁ vivādādhikaraṇaṁ abyākataṁ? Idha pana, bhikkhave, bhikkhū abyākatacittā vivadanti—dhammoti vā adhammoti vā …pe… duṭṭhullā āpattīti vā aduṭṭhullā āpattīti vā. Yaṁ tattha bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo nānāvādo aññathāvādo vipaccatāya vohāro medhagaṁ—idaṁ vuccati vivādādhikaraṇaṁ abyākataṁ.
Anuvādādhikaraṇaṁ kusalaṁ, akusalaṁ, abyākataṁ. Anuvādādhikaraṇaṁ siyā kusalaṁ, siyā akusalaṁ, siyā abyākataṁ. Tattha katamaṁ anuvādādhikaraṇaṁ kusalaṁ?
What’s an indeterminate legal issue arising from a dispute? It may be that monks dispute with an indeterminate mind, saying, ‘This is the Teaching’, ‘This is contrary to the Teaching’ … ‘This is a grave offense’, or ‘This is a minor offense.’ In regard to this, whatever there is of quarreling, arguing, conflict, disputing, variety in opinion, difference in opinion, heated speech, or strife—this is called an indeterminate legal issue arising from a dispute.”
Ethical qualities of legal issues arising from accusations
“Is a legal issue arising from an accusation wholesome, unwholesome, or indeterminate? A legal issue arising from an accusation may be wholesome, unwholesome, or indeterminate. What’s a wholesome legal issue arising from an accusation?
Trong đó, thế nào là sự tranh tụng do tranh cãi là vô ký? Này các tỳ khưu, ở đây, các tỳ khưu tranh cãi với tâm vô ký – hoặc là 'đây là Pháp', hoặc là 'đây không phải là Pháp', ... hoặc là 'đây là tội trọng', hoặc là 'đây không phải là tội trọng'. Sự cãi vã, sự xung đột, sự tranh chấp, sự tranh luận, sự nói khác nhau, sự nói cách khác, sự nói gây phiền não, sự gây gổ ở đó – điều này được gọi là sự tranh tụng do tranh cãi là vô ký.
221. “Sự tranh tụng khiển trách là thiện, là bất thiện, là vô ký? Sự tranh tụng khiển trách có khi là thiện, có khi là bất thiện, có khi là vô ký. Trong các trường hợp ấy, sự tranh tụng khiển trách nào là thiện? Này các Tỳ khưu, ở đây các vị tỳ khưu với tâm thiện khiển trách một vị tỳ khưu — hoặc về sự hư hỏng về giới, hoặc về sự hư hỏng về आचरण, hoặc về sự hư hỏng về tri kiến, hoặc về sự hư hỏng về mạng sống. Ở đó, sự khiển trách, việc khiển trách, việc nói, việc nói đi nói lại, sự bóp méo, sự cố gắng, sự tiếp sức — điều này được gọi là sự tranh tụng khiển trách thiện.”
Tattha katamaṁ anuvādādhikaraṇaṁ akusalaṁ? Idha pana, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ akusalacittā anuvadanti—sīlavipattiyā vā, ācāravipattiyā vā, diṭṭhivipattiyā vā, ājīvavipattiyā vā. Yo tattha anuvādo anuvadanā anullapanā anubhaṇanā anusampavaṅkatā abbhussahanatā anubalappadānaṁ—idaṁ vuccati anuvādādhikaraṇaṁ akusalaṁ.
What’s an unwholesome legal issue arising from an accusation? It may be that monks with unwholesome minds accuse a monk of failure in morality, conduct, view, or livelihood. In regard to this, whatever there is of accusations, accusing, allegations, blame, taking sides because of friendship, taking part in the accusation, or supporting the accusation—this is called an unwholesome legal issue arising from an accusation.
“Trong các trường hợp ấy, sự tranh tụng khiển trách nào là bất thiện? Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, các vị tỳ khưu với tâm bất thiện khiển trách một vị tỳ khưu — hoặc về sự hư hỏng về giới, hoặc về sự hư hỏng về आचरण, hoặc về sự hư hỏng về tri kiến, hoặc về sự hư hỏng về mạng sống. Ở đó, sự khiển trách, việc khiển trách, việc nói, việc nói đi nói lại, sự bóp méo, sự cố gắng, sự tiếp sức — điều này được gọi là sự tranh tụng khiển trách bất thiện.”
Tattha katamaṁ anuvādādhikaraṇaṁ abyākataṁ? Idha pana, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ abyākatacittā anuvadanti—sīlavipattiyā vā, ācāravipattiyā vā, diṭṭhivipattiyā vā, ājīvavipattiyā vā. Yo tattha anuvādo anuvadanā anullapanā anubhaṇanā anusampavaṅkatā abbhussahanatā anubalappadānaṁ—idaṁ vuccati anuvādādhikaraṇaṁ abyākataṁ.
What’s an indeterminate legal issue arising from an accusation? It may be that monks with indeterminate minds accuse a monk of failure in morality, conduct, view, or livelihood. In regard to this, whatever there is of accusations, accusing, allegations, blame, taking sides because of friendship, taking part in the accusation, or supporting the accusation—this is called an indeterminate legal issue arising from an accusation.”
“Trong các trường hợp ấy, sự tranh tụng khiển trách nào là vô ký? Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, các vị tỳ khưu với tâm vô ký khiển trách một vị tỳ khưu — hoặc về sự hư hỏng về giới, hoặc về sự hư hỏng về आचरण, hoặc về sự hư hỏng về tri kiến, hoặc về sự hư hỏng về mạng sống. Ở đó, sự khiển trách, việc khiển trách, việc nói, việc nói đi nói lại, sự bóp méo, sự cố gắng, sự tiếp sức — điều này được gọi là sự tranh tụng khiển trách vô ký.”
Āpattādhikaraṇaṁ kusalaṁ, akusalaṁ, abyākataṁ?
Āpattādhikaraṇaṁ siyā akusalaṁ, siyā abyākataṁ; natthi āpattādhikaraṇaṁ kusalaṁ. Tattha katamaṁ āpattādhikaraṇaṁ akusalaṁ? Yaṁ jānanto sañjānanto cecca abhivitaritvā vītikkamo—idaṁ vuccati āpattādhikaraṇaṁ akusalaṁ.
“Is a legal issue arising from an offense wholesome, unwholesome, or indeterminate?
Ethical qualities of legal issues arising from offenses
A legal issue arising from an offense may be unwholesome or indeterminate. There are no wholesome legal issues arising from an offense. What’s an unwholesome legal issue arising from an offense? When one transgresses, knowing, perceiving, having intended, having decided—this is called an unwholesome legal issue arising from an offense.
222. “Sự tranh tụng về tội là thiện, là bất thiện, là vô ký? Sự tranh tụng về tội có khi là bất thiện, có khi là vô ký; không có sự tranh tụng về tội là thiện. Trong các trường hợp ấy, sự tranh tụng về tội nào là bất thiện? Sự vi phạm nào được thực hiện trong khi biết, nhận biết rõ, có chủ ý, và cố tình — điều này được gọi là sự tranh tụng về tội bất thiện.”
Tattha katamaṁ āpattādhikaraṇaṁ abyākataṁ? Yaṁ ajānanto asañjānanto acecca anabhivitaritvā vītikkamo—idaṁ vuccati āpattādhikaraṇaṁ abyākataṁ.
What’s an indeterminate legal issue arising from an offense? When one transgresses, not knowing, not perceiving, not having intended, not having decided—this is called an indeterminate legal issue arising from an offense.”
Ethical qualities of legal issues arising from business
“Trong các trường hợp ấy, sự tranh tụng về tội nào là vô ký? Sự vi phạm nào được thực hiện trong khi không biết, không nhận biết rõ, không có chủ ý, không cố tình — điều này được gọi là sự tranh tụng về tội vô ký.”
Kiccādhikaraṇaṁ kusalaṁ, akusalaṁ, abyākataṁ? Kiccādhikaraṇaṁ siyā kusalaṁ, siyā akusalaṁ, siyā abyākataṁ. Tattha katamaṁ kiccādhikaraṇaṁ kusalaṁ? Yaṁ saṅgho kusalacitto kammaṁ karoti—apalokanakammaṁ, ñattikammaṁ, ñattidutiyakammaṁ, ñatticatutthakammaṁ—idaṁ vuccati kiccādhikaraṇaṁ kusalaṁ.
“Is a legal issue arising from business wholesome, unwholesome, or indeterminate? A legal issue arising from business may be wholesome, unwholesome, or indeterminate. What’s a wholesome legal issue arising from business? When the Sangha does a legal procedure with a wholesome mind—whether a procedure consisting of getting permission, a procedure consisting of one motion, a procedure consisting of one motion and one announcement, or a procedure consisting of one motion and three announcements—this is called a wholesome legal issue arising from business.
223. “Sự tranh tụng về phận sự là thiện, là bất thiện, là vô ký? Sự tranh tụng về phận sự có khi là thiện, có khi là bất thiện, có khi là vô ký. Trong các trường hợp ấy, sự tranh tụng về phận sự nào là thiện? Việc làm nào mà Tăng chúng thực hiện với tâm thiện — hành sự biểu quyết, hành sự bạch cử, hành sự bạch nhị, hành sự bạch tứ — điều này được gọi là sự tranh tụng về phận sự thiện.”
Tattha katamaṁ kiccādhikaraṇaṁ akusalaṁ? Yaṁ saṅgho akusalacitto kammaṁ karoti—apalokanakammaṁ, ñattikammaṁ, ñattidutiyakammaṁ, ñatticatutthakammaṁ—idaṁ vuccati kiccādhikaraṇaṁ akusalaṁ.
What’s an unwholesome legal issue arising from business? When the Sangha does a legal procedure with an unwholesome mind—whether a procedure consisting of getting permission, a procedure consisting of one motion, a procedure consisting of one motion and one announcement, or a procedure consisting of one motion and three announcements—this is called an unwholesome legal issue arising from business.
“Trong các trường hợp ấy, sự tranh tụng về phận sự nào là bất thiện? Việc làm nào mà Tăng chúng thực hiện với tâm bất thiện — hành sự biểu quyết, hành sự bạch cử, hành sự bạch nhị, hành sự bạch tứ — điều này được gọi là sự tranh tụng về phận sự bất thiện.”
Tattha katamaṁ kiccādhikaraṇaṁ abyākataṁ? Yaṁ saṅgho abyākatacitto kammaṁ karoti—apalokanakammaṁ, ñattikammaṁ, ñattidutiyakammaṁ, ñatticatutthakammaṁ—idaṁ vuccati kiccādhikaraṇaṁ abyākataṁ.
What’s an indeterminate legal issue arising from business? When the Sangha does a legal procedure with an indeterminate mind—whether a procedure consisting of getting permission, a procedure consisting of one motion, a procedure consisting of one motion and one announcement, or a procedure consisting of one motion and three announcements—this is called an indeterminate legal issue arising from business.”
Relationship between disputes and legal issues
“Trong các trường hợp ấy, sự tranh tụng về phận sự nào là vô ký? Việc làm nào mà Tăng chúng thực hiện với tâm vô ký — hành sự biểu quyết, hành sự bạch cử, hành sự bạch nhị, hành sự bạch tứ — điều này được gọi là sự tranh tụng về phận sự vô ký.”
Vivādo vivādādhikaraṇaṁ, vivādo no adhikaraṇaṁ, adhikaraṇaṁ no vivādo, adhikaraṇañceva vivādo ca.
Siyā vivādo vivādādhikaraṇaṁ, siyā vivādo no adhikaraṇaṁ, siyā adhikaraṇaṁ no vivādo, siyā adhikaraṇañceva vivādo ca.
“Are there disputes that are also legal issues arising from disputes? Are there disputes that aren’t legal issues? Are there legal issues that aren’t disputes? Are there legal issues that are also disputes?
There are disputes that are also legal issues arising from disputes. There are disputes that aren’t legal issues. There are legal issues that aren’t disputes. There are legal issues that are also disputes.
224. “Sự tranh cãi là sự tranh tụng về tranh cãi? Sự tranh cãi không là sự tranh tụng? Sự tranh tụng không là sự tranh cãi? Vừa là sự tranh tụng vừa là sự tranh cãi? Có khi sự tranh cãi là sự tranh tụng về tranh cãi, có khi sự tranh cãi không là sự tranh tụng, có khi sự tranh tụng không là sự tranh cãi, có khi vừa là sự tranh tụng vừa là sự tranh cãi.”
Tattha katamo vivādo vivādādhikaraṇaṁ? Idha pana, bhikkhave, bhikkhū vivadanti—dhammoti vā adhammoti vā …pe… duṭṭhullā āpattīti vā aduṭṭhullā āpattīti vā. Yaṁ tattha bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo nānāvādo aññathāvādo vipaccatāya vohāro medhagaṁ—ayaṁ vivādo vivādādhikaraṇaṁ.
How’s there a dispute that’s also a legal issue arising from disputes? It may be that monks are disputing, saying, ‘This is the Teaching’, ‘This is contrary to the Teaching’ … ‘This is a grave offense’, or ‘This is a minor offense.’ In regard to this, whatever there is of quarreling, arguing, conflict, disputing, variety in opinion, difference in opinion, heated speech, or strife—this is a dispute that’s also a legal issue arising from a dispute.
“Trong các trường hợp ấy, sự tranh cãi nào là sự tranh tụng về tranh cãi? Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, các vị tỳ khưu tranh cãi — hoặc là ‘đây là Pháp’ hoặc là ‘đây không phải là Pháp’... hoặc là ‘đây là tội trọng’ hoặc là ‘đây không phải là tội trọng.’ Ở đó, sự cãi vã, sự xung đột, sự gây gổ, sự tranh cãi, sự nói khác nhau, sự nói cách khác, sự nói gây phiền não, sự gây hấn — sự tranh cãi này là sự tranh tụng về tranh cãi.”
Tattha katamo vivādo no adhikaraṇaṁ? Mātāpi puttena vivadati, puttopi mātarā vivadati, pitāpi puttena vivadati, puttopi pitarā vivadati, bhātāpi bhātarā vivadati, bhātāpi bhaginiyā vivadati, bhaginīpi bhātarā vivadati, sahāyopi sahāyena vivadati—ayaṁ vivādo no adhikaraṇaṁ.
How’s there a dispute that isn’t a legal issue? A mother disputes with her offspring; an offspring with their mother; a father with his offspring; an offspring with their father; a brother with his brother; a brother with his sister; a sister with her brother; a friend with their friend—these are disputes that aren’t legal issues.
“Trong các trường hợp ấy, sự tranh cãi nào không là sự tranh tụng? Mẹ cũng tranh cãi với con trai, con trai cũng tranh cãi với mẹ, cha cũng tranh cãi với con trai, con trai cũng tranh cãi với cha, anh em cũng tranh cãi với anh em, anh cũng tranh cãi với chị em gái, chị em gái cũng tranh cãi với anh, bạn bè cũng tranh cãi với bạn bè — sự tranh cãi này không là sự tranh tụng.”
Tattha katamaṁ adhikaraṇaṁ no vivādo? Anuvādādhikaraṇaṁ, āpattādhikaraṇaṁ, kiccādhikaraṇaṁ—idaṁ adhikaraṇaṁ no vivādo.
How’s there a legal issue that isn’t a dispute? A legal issue arising from an accusation, a legal issue arising from an offense, a legal issue arising from business—these are legal issues that aren’t disputes.
“Trong các trường hợp ấy, sự tranh tụng nào không là sự tranh cãi? Sự tranh tụng khiển trách, sự tranh tụng về tội, sự tranh tụng về phận sự — sự tranh tụng này không là sự tranh cãi.”
Tattha katamaṁ adhikaraṇañceva vivādo ca? Vivādādhikaraṇaṁ adhikaraṇañceva vivādo ca.
How’s there a legal issue that’s also a dispute? A legal issue arising from a dispute is a legal issue and also a dispute.”
Relationship between accusations and legal issues
“Trong các trường hợp ấy, trường hợp nào vừa là sự tranh tụng vừa là sự tranh cãi? Sự tranh tụng về tranh cãi vừa là sự tranh tụng vừa là sự tranh cãi.”
Anuvādo anuvādādhikaraṇaṁ, anuvādo no adhikaraṇaṁ, adhikaraṇaṁ no anuvādo, adhikaraṇañceva anuvādo ca.
Siyā anuvādo anuvādādhikaraṇaṁ, siyā anuvādo no adhikaraṇaṁ, siyā adhikaraṇaṁ no anuvādo, siyā adhikaraṇañceva anuvādo ca.
“Are there accusations that are also legal issues arising from accusations? Are there accusations that aren’t legal issues? Are there legal issues that aren’t accusations? Are there legal issues that are also accusations?
There are accusations that are also legal issues arising from accusations. There are accusations that aren’t legal issues. There are legal issues that aren’t accusations. There are legal issues that are also accusations.
225. “Sự khiển trách là sự tranh tụng khiển trách? Sự khiển trách không là sự tranh tụng? Sự tranh tụng không là sự khiển trách? Vừa là sự tranh tụng vừa là sự khiển trách? Có khi sự khiển trách là sự tranh tụng khiển trách, có khi sự khiển trách không là sự tranh tụng, có khi sự tranh tụng không là sự khiển trách, có khi vừa là sự tranh tụng vừa là sự khiển trách.”
Tattha katamo anuvādo anuvādādhikaraṇaṁ? Idha pana, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ anuvadanti—sīlavipattiyā vā, ācāravipattiyā vā, diṭṭhivipattiyā vā, ājīvavipattiyā vā. Yo tattha anuvādo anuvadanā anullapanā anubhaṇanā anusampavaṅkatā abbhussahanatā anubalappadānaṁ—ayaṁ anuvādo anuvādādhikaraṇaṁ.
How’s there an accusation that’s also a legal issue arising from an accusation? It may be that monks accuse a monk of failure in morality, conduct, view, or livelihood. In regard to this, whatever there is of accusations, accusing, allegations, blame, taking sides because of friendship, taking part in the accusation, or supporting the accusation—this is an accusation that’s also a legal issue arising from an accusation.
“Trong các trường hợp ấy, sự khiển trách nào là sự tranh tụng khiển trách? Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, các vị tỳ khưu khiển trách một vị tỳ khưu — hoặc về sự hư hỏng về giới, hoặc về sự hư hỏng về आचरण, hoặc về sự hư hỏng về tri kiến, hoặc về sự hư hỏng về mạng sống. Ở đó, sự khiển trách, việc khiển trách, việc nói, việc nói đi nói lại, sự bóp méo, sự cố gắng, sự tiếp sức — sự khiển trách này là sự tranh tụng khiển trách.”
Tattha katamo anuvādo no adhikaraṇaṁ? Mātāpi puttaṁ anuvadati, puttopi mātaraṁ anuvadati, pitāpi puttaṁ anuvadati, puttopi pitaraṁ anuvadati, bhātāpi bhātaraṁ anuvadati, bhātāpi bhaginiṁ anuvadati, bhaginīpi bhātaraṁ anuvadati, sahāyopi sahāyaṁ anuvadati—ayaṁ anuvādo no adhikaraṇaṁ.
How’s there an accusation that isn’t a legal issue? A mother accuses her offspring; an offspring their mother; a father his offspring; an offspring their father; a brother his brother; a brother his sister; a sister her brother; a friend their friend—these are accusations that aren’t legal issues.
“Trong các trường hợp ấy, sự khiển trách nào không là sự tranh tụng? Mẹ cũng khiển trách con trai, con trai cũng khiển trách mẹ, cha cũng khiển trách con trai, con trai cũng khiển trách cha, anh em cũng khiển trách anh em, anh cũng khiển trách chị em gái, chị em gái cũng khiển trách anh, bạn bè cũng khiển trách bạn bè — sự khiển trách này không là sự tranh tụng.”
Tattha katamaṁ adhikaraṇaṁ no anuvādo? Āpattādhikaraṇaṁ, kiccādhikaraṇaṁ, vivādādhikaraṇaṁ—idaṁ adhikaraṇaṁ no anuvādo.
How’s there a legal issue that isn’t an accusation? A legal issue arising from an offense, a legal issue arising from business, a legal issue arising from a dispute—these are legal issues that aren’t accusations.
“Trong các trường hợp ấy, trường hợp nào là sự tranh tụng mà không phải là sự khiển trách? Sự tranh tụng về tội, sự tranh tụng về phận sự, sự tranh tụng về tranh cãi – đây là sự tranh tụng mà không phải là sự khiển trách.
Tattha katamaṁ adhikaraṇañceva anuvādo ca? Anuvādādhikaraṇaṁ adhikaraṇañceva anuvādo ca.
How’s there a legal issue that’s also an accusation? A legal issue arising from an accusation is a legal issue and also an accusation.”
Relationship between offenses and legal issues
“Trong các trường hợp ấy, trường hợp nào vừa là sự tranh tụng vừa là sự khiển trách? Sự tranh tụng về khiển trách là vừa là sự tranh tụng vừa là sự khiển trách.
Āpatti āpattādhikaraṇaṁ, āpatti no adhikaraṇaṁ, adhikaraṇaṁ no āpatti, adhikaraṇañceva āpatti ca.
Siyā āpatti āpattādhikaraṇaṁ, siyā āpatti no adhikaraṇaṁ, siyā adhikaraṇaṁ no āpatti, siyā adhikaraṇañceva āpatti ca.
Tattha katamaṁ āpatti āpattādhikaraṇaṁ? Pañcapi āpattikkhandhā āpattādhikaraṇaṁ, sattapi āpattikkhandhā āpattādhikaraṇaṁ—ayaṁ āpatti āpattādhikaraṇaṁ.
“Are there offenses that are also legal issues arising from offenses? Are there offenses that aren’t legal issues? Are there legal issues that aren’t offenses? Are there legal issues that are also offenses?
There are offenses that are also legal issues arising from offenses. There are offenses that aren’t legal issues. There are legal issues that aren’t offenses. There are legal issues that are also offenses.
How’s there an offense that’s also a legal issue arising from an offense? There’s a legal issue arising from an offense because of the five classes of offenses, and there’s a legal issue arising from an offense because of the seven classes of offenses—these are offenses that are also legal issues arising from offenses.
226. “Tội có phải là sự tranh tụng về tội không, tội có phải là không phải sự tranh tụng không, sự tranh tụng có phải là không phải tội không, vừa là sự tranh tụng vừa là tội phải không? Có trường hợp tội là sự tranh tụng về tội, có trường hợp tội không phải là sự tranh tụng, có trường hợp sự tranh tụng không phải là tội, có trường hợp vừa là sự tranh tụng vừa là tội. “Trong các trường hợp ấy, tội nào là sự tranh tụng về tội? Năm nhóm tội cũng là sự tranh tụng về tội, bảy nhóm tội cũng là sự tranh tụng về tội – tội này là sự tranh tụng về tội.
Tattha katamaṁ āpatti no adhikaraṇaṁ? Sotāpatti samāpatti—ayaṁ āpatti no adhikaraṇaṁ.
How’s there an offense that isn’t a legal issue? The attainment of streamentry—this is an offense/attainment that isn’t a legal issue.
“Trong các trường hợp ấy, sự đạt đến nào không phải là sự tranh tụng? Sự chứng đạt Tu-đà-hoàn, sự nhập định – sự đạt đến này không phải là sự tranh tụng.
Tattha katamaṁ adhikaraṇaṁ no āpatti? Kiccādhikaraṇaṁ, vivādādhikaraṇaṁ, anuvādādhikaraṇaṁ—idaṁ adhikaraṇaṁ no āpatti.
How’s there a legal issue that isn’t an offense? A legal issue arising from business, a legal issue arising from a dispute, a legal issue arising from an accusation—these are legal issues that aren’t offenses.
“Trong các trường hợp ấy, sự tranh tụng nào không phải là tội? Sự tranh tụng về phận sự, sự tranh tụng về tranh cãi, sự tranh tụng về khiển trách – sự tranh tụng này không phải là tội.
Tattha katamaṁ adhikaraṇañceva āpatti ca? Āpattādhikaraṇaṁ adhikaraṇañceva āpatti ca.
How’s there a legal issue that’s also an offense? A legal issue arising from an offense is a legal issue and also an offense.”
Relationship between business and legal issues
“Trong các trường hợp ấy, trường hợp nào vừa là sự tranh tụng vừa là tội? Sự tranh tụng về tội là vừa là sự tranh tụng vừa là tội.
Kiccaṁ kiccādhikaraṇaṁ, kiccaṁ no adhikaraṇaṁ, adhikaraṇaṁ no kiccaṁ, adhikaraṇañceva kiccañca.
Siyā kiccaṁ kiccādhikaraṇaṁ, siyā kiccaṁ no adhikaraṇaṁ, siyā adhikaraṇaṁ no kiccaṁ, siyā adhikaraṇañceva kiccañca.
“Is there business that’s also a legal issue arising from business? Is there business that isn’t a legal issue? Are there legal issues that aren’t business? Are there legal issues that are also business?
There’s business that’s also a legal issue arising from business. There’s business that’s not a legal issue. There are legal issues that aren’t business. There are legal issues that are also business.
227. “Phận sự có phải là sự tranh tụng về phận sự không, phận sự có phải là không phải sự tranh tụng không, sự tranh tụng có phải là không phải phận sự không, vừa là sự tranh tụng vừa là phận sự phải không? Có trường hợp phận sự là sự tranh tụng về phận sự, có trường hợp phận sự không phải là sự tranh tụng, có trường hợp sự tranh tụng không phải là phận sự, có trường hợp vừa là sự tranh tụng vừa là phận sự.
Tattha katamaṁ kiccaṁ kiccādhikaraṇaṁ? Yā saṅghassa kiccayatā, karaṇīyatā, apalokanakammaṁ, ñattikammaṁ, ñattidutiyakammaṁ, ñatticatutthakammaṁ—idaṁ kiccaṁ kiccādhikaraṇaṁ.
How’s there business that’s also a legal issue arising from business? Whatever is the duty or the business of the Sangha—a legal procedure consisting of getting permission, a legal procedure consisting of one motion, a legal procedure consisting of one motion and one announcement, a legal procedure consisting of one motion and three announcements—this is business that’s also a legal issue arising from business.
“Trong các trường hợp ấy, phận sự nào là sự tranh tụng về phận sự? Việc cần làm, việc phải làm của Tăng chúng, việc làm thông báo, bạch nhất nghiệp, bạch nhị nghiệp, bạch tứ nghiệp – phận sự này là sự tranh tụng về phận sự.
Tattha katamaṁ kiccaṁ no adhikaraṇaṁ? Ācariyakiccaṁ, upajjhāyakiccaṁ, samānupajjhāyakiccaṁ, samānācariyakiccaṁ—idaṁ kiccaṁ no adhikaraṇaṁ.
How’s there business that isn’t a legal issue? The duty to a teacher, the duty to a preceptor, the duty to a co-student, the duty to a co-pupil—these kinds of business aren’t legal issues.
“Trong các trường hợp ấy, phận sự nào không phải là sự tranh tụng? Phận sự của vị A-xà-lê, phận sự của vị Hòa thượng, phận sự của người có cùng Hòa thượng, phận sự của người có cùng A-xà-lê – phận sự này không phải là sự tranh tụng.
Tattha katamaṁ adhikaraṇaṁ no kiccaṁ? Vivādādhikaraṇaṁ, anuvādādhikaraṇaṁ, āpattādhikaraṇaṁ—idaṁ adhikaraṇaṁ no kiccaṁ.
How’s there a legal issue that isn’t business? A legal issue arising from a dispute, a legal issue arising from an accusation, a legal issue arising from an offense—these are legal issues that aren’t business.
“Trong các trường hợp ấy, sự tranh tụng nào không phải là phận sự? Sự tranh tụng về tranh cãi, sự tranh tụng về khiển trách, sự tranh tụng về tội – sự tranh tụng này không phải là phận sự.
Tattha katamaṁ adhikaraṇañceva kiccañca? Kiccādhikaraṇaṁ adhikaraṇañceva kiccañca.
How’s there a legal issue that’s also business? A legal issue arising from business is a legal issue and also business.”
“Trong các trường hợp ấy, trường hợp nào vừa là sự tranh tụng vừa là phận sự? Sự tranh tụng về phận sự là vừa là sự tranh tụng vừa là phận sự.
9. Adhikaraṇavūpasamanasamatha
9.1. Sammukhāvinaya
9. The resolution and settling of legal issues
Resolution face-to-face
9. Pháp An Trị Tranh Tụng
Vivādādhikaraṇaṁ katihi samathehi sammati?
Vivādādhikaraṇaṁ dvīhi samathehi sammati—sammukhāvinayena ca, yebhuyyasikāya ca. Siyā vivādādhikaraṇaṁ ekaṁ samathaṁ anāgamma yebhuyyasikaṁ, ekena samathena sameyya—sammukhāvinayenāti? Siyātissa vacanīyaṁ. Yathā kathaṁ viya? Idha pana, bhikkhave, bhikkhū vivadanti—dhammoti vā adhammoti vā, vinayoti vā avinayoti vā, bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatenāti vā abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatenāti vā, āciṇṇaṁ tathāgatenāti vā anāciṇṇaṁ tathāgatenāti vā, paññattaṁ tathāgatenāti vā apaññattaṁ tathāgatenāti vā, āpattīti vā anāpattīti vā, lahukā āpattīti vā garukā āpattīti vā, sāvasesā āpattīti vā anavasesā āpattīti vā, duṭṭhullā āpattīti vā aduṭṭhullā āpattīti vā.
Te ce, bhikkhave, bhikkhū sakkonti taṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ, idaṁ vuccati, bhikkhave, adhikaraṇaṁ vūpasantaṁ. Kena vūpasantaṁ? Sammukhāvinayena. Kiñca tattha sammukhāvinayasmiṁ? Saṅghasammukhatā, dhammasammukhatā, vinayasammukhatā, puggalasammukhatā. Kā ca tattha saṅghasammukhatā? Yāvatikā bhikkhū kammappattā te āgatā honti, chandārahānaṁ chando āhaṭo hoti, sammukhībhūtā na paṭikkosanti—ayaṁ tattha saṅghasammukhatā. Kā ca tattha dhammasammukhatā, vinayasammukhatā? Yena dhammena yena vinayena yena satthusāsanena taṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati—ayaṁ tattha dhammasammukhatā, vinayasammukhatā. Kā ca tattha puggalasammukhatā? Yo ca vivadati, yena ca vivadati, ubho atthapaccatthikā sammukhībhūtā honti—ayaṁ tattha puggalasammukhatā. Evaṁ vūpasantañce, bhikkhave, adhikaraṇaṁ kārako ukkoṭeti, ukkoṭanakaṁ pācittiyaṁ; chandadāyako khīyati, khīyanakaṁ pācittiyaṁ.
“There are two principles for settling a legal issue arising from a dispute: resolution face-to-face and by majority decision. Is it possible that a legal issue arising from a dispute should be settled not by majority decision, but by resolution face-to-face? It is. How? It may be, monks, that monks are disputing, saying, ‘This is the Teaching’, ‘This is contrary to the Teaching’, ‘This is the Monastic Law’, ‘This is contrary to the Monastic Law’, ‘This was spoken by the Buddha’, ‘This wasn’t spoken by the Buddha’, ‘This was practiced by the Buddha’, ‘This wasn’t practiced by the Buddha’, ‘This was laid down by the Buddha’, ‘This wasn’t laid down by the Buddha’, ‘This is an offense’, ‘This isn’t an offense’, ‘This is a light offense’, ‘This is a heavy offense’, ‘This is a curable offense’, ‘This is an incurable offense’, ‘This is a grave offense’, or ‘This is a minor offense.’
If those monks are able to resolve that legal issue, this is called the resolution of a legal issue. It’s been resolved face-to-face. Face-to-face with what? Face-to-face with the Sangha, the Teaching, the Monastic Law, and the persons concerned. This is the meaning of face-to-face with the Sangha: the monks who should be present have arrived, consent has been brought for those who are eligible to give their consent, and no-one present objects to the decision. This is the meaning of face-to-face with the Teaching and the Monastic Law: the Teaching, the Monastic Law, the Teacher’s instruction—that by which that legal issue is resolved. This is the meaning of face-to-face with the persons concerned: both sides—those who are disputing and those they’re disputing with—are present. When a legal issue has been resolved like this, if any of the participants reopen it, they commit an offense entailing confession for the reopening. If anyone who gave their consent criticizes the resolution, they commit an offense entailing confession.
“Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy có thể dập tắt được sự tranh tụng ấy, này các tỳ khưu, điều này được gọi là sự tranh tụng đã được dập tắt. Được dập tắt bằng cách nào? Bằng hiện diện luật. Và trong hiện diện luật ấy có những gì? Sự hiện diện của Tăng chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của các cá nhân. Và ở đây, sự hiện diện của Tăng chúng là gì? Là bao nhiêu vị tỳ khưu đủ tư cách cho việc làm ấy thì các vị ấy đã đến, sự đồng thuận của những vị cần cho sự đồng thuận đã được mang đến, các vị có mặt không phản đối – đây là sự hiện diện của Tăng chúng ở đây. Và ở đây, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật là gì? Pháp ấy, Luật ấy, lời dạy của Bậc Đạo Sư ấy mà nhờ đó sự tranh tụng ấy được dập tắt – đây là sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật ở đây. Và ở đây, sự hiện diện của các cá nhân là gì? Người tranh cãi và người bị tranh cãi, cả hai bên đối kháng đều có mặt – đây là sự hiện diện của các cá nhân ở đây. Này các tỳ khưu, nếu người thực hiện lật lại vụ tranh tụng đã được dập tắt như vậy, đó là tội ba-dật-đề về việc lật lại. Nếu người cho sự đồng thuận chê bai, đó là tội ba-dật-đề về việc chê bai.
Te ce, bhikkhave, bhikkhū na sakkonti taṁ adhikaraṇaṁ tasmiṁ āvāse vūpasametuṁ, tehi, bhikkhave, bhikkhūhi, yasmiṁ āvāse sambahulā bhikkhū, so āvāso gantabbo. Te ce, bhikkhave, bhikkhū taṁ āvāsaṁ gacchantā antarāmagge sakkonti taṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ, idaṁ vuccati, bhikkhave, adhikaraṇaṁ vūpasantaṁ. Kena vūpasantaṁ? Sammukhāvinayena. Kiñca tattha sammukhāvinayasmiṁ? Saṅghasammukhatā, dhammasammukhatā, vinayasammukhatā, puggalasammukhatā. Kā ca tattha saṅghasammukhatā? Yāvatikā bhikkhū kammappattā te āgatā honti, chandārahānaṁ chando āhaṭo hoti, sammukhībhūtā na paṭikkosanti—ayaṁ tattha saṅghasammukhatā. Kā ca tattha dhammasammukhatā, vinayasammukhatā? Yena dhammena yena vinayena yena satthusāsanena taṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati—ayaṁ tattha dhammasammukhatā, vinayasammukhatā. Kā ca tattha puggalasammukhatā? Yo ca vivadati, yena ca vivadati, ubho atthapaccatthikā sammukhībhūtā honti—ayaṁ tattha puggalasammukhatā. Evaṁ vūpasantañce, bhikkhave, adhikaraṇaṁ kārako ukkoṭeti, ukkoṭanakaṁ pācittiyaṁ; chandadāyako khīyati, khīyanakaṁ pācittiyaṁ.
If those monks are unable to resolve that legal issue in that monastery, they should go to another monastery that has a number of monks. If they’re able to resolve that legal issue while on their way, this is called the resolution of a legal issue. It’s been resolved face-to-face. Face-to-face with what? Face-to-face with the Sangha, the Teaching, the Monastic Law, and the persons concerned. … When a legal issue has been resolved like this, if any of the participants reopen it, they commit an offense entailing confession for the reopening. If anyone who gave their consent criticizes the resolution, they commit an offense entailing confession.
229. “Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy không thể dập tắt vụ tranh tụng ấy tại trú xứ ấy, này các tỳ khưu, các tỳ khưu ấy nên đi đến trú xứ nào có nhiều tỳ khưu. Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy trong khi đang đi đến trú xứ ấy mà có thể dập tắt vụ tranh tụng ấy ở dọc đường, này các tỳ khưu, điều này được gọi là vụ tranh tụng đã được dập tắt. Được dập tắt bằng cách nào? Bằng pháp đối diện (sammukhāvinaya). Và ở đây, trong pháp đối diện có những gì? Sự hiện diện của Tăng chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của các cá nhân. Và ở đây, thế nào là sự hiện diện của Tăng chúng? Bao nhiêu vị tỳ khưu đủ tư cách hành sự, các vị ấy đã đến, sự ưng thuận của những vị đáng được ưng thuận đã được mang đến, những vị có mặt không phản đối – đây là sự hiện diện của Tăng chúng ở đây. Và ở đây, thế nào là sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật? Vụ tranh tụng được dập tắt bằng Pháp nào, bằng Luật nào, bằng lời giáo huấn nào của bậc Đạo Sư – đây là sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật ở đây. Và ở đây, thế nào là sự hiện diện của các cá nhân? Người tranh cãi và người bị tranh cãi, cả hai bên nguyên cáo và bị cáo đều có mặt – đây là sự hiện diện của các cá nhân ở đây. Này các tỳ khưu, nếu vụ tranh tụng đã được dập tắt như vậy mà người thực hiện lại khơi dậy, phạm tội pācittiya về việc khơi dậy; người đã cho sự ưng thuận mà khiển trách, phạm tội pācittiya về việc khiển trách.”
Te ce, bhikkhave, bhikkhū taṁ āvāsaṁ āgacchantā antarāmagge na sakkonti taṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ, tehi, bhikkhave, bhikkhūhi, taṁ āvāsaṁ gantvā āvāsikā bhikkhū evamassu vacanīyā—‘idaṁ kho, āvuso, adhikaraṇaṁ evaṁ jātaṁ, evaṁ samuppannaṁ; sādhāyasmantā imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasamentu dhammena vinayena satthusāsanena, yathayidaṁ adhikaraṇaṁ suvūpasantaṁ assā’ti.
If those monks are unable to resolve that legal issue while on their way, they should go to that other monastery and say to the resident monks, ‘This legal issue has come about in such-and-such a way. Please resolve it, venerables, according to the Teaching, the Monastic Law, and the Teacher’s instruction, so that this legal issue may be properly disposed of.’
230. “Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy trong khi đang đi đến trú xứ ấy mà không thể dập tắt vụ tranh tụng ấy ở dọc đường, này các tỳ khưu, các tỳ khưu ấy, sau khi đã đi đến trú xứ ấy, nên nói với các tỳ khưu trú ngụ như sau: ‘Thưa chư hiền, vụ tranh tụng này đã phát sinh như thế này, đã khởi lên như thế này; lành thay, mong các ngài hãy dập tắt vụ tranh tụng này đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư, để vụ tranh tụng này được dập tắt tốt đẹp.’”
Sace, bhikkhave, āvāsikā bhikkhū vuḍḍhatarā honti, āgantukā bhikkhū navakatarā, tehi, bhikkhave, āvāsikehi bhikkhūhi āgantukā bhikkhū evamassu vacanīyā—‘iṅgha tumhe, āyasmanto, muhuttaṁ ekamantaṁ hotha, yāva mayaṁ mantemā’ti. Sace pana, bhikkhave, āvāsikā bhikkhū navakatarā honti, āgantukā bhikkhū vuḍḍhatarā, tehi, bhikkhave, āvāsikehi bhikkhūhi āgantukā bhikkhū evamassu vacanīyā—‘tena hi tumhe, āyasmanto, muhuttaṁ idheva tāva hotha, yāva mayaṁ mantemā’ti.
If the resident monks are senior to the newly-arrived monks, the resident monks should say, ‘Now, venerables, please go to one side for a moment while we discuss this matter.’ If the newly-arrived monks are senior to the resident monks, the resident monks should say, ‘Well then, venerables, please wait right here for a moment while we discuss this matter.’
“Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu trú ngụ là những vị trưởng lão hơn, các tỳ khưu khách là những vị trẻ hơn, này các tỳ khưu, các tỳ khưu trú ngụ ấy nên nói với các tỳ khưu khách như sau: ‘Thưa các ngài, xin các ngài hãy tạm lánh sang một bên một lát, trong khi chúng tôi bàn bạc.’ Nhưng nếu, này các tỳ khưu, các tỳ khưu trú ngụ là những vị trẻ hơn, các tỳ khưu khách là những vị trưởng lão hơn, này các tỳ khưu, các tỳ khưu trú ngụ ấy nên nói với các tỳ khưu khách như sau: ‘Vậy thì, thưa các ngài, xin các ngài hãy tạm ở lại ngay đây một lát, trong khi chúng tôi bàn bạc.’”
Sace pana, bhikkhave, āvāsikānaṁ bhikkhūnaṁ mantayamānānaṁ evaṁ hoti—‘na mayaṁ sakkoma imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ dhammena vinayena satthusāsanenā’ti, na taṁ adhikaraṇaṁ āvāsikehi bhikkhūhi sampaṭicchitabbaṁ. Sace pana, bhikkhave, āvāsikānaṁ bhikkhūnaṁ mantayamānānaṁ evaṁ hoti—‘sakkoma mayaṁ imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ dhammena vinayena satthusāsanenā’ti. Tehi, bhikkhave, āvāsikehi bhikkhūhi āgantukā bhikkhū evamassu vacanīyā—‘sace tumhe, āyasmanto, amhākaṁ imaṁ adhikaraṇaṁ yathājātaṁ yathāsamuppannaṁ ārocessatha, yathā ca mayaṁ imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasamessāma dhammena vinayena satthusāsanena tathā suvūpasantaṁ bhavissati. Evaṁ mayaṁ imaṁ adhikaraṇaṁ sampaṭicchissāma. No ce tumhe, āyasmanto, amhākaṁ imaṁ adhikaraṇaṁ yathājātaṁ yathāsamuppannaṁ ārocessatha, yathā ca mayaṁ imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasamessāma dhammena vinayena satthusāsanena tathā na suvūpasantaṁ bhavissati, na mayaṁ imaṁ adhikaraṇaṁ sampaṭicchissāmā’ti. Evaṁ supariggahitaṁ kho, bhikkhave, katvā āvāsikehi bhikkhūhi taṁ adhikaraṇaṁ sampaṭicchitabbaṁ.
If, while discussing that matter, the resident monks think, ‘We’re unable to resolve this legal issue according to the Teaching, the Monastic Law, and the Teacher’s instruction,’ then they shouldn’t take on that legal issue. But if they think, ‘We’re able to resolve this legal issue according to the Teaching, the Monastic Law, and the Teacher’s instruction,’ then they should say to the newly-arrived monks, ‘If you’ll tell us how this legal issue came about, we’ll be able to dispose of it properly according to the Teaching, the Monastic Law, and the Teacher’s instruction. And so we’ll take it on. If, however, you won’t tell us, we won’t be able to properly dispose of it. And so we won’t take it on.’ Having properly examined it like this, the resident monks should take it on.
“Nhưng nếu, này các tỳ khưu, trong khi các tỳ khưu trú ngụ đang bàn bạc mà có ý nghĩ như vầy: ‘Chúng ta không thể dập tắt vụ tranh tụng này đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư,’ thì vụ tranh tụng ấy không nên được các tỳ khưu trú ngụ chấp nhận. Nhưng nếu, này các tỳ khưu, trong khi các tỳ khưu trú ngụ đang bàn bạc mà có ý nghĩ như vầy: ‘Chúng ta có thể dập tắt vụ tranh tụng này đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư,’ này các tỳ khưu, các tỳ khưu trú ngụ ấy nên nói với các tỳ khưu khách như sau: ‘Thưa các ngài, nếu các ngài trình bày cho chúng tôi vụ tranh tụng này đúng như đã phát sinh, đúng như đã khởi lên, thì theo cách mà chúng tôi sẽ dập tắt vụ tranh tụng này đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư, nó sẽ được dập tắt tốt đẹp. Như vậy, chúng tôi sẽ chấp nhận vụ tranh tụng này. Thưa các ngài, nếu các ngài không trình bày cho chúng tôi vụ tranh tụng này đúng như đã phát sinh, đúng như đã khởi lên, thì theo cách mà chúng tôi sẽ dập tắt vụ tranh tụng này đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư, nó sẽ không được dập tắt tốt đẹp, và chúng tôi sẽ không chấp nhận vụ tranh tụng này.’ Này các tỳ khưu, sau khi đã làm cho sự việc được nắm bắt kỹ lưỡng như vậy, vụ tranh tụng ấy nên được các tỳ khưu trú ngụ chấp nhận.”
Tehi, bhikkhave, āgantukehi bhikkhūhi āvāsikā bhikkhū evamassu vacanīyā—‘yathājātaṁ yathāsamuppannaṁ mayaṁ imaṁ adhikaraṇaṁ āyasmantānaṁ ārocessāma. Sace āyasmantā sakkonti ettakena vā ettakena vā antarena imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ dhammena vinayena satthusāsanena tathā suvūpasantaṁ bhavissati. Evaṁ mayaṁ imaṁ adhikaraṇaṁ āyasmantānaṁ niyyādessāma. No ce āyasmantā sakkonti ettakena vā ettakena vā antarena imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ dhammena vinayena satthusāsanena tathā na suvūpasantaṁ bhavissati, na mayaṁ imaṁ adhikaraṇaṁ āyasmantānaṁ niyyādessāma. Mayameva imassa adhikaraṇassa sāmino bhavissāmā’ti. Evaṁ supariggahitaṁ kho, bhikkhave, katvā āgantukehi bhikkhūhi taṁ adhikaraṇaṁ āvāsikānaṁ bhikkhūnaṁ niyyādetabbaṁ.
The newly-arrived monks should say this to the resident monks, ‘We’ll tell you how this legal issue came about. If you’re able to dispose of it properly by such and such means—according to the Teaching, the Monastic Law, and the Teacher’s instruction—then we’ll hand it over to you. If you’re unable to properly dispose of it by such and such means, then we won’t hand it over to you. We’ll take responsibility for it ourselves.’ Having properly examined it like this, the newly-arrived monks should hand it over to the resident monks.
“Này các tỳ khưu, các tỳ khưu khách ấy nên nói với các tỳ khưu trú ngụ như sau: ‘Chúng tôi sẽ trình bày cho các ngài vụ tranh tụng này đúng như đã phát sinh, đúng như đã khởi lên. Nếu các ngài có thể dập tắt vụ tranh tụng này bằng chừng ấy hay chừng ấy lý do đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư, thì nó sẽ được dập tắt tốt đẹp. Như vậy, chúng tôi sẽ giao phó vụ tranh tụng này cho các ngài. Nếu các ngài không thể dập tắt vụ tranh tụng này bằng chừng ấy hay chừng ấy lý do đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo lời giáo huấn của bậc Đạo Sư, thì nó sẽ không được dập tắt tốt đẹp, và chúng tôi sẽ không giao phó vụ tranh tụng này cho các ngài. Chính chúng tôi sẽ là người chủ của vụ tranh tụng này.’ Này các tỳ khưu, sau khi đã làm cho sự việc được nắm bắt kỹ lưỡng như vậy, vụ tranh tụng ấy nên được các tỳ khưu khách giao phó cho các tỳ khưu trú ngụ.”
Te ce, bhikkhave, bhikkhū sakkonti taṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ, idaṁ vuccati, bhikkhave, adhikaraṇaṁ vūpasantaṁ. Kena vūpasantaṁ? Sammukhāvinayena. Kiñca tattha sammukhāvinayasmiṁ? Saṅghasammukhatā, dhammasammukhatā, vinayasammukhatā, puggalasammukhatā …pe… evaṁ vūpasantañce, bhikkhave, adhikaraṇaṁ kārako ukkoṭeti, ukkoṭanakaṁ pācittiyaṁ; chandadāyako khīyati, khīyanakaṁ pācittiyaṁ.
If those monks are able to resolve that legal issue, this is called the resolution of a legal issue. It’s been resolved face-to-face. Face-to-face with what? Face-to-face with the Sangha, the Teaching, the Monastic Law, and the persons concerned. … When a legal issue has been resolved like this, if any of the participants reopen it, they commit an offense entailing confession for the reopening. If anyone who gave their consent criticizes the resolution, they commit an offense entailing confession.”
“Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy có thể dập tắt vụ tranh tụng ấy, này các tỳ khưu, vụ tranh tụng này được gọi là đã được dập tắt. Được dập tắt bằng cách nào? Bằng Sammukhāvinaya. Và trong Sammukhāvinaya ấy có những gì? Có sự hiện diện của Tăng chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của các cá nhân... (v.v)... Này các tỳ khưu, nếu người thực hiện lại khơi dậy vụ tranh tụng đã được dập tắt như vậy thì phạm tội pācittiya về việc khơi dậy; người đã trao sự ưng thuận mà lại khiển trách thì phạm tội pācittiya về việc khiển trách.”
9.2. Ubbāhikāyavūpasamana
Resolution by committee
Sự dập tắt bằng Ubbāhikā
Tehi ce, bhikkhave, bhikkhūhi tasmiṁ adhikaraṇe vinicchiyamāne anantāni ceva bhassāni jāyanti, na cekassa bhāsitassa attho viññāyati, anujānāmi, bhikkhave, evarūpaṁ adhikaraṇaṁ ubbāhikāya vūpasametuṁ.
Dasahaṅgehi samannāgato bhikkhu ubbāhikāya sammannitabbo—
- sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu;
- bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo, ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpassa dhammā bahussutā honti, dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā;
- ubhayāni kho panassa pātimokkhāni vitthārena svāgatāni honti suvibhattāni suppavattīni suvinicchitāni suttaso anubyañjanaso;
- vinaye kho pana ṭhito hoti asaṁhīro;
- paṭibalo hoti ubho atthapaccatthike assāsetuṁ saññāpetuṁ nijjhāpetuṁ pekkhetuṁ pasādetuṁ;
- adhikaraṇasamuppādavūpasamanakusalo hoti;
- adhikaraṇaṁ jānāti;
- adhikaraṇasamudayaṁ jānāti;
- adhikaraṇanirodhaṁ jānāti;
- adhikaraṇanirodhagāminipaṭipadaṁ jānāti.
Anujānāmi, bhikkhave, imehi dasahaṅgehi samannāgataṁ bhikkhuṁ ubbāhikāya sammannituṁ.
Evañca pana, bhikkhave, sammannitabbo. Paṭhamaṁ bhikkhu yācitabbo, yācitvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
“If, monks, while they’re discussing that legal issue, there’s endless talk, but not a single statement that can be understood, then they should resolve that legal issue by means of a committee.
A monk who has ten qualities may be appointed to that committee:
- He’s virtuous and restrained by the Monastic Code. His conduct is good, he associates with the right people, and he sees danger in minor faults. He undertakes and trains in the training rules.
- He has learned much, and he retains and accumulates what he has learned. Those teachings that are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, that have a true goal and are well articulated, and that set out the perfectly complete and pure spiritual life—he has learned many such teachings, retained them in mind, recited them verbally, mentally investigated them, and penetrated them well by view.
- He has properly learned both Monastic Codes in detail; he has analyzed them well, thoroughly mastered them, and investigated them well, both in terms of the rules and their detailed exposition.
- He is firmly committed to the Monastic Law.
- He is capable of making both sides relax, of persuading them, of convincing them, of making them see, of reconciling them.
- He is knowledgeable about the arising and resolution of legal issues.
- He knows the legal issues.
- He knows the origin of the legal issues.
- He knows the ending of the legal issues.
- He knows the way to the ending of the legal issues.
And he should be appointed like this. First a monk should be asked, and then a competent and capable monk should inform the Sangha:
231. “Này các tỳ khưu, nếu trong khi các tỳ khưu ấy đang phân xử vụ tranh tụng ấy mà có vô số lời nói được phát sinh, và ý nghĩa của lời nói đã được thốt ra lại không được hiểu rõ, này các tỳ khưu, Ta cho phép dập tắt vụ tranh tụng như vậy bằng phương pháp ubbāhikā. Vị tỳ khưu được hội đủ mười phẩm chất nên được chỉ định bằng phương pháp ubbāhikā: là người có giới hạnh, sống được thu thúc bởi sự thu thúc của Pātimokkha, có đầy đủ oai nghi và nơi hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học giới; là người đa văn, ghi nhớ điều đã nghe, tích lũy điều đã nghe; những giáo pháp nào có sự tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú, trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch, những giáo pháp như vậy đã được vị ấy nghe nhiều, đã được ghi nhớ, đã được thực hành thuần thục bằng lời nói, đã được quán xét bằng ý, đã được khéo thông suốt bằng trí kiến; lại nữa, cả hai bộ Pātimokkha đã được vị ấy thuộc lòng một cách chi tiết, được phân tích kỹ, được thực hành tốt, được quyết đoán kỹ về mặt kinh văn và về mặt phân tích chi tiết; lại nữa, là người vững vàng trong Luật, không do dự; có khả năng làm cho cả hai bên nguyên cáo và bị cáo được an lòng, được hiểu rõ, được suy xét, được xem xét, được hoan hỷ; là người thiện xảo về sự phát sinh và sự dập tắt của vụ tranh tụng; biết rõ vụ tranh tụng; biết rõ sự phát sinh của vụ tranh tụng; biết rõ sự chấm dứt của vụ tranh tụng; biết rõ con đường đưa đến sự chấm dứt của vụ tranh tụng. Này các tỳ khưu, Ta cho phép chỉ định vị tỳ khưu hội đủ mười phẩm chất này bằng phương pháp ubbāhikā. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như sau: Trước tiên, vị tỳ khưu cần được thỉnh cầu. Sau khi thỉnh cầu, Tăng chúng cần được một vị tỳ khưu có thẩm quyền, có năng lực trình cho biết –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Amhākaṁ imasmiṁ adhikaraṇe vinicchiyamāne anantāni ceva bhassāni jāyanti, na cekassa bhāsitassa attho viññāyati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmañca itthannāmañca bhikkhuṁ sammanneyya ubbāhikāya imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. While we were discussing this legal issue, there was endless talk, but not a single statement that could be understood. If the Sangha is ready, it should appoint monks so-and-so and so-and-so to a committee to resolve this legal issue. This is the motion.
232. “Bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng lắng nghe con. Trong khi chúng ta đang phân xử vụ tranh tụng này, có vô số lời nói được phát sinh, và ý nghĩa của lời nói đã được thốt ra lại không được hiểu rõ. Nếu Tăng chúng xét thấy đã đến lúc, Tăng chúng nên chỉ định tỳ khưu tên là... và tỳ khưu tên là... bằng phương pháp ubbāhikā để dập tắt vụ tranh tụng này. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Amhākaṁ imasmiṁ adhikaraṇe vinicchiyamāne anantāni ceva bhassāni jāyanti, na cekassa bhāsitassa attho viññāyati. Saṅgho itthannāmañca itthannāmañca bhikkhuṁ sammannati ubbāhikāya imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Yassāyasmato khamati itthannāmassa ca itthannāmassa ca bhikkhuno sammuti ubbāhikāya imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. While we were discussing this legal issue, there was endless talk, but not a single statement that could be understood. The Sangha appoints monks so-and-so and so-and-so to a committee to resolve this legal issue. Any monk who approves of appointing monks so-and-so and so-and-so to a committee to resolve this legal issue should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng lắng nghe con. Trong khi chúng ta đang phân xử vụ tranh tụng này, có vô số lời nói được phát sinh, và ý nghĩa của lời nói đã được thốt ra lại không được hiểu rõ. Tăng chúng chỉ định tỳ khưu tên là... và tỳ khưu tên là... bằng phương pháp ubbāhikā để dập tắt vụ tranh tụng này. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc chỉ định tỳ khưu tên là... và tỳ khưu tên là... bằng phương pháp ubbāhikā để dập tắt vụ tranh tụng này thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng.”
Sammato saṅghena itthannāmo ca itthannāmo ca bhikkhu ubbāhikāya imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
The Sangha has appointed monks so-and-so and so-and-so to a committee to resolve this legal issue. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
“Tỳ khưu tên là... và tỳ khưu tên là... đã được Tăng chúng chỉ định bằng phương pháp ubbāhikā để dập tắt vụ tranh tụng này. Tăng chúng đã chấp thuận, do đó giữ im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Te ce, bhikkhave, bhikkhū sakkonti taṁ adhikaraṇaṁ ubbāhikāya vūpasametuṁ, idaṁ vuccati, bhikkhave, adhikaraṇaṁ vūpasantaṁ. Kena vūpasantaṁ? Sammukhāvinayena. Kiñca tattha sammukhāvinayasmiṁ? Dhammasammukhatā, vinayasammukhatā, puggalasammukhatā …pe… evaṁ vūpasantañce, bhikkhave, adhikaraṇaṁ kārako ukkoṭeti, ukkoṭanakaṁ pācittiyaṁ.
If those monks are able to resolve that legal issue by means of a committee, this is called the resolution of a legal issue. It’s been resolved face-to-face. Face-to-face with what? Face-to-face with the Sangha, the Teaching, the Monastic Law, and the persons concerned. This is the meaning of face-to-face with the Sangha: the monks who should be present have arrived, consent has been brought for those who are eligible to give their consent, and no-one present objects to the decision. This is the meaning of face-to-face with the Teaching and the Monastic Law: the Teaching, the Monastic Law, the Teacher’s instruction—that by which that legal issue is resolved. This is the meaning of face-to-face with the persons concerned: both sides—those who are disputing and those they’re disputing with—are present. When a legal issue has been resolved like this, if any of the participants reopen it, they commit an offense entailing confession for the reopening.
Dealing with obstructive monks
“Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy có thể dập tắt vụ tranh tụng ấy bằng phương pháp ubbāhikā, này các tỳ khưu, vụ tranh tụng này được gọi là đã được dập tắt. Được dập tắt bằng cách nào? Bằng Sammukhāvinaya. Và trong Sammukhāvinaya ấy có những gì? Có sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của các cá nhân... (v.v)... Này các tỳ khưu, nếu người thực hiện lại khơi dậy vụ tranh tụng đã được dập tắt như vậy thì phạm tội pācittiya về việc khơi dậy.”
Tehi ce, bhikkhave, bhikkhūhi tasmiṁ adhikaraṇe vinicchiyamāne tatrāssa bhikkhu dhammakathiko, tassa neva suttaṁ āgataṁ hoti, no suttavibhaṅgo, so atthaṁ asallakkhento byañjanacchāyāya atthaṁ paṭibāhati, byattena bhikkhunā paṭibalena te bhikkhū ñāpetabbā—
While those monks are discussing that legal issue, there may be a monk there who’s an expounder of the Teaching, but who doesn’t know the Monastic Code or its analysis. Not understanding the meaning, he obstructs it by obscuring it with the wording. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
233. “Này các tỳ khưu, nếu trong khi các tỳ khưu ấy đang phân xử vụ tranh tụng ấy, ở nơi ấy có vị tỳ khưu là người thuyết Pháp, vị ấy không thuộc lòng kinh (Pātimokkha) cũng không thuộc lòng phân tích kinh (Suttavibhaṅga), vị ấy không nhận thức được ý nghĩa nên đã dùng cái bóng của văn tự để bác bỏ ý nghĩa, các vị tỳ khưu ấy cần được một vị tỳ khưu có thẩm quyền, có năng lực trình cho biết –”
‘Suṇantu me āyasmantā. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu dhammakathiko. Imassa neva suttaṁ āgataṁ hoti, no suttavibhaṅgo. So atthaṁ asallakkhento byañjanacchāyāya atthaṁ paṭibāhati. Yadāyasmantānaṁ pattakallaṁ, itthannāmaṁ bhikkhuṁ vuṭṭhāpetvā avasesā imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasameyyāmā’ti.
‘Please, venerables, I ask you to listen. The monk so-and-so is an expounder of the Teaching, but doesn’t know the Monastic Code or its analysis. Not understanding the meaning, he obstructs it by obscuring it with the wording. If the venerables are ready, we should ask monk so-and-so to leave, with the remainder of us resolving this legal issue.’
“Mong chư Tôn giả lắng nghe con. Vị tỳ khưu tên là... này là người thuyết Pháp. Vị này không thuộc lòng kinh cũng không thuộc lòng phân tích kinh. Vị ấy không nhận thức được ý nghĩa nên đã dùng cái bóng của văn tự để bác bỏ ý nghĩa. Nếu chư Tôn giả xét thấy đã đến lúc, sau khi đã mời tỳ khưu tên là... ra khỏi chỗ ngồi, những người còn lại chúng ta hãy dập tắt vụ tranh tụng này.”
Te ce, bhikkhave, bhikkhū taṁ bhikkhuṁ vuṭṭhāpetvā sakkonti taṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ, idaṁ vuccati, bhikkhave, adhikaraṇaṁ vūpasantaṁ. Kena vūpasantaṁ? Sammukhāvinayena. Kiñca tattha sammukhāvinayasmiṁ? Dhammasammukhatā, vinayasammukhatā, puggalasammukhatā …pe… evaṁ vūpasantañce, bhikkhave, adhikaraṇaṁ kārako ukkoṭeti, ukkoṭanakaṁ pācittiyaṁ.
If, after that monk has left, those monks are able to resolve that legal issue, this is called the resolution of a legal issue. It’s been resolved face-to-face. Face-to-face with what? Face-to-face with the Sangha, the Teaching, the Monastic Law, and the persons concerned. … When a legal issue has been resolved like this, if any of the participants reopen it, they commit an offense entailing confession for the reopening.
“Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy, sau khi đã mời vị tỳ khưu ấy ra khỏi chỗ ngồi, có thể dập tắt vụ tranh tụng ấy, này các tỳ khưu, vụ tranh tụng này được gọi là đã được dập tắt. Được dập tắt bằng cách nào? Bằng Sammukhāvinaya. Và trong Sammukhāvinaya ấy có những gì? Có sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của các cá nhân... (v.v)... Này các tỳ khưu, nếu người thực hiện lại khơi dậy vụ tranh tụng đã được dập tắt như vậy thì phạm tội pācittiya về việc khơi dậy.”
Tehi ce, bhikkhave, bhikkhūhi tasmiṁ adhikaraṇe vinicchiyamāne tatrāssa bhikkhu dhammakathiko, tassa suttañhi kho āgataṁ hoti, no suttavibhaṅgo, so atthaṁ asallakkhento byañjanacchāyāya atthaṁ paṭibāhati, byattena bhikkhunā paṭibalena te bhikkhū ñāpetabbā—
While those monks are discussing that legal issue, there may be a monk there who’s an expounder of the Teaching. He knows the Monastic Code, but not its analysis. Not understanding the meaning, he obstructs it by obscuring it with the wording. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
“Này các tỳ khưu, nếu trong khi các tỳ khưu ấy đang phân xử vụ tranh tụng ấy, ở nơi ấy có vị tỳ khưu là người thuyết Pháp, vị ấy chỉ thuộc lòng kinh (Pātimokkha) chứ không thuộc lòng phân tích kinh (Suttavibhaṅga), vị ấy không nhận thức được ý nghĩa nên đã dùng cái bóng của văn tự để bác bỏ ý nghĩa, các vị tỳ khưu ấy cần được một vị tỳ khưu có thẩm quyền, có năng lực trình cho biết –”
‘Suṇantu me āyasmantā. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu dhammakathiko. Imassa suttañhi kho āgataṁ hoti, no suttavibhaṅgo. So atthaṁ asallakkhento byañjanacchāyāya atthaṁ paṭibāhati. Yadāyasmantānaṁ pattakallaṁ, itthannāmaṁ bhikkhuṁ vuṭṭhāpetvā avasesā imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasameyyāmā’ti.
‘Please, venerables, I ask you to listen. The monk so-and-so is an expounder of the Teaching. He knows the Monastic Code, but not its analysis. Not understanding the meaning, he obstructs it by obscuring it with the wording. If the venerables are ready, we should ask monk so-and-so to leave, with the remainder of us resolving this legal issue.’
“Kính bạch chư Tôn giả, xin quý vị lắng nghe lời của tôi. Vị tỳ khưu tên là... này là một vị pháp sư. Vị này chỉ thuộc lòng phần Kinh (Pātimokkha), chứ không thuộc lòng phần Phân Tích Kinh (Suttavibhaṅga). Vị ấy, do không nhận thức được ý nghĩa, đã dùng văn tự để bác bỏ ý nghĩa. Nếu đây là thời điểm thích hợp cho chư Tôn giả, sau khi mời vị tỳ khưu tên là... đứng dậy, những vị còn lại chúng ta hãy dàn xếp vụ tranh tụng này.”
Te ce, bhikkhave, bhikkhū taṁ bhikkhuṁ vuṭṭhāpetvā sakkonti taṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ, idaṁ vuccati, bhikkhave, adhikaraṇaṁ vūpasantaṁ. Kena vūpasantaṁ? Sammukhāvinayena. Kiñca tattha sammukhāvinayasmiṁ? Dhammasammukhatā, vinayasammukhatā, puggalasammukhatā …pe… evaṁ vūpasantañce, bhikkhave, adhikaraṇaṁ kārako ukkoṭeti, ukkoṭanakaṁ pācittiyaṁ.
If, after that monk has left, those monks are able to resolve that legal issue, this is called the resolution of a legal issue. It’s been resolved face-to-face. Face-to-face with what? Face-to-face with the Sangha, the Teaching, the Monastic Law, and the persons concerned. … When a legal issue has been resolved like this, if any of the participants reopen it, they commit an offense entailing confession for the reopening.”
“Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy, sau khi mời vị tỳ khưu kia đứng dậy, có thể dàn xếp được vụ tranh tụng ấy, này các tỳ khưu, vụ tranh tụng này được gọi là đã được dàn xếp. Được dàn xếp bằng cách nào? Bằng cách Sammukhāvinaya (dàn xếp tại phiên họp). Và trong Sammukhāvinaya ấy có những gì? Có sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của các cá nhân... v.v... Này các tỳ khưu, nếu người thực hiện (việc dàn xếp) lại khơi dậy vụ tranh tụng đã được dàn xếp như vậy, thì phạm tội pācittiya về việc khơi dậy.”
9.3. Yebhuyyasikāvinaya
Resolution by majority decision
Phương pháp Yebhuyyasikā (Lấy ý kiến số đông)
Te ce, bhikkhave, bhikkhū na sakkonti taṁ adhikaraṇaṁ ubbāhikāya vūpasametuṁ, tehi, bhikkhave, bhikkhūhi taṁ adhikaraṇaṁ saṅghassa niyyādetabbaṁ—‘na mayaṁ, bhante, sakkoma imaṁ adhikaraṇaṁ ubbāhikāya vūpasametuṁ, saṅghova imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametū’ti. Anujānāmi, bhikkhave, evarūpaṁ adhikaraṇaṁ yebhuyyasikāya vūpasametuṁ.
Pañcahaṅgehi samannāgato bhikkhu salākaggāhāpako sammannitabbo—yo na chandāgatiṁ gaccheyya, na dosāgatiṁ gaccheyya, na mohāgatiṁ gaccheyya, na bhayāgatiṁ gaccheyya, gahitāgahitañca jāneyya …pe…
evañca pana, bhikkhave, sammannitabbo. Paṭhamaṁ bhikkhu yācitabbo, yācitvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
“If, monks, those monks are unable to resolve that legal issue by committee, they should hand it over to the Sangha, saying, ‘Venerables, we’re unable to resolve this legal issue by committee. Can the Sangha please resolve it.’ I allow such a legal issue to be resolved by majority decision.
A monk who has five qualities should be appointed as the manager of the vote: he’s not biased by favoritism, ill will, confusion, or fear, and he knows who has and who hasn’t voted.
And he should be appointed like this. First a monk should be asked, and then a competent and capable monk should inform the Sangha:
234. “Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy không thể dàn xếp vụ tranh tụng ấy bằng phương pháp ubbāhikā (ủy nhiệm), này các tỳ khưu, các tỳ khưu ấy nên giao vụ tranh tụng ấy cho Tăng chúng (với lời rằng:) ‘Kính bạch chư Tôn giả, chúng con không thể dàn xếp vụ tranh tụng này bằng phương pháp ubbāhikā, mong rằng Tăng chúng hãy dàn xếp vụ tranh tụng này.’ Này các tỳ khưu, Ta cho phép dàn xếp một vụ tranh tụng như vậy bằng phương pháp yebhuyyasikā (lấy ý kiến số đông). Một vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên được chỉ định làm người thu thẻ: vị ấy không đi theo thiên vị, không đi theo sân hận, không đi theo si mê, không đi theo sợ hãi, và biết được (thẻ nào) đã được lấy và chưa được lấy... v.v... Này các tỳ khưu, vị ấy nên được chỉ định như sau. Trước tiên, một vị tỳ khưu nên được thỉnh cầu. Sau khi thỉnh cầu, một vị tỳ khưu có năng lực và tài giỏi nên trình cho Tăng chúng biết –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ salākaggāhāpakaṁ sammanneyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should appoint monk so-and-so as the manager of the vote. This is the motion.
“Kính bạch Tăng chúng, xin Tăng chúng lắng nghe lời của con. Nếu đây là thời điểm thích hợp cho Tăng chúng, Tăng chúng hãy chỉ định vị tỳ khưu tên là... làm người thu thẻ. Đây là lời tuyên ngôn (ñatti).”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ salākaggāhāpakaṁ sammannati. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno salākaggāhāpakassa sammuti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha appoints monk so-and-so as the manager of the vote. Any monk who approves of appointing monk so-and-so as the manager of the vote should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch Tăng chúng, xin Tăng chúng lắng nghe lời của con. Tăng chúng chỉ định vị tỳ khưu tên là... làm người thu thẻ. Vị Tôn giả nào chấp thuận việc chỉ định vị tỳ khưu tên là... làm người thu thẻ, vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.”
Sammato saṅghena itthannāmo bhikkhu salākaggāhāpako. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
The Sangha has appointed monk so-and-so as the manager of the vote. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
“Vị tỳ khưu tên là... đã được Tăng chúng chỉ định làm người thu thẻ. Việc này được Tăng chúng chấp thuận, do đó Tăng chúng im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Tena salākaggāhāpakena bhikkhunā salākā gāhetabbā. Yathā bahutarā bhikkhū dhammavādino vadanti tathā taṁ adhikaraṇaṁ vūpasametabbaṁ. Idaṁ vuccati, bhikkhave, adhikaraṇaṁ vūpasantaṁ. Kena vūpasantaṁ? Sammukhāvinayena ca, yebhuyyasikāya ca. Kiñca tattha sammukhāvinayasmiṁ? Saṅghasammukhatā, dhammasammukhatā, vinayasammukhatā, puggalasammukhatā. Kā ca tattha saṅghasammukhatā? Yāvatikā bhikkhū kammappattā te āgatā honti, chandārahānaṁ chando āhaṭo hoti, sammukhībhūtā na paṭikkosanti—ayaṁ tattha saṅghasammukhatā. Kā ca tattha dhammasammukhatā, vinayasammukhatā? Yena dhammena yena vinayena yena satthusāsanena taṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati—ayaṁ tattha dhammasammukhatā, vinayasammukhatā. Kā ca tattha puggalasammukhatā? Yo ca vivadati, yena ca vivadati, ubho atthapaccatthikā sammukhībhūtā honti—ayaṁ tattha puggalasammukhatā. Kā ca tattha yebhuyyasikāya? Yā yebhuyyasikākammassa kiriyā karaṇaṁ upagamanaṁ ajjhupagamanaṁ adhivāsanā appaṭikkosanā—ayaṁ tattha yebhuyyasikāya. Evaṁ vūpasantañce, bhikkhave, adhikaraṇaṁ kārako ukkoṭeti, ukkoṭanakaṁ pācittiyaṁ; chandadāyako khīyati, khīyanakaṁ pācittiyan”ti.
That monk should then distribute the ballots. If the majority of monks vote in accordance with the Teaching, then that legal issue has been resolved. This is called the resolution of a legal issue. It’s been resolved face-to-face and by majority decision. Face-to-face with what? Face-to-face with the Sangha, the Teaching, the Monastic Law, and the persons concerned. This is the meaning of face-to-face with the Sangha: the monks who should be present have arrived, consent has been brought for those who are eligible to give their consent, and no-one present objects to the decision. This is the meaning of face-to-face with the Teaching and the Monastic Law: the Teaching, the Monastic Law, the Teacher’s instruction—that by which that legal issue is resolved. This is the meaning of face-to-face with the persons concerned: both sides—those who are disputing and those they’re disputing with—are present. This is the meaning of by majority decision: the doing of, the performing of, the participation in, the consent to, the agreement to, the non-objection to that legal procedure of majority decision. When a legal issue has been resolved like this, if any of the participants reopen it, they commit an offense entailing confession for the reopening. If anyone who gave their consent criticizes the resolution, they commit an offense entailing confession.”
“Vị tỳ khưu thu thẻ ấy nên cho lấy các thẻ. Vụ tranh tụng ấy nên được dàn xếp theo như cách mà đa số các tỳ khưu nói đúng Pháp đã nói. Này các tỳ khưu, vụ tranh tụng này được gọi là đã được dàn xếp. Được dàn xếp bằng cách nào? Bằng Sammukhāvinaya (dàn xếp tại phiên họp) và bằng Yebhuyyasikā (lấy ý kiến số đông). Và trong Sammukhāvinaya ấy có những gì? Có sự hiện diện của Tăng chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của các cá nhân. Thế nào là sự hiện diện của Tăng chúng ở đây? Bao nhiêu tỳ khưu đủ tư cách thực hiện nghiệp sự thì các vị ấy đã có mặt, sự ưng thuận của những vị đáng được ưng thuận đã được mang đến, và những vị có mặt đã không phản đối – đây là sự hiện diện của Tăng chúng ở đây. Thế nào là sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật ở đây? Pháp nào, Luật nào, lời dạy nào của Bậc Đạo Sư mà nhờ đó vụ tranh tụng được dàn xếp – đây là sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật ở đây. Thế nào là sự hiện diện của các cá nhân ở đây? Người tranh tụng và người bị tranh tụng, cả hai bên đối kháng đều có mặt – đây là sự hiện diện của các cá nhân ở đây. Thế nào là Yebhuyyasikā ở đây? Sự thực hiện, cách thức, sự tiến hành, sự đảm nhận, sự chấp nhận, sự không phản đối đối với nghiệp sự lấy ý kiến số đông – đây là Yebhuyyasikā ở đây. Này các tỳ khưu, nếu người thực hiện (việc dàn xếp) lại khơi dậy vụ tranh tụng đã được dàn xếp như vậy, thì phạm tội pācittiya về việc khơi dậy; nếu người cho sự ưng thuận lại chê bai, thì phạm tội pācittiya về việc chê bai.”
9.4. Tividhasalākaggāha
The three kinds of voting
Ba cách lấy thẻ
Tena kho pana samayena sāvatthiyā evaṁ jātaṁ evaṁ samuppannaṁ adhikaraṇaṁ hoti. Atha kho te bhikkhū—asantuṭṭhā sāvatthiyā saṅghassa adhikaraṇavūpasamanena—assosuṁ kho amukasmiṁ kira āvāse sambahulā therā viharanti bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā paṇḍitā viyattā medhāvino lajjino kukkuccakā sikkhākāmā. Te ce therā imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasameyyuṁ dhammena vinayena satthusāsanena, evamidaṁ adhikaraṇaṁ suvūpasantaṁ assāti. Atha kho te bhikkhū taṁ āvāsaṁ gantvā te there etadavocuṁ—“idaṁ, bhante, adhikaraṇaṁ evaṁ jātaṁ, evaṁ samuppannaṁ. Sādhu, bhante, therā imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasamentu dhammena vinayena satthusāsanena, yathayidaṁ adhikaraṇaṁ suvūpasantaṁ assā”ti. Atha kho te therā—yathā sāvatthiyā saṅghena adhikaraṇaṁ vūpasamitaṁ tathā suvūpasantanti—tathā taṁ adhikaraṇaṁ vūpasamesuṁ.
At one time at Sāvatthī a legal issue had come about in this way. But there were monks who were dissatisfied with how the Sangha at Sāvatthī had resolved it. They heard that in a certain monastery there was a number of senior monks who were learned and masters of the tradition; who were experts on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; who were knowledgeable and competent, had a sense of conscience, and were afraid of wrongdoing and fond of the training. They thought, “If these senior monks resolve this legal issue—according to the Teaching, the Monastic Law, and the Teacher’s instruction—then it will be properly disposed of.” They then went to that monastery and said to those senior monks, “This legal issue has come about in this way. Venerables, please resolve it—according to the Teaching, the Monastic Law, and the Teacher’s instruction—so that it will be properly disposed of.” Those senior monks thought, “This legal issue was properly disposed of by the Sangha at Sāvatthī,” and they resolved it in the same way.
235. Vào lúc bấy giờ, ở Sāvatthī có một vụ tranh tụng đã phát sinh, đã khởi lên như thế này. Khi ấy, các tỳ khưu ấy – không hài lòng với việc dàn xếp vụ tranh tụng của Tăng chúng ở Sāvatthī – đã nghe rằng: ‘Tại trú xứ kia, nghe nói có nhiều vị trưởng lão đang trú ngụ, các vị ấy là bậc đa văn, thông thuộc truyền thống, thông suốt Pháp, thông suốt Luật, thông suốt các đề mục, là bậc hiền trí, tài giỏi, thông minh, có lòng tàm, có lòng quý, và ham học hỏi. Nếu các vị trưởng lão ấy dàn xếp vụ tranh tụng này đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo lời dạy của Bậc Đạo Sư, thì vụ tranh tụng này sẽ được dàn xếp một cách tốt đẹp.’ Khi ấy, các tỳ khưu ấy đi đến trú xứ kia và thưa với các vị trưởng lão ấy điều này: ‘Kính bạch chư Tôn giả, vụ tranh tụng này đã phát sinh, đã khởi lên như thế này. Lành thay, kính bạch chư Tôn giả, mong rằng các vị trưởng lão hãy dàn xếp vụ tranh tụng này đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo lời dạy của Bậc Đạo Sư, để vụ tranh tụng này được dàn xếp một cách tốt đẹp.’ Khi ấy, các vị trưởng lão ấy – (nghĩ rằng) ‘vụ tranh tụng đã được Tăng chúng ở Sāvatthī dàn xếp như thế nào thì đã được dàn xếp tốt đẹp như thế ấy’ – đã dàn xếp vụ tranh tụng ấy theo cách đó.
Atha kho te bhikkhū—asantuṭṭhā sāvatthiyā saṅghassa adhikaraṇavūpasamanena, asantuṭṭhā sambahulānaṁ therānaṁ adhikaraṇavūpasamanena—assosuṁ kho amukasmiṁ kira āvāse tayo therā viharanti …pe… dve therā viharanti …pe… eko thero viharati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito viyatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo. So ce thero imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasameyya dhammena vinayena satthusāsanena, evamidaṁ adhikaraṇaṁ suvūpasantaṁ assāti. Atha kho te bhikkhū taṁ āvāsaṁ gantvā taṁ theraṁ etadavocuṁ—“idaṁ, bhante, adhikaraṇaṁ evaṁ jātaṁ, evaṁ samuppannaṁ. Sādhu, bhante, thero imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasametu dhammena vinayena satthusāsanena, yathayidaṁ adhikaraṇaṁ suvūpasantaṁ assā”ti. Atha kho so thero—yathā sāvatthiyā saṅghena adhikaraṇaṁ vūpasamitaṁ, yathā sambahulehi therehi adhikaraṇaṁ vūpasamitaṁ, yathā tīhi therehi adhikaraṇaṁ vūpasamitaṁ, yathā dvīhi therehi adhikaraṇaṁ vūpasamitaṁ, tathā suvūpasantanti—tathā taṁ adhikaraṇaṁ vūpasamesi.
Those monks were dissatisfied with how the Sangha at Sāvatthī had resolved that legal issue and also with how that number of senior monks had resolved it. They then heard that in a certain monastery there were three senior monks … two senior monks … one senior monk who was learned and a master of the tradition; who was an expert on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; who was knowledgeable and competent, had a sense of conscience, and was afraid of wrongdoing and fond of the training. They thought, “If this senior monk resolves this legal issue—according to the Teaching, the Monastic Law, and the Teacher’s instruction—then it will be properly disposed of.” They then went to that monastery and said to that senior monk, “This legal issue has come about in this way. Venerable, please resolve it—according to the Teaching, the Monastic Law, and the Teacher’s instruction—so that it will be properly disposed of.” That senior monk thought, “This legal issue was properly disposed of by the Sangha at Sāvatthī, and likewise by that number of senior monks, by those three senior monks, and by those two senior monks,” and he resolved it in the same way.
Khi ấy, các tỳ khưu ấy – không hài lòng về việc dàn xếp tranh tụng của chư Tăng ở Sāvatthī, không hài lòng về việc dàn xếp tranh tụng của nhiều vị trưởng lão – đã nghe được rằng: ‘Tại trú xứ tên là... được biết có ba vị trưởng lão đang trú ngụ... (vân vân)... có hai vị trưởng lão đang trú ngụ... (vân vân)... có một vị trưởng lão đang trú ngụ, là bậc đa văn, thông thuộc Thánh điển, trì Pháp, trì Luật, trì các Mẫu Đề, là bậc hiền trí, lanh lợi, thông minh, có tàm, có quý, ham học hỏi. Nếu vị trưởng lão ấy dàn xếp vụ tranh tụng này đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo lời dạy của Bậc Đạo Sư thì vụ tranh tụng này sẽ được khéo dàn xếp.’ Khi ấy, các tỳ khưu ấy đi đến trú xứ ấy, đã nói với vị trưởng lão ấy điều này: ‘Bạch Đại đức, vụ tranh tụng này đã phát sanh như vậy, đã khởi lên như vậy. Lành thay, bạch Đại đức, mong trưởng lão hãy dàn xếp vụ tranh tụng này đúng theo Pháp, đúng theo Luật, đúng theo lời dạy của Bậc Đạo Sư, để vụ tranh tụng này được khéo dàn xếp.’ Khi ấy, vị trưởng lão ấy đã dàn xếp vụ tranh tụng ấy theo cách thức đó, (nghĩ rằng): ‘Giống như vụ tranh tụng đã được chư Tăng ở Sāvatthī dàn xếp, giống như đã được nhiều vị trưởng lão dàn xếp, giống như đã được ba vị trưởng lão dàn xếp, giống như đã được hai vị trưởng lão dàn xếp, cũng vậy là đã được khéo dàn xếp.’
Atha kho te bhikkhū asantuṭṭhā sāvatthiyā saṅghassa adhikaraṇavūpasamanena, asantuṭṭhā sambahulānaṁ therānaṁ adhikaraṇavūpasamanena, asantuṭṭhā tiṇṇaṁ therānaṁ adhikaraṇavūpasamanena, asantuṭṭhā dvinnaṁ therānaṁ adhikaraṇavūpasamanena, asantuṭṭhā ekassa therassa adhikaraṇavūpasamanena, yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“Nihatametaṁ, bhikkhave, adhikaraṇaṁ santaṁ vūpasantaṁ suvūpasantaṁ. Anujānāmi, bhikkhave, tesaṁ bhikkhūnaṁ saññattiyā tayo salākaggāhe—gūḷhakaṁ, sakaṇṇajappakaṁ, vivaṭakaṁ.
Since those monks were dissatisfied with how all of these had resolved that legal issue, they went to the Buddha and told him what had happened. … The Buddha said:
“Monks, this legal issue has been settled, laid to rest, and properly disposed of. To persuade those monks, I allow three kinds of voting: a secret ballot, whispering in the ear, and an open vote.
Khi ấy, các tỳ khưu ấy không hài lòng về việc dàn xếp tranh tụng của chư Tăng ở Sāvatthī, không hài lòng về việc dàn xếp tranh tụng của nhiều vị trưởng lão, không hài lòng về việc dàn xếp tranh tụng của ba vị trưởng lão, không hài lòng về việc dàn xếp tranh tụng của hai vị trưởng lão, không hài lòng về việc dàn xếp tranh tụng của một vị trưởng lão, đã đi đến nơi đức Thế Tôn ngự, sau khi đến đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn... (vân vân)... ‘Này các tỳ khưu, vụ tranh tụng này đã được dập tắt, đã được lắng dịu, đã được dàn xếp, đã được khéo dàn xếp. Này các tỳ khưu, Ta cho phép ba cách lấy thẻ biểu quyết để làm cho các tỳ khưu ấy bị thuyết phục: cách kín đáo, cách nói thầm vào tai, và cách công khai.’
Kathañca, bhikkhave, gūḷhako salākaggāho hoti? Tena salākaggāhāpakena bhikkhunā salākāyo vaṇṇāvaṇṇāyo katvā ekameko bhikkhu upasaṅkamitvā evamassa vacanīyo—‘ayaṁ evaṁvādissa salākā, ayaṁ evaṁvādissa salākā. Yaṁ icchasi taṁ gaṇhāhī’ti. Gahite vattabbo—‘mā ca kassaci dassehī’ti. Sace jānāti—adhammavādī bahutarāti, duggahoti, paccukkaḍḍhitabbaṁ. Sace jānāti—dhammavādī bahutarāti, suggahoti, sāvetabbaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, gūḷhako salākaggāho hoti.
What’s a secret ballot? The manager of the vote should make ballots of two different colors, go up to the monks one by one and say, ‘This is the ballot for those who hold this view, and this is the ballot for those who hold that view. Take the one you like.’ When someone has taken a ballot, they should be told, ‘Don’t show it to anyone.’ If the manager knows that those who speak contrary to the Teaching are in the majority, then the vote is invalid and to be postponed. If he knows that those who speak in accordance with the Teaching are in the majority, then the vote is valid and to be announced.
‘Này các tỳ khưu, thế nào là cách lấy thẻ biểu quyết kín đáo? Vị tỳ khưu phân phát thẻ biểu quyết ấy, sau khi làm các thẻ có màu sắc khác nhau, nên đi đến từng vị tỳ khưu một và nói như vầy: ‘Thẻ này là của người có quan điểm như vầy, thẻ này là của người có quan điểm như vầy. Vị nào muốn thẻ nào thì hãy lấy thẻ ấy.’ Sau khi thẻ được lấy, nên nói rằng: ‘Và chớ có cho ai xem.’ Nếu biết rằng: ‘Phe phi pháp đông hơn,’ thì việc lấy thẻ là không hợp lệ, cần phải được thu hồi. Nếu biết rằng: ‘Phe chánh pháp đông hơn,’ thì việc lấy thẻ là hợp lệ, cần phải được công bố. Này các tỳ khưu, như vậy là cách lấy thẻ biểu quyết kín đáo.’
Kathañca, bhikkhave, sakaṇṇajappako salākaggāho hoti? Tena salākaggāhāpakena bhikkhunā ekamekassa bhikkhuno upakaṇṇake ārocetabbaṁ—‘ayaṁ evaṁvādissa salākā, ayaṁ evaṁvādissa salākā. Yaṁ icchasi taṁ gaṇhāhī’ti. Gahite vattabbo—‘mā ca kassaci ārocehī’ti. Sace jānāti—adhammavādī bahutarāti, duggahoti, paccukkaḍḍhitabbaṁ. Sace jānāti—dhammavādī bahutarāti, suggahoti, sāvetabbaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, sakaṇṇajappako salākaggāho hoti.
What’s voting by whispering in the ear? The manager of the vote should inform the monks one by one by whispering in the ear, ‘This is the ballot for those who hold this view, and this is the ballot for those who hold that view. Take the one you like.’ When someone has taken a ballot, they should be told, ‘Don’t tell anyone.’ If the manager knows that those who speak contrary to the Teaching are in the majority, then the vote is invalid and to be postponed. If he knows that those who speak in accordance with the Teaching are in the majority, then the vote is valid and to be announced.
‘Này các tỳ khưu, thế nào là cách lấy thẻ biểu quyết nói thầm vào tai? Vị tỳ khưu phân phát thẻ biểu quyết ấy nên nói vào tai của từng vị tỳ khưu một rằng: ‘Thẻ này là của người có quan điểm như vầy, thẻ này là của người có quan điểm như vầy. Vị nào muốn thẻ nào thì hãy lấy thẻ ấy.’ Sau khi thẻ được lấy, nên nói rằng: ‘Và chớ có nói cho ai biết.’ Nếu biết rằng: ‘Phe phi pháp đông hơn,’ thì việc lấy thẻ là không hợp lệ, cần phải được thu hồi. Nếu biết rằng: ‘Phe chánh pháp đông hơn,’ thì việc lấy thẻ là hợp lệ, cần phải được công bố. Này các tỳ khưu, như vậy là cách lấy thẻ biểu quyết nói thầm vào tai.’
Kathañca, bhikkhave, vivaṭako salākaggāho hoti? Sace jānāti—dhammavādī bahutarāti, vissaṭṭheneva vivaṭena gāhetabbo. Evaṁ kho, bhikkhave, vivaṭako salākaggāho hoti. Ime kho, bhikkhave, tayo salākaggāhā”ti.
9.5. Sativinaya
What’s an open vote? If he knows that those who speak in accordance with the Teaching are in the majority, the ballots should be distributed openly.”
Resolution through recollection
‘Này các tỳ khưu, thế nào là cách lấy thẻ biểu quyết công khai? Nếu biết rằng: ‘Phe chánh pháp đông hơn,’ thì nên cho lấy thẻ một cách dạn dĩ và công khai. Này các tỳ khưu, như vậy là cách lấy thẻ biểu quyết công khai. Này các tỳ khưu, đây chính là ba cách lấy thẻ biểu quyết.’
“Anuvādādhikaraṇaṁ katihi samathehi sammati? Anuvādādhikaraṇaṁ catūhi samathehi sammati—sammukhāvinayena ca, sativinayena ca, amūḷhavinayena ca, tassapāpiyasikāya ca. Siyā anuvādādhikaraṇaṁ dve samathe anāgamma—amūḷhavinayañca, tassapāpiyasikañca; dvīhi samathehi sammeyya—sammukhāvinayena ca, sativinayena cāti? Siyātissa vacanīyaṁ. Yathā kathaṁ viya? Idha pana, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ amūlikāya sīlavipattiyā anuddhaṁsenti. Tassa kho, bhikkhave, bhikkhuno sativepullappattassa sativinayo dātabbo.
Evañca pana, bhikkhave, dātabbo—
“There are four principles for settling a legal issue arising from an accusation: resolution face-to-face, resolution through recollection, resolution because of past insanity, and by further penalty. Is it possible that a legal issue arising from an accusation should be settled not by resolution because of past insanity or by further penalty, but by resolution face-to-face and by resolution through recollection? It is. How? It may be that monks are groundlessly charging a monk with failure in morality. If that monk has great clarity of memory, he’s to be granted resolution through recollection.
And it should be granted like this.
236. ‘Tranh tụng về sự khiển trách (anuvādādhikaraṇa) được dàn xếp bằng bao nhiêu pháp dàn xếp (samatha)? Tranh tụng về sự khiển trách được dàn xếp bằng bốn pháp dàn xếp: bằng luật hiện diện (sammukhāvinaya), bằng luật về sự minh mẫn (sativinaya), bằng luật về sự không mê loạn (amūḷhavinaya), và bằng sự hành phạt kẻ có hành vi xấu xa (tassapāpiyasikā). Có thể có trường hợp tranh tụng về sự khiển trách được dàn xếp bằng hai pháp dàn xếp là luật hiện diện và luật về sự minh mẫn, mà không cần đến hai pháp dàn xếp là luật về sự không mê loạn và sự hành phạt kẻ có hành vi xấu xa không? Nên trả lời rằng: ‘Có thể có.’ Giống như thế nào? Này các tỳ khưu, ở đây, các tỳ khưu khiển trách một tỳ khưu về sự hư hỏng giới hạnh một cách vô căn cứ. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy đã đạt đến sự minh mẫn trọn vẹn, cần phải ban cho luật về sự minh mẫn. Và này các tỳ khưu, cần phải ban cho như vầy:’
‘maṁ, bhante, bhikkhū amūlikāya sīlavipattiyā anuddhaṁsenti. Sohaṁ, bhante, sativepullappatto saṅghaṁ sativinayaṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbo. Tatiyampi yācitabbo.
Byattenaṁ bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Venerables, monks are groundlessly charging me with failure in morality. Because of my great clarity of memory, I ask the Sangha for resolution through recollection.’ And he should ask a second and a third time.
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
‘Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy, sau khi đi đến Tăng chúng, đắp thượng y lệch một bên vai... (vân vân)... nên nói như vầy: ‘Bạch chư Đại đức, các tỳ khưu đã khiển trách con về sự hư hỏng giới hạnh một cách vô căn cứ. Bạch chư Đại đức, con đây đã đạt đến sự minh mẫn trọn vẹn, xin Tăng chúng ban cho luật về sự minh mẫn.’ Cần phải xin lần thứ hai. Cần phải xin lần thứ ba. Một vị tỳ khưu lanh lợi, có khả năng, nên trình cho Tăng chúng biết:’
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Bhikkhū itthannāmaṁ bhikkhuṁ amūlikāya sīlavipattiyā anuddhaṁsenti. So sativepullappatto saṅghaṁ sativinayaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmassa bhikkhuno sativepullappattassa sativinayaṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. Monks are groundlessly charging monk so-and-so with failure in morality. Because of his great clarity of memory, he is asking the Sangha for resolution through recollection. If the Sangha is ready, then, because of monk so-and-so’s great clarity of memory, the Sangha should grant him resolution through recollection. This is the motion.
‘Bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Các tỳ khưu đã khiển trách tỳ khưu tên là... về sự hư hỏng giới hạnh một cách vô căn cứ. Vị ấy đã đạt đến sự minh mẫn trọn vẹn, xin Tăng chúng ban cho luật về sự minh mẫn. Nếu thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng, Tăng chúng hãy ban cho tỳ khưu tên là... đã đạt đến sự minh mẫn trọn vẹn luật về sự minh mẫn. Đây là lời tác bạch.’
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Bhikkhū itthannāmaṁ bhikkhuṁ amūlikāya sīlavipattiyā anuddhaṁsenti. So sativepullappatto saṅghaṁ sativinayaṁ yācati. Saṅgho itthannāmassa bhikkhuno sativepullappattassa sativinayaṁ deti. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno sativepullappattassa sativinayassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. Monks are groundlessly charging monk so-and-so with failure in morality. Because of his great clarity of memory, he is asking the Sangha for resolution through recollection. Because of his great clarity of memory, the Sangha grants monk so-and-so resolution through recollection. Any monk who approves, because of monk so-and-so’s great clarity of memory, of granting him resolution through recollection should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy lắng nghe lời của tôi. Các tỳ khưu đang tố cáo tỳ khưu tên là... về sự hư hỏng giới hạnh không có căn cứ. Vị tỳ khưu ấy đã đạt được sự phục hồi trí nhớ nên thỉnh cầu Tăng chúng thực hiện Sativinaya. Tăng chúng ban hành Sativinaya cho tỳ khưu tên là... người đã đạt được sự phục hồi trí nhớ. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc ban hành Sativinaya cho tỳ khưu tên là... người đã đạt được sự phục hồi trí nhớ thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng.
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
“Lần thứ nhì, tôi cũng nói lên điều này... (v.v.)... Lần thứ ba, tôi cũng nói lên điều này... (v.v.)...
Dinno saṅghena itthannāmassa bhikkhuno sativepullappattassa sativinayo. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
Because of his great clarity of memory, the Sangha has granted monk so-and-so resolution through recollection. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
“Sativinaya đã được Tăng chúng ban hành cho tỳ khưu tên là... người đã đạt được sự phục hồi trí nhớ. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên đã im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Idaṁ vuccati, bhikkhave, adhikaraṇaṁ vūpasantaṁ. Kena vūpasantaṁ? Sammukhāvinayena ca sativinayena ca. Kiñca tattha sammukhāvinayasmiṁ? Saṅghasammukhatā, dhammasammukhatā, vinayasammukhatā, puggalasammukhatā …pe… kā ca tattha puggalasammukhatā? Yo ca anuvadati, yañca anuvadati, ubho sammukhībhūtā honti—ayaṁ tattha puggalasammukhatā. Kiñca tattha sativinayasmiṁ? Yā sativinayassa kammassa kiriyā karaṇaṁ upagamanaṁ ajjhupagamanaṁ adhivāsanā appaṭikkosanā—idaṁ tattha sativinayasmiṁ. Evaṁ vūpasantañce, bhikkhave, adhikaraṇaṁ kārako ukkoṭeti, ukkoṭanakaṁ pācittiyaṁ; chandadāyako khīyati, khīyanakaṁ pācittiyaṁ.
This is called the resolution of a legal issue. It’s been resolved by resolution face-to-face and by resolution through recollection. Face-to-face with what? Face-to-face with the Sangha, the Teaching, the Monastic Law, and the persons concerned. This is the meaning of face-to-face with the Sangha: the monks who should be present have arrived, consent has been brought for those who are eligible to give their consent, and no-one present objects to the decision. This is the meaning of face-to-face with the Teaching and the Monastic Law: the Teaching, the Monastic Law, the Teacher’s instruction—that by which that legal issue is resolved. This is the meaning of face-to-face with the persons concerned: both those who are accusing and those who have been accused are present. This is the meaning of resolution through recollection: the doing of, the performing of, the participation in, the consent to, the agreement to, the non-objection to that legal procedure of resolution through recollection. When a legal issue has been resolved like this, if any of the participants reopen it, they commit an offense entailing confession for the reopening. If anyone who gave their consent criticizes the resolution, they commit an offense entailing confession.”
“Này các tỳ khưu, việc tranh tụng này được gọi là đã được dập tắt. Được dập tắt bằng cách nào? Bằng Sammukhāvinaya và Sativinaya. Và ở đây, thế nào là trong Sammukhāvinaya? Là sự hiện diện của Tăng chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của các cá nhân... (v.v.)... Và ở đây, thế nào là sự hiện diện của các cá nhân? Khi cả người tố cáo và người bị tố cáo đều có mặt – đây là sự hiện diện của các cá nhân ở đây. Và ở đây, thế nào là trong Sativinaya? Việc thực hiện, tiến hành, tiếp cận, chấp nhận, chịu đựng, không phản đối đối với yết ma Sativinaya – đây là Sativinaya ở đây. Này các tỳ khưu, nếu việc tranh tụng đã được dập tắt như vậy mà người thực hiện lại khơi dậy, vị ấy phạm tội pācittiya về việc khơi dậy. Nếu người đã trao sự ưng thuận lại chỉ trích, vị ấy phạm tội pācittiya về việc chỉ trích.
9.6. Amūḷhavinaya
Siyā anuvādādhikaraṇaṁ dve samathe anāgamma—sativinayañca, tassapāpiyasikañca; dvīhi samathehi sammeyya—
Resolution because of past insanity
“Is it possible that a legal issue arising from an accusation should be settled not by resolution through recollection or by further penalty, but
“Này các tỳ khưu, tỳ khưu ấy nên đến Tăng chúng, đắp thượng y lệch một bên vai... (v.v.)... và nên nói như sau: ‘Kính bạch chư Tôn đức, con đã bị điên loạn, tâm trí bị rối loạn. Do con bị điên loạn, tâm trí bị rối loạn, nên đã thường xuyên thực hành nhiều điều không xứng đáng với sa-môn, cả bằng lời nói và hành động. Các tỳ khưu tố cáo con về một tội do đã thường xuyên thực hành khi bị điên loạn, tâm trí bị rối loạn rằng: ‘Mong trưởng lão hãy nhớ lại rằng ngài đã phạm một tội như thế này.’ Con đã nói với các vị ấy như sau: ‘Thưa chư hiền, quả thật tôi đã bị điên loạn, tâm trí bị rối loạn. Do tôi bị điên loạn, tâm trí bị rối loạn, nên đã thường xuyên thực hành nhiều điều không xứng đáng với sa-môn, cả bằng lời nói và hành động. Tôi không nhớ điều đó. Việc ấy đã được tôi thực hiện trong lúc mê mờ.’ Dù con nói như vậy, các vị ấy vẫn tiếp tục tố cáo: ‘Mong trưởng lão hãy nhớ lại rằng ngài đã phạm một tội như thế này.’ ‘Kính bạch chư Tôn đức, con đây, nay đã không còn mê mờ, xin thỉnh cầu Tăng chúng ban hành Amūḷhavinaya.’ Cần phải thỉnh cầu lần thứ nhì. Cần phải thỉnh cầu lần thứ ba. Một tỳ khưu có năng lực và kinh nghiệm nên trình Tăng chúng biết rằng:
Evañca pana, bhikkhave, dātabbo—Tena, bhikkhave, bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā …pe… evamassa vacanīyo—
‘ahaṁ, bhante, ummattako ahosiṁ cittavipariyāsakato. Tena me ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Maṁ bhikkhū ummattakena cittavipariyāsakatena ajjhāciṇṇena āpattiyā codenti—“saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā”ti. Tyāhaṁ evaṁ vadāmi—“ahaṁ kho, āvuso, ummattako ahosiṁ cittavipariyāsakato. Tena me ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Nāhaṁ taṁ sarāmi. Mūḷhena me etaṁ katan”ti. Evampi maṁ vuccamānā codenteva—“saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā”ti. “Sohaṁ, bhante, amūḷho saṅghaṁ amūḷhavinayaṁ yācāmī”’ti. Dutiyampi yācitabbo. Tatiyampi yācitabbo.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu ummattako ahosi cittavipariyāsakato. Tena ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ.
And it should be granted like this. That monk should approach the Sangha, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say:
‘Venerables, I’ve been insane and suffering from psychosis. Because of that, I did and said many things unworthy of a monastic. The monks accused me of an offense, saying, “Venerable, do you remember committing such-and-such an offense?” I replied, “I was insane and suffering from psychosis. Because of that, I did and said many things unworthy of a monastic. I don’t remember it. I did it because I was insane.” But they kept on accusing me in the same way. Because I’m now sane, I ask the Sangha for resolution because of past insanity.’ And he should ask a second and a third time.
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk so-and-so has been insane and suffering from psychosis. Because of that insanity and psychosis, he did and said many things unworthy of a monastic.
“Này các tỳ khưu, việc tranh tụng này được gọi là đã được dập tắt. Được dập tắt bằng cách nào? Bằng Sammukhāvinaya và bằng Amūḷhavinaya. Trong đó, Sammukhāvinaya là gì? Là sự hiện diện của Tăng chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của cá nhân... Trong đó, Amūḷhavinaya là gì? Sự thực hiện, cách thức tiến hành, sự tiếp cận, sự đối diện, sự chấp nhận, sự không phản đối đối với nghiệp sự Amūḷhavinaya – đây là Amūḷhavinaya trong trường hợp đó. Này các tỳ khưu, nếu người thực hiện lật lại vụ tranh tụng đã được dập tắt như vậy, thì phạm tội pācittiya về việc lật lại; nếu người đã cho sự đồng thuận chê bai, thì phạm tội pācittiya về việc chê bai.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu ummattako ahosi cittavipariyāsakato. Tena ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Taṁ bhikkhū ummattakena cittavipariyāsakatena ajjhāciṇṇena āpattiyā codenti—“saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā”ti. So evaṁ vadeti—“ahaṁ kho, āvuso, ummattako ahosiṁ cittavipariyāsakato. Tena me ummattakena cittavipariyāsakatena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Nāhaṁ taṁ sarāmi. Mūḷhena me etaṁ katan”ti. Evampi naṁ vuccamānā codenteva—“saratāyasmā evarūpiṁ āpattiṁ āpajjitā”ti. So amūḷho saṅghaṁ amūḷhavinayaṁ yācati. Saṅgho itthannāmassa bhikkhuno amūḷhassa amūḷhavinayaṁ deti. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno amūḷhassa amūḷhavinayassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk so-and-so has been insane and suffering from psychosis. Because of that, he did and said many things unworthy of a monastic. The monks accused him of an offense, saying, “Venerable, do you remember committing such-and-such an offense?” He replied, “I was insane and suffering from psychosis. Because of that, I did and said many things unworthy of a monastic. I don’t remember it. I did it because I was insane.” But they kept on accusing him in the same way. Because he is now sane, he is asking the Sangha for resolution because of past insanity. The Sangha grants monk so-and-so resolution because of past insanity. Any monk who approves of granting monk so-and-so resolution because of past insanity should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
197. ‘Bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy lắng nghe con. Tỳ khưu Gagga này đã bị điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn. Vị ấy, trong lúc điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn, đã thường xuyên có nhiều hành vi không phải của sa-môn, đã nói và đã làm. Các tỳ khưu đã chất vấn tỳ khưu Gagga về tội đã vi phạm trong lúc điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn rằng: ‘Thưa ngài, mong ngài hãy nhớ lại là ngài đã phạm tội như thế này.’ Vị ấy nói như vầy: ‘Thưa các hiền hữu, thật vậy, tôi đã bị điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn. Do tôi bị điên cuồng, tâm trí bị đảo lộn nên đã thường xuyên có nhiều hành vi không phải của sa-môn, đã nói và đã làm. Tôi không nhớ lại việc ấy, việc ấy đã được tôi thực hiện trong lúc mê muội.’ Dầu được nói như thế, các vị ấy vẫn cứ chất vấn rằng: ‘Thưa ngài, mong ngài hãy nhớ lại là ngài đã phạm tội như thế này.’ Vị ấy, người đã mê muội, xin Tăng chúng pháp hành xử về sự mê muội. Nếu Tăng chúng xét thấy đúng thời, Tăng chúng hãy ban cho tỳ khưu Gagga, người đã mê muội, pháp hành xử về sự mê muội. Đây là lời tuyên cáo.’
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
Dinno saṅghena itthannāmassa bhikkhuno amūḷhassa amūḷhavinayo.
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
Because he is now sane, the Sangha has granted monk so-and-so resolution because of past insanity.
“Lần thứ nhì, tôi cũng xin nói lên điều này … Lần thứ ba, tôi cũng xin nói lên điều này …”
Idaṁ vuccati, bhikkhave, adhikaraṇaṁ vūpasantaṁ. Kena vūpasantaṁ? Sammukhāvinayena ca, amūḷhavinayena ca. Kiñca tattha sammukhāvinayasmiṁ? Saṅghasammukhatā, dhammasammukhatā, vinayasammukhatā, puggalasammukhatā …pe… kiñca tattha amūḷhavinayasmiṁ? Yā amūḷhavinayassa kammassa kiriyā karaṇaṁ upagamanaṁ ajjhupagamanaṁ adhivāsanā appaṭikkosanā—idaṁ tattha amūḷhavinayasmiṁ. Evaṁ vūpasantañce, bhikkhave, adhikaraṇaṁ kārako ukkoṭeti, ukkoṭanakaṁ pācittiyaṁ; chandadāyako khīyati, khīyanakaṁ pācittiyaṁ.
9.7. Tassapāpiyasikāvinaya
Siyā anuvādādhikaraṇaṁ dve samathe anāgamma—
This is called the resolution of a legal issue. It’s been resolved by resolution face-to-face and by resolution because of past insanity. Face-to-face with what? Face-to-face with the Sangha, the Teaching, the Monastic Law, and the persons concerned. This is the meaning of face-to-face with the Sangha: the monks who should be present have arrived, consent has been brought for those who are eligible to give their consent, and no-one present objects to the decision. This is the meaning of face-to-face with the Teaching and the Monastic Law: the Teaching, the Monastic Law, the Teacher’s instruction—that by which that legal issue is resolved. This is the meaning of face-to-face with the persons concerned: both those who are accusing and those who have been accused are present. This is the meaning of resolution because of past insanity: the doing of, the performing of, the participation in, the consent to, the agreement to, the non-objection to that legal procedure of resolution because of past insanity. When a legal issue has been resolved like this, if any of the participants reopen it, they commit an offense entailing confession for the reopening. If anyone who gave their consent criticizes the resolution, they commit an offense entailing confession.”
Resolution by further penalty
“Is it possible that a legal issue arising from an accusation should be settled
“Pháp luật về sự mê muội đã được Tăng chúng ban cho tỳ khưu Gagga, người bị mê muội. Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng, tôi xin ghi nhận việc này là như vậy.”
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
A competent and capable monk should inform the Sangha:
238. “Có thể có trường hợp một vụ tố tụng được dập tắt bằng hai phương pháp dập tắt – là Sammukhāvinaya và Tassapāpiyasikā – mà không cần đến hai phương pháp dập tắt là Sativinaya và Amūḷhavinaya chăng? Nên trả lời rằng: 'Có thể có.' Giống như thế nào? Này các tỳ khưu, ở đây, một tỳ khưu tố cáo một tỳ khưu khác giữa Tăng chúng về một tội nặng rằng: ‘Xin Đại đức hãy nhớ lại rằng ngài đã phạm một tội nặng như thế này, là tội pārājika hoặc tội gần với pārājika.’ Vị ấy nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, tôi không nhớ đã phạm một tội nặng như thế này, là tội pārājika hoặc tội gần với pārājika.’ Vị kia gặng hỏi vị này đang chối cãi rằng: ‘Này Đại đức, xin ngài hãy biết cho rõ, nếu ngài nhớ đã phạm một tội nặng như thế này, là tội pārājika hoặc tội gần với pārājika.’ Vị ấy nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, tôi không nhớ đã phạm một tội nặng như thế này, là tội pārājika hoặc tội gần với pārājika. Nhưng thưa hiền giả, tôi có nhớ đã phạm một tội nhỏ như thế này.’ Vị kia gặng hỏi vị này đang chối cãi rằng: ‘Này Đại đức, xin ngài hãy biết cho rõ, nếu ngài nhớ đã phạm một tội nặng như thế này, là tội pārājika hoặc tội gần với pārājika.’ Vị ấy nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, khi phạm một tội nhỏ tên là... này, dù không được hỏi tôi cũng sẽ thú nhận. Huống chi khi phạm một tội nặng như thế này, là tội pārājika hoặc tội gần với pārājika, được hỏi rồi sao tôi lại không thú nhận?’ Vị kia nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, khi phạm một tội nhỏ tên là... này, dù không được hỏi ngài cũng sẽ không thú nhận. Huống chi khi phạm một tội nặng như thế này, là tội pārājika hoặc tội gần với pārājika, không được hỏi sao ngài lại thú nhận? Này Đại đức, xin ngài hãy biết cho rõ, nếu ngài nhớ đã phạm một tội nặng như thế này, là tội pārājika hoặc tội gần với pārājika.’ Vị ấy nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, tôi có nhớ đã phạm một tội nặng như thế này, là tội pārājika hoặc tội gần với pārājika. Tôi đã nói điều đó do đùa giỡn, tôi đã nói điều đó do lỡ lời. Tôi không nhớ đã phạm tội nặng như thế này, là tội pārājika hoặc tội gần với pārājika.’ Này các tỳ khưu, nghiệp sự Tassapāpiyasikā nên được thực hiện đối với vị tỳ khưu ấy. Và này các tỳ khưu, nên thực hiện như thế này: Một tỳ khưu có năng lực, có khả năng nên tuyên cáo cho Tăng chúng biết:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu saṅghamajjhe garukāya āpattiyā anuyuñjiyamāno avajānitvā paṭijānāti, paṭijānitvā avajānāti, aññenāññaṁ paṭicarati, sampajānamusā bhāsati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmassa bhikkhuno tassapāpiyasikākammaṁ kareyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk so-and-so, while being examined in the midst of the Sangha about a heavy offense, asserts things after denying them, denies things after asserting them, evades the issue, and lies. If the Sangha is ready, it should do a legal procedure of further penalty against monk so-and-so. This is the motion.
“Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe con. Vị tỳ khưu tên là... này, khi bị thẩm vấn giữa Tăng chúng về một tội nặng, đã chối rồi lại nhận, đã nhận rồi lại chối, dùng chuyện khác để che đậy chuyện khác, cố ý nói dối. Nếu Tăng chúng thấy đã đến lúc thích hợp, Tăng chúng hãy thực hiện nghiệp sự Tassapāpiyasikā đối với tỳ khưu tên là... Đây là lời tuyên cáo.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu saṅghamajjhe garukāya āpattiyā anuyuñjiyamāno avajānitvā paṭijānāti, paṭijānitvā avajānāti, aññenāññaṁ paṭicarati, sampajānamusā bhāsati. Saṅgho itthannāmassa bhikkhuno tassapāpiyasikākammaṁ karoti. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno tassapāpiyasikākammassa karaṇaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk so-and-so, while being examined in the midst of the Sangha about a heavy offense, asserts things after denying them, denies things after asserting them, evades the issue, and lies. The Sangha does a legal procedure of further penalty against monk so-and-so. Any monk who approves of doing a legal procedure of further penalty against monk so-and-so should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng xin hãy lắng nghe lời của tôi. Vị tỳ khưu tên là... này, giữa Tăng chúng, khi bị chất vấn về tội nặng, sau khi chối thì lại thừa nhận, sau khi thừa nhận thì lại chối, dùng chuyện khác để che đậy chuyện khác, cố ý nói dối. Tăng chúng thực hiện yết ma Tassapāpiyasikā đối với vị tỳ khưu tên là... Vị trưởng lão nào chấp thuận việc thực hiện yết ma Tassapāpiyasikā đối với vị tỳ khưu tên là..., vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.”
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
“Lần thứ nhì tôi cũng nói lên điều này... (lặp lại)... Lần thứ ba tôi cũng nói lên điều này... (lặp lại)...”
Kataṁ saṅghena itthannāmassa bhikkhuno tassapāpiyasikākammaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
The Sangha has done a legal procedure of further penalty against monk so-and-so. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
“Tăng chúng đã thực hiện yết ma Tassapāpiyasikā đối với vị tỳ khưu tên là... Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận việc này là như vậy.”
Idaṁ vuccati, bhikkhave, adhikaraṇaṁ vūpasantaṁ. Kena vūpasantaṁ? Sammukhāvinayena ca, tassapāpiyasikāya ca. Kiñca tattha sammukhāvinayasmiṁ? Saṅghasammukhatā, dhammasammukhatā, vinayasammukhatā …pe… kā ca tattha tassapāpiyasikāya? Yā tassapāpiyasikākammassa kiriyā karaṇaṁ upagamanaṁ ajjhupagamanaṁ adhivāsanā appaṭikkosanā—ayaṁ tattha tassapāpiyasikāya. Evaṁ vūpasantañce, bhikkhave, adhikaraṇaṁ kārako ukkoṭeti, ukkoṭanakaṁ pācittiyaṁ; chandadāyako khīyati, khīyanakaṁ pācittiyaṁ.
This is called the resolution of a legal issue. It’s been resolved face-to-face and by further penalty. Face-to-face with what? Face-to-face with the Sangha, the Teaching, the Monastic Law, and the persons concerned. This is the meaning of face-to-face with the Sangha: the monks who should be present have arrived, consent has been brought for those who are eligible to give their consent, and no-one present objects to the decision. This is the meaning of face-to-face with the Teaching and the Monastic Law: the Teaching, the Monastic Law, the Teacher’s instruction—that by which that legal issue is resolved. This is the meaning of face-to-face with the persons concerned: both those who are accusing and those who have been accused are present. This is the meaning of by further penalty: the doing of, the performing of, the participation in, the consent to, the agreement to, the non-objection to that legal procedure of further penalty. When a legal issue has been resolved like this, if any of the participants reopen it, they commit an offense entailing confession for the reopening. If anyone who gave their consent criticizes the resolution, they commit an offense entailing confession.”
“Này các tỳ khưu, việc tranh tụng này được gọi là đã được dàn xếp. Được dàn xếp bằng cách nào? Bằng Sammukhāvinaya và bằng Tassapāpiyasikā. Trong đó, Sammukhāvinaya là gì? Là sự hiện diện của Tăng chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật... (v.v.)... Trong đó, Tassapāpiyasikā là gì? Việc thực hiện, cách thức thực hiện, sự tiếp cận, sự đối diện, sự chấp nhận, sự không phản đối đối với yết ma Tassapāpiyasikā – đây là Tassapāpiyasikā trong trường hợp ấy. Này các tỳ khưu, nếu việc tranh tụng đã được dàn xếp như vậy mà người thực hiện lại lật lại thì phạm tội pācittiya về việc lật lại; người cho sự đồng thuận lại khiển trách thì phạm tội pācittiya về việc khiển trách.”
9.8. Paṭiññātakaraṇa
Acting according to what has been admitted
Thực hiện theo sự thừa nhận
Āpattādhikaraṇaṁ katihi samathehi sammati? Āpattādhikaraṇaṁ tīhi samathehi sammati—sammukhāvinayena ca, paṭiññātakaraṇena ca, tiṇavatthārakena ca. Siyā āpattādhikaraṇaṁ ekaṁ samathaṁ anāgamma—tiṇavatthārakaṁ, dvīhi samathehi sammeyya—sammukhāvinayena ca, paṭiññātakaraṇena cāti? Siyātissa vacanīyaṁ. Yathā kathaṁ viya? Idha pana, bhikkhave, bhikkhu lahukaṁ āpattiṁ āpanno hoti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā ekaṁ bhikkhuṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—
‘ahaṁ, āvuso, itthannāmaṁ āpattiṁ āpanno; taṁ paṭidesemī’ti. Tena vattabbo—‘passasī’ti? ‘Āma passāmī’ti. ‘Āyatiṁ saṁvareyyāsī’ti.
“There are three principles for settling a legal issue arising from an offense: resolution face-to-face, acting according to what’s been admitted, and covering over as if with grass. Is it possible that a legal issue arising from an accusation should be settled not by covering over as if with grass, but by resolution face-to-face and by acting according to what’s been admitted? It is. How? It may be that a monk has committed a light offense. That monk should approach a single monk, arrange his upper robe over one shoulder, squat on his heels, raise his joined palms, and say:
‘I’ve committed such-and-such an offense. I confess it.’ —‘Do you recognize it?’ —‘Yes, I recognize it.’ —‘You should restrain yourself in the future.’
239. “Việc tranh tụng về tội được dàn xếp bằng bao nhiêu cách dàn xếp? Việc tranh tụng về tội được dàn xếp bằng ba cách dàn xếp: Sammukhāvinaya, Paṭiññātakaraṇa, và Tiṇavatthāraka. Có thể nào việc tranh tụng về tội không cần đến một cách dàn xếp là Tiṇavatthāraka mà được dàn xếp bằng hai cách dàn xếp là Sammukhāvinaya và Paṭiññātakaraṇa không? Nên nói là: ‘Có thể.’ Giống như thế nào? Này các tỳ khưu, ở đây, có vị tỳ khưu phạm tội nhẹ. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đến gặp một vị tỳ khưu, đắp y thượng sang một bên vai, ngồi xổm, chắp tay, và nên nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, tôi đã phạm tội tên là...; tôi xin sám hối tội ấy.’ Vị kia nên nói: ‘Hiền giả có thấy không?’ (Vị này đáp): ‘Vâng, tôi thấy.’ (Vị kia nói): ‘Về sau, hiền giả hãy thu thúc.’”
Idaṁ vuccati, bhikkhave, adhikaraṇaṁ vūpasantaṁ. Kena vūpasantaṁ? Sammukhāvinayena ca, paṭiññātakaraṇena ca. Kiñca tattha sammukhāvinayasmiṁ? Dhammasammukhatā, vinayasammukhatā, puggalasammukhatā …pe… kā ca tattha puggalasammukhatā? Yo ca deseti, yassa ca deseti, ubho sammukhībhūtā honti—ayaṁ tattha puggalasammukhatā. Kiñca tattha paṭiññātakaraṇasmiṁ? Yā paṭiññātakaraṇassa kammassa kiriyā karaṇaṁ upagamanaṁ ajjhupagamanaṁ adhivāsanā appaṭikkosanā—idaṁ tattha paṭiññātakaraṇasmiṁ. Evaṁ vūpasantañce, bhikkhave, adhikaraṇaṁ paṭiggāhako ukkoṭeti, ukkoṭanakaṁ pācittiyaṁ.
Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ. No ce labhetha, tena, bhikkhave, bhikkhunā sambahule bhikkhū upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vuḍḍhānaṁ bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassu vacanīyā—‘ahaṁ, bhante, itthannāmaṁ āpattiṁ āpanno; taṁ paṭidesemī’ti. Byattena bhikkhunā paṭibalena te bhikkhū ñāpetabbā—
This is called the resolution of a legal issue. It’s been resolved face-to-face and by acting according to what’s been admitted. Face-to-face with what? Face-to-face with the Teaching, the Monastic Law, and the persons concerned. This is the meaning of face-to-face with the Teaching and the Monastic Law: the Teaching, the Monastic Law, the Teacher’s instruction—that by which that legal issue is resolved. This is the meaning of face-to-face with the persons concerned: both the one who confesses and the one he confesses to are present. This is the meaning of acting according to what’s been admitted: the doing of, the performing of, the participation in, the consent to, the agreement to, the non-objection to that legal procedure of acting according to what’s been admitted. When a legal issue has been resolved like this, if the receiver of the confession reopens it, he commits an offense entailing confession for the reopening.
If this is what happens, all’s well. If not, that monk should approach several monks, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say, ‘Venerables, I’ve committed such-and-such an offense. I confess it.’ A competent and capable monk should then inform those monks:
“Này các tỳ khưu, việc tranh tụng này được gọi là đã được dàn xếp. Được dàn xếp bằng cách nào? Bằng Sammukhāvinaya và bằng Paṭiññātakaraṇa. Trong đó, Sammukhāvinaya là gì? Là sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của cá nhân... (v.v.)... Trong đó, sự hiện diện của cá nhân là gì? Người sám hối và người mà vị ấy sám hối, cả hai đều có mặt – đây là sự hiện diện của cá nhân trong trường hợp ấy. Trong đó, Paṭiññātakaraṇa là gì? Việc thực hiện, cách thức thực hiện, sự tiếp cận, sự đối diện, sự chấp nhận, sự không phản đối đối với yết ma Paṭiññātakaraṇa – đây là Paṭiññātakaraṇa trong trường hợp ấy. Này các tỳ khưu, nếu việc tranh tụng đã được dàn xếp như vậy mà người nhận sự sám hối lại lật lại thì phạm tội pācittiya về việc lật lại. Nếu được như vậy thì tốt. Nếu không được, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đến gặp nhiều vị tỳ khưu, đắp y thượng sang một bên vai, đảnh lễ chân các vị tỳ khưu trưởng lão, ngồi xổm, chắp tay, và nên nói như vầy: ‘Kính bạch chư Tôn đức, con đã phạm tội tên là...; con xin sám hối tội ấy.’ Một vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho các vị tỳ khưu ấy biết:”
‘Suṇantu me āyasmantā. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu āpattiṁ sarati, vivarati, uttāniṁ karoti deseti. Yadāyasmantānaṁ pattakallaṁ, ahaṁ itthannāmassa bhikkhuno āpattiṁ paṭiggaṇheyyan’ti. Tena vattabbo—
‘passasī’ti? ‘Āma passāmī’ti. ‘Āyatiṁ saṁvareyyāsī’ti.
‘Please, venerables, I ask you to listen. The monk so-and-so remembers an offense—he reveals it, makes it plain, and confesses it. If the venerables are ready, I will receive the confession of monk so-and-so.’ And he should say:
‘Do you recognize it?’ —‘Yes, I recognize it.’ —‘You should restrain yourself in the future.’
“Kính thưa quý trưởng lão, xin hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên là... này nhớ lại tội, bộc lộ, làm cho rõ ràng, và sám hối. Nếu đây là thời điểm thích hợp cho quý trưởng lão, tôi sẽ nhận sự sám hối tội của vị tỳ khưu tên là... Vị kia nên nói: ‘Hiền giả có thấy không?’ (Vị này đáp): ‘Vâng, tôi thấy.’ (Vị kia nói): ‘Về sau, hiền giả hãy thu thúc.’”
Idaṁ vuccati, bhikkhave, adhikaraṇaṁ vūpasantaṁ. Kena vūpasantaṁ? Sammukhāvinayena ca, paṭiññātakaraṇena ca. Kiñca tattha sammukhāvinayasmiṁ? Dhammasammukhatā, vinayasammukhatā, puggalasammukhatā …pe… kā ca tattha puggalasammukhatā? Yo ca deseti, yassa ca deseti, ubho sammukhībhūtā honti—ayaṁ tattha puggalasammukhatā. Kiñca tattha paṭiññātakaraṇasmiṁ? Yā paṭiññātakaraṇassa kammassa kiriyā karaṇaṁ upagamanaṁ ajjhupagamanaṁ adhivāsanā appaṭikkosanā—idaṁ tattha paṭiññātakaraṇasmiṁ. Evaṁ vūpasantañce, bhikkhave, adhikaraṇaṁ paṭiggāhako ukkoṭeti, ukkoṭanakaṁ pācittiyaṁ.
Evañcetaṁ labhetha, iccetaṁ kusalaṁ. No ce labhetha, tena, bhikkhave, bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vuḍḍhānaṁ bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘ahaṁ, bhante, itthannāmaṁ āpattiṁ āpanno; taṁ paṭidesemī’ti. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
This is called the resolution of a legal issue. It’s been resolved face-to-face and by acting according to what’s been admitted. Face-to-face with what? Face-to-face with the Teaching, the Monastic Law, and the persons concerned. This is the meaning of face-to-face with the Teaching and the Monastic Law: the Teaching, the Monastic Law, the Teacher’s instruction—that by which that legal issue is resolved. This is the meaning of face-to-face with the persons concerned: both the one who confesses and the one he confesses to are present. This is the meaning of acting according to what’s been admitted: the doing of, the performing of, the participation in, the consent to, the agreement to, the non-objection to that legal procedure of acting according to what’s been admitted. When a legal issue has been resolved like this, if the receiver of the confession reopens it, he commits an offense entailing confession for the reopening.
If this is what happens, all’s well. If not, that monk should approach the Sangha, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say, ‘Venerables, I’ve committed such-and-such an offense. I confess it.’ A competent and capable monk should then inform the Sangha:
“Này các tỳ khưu, việc tranh tụng này được gọi là đã được dàn xếp. Được dàn xếp bằng cách nào? Bằng Sammukhāvinaya và bằng Paṭiññātakaraṇa. Trong đó, Sammukhāvinaya là gì? Là sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của cá nhân... (v.v.)... Trong đó, sự hiện diện của cá nhân là gì? Người sám hối và người mà vị ấy sám hối, cả hai đều có mặt – đây là sự hiện diện của cá nhân trong trường hợp ấy. Trong đó, Paṭiññātakaraṇa là gì? Việc thực hiện, cách thức thực hiện, sự tiếp cận, sự đối diện, sự chấp nhận, sự không phản đối đối với yết ma Paṭiññātakaraṇa – đây là Paṭiññātakaraṇa trong trường hợp ấy. Này các tỳ khưu, nếu việc tranh tụng đã được dàn xếp như vậy mà người nhận sự sám hối lại lật lại thì phạm tội pācittiya về việc lật lại. Nếu được như vậy thì tốt. Nếu không được, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đến gặp Tăng chúng, đắp y thượng sang một bên vai, đảnh lễ chân các vị tỳ khưu trưởng lão, ngồi xổm, chắp tay, và nên nói như vầy: ‘Kính bạch chư Tôn đức, con đã phạm tội tên là...; con xin sám hối tội ấy.’ Một vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết:”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu āpattiṁ sarati, vivarati, uttāniṁ karoti, deseti. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ itthannāmassa bhikkhuno āpattiṁ paṭiggaṇheyyan’ti. Tena vattabbo—
‘passasī’ti? ‘Āma passāmī’ti. ‘Āyatiṁ saṁvareyyāsī’ti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk so-and-so remembers an offense—he reveals it, makes it plain, and confesses it. If the Sangha is ready, I will receive the confession of monk so-and-so.’ And he should say:
‘Do you recognize it?’ —‘Yes, I recognize it.’ —‘You should restrain yourself in the future.’
“Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe con. Vị tỳ khưu tên là ... này nhớ lại tội, phơi bày, làm cho rõ ràng, và xin sám hối. Nếu thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng, con xin nhận tội của vị tỳ khưu tên là ... này. Vị ấy nên được hỏi rằng: ‘Thầy có thấy không?’ (Vị kia đáp:) ‘Vâng, tôi thấy.’ (Vị nhận tội nói:) ‘Về sau, thầy nên thu thúc.’”
Idaṁ vuccati, bhikkhave, adhikaraṇaṁ vūpasantaṁ. Kena vūpasantaṁ? Sammukhāvinayena ca, paṭiññātakaraṇena ca. Kiñca tattha sammukhāvinayasmiṁ? Saṅghasammukhatā, dhammasammukhatā, vinayasammukhatā, puggalasammukhatā …pe… evaṁ vūpasantañce, bhikkhave, adhikaraṇaṁ paṭiggāhako ukkoṭeti, ukkoṭanakaṁ pācittiyaṁ; chandadāyako khīyati, khīyanakaṁ pācittiyaṁ.
This is called the resolution of a legal issue. It’s been resolved face-to-face and by acting according to what’s been admitted. Face-to-face with what? Face-to-face with the Sangha, the Teaching, the Monastic Law, and the persons concerned. This is the meaning of face-to-face with the Sangha: the monks who should be present have arrived, consent has been brought for those who are eligible to give their consent, and no-one present objects to the decision. This is the meaning of face-to-face with the Teaching and the Monastic Law: the Teaching, the Monastic Law, the Teacher’s instruction—that by which that legal issue is resolved. This is the meaning of face-to-face with the persons concerned: both the one who confesses and the one he confesses to are present. This is the meaning of acting according to what’s been admitted: the doing of, the performing of, the participation in, the consent to, the agreement to, the non-objection to that legal procedure of acting according to what’s been admitted. When a legal issue has been resolved like this, if the receiver of the confession reopens it, he commits an offense entailing confession for the reopening. If anyone who gave their consent criticizes the resolution, they commit an offense entailing confession.”
“Này các tỳ khưu, việc tranh tụng này được gọi là đã được dập tắt. Được dập tắt bằng cách nào? Bằng Sammukhāvinaya (dàn xếp tại phiên họp hợp lệ) và Paṭiññātakaraṇa (dàn xếp theo sự thú nhận). Và trong đó, Sammukhāvinaya là gì? Là sự hiện diện của Tăng chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của cá nhân... vân vân... Này các tỳ khưu, nếu việc tranh tụng đã được dập tắt như vậy mà vị nhận tội lại khơi dậy, vị ấy phạm tội pācittiya về việc khơi dậy; nếu vị đã trao sự ưng thuận mà lại chê bai, vị ấy phạm tội pācittiya về việc chê bai.”
9.9. Tiṇavatthāraka
Covering over as if with grass
Tiṇavatthāraka (Dàn xếp bằng cách lấy cỏ che lấp)
Siyā āpattādhikaraṇaṁ ekaṁ samathaṁ anāgamma—paṭiññātakaraṇaṁ, dvīhi samathehi sammeyya—sammukhāvinayena ca, tiṇavatthārakena cāti? Siyātissa vacanīyaṁ. Yathā kathaṁ viya?
Idha pana, bhikkhave, bhikkhūnaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ hoti bhāsitaparikkantaṁ. Tatra ce bhikkhūnaṁ evaṁ hoti—‘amhākaṁ kho bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Sace mayaṁ imāhi āpattīhi aññamaññaṁ kāressāma, siyāpi taṁ adhikaraṇaṁ kakkhaḷattāya vāḷattāya bhedāya saṁvatteyyā’ti. Anujānāmi, bhikkhave, evarūpaṁ adhikaraṇaṁ tiṇavatthārakena vūpasametuṁ.
Evañca pana, bhikkhave, vūpasametabbaṁ. Sabbeheva ekajjhaṁ sannipatitabbaṁ, sannipatitvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
“Is it possible that a legal issue arising from an offense should be settled not by acting according to what’s been admitted, but by resolution face-to-face and by covering over as if with grass? It is. How?
It may be that monks who are arguing and disputing do and say many things unworthy of monastics. If they consider this and think, ‘If we deal with one another for these offenses, this legal issue might lead to harshness, nastiness, and schism,’ then I allow you to resolve that legal issue by covering over as if with grass.
And it should be resolved like this. Everyone should gather in one place. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
240. “Có thể có trường hợp một việc tranh tụng về tội không được giải quyết bằng một phương pháp dàn xếp – là Paṭiññātakaraṇa – mà được dàn xếp bằng hai phương pháp: Sammukhāvinaya và Tiṇavatthāraka không? Nên trả lời rằng: ‘Có thể.’ Như thế nào? Này các tỳ khưu, ở đây, trong khi các tỳ khưu đang sống trong sự cãi vã, tranh chấp, bất hòa, nhiều hành vi không xứng với sa-môn, cả lời nói và việc làm, đã được thực hiện. Khi ấy, nếu các tỳ khưu có suy nghĩ như sau: ‘Trong khi chúng ta đang sống trong sự cãi vã, tranh chấp, bất hòa, nhiều hành vi không xứng với sa-môn, cả lời nói và việc làm, đã được thực hiện. Nếu chúng ta xử lý lẫn nhau về những tội này, việc tranh tụng ấy có thể dẫn đến sự cứng rắn, thô bạo, và chia rẽ.’ Này các tỳ khưu, Ta cho phép dập tắt một việc tranh tụng như vậy bằng phương pháp Tiṇavatthāraka. Và này các tỳ khưu, việc dập tắt nên được thực hiện như sau: Tất cả nên tụ họp lại một nơi. Sau khi đã tụ họp, một vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình Tăng chúng biết rằng:”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Amhākaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Sace mayaṁ imāhi āpattīhi aññamaññaṁ kāressāma, siyāpi taṁ adhikaraṇaṁ kakkhaḷattāya vāḷattāya bhedāya saṁvatteyya. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho imaṁ adhikaraṇaṁ tiṇavatthārakena vūpasameyya, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttanti.
Ekatopakkhikānaṁ bhikkhūnaṁ byattena bhikkhunā paṭibalena sako pakkho ñāpetabbo—
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. While we were arguing and disputing, we did and said many things unworthy of monastics. If we deal with one another for these offenses, this legal issue might lead to harshness, nastiness, and schism. If the Sangha is ready, it should resolve this legal issue by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders.’
The monks belonging to one side should then be informed by a competent and capable monk belonging to their own side:
“‘Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe con. Trong khi chúng con đang sống trong sự cãi vã, tranh chấp, bất hòa, nhiều hành vi không xứng với sa-môn, cả lời nói và việc làm, đã được thực hiện. Nếu chúng con xử lý lẫn nhau về những tội này, việc tranh tụng ấy có thể dẫn đến sự cứng rắn, thô bạo, và chia rẽ. Nếu thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng, mong Tăng chúng hãy dập tắt việc tranh tụng này bằng phương pháp Tiṇavatthāraka, ngoại trừ các tội trọng, ngoại trừ các tội liên quan đến hàng tại gia.’ “Trong số các tỳ khưu của một phe, một vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho phe của mình biết rằng:”
Suṇantu me āyasmantā. Amhākaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Sace mayaṁ imāhi āpattīhi aññamaññaṁ kāressāma, siyāpi taṁ adhikaraṇaṁ kakkhaḷattāya vāḷattāya bhedāya saṁvatteyya. Yadāyasmantānaṁ pattakallaṁ, ahaṁ yā ceva āyasmantānaṁ āpatti, yā ca attano āpatti, āyasmantānañceva atthāya, attano ca atthāya, saṅghamajjhe tiṇavatthārakena deseyyaṁ, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttan’ti.
‘Please, venerables, I ask you to listen. While we were arguing and disputing, we did and said many things unworthy of monastics. If we deal with one another for these offenses, this legal issue might lead to harshness, nastiness, and schism. If the venerables are ready, then, for your benefit and for my own, I will confess in the midst of the Sangha both your and my own offenses by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders.’
“‘Kính thưa chư Hiền, xin quý vị hãy lắng nghe tôi. Trong khi chúng ta đang sống trong sự cãi vã, tranh chấp, bất hòa, nhiều hành vi không xứng với sa-môn, cả lời nói và việc làm, đã được thực hiện. Nếu chúng ta xử lý lẫn nhau về những tội này, việc tranh tụng ấy có thể dẫn đến sự cứng rắn, thô bạo, và chia rẽ. Nếu thời điểm thích hợp đối với chư Hiền, tôi, vì lợi ích của chư Hiền và vì lợi ích của chính tôi, sẽ sám hối giữa Tăng chúng bằng phương pháp Tiṇavatthāraka về bất cứ tội nào của chư Hiền và bất cứ tội nào của chính tôi, ngoại trừ các tội trọng, ngoại trừ các tội liên quan đến hàng tại gia.’”
Athāparesaṁ ekatopakkhikānaṁ bhikkhūnaṁ byattena bhikkhunā paṭibalena sako pakkho ñāpetabbo—
And the monks belonging to the other side should be informed by a competent and capable monk belonging to their own side:
241. “Sau đó, trong số các tỳ khưu của phe kia, một vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho phe của mình biết rằng:”
‘Suṇantu me āyasmantā. Amhākaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Sace mayaṁ imāhi āpattīhi aññamaññaṁ kāressāma, siyāpi taṁ adhikaraṇaṁ kakkhaḷattāya vāḷattāya bhedāya saṁvatteyya. Yadāyasmantānaṁ pattakallaṁ, ahaṁ yā ceva āyasmantānaṁ āpatti, yā ca attano āpatti, āyasmantānañceva atthāya, attano ca atthāya, saṅghamajjhe tiṇavatthārakena deseyyaṁ, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttan’ti.
‘Please, venerables, I ask you to listen. While we were arguing and disputing, we did and said many things unworthy of monastics. If we deal with one another for these offenses, this legal issue might lead to harshness, nastiness, and schism. If the venerables are ready, then, for your benefit and for my own, I will confess in the midst of the Sangha both your and my own offenses by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders.’
“‘Kính thưa chư Hiền, xin quý vị hãy lắng nghe tôi. Trong khi chúng ta đang sống trong sự cãi vã, tranh chấp, bất hòa, nhiều hành vi không xứng với sa-môn, cả lời nói và việc làm, đã được thực hiện. Nếu chúng ta xử lý lẫn nhau về những tội này, việc tranh tụng ấy có thể dẫn đến sự cứng rắn, thô bạo, và chia rẽ. Nếu thời điểm thích hợp đối với chư Hiền, tôi, vì lợi ích của chư Hiền và vì lợi ích của chính tôi, sẽ sám hối giữa Tăng chúng bằng phương pháp Tiṇavatthāraka về bất cứ tội nào của chư Hiền và bất cứ tội nào của chính tôi, ngoại trừ các tội trọng, ngoại trừ các tội liên quan đến hàng tại gia.’”
Athāparesaṁ ekatopakkhikānaṁ bhikkhūnaṁ byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
A competent and capable monk belonging to one side should then inform the Sangha:
242. “Sau đó, trong số các tỳ khưu của phe kia, một vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình Tăng chúng biết rằng:”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Amhākaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Sace mayaṁ imāhi āpattīhi aññamaññaṁ kāressāma, siyāpi taṁ adhikaraṇaṁ kakkhaḷattāya vāḷattāya bhedāya saṁvatteyya. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ yā ceva imesaṁ āyasmantānaṁ āpatti, yā ca attano āpatti, imesañceva āyasmantānaṁ atthāya, attano ca atthāya, saṅghamajjhe tiṇavatthārakena deseyyaṁ, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttaṁ. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. While we were arguing and disputing, we did and said many things unworthy of monastics. If we deal with one another for these offenses, this legal issue might lead to harshness, nastiness, and schism. If the Sangha is ready, then, for the benefit of these venerables and myself, I will confess in the midst of the Sangha both their and my own offenses by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders. This is the motion.
“‘Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe con. Trong khi chúng con đang sống trong sự cãi vã, tranh chấp, bất hòa, nhiều hành vi không xứng với sa-môn, cả lời nói và việc làm, đã được thực hiện. Nếu chúng con xử lý lẫn nhau về những tội này, việc tranh tụng ấy có thể dẫn đến sự cứng rắn, thô bạo, và chia rẽ. Nếu thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng, tôi, vì lợi ích của các vị Hiền này và vì lợi ích của chính tôi, sẽ sám hối giữa Tăng chúng bằng phương pháp Tiṇavatthāraka về bất cứ tội nào của các vị Hiền này và bất cứ tội nào của chính tôi, ngoại trừ các tội trọng, ngoại trừ các tội liên quan đến hàng tại gia. Đây là lời tác bạch.’”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Amhākaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ. Sace mayaṁ imāhi āpattīhi aññamaññaṁ kāressāma, siyāpi taṁ adhikaraṇaṁ kakkhaḷattāya vāḷattāya bhedāya saṁvatteyya. Ahaṁ yā ceva imesaṁ āyasmantānaṁ āpatti, yā ca attano āpatti, imesañceva āyasmantānaṁ atthāya, attano ca atthāya, saṅghamajjhe tiṇavatthārakena desemi, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttaṁ. Yassāyasmato khamati amhākaṁ imāsaṁ āpattīnaṁ saṅghamajjhe tiṇavatthārakena desanā, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. While we were arguing and disputing, we did and said many things unworthy of monastics. If we deal with one another for these offenses, this legal issue might lead to harshness, nastiness, and schism. For the benefit of these venerables and myself, I confess in the midst of the Sangha both their and my own offenses by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders. Any monk who approves of confessing our offenses in the midst of the Sangha by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Bạch chư Tôn đức, mong Tăng chúng lắng nghe con. Trong khi chúng con đang sống trong tình trạng tranh cãi, xung đột, bất hòa, nhiều điều không phải sa-môn hạnh đã được chúng con thường xuyên thực hành, đã được nói ra và vi phạm. Nếu chúng con xử lý lẫn nhau về các tội này, vụ tranh tụng ấy có thể dẫn đến sự cứng rắn, sự thô bạo, sự chia rẽ. Con xin sám hối giữa Tăng chúng bằng phương pháp Tiṇavatthāraka, vì lợi ích của các Tôn đức này và vì lợi ích của chính con, về các tội của các Tôn đức này và các tội của chính con, ngoại trừ tội trọng, ngoại trừ tội liên quan đến hàng tại gia. Vị Tôn đức nào chấp thuận việc chúng con sám hối các tội này giữa Tăng chúng bằng phương pháp Tiṇavatthāraka, ngoại trừ tội trọng, ngoại trừ tội liên quan đến hàng tại gia, vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói.”
Desitā amhākaṁ imā āpattiyo saṅghamajjhe tiṇavatthārakena, ṭhapetvā thullavajjaṁ, ṭhapetvā gihippaṭisaṁyuttaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
We have confessed our offenses in the midst of the Sangha by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
“Các tội này của chúng con đã được sám hối giữa Tăng chúng bằng phương pháp Tiṇavatthāraka, ngoại trừ tội trọng, ngoại trừ tội liên quan đến hàng tại gia. Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận điều này như vậy.”
Athāparesaṁ …pe…
evametaṁ dhārayāmī’ti.
A competent and capable monk belonging to the other side should inform the Sangha:
‘Please, Venerables, I ask the Sangha to listen. While we were arguing and disputing, we did and said many things unworthy of monastics. If we deal with one another for these offenses, this legal issue might lead to harshness, nastiness, and schism. If it seems appropriate to the Sangha, then for the benefit of these venerables and myself, I’ll confess in the midst of the Sangha both their and my own offenses by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders. This is the motion.
‘Please, Venerables, I ask the Sangha to listen. While we were arguing and disputing, we did and said many things unworthy of monastics. If we deal with one another for these offenses, this legal issue might lead to harshness, nastiness, and schism. For the benefit of these venerables and myself, I confess in the midst of the Sangha both their and my own offenses by covering over, as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders. Any monk who approves of confessing our offenses in the midst of the Sangha by covering over as if with grass should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
We have confessed our offenses in the midst of the Sangha by covering over as if with grass, except for heavy offenses and offenses connected with householders. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
“Sau đó, đối với những người khác… (v.v.)… Con xin ghi nhận điều này như vậy.”
Idaṁ vuccati, bhikkhave, adhikaraṇaṁ vūpasantaṁ. Kena vūpasantaṁ? Sammukhāvinayena ca, tiṇavatthārakena ca. Kiñca tattha sammukhāvinayasmiṁ? Saṅghasammukhatā, dhammasammukhatā, vinayasammukhatā, puggalasammukhatā.
This is called the resolution of a legal issue. It’s been resolved face-to-face and by covering over as if with grass. Face-to-face with what? Face-to-face with the Sangha, the Teaching, the Monastic Law, and the persons concerned.
“Này các tỳ khưu, đây được gọi là vụ tranh tụng đã được dàn xếp. Được dàn xếp bằng cách nào? Bằng Sammukhāvinaya và bằng Tiṇavatthāraka. Trong đó, Sammukhāvinaya là gì? Là sự hiện diện của Tăng chúng, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật, sự hiện diện của các cá nhân.”
Kā ca tattha saṅghasammukhatā? Yāvatikā bhikkhū kammappattā, te āgatā honti, chandārahānaṁ chando āhaṭo hoti, sammukhībhūtā na paṭikkosanti—ayaṁ tattha saṅghasammukhatā.
This is the meaning of face-to-face with the Sangha: the monks who should be present have arrived, consent has been brought for those who are eligible to give their consent, and no-one present objects to the decision.
“Trong đó, sự hiện diện của Tăng chúng là gì? Là khi các tỳ khưu đủ tư cách thực hiện yết-ma đều đã có mặt, sự ưng thuận của những vị đáng được ưng thuận đã được mang đến, và những vị có mặt không phản đối – đây là sự hiện diện của Tăng chúng.”
Kā ca tattha dhammasammukhatā, vinayasammukhatā? Yena dhammena yena vinayena yena satthusāsanena taṁ adhikaraṇaṁ vūpasammati—ayaṁ tattha dhammasammukhatā, vinayasammukhatā.
This is the meaning of face-to-face with the Teaching and the Monastic Law: the Teaching, the Monastic Law, the Teacher’s instruction—that by which that legal issue is resolved.
“Trong đó, sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật là gì? Là khi vụ tranh tụng được dàn xếp bằng Pháp nào, bằng Luật nào, bằng lời giáo huấn nào của bậc Đạo Sư – đây là sự hiện diện của Pháp, sự hiện diện của Luật.”
Kā ca tattha puggalasammukhatā? Yo ca deseti, yassa ca deseti, ubho sammukhībhūtā honti—ayaṁ tattha puggalasammukhatā.
This is the meaning of face-to-face with the persons concerned: both the one who confesses and the one he confesses to are present.
“Trong đó, sự hiện diện của các cá nhân là gì? Là khi cả người sám hối và người được sám hối đều có mặt – đây là sự hiện diện của các cá nhân.”
Kiñca tattha tiṇavatthārakasmiṁ? Yā tiṇavatthārakassa kammassa kiriyā karaṇaṁ upagamanaṁ ajjhupagamanaṁ adhivāsanā appaṭikkosanā—idaṁ tattha tiṇavatthārakasmiṁ. Evaṁ vūpasantañce, bhikkhave, adhikaraṇaṁ paṭiggāhako ukkoṭeti, ukkoṭanakaṁ pācittiyaṁ; chandadāyako khīyati, khīyanakaṁ pācittiyaṁ.
This is the meaning of covering over as if with grass: the doing of, the performing of, the participation in, the consent to, the agreement to, the non-objection to that legal procedure of covering over as if with grass. When a legal issue has been resolved like this, if a receiver of the confession reopens it, he commits an offense entailing confession for the reopening. If anyone who gave their consent criticizes the resolution, they commit an offense entailing confession.
“Trong đó, Tiṇavatthāraka là gì? Việc thực hiện, tiến hành, tiếp cận, đối diện, chấp nhận, không phản đối đối với yết-ma Tiṇavatthāraka – đây là Tiṇavatthāraka. Này các tỳ khưu, nếu một vụ tranh tụng đã được dàn xếp như vậy mà người nhận sự sám hối lại khơi dậy, phạm tội pācittiya về việc khơi dậy; nếu người trao sự ưng thuận lại chê bai, phạm tội pācittiya về việc chê bai.”
Kiccādhikaraṇaṁ katihi samathehi sammati? Kiccādhikaraṇaṁ ekena samathena sammati—sammukhāvinayenā”ti.
There’s one principle for settling a legal issue arising from business: by resolution face-to-face.”
“Kiccādhikaraṇa được dàn xếp bằng bao nhiêu phương pháp? Kiccādhikaraṇa được dàn xếp bằng một phương pháp – đó là Sammukhāvinaya.”
Samathakkhandhako niṭṭhito catuttho.
The fourth chapter on the settling of legal issues is finished.
Chương về các phương pháp dàn xếp, chương thứ tư, đã kết thúc.