- Theravāda Vinayapiṭaka
- Cūḷavagga
Bản dịch
Kd 11 — Chương hành sự
11. Kammakkhandhaka
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
1. HÀNH SỰ KHIỂN TRÁCH:
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Chính vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka, bản thân vốn là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng, lại còn đi đến gặp các tỳ khưu khác cũng là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng, rồi nói như vầy:—“Này các đại đức, các ngài đừng để vị đó đánh bại. Các ngài hãy phản bác lại thật mạnh bạo. Các ngài sáng trí hơn, kinh nghiệm hơn, học rộng hơn, và nổi bật hơn vị đó. Các ngài chớ có sợ vị đó. Chúng tôi sẽ về phe của các ngài.” Vì thế mà những sự xung đột chưa sanh liền sanh khởi và những sự xung đột đã sanh khởi càng tiến đến tình trạng gia tăng và phát triển.
Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka, bản thân vốn là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng, lại còn đi đến gặp các tỳ khưu khác cũng là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng, rồi nói như vầy: ‘Này các đại đức, các ngài đừng để vị đó đánh bại. Các ngài hãy phản bác lại thật mạnh bạo. Các ngài sáng trí hơn, kinh nghiệm hơn, học rộng hơn, và nổi bật hơn vị đó. Các ngài chớ có sợ vị đó. Chúng tôi sẽ về phe của các ngài;’ vì thế mà những sự xung đột chưa sanh đã sanh khởi và những sự xung đột đã sanh khởi càng tiến đến tình trạng gia tăng và phát triển?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~2Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka, bản thân vốn là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng, lại còn đi đến gặp các tỳ khưu khác cũng là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng, rồi nói như vầy: ‘Này các đại đức, các ngài đừng để vị đó đánh bại. Các ngài hãy phản bác lại thật mạnh bạo. Các ngài sáng trí hơn, kinh nghiệm hơn, học rộng hơn, và nổi bật hơn vị đó. Các ngài chớ có sợ vị đó. Chúng tôi sẽ về phe của các ngài;’ vì thế mà những sự xung đột chưa sanh đã sanh khởi và những sự xung đột đã sanh khởi càng tiến đến tình trạng gia tăng và phát triển, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho những kẻ rồ dại ấy, thật không hợp lẽ, không thích đáng, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm. Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy bản thân vốn là những kẻ thường gây nên các sự xung đột, … (như trên) … và tranh tụng trong hội chúng lại còn đi đến gặp các tỳ khưu khác cũng là những kẻ thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng, rồi nói như vầy: ‘Này các đại đức, các ngài đừng để vị đó đánh bại. Các ngài hãy phản bác lại thật mạnh bạo. Các ngài sáng trí hơn, kinh nghiệm hơn, học rộng hơn, và nổi bật hơn vị đó. Các ngài chớ có sợ vị đó. Chúng tôi sẽ về phe của các ngài;’ vì thế mà những sự xung đột chưa sanh đã sanh khởi và những sự xung đột đã sanh khởi càng tiến đến tình trạng gia tăng và phát triển? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.”
Inda-bh 3~3Sau đó, khi đã khiển trách các vị tỳ khưu ấy bằng nhiều phương thức, đức Thế Tôn đã chê trách về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, sự khó khăn trong việc ăn uống, sự tầm cầu quá nhiều, sự không biết đủ, sự kết phe nhóm, sự biếng nhác; và bằng nhiều phương thức ngài đã ngợi khen về sự dễ dàng trong việc cấp dưỡng, sự dễ dàng trong việc ăn uống, sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự tiết chế, sự hài hòa, sự đoạn giảm, sự ra sức tinh tấn. Ngài đã nói Pháp thoại thích đáng và phù hợp cho các tỳ khưu rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy thực hiện hành sự khiển trách đến các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka. Và này các tỳ khưu, nên thực hiện như vầy: Trước hết, các tỳ khưu Paṇḍuka và Lohitaka cần được quở trách; sau khi quở trách cần được nhắc nhở; sau khi nhắc nhở cần xác định tội; sau khi xác định tội, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
Inda-bh 4~4“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka này, bản thân vốn là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng, lại còn đi đến gặp các tỳ khưu khác cũng là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng, rồi nói như vầy: ‘Này các đại đức, các ngài đừng để vị đó đánh bại. Các ngài hãy phản bác lại thật mạnh bạo. Các ngài sáng trí hơn, kinh nghiệm hơn, học rộng hơn, và nổi bật hơn vị đó. Các ngài chớ có sợ vị đó. Chúng tôi sẽ về phe của các ngài;’ vì thế mà những sự xung đột chưa sanh đã sanh khởi và những sự xung đột đã sanh khởi càng tiến đến tình trạng gia tăng và phát triển. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thực hiện hành sự khiển trách đến các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka này, bản thân vốn là những vị thường gây nên các sự xung đột, … (như trên) … và tranh tụng trong hội chúng, lại còn đi đến gặp các tỳ khưu khác cũng là những vị thường gây nên các sự xung đột, … (như trên) … và tranh tụng trong hội chúng, rồi nói như vầy: ‘Này các đại đức, các ngài đừng để vị đó đánh bại. Các ngài hãy phản bác lại thật mạnh bạo. Các ngài sáng trí hơn, kinh nghiệm hơn, học rộng hơn, và nổi bật hơn vị đó. Các ngài chớ có sợ vị đó. Chúng tôi sẽ về phe của các ngài;’ vì thế mà những sự xung đột chưa sanh đã sanh khởi và những sự xung đột đã sanh khởi càng tiến đến tình trạng gia tăng và phát triển. Hội chúng thực hiện hành sự khiển trách đến các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka. Đại đức nào đồng ý việc thực hiện hành sự khiển trách đến các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka này, bản thân vốn là những vị thường gây nên các sự xung đột, … (như trên) … và tranh tụng trong hội chúng, lại còn đi đến gặp các tỳ khưu khác cũng là những vị thường gây nên các sự xung đột, … (như trên) … và tranh tụng trong hội chúng, rồi nói như vầy: ‘Này các đại đức, các ngài đừng để vị đó đánh bại. Các ngài hãy phản bác lại thật mạnh bạo. Các ngài sáng trí hơn, kinh nghiệm hơn, học rộng hơn, và nổi bật hơn vị đó. Các ngài chớ có sợ vị đó. Chúng tôi sẽ về phe của các ngài;’ vì thế mà những sự xung đột chưa sanh đã sanh khởi và những sự xung đột đã sanh khởi càng tiến đến tình trạng gia tăng và phát triển. Hội chúng thực hiện hành sự khiển trách đến các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka. Đại đức nào đồng ý việc thực hiện hành sự khiển trách đến các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka này, bản thân vốn là những vị thường gây nên các sự xung đột, … (như trên) … và tranh tụng trong hội chúng, lại còn đi đến gặp các tỳ khưu khác cũng là những vị thường gây nên các sự xung đột, ―nt― và tranh tụng trong hội chúng, rồi nói như vầy: ‘Này các đại đức, các ngài đừng để vị đó đánh bại. Các ngài hãy phản bác lại thật mạnh bạo. Các ngài sáng trí hơn, kinh nghiệm hơn, học rộng hơn, và nổi bật hơn vị đó. Các ngài chớ có sợ vị đó. Chúng tôi sẽ về phe của các ngài;’ vì thế mà những sự xung đột chưa sanh đã sanh khởi và những sự xung đột đã sanh khởi càng tiến đến tình trạng gia tăng và phát triển. Hội chúng thực hiện hành sự khiển trách đến các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka. Đại đức nào đồng ý việc thực hiện hành sự khiển trách đến các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Hành sự khiển trách đến các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka đã được hội chúng thực hiện. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
MƯỜI HAI HÀNH SỰ SAI PHÁP:
Inda-bh 1~5Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố: Được thực hiện thiếu sự hiện diện, được thực hiện thiếu sự tra hỏi, được thực hiện với sự không thừa nhận. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Inda-bh 2~6Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội không vi phạm, được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc không sám hối được, được thực hiện với tội đã được sám hối. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Inda-bh 3~7Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa quở trách, được thực hiện khi chưa nhắc nhở, được thực hiện khi chưa xác định tội. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Inda-bh 4~8Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện thiếu sự hiện diện, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Inda-bh 5~9Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện thiếu sự tra hỏi, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Inda-bh 6~10Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự không thừa nhận, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Inda-bh 7~11Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội không vi phạm, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Inda-bh 8~12Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc không sám hối được, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Inda-bh 9~13Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội đã được sám hối, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Inda-bh 10~14Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa quở trách, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Inda-bh 11~15Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa nhắc nhở, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Inda-bh 12~16Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa xác định tội, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Dứt mười hai hành sự sai pháp.
MƯỜI HAI HÀNH SỰ ĐÚNG PHÁP:
Inda-bh 1~17Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố: Được thực hiện với sự hiện diện, được thực hiện từ sự tra hỏi, được thực hiện với sự thừa nhận. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Inda-bh 2~18Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm, được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc sám hối, được thực hiện với tội chưa được sám hối. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Inda-bh 3~19Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã quở trách, được thực hiện sau khi đã nhắc nhở, được thực hiện sau khi đã xác định tội. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Inda-bh 4~20Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự hiện diện, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Inda-bh 5~21Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện từ sự tra hỏi, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Inda-bh 6~22Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự thừa nhận, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Inda-bh 7~23Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Inda-bh 8~24Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc sám hối, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Inda-bh 9~25Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội chưa được sám hối, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Inda-bh 10~26Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã quở trách, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Inda-bh 11~27Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã nhắc nhở, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Inda-bh 12~28Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã xác định tội, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Dứt mười hai hành sự đúng pháp.
SÁU TRƯỜNG HỢP TRONG KHI MONG MUỐN:
Inda-bh 1~29Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự khiển trách đến vị tỳ khưu có ba yếu tố: Vị thường gây nên sự xung đột, thường gây nên sự cãi cọ, thường gây nên sự tranh luận, thường gây nên sự nói chuyện nhảm nhí, thường gây nên sự tranh tụng trong hội chúng; vị ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội); vị sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia.
Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự khiển trách đến vị tỳ khưu có ba yếu tố này.
Inda-bh 2~30Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự khiển trách đến vị tỳ khưu có ba yếu tố khác nữa: Vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, vị bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, vị bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự khiển trách đến vị tỳ khưu có ba yếu tố này.
Inda-bh 3~31Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự khiển trách đến vị tỳ khưu có ba yếu tố khác nữa: Vị chê bai đức Phật, vị chê bai Giáo Pháp, vị chê bai Hội Chúng. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự khiển trách đến vị tỳ khưu có ba yếu tố này.
Inda-bh 4~32Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự khiển trách đến ba hạng tỳ khưu: Hạng thường gây nên sự xung đột, thường gây nên sự cãi cọ, thường gây nên sự tranh luận, thường gây nên sự nói chuyện nhảm nhí, thường gây nên sự tranh tụng trong hội chúng; hạng ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội); hạng sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự khiển trách đến ba hạng tỳ khưu này.
Inda-bh 5~33Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự khiển trách đến ba hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, hạng bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, hạng bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự khiển trách đến ba hạng tỳ khưu này.
Inda-bh 6~34Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự khiển trách đến đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng chê bai đức Phật, hạng chê bai Giáo Pháp, hạng chê bai Hội Chúng. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự khiển trách đến ba hạng tỳ khưu này.
Dứt sáu trường hợp trong khi mong muốn.
MƯỜI TÁM PHẬN SỰ:
Inda-bh 1-18~35Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu bị thực hiện hành sự khiển trách nên làm phận sự đúng đắn. Trong trường hợp này, các phận sự đúng đắn ấy là: Không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên ban cho phép nương nhờ, không nên bảo sa di phục vụ, không nên ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, không nên giảng dạy tỳ khưu ni dầu đã được chỉ định, không nên tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự khiển trách, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, không nên chỉ trích hành sự, không nên chỉ trích các vị thực hiện hành sự, đối với vị tỳ khưu trong sạch không nên đình chỉ lễ Uposatha, không nên đình chỉ lễ Pavāraṇā, không nên làm công việc khuyên bảo, không nên khởi xướng việc cáo tội, không nên thỉnh ý (để buộc tội), không nên quở trách, không nên nhắc nhở, không nên cấu kết với các tỳ khưu.”
Dứt mười tám phận sự.
MƯỜI TÁM TRƯỜNG HỢP KHÔNG NÊN THU HỒI:
Inda-bh 1~36Sau đó, hội chúng đã thực hiện hành sự khiển trách đến các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka. Khi được hội chúng thực hiện hành sự khiển trách, các vị ấy làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, rồi đi đến gặp các tỳ khưu và nói như vầy:—“Bạch chư đại đức, được hội chúng thực hiện hành sự khiển trách, chúng tôi làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ chúng tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy thu hồi hành sự khiển trách cho các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka.
Inda-bh 2~37Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị ban phép tu lên bậc trên, ban cho phép nương nhờ, bảo sa di phục vụ, ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, giảng dạy tỳ khưu ni khi đã được chỉ định. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 3~38Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự khiển trách, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, chỉ trích hành sự, chỉ trích các vị thực hiện hành sự. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 4~39Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố: Vị đình chỉ lễ Uposatha đối với vị tỳ khưu trong sạch, đình chỉ lễ Pavāraṇā, làm công việc khuyên bảo, khởi xướng việc cáo tội, thỉnh ý (để buộc tội), quở trách, nhắc nhở, vị cấu kết với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố này.
Dứt mười tám trường hợp không nên thu hồi.
MƯỜI TÁM TRƯỜNG HỢP NÊN ĐƯỢC THU HỒI:
Inda-bh 1~40Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không ban phép tu lên bậc trên, không ban cho phép nương nhờ, không bảo sa di phục vụ, không ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, không giảng dạy tỳ khưu ni dầu đã được chỉ định. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 2~41Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị không tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự khiển trách, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, không chỉ trích hành sự, không chỉ trích các vị thực hiện hành sự. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 3~42Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố: Vị không đình chỉ lễ Uposatha đối với vị tỳ khưu trong sạch, không đình chỉ lễ Pavāraṇā, không làm công việc khuyên bảo, không khởi xướng việc cáo tội, không thỉnh ý (để buộc tội), không quở trách, không nhắc nhở, không cấu kết với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành sự khiển trách nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố này.
Dứt mười tám trường hợp nên được thu hồi.
[VIỆC THU HỒI]
Inda-bh 1~43Và này các tỳ khưu, nên được thu hồi như vầy: Này các tỳ khưu, các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy: “Bạch chư đại đức, được hội chúng thực hiện hành sự khiển trách, chúng tôi làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi; giờ chúng tôi thỉnh cầu sự thu hồi hành sự khiển trách.”
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba. Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
Inda-bh 2~44“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự khiển trách, các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka này làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự khiển trách. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thu hồi hành sự khiển trách cho các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự khiển trách, các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka này làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự khiển trách. Hội chúng thu hồi hành sự khiển trách cho các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka. Đại đức nào đồng ý việc thu hồi hành sự khiển trách cho các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự khiển trách, các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka này làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự khiển trách. Hội chúng thu hồi hành sự khiển trách cho các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka. Đại đức nào đồng ý việc thu hồi hành sự khiển trách cho các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự khiển trách, các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka này làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự khiển trách. Hội chúng thu hồi hành sự khiển trách cho các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka. Đại đức nào đồng ý việc thu hồi hành sự khiển trách cho các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Hành sự khiển trách đến các tỳ khưu nhóm Paṇḍuka và Lohitaka đã được hội chúng thu hồi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Dứt hành sự khiển trách là thứ nhất.
2. HÀNH SỰ CHỈ DẠY:
Inda-bh 1~45Vào lúc bấy giờ, đại đức Seyyasaka là vị ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội), sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia. Hơn nữa, các tỳ khưu thường xuyên bị bận rộn trong khi ban cho hình phạt parivāsa, trong khi đưa về lại (hình phạt) ban đầu, trong khi ban cho hình phạt mānatta, trong khi giải tội.
Inda-bh 2~46Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao đại đức Seyyasaka lại là vị ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội), lại sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia. Hơn nữa các tỳ khưu thường xuyên bị bận rộn trong khi ban cho hình phạt parivāsa, trong khi đưa về lại (hình phạt) ban đầu, trong khi ban cho hình phạt mānatta, trong khi giải tội?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 3~47Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu Seyyasaka là kẻ ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội), sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia. Hơn nữa, các tỳ khưu thường xuyên bị bận rộn trong khi ban cho hình phạt parivāsa, trong khi đưa về lại (hình phạt) ban đầu, trong khi ban cho hình phạt mānatta, trong khi giải tội, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Inda-bh 4~48Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho kẻ rồ dại ấy, thật không hợp lẽ, không thích đáng, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm. Này các tỳ khưu, vì sao kẻ rồ dại ấy, lại là kẻ ngu si, khờ khạo, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội), lại sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia. Hơn nữa, các tỳ khưu thường xuyên bị bận rộn trong khi ban cho hình phạt parivāsa, trong khi đưa về lại (hình phạt) ban đầu, trong khi ban cho hình phạt mānatta, trong khi giải tội?
Inda-bh 5~49Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy thực hiện hành sự chỉ dạy đối với tỳ khưu Seyyasaka rằng: ‘Ngươi cần phải sống với sự nương nhờ.’ Và này các tỳ khưu, nên thực hiện như vầy: Trước hết, tỳ khưu Seyyasaka cần được quở trách; sau khi quở trách cần được nhắc nhở; sau khi nhắc nhở cần xác định tội; sau khi xác định tội, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
Inda-bh 6~50“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Seyyasaka này là vị ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội), sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia. Hơn nữa, các tỳ khưu thường xuyên bị bận rộn trong khi cho vị ấy hình phạt parivāsa, trong khi đưa về lại (hình phạt) ban đầu, trong khi ban cho hình phạt mānatta, trong khi giải tội. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thực hiện hành sự chỉ dạy đối với tỳ khưu Seyyasaka rằng: ‘Ngươi cần phải sống với sự nương nhờ.’ Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Seyyasaka này là vị ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội), sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia. Hơn nữa, các tỳ khưu thường xuyên bị bận rộn trong khi cho vị ấy hình phạt parivāsa, trong khi đưa về lại (hình phạt) ban đầu, trong khi ban cho hình phạt mānatta, trong khi giải tội. Hội chúng thực hiện hành sự chỉ dạy đối với tỳ khưu Seyyasaka rằng: ‘Ngươi cần phải sống với sự nương nhờ.’ Đại đức nào đồng ý việc thực hiện hành sự chỉ dạy đối với đại đức Seyyasaka rằng: ‘Ngươi cần phải sống với sự nương nhờ’ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) … Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Seyyasaka này là vị ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội); sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia. Hơn nữa, các tỳ khưu thường xuyên bị bận rộn trong khi cho vị ấy hình phạt parivāsa, trong khi đưa về lại (hình phạt) ban đầu, trong khi ban cho hình phạt mānatta, trong khi giải tội. Hội chúng thực hiện hành sự chỉ dạy đối với tỳ khưu Seyyasaka rằng: ‘Ngươi cần phải sống với sự nương nhờ.’ Đại đức nào đồng ý việc thực hiện hành sự chỉ dạy đối với đại đức Seyyasaka rằng: ‘Ngươi cần phải sống với sự nương nhờ’ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Hành sự chỉ dạy đối với đại đức Seyyasaka rằng: ‘Ngươi cần phải sống với sự nương nhờ’ đã được hội chúng thực hiện. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
MƯỜI HAI HÀNH SỰ SAI PHÁP:
Inda-bh 1~51Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố: Được thực hiện thiếu sự hiện diện, được thực hiện thiếu sự tra hỏi, được thực hiện với sự không thừa nhận. Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Inda-bh 2~52Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội không vi phạm, được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc không sám hối được, được thực hiện với tội đã được sám hối. ...
Inda-bh 3~53Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa quở trách, được thực hiện khi chưa nhắc nhở, được thực hiện khi chưa xác định tội. ...
Inda-bh 4~54Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện thiếu sự hiện diện, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. ...
Inda-bh 5~55Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện thiếu sự tra hỏi, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. ...
Inda-bh 6~56Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự không thừa nhận, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. ...
Inda-bh 7~57Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội không vi phạm, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. ...
Inda-bh 8~58Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc không sám hối được, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. ...
Inda-bh 9~59Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội đã được sám hối, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. ...
Inda-bh 10~60Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa quở trách, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. ...
Inda-bh 11~61Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa nhắc nhở, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. ...
Inda-bh 12~62Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa xác định tội, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Dứt mười hai hành sự sai pháp thuộc hành sự chỉ dạy.
MƯỜI HAI HÀNH SỰ ĐÚNG PHÁP:
Inda-bh 1~63Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố: Được thực hiện với sự hiện diện, được thực hiện từ sự tra hỏi, được thực hiện với sự thừa nhận. Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Inda-bh 2~64Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm, được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc sám hối, được thực hiện với tội chưa được sám hối. ...
Inda-bh 3~65Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã quở trách, được thực hiện sau khi đã nhắc nhở, được thực hiện sau khi đã xác định tội. ...
Inda-bh 4~66Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự hiện diện, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. ...
Inda-bh 5~67Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện từ sự tra hỏi, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. ...
Inda-bh 6~68Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự thừa nhận, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. ...
Inda-bh 7~69Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. ...
Inda-bh 8~70Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc sám hối, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. ...
Inda-bh 9~71Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội chưa được sám hối, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. ...
Inda-bh 10~72Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã quở trách, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. ...
Inda-bh 11~73Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã nhắc nhở, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. ...
Inda-bh 12~74Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã xác định tội, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Dứt mười hai hành sự đúng pháp thuộc hành sự chỉ dạy.
SÁU TRƯỜNG HỢP TRONG KHI MONG MUỐN:
Inda-bh 1~75Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự chỉ dạy đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố: Vị thường gây nên sự xung đột, thường gây nên sự cãi cọ, thường gây nên sự tranh luận, thường gây nên sự nói chuyện nhảm nhí, thường gây nên sự tranh tụng trong hội chúng; vị ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội); vị sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự chỉ dạy đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố này.
Inda-bh 2~76Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự chỉ dạy đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố khác nữa: Vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, vị bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, vị bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự chỉ dạy đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố này.
Inda-bh 3~77Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự chỉ dạy đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố khác nữa: Là vị chê bai đức Phật, là vị chê bai Giáo Pháp, là vị chê bai Hội Chúng. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự chỉ dạy đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố này.
Inda-bh 4~78Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự chỉ dạy đối với ba hạng tỳ khưu: Hạng thường gây nên sự xung đột, thường gây nên sự cãi cọ, thường gây nên sự tranh luận, thường gây nên sự nói chuyện nhảm nhí, thường gây nên sự tranh tụng trong hội chúng; hạng ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội); hạng sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự chỉ dạy đối với ba hạng tỳ khưu này.
Inda-bh 5~79Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự chỉ dạy đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, hạng bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, hạng bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự chỉ dạy đối với ba hạng tỳ khưu này.
Inda-bh 6~80Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự chỉ dạy đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng chê bai đức Phật, hạng chê bai Giáo Pháp, hạng chê bai Hội Chúng. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự chỉ dạy đối với ba hạng tỳ khưu này.
Dứt sáu trường hợp trong khi mong muốn thuộc hành sự chỉ dạy.
MƯỜI TÁM PHẬN SỰ:
Inda-bh 1-18~81Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu bị thực hiện hành sự chỉ dạy nên làm phận sự đúng đắn. Trong trường hợp này, các phận sự đúng đắn ấy là: Không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên ban cho phép nương nhờ, không nên bảo sa di phục vụ, không nên ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, không nên giảng dạy tỳ khưu ni dầu đã được chỉ định, không nên tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự chỉ dạy, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, không nên chỉ trích hành sự, không nên chỉ trích các vị thực hiện hành sự, đối với vị tỳ khưu trong sạch không nên đình chỉ lễ Uposatha, không nên đình chỉ lễ Pavāraṇā, không nên làm công việc khuyên bảo, không nên khởi xướng việc cáo tội, không nên thỉnh ý (để buộc tội), không nên quở trách, không nên nhắc nhở, không nên cấu kết với các tỳ khưu.”
Dứt mười tám phận sự thuộc hành sự chỉ dạy.
MƯỜI TÁM TRƯỜNG HỢP KHÔNG NÊN THU HỒI:
Inda-bh 1~82Sau đó, hội chúng đã thực hiện hành sự chỉ dạy đối với tỳ khưu Seyyasaka rằng: “Ngươi cần phải sống với sự nương nhờ.” Khi được hội chúng thực hiện hành sự chỉ dạy, vị ấy trong khi thân cận, trong khi quan hệ, trong khi gần gũi bạn tốt, trong khi nhờ họ đọc tụng, trong khi đặt câu hỏi, đã trở thành vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ các đầu đề, là vị sáng trí, có khả năng, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Vị ấy làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, rồi đi đến gặp các tỳ khưu và nói như vầy:—“Bạch chư đại đức, được hội chúng thực hiện hành sự chỉ dạy, tôi làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy thu hồi hành sự chỉ dạy đối với tỳ khưu Seyyasaka.
Inda-bh 2~83Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị ban phép tu lên bậc trên, ban cho phép nương nhờ, bảo sa di phục vụ, ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, giảng dạy tỳ khưu ni khi đã được chỉ định. Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 3~84Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự chỉ dạy, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, chỉ trích hành sự, chỉ trích các vị thực hiện hành sự. Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 4~85Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố: Vị đình chỉ lễ Uposatha đối với vị tỳ khưu trong sạch, đình chỉ lễ Pavāraṇā, làm công việc khuyên bảo, khởi xướng việc cáo tội, thỉnh ý (để buộc tội), quở trách, nhắc nhở, vị cấu kết với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố này.
Dứt mười tám trường hợp không nên thu hồi.
MƯỜI TÁM TRƯỜNG HỢP NÊN ĐƯỢC THU HỒI:
Inda-bh 1~86Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không ban phép tu lên bậc trên, không ban cho phép nương nhờ, không bảo sa di phục vụ, không ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, không giảng dạy tỳ khưu ni dầu đã được chỉ định. Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 2~87Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị không tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự chỉ dạy, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, không chỉ trích hành sự, không chỉ trích các vị thực hiện hành sự. Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 3~88Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố: Vị không đình chỉ lễ Uposatha đối với vị tỳ khưu trong sạch, không đình chỉ lễ Pavāraṇā, không làm công việc khuyên bảo, không khởi xướng việc cáo tội, không thỉnh ý (để buộc tội), không quở trách, không nhắc nhở, vị không cấu kết với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành sự chỉ dạy nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố này.
Dứt mười tám trường hợp nên được thu hồi.
[VIỆC THU HỒI]
Inda-bh 1~89Và này các tỳ khưu, nên được thu hồi như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Seyyasaka ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy: “Bạch chư đại đức, được hội chúng thực hiện hành sự chỉ dạy, tôi làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi; giờ tôi thỉnh cầu sự thu hồi hành sự chỉ dạy.”
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Inda-bh 2~90Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự chỉ dạy, tỳ khưu Seyyasaka này làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự chỉ dạy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thu hồi hành sự chỉ dạy đối với tỳ khưu Seyyasaka. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự chỉ dạy, tỳ khưu Seyyasaka này làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự chỉ dạy. Hội chúng thu hồi hành sự chỉ dạy đối với tỳ khưu Seyyasaka. Đại đức nào đồng ý việc thu hồi hành sự chỉ dạy đối với tỳ khưu Seyyasaka xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự chỉ dạy, tỳ khưu Seyyasaka này làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự chỉ dạy. Hội chúng thu hồi hành sự chỉ dạy đối với tỳ khưu Seyyasaka. Đại đức nào đồng ý việc thu hồi hành sự chỉ dạy đối với tỳ khưu Seyyasaka xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự chỉ dạy, tỳ khưu Seyyasaka này làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự chỉ dạy. Hội chúng thu hồi hành sự chỉ dạy đối với tỳ khưu Seyyasaka. Đại đức nào đồng ý việc thu hồi hành sự chỉ dạy đối với tỳ khưu Seyyasaka xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Hành sự chỉ dạy đối với tỳ khưu Seyyasaka đã được hội chúng thu hồi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Dứt hành sự chỉ dạy là thứ nhì.
3. HÀNH SỰ XUA ĐUỔI:
[Hành vi sai trái của các vị nhóm Assaji và Punabbasuka]
Inda-bh 1~91Vào lúc bấy giờ, các vị nhóm Assaji và Punabbasuka thường trú tại vùng Kīṭāgiri là những tỳ khưu tồi, không biết hổ thẹn. Họ cư xử hành vi sai trái có hình thức như vầy: Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết hai mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm thảm hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đội đầu, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đeo tai, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa che ngực.
Inda-bh 2~92Họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng tràng hoa kết một mặt, đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng tràng hoa kết hai mặt, đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng thảm hoa, đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa, đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa đội đầu, đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa đeo tai, đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa che ngực cho những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình.
Inda-bh 3~93Họ cùng với những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình ăn chung trong một đĩa, uống chung trong một cốc, ngồi chung trên một chỗ ngồi, nằm chung trên một giường, nằm chung một tấm trải, nằm chung một tấm đắp, nằm chung một tấm trải và tấm đắp. Họ ăn sái giờ, họ uống rượu, họ đeo dây chuyền, xức nước hoa và phấn thơm.
Họ nhảy múa, họ ca hát, họ tấu đàn, họ vui đùa. Họ lại còn nhảy múa cùng với người nữ đang nhảy múa, ca hát cùng với người nữ đang nhảy múa, tấu đàn cùng với người nữ đang nhảy múa, vui đùa cùng với người nữ đang nhảy múa; họ lại còn nhảy múa cùng với người nữ đang ca hát, ca hát cùng với người nữ đang ca hát, tấu đàn cùng với người nữ đang ca hát, vui đùa cùng với người nữ đang ca hát; họ lại còn nhảy múa cùng với người nữ đang tấu đàn, ca hát cùng với người nữ đang tấu đàn, tấu đàn cùng với người nữ đang tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang tấu đàn; họ lại còn nhảy múa cùng với người nữ đang vui đùa, ca hát cùng với người nữ đang vui đùa, tấu đàn cùng với người nữ đang vui đùa, vui đùa cùng với người nữ đang vui đùa.
Họ còn tiêu khiển cờ tám ô vuông, cờ mười ô vuông, họ chơi với bàn cờ tưởng tượng ở trên không, họ chơi lối sắp vòng tròn, họ chơi lối rút quân cờ, họ chơi ném xúc xắc, họ chơi đánh gậy, họ chơi trò vẽ bằng tay, họ chơi trò sấp ngửa, họ chơi trò thổi kèn bằng lá cây, họ chơi trò uốn dẻo, họ chơi trò nhào lộn, họ chơi trò dùng lá cọ giả làm cối xay gió, họ chơi trò đo lường, họ chơi trò đua xe, họ thi bắn cung, họ chơi trò đố chữ, họ chơi trò đoán ý, họ chơi trò nhái điệu bộ, họ tập cỡi voi, họ tập cỡi ngựa, họ tập điều khiển xe, họ tập bắn cung, họ tập đao kiếm, họ chạy phía trước voi, họ chạy phía trước ngựa, họ chạy đi chạy lại phía trước xe; họ huýt sáo, họ vỗ tay, họ vật lộn, họ đánh nhau bằng các nắm tay. Họ trải y ca-sa hai lớp ở giữa nhà rồi mời cô vũ nữ rằng: “Này cô em, hãy nhảy ở đây này,” họ còn vỗ tay tán thưởng. Họ cư xử hành vi sai trái theo nhiều cách.
Inda-bh 4~94Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã trải qua mùa (an cư) mưa ở xứ Kāsi, trong khi đi đến thành Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn, đã trú tại vùng Kīṭāgiri. Khi ấy vào buổi sáng, vị tỳ khưu ấy đã mặc y, cầm y bát, và đi vào vùng Kīṭāgiri để khất thực. Vị ấy có phong cách chững chạc, mắt nhìn xuống, với vẻ chăm chú khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duỗi.
Inda-bh 5~95Dân chúng sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đã nói như vầy:—“Người này là ai mà xem ra vô cùng yếu ớt, xem ra vô cùng lười biếng, xem ra vô cùng ngớ ngẩn vậy? Khi gã đi đến, ai mà chịu bố thí đồ ăn đây? Trong khi các ngài thuộc nhóm Assaji và Punabbasuka của chúng ta thì lịch thiệp, thân thiện, nói năng hòa nhã, luôn cười xã giao, luôn mời mọc đến thăm viếng, không có ngớ ngẩn, khuôn mặt lại rạng rỡ, luôn mở đầu câu chuyện; chính vì thế, đồ ăn khất thực nên được cúng dường đến các ngài.”
Inda-bh 6~96Có nam cư sĩ nọ đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đang đi khất thực ở vùng Kīṭāgiri, sau khi thấy đã đi đến gần vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã đảnh lễ vị tỳ khưu ấy và nói điều này:—“Thưa ngài, đồ khất thực có nhận được chưa vậy?”—“Này đạo hữu, đồ khất thực chưa có nhận được.”—“Thưa ngài, xin hãy đến. Chúng ta sẽ đi về nhà.”
Inda-bh 7~97Rồi nam cư sĩ ấy đã dẫn vị tỳ khưu ấy về nhà, dâng thức ăn, và đã nói điều này:—“Thưa ngài, ngài sẽ đi đâu?”—“Này đạo hữu, giờ ta sẽ đi Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn.”—“Thưa ngài, chính vì điều ấy xin ngài đê đầu đảnh lễ ở bàn chân của đức Thế Tôn với lời thăm hỏi của con, và xin ngài hãy thưa như vầy: ‘Bạch ngài, sự sinh sống ở vùng Kīṭāgiri đã bị hủ hóa. Các vị nhóm Assaji và Punabbasuka thường trú tại vùng Kīṭāgiri là những tỳ khưu tồi, không biết hổ thẹn. Họ cư xử hành vi sai trái có hình thức như vầy: Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết hai mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm thảm hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đội đầu, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đeo tai, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa che ngực.
Họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng tràng hoa kết một mặt, đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng tràng hoa kết hai mặt, đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng thảm hoa, đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa, đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa đội đầu, đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa đeo tai, đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng vòng hoa che ngực cho những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình. Họ cùng với những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình ăn chung trong một đĩa, uống chung trong một cốc, ngồi chung trên một chỗ ngồi, nằm chung trên một giường, nằm chung một tấm trải, nằm chung một tấm đắp, nằm chung một tấm trải và tấm đắp. Họ ăn sái giờ, họ uống rượu, họ đeo dây chuyền, xức nước hoa và phấn thơm.
Họ nhảy múa, họ ca hát, họ tấu đàn, họ vui đùa. Họ lại còn nhảy múa cùng với người nữ đang nhảy múa, ca hát cùng với người nữ đang nhảy múa, tấu đàn cùng với người nữ đang nhảy múa, vui đùa cùng với người nữ đang nhảy múa; [Nên thực hiện sự luân phiên] … (như trên) … Họ lại còn nhảy múa cùng với người nữ đang vui đùa, ca hát cùng với người nữ đang vui đùa, tấu đàn cùng với người nữ đang vui đùa, vui đùa cùng với người nữ đang vui đùa.
Họ còn tiêu khiển cờ tám ô vuông, cờ mười ô vuông, họ chơi với bàn cờ tưởng tượng ở trên không, họ chơi lối sắp vòng tròn, họ chơi lối rút quân cờ, họ chơi ném xúc xắc, họ chơi đánh gậy, họ chơi trò vẽ bằng tay, họ chơi trò sấp ngửa, họ chơi trò thổi kèn bằng lá cây, họ chơi trò uốn dẻo.
Họ chơi trò nhào lộn, họ chơi trò dùng lá cọ giả làm cối xay gió, họ chơi trò đo lường, họ chơi trò đua xe, họ thi bắn cung, họ chơi trò đố chữ, họ chơi trò đoán ý, họ chơi trò nhái điệu bộ, họ tập cỡi voi, họ tập cỡi ngựa, họ tập điều khiển xe, họ tập bắn cung, họ tập đao kiếm, họ chạy phía trước voi, họ chạy phía trước ngựa, họ chạy đi chạy lại phía trước xe; họ huýt sáo, họ vỗ tay, họ vật lộn, họ đánh nhau bằng các nắm tay. Họ trải y ca-sa hai lớp ở giữa nhà rồi mời cô vũ nữ rằng: ‘Này cô em, hãy nhảy ở đây này,’ họ còn vỗ tay tán thưởng. Họ cư xử hành vi sai trái theo nhiều cách.
Bạch ngài, những người trước đây mộ đạo, có niềm tin, bây giờ không còn mộ đạo, mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỳ khưu tốt ra đi, còn các tỳ khưu tồi cư ngụ. Bạch ngài, lành thay nếu đức Thế Tôn có thể phái các tỳ khưu đến vùng Kīṭāgiri, như vậy sự sinh sống ở vùng Kīṭāgiri có thể tồn tại.”
Inda-bh 8~98—“Này đạo hữu, được rồi.” Vị tỳ khưu ấy sau khi lắng nghe nam cư sĩ ấy đã ra đi về hướng thành Sāvatthi. Tuần tự, vị ấy đã đến thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Inda-bh 9~99Điều này đã trở thành thông lệ của chư Phật Thế Tôn là niềm nở đối với các tỳ khưu đi đến. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:—“Này tỳ khưu, sức khỏe có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Ngươi đi đến đường xa có được ít mệt nhọc không? Và này tỳ khưu, ngươi từ đâu đến vậy?”—“Bạch Thế Tôn, sức khỏe khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc tốt đẹp. Bạch ngài, con đi đường xa không mệt lắm.
Inda-bh 10~100Bạch ngài, con đây đã trải qua mùa (an cư) mưa ở xứ Kāsi, trong khi đi đến thành Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn, đã trú tại vùng Kīṭāgiri. Bạch ngài, khi ấy vào buổi sáng con đã mặc y, cầm y bát, đi vào vùng Kīṭāgiri để khất thực. Bạch ngài, có nam cư sĩ nọ đã nhìn thấy con đang đi khất thực ở vùng Kīṭāgiri, sau khi thấy đã đi đến gần con, sau khi đến đã đảnh lễ con và nói điều này: ‘Thưa ngài, đồ khất thực có nhận được chưa vậy?’ ‘Này đạo hữu, đồ khất thực chưa có nhận được.’ ‘Thưa ngài, xin hãy đến. Chúng ta sẽ đi về nhà.’ Bạch ngài, sau đó nam cư sĩ ấy đã dẫn con về nhà, dâng thức ăn, rồi đã nói điều này: ‘Thưa ngài, ngài sẽ đi đâu?’ ‘Này đạo hữu, giờ ta sẽ đi Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn.’ ‘Thưa ngài, chính vì điều ấy xin ngài đê đầu đảnh lễ ở bàn chân của đức Thế Tôn với lời thăm hỏi của con và xin ngài hãy thưa như vầy:
‘Bạch ngài, sự sinh sống ở vùng Kīṭāgiri đã bị hủ hóa. Các vị nhóm Assaji và Punabbasuka thường trú tại vùng Kīṭāgiri là những tỳ khưu tồi, không biết hổ thẹn. Họ cư xử hành vi sai trái có hình thức như vầy: Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, … (như trên) … Họ cư xử hành vi sai trái theo nhiều cách. Bạch ngài, những người trước đây mộ đạo, có niềm tin, bây giờ không còn mộ đạo, mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỳ khưu tốt ra đi, còn các tỳ khưu tồi cư ngụ. Bạch ngài, lành thay nếu đức Thế Tôn có thể phái các tỳ khưu đến vùng Kīṭāgiri, như vậy sự sinh sống ở vùng Kīṭāgiri có thể tồn tại.’ Bạch Thế Tôn, con từ xứ đó đi đến.”
Inda-bh 11~101Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói các vị nhóm Assaji và Punabbasuka thường trú tại vùng Kīṭāgiri là những tỳ khưu tồi, không biết hổ thẹn. Họ cư xử hành vi sai trái có hình thức như vầy: Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, … (như trên) … Họ cư xử hành vi sai trái theo nhiều cách. Những người trước đây mộ đạo, có niềm tin, bây giờ không còn mộ đạo, mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỳ khưu tốt ra đi, còn các tỳ khưu tồi cư ngụ, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Inda-bh 12~102Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho những kẻ rồ dại ấy, … (như trên) … Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại cư xử hành vi sai trái có hình thức như thế? Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, … (như trên) … Họ cư xử hành vi sai trái theo nhiều cách?
Inda-bh 13~103Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo Sāriputta và Moggallāna rằng:—“Này Sāriputta và Moggallāna, hai ngươi hãy đi đến vùng Kīṭāgiri rồi hãy thực hiện hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka; các vị này là những đệ tử của hai ngươi.”
Inda-bh 14~104—“Bạch ngài, các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka thì dữ tợn và thô lỗ, làm thế nào chúng con thực hiện hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu ấy được?”—“Này Sāriputta và Moggallāna, chính vì điều ấy hai ngươi hãy đi cùng với nhiều vị tỳ khưu.”—“Bạch ngài, xin vâng.” Sāriputta và Moggallāna đã trả lời đức Thế Tôn.
Inda-bh 15~105—Và này các tỳ khưu, nên thực hiện như vầy: Trước hết, các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka cần được quở trách; sau khi quở trách cần được nhắc nhở; sau khi nhắc nhở cần xác định tội; sau khi xác định tội, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka này là những kẻ làm hư hỏng các gia đình và có các hành động sai trái. Các hành động sai trái của họ không những được thấy rõ mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì họ không những được thấy rõ mà còn được nghe đồn nữa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thực hiện hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kīṭāgiri.’ Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka này là những kẻ làm hư hỏng các gia đình và có các hành động sai trái. Các hành động sai trái của họ không những được thấy rõ mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì họ không những được thấy rõ mà còn được nghe đồn nữa. Hội chúng thực hiện hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kīṭāgiri.’ Đại đức nào đồng ý việc thực hiện hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kīṭāgiri’ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) … Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka này là những kẻ làm hư hỏng các gia đình và có các hành động sai trái. Các hành động sai trái của họ không những được thấy rõ mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì họ không những được thấy rõ mà còn được nghe đồn nữa. Hội chúng thực hiện hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kīṭāgiri.’ Đại đức nào đồng ý việc thực hiện hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kīṭāgiri’ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kīṭāgiri’ đã được hội chúng thực hiện. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
[Dứt việc thực hiện hành sự xua đuổi]
MƯỜI HAI HÀNH SỰ SAI PHÁP THUỘC HÀNH SỰ XUA ĐUỔI:
Inda-bh 1~106Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố: Được thực hiện thiếu sự hiện diện, được thực hiện thiếu sự tra hỏi, được thực hiện với sự không thừa nhận. Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Inda-bh 2~107Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội không vi phạm, được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc không sám hối được, được thực hiện với tội đã được sám hối. … (như trên) …
Inda-bh 3~108Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa quở trách, được thực hiện khi chưa nhắc nhở, được thực hiện khi chưa xác định tội. … (như trên) …
Inda-bh 4~109Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện thiếu sự hiện diện, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 5~110Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện thiếu sự tra hỏi, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 6~111Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự không thừa nhận, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 7~112Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội không vi phạm, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 8~113Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc không sám hối được, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 9~114Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội đã được sám hối, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 10~115Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa quở trách, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 11~116Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa nhắc nhở, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 12~117Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa xác định tội, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Dứt mười hai hành sự sai pháp thuộc hành sự xua đuổi.
MƯỜI HAI HÀNH SỰ ĐÚNG PHÁP:
Inda-bh 1~118Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố: Được thực hiện với sự hiện diện, được thực hiện từ sự tra hỏi, được thực hiện với sự thừa nhận. Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Inda-bh 2~119Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm, được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc sám hối, được thực hiện với tội chưa được sám hối. … (như trên) …
Inda-bh 3~120Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã quở trách, được thực hiện sau khi đã nhắc nhở, được thực hiện sau khi đã xác định tội. … (như trên) …
Inda-bh 4~121Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự hiện diện, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 5~122Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện từ sự tra hỏi, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 6~123Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự thừa nhận, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 7~124Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 8~125Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự đúng Pháp ―nt― có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc sám hối, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. ―nt―
Inda-bh 9~126Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội chưa được sám hối, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 10~127Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã quở trách, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 11~128Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã nhắc nhở, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 12~129Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã xác định tội, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Dứt mười hai hành sự đúng pháp thuộc hành sự xua đuổi.
MƯỜI BỐN TRƯỜNG HỢP TRONG KHI MONG MUỐN:
Inda-bh 1~130Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự xua đuổi đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố: Vị thường gây nên sự xung đột, thường gây nên sự cãi cọ, thường gây nên sự tranh luận, thường gây nên sự nói chuyện nhảm nhí, thường gây nên sự tranh tụng trong hội chúng; vị ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội); vị sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự xua đuổi đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố này.
Inda-bh 2~131Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự xua đuổi đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố khác nữa: Vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, vị bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, vị bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan. … (như trên) …
Inda-bh 3~132Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Vị chê bai đức Phật, vị chê bai Giáo Pháp, vị chê bai Hội Chúng. … (như trên) …
Inda-bh 4~133Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Vị có sự đùa giỡn bằng thân, vị có sự đùa giỡn bằng khẩu, vị có sự đùa giỡn bằng thân và khẩu. … (như trên) …
Inda-bh 5~134Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Vị có sở hành sai trái bằng thân, vị có sở hành sai trái bằng khẩu, vị có sở hành sai trái bằng thân và khẩu. … (như trên) …
Inda-bh 6~135Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Vị có sự gây tổn hại bằng thân, vị có sự gây tổn hại bằng khẩu, vị có sự gây tổn hại bằng thân và khẩu. … (như trên) …
Inda-bh 7~136Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Vị có sự nuôi mạng sai trái bằng thân, vị có sự nuôi mạng sai trái bằng khẩu, vị có sự nuôi mạng sai trái bằng thân và khẩu. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự xua đuổi đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố này.
Inda-bh 8~137Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự xua đuổi đối với ba hạng tỳ khưu: Hạng thường gây nên sự xung đột, thường gây nên sự cãi cọ, thường gây nên sự tranh luận, thường gây nên sự nói chuyện nhảm nhí, thường gây nên sự tranh tụng trong hội chúng; hạng ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội); hạng sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự xua đuổi đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố này.
Inda-bh 9~138Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự xua đuổi đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, hạng bị bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, hạng bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan. … (như trên) …
Inda-bh 10~139Này các tỳ khưu, … (như trên) … đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng chê bai đức Phật, hạng chê bai Giáo Pháp, hạng chê bai Hội Chúng. … (như trên) …
Inda-bh 11~140Này các tỳ khưu, … (như trên) … đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng có sự đùa giỡn bằng thân, hạng có sự đùa giỡn bằng khẩu, hạng có sự đùa giỡn bằng thân và khẩu. … (như trên) …
Inda-bh 12~141Này các tỳ khưu, … (như trên) … đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng có sở hành sai trái bằng thân, hạng có sở hành sai trái bằng khẩu, hạng có sở hành sai trái bằng thân và khẩu. … (như trên) …
Inda-bh 13~142Này các tỳ khưu, … (như trên) … đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng có sự gây tổn hại bằng thân, hạng có sự gây tổn hại bằng khẩu, hạng có sự gây tổn hại bằng thân và khẩu. … (như trên) …
Inda-bh 14~143Này các tỳ khưu, … (như trên) … đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng có sự nuôi mạng sai trái bằng thân, hạng có sự nuôi mạng sai trái bằng khẩu, hạng có sự nuôi mạng sai trái bằng thân và khẩu. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự xua đuổi đối với ba hạng tỳ khưu này.
Dứt mười bốn trường hợp trong khi mong muốn thuộc hành sự xua đuổi.
MƯỜI TÁM PHẬN SỰ:
Inda-bh 1-18~144Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu được thực hiện hành sự xua đuổi nên làm phận sự đúng đắn. Trong trường hợp này, các phận sự đúng đắn ấy là: Không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên ban cho phép nương nhờ, … (như trên) … không nên cấu kết với các tỳ khưu.”
Dứt mười tám phận sự thuộc hành sự xua đuổi.
MƯỜI TÁM TRƯỜNG HỢP KHÔNG NÊN THU HỒI:
Inda-bh 1~145Sau đó, hội chúng tỳ khưu dẫn đầu là Sāriputta và Moggallāna đã đi đến vùng Kīṭāgiri và đã thực hiện hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kīṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: “Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kīṭāgiri.” Khi được hội chúng thực hiện hành sự xua đuổi, các vị ấy không làm phận sự đúng đắn, không trở nên thu thúc, không làm bổn phận để sửa đổi, không làm cho các tỳ khưu hài lòng, họ mắng nhiếc, họ gièm pha, do có sự thiên vị vì thương, do có sự thiên vị vì ghét, do có sự thiên vị vì si mê, do có sự thiên vị vì sợ hãi, họ bị sa đọa, họ bỏ đi, họ hoàn tục. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
—“Vì sao các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka khi được hội chúng thực hiện hành sự xua đuổi lại không làm phận sự đúng đắn, không trở nên thu thúc, không làm bổn phận để sửa đổi, không làm cho các tỳ khưu hài lòng, họ lại mắng nhiếc, họ lại gièm pha, do có sự thiên vị vì thương, do có sự thiên vị vì ghét, do có sự thiên vị vì si mê, do có sự thiên vị vì sợ hãi, họ bị sa đọa, họ bỏ đi, họ hoàn tục?”
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~146Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói khi được hội chúng thực hiện hành sự xua đuổi, các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không làm phận sự đúng đắn … (như trên) … họ hoàn tục, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy thu hồi hành sự xua đuổi.
Inda-bh 3~147Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị ban phép tu lên bậc trên, ban cho phép nương nhờ, bảo sa di phục vụ, ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, giảng dạy tỳ khưu ni khi đã được chỉ định. Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 4~148Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự xua đuổi, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, chỉ trích hành sự, chỉ trích các vị thực hiện hành sự. Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 5~149Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố: Vị đình chỉ lễ Uposatha đối với vị tỳ khưu trong sạch, đình chỉ lễ Pavāraṇā, làm công việc khuyên bảo, khởi xướng việc cáo tội, thỉnh ý (để buộc tội), quở trách, nhắc nhở, vị cấu kết với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố này.
Dứt mười tám trường hợp không nên thu hồi thuộc hành sự xua đuổi.
MƯỜI TÁM TRƯỜNG HỢP NÊN ĐƯỢC THU HỒI:
Inda-bh 1~150Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không ban phép tu lên bậc trên, không ban cho phép nương nhờ, không bảo sa di phục vụ, không ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, không giảng dạy tỳ khưu ni dầu đã được chỉ định. Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 2~151Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị không tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự xua đuổi, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, không chỉ trích hành sự, không chỉ trích các vị thực hiện hành sự. Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 3~152Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố: Vị không đình chỉ lễ Uposatha đối với vị tỳ khưu trong sạch, không đình chỉ lễ Pavāraṇā, không làm công việc khuyên bảo, không khởi xướng việc cáo tội, không thỉnh ý (để buộc tội), không quở trách, không nhắc nhở, vị không cấu kết với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành sự xua đuổi nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố này.
Dứt mười tám trường hợp nên được thu hồi thuộc hành sự xua đuổi.
[VIỆC THU HỒI]
Inda-bh 1~153Và này các tỳ khưu, nên được thu hồi như vầy: Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đã được thực hiện hành sự xua đuổi ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các vị tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:
“Bạch các ngài, được hội chúng thực hiện hành sự xua đuổi, tôi làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi; giờ tôi thỉnh cầu sự thu hồi hành sự xua đuổi.” Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự xua đuổi, vị tỳ khưu này tên (như vầy) làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự xua đuổi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thu hồi hành sự xua đuổi đối với vị tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự xua đuổi, vị tỳ khưu này tên (như vầy) làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự xua đuổi. Hội chúng thu hồi hành sự xua đuổi đối với vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc thu hồi hành sự xua đuổi đối với vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự xua đuổi, vị tỳ khưu này tên (như vầy) làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự xua đuổi. Hội chúng thu hồi hành sự xua đuổi đối với vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc thu hồi hành sự xua đuổi đối với vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Hành sự xua đuổi đối với vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng thu hồi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Dứt hành sự xua đuổi là thứ ba.
4. HÀNH SỰ HÒA GIẢI:
Inda-bh 1~154Vào lúc bấy giờ, đại đức Sudhamma là vị thường trú, là vị trông nom công trình mới, là vị thường xuyên thọ lãnh vật thực của gia chủ Citta ở làng Macchikāsaṇḍa. Mỗi khi gia chủ Citta có ý muốn thỉnh mời hội chúng, hoặc nhóm, hoặc cá nhân, thì gia chủ không thỉnh mời hội chúng, hoặc nhóm, hoặc cá nhân khi chưa hỏi qua ý kiến của đại đức Sudhamma.
Inda-bh 2~155Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu trưởng lão như đại đức Sāriputta, đại đức Mahāmoggallāna, đại đức Mahākaccāna, đại đức Mahākoṭṭhika, đại đức Mahākappina, đại đức Mahācunda, đại đức Anuruddha, đại đức Revata, đại đức Upāli, đại đức Ānanda, và đại đức Rāhula đang đi du hành trong xứ Kāsi và đã đến ngụ tại Macchikāsaṇḍa.
Inda-bh 3~156Gia chủ Citta đã nghe rằng: “Nghe nói các vị tỳ khưu trưởng lão đã đi đến Macchikāsaṇḍa.” Khi ấy, gia chủ Citta đã đi đến gặp các vị tỳ khưu trưởng lão, sau khi đến đã đảnh lễ các vị tỳ khưu trưởng lão rồi ngồi xuống một bên. Khi gia chủ Citta đã ngồi xuống một bên, đại đức Sāriputta đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho gia chủ Citta bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đại đức Sāriputta chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, gia chủ Citta đã nói với các vị tỳ khưu trưởng lão điều này:—“Bạch các ngài, xin các trưởng lão hãy nhận lời con về bữa ăn dành cho các vị vãng lai vào ngày mai.” Các vị tỳ khưu trưởng lão đã nhận lời bằng thái độ im lặng.
Inda-bh 4~157Sau đó, khi hiểu được sự nhận lời của các vị tỳ khưu trưởng lão, gia chủ Citta đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ các vị tỳ khưu trưởng lão, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi đã đi đến gặp đại đức Sudhamma, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Sudhamma rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, gia chủ Citta đã nói với đại đức Sudhamma điều này:—“Thưa ngài, xin ngài đại đức Sudhamma nhận lời con về bữa ăn vào ngày mai cùng với các vị trưởng lão.”
Inda-bh 5~158Khi ấy, đại đức Sudhamma (nghĩ rằng): “Trước đây, gia chủ Citta này mỗi khi có ý muốn thỉnh mời hội chúng, hoặc nhóm, hoặc cá nhân, thì ông ta không thỉnh mời hội chúng, hoặc nhóm, hoặc cá nhân khi chưa hỏi qua ý kiến của ta. Giờ đây, ông ta không hỏi ý ta mà đã thỉnh mời các vị tỳ khưu trưởng lão; giờ đây, gia chủ Citta này đã hư hỏng, hờ hững, ngó bộ không còn gắn bó với ta nữa,” nên đã nói với gia chủ Citta điều này:—“Này gia chủ, thôi đi. Ta không nhận lời.” Đến lần thứ nhì, … (như trên) … Đến lần thứ ba, gia chủ Citta đã nói với đại đức Sudhamma điều này:—“Thưa ngài, xin ngài đại đức Sudhamma nhận lời con về bữa ăn vào ngày mai cùng với các vị trưởng lão.”—“Này gia chủ, thôi đi. Ta không nhận lời.” Khi ấy, gia chủ Citta (nghĩ rằng): “Ngài Sudhamma sẽ gây ra điều gì cho ta cho dù nhận lời hay không nhận lời?” nên đã đảnh lễ đại đức Sudhamma, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Inda-bh 6~159Sau đó, khi đêm ấy trôi qua, gia chủ Citta đã cho người chuẩn bị thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm cho các vị tỳ khưu trưởng lão. Khi ấy, đại đức Sudhamma (nghĩ rằng): “Có lẽ ta nên xem qua vật đã được chuẩn bị cho các vị tỳ khưu trưởng lão của gia chủ Citta như thế nào?” nên vào buổi sáng đã mặc y, cầm y bát, đi đến nhà của gia chủ Citta, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn.
Inda-bh 7~160Khi ấy, gia chủ Citta đã đi đến gặp đại đức Sudhamma, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Sudhamma rồi ngồi xuống một bên. Khi gia chủ Citta đã ngồi xuống một bên, đại đức Sudhamma đã nói với gia chủ Citta điều này:—“Này gia chủ, thức ăn loại cứng loại mềm này đã được ngươi chuẩn bị thật là đầy đủ. Còn một thứ ở đây không có, đó là ‘Bánh mè.’”—“Thưa ngài, trong khi rất nhiều điều cao quý được tìm thấy trong lời dạy của đức Phật, vậy mà điều gì đâu lại được ngài đại đức Sudhamma nói đến, đó là ‘Bánh mè.’
Inda-bh 8~161Thưa ngài, trong thời quá khứ, các thương buôn người phương nam đã đi đến xứ sở phía đông vì việc buôn bán. Từ xứ ấy, họ đã đem về một con gà mái. Thưa ngài, sau đó con gà mái ấy đã được cho ở chung với con quạ. Nó đã sanh ra con gà con. Thưa ngài, khi con gà con ấy muốn kêu tiếng kêu của con quạ thì nó kêu: ‘quạ quạ ò-ó-ooo;’ khi nào nó muốn kêu tiếng kêu của con gà trống thì nó kêu: ‘ò-ó-ooo quạ quạ.’ Thưa ngài, tương tợ y như thế, trong khi rất nhiều điều quý báu được tìm thấy trong lời dạy của đức Phật, vậy mà điều gì đâu lại được ngài đại đức Sudhamma nói đến, đó là ‘Bánh mè.’”
Inda-bh 9~162—“Này gia chủ, ngươi mắng nhiếc ta. Này gia chủ, ngươi gièm pha ta. Này gia chủ, đây là trú xứ của ngươi, ta sẽ bỏ đi.”—“Thưa ngài, con không có mắng nhiếc, con không có gièm pha ngài đại đức Sudhamma. Thưa ngài, xin ngài đại đức Sudhamma hãy cư ngụ ở Macchikāsaṇḍa. Khu rừng xoài thật là khả ái! Con sẽ ra sức đối với ngài đại đức Sudhamma về các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú, và thuốc men khi bị bệnh.” Đến lần thứ nhì, … (như trên) … Đến lần thứ ba, đại đức Sudhamma đã nói với gia chủ Citta điều này:—“Này gia chủ, ngươi mắng nhiếc ta. Này gia chủ, ngươi gièm pha ta. Này gia chủ, đây là trú xứ của ngươi, ta sẽ bỏ đi.”—“Thưa ngài, ngài đại đức Sudhamma sẽ đi đâu?”—“Này gia chủ, ta sẽ đi đến Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn.”—“Thưa ngài, chính vì điều ấy nên điều gì ngài đã nói và điều gì con đã nói, tất cả các điều ấy xin ngài hãy trình lên đức Thế Tôn. Thưa ngài, việc ngài đại đức Sudhamma sẽ trở lại Macchikāsaṇḍa một lần nữa là điều không kỳ lạ.”
Inda-bh 10~163Sau đó, đại đức Sudhamma đã dọn dẹp chỗ trú ngụ rồi cầm y bát đi đến Sāvatthi. Theo tuần tự, đại đức Sudhamma đã đi đến Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Sudhamma đã trình lên đức Thế Tôn tất cả điều gì bản thân đã nói và điều gì gia chủ Citta đã nói.
Inda-bh 11~164Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này kẻ rồ dại, thật là không đúng đắn, không hợp lẽ, không thích đáng, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm. Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại sỉ vả một cách thậm tệ, lại khinh bỉ một cách thậm tệ gia chủ Citta là người thí chủ có niềm tin, mộ đạo, là người làm công quả, là người hộ độ hội chúng? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
Inda-bh 12~165—Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy thực hiện hành sự hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma rằng: ‘Ngươi nên yêu cầu gia chủ Citta thứ lỗi.’ Và này các tỳ khưu, nên thực hiện như vầy:
Trước hết, tỳ khưu Sudhamma cần được quở trách; sau khi quở trách cần được nhắc nhở; sau khi nhắc nhở cần xác định tội; sau khi xác định tội, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Sudhamma này sỉ vả một cách thậm tệ, khinh bỉ một cách thậm tệ gia chủ Citta là người thí chủ có niềm tin, mộ đạo, là người làm công quả, là người hộ độ hội chúng. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thực hiện hành sự hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma rằng: ‘Ngươi nên yêu cầu gia chủ Citta thứ lỗi.’ Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Sudhamma này sỉ vả một cách thậm tệ, khinh bỉ một cách thậm tệ gia chủ Citta là người thí chủ có niềm tin, mộ đạo, là người làm công quả, là người hộ độ hội chúng. Hội chúng thực hiện hành sự hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma rằng: ‘Ngươi nên yêu cầu gia chủ Citta thứ lỗi.’ Đại đức nào đồng ý việc thực hiện hành sự hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma rằng: ‘Ngươi nên yêu cầu gia chủ Citta thứ lỗi’ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) … Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Sudhamma này sỉ vả một cách thậm tệ, khinh bỉ một cách thậm tệ gia chủ Citta là người thí chủ có niềm tin, mộ đạo, là người làm công quả, là người hộ độ hội chúng. Hội chúng thực hiện hành sự hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma rằng: ‘Ngươi nên yêu cầu gia chủ Citta thứ lỗi.’ Đại đức nào đồng ý việc thực hiện hành sự hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma rằng: ‘Ngươi nên yêu cầu gia chủ Citta thứ lỗi’ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Hành sự hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma rằng: ‘Ngươi nên yêu cầu gia chủ Citta thứ lỗi’ đã được hội chúng thực hiện. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
MƯỜI HAI HÀNH SỰ SAI PHÁP:
Inda-bh 1~166Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố: Được thực hiện thiếu sự hiện diện, được thực hiện thiếu sự tra hỏi, được thực hiện với sự không thừa nhận. Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Inda-bh 2~167Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội không vi phạm, được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc không sám hối được, được thực hiện với tội đã được sám hối. … (như trên) …
Inda-bh 3~168Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa quở trách, được thực hiện khi chưa nhắc nhở, được thực hiện khi chưa xác định tội. … (như trên) …
Inda-bh 4~169Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện thiếu sự hiện diện, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 5~170Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện thiếu sự tra hỏi, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 6~171Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự không thừa nhận, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 7~172Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội không vi phạm, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 8~173Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc không sám hối được, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 9~174Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội đã được sám hối, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 10~175Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa quở trách, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 11~176Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa nhắc nhở, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 12~177Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự sai Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa xác định tội, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Dứt mười hai hành sự sai pháp thuộc hành sự hòa giải.
MƯỜI HAI HÀNH SỰ ĐÚNG PHÁP:
Inda-bh 1~178Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố: Được thực hiện với sự hiện diện, được thực hiện từ sự tra hỏi, được thực hiện với sự thừa nhận. Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Inda-bh 2~179Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm, được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc sám hối, được thực hiện với tội chưa được sám hối. … (như trên) …
Inda-bh 3~180Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã quở trách, được thực hiện sau khi đã nhắc nhở, được thực hiện sau khi đã xác định tội. … (như trên) …
Inda-bh 4~181Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự hiện diện, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 5~182Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện từ sự tra hỏi, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 6~183Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự thừa nhận, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 7~184Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 8~185Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc sám hối, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 9~186Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội chưa được sám hối, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 10~187Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã quở trách, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 11~188Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã nhắc nhở, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 12~189Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải là hành sự đúng Pháp … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã xác định tội, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Dứt mười hai trường hợp hành sự đúng pháp thuộc hành sự hòa giải.
BỐN TRƯỜNG HỢP TRONG KHI MONG MUỐN:
Inda-bh 1~190Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự hòa giải đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị ra sức làm cho các người tại gia bị mất lợi lộc, vị ra sức làm cho các người tại gia bị mất lợi ích, vị ra sức làm cho các người tại gia bị mất chỗ trú ngụ, vị mắng nhiếc gièm pha các người tại gia, vị chia rẽ các người tại gia với các người tại gia. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự hòa giải đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 2~191Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự hòa giải đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị chê bai đức Phật trước (mặt) các người tại gia, vị chê bai Giáo Pháp trước (mặt) các người tại gia, vị chê bai Hội Chúng trước (mặt) các người tại gia, vị sỉ vả các người tại gia một cách thậm tệ và khinh bỉ các người tại gia một cách thậm tệ, vị không thực hiện điều hứa hẹn hợp lý đối với các người tại gia. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự hòa giải đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 3~192Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự hòa giải đối với năm hạng tỳ khưu: Hạng ra sức làm cho các người tại gia bị mất lợi lộc, hạng ra sức làm cho các người tại gia bị mất lợi ích, hạng ra sức làm cho các người tại gia bị mất chỗ trú ngụ, hạng mắng nhiếc gièm pha các người tại gia, hạng chia rẽ các người tại gia với các người tại gia. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự hòa giải đối với năm hạng tỳ khưu này.
Inda-bh 4~193Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự hòa giải đối với năm hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng chê bai đức Phật trước (mặt) các người tại gia, hạng chê bai Giáo Pháp trước (mặt) các người tại gia, hạng chê bai Hội Chúng trước (mặt) các người tại gia, hạng sỉ vả các người tại gia một cách thậm tệ và khinh bỉ các người tại gia một cách thậm tệ, hạng không thực hiện điều hứa hẹn hợp lý đối với các người tại gia. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự hòa giải đối với năm hạng tỳ khưu này.
Dứt bốn trường hợp trong khi mong muốn.
MƯỜI TÁM PHẬN SỰ THUỘC HÀNH SỰ HÒA GIẢI:
Inda-bh 1-18~194Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu được thực hiện hành sự hòa giải nên làm phận sự đúng đắn. Trong trường hợp này, các phận sự đúng đắn ấy là: Không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên ban cho phép nương nhờ, không nên bảo sa di phục vụ, không nên ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, không nên giảng dạy tỳ khưu ni dầu đã được chỉ định, không nên tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự hòa giải, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, không nên chỉ trích hành sự, không nên chỉ trích các vị thực hiện hành sự, đối với vị tỳ khưu trong sạch không nên đình chỉ lễ Uposatha, không nên đình chỉ hành lễ Pavāraṇā, không nên làm công việc khuyên bảo, không nên khởi xướng việc cáo tội, không nên thỉnh ý (để buộc tội), không nên quở trách, không nên nhắc nhở, không nên cấu kết với các tỳ khưu.”
Dứt mười tám phận sự thuộc hành sự hòa giải.
Inda-bh 1~195Sau đó, hội chúng đã thực hiện hành sự hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma rằng: “Ngươi nên yêu cầu gia chủ Citta thứ lỗi.” Khi được hội chúng thực hiện hành sự hòa giải, vị ấy đã đi đến Macchikāsaṇḍa nhưng vì xấu hổ không thể yêu cầu gia chủ Citta thứ lỗi. Vị ấy đã quay trở lại Sāvatthi lần nữa. Các tỳ khưu đã nói như vầy:—“Này đại đức Sudhamma, đại đức đã yêu cầu gia chủ Citta thứ lỗi chưa?”—“Này các đại đức, trong trường hợp này tôi đã đi đến Macchikāsaṇḍa nhưng vì xấu hổ không thể yêu cầu gia chủ Citta thứ lỗi.” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~196—Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy cho sứ giả cùng đi với tỳ khưu Sudhamma để yêu cầu gia chủ Citta thứ lỗi. Và này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Trước tiên, vị tỳ khưu cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho vị tỳ khưu tên (như vầy) làm sứ giả cùng đi với tỳ khưu Sudhamma để yêu cầu gia chủ Citta thứ lỗi. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng cho vị tỳ khưu tên (như vầy) làm sứ giả cùng đi với tỳ khưu Sudhamma để yêu cầu gia chủ Citta thứ lỗi. Đại đức nào đồng ý việc cho vị tỳ khưu tên (như vầy) làm sứ giả cùng đi với tỳ khưu Sudhamma để yêu cầu gia chủ Citta thứ lỗi xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị tỳ khưu tên (như vầy) là sứ giả cùng đi với tỳ khưu Sudhamma để yêu cầu gia chủ Citta thứ lỗi đã được hội chúng cho phép. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 3~197Này các tỳ khưu, tỳ khưu Sudhamma ấy và vị tỳ khưu sứ giả cùng đi nên đi đến Macchikāsaṇḍa và nên yêu cầu gia chủ Citta thứ lỗi rằng:—“Này gia chủ, hãy thứ lỗi. Tôi đang làm cho người hoan hỷ.” Nếu được nói như vậy mà vị ấy thứ lỗi, như thế việc ấy là tốt đẹp. Nếu vị ấy không thứ lỗi, vị tỳ khưu sứ giả cùng đi nên nói rằng:—“Này gia chủ, hãy thứ lỗi cho vị tỳ khưu này. Vị ấy đang làm cho người hoan hỷ.” Nếu được nói như vậy mà vị ấy thứ lỗi, như thế việc ấy là tốt đẹp. Nếu vị ấy không thứ lỗi, vị tỳ khưu sứ giả cùng đi nên nói rằng:—“Này gia chủ, hãy thứ lỗi cho vị tỳ khưu này. Tôi đang làm cho người hoan hỷ.” Nếu được nói như vậy mà vị ấy thứ lỗi, như thế việc ấy là tốt đẹp. Nếu vị ấy không thứ lỗi, vị tỳ khưu sứ giả cùng đi nên nói rằng:—“Này gia chủ, hãy thứ lỗi cho vị tỳ khưu này vì lời nói của hội chúng.” Nếu được nói như vậy mà vị ấy thứ lỗi, như thế việc ấy là tốt đẹp.
Nếu vị ấy không thứ lỗi, vị tỳ khưu sứ giả cùng đi không nên dẫn tỳ khưu Sudhamma đi khỏi tầm nhìn, không nên dẫn đi khỏi tầm nghe của gia chủ Citta, nên bảo đắp thượng y một bên vai, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên, và bảo sám hối tội ấy.”
Inda-bh 4~198Sau đó, đại đức Sudhamma và vị tỳ khưu sứ giả cùng đi đã đi đến Macchikāsaṇḍa và đã yêu cầu gia chủ Citta thứ lỗi. Vị ấy làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, rồi đi đến gặp các tỳ khưu và nói như vầy:—“Bạch chư đại đức, được hội chúng thực hiện hành sự khiển trách, tôi làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy thu hồi hành sự hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma.
MƯỜI TÁM TRƯỜNG HỢP KHÔNG NÊN THU HỒI:
Inda-bh 1~199Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị ban phép tu lên bậc trên, ban cho phép nương nhờ, bảo sa di phục vụ, ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, giảng dạy tỳ khưu ni khi đã được chỉ định. Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 2~200Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự hòa giải, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, chỉ trích hành sự, chỉ trích các vị thực hiện hành sự. Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 3~201Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố: Vị đình chỉ lễ Uposatha đối với vị tỳ khưu trong sạch, đình chỉ lễ Pavāraṇā, làm công việc khuyên bảo, khởi xướng việc cáo tội, thỉnh ý (để buộc tội), quở trách, nhắc nhở, vị cấu kết với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố này.
Dứt mười tám trường hợp không nên thu hồi thuộc hành sự hòa giải.
MƯỜI TÁM TRƯỜNG HỢP NÊN ĐƯỢC THU HỒI:
Inda-bh 1~202Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không ban phép tu lên bậc trên, không ban cho phép nương nhờ, không bảo sa di phục vụ, không ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, không giảng dạy tỳ khưu ni dầu đã được chỉ định. Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 2~203Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị không tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự hòa giải, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, không chỉ trích hành sự, không chỉ trích các vị thực hiện hành sự. Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 3~204Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố: Vị không đình chỉ lễ Uposatha đối với vị tỳ khưu trong sạch, không đình chỉ lễ Pavāraṇā, không làm công việc khuyên bảo, không khởi xướng việc cáo tội, không thỉnh ý (để buộc tội), không quở trách, không nhắc nhở, vị không cấu kết với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành sự hòa giải nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố này.
Dứt mười tám trường hợp nên được thu hồi thuộc hành sự hòa giải.
[VIỆC THU HỒI]
Inda-bh 1~205Và này các tỳ khưu, nên được thu hồi như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Sudhamma ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy: “Bạch các ngài, được hội chúng thực hiện hành sự hòa giải, tôi làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi; giờ tôi thỉnh cầu sự thu hồi hành sự hòa giải.”
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự hòa giải, tỳ khưu Sudhamma này làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự hòa giải. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thu hồi hành sự hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự hòa giải, tỳ khưu Sudhamma này làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự hòa giải. Hội chúng thu hồi hành sự hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma. Đại đức nào đồng ý việc thu hồi hành sự hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) … Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự hòa giải, tỳ khưu Sudhamma này làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự hòa giải. Hội chúng thu hồi hành sự hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma. Đại đức nào đồng ý việc thu hồi hành sự hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Hành sự hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma đã được hội chúng thu hồi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Dứt hành sự hòa giải là thứ tư.
5. HÀNH SỰ ÁN TREO VỀ VIỆC KHÔNG NHÌN NHẬN TỘI:
Inda-bh 1~206Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Kosambi tu viện Ghosita. Vào lúc bấy giờ, đại đức Channa sau khi phạm tội lại không muốn nhìn nhận tội. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao đại đức Channa sau khi phạm tội lại không muốn nhìn nhận tội?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 2~207Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu Channa sau khi phạm tội lại không muốn nhìn nhận tội, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Inda-bh 3~208Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, vì sao kẻ rồ dại này sau khi phạm tội lại không muốn nhìn nhận tội? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
Inda-bh 4~209—Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với tỳ khưu Channa (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng. Và này các tỳ khưu, nên thực hiện như vầy: Trước hết, tỳ khưu Channa cần được quở trách; sau khi quở trách cần được nhắc nhở; sau khi nhắc nhở cần xác định tội; sau khi xác định tội, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
Inda-bh 5~210“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Channa này sau khi phạm tội lại không muốn nhìn nhận tội. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với tỳ khưu Channa (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Channa này sau khi phạm tội lại không muốn nhìn nhận tội. Hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với tỳ khưu Channa (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng. Đại đức nào đồng ý việc thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với tỳ khưu Channa (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) … Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Channa này sau khi phạm tội lại không muốn nhìn nhận tội. Hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với tỳ khưu Channa (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng. Đại đức nào đồng ý việc thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với tỳ khưu Channa (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với tỳ khưu Channa (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng đã được hội chúng thực hiện. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 6~211Và này các tỳ khưu, hãy thông báo từ trú xứ này sang trú xứ khác rằng: “Tỳ khưu Channa đã được (hội chúng) thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng.”
MƯỜI HAI HÀNH SỰ SAI PHÁP:
Inda-bh 1~212Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố: Được thực hiện thiếu sự hiện diện, được thực hiện thiếu sự tra hỏi, được thực hiện với sự không thừa nhận. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Inda-bh 2~213Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội không vi phạm, được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc không sám hối được, được thực hiện với tội đã được sám hối. … (như trên) …
Inda-bh 3~214Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa quở trách, được thực hiện khi chưa nhắc nhở, được thực hiện khi chưa xác định tội. … (như trên) …
Inda-bh 4~215Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện thiếu sự hiện diện, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 5~216Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện thiếu sự tra hỏi, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 6~217Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự không thừa nhận, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 7~218Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội không vi phạm, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 8~219Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc không sám hối được, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 9~220Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội đã được sám hối, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 10~221Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa quở trách, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 11~222Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa nhắc nhở, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 12~223Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa xác định tội, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Dứt mười hai hành sự sai pháp.
MƯỜI HAI HÀNH SỰ ĐÚNG PHÁP:
Inda-bh 1~224Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố: Được thực hiện với sự hiện diện, được thực hiện từ sự tra hỏi, được thực hiện với sự thừa nhận. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Inda-bh 2~225Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm, được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc sám hối, được thực hiện với tội chưa được sám hối. … (như trên) …
Inda-bh 3~226Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã quở trách, được thực hiện sau khi đã nhắc nhở, được thực hiện sau khi đã xác định tội. … (như trên) …
Inda-bh 4~227Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự hiện diện, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 5~228Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện từ sự tra hỏi, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 6~229Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự thừa nhận, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 7~230Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 8~231Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc sám hối, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 9~232Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội chưa được sám hối, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 10~233Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã quở trách, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 11~234Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã nhắc nhở, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 12~235Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã xác định tội, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Dứt mười hai hành sự đúng pháp.
SÁU TRƯỜNG HỢP TRONG KHI MONG MUỐN:
Inda-bh 1~236Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố: Vị thường gây nên sự xung đột, thường gây nên sự cãi cọ, thường gây nên sự tranh luận, thường gây nên sự nói chuyện nhảm nhí, thường gây nên sự tranh tụng trong hội chúng; vị ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội); vị sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố này.
Inda-bh 2~237Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố khác nữa: Vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, vị bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, vị bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố này.
Inda-bh 3~238Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố khác nữa: Vị chê bai đức Phật, vị chê bai Giáo Pháp, vị chê bai Hội Chúng. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố này.
Inda-bh 4~239Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với ba hạng tỳ khưu: Hạng thường gây nên sự xung đột, thường gây nên sự cãi cọ, thường gây nên sự tranh luận, thường gây nên sự nói chuyện nhảm nhí, thường gây nên sự tranh tụng trong hội chúng; hạng ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội); hạng sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với ba hạng tỳ khưu này.
Inda-bh 5~240Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, hạng bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, hạng bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với ba hạng tỳ khưu này.
Inda-bh 6~241Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng chê bai đức Phật, hạng chê bai Giáo Pháp, hạng chê bai Hội Chúng. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với ba hạng tỳ khưu này.
Dứt sáu trường hợp trong khi mong muốn thuộc hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội.
BỐN MƯƠI BA PHẬN SỰ THUỘC HÀNH SỰ ÁN TREO VỀ VIỆC KHÔNG NHÌN NHẬN TỘI:
Inda-bh 1-43~242Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu được thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội nên làm phận sự đúng đắn. Trong trường hợp này, các phận sự đúng đắn ấy là: Không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên ban cho phép nương nhờ, không nên bảo sa di phục vụ, không nên ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, không nên giảng dạy tỳ khưu ni dầu đã được chỉ định, không nên tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, không nên chỉ trích hành sự, không nên chỉ trích các vị thực hiện hành sự, không nên ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, hành động thích hợp, sự sửa soạn chỗ ngồi, sự sửa soạn chỗ nằm, nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sự tiếp rước y bát, sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của vị tỳ khưu trong sạch, không nên bôi nhọ vị tỳ khưu trong sạch với sự hư hỏng về giới, không nên bôi nhọ với sự hư hỏng về hạnh kiểm, không nên bôi nhọ với sự hư hỏng về tri kiến, không nên bôi nhọ với sự hư hỏng về nuôi mạng, không chia rẽ tỳ khưu với các tỳ khưu, không nên đeo vật biểu hiện của người tại gia, không nên đeo vật biểu hiện của kẻ ngoại đạo, không nên phục vụ các ngoại đạo, nên phục vụ các tỳ khưu, nên học tập về việc học tập của tỳ khưu, không nên cư ngụ ở chỗ trú chung một mái che, không nên cư ngụ nơi không phải là chỗ trú nhưng chung một mái che, không nên cư ngụ ở chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú chung một mái che cùng với vị tỳ khưu trong sạch, nên đứng dậy từ chỗ ngồi khi thấy vị tỳ khưu trong sạch, không nên xúc phạm vị tỳ khưu trong sạch dầu ở trong tu viện hay ở ngoài, đối với vị tỳ khưu trong sạch không nên đình chỉ lễ Uposatha, không nên đình chỉ lễ Pavāraṇā, không nên làm công việc khuyên bảo, không nên khởi xướng việc cáo tội, không nên thỉnh ý (để buộc tội), không nên quở trách, không nên nhắc nhở, không nên cấu kết với các tỳ khưu.”
Dứt bốn mươi ba phận sự thuộc hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội.
[VIỆC LÀM PHẬN SỰ ĐÚNG ĐẮN CỦA TỲ KHƯU CHANNA]
Inda-bh 1~243Sau đó, hội chúng đã thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với tỳ khưu Channa (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng. Vị ấy khi được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đã đi từ trú xứ ấy đến trú xứ khác. Tại đó, các tỳ khưu đã không đảnh lễ, đã không đứng dậy, đã không chắp tay, đã không làm hành động thích hợp, đã không trọng vọng, đã không cung kính, đã không sùng bái, đã không cúng dường.
Trong khi không được các tỳ khưu trọng vọng, cung kính, sùng bái, cúng dường, vị ấy bị đối xử thiếu trọng vọng nên đã đi từ trú xứ ấy đến trú xứ khác.
Ngay tại nơi đó, các tỳ khưu cũng đã không đảnh lễ, đã không đứng dậy, đã không chắp tay, đã không làm hành động thích hợp, đã không trọng vọng, đã không cung kính, đã không sùng bái, đã không cúng dường.
Trong khi không được các tỳ khưu trọng vọng, cung kính, sùng bái, cúng dường, vị ấy bị đối xử thiếu trọng vọng nên đã đi từ trú xứ ấy đến trú xứ khác.
Ngay tại nơi đó, các tỳ khưu cũng đã không đảnh lễ, đã không đứng dậy, đã không chắp tay, đã không làm hành động thích hợp, đã không trọng vọng, đã không cung kính, đã không sùng bái, đã không cúng dường.
Trong khi không được các tỳ khưu trọng vọng, cung kính, sùng bái, cúng dường, vị ấy bị đối xử thiếu trọng vọng nên đã quay trở về lại Kosambi.
Inda-bh 2~244Vị ấy làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, rồi đi đến gặp các tỳ khưu và nói như vầy:—“Bạch chư đại đức, được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội, tôi làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ tôi nên thực hành như thế nào?”
ác vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy thu hồi hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với tỳ khưu Channa.
BỐN MƯƠI BA TRƯỜNG HỢP KHÔNG NÊN THU HỒI:
Inda-bh 1~245Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị ban phép tu lên bậc trên, ban cho phép nương nhờ, bảo sa di phục vụ, ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, giảng dạy tỳ khưu ni khi đã được chỉ định. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 2~246Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, chỉ trích hành sự, chỉ trích các vị thực hiện hành sự. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 3~247Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, hành động thích hợp, sự sửa soạn chỗ ngồi của vị tỳ khưu trong sạch. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 4~248Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị ưng thuận sự sửa soạn chỗ nằm, nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sự tiếp rước y bát, sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của vị tỳ khưu trong sạch. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 5~249Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị bôi nhọ vị tỳ khưu trong sạch với sự hư hỏng về giới, bôi nhọ với sự hư hỏng về hạnh kiểm, bôi nhọ với sự hư hỏng về tri kiến, bôi nhọ với sự hư hỏng về nuôi mạng, chia rẽ tỳ khưu với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 6~250Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị đeo vật biểu hiện của người tại gia, đeo vật biểu hiện của kẻ ngoại đạo, phục vụ các ngoại đạo, không phục vụ các tỳ khưu, không học tập về việc học tập của tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 7~251Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị ngụ ở chỗ trú chung một mái che, ngụ nơi không phải là chỗ trú nhưng chung một mái che, ngụ ở chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú nhưng chung một mái che cùng với vị tỳ khưu trong sạch, không đứng dậy từ chỗ ngồi khi thấy vị tỳ khưu trong sạch, xúc phạm vị tỳ khưu trong sạch dầu ở trong tu viện hay ở ngoài. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 8~252Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố: Vị đình chỉ lễ Uposatha đối với vị tỳ khưu trong sạch, đình chỉ lễ Pavāraṇā, làm công việc khuyên bảo, khởi xướng việc cáo tội, thỉnh ý (để buộc tội), quở trách, nhắc nhở, vị cấu kết với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố này.
Dứt bốn mươi ba trường hợp không nên thu hồi thuộc hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội.
BỐN MƯƠI BA TRƯỜNG HỢP NÊN ĐƯỢC THU HỒI:
Inda-bh 1~253Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không ban phép tu lên bậc trên, không ban cho phép nương nhờ, không bảo sa di phục vụ, không ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, không giảng dạy tỳ khưu ni dầu đã được chỉ định. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 2~254Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị không tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, không chỉ trích hành sự, không chỉ trích các vị thực hiện hành sự. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 3~255Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị không ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, hành động thích hợp, sự sửa soạn chỗ ngồi của vị tỳ khưu trong sạch. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 4~256Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị không ưng thuận sự sửa soạn chỗ nằm, nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sự tiếp rước y bát, sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của vị tỳ khưu trong sạch. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 5~257Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị không bôi nhọ vị tỳ khưu trong sạch với sự hư hỏng về giới, không bôi nhọ với sự hư hỏng về hạnh kiểm, không bôi nhọ với sự hư hỏng về tri kiến, không bôi nhọ với sự hư hỏng về nuôi mạng, không chia rẽ tỳ khưu với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 6~258Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị không đeo vật biểu hiện của người tại gia, không đeo vật biểu hiện của kẻ ngoại đạo, không phục vụ các ngoại đạo, phục vụ các tỳ khưu, học tập về việc học tập của tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 7~259Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị không ngụ ở chỗ trú chung một mái che, không ngụ nơi không phải là chỗ trú nhưng chung một mái che, không ngụ ở chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú nhưng chung một mái che cùng với vị tỳ khưu trong sạch, vị đứng dậy từ chỗ ngồi khi thấy vị tỳ khưu trong sạch, không xúc phạm vị tỳ khưu trong sạch dầu ở trong tu viện hay ở ngoài. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 8~260Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố: Vị không đình chỉ lễ Uposatha đối với vị tỳ khưu trong sạch, không đình chỉ lễ Pavāraṇā, không làm công việc khuyên bảo, không khởi xướng việc cáo tội, không thỉnh ý (để buộc tội), không quở trách, không nhắc nhở, vị không cấu kết với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố này.
Dứt bốn mươi ba trường hợp nên được thu hồi thuộc hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội.
[VIỆC THU HỒI]
Inda-bh 1~261Và này các tỳ khưu, nên được thu hồi như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Channa ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy:
“Bạch các ngài, được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội, tôi làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi; giờ tôi thỉnh cầu sự thu hồi hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội.”
Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
Inda-bh 2~262“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội, tỳ khưu Channa này làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thu hồi hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với tỳ khưu Channa. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội, tỳ khưu Channa này làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội. Hội chúng thu hồi hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với tỳ khưu Channa. Đại đức nào đồng ý việc thu hồi hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với tỳ khưu Channa xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) … Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội, tỳ khưu Channa này làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội. Hội chúng thu hồi hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với tỳ khưu Channa. Đại đức nào đồng ý việc thu hồi hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với tỳ khưu Channa xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội đối với tỳ khưu Channa đã được hội chúng thu hồi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Dứt hành sự án treo về việc không nhìn nhận tội là thứ năm.
6. HÀNH SỰ ÁN TREO VỀ VIỆC KHÔNG SỬA CHỮA LỖI:
Inda-bh 1~263Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Kosambi tu viện Ghosita. Vào lúc bấy giờ, đại đức Channa sau khi phạm tội lại không muốn sửa chữa lỗi. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao đại đức Channa sau khi phạm tội lại không muốn sửa chữa lỗi?”
Inda-bh 2~264Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu Channa sau khi phạm tội lại không muốn sửa chữa lỗi, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Inda-bh 3~265Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này các tỳ khưu, vì sao kẻ rồ dại này sau khi phạm tội lại không muốn sửa chữa lỗi? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
Inda-bh 4~266—Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với tỳ khưu Channa (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng. Và này các tỳ khưu, nên thực hiện như vầy: Trước hết, tỳ khưu Channa cần được quở trách; sau khi quở trách cần được nhắc nhở; sau khi nhắc nhở cần xác định tội; sau khi xác định tội, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Channa này sau khi phạm tội lại không muốn sửa chữa lỗi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với tỳ khưu Channa (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Channa này sau khi phạm tội lại không muốn sửa chữa lỗi. Hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với tỳ khưu Channa (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng. Đại đức nào đồng ý việc thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với tỳ khưu Channa (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng xin im lặng, vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) … Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Channa này sau khi phạm tội lại không muốn sửa chữa lỗi. Hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với tỳ khưu Channa (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng. Đại đức nào đồng ý việc thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với tỳ khưu Channa (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng xin im lặng, vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với tỳ khưu Channa (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng đã được hội chúng thực hiện. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Và này các tỳ khưu, hãy thông báo từ trú xứ này sang trú xứ khác rằng: “Tỳ khưu Channa đã được (hội chúng) thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng.”
MƯỜI HAI HÀNH SỰ SAI PHÁP:
Inda-bh 1~267Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố: Được thực hiện thiếu sự hiện diện, được thực hiện thiếu sự tra hỏi, được thực hiện với sự không thừa nhận. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Inda-bh 2~268Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội không vi phạm, được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc không sám hối được, được thực hiện với tội đã được sám hối. … (như trên) …
Inda-bh 3~269Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa quở trách, được thực hiện khi chưa nhắc nhở, được thực hiện khi chưa xác định tội. … (như trên) …
Inda-bh 4~270Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện thiếu sự hiện diện, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 5~271Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện thiếu sự tra hỏi, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 6~272Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự không thừa nhận, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 7~273Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội không vi phạm, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 8~274Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc không sám hối được, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 9~275Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội đã được sám hối, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 10~276Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa quở trách, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 11~277Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa nhắc nhở, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 12~278Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa xác định tội, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Dứt mười hai trường hợp về hành sự sai pháp thuộc hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi.
MƯỜI HAI HÀNH SỰ ĐÚNG PHÁP:
Inda-bh 1~279Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố: Được thực hiện với sự hiện diện, được thực hiện từ sự tra hỏi, được thực hiện với sự thừa nhận. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Inda-bh 2~280Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm, được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc sám hối, được thực hiện với tội chưa được sám hối. ―nt―
Inda-bh 3~281Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã quở trách, được thực hiện sau khi đã nhắc nhở, được thực hiện sau khi đã xác định tội. … (như trên) …
Inda-bh 4~282Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự hiện diện, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 5~283Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện từ sự tra hỏi, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 6~284Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự thừa nhận, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 7~285Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 8~286Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc sám hối, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 9~287Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội chưa được sám hối, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 10~288Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã quở trách, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 11~289Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã nhắc nhở, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 12~290Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã xác định tội, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Dứt mười hai trường hợp về hành sự đúng pháp thuộc hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi.
SÁU TRƯỜNG HỢP TRONG KHI MONG MUỐN:
Inda-bh 1~291Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố: Vị thường gây nên sự xung đột, thường gây nên sự cãi cọ, thường gây nên sự tranh luận, thường gây nên sự nói chuyện nhảm nhí, thường gây nên sự tranh tụng trong hội chúng; vị ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội); vị sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia.
Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố này.
Inda-bh 2~292Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố khác nữa: Vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, vị bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, vị bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố này.
Inda-bh 3~293Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố khác nữa: Vị chê bai đức Phật, vị chê bai Giáo Pháp, vị chê bai Hội Chúng. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố này.
Inda-bh 4~294Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với ba hạng tỳ khưu: Hạng thường gây nên sự xung đột, thường gây nên sự cãi cọ, thường gây nên sự tranh luận, thường gây nên sự nói chuyện nhảm nhí, thường gây nên sự tranh tụng trong hội chúng; hạng ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội); hạng sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với ba hạng tỳ khưu này.
Inda-bh 5~295Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, hạng bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, hạng bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với ba hạng tỳ khưu này.
Inda-bh 6~296Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng chê bai đức Phật, hạng chê bai Giáo Pháp, hạng chê bai Hội Chúng. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với ba hạng tỳ khưu này.
Dứt sáu trường hợp trong khi mong muốn thuộc hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi.
BỐN MƯƠI BA PHẬN SỰ:
Inda-bh 1-43~297Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu được thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi nên làm phận sự đúng đắn. Trong trường hợp này, các phận sự đúng đắn ấy là: Không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên ban cho phép nương nhờ, không nên bảo sa di phục vụ, không nên ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, không nên giảng dạy tỳ khưu ni dầu đã được chỉ định, không nên tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, không nên chỉ trích hành sự, không nên chỉ trích các vị thực hiện hành sự, không nên ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, hành động thích hợp, sự sửa soạn chỗ ngồi, sự sửa soạn chỗ nằm, nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sự tiếp rước y bát, sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của vị tỳ khưu trong sạch, không nên bôi nhọ vị tỳ khưu trong sạch với sự hư hỏng về giới, không nên bôi nhọ với sự hư hỏng về hạnh kiểm, không nên bôi nhọ với sự hư hỏng về tri kiến, không nên bôi nhọ với sự hư hỏng về nuôi mạng, không nên chia rẽ tỳ khưu với các tỳ khưu, không nên đeo vật biểu hiện của người tại gia, không nên đeo vật biểu hiện của kẻ ngoại đạo, không nên phục vụ các ngoại đạo, nên phục vụ các tỳ khưu, nên học tập về việc học tập của tỳ khưu, không nên cư ngụ ở chỗ trú chung một mái che, không nên cư ngụ nơi không phải là chỗ trú nhưng chung một mái che, không nên cư ngụ ở chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú chung một mái che cùng với vị tỳ khưu trong sạch, nên từ chỗ ngồi đứng dậy khi thấy vị tỳ khưu trong sạch, không nên xúc phạm vị tỳ khưu trong sạch dầu ở trong tu viện hay ở ngoài, đối với vị tỳ khưu trong sạch không nên đình chỉ lễ Uposatha, không nên đình chỉ lễ Pavāraṇā, không nên làm công việc khuyên bảo, không nên khởi xướng việc cáo tội, không nên thỉnh ý (để buộc tội), không nên quở trách, không nên nhắc nhở, không nên cấu kết với các tỳ khưu.”
Dứt bốn mươi ba phận sự thuộc hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi.
Inda-bh 1~298Sau đó, hội chúng đã thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với tỳ khưu Channa (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng.
Vị ấy khi được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đã đi từ trú xứ ấy đến trú xứ khác.
Inda-bh 2~299Tại đó, các tỳ khưu đã không đảnh lễ, đã không đứng dậy, đã không chắp tay, đã không làm hành động thích hợp, đã không trọng vọng, đã không cung kính, đã không sùng bái, đã không cúng dường. Trong khi không được các tỳ khưu trọng vọng, cung kính, sùng bái, cúng dường, vị ấy bị đối xử thiếu trọng vọng nên đã đi từ trú xứ ấy đến trú xứ khác.
Inda-bh 3~300Ngay tại nơi đó, các tỳ khưu cũng đã không đảnh lễ, đã không đứng dậy, đã không chắp tay, đã không làm hành động thích hợp, đã không trọng vọng, đã không cung kính, đã không sùng bái, đã không cúng dường. Trong khi không được các tỳ khưu trọng vọng, cung kính, sùng bái, cúng dường, vị ấy bị đối xử thiếu trọng vọng nên đã đi từ trú xứ ấy đến trú xứ khác. Ngay tại nơi đó, các tỳ khưu cũng đã không đảnh lễ, đã không đứng dậy, đã không chắp tay, đã không làm hành động thích hợp, đã không trọng vọng, đã không cung kính, đã không sùng bái, đã không cúng dường. Trong khi không được các tỳ khưu trọng vọng, cung kính, sùng bái, cúng dường, vị ấy bị đối xử thiếu trọng vọng nên đã đi quay trở về lại Kosambi.
Inda-bh 4~301Vị ấy làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, rồi đi đến gặp các tỳ khưu và nói như vầy:—“Bạch chư đại đức, được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi, tôi làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ tôi nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy thu hồi hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với tỳ khưu Channa.
BỐN MƯƠI BA TRƯỜNG HỢP KHÔNG NÊN THU HỒI:
Inda-bh 1~302Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị ban phép tu lên bậc trên, ban cho phép nương nhờ, bảo sa di phục vụ, ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, giảng dạy tỳ khưu ni khi đã được chỉ định. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 2~303Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, chỉ trích hành sự, chỉ trích các vị thực hiện hành sự. … (như trên) …
Inda-bh 3~304Này các tỳ khưu, … (như trên) … có năm yếu tố khác nữa: Vị ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, hành động thích hợp, sự sửa soạn chỗ ngồi của vị tỳ khưu trong sạch. … (như trên) …
Inda-bh 4~305Này các tỳ khưu, … (như trên) … có năm yếu tố khác nữa: Vị ưng thuận sự sửa soạn chỗ nằm, nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sự tiếp rước y bát, sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của vị tỳ khưu trong sạch. … (như trên) …
Inda-bh 5~306Này các tỳ khưu, … (như trên) … có năm yếu tố khác nữa: Vị bôi nhọ vị tỳ khưu trong sạch với sự hư hỏng về giới, bôi nhọ với sự hư hỏng về hạnh kiểm, bôi nhọ với sự hư hỏng về tri kiến, bôi nhọ với sự hư hỏng về nuôi mạng, chia rẽ tỳ khưu với các tỳ khưu. … (như trên) …
Inda-bh 6~307Này các tỳ khưu, … (như trên) … có năm yếu tố khác nữa: Vị đeo vật biểu hiện của người tại gia, đeo vật biểu hiện của kẻ ngoại đạo, phục vụ các ngoại đạo, không phục vụ các tỳ khưu, không học tập về việc học tập của tỳ khưu. … (như trên) …
Inda-bh 7~308Này các tỳ khưu, … (như trên) … có năm yếu tố khác nữa: Vị ngụ ở chỗ trú chung một mái che, ngụ nơi không phải là chỗ trú nhưng chung một mái che, ngụ ở chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú nhưng chung một mái che cùng với vị tỳ khưu trong sạch, không đứng dậy từ chỗ ngồi khi thấy vị tỳ khưu trong sạch, xúc phạm vị tỳ khưu trong sạch dầu ở trong tu viện hay ở ngoài. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 8~309Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố: Vị đình chỉ lễ Uposatha đối với vị tỳ khưu trong sạch, đình chỉ lễ Pavāraṇā, làm công việc khuyên bảo, khởi xướng việc cáo tội, thỉnh ý (để buộc tội), quở trách, nhắc nhở, vị cấu kết với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố này.
Dứt bốn mươi ba trường hợp không nên thu hồi thuộc hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi.
BỐN MƯƠI BA TRƯỜNG HỢP NÊN ĐƯỢC THU HỒI:
Inda-bh 1~310Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không ban phép tu lên bậc trên, không ban cho phép nương nhờ, không bảo sa di phục vụ, không ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, không giảng dạy tỳ khưu ni dầu đã được chỉ định. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 2~311Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị không tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, không chỉ trích hành sự, không chỉ trích các vị thực hiện hành sự. … (như trên) …
Inda-bh 3~312Này các tỳ khưu, … (như trên) … có năm yếu tố khác nữa: Vị không ưng thuận sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, hành động thích hợp, sự sửa soạn chỗ ngồi của vị tỳ khưu trong sạch. … (như trên) …
Inda-bh 4~313Này các tỳ khưu, … (như trên) … có năm yếu tố khác nữa: Vị không ưng thuận sự sửa soạn chỗ nằm, nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, sự tiếp rước y bát, sự kỳ cọ lưng trong khi tắm của vị tỳ khưu trong sạch. … (như trên) …
Inda-bh 5~314Này các tỳ khưu, … (như trên) … có năm yếu tố khác nữa: Vị không bôi nhọ vị tỳ khưu trong sạch với sự hư hỏng về giới, không bôi nhọ với sự hư hỏng về hạnh kiểm, không bôi nhọ với sự hư hỏng về tri kiến, không bôi nhọ với sự hư hỏng về nuôi mạng, không chia rẽ tỳ khưu với các tỳ khưu. … (như trên) …
Inda-bh 6~315Này các tỳ khưu, … (như trên) … có năm yếu tố khác nữa: Vị không đeo vật biểu hiện của người tại gia, không đeo vật biểu hiện của kẻ ngoại đạo, không phục vụ các ngoại đạo, phục vụ các tỳ khưu, học tập về việc học tập của tỳ khưu. … (như trên) …
Inda-bh 7~316Này các tỳ khưu, … (như trên) … có năm yếu tố khác nữa: Vị không ngụ ở chỗ trú chung một mái che, không ngụ nơi không phải là chỗ trú nhưng chung một mái che, không ngụ ở chỗ trú hoặc nơi không phải là chỗ trú nhưng chung một mái che cùng với vị tỳ khưu trong sạch, đứng dậy từ chỗ ngồi khi thấy vị tỳ khưu trong sạch, không xúc phạm vị tỳ khưu trong sạch dầu ở trong tu viện hay ở ngoài. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 8~317Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố: Vị không đình chỉ lễ Uposatha đối với vị tỳ khưu trong sạch, không đình chỉ lễ Pavāraṇā, không làm công việc khuyên bảo, không khởi xướng việc cáo tội, không thỉnh ý (để buộc tội), không quở trách, không nhắc nhở, vị không cấu kết với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố này.
Dứt bốn mươi ba trường hợp nên được thu hồi thuộc hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi.
[VIỆC THU HỒI]
Inda-bh 1~318Và này các tỳ khưu, nên được thu hồi như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Channa ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên nói như vầy: “Bạch các ngài, được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi, tôi làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi; giờ tôi thỉnh cầu sự thu hồi hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi.” Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi, tỳ khưu Channa này làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thu hồi hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với tỳ khưu Channa. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi, tỳ khưu Channa này làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi. Hội chúng thu hồi hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với tỳ khưu Channa. Đại đức nào đồng ý việc thu hồi hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với tỳ khưu Channa xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) … Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi, tỳ khưu Channa này làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi. Hội chúng thu hồi hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với tỳ khưu Channa. Đại đức nào đồng ý việc thu hồi hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với tỳ khưu Channa xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi đối với tỳ khưu Channa đã được hội chúng thu hồi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Dứt hành sự án treo về việc không sửa chữa lỗi là thứ sáu.
7. HÀNH SỰ ÁN TREO VỀ VIỆC KHÔNG TỪ BỎ TÀ KIẾN ÁC:
Inda-bh 1~319Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, tỳ khưu tên Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng đã sanh khởi tà kiến ác như vầy: “Theo như ta hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn đề cập không có khả năng đem lại sự chướng ngại cho người thực hành.”
Inda-bh 2~320Nhiều vị tỳ khưu đã nghe rằng:—“Nghe nói tỳ khưu tên Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng đã sanh khởi tà kiến ác như vầy: ‘Theo như ta hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn đề cập không có khả năng đem lại sự chướng ngại cho người thực hành.’”
Inda-bh 3~321Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã đi đến gặp tỳ khưu Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng, sau khi đến đã nói với tỳ khưu Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng điều này:
—“Này đại đức Ariṭṭha, nghe nói đại đức đã sanh khởi tà kiến ác như vầy: ‘Theo như ta hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn đề cập không có khả năng đem lại sự chướng ngại cho người thực hành,’ có đúng không vậy?”
—“Này các đại đức, đúng như vậy. Theo như tôi hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn đề cập không có khả năng đem lại sự chướng ngại cho người thực hành.”
Inda-bh 4~322—“Này đại đức Ariṭṭha, chớ có nói như thế. Chớ có vu khống đức Thế Tôn bởi vì việc vu khống đức Thế Tôn là không tốt. Bởi vì đức Thế Tôn không có nói như thế. Này đại đức Ariṭṭha, đức Thế Tôn đã giảng giải bằng nhiều phương thức rằng các pháp chướng ngại có khả năng đem đến sự chướng ngại cho người thực hành.
Đức Thế Tôn đã giảng giải rằng dục tình chỉ có chút ít khoái lạc, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là bộ xương, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là miếng thịt, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là cây đuốc cỏ, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là hố than cháy rực, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là giấc mơ, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là vật vay mượn, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là trái trên cây, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là lò sát sanh, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là mũi lao nhọn, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được đức Thế Tôn giảng giải như là đầu rắn độc, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.”
Inda-bh 5~323Khi được các vị tỳ khưu ấy nói như thế, tỳ khưu Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng do có sự ngoan cố, chấp giữ, và bảo thủ tà kiến ác ấy nên vẫn phát biểu giống như thế:—“Này các đại đức, theo như tôi hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn đề cập không có khả năng đem lại sự chướng ngại cho người thực hành.”
Bởi vì các vị tỳ khưu ấy không thể giúp cho tỳ khưu Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng thoát khỏi tà kiến ác ấy, sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 6~324Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi tỳ khưu Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng rằng:—“Này Ariṭṭha, nghe nói tà kiến ác đã sanh khởi ở ngươi như vầy: ‘Theo như ta hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn đề cập không có khả năng đem lại sự chướng ngại cho người thực hành,’ có đúng không vậy?”
—“Bạch ngài, đúng như vậy. Theo như con hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn đề cập không có khả năng đem lại sự chướng ngại cho người thực hành.”
—“Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại hiểu Pháp được ta thuyết giảng là như thế? Này kẻ rồ dại, không phải ta đã giảng giải bằng nhiều phương thức rằng các pháp chướng ngại có khả năng đem đến sự chướng ngại cho người thực hành hay sao?
Inda-bh 7~325Dục tình đã được ta giảng giải là chỉ có chút ít khoái lạc, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được ta giảng giải như là bộ xương, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được ta giảng giải như là miếng thịt, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được ta giảng giải như là cây đuốc cỏ, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được ta giảng giải như là hố than cháy rực, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được ta giảng giải như là giấc mơ, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được ta giảng giải như là vật vay mượn, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được ta giảng giải như là trái trên cây, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được ta giảng giải như là lò sát sanh, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được ta giảng giải như là mũi lao nhọn, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Dục tình đã được ta giảng giải như là đầu rắn độc, nhiều khổ đau, nhiều ưu phiền, ở đó điều bất lợi còn nhiều hơn.
Inda-bh 8~326Này kẻ rồ dại, hơn nữa ngươi không những vu khống ta do sự sai lạc của bản thân mà ngươi còn làm tổn hại chính bản thân và tích lũy nhiều điều bất thiện nữa. Này kẻ rồ dại, chính điều ấy sẽ đem lại cho ngươi sự thất bại và khổ đau lâu dài. Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
—“Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với tỳ khưu Ariṭṭha (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng.
Và này các tỳ khưu, nên thực hiện như vầy: Trước hết, tỳ khưu Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng cần được quở trách; sau khi quở trách cần được nhắc nhở; sau khi nhắc nhở cần xác định tội; sau khi xác định tội, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
Inda-bh 9~327“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Ariṭṭha này, trước đây là người huấn luyện chim ưng, đã sanh khởi tà kiến ác như vầy: ‘Theo như ta hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn đề cập không có khả năng đem lại sự chướng ngại cho người thực hành.’ Vị ấy không chịu từ bỏ tà kiến ác ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với tỳ khưu Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Ariṭṭha này, trước đây là người huấn luyện chim ưng, đã sanh khởi tà kiến ác như vầy: ‘Theo như ta hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn đề cập không có khả năng đem lại sự chướng ngại cho người thực hành.’ Vị ấy không chịu từ bỏ tà kiến ác ấy. Hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với tỳ khưu Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng. Đại đức nào đồng ý việc thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với tỳ khưu Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) … Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu Ariṭṭha này trước đây là người huấn luyện chim ưng đã sanh khởi tà kiến ác như vầy: ‘Theo như ta hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn thuyết giảng thì những pháp chướng ngại được đức Thế Tôn đề cập không có khả năng đem lại sự chướng ngại cho người thực hành.’ Vị ấy không chịu từ bỏ tà kiến ác ấy. Hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với tỳ khưu Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng. Đại đức nào đồng ý việc thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với tỳ khưu Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với tỳ khưu Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng đã được hội chúng thực hiện. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Inda-bh 10~328Và này các tỳ khưu, hãy thông báo từ trú xứ này sang trú xứ khác rằng: “Tỳ khưu Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng đã được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng.”
MƯỜI HAI HÀNH SỰ SAI PHÁP:
Inda-bh 1~329Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố: Được thực hiện thiếu sự hiện diện, được thực hiện thiếu sự tra hỏi, được thực hiện với sự không thừa nhận. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Inda-bh 2~330Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội không vi phạm, được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc không sám hối được, được thực hiện với tội đã được sám hối. … (như trên) …
Inda-bh 3~331Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa quở trách, được thực hiện khi chưa nhắc nhở, được thực hiện khi chưa xác định tội. … (như trên) …
Inda-bh 4~332Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện thiếu sự hiện diện, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 5~333Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện thiếu sự tra hỏi, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 6~334Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự không thừa nhận, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 7~335Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội không vi phạm, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 8~336Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc không sám hối được, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 9~337Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội đã được sám hối, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 10~338Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa quở trách, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 11~339Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa nhắc nhở, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. … (như trên) …
Inda-bh 12~340Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện khi chưa xác định tội, được thực hiện không theo Pháp, được thực hiện theo phe nhóm. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác có ba yếu tố này là hành sự sai Pháp, là hành sự sai Luật, và đã được giải quyết tồi.
Dứt mười hai trường hợp về hành sự sai pháp.
MƯỜI HAI HÀNH SỰ ĐÚNG PHÁP:
Inda-bh 1~341Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố: Được thực hiện với sự hiện diện, được thực hiện từ sự tra hỏi, được thực hiện với sự thừa nhận. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Inda-bh 2~342Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp khi có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm, được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc sám hối, được thực hiện với tội chưa được sám hối. … (như trên) …
Inda-bh 3~343Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã quở trách, được thực hiện sau khi đã nhắc nhở, được thực hiện sau khi đã xác định tội. … (như trên) …
Inda-bh 4~344Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự hiện diện, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 5~345Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện từ sự tra hỏi, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 6~346Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với sự thừa nhận, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 7~347Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 8~348Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội vi phạm đưa đến việc sám hối, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 9~349Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện với tội chưa được sám hối, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 10~350Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã quở trách, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 11~351Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã nhắc nhở, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. … (như trên) …
Inda-bh 12~352Này các tỳ khưu, … (như trên) … có ba yếu tố khác nữa: Được thực hiện sau khi đã xác định tội, được thực hiện đúng theo Pháp, được thực hiện với sự hợp nhất. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác có ba yếu tố này là hành sự đúng Pháp, là hành sự đúng Luật, và đã được giải quyết tốt đẹp.
Dứt mười hai trường hợp về hành sự đúng pháp.
SÁU TRƯỜNG HỢP TRONG KHI MONG MUỐN:
Inda-bh 1~353Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố: Vị thường gây nên sự xung đột, thường gây nên sự cãi cọ, thường gây nên sự tranh luận, thường gây nên sự nói chuyện nhảm nhí, thường gây nên sự tranh tụng trong hội chúng; vị ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội); vị sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố này.
Inda-bh 2~354Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố khác nữa: Vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, vị bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, vị bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố này.
Inda-bh 3~355Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố khác nữa: Vị chê bai đức Phật, vị chê bai Giáo Pháp, vị chê bai Hội Chúng. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với vị tỳ khưu có ba yếu tố này.
Inda-bh 4~356Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với ba hạng tỳ khưu: Hạng thường gây nên sự xung đột, thường gây nên sự cãi cọ, thường gây nên sự tranh luận, thường gây nên sự nói chuyện nhảm nhí, thường gây nên sự tranh tụng trong hội chúng; hạng ngu si, thiếu kinh nghiệm, phạm nhiều tội, không có giới hạn (về tội); hạng sống thân cận với các gia chủ bằng những giao thiệp không đúng đắn với hàng tại gia. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với ba hạng tỳ khưu này.
Inda-bh 5~357Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, hạng bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, hạng bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với ba hạng tỳ khưu này.
Inda-bh 6~358Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa: Hạng chê bai đức Phật, hạng chê bai Giáo Pháp, hạng chê bai Hội Chúng. Này các tỳ khưu, hội chúng trong khi mong muốn có thể thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với ba hạng tỳ khưu này.
Dứt sáu trường hợp trong khi mong muốn thuộc hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác.
BỐN MƯƠI BA PHẬN SỰ:
Inda-bh 1-43~359Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu được thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác nên làm phận sự đúng đắn. Trong trường hợp này, các phận sự đúng đắn ấy là: Không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên ban cho phép nương nhờ, không nên bảo sa di phục vụ, không nên ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, không nên giảng dạy tỳ khưu ni dầu đã được chỉ định, không nên tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, không nên chỉ trích hành sự, không nên chỉ trích các vị thực hiện hành sự, … (như trên) … đối với vị tỳ khưu trong sạch không nên đình chỉ lễ Uposatha, không nên đình chỉ lễ Pavāraṇā, không nên làm công việc khuyên bảo, không nên khởi xướng việc cáo tội, không nên thỉnh ý (để buộc tội), không nên quở trách, không nên nhắc nhở, không nên cấu kết với các tỳ khưu.”
Dứt bốn mươi ba phận sự thuộc hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác.
Inda-bh 1~360Sau đó, hội chúng đã thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với tỳ khưu Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng (tức là) việc không cùng thọ hưởng với hội chúng. Khi được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác, vị ấy đã hoàn tục.
Inda-bh 2~361Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao tỳ khưu Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng khi được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác lại hoàn tục?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Inda-bh 3~362Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu Ariṭṭha trước đây là người huấn luyện chim ưng khi được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đã hoàn tục, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”
Inda-bh 4~363Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: … (như trên) … Này các tỳ khưu, vì sao kẻ rồ dại ấy khi được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác lại hoàn tục? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy thu hồi hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác.
MƯỜI TÁM TRƯỜNG HỢP KHÔNG NÊN THU HỒI:
Inda-bh 5~364Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị ban phép tu lên bậc trên, ban cho phép nương nhờ, bảo sa di phục vụ, ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, giảng dạy tỳ khưu ni khi đã được chỉ định. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 6~365Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, chỉ trích hành sự, chỉ trích các vị thực hiện hành sự. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 7~366Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố: Vị đình chỉ lễ Uposatha đối với vị tỳ khưu trong sạch, đình chỉ lễ Pavāraṇā, làm công việc khuyên bảo, khởi xướng việc cáo tội, thỉnh ý (để buộc tội), quở trách, nhắc nhở, vị cấu kết với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác không nên thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố này.
Dứt mười tám trường hợp không nên thu hồi thuộc hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác.
MƯỜI TÁM TRƯỜNG HỢP NÊN ĐƯỢC THU HỒI:
Inda-bh 1~367Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố: Vị không ban phép tu lên bậc trên, không ban cho phép nương nhờ, không bảo sa di phục vụ, không ưng thuận sự chỉ định giảng dạy tỳ khưu ni, không giảng dạy tỳ khưu ni dầu đã được chỉ định. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 2~368Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố khác nữa: Vị không tái phạm tội đã được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác, hoặc tội tương tợ, hoặc tội nghiêm trọng hơn tội ấy, không chỉ trích hành sự, không chỉ trích các vị thực hiện hành sự. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có năm yếu tố này.
Inda-bh 3~369Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố: Vị không đình chỉ lễ Uposatha đối với vị tỳ khưu trong sạch, không đình chỉ lễ Pavāraṇā, không làm công việc khuyên bảo, không khởi xướng việc cáo tội, không thỉnh ý (để buộc tội), không quở trách, không nhắc nhở, vị không cấu kết với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác nên được thu hồi đối với vị tỳ khưu có tám yếu tố này.
Dứt mười tám trường hợp nên được thu hồi thuộc hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác.
[VIỆC THU HỒI]
Inda-bh 1~370Và này các tỳ khưu, nên được thu hồi như vầy: Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đã được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở bàn chân các tỳ khưu trưởng thượng, rồi ngồi chồm hổm, chắp tay lại, và nên trình với hội chúng như vầy:
“Bạch các ngài, được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác, tôi làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi; giờ tôi thỉnh cầu sự thu hồi hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác.” Nên thỉnh cầu đến lần thứ nhì. Nên thỉnh cầu đến lần thứ ba.
Inda-bh 2~371Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác, vị tỳ khưu này tên (như vầy) làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thu hồi hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với vị tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác, tỳ khưu này tên (như vầy) làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác. Hội chúng thu hồi hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc thu hồi hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì. … (như trên) …
Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Khi được hội chúng thực hiện hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác, tỳ khưu này tên (như vầy) làm phận sự đúng đắn, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, giờ thỉnh cầu sự thu hồi hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác. Hội chúng thu hồi hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc thu hồi hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác đối với vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng thu hồi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Dứt hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến ác là thứ bảy.
Dứt Chương Hành Sự là thứ nhất.
Trong chương này có bảy sự việc.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Inda-bh 1~372Các tỳ khưu thuộc nhóm Paṇḍuka và Lohitaka, bản thân vốn là những vị thường gây nên các sự xung đột, đã đi đến các vị có sở hành tương tợ và ra sức tạo ra các sự xung đột.
Inda-bh 2~373Các sự xung đột chưa xảy ra thì các vị tạo ra, và đã xảy ra rồi thì làm cho tăng trưởng. Các vị tỳ khưu tốt lành, ít ham muốn, phàn nàn. Bậc Pháp Chủ,—
Inda-bh 3~374—đấng duy trì Chánh Pháp, đức Phật, bậc Tự Tại, Nhân Vật Tối Cao, đấng Chiến Thắng ở thành Sāvatthi ra lệnh làm hành sự khiển trách.
Inda-bh 4~375Việc ấy được thực hiện thiếu sự hiện diện, thiếu sự tra hỏi, với sự không thừa nhận, và việc ấy được thực hiện với tội không có vi phạm, không sám hối được, đã được sám hối.
Inda-bh 5~376Việc ấy được thực hiện khi chưa quở trách, chưa nhắc nhở, chưa xác định tội, và việc ấy được thực hiện thiếu sự hiện diện, không theo Pháp, và còn theo phe nhóm nữa.
Inda-bh 6~377Việc ấy được thực hiện thiếu sự tra hỏi, không theo Pháp, và còn theo phe nhóm nữa. Và việc ấy còn được thực hiện với sự không thừa nhận, không theo Pháp, và còn theo phe nhóm nữa.
Inda-bh 7~378Và việc ấy còn được thực hiện với tội không có vi phạm, không theo Pháp, và còn theo phe nhóm nữa. Và còn với tội đưa đến việc không sám hối được, không theo Pháp, và theo phe nhóm nữa.
Inda-bh 8~379Và tương tợ như thế ấy với tội đã được sám hối, không theo Pháp, còn theo phe nhóm nữa. Và tương tợ như thế ấy khi chưa quở trách, không theo Pháp, còn theo phe nhóm nữa.
Inda-bh 9~380Và tương tợ như thế ấy khi chưa nhắc nhở, không theo Pháp, còn theo phe nhóm nữa. Và tương tợ như thế ấy khi chưa xác định, không theo Pháp, còn theo phe nhóm nữa.
Inda-bh 10~381Theo đúng phương thức của các trường hợp tối, trường hợp sáng được nghiệm ra. Và trong khi mong muốn hội chúng có thể thực hiện việc khiển trách đến vị ấy.
Inda-bh 11~382Sự xung đột, vị ngu si, sống thân cận, vị bị hư hỏng về tăng thượng giới, về tăng thượng hạnh, vị bị hư hỏng về tà kiến cực đoan, hội chúng nên thực hiện việc khiển trách.
Inda-bh 12~383Và vị nào chê bai đức Phật, Giáo Pháp, Hội Chúng, thì hội chúng nên thực hiện việc khiển trách đối với cả ba vị tỳ khưu này.
Inda-bh 13~384Hạng thường gây nên sự xung đột, ngu si, nương tựa vào sự thân cận, về tăng thượng giới, về tăng thượng hạnh, tương tợ như thế ấy về tà kiến cực đoan.
Inda-bh 14~385Và hạng nào chê bai đức Phật, Giáo Pháp, Hội Chúng, việc thực hành phận sự đúng đắn đối với hạng đã được thực hiện hành sự khiển trách là như vậy.
Inda-bh 15~386Việc cho tu bậc trên, việc ban phép nương nhờ, sự phục vụ của sa di, việc giáo giới, cho dù đã được chỉ định, vị đã được thực hiện hành sự thì không nên làm.
Inda-bh 16~387Và tương tợ như thế, không nên phạm lại tội ấy, tội tương tợ như vậy, và nghiêm trọng hơn thế, không nên chỉ trích hành sự, và luôn cả các vị thực hiện hành sự.
Inda-bh 17~388Đối với vị tỳ khưu trong sạch không nên đình chỉ lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, việc khuyên bảo, việc cáo tội, việc thỉnh ý (để buộc tội), và với việc quở trách.
Inda-bh 18~389Việc nhắc nhở, và việc kết bè phái, việc tương tợ như thế là không nên làm. Việc cho tu bậc trên, ban cho phép nương nhờ, sự phục vụ của sa di,—
Inda-bh 19~390—việc giáo giới, cho dầu đối với vị đã được chỉ định, với năm yếu tố thì không được thu hồi. Và vị phạm lại tội ấy, tội tương tợ như vậy, và nghiêm trọng hơn thế,—
Inda-bh 20~391—vị chỉ trích hành sự và các vị thực hiện hành sự, thì không thu hồi. Lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, việc khuyên bảo, việc cáo tội,—
Inda-bh 21~392—việc thỉnh ý (để buộc tội), và luôn cả việc quở trách, việc nhắc nhở, việc kết bè phái, vị nào gắn bó với tám điều này, thì không thu hồi.
Inda-bh 22~393Theo đúng phương thức của các trường hợp tối, trường hợp sáng được nghiệm ra. Vị Seyyasa là ngu si, phạm nhiều tội, và lại còn thân cận.
Inda-bh 23~394Đấng Toàn Giác, bậc Đại Hiền Trí, đã ra lệnh làm hành sự chỉ dạy. Ở Kīṭāgiri có hai vị tỳ khưu Assaji và Punabbasuka.
Inda-bh 24~395Họ không thu thúc, và đã thực hành việc sai trái các loại. Bậc Toàn Giác, đấng Chiến Thắng, ở thành Sāvatthi (đã cho phép) hành sự xua đuổi. Vị Sudhamma ở Macchikāsaṇḍa đã là vị thường trú của (gia chủ) Citta.
Inda-bh 25~396Vị Sudhamma sỉ vả nam cư sĩ Citta về câu chuyện dòng dõi. Đấng Thiện Thệ đã ra lệnh làm hành sự hòa giải.
Inda-bh 26~397Vị tỳ khưu Channa ở thành Kosambi không muốn nhìn nhận tội. Đấng Chiến Thắng tối thượng đã ra lệnh treo tội về việc không nhìn nhận.
Inda-bh 27~398Channa không muốn sửa chữa chính tội lỗi ấy, vị Lãnh Đạo đã ra lệnh làm hành sự án treo về việc không sửa chữa (lỗi).
Inda-bh 28~399Tà kiến ác, được nương tựa ở sự thiếu trí, đã khởi đến vị Ariṭṭha. Hành sự án treo về việc không từ bỏ tà kiến đã được bậc Chiến Thắng giảng giải.
Inda-bh 29~400Hành sự chỉ dạy, xua đuổi, và hòa giải là tương tợ như thế, về việc không nhìn nhận, sửa chữa, và không từ bỏ tà kiến.
Inda-bh 30~401Việc đùa giỡn, sở hành sai trái, việc làm tổn hại, và nuôi mạng sái quấy, các điều phụ trội này là ở hành sự xua đuổi.
Inda-bh 31~402Mất lợi lộc, chê bai, hai lần năm có tên là ‘hai nhóm năm,’ các điều phụ trội này là ở hành sự hòa giải.
Inda-bh 32~403Việc khiển trách, và việc chỉ dạy, cả hai hành sự ấy là tương tợ. Việc xua đuổi, việc hòa giải là có các điều còn lại.
Inda-bh 33~404Ba hành sự án treo là tương tợ và đã được phân tích. Cũng theo phương thức của hành sự khiển trách, các hành sự còn lại được nghiệm ra.”
Dứt Chương Hành Sự.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Small Division
The chapter on penalty procedures
1. Chương về các Yết-ma
1. Tajjanīyakamma
Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.
1. The legal procedure of condemnation
Homage to the Buddha, the Perfected One, the fully Awakened One
1. Yết-ma Khiển Trách
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena paṇḍukalohitakā bhikkhū attanā bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā, yepi caññe bhikkhū bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā te upasaṅkamitvā evaṁ vadanti—“mā kho tumhe, āyasmanto, eso ajesi. Balavābalavaṁ paṭimantetha. Tumhe tena paṇḍitatarā ca byattatarā ca bahussutatarā ca alamattatarā ca. Mā cassa bhāyittha. Mayampi tumhākaṁ pakkhā bhavissāmā”ti. Tena anuppannāni ceva bhaṇḍanāni uppajjanti uppannāni ca bhaṇḍanāni bhiyyobhāvāya vepullāya saṁvattanti.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma paṇḍukalohitakā bhikkhū attanā bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā, yepi caññe bhikkhū bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā te upasaṅkamitvā evaṁ vakkhanti—‘mā kho tumhe, āyasmanto, eso ajesi. Balavābalavaṁ paṭimantetha. Tumhe tena paṇḍitatarā ca byattatarā ca bahussutatarā ca alamattatarā ca. Mā cassa bhāyittha. Mayampi tumhākaṁ pakkhā bhavissāmā’ti. Tena anuppannāni ceva bhaṇḍanāni uppajjanti uppannāni ca bhaṇḍanāni bhiyyobhāvāya vepullāya saṁvattantī”ti.
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time the monks Paṇḍuka and Lohitaka were quarrelsome, argumentative, and creators of legal issues in the Sangha. They went to other monks who were also quarrelsome, argumentative, and creators of legal issues in the Sangha, and said to them, “Don’t let him beat you. Argue back forcefully. You’re wiser, more competent, more learned, and more capable than he. Don’t be afraid of him. We’ll take your side.” Because of that, new quarrels started and existing quarrels became worse.
The monks of few desires complained and criticized them, “How can the monks Paṇḍuka and Lohitaka act like this?”
1. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn ngự tại Sāvatthī, ở Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Cũng vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu Paṇḍuka và Lohitaka tự mình là những người gây ra tranh cãi, gây ra cãi vã, gây ra tranh luận, hay nói nhiều lời, là những người gây ra các vụ tranh tụng trong Tăng chúng. Và họ cũng đi đến các vị tỳ khưu khác là những người gây ra tranh cãi, gây ra cãi vã, gây ra tranh luận, hay nói nhiều lời, là những người gây ra các vụ tranh tụng trong Tăng chúng, rồi nói như vầy: “Thưa các hiền giả, chớ để vị này thắng quý vị. Hãy bàn bạc với người có thế lực. Nhờ vậy, quý vị sẽ là người trí tuệ hơn, khôn khéo hơn, đa văn hơn, và có năng lực hơn. Và chớ có sợ hãi vị ấy. Chúng tôi cũng sẽ là phe của quý vị.” Do đó, những cuộc tranh cãi chưa phát sanh thì phát sanh, và những cuộc tranh cãi đã phát sanh thì dẫn đến sự gia tăng và lan rộng hơn nữa. Các vị tỳ khưu thiểu dục ... phê bình, chê bai, chỉ trích rằng: “Tại sao các tỳ khưu Paṇḍuka và Lohitaka lại tự mình là những người gây ra tranh cãi, gây ra cãi vã, gây ra tranh luận, hay nói nhiều lời, là những người gây ra các vụ tranh tụng trong Tăng chúng; và lại còn đi đến các vị tỳ khưu khác là những người gây ra tranh cãi, gây ra cãi vã, gây ra tranh luận, hay nói nhiều lời, là những người gây ra các vụ tranh tụng trong Tăng chúng, rồi nói như vầy: ‘Thưa các hiền giả, chớ để vị này thắng quý vị. Hãy bàn bạc với người có thế lực. Nhờ vậy, quý vị sẽ là người trí tuệ hơn, khôn khéo hơn, đa văn hơn, và có năng lực hơn. Và chớ có sợ hãi vị ấy. Chúng tôi cũng sẽ là phe của quý vị.’ Do đó, những cuộc tranh cãi chưa phát sanh thì phát sanh, và những cuộc tranh cãi đã phát sanh thì dẫn đến sự gia tăng và lan rộng hơn nữa.”
Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—
“saccaṁ kira, bhikkhave, paṇḍukalohitakā bhikkhū attanā bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā, yepi caññe bhikkhū bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā te upasaṅkamitvā evaṁ vadanti—‘mā kho tumhe, āyasmanto, eso ajesi. Balavābalavaṁ paṭimantetha. Tumhe tena paṇḍitatarā ca byattatarā ca bahussutatarā ca alamattatarā ca. Mā cassa bhāyittha. Mayampi tumhākaṁ pakkhā bhavissāmā’ti. Tena anuppannāni ceva bhaṇḍanāni uppajjanti, uppannāni ca bhaṇḍanāni bhiyyobhāvāya vepullāya saṁvattantī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, bhikkhave, tesaṁ moghapurisānaṁ ananulomikaṁ appatirūpaṁ assāmaṇakaṁ akappiyaṁ akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma te, bhikkhave, moghapurisā attanā bhaṇḍanakārakā …pe… saṅghe adhikaraṇakārakā, yepi caññe bhikkhū bhaṇḍanakārakā …pe… saṅghe adhikaraṇakārakā te upasaṅkamitvā evaṁ vakkhanti—‘mā kho tumhe, āyasmanto, eso ajesi. Balavābalavaṁ paṭimantetha. Tumhe tena paṇḍitatarā ca byattatarā ca bahussutatarā ca alamattatarā ca. Mā cassa bhāyittha. Mayampi tumhākaṁ pakkhā bhavissāmā’ti? Tena anuppannāni ceva bhaṇḍanāni uppajjanti, uppannāni ca bhaṇḍanāni bhiyyobhāvāya vepullāya saṁvattanti. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya pasannānaṁ vā bhiyyobhāvāya. Atha khvetaṁ, bhikkhave, appasannānañceva appasādāya pasannānañca ekaccānaṁ aññathattāyā”ti.
They told the Buddha. Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks:
“Is it true, monks, that the monks Paṇḍuka and Lohitaka are acting like this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them, “It’s not suitable for those foolish men, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How can they act like this, causing new quarrels to start and existing quarrels to become worse? This will affect people’s confidence, and cause some to lose it.”
2. Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Bấy giờ, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn đã cho triệu tập Tăng chúng và hỏi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, có thật chăng rằng các tỳ khưu Paṇḍuka và Lohitaka tự mình là những người gây ra tranh cãi, gây ra cãi vã, gây ra tranh luận, hay nói nhiều lời, là những người gây ra các vụ tranh tụng trong Tăng chúng; và họ cũng đi đến các vị tỳ khưu khác là những người gây ra tranh cãi, gây ra cãi vã, gây ra tranh luận, hay nói nhiều lời, là những người gây ra các vụ tranh tụng trong Tăng chúng, rồi nói như vầy: ‘Thưa các hiền giả, chớ để vị này thắng quý vị. Hãy bàn bạc với người có thế lực. Nhờ vậy, quý vị sẽ là người trí tuệ hơn, khôn khéo hơn, đa văn hơn, và có năng lực hơn. Và chớ có sợ hãi vị ấy. Chúng tôi cũng sẽ là phe của quý vị.’ Do đó, những cuộc tranh cãi chưa phát sanh thì phát sanh, và những cuộc tranh cãi đã phát sanh thì dẫn đến sự gia tăng và lan rộng hơn nữa?” – “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách: “Này các tỳ khưu, (việc làm) của những kẻ trống rỗng này là không thích hợp, không tương xứng, không đáng, không phải là hạnh của sa-môn, không được phép, không nên làm. Này các tỳ khưu, tại sao những kẻ trống rỗng ấy lại tự mình là những người gây ra tranh cãi ... cho đến ... là những người gây ra các vụ tranh tụng trong Tăng chúng; và lại còn đi đến các vị tỳ khưu khác là những người gây ra tranh cãi ... cho đến ... là những người gây ra các vụ tranh tụng trong Tăng chúng, rồi nói như vầy: ‘Thưa các hiền giả, chớ để vị này thắng quý vị. Hãy bàn bạc với người có thế lực. Nhờ vậy, quý vị sẽ là người trí tuệ hơn, khôn khéo hơn, đa văn hơn, và có năng lực hơn. Và chớ có sợ hãi vị ấy. Chúng tôi cũng sẽ là phe của quý vị.’ Do đó, những cuộc tranh cãi chưa phát sanh thì phát sanh, và những cuộc tranh cãi đã phát sanh thì dẫn đến sự gia tăng và lan rộng hơn nữa? Này các tỳ khưu, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin có được đức tin, hay làm cho những người đã có đức tin được tăng trưởng. Mà này các tỳ khưu, việc này chỉ để làm cho những người chưa có đức tin không có đức tin, và làm cho một số người đã có đức tin bị thay đổi khác đi.”
Atha kho bhagavā te bhikkhū anekapariyāyena vigarahitvā dubbharatāya dupposatāya mahicchatāya asantuṭṭhitāya saṅgaṇikāya kosajjassa avaṇṇaṁ bhāsitvā anekapariyāyena subharatāya suposatāya appicchassa santuṭṭhassa sallekhassa dhutassa pāsādikassa apacayassa vīriyārambhassa vaṇṇaṁ bhāsitvā bhikkhūnaṁ tadanucchavikaṁ tadanulomikaṁ dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“tena hi, bhikkhave, saṅgho paṇḍukalohitakānaṁ bhikkhūnaṁ tajjanīyakammaṁ karotu. Evañca pana, bhikkhave, kātabbaṁ. Paṭhamaṁ paṇḍukalohitakā bhikkhū codetabbā, codetvā sāretabbā, sāretvā āpattiṁ āropetabbā, āpattiṁ āropetvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
The Buddha then spoke in many ways in dispraise of being difficult to support and maintain, in dispraise of great desires, discontent, socializing, and laziness; but he spoke in many ways in praise of being easy to support and maintain, of fewness of wishes, contentment, self-effacement, ascetic practices, serenity, reduction in things, and being energetic. After giving a teaching on what is right and proper, he addressed the monks:
“Well then, monks, the Sangha should do a legal procedure of condemnation against the monks Paṇḍuka and Lohitaka. And this is how it should be done. First you should accuse the monks Paṇḍuka and Lohitaka. They should then be reminded of what they’ve done, before they’re charged with an offense. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi đã quở trách các tỳ khưu ấy bằng nhiều cách, đã nói về những điều bất lợi của sự khó nuôi dưỡng, khó hộ trì, của lòng tham lớn, của sự không biết đủ, của sự ưa thích hội chúng, của sự lười biếng; và sau khi đã nói bằng nhiều cách về những lợi ích của sự dễ nuôi dưỡng, dễ hộ trì, của sự thiểu dục, của sự biết đủ, của sự khắc khổ, của sự rũ bỏ, của sự đáng kính, của sự không tích lũy, của sự tinh tấn; sau khi thuyết một bài pháp thoại thích hợp và tương xứng cho các tỳ khưu, đã gọi các tỳ khưu: “Vậy thì, này các tỳ khưu, Tăng chúng hãy thực hiện yết-ma khiển trách đối với các tỳ khưu Paṇḍuka và Lohitaka. Và này các tỳ khưu, việc ấy nên được thực hiện như vầy: Trước hết, các tỳ khưu Paṇḍuka và Lohitaka phải bị chất vấn; sau khi chất vấn, phải được nhắc nhở; sau khi nhắc nhở, phải được quy tội; sau khi quy tội, một vị tỳ khưu khôn khéo, có năng lực phải thông báo cho Tăng chúng –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ime paṇḍukalohitakā bhikkhū attanā bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā, yepi caññe bhikkhū bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā te upasaṅkamitvā evaṁ vadanti—“mā kho tumhe, āyasmanto, eso ajesi. Balavābalavaṁ paṭimantetha. Tumhe tena paṇḍitatarā ca byattatarā ca bahussutatarā ca alamattatarā ca. Mā cassa bhāyittha. Mayampi tumhākaṁ pakkhā bhavissāmā”ti. Tena anuppannāni ceva bhaṇḍanāni uppajjanti, uppannāni ca bhaṇḍanāni bhiyyobhāvāya vepullāya saṁvattanti. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho paṇḍukalohitakānaṁ bhikkhūnaṁ tajjanīyakammaṁ kareyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. These monks Paṇḍuka and Lohitaka are quarrelsome, argumentative, and creators of legal issues in the Sangha. They go to other monks who are also quarrelsome, argumentative, and creators of legal issues in the Sangha, and they say to them, “Don’t let him beat you. Argue back forcefully. You’re wiser, more competent, more learned, and more capable than he. Don’t be afraid of him. We’ll take your side.” Because of this, new quarrels start and existing quarrels become worse. If the Sangha is ready, it should do a legal procedure of condemnation against the monks Paṇḍuka and Lohitaka. This is the motion.
3. “Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe lời của tôi. Các vị tỳ khưu Paṇḍuka và Lohitaka này tự mình là người gây ra tranh cãi, gây ra cãi vã, gây ra tranh luận, hay nói nhiều, gây ra vụ việc trong Tăng chúng; và những vị tỳ khưu nào khác là người gây ra tranh cãi, gây ra cãi vã, gây ra tranh luận, hay nói nhiều, gây ra vụ việc trong Tăng chúng, sau khi đến gần các vị ấy, họ nói như vầy: ‘Thưa quý vị, chớ để vị này thắng quý vị. Hãy bàn bạc về điểm mạnh điểm yếu. Nhờ vậy, quý vị sẽ là người trí tuệ hơn, khéo léo hơn, đa văn hơn, và có năng lực hơn. Và đừng sợ vị ấy. Chúng tôi cũng sẽ là phe của quý vị.’ Do việc ấy, các cuộc tranh cãi chưa phát sanh thì phát sanh, và các cuộc tranh cãi đã phát sanh thì dẫn đến sự gia tăng và lan rộng hơn nữa. Nếu Tăng chúng nhận thấy đã đến lúc thích hợp, Tăng chúng nên thực hiện hành vi khiển trách đối với các tỳ khưu Paṇḍuka và Lohitaka. Đây là lời tuyên cáo.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ime paṇḍukalohitakā bhikkhū attanā bhaṇḍanakārakā …pe… saṅghe adhikaraṇakārakā, yepi caññe bhikkhū bhaṇḍanakārakā …pe… saṅghe adhikaraṇakārakā te upasaṅkamitvā evaṁ vadanti—“mā kho tumhe, āyasmanto, eso ajesi. Balavābalavaṁ paṭimantetha. Tumhe tena paṇḍitatarā ca byattatarā ca bahussutatarā ca alamattatarā ca. Mā cassa bhāyittha. Mayampi tumhākaṁ pakkhā bhavissāmā”ti. Tena anuppannāni ceva bhaṇḍanāni uppajjanti, uppannāni ca bhaṇḍanāni bhiyyobhāvāya vepullāya saṁvattanti. Saṅgho paṇḍukalohitakānaṁ bhikkhūnaṁ tajjanīyakammaṁ karoti. Yassāyasmato khamati paṇḍukalohitakānaṁ bhikkhūnaṁ tajjanīyassa kammassa karaṇaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. These monks Paṇḍuka and Lohitaka are quarrelsome, argumentative, and creators of legal issues in the Sangha. They go to other monks who are also quarrelsome, argumentative, and creators of legal issues in the Sangha, and they say to them, “Don’t let him beat you. Argue back forcefully. You’re wiser, more competent, more learned, and more capable than he. Don’t be afraid of him. We’ll take your side.” Because of this, new quarrels start and existing quarrels become worse. The Sangha does a legal procedure of condemnation against the monks Paṇḍuka and Lohitaka. Any monk who approves of doing a legal procedure of condemnation against the monks Paṇḍuka and Lohitaka should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe lời của tôi. Các vị tỳ khưu Paṇḍuka và Lohitaka này tự mình là người gây ra tranh cãi ... cho đến ... gây ra vụ việc trong Tăng chúng; và những vị tỳ khưu nào khác là người gây ra tranh cãi ... cho đến ... gây ra vụ việc trong Tăng chúng, sau khi đến gần các vị ấy, họ nói như vầy: ‘Thưa quý vị, chớ để vị này thắng quý vị. Hãy bàn bạc về điểm mạnh điểm yếu. Nhờ vậy, quý vị sẽ là người trí tuệ hơn, khéo léo hơn, đa văn hơn, và có năng lực hơn. Và đừng sợ vị ấy. Chúng tôi cũng sẽ là phe của quý vị.’ Do việc ấy, các cuộc tranh cãi chưa phát sanh thì phát sanh, và các cuộc tranh cãi đã phát sanh thì dẫn đến sự gia tăng và lan rộng hơn nữa. Tăng chúng thực hiện hành vi khiển trách đối với các tỳ khưu Paṇḍuka và Lohitaka. Vị tôn giả nào chấp thuận việc thực hiện hành vi khiển trách đối với các tỳ khưu Paṇḍuka và Lohitaka, vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.”
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ime paṇḍukalohitakā bhikkhū attanā bhaṇḍanakārakā …pe… saṅghe adhikaraṇakārakā, yepi caññe bhikkhū bhaṇḍanakārakā …pe… saṅghe adhikaraṇakārakā te upasaṅkamitvā evaṁ vadanti—“mā kho tumhe, āyasmanto, eso ajesi. Balavābalavaṁ paṭimantetha. Tumhe tena paṇḍitatarā ca byattatarā ca bahussutatarā ca alamattatarā ca. Mā cassa bhāyittha. Mayampi tumhākaṁ pakkhā bhavissāmā”ti. Tena anuppannāni ceva bhaṇḍanāni uppajjanti, uppannāni ca bhaṇḍanāni bhiyyobhāvāya vepullāya saṁvattanti. Saṅgho paṇḍukalohitakānaṁ bhikkhūnaṁ tajjanīyakammaṁ karoti. Yassāyasmato khamati paṇḍukalohitakānaṁ bhikkhūnaṁ tajjanīyassa kammassa karaṇaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the second time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. These monks Paṇḍuka and Lohitaka are quarrelsome, argumentative, and creators of legal issues in the Sangha. They go to other monks who are also quarrelsome, argumentative, and creators of legal issues in the Sangha, and they say to them, “Don’t let him beat you. Argue back forcefully. You’re wiser, more competent, more learned, and more capable than he. Don’t be afraid of him. We’ll take your side.” Because of this, new quarrels start and existing quarrels become worse. The Sangha does a legal procedure of condemnation against the monks Paṇḍuka and Lohitaka. Any monk who approves of doing a legal procedure of condemnation against the monks Paṇḍuka and Lohitaka should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Lần thứ nhì, tôi cũng nói lên điều này: Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe lời của tôi. Các vị tỳ khưu Paṇḍuka và Lohitaka này tự mình là người gây ra tranh cãi ... cho đến ... gây ra vụ việc trong Tăng chúng; và những vị tỳ khưu nào khác là người gây ra tranh cãi ... cho đến ... gây ra vụ việc trong Tăng chúng, sau khi đến gần các vị ấy, họ nói như vầy: ‘Thưa quý vị, chớ để vị này thắng quý vị. Hãy bàn bạc về điểm mạnh điểm yếu. Nhờ vậy, quý vị sẽ là người trí tuệ hơn, khéo léo hơn, đa văn hơn, và có năng lực hơn. Và đừng sợ vị ấy. Chúng tôi cũng sẽ là phe của quý vị.’ Do việc ấy, các cuộc tranh cãi chưa phát sanh thì phát sanh, và các cuộc tranh cãi đã phát sanh thì dẫn đến sự gia tăng và lan rộng hơn nữa. Tăng chúng thực hiện hành vi khiển trách đối với các tỳ khưu Paṇḍuka và Lohitaka. Vị tôn giả nào chấp thuận việc thực hiện hành vi khiển trách đối với các tỳ khưu Paṇḍuka và Lohitaka, vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.”
Tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ime paṇḍukalohitakā bhikkhū attanā bhaṇḍanakārakā …pe… saṅghe adhikaraṇakārakā, yepi caññe bhikkhū bhaṇḍanakārakā …pe… saṅghe adhikaraṇakārakā te upasaṅkamitvā evaṁ vadanti—“mā kho tumhe, āyasmanto, eso ajesi. Balavābalavaṁ paṭimantetha. Tumhe tena paṇḍitatarā ca byattatarā ca bahussutatarā ca alamattatarā ca. Mā cassa bhāyittha. Mayampi tumhākaṁ pakkhā bhavissāmā”ti. Tena anuppannāni ceva bhaṇḍanāni uppajjanti, uppannāni ca bhaṇḍanāni bhiyyobhāvāya vepullāya saṁvattanti. Saṅgho paṇḍukalohitakānaṁ bhikkhūnaṁ tajjanīyakammaṁ karoti. Yassāyasmato khamati paṇḍukalohitakānaṁ bhikkhūnaṁ tajjanīyassa kammassa karaṇaṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. These monks Paṇḍuka and Lohitaka are quarrelsome, argumentative, and creators of legal issues in the Sangha. They go to other monks who are also quarrelsome, argumentative, and creators of legal issues in the Sangha, and they say to them, “Don’t let him beat you. Argue back forcefully. You’re wiser, more competent, more learned, and more capable than he. Don’t be afraid of him. We’ll take your side.” Because of this, new quarrels start and existing quarrels become worse. The Sangha does a legal procedure of condemnation against the monks Paṇḍuka and Lohitaka. Any monk who approves of doing a legal procedure of condemnation against the monks Paṇḍuka and Lohitaka should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Lần thứ ba, tôi cũng nói lên điều này: Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe lời của tôi. Các vị tỳ khưu Paṇḍuka và Lohitaka này tự mình là người gây ra tranh cãi ... cho đến ... gây ra vụ việc trong Tăng chúng; và những vị tỳ khưu nào khác là người gây ra tranh cãi ... cho đến ... gây ra vụ việc trong Tăng chúng, sau khi đến gần các vị ấy, họ nói như vầy: ‘Thưa quý vị, chớ để vị này thắng quý vị. Hãy bàn bạc về điểm mạnh điểm yếu. Nhờ vậy, quý vị sẽ là người trí tuệ hơn, khéo léo hơn, đa văn hơn, và có năng lực hơn. Và đừng sợ vị ấy. Chúng tôi cũng sẽ là phe của quý vị.’ Do việc ấy, các cuộc tranh cãi chưa phát sanh thì phát sanh, và các cuộc tranh cãi đã phát sanh thì dẫn đến sự gia tăng và lan rộng hơn nữa. Tăng chúng thực hiện hành vi khiển trách đối với các tỳ khưu Paṇḍuka và Lohitaka. Vị tôn giả nào chấp thuận việc thực hiện hành vi khiển trách đối với các tỳ khưu Paṇḍuka và Lohitaka, vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.”
Kataṁ saṅghena paṇḍukalohitakānaṁ bhikkhūnaṁ tajjanīyakammaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has done the legal procedure of condemnation against the monks Paṇḍuka and Lohitaka. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Hành vi khiển trách đã được Tăng chúng thực hiện đối với các tỳ khưu Paṇḍuka và Lohitaka. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế đã im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
1.1. Adhammakammadvādasaka
The group of twelve on illegitimate legal procedures
Mười hai trường hợp hành vi phi pháp
“Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Asammukhā kataṁ hoti, appaṭipucchā kataṁ hoti, appaṭiññāya kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
“When a legal procedure of condemnation has three qualities, it’s illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done in the absence of the accused, it’s done without questioning the accused, it’s done without the admission of the accused.
4. “Này các tỳ khưu, hành vi khiển trách được hội đủ ba yếu tố là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và được dàn xếp không tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện vắng mặt, được thực hiện không hỏi ý kiến, được thực hiện không có sự thú nhận. Này các tỳ khưu, quả thật, hành vi khiển trách được hội đủ ba yếu tố này là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và được dàn xếp không tốt đẹp.”
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Anāpattiyā kataṁ hoti, adesanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, desitāya āpattiyā kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who hasn’t committed any offense, it’s done against one who’s committed an offense that isn’t clearable by confession, it’s done against one who’s confessed their offense.
“Này các tỳ khưu, lại nữa, hành vi khiển trách được hội đủ ba yếu tố khác là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và được dàn xếp không tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện khi không có phạm tội, được thực hiện đối với tội không thuộc loại có thể sám hối, được thực hiện đối với tội đã được sám hối. Này các tỳ khưu, quả thật, hành vi khiển trách được hội đủ ba yếu tố này là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và được dàn xếp không tốt đẹp.”
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Acodetvā kataṁ hoti, asāretvā kataṁ hoti, āpattiṁ anāropetvā kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having accused the person of their offense, it’s done without having reminded the person of their offense, it’s done without having charged the person with their offense.
“Này các tỳ khưu, lại nữa, hành vi khiển trách được hội đủ ba yếu tố khác là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và được dàn xếp không tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện mà không khiển trách, được thực hiện mà không nhắc nhở, được thực hiện mà không buộc tội. Này các tỳ khưu, quả thật, hành vi khiển trách được hội đủ ba yếu tố này là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và được dàn xếp không tốt đẹp.”
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Asammukhā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
“When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done in the absence of the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“Này các tỳ khưu, còn nữa, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện vắng mặt, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một nhóm bè phái. Này các tỳ khưu, quả thật, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố này là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Appaṭipucchā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without questioning the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“Này các tỳ khưu, còn nữa, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện không hỏi ý kiến, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một nhóm bè phái. Này các tỳ khưu, quả thật, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố này là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Appaṭiññāya kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without the admission of the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“Này các tỳ khưu, còn nữa, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện không có sự thú nhận, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một nhóm bè phái. Này các tỳ khưu, quả thật, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố này là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Anāpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
“When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who hasn’t committed any offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“Này các tỳ khưu, còn nữa, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện khi không có tội, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một nhóm bè phái. Này các tỳ khưu, quả thật, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố này là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Adesanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense that isn’t clearable by confession, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“Này các tỳ khưu, còn nữa, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện đối với tội không thể sám hối được, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một nhóm bè phái. Này các tỳ khưu, quả thật, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố này là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Desitāya āpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who’s confessed their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“Này các tỳ khưu, còn nữa, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện đối với tội đã được sám hối, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một nhóm bè phái. Này các tỳ khưu, quả thật, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố này là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Acodetvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
“When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having accused the person of their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“Này các tỳ khưu, còn nữa, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện không có sự khiển trách, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một nhóm bè phái. Này các tỳ khưu, quả thật, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố này là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Asāretvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having reminded the person of their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“Này các tỳ khưu, còn nữa, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện không có sự nhắc nhở, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một nhóm bè phái. Này các tỳ khưu, quả thật, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố này là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Āpattiṁ anāropetvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
Adhammakammadvādasakaṁ niṭṭhitaṁ.
1.2. Dhammakammadvādasaka
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Sammukhā kataṁ hoti, paṭipucchā kataṁ hoti, paṭiññāya kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having charged the person with their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.”
The group of twelve on illegitimate legal procedures is finished.
The group of twelve on legitimate legal procedures
“When a legal procedure of condemnation has three qualities, it’s legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done in the presence of the accused, it’s done with the questioning of the accused, it’s done with the admission of the accused.
“Này các tỳ khưu, còn nữa, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện không quy tội, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một nhóm bè phái. Này các tỳ khưu, quả thật, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố này là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Āpattiyā kataṁ hoti, desanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, adesitāya āpattiyā kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense, it’s done against one who’s committed an offense that’s clearable by confession, it’s done against one who hasn’t confessed their offense.
“Này các tỳ khưu, còn nữa, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố là hành vi đúng pháp, là hành vi đúng luật, và là hành vi được dàn xếp tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện khi có tội, được thực hiện đối với tội có thể sám hối được, được thực hiện đối với tội chưa được sám hối. Này các tỳ khưu, quả thật, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố này là hành vi đúng pháp, là hành vi đúng luật, và là hành vi được dàn xếp tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Codetvā kataṁ hoti, sāretvā kataṁ hoti, āpattiṁ āropetvā kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after accusing the person of their offense, it’s done after reminding the person of their offense, it’s done after charging the person with their offense.
“Này các tỳ khưu, còn nữa, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố là hành vi đúng pháp, là hành vi đúng luật, và là hành vi được dàn xếp tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện sau khi khiển trách, được thực hiện sau khi nhắc nhở, được thực hiện sau khi quy tội. Này các tỳ khưu, quả thật, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố này là hành vi đúng pháp, là hành vi đúng luật, và là hành vi được dàn xếp tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Sammukhā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
“When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done in the presence of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
“Này các tỳ khưu, còn nữa, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố là hành vi đúng pháp, là hành vi đúng luật, và là hành vi được dàn xếp tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện trước mặt, được thực hiện một cách đúng pháp, được thực hiện bởi một tập thể hòa hợp. Này các tỳ khưu, quả thật, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố này là hành vi đúng pháp, là hành vi đúng luật, và là hành vi được dàn xếp tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Paṭipucchā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done with the questioning of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
Này các tỳ khưu, yết-ma khiển trách được hội đủ ba yếu tố khác nữa là yết-ma đúng Pháp, là yết-ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện sau khi hỏi, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, yết-ma khiển trách được hội đủ ba yếu tố này quả là yết-ma đúng Pháp, là yết-ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Paṭiññāya kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done with the admission of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
Này các tỳ khưu, yết-ma khiển trách được hội đủ ba yếu tố khác nữa là yết-ma đúng Pháp, là yết-ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện sau khi thú nhận, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, yết-ma khiển trách được hội đủ ba yếu tố này quả là yết-ma đúng Pháp, là yết-ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
“When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
Này các tỳ khưu, yết-ma khiển trách được hội đủ ba yếu tố khác nữa là yết-ma đúng Pháp, là yết-ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện vì tội, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, yết-ma khiển trách được hội đủ ba yếu tố này quả là yết-ma đúng Pháp, là yết-ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Desanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense that’s clearable by confession, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
Này các tỳ khưu, yết-ma khiển trách được hội đủ ba yếu tố khác nữa là yết-ma đúng Pháp, là yết-ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện vì tội cần phải sám hối, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, yết-ma khiển trách được hội đủ ba yếu tố này quả là yết-ma đúng Pháp, là yết-ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Adesitāya āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who hasn’t confessed their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
Này các tỳ khưu, yết-ma khiển trách được hội đủ ba yếu tố khác nữa là yết-ma đúng Pháp, là yết-ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện vì tội chưa được sám hối, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, yết-ma khiển trách được hội đủ ba yếu tố này quả là yết-ma đúng Pháp, là yết-ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Codetvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
“When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after accusing the person of their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
Này các tỳ khưu, yết-ma khiển trách được hội đủ ba yếu tố khác nữa là yết-ma đúng Pháp, là yết-ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện sau khi khiển trách, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, yết-ma khiển trách được hội đủ ba yếu tố này quả là yết-ma đúng Pháp, là yết-ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Sāretvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after reminding the person of their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
Này các tỳ khưu, yết-ma khiển trách được hội đủ ba yếu tố khác nữa là yết-ma đúng Pháp, là yết-ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện sau khi nhắc nhở, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, yết-ma khiển trách được hội đủ ba yếu tố này quả là yết-ma đúng Pháp, là yết-ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Āpattiṁ āropetvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ tajjanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
Dhammakammadvādasakaṁ niṭṭhitaṁ.
1.3. Ākaṅkhamānachakka
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, tajjanīyakammaṁ kareyya. Bhaṇḍanakārako hoti kalahakārako vivādakārako bhassakārako saṅghe adhikaraṇakārako; bālo hoti abyatto āpattibahulo anapadāno; gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, tajjanīyakammaṁ kareyya.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, tajjanīyakammaṁ kareyya. Adhisīle sīlavipanno hoti, ajjhācāre ācāravipanno hoti, atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, tajjanīyakammaṁ kareyya.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, tajjanīyakammaṁ kareyya. Buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, tajjanīyakammaṁ kareyya.
Tiṇṇaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, tajjanīyakammaṁ kareyya. Eko bhaṇḍanakārako hoti kalahakārako vivādakārako bhassakārako saṅghe adhikaraṇakārako; eko bālo hoti abyatto āpattibahulo anapadāno; eko gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, tajjanīyakammaṁ kareyya.
Aparesampi, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, tajjanīyakammaṁ kareyya. Eko adhisīle sīlavipanno hoti, eko ajjhācāre ācāravipanno hoti, eko atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, tajjanīyakammaṁ kareyya.
Aparesampi, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, tajjanīyakammaṁ kareyya. Eko buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, eko dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, eko saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, tajjanīyakammaṁ kareyya.
Ākaṅkhamānachakkaṁ niṭṭhitaṁ.
When a procedure of condemnation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after charging the person with their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.”
The group of twelve on legitimate legal procedures is finished.
The group of six on wishing
“When a monk has three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a legal procedure of condemnation against him: he’s quarrelsome, argumentative, and a creator of legal issues in the Sangha; he’s ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries; he’s constantly and improperly socializing with householders.
When a monk has another three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of condemnation against him: he has failed in the higher morality; he has failed in the higher conduct; he has failed in the higher view.
When a monk has another three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of condemnation against him: he disparages the Buddha; he disparages the Teaching; he disparages the Sangha.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of condemnation against three kinds of monks: those who are quarrelsome, argumentative, and creators of legal issues in the Sangha; those who are ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries; those who are constantly and improperly socializing with householders.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of condemnation against three other kinds of monks: those who’ve failed in the higher morality; those who’ve failed in the higher conduct; those who’ve failed in the higher view.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of condemnation against three other kinds of monks: those who disparage the Buddha; those who disparage the Teaching; those who disparage the Sangha.”
The group of six on wishing is finished.
Này các tỳ khưu, yết-ma khiển trách được hội đủ ba yếu tố khác nữa là yết-ma đúng Pháp, là yết-ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện sau khi quy tội, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, yết-ma khiển trách được hội đủ ba yếu tố này quả là yết-ma đúng Pháp, là yết-ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp.
1.4. Aṭṭhārasavatta
Tajjanīyakammakatena, bhikkhave, bhikkhunā sammā vattitabbaṁ. Tatrāyaṁ sammāvattanā—
- na upasampādetabbaṁ,
- na nissayo dātabbo,
- na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo,
- na bhikkhunovādakasammuti sāditabbā,
- sammatenapi bhikkhuniyo na ovaditabbā.
- Yāya āpattiyā saṅghena tajjanīyakammaṁ kataṁ hoti sā āpatti na āpajjitabbā,
- aññā vā tādisikā,
- tato vā pāpiṭṭhatarā;
- kammaṁ na garahitabbaṁ,
- kammikā na garahitabbā.
- Na pakatattassa bhikkhuno uposatho ṭhapetabbo,
- na pavāraṇā ṭhapetabbā,
- na savacanīyaṁ kātabbaṁ,
- na anuvādo paṭṭhapetabbo,
- na okāso kāretabbo,
- na codetabbo,
- na sāretabbo,
- na bhikkhūhi sampayojetabban”ti.
Tajjanīyakamme aṭṭhārasavattaṁ niṭṭhitaṁ.
The eighteen kinds of conduct
“A monk who’s had a legal procedure of condemnation done against him should conduct himself properly. This is the proper conduct:
- He shouldn’t give the full ordination.
- He shouldn’t give formal support.
- He shouldn’t have a novice monk attend on him.
- He shouldn’t accept being appointed as an instructor of the nuns.
- Even if appointed, he shouldn’t instruct the nuns.
- He shouldn’t commit the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of condemnation against him.
- He shouldn’t commit an offense similar to the offense for which the Sangha did the procedure of condemnation against him.
- He shouldn’t commit an offense worse than the offense for which the Sangha did the procedure of condemnation against him.
- He shouldn’t criticize the procedure.
- He shouldn’t criticize those who did the procedure.
- He shouldn’t cancel the observance-day ceremony of a regular monk.
- He shouldn’t cancel the invitation ceremony of a regular monk.
- He shouldn’t direct a regular monk.
- He shouldn’t give instructions to a regular monk.
- He shouldn’t ask a regular monk for permission to correct him.
- He shouldn’t accuse a regular monk of an offense.
- He shouldn’t remind a regular monk of an offense.
- He shouldn’t associate inappropriately with other monks.”
The eighteen kinds of conduct in regard to the legal procedure of condemnation are finished.
Mười tám phận sự
1.5. Nappaṭippassambhetabbaaṭṭhārasaka
Atha kho saṅgho paṇḍukalohitakānaṁ bhikkhūnaṁ tajjanīyakammaṁ akāsi. Te saṅghena tajjanīyakammakatā sammā vattanti, lomaṁ pātenti, netthāraṁ vattanti, bhikkhū upasaṅkamitvā evaṁ vadanti—“mayaṁ, āvuso, saṅghena tajjanīyakammakatā sammā vattāma, lomaṁ pātema, netthāraṁ vattāma, kathaṁ nu kho amhehi paṭipajjitabban”ti? Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ … pe….
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho paṇḍukalohitakānaṁ bhikkhūnaṁ tajjanīyakammaṁ paṭippassambhetu.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno tajjanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Upasampādeti, nissayaṁ deti, sāmaṇeraṁ upaṭṭhāpeti, bhikkhunovādakasammutiṁ sādiyati, sammatopi bhikkhuniyo ovadati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno tajjanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno tajjanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Yāya āpattiyā saṅghena tajjanīyakammaṁ kataṁ hoti taṁ āpattiṁ āpajjati, aññaṁ vā tādisikaṁ, tato vā pāpiṭṭhataraṁ; kammaṁ garahati, kammike garahati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno tajjanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno tajjanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Pakatattassa bhikkhuno uposathaṁ ṭhapeti, pavāraṇaṁ ṭhapeti, savacanīyaṁ karoti, anuvādaṁ paṭṭhapeti, okāsaṁ kāreti, codeti, sāreti, bhikkhūhi sampayojeti—imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno tajjanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
Nappaṭippassambhetabbaaṭṭhārasakaṁ niṭṭhitaṁ.
1.6. Paṭippassambhetabbaaṭṭhārasaka
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno tajjanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Na upasampādeti, na nissayaṁ deti, na sāmaṇeraṁ upaṭṭhāpeti, na bhikkhunovādakasammutiṁ sādiyati, sammatopi bhikkhuniyo na ovadati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno tajjanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno tajjanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Yāya āpattiyā saṅghena tajjanīyakammaṁ kataṁ hoti taṁ āpattiṁ na āpajjati, aññaṁ vā tādisikaṁ, tato vā pāpiṭṭhataraṁ; kammaṁ na garahati, kammike na garahati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno tajjanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno tajjanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Na pakatattassa bhikkhuno uposathaṁ ṭhapeti, na pavāraṇaṁ ṭhapeti, na savacanīyaṁ karoti, na anuvādaṁ paṭṭhapeti, na okāsaṁ kāreti, na codeti, na sāreti, na bhikkhūhi sampayojeti—imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, tajjanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
Paṭippassambhetabbaaṭṭhārasakaṁ niṭṭhitaṁ.
Evañca pana, bhikkhave, paṭippassambhetabbaṁ. Tehi, bhikkhave, paṇḍukalohitakehi bhikkhūhi saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vuḍḍhānaṁ bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘mayaṁ, bhante, saṅghena tajjanīyakammakatā sammā vattāma, lomaṁ pātema, netthāraṁ vattāma, tajjanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācāmā’ti. Dutiyampi yācitabbā. Tatiyampi yācitabbā. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho.
The group of eighteen on not to be lifted
When the Sangha had done a legal procedure of condemnation against the monks Paṇḍuka and Lohitaka, they conducted themselves properly and suitably, and deserved to be released. They then went to the monks and told them about this, adding, “What should we do now?” The monks told the Buddha …
“Well then, lift that legal procedure of condemnation against the monks Paṇḍuka and Lohitaka.
When a monk has five qualities, a legal procedure of condemnation against him shouldn’t be lifted: he gives the full ordination; he gives formal support; he has a novice monk attend on him; he accepts being appointed as an instructor of the nuns; he instructs the nuns, whether appointed or not.
When a monk has another five qualities, a procedure of condemnation against him shouldn’t be lifted: he commits the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of condemnation against him; he commits an offense similar to the one for which the Sangha did the procedure of condemnation against him; he commits an offense worse than the one for which the Sangha did the procedure of condemnation against him; he criticizes the procedure; he criticizes those who did the procedure.
When a monk has eight qualities, a procedure of condemnation against him shouldn’t be lifted: he cancels the observance-day ceremony of a regular monk; he cancels the invitation ceremony of a regular monk; he directs a regular monk; he gives instructions to a regular monk; he asks a regular monk for permission to correct him; he accuses a regular monk of an offense; he reminds a regular monk of an offense; he associates inappropriately with other monks.”
The group of eighteen on not to be lifted is finished.
The group of eighteen on to be lifted
“When a monk has five qualities, a legal procedure of condemnation against him should be lifted: he doesn’t give the full ordination; he doesn’t give formal support; he doesn’t have a novice monk attend on him; he doesn’t accept being appointed as an instructor of the nuns; he doesn’t instruct the nuns, whether appointed or not.
When a monk has another five qualities, a procedure of condemnation against him should be lifted: he doesn’t commit the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of condemnation against him; he doesn’t commit an offense similar to the one for which the Sangha did the procedure of condemnation against him; he doesn’t commit an offense worse than the one for which the Sangha did the procedure of condemnation against him; he doesn’t criticize the procedure; he doesn’t criticize those who did the procedure.
When a monk has eight qualities, a procedure of condemnation against him should be lifted: he doesn’t cancel the observance-day ceremony of a regular monk; he doesn’t cancel the invitation ceremony of a regular monk; he doesn’t direct a regular monk; he doesn’t give instructions to a regular monk; he doesn’t ask a regular monk for permission to correct him; he doesn’t accuse a regular monk of an offense; he doesn’t remind a regular monk of an offense; he doesn’t associate inappropriately with other monks.”
The group of eighteen on to be lifted is finished.
“And this is how it should be lifted. After approaching the Sangha, the monks Paṇḍuka and Lohitaka should arrange their upper robes over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on their heels, raise their joined palms, and say, ‘Venerables, the Sangha has done a legal procedure of condemnation against us. We’re now conducting ourselves properly and suitably, and deserve to be released. We ask for that legal procedure of condemnation to be lifted.’ And they should ask a second and a third time. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen.
Mười tám trường hợp không nên giải trừ.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ime paṇḍukalohitakā bhikkhū saṅghena tajjanīyakammakatā sammā vattanti, lomaṁ pātenti, netthāraṁ vattanti, tajjanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācanti. Saṅgho paṇḍukalohitakānaṁ bhikkhūnaṁ tajjanīyakammaṁ paṭippassambheti. Yassāyasmato khamati paṇḍukalohitakānaṁ bhikkhūnaṁ tajjanīyassa kammassa paṭippassaddhi, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ime paṇḍukalohitakā bhikkhū saṅghena tajjanīyakammakatā sammā vattanti, lomaṁ pātenti, netthāraṁ vattanti, tajjanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācanti. Saṅgho paṇḍukalohitakānaṁ bhikkhūnaṁ tajjanīyakammaṁ paṭippassambheti. Yassāyasmato khamati paṇḍukalohitakānaṁ bhikkhūnaṁ tajjanīyassa kammassa paṭippassaddhi, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ime paṇḍukalohitakā bhikkhū saṅghena tajjanīyakammakatā sammā vattanti, lomaṁ pātenti, netthāraṁ vattanti, tajjanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācanti. Saṅgho paṇḍukalohitakānaṁ bhikkhūnaṁ tajjanīyakammaṁ paṭippassambheti. Yassāyasmato khamati paṇḍukalohitakānaṁ bhikkhūnaṁ tajjanīyassa kammassa paṭippassaddhi, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Paṭippassaddhaṁ saṅghena paṇḍukalohitakānaṁ bhikkhūnaṁ tajjanīyakammaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of condemnation against these monks Paṇḍuka and Lohitaka. They’re now conducting themselves properly and suitably, and deserve to be released. They’re asking for that legal procedure of condemnation to be lifted. The Sangha lifts that legal procedure of condemnation against the monks Paṇḍuka and Lohitaka. Any monk who approves of lifting that legal procedure of condemnation against the monks Paṇḍuka and Lohitaka should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
For the second time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of condemnation against these monks Paṇḍuka and Lohitaka. They’re now conducting themselves properly and suitably, and deserve to be released. They’re asking for that legal procedure of condemnation to be lifted. The Sangha lifts that legal procedure of condemnation against the monks Paṇḍuka and Lohitaka. Any monk who approves of lifting that legal procedure of condemnation against the monks Paṇḍuka and Lohitaka should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of condemnation against these monks Paṇḍuka and Lohitaka. They’re now conducting themselves properly and suitably, and deserve to be released. They’re asking for that legal procedure of condemnation to be lifted. The Sangha lifts that legal procedure of condemnation against the monks Paṇḍuka and Lohitaka. Any monk who approves of lifting that legal procedure of condemnation against the monks Paṇḍuka and Lohitaka should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
The Sangha has lifted that legal procedure of condemnation against the monks Paṇḍuka and Lohitaka. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy nghe con. Vị tỳ khưu Seyyasaka này đã bị Tăng chúng thi hành yết ma Niyassa, (nay) đang hành xử đúng đắn, đã dứt bỏ lòng kiêu mạn, đang thực hành hạnh kiểm để được ra khỏi (yết ma), và đang thỉnh cầu sự đình chỉ yết ma Niyassa. Nếu Tăng chúng nhận thấy đã đến thời điểm thích hợp, Tăng chúng nên đình chỉ yết ma Niyassa cho tỳ khưu Seyyasaka. Đây là lời tác bạch.
Tajjanīyakammaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
2. Niyassakamma
Tena kho pana samayena āyasmā seyyasako bālo hoti abyatto āpattibahulo anapadāno; gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi; apissu bhikkhū pakatā parivāsaṁ dentā mūlāya paṭikassantā mānattaṁ dentā abbhentā.
Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—
The first section on the legal procedure of condemnation is finished.
2. The legal procedure of demotion
At that time Venerable Seyyasaka was ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries. And he was constantly and improperly socializing with householders. In addition, the monks regularly gave him probation, sent him back to the beginning, gave him trial periods, and rehabilitated him.
The monks of few desires complained and criticized him,
Yết ma Niyassa thứ nhì đã hoàn tất.
11. Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Seyyasaka là người ngu dốt, không khéo léo, phạm nhiều tội, không có giới hạn về tội; vị ấy sống giao du với gia chủ bằng những sự giao du không thích hợp; hơn nữa, các tỳ khưu thường xuyên phải bận rộn với việc ban biệt trú, việc kéo về lại từ đầu, việc ban mānatta, việc giải tội. Các vị tỳ khưu thiểu dục... la rầy, khiển trách, phàn nàn rằng: ‘Tại sao trưởng lão Seyyasaka lại là người ngu dốt, không khéo léo, phạm nhiều tội, không có giới hạn về tội; lại sống giao du với gia chủ bằng những sự giao du không thích hợp; hơn nữa, các tỳ khưu lại phải thường xuyên bận rộn với việc ban biệt trú, việc kéo về lại từ đầu, việc ban mānatta, việc giải tội?’ Bấy giờ, các tỳ khưu ấy đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—
“saccaṁ kira, bhikkhave, seyyasako bhikkhu bālo abyatto āpattibahulo anapadāno; gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi; apissu bhikkhū pakatā parivāsaṁ dentā mūlāya paṭikassantā mānattaṁ dentā abbhentā”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, bhikkhave, tassa moghapurisassa ananulomikaṁ appatirūpaṁ assāmaṇakaṁ akappiyaṁ akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma so, bhikkhave, moghapuriso bālo bhavissati abyatto āpattibahulo anapadāno; gihisaṁsaṭṭho viharissati ananulomikehi gihisaṁsaggehi; apissu bhikkhū pakatā parivāsaṁ dentā mūlāya paṭikassantā mānattaṁ dentā abbhentā. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“tena hi, bhikkhave, saṅgho seyyasakassa bhikkhuno niyassakammaṁ karotu—nissāya te vatthabbanti. Evañca pana, bhikkhave, kātabbaṁ. Paṭhamaṁ seyyasako bhikkhu codetabbo, codetvā sāretabbo, sāretvā āpattiṁ āropetabbo, āpattiṁ āropetvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks:
“Is it true, monks, that the monk Seyyasaka goes on like this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked him, “It’s not suitable for that foolish man, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How can he be ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries? How can he constantly and improperly socialize with householders? And how can it be that the monks regularly give him probation, send him back to the beginning, give him trial periods, and rehabilitate him? This will affect people’s confidence …” After rebuking him … the Buddha gave a teaching and addressed the monks:
“Well then, the Sangha should do a legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka, instructing him to live with formal support. And this is how it should be done. First you should accuse the monk Seyyasaka. He should then be reminded of what he has done, before he’s charged with an offense. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
Bấy giờ, nhân sự việc này, trong trường hợp này, đức Thế Tôn cho triệu tập Tăng chúng và hỏi các tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, có thật chăng, tỳ khưu Seyyasaka là người ngu dốt, không khéo léo, phạm nhiều tội, không có giới hạn về tội; sống giao du với gia chủ bằng những sự giao du không thích hợp; hơn nữa, các tỳ khưu thường xuyên phải bận rộn với việc ban biệt trú, việc kéo về lại từ đầu, việc ban mānatta, việc giải tội?’ ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách: ‘Này các tỳ khưu, (việc làm) của kẻ trống rỗng kia là không thích đáng, không phù hợp, không xứng đáng, không phải là hạnh của sa-môn, không được phép, không nên làm. Này các tỳ khưu, tại sao kẻ trống rỗng kia lại là người ngu dốt, không khéo léo, phạm nhiều tội, không có giới hạn về tội; lại sống giao du với gia chủ bằng những sự giao du không thích hợp; hơn nữa, các tỳ khưu lại phải thường xuyên bận rộn với việc ban biệt trú, việc kéo về lại từ đầu, việc ban mānatta, việc giải tội? Này các tỳ khưu, điều này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin...’ ... sau khi quở trách... sau khi thuyết pháp thoại, Ngài gọi các tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, vậy thì Tăng chúng hãy thực hiện hành sự Niyassa đối với tỳ khưu Seyyasaka rằng: – Ngươi phải sống nương tựa. Và này các tỳ khưu, nên thực hiện như vầy. Trước tiên, tỳ khưu Seyyasaka nên bị chất vấn, sau khi chất vấn nên được làm cho nhớ lại, sau khi làm cho nhớ lại nên được quy tội, sau khi quy tội, vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên tác bạch cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ seyyasako bhikkhu bālo abyatto āpattibahulo anapadāno; gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi; apissu bhikkhū pakatā parivāsaṁ dentā mūlāya paṭikassantā mānattaṁ dentā abbhentā. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho seyyasakassa bhikkhuno niyassakammaṁ kareyya—nissāya te vatthabbanti. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This monk Seyyasaka is ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries. He’s constantly and improperly socializing with householders. In addition, the monks regularly give him probation, send him back to the beginning, give him the trial period, and rehabilitate him. If the Sangha is ready, it should do a legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka, instructing him to live with formal support. This is the motion.
12. “Kính bạch chư Đại đức, Tăng chúng hãy nghe con. Vị tỳ khưu Seyyasaka này là người ngu si, không thuần thục, phạm nhiều tội, không có giới hạn; vị ấy sống giao du với hàng tại gia bằng những sự giao du không thích hợp. Hơn nữa, các tỳ khưu đã phải bận rộn trong việc trao biệt trú, kéo về tội ban đầu, trao mānatta, và giải tội. Nếu Tăng chúng nhận thấy đã đến lúc thích hợp, Tăng chúng nên thực hiện yết ma nương tựa cho tỳ khưu Seyyasaka rằng: ‘Ông phải sống nương tựa.’ Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ seyyasako bhikkhu bālo abyatto āpattibahulo anapadāno; gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi; apissu bhikkhū pakatā parivāsaṁ dentā mūlāya paṭikassantā mānattaṁ dentā abbhentā. Saṅgho seyyasakassa bhikkhuno niyassakammaṁ karoti—nissāya te vatthabbanti. Yassāyasmato khamati seyyasakassa bhikkhuno niyassassa kammassa karaṇaṁ—nissāya te vatthabbanti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This monk Seyyasaka is ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries. He’s constantly and improperly socializing with householders. In addition, the monks regularly give him probation, send him back to the beginning, give him the trial period, and rehabilitate him. The Sangha does a legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka, instructing him to live with formal support. Any monk who approves of doing a legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka, instructing him to live with formal support, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Đại đức, Tăng chúng hãy nghe con. Vị tỳ khưu Seyyasaka này là người ngu si, không thuần thục, phạm nhiều tội, không có giới hạn; vị ấy sống giao du với hàng tại gia bằng những sự giao du không thích hợp. Hơn nữa, các tỳ khưu đã phải bận rộn trong việc trao biệt trú, kéo về tội ban đầu, trao mānatta, và giải tội. Tăng chúng thực hiện yết ma nương tựa cho tỳ khưu Seyyasaka rằng: ‘Ông phải sống nương tựa.’ Vị trưởng lão nào chấp thuận việc thực hiện yết ma nương tựa cho tỳ khưu Seyyasaka rằng: ‘Ông phải sống nương tựa,’ vị ấy nên im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy nên nói.”
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ seyyasako bhikkhu bālo abyatto āpattibahulo anapadāno; gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi; apissu bhikkhū pakatā parivāsaṁ dentā mūlāya paṭikassantā mānattaṁ dentā abbhentā. Saṅgho seyyasakassa bhikkhuno niyassakammaṁ karoti—nissāya te vatthabbanti. Yassāyasmato khamati seyyasakassa bhikkhuno niyassassa kammassa karaṇaṁ—nissāya te vatthabbanti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This monk Seyyasaka is ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries. He’s constantly and improperly socializing with householders. In addition, the monks regularly give him probation, send him back to the beginning, give him the trial period, and rehabilitate him. The Sangha does a legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka, instructing him to live with formal support. Any monk who approves of doing a legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka, instructing him to live with formal support, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Lần thứ nhì, con cũng nói lên điều này… Lần thứ ba, con cũng nói lên điều này: Kính bạch chư Đại đức, Tăng chúng hãy nghe con. Vị tỳ khưu Seyyasaka này là người ngu si, không thuần thục, phạm nhiều tội, không có giới hạn; vị ấy sống giao du với hàng tại gia bằng những sự giao du không thích hợp. Hơn nữa, các tỳ khưu đã phải bận rộn trong việc trao biệt trú, kéo về tội ban đầu, trao mānatta, và giải tội. Tăng chúng thực hiện yết ma nương tựa cho tỳ khưu Seyyasaka rằng: ‘Ông phải sống nương tựa.’ Vị trưởng lão nào chấp thuận việc thực hiện yết ma nương tựa cho tỳ khưu Seyyasaka rằng: ‘Ông phải sống nương tựa,’ vị ấy nên im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy nên nói.”
Kataṁ saṅghena seyyasakassa bhikkhuno niyassakammaṁ—nissāya te vatthabbanti. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has done the legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka, instructing him to live with formal support. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Yết ma nương tựa rằng: ‘Ông phải sống nương tựa’ đã được Tăng chúng thực hiện cho tỳ khưu Seyyasaka. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con ghi nhận sự việc này là như vậy.”
2.1. Adhammakammadvādasaka
The group of twelve on illegitimate legal procedures
Mười hai loại yết ma phi pháp
“Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ niyassakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Asammukhā kataṁ hoti, appaṭipucchā kataṁ hoti, appaṭiññāya kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ niyassakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
“When a legal procedure of demotion has three qualities, it’s illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done in the absence of the accused, it’s done without questioning the accused, it’s done without the admission of the accused.
13. “Này các tỳ khưu, yết ma nương tựa được thực hiện với ba yếu tố là yết ma phi pháp, là yết ma phi luật, và không được dập tắt đúng cách. (Đó là) được thực hiện khi vắng mặt, được thực hiện mà không hỏi ý kiến, được thực hiện mà không có sự thừa nhận. Này các tỳ khưu, yết ma nương tựa được thực hiện với ba yếu tố này là yết ma phi pháp, là yết ma phi luật, và không được dập tắt đúng cách.”
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ niyassakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Anāpattiyā kataṁ hoti, adesanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, desitāya āpattiyā kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ niyassakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who hasn’t committed any offense, it’s done against one who’s committed an offense that isn’t clearable by confession, it’s done against one who’s confessed their offense.
“Này các tỳ khưu, lại nữa, yết ma nương tựa được thực hiện với ba yếu tố khác là yết ma phi pháp, là yết ma phi luật, và không được dập tắt đúng cách. (Đó là) được thực hiện khi không có tội, được thực hiện đối với tội không cần phải sám hối, được thực hiện đối với tội đã được sám hối. Này các tỳ khưu, yết ma nương tựa được thực hiện với ba yếu tố này là yết ma phi pháp, là yết ma phi luật, và không được dập tắt đúng cách.”
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ niyassakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Acodetvā kataṁ hoti, asāretvā kataṁ hoti, āpattiṁ anāropetvā kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ niyassakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having accused the person of their offense, it’s done without having reminded the person of their offense, it’s done without having charged the person with their offense.
“Này các tỳ khưu, lại nữa, yết ma nương tựa được thực hiện với ba yếu tố khác là yết ma phi pháp, là yết ma phi luật, và không được dập tắt đúng cách. (Đó là) được thực hiện mà không khiển trách, được thực hiện mà không nhắc nhở, được thực hiện mà không buộc tội. Này các tỳ khưu, yết ma nương tựa được thực hiện với ba yếu tố này là yết ma phi pháp, là yết ma phi luật, và không được dập tắt đúng cách.”
Aparehipi, bhikkhave …pe… asammukhā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave …pe….
“When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done in the absence of the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“Này các tỳ khưu, lại nữa… (đó là) được thực hiện khi vắng mặt, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một nhóm chia rẽ. Này các tỳ khưu, quả vậy…”
Aparehipi, bhikkhave …pe… appaṭipucchā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave …pe….
When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without questioning the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“Này các tỳ khưu, lại nữa… (đó là) được thực hiện mà không hỏi ý kiến, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một nhóm chia rẽ. Này các tỳ khưu, quả vậy…”
Aparehipi, bhikkhave …pe… appaṭiññāya kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave …pe….
When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without the admission of the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“Này các tỳ khưu, lại nữa… (đó là) được thực hiện mà không có sự thừa nhận, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một nhóm chia rẽ. Này các tỳ khưu, quả vậy…”
Aparehipi, bhikkhave …pe… anāpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave …pe….
“When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who hasn’t committed any offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“Này các tỳ khưu, lại nữa… (đó là) được thực hiện khi không có tội, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một nhóm chia rẽ. Này các tỳ khưu, quả vậy…”
Aparehipi, bhikkhave …pe… adesanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave …pe….
When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense that isn’t clearable by confession, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“Này các tỳ khưu, lại nữa… (đó là) được thực hiện đối với tội không cần phải sám hối, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một nhóm chia rẽ. Này các tỳ khưu, quả vậy…”
Aparehipi, bhikkhave …pe… desitāya āpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave …pe….
When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who’s confessed their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“Này các tỳ khưu, lại nữa… (đó là) được thực hiện đối với tội đã được sám hối, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một nhóm chia rẽ. Này các tỳ khưu, quả vậy…”
Aparehipi, bhikkhave …pe… acodetvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave …pe….
“When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having accused the person of their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“Này các tỳ khưu, lại nữa… (đó là) được thực hiện mà không khiển trách, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một nhóm chia rẽ. Này các tỳ khưu, quả vậy…”
Aparehipi, bhikkhave …pe… asāretvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave …pe….
When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having reminded the person of their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“Này các tỳ khưu, lại nữa… (đó là) được thực hiện mà không nhắc nhở, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một nhóm chia rẽ. Này các tỳ khưu, quả vậy…”
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ niyassakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Āpattiṁ anāropetvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ niyassakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having charged the person with their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.”
“Này các tỳ khưu, lại nữa, yết ma nương tựa được thực hiện với ba yếu tố khác là yết ma phi pháp, là yết ma phi luật, và không được dập tắt đúng cách. (Đó là) được thực hiện mà không buộc tội, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi một nhóm chia rẽ. Này các tỳ khưu, yết ma nương tựa được thực hiện với ba yếu tố này là yết ma phi pháp, là yết ma phi luật, và không được dập tắt đúng cách.”
Adhammakammadvādasakaṁ niṭṭhitaṁ.
2.2. Dhammakammadvādasaka
The group of twelve on illegitimate legal procedures is finished.
The group of twelve on legitimate legal procedures
Mười hai loại yết ma phi pháp đã chấm dứt.
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ niyassakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Sammukhā kataṁ hoti, paṭipucchā kataṁ hoti, paṭiññāya kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ niyassakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
“When a legal procedure of demotion has three qualities, it’s legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done in the presence of the accused, it’s done with the questioning of the accused, it’s done with the admission of the accused.
14. “Này các tỳ khưu, yết ma nương tựa được thực hiện với ba yếu tố là yết ma đúng pháp, là yết ma đúng luật, và được dập tắt đúng cách. (Đó là) được thực hiện khi có mặt, được thực hiện sau khi hỏi ý kiến, được thực hiện khi có sự thừa nhận. Này các tỳ khưu, yết ma nương tựa được thực hiện với ba yếu tố này là yết ma đúng pháp, là yết ma đúng luật, và được dập tắt đúng cách.”
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ niyassakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Āpattiyā kataṁ hoti, desanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, adesitāya āpattiyā kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ niyassakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense, it’s done against one who’s committed an offense that’s clearable by confession, it’s done against one who hasn’t confessed their offense.
Này các tỳ khưu, yết ma khiển xuất được hội đủ ba yếu tố khác nữa là yết ma đúng Pháp, là yết ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp. (Yết ma) được thực hiện do tội, được thực hiện do tội cần phải sám hối, được thực hiện do tội chưa được sám hối. Này các tỳ khưu, yết ma khiển xuất được hội đủ ba yếu tố này là yết ma đúng Pháp, là yết ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ niyassakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Codetvā kataṁ hoti, sāretvā kataṁ hoti, āpattiṁ āropetvā kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ niyassakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after accusing the person of their offense, it’s done after reminding the person of their offense, it’s done after charging the person with their offense.
Này các tỳ khưu, yết ma khiển xuất được hội đủ ba yếu tố khác nữa là yết ma đúng Pháp, là yết ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp. (Yết ma) được thực hiện sau khi đã chất vấn, được thực hiện sau khi đã nhắc nhở, được thực hiện sau khi đã cáo buộc tội. Này các tỳ khưu, yết ma khiển xuất được hội đủ ba yếu tố này là yết ma đúng Pháp, là yết ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave …pe… sammukhā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave …pe….
“When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done in the presence of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
Này các tỳ khưu, ...v.v... (Yết ma) được thực hiện trước sự hiện diện, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, ...v.v...
Aparehipi, bhikkhave …pe… paṭipucchā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave …pe….
When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done with the questioning of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
Này các tỳ khưu, ...v.v... (Yết ma) được thực hiện sau khi đã thẩm vấn, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, ...v.v...
Aparehipi, bhikkhave …pe… paṭiññāya kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave …pe….
When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done with the admission of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
Này các tỳ khưu, ...v.v... (Yết ma) được thực hiện do sự thú nhận, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, ...v.v...
Aparehipi, bhikkhave …pe… āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave …pe….
“When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
Này các tỳ khưu, ...v.v... (Yết ma) được thực hiện do tội, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, ...v.v...
Aparehipi, bhikkhave …pe… desanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave …pe….
When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense that’s clearable by confession, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
Này các tỳ khưu, ...v.v... (Yết ma) được thực hiện do tội cần phải sám hối, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, ...v.v...
Aparehipi, bhikkhave …pe… adesitāya āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave …pe….
When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who hasn’t confessed their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
Này các tỳ khưu, ...v.v... (Yết ma) được thực hiện do tội chưa được sám hối, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, ...v.v...
Aparehipi, bhikkhave …pe… codetvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave …pe….
“When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after accusing the person of their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
Này các tỳ khưu, ...v.v... (Yết ma) được thực hiện sau khi đã chất vấn, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, ...v.v...
Aparehipi, bhikkhave …pe… sāretvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave …pe….
When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after reminding the person of their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
Này các tỳ khưu, ...v.v... (Yết ma) được thực hiện sau khi đã nhắc nhở, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, ...v.v...
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ niyassakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Āpattiṁ āropetvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ niyassakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
When a procedure of demotion has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after charging the person with their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.”
Này các tỳ khưu, yết ma khiển xuất được hội đủ ba yếu tố khác nữa là yết ma đúng Pháp, là yết ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp. (Yết ma) được thực hiện sau khi đã cáo buộc tội, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện trong sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, yết ma khiển xuất được hội đủ ba yếu tố này là yết ma đúng Pháp, là yết ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp.
Dhammakammadvādasakaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of twelve on legitimate legal procedures is finished.
Phần Mười Hai Yết Ma Đúng Pháp được chấm dứt.
2.3. Ākaṅkhamānachakka
The group of six on wishing
Phần Sáu Trường Hợp Nếu Muốn
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, niyassakammaṁ kareyya. Bhaṇḍanakārako hoti kalahakārako vivādakārako bhassakārako saṅghe adhikaraṇakārako; bālo hoti abyatto āpattibahulo anapadāno; gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, niyassakammaṁ kareyya.
“When a monk has three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a legal procedure of demotion against him: he’s quarrelsome, argumentative, and a creator of legal issues in the Sangha; he’s ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries; he’s constantly and improperly socializing with householders.
15. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu hội đủ ba yếu tố, nếu muốn, Tăng chúng nên thực hiện yết ma khiển xuất. Vị ấy là người gây ra tranh cãi, gây ra xung đột, gây ra tranh luận, hay nói nhiều lời, là người gây ra vụ việc trong Tăng chúng; là người ngu dốt, không sáng suốt, phạm nhiều tội, không có cơ sở; sống giao du với gia chủ bằng những sự giao du không thích hợp. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu hội đủ ba yếu tố này, nếu muốn, Tăng chúng nên thực hiện yết ma khiển xuất.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, niyassakammaṁ kareyya. Adhisīle sīlavipanno hoti, ajjhācāre ācāravipanno hoti, atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, niyassakammaṁ kareyya.
When a monk has another three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of demotion against him: he has failed in the higher morality; he has failed in the higher conduct; he has failed in the higher view.
Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu hội đủ ba yếu tố khác nữa, nếu muốn, Tăng chúng nên thực hiện yết ma khiển xuất. Vị ấy bị hư hỏng về giới trong phần tăng thượng giới, bị hư hỏng về hạnh trong phần tăng thượng hạnh, bị hư hỏng về kiến trong phần tăng thượng kiến. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu hội đủ ba yếu tố này, nếu muốn, Tăng chúng nên thực hiện yết ma khiển xuất.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, niyassakammaṁ kareyya. Buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, niyassakammaṁ kareyya.
When a monk has another three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of demotion against him: he disparages the Buddha; he disparages the Teaching; he disparages the Sangha.
Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu hội đủ ba yếu tố khác nữa, nếu muốn, Tăng chúng nên thực hiện yết ma khiển xuất. Vị ấy nói lời chê bai đức Phật, nói lời chê bai Pháp, nói lời chê bai Tăng. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu hội đủ ba yếu tố này, nếu muốn, Tăng chúng nên thực hiện yết ma khiển xuất.
Tiṇṇaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, niyassakammaṁ kareyya. Eko bhaṇḍanakārako hoti kalahakārako vivādakārako bhassakārako saṅghe adhikaraṇakārako; eko bālo hoti, abyatto āpattibahulo anapadāno; eko gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, niyassakammaṁ kareyya.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of demotion against three kinds of monks: those who are quarrelsome, argumentative, and creators of legal issues in the Sangha; those who are ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries; those who are constantly and improperly socializing with householders.
Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu, nếu muốn, Tăng chúng nên thực hiện yết ma khiển xuất. Một người là người gây ra tranh cãi, gây ra xung đột, gây ra tranh luận, hay nói nhiều lời, là người gây ra vụ việc trong Tăng chúng; một người là người ngu dốt, không sáng suốt, phạm nhiều tội, không có cơ sở; một người sống giao du với gia chủ bằng những sự giao du không thích hợp. Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu này, nếu muốn, Tăng chúng nên thực hiện yết ma khiển xuất.
Aparesampi, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, niyassakammaṁ kareyya. Eko adhisīle sīlavipanno hoti, eko ajjhācāre ācāravipanno hoti, eko atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, niyassakammaṁ kareyya.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of demotion against three other kinds of monks: those who’ve failed in the higher morality; those who’ve failed in the higher conduct; those who’ve failed in the higher view.
Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa, nếu muốn, Tăng chúng nên thực hiện yết ma khiển xuất. Một người bị hư hỏng về giới trong phần tăng thượng giới, một người bị hư hỏng về hạnh trong phần tăng thượng hạnh, một người bị hư hỏng về kiến trong phần tăng thượng kiến. Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu này, nếu muốn, Tăng chúng nên thực hiện yết ma khiển xuất.
Aparesampi, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, niyassakammaṁ kareyya. Eko buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, eko dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, eko saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, niyassakammaṁ kareyya.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of demotion against three other kinds of monks: those who disparage the Buddha; those who disparage the Teaching; those who disparage the Sangha.”
Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa, nếu muốn, Tăng chúng nên thực hiện yết ma khiển xuất. Một người nói lời chê bai đức Phật, một người nói lời chê bai Pháp, một người nói lời chê bai Tăng. Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu này, nếu muốn, Tăng chúng nên thực hiện yết ma khiển xuất.
Ākaṅkhamānachakkaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of six on wishing is finished.
Phần Sáu Trường Hợp Nếu Muốn được chấm dứt.
2.4. Aṭṭhārasavatta
Niyassakammakatena, bhikkhave, bhikkhunā sammā vattitabbaṁ. Tatrāyaṁ sammāvattanā—
- na upasampādetabbaṁ,
- na nissayo dātabbo,
- na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo,
- na bhikkhunovādakasammuti sāditabbā,
- sammatenapi bhikkhuniyo na ovaditabbā.
- Yāya āpattiyā saṅghena niyassakammaṁ kataṁ hoti sā āpatti na āpajjitabbā,
- aññā vā tādisikā,
- tato vā pāpiṭṭhatarā;
- kammaṁ na garahitabbaṁ,
- kammikā na garahitabbā.
- Na pakatattassa bhikkhuno uposatho ṭhapetabbo,
- na pavāraṇā ṭhapetabbā,
- na savacanīyaṁ kātabbaṁ,
- na anuvādo paṭṭhapetabbo,
- na okāso kārāpetabbo,
- na codetabbo,
- na sāretabbo,
- na bhikkhūhi sampayojetabban”ti.
The eighteen kinds of conduct
“A monk who’s had a legal procedure of demotion done against him should conduct himself properly. This is the proper conduct:
- He shouldn’t give the full ordination.
- He shouldn’t give formal support.
- He shouldn’t have a novice monk attend on him.
- He shouldn’t accept being appointed as an instructor of the nuns.
- Even if appointed, he shouldn’t instruct the nuns.
- He shouldn’t commit the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of demotion against him.
- He shouldn’t commit an offense similar to the offense for which the Sangha did the procedure of demotion against him.
- He shouldn’t commit an offense worse than the offense for which the Sangha did the procedure of demotion against him.
- He shouldn’t criticize the procedure.
- He shouldn’t criticize those who did the procedure.
- He shouldn’t cancel the observance-day ceremony of a regular monk.
- He shouldn’t cancel the invitation ceremony of a regular monk.
- He shouldn’t direct a regular monk.
- He shouldn’t give instructions to a regular monk.
- He shouldn’t ask permission from a regular monk to correct him.
- He shouldn’t accuse a regular monk of an offense.
- He shouldn’t remind a regular monk of an offense.
- He shouldn’t associate inappropriately with other monks.”
Mười Tám Bổn Phận
Niyassakamme aṭṭhārasavattaṁ niṭṭhitaṁ.
The eighteen kinds of conduct in regard to the legal procedure of demotion are finished.
Mười tám phận sự trong yết ma y chỉ đã kết thúc.
Atha kho saṅgho seyyasakassa bhikkhuno niyassakammaṁ akāsi—nissāya te vatthabbanti. So saṅghena niyassakammakato kalyāṇamitte sevamāno bhajamāno payirupāsamāno uddisāpento paripucchanto bahussuto hoti, āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito viyatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo. Sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, bhikkhū upasaṅkamitvā evaṁ vadeti—“ahaṁ, āvuso, saṅghena niyassakammakato sammā vattāmi, lomaṁ pātemi, netthāraṁ vattāmi. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ … pe…. “Tena hi, bhikkhave, saṅgho seyyasakassa bhikkhuno niyassakammaṁ paṭippassambhetu.
2.5. Nappaṭippassambhetabbaaṭṭhārasaka
Soon the Sangha did a legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka, instructing him to live with formal support. Then, by associating with good friends, by having them recite, and by questioning them, he became learned and a master of the tradition; he became an expert on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; he became knowledgeable and competent, had a sense of conscience, and was afraid of wrongdoing and fond of the training. And he conducted himself properly and suitably, and deserved to be released. He then went to the monks and told them about this, adding, “What should I do now?” The monks told the Buddha. He had the monks gathered and said, “Well then, lift that legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka.”
The group of eighteen on not to be lifted
17. Khi ấy, Tăng chúng đã thực hiện yết ma y chỉ đối với tỳ khưu Seyyasaka rằng: ‘Ngươi phải sống nương tựa.’ Vị ấy bị Tăng chúng thực hiện yết ma y chỉ, do thân cận, gần gũi, lui tới các bạn lành, do cho người dạy và hỏi lại, đã trở thành người đa văn, thuộc lòng Thánh điển, thông suốt Pháp, thông suốt Luật, thông suốt Mẫu đề, là bậc trí, khôn khéo, có trí tuệ, biết tàm, biết quý, ham học hỏi. Vị ấy hành xử đúng đắn, dẹp bỏ ngã mạn, hành xử để được giải thoát. Vị ấy đi đến các tỳ khưu và nói như vầy: ‘Thưa các hiền giả, tôi bị Tăng chúng thực hiện yết ma y chỉ, đang hành xử đúng đắn, đang dẹp bỏ ngã mạn, đang hành xử để được giải thoát. Tôi nên thực hành như thế nào?’ Các tỳ khưu đã trình bày việc ấy lên đức Thế Tôn... Này các tỳ khưu, vậy thì Tăng chúng hãy giải trừ yết ma y chỉ cho tỳ khưu Seyyasaka.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno niyassakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Upasampādeti, nissayaṁ deti, sāmaṇeraṁ upaṭṭhāpeti, bhikkhunovādakasammutiṁ sādiyati, sammatopi bhikkhuniyo ovadati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno niyassakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
“When a monk has five qualities, a legal procedure of demotion against him shouldn’t be lifted: he gives the full ordination; he gives formal support; he has a novice monk attend on him; he accepts being appointed as an instructor of the nuns; he instructs the nuns, whether appointed or not.
18. Này các tỳ khưu, không nên giải trừ yết ma y chỉ cho vị tỳ khưu có đủ năm chi phần sau đây: Vị ấy cho thọ cụ túc, cho y chỉ, nhận sa-di phục dịch, chấp thuận sự chỉ định làm vị giáo thọ tỳ khưu ni, và dù đã được chỉ định cũng giáo giới các tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, quả thật không nên giải trừ yết ma y chỉ cho vị tỳ khưu có đủ năm chi phần này.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno niyassakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Yāya āpattiyā saṅghena niyassakammaṁ kataṁ hoti taṁ āpattiṁ āpajjati, aññaṁ vā tādisikaṁ, tato vā pāpiṭṭhataraṁ; kammaṁ garahati, kammike garahati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno niyassakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
When a monk has another five qualities, a procedure of demotion against him shouldn’t be lifted: he commits the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of demotion against him; he commits an offense similar to the one for which the Sangha did the procedure of demotion against him; he commits an offense worse than the one for which the Sangha did the procedure of demotion against him; he criticizes the procedure; he criticizes those who did the procedure.
Này các tỳ khưu, cũng không nên giải trừ yết ma y chỉ cho vị tỳ khưu có đủ năm chi phần khác sau đây: Vị ấy phạm vào tội mà Tăng chúng đã y vào đó để thực hiện yết ma y chỉ, hoặc tội khác tương tự, hoặc tội nặng hơn thế; vị ấy chê bai việc yết ma, chê bai các vị tỳ khưu làm yết ma. Này các tỳ khưu, quả thật không nên giải trừ yết ma y chỉ cho vị tỳ khưu có đủ năm chi phần này.
Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno niyassakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Pakatattassa bhikkhuno uposathaṁ ṭhapeti, pavāraṇaṁ ṭhapeti, savacanīyaṁ karoti, anuvādaṁ paṭṭhapeti, okāsaṁ kāreti, codeti, sāreti, bhikkhūhi sampayojeti—imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno niyassakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
When a monk has eight qualities, a procedure of demotion against him shouldn’t be lifted: he cancels the observance-day ceremony of a regular monk; he cancels the invitation ceremony of a regular monk; he directs a regular monk; he gives instructions to a regular monk; he asks a regular monk for permission to correct him; he accuses a regular monk of an offense; he reminds a regular monk of an offense; he associates inappropriately with other monks.”
Này các tỳ khưu, không nên giải trừ yết ma y chỉ cho vị tỳ khưu có đủ tám chi phần sau đây: Vị ấy đình chỉ lễ Bố-tát của vị tỳ khưu bình thường, đình chỉ lễ Tự tứ, làm việc có lời nói (chỉ dạy), khởi sự tranh luận, làm cho người khác xin phép (để cử tội), cử tội, nhắc tội, giao du với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, quả thật không nên giải trừ yết ma y chỉ cho vị tỳ khưu có đủ tám chi phần này.
Nappaṭippassambhetabbaaṭṭhārasakaṁ niṭṭhitaṁ.
2.6. Paṭippassambhetabbaaṭṭhārasaka
The group of eighteen on not to be lifted is finished.
The group of eighteen on to be lifted
Mười tám trường hợp không nên giải trừ đã kết thúc.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno niyassakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Na upasampādeti, na nissayaṁ deti, na sāmaṇeraṁ upaṭṭhāpeti, na bhikkhunovādakasammutiṁ sādiyati, sammatopi bhikkhuniyo na ovadati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno niyassakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
“When a monk has five qualities, a legal procedure of demotion against him should be lifted: he doesn’t give the full ordination; he doesn’t give formal support; he doesn’t have a novice monk attend on him; he doesn’t accept being appointed as an instructor of the nuns; he doesn’t instruct the nuns, whether appointed or not.
19. Này các tỳ khưu, nên giải trừ yết ma y chỉ cho vị tỳ khưu có đủ năm chi phần sau đây: Vị ấy không cho thọ cụ túc, không cho y chỉ, không nhận sa-di phục dịch, không chấp thuận sự chỉ định làm vị giáo thọ tỳ khưu ni, và dù đã được chỉ định cũng không giáo giới các tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, quả thật nên giải trừ yết ma y chỉ cho vị tỳ khưu có đủ năm chi phần này.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno niyassakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Yāya āpattiyā saṅghena niyassakammaṁ kataṁ hoti taṁ āpattiṁ na āpajjati, aññaṁ vā tādisikaṁ, tato vā pāpiṭṭhataraṁ; kammaṁ na garahati, kammike na garahati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno niyassakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
When a monk has another five qualities, a procedure of demotion against him should be lifted: he doesn’t commit the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of demotion against him; he doesn’t commit an offense similar to the one for which the Sangha did the procedure of demotion against him; he doesn’t commit an offense worse than the one for which the Sangha did the procedure of demotion against him; he doesn’t criticize the procedure; he doesn’t criticize those who did the procedure.
Này các tỳ khưu, cũng nên giải trừ yết ma y chỉ cho vị tỳ khưu có đủ năm chi phần khác sau đây: Vị ấy không phạm vào tội mà Tăng chúng đã y vào đó để thực hiện yết ma y chỉ, hoặc tội khác tương tự, hoặc tội nặng hơn thế; vị ấy không chê bai việc yết ma, không chê bai các vị tỳ khưu làm yết ma. Này các tỳ khưu, quả thật nên giải trừ yết ma y chỉ cho vị tỳ khưu có đủ năm chi phần này.
Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno niyassakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
When a monk has eight qualities, a procedure of demotion against him should be lifted:
Này các tỳ khưu, nên giải trừ yết ma y chỉ cho vị tỳ khưu có đủ tám chi phần.
Vị ấy không đình chỉ lễ Bố-tát của vị tỳ khưu bình thường, không đình chỉ lễ Tự tứ, không làm việc có lời nói (chỉ dạy), không khởi sự tranh luận, không làm cho người khác xin phép (để cử tội), không cử tội, không nhắc tội, không giao du với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, quả thật nên giải trừ yết ma y chỉ cho vị tỳ khưu có đủ tám chi phần này.
Paṭippassambhetabbaaṭṭhārasakaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of eighteen on to be lifted is finished.
Mười tám trường hợp nên giải trừ đã kết thúc.
Evañca pana, bhikkhave, paṭippassambhetabbaṁ. Tena, bhikkhave, seyyasakena bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vuḍḍhānaṁ bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘ahaṁ, bhante, saṅghena niyassakammakato sammā vattāmi, lomaṁ pātemi, netthāraṁ vattāmi, niyassassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbā. Tatiyampi yācitabbā. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ seyyasako bhikkhu saṅghena niyassakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, niyassassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho seyyasakassa bhikkhuno niyassakammaṁ paṭippassambheyya. Esā ñatti.
“And this is how it should be lifted. After approaching the Sangha, the monk Seyyasaka should arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say, ‘Venerables, the Sangha has done a legal procedure of demotion against me. I’m now conducting myself properly and suitably, and deserve to be released. I ask for that legal procedure of demotion to be lifted.’ And he should ask a second and a third time. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of demotion to be lifted. If the Sangha is ready, it should lift that legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka. This is the motion.
20. Này các tỳ khưu, và nên giải trừ như thế này. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu Seyyasaka ấy nên đi đến Tăng chúng, đắp thượng y lệch một bên vai, đảnh lễ chân các vị tỳ khưu trưởng lão, ngồi xổm, chắp tay rồi nên nói như vầy: ‘Kính bạch chư Đại đức, con bị Tăng chúng thực hiện yết ma y chỉ, đang hành xử đúng đắn, đang dẹp bỏ ngã mạn, đang hành xử để được giải thoát, con xin sự giải trừ yết ma y chỉ.’ Nên xin lần thứ hai. Nên xin lần thứ ba. Vị tỳ khưu khôn khéo và có khả năng nên cho Tăng chúng biết rằng –
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ seyyasako bhikkhu saṅghena niyassakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, niyassassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Saṅgho seyyasakassa bhikkhuno niyassakammaṁ paṭippassambheti. Yassāyasmato khamati seyyasakassa bhikkhuno niyassassa kammassa paṭippassaddhi, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of demotion to be lifted. The Sangha lifts that legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka. Any monk who approves of lifting that legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy nghe con. Vị tỳ khưu Seyyasaka này đã bị Tăng chúng thi hành yết ma Niyassa, (nay) đang hành xử đúng đắn, đã dứt bỏ lòng kiêu mạn, đang thực hành hạnh kiểm để được ra khỏi (yết ma), và đang thỉnh cầu sự đình chỉ yết ma Niyassa. Tăng chúng đình chỉ yết ma Niyassa cho tỳ khưu Seyyasaka. Vị nào chấp thuận việc đình chỉ yết ma Niyassa cho tỳ khưu Seyyasaka thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ seyyasako bhikkhu saṅghena niyassakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, niyassassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Saṅgho seyyasakassa bhikkhuno niyassakammaṁ paṭippassambheti. Yassāyasmato khamati seyyasakassa bhikkhuno niyassassa kammassa paṭippassaddhi, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the second time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of demotion to be lifted. The Sangha lifts that legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka. Any monk who approves of lifting that legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
Lần thứ nhì, con cũng nói lên điều này: Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy nghe con. Vị tỳ khưu Seyyasaka này đã bị Tăng chúng thi hành yết ma Niyassa, (nay) đang hành xử đúng đắn, đã dứt bỏ lòng kiêu mạn, đang thực hành hạnh kiểm để được ra khỏi (yết ma), và đang thỉnh cầu sự đình chỉ yết ma Niyassa. Tăng chúng đình chỉ yết ma Niyassa cho tỳ khưu Seyyasaka. Vị nào chấp thuận việc đình chỉ yết ma Niyassa cho tỳ khưu Seyyasaka thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.
Tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ seyyasako bhikkhu saṅghena niyassakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, niyassassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Saṅgho seyyasakassa bhikkhuno niyassakammaṁ paṭippassambheti. Yassāyasmato khamati seyyasakassa bhikkhuno niyassassa kammassa paṭippassaddhi, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of demotion to be lifted. The Sangha lifts that legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka. Any monk who approves of lifting that legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
Lần thứ ba, con cũng nói lên điều này: Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy nghe con. Vị tỳ khưu Seyyasaka này đã bị Tăng chúng thi hành yết ma Niyassa, (nay) đang hành xử đúng đắn, đã dứt bỏ lòng kiêu mạn, đang thực hành hạnh kiểm để được ra khỏi (yết ma), và đang thỉnh cầu sự đình chỉ yết ma Niyassa. Tăng chúng đình chỉ yết ma Niyassa cho tỳ khưu Seyyasaka. Vị nào chấp thuận việc đình chỉ yết ma Niyassa cho tỳ khưu Seyyasaka thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.
Paṭippassaddhaṁ saṅghena seyyasakassa bhikkhuno niyassakammaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
Niyassakammaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
The Sangha has lifted that legal procedure of demotion against the monk Seyyasaka. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
The second section on the legal procedure of demotion is finished.
Yết ma Niyassa đối với tỳ khưu Seyyasaka đã được Tăng chúng đình chỉ. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên đã im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này là như vậy.
3. Pabbājanīyakamma
Tena kho pana samayena assajipunabbasukā nāma kīṭāgirismiṁ āvāsikā honti alajjino pāpabhikkhū. Te evarūpaṁ anācāraṁ ācaranti—
mālāvacchaṁ ropentipi ropāpentipi, siñcantipi siñcāpentipi, ocinantipi ocināpentipi, ganthentipi ganthāpentipi, ekatovaṇṭikamālaṁ karontipi kārāpentipi, ubhatovaṇṭikamālaṁ karontipi kārāpentipi, mañjarikaṁ karontipi kārāpentipi, vidhūtikaṁ karontipi kārāpentipi, vaṭaṁsakaṁ karontipi kārāpentipi, āveḷaṁ karontipi kārāpentipi, uracchadaṁ karontipi kārāpentipi. Te kulitthīnaṁ kuladhītānaṁ kulakumārīnaṁ kulasuṇhānaṁ kuladāsīnaṁ ekatovaṇṭikamālaṁ harantipi harāpentipi, ubhatovaṇṭikamālaṁ harantipi harāpentipi, mañjarikaṁ harantipi harāpentipi, vidhūtikaṁ harantipi harāpentipi, vaṭaṁsakaṁ harantipi harāpentipi, āveḷaṁ harantipi harāpentipi, uracchadaṁ harantipi harāpentipi.
Te kulitthīhi kuladhītāhi kulakumārīhi kulasuṇhāhi kuladāsīhi saddhiṁ ekabhājanepi bhuñjanti, ekathālakepi pivanti, ekāsanepi nisīdanti, ekamañcepi tuvaṭṭenti, ekattharaṇāpi tuvaṭṭenti, ekapāvuraṇāpi tuvaṭṭenti, ekattharaṇapāvuraṇāpi tuvaṭṭenti, vikālepi bhuñjanti, majjampi pivanti, mālāgandhavilepanampi dhārenti, naccantipi, gāyantipi, vādentipi, lāsentipi; naccantiyāpi naccanti, naccantiyāpi gāyanti, naccantiyāpi vādenti, naccantiyāpi lāsenti;
3. The legal procedure of banishment
At one time the bad and shameless monks Assaji and Punabbasuka were staying at Kīṭāgiri. They were misbehaving in many ways.
They planted flowering trees, watered and plucked them, and then tied the flowers together. They made the flowers into garlands, garlands with stalks on one side and garlands with stalks on both sides. They made flower arrangements, wreaths, ornaments for the head, ornaments for the ears, and ornaments for the chest. And they had others do the same. They then took these things, or sent them, to the women, the daughters, the girls, the daughters-in-law, and the female slaves of respectable families.
They ate from the same plates as these women and drank from the same vessels. They sat on the same seats as them, and they lay down on the same beds, on the same sheets, under the same covers, and both on the same sheets and under the same covers. They ate at the wrong time, drank alcohol, and wore garlands, perfumes, and cosmetics. They danced, sang, played instruments, and performed. While the women were dancing, singing, playing instruments, and performing, so would they.
3. Yết ma Pabbājanīya (Trục xuất)
aṭṭhapadepi kīḷanti, dasapadepi kīḷanti, ākāsepi kīḷanti, parihārapathepi kīḷanti, santikāyapi kīḷanti, khalikāyapi kīḷanti, ghaṭikāyapi kīḷanti, salākahatthenapi kīḷanti, akkhenapi kīḷanti, paṅgacīrenapi kīḷanti, vaṅkakenapi kīḷanti, mokkhacikāyapi kīḷanti, ciṅgulakenapi kīḷanti, pattāḷhakenapi kīḷanti, rathakenapi kīḷanti, dhanukenapi kīḷanti, akkharikāyapi kīḷanti, manesikāyapi kīḷanti, yathāvajjenapi kīḷanti;
hatthismimpi sikkhanti, assasmimpi sikkhanti, rathasmimpi sikkhanti, dhanusmimpi sikkhanti, tharusmimpi sikkhanti; hatthissapi purato dhāvanti, assassapi purato dhāvanti, rathassapi purato dhāvantipi ādhāvantipi; usseḷentipi, apphoṭentipi, nibbujjhantipi, muṭṭhīhipi yujjhanti; raṅgamajjhepi saṅghāṭiṁ pattharitvā naccakiṁ evaṁ vadanti—“idha, bhagini, naccassū”ti; nalāṭikampi denti; vividhampi anācāraṁ ācaranti.
They played various games: eight-row checkers, ten-row checkers, imaginary checkers, hopscotch, pick-up-sticks, board games, tip-cat, painting with the hand, dice, leaf flutes, toy plows, somersaults, pinwheels, toy measures, toy carriages, toy bows, guessing from syllables, thought guessing, mimicking deformities.
They trained in elephant riding, in horsemanship, in carriage riding, in archery, in swordsmanship. And they ran in front of elephants, horses, and carriages, and they ran backward and forward. They whistled, clapped their hands, wrestled, and boxed. They spread their outer robe on a stage and said to the dancing girls, “Dance here, sister,” and they made gestures of approval. And they misbehaved in a variety of ways.
21. Vào lúc bấy giờ, tại Kīṭāgiri có các vị tỳ khưu trú ngụ tên là Assaji và Punabbasu, là những kẻ không biết hổ thẹn, những tỳ khưu xấu ác. Họ đã thực hành các việc làm không đúng đắn như sau: họ tự trồng và bảo người khác trồng các loại cây hoa; tự tưới và bảo người khác tưới; tự hái và bảo người khác hái; tự kết và bảo người khác kết; họ tự làm và bảo người khác làm các vòng hoa một cuống, các vòng hoa hai cuống, các chùm hoa, các vòng hoa đeo tay, các vòng hoa trang điểm trên đầu, các vòng hoa đeo tai, các vòng hoa trang sức trước ngực. Họ tự mang và bảo người khác mang các vòng hoa một cuống, các vòng hoa hai cuống, các chùm hoa, các vòng hoa đeo tay, các vòng hoa trang điểm trên đầu, các vòng hoa đeo tai, các vòng hoa trang sức trước ngực cho các phụ nữ có gia đình, các thiếu nữ lớn, các thiếu nữ nhỏ, các nàng dâu, các nữ tỳ trong các gia đình. Họ cùng ăn chung một bát, cùng uống chung một ly, cùng ngồi chung một ghế, cùng ngủ chung một giường, cùng nằm chung một tấm trải, cùng đắp chung một tấm mền, cùng nằm chung một tấm trải và đắp chung một tấm mền với các phụ nữ có gia đình, các thiếu nữ lớn, các thiếu nữ nhỏ, các nàng dâu, các nữ tỳ. Họ cũng ăn vào lúc sái thời, uống rượu, dùng vòng hoa, hương thơm và vật thoa xức, họ cũng nhảy múa, ca hát, chơi nhạc, và biểu diễn; họ nhảy múa, ca hát, chơi nhạc, và biểu diễn cùng với vũ nữ; họ nhảy múa, ca hát, chơi nhạc, và biểu diễn cùng với ca nữ; họ nhảy múa, ca hát, chơi nhạc, và biểu diễn cùng với nhạc công nữ; họ nhảy múa, ca hát, chơi nhạc, và biểu diễn cùng với nữ diễn viên. Họ chơi cờ tám ô, cờ mười ô, cờ trên không, trò chơi đi vòng, trò chơi búng, trò chơi xúc xắc, trò chơi dùng gậy, trò chơi vẽ hình, trò chơi bi, trò chơi thổi lá, trò chơi cày nhỏ, trò chơi nhào lộn, trò chơi chong chóng lá, trò chơi đo bằng lá, trò chơi xe nhỏ, trò chơi cung nhỏ; họ chơi trò đoán chữ, trò đoán ý, trò giả làm người tàn tật. Họ học thuật cỡi voi, thuật cỡi ngựa, thuật đánh xe, thuật bắn cung, thuật đấu kiếm. Họ chạy phía trước voi, chạy phía trước ngựa, chạy tới chạy lui phía trước xe; họ la hét, vỗ tay, vật lộn, và đấu quyền. Giữa sân khấu, họ trải tấm saṅghāṭi ra rồi nói với vũ nữ rằng: ‘Này chị, hãy nhảy múa ở đây.’ Họ cũng ban thưởng (búng tay vào trán); họ thực hành nhiều loại việc làm không đúng đắn khác nhau.
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu kāsīsu vassaṁvuṭṭho sāvatthiṁ gacchanto bhagavantaṁ dassanāya yena kīṭāgiri tadavasari. Atha kho so bhikkhu pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya kīṭāgiriṁ piṇḍāya pāvisi pāsādikena abhikkantena paṭikkantena ālokitena vilokitena samiñjitena pasāritena, okkhittacakkhu iriyāpathasampanno. Manussā taṁ bhikkhuṁ passitvā evamāhaṁsu—“kvāyaṁ abalabalo viya mandamando viya bhākuṭikabhākuṭiko viya? Ko imassa upagatassa piṇḍakampi dassati? Amhākaṁ pana ayyā assajipunabbasukā saṇhā sakhilā sukhasambhāsā mihitapubbaṅgamā ehisvāgatavādino abbhākuṭikā uttānamukhā pubbabhāsino. Tesaṁ kho nāma piṇḍo dātabbo”ti.
Just then a monk who had completed the rains residence in Kāsi was on his way to visit the Buddha at Sāvatthī when he arrived at Kīṭāgiri. In the morning he robed up, took his bowl and robe, and entered Kīṭāgiri to collect almsfood. He was pleasing in his conduct: in going out and coming back, in looking ahead and looking aside, in bending and stretching his arms. His eyes were lowered, and he was perfect in deportment. When people saw him, they said, “Who’s this, acting like a moron and always frowning? Who’s gonna give almsfood to him? Almsfood should be given to our Venerables Assaji and Punabbasuka, for they’re gentle, congenial, pleasant to speak with, greeting one with a smile, welcoming, friendly, open, the first to speak.”
22. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ sau khi an cư mùa mưa ở xứ Kāsī, trong khi đang đi đến Sāvatthi để yết kiến đức Thế Tôn đã đi đến Kīṭāgiri. Rồi vị tỳ-khưu ấy, vào buổi sáng, sau khi đắp y, mang theo y bát, đã đi vào Kīṭāgiri để khất thực với dáng điệu trang nghiêm, bước tới, bước lui, nhìn thẳng, nhìn nghiêng, co tay, duỗi tay, với mắt nhìn xuống, đầy đủ oai nghi. Những người dân sau khi nhìn thấy vị tỳ-khưu ấy đã nói với nhau rằng: “Vị này là ai mà trông yếu ớt, chậm chạp, và cau có thế kia? Ai mà cúng dường vật thực cho vị đã đến gần này chứ? Còn các ngài Assaji và Punabbasu của chúng ta thì hòa nhã, thân thiện, dễ nói chuyện, luôn mỉm cười trước, nói lời ‘mời vào, xin mời vào,’ không cau có, mặt mày tươi tỉnh, là người bắt chuyện trước. Vật thực nên được cúng dường cho các vị ấy.”
Addasā kho aññataro upāsako taṁ bhikkhuṁ kīṭāgirismiṁ piṇḍāya carantaṁ; disvāna yena so bhikkhu tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ abhivādetvā etadavoca—“api, bhante, piṇḍo labbhatī”ti?
“Na kho, āvuso, piṇḍo labbhatī”ti.
“Ehi, bhante, gharaṁ gamissāmā”ti.
Atha kho so upāsako taṁ bhikkhuṁ gharaṁ netvā bhojetvā etadavoca—“kahaṁ, bhante, ayyo gamissatī”ti?
“Sāvatthiṁ kho ahaṁ, āvuso, gamissāmi bhagavantaṁ dassanāyā”ti.
“Tena hi, bhante, mama vacanena bhagavato pāde sirasā vanda, evañca vadehi—‘duṭṭho, bhante, kīṭāgirismiṁ āvāso. Assajipunabbasukā nāma kīṭāgirismiṁ āvāsikā alajjino pāpabhikkhū. Te evarūpaṁ anācāraṁ ācaranti—mālāvacchaṁ ropentipi ropāpentipi, siñcantipi siñcāpentipi, ocinantipi ocināpentipi, ganthentipi ganthāpentipi, ekatovaṇṭikamālaṁ karontipi kārāpentipi, ubhatovaṇṭikamālaṁ karontipi kārāpentipi, mañjarikaṁ karontipi kārāpentipi, vidhūtikaṁ karontipi kārāpentipi, vaṭaṁsakaṁ karontipi kārāpentipi, āveḷaṁ karontipi kārāpentipi, uracchadaṁ karontipi kārāpentipi. Te kulitthīnaṁ kuladhītānaṁ kulakumārīnaṁ kulasuṇhānaṁ kuladāsīnaṁ ekatovaṇṭikamālaṁ harantipi harāpentipi, ubhatovaṇṭikamālaṁ harantipi harāpentipi, mañjarikaṁ harantipi harāpentipi, vidhūtikaṁ harantipi harāpentipi, vaṭaṁsakaṁ harantipi harāpentipi, āveḷaṁ harantipi harāpentipi, uracchadaṁ harantipi harāpentipi.
Te kulitthīhi kuladhītāhi kulakumārīhi kulasuṇhāhi kuladāsīhi saddhiṁ ekabhājanepi bhuñjanti, ekathālakepi pivanti, ekāsanepi nisīdanti, ekamañcepi tuvaṭṭenti, ekattharaṇāpi tuvaṭṭenti, ekapāvuraṇāpi tuvaṭṭenti, ekattharaṇapāvuraṇāpi tuvaṭṭenti, vikālepi bhuñjanti, majjampi pivanti, mālāgandhavilepanampi dhārenti, naccantipi, gāyantipi, vādentipi, lāsentipi; naccantiyāpi naccanti, naccantiyāpi gāyanti, naccantiyāpi vādenti, naccantiyāpi lāsenti …pe… (cakkaṁ kātabbaṁ). Lāsentiyāpi naccanti, lāsentiyāpi gāyanti, lāsentiyāpi vādenti, lāsentiyāpi lāsenti; aṭṭhapadepi kīḷanti, dasapadepi kīḷanti, ākāsepi kīḷanti, parihārapathepi kīḷanti, santikāyapi kīḷanti, khalikāyapi kīḷanti, ghaṭikāyapi kīḷanti, salākahatthenapi kīḷanti, akkhenapi kīḷanti, paṅgacīrenapi kīḷanti, vaṅkakenapi kīḷanti, mokkhacikāyapi kīḷanti, ciṅgulakenapi kīḷanti, pattāḷhakenapi kīḷanti, rathakenapi kīḷanti, dhanukenapi kīḷanti, akkharikāyapi kīḷanti, manesikāyapi kīḷanti, yathāvajjenapi kīḷanti; hatthismimpi sikkhanti, assasmimpi sikkhanti, rathasmimpi sikkhanti, dhanusmimpi sikkhanti, tharusmimpi sikkhanti; hatthissapi purato dhāvanti, assassapi purato dhāvanti, rathassapi purato dhāvantipi ādhāvantipi; usseḷentipi, apphoṭentipi, nibbujjhantipi, muṭṭhīhipi yujjhanti; raṅgamajjhepi saṅghāṭiṁ pattharitvā naccakiṁ evaṁ vadanti—“idha, bhagini, naccassū”ti; nalāṭikampi denti; vividhampi anācāraṁ ācaranti. Yepi te, bhante, manussā pubbe saddhā ahesuṁ pasannā tepi etarahi assaddhā appasannā. Yānipi tāni saṅghassa pubbe dānapathāni tānipi etarahi upacchinnāni. Riñcanti pesalā bhikkhū, nivasanti pāpabhikkhū. Sādhu, bhante, bhagavā kīṭāgiriṁ bhikkhū pahiṇeyya, yathāyaṁ kīṭāgirismiṁ āvāso saṇṭhaheyyā’”ti.
A certain lay follower saw that monk walking for alms in Kīṭāgiri. He approached him, bowed, and said, “Venerable, have you received any almsfood?”
“No, I haven’t.”
“Come, let’s go to my house.”
He took that monk to his house and gave him a meal. He then said, “Where are you going, venerable?”
“I’m going to Sāvatthī to see the Buddha.”
“Well then, would you please pay respect at the feet of the Buddha in my name and say, ‘Sir, the monastery at Kīṭāgiri has been corrupted. The bad and shameless monks Assaji and Punabbasuka are staying there. And they’re misbehaving in many ways. They plant flowering trees, water them …
And they misbehave in a variety of ways. Those who previously had faith and confidence have now lost it, and there’s no longer any support for the Sangha. The good monks have left and the bad monks are staying on. Sir, please send monks to stay at the monastery in Kīṭāgiri.’”
Có một vị cận sự nam đã nhìn thấy vị tỳ-khưu ấy đang đi khất thực ở Kīṭāgiri. Sau khi thấy, vị ấy đã đi đến chỗ vị tỳ-khưu. Sau khi đến gần, vị ấy đảnh lễ vị tỳ-khưu rồi nói rằng: “Bạch ngài, ngài có nhận được vật thực không ạ?” “Này hiền hữu, tôi không nhận được vật thực.” “Bạch ngài, xin mời ngài, chúng ta hãy về nhà.” Rồi vị cận sự nam ấy sau khi dẫn vị tỳ-khưu về nhà và dâng bữa ăn đã nói rằng: “Bạch ngài, tôn giả sẽ đi đâu ạ?” “Này hiền hữu, tôi sẽ đi đến Sāvatthi để yết kiến đức Thế Tôn.” “Bạch ngài, nếu vậy, xin ngài nhân danh con cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn và bạch rằng: ‘Bạch đức Thế Tôn, trú xứ ở Kīṭāgiri đã bị băng hoại. Các vị tỳ-khưu tên là Assaji và Punabbasu là những vị trú ngụ ở Kīṭāgiri, là những tỳ-khưu không biết hổ thẹn, xấu ác. Các vị ấy thực hành những việc phi pháp như vầy: họ tự trồng và bảo người khác trồng cây hoa, tự tưới và bảo người khác tưới, tự hái và bảo người khác hái, tự kết và bảo người khác kết, tự làm và bảo người khác làm vòng hoa một phía, tự làm và bảo người khác làm vòng hoa hai phía, tự làm và bảo người khác làm chùm hoa, tự làm và bảo người khác làm tua hoa, tự làm và bảo người khác làm hoa cài đầu, tự làm và bảo người khác làm hoa cài tai, tự làm và bảo người khác làm hoa trang trí ngực. Các vị ấy tự mang và bảo người khác mang vòng hoa một phía, vòng hoa hai phía, chùm hoa, tua hoa, hoa cài đầu, hoa cài tai, hoa trang trí ngực cho các phụ nữ gia đình, các thiếu nữ, các cô gái, các con dâu, các nữ tỳ. Các vị ấy cùng ăn chung một đĩa, cùng uống chung một ly, cùng ngồi chung một ghế, cùng nằm chung một giường, cùng nằm chung một tấm trải, cùng đắp chung một tấm mền, cùng nằm chung một tấm trải và đắp chung một tấm mền với các phụ nữ gia đình, các thiếu nữ, các cô gái, các con dâu, các nữ tỳ. Các vị ấy cũng ăn vào giờ phi thời, cũng uống rượu, cũng dùng vòng hoa, hương thơm, và vật thoa, cũng nhảy múa, cũng ca hát, cũng chơi nhạc, cũng vui đùa; họ cũng nhảy múa với vũ nữ, cũng ca hát với vũ nữ, cũng chơi nhạc với vũ nữ, cũng vui đùa với vũ nữ... (nên soạn thành vòng tròn)... họ cũng nhảy múa với người vui đùa, cũng ca hát với người vui đùa, cũng chơi nhạc với người vui đùa, cũng vui đùa với người vui đùa; họ cũng chơi cờ tám ô, cũng chơi cờ mười ô, cũng chơi cờ trên không, cũng chơi nhảy lò cò, cũng chơi búng que, cũng chơi xúc xắc, cũng chơi đánh gậy, cũng chơi vẽ bằng tay, cũng chơi bi, cũng chơi thổi lá, cũng chơi cày nhỏ, cũng chơi nhào lộn, cũng chơi chong chóng lá, cũng chơi đo bằng lá, cũng chơi xe nhỏ, cũng chơi cung nhỏ, cũng chơi đoán chữ, cũng chơi đoán ý, cũng chơi giả làm người tàn tật; họ cũng học thuật cưỡi voi, cũng học thuật cưỡi ngựa, cũng học thuật đánh xe, cũng học thuật bắn cung, cũng học thuật đấu kiếm; họ cũng chạy trước voi, cũng chạy trước ngựa, cũng chạy tới chạy lui trước xe; cũng la hét, cũng vỗ tay, cũng vật lộn, cũng đấu quyền; họ cũng trải tấm tăng-già-lê giữa vũ đài rồi nói với vũ nữ rằng: ‘Này chị, hãy nhảy múa ở đây;’ họ cũng ban thưởng; họ cũng thực hành nhiều loại phi pháp khác nhau. Bạch đức Thế Tôn, những người dân nào trước đây có đức tin, có lòng tịnh tín thì nay họ đã trở nên không có đức tin, không có lòng tịnh tín. Và những con đường cúng dường nào trước đây dành cho Tăng chúng thì nay cũng đã bị cắt đứt. Các vị tỳ-khưu đức hạnh thì rời đi, còn các vị tỳ-khưu xấu ác thì ở lại. Bạch đức Thế Tôn, lành thay, xin đức Thế Tôn hãy phái các vị tỳ-khưu đến Kīṭāgiri, để trú xứ ở Kīṭāgiri này có thể được ổn định trở lại.’”
“Evamāvuso”ti kho so bhikkhu tassa upāsakassa paṭissuṇitvā uṭṭhāyāsanā yena sāvatthi tena pakkāmi. Anupubbena yena sāvatthi jetavanaṁ anāthapiṇḍikassa ārāmo yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Āciṇṇaṁ kho panetaṁ buddhānaṁ bhagavantānaṁ āgantukehi bhikkhūhi saddhiṁ paṭisammodituṁ. Atha kho bhagavā taṁ bhikkhuṁ etadavoca—“kacci, bhikkhu, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ, kaccisi appakilamathena addhānaṁ āgato, kuto ca tvaṁ bhikkhu āgacchasī”ti?
“Khamanīyaṁ, bhagavā, yāpanīyaṁ, bhagavā; appakilamathena ca ahaṁ, bhante, addhānaṁ āgato. Idhāhaṁ, bhante, kāsīsu vassaṁvuṭṭho sāvatthiṁ āgacchanto bhagavantaṁ dassanāya yena kīṭāgiri tadavasariṁ. Atha khvāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya kīṭāgiriṁ piṇḍāya pāvisiṁ. Addasā kho maṁ, bhante, aññataro upāsako kīṭāgirismiṁ piṇḍāya carantaṁ; disvāna yenāhaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā etadavoca—‘api, bhante, piṇḍo labbhatī’ti. ‘Na kho, āvuso, piṇḍo labbhatī’ti. ‘Ehi, bhante, gharaṁ gamissāmā’ti. Atha kho, bhante, so upāsako maṁ gharaṁ netvā bhojetvā etadavoca—‘kahaṁ, bhante, ayyo gamissatī’ti? ‘Sāvatthiṁ kho ahaṁ, āvuso, gamissāmi bhagavantaṁ dassanāyā’ti. ‘Tena hi, bhante, mama vacanena bhagavato pāde sirasā vanda, evañca vadehi—“duṭṭho, bhante, kīṭāgirismiṁ āvāso. Assajipunabbasukā nāma kīṭāgirismiṁ āvāsikā alajjino pāpabhikkhū. Te evarūpaṁ anācāraṁ ācaranti—mālāvacchaṁ ropentipi ropāpentipi …pe… vividhampi anācāraṁ ācaranti. Yepi te, bhante, manussā pubbe saddhā ahesuṁ pasannā tepi etarahi assaddhā appasannā. Yānipi tāni saṅghassa pubbe dānapathāni tānipi etarahi upacchinnāni. Riñcanti pesalā bhikkhū, nivasanti pāpabhikkhū. Sādhu, bhante, bhagavā kīṭāgiriṁ bhikkhū pahiṇeyya, yathāyaṁ kīṭāgirismiṁ āvāso saṇṭhaheyyā”’ti. Tato ahaṁ, bhagavā, āgacchāmī”ti.
The monk agreed, got up, and set out for Sāvatthī. When he eventually arrived, he went to the Buddha in Anāthapiṇḍika’s Monastery. He bowed to the Buddha and sat down. Since it is the custom for Buddhas to greet newly-arrived monks, the Buddha said to him, “I hope you are keeping well, monk, I hope you’re getting by? I hope you’re not tired from traveling? And where have you come from?”
“I’m keeping well, sir, I’m getting by. I’m not tired from traveling.” He then told the Buddha all that had happened at Kīṭāgiri, adding, “That’s where I’ve come from, sir.”
“Vâng, thưa hiền giả.” Vị tỳ khưu ấy vâng lời người cận sự nam, đứng dậy khỏi chỗ ngồi rồi lên đường đi đến nơi có thành Sāvatthī. Lần lượt, vị ấy đi đến nơi có thành Sāvatthī, tu viện Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika, nơi có đức Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đây là thường lệ của các đức Phật, các đức Thế Tôn là chào hỏi thân mật cùng với các vị tỳ khưu khách. Rồi đức Thế Tôn nói với vị tỳ khưu ấy rằng: “Này tỳ khưu, thầy có kham nhẫn được không, có chịu đựng được không? Thầy đi đường xa có ít mệt nhọc không? Và này tỳ khưu, thầy từ đâu đến?” “Bạch đức Thế Tôn, con kham nhẫn được. Bạch đức Thế Tôn, con chịu đựng được. Bạch ngài, con đã đi đường xa mà ít mệt nhọc. Bạch ngài, ở đây, con đã an cư mùa mưa ở xứ Kāsī, đang trên đường đến Sāvatthī để yết kiến đức Thế Tôn thì đã ghé vào nơi có Kīṭāgiri. Rồi bạch ngài, vào buổi sáng, con đã đắp y, mang theo y bát, đi vào Kīṭāgiri để khất thực. Bạch ngài, một người cận sự nam nào đó đã thấy con đang đi khất thực ở Kīṭāgiri; sau khi thấy, đã đi đến chỗ con, sau khi đến, đã đảnh lễ con và nói rằng: ‘Bạch ngài, ngài đã nhận được vật thực chưa?’ ‘Thưa hiền giả, vẫn chưa nhận được vật thực.’ ‘Bạch ngài, xin mời ngài đến, chúng ta sẽ đi về nhà.’ Rồi bạch ngài, người cận sự nam ấy đã dẫn con về nhà, dâng cúng vật thực và nói rằng: ‘Bạch ngài, bậc tôn quý sẽ đi đâu?’ ‘Thưa hiền giả, tôi sẽ đi đến Sāvatthī để yết kiến đức Thế Tôn.’ ‘Bạch ngài, nếu vậy, xin ngài nhân danh con, cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn, và hãy thưa như vầy: “Bạch ngài, trú xứ ở Kīṭāgiri đã bị hư hoại. Các vị tỳ khưu tên là Assaji và Punabbasu, những vị trú ngụ ở Kīṭāgiri, là những tỳ khưu không biết hổ thẹn, ác đức. Họ thực hành những việc làm không đúng đắn như thế này: họ trồng cây hoa, bảo người khác trồng... họ thực hành nhiều việc làm không đúng đắn khác nhau. Bạch ngài, những người trước đây có đức tin, có lòng tịnh tín, thì nay họ đã không còn đức tin, không còn lòng tịnh tín. Những con đường cúng dường đến Tăng chúng trước đây, thì nay cũng đã bị cắt đứt. Các vị tỳ khưu khả ái đã rời bỏ, chỉ còn các tỳ khưu ác đức ở lại. Lành thay, bạch ngài, mong đức Thế Tôn hãy phái các vị tỳ khưu đến Kīṭāgiri, để trú xứ ở Kīṭāgiri này được ổn định trở lại.”’ Bạch đức Thế Tôn, con từ nơi ấy đến.”
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—“saccaṁ kira, bhikkhave, assajipunabbasukā nāma kīṭāgirismiṁ āvāsikā alajjino pāpabhikkhū? Te evarūpaṁ anācāraṁ ācaranti—mālāvacchaṁ ropentipi …pe… vividhampi anācāraṁ ācaranti? Yepi te manussā pubbe saddhā ahesuṁ pasannā tepi etarahi assaddhā appasannā? Yānipi tāni saṅghassa pubbe dānapathāni tānipi etarahi upacchinnāni? Riñcanti pesalā bhikkhū, nivasanti pāpabhikkhū”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ …pe… kathañhi nāma te, bhikkhave, moghapurisā evarūpaṁ anācāraṁ ācarissanti—mālāvacchaṁ ropessantipi ropāpessantipi, siñcissantipi siñcāpessantipi, ocinissantipi ocināpessantipi, ganthessantipi ganthāpessantipi, ekatovaṇṭikamālaṁ karissantipi kārāpessantipi, ubhatovaṇṭikamālaṁ karissantipi kārāpessantipi, mañjarikaṁ karissantipi kārāpessantipi, vidhūtikaṁ karissantipi kārāpessantipi, vaṭaṁsakaṁ karissantipi kārāpessantipi, āveḷaṁ karissantipi kārāpessantipi, uracchadaṁ karissantipi kārāpessantipi. Te kulitthīnaṁ kuladhītānaṁ kulakumārīnaṁ kulasuṇhānaṁ kuladāsīnaṁ ekatovaṇṭikamālaṁ harissantipi harāpessantipi, ubhatovaṇṭikamālaṁ harissantipi harāpessantipi, mañjarikaṁ harissantipi harāpessantipi, vidhūtikaṁ harissantipi harāpessantipi, vaṭaṁsakaṁ harissantipi harāpessantipi, āveḷaṁ harissantipi harāpessantipi, uracchadaṁ harissantipi harāpessantipi. Te kulitthīhi kuladhītāhi kulakumārīhi kulasuṇhāhi kuladāsīhi saddhiṁ ekabhājanepi bhuñjissanti, ekathālakepi pivissanti, ekāsanepi nisīdissanti, ekamañcepi tuvaṭṭissanti, ekattharaṇāpi tuvaṭṭissanti, ekapāvuraṇāpi tuvaṭṭissanti, ekattharaṇapāvuraṇāpi tuvaṭṭissanti, vikālepi bhuñjissanti, majjampi pivissanti, mālāgandhavilepanampi dhāressanti, naccissantipi, gāyissantipi, vādessantipi, lāsessantipi; naccantiyāpi naccissanti, naccantiyāpi gāyissanti, naccantiyāpi vādessanti, naccantiyāpi lāsessanti; gāyantiyāpi naccissanti, gāyantiyāpi gāyissanti, gāyantiyāpi vādessanti, gāyantiyāpi lāsessanti; vādentiyāpi naccissanti, vādentiyāpi gāyissanti, vādentiyāpi vādessanti, vādentiyāpi lāsessanti; lāsentiyāpi naccissanti, lāsentiyāpi gāyissanti, lāsentiyāpi vādessanti, lāsentiyāpi lāsessanti; aṭṭhapadepi kīḷissanti, dasapadepi kīḷissanti, ākāsepi kīḷissanti, parihārapathepi kīḷissanti, santikāyapi kīḷissanti, khalikāyapi kīḷissanti, ghaṭikāyapi kīḷissanti, salākahatthenapi kīḷissanti, akkhenapi kīḷissanti, paṅgacīrenapi kīḷissanti, vaṅkakenapi kīḷissanti mokkhacikāyapi kīḷissanti, ciṅgulakenapi kīḷissanti, pattāḷhakenapi kīḷissanti, rathakenapi kīḷissanti, dhanukenapi kīḷissanti, akkharikāyapi kīḷissanti, manesikāyapi kīḷissanti, yathāvajjenapi kīḷissanti; hatthismimpi sikkhissanti, assasmimpi sikkhissanti, rathasmimpi sikkhissanti, dhanusmimpi sikkhissanti, tharusmimpi sikkhissanti; hatthissapi purato dhāvissanti, assassapi purato dhāvissanti, rathassapi purato dhāvissantipi ādhāvissantipi; usseḷessantipi, apphoṭessantipi, nibbujjhissantipi, muṭṭhīhipi yujjhissanti; raṅgamajjhepi saṅghāṭiṁ pattharitvā naccakiṁ evaṁ vakkhanti—‘idha, bhagini, naccassū’ti; nalāṭikampi dassanti; vividhampi anācāraṁ ācarissanti. (…) Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā sāriputtamoggallāne āmantesi—“gacchatha tumhe, sāriputtā, kīṭāgiriṁ gantvā assajipunabbasukānaṁ bhikkhūnaṁ kīṭāgirismā pabbājanīyakammaṁ karotha, tumhākaṁ ete saddhivihārino”ti.
Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that the bad and shameless monks Assaji and Punabbasuka are staying at Kīṭāgiri and misbehaving in this way? And is it true that those people who previously had faith and confidence have now lost it, that there’s no longer any support for the Sangha, and that the good monks have left and the bad monks are staying on?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them, “It’s not suitable … How can those foolish men misbehave in this way? This will affect people’s confidence …” After rebuking them … he gave a teaching and addressed Sāriputta and Moggallāna: “Go to Kīṭāgiri and do a legal procedure of banishment from Kīṭāgiri against the monks Assaji and Punabbasuka. They’re your students.”
23. Bấy giờ, đức Thế Tôn nhân sự kiện này, trong trường hợp này, đã cho triệu tập chúng Tỳ khưu và hỏi các vị Tỳ khưu rằng: – “Này các Tỳ khưu, có thật chăng rằng các Tỳ khưu tên là Assaji và Punabbasu, là những người trú ngụ ở Kīṭāgiri, là những kẻ không biết hổ thẹn, là các Tỳ khưu xấu xa? Họ đã thực hành các hành vi không đúng đắn như thế này: họ tự trồng cây hoa nhỏ... cho đến... họ cũng thực hành nhiều hành vi không đúng đắn khác? Những người trước đây có đức tin, có lòng trong sạch, nay cũng trở nên không có đức tin, không có lòng trong sạch? Những đường lối cúng dường của Tăng chúng trước đây, nay cũng bị cắt đứt? Các Tỳ khưu khả ái thì rời bỏ, còn các Tỳ khưu xấu xa thì ở lại?” – “Bạch đức Thế Tôn, sự thật là vậy.” Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách: – “(Hành vi này) không thích hợp... cho đến... Này các Tỳ khưu, tại sao những kẻ ngu si ấy lại có thể thực hành các hành vi không đúng đắn như thế này: tự trồng cây hoa nhỏ, cũng bảo người khác trồng; tự tưới, cũng bảo người khác tưới; tự hái, cũng bảo người khác hái; tự kết, cũng bảo người khác kết; tự làm vòng hoa một cuống, cũng bảo người khác làm; tự làm vòng hoa hai cuống, cũng bảo người khác làm; tự làm chùm hoa, cũng bảo người khác làm; tự làm vòng hoa đeo tay, cũng bảo người khác làm; tự làm hoa cài đầu, cũng bảo người khác làm; tự làm hoa trang sức tai, cũng bảo người khác làm; tự làm hoa trang sức ngực, cũng bảo người khác làm. Họ tự mang vòng hoa một cuống, cũng bảo người khác mang, cho các phụ nữ đã có gia đình, các thiếu nữ, các cô gái trẻ, các con dâu, các nữ tỳ; tự mang vòng hoa hai cuống, cũng bảo người khác mang; tự mang chùm hoa, cũng bảo người khác mang; tự mang vòng hoa đeo tay, cũng bảo người khác mang; tự mang hoa cài đầu, cũng bảo người khác mang; tự mang hoa trang sức tai, cũng bảo người khác mang; tự mang hoa trang sức ngực, cũng bảo người khác mang. Họ cùng với các phụ nữ đã có gia đình, các thiếu nữ, các cô gái trẻ, các con dâu, các nữ tỳ, ăn chung một bát, uống chung một ly, ngồi chung một chỗ, nằm chung một giường, nằm chung một tấm trải, đắp chung một tấm chăn, nằm chung một tấm trải và đắp chung một tấm chăn; họ cũng ăn vào lúc phi thời, cũng uống rượu, cũng mang vòng hoa, dùng hương liệu và vật thoa; họ cũng tự nhảy múa, tự ca hát, tự chơi nhạc cụ, tự biểu diễn; họ cũng nhảy múa với nữ vũ công, cũng ca hát với nữ vũ công, cũng chơi nhạc cụ với nữ vũ công, cũng biểu diễn với nữ vũ công; họ cũng nhảy múa với nữ ca sĩ, cũng ca hát với nữ ca sĩ, cũng chơi nhạc cụ với nữ ca sĩ, cũng biểu diễn với nữ ca sĩ; họ cũng nhảy múa với nữ nhạc công, cũng ca hát với nữ nhạc công, cũng chơi nhạc cụ với nữ nhạc công, cũng biểu diễn với nữ nhạc công; họ cũng nhảy múa với nữ biểu diễn, cũng ca hát với nữ biểu diễn, cũng chơi nhạc cụ với nữ biểu diễn, cũng biểu diễn với nữ biểu diễn; họ cũng chơi cờ tám ô, cũng chơi cờ mười ô, cũng chơi cờ trên không, cũng chơi trò đi vòng, cũng chơi trò ném sỏi, cũng chơi trò xúc xắc, cũng chơi trò đánh gậy, cũng chơi trò vẽ hình, cũng chơi trò bi, cũng chơi trò thổi lá, cũng chơi trò cày nhỏ, cũng chơi trò nhào lộn, cũng chơi trò chong chóng lá, cũng chơi trò đo bằng lá, cũng chơi trò xe nhỏ, cũng chơi trò cung nhỏ, cũng chơi trò đoán chữ, cũng chơi trò đoán ý, cũng chơi trò giả tật; họ cũng học thuật cưỡi voi, cũng học thuật cưỡi ngựa, cũng học thuật đánh xe, cũng học thuật bắn cung, cũng học thuật đấu kiếm; họ cũng chạy phía trước voi, cũng chạy phía trước ngựa, cũng chạy phía trước xe, cũng chạy tới chạy lui; họ cũng la hét, cũng vỗ tay, cũng đấu vật, cũng đấu quyền; họ cũng trải y tăng-già-lê giữa sân khấu và nói với nữ vũ công rằng: ‘Này chị, hãy múa ở đây;’ họ cũng tán thưởng; họ cũng thực hành nhiều hành vi không đúng đắn khác. Này các Tỳ khưu, việc này không thể làm cho những người chưa trong sạch được trong sạch... cho đến... sau khi đã quở trách... cho đến... sau khi đã thuyết một bài pháp thoại, ngài đã gọi các vị Sāriputta và Moggallāna: – “Này các Sāriputta, các ngươi hãy đi, sau khi đến Kīṭāgiri, hãy thi hành hình phạt trục xuất (pabbājanīyakamma) ra khỏi Kīṭāgiri đối với các Tỳ khưu Assaji và Punabbasu. Họ là các vị đồng trú của các ngươi.”
“Kathaṁ mayaṁ, bhante, assajipunabbasukānaṁ bhikkhūnaṁ kīṭāgirismā pabbājanīyakammaṁ karoma, caṇḍā te bhikkhū pharusā”ti?
“Tena hi tumhe, sāriputtā, bahukehi bhikkhūhi saddhiṁ gacchathā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho sāriputtamoggallānā bhagavato paccassosuṁ.
“Evañca pana, bhikkhave, kātabbaṁ—paṭhamaṁ assajipunabbasukā bhikkhū codetabbā, codetvā sāretabbā, sāretvā āpattiṁ āropetabbā, āpattiṁ āropetvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
“Sir, how can we do a procedure of banishment against these monks? They’re temperamental and harsh.”
“Well then, take many monks.”
“Alright.”
“And this is how it should be done. First you should accuse the monks Assaji and Punabbasuka. They should then be reminded of what they’ve done, before they’re charged with an offense. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
– “Bạch ngài, làm thế nào chúng con có thể thi hành hình phạt trục xuất ra khỏi Kīṭāgiri đối với các Tỳ khưu Assaji và Punabbasu? Các Tỳ khưu ấy hung dữ và thô bạo.” – “Này các Sāriputta, nếu vậy thì các ngươi hãy đi cùng với nhiều vị Tỳ khưu.” – “Bạch ngài, xin vâng.” Các vị Sāriputta và Moggallāna đã vâng lời đức Thế Tôn. Và này các Tỳ khưu, việc này nên được thực hiện như sau: Trước hết, các Tỳ khưu Assaji và Punabbasu cần phải bị khiển trách, sau khi khiển trách cần phải được làm cho nhớ lại, sau khi làm cho nhớ lại cần phải bị quy tội, sau khi quy tội, một vị Tỳ khưu có năng lực, có khả năng, nên trình cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ime assajipunabbasukā bhikkhū kuladūsakā pāpasamācārā. Imesaṁ pāpakā samācārā dissanti ceva suyyanti ca. Kulāni ca imehi duṭṭhāni dissanti ceva suyyanti ca. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho assajipunabbasukānaṁ bhikkhūnaṁ kīṭāgirismā pabbājanīyakammaṁ kareyya—na assajipunabbasukehi bhikkhūhi kīṭāgirismiṁ vatthabbanti. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. These monks, Assaji and Punabbasuka, are corrupters of families and badly behaved. Their bad behavior is seen and heard about, and the families corrupted by them are seen and heard about. If the Sangha is ready, it should do a legal procedure of banishment from Kīṭāgiri against the monks Assaji and Punabbasuka, prohibiting them from staying at Kīṭāgiri. This is the motion.
24. “Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe lời của con. Các tỳ khưu Assaji và Punabbasu này là những người làm hư hỏng các gia đình, có hạnh kiểm xấu xa. Các hạnh kiểm xấu xa của các vị này đã được thấy và đã được nghe. Và các gia đình đã bị các vị này làm cho hư hỏng cũng đã được thấy và đã được nghe. Nếu thời điểm thích hợp đối với Tăng chúng, Tăng chúng nên thực hiện hành sự trục xuất đối với các tỳ khưu Assaji và Punabbasu ra khỏi xứ Kīṭāgiri (với nội dung) rằng: ‘Các tỳ khưu Assaji và Punabbasu không được cư ngụ ở Kīṭāgiri.’ Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ime assajipunabbasukā bhikkhū kuladūsakā pāpasamācārā. Imesaṁ pāpakā samācārā dissanti ceva suyyanti ca. Kulāni ca imehi duṭṭhāni dissanti ceva suyyanti ca. Saṅgho assajipunabbasukānaṁ bhikkhūnaṁ kīṭāgirismā pabbājanīyakammaṁ karoti—na assajipunabbasukehi bhikkhūhi kīṭāgirismiṁ vatthabbanti. Yassāyasmato khamati assajipunabbasukānaṁ bhikkhūnaṁ kīṭāgirismā pabbājanīyassa kammassa karaṇaṁ—na assajipunabbasukehi bhikkhūhi kīṭāgirismiṁ vatthabbanti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. These monks, Assaji and Punabbasuka, are corrupters of families and badly behaved. Their bad behavior is seen and heard about, and the families corrupted by them are seen and heard about. The Sangha does a legal procedure of banishment from Kīṭāgiri against the monks Assaji and Punabbasuka, prohibiting them from staying at Kīṭāgiri. Any monk who approves of doing a legal procedure of banishment from Kīṭāgiri against the monks Assaji and Punabbasuka, prohibiting them from staying at Kīṭāgiri, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe lời của con. Các tỳ khưu Assaji và Punabbasu này là những người làm hư hỏng các gia đình, có hạnh kiểm xấu xa. Các hạnh kiểm xấu xa của các vị này đã được thấy và đã được nghe. Và các gia đình đã bị các vị này làm cho hư hỏng cũng đã được thấy và đã được nghe. Tăng chúng thực hiện hành sự trục xuất đối với các tỳ khưu Assaji và Punabbasu ra khỏi xứ Kīṭāgiri (với nội dung) rằng: ‘Các tỳ khưu Assaji và Punabbasu không được cư ngụ ở Kīṭāgiri.’ Vị trưởng lão nào chấp thuận việc thực hiện hành sự trục xuất đối với các tỳ khưu Assaji và Punabbasu ra khỏi xứ Kīṭāgiri (với nội dung) rằng: ‘Các tỳ khưu Assaji và Punabbasu không được cư ngụ ở Kīṭāgiri,’ vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.”
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi. Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ime assajipunabbasukā bhikkhū kuladūsakā pāpasamācārā. Imesaṁ pāpakā samācārā dissanti ceva suyyanti ca. Kulāni ca imehi duṭṭhāni dissanti ceva suyyanti ca. Saṅgho assajipunabbasukānaṁ bhikkhūnaṁ kīṭāgirismā pabbājanīyakammaṁ karoti—na assajipunabbasukehi bhikkhūhi kīṭāgirismiṁ vatthabbanti. Yassāyasmato khamati assajipunabbasukānaṁ bhikkhūnaṁ kīṭāgirismā pabbājanīyassa kammassa karaṇaṁ—na assajipunabbasukehi bhikkhūhi kīṭāgirismiṁ vatthabbanti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. These monks, Assaji and Punabbasuka, are corrupters of families and badly behaved. Their bad behavior is seen and heard about, and the families corrupted by them are seen and heard about. The Sangha does a legal procedure of banishment from Kīṭāgiri against the monks Assaji and Punabbasuka, prohibiting them from staying at Kīṭāgiri. Any monk who approves of doing a legal procedure of banishment from Kīṭāgiri against the monks Assaji and Punabbasuka, prohibiting them from staying at Kīṭāgiri, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Lần thứ nhì, tôi cũng xin nói lên điều này… (như trên) … Lần thứ ba, tôi cũng xin nói lên điều này. Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy lắng nghe lời của con. Các tỳ khưu Assaji và Punabbasu này là những người làm hư hỏng các gia đình, có hạnh kiểm xấu xa. Các hạnh kiểm xấu xa của các vị này đã được thấy và đã được nghe. Và các gia đình đã bị các vị này làm cho hư hỏng cũng đã được thấy và đã được nghe. Tăng chúng thực hiện hành sự trục xuất đối với các tỳ khưu Assaji và Punabbasu ra khỏi xứ Kīṭāgiri (với nội dung) rằng: ‘Các tỳ khưu Assaji và Punabbasu không được cư ngụ ở Kīṭāgiri.’ Vị trưởng lão nào chấp thuận việc thực hiện hành sự trục xuất đối với các tỳ khưu Assaji và Punabbasu ra khỏi xứ Kīṭāgiri (với nội dung) rằng: ‘Các tỳ khưu Assaji và Punabbasu không được cư ngụ ở Kīṭāgiri,’ vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.”
Kataṁ saṅghena assajipunabbasukānaṁ bhikkhūnaṁ kīṭāgirismā pabbājanīyakammaṁ—na assajipunabbasukehi bhikkhūhi kīṭāgirismiṁ vatthabbanti. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has done the legal procedure of banishment from Kīṭāgiri against the monks Assaji and Punabbasuka, prohibiting them from staying at Kīṭāgiri. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Hành sự trục xuất đã được Tăng chúng thực hiện đối với các tỳ khưu Assaji và Punabbasu ra khỏi xứ Kīṭāgiri (với nội dung) rằng: ‘Các tỳ khưu Assaji và Punabbasu không được cư ngụ ở Kīṭāgiri.’ Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên đã im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
3.1. Adhammakammadvādasaka
The group of twelve on illegitimate legal procedures
Mười hai loại hành sự phi pháp
“Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ pabbājanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Asammukhā kataṁ hoti, appaṭipucchā kataṁ hoti, appaṭiññāya kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ pabbājanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
“When a legal procedure of banishment has three qualities, it’s illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done in the absence of the accused, it’s done without questioning the accused, it’s done without the admission of the accused.
25. “Này các tỳ khưu, hành sự trục xuất được hội đủ ba yếu tố là hành sự phi pháp, là hành sự phi luật, và được dàn xếp không tốt đẹp. (Hành sự) được thực hiện khi vắng mặt, (hành sự) được thực hiện mà không hỏi han, (hành sự) được thực hiện mà không có sự thú nhận – này các tỳ khưu, chính do ba yếu tố này mà hành sự trục xuất được hội đủ là hành sự phi pháp, là hành sự phi luật, và được dàn xếp không tốt đẹp.”
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ pabbājanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Anāpattiyā kataṁ hoti, adesanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, desitāya āpattiyā kataṁ hoti …pe…
acodetvā kataṁ hoti, asāretvā kataṁ hoti, āpattiṁ anāropetvā kataṁ hoti …pe…
asammukhā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
appaṭipucchā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
appaṭiññāya kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
anāpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
adesanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
desitāya āpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
acodetvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
asāretvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
āpattiṁ anāropetvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ pabbājanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who hasn’t committed any offense, it’s done against one who’s committed an offense that isn’t clearable by confession, it’s done against one who’s confessed their offense.
When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having accused the person of their offense, it’s done without having reminded the person of their offense, it’s done without having charged the person with their offense.
“When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done in the absence of the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without questioning the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without the admission of the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who hasn’t committed any offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense that isn’t clearable by confession, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who’s confessed their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having accused the person of their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having reminded the person of their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having charged the person with their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.”
“Này các tỳ khưu, lại nữa, hành sự trục xuất được hội đủ ba yếu tố khác là hành sự phi pháp, là hành sự phi luật, và được dàn xếp không tốt đẹp. (Hành sự) được thực hiện khi không có phạm tội, (hành sự) được thực hiện đối với tội không phải sám hối, (hành sự) được thực hiện đối với tội đã được sám hối… (như trên) … (hành sự) được thực hiện mà không khiển trách, (hành sự) được thực hiện mà không nhắc nhở, (hành sự) được thực hiện mà không quy tội… (như trên) … (hành sự) được thực hiện khi vắng mặt, (hành sự) được thực hiện một cách phi pháp, (hành sự) được thực hiện bởi một nhóm bè phái… (như trên) … (hành sự) được thực hiện mà không hỏi han, (hành sự) được thực hiện một cách phi pháp, (hành sự) được thực hiện bởi một nhóm bè phái… (như trên) … (hành sự) được thực hiện mà không có sự thú nhận, (hành sự) được thực hiện một cách phi pháp, (hành sự) được thực hiện bởi một nhóm bè phái… (như trên) … (hành sự) được thực hiện khi không có phạm tội, (hành sự) được thực hiện một cách phi pháp, (hành sự) được thực hiện bởi một nhóm bè phái… (như trên) … (hành sự) được thực hiện đối với tội không phải sám hối, (hành sự) được thực hiện một cách phi pháp, (hành sự) được thực hiện bởi một nhóm bè phái… (như trên) … (hành sự) được thực hiện đối với tội đã được sám hối, (hành sự) được thực hiện một cách phi pháp, (hành sự) được thực hiện bởi một nhóm bè phái… (như trên) … (hành sự) được thực hiện mà không khiển trách, (hành sự) được thực hiện một cách phi pháp, (hành sự) được thực hiện bởi một nhóm bè phái … (như trên) … (hành sự) được thực hiện mà không nhắc nhở, (hành sự) được thực hiện một cách phi pháp, (hành sự) được thực hiện bởi một nhóm bè phái… (như trên) … (hành sự) được thực hiện mà không quy tội, (hành sự) được thực hiện một cách phi pháp, (hành sự) được thực hiện bởi một nhóm bè phái – này các tỳ khưu, chính do ba yếu tố này mà hành sự trục xuất được hội đủ là hành sự phi pháp, là hành sự phi luật, và được dàn xếp không tốt đẹp.”
Adhammakammadvādasakaṁ niṭṭhitaṁ.
3.2. Dhammakammadvādasaka
The group of twelve on illegitimate legal procedures is finished.
The group of twelve on legitimate legal procedures
Dứt mười hai loại hành sự phi pháp.
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ pabbājanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Sammukhā kataṁ hoti, paṭipucchā kataṁ hoti, paṭiññāya kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ pabbājanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
“When a legal procedure of banishment has three qualities, it’s legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done in the presence of the accused, it’s done with the questioning of the accused, it’s done with the admission of the accused.
26. “Này các tỳ khưu, hành sự trục xuất được hội đủ ba yếu tố là hành sự đúng pháp, là hành sự đúng luật, và được dàn xếp tốt đẹp. (Hành sự) được thực hiện khi có mặt, (hành sự) được thực hiện sau khi hỏi han, (hành sự) được thực hiện khi có sự thú nhận – này các tỳ khưu, chính do ba yếu tố này mà hành sự trục xuất được hội đủ là hành sự đúng pháp, là hành sự đúng luật, và được dàn xếp tốt đẹp.”
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ pabbājanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Āpattiyā kataṁ hoti desanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti adesitāya āpattiyā kataṁ hoti …pe…
codetvā kataṁ hoti, sāretvā kataṁ hoti, āpattiṁ āropetvā kataṁ hoti …pe…
sammukhā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
paṭipucchā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
paṭiññāya kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
desanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
adesitāya āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
codetvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
sāretvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
āpattiṁ āropetvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ pabbājanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense, it’s done against one who’s committed an offense that’s clearable by confession, it’s done against one who hasn’t confessed their offense.
When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after accusing the person of their offense, it’s done after reminding the person of their offense, it’s done after charging the person with their offense.
“When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done in the presence of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done with the questioning of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done with the admission of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
“When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense that’s clearable by confession, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who hasn’t confessed their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
“When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after accusing the person of their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after reminding the person of their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of banishment has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after charging the person with their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.”
Này các tỳ khưu, còn nữa, yết ma trục xuất được thành tựu ba chi phần cũng là yết ma đúng Pháp, là yết ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp. (Yết ma) được thực hiện do tội; được thực hiện do tội cần phải sám hối; được thực hiện do tội chưa được sám hối... v.v... được thực hiện sau khi chất vấn, được thực hiện sau khi nhắc nhở, được thực hiện sau khi cáo buộc tội... v.v... được thực hiện trước sự hiện diện, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện bởi sự hòa hợp... v.v... được thực hiện sau khi hỏi, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện bởi sự hòa hợp... v.v... được thực hiện do sự thú nhận, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện bởi sự hòa hợp... v.v... được thực hiện do tội, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện bởi sự hòa hợp... v.v... được thực hiện do tội cần phải sám hối, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện bởi sự hòa hợp... v.v... được thực hiện do tội chưa được sám hối, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện bởi sự hòa hợp... v.v... được thực hiện sau khi chất vấn, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện bởi sự hòa hợp... v.v... được thực hiện sau khi nhắc nhở, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện bởi sự hòa hợp... v.v... được thực hiện sau khi cáo buộc tội, được thực hiện đúng Pháp, được thực hiện bởi sự hòa hợp. Này các tỳ khưu, yết ma trục xuất được thành tựu ba chi phần này là yết ma đúng Pháp, là yết ma đúng Luật, và được dập tắt tốt đẹp.
Dhammakammadvādasakaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of twelve on legitimate legal procedures is finished.
Phẩm Mười Hai Yết Ma Đúng Pháp đã chấm dứt.
3.3. Ākaṅkhamānacuddasaka
The group of fourteen on wishing
Phẩm Mười Bốn Về Việc Mong Muốn
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya. Bhaṇḍanakārako hoti kalahakārako vivādakārako bhassakārako saṅghe adhikaraṇakārako; bālo hoti abyatto āpattibahulo anapadāno; gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya.
“When a monk has three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a legal procedure of banishment against him: he’s quarrelsome, argumentative, and a creator of legal issues in the Sangha; he’s ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries; he’s constantly and improperly socializing with householders.
27. Này các tỳ khưu, Tăng chúng nếu muốn, có thể thực hiện yết ma trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ ba chi phần sau: Là người gây tranh cãi, gây xung đột, gây tranh luận, hay nói nhiều, gây ra tranh tụng trong Tăng chúng; là người ngu dốt, không khéo léo, phạm nhiều tội, không có giới hạn về tội; sống giao du với hàng tại gia bằng những mối giao du không thích hợp. Này các tỳ khưu, Tăng chúng nếu muốn, có thể thực hiện yết ma trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ ba chi phần này.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya. Adhisīle sīlavipanno hoti, ajjhācāre ācāravipanno hoti, atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya.
When a monk has another three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of banishment against him: he has failed in the higher morality; he has failed in the higher conduct; he has failed in the higher view.
Này các tỳ khưu, còn nữa, Tăng chúng nếu muốn, có thể thực hiện yết ma trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ ba chi phần sau: Bị hư hỏng về giới trong tăng thượng giới; bị hư hỏng về hạnh trong tăng thượng hạnh; bị hư hỏng về kiến trong tăng thượng kiến. Này các tỳ khưu, Tăng chúng nếu muốn, có thể thực hiện yết ma trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ ba chi phần này.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya. Buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya.
When a monk has another three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of banishment against him: he disparages the Buddha; he disparages the Teaching; he disparages the Sangha.
Này các tỳ khưu, còn nữa, Tăng chúng nếu muốn, có thể thực hiện yết ma trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ ba chi phần sau: Nói lời không tán thán đức Phật, nói lời không tán thán Pháp, nói lời không tán thán Tăng. Này các tỳ khưu, Tăng chúng nếu muốn, có thể thực hiện yết ma trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ ba chi phần này.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya. Kāyikena davena samannāgato hoti, vācasikena davena samannāgato hoti, kāyikavācasikena davena samannāgato hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya.
When a monk has another three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of banishment against him: his bodily conduct is frivolous; his verbal conduct is frivolous; his bodily and verbal conduct are frivolous.
Này các tỳ khưu, còn nữa, Tăng chúng nếu muốn, có thể thực hiện yết ma trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ ba chi phần sau: Có sự đùa giỡn về thân, có sự đùa giỡn về lời, có sự đùa giỡn về thân và lời. Này các tỳ khưu, Tăng chúng nếu muốn, có thể thực hiện yết ma trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ ba chi phần này.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya. Kāyikena anācārena samannāgato hoti, vācasikena anācārena samannāgato hoti, kāyikavācasikena anācārena samannāgato hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya.
When a monk has another three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of banishment against him: he’s improperly behaved by body; he’s improperly behaved by speech; he’s improperly behaved by body and speech.
Này các tỳ khưu, còn nữa, Tăng chúng nếu muốn, có thể thực hiện yết ma trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ ba chi phần sau: Có hành vi xấu về thân, có hành vi xấu về lời, có hành vi xấu về thân và lời. Này các tỳ khưu, Tăng chúng nếu muốn, có thể thực hiện yết ma trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ ba chi phần này.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya. Kāyikena upaghātikena samannāgato hoti, vācasikena upaghātikena samannāgato hoti, kāyikavācasikena upaghātikena samannāgato hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya.
When a monk has another three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of banishment against him: his bodily conduct is harmful; his verbal conduct is harmful; his bodily and verbal conduct are harmful.
Này các tỳ khưu, còn nữa, Tăng chúng nếu muốn, có thể thực hiện yết ma trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ ba chi phần sau: Có sự phá hoại về thân, có sự phá hoại về lời, có sự phá hoại về thân và lời. Này các tỳ khưu, Tăng chúng nếu muốn, có thể thực hiện yết ma trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ ba chi phần này.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya. Kāyikena micchājīvena samannāgato hoti, vācasikena micchājīvena samannāgato hoti, kāyikavācasikena micchājīvena samannāgato hoti—imehi, kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya.
When a monk has another three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of banishment against him: he has wrong livelihood by body; he has wrong livelihood by speech; he has wrong livelihood by body and speech.
Này các tỳ khưu, còn nữa, Tăng chúng nếu muốn, có thể thực hiện yết ma trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ ba chi phần sau: Có tà mạng về thân, có tà mạng về lời, có tà mạng về thân và lời. Này các tỳ khưu, Tăng chúng nếu muốn, có thể thực hiện yết ma trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ ba chi phần này.
Tiṇṇaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya. Eko bhaṇḍanakārako hoti kalahakārako vivādakārako bhassakārako saṅghe adhikaraṇakārako; eko bālo hoti abyatto āpattibahulo anapadāno; eko gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya.
“The Sangha may, if it wishes, do a procedure of banishment against three kinds of monks: those who are quarrelsome, argumentative, and creators of legal issues in the Sangha; those who are ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries; those who are constantly and improperly socializing with householders.
Này các tỳ khưu, Tăng chúng nếu muốn, có thể thực hiện yết ma trục xuất đối với ba hạng tỳ khưu sau: Một hạng là người gây tranh cãi, gây xung đột, gây tranh luận, hay nói nhiều, gây ra tranh tụng trong Tăng chúng; một hạng là người ngu dốt, không khéo léo, phạm nhiều tội, không có giới hạn về tội; một hạng sống giao du với hàng tại gia bằng những mối giao du không thích hợp. Này các tỳ khưu, Tăng chúng nếu muốn, có thể thực hiện yết ma trục xuất đối với ba hạng tỳ khưu này.
Aparesampi, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya. Eko adhisīle sīlavipanno hoti, eko ajjhācāre ācāravipanno hoti, eko atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of banishment against three other kinds of monks: those who’ve failed in the higher morality; those who’ve failed in the higher conduct; those who’ve failed in the higher view.
“Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành vi trục xuất. Một vị bị hư hỏng về giới trong tăng thượng giới, một vị bị hư hỏng về hạnh trong tăng thượng hạnh, một vị bị hư hỏng về kiến trong tăng thượng kiến – này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu này, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành vi trục xuất.”
Aparesampi, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya. Eko buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, eko dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, eko saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of banishment against three other kinds of monks: those who disparage the Buddha; those who disparage the Teaching; those who disparage the Sangha.
“Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành vi trục xuất. Một vị nói lời không tán dương đức Phật, một vị nói lời không tán dương Pháp, một vị nói lời không tán dương Tăng – này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu này, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành vi trục xuất.”
Aparesampi, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya. Eko kāyikena davena samannāgato hoti, eko vācasikena davena samannāgato hoti, eko kāyikavācasikena davena samannāgato hoti—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of banishment against three other kinds of monks: those who are frivolous in bodily conduct; those who are frivolous in verbal conduct; those who are frivolous in bodily and verbal conduct.
“Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành vi trục xuất. Một vị có sự đùa giỡn qua thân, một vị có sự đùa giỡn qua lời nói, một vị có sự đùa giỡn qua thân và lời nói – này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu này, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành vi trục xuất.”
Aparesampi, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya. Eko kāyikena anācārena samannāgato hoti, eko vācasikena anācārena samannāgato hoti, eko kāyikavācasikena anācārena samannāgato hoti—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of banishment against three other kinds of monks: those who are improperly behaved by body; those who are improperly behaved by speech; those who are improperly behaved by body and speech.
“Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành vi trục xuất. Một vị có hành vi xấu qua thân, một vị có hành vi xấu qua lời nói, một vị có hành vi xấu qua thân và lời nói – này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu này, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành vi trục xuất.”
Aparesampi, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya. Eko kāyikena upaghātikena samannāgato hoti, eko vācasikena upaghātikena samannāgato hoti, eko kāyikavācasikena upaghātikena samannāgato hoti—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of banishment against three other kinds of monks: those whose bodily conduct is harmful; those whose verbal conduct is harmful; those whose bodily and verbal conduct are harmful.
“Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành vi trục xuất. Một vị có hành vi phá hoại qua thân, một vị có hành vi phá hoại qua lời nói, một vị có hành vi phá hoại qua thân và lời nói – này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu này, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành vi trục xuất.”
Aparesampi, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya. Eko kāyikena micchājīvena samannāgato hoti, eko vācasikena micchājīvena samannāgato hoti, eko kāyikavācasikena micchājīvena samannāgato hoti—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pabbājanīyakammaṁ kareyya.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of banishment against three other kinds of monks: those who have wrong livelihood by body; those who have wrong livelihood by speech; those who have wrong livelihood by body and speech.”
“Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành vi trục xuất. Một vị có sự nuôi mạng sai trái qua thân, một vị có sự nuôi mạng sai trái qua lời nói, một vị có sự nuôi mạng sai trái qua thân và lời nói – này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu này, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành vi trục xuất.”
Ākaṅkhamānacuddasakaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of fourteen on wishing is finished.
Phẩm Mười Bốn Trường Hợp Nếu Muốn đã chấm dứt.
3.4. Aṭṭhārasavatta
The eighteen kinds of conduct
Mười Tám Bổn Phận
Pabbājanīyakammakatena, bhikkhave, bhikkhunā sammā vattitabbaṁ. Tatrāyaṁ sammāvattanā—
- na upasampādetabbaṁ,
- na nissayo dātabbo,
- na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo,
- na bhikkhunovādakasammuti sāditabbā,
- sammatenapi bhikkhuniyo na ovaditabbā.
- Yāya āpattiyā saṅghena pabbājanīyakammaṁ kataṁ hoti sā āpatti na āpajjitabbā,
- aññā vā tādisikā,
- tato vā pāpiṭṭhatarā;
- kammaṁ na garahitabbaṁ,
- kammikā na garahitabbā.
- Na pakatattassa bhikkhuno uposatho ṭhapetabbo,
- na pavāraṇā ṭhapetabbā,
- na savacanīyaṁ kātabbaṁ,
- na anuvādo paṭṭhapetabbo,
- na okāso kāretabbo,
- na codetabbo,
- na sāretabbo,
- na bhikkhūhi sampayojetabban”ti.
“A monk who’s had a legal procedure of banishment done against him should conduct himself properly. This is the proper conduct:
- He shouldn’t give the full ordination.
- He shouldn’t give formal support.
- He shouldn’t have a novice monk attend on him.
- He shouldn’t accept being appointed as an instructor of the nuns.
- Even if appointed, he shouldn’t instruct the nuns.
- He shouldn’t commit the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of banishment against him.
- He shouldn’t commit an offense similar to the offense for which the Sangha did the procedure of banishment against him.
- He shouldn’t commit an offense worse than the offense for which the Sangha did the procedure of banishment against him.
- He shouldn’t criticize the procedure.
- He shouldn’t criticize those who did the procedure.
- He shouldn’t cancel the observance-day ceremony of a regular monk.
- He shouldn’t cancel the invitation ceremony of a regular monk.
- He shouldn’t direct a regular monk.
- He shouldn’t give instructions to a regular monk.
- He shouldn’t ask a regular monk for permission to correct him.
- He shouldn’t accuse a regular monk of an offense.
- He shouldn’t remind a regular monk of an offense.
- He shouldn’t associate inappropriately with other monks.”
28. “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đã bị thực hiện hành vi trục xuất cần phải thực hành đúng đắn. Ở đây, đây là sự thực hành đúng đắn: Không được cho thọ cụ túc giới, không được cho nương tựa, không được để sa-di phục dịch, không được chấp thuận sự chỉ định làm người giáo giới tỳ khưu ni, dù đã được chỉ định cũng không được giáo giới các tỳ khưu ni. Không được phạm vào tội mà vì tội ấy Tăng chúng đã thực hiện hành vi trục xuất, hoặc tội khác tương tự, hoặc tội xấu xa hơn thế nữa; không được chỉ trích hành vi (của Tăng chúng), không được chỉ trích những người thực hiện hành vi. Không được đình chỉ lễ Bố-tát của vị tỳ khưu chưa bị xử phạt, không được đình chỉ lễ Tự tứ, không được làm cho mình trở thành người có thể bị khiển trách, không được khởi xướng sự tranh cãi, không được yêu cầu cho phép (để khiển trách), không được khiển trách, không được nhắc nhở, không được giao du với các tỳ khưu.”
Pabbājanīyakamme aṭṭhārasavattaṁ niṭṭhitaṁ.
The eighteen kinds of conduct in regard to the legal procedure of banishment are finished.
Mười tám bổn phận trong hành vi trục xuất đã chấm dứt.
Atha kho sāriputtamoggallānappamukho bhikkhusaṅgho kīṭāgiriṁ gantvā assajipunabbasukānaṁ bhikkhūnaṁ kīṭāgirismā pabbājanīyakammaṁ akāsi—na assajipunabbasukehi bhikkhūhi kīṭāgirismiṁ vatthabbanti. Te saṅghena pabbājanīyakammakatā na sammā vattanti, na lomaṁ pātenti, na netthāraṁ vattanti; na bhikkhū khamāpenti, akkosanti, paribhāsanti; chandagāmitā dosagāmitā mohagāmitā bhayagāmitā pāpenti; pakkamantipi, vibbhamantipi. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma assajipunabbasukā bhikkhū saṅghena pabbājanīyakammakatā na sammā vattissanti, na lomaṁ pātessanti, na netthāraṁ vattissanti; na bhikkhū khamāpessanti, akkosissanti, paribhāsissanti; chandagāmitā dosagāmitā mohagāmitā bhayagāmitā pāpessanti; pakkamissantipi, vibbhamissantipī”ti.
Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
Soon afterwards a sangha of monks, headed by Sāriputta and Moggallāna, went to Kīṭāgiri and did the legal procedure of banishment from Kīṭāgiri against the monks Assaji and Punabbasuka, prohibiting them from staying at Kīṭāgiri. Even so, they did not conduct themselves properly or suitably so as to deserve to be released, nor did they ask the monks for forgiveness. Instead they abused and reviled them, and they slandered them as acting from favoritism, ill will, confusion, and fear. And they left and they disrobed. The monks of few desires complained and criticized them, “How can these monks act like this when the Sangha has done a legal procedure of banishment against them?”
They told the Buddha.
29. Khi ấy, Tăng chúng tỳ khưu do ngài Sāriputta và ngài Moggallāna dẫn đầu đã đi đến Kīṭāgiri và thực hiện hành vi trục xuất đối với các tỳ khưu Assaji và Punabbasu ra khỏi Kīṭāgiri với lời tuyên bố: ‘Các tỳ khưu Assaji và Punabbasu không được cư ngụ ở Kīṭāgiri.’ Các vị ấy, bị Tăng chúng thực hiện hành vi trục xuất, đã không thực hành đúng đắn, không hạ mình, không thực hành để được phục hồi; không xin các tỳ khưu tha thứ, lại còn mắng nhiếc, phỉ báng; các vị ấy rơi vào thiên vị do dục vọng, thiên vị do sân hận, thiên vị do si mê, thiên vị do sợ hãi; các vị ấy cũng đã bỏ đi, và cũng đã hoàn tục. Các vị tỳ khưu thiểu dục ... họ đã phàn nàn, chỉ trích, chê bai rằng: ‘Làm sao mà các tỳ khưu Assaji và Punabbasu, bị Tăng chúng thực hiện hành vi trục xuất, lại không thực hành đúng đắn, không hạ mình, không thực hành để được phục hồi; không xin các tỳ khưu tha thứ, lại còn mắng nhiếc, phỉ báng; rơi vào thiên vị do dục vọng, thiên vị do sân hận, thiên vị do si mê, thiên vị do sợ hãi; lại còn bỏ đi, và cũng đã hoàn tục?’ Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã trình báo sự việc này lên đức Thế Tôn.
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ …pe… kathañhi nāma te, bhikkhave, moghapurisā saṅghena pabbājanīyakammakatā na sammā vattissanti, na lomaṁ pātessanti, na netthāraṁ vattissanti; na bhikkhū khamāpessanti, akkosissanti, paribhāsissanti; chandagāmitā dosagāmitā mohagāmitā bhayagāmitā pāpessanti; pakkamissantipi, vibbhamissantipi. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“tena hi, bhikkhave, saṅgho pabbājanīyakammaṁ paṭippassambhetu.
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “It’s not suitable … How can those foolish men act like this? This will affect people’s confidence …” After rebuking them … he gave a teaching and addressed the monks:
“Well then, don’t lift that legal procedure of banishment.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn nhân sự kiện này, nhân trường hợp này, đã cho triệu tập hội chúng tỳ khưu rồi hỏi các tỳ khưu rằng: – Này các tỳ khưu, có thật chăng các tỳ khưu Assaji và Punabbasu, đã bị Tăng chúng thực hiện hình phạt trục xuất, không hành xử đúng đắn, không hạ ngã mạn, không thực hành hạnh kiểm để thoát khỏi hình phạt; không xin các tỳ khưu tha lỗi, mắng nhiếc, chửi rủa; đạt đến tình trạng đi theo thiên vị vì tham, thiên vị vì sân, thiên vị vì si, thiên vị vì sợ; cũng bỏ đi nơi khác, cũng hoàn tục? – Bạch đức Thế Tôn, là sự thật. Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách rằng: – (Này các tỳ khưu, việc làm của những người ngu si ấy) là không thích hợp ... Này các tỳ khưu, tại sao những người ngu si kia, đã bị Tăng chúng thực hiện hình phạt trục xuất, lại không hành xử đúng đắn, không hạ ngã mạn, không thực hành hạnh kiểm để thoát khỏi hình phạt; không xin các tỳ khưu tha lỗi, mắng nhiếc, chửi rủa; đạt đến tình trạng đi theo thiên vị vì tham, thiên vị vì sân, thiên vị vì si, thiên vị vì sợ; cũng bỏ đi nơi khác, cũng hoàn tục? Này các tỳ khưu, việc này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin ... Sau khi quở trách ... sau khi thuyết pháp thoại, ngài gọi các tỳ khưu: – Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng không nên đình chỉ hình phạt trục xuất.
3.5. Nappaṭippassambhetabbaaṭṭhārasaka
The group of eighteen on not to be lifted
Mười tám trường hợp không nên đình chỉ.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno pabbājanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Upasampādeti, nissayaṁ deti, sāmaṇeraṁ upaṭṭhāpeti, bhikkhunovādakasammutiṁ sādiyati, sammatopi bhikkhuniyo ovadati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno pabbājanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
“When a monk has five qualities, a legal procedure of banishment against him shouldn’t be lifted: he gives the full ordination; he gives formal support; he has a novice monk attend on him; he accepts being appointed as an instructor of the nuns; he instructs the nuns, whether appointed or not.
30. Này các tỳ khưu, không nên đình chỉ hình phạt trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ năm chi phần sau đây: Vị ấy cho thọ cụ túc, cho nương tựa, cho sa-di hầu hạ, chấp nhận sự chỉ định làm người giáo giới tỳ khưu ni, và sau khi được chỉ định vẫn giáo giới các tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, không nên đình chỉ hình phạt trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ năm chi phần này.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno pabbājanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Yāya āpattiyā saṅghena pabbājanīyakammaṁ kataṁ hoti taṁ āpattiṁ āpajjati, aññaṁ vā tādisikaṁ, tato vā pāpiṭṭhataraṁ; kammaṁ garahati, kammike garahati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno pabbājanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
When a monk has another five qualities, a procedure of banishment against him shouldn’t be lifted: he commits the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of banishment against him; he commits an offense similar to the one for which the Sangha did the procedure of banishment against him; he commits an offense worse than the one for which the Sangha did the procedure of banishment against him; he criticizes the procedure; he criticizes those who did the procedure.
Này các tỳ khưu, lại nữa, không nên đình chỉ hình phạt trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ năm chi phần khác sau đây: Vị ấy phạm lại tội mà vì tội ấy Tăng chúng đã thực hiện hình phạt trục xuất, hoặc phạm tội khác tương tự, hoặc tội nặng hơn thế; vị ấy chê bai hình phạt, chê bai những người thực hiện hình phạt. Này các tỳ khưu, không nên đình chỉ hình phạt trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ năm chi phần này.
Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno pabbājanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Pakatattassa bhikkhuno uposathaṁ ṭhapeti, pavāraṇaṁ ṭhapeti, savacanīyaṁ karoti, anuvādaṁ paṭṭhapeti, okāsaṁ kāreti, codeti, sāreti, bhikkhūhi sampayojeti—imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno pabbājanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
When a monk has eight qualities, a procedure of banishment against him shouldn’t be lifted: he cancels the observance-day ceremony of a regular monk; he cancels the invitation ceremony of a regular monk; he directs a regular monk; he gives instructions to a regular monk; he asks a regular monk for permission to correct him; he accuses a regular monk of an offense; he reminds a regular monk of an offense; he associates inappropriately with other monks.”
Này các tỳ khưu, không nên đình chỉ hình phạt trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ tám chi phần sau đây: Vị ấy ngăn lễ Bố-tát của vị tỳ khưu không bị phạt, ngăn lễ Tự tứ, khiển trách, khởi xướng sự chỉ trích, bắt phải xin phép, tố cáo, nhắc tội, giao du với các tỳ khưu (để chống lại vị ấy). Này các tỳ khưu, không nên đình chỉ hình phạt trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ tám chi phần này.
Pabbājanīyakamme nappaṭippassambhetabbaaṭṭhārasakaṁ niṭṭhitaṁ.
3.6. Paṭippassambhetabbaaṭṭhārasaka
The group of eighteen on not to be lifted is finished.
The group of eighteen on to be lifted
Dứt mười tám trường hợp không nên đình chỉ trong hình phạt trục xuất.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno pabbājanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Na upasampādeti, na nissayaṁ deti, na sāmaṇeraṁ upaṭṭhāpeti, na bhikkhunovādakasammutiṁ sādiyati, sammatopi bhikkhuniyo na ovadati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno pabbājanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
“When a monk has five qualities, a legal procedure of banishment against him should be lifted: he doesn’t give the full ordination; he doesn’t give formal support; he doesn’t have a novice monk attend on him; he doesn’t accept being appointed as an instructor of the nuns; he doesn’t instruct the nuns, whether appointed or not.
31. Này các tỳ khưu, nên đình chỉ hình phạt trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ năm chi phần sau đây: Vị ấy không cho thọ cụ túc, không cho nương tựa, không cho sa-di hầu hạ, không chấp nhận sự chỉ định làm người giáo giới tỳ khưu ni, và sau khi được chỉ định cũng không giáo giới các tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, nên đình chỉ hình phạt trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ năm chi phần này.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno pabbājanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Yāya āpattiyā saṅghena pabbājanīyakammaṁ kataṁ hoti taṁ āpattiṁ na āpajjati, aññaṁ vā tādisikaṁ, tato vā pāpiṭṭhataraṁ; kammaṁ na garahati, kammike na garahati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno pabbājanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
When a monk has another five qualities, a procedure of banishment against him should be lifted: he doesn’t commit the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of banishment against him; he doesn’t commit an offense similar to the one for which the Sangha did the procedure of banishment against him; he doesn’t commit an offense worse than the one for which the Sangha did the procedure of banishment against him; he doesn’t criticize the procedure; he doesn’t criticize those who did the procedure.
Này các tỳ khưu, lại nữa, nên đình chỉ hình phạt trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ năm chi phần khác sau đây: Vị ấy không phạm lại tội mà vì tội ấy Tăng chúng đã thực hiện hình phạt trục xuất, hoặc tội khác tương tự, hoặc tội nặng hơn thế; vị ấy không chê bai hình phạt, không chê bai những người thực hiện hình phạt. Này các tỳ khưu, nên đình chỉ hình phạt trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ năm chi phần này.
Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno pabbājanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Na pakatattassa bhikkhuno uposathaṁ ṭhapeti, na pavāraṇaṁ ṭhapeti, na savacanīyaṁ karoti, na anuvādaṁ paṭṭhapeti, na okāsaṁ kāreti, na codeti, na sāreti, na bhikkhūhi sampayojeti—imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno pabbājanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
When a monk has eight qualities, a procedure of banishment against him should be lifted: he doesn’t cancel the observance-day ceremony of a regular monk; he doesn’t cancel the invitation ceremony of a regular monk; he doesn’t direct a regular monk; he doesn’t give instructions to a regular monk; he doesn’t ask a regular monk for permission to correct him; he doesn’t accuse a regular monk of an offense; he doesn’t remind a regular monk of an offense; he doesn’t associate inappropriately with other monks.”
Này các tỳ khưu, nên đình chỉ hình phạt trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ tám chi phần sau đây: Vị ấy không ngăn lễ Bố-tát của vị tỳ khưu không bị phạt, không ngăn lễ Tự tứ, không khiển trách, không khởi xướng sự chỉ trích, không bắt phải xin phép, không tố cáo, không nhắc tội, không giao du với các tỳ khưu (để chống lại vị ấy). Này các tỳ khưu, nên đình chỉ hình phạt trục xuất đối với vị tỳ khưu có đủ tám chi phần này.
Pabbājanīyakamme paṭippassambhetabbaaṭṭhārasakaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of eighteen on to be lifted is finished.
Dứt mười tám trường hợp nên đình chỉ trong hình phạt trục xuất.
Evañca pana, bhikkhave, paṭippassambhetabbaṁ. Tena, bhikkhave, pabbājanīyakammakatena bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vuḍḍhānaṁ bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘ahaṁ, bhante, saṅghena pabbājanīyakammakato sammā vattāmi, lomaṁ pātemi, netthāraṁ vattāmi, pabbājanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbā. Tatiyampi yācitabbā. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
“And this is how it should be lifted. After approaching the Sangha, the monk who’s had a legal procedure of banishment done against him should arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say, ‘Venerables, the Sangha has done a legal procedure of banishment against me. I’m now conducting myself properly and suitably, and deserve to be released. I ask for that legal procedure of banishment to be lifted.’ And he should ask a second and a third time. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
32. Này các tỳ khưu, và nên đình chỉ như thế này. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đã bị thực hiện hình phạt trục xuất ấy nên đi đến Tăng chúng, đắp y thượng một bên vai, đảnh lễ chân các vị tỳ khưu trưởng lão, ngồi xổm, chắp tay, và nên nói như vầy: ‘Bạch Đại đức, con đã bị Tăng chúng thực hiện hình phạt trục xuất, nay đã hành xử đúng đắn, đã hạ ngã mạn, đã thực hành hạnh kiểm để thoát khỏi hình phạt, con xin sự đình chỉ hình phạt trục xuất.’ Nên xin lần thứ hai. Nên xin lần thứ ba. Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho Tăng chúng biết rằng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu saṅghena pabbājanīyakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, pabbājanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmassa bhikkhuno pabbājanīyakammaṁ paṭippassambheyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of banishment against monk so-and-so. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of banishment to be lifted. If the Sangha is ready, it should lift that legal procedure of banishment against monk so-and-so. This is the motion.
‘Bạch Đại đức Tăng, xin Tăng chúng hãy nghe con. Vị tỳ khưu tên là ... này, đã bị Tăng chúng thực hiện hình phạt trục xuất, nay đã hành xử đúng đắn, đã hạ ngã mạn, đã thực hành hạnh kiểm để thoát khỏi hình phạt, đang xin sự đình chỉ hình phạt trục xuất. Nếu Tăng chúng thấy đã đến lúc thích hợp, Tăng chúng hãy đình chỉ hình phạt trục xuất đối với vị tỳ khưu tên là ... Đây là lời tuyên ngôn.’
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu saṅghena pabbājanīyakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, pabbājanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Saṅgho itthannāmassa bhikkhuno pabbājanīyakammaṁ paṭippassambheti. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno pabbājanīyassa kammassa paṭippassaddhi, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of banishment against monk so-and-so. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of banishment to be lifted. The Sangha lifts that legal procedure of banishment against monk so-and-so. Any monk who approves of lifting that legal procedure of banishment against monk so-and-so should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy lắng nghe lời của tôi. Vị tỳ khưu tên là ... này đã bị Tăng chúng chế định yết ma trục xuất, nay đã hành xử đúng đắn, đã dứt bỏ lòng kiêu mạn, đang thực hành hạnh để được phục hồi, và đang thỉnh cầu sự giải trừ yết ma trục xuất. Tăng chúng giải trừ yết ma trục xuất cho tỳ khưu tên là ... này. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc giải trừ yết ma trục xuất cho tỳ khưu tên là ..., vị ấy nên im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy nên nói lên.”
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi. Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu saṅghena pabbājanīyakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, pabbājanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Saṅgho itthannāmassa bhikkhuno pabbājanīyakammaṁ paṭippassambheti. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno pabbājanīyassa kammassa paṭippassaddhi, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of banishment against monk so-and-so. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of banishment to be lifted. The Sangha lifts that legal procedure of banishment against monk so-and-so. Any monk who approves of lifting that legal procedure of banishment against monk so-and-so should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Lần thứ nhì, tôi cũng nói lên điều này ... Lần thứ ba, tôi cũng nói lên điều này. Kính bạch chư Tôn đức, Tăng chúng hãy lắng nghe lời của tôi. Vị tỳ khưu tên là ... này đã bị Tăng chúng chế định yết ma trục xuất, nay đã hành xử đúng đắn, đã dứt bỏ lòng kiêu mạn, đang thực hành hạnh để được phục hồi, và đang thỉnh cầu sự giải trừ yết ma trục xuất. Tăng chúng giải trừ yết ma trục xuất cho tỳ khưu tên là ... này. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc giải trừ yết ma trục xuất cho tỳ khưu tên là ..., vị ấy nên im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy nên nói lên.”
Paṭippassaddhaṁ saṅghena itthannāmassa bhikkhuno pabbājanīyakammaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has lifted that legal procedure of banishment against monk so-and-so. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Yết ma trục xuất đã được Tăng chúng giải trừ cho tỳ khưu tên là ... Việc này được Tăng chúng chấp thuận, vì thế,”
Pabbājanīyakammaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
The second section on the legal procedure of banishment is finished.
Yết ma trục xuất thứ ba đã hoàn tất.
4. Paṭisāraṇīyakamma
4. The legal procedure of reconciliation
4. Yết ma khiển trách
Tena kho pana samayena āyasmā sudhammo macchikāsaṇḍe cittassa gahapatino āvāsiko hoti, navakammiko dhuvabhattiko. Yadā citto gahapati saṅghaṁ vā gaṇaṁ vā puggalaṁ vā nimantetukāmo hoti tadā na āyasmantaṁ sudhammaṁ anapaloketvā saṅghaṁ vā gaṇaṁ vā puggalaṁ vā nimanteti.
At one time Venerable Sudhamma was the staying at the householder Citta’s monastery at Macchikāsaṇḍa. He was in charge of the building work and received a regular supply of food. Whenever Citta wanted to invite the Sangha, a group of monks, or an individual monk, he would not do so without getting permission from Sudhamma.
33. Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Sudhamma là vị tỳ khưu thường trú, người trông coi công việc xây dựng mới, và là người nhận vật thực cúng dường thường xuyên của gia chủ Citta ở tại Macchikāsaṇḍa. Mỗi khi gia chủ Citta có ý muốn thỉnh mời Tăng chúng, hoặc một nhóm tỳ khưu, hoặc một cá nhân tỳ khưu, ông ấy đều không thỉnh mời Tăng chúng, hoặc một nhóm tỳ khưu, hoặc một cá nhân tỳ khưu mà không hỏi ý kiến trưởng lão Sudhamma trước.
Tena kho pana samayena sambahulā therā bhikkhū, āyasmā ca sāriputto, āyasmā ca mahāmoggallāno, āyasmā ca mahākaccāno, āyasmā ca mahākoṭṭhiko, āyasmā ca mahākappino, āyasmā ca mahācundo, āyasmā ca anuruddho, āyasmā ca revato, āyasmā ca upāli, āyasmā ca ānando, āyasmā ca rāhulo, kāsīsu cārikaṁ caramānā yena macchikāsaṇḍo tadavasaruṁ.
On one occasion a number of senior monks—Venerable Sāriputta, Venerable Mahāmoggallāna, Venerable Mahākaccāna, Venerable Mahākoṭṭhika, Venerable Mahākappina, Venerable Mahācunda, Venerable Anuruddha, Venerable Revata, Venerable Upāli, Venerable Ānanda, Venerable Rāhula—were wandering in Kāsi, when they arrived at Macchikāsaṇḍa.
Vào lúc bấy giờ, nhiều vị trưởng lão tỳ khưu gồm có trưởng lão Sāriputta, trưởng lão Mahāmoggallāna, trưởng lão Mahākaccāna, trưởng lão Mahākoṭṭhika, trưởng lão Mahākappina, trưởng lão Mahācunda, trưởng lão Anuruddha, trưởng lão Revata, trưởng lão Upāli, trưởng lão Ānanda, và trưởng lão Rāhula, trong khi đang du hành ở xứ Kāsī, đã đi đến địa danh Macchikāsaṇḍa.
Assosi kho citto gahapati therā kira bhikkhū macchikāsaṇḍaṁ anuppattāti. Atha kho citto gahapati yena therā bhikkhū tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā there bhikkhū abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho cittaṁ gahapatiṁ āyasmā sāriputto dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
When Citta heard that they had arrived, he went to them, bowed, and sat down. After Sāriputta had instructed, inspired, and gladdened Citta with a teaching,
Gia chủ Citta nghe được tin rằng: “Các vị trưởng lão tỳ khưu đã đến Macchikāsaṇḍa.” Bấy giờ, gia chủ Citta đi đến nơi các vị trưởng lão tỳ khưu đang ở; sau khi đến, ông đã đảnh lễ các vị trưởng lão tỳ khưu rồi ngồi xuống một nơi thích hợp. Trưởng lão Sāriputta đã dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ gia chủ Citta đang ngồi ở một nơi thích hợp.
Bấy giờ, gia chủ Citta, sau khi được trưởng lão Sāriputta dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ, đã thưa với các vị trưởng lão tỳ khưu rằng: “Kính bạch chư Tôn đức, mong các vị trưởng lão nhận lời mời của con về bữa ăn dành cho khách vào ngày mai.” Các vị trưởng lão tỳ khưu đã nhận lời bằng cách im lặng.
Atha kho citto gahapati therānaṁ bhikkhūnaṁ adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā there bhikkhū abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yenāyasmā sudhammo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sudhammaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho citto gahapati āyasmantaṁ sudhammaṁ etadavoca—“adhivāsetu me, bhante, ayyo sudhammo svātanāya bhattaṁ saddhiṁ therehī”ti.
Atha kho āyasmā sudhammo—“pubbe khvāyaṁ citto gahapati yadā saṅghaṁ vā gaṇaṁ vā puggalaṁ vā nimantetukāmo na maṁ anapaloketvā saṅghaṁ vā gaṇaṁ vā puggalaṁ vā nimanteti; sodāni maṁ anapaloketvā there bhikkhū nimantesi; duṭṭhodānāyaṁ citto gahapati anapekkho virattarūpo mayī”ti cittaṁ gahapatiṁ etadavoca—“alaṁ, gahapati, nādhivāsemī”ti. Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho citto gahapati āyasmantaṁ sudhammaṁ etadavoca—“adhivāsetu me, bhante, ayyo sudhammo svātanāya bhattaṁ saddhiṁ therehī”ti. “Alaṁ, gahapati, nādhivāsemī”ti. Atha kho citto gahapati—“kiṁ me karissati ayyo sudhammo adhivāsento vā anadhivāsento vā”ti āyasmantaṁ sudhammaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
When he knew that they had accepted, Citta got up from his seat, bowed down, circumambulated them with his right side toward them, and went to Sudhamma. He bowed to him and said, “Venerable, please accept tomorrow’s meal from me together with the senior monks.”
Sudhamma thought, “Previously when Citta wanted to invite the Sangha, a group of monks, or an individual monk, he wouldn’t do so without getting my permission. But now he has. He’s been corrupted, this Citta. He’s uninterested and has no affection for me.” He said to Citta, “There’s no need. I won’t accept.” Citta asked him a second and a third time, but got the same reply. He thought, “What difference does it make to me whether Sudhamma accepts or not?” He then bowed, circumambulated Sudhamma with his right side toward him, and left.
Bấy giờ, gia chủ Citta, sau khi biết được sự nhận lời của các vị trưởng lão tỳ khưu, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ các vị trưởng lão tỳ khưu, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi đi đến chỗ trưởng lão Sudhamma đang ở; sau khi đến, ông đã đảnh lễ trưởng lão Sudhamma rồi đứng sang một bên. Đứng một bên, gia chủ Citta thưa với trưởng lão Sudhamma rằng: “Kính bạch ngài, mong trưởng lão Sudhamma nhận lời mời của con về bữa ăn vào ngày mai cùng với các vị trưởng lão.” Bấy giờ, trưởng lão Sudhamma suy nghĩ rằng: “Trước đây, mỗi khi gia chủ Citta này có ý muốn thỉnh mời Tăng chúng, hoặc một nhóm tỳ khưu, hoặc một cá nhân tỳ khưu, ông ấy đều không thỉnh mời mà không hỏi ý kiến ta trước; nhưng bây giờ ông ấy lại thỉnh mời các vị trưởng lão tỳ khưu mà không hỏi ý kiến ta. Bây giờ gia chủ Citta này đã thay đổi, không còn tôn trọng, đã có vẻ xa lánh ta,” rồi nói với gia chủ Citta rằng: “Thôi đi, gia chủ, tôi không nhận lời.” Lần thứ nhì... Lần thứ ba, gia chủ Citta cũng thưa với trưởng lão Sudhamma rằng: “Kính bạch ngài, mong trưởng lão Sudhamma nhận lời mời của con về bữa ăn vào ngày mai cùng với các vị trưởng lão.” (Trưởng lão Sudhamma đáp:) “Thôi đi, gia chủ, tôi không nhận lời.” Bấy giờ, gia chủ Citta suy nghĩ rằng: “Trưởng lão Sudhamma dù nhận lời hay không nhận lời thì có thể làm gì được ta chứ?” rồi đảnh lễ trưởng lão Sudhamma, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi ra về.
Atha kho citto gahapati tassā rattiyā accayena therānaṁ bhikkhūnaṁ paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpesi. Atha kho āyasmā sudhammo—“yannūnāhaṁ cittassa gahapatino therānaṁ bhikkhūnaṁ paṭiyattaṁ passeyyan”ti pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena cittassa gahapatino nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho citto gahapati yenāyasmā sudhammo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sudhammaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho cittaṁ gahapatiṁ āyasmā sudhammo etadavoca—“pahūtaṁ kho te idaṁ, gahapati, khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyattaṁ; ekā ca kho idha natthi yadidaṁ tilasaṅguḷikā”ti.
“Bahumhi vata, bhante, ratane buddhavacane vijjamāne ayyena sudhammena yadeva kiñci bhāsitaṁ yadidaṁ tilasaṅguḷikāti. Bhūtapubbaṁ, bhante, dakkhiṇāpathakā vāṇijā puratthimaṁ janapadaṁ agamaṁsu vāṇijjāya. Te tato kukkuṭiṁ ānesuṁ. Atha kho sā, bhante, kukkuṭī kākena saddhiṁ saṁvāsaṁ kappesi. Sā potakaṁ janesi. Yadā kho so, bhante, kukkuṭapotako kākavassaṁ vassitukāmo hoti, kākakukkuṭīti vassati; yadā kukkuṭivassaṁ vassitukāmo hoti, kukkuṭikākāti vassati. Evameva kho, bhante, bahumhi ratane buddhavacane vijjamāne ayyena sudhammena yadeva kiñci bhāsitaṁ yadidaṁ tilasaṅguḷikā”ti.
“Akkosasi maṁ tvaṁ, gahapati, paribhāsasi maṁ tvaṁ, gahapati. Eso te, gahapati, āvāso, pakkamissāmī”ti.
“Nāhaṁ, bhante, ayyaṁ sudhammaṁ akkosāmi, paribhāsāmi. Vasatu, bhante, ayyo sudhammo macchikāsaṇḍe. Ramaṇīyaṁ ambāṭakavanaṁ. Ahaṁ ayyassa sudhammassa ussukkaṁ karissāmi, cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānan”ti.
Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho āyasmā sudhammo cittaṁ gahapatiṁ etadavoca—“akkosasi maṁ tvaṁ, gahapati, paribhāsasi maṁ tvaṁ, gahapati. Eso te, gahapati, āvāso, pakkamissāmī”ti. “Kahaṁ, bhante, ayyo sudhammo gamissatī”ti?
“Sāvatthiṁ kho ahaṁ, gahapati, gamissāmi bhagavantaṁ dassanāyā”ti.
“Tena hi, bhante, yañca attanā bhaṇitaṁ, yañca mayā bhaṇitaṁ taṁ sabbaṁ bhagavato ārocehi. Anacchariyaṁ kho panetaṁ, bhante, yaṁ ayyo sudhammo punadeva macchikāsaṇḍaṁ paccāgaccheyyā”ti.
The following morning Citta prepared various kinds of fine foods for the senior monks. Sudhamma thought, “Why don’t I go and see what Citta has prepared for the senior monks?” He then robed up, took his bowl and robe, and went to Citta’s house where he sat down on the prepared seat. Citta approached Sudhamma, bowed, and sat down. And Sudhamma said to him, “You have prepared many kinds of food. But there’s one that’s missing: sesame cookies.”
“When there are so many jewels in the word of the Buddha, sir, you speak of sesame cookies. In the past there were some traders from the south who went to an eastern country to trade. From there they brought back a hen. That hen mated with a crow and because of that she had a chick. When that chick wanted to caw like a crow, it cried, ‘caw-ca-doodle-doo.’ And when that chick wanted to crow like a rooster, it cried, ‘cock-a-doodle-caw.’ In the same way, when there are so many jewels in the word of the Buddha, you speak of sesame cookies.”
“Householder, you’re abusing and insulting me. I will leave your monastery.”
“I’m not abusing and insulting you. Please stay at Macchikāsaṇḍa. The mango grove is delightful. I’ll do my best to provide you with robe-cloth, almsfood, a dwelling, and medicinal supplies.”
Sudhamma repeated what he had said a second time and Citta responded as before. When Sudhamma repeated it a third time, Citta said, “Where will you go?”
“I’ll go to Sāvatthī to visit the Buddha.”
“Well then, please tell the Buddha of our entire conversation. And I would not be surprised if you returned to Macchikāsaṇḍa.”
34. Bấy giờ, gia chủ Citta, sau khi đêm ấy đã trôi qua, đã cho chuẩn bị các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cho các vị tỳ khưu trưởng lão. Bấy giờ, trưởng lão Sudhamma khởi ý rằng: ‘Hay thay, ta hãy đi xem các món ăn mà gia chủ Citta đã chuẩn bị cho các vị tỳ khưu trưởng lão.’ Vào buổi sáng, sau khi đắp y, mang theo y bát, vị ấy đi đến trú xá của gia chủ Citta; sau khi đến, vị ấy ngồi xuống chỗ đã được soạn sẵn. Bấy giờ, gia chủ Citta đi đến chỗ trưởng lão Sudhamma; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ trưởng lão Sudhamma rồi ngồi xuống một bên. Trưởng lão Sudhamma nói điều này với gia chủ Citta đang ngồi một bên: ‘Này gia chủ, các món ăn loại cứng và loại mềm mà ông đã chuẩn bị thật là nhiều; tuy nhiên, ở đây lại thiếu một món, đó là bánh mè.’ – ‘Bạch ngài, thật vậy, trong khi có rất nhiều châu báu là lời dạy của Đức Phật, trưởng lão Sudhamma lại chỉ nói đến một điều tầm thường, đó là bánh mè. Bạch ngài, chuyện xưa kể rằng, các thương nhân ở miền nam đã đi đến xứ miền đông để buôn bán. Họ đã mang về từ đó một con gà mái. Bạch ngài, bấy giờ con gà mái ấy đã giao phối với một con quạ. Nó đã sinh ra một con gà con. Bạch ngài, khi con gà con ấy muốn gáy tiếng quạ, nó gáy rằng: ‘cà-gà;’ khi nó muốn gáy tiếng gà, nó gáy rằng: ‘gà-cà.’ Bạch ngài, cũng tương tự như vậy, trong khi có rất nhiều châu báu là lời dạy của Đức Phật, trưởng lão Sudhamma lại chỉ nói đến một điều tầm thường, đó là bánh mè.’ – ‘Này gia chủ, ông đang mắng nhiếc tôi. Này gia chủ, ông đang phỉ báng tôi. Này gia chủ, đây là trú xá của ông, tôi sẽ ra đi.’ – ‘Bạch ngài, con không mắng nhiếc, không phỉ báng trưởng lão Sudhamma. Bạch ngài, xin trưởng lão Sudhamma hãy ở lại Macchikāsaṇḍa. Khu rừng Ambāṭaka thật là khả ái. Con sẽ nỗ lực cúng dường y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh đến trưởng lão Sudhamma.’ Lần thứ nhì... Lần thứ ba, trưởng lão Sudhamma lại nói điều này với gia chủ Citta: ‘Này gia chủ, ông đang mắng nhiếc tôi. Này gia chủ, ông đang phỉ báng tôi. Này gia chủ, đây là trú xá của ông, tôi sẽ ra đi.’ – ‘Bạch ngài, trưởng lão Sudhamma sẽ đi đâu?’ – ‘Này gia chủ, tôi sẽ đi đến Sāvatthī để yết kiến Đức Thế Tôn.’ – ‘Bạch ngài, nếu vậy, xin ngài hãy trình báo lên Đức Thế Tôn tất cả những gì ngài đã nói và những gì con đã nói. Bạch ngài, cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu trưởng lão Sudhamma lại quay trở về Macchikāsaṇḍa.’
Atha kho āyasmā sudhammo senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya yena sāvatthi tena pakkāmi. Anupubbena yena sāvatthi jetavanaṁ anāthapiṇḍikassa ārāmo yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sudhammo yañca attanā bhaṇitaṁ yañca cittena gahapatinā bhaṇitaṁ taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
Sudhamma put his dwelling in order, took his bowl and robe, and left for Sāvatthī. When he eventually arrived, he went to the Buddha in Anāthapiṇḍika’s Monastery. He bowed to the Buddha, sat down, and told him about the conversation he had had with Citta.
35. Bấy giờ, trưởng lão Sudhamma sau khi dọn dẹp sàng tọa, mang theo y bát rồi lên đường đi đến Sāvatthī. Tuần tự đi đến Sāvatthī, khu vườn của Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika, rồi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, trưởng lão Sudhamma đã trình báo lên Đức Thế Tôn tất cả những gì mình đã nói và những gì gia chủ Citta đã nói.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ, moghapurisa, ananulomikaṁ appatirūpaṁ assāmaṇakaṁ akappiyaṁ akaraṇīyaṁ. Kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, cittaṁ gahapatiṁ saddhaṁ pasannaṁ dāyakaṁ kārakaṁ saṅghupaṭṭhākaṁ hīnena khuṁsessasi, hīnena vambhessasi? Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“tena hi, bhikkhave, saṅgho sudhammassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ karotu—citto te gahapati khamāpetabboti. Evañca pana, bhikkhave, kātabbaṁ—paṭhamaṁ sudhammo bhikkhu codetabbo, codetvā sāretabbo, sāretvā āpattiṁ āropetabbo, āpattiṁ āropetvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
The Buddha rebuked him, “It’s not suitable, foolish man, it’s not proper, it’s not worthy of a monastic, it’s not allowable, it’s not to be done. How can you demean and insult Citta, who has faith and confidence, who’s a donor, benefactor, and supporter of the Sangha? This will affect people’s confidence …” After rebuking him … he gave a teaching and addressed the monks:
“Well then, do a legal procedure of reconciliation against the monk Sudhamma, instructing him to ask Citta for forgiveness. And it should be done like this. First you should accuse the monk Sudhamma. He should then be reminded of what he has done, before he’s charged with an offense. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
Đức Phật, Đức Thế Tôn đã quở trách: ‘Này kẻ rỗng tuếch kia, việc này không thích hợp, không tương xứng, không phải phép, không phải hạnh của sa-môn, không được phép làm, không nên làm. Này kẻ rỗng tuếch kia, tại sao ngươi lại dùng lời lẽ thấp hèn để mắng nhiếc, dùng lời lẽ thấp hèn để phỉ báng gia chủ Citta, một người có đức tin, có lòng tịnh tín, là người thí chủ, người hộ độ, người phụng sự Tăng chúng? Này kẻ rỗng tuếch kia, việc này không đưa đến làm phát sinh lòng tịnh tín cho những người chưa có lòng tịnh tín...’ Sau khi quở trách... sau khi thuyết một bài pháp, ngài gọi các vị tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, vì lẽ ấy, Tăng chúng hãy thực hiện hành vi hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma rằng: ‘Ngươi phải xin gia chủ Citta tha lỗi.’ Này các tỳ khưu, và việc ấy nên được thực hiện như sau: Trước tiên, tỳ khưu Sudhamma phải bị khiển trách; sau khi khiển trách, phải làm cho nhớ lại; sau khi làm cho nhớ lại, phải làm cho thấy tội; sau khi làm cho thấy tội, một vị tỳ khưu có năng lực, có khả năng phải trình cho Tăng chúng biết rằng:’
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ sudhammo bhikkhu cittaṁ gahapatiṁ saddhaṁ pasannaṁ dāyakaṁ kārakaṁ saṅghupaṭṭhākaṁ hīnena khuṁseti, hīnena vambheti. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho sudhammassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ kareyya—citto te gahapati khamāpetabboti. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This monk Sudhamma has demeaned and insulted the householder Citta, who has faith and confidence, who’s a donor, benefactor, and supporter of the Sangha. If the Sangha is ready, the Sangha should do a legal procedure of reconciliation against the monk Sudhamma, instructing him to ask Citta for forgiveness. This is the motion.
36. ‘Bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Vị tỳ khưu Sudhamma này đã dùng lời lẽ thấp hèn để mắng nhiếc, dùng lời lẽ thấp hèn để phỉ báng gia chủ Citta, một người có đức tin, có lòng tịnh tín, là người thí chủ, người hộ độ, người phụng sự Tăng chúng. Nếu Tăng chúng nhận thấy đây là thời điểm thích hợp, Tăng chúng hãy thực hiện hành vi hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma rằng: ‘Ngươi phải xin gia chủ Citta tha lỗi.’ Đây là lời tác bạch.’
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ sudhammo bhikkhu cittaṁ gahapatiṁ saddhaṁ pasannaṁ dāyakaṁ kārakaṁ saṅghupaṭṭhākaṁ hīnena khuṁseti, hīnena vambheti. Saṅgho sudhammassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ karoti—citto te gahapati khamāpetabboti. Yassāyasmato khamati sudhammassa bhikkhuno paṭisāraṇīyassa kammassa karaṇaṁ—citto te gahapati khamāpetabboti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This monk Sudhamma has demeaned and insulted the householder Citta, who has faith and confidence, who’s a donor, benefactor, and supporter of the Sangha. The Sangha does a legal procedure of reconciliation against the monk Sudhamma, instructing him to ask Citta for forgiveness. Any monk who approves of doing a legal procedure of reconciliation against the monk Sudhamma, instructing him to ask Citta for forgiveness, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Vị tỳ khưu Sudhamma này đã dùng lời lẽ thấp hèn để mắng nhiếc, dùng lời lẽ thấp hèn để phỉ báng gia chủ Citta, một người có đức tin, có lòng tịnh tín, là người thí chủ, người hộ độ, người phụng sự Tăng chúng. Tăng chúng thực hiện hành vi hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma rằng: ‘Ngươi phải xin gia chủ Citta tha lỗi.’ Vị trưởng lão nào chấp thuận việc thực hiện hành vi hòa giải đối với tỳ khưu Sudhamma rằng: ‘Ngươi phải xin gia chủ Citta tha lỗi,’ vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.’
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ sudhammo bhikkhu cittaṁ gahapatiṁ saddhaṁ pasannaṁ dāyakaṁ kārakaṁ saṅghupaṭṭhākaṁ hīnena khuṁseti, hīnena vambheti. Saṅgho sudhammassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ karoti—citto te gahapati khamāpetabboti. Yassāyasmato khamati sudhammassa bhikkhuno paṭisāraṇīyassa kammassa karaṇaṁ—citto te gahapati khamāpetabboti, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This monk Sudhamma has demeaned and insulted the householder Citta, who has faith and confidence, who’s a donor, benefactor, and supporter of the Sangha. The Sangha does a legal procedure of reconciliation against the monk Sudhamma, instructing him to ask Citta for forgiveness. Any monk who approves of doing a legal procedure of reconciliation against the monk Sudhamma, instructing him to ask Citta for forgiveness, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Lần thứ nhì, tôi cũng xin nói lên điều này... Lần thứ ba, tôi cũng xin nói lên điều này: Kính bạch chư Tăng, xin chư Tăng lắng nghe lời của tôi. Tỳ-khưu Sudhamma này đã mắng nhiếc, đã phỉ báng gia chủ Citta, là người có đức tin, có lòng trong sạch, là thí chủ, là người phục vụ, là người hộ độ Tăng chúng, bằng lời lẽ thấp hèn. Tăng thực hiện yết-ma yêu cầu xin lỗi đối với tỳ-khưu Sudhamma rằng: ‘Ngươi phải xin lỗi gia chủ Citta.’ Vị đại đức nào chấp thuận việc thực hiện yết-ma yêu cầu xin lỗi đối với tỳ-khưu Sudhamma rằng: ‘Ngươi phải xin lỗi gia chủ Citta,’ vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.”
Kataṁ saṅghena sudhammassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ—citto te gahapati khamāpetabboti. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
The Sangha has done the legal procedure of reconciliation against the monk Sudhamma, instructing him to ask Citta for forgiveness. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Tăng đã thực hiện yết-ma yêu cầu xin lỗi đối với tỳ-khưu Sudhamma rằng: ‘Ngươi phải xin lỗi gia chủ Citta.’ Việc này được Tăng chấp thuận, do đó im lặng. Tôi ghi nhận việc này là như vậy.”
4.1. Adhammakammadvādasaka
The group of twelve on illegitimate legal procedures
Mười hai loại hành vi phi pháp
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ paṭisāraṇīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Asammukhā kataṁ hoti, appaṭipucchā kataṁ hoti, appaṭiññāya kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ paṭisāraṇīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
“When a legal procedure of reconciliation has three qualities, it’s illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done in the absence of the accused, it’s done without questioning the accused, it’s done without the admission of the accused.
37. “Này các tỳ khưu, hành vi cần được hòa giải được hội đủ ba yếu tố là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện khi vắng mặt, được thực hiện không hỏi han, được thực hiện khi (đương sự) không thừa nhận. Này các tỳ khưu, chính do hội đủ ba yếu tố này mà hành vi cần được hòa giải là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ paṭisāraṇīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Anāpattiyā kataṁ hoti, adesanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, desitāya āpattiyā kataṁ hoti …pe…
acodetvā kataṁ hoti, asāretvā kataṁ hoti, āpattiṁ anāropetvā kataṁ hoti …pe…
asammukhā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
appaṭipucchā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
appaṭiññāya kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
anāpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
adesanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
desitāya āpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
acodetvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
asāretvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
āpattiṁ anāropetvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ paṭisāraṇīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who hasn’t committed any offense, it’s done against one who’s committed an offense that isn’t clearable by confession, it’s done against one who’s confessed their offense.
When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having accused the person of their offense, it’s done without having reminded the person of their offense, it’s done without having charged the person with their offense.
“When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done in the absence of the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without questioning the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without the admission of the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who hasn’t committed any offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense that isn’t clearable by confession, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who’s confessed their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having accused the person of their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having reminded the person of their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having charged the person with their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.”
“Này các tỳ khưu, hành vi cần được hòa giải được hội đủ ba yếu tố khác nữa cũng là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện khi không có phạm tội, được thực hiện về tội không phải sám hối, được thực hiện về tội đã được sám hối ... được thực hiện không khiển trách, được thực hiện không nhắc nhở, được thực hiện không quy tội ... được thực hiện khi vắng mặt, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi phe nhóm ... được thực hiện không hỏi han, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi phe nhóm ... được thực hiện khi không thừa nhận, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi phe nhóm ... được thực hiện khi không có phạm tội, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi phe nhóm ... được thực hiện về tội không phải sám hối, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi phe nhóm ... được thực hiện về tội đã được sám hối, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi phe nhóm ... được thực hiện không khiển trách, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi phe nhóm ... được thực hiện không nhắc nhở, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi phe nhóm ... được thực hiện không quy tội, được thực hiện một cách phi pháp, được thực hiện bởi phe nhóm. Này các tỳ khưu, chính do hội đủ ba yếu tố này mà hành vi cần được hòa giải là hành vi phi pháp, là hành vi phi luật, và là hành vi được dàn xếp không tốt đẹp.
Paṭisāraṇīyakamme adhammakammadvādasakaṁ niṭṭhitaṁ.
4.2. Dhammakammadvādasaka
The group of twelve on illegitimate legal procedures of reconciliation is finished.
The group of twelve on legitimate legal procedures
Dứt mười hai loại hành vi phi pháp trong hành vi cần được hòa giải.
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ paṭisāraṇīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Sammukhā kataṁ hoti, paṭipucchā kataṁ hoti, paṭiññāya kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ paṭisāraṇīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
“When a legal procedure of reconciliation has three qualities, it’s legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done in the presence of the accused, it’s done with the questioning of the accused, it’s done with the admission of the accused.
38. “Này các tỳ khưu, hành vi cần được hòa giải được hội đủ ba yếu tố là hành vi đúng pháp, là hành vi đúng luật, và là hành vi được dàn xếp tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện khi có mặt, được thực hiện sau khi hỏi han, được thực hiện khi (đương sự) đã thừa nhận. Này các tỳ khưu, chính do hội đủ ba yếu tố này mà hành vi cần được hòa giải là hành vi đúng pháp, là hành vi đúng luật, và là hành vi được dàn xếp tốt đẹp.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ paṭisāraṇīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Āpattiyā kataṁ hoti, desanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, adesitāya āpattiyā kataṁ hoti …pe…
codetvā kataṁ hoti, sāretvā kataṁ hoti, āpattiṁ āropetvā kataṁ hoti …pe…
sammukhā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
paṭipucchā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
paṭiññāya kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
desanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
adesitāya āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
codetvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
sāretvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
āpattiṁ āropetvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ paṭisāraṇīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense, it’s done against one who’s committed an offense that’s clearable by confession, it’s done against one who hasn’t confessed their offense.
When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after accusing the person of their offense, it’s done after reminding the person of their offense, it’s done after charging the person with their offense.
“When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done in the presence of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done with the questioning of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done with the admission of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
“When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense that’s clearable by confession, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who hasn’t confessed their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
“When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after accusing the person of their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after reminding the person of their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of reconciliation has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after charging the person with their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.”
“Này các tỳ khưu, hành vi cần được hòa giải được hội đủ ba yếu tố khác nữa cũng là hành vi đúng pháp, là hành vi đúng luật, và là hành vi được dàn xếp tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện khi có phạm tội, được thực hiện về tội phải sám hối, được thực hiện về tội chưa được sám hối ... được thực hiện sau khi khiển trách, được thực hiện sau khi nhắc nhở, được thực hiện sau khi quy tội ... được thực hiện khi có mặt, được thực hiện một cách đúng pháp, được thực hiện bởi tập thể hòa hợp ... được thực hiện sau khi hỏi han, được thực hiện một cách đúng pháp, được thực hiện bởi tập thể hòa hợp ... được thực hiện khi đã thừa nhận, được thực hiện một cách đúng pháp, được thực hiện bởi tập thể hòa hợp ... được thực hiện khi có phạm tội, được thực hiện một cách đúng pháp, được thực hiện bởi tập thể hòa hợp ... được thực hiện về tội phải sám hối, được thực hiện một cách đúng pháp, được thực hiện bởi tập thể hòa hợp ... được thực hiện về tội chưa được sám hối, được thực hiện một cách đúng pháp, được thực hiện bởi tập thể hòa hợp ... được thực hiện sau khi khiển trách, được thực hiện một cách đúng pháp, được thực hiện bởi tập thể hòa hợp ... được thực hiện sau khi nhắc nhở, được thực hiện một cách đúng pháp, được thực hiện bởi tập thể hòa hợp ... được thực hiện sau khi quy tội, được thực hiện một cách đúng pháp, được thực hiện bởi tập thể hòa hợp. Này các tỳ khưu, chính do hội đủ ba yếu tố này mà hành vi cần được hòa giải là hành vi đúng pháp, là hành vi đúng luật, và là hành vi được dàn xếp tốt đẹp.
Paṭisāraṇīyakamme dhammakammadvādasakaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of twelve on legitimate legal procedures of reconciliation is finished.
Dứt mười hai loại hành vi đúng pháp trong hành vi cần được hòa giải.
4.3. Ākaṅkhamānacatukka
The group of four on wishing
Bốn trường hợp có thể thực hiện nếu muốn
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, paṭisāraṇīyakammaṁ kareyya. Gihīnaṁ alābhāya parisakkati, gihīnaṁ anatthāya parisakkati, gihīnaṁ anāvāsāya parisakkati, gihī akkosati paribhāsati, gihī gihīhi bhedeti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, paṭisāraṇīyakammaṁ kareyya.
“When a monk has five qualities, the Sangha may, if it wishes, do a legal procedure of reconciliation against him: he’s trying to stop householders from getting things; he’s trying to harm householders; he’s trying to get householders to lose their place of residence; he abuses and reviles householders; he causes division between householders.
39. “Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố, Tăng chúng nếu muốn, có thể thực hiện hành vi cần được hòa giải. (Vị ấy) cố gắng làm cho các gia chủ không có lợi lộc, cố gắng làm cho các gia chủ không có lợi ích, cố gắng làm cho các gia chủ không có chỗ ở; mắng nhiếc, phỉ báng gia chủ; gây chia rẽ giữa gia chủ với gia chủ. Này các tỳ khưu, chính đối với vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này, Tăng chúng nếu muốn, có thể thực hiện hành vi cần được hòa giải.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, paṭisāraṇīyakammaṁ kareyya. Gihīnaṁ buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, gihīnaṁ dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, gihīnaṁ saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati, gihī hīnena khuṁseti hīnena vambheti, gihīnaṁ dhammikaṁ paṭissavaṁ na saccāpeti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, paṭisāraṇīyakammaṁ kareyya.
When a monk has another five qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of reconciliation against him: he disparages the Buddha to householders; he disparages the Teaching to householders; he disparages the Sangha to householders; he demeans and insults householders; he doesn’t fulfill legitimate promises to householders.
“Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu thành tựu năm pháp khác nữa, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành phạt khiến cho nhớ lại. (Vị ấy) nói lời không tốt về đức Phật cho các gia chủ, nói lời không tốt về Giáo pháp cho các gia chủ, nói lời không tốt về Tăng chúng cho các gia chủ, mắng nhiếc gia chủ bằng lời lẽ thấp hèn, phỉ báng bằng lời lẽ thấp hèn, không thực hiện lời hứa hợp pháp với các gia chủ. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu thành tựu năm pháp này, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành phạt khiến cho nhớ lại.”
Pañcannaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, paṭisāraṇīyakammaṁ kareyya. Eko gihīnaṁ alābhāya parisakkati, eko gihīnaṁ anatthāya parisakkati, eko gihīnaṁ anāvāsāya parisakkati, eko gihī akkosati paribhāsati, eko gihī gihīhi bhedeti—imesaṁ kho, bhikkhave, pañcannaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, paṭisāraṇīyakammaṁ kareyya.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of reconciliation against five kinds of monks: those who are trying to stop householders from getting things; those who are trying to harm householders; those who are trying to get householders to lose their place of residence; those who abuse and revile householders; those who cause division between householders.
“Này các tỳ khưu, đối với năm hạng tỳ khưu, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành phạt khiến cho nhớ lại. Một hạng cố gắng làm cho các gia chủ không có lợi lộc, một hạng cố gắng làm cho các gia chủ không có lợi ích, một hạng cố gắng làm cho các gia chủ không có chỗ ở, một hạng mắng nhiếc chửi rủa gia chủ, một hạng gây chia rẽ gia chủ với các gia chủ khác. Này các tỳ khưu, đối với năm hạng tỳ khưu này, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành phạt khiến cho nhớ lại.”
Aparesampi, bhikkhave, pañcannaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, paṭisāraṇīyakammaṁ kareyya. Eko gihīnaṁ buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, eko gihīnaṁ dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, eko gihīnaṁ saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati, eko gihī hīnena khuṁseti hīnena vambheti, eko gihīnaṁ dhammikaṁ paṭissavaṁ na saccāpeti—imesaṁ kho, bhikkhave, pañcannaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, paṭisāraṇīyakammaṁ kareyya.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of reconciliation against another five kinds of monks: those who disparage the Buddha to householders; those who disparage the Teaching to householders; those who disparage the Sangha to householders; those who demean and insult householders; those who don’t fulfill legitimate promises to householders.”
“Này các tỳ khưu, đối với năm hạng tỳ khưu khác nữa, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành phạt khiến cho nhớ lại. Một hạng nói lời không tốt về đức Phật cho các gia chủ, một hạng nói lời không tốt về Giáo pháp cho các gia chủ, một hạng nói lời không tốt về Tăng chúng cho các gia chủ, một hạng mắng nhiếc phỉ báng gia chủ bằng lời lẽ thấp hèn, một hạng không thực hiện lời hứa hợp pháp với các gia chủ. Này các tỳ khưu, đối với năm hạng tỳ khưu này, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành phạt khiến cho nhớ lại.”
Ākaṅkhamānacatukkaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of four on wishing is finished.
Phẩm Bốn Về Việc ‘Nếu Muốn’ đã kết thúc.
4.4. Aṭṭhārasavatta
The eighteen kinds of conduct
Mười Tám Bổn Phận
Paṭisāraṇīyakammakatena, bhikkhave, bhikkhunā sammā vattitabbaṁ. Tatrāyaṁ sammāvattanā—
- na upasampādetabbaṁ,
- na nissayo dātabbo,
- na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo,
- na bhikkhunovādakasammuti sāditabbā,
- sammatenapi bhikkhuniyo na ovaditabbā.
- Yāya āpattiyā saṅghena paṭisāraṇīyakammaṁ kataṁ hoti sā āpatti na āpajjitabbā,
- aññā vā tādisikā,
- tato vā pāpiṭṭhatarā;
- kammaṁ na garahitabbaṁ,
- kammikā na garahitabbā.
- Na pakatattassa bhikkhuno uposatho ṭhapetabbo,
- na pavāraṇā ṭhapetabbā,
- na savacanīyaṁ kātabbaṁ,
- na anuvādo paṭṭhapetabbo,
- na okāso kāretabbo,
- na codetabbo,
- na sāretabbo,
- na bhikkhūhi sampayojetabban”ti.
“A monk who’s had a legal procedure of reconciliation done against him should conduct himself properly. This is the proper conduct:
- He shouldn’t give the full ordination.
- He shouldn’t give formal support.
- He shouldn’t have a novice monk attend on him.
- He shouldn’t accept being appointed as an instructor of the nuns.
- Even if appointed, he shouldn’t instruct the nuns.
- He shouldn’t commit the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of reconciliation against him.
- He shouldn’t commit an offense similar to the offense for which the Sangha did the procedure of reconciliation against him.
- He shouldn’t commit an offense worse than the offense for which the Sangha did the procedure of reconciliation against him.
- He shouldn’t criticize the procedure.
- He shouldn’t criticize those who did the procedure.
- He shouldn’t cancel the observance-day ceremony of a regular monk.
- He shouldn’t cancel the invitation ceremony of a regular monk.
- He shouldn’t direct a regular monk.
- He shouldn’t give instructions to a regular monk.
- He shouldn’t ask a regular monk for permission to correct him.
- He shouldn’t accuse a regular monk of an offense.
- He shouldn’t remind a regular monk of an offense.
- He shouldn’t associate inappropriately with other monks.”
40. “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu bị thực hiện hành phạt khiến cho nhớ lại cần phải thực hành đúng đắn. Đây là sự thực hành đúng đắn trong trường hợp ấy: Không được làm lễ xuất gia, không được trao sự nương tựa, không được có sa-di phục vụ, không được chấp thuận sự chỉ định làm người giáo giới tỳ khưu ni, dù đã được chỉ định cũng không được giáo giới các tỳ khưu ni. Không được phạm vào tội mà vì tội ấy Tăng chúng đã thực hiện hành phạt khiến cho nhớ lại, hoặc tội khác tương tự, hoặc tội nặng hơn thế nữa; không được chỉ trích hành phạt, không được chỉ trích những người thực hiện hành phạt. Không được đình chỉ lễ Bố-tát của vị tỳ khưu không bị phạt, không được đình chỉ lễ Tự tứ, không được thực hiện việc cần được nhắc nhở, không được khởi xướng sự tranh tụng, không được yêu cầu cho cơ hội (để nói), không được chất vấn, không được nhắc nhở, không được giao du với các tỳ khưu.”
Paṭisāraṇīyakamme aṭṭhārasavattaṁ niṭṭhitaṁ.
The eighteen kinds of conduct in regard to the legal procedure of reconciliation are finished.
Mười Tám Bổn Phận trong Hành Phạt Khiến Cho Nhớ Lại đã kết thúc.
Atha kho saṅgho sudhammassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ akāsi—“citto te gahapati khamāpetabbo”ti. So saṅghena paṭisāraṇīyakammakato macchikāsaṇḍaṁ gantvā maṅkubhūto nāsakkhi cittaṁ gahapatiṁ khamāpetuṁ. Punadeva sāvatthiṁ paccāgañchi. Bhikkhū evamāhaṁsu—“khamāpito tayā, āvuso sudhamma, citto gahapatī”ti? “Idhāhaṁ, āvuso, macchikāsaṇḍaṁ gantvā maṅkubhūto nāsakkhiṁ cittaṁ gahapatiṁ khamāpetun”ti. Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe….
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho sudhammassa bhikkhuno anudūtaṁ detu—cittaṁ gahapatiṁ khamāpetuṁ. Evañca pana, bhikkhave, dātabbo—paṭhamaṁ bhikkhu yācitabbo, yācitvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
Soon afterwards the Sangha did a legal procedure of reconciliation against the monk Sudhamma, instructing him to ask Citta for forgiveness. He went to Macchikāsaṇḍa, but feeling humiliated, he was unable to ask Citta for forgiveness. He returned to Sāvatthī. The monks asked him if he had asked Citta for forgiveness, and he told them what had happened. The monks told the Buddha. He had the monks gathered and said:
“Well then, the Sangha should give a companion messenger to the monk Sudhamma to ask Citta for forgiveness. And this is how the messenger should be given. First you should ask a monk, and then a competent and capable monk should inform the Sangha:
41. Khi ấy, Tăng chúng đã thực hiện hành phạt khiến cho nhớ lại đối với tỳ khưu Sudhamma rằng: ‘Gia chủ Citta phải được thầy làm cho nguôi giận.’ Vị ấy, bị Tăng chúng thực hiện hành phạt khiến cho nhớ lại, sau khi đi đến Macchikāsaṇḍa, vì bối rối nên đã không thể làm cho gia chủ Citta nguôi giận. Vị ấy lại trở về Sāvatthī. Các tỳ khưu đã nói như sau: ‘Này hiền giả Sudhamma, hiền giả đã làm cho gia chủ Citta nguôi giận chưa?’ ‘Thưa các hiền giả, ở đây, sau khi đi đến Macchikāsaṇḍa, vì bối rối nên tôi đã không thể làm cho gia chủ Citta nguôi giận.’ Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn... (vân vân)... ‘Này các tỳ khưu, nếu vậy, Tăng chúng hãy cử một vị tỳ khưu đi cùng với tỳ khưu Sudhamma để làm cho gia chủ Citta nguôi giận. Và này các tỳ khưu, vị ấy nên được cử đi như sau: Trước hết, nên thỉnh cầu một vị tỳ khưu, sau khi thỉnh cầu, một vị tỳ khưu có năng lực, có khả năng nên tác bạch cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ sudhammassa bhikkhuno anudūtaṁ dadeyya cittaṁ gahapatiṁ khamāpetuṁ. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. If the Sangha is ready, it should give monk so-and-so as a companion messenger to the monk Sudhamma to ask Citta for forgiveness. This is the motion.
‘Kính bạch chư Tôn giả, xin Tăng chúng lắng nghe con. Nếu Tăng chúng xét thấy đã đến lúc thích hợp, Tăng chúng nên cử tỳ khưu tên là... đi cùng với tỳ khưu Sudhamma để làm cho gia chủ Citta nguôi giận. Đây là lời tác bạch.’
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Saṅgho itthannāmaṁ bhikkhuṁ sudhammassa bhikkhuno anudūtaṁ deti cittaṁ gahapatiṁ khamāpetuṁ. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno sudhammassa bhikkhuno anudūtassa dānaṁ cittaṁ gahapatiṁ khamāpetuṁ, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha gives monk so-and-so as a companion messenger to the monk Sudhamma to ask Citta for forgiveness. Any monk who approves of giving monk so-and-so as a companion messenger to the monk Sudhamma to ask Citta for forgiveness should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
‘Kính bạch chư Tôn giả, xin Tăng chúng lắng nghe con. Tăng chúng cử tỳ khưu tên là... đi cùng với tỳ khưu Sudhamma để làm cho gia chủ Citta nguôi giận. Vị trưởng lão nào chấp thuận việc cử tỳ khưu tên là... đi cùng với tỳ khưu Sudhamma để làm cho gia chủ Citta nguôi giận thì hãy im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.’
Dinno saṅghena itthannāmo bhikkhu sudhammassa bhikkhuno anudūto cittaṁ gahapatiṁ khamāpetuṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
The Sangha has given monk so-and-so as a companion messenger to the monk Sudhamma to ask Citta for forgiveness. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
‘Tỳ khưu tên là... đã được Tăng chúng cử đi cùng với tỳ khưu Sudhamma để làm cho gia chủ Citta nguôi giận. Việc này được Tăng chúng chấp thuận, vì vậy Tăng chúng im lặng. Con xin ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Tena, bhikkhave, sudhammena bhikkhunā anudūtena bhikkhunā saddhiṁ macchikāsaṇḍaṁ gantvā citto gahapati khamāpetabbo—‘khama, gahapati, pasādemi tan’ti. Evañce vuccamāno khamati, iccetaṁ kusalaṁ. No ce khamati, anudūtena bhikkhunā vattabbo—‘khama, gahapati, imassa bhikkhuno, pasādeti tan’ti. Evañce vuccamāno khamati, iccetaṁ kusalaṁ. No ce khamati, anudūtena bhikkhunā vattabbo—‘khama, gahapati, imassa bhikkhuno, ahaṁ taṁ pasādemī’ti. Evañce vuccamāno khamati, iccetaṁ kusalaṁ. No ce khamati, anudūtena bhikkhunā vattabbo—‘khama, gahapati, imassa bhikkhuno, saṅghassa vacanenā’ti. Evañce vuccamāno khamati, iccetaṁ kusalaṁ. No ce khamati, anudūtena bhikkhunā sudhammo bhikkhu cittassa gahapatino dassanūpacāraṁ avijahāpetvā savanūpacāraṁ avijahāpetvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ kārāpetvā ukkuṭikaṁ nisīdāpetvā añjaliṁ paggaṇhāpetvā taṁ āpattiṁ desāpetabbo”ti.
Sudhamma should now go to Macchikāsaṇḍa with that monk as a companion messenger to ask Citta for forgiveness, saying, ‘Please forgive me, householder; I wish to reconcile with you.’ If he forgives, all is well. If not, the companion messenger should say, ‘Please forgive this monk, householder; he wishes to reconcile with you.’ If he forgives, all is well. If not, the companion messenger should say, ‘Please forgive this monk, householder; I wish to reconcile with you.’ If he forgives, all is well. If not, the companion messenger should say, ‘Please forgive this monk, householder; I ask in the name of the Sangha.’ If he forgives, all is well. If not, then within sight and hearing of Citta, the monk Sudhamma should arrange his upper robe over one shoulder, squat on his heels, raise his joined palms, and confess that offense.”
42. “Này các tỳ khưu, tỳ khưu Sudhamma ấy cùng với vị tỳ khưu đi kèm, sau khi đi đến Macchikāsaṇḍa, nên làm cho gia chủ Citta nguôi giận rằng: ‘Thưa gia chủ, xin hãy nguôi giận, tôi xin làm cho ông hoan hỷ.’ Nếu được nói như vậy mà ông ấy nguôi giận, thì việc ấy là tốt đẹp. Nếu ông ấy không nguôi giận, vị tỳ khưu đi kèm nên nói: ‘Thưa gia chủ, xin hãy nguôi giận cho vị tỳ khưu này, ông ấy xin làm cho ông hoan hỷ.’ Nếu được nói như vậy mà ông ấy nguôi giận, thì việc ấy là tốt đẹp. Nếu ông ấy không nguôi giận, vị tỳ khưu đi kèm nên nói: ‘Thưa gia chủ, xin hãy nguôi giận cho vị tỳ khưu này, tôi xin làm cho ông hoan hỷ.’ Nếu được nói như vậy mà ông ấy nguôi giận, thì việc ấy là tốt đẹp. Nếu ông ấy không nguôi giận, vị tỳ khưu đi kèm nên nói: ‘Thưa gia chủ, xin hãy nguôi giận cho vị tỳ khưu này, theo lời của Tăng chúng.’ Nếu được nói như vậy mà ông ấy nguôi giận, thì việc ấy là tốt đẹp. Nếu ông ấy không nguôi giận, vị tỳ khưu đi kèm nên bảo tỳ khưu Sudhamma không rời khỏi tầm mắt, không rời khỏi tầm nghe của gia chủ Citta, choàng thượng y lệch một bên vai, ngồi xổm xuống, chắp tay lên, rồi cho sám hối tội ấy.”
Atha kho āyasmā sudhammo anudūtena bhikkhunā saddhiṁ macchikāsaṇḍaṁ gantvā cittaṁ gahapatiṁ khamāpesi. So sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, bhikkhū upasaṅkamitvā evaṁ vadeti—“ahaṁ, āvuso, saṅghena paṭisāraṇīyakammakato sammā vattāmi, lomaṁ pātemi, netthāraṁ vattāmi. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
“tena hi, bhikkhave, saṅgho sudhammassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ paṭippassambhetu.
Soon afterwards Sudhamma went to Macchikāsaṇḍa with a monk as a companion messenger, and he asked Citta for forgiveness. And he conducted himself properly and suitably, and deserved to be released. He then went to the monks and told them about this, adding, “What should I do now?” The monks told the Buddha. He had the monks gathered and said,
“Well then, lift that legal procedure of reconciliation against the monk Sudhamma.”
Khi ấy, đại đức Sudhamma cùng với vị tỳ khưu đi theo đã đi đến Macchikāsaṇḍa và xin gia chủ Citta tha lỗi. Vị ấy đã hành xử đúng đắn, đã hạ lòng kiêu mạn, đã thực hành theo hạnh kiểm để được giải trừ. Vị ấy đi đến các tỳ khưu và nói như vầy: – ‘Thưa chư hiền, tôi đã bị tăng chúng chế định hành phạt khiển trách nên đang hành xử đúng đắn, đang hạ lòng kiêu mạn, đang thực hành theo hạnh kiểm để được giải trừ. Tôi nên thực hành như thế nào nữa?’ Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... Này các tỳ khưu, nếu vậy, tăng chúng hãy giải trừ hành phạt khiển trách cho tỳ khưu Sudhamma.
4.5. Nappaṭippassambhetabbaaṭṭhārasaka
The group of eighteen on not to be lifted
Mười tám trường hợp không nên giải trừ
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Upasampādeti, nissayaṁ deti, sāmaṇeraṁ upaṭṭhāpeti, bhikkhunovādakasammutiṁ sādiyati, sammatopi bhikkhuniyo ovadati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
“When a monk has five qualities, a legal procedure of reconciliation against him shouldn’t be lifted: he gives the full ordination; he gives formal support; he has a novice monk attend on him; he accepts being appointed as an instructor of the nuns; he instructs the nuns, whether appointed or not.
43. – Này các tỳ khưu, hành phạt khiển trách không nên được giải trừ cho vị tỳ khưu hội đủ năm chi pháp. Vị ấy truyền cụ túc giới, cho nương tựa, cho sa-di phục dịch, chấp nhận sự chỉ định giáo giới tỳ khưu ni, và sau khi được chỉ định vẫn giáo giới các tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, hành phạt khiển trách không nên được giải trừ cho vị tỳ khưu hội đủ năm chi pháp này.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Yāya āpattiyā saṅghena paṭisāraṇīyakammaṁ kataṁ hoti taṁ āpattiṁ āpajjati, aññaṁ vā tādisikaṁ, tato vā pāpiṭṭhataraṁ; kammaṁ garahati, kammike garahati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
When a monk has another five qualities, a procedure of reconciliation against him shouldn’t be lifted: he commits the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of reconciliation against him; he commits an offense similar to the one for which the Sangha did the procedure of reconciliation against him; he commits an offense worse than the one for which the Sangha did the procedure of reconciliation against him; he criticizes the procedure; he criticizes those who did the procedure.
– Này các tỳ khưu, hành phạt khiển trách cũng không nên được giải trừ cho vị tỳ khưu hội đủ năm chi pháp khác. Vị ấy phạm vào tội mà vì tội ấy tăng chúng đã chế định hành phạt khiển trách, hoặc phạm tội khác tương tự, hoặc tội khác nặng hơn; vị ấy chê bai hành phạt, chê bai những người thi hành án phạt. Này các tỳ khưu, hành phạt khiển trách không nên được giải trừ cho vị tỳ khưu hội đủ năm chi pháp này.
Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Pakatattassa bhikkhuno uposathaṁ ṭhapeti, pavāraṇaṁ ṭhapeti, savacanīyaṁ karoti, anuvādaṁ paṭṭhapeti, okāsaṁ kāreti, codeti, sāreti, bhikkhūhi sampayojeti—imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
When a monk has eight qualities, a procedure of reconciliation against him shouldn’t be lifted: he cancels the observance-day ceremony of a regular monk; he cancels the invitation ceremony of a regular monk; he directs a regular monk; he gives instructions to a regular monk; he asks a regular monk for permission to correct him; he accuses a regular monk of an offense; he reminds a regular monk of an offense; he associates inappropriately with other monks.”
– Này các tỳ khưu, hành phạt khiển trách không nên được giải trừ cho vị tỳ khưu hội đủ tám chi pháp. Vị ấy đình chỉ lễ Bố-tát của vị tỳ khưu không có lỗi, đình chỉ lễ Tự tứ, thực hiện việc khiển trách, khởi xướng sự chỉ trích, khiến cho phải xin phép, chất vấn, nhắc nhở, giao du với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành phạt khiển trách không nên được giải trừ cho vị tỳ khưu hội đủ tám chi pháp này.
Paṭisāraṇīyakamme nappaṭippassambhetabbaaṭṭhārasakaṁ niṭṭhitaṁ.
4.6. Paṭippassambhetabbaaṭṭhārasaka
The group of eighteen on not to be lifted is finished.
The group of eighteen on to be lifted
Dứt mười tám trường hợp không nên giải trừ trong hành phạt khiển trách.
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Na upasampādeti, na nissayaṁ deti, na sāmaṇeraṁ upaṭṭhāpeti, na bhikkhunovādakasammutiṁ sādiyati, sammatopi bhikkhuniyo na ovadati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
“When a monk has five qualities, a legal procedure of reconciliation against him should be lifted: he doesn’t give the full ordination; he doesn’t give formal support; he doesn’t have a novice monk attend on him; he doesn’t accept being appointed as an instructor of the nuns; he doesn’t instruct the nuns, whether appointed or not.
44. – Này các tỳ khưu, hành phạt khiển trách nên được giải trừ cho vị tỳ khưu hội đủ năm chi pháp. Vị ấy không truyền cụ túc giới, không cho nương tựa, không cho sa-di phục dịch, không chấp nhận sự chỉ định giáo giới tỳ khưu ni, và sau khi được chỉ định cũng không giáo giới các tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, hành phạt khiển trách nên được giải trừ cho vị tỳ khưu hội đủ năm chi pháp này.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Yāya āpattiyā saṅghena paṭisāraṇīyakammaṁ kataṁ hoti taṁ āpattiṁ na āpajjati, aññaṁ vā tādisikaṁ, tato vā pāpiṭṭhataraṁ; kammaṁ na garahati, kammike na garahati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
When a monk has another five qualities, a procedure of reconciliation against him should be lifted: he doesn’t commit the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of reconciliation against him; he doesn’t commit an offense similar to the one for which the Sangha did the procedure of reconciliation against him; he doesn’t commit an offense worse than the one for which the Sangha did the procedure of reconciliation against him; he doesn’t criticize the procedure; he doesn’t criticize those who did the procedure.
– Này các tỳ khưu, hành phạt khiển trách cũng nên được giải trừ cho vị tỳ khưu hội đủ năm chi pháp khác. Vị ấy không phạm vào tội mà vì tội ấy tăng chúng đã chế định hành phạt khiển trách, hoặc không phạm tội khác tương tự, hoặc tội khác nặng hơn; vị ấy không chê bai hành phạt, không chê bai những người thi hành án phạt. Này các tỳ khưu, hành phạt khiển trách nên được giải trừ cho vị tỳ khưu hội đủ năm chi pháp này.
Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Na pakatattassa bhikkhuno uposathaṁ ṭhapeti, na pavāraṇaṁ ṭhapeti, na savacanīyaṁ karoti, na anuvādaṁ paṭṭhapeti, na okāsaṁ kāreti, na codeti, na sāreti, na bhikkhūhi sampayojeti—imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
When a monk has eight qualities, a procedure of reconciliation against him should be lifted: he doesn’t cancel the observance-day ceremony of a regular monk; he doesn’t cancel the invitation ceremony of a regular monk; he doesn’t direct a regular monk; he doesn’t give instructions to a regular monk; he doesn’t ask a regular monk for permission to correct him; he doesn’t accuse a regular monk of an offense; he doesn’t remind a regular monk of an offense; he doesn’t associate inappropriately with other monks.”
– Này các tỳ khưu, hành phạt khiển trách nên được giải trừ cho vị tỳ khưu hội đủ tám chi pháp. Vị ấy không đình chỉ lễ Bố-tát của vị tỳ khưu không có lỗi, không đình chỉ lễ Tự tứ, không thực hiện việc khiển trách, không khởi xướng sự chỉ trích, không khiến cho phải xin phép, không chất vấn, không nhắc nhở, không giao du với các tỳ khưu. Này các tỳ khưu, hành phạt khiển trách nên được giải trừ cho vị tỳ khưu hội đủ tám chi pháp này.
Paṭisāraṇīyakamme paṭippassambhetabbaaṭṭhārasakaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of eighteen on to be lifted is finished.
Dứt mười tám trường hợp nên giải trừ trong hành phạt khiển trách.
Evañca pana, bhikkhave, paṭippassambhetabbaṁ. Tena, bhikkhave, sudhammena bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vuḍḍhānaṁ bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘ahaṁ, bhante, saṅghena paṭisāraṇīyakammakato sammā vattāmi, lomaṁ pātemi, netthāraṁ vattāmi, paṭisāraṇīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbā. Tatiyampi yācitabbā. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
“And this is how it should be lifted. The monk Sudhamma should approach the Sangha, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say, ‘Venerables, the Sangha has done a legal procedure of reconciliation against me. I’m now conducting myself properly and suitably, and deserve to be released. I ask for that legal procedure of reconciliation to be lifted.’ And he should ask a second and a third time. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
45. – Này các tỳ khưu, nên giải trừ như vầy: Này các tỳ khưu, tỳ khưu Sudhamma ấy nên đi đến tăng chúng, vắt thượng y về một bên vai, đảnh lễ chân các vị tỳ khưu trưởng lão, ngồi xuống theo kiểu xổm, chắp tay và nên nói như vầy: ‘Bạch chư đại đức, tôi đã bị tăng chúng chế định hành phạt khiển trách nên đang hành xử đúng đắn, đang hạ lòng kiêu mạn, đang thực hành theo hạnh kiểm để được giải trừ, tôi xin được giải trừ hành phạt khiển trách.’ Nên xin lần thứ nhì. Nên xin lần thứ ba. Vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên trình cho tăng chúng biết:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ sudhammo bhikkhu saṅghena paṭisāraṇīyakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, paṭisāraṇīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho sudhammassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ paṭippassambheyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of reconciliation against the monk Sudhamma. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of reconciliation to be lifted. If the Sangha is ready, it should lift that legal procedure of reconciliation against the monk Sudhamma. This is the motion.
– ‘Bạch chư đại đức, mong tăng chúng hãy nghe tôi. Tỳ khưu Sudhamma này đã bị tăng chúng chế định hành phạt khiển trách nên đang hành xử đúng đắn, đang hạ lòng kiêu mạn, đang thực hành theo hạnh kiểm để được giải trừ, và đang xin được giải trừ hành phạt khiển trách. Nếu là thời điểm thích hợp đối với tăng chúng, tăng chúng nên giải trừ hành phạt khiển trách cho tỳ khưu Sudhamma. Đây là lời tác bạch.’
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ sudhammo bhikkhu saṅghena paṭisāraṇīyakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, paṭisāraṇīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Saṅgho sudhammassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ paṭippassambheti. Yassāyasmato khamati sudhammassa bhikkhuno paṭisāraṇīyassa kammassa paṭippassaddhi, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of reconciliation against the monk Sudhamma. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of reconciliation to be lifted. The Sangha lifts that legal procedure of reconciliation against the monk Sudhamma. Any monk who approves of lifting that legal procedure of reconciliation against the monk Sudhamma should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
– ‘Bạch chư đại đức, mong tăng chúng hãy nghe tôi. Tỳ khưu Sudhamma này đã bị tăng chúng chế định hành phạt khiển trách nên đang hành xử đúng đắn, đang hạ lòng kiêu mạn, đang thực hành theo hạnh kiểm để được giải trừ, và đang xin được giải trừ hành phạt khiển trách. Tăng chúng giải trừ hành phạt khiển trách cho tỳ khưu Sudhamma. Vị nào chấp thuận việc giải trừ hành phạt khiển trách cho tỳ khưu Sudhamma thì nên im lặng; vị nào không chấp thuận thì nên nói lên.’
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ sudhammo bhikkhu saṅghena paṭisāraṇīyakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, paṭisāraṇīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Saṅgho sudhammassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ paṭippassambheti. Yassāyasmato khamati sudhammassa bhikkhuno paṭisāraṇīyassa kammassa paṭippassaddhi, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of reconciliation against the monk Sudhamma. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of reconciliation to be lifted. The Sangha lifts that legal procedure of reconciliation against the monk Sudhamma. Any monk who approves of lifting that legal procedure of reconciliation against the monk Sudhamma should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Lần thứ nhì, tôi cũng xin nói lên điều này... Lần thứ ba, tôi cũng xin nói lên điều này: Kính bạch chư Tăng, xin chư Tăng lắng nghe lời của tôi. Tỳ-khưu Sudhamma này đã bị Tăng thực hiện yết-ma yêu cầu xin lỗi, nay hành xử đúng đắn, đã hạ mình, đã thực hành hạnh giải tỏa, và đang xin đình chỉ yết-ma yêu cầu xin lỗi. Tăng đình chỉ yết-ma yêu cầu xin lỗi cho tỳ-khưu Sudhamma. Vị đại đức nào chấp thuận việc đình chỉ yết-ma yêu cầu xin lỗi cho tỳ-khưu Sudhamma, vị ấy hãy im lặng; vị nào không chấp thuận, vị ấy hãy nói lên.”
Paṭippassaddhaṁ saṅghena sudhammassa bhikkhuno paṭisāraṇīyakammaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
The Sangha has lifted that legal procedure of reconciliation against the monk Sudhamma. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
“Yết-ma yêu cầu xin lỗi của tỳ-khưu Sudhamma đã được Tăng đình chỉ. Việc này được Tăng chấp thuận, do đó im lặng. Tôi ghi nhận điều này là như vậy.”
Paṭisāraṇīyakammaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
The fourth section on the legal procedure of reconciliation is finished.
Yết-ma yêu cầu xin lỗi thứ tư đã hoàn tất.
5. Āpattiyāadassaneukkhepanīyakamma
5. The legal procedure of ejection for not recognizing an offense
5. Yết ma treo giò vì không thấy tội
Tena samayena buddho bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme. Tena kho pana samayena āyasmā channo āpattiṁ āpajjitvā na icchati āpattiṁ passituṁ. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma āyasmā channo āpattiṁ āpajjitvā na icchissati āpattiṁ passitun”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
At one time the Buddha was staying at Kosambī in Ghosita’s Monastery. At that time Venerable Channa had committed an offense, but refused to recognize it. The monks of few desires complained and criticized him, “How can Venerable Channa commit an offense, but then refuse to recognize it?” They told the Buddha.
46. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn đang trú tại tu viện Ghosita ở Kosambī. Cũng vào lúc ấy, Đại đức Channa sau khi phạm tội đã không muốn thấy tội của mình. Các vị tỳ khưu thiểu dục … (như trên) … các vị ấy đã phàn nàn, chê bai, chỉ trích rằng: “Tại sao Đại đức Channa sau khi phạm tội lại không muốn thấy tội của mình chứ?” Bấy giờ, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—“saccaṁ kira, bhikkhave, channo bhikkhu āpattiṁ āpajjitvā na icchati āpattiṁ passitun”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ …pe… kathañhi nāma so, bhikkhave, moghapuriso āpattiṁ āpajjitvā na icchissati āpattiṁ passituṁ? Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“tena hi, bhikkhave, saṅgho channassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ karotu—asambhogaṁ saṅghena. Evañca pana, bhikkhave, kātabbaṁ—paṭhamaṁ channo bhikkhu codetabbo, codetvā sāretabbo, sāretvā āpattiṁ āropetabbo, āpattiṁ āropetvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that Channa is acting like this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked him, “It’s not suitable … How can Channa commit an offense, but then refuse to recognize it? This will affect people’s confidence …” After rebuking him … he gave a teaching and addressed the monks:
“Well then, the Sangha should do a legal procedure of ejection against the monk Channa for not recognizing an offense, prohibiting him from living with the Sangha. And this is how it should be done. First you should accuse the monk Channa. He should then be reminded of what he has done, before he’s charged with an offense. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
Bấy giờ, đức Thế Tôn nhân sự kiện này, trong trường hợp này, đã cho hội họp Tăng chúng và hỏi các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, có thật là tỳ khưu Channa sau khi phạm tội đã không muốn thấy tội của mình không?” “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật Thế Tôn đã quở trách: “Không thích hợp … (như trên) … Này các tỳ khưu, tại sao kẻ rỗng tuếch ấy sau khi phạm tội lại không muốn thấy tội của mình? Này các tỳ khưu, việc này không đem lại niềm tin cho những người chưa có niềm tin …” … (như trên) … Sau khi quở trách … (như trên) … nói pháp thoại, Ngài đã bảo các tỳ khưu: “Vậy thì, này các tỳ khưu, Tăng chúng hãy thực hiện yết ma treo giò đối với tỳ khưu Channa vì không thấy tội, (nghĩa là) không cho chung sống với Tăng chúng. Và này các tỳ khưu, nên thực hiện như sau: Trước hết, nên chất vấn tỳ khưu Channa, sau khi chất vấn nên nhắc nhở, sau khi nhắc nhở nên buộc tội, sau khi buộc tội, một vị tỳ khưu có năng lực, có khả năng nên tác bạch cho Tăng chúng biết –”
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ channo bhikkhu āpattiṁ āpajjitvā na icchati āpattiṁ passituṁ. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho channassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ kareyya—asambhogaṁ saṅghena. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This monk Channa has committed an offense, but refuses to recognize it. If the Sangha is ready, it should do a legal procedure of ejection against the monk Channa for not recognizing an offense, prohibiting him from living with the Sangha. This is the motion.
47. “Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng lắng nghe lời của con. Tỳ khưu Channa này sau khi phạm tội đã không muốn thấy tội của mình. Nếu Tăng chúng nhận thấy đã đến lúc thích hợp, Tăng chúng nên thực hiện yết ma treo giò đối với tỳ khưu Channa vì không thấy tội, (nghĩa là) không cho chung sống với Tăng chúng. Đây là lời tác bạch.”
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ channo bhikkhu āpattiṁ āpajjitvā na icchati āpattiṁ passituṁ. Saṅgho channassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ karoti—asambhogaṁ saṅghena. Yassāyasmato khamati channassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyassa kammassa karaṇaṁ—asambhogaṁ saṅghena, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This monk Channa has committed an offense, but refuses to recognize it. The Sangha does a legal procedure of ejection against the monk Channa for not recognizing an offense, prohibiting him from living with the Sangha. Any monk who approves of doing a legal procedure of ejection against the monk Channa for not recognizing an offense, prohibiting him from living with the Sangha, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng lắng nghe lời của con. Tỳ khưu Channa này sau khi phạm tội đã không muốn thấy tội của mình. Tăng chúng thực hiện yết ma treo giò đối với tỳ khưu Channa vì không thấy tội, (nghĩa là) không cho chung sống với Tăng chúng. Vị nào chấp thuận việc thực hiện yết ma treo giò đối với tỳ khưu Channa vì không thấy tội, (nghĩa là) không cho chung sống với Tăng chúng, thì xin im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.”
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ channo bhikkhu āpattiṁ āpajjitvā na icchati āpattiṁ passituṁ. Saṅgho channassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ karoti—asambhogaṁ saṅghena. Yassāyasmato khamati channassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyassa kammassa karaṇaṁ—asambhogaṁ saṅghena, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This monk Channa has committed an offense, but refuses to recognize it. The Sangha does a legal procedure of ejection against the monk Channa for not recognizing an offense, prohibiting him from living with the Sangha. Any monk who approves of doing a legal procedure of ejection against the monk Channa for not recognizing an offense, prohibiting him from living with the Sangha, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Lần thứ nhì, tôi xin nói lên điều này … (như trên) … Lần thứ ba, tôi xin nói lên điều này: Kính bạch chư Tôn đức, xin Tăng chúng lắng nghe lời của con. Tỳ khưu Channa này sau khi phạm tội đã không muốn thấy tội của mình. Tăng chúng thực hiện yết ma treo giò đối với tỳ khưu Channa vì không thấy tội, (nghĩa là) không cho chung sống với Tăng chúng. Vị nào chấp thuận việc thực hiện yết ma treo giò đối với tỳ khưu Channa vì không thấy tội, (nghĩa là) không cho chung sống với Tăng chúng, thì xin im lặng; vị nào không chấp thuận thì hãy nói lên.”
Kataṁ saṅghena channassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ—asambhogaṁ saṅghena. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
The Sangha has done the legal procedure of ejection against the monk Channa for not recognizing an offense, prohibiting him from living with the Sangha. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
“Tăng chúng đã thực hiện yết ma treo giò đối với tỳ khưu Channa vì không thấy tội, (nghĩa là) không cho chung sống với Tăng chúng. Tăng chúng đã chấp thuận, vì thế nên im lặng. Tôi ghi nhận điều này như vậy.”
Āvāsaparamparañca, bhikkhave, saṁsatha—‘channo bhikkhu saṅghena āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammakato—asambhogaṁ saṅghenā’ti.
5.1. Adhammakammadvādasaka
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Asammukhā kataṁ hoti, appaṭipucchā kataṁ hoti, appaṭiññāya kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Anāpattiyā kataṁ hoti, adesanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, desitāya āpattiyā kataṁ hoti …pe…
acodetvā kataṁ hoti, asāretvā kataṁ hoti, āpattiṁ anāropetvā kataṁ hoti …pe…
asammukhā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
appaṭipucchā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
appaṭiññāya kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
anāpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
adesanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
desitāya āpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
acodetvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
asāretvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
āpattiṁ anāropetvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
Āpattiyā adassane ukkhepanīyakamme adhammakammadvādasakaṁ niṭṭhitaṁ.
5.2. Dhammakammadvādasaka
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Sammukhā kataṁ hoti, paṭipucchā kataṁ hoti, paṭiññāya kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ …pe…. Āpattiyā kataṁ hoti, desanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, adesitāya āpattiyā kataṁ hoti …pe…
codetvā kataṁ hoti, sāretvā kataṁ hoti, āpattiṁ āropetvā kataṁ hoti …pe…
sammukhā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
paṭipucchā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
paṭiññāya kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
desanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
adesitāya āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
codetvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
sāretvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
āpattiṁ āropetvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
Āpattiyā adassane ukkhepanīyakamme dhammakammadvādasakaṁ niṭṭhitaṁ.
5.3. Ākaṅkhamānachakka
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ kareyya. Bhaṇḍanakārako hoti kalahakārako vivādakārako bhassakārako saṅghe adhikaraṇakārako; bālo hoti abyatto āpattibahulo anapadāno; gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ kareyya.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ kareyya. Adhisīle sīlavipanno hoti, ajjhācāre ācāravipanno hoti, atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ kareyya.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ kareyya. Buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ kareyya.
Tiṇṇaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ kareyya. Eko bhaṇḍanakārako hoti kalahakārako vivādakārako bhassakārako saṅghe adhikaraṇakārako; eko bālo hoti abyatto āpattibahulo anapadāno; eko gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ kareyya.
Aparesampi, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ kareyya. Eko adhisīle sīlavipanno hoti, eko ajjhācāre ācāravipanno hoti, eko atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ kareyya.
Aparesampi, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ kareyya. Eko buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, eko dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, eko saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ kareyya.
Āpattiyā adassane ukkhepanīyakamme ākaṅkhamānachakkaṁ niṭṭhitaṁ.
5.4. Tecattālīsavatta
Āpattiyā adassane ukkhepanīyakammakatena, bhikkhave, bhikkhunā sammā vattitabbaṁ. Tatrāyaṁ sammāvattanā—
- na upasampādetabbaṁ,
- na nissayo dātabbo,
- na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo,
- na bhikkhunovādakasammuti sāditabbā,
- sammatenapi bhikkhuniyo na ovaditabbā.
- Yāya āpattiyā saṅghena āpattiyā adassane ukkhepanīyakammaṁ kataṁ hoti sā āpatti na āpajjitabbā,
- aññā vā tādisikā,
- tato vā pāpiṭṭhatarā;
- kammaṁ na garahitabbaṁ,
- kammikā na garahitabbā.
- Na pakatattassa bhikkhuno abhivādanaṁ,
- paccuṭṭhānaṁ,
- añjalikammaṁ,
- sāmīcikammaṁ,
- āsanābhihāro,
- seyyābhihāro,
- pādodakaṁ pādapīṭhaṁ,
- pādakathalikaṁ,
- pattacīvarappaṭiggahaṇaṁ,
- nahāne piṭṭhiparikammaṁ sāditabbaṁ.
- Na pakatatto bhikkhu sīlavipattiyā anuddhaṁsetabbo,
- na ācāravipattiyā anuddhaṁsetabbo,
- na diṭṭhivipattiyā anuddhaṁsetabbo,
- na ājīvavipattiyā anuddhaṁsetabbo,
- na bhikkhu bhikkhūhi bhedetabbo,
- na gihiddhajo dhāretabbo,
- na titthiyaddhajo dhāretabbo,
- na titthiyā sevitabbā;
- bhikkhū sevitabbā,
- bhikkhusikkhāya sikkhitabbaṁ.
- Na pakatattena bhikkhunā saddhiṁ ekacchanne āvāse vatthabbaṁ,
- na ekacchanne anāvāse vatthabbaṁ,
- na ekacchanne āvāse vā anāvāse vā vatthabbaṁ,
- pakatattaṁ bhikkhuṁ disvā āsanā vuṭṭhātabbaṁ,
- na pakatatto bhikkhu āsādetabbo anto vā bahi vā.
- Na pakatattassa bhikkhuno uposatho ṭhapetabbo,
- na pavāraṇā ṭhapetabbā,
- na savacanīyaṁ kātabbaṁ,
- na anuvādo paṭṭhapetabbo,
- na okāso kāretabbo,
- na codetabbo,
- na sāretabbo,
- na bhikkhūhi sampayojetabban”ti.
Āpattiyā adassane ukkhepanīyakamme tecattālīsavattaṁ niṭṭhitaṁ.
Atha kho saṅgho channassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ akāsi—asambhogaṁ saṅghena. So saṅghena, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammakato tamhā āvāsā aññaṁ āvāsaṁ agamāsi. Tattha bhikkhū neva abhivādesuṁ, na paccuṭṭhesuṁ, na añjalikammaṁ na sāmīcikammaṁ akaṁsu, na sakkariṁsu, na garuṁ kariṁsu, na mānesuṁ, na pūjesuṁ. So bhikkhūhi asakkariyamāno agarukariyamāno amāniyamāno apūjiyamāno asakkārapakato tamhāpi āvāsā aññaṁ āvāsaṁ agamāsi. Tatthapi bhikkhū neva abhivādesuṁ, na paccuṭṭhesuṁ, na añjalikammaṁ na sāmīcikammaṁ akaṁsu, na sakkariṁsu, na garuṁ kariṁsu, na mānesuṁ, na pūjesuṁ. So bhikkhūhi asakkariyamāno agarukariyamāno amāniyamāno apūjiyamāno asakkārapakato tamhāpi āvāsā aññaṁ āvāsaṁ agamāsi. Tatthapi bhikkhū neva abhivādesuṁ, na paccuṭṭhesuṁ, na añjalikammaṁ na sāmīcikammaṁ akaṁsu, na sakkariṁsu, na garuṁ kariṁsu, na mānesuṁ, na pūjesuṁ. So bhikkhūhi asakkariyamāno agarukariyamāno amāniyamāno apūjiyamāno asakkārapakato punadeva kosambiṁ paccāgañchi.
So sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, bhikkhū upasaṅkamitvā evaṁ vadeti—“ahaṁ, āvuso, saṅghena, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammakato sammā vattāmi, lomaṁ pātemi, netthāraṁ vattāmi. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…. “Tena hi, bhikkhave, saṅgho channassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetu.
5.5. Nappaṭippassambhetabbatecattālīsaka
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Upasampādeti, nissayaṁ deti, sāmaṇeraṁ upaṭṭhāpeti, bhikkhunovādakasammutiṁ sādiyati, sammatopi bhikkhuniyo ovadati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Yāya āpattiyā saṅghena, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ kataṁ hoti taṁ āpattiṁ āpajjati, aññaṁ vā tādisikaṁ, tato vā pāpiṭṭhataraṁ; kammaṁ garahati, kammike garahati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Pakatattassa bhikkhuno abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ, añjalikammaṁ, sāmīcikammaṁ, āsanābhihāraṁ sādiyati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Pakatattassa bhikkhuno seyyābhihāraṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ, pādakathalikaṁ, pattacīvarappaṭiggahaṇaṁ, nahāne piṭṭhiparikammaṁ sādiyati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Pakatattaṁ bhikkhuṁ sīlavipattiyā anuddhaṁseti, ācāravipattiyā anuddhaṁseti, diṭṭhivipattiyā anuddhaṁseti, ājīvavipattiyā anuddhaṁseti, bhikkhuṁ bhikkhūhi bhedeti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Gihiddhajaṁ dhāreti, titthiyaddhajaṁ dhāreti, titthiye sevati; bhikkhū na sevati, bhikkhusikkhāya na sikkhati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Pakatattena bhikkhunā saddhiṁ ekacchanne āvāse vasati, ekacchanne anāvāse vasati, ekacchanne āvāse vā anāvāse vā vasati; pakatattaṁ bhikkhuṁ disvā āsanā na vuṭṭhāti; pakatattaṁ bhikkhuṁ āsādeti anto vā bahi vā—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Pakatattassa bhikkhuno uposathaṁ ṭhapeti, pavāraṇaṁ ṭhapeti, savacanīyaṁ karoti, anuvādaṁ paṭṭhapeti, okāsaṁ kāreti, codeti, sāreti, bhikkhūhi sampayojeti—imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
Āpattiyā adassane ukkhepanīyakamme nappaṭippassambhetabbatecattālīsakaṁ niṭṭhitaṁ.
5.6. Paṭippassambhetabbatecattālīsaka
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Na upasampādeti, na nissayaṁ deti, na sāmaṇeraṁ upaṭṭhāpeti, na bhikkhunovādakasammutiṁ sādiyati, sammatopi bhikkhuniyo na ovadati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Yāya āpattiyā saṅghena āpattiyā adassane ukkhepanīyakammaṁ kataṁ hoti taṁ āpattiṁ na āpajjati, aññaṁ vā tādisikaṁ, tato vā pāpiṭṭhataraṁ; kammaṁ na garahati, kammike na garahati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Na pakatattassa bhikkhuno abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ, añjalikammaṁ, sāmīcikammaṁ, āsanābhihāraṁ sādiyati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Na pakatattassa bhikkhuno seyyābhihāraṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ, pādakathalikaṁ, pattacīvarappaṭiggahaṇaṁ, nahāne piṭṭhiparikammaṁ sādiyati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Na pakatattaṁ bhikkhuṁ sīlavipattiyā anuddhaṁseti, na ācāravipattiyā anuddhaṁseti, na diṭṭhivipattiyā anuddhaṁseti, na ājīvavipattiyā anuddhaṁseti, na bhikkhuṁ bhikkhūhi bhedeti—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Na gihiddhajaṁ dhāreti, na titthiyaddhajaṁ dhāreti, na titthiye sevati, bhikkhū sevati, bhikkhusikkhāya sikkhati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Na pakatattena bhikkhunā saddhiṁ ekacchanne āvāse vasati, na ekacchanne anāvāse vasati, na ekacchanne āvāse vā anāvāse vā vasati, pakatattaṁ bhikkhuṁ disvā āsanā vuṭṭhāti, na pakatattaṁ bhikkhuṁ āsādeti anto vā bahi vā—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Na pakatattassa bhikkhuno uposathaṁ ṭhapeti, na pavāraṇaṁ ṭhapeti, na savacanīyaṁ karoti, na anuvādaṁ paṭṭhapeti, na okāsaṁ kāreti, na codeti, na sāreti, na bhikkhūhi sampayojeti—imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
Āpattiyā adassane ukkhepanīyakamme paṭippassambhetabbatecattālīsakaṁ niṭṭhitaṁ.
Evañca pana, bhikkhave, paṭippassambhetabbaṁ. Tena, bhikkhave, channena bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vuḍḍhānaṁ bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘ahaṁ, bhante, saṅghena, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammakato sammā vattāmi, lomaṁ pātemi, netthāraṁ vattāmi, āpattiyā adassane ukkhepanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbā. Tatiyampi yācitabbā. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ channo bhikkhu saṅghena, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, āpattiyā adassane ukkhepanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho channassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambheyya. Esā ñatti.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ channo bhikkhu saṅghena, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, āpattiyā adassane, ukkhepanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Saṅgho channassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambheti. Yassāyasmato khamati channassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyassa kammassa paṭippassaddhi, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ channo bhikkhu saṅghena, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, āpattiyā adassane, ukkhepanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Saṅgho channassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambheti. Yassāyasmato khamati channassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyassa kammassa paṭippassaddhi, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Paṭippassaddhaṁ saṅghena channassa bhikkhuno, āpattiyā adassane, ukkhepanīyakammaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
Āpattiyā adassane ukkhepanīyakammaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ.
6. Āpattiyāappaṭikammeukkhepanīyakamma
Tena samayena buddho bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme. Tena kho pana samayena āyasmā channo āpattiṁ āpajjitvā na icchati āpattiṁ paṭikātuṁ. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma āyasmā channo āpattiṁ āpajjitvā na icchissati āpattiṁ paṭikātun”ti? Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—“saccaṁ kira, bhikkhave, channo bhikkhu āpattiṁ āpajjitvā na icchati āpattiṁ paṭikātun”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ …pe… kathañhi nāma so, bhikkhave, moghapuriso āpattiṁ āpajjitvā na icchissati āpattiṁ paṭikātuṁ. Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“tena hi, bhikkhave, saṅgho channassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ karotu—asambhogaṁ saṅghena. Evañca pana, bhikkhave, kātabbaṁ—paṭhamaṁ channo bhikkhu codetabbo, codetvā sāretabbo, sāretvā āpattiṁ āropetabbo, āpattiṁ āropetvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ channo bhikkhu āpattiṁ āpajjitvā na icchati āpattiṁ paṭikātuṁ. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho channassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ kareyya—asambhogaṁ saṅghena. Esā ñatti.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ channo bhikkhu āpattiṁ āpajjitvā na icchati āpattiṁ paṭikātuṁ. Saṅgho channassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ karoti—asambhogaṁ saṅghena. Yassāyasmato khamati channassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyassa kammassa karaṇaṁ—asambhogaṁ saṅghena, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ channo bhikkhu āpattiṁ āpajjitvā na icchati āpattiṁ paṭikātuṁ. Saṅgho channassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ karoti—asambhogaṁ saṅghena. Yassāyasmato khamati channassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyassa kammassa karaṇaṁ—asambhogaṁ saṅghena, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Kataṁ saṅghena channassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ—asambhogaṁ saṅghena. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
Āvāsaparamparañca, bhikkhave, saṁsatha—‘channo bhikkhu saṅghena āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammakato—asambhogaṁ saṅghenā’ti.
6.1. Adhammakammadvādasaka
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Asammukhā kataṁ hoti, appaṭipucchā kataṁ hoti, appaṭiññāya kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Anāpattiyā kataṁ hoti, adesanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, desitāya āpattiyā kataṁ hoti …pe…
acodetvā kataṁ hoti, asāretvā kataṁ hoti, āpattiṁ anāropetvā kataṁ hoti …pe…
asammukhā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
appaṭipucchā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
appaṭiññāya kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
anāpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
adesanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
desitāya āpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
acodetvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
asāretvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
āpattiṁ anāropetvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
Āpattiyā appaṭikamme ukkhepanīyakamme adhammakammadvādasakaṁ niṭṭhitaṁ.
6.2. Dhammakammadvādasaka
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Sammukhā kataṁ hoti, paṭipucchā kataṁ hoti, paṭiññāya kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Āpattiyā kataṁ hoti, desanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, adesitāya āpattiyā kataṁ hoti …pe…
codetvā kataṁ hoti, sāretvā kataṁ hoti, āpattiṁ āropetvā kataṁ hoti …pe…
sammukhā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
paṭipucchā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
paṭiññāya kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
desanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
adesitāya āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
codetvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
sāretvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
āpattiṁ āropetvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
Āpattiyā appaṭikamme ukkhepanīyakamme dhammakammadvādasakaṁ niṭṭhitaṁ.
6.3. Ākaṅkhamānachakka
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ kareyya. Bhaṇḍanakārako hoti kalahakārako vivādakārako bhassakārako saṅghe adhikaraṇakārako; bālo hoti abyatto āpattibahulo anapadāno; gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ kareyya.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ kareyya. Adhisīle sīlavipanno hoti, ajjhācāre ācāravipanno hoti, atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ kareyya.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ kareyya. Buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ kareyya.
Tiṇṇaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ kareyya. Eko bhaṇḍanakārako hoti kalahakārako vivādakārako bhassakārako saṅghe adhikaraṇakārako; eko bālo hoti abyatto āpattibahulo anapadāno; eko gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ kareyya.
Aparesampi, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ kareyya. Eko adhisīle sīlavipanno hoti, eko ajjhācāre ācāravipanno hoti, eko atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ kareyya.
Aparesampi, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ kareyya. Eko buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, eko dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, eko saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ kareyya.
Āpattiyā appaṭikamme ukkhepanīyakamme ākaṅkhamānachakkaṁ niṭṭhitaṁ.
6.4. Tecattālīsavatta
Āpattiyā appaṭikamme ukkhepanīyakammakatena, bhikkhave, bhikkhunā sammā vattitabbaṁ. Tatrāyaṁ sammāvattanā—
- na upasampādetabbaṁ,
- na nissayo dātabbo,
- na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo,
- na bhikkhunovādakasammuti sāditabbā,
- sammatenapi bhikkhuniyo na ovaditabbā.
- Yāya āpattiyā saṅghena, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ kataṁ hoti sā āpatti na āpajjitabbā,
- aññā vā tādisikā,
- tato vā pāpiṭṭhatarā;
- kammaṁ na garahitabbaṁ,
- kammikā na garahitabbā.
- Na pakatattassa bhikkhuno abhivādanaṁ,
- paccuṭṭhānaṁ,
- añjalikammaṁ,
- sāmīcikammaṁ,
- āsanābhihāro,
- seyyābhihāro,
- pādodakaṁ pādapīṭhaṁ,
- pādakathalikaṁ,
- pattacīvarappaṭiggahaṇaṁ,
- nahāne piṭṭhiparikammaṁ sāditabbaṁ.
- Na pakatatto bhikkhu sīlavipattiyā anuddhaṁsetabbo,
- na ācāravipattiyā anuddhaṁsetabbo,
- na diṭṭhivipattiyā anuddhaṁsetabbo,
- na ājīvavipattiyā anuddhaṁsetabbo,
- na bhikkhu bhikkhūhi bhedetabbo.
- Na gihiddhajo dhāretabbo,
- na titthiyaddhajo dhāretabbo,
- na titthiyā sevitabbā;
- bhikkhū sevitabbā,
- bhikkhusikkhāya sikkhitabbaṁ.
- Na pakatattena bhikkhunā saddhiṁ ekacchanne āvāse vatthabbaṁ,
- na ekacchanne anāvāse vatthabbaṁ,
- na ekacchanne āvāse vā anāvāse vā vatthabbaṁ,
- pakatattaṁ bhikkhuṁ disvā āsanā vuṭṭhātabbaṁ,
- na pakatatto bhikkhu āsādetabbo anto vā bahi vā.
- Na pakatattassa bhikkhuno uposatho ṭhapetabbo,
- na pavāraṇā ṭhapetabbā,
- na savacanīyaṁ kātabbaṁ,
- na anuvādo paṭṭhapetabbo,
- na okāso kāretabbo,
- na codetabbo,
- na sāretabbo,
- na bhikkhūhi sampayojetabban”ti.
Āpattiyā appaṭikamme ukkhepanīyakamme tecattālīsavattaṁ niṭṭhitaṁ.
Atha kho saṅgho channassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ akāsi—asambhogaṁ saṅghena. So saṅghena, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammakato tamhā āvāsā aññaṁ āvāsaṁ agamāsi. Tattha bhikkhū neva abhivādesuṁ, na paccuṭṭhesuṁ, na añjalikammaṁ na sāmīcikammaṁ akaṁsu, na sakkariṁsu, na garuṁ kariṁsu, na mānesuṁ, na pūjesuṁ. So bhikkhūhi asakkariyamāno agarukariyamāno amāniyamāno apūjiyamāno asakkārapakato tamhāpi āvāsā aññaṁ āvāsaṁ agamāsi. Tatthapi bhikkhū neva abhivādesuṁ, na paccuṭṭhesuṁ, na añjalikammaṁ na sāmīcikammaṁ akaṁsu, na sakkariṁsu, na garuṁ kariṁsu, na mānesuṁ, na pūjesuṁ. So bhikkhūhi asakkariyamāno agarukariyamāno amāniyamāno apūjiyamāno asakkārapakato tamhāpi āvāsā aññaṁ āvāsaṁ agamāsi. Tatthapi bhikkhū neva abhivādesuṁ, na paccuṭṭhesuṁ, na añjalikammaṁ na sāmīcikammaṁ akaṁsu, na sakkariṁsu, na garuṁ kariṁsu, na mānesuṁ, na pūjesuṁ. So bhikkhūhi asakkariyamāno agarukariyamāno amāniyamāno apūjiyamāno asakkārapakato punadeva kosambiṁ paccāgañchi.
So sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, bhikkhū upasaṅkamitvā evaṁ vadeti—“ahaṁ, āvuso, saṅghena, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammakato sammā vattāmi, lomaṁ pātemi, netthāraṁ vattāmi. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe….
“Tena hi, bhikkhave, saṅgho channassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetu.
6.5. Nappaṭippassambhetabbatecattālīsaka
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Upasampādeti, nissayaṁ deti, sāmaṇeraṁ upaṭṭhāpeti, bhikkhunovādakasammutiṁ sādiyati, sammatopi bhikkhuniyo ovadati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Yāya āpattiyā saṅghena, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ kataṁ hoti taṁ āpattiṁ āpajjati, aññaṁ vā tādisikaṁ, tato vā pāpiṭṭhataraṁ; kammaṁ garahati, kammike garahati …pe… pakatattassa bhikkhuno abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ, añjalikammaṁ, sāmīcikammaṁ, āsanābhihāraṁ sādiyati …pe… pakatattassa bhikkhuno seyyābhihāraṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ, pādakathalikaṁ, pattacīvarappaṭiggahaṇaṁ, nahāne piṭṭhiparikammaṁ sādiyati …pe… pakatattaṁ bhikkhuṁ sīlavipattiyā anuddhaṁseti, ācāravipattiyā anuddhaṁseti, diṭṭhivipattiyā anuddhaṁseti, ājīvavipattiyā anuddhaṁseti, bhikkhuṁ bhikkhūhi bhedeti …pe… gihiddhajaṁ dhāreti, titthiyaddhajaṁ dhāreti, titthiye sevati, bhikkhū na sevati, bhikkhusikkhāya na sikkhati …pe… pakatattena bhikkhunā saddhiṁ ekacchanne āvāse vasati, ekacchanne anāvāse vasati, ekacchanne āvāse vā anāvāse vā vasati, pakatattaṁ bhikkhuṁ disvā āsanā na vuṭṭhāti, pakatattaṁ bhikkhuṁ āsādeti anto vā bahi vā—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Pakatattassa bhikkhuno uposathaṁ ṭhapeti, pavāraṇaṁ ṭhapeti, savacanīyaṁ karoti, anuvādaṁ paṭṭhapeti, okāsaṁ kāreti, codeti, sāreti, bhikkhūhi sampayojeti—imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
Āpattiyā appaṭikamme ukkhepanīyakamme nappaṭippassambhetabbatecattālīsakaṁ niṭṭhitaṁ.
6.6. Paṭippassambhetabbatecattālīsaka
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Na upasampādeti, na nissayaṁ deti, na sāmaṇeraṁ upaṭṭhāpeti, na bhikkhunovādakasammutiṁ sādiyati, sammatopi bhikkhuniyo na ovadati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Yāya āpattiyā saṅghena, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ kataṁ hoti taṁ āpattiṁ na āpajjati, aññaṁ vā tādisikaṁ, tato vā pāpiṭṭhataraṁ; kammaṁ na garahati, kammike na garahati …pe… na pakatattassa bhikkhuno abhivādanaṁ, paccuṭṭhānaṁ, añjalikammaṁ, sāmīcikammaṁ, āsanābhihāraṁ sādiyati …pe… na pakatattassa bhikkhuno seyyābhihāraṁ, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ, pādakathalikaṁ, pattacīvarappaṭiggahaṇaṁ, nahāne piṭṭhiparikammaṁ sādiyati …pe… na pakatattaṁ bhikkhuṁ sīlavipattiyā anuddhaṁseti, na ācāravipattiyā anuddhaṁseti, na diṭṭhivipattiyā anuddhaṁseti, na ājīvavipattiyā anuddhaṁseti, na bhikkhuṁ bhikkhūhi bhedeti …pe… na gihiddhajaṁ dhāreti, na titthiyaddhajaṁ dhāreti, na titthiye sevati, bhikkhū sevati, bhikkhusikkhāya sikkhati …pe… na pakatattena bhikkhunā saddhiṁ ekacchanne āvāse vasati, na ekacchanne anāvāse vasati, na ekacchanne āvāse vā anāvāse vā vasati, pakatattaṁ bhikkhuṁ disvā āsanā vuṭṭhāti, na pakatattaṁ bhikkhuṁ āsādeti anto vā bahi vā—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Na pakatattassa bhikkhuno uposathaṁ ṭhapeti, na pavāraṇaṁ ṭhapeti, na savacanīyaṁ karoti, na anuvādaṁ paṭṭhapeti, na okāsaṁ kāreti, na codeti, na sāreti, na bhikkhūhi sampayojeti—imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
Āpattiyā appaṭikamme ukkhepanīyakamme paṭippassambhetabbatecattālīsakaṁ niṭṭhitaṁ.
Evañca pana, bhikkhave, paṭippassambhetabbaṁ. Tena bhikkhave, channena bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vuḍḍhānaṁ bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘ahaṁ, bhante, saṅghena āpattiyā appaṭikamme ukkhepanīyakammakato sammā vattāmi, lomaṁ pātemi, netthāraṁ vattāmi, āpattiyā appaṭikamme ukkhepanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbā. Tatiyampi yācitabbā. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ channo bhikkhu saṅghena, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, āpattiyā appaṭikamme ukkhepanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho channassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambheyya. Esā ñatti.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ channo bhikkhu saṅghena, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, āpattiyā appaṭikamme ukkhepanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Saṅgho channassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambheti. Yassāyasmato khamati channassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyassa kammassa paṭippassaddhi, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ channo bhikkhu saṅghena, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Saṅgho channassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambheti. Yassāyasmato khamati channassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyassa kammassa paṭippassaddhi, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Paṭippassaddhaṁ saṅghena channassa bhikkhuno, āpattiyā appaṭikamme, ukkhepanīyakammaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
Āpattiyā appaṭikamme ukkhepanīyakammaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
7. Pāpikāyadiṭṭhiyāappaṭinissagge ukkhepanīyakamma
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena ariṭṭhassa nāma bhikkhuno gaddhabādhipubbassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti—“tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā”ti.
Assosuṁ kho sambahulā bhikkhū ariṭṭhassa nāma kira bhikkhuno gaddhabādhipubbassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ—“Tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā”ti.
Atha kho te bhikkhū yena ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tenupasaṅkamiṁsu. Upasaṅkamitvā ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etadavocuṁ—“saccaṁ kira te, āvuso ariṭṭha, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ—tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā”ti?
“Evaṁ byā kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā”ti.
“Māvuso ariṭṭha, evaṁ avaca. Mā bhagavantaṁ abbhācikkhi. Na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ. Na hi bhagavā evaṁ vadeyya. Anekapariyāyenāvuso ariṭṭha, antarāyikā dhammā antarāyikā vuttā bhagavatā. Alañca pana te paṭisevato antarāyāya. Appassādā kāmā vuttā bhagavatā, bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā, bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Maṁsapesūpamā kāmā vuttā bhagavatā …pe… tiṇukkūpamā kāmā vuttā bhagavatā …pe… aṅgārakāsūpamā kāmā vuttā bhagavatā … supinakūpamā kāmā vuttā bhagavatā … yācitakūpamā kāmā vuttā bhagavatā … rukkhaphalūpamā kāmā vuttā bhagavatā … asisūnūpamā kāmā vuttā bhagavatā … sattisūlūpamā kāmā vuttā bhagavatā … sappasirūpamā kāmā vuttā bhagavatā, bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo”ti.
Evampi kho ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tehi bhikkhūhi vuccamāno tatheva taṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa voharati—“evaṁ byā kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā”ti. Yato ca kho te bhikkhū nāsakkhiṁsu ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetuṁ, atha kho te bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ. Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ paṭipucchi—
“saccaṁ kira te, ariṭṭha, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ—tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā”ti?
“Evaṁ byā kho ahaṁ, bhante, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā”ti.
“Kassa nu kho nāma tvaṁ, moghapurisa, mayā evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānāsi? Nanu mayā, moghapurisa, anekapariyāyena antarāyikā dhammā antarāyikā vuttā? Alañca pana te paṭisevato antarāyāya. Appassādā kāmā vuttā mayā, bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā mayā, bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Maṁsapesūpamā kāmā vuttā mayā …pe… tiṇukkūpamā kāmā vuttā mayā … aṅgārakāsūpamā kāmā vuttā mayā … supinakūpamā kāmā vuttā mayā … yācitakūpamā kāmā vuttā mayā … rukkhaphalūpamā kāmā vuttā mayā … asisūnūpamā kāmā vuttā mayā … sattisūlūpamā kāmā vuttā mayā … sappasirūpamā kāmā vuttā mayā, bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. Atha ca pana tvaṁ, moghapurisa, attanā duggahitena amhe ceva abbhācikkhasi, attānañca khaṇasi, bahuñca apuññaṁ pasavasi. Tañhi te, moghapurisa, bhavissati dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya. Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“tena hi, bhikkhave, saṅgho ariṭṭhassa bhikkhuno gaddhabādhipubbassa, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ karotu—asambhogaṁ saṅghena. Evañca pana, bhikkhave, kātabbaṁ—paṭhamaṁ ariṭṭho bhikkhu codetabbo, codetvā sāretabbo, sāretvā āpattiṁ āropetabbo, āpattiṁ āropetvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ariṭṭhassa bhikkhuno gaddhabādhipubbassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ—tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyāti. So taṁ diṭṭhiṁ na paṭinissajjati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho ariṭṭhassa bhikkhuno gaddhabādhipubbassa, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ kareyya—asambhogaṁ saṅghena. Esā ñatti.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ariṭṭhassa bhikkhuno gaddhabādhipubbassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ—tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyāti. So taṁ diṭṭhiṁ na paṭinissajjati. Saṅgho ariṭṭhassa bhikkhuno gaddhabādhipubbassa, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ karoti—asambhogaṁ saṅghena. Yassāyasmato khamati ariṭṭhassa bhikkhuno gaddhabādhipubbassa, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyassa kammassa karaṇaṁ—asambhogaṁ saṅghena, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ariṭṭhassa bhikkhuno gaddhabādhipubbassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ—tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyāti. So taṁ diṭṭhiṁ na paṭinissajjati. Saṅgho ariṭṭhassa bhikkhuno gaddhabādhipubbassa, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ karoti—asambhogaṁ saṅghena. Yassāyasmato khamati ariṭṭhassa bhikkhuno gaddhabādhipubbassa, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyassa kammassa karaṇaṁ—asambhogaṁ saṅghena, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Kataṁ saṅghena ariṭṭhassa bhikkhuno gaddhabādhipubbassa, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ—asambhogaṁ saṅghena. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
Āvāsaparamparañca, bhikkhave, saṁsatha—‘ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo, saṅghena pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammakato—asambhogaṁ saṅghenā’”ti.
7.1. Adhammakammadvādasaka
“Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Asammukhā kataṁ hoti, appaṭipucchā kataṁ hoti, appaṭiññāya kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca. Anāpattiyā kataṁ hoti, adesanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, desitāya āpattiyā kataṁ hoti …pe…
acodetvā kataṁ hoti, asāretvā kataṁ hoti, āpattiṁ anāropetvā kataṁ hoti …pe…
asammukhā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
appaṭipucchā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
appaṭiññāya kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
anāpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
adesanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
desitāya āpattiyā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
acodetvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
asāretvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti …pe…
āpattiṁ anāropetvā kataṁ hoti, adhammena kataṁ hoti, vaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ adhammakammañca hoti, avinayakammañca, duvūpasantañca.
Monks, you should proclaim from monastery to monastery that the Sangha has done a legal procedure of ejection against the monk Channa for not recognizing an offense, prohibiting him from living with the Sangha.”
The group of twelve on illegitimate legal procedures
“When a legal procedure of ejection for not recognizing an offense has three qualities, it’s illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done in the absence of the accused, it’s done without questioning the accused, it’s done without the admission of the accused.
When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who hasn’t committed any offense, it’s done against one who’s committed an offense that isn’t clearable by confession, it’s done against one who’s confessed their offense.
When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having accused the person of their offense, it’s done without having reminded the person of their offense, it’s done without having charged the person with their offense.
“When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done in the absence of the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without questioning the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without the admission of the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who hasn’t committed any offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense that isn’t clearable by confession, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who’s confessed their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having accused the person of their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having reminded the person of their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having charged the person with their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.”
The group of twelve on illegitimate legal procedures of ejection for not recognizing an offense is finished.
The group of twelve on legitimate legal procedures
“When a legal procedure of ejection for not recognizing an offense has three qualities, it’s legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done in the presence of the accused, it’s done with the questioning of the accused, it’s done with the admission of the accused.
When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense, it’s done against one who’s committed an offense that’s clearable by confession, it’s done against one who hasn’t confessed their offense.
When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after accusing the person of their offense, it’s done after reminding the person of their offense, it’s done after charging the person with their offense.
“When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done in the presence of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done with the questioning of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done with the admission of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
“When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense that’s clearable by confession, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who hasn’t confessed their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
“When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after accusing the person of their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after reminding the person of their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of ejection for not recognizing an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after charging the person with their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.”
The group of twelve on legitimate legal procedures of ejection for not recognizing an offense is finished.
The group of six on wishing
“When a monk has three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a legal procedure of ejection against him for not recognizing an offense: he’s quarrelsome, argumentative, and a creator of legal issues in the Sangha; he’s ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries; he’s constantly and improperly socializing with householders.
When a monk has another three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of ejection against him for not recognizing an offense: he has failed in the higher morality; he has failed in the higher conduct; he has failed in the higher view.
When a monk has another three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of ejection against him for not recognizing an offense: he disparages the Buddha; he disparages the Teaching; he disparages the Sangha.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of ejection for not recognizing an offense against three kinds of monks: those who are quarrelsome, argumentative, and creators of legal issues in the Sangha; those who are ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries; those who are constantly and improperly socializing with householders.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of ejection for not recognizing an offense against three other kinds of monks: those who’ve failed in the higher morality; those who’ve failed in the higher conduct; those who’ve failed in the higher view.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of ejection for not recognizing an offense against three other kinds of monks: those who disparage the Buddha; those who disparage the Teaching; those who disparage the Sangha.”
The group of six on wishing in regard to a procedure of ejection for not recognizing an offense is finished.
The forty-three kinds of conduct
“A monk who’s had a legal procedure of ejection for not recognizing an offense done against him should conduct himself properly. This is the proper conduct:
- He shouldn’t give the full ordination.
- He shouldn’t give formal support.
- He shouldn’t have a novice monk attend on him.
- He shouldn’t accept being appointed as an instructor of the nuns.
- Even if appointed, he shouldn’t instruct the nuns.
- He shouldn’t commit the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not recognizing an offense.
- He shouldn’t commit an offense similar to the offense for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not recognizing an offense.
- He shouldn’t commit an offense worse than the offense for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not recognizing an offense.
- He shouldn’t criticize the procedure.
- He shouldn’t criticize those who did the procedure.
- He shouldn’t consent to a regular monk bowing down to him.
- He shouldn’t consent to a regular monk standing up for him.
- He shouldn’t consent to a regular monk raising his joined palms to him.
- He shouldn’t consent to a regular monk doing acts of respect toward him.
- He shouldn’t consent to a regular monk offering him a seat.
- He shouldn’t consent to a regular monk offering him a bed.
- He shouldn’t consent to a regular monk offering him water for washing his feet and a foot stool.
- He shouldn’t consent to a regular monk offering him a foot scraper.
- He shouldn’t consent to a regular monk receiving his bowl and robe.
- He shouldn’t consent to a regular monk massaging his back when bathing.
- He shouldn’t charge a regular monk with failure in morality.
- He shouldn’t charge a regular monk with failure in conduct.
- He shouldn’t charge a regular monk with failure in view.
- He shouldn’t charge a regular monk with failure in livelihood.
- He shouldn’t cause division between monks.
- He shouldn’t wear lay clothes.
- He shouldn’t wear the robes of the monastics of other religions.
- He shouldn’t associate with the monastics of other religions.
- He should associate with monks.
- He should train in the monks’ training.
- He shouldn’t, in a monastery, stay in the same room as a regular monk.
- He shouldn’t, in a non-monastery, stay in the same room as a regular monk.
- He shouldn’t, in a monastery or a non-monastery, stay in the same room as a regular monk.
- He should get up from his seat when he sees a regular monk.
- He shouldn’t dismiss a regular monk, whether indoors or outdoors.
- He shouldn’t cancel the observance-day ceremony of a regular monk.
- He shouldn’t cancel the invitation ceremony of a regular monk.
- He shouldn’t direct a regular monk.
- He shouldn’t give instructions to a regular monk.
- He shouldn’t ask a regular monk for permission to correct him.
- He shouldn’t accuse a regular monk of an offense.
- He shouldn’t remind a regular monk of an offense.
- He shouldn’t associate inappropriately with other monks.”
The forty-three kinds of conduct in regard to the legal procedure of ejection for not recognizing an offense are finished.
Soon afterwards the Sangha did a legal procedure of ejection against the monk Channa for not recognizing an offense, prohibiting him from living with the Sangha. He then left that monastery and went to another one. The monks there did not bow down to him, stand up for him, raise their joined palms to him, or do acts of respect toward him. They did not honor, respect, or esteem him. Because of this, he left that monastery too and went to yet another one. There too the monks did not bow down to him, stand up for him, raise their joined palms to him, or do acts of respect toward him. They did not honor, respect, or esteem him. Because of this, he left that monastery too and went to yet another one. There too the monks did not bow down to him, stand up for him, raise their joined palms to him, or do acts of respect toward him. They did not honor, respect, or esteem him. Because of this, he left that monastery too and returned to Kosambī.
He then conducted himself properly and suitably, and deserved to be released. He went to the monks and told them about this, adding, “What should I do now?” The monks told the Buddha. He had the monks gathered and said, “Well then, lift that legal procedure of ejection against the monk Channa for not recognizing an offense.”
The group of forty-three on not to be lifted
“When a monk has five qualities, a legal procedure of ejection against him for not recognizing an offense shouldn’t be lifted: he gives the full ordination; he gives formal support; he has a novice monk attend on him; he accepts being appointed as an instructor of the nuns; he instructs the nuns, whether appointed or not.
When a monk has another five qualities, a procedure of ejection against him for not recognizing an offense shouldn’t be lifted: he commits the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not recognizing an offense; he commits an offense similar to the one for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not recognizing an offense; he commits an offense worse than the one for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not recognizing an offense; he criticizes the procedure; he criticizes those who did the procedure.
When a monk has another five qualities, a procedure of ejection against him for not recognizing an offense shouldn’t be lifted: he consents to a regular monk bowing down to him; he consents to a regular monk standing up for him; he consents to a regular monk raising his joined palms to him; he consents to a regular monk doing acts of respect toward him; he consents to a regular monk offering him a seat.
When a monk has another five qualities, a procedure of ejection against him for not recognizing an offense shouldn’t be lifted: he consents to a regular monk offering him a bed; he consents to a regular monk offering him water for washing his feet and a foot stool; he consents to a regular monk offering him a foot scraper; he consents to a regular monk receiving his bowl and robe; he consents to a regular monk massaging his back when bathing.
When a monk has another five qualities, a procedure of ejection against him for not recognizing an offense shouldn’t be lifted: he charges a regular monk with failure in morality; he charges a regular monk with failure in conduct; he charges a regular monk with failure in view; he charges a regular monk with failure in livelihood; he causes division between monks.
When a monk has another five qualities, a procedure of ejection against him for not recognizing an offense shouldn’t be lifted: he wears lay clothes; he wears the robes of the monastics of other religions; he associates with the monastics of other religions; he doesn’t associate with monks; he doesn’t train in the monks’ training.
When a monk has another five qualities, a procedure of ejection against him for not recognizing an offense shouldn’t be lifted: he stays in a monastery in the same room as a regular monk; he stays in a non-monastery in the same room as a regular monk; he stays in a monastery or a non-monastery in the same room as a regular monk; he doesn’t get up from his seat when he sees a regular monk; he dismisses a regular monk, whether indoors or outdoors.
When a monk has eight qualities, a procedure of ejection against him for not recognizing an offense shouldn’t be lifted: he cancels the observance-day ceremony of a regular monk; he cancels the invitation ceremony of a regular monk; he directs a regular monk; he gives instructions to a regular monk; he asks a regular monk for permission to correct him; he accuses a regular monk of an offense; he reminds a regular monk of an offense; he associates inappropriately with other monks.”
The group of forty-three on not to be lifted in regard to the legal procedure of ejection for not recognizing an offense is finished.
The group of forty-three on to be lifted
“When a monk has five qualities, a legal procedure of ejection against him for not recognizing an offense should be lifted: he doesn’t give the full ordination; he doesn’t give formal support; he doesn’t have a novice monk attend on him; he doesn’t accept being appointed as an instructor of the nuns; he doesn’t instruct the nuns, whether appointed or not.
When a monk has another five qualities, a procedure of ejection against him for not recognizing an offense should be lifted: he doesn’t commit the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not recognizing an offense; he doesn’t commit an offense similar to the one for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not recognizing an offense; he doesn’t commit an offense worse than the one for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not recognizing an offense; he doesn’t criticize the procedure; he doesn’t criticize those who did the procedure.
When a monk has another five qualities, a procedure of ejection against him for not recognizing an offense should be lifted: he doesn’t consent to a regular monk bowing down to him; he doesn’t consent to a regular monk standing up for him; he doesn’t consent to a regular monk raising his joined palms to him; he doesn’t consent to a regular monk doing acts of respect toward him; he doesn’t consent to a regular monk offering him a seat.
When a monk has another five qualities, a procedure of ejection against him for not recognizing an offense should be lifted: he doesn’t consent to a regular monk offering him a bed; he doesn’t consent to a regular monk offering him water for washing his feet and a foot stool; he doesn’t consent to a regular monk offering him a foot scraper; he doesn’t consent to a regular monk receiving his bowl and robe; he doesn’t consent to a regular monk massaging his back when bathing.
When a monk has another five qualities, a procedure of ejection against him for not recognizing an offense should be lifted: he doesn’t charge a regular monk with failure in morality; he doesn’t charge a regular monk with failure in conduct; he doesn’t charge a regular monk with failure in view; he doesn’t charge a regular monk with failure in livelihood; he doesn’t cause division between monks.
When a monk has another five qualities, a procedure of ejection against him for not recognizing an offense should be lifted: he doesn’t wear lay clothes; he doesn’t wear the robes of the monastics of other religions; he doesn’t associate with the monastics of other religions; he associates with monks; he trains in the monks’ training.
When a monk has another five qualities, a procedure of ejection against him for not recognizing an offense should be lifted: he doesn’t, in a monastery, stay in the same room as a regular monk; he doesn’t, in a non-monastery, stay in the same room as a regular monk; he doesn’t, in a monastery or a non-monastery, stay in the same room as a regular monk; he gets up from his seat when he sees a regular monk; he doesn’t dismiss a regular monk, whether indoors or outdoors.
When a monk has eight qualities, a procedure of ejection against him for not recognizing an offense should be lifted: he doesn’t cancel the observance-day ceremony of a regular monk; he doesn’t cancel the invitation ceremony of a regular monk; he doesn’t direct a regular monk; he doesn’t give instructions to a regular monk; he doesn’t ask a regular monk for permission to correct him; he doesn’t accuse a regular monk of an offense; he doesn’t remind a regular monk of an offense; he doesn’t associate inappropriately with other monks.”
The group of forty-three on to be lifted in regard to the legal procedure of ejection for not recognizing an offense is finished.
“And this is how it should be lifted. The monk Channa should approach the Sangha, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say, ‘Venerables, the Sangha has done a legal procedure of ejection against me for not recognizing an offense. I’m now conducting myself properly and suitably, and deserve to be released. I ask for that legal procedure of ejection for not recognizing an offense to be lifted.’ And he should ask a second and a third time. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of ejection against the monk Channa for not recognizing an offense. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of ejection for not recognizing an offense to be lifted. If the Sangha is ready, it should lift that legal procedure of ejection against the monk Channa for not recognizing an offense. This is the motion.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of ejection against the monk Channa for not recognizing an offense. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of ejection for not recognizing an offense to be lifted. The Sangha lifts that legal procedure of ejection against the monk Channa for not recognizing an offense. Any monk who approves of lifting that legal procedure of ejection for not recognizing an offense should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of ejection against the monk Channa for not recognizing an offense. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of ejection for not recognizing an offense to be lifted. The Sangha lifts that legal procedure of ejection against the monk Channa for not recognizing an offense. Any monk who approves of lifting that legal procedure of ejection for not recognizing an offense should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
The Sangha has lifted that legal procedure of ejection against the monk Channa for not recognizing an offense. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
The fifth section on the legal procedure of ejection for not recognizing an offense is finished.
6. The legal procedure of ejection for not making amends for an offense
At one time the Buddha was staying at Kosambī in Ghosita’s Monastery. At this time Venerable Channa had committed an offense, but refused to make amends for it. The monks of few desires complained and criticized him, “How can Venerable Channa commit an offense, but refuse to make amends for it?” They told the Buddha.
Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that Channa is acting like this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked him, “It’s not suitable … How can Channa commit an offense, but refuse to make amends for it? This will affect people’s confidence …” After rebuking him … he gave a teaching and addressed the monks:
“Well then, the Sangha should do a legal procedure of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense, prohibiting him from living with the Sangha. And this is how it should be done. First you should accuse the monk Channa. He should then be reminded of what he has done, before he’s charged with an offense. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This monk Channa has committed an offense, but refuses to make amends for it. If the Sangha is ready, it should do a legal procedure of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense, prohibiting him from living with the Sangha. This is the motion.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This monk Channa has committed an offense, but refuses to make amends for it. The Sangha does a legal procedure of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense, prohibiting him from living with the Sangha. Any monk who approves of doing a legal procedure of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense, prohibiting him from living with the Sangha, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This monk Channa has committed an offense, but refuses to make amends for it. The Sangha does a legal procedure of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense, prohibiting him from living with the Sangha. Any monk who approves of doing a legal procedure of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense, prohibiting him from living with the Sangha, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
The Sangha has done the legal procedure of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense, prohibiting him from living with the Sangha. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
Monks, you should proclaim from monastery to monastery that the Sangha has done a legal procedure of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense, prohibiting him from living with the Sangha.”
The group of twelve on illegitimate legal procedures
“When a legal procedure of ejection for not making amends for an offense has three qualities, it’s illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done in the absence of the accused, it’s done without questioning the accused, it’s done without the admission of the accused.
When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who hasn’t committed any offense, it’s done against one who’s committed an offense that isn’t clearable by confession, it’s done against one who’s confessed their offense.
When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having accused the person of their offense, it’s done without having reminded the person of their offense, it’s done without having charged the person with their offense.
“When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done in the absence of the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without questioning the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without the admission of the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who hasn’t committed any offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense that isn’t clearable by confession, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who’s confessed their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having accused the person of their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having reminded the person of their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having charged the person with their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.”
The group of twelve on illegitimate legal procedures of ejection for not making amends for an offense is finished.
The group of twelve on legitimate legal procedures
“When a legal procedure of ejection for not making amends for an offense has three qualities, it’s legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done in the presence of the accused, it’s done with the questioning of the accused, it’s done with the admission of the accused.
When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense, it’s done against one who’s committed an offense that’s clearable by confession, it’s done against one who hasn’t confessed their offense.
When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after accusing the person of their offense, it’s done after reminding the person of their offense, it’s done after charging the person with their offense.
“When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done in the presence of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done with the questioning of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done with the admission of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
“When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense that’s clearable by confession, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who hasn’t confessed their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
“When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after accusing the person of their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after reminding the person of their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of ejection for not making amends for an offense has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after charging the person with their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.”
The group of twelve on legitimate legal procedures of ejection for not making amends for an offense is finished.
The group of six on wishing
“When a monk has three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a legal procedure of ejection against him for not making amends for an offense: he’s quarrelsome, argumentative, and a creator of legal issues in the Sangha; he’s ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries; he’s constantly and improperly socializing with householders.
When a monk has another three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of ejection against him for not making amends for an offense: he has failed in the higher morality; he has failed in the higher conduct; he has failed in the higher view.
When a monk has another three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of ejection against him for not making amends for an offense: he disparages the Buddha; he disparages the Teaching; he disparages the Sangha.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of ejection for not making amends for an offense against three kinds of monks: those who are quarrelsome, argumentative, and creators of legal issues in the Sangha; those who are ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries; those who are constantly and improperly socializing with householders.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of ejection for not making amends for an offense against three other kinds of monks: those who’ve failed in the higher morality; those who’ve failed in the higher conduct; those who’ve failed in the higher view.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of ejection for not making amends for an offense against three other kinds of monks: those who disparage the Buddha; those who disparage the Teaching; those who disparage the Sangha.”
The group of six on wishing in regard to the legal procedure of ejection for not making amends for an offense is finished.
The forty-three kinds of conduct
“A monk who’s had a legal procedure of ejection for not making amends for an offense done against him should conduct himself properly. This is the proper conduct:
- He shouldn’t give the full ordination.
- He shouldn’t give formal support.
- He shouldn’t have a novice monk attend on him.
- He shouldn’t accept being appointed as an instructor of the nuns.
- Even if appointed, he shouldn’t instruct the nuns.
- He shouldn’t commit the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not making amends for an offense.
- He shouldn’t commit an offense similar to the offense for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not making amends for an offense.
- He shouldn’t commit an offense worse than the offense for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not making amends for an offense.
- He shouldn’t criticize the procedure.
- He shouldn’t criticize those who did the procedure.
- He shouldn’t consent to a regular monk bowing down to him.
- He shouldn’t consent to a regular monk standing up for him.
- He shouldn’t consent to a regular monk raising his joined palms to him.
- He shouldn’t consent to a regular monk doing acts of respect toward him.
- He shouldn’t consent to a regular monk offering him a seat.
- He shouldn’t consent to a regular monk offering him a bed.
- He shouldn’t consent to a regular monk offering him water for washing his feet and a foot stool.
- He shouldn’t consent to a regular monk offering him a foot scraper.
- He shouldn’t consent to a regular monk receiving his bowl and robe.
- He shouldn’t consent to a regular monk massaging his back when bathing.
- He shouldn’t charge a regular monk with failure in morality.
- He shouldn’t charge a regular monk with failure in conduct.
- He shouldn’t charge a regular monk with failure in view.
- He shouldn’t charge a regular monk with failure in livelihood.
- He shouldn’t cause division between monks.
- He shouldn’t wear lay clothes.
- He shouldn’t wear the robes of the monastics of other religions.
- He shouldn’t associate with the monastics of other religions.
- He should associate with monks.
- He should train in the monks’ training.
- He shouldn’t, in a monastery, stay in the same room as a regular monk.
- He shouldn’t, in a non-monastery, stay in the same room as a regular monk.
- He shouldn’t, in a monastery or a non-monastery, stay in the same room as a regular monk.
- He should get up from his seat when he sees a regular monk.
- He shouldn’t dismiss a regular monk, whether indoors or outdoors.
- He shouldn’t cancel the observance-day ceremony of a regular monk.
- He shouldn’t cancel the invitation ceremony of a regular monk.
- He shouldn’t direct a regular monk.
- He shouldn’t give instructions to a regular monk.
- He shouldn’t ask a regular monk for permission to correct him.
- He shouldn’t accuse a regular monk of an offense.
- He shouldn’t remind a regular monk of an offense.
- He shouldn’t associate inappropriately with other monks.”
The forty-three kinds of conduct in regard to the legal procedure of ejection for not making amends for an offense are finished.
Soon afterwards the Sangha did a legal procedure of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense, prohibiting him from living with the Sangha. He then left that monastery and went to another one. The monks there did not bow down to him, stand up for him, raise their joined palms to him, or do acts of respect toward him. They did not honor, respect, or esteem him. Because of this, he left that monastery too and went to yet another one. There too the monks did not bow down to him, stand up for him, raise their joined palms to him, or do acts of respect toward him. They did not honor, respect, or esteem him. Because of this, he left that monastery too and went to yet another one. There too the monks did not bow down to him, stand up for him, raise their joined palms to him, or do acts of respect toward him. They did not honor, respect, or esteem him. Because of this, he left that monastery too and returned to Kosambī.
He then conducted himself properly and suitably, and deserved to be released. He went to the monks and told them about this, adding, “What should I do now?” The monks told the Buddha. …
“Well then, lift that legal procedure of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense.”
The group of forty-three on not to be lifted
“When a monk has five qualities, a legal procedure of ejection against him for not making amends for an offense shouldn’t be lifted: he gives the full ordination; he gives formal support; he has a novice monk attend on him; he accepts being appointed as an instructor of the nuns; he instructs the nuns, whether appointed or not.
When a monk has another five qualities, a procedure of ejection against him for not making amends for an offense shouldn’t be lifted: he commits the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not making amends for an offense; he commits an offense similar to the one for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not making amends for an offense; he commits an offense worse than the one for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not making amends for an offense; he criticizes the procedure; he criticizes those who did the procedure. … he consents to a regular monk bowing down to him; he consents to a regular monk standing up for him; he consents to a regular monk raising his joined palms to him; he consents to a regular monk doing acts of respect toward him; he consents to a regular monk offering him a seat. … he consents to a regular monk offering him a bed; he consents to a regular monk offering him water for washing his feet and a foot stool; he consents to a regular monk offering him a foot scraper; he consents to a regular monk receiving his bowl and robe; he consents to a regular monk massaging his back when bathing. … he charges a regular monk with failure in morality; he charges a regular monk with failure in conduct; he charges a regular monk with failure in view; he charges a regular monk with failure in livelihood; he causes division between monks. … he wears lay clothes; he wears the robes of the monastics of other religions; he associates with the monastics of other religions; he doesn’t associate with monks; he doesn’t train in the monks’ training. … he stays in a monastery in the same room as a regular monk; he stays in a non-monastery in the same room as a regular monk; he stays in a monastery or a non-monastery in the same room as a regular monk; he doesn’t get up from his seat when he sees a regular monk; he dismisses a regular monk, whether indoors or outdoors.
When a monk has eight qualities, a procedure of ejection against him for not making amends for an offense shouldn’t be lifted: he cancels the observance-day ceremony of a regular monk; he cancels the invitation ceremony of a regular monk; he directs a regular monk; he gives instructions to a regular monk; he asks a regular monk for permission to correct him; he accuses a regular monk of an offense; he reminds a regular monk of an offense; he associates inappropriately with other monks.”
The group of forty-three on not to be lifted in regard to the legal procedure of ejection for not making amends for an offense is finished.
The group of forty-three on to be lifted
“When a monk has five qualities, a legal procedure of ejection against him for not making amends for an offense should be lifted: he doesn’t give the full ordination; he doesn’t give formal support; he doesn’t have a novice monk attend on him; he doesn’t accept being appointed as an instructor of the nuns; he doesn’t instruct the nuns, whether appointed or not.
When a monk has another five qualities, a procedure of ejection against him for not making amends for an offense should be lifted: he doesn’t commit the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not making amends for an offense; he doesn’t commit an offense similar to the one for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not making amends for an offense; he doesn’t commit an offense worse than the one for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not making amends for an offense; he doesn’t criticize the procedure; he doesn’t criticize those who did the procedure. … he doesn’t consent to a regular monk bowing down to him; he doesn’t consent to a regular monk standing up for him; he doesn’t consent to a regular monk raising his joined palms to him; he doesn’t consent to a regular monk doing acts of respect toward him; he doesn’t consent to a regular monk offering him a seat. … he doesn’t consent to a regular monk offering him a bed; he doesn’t consent to a regular monk offering him water for washing his feet and a foot stool; he doesn’t consent to a regular monk offering him a foot scraper; he doesn’t consent to a regular monk receiving his bowl and robe; he doesn’t consent to a regular monk massaging his back when bathing. … he doesn’t charge a regular monk with failure in morality; he doesn’t charge a regular monk with failure in conduct; he doesn’t charge a regular monk with failure in view; he doesn’t charge a regular monk with failure in livelihood; he doesn’t cause division between monks. … he doesn’t wear lay clothes; he doesn’t wear the robes of the monastics of other religions; he doesn’t associate with the monastics of other religions; he associates with monks; he trains in the monks’ training. … he doesn’t, in a monastery, stay in the same room as a regular monk; he doesn’t, in a non-monastery, stay in the same room as a regular monk; he doesn’t, in a monastery or a non-monastery, stay in the same room as a regular monk; he gets up from his seat when he sees a regular monk; he doesn’t dismiss a regular monk, whether indoors or outdoors.
When a monk has eight qualities, a procedure of ejection against him for not making amends for an offense should be lifted: he doesn’t cancel the observance-day ceremony of a regular monk; he doesn’t cancel the invitation ceremony of a regular monk; he doesn’t direct a regular monk; he doesn’t give instructions to a regular monk; he doesn’t ask a regular monk for permission to correct him; he doesn’t accuse a regular monk of an offense; he doesn’t remind a regular monk of an offense; he doesn’t associate inappropriately with other monks.”
The group of forty-three on to be lifted in regard to the legal procedure of ejection for not making amends for an offense is finished.
“And this is how it should be lifted. The monk Channa should approach the Sangha, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say, ‘Venerables, the Sangha has done a legal procedure of ejection against me for not making amends for an offense. I’m now conducting myself properly and suitably, and deserve to be released. I ask for that legal procedure of ejection for not making amends for an offense to be lifted.’ And he should ask a second and a third time. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of ejection for not making amends for an offense to be lifted. If the Sangha is ready, it should lift that legal procedure of of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense. This is the motion.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of ejection for not making amends for an offense to be lifted. The Sangha lifts that legal procedure of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense. Any monk who approves of lifting that legal procedure of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of ejection for not making amends for an offense to be lifted. The Sangha lifts that legal procedure of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense. Any monk who approves of lifting that legal procedure of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
The Sangha has lifted that legal procedure of ejection against the monk Channa for not making amends for an offense. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
The sixth section on the legal procedure of ejection for not making amends for an offense is finished.
7. The legal procedure of ejection for not giving up a bad view
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time the monk Ariṭṭha, the ex-vulture-hunter, had the following bad and erroneous view: “As I understand the Teaching of the Buddha, the things he calls obstacles are not able to obstruct one who indulges in them.”
A number of monks heard that Ariṭṭha had that view.
They went to him and asked, “Is it true, Ariṭṭha, that you have such a view?”
“Yes, indeed. As I understand the Buddha’s Teaching, the things he calls obstacles are not able to obstruct one who indulges in them.”
“No, Ariṭṭha, don’t misrepresent the Buddha, for it’s not good to misrepresent him. The Buddha would never say such a thing. The Buddha has given many discourses about the obstacles being obstructive and how they obstruct one who indulges in them. The Buddha has said that the enjoyment provided by worldly pleasures is small, whereas the suffering and trouble with them are huge, and so their drawbacks are greater. The Buddha has said that worldly pleasures are similar to a skeleton, similar to a piece of meat, similar to a grass torch, similar to a pit of coals, similar to a dream, similar to borrowed goods, similar to fruits on a tree, similar to a knife and chopping block, similar to swords and stakes, and similar to a snake’s head. The suffering and trouble with them are huge, and so their drawbacks are greater.”
But even though the monks corrected Ariṭṭha in this way, he stubbornly held on to that bad and erroneous view, and continued to insist on it. And since they were unable to make him give up that view, they went to the Buddha and told him what had happened. Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned Ariṭṭha:
“Is it true, Ariṭṭha, that you have a bad and erroneous view such as this: ‘As I understand the Buddha’s Teaching, the things he calls obstacles are not able to obstruct one who indulges in them’?”
“Yes indeed, sir.”
“Foolish man, who do you think I’ve taught like this? Haven’t I given many discourses about the obstacles being obstructive and how they obstruct one who indulges in them? I’ve said that the enjoyment provided by worldly pleasures is small, whereas the suffering and trouble with them are huge, and so their drawbacks are greater. I’ve said that worldly pleasures are similar to a skeleton, similar to a piece of meat, similar to a grass torch, similar to a pit of coals, similar to a dream, similar to borrowed goods, similar to fruits on a tree, similar to a knife and chopping block, similar to swords and stakes, and similar to a snake’s head. The suffering and trouble with them are huge, and so their drawbacks are greater. And yet by misunderstanding, you have misrepresented me, hurt yourself, and made much demerit. This will be for your long-lasting harm and suffering. And this will affect people’s confidence …” After rebuking him … he gave a teaching and addressed the monks:
“Well then, the Sangha should do a legal procedure of ejection against Ariṭṭha for not giving up that bad view, prohibiting him from living with the Sangha. And this is how it should be done. First you should accuse the monk Ariṭṭha. He should then be reminded of what he has done, before he’s charged with an offense. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Ariṭṭha, the ex-vulture-hunter, has the following bad and erroneous view: “As I understand the Teaching of the Buddha, the things he calls obstacles are not able to obstruct one who indulges in them.” He’s not giving up that view. If the Sangha is ready, it should do a legal procedure of ejection against the monk Ariṭṭha for not giving up that bad view, prohibiting him from living with the Sangha. This is the motion.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Ariṭṭha, the ex-vulture-hunter, has the following bad and erroneous view: “As I understand the Teaching of the Buddha, the things he calls obstacles are not able to obstruct one who indulges in them.” He’s not giving up that view. The Sangha does a legal procedure of ejection against the monk Ariṭṭha for not giving up that bad view, prohibiting him from living with the Sangha. Any monk who approves of doing a legal procedure of ejection against the monk Ariṭṭha for not giving up that bad view, prohibiting him from living with the Sangha, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The monk Ariṭṭha, the ex-vulture-hunter, has the following bad and erroneous view: “As I understand the Teaching of the Buddha, the things he calls obstacles are not able to obstruct one who indulges in them.” He’s not giving up that view. The Sangha does a legal procedure of ejection against the monk Ariṭṭha for not giving up that bad view, prohibiting him from living with the Sangha. Any monk who approves of doing a legal procedure of ejection against the monk Ariṭṭha for not giving up that bad view, prohibiting him from living with the Sangha, should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
The Sangha has done the legal procedure of ejection against the monk Ariṭṭha for not giving up that bad view, prohibiting him from living with the Sangha. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
Monks, you should proclaim from monastery to monastery that the Sangha has done a legal procedure of ejection against the monk Ariṭṭha for not giving up that bad view, prohibiting him from living with the Sangha.”
The group of twelve on illegitimate legal procedures
“When a legal procedure of ejection for not giving up a bad view has three qualities, it’s illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done in the absence of the accused, it’s done without questioning the accused, it’s done without the admission of the accused.
When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who hasn’t committed any offense, it’s done against one who’s committed an offense that isn’t clearable by confession, it’s done against one who’s confessed their offense.
When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having accused the person of their offense, it’s done without having reminded the person of their offense, it’s done without having charged the person with their offense.
“When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done in the absence of the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without questioning the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without the admission of the accused, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who hasn’t committed any offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense that isn’t clearable by confession, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done against one who’s confessed their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
“When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having accused the person of their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having reminded the person of their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.
When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also illegitimate, contrary to the Monastic Law, and improperly disposed of: it’s done without having charged the person with their offense, it’s done illegitimately, it’s done by an incomplete assembly.”
“Này các tỳ khưu, các thầy hãy thông báo đến các trú xứ kế tiếp rằng: ‘Tỳ khưu Channa đã bị Tăng chúng chế định yết ma treo giò vì không thấy tội, (nghĩa là) không được chung sống với Tăng chúng.’”
Pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhepanīyakamme adhammakammadvādasakaṁ niṭṭhitaṁ.
7.2. Dhammakammadvādasaka
The group of twelve on illegitimate legal procedures of ejection for not giving up a bad view is finished.
The group of twelve on legitimate legal procedures
Mười hai hành vi phi pháp đã được chấm dứt.
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgataṁ, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Sammukhā kataṁ hoti, paṭipucchā kataṁ hoti, paṭiññāya kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca. Āpattiyā kataṁ hoti, desanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, adesitāya āpattiyā kataṁ hoti …pe…
codetvā kataṁ hoti, sāretvā kataṁ hoti, āpattiṁ āropetvā kataṁ hoti …pe…
sammukhā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
paṭipucchā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
paṭiññāya kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
desanāgāminiyā āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
adesitāya āpattiyā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
codetvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
sāretvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti …pe…
āpattiṁ āropetvā kataṁ hoti, dhammena kataṁ hoti, samaggena kataṁ hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgataṁ, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ dhammakammañca hoti, vinayakammañca, suvūpasantañca.
“When a legal procedure of ejection for not giving up a bad view has three qualities, it’s legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done in the presence of the accused, it’s done with the questioning of the accused, it’s done with the admission of the accused.
When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense, it’s done against one who’s committed an offense that’s clearable by confession, it’s done against one who hasn’t confessed their offense.
When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after accusing the person of their offense, it’s done after reminding the person of their offense, it’s done after charging the person with their offense.
“When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done in the presence of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done with the questioning of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done with the admission of the accused, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
“When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who’s committed an offense that’s clearable by confession, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done against one who hasn’t confessed their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
“When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after accusing the person of their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after reminding the person of their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.
When a procedure of ejection for not giving up a bad view has another three qualities, it’s also legitimate, in accordance with the Monastic Law, and properly disposed of: it’s done after charging the person with their offense, it’s done legitimately, it’s done by a unanimous assembly.”
5. “Này các tỳ khưu, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố là hành vi đúng pháp, là hành vi đúng luật, và là hành vi được dàn xếp tốt đẹp. (Đó là) được thực hiện trước mặt, được thực hiện sau khi hỏi ý kiến, được thực hiện có sự thú nhận. Này các tỳ khưu, quả thật, hành vi khiển trách hội đủ ba yếu tố này là hành vi đúng pháp, là hành vi đúng luật, và là hành vi được dàn xếp tốt đẹp.
Pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhepanīyakamme dhammakammadvādasakaṁ niṭṭhitaṁ.
The group of twelve on legitimate legal procedures of ejection for not giving up a bad view is finished.
Mười hai loại yết-ma đúng Pháp đã chấm dứt.
7.3. Ākaṅkhamānachakka
The group of six on wishing
Phẩm sáu trường hợp về mong muốn
Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ kareyya. Bhaṇḍanakārako hoti kalahakārako vivādakārako bhassakārako saṅghe adhikaraṇakārako; bālo hoti abyatto āpattibahulo anapadāno; gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ kareyya.
“When a monk has three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a legal procedure of ejection against him for not giving up a bad view: he’s quarrelsome, argumentative, and a creator of legal issues in the Sangha; he’s ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries; he’s constantly and improperly socializing with householders.
6. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu hội đủ ba yếu tố, nếu Tăng chúng mong muốn, có thể thực hiện yết-ma khiển trách. Vị ấy là người gây gổ, cãi vã, tranh luận, lắm lời, tạo ra tranh tụng trong Tăng chúng; là người ngu dốt, không khéo léo, nhiều tội, không có giới hạn; sống giao du với hàng tại gia bằng sự giao du không thích hợp. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu hội đủ ba yếu tố này, nếu Tăng chúng mong muốn, có thể thực hiện yết-ma khiển trách.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ kareyya. Adhisīle sīlavipanno hoti, ajjhācāre ācāravipanno hoti, atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ kareyya.
When a monk has another three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of ejection against him for not giving up a bad view: he has failed in the higher morality; he has failed in the higher conduct; he has failed in the higher view.
Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu hội đủ ba yếu tố khác nữa, nếu Tăng chúng mong muốn, có thể thực hiện yết-ma khiển trách. Vị ấy bị hư hỏng về giới trong tăng thượng giới, bị hư hỏng về hạnh kiểm trong tăng thượng hạnh, bị hư hỏng về tri kiến trong tăng thượng kiến. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu hội đủ ba yếu tố này, nếu Tăng chúng mong muốn, có thể thực hiện yết-ma khiển trách.
Aparehipi, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ kareyya. Buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati—imehi kho, bhikkhave, tīhaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, ākaṅkhamāno saṅgho, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ kareyya.
When a monk has another three qualities, the Sangha may, if it wishes, do a procedure of ejection against him for not giving up a bad view: he disparages the Buddha; he disparages the Teaching; he disparages the Sangha.
Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu hội đủ ba yếu tố khác nữa, nếu Tăng chúng mong muốn, có thể thực hiện yết-ma khiển trách. Vị ấy nói lời không tán thán đức Phật, nói lời không tán thán Pháp, nói lời không tán thán Tăng. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu hội đủ ba yếu tố này, nếu Tăng chúng mong muốn, có thể thực hiện yết-ma khiển trách.
Tiṇṇaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ kareyya. Eko bhaṇḍanakārako hoti kalahakārako vivādakārako bhassakārako saṅghe adhikaraṇakārako; eko bālo hoti abyatto āpattibahulo anapadāno; eko gihisaṁsaṭṭho viharati ananulomikehi gihisaṁsaggehi—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ kareyya.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of ejection for not giving up a bad view against three kinds of monks: those who are quarrelsome, argumentative, and creators of legal issues in the Sangha; those who are ignorant and incompetent, often committing offenses, and lacking in boundaries; those who are constantly and improperly socializing with householders.
Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu, nếu Tăng chúng mong muốn, có thể thực hiện yết-ma khiển trách. Một người là người gây gổ, cãi vã, tranh luận, lắm lời, tạo ra tranh tụng trong Tăng chúng; một người là người ngu dốt, không khéo léo, nhiều tội, không có giới hạn; một người sống giao du với hàng tại gia bằng sự giao du không thích hợp. Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu này, nếu Tăng chúng mong muốn, có thể thực hiện yết-ma khiển trách.
Aparesampi, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ kareyya. Eko adhisīle sīlavipanno hoti, eko ajjhācāre ācāravipanno hoti, eko atidiṭṭhiyā diṭṭhivipanno hoti—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ kareyya.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of ejection for not giving up a bad view against three other kinds of monks: those who’ve failed in the higher morality; those who’ve failed in the higher conduct; those who’ve failed in the higher view.
Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành vi khiển trách. Một vị bị hư hỏng về giới hạnh trong phần tăng thượng giới (adhisīla), một vị bị hư hỏng về hạnh kiểm trong phần hạnh kiểm quá mức (ajjhācāra), một vị bị hư hỏng về tri kiến trong phần tri kiến quá mức (atidiṭṭhi). Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu này, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành vi khiển trách.
Aparesampi, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ kareyya. Eko buddhassa avaṇṇaṁ bhāsati, eko dhammassa avaṇṇaṁ bhāsati, eko saṅghassa avaṇṇaṁ bhāsati—imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇaṁ bhikkhūnaṁ, ākaṅkhamāno saṅgho, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissage, ukkhepanīyakammaṁ kareyya.
The Sangha may, if it wishes, do a procedure of ejection for not giving up a bad view against three other kinds of monks: those who disparage the Buddha; those who disparage the Teaching; those who disparage the Sangha.”
Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu khác nữa, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành vi khiển trách. Một vị nói lời không tán thán đức Phật, một vị nói lời không tán thán Pháp, một vị nói lời không tán thán Tăng. Này các tỳ khưu, đối với ba hạng tỳ khưu này, nếu Tăng chúng muốn, có thể thực hiện hành vi khiển trách.
Pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissage ukkhepanīyakamme ākaṅkhamānachakkaṁ niṭṭhitaṁ.
7.4. Tecattālīsavatta
The group of six on wishing in regard to the legal procedure of ejection for not giving up a bad view is finished.
The forty-three kinds of conduct
Phần sáu trường hợp ‘Nếu muốn’ đã chấm dứt.
Pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhepanīyakammakatena, bhikkhave, bhikkhunā sammā vattitabbaṁ. Tatrāyaṁ sammāvattanā—
- na upasampādetabbaṁ,
- na nissayo dātabbo,
- na sāmaṇero upaṭṭhāpetabbo,
“A monk who’s had a legal procedure of ejection for not giving up a bad view done against him should conduct himself properly. This is the proper conduct:
- He shouldn’t give the full ordination.
- He shouldn’t give formal support.
- He shouldn’t have a novice monk attend on him.
7. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đã bị thực hiện hành vi khiển trách cần phải thực hành đúng đắn. Ở đây, đây là sự thực hành đúng đắn: Không nên cho tu lên bậc trên, không nên cho nương tựa, không nên cho sa-di phục vụ, không nên chấp thuận sự chỉ định làm người giáo giới tỳ khưu ni, và dầu đã được chỉ định cũng không nên giáo giới các tỳ khưu ni. Vị ấy không nên vi phạm tội mà vì tội ấy Tăng chúng đã thực hiện hành vi khiển trách, hoặc tội khác tương tự, hoặc tội xấu xa hơn tội ấy; không nên chê bai hành vi (kamma), không nên chê bai những người thực hiện hành vi. Không nên đình chỉ lễ Bố-tát của vị tỳ khưu chưa bị phạt, không nên đình chỉ lễ Tự tứ, không nên thực hiện việc nhắc nhở, không nên khởi xướng việc tranh cãi, không nên yêu cầu cho cơ hội (để phát biểu), không nên khiển trách, không nên nhắc tội, không nên giao du với các tỳ khưu.
Pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhepanīyakamme tecattālīsavattaṁ niṭṭhitaṁ.
Atha kho saṅgho ariṭṭhassa bhikkhuno gaddhabādhipubbassa, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ akāsi—asambhogaṁ saṅghena. So saṅghena, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammakato vibbhami. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo saṅghena, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammakato vibbhamissatī”ti? Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā bhikkhū paṭipucchi—
“saccaṁ kira, bhikkhave, ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo saṅghena, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammakato vibbhamatī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā—“ananucchavikaṁ …pe… kathañhi nāma so, bhikkhave, moghapuriso saṅghena, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammakato vibbhamissati? Netaṁ, bhikkhave, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… vigarahitvā …pe… dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“tena hi, bhikkhave, saṅgho, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetu.
7.5. Nappaṭippassambhetabbatecattālīsaka
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Upasampādeti, nissayaṁ deti, sāmaṇeraṁ upaṭṭhāpeti, bhikkhunovādakasammutiṁ sādiyati, sammatopi bhikkhuniyo ovadati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissage, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Yāya āpattiyā saṅghena pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhepanīyakammaṁ kataṁ hoti taṁ āpattiṁ āpajjati, aññaṁ vā tādisikaṁ, tato vā pāpiṭṭhataraṁ; kammaṁ garahati, kammike garahati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ … pe….
Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ. Pakatattassa bhikkhuno uposathaṁ ṭhapeti, pavāraṇaṁ ṭhapeti, savacanīyaṁ karoti, anuvādaṁ paṭṭhapeti, okāsaṁ kāreti, codeti, sāreti, bhikkhūhi sampayojeti—imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ nappaṭippassambhetabbaṁ.
Pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhepanīyakamme nappaṭippassambhetabbatecattālīsakaṁ niṭṭhitaṁ.
7.6. Paṭippassambhetabbatecattālīsaka
Pañcahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Na upasampādeti, na nissayaṁ deti, na sāmaṇeraṁ upaṭṭhāpeti, na bhikkhunovādakasammutiṁ sādiyati, sammatopi bhikkhuniyo na ovadati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
Aparehipi, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Yāya āpattiyā saṅghena, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ kataṁ hoti taṁ āpattiṁ na āpajjati, aññaṁ vā tādisikaṁ, tato vā pāpiṭṭhataraṁ; kammaṁ na garahati, kammike na garahati—imehi kho, bhikkhave, pañcahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ … pe….
Aṭṭhahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ. Na pakatattassa bhikkhuno uposathaṁ ṭhapeti, na pavāraṇaṁ ṭhapeti, na savacanīyaṁ karoti, na anuvādaṁ paṭṭhapeti, na okāsaṁ kāreti, na codeti, na sāreti, na bhikkhūhi sampayojeti—imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahaṅgehi samannāgatassa bhikkhuno, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambhetabbaṁ.
Pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhepanīyakamme paṭippassambhetabbatecattālīsakaṁ niṭṭhitaṁ.
Evañca pana, bhikkhave, paṭippassambhetabbaṁ. Tena, bhikkhave, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammakatena bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vuḍḍhānaṁ bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—‘ahaṁ, bhante, saṅghena, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammakato sammā vattāmi, lomaṁ pātemi, netthāraṁ vattāmi, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācāmī’ti. Dutiyampi yācitabbā. Tatiyampi yācitabbā. Byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu saṅghena, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho itthannāmassa bhikkhuno, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambheyya. Esā ñatti.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu saṅghena, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Saṅgho itthannāmassa bhikkhuno, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambheti. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyassa kammassa paṭippassaddhi, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Dutiyampi etamatthaṁ vadāmi …pe… tatiyampi etamatthaṁ vadāmi—suṇātu me, bhante, saṅgho. Ayaṁ itthannāmo bhikkhu saṅghena, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammakato sammā vattati, lomaṁ pāteti, netthāraṁ vattati, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhepanīyassa kammassa paṭippassaddhiṁ yācati. Saṅgho itthannāmassa bhikkhuno, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ paṭippassambheti. Yassāyasmato khamati itthannāmassa bhikkhuno, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyassa kammassa paṭippassaddhi, so tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
Paṭippassaddhaṁ saṅghena itthannāmassa bhikkhuno, pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge, ukkhepanīyakammaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’”ti.
Pāpikāya diṭṭhiyā appaṭinissagge ukkhepanīyakammaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Kammakkhandhako paṭhamo. Imamhi khandhake vatthū satta.
Tassuddānaṁ
Paṇḍulohitakā bhikkhū, sayaṁ bhaṇḍanakārakā; Tādise upasaṅkamma, ussahiṁsu ca bhaṇḍane.
Anuppannāpi jāyanti, uppannānipi vaḍḍhare; Appicchā pesalā bhikkhū, ujjhāyanti padassato.
Saddhammaṭṭhitiko buddho, sayambhū aggapuggalo; Āṇāpesi tajjanīya, kammaṁ sāvatthiyaṁ jino.
Asammukhāppaṭipucchāp- paṭiññāya katañca yaṁ; Anāpatti adesane, desitāya katañca yaṁ.
Acodetvā asāretvā, anāropetvā ca yaṁ kataṁ; Asammukhā adhammena, vaggena cāpi yaṁ kataṁ.
Appaṭipucchā adhammena, puna vaggena yaṁ kataṁ; Appaṭiññāya adhammena, vaggena cāpi yaṁ kataṁ.
Anāpatti adhammena, vaggena cāpi yaṁ kataṁ; Adesanāgāminiyā, adhammavaggameva ca.
Desitāya adhammena, vaggenāpi tatheva ca; Acodetvā adhammena, vaggenāpi tatheva ca.
Asāretvā adhammena, vaggenāpi tatheva ca; Anāropetvā adhammena, vaggenāpi tatheva ca.
Kaṇhavāranayeneva, sukkavāraṁ vijāniyā; Saṅgho ākaṅkhamāno ca, yassa tajjanīyaṁ kare.
Bhaṇḍanaṁ bālo saṁsaṭṭho, adhisīle ajjhācāre; Atidiṭṭhivipannassa, saṅgho tajjanīyaṁ kare.
Buddhadhammassa saṅghassa, avaṇṇaṁ yo ca bhāsati; Tiṇṇannampi ca bhikkhūnaṁ, saṅgho tajjaniyaṁ kare.
Bhaṇḍanaṁ kārako eko, bālo saṁsagganissito; Adhisīle ajjhācāre, tatheva atidiṭṭhiyā.
Buddhadhammassa saṅghassa, avaṇṇaṁ yo ca bhāsati; Tajjanīyakammakato, evaṁ sammānuvattanā.
Upasampadanissayā, sāmaṇeraṁ upaṭṭhanā; Ovādasammatenāpi, na kare tajjanīkato.
Nāpajje tañca āpattiṁ, tādisañca tato paraṁ; Kammañca kammike cāpi, na garahe tathāvidho.
Uposathaṁ pavāraṇaṁ, pakatattassa naṭṭhape; Savacaniṁ anuvādo, okāso codanena ca.
Sāraṇaṁ sampayogañca, na kareyya tathāvidho; Upasampadanissayā, sāmaṇeraṁ upaṭṭhanā.
Ovādasammatenāpi, pañcahaṅgehi na sammati; Tañcāpajjati āpattiṁ, tādisañca tato paraṁ.
Kammañca kammike cāpi, garahanto na sammati; Uposathaṁ pavāraṇaṁ, savacanīyā ca novādo.
Okāso codanañceva, sāraṇā sampayojanā; Imehaṭṭhaṅgehi yo yutto, tajjanānupasammati.
Kaṇhavāranayeneva, sukkavāraṁ vijāniyā; Bālo āpattibahulo, saṁsaṭṭhopi ca seyyaso.
Niyassakammaṁ sambuddho, āṇāpesi mahāmuni; Kīṭāgirismiṁ dve bhikkhū, assajipunabbasukā.
Anācārañca vividhaṁ, ācariṁsu asaññatā; Pabbājanīyaṁ sambuddho, kammaṁ sāvatthiyaṁ jino; Macchikāsaṇḍe sudhammo, cittassāvāsiko ahu.
Jātivādena khuṁseti, sudhammo cittupāsakaṁ; Paṭisāraṇīyakammaṁ, āṇāpesi tathāgato.
Kosambiyaṁ channaṁ bhikkhuṁ, Nicchantāpattiṁ passituṁ; Adassane ukkhipituṁ, Āṇāpesi jinuttamo.
Channo taṁyeva āpattiṁ, paṭikātuṁ na icchati; Ukkhepanāppaṭikamme, āṇāpesi vināyako.
Pāpadiṭṭhi ariṭṭhassa, āsi aññāṇanissitā; Diṭṭhiyāppaṭinissagge, ukkhepaṁ jinabhāsitaṁ.
Niyassakammaṁ pabbajjaṁ, tatheva paṭisāraṇī; Adassanāppaṭikamme, anissagge ca diṭṭhiyā.
Davānācārūpaghāti, micchāājīvameva ca; Pabbājanīyakammamhi, atirekapadā ime.
Alābhāvaṇṇā dve pañca, dve pañcakāti nāmakā; Paṭisāraṇīyakammamhi, atirekapadā ime.
Tajjanīyaṁ niyassañca, duve kammāpi sādisā; Pabbajjā paṭisārī ca, atthi padātirittatā.
Tayo ukkhepanā kammā, sadisā te vibhattito; Tajjanīyanayenāpi, sesakammaṁ vijāniyāti.
Kammakkhandhako niṭṭhito.
The forty-three kinds of conduct in regard to the legal procedure of ejection for not giving up a bad view are finished.
Soon afterwards the Sangha did a legal procedure of ejection against the monk Ariṭṭha for not giving up that bad view, prohibiting him from living with the Sangha. He then disrobed. The monks of few desires complained and criticized him, “How could the monk Ariṭṭha disrobe after the Sangha had done a legal procedure of ejection against him for not giving up that bad view?” The monks told the Buddha.
Soon afterwards the Buddha had the Sangha gathered and questioned the monks:
“Is it true, monks, that the monk Ariṭṭha disrobed after the Sangha had done a procedure of ejection against him for not giving up that bad view?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked him … “It’s not suitable … How could that foolish man disrobe after the Sangha had done a procedure of ejection against him for not giving up that bad view? This will affect people’s confidence …” After rebuking him … he gave a teaching and addressed the monks:
“Well then, the Sangha should lift that legal procedure of ejection for not giving up a bad view.”
The group of forty-three on not to be lifted
“When a monk has five qualities, a legal procedure of ejection against him for not giving up a bad view shouldn’t be lifted: he gives the full ordination; he gives formal support; he has a novice monk attend on him; he accepts being appointed as an instructor of the nuns; he instructs the nuns, whether appointed or not.
When a monk has another five qualities, a procedure of ejection against him for not giving up a bad view shouldn’t be lifted: he commits the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not giving up a bad view; he commits an offense similar to the one for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not giving up a bad view; he commits an offense worse than the one for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not giving up a bad view; he criticizes the procedure; he criticizes those who did the procedure. … he consents to a regular monk bowing down to him; he consents to a regular monk standing up for him; he consents to a regular monk raising his joined palms to him; he consents to a regular monk doing appropriate duties for him; he consents to a regular monk offering him a seat. … he consents to a regular monk offering him a bed; he consents to a regular monk offering him water for washing his feet and a foot stool; he consents to a regular monk offering him a foot scraper; he consents to a regular monk receiving his bowl and robe; he consents to a regular monk massaging his back when bathing. … he charges a regular monk with failure in morality; he charges a regular monk with failure in conduct; he charges a regular monk with failure in view; he charges a regular monk with failure in livelihood; he causes division between monks. … he wears lay clothes; he wears the robes of the monastics of other religions; he associates with the monastics of other religions; he doesn’t associate with monks; he doesn’t train in the monks’ training. … he stays in the same room in a monastery as a regular monk; he stays in the same room in a non-monastery as a regular monk; he stays in the same room in a monastery or a non-monastery as a regular monk; he doesn’t get up from his seat when he sees a regular monk; he dismisses a regular monk, whether indoors or outdoors.
When a monk has eight qualities, a procedure of ejection against him for not giving up a bad view shouldn’t be lifted: he cancels the observance-day ceremony of a regular monk; he cancels the invitation ceremony of a regular monk; he directs a regular monk; he gives instructions to a regular monk; he asks a regular monk for permission to correct him; he accuses a regular monk of an offense; he reminds a regular monk of an offense; he associates inappropriately with other monks.”
The group of forty-three on not to be lifted in regard to the legal procedure of ejection for not giving up a bad view is finished.
The group of forty-three on to be lifted
“When a monk has five qualities, a legal procedure of ejection against him for not giving up a bad view should be lifted: he doesn’t give the full ordination; he doesn’t give formal support; he doesn’t have a novice monk attend on him; he doesn’t accept being appointed as an instructor of the nuns; he doesn’t instruct the nuns, whether appointed or not.
When a monk has another five qualities, a procedure of ejection against him for not giving up a bad view should be lifted: he doesn’t commit the same offense as the offense for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not giving up a bad view; he doesn’t commit an offense similar to the one for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not giving up a bad view; he doesn’t commit an offense worse than the one for which the Sangha did the procedure of ejection against him for not giving up a bad view; he doesn’t criticize the procedure; he doesn’t criticize those who did the procedure. … he doesn’t consent to a regular monk bowing down to him; he doesn’t consent to a regular monk standing up for him; he doesn’t consent to a regular monk raising his joined palms to him; he doesn’t consent to a regular monk doing appropriate duties for him; he doesn’t consent to a regular monk offering him a seat. … he doesn’t consent to a regular monk offering him a bed; he doesn’t consent to a regular monk offering him water for washing his feet and a foot stool; he doesn’t consent to a regular monk offering him a foot scraper; he doesn’t consent to a regular monk receiving his bowl and robe; he doesn’t consent to a regular monk massaging his back when bathing. … he doesn’t charge a regular monk with failure in morality; he doesn’t charge a regular monk with failure in conduct; he doesn’t charge a regular monk with failure in view; he doesn’t charge a regular monk with failure in livelihood; he doesn’t cause division between monks. … he doesn’t wear lay clothes; he doesn’t wear the robes of the monastics of other religions; he doesn’t associate with the monastics of other religions; he associates with monks; he trains in the monks’ training. … he doesn’t stay in the same room in a monastery as a regular monk; he doesn’t stay in the same room in a non-monastery as a regular monk; he doesn’t stay in the same room in a monastery or a non-monastery as a regular monk; he gets up from his seat when he sees a regular monk; he doesn’t dismiss a regular monk, whether indoors or outdoors.
When a monk has eight qualities, a procedure of ejection against him for not giving up a bad view should be lifted: he doesn’t cancel the observance-day ceremony of a regular monk; he doesn’t cancel the invitation ceremony of a regular monk; he doesn’t direct a regular monk; he doesn’t give instructions to a regular monk; he doesn’t ask a regular monk for permission to correct him; he doesn’t accuse a regular monk of an offense; he doesn’t remind a regular monk of an offense; he doesn’t associate inappropriately with other monks.”
The group of forty-three on to be lifted in regard to the legal procedure of ejection for not giving up a bad view is finished.
“And this is how it should be lifted. The monk who’s been ejected by the Sangha for not giving up a bad view should approach the Sangha, arrange his upper robe over one shoulder, pay respect at the feet of the senior monks, squat on his heels, raise his joined palms, and say, ‘Venerables, the Sangha has done a legal procedure of ejection against me for not giving up a bad view. I’m now conducting myself properly and suitably, and deserve to be released. I ask for that legal procedure of ejection for not giving up a bad view to be lifted.’ And he should ask a second and a third time. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of ejection against monk so-and-so for not giving up a bad view. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of ejection for not giving up a bad view to be lifted. If the Sangha is ready, it should lift that legal procedure of ejection against monk so-and-so for not giving up a bad view. This is the motion.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of ejection against monk so-and-so for not giving up a bad view. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of ejection for not giving up a bad view to be lifted. The Sangha lifts that legal procedure of ejection against monk so-and-so for not giving up a bad view. Any monk who approves of lifting that legal procedure of ejection against monk so-and-so for not giving up a bad view should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
For the second time, I speak on this matter. … For the third time, I speak on this matter. Please, venerables, I ask the Sangha to listen. The Sangha has done a legal procedure of ejection against monk so-and-so for not giving up a bad view. He’s now conducting himself properly and suitably, and deserves to be released. He’s asking for that legal procedure of ejection for not giving up a bad view to be lifted. The Sangha lifts that legal procedure of ejection against monk so-and-so for not giving up a bad view. Any monk who approves of lifting that legal procedure of ejection against monk so-and-so for not giving up a bad view should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
The Sangha has lifted that legal procedure of ejection against monk so-and-so for not giving up a bad view. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’”
The seventh section on the legal procedure of ejection for not giving up a bad view is finished.
The first chapter on penalty procedures is finished. In this chapter there are seven topics.
This is the summary:
“The monks Paṇḍu and Lohitaka, Themselves quarrelsome; They went to those of the same kind, And encouraged quarrels.
They gave rise to new ones, And worsened the existing ones; The good monks of few desires, Criticized. The One who Shows,
The Buddha, standing in the True Dhamma, Independent, the Supreme Person; The Victor: at Sāvatthī he ordered The procedure of condemnation.
In the absence, without questioning, Without admission, and done against One without offense, not clearable by confession, Done against one who has confessed.
Not having accused, not having reminded, And done without having charged; In the absence, with illegitimate, And also done with an incomplete assembly.
Without questioning, with illegitimate, Again done with an incomplete assembly. Without admission, with illegitimate, And also done with an incomplete assembly.
One without offense, with illegitimate, And also done with an incomplete assembly. Not clearable by confession, And illegitimately, with an incomplete assembly.
Against one who has confessed, with illegitimate, And so also with incomplete assembly; Not having accused, with illegitimate, And so also with incomplete assembly;
Not having reminded, with illegitimate, And so also with incomplete assembly; Not having charged, with illegitimate, And so also with incomplete assembly.
Just as the method of the dark section, One should understand the bright section; And the Sangha wishing, Might do condemnation against one:
Quarrelsome, ignorant, socializing, In the higher morality, in the higher conduct; For those failed in the higher view, The Sangha might do condemnation.
And the Buddha, the Teaching, the Sangha, Whoever dispraises them; And against three kinds of monks, The Sangha might carry out condemnation:
The quarrelsome, The ignorant, the one attached to socializing; In the higher morality, in the higher conduct; Just so about the higher view.
And the Buddha, the Teaching, the Sangha, Whoever dispraises them; Who has had a legal procedure of condemnation done against him, Should conduct himself properly thus:
Full ordination, formal support, A novice monk attending on; Instruction, even if appointed, He should not do. Against the one condemnation was done,
He should not commit that offense, Or one similar, or one beyond; And the procedure, and also the doers, He should not criticize those.
The observance, the invitation, He should not cancel for a regular monk; Directing, instructing, Permission, and with accusing.
Reminding, and associating, He should not do such things; Full ordination, formal support, A novice monk attending on.
Instruction, even if appointed, With five factors, it should not lift; And should not commit that offense, Or one similar, or one beyond.
And the procedure, and also the doers, Criticizing, it should not lift; The observance, the invitation, And directing, instructing.
Permission, and accusing, Reminding, associating; Whoever is engaged in these eight factors, The condemnation should not be lifted.
Just as with the method of the dark section, One should understand the bright section; Ignorant, with many offenses, And socializing, Seyyaso.
The procedure of demotion was ordered, By the Fully Awakened One, the Great Sage; Two monks at Kīṭāgiri, Assaji and Punabbasuka.
And many kinds of misconduct, They did without restraint; To be banished, the Fully Awakened One, Procedure, at Sāvatthī, the Victor; Sudhamma at Macchikāsaṇḍa, Was staying with Citta.
He abused as low status, Sudhamma, the lay follower Citta; The procedure of reconciliation, The Buddha ordered.
The monk Channa at Kosambī, Did not wish to see his offense; To eject for not recognizing, The Supreme Victor ordered.
Channa that same offense, Did not wish to make amends; Ejection for not making amends, The Leader ordered.
The bad view of Ariṭṭha, Was attached to because of ignorance; For not giving up a bad view, Ejection was spoken of by the Victor.
The procedure of demotion, banishment, Just so reconciliation; Not recognizing, not making amends, And not giving up a view.
Frivolous, misconduct, he hurts, And just wrong livelihood; For the procedure of banishment, There are these extra lines.
Stopping gain, disparaging, two, five, They are called two sets of five; For the procedure of reconciliation, There are these extra lines.
Condemnation, and demotion, Are two procedures of the same kind; Banishment, and reconciled, There are extra lines.
Three procedures of ejection, Are analyzed in the same way; As with the method of condemnation, One should understand the rest of the procedures.”
The chapter on penalty procedures is finished.
16. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu đã bị (Tăng chúng) thực hiện yết ma y chỉ nên hành xử đúng đắn. Ở đây, đây là sự hành xử đúng đắn: Không được cho thọ cụ túc, không được cho y chỉ, không được nhận sa-di phục dịch, không được chấp thuận sự chỉ định làm vị giáo thọ tỳ khưu ni, dù đã được chỉ định cũng không được giáo giới các tỳ khưu ni. Tội nào mà Tăng chúng đã y vào đó để thực hiện yết ma y chỉ thì không được phạm tội ấy, hoặc tội khác tương tự, hoặc tội nặng hơn thế; không được chê bai việc yết ma, không được chê bai các vị tỳ khưu làm yết ma. Không được đình chỉ lễ Bố-tát của vị tỳ khưu bình thường, không được đình chỉ lễ Tự tứ, không được làm việc có lời nói (chỉ dạy), không được khởi sự tranh luận, không được làm cho người khác xin phép (để cử tội), không được cử tội, không được nhắc tội, không được giao du với các tỳ khưu.