- Theravāda Vinayapiṭaka
- Cūḷavagga
Bản dịch
Kd 12 — Chương parivāsa
12. Pārivāsikakkhandhaka
1. PHẬN SỰ CỦA VỊ HÀNH PARIVĀSA:
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế tôn ngự tại Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu hành parivāsa ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, hành động thích hợp, sự sửa soạn chỗ ngồi, sự sửa soạn chỗ nằm, nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sự tiếp rước y bát, sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu hành parivāsa lại ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, … (như trên) …sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~2Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu hành parivāsa ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, … (như trên) … sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Inda-bh 3~3Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Này các tỳ khưu, tại sao các tỳ khưu hành parivāsa lại ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, hành động thích hợp, sự sửa soạn chỗ ngồi, sự sửa soạn chỗ nằm, nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sự tiếp rước y bát, sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
Inda-bh 4~4—“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa không nên ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, hành động thích hợp, sự sửa soạn chỗ ngồi, sự sửa soạn chỗ nằm, nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sự tiếp rước y bát, sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch; vị nào ưng thuận thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 5~5Này các tỳ khưu, ta cho phép việc đảnh lễ, việc đứng dậy, việc chắp tay, hành động thích hợp, việc sửa soạn chỗ ngồi, việc sửa soạn chỗ nằm, nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, việc tiếp rước y bát, việc kỳ cọ lưng trong khi tắm giữa các tỳ khưu hành parivāsa với nhau được tính theo thâm niên.
Inda-bh 6~6Này các tỳ khưu, ta cho phép năm sự việc là lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, y tắm mưa, sự phân chia (vật cúng dường), bữa thọ trai được tính theo thâm niên đối với các tỳ khưu hành parivāsa.83
Inda-bh 7~7Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự cho các tỳ khưu hành parivāsa, các tỳ khưu hành parivāsa nên thực hành theo như thế. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa nên thực hành phận sự đúng đắn. Trong trường hợp này, các phận sự đúng đắn ấy là:
Inda-bh 8~8Không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên ban cho phép nương nhờ, không nên bảo sa di phục vụ, không nên ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, không nên giảng dạy tỳ khưu ni dầu đã được chỉ định, hội chúng đã cho hình phạt parivāsa với tội nào thì không nên tái phạm tội ấy, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, không nên chỉ trích hành sự, không nên chỉ trích các vị thực hiện hành sự, đối với vị tỳ khưu trong sạch không nên đình chỉ lễ Uposatha, không nên đình chỉ lễ Pavāraṇā, không nên làm công việc khuyên bảo, không nên khởi xướng việc cáo tội, không nên thỉnh ý (để buộc tội), không nên quở trách, không nên nhắc nhở, không nên cấu kết với các tỳ khưu.
Inda-bh 9~9Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa không nên đi phía trước, không nên ngồi phía trước vị tỳ khưu trong sạch. Nên cho vị ấy chỗ ngồi cuối cùng, chỗ nằm cuối cùng, trú xá cuối cùng của hội chúng, và vị ấy nên ưng thuận việc ấy.
Inda-bh 10~10Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa không nên đi đến các gia đình với vị tỳ khưu trong sạch làm vị Sa-môn đi trước hoặc làm Sa-môn theo sau, không nên thọ trì pháp (đầu đà) cư ngụ ở trong rừng, không nên thọ trì pháp (đầu đà) hành khất thực, không vì lý do đó mà cho người đem lại vật thực (nghĩ rằng): ‘Chớ để họ biết về mình.’
Inda-bh 11~11Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa là vị vãng lai nên trình báo (về hình phạt đang thọ đến các tỳ khưu thường trú), nên trình báo đến vị vãng lai, nên trình báo trong lễ Uposatha, nên trình báo trong lễ Pavāraṇā. Nếu bị bệnh, nên cho người đại diện trình báo giùm.
Inda-bh 12~12Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 13~13Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 14~14Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 15~15Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 16~16Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 17~17Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 18~18Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’ Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’ Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’
Inda-bh 19~19Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’ Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’ Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’
Inda-bh 20~20Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’ Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’ Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’
Inda-bh 21~21Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa cùng với vị tỳ khưu trong sạch không nên cư ngụ chung ở chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ chung ở nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ chung ở chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che. Khi thấy vị tỳ khưu trong sạch nên từ chỗ ngồi đứng dậy. Vị tỳ khưu trong sạch nên được mời chỗ ngồi. Không nên ngồi chung một chỗ ngồi với vị tỳ khưu trong sạch, không nên ngồi trên chỗ ngồi cao (khi vị kia) ngồi ở chỗ ngồi thấp, không nên ngồi trên chỗ ngồi (khi vị kia) ngồi ở trên nền đất, không nên đi kinh hành chung một đường kinh hành, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành cao (trong khi vị kia) đi kinh hành ở đường kinh hành thấp, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành (trong khi vị kia) đi kinh hành ở trên mặt đất.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hành parivāsa cùng với vị tỳ khưu hành parivāsa thâm niên hơn … (như trên) … cùng với vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu … (như trên) … cùng với vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta… (như trên) … cùng với vị tỳ khưu thực hành mānatta… (như trên) … cùng với vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội không nên cư ngụ chung ở chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ chung ở nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ chung ở chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che, không nên ngồi chung một chỗ ngồi, không nên ngồi trên chỗ ngồi cao (khi vị kia) ngồi ở chỗ ngồi thấp, không nên ngồi trên chỗ ngồi (khi vị kia) ngồi ở trên nền đất, không nên đi kinh hành chung một đường kinh hành, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành cao (trong khi vị kia) đi kinh hành ở đường kinh hành thấp, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành (trong khi vị kia) đi kinh hành ở trên mặt đất.
Inda-bh 22~22Này các tỳ khưu, nếu (nhóm) có vị thứ tư là vị hành parivāsa mà ban cho hình phạt parivāsa, đưa về lại (hình phạt) ban đầu, ban cho hình phạt mānatta, có vị ấy là vị thứ hai mươi mà giải tội, (như thế) không phải là hành sự và không nên thực hành.”
Dứt chín mươi bốn phận sự của vị hành parivāsa.
Inda-bh 23~23Khi ấy, đại đức Upāli đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Upāli đã nói với đức Thế Tôn rằng:—“Bạch ngài, vị tỳ khưu hành parivāsa có bao nhiêu sự đứt đêm?”—“Này Upāli, vị tỳ khưu hành parivāsa có ba sự đứt đêm: sự cư ngụ chung (với các hạng tỳ khưu đã nêu trong phần phận sự ở trên), sự cư ngụ tách rời (chỉ có một mình), sự không trình báo (cho các tỳ khưu vãng lai, v.v...). Này Upāli, đây là ba sự đứt đêm của vị tỳ khưu hành parivāsa.”
Inda-bh 24~24Vào lúc bấy giờ, có hội chúng tỳ khưu đông đảo tụ hội tại Sāvatthi. Các tỳ khưu hành parivāsa không thể hoàn thành hình phạt parivāsa. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 25~25—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ngưng hình phạt parivāsa. Và này các tỳ khưu, nên ngưng như vầy: Vị tỳ khưu hành parivāsa nên đi đến một vị tỳ khưu, đắp thượng y một bên vai, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy: ‘Tôi ngưng hình phạt parivāsa.’ Hình phạt parivāsa đã được ngưng lại. ‘Tôi ngưng (thực hành) phận sự.’ Hình phạt parivāsa đã được ngưng lại.”
Inda-bh 26~26Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở Sāvatthi đã ra đi nơi này nơi nọ. Các tỳ khưu hành parivāsa có thể hoàn thành hình phạt parivāsa. Các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 27~27—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ trì hình phạt parivāsa. Và này các tỳ khưu, nên thọ trì như vầy: Vị tỳ khưu hành parivāsa nên đi đến một vị tỳ khưu, đắp thượng y một bên vai, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy: ‘Tôi thọ trì hình phạt parivāsa.’ Hình phạt parivāsa đã được thọ trì. ‘Tôi thọ trì phận sự.’ Hình phạt parivāsa đã được thọ trì.”
Dứt phận sự của vị hành parivāsa.
2. PHẬN SỰ CỦA VỊ XỨNG ĐÁNG VIỆC ĐƯA VỀ LẠI (HÌNH PHẠT) BAN ĐẦU:
Inda-bh 1~28Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, hành động thích hợp, sự sửa soạn chỗ ngồi, sự sửa soạn chỗ nằm, nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sự tiếp rước y bát, sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu lại ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, … (như trên) … sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~29Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, … (như trên) … sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Inda-bh 3~30Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: “… (như trên) … Này các tỳ khưu, tại sao các tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu lại ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, … (như trên) … sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.” Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
Inda-bh 4~31—“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu không nên ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, hành động thích hợp, sự sửa soạn chỗ ngồi, sự sửa soạn chỗ nằm, nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sự tiếp rước y bát, sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch; vị nào ưng thuận thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 5~32Này các tỳ khưu, ta cho phép việc đảnh lễ, việc đứng dậy, … (như trên) … việc kỳ cọ lưng trong khi tắm giữa các tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu với nhau được tính theo thâm niên.
Inda-bh 6~33Này các tỳ khưu, ta cho phép năm sự việc là lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, y tắm mưa, sự phân chia (vật cúng dường), bữa thọ trai được tính theo thâm niên đối với các tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu.
Inda-bh 7~34Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự cho các tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu, các tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu nên thực hành theo như thế. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu nên thực hành phận sự đúng đắn. Trong trường hợp này, các phận sự đúng đắn ấy là:
Inda-bh 8~35Không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên ban cho phép nương nhờ, không nên bảo sa di phục vụ, không nên ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, không nên giảng dạy tỳ khưu ni dầu đã được chỉ định, vị xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu đã được hội chúng thực hiện với tội nào thì không nên tái phạm tội ấy, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, không nên chỉ trích hành sự, không nên chỉ trích các vị thực hiện hành sự, đối với vị tỳ khưu trong sạch không nên đình chỉ lễ Uposatha, không nên đình chỉ lễ Pavāraṇā, không nên làm công việc khuyên bảo, không nên khởi xướng việc cáo tội, không nên thỉnh ý (để buộc tội), không nên quở trách, không nên nhắc nhở, không nên cấu kết với các tỳ khưu.
Inda-bh 9~36Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu không nên đi phía trước, không nên ngồi phía trước vị tỳ khưu trong sạch. Nên cho vị ấy chỗ ngồi cuối cùng, chỗ nằm cuối cùng, trú xá cuối cùng của hội chúng, và vị ấy nên ưng thuận việc ấy.
Inda-bh 10~37Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu không nên đi đến các gia đình với vị tỳ khưu trong sạch làm vị Sa-môn đi trước hoặc làm Sa-môn theo sau, không nên thọ trì pháp (đầu đà) cư ngụ ở trong rừng, không nên thọ trì pháp (đầu đà) hành khất thực, không vì lý do đó mà cho người đem lại vật thực (nghĩ rằng): ‘Chớ để họ biết về mình.’
Inda-bh 11~38Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 12~39Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu từ nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú không có tỳ khưu … (như trên) … không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu … (như trên) … không nên đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 13~40Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú không có tỳ khưu … (như trên) … không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu … (như trên) … không nên đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 14~41Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. … (như trên) … không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … không nên đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 15~42Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu từ nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. … (như trên) … không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu ―nt― không nên đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 16~43Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. … (như trên) … không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … không nên đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 17~44Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu từ chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’ … (như trên) … nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) …
Inda-bh 18~45Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu từ nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’ … (như trên) … nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu ―nt― chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) …
Inda-bh 19~46Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’ … (như trên) … nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’
Inda-bh 20~47Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu cùng với vị tỳ khưu trong sạch không nên cư ngụ chung ở chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ chung ở nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ ở chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che. Khi thấy vị tỳ khưu trong sạch nên từ chỗ ngồi đứng dậy. Vị tỳ khưu trong sạch nên được mời chỗ ngồi. Không nên ngồi chung một chỗ ngồi với vị tỳ khưu trong sạch, không nên ngồi trên chỗ ngồi cao (khi vị kia) ngồi ở chỗ ngồi thấp, không nên ngồi trên chỗ ngồi (khi vị kia) ngồi ở trên nền đất, không nên đi kinh hành chung một đường kinh hành, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành cao (trong khi vị kia) đi kinh hành ở đường kinh hành thấp, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành (trong khi vị kia) đi kinh hành ở trên mặt đất. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu cùng với vị tỳ khưu hành parivāsa … (như trên) … cùng với vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu thâm niên hơn … (như trên) … cùng với vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta … (như trên) … cùng với vị tỳ khưu thực hành mānatta … (như trên) … cùng với vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội không nên cư ngụ chung ở chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ chung ở nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ ở chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che, không nên ngồi chung một chỗ ngồi, không nên ngồi trên chỗ ngồi cao (khi vị kia) ngồi ở chỗ ngồi thấp, không nên ngồi trên chỗ ngồi (khi vị kia) ngồi ở trên nền đất, không nên đi kinh hành chung một đường kinh hành, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành cao (trong khi vị kia) đi kinh hành ở đường kinh hành thấp, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành (trong khi vị kia) đi kinh hành ở trên mặt đất.
Inda-bh 21~48Này các tỳ khưu, nếu (nhóm) có vị thứ tư là vị xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu mà ban cho hình phạt parivāsa, đưa về lại (hình phạt) ban đầu, ban cho hình phạt mānatta, có vị ấy là vị thứ hai mươi mà giải tội, (như thế) không phải là hành sự và không nên thực hành.”
Dứt phận sự của vị xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu.
3. PHẬN SỰ CỦA VỊ XỨNG ĐÁNG HÌNH PHẠT MĀNATTA:
Inda-bh 1~49Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, hành động thích hợp, sự sửa soạn chỗ ngồi, sự sửa soạn chỗ nằm, nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sự tiếp rước y bát, sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta lại ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, … (như trên) … sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~50Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, … (như trên) … sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Inda-bh 3~51Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … “Này các tỳ khưu, tại sao các tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta lại ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, … (như trên) … sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
Inda-bh 4~52—“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta không nên ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, … (như trên) … sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch; vị nào ưng thuận thì phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép việc đảnh lễ, việc đứng dậy, … (như trên) … việc kỳ cọ lưng trong khi tắm giữa các tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta với nhau được tính theo thâm niên.
Inda-bh 5~53Này các tỳ khưu, ta cho phép năm sự việc là lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, y tắm mưa, sự phân chia (vật cúng dường), bữa thọ trai được tính theo thâm niên đối với các tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta.
Inda-bh 6~54Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự cho các tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta, các tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta nên thực hành theo như thế. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta nên thực hành phận sự đúng đắn. Trong trường hợp này, các phận sự đúng đắn ấy là:
Inda-bh 7~55Không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên ban cho phép nương nhờ, không nên bảo sa di phục vụ, … (như trên) … không nên cấu kết với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta không nên đi phía trước, không nên ngồi phía trước vị tỳ khưu trong sạch. Nên cho vị ấy chỗ ngồi cuối cùng, chỗ nằm cuối cùng, trú xá cuối cùng của hội chúng, và vị ấy nên ưng thuận việc ấy.
Inda-bh 8~56Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta không nên đi đến các gia đình với vị tỳ khưu trong sạch làm vị Sa-môn đi trước hoặc làm Sa-môn theo sau, không nên thọ trì pháp (đầu đà) cư ngụ ở trong rừng, không nên thọ trì pháp (đầu đà) hành khất thực, không vì lý do đó mà cho người đem lại vật thực (nghĩ rằng): ‘Chớ để họ biết về mình.’
Inda-bh 9~57Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 10~58Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta từ nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú không có tỳ khưu ―nt― (không nên) đi đến nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu … (như trên) … (không nên) đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 11~59Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú không có tỳ khưu … (như trên) … (không nên) đi đến nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu … (như trên) … (không nên) đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 12~60Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. … (như trên) … (không nên) đi đến nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … (không nên) đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 13~61Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta từ nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … (không nên) đi đến nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … (không nên) đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 14~62Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … (không nên) đi đến nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … (không nên) đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 15~63Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta từ chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’ … (như trên) … nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’
Inda-bh 16~64Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta từ nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’
Inda-bh 17~65Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’
Inda-bh 18~66Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta cùng với vị tỳ khưu trong sạch không nên cư ngụ chung ở chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ chung ở nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ ở chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che. Khi thấy vị tỳ khưu trong sạch nên từ chỗ ngồi đứng dậy. Vị tỳ khưu trong sạch nên được mời chỗ ngồi. Không nên ngồi chung một chỗ ngồi với vị tỳ khưu trong sạch, không nên ngồi trên chỗ ngồi cao (khi vị kia) ngồi ở chỗ ngồi thấp, không nên ngồi trên chỗ ngồi (khi vị kia) ngồi ở trên nền đất, không nên đi kinh hành chung một đường kinh hành, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành cao (trong khi vị kia) đi kinh hành ở đường kinh hành thấp, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành (trong khi vị kia) đi kinh hành ở trên mặt đất.
Inda-bh 19~67Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta cùng với vị tỳ khưu hành parivāsa … (như trên) … cùng với vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu … (như trên) … cùng với vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta thâm niên hơn … (như trên) … cùng với vị tỳ khưu thực hành mānatta … (như trên) … cùng với vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội không nên cư ngụ chung ở chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ chung ở nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ ở chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che, không nên ngồi chung một chỗ ngồi, không nên ngồi trên chỗ ngồi cao (trong khi vị kia) ngồi ở chỗ ngồi thấp, không nên ngồi trên chỗ ngồi (khi vị kia) ngồi ở trên nền đất, không nên đi kinh hành chung một đường kinh hành, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành cao (khi vị kia) đi kinh hành ở đường kinh hành thấp, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành (trong khi vị kia) đi kinh hành ở trên mặt đất.
Inda-bh 20~68Này các tỳ khưu, nếu (nhóm) có vị thứ tư là vị xứng đáng hình phạt mānatta mà ban cho hình phạt parivāsa, đưa về lại (hình phạt) ban đầu, ban cho hình phạt mānatta, có vị ấy là vị thứ hai mươi mà giải tội, (như thế) không phải là hành sự và không nên thực hành.”
Dứt phận sự của vị xứng đáng hình phạt mānatta.
4. PHẬN SỰ CỦA VỊ THỰC HÀNH MĀNATTA:
Inda-bh 1~69Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu thực hành mānatta ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, hành động thích hợp, sự sửa soạn chỗ ngồi, sự sửa soạn chỗ nằm, nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sự tiếp rước y bát, sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu thực hành mānatta lại ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, … (như trên) … sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~70Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu thực hành mānatta ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, … (như trên) … sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, tại sao các tỳ khưu thực hành mānatta lại ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, … (như trên) … sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
Inda-bh 3~71—“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thực hành mānatta không nên ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, … (như trên) … sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch; vị nào ưng thuận thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 4~72Này các tỳ khưu, ta cho phép việc đảnh lễ, việc đứng dậy, … (như trên) … việc kỳ cọ lưng trong khi tắm giữa các tỳ khưu thực hành mānatta với nhau được tính theo thâm niên.
Inda-bh 5~73Này các tỳ khưu, ta cho phép năm sự việc là lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, y tắm mưa, sự phân chia (vật cúng dường), bữa thọ trai được tính theo thâm niên đối với các tỳ khưu thực hành mānatta.
Inda-bh 6~74Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự cho các tỳ khưu thực hành mānatta, các tỳ khưu thực hành mānatta nên thực hành theo như thế.
Inda-bh 7~75Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thực hành mānatta nên thực hành phận sự đúng đắn. Trong trường hợp này, các phận sự đúng đắn ấy là: Không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên ban cho phép nương nhờ, không nên bảo sa di phục vụ, không nên ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, không nên giảng dạy tỳ khưu ni dầu đã được chỉ định, hội chúng đã cho hình phạt mānatta với tội nào thì không nên tái phạm tội ấy, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, không nên chỉ trích hành sự, không nên chỉ trích các vị thực hiện hành sự, đối với vị tỳ khưu trong sạch không nên đình chỉ lễ Uposatha, không nên đình chỉ lễ Pavāraṇā, không nên làm công việc khuyên bảo, không nên khởi xướng việc cáo tội, không nên thỉnh ý (để buộc tội), không nên quở trách, không nên nhắc nhở, không nên cấu kết với các tỳ khưu.
Inda-bh 8~76Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thực hành mānatta không nên đi phía trước, không nên ngồi phía trước vị tỳ khưu trong sạch. Nên cho vị ấy chỗ ngồi cuối cùng, chỗ nằm cuối cùng, trú xá cuối cùng của hội chúng, và vị ấy nên ưng thuận việc ấy.
Inda-bh 9~77Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thực hành mānatta không nên đi đến các gia đình với vị tỳ khưu trong sạch làm vị Sa-môn đi trước hoặc làm Sa-môn theo sau, không nên thọ trì pháp (đầu đà) cư ngụ ở trong rừng, không nên thọ trì pháp (đầu đà) hành khất thực, không vì lý do đó mà cho người đem lại vật thực (nghĩ rằng): ‘Chớ để họ biết về mình.’
Inda-bh 10~78Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thực hành mānatta là vị vãng lai nên trình báo (về hình phạt đang thọ đến các tỳ khưu thường trú), nên trình báo đến vị vãng lai, nên trình báo trong lễ Uposatha, nên trình báo trong lễ Pavāraṇā, nên trình báo mỗi ngày. Nếu bị bệnh, nên cho người đại diện trình báo giùm.
Inda-bh 11~79Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thực hành mānatta từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thực hành mānatta từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thực hành mānatta từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 12~80Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thực hành mānatta từ nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú không có tỳ khưu … (như trên) … (không nên) đi đến nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu … (như trên) … (không nên) đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 13~81Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thực hành mānatta từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú không có tỳ khưu trừ phi (cùng đi) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm. … (như trên) … (không nên) đi đến nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu … (như trên) … (không nên) đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 14~82Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thực hành mānatta từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm. … (như trên) … (không nên) đi đến nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … (không nên) đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 15~83Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thực hành mānatta từ nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm. … (như trên) … (không nên) đi đến nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … (không nên) đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 16~84Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thực hành mānatta từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm. … (như trên) … (không nên) đi đến nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … (không nên) đi đến chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là không đồng cộng trú, trừ phi (cùng đi) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.
Inda-bh 17~85Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thực hành mānatta từ chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’
Inda-bh 18~86Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thực hành mānatta từ nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’
Inda-bh 19~87Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thực hành mānatta từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’
Inda-bh 20~88Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thực hành mānatta cùng với vị tỳ khưu trong sạch không nên cư ngụ chung ở chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ chung ở nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ ở chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che. Khi thấy vị tỳ khưu trong sạch nên từ chỗ ngồi đứng dậy. Vị tỳ khưu trong sạch nên được mời chỗ ngồi. Không nên ngồi chung một chỗ ngồi với vị tỳ khưu trong sạch, không nên ngồi trên chỗ ngồi cao (khi vị kia) ngồi ở chỗ ngồi thấp, không nên ngồi trên chỗ ngồi (khi vị kia) ngồi ở trên nền đất, không nên đi kinh hành chung một đường kinh hành (với vị tỳ khưu trong sạch), không nên đi kinh hành ở đường kinh hành cao (trong khi vị kia) đi kinh hành ở đường kinh hành thấp, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành (trong khi vị kia) đi kinh hành ở trên mặt đất.
Inda-bh 21~89Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu thực hành mānatta cùng với vị tỳ khưu hành parivāsa … (như trên) … cùng với vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu … (như trên) … cùng với vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta … (như trên) … cùng với vị tỳ khưu thực hành mānatta thâm niên hơn … (như trên) … cùng với vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội không nên cư ngụ chung ở chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ chung ở nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ ở chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che, không nên ngồi chung một chỗ ngồi, không nên ngồi trên chỗ ngồi cao (khi vị kia) ngồi ở chỗ ngồi thấp, không nên ngồi trên chỗ ngồi (khi vị kia) ngồi ở trên nền đất, không nên đi kinh hành chung một đường kinh hành, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành cao (trong khi vị kia) đi kinh hành ở đường kinh hành thấp, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành (trong khi vị kia) đi kinh hành ở trên mặt đất.
Inda-bh 22~90Này các tỳ khưu, nếu (nhóm) có vị thứ tư là vị thực hành mānatta mà ban cho hình phạt parivāsa, đưa về lại (hình phạt) ban đầu, ban cho hình phạt mānatta, nếu có vị ấy là vị thứ hai mươi mà giải tội, (như thế) không phải là hành sự và không nên thực hành.”
Inda-bh 23~91Khi ấy, đại đức Upāli đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Upāli đã nói với đức Thế Tôn rằng:—“Bạch ngài, vị tỳ khưu thực hành mānatta có bao nhiêu sự đứt đêm?”—“Này Upāli, vị tỳ khưu thực hành mānatta có bốn sự đứt đêm: sự cư ngụ chung (với các hạng tỳ khưu đã nêu trong phần phận sự ở trên), sự cư ngụ riêng rẽ (chỉ có một mình), sự không trình báo (cho các tỳ khưu vãng lai, v.v...), sự thực hành ở nhóm thiếu (nhân sự). Này Upāli, đây là bốn sự đứt đêm của vị tỳ khưu thực hành mānatta.”
Inda-bh 24~92Vào lúc bấy giờ, có hội chúng tỳ khưu đông đảo đã tụ hội tại Sāvatthi. Các tỳ khưu thực hành mānatta không thể hoàn thành hình phạt mānatta. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 25~93—“Này các tỳ khưu, ta cho phép ngưng hình phạt mānatta. Và này các tỳ khưu, nên ngưng như vầy: Vị tỳ khưu thực hành mānatta nên đi đến một vị tỳ khưu, đắp thượng y một bên vai, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy: ‘Tôi ngưng hình phạt mānatta.’ Hình phạt mānatta đã được ngưng lại. ‘Tôi ngưng (thực hành) phận sự.’ Hình phạt mānatta đã được ngưng lại.”
Inda-bh 26~94Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở Sāvatthi đã ra đi nơi này nơi nọ. Các tỳ khưu thực hành mānatta có thể hoàn thành hình phạt mānatta. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, ta cho phép thọ trì hình phạt mānatta. Và này các tỳ khưu, nên thọ trì như vầy: Vị tỳ khưu thực hành mānatta nên đi đến một vị tỳ khưu, đắp thượng y một bên vai, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy: ‘Tôi thọ trì hình phạt mānatta.’ Hình phạt mānatta đã được thọ trì. ‘Tôi thọ trì phận sự.’ Hình phạt mānatta đã được thọ trì.”
Dứt phận sự của vị thực hành mānatta.
5. PHẬN SỰ CỦA VỊ XỨNG ĐÁNG SỰ GIẢI TỘI:
Inda-bh 1~95Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, hành động thích hợp, sự sửa soạn chỗ ngồi, sự sửa soạn chỗ nằm, nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sự tiếp rước y bát, sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu xứng đáng sự giải tội lại ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, … (như trên) … sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch?”
Inda-bh 2~96Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu xứng đáng sự giải tội ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, … (như trên) … sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, tại sao các tỳ khưu xứng đáng sự giải tội lại ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, … (như trên) … sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
Inda-bh 3~97—“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội không nên ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, … (như trên) … sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của các tỳ khưu trong sạch; vị nào ưng thuận thì phạm tội dukkaṭa.
Inda-bh 4~98Này các tỳ khưu, ta cho phép việc đảnh lễ, việc đứng dậy, … (như trên) … việc kỳ cọ lưng trong khi tắm giữa các tỳ khưu xứng đáng sự giải tội với nhau được tính theo thâm niên.
Inda-bh 5~99Này các tỳ khưu, ta cho phép năm sự việc là lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, y tắm mưa, sự phân chia (vật cúng dường), bữa thọ trai được tính theo thâm niên đối với các tỳ khưu xứng đáng sự giải tội.
Inda-bh 6~100Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định phận sự cho các tỳ khưu xứng đáng sự giải tội, các tỳ khưu xứng đáng sự giải tội nên thực hành theo như thế.
Inda-bh 7~101Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội nên thực hành phận sự đúng đắn. Trong trường hợp này, các phận sự đúng đắn ấy là: Không nên ban phép tu lên bậc trên, … (như trên) … không nên cấu kết với các tỳ khưu. [Phận sự của vị xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu như thế nào thì nên giải thích chi tiết (về phận sự) của ba vị là: vị xứng đáng hình phạt mānatta, vị thực hành mānatta, vị xứng đáng sự giải tội một cách tương tợ.]
Inda-bh 8~102Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội không nên đi phía trước, không nên ngồi phía trước vị tỳ khưu trong sạch. Nên cho vị ấy chỗ ngồi cuối cùng, chỗ nằm cuối cùng, trú xá cuối cùng của hội chúng, và vị ấy nên ưng thuận việc ấy.
Inda-bh 9~103Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội không nên đi đến các gia đình với vị tỳ khưu trong sạch làm vị Sa-môn đi trước hoặc làm Sa-môn theo sau, không nên thọ trì pháp (đầu đà) cư ngụ ở trong rừng, không nên thọ trì pháp (đầu đà) hành khất thực, không vì lý do đó mà cho người đem lại vật thực (nghĩ rằng): ‘Chớ để họ biết về mình.’
Inda-bh 10~104Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội từ chỗ trú có tỳ khưu không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú không có tỳ khưu, trừ phi (cùng đi) với vị tỳ khưu trong sạch, trừ phi có nguy hiểm. … (như trên) … [Nên được giải thích chi tiết như phần dưới].
Inda-bh 11~105Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội từ chỗ trú … (như trên) … từ nơi không phải là chỗ trú … (như trên) … từ chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu có thể đi đến chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … (đi đến) nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu … (như trên) … (đi đến) chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú có tỳ khưu nếu các tỳ khưu ở nơi ấy là đồng cộng trú và biết được rằng: ‘Ta có thể đi đến nội trong ngày nay.’
Inda-bh 12~106Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội cùng với vị tỳ khưu trong sạch không nên cư ngụ chung ở chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ chung ở nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ ở chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che. Khi thấy vị tỳ khưu trong sạch nên từ chỗ ngồi đứng dậy. Vị tỳ khưu trong sạch nên được mời chỗ ngồi. Không nên ngồi chung một chỗ ngồi với vị tỳ khưu trong sạch, không nên ngồi trên chỗ ngồi cao (khi vị kia) ngồi ở chỗ ngồi thấp, không nên ngồi trên chỗ ngồi (khi vị kia) ngồi ở trên nền đất. Không nên đi kinh hành chung một đường kinh hành (với vị tỳ khưu trong sạch), không nên đi kinh hành ở đường kinh hành cao (trong khi vị kia) đi kinh hành ở đường kinh hành thấp, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành (trong khi vị kia) đi kinh hành ở trên mặt đất.
Inda-bh 13~107Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội cùng với vị tỳ khưu hành parivāsa ―nt― cùng với vị tỳ khưu xứng đáng việc đưa về lại (hình phạt) ban đầu ―nt― cùng với vị tỳ khưu xứng đáng hình phạt mānatta ―nt― cùng với vị tỳ khưu thực hành mānatta ―nt― cùng với vị tỳ khưu xứng đáng sự giải tội thâm niên hơn không nên cư ngụ chung ở chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ chung ở nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che, không nên cư ngụ ở chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú cùng một mái che, không nên ngồi chung một chỗ ngồi, không nên ngồi trên chỗ ngồi cao (khi vị kia) ngồi ở chỗ ngồi thấp, không nên ngồi trên chỗ ngồi (khi vị kia) ngồi ở trên nền đất, không nên đi kinh hành chung một đường kinh hành, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành cao (trong khi vị kia) đi kinh hành ở đường kinh hành thấp, không nên đi kinh hành ở đường kinh hành (trong khi vị kia) đi kinh hành ở trên mặt đất.
Inda-bh 14~108Này các tỳ khưu, nếu (nhóm) có vị thứ tư là vị xứng đáng sự giải tội mà ban cho hình phạt parivāsa, đưa về lại (hình phạt) ban đầu, ban cho hình phạt mānatta, có vị ấy là vị thứ hai mươi mà giải tội, (như thế) không phải là hành sự và không nên thực hành.”
Dứt phận sự của vị xứng đáng sự giải tội.
Dứt Chương Parivāsa là thứ nhì.
Trong chương này có năm sự việc.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Inda-bh 1~109Các vị hành parivāsa ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, và hành động thích hợp của các tỳ khưu trong sạch.
Inda-bh 2~110Chỗ ngồi, sự sắp xếp chỗ nằm, nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sự tiếp rước y và bình bát, việc kỳ cọ lưng khi tắm, và các vị tốt phàn nàn.
Inda-bh 3~111Vị ưng thuận có tội dukkaṭa, giữa các vị với nhau thì có năm điều được tính theo thâm niên là lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, y tắm, sự phân chia (vật cúng dường), bữa thọ trai.
Inda-bh 4~112Và việc làm phận sự đúng đắn trong trường hợp ấy, khi vị ấy cùng đi với vị tỳ khưu trong sạch, và vật nào là sau cùng, không với vị Sa-môn là vị đi trước hay đi sau.
Inda-bh 5~113Việc ở trong rừng, việc đem lại thức ăn, (trình báo) các vị vãng lai, vào ngày lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, và nhờ vị đại diện, và nơi nào có tỳ khưu thì có thể đi đến.
Inda-bh 6~114Không nên cư ngụ chung ở chỗ cùng một mái che, khi (vị kia) ngồi ở trên nền đất, ở chỗ ngồi thấp, và đi ở đường kinh hành (trong khi vị kia) đi ở trên mặt đất.
Inda-bh 7~115Đối với vị thâm niên, không phải là hành sự, các sự đứt đêm, và vì sự hoàn thành, việc tạm ngưng, việc thọ trì lại, việc liên quan đến hình phạt parivāsa cần được biết đến.
Inda-bh 8~116Về lại (hình phạt) ban đầu, vị xứng đáng hình phạt mānatta, vị thực hành mānatta là tương tợ như thế, và luôn cả vị xứng đáng sự giải tội, cũng theo cách thức của sự phân chia.
Inda-bh 9~117Có ba điều cho các vị hành parivāsa, bốn điều cho các vị thực hành mānatta là không đạt yêu cầu trong các trường hợp đứt đêm, và ở các trường hợp mānatta là việc (trình báo) hàng ngày. Hai hành sự là tương tợ, ba hành sự còn lại là giống như nhau.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Small Division
The chapter on the proper conduct for those who are suspended
2. Chương về biệt trú.
1. Pārivāsikavatta
1. The proper conduct for those on probation
1. Phận sự của người biệt trú.
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena pārivāsikā bhikkhū sādiyanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ, añjalikammaṁ, sāmīcikammaṁ, āsanābhihāraṁ, seyyābhihāraṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ, pādakathalikaṁ, pattacīvarappaṭiggahaṇaṁ, nahāne piṭṭhiparikammaṁ. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma pārivāsikā bhikkhū sādiyissanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ, añjalikammaṁ, sāmīcikammaṁ, āsanābhihāraṁ, seyyābhihāraṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ, pādakathalikaṁ, pattacīvarappaṭiggahaṇaṁ, nahāne piṭṭhiparikamman”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time monks on probation consented to regular monks bowing down to them, standing up for them, raising their joined palms to them, doing acts of respect toward them, offering them a seat, offering them a bed, offering them water for washing their feet and a foot stool, offering them a foot scraper, receiving their bowls and robes, and massaging their backs when bathing. The monks of few desires complained and criticized them, “How can monks on probation consent to these things?” The monks told the Buddha.
75. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, bậc Thế Tôn, đang trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của Anāthapiṇḍika, tại Jetavana. Lại nữa, vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đang trong thời gian biệt trú đã chấp nhận sự đảnh lễ, sự đứng dậy đón chào, sự chắp tay, sự tôn kính, sự dâng chỗ ngồi, sự dâng chỗ nằm, nước rửa chân, ghế rửa chân, đồ lau chân, sự nhận y bát, sự kỳ cọ lưng khi tắm của các tỳ khưu bình thường. Những vị tỳ khưu thiểu dục ...v.v... đã phàn nàn, chỉ trích, và chê bai rằng: 'Tại sao các tỳ khưu đang trong thời gian biệt trú lại có thể chấp nhận sự đảnh lễ, sự đứng dậy đón chào, sự chắp tay, sự tôn kính, sự dâng chỗ ngồi, sự dâng chỗ nằm, nước rửa chân, ghế rửa chân, đồ lau chân, sự nhận y bát, sự kỳ cọ lưng khi tắm của các tỳ khưu bình thường chứ!' Bấy giờ, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc này lên đức Thế Tôn.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—
“saccaṁ kira, bhikkhave, pārivāsikā bhikkhū sādiyanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ, añjalikammaṁ, sāmīcikammaṁ, āsanābhihāraṁ, seyyābhihāraṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ, pādakathalikaṁ, pattacīvarappaṭiggahaṇaṁ, nahāne piṭṭhiparikamman”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ …pe… kathañhi nāma, bhikkhave, pārivāsikā bhikkhū sādiyissanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ, añjalikammaṁ, sāmīcikammaṁ, āsanābhihāraṁ, seyyābhihāraṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ, pādakathalikaṁ, pattacīvarappaṭiggahaṇaṁ, nahāne piṭṭhiparikammaṁ. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, pārivāsikena bhikkhunā sāditabbaṁ
- pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ,
- paccuṭṭhānaṁ,
- añjalikammaṁ,
- sāmīcikammaṁ,
- āsanābhihāro,
- seyyābhihāro,
- pādodakaṁ pādapīṭhaṁ,
- pādakathalikaṁ,
- pattacīvarappaṭiggahaṇaṁ,
- nahāne piṭṭhiparikammaṁ.
Yo sādiyeyya, āpatti dukkaṭassa.
Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks:
“Is it true, monks, that the monks on probation are consenting to these things?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “It’s not suitable … How can monks on probation consent to these things? This will affect people’s confidence …” After rebuking them … he gave a teaching and addressed the monks:
“A monk on probation shouldn’t consent to:
- Regular monks bowing down to him
- Regular monks standing up for him
- Regular monks raising their joined palms to him
- Regular monks doing acts of respect toward him
- Regular monks offering him a seat
- Regular monks offering him a bed
- Regular monks offering him water for washing his feet and a foot stool
- Regular monks offering him a foot scraper
- Regular monks receiving his bowl and robe
- Regular monks massaging his back when he’s bathing.
If he consents to any of these, he commits an offense of wrong conduct.
Khi ấy, Thế Tôn nhân sự việc này, duyên sự này, đã cho tập hợp tăng chúng và hỏi các tỳ-khưu rằng: “Này các tỳ-khưu, có thật chăng việc các tỳ-khưu đang biệt trú lại thọ nhận sự đảnh lễ, sự đứng dậy đón tiếp, sự chắp tay, sự cung kính, sự dâng chỗ ngồi, sự dâng chỗ nằm, nước rửa chân, bục kê chân, đồ chà chân, sự nhận lấy y bát, và việc kỳ cọ lưng khi tắm của các tỳ-khưu bình thường (pakatatta)?” — “Bạch Thế Tôn, thật vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã quở trách rằng: “... thật không thích hợp ... Này các tỳ-khưu, tại sao các tỳ-khưu đang biệt trú lại thọ nhận sự đảnh lễ, sự đứng dậy đón tiếp, sự chắp tay, sự cung kính, sự dâng chỗ ngồi, sự dâng chỗ nằm, nước rửa chân, bục kê chân, đồ chà chân, sự nhận lấy y bát, và việc kỳ cọ lưng khi tắm của các tỳ-khưu bình thường? Này các tỳ-khưu, việc này không đem lại niềm tin cho những người chưa có đức tin, ... sau khi quở trách, ... sau khi thuyết pháp thoại, Ngài đã bảo các tỳ-khưu rằng: “Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu đang biệt trú không được thọ nhận sự đảnh lễ, sự đứng dậy đón tiếp, sự chắp tay, sự cung kính, sự dâng chỗ ngồi, sự dâng chỗ nằm, nước rửa chân, bục kê chân, đồ chà chân, sự nhận lấy y bát, và việc kỳ cọ lưng khi tắm của các tỳ-khưu bình thường. Vị nào thọ nhận, phạm tội Tác ác.”
Anujānāmi, bhikkhave, pārivāsikānaṁ bhikkhūnaṁ mithu yathāvuḍḍhaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ, añjalikammaṁ, sāmīcikammaṁ, āsanābhihāraṁ, seyyābhihāraṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ, pādakathalikaṁ, pattacīvarappaṭiggahaṇaṁ, nahāne piṭṭhiparikammaṁ.
Monks on probation should do the following with one another according to seniority: bow down, stand up, raise their joined palms, do acts of respect, offer a seat, offer a bed, offer water for washing the feet and a foot stool, offer a foot scraper, receive bowl and robe, and massage one another’s backs when bathing.
“Này các tỳ khưu, Ta cho phép các tỳ khưu đang thọ biệt trú được thực hành giữa họ với nhau theo hạ lạp các việc như đảnh lễ, đứng dậy đón tiếp, chắp tay, chào hỏi, dâng ghế ngồi, dâng chỗ nằm, nước rửa chân, ghế để chân, đồ lau chân, nhận lấy y bát, và kỳ cọ sau lưng trong lúc tắm.”
Anujānāmi, bhikkhave, pārivāsikānaṁ bhikkhūnaṁ pañca yathāvuḍḍhaṁ—uposathaṁ, pavāraṇaṁ, vassikasāṭikaṁ, oṇojanaṁ, bhattaṁ.
Tena hi, bhikkhave, pārivāsikānaṁ bhikkhūnaṁ vattaṁ paññapessāmi yathā pārivāsikehi bhikkhūhi vattitabbaṁ.
Monks on probation should do five things with regular monks according to seniority: the observance-day ceremony, the invitation ceremony, distributing rainy-season robes, dedications, and meals.
And now I will lay down the proper conduct for a monk on probation. This is the proper conduct:
“Này các tỳ khưu, Ta cho phép năm điều cho các tỳ khưu đang thọ biệt trú theo hạ lạp: lễ Bố-tát, lễ Tự tứ, y tắm mưa, việc dâng cúng lại vật thực, và các bữa ăn. Do đó, này các tỳ khưu, Ta sẽ chế định phận sự cho các tỳ khưu đang thọ biệt trú, theo đó các tỳ khưu đang thọ biệt trú phải thực hành.”
76. “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang thọ biệt trú phải thực hành đúng đắn. Ở đây, đây là sự thực hành đúng đắn:”
- Na upasampādetabbaṁ,
- na nissayo dātabbo,
- na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo,
- na bhikkhunovādakasammuti sāditabbā,
- sammatenapi bhikkhuniyo na ovaditabbā.
- Yāya āpattiyā saṅghena parivāso dinno hoti sā āpatti na āpajjitabbā, aññā vā tādisikā, tato vā pāpiṭṭhatarā;
- kammaṁ na garahitabbaṁ,
- kammikā na garahitabbā.
- Na pakatattassa bhikkhuno uposatho ṭhapetabbo,
- na pavāraṇā ṭhapetabbā,
- na savacanīyaṁ kātabbaṁ,
- na anuvādo paṭṭhapetabbo,
- na okāso kāretabbo,
- na codetabbo,
- na sāretabbo,
- na bhikkhūhi sampayojetabbaṁ.
- He shouldn’t give the full ordination.
- He shouldn’t give formal support.
- He shouldn’t have a novice monk attend on him.
- He shouldn’t accept being appointed as an instructor of the nuns.
- Even if appointed, he shouldn’t instruct the nuns.
- He shouldn’t commit the same offense as the offense for which the Sangha gave him probation, nor one that is similar or worse.
- He shouldn’t criticize the legal procedure.
- He shouldn’t criticize those who did the procedure.
- He shouldn’t cancel the observance-day ceremony of a regular monk.
- He shouldn’t cancel the invitation of a regular monk.
- He shouldn’t direct a regular monk.
- He shouldn’t give instructions to a regular monk.
- He shouldn’t ask a regular monk for permission to correct him.
- He shouldn’t accuse a regular monk of an offense.
- He shouldn’t remind a regular monk of an offense.
- He shouldn’t associate inappropriately with other monks.
“Không được cho thọ cụ túc, không được cho nương tựa, không được để sa-di phục dịch, không được vui thích sự chỉ định làm người giáo giới tỳ khưu ni, dù đã được chỉ định cũng không được giáo giới các tỳ khưu ni. Không được phạm tội mà vì tội ấy tăng chúng đã cho biệt trú, hoặc tội khác tương tự, hoặc tội xấu xa hơn tội ấy. Không được chê bai phận sự, không được chê bai các vị hành sự. Không được đình chỉ lễ Bố-tát của vị tỳ khưu không có tội, không được đình chỉ lễ Tự tứ, không được thực hiện việc cần phải nói, không được khởi xướng việc chỉ trích, không được yêu cầu cho cơ hội (để chỉ trích), không được khiển trách, không được nhắc nhở, không được giao du với các tỳ khưu (không có tội).”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang thọ biệt trú không được đi phía trước vị tỳ khưu không có tội, không được ngồi phía trước. Chỗ ngồi, chỗ nằm, trú xá nào là cuối cùng của tăng chúng thì chỗ ấy phải được trao cho vị ấy. Và vị ấy phải vui thích với chỗ đó.”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang thọ biệt trú không được đi đến các gia đình với một vị tỳ khưu không có tội đi trước hoặc đi sau. Không được thọ trì hạnh ở rừng, không được thọ trì hạnh khất thực. Và không được cho người mang vật thực đến vì lý do ấy, với ý nghĩ rằng: ‘Mong rằng họ không biết ta.’”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang thọ biệt trú khi là khách đến phải báo cho biết, phải báo cho vị khách mới đến biết, phải báo vào ngày Bố-tát, phải báo vào ngày Tự tứ. Nếu bị bệnh, cũng được báo qua một người đưa tin.”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang thọ biệt trú không được đi từ trú xá có tỳ khưu đến trú xá không có tỳ khưu, ngoại trừ đi cùng với vị tỳ khưu không có tội, ngoại trừ có sự nguy hiểm.”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang thọ biệt trú không được đi từ nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu đến trú xá không có tỳ khưu, ngoại trừ đi cùng với vị tỳ khưu không có tội, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang thọ biệt trú không được đi từ nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu đến nơi không phải trú xá và không có tỳ khưu, ngoại trừ đi cùng với vị tỳ khưu không có tội, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang thọ biệt trú không được đi từ nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu đến trú xá hoặc nơi không phải trú xá và không có tỳ khưu, ngoại trừ đi cùng với vị tỳ khưu không có tội, ngoại trừ có sự nguy hiểm.”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang thọ biệt trú không được đi từ trú xá hoặc nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu đến trú xá không có tỳ khưu, ngoại trừ đi cùng với vị tỳ khưu không có tội, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang thọ biệt trú không được đi từ trú xá hoặc nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu đến nơi không phải trú xá và không có tỳ khưu, ngoại trừ đi cùng với vị tỳ khưu không có tội, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang thọ biệt trú không được đi từ trú xá hoặc nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu đến trú xá hoặc nơi không phải trú xá và không có tỳ khưu, ngoại trừ đi cùng với vị tỳ khưu không có tội, ngoại trừ có sự nguy hiểm.”
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang biệt trú không được đi từ trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu khác biệt về sự hòa hợp, ngoại trừ có vị tỳ khưu không bị phạt đi cùng, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang biệt trú không được đi từ trú xứ có tỳ khưu đến phi trú xứ có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu khác biệt về sự hòa hợp, ngoại trừ có vị tỳ khưu không bị phạt đi cùng, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang biệt trú không được đi từ trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ có tỳ khưu hoặc phi trú xứ, là nơi có các vị tỳ khưu khác biệt về sự hòa hợp, ngoại trừ có vị tỳ khưu không bị phạt đi cùng, ngoại trừ có sự nguy hiểm.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang biệt trú không được đi từ phi trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu khác biệt về sự hòa hợp, ngoại trừ có vị tỳ khưu không bị phạt đi cùng, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang biệt trú không được đi từ phi trú xứ có tỳ khưu đến phi trú xứ có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu khác biệt về sự hòa hợp, ngoại trừ có vị tỳ khưu không bị phạt đi cùng, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang biệt trú không được đi từ phi trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ có tỳ khưu hoặc phi trú xứ, là nơi có các vị tỳ khưu khác biệt về sự hòa hợp, ngoại trừ có vị tỳ khưu không bị phạt đi cùng, ngoại trừ có sự nguy hiểm.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang biệt trú không được đi từ trú xứ có tỳ khưu hoặc từ phi trú xứ đến trú xứ có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu khác biệt về sự hòa hợp, ngoại trừ có vị tỳ khưu không bị phạt đi cùng, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang biệt trú không được đi từ trú xứ có tỳ khưu hoặc từ phi trú xứ đến phi trú xứ có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu khác biệt về sự hòa hợp, ngoại trừ có vị tỳ khưu không bị phạt đi cùng, ngoại trừ có sự nguy hiểm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang biệt trú không được đi từ trú xứ có tỳ khưu hoặc từ phi trú xứ đến trú xứ có tỳ khưu hoặc phi trú xứ, là nơi có các vị tỳ khưu khác biệt về sự hòa hợp, ngoại trừ có vị tỳ khưu không bị phạt đi cùng, ngoại trừ có sự nguy hiểm.
80. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang biệt trú được phép đi từ trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu đồng nhất về sự hòa hợp, nếu vị ấy biết rằng: ‘Tôi có thể đi đến trong ngày hôm nay.’
81. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang biệt trú không được ở cùng với vị tỳ khưu không bị phạt trong trú xứ chung một mái che, không được ở trong phi trú xứ chung một mái che, không được ở trong trú xứ hoặc phi trú xứ chung một mái che. Khi thấy vị tỳ khưu không bị phạt, nên đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Nên mời vị tỳ khưu không bị phạt ngồi vào chỗ ngồi. Không được ngồi chung một chỗ ngồi cùng với vị tỳ khưu không bị phạt, không được ngồi ở chỗ ngồi cao khi vị kia đang ngồi ở chỗ ngồi thấp, không được ngồi trên ghế khi vị kia đang ngồi trên đất; không được kinh hành trên cùng một đường kinh hành, không được kinh hành trên đường kinh hành cao khi vị kia đang kinh hành trên đường kinh hành thấp, không được kinh hành trên đường kinh hành khi vị kia đang kinh hành trên đất.
82. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang biệt trú không được sống trong trú xá cùng một mái che với vị tỳ khưu đang biệt trú lớn tuổi hơn ... (v.v.) ... với vị tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu ... (v.v.) ... với vị tỳ khưu đáng thọ mānatta ... (v.v.) ... với vị tỳ khưu đang thi hành mānatta ... (v.v.) ... với vị tỳ khưu đáng được giải tội; không được sống trong nơi không phải trú xá cùng một mái che; không được sống trong trú xá hay không phải trú xá cùng một mái che; không được ngồi ở cùng một chỗ ngồi; khi (vị kia) đang ngồi ở chỗ ngồi thấp, không được ngồi ở chỗ ngồi cao; khi (vị kia) đang ngồi dưới đất, không được ngồi trên ghế; không được đi kinh hành trên cùng một đường kinh hành; khi (vị kia) đang đi kinh hành trên đường kinh hành thấp, không được đi kinh hành trên đường kinh hành cao; khi (vị kia) đang đi kinh hành dưới đất, không được đi kinh hành trên đường kinh hành (có làm sẵn).
Này các tỳ khưu, nếu Tăng chúng có vị tỳ khưu đang biệt trú là người thứ tư mà trao biệt trú, hoặc kéo về lại từ đầu, hoặc trao mānatta, hoặc Tăng chúng có vị ấy là người thứ hai mươi mà giải tội, thì đó là việc làm không thành tựu và không nên được thực hiện.
Catunnavutipārivāsikavattaṁ niṭṭhitaṁ.
The ninety-four kinds of proper conduct for one on probation are finished.
Further regulations for probation
Dứt phận sự của vị tỳ khưu đáng bị kéo về gốc.
Atha kho āyasmā upāli yena bhagavā tenupasaṅkami. Upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā upāli bhagavantaṁ etadavoca—“kati nu kho, bhante, pārivāsikassa bhikkhuno ratticchedā”ti?
“Tayo kho, upāli, pārivāsikassa bhikkhuno ratticchedā. Sahavāso, vippavāso, anārocanā—ime kho, upāli, tayo pārivāsikassa bhikkhuno ratticchedā”ti.
Tena kho pana samayena sāvatthiyaṁ mahābhikkhusaṅgho sannipatito hoti. Na sakkonti pārivāsikā bhikkhū parivāsaṁ sodhetuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, parivāsaṁ nikkhipituṁ.
Evañca pana, bhikkhave, nikkhipitabbo. Tena pārivāsikena bhikkhunā ekaṁ bhikkhuṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘parivāsaṁ nikkhipāmī’ti. Nikkhitto hoti parivāso. ‘Vattaṁ nikkhipāmī’ti. Nikkhitto hoti parivāso”.
Tena kho pana samayena sāvatthiyā bhikkhū tahaṁ tahaṁ pakkamiṁsu. Sakkonti pārivāsikā bhikkhū parivāsaṁ sodhetuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, parivāsaṁ samādiyituṁ.
Evañca pana, bhikkhave, samādiyitabbo. Tena pārivāsikena bhikkhunā ekaṁ bhikkhuṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘parivāsaṁ samādiyāmī’ti. Samādinno hoti parivāso. ‘Vattaṁ samādiyāmī’ti. Samādinno hoti parivāso”.
Pārivāsikavattaṁ niṭṭhitaṁ.
2. Mūlāyapaṭikassanārahavatta
Soon afterwards Venerable Upāli went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “How many things are there, sir, that stop a monk on probation from counting a particular day toward his probationary period?”
“There are three such things, Upāli: he stays in the same room as a regular monk; he stays apart from other monks; he doesn’t inform other monks of his status.”
On one occasion a large sangha of monks had gathered at Sāvatthī. The monks on probation were unable to fulfill their probationary duties. They told the Buddha.
“I allow you to set aside the probation.
And it should be done like this. The monk on probation should approach a monk, arrange his upper robe over one shoulder, squat on his heels, raise his joined palms, and say, ‘I set aside the probation,’ or ‘I set aside the proper conduct.’”
Soon afterwards the monks at Sāvatthī left for various destinations. The monks on probation were once again able to fulfill their probationary duties. They told the Buddha.
“I allow you to take up the probation.
And it should be done like this. The monk on probation should approach a monk, arrange his upper robe over one shoulder, squat on his heels, raise his joined palms, and say, ‘I take up the probation,’ or ‘I take up the proper conduct.’”
The proper conduct for those on probation is finished.
2. The proper conduct for those deserving to be sent back to the beginning
92. Khi ấy, đại đức Upāli đi đến nơi đức Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, đại đức Upāli đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch ngài, có bao nhiêu trường hợp bị gián đoạn đêm đối với vị tỳ khưu đang thực hành mānatta?’ – ‘Này Upāli, có bốn trường hợp bị gián đoạn đêm đối với vị tỳ khưu đang thực hành mānatta. Việc sống chung, việc sống riêng, việc không thông báo, việc thực hành trong một nhóm không đủ túc số – này Upāli, đây là bốn trường hợp bị gián đoạn đêm đối với vị tỳ khưu đang thực hành mānatta.’
Tena kho pana samayena mūlāyapaṭikassanārahā bhikkhū sādiyanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ, añjalikammaṁ, sāmīcikammaṁ, āsanābhihāraṁ, seyyābhihāraṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ, pādakathalikaṁ, pattacīvarappaṭiggahaṇaṁ, nahāne piṭṭhiparikammaṁ. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma mūlāyapaṭikassanārahā bhikkhū sādiyissanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ …pe… nahāne piṭṭhiparikamman”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—
“saccaṁ kira, bhikkhave, mūlāyapaṭikassanārahā bhikkhū sādiyanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ …pe… nahāne piṭṭhiparikamman”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ …pe… kathañhi nāma, bhikkhave, mūlāyapaṭikassanārahā bhikkhū sādiyissanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ …pe… nahāne piṭṭhiparikammaṁ. Netaṁ bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, mūlāyapaṭikassanārahena bhikkhunā sāditabbaṁ
- pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ,
- paccuṭṭhānaṁ,
- añjalikammaṁ,
- sāmīcikammaṁ,
- āsanābhihāro,
- seyyābhihāro,
- pādodakaṁ pādapīṭhaṁ,
- pādakathalikaṁ,
- pattacīvarappaṭiggahaṇaṁ,
- nahāne piṭṭhiparikammaṁ.
Yo sādiyeyya, āpatti dukkaṭassa.
Anujānāmi, bhikkhave, mūlāyapaṭikassanārahānaṁ bhikkhūnaṁ mithu yathāvuḍḍhaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ …pe… nahāne piṭṭhiparikammaṁ.
At this time monks deserving to be sent back to the beginning consented to regular monks bowing down to them, standing up for them, raising their joined palms to them, doing acts of respect toward them, offering them a seat, offering them a bed, offering them water for washing their feet and a foot stool, offering them a foot scraper, receiving their bowls and robes, and massaging their backs when bathing. The monks of few desires complained and criticized them, “How can monks deserving to be sent back to the beginning consent to these things?” The monks told the Buddha.
Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks:
“Is it true, monks, that monks deserving to be sent back to the beginning are consenting to these things?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “It’s not suitable … How can monks deserving to be sent back to the beginning consent to these things? This will affect people’s confidence …” After rebuking them … he gave a teaching and addressed the monks:
“A monk deserving to be sent back to the beginning shouldn’t consent to:
- Regular monks bowing down to him
- Regular monks standing up for him
- Regular monks raising their joined palms to him
- Regular monks doing acts of respect toward him
- Regular monks offering him a seat
- Regular monks offering him a bed
- Regular monks offering him water for washing his feet and a foot stool
- Regular monks offering him a foot scraper
- Regular monks receiving his bowl and robe
- Regular monks massaging his back when he’s bathing.
If he consents to any of these, he commits an offense of wrong conduct.
Monks deserving to be sent back to the beginning should do the following with one another according to seniority: bow down, stand up, raise their joined palms, do acts of respect, offer a seat, offer a bed, offer water for washing the feet and a foot stool, offer a foot scraper, receive bowl and robe, and massage one another’s backs when bathing.
5. Phận sự của vị đáng được phục vị
Anujānāmi, bhikkhave, mūlāyapaṭikassanārahānaṁ bhikkhūnaṁ pañca yathāvuḍḍhaṁ—uposathaṁ, pavāraṇaṁ, vassikasāṭikaṁ, oṇojanaṁ, bhattaṁ.
Tena hi, bhikkhave, mūlāyapaṭikassanārahānaṁ bhikkhūnaṁ vattaṁ paññapessāmi yathā mūlāyapaṭikassanārahehi bhikkhūhi vattitabbaṁ.
Monks deserving to be sent back to the beginning should do five things with regular monks according to seniority: the observance-day ceremony, the invitation ceremony, distributing rainy-season robes, dedications, and meals.
And now I will lay down the proper conduct for a monk deserving to be sent back to the beginning. This is the proper conduct:
Khi ấy, vì nguyên nhân này, vì sự việc này, đức Thế Tôn đã cho triệu tập chúng tỳ khưu và hỏi các tỳ khưu: 'Này các tỳ khưu, có thật không, các tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu đã chấp nhận sự đảnh lễ, sự đứng dậy chào đón, ... (v.v.) ... sự chà lưng khi tắm của các tỳ khưu bình thường?' 'Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.' Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách: '... không thích hợp ... (v.v.) ... Này các tỳ khưu, làm sao mà các tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu lại có thể chấp nhận sự đảnh lễ, sự đứng dậy chào đón, ... (v.v.) ... sự chà lưng khi tắm của các tỳ khưu bình thường! Này các tỳ khưu, việc này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin ... (v.v.) ...' Sau khi quở trách ... (v.v.) ... thuyết một bài pháp thoại, ngài gọi các tỳ khưu: 'Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu không được chấp nhận sự đảnh lễ, sự đứng dậy chào đón, sự chắp tay, sự tôn kính, sự dâng chỗ ngồi, sự dâng chỗ nằm, nước rửa chân, ghế để chân, đồ chùi chân, sự nhận y bát, sự chà lưng khi tắm của các tỳ khưu bình thường. Vị nào chấp nhận, phạm tội dukkaṭa. Ta cho phép các tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu (thực hành) với nhau theo hạ lạp sự đảnh lễ, sự đứng dậy chào đón, ... (v.v.) ... sự chà lưng khi tắm, này các tỳ khưu. Ta cho phép năm điều cho các tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu theo hạ lạp: lễ uposatha, lễ pavāraṇā, y tắm mưa, việc từ bỏ vật thực, và vật thực, này các tỳ khưu. Do đó, này các tỳ khưu, Ta sẽ chế định phận sự cho các tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu, để các tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu thực hành theo đó.'
87. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu nên hành xử đúng cách. Trong đó, đây là sự hành xử đúng cách:
- Na upasampādetabbaṁ,
- na nissayo dātabbo,
- na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo,
- na bhikkhunovādakasammuti sāditabbā,
- sammatenapi bhikkhuniyo na ovaditabbā.
- Yāya āpattiyā saṅghena mūlāyapaṭikassanāraho kato hoti sā āpatti na āpajjitabbā, aññā vā tādisikā, tato vā pāpiṭṭhatarā;
- kammaṁ na garahitabbaṁ,
- kammikā na garahitabbā.
- Na pakatattassa bhikkhuno uposatho ṭhapetabbo,
- na pavāraṇā ṭhapetabbā,
- na savacanīyaṁ kātabbaṁ,
- na anuvādo paṭṭhapetabbo,
- na okāso kāretabbo,
- na codetabbo,
- na sāretabbo,
- na bhikkhūhi sampayojetabbaṁ.
- He shouldn’t give the full ordination.
- He shouldn’t give formal support.
- He shouldn’t have a novice monk attend on him.
- He shouldn’t accept being appointed as an instructor of the nuns.
- Even if appointed, he shouldn’t instruct the nuns.
- He shouldn’t commit the same offense as the offense for which he deserves to be sent back to the beginning by the Sangha, nor one that is similar or worse.
- He shouldn’t criticize the legal procedure.
- He shouldn’t criticize those who did the procedure.
- He shouldn’t cancel the observance-day ceremony of a regular monk.
- He shouldn’t cancel the invitation of a regular monk.
- He shouldn’t direct a regular monk.
- He shouldn’t give instructions to a regular monk.
- He shouldn’t ask a regular monk for permission to correct him.
- He shouldn’t accuse a regular monk of an offense.
- He shouldn’t remind a regular monk of an offense.
- He shouldn’t associate inappropriately with other monks.
Không nên cho thọ cụ túc, không nên cho nương tựa, không nên cho sa-di hầu hạ, không nên vui thích sự chỉ định làm người giáo giới tỳ khưu ni, dù đã được chỉ định cũng không nên giáo giới các tỳ khưu ni. Không nên phạm tội mà do tội ấy vị ấy đã bị Tăng chúng thực hiện (việc xử phạt) đáng bị kéo về lại từ đầu, hoặc tội khác tương tự, hoặc tội nặng hơn tội ấy; không nên chê bai việc yết-ma, không nên chê bai những vị thực hiện yết-ma. Không nên đình chỉ lễ Bố-tát của vị tỳ khưu pakatatta, không nên đình chỉ lễ Tự tứ, không nên thực hiện việc cần phải nói, không nên khởi xướng việc tranh cãi, không nên tạo cơ hội (cho người khác khiển trách), không nên khiển trách, không nên nhắc nhở, không nên giao du với các tỳ khưu.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu không nên đi ở phía trước vị tỳ khưu pakatatta, không nên ngồi ở phía trước. Chỗ ngồi thấp nhất, chỗ ngủ thấp nhất, trú xá thấp nhất nào của Tăng chúng có, chỗ ấy nên được trao cho vị ấy. Và vị ấy nên vui thích với chỗ ấy.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu không nên đi đến các gia đình với vị tỳ khưu pakatatta làm sa-môn đi trước hoặc làm sa-môn đi sau, không nên thọ trì hạnh ở rừng, không nên thọ trì hạnh khất thực, và do nguyên nhân ấy không nên cho mang vật thực đi khất thực về – (với ý nghĩ rằng) ‘mong rằng họ không biết ta.’
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu không nên đi từ trú xá có tỳ khưu đến trú xá không có tỳ khưu, ngoại trừ đi cùng với vị pakatatta, ngoại trừ có sự nguy hiểm.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu không nên đi từ nơi không phải trú xá có tỳ khưu đến trú xá không có tỳ khưu, ... đến nơi không phải trú xá không có tỳ khưu, ... đến trú xá không có tỳ khưu hoặc nơi không phải trú xá không có tỳ khưu, ngoại trừ đi cùng với vị pakatatta, ngoại trừ có sự nguy hiểm.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu không nên đi từ trú xá có tỳ khưu hoặc từ nơi không phải trú xá có tỳ khưu đến trú xá không có tỳ khưu, ... đến nơi không phải trú xá không có tỳ khưu, ... đến trú xá không có tỳ khưu hoặc nơi không phải trú xá không có tỳ khưu, ngoại trừ đi cùng với vị pakatatta, ngoại trừ có sự nguy hiểm.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu không nên đi từ trú xá có tỳ khưu đến trú xá có tỳ khưu, ... đến nơi không phải trú xá có tỳ khưu, ... đến trú xá có tỳ khưu hoặc nơi không phải trú xá có tỳ khưu, là nơi có các tỳ khưu dị trú, ngoại trừ đi cùng với vị pakatatta, ngoại trừ có sự nguy hiểm.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu không nên đi từ nơi không phải trú xá có tỳ khưu đến trú xá có tỳ khưu, ... đến nơi không phải trú xá có tỳ khưu, ... đến trú xá có tỳ khưu hoặc nơi không phải trú xá có tỳ khưu, là nơi có các tỳ khưu dị trú, ngoại trừ đi cùng với vị pakatatta, ngoại trừ có sự nguy hiểm.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu không nên đi từ trú xá có tỳ khưu hoặc từ nơi không phải trú xá có tỳ khưu đến trú xá có tỳ khưu, ... đến nơi không phải trú xá có tỳ khưu, ... đến trú xá có tỳ khưu hoặc nơi không phải trú xá có tỳ khưu, là nơi có các tỳ khưu dị trú, ngoại trừ đi cùng với vị pakatatta, ngoại trừ có sự nguy hiểm.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu nên đi từ trú xá có tỳ khưu đến trú xá có tỳ khưu, ... đến nơi không phải trú xá có tỳ khưu, ... đến trú xá có tỳ khưu hoặc nơi không phải trú xá có tỳ khưu, là nơi có các tỳ khưu đồng trú, và là nơi mà vị ấy biết rằng: ‘tôi có thể đi đến trong ngày hôm nay.’
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu nên đi từ nơi không phải trú xá có tỳ khưu đến trú xá có tỳ khưu, ... đến nơi không phải trú xá có tỳ khưu, ... đến trú xá có tỳ khưu hoặc nơi không phải trú xá có tỳ khưu, là nơi có các tỳ khưu đồng trú, và là nơi mà vị ấy biết rằng: ‘tôi có thể đi đến trong ngày hôm nay.’
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu nên đi từ trú xá có tỳ khưu hoặc từ nơi không phải trú xá có tỳ khưu đến trú xá có tỳ khưu, ... đến nơi không phải trú xá có tỳ khưu, ... đến trú xá có tỳ khưu hoặc nơi không phải trú xá có tỳ khưu, là nơi có các tỳ khưu đồng trú, và là nơi mà vị ấy biết rằng: ‘tôi có thể đi đến trong ngày hôm nay.’
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị kéo về lại từ đầu không nên ở cùng với vị tỳ khưu pakatatta trong trú xá chung một mái che, không nên ở trong nơi không phải trú xá chung một mái che, không nên ở trong trú xá hoặc nơi không phải trú xá chung một mái che; khi thấy vị tỳ khưu pakatatta, nên đứng dậy khỏi chỗ ngồi, nên mời vị tỳ khưu pakatatta ngồi vào chỗ; không nên ngồi cùng một chỗ ngồi với vị tỳ khưu pakatatta; (khi vị kia) đang ngồi ở chỗ thấp, không nên ngồi ở chỗ cao; (khi vị kia) đang ngồi trên đất, không nên ngồi trên ghế; không nên kinh hành trên cùng một đường kinh hành, (khi vị kia) đang kinh hành trên đường kinh hành thấp, không nên kinh hành trên đường kinh hành cao, (khi vị kia) đang kinh hành trên đất, không nên kinh hành trên đường kinh hành.
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị kéo về gốc không được sống chung trong trú xá có cùng một mái che với vị tỳ khưu đang biệt trú ... với vị tỳ khưu lớn tuổi hơn ... với vị tỳ khưu đáng chịu mānatta ... với vị tỳ khưu đang hành mānatta ... với vị tỳ khưu đáng được phục hồi; không được sống trong phi trú xá có cùng một mái che, không được sống trong trú xá hay phi trú xá có cùng một mái che. Không được ngồi trên cùng một chỗ ngồi. Khi vị kia đang ngồi ở chỗ ngồi thấp, không được ngồi ở chỗ ngồi cao; khi vị kia đang ngồi trên đất, không được ngồi trên ghế. Không được đi kinh hành trên cùng một đường kinh hành. Khi vị kia đang đi kinh hành trên đường kinh hành thấp, không được đi kinh hành trên đường kinh hành cao; khi vị kia đang đi kinh hành trên đất, không được đi kinh hành trên đường kinh hành (được làm sẵn).”
Mūlāyapaṭikassanārahavattaṁ niṭṭhitaṁ.
The proper conduct for those deserving to be sent back to the beginning is finished.
“Này các tỳ khưu, nếu Tăng chúng có vị tỳ khưu đáng bị kéo về gốc là người thứ tư mà ban cho việc biệt trú, hoặc kéo về gốc, hoặc ban cho mānatta; hoặc nếu Tăng chúng có vị ấy là người thứ hai mươi mà phục hồi thì đó là việc làm không hợp lệ và không nên được thực hiện.”
3. Mānattārahavatta
3. The proper conduct for those deserving the trial period
3. Phận sự của vị tỳ khưu đáng chịu mānatta
Tena kho pana samayena mānattārahā bhikkhū sādiyanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ, añjalikammaṁ, sāmīcikammaṁ, āsanābhihāraṁ, seyyābhihāraṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ, pādakathalikaṁ, pattacīvarappaṭiggahaṇaṁ, nahāne piṭṭhiparikammaṁ. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma mānattārahā bhikkhū sādiyissanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ, añjalikammaṁ, sāmīcikammaṁ, āsanābhihāraṁ, seyyābhihāraṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ, pādakathalikaṁ, pattacīvarappaṭiggahaṇaṁ, nahāne piṭṭhiparikamman”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“saccaṁ kira, bhikkhave, mānattārahā bhikkhū sādiyanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ …pe… nahāne piṭṭhiparikamman”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ …pe… kathañhi nāma, bhikkhave, mānattārahā bhikkhū sādiyissanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ …pe… nahāne piṭṭhiparikammaṁ. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, mānattārahena bhikkhunā sāditabbaṁ
- pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ,
- paccuṭṭhānaṁ
- …pe…
- nahāne piṭṭhiparikammaṁ.
Yo sādiyeyya, āpatti dukkaṭassa.
Anujānāmi, bhikkhave, mānattārahānaṁ bhikkhūnaṁ mithu yathāvuḍḍhaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ …pe… nahāne piṭṭhiparikammaṁ.
Anujānāmi, bhikkhave, mānattārahānaṁ bhikkhūnaṁ pañca yathāvuḍḍhaṁ—uposathaṁ, pavāraṇaṁ, vassikasāṭikaṁ, oṇojanaṁ, bhattaṁ.
Tena hi, bhikkhave, mānattārahānaṁ bhikkhūnaṁ vattaṁ paññapessāmi yathā mānattārahehi bhikkhūhi vattitabbaṁ.
At this time monks deserving the trial period consented to regular monks bowing down to them, standing up for them, raising their joined palms to them, doing acts of respect toward them, offering them a seat, offering them a bed, offering them water for washing their feet and a foot stool, offering them a foot scraper, receiving their bowls and robes, and massaging their backs when bathing. The monks of few desires complained and criticized them, “How can monks deserving the trial period consent to these things?” The monks told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks:
“Is it true, monks, that monks deserving the trial period are consenting to these things?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “It’s not suitable … How can monks deserving the trial period consent to these things? This will affect people’s confidence …” After rebuking them … he gave a teaching and addressed the monks:
“A monk deserving the trial period shouldn’t consent to:
- Regular monks bowing down to him
- Regular monks standing up for him
- Regular monks raising their joined palms to him
- Regular monks doing acts of respect toward him
- Regular monks offering him a seat
- Regular monks offering him a bed
- Regular monks offering him water for washing his feet and a foot-stool
- Regular monks offering him a foot-scraper
- Regular monks receiving his bowl and robe
- Regular monks massaging his back when he’s bathing.
If he consents to any of these, he commits an offense of wrong conduct.
Monks deserving the trial period should do the following with one another according to seniority: bow down, stand up, raise their joined palms, do acts of respect, offer a seat, offer a bed, offer water for washing the feet and a foot stool, offer a foot scraper, receive bowl and robe, and massage one another’s backs when bathing.
Monks deserving the trial period should do five things with regular monks according to seniority: the observance-day ceremony, the invitation ceremony, distributing rainy-season robes, dedications, and meals.
And now I will lay down the proper conduct for a monk deserving the trial period. This is the proper conduct:
88. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đáng chịu mānatta đã vui thích với việc đảnh lễ, việc đứng dậy đón rước, việc chắp tay, việc tỏ lòng kính trọng, việc dâng chỗ ngồi, việc dâng chỗ nằm, nước rửa chân, ghế rửa chân, đồ chà chân, việc nhận y bát, việc kỳ cọ sau lưng ở nơi tắm của các tỳ khưu pakatatta (tỳ khưu không có phạm lỗi). Các vị tỳ khưu thiểu dục ... phê phán, chỉ trích, chê bai rằng: “Tại sao các tỳ khưu đáng chịu mānatta lại vui thích với việc đảnh lễ, việc đứng dậy đón rước, việc chắp tay, việc tỏ lòng kính trọng, việc dâng chỗ ngồi, việc dâng chỗ nằm, nước rửa chân, ghế rửa chân, đồ chà chân, việc nhận y bát, việc kỳ cọ sau lưng ở nơi tắm của các tỳ khưu pakatatta chứ!” Sau đó, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... “Này các tỳ khưu, có thật là các tỳ khưu đáng chịu mānatta đã vui thích với việc đảnh lễ, việc đứng dậy đón rước ... việc kỳ cọ sau lưng ở nơi tắm của các tỳ khưu pakatatta không?” “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách rằng: “... Này các tỳ khưu, tại sao các tỳ khưu đáng chịu mānatta lại vui thích với việc đảnh lễ ... việc kỳ cọ sau lưng ở nơi tắm của các tỳ khưu pakatatta chứ! Này các tỳ khưu, việc này không đem lại niềm tin cho những người chưa có niềm tin ...” Sau khi quở trách ... sau khi thuyết pháp thoại, ngài đã cho gọi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng chịu mānatta không được vui thích với việc đảnh lễ, việc đứng dậy đón rước ... việc kỳ cọ sau lưng ở nơi tắm của các tỳ khưu pakatatta. Vị nào vui thích thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, Ta cho phép các tỳ khưu đáng chịu mānatta được đảnh lễ, đứng dậy đón rước ... kỳ cọ sau lưng ở nơi tắm lẫn nhau theo thứ tự hạ lạp. Này các tỳ khưu, Ta cho phép năm điều cho các tỳ khưu đáng chịu mānatta theo thứ tự hạ lạp là: lễ uposatha, lễ pavāraṇā, việc nhận y tắm mưa, việc từ bỏ vật thực, và vật thực. Do đó, này các tỳ khưu, Ta sẽ chế định phận sự cho các tỳ khưu đáng chịu mānatta để các tỳ khưu đáng chịu mānatta thực hành theo.”
89. “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng chịu mānatta phải thực hành đúng đắn. Ở đây, đây là sự thực hành đúng đắn:”
- Na upasampādetabbaṁ …pe…
- (yathā mūlāyapaṭikassanā, tathā vitthāretabbaṁ.)
- Na bhikkhūhi sampayojetabbaṁ.
- He shouldn’t give the full ordination.
- He shouldn’t give formal support.
- He shouldn’t have a novice monk attend on him.
- He shouldn’t accept being appointed as an instructor of the nuns.
- Even if appointed, he shouldn’t instruct the nuns.
- He shouldn’t commit the same offense as the offense for which he deserves the trial period by the Sangha, nor one that is similar or worse.
- He shouldn’t criticize the legal procedure.
- He shouldn’t criticize those who did the procedure.
- He shouldn’t cancel the observance-day ceremony of a regular monk.
- He shouldn’t cancel the invitation of a regular monk.
- He shouldn’t direct a regular monk.
- He shouldn’t give instructions to a regular monk.
- He shouldn’t ask a regular monk for permission to accuse him of an offense.
- He shouldn’t accuse a regular monk of an offense.
- He shouldn’t remind a regular monk of an offense.
- He shouldn’t associate inappropriately with other monks.
“Không được cho thọ cụ túc giới ... (nên được triển khai giống như trường hợp bị kéo về gốc). Không được giao du với các tỳ khưu.”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng chịu mānatta không được đi phía trước, không được ngồi phía trước vị tỳ khưu pakatatta. Chỗ ngồi cuối cùng, chỗ nằm cuối cùng, trú xá cuối cùng nào của Tăng chúng thì chỗ ấy phải được trao cho vị ấy. Và vị ấy phải vui thích với chỗ ấy.”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng chịu mānatta không được đi đến các gia đình với vị tỳ khưu pakatatta đi trước hoặc đi sau. Không được thọ hạnh ở rừng. Không được thọ hạnh khất thực. Và không được cho mang vật thực đi vì lý do ấy, với ý nghĩ rằng: ‘Mong rằng họ không biết ta.’”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng chịu mānatta không được đi từ trú xá có tỳ khưu đến trú xá không có tỳ khưu, ngoại trừ đi cùng với vị pakatatta, ngoại trừ có sự nguy hiểm.”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng chịu mānatta không được đi từ phi trú xá có tỳ khưu đến trú xá không có tỳ khưu ... đến phi trú xá không có tỳ khưu ... đến trú xá hoặc phi trú xá không có tỳ khưu, ngoại trừ đi cùng với vị pakatatta, ngoại trừ có sự nguy hiểm.”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng chịu mānatta không được đi từ trú xá hoặc phi trú xá có tỳ khưu đến trú xá không có tỳ khưu ... đến phi trú xá không có tỳ khưu ... đến trú xá hoặc phi trú xá không có tỳ khưu, ngoại trừ đi cùng với vị pakatatta, ngoại trừ có sự nguy hiểm.”
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị biệt trú không được đi từ trú xá có tỳ khưu đến trú xá có tỳ khưu ... đến nơi không phải trú xá có tỳ khưu ... đến trú xá hoặc nơi không phải trú xá có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu khác biệt về sự hòa hợp, ngoại trừ đi cùng với vị tỳ khưu bình thường, ngoại trừ có sự nguy hiểm.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị biệt trú không được đi từ nơi không phải trú xá có tỳ khưu đến trú xá có tỳ khưu ... đến nơi không phải trú xá có tỳ khưu ... đến trú xá hoặc nơi không phải trú xá có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu khác biệt về sự hòa hợp, ngoại trừ đi cùng với vị tỳ khưu bình thường, ngoại trừ có sự nguy hiểm.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị biệt trú không được đi từ trú xá có tỳ khưu hoặc từ nơi không phải trú xá có tỳ khưu đến trú xá có tỳ khưu ... đến nơi không phải trú xá có tỳ khưu ... đến trú xá hoặc nơi không phải trú xá có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu khác biệt về sự hòa hợp, ngoại trừ đi cùng với vị tỳ khưu bình thường, ngoại trừ có sự nguy hiểm.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị biệt trú được phép đi từ trú xá có tỳ khưu đến trú xá có tỳ khưu ... đến nơi không phải trú xá có tỳ khưu ... đến trú xá hoặc nơi không phải trú xá có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu đồng nhất về sự hòa hợp, và là nơi mà vị ấy biết rằng: ‘Tôi có thể đi đến trong ngày hôm nay.’
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị biệt trú được phép đi từ nơi không phải trú xá có tỳ khưu đến trú xá có tỳ khưu ... đến nơi không phải trú xá có tỳ khưu ... đến trú xá hoặc nơi không phải trú xá có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu đồng nhất về sự hòa hợp, và là nơi mà vị ấy biết rằng: ‘Tôi có thể đi đến trong ngày hôm nay.’
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị biệt trú được phép đi từ trú xá có tỳ khưu hoặc từ nơi không phải trú xá có tỳ khưu đến trú xá có tỳ khưu ... đến nơi không phải trú xá có tỳ khưu ... đến trú xá hoặc nơi không phải trú xá có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu đồng nhất về sự hòa hợp, và là nơi mà vị ấy biết rằng: ‘Tôi có thể đi đến trong ngày hôm nay.’
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị biệt trú không được sống cùng với vị tỳ khưu bình thường trong trú xá có chung một mái che, không được sống trong nơi không phải trú xá có chung một mái che, không được sống trong trú xá hoặc nơi không phải trú xá có chung một mái che. Khi thấy vị tỳ khưu bình thường, vị ấy nên đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Vị tỳ khưu bình thường nên được mời ngồi. Không được ngồi cùng một chỗ ngồi với vị tỳ khưu bình thường, không được ngồi ở chỗ ngồi cao khi vị kia đang ngồi ở chỗ ngồi thấp, không được ngồi trên ghế khi vị kia đang ngồi trên đất; không được đi kinh hành trên cùng một đường kinh hành, không được đi kinh hành trên đường kinh hành cao khi vị kia đang đi kinh hành trên đường kinh hành thấp, không được đi kinh hành trên đường kinh hành khi vị kia đang đi kinh hành trên đất.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đáng bị biệt trú không được sống cùng với vị tỳ khưu đang thọ hành phạt biệt trú ... cùng với vị tỳ khưu đáng bị phạt hạ bậc ... cùng với vị tỳ khưu lớn tuổi hơn đáng bị biệt trú ... cùng với vị tỳ khưu đang thi hành biệt trú ... cùng với vị tỳ khưu đáng được phục vị trong trú xá có chung một mái che, không được sống trong nơi không phải trú xá có chung một mái che, không được sống trong trú xá hoặc nơi không phải trú xá có chung một mái che; không được ngồi cùng một chỗ ngồi, không được ngồi ở chỗ ngồi cao khi vị kia đang ngồi ở chỗ ngồi thấp, không được ngồi trên ghế khi vị kia đang ngồi trên đất; không được đi kinh hành trên cùng một đường kinh hành, không được đi kinh hành trên đường kinh hành cao khi vị kia đang đi kinh hành trên đường kinh hành thấp, không được đi kinh hành trên đường kinh hành khi vị kia đang đi kinh hành trên đất.
Này các tỳ khưu, nếu Tăng chúng có vị tỳ khưu đáng bị biệt trú là người thứ tư mà trao cho hình phạt biệt trú, hoặc phạt hạ bậc, hoặc trao cho việc thi hành biệt trú; hoặc nếu Tăng chúng có vị ấy là người thứ hai mươi mà phục vị cho vị ấy, thì đó là việc làm không hợp lệ và không nên được thực hiện.
Mānattārahavattaṁ niṭṭhitaṁ.
The proper conduct for those deserving the trial period is finished.
Phần các phận sự của vị tỳ khưu đáng bị biệt trú đã kết thúc.
4. Mānattacārikavatta
4. The proper conduct for those undertaking the trial period
4. Các phận sự của vị tỳ khưu đang thi hành biệt trú
Tena kho pana samayena mānattacārikā bhikkhū sādiyanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ, añjalikammaṁ, sāmīcikammaṁ, āsanābhihāraṁ, seyyābhihāraṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ, pādakathalikaṁ, pattacīvarappaṭiggahaṇaṁ, nahāne piṭṭhiparikammaṁ. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma mānattacārikā bhikkhū sādiyissanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ …pe… nahāne piṭṭhiparikamman”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—
“saccaṁ kira, bhikkhave, mānattacārikā bhikkhū sādiyanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ …pe… nahāne piṭṭhiparikamman”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ …pe… kathañhi nāma, bhikkhave, mānattacārikā bhikkhū sādiyissanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ …pe… nahāne piṭṭhiparikammaṁ. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“Na, bhikkhave, mānattacārikena bhikkhunā sāditabbaṁ
- pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ,
- paccuṭṭhānaṁ,
- añjalikammaṁ,
- sāmīcikammaṁ,
- āsanābhihāro,
- seyyābhihāro,
- pādodakaṁ pādapīṭhaṁ,
- pādakathalikaṁ,
- pattacīvarappaṭiggahaṇaṁ,
- nahāne piṭṭhiparikammaṁ.
Yo sādiyeyya, āpatti dukkaṭassa.
Anujānāmi, bhikkhave, mānattacārikānaṁ bhikkhūnaṁ mithu yathāvuḍḍhaṁ abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ …pe… nahāne piṭṭhiparikammaṁ.
At this time monks undertaking the trial period consented to regular monks bowing down to them, standing up for them, raising their joined palms to them, doing acts of respect toward them, offering them a seat, offering them a bed, offering them water for washing their feet and a foot stool, offering them a foot scraper, receiving their bowls and robes, and massaging their backs when bathing. The monks of few desires complained and criticized them, “How can monks undertaking the trial period consent to these things?” The monks told the Buddha.
Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks:
“Is it true, monks, that monks undertaking the trial period are consenting to these things?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “It’s not suitable … How can monks undertaking the trial period consent to these things? This will affect people’s confidence …” After rebuking them … he gave a teaching and addressed the monks:
“A monk undertaking the trial period shouldn’t consent to:
- Regular monks bowing down to him
- Regular monks standing up for him
- Regular monks raising their joined palms to him
- Regular monks doing acts of respect toward him
- Regular monks offering him a seat
- Regular monks offering him a bed
- Regular monks offering him water for washing his feet and a foot stool
- Regular monks offering him a foot scraper
- Regular monks receiving his bowl and robe
- Regular monks massaging his back when he’s bathing.
If he consents to any of these, he commits an offense of wrong conduct.
Monks undertaking the trial period should do the following with one another according to seniority: bow down, stand up, raise their joined palms, do acts of respect, offer a seat, offer a bed, offer water for washing the feet and a foot stool, offer a foot scraper, receive bowl and robe, and massage one another’s backs when bathing.
90. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đang thi hành biệt trú đã chấp nhận sự đảnh lễ, sự đứng dậy đón rước, sự chắp tay, sự tỏ lòng kính trọng, sự dâng chỗ ngồi, sự dâng chỗ nằm, nước rửa chân, ghế rửa chân, đồ chà chân, sự nhận lấy y bát, sự kỳ cọ lưng trong lúc tắm của các vị tỳ khưu bình thường. Các vị tỳ khưu thiểu dục ... đã phàn nàn, chê bai, và chỉ trích rằng: ‘Tại sao các tỳ khưu đang thi hành biệt trú lại chấp nhận sự đảnh lễ, sự đứng dậy đón rước, ... sự kỳ cọ lưng trong lúc tắm của các vị tỳ khưu bình thường chứ!’ Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình báo sự việc này lên đức Thế Tôn.
Anujānāmi, bhikkhave, mānattacārikānaṁ bhikkhūnaṁ pañca yathāvuḍḍhaṁ—uposathaṁ, pavāraṇaṁ, vassikasāṭikaṁ, oṇojanaṁ, bhattaṁ.
Tena hi, bhikkhave, mānattacārikānaṁ bhikkhūnaṁ vattaṁ paññapessāmi yathā mānattacārikehi bhikkhūhi vattitabbaṁ.
Monks undertaking the trial period should do five things with regular monks according to seniority: the observance-day ceremony, the invitation ceremony, distributing rainy-season robes, dedications, and meals.
And now I will lay down the proper conduct for a monk undertaking the trial period. This is the proper conduct:
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang hành mānatta không nên vui thích việc đảnh lễ, việc đứng dậy đón rước, việc chắp tay, việc làm các phận sự, việc dâng chỗ ngồi, việc dâng chỗ nằm, nước rửa chân, ghế rửa chân, đồ chùi chân, việc nhận y bát, việc kỳ cọ lưng trong lúc tắm của các vị tỳ khưu bình thường. Vị nào vui thích, phạm tội tác ác. Này các tỳ khưu, Ta cho phép các vị tỳ khưu đang hành mānatta (được làm) với nhau theo hạ lạp việc đảnh lễ, việc đứng dậy đón rước, ... cho đến ... việc kỳ cọ lưng trong lúc tắm. Này các tỳ khưu, Ta cho phép các vị tỳ khưu đang hành mānatta năm điều theo hạ lạp: lễ Bố-tát, lễ Tự tứ, y tắm mưa, việc từ bỏ vật thực, vật thực. Này các tỳ khưu, vì thế, Ta sẽ chế định các phận sự cho các vị tỳ khưu đang hành mānatta, để các vị tỳ khưu đang hành mānatta thực hành theo đó.”
91. “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang hành mānatta nên thực hành đúng đắn. Đây là sự thực hành đúng đắn trong trường hợp ấy:”
- Na upasampādetabbaṁ,
- na nissayo dātabbo,
- na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo,
- na bhikkhunovādakasammuti sāditabbā,
- sammatenapi bhikkhuniyo na ovaditabbā.
- Yāya āpattiyā saṅghena mānattaṁ dinnaṁ hoti sā āpatti na āpajjitabbā, aññā vā tādisikā, tato vā pāpiṭṭhatarā;
- kammaṁ na garahitabbaṁ,
- kammikā na garahitabbā.
- Na pakatattassa bhikkhuno uposatho ṭhapetabbo,
- na pavāraṇā ṭhapetabbā,
- na savacanīyaṁ kātabbaṁ,
- na anuvādo paṭṭhapetabbo,
- na okāso kāretabbo,
- na codetabbo,
- na sāretabbo,
- na bhikkhūhi sampayojetabbaṁ.
- He shouldn’t give the full ordination.
- He shouldn’t give formal support.
- He shouldn’t have a novice monk attend on him.
- He shouldn’t accept being appointed as an instructor of the nuns.
- Even if appointed, he shouldn’t instruct the nuns.
- He shouldn’t commit the same offense as the offense for which the Sangha gave him the trial period, nor one that is similar or worse.
- He shouldn’t criticize the legal procedure.
- He shouldn’t criticize those who did the procedure.
- He shouldn’t cancel the observance-day ceremony of a regular monk.
- He shouldn’t cancel the invitation of a regular monk.
- He shouldn’t direct a regular monk.
- He shouldn’t give instructions to a regular monk.
- He shouldn’t ask a regular monk for permission to correct him.
- He shouldn’t accuse a regular monk of an offense.
- He shouldn’t remind a regular monk of an offense.
- He shouldn’t associate inappropriately with other monks.
“Không nên cho thọ cụ túc, không nên cho nương tựa, không nên cho sa-di hầu hạ, không nên vui thích sự chỉ định làm vị giáo giới tỳ khưu ni, dù đã được chỉ định cũng không nên giáo giới các tỳ khưu ni. Không nên phạm tội mà vì tội ấy Tăng chúng đã trao mānatta, hoặc tội khác tương tự, hoặc tội nặng hơn tội ấy; không nên chê bai yết-ma, không nên chê bai các vị hành yết-ma. Không nên đình chỉ lễ Bố-tát của vị tỳ khưu bình thường, không nên đình chỉ lễ Tự tứ, không nên làm việc cần phải nói, không nên khởi xướng việc tranh cãi, không nên để người khác xin cơ hội, không nên chỉ trích, không nên nhắc nhở, không nên giao du với các tỳ khưu.”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang hành mānatta không nên đi phía trước vị tỳ khưu bình thường, không nên ngồi phía trước. Chỗ ngồi thấp nhất, chỗ nằm thấp nhất, trú xá thấp nhất của Tăng chúng nào có thì chỗ ấy nên được trao cho vị ấy. Và vị ấy nên vui thích với chỗ đó.”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang hành mānatta không nên đi đến các gia đình với vị tỳ khưu bình thường đi trước hoặc đi sau, không nên thọ hạnh ở rừng, không nên thọ hạnh khất thực, và không nên để người khác mang vật thực khất thực đến cho vì lý do ấy, với ý nghĩ rằng: ‘Mong rằng họ không biết ta.’”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang hành mānatta, khi là khách đến, nên báo cho biết; (khi là thường trú) nên báo cho khách đến biết; nên báo vào ngày Bố-tát; nên báo vào ngày Tự tứ; nên báo hằng ngày. Nếu bị bệnh, cũng nên báo qua người đưa tin.”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang hành mānatta không nên đi từ trú xá có tỳ khưu đến trú xá không có tỳ khưu, ngoại trừ đi cùng Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm.”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang hành mānatta không nên đi từ nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu đến trú xá không có tỳ khưu, ... cho đến ... không nên đi đến nơi không phải trú xá và không có tỳ khưu, ... cho đến ... không nên đi đến trú xá không có tỳ khưu hoặc nơi không phải trú xá (không có tỳ khưu), ngoại trừ đi cùng Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm.”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang hành mānatta không nên đi từ trú xá có tỳ khưu hoặc từ nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu đến trú xá không có tỳ khưu, ... cho đến ... không nên đi đến nơi không phải trú xá và không có tỳ khưu, ... cho đến ... không nên đi đến trú xá không có tỳ khưu hoặc nơi không phải trú xá (không có tỳ khưu), ngoại trừ đi cùng Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm.”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang hành mānatta không nên đi từ trú xá có tỳ khưu đến trú xá có tỳ khưu, ... cho đến ... đến nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu, ... cho đến ... đến trú xá có tỳ khưu hoặc nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu biệt trú, ngoại trừ đi cùng Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm.”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang hành mānatta không nên đi từ nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu đến trú xá có tỳ khưu, ... cho đến ... đến nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu, ... cho đến ... đến trú xá có tỳ khưu hoặc nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu biệt trú, ngoại trừ đi cùng Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm.”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang hành mānatta không nên đi từ trú xá có tỳ khưu hoặc từ nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu đến trú xá có tỳ khưu, ... cho đến ... đến nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu, ... cho đến ... đến trú xá có tỳ khưu hoặc nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu biệt trú, ngoại trừ đi cùng Tăng chúng, ngoại trừ có sự nguy hiểm.”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang hành mānatta nên đi từ trú xá có tỳ khưu đến trú xá có tỳ khưu, ... cho đến ... đến nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu, ... cho đến ... đến trú xá có tỳ khưu hoặc nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu đồng trú, và là nơi vị ấy biết rằng: ‘Tôi có thể đến nơi ngay trong hôm nay.’”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang hành mānatta nên đi từ nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu đến trú xá có tỳ khưu, ... cho đến ... đến nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu, ... cho đến ... đến trú xá có tỳ khưu hoặc nơi không phải trú xá nhưng có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu đồng trú, và là nơi vị ấy biết rằng: ‘Tôi có thể đến nơi ngay trong hôm nay.’”
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang thực hành mānatta nên đi từ trú xứ có tỳ khưu hoặc từ nơi không phải trú xứ có tỳ khưu đến trú xứ có tỳ khưu ... đến nơi không phải trú xứ có tỳ khưu ... hoặc đến trú xứ hoặc nơi không phải trú xứ có tỳ khưu, là nơi có các vị tỳ khưu đồng trú, hoặc nơi mà vị ấy biết rằng: 'Tôi có thể đi đến trong ngày hôm nay.'
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang thực hành mānatta không được sống chung dưới một mái nhà trong trú xứ với vị tỳ khưu pakatatta, không được sống chung dưới một mái nhà ở nơi không phải trú xứ, không được sống chung dưới một mái nhà trong trú xứ hoặc ở nơi không phải trú xứ. Khi thấy vị tỳ khưu pakatatta, vị ấy nên đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Vị tỳ khưu pakatatta nên được mời ngồi. Không được ngồi cùng một chỗ ngồi với vị tỳ khưu pakatatta, không được ngồi ở chỗ ngồi cao hơn khi vị kia đang ngồi ở chỗ ngồi thấp hơn, không được ngồi trên ghế khi vị kia đang ngồi trên đất; không được đi kinh hành trên cùng một con đường kinh hành, không được đi kinh hành trên con đường kinh hành cao hơn khi vị kia đang đi kinh hành trên con đường thấp hơn, không được đi kinh hành trên con đường kinh hành khi vị kia đang đi kinh hành trên đất.
Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đang thực hành mānatta không được sống chung dưới một mái nhà trong trú xứ với vị tỳ khưu đang biệt trú ... với vị tỳ khưu đáng bị phạt trở về lại từ đầu ... với vị tỳ khưu đáng bị phạt mānatta ... với vị tỳ khưu đang thực hành mānatta có hạ lạp cao hơn ... với vị tỳ khưu đáng được phục vị, không được sống chung dưới một mái nhà ở nơi không phải trú xứ, không được sống chung dưới một mái nhà trong trú xứ hoặc ở nơi không phải trú xứ; không được ngồi cùng một chỗ ngồi, không được ngồi ở chỗ ngồi cao hơn khi vị kia đang ngồi ở chỗ ngồi thấp hơn, không được ngồi trên ghế khi vị kia đang ngồi trên đất; không được đi kinh hành trên cùng một con đường kinh hành, không được đi kinh hành trên con đường kinh hành cao hơn khi vị kia đang đi kinh hành trên con đường thấp hơn, không được đi kinh hành trên con đường kinh hành khi vị kia đang đi kinh hành trên đất.
Atha kho āyasmā upāli yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā upāli bhagavantaṁ etadavoca—“kati nu kho, bhante, mānattacārikassa bhikkhuno ratticchedā”ti?
“Cattāro kho, upāli, mānattacārikassa bhikkhuno ratticchedā. Sahavāso, vippavāso, anārocanā, ūne gaṇe caraṇaṁ—ime kho, upāli, cattāro mānattacārikassa bhikkhuno ratticchedā”ti.
Further regulations for the trial period
Soon afterwards Venerable Upāli went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “How many things are there, sir, that stop a monk undertaking the trial period from counting a particular day toward his trial period?”
“There are four such things, Upāli: he stays in the same room as a regular monk; he stays apart from other monks; he doesn’t inform other monks of his status; he travels without a group.”
Này các tỳ khưu, nếu Tăng chúng có vị tỳ khưu đang thực hành mānatta là người thứ tư mà ban cho parivāsa, hoặc phạt trở về lại từ đầu, hoặc ban cho mānatta; hoặc nếu Tăng chúng hai mươi vị có vị ấy mà phục vị thì đó là việc làm không hợp pháp và không nên được thực hiện.
Tena kho pana samayena sāvatthiyaṁ mahābhikkhusaṅgho sannipatito hoti. Na sakkonti mānattacārikā bhikkhū mānattaṁ sodhetuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, mānattaṁ nikkhipituṁ.
Evañca pana, bhikkhave, nikkhipitabbaṁ. Tena mānattacārikena bhikkhunā ekaṁ bhikkhuṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘mānattaṁ nikkhipāmī’ti. Nikkhittaṁ hoti mānattaṁ. ‘Vattaṁ nikkhipāmī’ti. Nikkhittaṁ hoti mānattan”ti.
On one occasion a large sangha of monks had gathered at Sāvatthī. The monks undertaking the trial period were unable to fulfill their duties. They told the Buddha.
“I allow you to set aside the trial period.
And it should be done like this. The monk undertaking the trial period should approach a monk, arrange his upper robe over one shoulder, squat on his heels, raise his joined palms, and say, ‘I set aside the trial period,’ or ‘I set aside the proper conduct.’”
93. Vào lúc bấy giờ, ở Sāvatthī có đại chúng tỳ khưu Tăng đã tụ họp. Các vị tỳ khưu đang thực hành mānatta không thể thanh lọc mānatta. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép tạm dừng mānatta. Và này các tỳ khưu, nên tạm dừng như sau: Vị tỳ khưu đang thực hành mānatta ấy nên đi đến một vị tỳ khưu, sắp xếp thượng y về một bên vai, ngồi xổm, chắp tay rồi nên nói như vầy: ‘Tôi xin tạm dừng mānatta.’ Khi ấy, mānatta được xem là đã tạm dừng. Hoặc nói: ‘Tôi xin tạm dừng phận sự.’ Khi ấy, mānatta được xem là đã tạm dừng.’
Tena kho pana samayena sāvatthiyā bhikkhū tahaṁ tahaṁ pakkamiṁsu. Sakkonti mānattacārikā bhikkhū mānattaṁ sodhetuṁ. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
“Anujānāmi, bhikkhave, mānattaṁ samādiyituṁ.
Evañca pana, bhikkhave, samādiyitabbaṁ. Tena mānattacārikena bhikkhunā ekaṁ bhikkhuṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā, evamassa vacanīyo—‘mānattaṁ samādiyāmī’ti. Samādinnaṁ hoti mānattaṁ. ‘Vattaṁ samādiyāmī’ti. Samādinnaṁ hoti mānattan”ti.
Soon afterwards the monks at Sāvatthī left for various destinations. The monks undertaking the trial period were once again able to fulfill their duties. They told the Buddha.
“I allow you to take up the trial period.
And it should be done like this. The monk undertaking the trial period should approach a monk, arrange his upper robe over one shoulder, squat on his heels, raise his joined palms, and say, ‘I take up the trial period,’ or ‘I take up the proper conduct.’”
94. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu ở Sāvatthī đã đi đến nơi này nơi kia. Các vị tỳ khưu đang thực hành mānatta có thể thanh lọc mānatta. Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. – ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép thọ trì mānatta. Và này các tỳ khưu, nên thọ trì như sau: Vị tỳ khưu đang thực hành mānatta ấy nên đi đến một vị tỳ khưu, sắp xếp thượng y về một bên vai, ngồi xổm, chắp tay rồi nên nói như vầy: ‘Tôi xin thọ trì mānatta.’ Khi ấy, mānatta được xem là đã thọ trì. Hoặc nói: ‘Tôi xin thọ trì phận sự.’ Khi ấy, mānatta được xem là đã thọ trì.’
Mānattacārikavattaṁ niṭṭhitaṁ.
5. Abbhānārahavatta
The proper conduct for those undertaking the trial period is finished.
5. The proper conduct for those deserving rehabilitation.
Phận sự của vị đang thực hành mānatta đã chấm dứt.
Tena kho pana samayena abbhānārahā bhikkhū sādiyanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ …pe… nahāne piṭṭhiparikammaṁ. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma abbhānārahā bhikkhū sādiyissanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ …pe… nahāne piṭṭhiparikamman”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At this time monks deserving rehabilitation consented to regular monks bowing down to them, standing up for them, raising their joined palms to them, doing acts of respect toward them, offering them a seat, offering them a bed, offering them water for washing their feet and a foot stool, offering them a foot scraper, receiving their bowls and robes, and massaging their backs when bathing. The monks of few desires complained and criticized them, “How can monks deserving rehabilitation consent to these things?” The monks told the Buddha.
95. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đáng được phục vị đã chấp nhận sự đảnh lễ, sự đứng dậy đón rước, ... sự kỳ cọ lưng lúc tắm của các vị tỳ khưu pakatatta. Các vị tỳ khưu thiểu dục ... đã phàn nàn, chê bai, và nói rộng ra rằng: – ‘Tại sao các vị tỳ khưu đáng được phục vị lại chấp nhận sự đảnh lễ, sự đứng dậy đón rước, ... sự kỳ cọ lưng lúc tắm của các vị tỳ khưu pakatatta chứ?’ Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—
“saccaṁ kira, bhikkhave, abbhānārahā bhikkhū sādiyanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ …pe… nahāne piṭṭhiparikamman”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ …pe… kathañhi nāma, bhikkhave, abbhānārahā bhikkhū sādiyissanti pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ …pe… nahāne piṭṭhiparikammaṁ. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“na, bhikkhave, abbhānārahena bhikkhunā sāditabbaṁ
- pakatattānaṁ bhikkhūnaṁ abhivādanaṁ paccupaṭṭhānaṁ
- …pe…
- nahāne piṭṭhiparikammaṁ.
Yo sādiyeyya, āpatti dukkaṭassa.
Anujānāmi, bhikkhave, abbhānārahānaṁ bhikkhūnaṁ mithu yathāvuḍḍhaṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ …pe… nahāne piṭṭhiparikammaṁ.
Anujānāmi, bhikkhave, abbhānārahānaṁ bhikkhūnaṁ pañca yathāvuḍḍhaṁ—uposathaṁ, pavāraṇaṁ, vassikasāṭikaṁ, oṇojanaṁ, bhattaṁ.
Tena hi, bhikkhave, abbhānārahānaṁ bhikkhūnaṁ vattaṁ paññapessāmi yathā abbhānārahehi bhikkhūhi vattitabbaṁ.
Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks:
“Is it true, monks, that monks deserving rehabilitation are consenting to these things?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “It’s not suitable … How can monks deserving rehabilitation consent to these things? This will affect people’s confidence …” After rebuking them … he gave a teaching and addressed the monks:
“A monk deserving rehabilitation shouldn’t consent to:
- Regular monks bowing down to him
- Regular monks standing up for him
- Regular monks raising their joined palms to him
- Regular monks doing acts of respect toward him
- Regular monks offering him a seat
- Regular monks offering him a bed
- Regular monks offering him water for washing his feet and a foot-stool
- Regular monks offering him a foot-scraper
- Regular monks receiving his bowl and robe
- Regular monks massaging his back when he’s bathing.
If he consents to any of these, he commits an offense of wrong conduct.
Monks deserving rehabilitation should do the following with one another according to seniority: bow down, stand up, raise their joined palms, do acts of respect, offer a seat, offer a bed, offer water for washing the feet and a foot stool, offer a foot scraper, receive bowl and robe, and massage one another’s backs when bathing.
Monks deserving rehabilitation should do five things with regular monks according to seniority: the observance-day ceremony, the invitation ceremony, distributing rainy-season robes, dedications, and meals.
And now I will lay down the proper conduct for a monk deserving rehabilitation. This is the proper conduct:
Bấy giờ, đức Thế Tôn nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, đã cho triệu tập hội chúng tỳ khưu rồi hỏi các tỳ khưu rằng: – Này các tỳ khưu, có thật chăng việc các tỳ khưu đáng được phục vị đã vui thích sự đảnh lễ, sự đứng dậy đón rước, ... cho đến ... việc chà lưng trong lúc tắm của các tỳ khưu vô sự? – Bạch đức Thế Tôn, là sự thật. Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách rằng: – Này các tỳ khưu, không thích hợp ... cho đến ... Này các tỳ khưu, tại sao các tỳ khưu đáng được phục vị lại có thể vui thích sự đảnh lễ, sự đứng dậy đón rước, ... cho đến ... việc chà lưng trong lúc tắm của các tỳ khưu vô sự! Này các tỳ khưu, việc này không thể làm cho những người chưa có đức tin được phát sinh đức tin, ... cho đến ... Sau khi quở trách, ... cho đến ... sau khi thuyết pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ khưu rằng: – Này các tỳ khưu, tỳ khưu đáng được phục vị không nên vui thích sự đảnh lễ, sự đứng dậy đón rước, ... cho đến ... việc chà lưng trong lúc tắm của các tỳ khưu vô sự. Vị nào vui thích thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Này các tỳ khưu, Ta cho phép các tỳ khưu đáng được phục vị (thực hành) với nhau theo thứ tự hạ lạp về việc đảnh lễ, việc đứng dậy đón rước, ... cho đến ... việc chà lưng trong lúc tắm. Này các tỳ khưu, Ta cho phép năm điều cho các tỳ khưu đáng được phục vị theo thứ tự hạ lạp: lễ uposatha, lễ pavāraṇā, y tắm mưa, việc xả vật thực, và vật thực. Do đó, này các tỳ khưu, Ta sẽ chế định phận sự cho các tỳ khưu đáng được phục vị, theo đó các tỳ khưu đáng được phục vị phải thực hành.
96. – Này các tỳ khưu, tỳ khưu đáng được phục vị phải thực hành đúng đắn. Đây là sự thực hành đúng đắn trong trường hợp ấy:
- Na upasampādetabbaṁ …pe…
- (yathā heṭṭhā, tathā vitthāretabbaṁ)
- na bhikkhūhi sampayojetabbaṁ.
- He shouldn’t give the full ordination.
- He shouldn’t give formal support.
- He shouldn’t have a novice monk attend on him.
- He shouldn’t accept being appointed as an instructor of the nuns.
- Even if appointed, he shouldn’t instruct the nuns.
- He shouldn’t commit the same offense as the offense for which he deserves to be rehabilitated by the Sangha, nor one that is similar or worse.
- He shouldn’t criticize the legal procedure.
- He shouldn’t criticize those who did the procedure.
- He shouldn’t cancel the observance-day ceremony of a regular monk.
- He shouldn’t cancel the invitation of a regular monk.
- He shouldn’t direct a regular monk.
- He shouldn’t give instructions to a regular monk.
- He shouldn’t ask a regular monk for permission to accuse him of an offense.
- He shouldn’t accuse a regular monk of an offense.
- He shouldn’t remind a regular monk of an offense.
- He shouldn’t associate inappropriately with other monks.
Không được cho thọ cụ túc, ... cho đến ... (nên được triển khai giống như phần dưới, tương tự như vậy) không được giao du với các tỳ khưu.
– Này các tỳ khưu, tỳ khưu đáng được phục vị không được đi phía trước tỳ khưu vô sự, không được ngồi phía trước. Chỗ ngồi cuối cùng, chỗ ngủ cuối cùng, trú xá cuối cùng nào của hội chúng thì chỗ ấy nên được trao cho vị ấy. Và vị ấy nên vui thích với chỗ ấy.
– Này các tỳ khưu, tỳ khưu đáng được phục vị không được đi đến các gia đình với tỳ khưu vô sự đi trước hoặc đi sau; không được thọ hạnh ở rừng; không được thọ hạnh khất thực; và không được cho mang vật thực đi vì lý do ấy với ý nghĩ rằng: ‘Mong rằng họ không biết ta.’
– Này các tỳ khưu, tỳ khưu đáng được phục vị không được đi từ trú xá có tỳ khưu đến trú xá không có tỳ khưu, ngoại trừ đi cùng tỳ khưu vô sự, ngoại trừ có sự nguy hiểm.
– Này các tỳ khưu, tỳ khưu đáng được phục vị không được đi từ trú xá có tỳ khưu đến nơi không phải trú xá và không có tỳ khưu, ngoại trừ đi cùng tỳ khưu vô sự, ngoại trừ có sự nguy hiểm, ... cho đến ... (Nên được triển khai giống như phần dưới, tương tự như vậy).
– Này các tỳ khưu, tỳ khưu đáng được phục vị được phép đi từ trú xá có tỳ khưu, ... cho đến ... từ nơi không phải trú xá, ... cho đến ... từ trú xá hoặc nơi không phải trú xá đến trú xá có tỳ khưu, ... cho đến ... đến nơi không phải trú xá có tỳ khưu, ... cho đến ... đến trú xá hoặc nơi không phải trú xá có tỳ khưu, là nơi có các tỳ khưu đồng trú, và là nơi mà vị ấy biết rằng: ‘Tôi có thể đến ngay trong hôm nay.’
– Này các tỳ khưu, tỳ khưu đáng được phục vị không được ở cùng tỳ khưu vô sự trong trú xá chung mái che, không được ở trong nơi không phải trú xá chung mái che, không được ở trong trú xá hoặc nơi không phải trú xá chung mái che; khi thấy tỳ khưu vô sự, phải đứng dậy khỏi chỗ ngồi, tỳ khưu vô sự phải được mời ngồi; không được ngồi cùng một chỗ với tỳ khưu vô sự, không được ngồi ở chỗ ngồi cao khi vị kia đang ngồi ở chỗ ngồi thấp, không được ngồi trên ghế khi vị kia đang ngồi dưới đất; không được đi kinh hành trên cùng một đường kinh hành, không được đi kinh hành trên đường kinh hành cao khi vị kia đang đi kinh hành trên đường kinh hành thấp, không được đi kinh hành trên đường kinh hành khi vị kia đang đi kinh hành trên mặt đất.
– Này các tỳ khưu, tỳ khưu đáng được phục vị không được (ở, v.v.) cùng với tỳ khưu đang chịu biệt trú, ... cho đến ... cùng với tỳ khưu đáng bị kéo về gốc, ... cho đến ... cùng với tỳ khưu đáng chịu mānatta, ... cho đến ... cùng với tỳ khưu đang thực hành mānatta, ... cho đến ... cùng với tỳ khưu đáng được phục vị có hạ lạp cao hơn, trong trú xá chung mái che, không được ở trong nơi không phải trú xá chung mái che; không được ở trong trú xá hoặc nơi không phải trú xá chung mái che; không được ngồi cùng một chỗ, không được ngồi ở chỗ ngồi cao khi vị kia đang ngồi ở chỗ ngồi thấp, không được ngồi trên ghế khi vị kia đang ngồi dưới đất; không được đi kinh hành trên cùng một đường kinh hành, không được đi kinh hành trên đường kinh hành cao khi vị kia đang đi kinh hành trên đường kinh hành thấp, không được đi kinh hành trên đường kinh hành khi vị kia đang đi kinh hành trên mặt đất.
– Này các tỳ khưu, nếu hội chúng bốn vị có một tỳ khưu đáng được phục vị là người thứ tư mà trao biệt trú, hoặc kéo về gốc, hoặc trao mānatta, hoặc nếu hội chúng hai mươi vị có vị ấy mà phục vị, thì đó là việc làm không hợp lệ, và không nên được thực hiện.
Abbhānārahavattaṁ niṭṭhitaṁ.
The proper conduct for those deserving rehabilitation is finished.
Phận sự của tỳ khưu đáng được phục vị đã chấm dứt.
Pārivāsikakkhandhako dutiyo.
The second chapter on the proper conduct for those who are suspended is finished.
Chương thứ hai về biệt trú đã chấm dứt.
Imamhi khandhake vatthū pañca.
Tassuddānaṁ
In this chapter there are five topics.
This is the summary:
Trong chương này có năm câu chuyện.
Pārivāsikā sādenti, pakatattāna bhikkhunaṁ; Abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ, añjaliñca sāmīciyaṁ.
“Those on probation consented to The regular monks Bowing down to them, standing up, And raising their joined palms, acting respectfully.
Các vị biệt trú vui thích, của các tỳ khưu vô sự; Sự đảnh lễ, sự đứng dậy, chắp tay và sự kính trọng.
Āsanaṁ seyyābhihāraṁ, pādo pīṭhaṁ kathalikaṁ; Pattaṁ nahāne parikammaṁ, ujjhāyanti ca pesalā.
Offering a seat, a bed, Foot, stool, scraper; Bowl, massaging when bathing, And the good monks criticized them.
Chỗ ngồi, việc mang giường nằm, nước rửa chân, ghế thấp, mảnh sành; Bát, việc phục vụ lúc tắm, và các vị khả ái đã khiển trách.
Dukkaṭaṁ sādiyantassa, Mithu pañca yathāvuḍḍhaṁ; Uposathaṁ pavāraṇaṁ, Vassikoṇojabhojanaṁ.
An offense of wrong conduct for one who consents, Mutual, five things according to seniority; The observance day, the invitation ceremony, Rainy-season robes, dedications, meals.
Tội dukkaṭa cho người vui thích, năm điều với nhau theo hạ lạp; Uposatha, pavāraṇā, y tắm mưa, xả vật thực, và vật thực.
Sammā ca vattanā tattha, pakatattassa gacchantaṁ; Yo ca hoti pariyanto, pure pacchā tatheva ca.
And proper conduct there, Walking in front of a regular one; And whatever is the last, And just so attending on.
Và sự thực hành đúng đắn ở đây, việc đi trước tỳ khưu vô sự; Và chỗ nào là cuối cùng, đi trước, đi sau, cũng tương tự như vậy.
Āraññapiṇḍanīhāro, āgantuke uposathe; Pavāraṇāya dūtena, gantabbo ca sabhikkhuko.
Wilderness, alms, bringing back, About new arrivals, on the observance day; On the invitation day, by messenger, And he may go to a place with monks.
Việc mang vật thực đi trong rừng, (việc báo) cho vị khách, vào ngày lễ Uposatha, vào ngày lễ Pavāraṇā, bằng người đưa tin, và nên đi đến trú xứ có tỳ khưu.
Ekacchanne ca vuṭṭhānaṁ, tatheva ca nimantaye; Āsane nīce caṅkame, chamāyaṁ caṅkamena ca.
And in the same room, getting up, And just so he should invite; On a seat, on a lower, on a walking path, On the ground, and with walking path.
Việc ở dưới một mái che và việc đứng dậy, cũng như thế là việc mời; về chỗ ngồi, về kinh hành đường thấp, trên mặt đất, và bằng kinh hành đường.
Vuḍḍhatarena akammaṁ, ratticchedā ca sodhanā; Nikkhipanaṁ samādānaṁ, vattaṁva pārivāsike.
With one who is more senior, invalid, And stop the counting, fulfilling; Setting aside, taking up, Just the duties for one on probation.
Việc liên quan đến vị trưởng lão hơn, hành vi phi pháp, việc gián đoạn đêm và việc làm trong sạch, việc đình chỉ, việc thọ trì, giống như phận sự đối với vị đang thọ biệt trú.
Mūlāya mānattārahā, tathā mānattacārikā; Abbhānārahe nayo cāpi, sambhedaṁ nayato puna.
To the beginning, deserving the trial, So those undertaking the trial; And also the method for deserving rehabilitation, Again putting together from the method.
Đối với vị đáng bị phạt về căn, vị đáng thọ mānatta, cũng vậy đối với vị đang thực hành mānatta, và đối với vị đáng được giải tội cũng có phương cách; lại có sự khác biệt về phương cách.
Pārivāsikesu tayo, catu mānattacārike; Na samenti ratticchedesu, mānattesu ca devasi; Dve kammā sadisā sesā, tayo kammā samāsamāti.
Three for those on probation, Four for those undergoing the trial; Are not the same in regard to stopping the count, And daily for the trial period; Two procedures are such, the remaining Three procedures are the same.”
Đối với các vị đang thọ biệt trú có ba (trường hợp gián đoạn đêm), đối với vị đang thực hành mānatta có bốn; các trường hợp gián đoạn đêm không giống nhau. Và trong các mānatta, việc báo hằng ngày, hai yết ma là tương tự, ba yết ma còn lại là hoàn toàn giống nhau.
Pārivāsikakkhandhakaṁ niṭṭhitaṁ.
The chapter on the proper conduct for those who are suspended is finished.
Chương về Biệt Trú đã kết thúc.