- Theravāda Vinaya
- Mahāvibhaṅga
- Aniyatakaṇḍa
Bản dịch
Bu Vb Ay 1 — Điều học aniyata thứ nhất
1. Paṭhamaaniyatasikkhāpada
Bạch chư đại đức, hai điều aniyata này được đưa ra đọc tụng.
Inda-bh 1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthī, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi là vị thường tới lui với các gia đình và đi đến nhiều gia đình ở thành Sāvatthī. Vào lúc bấy giờ, người con gái của gia đình hộ độ đại đức Udāyi đã được gả cho người con trai của gia đình nọ. Khi ấy vào buổi sáng, đại đức Udāyi đã mặc y, cầm y bát, đi đến gia đình ấy, sau khi đến đã hỏi mọi người rằng:—“Cô gái tên (như vầy) ở đâu?”—“Thưa ngài, cô ấy đã được gả cho người con trai của gia đình kia rồi.
Inda-bh 2Và gia đình ấy cũng là người hộ độ cho đại đức Udāyi. Sau đó, đại đức Udāyi đã đi đến gia đình ấy, sau khi đến đã hỏi mọi người rằng:—“Cô gái tên (như vầy) ở đâu?—“Thưa ngài, cô ấy ngồi ở phòng trong. Khi ấy, đại đức Udāyi đã đi đến gặp người con gái ấy, sau khi đến đã cùng với người con gái ấy, một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động, tùy lúc thì tâm sự, tùy lúc thì nói Pháp.
Inda-bh 3Vào lúc bấy giờ, bà Visākhā mẹ của Migāra có nhiều con trai, có nhiều cháu trai, có các con trai không bệnh tật, có các cháu trai không bệnh tật, được xem là điều đại kiết tường. Trong những dịp tế lễ, hội hè, đình đám, dân chúng thường ưu tiên mời bà Visākhā mẹ của Migāra dự tiệc. Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra được thỉnh mời nên đã đi đến gia đình ấy. Rồi bà Visākhā mẹ của Migāra đã nhìn thấy đại đức Udāyi cùng với người con gái ấy, một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động, sau khi nhìn thấy đã nói với đại đức Udāyi điều này:—“Thưa ngài, điều này là không thích hợp, là không đúng đắn. Là việc ngài đại đức cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động. Thưa ngài, mặc dầu ngài đại đức không có ước muốn gì đến chuyện ấy, tuy nhiên những người không có niềm tin thì khó mà thuyết phục lắm.”
Inda-bh 4Tuy được bà Visākhā mẹ của Migāra nói như thế, đại đức Udāyi đã không lưu tâm đến. Sau đó, bà Visākhā mẹ của Migāra đã ra về và đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Vì sao đại đức Udāyi lại cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động?”
Inda-bh 5Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. “Này Udāyi, nghe nói ngươi cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu nào cùng với người nữ, một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động, có nữ cư sĩ có lời nói đáng tin cậy sau khi thấy rồi tố cáo vị ấy với một tội nào đó trong ba tội: hoặc là với tội pārājika, hoặc là với tội saṅghādisesa, hoặc là với tội pācittiya. (Nếu) vị tỳ khưu thú nhận việc ngồi thì nên được hành xử với một tội nào đó trong ba tội: hoặc là với tội pārājika, hoặc là với tội saṅghādisesa, hoặc là với tội pācittiya; hoặc là nữ cư sĩ có lời nói đáng tin cậy ấy tố cáo với tội nào thì nên hành xử vị tỳ khưu ấy theo tội ấy. Đây là điều aniyata.”
Inda-bh 6Vị nào: là bất cứ vị nào … (như trên) …
Tỳ khưu … nt … Vị này là ‘vị tỳ khưu’ được đề cập trong ý nghĩa này.
Người nữ nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ Dạ-xoa, không phải ma nữ, không phải loài thú cái, ngay cả đứa bé gái mới sanh ngày hôm ấy cho đến bà lão.
Với: cùng chung.
Một nam một nữ: chỉ có vị tỳ khưu và người nữ.
Kín đáo: nghĩa là kín đáo đối với mắt, kín đáo đối với tai. Kín đáo đối với mắt nghĩa là không thể nhìn thấy trong khi bị che mắt lại, trong khi nhướng mày, trong khi ngẩng đầu lên. Kín đáo đối với tai nghĩa là không thể nghe lời nói (với giọng) bình thường.
Chỗ ngồi được che khuất là không được che khuất bởi bức tường, hoặc bởi cánh cửa, hoặc bởi tấm màn, hoặc bởi tấm vách chắn, hoặc bởi cội cây, hoặc bởi cột nhà, hoặc bởi nhà kho, hoặc bởi bất cứ vật gì.
Thuận tiện cho hành động: là có thể thực hiện việc đôi lứa.
Ngồi: Khi người nữ đang ngồi thì vị tỳ khưu ngồi gần hoặc nằm gần, khi vị tỳ khưu đang ngồi thì người nữ ngồi gần hoặc nằm gần, hoặc cả hai đang ngồi, hoặc cả hai đang nằm.
Có lời nói đáng tin cậy nghĩa là người nữ đã chứng Thánh Quả, đã thông suốt Tứ Diệu Đế, đã hiểu rõ Tam Học: Giới, Định, Tuệ.
Nữ cư sĩ nghĩa là người nữ đã đi đến nương nhờ đức Phật, đã đi đến nương nhờ Giáo Pháp, đã đi đến nương nhờ Hội Chúng.
Sau khi thấy: sau khi đã nhìn thấy.
(Cô ấy) có thể tố cáo với một tội nào đó trong ba tội: hoặc là với tội pārājika, hoặc là với tội saṅghādisesa, hoặc là với tội pācittiya. (Nếu) vị tỳ khưu thú nhận việc ngồi thì nên được hành xử với một tội nào đó trong ba tội: hoặc là với tội pārājika, hoặc là với tội saṅghādisesa, hoặc là với tội pācittiya; hoặc là nữ cư sĩ có lời nói đáng tin cậy ấy tố cáo với tội nào thì nên hành xử vị tỳ khưu ấy theo tội ấy.
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã ngồi và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội vi phạm.
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã ngồi và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,” nếu vị ấy nói như vầy: “Sự thật là tôi đã ngồi nhưng tôi đã không thực hiện việc đôi lứa” thì nên hành xử theo việc ngồi.
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã ngồi và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,” nếu vị ấy nói như vầy: “Tôi đã không ngồi nhưng đã nằm” thì nên hành xử theo việc nằm.
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã ngồi và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,” nếu vị ấy nói như vầy: “Tôi đã không ngồi nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã nằm và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội vi phạm.
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã nằm và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,” nếu vị ấy nói như vầy: “Sự thật là tôi đã nằm nhưng tôi đã không thực hiện việc đôi lứa” thì nên hành xử theo việc nằm. … (như trên) … “Tôi đã không nằm nhưng đã ngồi” thì nên hành xử theo việc ngồi. … nt … “Tôi đã không nằm nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã ngồi và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với người nữ,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội vi phạm. … (như trên) … “Sự thật là tôi đã ngồi nhưng tôi đã không thực hiện việc xúc chạm cơ thể” thì nên hành xử theo việc ngồi. … (như trên) … “Tôi đã không ngồi nhưng đã nằm” thì nên hành xử theo việc nằm. … (như trên) … “Tôi đã không ngồi nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức đã nằm và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với người nữ,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội vi phạm. … (như trên) … “Sự thật là tôi đã nằm nhưng tôi đã không thực hiện việc xúc chạm cơ thể” thì nên hành xử theo việc nằm. … (như trên) … “Tôi đã không nằm nhưng đã ngồi” thì nên hành xử theo việc ngồi. … (như trên) … “Tôi đã không nằm nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức cùng với người nữ, một nam một nữ đã ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo việc ngồi. … (như trên) … “Tôi đã không ngồi nhưng đã nằm” thì nên hành xử theo việc nằm. … nt … “Tôi đã không ngồi nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức cùng với người nữ, một nam một nữ đã nằm xuống ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động,” và vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo việc nằm. … (như trên) … “Tôi đã không nằm nhưng đã ngồi” thì nên hành xử theo việc ngồi. … nt … “Tôi đã không nằm nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.
Tội aniyata: không chắc chắn là tội pārājika, hay là tội saṅghādisesa, hay là tội pācittiya.
Inda-bh 7Vị thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống, thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm. Vị thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống, thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm. Vị thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống, không thú nhận tội thì nên hành xử theo việc ngồi. Vị thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống, không thú nhận tội thì không nên hành xử.
Vị không thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống, thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm. Vị không thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống, thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm. Vị không thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống, không thú nhận tội thì nên hành xử theo việc ngồi. Vị không thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống, không thú nhận tội thì không nên hành xử.”
Dứt điềuhọc aniyata thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Great Analysis
- The chapter on undetermined offenses
3. Chương Bất Định
1. Paṭhamaaniyatasikkhāpada
1. Sitting with a woman in a concealed place
1. Điều học Bất Định thứ nhất
Ime kho panāyasmanto dve aniyatā dhammā uddesaṁ āgacchanti.
Venerables, these two undetermined rules come up for recitation.
Origin story
Thưa chư hiền, lại nữa, có hai pháp bất định này
Tena samayena buddho bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena āyasmā udāyī sāvatthiyaṁ kulūpako hoti, bahukāni kulāni upasaṅkamati. Tena kho pana samayena āyasmato udāyissa upaṭṭhākakulassa kumārikā aññatarassa kulassa kumārakassa dinnā hoti. Atha kho āyasmā udāyī pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena taṁ kulaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā manusse pucchi—“kahaṁ itthannāmā”ti? Te evamāhaṁsu—“dinnā, bhante, amukassa kulassa kumārakassā”ti. Tampi kho kulaṁ āyasmato udāyissa upaṭṭhākaṁ hoti. Atha kho āyasmā udāyī yena taṁ kulaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā manusse pucchi—“kahaṁ itthannāmā”ti? Te evamāhaṁsu—“esāyya, ovarake nisinnā”ti. Atha kho āyasmā udāyī yena sā kumārikā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tassā kumārikāya saddhiṁ eko ekāya raho paṭicchanne āsane alaṅkammaniye nisajjaṁ kappesi kālayuttaṁ samullapanto kālayuttaṁ dhammaṁ bhaṇanto.
At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Monastery. At that time Venerable Udāyī was associating with and visiting a number of families in Sāvatthī. On one occasion one of the families that supported him gave their daughter in marriage to the son of another family. Soon afterwards Venerable Udāyī robed up in the morning, took his bowl and robe, and went to the first of those families. When he arrived, he asked where the daughter was, and he was told that she had been given to another family. That family too supported Udāyī. He then went there and again asked where the girl was. They said, “She’s sitting in her room.” He went up to that girl, and the two of them sat down alone in private on a concealed seat suitable for the deed. When they were able, they chatted; otherwise he gave her a teaching.
443. Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika ở Jetavana. Khi ấy, trưởng lão Udāyī là người hay lui tới các gia đình ở Sāvatthī, ngài thường đến thăm nhiều gia đình. Vào lúc bấy giờ, con gái của một gia đình hộ độ cho trưởng lão Udāyī đã được gả cho con trai của một gia đình khác. Khi ấy, vào buổi sáng, trưởng lão Udāyī đắp y, mang bát và y, đi đến gia đình kia; đến nơi, ngài hỏi những người trong nhà: ‘Cô gái tên như vậy ở đâu?’ Họ thưa rằng: ‘Thưa ngài, cô ấy đã được gả cho con trai của gia đình nọ.’ Gia đình đó cũng là gia đình hộ độ cho trưởng lão Udāyī. Khi ấy, trưởng lão Udāyī đi đến gia đình đó; đến nơi, ngài hỏi những người trong nhà: ‘Cô gái tên như vậy ở đâu?’ Họ thưa rằng: ‘Thưa ngài, cô ấy đang ngồi trong phòng riêng.’ Khi ấy, trưởng lão Udāyī đi đến chỗ cô gái ấy; đến nơi, ngài đã ngồi cùng với cô gái ấy, một nam một nữ, ở nơi kín đáo, có che khuất, tại chỗ ngồi thích hợp cho việc hành dâm, nói chuyện hợp thời và thuyết pháp hợp thời.
Tena kho pana samayena visākhā migāramātā bahuputtā hoti bahunattā arogaputtā aroganattā abhimaṅgalasammatā. Manussā yaññesu chaṇesu ussavesu visākhaṁ migāramātaraṁ paṭhamaṁ bhojenti. Atha kho visākhā migāramātā nimantitā taṁ kulaṁ agamāsi. Addasā kho visākhā migāramātā āyasmantaṁ udāyiṁ tassā kumārikāya saddhiṁ ekaṁ ekāya raho paṭicchanne āsane alaṅkammaniye nisinnaṁ. Disvāna āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca—“idaṁ, bhante, nacchannaṁ nappatirūpaṁ yaṁ ayyo mātugāmena saddhiṁ eko ekāya raho paṭicchanne āsane alaṅkammaniye nisajjaṁ kappeti. Kiñcāpi, bhante, ayyo anatthiko tena dhammena, api ca dussaddhāpayā appasannā manussā”ti. Evampi kho āyasmā udāyī visākhāya migāramātuyā vuccamāno nādiyi. Atha kho visākhā migāramātā nikkhamitvā bhikkhūnaṁ etamatthaṁ ārocesi. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma āyasmā udāyī mātugāmena saddhiṁ eko ekāya raho paṭicchanne āsane alaṅkammaniye nisajjaṁ kappessatī”ti.
Atha kho te bhikkhū āyasmantaṁ udāyiṁ anekapariyāyena vigarahitvā bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira tvaṁ, udāyi, mātugāmena saddhiṁ eko ekāya raho paṭicchanne āsane alaṅkammaniye nisajjaṁ kappesī”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma tvaṁ, moghapurisa, mātugāmena saddhiṁ eko ekāya raho paṭicchanne āsane alaṅkammaniye nisajjaṁ kappessasi. Netaṁ, moghapurisa, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… evañca pana, bhikkhave, imaṁ sikkhāpadaṁ uddiseyyātha—
At that time Visākhā Migāramātā had many healthy children and grandchildren. As a consequence, she was considered auspicious. At sacrifices, ceremonies, and celebrations people would feed Visākhā first. Just then she had been invited to that family that supported Udāyī. When she arrived, she saw him sitting alone with that girl, and she said to him, “Venerable, it’s not appropriate for you to sit down in private alone with a woman on a concealed seat suitable for the deed. You may not be aiming at that act, but it’s hard to convince people with little confidence.” But Udāyī did not listen. After leaving, Visākhā told the monks what had happened. The monks of few desires complained and criticized him, “How could Venerable Udāyī sit down in private alone with a woman on a concealed seat suitable for the deed?”
After rebuking Udāyī in many ways, they told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned Udāyī: “Is it true, Udāyī, that you did this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked him … “Foolish man, how could you do this? This will affect people’s confidence …” … “And, monks, this training rule should be recited like this:
Final ruling
Vào lúc bấy giờ, bà Visākhā Migāramātā có nhiều con, nhiều cháu, con cháu khỏe mạnh, và được xem là người mang lại đại điềm lành. Trong các lễ tế, lễ hội, và các dịp lễ vui, người ta thường mời bà Visākhā Migāramātā dùng bữa trước tiên. Khi ấy, bà Visākhā Migāramātā được mời và đã đi đến gia đình đó. Bà Visākhā Migāramātā đã thấy trưởng lão Udāyī đang ngồi cùng với cô gái ấy, một nam một nữ, ở nơi kín đáo, khuất tầm mắt, trên chỗ ngồi thuận tiện cho việc hành dâm. Thấy vậy, bà nói với trưởng lão Udāyī điều này: ‘Thưa ngài, việc ngài ngồi cùng với một người nữ, một nam một nữ, ở nơi kín đáo, khuất tầm mắt, trên chỗ ngồi thuận tiện cho việc hành dâm, điều này không thích hợp, không tương xứng. Thưa ngài, dẫu cho ngài không có ý đồ gì về việc ấy, nhưng những người chưa có đức tin thì khó làm cho họ tin tưởng được.’ Dù được bà Visākhā Migāramātā nói như vậy, trưởng lão Udāyī vẫn không nghe theo. Khi ấy, bà Visākhā Migāramātā đi ra và trình báo sự việc ấy cho các tỳ-khưu. Những vị tỳ-khưu ít ham muốn... họ phàn nàn, chê bai, phao tin rằng: ‘Tại sao trưởng lão Udāyī lại có thể ngồi cùng với một người nữ, một nam một nữ, ở nơi kín đáo, khuất tầm mắt, trên chỗ ngồi thuận tiện cho việc hành dâm chứ!’ Khi ấy, các vị tỳ-khưu ấy sau khi khiển trách trưởng lão Udāyī bằng nhiều cách, đã trình báo sự việc ấy lên đức Thế Tôn... ‘Này Udāyī, có thật là ngươi đã ngồi cùng với một người nữ, một nam một nữ, ở nơi kín đáo, khuất tầm mắt, trên chỗ ngồi thuận tiện cho việc hành dâm không?’ ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách... ‘Này kẻ rỗng tuếch kia, tại sao ngươi lại có thể ngồi cùng với một người nữ, một nam một nữ, ở nơi kín đáo, khuất tầm mắt, trên chỗ ngồi thuận tiện cho việc hành dâm chứ! Này kẻ rỗng tuếch, việc này không làm cho những người chưa có đức tin phát sinh đức tin... Này các tỳ-khưu, các ngươi nên đọc tụng điều học này như sau:’
“Yo pana bhikkhu mātugāmena saddhiṁ eko ekāya raho paṭicchanne āsane alaṅkammaniye nisajjaṁ kappeyya, tamenaṁ saddheyyavacasā upāsikā disvā tiṇṇaṁ dhammānaṁ aññatarena vadeyya—pārājikena vā saṅghādisesena vā pācittiyena vā. Nisajjaṁ bhikkhu paṭijānamāno tiṇṇaṁ dhammānaṁ aññatarena kāretabbo—pārājikena vā saṅghādisesena vā pācittiyena vā. Yena vā sā saddheyyavacasā upāsikā vadeyya, tena so bhikkhu kāretabbo. Ayaṁ dhammo aniyato”ti.
- Yo panāti
- yo yādiso …pe…
- bhikkhūti
‘If a monk sits down in private alone with a woman on a concealed seat suitable for the deed, and a trustworthy female lay follower sees him and accuses him of an offense entailing expulsion, an offense entailing suspension, or an offense entailing confession, then, if he admits to the sitting, he is to be dealt with according to one of these three or according to what that trustworthy female lay follower has said. This rule is undetermined.’”
Definitions
- A:
- whoever …
- Monk:
444. ‘Vị tỳ khưu nào ngồi cùng với một người nữ, một nam một nữ, ở nơi kín đáo, có che khuất, tại chỗ ngồi thích hợp cho việc hành dâm, nếu một nữ cận sự có lời nói đáng tin cậy trông thấy và nói về một trong ba pháp: hoặc là tội Bất Cộng Trụ, hoặc là tội Tăng Tàng, hoặc là tội Ưng Đối Trị; vị tỳ khưu khi thừa nhận việc ngồi đó, phải được xử theo một trong ba pháp: hoặc là tội Bất Cộng Trụ, hoặc là tội Tăng Tàng, hoặc là tội Ưng Đối Trị. Hoặc nữ cận sự có lời nói đáng tin cậy ấy nói tội nào, thì vị tỳ khưu ấy phải được xử theo tội đó. Pháp này là pháp bất định.’
445. ‘Vị nào’ có nghĩa là bất cứ ai, bất cứ loại nào… (như trên)… ‘Tỳ khưu’ có nghĩa là… (như trên)… trong ý nghĩa này, ‘tỳ khưu’ được hiểu là vị đã thọ cụ túc giới.
Gọi là người nữ (mātugāma) là người nữ thuộc loài người, không phải là dạ-xoa nữ, không phải là ngạ quỷ nữ, không phải là loài bàng sanh cái. Tối thiểu là bé gái thậm chí mới sanh trong ngày hôm ấy, huống gì là người nữ lớn tuổi.
(Cụm từ) ‘một người với một người’ (eko ekāya) có nghĩa là có một vị tỳ-khưu và một người nữ.
Gọi là nơi kín đáo là nơi kín đáo đối với mắt, nơi kín đáo đối với tai. Gọi là nơi kín đáo đối với mắt là nơi không thể thấy được khi người kia nháy mắt, hoặc nhướng mày, hoặc gật đầu. Gọi là nơi kín đáo đối với tai là nơi không thể nghe được lời nói thông thường.
Gọi là chỗ ngồi được che khuất là nơi được che khuất bởi vách tường, hoặc bởi cánh cửa, hoặc bởi tấm chiếu, hoặc bởi bức màn vải, hoặc bởi cây cối, hoặc bởi cột trụ, hoặc bởi bao lớn, hoặc bởi bất cứ vật gì.
(Cụm từ) ‘thích hợp để thực hiện’ (alaṃkammaniya) có nghĩa là có thể thực hành dâm pháp.
(Cụm từ) ‘thực hiện việc ngồi’ (nisajjaṃ kappeyya) có nghĩa là: khi người nữ đang ngồi, vị tỳ-khưu hoặc ngồi gần hoặc nằm gần; khi vị tỳ-khưu đang ngồi, người nữ hoặc ngồi gần hoặc nằm gần; hoặc cả hai cùng ngồi, hoặc cả hai cùng nằm.
Gọi là người có lời nói đáng tin cậy là người đã đạt được Thánh quả, đã thấu triệt (chân lý), đã hiểu rõ giáo pháp.
Gọi là nữ cận sự là người đã quy y Phật, đã quy y Pháp, đã quy y Tăng.
Vị ấy nên nói ra một trong ba tội: hoặc là tội Pārājika, hoặc là tội Saṅghādisesa, hoặc là tội Pācittiya. Vị tỳ-khưu trong khi thú nhận việc ngồi nên bị xử trị bằng một trong ba tội: hoặc là tội Pārājika, hoặc là tội Saṅghādisesa, hoặc là tội Pācittiya. Hoặc vị nữ cận sự có lời nói đáng tin cậy ấy nói tội nào thì vị tỳ-khưu ấy nên bị xử trị bằng tội ấy.
Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyo mayā diṭṭho nisinno mātugāmassa methunaṁ dhammaṁ paṭisevanto”ti, so ca taṁ paṭijānāti, āpattiyā kāretabbo. Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyo mayā diṭṭho nisinno mātugāmassa methunaṁ dhammaṁ paṭisevanto”ti, so ce evaṁ vadeyya—“saccāhaṁ nisinno, no ca kho methunaṁ dhammaṁ paṭisevin”ti, nisajjāya kāretabbo. Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyo mayā diṭṭho nisinno mātugāmassa methunaṁ dhammaṁ paṭisevanto”ti, so ce evaṁ vadeyya—“nāhaṁ nisinno, api ca kho nipanno”ti, nipajjāya kāretabbo. Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyo mayā diṭṭho nisinno mātugāmassa methunaṁ dhammaṁ paṭisevanto”ti, so ce evaṁ vadeyya—“nāhaṁ nisinno, api ca kho ṭhito”ti, na kāretabbo.
If she accuses him like this: “I’ve seen you seated, having sexual intercourse with a woman,” and he admits to that, then he is to be dealt with for the offense. If she accuses him like this: “I’ve seen you seated, having sexual intercourse with a woman,” but he says, “It’s true that I was seated, but I didn’t have sexual intercourse,” then he is to be dealt with for the sitting. If she accuses him like this: “I’ve seen you seated, having sexual intercourse with a woman,” but he says, “I wasn’t seated, but lying down,” then he is to be dealt with for the lying down. If she accuses him like this: “I’ve seen you seated, having sexual intercourse with a woman,” but he says, “I wasn’t seated, but standing,” then he is not to be dealt with.
446. Nếu vị ấy nói như vầy: “Bạch ngài, con đã thấy ngài đang ngồi thực hành dâm pháp với người nữ,” và vị kia cũng thú nhận điều ấy thì nên bị xử trị theo tội đã phạm. Nếu vị ấy nói như vầy: “Bạch ngài, con đã thấy ngài đang ngồi thực hành dâm pháp với người nữ,” và nếu vị kia nói như vầy: “Sự thật là tôi có ngồi, nhưng tôi đã không thực hành dâm pháp,” thì nên bị xử trị về việc ngồi. Nếu vị ấy nói như vầy: “Bạch ngài, con đã thấy ngài đang ngồi thực hành dâm pháp với người nữ,” và nếu vị kia nói như vầy: “Tôi đã không ngồi, nhưng thật ra là đã nằm,” thì nên bị xử trị về việc nằm. Nếu vị ấy nói như vầy: “Bạch ngài, con đã thấy ngài đang ngồi thực hành dâm pháp với người nữ,” và nếu vị kia nói như vầy: “Tôi đã không ngồi, nhưng thật ra là đã đứng,” thì không nên bị xử trị.
Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyo mayā diṭṭho nipanno mātugāmassa methunaṁ dhammaṁ paṭisevanto”ti, so ca taṁ paṭijānāti, āpattiyā kāretabbo. Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyo mayā diṭṭho nipanno mātugāmassa methunaṁ dhammaṁ paṭisevanto”ti, so ce evaṁ vadeyya—“saccāhaṁ nipanno, no ca kho methunaṁ dhammaṁ paṭisevin”ti, nipajjāya kāretabbo. Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyo mayā diṭṭho nipanno mātugāmassa methunaṁ dhammaṁ paṭisevanto”ti, so ce evaṁ vadeyya—“nāhaṁ nipanno, api ca kho nisinno”ti, nisajjāya kāretabbo. Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyo mayā diṭṭho nipanno mātugāmassa methunaṁ dhammaṁ paṭisevanto”ti, so ce evaṁ vadeyya—“nāhaṁ nipanno, api ca kho ṭhito”ti, na kāretabbo.
If she accuses him like this: “I’ve seen you lying down, having sexual intercourse with a woman,” and he admits to that, then he is to be dealt with for the offense. If she accuses him like this: “I’ve seen you lying down, having sexual intercourse with a woman,” but he says, “It’s true that I was lying down, but I didn’t have sexual intercourse,” then he is to be dealt with for the lying down. If she accuses him like this: “I’ve seen you lying down, having sexual intercourse with a woman,” but he says, “I wasn’t lying down, but seated,” then he is to be dealt with for the sitting. If she accuses him like this: “I’ve seen you lying down, having sexual intercourse with a woman,” but he says, “I wasn’t lying down, but standing,” then he is not to be dealt with.
447. Nếu vị ấy nói như vầy: “Bạch ngài, con đã thấy ngài đang nằm thực hành dâm pháp với người nữ,” và vị kia cũng thú nhận điều ấy thì nên bị xử trị theo tội đã phạm. Nếu vị ấy nói như vầy: “Bạch ngài, con đã thấy ngài đang nằm thực hành dâm pháp với người nữ,” và nếu vị kia nói như vầy: “Sự thật là tôi có nằm, nhưng tôi đã không thực hành dâm pháp,” thì nên bị xử trị về việc nằm. Nếu vị ấy nói như vầy: “Bạch ngài, con đã thấy ngài đang nằm thực hành dâm pháp với người nữ,” và nếu vị kia nói như vầy: “Tôi đã không nằm, nhưng thật ra là đã ngồi,” thì nên bị xử trị về việc ngồi. Nếu vị ấy nói như vầy: “Bạch ngài, con đã thấy ngài đang nằm thực hành dâm pháp với người nữ,” và nếu vị kia nói như vầy: “Tôi đã không nằm, nhưng thật ra là đã đứng,” thì không nên bị xử trị.
Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyo mayā diṭṭho nisinno mātugāmena saddhiṁ kāyasaṁsaggaṁ samāpajjanto”ti, so ca taṁ paṭijānāti, āpattiyā kāretabbo …pe… “saccāhaṁ nisinno no ca kho kāyasaṁsaggaṁ samāpajjin”ti, nisajjāya kāretabbo …pe… “nāhaṁ nisinno, api ca kho nipanno”ti, nipajjāya kāretabbo …pe… “nāhaṁ nisinno, api ca kho ṭhito”ti, na kāretabbo.
If she accuses him like this: “I’ve seen you seated, making physical contact with a woman,” and he admits to that, then he is to be dealt with for the offense. … “It’s true that I was seated, but I didn’t make physical contact,” then he is to be dealt with for the sitting. … “I wasn’t seated, but lying down,” then he is to be dealt with for the lying down. … “I wasn’t seated, but standing,” then he is not to be dealt with.
448. Nếu vị ấy nói như vầy: “Bạch ngài, con đã thấy ngài đang ngồi có sự tiếp xúc thân thể cùng với người nữ,” và vị kia cũng thú nhận điều ấy thì nên bị xử trị theo tội đã phạm. ... (v.v.) ... “Sự thật là tôi có ngồi, nhưng tôi đã không có sự tiếp xúc thân thể,” thì nên bị xử trị về việc ngồi. ... (v.v.) ... “Tôi đã không ngồi, nhưng thật ra là đã nằm,” thì nên bị xử trị về việc nằm. ... (v.v.) ... “Tôi đã không ngồi, nhưng thật ra là đã đứng,” thì không nên bị xử trị.
Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyo mayā diṭṭho nipanno mātugāmena saddhiṁ kāyasaṁsaggaṁ samāpajjanto”ti, so ca taṁ paṭijānāti, āpattiyā kāretabbo …pe… “saccāhaṁ nipanno, no ca kho kāyasaṁsaggaṁ samāpajjin”ti, nipajjāya kāretabbo …pe… “nāhaṁ nipanno, api ca kho nisinno”ti, nisajjāya kāretabbo …pe… “nāhaṁ nipanno, api ca kho ṭhito”ti, na kāretabbo.
If she accuses him like this: “I’ve seen you lying down, making physical contact with a woman,” and he admits to that, then he is to be dealt with for the offense. … “It’s true that I was lying down, but I didn’t make physical contact,” then he is to be dealt with for the lying down. … “I wasn’t lying down, but seated,” then he is to be dealt with for the sitting. … “I wasn’t lying down, but standing,” then he is not to be dealt with.
Nếu vị ấy nói như vầy: “Bạch ngài, con đã thấy ngài đang nằm có sự tiếp xúc thân thể cùng với người nữ,” và vị kia cũng thú nhận điều ấy thì nên bị xử trị theo tội đã phạm. ... (v.v.) ... “Sự thật là tôi có nằm, nhưng tôi đã không có sự tiếp xúc thân thể,” thì nên bị xử trị về việc nằm. ... (v.v.) ... “Tôi đã không nằm, nhưng thật ra là đã ngồi,” thì nên bị xử trị về việc ngồi. ... (v.v.) ... “Tôi đã không nằm, nhưng thật ra là đã đứng,” thì không nên bị xử trị.
Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyo mayā diṭṭho mātugāmena saddhiṁ eko ekāya raho paṭicchanne āsane alaṅkammaniye nisinno”ti, so ca taṁ paṭijānāti, nisajjāya kāretabbo …pe… “nāhaṁ nisinno, api ca kho nipanno”ti, nipajjāya kāretabbo …pe… “nāhaṁ nisinno, api ca kho ṭhito”ti, na kāretabbo.
If she accuses him like this: “I’ve seen you seated in private alone with a woman on a concealed seat suitable for the deed,” and he admits to that, then he is to be dealt with for the sitting. … “I wasn’t seated, but lying down,” then he is to be dealt with for the lying down. … “I wasn’t seated, but standing,” then he is not to be dealt with.
449. Nếu vị ấy nói như vầy: “Bạch ngài, con đã thấy ngài đang ngồi cùng với người nữ, một nam một nữ, ở nơi kín đáo, tại chỗ ngồi được che khuất, thích hợp để thực hiện (dâm sự),” và vị kia cũng thú nhận điều ấy thì nên bị xử trị về việc ngồi. ... (v.v.) ... “Tôi đã không ngồi, nhưng thật ra là đã nằm,” thì nên bị xử trị về việc nằm. ... (v.v.) ... “Tôi đã không ngồi, nhưng thật ra là đã đứng,” thì không nên bị xử trị.
Sā ce evaṁ vadeyya—“ayyo mayā diṭṭho mātugāmena saddhiṁ eko ekāya raho paṭicchanne āsane alaṅkammaniye nipanno”ti, so ca taṁ paṭijānāti, nipajjāya kāretabbo …pe… “nāhaṁ nipanno, api ca kho nisinno”ti, nisajjāya kāretabbo …pe… “nāhaṁ nipanno, api ca kho ṭhito”ti, na kāretabbo.
If she accuses him like this: “I’ve seen you lying down in private alone with a woman on a concealed seat suitable for the deed,” and he admits to that, then he is to be dealt with for the lying down. … “I wasn’t lying down, but seated,” then he is to be dealt with for the sitting. … “I wasn’t lying down, but standing,” then he is not to be dealt with.
450. Nếu vị ấy nói như vầy: “Bạch ngài, con đã thấy ngài đang nằm cùng với người nữ, một nam một nữ, ở nơi kín đáo, tại chỗ ngồi được che khuất, thích hợp để thực hiện (dâm sự),” và vị kia cũng thú nhận điều ấy thì nên bị xử trị về việc nằm. ... (v.v.) ... “Tôi đã không nằm, nhưng thật ra là đã ngồi,” thì nên bị xử trị về việc ngồi. ... (v.v.) ... “Tôi đã không nằm, nhưng thật ra là đã đứng,” thì không nên bị xử trị.
Permutations
(Pháp) Bất Định (Aniyata) có nghĩa là không được xác định: hoặc là tội Pārājika, hoặc là tội Saṅghādisesa, hoặc là tội Pācittiya.
Gamanaṁ paṭijānāti, nisajjaṁ paṭijānāti, āpattiṁ paṭijānāti, āpattiyā kāretabbo. Gamanaṁ paṭijānāti, nisajjaṁ na paṭijānāti, āpattiṁ paṭijānāti, āpattiyā kāretabbo. Gamanaṁ paṭijānāti, nisajjaṁ paṭijānāti, āpattiṁ na paṭijānāti, nisajjāya kāretabbo. Gamanaṁ paṭijānāti, nisajjaṁ na paṭijānāti, āpattiṁ na paṭijānāti, na kāretabbo.
If he admits to going, and he admits to sitting, and he admits to an offense, he is to be dealt with for the offense. If he admits to going, but he does not admit to sitting, yet he admits to an offense, he is to be dealt with for the offense. If he admits to going, and he admits to sitting, but he does not admit to an offense, he is to be dealt with for the sitting. If he admits to going, but he does not admit to sitting, nor does he admit to an offense, he is not to be dealt with.
451. Thừa nhận việc đi, thừa nhận việc ngồi, thừa nhận tội, nên được xử trị theo tội ấy. Thừa nhận việc đi, không thừa nhận việc ngồi, thừa nhận tội, nên được xử trị theo tội ấy. Thừa nhận việc đi, thừa nhận việc ngồi, không thừa nhận tội, nên được xử trị theo (tội) ngồi. Thừa nhận việc đi, không thừa nhận việc ngồi, không thừa nhận tội, không nên xử trị.
Gamanaṁ na paṭijānāti, nisajjaṁ paṭijānāti, āpattiṁ paṭijānāti, āpattiyā kāretabbo.
If he does not admit to going, but he admits to sitting, and he admits to an offense, he is to be dealt with for the offense.
Không thừa nhận việc đi, thừa nhận việc ngồi, thừa nhận tội, bởi tội ấy.
Nên được xử trị. Không thừa nhận việc đi, không thừa nhận việc ngồi, thừa nhận tội, nên được xử trị theo tội ấy. Không thừa nhận việc đi, thừa nhận việc ngồi, không thừa nhận tội, nên được xử trị theo (tội) ngồi. Không thừa nhận việc đi, không thừa nhận việc ngồi, không thừa nhận tội, không nên xử trị.
Paṭhamo aniyato niṭṭhito.
The first undetermined offense on sitting with a woman in a concealed place is finished.
Điều học Bất Định thứ nhất đã kết thúc.