- Theravāda Vinayapiṭaka
- Cūḷavagga
Bản dịch
Kd 13 — Chương tích lũy tội
13. Samuccayakkhandhaka
1. TỘI XUẤT TINH:
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu; vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
HÌNH PHẠT MĀNATTA CỦA TỘI KHÔNG CÓ CHE GIẤU:
Inda-bh 2~2—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đến tỳ khưu Udāyi. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy:
Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyi ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:
‘Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Bạch các ngài, lần thứ nhì tôi đây thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Bạch các ngài, lần thứ ba tôi đây thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu.’
Inda-bh 3~3Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đến tỳ khưu Udāyi. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đến tỳ khưu Udāyi. Đại đức nào đồng ý việc ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đến tỳ khưu Udāyi xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đến tỳ khưu Udāyi. Đại đức nào đồng ý việc ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đến tỳ khưu Udāyi xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đến tỳ khưu Udāyi. Đại đức nào đồng ý việc ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đến tỳ khưu Udāyi xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đã được hội chúng ban cho tỳ khưu Udāyi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Dứt hình phạt mānatta của tội không có che giấu.
VIỆC GIẢI TỘI CỦA TỘI KHÔNG CÓ CHE GIẤU:
Inda-bh 1~4Với hình phạt mānatta đã được hoàn tất, vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đến tôi đây. Tôi đây đã hoàn tất hình phạt mānatta, vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~5—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy giải tội cho tỳ khưu Udāyi. Và này các tỳ khưu, nên giải tội như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyi ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:
‘Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đến tôi đây. Bạch các ngài, tôi đây đã hoàn tất hình phạt mānatta, giờ thỉnh cầu hội chúng sự giải tội.
Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đến tôi đây. Bạch các ngài, tôi đây đã hoàn tất hình phạt mānatta, giờ thỉnh cầu hội chúng sự giải tội lần thứ nhì.
Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đến tôi đây. Bạch các ngài, tôi đây đã hoàn tất hình phạt mānatta, giờ thỉnh cầu hội chúng sự giải tội lần thứ ba.’
Inda-bh 3~6Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đến tỳ khưu Udāyi. Vị ấy đã hoàn tất hình phạt mānatta, giờ thỉnh cầu hội chúng sự giải tội. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên giải tội cho tỳ khưu Udāyi. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đến tỳ khưu Udāyi. Vị ấy đã hoàn tất hình phạt mānatta, giờ thỉnh cầu hội chúng sự giải tội. Hội chúng giải tội cho tỳ khưu Udāyi. Đại đức nào đồng ý sự giải tội cho tỳ khưu Udāyi xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đến tỳ khưu Udāyi. Vị ấy đã hoàn tất hình phạt mānatta, giờ thỉnh cầu hội chúng sự giải tội. Hội chúng giải tội cho tỳ khưu Udāyi. Đại đức nào đồng ý sự giải tội cho tỳ khưu Udāyi xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đến tỳ khưu Udāyi. Vị ấy đã hoàn tất hình phạt mānatta, giờ thỉnh cầu hội chúng sự giải tội. Hội chúng giải tội cho tỳ khưu Udāyi. Đại đức nào đồng ý sự giải tội cho tỳ khưu Udāyi xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tỳ khưu Udāyi đã được hội chúng giải tội. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Dứt việc giải tội của tội không có che giấu.
HÌNH PHẠT PARIVĀSA CỦA TỘI CHE GIẤU MỘT NGÀY:
Inda-bh 1~7Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày; vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~8—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy ban cho hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tỳ khưu Udāyi. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy:
Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyi ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày.’
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Inda-bh 3~9Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tỳ khưu Udāyi. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tỳ khưu Udāyi. Đại đức nào đồng ý việc ban cho hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tỳ khưu Udāyi xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đã được hội chúng ban cho tỳ khưu Udāyi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Dứt hình phạt parivāsa của tội che giấu một ngày.
HÌNH PHẠT MĀNATTA CỦA TỘI CHE GIẤU MỘT NGÀY:
Inda-bh 1~10Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tôi đây. Tôi đây đã hoàn thành hình phạt parivāsa, vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~11—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tỳ khưu Udāyi. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy:
Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyi ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tôi đây. Bạch các ngài, tôi đây đã hoàn thành hình phạt parivāsa, giờ thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày.’
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Inda-bh 3~12Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tỳ khưu Udāyi. Vị ấy đã hoàn thành hình phạt parivāsa, giờ thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tỳ khưu Udāyi. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tỳ khưu Udāyi. Vị ấy đã hoàn thành hình phạt parivāsa, giờ thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Hội chúng ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tỳ khưu Udāyi. Đại đức nào đồng ý việc ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tỳ khưu Udāyi xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đã được hội chúng ban cho tỳ khưu Udāyi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Dứt hình phạt mānatta của tội che giấu một ngày.
VIỆC GIẢI TỘI CỦA TỘI CHE GIẤU MỘT NGÀY:
Inda-bh 1~13Với hình phạt mānatta đã được hoàn tất, vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tôi đây. Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tôi đây. Tôi đây đã hoàn tất hình phạt mānatta, vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~14—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy giải tội cho tỳ khưu Udāyi. Và này các tỳ khưu, nên giải tội như vầy:
Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyi ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tôi đây. Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tôi đây. Bạch các ngài, tôi đây đã hoàn tất hình phạt mānatta, giờ thỉnh cầu hội chúng sự giải tội.’
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Inda-bh 3~15Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tỳ khưu Udāyi. Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tỳ khưu Udāyi. Vị ấy đã hoàn tất hình phạt mānatta, giờ thỉnh cầu hội chúng sự giải tội. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên giải tội cho tỳ khưu Udāyi. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tỳ khưu Udāyi. Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu một ngày đến tỳ khưu Udāyi. Vị ấy đã hoàn tất hình phạt mānatta, giờ thỉnh cầu hội chúng sự giải tội. Hội chúng giải tội cho tỳ khưu Udāyi. Đại đức nào đồng ý sự giải tội cho tỳ khưu Udāyi xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Tỳ khưu Udāyi đã được hội chúng giải tội. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Dứt việc giải tội của tội che giấu một ngày.
HÌNH PHẠT PARIVĀSA CỦA TỘI CHE GIẤU NĂM NGÀY:
Inda-bh 1~16Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu hai ngày. … (như trên) … đã được che giấu ba ngày. … (như trên) … đã được che giấu bốn ngày. … (như trên) … Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày; vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~17—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy ban cho hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tỳ khưu Udāyi. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyi ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày.’
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
Inda-bh 3~18‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tỳ khưu Udāyi. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tỳ khưu Udāyi. Đại đức nào đồng ý việc ban cho hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tỳ khưu Udāyi xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đã được hội chúng ban cho tỳ khưu Udāyi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Dứt hình phạt parivāsa của tội che giấu năm ngày.
VIỆC ĐƯA VỀ LẠI (HÌNH PHẠT) BAN ĐẦU CỦA VỊ HÀNH PARIVĀSA:
Inda-bh 1~19Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu; vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~20—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Và này các tỳ khưu, nên đưa về lại (hình phạt) ban đầu như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyi ấy nên đi đến hội chúng, … (như trên) … và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Bạch các ngài, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Bạch các ngài, dẫu còn dở dang, tôi đây thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu.’
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
Inda-bh 3~21‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tỳ khưu Udāyi. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tỳ khưu Udāyi. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Đại đức nào đồng ý việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu của tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, đã được hội chúng đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Dứt việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của vị hành parivāsa.
VIỆC ĐƯA VỀ LẠI (HÌNH PHẠT) BAN ĐẦU CỦA VỊ XỨNG ĐÁNG HÌNH PHẠT MĀNATTA:
Inda-bh 1~22Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành và xứng đáng hình phạt mānatta, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã đưa tôi đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành và xứng đáng hình phạt mānatta, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu; vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~23—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu.
Và này các tỳ khưu, nên đưa về lại (hình phạt) ban đầu như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyi ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã đưa tôi đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành và xứng đáng hình phạt mānatta, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, tôi đây thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu.’
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
Inda-bh 3~24‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã đưa vị ấy, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành và xứng đáng hình phạt mānatta, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. … (như trên) … Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành và xứng đáng hình phạt mānatta, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Đại đức nào đồng ý việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu của tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, đã được hội chúng đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Dứt việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của vị xứng đáng hình phạt mānatta.
HÌNH PHẠT MĀNATTA CỦA NHÓM BA TỘI:
Inda-bh 1~25Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. … (như trên) … Tôi đây có hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~26—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội đến tỳ khưu Udāyi. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyi ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã đưa tôi đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành và xứng đáng hình phạt mānatta, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã đưa tôi đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Bạch các ngài, tôi đây có hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, giờ thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội.’
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
Inda-bh 3~27‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. … (như trên) … Vị ấy có hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, giờ thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội đến tỳ khưu Udāyi. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. … (như trên) … Vị ấy có hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, giờ thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội. Hội chúng ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội đến tỳ khưu Udāyi. Đại đức nào đồng ý việc ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội đến tỳ khưu Udāyi xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội đã được hội chúng ban cho tỳ khưu Udāyi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Dứt hình phạt mānatta của nhóm ba tội.
VIỆC ĐƯA VỀ LẠI (HÌNH PHẠT) BAN ĐẦU CỦA VỊ THỰC HÀNH MĀNATTA:
Inda-bh 1~28Lúc đang thực hành mānatta, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. … (như trên) … Lúc đang thực hành mānatta, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu; vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~29—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu, rồi ban cho hình phạt mānatta sáu đêm. Và này các tỳ khưu, nên đưa về lại (hình phạt) ban đầu như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyi ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nói như vầy:
‘Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã đưa tôi đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành và xứng đáng hình phạt mānatta, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã đưa tôi đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Tôi đây có hình phạt parivāsa đã được hoàn thành nên đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội.
Hội chúng đã cho hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội đến tôi đây. Lúc đang thực hành mānatta, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Bạch các ngài, dẫu còn dở dang, tôi đây thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu.’
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
Inda-bh 3~30‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. … (như trên) … Vị ấy có hình phạt parivāsa đã được hoàn thành nên đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội đến tỳ khưu Udāyi. Lúc đang thực hành mānatta, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. … (như trên) … Lúc đang thực hành mānatta, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Đại đức nào đồng ý việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu … (như trên) … của tỳ khưu Udāyi, xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, đã được hội chúng đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Inda-bh 4~31Và này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt mānatta sáu đêm như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyi ấy nên đi đến hội chúng, … (như trên) … và nên nói như vầy:
‘Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. … (như trên) … Hội chúng đã đưa tôi đây … (như trên) … về lại (hình phạt) ban đầu … (như trên) … Tôi đây có hình phạt parivāsa đã được hoàn thành và xứng đáng hình phạt mānatta, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. … (như trên) … Hội chúng đã đưa tôi đây … (như trên) … về lại (hình phạt) ban đầu … (như trên) … Tôi đây có hình phạt parivāsa đã được hoàn thành nên đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội. Hội chúng đã cho hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội đến tôi đây. Lúc đang thực hành mānatta, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. … (như trên) … Bạch các ngài, dẫu còn dở dang, tôi đây thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu.’
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này ―nt― thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm ―nt― Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho tỳ khưu Udāyi ―nt― hình phạt mānatta sáu đêm … (như trên) … Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. ―nt― Hội chúng ban cho hình phạt mānatta sáu đêm ―nt― đến tỳ khưu Udāyi. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che dấu, đã được hội chúng ban cho tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Dứt việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu vị thực hành mānatta.
VIỆC ĐƯA VỀ LẠI (HÌNH PHẠT) BAN ĐẦU CỦA VỊ XỨNG ĐÁNG SỰ GIẢI TỘI:
Inda-bh 1~32Với hình phạt mānatta đã được hoàn tất và xứng đáng sự giải tội, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. ―nt― Với hình phạt mānatta đã được hoàn tất và xứng đáng sự giải tội, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu; vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~33—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu, rồi ban cho hình phạt mānatta sáu đêm. Và này các tỳ khưu, nên đưa về lại (hình phạt) ban đầu như vầy: … (như trên) … Và này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt mānatta như vầy: … (như trên) …
Hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đã được hội chúng ban cho tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Dứt việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của vị xứng đáng sự giải tội.
VIỆC GIẢI TỘI CỦA VỊ ĐƯỢC ĐƯA VỀ LẠI (HÌNH PHẠT) BAN ĐẦU:
Inda-bh 1~34Với hình phạt mānatta đã được hoàn tất, vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. … (như trên) … Tôi đây có hình phạt mānatta đã được hoàn tất, vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy giải tội cho tỳ khưu Udāyi. Và này các tỳ khưu, nên giải tội như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyi ấy nên đi đến hội chúng, … (như trên) … và nên nói như vầy:
‘Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tôi đây.
Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã đưa tôi đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu.
Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành và xứng đáng hình phạt mānatta, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã đưa tôi đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội đến tôi đây.
Lúc đang thực hành mānatta, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã đưa tôi đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đến tôi đây, dẫu còn dở dang.
Với hình phạt mānatta đã được hoàn tất và xứng đáng sự giải tội, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã đưa tôi đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu đến tôi đây, dẫu còn dở dang. Bạch các ngài, tôi đây có hình phạt mānatta đã được hoàn tất, giờ thỉnh cầu hội chúng sự giải tội.’
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Inda-bh 2~35Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa năm ngày của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tỳ khưu Udāyi.
Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu.
Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành và xứng đáng hình phạt mānatta, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội đến tỳ khưu Udāyi.
Lúc đang thực hành mānatta, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã ban cho tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu.
Với hình phạt mānatta đã được hoàn tất và xứng đáng sự giải tội, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu. Hội chúng đã ban cho tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, không có che giấu.
Vị ấy có hình phạt mānatta đã được hoàn tất, giờ thỉnh cầu hội chúng sự giải tội. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên giải tội cho tỳ khưu Udāyi. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. … (như trên) … Vị ấy có hình phạt mānatta đã được hoàn tất, giờ thỉnh cầu hội chúng sự giải tội. Hội chúng giải tội cho tỳ khưu Udāyi. Đại đức nào đồng ý sự giải tội cho tỳ khưu Udāyi xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Tỳ khưu Udāyi đã được hội chúng giải tội. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Việc giải tội của vị được đưa về lại (hình phạt) ban đầu.
HÌNH PHẠT PARIVĀSA CỦA TỘI CHE GIẤU NỬA THÁNG:
Inda-bh 1~36Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng; vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy ban cho hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng đến tỳ khưu Udāyi. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyi ấy nên đi đến hội chúng, … (như trên) … và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng.’ Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Inda-bh 2~37Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng đến tỳ khưu Udāyi. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng đến tỳ khưu Udāyi. Đại đức nào đồng ý việc ban cho hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng đến tỳ khưu Udāyi xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng đã được hội chúng ban cho tỳ khưu Udāyi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Hình phạt parivāsa của tội che giấu nửa tháng.
VIỆC ĐƯA VỀ LẠI (HÌNH PHẠT) BAN ĐẦU CỦA VỊ HÀNH PARIVĀSA NỬA THÁNG:
Inda-bh 1~38Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:
—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày; vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~39—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày, rồi hãy ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây. Và này các tỳ khưu, nên đưa về lại (hình phạt) ban đầu như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyi ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:
‘Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Bạch các ngài, dẫu còn dở dang, tôi đây thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày.’
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
Inda-bh 3~40‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng đến tỳ khưu Udāyi. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng đến tỳ khưu Udāyi. Lúc đang hành parivāsa, dầu ở vào giai đoạn nửa chừng, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Đại đức nào đồng ý việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày của tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, đã được hội chúng đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Dứt việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của vị hành parivāsa nửa tháng.
HÌNH PHẠT PARIVĀSA KẾT HỢP:
Inda-bh 1~41Và này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyi ấy nên đi đến hội chúng, … (như trên) … và nên nói như vầy:
‘Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng đến tôi đây.
Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã đưa tôi đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Bạch các ngài, dẫu còn dở dang, tôi đây thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày.’
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Inda-bh 2~42Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng đến tỳ khưu Udāyi. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Đây là lời đề nghị.
Inda-bh 3~43Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng đến tỳ khưu Udāyi. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang. Đại đức nào đồng ý việc ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đã được hội chúng ban cho tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Dứt hình phạt parivāsa kết hợp.
VIỆC ĐƯA VỀ LẠI (HÌNH PHẠT) BAN ĐẦU, V.V... CỦA VỊ XỨNG ĐÁNG HÌNH PHẠT MĀNATTA:
Inda-bh 1~44Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành và xứng đáng hình phạt mānatta, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:
—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. … (như trên) … Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành và xứng đáng hình phạt mānatta, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày; vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~45—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày, rồi hãy ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây.
Và này các tỳ khưu, nên đưa về lại (hình phạt) ban đầu như vầy: ―nt―
Và này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây như vầy: … (như trên) …
Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
Inda-bh 3~46‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. … (như trên) … Hội chúng đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý đã được che giấu năm ngày và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây. Đại đức nào đồng ý … (như trên) … xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đã được hội chúng ban cho tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Dứt việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu, v.v... của vị xứng đáng hình phạt mānatta.
HÌNH PHẠT MĀNATTA CỦA NHÓM BA TỘI:
Inda-bh 1~47Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội ... đã được che giấu nửa tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa nửa tháng ... đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội ... đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội ... đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã đưa tôi đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội ... đã được che giấu năm ngày. Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành và xứng đáng hình phạt mānatta, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội ... đã được che giấu năm ngày. Bạch các ngài, dẫu còn dở dang, tôi đây thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội ... đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp ... của một tội ... đã được che giấu năm ngày đến tôi đây. Tôi đây có hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội đến tỳ khưu Udāyi. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyi ấy nên đi đến hội chúng, … (như trên) … và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. … (như trên) … Bạch các ngài, tôi đây có hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, giờ thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội.’
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Inda-bh 2~48Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. … (như trên) … Vị ấy có hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, giờ thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội đến tỳ khưu Udāyi. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. … (như trên) … Vị ấy có hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, giờ thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội. Hội chúng ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội đến tỳ khưu Udāyi. Đại đức nào đồng ý việc ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội đến tỳ khưu Udāyi xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội đã được hội chúng ban cho tỳ khưu Udāyi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Dứt hình phạt parivāsa của nhóm ba tội.
VIỆC ĐƯA VỀ LẠI (HÌNH PHẠT) BAN ĐẦU, V.V... CỦA VỊ THỰC HÀNH MĀNATTA:
Inda-bh 1~49Lúc đang thực hành mānatta, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. ―nt― Lúc đang thực hành mānatta, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày; vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày, rồi ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây, (sau đó) ban cho hình phạt mānatta sáu đêm.
Inda-bh 2~50Và này các tỳ khưu, nên đưa về lại (hình phạt) ban đầu như vầy: … (như trên) … Và này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây như vầy: … (như trên) … Và này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt mānatta sáu đêm như vầy: … (như trên) … Hội chúng ban cho hình phạt mānatta sáu đêm đến tỳ khưu Udāyi. … (như trên) …
Hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã che dấu năm ngày, được hội chúng ban cho tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Dứt các việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu, v.v... của vị thực hành mānatta.
VIỆC ĐƯA VỀ LẠI (HÌNH PHẠT) BAN ĐẦU, V.V... CỦA VỊ XỨNG ĐÁNG SỰ GIẢI TỘI:
Inda-bh 1~51Với hình phạt mānatta đã được hoàn tất và xứng đáng sự giải tội, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. … (như trên) … Với hình phạt mānatta đã được hoàn tất và xứng đáng sự giải tội, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày; vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày, rồi ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây, (sau đó) ban cho hình phạt mānatta sáu đêm. Và này các tỳ khưu, nên đưa về lại (hình phạt) ban đầu như vầy: ―nt― Và này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây như vầy: ―nt― Và này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt mānatta sáu đêm như vầy:―nt― Hội chúng ban cho hình phạt mānatta sáu đêm đến tỳ khưu Udāyi. … (như trên) …
Hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã che giấu năm ngày được hội chúng ban cho tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Dứt các việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu, v.v... của vị xứng đáng sự giải tội.
VIỆC GIẢI TỘI CỦA TỘI CHE GIẤU NỬA THÁNG:
Inda-bh 1~52Với hình phạt mānatta đã được hoàn tất, vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. … (như trên) … Tôi đây có hình phạt mānatta đã được hoàn tất, vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy giải tội cho tỳ khưu Udāyi.
Inda-bh 2~53Và này các tỳ khưu, nên giải tội như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyi ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:
‘Bạch các ngài, tôi đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng đến tôi đây.
Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã đưa tôi đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tôi đây, dẫu còn dở dang.
Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành và xứng đáng hình phạt mānatta, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã đưa tôi đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tôi đây, dẫu còn dở dang. Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội đến tôi đây.
Lúc đang thực hành mānatta, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã đưa tôi đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày.―
Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tôi đây, dẫu còn dở dang. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tôi đây, dẫu còn dở dang.
Với hình phạt mānatta đã được hoàn tất và xứng đáng sự giải tội, dẫu còn dở dang, tôi đây đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã đưa tôi đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày.
Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tôi đây, dẫu còn dở dang. Dẫu còn dở dang, tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tôi đây, dẫu còn dở dang. Bạch các ngài, tôi đây có hình phạt mānatta đã được hoàn tất, giờ thỉnh cầu hội chúng sự giải tội.’
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Inda-bh 3~54Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa nửa tháng của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng đến tỳ khưu Udāyi.
Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày.―
Hội chúng đã đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang.
Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành và xứng đáng hình phạt mānatta, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang. Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của ba tội đến tỳ khưu Udāyi.
Lúc đang thực hành mānatta, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang. Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang.
Với hình phạt mānatta đã được hoàn tất và xứng đáng sự giải tội, dẫu còn dở dang, vị ấy đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã đưa tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày.―
Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang. Với hình phạt parivāsa đã được hoàn thành, dẫu còn dở dang, vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày. Hội chúng đã ban cho hình phạt mānatta sáu đêm của một tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu năm ngày đến tỳ khưu Udāyi, dẫu còn dở dang. Vị ấy có hình phạt mānatta đã được hoàn tất, giờ thỉnh cầu hội chúng sự giải tội. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên giải tội cho tỳ khưu Udāyi. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Udāyi này đã phạm một tội là tội xuất tinh có sự cố ý, đã được che giấu nửa tháng. … (như trên) … Vị ấy có hình phạt mānatta đã được hoàn tất, giờ thỉnh cầu hội chúng sự giải tội. Hội chúng giải tội cho tỳ khưu Udāyi. Đại đức nào đồng ý sự giải tội cho tỳ khưu Udāyi xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Tỳ khưu Udāyi đã được hội chúng giải tội. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Dứt việc giải tội của tội che giấu nửa tháng.
Tội xuất tinh được đầy đủ.
2. HÌNH PHẠT PARIVĀSA:
HÌNH PHẠT PARIVĀSA KẾT HỢP VỚI GIÁ TRỊ CỦA TỘI:
Inda-bh 1~55Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: một tội đã được che giấu một ngày, một tội đã được che giấu hai ngày, một tội đã được che giấu ba ngày, một tội đã được che giấu bốn ngày, một tội đã được che giấu năm ngày, một tội đã được che giấu sáu ngày, một tội đã được che giấu bảy ngày, một tội đã được che giấu tám ngày, một tội đã được che giấu chín ngày, một tội đã được che giấu mười ngày.
Inda-bh 2~56Vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: một tội đã được che giấu một ngày, … (như trên) … một tội đã được che giấu mười ngày; vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy nên hội chúng hãy ban cho vị tỳ khưu ấy hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của tội nào đã được che giấu mười ngày trong số các tội ấy. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, … (như trên) … và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, tôi đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: một tội đã được che giấu một ngày, … (như trên) … một tội đã được che giấu mười ngày. Bạch các ngài, tội nào trong số các tội ấy đã được che giấu mười ngày tôi đây thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của tội ấy.’
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Inda-bh 3~57Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: một tội đã được che giấu một ngày, nt― một tội đã được che giấu mười ngày. Tội nào trong số các tội ấy đã được che giấu mười ngày, vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của tội ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của tội đã được che giấu mười ngày trong số các tội ấy đến tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: một tội đã được che giấu một ngày, … (như trên) … một tội đã được che giấu mười ngày. Tội nào trong số các tội ấy đã được che giấu mười ngày, vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của tội ấy. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của tội đã được che giấu mười ngày trong số các tội ấy đến tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý với việc ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của tội đã được che giấu mười ngày trong số các tội ấy đến tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của tội đã được che giấu mười ngày trong số các tội ấy đến tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của tội.
HÌNH PHẠT PARIVĀSA KẾT HỢP VỚI GIÁ TRỊ CỦA TỘI CHE GIẤU DÀI NGÀY:
Inda-bh 1~58Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: một tội đã được che giấu một ngày, hai tội đã được che giấu hai ngày, ba tội đã được che giấu ba ngày, bốn tội đã được che giấu bốn ngày, năm tội đã được che giấu năm ngày, sáu tội đã được che giấu sáu ngày, bảy tội đã được che giấu bảy ngày, tám tội đã được che giấu tám ngày, chín tội đã được che giấu chín ngày, mười tội đã được che giấu mười ngày.
Inda-bh 2~59Vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: một tội đã được che giấu một ngày, … (như trên) … mười tội đã được che giấu mười ngày; vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy nên hội chúng hãy ban cho vị tỳ khưu ấy hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của những tội nào đã được che giấu dài ngày nhất trong số các tội ấy. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, … (như trên) … và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, tôi đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: một tội đã được che giấu một ngày, … (như trên) … mười tội đã được che giấu mười ngày. Bạch các ngài, những tội nào trong số các tội ấy đã được che giấu dài ngày nhất tôi đây thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của những tội ấy.’
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Inda-bh 3~60Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: một tội đã được che giấu một ngày, … (như trên) … mười tội đã được che giấu mười ngày. Những tội nào trong số các tội ấy đã được che giấu dài ngày nhất, vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của những tội ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của những tội đã được che giấu dài ngày nhất trong số các tội ấy đến tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: một tội đã được che giấu một ngày, … (như trên) … mười tội đã được che giấu mười ngày. Những tội nào trong số các tội ấy đã được che giấu dài ngày nhất, vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của những tội ấy.―
Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của những tội đã được che giấu dài ngày nhất trong số các tội ấy đến tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý với việc ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của những tội đã được che giấu dài ngày nhất trong số các tội ấy đến tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của những tội đã được che giấu dài ngày nhất trong số các tội ấy đến tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’”
Dứt hình phạt parivāsa kết hợp với giá trị của tội che giấu dài ngày.
HÌNH PHẠT PARIVĀSA HAI THÁNG:
Inda-bh 1~61Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Vị ấy đã khởi ý rằng: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng?” Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở vị ấy: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi ý rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng?’ Ta đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến ta đây. Lúc đang hành parivāsa, pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở ta đây: ‘Hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng?’”
Inda-bh 2~62Vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:—“Này các đại đức, tôi đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Tôi đây đã khởi ý rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng?’ Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở tôi đây: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi ý rằng: Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng?―
Ta đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến ta đây. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở ta đây: Hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng?’ Vậy tôi nên thực hành như thế nào?”
Inda-bh 3~63Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng đến vị tỳ khưu ấy. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:
—Bạch các ngài, tôi đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Tôi đây đã khởi ý rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng?’ Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở tôi đây: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi ý rằng: Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng? Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở tôi đây: Hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng?’ Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng.
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Inda-bh 4~64Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
—Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Vị ấy đã khởi ý rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng?’ Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở vị ấy: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi ý rằng: Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng? Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng.―
Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở tôi đây: Hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng?’ Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng đến tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Vị ấy đã khởi ý rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng?’ Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở vị ấy: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi ý rằng: Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng? Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở tôi đây: Hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng?’ Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng đến tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý với việc ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng đến tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng đến tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Này các tỳ khưu, vì lý do ấy vị tỳ khưu ấy nên hành parivāsa hai tháng.
CÁCH THỨC NÊN HÀNH PARIVĀSA HAI THÁNG:
Inda-bh 1~65Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Vị ấy khởi ý như vầy: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng?” Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở vị ấy: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi ý rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng?’ Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của một tội đã được che giấu hai tháng đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở tôi đây: ‘Hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng?’” Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Này các tỳ khưu, vì lý do ấy vị tỳ khưu ấy nên hành parivāsa hai tháng.
Inda-bh 2~66Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tội vị ấy nhận biết, một tội vị ấy không nhận biết. Tội mà vị ấy nhận biết, vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, vị ấy nhận biết được tội kia. Vị ấy nghĩ như vầy: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tội ta đã nhận biết, một tội ta đã không nhận biết. Tội mà ta đã nhận biết, ta đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng đến ta đây. Lúc đang hành parivāsa, ta đây nhận biết được luôn cả tội kia, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng?” Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Này các tỳ khưu, vì lý do ấy vị tỳ khưu ấy nên hành parivāsa hai tháng.
Inda-bh 3~67Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tội vị ấy nhớ, một tội vị ấy không nhớ. Tội mà vị ấy nhớ, vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Lúc đang hành parivāsa, vị ấy nhớ được luôn cả tội kia. Vị ấy nghĩ như vầy: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tội ta đã nhớ, một tội ta đã không nhớ. Tội mà ta đã nhớ, ta đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng đến ta đây. Lúc đang hành parivāsa, ta đây nhớ được luôn cả tội kia, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng?”
Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Này các tỳ khưu, vì lý do ấy vị tỳ khưu ấy nên hành parivāsa hai tháng.
Inda-bh 4~68Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tội không nghi ngờ, một tội có nghi ngờ. Với tội không nghi ngờ, vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Lúc đang hành parivāsa, vị ấy không còn nghi ngờ luôn cả tội kia. Vị ấy nghĩ như vầy: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tội không nghi ngờ, một tội có nghi ngờ. Với tội không nghi ngờ, ta đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của tội ấy đã được che giấu hai tháng đến ta đây. Lúc đang hành parivāsa, ta đây không còn nghi ngờ luôn cả tội kia, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng?”
Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của luôn cả tội kia đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Này các tỳ khưu, vì lý do ấy vị tỳ khưu ấy nên hành parivāsa hai tháng.
Inda-bh 5~69Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tội đã được che giấu có nhận biết, một tội đã được che giấu không nhận biết. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Lúc vị ấy đang hành parivāsa, có vị tỳ khưu khác đi đến, là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, sáng trí, có khả năng, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Vị ấy nói như vầy:—“Này các đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm tội gì? Vì sao vị tỳ khưu này hành parivāsa?”
Các vị ấy nói như vầy:—“Này đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm hai tội saṅghādisesa che giấu hai tháng: một tội đã được che giấu có nhận biết, một tội đã được che giấu không nhận biết. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Này đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm các tội ấy. Vị tỳ khưu này hành parivāsa vì các tội ấy.”
Vị ấy nói như vầy:—“Này các đại đức, tội nào đã được che giấu có nhận biết, việc ban cho hình phạt parivāsa của tội ấy là hợp lý; sự hợp lý đem lại kết quả. Này các đại đức, còn tội nào đã được che giấu không nhận biết, việc ban cho hình phạt parivāsa của tội ấy là không hợp lý; sự không hợp lý không đem lại kết quả. Này các đại đức, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta đối với một tội.”
Inda-bh 6~70Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tội đã được che giấu có ghi nhớ, một tội đã được che giấu không ghi nhớ. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Lúc vị ấy đang hành parivāsa, có vị tỳ khưu khác đi đến, là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, sáng trí, có khả năng, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Vị ấy nói như vầy:—“Này các đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm tội gì? Vì sao vị tỳ khưu này hành parivāsa?”
Các vị ấy nói như vầy:—“Này đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tội đã được che giấu có ghi nhớ, một tội đã được che giấu không ghi nhớ. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Này đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm các tội ấy. Vị tỳ khưu này hành parivāsa vì các tội ấy.”
Vị ấy nói như vầy:—“Này các đại đức, tội nào đã được che giấu có ghi nhớ, việc ban cho hình phạt parivāsa của tội ấy là hợp lý; sự hợp lý đem lại kết quả. Này các đại đức, còn tội nào đã được che giấu không ghi nhớ, việc ban cho hình phạt parivāsa của tội ấy là không hợp lý; sự không hợp lý không đem lại kết quả. Này các đại đức, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta đối với một tội.”
Inda-bh 7~71Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tội đã được che giấu không nghi ngờ, một tội đã được che giấu có nghi ngờ. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Lúc vị ấy đang hành parivāsa, có vị tỳ khưu khác đi đến, là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, sáng trí, có khả năng, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Vị ấy nói như vầy:—“Này các đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm tội gì? Vì sao vị tỳ khưu này hành parivāsa?”
Các vị ấy nói như vầy:—“Này đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tội đã được che giấu không nghi ngờ, một tội đã được che giấu có nghi ngờ. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của các tội ấy đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Này đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm các tội ấy. Vị tỳ khưu này hành parivāsa vì các tội ấy.”
Vị ấy nói như vầy:—“Này các đại đức, tội nào đã được che giấu không nghi ngờ, việc ban cho hình phạt parivāsa của tội ấy là hợp lý; sự hợp lý đem lại kết quả. Này các đại đức, còn tội nào đã được che giấu có nghi ngờ, việc ban cho hình phạt parivāsa của tội ấy là không hợp lý; sự không hợp lý không đem lại kết quả. Này các đại đức, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta đối với một tội.”
Inda-bh 8~72Này các tỳ khưu, có vị tỳ khưu nọ đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Vị ấy đã khởi ý rằng: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng?”
Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở vị ấy: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi ý rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng?’ Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở tôi đây: ‘Hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng?’”
Vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:
—“Này các đại đức, tôi đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Tôi đây đã khởi ý rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng?’ Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở tôi đây: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Tôi đây đã khởi ý rằng: Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng? Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở tôi đây: Hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng?’ Vậy tôi nên thực hành như thế nào?”
Inda-bh 9~73Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy ban cho hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị tỳ khưu ấy. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, … (như trên) … và nên nói như vầy:
“Bạch các ngài, tôi đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Tôi đây đã khởi ý rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng?’ Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở tôi đây: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Tôi đây đã khởi ý rằng: Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng? Tôi đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến tôi đây. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở tôi đây: Hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng?’ Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng.”
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Inda-bh 10~74Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Vị ấy đã khởi ý rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng?’ Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở vị ấy: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi ý rằng: Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng? Ta đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến ta đây. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở ta đây: Hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng?’ Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng đến tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Vị ấy đã khởi ý rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng?’ Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở vị ấy: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi ý rằng: Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng? Ta đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến ta đây. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở ta đây: Hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng?’ Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng.―
Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng đến tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý với việc ban cho hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng đến tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng đã được hội chúng ban cho tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Này các tỳ khưu, tính luôn tháng trước vị tỳ khưu ấy nên hành parivāsa hai tháng.
Inda-bh 11~75Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Vị ấy nghĩ như vầy: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng?” Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở vị ấy: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đây đã khởi ý rằng: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng?’ Ta đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa một tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến ta đây. Lúc đang hành parivāsa pháp hổ thẹn đã xuất hiện ở ta đây: ‘Hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng?’” Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Này các tỳ khưu, tính luôn tháng trước vị tỳ khưu ấy nên hành parivāsa hai tháng.
Inda-bh 12~76Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tháng vị ấy nhận biết, tháng kia vị ấy không nhận biết. Tháng mà vị ấy nhận biết, vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa tháng ấy của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa tháng ấy, là tháng vị ấy nhận biết, của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, vị ấy nhận biết luôn cả tháng kia. Vị ấy nghĩ như vầy: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tháng ta đã nhận biết, tháng kia ta đã không nhận biết. Tháng mà ta đã nhận biết, ta đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa tháng ấy của hai tội đã được che giấu hai tháng.―
Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa tháng ấy, là tháng ta đã nhận biết, của hai tội đã được che giấu hai tháng đến ta đây. Lúc đang hành parivāsa, ta đây nhận biết luôn cả tháng kia, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng?” Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Này các tỳ khưu, tính luôn tháng trước vị tỳ khưu ấy nên hành parivāsa hai tháng.
Inda-bh 13~77Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tháng vị ấy nhớ, tháng kia vị ấy không nhớ. Tháng mà vị ấy nhớ, vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa tháng ấy của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa tháng ấy, là tháng vị ấy nhớ, của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, vị ấy nhớ được tháng kia. Vị ấy nghĩ như vầy: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tháng ta đã nhớ, tháng kia ta đã không nhớ. Tháng mà ta đã nhớ, ta đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa tháng ấy của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa tháng ấy, là tháng ta đã nhớ, của hai tội đã được che giấu hai tháng đến ta đây. Lúc đang hành parivāsa, ta đây nhớ được luôn cả tháng kia, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng?” Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Này các tỳ khưu, tính luôn tháng trước vị tỳ khưu ấy nên hành parivāsa hai tháng.
Inda-bh 14~78Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tháng không nghi ngờ, một tháng có nghi ngờ. Tháng mà không nghi ngờ, vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa tháng ấy của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa tháng ấy, là tháng không nghi ngờ, của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, vị ấy không còn nghi ngờ luôn cả tháng kia. Vị ấy nghĩ như vầy: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tháng không nghi ngờ, một tháng có nghi ngờ. Tháng mà không nghi ngờ, ta đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa tháng ấy của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa tháng ấy, là tháng không nghi ngờ, của hai tội đã được che giấu hai tháng đến ta đây. Lúc đang hành parivāsa, ta đây không còn nghi ngờ luôn cả tháng kia, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng?”
Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa luôn cả tháng kia của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy.
Này các tỳ khưu, tính luôn tháng trước vị tỳ khưu ấy nên hành parivāsa hai tháng.
Inda-bh 15~79Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tháng đã được che giấu có nhận biết, một tháng đã được che giấu không nhận biết. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Lúc vị ấy đang hành parivāsa, có vị tỳ khưu khác đi đến, là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, sáng trí, có khả năng, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Vị ấy nói như vầy:
—“Này các đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm tội gì? Vì sao vị tỳ khưu này hành parivāsa?” Các vị ấy nói như vầy:—“Này đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tháng đã được che giấu có nhận biết, một tháng đã được che giấu không nhận biết. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của hai tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của hai tội ấy đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Này đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm các tội ấy. Vị tỳ khưu này hành parivāsa vì các tội ấy.” Vị ấy nói như vầy:—“Này các đại đức, tháng nào đã được che giấu có nhận biết, việc ban cho hình phạt parivāsa của tháng ấy là hợp lý; sự hợp lý đem lại kết quả. Này các đại đức, còn tháng nào đã được che giấu không nhận biết, việc ban cho hình phạt parivāsa của tháng ấy là không hợp lý; sự không hợp lý không đem lại kết quả. Này các đại đức, vị tỳ khưu là xứng đáng hình phạt mānatta đối với tội một tháng.”
Inda-bh 16~80Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tháng đã được che giấu có ghi nhớ, một tháng đã được che giấu không ghi nhớ. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Lúc vị ấy đang hành parivāsa, có vị tỳ khưu khác đi đến, là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, sáng trí, có khả năng, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Vị ấy nói như vầy:
—“Này các đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm tội gì? Vì sao vị tỳ khưu này hành parivāsa?” Các vị ấy nói như vầy:—“Này đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tháng đã được che giấu có ghi nhớ, một tháng đã được che giấu không ghi nhớ. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của hai tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của hai tội ấy đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Này đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm các tội ấy. Vị tỳ khưu này hành parivāsa vì các tội ấy.” Vị ấy nói như vầy:—“Này các đại đức, tháng nào đã được che giấu có ghi nhớ, việc ban cho hình phạt parivāsa của tháng ấy là hợp lý; sự hợp lý đem lại kết quả. Này các đại đức, còn tháng nào đã được che giấu không ghi nhớ, việc ban cho hình phạt parivāsa của tháng ấy là không hợp lý; sự không hợp lý không đem lại kết quả. Này các đại đức, vị tỳ khưu là xứng đáng hình phạt mānatta đối với tội một tháng.”
Inda-bh 17~81Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tháng đã được che giấu không nghi ngờ, một tháng đã được che giấu có nghi ngờ. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của hai tội đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Lúc vị ấy đang hành parivāsa, có vị tỳ khưu khác đi đến, là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các đầu đề, sáng trí, có khả năng, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Vị ấy nói như vầy:
—“Này các đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm tội gì? Vì sao vị tỳ khưu này hành parivāsa?” Các vị ấy nói như vầy:—“Này đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng: một tháng đã được che giấu không nghi ngờ, một tháng đã được che giấu có nghi ngờ. Vị ấy đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa hai tháng của hai tội ấy đã được che giấu hai tháng. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa hai tháng của hai tội ấy đã được che giấu hai tháng đến vị ấy. Này đại đức, vị tỳ khưu này đã phạm các tội ấy. Vị tỳ khưu này hành parivāsa vì các tội ấy.” Vị ấy nói như vầy:—“Này các đại đức, tháng nào đã được che giấu không nghi ngờ, việc ban cho hình phạt parivāsa của tháng ấy là hợp lý; sự hợp lý đem lại kết quả. Này các đại đức, còn tháng nào đã được che giấu có nghi ngờ, việc ban cho hình phạt parivāsa của tháng ấy là không hợp lý; sự không hợp lý không đem lại kết quả. Này các đại đức, vị tỳ khưu là xứng đáng hình phạt mānatta đối với tội một tháng.”
[Dứt cách thức nên hành parivāsa hai tháng.]
HÌNH PHẠT PARIVĀSA TỪ MỐC TRONG SẠCH:
Inda-bh 1~82Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy không biết số lượng của các tội, không biết số lượng của các đêm (đã dấu), không nhớ số lượng của các tội, không nhớ số lượng của các đêm (đã dấu), có nghi ngờ về số lượng của các tội, có nghi ngờ về số lượng của các đêm (đã dấu). Vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:
—“Này các đại đức, tôi đã phạm nhiều tội saṅghādisesa. Tôi không biết số lượng của các tội, không biết số lượng của các đêm (đã dấu), không nhớ số lượng của các tội, không nhớ số lượng của các đêm (đã dấu), có nghi ngờ về số lượng của các tội, có nghi ngờ về số lượng của các đêm (đã dấu); vậy tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~83—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy ban cho hình phạt parivāsa từ mốc trong sạch của các tội ấy đến vị tỳ khưu ấy. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, … (như trên) … và nên nói như vầy: ‘Bạch các ngài, tôi đã phạm nhiều tội saṅghādisesa. Tôi không biết số lượng của các tội, không biết số lượng của các đêm (đã dấu), không nhớ số lượng của các tội, không nhớ số lượng của các đêm (đã dấu), có nghi ngờ về số lượng của các tội, có nghi ngờ về số lượng của các đêm (đã dấu). Bạch các ngài, tôi thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa từ mốc trong sạch của các tội ấy.’
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Inda-bh 3~84Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy không biết số lượng của các tội, không biết số lượng của các đêm (đã dấu), không nhớ số lượng của các tội, không nhớ số lượng của các đêm (đã dấu), có nghi ngờ về số lượng của các tội, có nghi ngờ về số lượng của các đêm (đã dấu). Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa từ mốc trong sạch của các tội ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho hình phạt parivāsa từ mốc trong sạch của các tội ấy đến tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) đã phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy không biết số lượng của các tội, không biết số lượng của các đêm (đã dấu), không nhớ số lượng của các tội, không nhớ số lượng của các đêm (đã dấu), có nghi ngờ về số lượng của các tội, có nghi ngờ về số lượng của các đêm (đã dấu). Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa từ mốc trong sạch của các tội ấy. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa từ mốc trong sạch của các tội ấy đến tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý với việc ban cho hình phạt parivāsa từ mốc trong sạch của các tội ấy đến tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. … (như trên) …
Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa từ mốc trong sạch của các tội ấy đến tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Inda-bh 4~85Và này các tỳ khưu, hình phạt parivāsa từ mốc trong sạch nên được ban cho như vầy, hình phạt parivāsa nên được ban cho như vầy.
Inda-bh 5~86Và này các tỳ khưu, hình phạt parivāsa từ mốc trong sạch nên được ban cho thế nào?
Vị không biết số lượng của các tội, không biết số lượng của các đêm (đã dấu), không nhớ số lượng của các tội, không nhớ số lượng của các đêm (đã dấu), có nghi ngờ về số lượng của các tội, có nghi ngờ về số lượng của các đêm (đã dấu) thì hình phạt parivāsa từ mốc trong sạch nên được ban cho.
Vị biết số lượng của các tội, không biết số lượng của các đêm (đã dấu), nhớ số lượng của các tội, không nhớ số lượng của các đêm (đã dấu), không nghi ngờ về số lượng của các tội, có nghi ngờ về số lượng của các đêm (đã dấu) thì hình phạt parivāsa từ mốc trong sạch nên được ban cho.
Vị biết một phần số lượng của các tội một phần không biết, không biết số lượng của các đêm, nhớ một phần số lượng của các tội một phần không nhớ, không nhớ số lượng của các đêm, có nghi ngờ về một phần số lượng của các tội một phần không nghi ngờ, có nghi ngờ về số lượng của các đêm thì hình phạt parivāsa từ mốc trong sạch nên được ban cho.
Vị không biết số lượng của các tội, biết một phần số lượng của các đêm một phần không biết, không nhớ số lượng của các tội, nhớ một phần số lượng của các đêm một phần không nhớ, có nghi ngờ về số lượng của các tội, có nghi ngờ về một phần số lượng của các đêm một phần không nghi ngờ thì hình phạt parivāsa từ mốc trong sạch nên được ban cho.
Vị biết số lượng của các tội, biết một phần số lượng của các đêm một phần không biết, nhớ số lượng của các tội, nhớ một phần số lượng của các đêm một phần không nhớ, không nghi ngờ về số lượng của các tội, có nghi ngờ về một phần số lượng của các đêm một phần không nghi ngờ thì hình phạt parivāsa từ mốc trong sạch nên được ban cho.
Vị biết một phần số lượng của các tội một phần không biết, biết một phần số lượng của các đêm một phần không biết, nhớ một phần số lượng của các tội một phần không nhớ, nhớ một phần số lượng của các đêm một phần không nhớ, có nghi ngờ về một phần số lượng của các tội một phần không nghi ngờ, có nghi ngờ về một phần số lượng của các đêm một phần không nghi ngờ thì hình phạt parivāsa từ mốc trong sạch nên được ban cho.
Này các tỳ khưu, hình phạt parivāsa từ mốc trong sạch nên được ban cho như thế.
Inda-bh 6~87Và này các tỳ khưu, hình phạt parivāsa nên được ban cho thế nào?
Vị biết số lượng của các tội, biết số lượng của các đêm (đã dấu), nhớ số lượng của các tội, nhớ số lượng của các đêm (đã dấu), không nghi ngờ về số lượng của các tội, không nghi ngờ về số lượng của các đêm (đã dấu) thì hình phạt parivāsa nên được ban cho.
Vị không biết số lượng của các tội, biết số lượng của các đêm (đã dấu), không nhớ số lượng của các tội, nhớ số lượng của các đêm (đã dấu), có nghi ngờ về số lượng của các tội, không nghi ngờ về số lượng của các đêm (đã dấu) thì hình phạt parivāsa nên được ban cho.
Vị biết một phần số lượng của các tội một phần không biết, biết số lượng của các đêm (đã dấu), nhớ một phần số lượng của các tội một phần không nhớ, nhớ số lượng của các đêm (đã dấu), có nghi ngờ về một phần số lượng của các tội một phần không nghi ngờ, không nghi ngờ về số lượng của các đêm (đã dấu) thì hình phạt parivāsa nên được ban cho.
Này các tỳ khưu, hình phạt parivāsa nên được ban cho như thế.”
Dứt hình phạt parivāsa.
3. BỐN MƯƠI TRƯỜNG HỢP HÀNH PARIVĀSA:
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đang hành parivāsa đã hoàn tục. Vị ấy đã trở lại và thỉnh cầu sự tu lên bậc trên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 1~88“Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa lại hoàn tục. Này các tỳ khưu, hình phạt parivāsa không áp dụng cho vị hoàn tục. Nếu vị ấy tu lên bậc trên lại, chính việc ban cho hình phạt parivāsa trước đây là dành cho vị ấy. Hình phạt parivāsa nào đã được ban cho là đã được ban cho tốt đẹp. Phần nào đã được hành parivāsa là đã được hành parivāsa tốt đẹp. Nên hành parivāsa phần còn lại.
Inda-bh 2~89Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa lại xuống sa di. Này các tỳ khưu, hình phạt parivāsa không áp dụng cho vị sa di. Nếu vị ấy tu lên bậc trên lại, chính việc ban cho hình phạt parivāsa trước đây là dành cho vị ấy. Hình phạt parivāsa nào đã được ban cho là đã được ban cho tốt đẹp. Phần nào đã được hành parivāsa là đã được hành parivāsa tốt đẹp. Nên hành parivāsa phần còn lại.
Inda-bh 3~90Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa lại bị điên. Này các tỳ khưu, hình phạt parivāsa không áp dụng cho vị bị điên. Nhưng nếu vị ấy hết bị điên, chính việc ban cho hình phạt parivāsa trước đây là dành cho vị ấy. Hình phạt parivāsa nào đã được ban cho là đã được ban cho tốt đẹp. Phần nào đã được hành parivāsa là đã được hành parivāsa tốt đẹp. Nên hành parivāsa phần còn lại.
Inda-bh 4~91Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa bị loạn trí. Này các tỳ khưu, hình phạt parivāsa không áp dụng cho vị bị loạn trí. Nhưng nếu vị ấy hết bị loạn trí, chính việc ban cho hình phạt parivāsa trước đây là dành cho vị ấy. Hình phạt parivāsa nào đã được ban cho là đã được ban cho tốt đẹp. Phần nào đã được hành parivāsa là đã được hành parivāsa tốt đẹp. Nên hành parivāsa phần còn lại.
Inda-bh 5~92Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa bị thọ khổ hành hạ. Này các tỳ khưu, hình phạt parivāsa không áp dụng cho vị bị thọ khổ hành hạ. Nhưng nếu vị ấy hết bị thọ khổ hành hạ, chính việc ban cho hình phạt parivāsa trước đây là dành cho vị ấy. … (như trên) …
Inda-bh 6~93Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa lại bị án treo về việc không nhìn nhận tội. Này các tỳ khưu, hình phạt parivāsa không áp dụng cho vị bị án treo. Nhưng nếu vị ấy được phục hồi lại, chính việc ban cho hình phạt parivāsa trước đây là dành cho vị ấy. … (như trên) …
Inda-bh 7~94Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa lại bị án treo về việc không sửa chữa lỗi. Này các tỳ khưu, hình phạt parivāsa không áp dụng cho vị bị án treo. Nhưng nếu vị ấy được phục hồi lại, chính việc ban cho hình phạt parivāsa trước đây là dành cho vị ấy. … (như trên) …
Inda-bh 8~95Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa lại bị án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác. Này các tỳ khưu, hình phạt parivāsa không áp dụng cho vị bị án treo. Nhưng nếu vị ấy được phục hồi lại, chính việc ban cho hình phạt parivāsa trước đây là dành cho vị ấy. Hình phạt parivāsa nào đã được ban cho là đã được ban cho tốt đẹp. Phần nào đã được hành parivāsa là đã được hành parivāsa tốt đẹp. Nên hành parivāsa phần còn lại.
Inda-bh 9-16~96Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu là vị xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu lại hoàn tục. Này các tỳ khưu, việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu không áp dụng cho vị hoàn tục. Nếu vị ấy tu lên bậc trên lại, chính việc ban cho hình phạt parivāsa trước đây là dành cho vị ấy. Hình phạt parivāsa nào đã được ban cho là đã được ban cho tốt đẹp. Hình phạt parivāsa nào đã được hoàn thành là đã được hoàn thành tốt đẹp. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu là vị xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu lại xuống sa di. ―nt― bị điên. ―nt― bị loạn trí. ―nt― bị thọ khổ hành hạ. ―nt― bị án treo về việc không nhìn nhận tội. ―nt― bị án treo về việc không sửa chữa lỗi. ―nt― bị án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác. Này các tỳ khưu, việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu không áp dụng cho vị bị án treo. Nhưng nếu vị ấy được phục hồi lại, chính việc ban cho hình phạt parivāsa trước đây là dành cho vị ấy. Hình phạt parivāsa nào đã được ban cho là đã được ban cho tốt đẹp. Hình phạt parivāsa nào đã được hoàn thành là đã được hoàn thành tốt đẹp. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu.
Inda-bh 17-24~97Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta lại hoàn tục. Này các tỳ khưu, hình phạt mānatta không áp dụng cho vị hoàn tục. Nếu vị ấy tu lên bậc trên lại, chính việc ban cho hình phạt parivāsa trước đây là dành cho vị ấy. Hình phạt parivāsa nào đã được ban cho là đã được ban cho tốt đẹp. Hình phạt parivāsa nào đã được hoàn thành là đã được hoàn thành tốt đẹp. Hình phạt mānatta nên được ban cho đến vị ấy. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta lại xuống sa di. ―nt― bị điên. ―nt― bị loạn trí. ―nt― bị thọ khổ hành hạ. ―nt― bị án treo về việc không nhìn nhận tội. ―nt― bị án treo về việc không sửa chữa lỗi. ―nt― bị án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác. Này các tỳ khưu, hình phạt mānatta không áp dụng cho vị bị án treo. Nhưng nếu vị ấy được phục hồi lại, chính việc ban cho hình phạt parivāsa trước đây là dành cho vị ấy. Hình phạt parivāsa nào đã được ban cho là đã được ban cho tốt đẹp. Hình phạt parivāsa nào đã được hoàn thành là đã được hoàn thành tốt đẹp. Hình phạt mānatta nên được ban cho đến vị ấy.
Inda-bh 25~98Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang thực hành hình phạt mānatta lại hoàn tục. Này các tỳ khưu, việc thực hành hình phạt mānatta không áp dụng cho vị hoàn tục. Nếu vị ấy tu lên bậc trên lại, chính việc ban cho hình phạt parivāsa trước đây là dành cho vị ấy. Hình phạt parivāsa nào đã được ban cho là đã được ban cho tốt đẹp. Hình phạt parivāsa nào đã được hoàn thành là đã được hoàn thành tốt đẹp. Hình phạt mānatta nào đã được ban cho là đã được ban cho tốt đẹp. Phần hình phạt mānatta nào đã được hoàn tất là đã được hoàn tất tốt đẹp. Nên thực hành phần còn lại.
Inda-bh 26-32~99Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang thực hành hình phạt mānatta lại xuống sa di. … (như trên) … bị điên. … (như trên) … bị loạn trí. … (như trên) … bị thọ khổ hành hạ. … (như trên) … bị án treo về việc không nhìn nhận tội. … (như trên) … bị án treo về việc không sửa chữa lỗi. … (như trên) … bị án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác. Này các tỳ khưu, việc thực hành hình phạt mānatta không áp dụng cho vị bị án treo. Nhưng nếu vị ấy được phục hồi lại, chính việc ban cho hình phạt parivāsa trước đây là dành cho vị ấy. Hình phạt parivāsa nào đã được ban cho là đã được ban cho tốt đẹp. Hình phạt parivāsa nào đã được hoàn thành là đã được hoàn thành tốt đẹp. Hình phạt mānatta nào đã được ban cho là đã được ban cho tốt đẹp. Phần hình phạt mānatta nào đã được hoàn tất là đã được hoàn tất tốt đẹp. Nên thực hành phần còn lại.
Inda-bh 33~100Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội lại hoàn tục. Này các tỳ khưu, sự giải tội không áp dụng cho vị hoàn tục. Nếu vị ấy tu lên bậc trên lại, chính việc ban cho hình phạt parivāsa trước đây là dành cho vị ấy. Hình phạt parivāsa nào đã được ban cho là đã được ban cho tốt đẹp. Hình phạt parivāsa nào đã được hoàn thành là đã được hoàn thành tốt đẹp. Hình phạt mānatta nào đã được ban cho là đã được ban cho tốt đẹp. Hình phạt mānatta nào đã được hoàn tất là đã được hoàn tất tốt đẹp. Vị tỳ khưu ấy nên được giải tội.
Inda-bh 34-40~101Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội lại xuống sa di. … (như trên) … bị điên. … (như trên) … bị loạn trí. … (như trên) … bị thọ khổ hành hạ. … (như trên) … bị án treo về việc không nhìn nhận tội. … (như trên) … bị án treo về việc không sửa chữa lỗi. … (như trên) … bị án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác. Này các tỳ khưu, sự giải tội không áp dụng cho vị bị án treo. Nhưng nếu vị ấy được phục hồi lại, chính việc ban cho hình phạt parivāsa trước đây là dành cho vị ấy. Hình phạt parivāsa nào đã được ban cho là đã được ban cho tốt đẹp. Hình phạt parivāsa nào đã được hoàn thành là đã được hoàn thành tốt đẹp. Hình phạt mānatta nào đã được ban cho là đã được ban cho tốt đẹp. Hình phạt mānatta nào đã được hoàn tất là đã được hoàn tất tốt đẹp. Vị tỳ khưu ấy nên được giải tội.”
Bốn mươi trường hợp hành parivāsa được đầy đủ.
4. BA MƯƠI SÁU TRƯỜNG HỢP HÀNH PARIVĀSA:
Inda-bh 1~102Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, không che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu.
Inda-bh 2~103Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, có che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 3~104Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, có che giấu và không che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 4-9~105Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa không hạn lượng, không che giấu. … (như trên) … không hạn lượng, có che giấu. … (như trên) … không hạn lượng có che giấu và không che giấu. … (như trên) … có hạn lượng và không hạn lượng, không che giấu. … (như trên) … có hạn lượng và không hạn lượng, có che giấu. … (như trên) … có hạn lượng và không hạn lượng, có che giấu và không che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 10-36~106Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta … (như trên) … đang thực hành hình phạt mānatta … (như trên) … xứng đáng sự giải tội, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, không che giấu. … (như trên) … có hạn lượng, có che giấu. … (như trên) … có hạn lượng, có che giấu và không che giấu. … (như trên) … không hạn lượng, không che giấu. … (như trên) … không hạn lượng, có che giấu. … (như trên) … không hạn lượng, có che giấu và không che giấu. … (như trên) … có hạn lượng và không hạn lượng, không che giấu. … (như trên) … có hạn lượng và không hạn lượng, có che giấu. … (như trên) … có hạn lượng và không hạn lượng, có che giấu và không che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Ba mươi sáu trường hợp được đầy đủ.
5. MỘT TRĂM TRƯỜNG HỢP MĀNATTA:
Inda-bh 1~107Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa, không che giấu, rồi hoàn tục. Vị ấy đã tu lên bậc trên lại và không giấu giếm các tội ấy. Này các tỳ khưu, hình phạt mānatta nên được ban cho vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 2~108Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa, không che giấu, rồi hoàn tục. Vị ấy đã tu lên bậc trên lại và giấu giếm các tội ấy. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế về sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 3~109Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa, có che giấu, rồi hoàn tục. Vị ấy đã tu lên bậc trên lại và không giấu giếm các tội ấy. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 4~110Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa, có che giấu, rồi hoàn tục. Vị ấy đã tu lên bậc trên lại và giấu giếm các tội ấy. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây và sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 5~111Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Các tội của vị ấy có che giấu và không che giấu. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã giấu giếm, các tội ấy sau này không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không giấu giếm, các tội ấy sau này cũng không giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 6~112Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Các tội của vị ấy có che giấu và không che giấu. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã giấu giếm, các tội ấy sau này không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không giấu giếm, các tội ấy sau này giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây và sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 7~113Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Các tội của vị ấy có che giấu và không che giấu. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã giấu giếm, các tội ấy sau này giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây và sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 8~114Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Các tội của vị ấy có che giấu và không che giấu. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã giấu giếm, các tội ấy sau này giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không giấu giếm, các tội ấy sau này giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây và sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 9~115Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy nhận biết, một số tội không nhận biết. Các tội nào vị ấy nhận biết, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhận biết, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy nhận biết và đã giấu giếm, các tội ấy sau này nhận biết và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy không nhận biết và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này nhận biết và không giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 10~116Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy nhận biết, một số tội không nhận biết. Các tội nào vị ấy nhận biết, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhận biết, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy nhận biết và đã giấu giếm, các tội ấy sau này nhận biết và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy không nhận biết và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này nhận biết và giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây và sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 11~117Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy nhận biết, một số tội không nhận biết. Các tội nào vị ấy nhận biết, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhận biết, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy nhận biết và đã giấu giếm, các tội ấy sau này nhận biết và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy không nhận biết và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này nhận biết và không giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây và sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 12~118Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy nhận biết, một số tội không nhận biết. Các tội nào vị ấy nhận biết, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhận biết, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy nhận biết và đã giấu giếm, các tội ấy sau này nhận biết và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy không nhận biết và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này nhận biết và giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây và sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 13~119Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy nhớ, một số tội không nhớ. Các tội nào vị ấy nhớ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhớ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy nhớ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này nhớ và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy không nhớ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này nhớ và không giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây và sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 14~120Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy nhớ, một số tội không nhớ. Các tội nào vị ấy nhớ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhớ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã nhớ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này nhớ và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không nhớ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này nhớ và giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây và sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 15~121Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy nhớ, một số tội không nhớ. Các tội nào vị ấy nhớ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhớ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã nhớ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này nhớ và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không nhớ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này nhớ và không giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây và sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 16~122Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy nhớ, một số tội không nhớ. Các tội nào vị ấy nhớ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhớ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã nhớ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này nhớ và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không nhớ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này nhớ và giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây và sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 17~123Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy không nghi ngờ, một số tội có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy không nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy có nghi ngờ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 18~124Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy không nghi ngờ, một số tội có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy không nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy có nghi ngờ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây và sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 19~125Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy không nghi ngờ, một số tội có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy không nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy có nghi ngờ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây và sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 20~126Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy không nghi ngờ, một số tội có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy không nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy có nghi ngờ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây và sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Inda-bh 21-40~127Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu sau khi phạm nhiều tội saṅghādisesa, không che giấu, rồi xuống sa di. [Nên được giải thích chi tiết như phần trên] … (như trên) …
Inda-bh 41-60~128… (như trên) … bị điên. … (như trên) …
Inda-bh 61-80~129… (như trên) … bị loạn trí. … (như trên) …
Inda-bh 81-100~130… (như trên) … bị thọ khổ hành hạ. … (như trên) … Các tội của vị ấy có che giấu và không che giấu. … (như trên) … Một số tội vị ấy nhận biết, một số tội không nhận biết. … (như trên) … Một số tội vị ấy nhớ, một số tội không nhớ. … (như trên) … Một số tội vị ấy không nghi ngờ, một số tội có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy không nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội vị ấy có nghi ngờ vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy bị thọ khổ hành hạ. Sau khi không còn bị thọ khổ hành hạ nữa, các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm. … (như trên) … Các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm. … (như trên) … Các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm. … (như trên) … Các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm. Này các tỳ khưu, nên ban cho hình phạt parivāsa theo nhóm các tội đã được che giấu như thế trước đây và sau này đến vị tỳ khưu ấy, rồi nên ban cho hình phạt mānatta.
Dứt một trăm trường hợp mānatta.
6. BỐN TRĂM TRƯỜNG HỢP ĐƯA VỀ LẠI (HÌNH PHẠT) BAN ĐẦU:
Inda-bh 1~131Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa, không che giấu, rồi hoàn tục. Vị ấy đã tu lên bậc trên lại và không giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu.
Inda-bh 2~132Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa, không che giấu, rồi hoàn tục. Vị ấy đã tu lên bậc trên lại và giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 3~133Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa, có che giấu, rồi hoàn tục. Vị ấy đã tu lên bậc trên lại và không giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 4~134Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa, có che giấu, rồi hoàn tục. Vị ấy đã tu lên bậc trên lại và giấu giếm các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 5~135Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Các tội của vị ấy có che giấu, và không che giấu. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã giấu giếm, các tội ấy sau này không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 6~136Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Các tội của vị ấy có che giấu, và không che giấu. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã giấu giếm, các tội ấy sau này không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không giấu giếm, các tội ấy sau này giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 7~137Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Các tội của vị ấy có che giấu, và không che giấu. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã giấu giếm, các tội ấy sau này giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 8~138Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Các tội của vị ấy có che giấu, và không được che giấu. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã giấu giếm, các tội ấy sau này giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không giấu giếm, các tội ấy sau này giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 9~139Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy nhận biết, một số tội không nhận biết. Các tội nào vị ấy nhận biết, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhận biết, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã nhận biết và đã giấu giếm, các tội ấy sau này nhận biết và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không nhận biết và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này nhận biết và không giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 10~140Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy nhận biết, một số tội không nhận biết. Các tội nào vị ấy nhận biết, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhận biết, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã nhận biết và đã giấu giếm, các tội ấy sau này nhận biết và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không nhận biết và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này nhận biết và giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 11~141Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy nhận biết, một số tội không nhận biết. Các tội nào vị ấy nhận biết, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhận biết, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã nhận biết và đã giấu giếm, các tội ấy sau này nhận biết và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không nhận biết và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này nhận biết và không giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 12~142Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy nhận biết, một số tội không nhận biết. Các tội nào vị ấy nhận biết, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhận biết, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã nhận biết và đã giấu giếm, các tội ấy sau này nhận biết và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không nhận biết và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này nhận biết và giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 13~143Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy nhớ, một số tội không nhớ. Các tội nào vị ấy nhớ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhớ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã nhớ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này nhớ và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không nhớ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này nhớ và không giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 14~144Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy nhớ, một số tội không nhớ. Các tội nào vị ấy nhớ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhớ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã nhớ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này nhớ và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không nhớ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này nhớ và giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 15~145Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy nhớ, một số tội không nhớ. Các tội nào vị ấy nhớ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhớ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã nhớ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này nhớ và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không nhớ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này nhớ và không giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 16~146Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy nhớ, một số tội không nhớ. Các tội nào vị ấy nhớ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy không nhớ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy đã nhớ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này nhớ và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy đã không nhớ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này nhớ và giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 17~147Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy không nghi ngờ, một số tội có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy không nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy có nghi ngờ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 18~148Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy không nghi ngờ, một số tội có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy không nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy có nghi ngờ,vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 19~149Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy không nghi ngờ, một số tội có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy không nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy có nghi ngờ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 20~150Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa. Một số tội vị ấy không nghi ngờ, một số tội có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy không nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội nào vị ấy có nghi ngờ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy. Vị ấy đã hoàn tục rồi đã tu lên bậc trên lại. Các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 21-40~151Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa, không che giấu, rồi xuống sa di. … (như trên) … [Nên được giải thích chi tiết như phần dưới]
Inda-bh 41-60~152… (như trên) … bị điên. … (như trên) … [Nên được giải thích chi tiết như phần dưới]
Inda-bh 61-80~153… (như trên) … bị loạn trí. … (như trên) … [Nên được giải thích chi tiết như phần dưới]
Inda-bh 81-100~154… (như trên) … bị thọ khổ hành hạ. … (như trên) … [Nên được giải thích chi tiết như phần dưới] Các tội của vị ấy có che giấu và không che giấu … (như trên) … [Nên được giải thích chi tiết như phần dưới]. Một số tội vị ấy nhận biết, một số tội không nhận biết. … (như trên) … Một số tội vị ấy nhớ, một số tội không nhớ. … (như trên) … Một số tội vị ấy không nghi ngờ, một số tội có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy không nghi ngờ thì vị ấy giấu giếm, các tội nào vị ấy có nghi ngờ thì vị ấy không giấu giếm. Vị ấy bị thọ khổ hành hạ. Sau khi không còn bị thọ khổ hành hạ nữa, các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm. … (như trên) … Các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm. … (như trên) … Các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm. … (như trên) … Các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.
Inda-bh 101-200~155Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta … (như trên) … [dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa, không che giấu, rồi hoàn tục] … (như trên) …
Inda-bh 201-300~156Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu là vị đang thực hành hình phạt mānatta … (như trên) … [dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa, không che giấu, rồi hoàn tục] … (như trên) …
Inda-bh 301-400~157Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa, không che giấu, rồi hoàn tục. … (như trên) … [Vị xứng đáng hình phạt mānatta, vị thực hành mānatta, và vị xứng đáng giải tội nên được giải thích chi tiết như vị hành parivāsa]. Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội, dẫu còn dở dang, lại phạm nhiều tội saṅghādisesa, không che giấu, rồi xuống sa di. … (như trên) … bị điên. … (như trên) … bị loạn trí. … (như trên) … bị thọ khổ hành hạ. Các tội của vị ấy có che giấu và không che giấu. … (như trên) … Một số tội vị ấy nhận biết, một số tội không nhận biết. … (như trên) … Một số tội vị ấy nhớ, một số tội không nhớ. … (như trên) … Một số tội vị ấy không nghi ngờ, một số tội có nghi ngờ. Các tội nào vị ấy không nghi ngờ, vị ấy giấu giếm các tội ấy; các tội vị ấy có nghi ngờ, vị ấy không giấu giếm các tội ấy.
Vị ấy bị thọ khổ hành hạ. Sau khi không còn bị thọ khổ hành hạ nữa, các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm. … (như trên) … Các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm. … (như trên) … Các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và không giấu giếm. … (như trên) … Các tội nào trước đây vị ấy không nghi ngờ và đã giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm; các tội nào trước đây vị ấy có nghi ngờ và đã không giấu giếm, các tội ấy sau này không nghi ngờ và giấu giếm. Vị tỳ khưu ấy nên được đưa về lại (hình phạt) ban đầu. Và hình phạt parivāsa kết hợp với tội trước đây của các tội đã được che giấu như thế nên được ban cho vị ấy.”
Dứt bốn trăm trường hợp đưa về lại (hình phạt) ban đầu.
7. TÁM TRƯỜNG HỢP CÓ HẠN LƯỢNG, V.V...:
Inda-bh 1~158Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, không che giấu, rồi hoàn tục. … (như trên) …
Inda-bh 2~159Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa không hạn lượng, không che giấu, rồi hoàn tục. … (như trên) …
Inda-bh 3~160Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa cùng một tội danh, không che giấu, rồi hoàn tục. … (như trên) …
Inda-bh 4~161Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa khác tội danh, không che giấu, rồi hoàn tục. … (như trên) …
Inda-bh 5~162Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa cùng nhóm phân loại, không che giấu, rồi hoàn tục. … (như trên) …
Inda-bh 6~163Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa khác nhóm phân loại, không che giấu, rồi hoàn tục. … (như trên) …
Inda-bh 7~164Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa riêng biệt, không che giấu, rồi hoàn tục. … (như trên) …
Inda-bh 8~165Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa có liên quan, không che giấu, rồi hoàn tục. … (như trên) …
[Nên được giải thích chi tiết như phần dưới]
Dứt tám trường hợp có hạn lượng, v.v...
8. MƯỜI MỘT TRƯỜNG HỢP VỀ HAI VỊ TỲ KHƯU:
Inda-bh 1~166Hai vị tỳ khưu phạm tội saṅghādisesa. Hai vị có quan điểm là tội saṅghādisesa trên cơ sở tội saṅghādisesa. Một vị giấu giếm, một vị không giấu giếm. Vị nào giấu giếm, nên khuyên vị ấy trình báo tội dukkaṭa và nên ban cho hình phạt parivāsa theo như đã được che giấu đến vị ấy. Hình phạt mānatta nên được ban cho đến cả hai vị.
Inda-bh 2~167Hai vị tỳ khưu phạm tội saṅghādisesa. Hai vị có nghi ngờ là tội saṅghādisesa. Một vị giấu giếm, một vị không giấu giếm. Vị nào giấu giếm, nên khuyên vị ấy trình báo tội dukkaṭa và nên ban cho hình phạt parivāsa theo như đã được che giấu đến vị ấy. Hình phạt mānatta nên được ban cho đến cả hai vị.
Inda-bh 3~168Hai vị tỳ khưu phạm tội saṅghādisesa. Hai vị có quan điểm là tội lẫn lộn trên cơ sở tội saṅghādisesa. Một vị giấu giếm, một vị không giấu giếm. Vị nào giấu giếm, nên khuyên vị ấy trình báo tội dukkaṭa và nên ban cho hình phạt parivāsa theo như đã được che giấu đến vị ấy. Hình phạt mānatta nên được ban cho đến cả hai vị.
Inda-bh 4~169Hai vị tỳ khưu phạm tội lẫn lộn. Hai vị có quan điểm là tội saṅghādisesa trên cơ sở tội lẫn lộn. Một vị giấu giếm, một vị không giấu giếm. Vị nào giấu giếm, nên khuyên vị ấy trình báo tội dukkaṭa và nên ban cho hình phạt parivāsa theo như đã được che giấu đến vị ấy. Hình phạt mānatta nên được ban cho đến cả hai vị.
Inda-bh 5~170Hai vị tỳ khưu phạm tội lẫn lộn. Hai vị có quan điểm là tội lẫn lộn trên cơ sở tội lẫn lộn. Một vị giấu giếm, một vị không giấu giếm. Vị nào giấu giếm, nên khuyên vị ấy trình báo tội dukkaṭa và nên ban cho hình phạt parivāsa theo như đã được che giấu đến vị ấy. Hình phạt mānatta nên được ban cho đến cả hai vị.
Inda-bh 6~171Hai vị tỳ khưu phạm tội nhẹ. Hai vị có quan điểm là saṅghādisesa trên cơ sở tội nhẹ. Một vị giấu giếm, một vị không giấu giếm. Vị nào giấu giếm, nên khuyên vị ấy trình báo tội dukkaṭa. Cả hai vị nên được hành xử theo Pháp.
Inda-bh 7~172Hai vị tỳ khưu phạm tội nhẹ. Hai vị có quan điểm là tội nhẹ trên cơ sở tội nhẹ. Một vị giấu giếm, một vị không giấu giếm. Vị nào giấu giếm, nên khuyên vị ấy trình báo tội dukkaṭa. Cả hai vị nên được hành xử theo Pháp.
Inda-bh 8~173Hai vị tỳ khưu phạm tội saṅghādisesa. Hai vị có quan điểm là tội saṅghādisesa trên cơ sở tội saṅghādisesa. Một vị (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ khai báo;’ vị kia (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không khai báo.’ Vị ấy giấu giếm ở canh thứ nhất, giấu giếm ở canh thứ nhì, giấu giếm ở canh thứ ba, khi hừng đông đã ló dạng thì tội đã được giấu giếm. Vị nào giấu giếm, nên khuyên vị ấy trình báo tội dukkaṭa và nên ban cho hình phạt parivāsa theo như đã được che giấu đến vị ấy. Hình phạt mānatta nên được ban cho đến cả hai vị.
Inda-bh 9~174Hai vị tỳ khưu phạm tội saṅghādisesa. Hai vị có quan điểm là tội saṅghādisesa trên cơ sở tội saṅghādisesa. Hai vị ra đi (nghĩ rằng): ‘Chúng ta sẽ khai báo.’ Trên đường đi, pháp giả dối sanh khởi ở một vị (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ không khai báo.’ Vị ấy giấu giếm ở canh thứ nhất, giấu giếm ở canh thứ nhì, giấu giếm ở canh thứ ba, khi hừng đông đã ló dạng thì tội đã được giấu giếm. Vị nào giấu giếm, nên khuyên vị ấy trình báo tội dukkaṭa và nên ban cho hình phạt parivāsa theo như đã được che giấu đến vị ấy. Hình phạt mānatta nên được ban cho đến cả hai vị.
Inda-bh 10~175Hai vị tỳ khưu phạm tội saṅghādisesa. Hai vị có quan điểm là tội saṅghādisesa trên cơ sở tội saṅghādisesa. Hai vị bị điên. Về sau, khi hai vị hết bị điên, một vị giấu giếm, một vị không giấu giếm. Vị nào giấu giếm, nên khuyên vị ấy trình báo tội dukkaṭa và nên ban cho hình phạt parivāsa theo như đã được che giấu đến vị ấy. Hình phạt mānatta nên được ban cho đến cả hai vị.
Inda-bh 11~176Hai vị tỳ khưu phạm tội saṅghādisesa. Khi giới bổn Pātimokkha đang được đọc tụng, hai vị phát biểu như vầy:—‘Cho đến hôm nay chúng tôi mới biết được rằng: Nghe nói pháp này cũng được truyền lại trong giới bổn, được chứa đựng trong giới bổn và được đưa ra đọc tụng vào mỗi nửa tháng.’ Hai vị có quan điểm là tội saṅghādisesa trên cơ sở tội saṅghādisesa. Một vị giấu giếm, một vị không giấu giếm. Vị nào giấu giếm, nên khuyên vị ấy trình báo tội dukkaṭa và nên ban cho hình phạt parivāsa theo như đã được che giấu đến vị ấy. Hình phạt mānatta nên được ban cho đến cả hai vị.”
Dứt mười một trường hợp về hai vị tỳ khưu.
9. CHÍN TRƯỜNG HỢP KHÔNG ĐƯỢC TRONG SẠCH TRONG VIỆC ĐƯA VỀ LẠI (HÌNH PHẠT) BAN ĐẦU:
Inda-bh 1~177Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: có hạn lượng, không hạn lượng, cùng tội danh, khác tội danh, cùng nhóm phân loại, khác nhóm phân loại, riêng biệt, và có liên quan. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, không che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội. Hội chúng đưa vị ấy, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của các tội, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hình phạt mānatta sai Pháp, rồi giải tội sai Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không được trong sạch với các tội ấy.
Inda-bh 2~178Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: có hạn lượng, không hạn lượng, cùng tội danh, khác tội danh, cùng nhóm phân loại, khác nhóm phân loại, riêng biệt, và có liên quan. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, có che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội. Hội chúng đưa vị ấy, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của các tội, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hình phạt mānatta sai Pháp, và giải tội sai Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không được trong sạch với các tội ấy.
Inda-bh 3~179Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: có hạn lượng, không hạn lượng, cùng tội danh, khác tội danh, cùng nhóm phân loại, khác nhóm phân loại, riêng biệt, và có liên quan. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, có che giấu và không che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội. Hội chúng đưa vị ấy, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của các tội, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hình phạt mānatta sai Pháp, và giải tội sai Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không được trong sạch với các tội ấy.
Inda-bh 4-7~180Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghā-disesa: có hạn lượng, không hạn lượng, cùng tội danh, khác tội danh, cùng nhóm phân loại, khác nhóm phân loại, riêng biệt, và có liên quan. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa không hạn lượng, không che giấu. … (như trên) … không hạn lượng, có che giấu. … (như trên) … không hạn lượng, có che giấu và không che giấu. … (như trên) … có hạn lượng và không hạn lượng, không che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội. Hội chúng đưa vị ấy, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của các tội, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hình phạt mānatta sai Pháp, và giải tội sai Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không được trong sạch với các tội ấy.
Inda-bh 8~181Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: có hạn lượng, không hạn lượng, cùng tội danh, khác tội danh, cùng nhóm phân loại, khác nhóm phân loại, riêng biệt, và có liên quan. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng và không hạn lượng, có che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội.―
Hội chúng đưa vị ấy, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của các tội, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hình phạt mānatta sai Pháp, và giải tội sai Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không được trong sạch với các tội ấy.
Inda-bh 9~182Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: có hạn lượng, không hạn lượng, cùng tội danh, khác tội danh, cùng nhóm phân loại, khác nhóm phân loại, riêng biệt, và có liên quan. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng và không hạn lượng, có che giấu và không che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội. Hội chúng đưa vị ấy, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của các tội, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hình phạt mānatta sai Pháp, và giải tội sai Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không được trong sạch với các tội ấy.
Dứt chín trường hợp không được trong sạch trong việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu.
10. CHÍN TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC TRONG SẠCH TRONG VIỆC ĐƯA VỀ LẠI (HÌNH PHẠT) BAN ĐẦU:
Inda-bh 1-3~183Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: có hạn lượng, không hạn lượng, ―nt― riêng biệt, và có liên quan. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, không che giấu. ―nt― có hạn lượng, có che giấu. ―nt― có hạn lượng, có che giấu và không che giấu. ―nt― Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội. Hội chúng đưa vị ấy, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của các tội, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hình phạt mānatta đúng Pháp, và giải tội đúng Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch với các tội ấy.
Inda-bh 4-6~184Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: có hạn lượng, không hạn lượng, ―nt― riêng biệt, và có liên quan. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa không hạn lượng, không che giấu ... không hạn lượng, có che giấu ... không hạn lượng, có che giấu và không che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội. Hội chúng đưa vị ấy, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của các tội, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hình phạt mānatta đúng Pháp, và giải tội đúng Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch với các tội ấy.
Inda-bh 7-9~185Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: có hạn lượng, không hạn lượng, … (như trên) … riêng biệt, và có liên quan. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng và không hạn lượng, không che giấu. … (như trên) … có hạn lượng và không hạn lượng, có che giấu. … (như trên) … có hạn lượng và không hạn lượng, có che giấu và không che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội. Hội chúng đưa vị ấy, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của các tội, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hình phạt mānatta đúng Pháp, và giải tội đúng Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch với các tội ấy.”
Dứt chín trường hợp được trong sạch trong việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu.
11. CHÍN TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC TRONG SẠCH THỨ NHÌ TRONG VIỆC ĐƯA VỀ LẠI (HÌNH PHẠT) BAN ĐẦU:
Inda-bh 1~186Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, không hạn lượng, … (như trên) … riêng biệt, và có liên quan. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, không che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội. Hội chúng đưa vị ấy, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của các tội, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp sai Pháp bằng hành sự sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Trong khi biết rằng: ‘Ta đang hành parivāsa,’ dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, không che giấu.
Đứng ở mức độ đó, vị ấy nhớ lại các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và nhớ lại các tội dẫu còn dở dang của các tội khác. Vị ấy (suy nghĩ) như sau: “Ta đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: có hạn lượng, không hạn lượng, … (như trên) … riêng biệt, và có liên quan. Ta đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến ta đây. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, ta đây đã phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, không che giấu. Dẫu còn dở dang, ta đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội. Hội chúng đã đưa ta đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của các tội, và đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp sai Pháp bằng hành sự sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Trong khi biết rằng: ‘Ta đang hành parivāsa,’ dẫu còn dở dang, ta đây đã phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, không che giấu.―
Đứng ở mức độ đó, ta đây nhớ lại các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và nhớ lại các tội dẫu còn dở dang của các tội khác, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và của các tội dẫu còn dở dang của các tội khác, (thỉnh cầu) hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, (thỉnh cầu) hình phạt mānatta đúng Pháp, và sự giải tội đúng Pháp?”
Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và của các tội dẫu còn dở dang của các tội khác, (thỉnh cầu) hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, (thỉnh cầu) hình phạt mānatta đúng Pháp, và sự giải tội đúng Pháp. Hội chúng đưa vị ấy về lại (hình phạt) ban đầu của các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và của các tội dẫu còn dở dang của các tội khác, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hình phạt mānatta đúng Pháp, và giải tội đúng Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch với các tội ấy.
Inda-bh 2-3~187Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: có hạn lượng, không hạn lượng, … (như trên) … riêng biệt, và có liên quan. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, có che giấu. … (như trên) … có hạn lượng, có che giấu và không che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội. Hội chúng đưa vị ấy, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của các tội, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp sai Pháp bằng hành sự sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Trong khi biết rằng: ‘Ta đang hành parivāsa,’ dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, có che giấu và không che giấu.
Đứng ở mức độ đó, vị ấy nhớ lại các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và nhớ lại các tội dẫu còn dở dang của các tội khác. Vị ấy (nghĩ) như sau: “Ta đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: có hạn lượng, không hạn lượng ... riêng biệt, và có liên quan. Ta đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến ta đây. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, ta đây đã phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, có che giấu và không che giấu. Dẫu còn dở dang, ta đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hphạt) ban đầu của các tội. Hội chúng đã đưa ta đây, dẫu còn dở dang, về lại (hphạt) ban đầu của các tội, và đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp sai Pháp bằng hành sự sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Trong khi biết rằng: ‘Ta đang hành parivāsa,’ dẫu còn dở dang, ta đây đã phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, có che giấu và không che giấu. Đứng ở mức độ đó, ta đây nhớ lại các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và nhớ lại các tội dẫu còn dở dang của các tội khác, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và của các tội dẫu còn dở dang của các tội khác, (thỉnh cầu) hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, (thỉnh cầu) hình phạt mānatta đúng Pháp, và sự giải tội đúng Pháp?”
Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và của các tội dẫu còn dở dang của các tội khác, (thỉnh cầu) sự hành parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, (thỉnh cầu) hình phạt mānatta đúng Pháp, và sự giải tội đúng Pháp. Hội chúng đưa vị ấy về lại (hình phạt) ban đầu của các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và của các tội dẫu còn dở dang của các tội khác, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hình phạt mānatta đúng Pháp, và giải tội đúng Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch với các tội ấy.
Inda-bh 4-6~188Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: có hạn lượng, không hạn lượng, … (như trên) … riêng biệt, và có liên quan. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa không hạn lượng, không che giấu. … (như trên) … không hạn lượng, có che giấu. … (như trên) … không hạn lượng, có che giấu và không che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội. Hội chúng đưa vị ấy, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của các tội, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp sai Pháp bằng hành sự sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Trong khi biết rằng: ‘Ta đang hành parivāsa,’… (như trên) … ban cho hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp, rồi ban cho hình phạt mānatta đúng Pháp, và giải tội đúng Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch với các tội ấy.
Inda-bh 7~189Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: có hạn lượng, không hạn lượng, … (như trên) … riêng biệt, và có liên quan. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng và không hạn lượng, không che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội. Hội chúng đưa vị ấy, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của các tội, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp sai Pháp bằng hành sự sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Vị ấy, trong khi biết rằng: ‘Ta đang hành parivāsa,’ … (như trên) … ban cho hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp, rồi ban cho hình phạt mānatta đúng Pháp, và giải tội đúng Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch với các tội ấy.
Inda-bh 8~190Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: có hạn lượng, không hạn lượng, ..., riêng biệt, và có liên quan. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng và không hạn lượng, có che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội. Hội chúng đưa vị ấy, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của các tội, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp sai Pháp bằng hành sự sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Trong khi biết rằng: ‘Ta đang hành parivāsa,’ dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng và không hạn lượng, có che giấu.―
Đứng ở mức độ đó, vị ấy nhớ lại các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và nhớ lại các tội dẫu còn dở dang của các tội khác. Vị ấy (suy nghĩ) như sau: “Ta đã phạm nhiều tội saṅghādisesa: có hạn lượng … (như trên) … riêng biệt, và có liên quan. Ta đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến ta đây. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, ta đây đã phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng và không hạn lượng, có che giấu. Ta đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội dẫu còn dở dang. Hội chúng đã đưa ta đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của các tội, và đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp sai Pháp bằng hành sự sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Trong khi biết rằng: ‘Ta đang hành parivāsa,’ dẫu còn dở dang, ta đây đã phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng và không hạn lượng, có che giấu. Đứng ở mức độ đó, ta đây nhớ lại các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và nhớ lại các tội dẫu còn dở dang của các tội khác, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và của các tội dẫu còn dở dang của các tội khác, (thỉnh cầu) hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, (thỉnh cầu) hình phạt mānatta đúng Pháp, và sự giải tội đúng Pháp?”
Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và của các tội dẫu còn dở dang của các tội khác, (thỉnh cầu) sự hành parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, (thỉnh cầu) hình phạt mānatta đúng Pháp, và sự giải tội đúng Pháp. Hội chúng đưa vị ấy về lại (hình phạt) ban đầu của các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và của các tội dẫu còn dở dang của các tội khác, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hình phạt mānatta đúng Pháp, và giải tội đúng Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch với các tội ấy.
Inda-bh 9~191Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: có hạn lượng, không hạn lượng, … (như trên) … riêng biệt, và có liên quan. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến vị ấy. Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng và không hạn lượng, có che giấu và không che giấu. Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội. Hội chúng đưa vị ấy, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của các tội, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp sai Pháp bằng hành sự sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Trong khi biết rằng: ‘Ta đang hành parivāsa,’ dẫu còn dở dang, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng và không hạn lượng, có che giấu và không che giấu.
Đứng ở mức độ đó, vị ấy nhớ lại các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và nhớ lại các tội dẫu còn dở dang của các tội khác. Vị ấy (suy nghĩ) như sau: “Ta đã phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng, không hạn lượng, … (như trên) … riêng biệt, và có liên quan. Ta đây đã thỉnh cầu hội chúng hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy. Hội chúng đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp của các tội ấy đến ta đây.―
Lúc đang hành parivāsa, dẫu còn dở dang, ta đây đã phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng và không hạn lượng, có che giấu và không che giấu. Dẫu còn dở dang, ta đây đã thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội. Hội chúng đã đưa ta đây, dẫu còn dở dang, về lại (hình phạt) ban đầu của các tội, và đã ban cho hình phạt parivāsa kết hợp sai Pháp bằng hành sự sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Trong khi biết rằng: ‘Ta đang hành parivāsa,’ dẫu còn dở dang, ta đây đã phạm nhiều tội saṅghādisesa có hạn lượng và không hạn lượng, có che giấu và không che giấu. Đứng ở mức độ đó, ta nhớ lại các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và nhớ lại các tội dẫu còn dở dang của các tội khác, hay là ta nên thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và của các tội dẫu còn dở dang của các tội khác, (thỉnh cầu) hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, (thỉnh cầu) hình phạt mānatta đúng Pháp, và sự giải tội đúng Pháp?”
Dẫu còn dở dang, vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu của các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và của các tội dẫu còn dở dang của các tội khác, (thỉnh cầu) hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, (thỉnh cầu) hình phạt mānatta đúng Pháp, và sự giải tội đúng Pháp. Hội chúng đưa vị ấy về lại (hình phạt) ban đầu của các tội dẫu còn dở dang của các tội trước đây, và của các tội dẫu còn dở dang của các tội khác, và ban cho hình phạt parivāsa kết hợp đúng Pháp bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì, rồi ban cho hình phạt mānatta đúng Pháp, và giải tội đúng Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch với các tội ấy.”
Dứt chín trường hợp không được trong sạch thứ nhì trong việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu.
Chương Tích Lũy Tội là thứ ba.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Inda-bh 1~192Bậc Hiền Sĩ đã thuyết về tội không che giấu, (che giấu) một ngày, hai ngày, ba ngày, và bốn ngày, năm ngày, nửa tháng, mười ngày, và (hình phạt parivāsa) từ mốc trong sạch.
Inda-bh 2~193Trong khi hoàn tục, về tám trường hợp có hạn lượng, hai vị tỳ khưu, tại nơi ấy có sự suy nghĩ, cả hai nghi ngờ, có quan điểm là tội lẫn lộn, có quan điểm là tội nặng trên cơ sở tội lẫn lộn.
Inda-bh 3~194Có quan điểm là tội lẫn lộn trên cơ sở tội lẫn lộn, có quan điểm là tội nặng trên cơ sở tội nhẹ, có quan điểm là trong sạch, và vị giấu giếm, rồi với vị ra đi.
Inda-bh 4~195Vị bị điên, và việc trình báo, về lại (hình phạt) ban đầu, vị trong sạch trở lại. Các lời dạy vì sự tồn tại của Chánh Pháp là của các giáo thọ sư nhóm Vibhajja, cư trú tại Mahāvihāra, những vị làm rạng ngời đảo Tambapaṇṇi.”
Dứt Chương Tích Lũy Tội.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Small Division
The chapter on legal procedures in relation to suspension
3. Chương Tập Hợp
1. Sukkavissaṭṭhi
1. Emission of semen
1. Việc Xuất Tinh
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena āyasmā udāyī ekaṁ āpattiṁ āpanno hoti sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, dātabbaṁ—
1.1. Appaṭicchannamānatta
Tena, bhikkhave, udāyinā bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vuḍḍhānaṁ bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—
‘ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Sohaṁ, bhante, saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yācāmi.
Ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Dutiyampi, sohaṁ, bhante, saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yācāmi.
Ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Tatiyampi sohaṁ, bhante, saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yācāmī’ti.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time Venerable Udāyī had committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He told the monks about this, adding, “What should I do now?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should give the monk Udāyī the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen. And it should be given like this.
Trial periods for those with unconcealed offenses
“The monk Udāyī should approach the Sangha, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say:
‘Venerables, I’ve committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. I ask the Sangha for the trial period of six days for that offense.
I’ve committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. For the second time, I ask the Sangha for the trial period of six days for that offense.
I’ve committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. For the third time, I ask the Sangha for the trial period of six days for that offense.’
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
97. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, bậc Thế Tôn, đang trú tại Sāvatthī, trong tu viện Jetavana của trưởng giả Anāthapiṇḍika. Và vào lúc ấy, Đại đức Udāyī đã phạm một tội là cố ý xuất tinh, không che giấu. Vị ấy đã trình báo với các tỳ khưu rằng: “Thưa chư hiền, tôi đã phạm một tội là cố ý xuất tinh, không che giấu. Tôi nên thực hành như thế nào đây?” (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng hãy trao cho tỳ khưu Udāyī hình phạt mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh, không che giấu. Và này các tỳ khưu, nên trao như sau: –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ dadeyya. Esā ñatti.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yācati. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ deti. Yassāyasmato khamati udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yācati. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ deti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī has committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He is asking the Sangha for the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen. If the Sangha is ready, it should give the monk Udāyī the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen. This is the motion.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī has committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He is asking the Sangha for the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen. The Sangha gives the monk Udāyī the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen. Any monk who approves of giving the monk Udāyī the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
For the second time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī has committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He is asking the Sangha for the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen. The Sangha gives the monk Udāyī the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen.
111. “‘Bạch chư Đại đức, mong hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Vị ấy đã xin hội chúng biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Hội chúng đã cho tỳ khưu Udāyī biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Trong khi đang hành biệt trú, vị ấy đã phạm một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Vị ấy xin hội chúng việc kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở trong khi (hành biệt trú). Nếu việc ấy là thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở trong khi (hành biệt trú). Đây là lời tác bạch.’”
“Kính bạch chư Đại đức, Tăng chúng hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Vị ấy xin Tăng chúng cho phép hành phạt biệt trú nửa tháng về một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Tăng chúng ban cho tỳ khưu Udāyī hình phạt biệt trú nửa tháng về một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc ban cho tỳ khưu Udāyī hình phạt biệt trú nửa tháng về một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.”
Tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yācati. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ deti. Yassāyasmato khamati udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī has committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He is asking the Sangha for the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen. The Sangha gives the monk Udāyī the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen. Any monk who approves of giving the monk Udāyī the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Lần thứ nhì, con cũng nói lên điều này ... Lần thứ ba, con cũng nói lên điều này ...”
Dinnaṁ saṅghena udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
1.2. Appaṭicchannaabbhāna
So ciṇṇamānatto bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. Sohaṁ ciṇṇamānatto. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ abbhetu. Evañca pana, bhikkhave, abbhetabbo—Tena, bhikkhave, udāyinā bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vuḍḍhānaṁ bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—
‘ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ, sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. Sohaṁ, bhante, ciṇṇamānatto saṅghaṁ abbhānaṁ yācāmi.
The Sangha has given the monk Udāyī the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
Rehabilitation for those with unconcealed offenses
When he had completed the trial period, he told the monks, “I had committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. I asked the Sangha to give me the trial period of six days for that offense, which it did. I’ve now completed it. What should I do next?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should rehabilitate the monk Udāyī. And it should be done like this. The monk Udāyī should approach the Sangha, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say:
‘Venerables, I had committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. I asked the Sangha to give me the trial period of six days for that offense, which it did. I’ve now completed the trial period and ask the Sangha for rehabilitation.
“Kính bạch chư Đại đức, Tăng chúng hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Vị ấy đã xin Tăng chúng cho phép hành phạt biệt trú nửa tháng về một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Tăng chúng đã ban cho tỳ khưu Udāyī hình phạt biệt trú nửa tháng về một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Trong khi đang hành phạt biệt trú, vị ấy đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Vị ấy xin Tăng chúng cho phép kéo về lại từ đầu về một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi (đang hành phạt). Tăng chúng kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu về một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi (đang hành phạt). Vị trưởng lão nào chấp thuận việc kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu về một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi (đang hành phạt) thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.”
Ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ.
I had committed one unconcealed offense of intentional emission of semen.
98. “Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyī ấy nên đi đến Tăng chúng, vắt thượng y qua một bên vai, đảnh lễ chân các vị tỳ khưu trưởng lão, ngồi xổm, chắp tay, và nên nói như sau: ‘Bạch chư Đại đức, con đã phạm một tội là cố ý xuất tinh, không che giấu. Bạch chư Đại đức, con xin Tăng chúng hình phạt mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh, không che giấu. Bạch chư Đại đức, con đã phạm một tội là cố ý xuất tinh, không che giấu. Lần thứ hai, bạch chư Đại đức, con xin Tăng chúng hình phạt mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh, không che giấu. Bạch chư Đại đức, con đã phạm một tội là cố ý xuất tinh, không che giấu. Lần thứ ba, bạch chư Đại đức, con xin Tăng chúng hình phạt mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh, không che giấu.’ “Một tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết: –
100. Vị ấy, sau khi đã thực hành xong biệt trú mānatta, đã trình báo với các tỳ khưu rằng: ‘Thưa chư hiền, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Tôi ấy đã xin Tăng chúng biệt trú mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Tăng chúng đã ban hành cho tôi ấy biệt trú mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Tôi ấy đã thực hành xong biệt trú mānatta. Vậy bây giờ tôi nên thực hành như thế nào?’ Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ‘Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng hãy phục vị cho tỳ khưu Udāyī. Và này các tỳ khưu, nên phục vị như sau: –
‘Bạch chư Đại đức, con đã phạm một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Con ấy đã xin Tăng chúng biệt trú mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Tăng chúng đã ban hành cho con ấy biệt trú mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Con ấy, sau khi đã thực hành xong biệt trú mānatta, bạch chư Đại đức, lần thứ nhì con xin Tăng chúng phục vị.
Ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. Sohaṁ ciṇṇamānatto tatiyampi, bhante, saṅghaṁ abbhānaṁ yācāmī’ti.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
I had committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. I asked the Sangha to give me the trial period of six days for that offense, which it did. I’ve now completed the trial period and, for the third time, I ask the Sangha for rehabilitation.’
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
‘Bạch chư Đại đức, con đã phạm một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Con ấy đã xin Tăng chúng biệt trú mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Tăng chúng đã ban hành cho con ấy biệt trú mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Con ấy, sau khi đã thực hành xong biệt trú mānatta, bạch chư Đại đức, lần thứ ba con xin Tăng chúng phục vị.’ Một vị tỳ khưu có năng lực, có khả năng nên trình cho Tăng chúng biết như sau: –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. So ciṇṇamānatto saṅghaṁ abbhānaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ abbheyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He asked the Sangha for the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen. The Sangha gave the monk Udāyī the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen. He has now completed the trial period and is asking the Sangha for rehabilitation. If the Sangha is ready, it should rehabilitate the monk Udāyī. This is the motion.
101. ‘Bạch chư Đại đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Vị ấy đã xin Tăng chúng biệt trú mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Tăng chúng đã ban hành cho tỳ khưu Udāyī biệt trú mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Vị ấy, sau khi đã thực hành xong biệt trú mānatta, xin Tăng chúng phục vị. Nếu Tăng chúng xét thấy đã đến thời điểm thích hợp, Tăng chúng hãy phục vị cho tỳ khưu Udāyī. Đây là lời tác bạch.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. So ciṇṇamānatto saṅghaṁ abbhānaṁ yācati. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ abbheti. Yassāyasmato khamati udāyissa bhikkhuno abbhānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He asked the Sangha for the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen. The Sangha gave the monk Udāyī the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen. He has now completed the trial period and is asking the Sangha for rehabilitation. The Sangha rehabilitates the monk Udāyī. Any monk who approves of rehabilitating the monk Udāyī should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Bạch chư Đại đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Vị ấy đã xin Tăng chúng biệt trú mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Tăng chúng đã ban hành cho tỳ khưu Udāyī biệt trú mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Vị ấy, sau khi đã thực hành xong biệt trú mānatta, xin Tăng chúng phục vị. Tăng chúng đang phục vị cho tỳ khưu Udāyī. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc phục vị cho tỳ khưu Udāyī thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. So ciṇṇamānatto saṅghaṁ abbhānaṁ yācati. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ abbheti. Yassāyasmato khamati udāyissa bhikkhuno abbhānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the second time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He asked the Sangha for the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen. The Sangha gave the monk Udāyī the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen. He has now completed the trial period and is asking the Sangha for rehabilitation. The Sangha rehabilitates the monk Udāyī. Any monk who approves of rehabilitating the monk Udāyī should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Lần thứ nhì, tôi xin nói lên điều này: Bạch chư Đại đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Vị ấy đã xin Tăng chúng biệt trú mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Tăng chúng đã ban hành cho tỳ khưu Udāyī biệt trú mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Vị ấy, sau khi đã thực hành xong biệt trú mānatta, xin Tăng chúng phục vị. Tăng chúng đang phục vị cho tỳ khưu Udāyī. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc phục vị cho tỳ khưu Udāyī thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.
Tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. So ciṇṇamānatto saṅghaṁ abbhānaṁ yācati. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ abbheti. Yassāyasmato khamati udāyissa bhikkhuno abbhānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He asked the Sangha for the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen. The Sangha gave the monk Udāyī the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen. He has now completed the trial period and is asking the Sangha for rehabilitation. The Sangha rehabilitates the monk Udāyī. Any monk who approves of rehabilitating the monk Udāyī should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Lần thứ ba, tôi xin nói lên điều này: Bạch chư Đại đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Vị ấy đã xin Tăng chúng biệt trú mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Tăng chúng đã ban hành cho tỳ khưu Udāyī biệt trú mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Vị ấy, sau khi đã thực hành xong biệt trú mānatta, xin Tăng chúng phục vị. Tăng chúng đang phục vị cho tỳ khưu Udāyī. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc phục vị cho tỳ khưu Udāyī thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.
Abbhito saṅghena udāyī bhikkhu. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has rehabilitated the monk Udāyī. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Tỳ-khưu Udāyī đã được Tăng phục hồi. Việc này được Tăng chấp thuận, do đó im lặng. Tôi ghi nhận việc này là như vậy.”
1.3. Ekāhappaṭicchannaparivāsa
Probation for those with offenses concealed for one day
Biệt trú cho tội che giấu một ngày.
Tena kho pana samayena āyasmā udāyī ekaṁ āpattiṁ āpanno hoti sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ ekāhappaṭicchannaṁ. So bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ ekāhappaṭicchannaṁ. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, dātabbo—
On one occasion Venerable Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. He told the monks about this, adding, “What should I do now?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should give the monk Udāyī probation for one day for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. And it should be given like this.
102. Vào lúc bấy giờ, Đại đức Udāyī đã phạm một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày. Vị ấy đã trình báo đến các tỳ khưu rằng: “Thưa các hiền hữu, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày. Tôi nên thực hành như thế nào đây?” (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng hãy trao cho tỳ khưu Udāyī việc thực hành biệt trú một ngày về một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày. Và này các tỳ khưu, nên được trao như vầy:
‘ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ ekāhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ, bhante, saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbo. Tatiyampi yācitabbo.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Venerables, I’ve committed one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. I ask the Sangha for probation for one day for that offense.’ And he should ask a second and a third time.
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
“Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyī ấy nên đi đến Tăng chúng, sắp xếp thượng y về một bên vai, đảnh lễ chân các vị tỳ khưu trưởng lão, ngồi xổm, chắp tay, và nên nói lên lời như vầy: ‘Bạch chư Đại đức, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày. Bạch chư Đại đức, tôi ấy xin Tăng chúng (cho phép) thực hành biệt trú một ngày về một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày.’ Nên xin đến lần thứ nhì. Nên xin đến lần thứ ba. Vị tỳ khưu có năng lực và khôn khéo nên trình Tăng chúng biết rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ ekāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī has committed one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. He is asking the Sangha for probation for one day for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. If the Sangha is ready, it should give the monk Udāyī probation for one day for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. This is the motion.
103. “Bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày. Vị ấy xin Tăng chúng (cho phép) thực hành biệt trú một ngày về một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày. Nếu việc này là hợp thời đối với Tăng chúng, Tăng chúng hãy trao cho tỳ khưu Udāyī việc thực hành biệt trú một ngày về một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày. Đây là lời tác bạch.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ ekāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ yācati. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ deti. Yassāyasmato khamati udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī has committed one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. He is asking the Sangha for probation for one day for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. The Sangha gives the monk Udāyī probation for one day for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. Any monk who approves of giving the monk Udāyī probation for one day for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày. Vị ấy xin Tăng chúng (cho phép) thực hành biệt trú một ngày về một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày. Tăng chúng trao cho tỳ khưu Udāyī việc thực hành biệt trú một ngày về một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày. Vị Đại đức nào chấp thuận việc trao cho tỳ khưu Udāyī việc thực hành biệt trú một ngày về một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
“Lần thứ nhì, tôi cũng nói lên sự việc này ... Lần thứ ba, tôi cũng nói lên sự việc này ...”
Dinno saṅghena udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāso. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given the monk Udāyī probation for one day for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Việc thực hành biệt trú một ngày về một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày đã được Tăng chúng trao cho tỳ khưu Udāyī. (Việc này) Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
1.4. Ekāhappaṭicchannamānatta
Trial periods for those with offenses concealed for one day
Hành tội cho tội che giấu một ngày.
So parivutthaparivāso bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ ekāhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivutthaparivāso. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, dātabbaṁ—
When he had completed the probation, he told the monks, “I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. I asked the Sangha to give me probation for one day for that offense, which it did. I’ve now completed it. What should I do next?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should give the monk Udāyī the trial period of six days for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. And it should be given like this.
104. Vị ấy, sau khi đã thực hành xong biệt trú, đã trình báo đến các tỳ khưu rằng: “Thưa các hiền hữu, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày. Tôi ấy đã xin Tăng chúng (cho phép) thực hành biệt trú một ngày về một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày. Tăng chúng đã trao cho tôi ấy việc thực hành biệt trú một ngày về một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày. Tôi ấy đã thực hành xong biệt trú. Tôi nên thực hành như thế nào đây?” (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng hãy trao cho tỳ khưu Udāyī việc hành tội sáu đêm về một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày. Và này các tỳ khưu, nên được trao như vầy:
‘ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ ekāhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ, bhante, parivutthaparivāso saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbaṁ. Tatiyampi yācitabbaṁ.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Venerables, I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. I asked the Sangha to give me probation for one day for that offense, which it did. I’ve now completed the probation and ask the Sangha for the trial period of six days.’ And he should ask a second and a third time.
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
“Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyī ấy nên đi đến Tăng chúng ... nên nói lên lời như vầy: ‘Bạch chư Đại đức, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày. Tôi ấy đã xin Tăng chúng (cho phép) thực hành biệt trú một ngày về một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày. Tăng chúng đã trao cho tôi ấy việc thực hành biệt trú một ngày về một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày. Bạch chư Đại đức, tôi ấy đã thực hành xong biệt trú, xin Tăng chúng (cho phép) hành tội sáu đêm về một tội cố ý xuất tinh và đã che giấu một ngày.’ Nên xin đến lần thứ nhì. Nên xin đến lần thứ ba. Vị tỳ khưu có năng lực và khôn khéo nên trình Tăng chúng biết rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ ekāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ adāsi. So parivutthaparivāso saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. He asked the Sangha for probation for one day for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. The Sangha gave the monk Udāyī probation for one day for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. He has now completed the probation and is asking the Sangha for the trial period of six days for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. If the Sangha is ready, it should give the monk Udāyī the trial period of six days for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. This is the motion.
105. “Bạch chư Đại đức, Tăng chúng hãy nghe tôi. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Vị ấy đã xin Tăng chúng một ngày biệt trú vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Tăng chúng đã ban cho tỳ khưu Udāyī một ngày biệt trú vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Vị ấy, sau khi đã sống biệt trú, xin Tăng chúng sáu đêm mānatta vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Nếu Tăng chúng xét là hợp thời, Tăng chúng nên ban cho tỳ khưu Udāyī sáu đêm mānatta vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ ekāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ adāsi. So parivutthaparivāso saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yācati. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ deti. Yassāyasmato khamati udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. He asked the Sangha for probation for one day for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. The Sangha gave the monk Udāyī probation for one day for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. He has now completed the probation and is asking the Sangha for the trial period of six days for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. The Sangha gives the monk Udāyī the trial period of six days for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. Any monk who approves of giving give the monk Udāyī the trial period of six days for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Bạch chư Đại đức, Tăng chúng hãy nghe tôi. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Vị ấy đã xin Tăng chúng một ngày biệt trú vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Tăng chúng đã ban cho tỳ khưu Udāyī một ngày biệt trú vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Vị ấy, sau khi đã sống biệt trú, xin Tăng chúng sáu đêm mānatta vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Tăng chúng ban cho tỳ khưu Udāyī sáu đêm mānatta vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc ban sáu đêm mānatta cho tỳ khưu Udāyī vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày, vị ấy nên im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy nên nói.”
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
“Lần thứ nhì, tôi cũng nói lên điều này ... Lần thứ ba, tôi cũng nói lên điều này ...”
Dinnaṁ saṅghena udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given the monk Udāyī the trial period of six days for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Sáu đêm mānatta đã được Tăng chúng ban cho tỳ khưu Udāyī vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
1.5. Ekāhappaṭicchannaabbhāna
Rehabilitation for those with offenses concealed for one day
Việc phục hồi cho tội đã che giấu một ngày
So ciṇṇamānatto bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ ekāhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivutthaparivāso saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. Sohaṁ ciṇṇamānatto. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ abbhetu. Evañca pana, bhikkhave, abbhetabbo—
When he had completed the trial period, he told the monks, “I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. I asked the Sangha to give me probation for one day for that offense, which it did. When I had completed the probation, I asked the Sangha to give me the trial period of six days, which it did. I’ve now completed it. What should I do next?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should rehabilitate the monk Udāyī. And it should be done like this.
106. Vị ấy, sau khi đã thực hành mānatta, trình báo với các tỳ khưu rằng: “Thưa chư hiền, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Tôi đã xin Tăng chúng một ngày biệt trú vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Tăng chúng đã ban cho tôi một ngày biệt trú vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Tôi, sau khi đã sống biệt trú, đã xin Tăng chúng sáu đêm mānatta vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Tăng chúng đã ban cho tôi sáu đêm mānatta vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Tôi đã thực hành xong mānatta. Bây giờ tôi nên thực hành như thế nào?” Các tỳ khưu đã trình sự việc này lên đức Thế Tôn. “Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng hãy phục hồi cho tỳ khưu Udāyī. Và này các tỳ khưu, nên phục hồi như sau:”
‘ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ ekāhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivutthaparivāso saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. Sohaṁ, bhante, ciṇṇamānatto saṅghaṁ abbhānaṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbaṁ. Tatiyampi yācitabbaṁ.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Venerables, I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. I asked the Sangha to give me probation for one day for that offense, which it did. When I had completed the probation, I asked the Sangha to give me the trial period of six days, which it did. I’ve now completed the trial period and ask the Sangha for rehabilitation.’ And he should ask a second and a third time.
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
“Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyī ấy nên đến Tăng chúng ... nên nói như sau: ‘Bạch chư Đại đức, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Tôi đã xin Tăng chúng một ngày biệt trú vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Tăng chúng đã ban cho tôi một ngày biệt trú vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Tôi, sau khi đã sống biệt trú, đã xin Tăng chúng sáu đêm mānatta vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Tăng chúng đã ban cho tôi sáu đêm mānatta vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Bạch chư Đại đức, tôi đã thực hành xong mānatta, xin Tăng chúng phục hồi cho tôi.’ Nên xin lần thứ nhì. Nên xin lần thứ ba. Một tỳ khưu có năng lực và khéo léo nên tác bạch cho Tăng chúng biết:”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ ekāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ adāsi. So parivutthaparivāso saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. So ciṇṇamānatto saṅghaṁ abbhānaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ abbheyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. He asked the Sangha for probation for one day for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. The Sangha gave the monk Udāyī probation for one day for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. When he had completed the probation, he asked the Sangha for the trial period of six days for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. The Sangha gave the monk Udāyī the trial period of six days for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. He has now completed the trial period and is asking the Sangha for rehabilitation. If the Sangha is ready, it should rehabilitate the monk Udāyī. This is the motion.
107. “Bạch chư Đại đức, Tăng chúng hãy nghe tôi. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Vị ấy đã xin Tăng chúng một ngày biệt trú vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Tăng chúng đã ban cho tỳ khưu Udāyī một ngày biệt trú vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Vị ấy, sau khi đã sống biệt trú, đã xin Tăng chúng sáu đêm mānatta vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Tăng chúng đã ban cho tỳ khưu Udāyī sáu đêm mānatta vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Vị ấy, sau khi đã thực hành xong mānatta, xin Tăng chúng phục hồi. Nếu Tăng chúng xét là hợp thời, Tăng chúng nên phục hồi cho tỳ khưu Udāyī. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ ekāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya ekāhaparivāsaṁ adāsi. So parivutthaparivāso saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā ekāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. So ciṇṇamānatto saṅghaṁ abbhānaṁ yācati. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ abbheti. Yassāyasmato khamati udāyissa bhikkhuno abbhānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. He asked the Sangha for probation for one day for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. The Sangha gave the monk Udāyī probation for one day for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. When he had completed the probation, he asked the Sangha for the trial period of six days for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. The Sangha gave the monk Udāyī the trial period of six days for one offense of intentional emission of semen, concealed for one day. He has now completed the trial period and is asking the Sangha for rehabilitation. The Sangha rehabilitates the monk Udāyī. Any monk who approves of rehabilitating the monk Udāyī should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Đại đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Vị ấy đã xin Tăng chúng biệt trú một ngày vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Tăng chúng đã ban cho tỳ khưu Udāyī biệt trú một ngày vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Vị ấy, sau khi đã sống biệt trú, đã xin Tăng chúng thi hành mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Tăng chúng đã ban cho tỳ khưu Udāyī thi hành mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu một ngày. Vị ấy, sau khi đã thi hành mānatta, xin Tăng chúng phục vị. Tăng chúng phục vị cho tỳ khưu Udāyī. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc phục vị cho tỳ khưu Udāyī thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.”
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
“Lần thứ nhì, con cũng nói lên điều này ... Lần thứ ba, con cũng nói lên điều này ...”
Abbhito saṅghena udāyī bhikkhu. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has rehabilitated the monk Udāyī. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Tỳ khưu Udāyī đã được Tăng chúng phục vị. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này là như vậy.”
1.6. Pañcāhappaṭicchannaparivāsa
Probation for those with offenses concealed for five days
Biệt trú cho tội che giấu năm ngày
Tena kho pana samayena āyasmā udāyī ekaṁ āpattiṁ āpanno hoti sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ dvīhappaṭicchannaṁ …pe… tīhappaṭicchannaṁ …pe… catūhappaṭicchannaṁ …pe… pañcāhappaṭicchannaṁ. So bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, dātabbo—
On one occasion Venerable Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for two days. … concealed for three days. … concealed for four days. … concealed for five days. He told the monks about this, adding, “What should I do now?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should give the monk Udāyī probation for five days for one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. And it should be given like this.
108. Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Udāyī đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu hai ngày ... đã che giấu ba ngày ... đã che giấu bốn ngày ... đã che giấu năm ngày. Vị ấy đã trình báo với các tỳ khưu rằng: “Thưa chư hiền, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Tôi nên thực hành như thế nào?” (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, trong trường hợp ấy, Tăng chúng hãy ban cho tỳ khưu Udāyī biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Và này các tỳ khưu, nên ban hành như sau: –
‘ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ, bhante, saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbo. Tatiyampi yācitabbo.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Venerables, I’ve committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. I ask the Sangha for probation for five days for that offense.’ And he should ask a second and a third time.
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
“Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyī ấy nên đi đến Tăng chúng, vắt thượng y về một bên vai, đảnh lễ chân các vị tỳ khưu trưởng lão, ngồi xuống theo thế ngồi xổm, chắp tay lại, rồi nói lên như vầy: ‘Kính bạch chư Đại đức, con đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Kính bạch chư Đại đức, con xin Tăng chúng biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày.’ Nên xin lần thứ nhì. Nên xin lần thứ ba. Một vị tỳ khưu có khả năng và thẩm quyền nên trình Tăng chúng biết: –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī has committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. He is asking the Sangha for probation for five days for one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. If the Sangha is ready, it should give the monk Udāyī probation for five days for one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. This is the motion.
109. “Kính bạch chư Đại đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Nếu Tăng chúng xét thấy đã đến lúc, Tăng chúng hãy ban cho tỳ khưu Udāyī biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ yācati. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ deti. Yassāyasmato khamati udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī has committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. He is asking the Sangha for probation for five days for one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. The Sangha gives the monk Udāyī probation for five days for one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. Any monk who approves of giving the monk Udāyī probation for five days for one offense of intentional emission of semen, concealed for five days, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Đại đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Tăng chúng ban cho tỳ khưu Udāyī biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc ban biệt trú năm ngày cho tỳ khưu Udāyī vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.”
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
“Lần thứ nhì, con cũng nói lên điều này ... Lần thứ ba, con cũng nói lên điều này ...”
Dinno saṅghena udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāso. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given the monk Udāyī probation for five days for one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Tăng chúng đã ban cho tỳ khưu Udāyī biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này là như vậy.”
1.7. Pārivāsikamūlāyapaṭikassanā
So parivasanto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasanto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikassatu. Evañca pana, bhikkhave, mūlāya paṭikassitabbo—
Sending back to the beginning of those on probation
While on probation, he committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He told the monks, “I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. I asked the Sangha to give me probation for five days for that offense, which it did. While on probation, I committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. What should I do now?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should send the monk Udāyī back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while on probation. And it should be done like this.
Việc kéo về lại từ đầu trong khi đang sống biệt trú
‘ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasanto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Sohaṁ, bhante, saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbā. Tatiyampi yācitabbā.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ adāsi. So parivasanto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikasseyya. Esā ñatti.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ adāsi. So parivasanto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikassati. Yassāyasmato khamati udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanā, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
Paṭikassito saṅghena udāyī bhikkhu antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanā. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
‘Venerables, I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. I asked the Sangha to give me probation for five days for that offense, which it did. While on probation, I committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. I ask the Sangha to send me back to the beginning for that offense.’ And he should ask a second and a third time.
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. He asked the Sangha for probation for five days for one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. The Sangha gave the monk Udāyī probation for five days for one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. While on probation, he committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He is now asking the Sangha to send him back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while on probation. If the Sangha is ready, it should send the monk Udāyī back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while on probation. This is the motion.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. He asked the Sangha for probation for five days for one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. The Sangha gave the monk Udāyī probation for five days for one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. While on probation, he committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He is now asking the Sangha to send him back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while on probation. The Sangha sends the monk Udāyī back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while on probation. Any monk who approves of sending the monk Udāyī back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while on probation, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
The Sangha has sent the monk Udāyī back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while on probation. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu Udāyī ấy nên đi đến hội chúng ... cho đến ... nên nói như vầy: ‘Bạch chư Đại đức, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Tôi ấy đã xin hội chúng biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Hội chúng đã cho tôi ấy biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Trong khi đang hành biệt trú, tôi ấy đã phạm một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Bạch chư Đại đức, tôi ấy xin hội chúng việc kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở trong khi (hành biệt trú).’ Nên xin lần thứ nhì. Nên xin lần thứ ba. Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho hội chúng biết:”
1.8. Mānattārahamūlāyapaṭikassanā
Sending back to the beginning of those deserving the trial period
Việc Kéo Về Lại Từ Đầu Khi Đang Thích Hợp Với Mānatta
So parivutthaparivāso mānattāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasanto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāciṁ. Taṁ maṁ saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. Sohaṁ parivutthaparivāso mānattāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikassatu. Evañca pana, bhikkhave, mūlāya paṭikassitabbo—
When he had completed the probation, while deserving the trial period, he committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He told the monks, “I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. I asked the Sangha to give me probation for five days for that offense, which it did. While on probation, I committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. I asked the Sangha to send me back to the beginning for that offense, which it did. When I had completed the probation, while deserving the trial period, I committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. What should I do now?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should send the monk Udāyī back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while deserving the trial period. And it should be done like this.
112. Vị ấy, sau khi đã hành xong biệt trú, đang thích hợp với mānatta, ở trong khi ấy đã phạm một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Vị ấy đã trình báo đến các tỳ khưu rằng: “Thưa chư hiền, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Tôi ấy đã xin hội chúng biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Hội chúng đã cho tôi ấy biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Trong khi đang hành biệt trú, tôi ấy đã phạm một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Tôi ấy đã xin hội chúng việc kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở trong khi (hành biệt trú). Hội chúng đã kéo tôi ấy về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở trong khi (hành biệt trú). Tôi ấy, sau khi đã hành xong biệt trú, đang thích hợp với mānatta, ở trong khi ấy đã phạm một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Tôi nên thực hành như thế nào đây?” (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này các tỳ khưu, trong trường hợp ấy, hội chúng nên kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở trong khi (hành biệt trú). Và này các tỳ khưu, nên được kéo về lại từ đầu như vầy:”
‘ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ …pe… sohaṁ parivutthaparivāso mānattāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbā. Tatiyampi yācitabbā.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Venerables, I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. … When I had completed the probation, while deserving the trial period, I committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. I ask the Sangha to send me back to the beginning for that offense.’ And he should ask a second and a third time.
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
“Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu Udāyī ấy nên đi đến Tăng ... và nên nói như sau: ‘Bạch các ngài, con đã phạm một tội cố ý làm xuất tinh, che giấu năm ngày ... Con ấy, sau khi đã sống biệt trú, trong khi đang xứng đáng hành mã-nát (mānatta), đã phạm một tội cố ý làm xuất tinh không che giấu. Con ấy xin Tăng cho trở lại từ đầu vì một tội cố ý làm xuất tinh không che giấu đã phạm trong khi đó.’ Phải xin lần thứ nhì. Phải xin lần thứ ba. Một tỳ-khưu thông thạo, có năng lực nên tác bạch cho Tăng biết –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ …pe… so parivutthaparivāso mānattāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikasseyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. … When he had completed the probation, while deserving the trial period, he committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He is now asking the Sangha to send him back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while deserving the trial period. If the Sangha is ready, it should send the monk Udāyī back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while deserving the trial period. This is the motion.
113. “Bạch chư Đại đức Tăng, xin hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ... vị ấy sau khi đã sống biệt trú, trong khi đang xứng đáng (hành) mānatta, đã phạm một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng cho kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu (đã phạm) trong khi ấy. Nếu Tăng chúng xét thấy đã đến lúc thích hợp, Tăng chúng nên cho tỳ khưu Udāyī kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu (đã phạm) trong khi ấy. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ …pe… so parivutthaparivāso mānattāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikassati. Yassāyasmato khamati udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanā, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. … When he had completed the probation, while deserving the trial period, he committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He is now asking the Sangha to send him back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while deserving the trial period. The Sangha sends the monk Udāyī back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while deserving the trial period. Any monk who approves of sending send the monk Udāyī back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while deserving the trial period, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Bạch chư Đại đức Tăng, xin hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ... vị ấy sau khi đã sống biệt trú, trong khi đang xứng đáng (hành) mānatta, đã phạm một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng cho kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu (đã phạm) trong khi ấy. Tăng chúng cho tỳ khưu Udāyī kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu (đã phạm) trong khi ấy. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc cho tỳ khưu Udāyī kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu (đã phạm) trong khi ấy thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.”
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
“Lần thứ nhì, con cũng nói lên điều này ... Lần thứ ba, con cũng nói lên điều này ...”
Paṭikassito saṅghena udāyī bhikkhu antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanā. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has sent the monk Udāyī back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while deserving the trial period. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Tăng chúng đã cho tỳ khưu Udāyī kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu (đã phạm) trong khi ấy. Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con ghi nhận sự việc này là như vậy.”
1.9. Tikāpattimānatta
Trial period for the three offenses
Mānatta cho ba tội
So parivutthaparivāso bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ …pe… sohaṁ parivutthaparivāso.
Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyissa bhikkhuno tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, dātabbaṁ—
When he had completed the probation, he told the monks, “I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days … I’ve now completed the probation.
What should I do next?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should give the monk Udāyī the trial period of six days for the three offenses. And it should be given like this.
114. Vị ấy sau khi đã sống biệt trú đã trình báo cho các tỳ khưu rằng: “Thưa chư hiền, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ... tôi ấy đã sống xong biệt trú. Vậy tôi nên thực hành như thế nào?” (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng hãy trao cho tỳ khưu Udāyī hình phạt mānatta sáu đêm cho ba tội. Và này các tỳ khưu, nên trao như vầy –”
‘ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ adāsi …pe… sohaṁ, bhante, parivutthaparivāso saṅghaṁ tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbaṁ. Tatiyampi yācitabbaṁ.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Venerables, I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. I asked the Sangha to give me probation for five days for that offense, which it did. … I’ve now completed the probation and ask the Sangha for the trial period of six days for the three offenses.’ And he should ask a second and a third time.
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
“Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyī ấy nên đi đến Tăng chúng ... nên nói như vầy: ‘Bạch chư Đại đức, con đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Con ấy đã xin Tăng chúng hình phạt biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Tăng chúng đã trao cho con ấy hình phạt biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ... Bạch chư Đại đức, con ấy sau khi đã sống xong biệt trú, xin Tăng chúng hình phạt mānatta sáu đêm cho ba tội.’ Nên xin lần thứ nhì. Nên xin lần thứ ba. Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên tác bạch cho Tăng chúng biết –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ …pe… so parivutthaparivāso saṅghaṁ tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho udāyissa bhikkhuno tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. … He has now completed the probation and is asking the Sangha for the trial period of six days for the three offenses. If the Sangha is ready, it should give the monk Udāyī the trial period of six days for the three offenses. This is the motion.
115. “Bạch chư Đại đức Tăng, xin hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ... vị ấy sau khi đã sống xong biệt trú, xin Tăng chúng hình phạt mānatta sáu đêm cho ba tội. Nếu Tăng chúng xét thấy đã đến lúc thích hợp, Tăng chúng nên trao cho tỳ khưu Udāyī hình phạt mānatta sáu đêm cho ba tội. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ …pe… so parivutthaparivāso saṅghaṁ tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ yācati. Saṅgho udāyissa bhikkhuno tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ deti. Yassāyasmato khamati udāyissa bhikkhuno tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. … He has now completed the probation and is asking the Sangha for the trial period of six days for the three offenses. The Sangha gives the monk Udāyī the trial period of six days for the three offenses. Any monk who approves of giving the monk Udāyī the trial period of six days for the three offenses should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Bạch chư Đại đức Tăng, xin hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ... vị ấy sau khi đã sống xong biệt trú, xin Tăng chúng hình phạt mānatta sáu đêm cho ba tội. Tăng chúng trao cho tỳ khưu Udāyī hình phạt mānatta sáu đêm cho ba tội. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc trao hình phạt mānatta sáu đêm cho ba tội cho tỳ khưu Udāyī thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.”
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
“Lần thứ nhì, con cũng nói lên điều này ... Lần thứ ba, con cũng nói lên điều này ...”
Dinnaṁ saṅghena udāyissa bhikkhuno tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given the monk Udāyī the trial period of six days for the three offenses. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Tăng chúng đã trao hình phạt mānatta sáu đêm cho ba tội cho tỳ khưu Udāyī. Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con ghi nhận sự việc này là như vậy.”
1.10. Mānattacārikamūlāyapaṭikassanā
Sending back to the beginning of those undertaking the trial period
Việc kéo về lại từ đầu trong khi đang hành mānatta
So mānattaṁ caranto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ …pe… sohaṁ mānattaṁ caranto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikassitvā chārattaṁ mānattaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, mūlāya paṭikassitabbo—tena, bhikkhave, udāyinā bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā …pe… evamassa vacanīyo—
‘ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ …pe… sohaṁ mānattaṁ caranto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Sohaṁ, bhante, saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbā. Tatiyampi yācitabbā.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
While undertaking the trial period, he committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He told the monks, “I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. … While undertaking the trial period, I committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. What should I do now?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should send the monk Udāyī back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while undertaking the trial period. It should then give him the trial period of six days. And he should be sent back to the beginning like this. The monk Udāyī should approach the Sangha, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say:
‘Venerables, I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. … While undertaking the trial period, I committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. I ask the Sangha to send me back to the beginning for that offense.’ And he should ask a second and a third time.
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
116. Vị ấy trong khi đang thực hành mānatta, ở giữa chừng đã phạm một tội cố ý xuất tinh mà không che giấu. Vị ấy đã trình báo với các tỳ khưu rằng: “Thưa chư hiền, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ... (v.v.) ... tôi ấy, trong khi đang thực hành mānatta, ở giữa chừng đã phạm một tội cố ý xuất tinh mà không che giấu. Tôi nên thực hành như thế nào đây?” (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy rằng): “Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng hãy kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu do một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở giữa chừng, rồi hãy trao cho hình phạt mānatta sáu đêm. Và này các tỳ khưu, việc kéo về lại từ đầu nên được thực hiện như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyī ấy nên đi đến Tăng chúng ... (v.v.) ... nên nói như vầy: ‘Bạch chư tôn đức, con đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ... (v.v.) ... con ấy, trong khi đang thực hành mānatta, ở giữa chừng đã phạm một tội cố ý xuất tinh mà không che giấu. Bạch chư tôn đức, con ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu do một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở giữa chừng.’ Nên xin lần thứ hai. Nên xin lần thứ ba. Một tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên tác bạch cho Tăng chúng biết –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu …pe… mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikasseyya. Esā ñatti …pe… paṭikassito saṅghena udāyī bhikkhu antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanā. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmīti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī … is asking the Sangha to send him back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while undertaking the trial period. If the Sangha is ready, it should send the monk Udāyī back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while undertaking the trial period. This is the motion. … The Sangha has sent the monk Udāyī back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while undertaking the trial period. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
117. “Bạch chư tôn đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này ... (v.v.) ... xin việc kéo về lại từ đầu. Nếu Tăng chúng xét thấy đã đến lúc, Tăng chúng nên kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu do một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở giữa chừng. Đây là lời tác bạch ... (v.v.) ... Tăng chúng đã kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu do một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở giữa chừng. Việc này được Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con ghi nhận sự im lặng này (là sự chấp thuận).”
Evañca pana, bhikkhave, chārattaṁ mānattaṁ dātabbaṁ—tena, bhikkhave, udāyinā bhikkhunā …pe… evamassa vacanīyo—
‘ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ …pe… sohaṁ mānattaṁ caranto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāciṁ. Taṁ maṁ saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. Sohaṁ, bhante, saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbaṁ. Tatiyampi yācitabbaṁ.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
And he should be given the trial period of six days like this. The monk Udāyī should approach the Sangha, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say:
‘Venerables, I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. … While undertaking the trial period, I committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. I asked the Sangha to send me back to the beginning for that offense, which it did. I now ask the Sangha for the trial period of six days for that offense.’ And he should ask a second and a third time.
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
“Và này các tỳ khưu, hình phạt mānatta sáu đêm nên được trao như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyī ấy ... (v.v.) ... nên nói như vầy: ‘Bạch chư tôn đức, con đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ... (v.v.) ... con ấy, trong khi đang thực hành mānatta, ở giữa chừng đã phạm một tội cố ý xuất tinh mà không che giấu. Con ấy đã xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu do một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở giữa chừng. Tăng chúng đã kéo con ấy về lại từ đầu do một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở giữa chừng. Bạch chư tôn đức, con ấy xin Tăng chúng hình phạt mānatta sáu đêm do một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở giữa chừng.’ Nên xin lần thứ hai. Nên xin lần thứ ba. Một tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên tác bạch cho Tăng chúng biết –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu …pe… chārattaṁ mānattaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ dadeyya. Esā ñatti …pe…
Dinnaṁ saṅghena udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī … is asking the Sangha for the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while undertaking the trial period. If the Sangha is ready, it should give the monk Udāyī the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while undertaking the trial period. This is the motion. …
The Sangha has given the monk Udāyī the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while undertaking the trial period. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Bạch chư tôn đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này ... (v.v.) ... xin hình phạt mānatta sáu đêm. Nếu Tăng chúng xét thấy đã đến lúc, Tăng chúng nên trao cho tỳ khưu Udāyī hình phạt mānatta sáu đêm do một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở giữa chừng. Đây là lời tác bạch ... (v.v.) ... Tăng chúng đã trao cho tỳ khưu Udāyī hình phạt mānatta sáu đêm do một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở giữa chừng. Việc này được Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con ghi nhận sự im lặng này (là sự chấp thuận).”
1.11. Abbhānārahamūlāyapaṭikassanā
Sending back to the beginning of those deserving rehabilitation
Việc kéo về lại từ đầu đối với người đáng được phục vị.
So ciṇṇamānatto abbhānāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ …pe… sohaṁ ciṇṇamānatto abbhānāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikassitvā chārattaṁ mānattaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, mūlāya paṭikassitabbo …pe….
When he had completed the trial period, while deserving rehabilitation, he committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He told the monks, “I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. … When I had completed the trial period, while deserving rehabilitation, I committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. What should I do now?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should send the monk Udāyī back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while deserving rehabilitation. It should then give him the trial period of six days. And he should be sent back to the beginning like this. …
118. Vị ấy, đã thực hành xong mānatta, đáng được phục vị, ở giữa chừng đã phạm một tội cố ý xuất tinh mà không che giấu. Vị ấy đã trình báo với các tỳ khưu rằng: “Thưa chư hiền, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ... (v.v.) ... tôi ấy, đã thực hành xong mānatta, đáng được phục vị, ở giữa chừng đã phạm một tội cố ý xuất tinh mà không che giấu. Tôi nên thực hành như thế nào đây?” (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy rằng): “Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng hãy kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu do một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở giữa chừng, rồi hãy trao cho hình phạt mānatta sáu đêm. Và này các tỳ khưu, việc kéo về lại từ đầu nên được thực hiện như vầy ... (v.v.) ...”
“Và này các tỳ khưu, hình phạt mānatta sáu đêm nên được trao như vầy ... (v.v.) ...”
Dinnaṁ saṅghena udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given the monk Udāyī the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while deserving rehabilitation. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Tăng chúng đã trao cho tỳ khưu Udāyī hình phạt mānatta sáu đêm do một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở giữa chừng. Việc này được Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con ghi nhận sự im lặng này (là sự chấp thuận).”
1.12. Mūlāyapaṭikassitaabbhāna
Rehabilitation of those sent back to the beginning
Việc phục vị cho người đã bị kéo về lại từ đầu.
So ciṇṇamānatto bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ …pe… sohaṁ ciṇṇamānatto. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ abbhetu. Evañca pana, bhikkhave, abbhetabbo—
When he had completed the trial period, he told the monks, “I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. … I’ve now completed the trial period. What should I do next?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should rehabilitate the monk Udāyī. And it should be done like this.
119. Vị ấy, đã thực hành xong mānatta, đã trình báo với các tỳ khưu rằng: “Thưa chư hiền, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ... (v.v.) ... tôi ấy đã thực hành xong mānatta. Tôi nên thực hành như thế nào đây?” (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài dạy rằng): “Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng hãy phục vị cho tỳ khưu Udāyī. Và này các tỳ khưu, việc phục vị nên được thực hiện như vầy –”
‘ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasanto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāciṁ. Taṁ maṁ saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. Sohaṁ parivutthaparivāso mānattāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāciṁ. Taṁ maṁ saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. Sohaṁ parivutthaparivāso saṅghaṁ tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ adāsi. Sohaṁ mānattaṁ caranto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāciṁ. Taṁ maṁ saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. Sohaṁ saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. Sohaṁ ciṇṇamānatto abbhānāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāciṁ. Taṁ maṁ saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. Sohaṁ saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. Sohaṁ, bhante, ciṇṇamānatto saṅghaṁ abbhānaṁ yācāmī’ti.
‘Venerables, I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. I asked the Sangha to give me probation for five days for that offense, which it did. While on probation, I committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. I asked the Sangha to send me back to the beginning for that offense, which it did. When I had completed the probation, while deserving the trial period, I committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. I asked the Sangha to send me back to the beginning for that offense, which it did. When I had completed the probation, I asked the Sangha to give me the trial period of six days for the three offenses, which it did. While undertaking the trial period, I committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. I asked the Sangha to send me back to the beginning for that offense, which it did. I then asked the Sangha to give me the trial period of six days for that offense, which it did. When I had completed the trial period, while deserving rehabilitation, I committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. I asked the Sangha to send me back to the beginning for that offense, which it did. I then asked the Sangha to give me the trial period of six days for that offense, which it did. I’ve now completed the trial period and ask the Sangha for rehabilitation.’
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu Udāyī ấy sau khi đi đến Tăng chúng ... nên nói như vầy: ‘Bạch chư Đại đức, con đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Con đã xin Tăng chúng biệt trú năm ngày cho một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Tăng chúng đã ban cho con việc biệt trú năm ngày cho một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Con trong khi đang sống biệt trú, ở khoảng giữa, đã phạm một tội cố ý xuất tinh, không che giấu. Con đã xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh, không che giấu, (đã phạm) ở khoảng giữa. Tăng chúng đã kéo con về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh, không che giấu, (đã phạm) ở khoảng giữa. Con, sau khi đã sống xong biệt trú, xứng đáng với hành phạt mānatta, ở khoảng giữa, đã phạm một tội cố ý xuất tinh, không che giấu. Con đã xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh, không che giấu, (đã phạm) ở khoảng giữa. Tăng chúng đã kéo con về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh, không che giấu, (đã phạm) ở khoảng giữa. Con, sau khi đã sống xong biệt trú, đã xin Tăng chúng hành phạt mānatta sáu đêm cho ba tội. Tăng chúng đã ban cho con hành phạt mānatta sáu đêm cho ba tội. Con trong khi đang thực hành mānatta, ở khoảng giữa, đã phạm một tội cố ý xuất tinh, không che giấu. Con đã xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh, không che giấu, (đã phạm) ở khoảng giữa. Tăng chúng đã kéo con về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh, không che giấu, (đã phạm) ở khoảng giữa. Con đã xin Tăng chúng hành phạt mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh, không che giấu, (đã phạm) ở khoảng giữa. Tăng chúng đã ban cho con hành phạt mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh, không che giấu, (đã phạm) ở khoảng giữa. Con, sau khi đã thực hành xong mānatta, xứng đáng với việc giải tội, ở khoảng giữa, đã phạm một tội cố ý xuất tinh, không che giấu. Con đã xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh, không che giấu, (đã phạm) ở khoảng giữa. Tăng chúng đã kéo con về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh, không che giấu, (đã phạm) ở khoảng giữa. Con đã xin Tăng chúng hành phạt mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh, không che giấu, (đã phạm) ở khoảng giữa. Tăng chúng đã ban cho con hành phạt mānatta sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh, không che giấu, (đã phạm) ở khoảng giữa. Bạch chư Đại đức, con, sau khi đã thực hành xong mānatta, xin Tăng chúng việc giải tội.’”
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
“Nên xin lần thứ nhì. Nên xin lần thứ ba. Vị tỳ khưu có năng lực, có khả năng nên trình cho Tăng chúng biết:”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya pañcāhaparivāsaṁ adāsi. So parivasanto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāci. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. So parivutthaparivāso mānattāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāci. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. So parivutthaparivāso saṅghaṁ tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ adāsi. So mānattaṁ caranto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāci. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. So ciṇṇamānatto abbhānāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ appaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāci. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. So ciṇṇamānatto saṅghaṁ abbhānaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ abbheyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. He asked the Sangha for probation for five days for one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. The Sangha gave the monk Udāyī probation for five days for one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. While on probation, he committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He asked the Sangha to send him back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while on probation. The Sangha sent the monk Udāyī back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while on probation. When he had completed the probation, while deserving the trial period, he committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He asked the Sangha to send him back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while deserving the trial period. The Sangha sent the monk Udāyī back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while deserving the trial period. When he had completed the probation, he asked the Sangha for the trial period of six days for the three offenses. The Sangha gave the monk Udāyī the trial period of six days for the three offenses. While undertaking the trial period, he committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He asked the Sangha to send him back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while undertaking the trial period. The Sangha sent the monk Udāyī back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while undertaking the trial period. He then asked the Sangha for the trial period for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while undertaking the trial period. The Sangha gave the monk Udāyī the trial period for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while undertaking the trial period. When he had completed the trial period, while deserving rehabilitation, he committed one unconcealed offense of intentional emission of semen. He asked the Sangha to send him back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while deserving rehabilitation. The Sangha sent the monk Udāyī back to the beginning for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while deserving rehabilitation. He then asked the Sangha for the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while deserving rehabilitation. The Sangha gave the monk Udāyī the trial period of six days for one unconcealed offense of intentional emission of semen, committed while deserving rehabilitation. He has now completed the trial period and is asking the Sangha for rehabilitation. If the Sangha is ready, it should rehabilitate the monk Udāyī. This is the motion.
120. “Kính bạch chư Tôn đức, Tăng-già hãy lắng nghe con. Tỳ-khưu Udāyī này đã phạm một tội là cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Vị ấy đã xin Tăng-già biệt trú năm ngày cho một tội là cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Tăng-già đã cho phép tỳ-khưu Udāyī biệt trú năm ngày cho một tội là cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Trong khi đang hành biệt trú, vị ấy đã phạm một tội ở giữa chừng là cố ý xuất tinh, không che giấu. Vị ấy đã xin Tăng-già việc kéo về lại từ đầu cho một tội ở giữa chừng là cố ý xuất tinh, không che giấu. Tăng-già đã kéo tỳ-khưu Udāyī về lại từ đầu cho một tội ở giữa chừng là cố ý xuất tinh, không che giấu. Vị ấy, sau khi đã hành xong biệt trú, đang lúc xứng đáng hành ma-na-đỏa, đã phạm một tội ở giữa chừng là cố ý xuất tinh, không che giấu. Vị ấy đã xin Tăng-già việc kéo về lại từ đầu cho một tội ở giữa chừng là cố ý xuất tinh, không che giấu. Tăng-già đã kéo tỳ-khưu Udāyī về lại từ đầu cho một tội ở giữa chừng là cố ý xuất tinh, không che giấu. Vị ấy, sau khi đã hành xong biệt trú, đã xin Tăng-già hành ma-na-đỏa sáu đêm cho ba tội. Tăng-già đã cho phép tỳ-khưu Udāyī hành ma-na-đỏa sáu đêm cho ba tội. Trong khi đang hành ma-na-đỏa, vị ấy đã phạm một tội ở giữa chừng là cố ý xuất tinh, không che giấu. Vị ấy đã xin Tăng-già việc kéo về lại từ đầu cho một tội ở giữa chừng là cố ý xuất tinh, không che giấu. Tăng-già đã kéo tỳ-khưu Udāyī về lại từ đầu cho một tội ở giữa chừng là cố ý xuất tinh, không che giấu. Vị ấy đã xin Tăng-già hành ma-na-đỏa sáu đêm cho một tội ở giữa chừng là cố ý xuất tinh, không che giấu. Tăng-già đã cho phép tỳ-khưu Udāyī hành ma-na-đỏa sáu đêm cho một tội ở giữa chừng là cố ý xuất tinh, không che giấu. Vị ấy, sau khi đã hành xong ma-na-đỏa, đang lúc xứng đáng được giải tội, đã phạm một tội ở giữa chừng là cố ý xuất tinh, không che giấu. Vị ấy đã xin Tăng-già việc kéo về lại từ đầu cho một tội ở giữa chừng là cố ý xuất tinh, không che giấu. Tăng-già đã kéo tỳ-khưu Udāyī về lại từ đầu cho một tội ở giữa chừng là cố ý xuất tinh, không che giấu. Vị ấy đã xin Tăng-già hành ma-na-đỏa sáu đêm cho một tội ở giữa chừng là cố ý xuất tinh, không che giấu. Tăng-già đã cho phép tỳ-khưu Udāyī hành ma-na-đỏa sáu đêm cho một tội ở giữa chừng là cố ý xuất tinh, không che giấu. Vị ấy, sau khi đã hành xong ma-na-đỏa, xin Tăng-già việc giải tội. Nếu việc ấy là hợp thời đối với Tăng-già, Tăng-già nên giải tội cho tỳ-khưu Udāyī. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ …pe… so ciṇṇamānatto saṅghaṁ abbhānaṁ yācati. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ abbheti. Yassāyasmato khamati udāyissa bhikkhuno abbhānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. … He has now completed the trial period and is asking the Sangha for rehabilitation. The Sangha rehabilitates him. Any monk who approves of rehabilitating the monk Udāyī should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Tôn đức, Tăng-già hãy lắng nghe con. Tỳ-khưu Udāyī này đã phạm một tội là cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày ... (v.v.) ... vị ấy, sau khi đã hành xong ma-na-đỏa, xin Tăng-già việc giải tội. Tăng-già giải tội cho tỳ-khưu Udāyī. Vị Trưởng lão nào chấp thuận việc giải tội cho tỳ-khưu Udāyī thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.”
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
“Lần thứ nhì, tôi cũng nói lên điều này ... (v.v.) ... Lần thứ ba, tôi cũng nói lên điều này ... (v.v.) ...”
Abbhito saṅghena udāyī bhikkhu. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has rehabilitated the monk Udāyī. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Tỳ-khưu Udāyī đã được Tăng-già giải tội. Việc này được Tăng-già chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận việc này là như thế.”
1.13. Pakkhappaṭicchannaparivāsa
Probation for those with offenses concealed for a half-month
Biệt trú cho tội che giấu nửa tháng
Tena kho pana samayena āyasmā udāyī ekaṁ āpattiṁ āpanno hoti sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ. So bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, dātabbo—
On one occasion Venerable Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. He told the monks about this, adding, “What should I do now?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should give the monk Udāyī probation for a half-month for one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. And it should be given like this.
121. Vào lúc bấy giờ, Đại đức Udāyī đã phạm một tội là cố ý xuất tinh, đã che giấu nửa tháng. Vị ấy đã trình báo với các tỳ-khưu rằng: ‘Thưa chư hiền, tôi đã phạm một tội là cố ý xuất tinh, đã che giấu nửa tháng. Tôi nên thực hành như thế nào đây?’ (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Phật phán): ‘Này các tỳ-khưu, nếu vậy, Tăng-già hãy cho phép tỳ-khưu Udāyī biệt trú nửa tháng cho một tội là cố ý xuất tinh, đã che giấu nửa tháng. Và này các tỳ-khưu, nên cho phép như vầy: –’
‘ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ, bhante, saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbo. Tatiyampi yācitabbo.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Venerables, I’ve committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. I ask the Sangha for probation for a half-month for that offense.’ And he should ask a second and a third time.
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
“Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu Udāyī ấy nên đi đến Tăng-già ... (v.v.) ... nên nói như vầy: ‘Kính bạch chư Tôn đức, con đã phạm một tội là cố ý xuất tinh, đã che giấu nửa tháng. Kính bạch chư Tôn đức, con ấy xin Tăng-già biệt trú nửa tháng cho một tội là cố ý xuất tinh, đã che giấu nửa tháng.’ Nên xin lần thứ nhì. Nên xin lần thứ ba. Vị tỳ-khưu rành rẽ, có khả năng nên tác bạch cho Tăng-già biết rằng: –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ dadeyya. Esā ñatti.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ yācati. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ deti. Yassāyasmato khamati udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī has committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. He is asking the Sangha for probation for a half-month for one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. If the Sangha is ready, it should give the monk Udāyī probation for a half-month for one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. This is the motion.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī has committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. He is asking the Sangha for probation for a half-month for one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. The Sangha gives the monk Udāyī probation for a half-month for one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. Any monk who approves of giving the monk Udāyī probation for a half-month for one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
124. “Kính bạch chư Đại đức, Tăng chúng hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Vị ấy đã xin Tăng chúng cho phép hành phạt biệt trú nửa tháng về một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Tăng chúng đã ban cho tỳ khưu Udāyī hình phạt biệt trú nửa tháng về một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Trong khi đang hành phạt biệt trú, vị ấy đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Vị ấy xin Tăng chúng cho phép kéo về lại từ đầu về một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi (đang hành phạt). Nếu Tăng chúng xét thấy đã đến lúc thích hợp, Tăng chúng hãy kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu về một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi (đang hành phạt). Đây là lời tác bạch.”
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
Dinno saṅghena udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāso.
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
The Sangha has given the monk Udāyī probation for a half-month for one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month.
“Lần thứ nhì, con cũng nói lên điều này ... Lần thứ ba, con cũng nói lên điều này ...”
1.14. Pakkhapārivāsikamūlāyapaṭikassana
So parivasanto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. So bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ.
Sending back to the beginning of those on probation for a half-month
While on probation, he committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. He told the monks, “I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month.
"Tỳ khưu Udāyī đã được tăng chúng kéo về lại từ đầu do một tội cố ý xuất tinh đã che giấu trong năm ngày ở khoảng giữa. Việc này tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như thế."
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāya paṭikassitvā purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, mūlāya paṭikassitabbo—Tena, bhikkhave, udāyinā bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā …pe… evamassa vacanīyo—
‘ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasanto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ.
“Well then, the Sangha should send the monk Udāyī back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation—and it should then give him probation simultaneous with the probation for the previous offense. And he should be sent back to the beginning like this. The monk Udāyī should approach the Sangha, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say:
‘Venerables, I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. I asked the Sangha to give me probation for a half-month for that offense, which it did. While on probation, I committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days.
127. Vị ấy đã sống biệt trú xong, đang trong thời gian xứng đáng với mã-na-đỏa, trong khi ấy đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Vị ấy đã trình báo đến các tỳ-khưu rằng: – Thưa các hiền giả, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng ... (như trên) ... tôi đây đã sống biệt trú xong, đang trong thời gian xứng đáng với mã-na-đỏa, trong khi ấy đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Tôi nên thực hành thế nào đây? Chư tỳ-khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ-khưu, trong trường hợp ấy, Tăng sự nên kéo vị tỳ-khưu Udāyī về lại từ đầu do tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày (đã phạm) trong khi ấy, rồi trao cho việc thực hành biệt trú gộp chung với tội trước. Và này các tỳ-khưu, nên được kéo về lại từ đầu như vầy: ... (như trên) ...
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ adāsi. So parivasanto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāya paṭikasseyya. Esā ñatti.
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. He asked the Sangha for probation for a half-month for one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. The Sangha gave the monk Udāyī probation for a half-month for one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. While on probation, he committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. He is now asking the Sangha to send him back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation. If the Sangha is ready, it should send the monk Udāyī back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation. This is the motion.
110. Trong khi đang sống biệt trú, vị ấy đã phạm một tội cố ý xuất tinh, không che giấu. Vị ấy đã trình báo với các tỳ khưu rằng: “Thưa chư hiền, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Tôi đã xin Tăng chúng biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Tăng chúng đã ban cho tôi biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Trong khi đang sống biệt trú, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh, không che giấu. Tôi nên thực hành như thế nào?” (Các vị ấy) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán): “Này các tỳ khưu, trong trường hợp ấy, Tăng chúng hãy kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh, không che giấu, (đã phạm) ở trong khi (đang thi hành). Và này các tỳ khưu, nên kéo về lại từ đầu như sau: –”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ adāsi. So parivasanto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāya paṭikassati. Yassāyasmato khamati udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanā, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. He asked the Sangha for probation for a half-month for one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. The Sangha gave the monk Udāyī probation for a half-month for one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. While on probation, he committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. He is now asking the Sangha to send him back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation. The Sangha sends the monk Udāyī back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation. Any monk who approves of sending the monk Udāyī back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation—should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“‘Bạch chư Đại đức, mong hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Vị ấy đã xin hội chúng biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Hội chúng đã cho tỳ khưu Udāyī biệt trú năm ngày vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Trong khi đang hành biệt trú, vị ấy đã phạm một tội cố ý xuất tinh không che giấu. Vị ấy xin hội chúng việc kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở trong khi (hành biệt trú). Hội chúng kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở trong khi (hành biệt trú). Vị trưởng lão nào chấp thuận việc kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở trong khi (hành biệt trú) thì vị ấy nên im lặng. Vị nào không chấp thuận thì vị ấy nên nói lên.’”
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
“‘Lần thứ nhì, tôi nói lên điều này ... cho đến ... Lần thứ ba, tôi nói lên điều này ... cho đến ...’”
Paṭikassito saṅghena udāyī bhikkhu antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanā. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
1.15. Samodhānaparivāsa
“Evañca pana, bhikkhave, purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo—tena, bhikkhave, udāyinā bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā …pe… evamassa vacanīyo—
‘ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasanto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāciṁ. Taṁ maṁ saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāya paṭikassi.
The Sangha has sent the monk Udāyī back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
Simultaneous probations
“And he should be given probation simultaneous with the probation for the previous offense like this. The monk Udāyī should approach the Sangha, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say:
‘Venerable, I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. I asked the Sangha to give me probation for a half-month for that offense, which it did. While on probation, I committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. I asked the Sangha to send me back to the beginning for that offense, which it did.
“‘Tỳ khưu Udāyī đã được hội chúng kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh không che giấu ở trong khi (hành biệt trú). Hội chúng chấp thuận, do đó giữ im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như thế.’”
“Này các tỳ khưu, tỳ khưu Udāyī ấy nên đi đến Tăng chúng ... nên nói như vầy: – ‘Kính bạch chư Đại đức, con đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Con đã xin Tăng chúng cho phép hành phạt biệt trú nửa tháng về một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Tăng chúng đã ban cho con hình phạt biệt trú nửa tháng về một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Trong khi đang hành phạt biệt trú, con đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Kính bạch chư Đại đức, con xin Tăng chúng cho phép kéo về lại từ đầu về một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi (đang hành phạt).’ Nên xin đến lần thứ nhì. Nên xin đến lần thứ ba. Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết:”
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
"Nên xin đến lần thứ nhì. Nên xin đến lần thứ ba. Vị tỳ khưu có năng lực, có khả năng nên trình cho tăng chúng biết:"
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ adāsi. So parivasanto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāci. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. He asked the Sangha for probation for a half-month for one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. The Sangha gave the monk Udāyī probation for a half-month for one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. While on probation, he committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. He asked the Sangha to send him back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation. The Sangha sent the monk Udāyī back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation. He is now asking the Sangha for probation for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation—simultaneous with the probation for the previous offense. If the Sangha is ready, it should give the monk Udāyī probation for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation—simultaneous with the probation for the previous offense. This is the motion.
126. "Bạch chư Đại đức, mong tăng chúng hãy nghe lời của tôi. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Vị ấy đã xin tăng chúng biệt trú nửa tháng do một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Tăng chúng đã ban hành biệt trú nửa tháng cho tỳ khưu Udāyī do một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Trong khi đang sống biệt trú, vị ấy đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở khoảng giữa. Vị ấy đã xin tăng chúng việc kéo về lại từ đầu do một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở khoảng giữa. Tăng chúng đã kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu do một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở khoảng giữa. Vị ấy đang xin tăng chúng biệt trú hợp nhất với tội trước do một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở khoảng giữa. Nếu việc này là hợp thời đối với tăng chúng, tăng chúng nên ban hành cho tỳ khưu Udāyī biệt trú hợp nhất với tội trước do một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở khoảng giữa. Đây là lời tác bạch."
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ adāsi. So parivasanto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāci. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ yācati. Saṅgho udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ deti. Yassāyasmato khamati udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. He asked the Sangha for probation for a half-month for one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. The Sangha gave the monk Udāyī probation for a half-month for one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. While on probation, he committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. He asked the Sangha to send him back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation. The Sangha sent the monk Udāyī back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation. He is now asking the Sangha for probation for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation—simultaneous with the probation for the previous offense. The Sangha gives the monk Udāyī probation for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation—simultaneous with the probation for the previous offense. Any monk who approves of giving the monk Udāyī probation for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation—simultaneous with the probation for the previous offense, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
"Bạch chư Đại đức, mong tăng chúng hãy nghe lời của tôi. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Vị ấy đã xin tăng chúng biệt trú nửa tháng do một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Tăng chúng đã ban hành biệt trú nửa tháng cho tỳ khưu Udāyī do một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Trong khi đang sống biệt trú, vị ấy đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở khoảng giữa. Vị ấy đã xin tăng chúng việc kéo về lại từ đầu do một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở khoảng giữa. Tăng chúng đã kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu do một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở khoảng giữa. Vị ấy đang xin tăng chúng biệt trú hợp nhất với tội trước do một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở khoảng giữa. Tăng chúng ban hành cho tỳ khưu Udāyī biệt trú hợp nhất với tội trước do một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở khoảng giữa. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc ban hành biệt trú hợp nhất với tội trước cho tỳ khưu Udāyī do một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở khoảng giữa thì vị ấy nên im lặng; vị nào không chấp thuận thì vị ấy nên nói lên."
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
"Tôi nói lên điều này đến lần thứ nhì ... tôi nói lên điều này đến lần thứ ba ..."
Dinno saṅghena udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāso. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given the monk Udāyī probation for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation—simultaneous with the probation for the previous offense. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
"Biệt trú hợp nhất với tội trước do một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở khoảng giữa đã được tăng chúng ban hành cho tỳ khưu Udāyī. Việc này tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như thế."
1.16. Mānattārahamūlāyapaṭikassanādi
So parivutthaparivāso mānattāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. So bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ …pe… sohaṁ parivutthaparivāso mānattāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāya paṭikassitvā purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, mūlāya paṭikassitabbo …pe….
Sending back to the beginning of those deserving the trial period, etc.
When he had completed the probation, while deserving the trial period, he committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. He told the monks, “I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. … When I had completed the probation, while deserving the trial period, I committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. What should I do now?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should send the monk Udāyī back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while deserving the trial period—and it should then give him probation simultaneous with the probation for the previous offense. And he should be sent back to the beginning like this. …
Kéo về lại từ đầu đối với vị đáng chịu Mānatta, v.v...
deti …pe….
– Và này các tỳ-khưu, việc thực hành biệt trú gộp chung với tội trước nên được trao như vầy: ... (như trên) ... trao cho ... (như trên) ...
Dinno saṅghena udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāso. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given the monk Udāyī probation for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while deserving the trial period—simultaneous with the probation for the previous offense. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
– Việc thực hành biệt trú gộp chung với tội trước đã được Tăng sự trao cho tỳ-khưu Udāyī do tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày (đã phạm) trong khi ấy. Việc này là hợp ý của Tăng sự, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như thế.
1.17. Tikāpattimānatta
Trial period for the three offenses
Mã-na-đỏa cho ba tội
So parivutthaparivāso bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ …pe… sohaṁ parivutthaparivāso. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyissa bhikkhuno tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, dātabbaṁ—
When he had completed the probation, he told the monks, “I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month … I’ve now completed the probation. What should I do next?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should give the monk Udāyī the trial period of six days for the three offenses. And it should be given like this.
128. Vị ấy đã sống biệt trú xong đã trình báo đến các tỳ-khưu rằng: – Thưa các hiền giả, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng ... (như trên) ... tôi đây đã sống biệt trú xong. Tôi nên thực hành thế nào đây? Chư tỳ-khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ-khưu, trong trường hợp ấy, Tăng sự nên trao cho tỳ-khưu Udāyī việc thực hành mã-na-đỏa sáu đêm cho ba tội. Và này các tỳ-khưu, nên được trao như vầy:
‘ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ …pe… sohaṁ, bhante, parivutthaparivāso saṅghaṁ tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbaṁ. Tatiyampi yācitabbaṁ.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Venerables, I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. … I’ve now completed the probation and ask the Sangha for the trial period of six days for the three offenses.’ And he should ask a second and a third time.
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
– Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu Udāyī ấy nên đi đến Tăng sự ... (như trên) ... và thưa rằng: ‘Bạch chư Đại đức, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng ... (như trên) ... bạch chư Đại đức, tôi đây đã sống biệt trú xong, xin Tăng sự việc thực hành mã-na-đỏa sáu đêm cho ba tội.’ Nên xin đến lần thứ nhì. Nên xin đến lần thứ ba. Vị tỳ-khưu rành rẽ, có khả năng nên trình Tăng sự biết rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ …pe… so parivutthaparivāso saṅghaṁ tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho udāyissa bhikkhuno tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. … He has now completed the probation and is asking the Sangha for the trial period of six days for the three offenses. If the Sangha is ready, it should give the monk Udāyī the trial period of six days for the three offenses. This is the motion.
129. – Bạch chư Đại đức, mong Tăng sự hãy nghe con. Tỳ-khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng ... (như trên) ... vị ấy đã sống biệt trú xong, xin Tăng sự việc thực hành mã-na-đỏa sáu đêm cho ba tội. Nếu Tăng sự xét thấy thời điểm là thích hợp, Tăng sự hãy trao cho tỳ-khưu Udāyī việc thực hành mã-na-đỏa sáu đêm cho ba tội. Đây là lời tác bạch.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ …pe… so parivutthaparivāso saṅghaṁ tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ yācati. Saṅgho udāyissa bhikkhuno tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ deti. Yassāyasmato khamati udāyissa bhikkhuno tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. … He has now completed the probation and is asking the Sangha for the trial period of six days for the three offenses. The Sangha gives the monk Udāyī the trial period of six days for the three offenses. Any monk who approves of giving the monk Udāyī the trial period of six days for the three offenses should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
– Bạch chư Đại đức, mong Tăng sự hãy nghe con. Tỳ-khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng ... (như trên) ... vị ấy đã sống biệt trú xong, xin Tăng sự việc thực hành mã-na-đỏa sáu đêm cho ba tội. Tăng sự trao cho tỳ-khưu Udāyī việc thực hành mã-na-đỏa sáu đêm cho ba tội. Vị trưởng lão nào hợp ý về việc trao cho tỳ-khưu Udāyī việc thực hành mã-na-đỏa sáu đêm cho ba tội thì hãy im lặng; vị nào không hợp ý thì hãy nói lên.
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
– Lần thứ nhì, tôi cũng nói lên điều này ... (như trên) ... Lần thứ ba, tôi cũng nói lên điều này ... (như trên) ...
Dinnaṁ saṅghena udāyissa bhikkhuno tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given the monk Udāyī the trial period of six days for the three offenses. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
– Việc thực hành mã-na-đỏa sáu đêm cho ba tội đã được Tăng sự trao cho tỳ-khưu Udāyī. Việc này là hợp ý của Tăng sự, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như thế.
1.18. Mānattacārikamūlāyapaṭikassanādi
Sending back to the beginning of those undertaking the trial period, etc.
Việc kéo về lại từ đầu, v.v... của người đang thực hành mã-na-đỏa
So mānattaṁ caranto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. So bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ …pe… sohaṁ mānattaṁ caranto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāya paṭikassitvā purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ datvā chārattaṁ mānattaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, mūlāya paṭikassitabbo …pe….
While undertaking the trial period, he committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. He told the monks, “I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. … While undertaking the trial period, I committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. What should I do now?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should send the monk Udāyī back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while undertaking the trial period—and it should then give him probation for that offense simultaneous with the probation for the previous offense, and it should then give him the trial period of six days. And he should be sent back to the beginning like this. …
130. Vị ấy đang trong khi thực hành mã-na-đỏa, trong khi ấy đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Vị ấy đã trình báo đến các tỳ-khưu rằng: – Thưa các hiền giả, tôi đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng ... (như trên) ... tôi đây đang trong khi thực hành mã-na-đỏa, trong khi ấy đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Tôi nên thực hành thế nào đây? Chư tỳ-khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ-khưu, trong trường hợp ấy, Tăng sự nên kéo vị tỳ-khưu Udāyī về lại từ đầu do tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày (đã phạm) trong khi ấy, sau khi đã trao việc thực hành biệt trú gộp chung với tội trước, rồi trao cho việc thực hành mã-na-đỏa sáu đêm. Và này các tỳ-khưu, nên được kéo về lại từ đầu như vầy: ... (như trên) ...
– Và này các tỳ-khưu, việc thực hành biệt trú gộp chung với tội trước nên được trao như vầy: ... (như trên) ...
deti …pe….
– Và này các tỳ-khưu, việc thực hành mã-na-đỏa sáu đêm nên được trao như vầy: ... (như trên) ... trao cho ... (như trên) ...
Dinnaṁ saṅghena udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given the monk Udāyī the trial period of six days for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while undertaking the trial period. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
– Việc thực hành mã-na-đỏa sáu đêm đã được Tăng sự trao cho tỳ-khưu Udāyī do tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày (đã phạm) trong khi ấy. Việc này là hợp ý của Tăng sự, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như thế.
1.19. Abbhānārahamūlāyapaṭikassanādi
Sending back to the beginning of those deserving rehabilitation, etc.
Việc kéo về lại từ đầu, v.v... của người xứng đáng được phục vị
So ciṇṇamānatto abbhānāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. So bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ …pe… sohaṁ ciṇṇamānatto abbhānāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāya paṭikassitvā purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ datvā chārattaṁ mānattaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, mūlāya paṭikassitabbo …pe….
When he had completed the trial period, while deserving rehabilitation, he committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. He told the monks, “I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. … When I had completed the trial period, while deserving rehabilitation, I committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. What should I do now?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should send the monk Udāyī back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while deserving rehabilitation—and it should then give him probation for that offense simultaneous with the probation for the previous offense, and it should then give him the trial period of six days. And he should be sent back to the beginning like this. …
131. Vị ấy, đã thực hành xong mānatta, đang trong thời gian xứng đáng được phục vị, trong khi ấy đã phạm một tội là cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Vị ấy đã trình báo đến các tỳ khưu rằng: – Thưa các hiền giả, tôi đã phạm một tội là cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng ... (như trên) ... Tôi ấy, đã thực hành xong mānatta, đang trong thời gian xứng đáng được phục vị, trong khi ấy đã phạm một tội là cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Tôi nên thực hành như thế nào đây? Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, nếu vậy thì Tăng hãy kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu do một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày trong khi ấy, rồi trao biệt trú gộp với tội trước, rồi trao biệt trú mānatta sáu đêm. Này các tỳ khưu, và nên được kéo về lại từ đầu như vầy ... (như trên) ...
– Này các tỳ khưu, và nên trao biệt trú gộp với tội trước như vầy ... (như trên) ...
deti …pe….
– Này các tỳ khưu, và nên trao biệt trú mānatta sáu đêm như vầy ... (như trên) ... trao ... (như trên) ...
Dinnaṁ saṅghena udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given the monk Udāyī the trial period of six days for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while deserving rehabilitation. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
– Biệt trú mānatta sáu đêm đã được Tăng trao cho tỳ khưu Udāyī do một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày trong khi ấy. Việc này được Tăng ưng thuận, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
1.20. Pakkhappaṭicchannaabbhāna
Rehabilitation of those with offenses concealed for a half-month
Sự phục vị cho tội che giấu nửa tháng
So ciṇṇamānatto bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ …pe… sohaṁ ciṇṇamānatto. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ abbhetu. Evañca pana, bhikkhave, abbhetabbo—
When he had completed the trial period, he told the monks, “I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. … I’ve now completed the trial period. What should I do next?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should rehabilitate the monk Udāyī. And it should be done like this.
132. Vị ấy, đã thực hành xong mānatta, đã trình báo đến các tỳ khưu rằng: – Thưa các hiền giả, tôi đã phạm một tội là cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng ... (như trên) ... Tôi ấy đã thực hành xong mānatta. Tôi nên thực hành như thế nào đây? Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – Này các tỳ khưu, nếu vậy thì Tăng hãy phục vị cho tỳ khưu Udāyī. Này các tỳ khưu, và nên được phục vị như vầy:
‘ahaṁ, bhante, ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasanto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāciṁ. Taṁ maṁ saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. Sohaṁ saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivutthaparivāso mānattāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāciṁ. Taṁ maṁ saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. Sohaṁ saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivutthaparivāso saṅghaṁ tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ adāsi. Sohaṁ mānattaṁ caranto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāciṁ. Taṁ maṁ saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. Sohaṁ saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivutthaparivāso saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. Sohaṁ ciṇṇamānatto abbhānāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajjiṁ sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. Sohaṁ saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāciṁ. Taṁ maṁ saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. Sohaṁ saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivutthaparivāso saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. Sohaṁ, bhante, ciṇṇamānatto saṅghaṁ abbhānaṁ yācāmī’ti.
‘Venerables, I had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. I asked the Sangha to give me probation for a half-month for that offense, which it did. While on probation, I committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. I asked the Sangha to send me back to the beginning for that offense, which it did. I then asked the Sangha to give me probation for that offense, simultaneous with the probation for the previous offense, which it did. When I had completed the probation, while deserving the trial period, I committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. I asked the Sangha to send me back to the beginning for that offense, which it did. I then asked the Sangha to give me probation for that offense, simultaneous with the probation for the previous offense, which it did. When I had completed the probation, I asked the Sangha to give me the trial period of six days for the three offenses, which it did. While undertaking the trial period, I committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. I asked the Sangha to send me back to the beginning for that offense, which it did. I then asked the Sangha to give me probation for that offense, simultaneous with the probation for the previous offense, which it did. When I had completed the probation, I asked the Sangha to give me the trial period of six days, which it did. When I had completed the trial period, while deserving rehabilitation, I committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. I asked the Sangha to send me back to the beginning for that offense, which it did. I then asked the Sangha to give me probation for that offense, simultaneous with the probation for the previous offense, which it did. When I had completed the probation, I asked the Sangha to give me the trial period of six days, which it did. I’ve now completed the trial period and ask the Sangha for rehabilitation.’
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu Udāyī ấy nên đi đến Tăng chúng, sửa y trên một bên vai, đảnh lễ chân các vị tỳ khưu trưởng lão, ngồi xổm, chắp tay, và nên nói như vầy: ‘Bạch chư Đại đức, con đã phạm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Con ấy đã xin Tăng chúng biệt trú nửa tháng vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Tăng chúng đã ban cho con ấy việc biệt trú nửa tháng vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu nửa tháng. Con ấy, trong khi đang thực hành biệt trú, đã phạm thêm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Con ấy đã xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (biệt trú). Tăng chúng đã kéo con ấy về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (biệt trú). Con ấy đã xin Tăng chúng việc biệt trú gộp chung với tội trước vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (biệt trú). Tăng chúng đã ban cho con ấy việc biệt trú gộp chung với tội trước vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (biệt trú). Con ấy, sau khi đã thực hành xong biệt trú, trong khi xứng đáng với mã-na-đỏa, đã phạm thêm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Con ấy đã xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (biệt trú). Tăng chúng đã kéo con ấy về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (biệt trú). Con ấy đã xin Tăng chúng việc biệt trú gộp chung với tội trước vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (biệt trú). Tăng chúng đã ban cho con ấy việc biệt trú gộp chung với tội trước vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (biệt trú). Con ấy, sau khi đã thực hành xong biệt trú, đã xin Tăng chúng việc hành mã-na-đỏa sáu đêm cho ba tội. Tăng chúng đã ban cho con ấy việc hành mã-na-đỏa sáu đêm cho ba tội. Con ấy, trong khi đang thực hành mã-na-đỏa, đã phạm thêm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Con ấy đã xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (mã-na-đỏa). Tăng chúng đã kéo con ấy về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (mã-na-đỏa). Con ấy đã xin Tăng chúng việc biệt trú gộp chung với tội trước vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (mã-na-đỏa). Tăng chúng đã ban cho con ấy việc biệt trú gộp chung với tội trước vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (mã-na-đỏa). Con ấy, sau khi đã thực hành xong biệt trú, đã xin Tăng chúng việc hành mã-na-đỏa sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (mã-na-đỏa). Tăng chúng đã ban cho con ấy việc hành mã-na-đỏa sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (mã-na-đỏa). Con ấy, sau khi đã thực hành xong mã-na-đỏa, trong khi xứng đáng được giải tội, đã phạm thêm một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày. Con ấy đã xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (mã-na-đỏa). Tăng chúng đã kéo con ấy về lại từ đầu vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (mã-na-đỏa). Con ấy đã xin Tăng chúng việc biệt trú gộp chung với tội trước vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (mã-na-đỏa). Tăng chúng đã ban cho con ấy việc biệt trú gộp chung với tội trước vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (mã-na-đỏa). Con ấy, sau khi đã thực hành xong biệt trú, đã xin Tăng chúng việc hành mã-na-đỏa sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (mã-na-đỏa). Tăng chúng đã ban cho con ấy việc hành mã-na-đỏa sáu đêm vì một tội cố ý xuất tinh đã che giấu năm ngày ở trong khi đang thực hành (mã-na-đỏa). Bạch chư Đại đức, con, sau khi đã thực hành xong mã-na-đỏa, xin Tăng chúng việc giải tội.’”
Tatiyampi yācitabbaṁ. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
and a third time. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
“Nên xin lần thứ nhì. Nên xin lần thứ ba. Vị tỳ khưu có năng lực và khôn khéo nên trình cho Tăng chúng biết –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pakkhappaṭicchannāya pakkhaparivāsaṁ adāsi. So parivasanto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāci. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ adāsi. So parivutthaparivāso mānattāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāci. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ adāsi. So parivutthaparivāso saṅghaṁ tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno tissannaṁ āpattīnaṁ chārattaṁ mānattaṁ adāsi. So mānattaṁ caranto antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāci. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ adāsi. So parivutthaparivāso saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. So ciṇṇamānatto abbhānāraho antarā ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pañcāhappaṭicchannaṁ. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāyapaṭikassanaṁ yāci. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya mūlāya paṭikassi. So saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya purimāya āpattiyā samodhānaparivāsaṁ adāsi. So parivutthaparivāso saṅghaṁ antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ yāci. Saṅgho udāyissa bhikkhuno antarā ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā pañcāhappaṭicchannāya chārattaṁ mānattaṁ adāsi. So ciṇṇamānatto saṅghaṁ abbhānaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ abbheyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. He asked the Sangha for probation for a half-month for one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. The Sangha gave the monk Udāyī probation for a half-month for one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. While on probation, he committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. He asked the Sangha to send him back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation. The Sangha sent the monk Udāyī back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation. He then asked the Sangha for probation for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation—simultaneous with the probation for the previous offense. The Sangha gave the monk Udāyī probation for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while on probation—simultaneous with the probation for the previous offense. When he had completed the probation, while deserving the trial period, he committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. He asked the Sangha to send him back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while deserving the trial period. The Sangha sent the monk Udāyī back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while deserving the trial period. He then asked the Sangha for probation for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while deserving the trial period—simultaneous with the probation for the previous offense. The Sangha gave the monk Udāyī probation for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while deserving the trial period—simultaneous with the probation for the previous offense. When he had completed the probation, he asked the Sangha for the trial period of six days for the three offenses. The Sangha gave the monk Udāyī the trial period of six days for the three offenses. While undertaking the trial period, he committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. He asked the Sangha to send him back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while undertaking the trial period. The Sangha sent the monk Udāyī back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while undertaking the trial period. He then asked the Sangha for probation for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while undertaking the trial period—simultaneous with the probation for the previous offense. The Sangha gave the monk Udāyī probation for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while undertaking the trial period—simultaneous with the probation for the previous offense. When he had completed the probation, he asked the Sangha for the trial period of six days for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while undertaking the trial period. The Sangha gave the monk Udāyī the trial period of six days for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while undertaking the trial period. When he had completed the trial period, while deserving rehabilitation, he committed one offense of intentional emission of semen, concealed for five days. He asked the Sangha to send him back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while deserving rehabilitation. The Sangha sent the monk Udāyī back to the beginning for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while deserving rehabilitation. He then asked the Sangha for probation for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while deserving rehabilitation—simultaneous with the probation for the previous offense. The Sangha gave the monk Udāyī probation for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while deserving rehabilitation—simultaneous with the probation for the previous offense. When he had completed the probation, he asked the Sangha for the trial period of six days for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while deserving rehabilitation. The Sangha gave the monk Udāyī the trial period of six days for one offense of intentional emission of semen—concealed for five days and committed while deserving rehabilitation. He has now completed the trial period and is asking the Sangha for rehabilitation. If the Sangha is ready, it should rehabilitate the monk Udāyī. This is the motion.
133. “Kính bạch chư Đại đức, Tăng chúng hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu nửa tháng. Vị ấy đã xin Tăng chúng (biệt trú) nửa tháng cho một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu nửa tháng. Tăng chúng đã trao (biệt trú) nửa tháng cho tỳ khưu Udāyī về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu nửa tháng. Vị ấy trong khi đang sống biệt trú, ở giữa chừng, đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Vị ấy đã xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Tăng chúng đã kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Vị ấy đã xin Tăng chúng (biệt trú) gộp chung với tội trước về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Tăng chúng đã trao cho tỳ khưu Udāyī (biệt trú) gộp chung với tội trước về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Vị ấy đã sống xong biệt trú, xứng đáng với (hành) ma-na-đỏa, ở giữa chừng, đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Vị ấy đã xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Tăng chúng đã kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Vị ấy đã xin Tăng chúng (biệt trú) gộp chung với tội trước về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Tăng chúng đã trao cho tỳ khưu Udāyī (biệt trú) gộp chung với tội trước về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Vị ấy đã sống xong biệt trú, đã xin Tăng chúng (hành) ma-na-đỏa sáu đêm cho ba tội. Tăng chúng đã trao cho tỳ khưu Udāyī (hành) ma-na-đỏa sáu đêm cho ba tội. Vị ấy trong khi đang hành ma-na-đỏa, ở giữa chừng, đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Vị ấy đã xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Tăng chúng đã kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Vị ấy đã xin Tăng chúng (biệt trú) gộp chung với tội trước về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Tăng chúng đã trao cho tỳ khưu Udāyī (biệt trú) gộp chung với tội trước về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Vị ấy đã sống xong biệt trú, đã xin Tăng chúng (hành) ma-na-đỏa sáu đêm về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Tăng chúng đã trao cho tỳ khưu Udāyī (hành) ma-na-đỏa sáu đêm về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Vị ấy đã hành xong ma-na-đỏa, xứng đáng được giải tội, ở giữa chừng, đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày. Vị ấy đã xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Tăng chúng đã kéo tỳ khưu Udāyī về lại từ đầu về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Vị ấy đã xin Tăng chúng (biệt trú) gộp chung với tội trước về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Tăng chúng đã trao cho tỳ khưu Udāyī (biệt trú) gộp chung với tội trước về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Vị ấy đã sống xong biệt trú, đã xin Tăng chúng (hành) ma-na-đỏa sáu đêm về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Tăng chúng đã trao cho tỳ khưu Udāyī (hành) ma-na-đỏa sáu đêm về một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu năm ngày, (phạm) ở giữa chừng. Vị ấy đã hành xong ma-na-đỏa, xin Tăng chúng việc giải tội. Nếu Tăng chúng thấy là hợp thời, Tăng chúng hãy giải tội cho tỳ khưu Udāyī. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ udāyī bhikkhu ekaṁ āpattiṁ āpajji sañcetanikaṁ sukkavissaṭṭhiṁ pakkhappaṭicchannaṁ …pe… so ciṇṇamānatto saṅghaṁ abbhānaṁ yācati. Saṅgho udāyiṁ bhikkhuṁ abbheti. Yassāyasmato khamati udāyissa bhikkhuno abbhānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Udāyī had committed one offense of intentional emission of semen, concealed for a half-month. … He has now completed the trial period and is asking the Sangha for rehabilitation. The Sangha rehabilitates the monk Udāyī. Any monk who approves of rehabilitating the monk Udāyī should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Đại đức, Tăng chúng hãy nghe con. Tỳ khưu Udāyī này đã phạm một tội cố ý xuất tinh, đã che giấu nửa tháng ... (v.v.) ... vị ấy đã hành xong ma-na-đỏa, xin Tăng chúng việc giải tội. Tăng chúng giải tội cho tỳ khưu Udāyī. Vị Trưởng lão nào chấp thuận việc giải tội cho tỳ khưu Udāyī thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.”
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
“Lần thứ nhì, tôi cũng nói lên điều này ... (v.v.) ... Lần thứ ba, tôi cũng nói lên điều này ... (v.v.) ...”
Abbhito saṅghena udāyī bhikkhu. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has rehabilitated the monk Udāyī. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Tỳ khưu Udāyī đã được Tăng chúng giải tội. Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Sukkavissaṭṭhi samattā.
2. Parivāsa
The section on emission of semen is finished.
2. Probation
(Chương về) việc cố ý xuất tinh đã chấm dứt.
2.1. Agghasamodhānaparivāsa
Simultaneous probations in accordance with the longest concealment
Biệt trú gộp theo giá trị
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpanno hoti—ekā āpatti ekāhappaṭicchannā, ekā āpatti dvīhappaṭicchannā, ekā āpatti tīhappaṭicchannā, ekā āpatti catūhappaṭicchannā, ekā āpatti pañcāhappaṭicchannā, ekā āpatti chāhappaṭicchannā, ekā āpatti sattāhappaṭicchannā, ekā āpatti aṭṭhāhappaṭicchannā, ekā āpatti navāhappaṭicchannā, ekā āpatti dasāhappaṭicchannā. So bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ—ekā āpatti ekāhappaṭicchannā …pe… ekā āpatti dasāhappaṭicchannā. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho tassa bhikkhuno tāsaṁ āpattīnaṁ yā āpatti dasāhappaṭicchannā tassā agghena samodhānaparivāsaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, dātabbo—
At one time a monk had committed a number of offenses entailing suspension: one concealed for one day, one for two days, one for three days, one for four days, one for five days, one for six days, one for seven days, one for eight days, one for nine days, and one for ten days. He told the monks about this, adding, “What should I do now?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should give that monk simultaneous probation for those offenses, in accordance with the offense that was concealed for ten days. And it should be given like this.
134. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã phạm nhiều tội Tăng Tàn – một tội đã che giấu một ngày, một tội đã che giấu hai ngày, một tội đã che giấu ba ngày, một tội đã che giấu bốn ngày, một tội đã che giấu năm ngày, một tội đã che giấu sáu ngày, một tội đã che giấu bảy ngày, một tội đã che giấu tám ngày, một tội đã che giấu chín ngày, một tội đã che giấu mười ngày. Vị ấy đã trình báo với các tỳ khưu rằng: – ‘Thưa chư hiền, tôi đã phạm nhiều tội Tăng Tàn – một tội đã che giấu một ngày, ... cho đến ... một tội đã che giấu mười ngày. Tôi nên thực hành như thế nào đây?’ (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng hãy trao cho vị tỳ khưu ấy việc thực hành biệt trú gộp theo giá trị của tội đã được che giấu mười ngày trong số các tội ấy. Và này các tỳ khưu, nên được trao như vầy:
‘ahaṁ, bhante, sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ—ekā āpatti ekāhappaṭicchannā …pe… ekā āpatti dasāhappaṭicchannā. Sohaṁ, bhante, saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ yā āpatti dasāhappaṭicchannā tassā agghena samodhānaparivāsaṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbo. Tatiyampi yācitabbo.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Venerables, I’ve committed a number of offenses entailing suspension: one concealed for one day … one concealed for ten days. I ask the Sangha for simultaneous probation for those offenses, in accordance with the offense that was concealed for ten days.’ And he should ask a second and a third time.
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
– ‘Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy sau khi đi đến Tăng chúng ... cho đến ... nên nói như vầy: – ‘Bạch chư Đại đức, con đã phạm nhiều tội Tăng Tàn – một tội đã che giấu một ngày, ... cho đến ... một tội đã che giấu mười ngày. Bạch chư Đại đức, chính con xin Tăng chúng (cho con) việc thực hành biệt trú gộp theo giá trị của tội đã được che giấu mười ngày trong số các tội ấy.’ Nên xin lần thứ nhì. Nên xin lần thứ ba. Tăng chúng nên được một vị tỳ khưu có khả năng và thẩm quyền trình cho biết rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajji—ekā āpatti ekāhappaṭicchannā …pe… ekā āpatti dasāhappaṭicchannā. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ yā āpatti dasāhappaṭicchannā tassā agghena samodhānaparivāsaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmassa bhikkhuno tāsaṁ āpattīnaṁ yā āpatti dasāhappaṭicchannā tassā agghena samodhānaparivāsaṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk so-and-so has committed a number of offenses entailing suspension: one concealed for one day … one concealed for ten days. He is asking the Sangha for simultaneous probation for those offenses, in accordance with the offense that was concealed for ten days. If the Sangha is ready, it should give monk so-and-so simultaneous probation for those offenses, in accordance with the offense that was concealed for ten days. This is the motion.
135. – ‘Bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Vị tỳ khưu tên là ... này đã phạm nhiều tội Tăng Tàn – một tội đã che giấu một ngày, ... cho đến ... một tội đã che giấu mười ngày. Vị ấy xin Tăng chúng (cho vị ấy) việc thực hành biệt trú gộp theo giá trị của tội đã được che giấu mười ngày trong số các tội ấy. Nếu là thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng, Tăng chúng hãy trao cho vị tỳ khưu tên là ... việc thực hành biệt trú gộp theo giá trị của tội đã được che giấu mười ngày trong số các tội ấy. Đây là lời tác bạch.’
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajji—ekā āpatti ekāhappaṭicchannā …pe… ekā āpatti dasāhappaṭicchannā. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ yā āpatti dasāhappaṭicchannā tassā agghena samodhānaparivāsaṁ yācati. Saṅgho itthannāmassa bhikkhuno tāsaṁ āpattīnaṁ yā āpatti dasāhappaṭicchannā tassā agghena samodhānaparivāsaṁ deti. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno tāsaṁ āpattīnaṁ yā āpatti dasāhappaṭicchannā; tassā agghena samodhānaparivāsassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk so-and-so has committed a number of offenses entailing suspension: one concealed for one day … one concealed for ten days. He is asking the Sangha for simultaneous probation for those offenses, in accordance with the offense that was concealed for ten days. The Sangha gives monk so-and-so simultaneous probation for those offenses, in accordance with the offense that was concealed for ten days. Any monk who approves of giving monk so-and-so simultaneous probation for those offenses, in accordance with the offense that was concealed for ten days, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
– ‘Bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Vị tỳ khưu tên là ... này đã phạm nhiều tội Tăng Tàn – một tội đã che giấu một ngày, ... cho đến ... một tội đã che giấu mười ngày. Vị ấy xin Tăng chúng (cho vị ấy) việc thực hành biệt trú gộp theo giá trị của tội đã được che giấu mười ngày trong số các tội ấy. Tăng chúng trao cho vị tỳ khưu tên là ... việc thực hành biệt trú gộp theo giá trị của tội đã được che giấu mười ngày trong số các tội ấy. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc trao cho vị tỳ khưu tên là ... việc thực hành biệt trú gộp theo giá trị của tội đã được che giấu mười ngày trong số các tội ấy thì vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì vị ấy hãy nói lên.’
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
– ‘Lần thứ nhì, tôi cũng nói lên sự việc này ... cho đến ... Lần thứ ba, tôi cũng nói lên sự việc này ... cho đến ...’
Dinno saṅghena itthannāmassa bhikkhuno tāsaṁ āpattīnaṁ yā āpatti dasāhappaṭicchannā tassā agghena samodhānaparivāso. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given monk so-and-so simultaneous probation for those offenses, in accordance with the offense that was concealed for ten days. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
– ‘Việc thực hành biệt trú gộp theo giá trị của tội đã được che giấu mười ngày trong số các tội ấy đã được Tăng chúng trao cho vị tỳ khưu tên là ... Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên đã im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
2.2. Sabbacirappaṭicchannaagghasamodhāna
Simultaneous probations in accordance with all the offenses that were concealed the longest
(Biệt trú) gộp theo giá trị của (tội) được che giấu lâu nhất
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpanno hoti—ekā āpatti ekāhappaṭicchannā, dve āpattiyo dvīhappaṭicchannāyo, tisso āpattiyo tīhappaṭicchannāyo, catasso āpattiyo catūhappaṭicchannāyo, pañca āpattiyo pañcāhappaṭicchannāyo, cha āpattiyo chāhappaṭicchannāyo, satta āpattiyo sattāhappaṭicchannāyo, aṭṭha āpattiyo aṭṭhāhappaṭicchannāyo, nava āpattiyo navāhappaṭicchannāyo, dasa āpattiyo dasāhappaṭicchannāyo. So bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ, ekā āpatti ekāhappaṭicchannā …pe… dasa āpattiyo dasāhappaṭicchannāyo. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho tassa bhikkhuno tāsaṁ āpattīnaṁ yā āpattiyo sabbacirappaṭicchannāyo tāsaṁ agghena samodhānaparivāsaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, dātabbo—
At one time a monk had committed a number of offenses entailing suspension: one concealed for one day, two for two days, three for three days, four for four days, five for five days, six for six days, seven for seven days, eight for eight days, nine for nine days, ten for ten days. He told the monks about this, adding, “What should I do now?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should give that monk simultaneous probation for those offenses, in accordance with all the offenses that were concealed the longest. And it should be given like this.
136. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã phạm nhiều tội Tăng Tàn – một tội đã che giấu một ngày, hai tội đã che giấu hai ngày, ba tội đã che giấu ba ngày, bốn tội đã che giấu bốn ngày, năm tội đã che giấu năm ngày, sáu tội đã che giấu sáu ngày, bảy tội đã che giấu bảy ngày, tám tội đã che giấu tám ngày, chín tội đã che giấu chín ngày, mười tội đã che giấu mười ngày. Vị ấy đã trình báo với các tỳ khưu rằng: – ‘Thưa chư hiền, tôi đã phạm nhiều tội Tăng Tàn, một tội đã che giấu một ngày, ... cho đến ... mười tội đã che giấu mười ngày. Tôi nên thực hành như thế nào đây?’ (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng hãy trao cho vị tỳ khưu ấy việc thực hành biệt trú gộp theo giá trị của các tội đã được che giấu lâu nhất trong số các tội ấy. Và này các tỳ khưu, nên được trao như vầy:
‘ahaṁ, bhante, sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ, ekā āpatti ekāhappaṭicchannā …pe… dasa āpattiyo dasāhappaṭicchannāyo. Sohaṁ, bhante, saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ yā āpattiyo sabbacirappaṭicchannāyo tāsaṁ agghena samodhānaparivāsaṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbo. Tatiyampi yācitabbo.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Venerables, I’ve committed a number of offenses entailing suspension: one concealed for one day … ten concealed for ten days. I ask the Sangha for simultaneous probation for those offenses, in accordance with all the offenses that were concealed the longest.’ And he should ask a second and a third time.
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
– ‘Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy sau khi đi đến Tăng chúng ... cho đến ... nên nói như vầy: – ‘Bạch chư Đại đức, con đã phạm nhiều tội Tăng Tàn, một tội đã che giấu một ngày, ... cho đến ... mười tội đã che giấu mười ngày. Bạch chư Đại đức, chính con xin Tăng chúng (cho con) việc thực hành biệt trú gộp theo giá trị của các tội đã được che giấu lâu nhất trong số các tội ấy.’ Nên xin lần thứ nhì. Nên xin lần thứ ba. Tăng chúng nên được một vị tỳ khưu có khả năng và thẩm quyền trình cho biết rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajji, ekā āpatti ekāhappaṭicchannā …pe… dasa āpattiyo dasāhappaṭicchannāyo. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ yā āpattiyo sabbacirappaṭicchannāyo tāsaṁ agghena samodhānaparivāsaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ saṅgho itthannāmassa bhikkhuno tāsaṁ āpattīnaṁ yā āpattiyo sabbacirappaṭicchannāyo tāsaṁ agghena samodhānaparivāsaṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk so-and-so has committed a number of offenses entailing suspension: one concealed for one day … ten concealed for ten days. He is asking the Sangha for simultaneous probation for those offenses, in accordance with all the offenses that were concealed the longest. If the Sangha is ready, it should give monk so-and-so simultaneous probation for those offenses, in accordance with all the offenses that were concealed the longest. This is the motion.
137. Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy lắng nghe con. Vị tỳ khưu tên là ... này đã phạm nhiều tội Tăng Tàn, một tội đã được che giấu một ngày, ... cho đến ... mười tội đã được che giấu mười ngày. Vị ấy xin Tăng chúng pháp biệt trú gộp theo mức độ của tội nào trong các tội ấy đã được che giấu lâu nhất. Nếu thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng, Tăng chúng nên ban cho tỳ khưu tên là ... pháp biệt trú gộp theo mức độ của tội nào trong các tội ấy đã được che giấu lâu nhất. Đây là lời tác bạch.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajji—ekā āpatti ekāhappaṭicchannā …pe… dasa āpattiyo dasāhappaṭicchannāyo. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ yā āpattiyo sabbacirappaṭicchannāyo tāsaṁ agghena samodhānaparivāsaṁ yācati. Saṅgho itthannāmassa bhikkhuno tāsaṁ āpattīnaṁ yā āpattiyo sabbacirappaṭicchannāyo tāsaṁ agghena samodhānaparivāsaṁ deti. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno tāsaṁ āpattīnaṁ yā āpattiyo sabbacirappaṭicchannāyo tāsaṁ agghena samodhānaparivāsassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk so-and-so has committed a number of offenses entailing suspension: one concealed for one day … ten concealed for ten days. He is asking the Sangha for simultaneous probation for those offenses, in accordance with all the offenses that were concealed the longest. The Sangha gives monk so-and-so simultaneous probation for those offenses, in accordance with all the offenses that were concealed the longest. Any monk who approves of giving monk so-and-so simultaneous probation for those offenses, in accordance with all the offenses that were concealed the longest, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy lắng nghe con. Vị tỳ khưu tên là ... này đã phạm nhiều tội Tăng Tàn – một tội đã được che giấu một ngày, ... cho đến ... mười tội đã được che giấu mười ngày. Vị ấy xin Tăng chúng pháp biệt trú gộp theo mức độ của tội nào trong các tội ấy đã được che giấu lâu nhất. Tăng chúng ban cho tỳ khưu tên là ... pháp biệt trú gộp theo mức độ của tội nào trong các tội ấy đã được che giấu lâu nhất. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc ban pháp biệt trú gộp cho tỳ khưu tên là ... theo mức độ của tội nào trong các tội ấy đã được che giấu lâu nhất thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng.
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
“Lần thứ nhì, tôi cũng nói lên điều này ... cho đến ... Lần thứ ba, tôi cũng nói lên điều này ... cho đến ...
Dinno saṅghena itthannāmassa bhikkhuno tāsaṁ āpattīnaṁ yā āpattiyo sabbacirappaṭicchannāyo tāsaṁ agghena samodhānaparivāso. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has given monk so-and-so simultaneous probation for those offenses, in accordance with all the offenses that were concealed the longest. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Pháp biệt trú gộp theo mức độ của tội nào trong các tội ấy đã được che giấu lâu nhất đã được Tăng chúng ban cho tỳ khưu tên là ... Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên đã im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như thế.”
2.3. Dvemāsaparivāsa
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpanno hoti dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa etadahosi—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāci. Tassa saṅgho ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa parivasantassa lajjīdhammo okkami—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa me etadahosi—‘ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan’ti. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa me parivasantassa lajjīdhammo okkami—‘yannūnāhaṁ saṅghaṁ itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan’”ti.
Probation for two months
At one time a monk had committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He thought, “I’ve committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. Let me ask the Sangha for probation for two months for one of those offenses.” He asked and got it. While on probation, he was overcome with guilt. He considered what he had done and thought, “Let me ask the Sangha for probation for two months also for the other offense.”
138. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ đã phạm hai tội Tăng Tàn và đã che giấu trong hai tháng. Vị ấy đã khởi lên suy nghĩ rằng: “Ta đã phạm hai tội Tăng Tàn và đã che giấu trong hai tháng. Hay là ta nên xin Tăng chúng pháp biệt trú hai tháng cho một tội đã được che giấu trong hai tháng.” Vị ấy đã xin Tăng chúng pháp biệt trú hai tháng cho một tội đã được che giấu trong hai tháng. Tăng chúng đã ban cho vị ấy pháp biệt trú hai tháng cho một tội đã được che giấu trong hai tháng. Trong khi đang thực hành biệt trú, tâm tàm quý đã khởi lên nơi vị ấy: “Ta đã phạm hai tội Tăng Tàn và đã che giấu trong hai tháng. Ta đã khởi lên suy nghĩ rằng: ‘Ta đã phạm hai tội Tăng Tàn và đã che giấu trong hai tháng. Hay là ta nên xin Tăng chúng pháp biệt trú hai tháng cho một tội đã được che giấu trong hai tháng.’ Ta đã xin Tăng chúng pháp biệt trú hai tháng cho một tội đã được che giấu trong hai tháng. Tăng chúng đã ban cho ta pháp biệt trú hai tháng cho một tội đã được che giấu trong hai tháng. Trong khi đang thực hành biệt trú, tâm tàm quý đã khởi lên nơi ta. Hay là ta nên xin Tăng chúng pháp biệt trú hai tháng cho cả tội còn lại đã được che giấu trong hai tháng.”
So bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa me etadahosi—‘ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan’ti. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa me parivasantassa lajjīdhammo okkami—‘ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa me etadahosi—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan”’ti. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa me parivasantassa lajjīdhammo okkami—‘yannūnāhaṁ saṅghaṁ itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan’ti. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho tassa bhikkhuno itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, dātabbo—
He told the monks everything that had happened, adding, “What should I do now?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should give that monk probation for two months also for that offense. And it should be given like this.
Vị ấy đã trình báo đến các tỳ khưu rằng: “Thưa chư hiền, tôi đã phạm hai tội Tăng Tàn và đã che giấu trong hai tháng. Tôi đã khởi lên suy nghĩ rằng: ‘Tôi đã phạm hai tội Tăng Tàn và đã che giấu trong hai tháng. Hay là tôi nên xin Tăng chúng pháp biệt trú hai tháng cho một tội đã được che giấu trong hai tháng.’ Tôi đã xin Tăng chúng pháp biệt trú hai tháng cho một tội đã được che giấu trong hai tháng. Tăng chúng đã ban cho tôi pháp biệt trú hai tháng cho một tội đã được che giấu trong hai tháng. Trong khi đang thực hành biệt trú, tâm tàm quý đã khởi lên nơi tôi: ‘Tôi đã phạm hai tội Tăng Tàn và đã che giấu trong hai tháng. Tôi đã khởi lên suy nghĩ rằng: ‘Tôi đã phạm hai tội Tăng Tàn và đã che giấu trong hai tháng. Hay là tôi nên xin Tăng chúng pháp biệt trú hai tháng cho một tội đã được che giấu trong hai tháng.’ Tôi đã xin Tăng chúng pháp biệt trú hai tháng cho một tội đã được che giấu trong hai tháng. Tăng chúng đã ban cho tôi pháp biệt trú hai tháng cho một tội đã được che giấu trong hai tháng. Trong khi đang thực hành biệt trú, tâm tàm quý đã khởi lên nơi tôi: ‘Hay là tôi nên xin Tăng chúng pháp biệt trú hai tháng cho cả tội còn lại đã được che giấu trong hai tháng.’ Vậy bây giờ, tôi nên thực hành như thế nào?” Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Đức Thế Tôn phán:) “Này các tỳ khưu, trong trường hợp ấy, Tăng chúng hãy ban cho vị tỳ khưu ấy pháp biệt trú hai tháng cho cả tội còn lại đã được che giấu trong hai tháng. Và này các tỳ khưu, pháp ấy nên được ban như sau: –”
‘ahaṁ, bhante, dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa me etadahosi—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa me parivasantassa lajjīdhammo okkami—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa me etadahosi—ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa me parivasantassa lajjīdhammo okkami—“yannūnāhaṁ saṅghaṁ itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. Sohaṁ, bhante, saṅghaṁ itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yācāmī’ti.
‘Venerables, I had committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. I thought, “I’ve committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. Let me ask the Sangha for probation for two months for one of those offenses.” I asked and got it. While on probation, I was overcome with guilt. I considered what I had done and thought, “Let me ask the Sangha for probation for two months also for the other offense.” I now ask the Sangha for probation for two months also for the other offense, concealed for two months.’
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến Tăng, mặc y thượng lệch một bên vai, đảnh lễ chân các vị tỳ khưu trưởng lão, ngồi xổm, chắp tay, rồi nên nói như vầy: ‘Bạch chư Đại đức, con đã phạm hai tội Tăng Tàn đã che giấu hai tháng. Con đã có suy nghĩ này: ‘Ta đã phạm hai tội Tăng Tàn đã che giấu hai tháng. Hay là ta nên xin Tăng biệt trú hai tháng cho một tội đã che giấu hai tháng.’ Do đó, con đã xin Tăng biệt trú hai tháng cho một tội đã che giấu hai tháng. Tăng đã cho con biệt trú hai tháng cho một tội đã che giấu hai tháng. Trong khi con đang sống biệt trú, tâm hổ thẹn đã khởi lên: ‘Ta đã phạm hai tội Tăng Tàn đã che giấu hai tháng.’ Con đã có suy nghĩ này: ‘Ta đã phạm hai tội Tăng Tàn đã che giấu hai tháng. Hay là ta nên xin Tăng biệt trú hai tháng cho một tội đã che giấu hai tháng.’ Do đó, con đã xin Tăng biệt trú hai tháng cho một tội đã che giấu hai tháng. Tăng đã cho con biệt trú hai tháng cho một tội đã che giấu hai tháng. Trong khi con đang sống biệt trú, tâm hổ thẹn đã khởi lên: ‘Hay là ta nên xin Tăng biệt trú hai tháng cho tội còn lại đã che giấu hai tháng.’ Bạch chư Đại đức, do đó, con xin Tăng biệt trú hai tháng cho tội còn lại đã che giấu hai tháng.’”
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
“Nên xin đến lần thứ nhì. Nên xin đến lần thứ ba. Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên tác bạch cho Tăng như sau:”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajji dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa etadahosi—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāci. Tassa saṅgho ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa parivasantassa lajjīdhammo okkami—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa me etadahosi—ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa me parivasantassa lajjīdhammo okkami—“yannūnāhaṁ saṅghaṁ itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. So saṅghaṁ itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmassa bhikkhuno itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk so-and-so had committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He thought, “I’ve committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. Let me ask the Sangha for probation for two months for one offense concealed for two months.” He asked the Sangha for probation for two months for one offense concealed for two months. The Sangha gave him probation for two months for one offense concealed for two months. While on probation, he was overcome with guilt, thinking, “I’ve committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. I thought, ‘I’ve committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. Let me ask the Sangha for probation for two months for one offense concealed for two months.’ I asked the Sangha for probation for two months for one offense concealed for two months. The Sangha gave me probation for two months for one offense concealed for two months. While on probation, I was overcome with guilt, thinking, ‘Let me ask the Sangha for probation for two months also for the other offense concealed for two months.’” He is now asking the Sangha for probation for two months also for the other offense concealed for two months. If the Sangha is ready, it should give monk so-and-so probation for two months also for the other offense concealed for two months. This is the motion.
139. “Bạch chư Đại đức, Tăng hãy nghe con. Vị tỳ khưu tên là ... này đã phạm hai tội Tăng Tàn đã che giấu hai tháng. Vị ấy đã có suy nghĩ này: ‘Ta đã phạm hai tội Tăng Tàn đã che giấu hai tháng. Hay là ta nên xin Tăng biệt trú hai tháng cho một tội đã che giấu hai tháng.’ Vị ấy đã xin Tăng biệt trú hai tháng cho một tội đã che giấu hai tháng. Tăng đã cho vị ấy biệt trú hai tháng cho một tội đã che giấu hai tháng. Trong khi vị ấy đang sống biệt trú, tâm hổ thẹn đã khởi lên (như sau): ‘Ta đã phạm hai tội Tăng Tàn đã che giấu hai tháng. Ta đã có suy nghĩ này: ‘Ta đã phạm hai tội Tăng Tàn đã che giấu hai tháng. Hay là ta nên xin Tăng biệt trú hai tháng cho một tội đã che giấu hai tháng.’ Do đó, ta đã xin Tăng biệt trú hai tháng cho một tội đã che giấu hai tháng. Tăng đã cho ta biệt trú hai tháng cho một tội đã che giấu hai tháng. Trong khi ta đang sống biệt trú, tâm hổ thẹn đã khởi lên: ‘Hay là ta nên xin Tăng biệt trú hai tháng cho tội còn lại đã che giấu hai tháng.’ Vị ấy xin Tăng biệt trú hai tháng cho tội còn lại đã che giấu hai tháng. Nếu là thời điểm thích hợp đối với Tăng, Tăng nên ban cho tỳ khưu tên là ... việc sống biệt trú hai tháng cho tội còn lại đã che giấu hai tháng. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajji dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa etadahosi—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāci. Tassa saṅgho ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa parivasantassa lajjīdhammo okkami—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa me etadahosi—ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa me parivasantassa lajjīdhammo okkami—“yannūnāhaṁ saṅghaṁ itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. So saṅghaṁ itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yācati. Saṅgho itthannāmassa bhikkhuno itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ deti. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk so-and-so had committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He thought, “I’ve committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. Let me ask the Sangha for probation for two months for one offense concealed for two months.” He asked the Sangha for probation for two months for one offense concealed for two months. The Sangha gave him probation for two months for one offense concealed for two months. While on probation, he was overcome with guilt, thinking, “I’ve committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. I thought, ‘I’ve committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. Let me ask the Sangha for probation for two months for one offense concealed for two months.’ I asked the Sangha for probation for two months for one offense concealed for two months. The Sangha gave me probation for two months for one offense concealed for two months. While on probation, I was overcome with guilt, thinking, ‘Let me ask the Sangha for probation for two months also for the other offense concealed for two months.’” He is now asking the Sangha for probation for two months also for the other offense concealed for two months. The Sangha gives monk so-and-so probation for two months also for the other offense concealed for two months. Any monk who approves of giving monk so-and-so probation for two months also for the other offense concealed for two months should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Bạch chư Đại đức, Tăng hãy nghe con. Vị tỳ khưu tên là ... này đã phạm hai tội Tăng Tàn đã che giấu hai tháng. Vị ấy đã có suy nghĩ này: ‘Ta đã phạm hai tội Tăng Tàn đã che giấu hai tháng. Hay là ta nên xin Tăng biệt trú hai tháng cho một tội đã che giấu hai tháng.’ Vị ấy đã xin Tăng biệt trú hai tháng cho một tội đã che giấu hai tháng. Tăng đã cho vị ấy biệt trú hai tháng cho một tội đã che giấu hai tháng. Trong khi vị ấy đang sống biệt trú, tâm hổ thẹn đã khởi lên (như sau): ‘Ta đã phạm hai tội Tăng Tàn đã che giấu hai tháng. Ta đã có suy nghĩ này: ‘Ta đã phạm hai tội Tăng Tàn đã che giấu hai tháng. Hay là ta nên xin Tăng biệt trú hai tháng cho một tội đã che giấu hai tháng.’ Do đó, ta đã xin Tăng biệt trú hai tháng cho một tội đã che giấu hai tháng. Tăng đã cho ta biệt trú hai tháng cho một tội đã che giấu hai tháng. Trong khi ta đang sống biệt trú, tâm hổ thẹn đã khởi lên: ‘Hay là ta nên xin Tăng biệt trú hai tháng cho tội còn lại đã che giấu hai tháng.’ Vị ấy xin Tăng biệt trú hai tháng cho tội còn lại đã che giấu hai tháng. Tăng ban cho tỳ khưu tên là ... việc sống biệt trú hai tháng cho tội còn lại đã che giấu hai tháng. Việc ban cho tỳ khưu tên là ... việc sống biệt trú hai tháng cho tội còn lại đã che giấu hai tháng, nếu vị nào chấp thuận thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.”
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
“Lần thứ nhì, tôi nói lên điều này ... Lần thứ ba, tôi nói lên điều này ...”
Dinno saṅghena itthannāmassa bhikkhuno itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāso. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
Tena, bhikkhave, bhikkhunā tadupādāya dve māsā parivasitabbā.
The Sangha has given monk so-and-so probation for two months also for the other offense concealed for two months. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
Starting right there, that monk must stay on probation for two months.”
‘Tăng sự đã ban cho tỳ khưu tên là ... hình phạt biệt trú hai tháng về tội còn lại đã được che giấu trong hai tháng. Việc này được Tăng sự chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi xin ghi nhận sự việc này là như vậy.’ Này các tỳ khưu, do bởi tội ấy, vị tỳ khưu ấy nên thực hành biệt trú trong hai tháng.
2.4. Dvemāsāparivasitabbavidhi
Processes for staying on probation for two months
Phương pháp thực hành biệt trú hai tháng
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjati dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa evaṁ hoti—‘ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan’ti. So saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ deti. Tassa parivasantassa lajjīdhammo okkami—‘ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa me etadahosi—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. Sohaṁ saṅghaṁ ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho ekissā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa me parivasantassa lajjīdhammo okkami—“yannūnāhaṁ saṅghaṁ itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan”’ti. So saṅghaṁ itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ deti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā tadupādāya dve māsā parivasitabbā.
“It may be that a monk has committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He thinks, ‘I’ve committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. Let me ask the Sangha for probation for two months for one of those offenses.’ He asks and gets it. While on probation, he’s overcome with guilt. He considers all this and thinks, ‘Let me ask the Sangha for probation for two months for the other offense too.’ He asks and gets it. Starting right there, that monk must stay on probation for two months.
140. Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có vị tỳ khưu phạm hai tội Tăng Tàn đã được che giấu trong hai tháng. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta đã phạm hai tội Tăng Tàn đã được che giấu trong hai tháng. Hay là ta nên xin Tăng sự hình phạt biệt trú hai tháng về một tội đã được che giấu trong hai tháng.’ Vị ấy bèn xin Tăng sự hình phạt biệt trú hai tháng về một tội đã được che giấu trong hai tháng. Tăng sự ban cho vị ấy hình phạt biệt trú hai tháng về một tội đã được che giấu trong hai tháng. Trong khi đang thực hành biệt trú, tâm tàm quý khởi lên nơi vị ấy: ‘Ta đã phạm hai tội Tăng Tàn đã được che giấu trong hai tháng. Ta đã có suy nghĩ này: ‘Ta đã phạm hai tội Tăng Tàn đã được che giấu trong hai tháng. Hay là ta nên xin Tăng sự hình phạt biệt trú hai tháng về một tội đã được che giấu trong hai tháng.’ Ta đã xin Tăng sự hình phạt biệt trú hai tháng về một tội đã được che giấu trong hai tháng. Tăng sự đã ban cho ta hình phạt biệt trú hai tháng về một tội đã được che giấu trong hai tháng. Trong khi ta đang thực hành biệt trú, tâm tàm quý đã khởi lên. Hay là ta nên xin Tăng sự hình phạt biệt trú hai tháng về tội còn lại cũng đã được che giấu trong hai tháng.’ Vị ấy bèn xin Tăng sự hình phạt biệt trú hai tháng về tội còn lại cũng đã được che giấu trong hai tháng. Tăng sự ban cho vị ấy hình phạt biệt trú hai tháng về tội còn lại cũng đã được che giấu trong hai tháng. Này các tỳ khưu, do bởi tội ấy, vị tỳ khưu ấy nên thực hành biệt trú trong hai tháng.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjati dvemāsappaṭicchannāyo; ekaṁ āpattiṁ jānāti, ekaṁ āpattiṁ na jānāti. So saṅghaṁ yaṁ āpattiṁ jānāti, tassā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tassā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ deti. So parivasanto itarampi āpattiṁ jānāti. Tassa evaṁ hoti—‘ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo; ekaṁ āpattiṁ jāniṁ, ekaṁ āpattiṁ na jāniṁ. Sohaṁ saṅghaṁ yaṁ āpattiṁ jāniṁ tassā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho tassā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasanto itarampi āpattiṁ jānāmi. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan’ti. So saṅghaṁ itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ deti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā tadupādāya dve māsā parivasitabbā.
It may be that a monk has committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He’s aware of one, but not the other. He asks the Sangha for probation for two months for the offense he’s aware of, which he gets. While on probation, he finds out about the other offense too. He considers all this and thinks, ‘Let me ask the Sangha for probation for two months for the other offense too.’ He asks and gets it. Starting right there, that monk must stay on probation for two months.
141. Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có vị tỳ khưu phạm hai tội Tăng Tàn đã được che giấu trong hai tháng; vị ấy biết một tội, không biết một tội. Vị ấy xin Tăng sự hình phạt biệt trú hai tháng về tội mà vị ấy biết, đã được che giấu trong hai tháng. Tăng sự ban cho vị ấy hình phạt biệt trú hai tháng về tội ấy đã được che giấu trong hai tháng. Trong khi đang thực hành biệt trú, vị ấy biết cả tội còn lại. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta đã phạm hai tội Tăng Tàn đã được che giấu trong hai tháng; ta đã biết một tội, không biết một tội. Ta đã xin Tăng sự hình phạt biệt trú hai tháng về tội mà ta đã biết, đã được che giấu trong hai tháng. Tăng sự đã ban cho ta hình phạt biệt trú hai tháng về tội ấy đã được che giấu trong hai tháng. Trong khi đang thực hành biệt trú, ta biết cả tội còn lại. Hay là ta nên xin Tăng sự hình phạt biệt trú hai tháng về tội còn lại cũng đã được che giấu trong hai tháng.’ Vị ấy bèn xin Tăng sự hình phạt biệt trú hai tháng về tội còn lại cũng đã được che giấu trong hai tháng. Tăng sự ban cho vị ấy hình phạt biệt trú hai tháng về tội còn lại cũng đã được che giấu trong hai tháng. Này các tỳ khưu, do bởi tội ấy, vị tỳ khưu ấy nên thực hành biệt trú trong hai tháng.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjati dvemāsappaṭicchannāyo; ekaṁ āpattiṁ sarati, ekaṁ āpattiṁ nassarati. So saṅghaṁ yaṁ āpattiṁ sarati, tassā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tassā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ deti. So parivasanto itarampi āpattiṁ sarati. Tassa evaṁ hoti—‘ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo; ekaṁ āpattiṁ sariṁ, ekaṁ āpattiṁ nassariṁ. Sohaṁ saṅghaṁ yaṁ āpattiṁ sariṁ, tassā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho tassā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasanto itarampi āpattiṁ sarāmi. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan’ti. So saṅghaṁ itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ deti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā tadupādāya dve māsā parivasitabbā.
It may be that a monk has committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He remembers one, but not the other. He asks the Sangha for probation for two months for the offense he remembers, which he gets. While on probation, he remembers the other offense too. He considers all this and thinks, ‘Let me ask the Sangha for probation for two months for the other offense too.’ He asks and gets it. Starting right there, that monk must stay on probation for two months.
142. Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có vị tỳ khưu phạm hai tội Tăng Tàn đã được che giấu trong hai tháng; vị ấy nhớ một tội, không nhớ một tội. Vị ấy xin Tăng sự hình phạt biệt trú hai tháng về tội mà vị ấy nhớ, đã được che giấu trong hai tháng. Tăng sự ban cho vị ấy hình phạt biệt trú hai tháng về tội ấy đã được che giấu trong hai tháng. Trong khi đang thực hành biệt trú, vị ấy nhớ cả tội còn lại. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta đã phạm hai tội Tăng Tàn đã được che giấu trong hai tháng; ta đã nhớ một tội, không nhớ một tội. Ta đã xin Tăng sự hình phạt biệt trú hai tháng về tội mà ta đã nhớ, đã được che giấu trong hai tháng. Tăng sự đã ban cho ta hình phạt biệt trú hai tháng về tội ấy đã được che giấu trong hai tháng. Trong khi đang thực hành biệt trú, ta nhớ cả tội còn lại. Hay là ta nên xin Tăng sự hình phạt biệt trú hai tháng về tội còn lại cũng đã được che giấu trong hai tháng.’ Vị ấy bèn xin Tăng sự hình phạt biệt trú hai tháng về tội còn lại cũng đã được che giấu trong hai tháng. Tăng sự ban cho vị ấy hình phạt biệt trú hai tháng về tội còn lại cũng đã được che giấu trong hai tháng. Này các tỳ khưu, do bởi tội ấy, vị tỳ khưu ấy nên thực hành biệt trú trong hai tháng.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjati dvemāsappaṭicchannāyo; ekāya āpattiyā nibbematiko, ekāya āpattiyā vematiko. So saṅghaṁ yāya āpattiyā nibbematiko, tassā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tassā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ deti. So parivasanto itarissāpi āpattiyā nibbematiko hoti. Tassa evaṁ hoti—‘ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo; ekāya āpattiyā nibbematiko, ekāya āpattiyā vematiko. Sohaṁ saṅghaṁ yāya āpattiyā nibbematiko tassā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho tassā āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasanto itarissāpi āpattiyā nibbematiko. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yāceyyan’ti. So saṅghaṁ itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho itarissāpi āpattiyā dvemāsappaṭicchannāya dvemāsaparivāsaṁ deti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā tadupādāya dve māsā parivasitabbā.
It may be that a monk has committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He’s sure of one, but unsure of the other. He asks the Sangha for probation for two months for the offense he’s sure of, which he gets. While on probation, he becomes sure of the other offense too. He considers all this and thinks, ‘Let me ask the Sangha for probation for two months for the other offense too.’ He asks and gets it. Starting right there, that monk must stay on probation for two months.
143. “Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có vị tỳ khưu phạm hai tội Tăng Tàn đã được che giấu hai tháng; đối với một tội thì không có nghi ngờ, đối với một tội thì có nghi ngờ. Vị ấy xin Tăng chúng cho phép biệt trú hai tháng đối với tội đã được che giấu hai tháng mà vị ấy không có nghi ngờ. Tăng chúng ban cho vị ấy việc biệt trú hai tháng đối với tội đã được che giấu hai tháng ấy. Trong khi đang sống biệt trú, vị ấy cũng trở nên không có nghi ngờ đối với tội còn lại. Vị ấy suy nghĩ như vầy: ‘Ta đã phạm hai tội Tăng Tàn đã được che giấu hai tháng; đối với một tội thì không có nghi ngờ, đối với một tội thì có nghi ngờ. Ta đã xin Tăng chúng cho phép biệt trú hai tháng đối với tội đã được che giấu hai tháng mà ta không có nghi ngờ. Tăng chúng đã ban cho ta việc biệt trú hai tháng đối với tội đã được che giấu hai tháng ấy. Trong khi đang sống biệt trú, ta cũng đã trở nên không có nghi ngờ đối với tội còn lại. Chắc chắn ta nên xin Tăng chúng cho phép biệt trú hai tháng đối với tội còn lại đã được che giấu hai tháng.’ Vị ấy xin Tăng chúng cho phép biệt trú hai tháng đối với tội còn lại đã được che giấu hai tháng. Tăng chúng ban cho vị ấy việc biệt trú hai tháng đối với tội còn lại đã được che giấu hai tháng. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy, dựa vào tội đó, nên sống biệt trú hai tháng.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjati dvemāsappaṭicchannāyo; ekā āpatti jānappaṭicchannā, ekā āpatti ajānappaṭicchannā. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ deti. Tassa parivasantassa añño bhikkhu āgacchati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito viyatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo. So evaṁ vadeti—‘kiṁ ayaṁ, āvuso, bhikkhu āpanno? Kissāyaṁ bhikkhu parivasatī’ti? Te evaṁ vadenti—‘ayaṁ, āvuso, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajji dvemāsappaṭicchannāyo; ekā āpatti jānappaṭicchannā, ekā āpatti ajānappaṭicchannā. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Tāyo ayaṁ, āvuso, bhikkhu āpanno, tāsāyaṁ bhikkhu parivasatī’ti. So evaṁ vadeti—‘yāyaṁ, āvuso, āpatti jānappaṭicchannā, dhammikaṁ tassā āpattiyā parivāsadānaṁ; dhammattā ruhati. Yā ca khvāyaṁ, āvuso, āpatti ajānappaṭicchannā, adhammikaṁ tassā āpattiyā parivāsadānaṁ; adhammattā na ruhati. Ekissā, āvuso, āpattiyā bhikkhu mānattāraho’ti.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjati dvemāsappaṭicchannāyo; ekā āpatti saramānappaṭicchannā, ekā āpatti assaramānappaṭicchannā. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ deti. Tassa parivasantassa añño bhikkhu āgacchati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito viyatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo. So evaṁ vadeti—‘kiṁ ayaṁ, āvuso, bhikkhu āpanno? Kissāyaṁ bhikkhu parivasatī’ti? Te evaṁ vadenti—‘ayaṁ, āvuso, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajji dvemāsappaṭicchannāyo;
“It may be that a monk has committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He’s aware he has concealed one offense, but not the other. He asks the Sangha for probation for two months for both offenses, which he gets. While he’s on probation, another monk arrives. He’s learned, a master of the tradition; he’s an expert on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; he’s knowledgeable and competent, has a sense of conscience, and is afraid of wrongdoing and fond of the training. He says, ‘What has this monk committed? Why is he on probation?’ They tell him everything, and he says, ‘The giving of probation for the offense he’s aware of having concealed is legitimate, legal, and has effect. The giving of probation for the offense he isn’t aware of having concealed is illegitimate, illegal, and has no effect. For one offense he only deserves the trial period.’
It may be that a monk has committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He remembers concealing one, but not the other. He asks the Sangha for probation for two months for both offenses, which he gets. While he’s on probation, another monk arrives. He’s learned, a master of the tradition; he’s an expert on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; he’s knowledgeable and competent, has a sense of conscience, and is afraid of wrongdoing and fond of the training. He says, ‘What has this monk committed? Why is he on probation?’ They tell him everything,
144. “Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có vị tỳ khưu phạm hai tội Tăng Tàn đã được che giấu hai tháng; một tội được che giấu trong khi biết, một tội được che giấu trong khi không biết. Vị ấy xin Tăng chúng cho phép biệt trú hai tháng đối với các tội đã được che giấu hai tháng ấy. Tăng chúng ban cho vị ấy việc biệt trú hai tháng đối với các tội đã được che giấu hai tháng ấy. Trong khi vị ấy đang sống biệt trú, có một vị tỳ khưu khác đi đến, là người đa văn, thuộc lòng Thánh điển, trì Pháp, trì Luật, trì các đề mục, là bậc trí, khôn khéo, có trí tuệ, biết tàm, biết quý, ham học. Vị ấy nói như vầy: ‘Thưa chư hiền, vị tỳ khưu này đã phạm tội gì? Do tội gì mà vị tỳ khưu này đang sống biệt trú?’ Các vị kia nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, vị tỳ khưu này đã phạm hai tội Tăng Tàn đã được che giấu hai tháng; một tội được che giấu trong khi biết, một tội được che giấu trong khi không biết. Vị ấy đã xin Tăng chúng cho phép biệt trú hai tháng đối với các tội đã được che giấu hai tháng ấy. Tăng chúng đã ban cho vị ấy việc biệt trú hai tháng đối với các tội đã được che giấu hai tháng ấy. Thưa hiền giả, vị tỳ khưu này đã phạm các tội ấy, do các tội ấy mà vị tỳ khưu này đang sống biệt trú.’ Vị kia nói như vầy: ‘Thưa chư hiền, đối với tội đã được che giấu trong khi biết, việc ban cho biệt trú là đúng Pháp; vì đúng Pháp nên thành tựu. Còn đối với tội đã được che giấu trong khi không biết, việc ban cho biệt trú là không đúng Pháp; vì không đúng Pháp nên không thành tựu. Thưa chư hiền, đối với một tội, vị tỳ khưu xứng đáng với hình phạt mānatta.’”
145. “Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có vị tỳ khưu phạm hai tội Tăng Tàn đã được che giấu hai tháng; một tội được che giấu trong khi nhớ, một tội được che giấu trong khi không nhớ. Vị ấy xin Tăng chúng cho phép biệt trú hai tháng đối với các tội đã được che giấu hai tháng ấy. Tăng chúng ban cho vị ấy việc biệt trú hai tháng đối với các tội đã được che giấu hai tháng ấy. Trong khi vị ấy đang sống biệt trú, có một vị tỳ khưu khác đi đến, là người đa văn, thuộc lòng Thánh điển, trì Pháp, trì Luật, trì các đề mục, là bậc trí, khôn khéo, có trí tuệ, biết tàm, biết quý, ham học. Vị ấy nói như vầy: ‘Vị tỳ khưu này đã phạm tội gì, thưa chư hiền? Do tội gì mà vị tỳ khưu này đang sống biệt trú?’ Các vị kia nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, vị tỳ khưu này đã phạm hai tội Tăng Tàn đã được che giấu hai tháng; một tội được che giấu trong khi nhớ, một tội được che giấu trong khi không nhớ. Vị ấy đã xin Tăng chúng cho phép biệt trú hai tháng đối với các tội đã được che giấu hai tháng ấy. Tăng chúng đã ban cho vị ấy việc biệt trú hai tháng đối với các tội đã được che giấu hai tháng ấy. Thưa hiền giả, vị tỳ khưu này đã phạm các tội ấy; do các tội ấy mà vị tỳ khưu này đang sống biệt trú.’ Vị kia nói như vầy: ‘Thưa chư hiền, đối với tội đã được che giấu trong khi nhớ, việc ban cho biệt trú là đúng Pháp; vì đúng Pháp nên thành tựu. Còn đối với tội đã được che giấu trong khi không nhớ, việc ban cho biệt trú là không đúng Pháp; vì không đúng Pháp nên không thành tựu. Thưa chư hiền, đối với một tội, vị tỳ khưu xứng đáng với hình phạt mānatta.’”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjati dvemāsappaṭicchannāyo; ekā āpatti nibbematikappaṭicchannā, ekā āpatti vematikappaṭicchannā. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ deti. Tassa parivasantassa añño bhikkhu āgacchati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito viyatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo. So evaṁ vadeti—‘kiṁ ayaṁ, āvuso, bhikkhu āpanno? Kissāyaṁ bhikkhu parivasatī’ti? Te evaṁ vadenti—‘ayaṁ, āvuso, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajji dvemāsappaṭicchannāyo; ekā āpatti nibbematikappaṭicchannā, ekā āpatti vematikappaṭicchannā. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ yāci. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Tāyo ayaṁ, āvuso, bhikkhu āpanno; tāsāyaṁ bhikkhu parivasatī’ti. So evaṁ vadeti—‘yāyaṁ, āvuso, āpatti nibbematikappaṭicchannā, dhammikaṁ tassā āpattiyā parivāsadānaṁ; dhammattā ruhati. Yā ca khvāyaṁ, āvuso, āpatti vematikappaṭicchannā adhammikaṁ tassā āpattiyā parivāsadānaṁ; adhammattā na ruhati. Ekissā, āvuso, āpattiyā bhikkhu mānattāraho’”ti.
It may be that a monk has committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He’s sure of having concealed one, but unsure of the other. He asks the Sangha for probation for two months for both offenses, which he gets. While he’s on probation, another monk arrives. He’s learned, a master of the tradition; he’s an expert on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; he’s knowledgeable and competent, has a sense of conscience, and is afraid of wrongdoing and fond of the training. He says, ‘What has this monk committed? Why is he on probation?’ They tell him everything, and he says, ‘The giving of probation for the offense he’s sure of having concealed is legitimate, legal, and has effect. The giving of probation for the offense he’s unsure of having concealed is illegitimate, illegal, and has no effect. For one offense he only deserves the trial period.’”
146. “Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây có vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng; một tội đã được che giấu không có sự nghi ngờ, một tội đã được che giấu có sự nghi ngờ. Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú hai tháng về các tội đã được che giấu hai tháng ấy. Tăng chúng ban cho vị ấy việc biệt trú hai tháng về các tội đã được che giấu hai tháng ấy. Trong khi vị ấy đang sống biệt trú, có một vị tỳ khưu khác đi đến, là người đa văn, thông thuộc truyền thống, thông suốt về Pháp, thông suốt về Luật, thông suốt về các mātikā, là bậc trí, sáng suốt, có trí tuệ, biết hổ thẹn, biết ghê sợ, ham học hỏi. Vị ấy nói như vầy: ‘Thưa các hiền giả, vị tỳ khưu này đã phạm tội gì? Do tội gì mà vị tỳ khưu này đang sống biệt trú?’ Các vị kia nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, vị tỳ khưu này đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng; một tội đã được che giấu không có sự nghi ngờ, một tội đã được che giấu có sự nghi ngờ. Vị ấy đã xin Tăng chúng biệt trú hai tháng về các tội đã được che giấu hai tháng ấy. Tăng chúng đã ban cho vị ấy việc biệt trú hai tháng về các tội đã được che giấu hai tháng ấy. Thưa hiền giả, vị tỳ khưu này đã phạm các tội ấy; do các tội ấy mà vị tỳ khưu này đang sống biệt trú.’ Vị kia nói như vầy: ‘Thưa các hiền giả, đối với tội đã được che giấu không có sự nghi ngờ, việc ban cho biệt trú về tội ấy là đúng Pháp; do đúng Pháp nên thành tựu. Còn thưa các hiền giả, đối với tội đã được che giấu có sự nghi ngờ, việc ban cho biệt trú về tội ấy là không đúng Pháp; do không đúng Pháp nên không thành tựu. Thưa các hiền giả, do một tội, vị tỳ khưu đáng được thi hành mānatta.’”
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpanno hoti dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa etadahosi—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāci. Tassa saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa parivasantassa lajjīdhammo okkami—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa me etadahosi—‘ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāceyyan’ti. Sohaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa me parivasantassa lajjīdhammo okkami. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ yāceyyan”ti.
At one time a monk had committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He thought, “I’ve committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. Let me ask the Sangha for probation for one month for those offenses.” He asked and got it. While on probation, he was overcome with guilt. He considered all this and thought, “Let me ask the Sangha for probation for an additional month for those two offenses.”
147. Vào lúc bấy giờ, có một vị tỳ khưu nọ đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Vị ấy đã khởi lên suy nghĩ này: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Hay là ta nên xin Tăng chúng biệt trú một tháng về hai tội đã được che giấu hai tháng.” Vị ấy đã xin Tăng chúng biệt trú một tháng về hai tội đã được che giấu hai tháng. Tăng chúng đã ban cho vị ấy việc biệt trú một tháng về hai tội đã được che giấu hai tháng. Trong khi vị ấy đang sống biệt trú, tâm hổ thẹn đã khởi lên: “Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Ta đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Hay là ta nên xin Tăng chúng biệt trú một tháng về hai tội đã được che giấu hai tháng.’ Ta đã xin Tăng chúng biệt trú một tháng về hai tội đã được che giấu hai tháng. Tăng chúng đã ban cho ta việc biệt trú một tháng về hai tội đã được che giấu hai tháng. Trong khi ta đang sống biệt trú, tâm hổ thẹn đã khởi lên. Hay là ta nên xin Tăng chúng biệt trú thêm một tháng nữa về hai tội đã được che giấu hai tháng.”
So bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ kho, āvuso, dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa me etadahosi—‘ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāceyyan’ti. Sohaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa me parivasantassa lajjīdhammo okkami—‘ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa me etadahosi—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāceyyan”’ti. Sohaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa me parivasantassa lajjīdhammo okkami—‘yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ yāceyyan’ti. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho tassa bhikkhuno dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, dātabbo—
He told the monks everything that had happened, adding, “What should I do now?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should give that monk probation for an additional month for those two offenses, concealed for two months. And it should be given like this.
Vị ấy đã trình báo với các tỳ khưu rằng: “Thưa các hiền giả, tôi đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Tôi đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Tôi đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Hay là tôi nên xin Tăng chúng biệt trú một tháng về hai tội đã được che giấu hai tháng.’ Tôi đã xin Tăng chúng biệt trú một tháng về hai tội đã được che giấu hai tháng. Tăng chúng đã ban cho tôi việc biệt trú một tháng về hai tội đã được che giấu hai tháng. Trong khi tôi đang sống biệt trú, tâm hổ thẹn đã khởi lên – tôi đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Tôi đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Tôi đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng. Hay là tôi nên xin Tăng chúng biệt trú một tháng về hai tội đã được che giấu hai tháng.’ Tôi đã xin Tăng chúng biệt trú một tháng về hai tội đã được che giấu hai tháng. Tăng chúng đã ban cho tôi việc biệt trú một tháng về hai tội đã được che giấu hai tháng. Trong khi tôi đang sống biệt trú, tâm hổ thẹn đã khởi lên. Hay là tôi nên xin Tăng chúng biệt trú thêm một tháng nữa về hai tội đã được che giấu hai tháng.’ Giờ đây tôi nên thực hành như thế nào?” (Các vị tỳ khưu) đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng hãy ban cho vị tỳ khưu ấy việc biệt trú thêm một tháng nữa về hai tội đã được che giấu hai tháng. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: –
‘ahaṁ, bhante, dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa me etadahosi—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. Sohaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa me parivasantassa lajjīdhammo okkami—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa me etadahosi—ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. Sohaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa me parivasantassa lajjīdhammo okkami—“yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ yāceyyan”ti. Sohaṁ, bhante, saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbo. Tatiyampi yācitabbo.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Venerables, I had committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. I thought, “I’ve committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. Let me ask the Sangha for probation for one month for those offenses.” I asked and got it. While on probation, I was overcome with guilt. I considered all this and thought, “Let me ask the Sangha for probation for an additional month for those two offenses.” I now ask the Sangha for probation for an additional month for those two offenses.’ And he should ask a second and a third time.
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng ... nên nói như vầy: ‘Bạch chư Đại đức, tôi đã phạm hai tội saṅghādisesa đã che giấu hai tháng. Tôi đã có suy nghĩ này: ‘Tôi đã phạm hai tội saṅghādisesa đã che giấu hai tháng. Sẽ tốt đẹp biết bao nếu tôi xin hội chúng một tháng biệt trú cho hai tội đã che giấu hai tháng.’ Do vậy, tôi đã xin hội chúng một tháng biệt trú cho hai tội đã che giấu hai tháng. Hội chúng đã cho tôi một tháng biệt trú cho hai tội đã che giấu hai tháng. Trong khi tôi đang thực hành biệt trú, tâm hổ thẹn đã khởi lên. Tôi đã phạm hai tội saṅghādisesa đã che giấu hai tháng. Tôi đã có suy nghĩ này: ‘Tôi đã phạm hai tội saṅghādisesa đã che giấu hai tháng. Sẽ tốt đẹp biết bao nếu tôi xin hội chúng một tháng biệt trú cho hai tội đã che giấu hai tháng.’ Do vậy, tôi đã xin hội chúng một tháng biệt trú cho hai tội đã che giấu hai tháng. Hội chúng đã cho tôi một tháng biệt trú cho hai tội đã che giấu hai tháng. Trong khi tôi đang thực hành biệt trú, tâm hổ thẹn đã khởi lên. ‘Sẽ tốt đẹp biết bao nếu tôi xin hội chúng tháng biệt trú còn lại cho hai tội đã che giấu hai tháng.’ Bạch chư Đại đức, do vậy tôi xin hội chúng tháng biệt trú còn lại cho hai tội đã che giấu hai tháng.’ Nên xin lần thứ nhì. Nên xin lần thứ ba. Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho hội chúng biết:”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajji dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa etadahosi—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāci. Tassa saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa parivasantassa lajjīdhammo okkami—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa me etadahosi—ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo—“yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. Sohaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa me parivasantassa lajjīdhammo okkami. “Yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ yāceyyan”ti. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmassa bhikkhuno dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk so-and-so had committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He thought, “I’ve committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. Let me ask the Sangha for probation for one month for the two offenses, concealed for two months.” He asked the Sangha for probation for one month for the two offenses, concealed for two months. The Sangha gave him probation for one month for the two offenses, concealed for two months. While on probation, he was overcome with guilt, thinking, “I’ve committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. I thought, ‘I’ve committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. Let me ask the Sangha for probation for one month for the two offenses, concealed for two months.’ I asked the Sangha for probation for one month for the two offenses, concealed for two months. The Sangha gave me probation for one month for the two offenses, concealed for two months. While on probation, I was overcome with guilt, thinking, ‘Let me ask the Sangha for probation for an additional month for the two offenses, concealed for two months.’” He is now asking the Sangha for probation for an additional month for the two offenses, concealed for two months. If the Sangha is ready, it should give monk so-and-so probation for an additional month for the two offenses, concealed for two months. This is the motion.
148. “‘Bạch chư Đại đức, mong hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên là ... này đã phạm hai tội saṅghādisesa đã che giấu hai tháng. Vị ấy đã có suy nghĩ này: ‘Tôi đã phạm hai tội saṅghādisesa đã che giấu hai tháng. Sẽ tốt đẹp biết bao nếu tôi xin hội chúng một tháng biệt trú cho hai tội đã che giấu hai tháng.’ Vị ấy đã xin hội chúng một tháng biệt trú cho hai tội đã che giấu hai tháng. Hội chúng đã cho vị ấy một tháng biệt trú cho hai tội đã che giấu hai tháng. Trong khi vị ấy đang thực hành biệt trú, tâm hổ thẹn đã khởi lên: ‘Tôi đã phạm hai tội saṅghādisesa đã che giấu hai tháng. Tôi đã có suy nghĩ này: ‘Tôi đã phạm hai tội saṅghādisesa đã che giấu hai tháng. Sẽ tốt đẹp biết bao nếu tôi xin hội chúng một tháng biệt trú cho hai tội đã che giấu hai tháng.’ Do vậy, tôi đã xin hội chúng một tháng biệt trú cho hai tội đã che giấu hai tháng. Hội chúng đã cho tôi một tháng biệt trú cho hai tội đã che giấu hai tháng. Trong khi tôi đang thực hành biệt trú, tâm hổ thẹn đã khởi lên. Sẽ tốt đẹp biết bao nếu tôi xin hội chúng tháng biệt trú còn lại cho hai tội đã che giấu hai tháng.’ Vị ấy xin hội chúng tháng biệt trú còn lại cho hai tội đã che giấu hai tháng. Nếu thuận thời đối với hội chúng, hội chúng nên cho vị tỳ khưu tên là ... này tháng biệt trú còn lại cho hai tội đã che giấu hai tháng. Đây là lời tuyên ngôn.’
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajji dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa etadahosi—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāci. Tassa saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa parivasantassa lajjīdhammo okkami—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa me etadahosi—ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. Sohaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa me parivasantassa lajjīdhammo okkami—“yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ yāceyyan”ti. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ yācati. Saṅgho itthannāmassa bhikkhuno dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ deti. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk so-and-so had committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He thought, “I’ve committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. Let me ask the Sangha for probation for one month for the two offenses, concealed for two months.” He asked the Sangha for probation for one month for the two offenses, concealed for two months. The Sangha gave him probation for one month for the two offenses, concealed for two months. While on probation, he was overcome with guilt, thinking, “I’ve committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. I thought, ‘I’ve committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. Let me ask the Sangha for probation for one month for the two offenses, concealed for two months.’ I asked the Sangha for probation for one month for the two offenses, concealed for two months. The Sangha gave me probation for one month for the two offenses, concealed for two months. While on probation, I was overcome with guilt, thinking, ‘Let me ask the Sangha for probation for an additional month for the two offenses, concealed for two months.’” He is now asking the Sangha for probation for an additional month for those two offenses, concealed for two months. The Sangha gives monk so-and-so probation for an additional month for those two offenses, concealed for two months. Any monk who approves of giving monk so-and-so probation for an additional month for those two offenses, concealed for two months, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“‘Bạch chư Đại đức, mong hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu tên là ... này đã phạm hai tội saṅghādisesa đã che giấu hai tháng. Vị ấy đã có suy nghĩ này: ‘Tôi đã phạm hai tội saṅghādisesa đã che giấu hai tháng. Sẽ tốt đẹp biết bao nếu tôi xin hội chúng một tháng biệt trú cho hai tội đã che giấu hai tháng.’ Vị ấy đã xin hội chúng một tháng biệt trú cho hai tội đã che giấu hai tháng. Hội chúng đã cho vị ấy một tháng biệt trú cho hai tội đã che giấu hai tháng. Trong khi vị ấy đang thực hành biệt trú, tâm hổ thẹn đã khởi lên: ‘Tôi đã phạm hai tội saṅghādisesa đã che giấu hai tháng. Tôi đã có suy nghĩ này: ‘Tôi đã phạm hai tội saṅghādisesa đã che giấu hai tháng. Sẽ tốt đẹp biết bao nếu tôi xin hội chúng một tháng biệt trú cho hai tội đã che giấu hai tháng.’ Do vậy, tôi đã xin hội chúng một tháng biệt trú cho hai tội đã che giấu hai tháng. Hội chúng đã cho tôi một tháng biệt trú cho hai tội đã che giấu hai tháng. Trong khi tôi đang thực hành biệt trú, tâm hổ thẹn đã khởi lên. Sẽ tốt đẹp biết bao nếu tôi xin hội chúng tháng biệt trú còn lại cho hai tội đã che giấu hai tháng.’ Vị ấy xin hội chúng tháng biệt trú còn lại cho hai tội đã che giấu hai tháng. Hội chúng cho vị tỳ khưu tên là ... này tháng biệt trú còn lại cho hai tội đã che giấu hai tháng. Việc cho tháng biệt trú còn lại cho hai tội đã che giấu hai tháng đối với vị tỳ khưu tên là ... này, vị Thượng tọa nào chấp thuận thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.’
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
“‘Lần thứ nhì, tôi nói lên điều này ... Lần thứ ba, tôi nói lên điều này ...’
Dinno saṅghena itthannāmassa bhikkhuno dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāso. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
The Sangha has given monk so-and-so probation for an additional month for those two offenses, concealed for two months. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
‘Tăng chúng đã ban hành biệt trú một tháng còn lại cho tỳ khưu tên là ... về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Việc này đã được Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như thế.’
Tena, bhikkhave, bhikkhunā purimaṁ upādāya dve māsā parivasitabbā.
Counting the previous month, that monk must stay on probation for two months.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên thực hành biệt trú hai tháng, tính luôn cả (tháng) trước.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjati dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa evaṁ hoti—‘ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāceyyan’ti. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ deti. Tassa parivasantassa lajjīdhammo okkami—‘ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Tassa me etadahosi—“ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāceyyan”ti. Sohaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ ekamāsaparivāsaṁ adāsi. Tassa me parivasantassa lajjīdhammo okkami—“Yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ yāceyyan”ti. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ deti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā purimaṁ upādāya dve māsā parivasitabbā.
“It may be that a monk has committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He thinks, ‘I’ve committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. Let me ask the Sangha for probation for one month for those offenses.’ He asks and gets it. While on probation, he’s overcome with guilt. He considers all this and thinks, ‘Let me ask the Sangha for probation for an additional month for those two offenses.’ He asks and gets it. Counting the previous month, that monk must stay on probation for two months.
149. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có tỳ khưu phạm hai tội Tăng tàn đã được che giấu trong hai tháng. Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Ta đã phạm hai tội Tăng tàn đã được che giấu trong hai tháng. Hay là ta nên xin Tăng chúng biệt trú một tháng về hai tội đã được che giấu trong hai tháng.’ Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú một tháng về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Tăng chúng ban cho vị ấy biệt trú một tháng về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Trong khi đang thực hành biệt trú, tâm tàm quý của vị ấy khởi lên. (Vị ấy nghĩ rằng:) ‘Ta đã phạm hai tội Tăng tàn đã được che giấu trong hai tháng. Ta đã khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Ta đã phạm hai tội Tăng tàn đã được che giấu trong hai tháng. Hay là ta nên xin Tăng chúng biệt trú một tháng về hai tội đã được che giấu trong hai tháng.’ Ta đã xin Tăng chúng biệt trú một tháng về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Tăng chúng đã ban cho ta biệt trú một tháng về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Trong khi ta đang thực hành biệt trú, tâm tàm quý đã khởi lên. Hay là ta nên xin Tăng chúng biệt trú một tháng còn lại về hai tội đã được che giấu trong hai tháng.’ Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú một tháng còn lại về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Tăng chúng ban cho vị ấy biệt trú một tháng còn lại về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên thực hành biệt trú hai tháng, tính luôn cả (tháng) trước.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjati dvemāsappaṭicchannāyo; ekaṁ māsaṁ jānāti, ekaṁ māsaṁ na jānāti. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ yaṁ māsaṁ jānāti taṁ māsaṁ parivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ yaṁ māsaṁ jānāti taṁ māsaṁ parivāsaṁ deti. So parivasanto itarampi māsaṁ jānāti. Tassa evaṁ hoti—‘ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo; ekaṁ māsaṁ jāniṁ, ekaṁ māsaṁ na jāniṁ. Sohaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ yaṁ māsaṁ jāniṁ taṁ māsaṁ parivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ yaṁ māsaṁ jāniṁ taṁ māsaṁ parivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasanto itarampi māsaṁ jānāmi. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ yāceyyan’ti. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ deti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā purimaṁ upādāya dve māsā parivasitabbā.
It may be that a monk has committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He’s aware of one month, but not the other. He asks the Sangha for one month probation for the month he’s aware of, which he gets. While on probation, he finds out about the other month. He considers all this and thinks, ‘Let me ask the Sangha for probation for an additional month for those two offenses.’ He asks and gets it. Counting the previous month, that monk must stay on probation for two months.
150. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có tỳ khưu phạm hai tội Tăng tàn đã được che giấu trong hai tháng; vị ấy biết một tháng, không biết một tháng. Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú cho tháng mà vị ấy biết về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Tăng chúng ban cho vị ấy biệt trú cho tháng mà vị ấy biết về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Trong khi đang thực hành biệt trú, vị ấy biết được tháng còn lại. Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Ta đã phạm hai tội Tăng tàn đã được che giấu trong hai tháng; ta đã biết một tháng, đã không biết một tháng. Ta đã xin Tăng chúng biệt trú cho tháng mà ta đã biết về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Tăng chúng đã ban cho ta biệt trú cho tháng mà ta đã biết về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Trong khi đang thực hành biệt trú, ta biết được tháng còn lại. Hay là ta nên xin Tăng chúng biệt trú một tháng còn lại về hai tội đã được che giấu trong hai tháng.’ Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú một tháng còn lại về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Tăng chúng ban cho vị ấy biệt trú một tháng còn lại về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên thực hành biệt trú hai tháng, tính luôn cả (tháng) trước.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjati dvemāsappaṭicchannāyo; ekaṁ māsaṁ sarati, ekaṁ māsaṁ nassarati. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ yaṁ māsaṁ sarati taṁ māsaṁ parivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ yaṁ māsaṁ sarati taṁ māsaṁ parivāsaṁ deti. So parivasanto itarampi māsaṁ sarati. Tassa evaṁ hoti—‘ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo; ekaṁ māsaṁ sariṁ, ekaṁ māsaṁ nassariṁ. Sohaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ yaṁ māsaṁ sariṁ taṁ māsaṁ parivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ yaṁ māsaṁ sariṁ taṁ māsaṁ parivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasanto itarampi māsaṁ sarāmi. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ yāceyyan’ti. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ deti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā purimaṁ upādāya dve māsā parivasitabbā.
It may be that a monk has committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He remembers one month, but not the other. He asks the Sangha for one month probation for the month he remembers, which he gets. While on probation, he remembers the other month. He considers all this and thinks, ‘Let me ask the Sangha for probation for an additional month for those two offenses.’ He asks and gets it. Counting the previous month, that monk must stay on probation for two months.
151. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có tỳ khưu phạm hai tội Tăng tàn đã được che giấu trong hai tháng; vị ấy nhớ một tháng, không nhớ một tháng. Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú cho tháng mà vị ấy nhớ về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Tăng chúng ban cho vị ấy biệt trú cho tháng mà vị ấy nhớ về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Trong khi đang thực hành biệt trú, vị ấy nhớ ra tháng còn lại. Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Ta đã phạm hai tội Tăng tàn đã được che giấu trong hai tháng; ta đã nhớ một tháng, đã không nhớ một tháng. Ta đã xin Tăng chúng biệt trú cho tháng mà ta đã nhớ về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Tăng chúng đã ban cho ta biệt trú cho tháng mà ta đã nhớ về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Trong khi đang thực hành biệt trú, ta nhớ ra tháng còn lại. Hay là ta nên xin Tăng chúng biệt trú một tháng còn lại về hai tội đã được che giấu trong hai tháng.’ Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú một tháng còn lại về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Tăng chúng ban cho vị ấy biệt trú một tháng còn lại về hai tội đã được che giấu trong hai tháng. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy nên thực hành biệt trú hai tháng, tính luôn cả (tháng) trước.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjati dvemāsappaṭicchannāyo; ekaṁ māsaṁ nibbematiko, ekaṁ māsaṁ vematiko. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ yaṁ māsaṁ nibbematiko taṁ māsaṁ parivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ yaṁ māsaṁ nibbematiko taṁ māsaṁ parivāsaṁ deti. So parivasanto itarampi māsaṁ nibbematiko hoti. Tassa evaṁ hoti—‘ahaṁ kho dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ dvemāsappaṭicchannāyo; ekaṁ māsaṁ nibbematiko, ekaṁ māsaṁ vematiko. Sohaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ yaṁ māsaṁ nibbematiko taṁ māsaṁ parivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchānnānaṁ yaṁ māsaṁ nibbematiko taṁ māsaṁ parivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasanto itarampi māsaṁ nibbematiko. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ yāceyyan’ti. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ itarampi māsaṁ parivāsaṁ deti. Tena, bhikkhave, bhikkhunā purimaṁ upādāya dve māsā parivasitabbā.
It may be that a monk has committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He’s sure of one month, but unsure of the other. He asks the Sangha for one month probation for the month he’s sure of, which he gets. While on probation, he becomes sure of the other month. He considers all this and thinks, ‘Let me ask the Sangha for probation for an additional month for those two offenses.’ He asks and gets it. Counting the previous month, that monk must stay on probation for two months.
152. “Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesā đã được che giấu hai tháng; một tháng thì không có nghi ngờ, một tháng thì có nghi ngờ. Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú (parivāsa) cho tháng không có nghi ngờ về hai tội đã được che giấu hai tháng. Tăng chúng ban cho vị ấy việc biệt trú cho tháng không có nghi ngờ về hai tội đã được che giấu hai tháng. Trong khi đang sống biệt trú, vị ấy cũng trở nên không có nghi ngờ về tháng còn lại. Vị ấy suy nghĩ như vầy: ‘Ta đã phạm hai tội saṅghādisesā đã được che giấu hai tháng; một tháng thì không có nghi ngờ, một tháng thì có nghi ngờ. Ta đã xin Tăng chúng biệt trú cho tháng không có nghi ngờ về hai tội đã được che giấu hai tháng. Tăng chúng đã ban cho ta việc biệt trú cho tháng không có nghi ngờ về hai tội đã được che giấu hai tháng. Trong khi đang sống biệt trú, ta cũng trở nên không có nghi ngờ về tháng còn lại. Hay là ta nên xin Tăng chúng biệt trú cho cả tháng còn lại về hai tội đã được che giấu hai tháng.’ Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú cho cả tháng còn lại về hai tội đã được che giấu hai tháng. Tăng chúng ban cho vị ấy việc biệt trú cho cả tháng còn lại về hai tội đã được che giấu hai tháng. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy, căn cứ vào (tội) trước, nên sống biệt trú hai tháng.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjati dvemāsappaṭicchannāyo; eko māso jānappaṭicchanno, eko māso ajānappaṭicchanno. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ deti. Tassa parivasantassa añño bhikkhu āgacchati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito viyatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo. So evaṁ vadeti—‘kiṁ ayaṁ, āvuso, bhikkhu āpanno? Kissāyaṁ bhikkhu parivasatī’ti? Te evaṁ vadenti—‘ayaṁ, āvuso, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajji dvemāsappaṭicchannāyo. Eko māso jānappaṭicchanno, eko māso ajānappaṭicchanno. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ yāci. Tassa saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Tāyo ayaṁ, āvuso, bhikkhu āpanno tāsāyaṁ bhikkhu parivasatī’ti. So evaṁ vadeti—‘yvāyaṁ, āvuso, māso jānappaṭicchanno dhammikaṁ tassa māsassa parivāsadānaṁ; dhammattā ruhati. Yo ca khvāyaṁ, āvuso, māso ajānappaṭicchanno adhammikaṁ tassa māsassa parivāsadānaṁ; adhammattā na ruhati. Ekassa, āvuso, māsassa bhikkhu mānattāraho’ti.
“It may be that a monk has committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He’s aware of having concealed for one month, but not the other. He asks the Sangha for probation for two months for both offenses, which he gets. While he’s on probation, another monk arrives. He’s learned, a master of the tradition; he’s an expert on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; he’s knowledgeable and competent, has a sense of conscience, and is afraid of wrongdoing and fond of the training. He says, ‘What has this monk committed? Why is he on probation?’ They tell him everything, and he says, ‘The giving of probation for the month he’s aware of having concealed is legitimate, legal, and has effect. The giving of probation for the month he isn’t aware of having concealed is illegitimate, illegal, and has no effect. For one month he only deserves the trial period.’
153. “Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesā đã được che giấu hai tháng; một tháng được che giấu trong khi biết, một tháng được che giấu trong khi không biết. Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú hai tháng cho hai tội đã được che giấu hai tháng. Tăng chúng ban cho vị ấy việc biệt trú hai tháng cho hai tội đã được che giấu hai tháng. Trong khi vị ấy đang sống biệt trú, có một vị tỳ khưu khác đi đến, là người học rộng, thông suốt truyền thống, thông thuộc Giáo pháp, thông thuộc Luật, thông thuộc các đề mục, là bậc hiền trí, khéo léo, thông minh, có lòng tàm, có lòng quý, mong muốn học tập. Vị ấy nói như vầy: ‘Thưa chư hiền, vị tỳ khưu này đã phạm tội gì? Do tội gì mà vị tỳ khưu này đang sống biệt trú?’ Các vị kia nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, vị tỳ khưu này đã phạm hai tội saṅghādisesā đã được che giấu hai tháng. Một tháng được che giấu trong khi biết, một tháng được che giấu trong khi không biết. Vị ấy đã xin Tăng chúng biệt trú hai tháng cho hai tội đã được che giấu hai tháng. Tăng chúng đã ban cho vị ấy việc biệt trú hai tháng cho hai tội đã được che giấu hai tháng. Thưa hiền giả, vị tỳ khưu này đã phạm các tội ấy, do các tội ấy mà vị tỳ khưu này đang sống biệt trú.’ Vị kia nói như vầy: ‘Thưa chư hiền, đối với tháng đã được che giấu trong khi biết, việc ban cho biệt trú là đúng Pháp; do đúng Pháp nên có hiệu lực. Còn thưa chư hiền, đối với tháng đã được che giấu trong khi không biết, việc ban cho biệt trú là không đúng Pháp; do không đúng Pháp nên không có hiệu lực. Thưa chư hiền, đối với một tháng, vị tỳ khưu xứng đáng thọ hành phạt mānatta.’”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjati dvemāsappaṭicchannāyo; eko māso saramānappaṭicchanno, eko māso assaramānappaṭicchanno. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ deti. Tassa parivasantassa añño bhikkhu āgacchati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito viyatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo. So evaṁ vadeti—‘kiṁ ayaṁ, āvuso, bhikkhu āpanno? Kissāyaṁ bhikkhu parivasatī’ti? Te evaṁ vadenti—‘ayaṁ, āvuso, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajji dvemāsappaṭicchannāyo; eko māso saramānappaṭicchanno, eko māso assaramānappaṭicchanno. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ yāci. Tassa saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Tāyo ayaṁ, āvuso, bhikkhu āpanno tāsāyaṁ bhikkhu parivasatī’ti. So evaṁ vadeti—‘yvāyaṁ, āvuso, māso saramānappaṭicchanno dhammikaṁ tassa māsassa parivāsadānaṁ; dhammattā ruhati. Yo ca khvāyaṁ, āvuso, māso assaramānappaṭicchanno adhammikaṁ tassa māsassa parivāsadānaṁ; adhammattā na ruhati. Ekassa, āvuso, māsassa bhikkhu mānattāraho’ti.
It may be that a monk has committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He remembers concealing for one month, but not the other. He asks the Sangha for probation for two months for both offenses, which he gets. While he’s on probation, another monk arrives. He’s learned, a master of the tradition; he’s an expert on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; he’s knowledgeable and competent, has a sense of conscience, and is afraid of wrongdoing and fond of the training. He says, ‘What has this monk committed? Why is he on probation?’ They tell him everything, and he says, ‘The giving of probation for the month he remembers concealing is legitimate, legal, and has effect. The giving of probation for the month he doesn’t remember concealing is illegitimate, illegal, and has no effect. For one month he only deserves the trial period.’
154. “Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesā đã được che giấu hai tháng; một tháng được che giấu trong khi nhớ, một tháng được che giấu trong khi không nhớ. Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú hai tháng cho hai tội đã được che giấu hai tháng. Tăng chúng ban cho vị ấy việc biệt trú hai tháng cho hai tội đã được che giấu hai tháng. Trong khi vị ấy đang sống biệt trú, có một vị tỳ khưu khác đi đến, là người học rộng, thông suốt truyền thống, thông thuộc Giáo pháp, thông thuộc Luật, thông thuộc các đề mục, là bậc hiền trí, khéo léo, thông minh, có lòng tàm, có lòng quý, mong muốn học tập. Vị ấy nói như vầy: ‘Thưa chư hiền, vị tỳ khưu này đã phạm tội gì? Do tội gì mà vị tỳ khưu này đang sống biệt trú?’ Các vị kia nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, vị tỳ khưu này đã phạm hai tội saṅghādisesā đã được che giấu hai tháng; một tháng được che giấu trong khi nhớ, một tháng được che giấu trong khi không nhớ. Vị ấy đã xin Tăng chúng biệt trú hai tháng cho hai tội đã được che giấu hai tháng. Tăng chúng đã ban cho vị ấy việc biệt trú hai tháng cho hai tội đã được che giấu hai tháng. Thưa hiền giả, vị tỳ khưu này đã phạm các tội ấy, do các tội ấy mà vị tỳ khưu này đang sống biệt trú.’ Vị kia nói như vầy: ‘Thưa chư hiền, đối với tháng đã được che giấu trong khi nhớ, việc ban cho biệt trú là đúng Pháp; do đúng Pháp nên có hiệu lực. Còn thưa chư hiền, đối với tháng đã được che giấu trong khi không nhớ, việc ban cho biệt trú là không đúng Pháp; do không đúng Pháp nên không có hiệu lực. Thưa chư hiền, đối với một tháng, vị tỳ khưu xứng đáng thọ hành phạt mānatta.’”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajjati dvemāsappaṭicchannāyo; eko māso nibbematikappaṭicchanno, eko māso vematikappaṭicchanno. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ deti. Tassa parivasantassa añño bhikkhu āgacchati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito viyatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo. So evaṁ vadeti—‘kiṁ ayaṁ, āvuso, bhikkhu āpanno? Kissāyaṁ bhikkhu parivasatī’ti? Te evaṁ vadenti—‘ayaṁ, āvuso, bhikkhu dve saṅghādisesā āpattiyo āpajji dvemāsappaṭicchannāyo; eko māso nibbematikappaṭicchanno, eko māso vematikappaṭicchanno. So saṅghaṁ dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ yāci. Tassa saṅgho dvinnaṁ āpattīnaṁ dvemāsappaṭicchannānaṁ dvemāsaparivāsaṁ adāsi. Tāyo ayaṁ, āvuso, bhikkhu āpanno tāsāyaṁ bhikkhu parivasatī’ti. So evaṁ vadeti—‘yvāyaṁ, āvuso, māso nibbematikappaṭicchanno dhammikaṁ tassa māsassa parivāsadānaṁ; dhammattā ruhati. Yo ca khvāyaṁ, āvuso, māso vematikappaṭicchanno adhammikaṁ tassa māsassa parivāsadānaṁ; adhammattā na ruhati. Ekassa, āvuso, māsassa bhikkhu mānattāraho’”ti.
It may be that a monk has committed two offenses entailing suspension, both concealed for two months. He’s sure of having concealed for one month, but unsure of the other. He asks the Sangha for probation for two months for both offenses, which he gets. While he’s on probation, another monk arrives. He’s learned, a master of the tradition; he’s an expert on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; he’s knowledgeable and competent, has a sense of conscience, and is afraid of wrongdoing and fond of the training. He says, ‘What has this monk committed? Why is he on probation?’ They tell him everything, and he says, ‘The giving of probation for the month he’s sure of having concealed is legitimate, legal, and has effect. The giving of probation for the month he’s unsure of having concealed is illegitimate, illegal, and has no effect. For one month he only deserves the trial period.’”
155. Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây có vị tỳ khưu phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng; một tháng được che giấu không có sự phân vân, một tháng được che giấu có sự phân vân. Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú hai tháng cho hai tội đã được che giấu hai tháng. Tăng chúng ban cho vị ấy việc biệt trú hai tháng cho hai tội đã được che giấu hai tháng. Trong khi vị ấy đang sống biệt trú, có một vị tỳ khưu khác đi đến, là người học rộng, thông suốt Āgama, thông thuộc Chánh pháp, thông thuộc Luật, thông thuộc các Mẫu đề, là bậc hiền trí, khôn khéo, thông minh, có lòng tàm, có lòng quý, và ham học hỏi. Vị ấy nói như vầy: ‘Thưa chư hiền, vị tỳ khưu này đã phạm tội gì? Vì sao vị tỳ khưu này đang sống biệt trú?’ Các vị kia nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, vị tỳ khưu này đã phạm hai tội saṅghādisesa đã được che giấu hai tháng; một tháng được che giấu không có sự phân vân, một tháng được che giấu có sự phân vân. Vị ấy đã xin Tăng chúng biệt trú hai tháng cho hai tội đã được che giấu hai tháng. Tăng chúng đã ban cho vị ấy việc biệt trú hai tháng cho hai tội đã được che giấu hai tháng. Thưa hiền giả, vị tỳ khưu này đã phạm các tội ấy, vì các tội ấy mà vị tỳ khưu này đang sống biệt trú.’ Vị kia nói như vầy: ‘Thưa chư hiền, tháng nào đã được che giấu không có sự phân vân, việc ban cho biệt trú đối với tháng ấy là hợp pháp; do hợp pháp nên có hiệu lực. Còn thưa chư hiền, tháng nào đã được che giấu có sự phân vân, việc ban cho biệt trú đối với tháng ấy là không hợp pháp; do không hợp pháp nên không có hiệu lực. Thưa chư hiền, đối với một tháng, vị tỳ khưu xứng đáng với hình phạt mānatta.’
2.5. Suddhantaparivāsa
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpanno hoti. So āpattipariyantaṁ na jānāti; rattipariyantaṁ na jānāti; āpattipariyantaṁ nassarati, rattipariyantaṁ nassarati; āpattipariyante vematiko, rattipariyante vematiko. So bhikkhūnaṁ ārocesi—“ahaṁ, āvuso, sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ; āpattipariyantaṁ na jānāmi, rattipariyantaṁ na jānāmi; āpattipariyantaṁ nassarāmi, rattipariyantaṁ nassarāmi; āpattipariyante vematiko, rattipariyante vematiko. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho tassa bhikkhuno tāsaṁ āpattīnaṁ suddhantaparivāsaṁ detu. Evañca pana, bhikkhave, dātabbo—
The purifying probation
At one time a monk had committed a number of offenses entailing suspension. He did not know the number of offenses or the number of days; he did not remember the number of offenses or the number of days; he was unsure of the number of offenses and the number of days. He told the monks about this, adding, “What should I do now?” They told the Buddha.
“Well then, the Sangha should give that monk the purifying probation for those offenses. And it should be given like this.
156. Vào lúc bấy giờ, có một tỳ khưu nọ đã phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy không biết giới hạn của tội; không biết giới hạn của số đêm; không nhớ giới hạn của tội, không nhớ giới hạn của số đêm; có sự phân vân về giới hạn của tội, có sự phân vân về giới hạn của số đêm. Vị ấy trình báo với các tỳ khưu rằng: ‘Thưa chư hiền, tôi đã phạm nhiều tội saṅghādisesa; tôi không biết giới hạn của tội, không biết giới hạn của số đêm; tôi không nhớ giới hạn của tội, không nhớ giới hạn của số đêm; có sự phân vân về giới hạn của tội, có sự phân vân về giới hạn của số đêm. Tôi nên thực hành như thế nào đây?’ Các vị ấy đã trình sự việc này lên đức Thế Tôn. ‘Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng hãy ban cho vị tỳ khưu ấy hình phạt biệt trú suddhanta cho các tội ấy. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy:
‘ahaṁ, bhante, sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ. Āpattipariyantaṁ na jānāmi, rattipariyantaṁ na jānāmi; āpattipariyantaṁ nassarāmi, rattipariyantaṁ nassarāmi; āpattipariyante vematiko, rattipariyante vematiko. Sohaṁ, bhante, saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ suddhantaparivāsaṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbo. Tatiyampi yācitabbo.
Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Venerables, I’ve committed a number of offenses entailing suspension. I don’t know the number of offenses or the number of days; I don’t remember the number of offenses or the number of days; I’m unsure of the number of offenses and the number of days. I ask the Sangha for the purifying probation for those offenses.’ And he should ask a second and a third time.
A competent and capable monk should then inform the Sangha:
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy sau khi đi đến Tăng chúng... (lược)... nên nói như vầy: ‘Kính bạch chư Đại đức, con đã phạm nhiều tội saṅghādisesa. Con không biết giới hạn của tội, không biết giới hạn của số đêm; con không nhớ giới hạn của tội, không nhớ giới hạn của số đêm; có sự phân vân về giới hạn của tội, có sự phân vân về giới hạn của số đêm. Kính bạch chư Đại đức, chính con xin Tăng chúng hình phạt biệt trú suddhanta cho các tội ấy.’ Nên xin lần thứ nhì. Nên xin lần thứ ba. Vị tỳ khưu có khả năng và sáng suốt nên tuyên cáo cho Tăng chúng biết:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajji. Āpattipariyantaṁ na jānāti, rattipariyantaṁ na jānāti; āpattipariyantaṁ nassarati, rattipariyantaṁ nassarati; āpattipariyante vematiko, rattipariyante vematiko. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ suddhantaparivāsaṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmassa bhikkhuno tāsaṁ āpattīnaṁ suddhantaparivāsaṁ dadeyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk so-and-so has committed a number of offenses entailing suspension. He doesn’t know the number of offenses or the number of days; he doesn’t remember the number of offenses or the number of days; he is unsure of the number of offenses and the number of days. He is asking the Sangha for the purifying probation for those offenses. If the Sangha is ready, it should give monk so-and-so the purifying probation for those offenses. This is the motion.
157. ‘Kính bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Vị tỳ khưu tên là... này đã phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy không biết giới hạn của tội, không biết giới hạn của số đêm; không nhớ giới hạn của tội, không nhớ giới hạn của số đêm; có sự phân vân về giới hạn của tội, có sự phân vân về giới hạn của số đêm. Vị ấy xin Tăng chúng hình phạt biệt trú suddhanta cho các tội ấy. Nếu Tăng chúng xét thấy đã đến lúc thích hợp, Tăng chúng hãy ban cho tỳ khưu tên là... hình phạt biệt trú suddhanta cho các tội ấy. Đây là lời tác bạch.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajji. Āpattipariyantaṁ na jānāti, rattipariyantaṁ na jānāti; āpattipariyantaṁ nassarati, rattipariyantaṁ nassarati; āpattipariyante vematiko, rattipariyante vematiko. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ suddhantaparivāsaṁ yācati. Saṅgho itthannāmassa bhikkhuno tāsaṁ āpattīnaṁ suddhantaparivāsaṁ deti. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno tāsaṁ āpattīnaṁ suddhantaparivāsassa dānaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk so-and-so has committed a number of offenses entailing suspension. He doesn’t know the number of offenses or the number of days; he doesn’t remember the number of offenses or the number of days; he is unsure of the number of offenses and the number of days. He is asking the Sangha for the purifying probation for those offenses. The Sangha gives monk so-and-so the purifying probation for those offenses. Any monk who approves of giving monk so-and-so the purifying probation for those offenses should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Kính bạch chư Đại đức, mong Tăng chúng hãy nghe con. Vị tỳ khưu tên là... này đã phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy không biết giới hạn của tội, không biết giới hạn của số đêm; không nhớ giới hạn của tội, không nhớ giới hạn của số đêm; có sự phân vân về giới hạn của tội, có sự phân vân về giới hạn của số đêm. Vị ấy xin Tăng chúng hình phạt biệt trú suddhanta cho các tội ấy. Tăng chúng ban cho tỳ khưu tên là... hình phạt biệt trú suddhanta cho các tội ấy. Việc ban hình phạt biệt trú suddhanta cho tỳ khưu tên là... cho các tội ấy, vị trưởng lão nào chấp thuận thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe….
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. …
‘Lần thứ nhì, tôi nói lên điều này... (lược)... Lần thứ ba, tôi nói lên điều này... (lược)...
Dinno saṅghena itthannāmassa bhikkhuno tāsaṁ āpattīnaṁ suddhantaparivāso. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
The Sangha has given monk so-and-so the purifying probation for those offenses. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
‘Hình phạt biệt trú suddhanta cho các tội ấy đã được Tăng chúng ban cho tỳ khưu tên là... Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Evaṁ kho, bhikkhave, suddhantaparivāso dātabbo; evaṁ parivāso dātabbo.
Kathañca, bhikkhave, suddhantaparivāso dātabbo? Āpattipariyantaṁ na jānāti, rattipariyantaṁ na jānāti; āpattipariyantaṁ nassarati, rattipariyantaṁ nassarati; āpattipariyante vematiko, rattipariyante vematiko—suddhantaparivāso dātabbo.
When to give purifying probation
“When should the purifying probation be given? It should be given: when one doesn’t know the number of offenses, nor the number of days; when one doesn’t remember the number of offenses, nor the number of days; when one is unsure of the number of offenses and the number of days.
158. Này các tỳ khưu, quả thật hình phạt biệt trú suddhanta nên được ban cho như vậy; hình phạt biệt trú nên được ban cho như vậy. Và này các tỳ khưu, thế nào là hình phạt biệt trú suddhanta nên được ban cho? (Khi vị ấy) không biết giới hạn của tội, không biết giới hạn của số đêm; không nhớ giới hạn của tội, không nhớ giới hạn của số đêm; có sự phân vân về giới hạn của tội, có sự phân vân về giới hạn của số đêm – hình phạt biệt trú suddhanta nên được ban cho.
Āpattipariyantaṁ jānāti, rattipariyantaṁ na jānāti; āpattipariyantaṁ sarati, rattipariyantaṁ nassarati; āpattipariyante nibbematiko, rattipariyante vematiko—suddhantaparivāso dātabbo.
It should be given: when one knows the number of offenses, but not the number of days; when one remembers the number of offenses, but not the number of days; when one is sure of the number of offenses, but not the number of days.
(Khi vị ấy) biết giới hạn của tội, không biết giới hạn của số đêm; nhớ giới hạn của tội, không nhớ giới hạn của số đêm; không có sự phân vân về giới hạn của tội, có sự phân vân về giới hạn của số đêm – hình phạt biệt trú suddhanta nên được ban cho.
Āpattipariyantaṁ ekaccaṁ jānāti, ekaccaṁ na jānāti, rattipariyantaṁ na jānāti; āpattipariyantaṁ ekaccaṁ sarati, ekaccaṁ nassarati, rattipariyantaṁ nassarati; āpattipariyante ekacce vematiko, ekacce nibbematiko, rattipariyante vematiko—suddhantaparivāso dātabbo.
It should be given: when one knows some of the offenses but not others, and not the number of days; when one remembers some of the offenses but not others, and not the number of days; when one is sure of some of the offenses but not others, and not the number of days.
Về giới hạn của tội, có phần biết, có phần không biết; về giới hạn của số đêm, không biết. Về giới hạn của tội, có phần nhớ, có phần không nhớ; về giới hạn của số đêm, không nhớ. Về giới hạn của tội, có phần hoài nghi, có phần không hoài nghi; về giới hạn của số đêm, có hoài nghi – nên được trao biệt trú suddhanta.
Āpattipariyantaṁ na jānāti, rattipariyantaṁ ekaccaṁ jānāti, ekaccaṁ na jānāti; āpattipariyantaṁ nassarati, rattipariyantaṁ ekaccaṁ sarati, ekaccaṁ nassarati; āpattipariyante vematiko, rattipariyante ekacce vematiko, ekacce nibbematiko—suddhantaparivāso dātabbo.
It should be given: when one doesn’t know the number of offenses, but one knows some of the days but not others; when one doesn’t remember the number of offenses, but one remembers some of the days but not others; when one is unsure of the number of offenses, but one is sure of some of the days but not others.
Về giới hạn của tội, không biết; về giới hạn của số đêm, có phần biết, có phần không biết. Về giới hạn của tội, không nhớ; về giới hạn của số đêm, có phần nhớ, có phần không nhớ. Về giới hạn của tội, có hoài nghi; về giới hạn của số đêm, có phần hoài nghi, có phần không hoài nghi – nên được trao biệt trú suddhanta.
Āpattipariyantaṁ jānāti, rattipariyantaṁ ekaccaṁ jānāti, ekaccaṁ na jānāti; āpattipariyantaṁ sarati, rattipariyantaṁ ekaccaṁ sarati, ekaccaṁ nassarati; āpattipariyante nibbematiko, rattipariyante ekacce vematiko, ekacce nibbematiko—suddhantaparivāso dātabbo.
It should be given: when one knows the number of offenses, and one knows some of the days but not others; when one remembers the number of offenses, and one remembers some of the days but not others; when one is sure of the number of offenses, and one is sure of some of the days but not others.
Về giới hạn của tội, biết; về giới hạn của số đêm, có phần biết, có phần không biết. Về giới hạn của tội, nhớ; về giới hạn của số đêm, có phần nhớ, có phần không nhớ. Về giới hạn của tội, không hoài nghi; về giới hạn của số đêm, có phần hoài nghi, có phần không hoài nghi – nên được trao biệt trú suddhanta.
Āpattipariyantaṁ ekaccaṁ jānāti, ekaccaṁ na jānāti; rattipariyantaṁ ekaccaṁ jānāti, ekaccaṁ na jānāti; āpattipariyantaṁ ekaccaṁ sarati, ekaccaṁ nassarati; rattipariyantaṁ ekaccaṁ sarati, ekaccaṁ nassarati; āpattipariyante ekacce vematiko, ekacce nibbematiko; rattipariyante ekacce vematiko, ekacce nibbematiko—suddhantaparivāso dātabbo. Evaṁ kho, bhikkhave, suddhantaparivāso dātabbo.
It should be given: when one knows some of the offenses but not others, and one knows some of the days but not others; when one remembers some of the offenses but not others, and one remembers some of the days but not others; when one is sure of some of the offenses but not others, and one is sure of some of the days but not others.”
When to give regular probation
Về giới hạn của tội, có phần biết, có phần không biết; về giới hạn của số đêm, có phần biết, có phần không biết. Về giới hạn của tội, có phần nhớ, có phần không nhớ; về giới hạn của số đêm, có phần nhớ, có phần không nhớ. Về giới hạn của tội, có phần hoài nghi, có phần không hoài nghi; về giới hạn của số đêm, có phần hoài nghi, có phần không hoài nghi – nên được trao biệt trú suddhanta. Này các tỳ khưu, biệt trú suddhanta nên được trao là như vậy.
Kathañca, bhikkhave, parivāso dātabbo? Āpattipariyantaṁ jānāti, rattipariyantaṁ jānāti; āpattipariyantaṁ sarati, rattipariyantaṁ sarati; āpattipariyante nibbematiko, rattipariyante nibbematiko—parivāso dātabbo.
“When should probation be given? It should be given: when one knows the number of offenses and the number of days; when one remembers the number of offenses and the number of days; when one is sure of the number of offenses and the number of days.
159. Này các tỳ khưu, biệt trú nên được trao như thế nào? Về giới hạn của tội, biết; về giới hạn của số đêm, biết. Về giới hạn của tội, nhớ; về giới hạn của số đêm, nhớ. Về giới hạn của tội, không hoài nghi; về giới hạn của số đêm, không hoài nghi – nên được trao biệt trú.
Āpattipariyantaṁ na jānāti, rattipariyantaṁ jānāti; āpattipariyantaṁ nassarati, rattipariyantaṁ sarati, āpattipariyante vematiko, rattipariyante nibbematiko—parivāso dātabbo.
It should be given: when one doesn’t know the number of offenses, but one knows the number of days; when one doesn’t remember the number of offenses, but one remembers the number of days; when one is unsure of the number of offenses, but one is sure of the number of days.
Về giới hạn của tội, không biết; về giới hạn của số đêm, biết. Về giới hạn của tội, không nhớ; về giới hạn của số đêm, nhớ. Về giới hạn của tội, có hoài nghi; về giới hạn của số đêm, không hoài nghi – nên được trao biệt trú.
Āpattipariyantaṁ ekaccaṁ jānāti, ekaccaṁ na jānāti, rattipariyantaṁ jānāti; āpattipariyantaṁ ekaccaṁ sarati, ekaccaṁ nassarati, rattipariyantaṁ sarati; āpattipariyante ekacce vematiko, ekacce nibbematiko, rattipariyante nibbematiko—parivāso dātabbo. Evaṁ kho, bhikkhave, parivāso dātabbo”.
It should be given: when one knows some of the offenses but not others, and one knows the number of days; when one remembers some of the offenses but not others, and one remembers the number of days; when one is sure of some of the offenses but not others, and one is sure of the number of days.”
Về giới hạn của tội, có phần biết, có phần không biết; về giới hạn của số đêm, biết. Về giới hạn của tội, có phần nhớ, có phần không nhớ; về giới hạn của số đêm, nhớ. Về giới hạn của tội, có phần hoài nghi, có phần không hoài nghi; về giới hạn của số đêm, không hoài nghi – nên được trao biệt trú. Này các tỳ khưu, biệt trú nên được trao là như vậy.
Parivāso niṭṭhito.
3. Cattālīsaka
The section on probation is finished.
3. The group of forty
Dứt phần biệt trú.
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu parivasanto vibbhami. So puna paccāgantvā bhikkhū upasampadaṁ yāci. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At one time a monk on probation disrobed. He then came back and asked the monks for the full ordination. They told the Buddha.
160. Vào lúc bấy giờ, có một tỳ khưu nọ đang trong thời gian biệt trú đã hoàn tục. Vị ấy sau đó quay trở lại và xin các tỳ khưu cho thọ cụ túc giới. (Các tỳ khưu) đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
“Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto vibbhamati. Vibbhantakassa, bhikkhave, parivāso na ruhati. So ce puna upasampajjati, tassa tadeva purimaṁ parivāsadānaṁ. Yo parivāso dinno sudinno, yo parivuttho suparivuttho, avaseso parivasitabbo.
“It may be, monks, that a monk on probation disrobes. For one who’s disrobed, the probation is suspended. If he’s given the full ordination again, he continues the previous probationary process right away. The probation that was given is valid. The probation he’s already undertaken is valid. And the remainder is to be undertaken.
Này các tỳ khưu, ở đây, có tỳ khưu đang trong thời gian biệt trú lại hoàn tục. Này các tỳ khưu, đối với người đã hoàn tục, việc biệt trú không thành tựu. Nếu vị ấy thọ cụ túc giới trở lại, việc trao biệt trú trước đây vẫn là của vị ấy. Việc biệt trú nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc biệt trú nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách, phần còn lại nên được tiếp tục thực hành.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto sāmaṇero hoti. Sāmaṇerassa, bhikkhave, parivāso na ruhati. So ce puna upasampajjati, tassa tadeva purimaṁ parivāsadānaṁ. Yo parivāso dinno sudinno, yo parivuttho suparivuttho, avaseso parivasitabbo.
It may be that a monk on probation becomes a novice monk. For a novice monk, the probation is suspended. If he’s given the full ordination again, he continues the previous probationary process right away. The probation that was given is valid. The probation he’s already undertaken is valid. And the remainder is to be undertaken.
Này các tỳ khưu, ở đây, có tỳ khưu đang trong thời gian biệt trú lại trở thành sa-di. Này các tỳ khưu, đối với sa-di, việc biệt trú không thành tựu. Nếu vị ấy thọ cụ túc giới trở lại, việc trao biệt trú trước đây vẫn là của vị ấy. Việc biệt trú nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc biệt trú nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách, phần còn lại nên được tiếp tục thực hành.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto ummattako hoti. Ummattakassa, bhikkhave, parivāso na ruhati. So ce puna anummattako hoti, tassa tadeva purimaṁ parivāsadānaṁ. Yo parivāso dinno sudinno, yo parivuttho suparivuttho, avaseso parivasitabbo.
It may be that a monk on probation goes insane. For one who’s insane, the probation is suspended. If he regains his sanity, he continues the previous probationary process right away. The probation that was given is valid. The probation he’s already undertaken is valid. And the remainder is to be undertaken.
Này các tỳ khưu, ở đây, có tỳ khưu đang trong thời gian biệt trú lại bị điên loạn. Này các tỳ khưu, đối với người bị điên loạn, việc biệt trú không thành tựu. Nếu vị ấy hết điên loạn trở lại, việc trao biệt trú trước đây vẫn là của vị ấy. Việc biệt trú nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc biệt trú nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách, phần còn lại nên được tiếp tục thực hành.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto khittacitto hoti. Khittacittassa, bhikkhave, parivāso na ruhati. So ce puna akhittacitto hoti, tassa tadeva purimaṁ parivāsadānaṁ.
It may be that a monk on probation becomes deranged. For one who’s deranged, the probation is suspended. If he regains his sanity, he continues the previous probationary process right away.
Này các tỳ khưu, ở đây, có tỳ khưu đang trong thời gian biệt trú lại bị loạn tâm. Này các tỳ khưu, đối với người bị loạn tâm, việc biệt trú không thành tựu. Nếu vị ấy hết loạn tâm trở lại, việc trao biệt trú trước đây vẫn là của vị ấy. Việc biệt trú nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc biệt trú nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách, phần còn lại nên được tiếp tục thực hành.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto vedanāṭṭo hoti. Vedanāṭṭassa, bhikkhave, parivāso na ruhati. So ce puna avedanāṭṭo hoti, tassa tadeva purimaṁ parivāsadānaṁ. Yo parivāso dinno sudinno, yo parivuttho suparivuttho, avaseso parivasitabbo.
It may be that a monk on probation is overwhelmed by pain. For one who’s overwhelmed by pain, the probation is suspended. If he recovers, he continues the previous probationary process right away. The probation that was given is valid. The probation he’s already undertaken is valid. And the remainder is to be undertaken.
Này các tỳ khưu, ở đây, có tỳ khưu đang trong thời gian biệt trú lại bị khổ thọ hành hạ. Này các tỳ khưu, đối với người bị khổ thọ hành hạ, việc biệt trú không thành tựu. Nếu vị ấy không còn bị khổ thọ hành hạ nữa, việc trao biệt trú trước đây vẫn là của vị ấy. Việc biệt trú nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc biệt trú nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách, phần còn lại nên được tiếp tục thực hành.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto, āpattiyā adassane, ukkhipiyyati. Ukkhittakassa, bhikkhave, parivāso na ruhati.
It may be that a monk on probation is ejected for not recognizing an offense. For one who’s ejected, the probation is suspended.
Này các tỳ khưu, ở đây, có tỳ khưu đang trong thời gian biệt trú bị cử tội vì không thấy tội. Này các tỳ khưu, đối với người bị cử tội, việc biệt trú không thành tựu. Nếu vị ấy được phục hồi trở lại, việc trao biệt trú trước đây vẫn là của vị ấy. Việc biệt trú nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc biệt trú nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách, phần còn lại nên được tiếp tục thực hành.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto, āpattiyā appaṭikamme, ukkhipiyyati. Ukkhittakassa, bhikkhave, parivāso na ruhati. So ce puna osāriyyati, tassa tadeva purimaṁ parivāsadānaṁ. Yo parivāso dinno sudinno, yo parivuttho suparivuttho, avaseso parivasitabbo.
It may be that a monk on probation is ejected for not making amends for an offense. For one who’s ejected, the probation is suspended. If he’s readmitted, he continues the previous probationary process right away. The probation that was given is valid. The probation he’s already undertaken is valid. And the remainder is to be undertaken.
Này các tỳ khưu, ở đây, có tỳ khưu đang trong thời gian biệt trú bị cử tội vì không sám hối tội. Này các tỳ khưu, đối với người bị cử tội, việc biệt trú không thành tựu. Nếu vị ấy được phục hồi trở lại, việc trao biệt trú trước đây vẫn là của vị ấy. Việc biệt trú nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc biệt trú nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách, phần còn lại nên được tiếp tục thực hành.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto, pāpikāya diṭṭhiyā, appaṭinissagge, ukkhipiyyati. Ukkhittakassa, bhikkhave, parivāso na ruhati. So ce puna osāriyyati, tassa tadeva purimaṁ parivāsadānaṁ. Yo parivāso dinno sudinno, yo parivuttho suparivuttho, avaseso parivasitabbo.
It may be that a monk on probation is ejected for not giving up a bad view. For one who’s ejected, the probation is suspended. If he’s readmitted, he continues the previous probationary process right away. The probation that was given is valid. The probation he’s already undertaken is valid. And the remainder is to be undertaken.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đang trong thời gian biệt trú bị đề cử vì không từ bỏ tà kiến. Này các tỳ khưu, việc biệt trú không được thành tựu đối với người bị đề cử. Nếu vị ấy được phục vị lại, việc cho biệt trú trước đây vẫn là như thế đối với vị ấy. Việc biệt trú nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc biệt trú nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách, phần còn lại nên được thực hành biệt trú.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu mūlāyapaṭikassanāraho vibbhamati. Vibbhantakassa, bhikkhave, mūlāyapaṭikassanā na ruhati. So ce puna upasampajjati, tassa tadeva purimaṁ parivāsadānaṁ. Yo parivāso dinno sudinno, yo parivuttho suparivuttho. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo.
“It may be that a monk deserving to be sent back to the beginning disrobes. For one who’s disrobed, the sending back to the beginning is suspended. If he’s given the full ordination again, he continues the previous probationary process right away. The probation that was given is valid. The probation he’s already undertaken is valid. And he’s to be sent back to the beginning.
161. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu đã hoàn tục. Này các tỳ khưu, việc kéo về lại từ đầu không được thành tựu đối với người đã hoàn tục. Nếu người ấy lại thọ Cụ túc, việc cho biệt trú trước đây vẫn là như thế đối với vị ấy. Việc biệt trú nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc biệt trú nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách. Vị tỳ khưu ấy nên được kéo về lại từ đầu.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu mūlāyapaṭikassanāraho sāmaṇero hoti …pe… ummattako hoti …pe… khittacitto hoti …pe… vedanāṭṭo hoti …pe… āpattiyā adassane ukkhipiyyati …pe… āpattiyā appaṭikamme ukkhipiyyati …pe… pāpikāya diṭṭhiyā, appaṭinissagge, ukkhipiyyati. Ukkhittakassa, bhikkhave, mūlāyapaṭikassanā na ruhati. So ce puna osāriyyati, tassa tadeva purimaṁ parivāsadānaṁ. Yo parivāso dinno sudinno, yo parivuttho suparivuttho. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo.
It may be that a monk deserving to be sent back to the beginning becomes a novice monk, goes insane, becomes deranged, is overwhelmed by pain, is ejected for not recognizing an offense, is ejected for not making amends for an offense, or is ejected for not giving up a bad view. For one who’s ejected, the sending back to the beginning is suspended. If he’s readmitted, he continues the previous probationary process right away. The probation that was given is valid. The probation he’s already undertaken is valid. And he’s to be sent back to the beginning.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu trở thành vị sa-di ... cho đến ... trở thành người điên ... cho đến ... trở thành người loạn tâm ... cho đến ... trở thành người bị cảm thọ áp bức ... cho đến ... bị đề cử vì không thấy tội ... cho đến ... bị đề cử vì không sửa trị tội ... cho đến ... bị đề cử vì không từ bỏ tà kiến. Này các tỳ khưu, việc kéo về lại từ đầu không được thành tựu đối với người bị đề cử. Nếu vị ấy được phục vị lại, việc cho biệt trú trước đây vẫn là như thế đối với vị ấy. Việc biệt trú nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc biệt trú nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách. Vị tỳ khưu ấy nên được kéo về lại từ đầu.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu mānattāraho vibbhamati. Vibbhantakassa, bhikkhave, mānattadānaṁ na ruhati. So ce puna upasampajjati, tassa tadeva purimaṁ parivāsadānaṁ. Yo parivāso dinno sudinno, yo parivuttho suparivuttho. Tassa bhikkhuno mānattaṁ dātabbaṁ.
“It may be that a monk deserving the trial period disrobes. For one who’s disrobed, the giving of the trial period is suspended. If he’s given the full ordination again, he continues the previous probationary process right away. The probation that was given is valid. The probation he’s undertaken is valid. And he’s to be given the trial period.
162. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đáng được cho hành phạt đã hoàn tục. Này các tỳ khưu, việc cho hành phạt không được thành tựu đối với người đã hoàn tục. Nếu người ấy lại thọ Cụ túc, việc cho biệt trú trước đây vẫn là như thế đối với vị ấy. Việc biệt trú nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc biệt trú nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách. Nên cho hành phạt đến vị tỳ khưu ấy.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu mānattāraho sāmaṇero hoti …pe… ummattako hoti …pe… khittacitto hoti …pe… vedanāṭṭo hoti …pe… āpattiyā adassane, ukkhipiyyati …pe… āpattiyā appaṭikamme, ukkhipiyyati …pe… pāpikāya diṭṭhiyā, appaṭinissagge, ukkhipiyyati. Ukkhittakassa, bhikkhave, mānattadānaṁ na ruhati. So ce puna osāriyyati, tassa tadeva purimaṁ parivāsadānaṁ. Yo parivāso dinno sudinno, yo parivuttho suparivuttho. Tassa bhikkhuno mānattaṁ dātabbaṁ.
It may be that a monk deserving the trial period becomes a novice monk, goes insane, becomes deranged, is overwhelmed by pain, is ejected for not recognizing an offense, is ejected for not making amends for an offense, or is ejected for not giving up a bad view. For one who’s ejected, the giving of the trial period is suspended. If he’s readmitted, he continues the previous probationary process right away. The probation that was given is valid. The probation he’s undertaken is valid. And he’s to be given the trial period.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đáng được cho hành phạt trở thành vị sa-di ... cho đến ... trở thành người điên ... cho đến ... trở thành người loạn tâm ... cho đến ... trở thành người bị cảm thọ áp bức ... cho đến ... bị đề cử vì không thấy tội ... cho đến ... bị đề cử vì không sửa trị tội ... cho đến ... bị đề cử vì không từ bỏ tà kiến. Này các tỳ khưu, việc cho hành phạt không được thành tựu đối với người bị đề cử. Nếu vị ấy được phục vị lại, việc cho biệt trú trước đây vẫn là như thế đối với vị ấy. Việc biệt trú nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc biệt trú nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách. Nên cho hành phạt đến vị tỳ khưu ấy.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu mānattaṁ caranto vibbhamati. Vibbhantakassa, bhikkhave, mānattacariyā na ruhati. So ce puna upasampajjati tassa tadeva purimaṁ parivāsadānaṁ. Yo parivāso dinno sudinno, yo parivuttho suparivuttho; yaṁ mānattaṁ dinnaṁ sudinnaṁ, yaṁ mānattaṁ ciṇṇaṁ suciṇṇaṁ, avasesaṁ caritabbaṁ.
“It may be that a monk undertaking the trial period disrobes. For one who’s disrobed, the trial period is suspended. If he’s given the full ordination again, he continues the previous probationary process right away. The probation that was given is valid. The probation he’s undertaken is valid. The trial period that was given is valid. The trial period he’s already undertaken is valid. And the remainder is to be undertaken.
163. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đang thực hành hành phạt đã hoàn tục. Này các tỳ khưu, việc thực hành hành phạt không được thành tựu đối với người đã hoàn tục. Nếu người ấy lại thọ Cụ túc, việc cho biệt trú trước đây vẫn là như thế đối với vị ấy. Việc biệt trú nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc biệt trú nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách; việc hành phạt nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc hành phạt nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách, phần còn lại nên được thực hành.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu mānattaṁ caranto sāmaṇero hoti …pe… ummattako hoti …pe… khittacitto hoti …pe… vedanāṭṭo hoti …pe… āpattiyā adassane, ukkhipiyyati …pe… āpattiyā appaṭikamme, ukkhipiyyati …pe… pāpikāya diṭṭhiyā, appaṭinissagge, ukkhipiyyati. Ukkhittakassa, bhikkhave, mānattacariyā na ruhati. So ce puna osāriyyati, tassa tadeva purimaṁ parivāsadānaṁ. Yo parivāso dinno sudinno, yo purivuttho suparivuttho; yaṁ mānattaṁ dinnaṁ sudinnaṁ, yaṁ mānattaṁ ciṇṇaṁ suciṇṇaṁ, avasesaṁ caritabbaṁ.
It may be that a monk undertaking the trial period becomes a novice monk, goes insane, becomes deranged, is overwhelmed by pain, is ejected for not recognizing an offense, is ejected for not making amends for an offense, or is ejected for not giving up a bad view. For one who’s ejected, the trial period is suspended. If he’s readmitted, he continues the previous probationary process right away. The probation that was given is valid. The probation he’s undertaken is valid. The trial period that was given is valid. The trial period he’s already undertaken is valid. And the remainder is to be undertaken.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đang thực hành hành phạt trở thành vị sa-di ... cho đến ... trở thành người điên ... cho đến ... trở thành người loạn tâm ... cho đến ... trở thành người bị cảm thọ áp bức ... cho đến ... bị đề cử vì không thấy tội ... cho đến ... bị đề cử vì không sửa trị tội ... cho đến ... bị đề cử vì không từ bỏ tà kiến. Này các tỳ khưu, việc thực hành hành phạt không được thành tựu đối với người bị đề cử. Nếu vị ấy được phục vị lại, việc cho biệt trú trước đây vẫn là như thế đối với vị ấy. Việc biệt trú nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc biệt trú nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách; việc hành phạt nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc hành phạt nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách, phần còn lại nên được thực hành.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu abbhānāraho vibbhamati. Vibbhantakassa, bhikkhave, abbhānaṁ na ruhati. So ce puna upasampajjati, tassa tadeva purimaṁ parivāsadānaṁ. Yo parivāso dinno sudinno, yo parivuttho suparivuttho; yaṁ mānattaṁ dinnaṁ sudinnaṁ, yaṁ mānattaṁ ciṇṇaṁ suciṇṇaṁ. So bhikkhu abbhetabbo.
“It may be that a monk deserving rehabilitation disrobes. For one who’s disrobed, the rehabilitation is suspended. If he’s given the full ordination again, he continues the previous probationary process right away. The probation that was given is valid. The probation he’s undertaken is valid. The trial period that was given is valid. The trial period he’s undertaken is valid. And he’s to be rehabilitated.
164. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đáng được giải tội đã hoàn tục. Này các tỳ khưu, việc giải tội không được thành tựu đối với người đã hoàn tục. Nếu người ấy lại thọ Cụ túc, việc cho biệt trú trước đây vẫn là như thế đối với vị ấy. Việc biệt trú nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc biệt trú nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách; việc hành phạt nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc hành phạt nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách. Vị tỳ khưu ấy nên được giải tội.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu abbhānāraho sāmaṇero hoti …pe… ummattako hoti …pe…
It may be that a monk deserving rehabilitation becomes a novice monk, goes insane,
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đáng được giải tội trở thành vị sa-di ... cho đến ... trở thành người điên ... cho đến ...
... trở thành người loạn tâm ... cho đến ... trở thành người bị cảm thọ áp bức ... cho đến ... bị đề cử vì không thấy tội ... cho đến ... bị đề cử vì không sửa trị tội ... cho đến ... bị đề cử vì không từ bỏ tà kiến. Này các tỳ khưu, việc giải tội không được thành tựu đối với người bị đề cử. Nếu vị ấy được phục vị lại, việc cho biệt trú trước đây vẫn là như thế đối với vị ấy. Việc biệt trú nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc biệt trú nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách; việc hành phạt nào đã được trao là đã được trao đúng cách, việc hành phạt nào đã được thực hành là đã được thực hành đúng cách. Vị tỳ khưu ấy nên được giải tội.
Cattālīsakaṁ samattaṁ.
4. Chattiṁsaka
The group of forty is finished.
4. The group of thirty-six
Phẩm Bốn Mươi đã chấm dứt.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇā appaṭicchannāyo. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo.
“It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension, unconcealed and specified. He’s to be sent back to the beginning.
165. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đang trong thời gian biệt trú, trong khi ấy, phạm nhiều tội Tăng Tàn có số lượng, không che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được kéo về lại từ đầu.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇā paṭicchannāyo. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension, concealed and specified. He’s to be sent back to the beginning. He should then be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offense.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đang trong thời gian biệt trú, trong khi ấy, phạm nhiều tội Tăng Tàn có số lượng, có che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được kéo về lại từ đầu. Và nên cho vị ấy thực hành biệt trú gộp chung các tội đã được che giấu với tội trước đây.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇā paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension, both concealed and unconcealed and specified. He’s to be sent back to the beginning. He should then be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offense.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đang trong thời gian biệt trú, trong khi ấy, phạm nhiều tội Tăng Tàn có số lượng, có che giấu và không che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được kéo về lại từ đầu. Và nên cho vị ấy thực hành biệt trú gộp chung các tội đã được che giấu với tội trước đây.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati aparimāṇā appaṭicchannāyo …pe… aparimāṇā paṭicchannāyo …pe… aparimāṇā paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi …pe… parimāṇāyopi aparimāṇāyopi appaṭicchannāyo …pe… parimāṇāyopi aparimāṇāyopi paṭicchannāyo …pe… parimāṇāyopi aparimāṇāyopi paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension, unconcealed and unspecified … concealed and unspecified … both concealed and unconcealed and unspecified … unconcealed and both specified and unspecified … concealed and both specified and unspecified … both concealed and unconcealed and both specified and unspecified. He’s to be sent back to the beginning. He should then be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offense.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong khi đang thực hành biệt trú, vị tỳ khưu ở giữa chừng đã phạm nhiều tội saṅghādisesa không xác định được số lượng và không che giấu ... cho đến ... vừa xác định được số lượng vừa không xác định được số lượng, vừa có che giấu vừa không che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được kéo về lại từ đầu. Và nên được trao cho biệt trú gộp chung với tội trước về các tội đã được che giấu theo đúng số ngày.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu mānattāraho …pe… mānattaṁ caranto …pe… (yathāparivāsaṁ tathā vitthāretabbaṁ) abbhānāraho antarā sambahulā saṅghādisesā, āpattiyo āpajjati parimāṇā appaṭicchannāyo …pe… parimāṇā paṭicchannāyo …pe… parimāṇā paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi …pe… aparimāṇā appaṭicchannāyo …pe… aparimāṇā paṭicchannāyo …pe… aparimāṇā paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi …pe… parimāṇāyopi aparimāṇāyopi appaṭicchannāyo …pe… parimāṇāyopi aparimāṇāyopi paṭicchannāyo …pe… parimāṇāyopi aparimāṇāyopi paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk who deserves the trial period … who’s undertaking the trial period … (to be expanded as for probation) … who deserves rehabilitation commits a number of offenses entailing suspension, unconcealed and specified … concealed and specified … both concealed and unconcealed and specified … unconcealed and unspecified … concealed and unspecified … both concealed and unconcealed and unspecified … unconcealed and both specified and unspecified … concealed and both specified and unspecified … both concealed and unconcealed and both specified and unspecified. He’s to be sent back to the beginning. He should then be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offense.”
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đang trong thời gian xứng đáng với mānatta ... cho đến ... đang thực hành mānatta ... cho đến ... (nên được diễn giải tương tự như trường hợp biệt trú) đang trong thời gian xứng đáng với sự phục vị, ở giữa chừng đã phạm nhiều tội saṅghādisesa xác định được số lượng và không che giấu ... cho đến ... vừa xác định được số lượng vừa không xác định được số lượng, vừa có che giấu vừa không che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được kéo về lại từ đầu. Và nên được trao cho biệt trú gộp chung với tội trước về các tội đã được che giấu theo đúng số ngày.”
Chattiṁsakaṁ samattaṁ.
5. Mānattasata
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjitvā appaṭicchādetvā vibbhamati. So puna upasampanno tā āpattiyo nacchādeti.
The group of thirty-six is finished.
5. The group of one hundred on the trial period
“It may be that a monk commits a number of unconcealed offenses entailing suspension and then disrobes. Being reordained, he doesn’t conceal them.
Phần Ba Mươi Sáu đã chấm dứt.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjitvā appaṭicchādetvā vibbhamati.
It may be that a monk commits a number of unconcealed offenses entailing suspension and then disrobes.
166. “Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu sau khi đã phạm nhiều tội saṅghādisesa, không che giấu rồi hoàn tục. Vị ấy sau khi tái xuất gia đã không che giấu các tội ấy. Này các tỳ khưu, nên trao cho vị tỳ khưu ấy hình phạt mānatta.”
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu sau khi đã phạm nhiều tội saṅghādisesa, không che giấu rồi hoàn tục. Vị ấy sau khi tái xuất gia đã che giấu các tội ấy. Này các tỳ khưu, sau khi đã trao cho vị tỳ khưu ấy hình phạt biệt trú về nhóm tội sau theo đúng số ngày đã che giấu, nên trao cho hình phạt mānatta.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjitvā paṭicchādetvā vibbhamati. So puna upasampanno tā āpattiyo nacchādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiṁ āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
It may be that a monk commits a number of concealed offenses entailing suspension and then disrobes. Being reordained, he doesn’t conceal them. He should be given probation according to the length of the earlier concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu sau khi đã phạm nhiều tội saṅghādisesa, đã che giấu rồi hoàn tục. Vị ấy sau khi tái xuất gia đã không che giấu các tội ấy. Này các tỳ khưu, sau khi đã trao cho vị tỳ khưu ấy hình phạt biệt trú về nhóm tội trước theo đúng số ngày đã che giấu, nên trao cho hình phạt mānatta.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjitvā paṭicchādetvā vibbhamati. So puna upasampanno tā āpattiyo chādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiñca pacchimasmiñca āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
It may be that a monk commits a number of concealed offenses entailing suspension and then disrobes. Being reordained, he conceals them. He should be given probation according to the length of the earlier and subsequent concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu sau khi đã phạm nhiều tội saṅghādisesa, đã che giấu rồi hoàn tục. Vị ấy sau khi tái xuất gia cũng đã che giấu các tội ấy. Này các tỳ khưu, sau khi đã trao cho vị tỳ khưu ấy hình phạt biệt trú về nhóm tội trước và nhóm tội sau theo đúng số ngày đã che giấu, nên trao cho hình phạt mānatta.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Tassa honti āpattiyo paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe chādesi tā āpattiyo pacchā nacchādeti; yā āpattiyo pubbe nacchādesi tā āpattiyo pacchā nacchādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiṁ āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
“It may be that a monk commits a number of offenses entailing suspension, both concealed and unconcealed, and then disrobes. Being reordained, he doesn’t conceal any of them. He should be given probation according to the length of the earlier concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.
167. “Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy có những tội đã che giấu và có những tội không che giấu. Vị ấy sau khi hoàn tục, tái xuất gia, những tội nào trước kia đã che giấu thì về sau không che giấu; những tội nào trước kia không che giấu thì về sau cũng không che giấu. Này các tỳ khưu, sau khi đã trao cho vị tỳ khưu ấy hình phạt biệt trú về nhóm tội trước theo đúng số ngày đã che giấu, nên trao cho hình phạt mānatta.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Tassa honti āpattiyo paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe chādesi tā āpattiyo pacchā nacchādeti; yā āpattiyo pubbe nacchādesi tā āpattiyo pacchā chādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiñca pacchimasmiñca āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
It may be that a monk commits a number of offenses entailing suspension, both concealed and unconcealed, and then disrobes. Being reordained, he doesn’t conceal those offenses he previously concealed, but conceals those he previously didn’t conceal. He should be given probation according to the length of the earlier and subsequent concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy có những tội đã che giấu và có những tội không che giấu. Vị ấy sau khi hoàn tục, tái xuất gia, những tội nào trước kia đã che giấu thì về sau không che giấu; những tội nào trước kia không che giấu thì về sau lại che giấu. Này các tỳ khưu, sau khi đã trao cho vị tỳ khưu ấy hình phạt biệt trú về nhóm tội trước và nhóm tội sau theo đúng số ngày đã che giấu, nên trao cho hình phạt mānatta.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Tassa honti āpattiyo paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe chādesi tā āpattiyo pacchā chādeti; yā āpattiyo pubbe nacchādesi tā āpattiyo pacchā nacchādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiñca pacchimasmiñca āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
It may be that a monk commits a number of offenses entailing suspension, both concealed and unconcealed, and then disrobes. Being reordained, he conceals those offenses he previously concealed, but not those he previously didn’t conceal. He should be given probation according to the length of the earlier and subsequent concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy có những tội đã che giấu và có những tội không che giấu. Vị ấy sau khi hoàn tục, tái xuất gia, những tội nào trước kia đã che giấu thì về sau cũng che giấu; những tội nào trước kia không che giấu thì về sau cũng không che giấu. Này các tỳ khưu, sau khi đã trao cho vị tỳ khưu ấy hình phạt biệt trú về nhóm tội trước và nhóm tội sau theo đúng số ngày đã che giấu, nên trao cho hình phạt mānatta.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Tassa honti āpattiyo paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe chādesi tā āpattiyo pacchā chādeti; yā āpattiyo pubbe nacchādesi tā āpattiyo pacchā chādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiñca pacchimasmiñca āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
It may be that a monk commits a number of offenses entailing suspension, both concealed and unconcealed, and then disrobes. Being reordained, he conceals all of them. He should be given probation according to the length of the earlier and subsequent concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy có những tội đã che giấu và có những tội không che giấu. Vị ấy sau khi hoàn tục, tái xuất gia, những tội nào trước kia đã che giấu thì về sau cũng che giấu; những tội nào trước kia không che giấu thì về sau lại che giấu. Này các tỳ khưu, sau khi đã trao cho vị tỳ khưu ấy hình phạt biệt trú về nhóm tội trước và nhóm tội sau theo đúng số ngày đã che giấu, nên trao cho hình phạt mānatta.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccā āpattiyo jānāti, ekaccā āpattiyo na jānāti. Yā āpattiyo jānāti tā āpattiyo chādeti. Yā āpattiyo na jānāti tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe jānitvā chādesi tā āpattiyo pacchā jānitvā nacchādeti; yā āpattiyo pubbe ajānitvā nacchādesi tā āpattiyo pacchā jānitvā nacchādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiṁ āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
“It may be that a monk commits a number of offenses entailing suspension. He’s aware of some of them, but not others. He conceals the offenses he’s aware of, but not those he isn’t aware of. He then disrobes. Being reordained and having found out about all of them, he conceals none of them. He should be given probation according to the length of the earlier concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.
168. “Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy biết một số tội, không biết một số tội. Những tội nào vị ấy biết thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy không biết thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi hoàn tục, lại được thọ cụ túc, những tội nào trước đây đã biết và đã che giấu thì sau này biết nhưng không che giấu; những tội nào trước đây không biết và đã không che giấu thì sau này biết nhưng không che giấu. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, sau khi đã cho (thi hành) parivāsa về nhóm tội trước tùy theo sự che giấu, nên cho (thi hành) mānatta.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccā āpattiyo jānāti, ekaccā āpattiyo na jānāti. Yā āpattiyo jānāti tā āpattiyo chādeti. Yā āpattiyo na jānāti tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe jānitvā chādesi tā āpattiyo pacchā jānitvā nacchādeti; yā āpattiyo pubbe ajānitvā nacchādesi tā āpattiyo pacchā jānitvā chādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiñca pacchimasmiñca āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
It may be that a monk commits a number of offenses entailing suspension. He’s aware of some of them, but not others. He conceals the offenses he’s aware of, but not those he isn’t aware of. He then disrobes. Being reordained and having found out about all of them, he doesn’t conceal those offenses he was previously aware of, but conceals those he wasn’t aware of. He should be given probation according to the length of the earlier and subsequent concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy biết một số tội, không biết một số tội. Những tội nào vị ấy biết thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy không biết thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi hoàn tục, lại được thọ cụ túc, những tội nào trước đây đã biết và đã che giấu thì sau này biết nhưng không che giấu; những tội nào trước đây không biết và đã không che giấu thì sau này biết và che giấu. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, sau khi đã cho (thi hành) parivāsa về nhóm tội trước và nhóm tội sau tùy theo sự che giấu, nên cho (thi hành) mānatta.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccā āpattiyo jānāti, ekaccā āpattiyo na jānāti. Yā āpattiyo jānāti tā āpattiyo chādeti. Yā āpattiyo na jānāti tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe jānitvā chādesi tā āpattiyo pacchā jānitvā chādeti; yā āpattiyo pubbe ajānitvā nacchādesi tā āpattiyo pacchā jānitvā nacchādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiñca pacchimasmiñca āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
It may be that a monk commits a number of offenses entailing suspension. He’s aware of some of them, but not others. He conceals the offenses he’s aware of, but not those he isn’t aware of. He then disrobes. Being reordained and having found out about all of them, he conceals those offenses he was previously aware of, but not those he wasn’t aware of. He should be given probation according to the length of the earlier and subsequent concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy biết một số tội, không biết một số tội. Những tội nào vị ấy biết thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy không biết thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi hoàn tục, lại được thọ cụ túc, những tội nào trước đây đã biết và đã che giấu thì sau này biết và che giấu; những tội nào trước đây không biết và đã không che giấu thì sau này biết nhưng không che giấu. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, sau khi đã cho (thi hành) parivāsa về nhóm tội trước và nhóm tội sau tùy theo sự che giấu, nên cho (thi hành) mānatta.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccā āpattiyo jānāti, ekaccā āpattiyo na jānāti. Yā āpattiyo jānāti tā āpattiyo chādeti; yā āpattiyo na jānāti tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe jānitvā chādesi tā āpattiyo pacchā jānitvā chādeti; yā āpattiyo pubbe ajānitvā nacchādesi tā āpattiyo pacchā jānitvā chādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiñca pacchimasmiñca āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
It may be that a monk commits a number of offenses entailing suspension. He’s aware of some of them, but not others. He conceals the offenses he’s aware of, but not those he isn’t aware of. He then disrobes. Being reordained and having found out about all of them, he conceals all of them. He should be given probation according to the length of the earlier and subsequent concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy biết một số tội, không biết một số tội. Những tội nào vị ấy biết thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy không biết thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi hoàn tục, lại được thọ cụ túc, những tội nào trước đây đã biết và đã che giấu thì sau này biết và che giấu; những tội nào trước đây không biết và đã không che giấu thì sau này biết và che giấu. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, sau khi đã cho (thi hành) parivāsa về nhóm tội trước và nhóm tội sau tùy theo sự che giấu, nên cho (thi hành) mānatta.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccā āpattiyo sarati, ekaccā āpattiyo nassarati. Yā āpattiyo sarati tā āpattiyo chādeti; yā āpattiyo nassarati tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe saritvā chādesi tā āpattiyo pacchā saritvā nacchādeti; yā āpattiyo pubbe assaritvā nacchādesi tā āpattiyo pacchā saritvā nacchādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiṁ āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
“It may be that a monk commits a number of offenses entailing suspension. He remembers some of them, but not others. He conceals the offenses he remembers, but not those he doesn’t remember. He then disrobes. Being reordained and having remembered all of them, he conceals none of them. He should be given probation according to the length of the earlier concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.
169. “Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy nhớ một số tội, không nhớ một số tội. Những tội nào vị ấy nhớ thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy không nhớ thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi hoàn tục, lại được thọ cụ túc, những tội nào trước đây đã nhớ và đã che giấu thì sau này nhớ nhưng không che giấu; những tội nào trước đây không nhớ và đã không che giấu thì sau này nhớ nhưng không che giấu. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, sau khi đã cho (thi hành) parivāsa về nhóm tội trước tùy theo sự che giấu, nên cho (thi hành) mānatta.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccā āpattiyo sarati, ekaccā āpattiyo nassarati. Yā āpattiyo sarati tā āpattiyo chādeti; yā āpattiyo nassarati tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe saritvā chādesi tā āpattiyo pacchā saritvā nacchādeti; yā āpattiyo pubbe assaritvā nacchādesi tā āpattiyo pacchā saritvā chādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiñca pacchimasmiñca āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
It may be that a monk commits a number of offenses entailing suspension. He remembers some of them, but not others. He conceals the offenses he remembers, but not those he doesn’t remember. He then disrobes. Being reordained and having remembered all of them, he doesn’t conceal those offenses he previously remembered, but conceals those he didn’t remember. He should be given probation according to the length of the earlier and subsequent concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy nhớ một số tội, không nhớ một số tội. Những tội nào vị ấy nhớ thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy không nhớ thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi hoàn tục, lại được thọ cụ túc, những tội nào trước đây đã nhớ và đã che giấu thì sau này nhớ nhưng không che giấu; những tội nào trước đây không nhớ và đã không che giấu thì sau này nhớ và che giấu. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, sau khi đã cho (thi hành) parivāsa về nhóm tội trước và nhóm tội sau tùy theo sự che giấu, nên cho (thi hành) mānatta.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccā āpattiyo sarati, ekaccā āpattiyo nassarati. Yā āpattiyo sarati tā āpattiyo chādeti; yā āpattiyo nassarati tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe saritvā chādesi tā āpattiyo pacchā saritvā chādeti; yā āpattiyo pubbe assaritvā nacchādesi tā āpattiyo pacchā saritvā nacchādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiñca pacchimasmiñca āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
It may be that a monk commits a number of offenses entailing suspension. He remembers some of them, but not others. He conceals the offenses he remembers, but not those he doesn’t remember. He then disrobes. Being reordained and having remembered all of them, he conceals those offenses he previously remembered, but not those he didn’t remember. He should be given probation according to the length of the earlier and subsequent concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy nhớ một số tội, không nhớ một số tội. Những tội nào vị ấy nhớ thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy không nhớ thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi hoàn tục, lại được thọ cụ túc, những tội nào trước đây đã nhớ và đã che giấu thì sau này nhớ và che giấu; những tội nào trước đây không nhớ và đã không che giấu thì sau này nhớ nhưng không che giấu. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, sau khi đã cho (thi hành) parivāsa về nhóm tội trước và nhóm tội sau tùy theo sự che giấu, nên cho (thi hành) mānatta.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccā āpattiyo sarati, ekaccā āpattiyo nassarati. Yā āpattiyo sarati tā āpattiyo chādeti; yā āpattiyo nassarati tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe saritvā chādesi tā āpattiyo pacchā saritvā chādeti; yā āpattiyo pubbe assaritvā nacchādesi tā āpattiyo pacchā saritvā chādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiñca pacchimasmiñca āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
It may be that a monk commits a number of offenses entailing suspension. He remembers some of them, but not others. He conceals the offenses he remembers, but not those he doesn’t remember. He then disrobes. Being reordained and having remembered all of them, he conceals all of them. He should be given probation according to the length of the earlier and subsequent concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy nhớ một số tội, không nhớ một số tội. Những tội nào vị ấy nhớ thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy không nhớ thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi đã hoàn tục, rồi được tái tu lên tỳ khưu, những tội nào trước đây đã nhớ và đã che giấu thì sau này nhớ và che giấu; những tội nào trước đây đã không nhớ và đã không che giấu thì sau này nhớ và che giấu. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, sau khi đã cho hành phạt parivāsa về nhóm tội trước và nhóm tội sau đã được che giấu như thế nào thì nên cho hành phạt mānatta.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccāsu āpattīsu nibbematiko, ekaccāsu āpattīsu vematiko. Yāsu āpattīsu nibbematiko tā āpattiyo chādeti; yāsu āpattīsu vematiko tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe nibbematiko chādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko nacchādeti; yā āpattiyo pubbe vematiko nacchādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko nacchādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiṁ āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
“It may be that a monk commits a number of offenses entailing suspension. He’s sure of some of them, but unsure of others. He conceals the offenses he’s sure of, but not those he’s unsure of. He then disrobes. Being reordained and having become sure of all of them, he conceals none of them. He should be given probation according to the length of the earlier concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.
170. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Về một số tội, vị ấy không có sự nghi ngờ; về một số tội, vị ấy có sự nghi ngờ. Những tội nào vị ấy không có sự nghi ngờ thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy có sự nghi ngờ thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi đã hoàn tục, rồi được tái tu lên tỳ khưu, những tội nào trước đây đã không có sự nghi ngờ và đã che giấu thì sau này không có sự nghi ngờ và không che giấu; những tội nào trước đây đã có sự nghi ngờ và đã không che giấu thì sau này không có sự nghi ngờ và không che giấu. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, sau khi đã cho hành phạt parivāsa về nhóm tội trước đã được che giấu như thế nào thì nên cho hành phạt mānatta.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccāsu āpattīsu nibbematiko, ekaccāsu āpattīsu vematiko. Yāsu āpattīsu nibbematiko tā āpattiyo chādeti; yāsu āpattīsu vematiko tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe nibbematiko chādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko nacchādeti; yā āpattiyo pubbe vematiko nacchādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko chādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiñca pacchimasmiñca āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
It may be that a monk commits a number of offenses entailing suspension. He’s sure of some of them, but unsure of others. He conceals the offenses he’s sure of, but not those he’s unsure of. He then disrobes. Being reordained and having become sure of all of them, he doesn’t conceal those offenses he was previously sure of, but conceals those he was unsure of. He should be given probation according to the length of the earlier and subsequent concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Về một số tội, vị ấy không có sự nghi ngờ; về một số tội, vị ấy có sự nghi ngờ. Những tội nào vị ấy không có sự nghi ngờ thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy có sự nghi ngờ thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi đã hoàn tục, rồi được tái tu lên tỳ khưu, những tội nào trước đây đã không có sự nghi ngờ và đã che giấu thì sau này không có sự nghi ngờ và không che giấu; những tội nào trước đây đã có sự nghi ngờ và đã không che giấu thì sau này không có sự nghi ngờ và che giấu. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, sau khi đã cho hành phạt parivāsa về nhóm tội trước và nhóm tội sau đã được che giấu như thế nào thì nên cho hành phạt mānatta.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccāsu āpattīsu nibbematiko, ekaccāsu āpattīsu vematiko. Yāsu āpattīsu nibbematiko tā āpattiyo chādeti; yāsu āpattīsu vematiko tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe nibbematiko chādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko chādeti; yā āpattiyo pubbe vematiko nacchādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko nacchādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiñca pacchimasmiñca āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
It may be that a monk commits a number of offenses entailing suspension. He’s sure of some of them, but unsure of others. He conceals the offenses he’s sure of, but not those he’s unsure of. He then disrobes. Being reordained and having become sure of all of them, he conceals those offenses he was previously sure of, but not those he was unsure of. He should be given probation according to the length of the earlier and subsequent concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Về một số tội, vị ấy không có sự nghi ngờ; về một số tội, vị ấy có sự nghi ngờ. Những tội nào vị ấy không có sự nghi ngờ thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy có sự nghi ngờ thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi đã hoàn tục, rồi được tái tu lên tỳ khưu, những tội nào trước đây đã không có sự nghi ngờ và đã che giấu thì sau này không có sự nghi ngờ và che giấu; những tội nào trước đây đã có sự nghi ngờ và đã không che giấu thì sau này không có sự nghi ngờ và không che giấu. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, sau khi đã cho hành phạt parivāsa về nhóm tội trước và nhóm tội sau đã được che giấu như thế nào thì nên cho hành phạt mānatta.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccāsu āpattīsu nibbematiko, ekaccāsu āpattīsu vematiko. Yāsu āpattīsu nibbematiko tā āpattiyo chādeti; yāsu āpattīsu vematiko tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe nibbematiko chādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko chādeti; yā āpattiyo pubbe vematiko nacchādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko chādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiñca pacchimasmiñca āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
It may be that a monk commits a number of offenses entailing suspension. He’s sure of some of them, but unsure of others. He conceals the offenses he’s sure of, but not those he’s unsure of. He then disrobes. Being reordained and having become sure of all of them, he conceals all of them. He should be given probation according to the length of the earlier and subsequent concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa. Về một số tội, vị ấy không có sự nghi ngờ; về một số tội, vị ấy có sự nghi ngờ. Những tội nào vị ấy không có sự nghi ngờ thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy có sự nghi ngờ thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi đã hoàn tục, rồi được tái tu lên tỳ khưu, những tội nào trước đây đã không có sự nghi ngờ và đã che giấu thì sau này không có sự nghi ngờ và che giấu; những tội nào trước đây đã có sự nghi ngờ và đã không che giấu thì sau này không có sự nghi ngờ và che giấu. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, sau khi đã cho hành phạt parivāsa về nhóm tội trước và nhóm tội sau đã được che giấu như thế nào thì nên cho hành phạt mānatta.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjitvā appaṭicchādetvā sāmaṇero hoti …pe… ummattako hoti …pe… khittacitto hoti …pe… (yathā heṭṭhā tathā vitthāretabbaṁ) vedanāṭṭo hoti …pe… tassa honti āpattiyo paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi …pe… ekaccā āpattiyo jānāti, ekaccā āpattiyo na jānāti …pe… ekaccā āpattiyo sarati, ekaccā āpattiyo nassarati …pe… ekaccāsu āpattīsu nibbematiko, ekaccāsu āpattīsu vematiko. Yāsu āpattīsu nibbematiko tā āpattiyo chādeti; yāsu āpattīsu vematiko tā āpattiyo nacchādeti. So vedanāṭṭo hoti. So puna avedanāṭṭo hutvā yā āpattiyo pubbe nibbematiko chādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko nacchādeti; yā āpattiyo pubbe vematiko nacchādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko nacchādeti …pe… yā āpattiyo pubbe nibbematiko chādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko nacchādeti; yā āpattiyo pubbe vematiko nacchādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko chādeti …pe… yā āpattiyo pubbe nibbematiko chādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko chādeti; yā āpattiyo pubbe vematiko nacchādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko nacchādeti …pe… yā āpattiyo pubbe nibbematiko chādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko chādeti; yā āpattiyo pubbe vematiko nacchādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko chādeti. Tassa, bhikkhave, bhikkhuno purimasmiñca pacchimasmiñca āpattikkhandhe yathāpaṭicchanne parivāsaṁ datvā mānattaṁ dātabbaṁ.
“It may be that a monk commits a number of unconcealed offenses entailing suspension and then becomes a novice monk … goes insane … becomes deranged … (to be expanded as above) … is overwhelmed by pain … both concealed and unconcealed … he’s aware of some of them, but not others … he remembers some of them, but not others … he’s sure of some of them, but unsure of others. He conceals the offenses he’s sure of, but not those he’s unsure of. He then becomes overwhelmed by pain. Having recovered and having become sure of all of them, he conceals none of them. … having become sure of all of them, he doesn’t conceal those offenses he was previously sure of, but conceals those he was unsure of. … having become sure of all of them, he conceals those offenses he was previously sure of, but not those he was unsure of. … having become sure of all of them, he conceals all of them. He should be given probation according to the length of the earlier and subsequent concealment of those offenses, and he should then be given the trial period.”
171. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu sau khi đã phạm nhiều tội saṅghādisesa và đã không che giấu, trở thành vị sa-di ... cho đến ... trở thành người điên ... cho đến ... trở thành người loạn trí ... cho đến ... (nên được diễn giải như ở dưới) trở thành người bị cảm thọ đau đớn hành hạ ... cho đến ... vị ấy có các tội đã được che giấu và cả các tội không được che giấu ... cho đến ... vị ấy biết một số tội, không biết một số tội ... cho đến ... vị ấy nhớ một số tội, không nhớ một số tội ... cho đến ... về một số tội, vị ấy không có sự nghi ngờ; về một số tội, vị ấy có sự nghi ngờ. Những tội nào vị ấy không có sự nghi ngờ thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy có sự nghi ngờ thì vị ấy không che giấu. Vị ấy là người bị cảm thọ đau đớn hành hạ. Vị ấy sau khi không còn bị cảm thọ đau đớn hành hạ, những tội nào trước đây đã không có sự nghi ngờ và đã che giấu thì sau này không có sự nghi ngờ và không che giấu; những tội nào trước đây đã có sự nghi ngờ và đã không che giấu thì sau này không có sự nghi ngờ và không che giấu ... cho đến ... những tội nào trước đây đã không có sự nghi ngờ và đã che giấu thì sau này không có sự nghi ngờ và không che giấu; những tội nào trước đây đã có sự nghi ngờ và đã không che giấu thì sau này không có sự nghi ngờ và che giấu ... cho đến ... những tội nào trước đây đã không có sự nghi ngờ và đã che giấu thì sau này không có sự nghi ngờ và che giấu; những tội nào trước đây đã có sự nghi ngờ và đã không che giấu thì sau này không có sự nghi ngờ và không che giấu ... cho đến ... những tội nào trước đây đã không có sự nghi ngờ và đã che giấu thì sau này không có sự nghi ngờ và che giấu; những tội nào trước đây đã có sự nghi ngờ và đã không che giấu thì sau này không có sự nghi ngờ và che giấu. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu ấy, sau khi đã cho hành phạt parivāsa về nhóm tội trước và nhóm tội sau đã được che giấu như thế nào thì nên cho hành phạt mānatta.
Mānattasataṁ niṭṭhitaṁ.
The group of one hundred on the trial period is finished.
Một trăm trường hợp mã-nát đã hoàn tất.
6. Samūlāyasamodhānaparivāsacatussata
6. The group of four hundred on simultaneous probation with sending back to the beginning
6. Bốn trăm trường hợp biệt trú gộp chung và trở lại từ đầu.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjitvā appaṭicchādetvā vibbhamati. So puna upasampanno tā āpattiyo nacchādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo.
“It may be that a monk on probation commits a number of unconcealed offenses entailing suspension and then disrobes. Being reordained, he doesn’t conceal those offenses. He’s to be sent back to the beginning.
172. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong khi đang thực hành biệt trú, vị tỳ khưu ở khoảng giữa đã phạm nhiều tội saṅghādisesa rồi không che giấu và đã hoàn tục. Vị ấy sau khi tái thọ cụ túc lại không che giấu các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được cho trở về lại từ đầu.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjitvā appaṭicchādetvā vibbhamati. So puna upasampanno tā āpattiyo chādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk on probation commits a number of unconcealed offenses entailing suspension and then disrobes. Being reordained, he conceals those offenses. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong khi đang thực hành biệt trú, vị tỳ khưu ở khoảng giữa đã phạm nhiều tội saṅghādisesa rồi không che giấu và đã hoàn tục. Vị ấy sau khi tái thọ cụ túc lại che giấu các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được cho trở về lại từ đầu. Đối với vị ấy, nên được ban cho hình phạt biệt trú gộp chung với tội trước đây về các tội đã được che giấu.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjitvā paṭicchādetvā vibbhamati. So puna upasampanno tā āpattiyo nacchādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk on probation commits a number of concealed offenses entailing suspension and then disrobes. Being reordained, he doesn’t conceal those offenses. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong khi đang thực hành biệt trú, vị tỳ khưu ở khoảng giữa đã phạm nhiều tội saṅghādisesa rồi che giấu và đã hoàn tục. Vị ấy sau khi tái thọ cụ túc lại không che giấu các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được cho trở về lại từ đầu. Đối với vị ấy, nên được ban cho hình phạt biệt trú gộp chung với tội trước đây về các tội đã được che giấu.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjitvā paṭicchādetvā vibbhamati. So puna upasampanno tā āpattiyo chādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk on probation commits a number of concealed offenses entailing suspension and then disrobes. Being reordained, he conceals those offenses. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong khi đang thực hành biệt trú, vị tỳ khưu ở khoảng giữa đã phạm nhiều tội saṅghādisesa rồi che giấu và đã hoàn tục. Vị ấy sau khi tái thọ cụ túc lại che giấu các tội ấy. Vị tỳ khưu ấy nên được cho trở về lại từ đầu. Đối với vị ấy, nên được ban cho hình phạt biệt trú gộp chung với tội trước đây về các tội đã được che giấu.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Tassa honti āpattiyo paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe chādesi tā āpattiyo pacchā nacchādeti; yā āpattiyo pubbe nacchādesi tā āpattiyo pacchā nacchādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
“It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension, both concealed and unconcealed, and then disrobes. Being reordained, he conceals none of those offenses. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
173. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong khi đang thực hành biệt trú, vị tỳ khưu ở khoảng giữa đã phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy có những tội đã được che giấu và cũng có những tội không được che giấu. Sau khi đã hoàn tục, vị ấy tái thọ cụ túc rồi những tội nào trước đây đã che giấu thì về sau không che giấu; những tội nào trước đây không che giấu thì về sau cũng không che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho trở về lại từ đầu. Đối với vị ấy, nên được ban cho hình phạt biệt trú gộp chung với tội trước đây về các tội đã được che giấu.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Tassa honti āpattiyo paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe chādesi tā āpattiyo pacchā nacchādeti; yā āpattiyo pubbe nacchādesi tā āpattiyo pacchā chādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension, both concealed and unconcealed, and then disrobes. Being reordained, he doesn’t conceal those offenses he previously concealed, but conceals those he previously didn’t conceal. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong khi đang thực hành biệt trú, vị tỳ khưu ở khoảng giữa đã phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy có những tội đã được che giấu và cũng có những tội không được che giấu. Sau khi đã hoàn tục, vị ấy tái thọ cụ túc rồi những tội nào trước đây đã che giấu thì về sau không che giấu; những tội nào trước đây không che giấu thì về sau lại che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho trở về lại từ đầu. Đối với vị ấy, nên được ban cho hình phạt biệt trú gộp chung với tội trước đây về các tội đã được che giấu.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Tassa honti āpattiyo paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe chādesi tā āpattiyo pacchā chādeti; yā āpattiyo pubbe nacchādesi tā āpattiyo pacchā nacchādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension, both concealed and unconcealed, and then disrobes. Being reordained, he conceals those offenses he previously concealed, but not those he previously didn’t conceal. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong khi đang thực hành biệt trú, vị tỳ khưu ở khoảng giữa đã phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy có những tội đã được che giấu và cũng có những tội không được che giấu. Sau khi đã hoàn tục, vị ấy tái thọ cụ túc rồi những tội nào trước đây đã che giấu thì về sau cũng che giấu; những tội nào trước đây không che giấu thì về sau cũng không che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho trở về lại từ đầu. Đối với vị ấy, nên được ban cho hình phạt biệt trú gộp chung với tội trước đây về các tội đã được che giấu.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Tassa honti āpattiyo paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe chādesi tā āpattiyo pacchā chādeti; yā āpattiyo pubbe nacchādesi tā āpattiyo pacchā chādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension, both concealed and unconcealed, and then disrobes. Being reordained, he conceals all of those offenses. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong khi đang thực hành biệt trú, vị tỳ khưu ở khoảng giữa đã phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy có những tội đã được che giấu và cũng có những tội không được che giấu. Sau khi đã hoàn tục, vị ấy tái thọ cụ túc rồi những tội nào trước đây đã che giấu thì về sau cũng che giấu; những tội nào trước đây không che giấu thì về sau lại che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho trở về lại từ đầu. Đối với vị ấy, nên được ban cho hình phạt biệt trú gộp chung với tội trước đây về các tội đã được che giấu.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccā āpattiyo jānāti, ekaccā āpattiyo na jānāti. Yā āpattiyo jānāti tā āpattiyo chādeti; yā āpattiyo na jānāti tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe jānitvā chādesi tā āpattiyo pacchā jānitvā nacchādeti; yā āpattiyo pubbe ajānitvā nacchādesi tā āpattiyo pacchā jānitvā nacchādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
“It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension. He’s aware of some of them, but not others. He conceals the offenses he’s aware of, but not those he isn’t aware of. He then disrobes. Being reordained and having found out about all of them, he conceals none of them. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
174. Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong khi đang thực hành biệt trú, vị tỳ khưu ở khoảng giữa đã phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy biết một số tội, không biết một số tội. Những tội nào vị ấy biết thì che giấu; những tội nào vị ấy không biết thì không che giấu. Sau khi đã hoàn tục, vị ấy tái thọ cụ túc rồi những tội nào trước đây đã biết và đã che giấu thì về sau đã biết nhưng không che giấu; những tội nào trước đây không biết và không che giấu thì về sau đã biết nhưng không che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho trở về lại từ đầu. Đối với vị ấy, nên được ban cho hình phạt biệt trú gộp chung với tội trước đây về các tội đã được che giấu.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccā āpattiyo jānāti, ekaccā āpattiyo na jānāti. Yā āpattiyo jānāti tā āpattiyo chādeti; yā āpattiyo na jānāti tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe jānitvā chādesi tā āpattiyo pacchā jānitvā nacchādeti; yā āpattiyo pubbe ajānitvā nacchādesi tā āpattiyo pacchā jānitvā chādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension. He’s aware of some of them, but not others. He conceals the offenses he’s aware of, but not those he isn’t aware of. He then disrobes. Being reordained and having found out about all of them, he doesn’t conceal those offenses he was previously aware of, but conceals those he wasn’t aware of. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, trong khi đang thực hành biệt trú, vị tỳ khưu ở khoảng giữa đã phạm nhiều tội saṅghādisesa. Vị ấy biết một số tội, không biết một số tội. Những tội nào vị ấy biết thì che giấu; những tội nào vị ấy không biết thì không che giấu. Sau khi đã hoàn tục, vị ấy tái thọ cụ túc rồi những tội nào trước đây đã biết và đã che giấu thì về sau đã biết nhưng không che giấu; những tội nào trước đây không biết và không che giấu thì về sau đã biết và lại che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho trở về lại từ đầu. Đối với vị ấy, nên được ban cho hình phạt biệt trú gộp chung với tội trước đây về các tội đã được che giấu.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccā āpattiyo jānāti, ekaccā āpattiyo na jānāti. Yā āpattiyo jānāti tā āpattiyo chādeti; yā āpattiyo na jānāti tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe jānitvā chādesi tā āpattiyo pacchā jānitvā chādeti; yā āpattiyo pubbe ajānitvā nacchādesi tā āpattiyo pacchā jānitvā nacchādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension. He’s aware of some of them, but not others. He conceals the offenses he’s aware of, but not those he isn’t aware of. He then disrobes. Being reordained and having found out about all of them, he conceals those offenses he was previously aware of, but not those he wasn’t aware of. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đang thực hành biệt trú, trong khoảng thời gian ấy đã phạm nhiều tội Tăng Tàn. Vị ấy biết một số tội, không biết một số tội. Những tội nào vị ấy biết thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy không biết thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi hoàn tục, lại thọ cụ túc, những tội nào trước đây đã biết và đã che giấu thì sau này biết và che giấu; những tội nào trước đây không biết và đã không che giấu thì sau này biết và không che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho về lại từ đầu. Và nên được trao cho biệt trú gộp chung cho các tội đã được che giấu tùy theo mức độ cùng với tội đầu tiên.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccā āpattiyo jānāti, ekaccā āpattiyo na jānāti. Yā āpattiyo jānāti tā āpattiyo chādeti, yā āpattiyo na jānāti tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe jānitvā chādesi tā āpattiyo pacchā jānitvā chādeti; yā āpattiyo pubbe ajānitvā nacchādesi tā āpattiyo pacchā jānitvā chādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension. He’s aware of some of them, but not others. He conceals the offenses he’s aware of, but not those he isn’t aware of. He then disrobes. Being reordained and having found out about all of them, he conceals all of them. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đang thực hành biệt trú, trong khoảng thời gian ấy đã phạm nhiều tội Tăng Tàn. Vị ấy biết một số tội, không biết một số tội. Những tội nào vị ấy biết thì vị ấy che giấu, những tội nào vị ấy không biết thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi hoàn tục, lại thọ cụ túc, những tội nào trước đây đã biết và đã che giấu thì sau này biết và che giấu; những tội nào trước đây không biết và đã không che giấu thì sau này biết và che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho về lại từ đầu. Và nên được trao cho biệt trú gộp chung cho các tội đã được che giấu tùy theo mức độ cùng với tội đầu tiên.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccā āpattiyo sarati, ekaccā āpattiyo nassarati. Yā āpattiyo sarati tā āpattiyo chādeti; yā āpattiyo nassarati tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe saritvā chādesi tā āpattiyo pacchā saritvā nacchādeti; yā āpattiyo pubbe assaritvā nacchādesi tā āpattiyo pacchā saritvā nacchādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
“It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension. He remembers some of them, but not others. He conceals the offenses he remembers, but not those he doesn’t remember. He then disrobes. Being reordained and having remembered all of them, he conceals none of them. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
175. “Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đang thực hành biệt trú, trong khoảng thời gian ấy đã phạm nhiều tội Tăng Tàn. Vị ấy nhớ một số tội, không nhớ một số tội. Những tội nào vị ấy nhớ thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy không nhớ thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi hoàn tục, lại thọ cụ túc, những tội nào trước đây đã nhớ và đã che giấu thì sau này nhớ và không che giấu; những tội nào trước đây không nhớ và đã không che giấu thì sau này nhớ và không che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho về lại từ đầu. Và nên được trao cho biệt trú gộp chung cho các tội đã được che giấu tùy theo mức độ cùng với tội đầu tiên.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccā āpattiyo sarati, ekaccā āpattiyo nassarati. Yā āpattiyo sarati tā āpattiyo chādeti; yā āpattiyo nassarati tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe saritvā chādesi tā āpattiyo pacchā saritvā nacchādeti; yā āpattiyo pubbe assaritvā nacchādesi tā āpattiyo pacchā saritvā chādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension. He remembers some of them, but not others. He conceals the offenses he remembers, but not those he doesn’t remember. He then disrobes. Being reordained and having remembered all of them, he doesn’t conceal those offenses he previously remembered, but conceals those he didn’t remember. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đang thực hành biệt trú, trong khoảng thời gian ấy đã phạm nhiều tội Tăng Tàn. Vị ấy nhớ một số tội, không nhớ một số tội. Những tội nào vị ấy nhớ thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy không nhớ thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi hoàn tục, lại thọ cụ túc, những tội nào trước đây đã nhớ và đã che giấu thì sau này nhớ và không che giấu; những tội nào trước đây không nhớ và đã không che giấu thì sau này nhớ và che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho về lại từ đầu. Và nên được trao cho biệt trú gộp chung cho các tội đã được che giấu tùy theo mức độ cùng với tội đầu tiên.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccā āpattiyo sarati, ekaccā āpattiyo nassarati. Yā āpattiyo sarati tā āpattiyo chādeti; yā āpattiyo nassarati tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe saritvā chādesi tā āpattiyo pacchā saritvā chādeti; yā āpattiyo pubbe assaritvā nacchādesi tā āpattiyo pacchā saritvā nacchādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension. He remembers some of them, but not others. He conceals the offenses he remembers, but not those he doesn’t remember. He then disrobes. Being reordained and having remembered all of them, he conceals those offenses he previously remembered, but not those he didn’t remember. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đang thực hành biệt trú, trong khoảng thời gian ấy đã phạm nhiều tội Tăng Tàn. Vị ấy nhớ một số tội, không nhớ một số tội. Những tội nào vị ấy nhớ thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy không nhớ thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi hoàn tục, lại thọ cụ túc, những tội nào trước đây đã nhớ và đã che giấu thì sau này nhớ và che giấu; những tội nào trước đây không nhớ và đã không che giấu thì sau này nhớ và không che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho về lại từ đầu. Và nên được trao cho biệt trú gộp chung cho các tội đã được che giấu tùy theo mức độ cùng với tội đầu tiên.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccā āpattiyo sarati, ekaccā āpattiyo nassarati. Yā āpattiyo sarati tā āpattiyo chādeti; yā āpattiyo nassarati tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe saritvā chādesi tā āpattiyo pacchā saritvā chādeti; yā āpattiyo pubbe assaritvā nacchādesi tā āpattiyo pacchā saritvā chādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension. He remembers some of them, but not others. He conceals the offenses he remembers, but not those he doesn’t remember. He then disrobes. Being reordained and having remembered all of them, he conceals all of them. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đang thực hành biệt trú, trong khoảng thời gian ấy đã phạm nhiều tội Tăng Tàn. Vị ấy nhớ một số tội, không nhớ một số tội. Những tội nào vị ấy nhớ thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy không nhớ thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi hoàn tục, lại thọ cụ túc, những tội nào trước đây đã nhớ và đã che giấu thì sau này nhớ và che giấu; những tội nào trước đây không nhớ và đã không che giấu thì sau này nhớ và che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho về lại từ đầu. Và nên được trao cho biệt trú gộp chung cho các tội đã được che giấu tùy theo mức độ cùng với tội đầu tiên.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccāsu āpattīsu nibbematiko, ekaccāsu āpattīsu vematiko. Yāsu āpattīsu nibbematiko tā āpattiyo chādeti; yāsu āpattīsu vematiko tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe nibbematiko chādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko nacchādeti; yā āpattiyo pubbe vematiko nacchādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko nacchādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
“It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension. He’s sure of some of them, but unsure of others. He conceals the offenses he’s sure of, but not those he’s unsure of. He then disrobes. Being reordained and having become sure of all of them, he conceals none of them. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
176. “Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu đang thực hành biệt trú, trong khoảng thời gian ấy đã phạm nhiều tội Tăng Tàn. Về một số tội, vị ấy không có sự nghi ngờ; về một số tội, vị ấy có sự nghi ngờ. Những tội nào vị ấy không có sự nghi ngờ thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy có sự nghi ngờ thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi hoàn tục, lại thọ cụ túc, những tội nào trước đây không có sự nghi ngờ và đã che giấu thì sau này không có sự nghi ngờ và không che giấu; những tội nào trước đây có sự nghi ngờ và đã không che giấu thì sau này không có sự nghi ngờ và không che giấu. Vị tỳ khưu ấy nên được cho về lại từ đầu. Và nên được trao cho biệt trú gộp chung cho các tội đã được che giấu tùy theo mức độ cùng với tội đầu tiên.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccāsu āpattīsu nibbematiko, ekaccāsu āpattīsu vematiko. Yāsu āpattīsu nibbematiko tā āpattiyo chādeti; yāsu āpattīsu vematiko tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe nibbematiko chādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko nacchādeti; yā āpattiyo pubbe vematiko nacchādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko chādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension. He’s sure of some of them, but unsure of others. He conceals the offenses he’s sure of, but not those he’s unsure of. He then disrobes. Being reordained and having become sure of all of them, he doesn’t conceal those offenses he was previously sure of, but conceals those he was unsure of. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
“Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị Tỳ khưu đang trong thời gian biệt trú, trong khi ấy đã phạm nhiều tội Saṅghādisesa. Về một số tội, vị ấy không có sự nghi ngờ; về một số tội, vị ấy có sự nghi ngờ. Những tội nào vị ấy không có sự nghi ngờ thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy có sự nghi ngờ thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi đã hoàn tục, rồi thọ Cụ túc lại, những tội nào trước đây vị ấy không có sự nghi ngờ đã che giấu thì những tội ấy về sau vị ấy không có sự nghi ngờ và không che giấu; những tội nào trước đây vị ấy có sự nghi ngờ đã không che giấu thì những tội ấy về sau vị ấy không có sự nghi ngờ và che giấu. Vị Tỳ khưu ấy nên được cho về lại từ đầu. Và nên được trao cho biệt trú hợp nhất về các tội đã được che giấu tùy theo (số ngày) cùng với tội đầu tiên.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccāsu āpattīsu nibbematiko, ekaccāsu āpattīsu vematiko. Yāsu āpattīsu nibbematiko tā āpattiyo chādeti; yāsu āpattīsu vematiko tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe nibbematiko chādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko chādeti; yā āpattiyo pubbe vematiko nacchādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko nacchādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension. He’s sure of some of them, but unsure of others. He conceals the offenses he’s sure of, but not those he’s unsure of. He then disrobes. Being reordained and having become sure of all of them, he conceals those offenses he was previously sure of, but not those he was unsure of. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
“Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị Tỳ khưu đang trong thời gian biệt trú, trong khi ấy đã phạm nhiều tội Saṅghādisesa. Về một số tội, vị ấy không có sự nghi ngờ; về một số tội, vị ấy có sự nghi ngờ. Những tội nào vị ấy không có sự nghi ngờ thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy có sự nghi ngờ thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi đã hoàn tục, rồi thọ Cụ túc lại, những tội nào trước đây vị ấy không có sự nghi ngờ đã che giấu thì những tội ấy về sau vị ấy không có sự nghi ngờ và che giấu; những tội nào trước đây vị ấy có sự nghi ngờ đã không che giấu thì những tội ấy về sau vị ấy không có sự nghi ngờ và không che giấu. Vị Tỳ khưu ấy nên được cho về lại từ đầu. Và nên được trao cho biệt trú hợp nhất về các tội đã được che giấu tùy theo (số ngày) cùng với tội đầu tiên.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati. Ekaccāsu āpattīsu nibbematiko, ekaccāsu āpattīsu vematiko. Yāsu āpattīsu nibbematiko tā āpattiyo chādeti; yāsu āpattīsu vematiko tā āpattiyo nacchādeti. So vibbhamitvā puna upasampanno yā āpattiyo pubbe nibbematiko chādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko chādeti; yā āpattiyo pubbe vematiko nacchādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko chādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjitvā appaṭicchādetvā sāmaṇero hoti …pe…
It may be that a monk on probation commits a number of offenses entailing suspension. He’s sure of some of them, but unsure of others. He conceals the offenses he’s sure of, but not those he’s unsure of. He then disrobes. Being reordained and having become sure of all of them, he conceals all of them. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.
“It may be that a monk on probation commits a number of unconcealed offenses entailing suspension and then becomes a novice monk …
“Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị Tỳ khưu đang trong thời gian biệt trú, trong khi ấy đã phạm nhiều tội Saṅghādisesa. Về một số tội, vị ấy không có sự nghi ngờ; về một số tội, vị ấy có sự nghi ngờ. Những tội nào vị ấy không có sự nghi ngờ thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy có sự nghi ngờ thì vị ấy không che giấu. Vị ấy sau khi đã hoàn tục, rồi thọ Cụ túc lại, những tội nào trước đây vị ấy không có sự nghi ngờ đã che giấu thì những tội ấy về sau vị ấy không có sự nghi ngờ và che giấu; những tội nào trước đây vị ấy có sự nghi ngờ đã không che giấu thì những tội ấy về sau vị ấy không có sự nghi ngờ và che giấu. Vị Tỳ khưu ấy nên được cho về lại từ đầu. Và nên được trao cho biệt trú hợp nhất về các tội đã được che giấu tùy theo (số ngày) cùng với tội đầu tiên.”
177. “Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị Tỳ khưu đang trong thời gian biệt trú, trong khi ấy sau khi đã phạm nhiều tội Saṅghādisesa và đã không che giấu, vị ấy trở thành vị Sa-di ... cho đến ... vị ấy trở thành người điên ... cho đến ... vị ấy trở thành người loạn trí ... cho đến ... vị ấy là người bị cảm thọ đau đớn hành hạ ... cho đến ... vị ấy có các tội đã được che giấu và cả các tội đã không được che giấu (nên được làm cho đầy đủ giống như đã được làm cho đầy đủ ở dưới) ... cho đến ... vị ấy biết một số tội, không biết một số tội ... cho đến ... vị ấy nhớ một số tội, không nhớ một số tội ... cho đến ... về một số tội, vị ấy không có sự nghi ngờ; về một số tội, vị ấy có sự nghi ngờ. Những tội nào vị ấy không có sự nghi ngờ thì vị ấy che giấu; những tội nào vị ấy có sự nghi ngờ thì vị ấy không che giấu. Vị ấy là người bị cảm thọ đau đớn hành hạ. Vị ấy sau khi không còn bị cảm thọ đau đớn hành hạ nữa, những tội nào trước đây vị ấy không có sự nghi ngờ đã che giấu thì những tội ấy về sau vị ấy không có sự nghi ngờ và không che giấu; những tội nào trước đây vị ấy có sự nghi ngờ đã không che giấu thì những tội ấy về sau vị ấy không có sự nghi ngờ và không che giấu ... cho đến ... những tội nào trước đây vị ấy không có sự nghi ngờ đã che giấu thì những tội ấy về sau vị ấy không có sự nghi ngờ và không che giấu; những tội nào trước đây vị ấy có sự nghi ngờ đã không che giấu thì những tội ấy về sau vị ấy không có sự nghi ngờ và che giấu ... cho đến ... những tội nào trước đây vị ấy không có sự nghi ngờ đã che giấu thì những tội ấy về sau vị ấy không có sự nghi ngờ và che giấu; những tội nào trước đây vị ấy có sự nghi ngờ đã không che giấu thì những tội ấy về sau vị ấy không có sự nghi ngờ và không che giấu ... cho đến ... những tội nào trước đây vị ấy không có sự nghi ngờ đã che giấu thì những tội ấy về sau vị ấy không có sự nghi ngờ và che giấu; những tội nào trước đây vị ấy có sự nghi ngờ đã không che giấu thì những tội ấy về sau vị ấy không có sự nghi ngờ và che giấu. Vị Tỳ khưu ấy nên được cho về lại từ đầu. Và nên được trao cho biệt trú hợp nhất về các tội đã được che giấu tùy theo (số ngày) cùng với tội đầu tiên.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu mānattāraho …pe… mānattaṁ caranto …pe… abbhānāraho antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjitvā appaṭicchādetvā vibbhamati …pe…
(mānattāraho ca mānattacārī ca abbhānāraho ca yathā parivāso vitthārito tathā vitthāretabbo).
“It may be that a monk who deserves the trial period … who’s undertaking the trial period … who deserves rehabilitation commits a number of unconcealed offenses entailing suspension and then disrobes. …
(‘who deserves the trial period’, ‘who’s undertaking the trial period’, and ‘who deserves rehabilitation’ are to be expanded as for ‘on probation’) …
178. “Này các Tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị Tỳ khưu đáng được thi hành mānatta ... cho đến ... đang thi hành mānatta ... cho đến ... đáng được phục vị, trong khi ấy sau khi đã phạm nhiều tội Saṅghādisesa và đã không che giấu, vị ấy hoàn tục ... cho đến ... (Trường hợp đáng được thi hành mānatta, đang thi hành mānatta, và đáng được phục vị nên được làm cho đầy đủ giống như trường hợp biệt trú đã được làm cho đầy đủ).”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu abbhānāraho antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjitvā appaṭicchādetvā sāmaṇero hoti …pe… ummattako hoti …pe… khittacitto hoti …pe… vedanāṭṭo hoti …pe… tassa honti āpattiyo paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi …pe… ekaccā āpattiyo jānāti, ekaccā āpattiyo na jānāti …pe… ekaccā āpattiyo sarati, ekaccā āpattiyo nassarati …pe… ekaccāsu āpattīsu nibbematiko, ekaccāsu āpattīsu vematiko. Yāsu āpattīsu nibbematiko tā āpattiyo chādeti; yāsu āpattīsu vematiko tā āpattiyo nacchādeti. So vedanāṭṭo hoti. So puna avedanāṭṭo hutvā yā āpattiyo pubbe nibbematiko chādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko nacchādeti; yā āpattiyo pubbe vematiko nacchādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko nacchādeti …pe… yā āpattiyo pubbe nibbematiko chādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko nacchādeti; yā āpattiyo pubbe vematiko nacchādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko chādeti …pe… yā āpattiyo pubbe nibbematiko chādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko chādeti; yā āpattiyo pubbe vematiko nacchādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko nacchādeti …pe… yā āpattiyo pubbe nibbematiko chādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko chādeti; yā āpattiyo pubbe vematiko nacchādesi tā āpattiyo pacchā nibbematiko chādeti. So bhikkhu mūlāya paṭikassitabbo. Yathāpaṭicchannānañcassa āpattīnaṁ purimāya āpattiyā samodhānaparivāso dātabbo.
It may be that a monk who deserves rehabilitation commits a number of unconcealed offenses entailing suspension and then becomes a novice monk … goes insane … becomes deranged … is overwhelmed by pain … both concealed and unconcealed … he’s aware of some of them, but not others … he remembers some of them, but not others … he’s sure of some of them, but unsure of others. He conceals the offenses he’s sure of, but not those he’s unsure of. He then becomes overwhelmed by pain. Having recovered and having become sure of all of them, he conceals none of them. … having become sure of all of them, he doesn’t conceal those offenses he was previously sure of, but conceals those he was unsure of. … having become sure of all of them, he conceals those offenses he was previously sure of, but not those he was unsure of. … having become sure of all of them, he conceals all of them. He’s to be sent back to the beginning. He’s then to be given probation according to the length of the concealment of those offenses and simultaneously with the probation for the previous offenses.”
179. Này các Tỳ khưu, ở đây, trong giáo pháp này, vị Tỳ khưu đáng được phục vị, trong khi ấy đã phạm nhiều tội saṅghādisesa, không che giấu rồi trở thành vị sa di... (như trên)... trở thành người điên... (như trên)... trở thành người có tâm tán loạn... (như trên)... trở thành người bị cảm thọ đau đớn hành hạ... (như trên)... Vị ấy có các tội đã được che giấu và các tội không được che giấu... (như trên)... biết một số tội, không biết một số tội... (như trên)... nhớ một số tội, không nhớ một số tội... (như trên)... không có nghi ngờ về một số tội, có nghi ngờ về một số tội. Vị ấy che giấu những tội mà vị ấy không có nghi ngờ; vị ấy không che giấu những tội mà vị ấy có nghi ngờ. Vị ấy là người bị cảm thọ đau đớn hành hạ. Vị ấy sau đó, khi không còn bị cảm thọ đau đớn hành hạ, đối với những tội mà trước đây không nghi ngờ đã che giấu thì sau này không nghi ngờ và không che giấu; đối với những tội mà trước đây có nghi ngờ đã không che giấu thì sau này không nghi ngờ và không che giấu... (như trên)... đối với những tội mà trước đây không nghi ngờ đã che giấu thì sau này không nghi ngờ và không che giấu; đối với những tội mà trước đây có nghi ngờ đã không che giấu thì sau này không nghi ngờ và che giấu... (như trên)... đối với những tội mà trước đây không nghi ngờ đã che giấu thì sau này không nghi ngờ và che giấu; đối với những tội mà trước đây có nghi ngờ đã không che giấu thì sau này không nghi ngờ và không che giấu... (như trên)... đối với những tội mà trước đây không nghi ngờ đã che giấu thì sau này không nghi ngờ và che giấu; đối với những tội mà trước đây có nghi ngờ đã không che giấu thì sau này không nghi ngờ và che giấu. Vị Tỳ khưu ấy nên được cho trở về lại từ đầu. Và nên ban cho vị ấy biệt trú hợp nhất cho các tội đã được che giấu theo số ngày đã che giấu, cùng với tội đầu tiên.
Samūlāyasamodhānaparivāsacatussataṁ niṭṭhitaṁ.
The group of four hundred on simultaneous probation with sending back to the beginning is finished.
Dứt bốn trăm trường hợp biệt trú hợp nhất về lại từ đầu.
7. Parimāṇādivāraaṭṭhaka
7. The group of eight sections on “specified”, etc.
7. Tám trường hợp về số lượng, v.v...
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjitvā parimāṇā appaṭicchādetvā …pe… aparimāṇā appaṭicchādetvā …pe… ekanāmā appaṭicchādetvā …pe… nānānāmā appaṭicchādetvā …pe… sabhāgā appaṭicchādetvā …pe… visabhāgā appaṭicchādetvā …pe… vavatthitā appaṭicchādetvā …pe… sambhinnā appaṭicchādetvā vibbhamati …pe… (yathā heṭṭhā tathā vitthāretabbaṁ).
“It may be that a monk commits a number of offenses entailing suspension, unconcealed and specified … unconcealed and unspecified … unconcealed and having the same name … unconcealed and having different names … unconcealed and of the same kind … unconcealed and of different kinds … unconcealed and of the same sort … unconcealed and of different sorts and then disrobes. … (to be expanded as above) …”
180. Này các Tỳ khưu, ở đây, trong giáo pháp này, vị Tỳ khưu đã phạm nhiều tội saṅghādisesa, không che giấu các tội có số lượng (đếm được)... (như trên)... không che giấu các tội không có số lượng (không đếm được)... (như trên)... không che giấu các tội cùng tên... (như trên)... không che giấu các tội khác tên... (như trên)... không che giấu các tội cùng loại... (như trên)... không che giấu các tội khác loại... (như trên)... không che giấu các tội đã được xác định... (như trên)... không che giấu các tội hỗn hợp rồi hoàn tục... (như trên)... (nên được triển khai như ở dưới).
Parimāṇādivāraaṭṭhakaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of eight sections on “specified”, etc., is finished.
Dứt tám trường hợp về số lượng, v.v...
8. Dvebhikkhuvāraekādasaka
8. The group of eleven sections on two monks
8. Mười một trường hợp về hai vị tỳ khưu.
Dve bhikkhū saṅghādisesaṁ āpannā honti. Te saṅghādisese saṅghādisesadiṭṭhino honti. Eko chādeti, eko nacchādeti. Yo chādeti so dukkaṭaṁ desāpetabbo. Yathāpaṭicchanne cassa parivāsaṁ datvā ubhinnampi mānattaṁ dātabbaṁ.
Dve bhikkhū saṅghādisesaṁ āpannā honti.
Two monks have each committed an offense entailing suspension, and they regard it as such. One conceals his offense, but not the other. The one who conceals it is to confess an offense of wrong conduct. He should be given probation according to the length of that concealment, and both should then be given the trial period.
Two monks have each committed an offense entailing suspension,
181. Hai vị tỳ khưu phạm tội saṅghādisesa. Cả hai có nhận thức đó là tội saṅghādisesa. Một vị che giấu, một vị không che giấu. Vị nào che giấu, vị ấy nên được cho sám hối tội dukkaṭa. Sau khi đã ban biệt trú cho vị ấy về tội đã che giấu, nên ban mānatta cho cả hai.
Hai vị tỳ khưu phạm tội saṅghādisesa. Cả hai có sự nghi ngờ về tội saṅghādisesa. Một vị che giấu, một vị không che giấu. Vị nào che giấu, vị ấy nên được cho sám hối tội dukkaṭa. Sau khi đã ban biệt trú cho vị ấy về tội đã che giấu, nên ban mānatta cho cả hai.
Dve bhikkhū saṅghādisesaṁ āpannā honti. Te saṅghādisese missakadiṭṭhino honti. Eko chādeti, eko nacchādeti. Yo chādeti so dukkaṭaṁ desāpetabbo. Yathāpaṭicchanne cassa parivāsaṁ datvā ubhinnampi mānattaṁ dātabbaṁ.
Two monks have each committed an offense entailing suspension, but they regard it as mixed with other offenses. One conceals his offense, but not the other. The one who conceals it is to confess an offense of wrong conduct. He should be given probation according to the length of that concealment, and both should then be given the trial period.
Hai vị tỳ khưu phạm tội saṅghādisesa. Cả hai có nhận thức đó là tội hỗn hợp. Một vị che giấu, một vị không che giấu. Vị nào che giấu, vị ấy nên được cho sám hối tội dukkaṭa. Sau khi đã ban biệt trú cho vị ấy về tội đã che giấu, nên ban mānatta cho cả hai.
Dve bhikkhū missakaṁ āpannā honti. Te missake saṅghādisesadiṭṭhino honti. Eko chādeti, eko nacchādeti. Yo chādeti so dukkaṭaṁ desāpetabbo. Yathāpaṭicchanne cassa parivāsaṁ datvā ubhinnampi mānattaṁ dātabbaṁ.
Two monks have each committed an offense entailing suspension mixed with other offenses, but they regard them as an offense entailing suspension. One conceals his offenses, but not the other. The one who conceals them is to confess an offense of wrong conduct. He should be given probation according to the length of that concealment, and both should then be given the trial period.
Hai vị tỳ khưu phạm tội hỗn hợp. Cả hai có nhận thức về tội hỗn hợp ấy là tội saṅghādisesa. Một vị che giấu, một vị không che giấu. Vị nào che giấu, vị ấy nên được cho sám hối tội dukkaṭa. Sau khi đã ban biệt trú cho vị ấy về tội đã che giấu, nên ban mānatta cho cả hai.
Dve bhikkhū missakaṁ āpannā honti. Te missake missakadiṭṭhino honti. Eko chādeti, eko nacchādeti. Yo chādeti so dukkaṭaṁ desāpetabbo. Yathāpaṭicchanne cassa parivāsaṁ datvā ubhinnampi mānattaṁ dātabbaṁ.
Two monks have each committed an offense entailing suspension mixed with other offenses, and they regard them as such. One conceals his offenses, but not the other. The one who conceals them is to confess an offense of wrong conduct. He should be given probation according to the length of that concealment, and both should then be given the trial period.
Hai vị tỳ khưu phạm tội hỗn hợp. Cả hai có nhận thức về tội hỗn hợp ấy là tội hỗn hợp. Một vị che giấu, một vị không che giấu. Vị nào che giấu, vị ấy nên được cho sám hối tội dukkaṭa. Sau khi đã ban biệt trú cho vị ấy về tội đã che giấu, nên ban mānatta cho cả hai.
Dve bhikkhū suddhakaṁ āpannā honti. Te suddhake saṅghādisesadiṭṭhino honti. Eko chādeti, eko nacchādeti. Yo chādeti so dukkaṭaṁ desāpetabbo. Ubhopi yathādhammaṁ kārāpetabbā.
Two monks have each committed a light offense, but they regard it as an offense entailing suspension. One conceals his offense, but not the other. The one who conceals it is to confess an offense of wrong conduct. Both are then to be dealt with according to the rule.
Hai vị tỳ khưu phạm tội thuần túy (khinh tội). Cả hai có nhận thức về tội thuần túy ấy là tội saṅghādisesa. Một vị che giấu, một vị không che giấu. Vị nào che giấu, vị ấy nên được cho sám hối tội dukkaṭa. Cả hai nên được xử lý đúng theo Pháp.
Dve bhikkhū suddhakaṁ āpannā honti. Te suddhake suddhakadiṭṭhino honti. Eko chādeti, eko nacchādeti. Yo chādeti so dukkaṭaṁ desāpetabbo. Ubhopi yathādhammaṁ kārāpetabbā.
Two monks have each committed a light offense, and they regard it as such. One conceals his offense, but not the other. The one who conceals it is to confess an offense of wrong conduct. Both are then to be dealt with according to the rule.
Hai vị tỳ khưu phạm tội thuần túy. Cả hai có nhận thức về tội thuần túy ấy là tội thuần túy. Một vị che giấu, một vị không che giấu. Vị nào che giấu, vị ấy nên được cho sám hối tội dukkaṭa. Cả hai nên được xử lý đúng theo Pháp.
Dve bhikkhū saṅghādisesaṁ āpannā honti. Te saṅghādisese saṅghādisesadiṭṭhino honti. Ekassa hoti ārocessāmīti, ekassa hoti na ārocessāmīti. So paṭhamampi yāmaṁ chādeti, dutiyampi yāmaṁ chādeti, tatiyampi yāmaṁ chādeti—uṭṭhite aruṇe channā hoti āpatti. Yo chādeti so dukkaṭaṁ desāpetabbo. Yathāpaṭicchanne cassa parivāsaṁ datvā ubhinnampi mānattaṁ dātabbaṁ.
Two monks have each committed an offense entailing suspension, and they regard it as such. One thinks, “I’ll inform,” while the other thinks, “I won’t inform.” He then conceals it during the first part of the night, during the second part of the night, and during the third part of the night. If he’s still concealing it at dawn, he has committed an offense and is to confess an offense of wrong conduct. He should be given probation according to the length of that concealment, and both should then be given the trial period.
Hai vị tỳ khưu phạm tội saṅghādisesa. Cả hai có nhận thức đó là tội saṅghādisesa. Một vị có ý định rằng: ‘Tôi sẽ trình báo,’ một vị có ý định rằng: ‘Tôi sẽ không trình báo.’ Vị kia che giấu trong canh một, che giấu trong canh hai, và che giấu trong canh ba – khi rạng đông ló dạng, tội đã được che giấu. Vị nào che giấu, vị ấy nên được cho sám hối tội dukkaṭa. Sau khi đã ban biệt trú cho vị ấy về tội đã che giấu, nên ban mānatta cho cả hai.
Dve bhikkhū saṅghādisesaṁ āpannā honti. Te saṅghādisese saṅghādisesadiṭṭhino honti. Te gacchanti ārocessāmāti. Ekassa antarāmagge makkhadhammo uppajjati na ārocessāmīti. So paṭhamampi yāmaṁ chādeti, dutiyampi yāmaṁ chādeti, tatiyampi yāmaṁ chādeti—uṭṭhite aruṇe channā hoti āpatti. Yo chādeti so dukkaṭaṁ desāpetabbo. Yathāpaṭicchanne cassa parivāsaṁ datvā ubhinnampi mānattaṁ dātabbaṁ.
Two monks have each committed an offense entailing suspension, and they regard it as such. They go, thinking, “We’ll inform.” On their way, one of them decides to conceal it, thinking, “I won’t inform.” He then conceals it during the first part of the night, during the second part of the night, and during the third part of the night. If he’s still concealing it at dawn, he has committed an offense and is to confess an offense of wrong conduct. He should be given probation according to the length of that concealment, and both should then be given the trial period.
Hai vị tỳ khưu phạm tội saṅghādisesa. Cả hai có nhận thức đó là tội saṅghādisesa. Cả hai đi với ý định rằng: ‘Chúng ta sẽ trình báo.’ Giữa đường, một vị khởi lên tâm gièm pha rằng: ‘Tôi sẽ không trình báo.’ Vị kia che giấu trong canh một, che giấu trong canh hai, và che giấu trong canh ba – khi rạng đông ló dạng, tội đã được che giấu. Vị nào che giấu, vị ấy nên được cho sám hối tội dukkaṭa. Sau khi đã ban biệt trú cho vị ấy về tội đã che giấu, nên ban mānatta cho cả hai.
Dve bhikkhū saṅghādisesaṁ āpannā honti. Te saṅghādisese saṅghādisesadiṭṭhino honti. Te ummattakā honti. Te pacchā anummattakā hutvā eko chādeti, eko nacchādeti. Yo chādeti so dukkaṭaṁ desāpetabbo. Yathāpaṭicchanne cassa parivāsaṁ datvā ubhinnampi mānattaṁ dātabbaṁ.
Two monks have each committed an offense entailing suspension, and they regard it as such. They then go insane. When they regain their sanity, one conceals his offense, but not the other. The one who conceals it is to confess an offense of wrong conduct. He should be given probation according to the length of that concealment, and both should then be given the trial period.
“Hai vị tỳ khưu đã phạm tội saṅghādisesa. Các vị ấy có tri kiến về tội saṅghādisesa là tội saṅghādisesa. Các vị ấy bị điên cuồng. Về sau, sau khi đã hết điên cuồng, một vị che giấu, một vị không che giấu. Vị nào che giấu, vị ấy nên được cho sám hối tội dukkaṭa. Sau khi đã cho (vị ấy) biệt trú tùy theo (số ngày) đã che giấu, nên ban hành mānatta cho cả hai vị.”
Dve bhikkhū saṅghādisesaṁ āpannā honti. Te pātimokkhe uddissamāne evaṁ vadanti—‘idāneva kho mayaṁ jānāma—ayampi kira dhammo suttāgato suttapariyāpanno anvaddhamāsaṁ uddesaṁ āgacchatī’ti. Te saṅghādisese saṅghādisesadiṭṭhino honti. Eko chādeti, eko nacchādeti. Yo chādeti so dukkaṭaṁ desāpetabbo. Yathāpaṭicchanne cassa parivāsaṁ datvā ubhinnampi mānattaṁ dātabbaṁ.
Two monks have each committed an offense entailing suspension. During the recitation of the Monastic Code, they say, “Just now did we find out that this rule too has come down in the Monastic Code, is included in the Monastic Code, and comes up for recitation every half-month.” They regard it as an offense entailing suspension. One conceals his offense, but not the other. The one who conceals it is to confess an offense of wrong conduct. He should be given probation according to the length of that concealment, and both should then be given the trial period.
“Hai vị tỳ khưu đã phạm tội saṅghādisesa. Khi Pātimokkha đang được tụng đọc, các vị ấy nói như vầy: ‘Quả thật, chính ngay bây giờ chúng tôi mới biết rằng: “Pháp này đây quả đã được truyền trong tạng kinh, đã được bao gồm trong tạng kinh, được tụng đọc mỗi nửa tháng.”’ Các vị ấy có tri kiến về tội saṅghādisesa là tội saṅghādisesa. Một vị che giấu, một vị không che giấu. Vị nào che giấu, vị ấy nên được cho sám hối tội dukkaṭa. Sau khi đã cho (vị ấy) biệt trú tùy theo (số ngày) đã che giấu, nên ban hành mānatta cho cả hai vị.”
Dvebhikkhuvāraekādasakaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of eleven sections on two monks is finished.
Dứt phẩm mười một trường hợp về hai vị tỳ khưu.
9. Mūlāyaavisuddhinavaka
9. The group of nine on unpurified with sending back to the beginning
9. Phẩm chín pháp về sự không trong sạch (nên bị) kéo về lại từ đầu
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇampi aparimāṇampi, ekanāmampi nānānāmampi, sabhāgampi visabhāgampi, vavatthitampi sambhinnampi. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇāyo appaṭicchannāyo. So saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Taṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassati dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ deti; adhammena mānattaṁ deti, adhammena abbheti. So, bhikkhave, bhikkhu avisuddho tāhi āpattīhi.
“It may be, monks, that a monk has committed a number of offenses entailing suspension, both specified and unspecified, both having the same name and having different names, both of the same kind and of different kinds, both of the same sort and of different sorts. He asks the Sangha for simultaneous probation for those offenses, which he gets. While on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, unconcealed and specified. He asks the Sangha to send him back to the beginning for those offenses, which it does. The legal procedure is legitimate, irreversible, and fit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation legitimately, but then gives him the trial period and the rehabilitation illegitimately. He’s not purified of those offenses.
182. “Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: hoặc có định số, hoặc không có định số; hoặc cùng tên, hoặc khác tên; hoặc cùng loại, hoặc khác loại; hoặc đã được xác định, hoặc lẫn lộn. Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú gộp cho các tội ấy. Tăng chúng ban cho vị ấy biệt trú gộp cho các tội ấy. Trong khi đang thực hành biệt trú, vị ấy lại phạm ở giữa chừng nhiều tội saṅghādisesa có định số, không che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu cho các tội phạm ở giữa chừng. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu cho các tội phạm ở giữa chừng bằng hành sự đúng pháp, không thể hủy bỏ, xứng với trường hợp. (Tăng chúng) ban hành biệt trú gộp đúng pháp; ban hành mānatta không đúng pháp, phục vị không đúng pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không trong sạch đối với các tội ấy.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇampi aparimāṇampi, ekanāmampi nānānāmampi, sabhāgampi visabhāgampi, vavatthitampi sambhinnampi. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇāyo paṭicchannāyo. So saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Taṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassati dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ deti; adhammena mānattaṁ deti, adhammena abbheti. So, bhikkhave, bhikkhu avisuddho tāhi āpattīhi.
It may be that a monk has committed a number of offenses entailing suspension, both specified and unspecified, both having the same name and having different names, both of the same kind and of different kinds, both of the same sort and of different sorts. He asks the Sangha for simultaneous probation for those offenses, which he gets. While on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, concealed and specified. He asks the Sangha to send him back to the beginning for those offenses, which it does. The legal procedure is legitimate, irreversible, and fit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation legitimately, but then gives him the trial period and the rehabilitation illegitimately. He’s not purified of those offenses.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: hoặc có định số, hoặc không có định số; hoặc cùng tên, hoặc khác tên; hoặc cùng loại, hoặc khác loại; hoặc đã được xác định, hoặc lẫn lộn. Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú gộp cho các tội ấy. Tăng chúng ban cho vị ấy biệt trú gộp cho các tội ấy. Trong khi đang thực hành biệt trú, vị ấy lại phạm ở giữa chừng nhiều tội saṅghādisesa có định số, đã che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu cho các tội phạm ở giữa chừng. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu cho các tội phạm ở giữa chừng bằng hành sự đúng pháp, không thể hủy bỏ, xứng với trường hợp. (Tăng chúng) ban hành biệt trú gộp đúng pháp; ban hành mānatta không đúng pháp, phục vị không đúng pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không trong sạch đối với các tội ấy.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇampi aparimāṇampi, ekanāmampi nānānāmampi, sabhāgampi visabhāgampi, vavatthitampi sambhinnampi. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇāyo paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Taṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassati dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ deti, adhammena mānattaṁ deti, adhammena abbheti. So, bhikkhave, bhikkhu avisuddho tāhi āpattīhi.
It may be that a monk has committed a number of offenses entailing suspension, both specified and unspecified, both having the same name and having different names, both of the same kind and of different kinds, both of the same sort and of different sorts. He asks the Sangha for simultaneous probation for those offenses, which he gets. While on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, both concealed and unconcealed and specified. He asks the Sangha to send him back to the beginning for those offenses, which it does. The legal procedure is legitimate, irreversible, and fit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation legitimately, but then gives him the trial period and the rehabilitation illegitimately. He’s not purified of those offenses.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: hoặc có định số, hoặc không có định số; hoặc cùng tên, hoặc khác tên; hoặc cùng loại, hoặc khác loại; hoặc đã được xác định, hoặc lẫn lộn. Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú gộp cho các tội ấy. Tăng chúng ban cho vị ấy biệt trú gộp cho các tội ấy. Trong khi đang thực hành biệt trú, vị ấy lại phạm ở giữa chừng nhiều tội saṅghādisesa có định số, có tội đã che giấu và có tội không che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu cho các tội phạm ở giữa chừng. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu cho các tội phạm ở giữa chừng bằng hành sự đúng pháp, không thể hủy bỏ, xứng với trường hợp. (Tăng chúng) ban hành biệt trú gộp đúng pháp, ban hành mānatta không đúng pháp, phục vị không đúng pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không trong sạch đối với các tội ấy.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇampi aparimāṇampi, ekanāmampi nānānāmampi, sabhāgampi visabhāgampi, vavatthitampi sambhinnampi. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati aparimāṇāyo appaṭicchannāyo …pe… aparimāṇāyo paṭicchannāyo …pe… aparimāṇāyo paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi …pe… parimāṇāyopi aparimāṇāyopi appaṭicchannāyo. So saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Taṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassati dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ deti; adhammena mānattaṁ deti, adhammena abbheti. So, bhikkhave, bhikkhu avisuddho tāhi āpattīhi.
“It may be that a monk has committed a number of offenses entailing suspension, both specified and unspecified, both having the same name and having different names, both of the same kind and of different kinds, both of the same sort and of different sorts. He asks the Sangha for simultaneous probation for those offenses, which he gets. While on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, unconcealed and unspecified … concealed and unspecified … both concealed and unconcealed and unspecified … unconcealed and both specified and unspecified. He asks the Sangha to send him back to the beginning for those offenses, which it does. The legal procedure is legitimate, irreversible, and fit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation legitimately, but then gives him the trial period and the rehabilitation illegitimately. He’s not purified of those offenses.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa: hoặc có định số, hoặc không có định số; hoặc cùng tên, hoặc khác tên; hoặc cùng loại, hoặc khác loại; hoặc đã được xác định, hoặc lẫn lộn. Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú gộp cho các tội ấy. Tăng chúng ban cho vị ấy biệt trú gộp cho các tội ấy. Trong khi đang thực hành biệt trú, vị ấy lại phạm ở giữa chừng nhiều tội saṅghādisesa không có định số, không che giấu ...v.v... không có định số, đã che giấu ...v.v... không có định số, có tội đã che giấu và có tội không che giấu ...v.v... có tội có định số và có tội không có định số, không che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu cho các tội phạm ở giữa chừng. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu cho các tội phạm ở giữa chừng bằng hành sự đúng pháp, không thể hủy bỏ, xứng với trường hợp. (Tăng chúng) ban hành biệt trú gộp đúng pháp; ban hành mānatta không đúng pháp, phục vị không đúng pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không trong sạch đối với các tội ấy.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇampi aparimāṇampi, ekanāmampi nānānāmampi, sabhāgampi visabhāgampi, vavatthitampi sambhinnampi. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇāyopi aparimāṇāyopi paṭicchannāyo. So saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Taṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassati dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ deti; adhammena mānattaṁ deti, adhammena abbheti. So, bhikkhave, bhikkhu avisuddho tāhi āpattīhi.
It may be that a monk has committed a number of offenses entailing suspension, both specified and unspecified, both having the same name and having different names, both of the same kind and of different kinds, both of the same sort and of different sorts. He asks the Sangha for simultaneous probation for those offenses, which he gets. While on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, concealed and both specified and unspecified. He asks the Sangha to send him back to the beginning for those offenses, which it does. The legal procedure is legitimate, irreversible, and fit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation legitimately, but then gives him the trial period and the rehabilitation illegitimately. He’s not purified of those offenses.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa hoặc có định số hoặc không có định số, hoặc cùng tên hoặc khác tên, hoặc cùng loại hoặc khác loại, hoặc đã được xác định hoặc lẫn lộn. Vị ấy xin Tăng chúng việc thực hành parivāsa gộp chung cho các tội ấy. Tăng chúng cho vị ấy việc thực hành parivāsa gộp chung cho các tội ấy. Trong khi đang thực hành parivāsa, vị ấy lại phạm ở khoảng giữa nhiều tội saṅghādisesa vừa có định số vừa không có định số đã được che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu đối với các tội ở khoảng giữa. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu đối với các tội ở khoảng giữa bằng hành sự hợp pháp, không thể hủy bỏ, và thích đáng; Tăng chúng cho việc thực hành parivāsa gộp chung một cách hợp pháp; cho mānatta một cách phi pháp; cho phục vị một cách phi pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không trong sạch khỏi các tội ấy.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇampi aparimāṇampi, ekanāmampi nānānāmampi, sabhāgampi visabhāgampi, vavatthitampi sambhinnampi. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇāyopi aparimāṇāyopi paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Taṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassati dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena; dhammena samodhānaparivāsaṁ deti; adhammena mānattaṁ deti; adhammena abbheti. So, bhikkhave, bhikkhu avisuddho tāhi āpattīhi.
It may be that a monk has committed a number of offenses entailing suspension, both specified and unspecified, both having the same name and having different names, both of the same kind and of different kinds, both of the same sort and of different sorts. He asks the Sangha for simultaneous probation for those offenses, which he gets. While on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, both concealed and unconcealed and both specified and unspecified. He asks the Sangha to send him back to the beginning for those offenses, which it does. The legal procedure is legitimate, irreversible, and fit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation legitimately, but then gives him the trial period and the rehabilitation illegitimately. He’s not purified of those offenses.”
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa hoặc có định số hoặc không có định số, hoặc cùng tên hoặc khác tên, hoặc cùng loại hoặc khác loại, hoặc đã được xác định hoặc lẫn lộn. Vị ấy xin Tăng chúng việc thực hành parivāsa gộp chung cho các tội ấy. Tăng chúng cho vị ấy việc thực hành parivāsa gộp chung cho các tội ấy. Trong khi đang thực hành parivāsa, vị ấy lại phạm ở khoảng giữa nhiều tội saṅghādisesa vừa có định số vừa không có định số, vừa đã được che giấu vừa không được che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu đối với các tội ở khoảng giữa. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu đối với các tội ở khoảng giữa bằng hành sự hợp pháp, không thể hủy bỏ, và thích đáng; Tăng chúng cho việc thực hành parivāsa gộp chung một cách hợp pháp; cho mānatta một cách phi pháp; cho phục vị một cách phi pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không trong sạch khỏi các tội ấy.
Mūlāyaavisuddhinavakaṁ niṭṭhitaṁ.
10. Dutiyanavaka
The group of nine on unpurified with sending back to the beginning is finished.
10. The second group of nine
10. Phẩm thứ hai gồm chín trường hợp
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇampi aparimāṇampi …pe… vavatthitampi sambhinnampi. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ deti, so parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇā appaṭicchannāyo. So saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Taṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassati adhammikena kammena kuppena aṭṭhānārahena, adhammena samodhānaparivāsaṁ deti; dhammena mānattaṁ deti, dhammena abbheti. So, bhikkhave, bhikkhu avisuddho tāhi āpattīhi.
“It may be that a monk has committed a number of offenses entailing suspension, both specified and unspecified, both having the same name and having different names, both of the same kind and of different kinds, both of the same sort and of different sorts. He asks the Sangha for simultaneous probation for those offenses, which he gets. While on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, unconcealed and specified. He asks the Sangha to send him back to the beginning for those offenses, which it does. But the legal procedure is illegitimate, reversible, and unfit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation illegitimately, but then gives him the trial period and the rehabilitation legitimately. He’s not purified of those offenses.
183. “Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa hoặc có định số hoặc không có định số ... cho đến ... hoặc đã được xác định hoặc lẫn lộn. Vị ấy xin Tăng chúng việc thực hành parivāsa gộp chung cho các tội ấy. Tăng chúng cho vị ấy việc thực hành parivāsa gộp chung cho các tội ấy. Trong khi đang thực hành parivāsa, vị ấy lại phạm ở khoảng giữa nhiều tội saṅghādisesa có định số, không được che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu đối với các tội ở khoảng giữa. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu đối với các tội ở khoảng giữa bằng hành sự phi pháp, có thể hủy bỏ, và không thích đáng; Tăng chúng cho việc thực hành parivāsa gộp chung một cách phi pháp; cho mānatta một cách hợp pháp; cho phục vị một cách hợp pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không trong sạch khỏi các tội ấy. (1)
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇampi aparimāṇampi …pe… vavatthitampi sambhinnampi. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇā paṭicchannāyo. So saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Taṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassati adhammikena kammena kuppena aṭṭhānārahena, adhammena samodhānaparivāsaṁ deti; dhammena mānattaṁ deti, dhammena abbheti. So, bhikkhave, bhikkhu avisuddho tāhi āpattīhi.
It may be that a monk has committed a number of offenses entailing suspension, both specified and unspecified, both having the same name and having different names, both of the same kind and of different kinds, both of the same sort and of different sorts. He asks the Sangha for simultaneous probation for those offenses, which he gets. While on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, concealed and specified. He asks the Sangha to send him back to the beginning for those offenses, which it does. But the legal procedure is illegitimate, reversible, and unfit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation illegitimately, but then gives him the trial period and the rehabilitation legitimately. He’s not purified of those offenses.
Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa hoặc có định số hoặc không có định số ... cho đến ... hoặc đã được xác định hoặc lẫn lộn. Vị ấy xin Tăng chúng việc thực hành parivāsa gộp chung cho các tội ấy. Tăng chúng cho vị ấy việc thực hành parivāsa gộp chung cho các tội ấy. Trong khi đang thực hành parivāsa, vị ấy lại phạm ở khoảng giữa nhiều tội saṅghādisesa có định số, đã được che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu đối với các tội ở khoảng giữa. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu đối với các tội ở khoảng giữa bằng hành sự phi pháp, có thể hủy bỏ, và không thích đáng; Tăng chúng cho việc thực hành parivāsa gộp chung một cách phi pháp; cho mānatta một cách hợp pháp; cho phục vị một cách hợp pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không trong sạch khỏi các tội ấy. (2)
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇampi aparimāṇampi …pe… vavatthitampi sambhinnampi. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇā paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Taṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassati adhammikena kammena kuppena aṭṭhānārahena, adhammena samodhānaparivāsaṁ deti; dhammena mānattaṁ deti, dhammena abbheti. So bhikkhave, bhikkhu avisuddho tāhi āpattīhi.
It may be that a monk has committed a number of offenses entailing suspension, both specified and unspecified, both having the same name and having different names, both of the same kind and of different kinds, both of the same sort and of different sorts. He asks the Sangha for simultaneous probation for those offenses, which he gets. While on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, both concealed and unconcealed and specified. He asks the Sangha to send him back to the beginning for those offenses, which it does. But the legal procedure is illegitimate, reversible, and unfit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation illegitimately, but then gives him the trial period and the rehabilitation legitimately. He’s not purified of those offenses.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa hoặc có định số hoặc không có định số ... cho đến ... hoặc đã được xác định hoặc lẫn lộn. Vị ấy xin Tăng chúng việc thực hành parivāsa gộp chung cho các tội ấy. Tăng chúng cho vị ấy việc thực hành parivāsa gộp chung cho các tội ấy. Trong khi đang thực hành parivāsa, vị ấy lại phạm ở khoảng giữa nhiều tội saṅghādisesa có định số, vừa đã được che giấu vừa không được che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu đối với các tội ở khoảng giữa. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu đối với các tội ở khoảng giữa bằng hành sự phi pháp, có thể hủy bỏ, và không thích đáng; Tăng chúng cho việc thực hành parivāsa gộp chung một cách phi pháp; cho mānatta một cách hợp pháp; cho phục vị một cách hợp pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không trong sạch khỏi các tội ấy. (3)
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇampi aparimāṇampi, ekanāmampi nānānāmampi, sabhāgampi visabhāgampi, vavatthitampi sambhinnampi. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati aparimāṇā appaṭicchannāyo …pe… aparimāṇā paṭicchannāyo …pe… aparimāṇā paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi …pe… parimāṇāyopi aparimāṇāyopi appaṭicchannāyo. So saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Taṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassati adhammikena kammena kuppena aṭṭhānārahena, adhammena samodhānaparivāsaṁ deti; dhammena mānattaṁ deti, dhammena abbheti. So, bhikkhave, bhikkhu avisuddho tāhi āpattīhi.
“It may be that a monk has committed a number of offenses entailing suspension, both specified and unspecified, both having the same name and having different names, both of the same kind and of different kinds, both of the same sort and of different sorts. He asks the Sangha for simultaneous probation for those offenses, which he gets. While on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, unconcealed and unspecified … concealed and unspecified … both concealed and unconcealed and unspecified … unconcealed and both specified and unspecified. He asks the Sangha to send him back to the beginning for those offenses, which it does. But the legal procedure is illegitimate, reversible, and unfit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation illegitimately, but then gives him the trial period and the rehabilitation legitimately. He’s not purified of those offenses.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa hoặc có định số hoặc không có định số, hoặc cùng tên hoặc khác tên, hoặc cùng loại hoặc khác loại, hoặc đã được xác định hoặc lẫn lộn. Vị ấy xin Tăng chúng việc thực hành parivāsa gộp chung cho các tội ấy. Tăng chúng cho vị ấy việc thực hành parivāsa gộp chung cho các tội ấy. Trong khi đang thực hành parivāsa, vị ấy lại phạm ở khoảng giữa nhiều tội saṅghādisesa không có định số, không được che giấu ... cho đến ... không có định số, đã được che giấu ... cho đến ... không có định số, vừa đã được che giấu vừa không được che giấu ... cho đến ... vừa có định số vừa không có định số, không được che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu đối với các tội ở khoảng giữa. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu đối với các tội ở khoảng giữa bằng hành sự phi pháp, có thể hủy bỏ, và không thích đáng; Tăng chúng cho việc thực hành parivāsa gộp chung một cách phi pháp; cho mānatta một cách hợp pháp; cho phục vị một cách hợp pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không trong sạch khỏi các tội ấy. (4-7)
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇampi aparimāṇampi …pe… vavatthitampi sambhinnampi. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇāyopi aparimāṇāyopi paṭicchannāyo. So saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Taṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassati adhammikena kammena kuppena aṭṭhānārahena, adhammena samodhānaparivāsaṁ deti, dhammena mānattaṁ deti, dhammena abbheti. So, bhikkhave, bhikkhu avisuddho tāhi āpattīhi.
It may be that a monk has committed a number of offenses entailing suspension, both specified and unspecified, both having the same name and having different names, both of the same kind and of different kinds, both of the same sort and of different sorts. He asks the Sangha for simultaneous probation for those offenses, which he gets. While on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, concealed and both specified and unspecified. He asks the Sangha to send him back to the beginning for those offenses, which it does. But the legal procedure is illegitimate, reversible, and unfit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation illegitimately, but then gives him the trial period and the rehabilitation legitimately. He’s not purified of those offenses.
“Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa, có định số và không định số ... cho đến ... đã được xác định và lẫn lộn. Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú hợp nhất cho các tội ấy. Tăng chúng ban cho vị ấy việc biệt trú hợp nhất cho các tội ấy. Trong khi đang sống biệt trú, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa ở khoảng giữa, có định số, không định số, và đã che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu cho các tội ở khoảng giữa. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu cho các tội ở khoảng giữa bằng một yết ma phi pháp, có thể bị hủy bỏ, không hợp với trường hợp; ban cho việc biệt trú hợp nhất một cách phi pháp, ban cho mānatta một cách đúng pháp, và phục vị một cách đúng pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không trong sạch khỏi các tội ấy. (8)”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇampi aparimāṇampi …pe… vavatthitampi sambhinnampi. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇāyopi aparimāṇāyopi paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Taṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassati adhammikena kammena kuppena aṭṭhānārahena, adhammena samodhānaparivāsaṁ deti; dhammena mānattaṁ deti, dhammena abbheti. So, bhikkhave, bhikkhu avisuddho tāhi āpattīhi.
It may be that a monk has committed a number of offenses entailing suspension, both specified and unspecified, both having the same name and having different names, both of the same kind and of different kinds, both of the same sort and of different sorts. He asks the Sangha for simultaneous probation for those offenses, which he gets. While on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, both concealed and unconcealed and both specified and unspecified. He asks the Sangha to send him back to the beginning for those offenses, which it does. But the legal procedure is illegitimate, reversible, and unfit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation illegitimately, but then gives him the trial period and the rehabilitation legitimately. He’s not purified of those offenses.”
“Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa, có định số và không định số ... cho đến ... đã được xác định và lẫn lộn. Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú hợp nhất cho các tội ấy. Tăng chúng ban cho vị ấy việc biệt trú hợp nhất cho các tội ấy. Trong khi đang sống biệt trú, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa ở khoảng giữa, có định số, không định số, đã che giấu, và không che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu cho các tội ở khoảng giữa. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu cho các tội ở khoảng giữa bằng một yết ma phi pháp, có thể bị hủy bỏ, không hợp với trường hợp; ban cho việc biệt trú hợp nhất một cách phi pháp; ban cho mānatta một cách đúng pháp, và phục vị một cách đúng pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy không trong sạch khỏi các tội ấy. (9)”
Dutiyanavakaṁ niṭṭhitaṁ.
The second group of nine is finished.
Phẩm thứ hai đã kết thúc.
11. Tatiyanavaka
11. The third group of nine
11. Phẩm thứ ba
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇampi aparimāṇampi …pe… vavatthitampi sambhinnampi. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇāyo appaṭicchannāyo. So saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Taṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassati adhammikena kammena kuppena aṭṭhānārahena, adhammena samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasāmīti maññamāno antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇāyo appaṭicchannāyo. So tasmiṁ bhūmiyaṁ ṭhito purimāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarati, aparāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarati. Tassa evaṁ hoti—‘ahaṁ kho sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ parimāṇampi aparimāṇampi …pe… vavatthitampi sambhinnampi. Sohaṁ saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ parimāṇāyo appaṭicchannāyo. Sohaṁ saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yāciṁ. Taṁ maṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassi adhammikena kammena kuppena aṭṭhānārahena, adhammena samodhānaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasāmīti maññamāno antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ parimāṇāyo appaṭicchannāyo. Sohaṁ tasmiṁ bhūmiyaṁ ṭhito purimāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarāmi, aparāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarāmi. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ purimāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca aparāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca mūlāyapaṭikassanaṁ yāceyyaṁ dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ; dhammena mānattaṁ, dhammena abbhānan’ti. So saṅghaṁ purimāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, aparāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, mūlāyapaṭikassanaṁ yācati dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ; dhammena mānattaṁ, dhammena abbhānaṁ. Taṁ saṅgho purimāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, aparāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, mūlāya paṭikassati dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ deti; dhammena mānattaṁ deti, dhammena abbheti. So, bhikkhave, bhikkhu visuddho tāhi āpattīhi.
“It may be that a monk has committed a number of offenses entailing suspension, both specified and unspecified, both having the same name and having different names, both of the same kind and of different kinds, both of the same sort and of different sorts. He asks the Sangha for simultaneous probation for those offenses, which he gets. While on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, unconcealed and specified. He asks the Sangha to send him back to the beginning for those offenses, which it does. But the legal procedure is illegitimate, reversible, and unfit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation illegitimately. Thinking that he’s on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, unconcealed and specified. At this point he remembers offenses committed while on probation for the former offenses, and he remembers offenses committed while on probation for the further offenses. He considers all this and thinks, ‘Let me ask the Sangha to send me back to the beginning for all those offenses. The procedure must be legitimate, irreversible, and fit to stand. The simultaneous probation, the trial period, and the rehabilitation must all be legitimate.’ He asks the Sangha to be sent back to the beginning in this way, which it does. The legal procedure is legitimate, irreversible, and fit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation, the trial period, and the rehabilitation legitimately. He’s purified of those offenses.
184. “Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa, có định số và không định số ... cho đến ... đã được xác định và lẫn lộn. Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú hợp nhất cho các tội ấy. Tăng chúng ban cho vị ấy việc biệt trú hợp nhất cho các tội ấy. Trong khi đang sống biệt trú, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa ở khoảng giữa, có định số và không che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu cho các tội ở khoảng giữa. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu cho các tội ở khoảng giữa bằng một yết ma phi pháp, có thể bị hủy bỏ, không hợp với trường hợp; ban cho việc biệt trú hợp nhất một cách phi pháp. Trong khi tưởng rằng ‘Ta đang sống biệt trú,’ vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa ở khoảng giữa, có định số và không che giấu. Khi đang ở trong tình trạng ấy, vị ấy nhớ lại các tội ở khoảng giữa của các tội trước và nhớ lại các tội ở khoảng giữa của các tội sau. Vị ấy suy nghĩ như sau: ‘Ta đã phạm nhiều tội saṅghādisesa, có định số và không định số ... cho đến ... đã được xác định và lẫn lộn. Ta đã xin Tăng chúng biệt trú hợp nhất cho các tội ấy. Tăng chúng đã ban cho ta việc biệt trú hợp nhất cho các tội ấy. Trong khi đang sống biệt trú, ta lại phạm nhiều tội saṅghādisesa ở khoảng giữa, có định số và không che giấu. Ta đã xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu cho các tội ở khoảng giữa. Tăng chúng đã kéo ta về lại từ đầu cho các tội ở khoảng giữa bằng một yết ma phi pháp, có thể bị hủy bỏ, không hợp với trường hợp; đã ban cho việc biệt trú hợp nhất một cách phi pháp. Trong khi tưởng rằng ‘Ta đang sống biệt trú,’ ta lại phạm nhiều tội saṅghādisesa ở khoảng giữa, có định số và không che giấu. Khi đang ở trong tình trạng ấy, ta nhớ lại các tội ở khoảng giữa của các tội trước và nhớ lại các tội ở khoảng giữa của các tội sau. Hay là ta nên xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu cho cả các tội ở khoảng giữa của các tội trước và các tội ở khoảng giữa của các tội sau bằng một yết ma đúng pháp, không thể bị hủy bỏ, hợp với trường hợp; (xin) biệt trú hợp nhất một cách đúng pháp; (xin) mānatta một cách đúng pháp, (xin) sự phục vị.’ Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu cho cả các tội ở khoảng giữa của các tội trước và các tội ở khoảng giữa của các tội sau bằng một yết ma đúng pháp, không thể bị hủy bỏ, hợp với trường hợp; (xin) biệt trú hợp nhất một cách đúng pháp; (xin) mānatta một cách đúng pháp, (xin) sự phục vị. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu cho cả các tội ở khoảng giữa của các tội trước và các tội ở khoảng giữa của các tội sau bằng một yết ma đúng pháp, không thể bị hủy bỏ, hợp với trường hợp; ban cho việc biệt trú hợp nhất một cách đúng pháp; ban cho mānatta một cách đúng pháp, và phục vị một cách đúng pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch khỏi các tội ấy.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇampi aparimāṇampi …pe… vavatthitampi sambhinnampi. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇā paṭicchannāyo. So saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Taṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassati, adhammikena kammena kuppena aṭṭhānārahena, adhammena samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasāmīti maññamāno antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇā paṭicchannāyo. So tasmiṁ bhūmiyaṁ ṭhito purimāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarati, aparāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarati. Tassa evaṁ hoti—‘ahaṁ kho sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ parimāṇampi aparimāṇampi …pe… vavatthitampi sambhinnampi. Sohaṁ saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ parimāṇā paṭicchannāyo. Sohaṁ saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yāciṁ. Taṁ maṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassi, adhammikena kammena kuppena aṭṭhānārahena, adhammena samodhānaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasāmīti maññamāno antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ parimāṇā paṭicchannāyo. Sohaṁ tasmiṁ bhūmiyaṁ ṭhito purimāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarāmi, aparāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarāmi. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ purimāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, aparāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, mūlāyapaṭikassanaṁ yāceyyaṁ dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ, dhammena mānattaṁ, dhammena abbhānan’ti. So saṅghaṁ purimāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, aparāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca mūlāyapaṭikassanaṁ yācati dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ, dhammena mānattaṁ, dhammena abbhānaṁ. Taṁ saṅgho purimāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, aparāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, mūlāya paṭikassati dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ deti, dhammena mānattaṁ deti, dhammena abbheti. So, bhikkhave, bhikkhu visuddho tāhi āpattīhi.
It may be that a monk has committed a number of offenses entailing suspension, both specified and unspecified, both having the same name and having different names, both of the same kind and of different kinds, both of the same sort and of different sorts. He asks the Sangha for simultaneous probation for those offenses, which he gets. While on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, concealed and specified. He asks the Sangha to send him back to the beginning for those offenses, which it does. But the legal procedure is illegitimate, reversible, and unfit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation illegitimately. Thinking that he’s on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, concealed and specified. At this point he remembers offenses committed while on probation for the former offenses, and he remembers offenses committed while on probation for the further offenses. He considers all this and thinks, ‘Let me ask the Sangha to send me back to the beginning for all those offenses. The procedure must be legitimate, irreversible, and fit to stand. The simultaneous probation, the trial period, and the rehabilitation must all be legitimate.’ He asks the Sangha to be sent back to the beginning in this way, which it does. The legal procedure is legitimate, irreversible, and fit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation, the trial period, and the rehabilitation legitimately. He’s purified of those offenses.
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, có vị tỳ khưu phạm nhiều tội tăng tàn, có định hạn và không định hạn, ... cho đến ... đã được xác định và bị lẫn lộn. Vị ấy xin Tăng chúng việc hành biệt trú gộp cho các tội ấy. Tăng chúng ban cho vị ấy việc hành biệt trú gộp cho các tội ấy. Vị ấy, trong khi đang hành biệt trú, lại phạm ở khoảng giữa nhiều tội tăng tàn có định hạn, đã bị che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu do các tội phạm ở khoảng giữa. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu do các tội phạm ở khoảng giữa bằng một hành sự không đúng Pháp, có thể bị hủy bỏ, không hợp lý; và ban hành việc biệt trú gộp một cách phi pháp. Vị ấy, trong khi nghĩ rằng: ‘Ta đang hành biệt trú,’ lại phạm ở khoảng giữa nhiều tội tăng tàn có định hạn, đã bị che giấu. Vị ấy, đang ở trong tình trạng ấy, nhớ lại các tội đã phạm ở khoảng giữa của các tội trước, và nhớ lại các tội đã phạm ở khoảng giữa của các tội sau. Vị ấy suy nghĩ như vầy: – ‘Quả thật, ta đã phạm nhiều tội tăng tàn, có định hạn và không định hạn, ... cho đến ... đã được xác định và bị lẫn lộn. Ta đã xin Tăng chúng việc hành biệt trú gộp cho các tội ấy. Tăng chúng đã ban cho ta việc hành biệt trú gộp cho các tội ấy. Ta, trong khi đang hành biệt trú, lại phạm ở khoảng giữa nhiều tội tăng tàn có định hạn, đã bị che giấu. Ta đã xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu do các tội phạm ở khoảng giữa. Tăng chúng đã kéo ta về lại từ đầu do các tội phạm ở khoảng giữa bằng một hành sự không đúng Pháp, có thể bị hủy bỏ, không hợp lý; và đã ban hành việc biệt trú gộp một cách phi pháp. Ta, trong khi nghĩ rằng: ‘Ta đang hành biệt trú,’ lại phạm ở khoảng giữa nhiều tội tăng tàn có định hạn, đã bị che giấu. Ta, đang ở trong tình trạng ấy, nhớ lại các tội đã phạm ở khoảng giữa của các tội trước, và nhớ lại các tội đã phạm ở khoảng giữa của các tội sau. Chắc chắn ta nên xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu do các tội phạm ở khoảng giữa của các tội trước và do các tội phạm ở khoảng giữa của các tội sau bằng một hành sự đúng Pháp, không thể bị hủy bỏ, hợp lý; và xin việc hành biệt trú gộp đúng Pháp, việc hành mānatta đúng Pháp, việc phục vị đúng Pháp.’ Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu do các tội phạm ở khoảng giữa của các tội trước và do các tội phạm ở khoảng giữa của các tội sau bằng một hành sự đúng Pháp, không thể bị hủy bỏ, hợp lý; và xin việc hành biệt trú gộp đúng Pháp, việc hành mānatta đúng Pháp, việc phục vị đúng Pháp. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu do các tội phạm ở khoảng giữa của các tội trước và do các tội phạm ở khoảng giữa của các tội sau bằng một hành sự đúng Pháp, không thể bị hủy bỏ, hợp lý; ban hành việc biệt trú gộp đúng Pháp, ban hành việc hành mānatta đúng Pháp, và phục vị cho vị ấy đúng Pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch khỏi các tội ấy.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇampi aparimāṇampi …pe… vavatthitampi sambhinnampi. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇā paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Taṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassati adhammikena kammena kuppena aṭṭhānārahena, adhammena samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasāmīti maññamāno antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇā paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So tasmiṁ bhūmiyaṁ ṭhito purimāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarati, aparāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarati. Tassa evaṁ hoti—‘ahaṁ kho sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ parimāṇampi aparimāṇampi …pe… vavatthitampi sambhinnampi. Sohaṁ saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ parimāṇā paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. Sohaṁ saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yāciṁ. Taṁ maṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassi adhammikena kammena kuppena aṭṭhānārahena, adhammena samodhānaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasāmīti maññamāno antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ parimāṇā paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. Sohaṁ tasmiṁ bhūmiyaṁ ṭhito purimāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarāmi, aparāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarāmi. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ purimāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, aparāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, mūlāyapaṭikassanaṁ yāceyyaṁ dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ, dhammena mānattaṁ, dhammena abbhānan’ti. So saṅghaṁ purimāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, aparāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, mūlāyapaṭikassanaṁ yācati dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ, dhammena mānattaṁ, dhammena abbhānaṁ. Taṁ saṅgho purimāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, aparāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, mūlāya paṭikassati dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ deti, dhammena mānattaṁ deti, dhammena abbheti. So, bhikkhave, bhikkhu visuddho tāhi āpattīhi.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇampi aparimāṇampi …pe… vavatthitampi sambhinnampi. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati aparimāṇāyo appaṭicchannāyo …pe… aparimāṇāyo paṭicchannāyo …pe… aparimāṇāyo paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi …pe… parimāṇāyopi aparimāṇāyopi appaṭicchannāyo. So saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yācati.
It may be that a monk has committed a number of offenses entailing suspension, both specified and unspecified, both having the same name and having different names, both of the same kind and of different kinds, both of the same sort and of different sorts. He asks the Sangha for simultaneous probation for those offenses, which he gets. While on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, both concealed and unconcealed and specified. He asks the Sangha to send him back to the beginning for those offenses, which it does. But the legal procedure is illegitimate, reversible, and unfit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation illegitimately. Thinking that he’s on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, both concealed and unconcealed and specified. At this point he remembers offenses committed while on probation for the former offenses, and he remembers offenses committed while on probation for the further offenses. He considers all this and thinks, ‘Let me ask the Sangha to send me back to the beginning for all those offenses. The procedure must be legitimate, irreversible, and fit to stand. The simultaneous probation, the trial period, and the rehabilitation must all be legitimate.’ He asks the Sangha to be sent back to the beginning in this way, which it does. The legal procedure is legitimate, irreversible, and fit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation, the trial period, and the rehabilitation legitimately. He’s purified of those offenses.
“It may be that a monk has committed a number of offenses entailing suspension, both specified and unspecified, both having the same name and having different names, both of the same kind and of different kinds, both of the same sort and of different sorts. He asks the Sangha for simultaneous probation for those offenses, which he gets. While on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, unconcealed and unspecified … concealed and unspecified … both concealed and unconcealed and unspecified … unconcealed and both specified and unspecified. He asks the Sangha to send him back to the beginning for those offenses,
“Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây có vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa, có số lượng, không có số lượng ... cho đến ... đã được xác định, đã bị lẫn lộn. Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú gộp cho các tội ấy. Tăng chúng ban cho vị ấy biệt trú gộp cho các tội ấy. Trong khi đang sống biệt trú, vị ấy lại phạm nhiều tội saṅghādisesa ở khoảng giữa, có số lượng, không có số lượng, đã che giấu, không che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu cho các tội ở khoảng giữa. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu cho các tội ở khoảng giữa bằng hành sự phi pháp, có thể bị hủy bỏ, không hợp lý, và ban cho biệt trú gộp một cách phi pháp. Vị ấy, trong khi nghĩ rằng ‘ta đang sống biệt trú,’ lại phạm nhiều tội saṅghādisesa ở khoảng giữa, có số lượng, không có số lượng, đã che giấu, không che giấu. Vị ấy, đang ở trong tình trạng ấy, nhớ lại các tội ở khoảng giữa của các tội trước, nhớ lại các tội ở khoảng giữa của các tội sau. Vị ấy suy nghĩ như vầy: ‘Ta đã phạm nhiều tội saṅghādisesa, có số lượng, không có số lượng ... cho đến ... đã được xác định, đã bị lẫn lộn. Ta đã xin Tăng chúng biệt trú gộp cho các tội ấy. Tăng chúng đã ban cho ta biệt trú gộp cho các tội ấy. Trong khi đang sống biệt trú, ta lại phạm nhiều tội saṅghādisesa ở khoảng giữa, có số lượng, không có số lượng, đã che giấu, không che giấu. Ta đã xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu cho các tội ở khoảng giữa. Tăng chúng đã kéo ta về lại từ đầu cho các tội ở khoảng giữa bằng hành sự phi pháp, có thể bị hủy bỏ, không hợp lý, và đã ban cho biệt trú gộp một cách phi pháp. Ta, trong khi nghĩ rằng ‘ta đang sống biệt trú,’ lại phạm nhiều tội saṅghādisesa ở khoảng giữa, có số lượng, không có số lượng, đã che giấu, không che giấu. Ta, đang ở trong tình trạng ấy, nhớ lại các tội ở khoảng giữa của các tội trước, nhớ lại các tội ở khoảng giữa của các tội sau. Chắc chắn ta nên xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu cho các tội ở khoảng giữa của các tội trước và cho các tội ở khoảng giữa của các tội sau bằng hành sự đúng pháp, không thể bị hủy bỏ, hợp lý; (xin) biệt trú gộp đúng pháp, (xin) ma-na-đỏa đúng pháp, (xin) phục vị đúng pháp.’ Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu cho các tội ở khoảng giữa của các tội trước và cho các tội ở khoảng giữa của các tội sau bằng hành sự đúng pháp, không thể bị hủy bỏ, hợp lý; (xin) biệt trú gộp đúng pháp, (xin) ma-na-đỏa đúng pháp, (xin) phục vị đúng pháp. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu cho các tội ở khoảng giữa của các tội trước và cho các tội ở khoảng giữa của các tội sau bằng hành sự đúng pháp, không thể bị hủy bỏ, hợp lý; ban cho biệt trú gộp đúng pháp, ban cho ma-na-đỏa đúng pháp, phục vị đúng pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch khỏi các tội ấy.”
“Này các tỳ khưu, lại nữa ở đây, vị tỳ khưu phạm nhiều tội saṅghādisesa, có tội xác định được số ngày, có tội không xác định được số ngày ... cho đến ... có tội đã được phân định, có tội bị lẫn lộn. Vị ấy xin Tăng chúng cho phép thực hành parivāsa gộp chung cho các tội ấy. Tăng chúng đã cho phép vị ấy thực hành parivāsa gộp chung cho các tội ấy. Trong khi đang thực hành parivāsa, vị ấy lại phạm ở khoảng giữa nhiều tội saṅghādisesa không xác định được số ngày và không che giấu ... cho đến ... không xác định được số ngày và đã che giấu ... cho đến ... không xác định được số ngày, có tội đã che giấu và có tội không che giấu ... cho đến ... có tội xác định được số ngày và có tội không xác định được số ngày, và không che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng cho phép quay về lại từ đầu đối với các tội phạm ở khoảng giữa. Tăng chúng đã cho vị ấy quay về lại từ đầu đối với các tội phạm ở khoảng giữa bằng một yết ma phi pháp, có thể bị hủy bỏ, không hợp với trường hợp; đã cho phép thực hành parivāsa gộp chung một cách phi pháp. Vị ấy, trong khi nghĩ rằng: ‘Ta đang thực hành parivāsa,’ ... cho đến ... Tăng chúng đã cho vị ấy quay về lại từ đầu đối với các tội phạm ở khoảng giữa của các tội trước và các tội phạm ở khoảng giữa của các tội sau, bằng một yết ma đúng pháp, không thể bị hủy bỏ, hợp với trường hợp; đã cho phép thực hành parivāsa gộp chung đúng pháp, đã cho phép thực hành mānatta đúng pháp, đã giải tội đúng pháp. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy được trong sạch đối với các tội ấy.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇampi aparimāṇampi …pe… vavatthitampi sambhinnampi. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇāyopi aparimāṇāyopi paṭicchannāyo. So saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Taṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassati adhammikena kammena kuppena aṭṭhānārahena, adhammena samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasāmīti maññamāno antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇāyopi aparimāṇāyopi paṭicchannāyo. So tasmiṁ bhūmiyaṁ ṭhito purimāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarati, aparāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarati. Tassa evaṁ hoti—‘ahaṁ kho sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ parimāṇampi aparimāṇampi …pe… vavatthitampi sambhinnampi. Sohaṁ saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ parimāṇāyopi aparimāṇāyopi paṭicchannāyo. Sohaṁ saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yāciṁ. Taṁ maṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassi adhammikena kammena kuppena aṭṭhānārahena, adhammena samodhānaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasāmīti maññamāno antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ parimāṇāyopi aparimāṇāyopi paṭicchannāyo. Sohaṁ tasmiṁ bhūmiyaṁ ṭhito purimāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarāmi, aparāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarāmi. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ purimāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, aparāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, mūlāyapaṭikassanaṁ yāceyyaṁ dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ, dhammena mānattaṁ, dhammena abbhānan’ti. So saṅghaṁ purimāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, aparāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, mūlāyapaṭikassanaṁ yācati dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ, dhammena mānattaṁ, dhammena abbhānaṁ. Taṁ saṅgho purimāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, aparāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, mūlāya paṭikassati dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ deti, dhammena mānattaṁ deti, dhammena abbheti. So, bhikkhave, bhikkhu visuddho tāhi āpattīhi.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇampi aparimāṇampi …pe… vavatthitampi sambhinnampi. So saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yācati. Tassa saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇāyopi aparimāṇāyopi paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yācati. Taṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassati adhammikena kammena kuppena aṭṭhānārahena, adhammena samodhānaparivāsaṁ deti. So parivasāmīti maññamāno antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjati parimāṇāyopi aparimāṇāyopi paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. So tasmiṁ bhūmiyaṁ ṭhito purimāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarati, aparāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarati. Tassa evaṁ hoti—‘ahaṁ kho sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ parimāṇampi aparimāṇampi …pe… vavatthitampi sambhinnampi. Sohaṁ saṅghaṁ tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ yāciṁ. Tassa me saṅgho tāsaṁ āpattīnaṁ samodhānaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasanto antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ parimāṇāyopi aparimāṇāyopi paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. Sohaṁ saṅghaṁ antarāāpattīnaṁ mūlāyapaṭikassanaṁ yāciṁ. Taṁ maṁ saṅgho antarāāpattīnaṁ mūlāya paṭikassi adhammikena kammena kuppena aṭṭhānārahena, adhammena samodhānaparivāsaṁ adāsi. Sohaṁ parivasāmīti maññamāno antarā sambahulā saṅghādisesā āpattiyo āpajjiṁ parimāṇāyopi aparimāṇāyopi paṭicchannāyopi appaṭicchannāyopi. Sohaṁ tasmiṁ bhūmiyaṁ ṭhito purimāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarāmi, aparāāpattīnaṁ antarāāpattiyo sarāmi. Yannūnāhaṁ saṅghaṁ purimāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, aparāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, mūlāyapaṭikassanaṁ yāceyyaṁ dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ, dhammena mānattaṁ, dhammena abbhānan’ti. So saṅghaṁ purimāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, aparāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, mūlāya paṭikassanaṁ yācati dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ, dhammena mānattaṁ, dhammena abbhānaṁ. Taṁ saṅgho purimāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, aparāāpattīnaṁ antarāāpattīnañca, mūlāya paṭikassati dhammikena kammena akuppena ṭhānārahena, dhammena samodhānaparivāsaṁ deti, dhammena mānattaṁ deti, dhammena abbheti. So, bhikkhave, bhikkhu visuddho tāhi āpattīhi”.
It may be that a monk has committed a number of offenses entailing suspension, both specified and unspecified, both having the same name and having different names, both of the same kind and of different kinds, both of the same sort and of different sorts. He asks the Sangha for simultaneous probation for those offenses, which he gets. While on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, concealed and both specified and unspecified. He asks the Sangha to send him back to the beginning for those offenses, which it does. But the legal procedure is illegitimate, reversible, and unfit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation illegitimately. Thinking that he’s on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, concealed and both specified and unspecified. At this point he remembers offenses committed while on probation for the former offenses, and he remembers offenses committed while on probation for the further offenses. He considers all this and thinks, ‘Let me ask the Sangha to send me back to the beginning for all those offenses. The procedure must be legitimate, irreversible, and fit to stand. The simultaneous probation, the trial period, and the rehabilitation must all be legitimate.’ He asks the Sangha to be sent back to the beginning in this way, which it does. The legal procedure is legitimate, irreversible, and fit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation, the trial period, and the rehabilitation legitimately. He’s purified of those offenses.
It may be that a monk has committed a number of offenses entailing suspension, both specified and unspecified, both having the same name and having different names, both of the same kind and of different kinds, both of the same sort and of different sorts. He asks the Sangha for simultaneous probation for those offenses, which he gets. While on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, both concealed and unconcealed and both specified and unspecified. He asks the Sangha to send him back to the beginning for those offenses, which it does. But the legal procedure is illegitimate, reversible, and unfit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation illegitimately. Thinking that he’s on probation, he commits a number of offenses entailing suspension, both concealed and unconcealed and both specified and unspecified. At this point he remembers offenses committed while on probation for the former offenses, and he remembers offenses committed while on probation for the further offenses. He considers all this and thinks, ‘Let me ask the Sangha to send me back to the beginning for all those offenses. The procedure must be legitimate, irreversible, and fit to stand. The simultaneous probation, the trial period, and the rehabilitation must all be legitimate.’ He asks the Sangha to be sent back to the beginning in this way, which it does. The legal procedure is legitimate, irreversible, and fit to stand. The Sangha gives him the simultaneous probation, the trial period, and the rehabilitation legitimately. He’s purified of those offenses.”
“Này các Tỳ khưu, lại nữa, ở đây có vị Tỳ khưu phạm nhiều tội Tăng Tàn, có số lượng và không có số lượng, ... cho đến ... đã được xác định và lẫn lộn. Vị ấy xin Tăng chúng biệt trú gộp cho các tội ấy. Tăng chúng ban cho vị ấy biệt trú gộp cho các tội ấy. Vị ấy trong khi đang sống biệt trú, lại phạm ở giữa chừng nhiều tội Tăng Tàn, có số lượng và không có số lượng, đã được che giấu. Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu đối với các tội ở giữa chừng. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu đối với các tội ở giữa chừng bằng nghiệp sự phi pháp, có thể bị hủy bỏ, không hợp lý; và ban cho biệt trú gộp một cách phi pháp. Vị ấy, trong khi nghĩ rằng ‘ta đang sống biệt trú,’ lại phạm ở giữa chừng nhiều tội Tăng Tàn, có số lượng và không có số lượng, đã được che giấu. Vị ấy, đang ở trong tình trạng ấy, nhớ lại các tội ở giữa chừng của các tội trước, và nhớ lại các tội ở giữa chừng của các tội sau. Vị ấy khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Ta đã phạm nhiều tội Tăng Tàn, có số lượng và không có số lượng, ... cho đến ... đã được xác định và lẫn lộn. Ta đã xin Tăng chúng biệt trú gộp cho các tội ấy. Tăng chúng đã ban cho ta biệt trú gộp cho các tội ấy. Ta trong khi đang sống biệt trú, lại phạm ở giữa chừng nhiều tội Tăng Tàn, có số lượng và không có số lượng, đã được che giấu. Ta đã xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu đối với các tội ở giữa chừng. Tăng chúng đã kéo ta về lại từ đầu đối với các tội ở giữa chừng bằng nghiệp sự phi pháp, có thể bị hủy bỏ, không hợp lý; và đã ban cho biệt trú gộp một cách phi pháp. Ta, trong khi nghĩ rằng ‘ta đang sống biệt trú,’ lại phạm ở giữa chừng nhiều tội Tăng Tàn, có số lượng và không có số lượng, đã được che giấu. Ta, đang ở trong tình trạng ấy, nhớ lại các tội ở giữa chừng của các tội trước, và nhớ lại các tội ở giữa chừng của các tội sau. Hay là ta nên xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu đối với các tội ở giữa chừng của các tội trước và các tội ở giữa chừng của các tội sau, bằng nghiệp sự đúng pháp, không thể bị hủy bỏ, hợp lý; nên xin biệt trú gộp đúng pháp, nên xin mānatta đúng pháp, nên xin phục vị đúng pháp.’ Vị ấy xin Tăng chúng việc kéo về lại từ đầu đối với các tội ở giữa chừng của các tội trước và các tội ở giữa chừng của các tội sau, bằng nghiệp sự đúng pháp, không thể bị hủy bỏ, hợp lý; xin biệt trú gộp đúng pháp, xin mānatta đúng pháp, xin phục vị đúng pháp. Tăng chúng kéo vị ấy về lại từ đầu đối với các tội ở giữa chừng của các tội trước và các tội ở giữa chừng của các tội sau, bằng nghiệp sự đúng pháp, không thể bị hủy bỏ, hợp lý; ban cho biệt trú gộp đúng pháp, ban cho mānatta đúng pháp, và phục vị cho vị ấy đúng pháp. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy được trong sạch khỏi các tội ấy.”
Tatiyanavakaṁ niṭṭhitaṁ.
The third group of nine is finished.
Phẩm thứ ba gồm chín trường hợp đã chấm dứt.
Samuccayakkhandhako tatiyo.
Tassuddānaṁ
The third chapter on legal procedures in relation to suspension is finished.
This is the summary:
Chương Tổng Hợp thứ ba.
Appaṭicchannā ekāha, dvīha tīha catūha ca; Pañcāhapakkhadasannaṁ, āpattimāha mahāmuni.
“Unconcealed, one day, Two days, three days, and four days; Five days, a half-month, for ten, Offense, said the Great Sage.
Bậc Đại Giác đã thuyết về tội không che giấu, (tội che giấu) một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, nửa tháng, và mười (ngày).
Suddhanto ca vibbhamanto, parimāṇamukhaṁ dve bhikkhū; Tattha saññino dve yathā, vematikā tatheva ca.
And purifying, disrobing, Starting with specified, two monks; There both perceive accordingly, And just the same for unsure.
Biệt trú thanh tịnh, vị hoàn tục, (trường hợp) bắt đầu bằng ‘có số lượng,’ hai vị tỳ khưu có nhận thức về tội ấy, cũng thế, hai vị có sự hoài nghi.
Missakadiṭṭhino dve ca, asuddhakekadiṭṭhino; Dve ceva suddhadiṭṭhino.
And both see it as mixed, They see it as not light; And both see it as light.
Hai vị có quan điểm (tội) bị lẫn lộn, hai vị có quan điểm không-thuần-túy trong trường hợp không-thuần-túy, và hai vị có quan điểm thuần-túy.
Tatheva ca eko chādeti, Atha makkhamatena ca; Ummattakadesanañca, Mūlā aṭṭhārasa visuddhato.
And just so one conceals, And then with the thought of concealing; And one who is insane, confession, To the beginning, eighteen as to purity.
Cũng thế, một vị che giấu, rồi (che giấu) với ý đồ miệt thị, người điên và việc sám hối, (kéo về) lại từ đầu, mười tám (trường hợp) về sự trong sạch.
Ācariyānaṁ vibhajjapadānaṁ, Tambapaṇṇidīpapasādakānaṁ; Mahāvihāravāsīnaṁ, Vācanā saddhammaṭṭhitiyāti.
The teachers of analytical statements, Who are the inspiration of Sri Lanka, The residents of the Mahāvihāra Monastery—These were their words for the longevity of the true Teachings.”
Đây là dòng truyền khẩu của các vị Trưởng Lão trú tại Đại Tự Viện (Mahāvihāra), những bậc làm cho đảo Tambapaṇṇi (Tích Lan) được trong sạch tin tưởng, những bậc phân tích các từ ngữ, vì sự tồn tại của Chánh Pháp.
Samuccayakkhandhako niṭṭhito.
The chapter on legal procedures in relation to suspension is finished.
Chương Tổng Hợp đã chấm dứt.