- Theravāda Vinaya
- Mahāvibhaṅga
- Nissaggiyakaṇḍa
- Cīvaravagga
Bản dịch
Bu Vb Np 1 — Điều học thứ nhất về kaṭhina
1. Kathinasikkhāpada
Bạch chư đại đức, ba mươi điều nissaggiya pācittiya này được đưa ra đọc tụng.
Inda-bh 1Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Vesālī, ở tháp thờ Gotamaka. Vào lúc bấy giờ, ba y đã được đức Thế Tôn cho phép đến các tỳ khưu. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Ba y đã được đức Thế Tôn cho phép” nên đi vào làng với ba y nọ, mặc ở trong tu viện với ba y khác, và đi xuống tắm với ba y khác nữa. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:—“Tại sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại sử dụng y phụ trội?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. … (như trên) … “Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi sử dụng y phụ trội, có đúng không vậy?”—“Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:—“Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại sử dụng y phụ trội vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, … (như trên) … Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu nào sử dụng y phụ trội thì phạm tội nissaggiya pācittiya.”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[Sự quy định căn bản]
Inda-bh 2Vào lúc bấy giờ, có y phụ trội phát sanh đến đại đức Ānanda. Đại đức Ānanda có ý định dâng y ấy đến đại đức Sāriputta. Và đại đức Sāriputta cư ngụ ở Sāketa. Khi ấy, đại đức Ānanda đã khởi ý điều này: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định là: ‘Không được sử dụng y phụ trội’ và y phụ trội này đã được phát sanh đến ta. Và ta có ý định dâng y này đến đại đức Sāriputta mà đại đức Sāriputta cư ngụ ở Sāketa; vậy ta nên thực hành như thế nào?” Sau đó, đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này Ānanda, bao lâu nữa Sāriputta sẽ đi đến đây?”—“Bạch Thế Tôn, ngày thứ chín hoặc ngày thứ mười.” Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, Ta cho phép cất giữ y phụ trội tối đa mười ngày. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Khi vấn đề y đã được dứt điểm đối với vị tỳ khưu tức là khi Kaṭhina đã hết hiệu lực, y phụ trội được cất giữ tối đa mười ngày. Vượt quá hạn ấy thì (y ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya.”
[Sự quy định lần hai]
Inda-bh 3Khi vấn đề y đã được dứt điểm: Y của vị tỳ khưu đã được làm xong, hoặc là đã bị mất, hoặc là đã bị hư hỏng, hoặc là đã bị cháy, hoặc là niềm mong mỏi về y đã bị tan vỡ.
Khi Kaṭhina đã hết hiệu lực: là đã hết hiệu lực do bất cứ tiêu đề nào trong tám tiêu đề, hoặc là đã hết hiệu lực giữa chừng do hội chúng.7
Tối đa mười ngày: là được cất giữ nhiều nhất là mười ngày.
Y phụ trội nghĩa là chưa được chú nguyện để dùng riêng, chưa được chú nguyện để dùng chung.
Y nghĩa là bất cứ loại y nào thuộc về sáu loại y (có kích thước) tối thiểu cần phải chú nguyện để dùng chung.
Vượt quá hạn ấy thì (y ấy) nên được xả bỏ: Đến lúc hừng đông ngày thứ mười một thì phạm vào nissaggiya, (y ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: Vị tỳ khưu ấy nên đi đến hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:—“Bạch các ngài, y này của tôi đã quá hạn mười ngày cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ (y) này đến hội chúng.” Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm đủ năng lực, và y đã xả bỏ nên được cho lại:
“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Y này thuộc về vị tỳ khưu tên (như vầy) là vật phạm vào nissaggiya đã được xả bỏ đến hội chúng. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho lại y này đến vị tỳ khưu tên (như vầy).”
Inda-bh 4Vị tỳ khưu ấy nên đi đến nhiều vị tỳ khưu, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:—“Bạch các ngài, y này của tôi đã quá hạn mười ngày cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến các đại đức.” Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm đủ năng lực, và y đã xả bỏ nên được cho lại:
“Xin chư đại đức hãy lắng nghe tôi. Y này thuộc về vị tỳ khưu tên (như vầy) là vật phạm vào nissaggiya đã được xả bỏ đến chư đại đức. Nếu là thời điểm thích hợp cho chư đại đức, chư đại đức nên cho lại y này đến vị tỳ khưu tên (như vầy).”
Inda-bh 5Vị tỳ khưu ấy nên đi đến một vị tỳ khưu, đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:—“Bạch đại đức, y này của tôi đã quá hạn mười ngày cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ y này đến đại đức.” Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu ấy và y đã xả bỏ nên được cho lại: “Tôi cho lại đại đức y này.”
Inda-bh 6Khi quá hạn mười ngày, nhận biết là đã quá hạn, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi quá hạn mười ngày, có sự hoài nghi, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi quá hạn mười ngày, (lầm) tưởng là chưa quá hạn, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi chưa được chú nguyện để dùng riêng, (lầm) tưởng là đã được chú nguyện để dùng riêng, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi chưa được chú nguyện để dùng chung, (lầm) tưởng là đã được chú nguyện để dùng chung, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi chưa được phân phát, (lầm) tưởng là đã được phân phát, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi không bị mất trộm, (lầm) tưởng là đã bị mất trộm, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi không bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đã bị hư hỏng, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi không bị cháy, (lầm) tưởng là đã bị cháy, phạm tội nissaggiya pācittiya. Khi không bị cướp, (lầm) tưởng là đã bị cướp, phạm tội nissaggiya pācittiya. Y phạm vào nissaggiya, không xả bỏ rồi sử dụng, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa quá hạn mười ngày, (lầm) tưởng là đã quá hạn, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa quá hạn mười ngày, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa. Khi chưa quá hạn mười ngày, nhận biết là chưa quá hạn thì vô tội.
Inda-bh 7Trong thời hạn mười ngày, vị chú nguyện để dùng riêng, vị chú nguyện để dùng chung, vị phân phát, (y) bị mất trộm, (y) bị hư hỏng, (y) bị cháy, (những người khác) cướp rồi lấy đi, (các vị khác) lấy do sự thân thiết, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.”
Inda-bh 8Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư không cho lại y đã được xả bỏ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.—“Này các tỳ khưu, không nên không cho lại y đã được xả bỏ; vị nào không cho lại thì phạm tội dukkaṭa.”
Dứt điều học thứ nhất về kaṭhina.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Brahmali · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Theravāda Collection on Monastic Law
- The Great Analysis
- The chapter on relinquishment
- The subchapter on robes
4. Phẩm Ưng Xả Đối Trị
1. Kathinasikkhāpada
1. The training rule on keeping extra robe-cloth beyond ten days
1. Điều học Kaṭhina thứ nhất
Ime kho panāyasmanto tiṁsa nissaggiyā pācittiyā dhammā uddesaṁ āgacchanti.
Venerables, these thirty rules on relinquishment and confession come up for recitation.
Origin story
First sub-story
Thưa các ngài, đây là ba mươi pháp ưng xả đối trị
Tena samayena buddho bhagavā vesāliyaṁ viharati gotamake cetiye. Tena kho pana samayena bhagavatā bhikkhūnaṁ ticīvaraṁ anuññātaṁ hoti. Chabbaggiyā bhikkhū—“bhagavatā ticīvaraṁ anuññātan”ti aññeneva ticīvarena gāmaṁ pavisanti, aññena ticīvarena ārāme acchanti, aññena ticīvarena nahānaṁ otaranti. Ye te bhikkhū appicchā …pe… te ujjhāyanti khiyyanti vipācenti—“kathañhi nāma chabbaggiyā bhikkhū atirekacīvaraṁ dhāressantī”ti.
Atha kho te bhikkhū chabbaggiye bhikkhū anekapariyāyena vigarahitvā bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ …pe… “saccaṁ kira tumhe, bhikkhave, atirekacīvaraṁ dhārethā”ti?
“Saccaṁ, bhagavā”ti.
Vigarahi buddho bhagavā …pe… kathañhi nāma tumhe, moghapurisā, atirekacīvaraṁ dhāressatha. Netaṁ, moghapurisā, appasannānaṁ vā pasādāya …pe… evañca pana, bhikkhave, imaṁ sikkhāpadaṁ uddiseyyātha—
At one time when the Buddha was staying at Vesālī at the Gotamaka Shrine, he allowed the three robes for the monks. When they heard about this, the monks from the group of six went to the village in one set of three robes, stayed in the monastery in another set, and went to bathe in yet another set. The monks of few desires complained and criticized them, “How can the monks from the group of six keep extra robes?”
After rebuking those monks in many ways, they told the Buddha. Soon afterwards he had the Sangha gathered and questioned the monks: “Is it true, monks, that you do this?”
“It’s true, sir.”
The Buddha rebuked them … “Foolish men, how can you do this? This will affect people’s confidence …” … “And, monks, this training rule should be recited like this:
Preliminary ruling
459. Vào lúc bấy giờ, đức Phật, đức Thế Tôn ngự tại Vesālī, ở ngôi đền Gotamaka. Khi ấy, đức Thế Tôn đã cho phép các tỳ khưu (dùng) ba y. Nhóm sáu tỳ khưu nghĩ rằng: ‘Đức Thế Tôn đã cho phép (dùng) ba y,’ rồi họ mặc một bộ ba y khác để đi vào làng, ở trong tu viện với một bộ (ba y) khác, và đi xuống bến tắm với một bộ (ba y) khác. Các tỳ khưu thiểu dục ... phê phán, chê bai, chỉ trích rằng: ‘Tại sao nhóm sáu tỳ khưu lại có thể giữ y dư thừa chứ!’ Sau đó, các tỳ khưu ấy sau khi quở trách nhóm sáu tỳ khưu bằng nhiều cách đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn... (cho đến) ... ‘Này các tỳ khưu, có thật là các ngươi đã giữ y dư thừa không?’ ‘Bạch đức Thế Tôn, là sự thật.’ Đức Phật, đức Thế Tôn đã quở trách ... (cho đến) ... ‘Này các kẻ rồ dại kia, tại sao các ngươi lại giữ y dư thừa! Này các kẻ rồ dại, việc này không phải để làm cho những người chưa có đức tin được tin tưởng ... (cho đến) ... Và này các tỳ khưu, các ngươi nên trình bày điều học này như vầy:
“Yo pana bhikkhu atirekacīvaraṁ dhāreyya, nissaggiyaṁ pācittiyan”ti.
‘If a monk keeps an extra robe, he commits an offense entailing relinquishment and confession.’”
460. ‘Vị tỳ khưu nào giữ y dư thừa thì phạm tội Ưng Xả Đối Trị.’
Evañcidaṁ bhagavatā bhikkhūnaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ hoti.
In this way the Buddha laid down this training rule for the monks.
Second sub-story
Như vậy, điều học này đã được đức Thế Tôn chế định cho các tỳ khưu.
Tena kho pana samayena āyasmato ānandassa atirekacīvaraṁ uppannaṁ hoti. Āyasmā ca ānando taṁ cīvaraṁ āyasmato sāriputtassa dātukāmo hoti. Āyasmā ca sāriputto sākete viharati. Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi—“bhagavatā sikkhāpadaṁ paññattaṁ—‘na atirekacīvaraṁ dhāretabban’ti. Idañca me atirekacīvaraṁ uppannaṁ. Ahañcimaṁ cīvaraṁ āyasmato sāriputtassa dātukāmo. Āyasmā ca sāriputto sākete viharati. Kathaṁ nu kho mayā paṭipajjitabban”ti? Atha kho āyasmā ānando bhagavato etamatthaṁ ārocesi. “Kīvaciraṁ panānanda, sāriputto āgacchissatī”ti?
“Navamaṁ vā, bhagavā, divasaṁ dasamaṁ vā”ti.
Atha kho bhagavā etasmiṁ nidāne etasmiṁ pakaraṇe dhammiṁ kathaṁ katvā bhikkhū āmantesi—“anujānāmi, bhikkhave, dasāhaparamaṁ atirekacīvaraṁ dhāretuṁ. Evañca pana, bhikkhave, imaṁ sikkhāpadaṁ uddiseyyātha—
Soon afterwards Venerable Ānanda was offered an extra robe. He wanted to give it to Venerable Sāriputta who was staying at Sāketa. Knowing that the Buddha had laid down a rule against having extra robes, Ānanda thought, “What should I do now?” He told the Buddha, who said, “How long is it, Ānanda, before Sāriputta returns?”
“Nine or ten days.”
Soon afterwards the Buddha gave a teaching and addressed the monks: “Monks, you should keep an extra robe for ten days at the most. And so, monks, this training rule should be recited like this:
Final ruling
461. Vào lúc bấy giờ, một y dư thừa đã phát sanh đến Đại đức Ānanda. Và Đại đức Ānanda muốn dâng y ấy cho Đại đức Sāriputta. Và Đại đức Sāriputta đang ở tại Sāketa. Khi ấy, Đại đức Ānanda đã suy nghĩ như sau: ‘Đức Thế Tôn đã chế định điều học rằng: “Không được giữ y dư thừa.” Và y dư thừa này đã phát sanh đến ta. Ta lại muốn dâng y này cho Đại đức Sāriputta. Và Đại đức Sāriputta đang ở tại Sāketa. Ta nên thực hành như thế nào đây?’ Sau đó, Đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ‘Này Ānanda, bao lâu nữa thì Sāriputta sẽ trở về?’ ‘Bạch đức Thế Tôn, vào ngày thứ chín hoặc ngày thứ mười.’ Khi ấy, nhân sự việc này, nhân trường hợp này, đức Thế Tôn sau khi thuyết một bài pháp thoại đã gọi các tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu, Ta cho phép giữ y dư thừa tối đa là mười ngày. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên trình bày điều học này như vầy:
“Niṭṭhitacīvarasmiṁ bhikkhunā ubbhatasmiṁ kathine dasāhaparamaṁ atirekacīvaraṁ dhāretabbaṁ. Taṁ atikkāmayato nissaggiyaṁ pācittiyan”ti.
‘When his robe is finished and the robe season has ended, a monk should keep an extra robe for ten days at the most. If he keeps it longer than that, he commits an offense entailing relinquishment and confession.’”
Definitions
462. ‘Khi tỳ khưu đã làm y xong, khi kaṭhina đã được xả, y dư thừa được phép giữ tối đa là mười ngày. Vị nào để quá hạn ấy thì phạm tội Ưng Xả Đối Trị.’
- Niṭṭhitacīvarasminti
- bhikkhuno cīvaraṁ kataṁ vā hoti naṭṭhaṁ vā vinaṭṭhaṁ vā daḍḍhaṁ vā cīvarāsā vā upacchinnā.
- When his robe is finished:
- the monk has made a robe; or the robe-cloth has been lost, destroyed, or burned; or his expectation of receiving further robe-cloth is disappointed.
463. Đã làm y xong có nghĩa là y của tỳ khưu đã được làm xong, hoặc bị mất, hoặc bị hư hại, hoặc bị cháy, hoặc hy vọng về y đã bị cắt đứt.
Kaṭhina đã được xả có nghĩa là đã được xả theo một trong tám mātikā (đề mục), hoặc đã được Tăng chúng xả ở giữa chừng.
Tối đa là mười ngày có nghĩa là được phép giữ trong giới hạn tối đa là mười ngày.
Y dư thừa có nghĩa là y chưa được chú nguyện và chưa được xả.
Y có nghĩa là một trong sáu loại y, loại nhỏ nhất cũng phải đủ để làm vikappana.
Nissajjitabbaṁ saṅghassa vā gaṇassa vā puggalassa vā. Evañca pana, bhikkhave, nissajjitabbaṁ. Tena bhikkhunā saṅghaṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vuḍḍhānaṁ bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—
“idaṁ me, bhante, cīvaraṁ dasāhātikkantaṁ nissaggiyaṁ, imāhaṁ saṅghassa nissajjāmī”ti.
Nissajjitvā āpatti desetabbā. Byattena bhikkhunā paṭibalena āpatti paṭiggahetabbā. Nissaṭṭhacīvaraṁ dātabbaṁ—
The robe-cloth should be relinquished to a sangha, a group, or an individual. “And, monks, it should be relinquished like this. After approaching the Sangha, that monk should arrange his upper robe over one shoulder and pay respect at the feet of the senior monks. He should then squat on his heels, raise his joined palms, and say:
‘Venerables, this robe-cloth, which I have kept over ten days, is to be relinquished. I relinquish it to the Sangha.’”
After relinquishing it, he should confess the offense. The confession should be received by a competent and capable monk. The relinquished robe-cloth is then to be given back:
Vị nào để quá hạn ấy thì phạm tội Ưng Xả Đối Trị có nghĩa là vào lúc rạng đông của ngày thứ mười một, y ấy trở thành vật phải xả bỏ. Phải xả bỏ cho Tăng chúng, hoặc cho một nhóm, hoặc cho một cá nhân. Và này các tỳ khưu, phải xả bỏ như vầy: Tỳ khưu ấy nên đi đến Tăng chúng, vắt thượng y qua một bên vai, đảnh lễ chân các vị tỳ khưu trưởng lão, ngồi xổm, chắp tay và nói như vầy: ‘Bạch chư Đại đức, y này của con đã quá mười ngày, là vật phải xả bỏ. Con xin xả bỏ y này cho Tăng chúng.’ Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Một vị tỳ khưu có năng lực, có khả năng nên nhận sự sám hối tội. Y đã được xả bỏ nên được trao lại.
“Suṇātu me, bhante, saṅgho. Idaṁ cīvaraṁ itthannāmassa bhikkhuno nissaggiyaṁ saṅghassa nissaṭṭhaṁ. Yadi saṅghassa pattakallaṁ, saṅgho imaṁ cīvaraṁ itthannāmassa bhikkhuno dadeyyā”ti.
“Please, venerables, I ask the Sangha to listen. This robe-cloth, which was to be relinquished by monk so-and-so, has been relinquished to the Sangha. If the Sangha is ready, it should give this robe-cloth back to monk so-and-so.”
464. ‘Bạch chư Đại đức, xin Tăng chúng hãy nghe con. Y này của tỳ khưu tên là..., là vật phải xả bỏ, đã được xả cho Tăng chúng. Nếu Tăng chúng xét thấy đã đến lúc thích hợp, Tăng chúng hãy trao y này lại cho tỳ khưu tên là...’
Tena bhikkhunā sambahule bhikkhū upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vuḍḍhānaṁ bhikkhūnaṁ pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassu vacanīyā—
“idaṁ me, bhante, cīvaraṁ dasāhātikkantaṁ nissaggiyaṁ. Imāhaṁ āyasmantānaṁ nissajjāmī”ti.
Nissajjitvā āpatti desetabbā. Byattena bhikkhunā paṭibalena āpatti paṭiggahetabbā. Nissaṭṭhacīvaraṁ dātabbaṁ—
Or: after approaching several monks, that monk should arrange his upper robe over one shoulder and pay respect at the feet of the senior monks. He should then squat on his heels, raise his joined palms, and say:
“Venerables, this robe-cloth, which I have kept over ten days, is to be relinquished. I relinquish it to you.”
After relinquishing it, he should confess the offense. The confession should be received by a competent and capable monk. The relinquished robe-cloth is then to be given back:
465. Tỳ khưu ấy nên đi đến nhiều vị tỳ khưu, vắt thượng y qua một bên vai, đảnh lễ chân các vị tỳ khưu trưởng lão, ngồi xổm, chắp tay và nói như vầy: ‘Bạch chư Đại đức, y này của con đã quá mười ngày, là vật phải xả bỏ. Con xin xả bỏ y này cho chư Đại đức.’ Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Một vị tỳ khưu có năng lực, có khả năng nên nhận sự sám hối tội. Y đã được xả bỏ nên được trao lại.
“Suṇantu me āyasmantā. Idaṁ cīvaraṁ itthannāmassa bhikkhuno nissaggiyaṁ āyasmantānaṁ nissaṭṭhaṁ. Yadāyasmantānaṁ pattakallaṁ, āyasmantā imaṁ cīvaraṁ itthannāmassa bhikkhuno dadeyyun”ti.
“Please, venerables, I ask you to listen. This robe-cloth, which was to be relinquished by monk so-and-so, has been relinquished to you. If the venerables are ready, you should give this robe-cloth back to monk so-and-so.”
466. ‘Xin chư Đại đức hãy nghe con. Y này của tỳ khưu tên là..., là vật phải xả bỏ, đã được xả cho chư Đại đức. Nếu chư Đại đức xét thấy đã đến lúc thích hợp, chư Đại đức hãy trao y này lại cho tỳ khưu tên là...’
Tena bhikkhunā ekaṁ bhikkhuṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo—
“idaṁ me, āvuso, cīvaraṁ dasāhātikkantaṁ nissaggiyaṁ. Imāhaṁ āyasmato nissajjāmī”ti.
Nissajjitvā āpatti desetabbā. Tena bhikkhunā āpatti paṭiggahetabbā. Nissaṭṭhacīvaraṁ dātabbaṁ—
“imaṁ cīvaraṁ āyasmato dammī”ti.
Or: after approaching a single monk, that monk should arrange his upper robe over one shoulder, squat on his heels, raise his joined palms, and say:
“This robe-cloth, which I have kept over ten days, is to be relinquished. I relinquish it to you.”
After relinquishing it, he should confess the offense. The confession should be received by that monk. The relinquished robe-cloth is then to be given back:
“I give this robe-cloth back to you.”
Permutations
467. Tỳ khưu ấy nên đi đến một vị tỳ khưu, vắt thượng y qua một bên vai, ngồi xổm, chắp tay và nói như vầy: ‘Thưa hiền giả, y này của tôi đã quá mười ngày, là vật phải xả bỏ. Tôi xin xả bỏ y này cho hiền giả.’ Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Vị tỳ khưu kia nên nhận sự sám hối tội. Y đã được xả bỏ nên được trao lại: ‘Tôi xin trao lại y này cho hiền giả.’
Dasāhātikkante atikkantasaññī, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ. Dasāhātikkante vematiko, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ. Dasāhātikkante anatikkantasaññī, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
Anadhiṭṭhite adhiṭṭhitasaññī, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ. Avikappite vikappitasaññī, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ. Avissajjite vissajjitasaññī, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ. Anaṭṭhe naṭṭhasaññī, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ. Avinaṭṭhe vinaṭṭhasaññī, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ. Adaḍḍhe daḍḍhasaññī, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ. Avilutte viluttasaññī, nissaggiyaṁ pācittiyaṁ.
If it is more than ten days and he perceives it as more, he commits an offense entailing relinquishment and confession. If it is more than ten days, but he is unsure of it, he commits an offense entailing relinquishment and confession. If it is more than ten days, but he perceives it as less, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
If it has not been determined, but he perceives that it has, he commits an offense entailing relinquishment and confession. If it has not been assigned to another, but he perceives that it has, he commits an offense entailing relinquishment and confession. If it has not been given away, but he perceives that it has, he commits an offense entailing relinquishment and confession. If it has not been lost, but he perceives that it has, he commits an offense entailing relinquishment and confession. If it has not been destroyed, but he perceives that it has, he commits an offense entailing relinquishment and confession. If it has not been burned, but he perceives that it has, he commits an offense entailing relinquishment and confession. If it has not been stolen, but he perceives that it has, he commits an offense entailing relinquishment and confession.
468. Khi đã quá mười ngày, có tưởng là đã quá, (phạm tội) Ưng Xả Đối Trị. Khi đã quá mười ngày, có sự nghi ngờ, (phạm tội) Ưng Xả Đối Trị. Khi đã quá mười ngày, có tưởng là chưa quá, (phạm tội) Ưng Xả Đối Trị. (Y) chưa được chú nguyện, có tưởng là đã được chú nguyện, (phạm tội) Ưng Xả Đối Trị. (Y) chưa được tác pháp xả, có tưởng là đã được tác pháp xả, (phạm tội) Ưng Xả Đối Trị. (Y) chưa được từ bỏ, có tưởng là đã được từ bỏ, (phạm tội) Ưng Xả Đối Trị. (Y) chưa bị mất, có tưởng là đã bị mất, (phạm tội) Ưng Xả Đối Trị. (Y) chưa bị hư hoại, có tưởng là đã bị hư hoại, (phạm tội) Ưng Xả Đối Trị. (Y) chưa bị cháy, có tưởng là đã bị cháy, (phạm tội) Ưng Xả Đối Trị. (Y) chưa bị cướp đoạt, có tưởng là đã bị cướp đoạt, (phạm tội) Ưng Xả Đối Trị.
Nissaggiyaṁ cīvaraṁ anissajjitvā paribhuñjati, āpatti dukkaṭassa. Dasāhānatikkante atikkantasaññī, āpatti dukkaṭassa. Dasāhānatikkante vematiko, āpatti dukkaṭassa. Dasāhānatikkante anatikkantasaññī, anāpatti.
Anāpatti—
If he uses robe-cloth that should be relinquished without first relinquishing it, he commits an offense of wrong conduct. If it is less than ten days, but he perceives it as more, he commits an offense of wrong conduct. If it is less than ten days, but he is unsure of it, he commits an offense of wrong conduct. If it is less than ten days and he perceives it as less, there is no offense.
Non-offenses
There is no offense:
Vị tỳ khưu sử dụng y đã phải tội Ưng Xả mà chưa xả bỏ, phạm tội Tác Ác. Khi chưa quá mười ngày, có tưởng là đã quá, phạm tội Tác Ác. Khi chưa quá mười ngày, có sự nghi ngờ, phạm tội Tác Ác. Khi chưa quá mười ngày, có tưởng là chưa quá, vô tội.
469. Vô tội: (khi) trong vòng mười ngày vị ấy chú nguyện, hoặc tác pháp xả, hoặc từ bỏ; (khi y) bị mất, bị hư hoại, bị cháy, bị cướp đoạt, (người khác) lấy đi do thân quen; đối với vị tỳ khưu bị loạn trí, đối với vị phạm đầu tiên.
Tena kho pana samayena chabbaggiyā bhikkhū nissaṭṭhacīvaraṁ na denti. Bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ.
(…) “Na, bhikkhave, nissaṭṭhacīvaraṁ na dātabbaṁ. Yo na dadeyya, āpatti dukkaṭassā”ti.
Soon afterwards the monks from the group of six did not give back relinquished robe-cloth. They told the Buddha.
“Monks, relinquished robe-cloth should be given back. If you don’t give it back, you commit an offense of wrong conduct.”
470. Vào lúc bấy giờ, nhóm sáu vị tỳ khưu không trả lại y đã được xả bỏ. (Các tỳ khưu) trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. (Ngài phán:) “Này các tỳ khưu, phải trả lại y đã được xả bỏ. Vị nào không trả lại, phạm tội Tác Ác.”
Kathinasikkhāpadaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
The training rule on keeping extra robe-cloth beyond ten days, the first, is finished.
Dứt điều học về Kaṭhina thứ nhất.