- Theravāda Vinayapiṭaka
- Mahāvagga
Bản dịch
Kd 10 — Chương kosambi
10. Kosambakakkhandhaka
Inda-bh 1~1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Kosambi, tu viện Ghosita. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ phạm tội. Vị ấy có quan điểm về tội ấy là có tội, còn các vị tỳ khưu khác có quan điểm về tội ấy là vô tội.
Inda-bh 2~2Vị ấy, vào một lúc khác, có quan điểm về tội ấy là vô tội, còn các vị tỳ khưu khác có quan điểm về tội ấy là có tội.
Inda-bh 3~3Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:—“Này đại đức, đại đức đã phạm tội, đại đức có nhận thấy tội ấy không?”—“Này các đại đức, không có tội gì ở tôi để tôi có thể nhận thấy.”
Inda-bh 4~4Sau đó, các vị tỳ khưu ấy sau khi đạt được sự hợp nhất đã phạt án treo vị tỳ khưu ấy về việc không nhìn nhận tội.
Inda-bh 5~5Và vị tỳ khưu ấy là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các tiêu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập.
Inda-bh 6~6Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu đồng quan điểm thân thiết và đã nói điều này:—“Này các đại đức, điều ấy là vô tội, điều ấy không phải là tội. Tôi không phạm (tội), tôi không phải là phạm (tội). Tôi không bị án treo, tôi không phải là bị án treo. Tôi đã bị án treo bởi hành sự sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Vì Pháp vì Luật, các đại đức hãy về phe của tôi.” Rồi vị tỳ khưu ấy đã có được các tỳ khưu đồng quan điểm thân thiết về cùng phe.
Inda-bh 7~7Vị ấy cũng đã phái sứ giả đến gặp các vị tỳ khưu đồng quan điểm thân thiết thuộc các xứ sở (nói rằng): “Này các đại đức, điều ấy là vô tội, điều ấy không phải là tội. Tôi không phạm (tội), tôi không phải là phạm (tội). Tôi không bị án treo, tôi không phải là bị án treo. Tôi đã bị án treo bởi hành sự sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Vì Pháp vì Luật, các đại đức hãy về phe của tôi.” Rồi vị tỳ khưu ấy đã có được các vị tỳ khưu đồng quan điểm thân thiết trong xứ sở về cùng phe.
Inda-bh 8~8Sau đó, các tỳ khưu ủng hộ vị bị án treo ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu ban án treo, sau khi đến đã nói với các tỳ khưu ban án treo điều này:—“Này các đại đức, điều ấy là vô tội, điều ấy không phải là tội. Vị tỳ khưu ấy không phạm (tội), vị tỳ khưu ấy không phải là phạm (tội). Vị tỳ khưu ấy không bị án treo, vị tỳ khưu ấy không phải là bị án treo. Vị tỳ khưu ấy đã bị án treo bởi hành sự sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì.”
Inda-bh 9~9Khi được nói như thế, các tỳ khưu ban án treo đã nói với các tỳ khưu ủng hộ vị bị án treo điều này:—“Này các đại đức, điều ấy là có tội, điều ấy không phải là vô tội. Vị tỳ khưu ấy là phạm (tội), vị tỳ khưu ấy không phải là không phạm (tội). Vị tỳ khưu ấy đã bị án treo, vị tỳ khưu ấy không phải là không bị án treo. Vị tỳ khưu ấy đã bị án treo bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì. Này các đại đức, các vị chớ có ủng hộ, chớ có theo phe vị tỳ khưu đã bị án treo ấy.”
Inda-bh 10~10Trong khi được các tỳ khưu ban án treo nói như thế, các tỳ khưu ủng hộ vị bị án treo ấy cũng đã ủng hộ và đã theo phe vị tỳ khưu đã bị án treo ấy y như thế.
Inda-bh 11~11Sau đó, có vị tỳ khưu nọ đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, vị tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, trường hợp có vị tỳ khưu nọ đã phạm tội. Vị ấy đã có quan điểm về tội ấy là có tội, còn các vị tỳ khưu khác đã có quan điểm về tội ấy là vô tội.
Inda-bh 12~12Vị ấy, vào một lúc khác, đã có quan điểm về tội ấy là vô tội, còn các vị tỳ khưu khác đã có quan điểm về tội ấy là có tội.
Inda-bh 13~13Bạch ngài, khi ấy các vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: ‘Này đại đức, đại đức đã phạm tội, đại đức có nhận thấy tội ấy không?’ ‘Này các đại đức, không có tội gì ở tôi để tôi có thể nhận thấy.’
Inda-bh 14~14Bạch ngài, sau đó các vị tỳ khưu ấy đã đạt được sự hợp nhất và đã phạt án treo vị tỳ khưu ấy về việc không nhìn nhận tội.
Inda-bh 15~15Và bạch ngài, vị tỳ khưu ấy là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các tiêu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập.
Inda-bh 16~16Bạch ngài, khi ấy vị tỳ khưu ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu đồng quan điểm thân thiết và đã nói điều này: ‘Này các đại đức, điều ấy là vô tội, điều ấy không phải là tội. Tôi không phạm (tội), tôi không phải là phạm (tội). Tôi không bị án treo, tôi không phải là bị án treo. Tôi đã bị án treo bởi hành sự sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Vì Pháp vì Luật, các đại đức hãy về phe của tôi.’
Inda-bh 17~17Bạch ngài, rồi vị tỳ khưu ấy đã có được các tỳ khưu đồng quan điểm thân thiết về cùng phe.
Inda-bh 18~18Vị ấy cũng đã phái sứ giả đến gặp trực tiếp các tỳ khưu đồng quan điểm thân thiết thuộc các xứ sở (nói rằng): ‘Này các đại đức, điều ấy là vô tội, điều ấy không phải là tội. Tôi không phạm (tội), tôi không phải là phạm (tội). Tôi không bị án treo, tôi không phải là bị án treo. Tôi đã bị án treo bởi hành sự sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì. Vì Pháp vì Luật, các đại đức hãy về phe của tôi.’
Inda-bh 19~19Bạch ngài, rồi vị tỳ khưu ấy đã có được các tỳ khưu đồng quan điểm thân thiết trong xứ sở về cùng phe.
Inda-bh 20~20Bạch ngài, sau đó các tỳ khưu ủng hộ vị bị án treo ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu ban án treo, sau khi đến đã nói với các tỳ khưu ban án treo điều này: ‘Này các đại đức, điều ấy là vô tội, điều ấy không phải là tội. Vị tỳ khưu ấy không phạm (tội), vị tỳ khưu ấy không phải là phạm (tội). Vị tỳ khưu ấy không bị án treo, vị tỳ khưu ấy không phải là bị án treo. Vị tỳ khưu ấy đã bị án treo bởi hành sự sai Pháp, có thể sửa đổi, không đáng duy trì.’
Inda-bh 21~21Bạch ngài, khi được nói như thế các tỳ khưu ban án treo đã nói với các tỳ khưu ủng hộ vị bị án treo điều này: ‘Này các đại đức, điều ấy là có tội, điều ấy không phải là vô tội. Vị tỳ khưu ấy là phạm (tội), vị tỳ khưu ấy không phải là không phạm (tội). Vị tỳ khưu ấy đã bị án treo, vị tỳ khưu ấy không phải là không bị án treo. Vị tỳ khưu ấy đã bị án treo bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì. Này các đại đức, chớ có ủng hộ, chớ có theo phe vị tỳ khưu đã bị án treo ấy.’
Inda-bh 22~22Bạch ngài, trong khi được các tỳ khưu ban án treo nói như thế, các tỳ khưu ủng hộ vị bị án treo ấy cũng đã ủng hộ và đã theo phe vị tỳ khưu đã bị án treo y như thế.”
Inda-bh 23~23Khi ấy, đức Thế Tôn (nghĩ rằng): “Hội chúng tỳ khưu đã bị chia rẽ! Hội chúng tỳ khưu đã bị chia rẽ!” rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến gặp các vị tỳ khưu ban án treo, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn.
Inda-bh 24~24Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đã nói với các vị tỳ khưu ban án treo điều này:—“Này các tỳ khưu, các ngươi chớ có nghĩ rằng trong trường hợp (lập luận rằng): ‘Là rõ ràng đối với chúng ta! Là rõ ràng đối với chúng ta!!’ thì có thể ban án treo đến vị tỳ khưu.
Inda-bh 25~25Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu bị phạm tội. Vị ấy có quan điểm về tội ấy là vô tội, còn các tỳ khưu khác có quan điểm về tội ấy là có tội.
Inda-bh 26~26Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy nghĩ về vị tỳ khưu ấy như vầy: ‘Vị đại đức này là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các tiêu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Nếu chúng ta phạt án treo vị tỳ khưu này về việc không nhìn nhận tội, chúng ta sẽ không hành lễ Uposatha với vị tỳ khưu này, chúng ta sẽ hành lễ Uposatha không có vị tỳ khưu này; từ nguyên nhân ấy, hội chúng sẽ có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân ly trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng.’
Inda-bh 27~27Này các tỳ khưu, các tỳ khưu quan tâm về sự chia rẽ không nên phạt án treo về việc không nhìn nhận tội đến vị tỳ khưu ấy.
Inda-bh 28~28Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm tội, vị ấy có quan điểm về tội ấy là vô tội, còn các tỳ khưu khác có quan điểm về tội ấy là có tội.
Inda-bh 29~29Này các tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ấy nghĩ về vị tỳ khưu ấy như vầy: ‘Vị đại đức này là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các tiêu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập. Nếu chúng ta sẽ phạt án treo về việc không nhìn nhận tội đến vị tỳ khưu này, chúng ta sẽ không hành lễ Pavāraṇā với vị tỳ khưu này, chúng ta sẽ hành lễ Pavāraṇā không có vị tỳ khưu này, chúng ta sẽ không làm hành sự của hội chúng với vị tỳ khưu này, chúng ta sẽ làm hành sự của hội chúng không có vị tỳ khưu này, chúng ta sẽ không ngồi chung chỗ ngồi với vị tỳ khưu này, chúng ta sẽ ngồi ở chỗ ngồi không có vị tỳ khưu này, chúng ta sẽ không ngồi ăn cháo với vị tỳ khưu này, chúng ta sẽ ngồi ăn cháo không có vị tỳ khưu này, chúng ta sẽ không ngồi trong nhà ăn với vị tỳ khưu này, chúng ta sẽ ngồi trong nhà ăn không có vị tỳ khưu này, chúng ta sẽ không trú trong một mái che với vị tỳ khưu này, chúng ta sẽ trú trong một mái che không có vị tỳ khưu này, chúng ta sẽ không thực hiện sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, hành động thích hợp theo sự thâm niên với vị tỳ khưu này, chúng ta sẽ thực hiện sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, hành động thích hợp theo sự thâm niên không với vị tỳ khưu này; từ nguyên nhân ấy, hội chúng sẽ có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân ly trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng.’
Inda-bh 30~30Này các tỳ khưu, các tỳ khưu quan tâm về sự chia rẽ không nên phạt án treo về việc không nhìn nhận tội đến vị tỳ khưu ấy.”
Inda-bh 31~31Sau đó, khi đã giảng giải sự việc ấy cho các tỳ khưu ban án treo, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến gặp các tỳ khưu ủng hộ vị bị án treo, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn.
Inda-bh 32~32Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu ủng hộ vị bị án treo điều này:—“Này các tỳ khưu, các ngươi sau khi phạm tội chớ có nghĩ là không cần phải sửa chữa lỗi (cho rằng): ‘Chúng tôi không phạm! Chúng tôi không phạm!’
Inda-bh 33~33Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm tội, vị ấy có quan điểm về tội ấy là vô tội, còn các tỳ khưu khác có quan điểm về tội ấy là có tội.
Inda-bh 34~34Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu ấy nghĩ về các tỳ khưu kia như vầy: ‘Các vị đại đức này là các vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các tiêu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập, không thể nào vì nguyên nhân là ta hay vì nguyên nhân là vị khác (mà các vị ấy) bị chi phối bởi sự ưa thích, bởi sự sân hận, bởi sự si mê, bởi sự sợ hãi. Nếu các vị tỳ khưu này phạt án treo về việc không nhìn nhận tội đến ta, các vị sẽ không hành lễ Uposatha với ta, các vị sẽ hành lễ Uposatha không có ta; từ nguyên nhân ấy, hội chúng sẽ có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân ly trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng.’
Inda-bh 35~35Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu quan tâm về sự chia rẽ nên trình báo tội ấy vì niềm tin của các vị khác.
Inda-bh 36~36Này các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu phạm tội. Vị ấy có quan điểm về tội ấy là vô tội, còn các tỳ khưu khác có quan điểm về tội ấy là có tội.
Inda-bh 37~37Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu ấy nghĩ về các tỳ khưu kia như vầy: ‘Các vị đại đức này là các vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa, rành rẽ về Pháp, rành rẽ về Luật, rành rẽ về các tiêu đề, là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khiêm nhường, có hối hận, ưa thích sự học tập, không thể nào vì nguyên nhân là ta hay vì nguyên nhân là vị khác mà (các vị ấy) bị chi phối bởi sự ưa thích, bởi sự sân hận, bởi sự si mê, bởi sự sợ hãi. Nếu các vị tỳ khưu này phạt án treo về việc không nhìn nhận tội đến ta, các vị sẽ không hành lễ Pavāraṇā với ta, các vị sẽ hành lễ Pavāraṇā không có ta, các vị sẽ không làm hành sự của hội chúng với ta, các vị sẽ làm hành sự của hội chúng không có ta, các vị sẽ không ngồi chung chỗ ngồi với ta, các vị sẽ ngồi ở chỗ ngồi không có ta, các vị sẽ không ngồi ăn cháo với ta, các vị sẽ ngồi ăn cháo không có ta, các vị sẽ không ngồi trong nhà ăn với ta, các vị sẽ ngồi trong nhà ăn không có ta, các vị sẽ không trú trong một mái che với ta, các vị sẽ trú trong một mái che không có ta, các vị sẽ không thực hiện sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, hành động thích hợp theo sự thâm niên với ta, các vị sẽ thực hiện sự đảnh lễ, sự đứng dậy, sự chắp tay, hành động thích hợp theo sự thâm niên không có ta; từ nguyên nhân ấy, hội chúng sẽ có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân ly trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng.’
Inda-bh 38~38Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu quan tâm về sự chia rẽ nên trình báo tội ấy vì niềm tin của các vị khác.”
Inda-bh 39~39Sau đó, khi đã giảng giải sự việc ấy cho các tỳ khưu ủng hộ vị bị án treo, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Inda-bh 40~40Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ủng hộ vị bị án treo đã tiến hành lễ Uposatha và làm hành sự của hội chúng ngay tại nơi ấy bên trong ranh giới.
Inda-bh 41~41Còn các tỳ khưu ban án treo đi ra khỏi ranh giới rồi mới tiến hành lễ Uposatha và làm hành sự của hội chúng.
Inda-bh 42~42Sau đó, có vị tỳ khưu nọ là vị ban án treo đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, vị tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, các tỳ khưu ủng hộ vị bị án treo ấy tiến hành lễ Uposatha và làm hành sự của hội chúng ngay tại nơi ấy bên trong ranh giới. Bạch ngài, còn chúng con là các tỳ khưu ban án treo thì đi ra khỏi ranh giới rồi mới tiến hành lễ Uposatha và làm hành sự của hội chúng.”
Inda-bh 43~43—“Này tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ủng hộ vị bị án treo ấy tiến hành lễ Uposatha và làm hành sự của hội chúng ngay tại nơi ấy bên trong ranh giới, các hành sự ấy của các vị ấy sẽ là đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì theo như lời đề nghị và các lời tuyên bố đã được ta quy định. Này tỳ khưu, nếu các tỳ khưu ban án treo các ngươi tiến hành lễ Uposatha và làm hành sự của hội chúng ngay tại nơi ấy bên trong ranh giới, các hành sự ấy của các ngươi sẽ là đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì theo như lời đề nghị và các lời tuyên bố đã được ta quy định. Nguyên nhân của việc ấy là gì? Các vị tỳ khưu ấy là không đồng cộng trú với các ngươi và các ngươi là không đồng cộng trú với các vị ấy.
Inda-bh 44~44Này tỳ khưu, có hai nền tảng của việc không đồng cộng trú: Tự bản thân thực hiện việc không đồng cộng trú cho bản thân, hoặc là hội chúng hợp nhất phạt án treo vị ấy về việc không nhìn nhận (tội), hoặc về việc không sửa chữa (lỗi), hoặc về việc không từ bỏ (tà kiến ác). Này tỳ khưu, đây là hai nền tảng của việc không đồng cộng trú.
Inda-bh 45~45Này tỳ khưu, có hai nền tảng của việc đồng cộng trú: Tự bản thân thực hiện việc đồng cộng trú cho bản thân, hoặc là hội chúng hợp nhất phục hồi cho vị đã bị án treo về việc không nhìn nhận (tội), hoặc về việc không sửa chữa (lỗi), hoặc về việc không từ bỏ (tà kiến ác). Này tỳ khưu, đây là hai nền tảng của việc đồng cộng trú.”
Inda-bh 46~46Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu nảy sanh sự xung đột, nảy sanh sự cãi cọ, đưa đến tranh luận lẫn nhau ở nhà ăn, nơi xóm nhà, rồi thể hiện thân nghiệp khẩu nghiệp không thích hợp, rồi thực hiện sự va chạm bằng tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các Sa-môn Thích tử nảy sanh sự xung đột, nảy sanh sự cãi cọ, đưa đến tranh luận lẫn nhau ở nhà ăn, nơi xóm nhà, lại thể hiện thân nghiệp khẩu nghiệp không thích hợp, lại thực hiện sự va chạm bằng tay nữa?” Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, … (như trên) … các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao các tỳ khưu nảy sanh sự xung đột, nảy sanh sự cãi cọ, đưa đến tranh luận lẫn nhau ở nhà ăn, nơi xóm nhà lại thể hiện thân nghiệp khẩu nghiệp không thích hợp, lại thực hiện sự va chạm bằng tay nữa?”
Inda-bh 47~47Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, nghe nói … (như trên) …, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” … (như trên) … Sau khi khiển trách, ngài đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, khi hội chúng bị chia rẽ, trong khi hành xử sai Pháp đưa đến việc không hài hòa thì nên ngồi xuống chỗ ngồi (nghĩ rằng): ‘Dầu gì đi nữa chúng ta sẽ không thể hiện thân nghiệp khẩu nghiệp không thích hợp với nhau, chúng ta sẽ không thực hiện sự va chạm bằng tay.’ Này các tỳ khưu, khi hội chúng bị chia rẽ, trong khi hành xử đúng Pháp đưa đến việc hài hòa, thì nên ngồi xuống chỗ ngồi kế cận nhau.”
Inda-bh 48~48Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nảy sanh sự xung đột, nảy sanh sự cãi cọ, đưa đến tranh luận ở giữa hội chúng, sống châm chích lẫn nhau bằng các vũ khí của mồm miệng. Các vị ấy không thể giải quyết được sự tranh tụng ấy. Khi ấy, có vị tỳ khưu nọ đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, vị tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, ở đây các tỳ khưu nảy sanh sự xung đột, nảy sanh sự cãi cọ, đưa đến tranh luận ở giữa hội chúng, sống châm chích lẫn nhau bằng các vũ khí của mồm miệng. Các vị ấy không thể giải quyết được sự tranh tụng ấy. Bạch ngài, tốt thay xin đức Thế Tôn vì lòng thương xót hãy đi đến gặp các tỳ khưu ấy.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng.
Inda-bh 49~49Sau đó, đức Thế Tôn đã đi đến gặp các tỳ khưu ấy, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu ấy điều này:—“Này các tỳ khưu, thôi đủ rồi. Chớ có (gây ra) sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận nữa.” Khi được nói như thế, có vị tỳ khưu nọ là vị nói sai Pháp đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn, bậc Pháp Chủ, hãy chờ đợi. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn bớt lo nghĩ, hãy sống gắn bó với việc trú vào an lạc trong đời hiện tại; chúng con sẽ làm cho rõ ràng bằng sự xung đột, bằng sự cãi cọ, bằng sự lý luận, bằng sự tranh luận này.” Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu ấy điều này:—“Này các tỳ khưu, thôi đủ rồi. Chớ có (gây ra) sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận nữa.” Đến lần thứ nhì, vị tỳ khưu là vị nói sai Pháp ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn, bậc Pháp Chủ hãy chờ đợi. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn bớt lo nghĩ, hãy sống gắn bó với việc trú vào an lạc trong đời hiện tại; chúng con sẽ làm cho rõ ràng bằng sự xung đột, bằng sự cãi cọ, bằng sự lý luận, bằng sự tranh luận này.”
Inda-bh 50~50Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:—‘‘‘Này các tỳ khưu, trong thời quá khứ ở thành Bārāṇasī, đức vua của xứ Kāsi tên Brahmadatta là giàu sang, có nhiều tài sản, nhiều của cải, có binh lực vĩ đại, nhiều xe cộ, lãnh thổ rộng lớn, có các kho hàng và vựa lúa đầy ắp.
Inda-bh 51~51Còn đức vua xứ Kosala tên Dīghīti thì nghèo, có ít tài sản, ít của cải, có binh lực kém, ít xe cộ, lãnh thổ bé, có các kho hàng và vựa lúa không đầy.
Inda-bh 52~52Này các tỳ khưu, khi ấy đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã dàn trận đội quân gồm bốn loại binh chủng và nghênh chiến với đức vua Dīghīti xứ Kosala.
Inda-bh 53~53Này các tỳ khưu, đức vua Dīghīti xứ Kosala đã nghe rằng: “Nghe nói đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã dàn trận đội quân gồm bốn loại binh chủng và nghênh chiến với ta.”
Inda-bh 54~54Này các tỳ khưu, khi ấy đức vua Dīghīti xứ Kosala đã khởi ý điều này: “Đức vua Brahmadatta xứ Kāsi là giàu sang, có nhiều tài sản, nhiều của cải, có binh lực vĩ đại, nhiều xe cộ, lãnh thổ rộng lớn, có các kho hàng và vựa lúa đầy ắp. Còn ta thì nghèo, có ít tài sản, ít của cải, có binh lực kém, ít xe cộ, lãnh thổ bé, có các kho hàng và vựa lúa không đầy. Ta không có khả năng để chịu đựng chỉ một cuộc tấn công của đức vua Brahmadatta xứ Kāsi, hay là ta nên tẩu thoát khỏi thành phố trước?”
Inda-bh 55~55Này các tỳ khưu, khi ấy đức vua Dīghīti xứ Kosala đã đem theo hoàng hậu và tẩu thoát khỏi thành phố trước.
Inda-bh 56~56Này các tỳ khưu, sau đó đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã chiến thắng và đã làm chủ binh lực, xe cộ, xứ sở, kho hàng, và vựa lúa của đức vua Dīghīti xứ Kosala.
Inda-bh 57~57Này các tỳ khưu, khi ấy đức vua Dīghīti xứ Kosala cùng người vợ đã ra đi về phía thành Bārāṇasī, theo tuần tự đã đến được thành Bārāṇasī. Này các tỳ khưu, tại đó ở khu vực ngoại ô nọ nơi thành Bārāṇasī, đức vua Dīghīti xứ Kosala cùng với người vợ ngụ trong nhà của người làm đồ gốm, dưới hình thức khác là cải trang thành du sĩ.
Inda-bh 58~58Này các tỳ khưu, sau đó chẳng bao lâu hoàng hậu của đức vua Dīghīti xứ Kosala đã mang thai. Nàng khởi lên niềm khao khát có hình thức như vầy: Nàng mong muốn vào lúc mặt trời mọc được nhìn thấy đội quân gồm bốn loại binh chủng có vũ trang, dàn trận, đứng ở trên đất bằng, và được uống nước rửa đao kiếm.
Inda-bh 59~59Này các tỳ khưu, khi ấy hoàng hậu của đức vua Dīghīti xứ Kosala đã nói với đức vua Dīghīti xứ Kosala điều này:—“Tâu bệ hạ, thiếp đang mang thai. Thiếp đây khởi lên niềm khao khát có hình thức như vầy: Thiếp mong muốn vào lúc mặt trời mọc được nhìn thấy đội quân gồm bốn loại binh chủng có vũ trang, dàn trận, đứng ở trên đất bằng, và được uống nước rửa đao kiếm.”—“Này ái hậu, trong lúc chúng ta đang lâm cảnh khốn cùng thì lấy đâu ra đội quân gồm bốn loại binh chủng có vũ trang, dàn trận, đứng ở trên đất bằng, và nước rửa đao kiếm.”—“Tâu bệ hạ, nếu không đạt được thì thiếp sẽ chết mất.”
Inda-bh 60~60Này các tỳ khưu, vào lúc bấy giờ vị Bà-la-môn giữ chức tế tự của đức vua Brahmadatta xứ Kāsi là bạn của đức vua Dīghīti xứ Kosala.
Inda-bh 61~61Này các tỳ khưu, khi ấy đức vua Dīghīti xứ Kosala đã đi đến gặp vị Bà-la-môn giữ chức tế tự của đức vua Brahmadatta xứ Kāsi, sau khi đến đã nói với vị Bà-la-môn giữ chức tế tự của đức vua Brahmadatta xứ Kāsi điều này:—“Này bạn, người bạn gái của bạn đang mang thai. Nàng khởi lên niềm khao khát có hình thức như vầy: Nàng mong muốn vào lúc mặt trời mọc được nhìn thấy đội quân gồm bốn loại binh chủng có vũ trang, dàn trận, đứng ở trên đất bằng, và được uống nước rửa đao kiếm.”—“Tâu bệ hạ, như thế thì chúng ta hãy gặp hoàng hậu.”
Inda-bh 62~62Này các tỳ khưu, khi ấy hoàng hậu của đức vua Dīghīti xứ Kosala đã đi đến gặp vị Bà-la-môn giữ chức tế tự của đức vua Brahmadatta xứ Kāsi. Này các tỳ khưu, vị Bà-la-môn giữ chức tế tự của đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã nhìn thấy hoàng hậu của đức vua Dīghīti xứ Kosala từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay cúi chào hoàng hậu của đức vua Dīghīti xứ Kosala và đã ba lần thốt lên lời cảm hứng rằng: “‘Quả đúng là đức vua xứ Kosala đã nhập thai! Quả đúng là đức vua xứ Kosala đã nhập thai! Quả đúng là đức vua xứ Kosala đã nhập thai!’ Tâu hoàng hậu, xin chớ lo âu, vào lúc mặt trời mọc hoàng hậu sẽ được nhìn thấy đội quân gồm bốn loại binh chủng có vũ trang, dàn trận, đứng ở trên đất bằng, và được uống nước rửa đao kiếm.”
Inda-bh 63~63Này các tỳ khưu, sau đó vị Bà-la-môn giữ chức tế tự của đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã đi đến gặp đức vua Brahmadatta xứ Kāsi, sau khi đến đã nói với đức vua Brahmadatta xứ Kāsi điều này:—“Tâu bệ hạ, theo như các điềm báo hiệu cho thấy: Ngày mai vào lúc mặt trời mọc, đội quân gồm bốn loại binh chủng có vũ trang, dàn trận, hãy đứng ở trên đất bằng, và các đao kiếm hãy được rửa.”
Inda-bh 64~64Này các tỳ khưu, sau đó đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã ra lệnh cho mọi người rằng:—“Này các khanh, vị Bà-la-môn giữ chức tế tự đã nói như thế nào thì các khanh hãy làm theo như thế ấy.”
Inda-bh 65~65Này các tỳ khưu, rồi vào lúc mặt trời mọc hoàng hậu của đức vua Dīghīti xứ Kosala đã được nhìn thấy đội quân gồm bốn loại binh chủng có vũ trang, dàn trận, đứng ở trên đất bằng, và được uống nước rửa đao kiếm.
Inda-bh 66~66Này các tỳ khưu, sau đó khi bào thai ấy đã được phát triển đầy đủ, hoàng hậu của đức vua Dīghīti xứ Kosala đã sanh ra người con trai. Họ đã đặt tên cho đứa bé là Dīghāvu. Này các tỳ khưu, sau đó chẳng bao lâu hoàng tử Dīghāvu đã đạt được sự hiểu biết.
Inda-bh 67~67Này các tỳ khưu, khi ấy đức vua Dīghīti xứ Kosala đã khởi ý điều này:—“Vua Brahmadatta xứ Kāsi này là người làm nhiều việc thất lợi cho chúng ta. Binh lực, xe cộ, xứ sở, kho hàng, và vựa lúa của chúng ta đã bị người này chiếm đoạt. Nếu người này biết được chúng ta thì sẽ ra lệnh giết chết luôn cả ba. Hay là ta nên cho hoàng tử Dīghāvu sống ở bên ngoài thành phố?”
Inda-bh 68~68Này các tỳ khưu, khi ấy đức vua Dīghīti xứ Kosala đã cho hoàng tử Dīghāvu sống ở bên ngoài thành phố. Này các tỳ khưu, sau đó chẳng bao lâu hoàng tử Dīghāvu trong khi sống ở bên ngoài thành phố đã học được tất cả các tài nghệ.
Inda-bh 69~69Này các tỳ khưu, vào lúc bấy giờ người thợ hớt tóc của đức vua Dīghīti xứ Kosala sống (dưới quyền) của đức vua Brahmadatta xứ Kāsi. Này các tỳ khưu, người thợ hớt tóc của đức vua Dīghīti xứ Kosala đã nhìn thấy đức vua Dīghīti xứ Kosala cùng với người vợ đang sống ở khu vực ngoại ô nọ nơi thành Bārāṇasī, trong nhà của người làm đồ gốm, dưới hình thức khác là cải trang thành du sĩ. Sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp đức vua Brahmadatta xứ Kāsi, sau khi đến đã nói với đức vua Brahmadatta xứ Kāsi điều này:—“Tâu bệ hạ, đức vua Dīghīti xứ Kosala cùng với người vợ đang sống ở khu vực ngoại ô nọ nơi thành Bārāṇasī, trong nhà của người làm đồ gốm, dưới hình thức khác là cải trang thành du sĩ.”
Inda-bh 70~70Này các tỳ khưu, khi ấy đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã ra lệnh cho mọi người rằng:—“Này các khanh, như thế thì hãy dẫn đức vua Dīghīti xứ Kosala cùng với người vợ đến.”—“Tâu bệ hạ, xin vâng.” Này các tỳ khưu, rồi những người ấy nghe theo đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã dẫn đức vua Dīghīti xứ Kosala cùng với người vợ đến.
Inda-bh 71~71Này các tỳ khưu, khi ấy đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã ra lệnh cho mọi người rằng:—“Này các khanh, như thế thì hãy trói chặt đức vua Dīghīti xứ Kosala cùng người vợ bằng dây thừng chắc chắn, với cánh tay ở phía sau, cạo trọc đầu, rồi dẫn đi quanh từ đường phố này sang đường phố khác, từ giao lộ này sang giao lộ khác với tiếng trống có âm thanh inh ỏi, sau khi đưa đi ra bằng cổng thành phía nam, hãy chặt thành bốn khúc tại phía nam của thành phố, rồi quăng bỏ các phần ấy ở bốn hướng.”
Inda-bh 72~72—“Tâu bệ hạ, xin vâng.” Này các tỳ khưu, rồi những người ấy nghe theo đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã trói chặt đức vua Dīghīti xứ Kosala cùng người vợ bằng dây thừng chắc chắn, với cánh tay ở phía sau, cạo trọc đầu, rồi dẫn đi quanh từ đường phố này sang đường phố khác, từ giao lộ này sang giao lộ khác với tiếng trống có âm thanh inh ỏi.
Inda-bh 73~73Này các tỳ khưu, khi ấy hoàng tử Dīghāvu đã khởi ý điều này:—“Mẹ và cha của ta được nhìn thấy đã lâu lắm rồi, hay là ta nên gặp mẹ và cha?”
Inda-bh 74~74Này các tỳ khưu, khi ấy hoàng tử Dīghāvu đã đi vào thành Bārāṇasī và nhìn thấy mẹ và cha bị trói chặt cánh tay ở phía sau bằng dây thừng chắc chắn, bị cạo trọc đầu, và đang bị dẫn đi quanh từ đường phố này sang đường phố khác, từ giao lộ này sang giao lộ khác với tiếng trống có âm thanh inh ỏi, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp mẹ và cha.
Inda-bh 75~75Này các tỳ khưu, đức vua Dīghīti xứ Kosala đã nhìn thấy hoàng tử Dīghāvu từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói với hoàng tử Dīghāvu điều này:—“Này Dīghāvu thương, con hãy nhìn chớ có xa, chớ có gần. Này Dīghāvu thương, bởi vì các sự thù hận không được làm lắng dịu bởi thù hận. Này Dīghāvu thương, chính vì không thù hận mà các sự thù hận được lắng dịu.”
Inda-bh 76~76Này các tỳ khưu, khi được nói như thế những người ấy đã nói với đức vua Dīghīti xứ Kosala điều này:—“Đức vua Dīghīti xứ Kosala này là người điên nên nói nhảm. Ai là Dīghāvu của ông ta? Ông ta đã nói với ai như vầy: ‘Này Dīghāvu thương, con hãy nhìn chớ có xa, chớ có gần. Này Dīghāvu thương, bởi vì các sự thù hận không được làm lắng dịu bởi thù hận. Này Dīghāvu thương, chính vì không thù hận mà các sự thù hận được lắng dịu’?”—“Này các khanh, ta không là người điên. Ta không nói nhảm. Hơn nữa, người nào thông thái thì người ấy sẽ hiểu rõ.”
Inda-bh 77~77Này các tỳ khưu, đến lần thứ nhì … (như trên) … Này các tỳ khưu, đến lần thứ ba những người ấy đã nói với đức vua Dīghīti xứ Kosala điều này:—“Đức vua Dīghīti xứ Kosala này là người điên nên nói nhảm. Ai là Dīghāvu của ông ta? Ông ta đã nói với ai như vầy: ‘Này Dīghāvu thương, con hãy nhìn chớ có xa, chớ có gần. Này Dīghāvu thương, bởi vì các sự thù hận không được làm lắng dịu bởi thù hận. Này Dīghāvu thương, chính vì không thù hận mà các sự thù hận được lắng dịu’?”—“Này các khanh, ta không là người điên. Ta không nói nhảm. Hơn nữa, người nào thông thái thì người ấy sẽ hiểu rõ.”
Inda-bh 78~78Này các tỳ khưu, sau đó những người ấy khi đã dẫn đức vua Dīghīti xứ Kosala cùng với người vợ đi quanh từ đường phố này sang đường phố khác, từ giao lộ này sang giao lộ khác với tiếng trống có âm thanh inh ỏi rồi đã đưa đi ra bằng cổng thành phía nam, chặt thành bốn khúc tại phía nam của thành phố, quăng bỏ các phần ấy ở bốn hướng, ổn định lại hàng ngũ, rồi đã bỏ đi.
Inda-bh 79~79Này các tỳ khưu, khi ấy hoàng tử Dīghāvu đã đi vào thành Bārāṇasī đem lại rượu và cho các người lính gác uống. Đến khi những người lính đã bị say và té xuống, thi hoàng tử Dīghāvu đã tự mình gom góp các thanh củi, thực hiện giàn hỏa táng, rồi đặt thi thể của mẹ và cha lên giàn hỏa táng, châm lửa, chắp tay lên, và hướng vai phải nhiễu quanh giàn hỏa thiêu ba vòng.
Inda-bh 80~80Này các tỳ khưu, vào lúc bấy giờ đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đi đến nơi sân thượng ở phần trên tòa lâu đài. Này các tỳ khưu, đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã nhìn thấy hoàng tử Dīghāvu chắp tay lên và đang hướng vai phải nhiễu quanh giàn hỏa thiêu ba vòng, sau khi nhìn thấy đã khởi ý điều này: “Chắc chắn rằng người đàn ông này là thân quyến hoặc là có cùng huyết thống với đức vua Dīghīti xứ Kosala. Hừ, chẳng có ích lợi gì cho ta. Bởi vì chẳng có người nào sẽ nói cho ta hay!”
Inda-bh 81~81Này các tỳ khưu, khi ấy hoàng tử Dīghāvu đã đi vào rừng và than van khóc lóc cho đến nguôi ngoai, rồi đã lau khô nước mắt, trở vào thành Bārāṇasī, đi đến chuồng voi ở cạnh hoàng cung, và đã nói với người thầy huấn luyện voi điều này:—“Thưa thầy, tôi muốn học nghề.”—“Này chàng trai trẻ mến, như thế thì ngươi cứ việc học.”
Inda-bh 82~82Này các tỳ khưu, sau đó hoàng tử Dīghāvu, sau khi thức dậy trong đêm vào lúc hừng sáng, đã ca hát với giọng du dương và đã đánh đàn ở nơi chuồng voi.
Inda-bh 83~83Này các tỳ khưu, rồi đức vua Brahmadatta xứ Kāsi, sau khi thức dậy trong đêm vào lúc hừng sáng, đã nghe tiếng ca hát với giọng du dương và tiếng đánh đàn ở nơi chuồng voi nên đã hỏi mọi người rằng:—“Này các khanh, người nào sau khi thức dậy trong đêm vào lúc hừng sáng đã ca hát với giọng du dương và đã đánh đàn ở nơi chuồng voi?”
Inda-bh 84~84—“Tâu bệ hạ, chàng trai trẻ học trò của người thầy huấn luyện voi kia, sau khi thức dậy trong đêm vào lúc hừng sáng, đã ca hát với giọng du dương và đã đánh đàn ở nơi chuồng voi.”—“Này các khanh, như thế thì hãy dẫn chàng trai trẻ ấy đến.”—“Tâu bệ hạ, xin vâng.” Này các tỳ khưu, rồi các người ấy nghe theo đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã đưa hoàng tử Dīghāvu lại.
Inda-bh 85~85—“Này khanh chàng trai trẻ, có phải khanh sau khi thức dậy trong đêm vào lúc hừng sáng, đã ca hát với giọng du dương và đã đánh đàn ở nơi chuồng voi?”—“Tâu bệ hạ, thưa phải.”—“Này khanh chàng trai trẻ, như thế thì khanh hãy ca hát với giọng du dương và hãy đánh đàn đi.”—“Tâu bệ hạ, xin vâng.” Này các tỳ khưu, rồi hoàng tử Dīghāvu nghe theo đức vua Brahmadatta xứ Kāsi và có ý định làm (đức vua) hài lòng nên đã ca hát với giọng du dương và đã đánh đàn.—“Này khanh chàng trai trẻ, khanh hãy hầu hạ ta.”—“Tâu bệ hạ, xin vâng.” Này các tỳ khưu, hoàng tử Dīghāvu đã đáp lời đức vua Brahmadatta xứ Kāsi.
Inda-bh 86~86Này các tỳ khưu, sau đó hoàng tử Dīghāvu đã trở thành người thức dậy trước và đi ngủ sau, là người sẵn sàng làm mọi việc, có hành động chiều chuộng, có nói lời êm dịu đối với đức vua Brahmadatta xứ Kāsi.
Inda-bh 87~87Này các tỳ khưu, sau đó chẳng bao lâu đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã bổ nhiệm hoàng tử Dīghāvu vào vai trò cận thần thân thiết.
Inda-bh 88~88Này các tỳ khưu, sau đó đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã nói với hoàng tử Dīghāvu điều này:—“Này khanh chàng trai trẻ, như vậy thì khanh hãy thắng (ngựa) vào xe, chúng ta sẽ đi săn thú.”—“Tâu bệ hạ, xin vâng.” Này các tỳ khưu, rồi hoàng tử Dīghāvu nghe theo đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã thắng (ngựa) vào xe rồi đã nói với đức vua Brahmadatta xứ Kāsi điều này: “Tâu bệ hạ, xe đã được thắng (ngựa) vào, xin bệ hạ hãy suy nghĩ bây giờ là thời điểm của việc gì.”
Inda-bh 89~89Này các tỳ khưu, khi ấy đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã bước lên xe. Hoàng tử Dīghāvu đã điều khiển xe và đã điều khiển xe như thế nào đó để đội quân lính đã đi theo hướng khác, còn chiếc xe theo hướng khác.
Inda-bh 90~90Này các tỳ khưu, sau đó khi đã đi xa, đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã nói với hoàng tử Dīghāvu điều này:—“Này khanh chàng trai trẻ, hãy dừng xe lại. Trẫm đã mệt và sẽ nằm xuống.”
Inda-bh 91~91—“Tâu bệ hạ, xin vâng.” Này các tỳ khưu, rồi hoàng tử Dīghāvu nghe theo đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã dừng xe lại và ngồi xuống với thế kiết già ở trên mặt đất.
Inda-bh 92~92Này các tỳ khưu, sau đó đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã kê đầu lên bắp vế của hoàng tử Dīghāvu và nằm xuống. Đức vua đang mệt mỏi nên chỉ trong chốc lát đã rơi vào giấc ngủ.
Inda-bh 93~93Này các tỳ khưu, khi ấy hoàng tử Dīghāvu đã khởi ý điều này: “Đức vua Brahmadatta xứ Kāsi này là người làm nhiều việc thất lợi cho chúng ta. Binh lực, xe cộ, xứ sở, kho hàng, và vựa lúa của chúng ta đã bị người này chiếm đoạt. Mẹ và cha của ta đã bị người này giết. Đây quả là thời điểm của việc này, là việc ta có thể thanh toán mối thù hận” rồi đã rút gươm ra khỏi vỏ.
Inda-bh 94~94Này các tỳ khưu, khi ấy hoàng tử Dīghāvu đã khởi ý điều này: “Vào lúc chết, cha của ta đã nói với ta rằng: ‘Này Dīghāvu thương, con hãy nhìn chớ có xa, chớ có gần. Này Dīghāvu thương, bởi vì các sự thù hận không được làm lắng dịu bởi thù hận. Này Dīghāvu thương, chính vì không thù hận mà các sự thù hận được lắng dịu.’ Đối với ta việc này không thích đáng là việc ta có thể làm trái lời dạy của cha” nên đã tra gươm vào vỏ.
Inda-bh 95~95Này các tỳ khưu, đến lần thứ nhì … (như trên) … Này các tỳ khưu, đến lần thứ ba hoàng tử Dīghāvu đã khởi ý điều này: “Đức vua Brahmadatta xứ Kāsi này là người làm nhiều việc thất lợi cho chúng ta. Binh lực, xe cộ, xứ sở, kho hàng, và vựa lúa của chúng ta đã bị người này chiếm đoạt. Mẹ và cha của ta đã bị người này giết. Đây quả là thời điểm để ta có thể thanh toán mối thù hận” rồi đã rút gươm ra khỏi vỏ. Này các tỳ khưu, đến lần thứ ba hoàng tử Dīghāvu đã khởi ý điều này: “Vào lúc chết, cha của ta đã nói với ta rằng: ‘Này Dīghāvu thương, con hãy nhìn chớ có xa, chớ có gần. Này Dīghāvu thương, bởi vì các sự thù hận không được làm lắng dịu bởi thù hận. Này Dīghāvu thương, chính vì không thù hận mà các sự thù hận được lắng dịu.’ Đối với ta việc này không thích đáng là việc ta có thể làm trái lời dạy của cha” nên lại tra gươm vào vỏ.
Inda-bh 96~96Này các tỳ khưu, khi ấy đức vua Brahmadatta xứ Kāsi trở nên hoảng sợ, kinh hoàng, hốt hoảng, dáo dác, đã tức thời chồm dậy.
Inda-bh 97~97Này các tỳ khưu, khi ấy hoàng tử Dīghāvu đã nói với đức vua Brahmadatta xứ Kāsi điều này:—“Tâu bệ hạ, vì sao bệ hạ lại trở nên hoảng sợ, kinh hoàng, hốt hoảng, dáo dác, và tức thời chồm dậy?”—“Này khanh chàng trai trẻ, ở đây con trai của đức vua Dīghīti xứ Kosala là hoàng tử Dīghāvu đã dùng gươm tấn công ta trong giấc ngủ mơ, vì thế trẫm trở nên hoảng sợ, kinh hoàng, hốt hoảng, dáo dác, và đã tức thời chồm dậy.”
Inda-bh 98~98Này các tỳ khưu, khi ấy hoàng tử Dīghāvu đã dùng bàn tay trái mân mê đầu của đức vua Brahmadatta xứ Kāsi và dùng bàn tay phải rút gươm ra rồi nói với đức vua Brahmadatta xứ Kāsi điều này:—“Tâu bệ hạ, thần chính là hoàng tử Dīghāvu con trai của đức vua Dīghīti xứ Kosala. Bệ hạ là người làm nhiều việc thất lợi cho chúng tôi. Binh lực, xe cộ, xứ sở, kho hàng, và vựa lúa của chúng tôi đã bị bệ hạ chiếm đoạt. Mẹ và cha của tôi đã bị bệ hạ giết. Đây quả là thời điểm việc này, là việc thần có thể thanh toán mối thù hận.”
Inda-bh 99~99Này các tỳ khưu, khi ấy đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã quỳ mọp xuống đê đầu ở hai bàn chân của hoàng tử Dīghāvu và đã nói với hoàng tử Dīghāvu điều nầy:—“Này Dīghāvu yêu quý, hãy ban cho trẫm mạng sống. Này Dīghāvu yêu quý, hãy ban cho trẫm mạng sống.”—“Sao thần lại có khả năng để ban cho bệ hạ mạng sống được. Chính bệ hạ mới có thể ban cho thần mạng sống?”—“Này Dīghāvu yêu quý, như thế thì khanh hãy ban cho trẫm mạng sống, và trẫm sẽ ban mạng sống cho khanh.”
Inda-bh 100~100Này các tỳ khưu, khi ấy đức vua Brahmadatta xứ Kāsi và hoàng tử Dīghāvu đã ban mạng sống cho nhau. Họ đã nắm lấy bàn tay và đã thực hiện lời thề không phản bội nhau.
Inda-bh 101~101Này các tỳ khưu, sau đó đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã nói với hoàng tử Dīghāvu điều này:—“Này Dīghāvu yêu quý, như thế thì khanh hãy thắng (ngựa) vào xe, chúng ta sẽ đi.”—“Tâu bệ hạ, xin vâng.” Này các tỳ khưu, rồi hoàng tử Dīghāvu nghe theo đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã thắng (ngựa) vào xe rồi đã nói với đức vua Brahmadatta xứ Kāsi điều này:—“Tâu bệ hạ, xe đã được thắng (ngựa) vào, xin bệ hạ hãy suy nghĩ bây giờ là thời điểm của việc gì.”
Inda-bh 102~102Này các tỳ khưu, sau đó đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã bước lên xe và hoàng tử Dīghāvu đã điều khiển xe, và đã điều khiển xe theo như thế nào đó để chẳng bao lâu sau gặp lại đội quân lính.
Inda-bh 103~103Này các tỳ khưu, sau đó đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã đi vào thành Bārāṇasī, cho triệu tập các viên quan đại thần cố vấn lại, và đã nói điều này:—“Này các khanh, nếu các khanh có thể nhìn thấy hoàng tử Dīghāvu con trai của đức vua Dīghīti xứ Kosala thì các khanh nên làm gì người ấy?”
Inda-bh 104~104Một số vị quan đã nói như vầy:—“Tâu bệ hạ, chúng ta nên chặt hai tay. Tâu bệ hạ, chúng ta nên chặt hai chân. Tâu bệ hạ, chúng ta nên chặt hai tay và hai chân. Tâu bệ hạ, chúng ta nên xẻo hai tai. Tâu bệ hạ, chúng ta nên xẻo lỗ mũi. Tâu bệ hạ, chúng ta nên xẻo hai tai và lỗ mũi. Tâu bệ hạ, chúng ta nên chặt đầu.”
Inda-bh 105~105—“Này các khanh, đây chính là hoàng tử Dīghāvu con trai của đức vua Dīghīti xứ Kosala. Không được làm bất cứ điều gì đến người này. Người này đã ban cho trẫm mạng sống và trẫm đã ban mạng sống cho người này.”
Inda-bh 106~106Này các tỳ khưu, sau đó đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã nói với hoàng tử Dīghāvu điều này:—“Này Dīghāvu yêu quý, điều mà cha của khanh vào lúc chết đã nói rằng: ‘Này Dīghāvu thương, con hãy nhìn chớ có xa, chớ có gần. Này Dīghāvu thương, bởi vì các sự thù hận không được làm lắng dịu bởi thù hận. Này Dīghāvu thương, chính vì không thù hận mà các sự thù hận được lắng dịu,’ cha của khanh đã ám chỉ điều gì vậy?”
Inda-bh 107~107—“Tâu bệ hạ, điều mà cha của thần vào lúc chết đã nói: ‘Chớ có xa,’ (ý là) ‘Chớ có gây thù hận lâu dài.’ Tâu bệ hạ, đây là điều mà cha của thần vào lúc chết đã nói: ‘Chớ có xa.’ Tâu bệ hạ, điều mà cha của thần vào lúc chết đã nói: ‘Chớ có gần,’ (ý là) ‘Chớ có mau chóng gây đổ vỡ với bạn bè.’ Tâu bệ hạ, đây là điều mà cha của thần vào lúc chết đã nói: ‘Chớ có gần.’ Tâu bệ hạ, điều mà cha của thần vào lúc chết đã nói: ‘Này Dīghāvu thương, bởi vì các sự thù hận không được làm lắng dịu bởi thù hận. Này Dīghāvu thương, chính vì không thù hận mà các sự thù hận được lắng dịu,’ (ý là) ‘Mẹ và cha của thần đã bị bệ hạ giết,’ như thế nếu thần có thể tước đoạt mạng sống của bệ hạ thì những người mong mỏi sự lợi ích cho bệ hạ có thể tước đoạt mạng sống của thần, rồi những người mong mỏi sự lợi ích cho thần có thể tước đoạt mạng sống của những người ấy; như vậy thù hận ấy không thể giải quyết bằng thù hận. Giờ đây, bệ hạ đã ban mạng sống cho thần và thần đã ban mạng sống cho bệ hạ; như vậy thù hận ấy đã được giải quyết bằng sự không thù hận. Tâu bệ hạ, đây là điều mà cha của thần vào lúc chết đã nói: ‘Này Dīghāvu thương, bởi vì các sự thù hận không được làm lắng dịu bởi thù hận. Này Dīghāvu thương, chính vì không thù hận mà các sự thù hận được lắng dịu.’”
Inda-bh 108~108Này các tỳ khưu, khi ấy đức vua Brahmadatta xứ Kāsi đã khởi ý điều này:—“Thật kỳ diệu thay! Thật phi thường thay! Hoàng tử Dīghāvu này thật sáng trí bởi vì hiểu được ý nghĩa một cách chi tiết của điều đã được người cha nói ra một cách vắn tắt” rồi đã trả lại binh lực, xe cộ, xứ sở, kho hàng, và vựa lúa của người cha, và còn ban cho người con gái (của mình) nữa.
Inda-bh 109~109Này các tỳ khưu, ngay chính những người ấy là các vị vua đã cầm lấy gậy, đã cầm lấy gươm mà còn có sự kham nhẫn và khoan dung như thế ấy. Này các tỳ khưu, ở đây các ngươi hãy làm rạng rỡ việc các ngươi đang được xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy, các ngươi hãy nên bày tỏ sự kham nhẫn và lòng khoan dung.’’’
Inda-bh 110~110Đến lần thứ ba, đức Thế Tôn đã nói với các tỳ khưu ấy điều này:—“Này các tỳ khưu, thôi đủ rồi. Chớ có sự xung đột, chớ có sự cãi cọ, chớ có sự lý luận, chớ có sự tranh luận nữa.”
Inda-bh 111~111Đến lần thứ ba, vị tỳ khưu là vị nói sai Pháp ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, xin đức Thế Tôn, bậc Pháp Chủ, hãy chờ đợi. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn bớt lo nghĩ, hãy sống gắn bó với việc trú vào an lạc trong đời hiện tại; chúng con sẽ làm cho rõ ràng bằng sự xung đột, bằng sự cãi cọ, bằng sự lý luận, và bằng sự tranh luận này.”
Inda-bh 112~112Khi ấy, đức Thế Tôn (nghĩ rằng): “Những kẻ rồ dại này đã tới mức tận cùng, những kẻ này không dễ gì mà nhắc nhở” rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Tụng phẩm Dīghāvu là phần thứ nhất.
Inda-bh 1~113Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi vào thành Kosambi để khất thực. Sau khi đã đi khất thực trong thành Kosambi, trên đường khất thực trở về sau bữa ăn, đức Thế Tôn đã thu xếp chỗ trú ngụ, cầm y bát, rồi chỉ đứng giữa hội chúng nói lên những lời kệ này:
Inda-bh 2~114“Trong đám người ồn ào náo nhiệt, không kẻ nào nghĩ là mình ngu, hơn thế nữa, trong khi hội chúng đang bị chia rẽ, không người nào khác đã biết đến.
Inda-bh 3~115Lời nói của bậc trí đã bị hoàn toàn quên hẳn, chúng nói đủ mọi thứ chuyện. Có miệng há rộng theo như chúng muốn, chúng bị (sự náo động) lôi kéo đi mà chẳng biết.
Inda-bh 4~116Nó đã sỉ nhục tôi, nó đã đánh đập tôi, nó đã chế ngự tôi, nó đã tước đoạt của tôi. Những ai ấp ủ điều ấy, sự thù hận của những người ấy không được lặng yên.
Inda-bh 5~117Nó đã sỉ nhục tôi, nó đã đánh đập tôi, nó đã chế ngự tôi, nó đã tước đoạt của tôi. Những ai không ấp ủ điều ấy, sự thù hận ở những người ấy được lặng yên.
Inda-bh 6~118Ở thế gian này, các sự thù hận không bao giờ được lặng yên bởi sự hận thù, và chúng được lặng yên bởi sự không thù hận; điều này là quy luật cổ xưa.
Inda-bh 7~119Và những người khác không nhận thức được, ở đây chúng ta nên tự kiềm chế. Và những người nào nhận thức được điều ấy, từ đó mà các sự tranh chấp được lặng yên.
Inda-bh 8~120Đối với những kẻ đang xâm chiếm lãnh thổ là những kẻ đã chặt đứt xương (thịt), đã đoạt mạng sống, đã cướp bóc ngựa, bò, tài sản, mà còn có sự hòa hợp đối với chúng, vì sao các người lại không thể có được?
Inda-bh 9~121Nếu có thể đạt được người bạn khôn ngoan là bậc trí tuệ sống tốt lành làm người đồng hành, thì sau khi vượt qua mọi hiểm nạn, có thể đi với người ấy (một cách) hoan hỷ có niệm.
Inda-bh 10~122Nếu không thể có được người bạn khôn ngoan là bậc trí tuệ sống tốt lành làm người đồng hành, thì giống như vị vua từ bỏ quốc độ đã chinh phục, hãy nên sống một mình như là voi Mātaṅga (sống) ở trong rừng.
Inda-bh 11~123Sống một mình là tốt hơn, không có tình bằng hữu ở kẻ ngu. Một mình hãy sống và không nên làm các điều ác, ít ham muốn như là voi Mātaṅga (sống) ở trong rừng.”
Inda-bh 12~124Khi ấy, đức Thế Tôn chỉ đứng giữa hội chúng đã nói lên những lời kệ này rồi đi đến ngôi làng Bālakaloṇakāra.
Inda-bh 13~125Vào lúc bấy giờ, đại đức Bhagu đang trú tại ngôi làng Bālakaloṇakāra.
Inda-bh 14~126Đại đức Bhagu đã nhìn thấy đức Thế Tôn từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã sắp đặt chỗ ngồi, đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, rồi đã đi ra đón và tiếp rước y bát. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn, sau khi ngồi xuống đã rửa hai bàn chân.
Inda-bh 15~127Đại đức Bhagu đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đại đức Bhagu đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Bhagu điều này:—“Này tỳ khưu, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có tốt đẹp không? Việc đi khất thực có khỏi bị khó nhọc không?”—“Bạch Thế Tôn, sức khoẻ khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc được tốt đẹp. Và bạch ngài, việc đi khất thực không có bị khó nhọc.”
Inda-bh 16~128Sau đó, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đại đức Bhagu bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và đi đến khu vườn cây Pācīnavaṁsa.
Inda-bh 17~129Vào lúc bấy giờ, đại đức Anuruddha, đại đức Nandiya, và đại đức Kimbila trú tại khu vườn cây Pācīnavaṁsa.
Inda-bh 18~130Người giữ vườn đã nhìn thấy đức Thế Tôn từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Này ông Sa-môn, chớ có đi vào khu vườn cây này. Ở đây, có ba người con trai gia đình danh giá và có tính tự trọng trú ngụ. Chớ có gây phiền nhiễu đến họ.”
Inda-bh 19~131Đại đức Anuruddha đã nghe được người giữ vườn đang căn dặn đức Thế Tôn, sau khi nghe được đã nói với người giữ vườn điều này:—“Này đạo hữu giữ vườn, chớ ngăn cản đức Thế Tôn. Bậc Đạo Sư của chúng tôi là đức Thế Tôn đã đến.”
Inda-bh 20~132Sau đó, đại đức Anuruddha đã đi đến gặp đại đức Nandiya và đại đức Kimbila, sau khi đến đã nói với đại đức Nandiya và đại đức Kimbila điều này:—“Các đại đức hãy đi ra. Các đại đức hãy đi ra. Bậc Đạo Sư của chúng ta là đức Thế Tôn đã đến.”
Inda-bh 21~133Khi ấy, đại đức Anuruddha, đại đức Nandiya, và đại đức Kimbila đã đi ra đón đức Thế Tôn, một vị đã nhận lấy y và bình bát của đức Thế Tôn, một vị đã sắp xếp chỗ ngồi, một vị đã mang lại nước rửa chân, ghế kê chân, và tấm chà chân. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn, sau khi ngồi xuống đã rửa hai bàn chân.
Inda-bh 22~134Rồi các vị đại đức ấy đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đã ngồi xuống một bên. Khi đại đức Anuruddha đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Anuruddha điều này:—“Này các vị Anuruddha, các ngươi sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Việc đi khất thực có khỏi bị khó nhọc không?”
—“Bạch Thế Tôn, sức khoẻ khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc được tốt đẹp. Và bạch ngài, việc đi khất thực không có bị khó nhọc.”
—“Này các vị Anuruddha, các ngươi sống có sự hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, có được trạng thái như sữa với nước, có nhìn nhau bằng những ánh mắt thương mến không?”
—“Bạch Thế Tôn, chắc chắn là vậy! Chúng con sống có sự hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, được trạng thái như sữa với nước, và nhìn nhau bằng những ánh mắt thương mến.”
—“Này các vị Anuruddha, các ngươi sống có sự hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, được trạng thái như sữa với nước, và nhìn nhau bằng những ánh mắt thương mến là như thế nào?”
Inda-bh 23~135—“Bạch ngài, ở đây con khởi ý như vầy: ‘Thật lợi ích cho ta! Thật đã khéo đạt được cho ta khi ta sống với các vị đồng Phạm hạnh như thế này!’ Bạch ngài, đối với các đại đức này sự thân thiện của con đây qua thân nghiệp đã được thể hiện công khai hoặc kín đáo, sự thân thiện qua khẩu nghiệp, … (như trên) … sự thân thiện qua ý nghiệp đã được thể hiện công khai hoặc kín đáo, và bạch ngài con đây đã khởi ý như vầy: ‘Hay là ta nên buông rơi tâm của ta và hành động thuận theo tâm của các đại đức này?’ Bạch ngài, rồi con đây đã buông rơi tâm con và hành động thuận theo tâm của các đại đức này. Bạch ngài, chúng con tuy có các thân khác nhau nhưng con nghĩ rằng chỉ có một tâm.”
Inda-bh 24~136Rồi đại đức Nandiya … (như trên) … Rồi đại đức Kimbila cũng đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, ở đây con cũng khởi ý như vầy: ‘Thật lợi ích cho ta! Thật đã khéo đạt được cho ta khi ta sống với các vị đồng Phạm hạnh như thế này!’ Bạch ngài, đối với các đại đức này sự thân thiện của con đây qua thân nghiệp đã được thể hiện công khai hoặc kín đáo, sự thân thiện qua khẩu nghiệp, … (như trên) … sự thân thiện qua ý nghiệp đã được thể hiện công khai hoặc kín đáo, và bạch ngài con đây đã khởi ý như vầy: ‘Hay là ta nên buông rơi tâm của ta và hành động thuận theo tâm của các đại đức này?’ Bạch ngài, rồi con đây đã buông rơi tâm con và hành động thuận theo tâm của các đại đức này. Bạch ngài, chúng con tuy có các thân khác nhau nhưng con nghĩ rằng chỉ có một tâm. Bạch ngài, chúng con sống có sự hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, được trạng thái như sữa với nước, và nhìn nhau bằng những ánh mắt thương mến là như thế ấy.”
Inda-bh 25~137—“Này các vị Anuruddha, các ngươi sống có ít bị xao lãng, có sự nỗ lực, có sự quyết tâm hay không?”—“Bạch ngài, chắc chắn là vậy! Chúng con sống ít bị xao lãng, có sự nỗ lực, có sự quyết tâm.”
Inda-bh 26~138—“Này các vị Anuruddha, các ngươi sống ít bị xao lãng, có sự nỗ lực, có sự quyết tâm là như thế nào?”
Inda-bh 27~139—“Bạch ngài, ở đây vị nào trong chúng con đi khất thực từ làng trở về trước tiên, vị ấy sắp xếp chỗ ngồi, chuẩn bị nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, rửa và đem lại chậu đựng đồ thừa, rồi đem lại nước uống và nước rửa. Vị nào đi khất thực từ làng trở về sau cùng, nếu vật thực đã được ăn còn thừa lại, nếu muốn thì vị ấy ăn; nếu không muốn, thì đem quăng bỏ ở nơi không có cỏ xanh hoặc đổ xuống nước không có sinh vật. Vị ấy xếp chỗ ngồi lại, dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân, rửa chậu đựng đồ thừa rồi cất đi, dọn dẹp nước uống, nước rửa, và quét nhà ăn. Vị nào thấy lu nước uống, hoặc lu nước rửa, hoặc lu nước nhà vệ sinh hết nước, trống trơn, vị ấy đem (nước) lại. Nếu vị ấy không làm nổi, thì mời vị thứ hai lại với sự ra hiệu bằng tay và (chúng con) đem (nước) lại với dấu hiệu bằng tay. Bạch ngài, nhưng không vì lý do đó mà chúng con nói ra lời. Bạch ngài, cứ mỗi năm ngày, chúng con ngồi lại cho việc thảo luận Giáo Pháp trọn đêm. Bạch ngài, chúng con sống ít bị xao lãng, có sự nỗ lực, có sự quyết tâm là như thế.”
Inda-bh 28~140Sau đó, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đại đức Anuruddha, đại đức Nandiya, và đại đức Kimbila bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi du hành về phía Pārileyyaka. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến Pārileyyaka. Tại nơi đó, ở Pārileyyaka đức Thế Tôn sống trong khu rừng cây được bảo vệ, dưới gốc cây Sāla xinh đẹp.
Inda-bh 29~141Khi ấy, đức Thế Tôn trong khi thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Trước đây, ta đã sống không thoải mái, bị quấy rầy bởi các tỳ khưu ở Kosambi ấy, là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng ở hội chúng. Bây giờ, ta đây sống thoải mái, thoải mái, một mình, không người thứ hai, thoát khỏi các tỳ khưu ở Kosambi ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng ở hội chúng.”
Inda-bh 30~142Cũng có con long tượng nọ sống bị quấy rầy bởi những con voi đực, bởi những con voi cái, bởi những con voi tơ, bởi những con voi bé, và còn phải nhai các thứ cỏ đã bị đứt ngọn. Chúng nhai các nhánh cây đã được nó bẻ gãy lượt này lượt khác. Và nó uống các thứ nước đã bị khuấy đục. Khi nó vượt qua dòng sông cạn thì những con voi cái chạy lại cọ xát vào thân.
Inda-bh 31~143Khi ấy, con long tượng ấy đã khởi ý điều này: “Ta sống bị quấy rầy bởi những con voi đực, bởi những con voi cái, bởi những con voi tơ, bởi những con voi bé, và còn phải nhai các thứ cỏ đã bị đứt ngọn. Chúng nhai các nhánh cây đã được ta bẻ gãy lượt này lượt khác. Và ta uống các thứ nước đã bị khuấy đục. Khi ta vượt qua dòng sông cạn thì những con voi cái chạy lại cọ xát vào thân. Hay là ta nên sống một mình, tách ra khỏi đám đông?”
Inda-bh 32~144Sau đó, con long tượng ấy đã tách khỏi bầy đi đến Pārileyyaka, chỗ khu rừng cây được bảo vệ, nơi gốc cây Sāla xinh đẹp, kề cận đức Thế Tôn, sau khi đến đã dùng vòi phục vụ đức Thế Tôn nước uống, nước rửa, và dọn dẹp cây cỏ.
Inda-bh 33~145Khi ấy, con long tượng ấy đã khởi ý điều này: “Trước đây ta đã sống bị quấy rầy bởi những con voi đực, bởi những con voi cái, bởi những con voi tơ, bởi những con voi bé, và đã nhai các thứ cỏ đã bị đứt ngọn. Chúng nhai các nhánh cây đã được ta bẻ gãy lượt này lượt khác. Và ta đã uống các thứ nước đã bị khuấy đục. Khi ta vượt qua dòng sông cạn thì những con voi cái đã chạy lại cọ xát vào thân. Bây giờ, ta đây sống thoải mái, thoải mái, một mình, không kẻ thứ hai, thoát khỏi các con voi đực, các con voi cái, các con voi tơ, và các con voi bé.”
Inda-bh 34~146Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi nhận biết sự tách ly của bản thân đã dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của con long tượng ấy, rồi vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng rằng:
“Tâm của con Long tượng, là con voi có ngà dài, cùng với chúa loài người có tâm được tương đồng về việc một mình vui thích ở khu rừng.”
Inda-bh 35~147Sau đó, khi đã ngự tại Pārileyyaka theo như ý thích, đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến thành Sāvatthi. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Sāvatthi. Tại nơi đó ở thành Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự tại Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Inda-bh 36~148Khi ấy, các cư sĩ ở Kosambi đã khởi ý điều này: “Các ngài tỳ khưu ở Kosambi này là những người đã làm nhiều điều không lợi ích cho chúng ta. Đức Thế Tôn bị quấy rầy bởi các vị này nên đã bỏ đi. Vậy thì chúng ta không nên đảnh lễ các ngài tỳ khưu ở Kosambi nữa, không nên đứng dậy, không nên thực hiện việc chắp tay và hành động thích hợp, không nên trọng vọng, không nên cung kính, không nên sùng bái, không nên cúng dường, không nên bố thí đồ ăn khất thực cho các vị đi đến; như thế ấy các vị này trong khi không được trọng vọng, không được cung kính, không được sùng bái, không được cúng dường bởi chúng ta, và khi đã không còn được trọng vọng các vị hoặc là sẽ bỏ đi, hoặc là sẽ hoàn tục, hoặc là sẽ có niềm tin nơi đức Thế Tôn.”
Inda-bh 37~149Sau đó, các cư sĩ ở Kosambi đã không đảnh lễ, không đứng dậy, không thực hiện việc chắp tay và hành động thích hợp, không trọng vọng, không cung kính, không sùng bái, không cúng dường, không bố thí đồ ăn khất thực cho các vị đi đến.
Inda-bh 38~150Khi ấy, các tỳ khưu ở Kosambi trong khi không được trọng vọng, không được cung kính, không được sùng bái, không được cúng dường bởi các cư sĩ ở Kosambi, và khi đã không còn được trọng vọng nữa đã nói như vầy:—“Này các đại đức, vậy thì chúng ta nên đi Sāvatthi và giải quyết sự tranh tụng này trong sự hiện diện của đức Thế Tôn.”
Inda-bh 39~151Sau đó, các tỳ khưu ở Kosambi đã thu xếp chỗ trú ngụ rồi cầm y bát đi đến thành Sāvatthi.
Inda-bh 40~152Đại đức Sāriputta đã nghe rằng: “Nghe nói các tỳ khưu ở Kosambi ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng ở hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi.”
Inda-bh 41~153Khi ấy, đại đức Sāriputta đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Sāriputta đã nói với đức Thế tôn điều này:—“Bạch ngài, nghe nói các tỳ khưu ở Kosambi ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, … (như trên) … và tranh tụng ở hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi. Bạch ngài, con nên thực hành đối với các tỳ khưu ấy như thế nào?”—“Này Sāriputta, như thế thì ngươi hãy duy trì theo sự đúng Pháp.”—“Bạch ngài, con nên hiểu đúng Pháp và sai Pháp như thế nào?”
Inda-bh 42~154—“Này Sāriputta, người nói sai Pháp sẽ được nhận biết do mười tám sự việc. Này Sāriputta, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp;’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp;’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật;’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật;’ tuyên bố điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được thực hành bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã không được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được quy định bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được quy định bởi đức Như Lai;’ tuyên bố vô tội là: ‘Phạm tội;’ tuyên bố phạm tội là: ‘Vô tội;’ tuyên bố tội nhẹ là: ‘Tội nặng;’ tuyên bố tội nặng là: ‘Tội nhẹ;’ tuyên bố tội còn dư sót là: ‘Tội không còn dư sót;’ tuyên bố tội không còn dư sót là: ‘Tội còn dư sót;’ tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội không xấu xa;’ tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội xấu xa.’ Này Sāriputta, người nói sai Pháp sẽ được nhận biết do mười tám sự việc này.
Inda-bh 43~155Này Sāriputta, người nói đúng Pháp sẽ được nhận biết do mười tám sự việc. Này Sāriputta, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Phi Pháp;’ tuyên bố Pháp là: ‘Pháp;’ tuyên bố phi Luật là: ‘Phi Luật;’ tuyên bố Luật là: ‘Luật;’ tuyên bố điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được thực hành bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã không được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được quy định bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được quy định bởi đức Như Lai;’ tuyên bố vô tội là: ‘Vô tội;’ tuyên bố phạm tội là: ‘Phạm tội;’ tuyên bố tội nhẹ là: ‘Tội nhẹ;’ tuyên bố tội nặng là: ‘Tội nặng;’ tuyên bố tội còn dư sót là: ‘Tội còn dư sót;’ tuyên bố tội không còn dư sót là: ‘Tội không còn dư sót;’ tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội xấu xa;’ tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội không xấu xa.’ Này Sāriputta, người nói đúng Pháp sẽ được nhận biết do mười tám sự việc này.”
Inda-bh 44~156Rồi đại đức Mahāmoggallāna đã nghe rằng: “Nghe nói các tỳ khưu ở Kosambi ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, … (như trên) … và tranh tụng ở hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi.” … (như trên) … Rồi đại đức Mahākassapa đã nghe rằng: … (như trên) … Rồi đại đức Mahākaccāna đã nghe rằng: … (như trên) … Rồi đại đức Mahākoṭṭhita đã nghe rằng: … (như trên) … Rồi đại đức Mahākappina đã nghe rằng: … (như trên) … Rồi đại đức Mahācunda đã nghe rằng: … (như trên) … Rồi đại đức Anuruddha đã nghe rằng: … (như trên) … Rồi đại đức Revata đã nghe rằng: … (như trên) … Rồi đại đức Upāli đã nghe rằng: … (như trên) … Rồi đại đức Ānanda đã nghe rằng: … (như trên) … Rồi đại đức Rāhula đã nghe rằng: “Nghe nói các tỳ khưu ở Kosambi ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, … (như trên) … và tranh tụng ở hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi.”
Inda-bh 45~157Khi ấy, đại đức Rāhula đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Rāhula đã nói với đức Thế tôn điều này:—“Bạch ngài, nghe nói các tỳ khưu ở Kosambi ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, … (như trên) … và tranh tụng ở hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi. Bạch ngài, con nên thực hành đối với các tỳ khưu ấy như thế nào?”—“Này Rāhula, như thế thì ngươi hãy duy trì theo sự đúng Pháp.”—“Bạch ngài, con nên hiểu đúng Pháp và sai Pháp như thế nào?”
Inda-bh 46~158—“Này Rāhula, người nói sai Pháp sẽ được nhận biết do mười tám sự việc. Này Rāhula, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Pháp;’ tuyên bố Pháp là: ‘Phi Pháp;’ tuyên bố phi Luật là: ‘Luật;’ tuyên bố Luật là: ‘Phi Luật;’ tuyên bố điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được thực hành bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã không được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được quy định bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được quy định bởi đức Như Lai;’ tuyên bố vô tội là: ‘Phạm tội;’ tuyên bố phạm tội là: ‘Vô tội;’ tuyên bố tội nhẹ là: ‘Tội nặng;’ tuyên bố tội nặng là: ‘Tội nhẹ;’ tuyên bố tội còn dư sót là: ‘Tội không còn dư sót;’ tuyên bố tội không còn dư sót là: ‘Tội còn dư sót;’ tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội không xấu xa;’ tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội xấu xa.’ Này Rāhula, người nói sai Pháp sẽ được nhận biết do mười tám sự việc này.
Inda-bh 47~159Này Rāhula, người nói đúng Pháp sẽ được nhận biết do mười tám sự việc. Này Rāhula, ở đây vị tỳ khưu tuyên bố phi Pháp là ‘Phi Pháp;’ tuyên bố Pháp là: ‘Pháp;’ tuyên bố phi Luật là: ‘Phi Luật;’ tuyên bố Luật là: ‘Luật;’ tuyên bố điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được thực hành bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được thực hành bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã không được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã không được quy định bởi đức Như Lai;’ tuyên bố điều đã được quy định bởi đức Như Lai là: ‘Điều đã được quy định bởi đức Như Lai;’ tuyên bố vô tội là: ‘Vô tội;’ tuyên bố phạm tội là: ‘Phạm tội;’ tuyên bố tội nhẹ là: ‘Tội nhẹ;’ tuyên bố tội nặng là: ‘Tội nặng;’ tuyên bố tội còn dư sót là: ‘Tội còn dư sót;’ tuyên bố tội không còn dư sót là: ‘Tội không còn dư sót;’ tuyên bố tội xấu xa là: ‘Tội xấu xa;’ tuyên bố tội không xấu xa là: ‘Tội không xấu xa.’ Này Rāhula, người nói đúng Pháp sẽ được nhận biết do mười tám sự việc này.”
Inda-bh 48~160Rồi bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nghe rằng: : “Nghe nói các tỳ khưu ở Kosambi ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng ở hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi.”
Inda-bh 49~161Khi ấy, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nói với đức Thế tôn điều này:—“Bạch ngài, nghe nói các tỳ khưu ở Kosambi ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, … (như trên) … và tranh tụng ở hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi. Bạch ngài, con nên thực hành đối với các tỳ khưu ấy như thế nào?”—“Này Gotamī, như thế thì bà hãy nghe Pháp ở cả hai bên; sau khi nghe Pháp ở cả hai bên, các tỳ khưu bên nào là các vị nói đúng Pháp thì bà hãy thuận theo quan điểm, điều mong mỏi, điều khao khát, và ý định của các vị ấy. Và bất cứ điều gì hội chúng tỳ khưu ni cần trông đợi từ hội chúng tỳ khưu thì nên trông đợi tất cả các điều ấy từ các vị nói đúng Pháp mà thôi.”
Inda-bh 50~162Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika đã nghe rằng: “Nghe nói các tỳ khưu ở Kosambi ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, … (như trên) … và tranh tụng ở hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi.”
Inda-bh 51~163Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, gia chủ Anāthapiṇḍika đã nói với đức Thế tôn điều này:—“Bạch ngài, nghe nói các tỳ khưu ở Kosambi ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, … (như trên) … và tranh tụng ở hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi. Bạch ngài, con nên thực hành đối với các tỳ khưu ấy như thế nào?”—“Này gia chủ, như thế thì ngươi hãy nên dâng vật thí cả hai bên; sau khi dâng vật thí rồi hãy nghe Pháp cả hai bên; sau khi nghe Pháp cả hai bên, các tỳ khưu bên nào là các vị nói đúng Pháp thì hãy thuận theo quan điểm, điều mong mỏi, điều khao khát, và ý định của các vị ấy.”
Inda-bh 52~164Rồi bà Visākhā mẹ của Migāra đã nghe rằng: “Nghe nói các tỳ khưu ở Kosambi ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng ở hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi.”
Inda-bh 53~165Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, bà Visākhā mẹ của Migāra đã nói với đức Thế tôn điều này:—“Bạch ngài, nghe nói các tỳ khưu ở Kosambi ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng ở hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi. Bạch ngài, con nên thực hành đối với các tỳ khưu ấy như thế nào?”—“Này bà Visākhā, như thế thì ngươi hãy nên dâng vật thí cả hai bên; sau khi dâng vật thí rồi hãy nghe Pháp cả hai bên; sau khi nghe Pháp cả hai bên, các tỳ khưu bên nào là các vị nói đúng Pháp thì hãy thuận theo quan điểm, điều mong mỏi, điều khao khát, và ý định của các vị ấy.”
Inda-bh 54~166Sau đó, theo tuần tự các tỳ khưu ở Kosambi đã đến được thành Sāvatthi.
Inda-bh 55~167Khi ấy, đại đức Sāriputta đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Sāriputta đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, nghe nói các tỳ khưu ở Kosambi ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng ở hội chúng đã đến thành Sāvatthi. Bạch ngài, con nên tiến hành về chỗ trú ngụ cho các tỳ khưu ấy như thế nào?”—“Này Sāriputta, như thế thì nên cho chỗ trú ngụ được cách biệt.”—“Bạch ngài, nếu không được cách biệt thì nên thực hành như thế nào?”—“Này Sāriputta, như thế thì nên làm thành cách biệt rồi giao cho. Này Sāriputta, nhưng ta không nói rằng: ‘Có thể xâm phạm chỗ trú ngụ của vị tỳ khưu thâm niên hơn vì một lý do nào đó’ vị nào xâm phạm thì phạm tội dukkaṭa.”—“Bạch ngài, nên thực hành như thế nào về tài vật?”—“Này Sāriputta, tài vật nên được chia phần đồng đều cho tất cả.”
Inda-bh 56~168Sau đó, vị tỳ khưu bị án treo ấy trong khi suy xét về Pháp và Luật đã khởi ý điều này: “Điều ấy là có tội, điều ấy không phải là vô tội. Ta bị phạm (tội), ta không phải là không phạm (tội). Ta bị án treo, ta không phải là không bị án treo. Ta đã bị án treo bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì.”
Inda-bh 57~169Khi ấy, vị tỳ khưu bị án treo ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu ủng hộ vị bị án treo, sau khi đến đã nói với các tỳ khưu ủng hộ vị bị án treo điều này:—“Này các đại đức, điều ấy là có tội, điều ấy không phải là vô tội. Tôi bị phạm (tội), tôi không phải là không phạm (tội). Tôi bị án treo, tôi không phải là không bị án treo. Tôi đã bị án treo bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì. Xin các đại đức hãy đến và phục hồi cho tôi.”
Inda-bh 58~170Khi ấy, các tỳ khưu ủng hộ vị bị án treo ấy đã đưa vị tỳ khưu bị án treo ấy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, các vị tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, vị tỳ khưu bị án treo này đã nói như vầy: ‘Này các đại đức, điều ấy là có tội, điều ấy không phải là vô tội. Tôi bị phạm (tội), tôi không phải là không phạm (tội). Tôi bị án treo, tôi không phải là không bị án treo. Tôi đã bị án treo bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì. Xin các đại đức hãy đến và phục hồi cho tôi.’ Bạch ngài, giờ nên được thực hành như thế nào?”—“Này các tỳ khưu, điều ấy là có tội, điều ấy không phải là vô tội. Vị tỳ khưu ấy bị phạm (tội), vị tỳ khưu ấy không phải là không phạm (tội). Vị tỳ khưu ấy bị án treo, vị tỳ khưu ấy không phải là không bị án treo. Vị tỳ khưu ấy đã bị án treo bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì. Này các tỳ khưu, bởi vì vị tỳ khưu ấy đã phạm (tội), đã bị án treo, và nhìn nhận. Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hãy phục hồi cho vị tỳ khưu ấy.”
Inda-bh 59~171Sau đó, các tỳ khưu ủng hộ vị bị án treo ấy đã phục hồi cho vị tỳ khưu bị án treo ấy rồi đã đi đến gặp các tỳ khưu ban án treo, sau khi đến đã nói với các tỳ khưu ban án treo điều này:—“Này các đại đức, trong sự kiện mà hội chúng đã có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân ly trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng, vị tỳ khưu này đây đã phạm (tội), đã bị án treo, đã nhìn nhận, và đã được phục hồi. Này các đại đức, vậy chúng ta hãy tiến hành sự hợp nhất hội chúng để giải quyết sự kiện ấy.”
Inda-bh 60~172Sau đó, các tỳ khưu ban án treo ấy đã đi đến gặp đức Thế tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, các tỳ khưu ban án treo ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, các tỳ khưu ủng hộ vị bị án treo ấy đã nói như vầy: ‘Này các đại đức, trong sự kiện mà hội chúng đã có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân ly trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng, vị tỳ khưu này đây đã phạm (tội), đã bị án treo, đã nhìn nhận, và đã được phục hồi. Này các đại đức, vậy chúng ta hãy tiến hành sự hợp nhất hội chúng để giải quyết sự kiện ấy.’ Bạch ngài, giờ nên được thực hành như thế nào?”—“Này các tỳ khưu, bởi vì vị tỳ khưu ấy đã phạm (tội), đã bị án treo, đã nhìn nhận, và đã được phục hồi. Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy tiến hành sự hợp nhất hội chúng để giải quyết sự kiện ấy. Và này các tỳ khưu, nên được tiến hành như vầy: Toàn bộ tất cả gồm các vị bị bệnh và không bị bệnh nên tụ hội lại một chỗ, và không một ai được phép gởi lời tùy thuận. Sau khi đã tụ hội lại, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu kinh nghiệm, có năng lực:
Inda-bh 61~173‘Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Trong sự kiện mà hội chúng đã có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân ly trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng, vị tỳ khưu này đây đã phạm (tội), đã bị án treo, đã nhìn nhận, và đã được phục hồi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên tiến hành sự hợp nhất hội chúng để giải quyết sự kiện ấy. Đây là lời đề nghị.
Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Trong sự kiện mà hội chúng đã có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân ly trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng, vị tỳ khưu này đây đã phạm (tội), đã bị án treo, đã nhìn nhận, và đã được phục hồi. Hội chúng tiến hành sự hợp nhất hội chúng để giải quyết sự kiện ấy. Đại đức nào đồng ý việc tiến hành sự hợp nhất hội chúng để giải quyết sự kiện ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Sự hợp nhất hội chúng để giải quyết sự kiện ấy đã được hội chúng thực hiện, sự bất đồng trong hội chúng đã được dàn xếp, sự chia rẽ hội chúng đã được dàn xếp. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.’
Lập tức sau đó, lễ Uposatha nên được tiến hành. Giới bổn Pātimokkha nên được đọc tụng.”
Inda-bh 62~174Sau đó, đại đức Upāli đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Upāli đã nói với đức Thế Tôn điều này:—“Bạch ngài, trong sự kiện mà hội chúng có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân ly trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng, hội chúng không điều tra sự kiện ấy và xác định nguyên nhân không đúng rồi tiến hành sự hợp nhất hội chúng; bạch ngài, có phải sự hợp nhất hội chúng ấy là đúng Pháp?”
—“Này Upāli, trong sự kiện mà hội chúng có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân ly trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng, hội chúng không điều tra sự kiện ấy và xác định không đúng nguyên nhân rồi tiến hành sự hợp nhất; này Upāli, sự hợp nhất hội chúng ấy là sai Pháp.”
—“Bạch ngài, trong sự kiện mà hội chúng có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân ly trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng, hội chúng điều tra sự kiện ấy và xác định đúng nguyên nhân rồi tiến hành sự hợp nhất; bạch ngài, có phải sự hợp nhất hội chúng ấy là đúng Pháp?”
—“Này Upāli, trong sự kiện mà hội chúng có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân ly trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng, hội chúng điều tra sự kiện ấy và xác định đúng nguyên nhân rồi tiến hành sự hợp nhất; này Upāli, sự hợp nhất hội chúng ấy là đúng Pháp.”
Inda-bh 63~175—“Bạch ngài, sự hợp nhất hội chúng có bao nhiêu loại?”—“Này Upāli, sự hợp nhất hội chúng có hai loại. Này Upāli, có sự hợp nhất hội chúng không đạt được mục đích chỉ đạt được từ ngữ và có loại vừa đạt được mục đích vừa đạt được từ ngữ.
Inda-bh 64~176Này Upāli, thế nào sự hợp nhất hội chúng không đạt được mục đích chỉ đạt được từ ngữ? Này Upāli, trong sự kiện mà hội chúng có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân ly trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng, hội chúng không điều tra sự kiện ấy và xác định không đúng nguyên nhân rồi tiến hành sự hợp nhất; này Upāli, việc này gọi là sự hợp nhất hội chúng không đạt được mục đích chỉ đạt được từ ngữ.
Inda-bh 65~177Này Upāli, thế nào sự hợp nhất hội chúng vừa đạt được mục đích vừa đạt được từ ngữ? Này Upāli, trong sự kiện mà hội chúng có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự phân ly trong hội chúng, việc làm khác biệt trong hội chúng, hội chúng điều tra sự kiện ấy và xác định đúng nguyên nhân rồi tiến hành sự hợp nhất; này Upāli, việc này gọi là sự hợp nhất hội chúng vừa đạt được mục đích vừa đạt được từ ngữ. Này Upāli, đây là hai sự hợp nhất hội chúng.”
Inda-bh 66~178Sau đó, đại đức Upāli đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay lên cúi chào đức Thế Tôn, rồi trình lên đức Thế Tôn những lời kệ này:
Inda-bh 67~179“Trong các phận sự thuộc về hội chúng, trong các cuộc thảo luận, trong những việc điều tra về những vấn đề đã sanh khởi, ở đây người như thế nào là người đem lại nhiều lợi ích? Ở đây vị tỳ khưu như thế nào là xứng đáng việc chủ trì?”
Inda-bh 68~180“Trước tiên về mặt giới hạnh, là vị không bị chê bai, có hành động đã được suy xét, có giác quan khéo được canh phòng. Về nguyên tắc thì những kẻ đối nghịch không thể bôi nhọ bởi vì điều gì mà họ có thể nói về vị ấy, thì vị này chẳng có điều ấy.
Inda-bh 69~181Vị như thế đứng vững trong sự thanh tịnh của giới, là người có niềm tự tín, nói năng có tính thuyết phục, vị đi vào hội chúng không run, không sợ hãi, không bỏ rơi ý nghĩa trong khi nói về đề tài liên quan.
Inda-bh 70~182Tương tợ y như thế, khi được hỏi câu hỏi ở các hội chúng, vị ấy không ngần ngại, và cũng không mắc cở, trong khi nói lời giải thích xứng đáng, đúng lúc, con người khôn ngoan làm hài lòng hội chúng các bậc tri thức.
Inda-bh 71~183Vị ấy có sự tôn kính các tỳ khưu trưởng thượng, và có niềm tin đối với vị thầy của mình, có khả năng cân nhắc, rành rẽ về điều nên nói, là vị rành rẽ về yếu điểm của những kẻ đối nghịch.
Inda-bh 72~184Vì thế, những kẻ đối nghịch lâm vào thế yếu, và đám đông người tuân theo sự chỉ dạy. Trong khi nắm giữ sự suy luận của mình, vị ấy không bỏ quên niềm tin tưởng của mình, và không gây tổn hại trong khi trả lời câu hỏi.
Inda-bh 73~185Có khả năng trong các công việc đưa tin, có sự ghi nhớ tốt, đúng theo lời các vị đã nói với vị ấy về các phận sự của hội chúng. Được phái đi bởi nhóm các tỳ khưu, trong khi thực hiện lời dặn dò, không vì điều ấy mà suy nghĩ rằng: ‘Ta làm công việc.’
Inda-bh 74~186Khi bị phạm tội về các sự việc dầu là thế nào chăng nữa, theo đó có phương thức thoát khỏi tội. Vị ấy khéo được truyền thừa cả hai bộ Phân Tích ấy, là vị biết về đường lối thoát khỏi tội.
Inda-bh 75~187Trong khi phân xử các sự việc, vị ấy áp dụng sự mời ra, và người bị mời ra là đúng theo sự việc. Sự phục hồi là dành cho người đã trải qua việc ấy. Vị ấy cũng biết luôn cả điều ấy, là vị biết về Bộ Phân Tích.
Inda-bh 76~188Vị ấy có sự tôn kính các tỳ khưu trưởng thượng, các vị mới tu, các vị trưởng lão, và các vị trung niên. Người thực hiện việc lợi ích cho nhiều người ở đây là bậc sáng trí. Vị tỳ khưu như thế ấy xứng đáng việc chủ trì ở đây.”
Dứt chương Kosambi là thứ mười.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
Inda-bh 1~189Bậc Chiến Thắng cao quý ở tại Kosambi, sự tranh luận về việc không nhìn nhận tội, trong trường hợp nào (hội chúng) có thể phạt án treo thì trong trường hợp ấy (vị bị án treo) nên trình báo tội vì niềm tin (của các vị khác).
Inda-bh 2~190Bên trong ranh giới, ở chính tại nơi ấy, luôn cả (ngôi làng) Bālaka, từ vườn cây (Pācīna), khu rừng Pārileyyā, và thành Sāvatthi, vị Sāriputta và vị Kolita.
Inda-bh 3~191Vị Mahākassapa, vị Kaccāna, vị Koṭṭhita, và vị Kappina, vị Mahā-cunda, vị Anuruddha, và cả hai vị Revata và Upāli.
Inda-bh 4~192Vị Ānanda, và luôn cả vị Rāhula nữa, vị ni Gotamī, ông Anātha-piṇḍika, và bà Visākhā mẹ của Migāra, ......................... và chỗ trú ngụ được cách biệt, nên cho tài vật đồng đều.
Inda-bh 5~193Không vị nào được gởi trao sự tùy thuận, được vấn hỏi bởi vị Upāli, vị (tỳ khưu) không bị chê trách về tăng thượng giới, sự hợp nhất trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.”
ĐẠI PHẨM ĐƯỢC ĐẦY ĐỦ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Great Division
The chapter on division in the Sangha
1. The account of the dispute at Kosambī
271. Câu chuyện về sự tranh cãi ở Kosambi
Tena samayena buddho bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme. Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu āpattiṁ āpanno hoti. So tassā āpattiyā āpattidiṭṭhi hoti; aññe bhikkhū tassā āpattiyā anāpattidiṭṭhino honti. So aparena samayena tassā āpattiyā anāpattidiṭṭhi hoti; aññe bhikkhū tassā āpattiyā āpattidiṭṭhino honti. Atha kho te bhikkhū taṁ bhikkhuṁ etadavocuṁ—“āpattiṁ tvaṁ, āvuso, āpanno, passasetaṁ āpattin”ti?
“Natthi me, āvuso, āpatti yamahaṁ passeyyan”ti.
Atha kho te bhikkhū sāmaggiṁ labhitvā taṁ bhikkhuṁ āpattiyā adassane ukkhipiṁsu. So ca bhikkhu bahussuto hoti āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito byatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo. Atha kho so bhikkhu sandiṭṭhe sambhatte bhikkhū upasaṅkamitvā etadavoca—“anāpatti esā, āvuso, nesā āpatti. Anāpannomhi, namhi āpanno. Anukkhittomhi, namhi ukkhitto. Adhammikenamhi kammena ukkhitto kuppena aṭṭhānārahena. Hotha me āyasmanto dhammato vinayato pakkhā”ti. Alabhi kho so bhikkhu sandiṭṭhe sambhatte bhikkhū pakkhe. Jānapadānampi sandiṭṭhānaṁ sambhattānaṁ bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pāhesi—“anāpatti esā, āvuso, nesā āpatti. Anāpannomhi, namhi āpanno. Anukkhittomhi, namhi ukkhitto. Adhammikenamhi kammena ukkhitto kuppena aṭṭhānārahena. Hontu me āyasmanto dhammato vinayato pakkhā”ti. Alabhi kho so bhikkhu jānapadepi sandiṭṭhe sambhatte bhikkhū pakkhe.
Atha kho te ukkhittānuvattakā bhikkhū yena ukkhepakā bhikkhū tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā ukkhepake bhikkhū etadavocuṁ—“anāpatti esā, āvuso, nesā āpatti. Anāpanno eso bhikkhu, neso bhikkhu āpanno. Anukkhitto eso bhikkhu, neso bhikkhu ukkhitto. Adhammikena kammena ukkhitto kuppena aṭṭhānārahenā”ti.
Evaṁ vutte, ukkhepakā bhikkhū ukkhittānuvattake bhikkhū etadavocuṁ—“āpatti esā, āvuso, nesā anāpatti. Āpanno eso bhikkhu, neso bhikkhu anāpanno. Ukkhitto eso bhikkhu, neso bhikkhu anukkhitto. Dhammikena kammena ukkhitto akuppena ṭhānārahena. Mā kho tumhe āyasmanto etaṁ ukkhittakaṁ bhikkhuṁ anuvattittha anuparivārethā”ti. Evampi kho te ukkhittānuvattakā bhikkhū ukkhepakehi bhikkhūhi vuccamānā tatheva taṁ ukkhittakaṁ bhikkhuṁ anuvattiṁsu anuparivāresuṁ.
At one time when the Buddha was staying at Kosambī in Ghosita’s Monastery, a certain monk had committed an offense. He regarded it as an offense, but there were other monks who did not. Some time later he no longer regarded it as an offense, but there were other monks who did. They said to him, “You’ve committed an offense. Do you recognize it?”
“No, I haven’t committed any offense that I should recognize.”
Soon afterwards the monks achieved unanimity, and they ejected that monk for not recognizing the offense. But that monk was learned, a master of the tradition; he was an expert on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; he was knowledgeable and competent, had a sense of conscience, and was afraid of wrongdoing and fond of the training. He went to his friends and said, “This isn’t an offense, and so I haven’t committed any. And I haven’t been ejected, for the legal procedure was illegitimate, reversible, and unfit to stand. Please side with me, venerables, in accordance with the Teaching and the Monastic Law.” He was able to form a faction. He then sent the same message to his friends in the country, and again he was able to form a faction.
The monks who sided with him went to the monks who had ejected him and said, “This isn’t an offense, and so this monk hasn’t committed any. He hasn’t been ejected, for the legal procedure was illegitimate, reversible, and unfit to stand.”
They replied, “This is an offense, and he’s committed it. And he’s been ejected. The legal procedure was legitimate, irreversible, and fit to stand. Venerables, don’t side with this monk.” But they still sided with him.
451. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, bậc Thế Tôn, trú tại Kosambī, ở tu viện Ghosita. Cũng vào lúc ấy, có một vị tỳ khưu nọ đã phạm một tội. Vị ấy có quan điểm rằng đó là một tội; các vị tỳ khưu khác có quan điểm rằng đó không phải là một tội. Một thời gian sau, vị ấy có quan điểm rằng đó không phải là một tội; các vị tỳ khưu khác có quan điểm rằng đó là một tội. Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy nói với vị tỳ khưu kia rằng: ‘Thưa hiền giả, ngài đã phạm tội, ngài có thấy tội ấy không?’ (Vị ấy đáp:) ‘Thưa các hiền giả, tôi không có tội nào để mà tôi phải thấy.’ Bấy giờ, các vị tỳ khưu ấy, sau khi đạt được sự hòa hợp, đã cử tội vị tỳ khưu kia vì không thấy tội. Và vị tỳ khưu ấy là người đa văn, thông thuộc truyền thống, trì Pháp, trì Luật, trì các đề mục, là bậc hiền trí, sáng suốt, có trí tuệ, biết tàm, biết quý, ham học hỏi. Bấy giờ, vị tỳ khưu ấy đi đến các vị tỳ khưu quen biết, thân thiết và nói rằng: ‘Thưa các hiền giả, đây không phải là tội, đây không phải là tội. Tôi không phạm tội, tôi không phải là người phạm tội. Tôi không bị cử tội, tôi không phải là người bị cử tội. Tôi bị cử tội bằng một yết-ma phi pháp, không thể hủy bỏ, không có cơ sở. Mong các tôn giả hãy về phe của tôi theo đúng Pháp và đúng Luật.’ Vị tỳ khưu ấy đã có được phe nhóm là các vị tỳ khưu quen biết, thân thiết. Vị ấy cũng gửi sứ giả đến các vị tỳ khưu quen biết, thân thiết ở các miền quê rằng: ‘Thưa các hiền giả, đây không phải là tội, đây không phải là tội. Tôi không phạm tội, tôi không phải là người phạm tội. Tôi không bị cử tội, tôi không phải là người bị cử tội. Tôi bị cử tội bằng một yết-ma phi pháp, không thể hủy bỏ, không có cơ sở. Mong các tôn giả hãy về phe của tôi theo đúng Pháp và đúng Luật.’ Vị tỳ khưu ấy cũng đã có được phe nhóm là các vị tỳ khưu quen biết, thân thiết ở các miền quê. Bấy giờ, các vị tỳ khưu theo phe vị bị cử tội đã đi đến nơi các vị tỳ khưu đã cử tội, sau khi đến, họ nói với các vị tỳ khưu đã cử tội rằng: ‘Thưa các hiền giả, đây không phải là tội, đây không phải là tội. Vị tỳ khưu này không phạm tội, vị tỳ khưu này không phải là người phạm tội. Vị tỳ khưu này không bị cử tội, vị tỳ khưu này không phải là người bị cử tội. Vị ấy bị cử tội bằng một yết-ma phi pháp, không thể hủy bỏ, không có cơ sở.’ Khi được nói như vậy, các vị tỳ khưu đã cử tội nói với các vị tỳ khưu theo phe vị bị cử tội rằng: ‘Thưa các hiền giả, đây là tội, không phải là không có tội. Vị tỳ khưu này đã phạm tội, vị tỳ khưu này không phải là người không phạm tội. Vị tỳ khưu này đã bị cử tội, vị tỳ khưu này không phải là người không bị cử tội. Vị ấy bị cử tội bằng một yết-ma đúng pháp, có thể hủy bỏ, có cơ sở. Mong các tôn giả đừng đi theo, đừng hộ tống vị tỳ khưu bị cử tội này.’ Dù đã được các vị tỳ khưu đã cử tội nói như vậy, các vị tỳ khưu theo phe vị bị cử tội vẫn cứ đi theo, hộ tống vị tỳ khưu bị cử tội ấy.
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca—“idha, bhante, aññataro bhikkhu āpattiṁ āpanno ahosi. So tassā āpattiyā āpattidiṭṭhi ahosi, aññe bhikkhū tassā āpattiyā anāpattidiṭṭhino ahesuṁ. So aparena samayena tassā āpattiyā anāpattidiṭṭhi ahosi, aññe bhikkhū tassā āpattiyā āpattidiṭṭhino ahesuṁ. Atha kho te, bhante, bhikkhū taṁ bhikkhuṁ etadavocuṁ—‘āpattiṁ tvaṁ, āvuso, āpanno, passasetaṁ āpattin’ti? ‘Natthi me, āvuso, āpatti yamahaṁ passeyyan’ti. Atha kho te, bhante, bhikkhū sāmaggiṁ labhitvā taṁ bhikkhuṁ āpattiyā adassane ukkhipiṁsu. So ca, bhante, bhikkhu bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito byatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo. Atha kho so, bhante, bhikkhu sandiṭṭhe sambhatte bhikkhū upasaṅkamitvā etadavoca—‘anāpatti esā, āvuso; nesā āpatti. Anāpannomhi, namhi āpanno. Anukkhittomhi, namhi ukkhitto. Adhammikenamhi kammena ukkhitto kuppena aṭṭhānārahena. Hotha me āyasmanto dhammato vinayato pakkhā’ti. Alabhi kho so, bhante, bhikkhu sandiṭṭhe sambhatte bhikkhū pakkhe. Jānapadānampi sandiṭṭhānaṁ sambhattānaṁ bhikkhūnaṁ santike dūtaṁ pāhesi—‘anāpatti esā, āvuso; nesā āpatti. Anāpannomhi, namhi āpanno. Anukkhittomhi, namhi ukkhitto. Adhammikenamhi kammena ukkhitto kuppena aṭṭhānārahena. Hontu me āyasmanto dhammato vinayato pakkhā’ti. Alabhi kho so, bhante, bhikkhu jānapadepi sandiṭṭhe sambhatte bhikkhū pakkhe. Atha kho te, bhante, ukkhittānuvattakā bhikkhū yena ukkhepakā bhikkhū tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā ukkhepake bhikkhū etadavocuṁ—‘anāpatti esā, āvuso; nesā āpatti. Anāpanno eso bhikkhu, neso bhikkhu āpanno. Anukkhitto eso bhikkhu, neso bhikkhu ukkhitto. Adhammikena kammena ukkhitto kuppena aṭṭhānārahenā’ti. Evaṁ vutte, te, bhante, ukkhepakā bhikkhū ukkhittānuvattake bhikkhū etadavocuṁ—‘āpatti esā, āvuso; nesā anāpatti. Āpanno eso bhikkhu, neso bhikkhu anāpanno. Ukkhitto eso bhikkhu, neso bhikkhu anukkhitto. Dhammikena kammena ukkhitto akuppena ṭhānārahena. Mā kho tumhe āyasmanto etaṁ ukkhittakaṁ bhikkhuṁ anuvattittha anuparivārethā’ti. Evampi kho te, bhante, ukkhittānuvattakā bhikkhū ukkhepakehi bhikkhūhi vuccamānā tatheva taṁ ukkhittakaṁ bhikkhuṁ anuvattanti anuparivārentī”ti.
Soon afterwards a certain monk went to the Buddha, bowed, sat down, and told him all that had happened.
452. Bấy giờ, một vị tỳ khưu đi đến chỗ đức Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, vị tỳ khưu ấy bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, ở đây, có một vị tỳ khưu đã phạm vào một tội. Vị ấy có quan điểm là tội đối với tội ấy, các vị tỳ khưu khác có quan điểm là không phải tội đối với tội ấy. Vào một thời điểm khác, vị ấy có quan điểm là không phải tội đối với tội ấy, các vị tỳ khưu khác có quan điểm là tội đối với tội ấy. Bạch ngài, bấy giờ các vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu kia điều này: «Này hiền giả, hiền giả đã phạm tội, hiền giả hãy thấy tội ấy.» (Vị kia đáp:) «Thưa các hiền giả, tôi không có tội nào mà tôi phải thấy.» Bạch ngài, bấy giờ các vị tỳ khưu ấy, sau khi đạt được sự hòa hợp, đã trục xuất vị tỳ khưu kia vì không thấy tội. Vị tỳ khưu ấy, bạch ngài, là người đa văn, thông thuộc Āgama, trì Pháp, trì Luật, trì Mātikā, là bậc trí, sáng suốt, có trí tuệ, biết tàm, biết quý, ham học hỏi. Bạch ngài, bấy giờ vị tỳ khưu ấy đi đến các vị tỳ khưu quen biết, thân hữu và nói điều này: «Thưa các hiền giả, đây là không phải tội, đây không phải là tội. Tôi không phạm tội, tôi không phải là người đã phạm tội. Tôi không bị trục xuất, tôi không phải là người đã bị trục xuất. Tôi bị trục xuất bởi một yết-ma phi pháp, có thể bị hủy bỏ, không xứng đáng với lý do. Mong các tôn giả hãy là phe của tôi theo đúng Pháp, đúng Luật.» Bạch ngài, vị tỳ khưu ấy đã có được phe là các vị tỳ khưu quen biết, thân hữu. Vị ấy cũng đã gửi sứ giả đến các vị tỳ khưu quen biết, thân hữu ở các địa phương rằng: «Thưa các hiền giả, đây là không phải tội, đây không phải là tội. Tôi không phạm tội, tôi không phải là người đã phạm tội. Tôi không bị trục xuất, tôi không phải là người đã bị trục xuất. Tôi bị trục xuất bởi một yết-ma phi pháp, có thể bị hủy bỏ, không xứng đáng với lý do. Mong các tôn giả hãy là phe của tôi theo đúng Pháp, đúng Luật.» Bạch ngài, vị tỳ khưu ấy đã có được phe là các vị tỳ khưu quen biết, thân hữu ở các địa phương. Bạch ngài, bấy giờ các vị tỳ khưu đi theo người bị trục xuất đã đi đến chỗ các vị tỳ khưu đã trục xuất, sau khi đến, đã nói với các vị tỳ khưu đã trục xuất điều này: «Thưa các hiền giả, đây là không phải tội, đây không phải là tội. Vị tỳ khưu này không phạm tội, vị tỳ khưu này không phải là người đã phạm tội. Vị tỳ khưu này không bị trục xuất, vị tỳ khưu này không phải là người đã bị trục xuất. Vị ấy bị trục xuất bởi một yết-ma phi pháp, có thể bị hủy bỏ, không xứng đáng với lý do.» Khi được nói như vậy, bạch ngài, các vị tỳ khưu đã trục xuất đã nói với các vị tỳ khưu đi theo người bị trục xuất điều này: «Thưa các hiền giả, đây là tội, đây không phải là không phải tội. Vị tỳ khưu này đã phạm tội, vị tỳ khưu này không phải là người không phạm tội. Vị tỳ khưu này đã bị trục xuất, vị tỳ khưu này không phải là người không bị trục xuất. Vị ấy bị trục xuất bởi một yết-ma đúng Pháp, không thể bị hủy bỏ, xứng đáng với lý do. Mong các tôn giả đừng đi theo, đừng vây quanh vị tỳ khưu bị trục xuất này.» Dù được các vị tỳ khưu đã trục xuất nói như vậy, bạch ngài, các vị tỳ khưu đi theo người bị trục xuất vẫn cứ như thế đi theo, vây quanh vị tỳ khưu bị trục xuất ấy.’
Atha kho bhagavā—“bhinno bhikkhusaṅgho, bhinno bhikkhusaṅgho”ti—uṭṭhāyāsanā yena ukkhepakā bhikkhū tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi, nisajja kho bhagavā ukkhepake bhikkhū etadavoca—
“mā kho tumhe, bhikkhave—‘paṭibhāti no, paṭibhāti no’ti—yasmiṁ vā tasmiṁ vā bhikkhuṁ ukkhipitabbaṁ maññittha.
Realizing that the Sangha of monks was divided, the Buddha got up from his seat, went to those monks who had done the ejection, and sat down on the prepared seat. He then said to those monks:
“Don’t just eject a monk for any kind of offense merely because it seems clear to you that he’s committed it.
453. Bấy giờ, đức Thế Tôn (nghĩ rằng): ‘Tăng chúng đã bị chia rẽ, Tăng chúng đã bị chia rẽ,’ rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến chỗ các vị tỳ khưu đã trục xuất, sau khi đến, ngài ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn nói với các vị tỳ khưu đã trục xuất điều này: ‘Này các tỳ khưu, các ông chớ nên nghĩ rằng một vị tỳ khưu cần phải bị trục xuất vì bất cứ lý do gì, chỉ vì (nghĩ rằng): «Chúng ta sáng suốt, chúng ta sáng suốt.»’
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu āpattiṁ āpanno hoti. So tassā āpattiyā anāpattidiṭṭhi hoti, aññe bhikkhū tassā āpattiyā āpattidiṭṭhino honti. Te ce, bhikkhave, bhikkhū taṁ bhikkhuṁ evaṁ jānanti—‘ayaṁ kho āyasmā bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito byatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo. Sace mayaṁ imaṁ bhikkhuṁ āpattiyā adassane ukkhipissāma, na mayaṁ iminā bhikkhunā saddhiṁ uposathaṁ karissāma, vinā iminā bhikkhunā uposathaṁ karissāma, bhavissati saṅghassa tatonidānaṁ bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo saṅghabhedo saṅgharāji saṅghavavatthānaṁ saṅghanānākaraṇan’ti, bhedagarukehi, bhikkhave, bhikkhūhi na so bhikkhu āpattiyā adassane ukkhipitabbo.
It may be that a monk has committed an offense. He doesn’t regard it as an offense, but there are other monks who do. If they know, ‘This monk is learned and a master of the tradition; he’s an expert on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; he’s knowledgeable and competent, has a sense of conscience, and is afraid of wrongdoing and fond of the training. If we eject him for not recognizing an offense, we won’t be able to do the observance-day ceremony with him. Because of this, there’ll be arguments and disputes in the Sangha; there’ll be schism, fracture, and separation in the Sangha,’ and if they understand the gravity of schism, they shouldn’t eject that monk.
‘Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây, có vị tỳ khưu phạm tội. Vị ấy có quan điểm là không phải tội đối với tội ấy, các vị tỳ khưu khác có quan điểm là tội đối với tội ấy. Này các tỳ khưu, nếu các vị tỳ khưu ấy biết về vị tỳ khưu kia như vầy: «Vị tôn giả này là người đa văn, thông thuộc Āgama, trì Pháp, trì Luật, trì Mātikā, là bậc trí, sáng suốt, có trí tuệ, biết tàm, biết quý, ham học hỏi. Nếu chúng ta trục xuất vị tỳ khưu này vì không thấy tội, chúng ta sẽ không làm lễ Uposatha cùng với vị tỳ khưu này, mà chúng ta sẽ làm lễ Uposatha không có vị tỳ khưu này, do nhân duyên ấy sẽ có sự tranh cãi, cãi vã, tranh chấp, luận쟁, sự chia rẽ Tăng chúng, sự rạn nứt Tăng chúng, sự phân ly Tăng chúng, sự dị biệt trong Tăng chúng,» thì này các tỳ khưu, các vị tỳ khưu xem nặng nguy cơ chia rẽ không nên trục xuất vị tỳ khưu ấy vì không thấy tội.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu āpattiṁ āpanno hoti. So tassā āpattiyā anāpattidiṭṭhi hoti, aññe bhikkhū tassā āpattiyā āpattidiṭṭhino honti. Te ce, bhikkhave, bhikkhū taṁ bhikkhuṁ evaṁ jānanti—‘ayaṁ kho āyasmā bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo paṇḍito byatto medhāvī lajjī kukkuccako sikkhākāmo. Sace mayaṁ imaṁ bhikkhuṁ āpattiyā adassane ukkhipissāma, na mayaṁ iminā bhikkhunā saddhiṁ pavāressāma, vinā iminā bhikkhunā pavāressāma. Na mayaṁ iminā bhikkhunā saddhiṁ saṅghakammaṁ karissāma, vinā iminā bhikkhunā saṅghakammaṁ karissāma. Na mayaṁ iminā bhikkhunā saddhiṁ āsane nisīdissāma, vinā iminā bhikkhunā āsane nisīdissāma. Na mayaṁ iminā bhikkhunā saddhiṁ yāgupāne nisīdissāma, vinā iminā bhikkhunā yāgupāne nisīdissāma. Na mayaṁ iminā bhikkhunā saddhiṁ bhattagge nisīdissāma, vinā iminā bhikkhunā bhattagge nisīdissāma. Na mayaṁ iminā bhikkhunā saddhiṁ ekacchanne vasissāma, vinā iminā bhikkhunā ekacchanne vasissāma. Na mayaṁ iminā bhikkhunā saddhiṁ yathāvuḍḍhaṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ karissāma, vinā iminā bhikkhunā yathāvuḍḍhaṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ karissāma. Bhavissati saṅghassa tatonidānaṁ bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo saṅghabhedo saṅgharāji saṅghavavatthānaṁ saṅghanānākaraṇan’ti, bhedagarukehi, bhikkhave, bhikkhūhi na so bhikkhu āpattiyā adassane ukkhipitabbo”ti.
It may be that a monk has committed an offense. He doesn’t regard it as an offense, but there are other monks who do. If they know, ‘This monk is learned and a master of the tradition; he’s an expert on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; he’s knowledgeable and competent, has a sense of conscience, and is afraid of wrongdoing and fond of the training. If we eject him for not recognizing an offense, we won’t be able to do the invitation ceremony with him; we won’t be able to do legal procedures with him; we won’t share a seat with him; we won’t drink congee with him; we won’t sit in the dining hall with him; we won’t stay in the same room with him; we won’t bow down, stand up, raise our joined palms, or do acts of respect toward one another according to seniority. Because of this, there’ll be arguments and disputes in the Sangha; there’ll be schism, fracture, and separation in the Sangha,’ and if they understand the gravity of schism, they shouldn’t eject that monk.”
“Này các Tỳ-khưu, ở đây, có vị Tỳ-khưu đã phạm tội. Vị ấy có quan kiến không phải là tội đối với tội ấy, còn các Tỳ-khưu khác có quan kiến là tội đối với tội ấy. Này các Tỳ-khưu, nếu các Tỳ-khưu ấy biết về vị Tỳ-khưu kia như vầy: ‘Vị đại đức này là bậc đa văn, bậc thông suốt truyền thừa, bậc trì Pháp, bậc trì Luật, bậc trì Mẫu đề, bậc hiền trí, bậc khéo léo, bậc có trí tuệ, là người biết hổ thẹn, người có sự cẩn trọng, người ham học hỏi. Nếu chúng ta đình chỉ vị Tỳ-khưu này vì tội không thấy lỗi, chúng ta sẽ không làm lễ Tự tứ cùng với vị Tỳ-khưu này, chúng ta sẽ làm lễ Tự tứ khi không có vị Tỳ-khưu này. Chúng ta sẽ không thực hiện Tăng sự cùng với vị Tỳ-khưu này, chúng ta sẽ thực hiện Tăng sự khi không có vị Tỳ-khưu này. Chúng ta sẽ không ngồi trên chỗ ngồi cùng với vị Tỳ-khưu này, chúng ta sẽ ngồi trên chỗ ngồi khi không có vị Tỳ-khưu này. Chúng ta sẽ không ngồi tại nơi uống cháo cùng với vị Tỳ-khưu này, chúng ta sẽ ngồi tại nơi uống cháo khi không có vị Tỳ-khưu này. Chúng ta sẽ không ngồi tại nhà ăn cùng với vị Tỳ-khưu này, chúng ta sẽ ngồi tại nhà ăn khi không có vị Tỳ-khưu này. Chúng ta sẽ không trú ngụ dưới cùng một mái nhà cùng với vị Tỳ-khưu này, chúng ta sẽ trú ngụ dưới cùng một mái nhà khi không có vị Tỳ-khưu này. Chúng ta sẽ không thực hiện việc đảnh lễ, đứng dậy chào đón, chắp tay, và các bổn phận cung kính theo thứ tự hạ lạp cùng với vị Tỳ-khưu này, chúng ta sẽ thực hiện việc đảnh lễ, đứng dậy chào đón, chắp tay, và các bổn phận cung kính theo thứ tự hạ lạp khi không có vị Tỳ-khưu này. Do nhân duyên ấy, sẽ có sự tranh tụng, cãi vã, xung đột, tranh luận, chia rẽ Tăng, rạn nứt Tăng, sự phân ranh của Tăng, sự làm cho Tăng sai biệt.’ Này các Tỳ-khưu, bởi các Tỳ-khưu xem trọng sự chia rẽ (lo sợ sự chia rẽ), vị Tỳ-khưu ấy không nên bị đình chỉ vì tội không thấy lỗi.”
Atha kho bhagavā ukkhepakānaṁ bhikkhūnaṁ etamatthaṁ bhāsitvā uṭṭhāyāsanā yena ukkhittānuvattakā bhikkhū tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi, nisajja kho bhagavā ukkhittānuvattake bhikkhū etadavoca—
“mā kho tumhe, bhikkhave, āpattiṁ āpajjitvā ‘nāmha āpannā, nāmha āpannā’ti āpattiṁ na paṭikātabbaṁ maññittha.
The Buddha got up from his seat, went to those monks who were siding with the ejected monk, and sat down on the prepared seat. He then said to those monks:
“If you’ve committed an offense, don’t refuse to make amends for it just because you think that you haven’t committed it.
454. Khi ấy, sau khi đã nói điều này với các tỳ khưu đình chỉ, Thế Tôn đứng dậy khỏi chỗ ngồi rồi đi đến nơi có các tỳ khưu đi theo vị bị đình chỉ. Sau khi đến, ngài ngồi xuống chỗ đã được soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn đã nói điều này với các tỳ khưu đi theo vị bị đình chỉ: “Này các tỳ khưu, các ngươi chớ có nghĩ rằng sau khi đã phạm tội thì không cần phải sám hối tội ấy (với ý nghĩ) rằng: ‘Chúng tôi không phạm tội, chúng tôi không phạm tội.’”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu āpattiṁ āpanno hoti. So tassā āpattiyā anāpattidiṭṭhi hoti, aññe bhikkhū tassā āpattiyā āpattidiṭṭhino honti. So ce, bhikkhave, bhikkhu te bhikkhū evaṁ jānāti—‘ime kho āyasmanto bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā paṇḍitā byattā medhāvino lajjino kukkuccakā sikkhākāmā, nālaṁ mamaṁ vā kāraṇā aññesaṁ vā kāraṇā chandā dosā mohā bhayā agatiṁ gantuṁ. Sace maṁ ime bhikkhū āpattiyā adassane ukkhipissanti, na mayā saddhiṁ uposathaṁ karissanti, vinā mayā uposathaṁ karissanti, bhavissati saṅghassa tatonidānaṁ bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo saṅghabhedo saṅgharāji saṅghavavatthānaṁ saṅghanānākaraṇan’ti, bhedagarukena, bhikkhave, bhikkhunā paresampi saddhāya āpatti desetabbā.
It may be that a monk has committed an offense. He doesn’t regard it as an offense, but there are other monks who do. If he knows, ‘These monks are learned and masters of the tradition; they’re experts on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; they’re knowledgeable and competent, have a sense of conscience, and are afraid of wrongdoing and fond of the training. They’re unlikely, because of me or anyone else, to act wrongly out of favoritism, ill will, confusion, or fear. And if these monks eject me for not recognizing an offense, they won’t be able do the observance-day ceremony with me. Because of this, there’ll be arguments and disputes in the Sangha; there’ll be schism, fracture, and separation in the Sangha,’ and if he understands the gravity of schism, he should confess the offense even out of confidence in the others.
“Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, vị tỳ khưu đã phạm tội. Vị ấy có quan điểm không phải là tội đối với tội ấy, các tỳ khưu khác có quan điểm là tội đối với tội ấy. Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu ấy biết về các tỳ khưu kia như vầy: ‘Các vị trưởng lão này quả là bậc đa văn, thông suốt Āgama, thông thuộc Giáo Pháp, thông thuộc Luật, thông thuộc Đề Mục, là bậc పండిత, khéo léo, có trí tuệ, có tàm, có quý, ưa thích học tập; các vị không có khả năng đi đến con đường sai lạc do tham muốn, do sân hận, do si mê, do sợ hãi, vì lý do của tôi hay vì lý do của người khác. Nếu các tỳ khưu này đình chỉ tôi vì không thấy tội, các vị ấy sẽ không làm lễ bố-tát cùng với tôi, các vị ấy sẽ làm lễ bố-tát không có tôi; do nhân duyên ấy, sẽ có sự tranh cãi, sự cãi vã, sự xung đột, sự tranh luận, sự chia rẽ Tăng, sự rạn nứt trong Tăng, sự phân ly trong Tăng, sự bất hòa trong Tăng của Tăng chúng.’ Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xem trọng việc (tránh) chia rẽ nên bày tỏ tội ấy do có đức tin đối với những người khác.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu āpattiṁ āpanno hoti. So tassā āpattiyā anāpattidiṭṭhi hoti, aññe bhikkhū tassā āpattiyā āpattidiṭṭhino honti. So ce, bhikkhave, bhikkhu te bhikkhū evaṁ jānāti—‘ime kho āyasmanto bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā paṇḍitā byattā medhāvino lajjino kukkuccakā sikkhākāmā, nālaṁ mamaṁ vā kāraṇā aññesaṁ vā kāraṇā chandā dosā mohā bhayā agatiṁ gantuṁ. Sace maṁ ime bhikkhū āpattiyā adassane ukkhipissanti, na mayā saddhiṁ pavāressanti, vinā mayā pavāressanti. Na mayā saddhiṁ saṅghakammaṁ karissanti, vinā mayā saṅghakammaṁ karissanti. Na mayā saddhiṁ āsane nisīdissanti, vinā mayā āsane nisīdissanti. Na mayā saddhiṁ yāgupāne nisīdissanti, vinā mayā yāgupāne nisīdissanti. Na mayā saddhiṁ bhattagge nisīdissanti vinā mayā bhattagge nisīdissanti. Na mayā saddhiṁ ekacchanne vasissanti, vinā mayā ekacchanne vasissanti. Na mayā saddhiṁ yathāvuḍḍhaṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ karissanti, vinā mayā yathāvuḍḍhaṁ abhivādanaṁ paccuṭṭhānaṁ añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ karissanti, bhavissati saṅghassa tatonidānaṁ bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo saṅghabhedo saṅgharāji saṅghavavatthānaṁ saṅghanānākaraṇan’ti, bhedagarukena, bhikkhave, bhikkhunā paresampi saddhāya āpatti desetabbā”ti. Atha kho bhagavā ukkhittānuvattakānaṁ bhikkhūnaṁ etamatthaṁ bhāsitvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
It may be that a monk has committed an offense. He doesn’t regard it as an offense, but there are other monks who do. If he knows, ‘These monks are learned and masters of the tradition; they’re experts on the Teaching, the Monastic Law, and the Key Terms; they’re knowledgeable and competent, have a sense of conscience, and are afraid of wrongdoing and fond of the training. They’re unlikely, because of me or anyone else, to act wrongly out of favoritism, ill will, confusion, or fear. And if these monks eject me for not recognizing an offense, they won’t be able to do the invitation ceremony with me; they won’t be able to do legal procedures with me; they won’t share a seat with me; they won’t drink congee with me; they won’t sit in the dining hall with me; they won’t stay in the same room with me; we won’t bow down, stand up, raise our joined palms, or do acts of respect toward one another according to seniority. Because of this, there’ll be arguments and disputes in the Sangha; there’ll be schism, fracture, and separation in the Sangha,’ and if he understands the gravity of schism, he should confess the offense even out of confidence in the others.” The Buddha then got up from his seat and left.
Monks belonging to different Buddhist sects
“Này các tỳ khưu, lại nữa, ở đây, vị tỳ khưu đã phạm tội. Vị ấy có quan điểm không phải là tội đối với tội ấy, các tỳ khưu khác có quan điểm là tội đối với tội ấy. Này các tỳ khưu, nếu vị tỳ khưu ấy biết về các tỳ khưu kia như vầy: ‘Các vị trưởng lão này quả là bậc đa văn, thông suốt Āgama, thông thuộc Giáo Pháp, thông thuộc Luật, thông thuộc Đề Mục, là bậc పండిత, khéo léo, có trí tuệ, có tàm, có quý, ưa thích học tập; các vị không có khả năng đi đến con đường sai lạc do tham muốn, do sân hận, do si mê, do sợ hãi, vì lý do của tôi hay vì lý do của người khác. Nếu các tỳ khưu này đình chỉ tôi vì không thấy tội, các vị ấy sẽ không làm lễ tự tứ cùng với tôi, các vị ấy sẽ làm lễ tự tứ không có tôi. Các vị ấy sẽ không làm việc Tăng cùng với tôi, các vị ấy sẽ làm việc Tăng không có tôi. Các vị ấy sẽ không ngồi chung chỗ cùng với tôi, các vị ấy sẽ ngồi chung chỗ không có tôi. Các vị ấy sẽ không ngồi chung ở nơi uống cháo cùng với tôi, các vị ấy sẽ ngồi chung ở nơi uống cháo không có tôi. Các vị ấy sẽ không ngồi chung ở nhà ăn cùng với tôi, các vị ấy sẽ ngồi chung ở nhà ăn không có tôi. Các vị ấy sẽ không sống chung dưới một mái nhà cùng với tôi, các vị ấy sẽ sống chung dưới một mái nhà không có tôi. Các vị ấy sẽ không làm các việc đảnh lễ, đứng dậy đón rước, chắp tay, và các bổn phận đúng đắn theo hạ lạp cùng với tôi, các vị ấy sẽ làm các việc đảnh lễ, đứng dậy đón rước, chắp tay, và các bổn phận đúng đắn theo hạ lạp không có tôi; do nhân duyên ấy, sẽ có sự tranh cãi, sự cãi vã, sự xung đột, sự tranh luận, sự chia rẽ Tăng, sự rạn nứt trong Tăng, sự phân ly trong Tăng, sự bất hòa trong Tăng của Tăng chúng.’ Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu xem trọng việc (tránh) chia rẽ nên bày tỏ tội ấy do có đức tin đối với những người khác.” Khi ấy, sau khi đã nói điều này với các tỳ khưu đi theo vị bị đình chỉ, Thế Tôn đứng dậy khỏi chỗ ngồi rồi ra đi.
Tena kho pana samayena ukkhittānuvattakā bhikkhū tattheva antosīmāya uposathaṁ karonti, saṅghakammaṁ karonti. Ukkhepakā pana bhikkhū nissīmaṁ gantvā uposathaṁ karonti, saṅghakammaṁ karonti. Atha kho aññataro ukkhepako bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca—
“Te, bhante, ukkhittānuvattakā bhikkhū tattheva antosīmāya uposathaṁ karonti, saṅghakammaṁ karonti. Mayaṁ pana ukkhepakā bhikkhū nissīmaṁ gantvā uposathaṁ karoma, saṅghakammaṁ karomā”ti. “Te ce, bhikkhu, ukkhittānuvattakā bhikkhū tattheva antosīmāya uposathaṁ karissanti, saṅghakammaṁ karissanti, yathā mayā ñatti ca anussāvanā ca paññattā, tesaṁ tāni kammāni dhammikāni kammāni bhavissanti akuppāni ṭhānārahāni. Tumhe ce, bhikkhu, ukkhepakā bhikkhū tattheva antosīmāya uposathaṁ karissatha, saṅghakammaṁ karissatha, yathā mayā ñatti ca anussāvanā ca paññattā, tumhākampi tāni kammāni dhammikāni kammāni bhavissanti akuppāni ṭhānārahāni. Taṁ kissa hetu? Nānāsaṁvāsakā ete bhikkhū tumhehi, tumhe ca tehi nānāsaṁvāsakā.
Soon those monks who sided with the ejected monk did the observance-day ceremony and legal procedures right there within the monastery zone. But the monks who had ejected him went outside the monastery zone and did the observance-day ceremony and legal procedures there. One of the monks who had done the ejection went to the Buddha, bowed, sat down, and told him what was happening.
The Buddha replied: “If those monks who side with the ejected monk do the observance-day ceremony and legal procedures right there within the monastery zone, and it’s in accordance with the motion and announcements as I’ve laid them down, then those procedures are legitimate, irreversible, and fit to stand. And if you, the monks who did the ejection, do the observance-day ceremony and legal procedures right there within the monastery zone, and it’s in accordance with the motion and announcements as I’ve laid them down, then those procedures too are legitimate, irreversible, and fit to stand. This is so because you now belong to a different Buddhist sect.
455. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đi theo vị bị cử tội đã làm lễ Bố-tát, làm các tăng sự ngay tại nơi ấy, ở bên trong giới trường. Còn các vị tỳ khưu phe cử tội đã đi ra ngoài giới trường để làm lễ Bố-tát, làm các tăng sự. Khi ấy, một vị tỳ khưu phe cử tội đã đi đến chỗ đức Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, vị tỳ khưu ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – “Bạch ngài, các vị tỳ khưu đi theo vị bị cử tội kia làm lễ Bố-tát, làm các tăng sự ngay tại nơi ấy, ở bên trong giới trường. Còn chúng tôi là các vị tỳ khưu phe cử tội đã đi ra ngoài giới trường để làm lễ Bố-tát, làm các tăng sự.” – “Này tỳ khưu, nếu các vị tỳ khưu đi theo vị bị cử tội kia làm lễ Bố-tát, làm các tăng sự ngay tại nơi ấy, ở bên trong giới trường, đúng theo cách thức mà yếu-ma và yết-ma đã được Như Lai chế định thì các tăng sự ấy của họ là các tăng sự hợp pháp, không thể bị hủy bỏ, đáng được tồn tại. Và này tỳ khưu, nếu các ông là các vị tỳ khưu phe cử tội làm lễ Bố-tát, làm các tăng sự ngay tại nơi ấy, ở bên trong giới trường, đúng theo cách thức mà yếu-ma và yết-ma đã được Như Lai chế định thì các tăng sự ấy của các ông cũng là các tăng sự hợp pháp, không thể bị hủy bỏ, đáng được tồn tại. Vì sao vậy? Vì các vị tỳ khưu ấy là những người biệt trú đối với các ông, và các ông cũng là những người biệt trú đối với họ.”
Dvemā, bhikkhu, nānāsaṁvāsakabhūmiyo—attanā vā attānaṁ nānāsaṁvāsakaṁ karoti, samaggo vā naṁ saṅgho ukkhipati adassane vā appaṭikamme vā appaṭinissagge vā. Imā kho, bhikkhu, dve nānāsaṁvāsakabhūmiyo. Dvemā, bhikkhu, samānasaṁvāsakabhūmiyo—attanā vā attānaṁ samānasaṁvāsaṁ karoti, samaggo vā naṁ saṅgho ukkhittaṁ osāreti adassane vā appaṭikamme vā appaṭinissagge vā. Imā kho, bhikkhu, dve samānasaṁvāsakabhūmiyo”ti.
There are these two grounds for belonging to a different Buddhist sect. Either one makes oneself belong to a different Buddhist sect, or a unanimous assembly ejects one for not recognizing an offense, for not making amends for an offense, or for not giving up a bad view. And there are these two grounds for belonging to the same Buddhist sect. Either one makes oneself belong to the same Buddhist sect, or a unanimous assembly readmits one who had been ejected for not recognizing an offense, for not making amends for an offense, or for not giving up a bad view.”
Proper conduct when the Sangha is divided
“Này tỳ khưu, có hai trường hợp biệt trú này: Hoặc tự mình làm cho mình thành người biệt trú, hoặc Tăng chúng hòa hợp cử tội vị ấy về việc không thấy tội, hoặc về việc không sửa chữa, hoặc về việc không từ bỏ. Này tỳ khưu, đây là hai trường hợp biệt trú. Này tỳ khưu, có hai trường hợp đồng trú này: Hoặc tự mình làm cho mình thành người đồng trú, hoặc Tăng chúng hòa hợp phục hồi cho vị đã bị cử tội về việc không thấy tội, hoặc về việc không sửa chữa, hoặc về việc không từ bỏ. Này tỳ khưu, đây là hai trường hợp đồng trú.”
Tena kho pana samayena bhikkhū bhattagge antaraghare bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ ananulomikaṁ kāyakammaṁ vacīkammaṁ upadaṁsenti, hatthaparāmāsaṁ karonti. Manussā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma samaṇā sakyaputtiyā bhattagge antaraghare bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ ananulomikaṁ kāyakammaṁ vacīkammaṁ upadaṁsessanti, hatthaparāmāsaṁ karissantī”ti.
Assosuṁ kho bhikkhū tesaṁ manussānaṁ ujjhāyantānaṁ khiyyantānaṁ vipācentānaṁ. Ye te bhikkhū appicchā te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma bhikkhū bhattagge antaraghare bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ ananulomikaṁ kāyakammaṁ vacīkammaṁ upadaṁsessanti, hatthaparāmāsaṁ karissantī”ti. Atha kho te bhikkhū bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira, bhikkhave, bhikkhū bhattagge antaraghare bhaṇḍanajātā …pe… hatthaparāmāsaṁ karontī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… vigarahitvā dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—
“bhinne, bhikkhave, saṅghe adhammiyāyamāne asammodikāya vattamānāya ‘ettāvatā na aññamaññaṁ ananulomikaṁ kāyakammaṁ vacīkammaṁ upadaṁsessāma, hatthaparāmāsaṁ karissāmā’ti—āsane nisīditabbaṁ. Bhinne, bhikkhave, saṅghe dhammiyāyamāne sammodikāya vattamānāya āsanantarikāya nisīditabban”ti.
At this time the monks were arguing and disputing in the dining halls in inhabited areas, behaving improperly by body and speech, such as grabbing one another. People complained and criticized them, “How can the Sakyan monastics behave like this?”
The monks heard the complaints of those people, and the monks of few desires complained and criticized them, “How can monks behave like this?” They told the Buddha. … “Is it true, monks, that monks are behaving like this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … He then gave a teaching and addressed the monks:
“When the Sangha is divided and the monks are behaving contrary to the Teaching and are not on friendly terms, they should sit down and reflect, ‘We won’t behave improperly by body or speech, such as grabbing one another.’ When the Sangha is divided, but the monks are behaving in accordance with the Teaching and are on friendly terms, they should sit down one seat apart.”
456. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu ở tại nhà ăn, ở trong làng, đã sanh ra tranh cãi, đã sanh ra cãi vã, đã rơi vào tranh luận, đã có những thân nghiệp, khẩu nghiệp không thích đáng đối với nhau, đã có sự đụng chạm tay chân. Các cư sĩ đã phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: – “Tại sao các sa-môn Thích tử ở tại nhà ăn, ở trong làng, lại sanh ra tranh cãi, sanh ra cãi vã, rơi vào tranh luận, lại có những thân nghiệp, khẩu nghiệp không thích đáng đối với nhau, lại có sự đụng chạm tay chân?” Các vị tỳ khưu đã nghe được việc các cư sĩ ấy phàn nàn, chê bai, dị nghị. Các vị tỳ khưu ít ham muốn đã phàn nàn, chê bai, dị nghị rằng: – “Tại sao các vị tỳ khưu ở tại nhà ăn, ở trong làng, lại sanh ra tranh cãi, sanh ra cãi vã, rơi vào tranh luận, lại có những thân nghiệp, khẩu nghiệp không thích đáng đối với nhau, lại có sự đụng chạm tay chân?” Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn ... ... – “Này các tỳ khưu, có thật là các vị tỳ khưu ở tại nhà ăn, ở trong làng, đã sanh ra tranh cãi ... ... đã có sự đụng chạm tay chân không?” – “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật, đức Thế Tôn đã khiển trách ... ... Sau khi khiển trách, nói lên bài pháp thoại, ngài đã gọi các tỳ khưu: – “Này các tỳ khưu, khi Tăng chúng bị chia rẽ, đang hành xử phi pháp, đang trong tình trạng không hòa hợp, nên ngồi gần nhau với ý nghĩ rằng: ‘Với chừng mực này, chúng ta sẽ không có những thân nghiệp, khẩu nghiệp không thích đáng đối với nhau, sẽ không có sự đụng chạm tay chân.’ Này các tỳ khưu, khi Tăng chúng bị chia rẽ, đang hành xử đúng pháp, đang trong tình trạng hòa hợp, nên ngồi cách nhau một chỗ ngồi.”
Tena kho pana samayena bhikkhū saṅghamajjhe bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti. Te na sakkonti taṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca—“idha, bhante, bhikkhū saṅghamajjhe bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti. Te na sakkonti taṁ adhikaraṇaṁ vūpasametuṁ. Sādhu, bhante, bhagavā yena te bhikkhū tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho bhagavā yena te bhikkhū tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi, nisajja kho bhagavā te bhikkhū etadavoca—“alaṁ, bhikkhave, mā bhaṇḍanaṁ mā kalahaṁ mā viggahaṁ mā vivādan”ti.
Evaṁ vutte, aññataro adhammavādī bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca—“āgametu, bhante, bhagavā dhammassāmī; appossukko, bhante, bhagavā diṭṭhadhammasukhavihāramanuyutto viharatu. Mayametena bhaṇḍanena kalahena viggahena vivādena paññāyissāmā”ti. Dutiyampi kho bhagavā te bhikkhū etadavoca—“alaṁ, bhikkhave, mā bhaṇḍanaṁ mā kalahaṁ mā viggahaṁ mā vivādan”ti. Dutiyampi kho so adhammavādī bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca—“āgametu, bhante, bhagavā dhammassāmī; appossukko, bhante, bhagavā diṭṭhadhammasukhavihāramanuyutto viharatu. Mayametena bhaṇḍanena kalahena viggahena vivādena paññāyissāmā”ti.
The monks were also arguing and disputing in the midst of the Sangha, attacking one another verbally, and were unable to resolve that legal issue. A certain monk went to the Buddha, bowed, and told him what was happening, adding, “Sir, please go to those monks out of compassion.” The Buddha consented by remaining silent.
He then went to those monks, sat down on the prepared seat, and said, “Enough, monks, don’t quarrel and dispute.”
A certain monk who spoke contrary to the Teaching replied, “Wait, sir, you’re the Lord of the Teaching. Be at ease and enjoy the happiness of meditation. We’ll face the consequences of this quarreling and disputing.” The Buddha repeated his appeal to those monks, but got the same reply.
457. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu ở giữa Tăng chúng sanh ra cãi cọ, tranh chấp, rơi vào tranh luận, và sống đâm chọc lẫn nhau bằng những ngọn giáo miệng. Các vị ấy không thể dập tắt được vụ tranh tụng ấy. Bấy giờ, một vị tỳ khưu đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Sau khi đã đứng một bên, vị tỳ khưu ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch ngài, ở đây, các vị tỳ khưu ở giữa Tăng chúng sanh ra cãi cọ, tranh chấp, rơi vào tranh luận, và sống đâm chọc lẫn nhau bằng những ngọn giáo miệng. Các vị ấy không thể dập tắt được vụ tranh tụng ấy. Kính bạch ngài, mong thay, đức Thế Tôn hãy đi đến chỗ các vị tỳ khưu ấy vì lòng bi mẫn.’ Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng. Bấy giờ, đức Thế Tôn đi đến chỗ các vị tỳ khưu ấy; sau khi đến, đã ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Sau khi đã ngồi, đức Thế Tôn đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này: – ‘Này các tỳ khưu, thôi đi! Đừng cãi cọ, đừng tranh chấp, đừng xung đột, đừng tranh luận.’ Khi được nói như vậy, một vị tỳ khưu theo tà thuyết đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Kính bạch ngài, xin đức Thế Tôn, bậc Pháp Vương, hãy khoan đã. Kính bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy sống không bận tâm, chuyên chú vào sự an trú hạnh phúc trong hiện tại. Chúng con sẽ được biết đến qua sự cãi cọ này, sự tranh chấp này, sự xung đột này, sự tranh luận này.’ Lần thứ hai, đức Thế Tôn đã nói với các vị tỳ khưu ấy điều này: – ‘Này các tỳ khưu, thôi đi! Đừng cãi cọ, đừng tranh chấp, đừng xung đột, đừng tranh luận.’ Lần thứ hai, vị tỳ khưu theo tà thuyết ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Kính bạch ngài, xin đức Thế Tôn, bậc Pháp Vương, hãy khoan đã. Kính bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy sống không bận tâm, chuyên chú vào sự an trú hạnh phúc trong hiện tại. Chúng con sẽ được biết đến qua sự cãi cọ này, sự tranh chấp này, sự xung đột này, sự tranh luận này.’
2. Dīghāvuvatthu
2. The account of Dīghāvu
272. Câu chuyện về Dīghāvu
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi—
“bhūtapubbaṁ, bhikkhave, bārāṇasiyaṁ brahmadatto nāma kāsirājā ahosi aḍḍho mahaddhano mahābhogo mahabbalo mahāvāhano mahāvijito paripuṇṇakosakoṭṭhāgāro. Dīghīti nāma kosalarājā ahosi daliddo appadhano appabhogo appabalo appavāhano appavijito aparipuṇṇakosakoṭṭhāgāro.
Atha kho, bhikkhave, brahmadatto kāsirājā caturaṅginiṁ senaṁ sannayhitvā dīghītiṁ kosalarājānaṁ abbhuyyāsi. Assosi kho, bhikkhave, dīghīti kosalarājā—‘brahmadatto kira kāsirājā caturaṅginiṁ senaṁ sannayhitvā mamaṁ abbhuyyāto’ti. Atha kho, bhikkhave, dīghītissa kosalarañño etadahosi—‘brahmadatto kho kāsirājā aḍḍho mahaddhano mahābhogo mahabbalo mahāvāhano mahāvijito paripuṇṇakosakoṭṭhāgāro, ahaṁ panamhi daliddo appadhano appabhogo appabalo appavāhano appavijito aparipuṇṇakosakoṭṭhāgāro, nāhaṁ paṭibalo brahmadattena kāsiraññā ekasaṅghātampi sahituṁ. Yannūnāhaṁ paṭikacceva nagaramhā nippateyyan’ti.
The Buddha then said:
“At one time in Benares, monks, there was a king of Kāsi called Brahmadatta. He was rich and powerful, had many vehicles and transport animals, and possessed a large kingdom and much wealth. Then there was Dīghīti, the king of Kosala, who was poor and had little power, who had few vehicles and transport animals, and who possessed only a small kingdom and little wealth.
At one time King Brahmadatta, armed with his fourfold army, marched out to attack King Dīghīti. When King Dīghīti heard about this, he reflected on King Brahmadatta’s superior wealth and power, and he concluded, ‘I’m incapable of repelling even a single strike from Brahmadatta. Let me flee the town before he arrives.’
458. Bấy giờ, đức Thế Tôn gọi các vị tỳ khưu: – ‘Này các tỳ khưu, thuở xưa, ở Bārāṇasī có vị vua xứ Kāsī tên là Brahmadatta, là người giàu có, nhiều của cải, nhiều tài sản, hùng mạnh, nhiều binh xa, lãnh thổ rộng lớn, kho tàng và vựa lẫm đầy ắp. Có vị vua xứ Kosala tên là Dīghīti, là người nghèo khó, ít của cải, ít tài sản, yếu thế, ít binh xa, lãnh thổ nhỏ hẹp, kho tàng và vựa lẫm không đầy ắp. Này các tỳ khưu, bấy giờ, vua Brahmadatta xứ Kāsī, sau khi tập hợp bốn loại binh chủng, đã tiến đánh vua Dīghīti xứ Kosala. Này các tỳ khưu, vua Dīghīti xứ Kosala đã nghe rằng: ‘Nghe nói vua Brahmadatta xứ Kāsī, sau khi tập hợp bốn loại binh chủng, đang tiến đánh ta.’ Bấy giờ, này các tỳ khưu, vua Dīghīti xứ Kosala đã suy nghĩ điều này: ‘Vua Brahmadatta xứ Kāsī là người giàu có, nhiều của cải, nhiều tài sản, hùng mạnh, nhiều binh xa, lãnh thổ rộng lớn, kho tàng và vựa lẫm đầy ắp; còn ta thì nghèo khó, ít của cải, ít tài sản, yếu thế, ít binh xa, lãnh thổ nhỏ hẹp, kho tàng và vựa lẫm không đầy ắp. Ta không đủ sức chịu đựng dù chỉ một cuộc tấn công của vua Brahmadatta xứ Kāsī. Hay là ta nên trốn khỏi thành phố ngay từ đầu.’
Atha kho, bhikkhave, dīghīti kosalarājā mahesiṁ ādāya paṭikacceva nagaramhā nippati. Atha kho, bhikkhave, brahmadatto kāsirājā dīghītissa kosalarañño balañca vāhanañca janapadañca kosañca koṭṭhāgārañca abhivijiya ajjhāvasati.
Atha kho, bhikkhave, dīghīti kosalarājā sapajāpatiko yena bārāṇasī tena pakkāmi. Anupubbena yena bārāṇasī tadavasari. Tatra sudaṁ, bhikkhave, dīghīti kosalarājā sapajāpatiko bārāṇasiyaṁ aññatarasmiṁ paccantime okāse kumbhakāranivesane aññātakavesena paribbājakacchannena paṭivasati.
Atha kho, bhikkhave, dīghītissa kosalarañño mahesī nacirasseva gabbhinī ahosi. Tassā evarūpo dohaḷo uppanno hoti—icchati sūriyassa uggamanakāle caturaṅginiṁ senaṁ sannaddhaṁ vammikaṁ subhūme ṭhitaṁ passituṁ, khaggānañca dhovanaṁ pātuṁ. Atha kho, bhikkhave, dīghītissa kosalarañño mahesī dīghītiṁ kosalarājānaṁ etadavoca—‘gabbhinīmhi, deva. Tassā me evarūpo dohaḷo uppanno—icchāmi sūriyassa uggamanakāle caturaṅginiṁ senaṁ sannaddhaṁ vammikaṁ subhūme ṭhitaṁ passituṁ, khaggānañca dhovanaṁ pātun’ti. ‘Kuto, devi, amhākaṁ duggatānaṁ caturaṅginī senā sannaddhā vammikā subhūme ṭhitā, khaggānañca dhovanaṁ pātun’ti
‘sacāhaṁ, deva, na labhissāmi, marissāmī’ti.
And he fled the town together with his queen. King Brahmadatta then conquered and seized King Dīghīti’s army, vehicles, and transport animals, as well as his country and wealth.
King Dīghīti and his wife set out for Benares. When they eventually arrived, they stayed in the house of a potter on the edge of the town, disguised as wanderers.
Soon the queen became pregnant. She craved to see the fully equipped fourfold army arrayed on even ground at sunrise and to drink water from the washing of swords. She told the king. He said, ‘How can we possibly achieve this when things are so difficult for us?’
She replied, ‘Well, if I don’t get it, I’ll die.’
Này các tỳ khưu, bấy giờ, vua Dīghīti xứ Kosala, dẫn theo hoàng hậu, đã trốn khỏi thành phố ngay từ đầu. Này các tỳ khưu, bấy giờ, vua Brahmadatta xứ Kāsī, sau khi chinh phục quân đội, binh xa, lãnh thổ, kho tàng, và vựa lẫm của vua Dīghīti xứ Kosala, đã cai trị ở đó. Này các tỳ khưu, bấy giờ, vua Dīghīti xứ Kosala cùng với vợ đã đi đến Bārāṇasī. Lần lượt, họ đã đến được Bārāṇasī. Ở đó, này các tỳ khưu, vua Dīghīti xứ Kosala cùng với vợ đã sống trong nhà của một người thợ gốm ở một vùng ngoại ô của Bārāṇasī, trong lốt người lạ, cải trang thành du sĩ. Này các tỳ khưu, bấy giờ, không bao lâu sau, hoàng hậu của vua Dīghīti xứ Kosala đã mang thai. Bà đã khởi lên một cơn nghén như thế này: Bà muốn được thấy bốn loại binh chủng mặc áo giáp, dàn trận trên khu đất bằng phẳng vào lúc mặt trời mọc, và được uống nước rửa gươm. Này các tỳ khưu, bấy giờ, hoàng hậu của vua Dīghīti xứ Kosala đã nói với vua Dīghīti xứ Kosala điều này: – ‘Tâu đức vua, thiếp đang mang thai. Thiếp đã khởi lên một cơn nghén như thế này: Thiếp muốn được thấy bốn loại binh chủng mặc áo giáp, dàn trận trên khu đất bằng phẳng vào lúc mặt trời mọc, và được uống nước rửa gươm.’ – ‘Này hoàng hậu, chúng ta đang trong cảnh khốn cùng, làm sao có được bốn loại binh chủng mặc áo giáp, dàn trận trên khu đất bằng phẳng, và làm sao có được nước rửa gươm để uống?’ – ‘Tâu đức vua, nếu thiếp không có được, thiếp sẽ chết.’
Tena kho pana samayena, brahmadattassa kāsirañño purohito brāhmaṇo dīghītissa kosalarañño sahāyo hoti. Atha kho, bhikkhave, dīghīti kosalarājā yena brahmadattassa kāsirañño purohito brāhmaṇo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā brahmadattassa kāsirañño purohitaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca—‘sakhī te, samma, gabbhinī. Tassā evarūpo dohaḷo uppanno—icchati sūriyassa uggamanakāle caturaṅginiṁ senaṁ sannaddhaṁ vammikaṁ subhūme ṭhitaṁ passituṁ, khaggānañca dhovanaṁ pātun’ti. ‘Tena hi, deva, mayampi deviṁ passāmā’ti.
Atha kho, bhikkhave, dīghītissa kosalarañño mahesī yena brahmadattassa kāsirañño purohito brāhmaṇo tenupasaṅkami. Addasā kho, bhikkhave, brahmadattassa kāsirañño purohito brāhmaṇo dīghītissa kosalarañño mahesiṁ dūratova āgacchantiṁ, disvāna uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena dīghītissa kosalarañño mahesī tenañjaliṁ paṇāmetvā tikkhattuṁ udānaṁ udānesi—
‘kosalarājā vata bho kucchigato, kosalarājā vata bho kucchigatoti. Attamanā, devi, hohi. Lacchasi sūriyassa uggamanakāle caturaṅginiṁ senaṁ sannaddhaṁ vammikaṁ subhūme ṭhitaṁ passituṁ, khaggānañca dhovanaṁ pātun’ti.
At that time King Brahmadatta had a brahmin counselor who was a friend of King Dīghīti. King Dīghīti went to his friend and told him about his wife’s pregnancy and craving. The brahmin replied, ‘Well then, let me see the queen.’
The queen then went to that brahmin. When he saw her coming, he got up from his seat, arrange his upper robe over one shoulder, raise his joined palms, and uttered a heartfelt exclamation three times:
‘You have the king of Kosala in your womb!’ And he added, ‘Be pleased, lady. You’ll get to see the fully equipped fourfold army arrayed on even ground at sunrise and to drink water from the washing of swords.’
459. Vào lúc bấy giờ, vị Bà-la-môn tế tự của vua Brahmadatta xứ Kāsi là bạn của vua Dīghīti xứ Kosala. Bấy giờ, này các Tỷ-kheo, vua Dīghīti xứ Kosala đi đến chỗ vị Bà-la-môn tế tự của vua Brahmadatta xứ Kāsi; sau khi đến, vua nói với vị Bà-la-môn tế tự của vua Brahmadatta xứ Kāsi như sau: ‘Thưa bạn, người bạn gái của bạn đang mang thai. Nàng có thai nghén như sau khởi lên: Nàng muốn vào lúc mặt trời mọc, được thấy bốn loại binh chủng, mặc áo giáp, trang bị đầy đủ, đứng trên đất bằng; và được uống nước rửa gươm.’ ‘Tâu Đại vương, nếu vậy, chúng thần cũng sẽ yết kiến hoàng hậu.’ Bấy giờ, này các Tỷ-kheo, hoàng hậu của vua Dīghīti xứ Kosala đi đến chỗ vị Bà-la-môn tế tự của vua Brahmadatta xứ Kāsi. Này các Tỷ-kheo, vị Bà-la-môn tế tự của vua Brahmadatta xứ Kāsi thấy hoàng hậu của vua Dīghīti xứ Kosala từ xa đi đến; sau khi thấy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt thượng y qua một bên vai, chắp tay hướng về phía hoàng hậu của vua Dīghīti xứ Kosala, và thốt lên lời cảm hứng ba lần: ‘Ồ, vua Kosala đang ở trong bụng! Ồ, vua Kosala đang ở trong bụng!’ ‘Thưa Hoàng hậu, hãy hoan hỷ. Bà sẽ được thấy bốn loại binh chủng, mặc áo giáp, trang bị đầy đủ, đứng trên đất bằng vào lúc mặt trời mọc; và sẽ được uống nước rửa gươm.’
Atha kho, bhikkhave, brahmadattassa kāsirañño purohito brāhmaṇo yena brahmadatto kāsirājā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā brahmadattaṁ kāsirājānaṁ etadavoca—‘tathā, deva, nimittāni dissanti, sve sūriyuggamanakāle caturaṅginī senā sannaddhā vammikā subhūme tiṭṭhatu, khaggā ca dhoviyantū’ti. Atha kho, bhikkhave, brahmadatto kāsirājā manusse āṇāpesi—‘yathā, bhaṇe, purohito brāhmaṇo āha tathā karothā’ti. Alabhi kho, bhikkhave, dīghītissa kosalarañño mahesī sūriyassa uggamanakāle caturaṅginiṁ senaṁ sannaddhaṁ vammikaṁ subhūme ṭhitaṁ passituṁ, khaggānañca dhovanaṁ pātuṁ.
Atha kho, bhikkhave, dīghītissa kosalarañño mahesī tassa gabbhassa paripākamanvāya puttaṁ vijāyi. Tassa dīghāvūti nāmaṁ akaṁsu. Atha kho, bhikkhave, dīghāvu kumāro nacirasseva viññutaṁ pāpuṇi. Atha kho, bhikkhave, dīghītissa kosalarañño etadahosi—‘ayaṁ kho brahmadatto kāsirājā bahuno amhākaṁ anatthassa kārako, iminā amhākaṁ balañca vāhanañca janapado ca koso ca koṭṭhāgārañca acchinnaṁ, sacāyaṁ amhe jānissati, sabbeva tayo ghātāpessati, yannūnāhaṁ dīghāvuṁ kumāraṁ bahinagare vāseyyan’ti. Atha kho, bhikkhavo, dīghīti kosalarājā dīghāvuṁ kumāraṁ bahinagare vāsesi. Atha kho, bhikkhave, dīghāvu kumāro bahinagare paṭivasanto nacirasseva sabbasippāni sikkhi.
The brahmin counselor then went to King Brahmadatta and said, ‘The omens are such, sir, that tomorrow you should have the fully equipped fourfold army arrayed on even ground at sunrise and have the swords washed.’ The king told his people to act accordingly. As a consequence, the queen was able to satisfy her craving.
When she reached her term, the queen gave birth to a son. They called him Dīghāvu. Soon enough Prince Dīghāvu became self-reliant. King Dīghīti thought, ‘This King Brahmadatta has caused us much misfortune; he’s taken our army, our vehicles and transport animals, and our country and wealth. If he finds out about us, he’ll kill all three of us. Let me take Prince Dīghāvu to live out of town.’ And he did just that. As he was living outside of town, Prince Dīghāvu was soon training in all branches of knowledge.
Bấy giờ, này các Tỷ-kheo, vị Bà-la-môn tế tự của vua Brahmadatta xứ Kāsi đi đến chỗ vua Brahmadatta xứ Kāsi; sau khi đến, nói với vua Brahmadatta xứ Kāsi như sau: ‘Tâu Đại vương, các điềm triệu đã hiện ra như vậy. Vào ngày mai, lúc mặt trời mọc, xin cho bốn loại binh chủng, mặc áo giáp, trang bị đầy đủ, đứng trên đất bằng, và các thanh gươm cũng được rửa sạch.’ Bấy giờ, này các Tỷ-kheo, vua Brahmadatta xứ Kāsi ra lệnh cho các người hầu: ‘Này các khanh, hãy làm theo như lời vị Bà-la-môn tế tự đã nói.’ Này các Tỷ-kheo, hoàng hậu của vua Dīghīti xứ Kosala đã được thấy bốn loại binh chủng, mặc áo giáp, trang bị đầy đủ, đứng trên đất bằng vào lúc mặt trời mọc; và được uống nước rửa gươm. Bấy giờ, này các Tỷ-kheo, hoàng hậu của vua Dīghīti xứ Kosala, do thai đã đến kỳ, sanh được một người con trai. Họ đặt tên cho đứa bé là Dīghāvu. Bấy giờ, này các Tỷ-kheo, không bao lâu, hoàng tử Dīghāvu trở nên thông minh. Bấy giờ, này các Tỷ-kheo, vua Dīghīti xứ Kosala suy nghĩ như sau: ‘Vua Brahmadatta xứ Kāsi này đã gây ra nhiều điều bất lợi cho chúng ta. Vua ấy đã chiếm đoạt quân đội, xe cộ, xứ sở, ngân khố, và kho lẫm của chúng ta. Nếu vua ấy biết được chúng ta, chắc chắn sẽ cho giết cả ba người. Hay là ta nên cho hoàng tử Dīghāvu sống ở ngoài thành.’ Bấy giờ, này các Tỷ-kheo, vua Dīghīti xứ Kosala đã cho hoàng tử Dīghāvu sống ở ngoài thành. Bấy giờ, này các Tỷ-kheo, hoàng tử Dīghāvu trong khi sống ở ngoài thành, không bao lâu đã học được tất cả các nghề thủ công.
Tena kho pana samayena dīghītissa kosalarañño kappako brahmadatte kāsiraññe paṭivasati. Addasā kho, bhikkhave, dīghītissa kosalarañño kappako dīghītiṁ kosalarājānaṁ sapajāpatikaṁ bārāṇasiyaṁ aññatarasmiṁ paccantime okāse kumbhakāranivesane aññātakavesena paribbājakacchannena paṭivasantaṁ, disvāna yena brahmadatto kāsirājā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā brahmadattaṁ kāsirājānaṁ etadavoca—‘dīghīti, deva, kosalarājā sapajāpatiko bārāṇasiyaṁ aññatarasmiṁ paccantime okāse kumbhakāranivesane aññātakavesena paribbājakacchannena paṭivasatī’ti. Atha kho, bhikkhave, brahmadatto kāsirājā manusse āṇāpesi—‘tena hi, bhaṇe, dīghītiṁ kosalarājānaṁ sapajāpatikaṁ ānethā’ti. ‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, te manussā brahmadattassa kāsirañño paṭissutvā dīghītiṁ kosalarājānaṁ sapajāpatikaṁ ānesuṁ. Atha kho, bhikkhave, brahmadatto kāsirājā manusse āṇāpesi—‘tena hi, bhaṇe, dīghītiṁ kosalarājānaṁ sapajāpatikaṁ daḷhāya rajjuyā pacchābāhaṁ gāḷhabandhanaṁ bandhitvā khuramuṇḍaṁ karitvā kharassarena paṇavena rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ parinetvā dakkhiṇena dvārena nikkhāmetvā dakkhiṇato nagarassa catudhā chinditvā catuddisā bilāni nikkhipathā’ti. ‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, te manussā brahmadattassa kāsirañño paṭissutvā dīghītiṁ kosalarājānaṁ sapajāpatikaṁ daḷhāya rajjuyā pacchābāhaṁ gāḷhabandhanaṁ bandhitvā khuramuṇḍaṁ karitvā kharassarena paṇavena rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ parinenti.
At this time King Dīghīti’s old barber was living at King Brahmadatta’s court. On one occasion he saw King Dīghīti and his wife staying in that potter’s house, disguised as wanderers. He then went to King Brahmadatta and told him. The king ordered his people to get King Dīghīti and his wife. When they had done so, he said, ‘Bind their arms behind their backs with a strong rope and shave their heads. Parade them from street to street and square to square to the beat of a harsh drum. Then take them out of town through the southern gate, cut them in four, and place the pieces at the four directions.’ Saying, ‘Yes, sir,’ they bound and shaved King Dīghīti and his wife, and paraded them as instructed.
460. Vào lúc bấy giờ, người thợ cạo của vua Dīghīti xứ Kosala đang sống với vua Brahmadatta xứ Kāsi. Này các Tỷ-kheo, người thợ cạo của vua Dīghīti xứ Kosala thấy vua Dīghīti xứ Kosala cùng với vợ đang sống ở Bārāṇasī, tại một nơi hẻo lánh ở vùng biên địa, trong nhà của một người thợ gốm, với dung mạo không ai nhận ra, cải trang thành du sĩ; sau khi thấy, người ấy đi đến chỗ vua Brahmadatta xứ Kāsi; sau khi đến, nói với vua Brahmadatta xứ Kāsi như sau: ‘Tâu Đại vương, vua Dīghīti xứ Kosala cùng với vợ đang sống ở Bārāṇasī, tại một nơi hẻo lánh ở vùng biên địa, trong nhà của một người thợ gốm, với dung mạo không ai nhận ra, cải trang thành du sĩ.’ Bấy giờ, này các Tỷ-kheo, vua Brahmadatta xứ Kāsi ra lệnh cho các người hầu: ‘Này các khanh, nếu vậy, hãy đi bắt vua Dīghīti xứ Kosala cùng với vợ đem về đây.’ ‘Vâng, tâu Đại vương.’ Này các Tỷ-kheo, những người ấy vâng lệnh vua Brahmadatta xứ Kāsi, đã bắt vua Dīghīti xứ Kosala cùng với vợ đem về. Bấy giờ, này các Tỷ-kheo, vua Brahmadatta xứ Kāsi ra lệnh cho các người hầu: ‘Này các khanh, nếu vậy, hãy dùng dây thừng chắc chắn trói giật cánh khuỷu vua Dīghīti xứ Kosala cùng với vợ, trói cho thật chặt, cạo trọc đầu bằng dao cạo, rồi đánh trống tiếng chói tai, dẫn đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, đưa ra khỏi cổng thành phía nam, rồi ở phía nam của thành, chặt ra làm bốn mảnh, và vứt bỏ ở bốn phương.’ ‘Vâng, tâu Đại vương.’ Này các Tỷ-kheo, những người ấy vâng lệnh vua Brahmadatta xứ Kāsi, đã dùng dây thừng chắc chắn trói giật cánh khuỷu vua Dīghīti xứ Kosala cùng với vợ, trói cho thật chặt, cạo trọc đầu bằng dao cạo, rồi đánh trống tiếng chói tai, dẫn đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác.
Atha kho, bhikkhave, dīghāvussa kumārassa etadahosi—‘ciraṁdiṭṭhā kho me mātāpitaro. Yannūnāhaṁ mātāpitaro passeyyan’ti. Atha kho, bhikkhave, dīghāvu kumāro bārāṇasiṁ pavisitvā addasa mātāpitaro daḷhāya rajjuyā pacchābāhaṁ gāḷhabandhanaṁ bandhitvā khuramuṇḍaṁ karitvā kharassarena paṇavena rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ parinente, disvāna yena mātāpitaro tenupasaṅkami. Addasā kho, bhikkhave, dīghīti kosalarājā dīghāvuṁ kumāraṁ dūratova āgacchantaṁ; disvāna dīghāvuṁ kumāraṁ etadavoca—‘mā kho tvaṁ, tāta dīghāvu, dīghaṁ passa, mā rassaṁ. Na hi, tāta dīghāvu, verena verā sammanti; averena hi, tāta dīghāvu, verā sammantī’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, te manussā dīghītiṁ kosalarājānaṁ etadavocuṁ—‘ummattako ayaṁ dīghīti kosalarājā vippalapati. Ko imassa dīghāvu? Kaṁ ayaṁ evamāha—mā kho tvaṁ, tāta dīghāvu, dīghaṁ passa, mā rassaṁ. Na hi, tāta dīghāvu, verena verā sammanti; averena hi, tāta dīghāvu, verā sammantī’ti.
‘Nāhaṁ, bhaṇe, ummattako vippalapāmi, api ca yo viññū so vibhāvessatī’ti.
Dutiyampi kho, bhikkhave …pe… tatiyampi kho, bhikkhave, dīghīti kosalarājā dīghāvuṁ kumāraṁ etadavoca—‘mā kho tvaṁ, tāta dīghāvu, dīghaṁ passa, mā rassaṁ. Na hi, tāta dīghāvu, verena verā sammanti; averena hi, tāta dīghāvu, verā sammantī’ti.
Tatiyampi kho, bhikkhave, te manussā dīghītiṁ kosalarājānaṁ etadavocuṁ—‘ummattako ayaṁ dīghīti kosalarājā vippalapati. Ko imassa dīghāvu? Kaṁ ayaṁ evamāha—“mā kho tvaṁ, tāta dīghāvu, dīghaṁ passa, mā rassaṁ. Na hi, tāta dīghāvu, verena verā sammanti; averena hi, tāta dīghāvu, verā sammantī”’ti.
‘Nāhaṁ, bhaṇe, ummattako vippalapāmi, api ca yo viññū so vibhāvessatī’ti.
Atha kho, bhikkhave, te manussā dīghītiṁ kosalarājānaṁ sapajāpatikaṁ rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ parinetvā dakkhiṇena dvārena nikkhāmetvā dakkhiṇato nagarassa catudhā chinditvā catuddisā bilāni nikkhipitvā gumbaṁ ṭhapetvā pakkamiṁsu.
Atha kho, bhikkhave, dīghāvu kumāro bārāṇasiṁ pavisitvā suraṁ nīharitvā gumbiye pāyesi. Yadā te mattā ahesuṁ patitā, atha kaṭṭhāni saṅkaḍḍhitvā citakaṁ karitvā mātāpitūnaṁ sarīraṁ citakaṁ āropetvā aggiṁ datvā pañjaliko tikkhattuṁ citakaṁ padakkhiṇaṁ akāsi.
Just then Prince Dīghāvu thought, ‘I haven’t seen my parents for a long time. Why don’t I pay them a visit?’ When he entered Benares, he saw what was happening to his parents. As he approached them, King Dīghīti said to him, ‘My dear Dīghāvu, see neither long nor short. For hatred never ends through hatred; hatred only ends through love.’
The people there said to King Dīghīti, ‘You’re insane, King Dīghīti, you’re babbling. Who’s Dīghāvu? Who are you saying this to?’
‘I’m not insane, I’m not babbling. The wise will understand.’
King Dīghīti repeated what he had said to the prince a second and a third time, and the people there reacted as before.
Then, when the parading was finished, they took King Dīghīti and his wife through the southern gate and cut them in four. They placed the pieces at the four directions, set up guard, and departed.
Prince Dīghāvu entered Benares, brought back some alcohol, and gave it to the guards. When they were lying drunken on the ground, he collected sticks, built a funeral pyre, and placed his parents’ remains on top. He then lit the pyre, and raising his joined palms, he circumambulated it with his right side toward it.
Này các Tỳ khưu, khi ấy, vương tử Dīghāvu đã khởi lên ý nghĩ này: ‘Đã lâu rồi ta chưa được gặp cha mẹ. Hay là ta nên đi gặp cha mẹ.’ Khi ấy, này các Tỳ khưu, vương tử Dīghāvu sau khi đi vào thành Bārāṇasī đã nhìn thấy cha mẹ bị trói giật cánh khuỷu bằng dây thừng chắc chắn, bị cạo trọc đầu, đang bị dẫn đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác với tiếng trống paṇava chát chúa; sau khi thấy vậy, đã đi đến chỗ cha mẹ. Này các Tỳ khưu, vua Dīghīti của xứ Kosala đã nhìn thấy vương tử Dīghāvu đang đi đến từ xa; sau khi thấy, đã nói với vương tử Dīghāvu lời này: ‘Này con Dīghāvu, con đừng nhìn cái dài, đừng nhìn cái ngắn. Này con Dīghāvu, vì rằng hận thù không thể được dập tắt bằng hận thù; này con Dīghāvu, chỉ bằng không hận thù, hận thù mới được dập tắt.’ Khi được nói như vậy, này các Tỳ khưu, những người kia đã nói với vua Dīghīti của xứ Kosala lời này: ‘Vua Dīghīti của xứ Kosala này điên rồi, nói lảm nhảm. Dīghāvu của ông ta là ai? Ông ta nói với ai những lời như vầy: “Này con Dīghāvu, con đừng nhìn cái dài, đừng nhìn cái ngắn. Này con Dīghāvu, vì rằng hận thù không thể được dập tắt bằng hận thù; này con Dīghāvu, chỉ bằng không hận thù, hận thù mới được dập tắt.”’ ‘Này các ông, ta không điên, không nói lảm nhảm, hơn nữa, người có trí sẽ hiểu rõ.’ Lần thứ hai cũng vậy, này các Tỳ khưu... v.v... Lần thứ ba cũng vậy, này các Tỳ khưu, vua Dīghīti của xứ Kosala đã nói với vương tử Dīghāvu lời này: ‘Này con Dīghāvu, con đừng nhìn cái dài, đừng nhìn cái ngắn. Này con Dīghāvu, vì rằng hận thù không thể được dập tắt bằng hận thù; này con Dīghāvu, chỉ bằng không hận thù, hận thù mới được dập tắt.’ Lần thứ ba cũng vậy, này các Tỳ khưu, những người kia đã nói với vua Dīghīti của xứ Kosala lời này: ‘Vua Dīghīti của xứ Kosala này điên rồi, nói lảm nhảm. Dīghāvu của ông ta là ai? Ông ta nói với ai những lời như vầy: Này con Dīghāvu, con đừng nhìn cái dài, đừng nhìn cái ngắn. Này con Dīghāvu, vì rằng hận thù không thể được dập tắt bằng hận thù; này con Dīghāvu, chỉ bằng không hận thù, hận thù mới được dập tắt.’ ‘Này các ông, ta không điên, không nói lảm nhảm, hơn nữa, người có trí sẽ hiểu rõ.’ Khi ấy, này các Tỳ khưu, những người kia đã dẫn vua Dīghīti của xứ Kosala cùng với hoàng hậu đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, đưa ra khỏi thành bằng cổng phía nam, ở phía nam của thành, chặt ra làm bốn khúc, vứt các phần ở bốn hướng, đặt lính canh rồi bỏ đi. Khi ấy, này các Tỳ khưu, vương tử Dīghāvu sau khi đi vào thành Bārāṇasī đã mang rượu ra và cho lính canh uống. Khi họ đã say và ngã xuống, khi ấy, vương tử đã thu gom củi, chất thành giàn hỏa, đặt thi thể của cha mẹ lên giàn hỏa, châm lửa, rồi chắp tay đi nhiễu quanh giàn hỏa ba vòng theo chiều bên phải.
Tena kho pana samayena brahmadatto kāsirājā uparipāsādavaragato hoti. Addasā kho, bhikkhave, brahmadatto kāsirājā dīghāvuṁ kumāraṁ pañjalikaṁ tikkhattuṁ citakaṁ padakkhiṇaṁ karontaṁ, disvānassa etadahosi—‘nissaṁsayaṁ kho so manusso dīghītissa kosalarañño ñāti vā sālohito vā, aho me anatthato, na hi nāma me koci ārocessatī’ti.
Atha kho, bhikkhave, dīghāvu kumāro araññaṁ gantvā yāvadatthaṁ kanditvā roditvā khappaṁ puñchitvā bārāṇasiṁ pavisitvā antepurassa sāmantā hatthisālaṁ gantvā hatthācariyaṁ etadavoca—‘icchāmahaṁ, ācariya, sippaṁ sikkhitun’ti.
‘Tena hi, bhaṇe māṇavaka, sikkhassū’ti.
Atha kho, bhikkhave, dīghāvu kumāro rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya hatthisālāyaṁ mañjunā sarena gāyi, vīṇañca vādesi. Assosi kho, bhikkhave, brahmadatto kāsirājā rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya hatthisālāyaṁ mañjunā sarena gītaṁ vīṇañca vāditaṁ, sutvāna manusse pucchi—‘ko, bhaṇe, rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya hatthisālāyaṁ mañjunā sarena gāyi, vīṇañca vādesī’ti? ‘Amukassa, deva, hatthācariyassa antevāsī māṇavako rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya hatthisālāyaṁ mañjunā sarena gāyi, vīṇañca vādesī’ti.
‘Tena hi, bhaṇe, taṁ māṇavakaṁ ānethā’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, te manussā brahmadattassa kāsirañño paṭissutvā dīghāvuṁ kumāraṁ ānesuṁ. ‘Tvaṁ, bhaṇe māṇavaka, rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya hatthisālāyaṁ mañjunā sarena gāyi, vīṇañca vādesī’ti? ‘Evaṁ, devā’ti. ‘Tena hi tvaṁ, bhaṇe māṇavaka, gāyassu, vīṇañca vādehī’ti. ‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, dīghāvu kumāro brahmadattassa kāsirañño paṭissutvā ārādhāpekkho mañjunā sarena gāyi, vīṇañca vādesi. ‘Tvaṁ, bhaṇe māṇavaka, maṁ upaṭṭhahā’ti. ‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, dīghāvu kumāro brahmadattassa kāsirañño paccassosi.
Atha kho, bhikkhave, dīghāvu kumāro brahmadattassa kāsirañño pubbuṭṭhāyī ahosi pacchānipātī kiṅkārapaṭissāvī manāpacārī piyavādī. Atha kho, bhikkhave, brahmadatto kāsirājā dīghāvuṁ kumāraṁ nacirasseva abbhantarime vissāsikaṭṭhāne ṭhapesi.
Atha kho, bhikkhave, brahmadatto kāsirājā dīghāvuṁ kumāraṁ etadavoca—
Just then King Brahmadatta was up in his finest stilt house, and he saw Prince Dīghāvu doing those funeral rites. He thought, ‘No doubt this is a relative of King Dīghīti. This is surely a sign of trouble for me, in that nobody has told me.’
The prince then went into the wilderness and cried his heart out. Wiping away his tears, he entered Benares and went to the elephant stables next to the royal compound. He said to the elephant trainer, ‘Teacher, I wish to learn your profession.’
‘Well then, young brahmin, I’ll teach you.’
Soon the prince was getting up early in the morning, singing sweetly and playing his lute in the elephant stables. King Brahmadatta, too, was getting up early, and he heard that music. He asked his people who it was. They replied that it was a young brahmin who was an apprentice of such-and-such an elephant trainer.
‘Well then, bring him here.’
They brought the prince, and the king asked him whether he was the one who had been singing and playing the lute. When the prince confirmed that it was he, the king said, ‘Well then, sing and play right here.’ Dīghāvu consented and did his best to please the king. The king said, ‘Now then, young man, please attend on me.’ The prince agreed.
The prince then got up before the king and went to bed after him. He willingly performed any services and was pleasant in his conduct and speech. Soon the king put the prince in an intimate position of trust.
On one occasion the king said to the prince,
461. Vào lúc bấy giờ, vua Brahmadatta xứ Kāsi đang ở trên lầu thượng của cung điện. Này các tỳ khưu, vua Brahmadatta xứ Kāsi đã nhìn thấy vương tử Dīghāvu đang chắp tay đi nhiễu quanh giàn hỏa thiêu ba vòng về phía tay phải. Sau khi nhìn thấy, vị ấy đã suy nghĩ rằng: ‘Chắc chắn người này là bà con hoặc là người cùng huyết thống của vua Dīghīti xứ Kosala. Ôi, thật là bất lợi cho ta! Quả thật không có ai báo cho ta biết cả.’ Khi ấy, này các tỳ khưu, vương tử Dīghāvu đi vào khu rừng, than khóc và kêu la thỏa thích, lau nước mắt rồi đi vào thành Bārāṇasī, đi đến chuồng voi ở gần nội cung, và nói với người quản tượng rằng: ‘Thưa sư phụ, con muốn học nghề.’ – ‘Này chàng thanh niên, nếu vậy thì hãy học đi.’ Khi ấy, này các tỳ khưu, vương tử Dīghāvu thức dậy sớm vào lúc rạng đông, ở tại chuồng voi, đã hát với giọng hát ngọt ngào và cũng đã gảy đàn Vīṇā. Này các tỳ khưu, vua Brahmadatta xứ Kāsi thức dậy sớm vào lúc rạng đông đã nghe được tiếng hát với giọng hát ngọt ngào và tiếng đàn Vīṇā được gảy ở tại chuồng voi. Sau khi nghe, vị ấy hỏi những người hầu rằng: ‘Này các khanh, ai đã thức dậy sớm vào lúc rạng đông, ở tại chuồng voi, đã hát với giọng hát ngọt ngào và cũng đã gảy đàn Vīṇā vậy?’ – ‘Tâu Thiên tử, đó là chàng thanh niên, người đệ tử của người quản tượng tên là..., đã thức dậy sớm vào lúc rạng đông, ở tại chuồng voi, đã hát với giọng hát ngọt ngào và cũng đã gảy đàn Vīṇā.’ – ‘Này các khanh, nếu vậy thì hãy dẫn chàng thanh niên ấy đến đây.’ Này các tỳ khưu, những người ấy vâng theo vua Brahmadatta xứ Kāsi rằng: ‘Tâu Thiên tử, xin vâng,’ rồi đã dẫn vương tử Dīghāvu đến. – ‘Này chàng thanh niên, có phải ngươi đã thức dậy sớm vào lúc rạng đông, ở tại chuồng voi, đã hát với giọng hát ngọt ngào và cũng đã gảy đàn Vīṇā không?’ – ‘Tâu Thiên tử, đúng vậy.’ – ‘Này chàng thanh niên, nếu vậy thì ngươi hãy hát và hãy gảy đàn Vīṇā đi.’ Này các tỳ khưu, vương tử Dīghāvu vâng theo vua Brahmadatta xứ Kāsi rằng: ‘Tâu Thiên tử, xin vâng,’ rồi với mong muốn làm cho vị vua hài lòng, đã hát với giọng hát ngọt ngào và cũng đã gảy đàn Vīṇā. – ‘Này chàng thanh niên, ngươi hãy hầu hạ ta.’ Này các tỳ khưu, vương tử Dīghāvu đã vâng lời vua Brahmadatta xứ Kāsi rằng: ‘Tâu Thiên tử, xin vâng.’ Khi ấy, này các tỳ khưu, vương tử Dīghāvu đã trở thành người thức trước, ngủ sau, vâng lời, hành xử vừa lòng, và nói lời khả ái đối với vua Brahmadatta xứ Kāsi. Khi ấy, này các tỳ khưu, không bao lâu sau, vua Brahmadatta xứ Kāsi đã đặt vương tử Dīghāvu vào một vị trí thân tín ở trong nội cung.
Atha kho, bhikkhave, brahmadatto kāsirājā dūraṁ gantvā dīghāvuṁ kumāraṁ etadavoca—‘tena hi, bhaṇe māṇavaka, rathaṁ muñcassu, kilantomhi, nipajjissāmī’ti. ‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, dīghāvu kumāro brahmadattassa kāsirañño paṭissutvā rathaṁ muñcitvā pathaviyaṁ pallaṅkena nisīdi. Atha kho, bhikkhave, brahmadatto kāsirājā dīghāvussa kumārassa ucchaṅge sīsaṁ katvā seyyaṁ kappesi. Tassa kilantassa muhuttakeneva niddā okkami. Atha kho, bhikkhave, dīghāvussa kumārassa etadahosi—‘ayaṁ kho brahmadatto kāsirājā bahuno amhākaṁ anatthassa kārako. Iminā amhākaṁ balañca vāhanañca janapado ca koso ca koṭṭhāgārañca acchinnaṁ. Iminā ca me mātāpitaro hatā. Ayaṁ khvassa kālo yohaṁ veraṁ appeyyan’ti kosiyā khaggaṁ nibbāhi.
Atha kho, bhikkhave, dīghāvussa kumārassa etadahosi—‘pitā kho maṁ maraṇakāle avaca “mā kho tvaṁ, tāta dīghāvu, dīghaṁ passa, mā rassaṁ. Na hi, tāta dīghāvu, verena verā sammanti; averena hi, tāta dīghāvu, verā sammantī”ti. Na kho metaṁ patirūpaṁ, yvāhaṁ pituvacanaṁ atikkameyyan’ti kosiyā khaggaṁ pavesesi.
Dutiyampi kho, bhikkhave, dīghāvussa kumārassa etadahosi—‘ayaṁ kho brahmadatto kāsirājā bahuno amhākaṁ anatthassa kārako, iminā amhākaṁ balañca vāhanañca janapado ca koso ca koṭṭhāgārañca acchinnaṁ, iminā ca me mātāpitaro hatā, ayaṁ khvassa kālo yohaṁ veraṁ appeyyan’ti kosiyā khaggaṁ nibbāhi. Dutiyampi kho, bhikkhave, dīghāvussa kumārassa etadahosi—‘pitā kho maṁ maraṇakāle avaca “mā kho tvaṁ, tāta dīghāvu, dīghaṁ passa, mā rassaṁ, na hi, tāta dīghāvu, verena verā sammanti; averena hi, tāta dīghāvu, verā sammantī”ti. Na kho metaṁ patirūpaṁ, yvāhaṁ pituvacanaṁ atikkameyyan’ti. Punadeva kosiyā khaggaṁ pavesesi.
Tatiyampi kho, bhikkhave, dīghāvussa kumārassa etadahosi—‘ayaṁ kho brahmadatto kāsirājā bahuno amhākaṁ anatthassa kārako. Iminā amhākaṁ balañca vāhanañca janapado ca koso ca koṭṭhāgārañca acchinnaṁ. Iminā ca me mātāpitaro hatā. Ayaṁ khvassa kālo yohaṁ veraṁ appeyyan’ti kosiyā khaggaṁ nibbāhi.
Tatiyampi kho, bhikkhave, dīghāvussa kumārassa etadahosi—‘pitā kho maṁ maraṇakāle avaca “mā kho tvaṁ, tāta dīghāvu, dīghaṁ passa, mā rassaṁ. Na hi, tāta dīghāvu, verena verā sammanti; averena hi, tāta dīghāvu, verā sammantī”ti. Na kho metaṁ patirūpaṁ, yvāhaṁ pituvacanaṁ atikkameyyan’ti punadeva kosiyā khaggaṁ pavesesi.
Atha kho, bhikkhave, brahmadatto kāsirājā bhīto ubbiggo ussaṅkī utrasto sahasā vuṭṭhāsi. Atha kho, bhikkhave, dīghāvu kumāro brahmadattaṁ kāsirājānaṁ etadavoca—‘kissa tvaṁ, deva, bhīto ubbiggo ussaṅkī utrasto sahasā vuṭṭhāsī’ti? ‘Idha maṁ, bhaṇe māṇavaka, dīghītissa kosalarañño putto dīghāvu kumāro supinantena khaggena paripātesi. Tenāhaṁ bhīto ubbiggo ussaṅkī utrasto sahasā vuṭṭhāsin’ti. Atha kho, bhikkhave, dīghāvu kumāro vāmena hatthena brahmadattassa kāsirañño sīsaṁ parāmasitvā dakkhiṇena hatthena khaggaṁ nibbāhetvā brahmadattaṁ kāsirājānaṁ etadavoca—‘ahaṁ kho so, deva, dīghītissa kosalarañño putto dīghāvu kumāro. Bahuno tvaṁ amhākaṁ anatthassa kārako. Tayā amhākaṁ balañca vāhanañca janapado ca koso ca koṭṭhāgārañca acchinnaṁ. Tayā ca me mātāpitaro hatā. Ayaṁ khvassa kālo yvāhaṁ veraṁ appeyyan’ti.
Atha kho, bhikkhave, brahmadatto kāsirājā dīghāvussa kumārassa pādesu sirasā nipatitvā dīghāvuṁ kumāraṁ etadavoca—‘jīvitaṁ me, tāta dīghāvu, dehi. Jīvitaṁ me, tāta dīghāvu, dehī’ti.
‘Kyāhaṁ ussahāmi devassa jīvitaṁ dātuṁ? Devo kho me jīvitaṁ dadeyyā’ti.
‘Tena hi, tāta dīghāvu, tvañceva me jīvitaṁ dehi, ahañca te jīvitaṁ dammī’ti.
Atha kho, bhikkhave, brahmadatto ca kāsirājā dīghāvu ca kumāro aññamaññassa jīvitaṁ adaṁsu, pāṇiñca aggahesuṁ, sapathañca akaṁsu addūbhāya.
When they had gone a long way, the king said to the prince, ‘Listen, unharness the chariot. I’m tired. I wish to lie down.’ He did as asked and then sat down cross-legged on the ground. The king lay down, resting his head on the prince’s lap. And because he was tired, he quickly fell asleep. The prince thought, ‘This king has caused us much misfortune. He took our army, our vehicles and transport animals, and our country and wealth. He killed my mother and father. This is my chance to take revenge.’ And he drew his sword from its scabbard.
He then thought, ‘At the time of his death, my father said to me, “My dear Dīghāvu, see neither long nor short. For hatred never ends through hatred; hatred only ends through love.” It wouldn’t be right for me to ignore my father’s advice.’ And he returned the sword to its scabbard.
A second and a third time he had the same thoughts, and each time he ended up returning the sword to its scabbard.
Just then King Brahmadatta suddenly got up, frightened and alarmed. The prince asked him what was the matter, and the king said, ‘I just dreamed that Prince Dīghāvu, the son of Dīghīti the king of Kosala, attacked me with a sword.’ Seizing the king’s head with his left hand and drawing his sword with his right hand, the prince said to the king, ‘Sir, I’m that Prince Dīghāvu, the son of Dīghīti the king of Kosala. You’ve caused us much misfortune. You took our army, our vehicles and transport animals, and our country and wealth. You killed my mother and father. This is my chance to take revenge.’
The king bowed down with his head at the prince’s feet and said, ‘Dear Dīghāvu, please spare my life.’
‘Who am I to spare your life? Sir, it’s you who should spare mine.’
‘Well then, Dīghāvu, if you spare my life, I’ll spare yours.’
The king and Dīghāvu spared each other’s lives. They shook hands and made a vow not to harm one another.
462. Này các Tỳ khưu, khi ấy, vua Brahmadatta xứ Kāsi đã nói với vương tử Dīghāvu rằng: ‘Này chàng thanh niên, vậy thì hãy thắng xe, chúng ta sẽ đi đến khu rừng săn.’ Này các Tỳ khưu, vương tử Dīghāvu đã vâng lời vua Brahmadatta xứ Kāsi rằng: ‘Tâu Đại vương, xin vâng.’ Sau khi thắng xe, vị ấy đã thưa với vua Brahmadatta xứ Kāsi rằng: ‘Tâu Đại vương, xe đã được thắng cho ngài rồi. Bây giờ, ngài nghĩ là thời điểm nào thích hợp thì đi.’ Này các Tỳ khưu, khi ấy, vua Brahmadatta xứ Kāsi đã lên xe. Vương tử Dīghāvu đã đánh xe đi. Vị ấy đã đánh xe đi theo cách mà đoàn quân đi một đường và cỗ xe đi một nẻo khác. Này các Tỳ khưu, sau khi đã đi được một quãng xa, vua Brahmadatta xứ Kāsi đã nói với vương tử Dīghāvu rằng: ‘Này chàng thanh niên, vậy thì hãy tháo xe ra. Ta mệt rồi, ta sẽ nằm nghỉ.’ Này các Tỳ khưu, vương tử Dīghāvu đã vâng lời vua Brahmadatta xứ Kāsi rằng: ‘Tâu Đại vương, xin vâng.’ Sau khi tháo xe, vị ấy đã ngồi xếp bằng trên mặt đất. Này các Tỳ khưu, khi ấy, vua Brahmadatta xứ Kāsi đã đặt đầu lên đùi của vương tử Dīghāvu rồi nằm xuống. Do đã mệt mỏi, chỉ trong chốc lát, nhà vua đã chìm vào giấc ngủ. Này các Tỳ khưu, khi ấy, vương tử Dīghāvu đã khởi lên suy nghĩ rằng: ‘Vua Brahmadatta xứ Kāsi này đã gây ra nhiều điều bất hạnh cho chúng ta. Chính kẻ này đã chiếm đoạt quân đội, xe cộ, xứ sở, ngân khố, và kho lẫm của chúng ta. Và cũng chính kẻ này đã giết hại cha mẹ của ta. Đây chính là lúc ta phải trả thù.’ Và vị ấy đã rút gươm ra khỏi vỏ. Này các Tỳ khưu, khi ấy, vương tử Dīghāvu lại khởi lên suy nghĩ rằng: ‘Lúc lâm chung, phụ thân đã dặn ta rằng: “Này Dīghāvu con yêu, con đừng nhìn vào cái dài, đừng nhìn vào cái ngắn. Này Dīghāvu con yêu, hận thù không thể diệt được hận thù; này Dīghāvu con yêu, chỉ có không hận thù mới diệt được hận thù.” Việc ta vượt qua lời dạy của phụ thân là điều không thích hợp.’ Và vị ấy đã tra gươm vào lại vỏ. Lần thứ hai, này các Tỳ khưu, vương tử Dīghāvu đã khởi lên suy nghĩ rằng: ‘Vua Brahmadatta xứ Kāsi này đã gây ra nhiều điều bất hạnh cho chúng ta, chính kẻ này đã chiếm đoạt quân đội, xe cộ, xứ sở, ngân khố, và kho lẫm của chúng ta, và cũng chính kẻ này đã giết hại cha mẹ của ta, đây chính là lúc ta phải trả thù.’ Và vị ấy đã rút gươm ra khỏi vỏ. Lần thứ hai, này các Tỳ khưu, vương tử Dīghāvu lại khởi lên suy nghĩ rằng: ‘Lúc lâm chung, phụ thân đã dặn ta rằng: “Này Dīghāvu con yêu, con đừng nhìn vào cái dài, đừng nhìn vào cái ngắn, này Dīghāvu con yêu, hận thù không thể diệt được hận thù; này Dīghāvu con yêu, chỉ có không hận thù mới diệt được hận thù.” Việc ta vượt qua lời dạy của phụ thân là điều không thích hợp.’ Vị ấy lại tra gươm vào lại vỏ. Lần thứ ba, này các Tỳ khưu, vương tử Dīghāvu đã khởi lên suy nghĩ rằng: ‘Vua Brahmadatta xứ Kāsi này đã gây ra nhiều điều bất hạnh cho chúng ta. Chính kẻ này đã chiếm đoạt quân đội, xe cộ, xứ sở, ngân khố, và kho lẫm của chúng ta. Và cũng chính kẻ này đã giết hại cha mẹ của ta. Đây chính là lúc ta phải trả thù.’ Và vị ấy đã rút gươm ra khỏi vỏ. Lần thứ ba, này các Tỳ khưu, vương tử Dīghāvu lại khởi lên suy nghĩ rằng: ‘Lúc lâm chung, phụ thân đã dặn ta rằng: “Này Dīghāvu con yêu, con đừng nhìn vào cái dài, đừng nhìn vào cái ngắn. Này Dīghāvu con yêu, hận thù không thể diệt được hận thù; này Dīghāvu con yêu, chỉ có không hận thù mới diệt được hận thù.” Việc ta vượt qua lời dạy của phụ thân là điều không thích hợp.’ Vị ấy lại tra gươm vào lại vỏ. Này các Tỳ khưu, khi ấy, vua Brahmadatta xứ Kāsi sợ hãi, kinh động, nghi ngờ, hoảng hốt, đã vội vàng ngồi dậy. Này các Tỳ khưu, khi ấy, vương tử Dīghāvu đã thưa với vua Brahmadatta xứ Kāsi rằng: ‘Tâu Đại vương, vì sao ngài lại sợ hãi, kinh động, nghi ngờ, hoảng hốt, vội vàng ngồi dậy như thế?’ ‘Này chàng thanh niên, vừa rồi trong giấc mơ, vương tử Dīghāvu, con trai của vua Dīghīti xứ Kosala, đã dùng gươm truy đuổi ta. Vì thế, ta đã sợ hãi, kinh động, nghi ngờ, hoảng hốt, vội vàng ngồi dậy.’ Này các Tỳ khưu, khi ấy, vương tử Dīghāvu đã dùng tay trái giữ lấy đầu của vua Brahmadatta xứ Kāsi, tay phải rút gươm ra, rồi thưa với vua Brahmadatta xứ Kāsi rằng: ‘Tâu Đại vương, chính tôi là vương tử Dīghāvu, con trai của vua Dīghīti xứ Kosala. Ngài đã gây ra nhiều điều bất hạnh cho chúng tôi. Chính ngài đã chiếm đoạt quân đội, xe cộ, xứ sở, ngân khố, và kho lẫm của chúng tôi. Và cũng chính ngài đã giết hại cha mẹ của tôi. Đây chính là lúc tôi phải trả thù.’ Này các Tỳ khưu, khi ấy, vua Brahmadatta xứ Kāsi đã cúi đầu xuống chân của vương tử Dīghāvu và nói với vương tử Dīghāvu rằng: ‘Này Dīghāvu con yêu, hãy tha mạng cho ta. Này Dīghāvu con yêu, hãy tha mạng cho ta.’ ‘Làm sao tôi có thể tha mạng cho Đại vương được? Chính Đại vương mới nên tha mạng cho tôi.’ ‘Này Dīghāvu con yêu, vậy thì cả con hãy tha mạng cho ta, và ta cũng sẽ tha mạng cho con.’ Này các Tỳ khưu, khi ấy, vua Brahmadatta xứ Kāsi và vương tử Dīghāvu đã tha mạng cho nhau, đã nắm tay nhau, và đã lập lời thề không làm hại nhau.
Atha kho, bhikkhave, brahmadatto kāsirājā dīghāvuṁ kumāraṁ etadavoca—‘tena hi, tāta dīghāvu, rathaṁ yojehi, gamissāmā’ti. ‘Evaṁ, devā’ti kho, bhikkhave, dīghāvu kumāro brahmadattassa kāsirañño paṭissutvā rathaṁ yojetvā brahmadattaṁ kāsirājānaṁ etadavoca—‘yutto kho te, deva, ratho, yassadāni kālaṁ maññasī’ti. Atha kho, bhikkhave, brahmadatto kāsirājā rathaṁ abhiruhi. Dīghāvu kumāro rathaṁ pesesi. Tathā tathā rathaṁ pesesi yathā yathā nacirasseva senāya samāgañchi.
Atha kho, bhikkhave, brahmadatto kāsirājā bārāṇasiṁ pavisitvā amacce pārisajje sannipātāpetvā etadavoca—‘sace, bhaṇe, dīghītissa kosalarañño puttaṁ dīghāvuṁ kumāraṁ passeyyātha, kinti naṁ kareyyāthā’ti?
Ekacce evamāhaṁsu—‘mayaṁ, deva, hatthe chindeyyāma. Mayaṁ, deva, pāde chindeyyāma. Mayaṁ, deva, hatthapāde chindeyyāma. Mayaṁ, deva, kaṇṇe chindeyyāma. Mayaṁ, deva, nāsaṁ chindeyyāma. Mayaṁ, deva, kaṇṇanāsaṁ chindeyyāma. Mayaṁ, deva, sīsaṁ chindeyyāmā’ti.
‘Ayaṁ kho, bhaṇe, dīghītissa kosalarañño putto dīghāvu kumāro. Nāyaṁ labbhā kiñci kātuṁ. Iminā ca me jīvitaṁ dinnaṁ, mayā ca imassa jīvitaṁ dinnan’ti.
The king said to the prince, ‘Well then, Dīghāvu, harness the chariot and let’s go.’ He did as asked and told to the king, ‘Sir, the chariot is ready. You may leave when you’re ready.’ The king mounted the chariot, with the prince driving it. And he drove it so that it soon rejoined the army.
When he was back in Benares, the king gathered his court and said, ‘Now, let me ask you: if you saw Prince Dīghāvu, the son of Dīghīti the king of Kosala, what would you do to him?’
They variously replied, ‘Sir, we’d cut off his hands;’ ‘We’d cut off his feet;’ ‘We’d cut off both his hands and feet;’ ‘We’d cut off his ears;’ ‘We’d cut off his nose;’ ‘We’d cut off both his ears and nose;’ ‘We’d cut off his head.’
‘Well, this is Prince Dīghāvu, the son of Dīghīti the king of Kosala. You shouldn’t do anything to harm him. I’ve spared his life and he’s spared mine.’
Này các Tỳ khưu, khi ấy vua Brahmadatta xứ Kāsi nói với vương tử Dīghāvu: ‘Này con Dīghāvu, vậy thì hãy thắng xe, chúng ta sẽ đi.’ – ‘Tâu Đại vương, vâng ạ.’ Này các Tỳ khưu, vương tử Dīghāvu đã vâng lời vua Brahmadatta xứ Kāsi, thắng xe xong, rồi nói với vua Brahmadatta xứ Kāsi: ‘Tâu Đại vương, xe đã được thắng cho ngài, bây giờ ngài nghĩ là đã đến lúc.’ Khi ấy, này các Tỳ khưu, vua Brahmadatta xứ Kāsi đã lên xe. Vương tử Dīghāvu đã đánh xe đi. Chàng đã đánh xe đi theo cách mà không bao lâu sau đã gặp được quân đội. Khi ấy, này các Tỳ khưu, vua Brahmadatta xứ Kāsi sau khi vào thành Bārāṇasī, đã cho triệu tập các vị đại thần và hội đồng, rồi nói rằng: ‘Này các khanh, nếu các khanh thấy vương tử Dīghāvu, con của vua Dīghīti xứ Kosala, các khanh sẽ làm gì nó?’ Một số vị đã nói như vầy: ‘Tâu Đại vương, chúng thần sẽ chặt tay. Tâu Đại vương, chúng thần sẽ chặt chân. Tâu Đại vương, chúng thần sẽ chặt tay chân. Tâu Đại vương, chúng thần sẽ cắt tai. Tâu Đại vương, chúng thần sẽ cắt mũi. Tâu Đại vương, chúng thần sẽ cắt tai mũi. Tâu Đại vương, chúng thần sẽ chặt đầu.’ – ‘Này các khanh, đây chính là vương tử Dīghāvu, con của vua Dīghīti xứ Kosala. Không thể làm gì nó được nữa. Người này đã cho ta mạng sống, và ta cũng đã cho người này mạng sống.’
Atha kho, bhikkhave, brahmadatto kāsirājā dīghāvuṁ kumāraṁ etadavoca—‘yaṁ kho te, tāta dīghāvu, pitā maraṇakāle avaca “mā kho tvaṁ, tāta dīghāvu, dīghaṁ passa, mā rassaṁ.
Na hi, tāta dīghāvu, verena verā sammanti; averena hi, tāta dīghāvu, verā sammantī”ti, kiṁ te pitā sandhāya avacā’ti?
‘Yaṁ kho me, deva, pitā maraṇakāle avaca “mā dīghan”ti mā ciraṁ veraṁ akāsīti. Imaṁ kho me, deva, pitā maraṇakāle avaca “mā dīghan”ti. Yaṁ kho me, deva, pitā maraṇakāle avaca “mā rassan”ti mā khippaṁ mittehi bhijjitthāti. Imaṁ kho me, deva, pitā maraṇakāle avaca “mā rassan”ti. Yaṁ kho me, deva, pitā maraṇakāle avaca “na hi, tāta dīghāvu, verena verā sammanti, averena hi, tāta dīghāvu, verā sammantī”ti devena me mātāpitaro hatāti. Sacāhaṁ devaṁ jīvitā voropeyyaṁ, ye devassa atthakāmā te maṁ jīvitā voropeyyuṁ, ye me atthakāmā te te jīvitā voropeyyuṁ—evaṁ taṁ veraṁ verena na vūpasameyya. Idāni ca pana me devena jīvitaṁ dinnaṁ, mayā ca devassa jīvitaṁ dinnaṁ. Evaṁ taṁ veraṁ averena vūpasantaṁ.
Imaṁ kho me, deva, pitā maraṇakāle avaca—“na hi, tāta dīghāvu, verena verā sammanti; averena hi, tāta dīghāvu, verā sammantī”’ti.
Atha kho, bhikkhave, brahmadatto kāsirājā—‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Yāva paṇḍito ayaṁ dīghāvu kumāro, yatra hi nāma pituno saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānissatī’ti pettikaṁ balañca vāhanañca janapadañca kosañca koṭṭhāgārañca paṭipādesi, dhītarañca adāsi.
Tesañhi nāma, bhikkhave, rājūnaṁ ādinnadaṇḍānaṁ ādinnasatthānaṁ evarūpaṁ khantisoraccaṁ bhavissati. Idha kho pana taṁ, bhikkhave, sobhetha yaṁ tumhe evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitā samānā khamā ca bhaveyyātha soratā cā”ti?
Tatiyampi kho bhagavā te bhikkhū etadavoca—“alaṁ, bhikkhave, mā bhaṇḍanaṁ mā kalahaṁ mā viggahaṁ mā vivādan”ti. Tatiyampi kho so adhammavādī bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca—“āgametu, bhante, bhagavā dhammassāmī; appossukko, bhante, bhagavā diṭṭhadhammasukhavihāramanuyutto viharatu. Mayametena bhaṇḍanena kalahena viggahena vivādena paññāyissāmā”ti.
Atha kho bhagavā—“pariyādinnarūpā kho ime moghapurisā, nayime sukarā saññāpetun”ti—uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Soon afterwards the king said to Dīghāvu, ‘Dīghāvu, what’s the meaning of that which your father told you at the time of his death?’
‘When he said, “Not long,” he meant, “Don’t harbor hate for a long time.” When he said, “Not short,” he meant, “Don’t hastily break with your friends.” And when he said, “For hatred never ends through hatred; hatred only ends through love,” he was referring to your killing of my mother and father. For if I had killed you, those who wish you well would’ve killed me, and those who wish me well would in turn have killed them. In this way the hatred would never end through hatred. But now you’ve spared my life and I’ve spared yours. In this way hatred ends through love.’
The king thought, ‘It’s amazing how wise Dīghāvu is, as he’s able to fully understand the meaning of his father’s brief statement.’ He gave him back his father’s army, his vehicles and transport animals, and his country and wealth. And he also gave him his own daughter.
“In this way, monks, those kings who had the authority to punish were actually patient and gentle. But right here, you who’ve gone forth on this well-proclaimed spiritual path, do you shine with your patience and gentleness?”
A third time the Buddha said to those monks, “Enough, monks, don’t quarrel and dispute.” And a third time that monk who spoke contrary to the Teaching replied, “Wait, sir, you’re the Lord of the Teaching. Be at ease and enjoy the happiness of meditation. We’ll face the consequences of this quarreling and disputing.”
The Buddha thought, “These foolish men are consumed by emotions. It’s not easy to persuade them,” and he got up from his seat and left.
463. Khi ấy, này các Tỳ khưu, vua Brahmadatta xứ Kāsi nói với vương tử Dīghāvu: ‘Này con Dīghāvu, điều mà phụ thân của con lúc lâm chung đã dặn rằng: ‘Này con Dīghāvu, con chớ thấy dài, chớ thấy ngắn. Này con Dīghāvu, hận thù không thể diệt bằng hận thù; này con Dīghāvu, hận thù chỉ diệt được bằng không hận thù,’ phụ thân của con đã nói điều ấy với ý nghĩa gì?’ – ‘Tâu Đại vương, điều mà phụ thân của con lúc lâm chung đã dặn ‘chớ thấy dài,’ có nghĩa là: ‘chớ nuôi hận thù lâu dài.’ Tâu Đại vương, đây là điều mà phụ thân của con lúc lâm chung đã dặn ‘chớ thấy dài.’ Tâu Đại vương, điều mà phụ thân của con lúc lâm chung đã dặn ‘chớ thấy ngắn,’ có nghĩa là: ‘chớ vội vàng cắt đứt tình bạn.’ Tâu Đại vương, đây là điều mà phụ thân của con lúc lâm chung đã dặn ‘chớ thấy ngắn.’ Tâu Đại vương, điều mà phụ thân của con lúc lâm chung đã dặn: ‘Này con Dīghāvu, hận thù không thể diệt bằng hận thù; này con Dīghāvu, hận thù chỉ diệt được bằng không hận thù,’ là vì: ‘Đại vương đã giết cha mẹ của con.’ Nếu con đoạt mạng sống của Đại vương, thì những người muốn lợi ích cho Đại vương sẽ đoạt mạng sống của con, rồi những người muốn lợi ích cho con sẽ đoạt mạng sống của họ – như vậy, mối hận thù ấy sẽ không thể chấm dứt bằng hận thù. Nhưng bây giờ, Đại vương đã cho con mạng sống, và con cũng đã cho Đại vương mạng sống. Như vậy, mối hận thù ấy đã được chấm dứt bằng không hận thù. Tâu Đại vương, đây là điều mà phụ thân của con lúc lâm chung đã dặn: ‘Này con Dīghāvu, hận thù không thể diệt bằng hận thù; này con Dīghāvu, hận thù chỉ diệt được bằng không hận thù.’’ Khi ấy, này các Tỳ khưu, vua Brahmadatta xứ Kāsi nói: ‘Thật kỳ diệu, thưa các ngài! Thật phi thường, thưa các ngài! Vương tử Dīghāvu này thật là bậc hiền trí, đã có thể hiểu được ý nghĩa một cách chi tiết lời nói vắn tắt của phụ thân!’ rồi đã trao trả lại quân đội, xe cộ, lãnh thổ, ngân khố, và kho lẫm của phụ thân, và cũng gả con gái cho chàng. Này các Tỳ khưu, ngay cả những vị vua kia, những người cầm gậy, cầm gươm, mà còn có được sự kham nhẫn và hiền hòa như vậy. Huống nữa là các ngươi, này các Tỳ khưu, đã xuất gia trong Pháp và Luật được khéo giảng dạy như thế này, thật là tốt đẹp biết bao nếu các ngươi có thể kham nhẫn và hiền hòa!’ Lần thứ ba, Thế Tôn nói với các Tỳ khưu ấy: ‘Thôi đủ rồi, này các Tỳ khưu, đừng tranh cãi, đừng cãi vã, đừng xung đột, đừng tranh luận!’ Lần thứ ba, vị Tỳ khưu phi pháp ấy nói với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn, bậc Pháp chủ, hãy khoan. Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy ít bận tâm, an trú trong sự an lạc của hiện tại. Chúng con sẽ được biết đến qua sự tranh cãi, cãi vã, xung đột, tranh luận này.’ Khi ấy, Thế Tôn nghĩ rằng: ‘Những kẻ ngu si này đã bị chi phối hoàn toàn, không dễ gì làm cho họ hiểu được,’ rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Dīghāvubhāṇavāro niṭṭhito paṭhamo.
The first section for recitation on Dīghāvu is finished.
Phẩm Dīghāvu, phần thứ nhất, đã kết thúc.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya kosambiṁ piṇḍāya pāvisi. Kosambiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya saṅghamajjhe ṭhitakova imā gāthāyo abhāsi—
Then, after robing up in the morning, the Buddha took his bowl and robe and entered Kosambī for alms. When he had completed his almsround, eaten his meal, and returned, he put his dwelling in order. He then took his bowl and robe, and while standing in the midst of the Sangha, he spoke these verses:
464. Khi ấy, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, cầm y bát, đi vào thành Kosambī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Kosambī, dùng bữa xong, trở về từ nơi khất thực, ngài dọn dẹp chỗ ở, cầm y bát, và đứng giữa Tăng chúng, ngài đã nói lên những câu kệ này:
“Puthusaddo samajano, na bālo koci maññatha; Saṅghasmiṁ bhijjamānasmiṁ, nāññaṁ bhiyyo amaññaruṁ.
“When many voices shout at once, No-one thinks they are a fool. Even as the Sangha splits, They do not think it through.
“Đám đông ồn ào, đồng một lòng, không ai nghĩ mình là kẻ ngu. Khi Tăng chúng bị chia rẽ, họ chẳng nghĩ đến điều gì khác hơn.
Parimuṭṭhā paṇḍitābhāsā, vācāgocarabhāṇino; Yāvicchanti mukhāyāmaṁ, yena nītā na taṁ vidū.
Forgetting to speak wisely, They are obsessed by speech; Saying whatever they like, They don’t know what leads them on.
“Lãng quên chánh niệm, tự cho là trí thức, chỉ biết nói lời suông. Họ nói cho thỏa miệng, nhưng không biết mình bị dẫn dắt bởi điều gì.
Akkocchi maṁ avadhi maṁ, ajini maṁ ahāsi me; Ye ca taṁ upanayhanti, veraṁ tesaṁ na sammati.
‘They abused me, they hit me, They defeated me, they robbed me.’ For those who carry on like this, Hatred cannot end.
“‘Nó mắng tôi, nó đánh tôi, nó thắng tôi, nó cướp của tôi.’ Ai ôm giữ niệm ấy, hận thù không thể nguôi.
Akkocchi maṁ avadhi maṁ, ajini maṁ ahāsi me; Ye ca taṁ nupanayhanti, veraṁ tesūpasammati.
‘They abused me, they hit me, They defeated me, they robbed me.’ For those who do not carry on like this, Hatred has an end.
“‘Nó mắng tôi, nó đánh tôi, nó thắng tôi, nó cướp của tôi.’ Ai không ôm giữ niệm ấy, hận thù được tiêu tan.
Na hi verena verāni, sammantīdha kudācanaṁ; Averena ca sammanti, esadhammo sanantano.
For never does hatred End through hatred; Only through love does it end—This is an ancient law.
“Ở đời này, không bao giờ hận thù diệt được hận thù. Chỉ có không hận thù mới diệt được hận thù, đây là định luật ngàn xưa.”
Pare ca na vijānanti, mayamettha yamāmase; Ye ca tattha vijānanti, tato sammanti medhagā.
Others do not know That here we need restraint; But there are those there who know, That quarrels end like this.
Những người khác không hiểu rằng: ‘Chúng ta sẽ chết ở đây.’ Còn những ai hiểu được điều ấy, nhờ vậy các cuộc tranh cãi của họ được lắng dịu.
Aṭṭhicchinnā pāṇaharā, gavāssadhanahārino; Raṭṭhaṁ vilumpamānānaṁ, tesampi hoti saṅgati.
Those breaking bones and killing, Those taking cows, horses, and wealth, Those plundering the country, Even they can stay together—
Ngay cả những kẻ chặt xương, đoạt mạng sống, cướp đoạt bò, ngựa, tài sản, và những kẻ cướp phá vương quốc, ngay cả họ cũng có thể hòa hợp với nhau.
Sace labhetha nipakaṁ sahāyaṁ, Saddhiñcaraṁ sādhuvihāri dhīraṁ; Abhibhuyya sabbāni parissayāni, Careyya tenattamano satīmā.
If you find a discerning friend, A steadfast companion, good to live with, Then overcome all problems, And go with them, glad and mindful.
Tại sao các ngươi lại không thể? Nếu tìm được một người bạn đồng hành thận trọng, cùng đi, sống tốt, và kiên định, hãy vượt qua mọi hiểm nguy, hoan hỷ và chánh niệm mà đi cùng người ấy.
No ce labhetha nipakaṁ sahāyaṁ, Saddhiñcaraṁ sādhuvihāri dhīraṁ; Rājāva raṭṭhaṁ vijitaṁ pahāya, Eko care mātaṅgaraññeva nāgo.
If you do not find a discerning friend, A steadfast companion, good to live with, Then like a king giving up his kingdom, Wander alone like a mighty elephant in the forest.
Nếu không tìm được một người bạn đồng hành thận trọng, cùng đi, sống tốt, và kiên định, hãy đi một mình như vua từ bỏ vương quốc đã chinh phục, như voi Mātaṅga trong rừng.
Ekassa caritaṁ seyyo, Natthi bāle sahāyatā; Eko care na ca pāpāni kayirā, Appossukko mātaṅgaraññeva nāgo”ti.
It’s better to wander alone, For there is no friendship with fools. Wander alone and do no bad, Unconcerned, like a mighty elephant in the forest.”
Thà đi một mình còn hơn; không có tình bạn với kẻ ngu. Hãy đi một mình và đừng làm điều ác, ít lo lắng, như voi Mātaṅga trong rừng.
3. Bālakaloṇakagamanakathā
3. The account of going to Bālakaloṇaka
273. Câu chuyện đi đến làng Bālakaloṇaka
Atha kho bhagavā saṅghamajjhe ṭhitakova imā gāthāyo bhāsitvā yena bālakaloṇakagāmo tenupasaṅkami. Tena kho pana samayena āyasmā bhagu bālakaloṇakagāme viharati. Addasā kho āyasmā bhagu bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ, disvāna āsanaṁ paññapesi, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipi, paccuggantvā pattacīvaraṁ paṭiggahesi. Nisīdi bhagavā paññatte āsane, nisajja kho bhagavā pāde pakkhālesi. Āyasmāpi kho bhagu bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ bhaguṁ bhagavā etadavoca—“kacci, bhikkhu, khamanīyaṁ; kacci yāpanīyaṁ, kacci piṇḍakena na kilamasī”ti?
“Khamanīyaṁ, bhagavā, yāpanīyaṁ, bhagavā; na cāhaṁ, bhante, piṇḍakena kilamāmī”ti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ bhaguṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā yena pācīnavaṁsadāyo tenupasaṅkami.
After speaking these verses, the Buddha went to the village of Bālakaloṇaka. At that time Venerable Bhagu was staying near that village. When Bhagu saw the Buddha coming, he prepared a seat and set out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He then went out to meet the Buddha, receiving his bowl and robe. The Buddha sat down on the prepared seat and washed his feet. When Bhagu had bowed and sat down, the Buddha said to him, “I hope you’re keeping well, monk, I hope you’re getting by? I hope you’re not having any trouble getting almsfood?”
“I’m keeping well, sir, I’m getting by. I’m having no trouble getting almsfood.”
The Buddha instructed, inspired, and gladdened Bhagu with a teaching. He then got up from his seat and went to the Eastern Bamboo Park.
465. Bấy giờ, Thế Tôn, đang đứng giữa Tăng chúng, sau khi nói lên những câu kệ này, đã đi đến làng Bālakaloṇaka. Lúc bấy giờ, Tôn giả Bhagu đang trú tại làng Bālakaloṇaka. Tôn giả Bhagu thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền soạn một chỗ ngồi, đặt sẵn nước rửa chân, ghế để chân, và mảnh sành chùi chân, rồi đi ra đón, nhận lấy y bát của Ngài. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn rửa chân. Tôn giả Bhagu cũng đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Bhagu đang ngồi một bên: ‘Này Tỳ khưu, thầy có kham nhẫn được không? Có sống được không? Có phải thầy không mệt nhọc vì việc đi khất thực không?’ ‘Bạch Thế Tôn, con kham nhẫn được. Bạch Thế Tôn, con sống được. Và bạch Tôn giả, con không mệt nhọc vì việc đi khất thực.’ Bấy giờ, Thế Tôn sau khi dùng pháp thoại chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ Tôn giả Bhagu, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và đi đến rừng tre phía Đông.
4. Pācīnavaṁsadāyagamanakathā
4. The account of going to the Eastern Bamboo Park
274. Câu chuyện đi đến rừng tre phía Đông
Tena kho pana samayena āyasmā ca anuruddho āyasmā ca nandiyo āyasmā ca kimilo pācīnavaṁsadāye viharanti. Addasā kho dāyapālo bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ, disvāna bhagavantaṁ etadavoca—“mā, samaṇa, etaṁ dāyaṁ pāvisi. Santettha tayo kulaputtā attakāmarūpā viharanti. Mā tesaṁ aphāsumakāsī”ti. Assosi kho āyasmā anuruddho dāyapālassa bhagavatā saddhiṁ mantayamānassa, sutvāna dāyapālaṁ etadavoca—“māvuso dāyapāla, bhagavantaṁ vāresi. Satthā no bhagavā anuppatto”ti. Atha kho āyasmā anuruddho yenāyasmā ca nandiyo āyasmā ca kimilo tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantañca nandiyaṁ āyasmantañca kimilaṁ etadavoca—“abhikkamathāyasmanto abhikkamathāyasmanto, satthā no bhagavā anuppatto”ti.
Atha kho āyasmā ca anuruddho āyasmā ca nandiyo āyasmā ca kimilo bhagavantaṁ paccuggantvā eko bhagavato pattacīvaraṁ paṭiggahesi, eko āsanaṁ paññapesi, eko pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipi. Nisīdi bhagavā paññatte āsane, nisajja kho bhagavā pāde pakkhālesi. Tepi kho āyasmanto bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ anuruddhaṁ bhagavā etadavoca—“kacci vo, anuruddhā, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ; kacci piṇḍakena na kilamathā”ti?
“Khamanīyaṁ, bhagavā, yāpanīyaṁ, bhagavā; na ca mayaṁ, bhante, piṇḍakena kilamāmā”ti.
At this time Venerable Anuruddha, Venerable Nandiya, and Venerable Kimila were staying at the Eastern Bamboo Park. The park keeper saw the Buddha coming and said to him, “Ascetic, don’t enter this park. There are three gentlemen here, practicing for their own good. Please, don’t disturb them.” When Anuruddha heard the park keeper advising the Buddha, he said, “Please don’t block the Buddha. It’s our teacher who’s arrived.” Anuruddha then went to Nandiya and Kimila and said, “Come out, venerables, our teacher has arrived.”
The three of them went out to meet the Buddha. One received his bowl and robe, one prepared a seat, and one put out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. The Buddha sat down on the prepared seat and washed his feet. When they had bowed and sat down, the Buddha said to them, “I hope you’re all keeping well, Anuruddha, I hope you’re getting by? I hope you’re not having any trouble getting almsfood?”
“We’re keeping well, sir, we’re getting by. We’re not having any trouble getting almsfood.”
466. Lúc bấy giờ, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya, và Tôn giả Kimila đang trú tại rừng tre phía Đông. Người giữ rừng thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền nói với Thế Tôn: ‘Thưa Sa-môn, xin đừng vào khu rừng này. Ở đây có ba vị thiện gia nam tử đang trú ngụ, mong cầu lợi ích cho bản thân. Xin ngài đừng làm phiền họ.’ Tôn giả Anuruddha nghe được người giữ rừng đang nói chuyện với Thế Tôn, nghe vậy liền nói với người giữ rừng: ‘Này hiền hữu giữ rừng, đừng ngăn cản Thế Tôn. Bậc Đạo Sư của chúng tôi, Thế Tôn, đã đến.’ Bấy giờ, Tôn giả Anuruddha đi đến chỗ Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila, đến nơi liền nói với Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila: ‘Thưa các Tôn giả, hãy lại đây! Thưa các Tôn giả, hãy lại đây! Bậc Đạo Sư của chúng ta, Thế Tôn, đã đến.’ Bấy giờ, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya, và Tôn giả Kimila đi ra đón Thế Tôn. Một vị nhận lấy y bát của Thế Tôn, một vị soạn chỗ ngồi, một vị đặt sẵn nước rửa chân, ghế để chân, và mảnh sành chùi chân. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn rửa chân. Các vị Tôn giả ấy cũng đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Anuruddha đang ngồi một bên: ‘Này các Anuruddha, các thầy có kham nhẫn được không? Có sống được không? Có phải các thầy không mệt nhọc vì việc đi khất thực không?’ ‘Bạch Thế Tôn, chúng con kham nhẫn được. Bạch Thế Tôn, chúng con sống được. Và bạch Tôn giả, chúng con không mệt nhọc vì việc đi khất thực.’
“Kacci pana vo, anuruddhā, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharathā”ti?
“Taggha mayaṁ, bhante, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharāmā”ti.
“Yathā kathaṁ pana tumhe, anuruddhā, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharathā”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti—‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yohaṁ evarūpehi sabrahmacārīhi saddhiṁ viharāmī’ti. Tassa mayhaṁ, bhante, imesu āyasmantesu mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca; mettaṁ vacīkammaṁ … mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca. Tassa mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti—‘yannūnāhaṁ sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vatteyyan’ti. So kho ahaṁ, bhante, sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vattāmi. Nānā hi kho no, bhante, kāyā, ekañca pana maññe cittan”ti.
“I hope you’re living together in peace and harmony, blending like milk and water, and regarding one another with affection?”
“Yes, we are.”
“And how do you do this?”
“I think like this: ‘How fortunate I am to be living with such fellow monastics!’ And I do acts of good will toward them by body, speech, and mind, both in public and in private. I think, ‘Why don’t I set aside what I wish to do and instead do what these venerables wish?’ And that’s what I do. We’re separate in body, but it might seem as if we’re one in mind.”
‘Này các Anuruddha, có phải các thầy sống với nhau hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, như sữa với nước, nhìn nhau với ánh mắt thân thương không?’ ‘Bạch Tôn giả, chắc chắn chúng con sống với nhau hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, như sữa với nước, nhìn nhau với ánh mắt thân thương.’ ‘Này các Anuruddha, làm thế nào mà các thầy sống với nhau hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, như sữa với nước, nhìn nhau với ánh mắt thân thương?’ ‘Bạch Tôn giả, ở đây con suy nghĩ như sau: “Thật là một lợi ích cho ta, thật là một điều may mắn cho ta, khi ta được sống cùng với các vị đồng phạm hạnh như thế này.” Bạch Tôn giả, đối với các vị Tôn giả này, tâm từ thân nghiệp của con được thiết lập, cả khi công khai lẫn khi riêng tư; tâm từ khẩu nghiệp... tâm từ ý nghiệp được thiết lập, cả khi công khai lẫn khi riêng tư. Bạch Tôn giả, con suy nghĩ như sau: “Hay là ta hãy gác lại tâm của mình và hành động theo ý của các vị Tôn giả này.” Và bạch Tôn giả, con đã gác lại tâm của mình và hành động theo ý của các vị Tôn giả này. Bạch Tôn giả, thân của chúng con quả thật khác nhau, nhưng con nghĩ rằng tâm chỉ là một.’
Āyasmāpi kho nandiyo …pe… āyasmāpi kho kimilo bhagavantaṁ etadavoca—“mayhampi kho, bhante, evaṁ hoti—‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yohaṁ evarūpehi sabrahmacārīhi saddhiṁ viharāmī’ti. Tassa mayhaṁ, bhante, imesu āyasmantesu mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca; mettaṁ vacīkammaṁ mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca. Tassa mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti—‘yannūnāhaṁ sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vatteyyan’ti. So kho ahaṁ, bhante, sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vattāmi. Nānā hi kho no, bhante, kāyā, ekañca pana maññe cittanti. Evaṁ kho mayaṁ, bhante, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharāmā”ti.
Nandiya and Kimila then repeated what Anuruddha had said.
Rồi Tôn giả Nandiya ... Tôn giả Kimila bạch với Thế Tôn: – Bạch Thế Tôn, con cũng khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Thật là lợi ích cho ta! Thật là may mắn cho ta, khi ta được sống chung với các vị đồng phạm hạnh như thế này!’ Bạch Thế Tôn, đối với các Tôn giả này, con đã an trú thân nghiệp từ, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt; đã an trú khẩu nghiệp từ, đã an trú ý nghiệp từ, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt. Bạch Thế Tôn, con khởi lên ý nghĩ như vầy: ‘Ta hãy dẹp bỏ tâm của mình và sống theo tâm của các Tôn giả này.’ Bạch Thế Tôn, con đã dẹp bỏ tâm của mình và sống theo tâm của các Tôn giả này. Bạch Thế Tôn, thân của chúng con tuy khác nhau, nhưng con nghĩ rằng tâm chỉ là một. Bạch Thế Tôn, như vậy, chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ, không tranh cãi, như nước với sữa, nhìn nhau với ánh mắt thương yêu.
“Kacci pana vo, anuruddhā, appamattā ātāpino pahitattā viharathā”ti?
“Taggha mayaṁ, bhante, appamattā ātāpino pahitattā viharāmā”ti.
“Yathā kathaṁ pana tumhe, anuruddhā, appamattā ātāpino pahitattā viharathā”ti?
“Idha, bhante, amhākaṁ yo paṭhamaṁ gāmato piṇḍāya paṭikkamati so āsanaṁ paññapeti, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ upanikkhipati, avakkārapātiṁ dhovitvā upaṭṭhāpeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti. Yo pacchā gāmato piṇḍāya paṭikkamati, sace hoti bhuttāvaseso, sace ākaṅkhati bhuñjati, no ce ākaṅkhati appaharite vā chaḍḍeti. Appāṇake vā udake opilāpeti. So āsanaṁ uddharati, pādodakaṁ pādapīṭhaṁ pādakathalikaṁ paṭisāmeti, avakkārapātiṁ dhovitvā paṭisāmeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ paṭisāmeti, bhattaggaṁ sammajjati. Yo passati pānīyaghaṭaṁ vā paribhojanīyaghaṭaṁ vā vaccaghaṭaṁ vā rittaṁ tucchaṁ so upaṭṭhāpeti. Sacassa hoti avisayhaṁ, hatthavikārena dutiyaṁ āmantetvā hatthavilaṅghakena upaṭṭhāpema, na tveva mayaṁ, bhante, tappaccayā vācaṁ bhindāma. Pañcāhikaṁ kho pana mayaṁ, bhante, sabbarattiṁ dhammiyā kathāya sannisīdāma.
Evaṁ kho mayaṁ, bhante, appamattā ātāpino pahitattā viharāmā”ti.
“I hope, Anuruddha, that you’re heedful and energetic?”
“Yes, sir, we are.”
“And how is it that you’re heedful and energetic?”
“Whoever returns first from almsround in the village, he prepares the seats and sets out a foot stool, a foot scraper, and water for washing the feet. He washes the bowl for leftovers and puts it back out, and sets out water for drinking and water for washing. Whoever returns last from almsround may eat the leftovers, or he discards them where there are no cultivated plants or in water without life. He puts away the seats and also the foot stool, the foot scraper, and the water for washing the feet. He washes the bowl for leftovers and puts it away, puts away the water for drinking and the water for washing, and sweeps the dining hall. Whoever sees that the pot for drinking water, the pot for washing water, or the waterpot in the restroom is empty fills it. If he can’t do it by himself, he calls someone over by hand signal, and they move it together. We don’t speak because of that. And every five days we sit together the whole night to discuss the Teaching.”
– Này các Anuruddha, các con có sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần không? – Bạch Thế Tôn, quả thật chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. – Này các Anuruddha, các con đã sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như thế nào? – Bạch Thế Tôn, ở đây, vị nào trong chúng con đi khất thực trong làng về trước, vị ấy sẽ dọn dẹp chỗ ngồi, chuẩn bị nước rửa chân, ghế rửa chân, đồ lau chân, rửa sạch và đặt sẵn bát đựng đồ thừa, chuẩn bị sẵn nước uống và nước dùng. Vị nào đi khất thực trong làng về sau, nếu có thức ăn còn lại và nếu muốn thì dùng, nếu không muốn thì vứt bỏ ở nơi không có cỏ xanh hoặc đổ xuống nước không có chúng sanh. Vị ấy dọn dẹp chỗ ngồi, cất dọn nước rửa chân, ghế rửa chân, đồ lau chân, rửa sạch và cất dọn bát đựng đồ thừa, cất dọn nước uống và nước dùng, quét dọn phòng ăn. Vị nào thấy ghè nước uống, ghè nước dùng, hoặc ghè nước trong nhà vệ sinh bị vơi, trống không, vị ấy sẽ lo liệu. Nếu việc ấy ngoài sức của mình, vị ấy sẽ dùng tay ra hiệu gọi người thứ hai, rồi cùng nhau khiêng đặt vào. Bạch Thế Tôn, chúng con không vì lý do đó mà nói ra lời nào. Hơn nữa, bạch Thế Tôn, cứ mỗi năm ngày, chúng con ngồi lại với nhau suốt đêm để đàm luận về Chánh pháp. Bạch Thế Tôn, như vậy, chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
5. Pālileyyakagamanakathā
5. The account of going to Pālileyyaka
275. Câu chuyện đi đến Pālileyyaka
Atha kho bhagavā āyasmantañca anuruddhaṁ āyasmantañca nandiyaṁ āyasmantañca kimilaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā yena pālileyyakaṁ tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena pālileyyakaṁ tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā pālileyyake viharati rakkhitavanasaṇḍe bhaddasālamūle.
Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—“ahaṁ kho pubbe ākiṇṇo na phāsu vihāsiṁ tehi kosambakehi bhikkhūhi bhaṇḍanakārakehi kalahakārakehi vivādakārakehi bhassakārakehi saṅghe adhikaraṇakārakehi. Somhi etarahi eko adutiyo sukhaṁ phāsu viharāmi aññatreva tehi kosambakehi bhikkhūhi bhaṇḍanakārakehi kalahakārakehi vivādakārakehi bhassakārakehi saṅghe adhikaraṇakārakehī”ti.
The Buddha then instructed, inspired, and gladdened Venerable Anuruddha, Venerable Nandiya, and Venerable Kimila with a teaching. He then got up from his seat and set out wandering toward Pālileyyaka. When he eventually arrived, he stayed in a protected forest grove, at the foot of an auspicious sal tree.
Then, while he was reflecting in private, the Buddha thought, “Previously, when I was surrounded by those quarreling monks at Kosambī, I wasn’t at ease. But now that I’m alone, away from those monks, I’m happy and at ease.”
467. Khi ấy, sau khi dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya, và Tôn giả Kimila, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy rồi tuần tự du hành đến Pālileyyaka. Sau khi tuần tự du hành, Ngài đã đến Pālileyyaka. Tại đó, Thế Tôn trú ở khu rừng được bảo vệ, dưới gốc cây Bhaddasāla. Khi ấy, trong lúc độc cư thiền tịnh, Thế Tôn khởi lên tâm niệm như vầy: ‘Trước đây, ta đã sống không được thoải mái, bị vây quanh bởi các vị tỳ khưu ở Kosambī, những người hay gây gổ, cãi vã, tranh luận, nói nhiều lời, và gây ra các vụ tranh chấp trong Tăng đoàn. Còn nay, ta sống một mình, không có người thứ hai, an lạc và thoải mái, tránh xa các vị tỳ khưu ở Kosambī, những người hay gây gổ, cãi vã, tranh luận, nói nhiều lời, và gây ra các vụ tranh chấp trong Tăng đoàn.’
Aññataropi kho hatthināgo ākiṇṇo viharati hatthīhi hatthinīhi hatthikaḷabhehi hatthicchāpehi, chinnaggāni ceva tiṇāni khādati, obhaggobhaggañcassa sākhābhaṅgaṁ khādanti, āvilāni ca pānīyāni pivati, ogāhā cassa otiṇṇassa hatthiniyo kāyaṁ upanighaṁsantiyo gacchanti. Atha kho tassa hatthināgassa etadahosi—“ahaṁ kho ākiṇṇo viharāmi hatthīhi hatthinīhi hatthikaḷabhehi hatthicchāpehi, chinnaggāni ceva tiṇāni khādāmi, obhaggobhaggañca me sākhābhaṅgaṁ khādanti, āvilāni ca pānīyāni pivāmi, ogāhā ca me otiṇṇassa hatthiniyo kāyaṁ upanighaṁsantiyo gacchanti. Yannūnāhaṁ ekova gaṇasmā vūpakaṭṭho vihareyyan”ti.
Atha kho so hatthināgo yūthā apakkamma yena pālileyyakaṁ rakkhitavanasaṇḍo bhaddasālamūlaṁ yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā soṇḍāya bhagavato pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, appaharitañca karoti.
Atha kho tassa hatthināgassa etadahosi—“ahaṁ kho pubbe ākiṇṇo na phāsu vihāsiṁ hatthīhi hatthinīhi hatthikaḷabhehi hatthicchāpehi, chinnaggāni ceva tiṇāni khādiṁ, obhaggobhaggañca me sākhābhaṅgaṁ khādiṁsu, āvilāni ca pānīyāni apāyiṁ ogāhā ca me otiṇṇassa hatthiniyo kāyaṁ upanighaṁsantiyo agamaṁsu. Somhi etarahi eko adutiyo sukhaṁ phāsu viharāmi aññatreva hatthīhi hatthinīhi hatthikaḷabhehi hatthicchāpehī”ti.
At that time there was a large bull elephant who lived surrounded by a herd—by males and females, by juveniles and babies. He ate grass with the tips broken off and drank muddy water. Other elephants ate the branches that he had pulled down. And when he was immersed in a pool, the female elephants came rubbing their bodies against his. He considered this and thought, “Why don’t I leave the herd and stay by myself?”
He then left the herd and went to Pālileyyaka, to where the Buddha was at the foot of the auspicious sal tree. And he attended on the Buddha, using his trunk to set out water for drinking and water for washing, and to clear the vegetation.
He thought, “Previously, when I was surrounded by the other elephants, I wasn’t at ease. But now that I’m alone, away from those elephants, I’m happy and at ease.”
Cũng có một con voi chúa sống bị vây quanh bởi các con voi đực, voi cái, voi con, và voi con còn bú. Nó phải ăn cỏ đã bị ăn mất ngọn, cành cây nó bẻ gãy cũng bị những con khác ăn mất, nó phải uống nước đục, và khi nó lên khỏi chỗ tắm, các con voi cái đi đến cọ xát vào thân nó. Khi ấy, con voi chúa ấy khởi lên ý nghĩ: ‘Ta đang sống bị vây quanh bởi các con voi đực, voi cái, voi con, và voi con còn bú. Ta phải ăn cỏ đã bị ăn mất ngọn, cành cây ta bẻ gãy cũng bị những con khác ăn mất, ta phải uống nước đục, và khi ta lên khỏi chỗ tắm, các con voi cái đi đến cọ xát vào thân ta. Sẽ tốt biết bao nếu ta được sống một mình, tách khỏi bầy đàn!’ Khi ấy, con voi chúa ấy rời khỏi bầy đàn, đi đến Pālileyyaka, đến khu rừng được bảo vệ, đến gốc cây Bhaddasāla, nơi Thế Tôn đang ở. Sau khi đến, nó dùng vòi để chuẩn bị nước uống và nước dùng cho Thế Tôn, và dọn dẹp cho sạch cỏ. Khi ấy, con voi chúa ấy khởi lên ý nghĩ: ‘Trước đây, ta đã sống không được thoải mái, bị vây quanh bởi các con voi đực, voi cái, voi con, và voi con còn bú. Ta đã phải ăn cỏ bị ăn mất ngọn, cành cây ta bẻ gãy cũng bị những con khác ăn mất, ta đã phải uống nước đục, và khi ta lên khỏi chỗ tắm, các con voi cái đi đến cọ xát vào thân ta. Còn nay, ta sống một mình, không có con thứ hai, an lạc và thoải mái, tránh xa các con voi đực, voi cái, voi con, và voi con còn bú.’
Atha kho bhagavā attano ca pavivekaṁ viditvā tassa ca hatthināgassa cetasā cetoparivitakkamaññāya tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi—
After considering his own seclusion and reading the mind of the elephant, the Buddha uttered a heartfelt exclamation:
Bấy giờ, đức Thế Tôn, biết được sự độc cư của chính mình và với tâm của Ngài thấu rõ được tư tưởng trong tâm của con voi chúa ấy, vào lúc bấy giờ đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Etaṁ nāgassa nāgena, īsādantassa hatthino; Sameti cittaṁ cittena, yadeko ramatī vane”ti.
“The mind of this mighty elephant, With tusks like chariot poles, Agrees with the mind of the Sage, Since they each delight in the forest solitude.”
“Tâm của con voi chúa có đôi ngà như cây đòn xe ấy tương hợp với bậc Long Tượng (Đức Phật), tâm tương hợp với tâm, bởi vì cả hai đều sống một mình và hoan hỷ trong rừng.”
Atha kho bhagavā pālileyyake yathābhirantaṁ viharitvā yena sāvatthi tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sāvatthi tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho kosambakā upāsakā—“ime kho ayyā kosambakā bhikkhū bahuno amhākaṁ anatthassa kārakā. Imehi ubbāḷho bhagavā pakkanto. Handa mayaṁ ayye kosambake bhikkhū neva abhivādeyyāma, na paccuṭṭheyyāma, na añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ kareyyāma, na sakkareyyāma, na garuṁ kareyyāma, na māneyyāma, na bhajeyyāma, na pūjeyyāma, upagatānampi piṇḍakaṁ na dajjeyyāma—evaṁ ime amhehi asakkariyamānā agarukariyamānā amāniyamānā abhajiyamānā apūjiyamānā asakkārapakatā pakkamissanti vā vibbhamissanti vā bhagavantaṁ vā pasādessantī”ti. Atha kho kosambakā upāsakā kosambake bhikkhū neva abhivādesuṁ, na paccuṭṭhesuṁ, na añjalikammaṁ sāmīcikammaṁ akaṁsu, na sakkariṁsu, na garuṁ kariṁsu, na mānesuṁ, na bhajesuṁ, na pūjesuṁ, upagatānampi piṇḍakaṁ na adaṁsu.
Atha kho kosambakā bhikkhū kosambakehi upāsakehi asakkariyamānā agarukariyamānā amāniyamānā abhajiyamānā apūjiyamānā asakkārapakatā evamāhaṁsu—“handa mayaṁ, āvuso, sāvatthiṁ gantvā bhagavato santike imaṁ adhikaraṇaṁ vūpasameyyāmā”ti.
When the Buddha had stayed at Pālileyyaka for as long as he liked, he set out wandering toward Sāvatthī. When he eventually arrived, he stayed in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery.
Soon the lay followers in Kosambī considered, “These venerable monks at Kosambī have caused us much misfortune. The Buddha himself left because he was troubled by them. Well then, let’s not bow down, rise up, raise our joined palms, or do acts of respect toward them. And let’s not honor, respect, esteem, or associate with them, nor give them almsfood. Then, they’ll either leave, disrobe, or reconcile with the Buddha.” And they did just that.
Soon the monks at Kosambī said, “Well then, let’s go to Sāvatthī and resolve this legal issue in the presence of the Buddha.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi trú ở Pālileyyaka tùy thích, đã lên đường du hành đến Sāvatthī. Tuần tự du hành, Ngài đã đến Sāvatthī. Tại đấy, đức Thế Tôn trú ở Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, các nam cư sĩ ở Kosambī (bàn rằng): “Quả thật, các tỳ khưu ở Kosambī, những vị tôn giả này, là những người gây ra nhiều điều bất lợi cho chúng ta. Vì bị các vị này quấy rầy, đức Thế Tôn đã bỏ đi. Này, chúng ta đừng đảnh lễ các tỳ khưu ở Kosambī, những vị tôn giả, đừng đứng dậy chào đón, đừng chắp tay, đừng làm các phận sự tôn kính, đừng cúng dường, đừng trọng vọng, đừng quý mến, đừng thân cận, đừng lễ bái, và cũng đừng dâng vật thực cúng dường cho các vị ấy khi họ đến. Như vậy, khi không được chúng ta cúng dường, không được trọng vọng, không được quý mến, không được thân cận, không được lễ bái, bị đối xử không tôn trọng, các vị này sẽ bỏ đi nơi khác, hoặc sẽ hoàn tục, hoặc sẽ làm cho đức Thế Tôn hài lòng.” Bấy giờ, các nam cư sĩ ở Kosambī đã không đảnh lễ các tỳ khưu ở Kosambī, không đứng dậy chào đón, không chắp tay, không làm các phận sự tôn kính, không cúng dường, không trọng vọng, không quý mến, không thân cận, không lễ bái, và cũng không dâng vật thực cúng dường cho các vị ấy khi họ đến. Bấy giờ, các tỳ khưu ở Kosambī, do không được các nam cư sĩ ở Kosambī cúng dường, không được trọng vọng, không được quý mến, không được thân cận, không được lễ bái, bị đối xử không tôn trọng, đã nói với nhau như sau: “Này chư hiền, chúng ta hãy đi đến Sāvatthī và dàn xếp vụ tranh tụng này trước sự hiện diện của đức Thế Tôn.”
6. Aṭṭhārasavatthukathā
6. The account of the eighteen grounds
Câu chuyện về mười tám vấn đề
Atha kho kosambakā bhikkhū senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya yena sāvatthi tenupasaṅkamiṁsu. Assosi kho āyasmā sāriputto—“te kira kosambakā bhikkhū bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā sāvatthiṁ āgacchantī”ti. Atha kho āyasmā sāriputto yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca—“te kira, bhante, kosambakā bhikkhū bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā sāvatthiṁ āgacchanti. Kathāhaṁ, bhante, tesu bhikkhūsu paṭipajjāmī”ti?
“Tena hi tvaṁ, sāriputta, yathā dhammo tathā tiṭṭhāhī”ti.
“Kathāhaṁ, bhante, jāneyyaṁ dhammaṁ vā adhammaṁ vā”ti?
The monks at Kosambī put their dwellings in order, took their bowls and robes, and went to Sāvatthī. When Venerable Sāriputta heard that they were coming, he went to the Buddha, bowed, sat down, and told him, adding, “Sir, how should I act toward these monks?”
“Take your stand in accordance with the Teaching.”
“And how do I know what accords with the Teaching and what doesn’t?”
276. Bấy giờ, các tỳ khưu ở Kosambī, sau khi dọn dẹp sàng tọa, đã mang y bát và đi đến Sāvatthī. Tôn giả Sāriputta nghe được rằng: “Nghe nói các tỳ khưu ở Kosambī, những người hay gây gổ, hay cãi vã, hay tranh luận, hay nói nhiều, hay gây ra tranh tụng trong Tăng chúng, đang đi đến Sāvatthī.” Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, nghe nói các tỳ khưu ở Kosambī, những người hay gây gổ, hay cãi vã, hay tranh luận, hay nói nhiều, hay gây ra tranh tụng trong Tăng chúng, đang đi đến Sāvatthī. Bạch Thế Tôn, con phải hành xử với các tỳ khưu ấy như thế nào?” “Vậy thì, này Sāriputta, con hãy an trú theo đúng Pháp.” “Bạch Thế Tôn, làm thế nào con có thể biết được điều gì là Pháp hay phi Pháp?”
“Aṭṭhārasahi kho, sāriputta, vatthūhi adhammavādī jānitabbo.
- Idha, sāriputta, bhikkhu adhammaṁ dhammoti dīpeti,
- dhammaṁ adhammoti dīpeti;
- avinayaṁ vinayoti dīpeti,
- vinayaṁ avinayoti dīpeti;
- abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatena bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatenāti dīpeti,
- bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatena abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatenāti dīpeti;
- anāciṇṇaṁ tathāgatena āciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpeti,
- āciṇṇaṁ tathāgatena anāciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpeti;
- apaññattaṁ tathāgatena paññattaṁ tathāgatenāti dīpeti,
- paññattaṁ tathāgatena apaññattaṁ tathāgatenāti dīpeti;
- anāpattiṁ āpattīti dīpeti,
- āpattiṁ anāpattīti dīpeti;
- lahukaṁ āpattiṁ garukā āpattīti dīpeti,
- garukaṁ āpattiṁ lahukā āpattīti dīpeti;
- sāvasesaṁ āpattiṁ anavasesā āpattīti dīpeti,
- anavasesaṁ āpattiṁ sāvasesā āpattīti dīpeti;
- duṭṭhullaṁ āpattiṁ aduṭṭhullā āpattīti dīpeti,
- aduṭṭhullaṁ āpattiṁ duṭṭhullā āpattīti dīpeti—
imehi kho, sāriputta, aṭṭhārasahi vatthūhi adhammavādī jānitabbo.
“There are eighteen grounds for knowing that someone is speaking contrary to the Teaching:
- A monk proclaims what’s contrary to the Teaching as being in accordance with it,
- and what’s in accordance with the Teaching as contrary to it.
- He proclaims what’s contrary to the Monastic Law as being in accordance with it,
- and what’s in accordance with the Monastic Law as contrary to it.
- He proclaims what hasn’t been spoken by the Buddha as spoken by him,
- and what’s been spoken by the Buddha as not spoken by him.
- He proclaims what wasn’t practiced by the Buddha as practiced by him,
- and what was practiced by the Buddha as not practiced by him.
- He proclaims what wasn’t laid down by the Buddha as laid down by him,
- and what was laid down by the Buddha as not laid down by him.
- He proclaims a non-offense as an offense,
- and an offense as a non-offense.
- He proclaims a light offense as heavy,
- and a heavy offense as light.
- He proclaims a curable offense as incurable,
- and an incurable offense as curable.
- He proclaims a grave offense as minor,
- and a minor offense as grave.
468. Này Sāriputta, người nói phi Pháp có thể được nhận biết qua mười tám vấn đề. Này Sāriputta, ở đây, có tỳ khưu trình bày phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp; trình bày phi Luật là Luật, trình bày Luật là phi Luật; trình bày điều Như Lai không nói, không tuyên bố là điều Như Lai đã nói, đã tuyên bố; trình bày điều Như Lai đã nói, đã tuyên bố là điều Như Lai không nói, không tuyên bố; trình bày điều Như Lai không thực hành là điều Như Lai đã thực hành; trình bày điều Như Lai đã thực hành là điều Như Lai không thực hành; trình bày điều Như Lai không chế định là điều Như Lai đã chế định; trình bày điều Như Lai đã chế định là điều Như Lai không chế định; trình bày điều không phạm tội là phạm tội; trình bày điều phạm tội là không phạm tội; trình bày tội nhẹ là tội nặng; trình bày tội nặng là tội nhẹ; trình bày tội có thể cứu chữa là tội không thể cứu chữa; trình bày tội không thể cứu chữa là tội có thể cứu chữa; trình bày tội thô lậu là tội không thô lậu; trình bày tội không thô lậu là tội thô lậu. Này Sāriputta, qua mười tám vấn đề này, người nói phi Pháp có thể được nhận biết.
Aṭṭhārasahi ca kho, sāriputta, vatthūhi dhammavādī jānitabbo.
- Idha, sāriputta, bhikkhu adhammaṁ adhammoti dīpeti,
- dhammaṁ dhammoti dīpeti;
- avinayaṁ avinayoti dīpeti,
- vinayaṁ vinayoti dīpeti;
- abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatena abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatenāti dīpeti,
- bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatena bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatenāti dīpeti;
- anāciṇṇaṁ tathāgatena anāciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpeti,
- āciṇṇaṁ tathāgatena āciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpeti;
- apaññattaṁ tathāgatena apaññattaṁ tathāgatenāti dīpeti,
- paññattaṁ tathāgatena paññattaṁ tathāgatenāti dīpeti;
- anāpattiṁ anāpattīti dīpeti,
- āpattiṁ āpattīti dīpeti;
- lahukaṁ āpattiṁ lahukā āpattīti dīpeti,
- garukaṁ āpattiṁ garukā āpattīti dīpeti;
- sāvasesaṁ āpattiṁ sāvasesā āpattīti dīpeti,
- anavasesaṁ āpattiṁ anavasesā āpattīti dīpeti;
- duṭṭhullaṁ āpattiṁ duṭṭhullā āpattīti dīpeti,
- aduṭṭhullaṁ āpattiṁ aduṭṭhullā āpattīti dīpeti—
imehi kho, sāriputta, aṭṭhārasahi vatthūhi dhammavādī jānitabbo”ti.
And there are eighteen grounds for knowing that someone is speaking in accordance with the Teaching:
- A monk proclaims what’s contrary to the Teaching as such,
- and what’s in accordance with the Teaching as such.
- He proclaims what’s contrary to the Monastic Law as such,
- and what’s in accordance with the Monastic Law as such.
- He proclaims what hasn’t been spoken by the Buddha as such,
- and what’s been spoken by the Buddha as such.
- He proclaims what wasn’t practiced by the Buddha as such,
- and what was practiced by the Buddha as such.
- He proclaims what wasn’t laid down by the Buddha as such,
- and what was laid down by the Buddha as such.
- He proclaims a non-offense as such,
- and an offense as such.
- He proclaims a light offense as light,
- and a heavy offense as heavy.
- He proclaims a curable offense as curable,
- and an incurable offense as incurable.
- He proclaims a grave offense as grave,
- and a minor offense as minor.”
Này Sāriputta, người nói đúng Pháp cần được biết đến qua mười tám sự việc. Này Sāriputta, ở đây, vị tỳ khưu trình bày phi Pháp là phi Pháp, trình bày Pháp là Pháp; trình bày phi Luật là phi Luật, trình bày Luật là Luật; trình bày điều không được Như Lai nói, không được Như Lai tuyên bố là ‘điều không được Như Lai nói, không được Như Lai tuyên bố,’ trình bày điều được Như Lai nói, được Như Lai tuyên bố là ‘điều được Như Lai nói, được Như Lai tuyên bố;’ trình bày điều không được Như Lai thực hành là ‘điều không được Như Lai thực hành,’ trình bày điều được Như Lai thực hành là ‘điều được Như Lai thực hành;’ trình bày điều không được Như Lai chế định là ‘điều không được Như Lai chế định,’ trình bày điều được Như Lai chế định là ‘điều được Như Lai chế định;’ trình bày không có tội là ‘không có tội,’ trình bày có tội là ‘có tội;’ trình bày tội nhẹ là ‘tội nhẹ,’ trình bày tội nặng là ‘tội nặng;’ trình bày tội có dư tàn là ‘tội có dư tàn,’ trình bày tội không có dư tàn là ‘tội không có dư tàn;’ trình bày tội thô là ‘tội thô,’ trình bày tội không thô là ‘tội không thô.’ Này Sāriputta, chính do mười tám sự việc này mà người nói đúng Pháp cần được biết đến.
Assosi kho āyasmā mahāmoggallāno …pe… assosi kho āyasmā mahākassapo … assosi kho āyasmā mahākaccāno … assosi kho āyasmā mahākoṭṭhiko … assosi kho āyasmā mahākappino … assosi kho āyasmā mahācundo … assosi kho āyasmā anuruddho … assosi kho āyasmā revato … assosi kho āyasmā upāli … assosi kho āyasmā ānando … assosi kho āyasmā rāhulo—“te kira kosambakā bhikkhū bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā sāvatthiṁ āgacchantī”ti. Atha kho āyasmā rāhulo yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā rāhulo bhagavantaṁ etadavoca—“te kira, bhante, kosambakā bhikkhū bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā sāvatthiṁ āgacchanti. Kathāhaṁ, bhante, tesu bhikkhūsu paṭipajjāmī”ti?
“Tena hi tvaṁ, rāhula, yathā dhammo tathā tiṭṭhāhī”ti.
“Kathāhaṁ, bhante, jāneyyaṁ dhammaṁ vā adhammaṁ vā”ti?
When Venerable Mahāmoggallāna heard … When Venerable Mahākassapa heard … When Venerable Mahākaccāna heard … When Venerable Mahākoṭṭhika heard … When Venerable Mahākappina heard … When Venerable Mahācunda heard … When Venerable Anuruddha heard … When Venerable Revata heard … When Venerable Upāli heard … When Venerable Ānanda heard … When Venerable Rāhula heard that they were coming, he too went to the Buddha, bowed, sat down, and told him, adding, “Sir, how should I act toward these monks?”
“Take your stand in accordance with the Teaching.”
“And how do I know what accords with the Teaching and what doesn’t?”
469. Trưởng lão Mahāmoggallāna đã nghe... v.v... Trưởng lão Mahākassapa đã nghe... Trưởng lão Mahākaccāna đã nghe... Trưởng lão Mahākoṭṭhika đã nghe... Trưởng lão Mahākappina đã nghe... Trưởng lão Mahācunda đã nghe... Trưởng lão Anuruddha đã nghe... Trưởng lão Revata đã nghe... Trưởng lão Upāli đã nghe... Trưởng lão Ānanda đã nghe... Trưởng lão Rāhula đã nghe rằng: ‘Nghe nói các vị tỳ khưu ở Kosambī ấy, là những người gây ra tranh cãi, gây ra xung đột, gây ra tranh luận, gây ra lắm lời, gây ra tranh chấp trong Tăng chúng, đang đi đến Sāvatthī.’ Bấy giờ, trưởng lão Rāhula đi đến nơi đức Thế Tôn, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, trưởng lão Rāhula đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, nghe nói các vị tỳ khưu ở Kosambī ấy, là những người gây ra tranh cãi, gây ra xung đột, gây ra tranh luận, gây ra lắm lời, gây ra tranh chấp trong Tăng chúng, đang đi đến Sāvatthī. Bạch ngài, con nên hành xử như thế nào đối với các vị tỳ khưu ấy?’ – ‘Này Rāhula, vậy thì con hãy an trú theo đúng Pháp.’ – ‘Bạch ngài, làm thế nào con có thể biết được Pháp hay phi Pháp?’
Này Rāhula, người nói phi Pháp cần được biết đến qua mười tám sự việc. Này Rāhula, ở đây, vị tỳ khưu trình bày phi Pháp là Pháp, trình bày Pháp là phi Pháp; trình bày phi Luật là Luật, trình bày Luật là phi Luật; trình bày điều không được Như Lai nói, không được Như Lai tuyên bố là ‘điều được Như Lai nói, được Như Lai tuyên bố,’ trình bày điều được Như Lai nói, được Như Lai tuyên bố là ‘điều không được Như Lai nói, không được Như Lai tuyên bố;’ trình bày điều không được Như Lai thực hành là ‘điều được Như Lai thực hành,’ trình bày điều được Như Lai thực hành là ‘điều không được Như Lai thực hành;’ trình bày điều không được Như Lai chế định là ‘điều được Như Lai chế định,’ trình bày điều được Như Lai chế định là ‘điều không được Như Lai chế định;’ trình bày không có tội là ‘có tội,’ trình bày có tội là ‘không có tội;’ trình bày tội nhẹ là ‘tội nặng,’ trình bày tội nặng là ‘tội nhẹ;’ trình bày tội có dư tàn là ‘tội không có dư tàn,’ trình bày tội không có dư tàn là ‘tội có dư tàn;’ trình bày tội thô là ‘tội không thô,’ trình bày tội không thô là ‘tội thô.’ Này Rāhula, chính do mười tám sự việc này mà người nói phi Pháp cần được biết đến.
Aṭṭhārasahi ca kho, rāhula, vatthūhi dhammavādī jānitabbo. Idha, rāhula, bhikkhu adhammaṁ adhammoti dīpeti, dhammaṁ dhammoti dīpeti; avinayaṁ avinayoti dīpeti, vinayaṁ vinayoti dīpeti; abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatena abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatenāti dīpeti, bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatena bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatenāti dīpeti; anāciṇṇaṁ tathāgatena anāciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpeti, āciṇṇaṁ tathāgatena āciṇṇaṁ tathāgatenāti dīpeti; apaññattaṁ tathāgatena apaññattaṁ tathāgatenāti dīpeti, paññattaṁ tathāgatena paññattaṁ tathāgatenāti dīpeti; anāpattiṁ anāpattīti dīpeti, āpattiṁ āpattīti dīpeti; lahukaṁ āpattiṁ lahukā āpattīti dīpeti, garukaṁ āpattiṁ garukā āpattīti dīpeti; sāvasesaṁ āpattiṁ sāvasesā āpattīti dīpeti, anavasesaṁ āpattiṁ anavasesā āpattīti dīpeti; duṭṭhullaṁ āpattiṁ duṭṭhullā āpattīti dīpeti, aduṭṭhullaṁ āpattiṁ aduṭṭhullā āpattīti dīpeti—imehi kho, rāhula, aṭṭhārasahi vatthūhi dhammavādī jānitabbo”ti.
and the eighteen grounds for knowing that someone is speaking in accordance with the Teaching.
Này Rāhula, người nói đúng Pháp cần được biết đến qua mười tám sự việc. Này Rāhula, ở đây, vị tỳ khưu trình bày phi Pháp là phi Pháp, trình bày Pháp là Pháp; trình bày phi Luật là phi Luật, trình bày Luật là Luật; trình bày điều không được Như Lai nói, không được Như Lai tuyên bố là ‘điều không được Như Lai nói, không được Như Lai tuyên bố,’ trình bày điều được Như Lai nói, được Như Lai tuyên bố là ‘điều được Như Lai nói, được Như Lai tuyên bố;’ trình bày điều không được Như Lai thực hành là ‘điều không được Như Lai thực hành,’ trình bày điều được Như Lai thực hành là ‘điều được Như Lai thực hành;’ trình bày điều không được Như Lai chế định là ‘điều không được Như Lai chế định,’ trình bày điều được Như Lai chế định là ‘điều được Như Lai chế định;’ trình bày không có tội là ‘không có tội,’ trình bày có tội là ‘có tội;’ trình bày tội nhẹ là ‘tội nhẹ,’ trình bày tội nặng là ‘tội nặng;’ trình bày tội có dư tàn là ‘tội có dư tàn,’ trình bày tội không có dư tàn là ‘tội không có dư tàn;’ trình bày tội thô là ‘tội thô,’ trình bày tội không thô là ‘tội không thô.’ Này Rāhula, chính do mười tám sự việc này mà người nói đúng Pháp cần được biết đến.
Assosi kho mahāpajāpati gotamī—“te kira kosambakā bhikkhū bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā sāvatthiṁ āgacchantī”ti. Atha kho mahāpajāpati gotamī yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho mahāpajāpati gotamī bhagavantaṁ etadavoca—“te kira, bhante, kosambakā bhikkhū bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā sāvatthiṁ āgacchanti. Kathāhaṁ, bhante, tesu bhikkhūsu paṭipajjāmī”ti?
“Tena hi tvaṁ, gotami, ubhayattha dhammaṁ suṇa. Ubhayattha dhammaṁ sutvā ye tattha bhikkhū dhammavādino tesaṁ diṭṭhiñca khantiñca ruciñca ādāyañca rocehi. Yañca kiñci bhikkhunisaṅghena bhikkhusaṅghato paccāsīsitabbaṁ sabbaṁ taṁ dhammavāditova paccāsīsitabban”ti.
When Mahāpajāpati Gotamī heard that they were coming, she too went to the Buddha, bowed, and told him, adding, “Sir, how should I act toward these monks?”
“Well, Gotamī, listen to the teaching from both sides. Then approve of the views, beliefs, and persuasion of those who speak in accordance with the Teaching. And whatever support the Sangha of nuns seeks from the Sangha of monks, they should get it all from those who speak in accordance with the Teaching.”
470. Bà Mahāpajāpati Gotamī đã được nghe rằng: ‘Nghe nói rằng các vị tỳ khưu ở Kosambī ấy, là những người gây ra tranh cãi, gây ra cãi vã, gây ra tranh luận, hay nói lời vô ích, gây ra vụ việc trong Tăng chúng, đang đi đến Sāvatthī.’ Rồi bà Mahāpajāpati Gotamī đi đến nơi đức Thế Tôn ngự, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, bà Mahāpajāpati Gotamī đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, nghe nói rằng các vị tỳ khưu ở Kosambī ấy, là những người gây ra tranh cãi, gây ra cãi vã, gây ra tranh luận, hay nói lời vô ích, gây ra vụ việc trong Tăng chúng, đang đi đến Sāvatthī. Bạch ngài, con nên hành xử đối với các vị tỳ khưu ấy như thế nào?’ – ‘Này Gotamī, vậy thì bà hãy lắng nghe Pháp ở cả hai bên. Sau khi đã lắng nghe Pháp ở cả hai bên, trong số ấy, những vị tỳ khưu nào là người nói Pháp thì bà hãy chấp nhận và hoan hỷ với quan điểm, với sự kham nhẫn, và với sở thích của các vị ấy. Và bất cứ điều gì mà chúng tỳ khưu ni nên mong đợi từ chúng tỳ khưu tăng thì tất cả những điều ấy chỉ nên được mong đợi từ những người nói Pháp mà thôi.’
Assosi kho anāthapiṇḍiko gahapati—“te kira kosambakā bhikkhū bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā sāvatthiṁ āgacchantī”ti. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho anāthapiṇḍiko gahapati bhagavantaṁ etadavoca—“te kira, bhante, kosambakā bhikkhū bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā sāvatthiṁ āgacchanti. Kathāhaṁ, bhante, tesu bhikkhūsu paṭipajjāmī”ti?
“Tena hi tvaṁ, gahapati, ubhayattha dānaṁ dehi. Ubhayattha dānaṁ datvā ubhayattha dhammaṁ suṇa. Ubhayattha dhammaṁ sutvā ye tattha bhikkhū dhammavādino tesaṁ diṭṭhiñca khantiñca ruciñca ādāyañca rocehī”ti.
When Anāthapiṇḍika heard that they were coming, he too went to the Buddha, bowed, sat down, and told him, adding, “Sir, how should I act toward these monks?”
“Well, householder, make offerings to both sides and listen to their teachings. Then approve of the views, beliefs, and persuasion of those who speak in accordance with the Teaching.”
471. Gia chủ Anāthapiṇḍika đã được nghe rằng: ‘Nghe nói rằng các vị tỳ khưu ở Kosambī ấy, là những người gây ra tranh cãi, gây ra cãi vã, gây ra tranh luận, hay nói lời vô ích, gây ra vụ việc trong Tăng chúng, đang đi đến Sāvatthī.’ Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika đi đến nơi đức Thế Tôn ngự, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, gia chủ Anāthapiṇḍika đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, nghe nói rằng các vị tỳ khưu ở Kosambī ấy, là những người gây ra tranh cãi, gây ra cãi vã, gây ra tranh luận, hay nói lời vô ích, gây ra vụ việc trong Tăng chúng, đang đi đến Sāvatthī. Bạch ngài, con nên hành xử đối với các vị tỳ khưu ấy như thế nào?’ – ‘Này gia chủ, vậy thì ông hãy cúng dường vật thí đến cả hai bên. Sau khi đã cúng dường vật thí đến cả hai bên, hãy lắng nghe Pháp ở cả hai bên. Sau khi đã lắng nghe Pháp ở cả hai bên, trong số ấy, những vị tỳ khưu nào là người nói Pháp thì ông hãy chấp nhận và hoan hỷ với quan điểm, với sự kham nhẫn, và với sở thích của các vị ấy.’
Assosi kho visākhā migāramātā—“te kira kosambakā bhikkhū bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā sāvatthiṁ āgacchantī”ti. Atha kho visākhā migāramātā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho visākhā migāramātā bhagavantaṁ etadavoca—“te kira, bhante, kosambakā bhikkhū bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā sāvatthiṁ āgacchanti. Kathāhaṁ, bhante, tesu bhikkhūsu paṭipajjāmī”ti?
“Tena hi tvaṁ, visākhe, ubhayattha dānaṁ dehi. Ubhayattha dānaṁ datvā ubhayattha dhammaṁ suṇa. Ubhayattha dhammaṁ sutvā ye tattha bhikkhū dhammavādino tesaṁ diṭṭhiñca khantiñca ruciñca ādāyañca rocehī”ti.
When Visākhā Migāramātā heard that they were coming, she too went to the Buddha, bowed, sat down, and told him, adding, “Sir, how should I act toward these monks?”
“Well, Visākhā, make offerings to both sides and listen to their teachings. Then approve of the views, beliefs, and persuasion of those who speak in accordance with the Teaching.”
472. Bà Visākhā Migāramātā đã được nghe rằng: ‘Nghe nói rằng các vị tỳ khưu ở Kosambī ấy, là những người gây ra tranh cãi, gây ra cãi vã, gây ra tranh luận, hay nói lời vô ích, gây ra vụ việc trong Tăng chúng, đang đi đến Sāvatthī.’ Rồi bà Visākhā Migāramātā đi đến nơi đức Thế Tôn ngự, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, bà Visākhā Migāramātā đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, nghe nói rằng các vị tỳ khưu ở Kosambī ấy, là những người gây ra tranh cãi, gây ra cãi vã, gây ra tranh luận, hay nói lời vô ích, gây ra vụ việc trong Tăng chúng, đang đi đến Sāvatthī. Bạch ngài, con nên hành xử đối với các vị tỳ khưu ấy như thế nào?’ – ‘Này Visākhā, vậy thì bà hãy cúng dường vật thí đến cả hai bên. Sau khi đã cúng dường vật thí đến cả hai bên, hãy lắng nghe Pháp ở cả hai bên. Sau khi đã lắng nghe Pháp ở cả hai bên, trong số ấy, những vị tỳ khưu nào là người nói Pháp thì bà hãy chấp nhận và hoan hỷ với quan điểm, với sự kham nhẫn, và với sở thích của các vị ấy.’
Atha kho kosambakā bhikkhū anupubbena yena sāvatthi tadavasaruṁ. Atha kho āyasmā sāriputto yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca—“te kira, bhante, kosambakā bhikkhū bhaṇḍanakārakā kalahakārakā vivādakārakā bhassakārakā saṅghe adhikaraṇakārakā sāvatthiṁ anuppattā. Kathaṁ nu kho, bhante, tesu bhikkhūsu senāsane paṭipajjitabban”ti?
“Tena hi, sāriputta, vivittaṁ senāsanaṁ dātabban”ti.
“Sace pana, bhante, vivittaṁ na hoti, kathaṁ paṭipajjitabban”ti?
“Tena hi, sāriputta, vivittaṁ katvāpi dātabbaṁ,
na tvevāhaṁ, sāriputta, kenaci pariyāyena vuḍḍhatarassa bhikkhuno senāsanaṁ paṭibāhitabbanti vadāmi. Yo paṭibāheyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Eventually those monks from Kosambī arrived at Sāvatthī. Venerable Sāriputta went to the Buddha, bowed, sat down, and told him, adding, “How should we prepare dwellings for these monks?”
“Give them dwellings in a separate place.”
“But what should we do if there are no dwellings in a separate place?”
“In that case, create separate resting places and then give them out.
Under no circumstances, Sāriputta, should a dwelling be reserved for a more senior monk. If you do, you commit an offense of wrong conduct.”
473. Rồi các vị tỳ khưu ở Kosambī tuần tự đi đến Sāvatthī. Khi ấy, trưởng lão Sāriputta đi đến nơi đức Thế Tôn ngự, sau khi đến, đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, trưởng lão Sāriputta đã bạch với đức Thế Tôn điều này: ‘Bạch ngài, nghe nói rằng các vị tỳ khưu ở Kosambī ấy, là những người gây ra tranh cãi, gây ra cãi vã, gây ra tranh luận, hay nói lời vô ích, gây ra vụ việc trong Tăng chúng, đã đi đến Sāvatthī. Bạch ngài, về chỗ ở, nên hành xử đối với các vị tỳ khưu ấy như thế nào?’ – ‘Này Sāriputta, vậy thì nên cấp cho chỗ ở riêng biệt.’ – ‘Bạch ngài, nhưng nếu không có chỗ ở riêng biệt thì nên hành xử thế nào?’ – ‘Này Sāriputta, vậy thì cũng nên sắp xếp cho có chỗ ở riêng biệt rồi cấp cho. Này Sāriputta, Ta không hề nói rằng vì bất cứ lý do gì mà được phép ngăn cản chỗ ở của vị tỳ khưu lớn tuổi hơn. Vị nào ngăn cản thì phạm tội tác ác.’
“Āmise pana, bhante, kathaṁ paṭipajjitabban”ti?
“Āmisaṁ kho, sāriputta, sabbesaṁ samakaṁ bhājetabban”ti.
“And what should we do regarding food and requisites?”
“Food and requisites should be distributed equally to everyone.”
‘Bạch ngài, còn về vật dụng, nên hành xử thế nào?’ – ‘Này Sāriputta, vật dụng nên được phân chia đồng đều cho tất cả.’
7. Osāraṇānujānana
7. The instruction to readmit
277. Sự cho phép về việc thu nhận lại
Atha kho tassa ukkhittakassa bhikkhuno dhammañca vinayañca paccavekkhantassa etadahosi—“āpatti esā, nesā anāpatti. Āpannomhi, namhi anāpanno. Ukkhittomhi, namhi anukkhitto. Dhammikenamhi kammena ukkhitto akuppena ṭhānārahenā”ti. Atha kho so ukkhittako bhikkhu yena ukkhittānuvattakā bhikkhū tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā ukkhittānuvattake bhikkhū etadavoca—“āpatti esā, āvuso; nesā anāpatti. Āpannomhi, namhi anāpanno. Ukkhittomhi, namhi anukkhitto. Dhammikenamhi kammena ukkhitto akuppena ṭhānārahena. Etha maṁ āyasmanto osārethā”ti.
Atha kho te ukkhittānuvattakā bhikkhū taṁ ukkhittakaṁ bhikkhuṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ—“ayaṁ, bhante, ukkhittako bhikkhu evamāha—‘āpatti esā, āvuso; nesā anāpatti. Āpannomhi, namhi anāpanno. Ukkhittomhi, namhi anukkhitto. Dhammikenamhi kammena ukkhitto akuppena ṭhānārahena. Etha maṁ āyasmanto osārethā’ti. Kathaṁ nu kho, bhante, paṭipajjitabban”ti?
“Āpatti esā, bhikkhave; nesā anāpatti. Āpanno eso bhikkhu, neso bhikkhu anāpanno. Ukkhitto eso bhikkhu, neso bhikkhu anukkhitto. Dhammikena kammena ukkhitto akuppena ṭhānārahena. Yato ca kho so, bhikkhave, bhikkhu āpanno ca ukkhitto ca passati ca, tena hi, bhikkhave, taṁ bhikkhuṁ osārethā”ti.
Then that ejected monk reflected on the Teaching and the Monastic Law, and he concluded, “This is an offense and I’ve committed it. I’ve been ejected, for the legal procedure was legitimate, irreversible, and fit to stand.” He went to those who were siding with him and told them what he had been thinking, adding, “Come, venerables, please readmit me.”
They then took that monk to the Buddha, bowed, sat down, and told him what had happened, adding, “Sir, what should we do now?”
“This is an offense, monks, and this monk has committed it. He’s been ejected, for the legal procedure was legitimate, irreversible, and fit to stand. But since he recognizes this, he should be readmitted.”
474. Bấy giờ, trong khi vị tỳ khưu bị cử tội ấy đang xem xét lại Pháp và Luật, ý nghĩ này đã khởi lên: “Đây là tội, đây không phải là không có tội. Ta đã phạm tội, ta không phải là người không phạm tội. Ta đã bị cử tội, ta không phải là người không bị cử tội. Ta đã bị cử tội bằng yết-ma đúng Pháp, không thể hủy bỏ, và xứng đáng với sự việc.” Bấy giờ, vị tỳ khưu bị cử tội ấy đi đến các vị tỳ khưu đi theo vị ấy, sau khi đến đã nói với các vị tỳ khưu đi theo vị ấy điều này: “Này chư hiền, đây là tội, đây không phải là không có tội. Ta đã phạm tội, ta không phải là người không phạm tội. Ta đã bị cử tội, ta không phải là người không bị cử tội. Ta đã bị cử tội bằng yết-ma đúng Pháp, không thể hủy bỏ, và xứng đáng với sự việc. Này chư Tôn giả, hãy đến đây, hãy phục hồi cho tôi.” Bấy giờ, các vị tỳ khưu đi theo vị ấy đã dẫn vị tỳ khưu bị cử tội ấy đi đến đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các vị tỳ khưu ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch đức Thế Tôn, vị tỳ khưu bị cử tội này đã nói như vầy: ‘Này chư hiền, đây là tội, đây không phải là không có tội. Ta đã phạm tội, ta không phải là người không phạm tội. Ta đã bị cử tội, ta không phải là người không bị cử tội. Ta đã bị cử tội bằng yết-ma đúng Pháp, không thể hủy bỏ, và xứng đáng với sự việc. Này chư Tôn giả, hãy đến đây, hãy phục hồi cho tôi.’ Bạch đức Thế Tôn, vậy chúng con nên thực hành như thế nào?” (Đức Phật phán:) “Này các tỳ khưu, đây là tội, đây không phải là không có tội. Vị tỳ khưu này đã phạm tội, vị tỳ khưu này không phải là người không phạm tội. Vị tỳ khưu này đã bị cử tội, vị tỳ khưu này không phải là người không bị cử tội. Vị ấy đã bị cử tội bằng yết-ma đúng Pháp, không thể hủy bỏ, và xứng đáng với sự việc. Và này các tỳ khưu, bởi vì vị tỳ khưu ấy đã phạm tội, đã bị cử tội, và đã thấy tội, vì vậy, này các tỳ khưu, các thầy hãy phục hồi cho vị tỳ khưu ấy.”
8. Saṅghasāmaggīkathā
8. Discussion of unity in the Sangha
Lời dạy về sự hòa hợp của Tăng chúng
Atha kho te ukkhittānuvattakā bhikkhū taṁ ukkhittakaṁ bhikkhuṁ osāretvā yena ukkhepakā bhikkhū tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā ukkhepake bhikkhū etadavocuṁ—“yasmiṁ, āvuso, vatthusmiṁ ahosi saṅghassa bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo saṅghabhedo saṅgharāji saṅghavavatthānaṁ saṅghanānākaraṇaṁ, so eso bhikkhu āpanno ca ukkhitto ca passi ca osārito ca. Handa mayaṁ, āvuso, tassa vatthussa vūpasamāya saṅghasāmaggiṁ karomā”ti.
Soon afterwards the monks who had been siding with the ejected monk readmitted him. They then went to the monks who had ejected him and said, “This monk has recognized that he had committed an offense and was ejected. He’s now been readmitted. Because of this, the basis for the arguments and disputes in the Sangha, for the schism, fracture, and separation in the Sangha, has been removed. To resolve this matter, let’s unify the Sangha.”
278. Bấy giờ, các vị tỳ khưu đi theo vị bị cử tội ấy, sau khi đã phục hồi cho vị tỳ khưu bị cử tội ấy, đã đi đến các vị tỳ khưu đã cử tội, sau khi đến đã nói với các vị tỳ khưu đã cử tội điều này: “Này chư hiền, về sự việc mà đã có sự tranh cãi, sự cãi lộn, sự xung đột, sự tranh luận, sự chia rẽ Tăng chúng, sự rạn nứt trong Tăng chúng, sự phân ly trong Tăng chúng, sự bất hòa trong Tăng chúng, thì vị tỳ khưu ấy đã phạm tội, đã bị cử tội, đã thấy tội, và đã được phục hồi. Này chư hiền, nào! Bây giờ chúng ta hãy thực hiện sự hòa hợp của Tăng chúng để dập tắt sự việc ấy.”
Atha kho te ukkhepakā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ—“te, bhante, ukkhittānuvattakā bhikkhū evamāhaṁsu—‘yasmiṁ, āvuso, vatthusmiṁ ahosi saṅghassa bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo saṅghabhedo saṅgharāji saṅghavavatthānaṁ saṅghanānākaraṇaṁ, so eso bhikkhu āpanno ca ukkhitto ca passi ca osārito ca. Handa mayaṁ, āvuso, tassa vatthussa vūpasamāya saṅghasāmaggiṁ karomā’ti. Kathaṁ nu kho, bhante, paṭipajjitabban”ti?
“Yato ca kho so, bhikkhave, bhikkhu āpanno ca ukkhitto ca passi ca osārito ca, tena hi, bhikkhave, saṅgho tassa vatthussa vūpasamāya saṅghasāmaggiṁ karotu. Evañca pana, bhikkhave, kātabbā. Sabbeheva ekajjhaṁ sannipatitabbaṁ gilānehi ca agilānehi ca. Na kehici chando dātabbo. Sannipatitvā byattena bhikkhunā paṭibalena saṅgho ñāpetabbo—
The monks who had done the ejection went to the Buddha, bowed, sat down, and told him what had happened, adding, “How should we proceed with this?”
“This being the case, you should resolve this matter by unifying the Sangha. And it should be done like this. Everyone should gather in one place, including those who are sick. No-one should give their consent. A competent and capable monk should then inform the Sangha:
475. Bấy giờ, các vị tỳ khưu đã cử tội ấy đi đến đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các vị tỳ khưu ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: “Bạch đức Thế Tôn, các vị tỳ khưu đi theo vị bị cử tội ấy đã nói như vầy: ‘Này chư hiền, về sự việc mà đã có sự tranh cãi, sự cãi lộn, sự xung đột, sự tranh luận, sự chia rẽ Tăng chúng, sự rạn nứt trong Tăng chúng, sự phân ly trong Tăng chúng, sự bất hòa trong Tăng chúng, thì vị tỳ khưu ấy đã phạm tội, đã bị cử tội, đã thấy tội, và đã được phục hồi. Này chư hiền, nào! Bây giờ chúng ta hãy thực hiện sự hòa hợp của Tăng chúng để dập tắt sự việc ấy.’ Bạch đức Thế Tôn, vậy chúng con nên thực hành như thế nào?” (Đức Phật phán:) “Này các tỳ khưu, bởi vì vị tỳ khưu ấy đã phạm tội, đã bị cử tội, đã thấy tội, và đã được phục hồi, vì vậy, này các tỳ khưu, Tăng chúng hãy thực hiện sự hòa hợp của Tăng chúng để dập tắt sự việc ấy. Và này các tỳ khưu, việc ấy nên được thực hiện như vầy: Tất cả các vị, cả bệnh lẫn không bệnh, nên tụ họp lại cùng một nơi. Không ai được gởi dục. Sau khi đã tụ họp, một vị tỳ khưu có khả năng, có năng lực nên tác bạch cho Tăng chúng biết –
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yasmiṁ vatthusmiṁ ahosi saṅghassa bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo saṅghabhedo saṅgharāji saṅghavavatthānaṁ saṅghanānākaraṇaṁ, so eso bhikkhu āpanno ca ukkhitto ca passi ca osārito ca. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho tassa vatthussa vūpasamāya saṅghasāmaggiṁ kareyya. Esā ñatti.
‘Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This monk has recognized that he had committed an offense and was ejected. He’s now been readmitted. Because of this, the basis for the arguments and disputes in the Sangha, for the schism, fracture, and separation in the Sangha, has been removed. If the Sangha is ready, let’s resolve this matter by unifying the Sangha. This is the motion.
“Bạch chư Tôn giả, mong Tăng chúng hãy nghe con. Về sự việc mà đã có sự tranh cãi, sự cãi lộn, sự xung đột, sự tranh luận, sự chia rẽ Tăng chúng, sự rạn nứt trong Tăng chúng, sự phân ly trong Tăng chúng, sự bất hòa trong Tăng chúng, thì vị tỳ khưu ấy đã phạm tội, đã bị cử tội, đã thấy tội, và đã được phục hồi. Nếu Tăng chúng xét thấy đã đến lúc thích hợp, Tăng chúng nên thực hiện sự hòa hợp của Tăng chúng để dập tắt sự việc ấy. Đây là lời tác bạch.
Suṇātu me, bhante, saṅgho. Yasmiṁ vatthusmiṁ ahosi saṅghassa bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo saṅghabhedo saṅgharāji saṅghavavatthānaṁ saṅghanānākaraṇaṁ, so eso bhikkhu āpanno ca ukkhitto ca passi ca osārito ca. Saṅgho tassa vatthussa vūpasamāya saṅghasāmaggiṁ karoti. Yassāyasmato khamati tassa vatthussa vūpasamāya saṅghasāmaggiyā karaṇaṁ, so tuṇhassa, yassa nakkhamati so bhāseyya.
Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This monk has recognized that he had committed an offense and was ejected. He’s now been readmitted. Because of this, the basis for the arguments and disputes in the Sangha, for the schism, fracture, and separation in the Sangha, has been removed. The Sangha resolves this matter by unifying the Sangha. Any monk who approves of resolving this matter by unifying Sangha should remain silent. Any monk who doesn’t approve should speak up.
“Bạch chư Tôn giả, mong Tăng chúng hãy nghe con. Về sự việc mà đã có sự tranh cãi, sự cãi lộn, sự xung đột, sự tranh luận, sự chia rẽ Tăng chúng, sự rạn nứt trong Tăng chúng, sự phân ly trong Tăng chúng, sự bất hòa trong Tăng chúng, thì vị tỳ khưu ấy đã phạm tội, đã bị cử tội, đã thấy tội, và đã được phục hồi. Tăng chúng thực hiện sự hòa hợp của Tăng chúng để dập tắt sự việc ấy. Vị Tôn giả nào chấp thuận việc thực hiện sự hòa hợp của Tăng chúng để dập tắt sự việc ấy thì hãy im lặng, vị nào không chấp thuận thì hãy lên tiếng.
Katā saṅghena tassa vatthussa vūpasamāya saṅghasāmaggī. Nihato saṅghabhedo, nihatā saṅgharāji, nihataṁ saṅghavavatthānaṁ, nihataṁ saṅghanānākaraṇaṁ. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmī’ti.
The Sangha has resolved this matter by unifying the Sangha. The schism in the Sangha has come to an end. The fracture in the Sangha has come to an end. The separation in the Sangha has come to an end. The Sangha approves and is therefore silent. I will remember it thus.’
“Sự hòa hợp của Tăng chúng để dập tắt sự việc ấy đã được Tăng chúng thực hiện. Sự chia rẽ Tăng chúng đã được dẹp bỏ, sự rạn nứt trong Tăng chúng đã được dẹp bỏ, sự phân ly trong Tăng chúng đã được dẹp bỏ, sự bất hòa trong Tăng chúng đã được dẹp bỏ. Điều này được Tăng chúng chấp thuận, vì thế nên im lặng. Con xin ghi nhận điều này là như vậy.”
Tāvadeva uposatho kātabbo, pātimokkhaṁ uddisitabban”ti.
The observance-day ceremony, the recitation of the Monastic Code, should be done straightaway.”
Ngay lúc ấy, lễ Bố-tát nên được cử hành, và giới bổn Pātimokkha nên được tuyên đọc.
9. Upālisaṅghasāmaggīpucchā
9. Upāli’s questions about unity in the Sangha
Câu hỏi của ngài Upāli về sự hòa hợp của Tăng chúng
Atha kho āyasmā upāli yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā upāli bhagavantaṁ etadavoca—“yasmiṁ, bhante, vatthusmiṁ hoti saṅghassa bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo saṅghabhedo saṅgharāji saṅghavavatthānaṁ saṅghanānākaraṇaṁ, saṅgho taṁ vatthuṁ avinicchinitvā amūlā mūlaṁ gantvā saṅghasāmaggiṁ karoti, dhammikā nu kho sā, bhante, saṅghasāmaggī”ti?
“Yasmiṁ, upāli, vatthusmiṁ hoti saṅghassa bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo saṅghabhedo saṅgharāji saṅghavavatthānaṁ saṅghanānākaraṇaṁ, saṅgho taṁ vatthuṁ avinicchinitvā amūlā mūlaṁ gantvā saṅghasāmaggiṁ karoti, adhammikā sā, upāli, saṅghasāmaggī”ti.
Soon afterwards Venerable Upāli went to the Buddha, bowed, sat down, and said, “Sir, if the basis for the arguments and disputes in the Sangha, for the schism, fracture, and separation in the Sangha, hasn’t been decided by the Sangha, hasn’t been resolved by the Sangha, yet the Sangha unifies the Sangha—is that unity in the Sangha legitimate?”
“That unity in the Sangha is illegitimate.”
476. Rồi Tôn giả Upāli đi đến chỗ đức Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Upāli bạch với đức Thế Tôn điều này: – ‘Bạch Thế Tôn, trong sự việc nào mà ở đó có sự tranh cãi, cãi lộn, tranh chấp, luận쟁, sự chia rẽ Tăng chúng, sự rạn nứt trong Tăng chúng, sự phân ly trong Tăng chúng, sự dị biệt trong Tăng chúng của Tăng chúng; Tăng chúng không dàn xếp sự việc ấy, đi từ chỗ không phải là căn nguyên đến chỗ căn nguyên, rồi thực hiện sự hòa hợp Tăng chúng. Bạch Thế Tôn, sự hòa hợp Tăng chúng ấy có đúng Pháp không?’ – ‘Này Upāli, trong sự việc nào mà ở đó có sự tranh cãi, cãi lộn, tranh chấp, luận쟁, sự chia rẽ Tăng chúng, sự rạn nứt trong Tăng chúng, sự phân ly trong Tăng chúng, sự dị biệt trong Tăng chúng của Tăng chúng; Tăng chúng không dàn xếp sự việc ấy, đi từ chỗ không phải là căn nguyên đến chỗ căn nguyên, rồi thực hiện sự hòa hợp Tăng chúng. Này Upāli, sự hòa hợp Tăng chúng ấy là không đúng Pháp.’
“Yasmiṁ pana, bhante, vatthusmiṁ hoti saṅghassa bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo saṅghabhedo saṅgharāji saṅghavavatthānaṁ saṅghanānākaraṇaṁ, saṅgho taṁ vatthuṁ vinicchinitvā mūlā mūlaṁ gantvā saṅghasāmaggiṁ karoti, dhammikā nu kho sā, bhante, saṅghasāmaggī”ti?
“Yasmiṁ, upāli, vatthusmiṁ hoti saṅghassa bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo saṅghabhedo saṅgharāji saṅghavavatthānaṁ saṅghanānākaraṇaṁ, saṅgho taṁ vatthuṁ vinicchinitvā mūlā mūlaṁ gantvā saṅghasāmaggiṁ karoti, dhammikā sā, upāli, saṅghasāmaggī”ti.
“If the basis for the arguments and disputes in the Sangha, for the schism, fracture, and separation in the Sangha, has been decided by the Sangha, has been resolved by the Sangha, and the Sangha then unifies the Sangha—is that unity in the Sangha legitimate?”
“That unity in the Sangha is legitimate.”
– ‘Lại nữa, bạch Thế Tôn, trong sự việc nào mà ở đó có sự tranh cãi, cãi lộn, tranh chấp, luận쟁, sự chia rẽ Tăng chúng, sự rạn nứt trong Tăng chúng, sự phân ly trong Tăng chúng, sự dị biệt trong Tăng chúng của Tăng chúng; Tăng chúng dàn xếp sự việc ấy, đi từ căn nguyên đến căn nguyên, rồi thực hiện sự hòa hợp Tăng chúng. Bạch Thế Tôn, sự hòa hợp Tăng chúng ấy có đúng Pháp không?’ – ‘Này Upāli, trong sự việc nào mà ở đó có sự tranh cãi, cãi lộn, tranh chấp, luận쟁, sự chia rẽ Tăng chúng, sự rạn nứt trong Tăng chúng, sự phân ly trong Tăng chúng, sự dị biệt trong Tăng chúng của Tăng chúng; Tăng chúng dàn xếp sự việc ấy, đi từ căn nguyên đến căn nguyên, rồi thực hiện sự hòa hợp Tăng chúng. Này Upāli, sự hòa hợp Tăng chúng ấy là đúng Pháp.’
“Kati nu kho, bhante, saṅghasāmaggiyo”ti?
“Dvemā, upāli, saṅghasāmaggiyo—atthupāli, saṅghasāmaggī atthāpetā byañjanupetā; atthupāli, saṅghasāmaggī atthupetā ca byañjanupetā ca. Katamā ca, upāli, saṅghasāmaggī atthāpetā byañjanupetā? Yasmiṁ, upāli, vatthusmiṁ hoti saṅghassa bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo saṅghabhedo saṅgharāji saṅghavavatthānaṁ saṅghanānākaraṇaṁ, saṅgho taṁ vatthuṁ avinicchinitvā amūlā mūlaṁ gantvā saṅghasāmaggiṁ karoti, ayaṁ vuccati, upāli, saṅghasāmaggī atthāpetā byañjanupetā. Katamā ca, upāli, saṅghasāmaggī atthupetā ca byañjanupetā ca? Yasmiṁ, upāli, vatthusmiṁ hoti saṅghassa bhaṇḍanaṁ kalaho viggaho vivādo saṅghabhedo saṅgharāji saṅghavavatthānaṁ saṅghanānākaraṇaṁ, saṅgho taṁ vatthuṁ vinicchinitvā mūlā mūlaṁ gantvā saṅghasāmaggiṁ karoti, ayaṁ vuccati, upāli, saṅghasāmaggī atthupetā ca byañjanupetā ca. Imā kho, upāli, dve saṅghasāmaggiyo”ti.
“And sir, how many kinds of unity in the Sangha are there?”
“There are two kinds of unity in the Sangha. There’s the unity in the Sangha where the wording is fulfilled, but not the purpose. And there’s the unity in the Sangha where both the wording and the purpose are fulfilled. If the basis for the arguments and disputes in the Sangha, for the schism, fracture, and separation in the Sangha, hasn’t been decided by the Sangha, hasn’t been resolved by the Sangha, yet the Sangha unifies the Sangha, this is called unity in the Sangha where the wording is fulfilled, but not the purpose. If the basis for the arguments and disputes in the Sangha, for the schism, fracture, and separation in the Sangha, has been decided by the Sangha, has been resolved by the Sangha, and the Sangha then unifies the Sangha, this is called unity in the Sangha where both the wording and the purpose are fulfilled.”
– ‘Bạch Thế Tôn, có bao nhiêu sự hòa hợp Tăng chúng?’ – ‘Này Upāli, có hai sự hòa hợp Tăng chúng này. Này Upāli, có sự hòa hợp Tăng chúng trống rỗng về ý nghĩa, chỉ đầy đủ về văn tự. Này Upāli, có sự hòa hợp Tăng chúng vừa đầy đủ về ý nghĩa, vừa đầy đủ về văn tự. Và này Upāli, thế nào là sự hòa hợp Tăng chúng trống rỗng về ý nghĩa, chỉ đầy đủ về văn tự? Này Upāli, trong sự việc nào mà ở đó có sự tranh cãi, cãi lộn, tranh chấp, luận쟁, sự chia rẽ Tăng chúng, sự rạn nứt trong Tăng chúng, sự phân ly trong Tăng chúng, sự dị biệt trong Tăng chúng của Tăng chúng; Tăng chúng không dàn xếp sự việc ấy, đi từ chỗ không phải là căn nguyên đến chỗ căn nguyên, rồi thực hiện sự hòa hợp Tăng chúng. Này Upāli, đây được gọi là sự hòa hợp Tăng chúng trống rỗng về ý nghĩa, chỉ đầy đủ về văn tự. Và này Upāli, thế nào là sự hòa hợp Tăng chúng vừa đầy đủ về ý nghĩa, vừa đầy đủ về văn tự? Này Upāli, trong sự việc nào mà ở đó có sự tranh cãi, cãi lộn, tranh chấp, luận쟁, sự chia rẽ Tăng chúng, sự rạn nứt trong Tăng chúng, sự phân ly trong Tăng chúng, sự dị biệt trong Tăng chúng của Tăng chúng; Tăng chúng dàn xếp sự việc ấy, đi từ căn nguyên đến căn nguyên, rồi thực hiện sự hòa hợp Tăng chúng. Này Upāli, đây được gọi là sự hòa hợp Tăng chúng vừa đầy đủ về ý nghĩa, vừa đầy đủ về văn tự. Này Upāli, có hai sự hòa hợp Tăng chúng này.’
Atha kho āyasmā upāli uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi—
Upāli then got up from his seat, arrange his upper robe over one shoulder, raise his joined palms, and spoke to the Buddha in verse:
477. Rồi Tôn giả Upāli từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về phía đức Thế Tôn, rồi bạch với đức Thế Tôn bằng lời kệ rằng:
“Saṅghassa kiccesu ca mantanāsu ca, Atthesu jātesu vinicchayesu ca; Kathaṁpakārodha naro mahatthiko, Bhikkhu kathaṁ hotidha paggahāraho”ti.
“In regard to the duties and discussions of the Sangha, In regard to the business that arises and the investigations—A person of great value, how does he handle these? How is a monk fit to deal with these?”
‘Trong các công việc và các cuộc bàn bạc của Tăng chúng, trong các sự việc đã phát sanh và trong các sự dàn xếp, hạng người như thế nào ở đây là người có ích lợi lớn? Vị tỳ khưu như thế nào ở đây là người đáng được tán dương?’
“Anānuvajjo paṭhamena sīlato, Avekkhitācāro susaṁvutindriyo; Paccatthikā nūpavadanti dhammato, Na hissa taṁ hoti vadeyyu yena naṁ.
“Blameless in the basic morality, Watching his own behavior, with senses well-restrained—His enemies cannot legitimately criticize him; There’s nothing for them to correct in him.
‘Vị nào trước hết không thể bị chê trách về giới hạnh, có hạnh kiểm được xem xét, có các căn được khéo thu thúc, các đối phương không thể chê bai đúng Pháp, vị ấy không có điều đó là điều mà họ có thể dùng để nói về vị ấy.’
So tādiso sīlavisuddhiyā ṭhito, Visārado hoti visayha bhāsati; Nacchambhati parisagato na vedhati, Atthaṁ na hāpeti anuyyutaṁ bhaṇaṁ.
Having such purity of conduct, Enabled, he speaks confidently; Without fear, he doesn’t tremble in a gathering; He doesn’t neglect the meaning and speaks naturally.
‘Vị như thế ấy, đứng vững trong sự trong sạch về giới hạnh, là người dạn dĩ, nói năng có sức thuyết phục, đi vào hội chúng không bị cứng đờ, không run sợ, trong khi nói lời hợp lý không làm hỏng mất ý nghĩa.’
Tatheva pañhaṁ parisāsu pucchito, Na ceva pajjhāyati na maṅku hoti; So kālāgataṁ byākaraṇārahaṁ vaco, Rañjeti viññūparisaṁ vicakkhaṇo.
If then asked a question in a gathering, He’s neither shy nor timid. His words are timely and pertinent; He watchfully satisfies a discerning gathering.
‘Cũng giống như thế, khi được hỏi câu hỏi ở các hội chúng, vị ấy không bối rối, không tỏ ra lúng túng. Vị ấy là người sáng suốt, nói lời đúng lúc và đáng được giải thích, làm cho hội chúng gồm những người hiểu biết được vui lòng.’
Sagāravo vuḍḍhataresu bhikkhusu, Ācerakamhi ca sake visārado; Alaṁ pametuṁ paguṇo kathetave, Paccatthikānañca viraddhikovido.
Respectful of more senior monks, Having confidence in his teacher, Able to investigate, clever in discussion, Skilled in defeating his opponents.
‘Vị ấy có lòng tôn kính đối với các vị tỳ khưu lớn tuổi hơn, và dạn dĩ về học thuyết của thầy mình, có khả năng thẩm định, thuần thục trong việc nói năng, và thông thạo về những sai lầm của các đối phương.’
Paccatthikā yena vajanti niggahaṁ, Mahājano saññapanañca gacchati; Sakañca ādāyamayaṁ na riñcati, Viyākaraṁ pañhamanūpaghātikaṁ.
Wherever his opponents turn, he refutes them, And the crowd is convinced. He doesn’t abandon his position, Yet answers questions without hurting anyone.
‘Nhờ đó, các đối phương đi đến chỗ bị khuất phục, và đại chúng đi đến chỗ được thấu hiểu. Vị này nắm giữ chủ trương của mình không từ bỏ, trong khi giải thích câu hỏi một cách không gây tổn hại.’
Dūteyyakammesu alaṁ samuggaho, Saṅghassa kiccesu ca āhu naṁ yathā; Karaṁ vaco bhikkhugaṇena pesito, Ahaṁ karomīti na tena maññati.
He’s capable of acting as messenger, And about the business of the Sangha, they speak to him. When speaking, or sent out by the community of monks, He doesn’t think, ‘I’m doing it.’
‘Vị ấy có khả năng và đảm nhận tốt các công việc của người đưa tin, và trong các công việc của Tăng chúng, đúng như người ta nói về vị ấy. Khi được đoàn thể tỳ khưu phái đi, vị ấy làm theo lời dặn, do đó vị ấy không nghĩ rằng: ‘Ta đang làm.’’
Āpajjati yāvatakesu vatthusu, Āpattiyā hoti yathā ca vuṭṭhiti; Ete vibhaṅgā ubhayassa svāgatā, Āpatti vuṭṭhānapadassa kovido.
As far as the actions by which one commits offenses, And how they’re cleared, Both these analyses he has learned well. He’s skilled in the ways of clearing offenses.
‘Vị ấy phạm tội trong bao nhiêu sự việc, và làm thế nào để có sự ra khỏi tội. Hai sự phân tích này đã được vị ấy học thuộc lòng. Vị ấy thông thạo về phương cách ra khỏi tội.’
Nissāraṇaṁ gacchati yāni cācaraṁ, Nissārito hoti yathā ca vattanā; Osāraṇaṁ taṁvusitassa jantuno, Etampi jānāti vibhaṅgakovido.
If one is sent away for one’s conduct, But once sent away one acts rightly, There’s readmittance for one who lives thus. This too he knows, the one skilled in analysis.
‘Do thực hành những điều gì mà đi đến sự trục xuất, và làm thế nào để bị trục xuất, và sự phục hồi cho người đã sống (đúng phận sự). Vị thông thạo về sự phân tích cũng biết được điều này.’
Sagāravo vuḍḍhataresu bhikkhusu, Navesu theresu ca majjhimesu ca; Mahājanassatthacarodha paṇḍito, So tādiso bhikkhu idha paggahāraho”ti.
Respectful of more senior monks, Yet whether junior, senior, or of middle standing, The wise practice for the benefit of the many—Such a monk is fit to deal with these.”
‘Vị ấy có lòng tôn kính đối với các vị tỳ khưu lớn tuổi hơn, các vị mới, các vị trưởng lão, và các vị trung bình. Ở đây, vị ấy là bậc trí tuệ, hành động vì lợi ích của đại chúng. Vị tỳ khưu như thế ấy ở đây là người đáng được tán dương.’
Kosambakakkhandhako dasamo.
Tassuddānaṁ
The tenth chapter on division in the Sangha.
This is the summary:
Chương Kosambaka, chương thứ mười.
Kosambiyaṁ jinavaro, vivādāpattidassane; Nukkhipeyya yasmiṁ tasmiṁ, saddhāyāpatti desaye.
“The splendid Victor was in Kosambī, When disputing for not seeing an offense; One should not eject for just any offense, One should confess an offense out of faith.
280. Đấng Tối Thắng ở Kosambī, sự tranh cãi và việc không thấy tội; nên đình chỉ trong trường hợp này khác, nên phát lồ tội với đức tin.
Antosīmāyaṁ tattheva, bālakañceva vaṁsadā; Pālileyyā ca sāvatthi, sāriputto ca kolito.
Just there inside the monastery zone, And just Bālaka, Bamboo Park; And Pālileyyā, Sāvatthī, And Sāriputta, Kolita.
Bên trong ranh giới, ngay tại nơi ấy, người ngu và rừng tre; và Pālileyya, Sāvatthī, và Sāriputta, Kolita.
Mahākassapakaccānā, koṭṭhiko kappinena ca; Mahācundo anuruddho, revato upāli cubho.
Mahākassapa, and Kaccāna, Koṭṭhika, and with Kappina; Mahācunda, Anuruddha, And both Revata and Upāli.
Mahākassapa, Kaccāna, Koṭṭhika, và cùng với Kappina; Mahācunda và Anuruddha, Revata, Upāli, cả hai.
Ānando rāhulo ceva, gotamīnāthapiṇḍiko; Senāsanaṁ vivittañca, āmisaṁ samakampi ca.
Ānanda, and also Rāhula, Gotamī, Anāthapiṇḍika; And separate dwellings, And food and requisites equally.
Ānanda và Rāhula, Gotamī, Anāthapiṇḍika; chỗ ở thanh vắng, và vật dụng cũng đồng đều.
Na kehi chando dātabbo, upāliparipucchito; Anānuvajjo sīlena, sāmaggī jinasāsaneti.
No-one is to give their consent, Questioned by Upāli; Blameless in morality, Harmonious in the Teaching of the Victor.”
Không nên trao sự đồng thuận cho một số người, được Upāli hỏi đến; không bị chê trách về giới hạnh, sự hòa hợp trong giáo pháp của Đấng Chiến Thắng.
Kosambakakkhandhako niṭṭhito.
Mahāvaggo niṭṭhito.
The chapter on division in the Sangha is finished.
The Great Division is finished.
Thiên Kosambaka đã chấm dứt.
Mahāvaggapāḷi niṭṭhitā.
The canonical text of the Great Division is finished.
Pāli tạng Đại Phẩm đã chấm dứt.