- Theravāda Vinaya
- Mahāvibhaṅga
- Aniyatakaṇḍa
Bản dịch
Bu Vb Ay 2 — Điều học aniyata thứ nhì
2. Dutiyaaniyatasikkhāpada
Inda-bh 1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán việc cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động” nên đã cùng với chính người con gái ấy, một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo, tùy lúc thì tâm sự, tùy lúc thì nói Pháp. Đến lần thứ nhì, bà Visākhā mẹ của Migāra được thỉnh mời nên đã đi đến gia đình ấy. Rồi bà Visākhā mẹ của Migāra đã nhìn thấy đại đức Udāyi cùng với chính người con gái ấy, một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo, sau khi nhìn thấy đã nói với đại đức Udāyi điều này:—“Thưa ngài, điều này là không thích hợp, là không đúng đắn. Là việc ngài đại đức cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo. Thưa ngài, mặc dầu ngài đại đức không có ước muốn gì đến chuyện ấy, tuy nhiên những người không có niềm tin thì khó mà thuyết phục lắm.” Tuy được bà Visākhā mẹ của Migāra nói như thế, đại đức Udāyi đã không lưu tâm đến.
Inda-bh 2Sau đó, bà Visākhā mẹ của Migāra đã ra về và đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao đại đức Udāyi lại cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này Udāyi, nghe nói ngươi cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Hơn nữa, khi chỗ ngồi là không được che khuất, không thuận tiện cho hành động, nhưng thích hợp để nói với người nữ bằng những lời thô tục. Vị tỳ khưu nào ở chỗ ngồi có hình thức như thế cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo, có nữ cư sĩ có lời nói đáng tin cậy sau khi thấy rồi tố cáo vị ấy với một tội nào đó trong hai tội: hoặc là với tội saṅghādisesa, hoặc là với tội pācittiya. (Nếu) vị tỳ khưu thú nhận việc ngồi thì nên hành xử với một tội nào đó trong hai tội: hoặc là với tội saṅghādisesa, hoặc là với tội pācittiya; hoặc là nữ cư sĩ có lời nói đáng tin cậy ấy tố cáo với tội nào thì nên hành xử vị tỳ khưu ấy theo tội ấy. Đây cũng là điều aniyata.”
Inda-bh 3Hơn nữa, khi chỗ ngồi là không được che khuất: là không được che khuất bởi bức tường, hoặc bởi cánh cửa, hoặc bởi tấm màn, hoặc bởi tấm vách chắn, hoặc bởi cội cây, hoặc bởi cột nhà, hoặc bởi nhà kho, hoặc bởi bất cứ vật gì.
Không thuận tiện cho hành động: là không thể thực hiện việc đôi lứa.
Nhưng thích hợp để thốt ra với người nữ bằng những lời thô tục: là có thể nói với người nữ bằng những lời thô tục.
Vị nào: là bất cứ vị nào … (như trên) …
Tỳ khưu … nt … Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.
Ở chỗ ngồi có hình thức như thế: ở chỗ ngồi y như thế ấy.
Người nữ nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ Dạ-xoa, không phải ma nữ, không phải loài thú cái, có trí suy xét, có khả năng nhận biết lời nói tốt và lời nói xấu, là (lời nói) thô tục và không thô tục.
Với: cùng chung.
Một nam một nữ: chỉ có vị tỳ khưu và người nữ.
Kín đáo: nghĩa là kín đáo đối với mắt, kín đáo đối với tai. Kín đáo đối với mắt nghĩa là không thể nhìn thấy trong khi bị che mắt lại, trong khi nhướng mày, trong khi ngẩng đầu lên. Kín đáo đối với tai nghĩa là không thể nghe lời nói (với giọng) bình thường.
Ngồi: Khi người nữ đang ngồi thì vị tỳ khưu ngồi gần hoặc nằm gần, khi vị tỳ khưu đang ngồi thì người nữ ngồi gần hoặc nằm gần, hoặc cả hai đang ngồi, hoặc cả hai đang nằm.
Có lời nói đáng tin cậy: nghĩa là người nữ đã chứng Thánh Quả, đã thông suốt Tứ Diệu Đế, đã hiểu rõ Tam Học: Giới, Định, Tuệ.
Nữ cư sĩ nghĩa là người nữ đã đi đến nương nhờ đức Phật, đã đi đến nương nhờ Giáo Pháp, đã đi đến nương nhờ Hội Chúng.
Sau khi thấy: sau khi đã nhìn thấy.
(Cô ấy) có thể tố cáo với một tội nào đó trong hai tội: hoặc là với tội saṅghādisesa, hoặc là với tội pācittiya, (nếu) vị tỳ khưu thú nhận việc ngồi thì nên được hành xử với một tội nào đó trong hai tội: hoặc là với tội saṅghādisesa, hoặc là với tội pācittiya; hoặc là nữ cư sĩ có lời nói đáng tin cậy ấy tố cáo với tội nào thì nên hành xử vị tỳ khưu ấy theo tội ấy.
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã ngồi và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với người nữ,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội vi phạm.
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã ngồi và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với người nữ,” nếu vị ấy nói như vầy: “Sự thật là tôi đã ngồi nhưng tôi đã không thực hiện việc xúc chạm cơ thể” thì nên hành xử theo việc ngồi. … (như trên) … “Tôi đã không ngồi nhưng đã nằm” thì nên hành xử theo việc nằm. … (như trên) … “Tôi đã không ngồi nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã nằm và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với người nữ,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội vi phạm. … (như trên) … “Sự thật là tôi đã nằm nhưng tôi đã không thực hiện việc xúc chạm cơ thể” thì nên hành xử theo việc nằm. … (như trên) … “Tôi đã không nằm nhưng đã ngồi” thì nên hành xử theo việc ngồi. … (như trên) … “Tôi đã không nằm nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã nghe được rằng ngài đại đức đã ngồi và đang nói với người nữ bằng những lời thô tục,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội vi phạm. … (như trên) … “Sự thật là tôi đã ngồi nhưng tôi đã không nói với người nữ bằng những lời thô tục” thì nên hành xử theo việc ngồi. … (như trên) … “Tôi đã không ngồi nhưng đã nằm” thì nên hành xử theo việc nằm. … (như trên) … “Tôi đã không ngồi nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã nghe được rằng ngài đại đức đã nằm và đang nói với người nữ bằng những lời thô tục,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội vi phạm. … nt … “Sự thật là tôi đã nằm nhưng tôi đã không nói bằng những lời thô tục” thì nên hành xử theo việc nằm. … nt … “Tôi đã không nằm nhưng đã ngồi” thì nên hành xử theo việc ngồi. … nt … “Tôi đã không nằm nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức cùng với người nữ, một nam một nữ đã ngồi ở chỗ kín đáo,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo việc ngồi. … (như trên) … “Tôi đã không ngồi nhưng đã nằm” thì nên hành xử theo việc nằm. … (như trên) … “Tôi đã không ngồi nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức cùng với người nữ, một nam một nữ đã nằm ở chỗ kín đáo,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo việc nằm. … (như trên) … “Tôi đã không nằm nhưng đã ngồi” thì nên hành xử theo việc ngồi. … (như trên) … “Tôi đã không nằm nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.
Đây cũng là: được gọi như thế vì có liên quan đến điều trước.
Tội aniyata: không chắc chắn là tội saṅghādisesa, hay là tội pācittiya.
Inda-bh 4Vị thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống, thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm. Vị thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống, thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm. Vị thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống, không thú nhận tội thì nên hành xử theo việc ngồi. Vị thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống, không thú nhận tội thì không nên hành xử.
Vị không thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống, thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm. Vị không thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống, thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm. Vị không thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống, không thú nhận tội thì nên hành xử theo việc ngồi. Vị không thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống, không thú nhận tội thì không nên hành xử.”
Dứt điều học aniyata thứ nhì.
Inda-bh 5Bạch chư đại đức, hai điều aniyata đã được đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này? Các đại đức được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
TÓM LƯỢC CHƯƠNG NÀY:
(Nơi) thuận tiện cho hành động, và tương tợ y như thế về nơi không thuận tiện. (Hai) điều học aniyata đã khéo được quy định bởi đức Phật tối thượng như thế ấy.
Dứt Chương Aniyata.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Great Analysis
- The chapter on undetermined offenses
Phẩm Bất Định đã chấm dứt.
2. Dutiyaaniyatasikkhāpada
2. Sitting alone with a woman
Origin story
1. Điều học Kaṭhina thứ nhất
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena āyasmā udāyī—“bhagavatā paṭikkhittaṁ mātugāmena saddhiṁ eko ekāya raho paṭicchanne āsane alaṅkammaniye nisajjaṁ kappetun”ti tassāyeva kumārikāya saddhiṁ eko ekāya raho nisajjaṁ kappesi kālayuttaṁ samullapanto kālayuttaṁ dhammaṁ bhaṇanto.
Dutiyampi kho visākhā migāramātā nimantitā taṁ kulaṁ agamāsi. Addasā kho visākhā migāramātā āyasmantaṁ udāyiṁ tassāyeva kumārikāya saddhiṁ ekaṁ ekāya raho nisinnaṁ. Disvāna āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca—
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At this time Venerable Udāyī heard that the Buddha had prohibited sitting alone with a woman on a private and concealed seat suitable for the deed, and so instead he sat down in private alone with the same girl. When they were able, they just chatted; otherwise he gave her a teaching.
A second time Visākhā had been invited to that family. When she arrived, she saw Udāyī sitting in private alone with the same girl, and she said to Udāyī,
471. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn, trú tại Sāvatthī, ở Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu gửi y lại trong tay các tỳ khưu (khác) rồi chỉ với y nội và y vai trái lên đường du hành trong xứ. Những chiếc y ấy được gửi lại một thời gian dài đã bị mốc. Các tỳ khưu (được gửi y) đem những y ấy ra phơi nắng. Đại đức Ānanda, trong khi đi kinh hành xem xét các chỗ ở, đã thấy các tỳ khưu ấy đang phơi những chiếc y ấy. Sau khi thấy, ngài đi đến chỗ các tỳ khưu ấy; sau khi đến, ngài nói với các tỳ khưu ấy rằng: “Thưa chư hiền, những chiếc y bị mốc này là của ai vậy?” Khi ấy, các tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đại đức Ānanda. Đại đức Ānanda khiển trách, chê bai, phàn nàn rằng: “Tại sao các tỳ khưu lại có thể gửi y lại trong tay các tỳ khưu (khác) rồi chỉ với y nội và y vai trái lên đường du hành trong xứ được chứ!” Khi ấy, đại đức Ānanda sau khi khiển trách các tỳ khưu ấy bằng nhiều cách đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn... v.v... “Này các tỳ khưu, có thật là các tỳ khưu gửi y lại trong tay các tỳ khưu (khác) rồi chỉ với y nội và y vai trái lên đường du hành trong xứ không?” “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật, đức Thế Tôn, đã khiển trách... v.v... “Này các tỳ khưu, tại sao những người rỗng tuếch kia lại có thể gửi y lại trong tay các tỳ khưu (khác) rồi chỉ với y nội và y vai trái lên đường du hành trong xứ được chứ! Này các tỳ khưu, việc này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin... v.v... Và này các tỳ khưu, các con nên đọc tụng điều học này như sau:”
Atha kho te bhikkhū āyasmantaṁ udāyiṁ anekapariyāyena vigarahitvā bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe…
After rebuking Udāyī in many ways, they told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned Udāyī:
Vào lúc bấy giờ, bà Visākhā Migāramātā có nhiều con, nhiều cháu, con cháu khỏe mạnh, và được xem là người mang lại đại điềm lành. Trong các lễ tế, lễ hội, và các dịp lễ vui, người ta thường mời bà Visākhā Migāramātā dùng bữa trước tiên. Khi ấy, bà Visākhā Migāramātā được mời và đã đi đến gia đình đó. Bà Visākhā Migāramātā đã thấy trưởng lão Udāyī đang ngồi cùng với cô gái ấy, một nam một nữ, ở nơi kín đáo, khuất tầm mắt, trên chỗ ngồi thuận tiện cho việc hành dâm. Thấy vậy, bà nói với trưởng lão Udāyī điều này: ‘Thưa ngài, việc ngài ngồi cùng với một người nữ, một nam một nữ, ở nơi kín đáo, khuất tầm mắt, trên chỗ ngồi thuận tiện cho việc hành dâm, điều này không thích hợp, không tương xứng. Thưa ngài, dẫu cho ngài không có ý đồ gì về việc ấy, nhưng những người chưa có đức tin thì khó làm cho họ tin tưởng được.’ Dù được bà Visākhā Migāramātā nói như vậy, trưởng lão Udāyī vẫn không nghe theo. Khi ấy, bà Visākhā Migāramātā đi ra và trình báo sự việc ấy cho các tỳ-khưu. Những vị tỳ-khưu ít ham muốn... họ phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: ‘Tại sao trưởng lão Udāyī lại có thể ngồi cùng với một người nữ, một nam một nữ, ở nơi kín đáo, khuất tầm mắt, trên chỗ ngồi thuận tiện cho việc hành dâm chứ!’ Khi ấy, các vị tỳ-khưu ấy sau khi khiển trách trưởng lão Udāyī bằng nhiều cách, đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn... ‘Này Udāyī, có thật là ngươi đã ngồi cùng với một người nữ, một nam một nữ, ở nơi kín đáo, khuất tầm mắt, trên chỗ ngồi thuận tiện cho việc hành dâm không?’ ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách... ‘Này kẻ rỗng tuếch kia, tại sao ngươi lại có thể ngồi cùng với một người nữ, một nam một nữ, ở nơi kín đáo, khuất tầm mắt, trên chỗ ngồi thuận tiện cho việc hành dâm chứ! Này kẻ rỗng tuếch, việc này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin... Này các tỳ-khưu, các ngươi nên đọc tụng điều học này như sau:’
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, mātugāmena saddhiṁ eko ekāya raho nisajjaṁ kappessasi. Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… evañca pana, bhikkhave, imaṁ sikkhāpadaṁ uddiseyyātha—
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked him … “Foolish man, how could you do this? This will affect people’s confidence …” … “And, monks, this training rule should be recited like this:
Final ruling
452. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Và vào lúc ấy, trưởng lão Udāyī (nghĩ rằng): “Việc ngồi một mình với một người nữ ở nơi kín đáo, có che khuất, thích hợp cho việc hành dâm đã bị đức Thế Tôn ngăn cấm,” (nên) đã ngồi một mình với chính cô thiếu nữ ấy ở nơi kín đáo, vừa trò chuyện thích hợp với thời gian, vừa thuyết bài pháp thích hợp với thời gian. Lần thứ hai, bà Visākhā Migāramātā được mời, đã đi đến gia đình ấy. Bà Visākhā Migāramātā đã nhìn thấy trưởng lão Udāyī đang ngồi một mình với chính cô thiếu nữ ấy ở nơi kín đáo. Sau khi thấy, bà đã nói với trưởng lão Udāyī điều này: “Thưa ngài, việc đại đức ngồi một mình với một người nữ ở nơi kín đáo là không thích hợp, không tương xứng. Thưa ngài, dẫu cho đại đức không có ý muốn về việc ấy, nhưng những người không có đức tin thì khó làm cho họ tin tưởng.” Dù được bà Visākhā Migāramātā nói như vậy, trưởng lão Udāyī đã không để tâm. Khi ấy, bà Visākhā Migāramātā sau khi đi ra đã trình báo sự việc ấy cho các vị tỳ khưu. Những vị tỳ khưu thiểu dục ...v.v... các vị ấy đã phàn nàn, chê bai, khiển trách rằng: “Tại sao trưởng lão Udāyī lại có thể ngồi một mình với một người nữ ở nơi kín đáo được chứ!” Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy sau khi khiển trách trưởng lão Udāyī bằng nhiều cách đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn ...v.v... “Này Udāyī, có thật là ông đã ngồi một mình với một người nữ ở nơi kín đáo không?” “Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách ...v.v... “Này kẻ rỗng tuếch kia, tại sao ông lại có thể ngồi một mình với một người nữ ở nơi kín đáo được chứ! Này kẻ rỗng tuếch, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin ...v.v... Và này các tỳ khưu, các thầy nên tuyên đọc điều học này như vầy:”
“Na heva kho pana paṭicchannaṁ āsanaṁ hoti nālaṅkammaniyaṁ, alañca kho hoti mātugāmaṁ duṭṭhullāhi vācāhi obhāsituṁ. Yo pana bhikkhu tathārūpe āsane mātugāmena saddhiṁ eko ekāya raho nisajjaṁ kappeyya, tamenaṁ saddheyyavacasā upāsikā disvā dvinnaṁ dhammānaṁ aññatarena vadeyya—saṅghādisesena vā pācittiyena vā. Nisajjaṁ bhikkhu paṭijānamāno dvinnaṁ dhammānaṁ aññatarena kāretabbo— saṅghādisesena vā pācittiyena vā. Yena vā sā saddheyyavacasā upāsikā vadeyya tena so bhikkhu kāretabbo. Ayampi dhammo aniyato”ti.
‘Although a seat is not concealed, nor suitable for the deed, it may be suitable for speaking indecently to a woman. If a monk sits down on such a seat in private alone with a woman, and a trustworthy female lay follower sees him and accuses him of an offense entailing suspension or an offense entailing confession, then, if he admits to the sitting, he is to be dealt with according to one of these two or according to what that trustworthy female lay follower has said. This rule too is undetermined.’”
Definitions
453. “Chỗ ngồi ấy lại không phải là nơi che khuất, cũng không thích hợp cho việc hành dâm, nhưng lại đủ để nói những lời thô tục với người nữ. Vị tỳ khưu nào ngồi một mình với một người nữ ở nơi kín đáo, tại một chỗ ngồi như vậy, một nữ cận sự có lời nói đáng tin cậy sau khi nhìn thấy vị ấy có thể tố cáo về một trong hai tội: hoặc là tội Tăng Tàn, hoặc là tội Ưng Đối Trị. Vị tỳ khưu trong khi thừa nhận việc ngồi nên được xử trị về một trong hai tội: hoặc là tội Tăng Tàn, hoặc là tội Ưng Đối Trị. Hoặc vị nữ cận sự có lời nói đáng tin cậy ấy tố cáo tội nào thì vị tỳ khưu ấy nên được xử trị theo tội ấy. Pháp này cũng là Bất Định.”
- Na heva kho pana paṭicchannaṁ āsanaṁ hotīti
- appaṭicchannaṁ hoti kuṭṭena vā kavāṭena vā kilañjena vā sāṇipākārena vā rukkhena vā thambhena vā kotthaḷiyā vā yena kenaci appaṭicchannaṁ hoti.
- Although a seat is not concealed:
- it is not concealed by a wall, a screen, a door, a cloth screen, a tree, a pillar, a grain container, or anything else.
454. ‘Chỗ ngồi lại không phải là nơi che khuất’ có nghĩa là không được che khuất bởi tường, hoặc bởi cánh cửa, hoặc bởi tấm chiếu, hoặc bởi bức màn vải, hoặc bởi cây, hoặc bởi cột, hoặc bởi bao tải, hoặc bởi bất cứ vật gì; (tức là) không được che khuất.
‘Không thích hợp cho việc hành dâm’ có nghĩa là không thể thực hành việc dâm dục.
‘Nhưng lại đủ để nói những lời thô tục với người nữ’ có nghĩa là có thể nói những lời thô tục với người nữ.
‘Vị nào’ có nghĩa là vị nào, bất luận loại nào ...v.v... ‘Tỳ khưu’ có nghĩa là ...v.v... vị tỳ khưu được đề cập trong trường hợp này được hiểu là ‘tỳ khưu.’
‘Tại một chỗ ngồi như vậy’ có nghĩa là tại một chỗ ngồi loại như thế.
‘Người nữ’ là người phụ nữ thuộc loài người, không phải là dạ-xoa nữ, không phải là ngạ quỷ nữ, không phải là con vật cái; là người có trí, có khả năng hiểu được lời nói tốt và lời nói xấu, lời nói thô tục và lời nói không thô tục.
‘Một mình (nam) với một mình (nữ)’ có nghĩa là chỉ có vị tỳ khưu và người nữ.
‘Nơi kín đáo’ là nơi khuất tầm mắt, khuất tầm tai. ‘Nơi khuất tầm mắt’ là nơi không thể nhìn thấy được (người khác) nháy mắt, hoặc nhướng mày, hoặc gật đầu. ‘Nơi khuất tầm tai’ là nơi không thể nghe được lời nói chuyện thông thường.
‘Ngồi’ có nghĩa là khi người nữ đang ngồi, vị tỳ khưu ngồi gần hoặc nằm gần. Khi vị tỳ khưu đang ngồi, người nữ ngồi gần hoặc nằm gần. Hoặc cả hai cùng ngồi, hoặc cả hai cùng nằm.
‘Có lời nói đáng tin cậy’ là người đã đạt được quả vị, đã thấu triệt (chân lý), đã hiểu rõ giáo pháp.
‘Nữ cận sự’ là người đã quy y Phật, đã quy y Pháp, đã quy y Tăng.
Vị ấy nên nói đến một trong hai tội, hoặc là tội tăng tàn, hoặc là tội ưng đối trị. Vị tỳ khưu trong khi thừa nhận việc ngồi nên bị xử đoán theo một trong hai tội, hoặc là tội tăng tàn, hoặc là tội ưng đối trị. Hoặc là vị nữ cận sự có lời nói đáng tin cậy ấy đã nói đến tội nào thì vị tỳ khưu ấy nên bị xử đoán theo tội ấy.
Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyo mayā diṭṭho nisinno mātugāmena saddhiṁ kāyasaṁsaggaṁ samāpajjanto”ti, so ca taṁ paṭijānāti, āpattiyā kāretabbo. Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyo mayā diṭṭho nisinno mātugāmena saddhiṁ kāyasaṁsaggaṁ samāpajjanto”ti, so ce evaṁ vadeyya—“saccāhaṁ nisinno, no ca kho kāyasaṁsaggaṁ samāpajjin”ti, nisajjāya kāretabbo …pe… “nāhaṁ nisinno, api ca kho nipanno”ti, nipajjāya kāretabbo …pe… “nāhaṁ nisinno, api ca kho ṭhito”ti, na kāretabbo.
If she accuses him like this: “I’ve seen you seated, making physical contact with a woman,” and he admits to that, then he is to be dealt with for the offense. If she accuses him like this: “I’ve seen you seated, making physical contact with a woman,” but he says, “It’s true that I was seated, but I didn’t make physical contact,” then he is to be dealt with for the sitting. … “I wasn’t seated, but lying down,” then he is to be dealt with for the lying down. … “I wasn’t seated, but standing,” then he is not to be dealt with.
455. Nếu vị ấy nói như vầy: ‘Bạch ngài, con đã thấy ngài ngồi cùng với người nữ đang có sự thân thể giao tiếp,’ và vị kia thừa nhận điều ấy thì nên bị xử đoán theo tội. Nếu vị ấy nói như vầy: ‘Bạch ngài, con đã thấy ngài ngồi cùng với người nữ đang có sự thân thể giao tiếp,’ nếu vị kia nói như vầy: ‘Sự thật là tôi có ngồi, nhưng không có sự thân thể giao tiếp,’ thì nên bị xử đoán theo việc ngồi ... cho đến ... ‘Tôi đã không ngồi, nhưng thật ra là đã nằm,’ thì nên bị xử đoán theo việc nằm ... cho đến ... ‘Tôi đã không ngồi, nhưng thật ra là đã đứng,’ thì không nên bị xử đoán.
Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyo mayā diṭṭho nipanno mātugāmena saddhiṁ kāyasaṁsaggaṁ samāpajjanto”ti, so ca taṁ paṭijānāti, āpattiyā kāretabbo …pe… “saccāhaṁ nipanno, no ca kho kāyasaṁsaggaṁ samāpajjin”ti, nipajjāya kāretabbo …pe… “nāhaṁ nipanno, api ca kho nisinno”ti, nisajjāya kāretabbo …pe… “nāhaṁ nipanno, api ca kho ṭhito”ti, na kāretabbo.
If she accuses him like this: “I’ve seen you lying down, making physical contact with a woman,” and he admits to that, then he is to be dealt with for the offense. … “It’s true that I was lying down, but I didn’t make physical contact,” then he is to be dealt with for the lying down. … “I wasn’t lying down, but seated,” then he is to be dealt with for the sitting. … “I wasn’t seated, but standing,” then he is not to be dealt with.
Nếu vị ấy nói như vầy: ‘Bạch ngài, con đã thấy ngài nằm cùng với người nữ đang có sự thân thể giao tiếp,’ và vị kia thừa nhận điều ấy thì nên bị xử đoán theo tội ... cho đến ... ‘Sự thật là tôi có nằm, nhưng không có sự thân thể giao tiếp,’ thì nên bị xử đoán theo việc nằm ... cho đến ... ‘Tôi đã không nằm, nhưng thật ra là đã ngồi,’ thì nên bị xử đoán theo việc ngồi ... cho đến ... ‘Tôi đã không nằm, nhưng thật ra là đã đứng,’ thì không nên bị xử đoán.
Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyassa mayā sutaṁ nisinnassa mātugāmaṁ duṭṭhullāhi vācāhi obhāsantassā”ti, so ca taṁ paṭijānāti, āpattiyā kāretabbo. Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyassa mayā sutaṁ nisinnassa mātugāmaṁ duṭṭhullāhi vācāhi obhāsantassā”ti, so ce evaṁ vadeyya—“saccāhaṁ nisinno, no ca kho duṭṭhullāhi vācāhi obhāsin”ti, nisajjāya kāretabbo …pe… “nāhaṁ nisinno, api ca kho nipanno”ti, nipajjāya kāretabbo …pe… “nāhaṁ nisinno, api ca kho ṭhito”ti, na kāretabbo.
If she accuses him like this: “I’ve heard you speaking indecently to a woman while seated,” and he admits to that, then he is to be dealt with for the offense. If she accuses him like this: “I’ve heard you speaking indecently to a woman while seated,” but he says, “It’s true that I was seated, but I didn’t speak indecently,” then he is to be dealt with for the sitting. … “I wasn’t seated, but lying down,” then he is to be dealt with for the lying down. … “I wasn’t seated, but standing,” then he is not to be dealt with.
Nếu vị ấy nói như vầy: ‘Bạch ngài, con đã nghe lời của ngài trong khi ngồi đang nói những lời thô tục với người nữ,’ và vị kia thừa nhận điều ấy thì nên bị xử đoán theo tội. Nếu vị ấy nói như vầy: ‘Bạch ngài, con đã nghe lời của ngài trong khi ngồi đang nói những lời thô tục với người nữ,’ nếu vị kia nói như vầy: ‘Sự thật là tôi có ngồi, nhưng không có nói những lời thô tục,’ thì nên bị xử đoán theo việc ngồi ... cho đến ... ‘Tôi đã không ngồi, nhưng thật ra là đã nằm,’ thì nên bị xử đoán theo việc nằm ... cho đến ... ‘Tôi đã không ngồi, nhưng thật ra là đã đứng,’ thì không nên bị xử đoán.
Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyassa mayā sutaṁ nipannassa mātugāmaṁ duṭṭhullāhi vācāhi obhāsantassā”ti, so ca taṁ paṭijānāti, āpattiyā kāretabbo …pe… saccāhaṁ nipanno, no ca kho duṭṭhullāhi vācāhi obhāsinti, nipajjāya kāretabbo …pe… “nāhaṁ nipanno, api ca kho nisinno”ti, nisajjāya kāretabbo …pe… “nāhaṁ nipanno, api ca kho ṭhito”ti, na kāretabbo.
If she accuses him like this: “I’ve heard you speaking indecently to a woman while lying down,” and he admits to that, then he is to be dealt with for the offense. … “It’s true that I was lying down, but I didn’t speak indecently,” then he is to be dealt with for the lying down. … “I wasn’t lying down, but seated,” then he is to be dealt with for the sitting. … “I wasn’t lying down, but standing,” then he is not to be dealt with.
Nếu vị ấy nói như vầy: ‘Bạch ngài, con đã nghe lời của ngài trong khi nằm đang nói những lời thô tục với người nữ,’ và vị kia thừa nhận điều ấy thì nên bị xử đoán theo tội ... cho đến ... ‘Sự thật là tôi có nằm, nhưng không có nói những lời thô tục,’ thì nên bị xử đoán theo việc nằm ... cho đến ... ‘Tôi đã không nằm, nhưng thật ra là đã ngồi,’ thì nên bị xử đoán theo việc ngồi ... cho đến ... ‘Tôi đã không nằm, nhưng thật ra là đã đứng,’ thì không nên bị xử đoán.
Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyo mayā diṭṭho mātugāmena saddhiṁ eko ekāya raho nisinno”ti, so ca taṁ paṭijānāti, nisajjāya kāretabbo …pe… “nāhaṁ nisinno, api ca kho nipanno”ti, nipajjāya kāretabbo …pe… “nāhaṁ nisinno, api ca kho ṭhito”ti, na kāretabbo.
If she accuses him like this: “I’ve seen you seated in private alone with a woman,” and he admits to that, then he is to be dealt with for the sitting. … “I wasn’t seated, but lying down,” then he is to be dealt with for the lying down. … “I wasn’t seated, but standing,” then he is not to be dealt with.
456. Nếu vị ấy nói như vầy: ‘Bạch ngài, con đã thấy ngài ngồi một mình với một người nữ ở nơi kín đáo,’ và vị kia thừa nhận điều ấy thì nên bị xử đoán theo việc ngồi ... cho đến ... ‘Tôi đã không ngồi, nhưng thật ra là đã nằm,’ thì nên bị xử đoán theo việc nằm ... cho đến ... ‘Tôi đã không ngồi, nhưng thật ra là đã đứng,’ thì không nên bị xử đoán.
Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyo mayā diṭṭho mātugāmena saddhiṁ eko ekāya raho nipanno”ti, so ca taṁ paṭijānāti, nipajjāya kāretabbo …pe… nāhaṁ nipanno, api ca kho nisinnoti, nisajjāya kāretabbo …pe… nāhaṁ nipanno, api ca kho ṭhitoti, na kāretabbo.
If she accuses him like this: “I’ve seen you lying down in private alone with a woman,” and he admits to that, then he is to be dealt with for the lying down. … “I wasn’t lying down, but seated,” then he is to be dealt with for the sitting. … “I wasn’t lying down, but standing,” then he is not to be dealt with.
Nếu vị ấy nói như vầy: ‘Bạch ngài, con đã thấy ngài nằm một mình với một người nữ ở nơi kín đáo,’ và vị kia thừa nhận điều ấy thì nên bị xử đoán theo việc nằm ... cho đến ... ‘Tôi đã không nằm, nhưng thật ra là đã ngồi,’ thì nên bị xử đoán theo việc ngồi ... cho đến ... ‘Tôi đã không nằm, nhưng thật ra là đã đứng,’ thì không nên bị xử đoán.
Câu ‘Và điều này’ được nói ra là dựa vào điều trước.
Permutations
Bất định có nghĩa là không được xác định, hoặc là tội tăng tàn, hoặc là tội ưng đối trị.
Gamanaṁ paṭijānāti nisajjaṁ paṭijānāti āpattiṁ paṭijānāti, āpattiyā kāretabbo. Gamanaṁ paṭijānāti nisajjaṁ na paṭijānāti āpattiṁ paṭijānāti, āpattiyā kāretabbo. Gamanaṁ paṭijānāti nisajjaṁ paṭijānāti āpattiṁ na paṭijānāti, nisajjāya kāretabbo. Gamanaṁ paṭijānāti nisajjaṁ na paṭijānāti āpattiṁ na paṭijānāti, na kāretabbo.
If he admits to going, and he admits to sitting, and he admits to an offense, he is to be dealt with for the offense. If he admits to going, but he does not admit to sitting, yet he admits to an offense, he is to be dealt with for the offense. If he admits to going, and he admits to sitting, but he does not admit to an offense, he is to be dealt with for the sitting. If he admits to going, but he does not admit to sitting, nor does he admit to an offense, he is not to be dealt with.
457. Thừa nhận việc đi, thừa nhận việc ngồi, thừa nhận tội, nên bị xử đoán theo tội. Thừa nhận việc đi, không thừa nhận việc ngồi, thừa nhận tội, nên bị xử đoán theo tội. Thừa nhận việc đi, thừa nhận việc ngồi, không thừa nhận tội, nên bị xử đoán theo việc ngồi. Thừa nhận việc đi, không thừa nhận việc ngồi, không thừa nhận tội, không nên bị xử đoán.
Gamanaṁ na paṭijānāti nisajjaṁ paṭijānāti āpattiṁ paṭijānāti, āpattiyā kāretabbo. Gamanaṁ na paṭijānāti nisajjaṁ na paṭijānāti āpattiṁ paṭijānāti, āpattiyā kāretabbo. Gamanaṁ na paṭijānāti nisajjaṁ paṭijānāti āpattiṁ na paṭijānāti, nisajjāya kāretabbo. Gamanaṁ na paṭijānāti nisajjaṁ na paṭijānāti āpattiṁ na paṭijānāti, na kāretabboti.
If he does not admit to going, but he admits to sitting, and he admits to an offense, he is to be dealt with for the offense. If he does not admit to going, nor does he admit to sitting, but he admits to an offense, he is to be dealt with for the offense. If he does not admit to going, but he admits to sitting, yet he does not admit to an offense, he is to be dealt with for the sitting. If he does not admit to going, nor does he admit to sitting, nor does he admit to an offense, he is not to be dealt with.
Không thừa nhận việc đi, thừa nhận việc ngồi, thừa nhận tội, nên bị xử đoán theo tội. Không thừa nhận việc đi, không thừa nhận việc ngồi, thừa nhận tội, nên bị xử đoán theo tội. Không thừa nhận việc đi, thừa nhận việc ngồi, không thừa nhận tội, nên bị xử đoán theo việc ngồi. Không thừa nhận việc đi, không thừa nhận việc ngồi, không thừa nhận tội, không nên bị xử đoán.
Dutiyo aniyato niṭṭhito.
The second undetermined offense on sitting alone with a woman is finished.
Pháp bất định thứ nhì đã chấm dứt.
Uddiṭṭhā kho āyasmanto dve aniyatā dhammā. Tatthāyasmante pucchāmi—“kaccittha parisuddhā”? Dutiyampi pucchāmi—“kaccittha parisuddhā”? Tatiyampi pucchāmi—“kaccittha parisuddhā”? Parisuddhetthāyasmanto; tasmā tuṇhī, evametaṁ dhārayāmīti.
Tassuddānaṁ
“Venerables, the two undetermined rules have been recited. In regard to this I ask you, ‘Are you pure in this?’ A second time I ask, ‘Are you pure in this?’ A third time I ask, ‘Are you pure in this?’ You are pure in this and therefore silent. I will remember it thus.”
This is the summary:
458. Thưa các ngài, hai pháp bất định đã được tôi đọc lên. Về các pháp ấy, tôi xin hỏi các ngài: ‘Có phải các ngài được trong sạch trong các pháp ấy không?’ Lần thứ nhì, tôi cũng xin hỏi: ‘Có phải các ngài được trong sạch trong các pháp ấy không?’ Lần thứ ba, tôi cũng xin hỏi: ‘Có phải các ngài được trong sạch trong các pháp ấy không?’ Các ngài được trong sạch trong các pháp ấy, vì vậy nên im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như thế.
Alaṁ kammaniyañceva, tatheva ca naheva kho; Aniyatā supaññattā, buddhaseṭṭhena tādināti.
Aniyatakaṇḍaṁ niṭṭhitaṁ.
“Suitable for the deed, And then not so—The undetermined offenses have been well laid down, By the Stable One, the Buddha who is the best.”
The chapter on undetermined offenses is finished.
Trường hợp có thể thực hiện được, và cũng tương tự như thế, trường hợp không thể thực hiện được; các pháp bất định đã được khéo quy định bởi bậc Tối Thắng Giác Ngộ, bậc như thế.